† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2601|Trả lời: 0

Chúa Giê-xu Người Lãnh Đạo Gương Mẫu

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 9-7-2011 08:52:22 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Chúa Giê-xu Người Lãnh Đạo Gương Mẫu
Tác giả: Dr. Davit J. Wriglesworth

LỜI NÓI ĐẦU
Trong thập kỷ qua, tôi vinh hạnh được đi lại nhiều nơi trên thế giới và chia xẻ Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ qua cả chương trình truyền giảng lẫn môn đồ hóa. Mục vụ này đã được chứng kiến rất nhiều người tiếp nhận Đức Chúa Jesus Christ làm Cứu Chúa của riêng mình, và vô số Cơ Đốc nhân tái cam kết hầu việc Chúa chúng ta. Đây quả là ơn phước vì được biết đến nhiều quốc gia và nhiều nền văn hóa khác nhau, được thờ phượng và thông công với những vị lãnh đạo và tín đồ bản xứ. Đối với tôi, đây chính là chút hương vị của niềm vui hầu đến trên thiên đàng, khi hết thảy các tín đồ thật được hiệp nhất để đời đời ca ngợi và tán dương Danh vinh diệu của Đức Chúa Jesus Christ, là Cứu Chúa đã chịu đóng đinh và đã sống lại và sẽ tái lâm.
Tôi không ngớt cảm ơn Đức Chúa Trời về phong trào truyền giáo hiện đại và ảnh hưởng của phong trào của phong trào ấy trên thế giới. Hội thánh đã được thiết lập, và được vững vàng tại rất nhiều quốc gia trên thế giới. Gần đây, tôi có dịp nói chuyện với một sinh viên thần học trẻ tuổi đến từ Ấn Độ. Anh đến từ một bộ lạc trước kia vốn săn đầu người, và bộ lạc này đã được chăm sóc và đem về với Chúa Jesus qua công tác của vị giáo sĩ tiên phong William Carey. Tôi đã trò chuyện với rất nhiều vị lãnh đạo cả tại những quốc gia mở cửa lẫn đóng cửa. Nói chung, Hội Thánh rất sống động khi tiến sang thế kỷ hai mươi mốt; các lãnh đạo đã được trang bị kỹ lưỡng trong sự khôn ngoan và hiểu biết Lời Đức Chúa Trời; và rất nhiều tín đồ tận tâm chia xẻ đức tin mình cho người ngoại. Những nhà truyền giáo dài hạn và ngắn hạn đang tiếp tục đáp ứng vô số nhu cầu trên thế giới, tìm cách khích lệ và làm người bản xứ được vững vàng trong những công khó bất tận cho Đấng Christ.
Nếu vậy, đâu dường như là những nhu cầu khẩn cấp nhất trong công tác thi hành chức vụ mới và qua những tín đồ bản xứ? Rất nhiều người bản xứ đã thuộc lòng Lời Đức Chúa Trời, vì Kinh Thánh chính là nguồn cảm hứng và nghiên cứu duy nhất của họ. Trong hầu hết các hoàn cảnh, ngay cả những người tự học thường cũng đã có kiến thức chuyên môn và thông hiểu Kinh Thánh. Điều này không làm giảm nhu cầu phải nghiên cứu Kinh Thánh nhiều hơn trong tương lai, nhưng nó thật sự tạo nền tảng vững chắc để phát triển và tiến bộ. Ngay cả những sinh viên tinh thông Kinh Thánh nhất cũng có thể dự bàn tiệc Lời Đức Chúa Trời suốt bao nhiêu năm, thậm chí trọn cả đời, mà vẫn chưa thể hiểu trọn những sự khải thị của Đức Chúa Trời. Tấm lòng và lý trí của con người vẫn không thể dò thấu hết Lời Ngài, và Lời ấy luôn ban những viên ngọc mới cho ai tra tìm Kinh Thánh hằng ngày.
Những nhu cầu khẩn cấp nhất dường như là sự dạy dỗ trong lãnh đạo và cuộc sống gia đình. Chúa đã cho tôi tài liệu cơ bản và bố cục này để chia xẻ tại nhiều khóa huấn luyện mục vụ. Kể từ đó, tôi hiểu ra và phát triển nó thành nguồn tài liệu sâu sắc hơn để huấn luyện nhân sự của Đức Chúa Trời trên khắp thế giới. Tôi tin đây sẽ là sự vui mừng và nguồn cảm thúc lớn lao cho lòng và linh hồn bạn, và hy vọng sẽ kích thích tâm linh bạn càng bước sâu nhiệm hơn vào đời sống, công tác và chức vụ của Đức Chúa Jesus Christ cùng sứ mạng Ngài cho thế giới.
Rất có thể hết thảy chúng ta đều đã tham dự những khóa hội thảo lãnh đạo, nhưng thấy rất ít chú ý thật đến Đức Chúa Jesus Christ trong vai trò người Lãnh Đạo mẫu mực - nếu như có chú ý đi nữa. Trong khái niệm và thuật ngữ của lãnh đạo hiện đại, Chúa Jesus sẽ bị xem như không đủ tư cách làm Nhà Lãnh Đạo vĩ đại. Ngài đã phải chống chọi lại với nhiều kẻ thù từ bên ngoài - tức là người Pharisi và người Sađusê, đương đầu với những khủng hoảng bên trong và gần gũi với Ngài - bao gồm cả mười hai sứ đồ được chọn - trong biết bao nhiêu trường hợp. Tuy thế, hết thảy những sự chống đối và những lời vu cáo vẫn không làm Ngài tẻ bước khỏi sứ mạng chính, là chết trên thập tự giá để chuộc tội cho toàn thế gian. Trọng điểm của Ngài vẫn không hề bị thay đổi hay thay thế trong cuộc đời tương đối ngắn ngủi ấy trên đất. Trái lại, Ngài đã đến để làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha và làm trọn thật hoàn hảo cho đến tận bước cuối cùng là chịu đóng đinh trên thập tự giá. Nhưng câu chuyện không kết thúc với sự chết của Ngài. Ngài đã sống lại vẻ vang từ kẻ chết, đã thăng thiên, hiện ngồi bên hữu Đức Chúa Cha, và chờ đợi ngày tái lâm vinh quang đến trần gian để cai trị trong tư cách Vua muôn vua và Chúa của muôn chúa. Nếu đây không phải là hình ảnh tiêu biểu của sự lãnh đạo, thì chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được sự lãnh đạo cùng những phẩm chất của nó.
Tôi rất biết ơn Cứu Chúa về những nguyên tắc cùng năng lực lãnh đạo hoàn hảo của Ngài. Và quan trọng hơn thế, Ngài đã nêu gương bằng cách làm mọi việc mà Ngài đã phán dạy. Ngài không bao giờ truyền chúng ta làm điều nào mà Ngài không đích thân làm trước đã. Đây há không phải là một vị lãnh đạo xuất sắc sao? Một lãnh đạo giỏi sẽ luôn luôn làm người thực hiện mẫu mực những điều mình tin. Nếu không biến niềm tin mình thành hành động, thì người ấy sẽ không khiến nó trở thành mệnh lệnh cho các môn đồ mình. Chúa Jesus không những nêu gương về chức vụ, mà Ngài còn ban sự xứng đáng của chính đời sống và cách chúng ta phải sống cuộc đời ấy nữa.
Giáo trình đặc biệt này sẽ cho chúng ta thấy sự lãnh đạo chân chính bằng hành động cùng với những ứng dụng thích hợp cho sinh hoạt hiện đại trong gia đình, hội thánh và thế gian. Chúng ta tự hỏi mình câu này thường xuyên đến mức nào: “Chúa Jesus sẽ làm gì trong tình huống như thế nầy?” Đây là một câu hỏi hay, đặc biệt khi có rất nhiều sự lưỡng lự hay nghi ngờ trong lúc ra quyết định. Bằng cách xem xét đời sống và chức vụ của Chúa Jesus, chúng ta sẽ thấy Ngài đáp ứng thế nào với những vai trò của bản thân, vai trò của gia đình, vài trò của xã hội và vai trò lãnh đạo của Ngài. Và tôi chắc chắn rằng chúng ta chỉ mới đụng đến được bề ngoài những phản ứng của Ngài trước những tình huống đặc biệt nào đó.
Như sẽ thấy trong tài liệu này, Đức Chúa Jesus Christ là Đầy Tớ của mọi đầy tớ. Không một vị lãnh tụ nào - cả ngoài đời cũng như trong giới thuộc linh - có thể sánh nổi với Đấng Christ và sứ mạng của Ngài. Quả là một niềm vui vì được biết Ngài, hầu việc Ngài, và chia xẻ Ngài cho người khác. Khi vào khóa hội thảo lãnh đạo này, chúng ta hãy cầu nguyện xin Đức Chúa Trời phán với chúng ta, hãy cầu xin Đức Chúa Jesus Christ ở riêng với chúng ta, và nguyện Thánh Linh cảm động lòng và đời sống chúng ta, hầu chúng ta sẽ ra về đời sống được thay đổi và biến hóa bởi quyền năng của Đức Chúa Trời. Hãy để toàn bộ thời gian chúng ta ở chung với nhau tại đây sẽ thổi bùng lên một tinh thần mới và cam kết mới để hầu việc Vua muôn vua và Chúa muôn chúa. Và nguyện ơn phước Ngài từ tấm lòng và đời sống chúng ta tuôn đổ vào chức vụ tại địa phương cũng như trên toàn cầu của Ngài.
David J. Wriglesworth
Vài lời về tác giả.....
Tiến sĩ David Wriglesworth là người sinh trưởng tại Pennsylvania và sống thuở thiếu thời tại Maine. Ông phục vụ trong công tác Cơ Đốc suốt hơn ba thập kỷ, bao gồm hai chức vụ chăn bầy. Ông đã là Mục sư Thanh Niên, Giám Đốc Cơ Đốc Giáo Dục và Mục sư Phụ Tá. Trong thập kỷ qua, ông vẫn đang thi hành chức vụ truyền giáo và huấn luyện khắp thế giới.
Là Cơ Đốc nhân từ năm lên chín tuổi, David đã chuẩn bị mình cả về mặt thuộc linh lẫn nghiệp vụ để phục vụ Đức Chúa Jesus Christ. Ông tốt nghiệp đại học Barrington College tại Rhode Island ở cả chuyên ngành Kinh Thánh lẫn Cơ Đốc Giáo Dục. Ông nhận bằng Thạc sĩ Giáo Dục Tôn Giáo tại chủng viện Gordon - Conwell Theological Seminary tại Massachusetts. Ông nhận học vị Thạc sĩ Thần Học và Tiến sĩ Mục Vụ từ chủng viện Luther Rice Seminary tại Florida (trường này hiện nay ở tại Georgia).
David lập gia đình với Carrie Brockway, người sinh trưởng tại Maine và là cựu giáo sư trung học. Ông bà có ba con: Kimber Lee, Chad David, và Nicole Marie. Kimber và chồng - Rondal Perry - sống tại Wisconsin và có hai con là Brandon và Kerra. Tác giả cùng gia đình ở tại Chambersburg, Pennsylvania.
Tiến sĩ Wrilesworth là nhà sáng lập và chủ tịch của hội Living Word International, một hội truyền giáo cộng tác với người bản xứ và cung cấp nhân sự để phụ giúp trong quá trình thân hữu quyết định tiếp nhận Chúa. Hiệp hội này hoạt động bởi đức tin, tin cậy Đức Chúa Trời chu cấp mọi nhu cần. Đức Chúa Trời đang chúc phước cho công việc Ngài qua việc rao giảng và dạy dỗ Lời Ngài, chu cấp và hành động qua những người bản xứ, và xuất bản, phân phối các văn phẩm và các nhu cầu nhân đạo cho người bản xứ.

PHẦN GIỚI THIỆU: MỤC TIÊU:
Nan Đề Của Con Người:
Bao nhiêu người trong chúng ta thực sự ngồi xuống đề ra cả kế hoạch dài hạn cả ngắn hạn cho cuộc đời mình? Nói chung, chúng ta thường đề ra mục đích, mục tiêu và phương hướng cho đời sống mình, nhưng thường thì không bám vào đường lối đã vạch sẵn. Chúng ta có khuynh hướng tẻ bước khỏi kế hoạch ban đầu do bị lạc hướng bởi những chi tiết và những biến cố không quan trọng hoặc không có ý nghĩa trong vai trò lãnh đạo. Và thỉnh thoảng, chúng ta phải mất nhiều năm mới quay lại đúng hướng, giới hạn những năng lực mình để có sự lãnh đạo hiệu quả trong thời gian chuyển tiếp. Chúng ta giữ được cho chức vụ hay chương trình tiếp tục hoạt động, nhưng không giữ được ở mức tiềm năng cao nhất.
Chúng ta có thể nêu nhiều lý do khác nhau cho việc bỏ quan điểm lúc đầu. Thứ nhất, chúng ta không thể thấy trước mọi sự kiện, biến cố trong tương lai. Nhiều khi cần phải có những thay đổi, ngay cả khi đã có kế hoạch tốt nhất chăng nữa. Trong sự lãnh đạo, chúng ta phải liên tục đưa ra những quyết định, dầu chúng đáp ứng tốt hay không tốt cho những mục tiêu hay mục đích trong chức vụ đã đề ra của mình. Sẽ có những thay đổi nào đó giúp tái định hướng đường lối của chúng ta, nhưng chỉ có những cải cách tốt mới phát huy cao độ kết quả cuối cùng.
Sẽ có những lúc chúng ta thay đổi toàn bộ kế hoạch để có một kế hoạch tốt hơn. Ví dụ: nếu chúng ta có một quyết định, tin rằng đấy chính là ý muốn của Đức Chúa Trời, rồi về sau nghĩ mình đã phạm sai lầm, thì tốt nhất là phải đổi hướng. Là những người lãnh đạo dưới quyền lãnh đạo của Chúa, chúng ta không trọn lành. Phải chăng điều này có nghĩa Đức Chúa Trời không thể xử dụng chúng ta trong hiện tại và trong tương lai? Không, Đức Chúa Trời tiếp tục xử dụng những lãnh đạo Ngài đã chọn, bất luận chúng ta có thất bại và sai phạm rất nhiều đi nữa.
Chúng ta thấy rất nhiều ví dụ về sự lãnh đạo tồi trong Lời Đức Chúa Trời. Môi se - dầu được Đức Chúa Trời phong chức và rất kiên nhẫn với dân sự, ông vẫn phạm nhiều sai lầm trong hành trình. Có một lần, ông đã trút cơn giận sai lầm trên dân sự. Khi dân sự lần thứ nhì lằm bằm vì thiếu nước, Môise đã đập tảng đá hai lần để có nước, trong khi Đức Chúa Trời truyền ông chỉ cần nói với tảng đá. Kết quả là ông không được vào Đất Hứa (Dan Ds 20:1-13). Đức Chúa Trời vẫn dùng Môise để lãnh đạo dân sự đến biên cương Đất Hứa. Và trong suốt Cựu Ước lẫn Tân Ước, ông rất được kính trọng (Gios Gs 1:1-2; 1:3; 9:24; 14:2; ISa1Sm 12:6, 8; IVua 1V 2:3; ISu1Sb 6:49; 23:14; Thi Tv 99:6; 77:20; 103:7; 106:16, 32; EsIs 63:12; MiMk 6:4; Gie Gr 15:1; MaMl 4:4; Mat Mt 5:17-18; LuLc 24:27; Mat Mt 7:1-4; Mac Mc 9:2-5; LuLc 9:28-33; Cong Cv 7:20-44; HeDt 11:24-29; RoRm 1:16-3:31; GiGa 1:17). Và Đức Chúa Trời đã ban cho Môise đặc ân được nhìn thấy xứ tương lai trước khi qua đời.
Saulơ, vị vua đầu tiên của quốc gia Ysơraên, đã có những phẩm chất rất tuyệt để lãnh đạo - một ngoại hình hấp dẫn, được dân sự mến mộ, là nhà lãnh đạo quân sự tài năng; nhưng ông không vâng lời Đức Giêhôva và đánh mất năng lực lãnh đạo của mình. Sai lầm đầu tiên của ông chính là không đợi tiên tri Samuên (ISa1Sm 13:8-9) và tự mình đảm nhận những trách nhiệm của thầy tế lễ. Tội lỗi thứ nhì của ông chính là cuộc chiến với dân Amaléc. Những chỉ thị cụ thể chính là không được chừa lại một sinh mạng nào (15:3), nhưng Saulơ không vâng lời khi tha mạng cho vua Aga và giữ lại những súc vật tốt nhất. Kế đó, ông đã nói dối Samuên khi bảo rằng mình đã tuân theo trọn các chỉ thị. Thần Đức Giêhôva đã lìa khỏi ông, nhưng Đức Chúa Trời không loại ông khỏi địa vị lãnh đạo đến tận khi qua đời. Những năm cuối làm vua của ông đã gặp sầu khổ lớn; do đó, Đavít, chàng trai chăn chiên, được triệu tập đến cung đình để gảy nhạc cho vua nghe. Quyền làm vua đã bị cất khỏi dòng dõi ông, và được ban cho con trai của Giêse, là Đavít, chàng trai chăn chiên.
Đavít, vị vua thứ nhì của quốc gia Ysơraên, được gọi là “người vừa lòng Đức Chúa Trời” (Cong Cv 13:22). Ông đã là vị vua công bình, nhưng ông cũng phạm tội. Ông phạm tội ngoại tình với Bátsêba rồi sai giết chồng bà giữa chiến trận. Thithiên 51 là một trong những lời xưng tội tuyệt nhất được chép lại - lời Đavít xưng ra những tội lỗi này. Tội lỗi ông tiếp tục gây hại cho ông qua những hành động của con cái mình. Xin đơn cử một vài ví dụ: Amnôn, một con trai ông, đã hãm hiếp và sỉ nhục em gái cùng cha khác mẹ của mình. Ápsalôm, một con trai khác, đã phản nghịch cha và cố đoạt vương quốc.
Một người lãnh đạo giỏi sẽ phạm sai lầm, nhưng người lãnh đạo vĩ đại mới biết thú nhận những sai lầm của mình. Sai lầm không nhất thiết phải loại người đó khỏi tư cách lãnh đạo, nhưng người ấy sẽ học biết cách xử dụng những sai lầm đó để nâng cao địa vị và năng lực lãnh đạo của mình. Nói như vậy không phải là kết luận những người lãnh đạo phải tự bỏ đi đức tính tốt và tính ngay thật. Thái độ đạo đức trong tư cách lãnh đạo sẽ giảm thiểu những thất bại và sai lầm. Kết quả là dân sự có thể tin cậy người lãnh đạo trong cả đời sống cá nhân cũng như trong địa vị lãnh đạo của người ấy. Và bất luận địa vị, người lãnh đạo phải đặt thái độ ấy lên hàng đầu.
Thứ nhì, chúng ta không thể luôn đoán trước những đáp ứng của người khác. Người ta có thể đưa vị lãnh đạo lên hoặc hạ ông ta xuống. Đương nhiên, cá tính của vị lãnh đạo có thể hoặc nâng cao, hoặc hạ thấp đáp ứng của dân sự. Sự lãnh đạo đòi hỏi phải làm việc trực tiếp với dân sự, và sự tham gia của dân sự có thể thay đổi lối lãnh đạo. Và đôi khi, những hành động của họ để ủng hộ hoặc phản đối vị lãnh đạo có thể thay đổi cả kế hoạch lẫn cả quyết định.
Nên lưu ý người lãnh đạo Cơ Đốc phải luôn luôn giữ vững tư cách lãnh đạo mà Đức Chúa Trời đã chỉ định cho mình. Dầu chúng ta nên tìm cách làm đẹp lòng người và lắng nghe những nhu cầu của họ, nhưng quyết định cuối cùng vẫn phải được căn cứ vào ý muốn của Đức Chúa Trời. Đừng bao giờ dùng địa vị lãnh đạo để bất tuân các mạng lịnh của Đức Chúa Trời cùng sự dẫn dắt của Ngài cho đời sống mình. Điều này bao gồm những hành động chung cuộc trong lãnh đạo, cho dù điều đó không được dân sự Ngài mến mộ đi nữa.
Một lần nữa, tôi muốn nêu ví dụ về vua Đavít, ông được biết đến như là “kẻ hát êm dịu của Ysơraên” (IISa 2Sm 23:1). Phần lớn các Thithiên đã được Đavít viết ra, và là nguồn cảm hứng cho cả Cơ Đốc nhân lẫn người chưa tin Chúa. Chúng ta thấy ông sẵn sàng ăn năn tội lỗi mình và bước theo ý muốn Đức Chúa Trời cho đời sống và các trách nhiệm của mình. Ông là một nhạc sĩ tài năng, một nhà quân sự lỗi lạc, là vua và lãnh tụ tôn giáo. Josephus, sử gia Do Thái, có viết: “Đây là một nhân vật tài năng nổi bật, và được ban cho mọi phẩm hạnh đáng có ở nơi một vị vua.”
Thứ ba, những ước ao và sở thích của bản thân có thể thay đổi khi chúng ta trưởng thành và phát triển trong đời. Qua cả sự phát triển về phần con người cũng như về phần thuộc linh, chúng ta có được những mơ ước mới, khải tượng và sở thích mới để bỏ đi những ý tưởng và tham vọng trước kia. Không chịu thay đổi trong lãnh đạo có thể dẫn đến thái độ lãnh đạm hay trì trệ. Sự lãnh đạo phải dẫn đến những tầm hiểu biết và những thành tựu rộng lớn hơn; nếu không, chúng ta sẽ vẫn cứ ở mãi trong cùng một tình trạng của nền văn minh thời kỳ đầu. Chẳng có điều gì thay đổi cả.
Người lãnh đạo phải biết mơ ước. Từ Kinh Thánh, chúng ta biết Đức Chúa Trời bất biến. Đức Chúa Trời toàn hảo không cần phải thay đổi. Lẽ thật đã vững lập trong những biên niên sử của cõi đời đời, nhưng sự vận hành của Ngài trong thế gian này tiếp tục đem lại những thay đổi để chúng ta được hiểu biết và cải thiện tốt hơn. Cựu Ước tiết lộ cho thấy con người không thể vâng giữ luật pháp; do đó, Đức Chúa Trời đã dự bị một phương pháp tốt hơn - sự bày tỏ của Tân Ước cùng ân điển và lòng thương xót Ngài dành cho con người. Ngay cả ngày nay, Đức Chúa Trời vẫn đang hành động trong thế giới để đưa nó đến hồi chung kết với lời hứa dựng trời mới đất mới.
Điều này cũng vẫn đúng cho chúng ta, là những nhà lãnh đạo Cơ đốc. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta quyền tự do tiến lên phía trước để xây dựng Hội Thánh Ngài trên khắp thế giới. Dầu vậy, chúng ta không thể thỏa hiệp lời vô ngộ và không hề sai lạc của Đức Chúa Trời để nâng cao địa vị lãnh đạo của mình. Chúng ta đừng bao giờ để cho thế gian làm hoen ố những chân lý Tin Lành hay những địa vị thiêng liêng bên trong Hội Thánh cùng chức vụ của Hội Thánh. Chúng ta được truyền lệnh phải đem Tin Lành đến cho thế gian, nhưng không bao giờ được truyền lệnh để cho thế gian vượt lên trên Tin Lành. Chúng ta phải làm trọn Đại Mạng Lịnh trong phạm vi giới hạn những tiêu chuẩn Ngài đã định sẵn, đúng như Cứu Chúa đã ủy nhiệm. Nếu không phạm đến những giới hạn cần thiết này, thì quyền lãnh đạo của chúng ta có thể tiến lên phía trước để đem lại vinh quang cho Đức Chúa Trời.
Lý do thứ tư, hoàn toàn nằm ngoài quyền kiểm soát của chúng ta, ấy là một thế giới vô tận của chính trị. Bao nhiêu lần chúng ta lập ra những quyết định vì cớ một hành động chính trị trong giới thế tục? Đáng thương thay, chính trị có thể bước vào trong chức vụ của hội thánh và làm bại hoại những vị lãnh đạo giỏi. Đấy là lời tường thuật đáng buồn, nhưng cấp lãnh đạo không bao giờ có thể giữ mình toàn tách biệt hay giữ tinh thần vô tư trước sự xâm lấn này. Đến một lúc nào đó, chúng ta phải đối diện với vấn đề này. Những nan đề, những hoàn cảnh khó khăn, và những mâu thuẫn cứ xuất hiện vì cớ thế giới chính trị hiện tại này. Nếu không phải đối diện với tình trạng luôn tồn tại này, đấy chẳng phải là một thế giới hầu như hoàn hảo sao?
Điều ấy đã bắt đầu từ trong vườn Êđen. Đức Chúa Trời đã dựng nên một môi trường hoàn hảo với một cặp vợ chồng hoàn hảo. Ađam và Êva được thông công và trò chuyện trực tiếp với Đức Chúa Trời. Khi đọc câu chuyện trong sách Sáng Thế Ký, chúng ta thấy không thiếu thứ gì cả. Nhưng điều gì đã xảy đến cho tình trạng đẹp đẽ này? Con rắn đã xuất hiện và thuyết phục người nam cùng người nữ kia rằng họ có thể nhận được một tình trạng tốt hơn. Qua trò chơi chính trị, nó đem cho họ những lời hứa và hy vọng hão huyền, khiến họ sa ngã và phạm tội. Và điều này mở đường cho những chương trình nghị sự và đề án chính trị miên man bất tận. Bản tánh của con người sa ngã vẫn y như nhau trên toàn thế giới. Để được chấp nhận, hết thảy chúng ta sẽ có lúc nào đó cố lợi dụng tình huống để kiếm lợi cho riêng bản thân. Trong thế giới thực tiễn của chính trị, nhà chính trị cố thuyết phục chúng ta rằng đường lối của họ là phương pháp tốt nhất để lãnh đạo chính quyền hay xã hội. Còn trong thế giới thường ngày, chúng ta thấy chính trị có mặt trong mỗi bước đi của cuộc đời. Người ta tìm cách điều khiển, giật dây một tình huống nào đấy để nhằm đem lại lợi thế cho mình.
Điều này há không xảy ra trong hội thánh sao? Tôi nghĩ đến mười hai sứ đồ của Chúa Jesus. Có đôi lần, chúng ta thấy họ tranh cãi xem ai sẽ đứng đầu trong nước Đức Chúa Trời. Nói cách khác, họ đang chơi trò chính trị thuộc linh để dành lợi thế. Giuđa Íchcariốt nổi bật lên như một nhà chính trị đáng chú ý nhất. Ông khát khao địa vị đặc biệt trong một vương quốc chính trị, mong Chúa Jesus giải phóng dân Do Thái khỏi ách nô lệ của người Lamã. Khi Đức Chúa Jesus không giải phóng vương quốc chính trị, Giuđa đã đến với nhà cầm quyền và phản bội Chúa Jesus để lấy ba mươi nén bạc.
Người lãnh đạo Cơ Đốc đừng để mình bị tác động hay bị thuyết phục bởi thế gian hay nền chính trị của giáo hội. Thật khó để bỏ qua nạn dịch không ngừng này trong Hội Thánh, nhưng điều này hết sức cần thiết. Để tìm sự ủng hộ của con người, người ta có thể sa bẫy này. Người lãnh đạo phải luôn luôn nhớ mình được kêu gọi không phải để làm đẹp lòng người, nhưng để tôn vinh Đức Chúa Trời. Và mỗi quyết định hay hành động đều phải phản ảnh cam kết này, bất luận người ta có mến mộ cam kết ấy hay không đi nữa.
Lý do thứ năm cũng không kém phần quan trọng, đó là phải xét đến sự can thiệp thiên thượng. Vì được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời nên Ngài muốn mỗi chúng ta phải thờ phượng và tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời và với nhau. Sự thỏa mãn lớn nhất trong đời sống chúng ta sẽ đến khi vâng lời Chúa và bước đi theo đúng chương trình của Ngài. Đôi khi, chúng ta biết mình không làm theo ý muốn trọn lành của Ngài - đó là một sự soi sáng thiên thượng; và bởi đó, Đức Chúa Trời đưa chúng ta đến một kế hoạch hay một phương hướng mới.
Đức Chúa Trời có thể thay đổi những kế hoạch của chúng ta, kể cả cấp lãnh đạo, thông qua sự cầu nguyện hay hoàn cảnh. Nhiều khi Đức Chúa Trời sẽ dùng những cá nhân để giúp chúng ta trên bước đường sự sống. Đó là lý do vì sao điều quan trọng cho người lãnh đạo là phải luôn lắng nghe dân sự Chúa. Người lãnh đạo không có được hết mọi ý hay; trái lại, Đức Chúa Trời dùng toàn thể dân sự Ngài để đạt được mục tiêu Ngài trong những đời sống cá nhân, trong công tác của hội thánh Ngài, và trong sự chung kết thế gian này. Đức Chúa Trời không phân biệt đối xử. Ngài xử dụng cả những lãnh đạo Cơ Đốc lẫn những lãnh đạo phi Cơ Đốc để đạt mục tiêu tối hậu cho thế giới hiện tại (RoRm 13:16).
Tôi lại muốn dùng ví dụ về đời sống của Môise. Khi dẫn dân sự ra khỏi xứ Êdíptô, ông đã ngập trong những nan đề và vấn đề tranh cãi của dân sự. Những buổi họp của ông đã trở nên quá nặng nề đến nỗi không thể nào đối diện nổi với tất cả mọi áp lực. Giêtrô, ông nhạc khôn ngoan của ông, đã khuyên một ý rất hay về cách để giải quyết nan đề lãnh đạo của mình. Sao lại không ủy thác trách nhiệm cho những lãnh đạo được chọn (XuXh 18:1-27)? Môise chỉ cần xử những vụ lớn, và điều đó giúp ông rảnh tay thực hiện vai trò lãnh đạo quan trọng này.
Nhiều khi tôi thấy mình bị tác động bởi thế gian hay bởi lắng nghe những ý thích thất thường của con người. Những phương hướng, ý kiến đó hẳn đã dễ dàng kéo tôi đi xa ý muốn Đức Chúa Trời. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài đã đặt dân sự Ngài trên đường lối tôi đúng lúc để giữ tôi tiếp tục đi đúng đường lối Ngài. Người lãnh đạo phải cẩn thận để không đi chệch hướng; người lãnh đạo phải lắng nghe sự can thiệp của Chúa. Điều này rút cuộc sẽ ngăn ngừa được biết bao nhiêu nan đề.
Lời Đức Chúa Trời xác định rõ ràng nan đề của con người, là nan đề đã có từ lúc bắt đầu tạo dựng thế gian. Nhờ mang hình ảnh Đức Chúa Trời mà chúng ta có khả năng tự suy nghĩ và ra những quyết định cho riêng mình. Nhưng mặc dầu được tạo dựng cách vinh diệu như thế, mỗi con người rốt cuộc đều đã xây bỏ kế hoạch toàn hảo của Đức Chúa Trời. Sự chống nghịch công khai với mục đích của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta được gọi là tội lỗi, và nó khiến chúng ta mất sự vinh hiển và niềm vui của hình ảnh Ngài trong chúng ta. Nói cách khác, cả điều ác lẫn tội lỗi đều ngăn chúng ta đạt đến những mục tiêu bổ ích của đời sống. Và cụ thể hơn, tình trạng này còn phá vỡ cơ cấu lãnh đạo cùng tiến trình ra quyết định trong cả những lãnh vực chung và riêng của đời sống.
Đức Chúa Trời bao giờ ép chúng ta đi theo đường lối Ngài, nhưng Ngài đưa đường lối ấy ra như một phương án tùy chọn thỏa mãn nhất mà đời sống có thể cung cấp. Và để giải quyết nan đề của con người, Đức Chúa Trời đã ban sự lãnh đạo cá nhân, đề ra những tiêu chuẩn, đưa ra những điều kiện, và mở ra những cơ hội mới. Thật kỳ diệu thay, thật khoan nhân, yêu thương, và thương xót thay, dẫu chúng ta không xứng đáng, nhưng Đức Chúa Trời đã công khai ban sự khải thị đặc biệt về Đấng Thần Nhân, là Đức Chúa Jesus Christ. Từ bỏ sự vinh hiển Ngài, sống một cuộc đời trọn vẹn, Ngài đã phó chính mình Ngài để giải quyết nan đề tội lỗi của con người.
Sự Toàn Hảo Thiên Thượng:
Quay sang khía cạnh thiên thượng, chúng ta thấy một bức tranh hoàn toàn khác, Thật thích thú khi thấy cách Tác Giả thiên thượng mở đầu câu chuyện lịch sử con người và phương hướng tiếp diễn của câu chuyện ấy. Sáng Thế Ký, cuốn sách của những sự bắt đầu, đã vang lên những lời này: “Ban đầu.” Văn mạch tập trung vào sự xuất hiện việc tạo dựng thế giới và con người, không tranh luận gì đến sự hiện hữu của Đức Chúa Trời. Thật ra, toàn bộ Kinh Thánh - từ đầu cho đến cuối - đều thừa nhận sự hiện hữu đời đời của Đức Chúa Trời. Và Kinh Thánh không hề nghi vấn sự thánh khiết hay sự toàn hảo của Đấng Tạo Hóa.
Mỗi cá nhân một là chấp nhận, hai là bác bỏ tính xác thực của Kinh Thánh. Không thể chứng minh Kinh Thánh bằng phương pháp khoa học hiện đại, nhưng phải công nhận bởi đức tin của bản thân mình. Đức Chúa Trời ban quyết định này như là một phương án để con người chọn mà quyết định, để đáp ứng những nhu cầu sâu xa nhất của con người. Nhưng Tác Giả thiên thượng không giảm bớt hay thay đổi những lẽ thật của Ngài sao cho phù hợp với những khát vọng bề ngoài của con người. Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ thỏa hiệp Lời Ngài trước bất kỳ sự bác bỏ nào của con người hay trước sự xem nhẹ giá trị sự sống của con người. Dầu con người được quyền tự do không tin Đức Chúa Trời và Lời Ngài, nhưng con người không thuyết phục được Đức Chúa Trời hành động giống như cách của mình.
Đây là thuộc tánh tuyệt vời trong sự lãnh đạo của Chúa Jesus trong bối cảnh thế giới con người. Rõ ràng, Ngài là Đức Chúa Trời từ cõi đời đời đến cõi đời đời, nhưng đã chứng minh Ngài hoàn toàn là Đức Chúa Trời qua đời sống vô tội của Ngài. Chúa Jesus không một lần nào quyết định cách ích kỷ đối với thế giới quanh Ngài, trong sự dạy dỗ các môn đồ, hay trong khi làm trọn mục đích của Ngài là chết trên thập tự giá. Ích kỷ có nghĩa sẽ thỏa hiệp kế hoạch và thẩm quyền thiên thượng. Nếu Ngài sống ích kỷ thì chắc đã hủy hoại toàn bộ quyền lãnh đạo của Đức Chúa Trời và phá hủy toàn bộ những gì đã được định trước từ cõi đời đời trước khi sáng thế.
Do vậy, ngay cả trước lúc tạo dựng thế gian, Đức Chúa Trời đã định kế hoạch cho thế giới, và Ngài biết chính xác toàn cõi tạo vật sẽ phải làm gì. Và ngay cả trước khi con người phạm tội, sự biết trước của Đức Chúa Trời đã chỉ định và định trước sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế. Đức Chúa Trời viết những tin tức tốt lành về sự cứu rỗi trong cả sự khải thị tổng quát (chính cõi tạo vật) lẫn trong sự khải thị đặc biệt (công tác của Đấng Christ). Và tin tức ấy nói cụ thể cho chúng ta biết trong Rôma đoạn 1 rằng không người nào có cớ biện hộ trước mặt Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời buộc mỗi cá nhân phải khai trình trước mặt Ngài, và mỗi cá nhân có cơ hội vô tận trong đời này để biết Ngài. Theo giáo lý về ý chí tự do, con người chọn chấp nhận hoặc chọn bác bỏ kế hoạch thiên thượng về sự cứu rỗi và hy vọng.
Những việc làm của sự trọn lành thiên thượng binh vực cho Đức Chúa Trời (không phải vì cớ Đức Chúa Trời cần được binh vực), nhưng con người không bao giờ có thể đổ thừa cho Đức Chúa Trời về tình trạng nan giải hiện tại của mình hay về sự phán xét cuối cùng. Đức Chúa Trời ban hy vọng tức thời và hy vọng đời đời cho nhân loại thông qua kế hoạch cứu rỗi của Ngài. Kinh Thánh không hề dạy giáo lý sự cứu rỗi phổ thông. Phổ thông thuyết nói rằng mọi người rốt cuộc đều sẽ được cứu và được giải thoát. Rõ ràng, mỗi người phải tự quyết định là chấp nhận hay chối bỏ Đức Chúa Trời. Khi chối bỏ Đức Chúa Trời cùng kế hoạch cứu chuộc của Ngài, con người đã tự định tội chính mình. Đức Chúa Trời chỉ công bố sự đoán xét cho sự chối bỏ Ngài trọn đời này.
Mục Đích Của Đấng Christ:
Khi xem xét thực trạng bản chất con người và chương trình thiên thượng để giải quyết tình trạng nan giải ấy, thì trọng điểm của Cơ Đốc luận có thể được nhìn thấy rõ ràng trong lời vô ngộ và không sai lạc của Đức Chúa Trời, cả trong những chân lý của Cựu Ước lẫn Tân Ước. Màn kịch lịch sử con người diễn ra trước mắt chúng ta trong kế hoạch được ứng nghiệm kỹ càng của Đức Chúa Trời suốt bao thế kỷ. Bối cảnh cơ bản này dẫn đến mục đích đầy trọn của đời sống, chức vụ và sự cứu chuộc của Đấng Christ. Và không thể hiểu lầm đây chỉ là một tôn giáo khác nữa của thế gian nhằm lấp đầy khoảng trống tâm linh của con người. Trái lại, nó đã trở thành nếp sống cá nhân trong mỗi tín đồ, và đem lại hy vọng lớn nhất - sự sống đời đời trước mặt Đức Chúa Trời hằng sống.
Vì vậy, từ biên niên sử của cõi đời đời, chúng ta thấy Đức Chúa Jesus Christ chúng ta đã chuẩn bị cho việc Ngài lìa thiên đàng bước vào thế giới tàn bạo, và phó chính mình Ngài làm của lễ chuộc tội. Kế hoạch tuyệt vời này chỉ có thể là ý tưởng của Đức Chúa Trời, và chỉ do Ngài khởi xướng. Chúng ta thật khó để hiểu hết làm sao một Đấng như thế lại lìa nơi vinh hiển cao sang, mang lấy thân xác con người, sống trong những hoàn cảnh tầm thường, và rồi cuối cùng phó chính mình Ngài để đền chuộc tội lỗi. Chúng ta phải đơn sơ chấp nhận điều này bởi đức tin. Đức tin cuối cùng sẽ chứng tỏ đây là một thực tiễn. Đây vẫn là một lẽ mầu nhiệm mãi cho đến khi chúng ta gặp Ngài mặt đối mặt; dầu vậy, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự khải thị đủ để biết Ngài và sống cho Ngài. Trong khi các tôn giáo của thế gian cho là họ đã cho biết cách để tìm gặp được Đức Chúa Trời, thì đức tin Cơ Đốc trình bày điều ngược lại. Đức Chúa Trời đã tìm gặp con người thông qua công tác trung tín của Con Ngài.
Thật rõ ràng và sinh động, bốn sách Tin Lành - Mathiơ, Mác, Luca và Giăng - tiết lộ về đời sống và chức vụ của Đấng Christ, và nói rằng Ngài làm trọn ý muốn của Đức Chúa Cha. Giăng 17, lời cầu nguyện thật của Chúa, là lời cầu nguyện do chính Chúa Jesus dâng lên Đức Chúa Cha ngay trước khi chịu đóng đinh trên thập tự giá, nói rõ rằng Chúa Jesus đã làm trọn công tác của Cha và sẽ tiếp tục làm trọn trong công tác của Chúa Jesus rồi. Mục đích thực sự của Đấng Christ trong lịch sử loài người là gì?
1. Từ lúc ban đầu, Đức Chúa Trời hứa ban Đấng Mêsia đến (SaSt 3:15).
2. Đức Chúa Trời đã có chủ định và quyết tâm bày tỏ thông qua tuyển dân đặc biệt của Ngài - là dân Ysơraên - để cho thấy con người không thể tuân giữ luật pháp. Sự khải thị và lịch sử Cựu Ước bao trùm suốt quãng thời gian sáu ngàn năm này.
3. Đức Chúa Trời không bỏ mặc con người trong tuyệt vọng. Các tiên tri lớn và tiên tri nhỏ trong Cựu Ước báo trước sự xuất hiện của Đấng Mêsia để cứu chuộc thế gian.
4. Đấng Christ là Đấng Mêsia, là Cứu Chúa của thế gian. Đức Chúa Jesus đã hoàn tất trọn vẹn ý muốn của Đức Chúa Cha bằng cách đến thế gian làm Đấng Thần Nhân và chịu chết trên thập tự giá để cứu chuộc con người tội lỗi. Trong lần đầu Ngài đến thế gian, Ngài đến để chịu chết. Câu chuyện không kết thúc với sự chết của Ngài. Đức Chúa Jesus Christ đã sống lại từ trong kẻ chết, như Ngài đã báo trước với các môn đồ; và rồi Ngài về trời để ở với Đức Chúa Cha.
5. Đang khi Ngài vắng mặt, Đức Thánh Linh đã đến để yên ủi tín đồ và gây dựng Hội Thánh. Chúng ta có sự khai sinh Hội Thánh Tân Ước trong Côngvụ 2. Và Hội Thánh vẫn đang trong tiến trình xây dựng mãi đến khi Chúa chúng ta trở lại để cất Hội Thánh lên khỏi thế gian này.
6. Đức Chúa Jesus đã sai phái và ủy nhiệm các môn đồ rao giảng Tin Lành cho toàn thế gian và môn đồ hóa. Mạng lịnh này vẫn hiệu lực cho đến khi Ngài tái lâm.
7. Là Đấng Tạo Hóa và Sở Hữu Chủ của thế gian này, Đấng Christ hằng sống sẽ xét đoán các dân và các nước trên thế gian. Chúng ta thảy đều phải khai trình trước ngai đoán xét của Đấng Christ. Tín đồ Cơ Đốc đã được tha thứ tội lỗi mình. Chúng ta sẽ không bị đoán xét về tội lỗi mình, nhưng về những việc mình đã làm hoặc không làm cho Cứu Chúa. Người chưa được cứu sẽ bị phán xét về những tội không được tha, vì không chịu tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của bản thân, và vì tên họ không được ghi trong Sách Sự Sống.
8. Đức Chúa Jesus sẽ đến trần gian này lần thứ nhì trong khải hoàn để cai trị với tư cách Vua muôn vua và Chúa muôn chúa. Ngài là Đấng cai trị chân thật và công bình duy nhất của thế gian này. Không ai có thể phủ nhận Ngài và địa vị Ngài trong lịch sử thế gian. Và Ngài sẽ thiết lập một môi trường trên đất mà Đức Chúa Trời đã dự định cho con người từ lúc ban đầu.
9. Đức Chúa Trời sẽ dựng nên trời mới và đất mới trong suốt cõi đời đời. Dầu Đức Chúa Trời cho phép điều ác tồn tại hiện nay, nhưng sẽ không mãi tiếp tục. Đời sống hiện tại sẽ quyết định địa vị của chúng ta trong cõi đời đời. Những gì chúng ta đối xử với Đức Chúa Trời trong đời này sẽ quyết định chung cuộc địa vị chúng ta trong nước đời đời. Lời rủa sả thế gian này sẽ bị dẹp bỏ, và sẽ không có buồn lo hoặc đau đớn trong thiên đàng.
10. Tùy thuộc vào quyết định cá nhân của mỗi người về mục đích và kế hoạch của Đức Chúa Jesus mà một cá nhân hoặc sẽ được ở trong thiên đàng hoặc ở địa ngục. Chúng ta có những lời tuyên bố rất trực tiếp về địa vị đời đời. Và Lời Đức Chúa Trời cho biết cả hai tình trạng này đều là những tình trạng có ý thức. Người được cứu sẽ biết mình đang ở trước mặt Đức Chúa Trời và được vui hưởng mối thông công với Đức Chúa Trời và với nhau. Người không được cứu sẽ có ý thức đời đời trong địa ngục, biết rằng mình không có Đức Chúa Trời và đang gánh chịu hậu quả vì đã chống nghịch Ngài. Giáo lý “giấc ngủ của linh hồn” vẫn là xa lạ đối với Kinh Thánh, và không được hậu thuẫn thích đáng từ sự khải thị của Ngài. Mục đích của Đấng Christ đã được trình bày rõ trong ý muốn và kế hoạch thiên thượng cho thế gian này. Ngày nay, Đức Chúa Trời đang hoàn tất những chi tiết cuối cùng trong tác phẩm đặc biệt của Ngài. Ngài ban cho con người để nhận lãnh và được sự sống đời đời. Nó có thể bị đích thân chối bỏ; nhưng đến cuối cùng, nó sẽ không bị phủ nhận. Ngay từ đầu lịch sử thế giới, chúng ta có thể nhìn thấy tư cách lãnh đạo oai vệ của Đức Chúa Jesus Christ. Ngài không bao giờ xao lãng vai trò lãnh đạo trong công chuyện của con người. Sự lãnh đạo này bắt đầu từ kế hoạch đời đời, sự tạo dựng thế gian, việc Ngài đích thân tham dự vào đời sống con người, và sự chung kết lịch sử cứu chuộc của Ngài. Sự lãnh đạo của Ngài bắt đầu từ cõi đời đời và kết thúc với cõi đời đời. Nói cách khác, Ngài không bao giờ từ bỏ địa vị uy quyền của một Đức Chúa Trời thánh khiết và công nghĩa.
Tinh Thần Lạc Quan
Câu Kinh Thánh Chìa Khóa:
Khi đã hiểu mục tiêu chung thiên thượng và đặt vào đúng bối cảnh, thì chương trình thuộc linh này được đưa thế nào vào đời sống bạn và đời sống tôi? Đức Chúa Jesus Christ đã từ bỏ hết vinh hiển Ngài, không giữ lại chút chi, để đến và chịu chết thay chúng ta trên thập tự giá. Ngài không hề nghĩ đến mình một lần nào cả, nhưng đã tự nguyện phó chính Ngài để chuộc tội lỗi của chúng ta, chứ không phải tội lỗi của Ngài. Tương tự như vậy, Chúa chúng ta yêu cầu chúng ta hãy phó dâng đời sống mình cho Ngài, đầu phục ý chỉ và mục đích của Ngài. Nếu không có sinh tế trọn vẹn này, chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy niềm vui và hy vọng thật trong đời.
Những chuyến đi quanh thế giới đã thức tỉnh những giác quan của chính tôi trước những thực trạng mà rất nhiều mọi người không bao giờ thấy được. Họ biết chúng tồn tại, nhưng chưa bao giờ hiểu trọn chúng. Người ta thường hỏi xem tôi đã đi đến thắng cảnh nổi tiếng này hay đến điểm du lịch kia chưa. Trừ khi tôi có thì giờ rảnh, và hiếm hoi lắm! Tôi không đi để du lịch. Tôi đi để thi hành chức vụ; và như vậy tôi được đặc ân nhìn thấy những con người và những nền văn hóa thực thụ. Tôi dành thì giờ ở với dân sự Đức Chúa Trời, thờ phượng, thông công và thi hành chức vụ cùng với họ. Do đó, tôi đến để xem cuộc sống “thật” và bắt đầu hiểu được sự dâng mình và sự tận tâm của họ, bất chấp những hoạn nạn và thử thách lớn. Và tôi tuyên dương đức tin không nao núng của họ nơi Đấng Christ giữa những giông tố cuộc đời. Những từng trải của tôi thật quá nhỏ bé so với bước đường đồng đi cùng Đức Chúa Trời của họ.
Câu Kinh Thánh chìa khóa cho sự lãnh đạo Cơ Đốc xuất sắc đã trở thành một trong những câu ưa thích nhất của tôi: “Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!” (GaGl 6:14). Nói ngắn gọn, bạn và tôi không có gì trong đời ngoài ra thập tự của Đức Chúa Jesus Christ. Và toàn bộ tiêu điểm của đời sống, những quyết định và những cam kết của chúng ta phải tập trung vào biến cố vinh diệu này trong lịch sử thế giới. Dầu chúng ta có uy tín, địa vị và quyền lực trong đời này, thì điều đó cũng không có ý nghĩa gì trong cõi đời đời nếu không có Ngài. Việc tích lũy của cải, giàu có trần gian này sẽ không có giá trị gì trong đời hầu đến. Nếp sống và công tác lãnh đạo tốt của Cơ Đốc nhân đều tập trung vào một chủ đề có giá trị trong cõi đời nầy và trong cõi đời đời, tức là thập tự giá của Đức Chúa Jesus Christ. Không có Đấng Christ và công tác Ngài, chúng ta sẽ không có sứ điệp quan trọng nào để đem đến cho người thế gian. Đức Chúa Jesus Christ chịu đóng đinh, đã sống lại và sẽ trở lại là điều không bao giờ được phép thỏa hiệp. Sứ điệp vinh diệu duy nhất cho thế giới Cơ Đốc xuất hiện trong thập tự giá của Đấng Christ.
Thứ nhì, cam kết này - đặc biệt trong vai trò lãnh đạo - đòi hỏi sự đóng đinh trên thập tự giá hay sự chết đối với thế gian. Giới Cơ Đốc và giới thế tục là hai thái cực của nhau. Nhưng quan trọng hơn, giới thế tục sẽ không bao giờ hiểu được quyền năng của Tin Lành trong một đời sống được biến đổi hay trong cam kết đầy hy sinh của đời sống đó với Tin Lành. Dầu vậy, kiến thức thế gian này trở nên ngày càng kém quan trọng khi tín đồ Đấng Christ ngày càng đến gần với Đức Chúa Trời hơn. Điều gì đã thật sự xảy ra? Tín đồ không nhất thiết phải dốc hết túi mình để rồi sống như một kẻ ăn mày, nhưng toàn bộ cuộc đời người ấy tập trung làm theo ý muốn trọn vẹn của Đức Chúa Trời. Và người này trở thành một quản gia giỏi về các ơn phước từ Đức Chúa Trời, bao gồm mọi của cải vật chất nữa. Chúng ta càng dâng hiến cho Đức Chúa Trời, Ngài càng ban dư dật hơn cho chúng ta. Đây là một nguyên tắc rất khó giải thích, nhưng kinh nghiệm cá nhân sẽ cho mỗi chúng ta biết nguyên tắc ấy đang thật sự vận hành.
Và thứ ba, người không tin Chúa sẽ thấy sự khác biệt và tự tách mình khỏi tín đồ. Quay lại với sự lãnh đạo Cơ đốc, đây có thể là con đường cô đơn. Trong chức vụ tại thế của Chúa Jesus, chúng ta thấy Ngài đang đi trên một con đường rất cô đơn. Ngài có nhiều kẻ thù chỉ trích thẳng thừng từ bên ngoài, mà chủ yếu là từ phe tôn giáo. Các môn đồ thường hiểu lầm Ngài và bỏ rơi Ngài trong giờ phút tăm tối nhất của Ngài. Dầu vậy, Chúa Jesus đã làm trọn ý chỉ của Đức Chúa Cha và nêu tấm gương trọn lành cho chúng ta noi theo. Những người lãnh đạo của Đức Chúa Trời thường bị hiểu lầm, bị chống đối và bị chỉ trích, nhưng điều này sẽ không bao giờ ngăn chúng ta rao giảng chân lý của Đức Chúa Trời cách không thỏa hiệp.
Tinh thần lạc quan thuộc linh phải dư dật trong cả những giờ giấc thuận lợi lẫn nghịch cảnh. Đức tin là bí quyết để mở cánh cửa; và cuối cùng, cánh cửa sẽ được mở cho chúng ta chiêm ngưỡng chính sự hiện diện của Ngài. Kinh Thánh cho chúng ta rất nhiều lời khuyên để đừng mỏi mệt sờn lòng trong công việc Chúa. Chúng ta đừng bao giờ bỏ cuộc, ngay cả giữa những cơn bão tố kinh khiếp nhất của đời. Chúng ta giống như những con thuyền giữa biển khơi bão tố. Thủy thủ đoàn sẽ làm hết khả năng mình hầu đưa thuyền đến bến an toàn. Họ biết rằng đến đúng lúc bão tố sẽ tan; do đó, họ làm hết sức để lèo lái và đưa con thuyền đến môi trường an toàn hơn. Bão tố cuộc đời sẽ nhanh chóng tan đi, bạn và tôi sẽ được đến bến cảng của an nghỉ bên chân Chúa Jesus.
Sự Xác Minh Của Bản Thân:
Nhưng một lần nữa điều này dẫn đến một câu hỏi quan trọng khác nữa. Làm sao chúng ta biết Tin Lành là chân lý? Có rất nhiều người chưa tin Chúa, rất lạc quan về đời này, nhưng cõi đời đời của họ sẽ là cõi tuyệt vọng và hủy diệt. Nội một mình quan điểm lạc quan không thôi thì chưa đem lại sự lãnh đạo tốt. Bạn có thể rất lạc quan rằng sẽ thắng cuộc chơi của đời nhưng cuối cùng vẫn thua.
Trước hết, chúng ta có chân lý khách quan. Chân lý này đã được trình bày rõ, có thứ tự, và hoạch định kỹ trong Lời Đức Chúa Trời, là Kinh Thánh. Nhưng những chân lý đời đời này đưa ra một nan đề lớn cho thế giới con người đầy nhạy cảm này. Không thể nào đem những sự khải thị của Đức Chúa Trời để chứng minh chúng trong thế giới khoa học. Khoa học giải quyết những vấn đề thuộc vật lý, thuộc vật chất. Vì tính bao la của Đức Chúa Trời và sự những sự khải thị của Ngài, nên hoàn toàn không thể giới hạn vào trong ống nghiệm được. Do đó, chúng ta phải lấy đức tin tiếp nhận Lời Ngài và tin những người đã cẩn thận viết ra những lời lẽ và kinh nghiệm dưới sự dẫn dắt và chỉ dạy kỹ càng của Đức Thánh Linh. Chúng ta không cớ gì để tranh cãi lẽ thật trong Kinh Thánh thiên thượng. Nhiều người đã cố gắng bác bỏ Kinh Thánh, nhưng họ không tìm được lý do hợp lệ nào để bác bỏ tính xác thực và thực tại của Kinh Thánh.
Thứ nhì, điều này dẫn đến lẽ thật chủ quan. Dân sự Đức Chúa Trời đã phục vụ với tư cách chứng nhân trực tiếp cho thẩm quyền và năng quyền của Kinh Thánh. Bởi đức tin cá nhân, chúng ta dâng đời sống mình để tin lẽ thật khách quan là một thực tại của sự sống. Và rất nhiều nhà lãnh đạo là tín đồ Cơ Đốc đã chịu tuận đạo vì cớ Tin Lành. Thậm chí ngày nay, chúng ta thấy rất nhiều tín đồ giữ vững đức tin giữa lúc bắt bớ và khó khăn kinh khiếp. Nếu Tin Lành không đúng, chúng ta sẽ chết trong vô ích. Và bạn cùng tôi - là những người nắm giữ quyền năng của Tin Lành - đang sống trong tuyệt vọng. Sau khi đã nêu những tin xấu có thể xảy ra cho chúng ta, thì chúng ta có thể xem đến mặt tích cực. Khi thừa nhận và tin Tin Lành là tuyệt đối đúng, thì điều tối hậu sẽ là vinh hiển và chiến thắng. Và sự mạo hiểm trong đời này sẽ đáng giá toàn bộ kinh nghiệm, quyết định, hành động và những thành tựu của chúng ta.
Không điều gì có thể xác minh được lẽ thật của Kinh Thánh ngoại trừ quyền năng của Đức Chúa Trời trong và qua bạn cùng tôi. Những lập luận bên ngoài về tính độc đáo và để nhận diện nó đều sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có từng trải bề trong. Và Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ ép buộc để thay đổi cuộc đời, Ngài sẽ luôn luôn chờ đợi đến khi người ấy sẵn lòng thuận ý tiếp nhận Ngài. Người lãnh đạo Cơ Đốc phải ghi nhớ điều này, và dâng mình cho chức vụ rao giảng lẽ thật, chứ không phải để binh vực lẽ thật ấy bằng cách lập luận hay những cớ biện hộ bất tận và vô giá trị. Có những thời điểm đặc biệt mà chúng ta cần phải binh vực Lời của Đức Chúa Trời để cứu một số người, nhưng đa số công tác của chúng ta đều sẽ tập trung vào Chúa Jesus Christ đã chịu đóng đinh, đã sống lại và sẽ trở lại.
Chiến Thắng Tích Cực:
Nhưng chúng ta sẽ phải sống như thế nào? Từng trải Cơ Đốc đem lại cho chúng ta sự sống dư dật từ sự tái sinh (sự cứu rỗi) trong Đức Chúa Jesus Christ cho đến khi chúng ta bước vào cửa thiên đàng (sự làm cho vinh hiển). Giữa khoảng thời gian đó, chúng ta phải được nên thánh từng ngày, có nghĩa là lớn lên trong sự khôn ngoan, trong ân điển và trong sự thông biết Cứu Chúa. Chúng ta không bao giờ đạt đến tình trạng toàn hảo trong đời này, nhưng cứ lớn lên từng ngày. Với tinh thần cầu nguyện và trông đợi, đây sẽ là bước đường đồng đi ngày càng gần gũi hơn với Chúa, và là hình ảnh ngày càng giống Ngài hơn trong và qua chúng ta.
Cấp lãnh đạo của Hội Thánh Ngài không được miễn những yếu đuối, thử thách, tội lỗi và thất bại của con người. Người ta có thể nhanh chóng nhìn thấy con người thật của bạn và tôi. Họ sẽ nhanh chóng biết rằng chúng ta có cùng những chiến trận trong đời như họ gặp mỗi ngày. Và họ sẽ trông chừng xem chúng ta giải quyết thế nào trước những từng trải và nan đề khác nhau ấy.
Chúng ta sẽ liên tục nhìn thấy tấm gương lãnh đạo của Đức Chúa Jesus Christ trong sự tận tâm không nao núng để làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha và công bố chiến thắng cho những môn đồ trung tín của Ngài. Chúng ta có hơn ba trăm lời tiên tri nói về Chúa Jesus Christ và công tác chuộc tội của Ngài. Cựu Ước nói Ngài là Đấng Mêsia hay “Đấng Chịu Xức Dầu.” Sang Tân Ước, chữ Hylạp chỉ về Đấng Christ, “christos”, đã trở thành chữ đồng nghĩa với từ ngữ của Cựu Ước. Đấng Mêsia là Đấng Christ, và Đấng Christ là Đấng Mêsia. Đức tin Cơ Đốc không bao giờ được phép thỏa hiệp giáo lý và niềm tin tối quan trọng này.
Lời tiên tri đầu tiên về sự hiện đến và công tác của Đấng Mêsia trở thành một lời hứa của Đức Chúa Trời trong vườn Êđen sau khi con người sa ngã. Tình trạng gian ác, tội lỗi của con người cần phải có một của lễ chuộc tội để chúng ta được trở lại mối tương quan công nghĩa với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã dự bị thông qua sự hiện đến của Đấng Mêsia, được bày tỏ đầy đủ trong các sách Tin Lành của Tân Ước. Và Đức Chúa Jesus Christ đã làm ứng nghiệm mọi lời tiên tri về Đấng Mêsia và sứ mạng Ngài cho thế gian. Tương tự, Ngài sẽ làm ứng nghiệm mọi lời tiên tri trong Cựu Ước và Tân Ước về việc thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời và sự chung kết thế gian hiện tại.
Một trong những đoán xét giáng trên con rắn lừa dối kia chính là dòng dõi người nữ sẽ dày đạp đầu nó. Chữ Hêbơrơ chỉ về “đầu” ra từ một chữ gốc có nghĩa là “làm rúng động.” Đầu vẫn là phần dễ bị rúng động nhất trong cơ thể. Vì là phần trên cùng có chứa khuôn mặt và não, hàm ý của Kinh Thánh đã xem đây là trung tâm của kinh nghiệm giác quan, có nghĩa là thị lực và thính lực. Suy nghĩ không phải là mối quan tâm chính ở đây. Điều quan trọng hơn, vết thương của đầu cho thấy sự thất bại hoàn toàn. Và chặt đầu chính là sự sỉ nhục lớn nhất (Thi Tv 68:21; Mac Mc 6:14-28). Chúng ta có ví dụ trong Cựu Ước về việc vua Đavít đánh bại Gôliát bằng cách đánh bị thương và chặt đầu. Sự đóng đinh Đức Chúa Jesus Christ đã đánh bại quyền lực của Satan và sự tối tăm một lần đủ cả. Dầu Kẻ Ác ngày xưa và điều ác vẫn được phép tồn tại trong đời này, nhưng số phận chúng nó đã được quyết định bởi công tác của thập tự giá rồi .
Một trong những bí quyết quan trọng nhất cho sự lãnh đạo Cơ Đốc thành công và kết quả chính ở chỗ cách chúng ta xử lý đời sống. Cuộc chiến của sự sống đã được chiến thắng rồi. Với sự chết trên thập tự giá, Đức Chúa Jesus Christ đã thắng trận đại chiến này cho chúng ta. Satan, đạo binh thiên sứ của nó và thế gian đã bị đánh bại một lần đủ cả trong sự sống và quyền năng của Đức Chúa Jesus Christ cùng công tác chuộc tội của Ngài. Và người lãnh đạo Cơ Đốc phải luôn luôn tuyên rao chiến thắng này. Trong lúc dường như là tăm tối nhất trong giờ lãnh đạo, Cứu Chúa sẽ luôn có mặt để khích lệ và làm vững lòng đầy tớ Ngài.
Như vậy, khi biết lẽ thật trọng đại này rồi thì chúng ta phải giải quyết những trận chiến hằng ngày của đời sống. Mỗi ngày, chúng ta phải vác thập tự giá mình và vác chúng vì cớ Tin Lành. Đức Chúa Trời đã hứa rằng Ngài sẽ không bao giờ lìa chúng ta hay bỏ chúng ta. Nhưng Ngài không bao giờ hứa cuộc đời sẽ dễ dàng cho chúng ta. Mỗi ngày đều là một ngày tốt lành; có ngày tốt hơn ngày khác. Bạn sẽ có những kinh nghiệm tốt lẫn xấu. Từng trải trên đỉnh núi không thể xuất hiện trước mắt nếu không qua những thung lũng hiện có kia. Chúng ta sẽ không có hoa hồng không gai, sứ đồ Phaolô đã học biết vui mừng trong những điều tích cực lẫn tiêu cực. Và ông đã tận dụng mỗi hoàn cảnh để làm việc vì ích lợi của Tin Lành và chức vụ mình.
Cũng vậy, bạn và tôi phải thấy sự nhơn lành của Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, và gây dựng nước Ngài trong cả những lúc thuận lợi cũng như nghịch cảnh. Cấp lãnh đạo giỏi sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn trong nghịch cảnh và trong chiến trận. Và cấp lãnh đạo giỏi tận dụng những giờ phút thuận lợi cho sự nghỉ ngơi và hồi phục hết sức cần thiết. Và với tinh thần cầu nguyện trong mỗi hoàn cảnh, Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng quyền lực của điều ác và tội lỗi.
Lối Ra:
Cộng Đồng Phổ Thông:
Dưới sự sáng tạo và uy quyền của Đức Chúa Trời, chúng ta thấy thế gian có rất nhiều cấp độ lãnh đạo khác nhau. Thứ nhất, Đức Chúa Trời sẽ ở đời đời trong địa vị và thẩm quyền của Ngài. Sự lãnh đạo thiên thượng sẽ không bao giờ thay đổi, vì không thể nào cải thiện sự toàn hảo được. Và từ sự toàn hảo thiên thượng này, chúng ta thấy một Đức Chúa Trời trong ba ngôi vị - Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Đức Thánh Linh. Và mỗi thành viên trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời có những trách nhiệm cụ thể rõ ràng để làm ứng nghiệm kế hoạch và mục đích của Đức Chúa Trời cho toàn cõi tạo vật. Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Chúa Trời đã ấn định một thời điểm cụ thể (chỉ một mình Đức Chúa Trời biết mà thôi - Mac Mc 12:32-33) để chấm dứt thế gian hiện tại này và khai mạc cõi đời đời trong tương lai.
Thứ nhì, kế hoạch đời đời trong quá khứ của Đức Chúa Trời bày tỏ cho thấy tạo vật thiên sứ có trật tự rõ ràng trên thiên đàng ngay cả trước khi lập nền thế gian (Thi Tv 148:2, 5). Các thiên sứ đã có mặt khi Đức Chúa Trời dựng nên thế gian và vui mừng về điều đó (Giop G 38:4-7). Thiên sứ học là một bộ môn Kinh Thánh rất bao quát, nhưng cuốn sách này không cho phép chúng ta thảo luận chi tiết. Chúng ta sẽ dành thời gian để xác lập tính thực tại và sự dự phần của thiên sứ vào công việc của loài người. Không cần phải lý luận gì hết, chúng ta vẫn có thể kết luận thiên sứ là những hữu thể thuộc linh (HeDt 1:14) và cao trọng hơn bản tánh con người (2:7). Họ có quyền năng và tri thức siêu nhiên (IISa 2Sm 14:17, 20; IIPhi 2Pr 2:11). Chúng ta phải hiểu rằng họ không có cùng những thuộc tánh như Đức Chúa Trời là toàn năng và toàn tri (Thi Tv 130:20; IITe 2Tx 1:7).
Chúng ta không có đủ mọi chi tiết, nhưng thật sự có đủ sự khải thị để biết những cấp độ lãnh đạo đã được vững lập và được xác định rõ. Ba ngôi Đức Chúa Trời là tối cao trên tạo vật này, và Lucifer (về sau được xác định là Satan trong Kinh Thánh) là thiên sứ có quyền cao nhất, chỉ đứng thứ nhì sau Đức Chúa Trời. Khi khao khát được lớn hơn hoặc được bằng với Đức Chúa Trời, nó đã bị ném xuống khỏi thiên đàng (SaSt 3:4, 14; Exe Ed 28:12-16; KhKh 12:4, 7-9).
Ngày nay, chúng ta có cơ cấu lãnh đạo giữa vòng các đạo binh thiên sứ cả tốt lẫn xấu. Các thiên sứ không sa ngã thì tôn kính Đức Chúa Trời và vâng theo ý muốn Ngài. Họ truyền ra những công bố (SaSt 8:9-10; LuLc 1:13, 30; 2:8-15) và cảnh cáo về nguy hiểm hầu đến (18:16-19:29; Mat Mt 2:13). Và họ cũng phục vụ như những tác nhân thiên thượng trong việc đắc thắng điều ác (SaSt 19:13; IISa 2Sm 24:16).
Satan cùng với đạo binh thiên sứ sa ngã còn lại tận tâm tận lực tiêu diệt công việc của Đức Chúa Trời trên thế gian này. Nó tìm cách ngăn không cho con người quay về với Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài. Và đừng bao giờ quên Satan luôn luôn bắt chước Đức Chúa Trời, ngay cả trong sự lãnh đạo lẫn trong tổ chức. Tính hiệu quả của điều ác trong suốt lịch sử loài người đã cho thấy thế lực mạnh mẽ trong cách quản lý và ảnh hưởng của Satan trên thế gian.
Đức Chúa Trời dùng kế hoạch và kiểu mẫu trong việc thiết lập thế giới loài người có nhiều cấp độ khác nhau để hoàn tất kế hoạch thiên thượng đặc biệt của Ngài và đem con người quay về đúng địa vị. Đức Chúa Trời lập và phê chuẩn những tổ chức nhất định để quản trị công chuyện của con người - các nhà nước chính trị, sự khai sinh hội thánh, định chế hôn nhân và trách nhiệm cá nhân. Mọi dân tộc và mọi cá thể, bao gồm cả những cơ cấu chủ quyền được Đức Chúa Trời chỉ định, đang và sẽ chịu trách nhiệm khai trình trước mặt Đức Chúa Trời.
Do được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, nên không thể phủ nhận được mục đích cội nguồn của con người. Con người được dựng nên để ca ngợi và thờ phượng Đấng Tạo Hóa. Gia đình loài người ràng buộc những người dân thường để kết hợp họ lại với nhau trong sự thông công với Đức Chúa Trời và với nhau. Cơ cấu này được vững mạnh khi con người chú ý đến Đấng Tạo Hóa, và bị suy yếu rất nhiều khi tách rời khỏi ý muốn và công việc của Đức Chúa Trời.
Chúng ta hoàn toàn có quyền xử dụng từ ngữ “gia đình” cho các dân tộc trên thế gian. Trong nguồn gốc thiên thượng, chúng ta được dựng nên như một cộng đồng phổ thông. Trước khi có tháp Babên (SaSt 11:1-32), con người sống tại một địa phương, nói một thứ tiếng và hiệp một với nhau vì lợi ích của nhân loại. Khi nhân loại bắt đầu tự tôn cao, Đức Chúa Trời đã tản lạc họ khắp thế gian thành những chủng tộc, nền văn hóa, ngôn ngữ và bối cảnh khác nhau. Babên có nghĩa là” lộn xộn.” Và cộng đồng phổ thông này sẽ không bao giờ hiệp một lại được nữa cho đến triều đại của Đấng Cai Trị công bình của thế gian này, là Đức Chúa Jesus, Vua muôn vua và Chúa muôn chúa.
Trước khi tiến sang hội thánh địa phương và cơ cấu thẩm quyền của hội thánh ấy, chúng ta không thể bỏ qua tình trạng con người phải khai trình với Đấng Tạo Hóa. Mỗi người đều phải chịu trách nhiệm khai trình với Đức Chúa Trời về những ý tưởng, lời nói và việc làm của mình. Nói cách khác, toàn thế gian không thể thoát khỏi bổn phận này (RoRm Ro3:19). Giới không tin Đấng Christ sẽ bị đoán xét về tội lỗi chưa được tha của mình (3:23). Nếu không công nhận ân điển và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ phải đứng trước ngai của Đức Chúa Trời và không có cớ gì để biện hộ. Vì các lãnh đạo của thế gian này được Đức Chúa Trời chỉ định, họ sẽ có trách nhiệm lớn hơn để khai trình với Đức Chúa Trời.
Ân điển và lòng thương xót của Đức Chúa Trời đã giải cứu những người tin Đấng Christ. Tuy nhiên, chúng ta sẽ chịu trách nhiệm khai trình, không phải về tội lỗi, nhưng về những việc lành của mình. Và chúng ta chịu trách nhiệm với Đức Chúa Trời về cá nhân mình (14:12) cũng như về tập thể (Eph Ep 4:25). Các lãnh đạo của Hội Thánh cũng sẽ có trách nhiệm lớn hơn về việc khai trình với Đức Chúa Trời (LuLc 12:48).
Hội Thánh Địa Phương:
Thế gian sẽ không bao giờ được hiệp một như ngày xưa lúc khởi đầu lịch sử. Đức Chúa Trời nhìn thấy hai chủng tộc trong thế gian này - giới tin Đấng Christ và giới không tin Đấng Christ. Tương tự, Ngài cũng sẽ nhìn thấy hai triết lý sống hiện hữu, tức là tư tưởng Cơ Đốc và tư tưởng thế gian. Cộng đồng Cơ Đốc tìm cách làm theo ý muốn Đức Chúa Trời qua nếp sống thuộc linh và làm chứng cho thế giới hư mất. Trọng tâm được nhắm vào nước đời đời hầu đến cùng ứng dụng thực tiễn trong đời hiện tại.
Trái lại, giới không tin Đấng Christ vẫn là kẻ thù với Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ, và tìm cách tiêu diệt những chứng nhân và lời chứng của chân lý. Giới này áp dụng phương pháp: “Hãy ăn, hãy uống, vì ngày mai chúng ta sẽ chết.” Và triết lý thế gian này suy nghĩ rất ít đến lãnh vực đời đời. Họ dồn hết nhiệt tình trong đời vào những tình trạng hiện tại.
Chúa Jesus đã kể ví dụ về một thương gia hay nông gia giàu có (LuLc 12:12-21). Để trả lời cuộc tranh cãi giữa hai anh em, Chúa Jesus đặt ưu tiên vào sự sống đời đời. Một người kia được mùa bội thu và phải xây những kho lớn hơn. Và rồi người này đã chọn nghỉ ngơi để hưởng cuộc sống. Giàu có hay nghỉ ngơi thanh thản không phải là sai, nhưng người này đã chọn triết lý sống của thế gian. Người này không suy nghĩ gì đến cõi đời đời, và đêm hôm ấy, Đức Chúa Trời đã bắt người phải khai trình. Đức Chúa Jesus kết luận rằng: “Hễ ai thâu trữ của cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời thì cũng như vậy.” (12:21).
Lời tiên tri đầu tiên được đề cập trước đây (SaSt 3:15) nói ra sao về tình trạng thù địch này? Satan, cha của điều ác và tội lỗi, sẽ khiến những kẻ theo nó gây hỗn loạn và tiêu diệt những người thuộc về Đức Chúa Trời. Hai triết lý này sẽ tiếp tục tồn tại mâu thuẫn nhau mãi cho đến kỳ tận thế. Trong cõi đời đời, chúng sẽ bị phân chia ra đời đời, và triết lý sống của đời này sẽ không còn đe dọa được triết lý sống Cơ Đốc nữa.
Như vậy, làm sao Đức Chúa Trời có thể hành động trong thế gian và thiết lập kế hoạch thiên thượng của Ngài? Tân Ước đưa ra một trật tự thuộc linh mới - là Hội Thánh. Sau chức vụ của Chúa Jesus trên đất, Ngài đã sai phái và truyền các môn đồ đi vào thế gian giảng Tin Lành. Cả bốn sách Tin Lành và sách Công Vụ Các Sứ Đồ nói về đại mạng lịnh này của Cứu Chúa. Do đó, Hội Thánh Cơ Đốc ra đi dưới quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Jesus. Nhờ có uy quyền lớn nhất trong thế gian này, nên hội thánh hoàn toàn có quyền trình bày Tin Lành cho thế gian. Và thế gian có quyền khước từ hay tiếp nhận chân lý của Đức Chúa Trời.
Chúng ta đã được truyền lịnh xây dựng Hội Thánh cho đến khi Ngài trở lại trần gian đón chúng ta về với Ngài. Mặc dầu gặp sự chống đối và bắt bớ liên tục, Hội Thánh vẫn làm chứng trong mỗi dân tộc trên thế gian. Ngay cả giữa những dân tộc đang tìm cách tiêu diệt hoàn toàn chân lý của Đức Chúa Trời, nhiều người nam và người nữ vẫn đang chịu đựng thử thách và hoạn nạn. Nhân sự Đức Chúa Trời vẫn đứng đắc thắng giữa điều ác và sự hủy hoại trong tư cách sự sáng chói lọi của chức vụ Đức Chúa Jesus Christ trên khắp thế gian. Và không thể nào tiêu diệt được thẩm quyền của Đức Chúa Trời và quyền năng của hội thánh. Đức Chúa Trời có nhiều người làm chứng cho Ngài trong mỗi giai đoạn lịch sử, và sẽ tiếp tục như vậy trong Cơn Đại Nạn tương lai cũng như trong thời kỳ Thiên Hy Niên của lịch sử thế giới.
Nhưng chúng ta cậy vào thẩm quyền nào để có quyền thiết lập hội thánh địa phương? Chúng ta làm điều này dưới thẩm quyền của chính Đức Chúa Jesus Christ khi Ngài ban lịnh hãy đi và môn đồ hóa. Đại Mạng Lịnh sẽ không bao giờ lỗi thời trong thế gian này, và nó vẫn áp dụng cho mọi thời đại của lịch sử loài người. Không có thẩm quyền nào lớn hơn thẩm quyền của chính Đức Chúa Trời. Không một chính quyền hay đoàn thể chính trị nào có thể bãi bỏ uy quyền và năng quyền của Đức Chúa Trời. Và Cơ Đốc nhân chúng ta phải sẵn sàng để đứng vững, dẫu phải chịu chết đi nữa, vì cớ năng quyền đời đời này.
Cá Nhân Tín Đồ Đấng Christ:
Mạng lưới của cơ cấu thẩm quyền không dẫn đến kết quả là một tổ chức tập thể; nhưng đúng hơn, cơ cấu này tìm được sức mạnh và tính đoàn kết trong cá nhân tín đồ, trong việc cá nhân chứng đạo cho Tin Lành của Đấng Christ. Hẳn Đức Chúa Trời đã có thể để Con Ngài cứ ở trên đất làm Nhân Chứng của lẽ thật. Khi làm như vậy, Đức Chúa Jesus, trong hình trạng Đấng Thần Nhân, hẳn sẽ cứ bị giới hạn trong thân xác con người. Giống như chúng ta, Ngài chỉ có mặt mỗi lúc tại một nơi mà thôi. Quyền năng và các phép lạ của Ngài hẳn sẽ cứ tiếp tục, nhưng chắc chắn chỉ những cư dân tại địa phương đó mới kinh nghiệm được mà thôi. Và dĩ nhiên họ sẽ đưa chúng lên tin tức buổi tối ngay. Nhưng liệu chúng ta có thể tuyên bố rằng điều này cũng sẽ giống y hệt như được đích thân nhìn thấy và kinh nghiệm quyền năng thiên thượng không?
Hẳn Đức Chúa Trời có thể sai các binh đoàn thiên sứ để rao truyền Tin Lành cho thế gian lạc lầm. Hẳn chính Đức Chúa Jesus đã có thể gọi các đạo thiên binh này đến giải cứu Ngài khỏi tình trạng bị đóng đinh thật khủng khiếp. Nhưng nếu điều này xảy ra, bạn và tôi chắc không nhận được món quà cứu rỗi tuyệt diệu. Rõ ràng, Đức Chúa Trời có dùng các thiên sứ vào công việc của con người. Kinh Thánh dạy rằng chúng ta có các thiên sứ hộ vệ để chăm nom chúng ta; dầu vậy, công việc của các thiên sứ bị giới hạn. Ngoài ra, các thiên sứ chưa hề kinh nghiệm được món quà cứu rỗi tuyệt diệu kia. Khi được dựng nên, họ đã được đặt trong vinh quang rồi. Và các đạo thiên binh đã chọn lìa cổng thiên đàng để đi theo lãnh tụ của họ là Lucifer. Khi quyết định như vậy họ đã tự định đoạt số phận mình trong sự hư mất đời đời.
Không, Đức Chúa Trời kêu gọi các cá nhân đến với chính Ngài. Ngài đã chọn dùng con người làm một công cụ, để dùng con người đi đến với con người. Nhưng há không phải chúng ta cứ thất bại hoài trong công tác đã đặt ra đấy sao? Chúng ta thường thất bại. Dầu vậy, Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi kế hoạch Ngài. Do đó, bạn và tôi phải luôn luôn ở trong ý muốn và kế hoạch toàn hảo của Ngài. Trách nhiệm cuối cùng và thẩm quyền nằm ở chỗ bạn và tôi đáp ứng ra sao với kế hoạch toàn hảo của Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ giữ riêng cho chính mình, hay sẽ rộng rãi chia xẻ cho người chung quanh?
Công Tác Truyền Giáo
Lời Đức Chúa Trời:
Đức Chúa Trời dùng khải thị đặc biệt của Ngài để chia xẻ chân lý cho thế gian. Đức Chúa Jesus Christ là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của thế gian. Ngài đến thế gian lần đầu để làm Chiên Con hy sinh chết chuộc tội chúng ta. Ngài sẽ trở lại lần thứ hai trong đắc thắng khải hoàn. Chúng ta chờ đợi sự tái lâm của Ngài trong tư cách Vua vinh diệu.
Kinh Thánh cho chúng ta biết sự lãnh đạo của Đức Chúa Jesus Christ là đáng ca ngợi, và là khuôn mẫu cho vai trò lãnh đạo Cơ Đốc của chúng ta. Không chút hồ nghi hay lưỡng lự, chúng ta chấp nhận Kinh Thánh từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền là Lời vô ngộ, không sai lạc và được soi dẫn của Đức Chúa Trời. Nhưng điều gì khiến lời này trở thành thẩm quyền của Hội Thánh? Chúng ta tin Kinh Thánh là cuốn sách thiêng liêng được Đức Chúa Trời soi dẫn. Soi dẫn có nghĩa “được Đức Chúa Trời hà hơi” (IITi 2Tm 3:16-17). Cựu Ước được viết ra trong khoảng thời gian một ngàn năm bằng tiếng Hêbơrơ. Cựu Ước có chứa một số ít phân đoạn viết bằng tiếng Aram (sách Đaniên). Và Cựu Ước báo trước về sự xuất hiện của Đấng Christ trên trần gian.
Các sách Tân Ước được viết ra trong khoảng một trăm năm bằng tiếng Hylạp. Các sách Tin Lành trình bày về đời sống, chức vụ và công tác của Đức Chúa Jesus Christ, là Đấng Mêsia. Phần còn lại của Tân Ước nói về sự phát triển và lớn lên của Hội Thánh. Sách Khải Huyền, sách cuối cùng, thuật lại những biến cố lai thế sẽ đến trên đất tương ứng với lịch sử của hội thánh và sự cất hội thánh lên khỏi thế gian.
Thẩm quyền của Kinh Thánh hoàn toàn dựa trên thẩm quyền của Đức Chúa Jesus Christ. Không có Đấng Christ, thì không cần đến Kinh Thánh. Hay sự vắng mặt của Đấng Christ trong lịch sử loài người sẽ đem Lời của Đức Chúa Trời xuống ngang hàng địa vị với những quyển sách “kinh” khác của thế gian. “Đằng sau Kinh Thánh là một câu chuyện hồi hộp về cách Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài và ý muốn của Ngài cho những người làm phát ngôn nhân cho Ngài, và rồi hành động trong suốt lịch sử để bảo tồn Lời Ngài cũng như lưu truyền lại cho những thế hệ tương lai. Nói theo lời của đấng tiên tri Êsai: ‘Cỏ khô hoa rụng, nhưng lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời!’ (EsIs 40:8)’” (Nelson’s Illustrated Bible Dictionary, trang 160).
Vì vậy, mục đích chính cho sự hiện hữu của chúng ta là dân sự của Đức Chúa Trời chính là để trình bày các lẽ thật thiên thượng. Khi tiếp nhận chúng bởi đức tin và lòng tin cậy của bản thân, chúng ta không thể thỏa hiệp điều bất biến nầy. Đức Chúa Jesus Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi. Chân lý không bao giờ thay đổi, chân lý không bao giờ trở nên không thích ứng. Trái lại, con người phải được thay đổi bởi quyền năng của sứ điệp đời đời.
Chứng Nhân:
Hội Thánh và cá nhân tín đồ phải đứng vững mạnh giữa một thế giới gian ác đảo điên. Chúng ta không thể thỏa hiệp lời của Đức Chúa Trời thể nào, thì cũng được truyền lịnh phải phân rẽ mình khỏi thế gian để sống cho chân lý thể ấy. Chúng ta phải sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Chúng ta có dám sống khác hẳn như vậy không?
Nhưng điều gì khiến cho chúng ta khác biệt? Là tín đồ của Đức Chúa Jesus Christ, chúng ta trở nên thành viên trong hội thánh phổ thông (hội hữu hình hiện nay) và trong các hội thánh địa phương (hội hữu hình tại mỗi địa phương). Hội thánh địa phương đóng vai trò một hội chúng của các tín đồ. Hội phổ thông bao gồm mọi hội thánh địa phương và mọi tín đồ thật của mọi thời đại.
Ngày nay, dường như có cuộc tranh luận thần học về sự khởi đầu của Hội Thánh. Cựu Ước không nói gì về Hội Thánh, nên kết luận rằng hội thánh chưa hiện hữu trong thời Cựu Ước. Bốn sách Tin Lành trong Tân Ước không dùng từ ngữ “hội thánh,” ngoại trừ trong Mat Mt 16:18 và 18:17. Một lần nữa, Hội Thánh vẫn chưa thật sự tồn tại vào thời điểm này, dầu Đức Chúa Jesus đã dạy các môn đồ rằng Ngài sẽ lập hội thánh Ngài.
Côngvụ 2, vào ngày Lễ Ngũ Tuần, ghi lại sự giáng lâm của Đức Thánh Linh trên các môn đồ đang chờ đợi và sự thành lập Hội Thánh. Vì sao chúng ta kết luận đây chính là sự khai sinh Hội Thánh? Đức Chúa Jesus đã tuyên bố Hội Thánh là một biến cố trong tương lai. Và Hội Thánh sẽ được lập nên trên Đá Góc Nhà, là chính Đức Chúa Jesus. Điều này sẽ không xuất hiện cho đến khi hoàn tất công tác của Ngài - là sự đóng đinh, sự chết sự sống lại và thăng thiên của Ngài.
Chữ “hội thánh” trong tiếng Hylạp là chữ ekklesia. Thông thường, chữ này chỉ về một hội chúng địa phương. Hội thánh địa phương đại diện cho thẩm quyền hữu hình dưới quyền lãnh đạo của Chúa Jesus Christ. Hội thánh địa phương được truyền lịnh môn đồ hóa hay xây dựng hội thánh cho đến khi Ngài trở lại. Và dưới sự lãnh đạo của Đấng Christ cùng các lãnh đạo địa phương, Hội Thánh tiếp tục đi ra đem thế gian về với Đấng Christ. Cơ Đốc nhân nên hoạt động trong phạm vi của hội thánh địa phương để đáp ứng nhu cầu của thế gian và chia xẻ đức tin với các tín đồ khác. Chúng ta cũng đừng bỏ qua sự nhóm lại với nhau để thờ phượng và ca ngợi Đức Chúa Trời (HeDt 10:24-25).
Chúng ta có chịu nổi áp lực khi bị phơi mình ra trước thế gian và trước cách đối đãi tàn bạo của thế gian với tín đồ không? Chữ “làm chứng” ra từ một chữ Hylạp có nghĩa “tuận đạo.” Nếu cần, chúng ta phải phó cả mạng sống mình vì cớ Tin Lành. Chúng ta có thể làm ít hơn thế không? Cứu Chúa chúng ta, Đấng đã từ bỏ mọi vinh hiển của Ngài trên thiên đàng, đã đến trần gian này như một con người tầm thường, và đã chết trên thập tự giá vì tội lỗi chúng ta - và Ngài xứng đáng để chúng ta đem cả đời sống ra để làm chứng nhân nói về sứ điệp vinh diệu của ân điển cứu rỗi. Chúng ta phải nói và thể hiện ra đức tin của chúng ta cách dạn dĩ. Khi nghĩ đến sự lãnh đạo gương mẫu của Cứu Chúa chúng ta, thì chúng ta cũng phải gương mẫu trong đức tin.
Thế Gian:
Rõ ràng, thế gian này thuộc về Đức Chúa Trời. Một ngày kia Ngài sẽ lấy lại vật sở hữu của Ngài và giáng sự đoán xét trên những kẻ chối bỏ Ngài. Đức Chúa Trời ban cho mọi người trên thế gian này nhiều cơ hội để biết và tiếp nhận Ngài. Ngài là vị Quan Án công bình của thế gian, và sự đoán xét của Ngài là không thiên vị. Mỗi cá nhân chuốc lấy sự đoán xét cho mình; Đức Chúa Trời chỉ công bố ra bản án mà thôi. Và Đức Chúa Trời không hề đoán xét mà không cảnh cáo trước nhiều lần.
Sự đoán xét của Đức Chúa Trời đem lại sự phân biệt hay sự phân rẽ điều thiện và điều ác trong thế gian này. Sẽ có sự đoán xét cuối cùng do chính Đức Chúa Trời chỉ định (Cong Cv 17:31). Đức Chúa Trời sẽ không giữ vững thẩm quyền của Ngài nếu Ngài không đem lại sự đoán xét cuối cùng, vì Ngài đã hứa đoán xét tội lỗi và điều ác. Ngài là Quan Án của nhân loại (SaSt 18:25), Quan Án công bình (Thi Tv 96:13; 98:9). Nhưng sự đoán xét cuối cùng sẽ nằm trong tay của Cứu Chúa, là Đức Chúa Jesus Christ (GiGa 5:22; Cong Cv 17:31). Và chúng ta, là tín đồ, sẽ dự phần trong sự đoán xét hầu đến (ICo1Cr 6:2-3; KhKh 20:4), ngay cả đoán xét các thiên sứ nữa.
Vậy tại sao Đức Chúa Trời trì hoãn sự đoán xét thế gian này? Đức Chúa Trời chờ đợi con người đáp ứng. Ngài muốn không một ai bị chết mất. “Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn.” (IIPhi 2Pr 3:9).
Trong lúc này, Đức Chúa Trời ban thẩm quyền đặc biệt cho những sự đoán xét tức thời trong thế gian. Các quan chức chính trị có trách nhiệm kết án công bình cho những kẻ đã làm ác (RoRm 13:1-7). Các lãnh đạo hội thánh có bổn phận xét đoán những nan đề giữa vòng hội thánh địa phương (Mat Mt 18:17-18). Tín đồ không thể xao lãng bổn phận sửa lại những tình huống giữa vòng họ (8:15). Và có lời cảnh cáo chúng ta đừng bao giờ đoán xét những gì mà chỉ một mình Đức Chúa Trời mới có trách nhiệm đó (HeDt 10:30).
Chúng ta có thể kể việc được sống trong thế gian này, được niềm vui là biết Đức Chúa Trời, được làm chứng cho lẽ thật vinh diệu của Ngài là một đặc ân vĩ đại. Một ngày kia, thế gian sẽ chấm dứt. Chúng ta không biết thời điểm chính xác, chỉ biết các dấu hiệu và thời kỳ. Dường như thời gian tạm này đang tiến nhanh đến chỗ kết thúc, và chúng ta phải trông mong sự tái lâm của Ngài. Trong lúc đó, chúng ta có bổn phận rao báo chân lý cho thế giới. Chúa Jesus, vị Lãnh Đạo gương mẫu, đã trình bày Tin Lành cho thế giới này bằng chính sự sống, huyết và sự hy sinh của Ngài; đến lượt chúng ta sẽ phải đem Tin Lành cho thế giới bằng lời nói, tình yêu và việc làm. Nguyện Ngài cảm thúc từng ngày để chúng ta rao báo lời của sự sống.

ĐẦY TỚ :
Sự Kêu Gọi
Lòng Thương Xót
Điều Kiện
Sự Hoàn Tất

ĐẦY TỚ
Sự Kêu Gọi:
Câu hỏi hoành hành trong khóa huấn luyện lãnh đạo ấy là: “Các lãnh đạo được sinh ra hay được đào tạo?” Phải tùy tình huống mới xác định được câu trả lời phải lẽ cho thắc mắc này. Ví dụ, một vị vua được thừa hưởng ngai vàng là do được sinh ra trong gia đình hoàng tộc. Vị vua tương lai này không cần phải chứng minh hay bác bỏ những năng lực lãnh đạo của mình, nhưng chỉ việc đòi quyền đó do được sinh ra. Mặc khác, một tổng thống hay thủ tướng thường lên được địa vị lãnh đạo của mình nhờ vào những từng trải và năng lực trước đó. Tài năng sẽ đưa người lên nắm giữ công việc trước mặt các dân tộc. Bất kể từng trải quá khứ có ra sao đi nữa, không phải lúc nào họ cũng góp phần giúp công tác lãnh đạo tốt hơn. Đôi khi các lãnh đạo thấy mình bị đẩy tận cùng những giới hạn, thậm chí còn vượt quá những khả năng của mình nữa.
Khi nhìn xem sự lãnh đạo mẫu mực của Chúa Jesus, thì Ngài được sinh ra hay được đào tạo cho địa vị giữa con người của Ngài? Chúng ta không cần thắc mắc đến sự hiện hữu đời đời Chúa Jesus; Lời Đức Chúa Trời nói rõ ràng Ngài là Con đời đời của Đức Chúa Trời, (GiGa 1:1) đã được dựng nên trong xác thịt và đã sống giữa chúng ta trên trái đất này (1:14). Là Đấng Tạo Hóa của cả vũ trụ và thế gian, những năng lực lãnh đạo đời đời của Ngài trở nên hiển nhiên nhất cho toàn thể nhân loại! Nếu không, chúng ta sẽ không ngắm nhìn được vẻ đẹp lộng lẫy của cõi tạo vật, hoặc sẽ không có sự hiện hữu của bản thân chúng ta.
Nhưng Chúa đời đời đã cố ý mang lấy hình trạng con người, trở nên Đấng Thần Nhân, sống trên thế gian này trong ba mươi năm, và làm trọn sứ mạng Ngài trong thế gian. Rõ ràng, Ngài đã nêu một tấm gương hoàn hảo về sự lãnh đạo thật với những năng lực tự nhiên và siêu nhiên. Nhưng có phải năng lực lãnh đạo của Ngài xuất phát từ tánh tự nhiên hay từ sự dựng nên? Để giải đáp, chỉ có một câu trả lời gồm hai phần. Thứ nhất, Chúa Jesus được sinh ra với những năng lực lãnh đạo cao, bất chấp đẳng cấp và bối cảnh dường như thấp hèn của Ngài. Đi từ Đấng Tạo Hóa đời đời cho đến Đấng Sinh Tế bằng xương bằng thịt, chúng ta chỉ có thể kết luận rằng Ngài không bao giờ từ bỏ những quyền hạn hay những năng lực của mình để trở thành vị Lãnh Tụ duy nhất trong thế gian này. Năng lực lãnh đạo của Ngài phải là lẽ tự nhiên, vì chính Ngài đã tạo dựng dây chuyền các mạng lịnh và thẩm quyền để được xử dụng trong thế gian này trước khi thế gian được dựng nên. Đời sống và chức vụ của Ngài khiến không còn nghi ngờ gì về năng lực tự nhiên để Ngài quyết định số phận của thế gian này, để làm trọn sứ mạng cho nhân loại hư mất, và để cung cấp một kế hoạch cứu rỗi toàn hảo. Duy một mình Ngài mới là Đấng duy nhất đáp ứng được các nhu cầu của nhân loại và đắc thắng tình trạng đáng sợ kinh khiếp của điều ác trên con người.
Và thứ nhì, sự lãnh đạo của Ngài phải được tạo dựng nên. Kế hoạch cứu rỗi, theo như được mô tả trong Kinh Thánh, là độc đáo và độc nhất vô nhị đến nỗi buộc phải ra từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban kế hoạch cứu rỗi thông qua Đấng Cứu Chuộc - là Đấng Thần Nhân. Chúng ta sẽ không bao giờ kinh nghiệm được một Đấng Thần Nhân khác nữa trong lịch sử nhân loại. Bạn có hình dung nổi con trai bạn được sinh ra trong thế gian này nhằm mục đích chết để cứu chuộc nhân loại sa ngã không? Một bậc cha mẹ bình thường hầu như sẽ cam kết hoặc hy sinh bất cứ điều gì để cứu đứa con. Đức Chúa Trời không hành động theo tiêu chuẩn con người, nhưng Ngài định trước và chọn lựa để đem kế hoạch thiên thượng đến trong lãnh vực con người. Đức Chúa Jesus Christ hay Đấng Mêsia đã được dựng nên để Đức Chúa Trời ban sự cứu chuộc cho con người sa ngã. Sứ mạng Ngài để làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha không phải là một phương án tùy chọn đối với Ngài; Trái lại, Con Đức Chúa Trời toàn hảo và vô tội đã được dựng nên để đáp ứng tiêu chuẩn thiên thượng cho của lễ chuộc tội lỗi chúng ta. Và lịch sử Kinh Thánh xác minh Ngài đã thực hiện điều ấy thật toàn hảo - là Chiên Con sinh tế duy nhất và chung quyết.
Nhưng địa vị và năng lực lãnh đạo này có khiến Đức Chúa Jesus trở thành một Lãnh Tụ kết quả và thành công không? Người ta không thể nào trở thành lãnh tụ kết quả và thành công nếu trước hết không là một Đấy Tớ. Đức Chúa Jesus đã làm Đầy Tớ của mọi đầy tớ, một đầy tớ phải “phục vụ hay là người tỏ sự thuận phục, công nhận hay mắc nợ kẻ khác.” Một đầy tớ vâng phục sẽ phó chính mình để giúp người khác. Hiển nhiên, Chúa Jesus không hề mắc nợ nhân loại, nhưng sẵn lòng thuận phục để làm Đầy Tớ trả món nợ đời đời mà con người đã mắc nợ Đức Chúa Trời.
Một lãnh đạo giỏi sẽ phục vụ với tinh thần sẵn sàng làm những công tác nhỏ, trung bình, mà không cần bất cứ sự ghi nhận công ơn nào. Nếu không thì sẽ chẳng bao giờ trở thành một lãnh đạo vĩ đại. Người này có thể điền vào vai trò lãnh đạo trong đời mình, nhưng sẽ không bao giờ đạt đến tiềm năng trọn vẹn của mình. Bao nhiêu người trong dân sự của Đức Chúa Trời đang làm công tác nhỏ mọn ở trong và ở ngoài hội thánh mà không cần bất kỳ sự công nhận nào? Bao nhiêu vị mục sư thi hành những trách nhiệm nhỏ trong hội thánh vì cớ không còn ai khác muốn làm điều đó? Trong lịch sử hội thánh, chúng ta đọc được về những vị lãnh đạo then chốt trong phong trào Cơ đốc, nhưng đã có hàng trăm hàng ngàn người đã phục vụ mà không ai biết đến họ. Một lãnh đạo giỏi sẽ là một đầy tớ trung tín, không mong chờ được công nhận trước mặt con người, nhưng thực hiện trọn công việc vì cớ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Đương nhiên, Chúa Jesus không phải là một vị lãnh đạo đầy ấn tượng theo tiêu chuẩn và những qui định của thời nay. Lý lịch Ngài hẳn chẳng giúp Ngài nhận được một địa vị hay một hội thánh danh tiếng nhất. Ngài là dân thành Naxarét, một thành phố mang tai tiếng xấu. Không ai mong điều gì tốt ra được từ nơi này. Chúa Jesus không nhận được sự giáo dục chính thức, chỉ được cha mẹ dạy về đức tin và truyền thống Do thái. Ngài không giữ địa vị quản trị trong một công ty lớn. Cả đời Ngài không có được nguồn tài chánh đầy hứa hẹn cũng không giàu có của cải vật chất. Chính Ngài không hề có vợ hoặc gia đình. Một lần nữa, chúng ta phải kết luận những thành tích của Ngài quả không chút ấn tượng gì với thế gian, nhưng chúng rất ấn tượng với Đức Chúa Trời, là Đấng ra quyết định tối hậu. Và Đức Chúa Trời đã để lại cho chúng ta bản lý lịch ấn tượng nhất về một Lãnh Đạo - Đầy Tớ trong Êsai 53. Tôi muốn triển khai bức tranh tuyệt vời này về Chúa Jesus trong vai trò lãnh đạo hết sức quan trọng của Ngài. Đầy Tớ chịu thương khó - là Đức Chúa Jesus Christ - đã công khai phó mình cho toàn thế gian nhìn xem và kinh nghiệm. Chúng ta còn thấy sự lãnh đạo nào tuyệt vời hơn là sự lãnh đạo Ngài đã dành cho chúng ta không?
Đoạn Kinh Thánh này cho chúng ta thấy quang cảnh đầy đủ về năng lực lãnh đạo của Ngài trong một thế giới chẳng hề nhận biết Ngài. Trước hết, Chúa Jesus đã chịu một sự đau khổ kinh khiếp để chuộc tội, mà thế gian không thể nào hiểu hết, cũng không thể hiểu nổi. Lãnh đạo không luôn luôn kinh nghiệm được những hoạt động vui thú trong đời. Êsai 53 cho chúng ta biết Ngài không duyên dáng hay đẹp đẽ (câu 1- 2). Ngài không xuất hiện như một cá nhân đầy ấn tượng. Bảy trăm năm trước khi biến cố này xảy ra, Êsai đã thuật lại cho chúng ta câu chuyện đầy cảm động về con người thật của Đấng Christ. Ngài là một người Naxarét tầm thường; người ta không hề đi theo Ngài vì cớ diện mạo Ngài. Ngài không được chấp nhận hay được tôn kính (câu 3). Câu này thuật lại sự chối bỏ và xa lánh kinh khiếp nhất của nhân loại. Toàn nhân loại đều chịu trách nhiệm về việc đóng đinh Ngài trên cây thập tự, và chúng ta cùng họ chế giễu Ngài, vả trên mặt Ngài, đóng đinh vào tay Ngài, đội cho Ngài mão gai, đâm gươm vào hông Ngài, và khiến Ngài chết thật kinh khiếp.
Nhưng là một Lãnh Tụ không hề biết sợ, Ngài đã chuộc tội lỗi chúng ta. Hành động chuộc tội (atonement) có nghĩa là “làm cho đồng ý” (“at - one - ment” hay “a- making - at - one”). Đấng Thần Nhân đã hành động cho cả hai bên, lấp khoảng trống giữa Đức Chúa Trời thánh khiết với con người bất toàn. Đức Chúa Jesus Christ đã làm trọn luật pháp (sự toàn hảo của Ngài), đã dự bị sự đoán xét công bình cho tội lỗi (ân điển) và đã sống lại đến sự sống mới (chiến thắng). Với việc Ngài sẵn lòng phó mạng sống vì chúng ta, chúng ta không thể yêu cầu điều gì lớn hơn nữa trong mẫu mực lãnh đạo của Ngài.
Thứ nhì, Ngài đã chịu sự chuộc tội thay thế, một sự thay thế trọn vẹn để đáp ứng những nhu cầu của chúng ta. Đức Chúa Jesus sẵn lòng chịu chết thay cho nhân loại, và đó là sứ mạng của Ngài trong cuộc đời. Ngài chết thay cho những đau khổ, có nghĩa là “bịnh tật” của chúng ta. Ngài gánh lấy những sự đau khổ hay đau đớn ngay cả ở trong tâm trí. Ngài đã chịu khổ vì sự quá phạm của chúng ta - tức sự không sẵn lòng đầu phục Đức Chúa Trời và trung thành với Ngài. Ngài đã cất bỏ những tội ác của chúng ta bằng cách mang lấy chúng trong thân thể Ngài. Ngài đã đem lại cho chúng ta sự cải cách hay sự tinh khiết bởi phó sự sống Ngài. Đức Chúa Jesus đã trả xong mọi hình phạt cho tội lỗi bằng sự đền chuộc tội mọi tội lỗi.
Một lãnh đạo giỏi sẽ sẵn lòng mang lấy nổi đau đớn của trách nhiệm. Sự chết (câu 9) mang số nhiều có ý nhấn mạnh trong tiếng Hêbơrơ. Chữ này nói đến sự thảm khốc của sự chết Ngài, chính nổi đau đã khiến nó trở thành một sự chết liên tục để chuộc mọi tội lỗi. Nói theo nghĩa bóng, mỗi khi có một tội thì Đấng Christ chết một lần.
“Một phụ nữ Cơ Đốc đến thăm con mình đang học đại học. Trong phòng con, bà thấy những thứ làm bà đau khổ, và kể cho con biết nỗi đau của mình, vì con cũng là một Cơ Đốc nhân. Bà mua một bức họa Đấng Christ tuyệt đẹp của Hoffman, và treo trên tường trong phòng con mà con trai bà không biết. Nhiều tháng sau, sau khi đến thăm lại căn phòng, bà bảo: ‘William, con đã thay đổi nhiều sau lần mẹ đến đây.’ Nhìn lên khuôn mặt trong bức tranh treo trên tường, cậu con trai bảo: ‘Mẹ ơi, những thứ đó sẽ không hợp với Ngài đâu.’” Sự chết chuộc tội thay thế của Ngài - hình ảnh tiêu biểu của toàn bộ sự lãnh đạo - đã thay đổi nhiều cuộc đời. Cấp lãnh đạo giỏi sẽ noi theo tấm gương này. Chúng ta bước vào sự lãnh đạo, không vì cớ vinh quang cho chính mình, nhưng vì sự vinh hiển của Ngài.
Và thứ ba, Đức Chúa Jesus đã chiến thắng trong sự lãnh đạo chúng ta. Sự chịu khổ của bản thân Ngài đem lại sự tha tội (câu 10- 11). Điều gì khiến sự chết của Ngài trở nên một sự nghiệp cao quí như thế? Công tác của Ngài thay đổi nhiều cuộc đời, đem lại chiến thắng sự chết và tạo nên một dân đặc biệt. Qua Đấng Christ, Đức Chúa Trời tha thứ và quên đi tội lỗi.
“Có một vị vua kia chịu khốn khổ nhiều vì cớ thần dân nổi loạn của mình. Nhưng một ngày kia, họ đầu hàng, giao nộp vũ khí, gieo mình xuống chân vua và xin được thương xót. Vua tha thứ họ hết thảy. Một người bạn hỏi vua: ‘Không phải bệ hạ đã truyền mọi kẻ nổi loạn đều phải chết sao?’ Nhà vua đáp: ‘Đúng, nhưng ở đây ta không thấy kẻ nổi loạn nào cả.’” Chúa Jesus, vị lãnh tụ, đã tẩy sạch mọi người nào kêu cầu Ngài. Trong gia đình Ngài, không còn ai là kẻ nổi loạn.
Cấp lãnh đạo Cơ Đốc phải ở dưới sự kêu gọi và ý chỉ của Đức Chúa Trời và sự thôi thúc và dẫn dắt thiên thượng của Đức Thánh Linh. Đối với cấp lãnh đạo then chốt trong hội thánh (mục sư, truyền đạo, giáo sĩ, trưởng lão, chấp sự và giáo sư), thì phải có sự kêu gọi từ Đức Chúa Trời. Xu hướng hiện đại dường như đang loại bỏ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Trong một số nhóm Cơ đốc, họ tuyên bố sự kêu gọi của Đức Chúa Trời là không cần thiết cho công tác này. Tôi tin đây là một thần học sai lầm.
Kinh Thánh nói gì hay cung cấp điều gì về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời? Giáo lý Kinh Thánh rõ ràng bao gồm cả sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Có rất nhiều những ví dụ trong Cựu Ước và Tân Ước. Ápraham, Môise, Gôisép, Samsôn, Saulơ, Đavít, Salamôn, và các tiên tri Cựu Ước (chỉ kể tên ra mới ít thôi) đã được Đức Chúa Trời kêu gọi để bước vào sự hầu việc đặc biệt. Giăng Báptít đã được biệt riêng một cách cụ thể ra làm người mở đường của Đấng Christ. Các môn đồ đã được Thầy kêu gọi làm học trò trong cuộc đời và chức vụ Chúa Jesus, về sau họ trở thành những nhà tiền phong và lãnh đạo vĩ đại của hội thánh đầu tiên. Sứ đồ Phaolô đã nhận được khải tượng rõ ràng để hầu việc Chúa.
Người lãnh đạo Cơ Đốc có kết quả nhất sẽ bước vào địa vị mình từ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời là bởi ý muốn thiên thượng. Làm sao chúng ta biết được ý muốn của Đức Chúa Trời? Không cần đi quá sâu vào chi tiết, nhưng ý muốn của Đức Chúa Trời thì công nhận quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta thay vì để bản ngã cai trị. Dưới dự sắp xếp này, chúng ta phải công nhận và tiếp nhận Đức Chúa Jesus Christ là Chúa. Chúng ta phải nhận kế hoạch thiên thượng dành cho đời sống mình (CoCl 1:9; HeDt 13:21). Ý muốn của Đức Chúa Trời có thể tìm thấy qua một tiến trình gồm mười bước cơ bản.
1. Khát khao biết Ngài và làm theo ý muốn Ngài. (ChCn 3:5-6; Thi Tv 90:8; GiGa 7:17).
2. Sống phù hợp với Kinh Thánh và các mạng lịnh của Kinh Thánh. (Gios Gs 1:8).
3. Phát triển một nếp sống cầu nguyện hằng ngày (IGi1Ga 5:14; CoCl 1:9).
4. Nhìn vào hoàn cảnh cụ thể hay kinh nghiệm cụ thể như là những dấu hiệu.
5. Được Đức Thánh Linh dẫn dắt (RoRm 8:14; GaGl 5:16, 25; IGi1Ga 2:27).
6. Tìm kiếm lời khuyên khôn ngoan của những lãnh đạo Cơ Đốc vững vàng, trưởng thành.
7. Đánh giá đời sống mình bằng cách xem xét toàn bộ đời sống cho đến hiện tại.
8. Quyết định phù hợp với sự hiểu biết hiện tại và với điều tốt nhất của năng lực mình.
9. Kiên trì trong quyết định của mình để dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời và học tập từ những từng trải của đời sống.
10. Được bình an trong lòng và trong tâm trí (Phi Pl 4:6-7; CoCl 3:15).
Chúng ta hãy xem xét vắn tắt sự kêu gọi Chúa Jesus. Ngài bước vào chức vụ công khai vào khoảng độ 29 đến 30 tuổi, cùng độ tuổi mà các thầy tế lễ và các rabi Do thái sẽ được chấp nhận vào chức vụ. Phép báp têm của chính Ngài nhằm làm một dấu hiệu cho thấy Ngài đã được kêu gọi, được tiếp nhận và được công nhận bởi Đức Chúa Trời như là Đấng Mêsia duy nhất (Mac Mc 1:9-11).
Vì sao tôi lại tin quyết như thế vào sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dành cho những chức vụ lãnh đạo then chốt trong Hội Thánh? Công tác của Đức Chúa Trời không bao giờ là công tác dễ dàng cả. Đầy tớ Chúa sẽ chịu nhiều áp lực, thử thách và nhiều nỗi đau lòng. Không phải toàn bộ đều sẽ là những từng trải vinh quang và cao ngất trên đỉnh núi. Trong thực tế, hầu hết từng trải của lãnh đạo ấy sẽ là sống ở dưới trũng của cuộc đời. Các nan đề có thể xảy ra trong chức vụ, với con người, trong sự căng thẳng và kiệt lực. Sự kêu gọi sẽ là nền tảng để giữ người ấy tận tâm với công tác. Không có sự kêu gọi, người lãnh đạo sẽ gục ngã bên lề đường.
Nhưng như vậy có nghĩa sự kêu gọi phục vụ Đấng Christ trọn thời gian đòi hỏi phải có một nghề nghiệp hay sự phục vụ trọn đời không? Không, không phải luôn luôn như vậy. Đức Chúa Trời có thể kêu gọi những đầy tớ đặc biệt trong những khoảng thời gian ngắn hạn cho một công tác đặc biệt. Rất nhiều các tiên tri nhỏ trong Cựu Ước đã làm trọn những chức vụ ngắn hạn, ít ra cũng là từ những bản ký thuật chúng ta có về họ. Như vậy, người lãnh đạo phải luôn luôn nhạy bén với bàn tay dẫn dắt của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đôi lúc có thể thay đổi địa vị lãnh đạo của bạn. Ngài có thể đưa bạn vào sự hầu việc trọn thời gian để hoàn tất những công tác đặc biệt. Hoặc Ngài có thể dẫn bạn vào địa vị ở ngoài đời. Điều tối quan trọng là hầu việc Ngài hết khả năng mình bất luận Ngài kêu gọi hay đưa bạn vào nơi đâu đi nữa. Người đầy tớ Cơ Đốc sẽ thờ phượng tôn kính và quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời bằng cách hầu việc Ngài và chấp nhận địa vị phục vụ ấy với sự vui mừng khôn xiết. Há không phải Chúa Jesus đã nêu gương bằng cách làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha và tôn vinh danh Ngài sao? Thật thú vị khi nghiên cứu lời cầu nguyện chân thành của Chúa chúng ta, là Giăng 17. Đang khi ở trong vườn Ghếtsêmanê và ngay trước khi chịu đóng đinh trên thập tự, Ngài đã xác minh và trả lời câu hỏi này cho chúng ta. Ngài không cầu xin cho sứ mạng của thập tự giá được cất đi, nhưng Ngài chấp nhận sự thương khó sắp đến là mục đích thật của Ngài trên trần gian. Và bất luận sự thương khó kéo dài vào ngày hôm sau, Ngài vẫn dâng lời cầu nguyện cho các môn đồ. Quả là một sự lãnh đạo tuyệt vời biết bao! Vào lúc Ngài hoàn toàn có quyền để nghĩ đến chính mình và thử thách hầu đến, thì Ngài lại nói lên những lời cầu thay sâu nhiệm và sốt sắng cho môn đồ và cho việc họ sẽ dự phần vào những biến cố sắp đến cũng như trong tương lai. Rõ ràng, đây là phẩm chất cao cả nhất của cấp lãnh đạo.
Sự Thương Xót:
Một lãnh đạo kết quả sẽ bày tỏ tình yêu và lòng thương xót với những người đang được mình dẫn dắt và lãnh đạo. Nếu chúng ta hiểu đúng về sự lãnh đạo Cơ đốc, thì nó sẽ bao gồm lòng thương xót dân sự của Đức Chúa Trời và những người hư mất trong thế gian. Theo định nghĩa tổng quát, sự thương xót hàm ý “cảm xúc sâu xa để chia xẻ thương khó hoạn nạn của người khác, kèm theo sở thích muốn phụ giúp, nâng đỡ hay bày tỏ lòng nhân từ.” Người biết thương xót sẽ tỏ lòng quan tâm sâu xa đến con người, và hành động để đáp ứng nhu cầu đó.
Một lần nữa, Chúa Jesus lại là một gương mẫu hoàn hảo. Dù trực tiếp hay gián tiếp, chúng ta vẫn có rất nhiều phân đoạn Kinh Thánh nói Chúa Jesus thương xót thế gian và dân sự trong đó. Sau đây là mười phân đoạn cụ thể dùng chữ “lòng thương xót” có liên quan đến Chúa Jesus và chức vụ của Ngài:
1. Mat Mt 9:36 - chiên không có người chăn.
2. 14:4 - Ngài chữa lành những kẻ binh.
3. 15:32 - đám đông thiếu thức ăn.
4. 20:34 - chữa lành cho kẻ mù.
5. Mac Mc 1:41 - chữa lành người phung.
6. 5:19 - giải cứu kẻ bị quỷ ám.
7. 6:34 - chiên không có người chăn (một câu khác).
8. 8:2 - thiếu thức ăn (một câu khác).
9 9:22 - người bị quỷ ám.
10. LuLc 7:13 - người đàn bà góa mất con trai.
Trong mười câu Kinh Thánh trực tiếp trên đây, tám câu liên quan đến phép lạ và hai câu liên quan đến chiên không có người chăn. Một vài câu Kinh Thánh đề cập gián tiếp trong việc Chúa Jesus khóc về Laxarơ, khóc về thành Giêrusalem, lòng quan tâm sâu sắc của Ngài cho Giuđa Íchcariốt, là kẻ phản bội, sự chối Chúa sắp đến của Phierơ và lời khuyên dạy đặc biệt sau sự phục sinh, sự thống khổ của Ngài trong vườn Ghếtsêmanê, những chức vụ đặc biệt cho các môn đồ Ngài sau sự phục sinh, đặc biệt là cho Thôma người nghi ngờ. Nhiều lần, chúng ta thấy lòng thương xót lớn của Cứu Chúa chúng ta khi kể những ẩn dụ.
Thật thú vị khi thấy sách Tin Lành Giăng không trích dẫn trực tiếp lòng thương xót của Ngài, nhưng nêu cho chúng ta bức tranh sinh động nhất về Con Đức Chúa Trời phó chính mình Ngài vì tội lỗi của thế gian. Lòng thương xót phát xuất từ Ba Ngôi Đức Chúa Trời đầy yêu thương, và tự bày tỏ trong sự hầu việc cứu chuộc thiên thượng cho con người. Đức Chúa Trời chúng ta không những thấy nan đề của loài người, mà Ngài còn làm mọi việc trong quyền năng Ngài để thay đổi và biến cải tình trạng của nhân loại. Ngài đưa ra kế hoạch nhưng mỗi cá nhân phải tiếp nhận lấy kế hoạch ấy.
Người lãnh đạo, đầy tớ Chúa, phải là người có lòng thương xót sâu xa để hành động từ lòng thương xót ấy. Đó không phải chỉ thuần túy là phản ứng của con người trước nhu cầu của thế gian này, nhưng chúng ta phải có lòng thương xót giống như Đức Chúa Trời hay của Đức Chúa Trời. Căn nguyên phải là kinh nghiệm được tấm lòng của Đức Chúa Trời trong chức vụ. Chúng ta kinh nghiệm được lòng thương xót Đức Chúa Trời trong một khái niệm hoàn toàn Cơ đốc. Như đã nói trước đây, Đức Chúa Trời và Con Ngài lãnh đạo toàn bộ lịch sử nhân loại: kế hoạch đời đời thiên thượng, Kinh Thánh không hề sai lạc, công tác chuộc tội của Đấng Christ, sự thành lập, khai sinh và chức vụ của hội thánh, mạng lịnh của Đấng Christ truyền rao giảng Tin Lành và môn đồ hóa, và sự chung kết thế gian hầu đến. Đức Chúa Trời hoãn sự chung kết lịch sử thế giới để con người ta đến được chỗ biết Ngài. Sự kiên nhẫn chờ đợi của Ngài cho thấy lòng thương xót lớn lao của Đức Chúa Trời chúng ta đối với tạo vật Ngài.
Lời cầu nguyện hằng ngày phải là xin Chúa cho có lòng yêu thương và thương xót càng hơn đối với những người xung quanh ta. Việc chúng ta va chạm với thế giới cùng túng này sẽ đưa chúng ta đến chỉ một trong hai hướng sau: 1) Đáp ứng với thế gian cách cứng lòng chai lì và không giống Đấng Christ, hoặc 2) Sự chìa tay ra sâu sắc hơn và giống Đấng Christ để tìm đến nhu cầu của con người. Dễ thi hành chức vụ trong những nơi sang trọng ấm cúng của đời hay trong những khu vực nhàn nhã của mình. Chúng ta thường nói đến khu vực nhàn nhã như là những gì chúng ta thích hưởng. Đây là một kinh nghiệm mà chúng ta biết rõ hoặc có rất ít sự mạo hiểm. Ví dụ, giảng hoặc dạy lời Đức Chúa Trời là những khu vực nhàn nhã đối với tôi. Đây là những sự ưa thích đặc biệt trong công tác hầu việc Chúa.
Khó khăn xuất hiện khi Đức Chúa Trời bảo tôi rời vùng nhàn nhã của mình để dấn thân vào một sự mạo hiểm, một chỗ yếu kém hay một nơi chưa biết qua. Một lần nữa, tôi xin nêu ví dụ của bản thân. Chức vụ hải ngoại của tôi tuy khá hứng thú, dễ chịu, nhưng vẫn mang đến nhiều điều không biết trước. Tôi thích được ở trong những lãnh thổ quen thuộc hay ở gần quê hương. Khi Đức Chúa Trời kêu gọi bạn hay tôi ra khỏi những vùng nhàn nhã của mình đến những nơi trong đời mà phải nương cậy hoàn toàn vào Ngài, thì lúc ấy trở thành khó để thi hành chức vụ. Cần phải có đức tin lớn lòng thương xót và tình yêu thương để cộng tác với những con người đang đau thương, khó thương được trên thế giới. Nhưng khi Đức Chúa Trời ở tại đó, thì tôi biết công việc ấy xứng đáng đến từng chút năng lượng và lòng cam kết. Dầu Ngài kêu gọi chúng ta làm việc trong hay ngoài những khu vực nhàn nhã của mình, chúng ta đều không bao giờ bước đi sai được khi hầu việc Ngài tại nơi ấy.
Không thể nào thực hiện tinh thần tôi tớ Cơ Đốc cách đầy hy sinh và kết quả nếu không có lòng thương xót thiên thượng phát lưu từ lòng mình. Các lãnh đạo tôn giáo đã không xem Chúa Jesus là Đấng Mêsia của họ vì Ngài được biết đến như là Bạn Thiết của tội nhân. Chính Chúa Jesus đã phán Ngài đến để cứu kẻ hư mất, vì họ mới chính là những người cần Cứu Chúa. Lòng thương xót - theo định nghĩa đúng nhất của nó - thì nói rằng: “Tôi có thể ban cho điều gì, chứ không phải tôi có thể nhận được gì.” Chúng ta được biết đến như thế nào trong đời này? Giống như Chúa Jesus, chúng ta có phải là một người bạn riêng tư của tội nhân không? Lòng thương xót đòi hỏi những mạo hiểm nhất định trong đời, nhưng chúng ta không thể xây lưng khỏi nó. Nhiều người sẽ không hiểu sứ mạng của chúng ta, có những tư tưởng và ý kiến sai lầm về chúng ta. Nhưng một lần nữa, điều này có ngăn chúng ta lãnh đạo dân sự Ngài với phong cách yêu thương và thương xót của Ngài trong chức vụ không? Người ta nhìn xem chúng ta thế nào trong đời sống và trong chức vụ? Điều dường như chúng ta không làm được, thì Đức Chúa Trời sẽ ban cho chúng ta tình yêu và lòng thương xót để làm.
Điều Kiện:
Nhiều khi cấp lãnh đạo phải làm những việc mà không ai khác muốn hoặc chịu làm. Một trong những ví dụ tuyệt vời nhất cho lời tuyên bố này xuất hiện trong đời sống của Chúa Jesus ngay trước khi Ngài chịu đóng đinh trên thập tự giá. Đến cuối kỳ Lễ Vượt Qua hằng năm của người Do thái, Chúa Jesus nhóm với mười hai môn đồ trên phòng cao, thông công với họ, và ăn chung một bàn. Lẽ đương nhiên, đây không phải là chuyện khác thường hay kỳ lạ. Tôi chắc chắn Chúa Jesus đã dự kỳ lễ này với các môn đồ trong những dịp lễ trước đó.
Nhưng buổi tối bình thường này đã có một sự thay đổi lạ lùng. Ngài tuyên bố rằng một trong các môn đồ sẽ phản Ngài, và ngay lập tức, từng môn đồ đã điều tra thân thế kẻ ấy trước tin giật gân này. Không bị các môn đồ kia phát hiện, Giuđa Íchcariốt đã ra đi để trở thành kẻ phản bội trong chính đêm đó. Sau đó, Chúa Jesus đã dùng cơ hội này để lập Lễ Tiệc Thánh, sự ghi nhớ đẹp đẽ về sự đóng đinh và sự chết của Ngài cho kẻ tin trên toàn thế giới, là lễ sẽ được cử hành mãi cho đến khi Ngài trở lại. Dầu dịp này đã trở thành biến cố mới trong đời sống các môn đồ, nhưng điều xảy ra trước đó trong đêm là hết sức ý nghĩa đối với tư cách lãnh đạo của Ngài. Chúa Jesus lấy một chiếc khăn và bắt đầu rửa chân các môn đồ (GiGa 13:1-20). Từ thông tin và văn mạch, vị Thầy trước đó chưa hề làm điều này cho các môn đồ. Phản ứng của họ cho thấy đây là lần đầu tiên có chuyện như vậy.
Cấp lãnh đạo thật bày tỏ vai trò của một đầy tớ. Tinh thần tôi tớ tự thể hiện trong tình yêu hạ mình, nhiều khi còn là một từng trải đầy nhục nhã nữa. Việc rửa chân là một phong tục phổ thông của Phương Đông, một hành động lịch sự và hiếu khách đối với những vị khách mệt mỏi. Chân sẽ dính đầy bụi và dơ bẩn vì đi lại trên những con đường bộ của xứ Palestine; Do đó, người ta sẽ có hành động hiếu khách để được thoải mái và được sạch sẽ. Khi khách vào nhà, kẻ hèn kém nhất trong các đầy tớ sẽ phải rửa chân khách (LuLc 7:44). Đôi khi, khách sẽ được trao cho nước và khăn để tự rửa chân (Cac Tl 19:21).
Nhưng không một môn đồ nào chịu nhận trách nhiệm này khi nhóm lại nơi phòng cao. Thực ra, ngay trước dịp này, họ đang tranh cãi (như trước đó đã làm nhiều lần rồi) xem ai sẽ là người cao trọng nhất và đáng được chú ý nhất trong vương quốc hầu đến. Chúa Jesus đã nhận lấy nhiệm vụ này và bảo các môn đồ rằng họ phải rửa chân cho nhau (câu 14). “Phải” (ought) là thì quá khứ của “mắc nợ” (owe). Các ngươi mắc nợ nhau việc làm trọn công tác này. Không phải Chúa Jesus đang nói điều này như một mạng lịnh trực tiếp hay một thánh lễ cần phải cử hành trong hội thánh; nhưng đúng hơn, Ngài cho chúng ta biết phải sẵn lòng nhận lấy những nhiệm vụ mà không ai khác chịu làm. Đây là một ví dụ về thể loại chức vụ họ phải thực hiện cho nhau (GiGa 3:5-17). Sự hạ mình, chứ không phải sự công nhận, mới là điều quan trọng trước mặt Đức Chúa Trời (Gia Gc 4:6; IPhi 1Pr 5:5; 5:6).
Khi xem xét kỹ hơn về hành động này của Chúa Jesus, chúng ta sẽ thấy một sự hạ mình sâu xa về mặt thuộc linh. Rửa chân không phải là hành động bình thường của một người thầy. Chúa Jesus - là Thầy, Chủ của các môn đồ - đã gạt những quyền ưu tiên của chính mình sang một bên. “Ta đã để lại cho các ngươi một gương” (câu 15) cho thấy công tác một lần đủ cả hay công tác trọn vẹn của Đấng Christ. Người lãnh đạo Cơ Đốc không thể làm thỏa mãn những ưu tiên của bản thân mình nếu khao khát làm công việc Chúa. Đức Chúa Trời sẽ cho phép chúng ta đáp ứng nhu cầu của mình, nhưng những ước mơ của mình phải là ước mơ của Ngài. Và những thành tựu của chúng ta phải là những thành tựu của Chúa. Chúng ta được kêu gọi và sai phái để làm trọn công tác Ngài.
Thứ nhì, biến cố này biểu thị sự biện biệt thuộc linh mạnh mẽ. Chúa Jesus đến với Phierơ, và ngay lập tức Phierơ xác định sự không xứng đáng về mặt thuộc linh của mình. Bản Hylạp dùng những đại từ nhân xưng nhấn mạnh. Và về cơ bản, Phierơ đang nói: “Không đời nào Chúa lại rửa chân cho tôi - không đời nào.” Chúa Jesus bảo Phierơ rằng ông sẽ không phải là người thuộc về Ngài nếu Ngài không rửa chân ông. Thế là Phierơ nghe lời và xin rửa cả thân thể mình nữa. Một lần nữa, Chúa Jesus khuyến cáo Phierơ bằng cách bảo ông không cần phải tắm cả người. Phierơ đã nhắm trật mục tiêu rồi.
Giuđa Íchcariốt được ban cơ hội cuối cùng để đáp lời Chúa trước khi trở thành kẻ phản bội. Giuđa Íchcariốt đã bước đi với Chúa trong suốt chức vụ công khai của Ngài, nhưng con người này không bao giờ thấy được ý nghĩa chân chính. Giuđa Íchcariốt đã phản bội Chúa trong chính đêm đó; rồi hối hận việc mình làm, ông đi treo cổ. Đây là vụ tự tử duy nhất được ghi lại trong các sách Tân Ước. Đôi khi người lãnh đạo phải lãnh đạo trong lẽ phải bất chấp những hành động và phản ứng của môn đồ mình. Lãnh đạo không phải là để tranh sự mến mộ, nhưng để làm lẽ phải. Đây há không phải là bài học trong hội thánh hiện đại sao?
Thứ ba, chúng ta có sự phục vụ thuộc linh đẹp đẽ để các môn đồ phải noi theo. Chúa Jesus truyền họ phải làm theo việc Ngài đã làm. Có phải Ngài đang biến việc rửa chân thành một thánh lễ của hội thánh không? Tôi tin là không. ITi1Tm 5:10 dường như cho thấy hội thánh đầu tiên đã có tục lệ rửa chân thánh đồ. Nhưng rất nhiều hội thánh ngày nay khước từ tập tục này vì cớ những bổn phận khác được đề cập trong câu này chỉ đơn thuần là những công việc trong nhà. Đối với tôi, dường như Chúa Jesus dùng một tập quán văn hóa để dạy một bài học quan trọng, chứ không lập nó thành một thánh lễ của toàn hội thánh. Tín đồ có thể thực hiện tập quán này nếu muốn như vậy; Nhưng trong thực tế, tập quán này không truyền đạt điểm nhấn mạnh thật trong hành động ấy. Khi rửa chân như vậy, Chúa Jesus đang dạy môn đồ về sự vâng phục. Bởi sự vâng phục người Thầy, chúng ta hưởng được sự vui mừng và bình an. Về mặt khách quan, chúng ta phải tự chịu thua thiệt để giúp người khác, luôn luôn trở nên giống như Thầy mình trong cả lời nói lẫn hành động.
Và thứ tư, chúng ta được ban sự chấp nhận thuộc linh. Trong câu 18, chúng ta có lời tiên tri về sự phản bội Ngài. Sự hiện diện thuộc thể của Giuđa Íchcariốt không chuyển thành sự hiện diện thuộc linh. Miếng bánh đã được nhúng vào chung một chiếc dĩa. Chúa Jesus đã chia miếng bánh với Giuđa Íchcariốt, và đây cũng là một vật biểu thị tình bạn. Nó sẽ dùng làm chiếc muỗng tạm thời (Ru R 2:14). Lòng Chúa Jesus đau đớn vì Giuđa Íchcariốt, và Cứu Chúa chúng ta đã cho ông nhiều cơ hội trở về với lẽ thật. Giuđa Íchcariốt không bao giờ lập cam kết này.
Tinh thần tôi tớ là một cam kết với Đấng Christ. Nếu Vị Lãnh Tụ này sẵn lòng phục vụ, ngay cả ở mức độ thấp hèn nhất, lấy ví dụ như việc rửa chân và chết như một tên tội phạm trên thập tự giá, thì tôi tớ Ngài cũng phải sẵn sàng phục vụ. Trọng điểm phải nhắm vào Cứu Chúa và kế hoạch của Ngài. Chúng ta không bao giờ được thỏa hiệp địa vị này. Nó đòi hỏi thời gian, những sự liều mình, những cuộc chạm trán, nhưng cuối cùng đó sẽ là kinh nghiệm bổ ích nhất. Cả những điều tích cực lẫn tiêu cực sẽ rõ ràng, nhưng không điều gì có thể ngăn chúng ta đạt được những mục tiêu của tôi tớ. Nhiều người sẽ bác bỏ lẽ thật; Dầu vậy, vẫn phải thực hiện công việc này.
Sự lãnh đạo kết quả sẽ bao gồm cả khái niệm về tinh thần tôi tớ, và tinh thần tôi tớ thật sẽ thể hiện sự lãnh đạo hiệu quả. Chúng ta phải gạt những khát vọng ích kỷ của mình qua một bên; Hãy cầm lấy Lời hằng sống của Chúa; Hãy mặc lấy nhu cầu của người khác. Cấp lãnh đạo Cơ Đốc không thể làm kém hơn thế, nếu chúng ta muốn nuôi dân sự Đức Chúa Trời và đưa người khác đến với Cứu Chúa.
Sự Hoàn Tất:
Sự lãnh đạo thành công dẫn đến một đỉnh điểm để hoàn tất những khả năng và thành tựu của vị lãnh đạo, và để lại một di sản là danh tiếng tốt và sự hoàn thành. Chúa Jesus, vị Lãnh Tụ -Đầy Tớ, đã hoàn tất sự lãnh đạo trên trần gian này trong chương cuối tuyệt diệu của thập tự giá và sự đóng đinh, là lý do tối hậu khiến Ngài đến trần gian. Ngài để lại một danh tiếng tốt đời đời trong thế gian này. Ngay cả ngày nay, giống như bản lý lịch do Philát -một thành viên thờ ơ - đã đưa ra, con người không thể tìm thấy lỗi ở nơi Ngài. Và suốt bao thế kỷ, nhân loại đã cố tiêu diệt đời sống và công tác của Đấng Christ song họ chỉ phí công. Di sản của Ngài sẽ đứng vững đời đời cùng với danh tiếng và công tác không thể nào hủy diệt được. Còn bản lý lịch nào tuyệt diệu hơn thế chăng?
Nếu cần, người lãnh đạo sẽ chịu hy sinh cao nhất vì cớ những nguyên tắc và những hành động đúng. Chúng ta thấy đời sống và chức vụ của Chúa Jesus không có điều gì làm suy yếu hay giết chết ảnh hưởng từ công tác của thập tự giá. Ngài đã chết, không phải vì chính Ngài, nhưng chịu chết vì chúng ta. Biết Ngài yêu bạn và tôi ngay cả trước khi chúng ta sinh ra là một điều thật khó hiểu đối với con người. “Mọi sự đã được trọn” biểu thị sự hoàn tất công tác tại thế của Ngài và chiến thắng vinh diệu trên tội lỗi. Đức Chúa Jesus - Đấng Christ hằng sống - đã không bị chiến bại. Satan hoặc sự chết cũng không chinh phục được Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời.
Theo suy nghĩ và những tập tục của người đời trong thời Tân Ước cùng thẩm quyền và quyền lực của đế quốc Lamã hùng mạnh, việc đóng đinh trên thập tự giá, hình thức tử hình kinh khiếp nhất - chỉ đáng dành cho nô lệ và những tội phạm. Cả người Rôma lẫn người Dothái đều xem đấy là một sự rủa sả; Và vì thế, họ không thể bị đóng đinh trên thập tự giá theo luật pháp. Dân Dothái xem đây là hình thức chết sỉ nhục nhất (PhuDnl 21:23). Tuy vậy, Tòa Công Luận Dothái đã xin chính quyền Lamã đóng đinh Chúa Jesus, chứng tỏ họ thù ghét với Ngài (Mac Mc 15:13-15). Chúa Jesus, thuộc dòng dõi người Dothái và là một cư dân hợp pháp tại xứ Palestine, đã gánh chịu sự đóng đinh trên thập tự giá đầy sỉ nhục ấy vì tội lỗi của thế gian này. Chỉ trong sáu tiếng đồng hồ (vào giờ thứ chín hay khoảng ba giờ chiều), Chúa Jesus đã chết rồi (GiGa 19:31-33). Dầu nhiều người không chịu công nhận quyền lãnh đạo cứu chuộc của Ngài, nhưng đây vẫn là khải thị trọn vẹn và quyền năng Đức Chúa Trời trong thế gian (ICo1Cr 1:23-24). Đây há không phải giờ chiến thắng vĩ đại nhất và là biểu hiện sinh động nhất về tinh thần tôi tớ sao? Và điều này sẽ không bao giờ lập lại trong lịch sử thế giới hiện tại hay trong tương lai. Điều Chúa Jesus đã hoàn tất trên thập tự giá thì không cần phải lập lại một lần thứ nhì nữa.
Thập tự giá, một biểu tượng Cơ Đốc hùng hồn, đã đánh dấu sự can thiệp và quyền lãnh đạo thiên thượng trong thế gian. Đây là một cây cột hay là cây trụ bằng gỗ thẳng đứng, nói đến một cây cọc nhọn được xếp thành hàng, làm thành một bức tường rào bằng cọc nhọn để phòng thủ. Đây là thứ phổ thông trong thời Kinh Thánh, dùng phơi thây tội phạm trước mặt công chúng để ngăn chặn bớt những sự bất tuân của dân chúng và nhạo báng những kẻ thù quân sự bại trận (SaSt 40:19; ISa1Sm 31:8-13). Nó trở thành bản án cho kẻ thù của quốc gia (lính ngoại bang, những kẻ nổi loạn và gián điệp) hay những tội phạm hình sự. Chúa Jesus bảo các môn Ngài rằng chúng ta phải sẵn lòng vác thập tự giá mình mà theo Ngài (Mat Mt 10:38; Mac Mc 10:21; LuLc 14:27). Chính Ngài đã chịu khổ trên thập tự giá vì tội lỗi chúng ta (Phi Pl 2:8; HeDt 12:2), vì sự giải hòa chúng ta (IICo 2Cr 5:19; CoCl 1:20).
Chúng ta chỉ có thể kết luận rằng Đức Chúa Jesus Christ là Đầy tớ của mọi đầy tớ. Đời sống và hành động của Ngài, ngay cả ngày nay, vẫn là điều không thể chấp nhận đối với những tiêu chuẩn truyền thống của con người về lãnh đạo và cách chỉ đạo. Nhưng tiêu chuẩn con người sẽ không bao giờ sánh được với tiêu chuẩn nghiêm khắc của Đức Chúa Trời. Và bởi sự vâng lời trọn vẹn, Chúa Jesus đã phó chính Ngài để ban cho con người cơ hội được đích thân biết Đức Chúa Trời và được chấp nhận trước mắt Ngài bởi đức tin. Điều mà con người không thể làm dưới luật pháp Cựu Ước, thì Đấng Christ đã làm trong chức vụ tại thế và trong sự chết hy sinh của chính bản thân Ngài. Chúng ta thấy tấm gương mẫu mực toàn hảo này trong phân đoạn Kinh Thánh về sự tự bỏ mình đi (kenosis) (Phi Pl 2:5-11).
Lời khuyên bảo này thách thức chúng ta hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ, tức là sẵn sàng phó chính mình hầu việc vì vinh hiển của Đức Chúa Trời. Tinh thần tôi tớ là gì? Trong bối cảnh Cơ đốc, sự phục vụ tức là làm theo ý muốn Đức Chúa Trời trong đời sống cá nhân mình và tiến lên phía trước trong chức vụ của hội thánh phổ thông và hội thánh địa phương. Chúng ta làm trọn sự vinh hiển của Đức Chúa Trời bằng cách không thiếu kém tinh thần này. Đức Chúa Jesus đã phó mạng sống Ngài cách không ích kỷ; Và đồng một thể ấy, chúng ta được Đức Chúa Trời kêu gọi để phó mạng sống mình mà không nghĩ đến bản thân. Cội nguồn cho cam kết Cơ Đốc này xuất phát từ tình yêu agape, sự tự hy sinh bản thân và tình yêu tự phó mình mà không mong đợi được đền đáp.
Lịch sử Cơ Đốc cho thấy vô số người nam và người nữ đã phó mạng sống mình bằng tình yêu thương agape vô kỷ. Ví dụ, chúng ta có đại sảnh đường đức tin trong Hêbơrơ 11 với rất nhiều nhân vật. Phần chú thích thú vị nhất cho toàn đoạn Kinh Thánh này bao gồm tên hàng trăm ngàn người vô danh. Phong trào truyền giáo hiện đại trong chưa đầy ba trăm năm qua đã cung cấp những nhà lãnh đạo có tên tuổi và không xác định được tên tuổi, những người đã phó mạng sống mình để đem sứ điệp Tin Lành đến những nơi chưa ai biết đến trên thế giới. Trong rất nhiều tình huống, họ sẽ đi vào cánh đồng này mà không bao giờ quay về quê hương nữa. Chúng ta có những trường hợp đặc biệt khi người vợ và chồng sẽ bị phân rẽ nhau vì cớ Tin Lành.
Những sự cam kết Cơ Đốc như thế đã khiến thế gian đứng về phía lẽ phải. Chúng ta thường nghe những người dạy và giải nghĩa Kinh Thánh nói về các môn đồ Tân Ước đã đảo lộn thế gian. Tội lỗi đảo lộn, lật úp thế gian; Tin Lành làm cho thế gian đứng về lẽ phải. Ngay cả lịch sử Cơ Đốc cũng lập lại. Khi hội thánh đứng gần gũi với Đức Chúa Trời và hầu việc Ngài trong sự vâng phục, thì đã đem lại cơn phục hưng và sự thức tỉnh thuộc linh vĩ đại do Đức Thánh Linh hướng dẫn. Dân sự Đức Chúa Trời đã sửa lại tấm lòng mình với Chúa, và ngay cả xã hội ngoài đời cũng kinh nghiệm được ảnh hưởng này cùng với rất nhiều thay đổi trong xã hội. Mặt khác, một Hội Thánh chịu ảnh hưởng của thế gian và làm theo tính xác thịt thì không có ảnh hưởng gì trên thế gian. Hội thánh sa vào điều ác và tội lỗi cũng giống y như điều mà thế gian kinh nghiệm.
Chúng ta sống trong một thế hệ cần được đứng về bên lẽ phải - một thế hệ mới sẽ cam kết tận tụy với quyền năng sứ điệp Tin Lành bằng cả lời nói lẫn hành động. Điều này không thể đến được nếu không có sự lãnh đạo thuộc linh vững vàng trong hội thánh chúng ta. Sự lãnh đạo này bắt đầu từ tòa giảng của chúng ta và tiến đến các trưởng lão và chấp sự trong hội thánh. Nhưng làm sao sự lãnh đạo ấy nổi bật lên trong một giáo hội và thế gian rộng mở và bi quan? Chúng ta phải lập bốn cam kết chính để hầu việc Vua.
1. Chúng ta phải cam kết với một nếp sống và thái độ giống như Đấng Christ.
2. Chúng ta phải sốt sắng cầu nguyện để có được một cơn phục hưng tâm linh cho cả cá nhân lẫn tập thể.
3. Chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời cho chúng ta được tươi mới trong chức vụ và công tác hầu việc Ngài.
4. Và chúng ta phải chấp nhận thách thức để sốt sắng càng hơn trong việc phục vụ cả cộng đồng Cơ Đốc lẫn thế gian.

NGƯỜI LÃNH ĐẠO :
Sự Lãnh Đạo Dân Chủ
Sự Lãnh Đạo Rõ Ràng
Sự Lãnh Đạo Có Chỉ Thị
Sự Lãnh Đạo Dứt Khoát


NGƯỜI LÃNH ĐẠO
Sự Lãnh Đạo Dân Chủ:
Một lãnh đạo thành công phải sẵn lòng lãnh đạo trong lẽ phải bất chấp giá phải trả và kết quả có ra sao đi nữa. Ngay từ đầu, tôi muốn nói rõ rằng chúng ta không nhất thiết phải bàn đến chính trị; chủ yếu là chế độ dân chủ so với chế độ độc tài. Vẫn có thể một lãnh đạo của chủ nghĩa dân chủ lại rất không dân chủ trong những trách nhiệm của mình, trong khi một nhà độc tài của chế độ lại lãnh đạo rất dân chủ. Chúng ta không muốn dính dáng vào nền chính trị thế giới cùng rất nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau của nó.
Chúa chúng ta đã nói về tinh thần của sự tự do thuộc linh thật: “Vả, Chúa tức là Thánh Linh, Thánh Linh của Chúa ở đâu, thì sự tự do cũng ở đó.” (IICo 2Cr 3:17). Đức Chúa Trời là Gương Mẫu trọn vẹn về sự lãnh đạo dân chủ toàn hảo và phẩm chất cao. Ngài vượt lên trên chính trị của thế gian này, dầu Ngài cho phép cả chủ nghĩa dân chủ lẫn chủ nghĩa độc quyền làm trọn các kế hoạch Ngài trong thế gian này. Ngài khiến cả những lãnh đạo tốt lẫn xấu dấy lên để thực hiện kế hoạch tức thời của Ngài cho chính quyền hay cho dân tộc kia. Nhưng quan trọng hơn, Đức Chúa Trời đã nêu cao sự cai trị của chế độ thần trị trong lời Ngài, tức là chính Đức Chúa Trời cai trị trong thế gian này. Đến cuối cùng, Ngài sẽ cai trị đời đời trên ngai và các thánh đồ của mọi thời đại sẽ là thần dân của Ngài.
Nhưng Đức Chúa Trời có độc quyền và đòi hỏi sự vâng phục của thế gian? Không, Đức Chúa Trời dựng nên chúng ta theo hình ảnh Ngài và muốn chúng ta thờ phượng thông công với Ngài; nhưng Ngài không bao giờ ép buộc chúng ta phải vâng phục Ngài. Đúng, Đức Chúa Trời có đề ra những hướng chỉ đạo, những quy định và những giới ranh trong đời. Ngài cũng làm sáng tỏ những hậu quả và sự đoán xét cho những ai muốn không vâng lời và chọn con đường trái ngược lại. Đức Chúa Trời ban đời sống tốt nhất cho những ai chịu tin Ngài và vâng giữ các mạng lịnh Ngài, nhưng quyết định cuối cùng để vâng phục hay không vâng phục thì thuộc quyền của chúng ta. Rõ ràng, Ngài bảo chúng ta rằng vâng lời sẽ đem lại ơn phước lớn của Ngài, đặc biệt là được hiện diện đời đời với Ngài và trong thiên đàng. Đây há không phải là một triết lý chân chính và một tập tục chân chính của sự lãnh đạo dân chủ sao.
Lãnh đạo không phải chỉ là người đảm nhận trách nhiệm, nhưng còn là người biết cách thực hiện nó. Và còn quan trọng hơn thế, người ấy biết cách để liên hệ với người dưới quyền mình. Để có được sự lãnh đạo tốt trong Hội Thánh, thì lời mô tả rõ ràng về công việc sẽ xác lập phạm vi cho công việc và các trách nhiệm. Mục sư và hội thánh phải dành thời gian để biết điều gì cần phải làm và phải làm cách nào. Sự mô tả công việc cũng có thể ngăn ngừa những nan đề mai sau và những hiểu lầm trong quan hệ làm việc.
Cả cấp lãnh đạo lẫn thân thể Đấng Christ đều cần phải hoạt động như một đội ngũ, chứ không chống đối tiêu diệt lẫn nhau. Dầu chúng ta là gia đình của Đức Chúa Trời, nhưng đôi khi những sở thích, những đòi hỏi, những thất bại và những chính sách của con người chúng ta có thể tạo ra một mâu thuẫn lớn trong lãnh đạo. Và mâu thuẫn này có thể leo thang thành một mối quan hệ hoạt động mất hiệu quả, rồi cuối cùng trở thành một lời chứng cho cộng đồng xung quanh. Người lãnh đạo giỏi có thể nhận trách nhiệm và xử lý những tình huống nhất định nếu được nhân viên hỗ trợ thông qua sự mô tả công việc rõ ràng.
Thường thì những nan đề của hội thánh xảy ra khi hội thánh và cấp lãnh đạo nói và hành động cách chung chung thay vì nói những điều cụ thể. Để làm một quản gia giỏi quản lý các ơn phước thiên thượng, hội thánh hay tổ chức Cơ Đốc sẽ đòi hỏi cấp lãnh đạo của mình những điều không thể thực hiện nổi. Tôi còn nhớ nhiều chức vụ mình đã giữ trong nhiều hội thánh. Họ luôn luôn đòi hỏi tôi phải đảm nhận rất nhiều chức vụ khác nhau mà mỗi chức vụ đều phải là một công việc trọn thời gian. Công bằng mà nói đối với mỗi phân ban ấy của hội thánh, thì việc đó là điều hoàn toàn không thể làm được. Thế nhưng, bao nhiêu mục sư và lãnh đạo Cơ Đốc bị đòi hỏi phải làm việc vượt quá giới hạn mà không có thì giờ để nghỉ ngơi, giải trí hay thư giãn. Và điều then chốt là rất nhiều gia đình của lãnh đạo đang chịu khổ do làm việc quá nhiều và căng thẳng đang đè nặng trên đầy tớ của Đức Chúa Trời.
Như đã nói ở trên, chúng ta hướng đến sự lãnh đạo của Chúa Jesus để đánh giá ảnh hưởng của sự lãnh đạo ấy trên ý muốn của Đức Chúa Trời và những môn đồ trực tiếp của Ngài. Chúa Jesus chắc sẽ không được chấp nhận trong rất nhiều hội thánh ngày nay - thậm chí với tư cách một người khách đến thăm đi nữa. Ai muốn Bạn Thiết của những tội nhân này thâm nhập vào những bức tường thánh khiết của chức vụ thiêng liêng thánh thiện chúng ta? Chúng ta có thể kết luận Ngài đã có bản lý lịch rất ấn tượng và nhiều hành động có chất lượng, nhưng Ngài hoàn toàn không thể hoạt động kết quả với các môn đồ Ngài. Xin hiểu rằng chúng ta đang xem xét vấn đề này từ nhãn quan của con người, chứ không phải từ cách của Chúa. Thường thì những kế hoạch của con người và của Chúa ở trên những bình diện khác nhau; vì thế, chúng ta không bao giờ đạt đến tiềm năng mà Đức Chúa Trời đã dự định cho mình. Đời sống Chúa Jesus có một sự cân đối hoàn hảo giữa phần con người và phần thiên thượng. Ngay cả các môn đồ cũng không hiểu hết điều ấy mãi cho đến sau công tác chuộc tội và việc Đức Thánh Linh ngự trong lòng.
Xem xét kỹ thì sẽ thấy Ngài dạy các môn đồ trước hết bằng sự lời chỉ dạy và thứ đến bởi nêu gương. Chúa Jesus không bao giờ giao trách nhiệm cho môn đồ trừ khi chính Ngài sẵn lòng làm điều đó. Một lãnh đạo giỏi chỉ dạy bảo từ những từng trải bản thân mình trong đời sống. Và điều này cho thấy sự phân chia giữa những phẩm chất lãnh đạo theo cách dân chủ và theo cách độc tài. Sự lãnh đạo dân chủ mất nhiều thời gian hơn mới phát triển; phải học tập nhiều bài học; và những đau lòng cùng những thất bại có thể càng hiển nhiên hơn. Nhưng đến cuối cùng, nó sẽ phát triển được những phẩm chất lãnh đạo vững mạnh trong môn đồ, là những người sẽ có tác động lớn hơn đến thế gian. Sự lãnh đạo dân chủ dạy con người đứng vững giữa những nghịch cảnh của cuộc đời.
Đâu là những sự khác nhau then chốt giữa sự lãnh đạo dân chủ và lãnh đạo độc tài?
Lịch sử có chứng minh sự khác biệt chính giữa hai lối tiếp cận này không? Ngày nay, Đức Chúa Jesus Christ vẫn là Đầu của Hội Thánh phổ thông. Dầu ngày nay, Ngài không còn ở trên thế gian này trong hình dạng con người, nhưng hiện diện thuộc linh của Ngài vẫn thể hiện rõ ràng trong công tác của Hội Thánh. Và Hội Thánh tiếp tục bành trướng và phát triển trên toàn cầu. Satan tìm cách chặn đứng và tiêu diệt Hội Thánh, song không đạt kết quả gì. Hội thánh vẫn tiến lên, mong đợi Vị Lãnh Tụ trở lại vào bất cứ giây phút nào.
Hiện nay, ít người biết đến phe Pharisi. Dầu họ đã từng là một đảng phái chính trị và tôn giáo rất mạnh mẽ và được mến mộ tại Palestine trong thời Đấng Christ và trong hầu hết thời Tân Ước, nhưng ngày nay họ không còn tồn tại nữa. Ngoài ảnh hưởng của họ trong Kinh Thánh, chúng ta rất ít nghe đến những thành tựu và ảnh hưởng của họ trên thế gian. Trong thực tế, đó chỉ là con số không. Thành tựu lớn nhất của họ là rất nghiêm khắc và câu nệ luật pháp, áp đặt những đòi hỏi phi lý trên con người. Có thể nhìn thấy ý nghĩa đặc biệt này trong nhiều hội thánh, và chúng ta phải cẩn thận để khỏi sa vào bẫy ấy. Tinh thần duy luật pháp nếu được xử dụng đúng trong chức vụ của Hội Thánh thì có thể ngăn thế gian khỏi làm ô nhơ sứ mạng của hội thánh, nhưng những tập tục không chính đáng của tinh thần duy luật pháp có thể nhanh chóng chia rẽ Hội Thánh và tiêu diệt chức vụ của Đấng Christ.
Rõ ràng, phương pháp lãnh đạo dân chủ đem lại những lãnh đạo trưởng thành và sáng tạo trong các hội thánh chúng ta. Nhưng, đâu là nan đề cơ bản? Chúng ta đã không dành thời gian và kiên nhẫn để phát triển những khuynh hướng dân chủ vững mạnh giữa vòng dân sự Đức Chúa Trời. Có những lúc dân sự Đức Chúa Trời không muốn lớn lên và phát triển trong đời sống thuộc linh. Những thái độ như thế có thể gây ra bế tắc lớn và làm còi cọc sự phát triển Hội Thánh. Chúa chúng ta truyền phải xây dựng Hội Thánh Ngài, không bao giờ được hài lòng hoặc tự mãn trong phát triển ấy.
Đức Chúa Trời không bao giờ ép chúng ta tiếp nhận Ngài hay chấp nhận kế hoạch Ngài, cũng không bao giờ đòi hỏi phải vâng lời và phục vụ Ngài. Luôn luôn có những phương án tùy chọn - chấp nhận hay từ chối. Đức Chúa Trời thật sự muốn điều gì từ chúng ta? Ngài muốn có tấm lòng sẵn sàng hầu việc Ngài, bấy giờ Ngài mới có thể xử dụng để tôn cao vinh hiển Ngài.
Sự Lãnh Đạo Rõ Ràng:
Căn nguyên của đức tin Cơ Đốc đem lại phẩm chất lãnh đạo biến cải cuộc đời. Trong khi thế gian tìm cách nhận lãnh, thì lòng cam kết với Đấng Christ lại ban cho. Thông qua những nỗ lực nhân đạo của thế gian, chúng ta thấy có sự ban cho, nhưng không đúng theo định nghĩa thuộc linh. Giới Cơ Đốc phải là những người ban cho nhiều nhất trong xã hội; tuy thế lại thường xảy ra điều ngược lại. Chúng ta thấy vô số câu Kinh Thánh nói chi tiết về nguyên tắc dâng hiến thay vì khái niệm nhận lãnh. Sau đây chỉ là một vài ví dụ then chốt. “Vác thập tự giá mình mà theo ta” (Mac Mc 10:21). “Hãy mang lấy ách của ta” (Mat Mt 11:29). “Hãy giữ mình, tỉnh thức và cầu nguyện” (Mac Mc 13:33). Và rồi, chúng ta đọc thấy: “Mang thuẫn của đức tin” (Eph Ep 6:16). Lời chứng của Hội Thánh chính là ở sự ban cho thành thật của dân sự Ngài.
Chúa Jesus định nghĩa sự lãnh đạo rõ ràng trong lời dạy dỗ kinh điển nổi tiếng của Ngài - là Bài Giảng Trên Núi (Mat Mt 5:1-7:29). Phải thấy rằng Ngài tổng hợp những nguyên tắc lãnh đạo thành hành động mỗi ngày của nếp sống. Nếu không đem áp dụng sự dạy dỗ này vào những khía cạnh thực tiễn của đời sống, thì nó không đem lại hiệu quả thật. Sự lãnh đạo không cần rắc rối, phức tạp, nhưng nói đơn giản, nó chỉ cần đưa ra những câu trả lời thực tiễn và khôn ngoan nhất cho những nan đề cơ bản và những cuộc đối đầu cơ bản. Và nếu tuân theo những nguyên tắc này, chúng ta có thể giải quyết xong những nan đề thứ yếu trước khi chúng trở thành những nan đề lớn.
Hơn nữa, chúng ta thấy các ẩn dụ và các phép lạ của Chúa Jesus cung cấp cho ta những từ ngữ rõ ràng về điều đáng làm và đừng làm. Nhưng vì sao chúng ta thấy trong sự dạy dỗ Chúa Jesus nói nhiều về đời sống? Chúa Jesus đã tuyên bố rõ ràng: “Ta là đường đi, chân lý, và sự sống.” (GiGa 14:6). Lời cam kết này đòi hỏi Ngài phải dạy chúng ta về sự sống, cả trong công tác tại thế cũng như trong sự hiện diện trên thiên đàng của Ngài.
Đâu là sự lãnh đạo thuộc linh có chất lượng? Để giải đáp thắc mắc này, chúng ta có thể thấy bốn phẩm chất lớn trong IITi 2Tm 2:15. Chức vụ Cơ đốc, là sự kêu gọi cao cả nhất trong thế gian, vượt trổi xa những chức vụ lãnh đạo của thế gian. Trong vai trò lãnh đạo này, chúng ta nhớ phải có tấm lòng hạ mình. Đừng bao giờ quên bạn đã là ai, hiện là ai, và có thể trở thành con người thế nào. Và đừng để bản ngã xen vào (đặc biệt là lòng tự cao, tội lỗi, sự thờ ơ, lười biếng, thất bại và sự nổi loạn).
Đức Chúa Trời tìm kiếm sự dâng mình, trung tín và cam kết nơi những lãnh đạo của Ngài. Ngài tìm kiếm chất lượng chứ không phải số lượng. Liệu đây có phải là lý do khiến số lượng nhân sự Ngài trong thế gian này có rất ít? Lãnh đạo Cơ Đốc không thể khuất phục trước những áp lực này. Khi Đức Chúa Trời hành động, thì chức vụ này trở thành đa số. Và cấp lãnh đạo có chất lượng thì không hổ thẹn.
Phẩm chất tốt đầu tiên không gì khác hơn là sự học hỏi liên tục - “Hãy chuyên tâm” (“học hỏi để tự thể hiện mình” - Bản Kinh Thánh AKJV). Công tác Đức Chúa Trời vẫn luôn là công tác gian khó, bất tận và không ai biết ơn. Lãnh đạo Cơ Đốc sẽ luôn luôn cần được cải thiện.
Timôthê, người bạn đồng công của sứ đồ Phaolô, giống như một người con vậy. Trong thực tế, Phaolô chắc già hơn chàng trai Timôthê rất nhiều. Nhưng bối cảnh Cơ Đốc của Timôthê đã khiến ông có lợi thế. Bà ngoại là Lôít - và mẹ ông - Ơnít - là những tín đồ. Dường như cha ông chưa hề trở thành Cơ Đốc nhân. Timôthê là người trở lại tin Chúa qua Phaolô và một nhân sự trung tín trong Chúa.
Đến cuối đời sống và chức vụ, vị sứ đồ đã khuyến khích Timôthê cứ tiếp tục học hỏi. Sự học hỏi và kiến thức sẽ không bao giờ dừng lại. Sẽ không bao giờ được phép bị cạn kiệt. Sự nghiên cứu vẫn là lời khuyên then chốt trong thơ tín này. Nói cách khác, đừng bao giờ ngừng học hay ngừng lớn lên trong Đấng Christ. Kiến thức vô hạn về Đức Chúa Trời sẽ là một nguồn thư viện từ bên ngoài cho cấp lãnh đạo và dân sự của Ngài. Biết lời Chúa tức là biết vị Thầy. Kiến thức chỉ là sự trống rỗng vĩ đại nếu không có hiện diện của Đức Chúa Trời. Suy cho cùng, người lãnh đạo phải tự chứng tỏ mình xứng đáng với địa vị Đức Chúa Trời đã ban. Và như thế tiến trình học tập sẽ không bao giờ ngừng lại.
Phẩm chất thứ nhì có thể nhìn thấy trong “được đẹp lòng Đức Chúa Trời” (“được Đức Chúa Trời ưng thuận” - Bản AKJV). Phẩm chất thứ nhì này là gì? Phải có óc sáng kiến liên tục. Sự ưng thuận vẫn luôn là nhu cầu cơ bản của con người; chúng ta không thể sống thiếu sự ưng thuận ấy. Thông thường, chúng ta ưng thuận những người mà chúng ta biết hay một công việc tốt đã được hoàn tất. Sự ưng thuận gây dựng đặc tính và nếp sống tốt. Tin Lành khôi phục con người đến địa vị công bình của mình trước mặt Đức Chúa Trời. Sự tiếp nhận kế hoạch thiên thượng khiến chúng ta nhận được mức độ chấp thuận cao nhất, tức là biết Đức Chúa Trời và sống cho Ngài.
Nhưng phải là sự ưng thuận đúng. Cấp lãnh đạo thế tục nghiên cứu về các mức độ đánh giá và đáp ứng của con người. Cấp lãnh đạo thuộc linh phải được “đẹp lòng Đức Chúa Trời.” Thay vì sự tìm kiếm sự ưng thuận của con người, người lãnh đạo Cơ Đốc phải nhận được con dấu chấp thuận của Đức Chúa Trời. Tại sao vậy? Con người sẽ không luôn luôn đồng ý với bạn đâu. Kế hoạch của Đức Chúa Trời còn quan trọng hơn sự chấp thuận của con người. Dầu sự lãnh đạo thuộc linh có thể là con đường rất cô đơn, nhưng không được phép bỏ qua nó. Con người có thể xem đời sống bạn là ngu dại, nhưng Đức Chúa Trời sẽ ban cho bạn sự đánh giá cao nhất.
Phẩm chất thứ ba chính là tính mãnh liệt - “như người làm công không chỗ trách được” (“người làm công không bị hổ thẹn”). Người làm công trung tín sẽ là người làm công có kết quả nhất. Nếu trung tín, chúng ta không có lý do gì để hổ thẹn hay hối tiếc. Bị hổ thẹn chính là do không trung tín. Điều này không giống như sự thất bại. Thông thường, người lãnh đạo sẽ thất bại. Những thất bại giúp chúng ta học hỏi để không tái phạm những sai lầm ấy nữa. Và đơn giản là không ai chỉ một lần nỗ lực đã thành công. Đôi khi, chúng ta thất bại vì không hiểu kế hoạch thiên thượng, vì không có đúng loại kỹ năng, vì thiếu những ân tứ thuộc linh, hoặc lẽ vì không có năng lực để hoàn tất công tác, hay vì người khác cản trở chúng ta. Thất bại là điều có thể vượt qua.
Một người làm công không hổ thẹn sẽ nhận được tấm văn bằng “Được lắm!” từ Đức Chúa Trời. Tôi có đang làm theo ý muốn Đức Chúa Trời không? Đây phải là một câu hỏi liên tục. Tôi có đề ra những quyết định đúng không? Tôi có dâng Chúa trọn quyền tể trị đời sống mình không? Những hành động của tôi có đem lại sự vinh hiển và tôn trọng cho Chúa không? Đức Chúa Trời có thể tin cậy tôi hoàn tất công tác này không?
Phẩm chất thứ tư là “lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật,” có thể dịch là “có bản năng cẩn thận.” Thứ quý nhất cho Cơ Đốc nhân giữa thế gian này chính là cứ tiếp tục chăm chú vào lẽ thật. Lẽ thật sẽ không bao giờ mắc sai lầm. Sự ngay thẳng sẽ luôn luôn là chính sách tốt nhất. Không thể nào đem giấu tội lỗi được. Dầu không ai biết tội lỗi bạn, nhưng Đức Chúa Trời biết. Sự thật có thể gây tổn thương nhất thời khi vạch trần một tội lỗi, nhưng nó có những phẩm chất chữa lành rất tích cực và dạy dỗ nhiều điều. Người lãnh đạo phải giữ mình tinh sạch trong Lời Đức Chúa Trời.
Người lãnh đạo giỏi sẽ tách những cặn bã ra khỏi lẽ thật. Một nan đề lớn trong Hội Thánh chúng ta ngày nay chính là hàng tấn những thứ rác rưởi, cặn bã, đặc biệt là trong những địa vị lãnh đạo. Để loại bỏ cặn bã, chúng ta phải mặc lấy những phẩm chất của Đấng Christ và sống với chúng trong nếp sống hằng ngày cũng như trong trách nhiệm lãnh đạo. Người lãnh đạo Cơ Đốc phải tập trung dạy dỗ và sống theo đúng Kinh Thánh. Lời thách thức “Đừng bao giờ tẻ tách khỏi Lời Đức Chúa Trời” nói lên một chiều hướng có thể dẫn đến tà giáo, tình trạng không thuộc linh và không hoàn thiện. Đức Chúa Jesus Christ, vị Lãnh Tụ, chính là Nền Tảng chắc chắn để sửa lại tình trạng ấy.
Đức Chúa Trời kêu gọi và Ngài trông chừng. Ngài giao chúng ta những điều nhỏ và cứ thêm những điều mới vào khi chúng ta trung tín. Timôthê đại diện cho một lãnh đạo giỏi cho Đức Chúa Trời. Nhưng nên nhớ, vấn đề không phải là chỗ bạn phục vụ (Đức Chúa Trời sẽ đạt vào bạn vào đúng chỗ) mà là cách bạn phục vụ. Ngay lập tức sứ đồ Phaolô trích dẫn hai vị lãnh đạo tồi trong Hội Thánh - Hymênê và Philết (câu 16- 18). Những công việc sai lầm của họ đang phá đổ chứ không gây dựng Hội Thánh. Người lãnh đạo giỏi sẽ gây dựng Hội Thánh, làm cho tăng trưởng càng hơn về mặt thuộc linh lẫn mặt số lượng khi Đức Chúa Trời gia thêm.
Sự Lãnh Đạo Có Chỉ Thị:
Một người lãnh đạo hiệu quả sẽ luôn luôn có những mục tiêu và mục đích để làm phương hướng chỉ đạo, và sẽ đưa ra những thay đổi cần thiết trong phương pháp và kỹ thuật hầu đạt được chúng. Không thể lầm quan điểm Cơ Đốc vào đâu được, vì đã tiết lộ trong Đại Mạng Lịnh hay Mạng Lịnh Của Thầy. Trong bốn sách Tin Lành và Côngvụ Các Sứ Đồ, chúng ta được trình bày quan điểm này theo bốn cách khác nhau, nhưng tất cả đều cùng chung ý nghĩa và ảnh hưởng. Đức Chúa Jesus truyền lịnh và ủy thác môn đồ đi ra khắp thế giới, rao giảng Tin Lành và môn đồ hóa. Trong mạng lịnh này, chúng ta không hề có mạng lịnh phải chinh phục toàn thế giới. Ngay cả trước khi dựng nên thế gian, Đức Chúa Trời đã biết nhiều người sẽ chống nghịch Ngài và không bao giờ biết đến Ngài. Như vậy, không thể bị chinh phục toàn thế gian nói chung được. Dầu vậy, chúng ta có thể chinh phục con người về cho Ngài, và đây chính là mục tiêu đã đặt ra cho chúng ta.
Đại Mạng Lịnh là một mạng lịnh bao hàm tất cả, gồm giảng đạo, dạy dỗ, truyền giảng, truyền giáo, giáo dục và các chức vụ đặc biệt. Mạng lịnh này thuộc thẩm quyền tác nhân đặc biệt của Ngài, là Hội Thánh phổ thông, được quản trị và dẫn dắt bởi Đầu là Đấng Christ. Trong Cong Cv 2:1-47, chúng ta đọc được sự khai sinh Hội Thánh. Và từ khởi đầu, Hội Thánh đã nhận trách nhiệm duy nhất là tìm đến với môi trường thế tục. Trở lại với 1:8, các môn đồ đã trở thành chứng nhân của Đấng Christ - “các ngươi sẽ làm chứng về ta.”
Những chứng nhân này là ai? Họ là môn đồ của Đức Chúa Jesus Christ trong mọi thời đại của lịch sử thế giới. Các chứng nhân của Hội Thánh đã tồn tại từ lúc khai sinh Hội Thánh cho đến Sự Cất Lên đầy vinh diệu trong tương lai. Các chứng nhân thuộc các thời đại khác - thời đại Cựu Ước, thời đại Cơn Đại Nạn, và Vương Quốc Thiên Hy Niên - tồn tại như một phần trong vương quốc của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh phân biệt rõ ràng giữa Hội Thánh với nước Đức Chúa Trời. Hội Thánh là một phần của vương quốc ấy, nhưng vương quốc không phải là một phần của Hội Thánh.
Định nghĩa đơn giản thì môn đồ là người đi theo. Trong bối cảnh Cơ đốc, môn đồ trở thành người đi theo Chúa Jesus Christ. “Biết các ngươi là môn đồ ta” (GiGa 13:35). “Số các môn đồ ...thêm lên nhiều lắm” trong Hội Thánh đầu tiên (Cong Cv 6:7). Thậm chí chỉ trong vòng vài tuần lễ, Hội Thánh đã tăng lên đến hàng ngàn người tại thành Giêrusalem. Và ngày nay, Hội Thánh có thể tuyên bố có môn đồ khắp mọi nơi trên thế giới. Tin Lành không có biên giới.
Nhưng Hội Thánh đã xem trọng Đại Mạng Lịnh hơn và đã phát động chương trình truyền giáo toàn thế giới. Chữ “để riêng” bắt đầu cho công tác này (13:2), nơi Phaolô và Banaba được biệt riêng ra cho công việc Chúa. Trong phần còn lại của sách Côngvụ, chúng ta có những chuyến truyền giáo của Phaolô. Tuy nhiên, thời bấy giờ còn có rất nhiều công tác truyền giáo khác nữa, bao gồm các sứ đồ của Đấng Christ, Banaba và Mác, và nhiều người khác nữa đi vào thế giới thời bấy giờ. Vì nhiều bản ký thuật của hội thánh đầu tiên đã bị hủy, nên chúng ta chỉ có ít thông tin về điều đã xảy ra. Chúng ta thật sự biết đã có rất nhiều nỗ lực truyền giáo, và có thể nhìn thấy một phần hoạt động truyền giáo này qua đời sống và chức vụ của nhà truyền giáo vĩ đại - là sứ đồ Phaolô - người bắt bớ tín đồ Cơ Đốc được biến đổi thành người rao giảng Đấng Christ.
Sự lãnh đạo có chỉ thị này xưa nay vẫn không thay đổi. Đại Mạng Lịnh vẫn y nguyên trong thời nay và sẽ tiếp tục mãi cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ trở lại đón rước Hội Thánh Ngài. Một lần nữa, người ta không khắc chết các phương pháp và kỹ thuật vào đá; chúng ta có thể điều chỉnh những kiểu mẫu trình bày của mình cho phù hợp với thế giới hiện tại. Khi làm như vậy, chúng ta phải nhớ lập hai cam kết vững chắc. Thứ nhất Tin Lành không thay đổi. Lẽ thật không cần thay đổi cho hợp với con người, nhưng con người phải thay đổi để đáp ứng với Tin Lành. Sự thay đổi này đến bởi quyền năng của Đức Chúa Jesus Christ và dòng huyết quý báu của Ngài đã tuôn đổ trên thập tự giá. Thứ nhì, chúng ta phải luôn luôn sống đạo đức để trình bày Tin Lành. Chúng ta không bao giờ có thể phạm tội để đem người ta về với Đấng Christ. Chúng ta không bao giờ được phép thỏa hiệp một quan điểm đúng khi nó liên quan đến lẽ thật. Chúng ta không bao giờ có thể biện minh cho một hành động vô đạo đức để đạt được một quyền lợi đạo đức. Thế gian không có tiêu chuẩn về điều ác và tội lỗi cho nếp sống, nhưng giới Cơ Đốc phải mạnh mẽ trong lẽ thật và các nguyên tắc của Lời Ngài.
Điều cuối cùng nhưng không kém quan trọng trong phần lãnh đạo có chỉ thị, ấy là Đức Thánh Linh chính là Giáo Sư và Đấng Dẫn Dắt của chúng ta. Một lãnh đạo Cơ Đốc vững vàng sẽ hoàn toàn nương cậy Đức Thánh Linh để đưa ra những quyết định đúng và có những hành động đúng. Nếu Đức Thánh Linh không dẫn dắt, thì hành động đó không thể thật sự ra từ Đức Chúa Trời. Chúng ta đã có bao nhiêu quyết định, cam kết và hành động mà đằng sau chúng không có quyền năng của Đức Thánh Linh? Sự cầu nguyện thực sự bước vào trong những trách nhiệm lãnh đạo của chúng ta đến mức độ nào? Hết thảy chúng ta cần phải thừa nhận nhiều khi mình lãnh đạo bằng trí thông minh và quyết định của con người hơn là nhờ cậy quyền năng của Chúa và Thánh Linh Ngài. Tại sao không dành giây phút này để cầu nguyện và xin sức mạnh của Thánh Linh Ngài ở trong chúng ta?
Sự Lãnh Đạo Dứt Khoát:
Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét kỹ đến việc quản lý thời gian và những thành tựu, hai khía cạnh quan trọng đối với sự lãnh đạo vững mạnh và thành công. Chúa Jesus đã nêu tấm gương hoàn hảo trong những phương diện này của đời sống, là biết thời điểm chính xác để hành động và hoàn thành sứ mạng Ngài. Chúa Jesus luôn luôn hành động vào đúng thời điểm, và Ngài luôn luôn có thời điểm để hành động. Đây là những yếu tố quan trọng nhất để lãnh đạo xuất sắc. Nếu không hành động thích hợp trong một tình huống nhất định, thì chúng ta đánh mất sự kính trọng và sự ngưỡng mộ cần thiết của người khác.
Ví dụ chính yếu trong đời sống của Chúa Jesus sẽ là việc kêu Laxarơ sống lại. Chúa Jesus nghe tin dữ về bịnh tật của Laxarơ, người anh duy nhất của Mari và Mathê, và là người bạn rất thân của Chúa. Vì nhìn biết trước được trong tương lai, nên Chúa Jesus biết kết quả sẽ ổn cả, và Ngài đã nói những lời khích lệ người nghe (GiGa 1:4). Tuy nhiên, Chúa Jesus vẫn ở lại tại chỗ thêm hai ngày nữa. Và ngay cả trước khi đi đến Giuđê, Ngài đã báo tin sự chết của Laxarơ rồi (11:11).
Mathê đến gặp Chúa ngay khi Ngài vừa đến Bêthani, và lập tức trách Chúa Jesus về sự chết của anh mình (11:21). Chúa Jesus đã dạy Mathê về sự sống lại của Laxarơ, là điều mà Mathê đã hiểu lầm. Mari cũng kết tội Chúa tương tự khi gặp Ngài (11:32). Điều này dẫn đến câu ngắn nhất trong Kinh Thánh, là “Đức Chúa Jesus khóc” (11:35). Và cùng với những người em gái và người Dothái đang than khóc, Chúa Jesus đã bày tỏ nhân tánh Ngài và lòng thương xót trước sự qua đời của người bạn thân. Câu chuyện không kết thúc trong sự đau buồn của nhiều tấm lòng, nhưng kết thúc với sự vui mừng lớn lao. Chúa Jesus truyền lăn tảng đá ra khỏi mộ (Laxarơ đã chết bốn ngày rồi) và kêu đích danh ông sống lại từ kẻ chết. Kết quả là sự sống lại vinh diệu của một người đã chết (11:43-44). Với thời điểm hoàn hảo, sự khuyên bảo, sự đau buồn và chờ đợi, kết quả cuối cùng đã bày tỏ quyền năng của Cứu Chúa hằng sống. Đây không phải sự sống lại đầu tiên do Chúa thực hiện. Xin nhớ lại việc Chúa gọi con trai người đàn góa sống lại (cũng không phải sự sống lại cuối cùng). Chỉ trong một khoảng thời gian ngắn nữa, chính Chúa Jesus sẽ sống lại từ mồ mả, vì sự chết không thể cầm giữ sự sống đời đời. Và thân thể tín đồ Đấng Christ sẽ được sống lại vào lúc hội thánh được cất lên, còn linh và hồn đã hiện diện trong thiên đàng rồi từ lúc họ qua đời. Chúng ta há không thể gọi đây là đúng thời điểm và là thời điểm thích hợp để hành động sao?
Sẽ cực kỳ khó thành đạt trong đời và đạt được những mục tiêu đã định nếu thiếu thể loại hay hình thức quản lý thời gian. Phương pháp hay tiến trình này, thường được hoạch định ra hay được làm trọn tùy theo cá tính, sẽ giúp làm xong công việc. Nó sẽ là phương tiện cho mục đích. Trong bối cảnh Cơ đốc, nó phải luôn luôn nằm trong ranh giới của tính cách và hành vi tốt về đạo đức. Chúng ta không bao giờ có thể thay thế luật của Đức Chúa Trời trong những thành tựu của cá nhân hay tập thể.
Về cơ bản, chúng ta thấy có hai loại quản lý - quản lý hướng con người và quản lý hướng mục tiêu. Trong thể loại quản lý hướng con người, người lãnh đạo quan tâm đến con người. Con người - chứ không phải công tác - luôn luôn là vấn đề quan trọng. Mặt khác, thể loại quản lý hướng mục tiêu nhắm đến việc hoàn tất mục tiêu, thường xem nhẹ nhu cầu của con người. Khi cùng làm việc với nhau trong một đội, những người liên quan sẽ tìm cách làm xong công việc bằng mọi giá. Cấp lãnh đạo giỏi sẽ cân đối giữa hai thái cực lãnh đạo này, vừa đáp ứng nhu cầu của con người đồng thời cũng vừa hoàn tất nhiệm vụ.
Nhưng làm sao chúng ta giữ được cân bằng trong sự quản lý lãnh đạo Cơ đốc? Hầu như không thể tìm được sự cân bằng hoàn hảo ở nơi một người lãnh đạo. Có thể sẽ có sự gần gũi, nhưng lãnh đạo này sẽ thiên về một bên, gây thiếu cân bằng đủ để tạo ra những nan đề nào đó, những chia rẽ và khó khăn nào đó. Do vậy, Hội Thánh cần cả hai thể loại quản lý này. Chúng ta không thể giảm thiểu tầm quan trọng của cả đội viên hướng con người lẫn đội viên hướng mục tiêu. Nhờ có cả hai thể loại người quản lý này trong Hội Thánh, chúng ta có thể nộ lực để giữ cho cân bằng.
Lịch sử của Hội Thánh đầu tiên cho chúng ta một ví dụ khác nữa về cách Đức Chúa Trời xử dụng cả hai thể loại lãnh đạo này. Phaolô và Banaba đã được Đức Thánh Linh chỉ định và được Hội Thánh biệt riêng để khởi hành chuyến truyền giáo đầu tiên. Họ đã hoàn tất thành công nhiệm vụ, và về tường trình đầy đủ cho hội thánh tại Antiốt.
Dầu chuyến đi rất thành công, chúng ta đã thấy có một nan đề về nhân sự. Mác, một chàng trai trẻ là cháu của Banaba, là người trong đội, nhưng ông đã lìa đoàn trước khi kết thúc chuyến đi (chúng ta không có đặc ân để lý giải vì sao ông lìa đoàn truyền giáo).
Hành trình truyền giáo thứ nhì được lên kế hoạch (Cong Cv 15:36). Một lần nữa, cả Phaolô lẫn Banaba muốn cùng đi chung với nhau, nhưng việc đem Mác theo đã gây ra sự chia rẽ. Phaolô - người hướng mục tiêu - không muốn đem chàng trai trẻ đi theo. Anh ta đã không chứng tỏ được mình trong hành trình truyền giáo thứ nhất; do đó, Phaolô cho rằng có thể anh sẽ bỏ rơi đoàn thêm lần nữa. Banaba, người lãnh tụ hướng con người, lại muốn đem cháu mình theo, tin anh ta sẽ chứng tỏ mình là xứng đáng. Từ kết quả và theo thông tin được biết, Phaolô và Banaba chẳng bao giờ cùng đi chung với nhau nữa. Phaolô và Sila khởi hành chuyến truyền giáo thứ nhì, như được ghi lại cho chúng ta trong Côngvụ. Banaba và Mác ra đi trong một chuyến truyền giáo khác, khởi đầu từ Chíprơ. Về sau, sứ đồ Phaolô công nhận tầm quan trọng của Mác, sự phục vụ và chức vụ của ông trong công tác của Hội Thánh. Đức Chúa Trời đã dùng nan đề đầu tiên này để bành trướng công tác Ngài trên thế giới và mở nhiều cánh cửa mới cho công tác truyền giáo.
Thời gian và cách quản lý nó vẫn là điều rất quan trọng trong công việc Chúa. Lúc nào sẽ là lần cuối cùng chia xẻ Tin Lành? Làm sao chúng ta có thể làm xong mọi việc? Chúng ta không biết đâu là giờ cuối cùng để làm chứng, và chúng ta không tự mình thực hiện công việc. Đang khi Chúa chúng ta còn nấn ná, chức vụ vẫn là một công việc bất tận. Do vậy, chúng ta cần cả hai thể loại lãnh đạo này để thực hiện xong công việc. Và chúng ta phải học tập để cộng tác với nhau vì sự vinh hiển của Ngài.
Nhưng điều gì là quan trọng khi chúng ta có quá nhiều việc để làm và để hoàn tất? Một lãnh đạo giỏi sẽ thiết lập các mục tiêu và những điều ưu tiên. Đâu là những nhu cầu và công tác quan trọng nhất trong trách nhiệm Cơ Đốc của chúng ta? Các mục tiêu và điều ưu tiên sẽ lập nên một kế hoạch tiến hành tiệm tiến. Thiếu chúng, chúng ta sẽ không có phương hướng và không bao giờ hoàn thành công tác.
Tại một trong những hội thánh mà tôi đã từng làm mục sư, có một tấm bảng treo trên văn phòng hội thánh ghi rằng: “Hãy lập kế hoạch từ trước - Nôê đã làm như vậy!” Đây là một lời khuyên phi thường. Nôê mất một trăm hai mươi năm để đóng con tàu do Đức Chúa Trời dựng nên và vẽ kiểu. Trong thời gian này, Nôê cảnh cáo dân chúng trên trần gian về sự hủy hoại sắp đến trên đất. Công tác rao giảng trung tín của ông không khiến được một ai ăn năn (thêm một bản lý lịch không ấn tượng nữa trong sự lãnh đạo hiện đại). Dầu vậy ông vẫn hoàn tất chiếc tàu, và nó cứu gia đình ông khỏi bị hủy diệt. Nôê đã hoàn tất công tác Đức Chúa Trời giao cho. Dầu không đem lại một bản lý lịch rất thành công, nhưng nó đã tìm được sự ủng hộ và lòng trung tín trong sự phục vụ kế hoạch và mục đích thiên thượng.
Tân Ước cũng nêu cho chúng ta một ví dụ tuyệt vời về việc thiết lập đúng những điều ưu tiên. Các sứ đồ đang bận rộn rao giảng Lời Đức Chúa Trời và chăm sóc cho nhu cầu thuộc linh của tín hữu. Tuy nhiên, nan đề đã xuất hiện trong hội thánh, tức là dường như các góa phụ Hylạp bị bỏ bê. Các sứ đồ đã giải quyết vấn đề này, nhưng họ không muốn đi lạc hướng khỏi nhiệm vụ chính, là rao giảng Lời Đức Chúa Trời. Do vậy, họ đã bổ nhiệm các chấp sự đầu tiên (6:1-15), thật thú vị thay, cả bảy người đều mang tên Hylạp.
Những ví dụ cụ thể này sẽ là những bài học quan trọng cho chúng ta trong trách nhiệm lãnh đạo. Vì sẽ phải khai trình với Đức Chúa Trời về những cú điện thoại đặc biệt và những cuộc hẹn, nên chúng ta đừng phí thì giờ quý báu. Vì có rất nhiều hướng khác nhau để đi, nên chúng ta cần quản lý tốt thời gian trong cả cuộc sống cá nhân lẫn trong bổn phận lãnh đạo. Khi tôi học chương trình tiến sĩ, khoảng một phần ba chương trình là về quản lý bản thân và quản lý mục vụ. Ngay cả trước khi có thể bắt đầu chương trình tiến sĩ, tôi đã phải ghi lại cách mình xử dụng thời gian, và rồi đánh giá nó thật cẩn thận.
Rõ ràng, các nền văn hóa trên thế giới thì khác nhau, nhưng thì giờ thì bằng nhau. Trong bối cảnh của một nền văn hóa nhất định, người ta có thể đề ra những mục tiêu và những điều ưu tiên. Đức Chúa Jesus đã ở trong phạm vi văn hóa Trung Đông, nhưng điều này không ngăn Ngài làm trọn ý muốn của Đức Chúa Cha và hoàn tất mục đích Ngài trên đất. Ngài đã tận dụng các nhiệm vụ hằng ngày, nhìn thấy nhu cầu của con người và đã tạo nhiều cơ hội đặc biệt. Ví dụ, chúng ta có việc nuôi năm ngàn người và bốn ngàn người ăn (tôi xem đây là hai trường hợp khác nhau). Sau một ngày dạy dân chúng, Ngài đã tỏ lòng thương xót trước những nhu cầu con người của họ. Ngài không thể cho họ trở về mà không quan tâm đến cơn đói của họ. Từ số thức ăn ít ỏi, Chúa Jesus đã hóa thêm nhiều cho đến khi hết thảy mọi người đều no đủ. Và trong mỗi trường hợp, chúng ta vẫn còn lương thực dư mà không được phép phí phạm.
Việc quản lý giúp chúng ta tận dụng được cơ hội. Chúng ta có thể dùng những thông lệ thường ngày để nhìn thấy bàn tay đặc biệt của Đức Chúa Trời đang hành động trong đời sống mình và đời sống của những người được chúng ta chăm sóc. Và với tinh thần này, chúng ta đừng ngần ngại nghĩ những chuyện lớn và hành động bởi đức tin. Chúng ta sẽ không bao giờ thành công nếu không chịu liều trong lãnh đạo để thử những phương tiện mới trong đời sống chúng ta. Nếu sợ thất bại, chúng ta sẽ không bao giờ hoàn tất những việc lớn vì vinh hiển của Đức Chúa Trời và Cứu Chúa chúng ta.
Quản lý tốt và được thực hiện trong ý muốn và mục đích của Đức Chúa Trời thì sẽ đem lại những thành tựu đặc biệt. Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhận những ân tứ và tài năng rồi sử dụng để đem lại thành công cho Ngài. Khi thực hiện công việc Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta, thì đó không bao giờ là thành công của chúng ta cả. Mọi thành công của bản thân đều phải được dâng trả lại cho Chúa. Đức Chúa Trời mới là Đấng ban cho chúng ta sự khôn ngoan và năng lực để làm xong công tác.
Đức Chúa Jesus nổi bật lên như Đấng Thành Đạt vĩ đại nhất của mọi thời đại (không phải theo từ ngữ của thế gian, nhưng trong kế hoạch của Đức Chúa Trời). Thế gian chấp nhận Chúa Jesus như là một giáo sư giỏi khác nữa, nhưng họ không nhận ra được công tác quan trọng nhất của Ngài - phó mạng sống để chuộc tội lỗi. Vì sao Chúa Jesus lại thành công như vậy trong công tác? Chúng ta không thể nhắc lại điều đó cho đủ được. Trong mỗi hoàn cảnh của đời Ngài, Ngài luôn luôn làm trọn và làm trọn hoàn toàn ý muốn của Đức Chúa Cha. Ngài đã không phạm tội, và Ngài không bao giờ đi lệch khỏi sứ mạng là chết trên thập tự giá.
Thành tựu mỹ mãn đến do vâng lời Đức Chúa Trời. Từ đây hoàn toàn có quyền thừa nhận điều ngược lại, tức là: sự thất bại đến do không vâng lời Đức Chúa Trời. Một lần nữa, chúng ta có thể thấy hai ví dụ trái ngược nhau trong Kinh Thánh. Giuđa Íchcariốt sẽ là một người thành đạt lớn lao trong thế giới, nếu không có chuyện ông tự tử. Há không thể xem ông là một sứ đồ của sự thành công sao? Ông khao khát món lợi tài chính và chính trị. Ông kiểm soát túi tiền, và thường thì sẽ đem lại lợi ích cho ông. Ông là một người giật dây rất khéo, và trong số các môn đồ, là người có nhiều tiềm năng nhất để thành công. Kết quả bi thảm đến trong sự tự tử sau khi phản bội Thầy mình. Thế giới ngày nay hẳn sẽ rộng mở cánh tay đón nhận ông, và thậm chí còn dành riêng một ngày lễ để kỷ niệm ông nữa.
Phierơ, một môn đồ trong nhóm thân tín (Phierơ, Giacơ và Giăng), có thể dễ dàng bị xem như là một thất bại hoàn toàn đối với thế gian. Thường thì có thể xem ông như là kẻ bất lực trong những khủng hoảng lớn. Cá tánh của ông khiến ông lạc lõng trong xã hội. Dường như ông luôn luôn nói bậy và nói trật chỗ. Ông không phải là một bạn đồng hành trong giờ phút nguy hiểm. Và có thể xem ông là kẻ gây bực bội rất nhiều trong những tình huống đặc biệt. Ông hẳn sẽ không được chọn cho những tài liệu về lãnh đạo hay quản lý. Tuy thế, ông đã trở thành vị lãnh tụ chính yếu của Hội Thánh trong Côngvụ 1- 12. Chúa đã biết tiềm năng của Phierơ và phát triển tiềm năng này qua việc huấn luyện môn đồ hóa.
Vấn đề không phải chúng ta là ai hay chúng ta có gì; vấn đề là Đức Chúa Trời nhậm những tiềm năng của bạn rồi xử dụng chúng để tôn vinh hiển Ngài. Đôi khi, Đức Chúa Trời sẽ xử dụng những ân tứ và năng lực lớn của chúng ta (định chuẩn); có lúc, Ngài sẽ dùng chúng ta trong những sự yếu đuối của chúng ta (điều bất thường). Hầu hết chúng ta đều khao khát làm việc trong phạm vi những khu vực nhàn nhã của mình, nhưng chúng ta nên mở rộng cửa để Đức Chúa Trời đưa chúng ta ra khỏi những nơi đó để mở rộng khả năng lãnh đạo của chúng ta. Dù ở trong hay ở ngoài khu vực nhàn nhã, sự lãnh đạo của chúng ta phải nương cậy nơi Ngài qua đức tin mạnh mẽ và sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. Chúng ta không thể không thành đạt khi Đức Chúa Trời kiểm soát đời sống chúng ta.
Chúa Jesus là Lãnh Tụ của mọi lãnh tụ. Ngài không thành công theo định nghĩa của thế gian, nhưng Ngài đã làm trọn kế hoạch của Đức Chúa Trời trong đời sống Ngài, và đã giải phóng thế gian khỏi điều ác và tội lỗi. Không có thành tựu vĩ đại này, bạn và tôi sẽ không có sự sống đời đời cũng như không có mục đích. Thật kỳ diệu thay, Đức Chúa Trời không dùng những tiêu chuẩn bình thường của con người để dự bị và ban lịch sử cứu chuộc. Đức Chúa Trời nhận lấy những biến cố tồi tệ nhất và ban cho chúng ta những đặc ân tốt nhất.
Thành tựu Cơ Đốc sẽ đến khi ta làm theo ý muốn Đức Chúa Trời mà không hề thỏa hiệp. Bất luận hoàn cảnh và điều kiện có ra thể nào, chúng ta vẫn phải cứ tiếp tục làm theo ý muốn Đức Chúa Trời. Mỗi ngày, ý muốn Ngài cứ tiếp tục bày tỏ trong đời sống chúng ta. Ý muốn ấy sẽ được thành tựu bởi chúng ta đầu phục Ngài; nhưng Đức Chúa Trời cũng mong chúng ta thực hiện phần việc của mình. Quản lý tốt cuộc sống sẽ đem lại thành tựu thiên thượng trong mọi vấn đề của đời sống chúng ta. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta điều tốt nhất của Ngài, liệu chúng ta có thể dâng cho Ngài kém hơn sao?
NGƯỜI TỔ CHỨC :
Sự Thông Công
Các Con Số
Gia Đình
Sự Vui Đùa


NGƯỜI TỔ CHỨC
Sự Thông Công:
Lời Đức Chúa Trời dạy rõ ràng về năng lực tổ chức và việc quản lý của Đức Chúa Trời trong kế hoạch sáng thế, từ đầu cho đến cuối. Đức Chúa Trời định trước các mục tiêu và những quyết định trong kế hoạch đời đời trước khi sáng thế, và ta có thể nhìn thấy điều này rõ ràng trong kế hoạch rất trật tự về vẻ đẹp của trần gian này. Làm sao người ta có thể nhìn trời và đất mà tuyên bố không có sự hiện hữu của một Đức Chúa Trời đời đời được? Các Thithiên trong Cựu Ước đã mô tả bức tranh sinh động về công việc hùng vĩ của Đức Chúa Trời và sự sáng thế tuyệt diệu của Ngài, bao gồm cả sự sinh ra con người đầy phức tạp cùng uy quyền về địa vị của con người.
Trong Rôma 1, sứ đồ Phaolô nói về sự khải thị tổng quát và khải thị đặc biệt của Đức Chúa Trời, và về cách con người dã xây bỏ khỏi khải thị thiên thượng như thế nào để tìm kiếm những sự thích và dục vọng riêng của mình. Vì được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời và nhìn thấy những lẽ thật vô hình qua những thực tại trong trần thế, nên con người biết Ngài, nhưng xây bỏ lẽ thật để thờ lạy hình tượng và thờ lạy chính mình. Dầu vậy, Đức Chúa Trời của sự tổ chức nguyên thủy vẫn cứ đưa thế gian tiến đến chỗ hoàn tất công việc Ngài, với thiên đàng sẽ là niềm vui đời đời của dân sự Ngài và địa ngục là nơi thật sự không có Đức Chúa Trời. Từ ban đầu, địa ngục đã được dựng nên cho Satan và các thiên sứ sa ngã; nhưng bây giờ, những người không tin Chúa trong nhân loại cũng có mặt trong sự đoán xét và đoán phạt đời đời này.
Chúng ta cần phải thuật lại sự tổ chức chung của Đức Chúa Trời. Tôi cứ mãi kinh ngạc trước sự tổ chức đời đời của Đức Chúa Trời khi nhìn xem tạo vật của Ngài. Ngài đã dựng nên các thiên sứ, các hữu thể thuộc linh trên thiên đàng. Và khải thị thiên thượng cho thấy một hệ thống thiên sứ có cơ cấu rất chặt chẽ. Ngay cả Satan cũng đã tiếp nhận kế hoạch tổ chức của Đức Chúa Trời trong ý định và khát vọng xấu của nó nhằm chấm dứt kế hoạch đời đời và sự giải phóng của Đấng Tạo Hóa.
Trong SaSt 1:1, chúng ta có khởi đầu của thế giới hiện tại: “Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất” (1:1). Thế gian này không xuất hiện bởi ngẫu nhiên như rất nhiều người chưa tin Chúa đã tuyên bố và chấp nhận. Thế gian được hình thành trong bảy ngày bởi một kế hoạch ấn định rõ ràng. Bản thân tôi chấp nhận thuyết “ngày hai mươi bốn giờ” theo nghĩa đen, vì ta không có bằng chứng tuyệt đối nào về một kế hoạch khác. Đức Chúa Trời vĩ đại và đời đời của chúng ta đương nhiên có thể tạo dựng thế giới trong sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy, không gặp chút khó khăn gì cả.
Như vậy, đâu sẽ là nếp sống của người lãnh đạo? Nhân sự Cơ Đốc cần phải tuân theo mẫu mực của một Đức Chúa Trời có tổ chức hẳn hoi. Một lãnh đạo giỏi sẽ luôn luôn ý thức về việc tổ chức, có nghĩa là xem xét đến toàn bức tranh và kết hợp nó lại từ nhiều bộ phận nhỏ khác nhau. Nhà tổ chức chính là người biết cách nhận lấy những phần riêng rẽ của kế hoạch rồi dùng chúng để đạt đến mục tiêu tối hậu. Nếu định nghĩa theo nghĩa đen, thì “tổ chức” là: “Kết hợp lại với nhau thành ra một tổng thể có trật tự, có chức năng và có cấu trúc.” Người lãnh đạo Cơ Đốc phải có khả năng này khi hầu việc Chúa và hướng dẫn tín đồ đến một cam kết tốt hơn với Đấng Christ.
Minh họa hay cho ý này chính là việc soạn bài giảng. Các bước thực hiện dường như khá đơn giản: cầu nguyện để tìm kiếm sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh, chọn khúc Kinh Thánh thích hợp, lập bố cục cơ bản của đề tài, chuẩn bị nội dung rồi hoàn chỉnh sứ điệp với phần giới thiệu và kết luận thích hợp. Không nhất thiết bài giảng phải phức tạp thì mới đáp ứng được nhu cầu của người nghe; trái lại, bài giảng luôn luôn nhấn mạnh đến công tác của Đấng Christ và kế hoạch cứu rỗi.
Việc chuẩn bị tốt bài giảng sẽ chứng tỏ ra ngay! Nếu nội dung có những lời lẽ, ý tưởng và minh họa hùng hồn, nó sẽ nói thẳng vào tấm lòng và linh hồn người nghe. Thường thì chúng ta kết luận độ dài của bài giảng sẽ khiến nó trở nên yếu hay mạnh. Độ dài không liên quan gì đến điều đó cả. Một số những bài giảng vĩ đại nhất đã là những bài giảng ngắn nhất trên thế giới; tuy thế, chúng đã thay đổi và biến cải nhiều cuộc đời. Charles Spurgeon tin vào những bài giảng ngắn, nhưng người ta đã đến nghe những lời lẽ được chuẩn bị kỹ càng của ông. Jonathan Edwards, một nhà phục hưng vĩ đại tại New England, mang cặp kính dày cộm, đọc bài giảng với giọng đơn điệu, và dường như cách giảng chẳng gây ấn tượng chút nào, nhưng Đức Chúa Trời dùng con người này để thắp lên ngọn lửa phục hưng tại Mỹ. Vấn đề không phải bạn có thể nhồi nhét được bao nhiêu vào trong một sứ điệp, nhưng vấn đề chính là những lẽ thật quan trọng được nói ra cách dễ hiểu, dễ áp dụng. Bài giảng sẽ chưa trở thành một bài giảng thực thụ mãi đến khi nó được quyết định bởi quyền năng của Đức Chúa Trời và được dẫn dắt bởi hiện diện của Đức Thánh Linh. Đức Chúa Trời sẽ dùng cá tính của con người, nội dung của bài giảng, và tình huống lúc ấy để dẫn đưa con người vào cam kết thuộc linh cao hơn và được trưởng thành hơn.
Nhà tổ chức Cơ Đốc sẽ dẫn con người vào trong mối thông công đúng đắn, hay theo nói theo thuật ngữ đẹp đẽ trong tiếng Hylạp là koinonia. Chúng ta được dựng nên để thờ phượng và ca ngợi Đấng Tạo Hóa. Nếu bỏ qua ứng dụng thuộc linh này trong đời sống mình, thì chúng ta đã trật mất mục tiêu và sự hiện hữu của mình. Con người là một hữu thể thuộc linh, và phải tìm cơ hội để thể hiện phần thiêng liêng này. Khi quay về với Đức Chúa Trời, con người có thể tìm thấy ý nghĩa thật cho đời sống và lòng được bình an thỏa mãn. Nếu không có Đức Chúa Trời trong kinh nghiệm, con người sẽ bỏ thờ phượng Đấng Tạo Hóa để chấp nhận những phương pháp đáng ngờ, lừa dối và gây chia rẽ của Satan để tiếp cận với nếp sống hàng ngày, kể cả việc tạo ra các hình tượng và thờ lạy bản thân. Công tác của người tổ chức Cơ Đốc là dẫn dắt dân sự đến lẽ thật và đến với hiệu quả của lẽ thật trong mọi phương diện của cuộc sống.
Hãy xem lại đời sống của Chúa Jesus, chúng ta sẽ thấy Ngài là Nhà Tổ Chức tối cao. Và sao lại không cơ chứ, vì Ngài đã dựng nên thế gian và cõi vũ trụ kia mà? Chúa Jesus đã nêu cho chúng ta lý do tối hậu để thờ phượng Đức Chúa Trời - kế hoạch đời đời của sự cứu chuộc. Mục tiêu tổ chức của Ngài tập trung vào thập tự giá, và Ngài không bao giờ tẻ bước khỏi điều đó. Ngay cả khi chuẩn bị lìa trần gian, Ngài đã chọn và dạy mười hai sứ đồ, và rồi tăng số người ấy lên thành một trăm hai mươi môn đồ. Ngài đã sai môn đồ ra đi từng đôi một để đem lẽ thật đến với các đoàn dân đông. Và rồi khi lìa trần gian, Ngài ban quyền năng cho những môn đồ này để họ đem Tin Lành đến toàn thế giới. Có phải kế hoạch quá tham vọng không? Hãy xem lại lịch sử Cơ Đốc suốt hai ngàn năm qua và sự bành trướng hiện tại của Hội Thánh, kết quả ấy sẽ cho chúng ta câu trả lời cuối cùng. Không chút lưỡng lự, Hội Thánh vẫn đang sống động và phát triển tốt, và sẽ cứ tiếp tục mãi cho đến kỳ tái lâm hầu đến của chính Đức Chúa Jesus Christ.
Sau những giai đoạn đầu của sự khai sinh và phát triển manh nha của Hội Thánh, chúng ta bắt đầu thấy một sự lãnh đạo và chức vụ lãnh đạo có tổ chức vững vàng. Cấp lãnh đạo đã và đang được Đức Chúa Trời chỉ định để tiếp tục làm trọn mục tiêu tối hậu. Chúng ta đọc được những cấp lãnh đạo then chốt trong Eph Ep 4:11-16. Trong ITimôthê, chúng ta có những phẩm chất nghiêm nhặt của giám mục, trưởng lão và chấp sự. Dầu theo quan điểm giải nghĩa nào về những tiêu chuẩn đã ấn định này đi nữa, thì chúng ta vẫn phải tin rằng chúng cứ tiếp tục hiệu lực trong công tác của các hội thánh địa phương và hội thánh phổ thông. Điều gì Đức Chúa Trời đã ấn định trong quyền lực của Hội Thánh và chức vụ của Hội Thánh trên thế giới, thì chúng ta không bao giờ được phép bãi bỏ. Chúng ta cũng đừng cố gắng thêm những chi tiết cụ thể hay thêm những giới hạn của riêng mình vào cho công việc Ngài. Chúng ta được kêu gọi để lãnh đạo theo đúng kế hoạch Ngài. Đức Chúa Trời có thể cho phép những sự đa dạng trong kế hoạch, nhưng không bao giờ cho chúng ta được phép thay thế điều Ngài đã truyền làm cấu trúc và tổ chức cơ bản.
Về cơ cấu tổ chức, nhà tổ chức phải tập trung toàn bộ kế hoạch mình vào tiền đề cơ bản. Theo Kinh Thánh, sự thực hiện này là gì? Sự thông công bắt đầu từ Đức Chúa Trời và kết thúc với Đức Chúa Trời. Nói cách khác, mọi hình thức và mọi hành động của sự thông công đều phải tập trung vào sự thờ phượng và ca ngợi Đức Chúa Trời. Bất cứ hành động nào tách khỏi tiền đề này đều đưa chúng ta ra khỏi ý định và mục đích nguyên thủy mà Ngài đã định. Hãy luôn luôn nhớ chúng ta đã được dựng nên theo hình ảnh Ngài, và chúng ta cần thông công với Ngài và với nhau.
Các Con Số:
Đừng bao giờ để các con số trở thành ưu tiên trong trách nhiệm tổ chức, nhưng chúng lại rất quan trọng cho sự phát triển và tiến bộ. Thật thú vị khi nhìn thấy sự tiến bộ của Hội Thánh đầu tiên. Chúa Jesus khởi đầu chức vụ và lập mười hai môn đồ. Rồi Ngài có thêm một trăm hai mươi môn đồ. Trong Côngvụ 1, chúng ta vẫn thấy một trăm hai mươi môn đồ khi lập Mathia thay cho Giuđa Íchcariốt. Sau sự khai sinh Hội Thánh vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, chúng ta lập tức thấy sự tăng trưởng nhanh chóng của Hội Thánh, tức là khoảng ba ngàn linh hồn chỉ trong một ngày. Rồi chúng ta có thêm năm ngàn người, không kể phụ nữ và trẻ em. Chỉ trong vài tuần lễ, chúng ta thấy bên cạnh mười hai sứ đồ là mười lăm ngàn linh hồn được thêm vào cho số một trăm hai mươi môn đồ lúc đầu.
Nhưng không phải điều này đã gây nên nan đề lớn cho hội thánh Giêrusalem sao? Thông thường, sự phát triển nhanh chóng của Hội Thánh có thể gây ra những bùng nổ lớn và những điều chỉnh. Những thành viên lâu năm hơn dễ dàng bực tức khi có quá nhiều người thêm vào và quá nhiều thay đổi trong môi trường thoải mái đã ổn định xưa nay. Và những thành viên mới cũng dễ dàng không chấp nhận hoặc không tuân theo các truyền thống đã có hội thánh, gây nên sự đụng chạm công khai. Nhưng chúng ta có thấy điều này nổi bật lên trong sách Côngvụ các Sứđồ, là căn nguyên và lịch sử của sự phát triển Hội Thánh không? Có! Đã xuất hiện những nan đề nhất định, nhưng luôn luôn thấy chúng đã được đương đầu và được giải quyết. Và chúng ta thường thấy chép rằng: “Hội Thánh hiệp một với nhau,” hay sự hiệp một đã thắng thế. Hàng ngàn tín đồ mới đã không gia nhập để rồi thao túng Hội Thánh, nhưng họ đã hoàn toàn được kết hợp vào hay đứng hiệp chung với một trăm hai mươi môn đồ.
Số lượng nói cho chúng ta biết mình đang thực hiện thế nào trong những khuôn mẫu tăng trưởng! Nếu Đức Chúa Trời ghi lại những con số, thì liệu hội thánh địa phương không nên giữ sổ sách chính xác sao? Con số của Hội Thánh phổ thông phải được giao hoàn toàn cho Đức Chúa Trời, vì không thể nào biết được bản báo cáo chính xác. Chúng ta đọc được những bản ký thuật về dân Ysơraên. Trong chức vụ của Đức Chúa Jesus, trước giả các sách Tin Lành đã nhanh chóng ghi lại các con số, ví dụ như việc hóa bánh nuôi bốn và năm ngàn người (không kể phụ nữ và trẻ em), mười hai môn đồ, một trăm hai mươi môn đồ, việc chữa lành mười người bị bệnh phung, và nhiều con số của những sự kiện khác nữa.
Ngay cả khi cẩn thận lưu giữ hồ sơ, chúng ta cũng đừng bao giờ phóng đại. Việc tăng thêm cho những con số thực rất hay lây đấy! Nhưng vì sao đây lại trở thành chuyện thường tình trong giới Cơ đốc? Vì quá nhấn mạnh số lượng trong chức vụ, và dùng chúng để đánh giá thành công, nên chúng ta có khuynh hướng báo cáo một con số không đúng. Và xin nhắc nhở trực tiếp là chúng ta đừng bao giờ đặt số lượng lên hàng ưu tiên. Nó sẽ không bao giờ là tiêu chuẩn tối hậu cho sự lãnh đạo thành công; và tuy thế, chúng ta vẫn tập trung vào chúng, vì đây là phương tiện dễ dàng nhất để đo lường vai trò lãnh đạo và sự tiến bộ.
Và thêm một lưu ý cuối, hãy rất cẩn thận khi dùng con số trong việc chinh phục linh hồn. Có bao giờ người ta hỏi bạn câu này: “Năm nay, bạn chinh phục được bao nhiêu linh hồn về cho Đấng Christ?” Thành thật mà nói, tôi chưa hề chinh phục được linh hồn nào cho Đấng Christ. Có thể tôi dẫn đưa họ đến với Cứu Chúa, nhưng tôi không thể chinh phục họ. Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới chinh phục được linh hồn! Phaolô nói cho chúng ta trong ICo1Cr 3:1-22 rằng chúng ta trồng, vun xới, chăm bón và tưới nước, nhưng Đức Chúa Trời làm cho lớn lên (3:7). Chúng ta là những công cụ để trình bày Tin Lành cho con người (là kế hoạch chính Đức Chúa Trời đã chọn thay cho chức vụ tiếp tục trên trần thế của Con Ngài hay sai các thiên sứ đến), nhưng chính Đức Chúa Trời mới đem con người vào vương quốc Ngài.
Đức Chúa Trời đã cho tôi dồi dào cơ hội để giới thiệu Đức Chúa Jesus Christ tại nhiều nơi trên thế giới. Sứ mạng này sẽ trở thành một sự nghiệp thất bại nếu tôi không trung tín với Lời Đức Chúa Trời và với sự kêu gọi mình. Thành thật mà nói, tôi không biết toàn bộ bông trái đã được sinh ra cho vương quốc Đức Chúa Trời. Tôi đã thấy rất nhiều người tiếp nhận Đấng Christ, nhưng trong tinh thần cầu nguyện và hy vọng, đây sẽ không phải là những con số cuối cùng về ảnh hưởng của Tin Lành. Bản tường trình sẽ chưa kết thúc cho đến chừng tôi gặp Cứu Chúa mặt đối mặt.
Các con số là công cụ cho sự tăng trưởng của Tin Lành, nhưng chúng không thể là phương tiện duy nhất để đánh giá sự thành công. Nếu chúng ta trung tín trong công việc Chúa, Lời Đức Chúa Trời sẽ không trở về cách luống nhưng. Làm sao chúng ta đo lường được sự tăng trưởng thật - tức sự tiến bộ thuộc linh thật? Chúng ta không thể! Đức Chúa Trời cho chúng ta nhìn thoáng qua ảnh hưởng của chức vụ mình, nhưng Ngài không bao giờ cho chúng ta đầy đủ mọi chi tiết. Tôi nghĩ đến một mục sư hay một lãnh đạo Cơ Đốc đã trung tín phục vụ suốt bao nhiêu năm mà thấy số lượng tăng rất ít trong công tác mình. Nhiều khi, nó gây nản lòng và thất vọng. Thường thì tình trạng dường như thiếu tăng trưởng này được đem ra so sánh với tình trạng của những nhà lãnh đạo hay nhà tổ chức sống trong những thành công và tăng trưởng liên tục. Điều này có làm giảm giá trị của vị mục sư đã lao khó nhưng đạt được rất ít kết quả trong cánh đồng hay trong công tác đầy gian khó kia không? Không! Tôi tin quyết rằng những người dường như thật nhỏ bé trong công tác của Chúa trên đất theo con mắt của loài người lại là những người cao trọng trong vương quốc Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nhìn xem lòng trung tín nơi những người lãnh đạo của Ngài trong công tác Ngài giao phó, và sẽ trọng thưởng cho những người chưa hề được ghi nhận công lao trên trần gian này.
Gia Đình:
Khi đeo đuổi sự lãnh đạo Cơ đốc, người nam hay người nữ của Đức Chúa Trời không bao giờ được xao lãng gia đình mình. Trong phần này, chúng ta sẽ xem gia đình quan trọng thế nào trong vai trò của trách nhiệm lãnh đạo. Lời Đức Chúa Trời dạy chúng ta nhiều điều về sự phát triển, kỷ luật và sự dạy dỗ cho gia đình, được định nghĩa cụ thể là người chồng, người vợ và con cái. Mặc dầu xu hướng hiện đại là muốn định nghĩa lại gia đình và điều chỉnh nhiều nếp sống khác cho phù hợp, nhưng Đức Chúa Trời đã thiết lập những quy tắc cho sự hưởng thụ và lạc thú của con người. Thay đổi những định nghĩa này tức là trực tiếp chống đối ý muốn và mục đích của Đức Chúa Trời, và gây ra nhiều trục trặc lớn trong gia đình. Một lãnh đạo giỏi sẽ luôn luôn săn sóc cho gia đình và lo liệu cho nhu cầu của gia đình, bất chấp những áp lực cũng như những thời khóa biểu chật sát sao, chật cứng của chức vụ.
Trước hết, tôi tập trung vào gia đình của Đức Chúa Trời theo như chúng ta hiểu trong Kinh Thánh. Nhân loại là định nghĩa đầu tiên và chủ yếu về một gia đình gia đình gắn bó không chặt chẽ. Dần dần trong Sáng Thế Ký, chúng ta thấy nhân loại có một nền văn hóa và một ngôn ngữ mãi cho đến Tháp Babên (Sáng Thế Ký 11). Chính tại đây, chúng ta có khởi đầu của những chia rẽ - những nền văn hóa mới, những chủng tộc mới, những ngôn ngữ mới, và nhiều sự khác biệt. Những điều này phát triển ra do lòng khao khát của con người muốn xây một cái tháp cao đến tận trời để thách thức Đức Chúa Trời và không vâng giữ các mạng lịnh của Đấng Tạo Hóa.
Dầu con người tìm cách đoàn tụ nhân loại, nhưng không được ban cho đặc ân hay quyền hạn đó. Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới có thẩm quyền này, và Ngài đã chọn đưa con người hiệp một với nhau qua quyền năng của Tin Lành và qua thể chế Hội Thánh. Sự hiệp một này được giành cho một gia đình mới - là tín đồ Cơ đốc, là con cái của Đức Chúa Trời, hay là chức thầy tế lễ thánh. Chúng ta phải được sanh ra về mặt thuộc linh vào trong gia đình của Đức Chúa Trời (GiGa 3:1-36).
Nếu được sanh ra từ trên cao, thì chúng ta là thành viên của gia đình Đức Chúa Trời. Chúng ta là con cái Ngài - là các thánh đồ - dầu vẫn chưa phải là những thánh đồ trọn vẹn. Trong gia đình này, sẽ không bao giờ có một rào cản nào. Những rào cản về văn hóa, chủng tộc, ngôn ngữ về những sự đa dạng phải chìm vào quá khứ. Tin Lành thuần túy sẽ không biết đến một rào cản nào (RoRm 10:12-13; KhKh 5:7-12).
Vậy, tại sao con người lại làm cho Tin Lành trở thành nền văn hóa bản xứ của mình? Con người thêm nền văn hóa của mình vào Tin Lành; bản thân Tin Lành thì không thuộc về văn hóa. Tiến trình làm cho trở thành nền văn hóa bản xứ không nhất thiết phải là xấu nếu được thực hiện và giữ gìn theo đúng cách. Mỗi nền văn hóa có những cách khác nhau để thờ phượng và hầu việc Chúa. Tiến trình hấp thụ nền văn hóa vẫn là cần thiết trong môi trường và nếp sống của con người. Cơ Đốc nhân người Do Thái là một minh họa tốt. Do dòng dõi, truyền thống và các tập quán Do Thái, nên một người Do Thái rất khó làm theo những tập quán của dân ngoại bang. Có rất nhiều người Do Thái tin Đấng Christ nhưng không ăn thịt giămbông hoặc thịt heo. Điều này có làm giảm hay giới hạn đức tin Cơ Đốc của họ không? Không! Đây chỉ là tập tục văn hóa mà rất khó vượt qua.
Sứ đồ Phaolô trưng dẫn một trường hợp tuyệt vời trong ICo1Cr 8:1-13. Người ta nên xử trí thế nào về thịt dâng làm của cúng thần tượng? Những người chưa tin Chúa sẽ dâng súc vật cho thần tượng rồi bán chúng ngoài chợ để làm thịt. Nhiều tín đồ Cơ Đốc sẽ mua và ăn thịt ấy. Các tín đồ khác phê phán quan điểm này, tuyên bố các tín đồ kia đang tham gia thờ lạy hình tượng tà thần. Phaolô đối chất và xác định rõ vấn đề. Thịt mua ngoài chợ chỉ là thức ăn. Tín đồ Cơ Đốc nào mua thịt ấy thì không dự phần vào việc thờ lạy hình tượng. Họ có quyền tự do để mua và ăn thịt ấy, nhưng đừng nên gây xúc phạm đến những anh chị em yếu đuối hơn trong Hội Thánh.
Dầu vậy, đừng bao giờ để việc hấp thụ nền văn hóa ngăn chúng ta gia nhập vào sự thờ phượng và thông công với Đức Chúa Trời khi đi từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác. Chúng ta thảy đều bị ràng buộc bởi những nét văn hóa nhất định, nhưng sự sống mới trong Đấng Christ thay thế cho những tập tục ấy. Giáo Hội Nghị tại Giêrusalem (Cong Cv 15:1-41) giải đáp vấn đề hấp thụ văn hóa. Người Giuđa (những tín đồ Đấng Christ người Do Thái) đang buộc người ngoại phải chịu cắt bì thì mới được nhận vào trong hội thánh mới. Các sứ đồ và tín đồ họp tại Giêrusalem để giải quyết vấn đề này. Kết quả đã kết luận rằng tín đồ ngoại bang không cần phải chịu cắt bì mới được dự phần vào chức vụ Đấng Christ. Trong văn mạch, phép cắt bì được xem cụ thể là một phong tục Do Thái, và đừng đem gán cho các tín hữu ngoại bang. Bạn có hình dung được những giới hạn cho Hội Thánh và sự tăng trưởng của Hội Thánh nếu vẫn cứ duy trì tập tục này trong Hội Thánh đầu tiên không? Cơ Đốc giáo hẳn đã sa vào những khuôn mẫu của tôn giáo thế gian, và chắc không phát triển được như một đức tin độc nhất vô nhị nơi một Đức Chúa Trời chân thần duy nhất.
Thứ nhì, chúng ta hướng đến đơn vị gia đình cá thể hay một mái gia đình. Từ đầu, chúng ta phải xem xét kỹ đến sự lãnh đạo của Đức Chúa Jesus trong vấn đề này. Nếu không thấy gia đình là quan trọng đối với Ngài, thì phải kết luận gia đình sẽ không quan trọng đối với chúng ta. Chúng ta có rất ít bối cảnh về thời thơ ấu của Chúa Jesus. Chúng ta có thấy cha mẹ Ngài - trinh nữ Mari và người cha hợp pháp của Ngài là Giôsép - đã bảo vệ Ngài khỏi bị tổn hại. Khi được Đức Chúa Trời báo trước về ý định của Hêrốt muốn tiêu diệt con trẻ Christ, họ trốn đến Êdíptô để bảo toàn mạng sống Ngài. Là Con độc sanh vô tội của Đức Chúa Trời, Ngài ắt phải vâng phục trọn vẹn cha mẹ mình. Đến năm mười hai tuổi, Ngài tình cờ bị bỏ lại Giêrusalem trong Đền Thờ. Khi cha mẹ quay lại Giêrusalem tìm Ngài, họ đã cùng các lãnh tụ tôn giáo sửng sốt trước những năng lực lớn lao của Ngài. Dầu Ngài tuyên bố mình đang lo công việc của Cha, Ngài vẫn cùng cha mẹ trở về Naxarét.
Khi Ngài bắt đầu bước vào chức vụ công khai, thì có thể hiểu rằng Ngài thường xuyên quay về quê hương Naxarét để thăm nhà. Ngài chắc hẳn không bỏ bê cha mẹ mình. Ngay cả giữa cơn thống khổ đau đớn kinh khiếp trên thập tự giá, Ngài vẫn dành thì giờ nhớ đến người mẹ. Ngài đã giao mẹ cho môn đồ yêu dấu của mình - là Giăng - chăm sóc. Và suy từ sự chăm lo cho mai sau này, nên chắc Giôsép đã chết trước khi Ngài chịu đóng đinh trên thập tự giá. Dường như những em trai em gái cùng mẹ khác cha của Chúa Jesus không thể chăm lo phần thuộc linh cho mẹ được như ý Chúa chúng ta ao ước. Mãi đến sau khi Ngài phục sinh, một số trong bọn họ, nếu không phải là toàn bộ, mới đặt đức tin tin cậy Ngài là Con Đức Chúa Trời.
Và với lượng thông tin ít oi như vậy, ta có thể nhận biết khá rõ rằng Chúa Jesus có dành thì giờ chăm lo cho gia đình. Dầu Ngài không hề cưới vợ hoặc có gia đình, Ngài vẫn biết tầm quan trọng ấy từ cõi đời đời, vì Ngài là Đấng Tạo Hóa dựng nên định chế hôn nhân và gia đình. Ngài đã dành thời gian trả lời những thắc mắc về hôn nhân và ly dị. Định chế hôn nhân được giới hạn cho thế giới loài người, và trở thành điều không quan trọng trong cõi đời đời. Dầu chúng ta sẽ nhận biết người phối ngẫu của mình, nhưng hôn nhân chúng ta hiện chúng ta đương được hưởng sẽ chấm dứt để nhằm thờ phượng Đức Chúa Jesus và vui hưởng môi trường đời đời. Các môn đồ đã tự ý ngăn cản người ta đem con trẻ đến với Ngài, nhưng Ngài lập tức quở trách ý tưởng sai lầm này. Với những câu Thithiên và lời giáo huấn bất hủ trong Kinh Thánh về gia đình, Chúa Jesus đã xem đây là vấn đề rất quan trọng trong đời sống con người. Nếu không quan trọng, tại sao lại mất thì giờ để định nghĩa và dạy dỗ giống như cách Hội Thánh đã làm? Ta thấy quả rất rõ ràng: trong thế gian này, gia đình tồn tại như một định chế quan trọng mà không được phép thay đổi hay can thiệp vào.
Điều này đưa chúng ta đến sự nhận định và đánh giá về gia đình của bản thân người lãnh đạo cùng tầm quan trọng của nó trong toàn bộ bối cảnh. Trong mỗi nền văn hóa và trong mỗi bối cảnh, đơn vị gia đình của mỗi lãnh đạo Cơ Đốc đang sống trong một căn nhà gương. Người ta sẽ dòm ngó kỹ càng đến bạn và gia đình bạn để xem cung cách sống, cách xử lý các từng trải và vượt qua những khó khăn như thế nào. Trong thực tế, từng trải sống của bạn sẽ lên tiếng hiệu quả hơn những lời lẽ bạn đã chuẩn bị và rao giảng. Cuộc sống gia đình sẽ bị đem ra mổ xẻ kỹ lưỡng từng ngày, dầu bạn có thích hay không đi nữa. Phạm vi vai trò lãnh đạo của bạn sẽ được xác định bởi việc liệu bạn có sẵn lòng chấp nhận cuộc sống công khai này hay không.
Kẻ thù chính - là Satan - tìm cách tiêu diệt vai trò lãnh đạo này. Nếu nó có thể đụng đến bạn, thì nó sẽ có thể đánh bại rất nhiều tín đồ đang noi theo khuôn mẫu và tấm gương của bạn. Nhưng nếu bạn vẫn cứ mạnh mẽ và nó không thể thắng hơn cam kết của bạn với Chúa, thì nó sẽ tấn công vào gia đình bạn. Khi những nan đề của cá nhân và gia đình xuất hiện, chúng sẽ trở thành tài sản công cộng. Nhiều khi, người lãnh đạo cùng gia đình bị đòi hỏi phải sống vượt quá tầm nếp sống con người cùng những nan đề của nó. Cảm ơn Chúa, điều này đang được thay đổi trong môi trường Cơ đốc, khi người ta nhận ra các áp lực đè nặng trên vai trò lãnh đạo và các thành viên có liên hệ. Tuy nhiên, vẫn có sự kỳ vọng mà buộc phải duy trì để đáp ứng mọi tiêu chuẩn trên. Và chúng ta phải dứt khoát không để cho ma quỉ thắng trận trong cuộc sống gia đình.
Người lãnh đạo phải dành thì giờ ở với gia đình. Trước hết, mối quan hệ giữa chồng và vợ phải luôn luôn có đạo đức và công bình. Tôi rất thích ChCn 5:18 “Nguyện nguồn mạch con được phước; Con hãy lấy làm vui thích nơi vợ con cưới buổi đang thì.” Nếu vị lãnh đạo Cơ Đốc muốn được kết quả và hiệu quả nhất trong chức vụ, thì người ấy phải có một người vợ thích hợp. Tôi tin Đức Chúa Trời có người bạn đời đặc biệt cho mỗi một chúng ta nếu Ngài đã muốn cho chúng ta lập gia đình. Vợ và chồng phải nâng đỡ nhau trong những vai trò khác nhau mà họ đang theo đuổi. Mối quan hệ hôn nhân vững mạnh phải giữ vai trò hỗ trợ cho toàn bộ bối cảnh lãnh đạo; nếu không, sẽ có rắc rối trong gia đình.
Thứ nhì, không thể bỏ bê con cái. Người lãnh đạo phải chia thì giờ của mình cách cẩn thận, và duy trì sự cân bằng giữa trách nhiệm lãnh đạo và bổn phận gia đình. Rõ ràng, người lãnh đạo cần để thì giờ ở với gia đình. Dầu chúng ta không bao giờ hoàn hảo trong những vai trò khác nhau của mình, nhưng phải cứ tiếp tục cải thiện chúng mỗi ngày. Gia đình phải là một ưu tiên trong vai trò lãnh đạo. Hãy dành thì giờ ở với con cái, dầu điều đó có nghĩa là phải lập ra một cuộc hẹn đặc biệt. Và lãnh đạo nên cố có mặt trong các sinh hoạt của con cái. Sẽ có một số những hy sinh cần thiết (những chuyện khẩn cấp sẽ xuất hiện), nhưng hãy cố tập trung vào tầm quan trọng của gia đình.
Tôi thường dành một ngày cùng gia đình đi chơi ở ngoại ô, đi xa khỏi môi trường bình thường cũng như khỏi công tác của hội thánh. Đây thực sự là cách duy nhất để quên vai trò lãnh đạo và hưởng thụ niềm vui với gia đình mình. Lập một cam kết như thế thì không có gì là không thuộc linh cả. Trái lại, nó còn cho thấy một đời sống thuộc linh vững mạnh và sự trưởng thành Cơ đốc. Hầu hết mọi người sẽ ngưỡng mộ và tôn trọng bạn vì cam kết của bạn với gia đình, đặc biệt nếu gia đình tiếp tục là lời chứng nổi bật cho cộng đồng.
Tôi luôn cho rằng mình sẽ rời chức vụ nếu cần thiết phải giữ gìn sự hiệp nhất của gia đình. Tạ ơn Chúa, vì tôi vẫn chưa cần thiết phải xác định ngày này, nhưng đây vẫn luôn là một phương án. Dầu có thể sẽ có nhiều ý khác nhau về cam kết đặc biệt này, nhưng câu trả lời chung cuộc vẫn nằm trong ý muốn của Đức Chúa Trời cho mỗi tình huống nhất định. Điều hết sức quan trọng là phải nhìn xem toàn bộ bối cảnh. Đôi khi, người ta sẽ nâng đỡ rất nhiều và cùng đứng với bạn trong tập thể, gia đình và những vấn đề cá nhân. Nhờ đánh giá một tình huống nhất định, Đức Chúa Trời sẽ ban sự khôn ngoan và dẫn dắt để có được quyết định đúng.
Nhưng làm sao dành thì giờ ở với gia đình khi có quá nhiều đòi hỏi trên đời sống và thời khóa biểu của người lãnh đạo? Một lần nữa, đây phải là phần chính trong cam kết lãnh đạo. Đức Chúa Trời rất hào hiệp với tôi! Tôi tiếp tục hưởng thụ niềm vui với vợ mình lúc tuổi thanh xuân, và nàng hỗ trợ, nâng đỡ tôi rất nhiều trong cam kết cũng như công tác cho Chúa. Thông thường, những áp lực lớn nhất và những khó khăn nặng nề nhất lại nhắm vào người bạn đời. Họ có thể nhìn thấy những điều mà chúng ta không thấy được. Tôi cũng cảm tạ Chúa về những đứa con biết giúp đỡ, là những người con biết yêu mến Chúa và tìm cách sống theo ý muốn Ngài. Dứt khoát chúng tôi không phải là gia đình hoàn hảo, nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho tôi một gia đình đặc biệt.
Nhiều khi, người ta hỏi làm sao hôn nhân và gia đình của tôi lại đứng chung được (một ý nghĩ hợp lệ khi có quá nhiều gia đình đang tan vỡ ở ngoài đời cũng như trong giới Cơ đốc). Tôi đâu làm được điều gì đặc biệt. Trái lại, tôi chỉ có thể kết luận rằng điều đó đến bởi ân điển kỳ diệu và lòng thương xót tuyệt vời của Đức Chúa Trời. Khi chúng tôi có những cam kết đúng đối với Ngài, Ngài sẽ trân trọng những cam kết của chúng tôi trong sự lãnh đạo. Gia đình thực sự cần một cam kết đặc biệt, đức tin, tình yêu thương, lòng tin cậy và sự nâng đỡ. Thiếu chúng, hôn nhân và gia đình đang đứng trên một nền tảng lung lay.
Khi lớn tuổi hơn, tôi thực sự tiếc nuối một điều, ấy là đã không dành nhiều thời gian hơn để ở với gia đình. Những năm đầu tiên đã khiến chúng tôi bị chìm ngập trong công việc Chúa (không có gì sai khi tham dự vào công việc này); nhưng nhiều khi, chúng tôi không thấy được tầm quan trọng của việc dành thì giờ ở với vợ con. Tôi có dành thì giờ ở với gia đình, nhưng lẽ ra có thể dành nhiều hơn. Hãy dành thì giờ ở với vợ, chồng và con bạn. Cam kết này sẽ đem lại những từng trải bổ ích cho chính bản thân cũng như cho vai trò lãnh đạo của bạn.
Cấu trúc này dường như thật rõ ràng trong Kinh Thánh. Trước hết, Đức Chúa Trời thiết lập gia đình. Định chế hôn nhân đứng hàng đầu tiên trong trật tự thiên thượng. Bản thân hôn nhân không mang tính Cơ Đốc hay phi Cơ đốc, nhưng hôn nhân vĩ đại nhất là cuộc hôn nhân kính sợ Chúa. Với tư cách đầu của gia đình, chúng ta được kêu gọi làm những thầy tế lễ (những lãnh đạo tôn giáo) trong gia đình. Chúng ta thực sự cần chăm sóc cho gia đình, nêu tấm gương chưa từng thấy cho người khác noi theo.
Nếu không có những trường hợp khẩn cấp, thì nên thực hiện việc này đều đặn, vì chúng ta sẽ chịu trách nhiệm khai trình với Đức Chúa Trời. Cuộc sống gia đình sẽ là lời chứng sáng ngời cho hội thánh và cộng đồng.
Như vậy, người lãnh đạo có bổn phận lo công việc của hội thánh. Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta chăm sóc dân sự Ngài, và điều đó trở thành công tác và sự nghiệp của đời sống chúng ta. Nhưng cuộc sống gia đình có ảnh hưởng trên gia đình “hội thánh” không? Cách bạn xử lý trong gia đình sẽ xác định cách bạn hoạt động trong hội thánh. Các bổn phận của nếp sống gia đình phản ảnh cùng một loại đáp ứng trong sự lãnh đạo hội thánh. Và rất có thể, cuộc sống gia đình đúng đắn sẽ đem lại thành công lớn cho sự lãnh đạo hội thánh của bạn. Nói chung, quy tắc này có hiệu quả, nhưng phải hiểu rằng quy tắc nào cũng có ngoại lệ.
Và thứ ba, chúng ta không thể bỏ bê cộng đồng chung quanh chúng ta. Vai trò lãnh đạo thuộc linh không dừng lại với những gia đình của mình và gia đình hội thánh, nhưng mở rộng cho cộng đồng và thế giới. Sứ điệp Tin Lành đã được rao ra cho toàn thế giới nghe và đáp ứng với công tác quyền năng của Tin Lành. Ngay cả cộng động thế tục cũng sẽ biết năng lực lãnh đạo của bạn, và dõi mắt chăm chú nhìn việc bạn làm. Và nhiều khi chúng ta có một ảnh hưởng vượt ngoài sự nhận biết của mình. Thế gian có thể không nói gì nhiều về sự lãnh đạo của bạn, nhưng họ không thể bỏ qua cam kết phải lẽ ấy khi nó đem lại vinh quang và sự ca ngợi Đức Chúa Trời.
Để kết thúc phần này, tôi muốn chia xẻ một vài điều đặc biệt với bạn. Rất có thể bạn chưa lập gia đình và không có một gia đình. Nếu bạn đang tìm kiếm người phối ngẫu, thì Đức Chúa Trời có một người đặc biệt cho bạn. Đến đúng thời điểm của Ngài, Ngài sẽ bày tỏ người đặc biệt ấy cho bạn. Tôi muốn khích lệ bạn cầu nguyện và chờ đợi Chúa trong sự cam kết quan trọng suốt đời này. Nếu bạn tìm kiếm ý muốn Ngài, Ngài sẽ dẫn bạn đến đúng người. Việc chờ đợi lập gia đình trong tương lai có thể gây lo lắng, thậm chí sợ hãi nữa. Nhưng bạn sẽ không bao giờ nuối tiếc khi kiên nhẫn chờ đợi đúng người.
Rất có thể bạn muốn ở độc thân. Điều này không trái với khải thị hay ý muốn của Đức Chúa Trời trong đời sống. Dầu đây là ngoại lệ đối với đại bộ phận quần chúng, nhưng chúng ta không có mạng lịnh tuyệt đối truyền dạy mọi người đều cần phải lập gia đình. Sứ đồ Phaolô khuyên rất hay về tình trạng độc thân và có gia đình trong ICôrinhtô 7. Và có thể vẫn cứ ở độc thân và phục vụ Chúa hết khả năng. Hầu việc Chúa không lệ thuộc vào việc lập gia đình. Nếu Đức Chúa Trời kêu gọi bạn hầu việc Ngài, thì bạn có thể hầu việc Ngài dù có người bạn đời hay không đi nữa. Trong mọi sự, hãy dâng cho Ngài sự vinh hiển tối cao và niềm vui của cuộc sống bạn.
Sự Vui Đùa:
Sự vui đùa nói đến sự giải trí và nghỉ ngơi. Với những áp lực ngày càng tăng trong công tác Cơ đốc, bạn cần dành thời gian để nghỉ ngơi và thư giãn. Một lần nữa ở đây, chúng ta có thể thấy gương mẫu hoàn hảo của Cứu Chúa. Chúa Jesus cần nghỉ ngơi trong tình trạng con người của Ngài. Chúng ta thấy khi cơn bão ập đến trên biển Galilê, Ngài đang ngủ sau một ngày bận rộn. Các môn đồ, phần lớn là những ngư phủ lão luyện, đã sợ bị mất mạng. Vì vậy, họ không ngần ngại đến quấy rầy Thầy, đánh thức Ngài và mong Ngài dẹp yên cơn bão.
Chúa Jesus thường đi đến nơi yên tĩnh, thậm chí còn lánh xa các môn đồ nữa. Ngay sau khi sống lại, chúng ta thấy Ngài ở bên biển Galilê, chuẩn bị bữa ăn sáng cho các mục đích, là những người đã đánh cá suốt đêm. Họ không bắt được cá, nhưng Chúa Jesus truyền họ quăng lưới xuống biển. Họ không biết đấy chính là Thầy cho đến khi kéo lưới lên, và nhờ vâng lời, họ đã được lợi vì được một vụ đánh cá lạ lùng. Rồi họ ăn bữa sáng ngon lành với Chúa.
Điều rất quan trọng là mỗi tuần phải dành một ngày để nghỉ vai trò lãnh đạo. Đức Chúa Trời đời đời không cần phải nghỉ ngơi, nhưng với sự khôn ngoan tuyệt vời, Ngài đã làm gương cho chúng ta bằng cách dành một ngày để nghỉ trong tuần lễ sáng thế. Chúng ta há hơn Ngài sao? Không! Do đó, bạn và tôi không thể cứ tiếp tục làm việc không ngơi nghỉ mà thân thể không thấy mệt được. Nghỉ ngơi không những tốt cho thân thể, mà còn tốt cho linh hồn. Đavít viết trong một Thithiên nổi tiếng: “Ngài bổ lại linh hồn tôi: dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ Danh Ngài” (Thi Tv 23:3).
Thỉnh thoảng, tín đồ đã bảo tôi ngừng công việc để tận hưởng hương thơm hoa hồng. Nói đơn giản, họ đang bảo tôi làm chậm lại một chút để hưởng thụ cuộc sống quanh mình. Tôi có khuynh hướng tham công tiếc việc trong đời sống cá nhân và trong chức vụ, nếu không lập thời khóa biểu có một ngày nghỉ ngơi, thì thường sẽ không có ngày ấy. Từ đầu chức vụ, tôi muốn dành ngày Thứ Hai để nghỉ ngơi. Và rồi tôi đổi sang Thứ Năm, để vợ tôi đến thông công và nghỉ ngơi với nhóm cầu nguyện cầu nguyện của phụ nữ. Tôi đã hưởng được niềm vui săn sóc con cái. Đến cuối chức vụ mục sư, tôi dành ngày Thứ Bảy làm ngày nghỉ. Đây chính là ngày mà toàn gia đình có thể ở với nhau.
Các nền văn hóa trên thế giới có thể khác nhau, nhưng bản tánh và cơ thể con người vẫn như nhau. Bất luận bạn là ai, bạn vẫn cần một thời gian nào đó để nghỉ ngơi, thư giãn. Trong giới Cơ đốc, chúng ta có khuynh hướng là cứ tăng thêm công việc, vì nghĩ rằng sẽ sai lầm khi bảo “Không!” Thỉnh thoảng, nói “Không!” một lần thì không có gì sai. Thực ra, có thể phải rất thuộc linh thì mới nói: “Không!” khi chúng ta cảm thấy Đức Chúa Trời đang không dẫn dắt mình trong tình huống hay trong cam kết ấy. Hoặc sẽ tốt để nói “Không!” khi chúng ta đã làm việc quá nhiều hoặc kiệt lực. Người lãnh đạo Cơ Đốc không thể bị kiệt lực. Do đó, người ấy cần phải ấn định nhịp độ làm việc có thể chấp nhận được tùy theo cá tánh và sức lực. Thà được công nhận là có tay nghề chất lượng cao hơn là làm rất nhiều công việc mà kết quả lại không đạt năng suất.
Đời sống Cơ Đốc phải là đời sống vui thú. Chúng ta cần tận hưởng mỗi hoàn cảnh trong đời sống mình. “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn, tôi lại còn nói nữa: Hãy vui mừng đi!” (Phi Pl 4:4). Ngay cả sau mọi thử thách hoạn nạn, phải viết thư từ trong tù, sứ đồ Phaolô vẫn nói lên được những lời này. Cơ Đốc nhân đừng đáp ứng với cuộc sống theo cách của thế gian; trái lại, chúng ta phải xem mỗi cơ hội phục vụ Chúa như là một phước hạnh. Chúng ta có lời hứa rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho chúng ta (RoRm 8:28).
Cười và vui vẻ với nhau là một điều tốt. Tôi nghĩ Đức Chúa Trời có óc hài hước rất tuyệt vời. Chúng ta có thể đáp ứng bằng cách nói: “Ngài đã dựng nên tôi, phải không?” Thực ra, chúng ta có thể thấy điều này nơi chính mình. Vì chúng ta được hưởng sự vui thú và nụ cười, bạn há không nghĩ Đức Chúa Trời cũng như vậy sao? Người ta thường nói rằng chúng ta không thể thấy Chúa Jesus cười trong Kinh Thánh. Chúa Jesus đã mang lấy gánh rất nặng nề - tội lỗi của toàn thế gian trên vai Ngài. Tuy thế, tôi tin Ngài đã vui hưởng chức vụ, thì giờ ở với các môn đồ, và những cơ hội để giúp đỡ con người. Hạnh phúc đến từ tấm lòng và tâm hồn. Trong minh họa trên đây, chúng ta trích dẫn chuyện Chúa Jesus chuẩn bị bữa sáng cho các môn đồ. Đây là một bài học tuyệt vời cho họ trong đời, nhưng cũng là thì giờ để thư giãn với Thầy. Chúng ta cần học tận hưởng những điều Đức Chúa Trời đã ban cho mình trong đời - ngay cả giữa những cảnh đau lòng. Qua đó, chúng ta tìm được sự bình an của Đức Chúa Trời và nghĩ mãi đến những điều tốt nhất của đời sống (Phi Pl 4:7-8).
NGƯỜI GIẢNG ĐẠO :
Sự Cầu Nguyện
Các Nguyên Tắc
Quyền Năng
Thực Hành


NGƯỜI GIẢNG ĐẠO
Sự Cầu Nguyện:
“Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Đức Chúa Trời” (ICo1Cr 1:18). Người truyền đạo được kêu gọi rao giảng Lời Đức Chúa Trời không chút thỏa hiệp (Mac Mc 16:15; ICo1Cr 1:23; IITi 2Tm 4:2). Về cơ bản, giảng đạo là rao báo tin tốt lành dưới hình thức sứ điệp thông qua một bài giảng theo đoạn Kinh Thánh, theo chủ đề, hay theo cách giải nghĩa Kinh Thánh. Chữ Hylạp kergyma nói lên việc rao giảng đạo trong khi chữ didache nói đến việc dạy Lời Đức Chúa Trời. Đôi khi hết sức khó phân biệt sự khác nhau này, vì người truyền đạo sẽ giảng lẫn dạy. Giảng đạo nên là một sự dạy dỗ tốt; và việc dạy có thể ra từ việc giảng đạo tốt.
Một lãnh đạo giỏi của hội thánh sẽ đặt sứ điệp trở thành điều ưu tiên cho công việc. Hội thánh địa phương tiếp nhận vị mục sư vì một lý do chính ấy là rao giảng Lời Đức Chúa Trời. Người của Đức Chúa Trời được kêu gọi để giảng đạo; và hội thánh ủy nhiệm cho người giảng Lời Đức Chúa Trời. Trong phương diện này, chức vụ mục sư như chúng ta biết ngày nay gắn liền với nhiều trách nhiệm ngoài lề của công tác rao giảng Lời Chúa, và Hội Thánh nhận được rất nhiều ích lợi. Nhưng đừng để điều gì ngăn trở người truyền đạo khỏi bổn phận chính mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi người làm. Chúng ta nên nghe lời khuyên của các sứ đồ đầu tiên khi nan đề của các góa phụ Hylạp nảy sinh trong hội thánh Giêrusalem: “Còn chúng ta sẽ cứ chuyên lo về sự cầu nguyện và chức vụ giảng đạo” (Cong Cv 6:4).
Rõ ràng, Chúa Jesus đã là Người Thầy, Người Truyền Đạo xuất sắc của mọi thời đại, với những bổn phận cơ bản: ăn năn và công nhận (Mat Mt 4:17). Vì Ngài là Mẫu Mực cho công tác giảng dạy tốt, nên tốt nhất là học tập nơi Ngài. Chúng ta thấy rất nhiều phương pháp khác nhau - giảng luận, ẩn dụ, những minh họa từ cuộc sống, lời tiên tri và khuyên bảo. Tương tự, Ngài truyền chúng ta phải noi gương Ngài (LuLc 4:43; Mac Mc 16:15). Việc rao giảng Lời Đức Chúa Trời bắt đầu từ chính vị Thầy; và rồi Ngài ủy thác cho chúng ta làm giống như Ngài.
Công tác rao giảng muốn kết quả và hữu hiệu thì phải được dầm thắm trong sự cầu nguyện liên tục và mạnh mẽ. Kinh Thánh truyền tín đồ phải “cầu nguyện không thôi” (ITe1Tx 5:17). Nếu mạng lịnh này được ban cho thân thể Đấng Christ, thì nó còn áp dụng cho người của Đức Chúa Trời biết đến chừng nào! Chúng ta thấy đây là chức vụ chính yếu của Chúa Jesus, và kết thúc trong lời cầu nguyện vĩ đại ở vườn Ghếtsêmanê, lời cầu nguyện của Chính Chúa chứ không phải Lời Cầu Nguyện Của Môn Đồ (GiGa 17:1-26; Mat Mt 6:1-34). Cầu nguyện là chức vụ then chốt cho mọi hội thánh và cho sự thành công của hội thánh. Thiếu cầu nguyện thì sẽ gặp cơn hạn hán thuộc linh. Nhưng có cầu nguyện thì hội thánh sẽ kinh nghiệm được quyền năng của Đức Chúa Trời và được Ngài thăm viếng.
Người lãnh đạo phải dành thì giờ để cầu nguyện. Người ta đã có lần nói rằng một Cơ Đốc nhân trung bình thì cầu nguyện ba phút mỗi ngày, còn mục sư cầu nguyện năm phút một ngày. Nếu quả đúng vậy, thì đương nhiên chúng ta hiểu được thực trạng thiếu quyền năng thuộc linh trong những chức vụ hiện tại của chúng ta. Công tác của Đức Chúa Trời không thể tiến lên phía trước nếu thiếu cam kết cầu nguyện.
Làm sao chúng ta tìm được thì giờ cầu nguyện khi có quá nhiều đòi hỏi trong đời sống và thời khóa biểu của chúng ta? Thông thường, chúng ta định ra những cuộc hẹn với tín đồ để thảo luận các vấn đề của hội thánh hay để giải quyết nhu cầu của tín đồ. Cớ sao lại không có cuộc hẹn hàng ngày với Đức Chúa Trời? Hãy dành riêng thì giờ ở một mình với Chúa. Đừng nghe bất cứ cuộc điện thoại nào, cũng đừng để bị gián đoạn trong thời gian này, ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp. Thông thường, tôi tìm cách cầu nguyện từ nửa đến một tiếng đồng hồ trong giờ cầu nguyện hàng ngày. Martin Luther đã trở nên bận rộn trong chức vụ đến nỗi ông biệt riêng mỗi ngày ba giờ để cầu nguyện.
Bây giờ chúng ta quay sang vấn đề nên cầu nguyện cách nào. Chúa Jesus đã dạy các môn đồ bài cầu nguyện mẫu khi họ đến xin Ngài dạy cách cầu nguyện (Mathiơ 6). Đây không phải là bài cầu nguyện duy nhất để chúng ta thưa với Đức Chúa Trời, nhưng nó dạy chúng ta nên nói gì trong những lời cầu nguyện. Sự cầu nguyện phải bao gồm đức tin, sự thờ phượng, xưng tội, chúc tụng, ca ngợi, tạ ơn, hành động và cầu xin. Giacơ tuyên bố lời cầu nguyện linh nghiệm của người công bình (Gia Gc 5:16). Lời cầu nguyện thay đổi đời sống của bản thân, đời sống của người khác và thế giới quanh ta. Khi chúng ta cầu nguyện linh nghiệm và sốt sắng, thì Đức Chúa Trời hành động!
Cầu nguyện là công tác tốn thì giờ, và nên chiếm phần lớn trong cam kết công tác. Chúng ta nên tham dự vào sự cầu nguyện thông minh, một từ ngữ tôi dùng để định nghĩa phạm vi của thì giờ cầu nguyện. Chúng ta nên giữ sổ nhật ký cầu nguyện, bao gồm những vấn đề riêng tư của mình, những lời cầu xin của người khác, những vấn đề của địa phương và của quốc gia, những nhu cầu của quốc tế và nhu cầu của công tác truyền giáo. Lời cầu nguyện phải là lời tạ ơn bao quát dâng lên Chúa về ơn phước Ngài ban cho chúng ta. Và sự cầu nguyện luôn luôn dâng lên lời ca ngợi, chúc tụng và thờ phượng Chúa. Dầu đây là một công tác rất tốn thì giờ, nhưng nó sẽ đem lại rất nhiều kết quả khi Đức Chúa Trời nhậm lời chúng ta cầu xin trước mặt Ngài.
Chúng ta nên khích lệ nhau cầu nguyện. Nên phát triển sự cầu nguyện thành một chức vụ liên tục trong hội thánh. Đừng bao giờ xem đây như là một chương trình thêm nữa, nhưng quan trọng hơn, đây phải là chức vụ ưu tiên của mọi người. Thứ nhì, mỗi tuần hoặc mỗi tháng nên biệt riêng ra một ngày cầu nguyện. Dân sự Đức Chúa Trời nên nhóm lại để cầu nguyện. Chúng ta đừng ngạc nhiên khi Hội Thánh quá thiếu quyền năng trong xã hội chính vì thiếu cầu nguyện trong những buổi nhóm giữa tuần của chúng ta. Buổi nhóm cầu nguyện đã trở thành buổi tối của gia đình. Điều này tạo nên nan đề, vì gia đình không bao giờ nhóm lại với nhau, nhưng đi ra theo nhiều hướng khác biệt để đến với những sinh hoạt theo từng lứa tuổi. Và thứ ba, chúng ta cần cầu nguyện và kiêng ăn. Có thể thấy hội thánh đầu tiên cầu nguyện và kiêng ăn rất nhiều, đặc biệt là khi có nan đề xuất hiện trong hội thánh, hay khi hội thánh đang đối diện với sự bắt bớ tàn khốc của thế gian. Chúng ta có khác hơn Hội Thánh đầu tiên chăng? Chúng ta cần chức vụ cầu nguyện đâm rễ vững chắc này trong các hội thánh địa phương để thay đổi nếp sống của mình và để đưa thế gian vào sự hiểu biết cứu rỗi được của sự sống thuộc linh.
Các buổi nhóm của chúng ta cần có những lời cầu nguyện thích hợp, có nghĩa là những lời cầu nguyện khai lễ, lời cầu nguyện dâng hiến, lời cầu nguyện mục vụ, những lời cầu nguyện đặc biệt và lời cầu nguyện kết thúc. Mỗi lời cầu nguyện nên được dâng lên theo đúng bối cảnh. Nói cách khác, mỗi phần cầu nguyện đừng kéo dài lê thê. Ví dụ: lời cầu nguyện khai lễ cầu xin ơn phước Chúa giáng trên buổi nhóm và chuẩn bị lòng chúng ta nghe tiếng Đức Chúa Trời phán với mình. Lời cầu nguyện dâng hiến cầu xin Chúa chúc phước cho số tiền dâng và cho tín đồ dâng hiến bằng tấm lòng rộng rãi và vui vẻ. Lời cầu nguyện mục vụ đóng vai trò chính cho toàn buổi nhóm và kết hợp những vấn đề của đất nước, quốc tế, cùng những nhu cầu của hội thánh và tín đồ. Đôi khi, có thể sẽ có những lời cầu nguyện đặc biệt, ví dụ như dâng con trẻ, sai phái gia đình giáo sĩ ra đi, khai mạc một chức vụ mới hay bất kỳ dịp nào. Lời cầu nguyện kết thúc sẽ vui mừng vì thì giờ nhóm lại với nhau và tạ ơn Chúa về sự thông công kỳ diệu với Ngài và với dân sự Ngài. Người cầu nguyện nên luôn luôn đáp ứng những nhu cầu cụ thể hay dịp cụ thể, dâng lên những lời lẽ và ý tưởng đúng.
Các Nguyên Tắc:
Điều gì khiến chức vụ giảng đạo trở thành chức vụ quan trọng nhất trong thế gian? Người truyền đạo dạy những lẽ thật biến cải cuộc đời. Sứ điệp vẫn luôn là Tin Lành của Đức Chúa Jesus Christ, và tiếp tục thích ứng với nhu cầu thuộc linh và nhu cầu của con người. Điều này không bao giờ thay đổi. “Đức Chúa Jesus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không bao giờ thay đổi!” Cũng giống như rất nhiều tình huống trong đời, chúng ta thường suy nghĩ ngược lại. Chúng ta cho rằng phải thay đổi Tin Lành để đáp ứng được nhu cầu của con người, nhưng không đúng như vậy. Lẽ thật không cần sự thay đổi, nhưng Tin Lành thay đổi con người để họ được ở trong mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời. Chức vụ giảng đạo và dạy dỗ sẽ không được phép giảm nhẹ giá trị các chân lý của Đức Chúa Trời. Nếu làm như vậy, hội thánh sẽ mất hiệu quả và lãnh đạo Cơ Đốc sẽ thỏa hiệp để kết hiệp với thế gian.
Khi nói đến công tác rao giảng quyền năng và hiệu quả, thì bạn phải thực hiện điều bạn rao giảng. Đời sống lên tiếng còn mạnh mẽ hơn những lời nói hùng hồn. Nếu không đích thân hành động theo những gì mình rao giảng, thì lời giảng không gây được ảnh hưởng gì trên những người mà bạn chăm sóc và tiếp xúc. Đức Chúa Jesus Christ không hề phạm tội nào. Hãy hình dung lời chứng của điều này trong thế gian. Philát, Tòa Công Luận của người Do Thái và dân chúng không tìm được cớ nào để đóng đinh Ngài, nhưng họ vẫn đóng đinh Ngài trên thập tự giá.
Giống như chúng ta, Chúa Jesus đã nhiều lần bị cám dỗ. Khi Ngài bước vào chức vụ công khai, chúng ta thấy có ghi lại ba sự cám dỗ (Mathiơ 4). Dầu yếu mệt vì kiêng ăn trong bốn mươi ngày, Chúa Jesus vẫn không biến đá thành bánh. Đến sự cám dỗ thứ hai, ma quỉ tìm cách khiến Chúa Jesus nhờ cậy các thiên sứ bảo vệ Ngài. Và một lần nữa, Chúa Jesus trích dẫn Kinh Thánh Cựu Ước để chiến đấu với kẻ thù. Sự cám dỗ thứ ba hứa ban cho Ngài mọi vương quốc trên thế gian nếu Ngài chịu sấp mình xuống thờ lạy ma quỉ. Chúa Jesus đáp lời nhanh chóng bằng cách trích dẫn điều răn thứ nhất: “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi.” Chúng ta có thể thấy quyền năng và hiệu quả của những nguyên tắc sống kính sợ Chúa qua đời sống và chức vụ của Chúa chúng ta.
Có hai nhân vật Cựu Ước nổi bật lên trong nếp sống tin kính của họ. Giôsép, bị các anh bán làm nô lệ, đã trở thành một lãnh tự nổi bật tại xứ Êdíptô. Chúng ta thấy ông không lần nào thỏa hiệp đức tin mình. Thực ra, điều đó đã khiến ông trở thành người lãnh đạo đứng hàng thứ nhì trong xứ sau Pharaôn. Và vì lòng trung tín và sống đúng theo nguyên tắc của mình, ông có thể nuôi sống các dân Êdíptô trong suốt cơn đói kém lớn. Đức Chúa Trời đã ban cho ông sự khôn ngoan để lãnh đạo.
Người thứ nhì không ai khác hơn là Đaniên. Bị bắt làm phu tù từ khi còn là thiếu niên, ông đã sống cả quãng đời còn lại dưới quyền cai trị và thế lực ngoại bang. Nhưng giống như Giôsép, ông cũng không thỏa hiệp đầu tiên. Ông thà đối mặt với thịnh nộ của vua và sư tử hung dữ hơn là xây bỏ thành công thuộc linh. Đức Chúa Trời đã dùng ông để giải những giấc mộng, và đưa ông lên địa vị nổi bật trong những đế quốc thù địch. Những nguyên tắc không hề thỏa hiệp của ông đầy ấn tượng đến nỗi vua Nêbucácnếtsa đã quay về với Đức Chúa Trời chân thật có một không hai.
Vì sao thế gian dường như đang xây bỏ Cơ Đốc giáo để đến với những tôn giáo khác của trần gian? Có thể sẽ có rất nhiều câu trả lời cho thắc mắc này, bao gồm cả sự ứng nghiệm lời tiên tri thời sau rốt, xu hướng giật gân mà các tôn giáo thế gian đưa ra, và vẻ hấp dẫn của điều ác đối với thế giới hư mất. Dường như nan đề không cốt ở tại lẽ thật, vì con người vẫn tìm kiếm lẽ thật, dẫu có thể đang tìm sai hướng. Không! Vấn đề chính là ở nếp sống phi thuộc linh hiện tại của tín đồ, và đôi khi của các lãnh đạo Cơ Đốc nữa. RoRm 12:1-2 đặt trước mặt chúng ta một thách thức là đừng làm theo đời này, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần để làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Thế gian có thể chẳng hề đọc Kinh Thánh, nhưng họ có thể đọc và phản ứng với thế giới Cơ Đốc quanh họ.
Quyền Năng:
Sự giảng đạo hiệu quả sẽ được thực hiện dưới sự chỉ định và quyền năng của Đức Thánh Linh. Đức Chúa Jesus Christ, Con độc sanh của Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa của cõi vũ trụ, Đấng Dự Bị, Cung Cấp cho nhân loại đã không đến trần gian này tách rời khỏi Đức Chúa Cha hay Đức Thánh Linh. Và chúng ta thấy Ngài cầu nguyện với Đức Chúa Cha, nương cậy Đức Thánh Linh để hoàn tất công tác. Chức vụ của Ngài sẽ chẳng bao giờ hoàn tất nếu không có năng lực nâng đỡ của Thánh Linh Đức Chúa Trời.
Dynamos, chữ Hylạp mà ta lấy ra chữ “thuốc nổ” trong Anh ngữ (dynamite) diễn đạt ý về năng lượng phát sinh bởi quyền năng của Thánh Linh trong tấm lòng và đời sống chúng ta. Bài giảng đầu tiên của Phierơ vào ngày khai sinh Hội Thánh (Ngày Lễ Ngũ Tuần) đã được Đức Thánh Linh ban quyền năng (Cong Cv 2:1-47). Con người bốc đồng này - thường nói trước khi nghĩ và đã phản bội Con Đức Chúa Trời khi thề hứa sẽ không bao giờ xảy ra chuyện ấy - đã nhận lãnh Đức Thánh Linh. Từ ngày đó trở đi, Phierơ đã trở thành người lãnh đạo nồng cốt của Hội Thánh đầu tiên, và đã đưa Hội Thánh từ khởi điểm Do Thái đến công tác ra đi đến với dân ngoại bang. Buổi nhóm của ông với Cọtnây, một người ngoại bang, đã đực thực hiện bất chấp những truyền thống và những giới răn Do Thái của ông. Tin Lành là sứ điệp cho toàn thế giới, chứ không chỉ riêng cho người Do Thái. Đức Thánh Linh đã ban năng lực và quyền năng cho những sứ điệp do con người chuẩn bị. Không có hiện diện của Ngài, những lời lẽ ấy sẽ chẳng ai nghe và chẳng ai chú ý đến, chẳng đem lại được hiệu quả hay kết quả. Và bạn với tôi sẽ không được hưởng Tin Lành như ngày nay.
Chúng ta phải giảng như thế nào? Khi giảng đạo, Đức Chúa Trời dùng cá tánh và phong cách của cá nhân đã được kêu gọi giảng đạo. Người truyền đạo đúng nguyên tắc chánh thống của thời hiện đại thường lên cao giọng đang khi giảng. Nhiều người sẽ xem đấy không phải là giảng đạo nếu chưa có lên giọng. Một lần kia, tôi được bảo rằng mình đã không giảng vì cớ tôi không lên giọng. Trong những khung cảnh trang trọng hơn, chúng ta nghe giọng nói bình thường trong suốt bài giảng với sự thuyết phục và lập luận mạnh mẽ. Đức Chúa Trời dùng nhiều cá tánh và kỹ thuật khác nhau để trình bày Lời Ngài.
Phierơ đã giảng thế nào vào Ngày Lễ Ngũ Tuần? Chúng ta nhìn thấy một con người đang cất cao giọng hay đang lập luận với dân chúng về những điều vừa xảy ra? Bạn thấy phương pháp của Phaolô trên ngọn đồi Arêôba không? Người Gờréc không muốn xúc phạm đến bất kỳ vị thần nào; do đó, Phaolô tận dụng cơ hội này để nói cho họ biết về một “Chúa không biết,” là Đức Chúa Trời chân thật và có một không hai. Những phong cách giảng khác nhau sẽ thích hợp những hạng người khác nhau (ICo1Cr 1:12-14). Sứ đồ Phaolô khuyến cáo hội thánh Côrinhtô đừng chăm vào con người nhưng vào nội dung của bài giảng.
Cần nhắc lại một vài ví dụ đã được trích dẫn trước đây. Những cơn phục hưng vĩ dại đã đến, dầu Jonathan Edwards giúi mặt sát bài giảng để đọc với một giọng nói đơn điệu, trên mặt đeo cặp kính dày cộm. Ông đã được Đức Chúa Trời sự dụng một cách đầy quyền năng. Một lần nữa, chúng ta nhớ lại Charles Spurgeon với những bài giảng dài hai mươi phút cuốn hút thính giả. Các sứ điệp của ông để lại một ảnh hưởng mạnh mẽ trên con người và đã thay đổi xã hội.
D. L. Moody sử dụng một phương pháp hoàn toàn khác hẳn để đến với dân chúng trên khắp thế giới. Nhưng tuy vậy, Đức Chúa Trời đã dùng ông đem hàng ngàn người về với Đấng Christ. Một đêm kia, ông không kêu gọi người ta đến tiếp nhận Chúa được, và hứa nguyện sẽ kêu gọi vào tối kế tiếp. Cơ hội đó đã không bao giờ đến, vì trận đại hỏa hoạn tại Chicago đã thiêu hủy thành phố và nhiều người đã chết. Từ ngày đó trở đi, Moody không bao giờ kết thúc buổi nhóm mà không mời gọi người ta tin Chúa.
Khi giảng dạy trong lớp, tầm quan trọng nằm ở phần nội dung và sự chuẩn bị bài giảng, chứ không ở phong cách cá nhân của người giảng. Chúng ta đừng nên can thiệp vào phong cách, nhưng hãy phát triển nó để trình bày hữu hiệu Lời Đức Chúa Trời. Khi nói đến vấn đề giảng đạo, chúng ta thấy có năm điều kiện then chốt sau.
1. Người truyền đạo phải được kêu gọi bởi Đức Chúa Trời. Tân Ước không chia hội thánh thành những nhà lãnh đạo chuyên môn và những tín đồ thường, nhưng có tập trung vào các ân tứ của Đức Thánh Linh. Và bởi những ân tứ này, Đức Chúa Trời kêu gọi những lãnh đạo để giảng và dạy sự khải thị của Đức Chúa Trời cho dân Ngài. Và như đã bàn, sự kêu gọi vẫn quan trọng ngay cả trong thế giới hiện đại.
2. Người truyền đạo phải xây dựng chức vụ mình trên quyền năng của sự cầu nguyện. Vấn đề nầy đã được chú ý đặc biệt trên đây, nhưng chúng ta không thể thôi nhấn mạnh nó. Cầu nguyện tạo nên chức vụ. Thiếu cầu nguyện, chức vụ sẽ trở nên yếu và vô hiệu quả.
3. Người truyền đạo không thể thi hành chức vụ bằng sức riêng của mình, nhưng nương cậy quyền năng của Đức Thánh Linh. Sức mạnh trong công tác giảng đạo xuất phát từ tầm cao thuộc linh. Người ta có thể nhanh chóng biết được liệu người của Đức Chúa Trời có đang cầu nguyện và nhận lãnh phước hạnh đặc biệt của Đức Thánh Linh hay không. Cả sự cầu nguyện lẫn quyền năng Thánh Linh tạo nên người truyền đạo thật của Lời Đức Chúa Trời.
4. Người truyền đạo cũng phải có ân tứ giảng đạo. Một chức vụ mạnh mẽ từ tòa giảng vẫn quan trọng trong việc gây dựng một thân thể hữu hiệu của Đấng Christ. Nếu người ta không được nuôi dưỡng bằng Lời Đức Chúa Trời hằng tuần, thì sẽ bị suy dinh dưỡng thuộc linh, và sự thờ ơ lãnh đạm sẽ diễn ra. Những điều bất thường thuộc linh sẽ xảy ra, chưa nói gì đến những sự chia rẽ và căng thẳng sẽ xuất hiện trong thân thể Đấng Christ. Điều này có thể xảy ra trong chức vụ của một hội thánh được nuôi dưỡng đầy đủ, nhưng chúng sẽ bị chế ngự và vượt qua bởi một gia đình thuộc linh vững mạnh của Đức Chúa Trời.
5. Và người truyền đạo cần ân tứ dạy dỗ. Tín đồ Cơ Đốc phải được nuôi dưỡng bằng Lời của Chúa. Một kinh nghiệm tốt trong công tác giảng dạy ấy là: Lúc soạn bài giảng, người truyền đạo phải nhận lãnh và học tập những thông tin mới. Lời Đức Chúa Trời phải thay đổi đời sống người ấy; rồi đến lượt Lời ấy sẽ thay đổi đời sống tín đồ. Việc dạy dỗ giỏi sẽ đem lại sự phát triển, kết quả trong toàn bộ phạm vi của chức vụ.
Cuối cùng người truyền đạo chỉ là một công cụ được chuẩn bị sẵn mà Đức Chúa Trời dùng để chia xẻ Tin Lành cho dân sự Ngài và cho người hư mất (RoRm 10:14). Và sự nghiên cứu tỉ mỉ, kỹ lưỡng bất kỳ sứ điệp nào đều phải luôn ở dưới sự dẫn dắt và chỉ dạy của Đức Thánh Linh. Không có sự hiện diện của Ngài, sứ điệp vẫn vô quyền. Chúng ta thi hành chức vụ trong xác thịt thay vì trong Thánh Linh Ngài thường xuyên đến mức nào? Chúng ta có bỏ mất trọng điểm ban đầu cùng lòng cam kết với sứ điệp trọng tâm của Tin Lành để rồi đổi hướng đột ngột hoặc đi lệch hướng không? Và chúng ta có trở nên kém hiệu quả, đưng đi không kết quả vì cớ thiếu quyền năng cầu nguyện? Phải xem trọng quyền năng của Đức Thánh Linh và sử dụng cách khôn ngoan để biện biệt và trình bày Đức Chúa Trời.
Thực Hành:
Chúng ta đã đề cập vắn tắt vấn đề này. Khi đã nói và làm hết mọi điều rồi, thì đời sống trở thành yếu tố quyết định tối hậu. Người ta có thấy Đấng Christ trong và qua chúng ta không? Một người nào đó có thể mất rất nhiều năm để đáp ứng với sứ điệp Tin Lành; do đó, chúng ta không bao giờ có thể xao lãng việc đem Đấng Christ và công tác Ngài đến cho họ. Chúng ta không bao giờ biết khi nào thì mình đang để lại một lời chứng mạnh mẽ cho Danh Ngài, không những luôn luôn bằng lời nói nhưng bằng cả hành động nữa.
Mỗi Cơ Đốc nhân đều được kêu gọi vào đời sống thánh khiết. Sự thánh khiết theo Kinh Thánh là gì? Có thể định nghĩa rõ ràng đây là sự trọn vẹn về đạo đức và luân lý. Nói cách khác, chúng ta không có tệ nạn đạo đức. Những từ đồng nghĩa sẽ là “sự nên thánh” hay “sự tin kính.” Chúng ta biệt riêng mình ra để hầu việc Chúa. Vì Đức Chúa Trời là thánh, nên Ngài muốn chúng ta cũng phải thánh (XuXh 9:6; LeLv 20:7).
Có thể mô tả Chúa Jesus - người Lãnh Đạo kiểu mẫu - là đỉnh của toàn bộ sự thánh khiết, có mọi thuộc tánh của Đức Chúa Trời. Và Ngài đòi hỏi môn đồ cũng phải sống như Ngài (Mat Mt 5:20; OsHs 6:6; Mat Mt 12:7). Sự thánh khiết phải ở trong tín đồ đang khi phục vụ và chờ đợi ngày Đấng Christ tái lâm. Đây là chủ đề không đổi của Tân Ước và là lời khích lệ cho những người bước theo Ngài (IPhi 1Pr 1:15; ITe1Tx 3:12-13).
Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời ở trong chúng ta khi chúng ta đầu phục ý muốn và kế hoạch Ngài dành cho đời sống mình. Sự thánh khiết đến khi chúng ta bước vào chương trình thiên thượng dành cho đời sống mình. Chúng ta không trở nên thánh khiết đến nỗi tách mình khỏi việc làm chứng cho thế gian này. Kinh Thánh không nói đến việc cách ly khỏi thế gian. Trái lại, chúng ta phải ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian, Thế gian sẽ không bao giờ nhìn thấy đời sống được biến đổi nếu Cơ Đốc nhân rút lui và không sống đúng đức tin của Kinh Thánh. Chúa Jesus truyền chúng ta phải làm sự sáng của thế gian (Mat Mt 5:16). Trong RoRm 6:22, chúng ta phải sinh kết quả. IICo 2Cr 7:1 bảo chúng ta phải lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn vẹn việc nên thánh của mình. Sự thánh khiết đòi hỏi chúng ta phải không chỗ trách được (ITe1Tx 3:13). Và chúng ta thấy thánh khiết chính là sự kêu gọi thiên thượng cho đời sống chúng ta (IITi 2Tm 1:9).
Khi dân sự của Đức Chúa Trời sống thánh khiết, thế gian sẽ thay đổi để được tốt hơn. Chính trị, giáo dục, kinh tế, và hành vi xã hội có thể đem lại những điều chỉnh phụ cho cuộc đời, nhưng chúng sẽ không tồn tại vĩnh viễn. Những hành động như thế tạo thành một tiến trình chậm chạp, và sự nâng cao nếp sống vẫn chỉ là tối thiểu. Sự biến đổi đời sống thực sự sẽ không đến nếu không có quyền năng của Tin Lành. Cơn phục hưng tâm linh xảy ra trong đời sống của những tín đồ sẵn lòng, và tạo nên một dân thánh. Hội Thánh cần cơn phục hưng toàn cầu, có nghĩa dân sự Đức Chúa Trời sẽ sửa tấm lòng mình lại ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời. Khi Hội Thánh công bình, thế gian sẽ trở nên công bình.
KẾT LUẬN :
Các Điều Kiện
Những Nhà Phê Bình
Những Thay Đổi
Những Thách Thức


KẾT LUẬN
Các Điều Kiện:
Trong chương trình, chúng ta đã khảo sát đời sống cơ bản và chức vụ của Chúa Jesus, vị Lãnh Đạo - Thầy và Cứu Chúa của thế gian. Chúa Jesus là Mẫu Mực hoàn hảo để noi theo khi nói đến công tác lãnh đạo, bao gồm cả giới thế tục lẫn giới Cơ đốc. Sự lãnh đạo của Ngài vẫn thật vô song. Dầu thế gian có thể xem Chúa Jesus là một Lãnh Đạo trên danh nghĩa, thậm chí dưới cả mức trung bình, nhưng Ngài vẫn là một Gương Mẫu hoàn hảo, và sự hoàn hảo vô tội của Ngài đặt Ngài vượt lên trên hết trong sự lãnh đạo, quản lý và các năng lực nhân sự.
Làm sao người ta có thể cải thiện sự toàn hảo được? Giăng viết trong sách Tin Lành Giăng rằng: “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài” (GiGa 1:1-3). Đức Chúa Jesus Christ - vừa là Kiến Trúc Sư, vừa là Đấng Tạo Hóa cõi vũ trụ - đã làm nên một thế giới hoàn hảo (SaSt 1:1-3:24), nhưng đã bị con người và những đeo đuổi ích kỷ của con người phá hoại. Vẻ đẹp ngoạn mục của thế gian này không xảy ra bởi một vụ nổ hay bởi một sự ngẫu nhiên, nhưng Đấng Christ đã hoạch định nó trong sự toàn hảo, và sẽ trả về sự toàn hảo với trời mới đất mới.
Không hề mắc phải những lỗi lầm và thất bại của nhân loại, Con độc sanh của Đức Chúa Trời, Đấng Thần Nhân, Chúa Jesus Christ, mang bản tánh bất biến. Thơ Hêbơrơ tuyên bố rõ ràng: “Đức Chúa Jesus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi” (HeDt 13:8). Dầu chúng ta khó mà ý thức và hiểu nổi giữa đống đổ nát và tàn tích của con người, nhưng Con Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Ngài là chân lý hằng sống, và chân lý không cần phải biện minh hay tự bảo vệ, vì nó sẽ đứng vững trước những trận công kích kinh khiếp nhất. Bất chấp những lời thành văn hay thành tiếng xúc phạm đến Cứu Chúa chúng ta, Ngài vẫn tiếp tục là nhân vật nổi bật nhất và là cuộc tranh cãi nổi bật nhất trong đời. Các kẻ thù khinh bỉ và chối bỏ Ngài cho đến cùng, còn những người cổ vũ hăng hái nhiệt tình nhất của Ngài đang rao báo niềm vui tuyệt vời hơn và sự sống hầu đến.
Nhưng điều gì thực sự khiến Ngài trở thành Người Lãnh Đạo của mọi thời đại, ngay cả của những thế hệ tương lai? Ngoài việc Ngài là Đức Chúa Trời, chúng ta còn thấy một con người phi thường trong một sứ mạng đặc biệt. Phân đoạn về kenosis (Phi Pl 2:5-11), mà chúng ta đã nói đến trước đây, biệt riêng Ngài ra khỏi mọi lãnh đạo khác. Đức Chúa Jesus, vị Lãnh Tụ, không bao giờ lo cho riêng bản thân Ngài; Ngài không có những chương trình nghị sự bí mật; uy tín và quyền năng không nhử được Ngài. Không, Chúa Jesus đã đến để làm Đầy Tớ của mọi đầy tớ, Lãnh Đạo của mọi lãnh đạo, Nhà Tổ Chức của mọi nhà tổ chức, và Người Truyền Đạo của mọi truyền đạo để ban chính mình Ngài cho nhân loại và cứu nhân loại. Con người hay chết triển khai kế hoạch để tự giải cứu mình thoát khỏi tình trạng nan giải; Đấng không hề chết đã phó chính mình Ngài để cứu con người. Lần đầu Ngài đến trong tư cách Đầy Tớ thống khổ nhân để ban sự cứu chuộc cho mọi kẻ tin, và Ngài sẽ đến lần thứ hai trong tư cách Vua vinh diệu để đòi lại mọi điều thuộc về Ngài.
Tương tự, Đức Chúa Jesus kêu gọi chúng ta trở nên người làm công việc Ngài - những đầy tớ, những lãnh đạo, những nhà tổ chức và những người truyền đạo của Ngài. Nhưng làm sao một kế hoạch như thế thành công được? Mọi tín đồ Cơ Đốc đều được dạy dỗ phải làm chứng nhân của Tin Lành. Và chúng ta phải trung tín với sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trong đời sống mình (KhKh 2:10). Đức Chúa Trời đã truyền lệnh và ủy thác chúng ta để dẫn đưa dân sự Ngài cách trung tín, và giúp những người khác hiểu biết Ngài để được cứu. Ngài nhận lấy chúng ta trong thực trạng hiện tại của mình, miễn là chúng ta sẵn sàng, và khiến chúng ta trở nên những đầy tớ oai vệ của Ngài để hoàn tất kế hoạch và mục đích Ngài dành cho thế gian. Nói cách khác, Đức Chúa Trời cho chúng ta hình dung được tiềm năng của mình, rồi chờ đợi chúng ta đáp ứng và làm công việc Ngài. Ngài sẽ không bao giờ ép chúng ta lập một cam kết mà chúng ta không muốn. Phương pháp dân chủ của Ngài ban cho một niềm vui và sự thỏa lòng lớn để phục vụ Ngài.
Nhưng cam kết và sự phục vụ này không phải là không kèm theo rất nhiều lời cảnh cáo trong Kinh Thánh. Là tín đồ Cơ Đốc sống giữa một thế giới xa lạ của người không tin Chúa, chúng ta có thể chờ đợi chịu hoạn nạn và bắt bớ. I và II Phierơ tập trung vào sự hoạn nạn sẽ đến cho tín đồ trong thế gian này. Và Phierơ viết cụ thể: “Nhưng nếu có ai vì làm tín đồ Đấng Christ mà chịu khổ, thì đừng hổ thẹn; thà hãy vì danh ấy ngợi khen Đức Chúa Trời là hơn” (IPhi 1Pr 4:16). Trước câu này, ông viết: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót” (IPhi 1Pr 4:12-13). Chúng ta có lời bảo đảm tuyệt đối vô điều kiện từ Đức Chúa Trời rằng bất chấp mọi hoạn nạn và thử thách trong đời này, hết thảy đều sẽ kết thúc trong vinh hiển và vui mừng. Chúng ta sẽ sấp mình thờ lạy dưới chân Đức Chúa Jesus đời đời vô cùng, nhưng hiện nay, để sống giống như Ngài thì sẽ chỉ chuốc lấy khó khăn từ thế gian. Chúng ta được kêu gọi để gánh vác điều đó và cùng chia xẻ nó với Ngài.
Những Nhà Phê Bình:
Những nhà phê bình ráo riết phổ biến quan điểm của họ và tìm cách tiêu diệt những chân lý của Tin Lành, không phí chút thì giờ nào. Họ nhanh chóng chối Chúa Jesus không phải là Con Đức Chúa Trời, và cho rằng họ đã tiến đến chỗ hiểu biết tuyệt vời về sự sống. Đối với họ, những lời phán của Thánh Kinh chẳng có ích lợi gì trong thế giới hiện tại. Họ cho rằng không cần Đức Chúa Trời mình vẫn được soi sáng và thoát khỏi ách nô lệ của một hệ thống các niềm tin tôn giáo cổ hủ. Trong quá trình lập quyết định trong đời sống, họ công khai và ngang nhiên tách mình khỏi lẽ thật, và tuyên bố giới Cơ Đốc chính là nguyên nhân của các nan đề hiện tại.
Không phải Kinh Thánh đã nói đến quan điểm phê bình luôn tồn tại này sao? Kinh Thánh đưa ra lời mô tả rất sinh động về những ngày sau rốt của lịch sử thế giới, và đọc giống như là một tờ báo hiện đại vậy. IITi 2Tm 3:1-7 mô tả thế giới hiện tại và tiến trình định hướng của nó. Người ta sẽ xây bỏ Đức Chúa Trời và sống cho bản thân mình. Con người sẽ biết lẽ thật, nhưng không hề khao khát lẽ thật. IIPhi 2Pr 3:3-4 thuật lại cùng một quan điểm: “Trước hết phải biết rằng, trong những ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê, dùng lời giễu cợt, ở theo tình dục riêng của mình, đến mà nói rằng: Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế.”
Những nhà phê bình sẽ không kết thúc mãi cho đến kỳ tận thế. Trong giờ cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ trả họ về đúng chỗ. Những gì họ tin là đúng sẽ được chứng minh là hoàn toàn sai lầm. Điều họ tuyên bố là chân lý sẽ là hệ thống thế gian giả dối và lừa gạt. Hệ thống này được tiếp tục đưa con người đến chỗ tự hủy hoại.
Chúng ta sống trong một thế giới giả tạo bằng nhựa mà nó sẽ tan chảy ra dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời. Tất cả những điều gì dường như rất quan trọng với chúng ta trong đời này thì đều sẽ tan rã ra dưới tay quyền năng của Đức Chúa Trời và tiêu chuẩn chân lý của Ngài. Những điều các nhà phê bình không tin trong đời này về Đức Chúa Trời hằng sống sẽ được bày tỏ rõ trước mắt họ. Và họ sẽ không còn phủ nhận lẽ thật được nữa.
Những Thay Đổi:
Thật thú vị, thế giới đã kinh nghiệm rất nhiều thay đổi trong suốt cả cõi thời gian và trong lịch sử con người. Sự thay đổi có thể vừa mang tính cực vừa mang tính tiêu cực. Ví dụ rất ít người trong chúng ta sẽ chọn lại thời đại tiền kỹ nghệ. Làm sao chúng ta sống được nếu không có những tiện nghi hiện đại, chẳng hạn như xe hơi, truyền hình, điện thoại di động, máy vi tính? Khi những thứ này không hoạt động, chúng ta thường nhanh chóng muốn nổi đóa lên, không biết phải làm gì hay làm sao giải quyết được tình hình.
Tuy thế, những sự thay đổi tốt có thể đem lại những sự thay đổi xấu. Cái xấu luôn trở thành loài ký sinh của cái tốt. Lấy ví dụ trong những điều trên đây để minh họa. Xe hơi, cũng giống như bất kỳ phát minh nào khác, có thể gây ra những nan đề lớn. Buổi bình minh của xe hơi đã đem lại sự tự do và độc lập mới, và nó cũng mở cửa cho những hành động tội phạm kinh khủng hơn. Kỹ nghệ vô tuyến truyền hình đã quảng bá, đẩy mạnh tình dục, bạo lực và tội phạm. Người ta chứng minh điện thoại di động đã gây ra nhiều tai nạn hơn khi xử dụng lúc đang lái xe. Và vi tính cung cấp sản phẩm khiêu dâm lậu trên mạng và những hoạt động bất hợp pháp.
Bản thân những sự thay đổi không phải là sai nếu chúng đem lại những ích lợi cho nhân loại, nhưng buộc phải kiểm soát được những ảnh hưởng xấu của các thay đổi này. Đức Chúa Jesus đến để không phải bỏ qua luật pháp Đức Chúa Trời, nhưng để giữ cho trọn. Và Ngài đã giải nghĩa cách mới mẻ và đầy thuyết phục cho luật pháp, đem lại nhiều cơ hội và đặc ân lớn lao hơn trong đời sống. Và chúng ta không hề thấy Ngài phạm luật pháp.
Lời Đức Chúa Trời đã được vững lập rồi, và sẽ không bao giờ thay đổi. Là những lãnh đạo Cơ đốc, chúng ta đừng bao giờ phạm vào tội bỏ qua hay thỏa hiệp các lẽ thật của Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời không bao giờ thay đổi để phù hợp với con người, nhưng con người phải thay đổi để tìm được sự thỏa mãn trong Lời Ngài. Nếu không giữ nguyên tắc này, con người sẽ không bao giờ tìm được sự thỏa mãn đúng hay sự toại nguyện trong đời.
Ngày nay, chúng ta thấy có một phong trào mạnh mẽ đi xa Lời Đức Chúa Trời. Giới phi Cơ Đốc đã xóa bỏ nền đạo đức của Kinh Thánh khỏi nếp sống. Họ lưu ý những nan đề trong văn hóa và quốc tế ngày càng tăng lên, nhưng không bao giờ thấy mối quan hệ giữa hai điều này. Sự đui mù thuộc linh đã khiến họ tách khỏi những lẽ cần thiết của đạo đức trong đời. Họ cứ tiếp tục rơi sâu hơn vào vực thẳm đạo đức bại hoại và thất bại.
Thật đáng buồn vì rất nhiều người trong giới Cơ Đốc đã gia nhập cuộc diễu hành của tình trạng đạo đức suy đồi. Rất nhiều tập tục không thể chấp nhận được trong Hội Thánh giờ đây đã trở thành định chuẩn. Nếu tín đồ Cơ Đốc khao khát tiếp nhận điều ác của thế gian, họ sẽ giải thích lại, hoặc thậm chí bỏ qua những nguyên tắc thiên thượng hòng thỏa mãn những thói quen ích kỷ và tội lỗi của mình. Tình trạng này đã trở thành đáng báo động trong Hội Thánh, và ta phải đương đầu không chút thỏa hiệp với chúng.
Giống như Chúa Jesus, chúng ta - là những lãnh đạo Cơ Đốc - phải ngẩng cao đầu trong sự ngay thẳng và thành thật. Trong mọi từng trải của đời sống Ngài, Chúa Jesus luôn luôn đối chất với những người phạm tội về tội lỗi họ. Ngài lên án tất cả mọi tập tục, thói quen tội lỗi. Đức Chúa Trời không thể chịu được tội lỗi. Nhưng Chúa Jesus không bao giờ lên án một cá nhân nào mà trước hết không yêu thương và ban cho họ sự thay đổi đời sống. Và vì thế, chúng ta phải yêu thương con người, thậm chí những người không đáng yêu, và lên án mọi hình thức và tập tục của tội lỗi. Có thể chúng ta không đúng về mặt chính trị, nhưng chúng ta sẽ phải đúng về mặt thuộc linh. Còn điều gì quan trọng hơn là một lãnh đạo thuộc linh phải chính xác về Kinh Thánh, bất chấp mọi mạo hiểm và sự từ khước? Những chiều hướng thay đổi phải luôn luôn khiến ta trở nên giống hình ảnh của Cứu Chúa chúng ta càng hơn. Nếu đấy không phải là tiêu chuẩn cho những sự thay đổi trong đời sống mình, thì đừng nên có sự thay đổi nào cả. Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho những người nào làm theo lẽ phải bất chấp sự phê bình của công chúng hay của cá nhân. Và thế giới cần những lãnh đạo không biết sợ, là những người sẽ lập cam kết này trong một thế giới hay biến đổi.
Những Thách Thức:
Quả là niềm vui lớn vì được phục vụ vị Lãnh Đạo bậc thầy, Đấng đã giải cứu chúng ta khỏi đường lối sai trong đời và đem chúng ta vào đường lối công bình. Chúng ta đang sống giữa những ngày dường như sôi động nhất trong lịch sử nhân loại. Sự sôi động này không xuất đầu lộ diện nhờ những thành công hay thành tựu của con người. Nó không đến bởi vì nhân loại cuối cùng sẽ phục dưới quyền thống trị của một lãnh tụ thế giới trong tương lai cùng chương trình của hắn. Bất chấp những khao khát và chương trình nghị sự khổng lồ của con người nhằm thiết lập một thế giới không tưởng toàn cầu, nó vẫn phai tàn và chết đi như một giấc mơ không thành. Quan điểm của con người đem lại rất ít hy vọng hoặc nhiệt tình. Những lời hứa và chương trình bất tận biến thành tro bụi. Sự nghèo khổ, thảm hại, và lạm dụng cùng sự hủy hoại của con người vẽ lên một bức tranh thật nản lòng!
Nhưng như vậy, tại sao chúng ta có thể tuyên bố mình đang sống trong những ngày thật sôi nổi? Chúa tuyên bố kế hoạch Ngài dành cho thế gian và sự tận thế hầu đến qua cả đàng sau hậu trường lẫn trong những lời tuyên bố về thời kỳ sau rốt của Chúa. Các môn đồ đã hỏi: “Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? Và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?” (Mat Mt 24:3b). Chúa trả lời những câu này bằng Bài Giảng Trên Núi Ôlive nổi tiếng (24:1-25:46), được gọi như vậy vì Ngài đang dạy trên núi Ôlive. Sẽ có những Christ giả, tiên tri giả và giáo sư giả. Cõi thiên nhiên sẽ thay đổi với những cơn đói kém, dịch lệ và động đất. Sẽ có cả chiến tranh lẫn tin đồn về chiến tranh bất chấp những hiệp thương hòa bình vô tận. Các nước sẽ nghịch cùng nhau. Những mối quan hệ cá nhân sẽ trở nên cay đắng. Tội lỗi sẽ tràn đầy, và lòng yêu mến Đức Chúa Trời sẽ nguội dần. Dân sự Đức Chúa Trời sẽ chịu khổ. Toàn bộ những dấu hiệu này chỉ đến kỳ tận thế; và hôm nay, bạn cùng tôi đang từng trải những lời báo trước ấy. Chúng sẽ tiếp tục gia tăng khi sự tái lâm ngày càng đến gần.
Đức Chúa Trời thách thức hết thảy chúng ta hãy biết Ngài, sống cho Ngài và hầu việc Ngài mỗi ngày. Bạn đã dâng tấm lòng và đời sống mình cho Đức Chúa Jesus Christ chưa? Có thể Đức Chúa Trời đang kêu gọi bạn vào sự hầu việc đặc biệt. Bạn có đáp lời mời gọi của Ngài không? Bạn đã trao Đức Chúa Jesus Christ toàn quyền tể trị đời sống mình chưa? Việc đầu phục hết thảy cho Ngài sẽ đem lại những phần thưởng hiện nay cũng như trong cõi đời đời. Bạn có biết ý muốn Đức Chúa Trời trong đời sống mình không? Nếu không, hãy cầu xin Ngài bày tỏ cho bạn. Bạn có mất niềm vui đang khi hầu việc Đấng Christ không? Hãy tái phó thác đời sống mình cho Ngài và cầu nguyện xin Chúa ban niềm vui mới. Có còn tội lỗi dấu kín trong đời sống bạn và trong Hội Thánh không? Thế gian này sẽ không thay đổi nếu không có sự phục hưng của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh Ngài. Hãy cầu nguyện để Đức Chúa Trời sai cơn phục hưng toàn cầu này đến, bắt đầu từ bạn và tôi.
Cớ sao chúng ta không cầu nguyện bằng những lời sau? “Lạy Chúa, xin khiến chúng con sẵn lòng. Xin khiến chúng con trở nên những người lãnh đạo và những con người mà Ngài cần. Tạ ơn Chúa về sự lãnh đạo mẫu mực của Ngài trong cuộc đời. Tinh thần tôi tớ sự lãnh đạo, sự tổ chức và sự lãnh đạo của Ngài đã đem lại khích lệ lớn lao cho những cam kết Cơ Đốc của chúng con. Xin khiến chúng con trung tín đến tận lúc Ngài trở lại. Amen.” “Amen, lạy Đức Chúa Jesus, xin hãy đến (mau chóng )!” (KhKh 22:20b)

† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-9-2018 10:54 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách