† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2518|Trả lời: 0

Căn Bản Cơ Đốc Giáo

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 8-7-2011 19:48:54 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Căn Bản Cơ Đốc Giáo
Tác giả: John Stott

Lời Giới Thiệu
Lời Tựa
1 Con Đường Đúng
PHẦN MỘT: THÂN VỊ CỦA CHÚA CỨU THẾ
2 Những Lời Xác NhậnCủa Chúa Cứu Thế
3 Đặc Tính Của Chúa Cứu Thế
4 Sự Phục Sinh Của Chúa Cưu Thế
PHẦN HAI: NHU CẦU CỦA CON NGƯỜI
5 Thực Tại và Bản Chất của Tội lỗi
6 Hậu Quả Của Tội Lỗi
PHẦN BA: CÔNG VIỆC CỦA CHÚA CỨU THẾ
7 Sự Chết Của Chúa Cứu Thế
8 Sự Cứu Rỗi Của Chúa Cứu Thế
PHẦN BỐN: ĐÁP ỨNG CỦA CON NGƯỜI
9 Tính Giá
10 Đi Đến Quyết Định
11 Là Một Cơ Đốc Nhân

Lời Giới Thiệu
Căn Bản Cơ Đốc Giáo của John Stott là một quyển sách giá trị giải nghĩa về yếu tính của Cơ Đốc giáo. Sách đã được dịch ra hơn 50 thứ tiếng và đã bán hàng triệu bản - được xếp vào loại sách bán chạy nhất (bestseller).
Tác giả đã dựa vào những sự kiện lịch sử, thân vị của Chúa Giê-xu, ý nghĩa của đức tin Cơ Đốc để trình bày cốt tủy của Đạo Chúa cách ngắn gọn, cô đọng nhưng đầy thuyết phục. Tác giả cho thấy căn bản Cơ Đốc giáo không phải là một tổ chức tôn giáo nhưng là chính Chúa Cứu Thế Giê-xu, và Cơ Đốc nhân là người có mối tương giao thân thiết với Ngài. Tác giả kêu gọi người đọc hãy “dâng chính mình, tấm lòng, tâm trí, linh hồn, ý chí, gia đình và cuộc sống của chúng ta một cách cá nhân và không giữ lại gì cho Chúa Cứu Thế Giê-xu . Chúng ta phải khiêm nhường trước mặt Ngài . Chúng ta phải tin cậy Ngài là Cứu Chúa của chính mình và thuận phục Ngài là Chúa của chính mình rồi tiếp tục trở nên những thành viên trung thành của Hội Thánh và là những công dân tận tụy trong cộng đồng . Đó là căn bản Cơ Đốc giáo và là chủ đề của quyển sách này .”
Tác giả John Stott là một mục sư, giáo sư và là một trong những nhà giải nghĩa Kinh Thánh lỗi lạc của thế kỷ 20. Trong quyển sách này, John Stott đã kể lại kinh nghiệm gặp Chúa của ông như sau: “Vào một buổi tối Chua nhật, một cậu thiếu niên gần hai mươi tuổi đã quỳ gối bên ngoài phòng ngủ tập thể trong trường . Bằng một lối nói thật đơn giản và cũng thật dứt khoát , cậu thưa với Chúa Cứu Thế rằng cho đến giờ cậu đã làm khá nhieu điều bê bối cậu xưng tội và và cảm tạ Chúa vì Ngài đã chết thay cho cậu và xin Ngài bước vào cuộc đời của cậu .”
Để đáp ứng nhu cầu tâm linh của các tôi con Chúa, Viện Thần Học Việt Nam đã dịch và ấn hành tập Căn Bản Cơ Đốc Giáo này. Chúng tôi xin chân thành cảm tạ quí tôi tớ con cái Chúa đã giúp đỡ trong việc chuyển ngữ, hiệu đính, dàn trang, ấn loát và tạo điều kiện thuận lợi để tập sách này đến tay người đọc.
Viện Thần Học Việt Nam
Tháng 7, 2002

Lời Tựa
“Chống đối Hội Thánh, thân thiện với Chúa Cứu Thế.” Đây là lời nói mô tả về một số đông người, đặc biệt là giới trẻ ngày nay.
Những người này chống đối những gì liên hệ đến định chế. Họ không thích tổ chức và những đặc quyền, đặc lợi cố hữu của các tổ chức. Họ bài bác Hội Thánh - không phải làkhông có lý do - vì họ không thể nhìn Hội Thánh bị băng hoại bởi những điều tai hại như the.
Tuy họ bài bác Hội Thánh nhưng họ không hề bài bác chính Chúa Giê-xu. Lý do là vì họ nhìn thấy sự trái ngược giữa người sáng lập Cơ Đốc giáo và tình trạng hiện thời của Hội Thánh mà Ngài đã thành lập, khiến cho họ xa lánh và chỉ trích Hội Thánh. Tuy nhiên, nhân vật Giê-xu và những lời giảng dạy của Ngài vẫn luôn có sức hấp dẫn đối với họ. Lý do là vì Ngài là nhân vật chống lại những kẻ có đặc quyền và Ngài có những lời dạy mang tính chất cách mạng. Lý tưởng của Ngài dường như chưa hề bị hủy hoại. Bất cứ nơi nào Ngài đến, Ngài đều đem yêu thương và bình an. Một lý do khác là Ngài luôn luôn thực hành những gì mà Ngài giảng dạy.
Nhưng Ngài có thật không?
Có nhiều người trên thế giới được nuôi dưỡng trong những gia đình Cơ Đốc thấm nhuần chân lý về Chúa Cứu Thế và về Cơ Đốc giáo. Nhưng khi khả năng phê bình của họ phát triển và khi họ có thể suy nghĩ độc lập, họ dễ dàng từ bỏ tôn giáo mà họ đã theo từ khi còn thơ bé hơn là nỗ lực tra hỏi về tính chất đáng tin cậy của tôn giáo đó.
Nhiều người khác không lớn lên trong môi trường Cơ Đốc nên họ đã hấp thụ sự giảng dạy của Ấn giáo, Phật giáo hoặc Hồi giáo, hoặc học thuyết nhân bản thế tục, hay là chủ nghĩa cộng sản hoặc thuyết hiện sinh.
Dầu vậy người ta nhận thấy rằng cả hai nhóm người này khi đọc về Chúa Giê-xu, họ bị Ngài thu hút ma không dễ gì thoát ra được.
Vì thế khởi điểm của chúng ta là nhân vật lịch sử Giê-xu ở Na-xa-rét. Ngài chắc chắn đã hiện hữu. Không có lý do nào để nghi ngờ về điều này. Tính chất lịch sử của Ngài đều được các tác giả người ngoại lẫn Cơ Đốc xác nhận.
Ngài cũng là một con người đích thực. Người ta có thể nói nhiều điều về chính con người của Ngài. Ngài được sinh ra, lớn lên, làm việc đổ mồ hôi, ngủ nghỉ, ăn uống, chịu đau khổ và chet giống như người khác. Ngài có thân thể và những cảm xúc thật của con người.
Nhưng chúng ta có thể thật sự tin rằng trong một ý nghĩa nào đó Ngài cũng là “Đức Chúa Trời” không? Phải chăng thần tính của Ngài có tính cach vẽ vời mê tín? Có bằng chứng nào để cho Cơ Đốc nhân xác quyết rằng người thợ mộc Na-xa-rét là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời ?
Đây là vấn đề cơ bản mà chúng ta không thể tránh né. Chúng ta phải thành thật. Nếu Chúa Giê-xu không phải là Đức Chúa Trời trong thân xác con người thì Cơ Đốc giáo đã bị diệt vong. Chúng ta chỉ còn lại một tôn giáo với một số lý tưởng đẹp và đạo đức cao quý; tính độc đáo của Cơ Đốc giáo không còn nữa.
Nhưng có những bằng chứng về thần tính của Chúa Giê-xu, những bằng chứng lịch sử vững vàng và hùng hồn mà một người thành thật phải nhìn nhận mà không cần phải loại bỏ lý trí. Có những lời tuyên bố quả quyết và không hề có một chút giả tạo của Chúa Giê-xu về chính mình Ngài. Rồi bản tính vô song của Ngài. Với tính cương nghị nhưng hiền hòa, công chính nhưng đầy thương xót, lòng quan tâm đối với con trẻ và tình yêu đối với những người bị xã hội ruồng bỏ, tính tự chế và lòng hi sinh, Chúa Giê-xu đã khiến cho toàn thế giới phải khâm phục. Hơn thế nữa, cái chết thảm khốc của Ngài không phải là sự kết thúc. Ngài đã sống lại từ kẻ chết và bằng chứng tỏ tường về sự phục sinh của Ngài có sức thuyết phục hơn hết.
Khi cho rằng Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, phải chăng căn bản Cơ Đốc giáo đơn thuần chỉ là việc chấp nhận sự kiện này? Câu trả lời là không. Một khi chịu thuyết phục về thần tánh của Chúa Giê-xu, chúng ta phải xem xét bản chất của công việc Ngài. Ngài đã đến để làm gì? Câu trả lời từ Kinh Thánh là Ngài “đã đến thế gian để cứu tội nhân.” Giê-xu Na-xa-rét là Chúa Cưu Thế từ thiên đàng mà những con người tội lỗi như chúng ta cần đến. Vì bị tội lỗi làm cho chúng ta xa cách Ngài nên chúng ta cần được tha thứ và phục hồi để giao thông với Đức Chúa Trời thánh khiết, trọn vẹn. Chúng ta cần được giải phóng khỏi sự ích kỷ và cần được ban cho sức mạnh để sống đúng với lý tưởng của chúng ta. Chúng ta cần học yêu thương, bè bạn cũng như kẻ thù. Đây là ý nghĩa của “sự cứu rỗi.” Đây là những gì mà Chúa Cứu Thế đã đến để chinh phục cho chúng ta qua sự chết và sự phục sinh của Ngài.
Như thế phải chăng căn bản Cơ Đốc giáo là tin rằng Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời đã đến để trở thành Cứu Chúa của nhân loại? Cũng khong phải như vậy. Chấp nhận thần tính của Ngài, công nhận nhu cầu cứu rỗi của con người và tin vào công việc cứu rỗi của Ngài vẫn không đủ. Cơ Đốc giáo không chỉ là giáo điều mà bao gồm cả hành động. Niềm tin trí tuệ của của chúng ta có thể vượt ra ngoài sự bình phẩm; nhưng chúng ta phải biến niềm tin của chúng ta thành việc làm.
Thế thì chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải dâng chính chúng ta, tấm lòng, tâm trí, linh hồn, ý chí, gia đình và cuộc sống của chúng ta một cách cá nhân và không giữ lại gì cho Chúa Cứu Thế Giê-xu. Chúng ta phải khiêm nhường trước mặt Ngài. Chúng ta phải tin cậy Ngài là Cứu Chúa của chính mình và thuận phục Ngài là Chúa của chính mình ; rồi tiếp tục trở nên những thành viên trung thành của Hội Thánh và là những công dân tận tụy trong cộng đồng.
Đó là căn bản Cơ Đốc giáo và là chủ đề của quyển sách này. Nhưng trước khi đề cập đến thần tính của Chúa Giê-xu, chúng ta cần bước vào chương dẫn nhập nói về con đường đúng. Niềm xác tín Cơ Đốc của chúng ta là chúng ta có thể tìm thấy Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế Giê-xu. Chúng ta cần xem xét niềm xác tín này neu chúng ta tin rằng chính Đức Chúa Trời đang tìm kiếm chúng ta và chính chúng ta cũng phải tìm kiếm Ngài.


CON ĐƯỜNG ĐÚNG
“ Ban đầu Đức Chúa Trời” (SaSt 1:1). Cụm từ đầu tiên của Kinh Thánh không chỉ là những từ dẫn nhập vào câu chuyện sáng tạo hoặc vào sách Sáng Thế Ký. Nói chung cụm từ này cung cấp chiếc chìa khóa để khai mở sự hiểu biết của chúng ta về Kinh Thánh, cho chúng ta biết rằng tôn giáo của Kinh Thánh là tôn giáo do Đức Chúa Trời khởi xướng.
Chẳng bao giờ bạn có thể bắt gặp Đức Chúa Trời trước. Chẳng bao giờ bạn có thể đi trước Ngài. Ngài luôn thực hiện bước trước tiên. Ngài luôn hiện diện trong chỗ “ban đầu.” Trước khi con người hiện hữu, Đức Chúa Trời đã hành động. Trước khi con người tìm kiếm Đức Chúa Trời, Ngài đã tìm kiếm con người. Trong Kinh Thánh chúng ta không thấy con người quờ quạng đi tìm Đức Chúa Trời nhưng thấy Đức Chúa Trời tìm kiếm con người.
Nhiều người hình dung một Đức Chúa Trời ngồi trên ngai cao sang, xa cách, không quan tâm và lạnh lùng trước những nhu cầu của con người cho đến lúc họ phải buộc Ngài hành động. Quan niệm như thế là hoàn toàn sai lầm. Kinh Thánh đã bày tỏ về một Đức Chúa Trời mà từ lâu lắm rồi đã hiện ra để đem con người trở lại với Ngài, trong khi con người vẫn chìm đắm trong tối tăm và tội lỗi, Ngài đã bắt đầu đứng dậy khỏi ngai Ngài, tư bỏ sự vinh hiển và hạ mình để tìm kiếm con người cho đến khi tìm gặp.
Hoạt động cao cả và tiên khởi của Ngài được nhìn thấy theo nhiều cách. Ngài đã khởi xướng công trình sáng tạo , Ngài đã khiến vũ trụ và tất cả những gì có trong vũ trụ hiện hữu:” Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” Ngài đã khởi xướng sự mặc khải , khiến cho nhân loại biết được bản tính lẫn ý muốn của Ngài: “Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách, rồi đến những ngày sau rốt này, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài” 1 Ngài đã khởi xướng sự cứu rỗi , Ngài đã đến trong Chúa Giê-xu để giải phóng con người ra khỏi tội lỗi của họ:” Ngài…đã thăm viếng và chuộc dân Ngài” (HeDt 1:1, 2; LuLc 1:68).
Đức Chúa Trời đã sáng tạo. Đức Chúa Trời đã phán truyền. Đức Chúa Trời đã hành động. Những câu phát biểu này về sự khởi xướng của Đức Chúa Trời trong ba lãnh vực tóm tắt tôn giáo của Kinh Thánh. Chúng ta sẽ đề cập đến lãnh vưc thứ hai và thứ ba trong sách này, bởi vì theo định nghĩa căn bản Cơ Đốc giáo bắt đầu bằng nhân vật lịch sử là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nếu Đức Chúa Trời đang phán truyền, lời nói sau cùng và vĩ đại nhất của Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nếu Đức Chúa Trời đang hành động, hành động cao cả nhất của Ngài là sự cứu chuộc thế giới này qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Đức Chúa Trời đang phán và đang hành động trong Chúa Giê-xu. Ngài đang nói một điều gì đó, Ngài đang làm một điều gì đó. Điều này có nghĩa là Cơ Đốc giáo không phải là những lời nói suông. Cơ Đốc giáo cũng không phải là tap họp của những ý tưởng tôn giáo hoặc là một bản liệt kê các nguyen tắc. Cơ Đốc giáo là “Phúc Âm” (tin lành), theo Phao-lô, “là Tin Lành xưa kia…về Con Ngài…là Đức Chúa Giê-xu Christ, Chúa chúng ta” (RoRm 1:1-4). Đây không phải chủ yếu là lời mời gọi con người làm một điều gì mà là lời công bố tối cao về những gì mà Đức Chúa Trời đã làm cho con người chúng ta trong Chúa Cứu Thế.
Đức Chúa Trời đã phán truyền
Con người là một sinh vật luôn luôn tra hỏi. Tâm trí của con người được tạo thành như thế để không thể yên nghỉ. Tâm trí con người luôn luôn chú vào những điều chưa biết. Con người luôn nỗ lực không ngừng nghỉ để làm làm gia tăng kiến thức cua mình. Đời người là một hành trình khám phá. Con người luôn tra vấn, tìm tòi, khám phá và nghiên cứu. Con người không bao giờ bỏ đi được tính tò mò thắc mắc “tại sao” của trẻ con.
Tuy nhiên, khi tâm trí của con người bắt đầu quan tâm đến Đức Chúa Trời thì lại thất bại. Con người quờ quạng một cách bất lực trong bóng tối sâu thẳm. Thật không có gì lạ, bởi vì Đức Chúa Trời dầu là gì hay là ai đi chăng nữa, Ngài vẫn là Đấng vô hạn, trong khi con người là những tạo vật hữu hạn. Ngài ở ngoài sự hiểu biết của chúng ta. Vì thế tâm trí của chúng ta, dầu là một công cụ hữu hiệu tuyệt vời trong lãnh vực khoa học kinh nghiệm, cũng không giúp gì được cho chúng ta ở đây. Tâm trí của con người không thể nào vươn tới tâm trí vô hạn của Đức Chúa Trời. Không có chiếc thang nào đủ dài cho vực sâu mênh mông không thể dò lường này. “Nếu ông dò xét, há có thể hiểu biết được sự sau nhiệm của Đức Chúa Trời, Và thấu rõ Đấng Toàn năng sao?” Gióp đã hỏi như thế. Đây là điều bất khả.
Tình trạng này ắt hẳn sẽ còn tiếp tục nếu như Đức Chúa Trời không bắt đầu ban cho phương thuốc để chữa lành. Con người vẫn ở trong tình trạng bất khả tri và sẽ hỏi như Phi Lát: “Lẽ thật là cái gì?” nhưng chẳng bao giờ có được câu trả lời, bởi vì họ không dám hy vọng rằng mình sẽ có được lời giải đáp. Con người sẽ vẫn thờ lạy thiên nhiên và trên mọi bàn thờ mà họ thờ lạy sẽ được chạm khắc dòng chữ “thờ những thần không biết” như trên một bàn thờ ở thành Athens.
Nhưng Đức Chúa Trời đang phán. Ngài bắt đầu bày tỏ về chính mình Ngài. Giáo lý Cơ Đốc về sự mặc khải là hết sức hợp lý và cần yếu. Đức Chúa Trời đang” vén màn” để tâm trí của chúng ta thấy được những gì bị che khuất. Một phần của sự mặc khải này nằm ở trong thiên nhiên:
“Các từng trời rao truyen sự vinh hiển của Đức Chúa Trời,
Bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi Tv 19:1)
“Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được” (RoRm 1:19, 20).
Thông thường điều này được gọi là sự mặc khải “phổ quát” bởi vì sự mặc khải này dành cho mọi người ở khắp mọi nơi) hoặc là sự mặc khải tự nhiên (bởi vì nó ở trong tự nhiên). Nhưng như thế chưa đủ. Cần phải làm cho con người biết về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, về quyền năng, sự vinh hiển và sự thành tín của Ngài. Nhưng để cho con người đi đến chỗ nhận biết Đức Chúa Trời một cách cá nhân, được tha thứ tội lỗi và bước vào sự hiệp thông với Ngài, con người vẫn cần đến sự mạc khải thực tiễn và rộng lớn hơn. Sự bày tỏ chính mình Ngài của Đức Chúa Trời phải bao gồm sự thánh khiết, tình yêu thương và quyền năng của Ngài để giải cứu con người khỏi tội lỗi. Đức Chúa Trời vui lòng ban cho con người những điều này. Đây là sự mặc khải “đặc biệt”, bởi vì nó đã tạo ra một dân tộc đặc biệt (Y-sơ-ra-ên) qua những sứ giả đặc biệt là các tiên tri trong Cựu Ước và các sứ đồ trong Tân Ước).
Đây cũng là sự mặc khải “siêu nhiên, ” bởi vì nó được ban cho trong một tiến trình thường được gọi là “sự hà hơi” và nền tảng của của sự diễn đạt của sự hà hơi nằm ở trong thân vị và công việc của Chúa Giê-xu.
Cách mà Kinh Thánh giải bày và mô tả sự mặc khải này là nói rằng Đức Chúa Trời “phán”. Chúng ta có thể giao tiếp vối nhau dễ dàng bằng lời nói. Chính bởi lời nói mà chúng ta có thể bộc bạch những gì diễn ra trong tâm trí của chúng ta. Điều này cũng đúng với Đức Chúa Trời là Đấng muốn bày tỏ tâm trí vô hạn của Ngài với tâm trí hữu hạn của chúng ta. Như tiên tri Ê-sai đã nói, các từng trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng của Ngài cao hơn tư tưởng của chúng ta bấy nhiêu, vì thế chúng ta chẳng bao giờ hiểu được tư tưởng của Ngài cho đến khi Ngài khoác cho chúng những lời nói. Vì thế “Lời của Đức Chúa Trời đã đến với các tiên tri, ” cho đến cuối cùng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến và “Ngôi lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta.” (GiGa 1:1, 14).
Tương tự, Phao-lô đã viết cho Hội Thánh Cô-rinh-tô: “Vì, tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời mà nhận biết Đức Chúa Trời, nên Ngài đành lòng dùng sự giảng rồ dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin cậy.” Con người biết Đức Chúa Trời không phải qua sự khôn ngoan của mình nhưng qua lời của Đức Chúa Trời (“những gì chúng tôi giảng” ), không phải qua lý trí của con người nhưng qua sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã khải tỏ chính mình Ngài trong Chúa Cứu Thế để cho Cơ Đốc nhân co thể đến với những người bất khả tri và mê tín và nói với họ, như Phao lô đã nói với những người ở thành A-thên ở A-rê-ô-ba, ” Vậy, Đấng các ngươi thờ mà không biết đó, là Đấng mà ta đương rao truyền cho.” Có nhiều mau thuẫn nảy sinh giữa khoa học và tôn giáo, nhưng không dễ gì có thể thấy rõ hết. Phương pháp thực nghiệm hoàn toàn không thích hợp trong lãnh vực tôn giáo. Phương pháp này dựa trên những dữ liệu do ngủ quan cung cấp. Nhưng khi bước vào lãnh vực siêu hình, không hề có sẵn những dữ liệu ngay cho chúng ta. Ngày nay không thể sờ mó, hoặc nhìn hay nghe thấy Đức Chúa Trời. Dầu vậy đã có một thời mà Ngài đã chọn để phán bảo và mang lấy xác thể của con người để cho loài người có thể nghe thấy và tiếp xúc với Ngài. Vì thế Giăng đã bắt đầu Thơ tín thứ nhất của ông bằng lời xác nhận, “Điều có từ trước hết, là điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đa thấy, điều chúng tôi đã ngắm và tay chúng tôi đã rờ, về Lời sự sống… chúng tôi rao truyền cho anh em …”
Đức Chúa Trời Đang Hành Động
Tin lành Cơ Đốc không bị giới hạn trong lời tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đang phán. Tin lành này cũng xác nhận là Ngài đang hành động.
Đức Chúa Trời khởi xướng bằng cả hai cách này bởi vì đặc điểm của nhu cầu con người. Vì chúng ta chẳng những dại dột mà còn tội lỗi. Vì thế việc Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài cho chúng ta không đủ để xua tan sự dại dột của chúng ta. Ngài cũng phải hành động để cứu chúng ta khỏi tội lỗi. Ngài đã bắt đầu trong thời Cựu Ước. Ngài đã kêu gọi Á-ra-ham ra khỏi U-rơ, khiến cho ông va dòng dõi ông trở thành một dân tộc, giải phóng họ khỏi sự nô lệ của Ai-cập, bước vào giao ước với họ trên núi Si-nai, dẫn họ băng qua hoang mạc để vào đất hứa, hướng dẫn và dạy dỗ họ như một dân tộc đặc biệt của Ngài.
Nhưng tất cả những điều này chỉ nhằm chuẩn bị cho công việc cứu chuộc vĩ đại hơn trong Chúa Cứu Thế. Con người cần được giải phóng, không những ra khỏi sự nô lệ ở Ai-cập hoặc hoặc lưu đày ở Ba-by-lôn, mà còn khỏi sự lưu đày và nô lệ của tội lỗi. Ngài đã đến như một Cứu Chúa.
“Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội” (Mat Mt 1:21).
“Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong the gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy” (ITi1Tm 1:15).
“Bởi Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất” (LuLc 19:10; LuLc 15:3-7).
Ngài giống như người chăn có một con chiên lạc bầy và đã đi ra tìm kiếm con chiên này cho đến khi tìm gặp.5
Cơ Đốc giáo là tôn giáo của sự cứu rỗi và không có diều gì trong những tôn giáo không phải là Cơ Đốc giáo có thể ví sánh được với sứ điệp về một Đức Chúa Trời yêu thương đã đến để chịu chết thay cho thế giới của những tội nhân hư mất.
Đáp Ứng Của Con Người
Đức Chúa Trời đang phán. Đức Chúa Trời đang hành động. Sự ký thuật và giải nghĩa về công việc và những lơi nói của Đức Chúa Trời được tìm thấy trong Kinh Thánh. Và đối với nhiều người chúng vẫn y nguyên. Trong chừng mực nào đó những gì Đức Chúa Trời đã phán và làm thuộc về quá khứ trong lịch sử, lịch sử chưa trở thành kinh nghiệm và Kinh Thánh thánh chưa trở thành sự sống đối với họ. Đức Chúa Trời đang phán, nhưng chúng ta có lắng nghe lời Ngài phán không? Ngài đang hành động; nhưng chúng ta có hưởng được những lợi ích từ những gì Ngài đang làm hay không?
Những gì chúng ta cần phải làm sẽ được đề cập đến trong phần còn lại của quyển sách này. Trong giai đoạn này điều chúng ta cần làm là phải tìm kiếm. Đức Chúa Trời đã tìm chúng ta. Ngài vẫn đang tìm chúng ta. Chúng ta phải tìm kiếm Ngài. Thật vậy, lý cớ để Đức Chúa Trời phàn nàn về con người là con người không tìm kiếm Ngài.
Đức Giê-hô-va từ trên trời ngó xuống các con loài người,
Đặng xem thử có ai khon ngoan,
Tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng.
Chúng nó thay thảy đều bội nghịch, cùng nhau trở nên ô uế;
Chẳng có ai làm điều lành,
Dầu một người cũng không (Thi Tv 14:2-3).
Dầu vậy Chúa Giê-xu đa hứa rằng: “Hãy tìm sẽ gặp.” Nếu chúng ta không tìm chúng ta sẽ chẳng bao giờ gặp. Người chăn tìm kiếm cho đến khi tìm gặp con chiên lạc. Người đàn bà tìm kiếm cho đến khi tìm gặp đồng xu bị đánh mất. Còn chúng ta tại sao lại tìm kiếm Ngài qua loa? Đức Chúa Trời muốn cho chúng ta tìm gặp được Ngài, nhưng chỉ đối với những người có lòng tìm kiếm Ngài.
Chúng ta cần phải tìm kiếm một cách sốt sắng . “Con người luời biếng đến độ họ phải ngạc nhiên về chính sự lười biếng của họ, ” Emerson đã viết như thế. Nhưng vấn đề quá nghiêm trọng đến nỗi chúng ta phải vượt qua sự biếng nhác tự nhiên và sự thờ ơ để hết lòng tìm kiếm. Đức Chúa Trời sẽ không nhẫn nại đối vơi những người hay xem thường mọi việc. “Ngài ban thưởng cho những kẻ tìm kiếm Ngài” (HeDt 11:6)
Chúng ta phải tìm kiếm một cách khiêm nhường . Nếu sự thờ ơ là trở ngại đối với một số người, thì sự kiêu ngạo lại là một trở ngại lớn hơn và phổ biến hơn đối với những người khác. Chúng ta phải thừa nhận rằng tâm trí chúng ta là hữu hạn, không có khả năng khám phá Đức Chúa Trời bằng nỗ lực riêng của chúng ta mà không có sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Tôi không có ý nói rằng chúng ta thôi không dùng lý trí để suy tư. Ngược lại, tác giả Thi Thiên bảo chúng ta rằng chúng ta đừng như con ngựa hoặc con lừa không có trí hiểu. Chúng ta phải sử dụng tâm trí của chúng ta; nhưng chúng ta cũng phải công nhận sự giới hạn của nó. Chúa Giê-xu phán:
“Hỡi Cha! Là Chúa của trời đất, tôi khen ngợi Cha, vì Cha đã giấu những điều này với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho những con trẻ hay.”
Đây là một trong những lý do tại sao Chúa Giê-xu yêu thương con trẻ. Chúng dễ dạy. Chúng không kiêu ngạo, không nghĩ mình là quan trọng và chỉ trích người khác. Chúng ta cần có tâm trí cởi mở, khiêm nhường và dễ lĩnh hội như con trẻ.
Chúng phải tìm kiếm một cách chân thành . Không những chúng ta phải đến với sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời mà không kiêu ngạo, mà còn phải đến với một tâm trí khiêm nhường và cởi mở. Mọi người đều biết những mối nguy hại khi đến với lời Ngài bằng những định kiến. Dầu vậy vẫn có nhiều người đã đến với Kinh Thánh cùng với những định kiến của họ. Nhưng lời hứa của Đức Chúa Trời chỉ có ý nói đến nhưng người tìm kiếm hết lòng:” Các ngươi sẽ tìm ta và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng.” 8 Vì thế chúng ta phải bỏ đi thành kiến và mở rộng tâm trí để Cơ Đốc giáo trở thành thực hữu trong tâm trí của chúng ta.
Chung ta phải tìm kiếm trong sự vâng lời . Đây là điều khó làm nhất. Trong khi tìm kiếm Đức Chúa Trời không những chúng ta phải hiệu chỉnh lại tâm trí mà còn phải thay đổi lối sống của chúng ta. Sứ điệp Cơ Đốc là sự thách thức về mặt đạo đức. Nếu sứ điệp đúng, con người phải chấp nhận sự thách thức về mặt đạo đức. Vì Đức Chúa Trời không phải là đối tượng thích hợp để con người nghiên cứu một cách vô tư. Bạn không thể đặt Đức Chúa Trời vào bên dưới ống kính hiển vi hoặc quan sát Ngài bằng một kính viển vọng rồi nói rằng:” Thật là lý thú!” bạn không thể nào tìm hiểu về Đức Chúa Trời cũng như Chúa Giê-xu như thế.
“Chúng ta có thể vận dụng trí tuệ để tìm hiểu về Ngài và rồi chúng ta nhận thấy rằng Ngài đang xem xét chúng ta một cách thuộc linh. Các vai trò bị đảo lộn giữa chúng ta….Khi nghiên cứu về Aristotle, chúng ta được soi sáng về mặt trí tuệ; khi nghiên cứu ve Chúa Giê-xu bằng một phương cách sâu sắc nhất, chúng ta bị bối rối về mặt thuộc linh….Chúng ta buộc phải chọn lựa một số thái độ xuất phát từ nội tâm và từ ý chí của chúng ta trong mối quan hệ với Chúa Giê-xu…. Một người có thể sử dụng trí tuệ để tìm hiểu về Chúa Giêxu một cách công bằng, không thiên vị, người này không hề thực hiện điều này trong tư thế trung lập về mặt đạo đức…. Chúng ta phải công bố màu cờ, sắc áo của chúng ta. Chính điều này mang lại cuộc tiếp xúc không thể nào tránh khỏi với Chúa giê-xu. Chúng ta bắt đầu lẳng lặng tìm hiểu về Ngài; chúng ta được kêu gọi vào trong một lĩnh vực của sự quyết định thuộc linh” (P. Carnegie Simpson, The Fact of Christ , 1930; James Clarke edition, 1952, pp. 23, 24).
Đây là những gì mà Chúa Giê-xu đề cập đến khi Ngài nói về một số người Do Thái vô tín, Ngài phán, ” Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý ta có phải là bởi Đức Chúa Trời, hay là ta nói theo ý ta.” Lời hứa này thật rõ ràng: chúng ta có thể biết Chúa Giê-xu đúng hoặc sai, lời giảng dạy của Ngài là của con người hay của Đức Chúa Trời. Nhưng lời hứa này căn cứ trên tình trạng đạo đức. Chúng ta không những phải sẵn sàng tin, mà còn phải vâng lời. Chúng ta phải sẵn sàng thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời khi Ngài bày tỏ cho chúng ta.
Tôi nhớ có một chàng trai đã bỏ học và làm việc ở Luân đôn, đã đến gặp tôi. Anh ta nói rằng anh đã bỏ không đi nhà thờ bởi vì anh không thể nào đọc Tín điều Các Sứ Đồ mà không trở nên một kẻ giả hình. Anh ta không còn tin vào bài tín điều này. Khi anh giải thích xong, tôi nói với anh ta rằng, “Nếu như tôi giải quyết những nan đề của anh để cho anh thỏa mãn về mặt trí tuệ, anh có sẵn sàng thay đổi thái độ và lối sống của anh không?” Chàng trai mỉm cười và mặt đỏ bừng lên. Nan đề thật sự của chàng trai này không thuộc lãnh vực đạo đức nhưng thuộc lãnh vực trí tuệ.
Thế thì việc nghiên cứu của chúng ta phải được dẫn dắt trong tinh thần như thế. Chúng ta phải bỏ đi sự thờ ơ, kiêu ngạo, thành kiến, tội lỗi và tìm kiếm Đức Chúa Trời bất kể hậu quả như thế nào. Định kiến về mặt trí tuệ và sự ngang bướng về mặt đạo đức là hai trở ngại cuối cùng trong tất cả những trở ngại để nhằm đạt đến sư tìm kiếm hiệu quả. Cả hai điều là biểu hiện của nỗi sợ hãi và sự sợ hãi là kẻ thù lớn nhất của lẽ thật. Chúng ta biết rằng việc tìm kiếm Đức Chúa Trời và tiếp nhận Chúa Giê-xu chắc hẳn không phải là một kinh nghiệm dễ dàng. Kinh nghiệm này liên quan đến việc suy nghĩ lại toàn bộ cái nhìn của chúng ta về cuộc sống và và diều chỉnh lại toàn bộ thái độ sống của chúng ta. Và chính sự phối hợp giữa sự nhút nhát về trí tuệ khiến cho chúng ta do dự. Chúng ta không tìm gặp bởi vì chúng ta không tìm kiếm. Chúng ta không tìm bởi vì chúng ta không muốn gặp và chúng ta biết một cách chắc chắn để không tìm gặp là không tìm kiếm.
Nói tóm lại, bạn có thể sai và Đấng Christ có thể đúng. Và nếu bạn muốn trở thành người tìm kiếm Đức Chúa Trời một cách khiêm nhường, chân thành và vâng lời, bạn hãy đọc phần nói về những lời xác nhận của chúa Giê-xu về sự mặc khải của Ngài. Đặc biệt, bạn hãy đọc những sách Phúc Âm nói về cuộc đời của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Hãy cho Ngài có cơ hội gặp gỡ bạn và để cho chính mình Ngài xác quyết với bạn là Ngài có thật. Hãy đến với Ngài bằng tâm trí va ý chí hoàn toàn thuận phục, sẵn sàng tin nhận và vâng lời nếu như Đức Chúa Trời đem đến cho bạn sự tin quyết. Tại sao bạn không đọc hết sách tin lành Mác hoặc Giăng? Bạn có thể đọc qua hết một lần (tốt nhất là một bản dịch mới), để có được cái nhìn khái quát. Sau đó bạn có thể đọc chậm lại, mỗi ngày một đoạn. Trước khi đọc, bạn có thể cần nguyện như sau:
“Lạy Đức Chúa Trời, nếu Ngài thật hiện hữu (con không biết Ngài có thật hiện hữu không ) và nếu Ngài có thể nghe thấy lời cầu nguyện của con (và con không biết Ngài có nghe không ), con muốn thưa với Ngài rằng con chân thành tìm kiếm lẽ thật . Xin bày tỏ cho con biết nếu Ngài thật là Con Đức Chúa Trời và là Cứu Chúa của thế gian . Và nếu Ngài đem niềm tin quyết đến với tâm trí con, con sẽ tin nhận Ngài làm Chúa Cứu Thế của con và đi theo Ngài .”
Không có người nào cầu nguyện như thế mà bị thất vọng. Đức Chúa Trời tôn vinh và ban thưởng cho những người tìm kiếm hết lòng. Lời hứa của Chúa Cứu Thế thật rõ ràng: “Hãy tìm sẽ gặp.”


NHỮNG LỜI XÁC NHẬN CỦA CHÚA CỨU THẾ
Chúng ta thấy rằng cần phải tìm kiếm nếu chúng ta muốn tìm gặp. Nhưng cuộc tìm kiếm của chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu.? Những câu trả lời của Cơ Đốc giáo cho thấy nơi duy nhất để bắt đầu là nhân vật lịch sử: Giê-xu Na-xa-rét; vì nếu Đức Chúa Trời đang phán và đang hành động, Ngài cũng đang hành động một cách trọn vẹn và dứt khoát trong Chúa Cứu Thế Giê-xu. Có một vấn đề hệ trọng đó là người thợ mộc Na-xa-rét có phải là Con Đức Chúa Trời không?
Trong Cơ Đốc giáo có hai lý do chính giải thích tại sao sự tra vấn của chúng ta lại bắt đầu với thân vị của Chúa Cứu Thế. Thứ nhất về cơ bản Cơ Đốc giáo là Chúa Cứu Thế.
Thân vị và công việc của Chúa Cứu Thế là tảng đá ma Cơ Đốc giáo được xây dựng trên đó. Nếu Ngài không phải là Đấng phán Ta là Đấng tự hữu hằng hữu và nếu Ngài đã không làm cho những gì Ngài phán xảy ra, nền tảng này sẽ bị xói mòn và toàn bộ cấu trúc sẽ bị sụp đo. Nếu đem Chúa Cứu Thế đi và rồi chúng ta phanh phui Cơ Đốc giáo, thực tế hoàn toàn toàn trống rỗng. Chúa Cứu Thế là trọng tâm của Cơ Đốc giáo; mọi cái khác chỉ thuộc về chu vi của vòng tròn. Về cơ bản chúng ta không quan tâm luận bàn về triết học của Ngài, về giá trị của hệ thống triết học này hoặc về phẩm chất đạo đức của Ngài. Mối quan tâm của chúng ta là phẩm tính của thân vị Ngài. Ngài là ai?
Thứ hai, nếu Chúa Cứu Thế Giê-xu là thần nhân độc nhất vô nhị, nhiều vấn đề khác sẽ được giải quyết một cách tự nhiên. Sự hiện hữu của Đức Chúa Trời được chứng minh và bản tính của Đức Chúa Trời được bày tỏ nếu Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời. Một lần nữa những câu hỏi về trách nhiệm và số phận của con người, sự sống sau cái chết, mục đích và thẩm quyền của Cựu Ước và ý nghĩa của thập tự giá bắt đầu được giải đáp bởi vì Chúa Giê-xu đã phán dạy về những đieu này và sự giảng dạy của Ngài phải đúng nếu bản thân Ngài là Đức Chúa Trời.
Vì thế sự nghiên cứu của chúng ta phải bắt đầu với Chúa Giê-xu và để nghiên cứu về Ngài chúng ta phải trở lại với các sách Phúc Âm. Tại đây chúng ta không nhất thiết chấp nhận chúng như là một phần của Kinh Thánh được hà hơi; chúng ta chỉ cần xem chúng như những văn kiện lịch sử chân xác là đủ. Cũng không cần xem xét xuất xứ của chúng, chỉ cần nhấn manh rằng tác giả của những sách này là những người Cơ Đốc chân thật nhất và nội dung của chúng vừa khách quan vừa là những điều họ tận mắt chứng kiến và để lại nhiều ấn tượng trên họ. Tuy nhiên, giờ đây về thực chat chúng ta chỉ đơn thuần xem chúng là những ký thuật chân xác về cuộc đời và sự gỉảng dạy của Chúa Giê-xu. Khi làm như thế, chúng ta sẽ không dựa vào những trích đoạn rời rạc và mơ hồ. Chúng ta sẽ tập trung vào những gì tổng quát và rõ ràng.
Mục đích của chúng ta là sắp xếp những bằng chứng để chứng minh rằng Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ không thỏa mãn về lời nhận định mơ hồ về thần tính của Ngài; thần tính mà chúng ta có ý định xác minh. Chúng ta tin rằng Ngài có mối quan hệ đời đời và thiết yếu với Đức Chúa Trời mà không ai có thể có được. Chúng ta không xem Ngài là Đức Chúa Trời cải trang thành con người, cũng không phải là con người có những phẩm chất của Đức Chúa Trời, nhưng Ngài là Đức Chúa Trời thành người. Chúng ta tin rằng Chúa Giê-xu là nhân vật lịch sử có hai bản tính riêng biệt và trọn vẹn, bản tính của Đức Chúa Trời (Goodhead) và nhân tính (manhood). Đây là điều chắc chắn và độc nhất vô nhị. Vì thế Ngài không những xứng đáng để chúng ta cảm phục mà còn xứng đáng để chúng ta tôn thờ Ngài.
Ít ra có ba loại bằng chứng. Bằng chứng liên quan đến những lời xác nhận của Ngài, đến đặc tính mà Ngài đã bày tỏ và sự sống lại từ kẻ chết của Ngài. Một bằng chứng không đủ đi đến kết luận cuối cùng. Giống như ba đường thẳng hội tụ lại thành một điểm, cả ba đi đến cùng một kết luận.
Thế thì bằng chứng thứ nhất là những lời xác nhận của chính Chúa Cứu Thế. Theo lời của Tổng giám mục William Temple, “Giờ đây phải nhìn nhận rằng vì sự hiện hữu của Ngài không có chút bằng chứng nào nên Chúa Cứu Thế đã trở thành Nhân vật lạ lùng công bố những lời xác nhận gây kinh ngạc.” Đúng là những lời xác nhận tự chúng không tạo nên bằng chứng, nhưng đây là một hiện tượng lạ lùng cần phải được giải thích. Để cho sáng tỏ, chúng ta sẽ phân biệt bốn loại xác nhận khác nhau.
Sự giảng dạy về chính bản thân Ngài
Đặc điểm đáng chú ý nhất về sự giảng dạy của Chúa Giê-xu là Ngài thường nói về chính mình Ngài. Thực sự là Ngài phán dạy rất nhiều về Đức Chúa Trời là Cha và về vương quốc của Đức Chúa Trời. Nhưng sau đó Ngài nói thêm rằng Ngài là “Con” của Cha và Ngài đã đến để bắt đầu Vương quốc này. Việc bước vào vương quốc là tùy thuộc vào phản ứng của con đối với Ngài. Thậm chí Ngài đã không ngần ngại gọi vương quốc của Đức Chúa Trời là “nước của Ngài”.
Việc giảng dạy về chính mình Ngài của Chúa Giê-xu ngay lập tức khiến Ngài khác xa với những giáo sư vĩ đại của những tôn giáo khác trên thế giới. Họ khiêm tốn (self-effacing) không để cho người ta chú ý đến họ và nói rằng “Cho đến giờ đây là lẽ thật mà tôi lĩnh hội được, hãy tin theo đó.” Trong khi đó Chúa Giê-xu đã tự nâng mình lên (selft-advancing) và phán rằng “Ta là lẽ thật, hãy theo ta.” Không có nhà sáng lập tôn giáo nào dám nói như thế. Những đại từ nhân xưng cứ lập đi lập lại khiến cho chúng ta phải chú ý khi đọc lời của Ngai. Ví dụ:
Đức Chúa Jêsus phán rằng:
“Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát.”
“Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.”
“Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.”
“Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.”
“Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hay đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ” (GiGa 6:35; 8:12; 11:25, 26; 14:6; Mat Mt 11:28, 29).
Câu hỏi quan trọng cho phần đầu tiên trong lời giảng dạy của Ngài là, “Các ngươi nói ta là ai?” Ngài khẳng định rằng Áp-ra-ham đã vui mừng về ngày của Ngài, Môi-se viết về Ngài, Kinh Thánh làm chứng về Ngài và thật vậy trong ba phân loại lớn của Cựu Ước là luật pháp, các lời tiên tri và các trong các thánh thư, có nhiều chỗ nói về chính mình Ngài (Mac Mc 8:29; GiGa 8:56; 5:39; LuLc 24:27, 44).
Lu-ca đã mô tả một số chi tiết về chuyến viếng thăm đầy kịch tính một nhà hội ở Na-xa-rét, một làng quê của Chúa Giê-xu. Người ta đưa cho Ngài cuộn Kinh Thánh Cựu Ước và Ngài đứng đọc. Phân đoạn này là EsIs 61:1-2.
“Thần Chúa ngự trên Ta vì Chúa đã xức dầu phong chức cho Ta truyền giảng Phúc Âm cho người hiền từ. Ngài sai Ta đi băng bó những tấm lòng tan vỡ, tuyên cáo cho các nô lệ được tự do, và mở cửa ngục tù để phóng thích những người bị xiềng xích, để công bố năm đặc ân của Chúa và ngày tưởng thưởng của Thượng Đế, để an ủi tất cả những người tang chế khóc than.”
Ngài đóng sách lại, trả cho người giữ nhà hội và ngồi xuống, trong khi mọi cặp mắt của những người trong nhà hội đều dán chặt vào Ngài. Sau đó Ngài phá tan sự im lặng bằng những lời lạ lùng, “Ngày nay phân đoạn Kinh Thánh thánh này đã ứng nghiệm đang khi các ngươi nghe.” Nói cách khác, “ Ê-sai đã viết về ta.”
Với quan điểm như thế về chính mình Ngài, thì không có gì ngạc nhiên khi Ngài kêu gọi người ta đến với Ngài. Thật vậy, Ngài còn làm hơn là mời gọi; Ngài ra lệnh. Ngài phán: “Hãy đến cùng ta, ” “Hãy theo ta.” Ngài hứa với những ai đến với Ngài rằng Ngài sẽ cất đi gánh lao khổ, làm thoả mãn cơn đói và làm tươi mới linh hồn khô hạn của họ (Mat Mt 11:28; GiGa 6:35; 7:27). Hơn nữa, người theo Ngài phải vâng lời Ngài và xưng nhận tội lỗi trước mặt người ta. Các môn đệ của Ngài nhận thức rằng những lời xác nhận có thẩm quyền này là bởi quyền của Chúa Giê-xu và trong những thơ tín của họ, Phao lô, Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giu-đe đã tự xưng họ là “tôi tớ của Ngài.”
Hơn thế nữa, đối với những người đương thời Ngài đã trở thành đối tượng thích hợp cho đức tin và tình yêu của họ. Chính vì để cho con người tin vào Đức Chúa Trời mà Ngài đã mời gọi con người tin vào Ngài, “Đây là công việc của Đức Chúa Trời, ” Ngài phán, “để các ngươi tin Ngài là Đấng đã sai ta đến.” “Ai tin Con có sự sống đời đời.” Tin vào Ngài là trách nhiệm hàng đầu của con người, không tin Ngài là phạm tội trọng (GiGa 6:29; 3:36; 8:24; 16:8, 9).
Một lần nữa, điều răn lớn và đầu tiên là yêu mến Đức Chúa Trời với tất cả tâm hồn và trí tuệ. Vì thế Chúa Giê-xu đã xác nhận một cách táo bạo đây là tình yêu tối cao của con người. Bất cư ai yên cha, mẹ, con cái hơn Ngài là không xứng đáng với Ngài, Ngài phán. Thật vậy, Ngài đã sử dụng lối truyền đạt tương phản Hy-bá-lai một cách sinh động để nói lên sự ví sánh của Ngài, “ Nếu có ai đến theo ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình, và chính sư sống mình nữa, thì không được làm môn đồ ta” (Mat Mt 10:37; LuLc 14:26).
Ngài tin rằng theo mục đích của Đức Chúa Trời Ngài sẽ sai Đấng sẽ thay thế Ngài đến thế gian sau khi Ngài trở về trời. Đó là Đức Thánh Linh, là Đấng Yên Ủi, Paraclete , đây danh xưng mà Chúa Cứu Thế ưa thích. Đây là một thuật ngữ luật pháp, có nghĩa là một trạng sư, người biện hộ, người tư vấn. Chắc hẳn công việc của Đức Thánh Linh là biện hộ cho Chúa Giê-xu trước thế gian. “ Ngài sẽ làm chứng về ta, ” Chúa Giê-xu phán. Ngài lại phán, “Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi” (GiGa 15:26; 16:14). Vì thế sự làm chứng của Đức Thánh Linh đối với thế gian lẫn sự mặc khải đối với Hội Thánh đều có liên quan đến Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Chúa Giê-xu đã tiên tri, “Khi ta bị treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta.” Ngài biết rằng thập tự giá sẽ dùng sức hấp dẫn đạo đức tác động trên con người. Nhưng khi kéo họ đến, về cơ bản họ không được đem đến với Đức Chúa Trời hoặc đến với Hội Thánh, cũng không đến với lẽ thật hoặc đến với sự công chính, nhưng đến với chính Chúa Giê-xu. Thực ra họ được đem đến với những điều trên bởi vì họ đã được đem đến với Ngài.
Một đặc điểm đáng lưu ý nhất trong sự giảng dạy về chính bản thân Ngài là Ngài cứ nhân mạnh về sự khiêm nhường trên những người khác. Ngài quở trách các môn đệ của Ngài về sự tư lợi và Ngài buồn vì sự tham muốn của họ quá lớn. Ngài đã không thực hành những gì Ngài giảng hay sao? Ngài đã bồng một đứa trẻ đặt nó ở giữa để làm gương cho họ. Phải chăng Ngài có một tiêu chuẩn khác cho chính mình Ngài?
Những lời xác nhận trực tiếp của Ngài
Rõ ràng là Chúa Giê-xu tin rằng chính Ngài là Đấng Mết-si-a mà Cựu Ước tiên tri. Ngài đã đến để thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời như đã được dư ngôn bởi nhiều thế hệ tiên tri.
Thật là có ý nghĩa khi từ ngữ đầu tiên ký thuật về chức vụ công khai của Ngài là từ “ứng nghiệm” và câu nói đầu tiên của Ngài là “Thời kỳ đã đến, Nước Trời đã gần! Phải ăn năn tội lỗi và tin nhận Phúc Âm!” Ngài thừa nhận danh hiệu “Con Người” là danh hiệu được chấp nhận của Đấng Mết-si-a có nguồn gốc từ một trong những hiện thấy của Đa-ni-ên. Ngài chấp nhận sự mô tả “Con Người” khi bị thầy tế lễ cả thách thức, đây là một danh hiệu khác của Đấng Mết-si-a được lấy ra từ Thi Tv 2:7. Ngài giải thích sứ mạng của Ngài trong ánh sáng của lời mô tả về người đầy tớ chịu khổ của Đức Giê-hô-va trong phần cuối của sách Ê-sai. Trong phần đầu khi Ngài giảng dạy cho mười hai sứ đồ tại Sê-sa-rê Phi-líp, đã xảy ra sự kiện Si-môn Phi-e-rơ đã xưng nhận đức tin trong Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế. Nhưng người khác có thể cho rằng Ngài là một trong những tiên tri; nhưng Si-môn đã đi đến chỗ xưng nhận Ngài là Đấng mà các tiên tri đã nói dến. Ngài không phải là tấm bảng chỉ đường, nhưng Ngài là đích đến mà những tấn bảng chỉ đường dẫn đến (Mac Mc 1:15 theo nghĩa đen 14:61, 62; 8:27-29).
Toàn bộ chức vụ của Chúa Giê-xu đều nhuốm màu sắc mang ý nghĩa của sự ứng nhiệm. “Phước cho mắt nào được thấy điều các ngươi thấy!” một lần nữa Ngài phán riêng với các môn đồ.” Quả thật, ta nói cùng các ngươi, có nhiều đấng tiên tri, nhiều người công chính đã ước ao thấy điều các ngươi thấy, mà chẳng được thấy; ước ao nghe điều các ngươi nghe, mà chẳng được nghe” (LuLc 10:23; Mat Mt 13:16-17).
Nhưng những lời xác nhận mà chúng ta hiện đang xem xét không những liên quan đến vai trò Đấng Mết-si-a của Ngài mà con liên quan đến thần tính của Ngài. Ngài xác nhận Ngài là Con Đức Chúa Trời hơn là Đấng Mết-si-a; điều này nói lên mối quan hệ độc đáo và đời đời với Đức Chúa Trời mà Ngài có. Chúng ta có thể đưa ra ví dụ về lời xác nhận lớn hơn này.
Thứ nhất, có một sự tương thông mật thiết với Đức Chúa Trời là” Cha” mà Ngài thường nói đến. Ngay khi còn là một cậu bé mười hai tuổi, Ngài đã làm cho cha mẹ về phần xác phải kinh ngạc về lòng nhiệt tâm vô giới hạn đối với công việc của Cha thiên thượng của Ngài. Và rồi Ngài đa nói những lời như sau:
“Cha ta làm việc cho đến bây giờ, ta cũng làm việc như vậy.”
“Ta với Cha là một.”
“Ta ở trong Cha và Cha ở trong ta” (GiGa 5:17; 10:30; 14:10, 11).
Sự thực Ngài cũng đã dạy các môn đệ Ngài gọi Đức Chúa Trời là “Cha”. Vi thế Ngài đã nói với Ma-ri Ma-đơ-len, “Ta lên cùng Cha ta và Cha các ngươi”. Chắc hẳn Ngài không thể nào nói rằng: “Ta lên cùng Cha chúng ta.”
Đây là những câu trích từ Phúc Âm Giăng, nhưng mối quan hệ độc đáo với Đức Chúa Trời được Chúa Giê-xu xác nhận trong Mat Mt 11:17, “Mọi việc Cha ta đã giao cho ta; ngoài Cha không có ai biết Con; ngoài Con và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, thì cũng không ai biết Cha.”
Sự việc Chúa Giê-xu xác nhận mối quan hệ khắng khít giữa Ngài và Đức Chúa Trời đã gây sự tức giận cho người Do Thái. Họ nói, “Hắn tư xưng là Con Đức Chúa Trời” (GiGa 19:17).
Sự đồng nhất hóa của Ngài với Đức Chúa Trời hết sức bền chặt đến nỗi Ngài tự nhiên xem thái độ cư xử với chính Ngài là thái độ cư xử với Đức Chúa Trời. Vì thế,
Biết Ngài là biết Đức Chúa Trời.
Thấy Ngài là thấy Đức Chúa Trời.
Tin Ngài là tin Đức Chúa Trời.
Tiếp nhận Ngài là tiếp nhận Đức Chúa Trời.
Ghét Ngài là ghét Đức Chúa Trời.
Tôn vinh Ngài là tôn vinh Đức Chúa Trời
(GiGa 8:19; 14:17; 12:45; 14:9; 12:44; 14:1; Mac Mc 9:37; GiGa 15:23; 5:23).
Đây là một số lời xác nhận tổng quát của Chúa Giê-xu về mối quan hệ độc đáo của Ngài với Đức Chúa Trời. Ngài cũng xác nhận thêm hai điều nữa. Điều thứ nhất được ký thuật trong cuối chương tám của Phúc Âm Giăng. Trong khi tranh luận với người Do Thái Ngai nói: “Ta nói quả quyết, ai vâng giữ lời Ta sẽ chẳng bao giờ chết mất.” Điều này khiến cho nhiều người chỉ trích Ngài. Họ bình phẩm, “Áp-ra-ham đã chết, các đấng tiên tri cũng vậy…Thầy lại trọng hơn cha chúng tôi, Áp-ra-ham, là người đã chết sao?.. Thầy mạo xưng mình là ai?”.
Chúa Giê-xu nói, “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ.” Người Do Thái càng thêm bối rối. “Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Áp-ra-ham!” Chúa Giê-xu đáp lời bằng một trong những lời xác nhận có ý nghĩa xâu xa nhật của Ngài: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta.”
Sau đó họ lấy đá ném Ngài.
Theo luật pháp Môi-se kẻ phạm thượng phải bị ném đá và ngay từ đầu người ta có thể tự hỏi rằng họ thấy trong lời nói của Chúa Giê-xu có điều gì là phạm thượng. Dĩ nhiên có lời xác nhận rằng Ngài sống trước Áp-ra-ham. Ngài thường làm như thế.
Ngài từ trời “xuống” và đuợc Cha “sai đến”. Nhưng lời xác nhận này hoàn toàn vô tư.
Chúng ta cần phải xem thêm. Ngài không nói “Trước khi Áp-ra-ham có đã có Ta, ” nhưng Ngài phán “Trước khi Áp-ra-ham chưa có đã có Ta.” Vì thế đây là lời khẳng định về sự hiện hữu đời đời của Ngài trước Ap-ra-ham. Nhưng như thế vẫn chưa hết.
“Đã có ta” là lời xác nhận về sự vĩnh hằng, mà còn là lời xác nhận về thần tính của Ngài. “Có Ta” hay “Ta là” (I am) là danh hiệu thiên thượng mà Đức Giê-hô-va đã bày tỏ chính mình Ngài cho Môi-se trong bụi gai cháy. “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu… Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Đấng Tự hữu hằng Hữu đã sai ta đến cùng các ngươi.” Đây là danh hiệu của Đức Chúa Trời mà Chúa Giê-xu đã nhận lấy cho chính mình Ngài một cách yên lặng. Chính vì điều này mà mà người Do Thái đã cho rằng Ngài phạm thượng và ném đá Ngài.
Ví dụ thứ hai về lời xác nhận trực tiếp về thần tính của Ngài xảy ra sau khi Ngài phục sinh. Giăng tường thuật (GiGa 20:26-29) rằng vào ngày Chúa nhật sau lễ Phục Sinh, Thô-ma hoài nghi đang ở với các môn đồ trên phòng cao thì Chúa Giê-xu hiện ra. Chúa Giê-xu đã mời Thô-ma sờ vào những vết thương của Ngài và Thô-ma đã choáng ngợp trong cự kinh ngạc và kêu lên rằng: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!” Ngài chấp nhận cách xưng hô của ông. Ngài quở trách Thô-ma vì sự vô tín của ông chớ không phải vì sự thờ phượng của ông.

Những lời xác nhận gián tiếp của Ngài.
Những lời xác nhận gián tiếp của Ngài cũng mạnh mẽ và sinh động như là những lời xác nhận trực tiếp. Những hàm ý về chức vụ của Ngài cũng là những bằng chứng hùng hồn về thân vị của Ngài như là những lời giải thích đầy đủ của Ngài. Trong nhiều dịp Ngài đã thực thi công việc của Đức Chúa Trời một cach thích đáng. Sau đây là bốn công việc được đề cập đến.
Thứ nhất là lời xác nhận về sự tha tội . Có hai trường hợp riêng rẽ (Mac Mc 2:1-12; LuLc 7:36-50) mà Chúa Giê-xu đã tha thứ cho các tội nhân. Lần thứ nhất, một người bại dược những người bạn đem đến, để người này trên giường và dùng dây dòng qua mái nhà. Chúa Giê-xu thấy nhu cầu cơ bản của người này là nhu cầu thuộc linh và Ngài đã làm cho đám đông kinh ngạc khi nói với người này rằng, “Hỡi con, tội lỗi ngươi được tha.”
Lời công bố tha tội thứ hai của Ngài được thực hiện đối người đàn bà mà người ta biết là phạm tội tà dâm. Đang khi Chúa Giê-xu đang dùng bữa tại nhà nột người Pha-ri-si thì người đàn bà này đến đằng sau Ngài sa nước mắt trên chân Ngài, rồi dùng tóc mà lau, sau đó hôn và xức dầu cho. Và Chúa Giê-xu nói với bà rằng, “Tội lỗi ngươi đã được tha.”
Trong hai dịp này những người bàng quan đã cau mày và hỏi rằng: “Người này là ai?” Đây có phải là phạm thượng không? Ngoài Đức Chúa Trời ai có quyền tha tội? Họ đã phát biểu đúng. Chúng ta có thể tha thứ những người gây tổn thương cho chúng ta; nhưng những tội mà chúng ta đã phạm với Đức Chúa Trời thì chỉ có Đức Chúa Trời có quyền tha tội cho chúng ta.
Lời xác nhận gián tiếp thứ hai của Chúa Cứu Thế là ban sự sống . Ngài mô tả chính Ngài là “bánh sự sống, ” “sự sống, ” và “sự sống lại và sự sống.” Ngài ví sánh sự phụ thuộc của những người tin theo Ngài vào Ngài như những nhánh nho tiếp nhận chất dinh dưỡng từ gốc nho. Ngài ban cho người đàn bà Sa-ma-ri “nước sống” và hứa ban sự sống đời đời cho nhà lãnh đạo trẻ tuổi và giàu có nếu người này bằng lòng đến và theo Ngài. Ngài tự xưng là Đấng chăn hiền lành không những phó sự sống mình cho chiên mà còn ban sự sống cho chúng. Ngài phán rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài quyền trên mọi xác thịt, Ngài sẽ ban sự sống đó cho nhiều người như Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài. Ngài công bố rằng “Con ban sự sống cho ai Ngài muốn” (GiGa 6:35; 14:6; 11:25; 15:4-5; 4:10-15; Mac Mc 10:17, 21; GiGa 10:28; 17:2; 5:21).
Lời xác nhận này thật rõ ràng để cho các môn đệ của Ngài hiểu được lẽ thật của nó. Nó khiến cho họ không thể nào lìa bỏ Ngài. “Chúng tôi sẽ theo ai?” Phi-e-rơ hỏi, “Ngài có lời của sự sống đời đời.”
Sự song là điều bí ẩn. Dầu là sự sống thuộc linh hay thuộc thể, bản chất của nó là điều khó hiểu như nguồn gốc của nó. Chúng ta không thể định nghĩa nó là gì cũng như nói nó từ đâu đến. Chúng ta chỉ có thể gọi nó là một món quà của Đức Chúa Trời. Đây chính là món quà mà Chúa Giê-xu đã xác nhận ban cho chúng ta.
Lời xác nhận gián tiếp thứ ba của Chúa Cứu Thế là dạy lẽ thật . Sự khôn ngoan của Ngài đã gây ấn tượng sâu sắc trên những người đương thời.
“Có phải người là thợ mộc, con trai Ma-ri, anh em với Gia-cơ, Giô-suê, Giu-đe, và Si-môn chăng?”
“Người này chưa từng học, làm sao biết được Kinh thánh?”
Nhưng thẩm quyền của Ngài còn làm họ càng ấn tượng hơn.
“Chẳng hề có người nào đã nói như người này!”
“Ngài dùng quyền phép mà phán.”
“Vả, khi Đức Chúa Jêsus vừa phán những lời ấy xong, đoàn dân lấy đạo Ngài làm lạ; vì Ngài dạy như là có quyền, chớ không giống cac thầy thông giáo” (Mac Mc 6:3; GiGa 7:15, 46; LuLc 4:32; Mat Mt 7:28, 29).
Nếu thẩm quyền của Ngài không phải là thẩm quyền của các thầy thông giáo, nó cũng không phải là thẩm quyền của các tiên tri. Các thầy thông giáo không bao giờ dạy mà không trích dẫn những thẩm quyền của họ. Các tiên tri bao giờ cũng nói đến thẩm quyền của Đức Giê-hô-va. Nhưng Chúa Giê-xu xác nhận thẩm quyền của chính Ngài. Công thức của Ngài không phải là “Vì Chúa phán, ” nhưng là “Quả thật, quả thật, Ta phán cùng các ngươi.” Sự thật là Ngài mô tả rằng giáo lý mà Ngài giảng dạy không phải là của Ngài mà là của Cha là Đấng đã sai Ngài đến. Tuy nhiên Ngài biết chính Ngài phai trở thành phương tiện trực tiếp cho sự mặc khải của Đức Chúa Trời khi Ngài phán bảo với sự xác quyết rất cá nhân. Ngài không bao giờ do dự hay xin lỗi. Ngài không bao giờ mâu thuẫn, rút lại hay sửa đổi bất cứ điều gì Ngài đã nói ra. Ngài phán những lời rõ ràng của Đức Chúa Trời: “Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã sai đến để nói ra những lời của Đức Chúa Trời.” Ngài tiên đoán tương lai với niềm tin quyết trọn vẹn. Ngài truyền những mạng lệnh tuyệt đối về mặt đạo đức như” Hãy yêu thương kẻ thù ngịch mình, ” “Đừng lo lắng về ngài mai, ” “Đừng đoán xét để các ngươi không bị đoán xét.” Ngài phán hứa và bảo đảm thực hiện lời hứa của Ngài: “Hãy xin, sẽ được.” Ngài xác nhận lời Ngài là đời đời như luật pháp và sẽ chẳng bao giờ qua đi. Ngài cảnh cáo người nghe rằng số phận của họ tùy thuộc vào sự đáp ứng của họ đối với lời dạy của Ngài, giống như số phận của dân Y-sơ-ra-ên tùy thuộc phản ứng của họ đối với lời Đức Chúa Trời.
Lời xác nhận gián tiếp thứ tư của Ngài là sự phán xét thế gian . Có thể nói đây là lời xác nhận lạ lùng trong những lời phán của Ngài. Một vài ngụ ngôn của Ngài hàm ý rằng Ngài sẽ trở lại lúc thế giới chung tận và cái ngày cuối cùng này được trì hoãn cho đến khi Ngài trở lại. Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết và mọi dân tộc sẽ tụ họp trước mặt Ngài. Ngài sẽ ngồi trên Ngôi vinh hiển và sự phán xét được Đức Chúa Cha chuyển giao cho Ngài. Sau đó Ngài sẽ chia con người ra như người chăn chia chiên và dê ra. Một số người sẽ được mời đến để hưởng vuơng quốc đã được chuẩn bị cho họ từ buổi sáng thế. Những người khác sẽ nghe những lời kinh khiếp sau: “Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó” (GiGa 5:22, 28, 29; Mat Mt 25:31-46).
Chúa Giê-xu không những là Đấng phán xét, mà thái độ của con người bày tỏ trong cách đối xử với “anh em” của Ngài sẽ là tiêu chuẩn để phán xét họ. Ai xưng Ngài trước mặt con người, Ngài sẽ xưng họ trước mặt Cha Ngài, ai từ chối Ngài, Ngài sẽ từ chối họ. Có thể Chúa Giê-xu nói với một người không được vào thiên đàng vào Ngài cuối cùng rằng: “Ta không biết ngươi” (GiGa 12:47, 48; Mat Mt 10:32, 33; 7:23).
Thật khó mà phóng đại tầm quan trọng của lời xác nhận này. Hãy tưởng tượng rằng một người hầu việc Chúa ngày hôm nay nói với giáo đoàn của mình những lời như sau: “Hãy chăm chú lắng nghe lời của ta. Số phận đời đời của các ngươi tùy thuộc vào điều này. Ta sẽ trở lại vao ngày cuối cùng của thế giới này để đoán xét các ngươi. Và số phận của cac ngươi sẽ được định đoạt theo mức độ các ngươi vâng lời.” Một nhà truyền đạo như thế không thể nào thoát khỏi sự chú ý của công an và những chuyên gia tâm thần.
Sự xác nhận qua hành động của Ngài
Chúng ta cùng nhau xem xét những phép lạ của Chúa Giê-xu được ký thuật trong Kinh Thánh, chúng có thể được xem là những lời khẳng định đầy kịch tính của Chúa Giê-xu.
Đây không phải là chỗ để luận bàn về khả năng và mục đích của phép lạ. Chỉ đủ để nói rằng giá trị phép lạ của Chúa Cứu Thế nằm ở tầm quan trọng thuộc linh hơn là ở đặc tính siêu nhiên của chúng. Chúng là “những dấu kỳ” cũng như “phép lạ.” Phép lạ chẳng bao giờ được thực hiện một cách ích kỷ hoặc vô nghĩa. Mục đích của phép lạ không phải là khoe khoang hay là thu phục. Phép lạ không phải là biểu hiẹn quá đáng về sức mạnh thuộc thể để minh họa cho thẩm quyền đạo đức. Kỳ thật phép lạ là ẩn dụ được thể hiện bằng hành vi của Chúa Giê-xu. Phép lạ làm chứng cho những lời xác nhận có thể thấy được của Ngài.
Giăng hiểu rõ điều này. Ông đã xây dựng Phúc Âm của ông dựa trên sáu hoặc bảy phép lạ (xem GiGa 20:30, 31). Ông đã kết hợp chúng với lời tuyên bố “Ta là” của Chúa Giê-xu. Phép lạ đầu tiên là hóa nước thành rượu tại tiệc cưới Ca-na ở Ga-li-lê. Tầm quan trọng của phép lạ này nằm bên dưới bề mặt của nó. Giăng nói với chúng ta rằng những ché đá đựng nước tượng trưng cho “những nghi lễ tẩy sạch của người Do Thái.” Đây là đầu mối mà chúng ta đang tìm kiếm. Nước tượng trưng cho tôn giáo cũ, giống như giếng Gia-cốp trong đoạn 4. Rượu tượng trưng cho tôn giáo của Chúa Gê-xu. Khi Ngài biến nước thành rượu, có nghĩa là Phúc Âm thay thế cho luật pháp. Phép lạ tiến đến chỗ xác nhận rằng Ngài có đủ khả năng thực thi trật tự mới. Ngài là Đấng Mết-si-a. Vì Ngài vừa mới nói với người đàn bà Sa-ma-ri rằng: “Ta… là Đấng đó.”
Tương tự, việc Ngài hóa bánh cho năm ngàn người ăn minh họa lời xác nhận rằng Ngài sẽ làm thoả mãn những tấm lòng đói khát. Ngài phán, “Ta là bánh của sự sống.” Ít lâu sau khi Ngài phán “Ta là sự sáng của thế gian, ” Ngài mở mắt người mù từ thuở sinh ra. Nếu Ngài có thể phục hồi thị lực cho người mù, Ngài có thể mở mắt cho con người để họ có thể thấy và biết Đức Chúa Trời. Cuối cùng, Ngài đã khiiến cho một người đã chết bốn ngày tên là La-xa-rơ sống lại và xác nhận, “Ta là sự sống lại và sự sống.” Ngài dã làm cho kẻ chết sống lại. Đó là phép lạ. Sự sống của thân thể là biểu tượng của sự sống của linh hồn. Chúa Cứu Thế có thể là sự sống của những người tin theo Ngài trước khi chết và sẽ là sự sống lại của họ của họ sau khi chết. Tất cả những phép lạ này là những ẩn dụ, đối với những người khao khát thuộc linh, đui mù và chết chỉ có Chúa Giê-xu mới có thể thỏa mãn sự khao khát của họ, phục hồi thị giác và dem họ đến một đời sống mới (GiGa 6:35; 8:12; 11:25).
Kết luận
Không thể loại bỏ những lời xác nhận này ra khỏi sự giảng dạy của người thợ mộc Na-xa-rét. Không thể nói rằng chúng do các nhà truyền đạo nghĩ ra, thậm chí cho rằng chúng được cường điệu hóa một cách vô ý thức. Chúng được phân bố một cách rộng rãi và đồng đều trong các sách Phúc Âm và trong các nguồn tư liệu của các sách Phúc Âm. Sự miêu tả về chúng rất nhất quán và rất quân bình.
Bản thân những lời xác nhận này không phải là bằng chứng về thần tính của Chúa Giê-xu. Những lời xác nhận này có thể sai. Nhưng phải giải thích rõ chúng sai ở chỗ nào. Chúng ta không thể xem Chúa Giê-xu là một giáo sư vĩ đai nếu Ngài hoàn toàn sai lầm trong giảng dạy về một trong những chủ đề lớn, đó là giảng dạy về chính mình Ngài. Một số học giả cho rằng “chứng hoang tưởng tự đại” (megalomania) đã khiến Chúa bị nhiễu loạn.
“Những lời xác nhận của chỉ một người sẽ trở thành vị kỷ và thậm chí dẫn đến chỗ hoang tưởng” (P.T.Forsyth, This Life and The Next , Independent Press, 1947).
“Sự bất nhất giữa sự sâu sắc, đúng mực và tinh tế trong lời giảng dạy đạo đức của Ngài với chứng hoang tưởng tự đại quá đáng nằm đằng sau sự giảng dạy về thần học của Ngài chẳng bao giờ khắc phục được một cách ổn thỏa trừ khi Ngài thật là Đức Chúa Trời” (C.S. Lewis, Miracles , Bles, 1947).
Thế thì phải chăng Ngài là kẻ cố ý lừa đảo? Phải chăng Ngài đã cố gắng chiếm được lòng tin của con người bằng cách cho rằng Ngài có uy quyền của Đức Chúa Trời mà thật sự Ngài không có? Thật khó tin được điều này. Chẳng có đieu gì dối trá nơi Chúa Giê-xu. Ngài ghét sự giả hình nơi người khác và chân thật với bản thân Ngài.
Thế thì Ngài có phạm sai lầm không? Ngài có ảo tưởng về chính mình không? Có những người tán thành khả năng này, nhưng người ta ngờ rằng ảo tưởng của những người này còn lớn hơn ảo tưởng của Ngài. Chúa Giê-xu không tạo ra ấn tượng mà bình thường người ta luôn nhận thấy nơi những con người sống trong ảo tưởng. Đặc tính của Ngài hổ trợ cho những lời xác nhận của Ngài và giờ đây chúng ta tiếp tục tìm hiểu về Ngài trong lãnh vực này.
ĐẶC TÍNH CỦA CHÚA CỨU THẾ
Mấy năm trước tôi nhận được một bức thư của một chàng thanh niên mà tôi không biết ro lắm. Anh ta viết, “Tôi vừa có một khám phá lớn. Đức Chúa Trời toàn năng có hai người con. Chúa Cứu Thế Giê-xu là người thứ nhất; tôi là người thứ hai.” Tôi nhìn thoáng qua địa chỉ ở đầu thư. Thư được viết từ một bệnh viện tâm thần nổi tiếng.
Dĩ nhiên có nhiều người giả vờ là những nhân vật vĩ đại và làm bộ như họ là Đức Chúa Trời. Cac bệnh viện tâm thần đầy dẫy những người tự cho mình là Julius Caesar, là Thủ tướng hay Nhật Hoàng hoặc Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nhưng không ai tin họ. Không một ai bị gạt trừ họ. Họ không có môn đệ, có lẽ trừ những bệnh nhân như họ. Họ thất bại trong việc chinh phục người khác đơn giản vì họ dường như không phải là điều mà họ xác nhận. Đặc tính của họ không hỗ trợ cho những lời xác nhận của họ.
Giờ đây niềm tin của Cơ Đốc nhân được cũng cố rất nhiều bởi sự kiện Chúa Giê-xu thật là Đấng mà Ngài đã phán. Không có sự bất nhất nào giữa lời Ngài nói và việc Ngài làm. Chắc chắn sẽ cần một đặc tính rất đáng chú ý để chứng minh những lời xác nhận của Ngài là xác thực, chúng ta tin rằng Ngài đã bày tỏ một đặc tính như vậy. Đặc tính của Ngài không minh chứng rằng những lời xác nhận của Ngài là đúng, nhưng xác nhận chúng một cách mạnh mẽ. Đặc tính của Ngài là độc nhất. John Stuart Mill gọi Ngài là “Nhân vật độc nhất vô nhị, không giống với tất cả những người trước hoặc sau Ngài” (Trích dẫn bơi W.H. Grifith Thoma, Christianity is Christ , 1909; Chuxh Book Room Press edition, 1948, p.15). Carnegie Simpson viết, “Đừng theo bản năng mà xếp Ngài chung với những người khác. Khi người ta đọc tên Ngài trong một danh sách bắt đầu bằng Khổng Tử và kết thúc bằng Goeth chúng ta cảm thấy rằng đây là sự xúc phạm đối với chính thống tính hơn là đối với lễ nghi. Chúa Giê-xu không thuộc vào hàng những người vĩ đại của thế gian. Hãy nói về A-lịch-sơn Đại đế, Đại đế Charles, Đại đế Napoleon nếu bạn muốn…Chúa Giê-xu khác xa họ. Ngài không phải là một Đại đế; Ngài là Đấng Duy nhất. Ngài là Chúa Giê-xu. Không thể thêm thắt gì vào điều nay…Ngài ở bên ngoài những phân tích của chúng ta. Ngài làm cho những tiêu chuẩn về bản chất của con người chúng ta trở nên rối rắm. Ngài buộc chúng ta phải bỏ qua sự phê phán của chúng ta. Ngài làm kinh động thần linh của chúng ta. Charles Lamb nói rằng “ nếu Shakespeare bước vào phòng này chúng ta phải đứng lên chào mừng ông, nhưng nếu Con người bước vào, tất cả chúng ta phải quỳ xuống và cố gắng để hôn vạt áo Ngài” (P. Carnegie Simpson, The Fact of Christ , 1930. James Clark edition. 1952, pp.19-22).
Thế thì chúng ta đã bận tâm lo lắng để nhằm chứng minh rằng Chúa Giê-xu ở trong phạm trù đạo đức. Việc thừa nhận rằng Ngài là “con người vĩ đại nhất đã từng sống” không còn làm cho chúng ta thỏa mãn. Chúng ta không thể nào nói về Chúa Giê-xu theo lối so sánh tương đối ngay cả với những lối so sánh tuyệt đối. Đối với chúng ta vấn đề này không nằm ở chỗ so sánh, nhưng nằm ở cho tương phản. “Sao ngươi hỏi ta về việc lành?” Ngài hỏi người trẻ tuổi giàu có. “Chỉ có một Đấng lành mà thôi.” “Đúng, ” chúng ta sẽ phải trả lời như thế. Không phải là vì Ngài tốt hơn những người khác, cũng không phải là vì Ngài là người tốt nhất trong tất cả mọi người, nhưng vì ngài là Đấng nhơn lành với thiện tính tuyệt đối của Đức Chúa Trời.
Tầm quan trọng của lời xác nhận này sẽ trở nên rõ ràng. Tội lỗi là căn bệnh bẩm sinh ở giữa con người. Chúng ta được sinh ra với những khiếm khuyết trong bản chất của chúng ta. Đây là lời than thở của vạn vật. Vì thế nếu Chúa Giê-xu Na-xa-rét sinh ra không tội lỗi, thì Ngài không giống như những con người ma chúng ta biết. Nếu Ngài vô tội, thì Ngài rất khác với chúng ta. Ngài là siêu phàm.
“Đặc tính của Ngài lạ lùng hơn phép lạ vĩ đại nhất” (Tenyson, quoted by Carnegie Simpson, p. 62).
“Việc phân rẽ khỏi những tội nhân không phải là chuyện nhỏ đây là một sự việc vô cùng lớn lao; đây là giả định của sự cứu chuộc; đây chính là đặc tính của Chúa Cứu Thế. Nếu không có đặc tính này Ngài sẽ không có đủ tư cách làm Cứu Chúa, Ngài sẽ giống như chúng ta, cần phải được cứu chuộc” (James Deney, Studies in Theology , Holder and Stoughton, 9th editon, 1906, p.4).
Bằng chứng về sự vô tội của Đấng Christ có thể tóm lược trong bốn điểm như sau:
Chúa Cứu Thế nhận thức về chính Ngài
Có đôi lần Chúa Cứu Thế trực tiếp nói rằng Ngài vô tội. Khi một người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội tà dâm bị kéo đến trước mặt Ngài, Ngài đã đưa ra lời thách thức cho những người buộc tội người đàn bà này: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người.” Từ từ họ bỏ đi cho đến khi không còn lại một ai. Một lúc sau cũng trong đoạn này (GiGa 8:46), ký thuật rằng Chúa đưa ra một thách thức khác, lần này liên quan đến chính mình Ngài: “Ai trong các ngươi nói rằng ta là người có tội?” Không ai trả lời. Họ đã lẻn đi khi Ngài buộc tội họ. Nhưng khi Ngài mời họ buộc tội Ngài, Ngài có thể đã xem xét họ kỷ càng. Họ đều là những tội nhân; Ngài không hề phạm tội. Ngài sống cuộc đời vâng phục trọn vẹn ý chỉ của Cha Ngài. Ngài phán: “Ta luôn làm những gì đẹp lòng Ngài.” Không có chút khoác lác nào trong những lời này. Ngài nói một cách tự nhiên, không chút bối rối hay giả vờ.
Tương tự, Ngài tự đặt mình vào trong phạm trù đạo đức bởi chính bản chất của những lời giảng dạy của Ngài. Người Pha-ri-si trong Đền thờ trong lời tạ ơn đầy kiêu ngạo của ông “Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác” cũng đã làm như vậy. Nhưng Chúa Giê-xu thừa nhận sự độc nhất vô nhị của Ngài trong sự quan tâm đến bản thân Ngài một cách vô thức. Ngài không cần phải chú ý về điều này. Đây là điều hiển nhiên đối với Ngài mà hầu như không cần phải nhấn mạnh đến. Điều này được hàm ý hơn là được khẳng định. Mọi người là những con chiên lạc; Ngài đã đến để làm Người chăn nhơn lành tìm kiếm và giải cứu họ. Mọi người đều mắc phải căn bệnh tội lỗi; Ngài là bác sĩ đã đến để chữa lành cho họ. Mọi người đều chìm đắm trong bóng tối của tội lỗi; Ngài được sinh ra để làm Cứu Chúa của họ và đổ huyết ra cho đến chết để tha thứ tội lỗi cho họ. Mọi người đều đói khát; Ngài là bánh của sự sống. Mọi người đều chết trong sự quá phạm và tội lổi của họ; giờ đây Ngài là sự sống và là sự sống lại của họ sau này. Tất cả những ẩn dụ này nói lên sự đôc nhất vô nhị của Ngài.
Vì thế, không có gì phải ngạc nhiên dầu trải qua những cám dỗ nhưng Ngài chẳng hề phạm tội. Ngài chẳng bao giờ phải xưng tội hoặc xin tha thứ, dầu rằng Ngài đã bảo các môn đệ của Ngài phải làm như thế. Ngài không hề biết đến sự thất bại thuộc linh. Ngài không hề có một ý nghĩ tội lỗi nào và không hề có một cảm thức nào về sự bất hảo đối với Đức Chúa Trời. Phép báp tem của Ngài thật là “phép báp têm ăn năn” của Giăng. Nhưng Giăng ngần ngại khi làm báp têm cho Chúa Giê-xu và Chúa Giê-xu thuận phục điều này không phải vì Ngài tự nhận mình là một tội nhân nhưng là để “làm trọn mọi sự công bình” và để bắt đầu đồng nhất hóa Ngài với tội lỗi của những người khác. Ngài dường như sống trong mối giao thông không hề gián đoạn với Cha Ngài.
Việc không hề có sự không hài lòng về mặt đạo đức và ý nghĩa về mối giao thông trong sáng với Đức Chúa Trời đặc biệt đáng lưu ý vì hai lý do. Thứ nhất là vì Chúa Giê-xu phán xét tinh tường về măt đạo đức. Ngài biết… những gì ở bên trong con người.” Những câu chuyện của Phúc Am vẫn thường ký thuật rằng Ngài đọc thấy những vấn nạn và những lúng túng của đám đông. Sự nhận thức rõ ràng của Ngài dẫn Ngài đến chỗ vạch trần sự hai lòng của người Pha-ri-si. Ngài ghét sự giả hình của họ. Ngài tuyên bố nhiều tai hoạ sẽ ập đến trên họ như những tai họa mà các tiên tri nói đến trong Cựu Ước. Khoe khoang và giả hình là điều ghê tởm đối với Ngài. Dầu vậy cặp mắt nhìn thấu suốt mọi sự của Ngài không hề nhìn thấy tội lỗi nào ở trong Ngài.
Lý do thứ hai tại sao sự thánh khiết mà Ngài tự nhận thức về chính bản thân Ngài đã gây kinh ngạc là vì nó hoàn toàn khác với kinh nghiệm của tất cả các thánh và những nhà thần bí. Cơ Đốc nhân biết rằng càng gần Đức Chúa Trời bao nhiêu thì càng ý thức được tội lỗi của chính mình bấy nhiêu. Trong chỗ này thánh đồ có phần giống nhà khoa học. Càng khám phá nhiều, nhà khoa học càng hiểu được rằng còn có những điều bí ẩn đang chờ đợi sự khám phá của ông. Cũng thế, Cơ Đốc nhân càng trở giống như Chúa Cứu Thế thì càng nhận thức được khoảng cách lớn lao phân cách giữa mình và Chúa Cứu Thế.
Về sự kiện này chúng ta sẽ hài lòng khi đọc tiểu sử của bất cứ một Cơ Đốc nhân nào, nếu kinh nghiệm riêng tư của mình không phải là chứng cớ đầy đủ. Có thể đưa ra một ví dụ về David Brainerd là một giáo sĩ tiền phong trẻ tuổi cho những người Da đỏ Delaware vào đầu thế kỷ mười chín. Nhật ký và thư từ của ông bày tỏ phẩm chất cao đẹp trong sự tận hiến của ông đối với Chúa Cứu Thế. Mặc dầu sự đau đớn và ốm yếu cực kỳ đã dẫn đến cái chết vào tuổi hai mươi chín, ông đã hiến mình cho công việc Ngài mà không giữ lại gì. Ông đã cỡi ngựa băng qua nhiều khu rừng rậm, giảng dạy ngoài trời mà không hề ngủ nghỉ và bằng lòng với cuộc sống không nhà. Quyển nhật ký của ông đầy dẫy những lời yêu thương đối với “những người anh em Da đỏ yêu dấu” và lời cầu nguyện và ngợi khen Cứu Chúa của ông.
Chắc hẳn có người sẽ nghĩ rằng đây là một vị thánh có phẩm cách hàng đầu, mà cuộc sống và công việc của người ít bị vẩn đục bởi tội lỗi. Dầu vậy khi lật sang những trang sau của quyển nhật ký, ông tiếp tục than van về “sự đồi bại đạo đức” của ông. Ông tự gọi mình là “một con sâu đáng thương, ” “một con chó chết, ” và “mot con người xấu xa không thể tả xiết.” Đây không phải là vì ông có một lương tâm không lành mạnh. Đơn giản là vì ông sống gần Chúa Cứu Thế và nhận thức một cách đau khổ về tội lỗi của ông.
Những người vui mừng, thỏa mãn với sự thiện hảo của Ngài
Phải nhận thức rõ có nhiều lầm lỗi bên trong chính mình.
Dầu vậy, Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng sống gần với Đức Chúa Trời hơn bất cứ người nào khác, không hề có cảm giác tội lỗi.

Các môn đồ nói về Chúa Cứu Thế
Thế thì rõ ràng rằng Chúa Giê-xu tự tin rằng Ngài vô tội, và Ngài tự tin rằng Ngài là Đấng Mết-si-a và là Con Đức Chúa Trời. Nhưng có thể nào nào Ngài lầm lẫn khi tin như thế không? Các môn đệ Ngài đã nghĩ gì? Họ có chấp nhận quan niệm của Ngài hay không?
Người ta có thể nghĩ rằng các môn đệ của Chúa Giê-xu là những nhân chứng tồi. Người ta lập luận rằng họ đã tỏ ra thiên vị và họ đã cố y tô vẻ cho Ngài đẹp đẽ hơn là Ngài đáng có. Nhưng trong chỗ này các sứ đồ bị nói xấu nhiều hơn. Những lời họ nói không thể nào dễ dàng bỏ qua. Có một số lý do để chúng ta tin vào những chứng cớ của họ.
Đầu tiên, họ đã sống gần gũi với Chúa Giê-xu trong ba năm. Họ cùng ăn cùng ngủ với nhau. Họ kinh nghiệm được tình thân ái của những người đồng hội đồng thuyền. Họ có một ngân quỹ chung (và ngân quỹ chung này có thể là một trong những nguyên nhân gây chia rẽ). Họ gây bực mình cho nhau. Họ gây gổ với nhau. Nhưng họ chẳng hề tìm thấy nới Chúa Giê-xu những tội lỗi mà họ nhìn thấy nơi chính bản thân họ. Sự thân mật thường dẫn đến việc coi thường nhau, nhưng trong trường hợp này thì khác. Thật vậy, hai trong những chứng nhân chính về sự vô tội của Chúa Cứu Thế là Phi-e-rơ và Giăng (như chúng ta thấy sau này), họ thuộc một nhóm người thân tín (bao gồm Phi-e-rơ, Gia-cơ va Giăng) mà Ngài đã ban cho những đặc quyền và sự bày tỏ thân thiết hơn.
Thứ hai, lời của của các sứ đồ trong vấn đề này là đáng tin cậy bởi vì họ là những Do Thái mà tâm trí của họ đã thấm nhuần những giáo lý của Cựu Ước ngay từ thời thơ ấu. Và một giáo lý mà họ đã tiêu hóa là tính phổ quát của tội lỗi con người
“Chúng nó thay thảy đều bội nghịch, cùng nhau trở nên ô uế; Chẳng có ai làm điều lành, Dầu một người cũng không. Tất cả chúng ta giống như chiên đi lạc; chúng ta phải quay trở lại với đường lối của Ngài”
Trong ánh sáng của các lời dạy trong Kinh Thánh này chắc hẳn họ không quy cho bất cứ ai là vô tội một cách dễ dàng.
Thứ ba, lời chứng của các sứ đồ về sự vô tội của Chúa Giê-xu là đáng tin hơn bởi vì nó trực tiếp. Họ không sắp đặt để tạo ra một lẽ thật cho rằng Ngài vô tội. Những nhận xét của họ được để riêng ra một bên. Họ đang thao luận về một số đề tài khác và hầu như thêm vào sự vô tội của Ngài giống như thêm vào một dấu ngoặc cho phần tham khảo.
Đây là những gì họ nói. Trước nhất Phi-e-rơ mô tả Chúa Giê-xu la “chiên con không lỗi không vít” và sau đó nói rằng Ngài “không hề phạm tội; không hề tìm thấy lời dối trên môi miệng Ngài.” Giăng nói rằng mọi người là tội nhân, bản thân chúng ta là những người dối trá và chúng ta cũng làm cho Đức Chúa Trời trở thành người dối trá. Nhưng ông tiếp tục nói rằng trong Chúa Cứu Thế là Đấng cất tội lỗi của chúng ta đi, “không có tội lỗi” (IPhi 1Pr 1:19; IGi1Ga 1:8-10; 3:5).
Chúng ta có thể thêm lời chứng của Phao-lô và của tác giả thư Hê-bơ-rơ vào lời chứng của Phi-e-rơ và Giăng. Họ mô tả Chúa Giê-xu là Đấng” chẳng biết tội lỗi” nhưng là “thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi.kẻ có tội.” Ngài “bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.” (IICo 2Cr 5:21; HeDt 7:26; 4:15).
Kẻ thù Chúa Giê-xu thừa nhận
Có thể chúng ta tự cảm thấy có được cơ sở an toàn hơn khi xem xét những gì mà kẻ thù của Chúa Giê-xu nghĩ về Ngài. Chắc hẳn là họ không ủng hộ Ngài. Chúng ta đọc thấy trong các sách Phúc Âm rằng “họ canh chừng Ngài” và cố “đánh bẫy Ngài trong lời nói.” Ai cũng biết rằng khi một cuộc tranh luận không thể đi đến chỗ chiến thắng bằng lý luận, những người tranh luận có khuynh hướng đi đến chỗ lăng mạ nhau. Khi không có đủ lý lẽ để tranh cãi, người ta quay sang bôi nhọ nhau. Thậm chí biên niên sử của Hội Thánh cũng bị vấy bẩn bởi sự thù địch cá nhân. Kẻ thù của Chúa Giê-xu cũng thế.
Mác đã ghi lại bốn điều phê phán của họ (Mac Mc 2:11-3:6). Lời cáo buộc đầu tiên của họ là phạm thượng . Chúa Giê-xu đã tha tội cho một người. Đây là sự xâm phạm vào lãnh địa của Đức Chúa Trời. Đây là kiêu ngạo và báng bổ, họ nói. Nhưng nói như thế là không giải quyết vấn đề một cách thỏa đáng. Nếu Ngài thật là Đức Chúa Trời, thì việc tha tội là quyền của Ngài.
Kế đến, họ kinh ngạc và nói rằng Ngai sự giao thiệp với người có tội lỗi . Ngài làm bạn với những kẻ tội lỗi. Ngài ăn với những người thu thuế. Ngài để cho những kỵ nữ đến gần Ngài. Không có người Pha-ri-si nào dám hành xử như thế. Chắc hẳn họ sẽ dựng những tấm chắn chung quanh mình và lui lại không tiếp xúc với loại cặn bã như thế. Chắc hẳn họ nghĩ làm như thế là công bình. Họ không nhận thức được ân điển và sự nhân hậu của Chúa Giiê-xu là Đấng dầu “phân rẽ khỏi tội nhân” vẫn nhận được danh hiệu đáng tôn là “bạn của tội nhân.”
Lời cáo buộc thứ ba là đạo của Ngài là phù phiếm . Ngài không giống như những người Pha-ri-si, cũng không giống như những môn đệ của Giăng Báp-tít. Ngài là “kẻ tham ăn và mê uống” đã đến để “ăn và uống.” Sự công kích như thế hầu như không đáng là sự bài bác nghiêm túc. Chúa Giê-xu đầy sự vui mừng là đúng, nhung không thể nghi ngờ rằng Ngài đã giữ đạo của Ngài mot cách nghiêm túc.
Thứ tư, họ điên tiết lên bởi vì Ngài phạm ngày sa-bát . Ngài chữa lành người bệnh vào ngày sa-bát. Và các môn đệ của Ngài khi đi qua những cánh đồng lúa mì đã bứt bông lúa non để ăn trong ngày sa-bat, đây là điều mà các thầy thông giáo và người Pha-ri-si cấm giống như gặt và đập lúa. Dầu vậy không một ai dám nghi ngờ rằng Chúa Giê-xu không vâng giữ luật pháp của Đức Chúa Trời. Tự Ngài vâng theo luật pháp và trong cuộc tranh luận với những kẻ thù nghịch Ngài đã nói đến luật pháp như một vị quan tòa. Ngài cũng xác nhận rằng Đức Chúa Trời đã lập ra ngày sa-bát vì ích lợi của con người. Nhưng chính Ngài là “Chúa của ngày Sa-bát, ” Ngài xác nhận thẩm quyền, để qua một bên những truyền thống sai lầm và đưa ra lời giải thích đúng về luật pháp của Đức Chúa Trời.
Tất cả những lời cáo buộc này đều tầm thường hoặc không thỏa đáng. Vì thế khi Chúa Giê-xu chịu khổ nạn, những kẻ gièm pha đã thêm những kẻ làm chứng dối chống lại Ngài. Nhưng sau đó họ đã không đồng tâm nhất trí với nhau. Thực ra lời buộc tội duy nhất mà họ có thể sử dụng để chống lại Ngài liên quan đến chính trị thay vì dạo đức. Khi là một tù nhân với một thái độ trang nghiêm đứng trước mặt mọi người để chờ phán quyết, hết lần này đến lần khác Ngài được tuyên bố là công bình. Phi-lát, sau nhiều lần cố gắng lẫn tránh vấn đề một cách hèn nhát, dã công khai rửa tay và tuyên bố rằng ông “vô tội về huyết của người này.” Tên cướp ăn năn sám hối trên cây thập tự đã quay sang quở trách kẻ đồng phạm với mình vì lăng mạ Chúa Giê-xu và nói thêm rằng “người này không hề làm một điều gì ác.” Cuối cùng, thầy đội, người đã chứng kiến Chúa Giê-xu chịu khổ và chết, đã buôc miệng kêu lên rằng: “Thật người này là công bình!” (Mat Mt 27:24; LuLc 23:15; Mat Mt 27:3, 4; LuLc 23:41, 47).
Những gì chính chúng ta thấy
Khi đánh giá về đăc tính của Chúa Giê-xu chúng ta không chỉ dựa vào lời chứng của người khác, chúng ta có thể tự mình đáng giá. Sự toàn hảo về mặt đạo đức ma Ngài đã xác nhận trong yên lặng, đã được bạn bè của Ngài khẳng định một cách tự tin và được kẻ thù nghịch Ngài chấp nhận một cách miễn cưỡng, được trình bày một cách rõ ràng trong các sách Phúc Âm.
Chúng ta có cơ hội để có được sự phê phán của riêng chúng ta. Bức tranh của Chúa Giê-xu được các nhà truyền đạo vẽ nên là một bức tranh toàn diện. Thật vậy, nó mô tả chức vụ công khai của Ngài chỉ trong ba năm. Nhưng chúng ta cũng co thể thoáng nhìn thời thơ ấu của Ngài và Lu-ca đã hai lần lập lại rằng trong những năm mà Ngài còn ẩn mình ở Na-xa-rét, thân thể, trí tuệ và tinh thần của Ngài đang phát triển một cách tự nhiên và sự tăng trưởng của Ngài khiến cho Đức Chúa Trời và con người đẹp lòng.
Chúng ta có thể thấy Ngài lui vào chỗ riêng tư với các môn đệ của Ngài và cũng có thể nhìn thấy Ngài trong sự ồn ào, chộn rộn của đám đông. Ngài ở trước mặt chúng ta trong chức vụ của một người Ga-li-lê, một đám đông hổn tạp tôn thờ Ngài như môt vị anh hùng và muốn ép buộc Ngài lên làm vua và chúng ta có thể đi theo Ngài vào trong các hành lang của Đền thờ Giê-ru-sa-lem nơi những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê hiệp lại với nhau trong việc thẩm tra đầy quỷ quyệt. Nhưng dầu đạt đến thành công tuyệt đỉnh hoặc bị chìm ngập trong sự cô đơn vì bị bị từ bỏ, Ngài vẫn là Giê-xu. Ngài vẫn trước sau như một. Ngài không phải là người có tính khí bất thường. Ngài không hề thay đổi.
Đây là một hình ảnh quân bình. Ở nơi Ngài không hề có dấu hiệu của sự lập dị. Ngài tin tưởng một cách mãnh liệt vào những gì Ngài dạy, nhưng Ngài khong phải là người cuồng tín. Giáo lý của Ngài không được nhiều người ưa chuộng nhưng không lập dị. Có nhiều bằng chứng về nhân tính cũng như thần tính của Ngài. Ngài mệt mỏi. Ngài cần ngủ, cần ăn và uống như người khác. Ngài kinh nghiệm được những cảm xúc yêu thương, nóng giận, vui mừng và buồn rầu. Ngài có đầy đủ nhân tính. Dầu vậy Ngài không chỉ là con người.
Trên hết, Ngài không hề ích kỷ. Không có gì gây ấn tượng hơn điều này. Dau Ngài tự tin rằng Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài không làm ra vẻ ta đây là Đức Chúa Trời. Ngài chẳng bao giờ phô trương. Ngài cũng chẳng làm ra vẻ Ngài là quan trọng. Ngài khiêm nhường.
Sự kết hợp giữa sự giảng dạy tư cho mình là trung tâm và hành động vô kỷ của Ngài là điều nghịch lý gây nhiều trở ngại. Trong sự suy nghĩ Ngài tự đặt mình trước; trong việc làm Ngài tự đặt mình sau. Ngài bày tỏ sự tự đánh giá Ngài là vĩ đại nhất vưa là sự hy sinh quên mình lớn lao nhất. Ngài biết ngài là Chúa của mọi người, nhưng Ngài đã trở nên đầy tớ của họ. Ngài nói Ngài sẽ đoán xét thế gian, nhưng Ngài đã rửa chân cho các môn đồ của Ngài.
Không hề có ai từ bỏ mình đi nhiều như thế. Điều này được xác nhận (bởi Ngài cũng như chúng ta) rằng Ngài từ bỏ những niềm vui của thiên đàng vì những đau buồn của trần thế, Ngài đánh đổi sự miễn nhiễm đời đời đối với tội lỗi lấy sự tiếp xúc đầy đau khổ với tội lỗi trong thế gian này. Ngài sinh ra bởi một người mẹ Do thái thấp hèn, trong một chuồng chiên bẩn thỉu, nơi một ngôi làng Bết--lê-hem quạnh quẻ. Ngài trở nên một em bé tỵ nạn ở Ai Cập. Ngài được mang đến một ngôi làng nhỏ Na-xa-rét ít ai biết đến và làm việc cực nhọc nơi chiếc ghế của thợ mộc để giúp mẹ và những người khác trong gia đình. Trong khi trở thành một nhà truyền đạo lưu hành, Ngài không có nhà và không có mấy của cải, tiện nghi. Ngài làm bạn với những ngư phủ mộc mạc và những người thâu thuế. Ngài chạm đến những người phung và để cho những kỵ nữ chạm đến Ngài. Ngài tự hiến mình trong chức vụ chữa lành, cứu giúp và giảng dạy.
Ngài bị hiểu lầm, bị xuyên tạc và trở thành nạn nhân của những thành kiến và những quyền lợi bất di bất dịch của con người. Ngài bị dân Ngài khinh dễ và từ bỏ, Ngài cũng bị bạn bè Ngài bỏ rơi. Lưng Ngài bị đánh, mặt Ngài bị vả, đầu Ngài bị đội mão gai, tay và chân Ngài bị đóng đinh vào giá treo phổ biến của người La Mã. Và khi những đầu đinh tai ác đóng ngập vào chân tay Ngài, Ngài vẫn cầu nguyện cho những kẻ hành hạ Ngài, “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết điều mình làm.”
Một con người như thế vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta. Ngài thành công trong chỗ chúng ta thất bại. Ngài hoàn toàn tự kềm chế mình. Ngài không trả đủa. Ngài chẳng bao giờ tỏ ra bực mình và châm biếm người khác. Ngài đã tự kềm chế minh khỏi tất cả những gì mà con người có thể nghĩ hoặc nói hoặc làm, Ngài từ bỏ chính mình vì ý muốn Đức Chúa Trời và vì phúc lơi của con người. “Ta không theo ý ta” và “ta không cầu sự vinh hiển cho ta.” Như Phao-lô viết, “Chúa Cứu Thế không làm theo ý mình.”
Hoàn toàn không quan tâm đến bản thân mình trong sự phụng vụ Đức Chúa Trời và con người là diều mà Kinh Thánh gọi là tình yêu thương. Không có tư lợi trong tình yêu thương. Bản chất của tình yêu thương là hy sinh. Điều tệ hại nhất của con người là được tô điểm bởi sự nổi tiếng nhất thời, nhưng cuộc đời của Chúa Giê-xu luôn ngời sáng với vinh quang chẳng bao giờ tàn phai.
Chúa Giê-xu vô tội bởi vì Ngài không vị kỷ. Không vị kỷ là tình yêu. Và Đức Chúa Trời là tình yêu thương.
SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA CỨU THẾ
Chúng ta đã xem xét những lời xác nhận lạ thường của của Giê-xu và đặc tính vô kỷ mà Ngài đã bày tỏ. Giờ đây chúng ta xem xét những bằng chứng lịch sử về sự sống lại từ kẻ chết của Ngài.
Nếu điều này đúng, rõ ràng là sự phục sinh của Ngài có tầm quan trọng vô cùng lớn lao. Nếu Giê-xu Na-xa-rét sống lại từ kẻ chết, thì Ngài còn vượt trỗi hơn là một nhân vật độc đáo như người ta vẫn thường luận bàn. Đây không phải là vấn đề tồn tại thuoc linh hoặc là hồi tỉnh về mặt thuộc thể của Ngài, nhưng nói chung là vấn đề chinh phục sự chết và sự phục sinh của Ngài đối với một kế hoạch hiện hữu mới. Chúng ta không hề biết có người nào khác có được kinh nghiem như thế. Con người hiện đại cũng như những triết gia của thành A-thên điều tỏ ra khinh lờn khi nghe Phao-lô giảng trên đồi A-rê-ô-ba: “Khi chúng nghe nói về sự sống lại của kẻ chết, kẻ thì nhạo báng.”
Luận cứ ở đây không cho rằng sự phục sinh chứng minh thần tính của Ngài, nhưng nói lên rằng chúng phù hợp với nhau. Người ta đang mong chờ một con người siêu phàm sẽ đến và rồi rời địa cầu này bằng một phương cách siêu phàm. Kỳ thật đay là những gì mà Kinh Thánh dạy và kết quả là Hội Thánh luôn tin vào những điều này. Ngài sinh ra theo tự nhiên, nhưng Ngài được thai ngén trong lòng mẹ một cách siêu nhiên. Ngài chết tự nhiên, nhưng sự phục sinh của Ngai là siêu nhiên. Sự hoài thai và sự phục sinh lạ lùng của Ngài không chứng minh thần tính của Ngài, nhưng phù hợp với thần tính đó (Chúng ta không xét đến việc sinh đồng trinh của Chúa Giê-xu, vì Tân Ước không sử dụng sư sinh đồng trinh của Ngài để chứng minh Ngài là Đấng Mết-si-a hoặc chứng minh thần tính của Ngài như sự phục sinh. Sự sinh đồng trinh của Ngài được luận bàn rất hay trong The Virgin Birth of Christ , James Orr, Hodder and Stougton, 1707, và The Virgin Birth , J. Gresham Machen, Marshall, Morgan and Scott, 1956).
Không bao giờ Chúa Giê-xu dự ngôn về sự chết của Ngài mà không nói thêm rằng Ngài sẽ sống lại và mô tả sự phục sinh hầu đến của Ngài là “một dau lạ.” Đầu thơ tín Rô-ma Phao-lô viết về Chúa Giê-xu:” bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép” và trong những bài giảng đầu tiên của các sứ đồ trong sách Công vụ đã xác nhận bằng cách lập đi lập lại rằng bởi sự phục sinh mà Đức Chúa Trời đã giữ con người khỏi bị tuyên án và minh oan cho Con Ngài.
Nói về sự phục sinh, Lu-ca được người ta biết đến như là một sử gia cẩn thận và chính xác đã nói rằng: “có nhiều bằng chứng.” Có thể chúng ta không thể cảm thấy rằng chúng ta đã đi quá xa như Thomas Arnold đã gọi sự phục sinh là “một sự kiện đã được chứng minh một cách đầy đủ nhất trong lịch sử, ” nhưng chắc chắn là có nhiều nhà nghiên cứu vô tư đã dánh giá những bằng chứng về sự phục sinh của Ngài là cực kỳ đúng đắn. Ví dụ, Edward Clarke K.C. viết cho mục sư quản nhiệm E.L. Macassey:
“Là một luật sư tôi đã thực hiện một cuộc nghiên cứu lâu dài về những bằng chứng cho những sự kiện của ngày lễ Phục sinh đầu tiên. Đối với tôi bằng chứng phải có tính thuyết phục và hết lần này đến lần khác ở Tói cao Pháp viện tôi đã bảo vệ cho những phán quyết dựa trên những bằng chứng có tính thuyết phục. Bất cứ sự can thiệp nào vào những bằng chứng hiển nhiên và những lời làm chứng trung thực đều đòi hỏi phải tuyên thệ và hậu quả là bị bác bỏ. Bằng chứng về sự phục sinh của Phúc Âm thuộc loại này vàvới tư cách một luật sư tôi hoàn toàn chấp nhận lời làm chứng của những người trung thực về những sự kiện mà họ có thể xác nhận.”
Bằng chứng này là gì? Chúng ta thử tom lược trong bốn phần sau đây.
Xác Ngài không còn
Những câu chuyện Phục sinh trong bốn sách Phúc Âm đều bắt đầu việc những người đàn bà đến viếng mộ Chúa vào sáng sớm Chúa Nhật Phục sinh. Khi đến nơi họ điếng người khi phát hiện xác Chúa đã biến mất.
Vài ngày sau các sứ đồ loan truyền rằng Chúa Giê-xu đã sống lại. Đây là điểm chính yếu của sứ điệp này. Nhưng hầu như người ta không thể nào tin lời họ nếu như chỉ cần đi bộ vài phút là có thể đến được mộ của Giô-sép nơi mà thân xác của Chúa Giê-xu vẫn còn nằm ở đó! Không. Ngôi mộ trống. Xác Ngài đã biến mất. Không thể nghi ngờ về sự kiện này. Vấn đề là phải giải thích như thế nào.
Trước nhất, có giả thuyết cho rằng những người đàn bà này đến lầm mộ . Trời vẫn còn tốl và họ bị choáng vì cớ buồn rầu. Do đó họ rất dễ lầm lẫn.
Xét theo bề ngoài, lời giải thích này nghe có vẻ hợp lý, nhưng cần phải xem xét kỹ. Để bắt đầu, chúng ta thấy trời có thể không hoàn toàn tối. Đúng là Giăng đã nói những người đàn bà này đã đến” khi trời còn tối.” Nhưng trong Mat Mt 28:1 nói rằng: “lúc tưng tưng sáng” , trong khi Lu-ca nói rằng “khi mờ sáng” và đặc biệt là Mác nói rằng: “mặt trời mới mọc.”
Hơn nữa những người đàn bà này không phải là những người dại. Ít ra có hai người trong số họ đã tận mắt chứng kiến Giô-sép và Ni-cô-đem táng xác Ngài. Họ chứng kiến việc chôn cất Ngài từ đầu tới cuối, họ “ngồi đối diện với mộ.” Chính hai người đàn bà này (Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri mẹ Chúa Giê-xu) đã quay trở lại lúc bình minh và dẫn theo Sa-lô-nê, Gian-nơ và “những ngươi đàn bà khác, ” vì thế nếu có một người đi sai đường hoặc đến lầm mộ chắc chắn những người khác sẽ nhắc. Và nếu Ma-ri Ma-đơ-len là người đầu tiên đi lầm chỗ, bà khó có thể lập lại sai lầm như thế khi bà quay trở lại lúc trời đã tỏ sáng và nấn ná trong vườn cho đến khi Chúa Giê-xu gặp bà.
Ngoài ra, không chỉ vì sự thương cảm đã khiến họ đến viếng mộ vào lúc sáng sớm. Họ đã đến đó vì một nhiệm vụ thực tiễn . Họ mang theo thuốc thơm và sẵn sàng hoàn tất việc xức xác Chúa của họ, bởi vì ngày Sa-bát đang đến gần vì thế họ phải cấp tốc thực hiện việc này từ hai ngày trước. Những người phụ nữ tận hiến và làm việc có hiệu quả này không phải là loại người dễ bị lừa gạt hoặc bỏ bê nhiệm vụ mà họ sắp thực hiện. Nếu như họ lầm mộ, thì liệu Phi-e-rơ và Giăng là những người đã chạy đến mộ để xác minh lại chuyện kể của họ, kể cả Ni-cô-đem và Giô-sép cũng lầm lẫn hay sao?
Lời giải thích thứ hai là giả thuyết về sự bất tỉnh . Những người giữ quan điểm này khiến cho chúng ta tin rằng Chúa Giê-xu không chết nhưng chỉ bất tỉnh. Sau đó Ngài tỉnh lại trong mộ, rời mộ, rồi sau đó đến với các môn đệ Ngài.
Giả thuyết này đầy dẫy những vấn đề. Nó hoàn toàn sai lầm. Có những bằng chứng hiển nhiên phủ nhận hoàn toàn giả thuyết này. Phi-lát thật ngạc nhiên khi nghe nói Chúa Giê-xu đã chết, nhưng ông qua lời xác nhận của thầy đội ông tin điều này và cho phép Giô-sép đem xác Chúa Giê-xu khỏi cây thập tự. Thầy đội chắc chắn rằng Ngài đã chết bởi vì ông đã ở đó khi” một tên lính lấy giáo đâm ngang sườn Ngài, tức thì máu và nước chảy ra.” Vì thế Giô-sép và Ni-cô-đem đem xác Ngài xuống, bọc trong vải liệm và đặt xác Ngài trong ngôi mộ mới của Giô-sép.
Thế thì chúng ta có phải tin một cách nghiêm túc rằng trong suốt thời gian này Chua Giê-xu chỉ bất tỉnh mà thôi không? Sau những gian khổ và những đau đớn vì thử thách, bị nhạo báng, bị đánh đập và bị đóng đinh trên thập tự giá Ngài có thể sống sót sau ba mươi sáu giờ trong ngội mộ đá lạnh lẽo không thức ăn không được chăm sóc thuốc men sao? Thế thì Ngài có đủ sức để thực hiện một công việc phi thường là lăn tảng đá chặn huyệt mọ và không làm náo động toán lính La-mã hay sao? Sau đó với sự yếu đuối, đau đớn và đói mệt Ngài có thể hiện ra với các môn đệ của Ngài để tạo ra ấn tượng rằng Ngài chế ngự sự chết hay không? Ngài có thể tiếp tục xác nhận rằng Ngài đã chết và sống lại, Ngài có thể sai họ đi khắp thế gian và và hứa ở với họ cho đến ngày tận thế sao? Ngài có thể nào sống và ẩn mình ở một nơi nào đó trong bốn mươi ngày, thỉnh thoảng xuất hiện để gây ngạc nhiên và cuối cùng biến mất mà không một lời giải thích không? Sự cả tin như thế khó mà chấp nhận hơn là sự vô tín của Thô-ma.
Thứ ba, có ý kiến cho rằng có những kẻ đánh cắp xác Ngài . Không có chút bằng chứng nào cho sự phỏng đoán này. Không ai có thể giải thích được bằng cách nào những kẻ cắp đánh lừa được toán lính gác La-mã. Cũng không ai có nghĩ ra tại sao những kẻ cắp đem xác Ngài đi và để lại vải liêm, cũng không nghĩ ra được rằng họ hành động như thế bởi động cơ gì.
Thứ tư, có người lập luận rằng các môn đệ đã lấy xác Ngài đi . Ma-thi-ơ nói với chúng ta rằng đây là tin đồn mà người Do Thái đã loan truyền mấy ngày trước. Ông mô tả Phi-lát, người đã cho phép Giô-sép mang xác Chúa Giê-xu đi, đã tiếp đón phái đoàn của những thầy tế lễ cả và những người Pha-ri-si, họ nói:
“Thưa Chúa, chúng tôi nhớ người gian dối này, khi còn sống, có nói rằng: Khỏi ba ngày thì ta sẽ sống lại. Vậy, xin hãy cắt người canh mả cẩn thận cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với dân chúng rằng: Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Sự gian dối sau đó sẽ tệ hơn sự gian dối trước.”
Phi-lát đồng ý. “Các ngươi có lính canh; hãy đi canh giữ theo ý các ngươi” và người Do Thái” niêm phong mả Ngài lại, cắt lính canh giữ , lấy làm chắc chắn lắm.” Ma-thi-ơ tiếp tục mô tả tảng đá, việc niêm phong và lính canh không thể ngăn cản sự phục sinh của Ngài như thế nào và bọn lính canh đã vào thành báo cáo lại cho thầy tế lễ cả những gì đã xảy ra như thế nào. Sau khi bàn bạc họ đã hối lộ cho những người lính và nói:
“ Các ngươi hãy nói rằng: Môn đồ nó đã đến lúc ban đêm, khi chúng tôi đương ngủ, mà lấy trộm nó đi. Nếu điều ấy thấu tai quan tổng đốc, thì chúng ta sẽ khuyên giải người, và làm cho các ngươi khỏi lo sợ. Mấy tên lính đó lấy bạc, và làm theo như lời. Tiếng ấy đã đồn ra trong dân Giu-đa cho đen ngày nay”
Nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc. Có khả năng một người lính canh được tuyển chọn đã ngủ gục đang khi được phân công canh gác hay không? Và nếu họ vẫn thức, làm thế nào những người đàn bà có thể vượt qua họ để lăn tảng đá?
Ngay cả khi cho rằng các môn đệ của Ngài dã thành công trong việc đem xác Ngài đi, việc nghiên cứu về tâm lý đủ để người ta không tin vào giả thuyết này. Chúng ta biết được ngay trong phần đầu của sách Công vụ những lời giảng dạy đầu tiên của các sứ đồ tập trung vào sự sống lại của Chúa Giê-xu.” Các người đã giết Ngài, nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại và chúng ta đã tận mắt chứng kiến” , họ vẫn nói như thế. Thế thì chúng ta có tin rằng họ đang công bố những gì họ biết là lời cố ý nói dối không? Nếu chính họ lấy xác Chúa Giê-xu đi, thì việc rao giảng về sự phục sinh của Ngài là điều sai lầm có chủ ý mà ai cung biết. Họ không những rao giảng về sự phục sinh, mà còn chịu khổ vì sự phục sinh. Họ sẵn sàng bị tù, bị đánh và bị chết vì một câu chuyện huyền hoặc hay sao.
Điều này không đúng. Hầu như là không thể. Qua các sách Phúc Âm và Công vụ, rõ ràng rằng các sứ đồ là những người chân thực. Họ có thể bị lừa dối, nhưng họ không phải là những kẻ lừa dối. Những kẻ giả hình và những người tuận đạo không thể được làm ra từ cùng một thứ chat liệu.
Thứ năm và có lẽ là lời giải thích ít hợp lý nhất (dầu chỉ là giả thuyết) về việc xác Chúa Giê-xu biến mất là người La Mã hoặc người Do Thái đã giữ lấy xác Chúa Giê-xu . Chắc hẳn họ có đủ lý do để làm điều này. Họ đã nghe Chúa Giê-xu nói về sự sống lại và họ sợ rằng đây là một trò lừa bịp. Vì thế (tiếp tục lập luận), đễ ngăn chận trò lừa bịp này, họ đã cẩn thận tịch thu xác Chúa Giê-xu.
Nhưng khi xem xét cẩn thận, sự tái tạo có tính phỏng đoán về những gì đã xảy ra cũng đã đổ vỡ. Chúng ta đã thấy chỉ ít tuần sau cái chết của Chúa Giê-xu các Cơ Đốc nhân đã dạn dĩ loan tin về sự phục sinh của Ngài. Tin tức lan truyền một cách nhanh chóng. Phong trào Na-xa-rét mới đe dọa xói mòn thành lũy của Do thái giáo và làm xáo động sự thanh bình của Giê-ru-sa-lem. Người Do Thái sợ sự cải đạo; người La-mã sợ những vụ nổi loạn. Trước sự việc như thế đương nhien chính quyền phải ra tay hành động. Có thể họ đã giữ xác Chúa Giê-xu và công bố những gì họ đã làm.
Nếu họ làm thế, lẽ ra họ phải im lặng thay vì phải sử dụng đến bạo lực. Nhưng họ đã bắt giữ các sứ đồ, đánh đòn, giam tù, lăng mạ, âm mưu chống lại họ và giết họ. Hội Thánh được thành lập trên sự phục sinh. Bác bỏ sự phục sinh, Hội Thánh chắc hẳn sẽ sụp đổ. Nhưng họ không thể làm như thế; xác Ngài không ở trong tay của họ. Sư im lặng của nhà cầm quyền là bằng chứng hùng hồn về sự phục sinh mà các sứ đồ đã mục kích.
Đây là những giả thiết mà nhiều người đã nghĩ ra để cố lý giải về ngôi mộ trống và việc xác Chúa Giê-xu biến mất. Không có giả thiết nào thỏa đáng. Không có giả thuyết nào có được bằng chứng lịch sử hiển nhiên. Vì thế muốn có được lời giải thích đầy đủ, có lẽ chúng ta không có lầm lỗi gì khi đưa ra lời tuờng thuật đơn giản và đúng đan của các sách Phúc Âm mô tả về những sự kiện xảy ra vào ngày Lễ Phục Sinh đầu tiên. Xác Chúa Giê-xu không bị con người đem đi; Ngài đã sống lại bởi Đức Chúa Trời.
Vải liệm không bị rối tung
Đây là một sự kiện đáng chú ý. Những người kể chuyện nói rằng xác Chúa Giê-xu đã biến mất và cũng nói rằng vải liệm vẫn còn đó. Chính sứ đồ Giăng là người đặc biệt lưu ý đến sự kiện này, vì ông đã cùng đồng hành với Phi-e-rơ trong một cuộc đua đến mộ đầy kịch tính vào sáng sớm hôm đó. Không thể nào nghi ngờ đươc những điều mô tả của ông về sự kiện này vì đây là một kinh nghiệm trực tiếp của ông (GiGa 20:1-10). Ông chạy nhanh hơn Phi-e-rơ, nhưng khi đến nơi ong đã không làm gì cả mà chỉ nhìn vào mộ, cho đến khi Phi-e-rơ đến và bước vào trong mộ.” Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mộ trước, cũng bước vào, thì thấy và tin.” Vấn đề là: người này đã thấy gì và tin? Câu chuyện cho thay rằng không chỉ là xác Chúa không còn, nhưng đặc biệt là sự có mặt của vải liệm trong tình trạng không xáo trộn.
Chúng ta hãy thử xây dựng lại câu chuyện này (Theo Henry Latham, The Risen master , Leighton Bell, 1904). Giăng kể rằng (19:38-42) khi Giô-sép xin Phi-lát đem xác Chúa đi, Ni-cô-đem “đem theo độ một trăm cân một dược hòa với lư hội.” Sau đó “hai người lấy xác Đức Chúa Jêsus, dùng vải gai và thuốc thơm gói lại, theo như tục khâm liệm của dân Giu-đa.” Điều này nói lên rằng, khi họ quấn “những băng vải gai” quanh xác Chúa, họ đã rắc những hương liệu vào các nếp gấp của vải. Một cái khăn trùm đầu rời sẽ được sử dụng cho đầu của Ngài. Điều này được sáng tỏ qua bản tường thuật của Giăng về vải liệm của La-xa-rơ. Vì khi Chúa Giê-xu khiến La-xa-rơ sống lại “Người chết đi ra, chân tay buộc bằng vải liệm và mặt thì phủ khăn.” (11:44). Thế thì thân và đầu Ngài bị quấn kín, chừa mặt và cổ ra theo như phong tục của đông phương. Sau đó họ đặt xác Ngài trên một phiến đá được đẽo từ một phía của huyệt mộ.
Giờ đây giả sử rằng chúng ta có mặt trong ngôi mộ đá này khi sự phục sinh của Chúa Giê-xu thật sự xảy ra. Chúng ta sẽ nhìn thấy gì? Phải chăng chúng ta thấy Ngài bắt đầu cử động, rồi ngáp, duổi tay duổi chân và ngồi dậy? Không. Chúng ta không tin rằng Ngài trở lại với cuộc sống này. Ngài không hồi tỉnh sau khi bị ngất đi. Ngài đã chết và Ngài đã sống lại. Ngài đã phục sinh chớ không hồi tỉnh. Chúng ta tin rằng Ngài đã vượt qua sự chết một cách lạ lùng để bước vào một phạm vi hiện hữu mới. Thế thì chúng ta sẽ thấy gì khi chúng ta ở đó. Thình lình chúng ta thấy xác Ngài biến mất. Xác Ngài tựa như “bị bốc hơi, ” được chuyển hóa thành một cái gì đó mới mẽ khác thường và lạ lùng. Xác Ngài chắc hẳn đã đi xuyên qua vài liệm, như về sau đã đi xuyên qua những cánh cửa đóng kín, không chạm vào chúng và hầu như chúng không bị rối tung lên. Hầu như nhưng không hoàn toàn. Vì vải liệm, dưới sực nặng của một trăm cân thuốc thơm, một khi xác bị cất đi và không con được chống đỡ từ bên trong sẽ bị sụp xuống, và giờ đây nằm dẹp xuống. Một khoảng trống xuất hiện giữa vải liệm xác và cái khăn trùm đầu, chỗ mà mặt và cổ được chừa ra. Và khăn trùm do có hình thể đan chéo phức tạp của vải gai, có thể vẫn giữ nguyên hình dạng hình lõm của một dải băng quấn quanh đầu bị nhàu nát, nhưng không có đầu ở bên trong.
Nghiên cứu cẩn thận lời kể của Giăng cho biết ông nhận thấy ba đặc điểm của vải liệm còn lại đó. Thứ nhất, ông thấy vải liệm “nằm.” Từ này được lập lại hai lần và lần đầu thì ở vị trí nhấn nhận trong một câu nói tiếng Hy lạp. Chúng ta có thể dịch “Ông thấy vải liệm khi chúng đang nằm.” Kế đến, “va cái khăn liệm trùm đầu Đức Chúa Jêsus chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi khác.” Điều này không có nghĩa là nó bị cuốn lại và bị ném vào một góc. Nó vẫn nằm trên bệ đá, nhưng cách vải liệm xác một quảng cách có thể nhận thấy. Thứ ba, cái khăn liệm trùm đầu này bị “…cuốn lại” từ cuối cùng này được dịch là “xoắn lại” (twirled). Bản dịch Authorized Version là “quấn lại” (wrapped together) và bản dịch Revised Standard Version là” cuộn tròn” (rolled up). Đây là những từ thích hợp để mô tả hình dáng tròn mà chiếc khăn vẫn giữ được.
Thật khó tưởng tượng được quang cảnh mà chính mắt các sứ đồ đã nhìn thấy khi họ đến mộ: tảng đa bị lăn, vải liệm bị xẹp xuống, chiếc khăn trùm đầu và khoảng cách giữa chúng. Vì thế không có gì lạ khi họ” thấy và tin.” Một thoáng nhìn vào những vải liệm này tỏ rõ bản chất hiện thực của sự phục sinh. Chúng không bị đụng đến, cũng không bị gập lại hoặc bị bàn tay của bất cứ con người nào tác động vào. Chúng giống như chiếc kén của con nhộng bị bỏ lại khi con bướm xuất hiện.
Tình trạng của những vải liệm trở nên bằng chứng cho sự phục sinh được củng cố thêm bởi sự kiện Ma-ri Ma-đơ-len (người đã quay trở lại mộ sau khi báo tin cho Phi-e-rơ và Giăng) “cúi xuống dòm trong mộ, thấy hai vị thiên sứ mặc áo trắng, một vị ngồi đằng đầu, một vị ngồi đằng chân, chỗ xác Đức Chúa Jêsus đã nằm.” Có thể đoán rằng hai thiên sứ ngồi trên phiến đá và vải liệm ở giữa họ. Ma-thi-ơ lẫn Mác đều thêm rằng một trong hai thiên sứ nói “Ngài sống lại rồi, chẳng còn ở đây; hãy xem nơi đã táng xác Ngài” (GiGa 20:11; Mat Mt 28:6; Mac Mc 16:6). Dầu độc giả có tin vào thiên sứ hay không, những lời ám chỉ đến chỗ Chúa Giê-xu đã nằm, được nhấn mạnh vừa bởi vị trí vừa bởi lời của các thiên sứ, xác nhan những thông tin mà các nhà truyền đạo có được; vị trí của vải liệm và xác Chúa Giê-xu là bằng chứng hợp lý về sự phục sinh.
Chúa được nhìn thấy
Độc giả của các sách Phúc Âm đều biết rằng họ đang đọc một số câu lạ thường về Chúa giê-xu đã hiện ra với các môn đệ của ngài sau khi Ngài sống lại. Chúng ta được nghe kể về mười lần khác nhau Chúa đã hiện ra với những người mà Phi-e-rơ gọi là “những chứng nhân được chọn.” Ngài đã hiện ra với Ma-ri Ma-đơ-len, với những người đàn bà quay trở lại mộ, với Phi-e-rơ, với hai môn đồ trên đường Em-ma-út, với mười người đang nhóm lại trên phòng cao, với mười một sứ đồ trong đó có Thô-ma một tuần lễ sau, với “hơn năm trăm môn đồ cùng một lúc, ” với Gia-cơ, với mấy môn đồ gồm Phi-e-rơ, Thô-ma, Na-tha-na-ên, Gia-cơ và Giăng bên bờ hồ Ga-li-lê và với nhiều người trên núi Ô-li-ve gần Bê-tha-ni lúc Ngài thăng thiên.
Cuôi bảng liệt kê những người đã thấy Chúa Giê-xu thăng thiên trong ICo1Cr 15:1-58, Phao-lô đã thêm vào kinh nghiệm gặp Chúa của ông trên đường Đa-mách. Bởi vì Lu-ca đã nói với chúng ta trong phần đầu của sách Công vụ rằng: “Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt các sứ đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Đức Chúa Trời, ” nên có thể còn có nhiều lần hiện ra khác không được ký thuật lại.
Chúng ta không thể bàn luận qua loa về những chứng cớ sống động về sự phục sinh của Chúa Cứu Thế. Chúng ta phải tìm ra những lời giải thích cho những câu chuyện này. Chỉ có ba lời giải thích khả dĩ. Một là do người ta đặt ra; hai là những ảo giác; ba là những câu chuyện thật.
Chúng có phải là những câu chuyện bịa đặt không ? Không cần thiết phải dành nhiều chỗ cho sự bày bác như thế. Những câu chuyện về sự hiện ra sau khi phục sinh không phải là người câu chuyện cố tình đặt ra vì nếu thực sự là như vậy thì chúng không thể nào lại đơn sơ và giản dị như thế. Một lẽ vì đây là những câu chuuyện nghiêm túc không tô vẽ; một lẽ khác chúng rất sinh động trong từng chi tiết nhỏ. Những câu chuyện về cuộc chạy đua đến ngôi mộ và chuyến đi bộ đến Em-ma-út quá sống động và quá thực để mà bịa đặt ra.
Ngoài ra, không ai có thể gọi chúng là những câu chuyện bịa hay. Nếu muốn chúng ta có thể đặt ra câu chuyện về sự phục sinh và tự chúng ta có thể làm tốt hơn. Chúng ta sẽ cẩn thận tránh những vấn đề rắc rối phức tạp của các diễn biến mà bốn sách Phúc Âm đã tạo ra. Chúng ta sẽ hạn chế, hoặc giảm thiểu những mối nghi ngờ, sợ hãi của các sứ đồ. Có lẽ chúng ta sẽ mô tả một cách đầy kịch tính sự phục sinh (như những ngụy kinh Tin Lành), để mô tả quyền năng và sự vinh hiển cua Con Đức Chúa Trời khi Ngài bứt dứt xiềng sự chết và bật tung mồ một cách khải hoàn. Nhưng không ai thấy điều này xảy ra và chúng ta không thấy chỗ nào mô tả như thế. Chúng ta hầu như không chọn Ma-ri Ma-đơ-len là người chứng đầu tiên, để tránh lời nhạo báng của Renan “cảm xúc mạnh mẽ của một người nhìn thấy ảo giác đã đem lại cho thế giới một thượng đế phục sinh.”
Giả thuyết về những câu chuyện bịa đặt bị phản đối nhiều hơn hơn la tính chân thật của những câu chuyện này. Đây là sự thật hiển nhiên mà chung ta đã có dịp đề cập đến, bởi đó mà các sứ đồ và ngay cả những nhà truyền đạo cùng Hội Thánh đầu tiên đã tin rằng Chúa Giê-xu đã sống lai một cách siêu phàm. Cả Tân Ước đều bao trùm một bầu không khí của sự tin cậy và đầy thuyết phục. Nếu muốn bạn có thể cho rằng các tác giả của Tân Ước đã bị lừa dối một cách thảm hại, nhưng dứt khoát là họ không hề có chủ ý lừa dối ai.
Nếu những lời mô tả này không phải là những chuyện bịa đặt thì những sự hiện ra có phải là những ảo giác không? Quan niệm này được nhiều người chấp nhận một cách rộng rãi, được giải thích mot cách tự tin và dĩ nhiên ảo giác là một hiện tượng không bình thường. Một ảo giác là “là sự nhận thức rõ ràng một vật thể ở bên ngoài khi mà một vật thể như thế không hiện diện” và thường liên quan đến những người bị rối loạn chức năng thần kinh, nếu họ không thực sự bị bệnh tâm thần. Hầu hết chúng ta đều biết có những người nhìn thấy những sự việc, nghe những tiếng nói và đôi lúc hoặc luôn sống trong thế giới tưởng tượng của chính họ. Không thể cho rằng các sứ đồ thuộc loại người không được quân bình như thế. Ma-ri Ma-đơ-len có thể cho bà là như thế, nhưng khó có thể cao giọng như thế với Phi-e-rơ hay nghi ngờ Thô-ma.
Ảo giác cũng có thể xảy ra với những người hoàn toàn bình thường và trong những trường hợp như thé phải phân biệt rõ được hai đặc điểm sau. Thứ nhất, chúng xảy ra trong giai đoạn mà những mơ ước đạt đến đỉnh cao. Thứ hai, những tình huống về thời gian, nơi chốn và tâm trạng phải thuận lợi. Phải có ước muốn mãnh liệt bên trong và và bối cảnh bên ngoài thuận lợi.
Tuy nhiên khi chúng ta quay trở lại với những câu chuyện về sự phục sinh, chúng không hề có hai yếu tố nói trên. Không hề có mơ ước, mà thậm chí còn ngược lại. Khi những người đàn bà đầu tiên nhìn thấy ngôi mộ trống, họ “run sợ sửng sốt.” Khi Ma-ri Ma-đơ-len và những người đàn bà khác thông báo rằng Chúa Giê-xu đã sống lại, các sứ đồ “không tin và cho lời ấy là hư không” Khi Chúa Giê-xu hiện ra và đứng giữa họ “môn đồ đều sửng sốt rụng rời, tưởng thấy thần” vì thế Chúa Giê-xu phán rằng: “Sao các ngươi bối rối, và sao trong lòng các ngươi nghi làm vậy?” Thô-ma là người cứng lòng khi từ chối không tin trừ khi ông thấy và sờ vào những dấu đinh trên thân thể Ngài. Về sau Ngài hẹn gặp mười một sứ đồ và những người khác trên một ngọn núi ở Ga-li-lê, ” họ thờ lạy Ngài; nhưng một số người nghi ngờ.” Ở đây không hề có sự mơ tưởng, không có sự cả tin nhẹ dạ cũng không có việc chấp nhận một cách mù quáng. Các môn đồ không hề cả tin, nhưng thay vì thế họ rất thận trọng, đa nghi và” chậm tin.” Họ không dễ bị ảnh hưởng bởi những ảo giác. Những sự hiện thấy lạ lùng cũng không làm họ thỏa mãn. Đức tin của họ đặt trên những sự kiện không thể nào chối cãi được chứng thực bằng kinh nghệm.
Không chỉ có thế mà những hoàn cảnh thuận lợi bên ngoài cũng không có. Nếu những lần hiện ra xảy ra tại một hai nơi đặc biệt linh thiêng, chúng linh thiêng bởi những hồi ức về Chúa Giê-xu và họ phải ở trong tam trạng trông ngóng, chúng ta có thể nghi ngờ. Nếu câu chuyện về những lần hiện ra chỉ xảy ra ở phòng cao, chúng ta có thể nghi ngờ và đặt câu hỏi. Nếu mười một sứ đồ nhóm laị trong chỗ đặc biệt nơi mà Chúa Giê-xu đã ở với họ trong những giờ phút cuối cùng ở trần thế này và họ đã dành cho Ngài một chỗ trống, rồi nào là hoài cảm về những ngày kỳ diệu đã qua, nhớ về những lời hứa rằng Ngài sẽ trở lại và bắt đầu tự hỏi Ngài có trở lại không và rồi hy vọng, cho đến khi sự mong đợi nhiệt thành của họ tăng lên tột bực bởi sự xuất hiện đột ngột của Ngài, quả thật chúng ta e rằng họ sẽ bị cười nhạo bởi một ảo tưởng tai hại như thế.
Nhưng trường hợp này không phải như thế. Thật vậy, việc nghiên cứu về những lần hiện ra của Chúa Giê-xu cho thấy những tình huống đa dạng về con người, nơi chốn và tâm trạng của họ. Ngài được nhìn thấy bởi những cá nhân (Ma-ri Ma-đơ-len, Phi-e-rơ và Giăng), bởi những nhóm nhỏ và bởi hơn năm trăm người cùng một lúc. Ngài hiện ra trong khuôn viên của ngôi mộ, gần Giê-ru-sa-lem, trong phòng cao, trên đường đến làng Em-ma-út, bên bờ hồ Ga-li-lê, tren một ngọn núi vùng Ga-li-lê và trên núi Ô-li-ve.
Nếu có sự thay đổi về con người và nơi chốn, thì cũng có sự thay đổi về tâm trạng. Ma-ri Ma-đơ-len đang khóc; những người đàn bà đang kinh hãi; Phi-e-rơ đầy ăn năn và Thô-ma thì hoài nghi. Hai môn đồ trên đường Em-ma-út thì bối rối bởi những sự kiện xảy ra trong tuần lễ đó và các môn đồ ở Ga-li-lê ở bên cạnh thuyền đánh cá của họ. Dầu vậy Chúa phục sinh đã làm cho họ nhận biết Ngài qua những nghi ngờ và sợ hãi, qua sự vô tín và bối rối của họ.
Những ảo giác gây loạn trí không thể nào gạt bỏ những sự bày tỏ của Chúa siêu phàm. Vì thế, nếu chúng không phải là những chuyện bịa cũng không phải là những ảo giác, thì chỉ còn có một khả năng chọn lựa duy nhất là chúng đã thật sự xảy ra. Chúa phục sinh đã được người ta nhìn thấy.
Các môn đồ đã thay đổi
Có thể nói sự biến đổi của các môn đệ của Chúa Giê-xu là một trong những bằng chứng vĩ đại nhất về sự phục sinh của Ngài bởi vì nó hoàn toàn chân thật. Họ không mời gọi chúng ta xem xét họ, như họ mời gọi chúng ta xem xét ngôi mộ trống, vải liệm bị xẹp xuống và Chúa là Đấng mà họ nhìn thấy. Chúng ta có thể nhìn thấy sự thay đổ trong họ mà không được họ yêu cầu. Những con người được miêu tả trong các trang của các sách Phúc Âm trở thành những người mới và khác hẳn trong Sách Công vụ. Cai chết của Thầy họ đã khiến cho họ nản lòng, vỡ mộng và hầu như tuyệt vọng. Nhưng trong Công vụ họ xuất hiện như những con người liều mình vì danh của Chúa Cứu thê Giê-xu và làm đảo lộn thế giới.
Điều gì đã khiến họ thay đổi? Điều giải thích cho đức tin, năng lực, niềm vui và tình yêu thương mới của họ? Chắc chắn một phần là do lễ Ngũ Tuần và sự đến của Đức Thánh Linh; nhưng Đức Thánh Linh chỉ đến sau khi Chúa Giê-xu sống lại và thăng thiên. Một phần nữa dường như là sự phục sinh dã phát lộ năng quyền thuộc linh và đạo đức. Có hai ví dụ nổi bật sau đây.
Thứ nhất là Si-môn Phi-e-rơ. Trong câu chuyện kể về sự khổ hình mà Phi-e-rơ phải chịu vì Chúa Giê-xu, ông đã trải qua một giai đoạn cực kỳ tối tăm. Ông đã chối Chúa Cứu Thế ba lần. Ông rủa sả và thề như Chúa Giê-su chưa hề có chút ảnh hưởng nào trên đời sống của ông. Ông đã đi vào trong đêm tối và khóc lóc cach đắng cay. Khi Chúa Giê-xu chết ông đã cùng những người khác nhóm lại trong phòng cao, đằng sau những cánh cửa đóng kín “vì sợ dân Giu-đa” với tâm trạng hoàn toàn chán nản.
Nhưng khi lần dở từng trang Kinh Thánh, chúng ta thấy ông đứng lên, có lẽ chỉ cách mấy bước bên ngoài chính căn phòng cao đó trong thành Giê-ru-sa-lem, rao giảng một cách dạn dĩ và đầy uy quyền cho một đám đông mà ba ngàn người đã tin nhận Chúa Cứu Thế và chịu phép báp-têm. Lật sang đoạn tiếp theo của sách Công vụ, chúng ta thấy ông đã thách thức Tòa Công luận là những người đã kết án tử Chúa Giê-xu. Ông vui mừng được xem là xứng đáng bị hổ nhục vì danh Ngài và sau đó đã trải qua đêm trong ngục thất trước khi bị hành hình.
Si-môn Phi-e-rơ đã trở thành một con người mới. Cát chảy đã bị thổi bay; đúng như tên của ông, giờ đây ông là tảng đá thật. Điều gì đã tạo ra sự khác biệt như thế?
Hoặc trường hợp của Gia-cơ, người sau này giữ vai trò lãnh đạo trong Hội Thánh Giê-ru-sa-lem. Ông là một “trong những anh em của Chúa Giê-xu.” Người mà các sách Phúc Âm nói rằng không tin Chúa Giê-xu: “Ngay cả anh em Ngài cũng không tin Ngài.” nhưng khi chúng ta đọc đến đoạn thứ nhất của sách Công vụ, danh sách các môn đệ mà Lu-ca liệt kê bao gồm “anh em Ngài.” Giờ đây rõ ràng Gia-cơ đã trở thành một tín hữu. Điều gì đã làm ông đổi khác như thế? Điều gì đã chinh phục ông? Có lẽ chúng ta sẽ tìm được câu trả lời khi tra xem ICo1Cr 15:7, chỗ mà Phao-lô ghi ra tên của những người đã nhin thấy Chúa Giê-xu sống lại, ông viết thêm rằng: “Ngài hiện ra với Gia-cơ.”
Chính sự phục sinh đã biến nỗi sợ của Phi-e-rơ thành sự can đảm và sự nghi ngờ của Gia-cơ thành đức tin. Chính sự phục sinh đã biến ngày Sa-bát thành Chúa nhật và những gì còn lại của Do Thái giáo thành giáo hội Cơ Đốc. Chính sự phục sinh đã biến một người Pha-ri-si như Sau-lơ thành một sứ đồ Phao-lô, kẻ bắt bớ đạo một cách điên cuồng trở thành một người rao giảng chính đức tin mà trước kia ông đã cố gắng phá hủy. Phao-lô viết, “Cuối cung Ngài cũng hiện ra với tôi.”
Đây là những bằng chứng về sự sống lại của Chúa Giê-xu. Xác Ngài đã biến mất. Vải liệm vẫn còn nguyên không bị rối tung. Chúa được nhìn thấy. Và các môn đồ thay đổi. Thật không thể nào có lời giải thích những hiện tượng này đầy đủ hơn là lời khẳng định lời của Cơ Đốc nhân là “Chúa thật đã sống lại.”
Trong ba chương vừa qua chúng ta đã tìm hiểu một nhân vật lịch sử thật hấp dẫn, một người thợ mộc khiêm nhường nhất ở Na-xa-rét đã trở thành một nhà truyền đạo nông dân và đã chết như một tội nhân.
Những lời xác nhận của Ngài vô cùng quan trọng.
Ngài toàn hảo về mặt đạo đức.
Ngài sống lại từ kẻ chết.
Trọng lượng của bằng chứng này hoàn toàn có tính thuyết phục.
Chúng là những chứng cớ hoàn toàn hợp lý để đức tin dẫn chúng ta đến bước cuối cùng là quỳ trước mặt Ngài và miệng chúng ta nói ra một cách mạnh mẽ lời mà một Thô-ma hoài nghi đã nói: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi.”


THỰC TẠI VÀ BẢN CHẤT CỦA TỘI LỖI
Chúng ta đã dành một phần đáng kể để xem xét những bằng chứng về thần tính của Giê-xu Na-xa-rét và chúng ta tin rằng Ngài là Chúa, Con Đức Chúa Trời. Dầu vậy Tân-ước không những cho chúng ta biết Ngài là ai mà còn cho chúng ta biết rằng Ngài đã đến để làm gì. Ngài không chỉ được giới thiệu một cách đơn thuần là Chúa đến từ thiên đàng mà còn là Cứu Chúa của tội nhân. Thật vậy, hai điều này không thể tách rời nhau, sự hữu hiệu của công việc Ngài tùy thuộc vào thần tính của thân vị Ngài.
Nhưng để đánh giá đúng công việc mà Chúa Giê-xu đã làm, chúng ta phải hiểu chúng ta là ai và Ngài là ai. Công việc Ngài thực hiện là vì cớ chúng ta. Đó là công việc của một người làm vì nhiều người, một sứ mạng được thực hiện bởi một người có thẩm quyền vì nhiều người để thỏa mãn nhu cầu của họ. Thẩm quyền của Ngài nằm ở thần tính của Ngài; nhu cầu của chúng ta nằm trong tội lỗi của chúng ta. Chúng ta đã xem xét thần tính của Ngài; giờ đây chung ta phải bày tỏ nhu cầu của chúng ta.
Vì thế chúng ta xây khỏi Chúa Cứu Thế mà đến với con người, từ chỗ vô tội và vinh hiển ở trong Ngài đến chỗ tội lỗi và xấu hổ trong chúng ta. Chỉ sau khi chúng ta biết được chúng ta là ai, chúng ta mới có thể nhận thức được những điều lạ lùng mà Ngài đã làm và ban cho chúng ta. Chỉ khi chúng ta được chẩn bệnh một cách chính xác chúng ta mới được kê đơn thuốc.
Tội lỗi không phải là một đề tài được ưa chuộng và Cơ Đốc nhân vẫn thường bị chỉ trích vì nói đến tội lỗi quá nhiều. Tội lỗi không phải là chuyện mà các mục sự hay cha xứ bịa ra để tạo thuận lợi cho công việc của họ. Tội lỗi là một thực tế liên quan đến kinh nghiệm của con người.
Lịch sử của hàng trăm năm hoặc hơn thế nữa đã khiến cho nhiều người tin rằng vấn đề tội lỗi nằm ở trong chính con người chớ không chỉ trong xã hội của con người. Vào thế kỷ mười chín chủ nghĩa lạc quan bùng phát. Lúc đó người ta tin rằng bản chất con người về cơ bản là thiện, điều ác lan tràn là do sự dốt nát, do điều kiện ăn ở tồi tàn và sự giáo dục cùng việc cải cách xã hội có thể khiến cho con người sống hạnh phúc và thiện hảo với nhau. Nhưng ảo tưởng này bị tiêu tan bởi những sự thật rành rành trong lịch sử. Ở phương tây nhiều cơ hội giáo dục đã được mở ra một cách nhanh chóng và nhiều hình thức phúc lợi cũng được tạo ra. Dầu vậy nhiều hành động tàn bạo đã đi kèm với cả hai cuộc thế chiến, nối tiếp những xung đột quốc tế, áp bức chính trị và phân biệt chủng tộc kéo dài. Nói chung bạo lực và tội ác gia tăng buộc những người có suy nghĩ phải nhìn nhận rằng nơi mỗi con người đều có một cốt lõi của sự ích kỷ.
Hẳn nhiên là chúng ta sống trong một xã hội “được khai hóa” đặt cơ sở trên sự thừa nhận tội lỗi của con người. Hầu như việc ban bố luật pháp càng trở nên phổ biến vì không thể kỳ vọng con người giải quyết những tranh chấp một cách công bình không tư lợi. Lời hứa không chưa đủ; chúng ta cần có hợp đồng. Có cửa cũng chưa đủ; chúng ta phải khóa cửa và cài then. Trả tiền vé không chưa đủ: phải phát hành vé, kiểm tra và thu vé. An ninh và trật tự không đủ; chúng ta cần đến cảnh sát để củng cố an ninh trật tự. Tất cả là vì tội lỗi của con người. Chúng ta không tin nhau. Chúng ta cần được bảo vệ để chống lại nhau. Đây là một bản cáo trạng khủng khiếp về bản chất của con người.
Tính phổ quát của tội lỗi
Các tác giả nói rất rõ rằng tội lỗi có tính phổ quát. Sa-lô-môn đã nói trong lời cầu nguyện khi dâng hiến đền thờ cho Đức Chúa Trời “Vì chẳng có người nào mà không phạm tội.” Nhà truyền đạo trong sách Truyền đạo nói, “Thật chẳng có người công bình ở trên đất làm điều thiện, mà không hề phạm tội.” Một vài Thi Thiên than khóc về tính phổ quát của tội lỗi con người. Thi Thiên 14, đã mô tả về sự gian ác của “kẻ ngu dại” cho rằng không có Đức Chúa Trời:
“ Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: chẳng có Đức Chúa Trời.
Chúng nó đều bại hoại, đã làm những việc gớm ghiếc;
Chẳng có ai làm điều lành.
Đức Giê-hô-va từ trên trời ngó xuống các con loài người,
Đặng xem thử có ai khôn ngoan,
Tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng.
Chúng nó thay thảy đều bội nghịch, cùng nhau trở nên ô uế;
Chẳng có ai làm điều lành,
Dầu một người cũng không.”
Lương tâm cho các tác giả Thi Thiên biết rằng nếu Đức Chúa Trời chỗi dậy để đoán xét con người, không ai có thể thoát khỏi sự đoán phạt của Ngài. “Hỡi Đức Giê-hô-va, nếu Ngài cố chấp sự gian ác, thì, Chúa ôi! Ai sẽ còn sống?” Vì thế họ cầu nguyện “Xin chớ đoán xét kẻ tôi tớ Chúa; vì trước mặt Chúa chẳng người sống nào được xưng là công bình.”
Các tiên tri cũng khẳng định giống như các tác giả Thi Thiên rằng mọi người là tội nhân và không có lời nói nào rõ ràng hơn là hai câu nói được tìm thấy trong phần thứ hai của sách Ê-sai. “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy” và “Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp.”
Đây không phải là sự tưởng tượng của các tác giả Cựu Ước. Phao-lô mở đầu thơ Rô-ma bằng lời biện luận rất chặt chẽ và hợp lý, lời biện luận này trải rộng trong ba đoạn đầu của sách, rằng mọi người không phân biệt ai, người Do Thái cũng như người ngoại, đều là những tội nhân trong cái nhìn của Đức Chúa Trời. Ông mô tả sự suy đồi đạo đức của xã hội người ngoại và sau đó nói thêm rằng người Do Thái cũng không tốt hơn, họ có luật thánh của Đức Chúa Trời và đi dạy dỗ người khác nhưng vẫn phạm luật. Sau đó ông trích dẫn từ các Thi Thiên và tiên tri Ê-sai để minh hoạ chủ đề của ông và kết luận “Chẳng có phân biệt chi hết, vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” Giăng nói thẳng hơn khi ông tuyên bố rằng: “Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình” và “Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta...” (RoRm 3:22, 23; IGi1Ga 1:8, 10).
Nhưng tội lỗi là gì? Mức độ phổ quát của tội lỗi là rõ ràng, nhưng bản chất của tội lỗi là gì? Một số từ được sử dụng trong Kinh Thánh để mô tả tội lỗi. Chúng được xếp thành hai loại, tùy theo việc làm sai trái là tích cực hay tiêu cực. Về mặt tiêu cực, tội lỗi là sự thiếu sót. Những từ tiêu biểu là sự sai sót (a lapse), sự lầm lỗi (a slip), điều sai lầm (a blunder). Giống như hình ảnh khác là bắn trượt vào mục tiêu. Một từ khác là sự xấu xa ở bên trong, là khuynh hướng dẫn đến chỗ thiếu mất những gì tốt lành.
Mặt tích cực, tội lỗi là sự phạm tội. Một từ khác cho thấy tội lỗi là sự vi phạm biên giới, một từ khác nữa là tình trạng vô luật pháp và một từ khác nữa là hành động vi phạm sự công bình.
Cả hai nhóm từ này hàm ý sự hiện hữu của một chuẩn mực đạo đức. Chuẩn mực này là lý tưởng mà chúng ta không đạt được hoặc là luật pháp mà chúng ta vi phạm. Gia-cơ nói, “kẻ biết làm điều lành mà chẳng làm, thì phạm tội.” Đó là khía cạnh tiêu cực. Giăng nói, “Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp.” Đó là khía cạnh tích cực.
Kinh thánh chấp nhận sự thật là con người có những tiêu chuẩn khác nhau. Người Do Thái có luật Môi-se. Người ngoại có luật của lương tâm. Nhưng mọi người đều đã vi phạm luật mà họ biết và hụt mất tiêu chuẩn của chính họ. Luật đạo đức của chúng ta là gì? Nó có thể là luật pháp của Môi-se hoặc luật pháp của Chúa Giê-xu. Nó có thể là giới răn của Phật giáo hoặc năm năm cột trụ tánh hạnh của Hồi giáo. Nhưng dầu nó là bất cứ điều gì chúng ta không thể thành công trong việc tuân giữ chúng. Hết thảy chúng ta đều đứng vào chỗ tự kết án mình.
Đối với một số người sống tốt lành điều này thật sự gây ngạc nhiên cho họ. Họ có lý tưởng và nghĩ rằng ít nhiều họ cũng đạt đến lý tưởng của họ. Họ không quá thỏa thích với sự suy xét nội tâm. Họ không tự phê một cách quá đáng. Họ biết họ thỉnh thoang cũng có những sai sót. Họ biết được một số khiếm khuyết của họ. Nhưng họ đặc biệt không tự cảnh báo và họ cho rằng họ tốt hơn những người khác. Có thể những điều này là như thế, cho đến khi chúng ta nhớ ra hai điều. Thứ nhất, nhận thức về sự thất bại của chúng ta tùy thuộc và những chuẩn mực của chúng ta như thế nào. Một người thật dễ cho rằng mình nhảy cao giỏi khi mà xà ngang không bao giờ đặt cao hơn thắt lưng. Thứ hai, Đức Chua Trời luôn quan tâm đến tư tưởng đằng sau việc làm và động cơ đằng sau hành động. Chúa Giê-xu đã dạy những điều này một cách rõ ràng trong Bài Giảng Trên Núi. Với hai nguyên tắc này trong trí, điều này sẽ chứng tỏ là một bài tập lành mạnh để lấy Mười điều răn trong XuXh 20:1-26 làm tiêu chuẩn của chúng ta và xem chúng ta xa cách với tiêu chuẩn này như thế nào.
Mười Điều Răn
1. Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác .
Đức Chúa Trời đòi hỏi con người phải có sự thờ phượng độc nhất. Không cần phải thờ mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao để vi phạm điều răn này. Chúng ta vi phạm nó khi chúng ta dành cho một người nào đó khác hơn Đức Chúa Trời chỗ ưu tiên trong tư tưởng hoặc tình cảm của chúng ta. Đó có thể là một môn thể thao chiếm nhiều thời gian, một thú tiêu khiển làm chúng ta say mê hoặc những tham vọng ích kỷ. Hoặc có thể là một người nào đó mà chúng ta tôn làm thần tượng. Chúng ta có thể thờ thần tài trong hình thức đầu tư an toàn hoặc vào một ngân hàng uy tín, hoặc thờ thần gỗ và đá trong hình thức của cải và bất động sản. Những điều này tự chúng không có gì là sai trái. Chúng chỉ sai khi chúng ta dành cho chúng chỗ duy chỉ thuộc về Đức Chúa Trời trong cuộc đời của chúng ta. Về cơ bản tội lỗi là tôn cao bản ngã và làm Chúa Đức Chúa Trời mất uy tín. Một câu nói mà một người nào đó đã viết về một người Anh cũng rất đúng với mọi người: hắn ta là “một con người tự tạo tôn thờ người tạo ra hắn.”
Để giữ điều răn thứ nhất, như Chúa Giê-xu phán, chúng ta phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta; để ý muốn Ngài dẫn dắt chúng ta và mục tiêu của chúng ta là làm cho Ngài được vinh hiển; đặt Ngài làm ưu tiên hàng đầu trong tư tưởng, trong lời nói và hành động, trong công việc hay khi nhàn rỗi, trong tình bạn và trong sự nghiệp. Trong việc sử dụng tiền bạc, thờ gian và tài năng, lúc đi làm hay khi ở nhà. Không ai giữ trọn điều răn này trừ Chúa Giê-xu Na-xa-rét.
2. Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình .
Nếu điều răn thứ nhất liên quan đến đối tượng thờ phượng của chúng ta, thì điều răn thứ hai liên quan đến cách thờ phượng. Trong điều răn thứ nhất Đức Chúa Trời đòi hỏi sự thờ phượng độc nhất, trong điều răn thứ hai Ngài đòi hỏi sự thờ phượng chân thật và thiêng liêng của chúng ta. “Vì Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.”(GiGa 4:24).
Có thể chúng ta chưa bao giờ tự tay làm ra những hình tượng bằng kim loại khủng khiếp, nhưng còn những hình tượng ghớm ghiếc mà chúng ta giữ trong tâm trí của mình thì sao? Hơn nữa, dầu điều răn này không cấm việc sử dụng tất cả những hình thức bề ngoài trong sự thờ phượng, nhưng nó hàm ý rằng chúng vô ích trừ khi có một thực tại ở bên trong. Chúng ta có thể đi nhà thờ; nhưng chúng ta có thực sự thờ phượng Đức Chúa Trời không? Chúng ta có thể cầu nguyện; nhưng chúng ta có thật sự cầu nguyện không? Chúng ta có thể đọc Kinh Thánh ; nhưng chúng ta có thật sự để Ngài phán với chúng ta qua lời Ngài và thực hiện những gì Ngài phán không? Thật là không tốt khi đến gần Đức Chúa Trời bằng môi miệng của chúng ta còn lòng chúng ta thì xa cách Ngài (EsIs 29:13; Mac Mc 17:6). Làm như thế là hoàn toàn lừa dối.
3. Ngươi chớ lấy danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mà làm chơi .
Danh của Đức Chúa Trời nói lên bản chất của Ngài. Trong Kinh Thánh có nhiều chỗ truyền lệnh cho chúng ta tỏ lòng tôn kính danh của Ngài và trong lời cầu nguyện của Chúa Giê-xu chúng ta được dạy cầu nguyện một cách tôn kính trong danh Ngài. Danh thánh của Ngài có thể trở nên phàm tục bởi cách ăn nói bừa bãi của chúng ta và hầu hết chúng ta thường làm cho dụng ngữ của chúng ta càng ngày càng tệ hại hơn là hiệu chỉnh chúng. Nhưng lấy danh Đức Chúa Trời mà làm chơi không chỉ là nan đề của ngôn từ, mà còn là vấn đề của tư tưởng và hành động. Bất cứ khi nào lối hành xử của chúng ta không nhất quán với niềm tin của chúng ta, hoặc việc làm của chúng ta không phù hợp với những điều chúng ta giảng dạy, là chúng ta lấy danh Ngài mà làm chơi. Gọi Đức Chúa Trời là “Cha” mà lòng tràn ngập những lo lắng và nghi ngờ là từ chối danh Ngài. Lấy danh Đức Chúa Trời mà làm chơi là nói một đàng mà làm một nẻo. Đây là sự giả hình.
4. Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh .
Ngày Sa-bát của người Do Thái và ngày Chúa nhựt của Cơ Đốc nhân là một định chế của Đức Chúa Trời. Để riêng ra một ngày trong bảy ngày không chỉ là sự sắp xếp của con người hay là sự thuận tiện của xã hội. Đây là kế hoạch của Đức Chúa Trời. Ngài làm ra ngày Sa-bát vì cớ con người, Chúa Giê-xu đã nhấn mạnh (Mac Mc 2:27). Vì con người mà Ngài đã dựng nên ngày Sa-bát, Ngài làm cho ngày Sa-bát thích nghi với nhu cầu của con người. Thân thể và tâm trí của con người cần sự nghỉ ngơi và tâm linh của con người cần có cơ hội để thờ phượng.
Không những chúng ta phải giữ ngày này như chính bản thân chúng ta, vì lợi ích riêng của chúng ta, nhưng chúng ta phải làm tất cả những điều này vì lợi ích chung để bảo đảm rằng những người khác không làm những điều không cần thiết vào ngày này.
Vì thế ngày Chúa nhật là ngày “thánh” được biệt riêng cho Đức Chúa Trời. Đây là ngày của Chúa, không phải ngày của chúng ta. Vì thế phải sử dụng ngày này theo cách của Ngài, để thờ phượng và hầu việc Ngài chớ không phải cho thú vui ích kỷ của chúng ta.
5. Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi .
Điều răn thứ năm này vẫn thuộc về phần đầu của luật pháp có liên quan đến trách nhiệm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời. Vì cha mẹ chúng ta, ít ra là khi chúng ta còn nhỏ, tượng trưng cho thẩm quyền của Đức Chúa Trời (in loco Dei ). Dầu vậy vẫn thường khi trong gia đình, nhiều người, đặc biệt là những người trẻ thường khi tỏ ra ích kỷ và tỏ ra thiếu quan tâm đến cha mẹ. Thật quá dễ dàng để làm ngơ và vô ơn, cũng như không bày tỏ sự kính trọng và lòng yêu thương đối với cha mẹ. Chúng ta có năng thăm viếng hay viết thư cho cha mẹ không? Khi cha mẹ cần tài chánh chúng ta có chu cấp cho họ hay là từ chối?
5. Chớ giết người .
Điều răn này không chỉ ngăn cấm giết người. Nhìn người khác mà muốn giết họ, thì đã phạm tội giết người. Kẻ giết người có thể là những người nói ra những lời nói cay độc, nhiều người đã phạm tội này. Thật vậy, Chúa Giê-xu nói rằng giận hoặc sỉ nhục một người nào đó cũng nghiêm trọng như thế. Giăng đã đưa ra kết luận như sau: “Ai giận anh em mình là kẻ giết người.” Giận dữ, thịnh nộ, điên tiết, oán hận và quyết tâm trả thù - tất cả nhưng điều này là giết người. Chúng ta có thể phạm tội giết người bởi những câu chuyện ngồi lê đôi mách có ác ý. Chúng ta có thể phạm tội giết người khi cố tình làm ngơ và nhẫn tâm. Chúng ta có thể phạm tội giết người khi tỏ ra thù hằn hoặc ganh tỵ. Có thể chúng ta đã làm tất cả những điều này.
6. Ngươi chớ phạm tội tà dâm .
Một lần nữa điều răn này được áp dụng rộng rãi hơn là chỉ áp dụng với việc không chung thủy trong hôn nhân. Nó bao gồm mọi quan hệ tình dục cố ý ngoài hôn nhân. Nó bao gồm sự tán tỉnh, sự nếm trải và những kinh nghiệm tình dục đơn độc. Nó bao gồm sự trụy lạc tình dục. Dầu con người không chịu trách nhiệm về bản năng bại hoại của họ, nhưng họ phải chịu trách nhiệm vì đã nuông chiều nó. Đối với nhiều người, nếu không nói là tất cả, điều răn này bao gồm những đòi hỏi ích kỷ trong hôn nhân và trong ly dị. Nó bao gồm việc cố ý đọc các văn phẩm khiêu dâm và nghĩ đến những hình ảnh tưởng tượng bất khiết. Chúa Giê-xu đã làm rõ điều này khi Ngài nói, “Song ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi.”
Giống như có tư tưởng giết người trong lòng là phạm tội giết người, cũng vậy khi có những tư tưởng tà dâm trong lòng là phạm tội tà dâm. Kỳ thực diều răn này bao gồm mọi sự lạm dụng món quà đẹp đẽ va thiêng liêng của Đức Chúa Trời.
5. Ngươi chớ trộm cắp .
Trộm cắp có nghĩa là lấy đi một diều gì đó thuộc về người khác hoặc là một điều gì đó mà họ có quyền được hưởng. Lấy cắp tiền hoặc tài sản không phải là sự vi phạm duy nhất vào điều răn này. Trốn thuế là trộm cắp. Lẩn tránh thuế quan là trộm cắp. Làm việc không đủ thời luợng là trộm cắp. Những gì thế gian gọi là “xoáy, ” Đức Chúa Trời gọi là trộm cắp. Không quan tâm va trả lương không đúng cho nhân viên là vi phạm điều răn này. Có rất ít người, nếu không nói là không, luôn luôn tuyệt đối chân thật trong việc riêng cũng như trong việc kinh doanh. Như Arthur Hugh Clough viết:
“Ngươi không nhất thiết phải giết người”
Nhưng cần phải làm cho họ sống dở chết dở.
“Ngươi chớ nên trộm cắp”
Khi mà việc lừa đảo mang lại lợi lộc nhiều hơn.
Những điều răn tiêu cực này cũng bao hàm ý nghĩa tích cực. Để tránh giết người, con người phải làm mọi việc trong khả năng để giữ sự lành mạnh và bảo vệ sự sống của người khác. Kiềm chế không phạm tội tà dâm là chưa đủ. Điều răn này đòi hỏi thái độ đúng đắn, lành mạnh và trân trọng trong tính dục. Tương tự, tránh trộm cắp không phải là đức tính đặc biệt nếu như con người vẫn keo kiệt và bủn xỉn. Phao-lô chưa hài lòng khi mà kẻ cắp thôi ăn cắp; họ phải bắt đầu làm việc. Thật vậy, họ phải làm việc một cách chân chính cho đến khi họ tự nhận thấy mình ở trong vị trí ban cho những người có nhu cầu.
9. Ngươi chớ làm chứng dối .
Năm điều răn sau nói lên sự tôn trọng quyền lợi của người khác trong tình yêu thương chân thật. Vi phạm điều răn này là ăn cắp những thứ mà đối với con người là quý giá nhất như mạng sống (“ngươi chớ giết người”), nhà cửa và danh dự (“ngươi chớ phạm tội tà dâm”), tài sản (“người chớ ăn cắp”) và bây giờ là danh tiếng (“ngươi chớ làm chứng dối”).
Điều răn này không chỉ áp dụng trong tòa án. Nó bao gồm lời thề. Nhưng cũng bao gồm tất cả các hình thức của những vụ tai tiếng, vu khống, những chuyện tầm phào, cố ý phóng đại và bóp méo sự thật. Chúng ta có thể trở thành kẻ làm chứng dối khi nghe những lời đồn không tốt và phát biểu lại những lời đồn này, khi nói đùa với ý gây bất lợi cho một ai đó, khi tạo ra một ấn tượng sai lầm nơi người khác, khi không sửa sai những lời nói không đúng sự thật, khi cho rằng yên lặng cũng được mà nói ra cũng được.
10. Ngươi chớ tham lam .
Trong một số mặt nào đó điều răn thứ mười là dễ thấy rõ hơn hết. Nó khiến cho Mười điều răn từ chỗ là luật pháp bên ngoài trở thành tiêu chuẩn đạo đức bên trong. Luật pháp chỉ có thể kết tội trộm cắp nhưng không thể kết tội tham. Vì sự tham lam thuộc về sự sống bên trong. Nó ẩn núp trong lòng và trong tâm trí. Sự dâm dục dẫn đến chỗ phạm tội tà dâm, sự tức giận dẫn đến chỗ giết người và và sự tham lam dẫn đến chỗ trộm cắp.
Có những cái đặc biệt mà chúng ta đừng tham muốn được đề cập đến trong điều răn này là rất hiện đại một cách đáng ngạc nhiên. Trong khi không có nhà chúng ta thường tham muốn nhà của người láng giềng. Toà án sẽ không đầy ắp những vụ ly hôn nếu không có quá nhiều những người đàn ông tham vợ của những người lân cận. Phao-lô viết, “Tham lam… là thờ hình tượng” và ngược lại “sự tin kính cùng sự thỏa lòng, ấy là một lợi lớn.”
Việc liệt kê những điều răn này đã dẫn đến một bảng liệt kê những tội lỗi đáng sợ. Rất nhiều tội xảy ra trên bề mặt của cuộc sống chúng ta, trong những chỗ sâu kín trong tâm trí chúng ta mà người khác không nhìn thấy, những tội mà chúng ta giấu diếm cả chính chúng ta. Nhưng Đức Chúa Trời thấy hết những điều này. Cặp mắt Ngài nhìn thấu những nơi sâu kín trong tấm lòng. “Chẳng có vật nào được giấu kín trước mặt Chúa, nhưng thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại.” Ngài thấy rõ con người thật của chúng ta và luật pháp của Ngài phô bày tội lỗi của chúng ta, vì “bởi luật pháp mà biết tội lỗi.”
Khi C.H. Spurgeon, nhà truyền đạo nổi tiếng của thế kỷ mười chín, mới lên mười bốn, ông đã nhận thức một cách sâu xa về tội lỗi của ông. Hai lẽ thật không thể nào phủ nhận đã đến với ông như là trước đây ông chưa từng biết đến: “Sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời và tội lỗi của tôi.” Ông cảm thấy choáng váng vì sự không xứng đáng cua ông.
“Tôi không ngần ngại nói rằng những người tra xét đời sống của tôi chắc hẳn sẽ không tìm thấy bất cứ tội lỗi khác thường nào, dầu vậy khi tôi xem xét chính mình tôi thấy mình tội thấy mình phạm tội trọng với Đức Chúa Trời. Tôi không giống những đứa trẻ khác, nói dối, không thành thật, chữi thề… Nhưng khi tôi đọc luật pháp Môi-se… Mười điều răn…, dường như tất cả những điều này hiệp lại để kết tội tôi trong cái nhìn của Ba ngôi Đức Chúa Trời.”
Cũng vậy, trong trường hợp chúng ta, không gì giúp chúng ta nhận thức về tội lỗi của chính mình như là luật pháp công bình và cao quý của Đức Chúa Trời.
HẬU QUẢ CỦA TỘI LỖI
Chúng ta đã xem xét bản chất của tội lỗi và sự phổ quát của tội lỗi con người. Có thể chúng ta thôi không muốn nói về đề tài không thú vị này và chuyển ngay sang tin lành về sự cứu rỗi của Chúa Cứu Thế, dầu vậy chúng ta chưa sẵn sàng để làm như thế. Chúng ta cần nắm bắt hậu quả của tội lỗi là gì trước khi chúng ta tìm hiểu những gì Đức Chúa Trời đã làm vì chúng ta và ban cho chúng ta trong Chúa Cứu Thế.
Tội lỗi thật sự có quá nghiêm trọng không? Hậu quả của tội lỗi cần được hiểu rõ khi hậu quả của nó tác động lên Đức Chúa Trời, lên chúng ta và những người chung quanh chúng ta.
Xa cách Đức Chúa Trời
Dầu là chúng ta chưa nhận thức được điều này, nhưng hậu quả khủng khiếp nhất của tội lỗi là bị xa cách khỏi Đức Chúa Trời. Số phận cao quý nhất của con người là biết Đức Chúa Trời và ở trong mối tương giao cá nhân với Ngài. Việc chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Ngài và có khả năng nhận biết Ngài là sự xác nhận quan trọng cho sự cao quý này. Nhưng chúng ta phải nhận thức rằng Đức Chúa Trời là Đấng mà chúng ta phải nhận biết là Đấng công bình, là Đức Chúa Trời của sự trọn vẹn về đạo đức. Nhiều chỗ trong Kinh Thánh nhấn mạnh đến lẽ thật này:
“Đấng cao cả, ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh, có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh…”
“Vua của mọi vua, Chúa của mọi chúa… ở nơi sự sáng không thể đến gần được, chẳng người nào từng thấy Ngài và cũng không thấy được”
“Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm đâu. Ví bằng chúng ta nói mình được giao thông với Ngài, mà còn đi trong sự tối tam, ấy là chúng ta nói dối và không làm theo lẽ thật.”
“vì Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt.”
“Ai trong chúng ta ở được với đám lửa thiêu nuốt?”
“ Ai trong chúng ta ở được với sự thiêu đốt đời đời?”
“ Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược.” (EsIs 57:15; ITi1Tm 6:15, 16; IGi1Ga 1:5, 6; HeDt 12:29; XuXh 4:2; EsIs 33:14; HaKb 1:13).
Tất cả những nhân vật trong Kinh Thánh là những người đã từng thoáng thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã lùi lại trong ý thức mạnh mẽ về tội lỗi của họ. Môi-se , người mà Đức Chúa Trời đã hiện ra với ông trong bụi cây cháy nhưng không tàn, “liền che mặt, vì sợ nhìn đến Đức Chúa Trời.” Gíóp , người mà Đức Chúa Trời phán “từ giữa cơn trốt” để bày tỏ vẻ oai nghi, siêu việt của Ngài, đã kêu lên, “Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa, nhưng bây giờ, mắt tôi đã thấy Ngài. Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi và ăn năn trong tro bụi.” Ê-sai , một thanh niên mới bắt đầu sự nghiệp, đã thấy khải tượng Đức Chúa Trời là Vua của Y-sơ-ra-ên “thấy Chúa ngồi trên ngôi cao sang” , chung quanh là các thiên sứ đang thờ phượng và ca ngợi sự thánh khiết và sự vinh hiển của Ngài, nói rằng: “Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!” Khi Ê-xê-chi-ên thấy một khải tượng lạ lùng về những sinh vật có cánh và những bánh xe lăn, và ở trên là một ngai và trên ngai là một Đấng giống như con người được bao phủ bằng ánh sáng của lửa và của cầu vòng, ông nhận thức rằng: “Ấy là tỏ ra hình trạng của sự vinh quang Đức Giê-hô-va.” Và ông nói thêm rằng: “Ta thấy thì sấp mặt xuống và nghe tiếng của một Đấng phán cùng ta.” Sau-lơ ở Tạt-sơ , đang trên đường đến Đa-mách, đang điên cuồng chống lại các Cơ Đốc nhân, bị ánh sáng chói lọi từ trời, sáng hơn ánh sáng mặt trời giữa trưa đánh ngã xuống đất và làm cho mắt ông bị mù, về sau đã viết về khải tượng của ông về Đấng Christ phục sinh “Ngài cũng hiện ra với tôi.” Giăng khi về già, bị lưu đày ở đảo Bát-mô, đã mô tả chi tiết về sự hiện thấy của ông về Chúa Giê-xu vinh hiển, phục sinh “mắt sáng như ngọn lửa” và “mặt trời chói lọi giữa trưa” và ông nói rằng, “vừa thấy Chúa, tôi ngã xuống chân Ngài như chết.” (XuXh 3:1-6; Giop G 42:5; EsIs 6:1-5; Exe Ed 1:26-28; Cong Cv 9:1-9; ICo1Cr 15:8; KhKh 1:9-17).
Nếu chiếc màn che sự oai nghi không thể nào tả nổi của Đức Chúa Trời có thể được vén sang một bên trong giây lát, thì mắt của chúng ta cũng không thể nào chịu đựng nổi sự oai nghi ấy. Vì vậy chúng ta chỉ có thể nhận thức một cách mơ hồ về sự vinh hiển và chói sáng của Đức Chúa Trời toàn năng. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thức được rằng con người tội lỗi đang khi ở trong tội lỗi của mình không thể nào đến gần Đức Chúa Trời thánh khiết. Có một vực thẳm đang hả hoác miệng ra ở giữa Đức Chúa Trời trong sự công bình của Ngài và con người trong tội lỗi của họ. Phao-lô nói “Vì đức công chính không thể kết hợp với tội ác, cũng như ánh sáng không thể hòa đồng với bóng tối.”
Việc tội lỗi phân cách chúng ta khỏi Đức Chúa Trời được nhìn thấy rõ ở trong cấu trúc của đền tạm và đền thờ. Cả hai được chia thành hai phần, phần đầu tiên, rộng nhất được gọi là nơi thánh, trong khi đó phần nhỏ hơn và ở xa hơn được gọi là Nơi Chí Thánh hay Nơi Thánh Của Những Nơi Thánh. Trong nơi thiêng liêng này là chỗ ngự vinh hiển của Đức Chúa Trời, một biểu tượng nhìn thấy được của sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Giữa hai phần này là một “bức màn” dày ngăn không cho vào Nơi Chí Thánh. Không ai được phép bước vào nơi hiện diện của Đức Chúa Trời trừ thầy tế lễ tối cao, ông chỉ được vào nơi này vào ngày đại lễ Chuộc Tội và chỉ khi mang theo huyết của con sinh tế chuộc tội.
Vì thế đây là những gì bày tỏ cho dân Y-sơ-ra-ên thấy được qua những tác giả của Cựu và Tân Ước. Tội lỗi đem đến sự phân rẽ không thể nào tránh khỏi và sự phân rẽ này là “sự chết”, sự chết huộc linh, là sự tách rời của một con người khỏi Đức Chúa Trời là nguồn của sự sống thật. “Giá của tội lỗi là sự chết.”
Hơn nữa, nếu trong đời này chúng ta cố tình chối bỏ Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng duy nhất mà chỉ nơi Ngài chúng ta mới tìm thấy sự sống đời đời, chúng ta sẽ chết đời đời trong thế giới mai sau. Địa ngục là một thực tại tàn nhẫn và khủng khiếp. Đừng để ai lừa dối bạn. Chúa Giê-xu đã nói điều này. Ngài gọi địa ngục là “nơi tối tăm ở bên ngoài” bởi vì nó là sự phân cách vô cùng tận với Đức Chúa Trời là sự sáng. Trong Kinh Thánh nó được gọi là “sự chết thứ hai” và “hồ lửa,” những thuật ngữ này mô tả một cách tượng trưng việc bị tước mất sự sống đời đời và sự khao khát mãnh liệt của linh hồn bị đuổi khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời ( Mat Mt 25:30; KhKh 20:14, 15; LuLc 16:19-31).
Sự phân rẽ khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời bởi tội lỗi không những được Kinh thánh dạy, mà còn được xác nhận bởi kinh nghiệm của con người. Tôi vẫn nhớ mãi tình trạng bối rối của tôi khi tôi còn bé, tôi cầu nguyện và cố gắng bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Tôi không hiểu tại sao Đức Chúa Trời dường như bị che khuất trong sương mù và tôi không thể nào đến gần Ngài. Giờ đây tôi mới biết được lý do. Ê-sai đã cho tôi câu trả lời:
“ Này, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được; tai Ngài cũng chẳng nặng nề mà không nghe được đâu.
Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa.” (EsIs 59:1-2).
Như trong sách Ca thương chúng ta bị cám dỗ để nói rằng: “Ngài ẩn mình trong mây, đến nỗi chẳng lời cầu nguyện nào thấu qua được.” Nhưng thật ra Đức Chúa Trời không chịu trách nhiệm về đám mây này mà là chúng ta. Tội lỗi của chúng ta đã che khuất mặt Đức Chúa Trời khỏi chúng ta giống như những đám mây che khuất mặt trời.
Nhiều người đã thú nhận với tôi rằng họ trải qua kinh nghiệm đau buồn giống như thế. Đôi lúc, trong những lúc nguy khốn, trong lúc vui hoặc lúc ngắm nhìn những vẻ đẹp của thiên hiên, Đức Chúa Trời dường như gần gũi với họ, nhưng thường thì họ cảm thấy xa cách với Đức Chúa Trời không thể nào giải thích đuợc và họ cảm thấy bị bỏ rơi. Đây không chỉ là cảm nhận mà còn là sự thật. Chúng ta vẫn bị lưu đày, xa cách khỏi ngôi nhà thật sự của chúng ta cho đến chừng nào tội lỗi chúng ta được tha. Chúng ta không được giao thông với Đức Chúa Trời. Theo những thuật ngữ của Kinh Thánh chúng ta bị “mất” hoặc “chết vì những quá phạm và tội lỗi” mà chúng ta đã phạm.
Đây là những lời mô tả về tình trạng không yên nghĩ của con người ngày nay. Trong tâm hồn của con người có nổi khao khát mà không ai có thể làm thỏa mãn được trừ Đức Chúa Trời, có một khoảng trống mà ngoài Ngài không ai có thể lấp đầy được. Việc đòi hỏi những tin giật gân trên báo chí; những câu chuyện cường điệu về tình yêu hoặc tội ác trên phim ảnh; các tụ điểm và quán rượu; những đường đua xe và đua chó; sự lan tràn của các loại ma túy; tình dục và bạo lực - tất cả những điều này là những triệu chứng của sự tìm kiếm của con người để nhằm được thỏa mãn. Họ bị dẫn đến chỗ lầm lạc và xa cách Đức Chúa Trời. Theo như lời trích dẫn trong phần đầu của quyển Confessions của thánh Augustine, ông đã nói đúng: “Ngài đã tạo ra chúng ta cho Ngài và tâm hồn của chúng ta chỉ được yên nghỉ cho đến khi yên nghỉ ở trong Ngài.” Đây là tình trạng bi đát mà không lời nào mô tả được. Con người đánh mất số phận mà Đức Chúa Trời đã tạo ra cho họ.
Sự nô lê của bản thân
Tội lỗi không những làm cho xa cách, mà còn làm cho nô lệ. Nếu tội lỗi làm cho con người xa cách khỏi Đức Chúa Trời, nó cũng đem chúng ta đến chỗ bị giam hãm.
Bây giờ chúng ta cần xem xét “thực chất bên trong” của tội lỗi. Nó hơn hẳn những hành động hoặc thói quen đáng tiếc bên ngoài; nó là sự bại hoại sâu xa ở bên trong. Kỳ thật, những tội lỗi mà chúng ta phạm chỉ là những biểu hiện bề ngoài thấy được của căn bệnh bên trong không thấy được, là triệu trứng của căn bệnh đạo đức. Chúa Giê-xu đưa ra ẩn dụ về cây và trái. Chúa nói loại trái mà một cây sanh ra (ví dụ cây sung hoặc cây nho) và tình trạng của chúng (tốt hoặc xấu) tùy thuộc vào thể chất của cây. Giống như “sự đầy dẫy trong lòng mà miệng nói ra.”
Trong vấn đề này Chúa Giê-xu được nhiều nhà cải cách và cách mạng tôn trọng. Chắc chắn tất cả chúng ta đều chịu ảnh hưởng hoặc tốt hoặc xấu từ nền giáo dục và môi trường chung quanh và hệ thống kinh tế chính trị mà chúng ta đang sống. Chắc chắn chúng ta cũng tìm kiếm sự công bình, tự do và hạnh phúc cho mọi người. Dầu vậy không phải vì thiếu những điều này mà Chúa Giê-xu quy tội cho xã hội con người, nhưng Ngài quy tội cho bản chất con người, cái mà Ngài gọi là “tấm lòng.” Đây là lời Ngài:
“Vì thật là tự trong, tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì làm cho dơ dáy người.” (Mac Mc 7:21-23).
Cựu Ước đã dạy về lẽ thật này. Vì Giê-rê-mi đã nói rằng: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được?” Thật vậy Kinh Thánh có đầy dẫy những tham khảo về sự tiêm nhiễm của bản chất con người hoặc “nguyên tội.” Đây là khuynh hướng của sự tư kỷ mà chúng ta thừa hưởng; nguyên tội bắt rễ sâu vào trong cá tánh của chúng ta và và biểu hiện bằng hàng ngàn cách xấu xa. Phao-lô gọi đó là xác thịt và ông đưa ra bản liệt kê những “việc làm” hay là những sản phẩm của xác thịt.
“Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: Ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: Hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời” (RoRm 6:17; Eph Ep 2:3; Tit Tt 3:3).
Bởi vì tội lỗi là sự bại hoại bên trong bản chất của con người. Chúng ta bị nô lệ cho tội lỗi. Không phải vì một số thói quen hoặc hành động mà chúng ta bị biến thành nô lệ, nhưng bởi lây lan của tội lỗi từ đó đã tạo ra những việc làm này. Tân Ước nhiều lần mô tả chúng ta là “những kẻ nô lệ.” Chúng ta tỏ ra bực tức vì bị gọi như thế, nhưng đây là sự thật. Chúa Giê-xu đã khiến cho một người Pha-ri-si tức giận khi nói với họ rằng: “Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta; các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.”
Họ bắt bẻ: “Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do?”
Ngài trả lời rằng: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi.”
Trong các thơ tín, Phao-lô đã mấy lần mô tả tình trạng nô lệ nhục nhã mà tội lỗi đem đến cho chúng ta.
“Sau khi anh em làm tôi mọi tội lỗi”
“Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta”
“Chúng ta ngày trước cũng ngu muội, bội nghịch, bị lừa dối, bị đủ thứ tình dục dâm dật sai khiến, sống trong sự hung ác tham lam” (RoRm 6:17; Eph Ep 2:3; Tit Tt 3:3).
Ví dụ về việc chúng ta thiếu kiềm chế mình mà Gia-cơ đưa ra là chúng ta gặp phải khó khăn khi kiểm soát cái lưỡi của chúng ta. Trong một đoạn đầy những ẩn dụ sinh động ông nói rằng: “Nếu có ai không vấp phạm trong lời nói mình, ấy là người trọn vẹn, hay hãm cầm cả mình..” Ông cũng nói rõ rằng: “cái lưỡi là một quan thể nhỏ, mà khoe được những việc lớn.” Ảnh hưởng của cái lưỡi giống như lửa; cái luỡi là “nơi đô hội của tội ác” và “đầy dẫy những chất độc giết chết.” Ông nói thêm rằng chúng ta có thể thuần hóa thú vật và chim muông nhưng “cái luỡi, không ai trị phục được nó” (Gia Gc 3:1-12).
Chúng ta biết rõ điều này. Chúng ta có những lý tưởng cao cả nhưng ý chí thì yếu đuối. Chúng ta muốn sống một cuộc đời tốt lành, nhưng chúng ta bị xiềng xích trong ngục tù của sự tư kỷ. Khi chúng ta khoe khoang nhiều về sự tự do của chúng ta thì trên thực tế chúng ta là những nô lệ. Chúng ta cần đổ nước mắt ra trước mặt Đức Chúa Trời và nói với Ngài rằng:
“ Hỡi Chúa, vẫn chưa xong Chúa ôi,
Có một việc vẫn chưa làm,
Không có một trận đánh nào trong đời con
Mà con thật sự chiến thắng.
Và giờ đây con đến để kể với Ngài
Câu chuyện thất bại của con và tất cả mọi người
Về sự yếu đuối và vô ích của con.”
(Studdert Kennedy).
Thật không có ich gì khi đưa cho chúng ta những nguyên tắc về đạo đức vì chúng ta không thể tuân giữ chúng. Hãy để Đức Chúa Trời tiếp tục phán rằng: “Ngươi không thể”, chúng ta sẽ còn như vậy cho đến khi thời gian chấm dứt. Một bài diễn thuyết không giải quyết được vấn đề của chúng ta; chúng ta cần một Cứu Chúa. Giáo dục trí tuệ không đủ nếu không có sự thay đổi tấm lòng. Con người đã tìm ra bí mật của sức mạnh vật lý, năng lượng của phản ứng hạt nhân. Bây giờ con người cần sức mạnh thuộc linh để giải phóng ra khỏi chính mình, để chinh phục và kiểm soát bản thân, sức mạnh này đem lại cho con người đặc điểm đạo đức xứng hợp với tiến bộ khoa học.
Xung đột với người khác
Bản liệt kê về những hậu quả khủng khiếp của tội lỗi mà chúng ta đã phạm vẫn chưa đầy đủ. Có một điều chúng ta cần xem xét, đó là tác động của nó trên mối quan hệ với người khác.
Chúng ta thấy rằng tội lỗi đã lây nhiễm sâu vào bản chất. Gốc rễ của nó nằm ở trong nhân cách của chúng ta. Nó kiểm soát bản ngã của chúng ta. Thật sự tội lỗi là cái tôi của chúng ta. Những tội lỗi mà chúng ta đã phạm là sự khẳng định rằng cái tôi của chúng ta chống lại Đức Chúa Trời hoặc con người. Mười điều răn, một loạt những ngăn cấm tiêu cực, cho thấy trách nhiệm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời và con người. Điều này được làm rõ hơn qua lời tóm lược tích cực luật pháp bằng cách kết hợp một câu trong Lê-vi-ký (LeLv 19:8) và một câu trong Phục truyền (PhuDnl 6:8) “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. Này là điều thứ hai: Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình. Chẳng có điều răn nào lớn hơn hai điều đó.”
Điều quan trọng là phải nhận thấy rằng điều răn thứ nhất là trách nhiệm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời và không phải là trách nhiệm của chúng ta đối với người lân cận. Chúng ta phải kính yêu Đức Chúa Trời trước và sau đó yêu thương kẻ lân cận như chính chúng ta. Như thế mạng lệnh của Đức Chúa Trời là chúng ta phải đặt Ngài trên hết, kế đến là người khác và sau cùng là bản ngã. Người đã viết tự truyện và đề tựa là Dear Me chỉ là diễn đạt những gì mà tất cả chúng ta nghĩ về chính mình. Khi kem được đem đến cho bữa tiệc của trẻ con chúng reo lên rằng: “cho con trước!” Khi trưởng thành, chúng ta không nói thế nữa, nhưng chúng ta vẫn nghĩ như thế. Định nghĩa của tổng giám muc William Temple mô tả đầy đủ lẽ thật này:
“ Tôi là trung tâm của thế giới mà mình nhìn thấy; vị trí của chân trời tùy thuộc vào chỗ mà tôi đang đứng… Giáo dục có thể làm cho việc cho rằng mình là trung tâm giảm bớt đi tai hại bằng cách mở rộng tầm nhìn của chúng ta; giống như khi leo lên một ngọn tháp, tầm nhìn thuộc thể được mở rộng, trong khi đó tôi vẫn là trung tâm và là tiêu chuẩn để xem xét.” (Christianity and Social Order , 1942; SCM Press Edition, 1950, pp. 36-37).
Việc cho rằng mình là trung tâm ảnh hưởng đến lối ứng xử của chúng ta. Chúng ta thấy khó hòa hợp với người khác. Chúng ta có khuynh hướng hoặc là khinh dễ họ hoặc là ghen tỵ với họ, hoặc là có phức cảm tự ty hoặc tự tôn. Chúng ta hiếm khi “đoán xét một cách đúng mực” như Phao-lô đã khuyên độc giả của ông. Đôi lúc chúng ta cảm thấy tự thương cảm cho chính mình, đôi lúc chúng ta tỏ ra tự trọng, bướng bỉnh hoặc yêu mình.
Tất cả những mối quan hệ như giữa cha với con, giữa chồng và vợ, giữa chủ và tớ, đều trở nên phức tạp. Sự phạm pháp của thanh thiếu niên chắc chắn có nhiều nguyên nhân và đa phần là do thiếu sự an ninh trong gia đình; nhưng thực ra việc phạm pháp này (vì bất cứ lý do gì) là đòi hỏi quyền lợi của mình đối với xã hội. Hằng trăm vụ ly dị có thể không xảy ra nếu như người ta hạ mình một chút và nhận lỗi thay vì đổ lỗi cho ngươi phối ngẫu. Khi nhiều cặp vợ chồng đến gặp tôi và hôn nhân của họ đang bị đe dọa, tôi để ý rằng mỗi người đều kể cho tôi một câu chuyện khác nhau, câu chuyện mà đôi lúc câu chuyện rất khác đến nỗi người ta khó có thể đoán được là họ đang mô tả cùng một hoàn cảnh trừ khi người nghe biết rõ sự việc.
Hầu hết những cuộc cải vã là do hiểu lầm và hiểu lầm là do chúng ta thất bại trong việc đánh giá đúng quan điểm của người kia. Chúng ta vẫn thường nói nhiều hơn là lắng nghe, tranh luận hơn là trình bày. Điều này luôn đúng trong những cuộc tranh cãi tại sở làm hay trong những mối bất hòa tại nhà riêng. Nhiều cuộc xung đột giữa những người quản lý có thể được giải quyết nếu như đôi bên trước hết xem xét chính mình một cách nghiêm túc và sau đó xem xét phía bên kia với tinh thần độ lượng, ngược lại chúng ta vẫn thường tỏ ra độ lượng đối với bản thân mình nhưng gắt gao đối vơi người khác. Có thể nói như thế đối với tình hình bất ổn và phức tạp trên bình diện quốc tế. Ngày nay có nhiều căng thẳng phần lớn là do sợ hãi và thiếu khôn ngoan. Chúng ta chỉ nhìn về một phía. Chúng ta cường điệu những đức tính tốt của mình và những thói xấu của người khác.
Thật dễ dàng viết để lên án những mối quan hệ xã hội ngày nay. Lý do duy nhất để làm như thế là để cho thấy rằng tội lỗi hoặc sự tư kỷ của con người là nguyên nhân của mọi rắc rối. Nó khiến cho chúng ta xung đột lẫn nhau. Nếu như tinh thần ích kỷ được thay bằng tinh thần hy sinh, những xung đột sẽ dừng lại. Và sự hy sinh là những gì Kinh Thánh gọi là “tình yêu thương.” Trong khi tội lỗi là chiếm hữu, thì tình yêu thương là rộng mở và ban cho. Đặc điểm của tội lỗi là ước muốn nhận lấy; đặc điểm của tình yêu thương là ban cho.
“ Tình yêu thương luôn ban cho
Tha thứ, hy sinh,
Va tình yêu thương sống mãi,
Với những bàn tay rộng mở.
Vì đặc quyền của tình yêu thương là
Ban cho, ban cho và ban cho.”
Những gì con người cần là sự thay đổi bản chất một cách triệt để, những gì mà giáo sư H. M. Gwatkin gọi là “sự thay đổi từ bản ngã sang vô ngã.” Con người không thể làm gì được cho phần bên trong của mình. Con người không thể điều khiển chính mình. Con người cần đến một Cứu Chúa.
Việc vạch trần tội lỗi của chung ta chỉ nhằm một mục đích duy nhất. Đó là khiến cho chúng ta nhận thức rằng chúng ta cần đến Chúa Cứu Thế Giê-xu và và sẵn sàng tìm hiểu và nhận lấy những gì mà Ngài ban cho. Đức tin được sinh ra từ nhu cầu. Chúng ta chẳng bao giờ đặt đức tin nơi Chúa Cứu Thế nếu như đầu tiên chúng ta không cảm thấy thất vọng về bản thân mình. Ngài phán rằng: “Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, song là người đau ốm. Ta không phải đến gọi kẻ công bình hối cải, song gọi kẻ có tội.” Chỉ khi chúng ta nhận thức và đối diện tình trạng nghiêm trọng của bệnh tật chúng ta mới chấp nhận nhu cầu chữa trị cấp bách.


SỰ CHẾT CỦA CHÚA CỨU THẾ
Cơ Đốc giáo là tôn giáo của sự cứu rỗi. Đức Chúa Trời đã bắt đầu qua Chúa Cứu Thế Giê-xu để giải cứu chúng ta ra khỏi tội lỗi. Đây là chủ đề chính củ Kinh Thánh.
“ Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội.”
“ Bởi Con người đã đến tìm và cứu kẻ bị mất. Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy.”
“ Chính mắt chúng tôi đã chứng kiến và bây giờ chúng tôi loan báo cho cả thế giới biết Thượng Đế đã sai Con Ngài xuống đời làm Đấng Cứu Tinh giải thoát nhân loại.” (Mat Mt 1:21; LuLc 19:10; ITi1Tm 1:15; IGi1Ga 4:14).
Đặc biệt hơn, tội lỗi có ba hậu quả chính như chúng ta đã thấy, ” sự cứu rỗi” bao gồm sự giải phóng con người ra khỏi tất cả. Qua Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta được đem ra khỏi sự lưu đày và hoa thuận lại với Đức Chúa Trời; chúng ta có thể được tái sanh và mối bất hòa được thay thế bằng mối thông công trong sự yêu thương. Khía cạnh thứ nhất của sự cứu rỗi của Chúa Giê-xu là sự chịu khổ và chịu chết của Ngai, thứ hai là sự ban cho của Thánh Linh Ngài và thứ ba là xây dựng Hội Thánh của Ngài. Chúng ta sẽ suy nghĩ về khía cạnh thứ nhất trong chương này; thứ hai và thứ ba trong chương kế tiếp.
Phao-lô mô tả công việc của ông là” chức vụ của sự giải hoà” và Phúc Âm mà ông rao giảng là” sứ điệp của sự giải hoà.” Ông cũng nói thật rõ rằng sự giải hòa này từ đâu mà đến. Ông nói Đức Chúa Trời là tác giả của sự giải hòa và Chúa Cứu Thế là sứ giả đem sự giải hòa đến.” Tất cả những điều này đến từ Đức Chúa Trời, Đấng làm hòa với chúng ta với chính mình Ngài qua Chúa Cứu Thế.” “ Đức Chúa Trời vốn ở trong Chúa Cứu Thế, làm cho thế gian lại hòa với Ngài.” Tất cả những điều này đã có trong tâm trí và tấm lòng của Đức Chúa Trời Hằng Hữu và đã đạt được qua sự chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Bất cứ lời giải thích nào về sự chết của Chúa Cứu Thế hoặc sự cứu rỗi con người mà không thừa nhận sự kiện này là không trung thành với sự dạy dỗ của Thánh Kinh.” Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” “ Vì chưng Đức Chúa Trời đã vui lòng khiến mọi sự đầy dẫy của mình chứa trong Ngài và bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hoa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời” (GiGa 3:16; CoCl 1:19-20).
Nhưng sự “hòa giải” này có nghĩa gì? Từ tương tự là “hòa thuận” trong RoRm 5:11 và “hòa thuận” có nghĩa là một hành động mà bởi đó hai bên xung đột được hiệp một với nhau hoặc tình trạng bày tỏ sự hiệp nhất hoặc vui hưởng sự hiệp nhất. Phao-lô nói rằng chúng ta nhận được” sự hoà thuận” này qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Chúng ta không thể đạt được nó bởi nỗ lực của chung ta; chúng ta nhận nó từ Ngài như một món quà. Tội lỗi gây ra sự bất hòa; thập tự giá, việc Chúa Cứu Thế bị đóng đinh đã làm trọn sự hòa thuận. Tội lỗi đã tạo ra một vực sâu giữa Đức Chúa Trời và con người ; thap tự giá đã bắt cầu qua vực sâu này. Tội lỗi đã làm đổ vỡ mối thông công; thập tự giá đã phục hồi mối thông công này. Phao-lô đã nói với các tín hữu Rô-ma về lẽ thật này bằng một cách nói khác: “Vì tiền công cua tội lỗi là sự chết, nhưng tặng phẩm của Thượng Đế là đời sống vĩnh cửu trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta.”
Nhưng tại sao thập tự giá lại cần thiết cho sự cứu rỗi? Thập tự giá có thật sự thiết yếu cho Cơ Đốc giáo không? Chính xác là thập tự giá đã đạt được điều gì? Trọng tâm và ý nghĩa của thập tự giá là những gì mà giờ đây chúng ta cần xem xét.
Trọng tâm của thập tự giá
Để hiểu được sự chết của Chúa Giê-xu như là cua lễ chuộc tội là trọng tâm của sứ điệp của Kinh Thánh trước nhất chúng ta cần trở lại với Cựu Ước. Ngay từ ban đầu tôn giáo của Cựu Ước là tôn giáo của sự dâng hiến sinh tế. Kể từ khi A-bên đem dâng các con chiên trong bầy của ông và” A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người, ” những người thờ phượng Đức Giê-hô-va đem dâng các của lễ cho Ngài. Các bàn thờ được xây dựng, các con sinh bị giết và huyết bị đổ ra rất lâu trước khi có luật pháp Môi-se. Nhưng dưới luật pháp Môi-se, sau khi giao ước giữa Đức Chúa Trời và dân sự đã được phê chuẩn tại núi Si-nai, những gì có vẻ lung tung đã được chỉnh lý bởi những quy định của Đức Chúa Trời.
Những tiên tri lớn của thế kỷ thứ tám và thứ bảy trước công nguyên đã phản đối chủ nghĩa hình thức và sự vô luân của những người thờ phượng, nhưng hệ thống hiến tế này vẫn tiếp tục cho dến khi Đền thờ bị hủy phá vào năm 70 sau công nguyên. Mọi người Do Thái đều quen thuộc với những nghi lễ liên quan đến của lễ thiêu, của lễ dâng qua lửa và những của lễ có trộn dầu thích hợp, cũng như với những dịp đặc biệt, hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng, hằng năm mà họ phải dâng của lễ. Không một người Do Thái nào mà không được học những bài học cơ bản dạy rằng: “vì sanh mạng của xác thịt ở trong huyết” và” Nếu không đổ huyết, tội lỗi chẳng bao giờ được tha thứ.” (LeLv 17:11; HeDt 9:12).
Những của lễ trong Cựu Ước là hình bóng về sự hy sinh của Chúa Cứu Thế bằng những biểu tượng nhìn thấy được; các tiên tri và các tá giả Thi Thiên đã tiên tiên báo về điều này. Chúng ta có thể thấy một số Thi Thiên mô tả một người vô tội nhưng lại chịu bắt bớ và về sau những lời mô tả này được áp dụng cho Chúa Giê-xu. Chúng ta cũng có thể thấy Ngài trong vai trò người chăn của Giê-rê-mi là người bị đánh và bầy chiên bị tan lạc và trong vị hoàng tử của Đa-vít hoặc “Đấng chịu xức dầu” phải chịu chết. Trên hết, chúng ta có thể thấy Ngài trong một nhan vật cao quý xuất hiện trong những Bài ca về tôi tớ của Đức Giê-hô-va ở cuối sách tiên tri Ê-sai, người đầy tớ chịu khổ của Đức Giê-hô-va, con người” từng trải sự buồn bực” và bị người ta khinh dễ, con người bị thương vì sự quá phạm của người khác, bị dắt đi như chiên đến hàng làm thịt và gánh chịu tội lỗi của nhiều người. Thật vậy, ” Có lời chép rằng Chúa Cứu Thế phải chịu đau đớn dường ấy” (XaDr 13:7; Mac Mc 14:27; DaDn 9:25, 26; EsIs 53:1-12; LuLc 24:26).
Khi Chúa Giê-xu đến, Ngài tự biết mình là con của sự tiền định. Ngài nhận thức rằng Kinh Thánh đang làm chứng về Ngài và những lời tiên tri trong Kinh Thánh được ứng nghiệm ở trong Ngài. Điều này thật rõ ràng khi nói đến những đau khổ mà Ngài phải chịu. Khúc quanh trong chức vụ của Ngài xảy đến tại Sê-sa-rê Phi-líp, ngay khi Phi-e-rơ xưng nhận Ngài là Chúa Cứu Thế, “Ngài khởi sự dạy môn đồ rằng Con Người phải chịu kho nhiều.”
Chính chữ “phải” cho thấy ý nghĩa của sự bắt buộc đối với Ngài khi Kinh Thánh nói đến sự bày tỏ ý muốn của Cha Ngài, tiếp tục xuất hiện trong sự giảng dạy của Ngài. Ngài phải chịu “một phép báp-têm” và Ngài cảm thấy thật đau đớn cho đến khi phép báp têm ấy được hoàn thành. Ngài luôn tiến về phía cái mà Ngài gọi là “giờ, ” trong các sách Phúc Âm có mấy lần nói “giờ ta chưa đến” và lần cuối cùng, ngay trước khi Ngài bị bat, với thập tự giá cận kề, Ngài đã nói: “Thưa Cha, giờ đã đến”
Viển cảnh trước sự thử thách khiến Ngài kêu lên rằng: “Hiện nay tâm thần ta bối rối; ta sẽ nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này! Nhưng ấy cũng vì sự đó mà Con đến giờ này! Cha ơi, xin làm sáng danh Cha.” Cuối cùng khi những kẻ bắt Ngài đã đến và Si-môn vung gươm bảo vệ Ngài và chém đứt tai người đầy tớ của thầy tế lễ cả, Chúa Giê-xu đã quở trách ông “Hãy nạp gươm ngươi vào vỏ; ta há chẳng uống chén mà Cha đã ban cho ta uống sao?” Theo Ma-thi-ơ, Chúa Giê-xu nói thêm “Ngươi tưởng ta không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao? Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh thánh đã chép rằng việc này tất phải xảy đến?” (Mac Mc 8:31; LuLc 12:50; GiGa 17:1; 12:27; 18:11; Mat Mt 26:53).
Tầm quan trọng tối cao của thập tự giá mà Cựu Ước tiên báo và Chúa Giê-xu đã dạy được các tác giả Cựu Ước xác nhận đầy đủ. Tác giả của bốn sách Phúc Âm đã dành một chỗ không cân xứng cho tuần lễ cuối cùng của Chúa Giê-xu và cái chết của Ngài so với phần còn lại của cuộc đời và chức vụ của Ngài. Hai phần năm cho sách Phúc Âm đầu tiên, ba phần năm cho sách thứ hai, một phần ba cho sách thứ ba và hầu như phân nửa cho sách thứ tư, được dùng đễ mô tả những sự kiện nằm giữa việc vào thành Giê-ru-sa-lem một cách khải hoàn và sự thang thiên một cách đắc thắng của Ngài. Trường hợp của Giăng là rất đặc biệt, Phúc Âm của ông có thể chia thành hai phần bằng nhau với tựa đề là “Sách Của Những Phép Lạ” và “Sách Của Sự Thương Khó.”
Những gì hàm ý trong các sách Phúc Âm được trình bày rõ trong Các Thơ tín và rất được Phao-lô quan tâm. Vị sứ đồ này không hề tỏ ra mệt mỏi khi nhắc nhở độc giả của ông về thập tự giá. Ông có ý tưởng thật sinh động là ông mắc nợ Đấng đã chết vì ông. Ông viết “Con Đức Chúa Trời… yêu tôi và đã phó chính mình Ngài vì tôi “và vì thế” tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ.”
Đối với các tín hữu Cô-rinh-tô là những người đang gặp nguy cơ vì họ đang bối rối trước sự tinh vi của triết học Hy Lạp, sứ đồ Phao-lô viết “Vả, đương khi người Giu-đa đòi phép lạ, người Gờ-réc tìm sự khôn ngoan, thì chúng ta giảng Chúa Cứu Thế bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là rồ dại; song le, về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ-réc, thì Chúa Cứu Thế là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.” Đây là những gì mà Phao-lô đã công bố khi ông từ A-thên đến Cô-rinh-tô lần đầu tiên trong hành trình truyền giáo lần thứ hai, “Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” và “Vả, trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh thánh.” (GaGl 2:20; ICo1Cr 1:22-24; 2:2; 15:3).
Sự nhấn mạnh về thập tự giá như thế được tìm thấy trong phần còn lại của Tân Ước. Sau này chúng ta sẽ thấy những gì mà Phi-e-rơ nghĩ và viết về thập tự giá. Trong thư tín viết cho các tín hữu Hê-bơ-rơ có một câu rõ ràng viết về Chúa Cứu Thế “Ngài đã hiện ra chỉ một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi.” Khi chúng ta đọc đến quyển sách lạ lùng và huyền bí là Khải Huyền, chúng ta có thể thoáng thấy sự vinh hiển của Chúa Giê-xu trên thiên đàng, Ngài không những là “sư tử của chi phái Giu-đa” mà còn là “Chiên Con ở đó như đã bị giết” và chúng ta nghe vô số các thánh và các thiên sứ hát ngợi khen Ngai “Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn quí, vinh hiển và ngợi khen!” (HeDt 9:26; KhKh 5:5, 6, 11).
Vì thế từ những đoạn đầu của Sáng Thế Ký cho đến những đoạn cuối của Khải Huyền chúng ta có thể lần theo những gì mà các tác giả đã viết qua cái mà chúng ta gọi là sợi chỉ đỏ. Nó giống như sợi chỉ của Theseus giúp chúng ta có thể tìm được lối qua mê cung của Kinh Thánh. Và Hội Thánh đã nhận thức rõ những gì mà Kinh Thánh dạy về trọng tâm của thập tự giá. Nhiều Hội Thánh đã đánh dấu chúng ta bằng dấu thập tự giá khi chúng ta chịu báp têm và dựng một cây thập tự khi chúng ta chết. Nhiều tòa nhà của giáo hội thường được xây dựng trên một khuôn viên hình thập tự giá, với gian giữa của giáo đường và các gian ngang tạo thành hình một thập tự giá, trong khi đó một số Cơ Đốc nhân mang thập tự giá trên bâu áo, hoặc đeo vong hoặc mang dây chuyền có hình thập tự. Tất cả những điều này không phải là ngẫu nhiên. Thập tự giá là biểu tượng của đức tin chúng ta. Đức tin Cơ Đốc là” đức tin của Chúa Cứu Thế bị đóng đinh trên thập tự giá.” Nhưng gì mà Hoàng đế Constantine nói là đã thấy ở trên trời, chúng ta có thể tìm thấy trong Kinh Thánh: “In hoc signo vinces .” Không có thập tự giá thì không thể chinh phục. Không có thập tự giá thì không có Cơ Đốc giáo. Nhưng tại sao? Như thế có nghĩa gì?
Ý nghĩa của thập tự giá
Trước tiên tôi không thể nói về sự chết của Chúa Cứu Thế mà không nhìn nhận rằng vẫn còn nhiều bí ẩn chưa thể nào hiểu được. Cơ Đốc nhân tin rằng thập tự giá là sự kiện then chốt trong lịch sử. Một số người tự hỏi rằng đầu óc nhỏ bé của chúng ta làm thể nào hiểu hết được. Một ngày nào đó chiếc màn sẽ được cất đi và mọi điều bí ẩn sẽ được giải bày. Chúng ta sẽ thấy Chúa Cưu Thế như Ngài thấy chúng ta và thờ phượng Ngài đời đời vì những gì Ngài đã làm. “Ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương, cách mập mờ: Đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau; ngày nay tôi biết chưa hết: Đến bấy giờ tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy.” Nếu Phao lô là đại sứ đồ uyên bác và có nhiều khải tượng còn nói như vậy thì chúng ta làm gì hơn được.
Tôi sẽ tự giới hạn mình trong những gì mà Si-môn Phi-rơ viết về sư chết của Chúa Giê-xu trong thư tín thứ nhất của ông. Tôi quay sang các thơ tín này vì ba lý do.
Lý do thứ nhất là Phi-e-rơ là một trong ba sứ đồ thân cận với Chúa Giê-xu. “Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng” họp thành bộ ba có mối thông công gắn bó hơn với những người còn lại trong mười hai sứ đồ. Vì thế có khả năng Phi-e-rơ là người nắm bắt được những gì Chúa Giê-xu suy nghĩ và dạy về sự chết của Ngài. Sự thật chúng ta thấy trong thơ tín thứ nhat của ông có hồi ức rõ ràng về những lời giảng dạy của Thầy ông.
Thứ hai, tôi quay sang Phi-e-rơ với niềm tin tưởng, bởi vì ngay từ đầu chính ông là người chấp nhận một cách miễn cưỡng những khổ nạn mà Chúa Cứu Thế phải chịu. Ông là người đầu tiên công nhận sự độc nhất vô nhị của con người Đấng Christ, nhưng ông cũng là người đầu tiên phản đối về sự cần thiết của cái chết của Chúa Cứu Thế. Ông là người công bố rằng: “Chúa la Chúa Cứu Thế” và ông kêu lên “Hỡi Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy!” trong suốt những ngày còn lại trong chức vụ của Chúa Giê-xu, Phi-e-rơ vẫn giữ vẻ thù địch đối với ý tưởng cho rằng Chúa Cứu Thế sẽ chịu chết. Ông cố gắng bảo vệ Ngài ở trong vườn, khi Ngài bị bắt ông theo Ngài xa xa. Khi ảo tưởng bị tan vỡ, ông đã chối Chúa ba lần trong sân nhà thầy tế lễ cả và sau đó khóc lóc đắng cay, không những vì ăn năn, hối hận mà còn thất vọng. Chỉ sau khi Chúa phục sinh, khi Chúa Giê-xu dùng Kinh Thánh để dạy các sứ đồ là “Há chẳng phải Chúa Cứu Thế chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao?” , về sau Phi-e-rơ bắt đầu hiểu và tin. Ít tuần sau ông nắm vững lẽ thật này đến nỗi ông có thể nói nói với đám đông trong các hành lang của đền thờ rằng: “Nhưng Đức Chúa trời đã dùng cách đó mà làm cho ứng nghiệm lời Ngài phán tiên tri bởi miệng các đấng tiên tri rằng Chúa Cứu Thế của Ngài phải chịu đau đớn.” Và trong thư tín đầu tiên của ông có một vài chỗ nói đến” sự chịu khổ và sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế.” Đầu tiên chúng ta có thể miễn cưỡng chấp nhận sự cần thiết cua thập tự giá và chậm hiểu ý nghĩa của nó nhưng nếu có một ai đó thuyết phục được chúng ta và dạy chúng ta về những điều này thì người đó chính là Phi-e-rơ.
Thứ ba, những chỗ nói đến thập tự giá của Phi-e-rơ là những lời nhận xét ngẫu nhiên. Nếu ông cố tình sắp đặt những luận cứ của ông để chứng minh rằng sự chết của Chúa Giê-xu là rất cần thiết, chúng ta có thể nghi ngờ ông có mục đích cá nhân cần phải đạt tới. Nhưng những đieu mà ông muốn nói đến thiên về đạo đức và giáo lý hơn. Ông đơn thuần thôi thúc người đọc sống cuộc đời Cơ Đốc một cách nhất quán, chịu khổ một cánh nhẫn nại.

Chúa Cứu Thế chết để làm gương cho chúng ta
Sự bắt bớ là bối cảnh của thơ tín này. Chúng ta biết rằng hoàng đế Nero tỏ ra thù nghịch với giáo hội Cơ Đốc và nhiều Cơ Đốc nhân tỏ ra nản lòng và sợ hãi. Bạo lực bắt đầu xảy ra dầu không liên tục. Nhưng dường như điều báo hieu rằng những việc tồi tệ hơn sắp xảy ra.
Lời khuyên của Phi-e-rơ là rất thẳng thắn (IPhi 1Pr 2:18-25). Nếu những Cơ Đốc nhân làm tôi tớ bị chủ ngược đãi, hãy để cho họ biết chắc rằng họ đang chịu sự hình phạt mà họ khong đáng phải chịu. Họ bị quở trách và bị đánh đập không phải vì họ làm điều sai trái, nhưng vì sự công bình vì danh Chúa Cứu Thế. Họ không chống trả cũng không trả thù. Họ phải chịu đựng. Họ phải kiên nhẫn chịu khổ một cách bất công có sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Ngay sau đó tâm trí của Phi-e-rơ đến với thập tự giá. Chịu khổ là một phần trong sự kêu gọi của Cơ Đốc nhân, ông xác nhận: “Anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Chúa Cứu Thế cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài.” Ngài vô tội. Dầu Ngài bị sỉ nhục, Ngài không trả thù; khi Ngài chịu khổ, Ngài không nói lời đe dọa. Ngài chỉ đơn giản phó mình, Ngài giao phó họ (những kẻ làm khổ Ngài) vào tay của Đấng phán xét công bình toàn thể nhân loại.
Chúa Cứu Thế đã để lại cho chúng ta một gương. Từ Hy Lạp mà Phi-e-rơ sử dụng, một từ độc đáo ở trong Tân Ước, có nghĩa là vở tập viết của thầy giáo, trên đó có những mẫu tự hoàn hảo mà những người học trò theo học phải viết theo đúng như vậy. Cũng vậy nếu như chúng ta đã rành rọt những mẫu ABC của tình yêu Cơ Đốc, chúng ta phải sống theo gương mẫu của Chúa Giê-xu. Chúng ta phải sống theo mẫu mực của Chúa Giê-xu. Chúng ta “phải noi theo dấu chân Ngài.” Những lời lẽ hùng hồn này xuất phát từ ngòi bút của Ph-e-rơ. Ông khoe khoang rằng dầu chịu tù va chịu chết ông vẫn theo Chúa Giê-xu, nhưng thực ra ông đã “theo Ngài xa xa.” Chỉ khi ở trên bờ biển Ga-li-lê Chúa Giê-xu đã phục hồi sự kêu gọi và chức vụ của Phi-e-rơ bằng những từ ngữ quen thuộc đối với ông “Hãy theo ta.” Vì thế giờ đây Phi-e-rơ tôi thúc độc giả của ông hãy cùng với ông bước theo Chúa Giê xu một cách vâng phục hơn.
Những thách thức của thập tự giá đối với thế kỷ hai mươi cũng khó chịu như là thế kỷ đầu tiên và có liên quan đến ngày hôm nay cũng như trước đây. Có lẽ không có gì trái ngược với bản năng tự nhiên của chúng ta cho bằng mạng lệnh sau đây: đừng chống trả, nhưng phải chịu khổ một cách bất công và lấy thiện thắng ác. Thập tự giá truyền lệnh cho chúng ta chấp nhận sự bất công, yêu thương kẻ thù nghịch chúng ta và liều bỏ những điều lợi vì Đức Chúa Trời.
Cái chết của Chúa Giê-xu còn hơn hẳn một tấm gương tạo sự hứng khởi cho người khac. Nếu không phải như thế thì nhiều câu chuyện trong các sách Phúc Âm không thể nào giải thích được. Ví dụ, có một số câu chuyện kỳ lạ mà trong đó Chúa Giê-xu nói rằng Ngài sẽ “phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhieu người” và đổ huyết ra “huyết của giao ước, ” Ngài gọi là huyết này là “huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.” (Mac Mc 10:45; Mat Mt 26:28). Không có sự cứu chuộc trong một gương mà chúng ta noi theo. Một gương mẫu không bảo đảm được sự cứu chuộc cho chúng ta.
Hơn nữa, tại sao Ngài phải gánh chịu những đau khổ và lo âu nặng nề như thế khi thập tự giá đã gần kề? Chúng ta sẽ giải thích như thế nào về nỗi thống khổ khung khiếp trong vuờn Ghết-sê-ma-nê, về những giọt nước mắt, những tiếng kêu và những giọt mồ hôi như giọt máu? “Cha ơi! Nếu có thể được, xin cho chén này lìa khỏi Con! Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha.” Ngài lại nói “Cha ơi! Nếu chén này không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống, thì xin ý Cha được nên.” Phải chăng chén khiến cho Ngài chùn lại là biểu tượng của cái chết trên cây thập tự? Thế thì Ngài có sợ sự đau khổ va sự chết không? Thế thì gương của Ngài chỉ có thể là gương của sự vâng phục và kiên nhẫn, nhưng hầu như không phải là gương của sự can đảm. Socrates, Plato nói với chúng ta rằng các ông đã “vui vẻ và bằng lòng” uống chen độc cần trong xà liêm ở A-thên. Phải chăng Scorate can đảm hơn Chúa Giê-xu? Hoặc là trong chén của họ chứa một độc chất khác? Ý nghĩa của sự tối tăm, của tiếng kêu vì bị bỏ rơi và chiếc màn giữa nơi Thánh và nơi Chí Thánh bị xé từ trên chí dưới là gì? Không thể giải thích những điều này nếu như Chúa Giê-xu chỉ chết như một gương. Thật vậy một số trong những điều này đã làm cho gương của Ngài lại càng không phải là gương.
Nếu như sự chết của Chúa Cứu Thế thuần túy là một tấm gương thì không những nhiều điều trong các sách Phúc Âm vẫn là những điều huyền bí, mà nhu cầu của con người vẫn không được thỏa đáp. Chúng ta cần nhiều hơn một tấm gương, chúng ta cần một Cứu Chúa. Một tấm gương có thể khuấy động trí tưởng tượng của chúng ta, làm bừng lên lý tưởng của chúng ta và làm cho chúng ta quyết tâm hơn, nhưng không thể tẩy sạch sự ô uế bởi tội lỗi trong quá khứ của chúng ta, không thể đem lại sự bình an cho tâm trạng bồn chồn của chúng ta hoặc làm cho chúng ta hòa lại với Đức Chúa Trời.
Dầu vậy, các sứ đồ đã không để cho chúng ta nghi ngờ về vấn đề này. Họ thường xuyên liên kết sự đến và sự chết của Chúa Cứu Thế với tội lỗi của chúng ta .
“Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh thánh.”
“Chúa Cứu Thế cũng vì tội lỗi chịu chết một lần.”
“Các con biết Đức Chúa Jêsus Christ đã hiện ra để cất tội lỗi đi.”
Đây là ba tác giả lớn của Tân Ước, Phao-lô, Phi-e-rơ và Giăng đã nhất trí nối kết sự chết của Ngài với tội lỗi của chúng ta (ICo1Cr 15:3; IPhi 1Pr 3:18; IGi1Ga 3:5).
Chúa Cứu Thế chết để gánh thay tội lỗi cho chúng ta
Câu mà Phi-e-rơ sử dụng trong thơ tín của ông (IPhi 1Pr 2:23) để mô tả mối liên hệ giữa sự chết của Chúa Cứu Thế với tội lỗi của chúng ta là: “Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ.” Cụm từ” gánh tội lỗi” nghe khá lạ tai, chúng ta nên trở lại với Tân Ước để tìm hiểu ý nghĩa của nó. Ý này xuất hiện thường xuyên trong các sách Lê-vi ký và Dân số ký. Nhiều lần hai sách này chép nếu một người phạm tội vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời “mắc lỗi “hoặc mang lấy tội.” Ví dụ “Khi nào ai phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va mà không tự biết, và làm điều không nên làm, thì ai đó sẽ mắc lỗi và mang lấy tội mình” (LeLv 5:17). Cụm từ này chỉ có một nghĩa duy nhất. “Mang lấy tội mình” là phải chịu hậu quả của tội lỗi mà mình đã phạm, phải gánh chịu hình phạt do tội lỗi gây ra.
Nhưng nhiều lần cụm từ này cung hàm ý là một người khác có thể mang lấy trách nhiệm vì cớ tội nhân. Trong đoạn ba mươi của sách Dân số ký, chỗ Môi-se đề cập đến giá trị của những lời hứa nguyện, Môi-se giải thích rằng một người nam hoặc một góa phụ đã hứa nguyện thì phải giữ sự hứa nguyện của mình. Tuy nhiên, lời hứa nguyện của một người nữ chưa kết hôn hoặc một người phụ nữ đã lập gia đình có hiệu lực hay không là tùy thuộc vào cha hoặc chồng của họ. Nếu một ngày kia người đàn ông nghe nói về sự hứa của người đàn bà nhưng không làm cho lời thề nguyện này mất hiệu lực đi và sau này lại hủy sự hứa nguyện này đi vì cho là dại dột, thì” người chồng sẽ mang lấy hình phạt ve tội lỗi của vợ mình.” Một ví dụ khác nằm ở cuối sách Ca thương, sau khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy phá, dân Y-sơ-ra-ên đã kêu la: “Tổ phụ chúng tôi đã phạm tội, nay không còn nữa. Chúng tôi đã mang lấy sự gian ác họ.”
Khả năng một người khác nhận lấy trách nhiệm, mang lấy tội lỗi của chúng ta được giải bày thêm qua những của lễ bằng huyết trong Cựu Ước dường như quá xa lạ đối với chúng ta ngày nay. Về của lễ chuộc tội, Kinh Thánh chep rằng: “Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi, hầu gánh lấy tội của hội chúng, và làm lễ chuộc tội cho họ trước mặt Đức Giê-hô-va.” Tương tự vào Ngày Lễ Chuộc tội hằng năm, A-rôn được lệnh phải đặt tay lên đầu một con dê gánh tội, vì thế ông đã đồng nhất hóa chính ông và dân tộc của ông với nó; sau đó ông phải xưng nhận tội lỗi của dân tộc ông, chuyển chúng sang con dê một cách tượng trưng và con dê bị đuổi ra ngoài hoang mạc; kế đến chúng ta đọc thấy: “Vậy, con dê đực đó sẽ gánh trên mình các tội ác của dân Y-sơ-ra-ên ra nơi hoang địa” (LeLv 10:17; 16:22). Rõ ràng rằng để “mang” tội lỗi của một người nào đó thì người thay thế phải mang lấy hình phạt của người phạm tội.
Dù tác giả sách Hê-bơ-rơ đã nói: “Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được” , song trong Bài hát dài nhất của Ê-sai (đoạn 53), người chịu khổ vô tội (hình bóng về Chúa Cưu Thế) được mô tả có tính chất sinh tế. Ngài là “chiên con bị dắt đến hàng làm thịt” bởi vì “Ngài chẳng từng mở miệng” và bởi vì” Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.” Ngài đã dâng mạng sống Ngài “làm tế chuộc tội.” “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ” nhưng Ngài cũng giống như “chiên” bị thương tích vì những quá phạm của chúng ta, “Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta ma bị thương, Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh.” Rõ ràng rằng đây là ngôn ngữ nói lên sự thay thế, mô tả Ngài “là vì cớ tội lỗi dân ta đáng chịu đánh phạt, ” đã được tóm tắt trong đoạn này như hai cụm từ quen thuộc mà chúng ta đã thấy trong Lê-vi-ký “gánh lấy tội của hội chúng” và “gánh lấy tội lỗi của nhiều người.”
Cuối cùng sau nhiều thế kỷ chuẩn bị, Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến, Giăng Báp-tít đã công khai chào đón Ngài bằng những lời lạ lùng như sau: “Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” Tương tự, về sau Tân Ước được ghi chép lại, các tác giả Tân Ước không khó khăn gì khi nhận thức rằng sự chết của Chúa Giê-xu là của tế lễ cuối cùng mà trong đó tất cả các của lễ của Cựu Ước được thực hiện. Lẽ thật này là phần quan trọng trong sứ điệp mà thơ tín Hê-bơ-rơ công bố. Những của lễ xưa là bò đực và dê, giờ đây Chúa Cứu Thế đã dâng chính mình Ngài. Những của lễ xưa phải lập đi lập lại, giờ đây Đấng Chhrist chết một lần thì đủ cả. Ngài “bị dâng một lần để mang lấy tội lỗi của nhiều người.”
Cụm từ cuối cùng này đem chúng ta trở lại với lời nói của Phi-e-rơ “Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ.” Con Đức Chúa Trời đã đồng nhất hóa chính mình Ngài với tội lỗi của con người. Ngài không những bằng lòng mang lấy bản chất của chúng ta, mà còn bằng lòng mang lấy tội lỗi của chúng ta. Ngài không những trở nên xác thịt trong dạ bà Ma-ri; Ngài còn trở nên “tội lỗi” trên cây thập tự đồi Gô-gô-tha.
Đây là những lời cuối cùng của Phao-lô. Chúng ở trong hầu hết những phân đoạn Kinh Thánh nói về sự chuộc tội. Nhưng chúng ta không thể nào hiểu khác đi ý nghĩa của chúng. Những câu đầu tiên trong IICo 2Cr 5:1-21 đã từ choi quy tội lỗi của chúng ta trên chúng ta hoặc dựa trên chúng để chống lại chúng ta. Có nghĩa là trong tình yêu thương mà Ngài dành cho chúng ta, măc dầu chúng ta hoàn toàn không xứng đáng gì, Ngài làm cho chúng ta không chịu trách nhiệm về tội lỗi của chúng ta. Ngài sẽ không để cho chúng ta bị người ta nói là “chúng sẽ gánh lấy tội lỗi của chúng” như nhiều người trong thời Cựu Ước. Sau đó Ngài đã làm gì? “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng von chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời.” Chúa Cứu Thế Giê-xu vô tội; trên cây thập tự Ngài đã trở nên tội lỗi vì tội của chúng ta.
Khi nhìn vào thập tự giá, chúng ta có thể bắt đầu hiểu được các hàm ý sâu sắc của những lời này. Vào giữa trưa “khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt” trong ba giờ liền cho đến khi Chúa Giê-xu chết. Bóng tối đi kèm với sự yên lặng, vì không mắt nào có thể nhìn thấy và không miệng nào có thể mở ra, trước sự thống khổ của linh hồn mà Chiên Con không tì, không vít của Đức Chúa Trời phải chịu đựng. Tội lỗi tích lũy trong toàn bộ lịch sư của nhân loại đã chất trên Ngài. Ngài đã tự nguyện mang chúng trên chính thân thể của Ngài. Ngài làm cho chúng trở thành của Ngài. Ngài đã gánh lấy hết thảy trách nhiệm vì cớ chúng ta.
Sau đó đang khi bị bỏ cho cô độc về mặt thuộc linh, miệng Ngài đã kêu lên: “Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?” Đây là câu nói được trích ra từ câu đầu tiên trong Thi Tv 22:1-31. Chắc chắn tác giả đang suy gẫm về sự thống khổ mà Ngài phải chịu theo như sự thống khổ và sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế được mô tả trong Thi Thiên. Nhưng tại sao Ngài trích dẫn câu này? Tại sao không phải là những câu nói về chiến thắng ở phần cuối? Tại sao khong phải là “Hỡi các người kính sợ Đức Giê-hô-va, hãy ngợi khen Ngài!” hoặc “Vì nước thuộc về Đức Giê-hô-va”? Chúng ta có tin rằng đó là tiếng kêu tuyệt vọng và yếu đuối của con người, hoặc là cho rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời là những việc tưởng tượng không?
Không. Những lời này chắc chắn phải có giá trị danh nghĩa của nó. Ngài trích dẫn câu Kinh Thánh này, như Ngài đã trích dẫn những câu khác, bởi vì Ngài tin rằng Ngài đang làm cho nó ứng nghiệm. Ngài đang gánh lấy tội lỗi của chúng ta. Và Đức Chúa Trời là Đấng “có cặp mắt thánh khiết chẳng muốn nhìn thấy tội lỗi” và không thể “đứng nhìn sự sai trái” mà không quay mặt đi. Tội lỗi của chúng ta đã ngăn cách giữa Cha và Con. Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng ở đời đời với Cha, phải chịu lấy mối tương giao bị gián đoạn với Cha qua cuộc đời của Ngài ở trần thế, vì thế Ngài đã bị Cha từ bỏ một cách lạ thường. Tội lỗi của chúng ta đã đưa Chúa Cứu Thế xuống địa ngục. Ngài đã nếm trải nổi thống khổ của một linh hồn bị xa cách khỏi Đức Chúa Trời. Ngài mang lấy tội lỗi của chúng ta và chết thay cho chúng ta. Ngài phải gánh chịu hình phạt là bị xa cách khỏi Đức Chúa Trời vì những tội lỗi mà Đáng ra chúng ta phải chịu.
Ngay khi xuất hiện bóng tối bao trùm ở bên ngoài, Ngài kêu lên trong sự đắc thắng” Mọi việc đã được trọn” và” Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lai trong tay Cha!” Thế là Ngài chết. Công việc Ngài phải làm đã làm xong. Sự cứu rỗi mà Ngài phải đạt đến đã hoàn thành. Tội lỗi của thế gian đã được gánh thay. Sự hòa thuận với Đức Chúa Trời sẵn dành cho tất cả nhưng ai tin nhận nơi Cứu Chúa và tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa cho chính mình. Để chứng tỏ lẽ thật này một cách công khai, ngay lập tức bàn tay vô hình của Đức Chúa Trời đã xé bức màn trong Đền Thờ từ trên chí dưới và vén sang một bên. Không cần dùng đến bức màn này nữa. Lối vào nơi hiện diện thánh khiết của Đức Chúa Trời không còn bị ngăn trở. Chúa Cứu Thế đã “mở lối vào thiên đàng cho những kẻ tin nhận Ngài.” Và ba mươi sáu giờ sau Ngài đã sống lại từ kẻ chết để chứng minh rằng Ngài đã không chết vô ích.
Câu chuyện lạ lùng và đơn sơ về sự gánh thay tội lỗi của Đức Chúa Trời rất xa lạ với ngày hôm nay. Người ta nói rằng Ngài gánh lấy tội lỗi và chịu hình phạt vì tội của chúng ta như vậy là bất công, không xứng đáng là không hợp với đạo đức. Và dĩ nhiên có thể dễ dàng trở nên một sự bôi bác. Chúng ta không được cho rằng như thế là không còn lại gì để cho chúng ta phải làm. Dĩ nhiên chúng ta phải “trở về cùng Đấng chăn chiên và Giám mục của linh hồn mình, ” chết đi với tội lỗi và sống cho sự công bình, như Phi-e-rơ đã nói. Trên hết chúng ta đừng quên rằng: “tất cả những điều nầy đến từ Đức Chúa Trời, ” xuất phát từ lòng nhân từ không thể nào tưởng tượng được của Ngài. Chúng ta đừng nghĩ rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu thuộc về một phe thứ ba đã tranh đấu để giải cứu chúng ta ra khỏi một Đức Chúa Trời không muốn cứu chúng ta. Không phải như vậy. Chính Đức Chúa Trời đã khởi xướng sự cứu rỗi.” Đức Chúa Trời vốn ở trong Chúa Cứu Thế, làm cho thế gian lại hòa với Ngài.” Thật tình tôi không thể giải thích vì sao Ngài vừa ở trong Chúa Cứu Thế Ngài vừa làm cho Chúa Cứu Thế trở nên tội lỗi vì cớ chúng ta, chính vị sứ đồ này đã kết hợp hai lẽ thật này trong cùng một câu. Và chúng ta phải chấp nhận sự nghịch lý này cùng với sự nghịch lý khác gây trở ngại không kém, đó là Chúa Giê-xu Na-xa-rét vừa là Đức Chúa Trời vừa là người, song Ngài vẫn là một thân vị. Nếu có sự nghịch lý trong thân vị của Ngài, thì không có gì lạ khi chúng ta tìm thấy mot điều nghịch lý khác trong công việc của Ngài.
Nhưng ngay cả khi chúng ta không thể giải thích sự nghịch lý hoặc tìm hiểu sự huyền bí, chúng ta sẽ tin vào lời nói trực tiếp của Chúa Cứu Thế và các sứ đồ rằng Ngài đã gánh lấy tội lỗi của chúng ta, khi hiểu được ý nghĩa theo Kinh Thánh của cụm từ nói rằng Ngài đã chịu hình phạt vì tội lỗi của chúng ta.
Rõ ràng là Phi-e-rơ đề cập đến điều này vì ba lý do sau đây. Thứ nhất, ông nói rằng Chúa Cứu Thế gánh lấy tội lỗi của chúng ta trên” cây gỗ.” Những thính giả người Do Thái dễ dàng biết rằng ông đang nói đến PhuDnl 21:1-22, chỗ có chép rằng: “kẻ nào bị treo ắt bị Đức Chúa Trời rủa sả.” Sự kiện Chúa Giê-xu kết thúc cuộc đời Ngài khi bị treo trên “trụ hình” (vì người Do Thái xem việc bị đóng đinh trên thập tự giá và bị treo trên trụ hình là như nhau) có nghĩa rằng Ngài ở dưới sự rủa sả của Đức Chúa Trời.
Thay vì phản bác ý này, các sứ đồ đã chấp nhận nó và Phao-lô đã giải thích nó trong GaGl 3:1-29. Ông giải thích rằng điều này cũng được chép trong Phục truyền: “Đáng rủa sả thay kẻ nào không giữ các lời của luật pháp này để làm theo!” Nhưng sau đó “Chúa Cứu Thế đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ.” Trong văn mạch ý nghĩa trong những câu la rõ ràng không thể nào hiểu khác đi được. Có nghĩa rằng sự rủa sả công bình do luật pháp bị vi phạm trên những người phạm tội được chuyển sang Chúa Giê-xu trên cây thập tự. Ngài đã giải phóng chúng ta ra khỏi sự rủa sa bằng cách gánh lấy sự rủa sả khi Ngài chết.
Thứ hai, phân đoạn trong thơ I Phi-e-rơ này có không dưới năm lần nhắc đến những ý trong EsIs 53:1-112
I PHI-E-RƠ
Ngài chưa hề phạm tội, trong miệng Ngài không có chút chi dối trá
Ngài bị rủa sả
Ngài gánh tội lỗi chúng ta
Lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bệnh.
Anh em vốn giống như con chiên lạc
EsIs 53:1-12
Ngài chẳng làm diều gì thô bạo và miệng Ngài chẳng có một lời dối trá
Người đã bị người ta khinh dễ và chán bỏ.
Ngài mang lấy tội lỗi nhiều người
Bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh
Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc
Chúng ta đã thấy rằng đoạn này mô tả Đấng vô tội đã chịu khổ, bị thương tích và hy sinh chịu chết vì tội lỗi của người khác. Trong ánh sáng của đoạn này điều này vượt quá vấn đề mà Chúa Giê-xu đã giải thích về sứ mạng và cái chết của Ngài như Ngài đã làm cho những người tin theo Ngài. Ví dụ, khi hoạn quan Ê-thi-ô-bi yêu cầu nhà truyền giáo Phi-líp nói về đấng tiên tri trong phân đoạn Kinh Thánh mà ông đang đọc tren xe ngựa, ngay lập tức” Phi-líp bèn mở miệng, bắt đầu từ chỗ Kinh thánh đó mà rao giảng Đức Chúa Jêsus cho người.”
Thứ ba, trong thơ tín của ông, Phi líp có nhiều lần khác nói đến thập tự giá để để xác nhận những lời giải thích trong đoạn hai. Ông mô tả độc giả của ông “có phần trong sự rải huyết Ngài… bởi huyết báu Chúa Cứu Thế, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít” (IPhi 1Pr 1:2, 18, 19).
Điều này ám chỉ đến của lễ Vượt qua đầu tiên vào thời Xuất Ai Cập. Mỗi gia đình người Y-sơ-ra-ên đều bắt một con chiên, giết đi và rải huyết lên mày cửa và hai cột nhà. Chỉ làm như thế mới được bình an và thoát khỏi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, chỉ làm như thế mới thoát khỏi sự nô lệ ở Ai Cập. Phi-e-rơ mạnh mẽ áp dụng ý nghĩa tượng trưng của lễ vượt qua cho Chúa Cứu Thế (như phao-lô nói “Chúa Cứu Thế là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi”). Huyết Ngài đã đổ ra để cứu chuộc chúng ta khỏi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời và sự nô lệ cho tội lỗi. Nếu chúng ta muốn thừa hưởng được sự cứu chuộc này, huyết đó phải được rải trong lòng chúng ta, có nghĩa là được xức cho mỗi người trong chúng ta một cách riêng tư.
Một lời nói có ý nghĩa khác về thập tự giá của Phi-e-rơ được chép ở trong IPhi 1Pr 3:18 “Vả, Chúa Cứu Thế cũng vì tội lỗi chịu chết một lần, là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình, để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời....” Tội lỗi đã làm cho chúng ta phân cách khỏi Đức Chúa Trời ; nhưng Chúa Cứu Thế muốn đem chúng ta trở lại với Ngài. Vì thế Ngài đã chịu khổ vì tội lỗi của chúng ta, Cứu Chúa vô tội đã chết vì những tội nhân. Và Ngài chiụ chết “một lần, ” một cách dứt khoát, để những gì Ngài làm không thể bị lập lại hoặc cải tiến hay bổ sung.
Chúng ta chớ có quên hàm ý này. Có nghĩa rằng không có sự tuân thủ lễ nghi tôn giáo hoặc việc lành nào có thể khiến cho chúng ta đuợc tha thứ. Dầu vậy vào thời kỳ hậu Cơ Đốc ở phương tây đã có nhiều người sa ngã vì lối nhạo báng Cơ Đốc giáo như thế. Có thể thông cảm được rằng vì họ không hiểu được sự khác biệt cơ bản giữa Phúc Âm Cơ Đốc và các tôn giáo đông phương. Họ xem tất cả các tôn giáo đều có cùng một hệ thống giá trị. Họ nói: “Thượng đế giúp những người tự giúp mình.” Nhưng không thể nào làm cho ý niệm này hòa hợp với thập tự giá của Chúa Cứu Thế. Ngài chết để chuộc tội cho chúng ta với một lý do đơn giản là chúng ta không thể chuộc tội cho chính mình. Nếu chúng ta có thể làm như thế, thì sự chết chuộc tội của Ngài là không cần thiết. Thật vậy, khi cho rằng chúng ta có thể nhận được đặc ân từ Đức Chúa Trời bởi những nỗ lực của chúng ta là sự sỉ nhục đối với Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vì như thế giống như nói rằng không có Ngài chúng ta vẫn có thể tự làm được, Ngài thật sự không cần băn khoăn để chết thay cho chúng ta. Như Phao-lô nói: “Nếu bởi luật pháp (qua sự vâng lời của chúng ta) mà được sự công bình (được Đức Chua Trời chấp nhận), thì Chúa Cứu Thế chịu chết là vô ích.” (GaGl 2:21).
Trong thời của chúng ta cũng như trong thời của Phao-lô, sứ điệp của thập tự giá vẫn là sự điên rồ đối những kẻ khôn ngoan và là hòn đá vấp chan đối với những người cậy sự công bìng riêng, nhưng đã đem đến sự bình an cho hằng triệu người. Như Richard Hooker đã viết trong một bài giảng mà ông đã giảng vào năm 1585 khi ông là người cai quản Đền thờ,
“Dầu bị cho là dại dột, hay điên cuồng hay là bất cứ điều gì. Thì đây là sự khôn ngoan và là nguồn an ủi của chúng ta; chúng ta không quan tâm đến tri thức của thế gian, nhưng chúng ta quan tâm đến điều này: con người đã phạm tội và Đưc Chúa Trời đã chịu đau khổ; Đức Chúa Trời đã trở nên tội lỗi vì cớ con người và con người được trở nên công bình bởi Đức Chúa Trời.”
Mỗi Cơ Đốc nhân có thể lập lại những lời này. Có sự chữa lành qua những vết thương của Ngài, có sự sống qua cái chết của Ngài, có sự tha thứ qua những nỗi đau đớn của Ngài và có sự cứu rỗi qua sự chịu khổ của Ngài.

SỰ CỨU RỖI CỦA CHÚA CỨU THẾ
“Sự cứu rỗi” là một thuật ngữ bao hàm nhiều khái niệm gây ngạc nhiên. Thật là sai lầm nếu cho rằng sự cứu rỗi là một từ đồng nghĩa với sự tha thứ. Đức Chúa Trời rất quan tâm đến hiện tại và tương lai cũng như quá khứ của chúng ta. Trước tiên kế hoạch của Ngài là làm cho chúng ta hòa lại với Ngài và sau đó đem chúng ta vào sự hòa hợp với anh em chúng ta. Điều cốt yếu là chúng ta có được sự tha thứ và sự hòa giải là bởi sự chết của Chúa Cứu Thế, nhưng chính bởi Đức Thánh Linh mà chúng ta được tư do và trong Hội Thánh Ngài chúng ta có thể hiệp một trong mối thông công của tình yêu thương. Giờ đây có những khía cạnh của sự cứu rỗi của Chúa Cứu Thế mà chúng ta cần xem xét.
Linh của Chúa Cứu Thế
Như chúng ta thấy, tội lỗi không thể được xem như là một loạt các sự việc chẳng có liên quan gì với nhau, nhưng là những triệu chứng của một căn bệnh thuộc linh bên trong. Để minh họa điều này, có vài lần Chúa Giê-xu sử dụng sự so sánh của cây và trái. Phẩm chất của trái tùy thuộc vào phẩm chất của cây sinh ra trái. “Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu thì sanh trái xấu. Cây tốt chẳng sanh được trái xấu, mà cây xấu cũng chẳng sanh được trái tốt.”
Nguyên nhân dẫn đến tội lỗi của chúng ta là do bản chất tội lỗi mà chúng ta thừa hưởng khiến cho chúng ta trở nên bại hoại và ích kỷ. Như Chúa Giê-xu nói tội lỗi chúng ta đến từ bên trong, từ trong” lòng” của chúng ta. Vì thế sự đổi mới tánh hạnh của chúng ta tùy thuộc vào sự thay đổi bản chất. Chúa Giê-xu nói: “trồng cây tốt thì sanh trái tốt.”
Nhưng có thể thay đổi được bản chất con người không? Có thể nào khiến cho một người cay đắng trở thành ngọt ngào, kiêu ngạo trở thành khiêm nhường, hoặc ích kỷ trở thành vô kỷ không? Kinh Thánh công bố một cách mạnh mẽ rằng những phép lạ này có thể xảy ra. Đây là một phần của sự vinh hiển của Phúc Âm. Sự ban cho của Chúa Cứu Thế Giê-xu không những làm thay đổi chỗ đứng của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời mà còn làm thay đổi chính bản chất của chúng ta. Ngài nói với Ni-cô-đem về sự cần thiết không thể nào thiếu được của sự sanh lại và lời Ngài có thể áp dụng cho chúng ta: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời… Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại” (Xem GiGa 3:1-36).
Theo một số cách nào đó lời nói của Phao-lô gây ấn tượng hơn, vì ông đã thốt ra điều bí mật trong một câu nói không có động từ: “nếu ai ở trong Chúa Cứu Thế, thì nấy là người dựng nên mới” (IICo 2Cr 5:17). Thế thì có khả năng ở đây là Tân Ước nói về một tấm lòng mới, bản chất mới, sự sanh mới, sự sáng tạo mới.
Sự thay đổi lớn lao ở bên trong là công việc của Đức Thánh Linh. Sự sanh mới là sự sanh từ” trên cao.” Được tái sanh là “được sanh ra bởi Đức Thánh Linh.” Ở đây hầu như không luận bàn gì đến giáo lý mầu nhiệm Ba Ngôi. Vì mục đích hiện thời của chúng ta là xem xét đầy đủ những gì mà các sứ đồ đã viết về Đức Thánh Linh khi sự giảng dạy của Ngài được soi sáng bởi những kinh nghiệm của họ.
Tuy nhiên trước nhất cần phải hiểu rằng Đức Thánh Linh không trở nên hiện hữu hay bắt đầu hoạt động vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Ngài là Đức Chúa Trời. Vì thế Ngài là vĩnh cửu và đã họat động trong thế gian này từ buổi sáng thế. Cựu Ước có nhiều chỗ nói về Ngài và các tiên tri trông đợi mot thời kỳ mà hoạt động của Ngài sẽ gia tăng và trải rộng, khi Đức Chúa Trời đặt Đức Thánh Linh giữa dân sự Ngài, họ có thể vâng theo luật pháp của Ngài.
Những gì các tiên tri trong Cựu Ước tiên báo, Chúa Cứu Thế hưa rằng sẽ không trông đợi lâu. Một vài giờ trước khi chết, Ngài ở riêng với các sứ đồ trên phòng cao, Ngài nói với họ rằng: “Đấng Yên ủi, ” “Thần Lẽ Thật, ” Đấng sẽ đến và thay thế Ngài.
Thật vậy, sự hiện diện của Đức thánh Linh sẽ tốt hơn cho họ, thậm chí tốt hơn sự hiện diện trên đất của Ngài. Ngài phán: “Ta đi là ích lợi cho các ngươi; vì nếu ta không đi, Đấng Yên-ủi sẽ không đến cùng các ngươi đâu; song nếu ta đi, thì ta sẽ sai Ngài đến.” Sự ích lợi là như thế này: Chúa Cứu Thế chỉ ở với họ, bên cạnh họ: nhưng “Ngài … sẽ ở trong các ngươi” (Xem GiGa 16:7; 14:17).
Trong một ý nghĩ nào đó chúng ta có thể nghĩ rằng chức vụ giảng dạy của Chúa Giê-xu đã tỏ ra thất bại. Nhiều lần Ngài đã thúc giục các môn đệ của Ngài hãy trở nên khiêm nhường giống như con trẻ, nhưng Si-môn Phi-e-rơ vẫn kêu ngạo và tự tin. Ngài vẫn thường dạy họ yêu thương nhau, nhưng Giăng vẫn xứng danh là “con trai của sự sấm sét” cho đến cuối cùng. Dầu vậy khi bạn đọc thơ thứ nhất của Phi-e-rơ bạn không thể nào không lưu ý đến những chỗ nói về sự khiêm nhường và những thơ của Giăng thì đầy sự yêu thương. Điều gì đã tạo ra sự khác biệt này? Đức Thánh Linh. Chúa Giê-xu dạy họ phải trở nên khiêm nhường và yêu thương; nhưng không có một phẩm chất nào xuất hiện trong đời sống của họ cho đến khi Đức Thánh Linh bước vào và bắt đau thay đổi bên trong con người họ.
Vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, “hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh.” Đừng nghĩ rằng đây là kinh nghiệm kỳ dị dành cho các sứ đồ và những thánh nhân lỗi lạc, dầu chắc chắn rằng chúng ta không thể nào trông mong những hiện tượng bên ngoài như gió thổi và những lưỡi lửa được lập. “Đầy dẫy Đức Thánh Linh” là một mạng lệnh truyền cho hết thảy mọi Cơ Đốc-nhân. Sự hiện diện bên trong của Đức Thánh Linh là quyền bẩm sinh của mọi Cơ Đốc nhân. Thật vậy, nếu Đức Thánh Linh không ở bên trong chúng ta, hết thảy chúng ta không phải là những Cơ Đốc nhân thật. Phao-lô viết: “Song nếu ai không có Thánh Linh của Chúa Cứu Thế, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài” (Xem Cong Cv 2:4; Eph Ep 5:18; RoRm 8:9).
Đây là điều Tân Ước dạy. Khi chúng ta đặt lòng tin nơi Chúa Giê-xu và dâng đời sống mình cho Ngài, Thánh Linh sẽ bước vào đời sống chúng ta. Đức Chúa Trời ban Thánh Linh ngự vào lòng chúng ta để làm cho thân thể chúng ta thành đền thờ của Ngài (GaGl 4:6; ICo1Cr 6:19).
Điều này không có nghĩa rằng kể từ đây chúng ta được loại bỏ khỏi khả năng phạm tội. Ngược lại, theo một số cách nào đó sự xung đột càng gia tăng; nhưng mặt khác, con đường chiến thắng đã được mở ra. Phao-lô đưa ra sự mô tả sinh động về trận chiến trong đoạn năm của sách Ga-la-ti. Các bên tham chiến là “xác thịt” và “Thánh linh.” Phao-lô giải thích: “Vì xác thịt có những điều ưa muốn trái với những điều của Thánh Linh, Thánh Linh có những điều ưa muốn trái với của xác thịt; hai bên trái nhau dường ấy, nên anh em không làm được điều mình muốn làm.”
Đây không phải là lý thuyết thần học khô khan; đây chính là kinh nghiệm thường nhật của mọi Cơ Đốc nhân. Chúng ta tiếp tục nhận biết rằng những ước muốn tội lỗi kéo chúng ta xuống; nhưng giờ đay chúng ta cũng nhận thức rằng có một lực đối nghịch kéo chúng ta lên để đến với sự thánh khiết. Nếu chúng ta buông lỏng “xác thịt, ” nó sẽ xô đẩy chúng ta vào những thói xấu vô luân và ích kỷ mà Phao-lô đã liệt kê trong các câu 29 đến 31. Mặt khác, Đức Thánh Linh được cho phép hành động, kết quả sẽ là “lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ.” Phao-lô gọi những đức tính hấp dan này là “Trái của thánh Linh.” Cá tính của chúng ta giống như một vuờn cây ăn quả do Đức Thánh Linh vun trồng. Để cho Ngài trồng những cây tốt, những trái của chúng sẽ tốt.
Thế thì làm thế nào để đánh bại xác thịt đe “trái của Thánh Linh” có thể lớn lên và chín? Câu trả lời nằm ở thái độ bên trong của chúng ta đối với mỗi bên. “Những kẻ thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tư giá rồi. “Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt.” Đối với “xác thịt” chúng ta phải liên tục chống trả một cách quyết liệt mà chỉ có từ “đóng đinh” mới mô tả được điều này; nhưng đối với Đức Thánh Linh chúng ta phải chân thành đầu phục quyền tể trị của Ngài trên đời sống của chúng ta. Chúng ta càng khước từ xác thịt và càng vâng phục Đức Thánh Linh; thì những việc xấu xa của xác thịt sẽ càng tieu biến đi và bông trái của sự yêu thương sẽ thế chỗ của chúng.
Phao-lô giảng dạy một lẽ thật giống y như thế trong IICo 2Cr 3:18 “Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nen cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa, là Thánh Linh.” Chính bởi Linh của Chúa Cứu Thế mà chúng ta có thể được biến đổi thành ảnh tượng của Chúa Cứu Thế, khi chúng ta chăm nhìn vào Ngài. Chung ta có thủ vai để đóng kịch, trong sự ăn năn, trong đức tin và trong kỷ luật, nhưng về cơ bản sự thánh khiết là công việc của Đức Thánh Linh.
Từng đức tính mà chúng ta có được
Từng chiến thắng mà chúng ta đạt được
Từng tư tưởng thánh khiết
Là của mỗi một mình Ngài
Linh của sự thánh khiết và ân điển
Xin thương xót và giúp đỡ cho sự yếu đuối của chúng con
Hỡi Thánh Linh, xin làm cho lòng chúng con trở nên nơi ngự của Ngài
Và trở nên xứng đáng cho Ngài hơn!
William Temple đã minh họa công việc của Đức Thánh Linh như thế. Nếu đưa cho tôi một vở kịch như Hamlet hoặc King Lear và bảo tôi viết một vở kịch như thế, tôi không thể nào làm được, nhưng Shakespeare thì có thể. Nếu chỉ cho tôi một cuộc đời giống như cuộc đời của Chúa Giê-xu và bảo tôi sống một cuộc đời như thế, tôi không thể nào làm được, nhưng Chúa Giê-xu có thể làm được. Và nếu Đức thánh Linh đến và sống ở trong tôi, tôi có thể sống một cuộc đời như thế. Đây là bí mật của sự thánh thiện Cơ Đốc. Chúng ta không phải cố gắng sống như Chúa Giê-xu, nhưng đó là bởi Thánh Linh của Ngài đến và sống trong chung ta. Xem Ngài là gương để chúng ta noi theo chưa đủ; chúng ta cần Ngài làm Cứu Chúa của chúng ta. Vì thế qua sự chết chuộc tội của Ngài hình phạt vì những tội lỗi của chúng ta được tha thứ; qua sự cư ngụ của Đức Tánh Linh mà quyền lực của tội lỗi bị bẻ gãy.
Hội Thánh của Chúa Cứu Thế
Khuynh hướng của tội lỗi là ly tâm. Nó kéo chúng ta ra khỏi sự hòa hợp với những người lân cận chúng ta. Nó làm cho chúng ta xa rời khỏi Đấng Tạo Hóa và cũng khiến cho chúng ta xa rời khỏi những tạo vật quen thuộc với chúng ta. Hết thảy chúng ta đều kinh nghiệm được tại vì sao một cộng đồng như một trường đại học, một bệnh viện, một phân xuởng hoặc một văn phòng có thể trở thành hang ổ của sự thù hằn và ganh tỵ. Chúng ta thấy thật khó “sống với nhau trong sự hiệp nhất”
Nhưng kế hoạch của Đức Chúa Trời là làm cho chúng ta làm hòa lại với nhau và hòa lại với chính mình Ngài. Vì thế Ngài không cứu những cá nhân độc lâp, không có liên hệ trong sự cách ly giữa người này với người kia; Ngài đang kêu gọi một dân cho Ngài.
Điều này đã được làm rõ trong những đoạn đầu của sách Sáng Thế Ký. Đức Chúa Trời đã kêu gọi Á-ra-ham rời bỏ quê hương và những mối quan hệ ở Mê-sô-pô-ta-mi và hứa ban đất làm di sản cho ông và con cháu của ông sẽ đông như sao trời và nhiều như cát biển. Lời hứa làm cho con cháu của ông trở nên đông đảo và các dân tộc trên thế gian sẽ nhờ họ mà được phước được làm mới với con trai của ông là Y-sác và cháu nội của ông là Gia-cốp.
Tuy Gia-cốp đã chết khi xuất Ai-cập, muời hai con trai của ông đã sống và trở thành tổ phụ của mười hai chi phái “Y-sơ-ra-ên, ” tên mà Đức Giê-hô-va đã đặt cho Gia-cốp. Với “những con trai của Y-sơ-ra-ên” này, với những năm cứu chuộc ra khỏi cảnh nô lệ sau này, Đức Chúa Trời đã làm mới lại giao ước của Ngài.
Nhưng làm thế nào mọi chi tộc trên thế gian được phước? Hết thế kỷ này đến thế kỷ khác, khi vận mệnh của Y-sơ-ra-ên được tiết lộ, đối với phần còn lại của thế giới đất nước này dường như bị rủa sả hơn là chúc phước. Bị vây bọc bởi những bức tường cao của tòa nhà của chính họ tạo nên, dân của Đức Chúa Trời tự bảo vệ mình khỏi tiếp xúc dơ bẩn với dân ngoai không tinh sạch. Dường như thể họ sẽ bỏ lỡ vận mệnh vơi tư cách là những ân nhân của thế giới. Phải chăng lời hứa của Đức Chúa Trời đối với Áp-ra-ham hóa ra là lời nói dối? Không. Nhiều tiên tri nhờ lời của Đức Chúa Trời đã biết rằng đấng Mết-si-a đã đến, Vua chịu xức dầu của Đức Chúa Trời, từ mọi phương trời nhiều người sẽ đến để bước vào Vương quốc của Đức Chúa Trời.
Cuối cùng Chúa Cứu Thế đến, Giê-xu Na-xa-rét công bố sự đến của vương quốc mà người ta trông đợi từ lâu. Ngài phán nhiều người sẽ đến, từ phương bắc, nam đông, tây và cùng ngồi với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. Dân của Đức Chúa Trời không còn là một đất nước riêng lẻ, nhưng là một xã hội mà các thành viên xuất phát từ mọi chủng tộc và ngôn ngữ. Cứu Chúa phục sinh truyền lệnh cho môn đệ Ngài: “Hãy đi và môn đệ hóa muôn dân.” Ngài gọi tóm tắt muôn dân được môn đệ hóa là “Hội Thánh ta” (Mat Mt 28:19; 16:18).
Vì thế lời hứa của Đức Chúa Trời đối với Áp-ra-ham, được lặp lại mấy lần đối với ông và được làm mới với các con của ông, được ứng nghiệm qua sự tăng trưởng của Hội Thánh toàn cầu ngày nay. Phao-lô viết: “Lại nếu anh em thuộc về Chúa Cứu Thế, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.” (GaGl 3:29).
Một trong những hình ảnh đáng chú ý nhất mà Phao-lô sử dụng để truyền đạt sự hiệp nhất của những người tin theo Chúa Cứu Thế là hình ảnh về thân thể của con người. Ông nói rằng Hội Thánh là thân thể của Chúa Cứu Thế. Mỗi Cơ Đốc nhân là một chi thể hay một bộ phận của thân thể, trong khi Chúa Cứu Thế là đầu, điều khiển các hoạt động của thân thể. Không có một bộ phận nào có cùng một chức năng, nhưng mỗi bộ phận đều cần thiết cho sức khỏe và cho sự hữu ích tối đa của thân thể.
Cả thân thể cũng được làm cho sống động bởi một sự sống chung. Chính sự hiện diện của Ngài làm cho thân thể hiệp một. Hội Thánh nhờ Ngài mà có được sự hiệp một chặt chẽ. “Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh.” Hoặc “sự thông công nơi Thánh Linh.”8 Sự dự phần chung của chúng ta ở nơi Ngài đem lại cho chúng ta hiêp một một cách sâu sắc và lâu dài.
Thật là vô lý khi khi cho rằng nình là một thành viên của thân thể hoàn vũ rộng lớn là Hội Thánh phổ thông mà không góp phần một cách thực tiễn vào một trong các Hội Thánh địa phương. Có nghĩa là, khi làm những thành viên của Hội Thánh địa phương, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội thờ phượng Đức Chúa Trời, vui hưởng sự thông công với nhau và phục vụ một cộng đồng rộng lớn hơn.
Ngày nay co nhiều người phản ứng chống lại tổ chức Hội Thánh, một số hoàn toàn bài bác Hội Thánh. Chúng ta thông cảm được điều này vì có thể Hội Thánh cổ hủ, hướng nội. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng, Hội Thánh là những con người, những con người tội lỗi và sai lầm. Không có lý do gì để né tránh điều này, vì bản thân chúng ta là tội lỗi và sai lầm.
Chúng ta cũng hiểu rằng không phải mọi thành viên của Hội Thánh hữu hình đều là thành viên của Hội Thánh thật sự của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Như Chúa Giiê-xu nói có một số người đã đăng ký và có tên trong các sổ bộ của Hội Thánh nhưng không bao giờ có tên trên thiên đàng. Đây là một sự kiện mà Kinh Thanh đã ghi chép, tuy nhiên “Chúa biết những kẻ thuộc về Ngài.” Bởi phép báp-têm người hầu việc Chúa chào đón những người xưng nhận đức tin nơi Chúa Cứu Thế vào trong Hội Thánh hữu hình. Nhưng chỉ có Đức Chúa Trời biết những ai thật sự có đức tin thực hành , vì Đức Chúa Trời nhìn thấy trong lòng. Chắc chắn hai đoàn thể này đang chồng chéo lên nhau. Tuy nhiên, chúng không giống nhau.
Đức Thánh Linh không những là tác giả của sự sống phổ quát của Hội Thánh, mà còn là tác giả của tình yêu thương phổ quát. Trái đầu tiên của Đức Thánh Linh là tình yêu thương. Bản chất của Ngài là yêu thương và Ngài truyền tình yêu này cho những ai mà Ngài ở cùng. Mọi Cơ-đoc nhân đều có kinh nghiệm đáng lưu ý là họ bị kéo đến với những Cơ Đốc nhân khác mà họ hầu như không biết và có kinh nghiệm hoàn toàn khác hẳn với họ. Mối quan hệ giữa các con cái của Đức Chúa Trời càng ngày càng tang trưởng, càng sâu đậm và ngọt ngào hơn mối quan hệ máu mủ. Đây là mối quan hệ họ hàng trong gia đình của Đức Chúa Trời. Giăng đã nói: “Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết.” Tình yêu thương này không thuộc về cảm xúc. Nó không đặt cơ sở trên cảm xúc. Bản chất của nó là hy sinh; nó tự thể hiện trong ước nuốn phục vụ, giúp đỡ và làm cho người khác tốt thêm lên. Chính bởi tình yêu thương mà lực ly tâm của tội lỗi phản tác dụng, vì tội lỗi thì chia rẽ còn tình yêu thương thì hiệp một và tội lỗi thì gây ngăn cách còn tình yêu thương thì phục hòa.
Dĩ nhiên những trang sử của Hội Thánh vẫn thường bị vấy bẩn bởi sự ngu dại và ích kỷ, thậm chí bởi sự không vâng theo lời dạy của Chúa Cứu Thế một cách công khai. Ngày nay dường như có một số Hội Thánh đã chết hoặc đang chết, thay vì có đầy sức sống và những Hội Thánh khác thì bị xâu xé bởi các bè phái và bi tàn lụi vì thiếu tình yêu thương. Chúng ta phải thừa nhận rằng không phải tất cả những ai xưng nhận và tự gọi mình là Cơ Đốc nhân đều bày tỏ tình yêu thương hoặc sự sống của Chúa Cứu Thế.
Chỗ của Cơ Đốc nhân là cộng đồng Cơ Đốc địa phương, là nơi mưu tìm những phẩm chất mới mà Chúa Cứu Thế ban cho dân sự Ngài và trong mối thông công đó Cơ Đốc nhân dự phần vào sự làm chứng và thờ phượng Đức Chúa Trời.

TÍNH GIÁ
Cho đến giờ chúng ta đã xem xét một số bằng chứng về thần tính độc đáo của Giê-xu Na-xa-rét; chúng ta đã xem xét nhu cầu của con người với tư cách là một tội nhân, xa cách Đức Chúa Trời, bị giam hãm trong chính mình và không còn hòa thuận với đồng loại và khái quát về những khía cạnh chính của sự cứu rỗi mà Chúa Cứu Thế đã thực hiện vì chúng ta và cho chúng ta. Giờ đây là lúc chúng ta đặt một câu hỏi riêng tư với Chúa Cứu Thế Giê-xu như Sau-lơ trên đường Đa-mách đã hỏi” Tôi phải làm gì thưa Chúa?” hoặc câu hỏi tương tự của người cai ngục Phi-líp: “Tôi phai làm gì để được cứu?”
Rõ ràng là chúng ta phải làm một điều gì đó. Cơ Đốc giáo không chỉ là sự đồng ý một cách thụ động một loạt những việc phải làm. Chúng ta có thể tin vào thần tánh và sự cứu chuộc của Chúa Cứu Thế và tự nhận mình là những tội nhân cần sự cứu rỗi của Ngài, nhưng điều này không làm cho chúng ta trở thành những Cơ Đốc nhân. Chúng ta phải có sự đáp ứng riêng tư với Chúa Cứu Thế, mở lòng ra tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa và Chúa của chúng ta. Chúng ta sẽ xem xét bản chất của bước này trong chương sau; chúng ta sẽ xem xét những hàm ý thực tiễn của nó trong chương này.
Chúa Giê-xu chẳng bao giờ giấu giếm rằng đạo của Ngài có cả sự đòi hỏi lẫn sự ban cho. Sự đòi hỏi tuyệt đối như là sự ban cho nhưng không. Nếu Ngài ban cho con người sự cứu rỗi, Ngài cũng đòi hỏi con người vâng phục Ngài. Trong việc môn đệ hóa Ngài không khuyến khích những con người khinh xuất tham gia vào. Ngài không gây áp lực trên những người tìm cầu. Ngài đuổi những người tỏ ra nhiệt tình nhưng tắc trách. Lu-ca kể cho chúng ta nghe về ba người hoặc là tình nguyện hoặc là được mời gọi để theo Chúa Giê-xu; nhưng không một người nào vuợt qua được thử nghiệm của Chúa. Nhà lãnh đạo trẻ tuổi, giàu có, đạo đức, đúng đắn và có sức hấp dẫn, muốn có sự sống đời đời theo cách riêng của mình, đã buồn rầu bỏ đi cung với sự giàu có không hề bị sức mẻ, nhưng không có được sự sống đời đời cũng như Chúa Giê-xu làm sở hữu.
Một dịp khác có một đám đông đi theo Chúa Giê-xu. Có lẽ họ hô to những khẩu hiệu và bày tỏ những biểu hiện bên ngoài để gây ấn tượng về lòng trung thành của họ. Nhưng Chúa Giê-xu biết sự gắn bó của họ với Ngài thật là hời hợt biết bao. Ngài dừng lại, quay sang nói chuyện với họ, Ngài kể một câu chuyện ngụ ngôn với hình thức một câu hỏi:
“Vả, trong các ngươi có ai là người muốn xây một cái tháp, mà trước không ngồi tính phí tổn cho biết mình có đủ của đặng làm xong việc cùng chăng sao? E khi đã xây nền rồi, không làm xong được, thì mọi người thấy liền chê cười, và rằng: Người này khởi công xây, mà không thể làm xong được!” (LuLc 14:25-30.).
Rải rác đây đó trong Cơ Đốc giáo những công trình đổ nát bị bỏ phế, những tháp xây dựng dang dở, những tàn tích của những người bắt đầu xây và không thể hoàn thành để lại. Vì hàng ngàn người vẫn làm ngơ trước sự cảnh cáo của Chúa Cứu Thế và cam kết đi theo Ngài mà trước tiên không dừng lại để suy nghĩ về cái giá phải trả. Hau quả là ngày nay Cơ Đốc giáo mang phải tai tiếng lớn, cái gọi là” Cơ Đốc giáo trên danh nghĩa.” Trong những đất nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Cơ-đóc giáo, nhiều người tự khoác cho mình một lớp vỏ Cơ Đốc giáo lịch sự nhưng mong manh. Họ tự cho phép mình trở nên hơi phức rắc rối một chút; đủ để được kính trọng và không bị phiền phức. Tôn giáo của họ là một tấm nệm lớn và êm ái. Khi thay đổi hình thức và vị trí của tấm nệm này, nó sẽ bảo vệ họ khỏi những điều khó chịu trong cuộc sống. Vì thế không có gì lạ khi những người theo chủ nghĩa hoài nghi nói về những kẻ giả hình trong Hội Thánh và gạt bỏ tôn giáo có khuynh hướng thoát ly thực tế.
Sứ điệp của Chúa Giê-xu thật rất khác biệt. Ngài chẳng bao giờ hạ thấp tiêu chuẩn của Ngài và thay đổi các điều kiện của Ngài để sự kêu gọi của Ngài được dễ dàng chấp nhận hơn. Ngài yêu cầu các môn đồ đầu tiên và Ngài đòi hỏi với từng môn đồ sự phó thác có suy nghĩ thận trọng và hoàn toàn cho Ngài. Đây là sự phó thác trọn vẹn.
Giờ đây chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận những gì Ngài nói:
“ Đoạn, Ngài kêu dân chúng và môn đồ, mà phán rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta và đạo Tin lành mà mất sự sống, thì sẽ cứu. Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Hay là có người nào lấy chi mà đổi linh hồn mình ư? Vì giữa dòng dõi gian dâm tội lỗi này, hễ ai hổ thẹn về ta và đạo ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về kẻ ấy, khi ngự trong sự vinh hiển của Cha Ngài mà đến với các thiên sứ thánh.” (Mac Mc 8:34-38).
Sự kêu gọi đi theo Chúa Cứu Thế
Lời kêu gọi đơn giản nhất của Chúa Giê-xu là “Hãy theo ta.” Ngài đòi hỏi lòng trung thành của con người. Ngài mời gọi họ học theo Ngài, vâng lời Ngài và gắn bó chặt chẽ với Ngài.
Giờ đây không thể theo Ngài mà không từ bỏ trước tiên. Theo Chúa Cứu Thế là tuyên bố từ bỏ mọi sự trung thành nhỏ hơn. Trong những ngày khi Ngài còn sống giữa con người, điều nay có nghĩa là từ bỏ gia đình và công việc theo nghĩa đen. Si-môn và Anh-rê “bỏ lưới mà theo Ngài.” Gia-cơ và Giăng “bỏ thuyền và cha mình mà theo Ngài.” Ma-thi-ơ nghe theo sự kêu gọi của Chúa Giê-xu khi ông “đương ngồi tại sơ thâu thuế… liền đứng dậy, mà theo Ngài.”
Ngày nay, sự kêu gọi của Chúa giê-xu không thay đổi, cũng cùng một nguyên tắc như vậy. Ngài vẫn nói: “Hãy theo ta” và nói thêm “nếu ai trong các ngươi không bỏ mọi sự mình có, thì không được làm môn đồ ta.” Tuy nhiên trong thực tế, điều này không có nghĩa rằng đa số Cơ Đốc nhân về mặt thuộc thể phải từ bỏ gia đình và công việc của họ. Thay vì vậy điều này nói lên hàm ý từ bỏ bên trong là đừng để cho gia đình và những tham vọng chiếm chỗ bên trong cuộc đời của chúng ta.
Tôi sẽ trình bày rõ ràng về sự từ bỏ không thể tách rời khỏi việc đi theo Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Trước tiên, phải từ bỏ tội lỗi . Nói cách khác đây là Đây là phần trước nhất trong sự cải đạo Cơ Đốc. Không thể bỏ qua điều này. Sự ăn năn và đức tin phải đi đôi với nhau. Chúng ta không thể theo Ngài mà không từ bỏ tội lỗi.
Ăn năn là sự từ bỏ dứt khoát những tư tưởng hành động và thói quen mà chúng ta biết là sai lầm. Không cần phải cảm thấy sự giằn vặt bởi sự ăn năn hoặc làm một số điều gì đó để tạ lỗi với Đức Chúa Trời. Về cơ bản, ăn năn không phải là vấn đề của cảm xúc hoặc lời nói. Nó là vấn đề thay đổi bên trong của tâm trí và thái độ đối với tội lỗi để dẫn đến sự thay đổi tư cách đạo đức.
Ở đây không hề có sự thỏa hiệp. Có thể trong đời sống của chúng ta có những tội lỗi mà chúng ta không nghĩ rằng có thể từ bỏ; nhưng chúng ta phải có ước muốn chúng rời khỏi chúng ta khi chúng ta kêu cầu Đức Chúa Trời giải phóng chúng ta khỏi những tội lỗi này. Nếu bạn đang nghi ngờ về những điều đúng hoặc sai, những điều gì phải từ bỏ và những điều gì có thể giữ lại, đừng để cho những thói quen, những thông tục của các Cơ Đốc nhân mà bạn quen biết ảnh hưởng một cách thái quá ở trên bạn. Hãy hành động theo sự giảng dạy rõ ràng của Kinh Thánh, theo sự thôi thúc của lương tâm và Chúa Cứu Thế sẽ dần dần dẫn dắt bạn đi xa hơn trên con đường của sự công chính. Khi Ngài chỉ tay vào một điều gì đó, hãy từ bỏ nó. Điều đó có thể là một sự kết giao hoặc giải trí, một số loại văn chương mà bạn đang đọc hoặc thái độ kiêu căng, ghen tỵ, giận dữ hay tinh thần không tha thứ.
Chúa Giê-xu bảo các môn đệ Ngài móc mắt và chặt tay hoặc chân nếu chúng xui cho họ phạm tội. Chúng ta không cần phải vâng theo điều này với nghĩa đen hoàn toàn mà làm cho thân thể chúng ta bị thương tật. Đây là một cách mô tả sinh động về lối cư xử không thương xót với những con đường dan chúng ta đến chỗ cám dỗ.
Đôi khi sự ăn năn thật bao gồm” sự bồi hoàn.” Có nghĩa là bồi thường xứng đáng cho những người chúng ta đã làm thương tổn. Tội lỗi của chúng ta đã làm cho Đức Chúa Trời thương tổn mà chúng ta không thể làm cách gì để chữa lành sự thương tổn này. Chỉ có sự chết chuộc tội của Cứu Chúa chúng ta mới làm được điều này. Nhưng khi tội lỗi của chúng ta làm tổn hại người khác, đôi khi chúng ta có thể giúp sửa lai những thiệt hại chỗ mà chúng ta có thể làm và chúng ta phải làm như thế. Xa-chê, một người thâu thuế bất lương, đã phân phát phân nửa gia tài của ông cho người nghèo để bồi thường (chắc chắn) cho cho sự trộm cắp của ông. Chúng ta phải noi theo gương này. Có thể là tiền bạc hoặc thời gian mà chúng ta phải trả lại, những lời đồn đại phải được phủ nhận, tài sản phải trả lại, những lời xin lỗi phải được nói ra hoặc những mối quan he đổ vỡ phải được hàn gắn.
Tuy nhiên chúng ta không cần tỉ mỉ một cách thái quá trong vấn đề này. Thật là dại dột nếu chúng ta cứ lục lọi trong trí xem trong suốt nhiều năm qua xem chúng ta đã nói những lời nào hoặc làm những việc nào gây tổn thương cho một người nào đó mà chúng ta đã quên đi từ lâu. Chúng ta phải thực tế trong vấn đề này. Tôi biết một sinh viên đã thú nhận với ban giám hiệu của trường đại học là cô đã gian lận trong kỳ thi, một người khác đã trả lại những giáo trình đã lấy cắp từ một hiệu sách. Một sĩ quan quân đội đã trả lại cho Bộ Quốc Phòng một loạt những thứ mà anh ta đã đánh cắp được. Nếu chúng ta thật sự ăn năn, chúng ta sẽ muốn làm mọi thứ trong khả năng của chúng ta để đền bù cho quá khứ. Chúng ta không muốn vui hưởng những bông trái của tội lỗi mà chúng ta muốn được tha thứ.
Thứ hai là phải từ bỏ bản ngã . Để theo Chúa Giê-xu chúng ta không những phải từ bỏ tội lỗi, mà còn phải từ bỏ sự ngoan cố tiềm ẩn trong tận gốc rễ của mỗi hành động tội lỗi. Theo Chúa Giê-xu là cho Ngài có thẩm quyền trên đời sống của chúng ta. Theo Chúa Giê-xu là từ bỏ ngai lòng của chúng ta và tôn Ngài làm Vua. Sự từ bỏ bản ngã được Chúa giê-xu mô tả sinh động trong ba cụm từ.
Đó là liều mình :” Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình.” Động từ này đã được Phi-e-rơ chối Chúa trong sân của thầy tế lễ cả sử dụng. Chúng ta phải từ bỏ chính mình giống như Phi-e-rơ chối Chúa Cứu Thế khi ông nói: “Ta không biết người đó đâu.” Từ bỏ chính mình không giống như vĩnh viễn từ bỏ kẹo hay thuốc lá hoặc tự nguyện kiêng cử một giai đoạn nào đó. Cũng không phải là từ bỏ mọi điều, nhưng là từ bỏ chính mình. Phải nói không với bản ngã và nói vâng với Chúa Cứu Thế; từ bỏ bản ngã và chấp nhận Chúa Cứu Thế.
Cụm từ thứ hai mà Chúa Giê-xu sử dụng là vác thập tự giá mình ” Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta.” Nếu chúng ta sống ở xứ Pa-lét-tin và thấy một người vác cây thập tự, chúng ta hiểu ngay đó là một tù nhân bị kết án và bị dẫn đi để chịu hình phạt tối cao. Vì Pa-lét-tin là một quốc gia bị trị và đây là điều người La-mã bắt buộc những phạm nhân bị kết án của họ phải làm. Vì thế, Giáo sư H. B. Swete đã nói trong quyển chú giải Phúc Âm Mác của ông rằng vác thập tự giá là “là tự đặt mình vào chỗ của người bị kết án để đi đến chỗ hành hình.” Nói cách khác, thái độ từ bỏ bản ngã là thái độ chịu khổ hình trên cây thập tư. Phao-lô sư dụng một ẩn dụ tương tự khi ông nói: “những kẻ thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tư giá rồi.”
Trong bản dịch củ sách Lu-ca lời nói này của Chúa Cứu Thế được thêm vào trạng từ “mỗi ngày.” Cơ Đốc nhân phải chết mỗi ngày. Phải công bố quyền tối cao của ý chỉ Ngài. Mổi ngày phải làm mới lại sự dâng hiến vô điều kiện cho Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Cụm từ thứ ba mà Chúa Giê-xu dùng để mô tả sự từ bỏ bản ngã là mất sự sống “vì cớ ta mà mất sự sống thì sẽ được lại.” Từ “sự sống” ở đây không có nghĩa là sự tồn tại vật lý hoặc linh hồn của chúng ta nhưng là bản ngã của chúng ta. Tâm thần (psyche) là bản ngã (ego), là nhân tánh của con người khiến cho họ suy nghĩ, cảm nhận, lập kế hoạch và chọn lựa. Trong câu nói tương tự được chép trong Lu-ca, Chúa Giê-xu đã đơn giản sử dụng đại từ phản thân và nói về một con người dễ đánh mất “chính mình.” Con người này đã phó mình cho Chúa Cứu Thế, vì thế đã đánh mất chính mình. Tuy nhiên điêu này không có nghĩa là người này mất đi những đặc tính cá nhân. Ý chí của người này thật đã đầu phục ý chí của Chúa Cứu Thế. Ngược lại, như chúng tat thấy sau này, khi Cơ Đốc nhân đánh mất chính mình, người này sẽ tìm thấy chính mình và khám phá được nhân dạng thật của mình.
Vì thế để đi theo Chúa Cứu Thế chúng ta phải từ bỏ chính mình, phải đóng đinh chính mình và phải đánh mất chính mình. Mạng lệnh trọn vẹn và không hề lay chuyển của Chúa Cứu Thế Giê-xu giờ đây đã được phân tích rõ. Ngài không kêu gọi sự phó thác nửa vời, không đến nơi đến chốn, nhưng là một sự phó thác tuyệt đối và mạnh mẽ. Ngài kêu gọi chúng ta tôn Ngài làm Chúa của chúng ta.
Ngày nay có một ý tưởng lạ lùng phổ biến trong vòng một số người cho rằng chúng ta có thể vui hưởng những lợi ích từ sự cứu rỗi của Chúa Cứu Thế mà không phải chấp nhận quyền sở hữu tối cao của Ngài. Thật là một ý tưởng lệch lạc không có trong Tân Ước. “Giê-xu là Chúa” là lời phát biểu đầu tiên trong bài Tín điều các sứ đồ. Vào thời mà hoàng đế La-mã buộc công dân của họ phải gọi “hoàng đế là Chúa.” Những từ này có tính chất nguy hiểm. Nhưng các Cơ Đốc nhân không hề nao núng. Họ không thể dâng hiến cho hoàng đế La-ma lòng trung thành của họ, bởi vì họ đã dâng hiến cho hoàng đế Giê-xu. Đức Chúa Trời đã tôn Chúa Giê-xu con Ngài trên hết mọi hoàng đế, mọi quyền lực và trao cho Ngài một địa vị tối cao trên mọi địa vị, để “hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống.”3
Tôn Ngài làm Chúa là giao phó hết mọi lãnh vực trong đời sống riêng tư lẫn công khai cho Ngài điều khiển. Điều này bao gồm cả sự nghiệp của chúng ta. Đức Chúa Trời có một mục đích cho mỗi cuộc đời. Công việc của chúng ta là khám phá mục đích này và thực hiện nó. Cơ Đốc nhân phải sống khôn ngoan, không bừa bãi và khinh xuất. Cơ Đốc nhân co thể tham gia hoặc sẵn sàng cho công việc mà Đức Chúa Trời sẵn dành cho chính mình. Nhưng cũng có thể không. Nếu Chúa Cứu Thế là Chúa của chúng ta, chúng ta phải mở lòng mình ra cho triển vọng thay đổi này.
Điều chắc chan là Đức Chúa Trời kêu gọi mỗi Cơ Đốc nhân vào “chức vụ” là để hầu việc, để làm đầy tớ người khác vì Chúa Cứu Thế. Không còn Cơ Đốc nhân nào sống vì chính mình nữa. Điều không chắc chắn là sự phục vụ này sẽ nằm dưới hình thức nào. Có thể là chức vụ được Hội Thánh tấn phong hoặc một số hình thức công việc Hội Thánh trọn thời gian tại nhà riêng hay ở hãi ngoại. Nhưng thật là sai lầm khi cho rằng mọi Cơ Đốc nhân đều được kêu gọi như thế. Có những hình thức phục vụ khác cũng xứng đáng như công việc được gọi là “chức vụ Cơ Đốc.” Ví dụ, sự kêu gọi những phụ nữ trở thành những người vợ, những người mẹ và những người làm công việc nhà mang ý nghĩa của “chức vụ Cơ Đốc” trọn vẹn nhất, bởi vì họ đang hầu việc Chúa Cứu Thế, gia đình và cộng đồng của họ. Những hình thức công việc khác cũng vậy-y tế, nghiên cứu, luật pháp, giáo dục, phục vụ xã hội, chính quyền trung ương và địa phương, công nghiệp, doanh thương-những viên chức phục vụ trong các ngành này phải tự nhận thấy rằng mình đang hiệp tác với Đức Chúa Trời trong việc phục vụ con người.
Đừng quá vội vàng để cố khám phá ý muốn của Đức Chúa Trời cho đời sống của mình. Nếu bạn giao thác điều này cho Đức Chúa Trời và chờ đợi Ngài bày tỏ cho bạn, Ngài sẽ làm cho bạn biết được ý muốn của Ngài theo thời điểm Ngài chọn. Dầu cho ý muốn của Ngai như thế nào Cơ Đốc nhân không thể lười biếng. Dầu là một người giúp việc hay một ông chủ hoặc làm tư, Cơ Đốc nhân có một người Chủ ở trên trời. Người đó phải biết đươc mục đích của Đức Chúa Trời trong công việc va làm việc hết lòng, “như là làm việc cho Chúa chớ không phải con người.”
Một lãnh vực khác trong đời sống phải ở dưới quyền làm chủ của Chúa Cứu Thế Giê-xu là hôn nhân và gia đình của chúng ta. Chúa Giê-xu đã từng nói: “Chớ tưởng rằng ta đến để đem sự bình an cho thế gian; ta đến, không phải đem sự bình an, mà là đem gươm giáo.” Ngài tiếp tục nếu về sự mâu thuẫn của lòng trung thành mà đôi khi xảy ra trong một gia đình có người bắt đầu đi theo Ngài.
Ngày nay những mâu thuẫn như thế vẫn xảy ra trong gia đình. Người tin theo Chúa đừng bao giờ tìm kiếm những điều này. Họ có nhiệm vụ rõ ràng là hiếu kính với cha mẹ và yêu thương những thành viên khác trong gia đình. Bởi vì họ được kêu gọi làm người hòa giải, họ sẽ thực hiện một số nhân nhượng khi có thể mà không làm tổn haị đến nhiệm vụ của mình đối với Đức Chúa Trời. Dầu vậy họ không thể quên lời của Chúa Cứu Thế: “Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta.”
Hơn nữa, Cơ Đốc nhân chỉ lập gia đình với Cơ Đốc nhân. Kinh Thánh nói rõ: “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin.”5 Mạng lệnh này gây sự buồn rầu lớn cho những ai đã đính hôn hay gần như thế, nhưng họ phải đối diện với sự thật một cách trung thực. Hôn nhân không chỉ là tục lệ xã hội. Hôn nhân là một định chế của Đức Chúa Trời. và mối quan hệ trong hôn nhân là mối quan hệ sâu sắc nhất mà con người có thể bước vào. Đức Chúa Trời đã định cho mối quan hệ hôn nhân phải là mối quan hệ gắn bó, không những về mặt thuộc thể, tình cảm, trí tuệ và xa hội, mà còn là mối quan hệ thuộc linh. Nếu một Cơ Đốc nhân lập gia đình với một người mà người đó không phải là con người thuộc linh thì chẳng những không vâng lời Đức Chúa Trời mà còn làm hỏng đi sự kết hợp mà Ngai đã định. Nó cũng xô đẩy con cái sinh ra trong cuộc hôn phối này vào chỗ nguy hiểm, vì nó sẽ dẫn chúng đến sự xung đột tôn giáo trong gia đình và làm cho chúng không thể tiếp thu được nền giáo dục từ phía cha hoặc mẹ cua chúng.
Thật vậy, sự cải đạo Cơ Đốc triệt để đến nỗi thái độ của chúng ta đối với hôn nhân và những mối quan hệ giữa các giới tính hầu như phải thay đổi. Chúng ta bắt đầu xem hoạt động tính dục-những nét riêng cơ ban giữa nam và nữ và nhu cầu cần đền nhau-là do Đức Chúa Trời tạo ra. Và tính dục-sự biểu hiện vật lý của hoạt động tính dục-không còn bị đánh giá thấp bơi sự ích kỷ, vô trách nhiệm, nhưng là tốt lành, đúng đắn do Đang Tạo hóa tạo nên, là bày tỏ tình yêu, là thực hiện mục đích của Đức Chúa Trời và thể hiện tính chất của con người.
Nhiều vấn đề riêng tư khác cũng phải để cho Chúa Cứu Thế Giê-xu làm chủ, khi chúng ta giao phó cuộc sống chúng ta cho Ngài, chúng ta cũng phải phó thác tiền bạc và thời gian của chúng ta cho Chúa. Chúa Giê-xu thường nói về tiền bạc và mối nguy hiểm của của cải. Phần lớn những lời giảng dạy của Ngài về những vấn đe này gây nhiều bối rối. Đôi lúc dường như Ngài khuyên các môn đệ Ngài phải nhận thức và cho đi toàn bộ tiền bạc của họ. Chắc chắn ngày hôm nay Ngài vẫn kêu gọi một số người tin theo Ngài làm điều này. Nhưng hầu hết mạng lệnh của Ngài là hướng đến sự suy xét bên trong hơn là sự từ bỏ theo nghĩa đen. Kinh Thánh không nói rằng của cải là tội lỗi.
Chắc chắn Chúa Cứu Thế muốn bảo chúng ta phải đặt Ngài lên trên của cải vật chất như chúng ta phải đặt Ngài lên trên những mối quan hệ gia đình. Chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời vừa hầu việc tiền bạc. Tiền bạc không còn là của chúng ta. Chúng ta giữ chúng trong cương vị quản gia của Đức Chúa Trời. Và trong một thời đại mà khoảng cách giữa sự thịnh vượng và sự nghèo khó càng ngày càng rộng trên toàn thế giới và công cuộc truyền giáo Cơ Đốc bị trở ngại do thiếu ngân quỹ, chúng ta nên rộng rãi và kỷ luật trong những gì mà chúng ta dâng hiến.
Thời gian là vấn đề của con người của thời nay và chắc chắn Cơ Đốc nhân mới cải đạo phải xắp xếp được những thứ tự ưu tiên của họ. Khi còn là một sinh viên, việc học tập sẽ ở thứ tự ưu tiên trên cao. Cơ Đốc nhân phải làm việc khó nhọc và chân chính, nhưng cũng phải dành thời gian cho những công việc mới. Họ phải cắt xén thời biểu làm việc để dành cho việc đọc Kinh Thánh và cầu nguyện hằng ngày, cho việc biệt riêng ngày Chúa nhật là ngày mà Chúa đã định làm ngày thờ phượng và nghỉ ngơi, cho sự thông công với những Cơ Đốc nhân khác, cho việc đọc các văn phẩm Cơ Đốc và và cho một số công việc phục vu Hội Thánh và cộng đồng.
Tất cả những việc này là những việc cần làm nếu như chúng ta từ bỏ tội lỗi, bản ngã và đi theo Chúa Cứu Thế.
Sự kêu gọi xưng nhận Chúa Cứu Thế
Chúng ta không những được truyền lệnh theo Chúa Cứu Thế một cách riêng tư, nhưng phải xưng nhận Ngài một cách công khai. Ngài phán:
“Hễ ai hổ thẹn về ta và đạo ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về kẻ ấy, khi ngự trong sự vinh hiển của Cha Ngài mà đến với các thiên sứ thánh.”
“Bởi đó, ai xưng ta ra trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha ta ở trên trời; còn ai chối rước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời.” (Mac Mc 8:38; Mat Mt 10:32, 33).
Chúa Giê-xu bảo chúng ta đừng hổ thẹn vì ngài chứng tỏ rằng Ngài biết chúng ta sẽ bị cám dỗ để trở nên hổ thẹn và chính vì vậy Ngài nói thêm: “Vì giữa dòng dõi gian dâm tội lỗi này” cho thấy rằng Ngài biết lý do tại sao. Hiển nhien Ngài thấy trước rằng Hội Thánh của Ngài sẽ trở nên một phong trào thiểu số trên thế giới, vì thế Hội Thánh cần có sự can đảm để đứng về phía thiểu số chống lại đa số, và đặc biệt nếu thiểu số ít được người ta biet đến và bạn không thể bị kéo đến với họ một cách tự nhiên.
Dù thế nào việc xưng nhận Chúa Cứu Thế công khai không thể nào tránh khỏi. Phao-lô tuyên bố việc xưng nhận này là một điều kiện của sự cứu rỗi. Để được cứu, chúng ta không những tin nhận Chúa Cứu Thế trong lòng mà còn xưng nhận bằng môi miệng Chúa Giê-xu là Chúa của chúng ta, “vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi.” Co thể sứ đồ Phao lô đề cập đến việc làm báp têm. Nếu chưa làm báp têm, người cải đạo phải làm báp têm, một phần của việc báp têm bằng nước là dấu hiệu thấy được của việc tiếp nhận Chúa Giê-xu và là dấu ấn của sư tẩy sạch bên trong và đời sống mới trong Chúa Cứu Thế và một phần là công khai xưng nhận rằng mình tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu làm Cứu Chúa.
Nhưng việc công khai xưng nhận Chúa giê-xu không kết thúc bằng phép báp têm. Người tin theo Ngài cần phải sẵn sàng cho gia đình và bạn bè biết mình là một Cơ Đốc nhân, đặc biệt trong giai đoạn đầu khi được Ngài dẫn dắt. Điều này mở ra cơ hội để làm chứng, nhưng phải khiêm nhường và chân thật đe không va chạm vào sự riêng tư của người khác một cách không lịch thiệp. Đồng thời, người tin theo Chúa phải tham gia vào Hội Thánh; cùng công tác với những Cơ Đốc nhân khác tại trường học hoặc trong công sở; không sợ xưng nhận mình là Co đốc nhân khi bị thách thức và bắt đầu cầu nguyện, làm chứng và chinh phục bạn bè cho Chúa Cứu Thế.
Niềm khích lệ
Dầu những mạng lệnh Ngài truyền là nặng nề; nhưng những lý do Ngài truyền lệnh như thế thật là thuyết phục. Thật vậy, nếu chúng ta xem xét một cách nghiêm túc toàn bộ những từ bỏ mà Ngài đòi hỏi, chúng ta sẽ cần những khích lệ mạnh mẽ này.
“Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta và đạo Tin lành mà mất sự sống, thì sẽ cứu. Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Hay là có người nào lấy chi mà đổi linh hồn mình ư?” (Mac Mc 8:35-37).
Nhiều người rất sợ nếu kết ước với Chúa Giê-xu họ sẽ là những người thua cuộc. Họ quên rằng Ngài đã đến thế gian để cho chúng ta “được sự sống, và được sự sống dư dật, ” mục đích của Ngài là làm làm cho sự sống của chúng ta trở nên phong phú chớ không phải làm cho nghèo khó và sự phục vụ của Ngài là sự tự do trọn vẹn.
Dĩ nhiên khi chúng ta phải đối diện với nhiều mất mác khi đầu phục Chúa Cứu Thế. Chúng ta đã suy nghĩ về tội lỗi, về việc tự cho mình là trung tâm mà chung ta phải từ bỏ và chúng ta có thể mất đi một số người bạn. Nhưng những đền bù thỏa đáng mà Chúa làm cho chúng ta sẽ vượt quá những gì mất mác. Sự nghịch lý lạ lùng của lời giảng dạy của Chúa Cứu Thế và của kinh nghiệm của Cơ Đốc nhân là nếu trong khi đi theo Chúa Cứu Thế chúng ta đánh mất chính mình, chúng ta tìm thấy chính mình nột cách thật sự. Thật sự từ bỏ chính mình là thật sự khám phá chính mình. Sống vì mình là dại dột và tư sát; sống cho Đức Chúa Trời và cho người khác là khôn ngoan và thật là sống. Chúng ta đừng bắt đầu tìm kiếm chính mình cho đến khi chúng ta muốn đánh mất chính mình trong sự phục vụ Chúa Cứu Thế và người khác.
Để làm cho lẽ thật này vững mạnh, Chúa Giê-xu đặt vào trong đó sự tương phản giữa cả thế gian và linh hồn cá nhân. Sau đó Ngài hỏi một doanh nhân một câu hỏi về lợi ích và sự mất mác. Giả sử bạn được cả thế gian và đánh mất chính mình, Ngài hỏi, bạn sẽ được lợi gì? Ngài đang lập luận trên bình diện thấp nhất của quyền lợi riêng tư, rằng theo Ngài là chắc chắn có được cái tốt nhất trong sự mặc cả. Vì theo Ngài là tìm thấy chính mình, ngược lai giữ lấy chính mình và từ chối theo Ngài là đánh mất chính mình và đánh mất số phận đời đời của chúng ta, bất kể những của cải vật chất mà chúng ta làm ra có là gì đi chăng nữa. Tại sao vậy? Vì chúng ta không thể nào có được cả thế gian. Vì một lẽ khác, nếu như chúng ta có được, thế gian sẽ không tồn tại. Và lẽ thứ ba, nếu nó tồn tại, nó sẽ không làm cho chúng ta thỏa mãn. “Hay là có người nào lấy chi mà đổi linh hồn mình ư?” Dĩ nhiên phải trả giá để trở nên một Cơ Đốc nhân; nhưng phải trả giá nhiều hơn nếu không trở thành một Cơ Đốc nhân. Sự trả giá này có nghĩa là đánh mất chính mình.
Sự khích lệ thứ hai cho sự phó thác Cơ Đốc là vì người khác . Chúng ta không những đầu phục Chúa Cứu Thế vì những gì chúng ta nhận được, mà còn vì những gì chúng ta ban cho. “Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mà mất sự sống thì sẽ được lại.” “Vì…. đạo Tin Lành” có nghĩa là “vì việc công bố Tin Lành cho người khác.” Chúng ta đã nghe rằng chúng ta đừng hổ thẹn vì Chúa Cứu Thế và vì lời Ngài; giờ đây chúng ta phải thật hãnh diện về Ngài để chúng ta rao truyền Tin Lành của Ngài cho người khác.
Hầu hết chúng ta đều cảm thấy bức bách về những thảm kịch đau lòng xảy ra trên thế giới. Sự tồn tại của chúng ta là đáng ngờ. Một thường dân thường cảm thấy mình là một nạn nhân không ai giúp đỡ của một mạng lưới chính trị rối rắm, hoặc là một đơn vị vô danh trong guồng máy xã hội hiện đại. Nhưng Cơ Đốc nhân không cần phải chống chọi với cảm giác bất lực này. Vì Chúa Cứu Thế mô tả những người tin theo ngài vừa la “muối của đất” vừa là “sự sáng của thế gian.” Trước khi sự đông lạnh để bảo quản thực phẩm được phát minh muối được sự dụng một cách rộng rãi để giữ cho cá thịt khỏi hư thối. Vì thế Cơ Đốc nhân cần làm cho xã hội nay bớt xấu xa, bằng cách giúp giữ gìn những tiêu chuẩn đạo đức, những quan điểm có ảnh hưởng trên công chúng và an ninh pháp luật. Là sự sáng của thế gian, Cơ Đốc nhân phải để cho sự sáng của mình soi ra. Họ đã tìm thấy trong Chúa Cứu Thế bí mật của tình yêu thương và sự bình an, của những mối quan hệ cá nhân, của sự thay đổi con người ; họ phải san sẻ bí mật đó cho những người khác. Sự đóng góp tốt nhất mà một người có thể làm được cho nhu cầu của thế giới này là sống một cuộc đời Cơ Đốc nhân, xây dựng một gia đình Cơ Đốc và tỏa ra ánh sáng Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Tuy nhiên sự khích lệ lớn lao hơn hết là vì Chúa Cứu Thế . “Ai vì cớ ta mất sự sống mình, thì sẽ tìm lại được.” Khi người ta yêu cầu chúng ta làm một điều gì đặc biệt khó, chúng ta có sẵn sàng làm hay không là tùy thuộc vào chỗ ai là người yêu cầu chúng ta. Nếu lời yêu cầu xuất phát từ người có quyền trên chúng ta hay từ người mà chúng ta mắc nợ, chúng ta sẽ vui lòng đồng ý. Đó là lý do tại sao lời kêu gọi của Chúa Giê-xu trên chúng ta là rất hùng hồn và đầy thuyết phục. Ngài kêu gọi chúng ta từ bỏ chính mình và theo Ngài là vì Ngài.
Chắc chắn đây là lý do tại sao Ngài mô tả sự từ bỏ mà Ngài yêu cầu là “vác thập tự giá.” Ngài ban cho nhiều hơn Ngài yêu cầu. Ngài yêu cầu một thập tư giá vì một thập tự giá. Chúng ta theo Ngài không phải vì những cái mà chúng ta nhận được cũng không phải vì những cái chúng ta ban cho, nhưng vì những gì mà Ngài ban cho. Ngài ban cho chính mình Ngài. Điều này có đòi hỏi chúng ta quá nhiều không? Nó khien Ngài phải mất mác nhiều. Ngài đã từ bỏ sự vinh hiển của Cha, sự vô nhiễm tội lỗi hoặc từ bỏ thiên đàng và sự thờ phượng của vô số thiên sứ. Ngài tự hạ mình để mang lấy bản chất của con người, được sanh ra trong mot chuồng chiên và nằm trong một máng cỏ, làm việc tại bàn của thợ mộc, làm bạn với những ngư phủ chất phác, chết trên cây thập tự và gánh chịu tội lỗi của thế gian.
Chúng ta sẽ từ bỏ mình đi và theo Chúa Cứu Thế khi nhìn thấy thập tự giá của Ngài. Những thập tự giá của chúng ta bị lu mờ bởi thập tự giá của Ngài. Nếu chúng ta từng thoáng nhìn thấy sự vĩ đại của tình yêu Ngài, bởi đó Ngài phải chịu khổ nhục vì chúng ta là kẻ không xứng đáng gì trừ sự phán xét. Làm thế nào chúng ta có thể từ chối một Đấng yêu thương như thế?
Thế thì, nếu bạn không muốn sống một cuộc sống đạo đức, hãy theo lời khuyên của tôi mà tránh xa khỏi Cơ Đốc giáo. Nếu bạn muốn sống một cuộc sống dễ dàng, buông thả và làm bất cứ điều gì bạn muốn, đừng trở thành một Cơ Đốc nhân. Nhưng nếu bạn muốn sống một cuộc sống tự khám phá mình, thỏa mãn một cách sâu xa với bản chất mà Đức Chúa Trời ban cho bạn; nếu bạn muốn sống một cuộc đời phiêu lưu trong đó bạn có đặc quyền phục vụ Ngài và người khác; nếu bạn muốn sống một cuộc sống mà qua đó bạn bày tỏ được lòng biết ơn sâu xa của bạn đối với Đang chết thay cho bạn, thì tôi khuyên bạn hãy dâng cuộc đời của bạn, đừng chần chờ và đừng giữ lại gì cũng đừng trì hoãn đối với Chúa Cứu Thế Giê-xu là Cứu Chúa của bạn.
Dầu bao thế kỷ hờ hững trôi qua, tiếng gọi của Chúa vẫn rõ ràng,
Ngài mời gọi con theo Ngài và vác thập tư mình,
Và từng ngày từ bỏ chính mình,
Nghiêm khắc đối với bản thân và reo to lên rằng: “hãy đóng đinh.”
Bản chất ương ngạnh của con nổi loạn
Chống lại sự kêu gọi của Ngài bằng những bài đồng ca kêu ngạo của địa ngục
Kết hợp với việc thổi phồng những căm ghét không ngừng nghỉ của chính con
Của sự nô lệ, để rồi con không phải đầu hàng.
Thế gian khi nhìn thấy sẽ dừng lại va nhạo cười thập tự giá của con,
Con không chọn lựa, nhưng vẫn kiên trì
Để tự cứu mình-con theo Ngài xa xa
Chậm chạp hơn các bác sĩ đông phương-vì con không có ngôi sao dẫn đường,
Dầu vậy Ngài vẫn kêu gọi con
Thập tự Ngài làm mờ, và biến thập giá con thành một sự mất mác đắng cay hơn
Con nghĩ rằng con sẽ chịu khổ
Nếu như con đến với Ngài-nhưng hóa ra là điều ích lợi không thể dò lường.
Giê-xu ôi, con quỳ trước Ngài để được đóng đinh,
Với thập tự giá trên vai và từ bỏ chính mình;
Từng ngày con sẽ theo Ngài cận kề và không hề chối bỏ
Vi tình yêu của Ngài dành cho con mà con từ bỏ chính mình.
ĐI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
Quyết định trở thành Cơ Đốc nhân là một ý tưởng hoàn toàn xa lạ với nhiều người. Một số người nghĩ rằng họ đã là Cơ Đốc nhân bởi vì họ được sanh ra trong một đất nước theo Cơ Đốc giáo. Họ nói: “Xét cho cùng, chúng tôi không phải là Do thái giáo, khong phải là Hồi giáo, không phải là Phật giáo; có lẽ vì thế mà chúng tôi là Cơ Đốc nhân!” Những người khác cho rằng vì họ được nuôi dạy như một Cơ Đốc nhân và được dạy tiếp nhận tín điều và những tiêu chuẩn Cơ Đốc, vì thế họ không cần phải làm thêm bất cứ điều gì. Nhưng dù cha mẹ họ là Cơ Đốc nhân và họ được nuôi dưỡng trong một gia đình Cơ Đốc, mọi người đều có trách nhiệm phải quyết định tin theo Chúa Cứu Thế hoặc chống lại Ngai. Chúng ta không thể giữ thái độ trung lập. Cũng không để bị lôi cuốn vào Cơ Đốc giáo. Hoặc không ai quyết định thay cho cúng ta. Chúng ta phải tự quyết định.
Phải công nhận rằng cho đến giờ những gì được viết trong quyển sách này là chưa đủ. Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng những bằng chứng về thần tánh của Chúa Giê-xu là rất thuyết phục và Ngài thật là Con của Đức Chúa Trời; chúng ta có thể tin rằng Ngài đã đến và chịu chết để trở thành Cứu Chúa của thế gian; chúng ta cũng có thể nhìn nhận rằng chúng ta là những tội nhân và cần đến một Cứu Chúa. Nhưng những điều này không làm cho chúng ta trở thành Cơ Đốc nhân. Tin vào những sự kiện chắc chắn về con người và công việc của Chúa Cứu Thế là cần thiết, nhưng đức tin thật sẽ biến đức tin của trí tuệ thành hành động dứt khoát của sự tin cậy. Lòng tin của trí tuệ phải dẫn đến cam kết cá nhân.
Tôi thường tự nghĩ rằng bởi vì Chúa Giê-xu đã chết trên thập tự giá, một số chuyển giao nào đó đã diễn ra và con người được đặt vào vị trí đúng đắn với Đức Chúa Trời. Tôi nhớ rằng tôi thật là bối rối, thậm chí phẫn nộ khi lần đầu tien người ta nói với tôi rằng tôi cần tiếp nhận Chúa Cứu Thế và sự cứu rỗi của Ngài. Cảm tạ Chúa vì sau này Ngài đã mở mắt tôi để tôi thấy nhiều hơn cả việc nhìn nhận rằng tôi cần một Cứu Chúa, thậm chí hơn cả việc nhìn nhận rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu là Cứu Chúa ; tôi cần phải tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa của tôi . Chắc chắn đây là đại từ nhân xưng nổi bật trong Kinh Thánh.
“Đức-Giê hô-va là Đấng chăn giữ tôi; tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.”
“Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi.”
Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời tôi.”
Có một câu trong Kinh Thánh đã giúp cho nhiều người tìm kiếm (kể cả tôi) hiểu được bước tiến của đức tin mà chúng ta can tiếp nhận. “Này, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta.” (KhKh 3:20).
Câu này được Holman Hunt dùng trong bức tranh nổi tiếng “Ánh Sáng của Thế gian, ” được họa năm 1853. Nguyên bản của bức tranh này được treo ở nhà nguyện của Đại học Keble, Oxford và bản sao của nó (tác phẩm của họa sĩ này bốn mươi năm sau) ở thánh đường St Paul. Dầu có mang phong cách của thời kỳ tiền Raphael hay không, biểu tượng của bức tranh này truyền đạt nhiều điều đáng học hỏi. Trong một bức thư gởi cho tờ Thời Báo (Times ) vào tháng Năm 1854, John Ruskin đã mô tả bức tranh này như sau:
“…Bên phải của bức tranh người ta nhìn thấy cánh cửa của linh hồn con người, những song cửa và đinh bị rỉ sét; cánh cửa bị khép chặt bởi những dây trường xuân leo bám vào, chứng tỏ nó chưa bao giờ được mở ra. Một con dơi đang bay lượn ở trên; ngạch cửa bị những bụi mâm xôi, tầm ma và những cây ngô không trái che kín…Chúa Cứu Thế tiến đến cửa trong đêm tối….”
Ngài mặc áo dài của vua và đội mão gai, tay trái cầm đèn lồng (là ánh sáng của thế gian) và gõ cửa bằng tay phải.
Bối cảnh của câu nói này đang được minh hoạ. Câu này nằm ở phần cuối của bức thư do Chúa Cứu Thế viết qua Giăng gởi cho Hội Thánh Lao-đi-xê, tọa lạc ở một nơi mà giờ đây thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Lao-đi-xê là một thành phố phồn thịnh, nổi tiếng bởi việc sản xuất vải vóc, bởi trường y khoa nơi bột thuốc chữa mắt nổi tiếng của của người Phrygia được bào chế và những ngân hàng giàu có.
Sự thịnh vượng vật chất đã dẫn đến chỗ tự mãn làm ô nhiễm giáo hội Cơ Đốc. Gắn bó mật thiết với điều này là việc tự xưng là Cơ Đốc nhân, nhưng thật sự là những Cơ Đốc nhân trên danh nghĩa. Họ đáng được tôn trọng ở mức độ vừa phải, không còn gì hơn nữa. Mối quan tâm tôn giáo của họ là rỗng tuếch và tùy tiện. Giống như nước từ những suối nước nóng ở Hierapolis được những đường ống dẫn về Lao-đi-xê (giờ vẫn còn nhìn thấy những tàng tích của chung), chúng (Chúa Giê-xu nói) không nóng cũng không lạnh, nhưng hâm hẩm, vì thế đáng tởm đối với Ngài. Sự hâm hẩm thuộc linh được giải thích bằng việc tự lừa dối mình: “Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù, và lõa lồ.”
Thật là một lời mô tả hay về sự kiêu ngạo và thịnh vượng của Lao-đi-xê! Họ là những kẻ ăn xin đui mù và lõa lồ, trần truong mặc dầu họ có những xưởng may quần áo, mù mặc dù họ có thuốc chữa mắt của người Phrygia và là những kẻ ăn xin dầu họ có nhiều ngân hàng.
Ngày nay chúng ta cũng không khác gì hơn. Có thể chúng ta nói như ho, “ta không cần chi nữa.” Thật khó có thể tìm thấy những lời nào gây nguy hiểm về mặt thuộc linh như thế. Chính sự độc lập đã khiến cho chúng ta không phó thác chính mình cho Chúa Cứu Thế hơn bất cứ điều nào khác. Dĩ nhiên chúng ta cần Ngài! không có Ngài chúng ta sẽ bị trần truồng về mặt đạo đức (không có trang phục nào vừa với chúng ta trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời), đui mù trước lẽ thật thuộc linh và là những kẻ ăn xin vì không co gì để mua được ân huệ của Ngài. Nhưng Chúa Cứu Thế có thể mặc cho chúng ta bằng sự công chính của Ngài, chạm đến mắt của chúng ta để chúng được sáng và làm cho chúng ta giàu có bởi những của cải thuộc linh. Xa cách Ngài, cho đến khi chúng ta mở cửa lòng cho Ngài bước vào, chúng ta là những kẻ ăn xin đui mù và lõa lồ.
“Này, ta đứng ngoài cửa mà gõ” , Ngài phán. Ngài không phải là nhân vật tưởng tượng của những tiểu thuyết về tôn giáo. Đây là một người Na-xa-rét, những lời xác nhận của Ngài, sự xác chứng về sự phục sinh và những đặc điểm của Ngài dẫn đến kết luận rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời. Ngài cũng là Cứu Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá. Bàn tay gõ cửa mang vết sẹo. Bàn chân đứng nơi hiên cửa vẫn mang những dấu đinh.
Và Ngài là Chúa Cứu Thế phục sinh. Giăng đã mô tả Ngài trong đoạn đầu của sách Khải Huyền, khi ông nhìn thấy Ngài trong một khải tượng mang tính biểu tượng. Mắt Ngài như ngọn lửa và chân như đồng sáng. Tiếng Ngài như tiếng nước lớn và mặt như mặt trời khi soi sáng hết sức. Vì thế không có gì lạ khi Giăng ngã dưới chân Ngài. Thật khó hiểu vì sao mot Đấng oai nghi như thế lại có thể đoái hoài và thăm viếng những kẻ ăn xin nghèo ngặt, đui mù và trần truồng như chúng ta.
Dầu vậy Chúa Giê-xu nói rằng Ngài đang đứng gõ cửa cuộc đời của chúng ta và chờ đợi. Cần lưu ý rằng Ngài đang đứng ngoài cửa mà không đẩy cửa vào; Ngài nói với chúng ta chứ không thét lên. Lại càng đáng chú ý hơn khi chúng ta ngẫm nghĩ rằng ngôi nhà này là của Ngài. Ngài là người xây ngôi nhà này; Ngài làm ra nó. Ngài là chủ nhà; Ngài đã mua nó bằng chính huyết sự sống của Ngài. Ngài có quyền trên căn nhà, trên việc xây dựng và mua bán nó. Chúng ta chỉ là những người thuê; nhà không thuộc quyền sở hữu của chúng ta. Ngài có thể ghé vai đẩy cửa vào; Ngài có thể đặt tay lên nắm cửa nếu Ngài thích. Ngài có thể ra lệnh cho chúng ta mở cửa cho Ngài. thay vì vậy Ngài chỉ mời gọi chúng ta làm điều này. Ngài sẽ không nài ép để bước vào cuộc đời chúng ta. Ngài nói (câu 18)” ta khuyên….” Ngài có thể ra lệnh; nhưng Ngài chỉ khuyên mời. Ngài đã bày tỏ sự khiêm nhường và ban cho chúng ta sự tự do như thế.
Nhưng tại sao Chúa Giê-xu muốn bước vào bên trong? Chúng ta đã biết câu trả lời. Ngài muốn vừa là Cứu Chúa vừa là Chủ của chúng ta. Ngài đã chết để trở thành Cứu Chúa của chúng ta. Nếu chúng ta tiếp nhận Ngài, Ngài sẽ đem lại cho chúng ta mọi lợi ích của sự chết Ngài mot cách cá nhân. Một khi đã ở bên trong, Ngài sẽ làm mới, trang trí và cung cấp những đồ đạc mới. Có nghĩa rằng Ngài sẽ tẩy sạch và tha thứ cho chúng ta; quá khứ của chúng ta sẽ được che lấp... Ngài hứa sẽ ăn với chúng ta và để cho chúng ta dùng bữa với Ngài. Cụm từ này nói lên niềm vui được làm bạn với Ngài. Ngài không những phó mình cho chúng ta mà còn đòi hỏi chúng ta phó mình cho Ngài. Trước đây chúng ta là những người xa lạ; giờ đây chúng ta là bạn của Ngài. Trước đây có cánh cửa đóng ngăn cách giữa chúng ta; giờ đây chúng ta ngồi đồng bàn với nhau.
Chúa Giê-xu sẽ bước vào làm Chúa và Chủ của chúng ta. Căn nhà cuộc sống của chúng ta ở dưới sự quản trị của Ngài và việc mở cửa sẽ không có ý nghĩa gì nếu chúng ta không sẵn lòng làm vì điều này. Khi Ngài bước qua ngạch cửa, chúng ta phải trao cho Ngài chùm chìa khóa nhà, đề cho Ngài tự do bước vào mọi cam phòng. Một sinh viên năm thứ tư người Canada có lần viết cho tôi rằng: “Thay vì trao cho Đấng cả một bộ chìa khóa khác nhau để vào nhiều căn phòng khác nhau… tôi đã trao cho Ngài chìa khóa mật mã để vào mọi căn phòng ở trong nhà.”
Điều này liên quan đến sự ăn năn, dứt khoát từ bỏ mọi điều mà chúng ta biết là không đẹp lòng Ngài. Không phải là chúng ta làm cho tốt hơn trước khi mời Ngài vào nhà. Ngược lại, bởi vì chúng ta không thể tự tha thứ hoặc tự cải thiện mình nên chúng ta cần Ngài đến với chúng ta. Nhưng chúng ta phải sẵn lòng để Ngài sắp xếp lại bất cứ thứ gì Ngài muốn khi Ngài bước vào. Không thể có sự kháng cự và cố gắng thương lượng về phía chúng ta, nhưng thay vì vậy là sự giao phó vô điều kiện quyền làm chủ của Chúa Cứu Thế. Điều này có nghĩa là gì? Tôi không thể nói chi tiết với bạn. Về nguyên tắc, nó có nghĩa là quyết định từ bỏ tội lỗi và đi theo Chúa Cứu Thế.
Bạn có do dự không ? Bạn có nói rằng đầu phục Chúa Cứu Thế trong bóng tối như thế là không hợp lý? Chắc chắn là không. Điều này còn hợp lý hơn là hôn nhân. Trong hôn nhân người nam và người nữ cam kết với nhau không điều kiện. Họ không biết tương lai họ sẽ như thế nào. Nhưng họ yêu thương nhau và tin cậy lẫn nhau. Vì thế họ hứa chăm sóc nhau “từ đây về sau, dầu tốt hay xấu, dầu giàu hay nghèo, dầu mạnh khỏe hay lúc yếu đau, vẫn yêu thương nhau cho đến chết.” Nếu con người có thể tin cậy nhau như thế thì con người không thể tin cậy Con Đức Chúa Trời hay sao? Càng hợp lý hơn khi phó mình cho Chúa Cứu Thế là Đức Chúa Trời hơn là phó mình con người người dầu họ có cao quý và tốt đến đâu. Ngài chẳng bao giờ phản bội và lạm dụng sự tin cậy của chúng ta.
Vì thế chúng ta phải làm gì? Để bắt đầu, chúng ta phải nghe tiếng của Ngài. Thật là một bi kịch nếu tai chúng ta trở nên điếc với Chúa Cứu Thế và làm cho im bặt tiếng thì thầm mời gọi của Ngài. Đôi khi chúng ta nghe thấy tiếng Ngài qua sự ray rứt của lương tâm, đôi khi qua sự dò dẫm của tâm trí. Hoặc có thể là sự that bại về mặt đạo đức, hoặc chúng ta cảm thấy sự trống rỗng và vô nghĩa của sự hiện hữu của chúng, hoặc sự khao khát trong tâm linh không thể nào giải thích được, hoặc bệnh tật, mất mác người thân, đau khổ hoặc sợ hai, bởi đó mà chúng ta nhận biết rằng Chúa Cứu Thế đang ở bên ngoài cửa và đang nói với chúng ta. Hoặc sự kêu gọi của Ngài có thể đến với chúng ta qua một người bạn, một nhà truyền đạo hoặc một quyển sách. Bất cứ khi nào chúng ta nghe, hãy lắng nghe. Chúa Giê-xu phán: “Ai có tai hãy nghe.”
Kế đến, chúng ta phải mở cửa. Khi nghe tiếng Ngài, chúng ta phải mở cửa cho Ngài. Mở cửa cho Chúa Giê-xu là lối mô tả tượng hình hành động đức tin nơi Ngài, là Cứu Chúa của chúng ta, một hành động đầu phục Ngài là Chúa của chúng ta.
Đây là một hành động xác định. Thì của động từ Hy lạp làm cho điều này trở nên rõ ràng. Cửa không tự lúc lắc để rồi tình cờ mở ngỏ ra. Cũng không khép hờ. Nó đã bị đóng chặt và cần được mở ra. Hơn nữa Chúa Cứu Thế không tự mình mở cửa. Cũng không có tay nắm hoặc chốt cửa trong bức họa của Holman Hunt. Người ta cho rằng ông cố tình bỏ chúng đi, cho thấy rằng tay nắm cửa nằm ở phía bên trong. Chúa Cứu Thế gõ cửa nhưng chúng ta phải mở cửa.
Đây là một hành động cá nhân. Thật vậy, sứ điệp được gởi đến cho một Hội Thánh, Hội Thánh Lao-đi-xê trên danh nghĩa, ham hẩm. Nhưng sự thách thức nhằm vào những cá nhân ở bên trong: “Nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy.” Mọi người phải quyết định và đến cùng Ngài. Không người nào có thể làm thay cho bạn. Cha mẹ, thầy cô, các mục sư, truyền đạo và bạn bè có thể chỉ lối cho bạn, nhưng chính tay bạn mở then cài và xoay tay nắm cửa.
Đó là một hành động độc đáo. Bạn chỉ có thể thực hiện bước này một lần. Khi Ngài bước vào, Ngài sẽ cài then cửa bên trong. Tội lỗi có thể đẩy Ngài xuống tầng hầm hoặc lên tầng gác, nhưng Ngài sẽ chẳng bao giờ bỏ ngôi nhà mà Ngài bước vào. Ngài phán: “ta sẽ chẳng bao giờ quên ngươi, cũng không lìa bỏ ngươi.” Điều này không nói rằng từ kinh nghiệm này bạn sẽ xuất hiện với đôi cánh trưởng thành đầy đủ của một thiên sứ. Cũng không nói rằng bạn sẽ trở nên trọn vẹn trong nháy mắt. Bạn có thể trở thành một Cơ Đốc nhân trong phút chốc, nhưng không phải là một Cơ Đốc nhân trưởng thành. Chúa Cứu Thế có thể bước vào, tẩy sạch và tha thứ cho bạn trong giây phút, nhưng phải cần một thời gian dài để tâm tính bạn được biến đổi và uốn nắn theo ý muốn Ngài. Chỉ cần ít phút để cho chàng rễ và cô dâu cưới nhau, nhưng phải mất nhiều năm để cho hai tâm hồn hòa quyện với nhau. Vì thế khi chúng ta tiếp nhận Chúa Cứu Thế, giờ phút trao phó cuộc đời chúng ta cho Ngài sẽ dẫn đến cả quãng đời điều chỉnh.
Đây là một hành động có cân nhắc. Bạn không cần phải đợi một ánh sáng siêu phàm từ trời chiếu lòe trên bạn, hoặc một kinh nghiệm đầy cảm động xảy đến với bạn. Không. Chúa Cứu Thế đã đến thế gian và chết vì tội lỗi của bạn. Giờ đây Ngài đến và đã đứng ngoài ngưỡng cửa cuộc đời bạn và Ngài đang gõ cửa. Hành động tiếp theo là của bạn. Tay Ngài đã đặt trên tay nắm cửa; giờ đây tay bạn hãy cham đến then cửa.
Đây là một hành động cấp bách. Đừng chờ đợi lâu hơn là bạn phải chờ đợi. Thời gian đang trôi nhanh. Tương lai là bất định. Có thể bạn chẳng bao giờ có cơ hội tốt hơn là cơ hội này. “Chớ khoe khoang về ngay mai; Vì con chẳng biết ngày mai sẽ sanh ra điều gì.” Đức Thánh Linh phán: “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng…” (ChCn 27:1; HeDt 3:7, 8).
Đừng trì hoãn cho đến khi bạn cố làm cho mình tốt hơn hoặc xứng đáng hơn để cho Chúa Cứu Thế bước vào hoặc cho đến khi bạn giải quyết xong mọi nan đề của bạn. Nếu bạn tin rằng Chúa Cứu Thế là Con Đức Chúa Trời và Ngài đã chết để trở thành cứu Chúa của bạn, thế là đủ. Phần còn lại sẽ đi theo thời gian. Thật vậy, hành động vội vàng, hấp tấp là nguy hiểm; nhưng chần chừ cũng nguy hiểm không kém. Nếu tự đáy lòng bạn biết rằng bạn phải hành động thì bạn không nên trì hoãn lâu hơn.
Đây là một hành động rất cần thiết. Dĩ nhiên còn nhiiều điều hơn nữa trong cuộc sống Cơ Đốc, như chúng ta sẽ thấy trong chương sau, chẳng hạn bước vào sự thông công với Hội Thánh, khám phá và làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, lớn lên trong ân điển và trong sự thông biết cũng như phục vụ Đức Chúa Trời và con người; nhưng bước này là bước khởi đầu và không gì có thể thay thế đươc. Bạn có thể tin Chúa Cứu Thế bằng lý trí và ngưỡng mộ Ngài; bạn có thể noi những lời cầu nguyện với Ngài qua lỗ khóa (tôi đã làm như thế trong nhiều năm); bạn có thể nhét những đồng xu ở dưới cửa để làm cho Ngài im lặng; bạn có thể sống đạo đức, tử tế, ngay thẳng và tốt lành; bạn có the sùng đạo; bạn có thể đã làm báp têm và tuyên xưng đức tin; bạn có thể thông thạo triết học tôn giáo; bạn có thể là một sinh viên thần học và thậm chí là một người phục vụ Chúa đã được tấn phong-nhưng vẫn chưa mở cửa cho Chúa Cứu Thế. Không có gì thay thế được điều này.
Một giáo sư đại học đã mô tả một ngày đi đây đó trên mui một chiếc xe buýt trong quyển tự truyện của ông.
“Không một lời và (tôi nghĩ) hầu như không một hình ảnh nào, không biết làm sao sự thật vế bản thân mình lại phô bày ra với tôi. Tôi bắt đầu nhận thức rằng tôi đang khư khư giữ lấy một điều gì đó tận trong đáy lòng của mình, hoặc đang đóng chặt một cái gì đó. Hoặc nếu bạn thích, cứ cho rằng tôi đang mặc một bộ quần áo cứng còng, giống như những chiếc nịt ngực, hoặc thậm chí là một bộ áo giáp, như thể một con tôm hùm. Lúc này, căn cứ vào sự tự do chọn lựa, tôi đang ngẫm nghĩ về bản thân mình. Tôi có thể mở hoặc đóng kín cửa; tôi có thể tháo lỏng chiếc áo giáp ra hoặc mặc nó. Sự chọn lựa không phải là trách nhiệm; cũng không phải là sự dọa nạt hoặc là một lời hứa, dầu vậy tôi biết rằng mở cửa hoặc cởi chiếc áo ngực ra có nghĩa là...Tôi đã chọn mở cửa, mở khóa, nới lỏng dây cương. Tôi nói: “Tôi đã chọn” , thật ra tôi không thể nào làm ngược lại.”

Giáo sư C. S. Lewis mô tả kinh nghiệm của ông trong quyển Surprised Choice .
Một phụ nữ danh tiếng đã đáp ứng lời mời gọi của Billy Graham tiến lên phía trước vào cuối một buổi truyền giảng. Bà được giới thiệu cho một người hướng dẫn khi bà khám phá ra rằng bà vẫn chưa trao pho cuộc đời mình cho Chúa Cứu Thế và sau đó người ta mời bà cầu nguyện. Bà cuối đầu và nói: “Lạy Chúa Giê-xu, con mời Ngài bước vào lòng con nhiều hơn bất cứ điều nào trên thế giới này. A-men.”
Vào một buổi tối Chúa nhật, một cậu thiếu niên gần hai mươi đã quỳ gối bên ngoài phòng ngủ tập thể trong trường. Bằng một lối nói thật đơn giản và cũng thật dứt khoát, cậu thưa với Chúa Cứu Thế rằng cho đến giờ cậu đã làm khá nhiều điều bê bối; cậu xưng tội và và cảm tạ Chúa vì Ngài đã chết thay cho cậu và xin Ngài bước vào cuộc đời của cậu. Cậu đã viết trong nhật ký như sau:
“Ngày hôm qua thật sự là một ngày quan trọng… Cho đến bây giờ Chúa Cứu The vẫn đứng bên ngoài tôi chỉ mời Ngài hướng dẫn tôi thay vì kiểm soát hoàn toàn cuộc đời của tôi. Kìa, Ngài đứng ngoài cửa mà gõ. Tôi nghe tiếng Ngài và giờ đây Ngài đã bước vào nhà tôi. Ngài đã tẩy sạch và cai quan ngôi nhà…”
Và ngày hôm sau:
“Hôm nay tôi thật sự hưởng được một niềm vui mới mẻ và lớn lao. Đây là niềm vui được vui hưởng sự bình an trong trần thế này và được tương giao với Đức Chúa Trời. Thật là tốt lành khi giờ đây tôi biết được rằng Ngài đang cai quản cuộc đời tôi và thật sự là trước kia tôi chưa bao giờ biết Ngài…”
Đây là những trích đoạn từ nhật ký của tôi. Tôi đánh bạo trích dẫn chúng bởi vì tôi không muốn bạn nghĩ rằng tôi đã đề nghi bạn thực hiện một bước mà tôi chưa bao giờ trải qua.
Bạn có phải là Cơ Đốc nhân không? Một Cơ Đốc nhân thật sự và tận hiến? Câu trả lời của bạn tùy thuộc vào một câu hỏi khác, không phải là bạn co đi nhà thờ, tin vào tín điều hay là có một nếp sống đúng đắn hay không, nhưng là Chúa Cứu Thế Giê-xu ở phía bên nào của cánh cửa? Ở phía trong hay ở phía ngoài? Đây là vấn đề quyết định.
Có thể bạn đã mở cửa cho Đấng Christ. Nếu như bạn không chắc là mình đã làm như thế, tôi khuyên bạn hãy làm cho chắc, (như một người đã nói) bạn đồ lại bằng viết mực những gì đã viết bằng viết chì.
Tôi đề nghị bạn hãy đi ra và cầu nguyện một mình. Hãy xưng tội với Đức Chúa Trời và từ bỏ chúng. Tạ ơn Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chết thay cho bạn. Sau đó mở cửa và mời Ngài đến làm Cứu Chúa và làm chủ cuộc đời bạn.
Bạn có thể tìm thấy sự giúp đỡ khi lập lại lời cầu nguyện sau đây trong lòng bạn:
“Lạy Chúa Cứu Thế Giê-xu, con nhận thấy rằng con đã đi theo đường lối riêng của con. Con đã phạm tội trong tư tưởng, trong lời nói và việc làm. Con hối tiếc vì những tội lỗi mà con đã phạm, giờ đây con từ bỏ chúng trong sự ăn năn .
Con tin rằng Ngài đã chết vì con, mang lấy tội lỗi của con trên thân thể Ngài. Con cảm tạ Ngài vì tình yêu thương lớn lao của Ngài .
Giờ đây con mở cửa lòng con. Xin mời Chúa Giê-xu bước vào, làm Cứu Chúa của con và tẩy sạch cuộc đời con. Xin mời Ngài bước vào làm Chúa của con và điều khiển cuộc đời của con. Và xin Ngài ban cho con sức mạnh để con hầu việc Ngài trọn đời con. A-men .”
Nếu bạn đã cầu nguyện như thế, hãy tạ ơn Chúa Cứu Thế một cách khiêm nhường vì Ngài đã bước vào. Vì Ngài đã nói như thế. Ngài đã nói lời này: “Này, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy.” Đừng có để ý đến cảm xúc của bạn; hãy tin cậy nơi hứa ngôn của Ngài và tạ ơn Ngài vì Ngài đã giữ lời hứa của Ngài.

LÀ MỘT CƠ-ĐỐC NHÂN
Chương cuối cùng này được viết cho những người đã mở cửa cuộc đời mình cho Chúa Cứu Thế Giê-xu. Họ đã trao phó cuộc đời họ cho Ngài. Vì thế họ đang bắt đầu một cuộc sống Cơ Đốc. Nhưng trở thành Cơ Đốc nhân là một chuyện. Là một Cơ Đốc nhân là một chuyện khác. Giờ đây chúng ta sẽ xem xét những hàm ý là một Cơ Đốc nhân.
Bạn đã thực hiện một bước đơn giản; bạn đã mời Chúa Cứu Thế là Cứu Chúa và làm chủ cuộc đời bạn. Giờ phút đó có thể được mô tả là giờ phút phép lạ xảy ra. Đức Chúa Trời, không bởi ơn của Ngài bạn có thể chẳng bao giờ ăn năn và tin nhận Chúa Giê-xu, đã ban cho bạn một đời sống mới. Bạn đã được tái sanh. Bạn đã trở thành con của Đức Chúa Trời và bước vào gia đình của Ngài. Có thể bạn không biết được điều gì đã xảy ra, giống như là lúc bạn chào đời bạn không biết được điều gì đang xảy ra. Ý thức về bản thân mình và nhận biết người khác là một quá trình phát triển cá nhân. Tuy nhiên, ngay khi bạn sanh ra bạn trở thành một cá nhân mới độc lập, cũng vậy khi bạn sanh lại bạn trở thành một tạo vật thuộc linh mới trong Chúa Cứu Thế.
Nhưng (bạn có thể nghĩ) Đức Chúa Trời không phải là Cha của hết thảy mọi người hay sao? Mọi người không phải là con cái của Ngài hay sao? Phải và không phải! Đức Chúa Trời chắc chắn là Đấng tạo dựng nên hết thảy mọi người và tất cả theo một ý nghĩa nào đó là dòng dõi của Ngài (Xem Cong Cv 17:28).
Nhưng Kinh Thánh phân biệt rõ mối quan hệ nói chung của Đức Chúa Trời với toàn thể nhân loại và mối quan hệ đặc biệt của cha với con mà Ngài đã lập với những người là sự tạo dựng mới của Ngài trong Chúa Cứu Thế Giê-xu. Giăng đã giải bày điều này trong phần mở đầu của Phúc Âm Giăng:
“Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy. Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài.”
Có ba mệnh đề bắt đầu bằng chữ “ai, ” tất cả cùng mô tả một số người. Con cái của Đức Chúa Trời là những người được sinh ra bởi Đức Chúa Trời ; những người sinh ra bởi Đức Chúa Trời là những người đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế và tin nhận Danh Ngài.
Thế thì trong ý nghĩa này trở thành” con cái” của Đức Chúa Trời có ý nghĩa gì? Giống như tư cách thành viên của một gia đình, con cái vừa có đặc quyền vừa có trách nghiệm đối với gia đình.
Những đặc quyền của Cơ Đốc nhân
Đặc quyền độc đáo của một người được tái sanh trong gia đình của Đức Chúa Trời là người đó được liên hệ với Đức Chúa Trời. Chúng ta cung nhau xem xét mối quan hệ này.
Mối quan hệ khắng khít
Trước đây chúng ta thấy tội lỗi khiến cho chúng ta xa cách Đức Chúa Trời. Tội lỗi trở thành một chướng ngại vật ngăn cách giữa chúng ta và Đức Chúa Trời. Nói cách khác, chúng ta ở dưới sự đoán phạt của Đấng phán xét mọi người trên đất. Nhưng giờ đây qua Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng gánh lấy sự đoán phạt của chúng ta và bởi đức tin nơi Ngài chúng ta được liên hiệp với Đức Chúa Trời, chúng ta “được xưng công bình, ” có nghĩa là chúng ta được Đức Chúa Trời tiếp nhận và tuyên bố là công chính. Đấng phán xét trở thành Cha của chúng ta.
Sứ đồ Giăng viết: “Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời; và chúng ta thật là con cái Ngài.” “Cha” và “Con” là hai danh hiệu đặc biệt mà chúa Giê-xu dùng để chỉ Đức Chúa Trời và chính mình Ngài và chúng la những danh xưng mà Ngài cho phép chúng ta sử dụng! Bởi sự hiệp thông với Ngài chúng ta dươc chia sẻ một điều gì đó từ mối quan hệ khắng khít giữa Ngài và Đức Chúa Cha. Cyprian, giám mục của Carthay vào giữa thế kỷ thứ ba công nguyên, đã mô tả rất hay về đặc quyền của chúng ta khi viết về bài Cầu nguyện chung:
“Đặc ân của Chúa thật lớn thay! Lòng tốt và sự quan tâm của Ngài đối với chúng ta thật vĩ đại, bởi vì Ngài muốn chúng ta trong cái nhìn của Đức Chúa Trời cầu nguyện bằng cách gọi Đức Chúa Trời là Cha và tự gọi mình là con của Đức Chúa Trời, như Chúa Cứu Thế là Con Đức Chúa Trời - một danh xưng mà không một ai trong chúng ta dám sử dụng để cau nguyện, trừ khi chính Ngài cho phép chúng ta.”
Giờ đây chúng ta có thể lập lại Bài Cầu nguyện chung mà không phải là những kẻ giả hình. Trước đây chúng là những lời sáo rỗng; giờ đây chúng mang một ý nghĩa mới và cao quý. Thật Đức Chúa Trời là Cha của chúng ta ở trên trời, là Đấng biết nhu cầu của chúng ta trước khi chúng ta cầu xin và không bao giờ quên ban những điều tốt lành cho con cái Ngài.
Đôi khi chúng ta cần được Ngài sửa phạt, ” Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, Hễ ai mà Ngài nhận làm con, thì cho roi cho vọt.” Nhưng trong sự sửa phạt Ngài sửa phạt chúng ta như con và kỷ luật chúng ta vì sự ích lợi của chúng ta. Chúng ta có thể được giải phóng khỏi mọi sợ hãi bởi một người Cha đầy lòng yêu thương, khôn ngoan và mạnh sức như thế (Về sự chăm sóc của Cha thiên thượng có thể xem trong Mat Mt 6:7-13, 25-34 và 7:7-12 và về kỷ luật của Ngài HeDt 12:3-11).
Mối quan hệ bảo đảm
Mối quan hệ của Cơ Đốc nhân với Đức Chúa Trời là mối quan hệ giữa con và Cha không những là mối quan hệ khắng khít, mà còn là mối quan hệ bảo đảm.. Đây là ý muốn của Đức Chúa Trời được bày tỏ cho chúng ta. Chúng ta biết chắc mối quan hệ của chúng ta đối với Đức Chúa Trời không phải chỉ vì sự bình an trong tâm trí và sự hữu ích của chúng ta đối với người khác, nhưng bởi vì Đức Chúa Trời muốn cho chúng ta biết chắc. Giăng nói một cách dứt khoát rằng đây là mục đích của ông khi viết thư tín đầu tiên;” Ta đã viết những điều này cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời.”
Dầu vậy cách để biết chắc không phải là cảm biết . Hầu hết những người mới bắt đầu đời sống Cơ Đốc nhân đều mắc phải sai lầm này. Họ quá nương cậy nơi những cảm xúc nông cạn của họ. Ngày hôm nay họ cảm thấy gần Đức Chúa Trơi; ngày hôm sau họ lại cảm thấy xa cách Ngài. Và bởi vì họ tưởng tượng rằng những cảm xúc của họ tác động đến tình trạng thuộc linh của họ, nên họ rơi vào sự mê loạn của điều không chắc chắn. Đời sống Cơ Đốc của ho trở nên chuyến du hành bất định khi họ bay lên những độ cao của sự phấn chấn.
Kinh nghiệm thất thường này không phải là mục đích của Đức Chúa Trời đối với con cái Ngài. Chúng cực kỳ thay đổi. Chúng thay đổi theo thời tiết, theo hoàn cảnh và theo sức khỏe của chúng ta. Chúng ta là những tạo vật có tâm trạng và tính khí thay đổi và những cảm xúc thất thường của chúng ta chẳng có liên quan gì đến diễn biến thuộc linh của chúng ta.
Cơ sơ để chúng ta nhận biết rằng chúng ta ở trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời không phải là cảm xúc của chúng ta, nhưng ở chỗ Ngài nói chúng ta là gì. Thử nghiệm mà chúng ta áp dụng cho chính mình phải khách quan thay vì chu quan. Chúng ta không cần lục lọi bên trong con người chúng ta đê tìm kiếm những bằng chứng về đời sống thuộc linh của chúng ta, nhưng chúng ta phải nhìn lên Đức Chúa Trời và tra xem lời Ngài. Nhưng chúng ta sẽ phải tìm xem ở đâu trong lời Ngài để biết chắc rằng chúng ta là con cái Ngài?
Trước nhất, trong lời văn tự của Đức Chúa Trời, Ngài hứa ban sự sống đời đời cho những ai tiếp nhận Chúa Cứu Thế. “Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống.” Thế thì khiêm nhường tin rằng chúng ta có sự sống đời đời không phải là tự phụ. Ngược lại, tin lời Đức Chúa Trời là khiêm nhường chớ không phải kiêu căng và khôn ngoan chớ không phải tự phụ. Sự dại dột và tội lỗi khiến cho nghi ngờ, vì “ai không tin Đức Chúa Trời, thì cho Ngài là nói dối, vì chẳng tin đến chứng Đức Chúa Trời đã làm về Con Ngài.” (GiGa 5:10-12).
Kinh Thánh đầy dẫy những lời hứa của Đức Chúa Trời. Cơ Đốc nhân nhạy cảm có thể bắt đầu ghi nhớ những lời hứa này càng sớm càng tốt. Đến khi rơi vào hố sâu của sự tuyệt vọng, Cơ Đốc nhân có thể sử dụng chúng như những sợi dây thừng để kéo mình lên.
Đây là một vài câu Kinh Thánh để ghi nhớ. Mỗi câu đều có một lời hứa của Đức Chúa Trời.
Chúa Cưu Thế sẽ tiếp nhận chúng ta khi chúng ta đến với Ngài: GiGa 6:37.
Ngài sẽ gìn giữ chúng ta và sẽ chẳng bao giờ để cho chúng ta đi: GiGa 10:28.
Ngài sẽ chẳng bao giờ lìa bỏ chúng ta: Mat Mt 28:20; HeDt 13:5, 6.
Đức Chúa Trời không bao giờ để cho chúng ta bị cám dỗ quá sức: ICo1Cr 10:13.
Ngài sẽ tha thứ cho chúng ta khi chúng ta xưng tội lỗi của chúng ta: IGi1Ga 1:19.
Ngài sẽ ban cho chúng ta sự khôn ngoan khi chúng ta cầu xin Ngài: Gia Gc 1:5.
Thứ nhì, Đức Chúa Trời phán với lòng chúng ta. Hãy lắng nghe những lời này. “Sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh...” và “chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha!” Chính Đức Thánh Linh làm chứng với tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời (RoRm 5:5; 8:15-16).
Mọi Cơ Đốc nhân đều biết điều này có nghĩa gì. Lời làm chứng bên ngoài của Đức Thánh Linh trong Kinh Thánh được xác nhận bởi sự làm chứng bên trong theo kinh nghiệm. Điều này không có nghĩa là đặt sự tin cậy vào những cảm xúc nông cạn và hay thay đổi; thay vì vậy là kỳ vọng vào một niềm tin sâu sắc hơn ở trong lòng chúng ta khi Đức Thánh Linh bảo đảm với chúng ta về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta và thúc giục chúng ta gọi Ngài là “Cha” khi chúng ta tìm kiếm mặt Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện.
Thứ ba, chính Đức Thánh Linh làm chứng về quyền làm con trong Kinh Thánh của chúng ta và kinh nghiệm làm trọn sự làm chứng của Ngài trong con người của chúng ta. Nếu chúng ta được sanh lại trong gia đình của Đức Chúa Trời, thì Đức Thánh Linh đang cư ngụ trong chúng ta. Thật vậy, sự cư ngụ của Đức Thánh linh là một trong những đặc quyền lớn lao nhất của con cái Đức Chúa Trời. Đây là những đặc điểm tiêu biểu của sự cư ngụ này: “Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dan, đều là con của Đức Chúa Trời.” và” Nếu ai không có Thánh Linh của Chúa Cứu Thế, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài.” (Xem RoRm 8:9-17). Và Ngài sẽ không ở trong chúng ta cho đến khi Ngài bắt đầu hành động để thay đổi lối sống của chúng ta. Giăng liên tục áp dụng sự thử nghiệm này trong thư tín đầu tiên của ông. Ông viết nếu người nào vẫn khư khư không vâng theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời và không để ý đến trách nhiệm của họ đối với anh em mình, họ không phải là Cơ Đốc nhân. Sự công bình và sự yêu thương là những dấu hiệu không thể thiếu của con cái Đức Chúa Trời.
Mối quan hệ chắc chắn
Giả sử chúng ta đã bước vào mối quan hệ mật thiết với Đức Chúa Trời và mối quan hệ này được bảo đảm bởi lời Ngài, thế thì đây có phải là mối quan hệ chắc chắn không? Hoặc chúng ta có thể được sanh ra trong gia đình của Đức Chúa Trời vào một lúc nào đó và sau đó từ chối mối quan hệ đó hay không? Kinh Thánh cho thấy rằng đây là mối quan hệ thường xuyên. Trong một phân đoạn ở cuối Rô-ma 8 Phao-lô viết: “Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: Kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Chúa Cứu Thế.” Và ông tiếp tục lập luận rằng con cái của Đức Chúa Trời có sự an toàn vĩnh cửu vì không có gì có thể phân rẽ họ khỏi tình yêu của Ngài.
Bạn có thể hỏi, “Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu như tôi phạm tội?.” “Khi đó tôi có bị mất quyền làm con và thôi không còn là con cái Đức Chúa Trời không?” Không. Hãy suy nghĩ đến sự giống nhau của gia đình con người. Một người con hỗn láo với cha mẹ, gây ra bầu không khí căng thẳng và u ám trong gia đình. Giữa hai cha con không nói với nhau một lời. Việc gì đã xảy ra? Người con có thôi là con nữa không? Không. Mối quan hệ của họ không hề thay đổi; chỉ có mối thông công của họ bị đổ vỡ. Mối quan hệ tùy thuộc vào việc sinh ra; mối thông công tùy thuộc vào tư cách đạo đức. Khi xin lỗi cha, người con sẽ được tha thứ. Và sự tha thứ phục hồi mối thông công. Trong khi đó mối quan hệ vẫn giữ như thế. Người con tạm thời có thể không vâng lời và thậm chí bướng bỉnh, nhưng vẫn không thôi là con.
Con cái của Đức Chúa Trời cũng giống như thế. Khi chúng ta phạm tội, chúng ta không mất đi mối quan hệ làm con với Ngài, dầu mối thông công của chúng ta với Ngài bị sai hỏng cho đến khi chúng ta xưng ra và từ bỏ tội lỗi. Ngay khi “chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.” Vì “neu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Đấng công bình” (IGi1Ga 1:9; 2:1, 2).
Vì thế đừng đợi cho đến chiều tối hay đến Chúa nhật sau, để sửa lại cho đúng những gì đã làm sai trong mỗi ngày. Thay vì vậy, khi bạn sa ngã, hãy quỳ gối, ăn năn và khiêm nhường tìm kiếm sự tha thứ của Đức Chúa Trời ngay lập tức. Hãy hãy giữ gìn lương tâm trong sạch, không nhơ bẩn.
Nói cách khác chúng ta chỉ được xưng công bình một lần; nhưng chúng ta cần được tha thứ mỗi ngày. Khi rửa chân cho các môn đồ, Chúa Giê-xu đã minh họa điều này. Phi-e-rơ yêu cầu Ngài rửa cả tay và đầu của ông. Nhưng Chúa Giê-xu tra lời: “Ai đã tắm rồi, chỉ cần rửa chân, thì được sạch cả.” Ở Giê-ru-sa-lem một người được mời dự tiệc tối sẽ tắm trước khi đến dự. Khi đến nhà người bạn, người này không phải tắm nữa; nhưng một người đầy tớ sẽ đón người này trước cửa nhà và rửa chân cho. Vì thế đầu tiên khi đến với Chúa Cứu Thế trong sự ăn năn, chúng ta được “tắm” (đây là sự sự công bình và và được tượng trưng bên ngoài bởi phép báp têm). Điều này không cần thiết phải lập lại. Nhưng khi chúng ta bước đi trên những con đường bụi bặm của thế gian, chúng ta cần thường xuyên” được rửa chân” (có nghĩa là được tha thứ mỗi ngày).
Trách nhiệm của Cơ Đốc nhân
Trở nên con cái của Đức Chúa Trời là một đặc quyền lạ lùng. Đặc quyền này cũng liên quan đến trách nhiệm. Phi-e-rơ có ý nói đến điều này khi ông viết: “Hãy ham thích sữa thiêng liêng của Đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà đươc rỗi linh hồn” (IPhi 1Pr 2:2).
Đặc quyền lớn nhất của con cái Đức Chúa Trời là mối quan hệ với Ngài; trách nhiệm lớn là sự tăng trưởng. Mọi người đều yêu mến con trẻ, nhưng không ai muốn chúng mãi mãi ở trong nhà tre. Tuy nhiên, có nhiều Cơ Đốc nhân được sanh lại trong Chúa Cứu Thế, nhưng chẳng bao giờ tăng trưởng. Thật là một bi kịch. Những người khác thậm chí dung túng cho tình trạng thoái hóa thuộc linh trẻ con. Mục đích của Cha thiên thượng là” trẻ con mới đẻ” phải trở thành những” người trưởng thành trong Chúa Cứu Thế.” Sự ra đời của chúng ta phải được nối tiếp bằng sự tăng trưởng. Biến động của sự xưng công bình (chúng ta được chấp nhận trước mat Đức Chúa Trời) phải dẫn đến tiến trình nên thánh (tăng trưởng trong sự thánh khiết của chúng ta, điều mà Phi-e-rơ gọi là “lớn lên mà được rỗi linh hồn”).
Có hai lãnh vực chính mà Cơ Đốc nhân phải tăng trưởng. Thứ nhất là trong sự thông biết và thứ nhì là trong sự thánh khiết. Khi chúng ta bắt đầu đời sống Cơ Đốc, có thể chúng ta hiểu biết rất ít và chúng ta chỉ đến để biết Chúa Giê-xu. Giờ đây chúng ta phải gia tăng trong sự nhận biết về Đức Chúa Trời, về Chúa và Cứu Chúa của chúng ta là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Sự nhận biết này một phần là do trí tuệ và một phần có tính cách cá nhân. Kết hợp với sự thông biết, tôi khuyên bạn không những chỉ đoc Kinh Thánh mà còn đọc các văn phẩm Cơ Đốc hay. Xem thường sự tăng trưởng trong sự thông biết là chuốc lấy tai họa.
Chúng ta phải tăng trưởng trong nếp sống thánh khiết. Các tác giả Tân Ước nói về sự phát triển đức tin của chúng ta nơi Đức Chúa Trời, tình yêu thương của chúng ta đối với những người lân cận và việc chúng ta trở nên giống Chúa Cứu Thế. Mọi con cái của Đức Chúa Trời phải ước ao tánh hạnh và tư cách đạo đức của mình càng ngày càng giống với Con Đức Chúa Trời. Nếp sống của Cơ Đốc nhân là nếp sống của sự công chính. Chúng ta phải vâng theo điều răn của Đức Chúa Trời và làm theo ý muốn Ngài. Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta mot phần vì mục đích này. Ngài làm cho thân thể chúng ta trở nên đền thờ của Ngài. Ngài ở trong chúng ta. Và khi chúng ta thuận phục uy quyền và đi theo sự hướng dẫn của Ngài, Ngài sẽ đánh bại những ước muốn tội lỗi của chúng ta và khiến cho những bông trái của Ngài xuất hiện trong cuộc đời của chúng ta, đó là” lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ”( GaGl 5:16, 22, 23).
Nhưng chung ta sẽ tăng trưởng như thế nào? Có ba bí mật chính của sự phát triển thuộc linh. Chúng cũng là những trách nhiệm chính của con cái Đức Chúa Trời.
Trách nhiệm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời
Mối quan hệ của chúng ta đối với Đức Chúa Trời dầu được bảo đảm, nhưng không phải là không thay đổi. Ngài muốn con cái Ngài tăng trưởng để càng ngày càng biết Ngài rõ hơn. Nhiều thế hệ Cơ Đốc nhân đã khám phá ra phương cách chính để tăng trưởng trong giờ đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Đây là điều bắt buộc không thể thiếu được đối với những người muốn tiến bộ. Ngày nay tất cả chúng ta đều bận rộn, nhưng chúng ta phải sắp xếp lại những ưu tiên để dành thơi giờ đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Điều này có nghĩa là chúng ta phải có kỷ luật tự giác nghiêm khắc, nhưng nhờ vậy, cùng với một quyển Kinh Thánh dễ đọc và một chiếc đồng hồ báo thức, chúng ta sẽ vui bước trên con đường đạt đến chiến thắng.
Điều quan trọng là cần phải giữ sự quân bình giữa việc đọc Kinh Thánh và cầu nguyện, bởi vì qua Kinh Thánh Đức Chúa Trời phán với chúng ta, trong khi qua sự cầu nguyện chúng ta nói chuyện với Ngài. Đọc Kinh Thánh một cách có hệ thống cũng là điều khôn ngoan. Có nhiều phương pháp đọc Kinh Thánh khác nhau.
Hãy cầu nguyện trước khi đọc, cầu xin Đức Thánh Linh mở mắt và soi sáng cho tâm trí của bạn. Sau đó đọc chậm rãi và suy gẫm. Đọc đi đọc lại phân đoạn Kinh Thánh. Vật lộn với đoạn Kinh Thánh cho đến khi hiểu được ý nghĩa của nó. Hãy sử dụng một bản dịch hiện đại. Bản dịch RVS có lẽ là bản dịch Anh ngữ chính xác và hiện đại. Bạn có thể nhờ vào sự trợ giúp của một quyển chú giải tốt. (Chẳng hạn, The New Bible Commentary , được hiệu đính và biên soạn bởi D. Guthrie, J.A. Motyer, A.M.Stibbs and D.J. Wiseman (InterVarsity Press, 1970, ban tiếng Việt do Viện Thần Học Việt Nam dịch và xuất bản).
Sau đó tiếp tục áp dụng những câu Kinh Thánh mà bạn đọc vào hoàn cảnh của bạn. Tìm kiếm những lời hứa cần phải xác nhận và những mạng lệnh phải vâng theo, những gương cần noi theo và những tội lỗi cần phải tránh. Viết ra những gì bạn đọc vào một quyển sổ tay là điều rất hữu ích. Trên hết, hãy tìm kiếm Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài là nhân vật chính của Kinh Thánh. Chúng ta không những tìm thấy Ngài được bày tỏ trong Kinh Thánh, mà còn có thể gặp Ngài một cách riêng tư qua những trang Kinh Thánh.
Lời cầu nguyện sẽ theo sau một cách tự nhiên. Hãy bắt đầu thưa lại với Đức Chúa Trời về đề tài mà qua đó Ngài đã phán với bạn. Đừng thay đổi việc đối thoại! Nếu Ngài phán với bạn về chính mình Ngài và sự vinh hiển của Ngài, bạn hãy thờ phượng Ngài. Nếu Ngài phán với bạn về chính bạn và tội lỗi của bạn, hãy xưng tội. Hãy tạ ơn Ngài về những phước hạnh được bày tỏ trong phân đoạn này và cầu nguyện cho bạn và cho bạn bè của bạn học được những bài học qua phân đoạn Kinh Thánh này.
Khi bạn cầu nguyện về đoạn Kinh Thánh mà bạn vừa đọc, bạn sẽ muốn tiếp tục cầu nguyện những vấn đề khác. Nếu quyển Kinh Thánh là sự trợ giúp lớn đầu tiên cho sự cầu nguyện, thì quyển nhật ký sẽ là sự trợ giúp lớn thứ nhì. Vào buổi sáng hãy phó thác cho Ngài những chi tiết của mot ngày mới đang ở trước mặt bạn và khi buổi tối đến hãy xưng nhận những tội lỗi mà bạn đã phạm, tạ ơn về những phước lành mà bạn đã tiếp nhận và cầu nguyện cho những người mà bạn đã gặp.
Đức Chúa Trời là Cha của bạn. Hãy tự nhiên, mạnh dạn phó thác cho Ngài. Ngài luôn quan tâm đến mọi chi tiết trong cuộc đời của bạn. Chẳng bao lâu bạn sẽ thấy cần phải bắt đầu một số danh sách cầu nguyện cho người thân và bạn bè mà bạn cảm thấy cần cầu nguyện. Hãy khôn ngoan thực hiện danh sách này một cách linh động để có thể dễ dàng thêm tên những người khác vào hoặc bớt đi.
Trách nhiệm đối với Hội Thánh
Nếp sống Cơ Đốc không phải là công việc riêng tư của chính bạn. Nếu chúng ta được sanh lại trong gia đình Đức Chúa Trời, không những Ngài trở thành Cha của chúng ta, mà mọi tín hữu khác trên thế giới, bất kể chủng tộc hoặc giáo phái, đều trở thành những anh chị em trong Chúa Cứu Thế của chúng ta. Một trong những danh xưng thông dụng hơn hết trong Tân Ước là “anh em.” Đây là một lẽ thật cao quý. Nhưng thật không tốt khi cho rằng trở nên thành viên của Hội Thánh phổ thông của Chúa Cứu Thế là đủ; chúng ta còn phải là thuộc viên của một số Hội Thánh địa phương thuộc Hội Thánh phổ thông. Trở nên một thành viên của một Hiệp hội Cơ Đốc trong một trường đại học hoặc một nơi nào đó cũng không đủ (dầu vay tôi hy vọng rằng bạn sẽ tích cực trong hội đoàn của bạn). Chỗ của mỗi Cơ Đốc nhân là một Hội Thánh địa phương, để cùng chia sẻ với Hội Thánh trong sự thờ phượng, thông công và làm chứng.
Có thể bạn hỏi rằng bạn nen gia nhập vào Hội Thánh nào. Nếu bạn đã liên kết với một Hội Thánh, hoặc do được dạy dỗ như thế hoặc bởi vì bạn mới tham dự gần đây, thật không khôn ngoan để kết thúc sự liên kết này mà không có một lý do chính đang. Tuy nhiên, nếu bạn có tự do chọn lựa Hội Thánh mà bạn muốn tham dự, đây là hai tiêu chuẩn để hướng dẫn bạn. Thứ nhất phải quan tâm đến mục sư của Hội Thánh, thứ hai là giáo đoàn. Bạn hãy tự hỏi các câu hỏi. Muc sư của Hội Thánh có thuận phục thẩm quyền của Kinh Thánh, để bởi đó ông soạn những bài giảng để giải bài sứ điệp của Kinh Thánh và liên hệ sứ điệp này với đời sống hiện tại không? Giáo đoàn có được tinh thần thong công của những người yêu mến Chúa Cứu Thế, yêu mến nhau và yêu thương thế gian không?
Phép báp-têm là cách để bước vào xã hội Cơ Đốc hữu hình. Nhưng như chúng ta đã thấy, nó còn có ý nghĩa khác, cho nên nếu như bạn chưa chịu báp têm, bạn nên yêu cầu mục sư của bạn làm phép báp têm cho bạn. Sau đó bạn sẽ bước vào mối thông công Cơ Đốc đúng đắn. Ban đầu dường như có nhiều điều còn xa lạ đối với bạn, nhưng đừng đứng bên ngoài. Đi nhà thờ hoặc nhà nguyện vào ngày Chúa nhựt phải là trách nhiệm rõ ràng của Cơ Đốc nhân và hầu như mọi chi nhánh của giáo hội Cơ Đốc đều đồng ý rằng Tiệc Thánh là nghi lễ trọng tâm do Chúa Cứu Thế thiết lập để tưởng nhớ sự chết của Ngài trong mối thông công với nhau.
Hy vọng tôi không tạo ấn tượng cho rằng sự thông công chỉ xoay quanh ngày Chúa nhật. Tuy nhiên đối với những Cơ Đốc nhân khác, sự yêu thương có thể không chắc là mot kinh nghiệm mới mẽ và thật. Trong mối thông công Cơ Đốc mọi lứa tuổi, mọi trình độ sẽ khám phá được được tình thân hữu sâu sắc và sự san sẻ cho nhau. Những người bạn thân thiết nhất của Cơ Đốc nhân có lẽ là những Cơ Đốc nhân và trên hết người phối ngẫu phải là người bạn thân thiết nhất (IICo 2Cr 6:14).
Trách nhiệm của chúng ta đối với thế gian
Nếp sống Cơ Đốc là chuyện gia đình, trong đó con cái vui hưởng mối thông công với cha mẹ và với nhau. Nhưng đừng nghĩ rằng như thế là đủ. Cơ Đốc nhân không phải là nhóm người thiển cận, tự mãn, ích kỷ, làm ra vẻ đạo đức, và chỉ quan tâm đến chính mình. Ngược lại Cơ Đốc nhân phải hết sức quan tâm đến những người chung quanh. Và đây là một phần trong thiên hướng của Cơ Đốc nhân là phục vụ người khác bằng mọi cách mà mình có thể.
Giáo hội Cơ Đốc đã có thành tích cao quý về lòng bác ái đối với người nghèo và những người bị xã hội ruồng bỏ, những người nghèo đói, bệnh tật, những nạn nhân của sự áp bức và phân biệt chủng tộc, những người nô lệ, những tù nhân, mồ côi, những người tỵ nạn và bị bỏ rơi. Ngày hôm nay trên khắp thế giới, trong danh của Chúa Cứu Thế những người tin theo Ngài đang cố gắng làm giảm đi những đau khổ và cùng khốn. Dầu vậy vẫn còn một số lượng công việc khổng lồ đang chờ thực hiện. Và đôi lúc phải xấu hổ thừa nhận rằng những người không xưng nhận họ là Cơ Đốc nhân lại bày tỏ lòng thương xót nhiều hơn những người tự xưng nhận mình biết Chúa Cứu Thế.
Có một trách nhiệm đặc biệt khác mà Cơ Đốc nhân cần phải hướng tới, đó là trách nhiệm đối với “thế gian, ” như Kinh Thánh mô tả đó là công việc truyền giáo cho những người ở bên ngoài Chúa Cứu Thế và Hội Thánh của Ngài. “Truyền giáo” theo nghĩa đen là rao truyền tin lành của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vẫn có hàng triệu người chưa biết đến Chúa Giê-xu và sự cứu rỗi của Ngài, không những ở Châu Á, Châu Phi, và Châu Mỹ La-tinh, nhưng còn ở xã hội bị thế tục hóa của phương Tây. Trong nhiều thế kỷ Hội Thánh dường như nửa thưc nửa ngủ. Có phải trong thế hệ này Cơ Đốc nhân sẽ thức tỉnh và chinh phục thế giới này cho Chúa Cứu Thế? Có thể Ngài có một nhiệm vụ đặc biệt trao phó cho bạn như là một mục sư hoặc một giáo sĩ được tấn phong. Nếu bạn là một sinh viên đang theo học, thật là một điều sai lầm nếu bạn vội vàng, hấp tấp làm một điều gì khác. Nhưng hãy cố khám phá ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho bạn và vâng theo.
Dầu rằng không phải hết thảy Cơ Đốc nhân đều được kêu gọi trở nên mục sư hay giáo sĩ, nhưng theo ý định của Đức Chúa Trời mỗi Cơ Đốc nhân phải trở nên một chứng nhân cho Chúa Cứu Thế Giê-xu. Trong gia đình, giữa vòng bạn hữu trong trường học hoặc nơi sơ làm, trách nhiệm của Cơ Đốc nhân là phải sống nhất quán, yêu thương, khiêm nhường, chân thật và giống như Chúa Cứu Thế. Và phải chinh phục người khác cho Ngài nhưng phải thận trọng, lịch sự và quả quyết.
Cách để bắt đầu là bởi sự cầu nguyện. Hãy cầu xin Đức Chúa Trời ban cho bạn sự quan tâm đặc biệt đến một hoặc hai người bạn. Thường thì việc chọn những người bạn cùng phái tính và cùng độ tuổi là khôn ngoan hơn. Sau đó cầu nguyện thường xuyên và dứt khoát cho sự cải đạo của họ; hãy nuôi dưỡng tình bạn vì mục đích này; hãy dành thời gian cho họ và yêu thương họ như chính mình. Khi có cơ hội hãy đưa họ đến dự một số buổi nhóm thờ phượng để họ có thể nghe giải bày Phúc Âm; hoặc tặng cho họ một số văn phẩm Cơ Đốc để đọc; hoặc đơn giản là kể cho họ nghe bạn đã gặp Chúa Cứu Thế Giê-xu và Ngài có ý nghĩa như thế nào đối với bạn. Hầu như tôi không cần phải nói thêm rằng lời làm chứng hùng hồn nhất của bạn chẳng có tác dụng gì nếu tư cách đạo đức của bạn trái hẳn với điều bạn đang làm chứng; một đời sống được biến đổi một cách tỏ tường đem lại nhiều ảnh hưởng hơn cho Chúa Cứu Thế.
Những đặc quyền và trách nhiệm của con cái Đức Chúa Trời là như thế. Do được sinh ra trong gia đình Đức Chúa Trời và vui hưởng mối thông công khắng khít với Cha thiên thượng, được bảo đảm một cách chắc chắn, Cơ Đốc nhân cần phải nghiêm túc trong thời gian đọc Kinh Thánh và cầu nguyện mỗi ngày, phải là một thành viên trung tín trong Hội Thánh và đồng thời phải tích cực trong việc làm chứng và phục vụ Cơ Đốc.
Việc trình bày như thế này về đời sống Cơ Đốc dẫn đến chỗ khiến cho người Cơ Đốc phải chịu sự căng thẳng. Nói ngắn gọn, chúng ta tự nhận thấy mình là công dân của hai vương quốc, một là vương quốc ở trần thế và vương quốc kia là thiên đang. Chúng ta không có quyền tự do thoái thác trách nhiệm đối với cả hai.
Nói chung các tác giả Tân Ước đã nhấn mạnh nghĩa vụ đối với đất nước, đối với chủ, đối với gia đình và xã hội. Kinh Thánh sẽ không cho phép chúng ta rút lui khỏi những trách nhiệm thực tiễn này, bằng cách vào tu viện hoặc theo chủ nghĩa thần bí, hoặc bước vào mối thông công Cơ Đốc cô lập với thế giới bên ngoài.
Mặt khác, một số tác giả Tân Ước nhắc chúng ta rằng chúng ta là “người ở trọ, kẻ đi đường.” “Nhưng chúng ta là công dân trên trời.” Và chúng ta đang đi về nhà đời đời của chúng ta (IPhi 1Pr 2:21; Phi Pl 3:20; IICo 2Cr 4:16-18). Do đó chúng ta không nên tích trữ của cải ở trần thế, cũng đừng theo đuổi những tham vọng ích kỷ, cũng đừng đồng hóa những tiêu chuẩn của thế gian, hay đầu hàng, lui bước trước những nỗi sầu khổ của đời sống hiện taị.
Cách tương đối đơn giản để làm giảm đi mối căng thẳng này là rút lui vào trong Chúa Cứu Thế và mặc kệ thế gian, hoặc là theo thế gian và quên Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên cả hai không có cách nào là giải pháp thật sự cho Cơ Đốc nhân, bởi vì mỗi cái điều liên quan đến sự từ bỏ nghĩa vụ của chúng ta đối với thế gian hoặc đối với Chúa Cứu Thế. Cơ Đốc nhân quân bình là người lấy Thánh Kinh làm chuẩn mực để sống một cách quân bình và vừa “trong Christ” vừa “trong thế gian.” Cơ Đốc nhân không thể chọn lựa hoặc cái này hoặc cái kia.
Đây là cuộc sống môn đệ hóa mà Chúa Cứu Thế kêu gọi chúng ta. Ngài đã chết và sống lại để chúng ta có được cuộc sống mới. Ngài đã ban cho chúng ta Thánh Linh của Ngài để chúng ta có thể sống cuộc sống mới trên thế gian này.
Giờ đây Ngài kêu gọi chúng ta theo Ngài và tận hiến cho Ngài mà không giữ lại bất cứ điều gì.

† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-7-2018 12:34 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách