† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2585|Trả lời: 0

Chuyển KHẢI TƯỢNG Thành HÀNH ĐỘNG

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 9-7-2011 13:34:07 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa
  

Chuyển KHẢI TƯỢNG Thành HÀNH ĐỘNG
George Barna
Định nghĩa và đưa vào thực hành
khải tượng độc đáo
Đức Chúa Trời dành cho chức vụ của bạn
Tác giả cuốn “Quyền Năng Của Khải Tượng”
Lời khen tặng dành cho cuốn
CHUYỂN KHẢI TƯỢNG THÀNH HÀNH ĐỘNG
*******
George Barna là bậc thầy trong việc đào sâu những nhận thức hữu ích xuất phát từ công trình nghiên cứu sắc bén của mình. Ông vừa đâm rễ sâu xpa trong
lẽ thật vĩnh cửu và rất thực tế khi áp dụng những
lẽ thật này cho thế kỷ 21.
BOB BUFORD, TÁC GIẢ & NHÀ SÁNG LẬP
LEADERSHIP NETWORK
Trong thời đại mà chức vụ lãnh đạo đòi buộc phải
sáng tỏ và mang tính quyết định, cuốn sách
CHUYỂN KHẢI TƯỢNG THÀNH HÀNH ĐỘNG
là một công cụ có giá trị.
PHIL DOWNER, CHỦ TỊCH
CHRISTIAN BUSINESS MEN’S COMMITTEE HOA KỲ
Đây không chỉ là một cuốn sách khác trong số nhiều sách về khải tượng và lãnh đạo mà đây còn là một cuốn sách hữu ích - một trong số ít sách hướng dẫn bạn lập phương hướng cho chức vụ tương lai một cách thực tế.
DR. LUDER G. WHITLOCK, JR. HIỆU TRƯỞNG
REFORMED THEOLOGICAL SEMINARY
Mục lục

LỜI TRI ÂN
NHẬN XÉT VỀ KHẢI TƯỢNG
LỜI MỞ ĐẦU
1. NGƯỜI CÓ KHẢI TƯỢNG LÀ NGƯỜI ĐỊNH HƯỚNG CHO ĐỜI SỐNG CỦA BẠN Dù tốt hay xấu, Nền văn hóa của người Mỹ hiện đã được định hình bởi nhiều nhà lãnh đạo có khải tượng.
2. NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN CỦA KHẢI TƯỢNG Những sứ mệnh, giá trị, tài năng, ân tứ thuộc linh và các kinh nghiệm đời sống là những thành phần của đẳng thức.
3. CÁC CƠ ĐỐC NHÂN CẤP TIẾN Kinh Thánh cung cấp nhiều thí dụ về cách Đức Chúa Trời can thiệp vào đời sống của môn đệ Ngài.
4. NGHIÊN CỨU NHỮNG BÀI HỌC Mười tám bài học được rút ra từ đời sống của những người có khải tượng trong Kinh Thánh để áp dụng cho ngày nay.
5. ĐẲNG CẤP KHẢI TƯỢNG Những người có khải tượng thường phù hợp theo cấp độ của ba loại sau: cực nhỏ, trung bình, vĩ đại.
6. ĐIỀU GÌ BẠN CHO LÀ GIÁ TRỊ ? Những giá trị đem lại nền tảng để xây dựng một khải tượng cho đời sống bạn và nếp sống của một hội thánh.
7. NẾP SUY NGHĨ CỦA NGƯỜI CÓ KHẢI TƯỢNG Những người có khải tượng tiên đoán tương lai, rồi hành động cách có phương pháp để làm cho tương lai đó được trở thành dễ dàng thuận tiện.
8. NẾP SỐNG CỦA MỘT TÍN HỮU CÓ KHẢI TƯỢNG Những tín hữu có khải tượng được nhận ra qua cách cư xử và qua những mối liên hệ của họ với con người và với Đức Chúa Trời.
9. NẾP SỐNG CỦA MỘT HỘI THÁNH CÓ KHẢI TƯỢNG Ai là người chịu trách nhiệm và điều gì có thể làm để giảm thiểu mối đe dọa mà khải tượng thường đặt ra cho các hội thánh?
10. BIẾN KHẢI TƯỢNG THÀNH THẢM HỌA Khải tượng có thể bị suy yếu, thậm chí bị đánh mất, qua hàng loạt những bước sai lầm trong nếp sống bạn và nếp sống của một hội thánh.
11. TẠO DỰNG TƯƠNG LAI Trả lời cho sáu câu hỏi có thể làm sáng tỏ tầm quan trọng của khải tượng Đức Chúa Trời dành cho đời sống bạn.
PHỤ LỤC 1 Nếp sống hòa hợp
PHỤ LỤC 2 Tiềm năng của Chức vụ, Khải tượng, Giá trị và sự Bình ổn Cá nhân
PHỤ LỤC 3
Thông Tin về Barna Research Group, Ltd.
Lời Tri Ân
Tôi xin được nêu danh sách các nhân vật mà trên một phương diện nào đó đã có ảnh hưởng đến sách nầy.
Bạn bè và đồng nghiệp của tôi tại Công ty Gospel Light / Regal Books - trên 100 người - đã tỏ ra rất khích lệ, kiên nhẫn, và hậu thuẫn tôi. Tôi không biết rõ hết mọi người, nhưng mỗi người đều đóng một vai trò nào đó trong việc khai triển, xuất bản, phân phối và ủng hộ một cuốn sách như cuốn này. Xin cảm ơn hết thảy.
Tôi xin đặc biệt tri ân Bill Greig Jr., Bill Greig III, Debbie Vargas, Kyle Duncan, Kim Bangs, Bill Denzel, Dennis Somers, Virginia Woodard, Gloria Moss và những người đại diện từng khu vực đã phân phối cuốn sách này đến tay người khác là những người có thể nhận được lợi ích từ nơi nó.
Bạn bè và đồng nghiệp của tôi trong Nhóm Barna Research, vẫn thường xuyên phải chịu đựng sự vắng mặt và sự hiện diện lơ đãng của tôi suốt thời gian tôi viết cuốn sách này. Cảm ơn Kelli Urban, Pam Tucker, David Kinnaman, Russell Harrison, George Maupin, và David Young. Bây giờ, họ có thể buộc tôi chịu trách nhiệm trong vai trò người lãnh đạo có khải tượng giữa chức vụ liên đới của chúng tôi.
Nhiều người đã giúp tôi thấy và kinh nghiệm khải tượng qua cuộc đời của họ. Tôi mang ơn Luder Whitlock, Ron Sider, Bob Buford, Bill Hybels, Tom Phillips và Jim Scott, ở đây tôi chỉ nêu tên một vài người. Họ là những người mà sự trong sáng đặt nền tảng trên khải tượng và chiều sâu trong khải tượng của họ đã giúp tôi nhận ra mọi khía cạnh mấu chốt của một đời sống có khải tượng, nhờ đó tôi có thể nghiên cứu càng sâu rộng hơn nữa. Mỗi người trong số họ là một trường hợp cụ thể cho ai muốn học hỏi nhằm chuyển khải tượng thành hành động.
Một nhóm quán quân trong sự cầu nguyện dầu ít người nhưng đầy quyền năng cũng đã kêu cầu Đức Chúa Trời chúc phước cho dự án này và những nỗ lực của tôi nhằm khiến cho nó trở thành hiện thực. Cảm ơn Paul Cedar, Greg và Suzanne Edmonson, Tom và Laura Greanias, Cindy McMasters, Tom Phillips, Steve Russo và Jim và Molly Scott. Họ đã giúp tôi có thể thắng được cuộc chiến nầy.
Như điều vẫn thường làm, tôi muốn dành những tình cảm đặc biệt nhất và sự cảm kích cho gia đình yêu dấu của tôi. Cho Nancy là vợ tôi, đã hy sinh thật nhiều trong khi quyển sách này đã được viết ra. Tôi hy vọng thì giờ, năng lực và những sự an ủi mà nàng đã dành cho tôi trong suốt thời gian tôi tập trung cho công việc vừa qua không uổng phí.
Các con của chúng tôi, Samantha và Corban, tuy bất đắc dĩ nhưng đã sẵn sàng dành cho tôi thời gian để suy nghĩ, cầu nguyện và viết; trong những lúc đáng ra chúng tôi có thể vui chơi với nhau. Nguyện ảnh hưởng của cuốn sách này sẽ chứng thực cho sự đóng góp của các con, và kết quả thực tiễn sẽ là một thế giới tốt hơn mà trong đó các con có thể sống, như là thành quả của những Cơ Đốc Nhân biết theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời.
Sách này, như mọi điều tôi làm, đã chịu ảnh hưởng đáng kể bởi cuộc đời của Nancy, Samantha, và Corban. Nguyện nó là một phản ảnh quý giá từ những giá trị của gia đình chúng tôi trong công tác phục vụ Đức Chúa Trời.
Nhận Xét Về Khải Tượng
“Nếu khải tượng của bạn chỉ dành cho một năm, thì hãy trồng lúa mì. Nếu khải tượng của bạn dành cho một thập niên, hãy trồng cây. Nếu khải tượng của bạn là dành cho một đời, hãy trồng người.” - Châm ngôn Trung Quốc
***
“Trước hết phải tin rồi mới thấy được” - Ralph Hodgson
***
“Chúa ôi, xin ban cho con có thể luôn luôn ao ước nhiều hơn điều con có thể hoàn tất.” - Michelangelo
***
“Thế giới này không ưa thay đổi, tuy nhiên thay đổi mới chính là điều duy nhất đã đem lại sự tiến bộ.” - Charles Kettering
***
“Một nhà thơ đã có lần được hỏi: ‘Nếu nhà bạn đang cháy và bạn chỉ có thể cứu được một điều, bạn sẽ cứu điều gì?’ Nhà thơ ấy trả lời: ‘Tôi sẽ cứu ngọn lửa, bởi vì không có ngọn lửa đó chúng ta chẳng là gì cả.’” - Vô danh
***
“Chẳng có điều đáng làm nào lại được hoàn tất chỉ nội trong sinh thời của chúng ta.” - Reinhold Niebuhr
***
“Khải tượng là nghệ thuật nhìn thấy những gì không thể thấy được.” - Jonathan Swift
***
“Tương lai là nơi chứa sức bật đòn bẩy của chúng ta.” - Joel Barker
ChCn 29:18
“Đâu thiếu sự mặc thị, dân sự bèn phóng tứ” (Truyền Thống)
***
“Nơi nào không có khải tượng, dân sự sẽ bị diệt vong” (KJV)
***
“Nơi nào thiếu khải tượng, dân sự buông thả” (NASB)
***
“Nơi nào thiếu khải tượng, dân sự sẽ hoang đàng” (MLB)
***
Chức Vụ Thiếu Khải Tượng Giống Như...
§ một con bò thả lỏng trong đồng cỏ: chỉ đi rong vô tích sự;
§ một dòng sông băng: quan sát thì hấp dẫn, nhưng không chảy nhanh tới đâu hết;
§ một con rắn: mắt mờ, không xương sống và bị lôi cuốn vào bất cứ điều gì nóng;
§ một con thỏ: ấm áp lông xù nhưng hoàn toàn vô phương tự vệ;
§ một bộ phim: chỉ hào nhoáng bề ngoài;
§ một đèn “flash” không pin: chỉ có lòng mong muốn mà bất lực
§ trò bắn súng “Rulét” kiểu may rủi của người Nga: một trò chơi nguy hiểm;
§ một người đàn bà cầu hôn Boy George (một người BD): sẽ chẳng thay đổi được gì cả;
§ một đám cưới không có cô dâu: thiếu mất một yếu tố quan trọng;
§ một xác chết: cứng đơ, nhàm chán và vô cảm;
§ Phạm Công mà thiếu Cúc Hoa, Fred mà thiếu Ginger, Ozzie mà thiếu Harriet thì chẳng ra tuồng.
§ xe mà thiếu xăng: có đầy đủ khả năng lăn bánh đi tới mà lại thiếu nhiên liệu là thứ cần thiết;
§ một dàn nhạc giao hưởng mà không có bản tổng phổ nhạc để phân công cho dàn nhạc: đầy năng tài mà thiếu phương hướng.
§ một nhà giảng đạo không chuẩn bị bài giảng: là điểm hội tụ của tánh kiêu ngạo và sự dốt nát.
Lời mở đầu
“ĐIỀU TÔI QUAN TÂM NHẤT LÀ TƯƠNG LAI, VÌ TÔI SẼ TRẢI QUA TOÀN BỘ PHẦN ĐỜI CÒN LẠI CỦA MÌNH TẠI ĐÓ” CHARLES KETTERING
Bốn năm qua, tôi được vinh dự viết một cuốn sách có tựa đề The Power of Vision (tạm dịch là “Quyền Năng Của Khải Tượng ”). Nếu tôi phải tin những điều người ta nói và thư tín gửi đến văn phòng của tôi, thì đó là một cuốn sách biến cải đời sống cho hàng ngàn người theo đúng nghĩa.
Đó là lần đầu tiên nhiều người trong số đó đã nghe về khải tượng, với rất ít hiểu biết hoặc không một chút thực tiễn nào. Đối với nhiều người, cuốn sách này nói rõ điều lâu nay vẫn còn là một khái niệm mù mờ. Còn với tôi, được chia sẻ những nghiên cứu và suy nghĩ của mình về khái niệm đó là một phước hạnh đặc biệt.
Tôi đã bỏ ra hàng ngàn giờ và hàng ngàn đô-la cho việc nghiên cứu về kinh doanh, phục vụ và lãnh đạo ảnh hưởng đến con người thể nào. Nó đã thuyết phục tôi rằng khải tượng là điều chính yếu tạo nên một sự khác biệt tích cực và lâu dài trong thế giới này. Tôi cũng được thuyết phục rằng cho đến chừng nào những thành viên Thân Thể Đấng Christ trong quốc gia này thực hành khả năng nhận ra khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho đời sống và chức vụ của họ, và rồi hết lòng cam kết với khải tượng đó, thì Hội Thánh sẽ vẫn còn phải tiếp tục trăn trở.
Trong cuốn Quyền Năng của Khải Tượng , tôi đã đề cập nhiều yếu tố căn bản liên quan đến khải tượng. Những chủ đề gồm có: (1) định nghĩa về khải tượng và những thành tố cốt lõi của nó; (2) mối liên hệ của khải tượng với sự lãnh đạo; (3) sự khác biệt giữa chức vụ và khải tượng: (4) nhận thức sai lầm và hoang tưởng cản trở một người hoặc một nhóm người khiến họ không kinh nghiệm được khải tượng đúng đắn; (5) sự khác biệt giữa khải tượng đến từ con người với khải tượng đến từ Chúa; (6) quá trình nhận thức khải tượng của Chúa; (7) đặc điểm khải tượng của Đức Chúa Trời; (8) những lợi ích cũng như những trở ngại trong việc hiểu biết khải tượng; và (9) những phương cách mấu chốt trong việc phát biểu khải tượng một cách rõ ràng. Trong một số trang tương đối ít, quyển này đã cày xới qua thật nhiều địa phận.
Vậy tại sao phải viết cuốn sách khác về khải tượng?
Những Nan Đề Mới Xuất Hiện
Từ khi Quyền Năng của Khải Tượng được phát hành, tôi đi khắp quốc gia nầy để dạy và giúp đỡ các mục sư và nhà lãnh đạo hội thánh về khải tượng. Một loạt những kinh nghiệm cứ tái diễn đã động viên tôi khai triển cuốn thứ hai này về khải tượng.
Một ảnh hưởng bó buộc khi tôi thấy rõ ràng qua việc giảng dạy và chương trình hàm thụ của tôi dành cho các nhà lãnh đạo hội thánh, một loạt vấn đề chung cứ nổi lên, hẳn phải đến hàng tá vấn đề. Có lẽ bạn đã từng vật lộn với vài nan đề như thế. Ví dụ như:
§ Phải chăng bất cứ ai cũng có thể là một người có khải tượng hoặc đây là lãnh vực thiên phú khác thường và sự kêu gọi con người cách đặc biệt?
§ Có phải khải tượng yêu cầu phải nhắm vào một nhóm người đặc trưng hoặc bộ phận dân cư nào đó? Điều đó có mâu thuẫn với chức vụ của Chúa Giêsu là chức vụ hướng đến mọi người không?
§ Khải tượng không khiến cho một chức vụ trở thành quá gò bó chứ?
§ Làm thế nào để những nhà lãnh đạo phối hợp được giữa khải tượng dành cho chức vụ cá nhân họ với khải tượng dành cho chức vụ đoàn thể (ví dụ như: hội thánh của họ)?
§ Làm thế nào bạn đánh giá khải tượng đó được hoàn thành hay chưa?
§ Có phải khải tượng đó sẽ thay đổi nếu hội thánh mời một mục sư mới?
§ Có thể làm được gì nếu mục sư một hội thánh không có khải tượng?
§ Nếu Hội thánh chỉ có ý thức về sứ mệnh truyền giáo mà lại không có khải tượng được phát biểu rõ ràng, thì Hội thánh đó có thể đeo đuổi một chức vụ hữu hiệu không?
§ Làm thế nào để một người mang khải tượng có thể thuyết phục những người chống lại khải tượng đó để khiến họ phục theo?
§ Bạn sẽ làm gì nếu khải tượng cá nhân dành cho chức vụ bạn khác với khải tượng được phát biểu cụ thể bởi hội thánh của bạn? Bạn nên ở lại và hòa hợp, ở lại và đấu tranh, chia lìa trong sự ồn ào hoặc phải yên lặng tách ra?
§ Bạn nên chờ đợi bao lâu trước khi khai triển một khải tượng mới?
Đối với nhiều người, Quyền Năng của Khải Tượng đã là một quyển sách mang tính nhận thức, và nó phục vụ cho một mục đích quan trọng trong sự truyền đạt lẽ thật căn bản về một khái niệm trước đây đã bị nhiều người bỏ qua hoặc hiểu lầm. Sau khi nắm bắt khái niệm này, nhiều người vẫn còn tìm kiếm phương sách giúp họ chuyển khải tượng thành hành động. Họ đã muốn làm cho khái niệm này trở thành thực tiễn; và dĩ nhiên điều đó chính là thực chất của khải tượng. Tôi hy vọng rằng quyển sách này được viết ra hầu thỏa đáp những mối quan tâm đó.
Những Bài Học Mới
Một động cơ khác giục tôi phải viết cuốn sách thứ hai về khải tượng đó là tôi đã học được nhiều về khải tượng từ khi cuốn sách thứ nhất xuất bản. Những bài học đó bao gồm:
§ Cá nhân và hội thánh nào chỉ thỏa lòng hoạt động dựa trên cơ sở chức vụ trong đời sống của họ thường bị lúng túng bởi vì tầm nhìn của họ quá rộng, không được xác định rõ. Còn những ai tập trung vào khải tượng của họ như những mệnh lệnh sai khiến thì có nhiều cơ may thành công hơn bởi vì họ thiết lập nhiều thứ tự ưu tiên thực tế hơn và vì họ dễ có khuynh hướng tập trung vào con người hơn.
§ Khải tượng dù không tự nhiên đối với hầu hết mọi người, chính là cái mà tôi sẽ chứng tỏ là một điều gì đó mỗi người đều được gọi để nhận biết và áp dụng. Nó là sân chơi cho những nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng hầu hết mọi người đều bị tùy thuộc vào hoàn cảnh, họ không phải là những nhà lãnh đạo tự nhiên. Khi dùng chữ tùy thuộc hoàn cảnh, tôi muốn nói rằng họ thấy mình bị rơi vào những tình huống không thể né tránh được, mà trong đó họ phải sử dụng một mức độ lãnh đạo nào đó mặc dù có lẽ họ không có sẵn nhiều khả năng hoặc không có hướng muốn lãnh đạo. Tuy nhiên, bởi vì mọi người đều phải bày tỏ những sự thúc ép và trông đợi trong cách cư xử theo khải tượng, nên giúp đỡ mọi người đến chỗ am hiểu khải tượng là điều quan trọng.
§ Khải tượng chủ yếu là một lối suy nghĩ, một tiến trình đối phó với thực tế hiện tại và tương lai. Chứ không phải như nhiều người thường hiểu là một chương trình đang chờ đợi để được hoàn tất.
§ Ngược lại với những tin tưởng ban đầu của tôi, thông qua sự tìm hiểu Kinh Thánh sâu rộng hơn và quan sát lâu dài hơn, tôi đã khám phá rằng khải tượng không được Đức Chúa Trời trút đổ vào tâm trí con người ngay một lúc, nhưng nó được lần hồi bày tỏ cho họ. Tiến trình gia tăng khải thị này tự nó rất hấp dẫn đáng nghiên cứu bởi vì điều nó dạy về tình yêu và sự bảo vệ của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta.
§ Khi người ta trăn trở với khải tượng, điều tốt nhất họ có thể làm là tiếp tục hỏi những câu hỏi. Khải tượng được bày tỏ thông qua sự cầu hỏi mở rộng vào mỗi lãnh vực kinh nghiệm của chúng ta. Những khám phá càng sâu nhiệm hơn của chúng ta sẽ giúp chúng ta càng dễ nắm bắt được phạm vi, trọng tâm và nhận thức cần thiết để hiểu rõ khải tượng chân chính.
§ Khải tượng không phải là giải pháp cho một nan đề hiện hành. Nhiều hội thánh mà tôi đã nghiên cứu dấn thân vào một sự tìm kiếm khải tượng sau khi họ lâm vào ngõ cụt và tuyệt vọng đến nỗi không còn cố gắng gì nữa. Khải tượng không phải là một lối giải quyết mau chóng. Nó là một giải pháp lâu dài trước những cơ hội dài lâu. Khải tượng là một cái nhìn sẽ cho phép cá nhân hoặc tổ chức khai thác được những khả năng tiềm tàng chưa dùng đến.
Đây là một vài trong số những bài học đã khiến cho dự án này càng thêm được thúc đẩy. Nếu cuốn sách Quyền Năng của Khải Tượng đã là một lập luận mang tính khái niệm, thì tôi cầu nguyện cho Chuyển Khải Tượng Thành Hành Động sẽ là một cuốn cẩm nang thực hành để giúp trở thành một người có khải tượng thực tiễn.
Bổn Cũ Soạn Lại sao?
Mặc dù có những đáp ứng tốt với cuốn Quyền Năng của Khải Tượng và khóa hội thảo mà tôi hướng dẫn xuyên quốc gia về chủ đề này, tôi vẫn còn vài băn khoăn về việc viết điều gì để được xem như một Đứa Con Của Khải Tượng . Có phải bất cứ ai cũng muốn đọc cuốn tiếp theo? Rốt cuộc, bạn thường có hứng thú thế nào với một cuốn phim để rồi cuối cùng bị thất vọng bởi tập tiếp theo? Có bao nhiêu tác giả đã viết một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn nhưng theo sau kiệt tác ấy là một thất bại nông cạn? Chúng ta thường học đi học lại thế nào cái nguyên tắc: bạn không bao giờ có thể làm sống lại giây phút huy hoàng trong quá khứ dù đó là một kỳ nghỉ hè tuyệt diệu tại Hawaii, một mối quan hệ cá nhân thân thiết đã bị quên lãng nhiều năm, hay là một kỷ niệm yêu dấu của thành phố nơi bạn lớn lên đi nữa?
Thực vậy, qua những cuộc đàm luận với nhiều người về khải tượng và những phương sách cần có cho sự gặt hái khải tượng của Đức Chúa Trời trong đời sống của họ, dường như đã rõ rằng trông mong lớn lao của độc giả dành cho một cuốn sách tiếp theo về khải tượng có lẽ không thể nào thỏa đáp được.
Nếu cuốn Quyền Năng của Khải Tượng đã được dự tính như một cuốn sách riêng lẻ thuộc về một bộ sách và đã được viết ra có cân nhắc theo phương thức đó thì lại là một việc. Nhưng tạo ra một sự giúp đỡ độc lập có thể tồn tại với thời gian và thực hành trong bốn năm, rồi lại tạo ra một mắc xích mới - là điều có thể được, nhưng...
Cho nên tôi đã dành nhiều thời gian suy nghĩ và cầu nguyện về ý định này. Những nhân viên ở nhà xuất bản Regal Books thật là dầy kiên trì và cảm thông khi tôi khước từ những biểu lộ quan tâm của họ đối với một tập sách thứ hai. Dầu vậy, cuối cùng thì những điều tôi quan tâm đã được trình bày thông qua nhiều phương tiện và những kinh nghiệm khác nhau trong chức vụ.
Điều Bạn Sẽ Nhận Được
Hoạt động chủ yếu của cuốn sách này là nhấn mạnh trọng tâm khải tượng trong đời sống của chúng ta và hậu thuẫn cho hoạt động đó bằng những bước nhận thức thực tiễn trong việc trở thành một nhà lãnh đạo có khải tượng, bất kể tầm vóc hoặc địa vị của bạn là thế nào trong cuộc sống.
Những trang sách này trình bày lời giải đáp cho những thắc mắc thông thường mà tôi đã được hỏi về khải tượng, và phần điều chỉnh cho vài ấn tượng sai lầm về khải tượng. Chúng cũng trình bày những phản ứng đối với một số những sự lạm dụng và mâu thuẫn mà tôi đã nhận thấy khi dân sự Đức Chúa Trời cố gắng làm cho khải tượng của Ngài trở thành hiện thực trong chức vụ cá nhân và đoàn thể của họ.
Tôi sẽ thuật lại một vài chuyện dường như để thức tỉnh tấm lòng một số người và lấy đi bức màn che khỏi mắt của những người khác. Tôi sẽ cố gắng thúc đẩy bạn vượt xa giới hạn khả năng phục vụ hiện hành của mình và sẽ khích lệ bạn tăng trưởng trong đức tin cũng như sự vâng lời đối với khải tượng mà Đức Chúa Trời dành cho đời sống và chức vụ của bạn.
Một trong những thách thức lớn nhất trong việc viết cuốn sách này là quyết định làm thế nào giữ được quân bằng trong sự tranh chấp giữa khải tượng cá nhân và đoàn thể. Trong tư cách cá nhân, bạn cần phải phân biệt rõ khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống và chức vụ của mình. Mỗi hội thánh và chức vụ lại cần có khải tượng riêng biệt từ Đức Chúa Trời được phát biểu rõ ràng và được chấp nhận bởi những ai có liên hệ với chức vụ đó.
Đôi khi nguyên tắc và phương thức thích hợp cho từng cá nhân và chức vụ thì giống y nhau. Tuy vậy, trong những thời điểm khác, phương thức lại nhất thiết phải khác nhau. Tôi cầu xin Đức Chúa Trời sẽ dùng những nhận thức mới này theo những đường lối tích cực, thực tiễn và phong phú cho đời sống của bạn.
Cũng hãy biết rằng mặc dầu một lượng sách rất lớn đã viết về khải tượng từ đầu những năm 1990, phần lớn được viết bởi những nhà lãnh đạo doanh thương cho người đang sống trên thế giới tự trị nầy.
Quyển sách này được viết bởi một Cơ Đốc Nhân cho các Cơ Đốc Nhân khác. Nó dựa chủ yếu trên những nhận thức đến từ Kinh Thánh, sự quan sát và nghiên cứu giữa những hội thánh, các chức vụ trong tổ chức Cơ đốc song hành với hội thánh và những Cơ Đốc Nhân riêng lẻ. Nó không khỏi có liên quan đến mối quan hệ với Đức Chúa Trời như một điều kiện tất yếu trong sự hiểu biết và thực hiện khải tượng đó.
Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể dùng những nguyên tắc này, nhưng nếu thiếu một mối liên hệ sâu xa, thân mật và cá nhân với Chúa Cứu Thế Giêsu, thì nội dung sách này có thể trở thành khó hiểu và mơ hồ.
Tôi thích tác phẩm của Warren Bennis, Burt Nanus, Peter Senge, Charles Handy, Alvin Toffler, Tom Peters và vài nhà kinh doanh có ảnh hưởng đáng kính khác. Họ là những nhà tư tưởng lỗi lạc, những nhà phân tích có chiến lược. Họ giải quyết việc riêng của mình, với kinh nghiệm hữu ích phong phú và cống hiến lời khuyên thật giá trị có liên quan đến khải tượng.
Tuy nhiên, không có tác giả nào trong số này thừa nhận rằng khải tượng, dù có hướng phát triển thế nào hoặc có tính đổi mới đến đâu, lại bị định cho thất bại nếu thiếu sự chúc phước và ảnh hưởng của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là điểm bắt đầu hợp lý duy nhất trong tiến trình khải tượng. Bất cứ điều gì khác chỉ đơn thuần là phương pháp học, dù được hoạch định kỹ nhưng không hoàn thiện.
Bạn Là Người Đọc Sách nầy, Cũng Hãy Là Người Thực Hành Sách nữa!
Đức Chúa Cha là Đấng Sáng Tạo mọi tạo vật đã chuẩn bị bạn cho một thời điểm như lúc này. Là một thời khắc lý thú và đúng lúc trong dòng lịch sử loài người và trong sự trưởng thành của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Đức Chúa Trời đang hy vọng bạn có khả năng đáp ứng đối với cơ hội này. Ngài đã hoạch định và ban ơn cho bạn một cách đặc biệt, cho phép bạn có một số kinh nghiệm nào đó và chu cấp cho bạn nhiều cơ hội sẽ góp phần hoàn thành mong muốn lòng Chúa đối với tạo vật của Ngài.
Nếu bạn tự hỏi bạn đã khám phá khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống hoặc chức vụ của mình hay chưa, thì hãy biết rằng hoặc tôi hay bất cứ ai khác cũng không thể nói cho bạn với sự bảo đảm là bạn đã nhận thức đúng được khải tượng đặc biệt của Đức Chúa Trời hay chưa. Tuy nhiên, có thể nhận ra đặc điểm của một khải tượng như thế và có thể yêu cầu bạn thử nghiệm điều bạn cho là khải tượng dựa trên những thuộc tính định nghĩa về khải tượng của Ngài.
Đang khi nắm bắt toàn bộ khải tượng của Chúa cho đời sống mình, khả năng của bạn để làm thỏa lòng khao khát Ngài dành cho bạn và cho tạo vật Ngài sẽ càng được thêm lên bội phần. Sống đời sống của một người có khải tượng có đầy phấn khởi và thách thức. Nó là sự hoàn thiện cá nhân và dâng vinh hiển thuộc linh cho Đức Chúa Trời. Không có khải tượng từ Đức Chúa Trời, bạn sẽ lúng túng và nhầm lẫn. Trong sự sốt sắng và chuyên cần theo đuổi khải tượng của Chúa, bạn sẽ biết được sự ban cho rộng rãi và niềm vui trong phước hạnh Ngài.
Người Có Khải Tượng Là Người Định Hướng Cuộc Sống Của Bạn
“TRONG THỜI KHẮC TƯƠNG LAI SẮP ĐẾN, SẼ CÓ BA HẠNG NGƯỜI: ĐÓ LÀ NHỮNG NGƯỜI ĐỂ CHO TƯƠNG LAI DIỄN RA, NHỮNG NGƯỜI KHIẾN CHO TƯƠNG LAI DIỄN RA VÀ NHỮNG NGƯỜI TỰ HỎI ĐIỀU GÌ ĐÃ XẢY RA”
JOHN RICHARDSON
Tương lai không chỉ đơn thuần diễn ra; nó được sáng tạo bởi những nhà lãnh đạo có khải tượng. Những người đặc biệt nhìn xa thấy trước và có lòng tin tưởng vững vàng là người thật sự sáng tạo tương lai đó. Họ nhận thức được những khái niệm tiêu biểu cho những đổi thay cơ bản. Họ nêu điều đó ra cho công chúng cách cẩn thận và có chiến lược. Họ bền bỉ nuôi dưỡng việc người khác chấp nhận những ý niệm của mình, và đóng vai trò những người biện hộ không nao núng cho việc thực thi những ý niệm đó.
Nếu bạn không thích xã hội Mỹ ngày nay, hãy nhìn lại nửa thế kỷ qua và nhận diện những nhà lãnh đạo có khải tượng là những người đã giới thiệu những mầm mống đổi thay văn hóa mô tả bản chất sự sống của chúng ta ngày nay.
Bạn thấy đó, khải tượng là một hình ảnh rõ nét trong tâm trí về một tương lai đáng chuộng. Những ai sở hữu khải tượng đó trở nên nhà quán quân bậc nhất của nó. Thông qua sức mạnh khải tượng của họ, thực tại bị đổi thay vĩnh viễn.
Những Người Mỹ Tập Chú Vào Tương Lai
Người Mỹ, cũng như bất cứ dân tộc nào trên đất, đã bị thu hút bởi tương lai. Hàng triệu người trong chúng ta tập trung vào điều sẽ xảy đến. Với người nghèo và kẻ bị đàn áp, tương lai tiêu biểu cho niềm hy vọng của họ về sự hiện hữu tốt đẹp hơn. Với người trẻ, tương lai thiết lập một khoảng thời gian khi ấy tự họ có thể ra lệnh cho đời sống sẽ được sống thế nào. Với những học giả và những nhà nghiên cứu, tương lai là thời kỳ những dự đoán và những đề án được chứng minh hoặc bị bác bỏ, tạo thuận tiện cho sự kiện toàn những suy nghĩ và nghề nghiệp của họ. Cơ Đốc Nhân Phúc Âm thiết tha mong muốn hướng về tương lai bởi vì nó sẽ đem lại sự đến lần thứ hai của Cứu Chúa Giêsu Christ và sự làm trọn hoàn toàn phần thuộc linh của người theo Ngài.
Tuy nhiên, như một câu phương ngôn nói rằng, tương lai không phải là điều đã từng có. Tương lai của hôm qua là hiện tại của hôm nay. Đây là mấu chốt: Nếu bạn không thích những điều kiện văn hóa ngày nay, thì thủ phạm của nó hiếm khi là những nhà chính trị, những giáo sư đại học nổi tiếng, những tu sĩ có uy tín hoặc những viên chức quản trị đầy quyền lực đứng đầu các liên đoàn toàn cầu đương thời.
Không, nếu bạn muốn mở rộng lòng biết ơn của mình về một khía cạnh của cuộc sống thời nay, hoặc chỉ tay qui lỗi hay kết tội những người chịu trách nhiệm cho tình trạng khó chịu về phương diện văn hóa lúc này, thì bạn phải đi trở lại 20, 30, thậm chí có thể là 40 năm và nhận ra những người tiên phong cho khuôn mẫu nầy trong thời đó. Nhiều phương diện cốt lõi của đời sống như chúng ta biết chúng vào cuối thập kỷ 1990 là kết quả của những ý tưởng, chương trình, hệ thống và chính sách đã được giới thiệu, tán thành hoặc thành lập tiên khởi nhiều thập niên trước.
Thay đổi trong những lãnh vực quan trọng của đời sống phải mất thời gian. Những hạt giống của sự thay đổi đã được gieo trồng và nuôi dưỡng nhiều thập kỷ trước, chỉ vừa mới trở thành nở rộ hôm nay.
Thay Đổi Thế Giới Của Bạn
Chắc hẵn bạn có thể nhớ ai đã là công cụ đắc lực nhất trong việc hướng dẫn bạn đến chỗ tiếp nhận Chúa Giêsu Christ là Cứu Chúa của mình. Và nếu bạn đã kết hôn, hẵn bạn có thể nhớ lại ai là người giới thiệu bạn cho người phối ngẫu của bạn. Nhưng bạn có bao giờ nhận ra người có khải tượng nào là người có những tư tưởng và cố gắng đã định hướng cho đời sống bạn ngày nay chăng?
Hãy để tôi bày tỏ sức mạnh của tư tưởng và lối cư xử của người có khải tượng bằng cách nêu vắn tắt việc làm của chỉ tám người có khải tượng thuộc hậu bán thế kỷ hai mươi. Trong số đó, có lẽ có vài người bạn chưa bao giờ được nghe đến, hoặc một vài người khác bạn đã không biết gì về ảnh hưởng làm biến đổi của họ.
Được Thúc Đẩy đến Thành Công
Hãy biết rằng là một người có khải tượng không đồng nghĩa với một người nổi tiếng hoặc được kính trọng. Nó chỉ nói lên rằng những niềm tin quyết và nỗ lực của người đó đã thay đổi lối cư xử trong đời sống của nhiều người một cách đáng kể, cho dù ảnh hưởng của người có khải tượng đó có được công nhận hay không, cho dù kết quả ảnh hưởng của người có khải tượng đó là tốt hoặc xấu.
Những người này không đơn thuần chỉ là những nhà cải cách, phụ trách hãng buôn, người cơ hội hay những chuyên gia. Không có gì sai khi là một người như thế, nhưng những người này với những người có khải tượng khác nhau rõ rệt. Ví dụ như John Rockefeller, người sáng lập tổ chức Dầu Tiêu Chuẩn và là tác nhân của vận may Rockefeller, được nhiều người công nhận là nhà sáng lập của loại tập đoàn hiện đại.
Rockefeller đã được thúc đẩy bởi lòng mong ước khuếch trương lợi nhuận và ảnh hưởng của mình, chứ không phải để tạo nên một thế giới cao cấp trong đó những người khác có thể sống và tìm thấy sự thỏa lòng. Những cải cách của ông đã được hoạch định để tránh né những luật lệ liên bang hoặc để đem lại những điều kiện thuận tiện có thể dẫn đến những số dư lợi nhuận lớn hơn. Mặc dầu những ý tưởng của ông thật đầy tính sáng tạo và đòi hỏi nhiều khải tượng, thì ông không phải là người thuộc loại có khải tượng xã hội mà tôi nhắm đến.
Hugh Heffner là một ví dụ cho những người theo chủ nghĩa cơ hội. Là nhà sáng lập tạp chí Playboy và những hoạt động liên hệ, Heffner chỉ đơn thuần nắm lấy thời điểm và lợi dụng những cánh cửa cơ hội được tạo ra bởi những người có khải tượng thực sự. Ông ta không có bao nhiêu khải tượng ngoài việc gia tăng tối đa khoái cảm của mình và lợi dụng những cơ hội để sống trong sự thoải mái và lập chính mình là một kẻ theo chủ nghĩa khoái lạc quan trọng nhất.
Một trong những nhà doanh nghiệp lớn của thế giới là Rupert Murdoch, một người có thế lực về phương tiện truyền thông đại chúng sinh ra là người Úc từ khi đó đến nay đã trở thành một công dân nước Mỹ. Mỉa mai thay, quyết định trở thành một công dân tự nhiên của ông đã được thúc giục bởi động cơ của một chủ hãng buôn: Chỉ khi nào là một công dân Hoa Kỳ ông mới có thể khuếch trương tối đa sự kiểm soát về vấn đề truyền thông đại chúng của mình một cách hợp pháp tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ và gặt hái những món lợi lớn hơn.
Phạm vi hoàn toàn kiểm soát của Murdoch bao gồm công ty điện ảnh Fox Thế Kỷ 20, mạng lưới truyền hình Fox, tổng công ty xuất bản HarperCollins và những tờ báo chính yếu thuộc thành phố lớn cũng như những đài phát thanh toàn thế giới. Ông cũng sở hữu một loạt những tạp chí và hệ thống truyền tải vệ tinh SkyOne cung cấp phần lớn những chương trình truyền hình hầu hết thế giới (bên ngoài Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ).
Tuy nhiên, thế mạnh của Murdoch là ở chỗ hình thành có hệ thống việc kinh doanh và những chiến lược tài chánh sáng chói. Ông bày tỏ khải tượng lạ thường dành cho sự phát triển truyền thông đại chúng, nhưng khải tượng của ông liên quan đến khả năng kiếm được những món lợi tài chánh thông qua những suy nghĩ và lối hành xử của nhà thầu.
Những nhà chuyên môn là những người cống hiến cho chúng ta những việc làm xuyên phá trong các lãnh vực chuyên môn của họ. Những gì thuộc về họ là một khải tượng mang tính kỹ thuật đặt nền tảng trên sự thành thạo được phóng đại về những tài khéo của họ.
George Lucas, những bộ óc đằng sau kỹ xảo điện ảnh đã được sáng tạo trong công ty sản xuất Ánh Sáng Kỹ Nghệ và phim Phép Thuật của ông, là một nhà chuyên môn đại loại như vậy. Phải chăng những hiệu quả đặc biệt mà ông đã khởi xướng cho các cuốn phim tiên phong như tác phẩm ba bộ Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao hoặc Công Viên Jurassic đã phong cho ông danh hiệu người có khải tượng không? Không.
Lucas có công trong vài sự đổi mới đáng kinh ngạc trong lãnh vực sản xuất của ông, nhưng giống như mọi nhà chuyên môn khác, khải tượng của ông hạn chế trong những tiến trình hoặc hệ thống kỹ thuật. Nó không liên quan trực tiếp đến việc tạo ra một môi trường hoặc điều kiện cao cấp cho nhân loại.
Hãy để tôi giới thiệu bạn với tám người có khải tượng mà công tác của họ trong đã ảnh hưởng lớn lao đến đời sống bạn.
Alfred Kinsey
Có lẽ không thể tránh được rằng một con người bắt đầu mỗi ngày bằng một lần tắm nước lạnh sẽ xuất hiện làm một người chịu trách nhiệm trực tiếp nhất cho cuộc cách mạng về tình dục ở Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
ALFRED KINSEY ĐÃ NHẬN THẤY MỘT LĨNH VỰC HOÀN TOÀN MỚI VỀ SỰ TỰ DO TÍNH DỤC TẠI MỸ KHI ÔNG PHỎNG VẤN CÁC SINH VIÊN CAO ĐẲNG VỀ NHỮNG KINH NGHIỆM, THÓI QUEN, KHOÁI CẢM VÀ NHỮNG SỰ TRÔNG ĐỢI CỦA HỌ VỀ TÍNH DỤC.
Được một số người xem là “vị thánh bảo hộ cho tình dục”, Kinsey đã là một nhà sinh vật học được huấn luyện tại đại học Harzard năm 1938 ông được đại học Indiana mời dạy một khóa trình về hôn nhân. Đúng với sự huấn luyện về khóa học của mình, bước đầu tiên ông làm là nghiên cứu dữ liệu về tình trạng hôn nhân và tính dục. Trước sự kinh ngạc của ông, ông không tìm được điều gì ngoài ra những số liệu thống kê của nhà cầm quyền về tỷ lệ của các cuộc kết hôn và ly dị, mật độ sinh sản và những điều tương tự. Những con số này thật khô khan và hầu như vô nghĩa đối với Kinsey. Ông lưu ý đến lý do khiến người ta cư xử theo tình dục thúc đẩy. Hiển nhiên, chưa từng có ai trước đó tấn công vào thế giới của vấn đề quan hệ tình dục bằng lối nghiên cứu khách quan.
Kinsey đã nhìn thấy một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ về sự tự do tình dục tại Mỹ khi ông bắt đầu chỉ đạo thực hiện những cuộc phỏng vấn sâu rộng trong vòng các sinh viên cao đẳng về những kinh nghiệm, thói quen, sự thèm muốn và những sự trông đợi về tình dục của họ.
Kinsey xem chính mình là người có thể giúp cho hàng triệu người khác tìm thấy được loại thỏa mãn tình dục họ đã luôn luôn ao ước mà chưa từng đạt được. Sử dụng những dữ liệu nghiên cứu làm nền tảng khoa học cho lý cớ của mình, ông có thể chinh phục được sự lắng nghe của giới truyền thông và công chúng. Kết quả là Kinsey đã trở thành một người vận động cho sự giải phóng tình dục. Ông và nhóm nghiên cứu của mình đã thực hiện hàng ngàn những cuộc phỏng vấn sâu rộng về đời sống tình dục của con người.
Kinsey bất ngờ bước vào sân khấu quốc gia năm 1948 khi cuốn sách Động Thái Tính Dục Trong Nam Giới (Sexual Behavior in the Human Male ) được ấn hành, bốn năm sau đó tiếp theo với cuốn Động Thái Tính Dục Trong Nữ Giới (Sexual Behavior in the Human Female ). Cuốn sách đầu tiên của ông đã chinh phục được quốc gia này bằng bão tố, được bán đến 200.000 bản bìa cứng trong 2 tháng đầu tiên mới phát hành của nó. Hầu như chỉ mới trải qua một đêm, Kinsey đã được tôn lên làm chuyên gia hàng đầu về tính dục của Mỹ.
Chẳng may thay, hầu hết những người Mỹ đã không nhận ra rằng hướng đi của Kinsey không phải là đem lại những sự kiện khách quan, hữu ích về tính dục, mà là để “giải phóng tình dục” của cả một quốc gia. Những dữ liệu của ông được sưu tập dưới chiêu bài của sự chính xác khoa học, lại đáng kinh khủng (và có dụng ý) vì không đại biểu cho cộng đồng quốc gia mà ông tuyên bố là muốn mô tả. Ví dụ như: phần lớn những mẫu người nam của ông đã là những người bạn ở chung trong tù và hơn một phần tư những đối tượng nam của ông đã là những nạn nhân của việc xâm phạm tình dục trong một vài thời điểm nào đó của cuộc sống họ.
Kinsey đã thiếu thận trọng không để ý đến những vấn đề này. Ông lấy ra những kết luận mà ông muốn cổ súy. Một vài nguồn dữ liệu đã nêu lên rằng ông đã lạm dụng các dữ liệu từ những mẫu người đã bị bóp méo của ông để đi đến kết luận mà ông mong muốn. Tương tự như vậy, những mẫu người nữ của ông cũng không có giá trị. Ba phần tư những mẫu người nữ của ông là những người tốt nghiệp cao đẳng tại thời điểm chỉ có 13 phần trăm phụ nữ trong quốc gia đã đạt được bằng cấp cao đẳng.
Các khoa học gia xã hội đã bất bình với những thói quen của Kinsey và thất kinh về những kết luận của ông ta - và cử tọa đông đảo mà ông đã tạo ra được trong công việc của mình. Tuy nhiên những người đồng thời kinh viện học thuật của ông đã không thấy được điểm chính. Kinsey chưa hề tìm kiếm những giá trị khoa học, mặc dầu ông liên tục tuyên bố rằng công việc của mình đã đạt được những tiêu chuẩn cao nhất.
Mục tiêu của Kinsey là cổ võ cho sự tự do về tình dục và công cuộc thí nghiệm để đạt được hạnh phúc. Ông cổ súy cho tính dục đồng giới, tính dục tiền hôn nhân và thậm chí đa hôn tính dục với sự phóng túng. Thật đáng kinh ngạc, một số trong các nghiên cứu của ông đến nay gần một nửa thế kỷ rồi vẫn còn được sử dụng bởi nhiều nhóm (chủ yếu là những người tính dục đồng giới) tìm kiếm để cổ vũ cho sự tự do về tình dục.
Một phân tích gia xã hội cống hiến điều ông xem là lời ca ngợi cho chuyên gia về tình dục học nầy. “Nếu chưa từng có một Kinsey, thì tôi sẽ không bao giờ được thấy bộ ngực của Jacqueline Bisset, hoặc của Jane Fonda … Nếu chưa từng có một Kinsey, sẽ không có một người nào trong những mục được phân loại … hầu hết chúng ta sẽ hẳn phải đi vào mồ của mình chỉ biết tin những người nữ làm mẫu là những bông hoa đáng yêu này bằng xương bằng thịt ở dưới lớp áo quần của họ … Bởi vì những điều ông đã làm, thực sự những điều ông đã làm, một khi chúng ta tiếp nhận tất cả vào, là để tự do hóa cho xác thịt.” [1]
Stanley Elkin, “Alfred Kinsey: Vị Thánh Đỡ Đầu cho Tình Dục,” Fifty Who Made The Difference (New York: Esquire Press, Villard Book, 1984)
Thật ra, địa vị trong lòng công chúng, những thành tích về học thuật và sự nồng nhiệt vì lý lẽ của mình trong Kinsey khiến ông có thể đặt nền tảng cho một cuộc cách mạng về tình dục đã đem lại những hậu quả đáng nản lòng: việc li dị phổ biến, sống chung quan hệ bừa bãi, những trẻ sơ sinh ngoài hôn nhân, tội gian dâm lan tràn, sự chấp nhận của công chúng về nghệ thuật khiêu dâm, sách báo khiêu dâm và tính dục đồng giới và sự cáo chung của đức trinh khiết. [2]
Như trên, trang 13-22; và Judith Reisman và Edward Eichel, Kinsey, Sex and Fraud (Lafayette, La.: Hungtington House, 1990)
Benjamin Spock
Cho đến khi vị bác sĩ của giới thượng lưu xuất hiện, thì công việc giáo dục cho các bậc cha mẹ được thực hiện phần lớn thông qua việc truyền khẩu, qua sự trợ giúp từ một đơn vị gia đình của một người và qua những lời khuyên nhỏ hữu ích cho từng trường hợp được lượm lặt từ các bác sĩ về cách thức tốt nhất để nuôi dưỡng trẻ con.
Điều đó đã thay đổi vào năm 1946 khi Spock là một chuyên gia về nhi khoa được tốt nghiệp đại học Yale và Columbia, giới thiệu cho hai thế hệ các bậc cha mẹ một phương thức mới dành cho việc nuôi dưỡng trẻ con qua một tác phẩm của ông có tác động đến việc cải cách với tựa đề là Sách Hiểu Biết Thông Thường Về Việc Chăm Sóc Trẻ Sơ Sinh Và Thiếu Nhi . Một trong số những cuốn sách được bán chạy trong mọi lúc, được dịch sang hơn 20 thứ tiếng, sách bách khoa hướng dẫn bậc cha mẹ này đã thay đổi một cách lý tưởng những nền tảng dành cho các bậc cha mẹ hướng dẫn con cái cách lành mạnh và hữu hiệu. Những cơ hội này thật quá lớn lao đến nỗi bạn, cũng như phần lớn mọi người đã được đọc cuốn sách này, đều đã được ảnh hưởng lâu dài bởi triết lý của Spock.
Đi trước sách của Spock, sự khôn ngoan thông thường theo tập quán là cha mẹ cần phải có chủ ý và xông xáo để uốn nắn cung cách cư xử của một đứa trẻ, hầu có thể giúp đứa trẻ đạt được sự độc lập tùy thuộc vào chính mình càng sớm càng tốt. Spock dựa trên lòng tin tưởng rằng một đứa trẻ được ban cho quyền để có cùng sự hiểu biết, tôn trọng và hậu thuẫn về tình cảm đáng được trông đợi bởi những người lớn, ông đã ủng hộ cho sự khoan dung và uyển chuyển nhiều hơn trong sự nuôi dạy một người trẻ. Ông cảnh cáo các bậc cha mẹ về những nguy cơ của hình phạt về cơ thể hà khắt, hoặc quá trớn.
Không thể có lúc nào nào từng là thời cơ tốt hơn cho Spock như bấy giờ. Trong sự bừng tỉnh của việc người Mỹ đã tham dự nhiều trong Thế Chiến Thứ Hai, hàng triệu người Mỹ đã tập trung vào việc mong muốn có một gia đình. Mệt mỏi vì hy sinh và sợ hãi, họ đang ở trong tâm trạng tìm kiếm một lối tiếp cận êm dịu trong đời sống. Nước Mỹ đang hăm hở lắng nghe một ai đó tung ra một triết thuyết chứa đựng ít luật lệ hơn và ít sự tổ chức thành đội ngũ hơn.
Xuyên suốt những năm 1950 và 60, sách của Spock đã là kinh điển của việc dạy dỗ con cái. Hàng triệu bản sao được bán ra mỗi năm; nhưng khi quốc gia bùng phát bạo lực và lộn xộn vào khoảng cuối thập niên 60, một số người bắt đầu đặt câu hỏi về cách thế hệ trẻ đã được nuôi dạy thế nào.
Những nhà lãnh đạo cộng đồng rất được tôn trọng như Norman Vincent Peale, là một biểu tượng tôn giáo, đã lên tiếng công kích Spock một cách công khai vì đã khuyến khích cho sự nuôi dạy con cái một cách nuông chiều thoải mái. Spock đã đáp lại rằng ông bị hiểu lầm; người đọc đã gán cho tác phẩm của ông những thói quen không có trong các trang sách. Để nói lên lòng quan tâm thật sự của ông về cảnh ngộ của những em bé, những người trẻ và các gia đình, từ đó Spock đã tu chính lại cuốn sách nhiều lần, cố gắng để nhấn mạnh tầm quan trọng về nhu cầu của mỗi con trẻ cần sự hướng dẫn của cha mẹ và các bậc cha mẹ phải đứng vững trên lập trường của họ khi phải kỷ luật một đứa trẻ.
Tuy nhiên, sự tổn hại cũng đã diễn ra. Hàng chục triệu các bậc cha mẹ và càng đông đảo trẻ con hơn nữa đã phải chịu ảnh hưởng bởi lập trường đầy thẩm quyền của ông trước đó về cách nuôi dưỡng đức tánh của một đứa trẻ.
Điều Spock nhấn mạnh trên việc định hướng cho tình trạng khang kiện ý chí và tình cảm của một đứa trẻ hơn là những lối cư xử và trông đợi của trẻ con đã ảnh hưởng đến thế hệ bùng phát dân số một cách lớn lao. Sự khước từ của nó đối với những truyền thống, luật lệ và những nguyên tắc cũng như chân lý đạo đức đã từng được quí trọng một thời gian có thể thấy là hậu quả của một sự nuôi dưỡng giáo dục trong đó thẩm quyền và những điều tuyệt đối đã bị khước từ một cách có ý thức.
Một mình Spock không thể gánh lấy trọng trách của một sự buộc tội như vậy. Các bậc cha mẹ phải có sự lựa chọn để tiếp nhận và thực thi những lời khuyên như thế cho mình. Di sản của một người có khải tượng được nhận thấy trong một ảnh hưởng cá nhân trên những triển vọng và lối cư xử của các dân tộc, và ảnh hưởng sâu rộng của Spock là điều không thể chối cãi được.
Trông mong sự mãn nguyện tức thì mà bất chấp hậu quả, dù là qua sự ngoại tình, dùng ma túy hay tội phạm của giới công chức lao động, chỉ mới là một vài hậu quả của khải tượng được thực hiện bởi vị bác sĩ có dụng ý tốt là người tìm cách tái định nghĩa vai trò, cách thực hành và cách đánh giá một bậc phụ huynh tốt. [3]
Benjamin Spock, The Common Sense Book of Baby and Child Care (New York: Dutton, 1946); Harry Stein, “Benjamin Spock’s Baby Bible,” Fifty Who Made the Difference (New York: Esquire Press, Villard Books, 1984)
John Dewey
Điều Spock đã làm đối với sự dạy dỗ con cái thì John Dewey đã làm đối với công cuộc giáo dục. Là một giáo sư tại Đại Học Columbia, Dewey đã khởi xướng một triết học về giáo dục được biết đến dưới tên gọi Phong Trào Giáo Dục Cấp Tiến hoặc Chủ Nghĩa Thực Dụng. Những ý tưởng của ông đã có sức mạnh lớn lao sau cái chết của ông trong những năm đầu thập niên 1950 hơn là trong khoảng sinh thời của ông. Những ý tưởng đó vẫn tiếp tục theo đuổi chúng ta ngày nay.
Không thỏa mãn với loại kinh nghiệm thuộc lãnh vực giáo dục mà các sinh viên đã đang tiếp nhận tại những trường công, Dewey đã tạo ra các lý thuyết và nhiệt thành ủng hộ một phương thức mới dành cho sự giáo dục bậc tiểu học. Ông tin tưởng rằng một hệ thống giáo dục mà không nhấn mạnh vào những sách giáo khoa và học vẹt, có thiên hướng về một môi trường tập trung về con trẻ hướng đến kinh nghiệm cá nhân, sẽ thực tế tăng cường khả năng của học viên trong việc tiếp thu hiểu biết và ghi nhớ những bài học cần thiết.
Trong tác phẩm đầu tiên của ông: Công Tác Giáo Dục , Dewey đã lý luận rằng giáo dục sẽ đạt hiệu quả cao nhất khi nó dựa trên khuynh hướng nhân bản. Ông khuyến khích các nhà giáo dục tạo ra tiến trình thí nghiệm theo hình thức tự do và kinh nghiệm không cần tổ chức dể học viên tự nhiên hiểu biết các khái niệm cần phải học. Dewey gợi ý rằng việc học hỏi độc lập, qua đó học sinh gắn bó với chủ đề nhờ học thực hành hơn là bị nhồi nhét kiến thức, sẽ tăng cường khả năng của học sinh trong sự tiếp nhận, hiểu biết và ghi nhớ những bài học thiết yếu.
Theo lối nói tân thời, học sinh sẽ tăng trưởng bởi vì người ấy sẽ “sở hữu” tiến trình và thông tin, như vậy, một cách giáo dục dựa trên sự học bằng việc thực hành, tốt hơn lối giáo dục lắng nghe và rồi trả bài trở lại, sẽ nuôi dưỡng kiến thức và hiểu biết sâu sắc thực sự. [4]
John Dewey, Experience and Education (New York: Macmillan, 1938)
Dewey đã là người được mến chuộng của những người lập pháp theo hướng tự do của những thập niên 1960 và 70 là người đã giới thiệu “giáo dục cải cách” thông qua thực nghiệm tại các bậc tiểu học và trung học. Cùng hòa hợp với những lý thuyết của Dewey, nhiều nỗ lực đã được thực hiện để tạo ra môi trường học vấn như một cộng đồng, tạo thuận lợi cho “công tác giáo dục là cuộc sống, chứ không phải sự chuẩn bị cho cuộc sống.”
Mặc dù những quan điểm của Dewey đã rơi vào chỗ không được ủng hộ giữa vòng nhiều thầy giáo, thì phần còn lại trong triết học của ông đang được cảm nhận bởi hàng triệu người trưởng thành hiện nay trong độ tuổi 30, 40 và 50 của họ là những người đã được từng trải với “lối giáo dục tự chọn.” [5]
John Dewey, Experience and Education (New York: Macmillan, 1938).
William Levitt
Bạn có biết rằng Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đang ở giữa mô hình cư trú giai đoạn thứ ba của nó không? Từ buổi đầu rất sớm, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã là một quốc gia nông nghiệp, là một quốc gia mà ngày nay chúng ta sẽ nêu đặc điểm là quốc gia “thôn dã.” Khi công cuộc kỹ nghệ hóa và một chính quyền quan liêu mở rộng đã chu cấp một loạt những dịch vụ công cộng rộng khắp chưa từng có, thì Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã trở thành một quốc gia chiếm đa phần là thành thị. Ngày nay, Hoa Kỳ là một đất nước ngoại ô: một đại đa số dân số quốc gia giàu có, đầy khả năng chuyên nghiệp và thịnh vượng nầy cư trú ngay bên ngoài những ranh giới của trung tâm thành phố.
Bạn có biết điều gì đã giúp cho sự di dân lớn lao từ thành thị đến vùng ngoại ô phải diễn ra không? Dĩ nhiên, có rất nhiều tác nhân góp lại, nhưng Bill Levitt đã dự phần trách nhiệm rất lớn.
Có lẽ bạn đã nghe về Levittown, những cộng đồng rập y khuôn với nhau ở miền Đông Bắc đã sản sinh một kỹ nghệ mới về xây cất nhà và một thế hệ mới của những người sở hữu nhà. Levitt là người xây dựng đứng đằng sau những cộng đồng này cho nên ông đã đặt tên một cách nôm na theo tên của chính mình ông, ông đã cải cách một phương thức hoàn toàn mới dành cho việc xây dựng nhà ở, quản lý tài chánh gia đình và phát triển cộng đồng.
Nhận thức được nền văn hóa về sản phẩm hàng loạt của những năm 1950 và nhu cầu cấp bách cho một số đông người về nhà xây dựng sẵn, Levitt đã thấy cơ hội để phối hợp mong ước kiếm được nhiều tiền với ước mơ của ông để tạo ra con đường thênh thang cho việc thực hiện “giấc mơ của người Mỹ.” Sau chiến tranh, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã trải qua một cuộc khủng hoảng về nhà ở. Những cuộc hôn nhân gia tăng vùn vụt sau khi các người lính trở về từ nơi tuyến đầu mặt trận và sự bùng nổ dân số huyền thoại đã diễn ra ngay sau đó. Cung đã không kịp so với cầu, ít nữa là trong lãnh vực nhà ở.
Mặc dầu có sự gia tăng nhanh chóng về những gia đình mới, thì kho hàng là nguồn cung cấp nhà cửa vẫn còn bị đình trệ. Những người mới lập gia đình đã gia tăng gấp đôi số lượng người thân trong gia đình khi họ có thể. Tuy nhiên hàng triệu người đã sống trong các nhà xe, kho hàng, vựa lúa và những chỗ ở khác không phù hợp cho việc cư trú lâu dài. Nan đề là gì? Vì thiếu tài chánh cho những người muốn mua nhà và sự không đủ khả năng của những người khai thác đất đai để tạo dựng những căn nhà được nhanh chóng và không đắt đỏ. Thời cơ của Levitt đã đến. Là một người xây dựng nhà ở cho khách hàng thành công tại New York, ông đưa vào hành động một ý tưởng mà ông đã nuôi dưỡng nhiều năm: “xây dựng theo địa điểm”.
Trong những năm đầu của thập niên 1950, trong khi một số người khác đã đưa vào thí nghiệm và thất bại trong ý tưởng về những căn nhà tiền chế, Levitt đã phân chia tiến trình xây dựng nhà trở thành 26 bước khác nhau và đã thuê mướn những nhóm thợ có thể tiêu chuẩn hóa trong việc hoàn tất mỗi một bước riêng biệt. Rồi thì ông mua những lô đất rộng lớn thuộc vùng nông thôn bên ngoài các thành phố nơi mà đất đai có nhiều và không quá mắc mỏ, rồi sai đến những nhóm chuyên gia của ông để làm nhiệm vụ được chỉ định của họ - mỗi nhóm vào một thời điểm nhất định. Họ đã lập lại việc làm đó trên nhiều miếng đất kế cận trước khi kêu gọi nhóm chuyên gia khác đến để thực thi những khả năng đặc biệt của họ. Ông đã giải quyết được nan đề tài chánh bằng cách thuyết phục nhà cầm quyền liên bang thông qua cơ quan Quản Lý Nhà Thuộc Chính Quyền Liên Bang Mỹ (FHA) để bảo đảm 100% khoản nợ của nhà băng dành cho những cựu chiến binh.
Chẳng bao lâu, những cựu chiến binh đã xếp hàng, hoặc ghi danh vào danh sách những người chờ đợi, để mua những căn nhà giống hệt nhau theo kiểu Cape Cod (CTD: Nhà chữ nhật có ống khói lò sưởi và chóp mái chữ A gồm 2-4 phòng ngủ) tọa lạc tại những khu vực được mở mang rộng lớn. Hầu hết mọi người đều sẵn sàng bỏ qua bề ngoài vô vị của những khu láng giềng này để đổi lại, họ có được những căn nhà riêng của mình với thiết bị hiện đại, những cộng đồng mới, những mối liên hệ láng giềng an toàn và những trường học mới. Không cần phải tốn tiền đặt cọc, họ đã có thể có một căn nhà hoàn toàn mới, giá chưa tới 7000 đô la.
Ý tưởng của Levitt đã nổi tiếng nhanh chóng như việc bán nhà của ông vậy. Các công ty xây dựng nhà ở khác được thu hút bởi kỷ lục bán hàng của ông, đã đi theo khuôn mẫu của ông trong những thị trường khác xuyên khắp quốc gia. Chẳng bao lâu, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ đã được điểm khắp bởi những khu nhà trên vùng đất rộng và cuộc khủng hoảng về nhà ở đã được loại trừ. Quan trọng hơn nữa, một tầng lớp mới những sở hữu chủ nhà ở đã được khởi sinh và sự tạo ra cơ sở hạ tầng ngoại ô đã bắt đầu. Tạp chí Time đã nêu nổi bật câu chuyện trang bìa về Levitt, đề cập đến việc làm của ông là “một cuộc cách mạng trong kỹ nghệ nhà ở.”
Lời khen tặng đó, dù có vẻ gây ấn tượng mạnh, đã đánh giá quá thấp tầm rộng ảnh hưởng của ông. Levitt đã cách mạng hóa nhiều hơn chứ không chỉ có kỹ nghệ nhà ở. Thực trạng của vùng ngoại ô mà nước Mỹ có ngày nay - những con đường rộng, khả năng giải quyết rác thải, những phương tiện công cộng tương đối mới, những trung tâm mua sắm mới trong nhà, những dãy nhà trung tâm mua sắm khắp nơi, khu ngoại ô ngổn ngang, những cộng đồng chủng tộc hoặc kinh tế tách biệt, một chất lượng cuộc sống khác biệt từ vùng thôn dã đến những vùng thành thị, những ngôi nhà thờ to lớn thuộc giáo hội cải chánh, những chỗ đậu xe mang tính công nghiệp và hơn thế nữa - có thể được qui cho khải tượng của ông trong việc thiết lập nước Mỹ với vùng phi đô thị khả thi và vừa túi tiền. [6]
Ron Rosenbaum, “The House That Levitt Built,” Fifty Who Made the Difference (New York: Esquire Press, Villard Books, 1984), trang 304-320
Ray Kroc
Ít người đã nghĩ rằng Ray Kroc làm được việc gì lớn lao. Là một học sinh trung học bỏ học dở chừng, ông phục vụ trong quân đội với người bạn cùng trung đội là Walt Disney, rồi thì chạy quanh trong công việc của một người quảng cáo đĩa nhạc, là một nhạc sĩ, một người trung gian môi giới và buôn bán bất động sản thực thụ, vào khoảng giữa năm 1950, Kroc sống tại Chicago, đã trang trải các khoảng trong cuộc sống bằng cách bán máy làm sữa sóc (shake) cho các tiệm ăn, trong những chuyến đi bán hàng của mình, ông liên tục được nghe về những cơ phận máy làm sữa sóc được sử dụng bởi các anh em nhà McDonald tại miền Nam California. Tò mò bởi tiếng rì rầm của đường phố, ông đã rảo bước đến vùng đó để xác định điều gì đã gây ra tất cả những tiếng ồn giữa vòng những chủ sở hữu tiệm ăn, những người điều khiển nguồn nước soda và những nhà quản lý quán giải khát sữa từ khắp cả quốc gia.
Kroc đã không cảm động gì cả. Tòa nhà tiệm ăn đã không đáng chú ý, địa điểm cũng không có gì đặc biệt. Đang khi Kroc đang ngồi trong chiếc xe của ông thuê đậu trong khu vực đậu xe của tiệm ăn chú ý những hoạt động chung quanh mình. Ông đã chú ý vào hai sự kiện, người ta cứ đến và cứ tiếp tục đến, và rồi có vẻ thỏa mãn với điều họ đã mua được. Trực giác mua bán của ông đã không cho phép ông bỏ qua những điều mắt thấy không thể tránh né được này.
Kroc dành cả ngày nói chuyện với các khách hàng. Đi bộ quanh những vùng đất đó để quan sát điều đang diễn ra và cuối cùng gặp gỡ những sở hữu chủ. Họ đã giải thích toàn bộ tiến trình cho Kroc, đến lúc này nhận thức được là ông đang hướng về một điều gì đó thật đặc biệt. Cuối ngày hôm sau, Kroc đã nói chuyện với các anh em nhà McDonald cho phép ông mở những tiệm ăn phụ trợ cho McDonald trong tư cách là một người dự phần mới trong công việc buôn bán của họ.
Như bất cứ một người có khải tượng chân chính nào cũng phải làm, Kroc cảm thấy bị bó buộc phải hành động dựa trên những gì ông đã chứng kiến trong chuyến đi khảo sát của ông. Những vấn đề đáng quan tâm đã đè nặng đi ngược lại sự thành công của dự án kinh doanh này. Lúc bấy giờ ở tuổi 52, bắt đầu một công ty mới bên cạnh những đối tác ông không quen biết nhiều và thiếu khoản tiền cần thiết để duy trì giai đoạn khởi động. Về thể lý, ông đang ở trong tình trạng không tương thích đối với thách thức này. Ông đang phải chịu bệnh viêm khớp và tiểu đường và trải qua thời gian lâu từ khi mất túi mật và tuyến giáp trạng. Vợ ông sợ rằng ông đang từ bỏ việc làm an toàn để hướng vào một vài cuộc hợp tác hamburger điên rồ, trong việc dự phần với hai người đàn ông cách xa phân nửa đất nước là những người không thích thú gì lắm trong việc khếch trương ngay trong giai đoạn đầu tiên!
Kroc đã không dễ bị nhụt chí. Trong con mắt của tâm trí ông, ông đã nhìn thấy tương lai, và tương lai đó được đánh vần là đ-ộ-c q-u-y-ề-n K-i-n-h d-o-a-n-h t-h-ứ-c ă-n n-h-a-n-h (fast food franchises).
Kroc đã để lại một di sản chủ yếu có hai ảnh hưởng. Dĩ nhiên, một là vai trò của ông trong việc thiết lập kỹ nghệ thức ăn nhanh là lực lượng chủ yếu trong nền kinh tế đất nước Hoa Kỳ - và hiện nay trên cả thế giới nữa. Trong một xã hội mà thời gian đã trở thành một nguồn tài nguyên được cẩn thận kiểm soát nhất, thật khó quyết định phải chăng nhu cầu của khách hàng cho việc tận dụng thời gian của họ đã tạo ra sự chấp nhận kỹ nghệ thức ăn nhanh, hoặc giả sự sẵn sàng của thức ăn nhanh đã nâng cao nhu cầu hiểu biết của mọi người về tăng cường tối đa thời gian của họ. Ngày hôm nay, nó là vấn đề có thể tranh luận được. Những cổng hoàng môn đứng đó như là biểu tượng cho những gì Kroc đã làm cho nước Mỹ: áp dụng những cải cách kỹ thuật để nâng cao hiệu quả của chúng ta.
Một di sản khác mà Kroc đã truyền lại cho chúng ta là sự hoàn bị khái niệm về độc quyền bán hàng. Nhiều người trước ông đã có độc
RAY KROC ĐÃ THIẾT LẬP KỸ NGHỆ THỨC ĂN NHANH LÀ LỰC LƯỢNG CHỦ YẾU TRONG NỀN KINH TẾ CỦA ĐẤT NƯỚC HOA KỲ - VÀ CHO CẢ THẾ GIỚI HIỆN NAY NỮA (VÀ ĐÃ GIỚI THIỆU SỰ ĐỘC QUYỀN KINH DOANH TRONG KHẢI TƯỢNG CỦA ÔNG VỀ THƯƠNG TRƯỜNG ).
quyền kinh doanh về hoạt động của họ chẳng hạn như Dairy Queen và Tastee-Freeze; nhưng chưa từng có ai đã làm điều đó một cách thành công. Ông đã làm việc không mỏi mệt để phát triển một túi độc quyền kinh doanh lừng danh hiện nay chứa đựng một bộ những điều kiện cần thiết và những sự hạn chế đã cho phép những của hàng McDonald duy trì được bốn điều đặc trưng mà Kroc đánh giá là bất khả thương lượng: thái độ lịch thiệp, tính sạch sẽ, chất lượng và sự phục vụ.
Kroc đã giới thiệu một số những cải cách khác cho sự tổ chức độc quyền kinh doanh mà ông đã cống hiến: khước từ đối với qui định những nhà độc quyền kinh doanh phải mua những trang bị của họ từ công ty McDonald, tính đồng nhất trong các hoạt động, huấn luyện những người điều khiển một cách rộng rãi và một sự thuê mướn đất đặc biệt sắp xếp cho mỗi một tiệm ăn. Những điều này chỉ là những quyết định thương mại mang tính lương tri mà thôi. Bí quyết đó đã là khải tượng của Kroc đối với tiềm năng của sự độc quyền kinh doanh.
Nhiều hiệp hội khác đã bước vào lãnh vực độc quyền kinh doanh về thức ăn nhanh bởi vì những nỗ lực mở rộng lợi nhuận của Kroc. Tuy nhiên không có hiệp hội nào có thể đạt được kỷ lục tăng dần mức độ thành công được vui hưởng với 7500 tiệm ăn của McDonald xuyên suốt cả thế giới. [7]
Ray Kroc, Grinding It Out (Chicago: Regnery Company, 1977); Tom Robbins, “Ray Kroc Did It All for You,” Fifty Who Made the Difference (New York: Esquire Press, Villard Books, 1984), trang 265-269

Earl Warren
Có vẻ như hơi kỳ lạ khi bao gồm một vị thẩm phán tòa án tối cao Hoa Kỳ vào số những người có khải tượng cốt lõi thuộc hậu bán thế kỷ trước. Trong số tất cả những vị thẩm phán được chọn lựa, Earl Warren lại có vẻ là một sự lựa chọn kỳ dị. Đây là người đàn ông được chỉ định làm việc tại tòa án do tổng thống Dwight Eisenhower, một sự chỉ định mà vị tổng thống sau đó đã nói: “là một điều ngu dại đáng nguyền rủa lớn nhất mà tôi đã từng làm.” Tuy nhiên, điểm yếu kém và sự khiêm tốn của Warren đã sản sinh ra một cuộc cách mạng hợp pháp và mang tính chất tòa án, vẫn còn ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta ngày nay nhiều thập niên sau khi ông về hưu và cuối cùng qua đời.
Warren khởi đầu đã theo đuổi một con đường chung để được tốt nghiệp trường luật: thực tập viên tư nhân, ủy viên công tố của một khu vực và viên chưởng lý của tiểu ban. Sau đó ông đã được chọn làm thống đốc của tiểu bang California trong ba nhiệm kỳ. Là một ngôi sao chính trị đang lên, ông đã là người được cử làm phó tổng thống của Đảng Cộng Hòa vào năm 1948 nhưng đã phải chịu sự thất bại chính trị đầu tiên khi chiến dịch của Thomas Dewey không thành công.
Dầu vậy, sau một nhiệm kỳ dưới sự lãnh đạo của Harry Truman, đất nước này đã tuyển chọn vị anh hùng chiến tranh Eisenhower làm người đứng đầu cơ quan hành pháp. Trong sự tôn trọng đối với sự hỗ trợ của Warren trong sự đề cử Eisenhower, vị tổng thống này đã chỉ định Warren vào tòa án tối cao. Ông đã làm như thế với sự trông đợi người California nầy trở nên một người có quan điểm ôn hòa về hệ tư tưởng với những khuynh hướng của đảng Cộng Hòa. Nhưng hóa ra ông đã thật là sai lầm.
Những người đã biết Warren cảm thấy rất khó mô tả ông. Những tính từ thường bao gồm “hiền lành, ôn hòa,” “không có đặc tính rõ rệt,” “vui lòng hoặc thích thú,” “vô thưởng vô phạt” và “đơn giản.” Ông được xem là một nhà mưu lược chính trị khôn ngoan, nhưng là một người thông minh bình thường. Cũng như những điều đã nêu trên, dường như ông có tài khéo để xử sự đúng lúc đúng chỗ.
Tuy nhiên những người bạn thân cận nhất của ông thừa nhận rằng khi Warren trải qua hệ thống chính trị, họ có thể thấy ông được thay đổi dần dần. Ông trở thành càng ngày càng quan tâm đến việc áp dụng sự công bằng, sự bình đẳng và công lý cho mọi nghề nghiệp của người ta, một sự kiện thực tế hơn là một vấn đề tranh luận thuộc chính sách công cộng.
Trong thời gian 16 năm ông được bổ nhiệm làm thẩm phán, Warren đã điều khiển một số lớn những tiền lệ cho việc xét xử của tòa án. Ông bênh vực mạnh mẽ cho những quyết định của quan tòa phán quyết rằng những sự phân biệt đối xử là vi phạm luật, đã cấm bất cứ hình thức nào của sự phân biệt chủng tộc, đem lại những luật mới và sự lựa chọn hợp pháp cho người nghèo, mở rộng tự do phát biểu, gia tăng sự bảo vệ cho tự do báo chí và tăng cường những luật lệ có liên quan đến sự bất đồng quan điểm chính trị. Tòa án của ông đã viết lại một cách thực tế về bộ luật tội phạm.
Thông qua một sự nhấn mạnh kiên cường về bổn phận luân lý và đối xử công bằng, Warren đã mở rộng giới hạn những hoạt động mà tòa án có thể làm được trong những luật lệ của nó và mức độ mà luật pháp có thể mở rộng trong sự đoán định điều phải và điều trái.
Những tiêu chuẩn xét xử hợp pháp mà chúng ta biết ngày nay phần lớn đã được minh định bởi Warren. Dĩ nhiên, ông đã không tạo ra hệ thống nầy, nhưng ông đã nhìn thấy được những đường nét chính yếu của một xã hội đặt nền tảng trên sự công bằng và bình đẳng. Điều đó vẫn còn xác định nhiều giới hạn và lối sống đặc trưng cho nước Mỹ trong cuối thập niên 1990. [8]
Frances Fitzgerald, “The Case of Earl Warren v. Earl Warren,” Fifty Who Made the Difference (New York: Esquire Press, Villard Books, 1984), trang 362-369
Martin Luther King (con)
Những người Mỹ có cùng một khuynh hướng lớn lao trong việc quên lãng lịch sử của họ. Chúng ta nhanh chóng tiếp thu những thay đổi xã hội lớn lao và quên đi những việc làm bởi những người đã chiến đấu cho các trận chiến đó.
Tôi e rằng những chiến thắng mà Martin Luther King (con) đã chinh phục được thuộc vào những chiến thắng đã bị thoải mái bỏ quên như vậy. Tuy nhiên, ảnh hưởng của King sẽ là rất quan trọng hầu nuôi dưỡng sự hiểu biết và hiệp nhất chủng tộc trong tình hình dân số của chúng ta mỗi ngày một càng đa dạng hơn.
King là con trai của một mục sư Báp Tít, lớn lên trong miền Nam giữa các năm 1930 và 40. Giống như mọi người da đen sinh sống tại miền Nam, ông quá quen thuộc với tính đa dạng và hiển nhiên của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Trong vòng những hình ảnh đã in sâu vào tâm trí của ông không thể nào xóa nhòa là biến cố diễn ra khi ông lên 6, lúc ấy cha mẹ của một người bạn da trắng nổi giận cắt ngang giờ đi chơi của chúng và yêu cầu King không bao giờ được chơi với con trai họ nữa. Khi ông lên 11 tuổi, một người phụ nữ da trắng không có hiềm khích gì cả đã đánh ông và gọi ông là “mọi đen.”
Dĩ nhiên, những biến cố này và nhiều điều khác nữa đã diễn ra trong một bối cảnh bất công. Trước thời gian giữa những năm 1960. Người da đen không được phép ăn trong những tiệm ăn của người da trắng, không được dùng nhà vệ sinh công cộng hoặc sử dụng phương tiện giao thông công cộng. Anh chàng trai trẻ Luther King đã quan sát, lắng nghe và thấm thía nỗi đau này; và anh đã chuẩn bị để tận hiến đời sống mình chiến đấu nghịch lại sự bất công trong xã hội, sự nghèo khó và sự phân biệt chủng tộc.
King là một người thông minh. Ông bước vào trường cao đẳng ở tuổi 15 mà không cần bậc trung học, đã được phong chức tại nhà thờ của cha ông ở tuổi 18, đã từ giã lớp học ở chủng viện của mình và đạt được bằng cấp Ph.D. về thần học của đại học Boston.
Sau đó King đã bước vào ngôi trường của những cú gõ cửa nặng nề, là mục sư cho một hội thánh ở tại Montgomery, Alabama. Sử dụng bục giảng của ông làm diễn đàn bảo vệ lập trường của mình, ông đã hướng dẫn những công dân da đen vào một cuộc chống đối phi bạo lực, một chiến thuật ông đã học được khi nghiên cứu Mahatma Gandhi, nhà lãnh đạo nổi tiếng người Ấn Độ. King đã hướng dẫn hàng ngàn người da đen trong các cuộc tẩy chay, biểu tình ngồi, diễu hành và các cuộc lái xe tự do và ông làm mũi nhọn dẫn đầu cho các nỗ lực thuyết phục về vấn đề chính trị. Đối với hầu hết những người da đen, ông đã trở thành một vị anh hùng.
Điều gì đã là phần thưởng cho vị anh hùng King? Nhà ông đã bị đặt bom. Ông đã bị bỏ vào tù nhiều lần. Ông đã bị đánh đập hành hạ thân thể một cách bất công, một số lần bởi những công dân da trắng, một số thì do cảnh sát. Ông đã bị khước từ và chế giễu bởi nhiều tu sĩ da trắng. Con cái của ông bị khai trừ tẩy chay ở các trường học. Những của cải tài sản của gia đình bị đánh cắp, bị phá hại và đốt cháy. Và cuối cùng, dĩ nhiên, vị anh hùng này đã bị giết vì ích lợi cho chính ông. Chức vụ của ông trên nhiều phương diện là điều tương đồng với chức vụ của sứ đồ Phaolô.
King là một nhà diễn thuyết hùng hồn và ông đã không sợ khi sử dụng tòa giảng để thúc giục cử tọa của ông phải hành động. Dẫu vậy, ông đã sử dụng bục giảng không những chỉ để chiêu mộ. Những bài giảng của ông đã được soạn thảo để phục hồi ý thức về phẩm cách, sự tự trọng và lòng hy vọng mà người da đen đã đánh mất lâu nay.
Những sứ điệp của King là thật khác thường, thách thức những người da đen phải đối đầu với đại đa số người da trắng vì cớ sự đối xử tệ hại đối với người da đen. Trong nhiều thế hệ, người Mỹ da đen đã chấp nhận nỗi bất hạnh về những hoàn cảnh bất công của họ như là vận xui của số phận, như là một thực tại đơn giản và không thay đổi được hoặc như là hậu quả của một sự không đầy đủ thẩm quyền vốn có của những người da đen.
King đã kịch liệt phản ứng về sự nghi ngờ chính bản thân như thế. Ông quở trách dân sự của mình vì cớ sự nhút nhát và khiêm tốn của họ. Ông đã thổi hơi sự sống của sự tự xem mình có giá trị vào những tấm lòng của họ và cảm thúc dân tộc của ông phải sử dụng tất cả những điều đó vào một cuộc sống đáng sống - một sự sống đặc trưng bằng tình yêu chính mình, phẩm giá và công lý bình đẳng.
Những người lớn lên ở tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ ngày nay có lẽ khó tin được những điều hoàn toàn khác lạ đã diễn ra thể nào trong một phần tư thế kỷ trước. Những nỗ lực lớn lao của King đã bắt đầu cho cuộc cách mạng và bảo đảm những chiến thắng khó khăn và lớn lao. Sự theo đuổi liên lũy của ông về một hệ thống công lý không phân biệt màu sắc đã được dùng làm công cụ trong đạo luật về những Quyền Công Dân 1964 và đạo luật về Quyền Bầu Phiếu năm 1965. King là con người trẻ tuổi nhất đoạt được Giải Nôben Hòa Bình, đã giúp chuẩn bị một cuộc diễu hành lớn tại thủ đô năm 1968 để nêu cao nhận thức về tầm mức và sự tàn hại của sự nghèo khó khi ông bị giết.
Chúng ta đang sống trong một quốc gia vẫn còn dễ mắc phải căn bệnh ung thư của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, nhưng di sản lâu dài của King là ông đã giúp tước bỏ sự phân biệt và thành kiến chủng tộc khiến nó không còn tính hợp pháp về luân lý của nó nữa. Ngày nay chúng ta nhìn nhận sự hiện hữu và tội lỗi của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc bởi vì King hẳn không để cho chúng ta bỏ qua sự sai lầm đó. [9]
David Halberstam, “Martin Luther King, American Preacher,” Fifty Who Made the Difference (New York: Esquire Press, Villard Books, 1984), trang 237-244
Ralph Nader
Một nhân vật khác thuộc nhóm các trường đại học có truyền thống ở miền Đông nước Mỹ (nổi tiếng về tiêu chuẩn học thuật cao và uy tín xã hội) gia nhập vào danh sách các nhân vật có ảnh hưởng hàng đầu thuộc thời quá khứ gần đây của chúng ta. Ralph Nader tốt nghiệp đại học Princeton được quyền ưu tiên vào trường luật Harvard. Luôn luôn là một người không tuân theo các tập tục xã hội, Nader đã không chú ý đến việc theo đuổi một sự nghiệp nhàn hạ trong nhóm luật tập thể. Nỗi đam mê của ông là tận dụng đời sống vào việc bảo đảm công lý xã hội. Ông đã mô tả sứ mạng đời sống của mình như là mọi sự đốt cháy “không kém hơn việc cải tổ chất lượng trong cuộc Cách mạng Kỹ Nghệ.”
Là một người binh vực cho người tiêu dùng nổi tiếng nhất ở nước Mỹ, ông đã liên tục băm vằm hết công nghiệp này đến công nghiệp khác trong khoảng thời gian hơn 30 năm. Có lẽ ông nổi tiếng nhất vì những trận chiến của ông với kỹ nghệ xe hơi. Sau khi đánh giá những dữ liệu có liên quan đến các tai nạn xe hơi, ông nghiên cứu mẫu mã của các loại xe và nảy sinh ra một loạt những thay đổi về thiết kế để cải tiến cho sự an toàn xe hơi. Khi các nhà sản xuất chế tạo xe hơi bịt tai không nghe những đòi hỏi của ông, ông đã phát hành một cuốn sách có tựa đề là Không An Toàn Ở Bất Cứ Tốc Độ Nào , và sách này đã ném ông vào cuộc tranh cãi.
Quốc hội thông qua bộ luật an toàn cho phương tiện giao thông gắn máy và lưu thông quốc gia năm 1966, phần lớn là để đáp lại cuộc vận động cố gắng thuyết phục liên tục của Nader ở hành lang. Giữa vòng những thay đổi mà đạo luật này đã làm được đó là bảng bên dưới kính chắn gió có đệm, những tựa đầu cho ghế ngồi, bánh tay lái có đệm, cần số tròn, loại kính không bể trong gương chiếu hậu, dây đai an toàn và khung sườn xe bằng thép tăng lực. Ông đã giới thiệu các túi hơi (CTD: ngăn va đập khi gặp tai nạn) 30 năm trước khi kỹ nghệ ô tô tán thành và sử dụng chúng. Trong vòng 20 năm đầu tiên sau khi đạo luật này được thông qua, có hơn 100 triệu xe hơi đã phải thu hồi vì cớ những vi phạm luật an toàn và vì khuyết điểm thiết kế.
Nader và những tổ chức của ông thuộc những người bảo vệ khách hàng cũng đã là những người then chốt trong các luật lệ hiện nay kiểm soát tổ chức thanh tra về thịt, bó buộc những giới hạn về vấn đề nhiễm bức xạ, nguồn cung cấp nước uống an toàn, trừ bỏ sơn có chất độc chì, đạo luật bảo vệ môi trường, loại trừ chất amiăng chống lửa và luật lệ về khí gaz tự nhiên.
Dầu vậy, thành tựu trọn vẹn của ông là việc tạo ra và thông qua đạo luật tự do về các thông tin. Việc ban hành luật đó đã giúp cho mỗi một công dân có thể đạt được việc truy cứu hợp pháp những văn kiện công cộng. Sự hiện diện của luật đó đã cho phép Nader đi tiên phong các cuộc tranh tụng hành động công dân, một phương tiện đem lại cho các cơ quan hoặc đại lý đoàn thể và chính quyền làm đúng theo yêu cầu hoặc mệnh lệnh của các đạo luật thông qua những vận dụng đơn giản trong việc tranh tụng.
Giống như nhiều người có khải tượng, Nader sống một cuộc sống hoàn toàn nhất quán với những quan niệm của ông. Ông mặc những chiếc áo đã mua tại trạm bán hàng cho quân đội (PX) ba mươi năm trước. Ông không sở hữu hay là lái một chiếc xe nào. Ông coi sóc chế độ ăn uống của mình một cách cẩn thận và sống trong một căn hộ nhỏ ở tại Washington D.C. Ông từ chối không uống Coca-Cola (ông nói rằng mỗi một lon chứa đựng chín muỗng đường) và là một người ủng hộ cho việc tập thể dục. Cuộc đời ông đã là một phần mở rộng cho khải tượng của ông về một nước Mỹ tốt hơn.
Chiếc xe hơi của bạn được an toàn hơn bởi Nader. Chất lượng thứ nước bạn uống và không khí bạn thở có lẽ chưa hoàn hảo, nhưng nó được tốt hơn rất nhiều so với tình trạng thường có của nó nếu không có ảnh hưởng của Nader.
Các hiệp hội tại Hoa Kỳ, cũng như những văn phòng chính phủ mà chúng ta lựa chọn, đều đáp ứng tốt hơn với công dân và với các bộ luật bởi vì bộ luật tự do về thông tin. Không có Nader tạo hình và theo đuổi khải tượng của ông về một nước Mỹ mới, những luật lệ nhà nước và việc thực hiện quyết định hợp tác có lẽ sẽ rất khác biệt ngày nay. [10]
Ken Auletta, “Ralph Nader, Public Eye,” Fifty Who Made the Difference (New York: Esquire Press, Villard Books, 1984), trang 407-417
Và Còn Nhiều Hơn Nữa
Trên đây chỉ là một vài người có khải tượng đã ảnh hưởng và thay đổi cuộc sống của người Mỹ. Dù muốn dù không, bạn và tôi đã gặt hái được kết quả từ những khải tượng của họ.
Chúng ta cũng đang sống với những kết quả của khải tượng được hình thành bởi Tổng Thống Lyndon Johnson, là người mà những cuộc cải cách xã hội trong Xã Hội Vĩ Đại của ông vẫn còn thiết lập một cơ cấu hạ tầng cho hệ thống ích lợi của chúng ta và các dịch vụ khác đặt nền tảng trên cơ cấu chính quyền.
Chúng ta đang kinh nghiệm những hiệu quả của báo chí điểm những tin chính (sound-bite), được khởi đầu bởi những nhà khải tượng về ngành báo chí chẳng hạn như Al Newharth, là người phác thảo tờ báo được cách mạng hóa có tên là USA Today và đã đáp ứng với quan tâm của cử tọa đọc nhanh. Steven Jobs, là người đồng sáng lập công ty Apple Computers, đã có công lớn trong việc dùng những máy móc ông giúp bạn là Steve Wozniak lắp đặt trong nhà xe và thiết lập máy tính cá nhân dành cho người thân dùng. Là điều đã thay đổi mãi mãi hệ thống thông tin và tính toán.
Robert Moses, là bậc thầy trong việc qui hoạch đô thị, xứng đáng với thanh danh ấy - hay lời buộc tội đó - vì cớ nhiều quan điểm phát triển đô thị mà trên đó các đô thị của chúng ta đều đặt nền tảng. Betty Friedan đã là người đề xuất trước hết đằng sau phong trào giải phóng phụ nữ của cuối những năm 1960 và đầu thập niên 70. Danh sách của những người có khải tượng đã định dạng cho môi trường sống và những cơ hội mỗi ngày của bạn thật là dài.
Những người có khải tượng của những năm 1990
Bạn có thể kể ra những người có khải tượng của thời hiện tại không? Đôi khi thật khó nói ai là người đang khuôn đúc khải tượng và ai đang đơn giản xây dựng vương quốc riêng của họ. Tuy nhiên, một vài sự chọn lựa hiển nhiên của những người có khải tượng đang thiết đặt nền tảng cho đời sống của chúng ta trong phần đầu của thế kỷ thứ 21 nầy.
Bill Gates, là quyền lực đứng đằng sau công ty Microsoft, đang đem những phần mềm vi tính đến những vị trí mới thay đổi đời sống. John Malone là nhân tố hàng đầu trong việc phát triển kỹ nghệ truyền thông, đặc biệt là trong lĩnh vực truyền hình.
Michael Eisner, giám đốc điều hành của công ty Walt Disney - đồng sở hữu một vương quốc truyền thông đại chúng bao gồm công ty ABC - phải được xem là nhà tư tưởng cấp tiến hàng đầu khi ông chuyển công ty Disney vượt qua giới hạn giải trí bước vào những phương thức mới cho công cuộc phát triển đô thị.
Bạn có thấy được hiệu quả của khải tượng trên đời sống mình không? Hãy suy nghĩ về cuộc sống của bạn sẽ như thế nào nào nếu như Nader đã không trung thành với khải tượng của ông.
Chúng ta sẽ có loại xã hội thể nào nếu những học thuyết của Dewey đã chưa từng được giới thiệu cho các giáo sư và thực thi giữa vòng những cuộc gia tăng dân số trong thời kỳ những năm định hình tính cách con trẻ của họ? Nếu Martin Luther King (con) đã không hi sinh những tham vọng và tài năng của ông - và cuối cùng cả đời sống của ông nữa - vì cớ công lý con người và sự bình đẳng chủng tộc, thì chúng ta có nhận thức được những cuộc khủng hoảng trong mối liên hệ chủng tộc mà mình có ngày nay không?
Bạn có quan tâm nhiều về vấn đề phô bày con trẻ cho tình dục trên ti vi hoặc trong các phim ảnh, hoặc về vấn đề tính mong manh dễ bị cám dỗ của các cuộc hôn nhân, hoặc về sự chấp nhận của công chúng đối với tính dục đồng giới như là một sự chọn lựa đạo đức trong những mối liên hệ tính dục khác giới nếu Alfred Kinsey đã quay lưng lại với khải tượng của ông về một nước Mỹ được giải phóng về tình dục?
Tôi không thể tưởng tượng bất cứ ai bàn cãi một cách thông minh lại cho rằng sự hiện hữu của người ấy không bị đảo lộn bởi ảnh hưởng của những khải tượng đã được nhận thức và theo đuổi một cách năng nỗ bởi những người nhiệt tình như vậy.
Nhìn nhận ảnh hưởng của những người khác trên đời sống bạn thật là xa với quyết định của bạn hầu nhận rõ khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống bạn và để đầu tư hoàn toàn sự hiện hữu của bạn vào viễn ảnh đó.
Trong tư cách một đầy tớ của Đức Chúa Trời là Cha của khải tượng, bạn sẽ làm gì để hiểu biết khải tượng Đức Chúa Trời dành cho đời sống bạn và để đầu tư chính mình vào cuộc cách mạng thu nhỏ mà Ngài đang kêu gọi bạn làm người coi sóc?
Những Điều Cơ Bản về Khải Tượng
“KHÔNG MỘT THỨ MÁY NÀO CÓ THỂ THÚC ĐẨY MỘT TỔ CHỨC ĐẾN CHỖ THÀNH CÔNG TUYỆT VỜI LÂU DÀI MẠNH BẰNG MỘT KHẢI TƯỢNG TƯƠNG LAI KHẢ THI, XỨNG ĐÁNG VÀ HẤP DẪN, ĐƯỢC CHIA SẺ MỘT CÁCH RỘNG RÃI”
BURT NANUS
Đọc những câu chuyện về khải tượng trong hành động hoặc thấy được những hiệu quả của khải tượng được thực hiện là một việc. Có thể đặt ngón tay của bạn vào chính xác điều nào là khái niệm cốt lõi lại là một việc hoàn toàn khác - đó là, để định nghĩa khải tượng một cách cô đọng đến nỗi bạn có thể nêu rõ điều thực thụ hay là một món đồ giả - một dặm xa vời vợi.
Chúng ta ta hãy đề cập đến những điều căn bản của khải tượng.
Định Nghĩa Khải Tượng
Khải tượng là một hình ảnh trong tâm trí rõ ràng và chính xác về một tương lai đáng ưa chuộng, mà Đức Chúa Trời ban cho những đầy tớ được lựa chọn của Ngài, dựa trên sự hiểu biết chính xác về Đức Chúa Trời, về chính mình và những hoàn cảnh.
Hãy xem xét những thành tố trong khải tượng của Đức Chúa Trời.
Khải tượng là hữu hình có thể xác định được đối với người xem ngắm. Mặc dầu nó chỉ là một ý tưởng hoặc viễn cảnh về một thực tại chưa hiện hữu, khải tượng hiện hữu trong tâm trí của một người có khải tượng, rõ ràng đến nỗi có thể suy nghĩ về như là một hình ảnh sống động. Một khải tượng như thế thúc giục và hướng dẫn chức vụ, gạn lọc thông tin, phục vụ như là một tác nhân trong việc thực hiện quyết định và đánh giá tiến trình.
Những sự Thay Đổi Sẽ Diễn Ra
Khải tượng bao hàm thay đổi . Nó giúp bạn cải thiện một hoàn cảnh. Nó tập trung vào tương lai và tiêu biểu cho một viễn cảnh liệu trước những thách thức và cơ hội sẽ đến. Cơ Đốc Nhân có khải tượng là một người vui hưởng quá khứ, sống trong hiện tại nhưng suy nghĩ về tương lai . Tương lai đó, nếu đem lại sự vui lòng cho Đức Chúa Trời, sẽ khác biệt đáng kể với thực tại mà bạn đang kinh nghiệm ngày nay.
Khải tượng được khởi xướng bởi Đức Chúa Trời, được dân sự của Ngài ưa thích và được truyền đạt qua Đức Thánh Linh . Đức Chúa Trời chỉ truyền đạt khải tượng của Ngài cho những người nào bền đỗ trong sự nhận biết Ngài một cách thân mật, bởi vì khải tượng của Ngài là một phần thiêng liêng thuộc về kế hoạch đời đời của Ngài hé mở. Điều này có nghĩa rằng những động cơ của bạn tìm kiếm một khải tượng là điều hết sức quan trọng.
Hãy nhớ lại tội lỗi của Simôn người thuật sĩ, là người đã dâng tiền cho Phierơ để đổi lại mong nhận được năng quyền của Đức Thánh Linh và đã ngay lập tức bị trừng phạt bởi vị sứ đồ này bởi vì mong muốn không đứng đắn của ông (xem Cong Cv 8:9-24). Ông cũng bị kể là không đủ tư cách có năng quyền mà ông đòi hỏi. Những động cơ của bạn cũng phải trong sạch và lòng bạn không chỉ mong muốn nhận lãnh khải tượng, nhưng cũng dâng hiến chính mình để được thấy nó diễn ra.
Khải tượng không dành cho những người hèn nhát yếu tim . Nó ám chỉ một lòng mong muốn nồng cháy tận hiến đời sống của bạn cho Đức Chúa Trời đầy ân phúc thông qua sự theo đuổi không ngừng nghỉ của bạn về sự hoàn thành của nó.
Một Lòng Cam Kết Phục Vụ
Những ai tận hiến cho sự phục vụ Ngài thì xứng đáng nhận lãnh khải tượng đó. Điều quí giá đó được xác định rõ bởi lòng đam mê của một người đối với Đức Chúa Trời, tận hiến cho sự phục vụ Cơ Đốc, đắm chìm vào những lời cảnh cáo và những nguyên tắc của Đức Chúa Trời và sự sẵn lòng để hoàn toàn đầu phục đối với những mục tiêu và sự lãnh đạo của Chúa.
Người có khải tượng là một người biết chính mình đủ để nhận ra những lỗi lầm và giới hạn cá nhân, và vì vậy để tùy thuộc vào sự hướng dẫn và sức mạnh siêu nhiên được chu cấp bởi Đức Chúa Trời trong sự theo đuổi khải tượng một cách hăng hái nồng nhiệt.
Một trong những phẩm chất đáng quí nhất của một Cơ Đốc Nhân có khải tượng là sự hoàn toàn từ bỏ bản ngã hầu cho hoàn toàn khuất phục đối với những mục tiêu của Đức Chúa Trời . Điều này vượt xa các cam kết với Đấng Christ để nhận được ơn cứu rỗi và phản ánh sự đầu phục tuyệt đối cho ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chỉ khi ấy người này mới thực sự có thể được Ngài sử dụng.
Người có khải tượng nhận biết rất rõ về bối cảnh trong đó khải tượng cần phải được hoàn tất, nhìn nhận những trở ngại thấy được và không thấy được là điều gì, và sử dụng những nguồn tài nguyên vật chất tâm linh và con người một cách có chiến lược trong mọi nỗ lực hoàn thành khải tượng.
Đức Chúa Trời không bao giờ đặt để những đầy tớ đáng tin cậy của Ngài cho thất bại, nhưng Ngài cũng không dẹp bỏ tất cả mọi trở ngại và khó khăn ra khỏi đường lối của chúng ta (hãy xem Gios Gs 1:8, 9). Ngài thành tín đối với những người chuyên tâm trong việc hoàn thành những việc tốt đẹp mà Ngài đã hoạch định sẵn cho chúng ta.
Khải Tượng Sẽ Đến Trong Thời Điểm Của Ngài
Khải tượng đến khi Đức Chúa Trời quyết định bạn đã sẵn sàng để kiểm soát nó . Khi đúng thời điểm, Đức Chúa Trời sẽ vén màn khải tượng và sẽ giúp bạn có thể hiểu được khải tượng. Khả năng của bạn để nắm lấy khải tượng đó không phải là một vấn đề năng lực của con người, nhưng thuộc về sự trù liệu thuộc linh và một sự mong mỏi với trọn tấm lòng để vâng theo khải tượng, bất chấp phải trả giá nào.
Chỉ có Đức Chúa Trời mới biết khi nào chúng ta thật sự sẵn sàng cho khải tượng, bởi vì nó sẽ tái định hướng triệt để mỗi một lĩnh vực của đời sống chúng ta, và nó sẽ có một mục đích đặc biệt.
Thật khó cho hầu hết chúng ta chấp nhận sự kiện chúng ta phải để cho Đức Chúa Trời kiểm soát thời khắc khi nào khải tượng phải được truyền đạt. Dầu vậy, nghi lễ thông qua đáng cho mọi sự chuẩn bị và tất cả sự chờ đợi cần phải có.
Nếu chưa đúng thời điểm, nếu bạn chưa đủ tận hiến chính mình cho sự hầu việc Ngài hoặc nếu bạn chưa hoàn tất sự trưởng thành mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi bạn, hãy đoan chắc rằng bạn sẽ chưa được ban cho khải tượng đâu.
Làm cho Rõ Điều Mơ Hồ
Khải tượng không diễn ra trong một khoảng không vô nghĩa. Giống như mọi chân lý và nguyên tắc Thánh Kinh, nó được mặc khải và được làm trở thành thực tiễn trong bối cảnh.
Khải tượng của bạn đến từ sứ mạng đời sống của bạn, những giá trị, những chiến lược và phương sách của chức vụ, những mục tiêu cho chức vụ mà bạn đã thiết đặt, những ân tứ thuộc linh, những tài năng thiên nhiên và những kinh nghiệm trong đời sống của bạn.
Sứ mạng, khải tượng và giá trị tiêu biểu cho những viễn cảnh mà bạn có trong mối liên hệ với chức vụ. Những mục tiêu, chiến lược và cách xử trí của bạn xuất phát từ những viễn cảnh này và đem lại kết quả trong những kế hoạch chức vụ của bạn. Những yếu tố còn lại - các ân tứ thuộc linh, các tài năng tự nhiên và những kinh nghiệm đời sống của bạn - tiêu biểu cho sự chuẩn bị được chu cấp bởi Đức Chúa Trời cho chức vụ của bạn.
Hãy xem qua những yếu tố thuộc bối cảnh này.
Viễn Cảnh
1. Sứ mạng
Trong số những thành tố khác nhau mà chúng ta đang nghiên cứu, sứ mạng hay nhiệm vụ có lẽ là yếu tố dễ giải thích và dễ phát biểu nhất. Nhiệm vụ của mỗi cá nhân người theo Chúa và mỗi một hội thánh Cơ Đốc đã được nói lên cho chúng ta trong Kinh Thánh. Một cách vắn tắt, sứ mạng là mục tiêu lớn mà vì cớ đó bạn hoặc chức vụ của bạn tồn tại.
Hiểu biết được sứ mạng khiến dễ có một đặc tính trong sáng, là điều cần phải đi trước tác động và tầm quan trọng. Sứ mạng tiêu biểu cho bối cảnh trong đó một cá nhân hoặc tổ chức hoạt động; nó là “bức tranh lớn,” sự hiểu biết lớn lao nhất về vũ trụ trong đó những hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức có ý nghĩa và mục tiêu.
Bạn đang sống trong một thế giới cơ hội - có quá nhiều những sự lựa chọn khiến cho bạn không thể khai thác một cách đầy đủ, quá đa
NẾU BẠN ĐANG TÌM CÁCH ĐỂ BIẾT SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH BẠN, THÌ ĐÓ LÀ GIÚP CHO CÀNG NHIỀU NGƯỜI CÀNG TỐT ĐƯỢC BIẾT, YÊU MẾN VÀ PHỤC VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI BẰNG CẢ TẤM LÒNG, LINH HỒN, TÂM TRÍ VÀ SỨC LỰC CỦA HỌ.
dạng khiến bạn không thể đề cập đến một cách hiệu quả và có ích. Trừ phi bạn nắm vững được đến một mức độ nào đó về sự tự định nghĩa con người chính mình, bằng không bạn sẽ tự hủy hoại. Hãy suy nghĩ về trách vụ của bạn như vùng đất hay lãnh vực trong đó bạn sẽ hoạt động. Trách vụ thật sự phản ánh được những giá trị, những điều ưu tiên và khải tượng của bạn. [1]
Để có một phần bàn luận rộng hơn về những điểm khác biệt giữa khải tượng và sứ mạng, hãy xem George Barna, Quyền Năng Của Khải Tượng (Ventura, Calif.: Regal Books, 1992), chương 2 và 3
Đối với Cơ Đốc Nhân và các chức vụ Cơ Đốc, vẻ đẹp của trách vụ là Đức Chúa Trời đã định nghĩa nó rồi. Là một môn đồ của Đấng Christ, sứ mạng đời sống bạn là nhận biết, yêu thương và phục vụ Đức Chúa Trời với cả tấm lòng, linh hồn, tâm trí và sức lực (xem PhuDnl 6:5; Mat Mt 22:37-39). Mỗi người trong chúng ta có lẽ đeo đuổi sứ mạng này theo một phương thức khác nhau, nhưng tất cả chúng ta đều sống theo cùng một mục tiêu quan trọng: làm vui lòng, làm vinh hiển, và tôn cao Đức Chúa Trời.
Nếu bạn đang tìm cách để biết sứ mạng của hội thánh mình, thì đó là giúp cho càng nhiều người càng tốt được biết, yêu mến và phục vụ Đức Chúa Trời bằng cả tấm lòng, linh hồn, tâm trí và sức lực của họ. Dĩ nhiên, bạn có thể phân tách câu cú một cách khác nhau, dùng những từ ngữ hoặc ngôn ngữ nào càng dễ chịu hơn cho bạn.
Sứ mạng không thể nào kiểm soát hết được . Các hội thánh thường mô tả sứ mạng của họ là nắm vững được năm phần: truyền giáo, ca ngợi, trang bị, mở rộng và khích lệ. Dầu vậy, bản chất sẽ luôn luôn giống nhau. Chúng ta tồn tại để phục vụ Đức Chúa Trời bằng tất cả mọi điều chúng ta có. Đó là bức tranh lớn. Có lẽ bạn cũng sẽ tự làm cho nhất trí với sự kiện rằng mình còn sống tới đâu và dầu mình cố công đến đâu, bạn sẽ không bao giờ hoàn toàn làm trọn được sứ mạng của mình. Hãy suy nghĩ về điều đó. Không thể nào để hoàn toàn kiểm soát được sự hiểu biết, yêu mến và phục vụ Đức Chúa Trời với mỗi một tài nguyên mà bạn có sẵn để dùng. Sau cùng, chúng ta chỉ là con người. Là những tạo vật bị sa ngã, chúng ta không có khả năng để phục vụ Ngài bằng sự trọn vẹn. Tuy nhiên, nó là một mục tiêu đáng ca tụng mà chúng ta phải sống, là điều đem lại cho chúng ta phương hướng rõ ràng để theo đuổi bằng cả đời sống của mình.
Một trong những vẻ đẹp của trách vụ Cơ Đốc đó là nó nảy sinh ra ý thức về sự hiệp nhất với những người khác. Bởi vì tất cả chúng ta đều có cùng một sứ mạng, chúng ta khám phá ra rằng mình có rất nhiều bạn đồng hành. Một sự hiểu biết chân chính về sứ mạng là một điều gì đó có thể an ủi chúng ta thông qua sự nhìn biết cộng đồng và cần phải khích lệ chúng ta qua sự nhận thức về tính hiệp nhất của chúng ta trong kế hoạch của Đức Chúa Trời.
2. Khải Tượng
So sánh với trách vụ, thì khải tượng tập trung và có nhiều chi tiết hơn. Hãy để ý sứ mạng của bạn đem lại bao nhiêu quyền tự do cho bạn để thay đổi. Ngược lại, khải tượng của Đức Chúa Trời sẽ dành riêng cho bạn và sẽ là độc đáo đối với bạn. Khải tượng tập trung vào điều bạn muốn tương lai sẽ thế nào và vai trò của bạn trong việc tạo ra tương lai đặc biệt đó.
Không ai khác sẽ được ban cho cùng một khải tượng như Đức Chúa Trời đã chia phần cho bạn. Tại sao? Bởi vì không ai khác trên tinh cầu này là hoàn toàn giống như bạn theo những phương diện về ân tứ, khả năng, kinh nghiệm, cơ hội, ước muốn, những đức tính con người và v.v... Đức Chúa Trời sẽ tùy chọn khải tượng nào phù hợp nhất với bản chất của bạn (xem Thi Tv 138:8).
Bạn có thể dựa vào việc mình được đặt giữa những hoàn cảnh nơi mà khải tượng của bạn, nếu trung tín thực hiện, sẽ trở thành sự thay đổi đời sống cho bạn và cho những người được chạm đến bởi kết quả khải tượng của bạn. Khải tượng này sẽ đầy chiến lược, cảm thúc, hào hứng và đầy thách thức.
Hãy làm một con người có ảnh hưởng . Hãy chuẩn bị: việc chấp nhận khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho đời sống bạn sẽ biến đổi bạn từ một người đi lang thang trở thành một con người có ảnh hưởng. Con đường bạn đi không những chỉ tận dụng tối đa đời sống của bạn, mà cũng để tuyên bố chiến tranh nghịch lại với Satan (xem Eph Ep 6:12). Phần vì khải tượng có nghĩa là bạn đã chọn phía của mình trong trận chiến đời đời, và phần vì bản chất của sự tìm kiếm để thực hiện những thay đổi đáng kể trong một thế giới chống nghịch và hay thay đổi, cho nên chuyển khải tượng trở thành hành động có nghĩa là một gánh nặng. Nhìn khải tượng của bạn trở thành hiện thực không bao giờ đơn giản hoặc dễ dàng.
Cho dù trong những sự khó khăn và hoàn cảnh khắc nghiệt xuất hiện khi bạn theo đuổi khải tượng, thì bạn vẫn kinh nghiệm được những lợi ích lớn lao - ít nhất (nhưng không nhỏ) trong những lợi ích đó sẽ là sự dự phần gần gũi hơn và tùy thuộc sâu xa hơn với Đức Chúa Trời.
Không phải là điều bất bình thường đối với phản ứng đầu tiên trước khải tượng là: “Ôi, đó không thể nào là điều Ngài dự định dành cho tôi. Nó thật là quá lớn!” (Hãy so sánh với XuXh 3:11). Nhưng có lẽ nó chính xác là điều Ngài dự định dành cho bạn. Khải tượng của Ngài sẽ mở rộng bạn ra trong mỗi chiều kích: một cách khôn ngoan, một cách thuộc linh và đầy tình cảm. Mặc dầu khải tượng dường có vẻ lớn lao quá, hãy nhớ rằng: Ngài không bao giờ xếp đặt chúng ta để thất bại, mà chỉ để phục vụ và ảnh hưởng, cho những mục tiêu của Ngài. [2]
Trong cuốn Quyền Năng Của Khải Tượng, tôi đã luận đến định nghĩa khải tượng và những thành tố cốt lõi của nó. Mối liên hệ giữa khải tượng và sự lãnh đạo, chỗ khác biệt giữa sứ mạng và khải tượng, những sự hiểu lầm và hoang tưởng ngăn trở một người hoặc một nhóm không kinh nghiệm được khải tượng thực sự, điều khác biệt giữa khải tượng của người và khải tượng đến từ Đức Chúa Trời, tiến trình nhận biết khải tượng của Đức Chúa Trời, những đặc điểm của khải tượng Đức Chúa Trời, lợi ích của nó và những trở ngại trong việc nắm bắt khải tượng, và phương tiện chủ chốt của khải tượng phát biểu bằng lời.
Hãy thâu tóm những dữ liệu, hãy phân tích . Khải tượng được nhận thức thông qua một tiến trình thu tóm thông tin và phân tích. Tiến trình này chứa đựng sự cầu nguyện để được hướng dẫn và việc đọc Kinh Thánh để có những nhận thức và những tham số định lượng. Nó cũng bao hàm việc tìm kiếm sự cố vấn của những người khác, là người hiểu biết chúng ta và bối cảnh của chúng ta rồi còn có thể tin cậy để giúp đỡ những điều tâm trí chúng ta cần nhất, và là người sẽ đánh giá bối cảnh của chúng ta một cách riêng tư và có chiến thuật. Chúng ta cũng cần hoạt động chung với những đồng nghiệp để hiểu cách Đức Chúa Trời hướng dẫn họ, đánh giá những cơ hội và những cánh cửa và gắn mình vào những kỷ luật thuộc linh như kiêng ăn chẳng hạn.
Phân biệt khải tượng không phải là thẳng thừng hoặc có thể dự đoán được. Đôi khi cần phải tốn vài tuần lễ nỗ lực chuyên cần; đôi khi mất cả nhiều năm. Tiến trình có lẽ quan trọng nhiều đối với Đức Chúa Trời hơn là kết quả bởi nỗ lực chúng ta dùng để kéo chúng ta càng ngày càng gần hơn với Ngài - tự bản thân nó là một điều kiện giá trị chính được thêm vào. [3]
Một cuộc bàn luận chi tiết hơn về tiến trình biết chắc khải tượng được nhắc đến trong chương 6 của cuốn Quyền Năng Của Khải Tượng
Làm thế nào bạn biết được nơi mình đã đạt đến thật sự là khải tượng của Đức Chúa Trời? Chúng ta bị chìm ngập bởi những ấn tượng, hy vọng, những giả định và điều mong muốn. Phải chăng những điều đó lập thành khải tượng? Nếu nó là khải tượng, phải chăng nó là khải tượng của người hay đó là khải tượng của Đức Chúa Trời cho một con người?
Hãy dùng bảy điểm kiểm chứng sau đây để đánh giá tính chân thực của một kết luận bạn tin có thể là khải tượng của Đức Chúa Trời.
§ Phù hợp với Kinh Thánh . Hãy thử khải tượng của bạn với Lời Đức Chúa Trời (xem IITi 2Tm 3:16, 17). Ngài luôn luôn nhất quán hoàn toàn. Nếu bất cứ điều gì trong khải tượng đó đối kháng với Thánh Kinh, hãy tiếp tục tìm kiếm. Bạn chưa khám phá ra được khải tượng của Ngài đâu. Nếu vấn đề bạn đang thử nghiệm phù hợp với Thánh Kinh, hãy tiếp tục với thử nghiệm đó. Nó có thể là điều đúng đắn.
§ Phải được kiểm tra . Hãy gặp gỡ những người sẽ là những cộng sự viên mà bạn chịu trách nhiệm hoặc với những người đã là cố vấn thuộc linh cho bạn và tiếp nhận tham vấn của họ về điều gần như được kết luận là khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho bạn (xem Gie Gr 4:19; 9:1; 20:9). Nếu những người này đề nghị bạn tiếp tục tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời, hãy ghi nhớ những sự quan ngại của họ, có lẽ nên chấp nhận lời khuyên của họ và tiếp tục cuộc tìm kiếm. Tuy nhiên, nếu họ bật đèn xanh cho bạn, hãy tiến hành bước tiếp theo trong khung thử nghiệm.
§ Cảm xúc . Không thể nào tiếp nhận khải tượng từ Đức Chúa Trời mà lại không cảm thấy hào hứng vì điều đó. Đây là vị trí đặc biệt mà Đức Chúa Trời dành cho bạn, những điều mong muốn của Ngài về sự phục vụ đặc biệt trong danh Ngài. Nếu bạn không cảm thấy hào hứng về khải tượng Ngài dành cho đời sống bạn, bạn đang có vấn đề lớn hơn điều tôi có thể nói trong sách này. Khải tượng tạo ra sự nhiệt thành lớn lao và một cảm giác tham dự vào đời sống của người xem thấy khải tượng. Nếu bạn nghĩ rằng mình đã khám phá ra được khải tượng của Đức Chúa Trời mà bạn không được bùng phát bởi năng lực và sự hào hứng mới khám phá ra, hãy tiếp tục tìm kiếm. Còn nếu bạn cảm thấy nôn nóng muốn bắt đầu, hãy thử bước kiểm tra tiếp theo.
§ Sợ hãi . Khải tượng của Đức Chúa Trời là một điều thánh và tuyệt diệu. Sự kiện Ngài yêu thương chúng ta đến nỗi cứu chúng ta khỏi những hậu quả đời đời mà chúng ta rất đáng phải ghi khắc trong tâm trí - đủ cho chúng ta giật mình kinh sợ (xem ChCn 1:7; 9:10; EsIs 6:5-8; Gie Gr 1:5, 6). Nhưng rồi sau đó để nhận lãnh khải tượng về một chức vụ thay đổi đời sống biến cải thế giới là thật quá lớn lao. Chúng ta hoàn toàn không cân xứng để hoàn tất khải tượng mà Ngài dự định dành cho chúng ta. Nếu chúng ta không sợ hãi bởi khải tượng, thì thật ra chúng ta không có nó. Nếu bạn cảm thấy không đủ khả năng để thực hiện điều đó hoặc không xứng đáng với nhiệm vụ mà Ngài đã đặt trước bạn, thì đó là cách mà khải tượng của Ngài thường được những người nhận lấy nó cảm nhận như vậy. Thử nghiệm tiếp theo...
THÔNG QUA NHỮNG PHƯỚC HẠNH SIÊU NHIÊN VÀ SỰ BAN NĂNG QUYỀN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI, CÓ LẼ BẠN SẼ TẠO NÊN NHỮNG ĐIỀU MÌNH CHƯA TỪNG MƠ ĐẾN VÀ SẼ TRƯỞNG THÀNH TRONG NHỮNG ĐƯỜNG LỐI BẠN TỪNG NGHĨ CHỈ ĐƯỢC HOẠCH ĐỊNH CHO NHỮNG SIÊU SAO THUỘC LINH MÀ THÔI.
§ Tính độc đáo . Khải tượng của Đức Chúa Trời giống như là nét vân tay vậy. Không có khải tượng khác tương tự như nó hiện hữu trên toàn thế giới này bởi vì bạn là độc đáo về những phương diện như hoàn cảnh, những nguồn tài nguyên, những khả năng và cơ hội (hãy xem Thi Tv 139:1-18). Nếu khải tượng của bạn là một khải tượng ngán ngẩm, một khải tượng giống như khải tượng của một ai đó, thì bạn đã không đạt được mục tiêu. Khải tượng của Đức Chúa Trời làm cho bạn hoàn toàn độc đáo trong sơ đồ sắp xếp lớn lao của chức vụ toàn cầu, cho dù bạn là một nhà lãnh đạo nổi tiếng thế giới hay chỉ là một Cơ Đốc Nhân mới tin Chúa chỉ được vỏn vẹn 50 người thuộc hội chúng của bạn biết đến. Nếu khải tượng của bạn là độc đáo hãy xem nó có đáp ứng được với tiêu chuẩn tiếp theo không.
§ Khó khăn . Khải tượng của Đức Chúa Trời là vượt quá điều bạn có thể làm nếu chỉ dựa trên năng lực riêng của bạn. Nếu còn có một con đường nào khác, tại sao Ngài lại cần phải gieo trồng khải tượng đó trong bạn? Khải tượng của Ngài sẽ mở rộng bạn vượt xa bất cứ điều gì bạn từng hoàn tất; có lẽ vượt qua bất cứ điều gì bạn đã dự liệu trong quá khứ (xem ISu1Sb 28:20; Phi Pl 4:13). Vẻ đẹp của sự theo đuổi khải tượng Đức Chúa Trời là nó giúp bạn có thể tối ưu hóa những khả năng của mình, đẩy bạn vượt xa điều bạn nghĩ là những giới hạn của mình. Thông qua những phước hạnh siêu nhiên và sự ban năng quyền của Đức Chúa Trời, có lẽ bạn sẽ tạo nên những điều mình chưa từng mơ đến và sẽ trưởng thành trong những đường lối bạn từng nghĩ chỉ được hoạch định cho những siêu sao thuộc linh mà thôi. Khải tượng tối đa hóa tiềm năng của bạn.
§ Đáng trọng . Khải tượng từ Đức Chúa Trời là điều gì đó rất xứng đáng với sự cam kết đầy đủ và sâu xa nhất của bạn. Khải tượng có phải là một điều gì đó bạn có thể chết vì nó không? Có phải nó là điều gì bạn có thể hy sinh những điều thuộc về vật chất và có thể rờ động được là những điều lâu nay quí mến đối với bạn (xem 1:20-24)? Đức Chúa Trời muốn tất cả mọi sự thuộc về bạn, mọi suy nghĩ, mọi nỗ lực, mọi lời nói và mỗi một mối liên hệ cũng như mỗi sự nương cậy. Ngài không muốn những điều này chỉ vì để mở rộng kho chứa thiên đàng cho những điều vô ích như rác rưởi. Ngài muốn chúng bởi vì chúng phản ánh cam kết mãnh liệt của chúng ta với những hy vọng và mơ ước cao cả nhất của Ngài cho đời sống của chúng ta. Khải tượng đó có rõ ràng tăng cường quyết định của bạn nhằm cống hiến mọi sự bạn sở hữu để hoàn tất khải tượng đó không?
Khải tượng là điều quá quan trọng đến nỗi không thể bỏ qua, không thể tiêu xài lãng phí hoặc hiểu lầm được. Nó là trái tim của viễn cảnh mà bạn phải đem vào trong đời sống của chính mình.
3. Những Giá Trị
Những giá trị là đặc tánh bất khả thương lượng mà bạn muốn phản ánh trong đời sống của mình. Khi suy nghĩ đến những giá trị, bạn đang xác định đâu là con người bạn muốn trở thành - có nghĩa là loại đức tính nào bạn muốn phát huy (xem 4:8, 9).
Giá trị định nghĩa con người . Đáng ngạc nhiên thay hàng triệu người Mỹ chưa từng cống hiến suy nghĩ nghiêm trang để xác định loại người nào họ muốn trở thành. Hầu hết mọi người đều có những giá trị mặc định - là một loạt những giá trị làm giảm thiểu
sự đụng chạm giữa các khuynh hướng thuộc linh cá nhân, những điều ưa thích thuộc về tình cảm cá nhân, những sự trông đợi có tính văn hóa và những áp lực thuộc mối liên hệ. Các giá trị mặc định là những giá trị uyển chuyển dễ thay đổi bởi vì những nhu cầu và điều ưa thích của con người có thể thay đổi đối với mỗi sự chuyển đổi bối cảnh đời sống.
Trọng tâm của Kinh Thánh là về sự phát huy đức tính (xem HeDt 12:1-11). Cuộc đời của các anh hùng đức tin trong Kinh Thánh, cũng như những sự dạy dỗ sâu xa xuyên suốt những trang Thánh Kinh, nói cho chúng ta rất nhiều về những giá trị. Nếu một con người thành thật cam kết với sự trưởng thành Cơ Đốc, thì những giá trị thiêng liêng phải được theo đuổi. Chương 6 hoàn toàn được cống hiến cho một cuộc thảo luận rộng rãi hơn về các giá trị.
Những Kế Hoạch
4. Các Mục Tiêu
Đối với tất cả những sự chú tâm thiết đặt mục tiêu được nhận lãnh qua phương tiện truyền thông đại chúng, về bối cảnh kinh doanh và trong những cuộc đối thoại cá nhân, mục tiêu là điều vẫn còn tương đối hiếm thấy trong nếp sống của hội thánh cũng như của Cơ Đốc Nhân.
Theo nghiên cứu của tôi, có dưới 1 người trong số mỗi 10 Cơ Đốc nhân lớn tuổi đặt những mục tiêu đặc biệt cho đời sống của họ mỗi năm. Tỷ lệ này không cao hơn nhiều giữa vòng các hội thánh.
Mục tiêu là những cùng đích mà chúng ta mong muốn hoàn thành được trong một khoảng thời gian nhất định. Để một kết quả cuối cùng có thể trở thành một mục tiêu, nó phải có thể đo lường được. Vậy nên, những mục tiêu định rõ một cách tiêu biểu những điều gì phải được hoàn tất trong một số hình thức nào có thể đếm được và đến thời hạn nào là hạn chót. Mục tiêu có thể ám chỉ đến những thực tại về ngân sách, những phương thức nào và ai là người phải dự phần trong việc đạt đến mục tiêu đó.
5. Những Chiến Thuật
Đòi hỏi phải có phương thức đặc biệt để đạt được kết quả của những mục tiêu bạn ao ước hoàn thành. Những phương thức bạn chọn chính là chiến lược của bạn. Những chiến lược hữu hiệu không hình thành trong một khoảng không. Nó phải được liên hệ đến sứ mạng, khải tượng và những mục đích. Bạn có thể có hàng loạt những chiến thuật đối với mỗi một mục tiêu bạn mong hoàn tất. Trung bình, từ ba đến năm chiến lược được chọn lựa.
Những chiến lược là câu trả lời cho câu hỏi của bạn: Làm thế nào tôi có thể đạt được mục tiêu của tôi? Theo đúng tự nghĩa như vậy, những chiến lược không thật sự có thể đo lường được. Mục tiêu của chúng là để đem lại phương hướng trong thời gian ngắn.
6. Cách Xử Trí
Mưu lược là chỗ cao su tiếp xúc mặt đường. Một cách xử trí là điều bạn làm trong một phương lược hợp thời để đạt được mục tiêu của bạn. Cách xử trí là giai đoạn thực hiện. Chúng xuất hiện trong nhiều dạng và nhiều cỡ, bao gồm cả những chương trình, luật lệ và chính sách, những sự kiện, cách truyền thông, mối liên hệ hoặc bất cứ cách cư xử có định ý nào được soạn thảo để đạt đến mục đích của bạn.
Cũng như mỗi một mục tiêu cần phải có nhiều phương lược để thành công, thì mỗi một phương lược cũng cần nhiều cách xử trí. Cách xử trí là những hành động đặc biệt, cụ thể trong đó có con người dự phần. Chúng cần phải nhất quán với phương lược, được khai triển để đạt đến mục đích, nói lên những giá trị của một người, nổi lên từ khải tượng và tương hợp với sứ mạng.
Một cách tiêu biểu, khi chúng ta đánh giá điều một người làm, chúng ta đánh giá bản chất và sự làm trọn qua cách xử trí của người đó. Nó không phải là điều lạ khi có hàng tá hoặc nhiều cách xử trí hơn nữa có liên quan đến một phương lược. Mỗi một cách xử trí được hoạch định để hoàn tất một phần của phương lược mà nó có liên quan. Sự hoàn tất một phương lược riêng lẻ đòi hỏi việc phải hoàn tất nhiều hoạt động theo đường lối xử trí.
Một nhà sách lược vĩ đại là người không những có thể nhận thức một cách khôn ngoan và có phương lược hữu hiệu, nhưng còn là người có thể chia nhỏ phương lược thành nhiều thành tố nhỏ - là những hành động riêng lẻ phải diễn ra để làm trọn phương lược đó. Một phương lược lớn mà thiếu những lối xử trí trong sự hiểu biết rõ và thực hiện đầy đủ thì không hoàn bị.
Mối liên hệ giữa những yếu tố này trong việc hoạch định được minh họa bởi hậu quả của sự thiếu vắng một yếu tố. Một mục tiêu mà không có phương lược, hoặc một phương lược không có những lối xử trí là một quan điểm thiếu lời cầu nguyện.
Sự Chuẩn Bị
7. Các ân tứ thuộc linh
Các ân tứ thuộc linh là điều không thể thấy được, nhưng có thể hiểu được, là sự ban cho năng quyển bởi Đức Chúa Trời đối với các tín hữu cho sự phục vụ đặc biệt.
Kinh Thánh phát biểu rõ ràng rằng mỗi một tín hữu đều có ít nhất là một ân tứ thuộc linh (xem IPhi 1Pr 4:10), và rằng mục tiêu của các ân tứ đó là để giúp cho tín hữu thực hiện ý chỉ của Đức Chúa Trời để làm ích lợi cho những người khác (xem RoRm 12:1, 2; ICo1Cr 12:7). Kinh Thánh liệt kê 27 ân tứ thuộc linh, hầu hết những ân tứ đó có thể thấy trong một trong số năm phân đoạn về ân tứ (xem RoRm 12:6-8; ICo1Cr 12:8-10, 28-30; Eph Ep 4:11; IPhi 1Pr 4:9-11). Bạn có ít nhất là một trong số những ân tứ đó, là phương thức của Đức Chúa Trời để chuẩn bị bạn thực hiện những điều mà với sức lực, sự phát triển và khả năng riêng bạn không thể hoàn tất được.
Các ân tứ thuộc linh cũng là một phương tiện để hình thành một ma trận toán học bổ sung trong Thân Thể của Đấng Christ, để được dùng trong một mạng phức tạp không có mối nối của những nỗ lực ráp nối với nhau để xây dựng hội thánh. Khi bạn cố gắng để làm trọn khải tượng của mình, bạn sẽ có ân tứ hoặc những ân tứ chính xác cần thiết để làm đúng phần việc của mình hầu hoàn tất nhiệm vụ thuộc linh. [4]
Các ân tứ thuộc linh là một phần rất quyến rũ của tiến trình, nếu có thể tranh cãi. Để có một sách vỡ lòng tốt về những ân tứ thuộc linh, bao gồm phần “thử nghiệm ân tứ” để giúp bạn xác định ân tứ hoặc những ân tứ nào Đức Chúa Trời có thể đã ban cho bạn, xin tham khảo sách của C. Peter Wagner với tựa đề Your Spiritual Gifts Can Help Your Church Grow - Những Ân Tứ Thuộc Linh Của Bạn Có Thể Giúp Hội Thánh Tăng Trưởng. (Ventura, Calif.: Regal Books, 1979; revised edition, 1994).
Những Ân Tứ Thuộc Linh Được Nêu Trong Kinh Thánh
Ân tứ quản lý
Sứ đồ
Sống độc thân
Cứu giúp
Ơn phân biệt các thần
Ơn thầy giảng tin lành
Ơn khích lệ hay khuyên bảo
Ân tứ đức tin
Ơn ban phát
Ơn chữa bệnh
Ơn giúp đỡ
Ơn tiếp khách
Ân tứ cầu thay
Ơn thông giải
Ơn lời nói tri thức
Ơn lãnh đạo
Ơn tuận đạo
Ơn thương xót
Ơn làm phép lạ
Ơn truyền giáo
Ơn mục sư
Ơn chịu khổ
Ơn nói tiên tri
Ơn phục vụ hay chức vụ
Ơn thầy dạy dỗ hay giáo sư
Ơn nói các thứ tiếng
Ơn có lời khôn ngoan
8. Các ta lâng
Đức Chúa Trời cũng đã đầu tư vào trong bạn một số khả năng chúng ta gọi là “ta lâng.” Một số người có một ta lâng để xây dựng mối liên hệ, một số khác có thể nói một cách thuyết phục, một số khác có thể thực hiện những chức năng toán học phức tạp. Tầm rộng của ta lâng có thể thấy được trong con người dường như vô tận.
Tuy nhiên, cũng như ân tứ thuộc linh, các ta lâng tự nhiên không dấy lên một cách ngẫu nhiên. Đức Chúa Trời đã hoạch định đặt để bạn ở trong một cung cách có định ý, ban cho bạn mỗi một khả năng và tài nguyên bạn cần có để hoàn tất những mục tiêu của Ngài. Các ta lâng bạn có có thể là “tự nhiên” (đó là sẵn có đối với bạn mà không cần nhiều sự nuôi dưỡng hoặc mài dũa) hoặc chúng có thể được học và phải trang bị một cách khó khăn. Dầu vậy, bạn có một vài ta lâng, điều đó hoàn toàn để dành cho khải tượng của Đức Chúa Trời đối với bạn.
KINH NGHIỆM SẼ CUNG ỨNG CHO BẠN NHỮNG NHẬN THỨC, NHỮNG KỸ NĂNG, VÀ NHỮNG NGUỒN TÀI NGUYÊN ĐỂ CHỨNG THỰC LÀ CẦN THIẾT ĐỐI VỚI KHẢI TƯỢNG, LÀ ĐIỀU BẠN CAM KẾT VÀ THỰC HIỆN.
Những ta lâng đó chỉ là một phương thức khác mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị bạn cho sự làm trọn khải tượng. Nhận biết các ta lâng của bạn có thể giúp bạn đạt được một sự hiểu biết đầy đủ hơn về khải tượng của mình và sẽ chứng thực là vô giá trong khi bạn tiếp tục nỗ lực để hoàn tất khải tượng cá nhân của mình và để thực hiện vai trò của bạn khi theo đuổi khải tượng của hội thánh.
9. Các Kinh Nghiệm
Trải qua cuộc sống của mình, bạn đã có phong phú các cơ hội để thử nghiệm, để gạn lọc cho tinh ròng hơn và để vui hưởng những ân tứ thuộc linh cũng như các ta lâng tự nhiên của bạn. Tác dụng tích lũy về những kinh nghiệm của bạn là để chuẩn bị bạn “thực hiện khải tượng.”
Nó cũng giống như sự thực hành, học và cầu nguyện bao gồm trong việc chuẩn bị cho một lực sĩ tranh tài chẳng hạn như Super Bowl hay là một cuộc tranh tài chọn đội thi quốc tế (World Series). Mỗi một cuộc tranh tài bạn phải chơi đều là một bước tiếp theo để chuẩn bị bạn trở thành một nhà vô địch.
Kinh nghiệm của bạn là phần thiết yếu cho việc chuẩn bị bạn thực hiện điều Đức Chúa Trời đã sặp đặt sẵn bạn làm. Chúng sẽ cung ứng cho bạn những nhận thức, những kỹ năng, và những nguồn tài nguyên để chứng thực là cần thiết đối với khải tượng, là điều bạn cam kết và thực hiện.
Sản phẩm
Chức vụ hữu hiệu
Tại một vài thời điểm trong cuộc đời của bạn, bạn sẽ được sẵn sàng nhận ra khải tượng của Đức Chúa Trời và rồi để xem nó là trọng tâm cho sự hiện hữu của bạn. Tối đa hóa chính mình cho những mục đích của Đức Chúa Trời sẽ đem lại kết quả trong mỗi phần thuộc chín yếu tố mới vừa được mô tả hoạt động một cách hài hòa để giúp bạn chuyển biến trên con đường hầu việc tối hậu.
Ví dụ như: để nhận rõ và hiểu biết sứ mạng, khải tượng và những giá trị của mình sẽ đòi hỏi bạn phải áp dụng một vài ta lâng và khả năng tự nhiên, và cũng có thể rút ra từ những kinh nghiệm trong cuộc đời của bạn. Đạt đến những mục tiêu của bạn sẽ là vấn đề sử dụng các ân tứ và ta lâng, nhưng không hoàn tất cho đến chừng bạn đã triển khai những phương lược và lối xử trí dựa trên hiểu biết của bạn về sứ mạng, khải tượng và các giá trị.
Một khi bạn đã biết những yếu tố này và cách chúng hoạt động nối đuôi nhau, đời sống bạn sẽ là một cuộc nghiên cứu quyến rũ hơn qua những điều phức tạp mà Đức Chúa Trời đã sắp đặt trong mỗi chúng ta để phục vụ cho những mục đích của Ngài một cách hữu hiệu.
Các Yếu Tố Thuộc Bối Cảnh Của Khải Tượng
Viễn cảnh : Sứ mạng, khải tượng, giá trị
Các kế hoạch : Mục đích, phương lược, lối xử trí
Sự chuẩn bị : Các ân tứ, các ta lâng, kinh nghiệm
Sản phẩm : Chức vụ hiệu quả

Coi chừng những cái bẫy
Như bạn có thể đoán biết, bạn sẽ đối diện với một vài cái bẫy.
Một trong số đó là cái bẫy về thuật ngữ. Phải chăng sứ mạng là bức tranh lớn hoặc khải tượng mới là bức tranh lớn? Phải chăng khải tượng cũng giống như sự kêu gọi? Mục đích là gì, khi đối chiếu với sứ mạng hoặc khải tượng? Phải chăng những mục đích là cùng nghĩa với đối tượng?
Tôi đoan chắc rằng sử dụng ngữ vựng như là một loại cạm bẫy là một trong những chiến thuật tinh khôn của Satan để quăng bạn ra khỏi đường đi trước khi bạn có thể thực hiện được một điều ảnh hưởng lớn lao cho Đấng Christ. Thành thật mà nói, những từ ngữ bạn sử dụng để mô tả bất cứ quan điểm nào chúng ta đang nói thì không phải là điều quan trọng; điều thật sự quan trọng là tấm lòng của bạn, sự cam kết của bạn cũng như điều bạn hiểu biết và hành động một cách sáng tỏ.
Những từ ngữ chỉ là những biểu tượng được thiết kế để có một ý nghĩa chung và vì cớ đó cho phép sự truyền thông, khám phá và tiến triển. Vậy bất cứ từ ngữ nào thích hợp sẽ cho phép bạn hiểu biết, yêu mến và phục vụ Đức Chúa Trời với tất cả tấm lòng của mình, tâm trí và linh hồn của mình trong sự hòa hợp với những mục tiêu đặc biệt mà bởi đó Ngài đã sáng tạo bạn.
Một câu trả lời trực tiếp hơn cho mỗi một câu hỏi này cũng đang ở trong thứ tự có sẵn. Cách sử dụng ưu thế của sứ mạng và khải tượng trong thế giới thương mại là cũng giống như điều được sử dụng trong sách này - nói cách khác, sứ mạng là lối nhìn lớn nhất cho lý lẽ của bạn có thể có để hiện hữu, và khải tượng là định nghĩa hẹp hơn về phương thức độc đáo của bạn hầu tạo ra một tương lai đáng ưa thích.
Khải tượng và kêu gọi là điều có liên quan với nhau, nhưng khác nhau. Một sự kêu gọi là điều gì đó mang bản chất nghề nghiệp, một điều gì đó đem lại một ý thức rộng lớn về hướng đi của đời sống ở trong khung sườn tổng quát sứ mạng của chúng ta.
Khải tượng là điều bạn sẽ tìm kiếm để đạt được trong vòng những giới hạn của sự kêu gọi bạn. Ví dụ như chúng ta nói về một con người có sự kêu gọi để làm chức vụ mục sư trọn thời gian. Điều đó thì cụ thể hơn là sứ mạng, nhưng không đặc biệt đủ để suy nghĩ như là khải tượng. Người đã được gọi đến chức vụ có lẽ có một khải tượng về sự phục vụ như là một mục sư để giúp cho những người bệnh nhân AIDS và phát huy một cộng đồng có sự quan tâm giữa vòng những người này. Người đó sẽ thực hiện tình yêu và sự quan tâm mà các bệnh nhân cần và đáng được có, và cố gắng một cách có chủ ý để phục hồi cảm thức của họ về bản thân họ thuộc về một cộng đồng, họ có phẩm cách và có những mối liên hệ gia đình.
“Mục tiêu” là một từ ngữ được sử dụng bởi nhiều giáo phái lớn khác nhau - một giáo phái lớn hơn hết đáng kể là Báptít Nam Phương - là từ đồng nghĩa với sứ mạng.
Những mục đích đã được nói đến một cách khác biệt trong những bối cảnh khác nhau. Đôi khi bạn sẽ nghe mục đích được đề cập đến như là những kết quả mong muốn, và mục tiêu là những kết quả khiến cho có thể đánh giá được. Ví dụ như một mục đích có thể là giúp người ta vượt qua việc nghiện ma túy của họ. Mục tiêu đó có thể là để giúp một trăm người chấm dứt việc nghiện cocain trong vòng mười hai tháng tới.
Đừng để bị trệch hướng bởi những cuộc tranh cãi vô nghĩa về ngôn ngữ. Hãy tập trung vào điều gì thật sự quan trọng: tiếp nhận một suy nghĩ về viễn cảnh của Đức Chúa Trời dành cho đời sống bạn (đó là sứ mạng, khải tượng và những giá trị), có một kế hoạch để hành động (gồm những mục đích, chiến lược, và phương thức xử trí) và tối đa hóa những con đường Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho bạn để phục vụ một cách hữu hiệu trong công trường Cơ Đốc (đó là hiểu biết và tận dụng những ân tứ thuộc linh, những tài năng tự nhiên và những kinh nghiệm quá khứ của bạn).
Kết Hợp Các Khải Tượng
Vậy thì có thể nói nói bạn đã theo được đến đây và đã có thể xác định khải tượng của bạn từ Đức Chúa Trời và đang phấn khởi về sự cống hiến phần còn lại của đời bạn để làm cho nó trở thành sự thật. Điều gì xảy ra khi bạn dự nhóm với hội thánh trong tuần đến và khám phá rằng khải tượng của hội thánh khác với khải tượng của bạn?
Đừng sợ. Chương 9 trả lời cho câu hỏi đó. Nói vắn tắt, bạn cần phải xem xét khải tượng của mình và khải tượng của hội thánh rồi xác quyết xem có lĩnh vực nào của mỗi khải tượng riêng biệt trùng lắp không. Nếu vậy, hãy tập trung làm thế nào tạo ra sự hài hòa bằng cách cho phép những vùng trùng lắp (đó là những điểm giao nhau) để trở nên keo dán giữ cả hai với nhau. Nếu không có những điểm như thế tồn tại, thì lúc ấy bạn có hai điều phải chọn lựa.
Trước hết, hãy nói chuyện với những nhà lãnh đạo của hội thánh đó và cùng nhau tìm kiếm sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời trong việc khám phá một vài điểm trước đó chưa được xác định về phần giao nhau của các khải tượng. Nếu nỗ lực đó không đem lại kết quả một cách thỏa mãn, có lẽ bạn chỉ còn tìm một hội thánh nhà khác, một hội thánh mà có khải tượng về chức vụ rõ ràng có trùng khớp với nhịp tim cá nhân như đã được phản ánh trong khải tượng của bạn.
Sẽ thế nào nếu bạn đang phục vụ trong vòng một hội thánh mà đã phát biểu rõ ràng một khải tượng đến từ Đức Chúa Trời? Trong chức vụ bạn đang dự phần, một trong những chương trình hoặc phân viện, có nên lại phát biểu theo khải tượng khác hẳn không? Lý tưởng nhất là nên, khi nào câu phát biểu về khải tượng đó rõ ràng phụ thuộc vào lý tưởng của hội thánh chung và rõ ràng bổ túc cho khải tượng của hội thánh. Tại sao phải có một câu phát biểu về khải tượng riêng lẽ cho một lớp học, một chương trình, một phân viện hoặc một chức vụ? Bởi vì điều đó giúp làm rõ và tập trung. Nó thêm nhiên liệu cho lòng say mê nhiệt thành. Nó đem lại một cá tánh đặc biệt ở trong thân thể thật. Nếu quản lý một cách đúng đắn, điều này có thể giúp gia tăng hiệu quả và trọng tâm của chức vụ. Trừ phi có nhũng cuộc so tài về năng lực nội bộ đang diễn ra, chứ điều này không nên tạo thành những nan đề.

Các Cơ Đốc Nhân Cấp Tiến
“HÃY CHO TÔI MỘT NGƯỜI NÓI RẰNG ‘TÔI LÀM MỘT ĐIỀU NÀY’ CHỨ KHÔNG PHẢI ‘TÔI NHÚNG TAY VÀO NĂM MƯƠI ĐIỀU NÀY’” D.L. MOODY
Thực thể của khải tượng dành cho bạn trong tư cách một Cơ Đốc Nhân là triệt để vâng theo lời kêu gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống của bạn. Khải tượng không luôn luôn là con đường dễ dàng nhất để bước theo. Việc theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời thường không phải là chọn đại lộ ưa thích nhất hoặc vui vẻ nhất cho cá nhân hướng về một kết quả được cho sẵn. Thậm chí đôi khi, bước theo khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho đời sống chúng ta không phải là lối mòn hữu lý nhất để theo đuổi. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp một sự cam kết vời khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống bạn là lối cư xử phù hợp nhất và một lối hành động đáng trân trọng nhất.
Thánh Kinh đem lại cho chúng ta nhiều ví dụ về cách Đức Chúa Trời xen vào cuộc đời của những kẻ theo Ngài hết lòng nhất và hướng dẫn họ trong những đường lối không mong đợi chút nào. Thông thường, các tín hữu là người tìm kiếm và thực thi khải tượng của Ngài, khám phá thấy nó thật kỳ quặc đối với những ao ước khởi đầu của lòng họ, là điều buộc họ phải định hướng lại những điều ưu tiên.
Các Cơ Đốc Nhân là người cống hiến cho việc thực thi khải tượng của Đức Chúa Trời đối với đời sống của họ thường khám phá rằng những sự chọn lựa của họ đòi hỏi họ phải tránh một vài cơ hội hấp dẫn có sẵn đối với họ trong thế giới này. Thường thì các Cơ Đốc Nhân có khải tượng theo đuổi kế hoạch đặc biệt của Đức Chúa Trời sống trong sự phản đối lại với những điều kỳ lạ. Trong hầu hết các trường hợp, chúng ta thấy rằng những người theo Đấng Christ cam kết với khải tượng của Đức Chúa Trời chịu đựng sự chê cười và lạm dụng như thể đó là những kết quả trực tiếp của điều họ cam kết.
Từ một quan điểm của thế gian, đi theo khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho đời sống của bạn có lẽ không phải là một lối sống hấp dẫn nhất. Những ai cống hiến chính mình để làm cho khải tượng của Đức Chúa Trời trở thành sự thực làm điều đó vì một lý do: Nếu phải làm một điều gì kém hơn sẽ lừa phỉnh Đức Chúa Trời và tạo vật của Ngài. Bất cứ điều gì kém hơn sự vâng lời hoàn toàn với con đường kỳ lạ của Ngài dành cho họ sẽ là ổn định một đời sống kém ý nghĩa, kém trọn vẹn và kém đáp ứng với Đức Chúa Trời.
Những Gương Mẫu Của Thánh Kinh
Chúng ta bắt gặp hết gương mẫu này đến gương mẫu khác của dân sự trong Thánh Kinh là người trưởng thành đức tin đến chỗ đã sẵn sàng từ bỏ chính mình cho Đức Chúa Trời. Tại một vài thời điểm trong cuộc sống mình, chúng ta ý thức rằng đức tin Cơ Đốc là điều gì đó còn ý nghĩa nhiều hơn chứ không phải chỉ có sự cứu rỗi.
Tôi không cố ý làm giảm thiểu tầm quan trọng của sự bảo đảm thuộc linh đời đời. Ơn cứu chuộc là sự ban cho của Đức Chúa Trời đối với chúng ta thông qua cái chết thay thế của con Ngài là Chúa Cứu Thế Giêsu.
Cơ Đốc Giáo không đặt nền tảng trên công lao của chúng ta để nhận được ân huệ của Đức Chúa Trời, bởi vì chính bản chất của chúng ta (là tội lỗi) đã loại trừ khả năng đó. Một con người thánh khiết nhất ở trên thế giới này vẫn là một kẻ thất bại dưới mắt của Đức Chúa Trời trừ phi con người đó đã đầu phục đời sống mình với Chúa Cứu Thế Giêsu và đã nhìn nhận rằng tách rời khỏi Đấng Christ, mình không thể có niềm trông cậy đời đời.
Ai trong chúng ta đã đầu phục đời sống mình cho Đấng Christ và thật sự cho phép Ngài hướng dẫn họ, sử dụng họ theo ý Ngài muốn, người đó đã nhìn nhận rằng tiếp nhận món quà chỉ là một bước hướng về sự trưởng thành của chúng ta trong tư cách là người hết lòng với Đấng Christ.
Một môn đệ thật của Chúa Giêsu không chỉ thỏa lòng với sự vui thích về ơn bảo đảm đời đời. Người theo Đấng Christ thực thụ cam kết tăng trưởng trong một mối liên hệ sâu xa và chân thành với Đức Chúa Trời. Một sự trưởng thành quan trọng của cuộc theo đuổi đó chính là lòng mong muốn chúng ta được trở nên một đầy tớ đáng tin cậy và nghiêm chỉnh hơn của Vua Trời, không phải là phương thức để đạt được tầm cỡ hoặc những điểm thánh thiện của thiên đàng, nhưng là một sự phản ánh của tình yêu sâu xa chúng ta dành cho chính mình Đức Chúa Trời.
Chỉ tiếp nhận sự ban cho đó và vui mừng thì chưa đủ; dấu hiệu của sự trưởng thành là chúng ta khao khát được đầu tư thì giờ trên đất của mình vào những hoạt động nào đáng kể về phương diện thuộc linh. Một ý nghĩa như vậy đến bởi hiểu rõ Ngài đã sáng tạo chúng ta thể nào và làm sao chúng ta có thể sử dụng mọi tài nguyên mà mình sẵn có - thì giờ, năng lực, tiền bạc, các mối quan hệ, vật chất, kiến thức - để bày tỏ kế hoạch tối hậu của Đức Chúa Trời cho loài người. Điều này đòi hỏi sự khám phá và theo đuổi khải tượng của Ngài dành cho chúng ta.
Đời đời là thầy giáo quan tâm và không hề sai lầm, Đức Chúa Trời đã chu cấp những gương mẫu về những con người có khải tượng cho chúng ta xem xét. Trong Thánh Kinh Cựu Ước, tôi đếm được ít nhất 20 người mà chúng ta có thể nghiên cứu, những con người kiên cường với các mục tiêu của Đức Chúa Trời đó bao gồm Ápraham, Giôsia, Giôsép, Giuđa, Môise, Giôsuê, Đêbôra, Ghêđiôn, Đavít, Salômôn, Êxêchia và Nêhêmi.
Tân Ước cũng có nhiều như vậy, đem lại chúng ta một loạt những người chúng ta có khải tượng trải từ Giăng Báp Tít cho đến sứ đồ Phaolô, bao gồm ít nhất 20 người trung thành với đức tin.
Kinh Thánh không dùng từ ngữ “khải tượng” như chúng ta sử dụng ngày nay. [1]
Trong sách này tôi dùng từ ngữ “khải tượng” theo một cách khác với cách dùng của Kinh Thánh về “những khải tượng.” Khi nói về “khải tượng” thì Thánh Kinh liên hệ một cách tiêu biểu đến một hình ảnh trong trí rằng Đức Chúa Trời đang gieo trồng vào trong tâm trí của người tín hữu về một hoàn cảnh đặc biệt. Kinh Thánh bàn luận thể nào các tiên tri có khải tượng, là điều sau đó họ truyền đạt với dân sự như là một phương tiện để cảnh cáo hoặc dạy dỗ họ. Một cách tổng quát, các khải tượng được chu cấp trong Thánh Kinh Cựu Ước (nơi mà hầu hết những khải tượng đó phải khám phá được) là phương tiện phải được sử dụng như một dụng cụ dạy dỗ để tạo ra một mức độ lớn hơn về sự công chính giữa vòng dân sự. Tuy vậy, trong sách này, tôi dùng dạng số ít của từ ngữ - khải tượng - là một sự mô tả về điều kiện tương lai trong đó chúng ta phải cống hiến chính mình. Đức Chúa Trời truyền đạt khải tượng đó cho chúng ta qua những phương tiện khác nhau, một trong số đó có thể là khải tượng giống như trong giấc mơ, nhưng nó không bị giới hạn với phương tiện nầyTuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Kinh Thánh im lặng về tầm quan trọng và tính thiết yếu của khải tượng. Thánh Kinh chưa bao giờ sử dụng từ ngữ “phá thai,” “có thành kiến chủng tộc,” hoặc “tội phạm trí tuệ” cũng không có. Nhưng không có Cơ Đốc Nhân thông minh nào đồng ý rằng lời Đức Chúa Trời không cung ứng một sự hướng dẫn nào về những vấn đề đó. Chúng ta có thể học được những chân lý nền tảng về khải tượng qua việc đánh giá những viễn cảnh và kinh nghiệm của những người có khải tượng mà Đức Chúa Trời đã hình thành, đưa lên và triển khai vào vị trí hành động vì cớ những mục tiêu của Ngài như đã được ký thuật trong Kinh Thánh.
Trong chương thứ nhất, chúng ta đã xem xét hiệu quả của những người có khải tượng mà khải tượng của họ đã được hoạch định để thỏa mãn tham vọng cá nhân hay những ý thích nhất thời của họ. Đối với những người đó, tầm quan trọng đã được quyết định bởi những giá trị riêng của họ, bởi sự ban thưởng mà họ nhận lãnh được từ đời này và những mục tiêu cá nhân của họ dành cho đời sống. Nhưng Thánh Kinh dạy rõ ràng một phương thức lựa chọn và áp dụng hệ trọng đối với khải tượng.
Chúng ta hãy nhìn vào một vài con người đã cống hiến đời sống họ để biến khải tượng của Đức Chúa Trời thành hành động, vì cớ vinh hiển Đức Chúa Trời và kết quả là vì lợi ích của con người.
Ápraham
Ápraham đã ở trong vị trí điều khiển đời sống trước khi Đức Chúa Trời khiến ông chú ý. Được có trình độ học vấn cao và giàu có, Ápraham khó có thể là một người nghèo túng cơ cực, thất bại, cần những phước hạnh đặc biệt của Đức Chúa Trời để vui hưởng ý nghĩa hoặc mục đích trong đời sống. Tuy nhiên, ông đã chọn đi theo Đức Chúa Trời và cống hiến đời sống mình để vâng lời Ngài. Kết quả là ông đã dùng một trăm năm cuối cùng của đời sống mình để tìm kiếm hướng đi của Đức Chúa Trời để làm cho khải tượng này trở thành hiện thực.
Sự Đáp Ứng Ngay Tức Thì
Chúng ta biết rất ít về 75 năm đầu của Ápraham. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng mối liên hệ của ông với Chúa đủ sâu nhiệm đến nỗi khi Đức Chúa Trời truyền đạt với ông khải tượng về tương lai, Ápraham đã làm nhiều hơn chứ không chỉ lắng nghe. Ngay lập tức ông hoàn toàn xác định lại đời sống của mình để vâng phục trọn vẹn theo khải tượng của Đức Chúa Trời cho những năm còn lại của đời ông (xem SaSt 12:1-3).
Vâng lời không phải là một việc làm nhỏ bé. Nó có nghĩa là từ bỏ tất cả những người bà con, những người bạn những người bản xứ của ông, quê hương và mọi sự đang ở trong an toàn và dễ chịu. Kinh nghiệm của Ápraham đã bày tỏ rằng bước theo khải tượng của Đức Chúa Trời luôn luôn kèm theo nó một sự trả giá rất lớn về đời này. Bên cạnh một sự thay đổi lớn lao trong lối sống, chuyện đời ông là một câu chuyện về đổ vỡ những mối quan hệ, khó khăn về vật chất, những thăng trầm về tình cảm, những nghi ngờ và hiểu lầm thỉnh thoảng trong mối liên hệ của ông với Đức Chúa Trời.
Con Đường Đó Không Phải Là Không Hề Có Đau Khổ
Một đời sống dựa trên khải tượng tập trung vào việc thực thi tương lai siêu việt, nhưng nó không nhất thiết có nghĩa là con đường thẳng đến tương lai đó phải nhanh chóng và không hề có đau đớn. Chúng ta thường cho rằng Đức Chúa Trời muốn mình phải thành công theo từ ngữ của chúng ta. Trên thực tế, gương mẫu về những người có khải tượng trong Thánh Kinh cho thấy Ngài muốn chúng ta phải thành công theo nghĩa của Ngài. Thành công theo mắt của Chúa, có nghĩa là vâng lời tuyệt đối với khải tượng của Ngài và với những đường lối Ngài.
Đối với Ápraham, theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời kéo theo những sự bất đồng ý kiến trong gia đình và sự chết, chịu đựng sự hoàn hảo của Đức Chúa Trời nhưng là công lý đau thương, dự phần trong những cuộc giao tranh về quân sự đẫm máu, thiết lập một nghi lễ đau đớn để bày tỏ sự lệ thuộc về phương diện thuộc linh với Đức Chúa Trời (đó là phép cắt bì), tố cáo sự đồi trụy về tình dục trong những vui thú của dân sự và đối đầu với tội lỗi của dân sự về những sự vi phạm và những điều thiển cận khác (xem 13:1-7; 14:1-24; 16:1-16; 17:1-17: 18:1-33).
Tuy nhiên, Ápraham vẫn còn tập trung vào khải tượng đó (là tuyên bố sở hữu một vùng đất mới cho một dân sự mới là những người sẽ trở thành người có quan hệ họ hàng về phương diện thuộc linh với Đức Chúa Trời toàn năng). Đức Chúa Trời đã chúc phước cho những nỗ lực của ông trong sự vâng lời.
Ápraham Vẫn Giữ Sự Khiêm Nhường
Gương mẫu Ápraham để lại cho chúng ta bao gồm một nhân tố quan trọng khác: sự tiếp tục giữ mình khiêm nhường trước Đức Chúa Trời. Nhiều lần trong khi giao tiếp với Đức Chúa Trời, ông đã xây dựng một bàn thờ và thờ phượng Ngài (xem 12:7-13: 22:9). Về phương diện đó chứa đựng một sự khác biệt quan trọng giữa những người theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời và những người sống để đem khải tượng riêng của họ đến chỗ thành tựu.
Kinh Thánh không chu cấp nhiều tư tưởng trực tiếp vào sự phát triển thuộc linh của Ápraham. Tuy nhiên, qua sự nghiên cứu cách cư xử của ông, chúng ta có thể biết tấm lòng của ông là thế nào. Tại sao Đức Chúa Trời đã chọn Ápraham? Một lý do chính yếu đó là Ápraham đã thực hành một cuộc đời lâu dài và thờ phượng Đức Chúa Trời - đó là dấu chứng rõ ràng về một người lãnh đạo hữu ích - là một người mà với người đó khải tượng của Đức Chúa Trời sẽ được thực hiện một cách chuyên cần và an toàn.
Ápraham đã không sống lâu dài hơn với khải tượng đó, cũng như nhiều người lãnh đạo có khải tượng khác. Mặc dầu ông đặt mắt mình vào mục tiêu, ông đã đem dân sự của mình đến bên bờ của mục tiêu, nhưng đã không kinh nghiệm một cách cá nhân sự ứng nghiệm hoàn toàn khải tượng của Đức Chúa Trời. Dầu vậy, Ápraham đã không thất vọng bởi vì dấu hiệu thật của một người có khải tượng không phải là đạt đến điểm tối hậu mà là đạt được sự tăng trưởng và trọn vẹn trên cuộc hành trình.
Là Một Thành Viên Trong Nhóm Những Người Nổi Danh
Ápraham là một trụ cột trong nhóm những người có khải tượng được biết đến. Chúng ta biết ông với tên gọi “cha của Ysơraên,” ông là một nhà lãnh đạo đầu tiên cho dân sự Đức Chúa Trời sau cơn đại hồng thủy và là một trong những tổ phụ của đức tin Do thái-Cơ Đốc giáo. Tầm cỡ của ông được chứng thực bởi việc ông có tên trong danh sách “những anh hùng đức tin” ở Hêbơrơ 11. Nếu không có sự lãnh đạo của ông và gương cam kết với khải tượng không nao núng, lịch sử con người hẳn đã hoàn toàn khác biệt.
Môise
Môise là một bài học ngược lại. Ông đã được sinh ra cho cặp cha mẹ người Do thái, nhưng đã được nuôi dưỡng bởi nhà cầm quyền Aicập. Ông đã là người được Đức Chúa Trời lựa chọn trong thời điểm đó, tuy vậy ông đã giết một người đồng quốc ngay trước khi ông được lựa chọn bởi Đức Chúa Trời. Là một người được giáo dục đầy đủ, hướng dẫn một
MÔISE ĐÃ NẮM LẤY KHẢI TƯỢNG ĐÓ, TUYÊN BỐ KHẢI TƯỢNG RA RÕ RÀNG, THỰC THI KHẢI TƯỢNG DỰA TRÊN ĐỨC TIN VÀ TRỌN CẢ TẤM LÒNG CẬY TRÔNG NƠI MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI QUYỀN NĂNG VÀ YÊU THƯƠNG.
đoàn các gã chăn chiên và một dân sự không được học hỏi. Ông thiếu lòng tự tin về khả năng nói trước công chúng, tuy nhiên chúng ta biết ông qua những lời tuyên bố chính thức của ông cho dân Ysơraên và những kẻ thù của họ. Chức vụ của Môise có lẽ phải được xem như một nỗ lực kiếm được quân bằng giữa sự khó thương và lòng thương xót đối với dân sự (XuXh 2:1-10, 12; 4:10).
Tầm quan trọng của Môise không thể tự xem nhẹ. Ông đã là con người được Đức Chúa Trời chọn lựa cho thời điểm đó, không còn có thể bàn cãi gì thêm nữa, được chọn lựa để hướng dẫn dân sự đi vào Miền Đất Hứa. Cuộc hành trình đã là một thời để tôi luyện những tấm lòng của dân sự, nhưng Môise đã bền bỉ tìm cách bày tỏ sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, điều Ngài trông đợi và sự thành tín của Ngài đối với một dân sự hay phàn nàn, phạm tội, nghi ngờ và bất trung.
Nhận Được Khải Tượng Về Một Vùng Đất Hứa
Tại sao Môise là một người con nuôi của Pharaôn, được giáo dục kỹ lưỡng và giàu có, lại từ bỏ cuộc sống của mình vốn dễ chịu và vui thú để hướng về việc lãnh đạo dân sự của ông qua nhiều thập niên đầy khó khăn? Bởi vì Đức Chúa Trời đã ban cho ông khải tượng về một cuộc sống mới trong một vùng đất đượm sữa và mật, qua đó họ có thể được tự do không còn bị áp chế và được kết nối với năng quyền vĩ đại nhất trong vũ trụ. Môise đã nắm lấy khải tượng đó, tuyên bố khải tượng ra rõ ràng và thực thi khải tượng dựa trên đức tin và trọn cả tấm lòng cậy trông nơi một Đức Chúa Trời quyền năng và yêu thương.
Câu chuyện Môise là một tiểu sử vắn tắt rất hấp dẫn trong lĩnh vực lãnh đạo có khải tượng. Nhìn nhận những trở ngại. Ông đã xin Đức Chúa Trời ban cho ông một người đồng hành để có thể bù lại cho sự yếu kém mình mà bản thân ông cảm nhận được trong vấn đề phát biểu trước công chúng và đã được ban cho Arôn. Cuối cùng, lại trở thành một nỗi phiền muộn lớn cho Môise. Arôn đã chứng tỏ là một cái neo thuộc linh hơn là một người lãnh đạo thuộc linh, thường xuyên đem những chân lý và nguyên tắc của Đức Chúa Trời ra thỏa hiệp để đạt được sự ủng hộ của dân sự. Người bạn đồng hành mà Môise đã cần đến như là một nguồn sức mạnh thì cuối cùng trở thành nguyên nhân của sự thất bại (xem 4:10-16; 32:1-4).
Những Trở Ngại Gia Tăng
Arôn không phải là trở ngại duy nhất trên con đường của Môise. Mặc dầu đã được Đức Chúa Trời kêu gọi để hưởng phước hạnh đặc biệt của Ngài, dân Ysơraên đã không mạnh mẽ trong đức tin, họ phàn nàn liên tục, nghi ngờ và chống nghịch lại Đức Chúa Trời (và Môise). Cha nuôi của Môise, Pharaôn của Aicập đã khước từ lời yêu cầu của Môise xin sự tự do để ra đi, buộc lòng Môise phải công bố 10 tai họa Đức Chúa Trời hướng dẫn ông gởi đến nghịch cùng nhà cầm quyền Aicập và dân sự của hắn (xem 5:21; 7:1-1:10; Dan Ds 14:1, 2).
Sau đó, Môise đã phải dẫn dắt dân sự chạy trốn trong khi bị rượt đuổi bởi quân đội Aicập. Dân sự của Đức Chúa Trời sau đó sống trong một sa mạc kéo dài nhiều thập niên, tồn tại nhờ vào một thứ gì đó kém hơn là thức ăn của người sành điệu và không có ý thức thực sự nào về phương hướng hoặc thời điểm hoặc chiến thắng sắp đến. Chính mình Môise đã bị cấm không được bước vào miền đất hứa bởi vì ông không vâng lời Chúa (xem 14:1-25:21; Dan Ds 13:17-36:13; PhuDnl 34:4).
Dầu vậy, thật lạ lùng, Môise vẫn là người lãnh đạo cho dân sự và đã đem họ đến càng gần hơn với mục tiêu tối hậu. Ông đã được thúc giục bởi khải tượng của mình để phục vụ Đức Chúa Trời thay vì nhượng bộ theo ước muốn của dân sự hoặc để đi theo những tham muốn cá nhân của mình.
Ý chí riêng của Môise đã tan biến, điều đó cũng diễn ra với mọi người lãnh đạo có khải tượng mà chúng ta thấy trong Kinh Thánh, và niềm đam mê mới được lập của ông về tương lai đã đồng nhất với ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho cuộc đời Môise. Mọi sự đòi hỏi đối với Môise là phải đầu phục những giấc mơ, tham vọng và những mục đích cá nhân của mình để hướng về những điều được chu cấp một cách siêu nhiên bởi Đức Chúa Trời.
Khải Tượng Không Phải Là Một Tiến Trình Đơn Giản
Tôi thích câu chuyện về Môise bởi vì nó mô tả cho chúng ta rằng khải tượng không luôn luôn là một tiến trình đơn giản của việc lắng nghe Chúa, chấp nhận và bước theo khải tượng. Trong Xuất Êdíptô Ký 3 và 4, chúng ta đọc thấy thể nào Môise đã tranh cãi về khải tượng với Đức Chúa Trời. Sự cộng tác với Arôn bày tỏ cho chúng ta rằng một người có khải tượng có thể không được hữu hiệu chỉ vì sự truyền đạt khải tượng, như điều Arôn đã được trông đợi, nhưng vẫn phải sống cho hòa hợp với khải tượng đó.
Con đường Môise hướng về đất hứa đầy dẫy những sự mặc khải khi Đức Chúa Trời chia sẻ nhiều phần nhỏ của những mục đích riêng biệt và lối xử trí để làm việc nhận thức khải tượng được dễ dàng hơn. Những nhận thức tiệm tiến đó đã có thể đến với Môise một cách dễ dàng chỉ vì mối giao thông bền đỗ và đầy nhiệt huyết của Môise với Đức Chúa Trời, vị lãnh đạo vô song của ông.
Giôsuê
Giôsuê chu cấp một hình ảnh hoàn toàn khác biệt về việc lãnh đạo có khải tượng. Đức Chúa Trời đã ban cho Môise khải tượng. Giôsuê thừa hưởng khải tượng đó, trong một trạng thái được tinh luyện và đã được kêu gọi để hoàn tất công việc của Môise, vị tiền bối và là nhà cố vấn của ông (Gios Gs 1:1-4).
Bởi vì Môise đã phạm tội (Dan Ds 20:10) và không còn xứng đáng bước vào nơi ở mới của hy vọng và tự do, trách nhiệm lãnh đạo được chuyển giao cho Giôsuê. Điều này làm tôi chú ý tương tự như chuyển giao ngọn đuốc lãnh đạo từ một mục sư đến một mục sư khác giữa vòng nhiều hội thánh của chúng ta. Trong trường hợp đó, khải tượng từ Đức Chúa Trời được dự định dành cho hội chúng - chứ không phải cho mục sư - và sự ra đi của một nhà lãnh đạo cấp cao không phủ nhận khải tượng đó, nhưng chỉ chuyển giao sự lãnh đạo khải tượng cho một người đáng tin cậy khác giữa vòng vương quốc của Ngài.
Khải tượng có thể được tinh luyện
Kinh nghiệm của Giôsuê cho thấy rằng khải tượng có thể được tinh luyện trong một thời gian nào đó. Khi Môise bắt đầu lãnh đạo người Ysơraên ra khỏi Aicập và đi vào vùng sa mạc, khải tượng chủ yếu của họ là rời khỏi một chỗ để đi đến một chỗ khác để kinh nghiệm vinh hiển và phước hạnh của Đức Chúa Trời trên tiến trình đó.
Trải qua thời đại của Giôsuê, khải tượng được thêm vào một chiều kích khác: quét sạch vùng đất qua sự chinh phạt và định cư quân sự. Thường cốt lõi của khải tượng vẫn được duy trì không thay đổi, nhưng những điểm tốt của việc thực hiện khải tượng có thể được thay đổi rất nhiều hầu đáp trả với cách dân sự Đức Chúa Trời đáp ứng lại với Ngài và khải tượng của Ngài qua dòng thời gian. Thật ra phương hướng chung của khải tượng trong sự lãnh đạo của Giôsuê đã chuyển từ chỗ đạt được tự do thoát khỏi áp bức (xem XuXh 3:7-10) đến chỗ tìm đạt sự yên nghỉ trong một nơi ở mới (xem Thi Tv 95:11).
Tương tự những những nhà lãnh đạo có khải tượng, Giôsuê phải trình bày những rào chắn chủ yếu cho việc thực thi khải tượng cách thành công. Trước hết, ông không chỉ thừa hưởng một khải tượng thôi, mà còn thừa hưởng một nhóm những kẻ đi theo ông là những người có khuynh hướng đa thần. Thứ nhì, ông đã là người lãnh đạo chuyển khải tượng đến với một nhóm người là những tội nhân đã lâu năm. Chừng ấy cũng chưa đủ cho nên Đức Chúa Trời đã ban chứng cứ về chính mình Ngài nhiều lần thông qua những huấn lệnh cho Môise và rồi đến Giôsuê. Thứ ba, cách cư xử lừa dối của Acan đã khiến cho Ysơraên phải chịu một sự thối lui về quân sự bất ngờ và không cần thiết trên đường đi đến chiến thắng tối hậu (xem Gios Gs 7:1-26).
Mục Đích: Để Minh Họa Đức Thánh Khiết
Trong mọi hoàn cảnh, quyết định của Giôsuê là minh họa đức thánh khiết đã ban khả năng cho ông để giúp quốc gia này vượt qua được những sự kém thiếu của họ và để được phục hồi dưới mắt Đức Chúa Trời. Giôsuê đã không để cho khải tượng chết đơn giản chỉ vì sự thiếu hiểu biết, cứng đầu và cứng lòng của dân sự. Ông đang ở trên đường hướng về điều gì đó lớn hơn và tốt hơn bất cứ điều gì mà những người này đã từng có thể tưởng tượng. Giôsuê đã được khải tượng của Đức Chúa Trời nắm giữ, và không điều gì cản trở ông khỏi sự biến nó thành hiện thực.
Vẻ đẹp của câu chuyện Giôsuê là nó bày tỏ đặc điểm cần để trở thành một người có khải tượng thật sự. Giôsuê đã minh họa lòng can đảm trong khi đối diện với nguy hiểm. Ông đã bày tỏ đức tính suy nghĩ và phục vụ có chiến lược. Trên hết, ông đã phản ánh ảnh hưởng của sự vâng lời tuyệt đối.
Kinh Thánh nói cho chúng ta Giôsuê đã là một nhà quân sự có chiến lược và chiến sĩ vĩ đại thế nào, nhưng cũng xác định rằng thiếu năng quyền và sự chúc phước của Đức Chúa Trời, Giôsuê hẳn đã còn nhỏ bé hơn là một điểm ghi chú trong lịch sử cổ đại. Điểm khác biệt giữa tình trạng giữa một người lính tinh luyện và một nhà lãnh đạo vĩ đại để lại di sản vĩnh hằng chính là sự hiểu biết, truyền đạt và sát sao theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời.
Giôsia
Ysơraên có rất nhiều vua. Giôsia đã là một trong những vị vua vĩ đại nhất, giữa vòng một số ít người được biết đến của Ysơraên. Mặc dầu ông tiếp nhận ngai vàng lúc 8 tuổi và đã nối tiếp nửa thế kỷ cai trị kinh khủng của cha ông là Manase, Giôsia có lẽ đã là vị vua đạo đức nhất trong lịch sử được kiểm định của Ysơraên (xem IIVua 2V 22:1-23:30).
Vào khoảng thời gian ông đang ở giữa lứa tuổi thiếu niên, vị “vua trẻ” này đã nhận thức được khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho vương triều của ông: đó là phục hồi Đức Chúa Trời của Ysơraên lên ngôi của nền văn hóa này qua sự thờ phượng thanh sạch, qua sự hủy phá tất cả mọi di tích của sự thờ phượng hình tượng, qua sự phục hồi Đền Thờ và một sự nhiệt thành nhấn mạnh lối sống công chính.
Để hiểu được đây đã là một khải tượng bất ngờ thế nào, chúng ta cần nhớ lại sự đồi bại thuộc linh và luân lý lan tràn khắp nơi đã chiếm ưu thế trải qua triều đại của Manase (xem 21:18), nó đòi hỏi lòng can đảm và ý chí quyết định đáng kinh ngạc không những chỉ để phản đối những thói quen làm gian ác của vua cha Giôsia, mà cũng để đối đầu với những kẻ lạm quyền, những món lợi được hưởng và tình trạng hư hoại dễ chịu của thời bấy giờ. Tôi chưa từng biết một người mười sáu tuổi nào lại có được một sự can đảm và tính chịu đựng như vậy.
Lời giải thích duy nhất cho sự can đảm này là Giôsia được đối mặt với Đức Chúa Trời hằng sống, kết quả là lòng mong ước không bao giờ có thể thỏa mãn được để được biết Ngài và hầu việc Ngài một cách sâu xa và thanh sạch nhất của một con người. Giôsia đã hiểu rằng Ysơraên đang chiến đấu một trận chiến thất bại khi thách thức Đức Chúa Trời của họ. Ông đã tận hiến đời mình để tìm được cho quốc gia này sự hòa thuận với Đức Chúa Trời.
Những Sự Cải Cách Được Thực Hiện
Trong triều đại của mình, Giôsia đã thiết lập vô số cuộc cải cách tôn giáo, phục hồi hệ thống công lý và hướng dẫn dân sự đến một lối sống mới phản ánh được sự công chính mà Đức Chúa Trời đòi hỏi. Câu chuyện thuật về ông gia tăng khi ông đã hủy phá những hình tượng và các bàn thờ ngoại giáo, nhắm mục tiêu thúc đẩy tái phát triển Đền Thờ và hướng dẫn dân sự trong những cuộc thờ phượng tôn giáo vĩ đại và trong sự đổi mới công khai giao ước của dân tộc nầy đối với Đức Chúa Trời.
Giôsia đã một mình chịu trách nhiệm về một trong những cuộc cải cách tôn giáo lớn nhất lịch sử loài người. Những nỗ lực của ông quá chân thành đến nỗi Đức Chúa Trời đã ngưng lại không hủy diệt Giuđa vì cớ sự gian ác của nó. Một trong những bài học lớn từ đời sống của Giôsia đó là trở lại với Đức Chúa Trời không bao giờ là quá trễ cho dù cuộc sống của chúng ta đáng khinh miệt đến đâu chăng nữa.
Câu chuyện về Giôsia cho chúng ta một vài điều khác về những người có khải tượng. Mặc dầu Giôsia đã hoàn toàn mãi mê trong sự phục vụ Đức Chúa Trời và làm một nhà lãnh đạo có khao khát muốn làm sự công chính và sự ngay thẳng, dân sự đã tuân giữ và đi theo gương mẫu của ông, nhưng tấm lòng của họ chưa hề được thay đổi. Đến khi ông chết, chỉ mới 31 năm sau khi lên ngôi, dân sự đã quay trở lại đường lối đen tối đến nỗi đã làm cho triều đại cai trị của Giôsia trở thành không thể tin được.
Khải Tượng Phải Được Chia Sẻ
Đáng buồn thay, chúng ta học được rằng một người có khải tượng mà không thuyết phục được dân sự một cách đầy đủ thì làm cho họ một sự bất công. Những văn kiện lịch sử giải thích rằng dân sự đã chịu cảm động bởi lòng nhiệt thành sốt sắng của Giôsia. Ông đã là một nhà lãnh đạo đầy ân tứ, thuyết phục được dân sự cải cách dựa trên sức mạnh của sự cam kết ông có đối với Đức Chúa Trời. Dân sự đã không thật sự hiểu lòng tận hiến của ông đối với Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, nhưng họ đã đồng ý với những từ ngữ của ông về sự cải cách bởi vì họ trân trọng đức tính và ý định của ông. Tại thời điểm cái chết của Giôsia, họ đã trở lại với những điều gì có vẻ tự nhiên cho con người - ích kỷ, vô thần và cuộc sống tội lỗi - bởi vì họ chưa từng thật sự nắm vững những động cơ nhấn mạnh khải tượng của ông.
Việc Giôsia theo đuổi khải tượng không phải là vô ích. Nhiều cuộc sống của dân sự đã được thay đổi hoàn toàn để được tốt hơn nhờ những cải cách của Giôsia. Hàng ngàn người đến gần những sự tìm kiếm một Đức Chúa Trời chân thật của riêng họ và mong muốn cá nhân họ để sống đời sống công chính, họ đã có thể loại suy những lý do đằng sau khí chất riêng của Giôsia. Tuy nhiên, điều có thể trở thành một cuộc cách mạng về đức thánh khiết, chỉ trở thành một giờ tạm nghỉ trong một phong trào kéo dài đầy khốn khổ vì sự thất bại của Giôsia trong công tác thuyết phục về khải tượng.

Nêhêmi
Mỗi nhóm có trọng tâm thuộc linh của nó và những biểu tượng về sức mạnh và sự đoàn kết của nó. Đối với người Do thái trong thế kỷ thứ năm TC., trung tâm thuộc linh của họ là Giêrusalem; biểu tượng của sự hiệp nhất và sức mạnh của họ là ngôi Đền Thờ này (xem Nêhêmi 11-13).
Trong vòng 7 thập niên, đền thờ này đã bị không được sửa chữa. Điều kiện thuộc linh của những người Giuđa cũng không có gì tốt hơn. Cho đến lúc được Nêhêmi chú ý, là một người Do thái phục vụ trong tư cách bạn tâm tình đáng tin cậy của vua Ạttaxétxe, điều này đã làm đau xót tấm lòng của ông. Ông đã khóc về sự tàn tạ của dân sự Đức Chúa Trời và tìm kiếm sự hướng dẫn từ nơi Chúa qua một thời gian dài cầu nguyện và kiêng ăn. Ông đã tìm ra, nhìn thấy khải tượng từ nơi Đức Chúa Trời về cách nào để phục vụ Vua thật của ông một cách thích hợp nhất. Đức Chúa Trời trả lời bằng việc ban cho ông một khải tượng đã có thể thay đổi đời sống của hàng triệu người đời đời.
Khải Tượng Dẫn Đến Sự Phục Hồi
Khải tượng đã xuất hiện dành cho quốc gia Ysơraên một sự phục hồi toàn diện, khởi đầu bằng sự tập hợp dân sự của Đức Chúa Trời để xây dựng lại tường thành và các cổng của Giêrusalem, nhờ đó làm thuận lợi những cuộc cải cách tôn giáo và sự phục hưng tâm linh của người Do thái.
CÂU CHUYỆN CỦA NÊHÊMI CÓ LẼ ĐEM LẠI CHO CHÚNG TA TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU RÕ RÀNG NHẤT VỀ MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO CÓ KHẢI TƯỢNG TRONG HÀNH ĐỘNG.
Điều này có vẻ đơn giản, nhưng hãy nhớ rằng Ysơraên đang là một dân tộc bị tan lạc tại thời điểm này. Họ thiếu một nhà lãnh đạo thuộc linh, một trọng tâm thuộc linh và một mục tiêu thuộc linh. Ý tưởng gom góp những tài nguyên cần thiết - những con người có khả năng, tiền bạc, vật liệu xây dựng, bảo đảm về vật chất và lòng nhiệt thành tin tưởng - có vẻ là điều lố bịch, ngớ ngẩn.
Đó là lý do chúng ta không bao giờ có thể hy vọng gặp được thay đổi đáng kể trong thế giới này dựa trên nền tảng khải tượng của con người. Những nỗ lực của chúng ta sẽ không bao giờ được chu cấp một cách đầy đủ hoặc được tập trung để duy trì nỗ lực cần thiết tạo ra sự thay đổi lâu dài có ý nghĩa. May thay, Đức Chúa Trời đã chuẩn bị Nêhêmi cho thời khắc lịch sử này, và Nêhêmi đã sẵn sàng liều bỏ mọi sự - từ địa vị nhàn hạ của ông trong cung điện cho đến mạng sống của ông - để theo đuổi thách thức đáng nản lòng này và cũng chính là thách thức được Đức Chúa Trời cảm động.
Bày tỏ đức tin mãnh liệt, lớn lao và tài khéo con người đáng ca ngợi, Nêhêmi đã hướng dẫn tiến trình tái xây dựng. Ông đã thúc giục dân sự trên nền tảng khải tượng, không những chỉ bởi việc tái xây dựng lại một tòa nhà, mà bởi hồi phục lại lòng tự trọng và mục tiêu thuộc linh của người Do thái. Ông tích lũy sự phong phú về tài năng và các nguồn tài nguyên có cần để hoàn tất nhiệm vụ, và ông làm điều đó bất kể những sự đe dọa về chính trị mà một cộng đồng Do thái hiệp nhất hẳn phải tiêu biểu.
Nêhêmi đã điều khiển một cách đầy khả năng lãnh đạo qua một điều kiện hỗn độn đầy những lời chỉ trích, đe dọa và thách thức cá nhân. Ông đã tổ chức và ủy thác tốt đẹp và hiệu quả. Ông phải đối đầu với những sự nghi ngờ của Ysơraên và những kẻ thù để tạo ra một bối cảnh hòa bình, cho phép những người thợ có thể hoàn tất được dự án. Khó có thể tin được, những bức tường thành đã được xây lại chưa tới hai tháng. Và rồi đến một nhiệm vụ càng gian khổ và nhiều ý nghĩa hơn nữa, đó là việc tái xây dựng lại những đời sống thuộc linh của người Do thái.
Một Nhà Khải Tượng Trong Hành Động
Câu chuyện của Nêhêmi có lẽ đem lại cho chúng ta một trường hợp nghiên cứu rõ ràng dứt khoát nhất về một nhà lãnh đạo có khải tượng trong hành động. Nó khởi đầu với những dữ liệu thông tin về điều kiện của thời bấy giờ. Cho thấy về thực tế, Nêhêmi đã tra xét trọng tâm đời sống của ông và được thúc giục quì gối trong sự tha thiết cầu nguyện.
Khi Đức Chúa Trời đã trả lời sự cầu nguyện của ông, Nêhêmi tràn ngập với khải tượng, cống hiến sự chú tâm đầy trọn và mỗi một nguồn tài nguyên ông có thể tập trung cho sự làm trọn khải tượng đó. Ông phải vượt qua nhiều trở ngại thách thức một cách đa dạng đối với người có khải tượng bằng những sự đáp ứng và khéo léo đến từ sự dựa nương nơi lời cầu nguyện. Khải tượng này có năng quyền bởi vì nó đã đến từ Đức Chúa Trời, bởi vì nó đã được chúc phước bởi Chúa và bởi vì Nêhêmi hoàn toàn cam kết thực thi nó. Thực tại sau này đã được phơi bày bởi lòng nóng cháy, qua đó ông đã dốc lòng vào việc thực hành ngay lập tức.
Một trong những đức tính nổi bật của Nêhêmi cũng như những người có khải tượng trong Kinh Thánh mà chúng ta gặp biết, đó là ông đã được thúc giục đến sự công chính. Giống như Ápraham, Nôê, Đavít, Giôsia, Giôsuê, Nêhêmi đã là một tạo vật bất toàn cố gắng trở nên thánh vì cớ sự vinh hiển của Đấng Sáng Tạo mình. Dân sự đã được chinh phục bởi khải tượng mà Nêhêmi đã tuyên bố, phần vì ông quá bảo đảm về nguồn gốc của nó và cũng quá xác quyết trông thấy nó được làm trọn. Ông không chỉ kêu gọi dân sự đến chỗ hành động, mà ông còn hướng dẫn họ vào hành động thích hợp nữa.
Phierơ
Mặc dầu Phaolô được chứng thực là người khởi xướng nổi bật nhất của các hội thánh đầu tiên trong lịch sử Cơ Đốc, sự thật Phierơ đã là người gieo trồng hội thánh đầu tiên. Khải tượng của Đức Chúa Trời, thấm nhuần trong lòng ông là tạo ra một cộng đồng thật sự gồm những tín hữu tại Giêrusalem.
Vì đã được cố vấn về phương diện phát triển thuộc linh trong ba năm bởi Chúa Giêsu, Phierơ đã thực hiện việc tổ chức một gia đình thuộc linh có thể làm tiêu biểu bởi những thuộc tính cốt lõi của nó: chia sẻ, học hỏi, giúp đỡ, thờ phượng, truyền giáo, cầu nguyện và yêu thương. Đến cuối Công vụ 2, chúng ta khám phá một cộng đồng như thế bao gồm những người sốt sắng cho Đấng Christ. Hội chúng đó đã trở thành hội thánh mẹ của tất cả hội thánh Cơ Đốc tương lai trên toàn thế giới.
Can Đảm Và Tập Trung Vào Một Mục Đích
Dựa trên những hành động mạo hiểm của ông với Chúa Giêsu, Phierơ được nhiều người biết đến về lối cư xử bốc đồng hấp tấp của ông (xem Mat Mt 16:22). Tuy nhiên trong một phần thảo luận về khả năng của Phierơ để đẩy mạnh khải tượng của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể bỏ qua một vài phẩm chất hữu ích hơn nữa của ông, chẳng hạn như tinh thần tập trung vào một mục đích và sự can đảm của ông một khi biến cố Phục Sinh đã diễn ra.
Người ngư phủ vĩ đại này đã bỏ tất cả những sự sợ hãi tự nhiên và mối quan tâm riêng của mình qua một bên, trong một sự tập trung giống như tia lazer vào việc tạo ra một hội chúng các Cơ Đốc Nhân tại Giêrusalem, đến nỗi không tránh né những trách nhiệm của mình để vươn ra cũng không trở thành lạc hướng trong những cơ hội của hội thánh để phục vụ cho nhu cầu thuộc linh, vật chất và tình cảm lẫn nhau.
Lối cư xử có khải tượng của Phierơ là truyền cảm hứng. Trong một vài trường hợp, chúng ta thấy con người xưa kia hèn nhát nay liều cả mạng sống mình qua sự vâng lời hoàn toàn của ông vì khải tượng (xem Cong Cv 5:29).
Trong những trường hợp khác, chúng ta quan sát thấy Phierơ khước từ an nghỉ trên chiến thắng của mình như là một người trong vòng thân thiết với Chúa, hoặc như là một phát ngôn viên sáng chói cho hội thánh lúc mới nẩy sinh. Thay vào đó, ông đã bày tỏ sự khiêm nhường, chính trực và một mong muốn về sự tăng trưởng thuộc linh sâu nhiệm hơn (xem Công vụ 10,11).
Phierơ đã trưởng thành, trở nên một người Đức Chúa Trời có thể tin cậy giao thác một khải tượng là trung tâm cho sự khởi sinh một cộng đồng đức tin có tổ chức.
Phaolô
Tìm kiếm sự tha thứ là một điều. Còn từ bỏ một con người bắt bớ hàng đầu của dân sự trở nên một người chống đỡ, biện hộ và là người huấn luyện cho họ lại là một điều khác. Sau khi Đức Chúa Trời đã được có sự chú ý của Saulơ thành Tạtsơ, một sự biến chuyển đã diễn ra. Phaolô trở thành một trong những nhà truyền giáo kết quả nhất của mọi thời đại, tạ ơn về sự hiểu biết của ông đối với khải tượng Đức Chúa Trời dành cho đời sống ông.
Không ai biết sự thay đổi trong đời sống của ông diễn ra thế nào trong những năm ngay sau khi Phaolô được gặp gỡ Đấng Christ trên con đường đi Đamách. Dầu vậy đã nghiên cứu những người có khải tượng và cách hành xử của họ, giả thuyết của tôi là trong ba năm Phaolô đã ở trong đồng vắng ngay sau khi ông trở lại đạo, là thời gian ông tìm kiếm Đức Chúa Trời trong sự nhiệt thành nhất, sau đó ông đã xuất hiện với một khải tượng tìm kiếm những người chưa được tìm kiếm bên ngoài Giuđê và Samari (xem Cong Cv 9:1-8; GaGl 1:18).
Người Gieo Trồng Hội Thánh Đầu tiên
Luôn luôn nhiệt thành về bất cứ lý lẽ nào mà ông đã tin, Phaolô trở lại từ sa mạc mạnh mẽ và được thúc giục vẫn như bao giờ. Điều hấp dẫn đó là bản chất sự dấn thân của ông từ kinh nghiệm sau khi ở sa mạc. Điều này khác biệt với những gì đã được người ta trông đợi.
Được ban cho bối cảnh của ông - một người lãnh đạo năng động có hướng thăng tiến giữa vòng người Giuđa, có trình độ học vấn cao, có lòng mộ đạo cho đến từng chi tiết nhỏ, quen thuộc với dân sự và những người có quyền chức trong Giuđa và Samari - có lẽ chúng ta trông đợi Phaolô phải tập trung năng lực của ông vào việc kết hợp hoạt động với những người mà ông hiểu biết, trong địa phận mà ông quen thuộc, trong vòng những thói quen và truyền thống mà ông thông thạo là điều hợp lý vô cùng.
Ngược lại, Phaolô nhắc đi nhắc lại rằng Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông để truyền giảng tin lành cho người ngoại quốc thông qua những lời trình bày giữa công chúng một cách hợp lý về Phúc Âm và hình thành họ vào trong các hội thánh mới, những hội thánh mới này đã được khởi đầu trong những vùng phía ngoài phần đất ông thường lui tới trước đây, khiến cho ông trở thành người gieo trồng hội thánh và là nhà truyền giáo Cơ Đốc quốc tế đầu tiên (xem RoRm 15:7-21).
Các thư tín của Phaolô cũng nêu rõ rằng ông tin khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho đời sống ông đã đòi hỏi ông phải đi xa hơn việc truyền giáo và tổ chức mà còn bao gồm sự giúp đỡ những tín hữu mới được trưởng thành trong niềm tin của họ hầu cho tự họ có thể tái sản sinh về phương diện thuộc linh.
Một Cuộc Hành Trình Đầy Bất Ngờ
Không có điều gì trong việc này có vẻ triệt để đối với chúng ta ngày nay. Tôi đã đọc qua các lá thư của Phaolô hằng trăm lần mà không nhận ra cuộc hành trình mà ông đang theo đuổi đáng ngạc nhiên thế nào. Chắc chắn chúng ta say mê về tính cương quyết mà ông đã bày tỏ khi đối diện với những điều bất lợi lớn lao. Nhưng hầu hết chúng ta không suy nghĩ một điều tiếp theo cho bản chất chức vụ ông Phaolô ngày đó với chức vụ hôm nay, tại sao vậy? Bởi vì chức vụ của bạn, của tôi, và chức vụ của hầu hết mỗi một hội thánh tại Mỹ đều đặt nền tảng trên những ý niệm của Phaolô về sự phát triển thuộc linh cá nhân cũng như tập thể. Về bản chất, ngày nay chúng ta vẫn còn đang rập khuôn theo sự lãnh đạo của Phaolô.
Khải Tượng Đó Vẫn Còn Tiếp Tục Sống
Đức Chúa Trời đã ban cho Phaolô một khải tượng đã sống lâu hơn con người cuồng nhiệt Tạtsơ này gần 2000 năm qua. Nếp sống tôn giáo của con người trong thời gian Đấng Christ sống đã khác biệt với điều xuất hiện qua sự đáp ứng với sự sống, sự chết và sự Phục Sinh của Đấng Christ. Các chiến lược và lối xử trí trong chức vụ vỡ đất mới để xây dựng được Phaolô sử dụng đã không tồn tại trước sự trở lại đạo của ông. Và Phaolô đã là thành viên nguyên mẫu hoạt động trong hội thánh.
Hầu như chỉ có một mình, thông qua khải tượng của Đức Chúa Trời và sự ban năng quyền của Đức Thánh Linh Ngài, Phaolô đã lập hội thánh của Đấng Christ thành một phong trào đức tin quốc tế. Những hành động của ông rõ ràng đã là sự cải cách đổi mới. Các vị sứ đồ khác và những người lãnh đạo hội thánh tại Giêrusalem có phần sửng sốt bởi chức vụ lưu động của ông và sự tổ chức của ông đối với những tín hữu ngoại bang trên những bờ biển của nước ngoài. Phaolô đến lúc này đã đi quá xa trước thời đại của ông đến nỗi chúng ta thường bỏ qua địa vị cao của ông trên vị trí hàng đầu của chức vụ, nhưng chỉ vì thời gian cuối cùng đã đuổi kịp ông và đã làm cho những cải cách của ông dường như kém được chú ý.
Phaolô Đã Chắc Chắn Về Sự Kêu Gọi Của Chúa
Nhân Vật Khải tượng Kinh Thánh Môise Giải phóng người Ysơraên ra khỏi sự áp bức bằng cách hướng dẫn họ đến một Vùng Đất Hứa tốt đẹp hơn trong khi thiết lập một bộ luật về cách hành xử mà dân sự này có thể tuân theo để làm vui lòng Đức Chúa Trời. Xuất Êdíptô Ký 3:7-10; Phục Truyền 26:16-19
Nêhêmi Kêu gọi dân Ysơraên xây dựng lại các bức tường và cổng của Giêrusalem, hướng đến tạo thuận lợi cho những cải cách tôn giáo và sự phục hưng tâm linh cho người Do thái. Nêhêmi 2:17; 9:1-3












Điều gì đã thúc đẩy phương thức mới của Phaolô trong sự truyền đạt lẽ thật thuộc linh cho quần chúng? Không thể có điều gì hơn là sự đoan chắc của ông về một sự kêu gọi như thế, đã được ban cho ông bởi Đức Chúa Trời qua sự cầu nguyện, kiêng ăn, suy gẫm, học hỏi Kinh Thánh và trực tiếp khải thị. Nói một cách khác, Phaolô đã định nghĩa tuyến đầu mới của chức vụ vào năm 40 S.C. trong sự vâng phục khải tượng Đức Chúa Trời đã ủy thác cho ông.
Nếu khải tượng đó đã được ban thưởng cho bất cứ ai kém phần mạnh mẽ và kém cam kết, thì hội thánh ngày nay có lẽ sẽ rất khác biệt. Đức Chúa Trời là Đấng hiểu biết mọi sự, biết tấm lòng và đặc tính của chúng ta và Ngài đang nhận biết về cách chúng ta đang vận dụng những cơ hội của mình, Ngài đã chọn Phaolô bởi vì điều đó sẽ trở thành chức vụ nền tảng của thời đại này.
Phaolô cũng là gương mẫu tuyệt vời tương đương với giá trị của khải tượng giúp chúng ta kiên trì trong khi đối diện sự chống đối khắt nghiệt với những mong muốn của Đức Chúa Trời. Giống như chính mình Chúa Giêsu, lời giải thích duy nhất cho sự kiên trì của Phaolô là ông hoặc là một người điên rồ hoặc là một người nhiệt tâm tin cậy.
Lịch sử xác nhận rằng Phaolô là một người theo Đấng Christ một cách nhiệt thành, một người sẵn sàng chịu đựng roi đòn, đánh đập, ném đá, đắm tàu, không có nhà ở, trấn lột, không ngủ được, đói, khát, trần truồng, bị cướp, bị lừa, bị vu cáo và phản bội, tất cả đều vì một lý do: được phục vụ Đấng Christ với niềm say mê và sự chính trực (xem IICo 2Cr 11:23-28).
Vai Trò Của Những Người Nhiệt Thành
Gương mẫu Phaolô mà đem lại cho chúng ta nhấn mạnh một lẽ thật thiết yếu: Những Cơ Đốc Nhân có khải tượng theo định nghĩa là những người nhiệt thành. Có lẽ dưới mắt của thế giới này, họ muốn những người có thể bị lợi dụng và kiểm soát, những người nhiệt thành là nguy hiểm và không ai ưa. Dầu vậy, dưới mắt của Đức Chúa Trời nếu lòng nhiệt thành của một người được dựa trên sự cam kết hoàn toàn với ơn kêu gọi của Đức Chúa Trời, sự cuồng nhiệt là lối sống duy nhất có thể được chấp nhận.
Đức Chúa Trời không có chỗ nào trong vương quốc của Ngài dành cho những cá nhân hâm hẩm, là người mất đi sự say mê và cấp bách trong sự phục vụ Đức Chúa Trời của họ. Những người có khải tượng thật sự không bao giờ hâm hẩm.
Phaolô đã là thí dụ hoàn hảo về người tín hữu có khải tượng. Tình yêu thương duy nhất mà tôi biết đòi buộc sự can đảm và sự ngu dại như điều Phaolô đã phơi bày là tình yêu dành cho Đấng Christ. Phương tiện duy nhất để chuyển tình yêu đó thành hành động cụ thể là nhờ sự tận hiến tuyệt đối với sự kêu gọi đặc biệt của Ngài dành cho chúng ta - đó là, nhận thức về khải tượng của Ngài cho đời sống bạn và tôi.
Nhìn Qua Về Khải tượng
Chúng ta có thể học ở đâu về cách những người có khải tượng của Kinh Thánh đã định nghĩa khải tượng Đức Chúa Trời dành cho đời sống họ? Dưới dây là một vài câu Kinh Thánh có thể phát họa khải tượng của nhiều người chủ chốt được thấy trong Thánh Kinh.
Những Cá Nhân Không Thể Thay Thế Được Bạn có thể chọn bỏ qua những bài học được cung cấp bởi đời sống của những nhân vật có khải tượng được mô tả trong Thánh Kinh nhưng xóa bỏ đi những động cơ và lòng nhiệt thành của họ đó là chối bỏ một trong những bài học quan trọng nhất mà Đức Chúa Trời đang tìm cách truyền đạt cho bạn.
Đức Chúa Trời có thể dùng những con người khác để sáng tạo và phát triển hội thánh của Ngài như Ngài mong muốn không? Chắc chắn được. Ngài đã lựa chọn một cách đặc biệt những con người này bởi vì họ có những phẩm chất đặc thù mà họ đã đem lại cho tiến trình này. Nếu không có những dấu ấn theo phong cách riêng của họ trên hội thánh đầu tiên, đức tin Cơ Đốc hẳn phải rất khác biệt ngày nay theo một vài phương diện quan trọng và có thể nhận thấy được.
Hơn nữa, những nhận thức chúng ta có về đức tính của những người sốt sắng tận hiến thực thụ cho Đức Chúa Trời cũng sẽ khác biệt đáng kể.
Một Bài Học Từ Những Con Người Hiện Đại
Gương mẫu về khải tượng đặt nền tảng trên đức tin được thực thi đến mức tối đa là một trong những bài học lớn từ Thánh Kinh dành cho con người thời hiện đại. Những hoàn cảnh văn hóa thay đổi thế nào không quan trọng, và những truyền thống của hội thánh có dự phần liên quan đến thế nào cũng không quan trọng, những chân lý muôn đời trong Thánh Kinh là vượt văn hóa và truyền thống. Trọng tâm của sự tận hiến hoàn toàn cho Đấng Christ và tìm kiếm ý muốn của Ngài về những cách tốt đẹp mỗi chúng ta có thể phục vụ Ngài theo khả năng cao hơn hết của chúng ta là một trong những bài học đó.
Không phải chỉ có những vị anh hùng của Thánh Kinh mới có khải tượng ảnh hưởng trên thế giới này cho Đấng Christ. Nhiều người là những nhà lãnh đạo trong vòng cộng đồng Cơ Đốc hôm nay là những người có khải tượng trên một mức độ giống như Phierơ, Môise hoặc Giôsuê đã từng có. Giữa vòng họ là các danh xưng có thể quen thuộc đối với bạn; sự quen thuộc tên của họ là một kết quả trực tiếp về sự cam kết với khải tượng của Đức Chúa Trời.
Pat Robertson đã tái định hướng cho truyền hình Cơ đốc từ chỗ là một cuộc trình diễn trong các buổi lễ và nói chuyện của hội thánh hướng đến một phương tiện giải trí, cung cấp thông tin và dạy dỗ đặt nền tảng trên những nguyên tắc Thánh Kinh. Khải tượng của Pat đối với đại học Regent sản sinh ra những người chuyên nghiệp siêu hạng cho các công nghệ có ảnh hưởng đáng kể đến nền văn hóa của chúng ta (chẳng hạn như ngành truyền thông đại chúng, luật pháp và thương mại) là lời chứng rõ hơn cho địa vị khải tượng của ông.
Chuck Colson đã sử dụng kinh nghiệm của ông trong tù để thiết lập một chức vụ quốc tế cho tù nhân được đánh giá rất tốt. Ảnh hưởng khải tượng của Colson là hiển nhiên nhất thông qua sự kết ước của Tổ Chức Thông Công Trong Tù để dẫn đường đến sự tái hình thành quan niệm cho ý nghĩa của “công lý tội phạm” và đem lại một bối cảnh để suy nghĩ về những khái niệm chân lý, công lý, công bằng, sự tha thứ và cộng đồng.
Bill Hybels khởi đầu một hội thánh cho người không có hội thánh - Hội thánh cộng đồng Willow Creek - là hội thánh đã có chức vụ làm cho phù hợp với bối cảnh vì lợi ích của những người không đến nhà thờ mà không thỏa hiệp bất cứ niềm tin nào trong số những điều làm cho hội thánh Đấng Christ có thể sống động được. Phương pháp chức vụ “người tìm kiếm nhạy bén” ngày nay đang được nghiên cứu trong nhiều chủng viện và đã được dùng cung cấp phương tiện cho hàng ngàn hội thánh xuyên khắp thế giới. Giúp cho hàng ngàn người không có niềm tin tôn giáo trở nên được nối kết với Đức Chúa Trời.
James Dobson , sau khi có một sự nghiệp thành công trong ngành bệnh nhi, đã được thuyết phục rằng gia đình là nền tảng xây dựng xã hội và rằng khi phương thuốc của Kinh Thánh dành cho sự phát triển gia đình bị chà đạp xem thường, những thảm họa theo sau là không thể tránh khỏi được. Thông qua chương trình tập trung về gia đình, ông đã dùng bục giảng trong tư cách là một người phát ngôn cho gia đình và đã điều khiển một mạng lưới rộng rãi những dịch vụ, tất cả đều được hoạch định để khích lệ hội thánh và các gia đình cũng như bảo vệ gia đình khỏi văn hóa độc hại và những sự tấn công của giới cầm quyền.
Leighton Ford , sau nhiều năm, với tư cách là một nhà truyền giảng chiến dịch tin lành thành công, ông đã chú ý đến sự khan hiếm những nhà lãnh đạo truyền giảng tin lành nổi lên từ cộng đồng Cơ Đốc. Sau một thời gian tìm kiếm linh hồn, ông đã chuyển từ trọng tâm hàng đầu trong vấn đề truyền giáo sang phát triển một phương tiện có hệ thống và chiến lược để nhận ra, phát triển và hậu thuẫn cho một thế hệ sắp đến gồm những nhà lãnh đạo trong công tác truyền giảng tin lành.
John Perkins đã hoạt động nhiều thập niên giữa vòng cộng đồng Phi-Mỹ, và đã kinh nghiệm những đòn trí mạng của sự nghèo khó và thành kiến. Ông kết luận rằng nhiều trở ngại đối với người da đen nổi lên như là một dòng giống tự hào và tự lập đã có thể qui gán cho việc thiếu tập trung áp dụng một cách thông minh và có chiến thuật những nguồn tài nguyên sẵn có cho sự phát triển cộng đồng một cách thực tế. Ông khởi xướng Hiệp Hội Tái Phát Triển Cộng Đồng Cơ Đốc để giúp hình thành ý tưởng cho các kế hoạch và phương pháp áp dụng để tối ưu hóa những nguồn tài nguyên kinh tế của cộng đồng Mỹ-Phi.
David Hubbard , trong khi giữ chức hiệu trưởng tại Chủng Viện Thần Học Fuller đã dẫn đầu trong việc thiết lập những trường đại học và trung tâm nghiên cứu vệ tinh như là một phương tiện đem lại nền giáo dục chủng viện có chất lượng đến với những nhà lãnh đạo hội thánh là những người đã không thể có thì giờ hoặc tiền bạc để di chuyển đến một nơi khác trong một khoảng thời gian dài tham dự đại học Fuller ở miền Nam California. Việc huấn luyện theo chủng viện thần học đã được xem tiêu biểu như là phần mở rộng của kinh nghiệm học thuật truyền thống: nhiều năm nỗ lực tập trung trong phòng học, diễn ra trong một khuôn viên đại học ẩn dật, tách rời với thế giới thực tế là nơi chức vụ diễn ra.
Danh sách những người có khải tượng hiện đại có thể cứ tiếp tục nhiều trang. Bạn có thể có vấn đề phải tranh luận với phương thức vài người trong số này đang theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời đã dành cho họ. Tuy nhiên tôi khuyến khích bạn nhìn nhận sự phục vụ lớn lao họ đã thực hiện cho Thân Thể Của Đấng Christ, đơn giản là qua sự sẵn sàng cống hiến chính mình họ một cách hết lòng cho lý lẽ và sự kêu gọi của Ngài.
Khuynh hướng tự nhiên của nhiều người là muốn chuyển sự phán xét sang những người có khải tượng bởi vì họ là những cột thu lôi đối với những xúc cảm của công chúng. Tuy nhiên, với tư cách là người cùng tin Chúa, đáp ứng của chúng ta cần phải là một đáp ứng ngưỡng mộ và trân trọng đối với sự sẵn lòng cống hiến của họ cho những mục đích của Đấng Christ và một cảm thức kính sợ trước khả năng của Đức Chúa Trời để hành động bằng những phương cách lạ lùng dù chỉ qua hữu thể loài người.
Đừng bỏ sót câu phát biểu quan trọng cuối cùng này: Đức Chúa Trời có một đội quân những người lãnh đạo có khải tượng đang hành động thay thế cho Ngài xuyên đất nước này. Bạn có thể đọc một tờ báo hoặc lắng nghe tin tức và cảm thấy nản lòng, nhưng đừng bao giờ quên rằng Đức Chúa Trời đang hành động thông qua hàng ngàn những người có khải tượng mà Ngài đã đặt để giữa vòng chúng ta.
Những Nhà Khải Tượng Trong Thời Đại Mới
Còn về tương lai thì thế nào? Cộng đồng Cơ Đốc có đang sẵn sàng đứng dậy để cho ra đời và hậu thuẫn một thế hệ mới những người có khải tượng là người sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc định hướng cho thế giới mới này không?
Đã đến lúc chín muồi cho một tầng lớp mới những nhà lãnh đạo thuộc linh thực hiện khải tượng Đức Chúa Trời đã ban cho họ dành cho những năm sắp đến. Chúng ta đang bước vào một giai đoạn trong lịch sử khi một thế hệ những nhà lãnh đạo thánh thiện, có khải tượng sẵn sàng để chuyền ngọn đuốc.
Thời Điểm Chuyển Giao Ngọn Đuốc
Đã đến lúc chín muồi cho một tầng lớp mới những nhà lãnh đạo thuộc linh cho khải tượng Đức Chúa Trời đã ban cho họ cho những năm sắp đến. Chúng ta đang bước vào một thời điểm lịch sử khi mà một thế hệ những nhà lãnh đạo thánh thiện, có khải tượng đang sẵn sàng để chuyển giao ngọn đuốc.
Những nhà quán quân đức tin chẳng hạn như Billy Graham, Bill Bright, John Perkins, Carl Henry, Billy Ray Hearn, Howard Hendricks, Kenneth Taylor - những người có các phần được phát biểu rõ ràng của khải tượng Chúa ban cho các thập niên - vẫn đang phục vụ Thân Thể nhưng với năng lực giảm thiểu lần hồi khi họ đến những năm cuối đời của mình. Thật hợp lẽ cho chúng ta khi trông đợi một thành phần mới những nhà lãnh đạo phải nổi lên, là một nhóm những người có khải tượng mà Đức Chúa Trời đã yên lặng chuẩn bị để lãnh đạo chúng ta bước vào thiên niên kỷ thứ ba này?
Đức Chúa Trời Luôn Luôn Chu Cấp Những Nhà Lãnh Đạo
Bạn không cần phải là những nhà thông thạo lịch sử mới nhận ra rằng Đức Chúa Trời không bao giờ để cho dân sự của Ngài thiếu những nhà lãnh đạo là những người tận hiến cho khải tượng của Ngài đối với nhân loại. Chúng ta có thể sẽ biểu lộ một đức tin khô hạn không phù hợp nếu chúng ta không trông đợi để xem thấy một nhóm người mới những người được Đức Chúa Trời chọn di chuyển đến tuyến đầu để phát biểu một cách rõ ràng và để thực hiện đầy đủ một sự phong phú về những khải tượng hào hứng, phù hợp và bổ sung đầy đủ sẽ đem chúng ta bước vào thời đại mới.
Có lẽ bạn có thể khám phá ra sự xuất hiện của một vài trong số các người có khải tượng rồi. Một vài trong số những người có khải tượng quan trọng không phải là những người có tên gọi quen thuộc, nhưng họ sẽ là như thế trong những năm sắp đến. Một số khác đang sẵn sàng chiếm lấy sự chú ý vì quyền uy của khải tượng họ và những phước hạnh được ban tặng do nỗ lực của họ bởi Đức Chúa Trời.
Ví dụ như Bill McCartney , ông bầu của đội bóng tròn cao đẳng, bước ra ở độ cao của một sự nghiệp thành công để đáp lại với tiếng gọi của Đức Chúa Trời thách thức mọi người đạt đến tiềm năng thuộc linh của họ và để bày tỏ trách nhiệm thuộc linh của họ thông qua chức vụ Những Người Bảo Vệ Lời Hứa.
John Dawson , một người bản xứ New Zealand, một người du hành quanh thế giới để tìm kiếm sự giải hòa mang tính Thánh Kinh giữa vòng các nhóm dân tộc đang có sự thù địch với nhau, chẳng hạn như người Caucasians và Mỹ-Phi ở tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Bob Buford là một người có khải tượng khác, là một ủy viên ban quản trị truyền hình cáp rất thành công đã chuyển mối quan tâm của ông và những nguồn tài lực của ông để giúp các hội thánh tăng trưởng trở thành những trung tâm chức vụ hữu hiệu, tập trung vào việc chia sẻ kiến thức, mối liên hệ và những nguồn tài nguyên xác thực để phát triển các hội chúng mạnh mẽ.
Những người này chỉ là ba ví dụ trong số các nhà lãnh đạo là người có khải tượng được Đức Chúa Trời ban cho đối với tương lai họ đang bắt đầu để chi trả những phần chia hệ trọng cho vương quốc của Đức Chúa Trời. Nhiều người nam và người nữ khác cũng đang bước vào ánh đèn sân khấu của chức vụ lãnh đạo, họ xông vào đó không phải vì những tài năng hoặc cái tôi tự nhiên của mình, mà là vì sự cam kết của họ đối với khải tượng của Đức Chúa Trời.
Bạn phải tự hỏi chính mình một vài câu hỏi được chỉ định về sự chuyển tiếp đó. Đức Chúa Trời có khải tượng đặc biệt nào cho đời sống và chức vụ của bạn không? Bạn đang làm gì để bày tỏ rõ khải tượng đó, phát biểu nó ra một cách rõ ràng và làm cho nó biến thành hiện thực? Và đâu là trách nhiệm của bạn đối với người khác là những người được kêu gọi để làm trọn khải tượng Đức Chúa Trời trong đời sống họ?
Bạn Sẽ Không Bao Giờ Là Người Như Cũ
Khi một người quan tâm đến khải tượng của Đức Chúa Trời và cam kết làm trọn khải tượng đó, người ấy sẽ không bao giờ còn là con người như cũ. Cái nhìn của con người đó về mọi lãnh vực của sự sống sẽ thay đổi, bao gồm cả những quan điểm của người ta, vai trò của đức tin trong nỗ lực mỗi ngày, những nguồn tài nguyên vật chất và cụ thể đang được sử dụng thế nào và định nghĩa của sự thành công.
Khải tượng của Đức Chúa Trời có nghĩa là có ý muốn thay đổi bạn và thế giới trong đó bạn đang theo đuổi khải tượng. Hãy nhớ rằng: chuyển khải tượng trở thành hành động, sáng tạo một thực tại mới. Trong tư cách của một người có khải tượng, bạn đang làm nhiều hơn chứ không chỉ vâng lời Đức Chúa Trời. Bạn đang trở nên người dự phần với Ngài trong sự cách mạng hóa kinh nghiệm của nhân loại. Bạn đang phục vụ trong đội quân của Ngài để thay đổi dòng lịch sử loài người. Bạn có đặc quyền sử dụng ảnh hưởng của những biến cố thế giới đang được phơi bày và bạn có vinh dự đóng vai trò trong kế hoạch lớn lao của Đức Chúa Trời đang trải ra vì cớ tạo vật của Ngài.
Có Phải Là Gương Mặt Của Một Nhà Cách Mạng?
Có lẽ bạn đang nhìn vào gương và nói: “Gương mặt này chắc chắn không giống như gương mặt của một nhà cách mạng”. Có lẽ bạn suy nghĩ mình không có can đảm hoặc sự thông minh hoặc tài năng để trở thành một sức mạnh có tiềm năng thay đổi trong thế giới này.
Nếu bạn giống như hầu hết chúng ta, bạn yêu thích đọc những câu chuyện của Đavít và Phaolô, nhưng bạn trăn trở khi mường tượng chính mình ở trong vai của họ. Chắc chắn bạn thừa nhận ý tưởng rằng Đức Chúa Trời có thể thừa nhận bạn, nhưng không như một người lãnh đạo có thể định hướng cho thế giới, là người sẽ bước xuống trong lịch sử như là một vị anh hùng đức tin.
Xin Đừng Đóng Cửa
Hầu hết chúng ta không nghĩ rằng mình có khả năng được Đức Chúa Trời sử dụng theo cung cách của một người quan trọng, đầy ấn tượng. Xin đừng vội đóng cánh cửa về Đức Chúa Trời! Như Ngài đã gọi bạn đến với đức tin trong Đấng Christ thể nào, thì Ngài cũng đã gọi bạn bước vào sự phục vụ Ngài, dựa trên điều bạn có thể làm với năng quyền Ngài ban cho.
Có lẽ bạn sẽ không là một vị Vua Đavít thứ hai hoặc là sứ đồ Phaolô của thế kỷ 21 này. Điều đó vẫn còn được thấy, hãy chờ xem. Thậm chí nếu bạn không phải là một đầy tớ ở tầm cỡ trọng đại đó, thì Cha thiên thượng của bạn vẫn đòi hỏi bạn vươn lên đến hoàn cảnh đó và sử dụng tất cả những khả năng riêng của bạn để phục vụ Ngài theo những cách quan trọng và đặc biệt đối với bạn. Thách thức không phải là trở nên một hình ảnh trong lịch sử, mà là trở nên một con người với đức tin không khoan nhượng.
Bạn có sẵn sàng theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho mình không?
Nghiên Cứu Những Bài Học
“MỘT NGƯỜI VỚI LÒNG TIN TƯỞNG SẼ TƯƠNG ĐƯƠNG VỚI MỘT LỰC LƯỢNG CHÍN MƯƠI CHÍN NGƯỜI CHỈ CÓ ĐIỀU QUAN TÂM” - JOHN STUART MILL
Ai có thể tưởng tượng được rằng chúng ta có thể tìm thấy những điểm chung giữa sứ đồ Phaolô, người đã giảng dạy về sự thánh khiết trong tình dục và đạo đức, với Alfred Kinsey là thầy tế lễ tối cao của tình trạng hỗn độn trong tình dục và luân lý?
Bạn có bao giờ suy nghĩ về điểm trùng lắp trong những cuộc đời của Benjamin Spock, là người đã tận hiến đời sống của ông để quan tâm chăm sóc trẻ em, và vua Salômôn là cha của hàng trăm trẻ em?
Chẳng phải là rất châm biếm nếu có một điểm tương đồng căn bản giữa William Levitt, người xây dựng nhà cửa cho hàng ngàn người, và Môise, người đã đem hàng người đi ra khỏi nhà của họ không?
Tất cả những con người này đều đã có một điểm chung: họ đều bị bó buộc bởi khải tượng. Trong hầu hết các trường hợp, điểm tương đồng dừng lại tại điểm đó. Một nhóm đeo đuổi khải tượng cá nhân của họ về tương lai, thì nhóm kia lại đã được thúc đẩy bởi khải tượng của Đức Chúa Trời về tương lai.
Sự thành đạt bởi những người theo đuổi khải tượng riêng của mình được xếp loại từ chỗ không đáng kể đến chỗ có giá trị đáng kể; tuy vậy mức độ thỏa lòng mà những sứ giả của Đức Chúa Trời đạt được dường như trọn vẹn không dời đổi.
Nếu chúng ta chuyên chú vào những bài học mà mình có thể học được từ những người có khải tượng của Chúa, chúng ta có thể cứu mình khỏi điều tai hại của việc khám-phá-nhờ-thử-và-lầm-lỗi. Kinh nghiệm có thể là thầy giáo tốt nhất như một vài người đã gợi ý, nhưng nó cũng là điều đắt giá nhất. Phương thức tự-học-bằng-sai-lầm của mình tiêu phí một lượng quá nhiều và thường là không cần thiết về thời gian, năng lực, nguồn tài nguyên và cảm xúc.
Thánh Kinh chu cấp cho chúng ta những chuyện kể về kinh nghiệm và kết quả của những người có khải tượng được Đức Chúa Trời lựa chọn để cứu chúng ta khỏi lối quản lý nghèo nàn và đau thương vì cứ phải lập đi lập lại diễn trình đó.
Tôi đã học 18 bài học bằng cách nghiên cứu những cuộc đời của những người có khải tượng trong Kinh Thánh. Những bài học này đều thích hợp cho tất cả Cơ Đốc Nhân, trong mọi lối đi của đời sống và trong tất cả các giai đoạn của lịch sử loài người. Chúng có thể được chia nhỏ ra thành bốn loại: (1) những đòi hỏi của đời sống có khải tượng, (2) đặc tính của khải tượng Đức Chúa Trời, (3) đáp ứng của con người với khải tượng và (4) kinh nghiệm của người có khải tượng với khải tượng đó.
Những Đòi Hỏi Của Khải Tượng Đức Chúa Trời
Khải Tượng Đòi Hỏi Sự Thay Đổi
Khải tượng là phương tiện của Đức Chúa Trời để thúc đẩy dân sự phải tăng trưởng gần hơn với Ngài. Ápraham đã khích lệ gia đình mở rộng và các tôi tớ của ông lìa khỏi nhà họ và gia nhập với ông trong cuộc hành trình đến một vùng đất mới và một lối sống mới.
PHAOLÔ ĐÃ LÀ MỘT NGƯỜI MƯU TÌM SỰ THĂNG TIẾN TRONG XÃ HỘI GIỮA VÒNG NHỮNG NHÀ LÃNH ĐẠO TÔN GIÁO, NHƯNG SỰ GẶP GỠ CỦA ÔNG VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ DẠY ÔNG RẰNG THÀNH CÔNG KHÔNG DỰA TRÊN NHỮNG GÌ THƯỜNG LỆ QUEN THUỘC, TRUYỀN THỐNG, NHỮNG MỐI QUAN HỆ, KHẢ NĂNG HÙNG BIỆN HOẶC SỰ THÔNG MINH.
Môise đã phải từ bỏ cuộc sống dễ dàng thoải mái của một hoàng tử để trở thành nhà lãnh đạo của một đoàn người thô lổ lang thang vô mục đích trong sa mạc.
Giôsia đã đi đầu trong nhiều cải tổ về lối sống và giá trị của quốc gia bởi vì Đức Chúa Trời mong muốn rằng Ysơraên phải sống một cách khác biệt.
Nêhêmi đã chiếm giải quán quân trong công cuộc tái thiết Giêrusalem, nhưng lớn lao hơn hết là ông đã dẫn dắt dân Ysơraên đến chỗ xây dựng lại, là nhiệm vụ đòi hỏi hy sinh, tái xây dựng, công lao động mãnh liệt và những liều lĩnh vật chất - thay đổi, thay đổi, thay đổi.
Chúng ta sẽ không bao giờ đạt đến được nhiều nếu cứ thỏa mãn với tình trạng của mình hôm nay. Đức Chúa Trời đặt những điều gây khó chịu giữa vòng chúng ta - chúng ta gọi họ là người có khải tượng - là người thúc đẩy chúng ta trở thành càng giống với Đấng Christ hơn và càng tận hiến cho những mục tiêu của Ngài hơn là cho những mục tiêu của chúng ta.
Thay đổi là điều khó chấp nhận bởi vì nó thúc đẩy chúng ta vào chỗ không biết. Tuy nhiên, tiến trình và ý nghĩa chỉ đạt được khi nào chúng ta bằng lòng liều mình và tìm kiếm sự tăng trưởng. Khải tượng có thể hướng dẫn những đường lối của chúng ta đến chỗ tăng trưởng một cách có ý nghĩa. Nhưng chỉ khi nào chúng ta sẵn sàng thay đổi.
Khải Tượng Tái Định Nghĩa Sự Thành Công
Ápraham đã thành công cho đến khi Đức Chúa Trời tỏ cho ông rằng sự giàu có về vật chất là sự nghèo khó trong cõi đời đời. Môise được đứng trong tư thế con nuôi của hoàng đế Aicập, nhưng ông đã khám phá rằng những quần áo đẹp nhất, sự giáo dục tốt nhất và chế độ thực phẩm mỗi ngày bởi những bữa ăn được chuẩn bị kỹ lưỡng đều là vô nghĩa trừ phi đời sống được tận hiến cho những gì Đức Chúa Trời mong muốn. Phaolô đã là một người mưu tìm sự thăng tiến trong xã hội giữa vòng những nhà lãnh đạo tôn giáo, nhưng cuộc gặp gỡ của ông với Đức Chúa Trời đã dạy ông rằng thành công không dựa trên những gì thường lệ quen thuộc, truyền thống, những mối quan hệ, khả năng hùng biện hoặc sự thông minh.
Khải tượng của Đức Chúa Trời định nghĩa thành công là sự vâng lời triệt để với đường hướng đặc biệt của Ngài cho đời sống bạn. Mỗi người trong chúng ta đều có một khải tượng khác nhau nhưng bình đẳng với nhau về tầm quan trọng nhận lãnh bởi Chủ của chúng ta. Ngài ít quan tâm về những gì bạn có khả năng hoàn thành cho Ngài, mà quan tâm nhiều hơn về địa vị của Ngài đối với niềm đam mê và cam kết của bạn trong sự theo đuổi khải tượng (xem Thi Tv 25:1-22 ChCn 3:5,6; Gie Gr 29:11-13; Eph Ep 2:10).
Trên hết, toàn bộ những mục tiêu của Đức Chúa Trời cần phải được tìm kiếm, chứ không phải những mong muốn của lòng bạn hoặc những kết quả đến từ khả năng tự nhiên của bạn, cho dù có ý làm vui lòng Ngài. Chắc chắn Ngài sử dụng những kinh nghiệm tổng hợp khác thường, những khả năng và ân tứ bạn hiện có, sử dụng bạn trong những lãnh vực ưu thế hầu cho bạn không thất bại nếu lòng bạn được tận hiến cho sự phục vụ trong sạch, được Đức Chúa Trời hướng dẫn.
Khải Tượng Đòi Hỏi Sự Bền Đỗ
Có bao giờ bạn tự hỏi đã bao nhiêu lần Môise phải lắng nghe đám dân đông ưa phàn nàn và chỉ trích của ông và dường như muốn bỏ hết mọi sự, ngay giữa trung tâm sa mạc? Bạn có bao giờ tưởng tượng chính mình trong tư thế của Phaolô và kết luận rằng sẽ dễ dàng hơn, và khôn ngoan hơn khi lập một chỗ đóng trại với nhóm người lưu động của ông và chỉ hướng dẫn học Kinh Thánh mỗi đêm quanh lửa trại?
Tôi thường ngạc nhiên về khả năng bền đỗ của Đavít trong khi đối diện với những thách thức. Chẳng phải mọi sự sẽ có ý nghĩa hơn khi ban ra một chiếu chỉ hoàng gia về nếp sống đạo đức, khi chỉ định một vài giáo sư giỏi về Kinh Thánh để coi sóc sự thờ phượng trong Đền Thờ và rồi về an nghỉ trong cung điện nguy nga trên sườn núi trong lúc ông vẫn còn trẻ đủ để vui hưởng hoàn cảnh ưu đãi của mình?
Những anh hùng của khải tượng dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời ban phước cho họ theo những cách không giống như thế gian này và rằng những phước hạnh của họ có lẽ có liên hệ đến quyết định trung tín. Bởi vì Kinh Thánh dạy chúng ta rằng khi chúng ta tìm cách làm công việc của Ngài, Đức Chúa Trời sẽ không ban cho chúng ta hơn điều chúng ta có thể kiểm soát, và siêng năng khi đối diện với sự chống đối khó khăn là dấu chứng của khải tượng thật (xem IICo 2Cr 10:13; Phi Pl 2:13).
Điều gì ban năng quyền cho con người để giữ bền đỗ khi trải qua sự căng thẳng và chống đổi? Đó là một tình yêu chân thật đối với Đức Chúa Trời, tình yêu vì quá biết ơn bởi được kể là xứng đáng để phục vụ Ngài đến nỗi trải qua những thử thách và khốn khó thấy như chỉ là một nỗi khó chịu tạm thời chứ không có gì hơn.
Chắc chắn đó là điều đã ép buộc Phaolô phải tiếp tục con đường (xem ITi1Tm 1:12-17). Tình yêu sâu đậm này với Đức Chúa Trời và lòng biết ơn vì cớ sự kêu gọi của Ngài chắc chắn đứng sau những nỗ lực của Ápraham. Không nghi ngờ gì, Giôsuê đã nhiệt thành đi vào trận chiến nghịch lại với đội quân được huấn luyện tốt hơn, được trang bị tốt hơn, hùng mạnh hơn của những người Canaan, bởi vì ông hoàn toàn tin rằng Đức Chúa Trời kêu gọi mình và do đó sẽ chu cấp bất cứ điều gì ông cần để thực hiện những mục tiêu của Ngài.
Khải tượng mà không có sự bền đỗ giống như một chương hào hứng trong cuốn sách chưa hoàn tất. Nó đã không làm vui lòng tác giả (bạn), người đọc (thế giới là những người cần phải hưởng được lợi ích từ khải tượng) cũng không làm vui lòng nhà xuất bản (Đức Chúa Trời) là Đấng đã ủy thác nhiệm vụ cho cuốn sách.
Khải Tượng Đòi Hỏi Phải Làm Việc Khó Nhọc
Nêhêmi đã hướng dẫn dân sự trong nhiệm vụ khó nhọc để dọn dẹp, đốn hạ, thiết đặt và làm cho an toàn hàng ngàn tấn đá và gỗ để hoàn tất phần đầu tiên của khải tượng. Phierơ đã dùng hàng nhiều năm cố gắng hướng dẫn hội thánh đầu tiên - đặt căn cứ tại Giêrusalem - đến chỗ trưởng thành thuộc linh, sử dụng những khả năng và ân tứ của ông để điều khiển sự tăng trưởng (xem NeNe 1:1-13:31; Cong Cv 1:5, 8; 9:32-12).
Sự lãnh đạo của Môise đã nới rộng những khả năng cá nhân và sức chịu đựng về thể lực của ông, cuối cùng kinh nghiệm được sự yên nghỉ khi ông gia của ông cống hiến một vài lời khuyên nhủ trong sự quản trị (xem XuXh 18:1-27). Giôsia đã dành ba mươi năm không làm điều mà những người đi trước ông đã siêng năng làm, ông làm việc với tâm trí và tấm lòng của dân sự, trước khi họ quay trở lại với những việc làm gian ác (xem IIVua 2V 22:1-23:37; IISu 2Sb 34:1-35:26).
Một số người nghĩ về khải tượng như là một tiến trình mơ mộng, rồi ra lệnh cho những người xung quanh phải làm nầy kia cho đến khi giấc mơ trở thành hiện thực. Không có bằng chứng Thánh Kinh nào hỗ trợ cho lối cư xử như vậy. Tuy nhiên bằng chứng cũng có gợi ý rằng khải tượng là một tiến trình thánh, trong đó người có khải tượng tuyên bố rõ ràng khải tượng và trở nên dự phần mật thiết trong việc áp dụng khải tượng đó vào những điều kiện của thế giới.
Khải tượng là công việc khó nhọc bởi vì nó đòi hỏi thay đổi và tăng trưởng. Khải tượng của Đức Chúa Trời không hướng đến việc làm tăng cường thêm cho những hoàn cảnh; nó bao gồm sự xây dựng lại trọn gói. Thực hiện đầy đủ khải tượng không bao giờ là điều dễ dàng.
Phân Tích Giúp Hiểu Bối Cảnh
Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta khải tượng Ngài cho đến khi nào chúng ta đã dành thì giờ và có cố gắng để hiểu bối cảnh của nó. Nêhêmi đã cần phải có một sự nắm bắt rõ ràng cụ thể về điều kiện tại Giêrusalem để khải tượng lóe lên trong tâm trí ông. Phaolô cần phải gặp một số thánh đồ và gia tăng thì giờ cầu nguyện, suy nghĩ, cân nhắc trước khi những mẩu nhỏ nầy vừa vào đúng chỗ.
Giôsuê, cũng như người cố vấn của ông là Môise, đã sử dụng việc thu lượm tin tức một cách khôn ngoan và có chiến thuật (đó là các thám tử) để đem lại cho ông một ý thức đầy đủ, rõ ràng hơn về cách khải tượng có thể được thực thi. Phaolô có một tiến trình kiên định về sự phổ biến thông tin - các lá thư đến và đi, những mẫu đối thoại liên tục với các Cơ Đốc Nhân đi từ nơi này đến nơi khác là những người có thể chu cấp thông tin mới nhất về các hội thánh và những người mới tin Chúa của ông - giúp ông đánh giá tình trạng khải tượng.
Bạn đang phục vụ một Đức Chúa Trời hợp lý. Vũ trụ của Ngài có trật tự và Ngài hành động trong một đường lối có thứ tự. Ngài cũng trông đợi bạn hoạt động theo một cung cách có trật tự như vậy. Phân tích thông tin về bối cảnh xung quanh bạn là một phương thức nhờ đó bạn có thể xác định thế nào để thực hiện đầy đủ khải tượng một cách hiệu quả.
Đặc Điểm Của Khải Tượng Đức Chúa Trời
Khải Tượng Sẽ Đe Dọa Vùng Đất An Toàn Dễ Chịu Của Bạn
Khải tượng cuối cùng kết quả là một đời sống bậc cao cho những ai dự phần vào khải tượng. Đối với người thực hiện sứ điệp và tìm cách đem sứ điệp đó đến chỗ kết quả, thì sự chống đối là điều tất yếu. Phaolô đã bị ném đá, đánh đập, bị hạ phẩm giá và bỏ tù. Ápraham đã bị chế diễu. Môise đã phải chịu sự phàn nàn từ trong trại quân của ông và chịu đe dọa quân sự từ bên ngoài. Tất cả bởi vì sự cam kết của họ đối với khải tượng của Đức Chúa Trời.
Bất chấp bạn là ai và những khả năng cá nhân cũng như những ân tứ thuộc linh của bạn là gì, việc làm cho trọn khải tượng của Đức Chúa Trời sẽ trở thành điều gây tranh cãi, bởi vì nó tách người ta ra khỏi những vùng đất thoải mái dễ chịu của họ. Điều này có thể làm cho bạn mất sự yên tĩnh, nhưng không phải là điều đáng chú trọng đối với Đức Chúa Trời là Đấng ban khải tượng cho bạn. Sau hết, từ quan điểm của Ngài, khải tượng không phải để đem lại một lối sống dễ dàng hơn; nó là sự vâng theo ý chỉ của Ngài, hướng đến chỗ nhìn thấy những mục đích của Ngài được làm trọn.
Nếu bạn đang nhiệt thành muốn khám phá khải tượng của Ngài hầu cho đời sống sẽ trở nên dễ dàng hơn, hãy sẵn sàng đối diện với sự thất vọng lớn lao. Khải tượng luôn luôn kéo theo những nỗi thống khổ, sự chống đối hoặc chủ nghĩa hoài nghi. Nếu bạn đã truyền đạt khải tượng cho những người khác và thấy rằng mọi người đều phục tùng một cách hoàn hảo đối với khải tượng, thì một trong ba điều kiện có thể có: bạn đã không truyền đạt khải tượng của Đức Chúa Trời, họ đã không hiểu điều bạn nói hoặc bạn không biết làm thế nào để đọc được tư tưởng của người nghe.
Khải Tượng Không Dễ Được Người Khác Tiếp Thu
Trong một văn hóa thế tục và hậu hiện đại, khải tượng của Đức Chúa Trời dường như ngu xuẩn. Sống vì cõi đời đời là đi ngược lại với châm ngôn của xã hội: “hãy chộp lấy tất cả để hưởng thụ” là phương thức để sống cho cái tôi và sống cho hiện tại. Ngay cả những ai trong một cấp độ nào đó, vượt qua được sự thổi phồng của thế gian và nắm lấy khải tượng của Ngài thì có lẽ vẫn không giữ đúng nhiệt tâm trong trận chiến để xem thấy khải tượng thành hiện thực.
Khải tượng cần phải liên tục được thuật lại và chuyển giao. Chân lý hiển nhiên này được minh họa qua đời sống của Giôsia, là người đã đích thân cống hiến cho một khải tượng. Bởi vì ông đã không củng cố đầy đủ khải tượng này giữa vòng dân sự, cho nên cái chết của ông đã đem lại sự tái hiện những đường lối ác trong quá khứ và sự gạt bỏ những nỗ lực đã thực hiện trong triều đại Giôsia để khải tượng được kết quả. Dân sự yêu mến Giôsia, nhưng họ đã không yêu khải tượng được vị vua trẻ của họ loan truyền.
Nêhêmi đã đấu tranh với một vài người thất bại không thấy được xa hơn việc tái xây dựng các tòa nhà và để nhìn nhận nhu cầu có liên quan trong việc tái xây dựng những đời sống. Giôsuê đã là một người vĩ đại và công chính. Nhưng dân sự của ông vẫn còn bất khiết trong sự thờ phượng của họ.
Mỗi một người trong số này đã có đặc quyền thánh để hướng dẫn người khác đến chỗ áp dụng lời Đức Chúa Trời. Mỗi người theo cách riêng của mình, đã khám phá rằng buộc phải có một chiến dịch vận động liên tục để tái phát biểu về khải tượng, tái nhấn mạnh tầm quan trọng của nó và khen thưởng dân sự về sự trung thành của họ đối với khải tượng.
Đối với một số người, khải tượng trở thành một lý do nhất thời. Tuy nhiên nó là một chức năng của người có khải tượng để duy trì lòng sốt sắng của dân sự đối với khải tượng. Thất bại không làm được điều đó phản ảnh về người có khải tượng cũng như về dân sự, là những con người đã lìa khỏi khải tượng.
Khải Tượng Mở Ra Một Cách Tiệm Tiến
Mặc dầu những người có khải tượng trong Kinh Thánh hiểu rõ trọng tâm của khải tượng từ lúc bắt đầu, thì những chi tiết làm rõ nét khải tượng hơn có thể phải đến khi những biến cố đã diễn ra.
Môise và Giôsuê - những người lính biệt kích trong sa mạc - là những ví dụ về cách khải tượng tiệm tiến hiện đến trong tầm nhìn. Họ đã biết rằng mình đang đi trên một cuộc hành trình đến Miền Đất Hứa, nhưng họ không chắc nơi nào, mất bao lâu và điều gì họ phải làm một khi đến nơi hoặc bản chất của chính vùng Đất Hứa là gì.
Vậy mà khi Giôsuê bước vào Đất Hứa, ông đã phải dùng chiến thuật và khả năng quân đội để quét sạch những kẻ phạm tội khỏi vùng đất này. Giôsia đã biết trọng tâm của khải tượng là phục hồi sự thánh khiết trong thờ phượng và công lý cho vùng đất này, nhưng hoàn cảnh không như thế cho đến khi quyển Sách Giao Ước được khám phá thì một vài điều trong số những sự cải cách đáng kể nhất mới diễn ra.
Nêhêmi đã thực hiện một việc vĩ đại trong khi xây lại thành thánh, nhưng cuộc đấu tranh là tái xây dựng tấm lòng của dân sự - một nhiệm vụ ông chưa được trang bị đầy đủ để thực hiện cho đến khi những viên gạch và vữa hồ tái xây dựng đã được đặt đúng chỗ của nó.
Đôi khi Đức Chúa Trời bảo vệ chúng ta khỏi những nỗi sợ hãi và lo lắng riêng tư bằng cách không cho phép chúng ta hiểu đầy đủ khải tượng. Nếu bạn bước đi bởi đức tin để theo đuổi khải tượng, Ngài sẽ tỏ cho thấy đủ về khải tượng đó hầu cho bạn biết phương hướng nào mình phải đi và những mục tiêu tối hậu nào mình phải cố gắng hoàn tất. Dầu vậy, hãy sẵn sàng cho những khải thị mới dọc theo con đường, những nhận thức sẽ sáng tỏ và tập trung những năng lực của bạn tốt hơn vào các kết quả thật sự lạ lùng.
Khải Tượng Được Ủy Thác Cho Một Cá Nhân
Bạn có để ý rằng trong Kinh Thánh Đức Chúa Trời không bao giờ ban khải tượng cho một ủy ban không? Trong mỗi trường hợp, Ngài lựa chọn một con người rồi Ngài hướng dẫn người đó khải tượng về một tương lai tốt hơn. Không ai trong Thánh Kinh đã được ủy thác toàn bộ khải tượng để tái sáng tạo và làm hoàn hảo cả nhân loại; mỗi người có được ban một phần nhỏ khải tượng trong kế hoạch tổng hợp của Đức Chúa Trời cho tương lai của cả thế giới.
Con người có thể đóng một vai trò trong sự hiểu biết của bạn về khải tượng đặc biệt Đức Chúa Trời dành cho bạn, nhưng họ không thể truyền khải tượng cho bạn cũng không chứng thực rằng điều bạn phát biểu cụ thể về khải tượng là chính xác và thích hợp.
Khải tượng của Đức Chúa Trời là một vấn đề thuộc về đối thoại trực tiếp giữa bạn và Ngài, cũng như sự làm trọn khải tượng đó của bạn là một vấn đề đánh giá giữa bạn và Chúa. Đức Chúa Trời không cần một nhóm người để phân biệt ý chỉ của Ngài dành cho một cá nhân. Nếu bạn đang ở trong mối quan hệ tốt đẹp với Ngài, bạn cũng không cần điều đó.
Khải Tượng Là Một Cuộc Phiêu Lưu Mạo Hiểm
Trong xã hội có khuynh hướng nhắm vào những kết quả của chúng ta, ta thường phán xét việc thực hiện trên cơ sở đáp ứng được hạn chót, duy trì trong ngân sách cho phép và sinh ra những kết quả mong đợi. Tuy nhiên một cuộc nghiên cứu cẩn thận về những đường lối Đức Chúa Trời hành động với những ai thực hiện khải tượng của Ngài cho thấy rằng cuộc hành trình này cũng quan trọng như điểm đến sau cùng. Nói một cách khác, Ngài quan tâm từng chút một đến cách chúng ta hành động, cách chúng ta thay đổi và điều chúng ta kinh nghiệm được trong tiến trình theo đuổi khải tượng của Ngài cũng như Ngài đang xem thấy chúng ta đạt đến mục tiêu.
Hãy nhìn vào Ápraham và những người bạn cùng tạm trú với ông. Điều gì xảy đến với họ khi họ đi đường mình đến nơi cư trú mới là trọng tâm sự chuyển đổi mà Đức Chúa Trời đặc biệt quan tâm đến. Đạt đến vùng đất mới không phải là điều quan trọng đối với Đức Chúa Trời như những thách thức và thay đổi đã tinh luyện lại cam kết của Ápraham đối với Đấng Giavê (Yahweh).
Môise là một gương mẫu vĩ đại khác về tầm quan trọng của cuộc hành trình. Đời sống của ông không thể bị phán xét là một thất bại, bởi vì ông đã không được phép bước vào Miền Đất Hứa lâu nay trông đợi. Bạn có nghĩ rằng cách đánh giá của Đức Chúa Trời đối với Môise chỉ dựa trên sự kiện ông tự thấy mình không xứng đáng với việc đặt chân lên vùng đất mới, hay là trên nền tảng Môise đã thay đổi thế nào từ một kẻ giết người kiêu căng sang thành một người lãnh đạo nóng nẩy của một dân sự hay tranh cãi, rồi đến một nhà lãnh đạo thực thụ của con người và là người yêu của Đức Chúa Trời?
Đức Chúa Trời dùng khải tượng như một trong các kỹ thuật nhờ đó Ngài khuôn đúc chúng ta thành những đầy tớ hữu ích mà chắc chắn Ngài muốn chúng ta trở nên.
Khải Tượng Còn Sống Vượt Xa Người Có Khải Tượng
Có một điểm khác biệt giữa những mục đích, chiến lược và khải tượng. Những mục đích và chiến lược là những kết quả ngắn ngày mà chúng ta có thể đạt được. Khải tượng là kết quả của nỗ lực lâu dài.
Môise đã sống một cuộc sống dài lâu. Tuy nhiên, nó đã không đủ dài lâu để nhìn thấy dân sự của mình đặt chân trên vùng đất mà Đức Chúa Trời đã hứa ban. Khải tượng đã được hoàn tất bởi Giôsuê, là người thuộc cấp đáng tin cậy của ông.
Mặt kia của đồng tiền được tiêu biểu bởi Giôsia. Khải tượng Đức Chúa Trời đã ủy thác cho vị vua đáng kính đó đã không được hoàn tất đầy đủ trong khoảng thời gian đời sống kết thúc sớm của Giôsia. Khải tượng sống lâu hơn Giôsia. Đáng buồn thay, ông đã không có một Giôsuê là người ông có thể chuyển giao ngọn đuốc. Cuối cùng khải tượng đã bị lu mờ và rồi mất hẳn. Nếu Giôsia đã sống lâu hơn, có lẽ Đức Chúa Trời hẳn đã giúp ông thấy khải tượng hoàn tất. Nhưng ông đã không sống lâu và khải tượng cũng đã không hoàn tất. Khải tượng không chỉ sống lâu hơn người có khải tượng, nhưng nó cũng chết bởi vì thiếu một người có khải tượng là người có thể bảo vệ nó vượt qua cái chết của người đầu tiên tiếp nhận.
Thời hạn của chúng ta cũng như những phương cách đo lường thành công của chúng ta không phải là những gì của Đức Chúa Trời. Chúng ta muốn thấy những điều được giải quyết và hoàn tất, mọi sự gọn gàng và có thể thấy trước, được định nghĩa rõ và thuộc về chương trình. Đức Chúa Trời hành động trên một thời khắc khác biệt và có những lý lẽ mà có thể sẽ không bao giờ biết hoặc hiểu được (xem PhuDnl 29:29; EsIs 55:8, 9).
Như vậy cũng đã đủ cho chúng ta nhận thức rằng khải tượng Đức Chúa Trời ban cho một con người có thể được thực hiện trung tín bởi một hoặc nhiều người kế tục, theo một thời biểu mà chỉ có Chúa mới biết. Một lần nữa nhân tố hoạt động không phải là sự thành đạt, mà là trung tín.
Khải Tượng Phản Ánh Những Mục Tiêu Của Đức Chúa Trời
Trong chương đầu tiên của sách này chúng ta đã khám phá khải tượng của con người và những người đã cống hiến đời sống họ cho khải tượng riêng của họ về một tương lai tốt hơn. Dĩ nhiên, cho dù nỗ lực tốt nhất của những con người khôn ngoan và đầy tài năng nhất cũng đã không kết quả trong một ngày mai tốt hơn, bởi vì những mục tiêu của họ không phải là mục tiêu của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời hoạt động theo những luật lệ khác hẳn và tìm kiếm những kết quả khác hơn hữu thể con người. Ngài không quan tâm về sự giàu có, thanh danh, những cải cách, kỷ lục, hậu thế hoặc những mong muốn của con người. Ngài quan tâm về sự thánh khiết và vâng lời (xem Gie Gr 9:23, 24).
Những đường lối của Đức Chúa Trời thường giúp chúng ta trở nên công chính hơn, hoàn toàn khác biệt với những đường lối chúng ta có thể gợi ý. Sai phái hàng chục ngàn người vào một cuộc đi bộ bốn mươi năm qua đồng vắng sa mạc, không phải là chiến lược của con người. Sai phái một người Do thái cuồng nhiệt để chăm sóc những người không phải Do thái đối với tâm trí của chúng ta không có ý nghĩa bao nhiêu.
NGƯỜI CÓ SỰ SAY MÊ LÀ NHỮNG NGOẠI LỆ ĐỐI VỚI LUẬT TRONG XÃ HỘI CHÚNG TA, VÀ NHỮNG NGƯỜI CÓ LÒNG THIẾT THA VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ THUỘC LINH ĐỀU KHÓ HIỂU ĐỐI VỚI NGƯỜI MỸ.
Chỉ một mình Đức Chúa Trời hiểu biết mọi sự; khải tượng của Ngài cho chúng ta là khải tượng tốt nhất có thể có. Thậm chí nếu nó xung đột với những gì chúng ta thừa nhận, ưa thích và cầu nguyện. Tất cả những điều chúng ta cần biết đó là khải tượng của Chúa đến với một sự bảo đảm đời đời và nếu chúng ta vâng theo, Ngài sẽ chúc phước cho chúng ta vượt quá những mơ ước lớn lao nhất của chúng ta, và theo những phương thức quan trọng hay phước hạnh mà chúng ta có thể không hiểu hết.
Đáp Ứng Của Con Người Với Khải Tượng Của Đức Chúa Trời
Khải tượng thường làm cho con người sợ hãi
Hãy để ý một điều này về khải tượng: khi bạn có nó và cam kết với nó, người ta thường phong cho bạn nhãn hiệu là người điên cuồng. Họ đã làm điều đó với Môise. Họ đã làm điều đó với Phaolô. Họ cũng đã làm điều đó với Chúa Giêsu. Lòng say mê về khải tượng, sự nhiệt thành về khải tượng và bản chất phi thế gian của khải tượng đe dọa lấy mất ánh sáng ban ngày khỏi dân sự.
Người có sự say mê là ngoại lệ đối với luật trong xã hội chúng ta và người nào có lòng thiết tha về những vấn đề thuộc linh khó hiểu đối với người Mỹ. Hãy sẵn sàng để đe dọa một số người bởi lời hứa phục vụ một mình Đức Chúa Trời và phục vụ Ngài đến tầm cỡ đầy trọn nhất trong khả năng của bạn. Những ý tưởng chẳng hạn như chết về bản ngã, sống cho người khác, tránh xa những điều tốt nhất của thế gian để dâng hiến và tìm kiếm điều làm đẹp lòng Đức Chúa Trời là những ý tưởng có một khung giá trị tiêu cực đối với hàng triệu người Mỹ hiện nay (xem Mac Mc 8:34-38).
Khải Tượng Thúc Đẩy Quần Chúng
Hãy nói điều bạn muốn về sự bất cân xứng của những người có khải tượng trong Thánh Kinh, bạn cần phải nhìn nhận rằng một điều gì đó trong đời sống của họ đã khiến cho mỗi người thu hút một số người đáng kể đi theo. Môise đã không phải là một phát ngôn viên giữa công chúng, nhưng hàng ngàn người đã theo ông trên một con đường nguy hiểm và không rõ ràng. Giôsia cũng chỉ là một cậu bé, vậy mà toàn bộ quốc gia đã thay đổi những thói quen và lối sống để làm cho thích hợp với sự mê say của ông. Đavít đã là một người chăn chiên và là một người chạy trốn một vị vua, vậy mà ông đã trở thành vị vua lớn nhất của đất nước ông. Phaolô đã trở thành một nhân vật có khải tượng thúc đẩy, vậy mà những lời ký thuật của văn chương thời cổ đã nêu rằng ông đang xây dựng giáo phái riêng của mình. Phierơ không đủ khả năng để hướng dẫn nhóm mười hai người trong thời Đấng Christ thi hành chức vụ trên đất, vậy mà sau cái chết và sự Phục Sinh của Ngài, Phierơ đã có thể đem lại hàng ngàn người cho những mục đích quan trọng và có kết quả nhiều.
Sự kiện một khải tượng có thể kích động con người đang nói với lòng khao khát mong mỏi bên trong của chúng ta để hướng dẫn những đời sống đáng sống. Khải tượng của Đức Chúa Trời giúp chúng ta thu nhận sự giúp đỡ của con người và để ban quyền năng cho họ hướng đến kết quả của khải tượng mặc dầu chúng ta thiếu thốn về ân tứ, khả năng hoặc kinh nghiệm. Người có khải tượng không cần những ân ban tự nhiên, chỉ cần một tấm lòng kết ước.
Khải Tượng Đập Vỡ Tấm Lòng Của Bạn
Khải tượng của Đức Chúa Trời có liên quan đến những điều đáng kể đối với chúng ta. Kết quả là người có khải tượng tràn ngập xúc cảm khi xem xét sự biến đổi cần thiết để chống lại thế gian mà chúng ta đang sống.
Ví dụ tốt nhất cho điều này là Nêhêmi. Khi học biết rằng những bức tường của Giêrusalem vẫn còn hoang phế, ông lập tức kêu khóc, kiêng ăn và cầu nguyện. Tiến trình này cứ tiếp diễn nhiều ngày. Hoàn cảnh này thật quá đau xót đối với ông đến nỗi làm tan vỡ lòng ông. Thái độ của ông đã thay đổi, đời sống của ông không còn có ý nghĩa nữa và những suy nghĩ của ông bị thu hút về tình trạng đổ nát của thành phố thủ đô Do thái.
Hãy nghiên cứu về cuộc đời của những người có khải tượng trong Thánh Kinh. Đức Chúa Trời đã không kéo mạnh họ ra khỏi một hoàn cảnh và ném họ vào một điều gì đó họ đã không có một chỗ êm dịu trong tấm lòng của họ. Hoàn toàn ngược lại. Đức Chúa Trời đã chuẩn bị mỗi người trong chúng ta cho một nhiệm vụ đặc biệt có đầy ý nghĩa đối với nội tâm sâu xa của chúng ta.
Một chức vụ và đời sống đặt nền tảng trên khải tượng sẽ biến cải ao ước sâu xa nhất của lòng bạn dẫn đến một hành động thay đổi đời sống làm vinh hiển cho Đức Chúa Trời và phục vụ con người. Bạn sẽ biết mình đã nắm bắt được khải tượng chân thật khi bạn cảm thấy được cảm động sâu xa bởi khả năng mình có thể làm điều gì đó đối với hoàn cảnh, đến nỗi bất cứ triển vọng nào khác cũng đều mờ nhạt khi đem so sánh.
Khải Tượng Tái Xác Định Tham Vọng Cá Nhân
Bạn có tin rằng tất cả những điều Môise có khả năng hoàn tất trong đời sống là hướng dẫn một đoàn người khố rách áo ôm đi qua sa mạc không? Thay vì chia vùng đất giữa những bộ tộc khác nhau của Ysơraên, Giôsuê đã có thể dễ dàng quyết định duy trì sự kiểm soát về mọi sự họ đã chinh phục được và trở thành một nhà cầm quyền đầy uy lực của thời đại đó. Chẳng phải là buồn cười và lố bịch đối với Phaolô khi cứ tiếp tục di chuyển nơi này đến nơi khác để thiết lập những hội chúng mới trong khi ông đã có thể dễ dàng cư trú tại một điểm và xây dựng một hội thánh nguyên thủy với tầm cỡ vĩ đại chăng?
Động cơ đằng sau những hành động của các nhà lãnh đạo có khải tượng khác biệt với những điều thúc giục các người khác. Nói vắn tắt, người có khải tượng đang phục vụ Đức Chúa Trời không còn sống cho những tham vọng cá nhân, nhưng thà rằng mình vì những tham vọng của Đức Chúa Trời. Những điều của thế gian này quá nhỏ bé khi so sánh với những đường lối đời đời và phương tiện đời đời của Đức Chúa Trời (xem IGi1Ga 2:15-17). Sống động để hoàn tất những mục đích của Ngài theo đường lối của Ngài xóa nhòa một cách hữu hiệu những tham vọng và những giấc mơ thúc đẩy có lẽ chúng ta đã có trước khi trở thành chịu cảm động bởi khải tượng của Ngài.
Khải Tượng Truyền Dẫn Đức Khiêm Nhường
Nếu bạn khám phá khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống mình, nó sẽ khiến bạn khiêm nhường (xem IPhi 1Pr 5:5, 6). Nó làm cho Ápraham khiêm nhường đến độ ông đã liên tục xây dựng những bàn thờ và thờ phượng Đức Chúa Trời. Nó đã làm cho Môise khiêm nhường, một con người vốn bẩm sinh có nhân cách hiếu chiến đã dịu dàng lại bởi nhìn nhận đặc quyền Đức Chúa Trời đã ủy thác cho ông. Nó cũng đã làm cho Phaolô, là một người tuổi trẻ có nhiều hoài bão tôn giáo trong thời của ông phải khiêm nhường. Phaolô thường nhắc đến chính mình ông bằng một từ ngữ khiêm nhường chẳng hạn như: “Tôi là nhỏ hơn hết trong các sứ đồ” (ICo1Cr 15:9) và “Tôi, là kẻ hèn hơn hết mọi thánh đồ” (Eph Ep 3:8).
Điều gì đã thúc giục cho có một sự khiêm nhường như vậy giữa vòng những người tiếp nhận nhiệm vụ quan trọng? Họ đã nhìn nhận rằng họ không xứng đáng cũng không có khả năng để quản lý nhiệm vụ quan trọng đó, tuy vậy nhiệm vụ đó đã được ban thưởng cho họ chính bởi một Đức Chúa Trời trọn vẹn và hiểu biết mọi sự. Kinh Thánh cho thấy rằng một người càng kinh nghiệm trong sự theo đuổi khải tượng, thì người ấy lại trở nên càng khiêm nhường hơn.
Khải Tượng Thúc Đẩy Chúng Ta Đến Với Đức Chúa Trời
Không phải là điều nhỏ hơn hết trong các nguyên tắc nổi lên từ những nghiên cứu của chúng ta vì những người có khải tượng trong Kinh Thánh cho thấy rằng khải tượng thúc đẩy chúng ta đến một sự hòa hợp gần gũi hơn với Đức Chúa Trời. Hãy để ý thể nào những người có khải tượng đã thường đi đến đầu gối của họ trong sự cầu nguyện. Hãy ghi chép số lần những cá nhân này ngưng lại mọi sự họ đang làm để thờ phượng Đức Chúa Trời. Đừng bỏ qua những lời bày tỏ nhu cầu cần có sự thánh khiết và sự công chính.
Khải tượng của Đức Chúa Trời là một thách thức đáng kể và là một phước hạnh không thể nào mô tả hết. Nó chỉ được ban cho những ai có thể tin cậy với nó và cho những ai sẽ hoàn toàn cam kết với nó. Khả năng và kinh nghiệm của chúng ta có ảnh hưởng rất ít đối với quyết định của Đức Chúa Trời nhằm ban phước cho chúng ta bằng khải tượng của Ngài; bởi vì khải tượng là một vấn đề của tấm lòng chứ không phải là vấn đề của khả năng (xem IICo 2Cr 12:9).
Tất cả chúng ta đều không đủ khả năng hoàn tất khải tượng mà Ngài chu cấp cho chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta có đủ tư cách là những ứng viên, khi chúng ta nhìn nhận sự không cân xứng này và quyết định sống vâng lời tuyệt đối với khải tượng.
Những Nguyên Tắc Học Được Từ Những Người Có Khải Tượng Trong Kinh Thánh
Những sự đòi hỏi của khải tượng Đức Chúa Trời
1. Đòi hỏi phải thay đổi.
2. Tái định nghĩa sự thành công.
3. Đòi hỏi sự bền đỗ.
4. Đòi hỏi làm việc khó nhọc.
5. Là sự nhất quán với sự phân tích môi trường.
Đặc Tính Của Khải Tượng Đức Chúa Trời
6. Không dễ chịu chút nào.
7. Không dễ tiếp nhận bởi những người khác.
8. Bày tỏ ra một cách tiệm tiến.
9. Được ủy thác cho một cá nhân.
10. Là một cuộc hành trình cũng như nó là điểm đến.
11. Sống còn lâu hơn người có khải tượng.
12. Phản ánh những mục tiêu của Đức Chúa Trời.
Đáp Ừng Của Con Người Đối Với Khải Tượng Của Đức Chúa Trời
13. Làm cho người ta sợ hãi.
14. Thúc giục đám đông.
Đáp Ứng Của Người Có Khải Tượng Đối Với Khải Tượng Của Đức Chúa Trời
15. Làm tan vỡ tấm lòng bạn.
16. Tái xác định tham vọng cá nhân.
17. Làm cho khiêm nhường.
18. Dẫn đưa chúng ta đến với Đức Chúa Trời.
Đẳng Cấp Khải Tượng
“MỘT SỐ NGƯỜI NHÌN SỰ VIỆC THEO CÁCH CHÚNG HIỆN CÓ RỒI HỎI ‘TẠI SAO VẬY?’ TÔI MƠ NHỮNG ĐIỀU CHƯA TỪNG XẢY RA TRONG QUÁ KHỨ RỒI HỎI: ‘TẠI SAO ĐÃ KHÔNG XẢY RA?’” - GEORGE BERNARD SHAW
Trong một buổi họp truyền giảng Tin Lành quốc tế, tôi đã quy trách nhiệm về tình trạng xấu của hội thánh tại Châu Mỹ cho những lãnh đạo thiếu khải tượng. Sau đó, một người trong số thính giả thấy khó chịu, tranh cãi rằng khải tượng chỉ dành cho một ít người được chọn.
Dầu cuộc nghiên cứu của tôi đưa tôi đến kết luận khác với kết luận của người phê bình tôi, nhưng có lẽ chúng ta có thể loại bỏ sự nhầm lẫn này bằng cách để ý rằng những người có khải tượng thường thuộc vào một trong ba thể loại đã hình thành nên đẳng cấp của khải tượng: nhỏ, trung bình, và vĩ đại.
Sự Hài Hòa Gồm Ba Phần
Một trong những nguyên tắc cơ bản chúng ta thấy trong Kinh Thánh ấy là Đức Chúa Trời thử nghiệm chúng ta bằng nhiều mức độ trách nhiệm. Đối với những người tỏ ra trung tín, Ngài giao trách nhiệm lớn hơn. Những người khác lại không thể gánh thêm trách nhiệm. Trên một số phương diện, bạn có thể nói Đức Chúa Trời là Đấng lập ra Nguyên Tắc Peter (tức là, người ta làm việc tiến lên đến những mức độ hết khả năng của họ).
Hãy nhìn xem cộng đồng Cơ Đốc ngày nay. Một số tín hữu đang vất vả biến khải tượng trở thành nguyên tắc dẫn đường trong đời sống họ. Tiêu điểm của họ không nhằm thay đổi thế giới, quốc gia, hay thành phố cho Đấng Christ. Họ nhấn mạnh việc làm đầy tớ trung tín trong gia đình, tại sở làm và với bạn hữu. Ađam, Nôê, Arôn, Gióp, Mathê và Rutơ là một số ít nhân vật Kinh Thánh thuộc vào bình diện khải tượng này.
TIẾN TRÌNH BAN KHẢI TƯỢNG LÀ TIẾN TRÌNH CHÚA SẼ BAN CHO CHÚNG TA THEO ĐIỀU NGÀI CÓ THỂ TIN CẬY CHÚNG TA THEO ĐUỔI BẰNG TRÍ TƯỞNG TƯỢNG, SỨC LỰC, NIỀM ĐAM MÊ VÀ SỰ SIÊNG NĂNG.
Chắc bạn biết những người đã vượt ra ngoài ranh giới của khải tượng chỉ ảnh hưởng đến mạng lưới quan hệ và từng trải ở ngay sát họ. Họ đã được ban một khải tượng rộng lớn hơn cho hội thánh, cộng đồng, một quốc gia và một khu vực.
Những người như thế thường giữ nhiều địa vị trong chức vụ, chính quyền hoặc công việc làm ăn nào cho phép họ áp dụng khải tượng vào một lãnh thổ rộng mở, để ảnh hưởng được đến nhiều đời sống hơn nữa. Các mục sư thường thuộc vào thể loại này. Cũng có rất nhiều nhà truyền giáo và nhiều trưởng lão của hội thánh nữa. Ysác, Giônathan, Giêtrô, Đêbôra, Phierơ và Luca cũng thuộc về thể loại này.
Ngưỡng trên cùng của chuỗi này là những người mà đôi khi trong những lúc kém tế nhị chúng ta nghĩ họ là những người quá thành đạt. Chúng ta thường nói đến họ như những người “bị thúc đẩy” và cũng rất thường xuyên, từ ngữ này được dùng theo nghĩa xấu hơn là khen ngợi sự kiện họ được thúc đẩy bởi khải tượng của Chúa.
Đây là những con người có thành tích cao và công khai, khải tượng của họ ảnh hưởng đến một dân tộc hoặc vượt ra ngoài ranh giới quốc gia. Đây là những cầu thủ tầm cỡ quốc tế, những người rõ ràng ở trong “những liên đoàn lớn” của các bộ, chính phủ và giới kinh doanh. Những nhà truyền giảng quốc tế, những nhà sáng lập hiệp hội đi song song với hội thánh, các mục sư của những siêu hội thánh có khuynh hướng đi ra truyền giảng, v.v... thường có qui mô khải tượng rộng như vậy. Vì vậy, Ápraham, Đavít, Môise, Giôsuê, Ghêđêôn, Nêhêmi và Phaolô cũng vậy.
Sự hài hòa gồm ba phần của các tín hữu có ân tứ như thế này không hề là chuyện ngẫu nhiên. Đức Chúa Trời cố ý thách thức chúng ta tiến từ chỗ thấp nhất lên đến cao nhất căn cứ vào lượng khải tượng của Ngài mà chúng ta có thể thực hiện hiệu quả (xem LuLc 16:10). Tiến trình ban khải tượng là tiến trình Đức Chúa Trời sẽ ban cho chúng ta tối đa lượng khải tượng Ngài có thể giao phó cho chúng ta theo đuổi bằng trí tưởng tượng, sức lực, niềm đam mê và sự siêng năng.
Chúng ta hãy khảo sát ba mức độ này chi tiết hơn nữa. Những người ở ngưỡng thấp nhất của chuỗi này là những người có khải tượng nhỏ. Những người đạt đến bình diện trung bình là những người có khải tượng trung bình. Những người đạt đến đỉnh của chuỗi này là những người có khải tượng vĩ đại.
Những Người Có Khải Tượng Nhỏ
Mike, bạn thân của tôi là người có khải tượng nhỏ. Anh là Cơ Đốc Nhân hơn 20 năm qua. Anh yêu mến Đấng Christ và muốn được kể vào hàng những đầy tớ tốt và trung tín. Anh thường xuyên cùng vợ con đến nhóm tại nhà thờ. Anh đọc Kinh Thánh đều đặn. Anh cầu nguyện mỗi ngày. Thỉnh thoảng anh nghe đài phát thanh Cơ Đốc. Anh thu nhập khá và gia đình sống thoải mái.
Mike không hề có ảo tưởng về khả năng thay đổi thế giới cho Đấng Christ theo cách đầy ấn tượng. Anh tin rằng nếu mình làm được những điều cơ bản của đức tin - chung thủy trong hôn nhân, đóng thuế không lừa gạt chính phủ, hiếu kính cha mẹ, sống cuộc đời thanh sạch và v.v... thì anh đang sử dụng tối đa năng lực của mình để phục vụ Chúa rồi.

Khải tượng của anh là dùng tài năng trung bình của mình tạo bầu không khí tin cậy với một vài bạn hữu chưa tin Chúa để rốt cuộc có cơ hội chia sẻ Đấng Christ cho họ bằng cách mời gọi nhẹ nhàng.
Khải tượng của Mike tương đối giới hạn. Anh liên hệ khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho đời sống và chức vụ cá nhân của mình với những nhu cầu trước mắt của gia đình, những mối quan hệ anh có trong công việc làm ăn và cách anh giao tiếp với những người quen biết tại hội thánh. Khi Mike nghĩ đến cách định hướng tương lai liên quan đến những ước muốn của Chúa, anh nghĩ đến một nhóm nhỏ những người anh quen biết cách cá nhân.
Anh nghĩ đến những kinh nghiệm mình đã trải qua, những tài năng mình có, ân tứ thuộc linh anh tin rằng mình có, rồi ước mơ về cách có thể dùng những nguồn cung ứng hiển nhiên hay cho rằng mình đang có và áp dụng chúng.
Tôi không hề có ý hạ thấp quan điểm của Mike trong tư cách người có khải tượng nhỏ. Tôi cảm tạ Chúa về tình bạn của anh và về lòng khao khát không chút suy suyển của anh để phục vụ Chúa bằng mọi cách mình làm được. Một ngày nào đó có thể anh trở thành người có khải tượng trung bình. Dầu thế nào đi nữa, anh vẫn là một phần trong gia đình đời đời của Đức Chúa Trời, được Chúa quí trọng y như những người có khải tượng trung bình hoặc những người có khải tượng vĩ đại nào mà bạn nêu tên.
Mỗi Cơ Đốc Nhân được kêu gọi ít nhất cũng là làm người có khải tượng nhỏ. Không tín hữu nào có thể bào chữa hợp lý rằng mình không có đủ lượng khải tượng của Đức Chúa Trời để lưu lại dấu ấn nào đó trong thế giới mình đang tiếp xúc hằng ngày. Khải tượng có thể hữu hạn và bị hạn chế, nhưng giống như thân thể Đấng Christ cần những người có các ân tứ khác nhau cộng tác cách hài hòa với nhau để đem Tin Lành đến cho nhóm thính giả toàn cầu thể nào, thì hội thánh cũng cần một nền tảng rộng lớn của những người có khải tượng nhỏ để ảnh hưởng đến những thế giới hữu hạn hơn nhưng không kém phần quan trọng của họ.
Rất có thể, mỗi chúng ta đều bắt đầu với tư cách người có khải tượng nhỏ. Có người đạt đến khải tượng lớn hơn; phần lớn không tiến lên. Liệu không tiến lên được bình diện cao hơn trên thang khải tượng là do ý định của Đức Chúa Trời, hay do chúng ta thiếu khả năng, hay do tự mãn, điều đó vẫn cần phải xem lại.
Bạn và tôi cần phải nâng đỡ những người có khải tượng nhỏ. Hội thánh của chúng ta được xây dựng trên họ. Nguyên nhân khiến nhiều hội thánh không giảm bớt được nền văn hóa thời hậu hiện đại không phải vì họ có quá nhiều những người có khải tượng nhỏ. Thực ra là vì họ bị đè nặng bởi quá nhiều Cơ Đốc Nhân - đại đa số - những người không hề có chút khải tượng nào. Trở thành người có khải tượng nhỏ sẽ là một bước lớn tiến lên và là một phước hạnh cho Chúa, cho hội thánh của họ, cho gia đình của họ, cho bạn hữu và cho chính họ nữa.
Đúng, “nhỏ” vẫn có nghĩa là nhỏ; nhưng thà có một người có khải tượng nhỏ và vận dụng đức tin đó cách trung tín và hiệu quả còn hơn là có hàng triệu người đến nhóm đều đặn tại nhà thờ, nhưng không hề theo đuổi khải tượng của Đức Chúa Trời chút nào. Nguyện Chúa ban cho chúng ta càng nhiều hơn nữa những người có khải tượng nhỏ trong những ngày sắp tới.
Những Người Có Khải Tượng Trung Bình (Mezzo-Visionaries)
“Mezzo” là một từ ngữ tiếng Ý có nghĩa “ở vào khoảng giữa.” Những người có khải tượng trung bình là những người đang ở trong những giai đoạn trung gian của chức vụ và triển vọng. Họ đã tỏ ra khả năng thực hiện khải tượng trong những hoàn cảnh thân mật nhất - gia đình, sở làm, hội thánh, những khu vực láng giềng - và sẵn sàng đương đầu với những thách thức lớn hơn. Chúa rất sung sướng sử dụng họ theo cách này.
Khi tiến vượt ra ngoài khải tượng cá nhân, người có khải tượng trung bình ôm ấp khải tượng để tạo được ảnh hưởng rộng lớn hơn, khải tượng này có thể liên quan đến một thể loại chức vụ nào đó; nó có thể liên quan đến thách thức đối với một phương diện của nền văn hóa; khải tượng đó có thể liên quan đến một nhóm người nào đó cần được tác động đến theo một phương cách độc đáo nào đó.
Chắc bạn biết một vài người có khải tượng trung bình. Nói chung họ là những người vươn lên nắm giữ địa vị lãnh đạo trong hội thánh địa phương vì đây là những người đang được Chúa chúc phước cho và là những người được thúc đẩy bởi một mục đích lớn lao hơn trong chức vụ. Họ vẫn không trọn vẹn; họ chỉ đang mở rộng ảnh hưởng của hội thánh thông qua khả năng nâng cao của họ để nhận biết, có được và áp dụng một khải tượng lớn hơn.
Những Người Có Khải Tượng Vĩ Đại
Sau khi đã nắm vững khải tượng nhỏ và trung bình, những cá nhân hiếm hoi này là những đầy tớ nổi tiếng nhất của Đức Chúa Trời vì họ có khải tượng toàn cầu cho hội thánh suy tính và tham dự vào phạm vi ngoại biên.
Đây là những người mà chúng ta thường xem như những nhà lãnh đạo lớn của giới Cơ Đốc. Những người như Chuck Colson, Bill Hybels, Ron Sider, Bill Bright, Pat Robertson và Billy Graham là một vài nhân vật mà bạn mong tìm thấy trong danh bạ những người có khải tượng vĩ đại.
NHỮNG NGƯỜI CÓ KHẢI TƯỢNG VĨ ĐẠI THƯỜNG TRẢI QUA CÁC CẤP NÀY, TIẾN TỪ KHẢI TƯỢNG NHỎ ĐẾN KHẢI TƯỢNG TRUNG BÌNH TRƯỚC KHI ĐƯỢC PHÉP PHỤC VỤ VỚI TƯ CÁCH NHỮNG NGƯỜI CÓ KHẢI TƯỢNG VĨ ĐẠI.
Bạn thường thấy những người có khải tượng vĩ đại phải sống qua rất nhiều thử thách hoạn nạn. Tuy nhiên, điều ấn tượng nhất về họ không phải là tầm cỡ của mơ ước, nhưng là sức mãnh liệt để đeo đuổi ước mơ do Chúa cảm động. Những người có khải tượng vĩ đại thường đã tiến lên qua các cấp này, tiến từ khải tượng nhỏ đến khải tượng trung bình trước khi được phép phục vụ với tư cách những người có khải tượng vĩ đại.
Một trong những trách nhiệm của các cá nhân đặc biệt này chính là nhận diện những con người có tiềm năng cao, là những người có năng lực khải tượng có thể phát triển lớn hơn, để rồi họ cũng có thể gia nhập hàng ngũ của những người có khải tượng vĩ đại. Như vậy những người hiện có khải tượng vĩ đại có bổn phận thiêng liêng là tư vấn cho những người mang tiềm năng có khải tượng vĩ đại.
Thách Thức
Nếu người ta không có khải tượng ở tầm cỡ vĩ đại ngay từ lúc chào đời, nhưng phải tiến lên qua nhiều cấp độ trách nhiệm, điều này muốn nói gì với bạn?
Sau đây là một số thắc mắc do nhận định này đem lại cho tôi:
§ Mong ước của lòng tôi là gì: kháng cự lại áp lực cùng những thách thức để sống tại bình diện khải tượng nhỏ hay để tìm cách hoàn thành những việc lớn cho Chúa đến tận cùng khả năng của tôi và bởi đó trở thành người có khải tượng vĩ đại?
§ Tôi đang làm gì để học tập nhiều điều ở bình diện hiện tại của mình và chuẩn bị tiến sang bình diện cao hơn?
§ Ai là những gương mẫu đang cuốn hút tôi, và nghiên cứu kỹ về đời sống họ sẽ nhen lên mức độ khao khát và năng lực nào bên trong đời sống tôi?
§ Đối với những người chưa trưởng thành được như tôi trong khải tượng nhưng có khao khát rõ ràng để vươn đến mức phát triển tối đa khải tượng, tôi có thể giúp họ phát triển theo những cách nào?
§ Ngay giờ này, hiện có những trở ngại nào ngăn cản tôi hoặc khiến tôi không đủ tư cách tiến sang bình diện có khải tượng cao hơn?
§ Tôi phải trả giá nào để tiến sang bình diện khải tượng cao hơn? Tôi có sẵn lòng trả giá đó không?
§ Tôi có khả năng tiến sang bình diện cao hơn hay tôi nên thỏa lòng vì Chúa đã đưa tôi vào một bình diện sẽ kéo dài tiếp tục suốt đời tôi?
Tôi tin khải tượng có chứa một số điều tương đồng với công tác dạy dỗ. Trong Gia Gc 3:1, chúng ta được dạy phải hết sức tôn trọng trách nhiệm đó, nhận biết rằng bởi ảnh hưởng của họ, những người làm thầy sẽ bị đoán xét bởi một tiêu chuẩn cao hơn.
Tôi tin những người có khải tượng cũng chịu trách nhiệm khai trình với Đức Chúa Trời tùy theo mức độ sự phó thác và trách nhiệm Ngài đã giao cho chúng ta thông qua khải tượng ấy. Đừng xem thường sự phát triển và sử dụng hiệu quả khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho đời sống, chức vụ hoặc hội thánh của bạn.
Ai Nhận Lãnh Khải Tượng?
Hãy suy gẫm giây lát về Đức Chúa Trời là Đấng bạn biết và yêu thương, và là Đấng biết và yêu thương bạn ngày càng sâu nhiệm hơn. Bạn có nghĩ Đức Chúa Trời chủ động và cố ý quyết định không ban cho một tín hữu thật mức độ khải tượng nào đó cho tương lai không?
Có nhất quán với tính cách của Đức Chúa Trời không, khi Ngài tìm kiếm mối quan hệ với một người, nhưng rồi không cho người ấy biết cách sống cho vinh hiển của Ngài bằng cách tạo ra ảnh hưởng lớn lao nhất, và có ý thức thỏa mãn cách cá nhân lớn lao nhất?
Phải chăng Đức Chúa Trời mà bạn phục vụ đang thiên vị, ngẫu nhiên chọn một số người nào đó giữ vai trò quan trọng đồng thời bỏ mặc cho những người còn lại phải phục vụ cách tầm thường?
Mối Quan Hệ Cá Nhân
Chúa yêu mỗi chúng ta, Ngài muốn chúng ta phát triển quan hệ mật thiết với Ngài. Một phần lòng yêu mến Chúa của chúng ta được thể
CHÚNG TA PHỤC VỤ MỘT ĐỨC CHÚA TRỜI HỮU LÝ VÀ CÓ TRẬT TỰ, ĐẤNG KHÔNG KÊU GỌI CHÚNG TA CẠNH TRANH VỚI NHAU, NHƯNG CHUẨN BỊ CHÚNG TA CHO CHỨC VỤ HỢP TÁC ĐẦY HIỆU QUẢ.
hiện qua sự tận tâm với nếp sống Cơ Đốc, và một phần hết sức quan trọng của nếp sống ấy liên quan đến sự phục vụ. Vì Ngài ban cho mỗi người những ân tứ và khả năng khác nhau, những kinh nghiệm và những nguồn cung ứng khác nhau, nên mỗi tín hữu có một khải tượng khác nhau cần làm trọn.
Chúng ta phục vụ một Đức Chúa Trời hữu lý và có trật tự, Đấng không kêu gọi chúng ta cạnh tranh với nhau, nhưng chuẩn bị chúng ta cho chức vụ hợp tác đầy hiệu quả. Khải tượng làm sáng tỏ những đường nét của sự phục vụ đó trong tâm trí và lòng của chúng ta.
Liệu có tình trạng một người làm lãnh đạo nhưng không có khải tượng nào? Bản thân ý tưởng này thật phi lý thay! Lãnh đạo là gì? Là người hiểu bối cảnh, phát biểu kế hoạch hành động và mục đích ẩn bên dưới hành động đó, rồi điều phối hoạt động cần có để lo sao cho kế hoạch ấy được thực hiện. Nếu người lãnh đạo không có khải tượng, người ấy sẽ dẫn dân sự mình tiến đến điều gì? “Người lãnh đạo không có khải tượng” là một từ ngữ tự mâu thuẫn.
Còn Hơn Cả Sứ Mạng Đơn Thuần
Kế hoạch và mục đích này được căn cứ trên điều còn hơn cả một sứ mạng đơn thuần. Chúng được căn cứ trên khải tượng, trên góc nhìn chi tiết về tương lai mà lãnh đạo và những người theo ông được kêu gọi để tạo dựng nên. Một người mang danh “lãnh đạo” nhưng không ý thức rõ ràng điều mình đang tìm cách hoàn thành, thì đó không phải là lãnh đạo nhưng là một người đi theo, một người nương nhờ vào sự dẫn dắt của những người khác.
Vẫn có thể người có khải tượng nhỏ giữ địa vị lãnh đạo. Những người này vật vã với công tác lãnh đạo vì họ gặp lúc khó nhìn vượt qua khỏi chính mình và những hoàn cảnh ngay trước mắt của mình. Có thể người có khải tượng trung bình hoặc người có khải tượng vĩ đại làm lãnh đạo và thành công. Tuy nhiên, nên nhận thấy rằng sự có mặt của khải tượng không bảo đảm một người sẽ trở thành một lãnh đạo hiệu quả.
Khải tượng là cần thiết, nhưng không thay thế được cho thành công trong công tác lãnh đạo. Công tác lãnh đạo hiệu quả đòi hỏi năng lực để nhận biết và phát biểu rõ ràng khải tượng, năng lực để phát triển một đội ngũ biết lập chiến lược và kế hoạch cho sự biến đổi, có năng lực để giao công tác và khích lệ người khác trong nỗ lực đó.
Ý chính ở đây là: mỗi một người đảm nhận công tác lãnh đạo phải có khải tượng.
Những Giá Trị Của Bạn Là Gì?
“NẾU KHÔNG ĐỨNG LÊN VÌ MỘT ĐIỀU GÌ ĐÓ,BẠN NGÃ VÌ MỌI THỨ”.
- VÔ DANH
Một cậu bé 16 tuổi thú nhận đã giết một người láng giềng 11 tuổi trong lúc đang say thuốc marijuana (CTD.: ma túy làm từ cây gai dầu), và cậu bị kết án 47 năm tù.
Cuộc nghiên cứu kéo dài 1 năm về các chương trình truyền hình do các nhà nghiên cứu tại bốn viện đại học tổ chức đã kết luận đại đa số các chương trình có chiếu cảnh bạo lực và bối cảnh mà bạo lực ấy đã xảy ra thì đều có thể “gây tác hại tâm lý.”
Một cô bé 3 tuổi đã chết, là nạn nhân của điều mà xét nghiệm y khoa gọi là triệu chứng trẻ em bị đánh đập.
Một cựu nghị sĩ Hoa Kỳ bị kết án một năm tù treo, chấm dứt vụ án luân lý mà trong đó ông thừa nhận đã khai man bản báo cáo chi tiêu của quốc hội.
Hành vi của những người được nêu trong các bản tin trên đây không đại diện cho điều hầu hết chúng ta xem là “những giá trị truyền thống” Trong xã hội chúng ta. Rất có thể hành vi đó được trích dẫn như là nguyên nhân lo lắng trong công chúng về những vấn đề như tội phạm, bạo lực trên chương trình truyền hình, hành vi của các công chức, các triết lý trong trường công và sự dự phần của cộng đồng tôn giáo vào chính trị và chính quyền.
Dầu công chúng quan tâm ngày càng nhiều vào những vấn đề như thế, những cuộc nghiên cứu của nhóm Barna Research Group cho thấy hầu hết những người thành nhân đều lúng túng khi được yêu cầu mô tả ý nghĩa của những giá trị nói chung hay để phát biểu những giá trị của chính họ nói riêng.
Đối với người có khải tượng, các giá trị là phần không thể thiếu của tiến trình phát triển. Như đã nói trong chương 2, các giá trị hình thành nền tảng khải tượng Đức Chúa Trời ban.
Không thể nhận lãnh khải tượng từ Chúa mà nó mâu thuẫn với các loại giá trị Ngài dạy cho chúng ta cần phải tuân giữ trong đời sống mình. Hiểu các giá trị của Kinh Thánh và triển khai những phương cách thực tiễn để kết hợp chúng vào nếp sống của chúng ta chính là những công tác hết sức quan trọng cho những Cơ Đốc Nhân tận tâm.
Xác Định Các Giá Trị
Như thường lệ, chúng ta bắt đầu từ Kinh Thánh để nhận diện các giá trị. Chúa không để chúng ta thiếu thông tin trong vấn đề xây dựng cơ sở cho các giá trị. Chúng ta có thể trích ra một nhóm bao quát các giá trị từ những nguyên tắc sống được mô tả trong Kinh Thánh.
Nếu các giá trị là những yếu tố chúng ta kể là quí giá và xứng đáng để chấp nhận làm nền tảng cho tính cách, thì Kinh Thánh đại diện kho giáo huấn về đề tài này.
Nếu bạn suy gẫm đến đời sống của những người có khải tượng chính yếu trong Kinh Thánh, bạn có thể nhận biết một số những giá trị đã thúc đẩy nếp suy nghĩ và hành vi của họ, giúp định hình những thế giới quan và khải tượng của họ. Vì các giá trị giúp chúng ta chọn lựa - từ những quyết định tầm thường nhất đến những quyết định một mất một còn - chúng ta có thể hiểu các giá trị của những người có khải tượng trong Kinh Thánh một phần bằng cách phân tích những chọn lựa của họ, đặc biệt trong những lúc căng thẳng và đối đầu.
Đấng Christ Là Một Gương Mẫu
Những lời dạy của Chúa Giêsu Christ và đặc biệt của Phaolô cung cấp hiểu biết rõ ràng về thể loại các giá trị xác định nên tính cách của một Cơ Đốc Nhân.
Thay vì nhận diện xem những giá trị của bạn đáng ra phải như thế nào - giá như có thể đưa ra một công bố như thế - tôi xin nói rõ ràng rằng xác định những giá trị của bạn là bước cần thiết và quan trọng trong sự phát triển và trưởng thành của cá nhân bạn với tư cách một Cơ Đốc Nhân. Việc khẳng định những giá trị ấy cũng là bước then chốt để tiến đến chỗ trở thành người tín hữu được thúc đẩy bởi khải tượng. Tuy nhiên, việc nêu rõ những giá trị của bạn là một vấn đề cá nhân.
Không ai có thể làm việc đó thay bạn, vì bạn đang mô tả thể loại người mình muốn trở thành. Tương tự, nếu bạn đang cố gắng nhận diện những giá trị nòng cốt của hội thánh mình, bạn không thể sao chép danh sách các giá trị do các hội thánh khác đưa ra, vì những hội chúng kia có những cá tánh khác, lịch sử khác, đội ngũ lãnh đạo khác, và những nền văn hóa nội bộ khác.
SỨ MẠNG CUNG CẤP MỤC ĐÍCH ĐỜI SỐNG BẠN. KHẢI TƯỢNG CUNG CẤP PHƯƠNG HƯỚNG ĐỜI SỐNG CHO BẠN NHỮNG GIÁ TRỊ CUNG CẤP TÍNH CÁCH CỦA BẠN.
Sứ mạng cung cấp mục đích đời sống của bạn. Khải tượng cung cấp phương hướng đời sống của bạn. Các giá trị cung cấp tính cách của bạn. Chừng nào chưa xác định được những giá trị của mình, tính cách của bạn dễ gặp phải những thay đổi nguy hiểm. Các giá trị truyền đạt đặc điểm của con người bạn: những tham số bạn đã ấn định cho chính mình về những niềm tin trong luân lý, đạo đức, thần học và cá nhân.
Các Giá Trị Định Hướng Hành Vi
Chừng nào chưa thể phát biểu cách vững tin về những giá trị của mình, bạn đều có thể thay thế giá trị của mình bằng mọi thứ triết lý, mọi thứ hành vi và mọi thứ khao khát có trong nhân loại này. những giá trị của bạn trở thành bộ lọc để qua đó bạn xác định phải quấy, điều giá trị với điều vô giá trị, điều quan trọng với điều tầm thường. Nếu bạn không nhận diện cụ thể những giá trị của mình, chúng sẽ được định nghĩa cho bạn bởi những xu hướng thất thường và bởi những ảnh hưởng của thế gian.
Những giá trị là những quan điểm không thể thương lượng được trong đời sống bạn. Thường thì những ai không chủ tâm nêu rõ ràng và chính xác những giá trị của mình thì đến lúc gặp áp lực, họ sẽ không biết sẽ làm gì hay suy nghĩ gì. Khi nói đến tính trước sau như một và tính kiên quyết, những Cơ Đốc Nhân nào không có những tập hợp các giá trị đã xác định rõ ràng thì họ ít gặp nguy cơ thỏa hiệp về đạo đức hay luân lý, vì những người không hề có những giá trị rõ ràng thì có gì đâu mà thỏa hiệp.
Mặt khác, những ai xác định cụ thể những giá trị của họ thì rất có thể sống hài hòa với những niềm tin cốt lõi đó. Sau khi đã xác định những giá trị cốt lõi của mình, bạn có thể sử dụng chúng vào những mục đích sau đây:
1. Làm cơ sở cho những quyết định nhất quán và thích hợp;
2. Làm nền tảng để từ đó nảy sinh khải tượng của bạn;
3. Làm những nguyên tắc nền tảng để dựa theo đó bạn khai trình với những người được bạn tin cậy và những người quan tâm đến bạn;
4. Làm bộ lọc để có thể đánh giá tầm quan trọng của những cơ hội hay của những phương án thay thế khác;
5. Dùng làm tiêu chuẩn so sánh để đánh giá sự tăng trưởng của bạn với tư cách một môn đồ Đấng Christ và một lãnh đạo trong nhiều công việc và địa vị khác nhau;
6. Để làm phương cách giải thích thực tiễn cho các nguyên tắc của Kinh Thánh về sự trưởng thành và tính cách.
Biết Mình Là Ai
Để trở thành một người có khải tượng chân chính, bạn phải biết mình là ai. Đức Chúa Trời không thể bày tỏ khải tượng của Ngài cho đời sống và chức vụ của bạn cho đến khi bạn tuyên bố công khai đâu là điều quan trọng trong tính cách của mình. Chừng nào bạn chưa sẵn sàng và chưa thể phát biểu những giá trị ấy, nếp suy nghĩ và hành vi của bạn vẫn dễ thay đổi thất thường và không thể đoán trước được. Bạn cũng chưa tuyên bố thực chất của mình.
Tôi khích lệ bạn xác định những giá trị của mình theo như cách bạn xác định một tuyên ngôn tập trung và chính xác về sứ mạng và tuyên ngôn khải tượng. Đây là một cách khác nữa để bạn tuyên bố mình đang đứng lên bênh vực điều gì và có thể mong đợi điều gì ở nơi bạn. Ở bình diện cá nhân hơn, Cơ Đốc Nhân nào biết rõ tính cách của mình thì sẽ sống bình an với chính mình và với thế giới, vì họ đã giảm thiểu xác xuất kinh nghiệm những điều không nhất quán trong ý tưởng, lời nói, hành động và tính cách.
Nguồn Của Các Giá Trị
Việc gợi ý rằng nên rút ra những giá trị của bạn từ Kinh Thánh, một mình Kinh Thánh mà thôi, nghe có vẻ hơi lý tưởng hoặc có vẻ hơi hời hợt bề ngoài. Lời Đức Chúa Trời đủ để dẫn dắt đời sống chúng ta; nhưng Ngài cũng cho phép chúng ta học hỏi từ những kinh nghiệm, từ người khác, từ sự cầu nguyện và nhiều nguồn cung ứng khác nữa.
Hunter Lewis cho rằng chúng ta rút ra được những giá trị của mình bằng bất cứ cách nào trong 6 cách sau. [1]
Hunter Lewis, A Question of Values (San Francisco: HarperCollins, 1990). Chương 2 nhận diện sáu phương cách này, rồi chương 3 đến 8 dành mô tả chi tiết hơn về từng phương cách.
1. Thẩm quyền . Những giá trị xuất phát từ các dấu hiệu của một nguồn kiến thức hay quan điểm bên ngoài mà bạn tin cậy. Đối với Cơ Đốc Nhân, Kinh Thánh hay một vị mục sư được tin cậy là các ví dụ về một hình ảnh thẩm quyền mà bạn có thể tham khảo ý kiến hay tin cậy trong việc định hình các giá trị của mình. Các chuyên gia, chẳng hạn như các giáo sư đại học, các lãnh tụ trong chính quyền, những nhà hoạt động xã hội, những nhân vật trong tôn giáo, những lãnh đạo trong giới kinh doanh và các tác giả, cũng có thể ảnh hưởng đến nếp suy nghĩ của bạn về các giá trị.
2. Phép lý luận diễn dịch . Tiến trình này cho phép bạn khảo sát những giá trị sắp đến và tính nhất quán của chúng với thực tại khách quan và chủ quan. Lối tiếp cận này khích lệ bạn phát biểu những chân lý mà bạn tin là cốt lõi cho tính cách của bạn và thử nghiệm chúng về mặt luận lý.
3. Kinh nghiệm . Có thể bạn chọn một số giá trị nào đó vì đã trực tiếp kinh nghiệm chúng trong cuộc sống. Khi nghiên cứu quá khứ của mình và xác định điều gì là quan trọng nhất và ý nghĩa nhất trong đời sống của bạn, những kinh nghiệm nào để lại ấn tượng lâu dài nhất trên bạn, hay đã có ảnh hưởng chủ yếu trên đời sống bạn, thì chúng có thể trở thành cơ sở cho những giá trị của bạn.
4. Cảm xúc . Rất nhiều người xác định giá trị căn cứ trên những cảm xúc của họ. Phương cách này khác hẳn với phép luận lý, vì phép luận lý thiên về lý trí. Thường người ta xác định những giá trị căn cứ trên điều họ cảm thấy là đúng, tốt đẹp hay thích hợp.
5. Trực giác . Khi bạn nhờ vào lý trí trong tiềm thức truyền đạt những hiểu biết, bạn đang dựa vào trực giác. Đây là cách lập quyết định mà không dựa vào lý luận có thể nhận diện được theo sự kiện. Một số người phát triển những giá trị của họ trên cơ sở tự nhận thức bằng trực giác.
6. Khoa học . Phương pháp khoa học là tinh vi công phu nhất, hoặc ít nhất cũng là phương pháp phức tạp nhất, đòi hỏi rằng một giả thiết phải được triển khai và thử nghiệm để kết luận có thể xem là chính xác và đáng tin căn cứ trên sự thực hành được lập đi lập lại và những kết quả có thể quan sát được.
Kinh Thánh Là Nguồn Tốt Nhất Cho Các Giá Trị
Cơ Đốc Nhân có thể rút ra được những giá trị cốt lõi thông qua bất kỳ phương pháp nào trong 6 phương pháp trên đây. Dầu không ai có thể ấn định những giá trị của bạn sẽ phải như thế nào, nhưng tôi tin cũng là phải lẽ khi gợi ý mỗi Cơ Đốc Nhân nên rút ra ý thức về các giá trị của mình chủ yếu từ một nguồn có thẩm quyền, đáng chú ý nhất là Kinh Thánh. Những thể loại giá trị bạn rút ra được từ Lời Chúa đáng phải hình thành nền tảng những giá trị của bạn, một nhóm các nguyên tắc, những niềm tin và những quan điểm làm trọng tâm cho đời sống bạn và giữ cho vẫn cứ không thể thương lượng được trong kinh nghiệm hằng ngày của bạn.
Yêu mến Đức Chúa Trời trên hết Phục Truyền 5:7-10; Mathiơ 22:37 Yêu thương con người Mathiơ 5:43-47; 22:38; ICôrinhtô 12
Tôn trọng người khác Phục Truyền 5:16; Rôma 13:7
Sống đơn sơ Phục Truyền 5:21; Mathiơ 6:19-21; Mác 10:17-23
Vâng theo Lời Chúa Êphêsô 2:4,5; Tít 3:4-7
Tinh thần tôi tớ IPhierơ 5:1-4; Khải huyền 2:10
Sự xuất sắc Gióp 22:29; Châm Ngôn 3:34; 11:2; Mathiơ 5:3; Giacơ 4:7-10
Dĩ nhiên, danh sách những giá trị khả dĩ này rất dài. Có thể thêm những giá trị khác như tinh thần kỷ luật, tự do, ngay thật, gia đình, lòng cam kết, lòng tin kính, sự công bình, sự thật, công chính, hy sinh, lòng rộng rãi, lòng thương xót, nhịn nhục và trung tín.
Bằng cách sử dụng những phẩm chất được liệt kê trong Mười Điều Răn, Các Phước Lành, trái của Thánh Linh và những tiêu chuẩn lãnh đạo của Phaolô (xem ITi1Tm 3:1-4:16), bạn có thể lập một danh sách đầy ấn tượng về các giá trị cần xét đến.
Tuy nhiên, đừng chấp nhận tất cả chúng, vì mục đích bài tập này là nhận diện những giá trị cốt lõi của bạn - những giá trị tuyệt đối trọng tâm để định hình tính cách của bạn. Không ai phản đối sự xứng đáng của các yếu tố tìm được trong các phân đoạn Kinh Thánh như thế. Tuy nhiên, khi chọn những yếu tố nào là trọng tâm cho tính cách của bạn, bạn sẽ phải kén chọn hơn. Lên danh sách cho những phẩm chất tốt theo kiểu liệt kê đồ giặt ủi sẽ làm hỏng mục đích tập trung vào các giá trị.
Bạn có thể chọn cách lập lại danh sách này, hoặc có lẽ triển khai dựa trên những kinh nghiệm, những cảm xúc hoặc trực giác. Dầu theo tiến trình nào đi nữa, kết quả cuối cùng phải hoàn toàn nhất quán với những chân lý và những nguyên tắc của Kinh Thánh. Nếu bổ sung những giá trị của mình qua những phương tiện ngoài Kinh Thánh, nhớ tham khảo Kinh Thánh và xác minh được nó tương xứng với những phẩm chất mà Cơ Đốc Nhân được khích lệ phải có.
Về sự nhận biết khải tượng thuộc về Chúa, việc bạn nhận diện các giá trị - và cam kết với chúng - phải đi kèm với sự cầu nguyện rất nhiều. Đừng để các giá trị trở thành một mối quan tâm nhất thời. Chúng chính là sự giải thích về con người của bạn, chúng đại diện cho một phần bổn phận của bạn đối với Chúa. Bạn không thể xem nhẹ việc này!
Trước khi bắt đầu tiến trình nhận diện các giá trị của mình, hãy cầu nguyện xin Chúa ban sự khôn ngoan và dẫn dắt. Khi bạn đang ở giữa những suy tính và quyết định về các giá trị, hãy cầu xin Thánh Linh hướng dẫn ý tưởng của bạn, sau khi tin mình đã đạt đến chỗ hiểu biết rõ ràng chắc chắn về các giá trị ấy, hãy tìm sự phê chuẩn của Chúa thông qua sự cầu nguyện thật tập trung. Hãy đón nhận thách thức của Thánh Linh Đức Chúa Trời dành cho bạn về một số những giá trị đã dự định của bạn.
NẾU LẤY ĐI SỰ TRUNG THỰC CỦA TÔI THÌ TÔI KHÔNG CÒN CÓ GÌ NỮA TRONG TƯ CÁCH MỘT ĐẠI DIỆN CỦA ĐẤNG CHRIST, MỘT NHÀ PHÂN TÍCH NỀN VĂN HÓA MỸ, MỘT NGƯỜI CHA CỦA HAI NGƯỜI CON TRẺ TUỔI VÀ MỘT LÃNH ĐẠO CỦA HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG.
Nên nhớ, bạn đang nhận diện những giá trị này như phương tiện để trở thành một của lễ thánh và đẹp lòng Chúa (xem RoRm 12:1) và để có thể trở thành một người có khải tượng tốt. Những kết luận bạn rút ra được về các giá trị là quan trọng đối với Chúa cũng như đối với bạn vậy.
Những Giá Trị Nòng Cốt Của Bạn
Thật hữu ích để thấy có thể bạn có rất nhiều cấp độ khác nhau của các giá trị. Tôi chủ yếu quan tâm đến việc phát triển giá trị nồng cốt của bạn. Chúng là trọng tâm để xác định con người bạn. Vi phạm một giá trị nồng cốt tức là phá hoại tính cách của bạn, làm giảm giá trị thật chất của con người bạn, và xúc phạm đến lòng bạn. Khải tượng xuất phát từ những giá trị nòng cốt của bạn, chứ không phải từ những giá trị thứ yếu của bạn đâu.
Hãy lấy một ví dụ. Hai trong số những giá trị của tôi ấy là: tôi phải sống với lòng trung thực bất luận phải trả giá nào, và tôi sẽ sống ở miền nam California, nếu như Chúa cho phép.
Điều thứ nhất là giá trị cốt lõi cho tôi: Làm ô uế lòng trung thực của tôi tức là phá hoại chính con người của tôi và phủ nhận ý thức về mục đích sống của tôi. Lấy đi lòng trung thực của tôi thì tôi chẳng còn có gì nữa trong tư cách người đại diện của Đấng Christ, một nhà phân tích nền văn hóa Mỹ, một người cha của hai người con trẻ tuổi và một lãnh đạo của hội thánh địa phương. Phương cách tôi thực hiện khải tượng cho đời sống tôi được đan quyện với năng lực của tôi để sống tuyệt đối trung thực.
Do đó, khi tôi được dành cho nhiều cơ hội, một số cơ hội ấy nằm bên trong khải tượng dành cho đời sống tôi nhưng mâu thuẫn với các giá trị của tôi, tôi đã có thể lập những quyết định hợp lý, nhất quán và có thể bảo vệ được.
Lấy ví dụ, tôi đã được mời “viết thuê” nhiều quyển sách cho những người khác. Trong một số trường hợp, các sách này được căn cứ trên dữ liệu tôi đã thu thập được qua cuộc nghiên cứu trên toàn quốc và về những đề tài tôi rất ưa thích. Viết những sách như vậy tạo cho tôi cơ hội ảnh hưởng tích cực đến nhiều đời sống bằng những chân lý có thể thay đổi được nếp suy nghĩ và hành vi của họ vì cớ vinh quang của Chúa. Nhưng tôi cũng tin rằng viết thuê là trái đạo đức. Vâng, đấy là một nghề phổ thông, nhưng phổ thông không có nghĩa là nó đúng, ít nhất cũng là trong bộ luật luân lý của tôi.
Vấn đề của lòng trung thực . Vì vậy, dầu có đủ mọi lý do đầy đủ cơ sở để viết thuê sách cho một số các giáo sư và diễn giả danh tiếng trong Hội Thánh ngày nay, lòng cương quyết giữ vững tính trung thực của tôi đã khiến tôi từ chối những lời mời đầy hấp dẫn ấy.
Khách quan mà nói, nếu tôi đặt mọi lập luận để viết quyển sách ấy lên một bên đĩa cân, và đặt ước muốn làm người trung thực trên đĩa cân bên kia, cán cân sẽ nghiêng hẳn về bên viết những quyển sách như thế.
Tuy nhiên, những giá trị không mang tính khách quan. Chúng là nội dung chủ quan của chính con người tôi. Rơi vào cám dỗ như thế ngay cả vì những mục đích có thể là xứng đáng và còn đáng quí trọng nữa cũng biến lòng trung thực của tôi thành trò hề. Tận dụng những lời chào mời ấy làm hại đến lòng tin của Chúa nơi tôi trong tư cách một đầy tớ tín cẩn, và nó sẽ không để cho Ngài tự hào và hài lòng xứng đáng với Ngài qua đời sống tôi nữa. Vì sao vậy? Vì viết thuê sẽ làm hại đến một trong những giá trị cốt lõi của tôi.
Tuy nhiên, nếu vì lý do gì đó tôi phải rời khỏi miền nam California và trở về những nơi ưa thích thuở thơ ấu của tôi ở vùng Đông Bắc, tôi sẽ trề môi và ta thán, nhưng tính cách của tôi sẽ không bị tổn hại. Bầu không khí dễ chịu quanh năm của hạt Ventura, được ở gần Thái Bình Dương, vẻ đẹp của phong cảnh, rất nhiều hoạt động giải trí khác nhau, tất cả những điều kiện này thích hợp với vùng nam California đem lại cho tôi niềm vui và bình an lớn lao.
Sở thích cá nhân . Dời đến một vùng lạnh lẽo hơn, thiên về truyền thống và hình thức hơn của đất nước sẽ không định nghĩa lại con người của tôi. Tôi có thể dễ dàng hoàn thành khải tượng cho đời sống tôi từ vùng Đông Bắc, vùng phía Nam, vùng Trung Tây hoặc ở miền Tây: trong đời sống tôi, vị trí địa lý là một vấn đề thuộc sở thích cá nhân, không phải là vấn đề tự định nghĩa bản thân, vì vậy sống tại miền Nam California là giá trị thứ yếu. Cho dẫu nó bị thỏa hiệp, tính cách của tôi vẫn không bị thỏa hiệp.
Khi suy gẫm đến những giá trị của bạn, nên nhớ phân biệt giữa những giá trị cốt lõi với những giá trị thứ yếu.

Những Tuyên Ngôn Về Giá Trị
Khi nêu những ví dụ về các giá trị cốt lõi được trích từ các cá nhân và các chức vụ khác, xin vui lòng nhận thấy rằng các giá trị của họ không nhất thiết phải là các giá trị của bạn. Bạn có thể khảo sát những tuyên ngôn này và liên hệ với một số trong đó, nhưng không làm vậy với số kia. Điều này không có nghĩa những nguồn này đã định nghĩa không thỏa đáng các giá trị của họ, cũng không có nghĩa bạn xác định không chính xác những giá trị của mình.
Theo kiểu mẫu của Đức Chúa Trời, hết thảy chúng ta đều khác nhau. Các giá trị của bạn nên phản ảnh được con người của bạn và cách Đức Chúa Trời tạo dựng bạn như một con người độc đáo. Tương tự, hội thánh của bạn khác với các hội thánh khác, vì vậy các giá trị của hội thánh bạn có thể tương đương nhưng khác với giá trị của các hội thánh khác dầu sứ mạng của các hội thánh ấy là như nhau.
Sau đây là một vài tuyên ngôn về giá trị được rút ra từ các hội thánh, các chức vụ đi song song với hội thánh và các cá nhân Cơ Đốc Nhân.
Các Giá Trị Cốt Lõi Của Hội Thánh Willow Creek Community [2]
Lynne và Bill Hybels, Rediscovering the Church (Grand Rapids: HarperCollins/Zondervan, 1995 trang 183-194.
§ Công tác dạy đạo được xức dầu là chất xúc tác chính yếu cho sự biến cải đời sống của những cá nhân và trong hội thánh.
§ Những người hư mất là quan trọng đối với Đức Chúa Trời, do đó phải quan trọng đối với chúng ta.
§ Hội thánh nên thích ứng về văn hóa đồng thời vẫn phải giữ thuần khiết về giáo lý.
§ Môn đồ Đấng Christ nên tỏ ra tính đích thực và khao khát sự tăng trưởng liên tục.
§ Hội thánh nên vận hành như một cộng đồng hiệp một của những đầy tớ để quản lý các ân tứ thuộc linh của họ.
§ Những mối quan hệ yêu thương phải thấm nhuần mọi phương diện của sinh hoạt của hội thánh.
§ Sự biến đổi đời sống diễn ra tốt nhất trong các nhóm nhỏ.
§ Sự xuất sắc sẽ tôn vinh Đức Chúa Trời và tạo cảm hứng cho sự vĩ đại.
§ Hội thánh nên được hướng dẫn bởi những người có ân tứ lãnh đạo.
§ Lòng tận hiến trọn vẹn với Đấng Christ và sự nghiệp của Ngài là điều bình thường cho mỗi tín hữu.
Những Giá Trị Cốt Lõi Của Hội Thánh Glendale Community
Đây là những giá trị cốt lõi mà chúng ta sẽ nỗ lực duy trì trong mọi sự truyền thông, tư tưởng và hoạt động của những môn đồ Chúa Giêsu Christ. Những thuộc tánh này bày tỏ lòng chúng ta cho mọi người đều thấy; chúng đại diện cho tính cách mà chúng ta muốn có; chúng là những tiêu chuẩn để chúng ta tra xét chính mình. Mọi nỗ lực trong chức vụ xuất phát từ hội thánh chúng ta đều phải phù hợp nhất quán với các giá trị này.
§ § Tôn trọng
§ Đức tin
§ Sự tha thứ
§ Khôn ngoan
§ Đức khiêm nhường
§ Chân lý
§ Tình yêu thương
§ Sự công bình
§ Lòng trung thực
§ Sự vui mừng
§ Có tinh thần tôi tớ
§ Kiên nhẫn
§ Hòa thuận
§ Tận tâm
§ Lòng rộng rãi
Những Giá Trị Cốt Lõi Của Hội Thánh Eastside Foursquare
Chúng ta quí trọng:
§ Một môi trường đặc trưng bởi tình yêu thương, sự chấp nhận và tha thứ nhau.
§ quyền của mỗi người được lựa chọn cho chính mình, tự quyết định về những vấn đề liên quan đến đời sống cá nhân của họ. Đây là phương cách lãnh đạo Cơ Đốc không áp đặt chỉ thị.
§ phương pháp lãnh đạo nghiêm túc trong việc quản lý những nguồn tài nguyên của chúng ta để đem lại lợi ích cao nhất cho nước Đức Chúa Trời.
§ đời sống gia đình cá nhân mạnh mẽ. Chúng tôi cho rằng sinh hoạt hội chúng địa phương phải gia tăng sức mạnh của gia đình hơn là gây tổn hại cho sức mạnh ấy.
§ tinh thần khai trình. Mối quan hệ của chúng ta với hệ phái Foursquare là không thể thương lượng được. Những hệ thống khai trình trách nhiệm ở bên trong và bên ngoài hội thánh được đánh giá rất cao và được xem là thiết yếu cho sự duy trì mọi người mà chúng ta đại diện với tư cách Hội Thánh.
§ sự thánh khiết. Chúng ta quí trọng địa vị công bình của mình trước mặt Đức Chúa Trời, bởi Đấng Christ, với tư cách người công bình, không có tội; và chúng ta phấn đấu để có đời sống không phạm những tội cố ý và bất tuân Đấng Christ.
§ mối quan hệ cá nhân của mỗi người với Đức Chúa Giêsu Christ.
§ tính tự phát của Đức Thánh Linh, biểu hiện tự do của các ân tứ Ngài. Chúng ta hứa tiếp cận cách bất ngờ và đầy lý thú với cách vận hành của Đức Thánh Linh, luôn luôn ý thức khả năng có sự can thiệp của Ngài.
§ khái niệm coi hội thánh là một Lực Lượng - hội thánh là trái tim, bàn tay và miệng của Đấng Christ trong cộng đồng của chúng ta.
§ quyền tự do để biểu hiện sự kêu gọi độc đáo do Chúa ban cho chúng ta đối với cộng đồng của chúng ta là một hội chúng; quyền để sống đúng thực trạng như một hội chúng của chúng ta bất luận những việc đã hoặc đang được làm trong các hội chúng hay các nhóm khác về cách họ tiếp cận với Cơ Đốc Giáo.
§ quyền của Kinh Thánh giải nghĩa chúng ta.
§ những cội nguồn lịch sử của Cơ Đốc Giáo đã định hình nên thần học và tính chính thống của đức tin.
Những Giá Trị Cốt Lõi Của Tổ Chức Focus on the Family [3]
“Our Faith, Values, Vision and Guiding Principle,” Focus on the Family (Colorado Springs: 1995), trang 8-11. Vì tuyên ngôn của nhóm Focus rất dài, nên tôi lược vắn tắt những mô tả về một vài giá trị của hội này. Nếu bạn muốn nhận được toàn bộ sách nhỏ mô tả tuyên ngôn đức tin, sứ mạng, khải tượng và những giá trị, xin viết thư về Focus on the Family, Colorado Springs, Co 80995.
§ Kinh Thánh là tiêu chuẩn của chúng ta cho mọi niềm tin, sự dạy dỗ, nếp sống đạo và chính sách.
§ Chúng ta không thể thực hiện công tác của mình nếu không có một ban nhân viên tận hiến với Chúa Giêsu Christ là Chúa và Cứu Chúa.
§ Chúng ta thành tâm tin rằng lời cầu nguyện đem lại sự khác biệt quan trọng trong mọi việc chúng ta toan làm.
§ Chúng ta thể hiện đức tin của mình bằng sự quân bình của đầu và tim, của lý trí và tình cảm.
§ Những nguyên tắc Kinh Thánh và những niềm tin của chúng ta không phải để đem bán, cũng không lệ thuộc vào sự khẳng định hay sự chấp nhận của nền văn hóa.
§ Chúng ta không tiếc nỗ lực nào để trở nên đáng tin và chính xác.
§ Chúng ta quyết tâm luôn tươi mới và sáng tạo trong mọi phương tiện truyền thông khác nhau mà chúng ta dự phần vào.
§ Tính cách quan trọng hơn tài năng.
§ Chúng ta đầu tư mọi nỗ lực để tránh tổn hại đến sự nghiệp của Đấng Christ.
§ Quyền lực thật nguy hiểm. Những lãnh đạo của chúng ta phải cẩn thận không lạm dụng những người dưới quyền lãnh đạo của mình và phải có tinh thần khai trình trách nhiệm mạnh mẽ.
§ Chúng ta công nhận và khích lệ các ân tứ do Chúa ban trong nữ giới cũng như trong nam giới, trong thành viên của mọi chủng tộc và mọi nhóm dân tộc thiểu số.
§ Chúng ta đòi hỏi những lãnh đạo niên trưởng của mình nêu gương về tiểu sử lòng trung tín cá nhân với những lời hứa nguyện hôn nhân của họ từ lúc hoán cải trở đi.
§ Chúng ta lắng nghe thật cẩn thận. Mỗi thành viên đều có những điều dạy dỗ chúng ta.
§ Chúng ta đáp ứng nhanh chóng và lịch sự.
§ Chúng ta được kêu gọi để ban cho rời rộng cho các thành viên cũng như tiếp nhận sự trợ giúp của họ.
§ Chúng ta chú ý đặc biệt đến những người bị áp bức, người nghèo, người ngã lòng, người bị đàn áp, và những người một thân một mình nuôi con.
§ Chúng ta tôn trọng nhau, với tư cách những người bạn cùng làm việc cho Chúa.
§ Chúng ta thừa nhận những khả năng mình có thể mắc sai lầm, đẩy mạnh tinh thần trách nhiệm đồng đội, và hoan nghênh tính hài hước trong nơi làm việc.
§ Chúng ta tôn trọng những truyền thống Cơ Đốc khác nhau và lòng trung thành của các bạn cùng làm việc.
§ Chúng ta quyết tâm tập trung đáp ứng những nhu cầu của con người hơn là tập trung bảo tồn hoặc phát triển cơ quan của mình.
§ Chúng ta đồng cảm càng sâu sắc càng tốt với những tổn thương và lo âu của con người.
§ Chúng ta tránh tự hào tự mãn.
§ Chúng ta chú ý kỹ đến chi tiết trên mọi bình diện, để dâng lên Chúa tác phẩm tốt nhất của chúng ta.
§ Chúng ta sáng lập những chương trình và những dịch vụ có chất lượng xuất sắc nhưng không khoe khoang, hấp dẫn nhưng không mang tính giật gân.
§ Chúng ta bổ trợ cho hội thánh địa phương, và không hề cố ý cạnh tranh nhân lực hay ngân khoản của hội thánh ấy.
§ Chúng ta chỉ là một chuyên ngành bên trong Thân Thể Đấng Christ.
§ Chúng ta thích nêu bật các chức vụ quí giá khác đang chia sẻ cam kết thuộc linh của chúng ta.
Các Giá Trị Cốt Lõi Của Charlie Hedges [4]
Charles Hedges, Getting the Right Things Right (Sisters, Oreg.: Questar Publications, 1996)
§ Ân điển: quí trọng đời sống như một món quà từ Chúa; mỗi ngày thực hành đặc ân được yêu mến Chúa, biết ơn và bày tỏ thái độ biết ơn.
§ Phẩm hạnh của con người: tôn trọng các quyền lợi và những niềm tin của người khác; tìm hiểu trước khi phán đoán đánh giá; khước từ cuộc nói chuyện và hành động có thành kiến; bênh vực những người vắng mặt; nói chuyện với người khác đúng như con người thật của họ chứ không phải như phẩm chất tôi muốn họ phải có.
§ Yêu thương: thành công tại gia đình trước hết; đón nhận người khác với tinh thần cởi mở và chấp nhận
§ Hy vọng: góp phần vào sự tự đánh giá trong cảm nhận của người khác thông qua lời nói và hành động; thúc đẩy sự tăng trưởng và thành công của người khác; tìm cách phục vụ trước khi được phục vụ.
§ Lòng trung thực: luôn luôn sống thực; có đủ khôn ngoan để sống khiêm nhường.
§ Lòng tận tâm và nhất quán: siêng năng trong những việc nhỏ để chuẩn bị cho thành công trong các việc lớn; không bao giờ để lòng tham cá nhân xen vào lòng trung thành.
§ Sự tăng trưởng và thay đổi: sẵn lòng thay đổi, sẵn lòng học hỏi và tăng trưởng.
§ Vui đùa: nhớ tìm sự vui mừng nơi công việc của tôi, vì đó cũng là món quà do Chúa ban; mỗi ngày ít nhất một lần cười hết lòng.
§ Giá trị: làm mọi việc cho thật chất lượng.
§ Ảnh hưởng: làm việc để tạo một ảnh hưởng; nắm được khải tượng để thành công; có can đảm để mạo hiểm.
Những Giá Trị Cốt Lõi Của George Barna
§ Tôn vinh Đấng Christ: tôi sống đây để biết, yêu mến và phục vụ Đức Chúa Giêsu Christ. Mọi việc tôi làm phải khiến Ngài vui lòng và tôn vinh danh Ngài.
§ Kinh nghiệm thành công: thành công là sự vâng lời triệt để khải tượng của Chúa dành cho tôi và những mạng lệnh Ngài truyền sống công bình.
§ Yêu thương gia đình tôi: Dành thì giờ ở chung, yêu thương và khích lệ vợ và các con gái tôi với trọn khả năng tốt nhất của mình.
§ Đời sống thuộc linh của gia đình: thường xuyên đầu tư thời gian, nỗ lực và sự cầu nguyện vào sự phát triển tâm linh của gia đình mình.
§ Lòng trung thực: thể hiện sự ngay thẳng, thành thật, tôn trọng, nền đạo đức của Kinh Thánh và tinh thần khiêm nhường phải thể hiện rõ trong mọi công việc làm của đời sống tôi; lòng trung thực bị thỏa hiệp là một thất bại.
§ Sự phục vụ: nhận lãnh và ban phát sự phục vụ.
§ Tự chấp nhận: Chúa yêu tôi; do đó tôi phải yêu chính mình.
§ Chân lý: Kinh Thánh là nguồn chân lý đạo đức tuyệt đối; Kinh Thánh là sách chỉ nam cho tôi để định nghĩa những nguyên tắc và tiêu chuẩn tôi phải sống.
§ Công việc làm: Barna Research là phương tiện để phục vụ Chúa; tôi phải tôn trọng những nhân sự, những thân chủ và những người cung cấp hàng, làm ra những sản phẩm xuất sắc với giá cả hợp lý.
§ Quản lý: những nguồn tài nguyên tôi có - thì giờ, tiền bạc, sức khỏe, những mối quan hệ, những cơ hội, uy tín - đều phải được sử dụng cách có trách nhiệm, vì ích lợi của gia đình tôi, của hội thánh và của những người có nhu cầu.
§ Sự tăng trưởng cá nhân: sự tăng trưởng tâm linh, lý trí và tình cảm một cách liên tục và có chủ ý là một mạng lệnh.
§ Sự chấp nhận: chỉ một mình Đức Chúa Trời là Quan Án; tôi được kêu gọi để yêu thương, chấp nhận và tha thứ người khác.
§ Sự đổi mới: thường xuyên đầu tư những nguồn tài nguyên hợp lý vào đạo đức và nâng cao những sự đa dạng để trở nên được bồi bổ về tình cảm, thể chất, tâm linh và trí tuệ, và để vui hưởng sự sống.
Kết Luận
Giờ đây, nên thấy rõ rằng dầu mọi Cơ Đốc Nhân, mọi hội thánh và các mục vụ đi song song với hội thánh, đều phục vụ cùng một Đức Chúa Trời và căn cứ những giá trị cùng nỗ lực của họ trên cùng một Kinh Thánh, nhưng các giá trị họ bám vào làm những phẩm chất cá nhân nền tảng của họ sẽ khác nhau.
Cách diễn đạt các giá trị đó cũng vậy. Không hề có cách nào là cách đúng hay cách sai để truyền thông những giá trị của bạn, và đương nhiên không hề có một số lượng thần kỳ những giá trị nào đó để tuyên bố là của riêng bạn. Điều quan trọng ấy là những giá trị bạn chọn phải là những giá trị đúng cho bạn và bạn sống theo chúng.
Thách Thức Cá Nhân.
Nếu bạn chưa hề viết ra những giá trị của bạn, tôi khuyến khích bạn viết ra ngay bây giờ. Bài tập này là một phương tiện cho mục tiêu công bình. Khi bạn đã nhận diện được những giá trị đó, hãy trao chúng cho một vài bạn hữu hoặc người nhà thân tín và yêu cầu họ giữ cho bạn khai trình trách nhiệm đối với các giá trị đó.
Hơn nữa, hãy xem các giá trị của bạn có liên hệ thế nào với khải tượng mà bạn tin Chúa đã giao phó cho đời sống bạn. Hãy áp dụng mọi bước cần thiết để bảo đảm bạn đang sống nhất quán với những giá trị cốt lõi của mình.
Kiểm Tra Những Giá Trị Của Hội Thánh Bạn.
Hãy xem xét hội thánh bạn. Hội thánh tán thành những giá trị cốt lõi nào? Nếu bạn không biết, hãy tìm xem. Những giá trị đó phản ánh đặc điểm mong muốn của Thân Thể đó. Khi bạn khám phá các giá trị cốt lõi, hãy đánh giá xem chúng phù hợp đến mức độ nào với điều bạn tin rằng hội thánh đáng phải sống, và phù hợp đến mức nào với cách đang thực hiện chức vụ của hội thánh bạn.
Một lần nữa, hãy xem tính nhất quán của sứ mạng, khải tượng và các giá trị của hội thánh bạn. Nếu có những điểm thiếu nhất quán nào, hãy thảo luận những mối quan tâm đó với các lãnh đạo trong hội thánh.
Nơi nào có cơ hội cho bạn đưa khải tượng của đời sống mình bắt kịp với khải tượng và những giá trị của hội chúng mình, hãy dự phần vào. Chức vụ không phải là một môn thể thao thu hút đông khán giả. Đây chính là huyết sống của một Cơ Đốc Nhân thật. Được trang bị bằng kiến thức sâu nhiệm hơn về điều khiến bạn và hội thánh bạn ứng xử theo cách đã có, bạn sẽ có khả năng phục vụ tốt hơn với lòng trung thực, nhiệt thành, đầy sức lực, mục đích và phương hướng.
Chú Thích
1. Hunter Lewis, A Question of Values (San Francisco: HarperCollins, 1990). Chương 2 nhận diện sáu phương cách này, rồi chương 3 đến 8 dành mô tả chi tiết hơn về từng phương cách.
2. Lynne và Bill Hybels, Rediscovering the Church (Grand Rapids: HarperCollins/Zondervan, 1995 trang 183-194.
3. “Our Faith, Values, Vision and Guiding Principle,” Focus on the Family (Colorado Springs: 1995), trang 8-11. Vì tuyên ngôn của nhóm Focus rất dài, nên tôi lược vắn tắt những mô tả về một vài giá trị của hội này. Nếu bạn muốn nhận được toàn bộ sách nhỏ mô tả tuyên ngôn đức tin, sứ mạng, khải tượng và những giá trị, xin viết thư về Focus on the Family, Colorado Springs, Co 80995.
4. Charles Hedges, Getting the Right Things Right (Sisters, Oreg.: Questar Publications, 1996).

Nếp Suy Nghĩ Của Người Có Khải Tượng
“NHỮNG THÁCH THỨC KHÔNG NẰM NƠI PHỐ CHỢ, CHÚNG Ở TRONG TÂM TRÍ” - JEAN BENARD
Tôi rất thích chơi bóng rổ. Nói vậy không có nghĩa là tôi chơi giỏi. Nếu phải nuôi sống gia đình nhờ vào những tài ghi điểm của tôi, bốn người trong nhà của tôi sẽ gầy như que củi. Dầu vậy, tôi thích chơi môn này, và biết nếu muốn ghi điểm, tôi phải chuyền bóng cho đồng đội nào không bị kèm rát quá. Nan đề của tôi là vấn đề thời điểm. Thông thường, khi tôi thấy một đồng đội không bị kèm sát, các đối thủ của chúng tôi cũng thấy, và họ nhanh chóng di chuyển để đề phòng đồng đội của tôi và loại bỏ cơ hội ghi điểm của chúng tôi luôn.
Những cuộc đấu bóng rổ tạp nham thường mang tính tranh giành cao vì hầu hết những cầu thủ tài tử đều giống như tôi: Họ đối phó với những hoàn cảnh khi chúng xảy ra thay vì lường trước điều gì sắp xảy ra, còn chúng tôi chờ nó xảy ra đã rồi mới bắt đầu tận dụng khoảnh khắc đó.
Larry Bird, một siêu sao bóng rổ chuyên nghiệp vào thập niên 1980, được nhiều người tung hô là vận động viên vĩ đại nhất đã từng chơi môn này. Ông chậm chạp, không thể nhảy cao, bị rất nhiều vết thương đau đớn và giới hạn ở một cùi chỏ, các đầu gối và lưng. Tuy nhiên, dầu bị nhiều hạn chế như vậy, ông vẫn chơi ở trình độ vượt xa những người khác vốn có nhiều tài năng về thuộc thể hơn. Bird lường trước trận đấu sẽ diễn tiến ra sao. Những cầu thủ cùng tầm cỡ như tôi sẽ chạy đến nơi có bóng, trái ngược với Bird, là người sẽ di chuyển đến nơi nào bóng sẽ tới.
Khi xem đội Celtics thi đấu, tôi thường quan sát Bird hành động. Thay vì chuyển đến chỗ mà một cầu thủ thường phải đến, Bird sẽ di chuyển để phát triển tối đa cơ hội. Chẳng hạn, Bird có thể chuyền bóng đến chỗ mà đồng đội của ông sẽ tới, bóng sẽ khiến một đồng đội thiếu cảnh giác phải ngạc nhiên, có lẽ bóng va vào đầu, hoặc thậm chí bóng bay ra ngoài đường, tất cả chỉ vì đồng đội kia không suy nghĩ trước và hành động theo đúng chiến lược.
Điểm khác biệt lớn giữa Larry Bird và tôi - ngoài qui mô tài khoản tương ứng của chúng tôi trong ngân hàng - chính là tôi nhìn thấy sự việc trên sân đúng như chúng hiện có và cố tận dụng phần lớn những điều đang có. Tôi chỉ chấp nhận những điều mình nhìn thấy. Bird đã thấy những điều chưa có, nhưng sẽ có, một phần nhờ vào sự đón nhận đầy sáng tạo của ông, giúp ông tận dụng điều sắp xảy ra. Trong tâm trí của ông, cuộc đấu đã diễn ra rồi. Những hành động của ông chỉ việc diễn tiến theo những gì ông đã thấy trước.
Tôi chơi bóng trong khoảnh khắc hiện tại cho phép. Larry Bird chơi trong tương lai. Ông giống như nhiều vận động viên vĩ đại khác chơi trong các môn thể thao đồng đội. Johnson Phù Thủy,Wayne Gretzky, Jerry Rice và nhiều vận động viên huyền thoại khác đã thi đấu hơi trước thời gian thật một chút.
Đây cũng chính xác là phương cách suy nghĩ của những người có khải tượng trong đời sống thật. Giống như Larry Bird, họ nhìn thấy tương lai tiết lộ trong tâm trí họ, và hành động theo những phương cách chiến lược để đẩy nhanh tương lai vượt trội đó. Đây là năng lực - trong hầu hết các trường hợp là năng lực do học hỏi được chứ không phải tài năng tự nhiên thuần túy - để suy nghĩ cách có chiến lược và có chủ định về tương lai.
Burt Nanus đã nhận diện được tầm quan trọng của nếp suy nghĩ như thế. “Trên thực tế, khải tượng chính là nơi ngày mai bắt đầu, vì nó diễn tả điều bạn và những người khác có cùng chung khải tượng sẽ làm việc siêng năng chăm chỉ để tạo ra. Vì hầu hết người ta không dành thì giờ để suy nghĩ cách có hệ thống về tương lai, nên những người biết suy nghĩ - và những người căn cứ những chiến lược và hành động của họ trên các khải tượng ấy - có năng lực vượt trội để định hình tương lai. Vì sao những vĩ nhân trong lịch sử như Môise, Plato, Giêsu và Karl Marx có ảnh hưởng lớn lao đến thế trên những thế hệ kế tiếp? [1]
Burt Nanus, Visionary Leadership (San Francisco: Jossey-Bass Publishers, 1992), trang 8
Tiến Trình Khải Tượng
Tôi khám phá ra sự tiến triển trong cách người ta phát triển từ chỗ không có khải tượng đến chỗ được thúc đẩy bởi khải tượng. Những người không có khải tượng xem mọi thay đổi như là một mối đe dọa. Họ sống phủ nhận tương lai, gắn bó với quá khứ và hiện tại, mong mỏi nhớ đến phương cách đã từng có trước đây. Cuộc đời là một cuộc thử thách lâu dài cho những người này, và thành thật mà nói, lơ lửng trên đầu họ còn có cuộc thử thách lòng kiên nhẫn nữa, đặc biệt là đối với những người được thúc đẩy bởi khải tượng. Người không có khải tượng sống theo khẩu hiệu: “Sau này sẽ dễ dàng thôi.”
Bước kế tiếp trong sự tiến triển này là trở nên cởi mở để xem xét khả năng khải tượng ấy có thể là một bàn đạp để tiến đến ngày mai tốt hơn. Những người nào đạt đến bình diện này thì sống theo khẩu hiệu khác: “Thay đổi là một điều xấu nhưng tất yếu phải làm.” Chậm chạp và miễn cưỡng, những người này đã nắm vững được tính không thể tránh khỏi và giá trị tích cực của sự thay đổi.
Người đi tìm khải tượng là người cuối cùng đã chấp nhận tính hữu dụng và niềm hy vọng được đại diện bởi khải tượng của Chúa dành cho những ngày sắp đến. Sau khi bắt đầu hành trình khám phá khải tượng Đức Chúa Trời dành cho họ, họ vẫn chưa biết chắc chắn về vai trò của họ trong tiến trình này và vẫn không biết rõ về chính khải tượng nữa, tuy nhiên, họ đã vượt qua khúc quanh khái niệm về khải tượng, và giờ đây hiện đang tích cực theo đuổi bức tranh toàn cảnh. Có lẽ khẩu hiệu chung của những người ở giai đoạn phát triển này là: “Đời sống chắc chắn có nhiều điều hơn thế này nữa.”
Trên đỉnh cao nhất là những người được thúc đẩy bởi khải tượng. Toàn bộ đời sống họ được gói ghém quanh tiềm năng phấn chấn được phát tuôn bởi sự chấp nhận khải tượng của Chúa dành cho đời sống và chức vụ của họ. Những người này đã lãng quên những phần phân tích gây suy nhược của một xã hội đang thoái hóa, vì cá nhân họ không còn là một phần của nan đề ấy nữa, nhưng là một phần của giải pháp. Khẩu hiệu của họ: “Hãy còn điều tốt nhất sắp đến.”
Cũng giống như trong hầu hết các công việc, sự chuyển biến từ chỗ không có khải tượng sang được thúc đẩy bởi khải tượng là một sự tiến bộ hợp lý. Đối với một số người, sự tiến bộ này đến nhanh chóng và nhuần nhuyễn; đối với người khác, thật khó khăn và kéo dài. Một số người chuyển biến như vậy dựa trên việc quan sát thực tại hoặc có lẽ quan sát những người có khải tượng khác.
Có người chuyển biến như vậy nhờ được tư vấn thông qua sự chú ý cá nhân, bằng cách đọc sách, hoặc bởi sự liên lạc tập trung với Chúa. Sự chuyển biến như thế có vẻ như không có một phương tiện hay thời khóa biểu “trung bình” nào cả. Tin vui đơn giản là người ta thực sự thay đổi khi Chúa muốn. Bất cứ ai biết, yêu mến và muốn phục vụ Chúa thì đều có thể trở thành một Cơ Đốc Nhân có khải tượng.

Năm Góc Nhìn
Cuộc nghiên cứu minh họa sự tương phản giữa nếp suy nghĩ của những người có khải tượng và những người mày mò mãi qua cuộc sống. Những điểm tương đồng và dị biệt này có thể rút ra theo năm góc nhìn tổng quát: (1) cách người ta nhận biết chính họ, (2) đưa tình cảm vào trong việc ra quyết định, (3) những khuôn mẫu suy nghĩ, (4) những nhận thức về sự thay đổi, và (5) những đáp ứng với cơ hội và trở ngại.
1. Những Nhận Thức Về Bản Thân
Một trong những phẩm chất ấn tượng nhất của người có khải tượng ấy là họ luôn tìm cách học hỏi. Bất luận những thành tựu trong quá khứ của họ có ý nghĩa đến mức nào đi nữa, hoặc trình độ chuyên môn của họ được hoan nghênh đến đâu đi nữa, họ vẫn luôn luôn nỗ lực tiếp thu những chân lý mới, những nguyên tắc mới, những dữ liệu mới và những hiểu biết mới.
Những người có khải tượng là hạng người Kinh Thánh nói đến như người khôn ngoan. Họ vẫn chưa xác định thực tại hiện ra sao, nhưng công nhận cần phải có một tâm trí bận rộn và rất ham học hỏi mới bắt kịp được thực tại luôn thay đổi này.
NGƯỜI CÓ KHẢI TƯỢNG KHÔNG QUAN TÂM AI ĐƯỢC KHEN HAY NGƯỜI NÀO THỰC SỰ LÀM CÔNG VIỆC CHO BẰNG QUAN TÂM CHO KHẢI TƯỢNG ĐƠM BÔNG VÀ KẾT TRÁI.
Mặt khác, người không có khải tượng có những mục tiêu khác: trở thành những chuyên viên. Quan điểm của họ là: Ai không phải là chuyên viên thì không có trách nhiệm để cố ấn định những điều khoản của thực tại. Khó khăn cố hữu trong quan điểm này ấy là ngay khi bạn vừa nắm vững được những hoàn cảnh của ngày nay, chúng đã trở nên không còn thích ứng vì đã lỗi thời. Cách duy nhất để trở thành một chuyên viên chính là tiến một hai bước trước khi cung thay đổi.
Những nhà tư tưởng theo kiểu niên giám điện thoại . Những người sống không có khải tượng thì giống với quyển niên giám điện thoại. Ngay ngày đầu tiên quyển niên giám mới được in ra, nó đã lỗi thời mấy tháng rồi vì cần phải có thời gian để tuyển chọn thông tin, kiểm tra, chuẩn bị in, rồi in ra, đóng tập và phân phối. Vào ngày thứ nhất của tiến trình đó, thông tin được cung cấp cho quyển niên giám là chính xác và đáng tin; đến khi đã xong tiến trình, 10 đến 15% tổng số đó đã thay đổi (chẳng hạn như không còn kết nối, đã đổi sang số mới) và thiếu sót đi 10% các số điện thoại hiện có nữa. Nếp suy nghĩ có khải tượng ngăn ngừa tính chính xác tuyệt đối để thiên về khám phá và lường trước không ngừng.
Sự khác biệt của tư duy . Nếp suy nghĩ của người có khải tượng cũng được biến thành hành động theo một cách khác với điều mà người trung bình có thể giả định. Đối với người không có khải tượng, trách nhiệm cá nhân đòi hỏi bạn xắn tay áo lên bắt tay làm việc để tạo ra một ngày mai tốt đẹp hơn. Trong trường hợp đó có một trong những điều gây nản lòng đối với rất nhiều người dự phần vào nếp suy nghĩ có khải tượng. Những người không có khải tượng tin rằng họ đích thân nhận trách nhiệm làm cho khải tượng đạt đến thành quả. Trong tâm trí của hầu hết mọi người này, các khái niệm về công tác đồng đội, giao việc và quyền sở hữu chung nằm ngoài phạm vi của một thực tại dựa trên khải tượng.
Người trợ giúp hay một thợ máy ? Tuy nhiên, những người biết nghĩ đến khải tượng thì có lối tiếp cận khác hẳn. Người có khải tượng không quan tâm ai sẽ được tuyên dương công trạng hay ai thực hiện công việc cho bằng quan tâm cho khải tượng đơm hoa và kết trái. Vì vậy, người suy nghĩ đến khải tượng là một người trợ giúp chứ không phải một thợ máy. Điều này không có nghĩa nếp suy nghĩ có khải tượng ngăn trở người ấy dự phần vào các chi tiết và công việc nhàm chán buộc phải có cho khải tượng thành hiện thực. Tuy nhiên, điều này có nghĩa những người có khải tượng là khôn ngoan đủ để nhận thấy rằng hầu hết các khải tượng đòi hỏi nhiều công sức hơn là một mình họ có thể tập trung được.
Khải tượng này thường không nhằm để làm một trật tự cô độc, nhưng để làm một khải tượng mà phải được truyền đạt và sở hữu chung, sau đó được thực hiện bởi một đội ngũ những người có đồng tâm chí.
2. Đáp Ứng Của Cảm Xúc
Sự thay đổi mang đầy vẻ đe dọa đối với rất nhiều người. Nó tượng trưng cho một hành trình đi vào điều chưa biết. Những người nào chưa phát triển được ý niệm vì sao tương lai sẽ vượt trổi hơn quá khứ và hiện tại, cùng với ý thức về cách để tạo được tương lai tốt đẹp hơn ấy, thì có rất nhiều lý do để cảnh giác những ngày sắp đến. Tình trạng tinh thần của họ khiến họ không có sức mạnh, bất lực, và thậm chí đôi khi còn tuyệt vọng nữa.
Đức tin thay thế cho sợ hãi . Những người suy nghĩ có khải tượng thì không chịu khuất phục trước sự vùi dập như thế. Người có khải tượng sẽ sử dụng phương pháp tiếp cận tương lai mang tính hành động chứ không phải để phản ứng. Những người tạo lập khải tượng Cơ Đốc có đức tin đầy đủ trên những lời hứa của Chúa để tin Ngài sẽ ban khải tượng về một tương lai tươi đẹp hơn cùng với những phương tiện để đạt đến khải tượng đó.
Những con người như thế tránh sự tê liệt của xúc cảm do nỗi sợ hãi về tương lai đem lại, bằng cách đích thân nhận lấy trách nhiệm cá nhân đối với một mảnh tương lai ấy, và bằng cách tin cậy Chúa sẽ cung cấp thêm nhiều tín hữu khác nữa đang nắm những mảnh bổ sung của một tương lai tốt đẹp hơn.
Hầu hết người ta nhìn vào thực tại và thấy những gian khó cùng trở ngại. Cuộc đời giống như một chuỗi những thách thức, đầy dẫy đau đớn và những hoàn cảnh nguy hiểm. Một người Mỹ điển hình xem những lúc hoạn nạn như một thời kỳ tiêu cực, một tập hợp những từng trải cần phải tránh bằng mọi giá.
Những lúc khó khăn không phải là những ngăn trở . Trái lại, những người có khải tượng công nhận rằng sự tăng trưởng là đầy khó khăn, và đôi khi còn đầy đau đớn nữa. Nếu không chịu khổ ở chừng mực nào đó thì sẽ không có được sự tăng trưởng. Thay vì thiết kế một tương lai thoải mái, những người có khải tượng làm việc để vượt qua những thời khó khăn với niềm tin những hoạn nạn như thế là phương tiện để trưởng thành cá nhân và không thể tránh khỏi trong việc đột phá đến những đỉnh cao mới của từng trải tiếp tục.
Người được thúc đẩy bởi khải tượng nhận thấy đau đớn, chịu khổ và hoạn nạn là những yếu tố vô giá trong tiến trình phát triển. Những gian khó như thế phải là những thách thức đáng mong chờ trên con đường tiến tới sự tăng trưởng. Người có khải tượng chấp nhận những hoạn nạn thử thách như thế là một phần tự nhiên trong hành trình tiến đến mục tiêu đã định.
Quan điểm này về điều không thể tránh khỏi - thật ra là quan điểm về giá trị của những sự gian khó - giúp người ấp ủ khải tượng có
NHỮNG NGƯỜI SUY NGHĨ ĐẾN KHẢI TƯỢNG CHỨNG MINH MẠO HIỂM LÀ CHUYỆN ĐÚNG PHẢI LÀM, NHẬN THẤY NẾU KHÔNG MẠO HIỂM THÌ SẼ KHÔNG CÓ THAY ĐỔI NÀO, VÀ KHÔNG CÓ THAY ĐỔI ĐỒNG NGHĨA VỚI VIỆC THỐI LUI, CHỨ KHÔNG PHẢI TIẾN BỘ.
được nhiều chọn lựa khác trong các hoạt động hằng ngày. Dầu người làm việc không có khải tượng nhìn thấy danh sách những phương án khác và có thể chọn những phương án nào đáp ứng được sự thoải mái và an ninh ngay trước mắt, nhưng người có khải tượng lại có thể lường trước được tương lai và chọn lựa những điều đầy dẫy những mạo hiểm.
Những mạo hiểm là điều hợp lý đáng làm . Những người suy nghĩ đến khải tượng chứng minh mạo hiểm là chuyện đúng phải làm, nhận thấy nếu không mạo hiểm thì sẽ không có thay đổi nào, và không có thay đổi đồng nghĩa với việc thối lui, chứ không phải tiến bộ.
Nói chung, những người suy nghĩ đến khải tượng xem những chọn lựa an toàn như là sự thất bại. Những đột phá có ý nghĩa nhất trong từng trải con người đều phải trả một giá nào đó mới đạt được. Tiên đề trong thể thao “Không khổ luyện không thành tài,” còn thích ứng vượt ra ngoài phạm vi những cuộc so tài thể thao. Đây là tiên đề phù hợp cho chính cuộc sống nữa.
Những người có khải tượng nhận thức về các khả năng gặp phải gian khó thông qua những bộ lọc của tinh thần và cảm xúc nào giúp họ có năng lực đánh giá được sự xung đột tiềm tàng bởi cớ những ích lợi tối hậu cần phải nhận thấy được từ các tình huống khó khăn như thế.
Không ai thích chịu khổ và đau đớn, nhưng những người suy nghĩ đến khải tượng nhận thấy nếu sự tăng trưởng đòi hỏi gian khó như thế, thì có khả năng lường trước được ích lợi tối hậu của điều khó chịu như thế sẽ tạo ra sự chịu đựng có chủ đích.
3. Những Khuôn Mẫu Suy Nghĩ
Khi nói chuyện với những người có khải tượng, thật hấp dẫn khi thảo luận cách họ đạt đến khải tượng của họ. Tiến trình này dứt khoát là sự pha trộn lâu dài của nhiều yếu tố, như là cầu nguyện, học Kinh Thánh, phân tích thông tin về những nhu cầu và cơ hội trong bối cảnh đời sống của họ, tìm cách lắng nghe những lời nói từ những đồng nghiệp tín cẩn, tự phân tích và thử nghiệm ở mức độ nhỏ đối với các yếu tố trong việc triển khai khải tượng của họ. Phương cách tổ chức những suy nghĩ của họ và sử dụng những yếu tố đánh giá như thế là hết sức quan trọng. Rất nhiều người chỉ sống cho thời khắc hiện tại và chỉ nghĩ đến những từng trải hiện tại của họ. Họ thường tập trung liên kết hiện tại với quá khứ như một phương tiện để làm cho đời sống của họ có ý nghĩa, cung cấp bối cảnh dễ hiểu được nào đó cho những quyết tâm của họ.
Điểm khác nhau về thời điểm . Những người có khải tượng bắt đầu tại một thời điểm khác. Họ suy nghĩ thật xa vào tương lai trong chừng mực tâm trí họ cho phép, rồi đi ngược lại về thời hiện tại, ép sự tồn tại của tương lai trong hình dung của họ vào khuôn của đường lối phát triển có thể có được.
Tôi thấy những người có khải tượng học cách suy nghĩ đầy sáng tạo bằng cách bỏ khuynh hướng trí thức và văn hóa thích suy nghĩ theo lối tuyến tính và tuần tự để chuyển sang suy nghĩ theo lối tự do và chiết trung. Những người có khải tượng - ngay cả những người vốn nghiêm khắc và thiên về lý trí trong phương thức hoạt động thường ngày của họ - dốc tuôn hết trực giác của họ, là điều được chuẩn bị cho chuyến phiêu lưu đầy sáng tạo như thế bằng cách trước đó đã tiếp xúc với những điều như là dữ liệu, sự cầu nguyện, Kinh Thánh và lời khuyên. Khi những người có khải tượng tập trung vào tương lai, họ tổng hợp mọi thông tin trở thành một góc nhìn có thể quản lý được về tương lai. Sản phẩm có được chính là một hình thức mới của thực tại biết xem trọng việc tổ chức lại theo cách mới để chuyển từ hiện tại sang tương lai đáng mong muốn.
Chế ngự tâm trí . Vì sao rất nhiều người không thực tập nếp suy nghĩ vô giới hạn? Suy cho cùng, chẳng phải là rất vui khi để cho tâm trí đi lang thang, không bị ràng buộc bởi những qui ước của xã hội và những giới hạn của bản thân, để thực nghiệm trong tâm trí những sự kết hợp mới và hình dung những kết quả phi thường để nâng cao và cải thiện nhân loại sao?
Câu trả lời ấy là hầu hết mọi người đều rất sợ những điều mình chưa biết đến nỗi không dám theo đuổi bất kỳ điều gì mà không thể đoán trước được, ngay cả trong những khoảnh khắc tưởng tượng nhiệt tình nhất của họ. Điều này giúp chúng ta hiểu rằng trở nên một người có khải tượng là một tiến trình học hỏi mà có thể thực hiện được bởi phương cách Đức Chúa Trời đã định cho con người. Chúng ta có năng lực của lý trí và tình cảm. Thách thức ở đây là giải phóng năng lực đó, và tin cậy Đức Chúa Trời sẽ sử dụng những năng khiếu của chúng ta, những từng trải trong đời này của chúng ta, và tấm lòng khao khát phục vụ Ngài để rút ra được những kết luận thực tiễn và đáng khen. Nói tóm lại, chúng ta phải tin cậy Đức Chúa Trời cho phép chúng ta suy nghĩ theo những phương cách cách mạng như Chúa Giêsu, Giôsia, Phaolô và hết thảy những đầy tớ còn lại của Ngài đã từng suy nghĩ.
Đức tin là điều quan trọng nhất . Những người có khải tượng đạt đến mức tin cậy đó thông qua đức tin, và đức tin chính là trọng tâm của một khải tượng đầy tin kính. Cũng cần phải có sự sẵn lòng nhìn vượt xa hơn tiến trình xử lý để thấy sản phẩm. Nếu tất cả những gì bạn từng tập trung vào chính là phương tiện để đạt được mục đích, mà không đầu tư nếp suy nghĩ tốt nhất của mình vào kết cuộc, thì có thể bạn triển khai một tiến trình tốt nhất thế giới để có được một sản phẩm tầm thường.
Con đường của những người có khải tượng dạy chúng ta một yếu tố quan trọng hơn nữa về bản chất của kết quả. Khải tượng thật đơn giản hóa sự phức tạp. Đây chính xác là nguyên nhân khiến khải tượng hấp dẫn với hầu hết mọi người. Nó tổ chức một hệ thống sự sống đầy biến động, và khiến nó trở nên dễ hiểu và dễ sử dụng.
Người Mỹ đấu tranh với cuộc sống vì họ tin rằng thành công đòi hỏi tính thạo đời và tính phức tạp. Trên thực tế, sự tiến bộ đòi hỏi điều ngược lại: đơn giản hóa một sự hiện hữu đã phức tạp rồi để mọi người có thể sở hữu một phần trong việc sáng tạo một nếp sống dễ sống hơn, đáng yêu chuộng và có ý nghĩa hơn.
4. Những Nhận Thức Về Sự Thay Đổi
Một trong những nguyên nhân chính khiến nhiều người đề kháng sự thay đổi chính là vì họ tin sự thay đổi sẽ gây xung đột trong đời sống họ. Họ xem những chiến lược mới, những nếp sống mới, những quan điểm mới như là những điều phức tạp.
Những người suy nghĩ đến khải tượng xử lý sự thay đổi theo một cách khác. Đối với họ, thay đổi đại diện cho sự tiến triển tự nhiên của sự sống. Họ tìm những mối liên kết giữa cái đã có, cái hiện có và cái sẽ có. Nói cách khác, họ tập trung vào tính liên tục. Trong hầu như mọi kinh nghiệm và mọi hoàn cảnh trong đời, nếu tìm điểm kết nối, chúng ta có thể gặp được nó. Rất hiếm có những lần tương lai hoàn toàn không liên hệ gì đến quá khứ và hiện tại.
Những tác nhân hòa giải . Những người không hề có khải tượng thì đề kháng sự thay đổi. Những người có khải tượng thì chấp nhận khải tượng là phương tiện thiết yếu để hòa giải điều đã biết với điều chưa biết. Quan điểm này loại bỏ sự lo ngại vốn tự nhiên xảy ra khi xét đến tương lai. Như vậy, là những người có khải tượng, chúng ta là những tác nhân hòa giải.
Lập trường này là có thể có được, vì những người có khải tượng suy nghĩ sâu xa đến bức tranh toàn cảnh. Những người không có khải tượng suy nghĩ nhỏ thôi. Họ tập trung vào môi trường vi mô và những chi tiết. Những người có khải tượng chăm chú vào môi trường vĩ mô, tin rằng nếu Đức Chúa Trời đặt bên trong họ một khải tượng cho tương lai, Ngài sẽ cung cấp mọi điều cần thiết để những chi tiết ấy được hoàn tất.
Những chi tiết là quan trọng để tạo ra một tương lai tốt hơn, nhưng những người có khải tượng thật không để cho những chi tiết cản trở họ sở hữu khải tượng mà Chúa đã dần dần làm cho họ cảm nhận được. Điều vốn là rồ dại đối với con người có thể lại rất phù hợp cho Chúa. Lý trí hữu hạn của chúng ta thường quá giới hạn đến nỗi không hiểu nổi toàn bộ phạm vi Ngài đã dành sẵn cho chúng ta. Khi chúng ta đặt lòng tin cậy nơi Ngài, và thật sự nỗ lực để tiếp thu khải tượng của Ngài dành cho chúng ta, sự thay đổi được hoán chuyển từ chỗ một khả năng có thể diễn ra đầy vẻ khó chịu và đáng sợ trở thành một điều chắc chắn xảy ra đầy hào hứng và có tiềm năng cao.
5. Những Đáp Ứng Với Các Cơ Hội Và Trở Ngại
Các lãnh đạo hội thánh thường gặp đáp ứng đầy hoài nghi của những người không có khải tượng: “Chúng ta không làm được việc đó, Bạn không biết điều đó sẽ đòi hỏi phải trả giá cao đến mức nào sao?” Hoặc “Chúng ta không có người để đảm nhận việc đó” hoặc “Như vậy thì quá nhiều việc.” Tuy nhiên, những người có khải tượng không nản lòng vì những suy nghĩ nhỏ bé của người khác. Để đáp ứng với những thách thức đến từ con người hay hoàn cảnh, những người được thôi thúc bởi khải tượng sẽ suy nghĩ vượt xa hơn những trở ngại.
Những người có khải tượng sẽ làm việc cách thông minh . Trong một công việc làm trước đây, tôi có lần nghe sếp của tôi chỉ trích đồng nghiệp thiếu tính sáng tạo khi giải quyết nan đề. “Anh làm việc rất chăm chỉ, nhưng không làm việc cho thật thông minh” là cách bà đánh giá những nỗ lực của đồng nghiệp tôi. Điều đó tóm tắt cách hoạt động của người có khải tượng: làm việc thông minh, chứ không phải chỉ làm việc siêng năng.
Những người có khải tượng không bao giờ chịu xếp xó khải tượng của Đức Chúa Trời chỉ vì cớ dường như không có sẵn những nguồn cung ứng. Tôi đã học biết được một điều ấy là: Nếu khải tượng đến từ Đức Chúa Trời, những nguồn cung ứng sẽ sẵn có khi cần thiết. Hãy nhớ đến những nhu cầu của Nêhêmi, và thể nào nạn khan hiếm tài nguyên ập đến từ muôn vàn nơi không lường trước được. Một trong những chân lý đáng kể về khải tượng ấy là: khi khải tượng được thực hiện, kết quả sẽ đang tạo ra những nguồn cung ứng thay vì tiêu tốn nguồn cung ứng.
Những người quản lý điền vào các chi tiết . Những người đề ra khải tượng cũng không chịu bị giới hạn vì thiếu những kế hoạch chi tiết để biến khải tượng thành thực tại. Những nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt lớn lao giữa người lãnh đạo và người quản lý. Trong bối cảnh hiện tại của chúng ta, lãnh đạo là người nhận thức được - qua bàn tay của Đức Chúa Trời - một khải tượng cho tương lai. Thường thì lúc bấy giờ cần có người quản lý để cộng tác với người có khải tượng nhằm phát triển một kế hoạch hành động, trong đó mọi chi tiết đều được suy nghĩ kỹ, các bước để hoàn tất kế hoạch được nhận diện và tuân thủ một cách có hệ thống. [2]
Sự khác biệt giữa người lãnh đạo và người quản lý được thảo luận trong một bài thuyết trình trên băng video thuộc trong loạt băng video có nan đề The Church in a Changing Culture, của George Barna, sản xuất bởi Word Ministry Resources, Dallas, Texas, 1994. Phần mô tả liên quan cũng có trong quyển sách nói về điều này, do George Barna viết, được Nhà Xuất Bản Regal Books dự định xuất bản vào năm 1997
Vì người có khải tượng là người tin vào tương lai, nên những trở ngại được xem như những cơ hội. Người suy nghĩ đến khải tượng thật sự chấp nhận những lời nói của sứ đồ Phaolô: “Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?” (RoRm 8:31).
Nếp Sống Của Tín Hữu Có Khải Tượng
“NẾU CHƯA KHÁM PHÁ RA MÌNH SẼ SẴN SÀNG CHẾT CHO ĐIỀU GÌ THÌ KHÔNG ĐÁNG SỐNG” - MARTIN LUTHER KING JR.
Tiểu Sử Của Một Người Có Khải Tượng
Một trong những ơn phước lớn nhất của đời tôi chính là được biết những người có khải tượng. Les Ingram thuộc trong số họ. Ông đã dành cả đời dốc đổ lòng mình phục vụ người nghèo, kể cả người Mỹ thổ dân và những người Mêxicô chưa ai tìm đến với họ.
Trong nửa thế kỷ phục vụ vừa qua, Les đã gặp biết bao trở ngại không thể tưởng nổi và gặp những nản lòng đáng kể đang khi làm một đầy tớ đáng mến biết vâng theo tiếng gọi của Chúa. Tiêu điểm của ông không bao giờ tập trung vào nan đề, chỉ tập trung vào những chiến thắng, những giải pháp và những khả năng có thể xảy ra.
Ở một ngày với Les giống như theo một khóa huấn luyện cấp tốc trong hành vi của người có khải tượng. Ông dậy sớm để đọc quyển Kinh Thánh đã mòn vẹt của mình rồi cầu nguyện. Ông phân chia phần lớn thì giờ của mình cho những người mà ông được kêu gọi đến để giúp đỡ. Khi Les trò chuyện với người nghèo tại một khu bảo tồn nọ, họ đáp lại nồng nhiệt. Họ cảm nhận được sự quan tâm thật của ông đối với họ. Và quyết tâm của ông để giúp đỡ họ đã tạo được một môi trường tốt đẹp hơn.
Les dành mọi thì giờ cần thiết để tạo nhiều cơ hội, để tạo những nguồn cung ứng cần thiết và làm thỏa mãn mọi qui định về quản lý. Dầu ông là người tài năng, ông vẫn đủ khôn ngoan để nhận thấy những giới hạn của mình và nhờ vào sự giúp đỡ của những người có các ân tứ và năng lực bổ sung.
Tập Trung Vào Các Mục Tiêu
Les thành công ở nơi mà những người trẻ tuổi hơn, thông minh hơn, có tài chánh dồi dào hơn đã thất bại, vì một lý do: Ông luôn luôn tập trung vào những mục tiêu xuất phát từ khải tượng. Les luôn luôn nói đến những người bị tổn thương mà ông đã gặp và cách ông cùng những cộng sự trong hiệp hội của ông có thể nâng cao đời sống thuộc linh và thuộc thể của họ.
Les truyền thông về phương cách những hành động yêu thương đơn sơ và ngày càng tăng lên có thể khôi phục được hy vọng, phẩm hạnh và mục đích cho đời sống của những người kém may mắn. Ông thôi thúc - mà không hề lôi kéo - bằng cách giúp cho những cộng sự của ông biết về những hoàn cảnh và những hậu quả, và bằng cách khích lệ họ. Kết quả là ông đã tinh tế trao quyền cho nhiều người theo đuổi sự thay đổi tích cực trong đời sống của người khác. Đối với đa số chúng ta, thì giờ là một rào cản ngăn trở ta thực hiện xuất sắc. Chúng ta làm những gì mình có thể làm được trong khung thời gian cho phép. Tuy nhiên, Les không lo về thời gian. Ông làm việc cần phải làm bất luận phải tốn bao nhiêu thời gian đi nữa để đáp ứng nhu cầu cho những người mà ông đã được kêu gọi đến để giúp họ.
Tính đơn sơ trong nếp sống của ông đơn thuần là sự phản ánh những điều ưu tiên và những mối quan tâm đã được tinh luyện rất kỹ của ông. Nếp sống phức tạp hơn sẽ cản trở con đường đầy những điều cấp bách trong chức vụ của ông. Giống như mọi người có khải tượng mà tôi từng quen biết, Les có vẻ như đãng trí, nhưng thực ra ông không hề đãng trí chút nào. Rất có thể, tâm trí ông đang chuyển động rất nhanh và mạnh qua những quang cảnh và những khả năng có thể xảy ra, trong khi số người còn lại của chúng ta đang nói lảm nhảm về những vấn đề kém ý nghĩa hơn nhiều.
Được Thúc Đẩy Bởi Khải Tượng
Khi “Paco,” như cách người ta gọi ông, gặp gỡ những thổ dân Mỹ nghèo khổ hoặc lạm dụng thuốc phiện, ông nói chuyện với họ bằng sự tôn trọng và thương xót. Đáp ứng của ông không phải luôn luôn là điều bạn mong chờ, vì nó được lọc qua những ống kính khải tượng của ông. Khi ông nói với một lớp Trường Chúa Nhật, lòng sốt sắng của ông không phải do ép buộc, nhưng là bằng chứng không thể cưỡng được về sự thúc bách trong ông để vâng theo tiếng gọi đặc biệt của Đức Chúa Trời.
Có lẽ ông đang ở giữa tuổi thất tuần, nhưng Les vẫn duy trì được nét lanh lợi tráng kiện và sức lực mạnh mẽ đến nỗi những người bằng nửa tuổi của ông cũng cảm thấy hổ thẹn. Ông làm sao có được như vậy? Ông được thúc đẩy bởi khải tượng Chúa đã đặt trong trí ông. Bạn không thể không chịu ấn tượng bởi ý chí của ông muốn phục vụ, lòng tận tâm của ông với Chúa và sự sốt sắng lo liệu cho sự thay đổi diễn ra để đáp lại sự theo đuổi khải tượng cách trung tín của ông. Ông phục vụ cách chiến lược vì đã suy nghĩ có chiến lược. Ông suy nghĩ cách có chiến lược vì ông liên hệ mọi sự với khải tượng của mình.
Tôi cầu nguyện để khi mình bước vào tuổi 70, tôi sẽ có được cùng một sự chuyên tâm nhất trí vào mục đích này, cùng nỗi đam mê và cùng một sức lực vô tận như vậy vốn ra từ lòng tận tâm trọn vẹn với khải tượng của Đức Chúa Trời. Les đã là nguồn cảm hứng và mẫu mực cho tôi. Giống như những người bạn có khải tượng của ông, tôi đã học tập được rất nhiều về Chúa và về khải tượng từ tấm gương của ông.
Có lẽ bạn không phải là một Les Ingram, nhưng bạn có thể hiện cùng một sự chuyên tâm nhất trí vào mục đích, cùng một nỗi đam mê, cùng một nghị lực vô tận vì cớ lòng tận tâm với khải tượng mà Chúa đã dành cho đời sống bạn không? Nếu không, bạn muốn những phẩm chất này nhiều đến mức nào?
Nếp Sống Của Người Có Khải Tượng
Đời sống của một Cơ Đốc Nhân có khải tượng thì khác với đời sống của tín hữu điển hình theo bốn cách. Dầu sự so sánh như thế có vẻ kỳ lạ, nhưng lại là hợp lý vì cứ mỗi 20 tín hữu thì có chưa tới một người nhận biết được khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống và chức vụ của mình. Những tín hữu có khải tượng (1) cư xử khác hẳn, (2) họ tương tác với người khác cách khác hẳn, (3) họ đem lại những kết quả theo cách khác hẳn và (4) họ liên hệ với Đức Chúa Trời theo cách khác hẳn.
Nếu bạn muốn đánh giá không những sự tồn tại khải tượng của Chúa trong đời sống mình mà còn cả phẩm chất trong đời sống bạn trong tư cách một Cơ Đốc Nhân có khải tượng, hãy tra xét xem bạn sống hôm nay thế nào rồi đối chiếu với cách bạn sống trước khi nhìn biết khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống và chức vụ của mình. Để dễ so sánh, hãy đánh giá chính bạn theo những dấu hiệu sau:
1. Hành Vi Cá Nhân
Những Cơ Đốc Nhân có khải tượng học biết rằng Kinh Thánh rất nghiêm túc khi dạy chúng ta biết thời gian là quí báu. Chúng ta không hề biết khi nào ngày tận thế sẽ đến và khi nào Đấng Christ sẽ trở lại đón các môn đồ Ngài. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng chưa đến thời điểm ấy, chúng ta vẫn đang được Đức Chúa Trời kể là những cánh tay và ống chân của Ngài, những bàn tay và bàn chân của Ngài, mắt, tai và miệng của Ngài cho thế gian vốn đang hết sức cần sự hiện diện của Ngài.
Những Cơ Đốc Nhân có khải tượng sử dụng thời giờ của họ cách hiệu quả vì họ ý thức được nguyên nhân khiến họ hiện hữu bên trong sự phục vụ Ngài, nên có thể sắp xếp ưu tiên cách sử dụng những nguồn tài nguyên của họ. Vì họ hiểu về chức năng đặc biệt mà họ được kêu gọi để làm trọn, nên họ có thể nhìn xem đời sống với một tiêu điểm sắc nét như tiêu điểm của tia laser vậy.
Vẫn có thì giờ để vui đùa . Họ vẫn có thì giờ để vui đùa, vẫn có những khoảnh khắc tiêu khiển hả hê và “những lúc không làm việc,” nhưng những người có khải tượng sử dụng các tiêu chuẩn khác với tiêu chuẩn của những người khác để triển khai thời khóa biểu hàng ngày. Như vậy chẳng lấy gì làm lạ, những đầy tớ này sử dụng khải tượng của Chúa như một bộ lọc có ý thức để lập các quyết định.
NHỮNG LỢI THẾ CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ KHẢI TƯỢNG CƠ ĐỐC ẤY LÀ: CÓ NĂNG LỰC ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG QUYẾT ĐỊNH ĐẦY CAM GO VÀ KHẮC PHỤC NHỮNG HẬU QUẢ TỪ NHỮNG CHỌN LỰA ĐÓ.
Nếu tôi quan sát đúng, thì dường như những người có khải tượng có thể chọn lựa từ một bể cơ hội tuyệt vời lớn lao hơn nhiều. Đối với những người đánh mất tiêu điểm của mình và bắt đầu chọn lựa mà không để ý đến khải tượng của họ, tình trạng khá thừa cơ hội này sẽ dễ dàng làm tê liệt - hoặc ít nhất là làm trung hòa - tính hữu hiệu của họ cho Chúa. Tuy nhiên, những người có khải tượng nào tiếp tục đi theo đường hẹp và thẳng thì kinh nghiệm niềm vui và sự thỏa lòng do tinh thần kỷ luật và có mục đích như thế đem lại. Một cách để đo lường tinh thần kỷ luật này đem lại sự thỏa lòng đến mức nào cho người có khải tượng ấy là: họ nhất quán tra xét mỗi một cơ hội mới bằng cách xem xét mối quan hệ của nó với sự kêu gọi đặc biệt của mình.
Những lợi thế của những người có khải tượng Cơ Đốc ấy là: có năng lực để đưa ra những quyết định đầy cam go và khắc phục những hậu quả từ những chọn lựa đó. Trong một số trường hợp, họ chiến đấu với những đống đổ vỡ của cảm xúc vì đã phải khước từ những cơ hội thật hấp dẫn hoặc đầy uy tín cho đời sống và chức vụ của họ vì cớ những phương án chọn lựa ấy mâu thuẫn với khải tượng.
Trong những trường hợp khác, những người có khải tượng có thể chọn phương án thích hợp nhất vì khải tượng cung cấp mục đích và phương hướng. Những người có khải tượng không bị ngã lòng lâu dài về chuyện họ đã khước từ những phương án đầy hấp dẫn. Vì có một kim chỉ nam hữu dụng đến như thế, họ chỉ việc tin cậy Đức Chúa Trời sẽ lo liệu cho họ theo phương cách tốt nhất có thể có miễn họ là những đầy tớ trung tín và vâng lời.
Khải tượng xây dựng lòng can đảm và khôn ngoan . Ngoài việc khước từ những phương án chọn lựa đầy hấp dẫn, người có khải tượng còn nhận được ích lợi từ khải tượng của mình vì khải tượng cung cấp lòng can đảm và khôn ngoan để đưa ra những quyết định đầy cam go. Khi người có khải tượng phải đưa ra những quyết định khó được mến mộ hoặc rất gay go cho bản thân và gắn bó với những chọn lựa đó vì cớ khải tượng, họ luôn luôn trở nên mạnh mẽ hơn và kết quả là được đặt vào những vị trí tốt hơn.
Sự thử thách để cứ giữ trung tín với khải tượng - bất luận mọi thách thức - là một phần của tiến trình tinh luyện mà mọi người có khải tượng đều trải qua. Khi bạn chứng tỏ mình có khả năng và đáng tin cậy, hãy mong chờ nhìn thấy Đức Chúa Trời sẽ cung cấp thêm nhiều cơ hội khác nữa để phục vụ (Mat Mt 25:21, 23; LuLc 16:10; 19:17, 26).
Đương nhiên, hầu hết các bậc cha mẹ đều học được nguyên tắc căn bản này từ đầu thời kỳ nuôi dạy con. Sau bao thử thách và hoạn nạn đầy thống khổ, những bậc cha mẹ giỏi thường khám phá rằng việc đặt những giới hạn thường là món quà tuyệt vời nhất họ tặng cho con cái. Việc thiết lập những tham số và giữ cho con có trách nhiệm khai trình sẽ giúp chúng phát triển được những đặc điểm và những niềm tin quyết kính sợ Chúa. Tương tự, khải tượng của Chúa là một trong những cách Ngài giúp chúng ta công nhận những tham số có ích lợi nhất cho đời sống và chức vụ của chúng ta.
Những người có khải tượng học cách giữ gìn . Những Cơ Đốc Nhân có khải tượng sẽ khác biệt ở chỗ họ cũng bảo tồn nữa. Cơ sở khiến cho họ siêng năng khi đối diện với nghịch cảnh chính là niềm tin quyết rằng họ đang đi trên con đường do Đức Chúa Trời quyết định và Chúa sẽ chúc phước cho lòng quyết tâm cứ vâng lời của họ.
Những người có khải tượng trở nên quen thuộc với nghịch cảnh, công nhận rằng với tư cách những người đấu tranh cho một phần nhỏ bé nhưng đầy ý nghĩa trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, họ là kẻ thù của Satan. Vì vậy, những hoạn nạn là điều họ phải chờ đón, với tư cách một kẻ thù đã tuyên chiến với ma quỉ. Tuy nhiên, những người có khải tượng Cơ Đốc được trang bị kỹ để đánh trận này. Tất cả những điều họ cần có chính là đức tin nơi Đấng Christ và lòng tận tâm với sự nghiệp của Ngài như đã được mô tả qua sứ mạng và khải tượng họ có.
Một đặc điểm then chốt khác của những Cơ Đốc Nhân đi theo khải tượng ấy là họ lâm trận cho đến khi trận chiến kết thúc. Nếu hội thánh của bạn là hội thánh điển hình, bạn sẽ quan sát thấy những người có lòng tận tâm lúc được lúc mất, lúc lên lúc xuống, tính cách làm việc của họ cũng giống y như vậy. Nhưng một khi bạn đã có khải tượng của Chúa, bạn đã dấn thân quá sâu không thể quay lại được.
Nên nhớ, Đức Chúa Trời chỉ ban khải tượng của Ngài cho những người nào có thái độ nghiêm túc về cuộc đời phục vụ đầy ý nghĩa. Khi bạn đạt đến chỗ Đức Chúa Trời đã ban khải tượng cho đời sống và chức vụ của bạn, lúc đó bạn đã hoàn toàn đầu phục Chúa và đã khẩn nài Chúa cho bạn tìm kiếm Ngài như một cam kết trọn đời. Lúc đó, bạn gia nhập một nhóm tín hữu đặc biệt, giống như Những Hiệp Sĩ Bàn Tròn huyền thoại trong triều đình vua Arthur. Giờ đây bạn là một “người có khải tượng chuyên nghiệp.” Bạn ở trong đó suốt một chặng đường dài rồi.
Thái độ đối với đời sống và chức vụ là một đặc điểm hành vi khác nữa phổ biến đối với những người có khải tượng Cơ Đốc. Khách quan mà nói, tương lai chẳng đem đến mấy hy vọng. Bạo lực, tranh ảnh khiêu dâm, lạm dụng những thứ thuốc gây nghiện, nghèo khổ, những thảm họa do cắt giảm đời sống, những thiên tai, những cuộc chiến tranh quốc tế, nạn mù chữ, nạn thù địch chủng tộc, xuất hiện trên danh sách những điều gian khó và suy đồi văn hóa.
Thế nhưng, những Cơ Đốc Nhân được hướng dẫn bởi khải tượng vẫn giữ vững những quan điểm đầy hy vọng và lạc quan nhất về tương lai. Suy cho cùng, họ dự phần vào sự cứu chuộc tâm linh và công tác tái phát triển thế giới giữa những con người với nhau, được chính Đức Chúa Giêsu Christ tuyển dụng. Những nỗ lực của họ không uổng phí hay vô nghĩa, nhưng có mục đích và có ảnh hưởng. Họ hiểu đầu tư của họ vào khải tượng sẽ là phần hết sức quan trọng trong giải pháp cho những nan đề phức tạp của thế giới mình. Cùng với những sự theo đuổi qua hàng ngàn tín hữu khác đang được hướng dẫn bởi khải tượng trên hoàn cầu, họ lập luận rằng: không thể nào tưởng tượng được rằng Đức Chúa Trời sẽ không ban phước cho sự phục vụ tích lũy của họ. Đúng, họ nhiệt tình về tương lai hơn mức những sự thật trần trụi xứng đáng có được, nhưng bấy giờ, những người có khải tượng đã nhìn thấy trước một tương lai mà cả thế giới còn lại thậm chí cũng chưa mơ ước đến.
2. Những Mối Tương Tác Cá Nhân
Nếu bạn là một môn đồ của Đấng Christ được thúc đẩy bởi khải tượng, bạn hãy chứng tỏ khải tượng của bạn trong cuộc đối thoại. Những người có khải tượng nói về trọng tâm của khải tượng ấy. Họ mô tả nó cho người khác, khích lệ người khác gia nhập họ trong những cuộc tìm kiếm khải tượng của họ, họ thường xuyên bày tỏ lòng biết ơn về những chỉ dẫn đã nhận được trong đời, họ liên hệ những sự kiện mới và công khai với các sự nghiệp của họ.
Thực ra, những người có khải tượng chịu ám ảnh bởi khải tượng của họ. Đối với những người không có khải tượng, những người có khải tượng có vẻ như chỉ có một chiều hoặc thiển cận. Tuy nhiên, giữa những người có khải tượng với nhau, đặc biệt những người có chung khải tượng, họ là những người lãnh đạo thú vị nhất và có ý nghĩa nhất trên thế giới này.
Đối với những người thành công trong việc mời người khác dự vào các chiến dịch của họ để nhận ra khải tượng, họ trở thành những lãnh đạo vui vẻ, biết khích lệ và cảm ơn những đồng nghiệp vì đã tham dự. Tôi đã thấy rất nhiều người có khải tượng có tính tình hướng nội đã trở nên bớt biệt lập trong mối liên hệ rất nhiều bởi cớ những khao khát bùng cháy của họ đã biến đổi khải tượng của họ từ những chiến dịch chỉ có một người trở thành phong trào quần chúng.
Bản tánh con người có thể thay đổi . Hồi ở trung học, có một cô giáo dạy tôi rằng, bản tánh con người không hề thay đổi. “Cô đã nói sai; quyền năng của Tin Lành có thể biến đổi triệt để những tấm lòng, và những đời sống của tín hữu có thể được tinh luyện mãi mãi bởi cam kết trọn vẹn của họ với Đấng và với một điều vĩ đại hơn chính bản thân họ - là khải tượng của Đức Chúa Trời.
Những người có khải tượng toát ra sự quan tâm thành thật đến khải tượng của người khác, và mong đợi tìm được cùng một mức độ mãnh liệt và hớn hở trong đời sống các tín hữu khác khi họ làm việc trong chính khải tượng riêng của họ. Cuối cùng, và vô tình nữa, những người có khải tượng trở nên hay nhìn xem người khác trong mối liên quan với khải tượng. Nếu họ gặp một người có khải tượng khác, mối quan hệ này có thể xoay quanh sự hiểu biết lẫn nhau, sự trân trọng và khao khát giúp đỡ người khác hoàn thành khải tượng.
Vì những người có khải tượng được người khác chú ý, nên họ thường muốn biết mình có thể giúp ích cách nào cho người khác có thể hoàn thành khải tượng, hoặc ít nhất cũng muốn hiểu xem những khải tượng tương ứng của họ có thể tương thích và có ích cho nhau như thế nào.
Trong chiến dịch vận động tranh cử tổng thống năm 1992, các thành viên của giới truyền thông thích gọi Bill Clinton và La Gore - người bạn phó tổng thống cùng tranh cử với ông - là “những con mọt chính sách.” Các phóng viên thuật lại rằng hai người đã bỏ ra hằng giờ để thảo luận những điểm rất nhỏ trong chính sách công chúng. Thường tiếp theo đó là ngày kiệt quệ bầm giập trên con đường chiến dịch.
Có lẽ những cuộc đối thoại này nạp lại năng lượng thể chất và tình cảm cho các ứng cử viên để duy trì họ trong suốt chiến dịch. Bill Clinton và Gore được thúc đẩy bởi một khải tượng là sử dụng chính quyền làm phương tiện để tạo dựng một xã hội tốt đẹp hơn. Họ nói bằng thứ ngôn ngữ của nhau - ngôn ngữ về tầm nhìn xa của những người lập ra chính sách tự do được thôi thúc để giúp nhân loại thông qua sự can thiệp và trợ giúp của chính quyền.
Cảm giác gia đình . Hầu hết những người có khải tượng Cơ Đốc đều là thành viên trong gia đình hiểu biết khải tượng hoặc là những người vẫn chưa trưởng thành đầy đủ. Thông thường, người có khải tượng này cảm thấy buồn cho tín hữu không có khải tượng, nhận thấy tín hữu không có khải tượng đang trượt mất một trong những yếu tố có ý nghĩa nhất của từng trải Cơ Đốc. Điều này cũng tương tự như cảnh đau lòng của một nhà truyền giảng cảm thấy về người chưa tin Chúa.
Vì những người có khải tượng được thúc đẩy để làm trọn nhiệm vụ đã giao cho mình, họ thường có những cơ hội khác thường để kết bạn với những cá nhân hoặc với những mục vụ nào nâng cao được năng lực của họ để làm trọn khải tượng. Những trường hợp có những thái độ ngăn trở sự hợp tác thường diễn ra khi khải tượng không đến từ Chúa, hoặc khi người có khải tượng đang tranh đấu với cái tôi sai lầm. Dầu vậy, những người thật sự hiểu được sự kêu gọi thì nhận thấy khải tượng của Chúa thường trọng yếu đến nỗi những nỗ lực tốt nhất của chính họ vẫn chưa đủ để hoàn thành công tác. Họ hoan nghênh sự trợ giúp từ những tín hữu khác.
Tương tự, vì những tín hữu được thúc đẩy bởi khải tượng rất nghiêm túc đối với sự kêu gọi đặc biệt của họ, họ thường sốt sắng nhờ người khác giữ cho mình có trách nhiệm khai trình về việc thực hiện khải tượng. Đương nhiên, tinh thần khai trình không phải lúc nào cũng là một từng trải dễ chịu, nhưng hầu hết những thánh đồ nào tìm cách phục vụ Chúa đều chấp nhận nhu cầu cần được đánh giá bởi những người quan tâm đến Chúa và quan tâm đến người có khải tượng.
Học hỏi từ người khác . Một trong những thuộc tánh quí giá nhất của những tín hữu được thúc đẩy bởi khải tượng chính là sự mong mỏi được học tập từ người khác. Có lẽ vì khải tượng quá lớn nên chúng ta không thể tự mình hoàn thành được, nên những người có khải tượng kêu gọi sự trợ giúp từ người khác. Trong một thế giới đầy dẫy thông tin, những mạng lưới quan hệ, những chuyên gia và bao nguồn cung ứng khác, đầy tớ thật của Chúa đâu muốn điều gì khác hơn là điều tốt nhất cho Chủ, và nhận thấy mình không hiểu biết trọn vẹn về môi trường của chức vụ. Việc tìm kiếm lời khuyên và sự khôn ngoan từ người khác có thể tiết kiệm những nguồn tài nguyên khan hiếm đang được dùng để đẩy mạnh khải tượng.
3. Năng Suất
Luật nào cũng có những ngoại lệ, và luật này cũng vậy. Thế nhưng, tôi thấy thường xuyên chứ không phải hiếm khi những người có khải tượng của Chúa được tiến bộ rõ rệt đến những mục tiêu liên quan với khải tượng của họ, họ liền dâng vinh quang về những thành công của họ lên cho Chúa. Đừng nên xem điều này là bất thường; mỗi tín hữu được kêu gọi để không ngừng dâng lời tạ ơn và chúc tụng Đức Chúa Trời vì rất nhiều phước hạnh và phép lạ Ngài ban cho mỗi ngày.
NHỮNG TÍN HỮU CÓ KHẢI TƯỢNG NỔI BẬT BỞI ĐỜI SỐNG CẦU NGUYỆN. HỌ CẦU NGUYỆN THƯỜNG XUYÊN HƠN, TẬP TRUNG HƠN, KHẨN CẤP HƠN, CỞI MỞ HƠN, NHỜ VÀO SỰ KHIÊM NHƯỜNG CỦA HỌ NHƯ KẾT QUẢ CỦA KHẢI TƯỢNG.
Thế nhưng, sự thật ấy là hầu hết mọi người - vâng, thậm chí ngay cả hầu hết tín hữu - đều xem rất nhiều điều tuyệt vời xảy ra trong đời sống họ như chuyện đương nhiên vậy. Thật đáng tuyên dương những người có khải tượng, và chắc có lẽ họ bị chìm ngập trong qui mô những mục đích đặc biệt của họ, nên họ rất có thể công nhận mọi thành công đều là do Chúa đem đến, chứ không phải do sức riêng của họ. Phạm vi những kỳ vọng của Ngài nơi chúng ta là một trong những vẻ đẹp của khải tượng, vì nó gia tăng lòng nhờ cậy Chúa, còn Ngài đầu tư lòng tin và tín nhiệm càng nhiều hơn nữa nơi chúng ta.
Những người có khải tượng làm được những việc lớn cho Chúa, vì họ tập trung vào khải tượng, vì Ngài chúc phước cho những nỗ lực của họ, và vì những người có khải tượng đánh giá thường xuyên và thực tiễn xem họ đang tiến triển thế nào trong cuộc tìm kiếm khải tượng của họ.
Rất nhiều người bị cám dỗ say sưa nơi sự kiện họ được kể là xứng đáng để thi hành những chức năng đặc biệt trong kế hoạch vĩ đại của Ngài dành cho con người, nhưng cuối cùng họ nhận thấy sự xuất sắc khi thực hiện bổn phận của họ vì cớ Ngài sẽ đòi hỏi sự tra xét gắt gao.
Sống theo những tiêu chuẩn khắt khe . Chúng ta phục vụ một Đức Chúa Trời là Đấng thỉnh thoảng đặt ra những tiêu chuẩn cho con người. Khi làm theo lệnh Ngài, chúng ta cần đạt đến những tiêu chuẩn hợp lý để thành công - không phải để kiếm được tình yêu Ngài, nhưng đơn giản là để phát triển tối đa những nguồn cung ứng của chúng ta cho Đấng mà chúng ta yêu mến và được vinh dự phục vụ Ngài. Chúng ta sẽ không bao giờ có được sự công bình trước mắt Ngài nhờ vào mức độ trình diễn thành công mà chúng ta đạt đến, nhưng một phần tự nhiên trong sự tăng trưởng với tư cách tín hữu và tôi tớ của chúng ta chính là tìm cách làm hết sức mình với những nguồn cung ứng Chúa đã ban cho.
Có lẽ cách diễn tả tốt nhất điều này ấy là: những người có khải tượng làm việc siêng năng. Họ được thúc đẩy không phải bởi những tràng vỗ tay hay những quả châu trang trí của thế gian này, nhưng được thúc đẩy bởi cơ hội phục vụ Chúa. Những người có khải tượng cũng làm việc cách thông minh. Họ tìm cách sử dụng tối ưu những nguồn cung ứng để tiến tới những kết quả nhanh nhất và hoàn hảo nhất. Nói cách khác, những người có khải tượng Cơ Đốc không chỉ là những người cần cù; họ còn là những người nhiệt tâm có chiến lược.
4. Đời Sống Tâm Linh
Tôi đã quan sát mọi cách ảo tưởng bên trong cộng đồng Cơ Đốc. Có người đã thay thế tấm lòng của Đức Chúa Trời bằng những đạo luật của Chúa và đã thờ phượng một hình thức trống rỗng của Cha chúng ta. Nhưng người khác đã tạo sự chia rẽ căn cứ trên những phương cách họ giải nghĩa Lời Chúa hay những sở thích về phong cách của họ - chứng hoang tưởng tự đại, thờ hình phượng, quyền lực và tham muốn - bất cứ thứ gì bạn có thể nghĩ ra, và ở đâu đó tại Hoa Kỳ, nó chắc chắn hiện hữu dưới lá cờ của Cơ Đốc Giáo.
Tôi đề cập điều này không phải để gièm chê Hội Thánh, nhưng để bối cảnh hóa sự nhận thức rằng một điều gì đó mang tính cá nhân như là khải tượng có thể bị lạm dụng dễ dàng. Những hội thánh “thời đại mới” tán thành khải tượng cho đời sống, nhưng khải tượng mà họ mô tả là đến từ bên trong, cho bản thân, và không gắn bó với bất kỳ một cơ sở bề ngoài nào của tinh thần khai trình trách nhiệm ngoại trừ công luật.
Tránh lạm dụng . May mắn thay, những người có khải tượng Cơ Đốc được quyền năng và sự vĩ đại của Đức Chúa Trời đụng đến họ. chính năng lực để cảm nhận vẻ oai nghiêm và tình yêu dư dật của Ngài, quyền năng khôn tả của Ngài cùng với lòng thương xót vô biên của Ngài đã giúp họ tránh lạm dụng khái niệm về một khải thị đặc biệt và không thể chứng minh được vốn được ban cho mỗi môn đồ thật của Đấng Christ.
Đối với những Cơ Đốc Nhân chịu sự dẫn dắt của khải tượng, khải tượng được công nhận là một sự ban cho từ Chúa, nhưng bất luận khải tượng có quyền năng đến đâu đi nữa, nó vẫn không hề thay thế Đức Chúa Trời. Nó vẫn là công cụ hướng dẫn của Chúa cho những nguồn tài nguyên của chúng ta sau khi chúng ta tự nguyện dâng cho Ngài hết thảy những đều mình có.
Những tín hữu có khải tượng cũng nổi bật bởi nếp sống cầu nguyện của họ. Tôi thấy họ cầu nguyện thường xuyên hơn, tập trung hơn, khẩn cấp hơn và cởi mở hơn nhờ sự khiêm nhường của họ như là kết quả của khải tượng. Họ cầu xin sự dẫn dắt, khôn ngoan, phước hạnh và các nguồn cung ứng, họ cầu nguyện với lòng tôn kính. Họ biết rằng không có Chúa, khải tượng của Ngài ban vẫn sẽ không thành được.
Những Dấu Hiệu Của Nếp Sống Có Khải Tượng
Hành Vi Cá Nhân:
1. Sử dụng thời gian cách hiệu quả: những điều ưu tiên được thúc đẩy bởi chức vụ.
2. Khải tượng là bộ lọc có ý thức để lập các quyết định.
3. Sẵn lòng lập những quyết định đầy cam go dựa trên khải tượng.
4. Lường trước những trở ngại và rào cản nhờ vào những cam kết của họ với khải tượng; không ngã lòng trước những thách thức.
5. Chuẩn bị sẵn sàng để phục vụ trong chức vụ, dựa trên khải tượng, trong suốt chặng đường dài.
6. Thái độ khác: Tràn trề hy vọng và lạc quan nhiều hơn là hoàn cảnh xứng đáng có.
Những Mối Tương Tác Cá Nhân
1. Truyền đạt khải tượng cho người khác một cách có chiến lược.
2. Tìm sự hậu thuẫn khải tượng từ phía những người khác.
3. Khích lệ những người cùng làm việc với mình cùng theo đuổi khải tượng.
4. Chủ tâm cảm ơn những người cùng làm việc với mình trong khải tượng.
5. Sẵn sàng cộng tác với mọi cá nhân và mọi chức vụ nào có thể nâng cao khả năng làm trọn khải tượng.
6. Luôn luôn tìm cách học hỏi từ người khác.
7. Sẵn lòng đặt mình vào những mối quan hệ có tinh thần khai trình trách nhiệm.
8. Xem xét mọi mối quan hệ theo khải tượng của người khác và cách có thể giúp người khác đạt khải tượng.
Tính Năng Suất:
1. Khi họ đạt được tiến bộ hướng đến khải tượng, họ dâng vinh quang lên cho Chúa.
2. Những sự đánh giá thường xuyên và thực tiễn về mức độ họ đang tiến triển trong việc tìm kiếm khải tượng; đánh giá dẫn đến sự xuất sắc.
3. Hoạt động cách có chiến lược; làm việc chăm chỉ và thông minh.
Đời Sống Tâm Linh:
1. Khải tượng là sự ban cho đến từ Chúa, nhưng nó không bao giờ thay thế Đức Chúa Trời.
2. Cầu nguyện không ngừng để xin sự dẫn dắt, khôn ngoan, phước hạnh và các nguồn cung ứng.
3. Sự thờ phượng thật, được thúc đẩy bởi sự kính sợ vì được Chúa sử dụng, và bởi lòng thành tín của Ngài với những nỗ lực.
Người Có Khải Tượng Thực Tiễn
Nếp sống có khải tượng không phải chỉ là có khả năng tập trung vào khải tượng mà mình đã nhận từ Chúa. Những người có khải tượng Cơ Đốc kết hợp nhiều yếu tố để khiến khải tượng của họ trở nên thực tiễn. Một tín hữu có khải tượng chân chính là người sống hài hòa với sứ mạng, khải tượng, những giá trị, những ân tứ và những khả năng của mình.
Đời sống hợp bởi một chuỗi vô tận những cơ hội và thách thức mà chúng đòi hỏi phải có những quyết định. Những người Mỹ trung bình là những người ra quyết định khủng khiếp. Vì sao vậy? Hầu hết họ đều ít hiểu biết về nguyên nhân vì sao họ hiện hữu hay họ mong hoàn tất điều gì. Thiếu hiểu rõ về sứ mạng, khải tượng, những giá trị, các ân tứ và những tài năng, người ta thấy mỗi quyết định đều khó khăn, nếu không nói là đầy áp đảo, vì không có một tiêu chuẩn nào hay một khung tham chiếu hữu ích nào để hiểu về những phương án sẵn có. Khi họ hiểu chính xác về mục đích của đời sống, thì sẽ dễ quyết định hơn nhờ lọc những sự kiện thông qua một bộ lưới nhất quán.
Trong chương trước, tôi có luận đến một ý niệm phát triển đời sống tổng hợp, đưa ra những quyết định để định nghĩa đời sống, và sống hài hòa với sứ mạng, khải tượng, các giá trị, những ân tứ và những năng lực mà Chúa đã dần dần khiến mình cảm nhận.
Những ví dụ sau đây cho thấy những người mà tôi quen biết đã giải quyết một số những thách thức trong đời sống họ như thế nào bằng cách sử dụng - hoặc điều đáng buồn là bằng cách không sử dụng - những công cụ của một đời sống tổng hợp với khải tượng như một yếu tố thiết yếu trong thành phần tổng hợp này.
Khải Tượng Được Đem Ra Làm Cớ Biện Hộ
Có một người, mà tôi sẽ gọi tên là Gary, đã tiếp cận đời sống rất giống với cách của rất nhiều người trong Thân Thể Đấng Christ. Anh hiểu sứ mạng của mình, đã duyệt qua các giá trị của mình và đã nhận ra khải tượng của Chúa dành cho đời sống mình. Anh có những ân tứ và tài năng cực kỳ sáng tạo. Tuy nhiên, Gary là một Cơ Đốc Nhân trì trệ. Anh đến dự những buổi nhóm của hội thánh vào ngày cuối tuần, trung tín dâng tiền cho hội thánh mình và tham dự vào một nhóm nhỏ. Thế nhưng anh không hề dự phần vào các chức vụ của hội thánh hay vào một chức vụ cá nhân nào.
Tôi hỏi Gary vì sao anh không góp phần vào công việc của Đấng Christ, với khả năng ân tứ và muôn vàn cơ hội anh gặp được trong đời sống. Anh trả lời bây giờ chưa phải lúc. Sau một hồi thảo luận gay gắt, chúng tôi chia tay, vẫn là bạn với nhau, nhưng mỗi người có một quan điểm khác nhau rõ ràng về nội dung của đời sống Cơ Đốc.
Ít lâu sau, Gary được một giáo viên Trường Chúa Nhật trong hội thánh mời phỏng vấn về những kinh nghiệm làm việc của anh trong ngành kỹ nghệ ngoài đời, nơi có rất ít Cơ Đốc Nhân làm việc ở đó. Sẽ không cần chuẩn bị gì cả. Không ai đòi hỏi nơi anh những câu trả lời “đúng” nào cả.
Gary là một ứng viên hoàn hảo vì anh đã gặp biết bao căng thẳng xảy đến cho một người “ở trong thế gian và không thuộc về thế gian,” là đề tài lớp học đang nghiên cứu. Dầu Gary biết mọi người ở trong lớp, thân thiện với giáo viên, không cảm thấy e sợ khi xuất hiện trước đám đông và cũng không bận trách nhiệm nào trong thời gian lớp họp lại, anh vẫn thoái thác lời mời.
Giáo viên mời Gary lần thứ nhì, mô tả rõ cách Gary sẽ giúp ích được cho nhóm. Anh thoái thác lần nữa. Hai học viên trong lớp gọi điện thoại đến nài nỉ Gary giúp họ trong khi lớp đang cố gắng cách khó khăn để hiểu được khái niệm Kinh Thánh đang học. Một lần nữa, Gary khước từ cơ hội.
Vì sao Gary không dành cho người khác cơ hội để học hỏi từ những kinh nghiệm và những phản ảnh của anh? Anh giải thích với tôi: “Tôi không quan tâm chuyện đó.” Đây là cách để anh nói rằng một cuộc phiêu lưu như thế không nằm trong ranh giới khải tượng của anh. Tôi cố gắng thuyết phục anh. Đấy chẳng phải là một cơ hội phù hợp với sứ mạng và những giá trị của anh sao, và đương nhiên là phù hợp rất thoải mái với những kỹ năng của anh sao? Hay là phương cách phát biểu trước lớp làm cho anh thấy không thoải mái? Không. Nó có đáng sợ không? Không. Nó có nhất quán với sứ mạng và những giá trị của anh không? Có. Nó không nhất quán với khải tượng của anh sao? Không, chỉ có điều là nó nằm ngoài định nghĩa của anh về khải tượng.
Dầu Gary nhắc đến khải tượng của mình khi quyết định, về cơ bản, anh đang dùng khải tượng của mình để làm cớ biện hộ. Không có gì là thiếu nhất quán trong việc chia sẻ kinh nghiệm của mình với lớp học trong 30 phút.
Sở dĩ có quyết định của Gary như vậy vì những chiến lược mà anh đưa ra làm cớ biện hộ đã không bao gồm phương án cụ thể này. Dựa vào khải tượng của anh để khước từ một cơ hội như vậy chính là sự lười biếng thuộc linh. Ắt anh đã có thể làm thỏa mãn một phần sứ mạng của mình (“phục vụ Chúa và dân sự Ngài cách đích thực”) và vẫn cứ đi đúng theo các giá trị của anh (chẳng hạn như: cởi mở, xuất sắc, siêng năng, thành thật). Tôi tin chọn lựa của Gary thật sự phá hoại năng lực để anh sống hài hòa với sứ mạng và những giá trị của mình.
Một Quyết Định Của Tổng Giám Đốc Điều Hành
Một trong những công ty lớn nhất trong khu vực của tôi là một xưởng phim. Xưởng phim này nổi tiếng vì đòi hỏi lòng trung thành và làm việc siêng năng không thể tưởng tượng được từ những nhân công. Những người trong ban quản lý biết tổng giám đốc điều hành là một con người làm nhiều hơn là nói và dành biết bao giờ đồng hồ để xây dựng vương quốc của xưởng phim này. Một trong những câu châm ngôn của nhóm lãnh đạo nòng cốt ấy là hiện diện tại buổi họp chiến lược vào sáng Chúa nhật hàng tuần là lệnh bắt buộc. Một người dự họp cho tôi biết theo kinh nghiệm: “Nếu không đến dự sáng Chúa nhật đó, có lẽ sáng thứ hai cũng không cần phải ra khỏi giường.”
Sự Thăng Cấp Đem Lại Nhiều Bổng Lộc
Hãy xem tình trạng nan giải của Walt. Anh được đề nghị thăng chức tại xưởng phim, và điều đó sẽ gồm khoản tăng lương hậu hĩnh và nhiều ích lợi vượt trội. Số lương phụ trội sẽ làm giảm bớt căng thẳng tài chánh trong gia đình, cặp nẹp răng cho cô con gái, cơ hội để chuyển đến căn nhà lớn hơn trong một khu tốt hơn. Cơ hội để đưa các con đi học trường tư và vợ có thể nghỉ việc và dành trọn thời gian làm mẹ.
Ích lợi thuộc linh cũng bao gồm trong sự thăng tiến. Chẳng hạn Walt sẽ là Cơ Đốc Nhân duy nhất trong nhóm điều hành cao cấp, như vậy sẽ có cơ hội tạo ảnh hưởng tích cực trên ban điều hành đầy quyền lực này.
Tuy nhiên, việc đi lên luôn luôn đi kèm theo một giá phải trả. Có lẽ giá phải trả ý nghĩa nhất đối với Walt chính là buổi họp sáng Chúa Nhật và hàng đêm phải về trễ. Các buổi nhóm tại nhà thờ sẽ không còn nữa. Anh không những phải ngưng hướng dẫn nhóm học Kinh Thánh vào mỗi tối thứ ba của mình, mà cũng còn không thể đến học chung với nhóm nữa. Walt nhận thấy đây là sự chọn lựa giữa một bên là nếp sống thoải mái hơn với bên kia là cam kết thuộc linh nhất quán.
Đối với Walt, sự chọn lựa này đầy thống khổ nhưng dứt khoát. Sứ mạng của anh không ngăn anh tính đến địa vị mới. Tuy nhiên, khải tượng và những giá trị của anh - vốn liên quan đến việc trở thành người chủ gia đình luôn trưởng thành tâm linh, đặt Đức Chúa Trời trên hết mọi sự quí trọng cộng đồng và những mối quan hệ hơn của cải vật chất và tiện nghi và đạt được sự quân bằng trong sự sống - hét lên: “KHÔNG!”
Walt biết nếu anh khước từ sự thăng cấp này, có lẽ anh sẽ không bao giờ có được cơ hội tương tự và địa vị hiện có của anh có lẽ cũng lâm nguy. Đức tin của anh nơi sự chu cấp của Chúa và lòng cương quyết đứng vững với sứ mạng, khải tượng và những giá trị của mình đã đem đến cho anh can đảm để thoái thác lời đề nghị đầy hấp dẫn ấy.
Nguyên Tắc Peter
Jack là giáo viên được mến mộ nhất trong chương trình Trường Chúa Nhật người lớn tại hội thánh. Suốt nhiều năm, phòng học của anh chật cứng những người cùng tuổi vốn rất tận tụy với sự dạy dỗ của anh. Lớp học cũng là niềm vui sướng nhất trong tuần của Jack nữa. Được Chúa ban ơn làm giáo viên, anh sung sướng chuẩn bị các buổi học hằng tuần và thật sự sôi nổi khi hướng dẫn lớp học Kinh Thánh và các phần áp dụng. Anh đã làm việc hợp sở trường của mình.
Cơ hội được sử dụng các ân tứ và năng lực của anh trong buổi nhóm hàng tuần hoàn toàn phù hợp với khải tượng chức vụ mà Chúa đã ban cho Jack. Một trong những nguyên nhân Jack vẫn ở tại hội thánh này chính là hội thánh đã cung cấp diễn đàn để sử dụng các ân tứ của anh
Vì Sao Không Quản Lý Trường Chúa Nhật?
Sau đó các trưởng lão trong hội thánh nhận thấy năng lực tỏa sáng của Jack trong Trường Chúa Nhật, nên đã đề nghị anh làm trưởng ban toàn bộ chương trình Trường Chúa Nhật. Anh sẽ có cơ hội xác định phương hướng cho chương trình, tuyển thêm và huấn luyện các giáo viên khác. Anh cũng sẽ có cơ hội để đánh giá tính đáng tin cậy của chương trình, tham dự vào các quyết định quản lý và giải quyết nhiều thách thức khác xuất phát từ mọi chương trình Cơ Đốc Giáo dục tại một hội thánh cỡ trung và đang phát triển.
Đối với các trưởng lão, Jack dường như là là sự lựa chọn lựa thực tiễn duy nhất. Suy cho cùng, anh là giáo viên giỏi nhất của họ, một người ủng hộ mạnh mẽ chương trình dạy Kinh Thánh và là một thuộc viên đáng kính trọng trong hội thánh. Đây sẽ là một bước tiếp theo để tiến đến tương lai chắc chắn làm trưởng lão trong hội thánh.
Khi tin đồn lan ra rằng Jack chắc đạt đến địa vị có uy tín này. Nhiều người chúc mừng anh. Họ khích lệ anh nhận lấy công việc vì thấy rõ lòng yêu mến công tác dạy đạo của anh, sự tận tâm với chương trình dạy Trường Chúa Nhật lớp Tráng Niên và hội thánh đang cần một trưởng ban Trường Chúa Nhật đầy tài năng.
Jack Sử Dụng Đến Khải Tượng
Jack hầu như không hào hứng với khả năng này như những người cùng tuổi anh. Anh cũng đủ hiểu biết để nhận thấy anh vô tình đang được đưa lên để trở thành nạn nhân kế tiếp của nguyên tắc Peter. Đây là một tiên đề được Lawrence Peter phổ biến vào những năm 1970, đó là: một người sẽ tiếp tục được thăng tiến cho đến khi người ấy đạt đến mức độ mà tại đó trở thành bất tài và do đó không còn xứng đáng để được thăng tiến nữa. Lúc bấy giờ, hoặc họ được để lại để tạo ra sự lẫn lộn và hỗn độn trong địa vị đó hoặc bị sa thải. Tuy nhiên, Jack không suy nghĩ đến lời đề nghị này vì cớ Nguyên Tắc Peter. Anh đang suy đi tính lại địa vị này khi xét đến những ân tứ, những năng lực và khải tượng của mình.
Ân tứ của Jack là làm giáo viên chứ không phải làm người quản lý. Trở thành trưởng ban chương trình này sẽ đưa anh ra khỏi lớp học, điều đó sẽ đòi hỏi anh tập trung vào công tác quản lý hành chánh hơn là soạn bài và sẽ khiến anh dời sự chú ý từ sự tăng trưởng tâm linh cá nhân của học viên sang sức khỏe chung của toàn bộ chương trình Cơ Đốc Giáo Dục.
Những năng lực của Jack liên tiếp cho thấy anh không có tư chất để xử lý giấy tờ và ngồi qua các buổi họp (lại càng không có tư chất để tổ chức và chủ tọa các buổi họp đó) anh rất ghét việc làm trung gian trong sự xung đột. Đụng đến chuyện tiền bạc ngân quỹ thì anh đều giao cho vợ. Đương nhiên, làm trưởng lão trong hội thánh là một vinh dự, nhưng đó không phải là ham muốn của anh. Anh không sẵn lòng hy sinh niềm vui lớn nhất trong đời để đổi lấy vinh dự này.
Luận điểm bênh vực Jack chính là khải tượng của anh: “Tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội để đưa các bạn Tráng Niên đến với chân lý của Chúa, giúp họ hiểu và áp dụng những chân lý đó một cách sáng tạo vào mọi công việc trong đời sống họ và thể hiện chân lý cùng các nguyên tắc của Chúa qua chính đời sống tôi.” Khi Jack suy nghĩ chức trưởng ban sẽ đẩy mạnh việc làm trọn khải tượng của anh như thế nào, thì anh lại càng thấy rõ nó sẽ ngăn trở chứ không phát triển sự kêu gọi anh để trở thành người truyền đạt chân lý, kiến thức, áp dụng và nêu gương. Anh nhã nhặn thoái thác.
Hội thánh của Jack đã nói rõ hội thánh cần anh đảm nhận nhiệm vụ ấy. Các trưởng lão tâm tình rằng đây là chặng chót để đánh giá anh cho cấp độ lãnh đạo hội thánh cao hơn. Jack có ích kỷ khi khước từ đề nghị này không? Có dại dột không? Có thiển cận không khi giam mình trong lớp học trong khi anh có thể trở thành một sức mạnh có ảnh hưởng hơn trong tương lai của hội chúng?
Ai sẽ là người được phục vụ?
Câu trả lời cho tất cả những câu hỏi này đều là “Không.” Hẳn sẽ ích kỷ nếu Jack nhận lấy địa vị mới vì cớ giá trị chủ yếu của sự chọn lựa đó là phục vụ cho ích lợi của anh hơn là vì ích lợi cho những người mà anh sẽ phục vụ. Còn về chuyện dại dột, lại càng phi lý hơn khi cố tình chấp nhận những thách thức mà anh không có ý thưởng thức hay muốn nắm vững chúng, mà chúng cũng chẳng kích thích chẳng thúc giục được anh. Trở thành một trưởng lão là một địa vị quan trọng đến nỗi không thể chỉ đơn giản chấp nhận vì cớ có sẵn cho mình nhận.
Tôi tôn trọng những chính khách nổi bật nào khước từ cơ hội ứng cử tổng thống vì họ tin rằng tiến trình đó sẽ làm hại đến cuộc sống gia đình họ hoặc họ tin rằng họ được quần chúng mến mộ nhưng không có những kỹ năng và tài năng buộc phải có để phục vụ thỏa đáng đất nước.
Jack đã thể hiện cùng một loại khôn ngoan này, công nhận “cơ hội tuyệt vời” này chỉ tuyệt vời cho những người có ân tứ lãnh đạo hoặc quản lý, có cả khả năng để giải quyết xung đột và quản lý tổ chức và khải tượng của họ kết hợp cả những yếu tố then chốt để chỉ huy một mục vụ cốt lõi của hội thánh.
Tự Nghi Ngờ Bản Thân Biến Thành Chiến Thắng
Hai câu chuyện vừa qua về những người bạn đã biến khải tượng và những giá trị của họ trở thành kim chỉ nam để lập quyết định rồi xuất hiện thấy đèn đỏ nhấp nháy. Tôi xin kể cho bạn nghe về một người bạn khác nữa, tên Terry, là người có khuynh hướng khước từ cơ hội, nhưng đã đổi ý sau khi đã suy tính đến phương án đó cùng với khải tượng, những giá trị, những ân tứ và năng lực của mình.
Terry là giám đốc điều hành cao cấp hơn 12 năm trong một hội truyền giảng Tin Lành thế giới lớn. Khải tượng của anh là sử dụng ân tứ truyền giảng và lãnh đạo để đẩy nhanh sự truyền bá Tin Lành đến các nước khác trên thế giới. Khải tượng này sẽ được thực hiện bằng cách phát triển những mối quan hệ giao tiếp có ý nghĩa giữa tín hữu với những người chưa tin Chúa, để giúp công bố Tin Lành và đào tạo môn đồ tiếp theo đó.
Nhận Những Lời Đề Nghị Đầy Hấp Dẫn
Thông minh và là một người làm việc chăm chỉ, Terry đã làm được nhiều việc phi thường trong nhiệm kỳ của mình, nhưng khi có sự thay đổi trong hiệp hội, anh bắt đầu tính tìm việc ở nơi khác.
Trong vòng vài tháng, Terry nhận được nhiều lời mời từ các tổ chức khác nhau. Những lời mời rất khác nhau. Làm chủ tịch một cơ quan giáo dục, giám đốc hội tư vấn, mục sư phụ tá tại một hội thánh, tổng giám đốc điều hành tại một hội hiệp hội truyền giảng cho sinh viên đại học và làm người phát triển chương trình hội nghị hải ngoại.
Mỗi đề nghị đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó. Những ích lợi cho bản thân rất khác nhau: uy tín, lương bổng, cảm giác mãn nguyện, được đi lại, những cơ hội làm diễn giả, v.v.... Nan đề đối với Terry không phải là thiếu cơ hội, nan đề là quá nhiều những phương án đầy hấp dẫn.
Dầu Terry toàn tâm theo đuổi rất nhiều khả năng, phương án dường như hấp dẫn nhất là trở thành tổng giám đốc điều hành của hiệp hội truyền giảng đang cộng tác với giới thanh niên từ các nước khác.
Một Nhóm Đang Vất Vả Cần Giúp Đỡ
Tổ chức nhỏ này đang vất vả và đi xuống về số lượng và ảnh hưởng, đang gặp khó khăn về tài chánh, ban nhân viên lộn xộn. Tiền lương kém hơn mức lương có từ các chức vụ khác, và với tư cách tổng giám đốc điều hành, Terry sẽ phải gấp rút đi gây quỹ để bảo đảm mình còn được trả lương. Hiệp hội này nằm trong một khu vực của một quốc gia không hấp dẫn lắm đối với anh.
Khuynh hướng tự nhiên của Terry là tìm một điều gì đó ổn định hơn và chắc chắn hơn, đặc biệt vì nhu cầu của gia đình đang gặp nguy. Thế nhưng vị trí này cứ liên tục đến trong tâm trí anh. Khi cầu nguyện và kiêng ăn về những phương án chọn lựa sẵn có, anh cũng suy xét đến cách Chúa đã chuẩn bị cho anh phục vụ. Anh nhanh chóng nhận thấy nhịp tim của mình - tức là khải tượng của anh - không tập trung vào việc đạt được một công việc thoải mái tiện nghi và chắc chắn, nhưng nhắm vào việc phát triển những cơ hội và những hệ thống truyền giảng đầy ý nghĩa. Anh nhận thấy những ân tứ chủ yếu của mình sẽ bị phí phạm trong các tổ chức giáo dục và những trung tâm tư vấn.
Những năng khiếu của Terry, đặc biệt về mối quan hệ và diễn thuyết trước công chúng, phù hợp với tổ chức truyền giảng đang vất vả này hơn là những tổ chức có uy tín ổn định đang tranh sự chú ý của anh. Có lẽ một phần thận trọng của anh chính là do sợ những thất bại của bản thân trong những hoàn cảnh đáng sợ như thế.
Khải Tượng Đã Đáp Ứng Nhu Cầu
Cuối cùng, Terry chọn chấp nhận chức vụ tổng giám đốc điều hành này. Yếu tố quyết định đối với anh chính là sự phù hợp giữa khải tượng của tổ chức với khải tượng của chính anh, sự tương đồng giữa những giá trị của tổ chức ấy với những giá trị của anh đã sống, và nhu cầu của cơ quan cần một người có đúng những loại ân tứ, năng lực và kinh nghiệm như anh đã có. Thế nhưng, vẫn còn một quyết định dựa trên đức tin, là đức tin biết tin Chúa đang dẫn dắt Terry vào địa vị đó để đến thành công chứ không phải đến thất bại. Nếu Terry nhận lấy nhiệm vụ đó dựa trên những cảm xúc và tình cảm của mình, ắt anh đã nhận chức vụ tại hội thánh. Nếu chọn dựa trên sự ổn định và tài chánh hay uy tín nghề nghiệp, ngày nay anh đã ở trong cộng đồng giáo dục rồi. Dầu vậy, đối với Terry, luận điểm quyết định chính là khải tượng và các ân tứ.
Nếu bạn muốn trở thành một người có khải tượng chân chính, một người biết ơn Chúa đã đầu tư lòng tin cậy và khải tượng của Ngài vào bạn, đừng đối đãi với khải tượng dường như thể đấy là một nguồn cung ứng tùy chọn mà bạn có thể sử dụng hoặc phớt lờ tùy theo ước muốn thay đổi thất thường của bản thân mình. Hãy đối đãi với khải tượng như là một ơn phước phi thường, sử dụng khải tượng như một yếu tố trọng tâm để ra quyết định, để kiểm tra tấm lòng.
Đừng chỉ đơn giản sở hữu khải tượng của Đức Chúa Trời vì cớ muốn biết loại tương lai mà Chúa muốn bạn giúp tạo ra; hãy sống như cách một người có khải tượng sẽ sống.

Nếp Sống Của Một Hội Thánh Có Khải Tượng
“NHỮNG AI NÓI NGƯỜI TA KHÔNG LÀM NỔI VIỆC ĐÓ THÌ MÌNH NÊN TRÁNH KHỎI ĐƯỜNG CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐANG LÀM”
Vô Danh
Tìm Một Hội Thánh
Một thập niên trước, tôi sống tại một thành phố vùng Trung Tây thường được xem như kinh đô của công tác truyền giảng Tin Lành tại Mỹ. Vợ tôi, là Nancy, và tôi dời đến đó từ Los Angeles, là nơi chúng tôi đã dự phần gần gũi với một hội thánh tốt. Dầu đã biết trước về những mùa đông thời tiết xấu mà chúng tôi sẽ gặp tại Trung Tây, chúng tôi vẫn rất hào hứng vì được kêu gọi vào một chức vụ đặc biệt.
Chúng tôi cũng đang mong tương tác với các hội thánh trong “kinh đô truyền giảng” này. Là những Cơ Đốc Nhân tương đối mới, chúng tôi nghĩ đây là một bước vĩ đại để tiến đến kinh nghiệm điều tốt nhất mà hội thánh đem đến cho chúng tôi.
Sau chuyến di chuyển vĩ đại và gặp những đợt tuyết rơi khủng khiếp trong mùa đông, tôi và vợ gặp lần chán ngán thất vọng lớn nhất trong đời. Trong năm đầu tiên, chúng tôi dành mỗi Chúa nhật và rất nhiều buổi tối thứ tư đến nhóm tại nhiều hội thánh, cố tìm hội thánh nào đáp ứng được cho chúng tôi nhu cầu về đời sống thuộc linh tích cực và đầy sức sống.
Một Kinh Nghiệm Biến Đổi Đời Sống
Thay vào đó, Nancy và tôi đã gặp nhiều Thân Thể Chúa mệt mỏi, làm theo thông lệ và nhàm chán nhưng họ đã có danh tiếng tốt. Chúng tôi cố gắng hết sức để cởi mở và linh động trong những kỳ vọng và nhu cầu của mình. Chúng tôi không thể không kết luận rằng những hội thánh này đơn giản là thiếu nhiệt tâm, niềm đam mê và sức lực mà chúng tôi đã tiên liệu trước cách đầy hào hứng. Chúng tôi đã sẵn sàng bỏ cuộc, bỏ công ăn việc làm và trở về California, nơi đó chúng tôi biết mình một lần nữa được hưởng sức sống thuộc linh bên trong gia đình hội thánh.
Thấy được tình trạng suy tư của tôi và khẳng định được điều đó là do thất vọng ghê gớm về khung cảnh của hội thánh địa phương, một trong những phụ tá của tôi gợi ý hãy điều tra thêm một hội thánh nữa xem, hội thánh này là mới với tôi và nằm rất xa nhà. Lời lẽ của đồng nghiệp tôi cũng không thuyết phục lắm. Cô nói rằng cô không đến nhóm tại hội thánh đó hơn một năm nay, và đó không phải là một hội thánh “theo trào lưu chính.” Dầu vậy, trong tình trạng tuyệt vọng, khả năng nào cũng được. Vì vậy tôi đồng ý đến xem thử.
Chúa nhật tiếp theo hóa ra là bước ngoặc trong đời sống tôi. Hội thánh do cô gợi ý chính là Willow Creek Community Church do Bill Hybel làm mục sư chủ tọa. Lúc này là đầu thập niên năm 1980, trước khi Willow Creek trở thành một hội chúng có 15 ngàn tín hữu và một hiện tượng hội thánh quốc gia. Willow Creek khác với mọi hội thánh mà tôi và vợ đã gặp, và đây chính xác là điều chúng tôi tìm vì là một hội thánh có khải tượng rõ ràng - một khải tượng khơi dậy niềm đam mê của nhân viên tín hữu.
Một Số Hội Thánh Thiếu Khải Tượng
Nhìn lại quá khứ, tôi nhận thấy nan đề với 13 hội thánh chúng tôi đã đến thăm không phải là vì họ tà giáo hay là lỗi thời. Nan đề chính là vì họ không có khải tượng để thúc đẩy chức vụ. Bất kỳ thứ nào cũng có thể chấp nhận được, sự thay đổi là không cần thiết, ảnh hưởng của chức vụ là mối quan tâm phụ và chỉ có rất ít tiêu chuẩn để đánh giá chức vụ.
Ý niệm lượng giá chức vụ nằm bên ngoài ranh giới suy nghĩ của những hội thánh này. Họ đầy dẫy những người tốt, những anh chị em trong Đấng Christ rất yêu mến Ngài, nhưng họ đã vô tình (và vô ý) chuyển thành các câu lạc bộ tôn giáo. Họ đã phải làm hết mọi chuyện mỗi tuần và có những ý định tốt nhất, nhưng họ đã trở thành hội thánh hâm hẩm và không kết quả tại Laođixê của thời nay, như được mô tả rất rõ ở Khải huyền 3.
Điều khiến Nancy và tôi hăm hở lái xe rất xa để đến Willow Creek mỗi tuần hai ba lần và trở nên tích cực tham dự vào cộng đồng và những nỗ lực thi thành chức vụ của cộng đồng này chính là tiêu điểm và nỗi đam mê thể hiện rất rõ tại hội thánh đó.
Chúng Tôi Đã Trở Thành “Những Môn Đồ Ceeker” Bảo Thủ
Đương nhiên, tầm cỡ của Willow Creek và phong cách của hội này sẽ không phải là hấp dẫn đối với mọi người. Khải tượng của hội thánh này cũng vậy. Hội thánh có công tác giảng đạo tuyệt vời, nhưng chúng tôi cũng đã nghe những sự dạy dỗ rất tốt ở nơi khác nữa. Không, phẩm chất thu hút chính là nhịp đập trái tim của hội thánh này. Đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp một hội thánh tiến lên phía trước, rất rõ ràng và tận tâm với khải tượng độc đáo mà Chúa đã ban cho hội đó. Chúng tôi đã trở thành “những môn đồ Creeker” bảo thủ trong nhiệm kỳ của mình tại Trung Tây. Vì chúng tôi được thu hút bởi sự kiện đây là một hội thánh đầy dẫy nhưng con người đang sống đúng như những Cơ Đốc Nhân phải sống. Đối với nhóm thánh đồ này khải tượng không phải là một khái niệm siêu trần, nhưng là một phong cách sống. Không phải chỉ một lần, Nancy và tôi nhận định rằng chúng tôi cảm thấy như mình rơi vào Giêrusalem vào năm 33 S.C. và đang kinh nghiệm hội thánh của Công vụ 2. Từng trải gặp gỡ với đức tin được thúc đẩy bởi khải tượng này đã vĩnh viễn thay đổi đời sống và chức vụ của tôi.
Hội Thánh Có Khải Tượng
Nếu hội thánh địa phương muốn trở thành một đơn vị chức vụ có khải tượng, hội thánh đó phải có đồng những đặc điểm như ta thấy nơi một cá nhân có khải tượng, là những đặc điểm được thảo luận trong chương trước.
Các sinh hoạt của hội thánh có khải tượng khác rõ ràng với sinh hoạt của những hội thánh tìm cách phục vụ Chúa mà không có khải tượng thật. Những sự chọn lựa này gồm có (1) việc phải làm trong chức vụ, (2) cách phân phối những nguồn tài nguyên (3) các thể loại mối quan hệ cần nuôi dưỡng (4) tần số thường xuyên và những phương pháp dùng để đánh giá những nỗ lực của hội thánh và (5) phương cách hội thánh kết hợp đời sống thuộc linh của mình với những sinh hoạt đó.
Khải Tượng Nâng Cao Tính Hiệu Quả
Những hội thánh nào có khải tượng được sở hữu rộng rãi và được phát biểu rõ ràng đến từ Chúa thì thường có hiệu quả hơn trong những hoạt động của họ nhờ có tiêu điểm tập trung. Họ đưa ra những quyết định đôi khi không được mến mộ lắm, nhưng họ chấp nhận những quyết định đó mà không gặp phải sự thù oán như thường lệ của hội chúng miễn là quyết định ấy nhất quán với khải tượng.
NHỮNG HỘI THÁNH CÓ KHẢI TƯỢNG SẼ GỒM CÓ NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC HƯỚNG DẪN BỞI KHẢI TƯỢNG. NHỮNG HỘI THÁNH NÀY CÓ NHỮNG LÃNH ĐẠO CÓ KHẢI TƯỢNG BIẾT PHÁT BIỂU, BIẾT GIEO VÀ ỦNG HỘ KHẢI TƯỢNG VÌ CỚ HỘI THÁNH MÌNH.
Những hội thánh này hướng đến tương lai với tất cả nhiệt tình và vững tin, vì họ tin họ theo cuộc đua cho đến cùng. Các hội thánh có khải tượng là những hội thánh có hy vọng. Không những hy vọng vốn ở bên trong chúng ta bởi sự cứu rỗi của chúng ta, mà còn hy vọng hội chúng sẽ được Chúa dùng theo nhiều cách phi thường để ảnh hưởng đến đời sống của càng nhiều người hơn nữa, bằng càng nhiều phương cách hơn nữa, còn hơn cả suy tưởng hay sức thực hiện được của hội thánh nếu không có khải tượng của Ngài dành cho hội thánh.
Những Người Được Hướng Dẫn Bởi Khải Tượng
Những hội thánh có khải tượng thì gồm những người được hướng dẫn bởi khải tượng. Những hội thánh này có những lãnh đạo có khải tượng biết phát biểu rõ, hướng về và bênh vực khải tượng cho hội thánh mình. Đây là những hội thánh mà tín hữu chuyện trò về tình trạng và tiến triển của cuộc tìm kiếm khải tượng của họ và rồi không phải chỉ nhận lấy những ánh mắt vô hồn từ những người đang trò chuyện với mình.
Đây là những hội thánh mà trong đó mạng lưới quan hệ không chỉ có nghĩa là phân phát những danh thiếp kinh doanh cho những mối quan hệ làm ăn trong tương lai. Mạng lưới của hội thánh đòi hỏi phát triển một mạng lưới liên kết quan hệ, trong đó các ân tứ và những kinh nghiệm của nhau được xem như những phương tiện sẵn có và phương tiện trong tiềm năng để đẩy mạnh khải tượng của mình.
Đây là những hội thánh mà tín hữu vẫn còn có những bí mật của họ - suy cho cùng, họ vẫn là những con người tội lỗi và có thể sai lầm - nhưng họ ngày càng tham gia nhiều hơn vào việc tra xét và chịu trách nhiệm khai trình với nhau. Đây là những hội thánh gồm tín hữu có lòng học hỏi từ Kinh Thánh, từ những lãnh đạo của mình, từ nhau và trực tiếp từ Chúa.
Đức Chúa Trời Được Tôn Vinh
Khi một hội thánh có khải tượng đạt đến một mốc quan trọng hay đạt được một chiến thắng nhỏ trên con đường hoàn thành khải tượng, sự công nhận và tri ân được dâng lên cho Chúa vì sự giàu ơn của Ngài. Vâng, những người có dự phần cũng được công nhận và tri ân về vai trò của họ, nhưng những hội thánh này xem khải tượng như là sự cộng tác tối cao: hội thánh họ cộng tác với những hội thánh khác, tín hữu của họ cộng tác với các tín hữu khác và mỗi người với Chúa. Sự thờ phượng, cầu nguyện, các chương trình đều được triển khai nhất quán với khải tượng và để tôn vinh Đức Chúa Trời.
Rất dễ xác minh một hội thánh có được thúc đẩy bởi khải tượng hay không. Hãy khảo sát xem hội thánh ấy xử lý thế nào với những thay đổi quan trọng bên trong bối cảnh chức vụ của mình. Hội thánh được thúc đẩy bởi khải tượng tạo ra thay đổi. Do vậy, hội thánh ấy được chuẩn bị kỹ càng để xử lý những hậu quả của sự biến đổi trong bối cảnh đó. Hội thánh không có khải tượng phản ứng với sự thay đổi. Kết quả là hội thánh ấy thường trở thành nạn nhân của những thực tại không lường trước được vì hội thánh ấy chuẩn bị chưa tốt.
Lời mô tả về hội thánh có khải tượng như thế này. Có vẽ lên một bức tranh quá hạnh phúc và yên bình không? Nếu có, có thể điều này nói lên bạn hoặc hội thánh bạn vẫn chưa trưởng thành trong tiến trình phát triển hội thánh.
Thách thức đối với việc phác họa tính cách đầy hấp dẫn thế này về các hội thánh có khải tượng là một thách thức có hiệu lực, không phải vì bức chân dung này không thật hay sai lầm, nhưng vì bạn chưa hề gặp một hội thánh mà trong đó khải tượng của Chúa là trung tâm của chức vụ hay những Cơ Đốc Nhân có khải tượng ngồi đầy hàng ghế của hội thánh ấy.
Dựa trên cuộc nghiên cứu trên toàn quốc của chúng tôi giữa vòng các hội thánh Tin Lành, tôi ước tính chưa đầy 4% có tuyên ngôn được phát biểu rõ ràng để cho hội chúng được nghe, hiểu, chấp nhận và làm theo. Cuộc nghiên cứu toàn quốc của chúng tôi giữa những người trung niên gợi ý rằng có lẽ chỉ 3% tổng số tín hữu thật sự xác định được khải tượng của Chúa dành cho đời sống họ. Đây là những con số nhỏ kinh khủng!
Theo lẽ tự nhiên, khi tìm được một hội thánh có khải tượng, cơ hội có những tín hữu có khải tượng ngồi trong các hàng ghế nhà thờ sẽ cao hơn nhiều nếu như họ được tiếp xúc với việc xem xét khải tượng và được huấn luyện để xem xét khải tượng.

Những Phản Ứng Phổ Biến Với Khải Tượng
Có lẽ sẽ bổ ích khi mô tả bốn đáp ứng chính yếu của tín hữu trong hội thánh với khải tượng: (1) phủ nhận, (2) cùng sống chung, (3) chấp nhận và (4) sở hữu. Hãy nghĩ đến hội thánh bạn, tình trạng khải tượng hiện tại của hội thánh và hội thánh dường như tiến đến đâu về khải tượng của Chúa dành cho chức vụ. Hội thánh của bạn ở đâu trên chuỗi liên tục này.
Một Số Hội Thánh Đang Ở Chỗ Phủ Nhận
Hoàn cảnh tệ hại nhất chính là hội thánh ở chỗ phủ nhận . Tín hữu trong hội chúng này đang tích cực chống lại khải tượng, kiên quyết khước từ. Đôi khi họ còn thù địch công khai với khải tượng. Đáp ứng này phổ thông nhất đối với hội chúng nào tập trung vào bề trong và bị chi phối bởi những người từ 60 tuổi trở lên. Đáp ứng này cũng phổ thông giữa những hội chúng nào giữ nguyên số lượng hoặc đang giảm số lượng trong một vài năm, những hội chúng thuộc các giáo phái đang giảm sút và những hội chúng có vị mục sư chưa chinh phục đủ lòng tin của tín hữu để đảm nhiệm vai trò của một lãnh đạo có khải tượng.
Khải tượng không tìm được chỗ chen chân trong những hội thánh này. Vì mục đích tối hậu của những hội chúng này không liên quan nhiều đến chức vụ, họ chỉ tập trung vào việc bảo tồn và sống còn.
Một Số Hội Thánh Đang Sẵn Lòng Cùng Sống Chung
Bước kế tiếp trên chuỗi liên tục này là những hội chúng sẵn lòng cùng
Những Phản Ứng Với Khải Tượng
Phủ nhận cùng sống chung chấp nhận Sở hữu
KHÔNG LÀNH MẠNH LÀNH MẠNH
sống chung với khải tượng, mặc dầu cách càng xa càng tốt. Họ sẽ không hề chống lại mà cũng chẳng hậu thuẫn khải tượng. Những hy vọng cơ bản của họ ấy là khải tượng sẽ biến đi. Một số tín hữu hy vọng tiến trình phát triển khải tượng chỉ là tiến trình mới nhất trong loạt những kỹ thuật phổ biến có lẽ như các mục sư đang thăm dò.
Nói chung, tín hữu trong những hội thánh này lãnh đạm đối với khải tượng và không phí sức lực quan tâm đến hay tiến đến khải tượng. Trong suy nghĩ của họ, mọi sự vẫn tốt đẹp trước khi có tiến trình khải tượng, và mọi sự cũng sẽ tốt đẹp sau khi khải tượng biến mất. Nếu như có thể chiều được ý vị mục sư cho đến khi kỹ thuật lãnh đạo hấp dẫn kế tiếp xuất hiện, thì họ quyết định sẽ không phải suy nghĩ gì đến “ba cái chuyện khải tượng đó.”
Tình trạng đồng tồn tại thường thấy trong những hội thánh cỡ trung và có quá nhiều chương trình, trong hội thánh gồm những người đang vất vả với sự cam kết vì những hoàn cảnh cá nhân của họ (chẳng hạn như tỉ lệ cao của những người độc thân trên 40 tuổi và những người lớn ly dị; những cộng đồng có tỉ lệ vãng lai cao).
Một Số Hội Thánh Chấp Nhận Khải Tượng
Một số hội thánh tiến bộ tốt hơn đạt được sự chấp nhận chung về khải tượng. Những hội chúng này nói chung công nhận giá trị của khải tượng. Họ tán đồng khải tượng mà các lãnh đạo hội thánh đã nêu chi tiết cho họ, và để cho nhiều thủ tục được tiến hành để có thể thực hiện khải tượng. Về cơ bản, họ hậu thuẫn khải tượng, người có khải tượng, và những nếp thực hành liên quan đến khải tượng. Tuy nhiên, họ vẫn chưa được thúc đẩy bởi khải tượng ấy.
Thường thì nan đề chính là: những hội thánh này chưa hề chứng kiến sự tận hiến mạnh mẽ đối với lý tưởng biến đổi đời sống đã được nêu gương cho họ bên trong khung cảnh chức vụ. Loại phản ứng này phổ thông trong những hội thánh được thay đổi hoàn toàn, trong những hiệp hội phục vụ cho nhóm hầu hết là người quậy phá ngang, trong những hội thánh mà phần lớn là những thân hữu tìm hiểu, và trong những hội thánh hợp bởi giai cấp công nhân, thường cho thấy vị mục sư hoặc là một vị lãnh đạo yếu, một người giảng thiếu hiệu quả hoặc là một người lãnh đạo chỉ bằng cách ra lệnh thay vì nêu gương.
Một Số Hội Thánh Sở Hữu Khải Tượng
Đỉnh trên cùng của chuỗi khải tượng này là những Hội Thánh tuyên bố quyền sở hữu trọn vẹn về khải tượng. Họ là những người ủng hộ nhiệt tình các mục tiêu được nêu ra bởi khải tượng. Cuộc nghiên cứu của tôi cho thấy đây là những hội thánh đáng để theo dõi. Họ đang tái tạo trạng thái chức vụ tại Mỹ.
Hội thánh của bạn đang ở đâu trên chuỗi liên tục đơn giản này? Và bạn đang đóng vai trò nào để bảo đảm khải tượng của Chúa là trọng tâm của cỗ máy lập quyết định trong chức vụ? Những câu trả lời này hết sức quan trọng trong đời sống và lịch sử của Hội Thánh tại Hoa Kỳ.
HÃY XEM CÁC LÃNH ĐẠO CHÚA ĐÃ CHỌN CHO DÂN SỰ NGÀI TRONG SUỐT KINH THÁNH. NHÌN CHUNG, HỌ KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI GIỎI NHẤT HAY LÀ NGƯỜI THÔNG MINH NHẤT, NHƯNG HỌ ĐỦ TƯ CÁCH VÌ ĐƯỢC LÀM QUEN DẦN VỚI CHÚA.

Khải Tượng Của Mục Sư
Phần lớn chất men của khải tượng tập trung quanh vị mục sư quản nhiệm. Nhân vật đó thường là vị lãnh đạo cao nhất trong hội thánh - không phải luôn luôn là người giảng đạo chính - nhưng điển hình là một lãnh đạo nổi bật. Tôi muốn chia sẻ ba điều đã thu thập được khi làm việc với những mục sư vốn là những lãnh đạo có khải tượng tại hội thánh.
Thỉnh thoảng tôi gặp các nhân viên, các tín hữu hoặc các mục sư quản nhiệm đang cảm thấy không yên trước ý niệm cho rằng khải tượng cho hội thánh được ban cho mục sư quản nhiệm. Họ cho rằng Đức Chúa Trời có thể hành động qua bất kỳ ai, bất kể đến trình độ học vấn, bằng cấp, kinh nghiệm, tước hiệu hay sự trưởng thành thuộc linh của người đó.
Đức Chúa Trời Tìm Kiếm Những Lãnh Đạo
Tuy nhiên, thực tế về sự lãnh đạo hội thánh ấy là: Đức Chúa Trời không trao phó dân sự Ngài cho những người không có tài lãnh đạo người khác. Tìm cách lãnh đạo mà không có khải tượng thì giống như đưa người ta đi bộ vượt qua rừng rậm lúc giữa đêm mà không có đèn pin, bản đồ, người hướng dẫn hay bất kỳ phương tiện định hướng cần thiết nào.
Hãy xem những lãnh đạo Đức Chúa Trời đã chọn cho dân sự Ngài trong suốt Kinh Thánh. Nhìn chung, họ không phải là người giỏi nhất hay thông minh nhất nhưng họ đủ tư cách vì họ đã được làm quen với Chúa. Bao giờ cũng vậy, mỗi lãnh đạo đều có quanh mình những con người đủ tư cách và kính sợ Chúa - và có mối quan hệ nghề nghiệp thân thiết với họ. Sự kiện họ là những lãnh đạo đã không hạ thấp tầm quan trọng của các đồng nghiệp với họ, cũng không làm giảm tầm quan trọng hay vai trò của các ân tứ và các năng lực do những người trợ giúp nâng đỡ họ góp phần.
Lãnh đạo có nghĩa là ai đó phải chịu trách nhiệm, ai đó phải ra quyết định tối hậu, một người phải ở phía trước, cung cấp sự dẫn dắt cho đội. Sự lãnh đạo bởi một ủy ban là một từ ngữ mâu thuẫn. Trong những đội ngũ lãnh đạo tốt nhất, một người lãnh đạo sẽ nổi lên giữa vòng các lãnh đạo kia. Người lãnh đạo cao cấp hơn là người biết nhóm này đang đi đến đâu, tập thể này hy vọng tạo ra điều gì và họ sẽ hoàn tất mục tiêu ấy bằng cách nào. Nhân vật đó chính là người có khải tượng chính yếu của bạn.
Trong hội thánh, mục sư quản nhiệm là người - với tư cách người chăn bầy - được kêu gọi sống gắn bó không thể tách rời Chúa đến nỗi sau khi đã cầu nguyện, nghiên cứu và rèn luyện, ông có thể nhận biết khải tượng Chúa dành những người ông đang chịu trách nhiệm lãnh đạo.
Đức Chúa Trời đã ban khải tượng cho Môise, chứ không ban cho Arôn; cho Đavít chứ không ban cho Giônathan, cho Phaolô chứ không ban cho Banaba; cho Ápraham chứ không cho Sara hoặc Lót. Một trong những đặc ân quan trọng nhất của người lãnh đạo một nhóm tín hữu ấy là xác định khải tượng độc đáo mà Chúa đã phát triển cho nhóm đó và truyền khải tượng đó cho nhóm để phát triển và trao quyền cho nhóm.
Người Lãnh Đạo Sẽ Dẫn Đường
Ngoài vị mục sư lãnh đạo, một người nào đó trong hội thánh có thể nhận lãnh khải tượng trước được không? Dứt khoát rồi, nhưng lúc bấy giờ, trên thực tế, vị mục sư quản nhiệm không thực sự là người lãnh đạo hội thánh, nhưng chỉ là nhân vật bung xung giữ chức vụ lãnh đạo nhưng không giữ trọng trách lãnh đạo.
Nếu hội thánh tuyệt đối biết chắc nhân vật đang phục vụ với tư cách một mục sư quản nhiệm chính là người Chúa đã lập để lãnh đạo hội thánh - chứ không phải chỉ để làm người giảng đạo hay phát ngôn viên cho hội thánh - hội thánh nên mong đợi người đó cũng là người có khải tượng nữa. Điều này không có nghĩa những người khác trong ban điều hành và trong Hội Thánh không hề giữ vai trò nhận diện, phát biểu và thực hiện khải tượng, hết thảy họ đều có những vai trò đầy ý nghĩa. Tuy nhiên, điều này thực sự muốn nói lên rằng họ sẽ phải trợ giúp tiến trình nhận diện khải tượng hơn là hành động với tư cách những người nhận diện chính yếu.
Tôi còn nhận thấy một điều thứ nhì nữa: khi một mục sư rời khỏi hội thánh, khải tượng giẫm chân tại chỗ. Vì sao vậy? Vì nếu thật sự khải tượng đến từ Chúa, thì khải tượng ấy dành cho hội thánh, chứ không phải dành cho vị mục sư. Thật ra, hết thảy chúng ta - cả mục sư lẫn tín hữu - đều phải có khải tượng của Đức Chúa Trời cho đời sống và chức vụ của cá nhân mình. Khi mục sư quản nhiệm ra đi, người đó ra đi cùng với khải tượng cá nhân của họ; nhưng khải tượng tập thể vẫn là tài sản độc quyền của hội thánh.
Khi Mục Sư Ra Đi
Mất mát mục sư quản nhiệm sẽ để lại một số hậu quả của chức vụ. Chẳng hạn, nếu khải tượng còn lại sau khi mục sư quản nhiệm ra đi, khải tượng đó phải trở thành trọng tâm cho tiến trình tìm mục sư. Hội thánh không cần phải băn khoăn lo nghĩ xem mình đang cần tìm loại mục sư nào. Chính khải tượng sẽ xác định việc đó. Nói tóm lại, hội thánh tìm một người không những nhắc cho tín hữu trong hội chúng nhớ đến khải tượng, nhưng còn là một người có khải tượng chức vụ phù hợp với khải tượng của hội thánh.
Nếu ứng viên cho chức vụ này cảm thấy được thôi thúc đưa hội thánh theo hướng khác thì có rất nhiều cơ hội cho thấy người ấy không phải là nhân vật thích hợp cho công việc này. Tương tự, nếu ứng viên đánh giá khải tượng và thấy khải tượng ấy không phù hợp, thì người đó nên rút lui.
Giả sử xảy ra trường hợp thay đổi mục sư. Vị mục sư sắp đến đem một khải tượng mới đến cho hội thánh không? Trong đại đa số trường hợp, dứt khoát là không. Mục sư không phải là hội thánh. Mục sư là người lãnh đạo hội thánh, chịu trách nhiệm với khải tượng Đức Chúa Trời dành cho phần Thân Thể đó của Đấng Christ. Vị mục sư sắp đến chịu trách nhiệm củng cố phần cốt lõi của khải tượng, cập nhật trau giồi những yếu tố ngoại biên của khải tượng và duyệt xét lại tiêu điểm chiến lược và chiến thuật của hội thánh. (Trong chương kế tiếp, tôi sẽ xác định những trường hợp rất hiếm ấy khi cần thay đổi khải tượng. Đây là những trường hợp ngoại lệ.)
Thận Trọng Về Khải Tượng Thay Thế
Lưu ý một trong những hệ quả về vị mục sư sắp đến mà ông sẽ định hướng lại khải tượng của hội thánh. Đột nhiên, hội thánh hoàn toàn lệ thuộc vào vị mục sư này. Hội thánh ấy sẽ không bao giờ trưởng thành đầy đủ trong tư cách Một Thân Thể các tín hữu dự phần vào chức vụ, vì vị mục sư là trọng tâm ân tứ quan trọng nhất của chức vụ. Vị mục sư đó đã đem khải tượng của mình thay thế cho khải tượng của Đức Chúa Trời.
Hoa Kỳ ngổn ngang những hội thánh được thúc đẩy bởi cá tánh, trong đó tiêu điểm của chức vụ chính là hoàn thành các mục tiêu do mục sư quản nhiệm đưa ra thay vì hoàn tất khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho hội chúng. Thông thường, khải tượng do vị mục sư khởi xướng dẫn đến một chức vụ hết sức lớn lao và đem lại ích lợi nhưng đó không phải là đường lối Chúa đã chọn cho hội chúng. Đến một lúc nào đó, hội thánh ấy và những người mà hội thánh ấy lẽ ra đã có thể chăm sóc được bấy giờ sẽ chịu khổ.
Một ý quan trọng cuối cùng. Một vị mục sư có khải tượng ở yên tại chỗ khi đã yên vị với chức vụ mà trong đó những ân tứ của ông được sử dụng đến mức trọn vẹn nhất, khải tượng ăn khớp với khải tượng của hội thánh và Thân Thể được hiệp một để theo đuổi khải tượng. Có lẽ từng trải hấp dẫn nhất mà một lãnh đạo có khải tượng có được ấy là hướng dẫn một nhóm người sở hữu khải tượng ấy và nêu gương tận tâm kết ước trọn vẹn với khải tượng đó. Vì khó cho hội thánh trở nên được thúc đẩy bởi khải tượng, nên một khi mục sư quản nhiệm tìm được chỗ thích hợp của mình rồi, người ấy không thể thích ra đi đến một công tác chức vụ khác.
Lui Về Khải Tượng
Một nguy hiểm cần tránh ấy là nguy cơ lui khải tượng. Một số các hội thánh có những lãnh đạo yếu, họ quan tâm đến việc đạt được khải tượng được rút ra từ sự thống nhất ý kiến giữa vòng tín hữu hơn là thông qua sự vâng lời Chúa.
Buồn thay, khải tượng được xem như một điều nào đó mà hầu như có thể bỏ phiếu để biểu quyết trong các hội thánh ấy. Đây là cách hiểu được chấp nhận rộng rãi nhất về tương lai căn cứ trên những hiểu biết của con người. Hội thánh này không tìm ý muốn của Chúa dành cho tương lai, thay vào đó lại thâu thập những quan điểm của chính hội thánh mình rồi phát biểu chúng thành trọn một gói dễ chịu và có thể thỏa thuận được.
Vì sao lại đi theo lộ trình này? Thường là vị mục sư không phải là người có khải tượng trung bình, nên do đó hết sức muốn có được ý niệm về cách làm sao hội thánh tác động được đến cộng đồng. Giải pháp hợp lý duy nhất cho người có khải tượng nhỏ trong vai một người có khải tượng trung bình ấy là dựa vào người khác để tìm sự hậu thuẫn về mặt lý trí, quyền lực và ảnh hưởng. Bấy giờ, việc để cho quần chúng tín hữu nói ra tương lai ấy đã được biện minh như là cách Đức Chúa Trời sử dụng ân tứ của mỗi một người.
Nếu như Giôsuê, Giôsia, Đavít, hoặc Phaolô nghe theo lời của đám dân chúng và đi theo những ước muốn của họ, những nhân vật này sẽ không được phác họa trong Kinh Thánh như những anh hùng đức tin, nhưng trái lại như những nạn nhân của chính những yếu đuối và dại dột của mình.
Một hội thánh lui vào điều mà hội thánh đó có thể gọi là “khải tượng” bằng cách tìm sự chấm dứt tức khắc cho cuộc xung đột căng thẳng, bởi đó tập trung vào tương lai để đánh lạc hướng chú ý khỏi những đau đớn và chia rẽ hiện tại. Tuy nhiên, điều này không liên quan gì đến khải tượng, nhưng đơn giản là một chiến lược tồi để quản lý xung đột. Thông thường, sau một khoảng thời gian theo đuổi điều được xem là khải tượng kia và tỏ ra ít có tiến bộ, xung đột ấy trở nên càng gay gắt hơn.
Phương pháp phổ thông nhất là dễ dàng bước vào cái gọi là khải tượng kia chính là khảo sát xem lâu nay hội thánh đang làm gì và viết một tuyên ngôn khải tượng để mô tả hoạt động hiện có, lên kế hoạch để tiếp tục những chương trình và hành vi đang có thêm vài năm nữa.
Bất hạnh trong phương pháp này ấy là kết quả không phải là có khải tượng. Nó chiếu ra một tương lai đáng ưa chuộng căn cứ trên hiểu biết chính xác về Đức Chúa Trời, bản thân và những hoàn cảnh, nhưng mang bản chất là cố sống sót. Lối tiếp cận này tập trung vào quá khứ và hiện tại thay vì vào tương lai, và điển hình là muốn được thoải mái và có tính liên tục đến độ hy sinh cả sự thay đổi. Nó thường chiều chuộng tín hữu hơn là muốn họ gắng sức vươn lên. Vai trò người giữ trọng trách trở thành chăm sóc hơn là lãnh đạo. Kết quả là tình trạng giẫm chân tại chỗ, không tăng trưởng.
Vì Sao Những Lãnh Đạo Vẫn Giẫm Chân Tại Chỗ
Một trong những ích lợi của việc có một mục sư có khải tượng ấy là giúp cho hội thánh giữ lại được những người có khải tượng. Có lẽ điều này nghe như chẳng có gì to tát, nhưng tôi khám phá ra rằng hội thánh nào thiếu người lãnh đạo có khải tượng thì thường không thể giữ cho những người có khải tượng được sung sướng và có kết quả.
Một mục sư có khải tượng mà gặp được những người có khải tượng thì vui mừng vì có những người đồng cảm khác nữa để cộng tác trong chức vụ. Đối với người có khải tượng này, được ở giữa người khác cũng có khải tượng sẽ khiến cho đời sống bớt đi tính dễ đoán trước, nhưng tăng thêm tính hào hứng và có kết quả. Người có khải tượng nhận thấy những người khác cũng có khải tượng sẽ đem lại ích lợi chứ không phải là một mối đe dọa, cũng không làm giảm giá trị của trật tự và cấu trúc đã vững lập.
Tiếp Nhận Cơ Đốc Nhân Được Hướng Dẫn Bởi Khải Tượng
Các hội thánh đáp ứng thế nào với hiện diện của những tín hữu có khải tượng.
Lắng nghe những điểm có ích lợi lẫn nhau Đòi hỏi phục tùng mạng lệnh
Kết Quả Cả Hai Cùng Có Lợi Một khi mục sư có khải tượng hiểu được tín hữu có khải tượng, nhiệm vụ sẽ là nhận diện những lãnh vực nào mà khải tượng của người đó phù hợp với khải tượng của hội thánh. Lúc bấy giờ, người lãnh đạo hội thánh có hiệu quả đưa người kia đến để tận dụng tối đa phương diện đặc biệt đó của khải tượng.
Làm như vậy, người có khải tượng có được một gia đình hội thánh biết quí trọng tiêu điểm chức vụ và những nỗ lực của mình, và hội thánh có được một người hoạt động tích cực mà năng lực của người đó sẽ đưa hội thánh càng tiến sát hơn với việc thực hiện khải tượng. Đây là một trong những hoàn cảnh rất hiếm trong công tác hội thánh: tình huống cả hai cùng chiến thắng.
Vì sao tiến trình này quan trọng? Vì nếu người có khải tượng cảm thấy hội thánh không quí mục đích cơ bản của sự tồn tại của người ấy, thì có nguyên nhân rất giới hạn để tin hội thánh sẽ cung cấp cơ sở chức vụ thỏa đáng. Đây chính là nguyên tắc xưa cũ “Giàu rồi thì càng giàu hơn”: những người có khải tượng thu hút những người có khải tượng vì họ hiểu nhau và trân trọng hiện diện cùng cường độ mãnh liệt của những người có khải tượng khác. Những nhân vật chuyên nghiệp trong hội thánh (chẳng hạn như mục sư, các giáo sư chủng viện, các phóng viên Cơ đốc) đôi khi cảm thấy chán bởi mức độ sinh lực của những hội thánh như Willow Creek hoặc Saddleback Valley Community Church vì đây là những hội thánh được thúc đẩy bởi khải tượng và thu hút những Cơ Đốc Nhân có khải tượng, những người có tiêu điểm rõ nét, có bản chất sốt sắng và không nao núng trước hoàn cảnh thường vốn quá thừa những trở ngại.
Cường Độ Mãnh Liệt Là Điều Gây Cho Sợ Hãi
Cường độ nghĩa đen thật sự dọa các mục sư và những tín hữu đến từ các hội thánh không có khải tượng. Tôi có nghe một số người nói họ lắc đầu và ví các hội thánh được thúc đẩy bởi khải tượng với những nhóm tôn giáo quá khích. Họ đã hiểu lầm sự đam mê, cường độ và tinh thần chuyên tâm nhất chí được thể hiện trong các hội chúng của các hội thánh này - những phẩm chất khác với phẩm chất thường tìm thấy trong cái được gọi là hội thánh “thật.” Người không có khải tượng thì không có khung tham chiếu, nên họ giải thích sự thúc giục của khải tượng như là một hành vi bốc đồng và năng nổ không cần thiết mang bản chất trái Kinh Thánh. Đơn giản người không có khải tượng không “nhận điều đó.”
Nếu hội thánh của bạn được dẫn dắt bởi khải tượng, được hướng dẫn bởi khải tượng, và thân thiện với khải tượng, hãy tiếp tục xây dựng trên nền tảng sức mạnh ấy bằng cách liên hiệp những điểm có ích lợi hỗ tương với những người có khải tượng đến với bạn.
Khi Có Sự Kháng Cự
Vì sao một số hội chúng chấp nhận khải tượng của Đức Chúa Trời còn một số khác chống lại? Một trong những thắc mắc mà các vị mục sư đến dự khóa hội thảo về khải tượng của tôi thường hỏi nhất có liên quan đến sự miễn cưỡng của các hội chúng khi chấp nhận kế hoạch của Đức Chúa Trời cho hội thánh.
Hầu hết các mục sư hỏi câu này đều tin rằng họ đã làm công việc xác minh và truyền đạt khải tượng. Họ hỏi: “Tôi làm sao đưa tín hữu của tôi tin vào khải tượng này? Tôi đã thực hiện qua hết tiến trình và tin chắc tôi biết Đức Chúa Trời đang kêu gọi chúng tôi đến với điều gì. Cho dù tôi có giảng hay dạy khải tượng đó đến bao nhiêu đi nữa, họ có vẻ như cũng chẳng hiểu chẳng nhận lấy. Tôi làm gì được đây?”
Một Số Người Bị Đe Dọa
Lẽ tự nhiên là người ta chống cự khải tượng. Khải tượng đưa ra mối đe dọa. Có thể người ta xem đó như là sự áp đặt của Chúa trên đời sống họ vậy. Khải tượng đại diện cho sự thay đổi và liều lĩnh. Khải tượng có thể quá áp đảo. Nhiều người - kể cả những người tốt, tin kính, chịu đọc Kinh Thánh, cầu nguyện và tin Chúa, muốn thà tiếp tục với điều đã biết cho dù là lối đi tương đối tầm thường đi nữa - hơn là theo đuổi một sự kêu gọi mang tính đánh cược cao vốn đòi hỏi sự cam kết hoàn toàn của họ. Trong sự căng thẳng giữa một bên là điều có ý nghĩa với một bên là sự an ninh, có người đã chọn ý nghĩa, có người chọn an ninh.
Trong nhiều trường hợp, tôi khám phá ra sự chống đối của tín hữu liên quan đến sự truyền đạt chưa thỏa đáng khải tượng cho hội chúng. Khải tượng này bị áp đặt bởi vị mục sư, thay vì được triển khai cách có liên kết với nhau để mọi người cùng sở hữu khải tượng. Có lẽ người ta giảng về khải tượng một lần, sau đó bỏ bê cho đến tận phiên “bài giảng về khải tượng” năm sau. Có thể khải tượng được diễn đạt bằng những từ ngữ mơ hồ đến nỗi tín hữu không hiểu được. Thường người ta khước từ khải tượng bởi vì lãnh đạo không đầu tư thời gian cần thiết để nuôi dưỡng khải tượng giữa vòng các lãnh đạo trước khi đánh bạo đưa vào hội chúng khải tượng đó.
Truyền Thông Khải Tượng
Cách truyền thông khải tượng cho hội chúng là hết sức quan trọng đối với sự sống của khải tượng trong hội thánh này. Một trong những phương diện thú vị nhất từ những quan sát của tôi về cách các hội thánh tương tác với khải tượng của Đức Chúa Trời ấy là cách các lãnh đạo truyền đạt khải tượng đó cho tín hữu. Các hội thánh có khải tượng là các hội thánh mà trong đó khải tượng này trở thành tiêu điểm thường xuyên, và khải tượng được truyền thông qua nhiều phương tiện khác nhau.
Tôi thấy mục sư quản nhiệm góp phần bằng cách giảng về khải tượng nói chung, bằng cách dạy về khải tượng của hội thánh nói riêng, bằng cách sống sao cho nhất quán với khải tượng và tỏ khải tượng ra công khai cho hội chúng; bằng cách thu hút sự chú ý đến những trường hợp mà hội thánh đang sống theo khải tượng đó bằng cách đích thân gặp gỡ những người cần tìm hiểu và muốn tiếp nhận khải tượng; bằng cách tuyển nhân viên và mời người vào cấp lãnh đạo chỉ khi nào họ tỏ ra dấu hiệu thực sự sở hữu được khải tượng.
Nhiều người khác trong hội thánh cũng góp phần quan trọng bằng cách báo tin đón khải tượng. Các lãnh đạo tập trung vào khải tượng trong những cuộc tĩnh nguyện để bồi linh. Họ nghiên cứu cách các hội thánh khác hướng vào các khải tượng của họ. Họ yêu cầu mục sư, các lãnh đạo khác và hội chúng nói chung chịu trách nhiệm khai trình về hành động nhất quán với khải tượng. Họ đánh giá sức khỏe của hội thánh trên cơ sở khải tượng. Họ tạo ra những kế hoạch kể cả các mục tiêu và chiến lược, căn cứ trên khải tượng. Họ học thuộc tuyên ngôn khải tượng và sử dụng tuyên ngôn đó trong các bối cảnh cần phải lập quyết định. Họ vẫn nhiệt tình về khải tượng như tiêu điểm chính trong các hoạt động lãnh đạo của họ.
Truyền Thông Khải Tượng
Những cơ hội vô hạn để chia sẻ khải tượng:
§ Các bài giảng nói đến khải tượng và những thách thức đang đối diện với hội chúng.
§ Những buổi họp để gieo khải tượng cá nhân và củng cố khải tượng.
§ Các buổi họp tĩnh nguyện của cấp lãnh đạo để thảo luận và cầu nguyện về khải tượng, tạo ra các chiến lược và các kế hoạch cho khải tượng.
§ Dạy về sứ mạng, khải tượng, các giá trị, các mục tiêu, các chiến lược, các ân tứ và các năng lực và những từng trải.
§ Cho tín hữu tiếp xúc với những trường hợp nghiên cứu cách những người khác và các hội khác đã xử lý thế nào với khải tượng.
§ Kêu gọi chú ý đến những hoạt động liên quan đến khải tượng hiện có của hội thánh và nhấn mạnh những thành công.
§ Đưa những bài viết về khải tượng vào trong những dịp truyền thông của hội chúng.
§ Liên hệ mỗi bài giảng hay bài học với khải tượng của hội thánh.
§ Kết hợp khải tượng như một phần của mọi chương trình huấn luyện mà hội thánh cung cấp cho sự kết nạp, sự hòa nhập và phát triển lãnh đạo.
§ Tuyển nhân viên hoặc đề xướng đưa người lên những địa vị lãnh đạo chỉ khi nào họ tỏ ra bằng chứng chấp nhận khải tượng rồi.
§ Các lãnh đạo then chốt trong hội thánh chứng tỏ mình đang theo đuổi khải tượng hằng ngày.
§ Thông báo tuyên ngôn khải tượng trên mọi văn kiện nội bộ.
§ Lập khải tượng thành những tiêu chuẩn cốt lõi trong mọi nỗ lực ra quyết định.
§ Thường xuyên duyệt lại tiến bộ của hội thánh trong mối liên quan đến khải tượng.

Giúp Người Mù Được Thấy
Có những phương án nào nếu đã theo đuổi những nỗ lực hợp lý mà hội chúng vẫn không tin và chấp nhận khải tượng? Các lãnh đạo hội thánh - như mục sư quản nhiệm, ban điều hành, các tín hữu đang giữ vai trò lãnh đạo - có thể làm gì để khắc phục sự chống đối lan tràn khắp mọi nơi đối với việc theo đuổi khải tượng của Chúa? Sau đây là những giải pháp thường xuyên nhất mà tôi đã chứng kiến tại hội thánh như là phương tiện để làm thỏa mãn nỗi lo ngại của tín hữu.
1. Tạo một môi trường cho phép dễ xảy ra khải tượng . Hầu hết các hội thánh không sẵn sàng đón khải tượng. Nên nhớ những điều đi kèm với khải tượng: thay đổi, mạo hiểm, tăng trưởng, cách tân, nỗi thống khổ, tập trung, can đảm và đánh giá. Đây là những thuộc tánh gây ra lo lắng khi đem giới thiệu vào trong bất kỳ hệ thống hiện có nào của các mối quan hệ và sinh hoạt. Trong hội thánh, có lẽ chúng lại càng mang vẻ đe dọa hơn mọi nơi khác vì tín hữu thường được phép để trở nên thoải mái hoặc có thể chống đối dữ dội đến cùng đối với việc loại họ ra khỏi vùng thoải mái.
THIẾT LẬP KHẢI TƯỢNG ĐÒI HỎI SỰ LÃNH ĐẠO MẠNH MẼ VÀ HIỆU QUẢ. NGƯỜI ỦNG HỘ KHẢI TƯỢNG PHẢI CAN ĐẢM VÀ KHÔNG NGỪNG KHẲNG ĐỊNH KHÔNG NHỮNG QUYỀN LÃNH ĐẠO CỦA MÌNH, MÀ CÒN PHẢI CĂN CỨ QUYỀN ĐÓ TRÊN NỘI DUNG VÀ LÒNG CAM KẾT VỚI KHẢI TƯỢNG.
Do vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng và khó khăn nhất của người lãnh đạo cao nhất ấy là chuẩn bị cho người cấp dưới bằng cách phát triển một bầu không khí để cho phép giới thiệu được khải tượng. Một khi đã thực hiện được những thay đổi thích hợp, thì giai đoạn này đã sẵn sàng rồi. Chưa tới được thời điểm đó, thì hầu như bảo đảm sẽ có sự bất mãn, khước từ và tức giận.
Thành thật mà nói, còn một bí quyết nữa ấy là người lãnh đạo chính thôi thúc và truyền cảm hứng cho thuộc cấp. Khải tượng còn trổi hơn cả một mục tiêu đáng yêu chuộng. Nằm trong tay một lãnh đạo khéo léo, nó còn là công cụ để tập trung chú ý và tạo động cơ thúc đẩy. Nếu khải tượng không thôi thúc được thuộc cấp, hãy khảo sát lại khải tượng ấy. Có lẽ khải tượng ấy không đến từ Chúa, có lẽ chưa được truyền thông hữu hiệu hoặc có lẽ thuộc cấp đã chết về thuộc linh. Người có khải tượng phải có khả năng xây dựng một bối cảnh chức vụ để trong đó khải tượng thu hút được sự quan tâm, gây dựng được sự hào hứng, và sau đó kích thích được sự tham dự.
2. Mục sư phải định nghĩa lại chức vụ của hội thánh sao cho nó nhất quán với và được thúc đẩy bởi khải tượng . Đôi khi những người môi giới quyền lực hay một nhóm người phản bội từ bên trong hội chúng thách thức mục sư chơi trò thử thách lòng can đảm hay “nắn gân” (tức là họ tập hợp sự chống cự táo tợn, cố ý và có phối hợp để chống lại khải tượng và chờ xem ai là người chùng bước trước). Khải tượng trở thành một vấn đề chính trị nóng bỏng vì đang phá hoại những vùng yên ổn của họ, có lẽ thậm chí còn đang tổ chức lại cơ sở quyền hành và thẩm quyền bên trong hội thánh nữa.
Thiết lập khải tượng đòi hỏi quyền lãnh đạo kiên quyết và hiệu quả. Người ủng hộ khải tượng phải khẳng định cách can đảm và liên tục không những quyền lãnh đạo của mình mà còn phải căn cứ quyền ấy trên nội dung của khải tượng và lòng cam kết với khải tượng.
Thành viên của hội chúng cần hiểu họ là một phần thân thể đang trong tình trạng chuyển biến liên tục. Đức Chúa Trời đang đời đời sử dụng nhiều công cụ khác nhau để rèn dũa nắn đúc dân sự Ngài. Khải tượng là một trong các phương tiện ấy cho các mục tiêu thánh khiết của Ngài. Tiếp nhận khải tượng của Ngài cho Thân Thể hội thánh là điều hết sức quan trọng vì đây chính là sự diễn tả nhịp đập trái tim của chức vụ. Để được hoàn toàn nhất quán từ tận bên trong, thì sẽ không hề đi lui khỏi khải tượng. Đây là một trong những trường hợp mà vị mục sư vẫn cứ đầy tình thương, vững vàng, quan tâm, và cương quyết.
Nhận lãnh khải tượng của Chúa cũng giống như được bầu cử làm tổng thống vậy. Một khi đã nhận chức rồi, không có con đường thối lui.
3. Củng cố vững chắc nguyên tắc: Khải tượng là dành cho hội thánh, không phải dành cho mục sư . Rất nhiều người đến nhóm tại hội thánh cho rằng một khi đã đưa khải tượng ra, nó phản ảnh những nỗi đam mê thuộc linh hay những ước muốn thất thường riêng tư của vị mục sư. Nếu họ nghĩ đúng thì thật sự bạn gặp rất nhiều nan đề rồi đấy. Khải tượng là nhằm vào ích lợi của Thân Thể, nhưng sẽ phải do vị mục sư đưa vào trong thực tại. Đây không phải là khải tượng của mục sư, cũng không phải là khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho mục sư. Đấy là khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho hội thánh.
Các mục sư hiếm khi phân biệt cho hội chúng giữa khải tượng của họ đến từ Đức Chúa Trời với khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho Thân Thể. Giúp tín hữu nhận ra sự khác biệt này thì tự việc đó cũng có thể giảm bớt được lo ngại. Nhiều người đang ngồi trong nhà thờ tự hỏi điều gì sẽ xảy ra cho hội thánh nếu vị mục sư ra đi. Liệu công sức đầu tư vào khải tượng có bị phung phí vì khải tượng được xem như ra đi theo vị mục sư? Để giảm bớt tình trạng náo động gây ra bởi việc giới thiệu hay đưa ra điểm tập trung mới về khải tượng, hãy giải quyết những nỗi lo sợ sai lầm nhưng rất quan trọng như thế.
4. Tín hữu phải trở thành những người trong cuộc . Người ta thường chống đối khải tượng vì họ thấy bị loại ra ngoài tiến trình, hay vì họ cho rằng khi khải tượng diễn ra, họ sẽ bị loại ra ngoài dòng chính của chức vụ.
Đưa người vào trong giới sở hữu chủ không hề là nhiệm vụ đơn giản hay nhanh chóng. Không phải chỉ cần vài bài giảng và một bài báo trên bản tin của hội thánh là xong, dầu rằng những sự tiếp nhận thông tin như thế đương nhiên là một phần của tiến trình.
Cần phải có rất nhiều cuộc gặp gỡ từng người một với ban điều hành và những tín hữu lãnh đạo. Đòi hỏi phải có những buổi họp nhóm nhỏ với các thuộc viên nòng cốt của hội chúng. Điều này nói đến việc tiến hành những việc đặc biệt để trình bày một khải tượng thực tiễn và hấp dẫn. Tạo lập được quyển sở hữu khải tượng trong toàn thể hội chúng là một tiến trình lâu dài tiêu tốn nhiều nguồn cung ứng lớn lao và quan trọng, nhưng đây một sự đầu tư không thể nào bị đánh giá thấp hoặc đền đáp không thỏa đáng công sức.
5. Đưa người tham dự vào tiến trình phát triển khải tượng . Trong tác phẩm Sức Mạnh Của Khải Tượng của tôi, tôi mô tả vai trò của mục sư và vì sao ông là người nổi trội nhất trong hội thánh. Dầu vậy, nên thấy rằng mục sư sẽ là người nổi bật nhất chứ không phải là cầu thủ độc đoán trong tiến trình này. Nếu bạn muốn tối ưu hóa khải tượng, hãy đưa người tham dự vào tiến trình ngay từ đầu.
Bằng cách nào? Hãy giàu tính sáng tạo. Hãy nghĩ đến mọi nguồn cung ứng bạn muốn có sẵn trong tay để nhận biết khải tượng và mời tín hữu của bạn giúp đỡ để có những nguồn cung ứng đó. Việc xác định khải tượng của Chúa dành cho tương lai chung của các bạn là rất quan trọng nên không thể tiếp cận mà không có các nguồn cung ứng cần thiết hoặc đáng mong muốn ấy.
Chẳng hạn, bạn có thể nhờ một nhóm học Kinh Thánh chịu trách nhiệm thu thập phân tích và trình bày thông tin về bối cảnh chức vụ. Dân số học địa phương, những nhu cầu cộng đồng, những khuôn mẫu của phong cách sống, sự cạnh tranh với hội thánh và v.v... Hãy đưa người dự phần vào việc khái niệm hóa và triển khai tiến trình phát triển khải tượng cho Thân Thể Hội Thánh. Hãy tìm sự trợ giúp của một vài lãnh đạo nòng cốt có khả năng để diễn đạt khải tượng. Hãy nhờ một nhóm nghiên cứu các thủ tục và kết quả trong việc xây dựng khải tượng của các hội thánh khác rồi báo cáo lại những phát hiện đó cho một nhóm đông hơn. Hãy tổ chức một buổi cầu nguyện thâu đêm để nâng đỡ mục sư và tiến trình.
Hãy nhận diện những lãnh vực có ân tứ của tín hữu và mời họ sử dụng các ân tứ theo những cách sáng tạo và đầy ý nghĩa trong chiến dịch chung. Những người có ơn tiếp khách có thể đứng ra tổ chức các bữa tiệc để gieo khải tượng. Những người có ơn dạy dỗ có thể hướng dẫn các lớp Trường Chúa Nhật hoặc các nhóm nhỏ qua những bài học đặc biệt về khải tượng. Những người có ơn dâng hiến có thể cung ứng tiền để phát động chiến dịch tạo cơ sở cho khải tượng.
Có được sự tham dự từ sớm và đầy ý nghĩa vào tiến trình thì sẽ luôn luôn giúp mục sư nắm được khải tượng. Mức độ dự phần này đặc biệt hữu ích trong việc bù đắp cho những cấu trúc tổ chức nào dựa vào các ủy ban, các hội đồng, và các nhóm khác để đưa ra tiến trình hành động bên trong hội thánh.
Việc lường trước nhu cầu đi đúng kênh dẫn mà thực sự không làm “trật đường rầy” phương cách hành động của Chúa phải không mang tính lôi kéo cũng không mang tính chính trị. Đưa tín hữu dự phần nghiêm túc và nhiều phương cách thực tiễn khác nhau để giúp mục sư biết được ý Chúa, và không giới hạn mối quan hệ của mục sư với Chúa, thì sẽ làm ích lợi cho toàn thể hội thánh.
6. Mỗi người phải có một vai trò đầy ý nghĩa trong việc hoàn thành khải tượng . Một trong những thu hút từ ban đầu của hội thánh ấy là tín hữu muốn thuộc về một gia đình. Nếu bạn đưa ra khải tượng mà không cung cấp cho mỗi người một vai trò hợp lý, thì bạn vừa dứt họ ra khỏi gia đình. Giải thích khải tượng và nhận diện những vai trò tổng quát để người ta có thể theo đuổi nếu họ muốn, chỉ mới làm vậy thôi thì chưa đủ.
Những hội thánh có khải tượng hiệu quả nhất là những hội thánh đã phát triển nhiều cách truyền thông cá nhân khải tượng đến cho mỗi người, rồi sau đó đưa mỗi người vào trong dòng hoạt động chức vụ xuất phát từ khải tượng ấy. Điều này có nghĩa vượt xa hơn việc hiểu khải tượng và nghiên cứu sâu về sự phân phối thực tế hay phân công các chức năng để thực hiện khải tượng. Hãy nhớ bảo đảm sao cho tín hữu của bạn cảm thấy họ sở hữu khải tượng. Điều này xảy ra khi họ có một cổ phần cá nhân đầy ý nghĩa trong khải tượng đó.
7. Vứt bỏ những chiếc neo của bạn . Phần lớn các hội thánh tôi đến nghiên cứu mà họ đã giới thiệu khải tượng rồi thì họ đều gặp phải sự chống đối. (Những ngoại lệ lâu nay chính là những hội thánh mới được thành lập, trong các hội thánh đó khải tượng là một phần của quyền thừa kế và là một yếu tố trong hiến chương, nên vì vậy không bị tranh luận.) Trong mỗi một hội chúng nào gặp náo động vì việc nhận diện khải tượng và gieo khải tượng, sự kháng cự đã lắng dịu sau khi đã thiết lập xong một vài hành động được mô tả trên đây.
Trong mỗi trường hợp, vẫn còn một số tín hữu trong hội chúng cứ ngoan cố và không chịu khuất phục. Nhiều mục sư đã cố thực hiện qua tiến trình này với những người ấy nhưng chẳng ích lợi gì. Những người này đã trở nên cái gai bên hông vị mục sư và cơn ác mộng cho toàn bộ ban lãnh đạo hội thánh. Phải làm gì đây?
Giải Quyết Những Thách Thức Đối Với Khải Tượng Của Hội Thánh
1. Tạo bầu không khí thuận lợi để xem xét, nhận biết, cách sở hữu và sống bằng khải tượng.
2. Mục sư phải sử dụng quyền lãnh đạo kiên quyết bằng cách định nghĩa lại chức vụ của hội thánh sao cho hoàn toàn nhất quán với - và được thúc đẩy bởi - khải tượng.
3. Củng cố những người vốn là đối tượng của khải tượng: dành cho hội thánh, chứ không dành cho mục sư.
4. Tín hữu phải sở hữu khải tượng, và điều này đòi hỏi đầu tư thời gian và sức lực để hiểu và nắm vững khải tượng.
5. Đưa tín hữu dự phần vào tiến trình phát triển khải tượng.
6. Tín hữu trong hội thánh phải có cơ hội đảm nhận một vai trò có ý nghĩa trong việc hoàn thành khải tượng.
7. Vứt bỏ bớt những cái neo của bạn.

Mời Những Người Chống Đối Ra Đi
Điều này nghe có vẻ tàn nhẫn, nhưng đi đúng phép luận lý. Hãy mời những người ngoan cố đi tìm một gia đình hội thánh nào phù hợp với họ hơn. Đừng miêu tả họ như những kẻ thù hay những người ngu dốt hoặc như những người gây rắc rối. Thực tế ấy là: có lẽ đây là lần đầu tiên có người định rõ hội thánh đứng lên vì điều gì và hội thánh hướng đến điều gì.
Thực trạng mà những người chống đối này đang nghe có thể khác với thực tại mà họ kinh nghiệm - có lẽ họ đang chiến đấu để bênh vực một điều gì đó mà họ nghĩ mình đang nhận được khi đến với hội thánh. Nhiệm vụ của bạn là giúp họ quyết định sẽ lên tàu và dong buồm hài hòa với cả thủy thủ đoàn còn lại hay sẽ tìm một con thuyền dong buồm hướng đến đích mà họ thấy có thể Amen được.
Điều này nghe có vẻ lạnh lùng và nhẫn tâm. Thực ra không phải vậy đâu. Nếu bạn để cho những người gây nan đề này bám vào con thuyền của bạn, tôi bảo đảm họ sẽ trở thành làm chiếc neo làm cho chuyến hành trình của bạn kéo lê chậm chạp. Họ sẽ không vui sướng gì, bạn cũng không vui sướng, hội thánh không hạnh phúc, thân hữu đến cũng không hạnh phúc. Không ai thắng cả.
Bằng cách giúp những người bất đồng ra đi tìm được nơi đáp ứng được những kỳ vọng và nhu cầu của họ, mọi người đều thắng. Lưu ý, tôi đã nói bạn nên giúp họ tìm ra một nơi mới để thờ phượng và một cộng đồng mới. Đừng dẫn họ ra cửa sau, đề nghị bắt đầu cải thiện mối thông công. Là lãnh đạo thuộc linh của họ, bạn có trách nhiệm về sức khỏe thuộc linh của họ. Hãy nghiêm túc xem trọng nhiệm vụ đó, ngay cả khi nó gây tổn thương.

Gắn Bó Với Khải Tượng
Đôi khi khải tượng chẳng khác gì hơn một mốt tân tiến nhất mà các lãnh đạo hội thánh bám chặt vào đó như một giải pháp cấp tốc, tuy nhiên, họ sẽ nhanh chóng thấy trong chức vụ không hề có giải pháp cấp tốc. Nếu bạn muốn tăng trưởng, sự phát triển tâm linh thật đòi hỏi làm việc siêng năng, sự đầu tư các nguồn cung ứng lớn và quan trọng cùng với lòng cam kết lâu dài. Chức vụ không hề bảo đảm những điều chắc chắn hay một chiến thắng dễ dàng. Chúng ta tham dự vào trận đánh sự sống đời đời hoặc sự chết đời đời cùng với nhiều thế lực làm còi cọc trí tưởng tượng của chúng ta. Đôi khi những nỗ lực tốt nhất của chúng ta để phục vụ Chúa lại gặp chống cự mạnh mẽ và bất ngờ.
Cung Cấp Sức Mạnh Thường Trực
Hội thánh có thể thực hiện một vài sinh hoạt để nâng cao sức mạnh thường trực của khải tượng, bất cứ nơi đâu thích hợp, hãy xác định xem có thể làm gì để tăng những triển vọng thành công.
§ Quan trọng hơn hết khải tượng phải thực sự đến từ Đức Chúa Trời . Nếu đây là khải tượng của con người, nó chắc chắn thất bại, nếu thấy mình lâm mình vào hoàn cảnh này, phải có can đảm để công nhận thực tại; hãy ăn năn về sự tự nuông chiều của mình và tập trung vào nhận biết và thực hiện khải tượng của Đức Chúa Trời.
§ Khải tượng phải được củng cố nhất quán cho tín hữu. Bị tấn công dồn dập bởi những thông tin, những cơ hội và những thách thức hằng ngày, trong mỗi công việc của đời sống, rất dễ để quên khải tượng của hội thánh mình. Chúng ta phải làm sao cho tín hữu dễ nhớ khải tượng hơn và dễ sống với khải tượng hơn bằng cách liên tục nhắc nhở họ bằng những cách đầy sáng tạo, hấp dẫn và đầy ý nghĩa.
§ Các hội chúng được thu hút đến sự thành công, họ sẽ không mãi chuyên tâm trong những việc khó khăn và không kết quả. Nếu bạn đã gieo khải tượng và đã theo đuổi khải tượng, hãy nhấn mạnh những biểu hiện tiến bộ của khải tượng . Hãy để cho tín hữu nhìn thấy những kết quả hiển nhiên của khải tượng. Việc tạo nên ảnh hưởng tích cực sẽ trở thành việc tự củng cố. Mỗi ngày thêm một chiến thắng sẽ giữ cho ma quỉ lánh xa.
§ Những lãnh đạo bên trong hội thánh không thể đánh mất lòng nhiệt tình của họ đối với khải tượng. Họ phải làm gương về sự cam kết lâu dài và không chút sợ hãi. Nếu những mối quan tâm và cam kết của họ suy tàn, trận đánh thua là chắc.
§ Sau một khoảng thời gian, hãy tiếp tục làm sáng tỏ khải tượng , giải thích cách thực hiện khải tượng và khải tượng đã ảnh hưởng đến đời sống tín hữu như thế nào. Hội thánh càng có nhiều kinh nghiệm với khải tượng, khải tượng càng trở nên thực tế.
§ Đôi khi khải tượng càng trở thành trọng tâm của cuộc xung đột quyền lực. Một hoặc nhiều người có thể tìm cách chuyển tiêu điểm của hội thánh sang chỗ chấp nhận những sở thích và khát vọng của họ. Một hội thánh có khải tượng hiệu quả học cách xử lý những sở thích cạnh tranh nhau . Nếu đây là những người có khải tượng, những lãnh đạo của hội thánh sẽ có thể lồng các khải tượng của cá nhân vào trong khải tượng của hội thánh. Nếu họ là những người cần được lưu ý, hội thánh sẽ chăm sóc cho họ sao cho không đi lạc khỏi khải tượng của hội thánh. Nếu họ là những người có khải tượng không tương thích với khải tượng của hội thánh, hội thánh sẽ giúp hướng những niềm đam mê và sức lực của họ vào những mục vụ hiệu quả, và có thể những mục vụ đó nằm trong những khung cảnh bên ngoài hội thánh.
§ Khải tượng sẽ tạo nên nhiều làn sóng mạnh chỉ khi nào hội thánh tạo những hệ thống để phục vụ khải tượng đó . Các hội thánh giữ nguyên trạng thường giết chết khải tượng bằng cách quả quyết rằng khải tượng ấy phù hợp bên trong những cấu trúc cổ xưa và kém thích nghi. Muốn phát triển tốt, một hội thánh có khải tượng phải sẵn lòng thiết kế những hệ thống, những cấu trúc, những thủ tục sao cho đẩy nhanh được việc thực hiện hiệu quả khải tượng.
§ Hội chúng phải tiếp tục tin rằng họ có thể tạo dựng một tương lai tốt đẹp hơn nhờ vào sức mạnh khải tượng Chúa ban . Nếu niềm tin quyết ấy tiêu biến, thì trụ cột và quyết tâm của hội thánh cũng tiêu biến, đặc biệt khi hội thánh gặp những lúc khó khăn, chẳng hạn như những thách thức từ bên ngoài, sự tranh cãi của hội chúng, thay đổi cấp lãnh đạo, thiếu hụt nguồn tài nguyên và những xung đột về văn hóa. Biết khải tượng đại diện cho lộ trình đến với phước hạnh của Chúa để nhận ra một thế giới công bình và đáng sống, thì hiểu biết đó giữ cho người ta đầu tư vào góc nhìn ấy về tương lai.
§ Dấu hiệu của hội thánh có khải tượng sẽ sống ấy là thái độ của hội thánh đối với sự thay đổi. Những chức vụ phát triển được chính là những chức vụ cốt ý tập trung vào việc nhận diện điểm thay đổi kế tiếp và thiết kế những cơ chế để phát huy tối đa những thay đổi ấy. Charles Handy nói về sự định hướng này đối với việc thực hiện một loạt liên tục những đường cong Sigmoid - thiết lập sự thay đổi quan trọng kế tiếp trước khi sự thay đổi trước đó đạt đến đỉnh cao nhất, nhờ đó giúp cho thực thể có thể luôn ở mãi trên đường cong tương đối không bị gãy khúc. [1]
Charles Handy, The Empty Raincoat (London: Arrow Books, 1994)
Đương nhiên, khải tượng của Đức Chúa Trời không bao giờ chết, nhưng đôi khi dân sự Ngài làm suy yếu khải tượng đó cách trầm trọng bởi cách xử lý sai lầm của họ.
Cung Cấp Sức Mạnh Thường Trực Cho Khải Tượng
§ Khải tượng phải đến từ Đức Chúa Trời.
§ Khải tượng phải được củng cố cách nhất quán và đầy thuyết phục.
§ Tín hữu phải kinh nghiệm sự tiến bộ hiển nhiên và có thể nhìn thấy được.
§ Các lãnh đạo phải cứ nhiệt tình cách đích thực về khải tượng.
§ Dần theo thời gian, khải tượng phải trở nên ngày càng rõ ràng hơn cho một thành phần ngày càng đông đảo hơn của hội thánh.
§ Hội thánh phải đáp ứng thích hợp với những khải tượng đang cạnh tranh nhau giữa vòng hội thánh.
§ Phải thiết kế những hệ thống nhằm đẩy mạnh việc thực hiện hiệu quả khải tượng.
§ Tín hữu phải kiên trì tin rằng họ có thể tạo dựng tương lai này.
§ Hội thánh phải đòi hỏi thúc bách để có sự thay đổi liên tục và mang tính gây dựng sao cho phù hợp với những khải tượng của các cá nhân.
Số Lượng Sẽ Thay Đổi
Đây là một nguyên tắc khác nữa mà tôi đã học được khi nghiên cứu khải tượng. Sau lần đầu bạn phát triển khải tượng của hội thánh, số lượng người dự phần vào khải tượng của hội thánh chắc sẽ giảm. Nguyên nhân ấy là: khi người ta khám phá ra đặc tính và những ý định của hội thánh, có lẽ họ cũng nhận thấy mình đã ở sai chỗ. Hãy cảm tạ Chúa vì sự rõ ràng mà khải tượng đã đem lại cho hết thảy chúng ta, giúp mỗi chúng ta tìm được nơi thích hợp cho sự tăng trưởng và phục vụ.
Tôi cũng đã học được rằng sau thời gian suy giảm lúc đầu và một thời gian ngắn giậm chân tại chỗ, hội thánh khôi phục được số lượng người của mình trước lúc có khải tượng ấy và rồi vượt qua những bình diện ấy để tiến tới những kỷ lục mới về số lượng. Vì sao? Một khi đã có tin đồn hội thánh của bạn đứng lên vì một điều gì đó, hội thánh hết lòng tận tâm cam kết với một điều gì đó đặc biệt và người ta có thể trở thành một phần trong điều đó, thì những người có cảm tình với khải tượng này sẽ chạy đến. Thật rất bất thường để tìm được một hội thánh - hay bất kỳ một cơ quan nào - tập trung chú ý và có hiệu quả. Người ta đang sốt sắng tìm cấp lãnh đạo chân chính và tìm ý nghĩa trong đời sống. Hãy cung cấp cho họ một cấp lãnh đạo có khải tượng và một ý nghĩa đã được định nghĩa rõ ràng gói ghém trong chân lý của Kinh Thánh, thì bạn sẽ có trọn một nhóm không thể đánh bại được.
Biến Khải Tượng Thành Thảm Họa
“THIẾU ƯỚC MƠ LỚN, SỰ NHỎ NHEN THẮNG THẾ” - PETER SENGE
Chúng ta hãy nói thẳng thắn với nhau. Khải tượng rất hào hứng, bổ ích, và thay đổi đời sống, nhưng không dễ để nhận diện, phát biểu, thực hiện hay đánh giá. Dự phần vào khải tượng là việc đôi khi có thể dẫn đến thảm họa.
Hãy xem ba điểm căng thẳng chính cho cá nhân hay hội thánh trong việc theo đuổi khải tượng. Trước hết chúng ta hãy xác định xem có khi nào khải tượng có thể bị dập tắt không, thứ nhì, chúng ta hãy suy gẫm xem đến lúc nào thì thích hợp để thay đổi khải tượng. Sau đó, chúng ta hãy khảo sát thực tại của việc đánh giá tiến bộ để hoàn thành khải tượng.
Tiến Lên, Tiến Lên, Mất Rồi
Không gì đau lòng hơn hội thánh đã nắm bắt được “cơn sốt khải tượng” đánh mất nó rồi trở thành tự mãn. Điều này nhắc tôi nhớ những lần nghe trận đấu bóng chày trên sóng truyền thanh hồi còn bé. Thỉnh thoảng, một trong những anh hùng của tôi - chẳng hạn như Mickey Mantle hoặc Yogi Berra, sẽ đến điểm phát bóng đánh một quả bay thật xa ra ngoài biên xa nhất của sân.
Bình luận viên sẽ phấn khởi la to trên máy ghi âm: “Trúng rồi, bóng đang bay ra ngoài hàng rào, cầu thủ bên phải đang lui, lui, tới bờ tường, nhảy lên, ồ, ồ, anh chụp được bóng khi nó vượt qua đầu bờ rào, chạy qua các góc vuông một vòng không dừng.” Trong vài giây, tôi sẽ thay đổi từ chỗ một người lắng nghe cách nhẹ nhàng sang một người hâm mộ đầy phấn khích rồi quay trở lại với một người hâm mộ nhẹ nhàng, hoặc đôi khi đổi sang một người hâm mộ bị chọc tức, bị nản lòng, mất bớt hy vọng.
Những tín hữu trong hội thánh nào đã gặp được khải tượng của Chúa và đã trở nên hào hứng rồi sau đó đánh mất sự sốt sắng của mình đối với phương hướng của Ngài thì cũng giống như một người hâm mộ bóng chày bị thất vọng vậy. Họ đi từ chỗ người quan sát lờ đờ sang người tham dự cao độ, rồi trở lại người quan sát lờ đờ, càng khó thúc đẩy họ hơn nữa khi lần tới có cùng một khả năng như thế xuất hiện. Khác với người hâm mộ bóng chày là người lắng nghe cuộc đấu để tiêu khiển hay giải trí, những món đặt cược cho hội thánh hay cho cá nhân tín hữu bị đánh mất khải tượng lại cao hơn nhiều.
Bạn còn nhớ những công ty như RCA và F.W. Woolworth? Họ là hai đại khổng lồ về sản phẩm cho người tiêu dùng của thế hệ trước, nhưng giờ đây là những công ty không còn quan trọng nữa. Bài học rút ra ở đây là: làm một lãnh đạo ở trong thị trường cũng không bảo vệ bạn thoát khỏi bị mất khải tượng khi thời gian trôi qua. Đôi khi cấp lãnh đạo có thể đẩy nhanh sự suy thoái bằng cách làm cho tổ chức hoặc cá nhân mù quáng trước những nhược điểm và bằng cách tạo một cảm giác giả tạo rằng mình được phước và không thể bị đánh bại.
Như vậy, vì sao các cá nhân hoặc các tổ chức vốn đã có khải tượng của Chúa thôi thúc họ tiến đến những đỉnh cao hơn đôi khi lại hoàn toàn đánh mất khải tượng? Câu trả lời nằm ở chỗ những thay đổi xảy ra mang tính tương đối với những dữ liệu nhập vào, các quan điểm và các hoàn cảnh. Tôi thật ngạc nhiên, các nguyên nhân là giống như nhau đối với các cá nhân cũng như đối với các mục sư quản nhiệm và các hội thánh. Chúng có thể hơi khác trong đáp ứng với hoàn cảnh khác nhau của mỗi người, nhưng ảnh hưởng cơ bản lại tương tự nhau. Hãy nghiên cứu 14 nguyên nhân sau đây khiến người ta đánh mất một trong những ân tứ quí báu nhất của Đức Chúa Trời.
Đánh Mất Khải Tượng Thế Nào
Cá nhân tín hữu, các lãnh đạo có khải tượng của các hội thánh, và chính các hội chúng cũng không hề được miễn trừ tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng. Nếu thực thể đang xét cứ không ngừng kiêng việc nuôi dưỡng tích cực, nó sẽ dần dần đánh mất sức mạnh, rồi mất tiêu điểm, sau đó đánh mất mục đích của mình.
Không Còn Liên Lạc Tiếp Xúc Với Chúa
Một lời đề nghị về nhu cầu nuôi dưỡng ấy là một đơn vị chức vụ có khải tượng (tức là tín hữu, người lãnh đạo, hay hội chúng,) vẫn cứ tương giao gần gũi với Chúa . Chắc trước đây bạn đã thấy được điều này: Một người tại hội thánh đã từng yêu mến Chúa và hoàn toàn tận hiến với công tác phục vụ Ngài, bắt đầu đánh mất sự tập trung vào Ngài, cuối cùng trở nên Cơ Đốc Nhân trên danh nghĩa mà thôi. Tấm lòng đã thay đổi, và cùng với điều đó, khải tượng cũng phai tàn.
Đi lạc khỏi Đức Chúa Trời thì bạn có thể đánh mất khải tượng. Có phải vì Ngài lấy khải tượng khỏi chúng ta hay bởi vì chúng ta đã vô tình từ bỏ nó? Tôi không biết. Chắc có lẽ chẳng khác biệt chút nào. Nguyên tắc này vẫn đúng bất luận nó xảy ra cách nào đi nữa. Đi lạc xa khỏi hiện diện Đức Chúa Trời thì khải tượng của Ngài sẽ lìa khỏi bạn.
Kiệt Sức
Đôi khi bạn sẽ thấy một người hoặc một hội thánh đánh mất khải tượng vì kiệt sức . Trong một nền văn hóa đầy thúc bách buộc phải thành công, trong đó người ta biết đến chúng ta qua những thành đạt của chúng ta hơn là qua con người của chúng ta, Cơ Đốc Nhân cũng như những người khác sẽ phải chịu những hậu quả của sự mòn mỏi và giảm dần tính mãnh liệt. Hễ đánh mất nỗi đam mê của bạn, khải tượng của bạn sẽ trở thành chỉ còn là trách nhiệm khác nữa mà bạn
KHẢI TƯỢNG LÀ MỘT LỐI TIẾP CẬN LÂU DÀI VỚI SỰ SỐNG. ĐÓ KHÔNG PHẢI LÀ ĐIỀU BẠN SẼ HOÀN THÀNH TRONG QUÍ TỚI, NĂM TỚI, VÀ CHẮC CŨNG KHÔNG HOÀN THÀNH TRONG MỘT THẬP NIÊN TỚI
kéo lê đây đó vì bổn phận nhưng chẳng vui vẻ chút nào. Không nhận được sự bổ lại sức thường xuyên và không luôn luôn tăng trưởng tâm linh thì sẽ bị tước mất khải tượng.
Sự Lãnh Đạo Tồi
Tương tự, một số người bỏ khải tượng vì họ gặp phải cấp lãnh đạo tồi (tức là những người trong địa vị lãnh đạo đã không nuôi dưỡng khải tượng thông qua sự hướng dẫn, khích lệ, củng cố, đánh giá hoặc các hình thức trợ giúp khác).
Những người có khải tượng cần một số hình thức lãnh đạo từ những người có khải tượng khác, bất luận đó là sự dạy dỗ họ nhận được từ xa hay từ sự khích lệ cá nhân mà họ nhận được ở gần. Không có được cấp lãnh đạo để nâng cao và đẩy khải tượng của một tín hữu hay một hội thánh tiến tới trước thì có thể để cho tiêu điểm của người có khải tượng ấy đi lạc.
Thiếu Tinh Thần Khai Trình
Cũng tương tự như vậy, một số người đánh mất khải tượng vì không ai giữ cho họ phải khai trình trách nhiệm về việc thực hiện khải tượng ấy. Hãy đối diện với điều đó, ở mức độ cơ bản, chúng ta thảy đều chỉ làm những việc mình phải làm. Nếu dường như không ai quan tâm xem mình có thực hiện khải tượng hay không, việc gì mình phải lo? Chắc chắn, trong ít lâu, có thể bạn đang tự điều chỉnh, nhưng hành vi siêng năng sẽ mòn mỏi dần khi đối diện với biết bao thách thức và cơ hội, đặc biệt khi một kẻ thù thuộc linh vô hình kéo bạn đi theo những người khác.
Thiếu Kiên Nhẫn
Cách đánh mất khải tượng phổ thông nhất chính là đánh mất góc nhìn vào thực tại. Hãy xét xem thử những phương án sau đây có đánh lên âm giai báo động vang dội nào không.
Khải tượng là một lối tiếp cận lâu dài với sự sống. Đó không phải là điều bạn sẽ hoàn thành trong quí tới, năm tới, và chắc cũng không hoàn thành trong một thập niên tới. Đương nhiên, chúng ta thảy đều đang vội. Chúng ta không có 2, 5, 10 hay 20 năm để đầu tư. Chúng ta cần những kết quả ngay bây giờ! Nền văn hóa của chúng ta bảo cho chúng ta biết: nếu không thể làm nhanh chóng, thì chắc nó không xứng đáng cho mình làm.
Nếu những nhà xã hội học nói đúng khi bảo rằng nền văn hóa của chúng ta hiện đang tự tái trình diện cứ mỗi ba đến năm năm, thì về mặt lý thuyết một khải tượng từ 20 -30 năm có thể bị lỗi thời và không thích ứng rất nhiều lần trước khi chúng ta chứng kiến nó được ứng nghiệm. Người Nhật có thể dạy chúng ta điều này. Họ có một quan điểm chung rằng nếu muốn một tổ chức được phát triển đúng cách và hưởng được thành công lâu dài, thì bí quyết chính là thời gian. Họ cho rằng xây dựng một công ty lớn phải mất từ 20-25 năm!
Quan điểm này rất thích hợp cho kinh nghiệm của chúng ta về khải tượng. Nếu hải tượng đến từ Đức Chúa Trời đời đời của chúng ta, thời khóa biểu cuống cuồng mà đa số chúng ta theo đuổi chẳng liên quan gì đến mục đích và thời khóa biểu đời đời của Ngài. Sự thiếu kiên nhẫn của chúng ta khi muốn nhìn thấy khải tượng được hoàn tất có lẽ khiến chúng ta đánh mất sự thích thú, và rồi điều đó trở thành động cơ phá hoại ảnh hưởng của khải tượng ấy.
Một Tiêu Điểm Được Mở Rộng
Một nhược điểm phổ biến, đặc biệt trong nhiều hội thánh, ấy là một khi đã đeo đuổi khải tượng và kinh nghiệm được vài thành công bước đầu với khải tượng ấy, thì lúc đó họ cố gắng cứu thế gian và tận dụng mọi cơ hội bắt gặp trên đường, bất kể đến tiêu điểm của khải tượng. Bạn có thể nêu tên biết bao hội thánh đã từng một thời là những nơi hết sức sống động của chức vụ có tiêu điểm, nhưng rồi đã tiến hóa thành những chức vụ lớn lao nhưng khập khiễng và tê liệt vì ở đây họ cố gắng làm hết thảy mọi việc cho mọi người?
Bị mất: Khải Tượng Của Đức Chúa Trời Do Những Nguyên Nhân Nào?
Những Nan Đề Về Việc Đầu Tư Vào:
1. Không liên lạc với Chúa.
2. Kiệt sức
3. Cấp lãnh đạo kém
4. Thiếu tinh thần khai trình
Nhãn Quan Lệch Lạc:
5. Thiếu kiên nhẫn
6. Mở rộng tiêu điểm
7. Chỉ biết nghĩ đến bản ngã
8. Phớt lờ các giá trị
9. Bị quyến rũ bởi các khải tượng, các mối quan tâm khác.
10. Chức vụ trở nên tẻ nhạt.
11. Không đánh giá tiến bộ của khải tượng
Những Hoàn Cảnh Có Hại
12. Những cấu trúc/ nếp sống không thích hợp
13. Xung đột đến tột cùng
14. Khải tượng trở nên lỗi thời

Những hội chúng này đã chuyển biến từ những hội thánh có mục đích và được hướng dẫn bởi khải tượng trở thành những chức vụ “một cỡ mặc vừa cho mọi khổ người” để đánh mất những đặc điểm và các phẩm chất của họ. Các cá nhân cũng có thể trở thành con mồi cho cùng một sự bại liệt này.
Chăm Chú Vào Bản Ngã
Đôi lúc người ta đánh mất khải tượng bởi vì những thành công họ gặt hái được từ khải tượng Chúa đã làm nhòa mất nhận thức của họ. Họ không còn công nhận chính Đức Chúa Trời đã ban phước cho khải tượng của Ngài để rồi bắt đầu tin nơi những năng lực riêng của mình. Tình trạng chỉ biết nghĩ đến bản ngã có thể dập tắt Thánh Linh Đức Chúa Trời nhanh phi thường. Chức vụ trở thành phương tiện để tôn vinh bản thân hơn là tôn vinh Chúa, vì vậy khải tượng Chúa ban đã bị lu mờ đi trước khải tượng đang tiến hóa phát xuất từ người thi hành chức vụ.
Phớt Lờ Các Giá Trị
Các giá trị , đóng vai trò như nền tảng để phát triển và thực hiện khải tượng của Đức Chúa Trời, thỉnh thoảng lại là nan đề. Nếu loại bỏ những giá trị của bạn, thì việc thực hiện khải tượng chỉ còn là những tập hợp khải tượng trống rỗng, làm chỉ để cho có làm. Kiểu sinh hoạt vô vị như vậy không thể tồn tại lâu.
Một Khải Tượng Khác Hay Các Mối Quan Tâm Khác
Một số cá nhân hoặc chức vụ đánh mất khải tượng khi tranh đua nhau dường như và trở nên có ý nghĩa hơn. Satan rất quỷ quyệt. Nó có thể thuyết phục một tín hữu hay toàn bộ một hội chúng tín hữu rằng những kết quả quan trọng nhất đáng tìm kiếm chính là những kết quả chứ không phải là khải tượng của Chúa. Có lẽ sự cám dỗ này là những phần thưởng tăng dần lên cho những người đạt được những mục tiêu như thế (tiền bạc, danh tiếng, danh vọng, cơ hội), hoặc có thể đó là sự cảm thấy thoải mái về tình cảm khi theo đuổi những mục tiêu như thế. Cho dù mồi nhử là gì đi nữa, một khi đã cắn câu vào một khải tượng hay một mối quan tâm khác nữa , mỗi người đều bị lừa đế mất đi những kết quả tốt nhất có thể có được.

Chức Vụ Trở Nên Tẻ Nhạt
Một số rất đông Cơ Đốc Nhân (đông đến đáng ngạc nhiên) đánh mất khải tượng vì cớ con đường lâu dài gian khó để đạt được chiến thắng nay lại đơn giản trở thành một việc vặt làm thường ngày. Đối với mục sư, việc lãnh đạo tín hữu trở nên tẻ nhạt . Đối với tín hữu, sống cuộc đời Cơ Đốc đã trở thành một loạt nghi lễ và truyền thống thiếu tự nhiên cách cứng ngắt. Đối với hội chúng, Chúa nhật là thì giờ để đến chơi đùa tại nhà thờ và làm những việc buộc phải làm chứ chẳng muốn làm tí nào. Nỗi đam mê một thời bừng cháy, nay đã biến thành đống tro tàn lạnh lẽo.
Thiếu Công Tác Đánh Giá
Một nguyên nhân khác khiến đánh mất khải tượng và làm lệch lạc góc nhìn chính là thiếu công tác đánh giá tiến bộ của khải tượng. Nếu không có một phương tiện liên tục để đánh giá cuộc tìm kiếm khải tượng của bạn, gần như bạn chẳng có nguyên nhân gì để cảm thấy hào hứng, phấn khởi, suy cho cùng, có khải tượng là một chuyện; biến khải tượng ấy trở thành những kết quả có ảnh hưởng lớn và biến đổi đời sống lại là chuyện khác. Vì vậy, nếu không có thước đo thì thật khó duy trì nhiệt tình đối với sự kêu gọi này.
VÌ CÁC HỘI THÁNH VÀ TÍN HỮU THÍCH AN NHÀN THOẢI MÁI HƠN LÀ ĐAU ĐỚN, NÊN NHIỀU KHI CHÚNG TA LẬP RA NHỮNG THAY ĐỔI CHO ĐỜI SỐNG NHẰM ĐỂ HÓA GIẢI HAY GIẢM NHẸ XUNG ĐỘT.

Những Cấu Trúc Và Những Nếp Sống Không Thỏa Đáng
Có nhiều hoàn cảnh nào đó góp phần làm hại khải tượng. Có một hoàn cảnh liên quan đến cấu trúc tổ chức của hội thánh. Có thể đó là những thể loại của các chương trình đang có. Có thể là những vai trò của ban điều hành đã có hoặc chưa có người để đảm nhiệm; có thể đó là những chính sách giới hạn những mạo hiểm; nó có thể liên quan đến sự hạn chế trên hội thánh bởi cớ cơ sở vật chất tiện nghi hay bởi giáo phái.
Đối với cá nhân, đây là vấn đề của phong cách sống bao gồm những mối quan hệ, sự nghiệp, gia đình và tài chánh. Bất kỳ điều nào hay bất kỳ sự kết hợp nào của những yếu tố này đều có thể giới hạn việc mà cá nhân ấy có thể làm hoặc sẵn lòng làm để biến khải tượng thành hành động. Nếu những sự giới hạn này đối với những cá nhân hay đối với hội thánh trở nên quá rập khuôn, thì bắt buộc phải có quyết định: hoặc thay đổi những cấu trúc hay nếp sống ấy, hoặc hủy tính ưu tiên của khải tượng. Chọn hủy ưu tiên của khải tượng thường đem lại nhiều hậu quả đại họa cho chức vụ.
Xung Đột Cực Độ
Một suy tính khác nữa về hoàn cảnh chính là sự hiện diện của xung đột cực độ trong đời sống của người có khải tượng. Hiện diện của xung đột có thể điều chỉnh lại tiêu điểm sức lực của người có khải tượng và những điều khác với khải tượng. Vì các hội thánh và tín hữu thích thoải mái tiện nghi hơn là đau đớn, nên nhiều khi chúng ta lập ra những thay đổi cho đời sống nhằm để hóa giải hay giảm bớt xung đột.
Khải Tượng Trở Nên Lỗi Thời
Nếu những thay đổi đó có được hiệu quả mong muốn, chúng ta tiếp tục chúng, và có lẽ nâng cấp cường độ mà chúng ta dùng để thực hiện các bước đó. Thường sẽ dẫn đến kết quả là lập lại trật tự những điều ưu tiên của chúng ta trong đời sống. Khi điều này diễn ra, khải tượng vốn đã định nghĩa chúng ta trước khi có xung đột kia giờ đây có vẻ như một điều bất tiện hay như một thú tiêu khiển nhỏ bởi cớ năng lực giờ đây chúng ta có được để làm cho mình giảm bớt những xung đột có thể gây đau đớn hoặc gây tổn hại. Nguyên nhân ít phổ thông nhất khi đánh mất khải tượng ấy là khải tượng ấy dầu vẫn được theo đuổi trung tín nhưng giờ đây đã trở nên lỗi thời .
Chấm Dứt Khải Tượng Cũ
Trước đây tôi có lưu ý rằng khải tượng sẽ diễn ra về lâu về dài và thường sống lâu hơn người có khải tượng. Tuy nhiên, thỉnh thoảng có lẽ phải đánh giá lại khải tượng ấy để tìm một khải tượng mới từ Chúa.
Tôi thảo luận khả năng này với đôi chút ngần ngại. Ngần ngại này được căn cứ trên kinh nghiệm trực tiếp với nhiều hội thánh liên tục tìm kiếm cánh cửa cơ hội để thay đổi khải tượng vì cần tránh áp lực của việc dự phần vào chức vụ biến đổi đời sống.
Nếu họ có thể chuyển sang một khải tượng khác, thời gian dành để nhận biết khải tượng đó rồi lập chiến lược để hoàn thành nó sẽ đem đến cho họ thì giờ để thư giãn trong khi vẫn cứ bám vào hy vọng cho rằng khải tượng mới sẽ thoải mái hơn và đem lại nhiều yên ủi hơn.
Biết rằng một khải tượng có thể được ứng nghiệm, hoặc hoàn cảnh xứng đáng để thiết lập lại khải tượng, sự hiểu biết đó sẽ đem lại cho một số người, một số hội thánh một điều khoản giải thoát thuộc loại tồi. Thế nhưng sẽ dẫn đến hiểu lầm nếu bỏ qua việc thảo luận những lúc mà có thể bạn tìm kiếm hợp pháp một khải tượng mới.
Tìm Kiếm Một Khải Tượng Mới
Tôi biết chỉ có năm trường hợp khi dường như có thể xác định lại khải tượng:
1. Khi sự thay đổi quan trọng diễn ra trong đặc điểm về dân số học trong cộng đồng đang được một hội thánh hay một cá nhân chăm sóc cho. Điều này không có nghĩa khải tượng ấy mang nội dung dân số học. Thường thì khải tượng ít liên quan đến những đặc trưng của nhóm người nhận lãnh cho bằng liên quan đến những kết quả sẽ phải đạt được. Tuy nhiên, nếu những đấu thủ thay đổi, thì có thể cuộc đấu cũng thay đổi nữa.
2. Tương tự, nếu một hội thánh chết đi , hoặc vì cớ còn lại rất ít tín hữu hoặc vì cớ những người còn lại bị phá sản về khải tượng, thì có lẽ đã đến lúc tìm một khải tượng mới để làm tỉnh lại chức vụ ấy. Hoàn cảnh tương đương cho một cá nhân ấy là người ấy gặp thay đổi rất lớn lao trong gia đình, đặc biệt là ly dị, sự qua đời của người bạn đời hay thời điểm mà tại đó mọi con cái đều không còn sống trong nhà hoặc không còn sống để chăm sóc cha mẹ.
3. Khi một hội thánh thay đổi các mục sư . Đây có thể là nguyên nhân để mong đợi một khải tượng mới đến với vị mục sư; dầu điều này chủ yếu đúng trong những trường hợp vị mục sư sắp đến là người đầu tiên có khải tượng của Đức Chúa Trời đến cho hội thánh hay nơi có lãnh đạo mới đang thay cho một người có khải tượng lâu dài và khải tượng ấy hầu như đã hoàn tất.
4. Khi hội thánh hoặc cá nhân biết chắc rằng khải tượng mà lâu nay mình đang thực hiện chính là khải tượng của con người chứ không phải do Chúa ban .
5. Khi khải tượng đã được làm trọn .
Nếu bạn gặp một trong những đặc điểm này, thì đã đến lúc để quay trở lại với Lời Chúa, quỳ gối xuống, bắt đầu kiêng ăn, và tập trung mọi lời khuyên tin kính, bạn có thể tìm được để nhận biết Đức Chúa Trời đang dẫn dắt bạn đến đâu.
Tuy nhiên, khi thiếu những điều kiện này, tôi khuyên bạn đừng quá vội bỏ khải tượng mà Chúa ban rồi. Ngài là Đấng kiên nhẫn và nhịn nhục. Hãy cố gắng xứng đáng với sự kiên trì và nhịn nhục của Ngài. Bỏ dở dang khải tượng của Ngài là một hành động không vâng lời, và sẽ dẫn bạn đến một cuộc rượt đuổi khải tượng mới cách không kết quả trong khi khải tượng cũ vẫn còn thích ứng và cần thiết.
Đánh Giá Tiến Bộ Của Khải Tượng
Nếu không có tiến trình đánh giá đáng tin cậy để xác định bạn có đang đi đúng với khải tượng không, thì rất dễ đi lạc. Tôi đã thấy hết tấm gương này đến tấm gương khác của những con người và những hội thánh không đánh giá cuộc tìm kiếm khải tượng của họ, dẫn đến hết nỗ lực này đến nỗ lực kia đưa họ đi ngày càng xa khỏi công tác làm trọn khải tượng của mình.
Hành động khó kiểm soát này xảy ra khi không có những tiêu chuẩn hay những biện pháp để sửa sai. Do vậy, tại những thời điểm hết sức quan trọng khi họ tin mình là những người có khải tượng đang hành động, thì họ đang hành động trái ngược với khải tượng của họ, thực sự khiến càng khó hoàn tất hơn nữa những mục tiêu cụ thể mà họ đã đề ra. Sự đánh giá đơn giản ở giữa tiến trình có thể báo cho họ biết sự thật họ đang đi sai đường.
Khải tượng cung cấp ba thành phần chính, mỗi thành phần đều có thể đo lường được, mỗi thành phần này - khả năng hiểu, quyền sở hữu và ảnh hưởng - đều liên hệ đến những hành vi cụ thể. Những hình thức đo lường bạn dùng tất nhiên sẽ khác nhau về bản chất và về tính đáng tin cậy. Tôi gợi ý bạn nên xem xét những biện pháp kết hợp định lượng (tức là mang tính thống kê) và định tính (tức là không mang tính thống kê).
Đo Lường Khả Năng Hiểu
Trong số ba chiều hướng bạn có thể nghiên cứu, khả năng hiểu chắc là chiều hướng khó đo lường nhất. Khả năng hiểu khải tượng muốn nói đến việc đánh giá bạn hiểu khải tượng đến mức nào. Không có một tiêu chuẩn tuyệt đối nào cho cách đánh giá này. Sự khảo sát sẽ mang tính chủ quan.
Những dấu hiệu nào có thể giúp bạn nhận ra mình hiểu khải tượng rõ đến đâu? Nói chung, bạn sẽ phải dựa vào những biện pháp đo lường sự hiểu biết mang tính hồi tưởng về các cơ hội và cách bạn sử dụng những cơ hội đó đầy đủ đến mức nào. Chẳng hạn, nếu bạn xét lại 6 tháng vừa qua và có thể nhận ra mười hoàn cảnh mình đã bỏ qua, nhưng chúng đã có thể cung cấp những cơ hội để thực hiện khải tượng, thì bạn đã có một dấu hiệu cho thấy có lẽ bạn chưa hiểu đầy đủ tầm rộng của khải tượng mình.
CÓ NHỮNG KHẢ NĂNG XẢY RA ẤY LÀ: NẾU BẠN KHÔNG THỂ CHUYỂN DỊCH KHẢI TƯỢNG CỦA MÌNH THÀNH TUYÊN NGÔN SÚC TÍCH VÀ ĐẦY THÔI THÚC CHO NHỮNG NGƯỜI BẠN CÙNG CỘNG TÁC VÀ CÙNG GIAO TIẾP, THÌ BẠN VẪN CHƯA BIẾT CHẮC CHẮN VỀ NHỮNG ĐƯỜNG NÉT CỦA KHẢI TƯỢNG ẤY.
Dầu vậy, chắc bạn có thể khám phá ra lỗ hổng trong đường lối thăm dò này. Hầu hết chúng ta không mang tính suy gẫm cũng không mang tính phân tích nhiều lắm, vì vậy có những khả năng là tính nhạy bén đã được điều chỉnh kỹ của chúng ta đối với những cơ hội trong đời và nhạy bén với cách sử dụng tốt những cơ hội đó sẽ trở thành không cao.
Phương án tốt nhất tức là cùng xem xét khía cạnh này của cuộc tìm kiếm khải tượng của bạn với sự trợ giúp của những cộng sự có chung tinh thần khai trình trách nhiệm. Hãy mời họ cùng dự phần vào cuộc duyệt xét như thế. Những cộng sự đáng tin cậy, có đủ thông tin và biết quan tâm, có thể nắm bắt rõ hơn những cơ hội còn bị bỏ sót và có thể khích lệ những thành công của bạn khi tận dụng nhiều sự chọn lựa khác nhau.
Một cách khác để khảo sát khả năng hiểu của bạn chính là nghiên cứu những quyết định của bạn trong quá khứ gần đây. Hãy tự hỏi về vai trò khải tượng của bạn. Đối với mỗi một quyết định đang xét, khải tượng của bạn đóng vai trò trọng tâm đến mức nào trong những suy tính của bạn? Khi hồi tưởng lại, hồi đó bạn có thể quyết định khác đi như thế nào để ăn khớp hơn với khải tượng của mình?
Bạn cũng có thể chọn cách đánh giá xem đã truyền đạt khải tượng của mình rõ đến mức nào cho người khác trong tiến trình đầy những cố gắng lớn lao của bạn. Có thể, nếu bạn không dịch được khải tượng của mình thành những tuyên ngôn súc tích và đầy thúc giục cho những người bạn đang cộng tác hoặc đang giao tiếp, bạn chưa biết rõ về những đường nét của khải tượng ấy.
Hơn nữa, có thể bạn xét xem mình đã thăm dò khôn ngoan đến mức nào về những điểm mà khải tượng của bạn xứng hợp với khải tượng của hội thánh, của chồng hoặc vợ bạn, của những người thân, của nơi làm việc của bạn của những đồng nghiệp tại sở làm và trong chức vụ, cũng như khải tượng của những lãnh đạo nổi bật khác. Những người nào không tìm những đặc điểm chung này thì thường chịu khổ từ khả năng hiểu kém về khải tượng của họ hoặc hoặc khổ vì có quyền sở hữu thấp tối thiểu.

Đo Lường Quyền Sở Hữu
Sở hữu khải tượng thì dễ đo lường hơn. Mục tiêu của bạn trong bài tập này là xác định mức độ sốt sắng và tận tâm của bạn đối với khải tượng. Có thể hoàn tất việc này bằng cách trả lời những câu hỏi như:
§ Bao lâu bạn quay đến khải tượng của mình một lần khi đưa ra những quyết định về việc quản lý thời gian hoặc những quyết định liên quan đến mục đích? Bạn thỏa lòng đến mức nào với những quyết định của mình về tính nhất quán tối hậu của chúng với khải tượng của mình? Chúng đẩy mạnh những kết quả nhất quán với khải tượng hay đem đến những kết quả không liên quan?
§ Kể tên những trường hợp mà bạn gặp những cơ hội tốt nhưng đã khước từ chúng vì chúng không nhất quán với khải tượng của bạn.
§ Mỗi tuần bạn dành bao nhiêu giờ để trau giồi, thông qua và khảo sát khải tượng của bạn? Khuôn mẫu này có phải là khuôn mẫu mà bạn đang sa sút, nhất quán, gia tăng hay không thể đoán được trong bình diện những nguồn cung ứng mà bạn dành cho khải tượng của bạn?
§ Khi bạn nói chuyện với người khác về tương lai, bạn có lạc quan rằng mình có tạo ra được ảnh hưởng quan trọng không? Suy nghĩ riêng đến những nỗ lực trong tương lai của bạn, bạn trở nên phấn khởi hay ngã lòng về tương lai và về cách bạn có thể ảnh hưởng đến tương lai ấy?
§ Khi những người mới và đang trải qua giai đoạn giới thiệu mối quan hệ, bạn có mô tả chính mình và đời sống mình xét theo khải tượng của bạn không?
§ Khi người ta có những mục tiêu, những sở thích, những kế hoạch đang xung đột nhau, bạn sẽ bảo vệ khải tượng của bạn đến mức độ nào? Bao lâu một lần bạn thấy mình nhượng bộ và làm những điều trái với khải tượng của mình?
§ Trên thang đo chủ quan, bạn sẽ so sánh thế nào về cường độ lòng tin quyết nơi khải tượng của bạn ngày nay với cường độ mà bạn đã có khi khải tượng mới bắt đầu rõ ràng cho bạn?
Đo Lường Ảnh Hưởng
Ảnh hưởng của khải tượng có thể là điều dễ đánh giá nhất. Điều quan trọng nhất chính là nhận diện sự thay đổi để có thể liên hệ với cách bạn áp dụng khải tượng của mình. Nếu bạn đã kinh nghiệm tiến trình kế hoạch điển hình để kết hợp khải tượng vào hành động thực tế, hãy khảo sát những mục tiêu của bạn và xác định bạn đang làm việc tốt đến mức nào để đạt những kết quả mong muốn.
Hãy mời một đồng nghiệp tín cẩn và có khả năng để duyệt lại những chiến lược của bạn và xác định xem chúng có hướng đến việc đạt được những mục tiêu của bạn không. Chủ quan hơn, hãy xét đến những môi trường bề trong và bề ngoài của bạn và xác định xem trong năm qua chúng có thay đổi hay không, và bao nhiêu phần của thay đổi đó có thể gán cho sự ám ảnh tích cực của bạn với khải tượng của mình?
Những Công Cụ Của Sự Hiểu Biết Sáng Suốt
Những phương pháp và những công cụ bạn sử dụng để thu thập thông tin về việc thực hiện khải tượng của mình sẽ rất khác nhau. Hãy thật sáng tạo. Không có một tiêu chuẩn nào hay một cách nào là đúng để thực hiện việc này, và bạn đừng cố gắng phục vụ bất kỳ ai khác ngoài chính mình và Chúa.
Nếu bạn đang đánh giá hội thánh mình thực hiện tốt đến đâu trong việc tìm kiếm khải tượng, thì có thể thu thập rất nhiều nguồn dữ liệu khác. Chẳng hạn, bạn có thể:
§ Mời một nhóm thính giả phù hợp để đánh giá hội thánh trong những hoạt động cụ thể được thôi thúc bởi khải tượng.
§ Thu thập thông tin từ tín hữu trong hội thánh thông qua những cuộc nói chuyện thông thường về điều họ kinh nghiệm từ hội thánh và thông qua những chức vụ của hội thánh.
§ Quan sát những tiến trình làm việc và những cuộc tương tác trong các buổi họp.
§ Đưa ra một loạt số thống kê đều đặn để đánh giá những sự tăng trưởng chính thức của hoạt động khải tượng (chẳng hạn như số những tình nguyện viên, những giờ làm việc của người tình nguyện, ghi tên vào các lớp đánh giá ân tứ.
§ Mời những người hướng dẫn chương trình tổ chức phần đánh giá có định hướng của riêng họ về mối quan hệ giữa các chức vụ của họ với khải tượng của hội thánh (và khải tượng trong những chương trình của họ).
§ Tổ chức duyệt xét chính thức về tiến triển đến những mục tiêu cụ thể.
§ Tính những lần khải tượng được đề cập công khai hay được ám chỉ đến, chẳng hạn như trong bài giảng, trong các lời làm chứng, trong những phần mô tả chương trình, trong những thương lượng về ngân sách, trong những buổi duyệt xét sự thực hiện.
§ Tìm kiếm đáp ứng của Đức Chúa Trời thông qua sự cầu nguyện
Đánh Giá Cá Nhân
Nếu đang tìm cách xác định mình thực hiện khải tượng của cá nhân mình tốt đến mức nào, có thể bạn hướng đến những phương cách đánh giá hơi khác, gồm có những điều sau:
§ Tạo một bản khảo lược tự đánh giá để bạn thường xuyên điền vào và so sánh xem mình tiến triển như thế nào và có đang tiến triển hay không.
§ Tìm những thông tin phản hồi trung thực từ những cộng sự trong nhóm khai trình trách nhiệm.
§ Khảo sát lịch làm việc của bạn xem khải tượng của bạn đang có ảnh hưởng nào, hay bạn đang phân chia thời gian của bạn như thế nào.
§ Xem danh sách kiểm tra của bạn để biết khải tượng của bạn tạo ra ảnh hưởng nào trong việc chi tiêu tiền bạc của mình.
§ Suy gẫm về tiến trình lập quyết định của bạn và cách nó được thúc đẩy bởi khải tượng. Bạn dựa vào những nhận định chủ yếu nào trong những lần phải đưa ra một quyết định về đạo đức, luân lý, quyết định có liên quan đến thời gian hay về phương hướng?
§ Khảo sát những mục tiêu của bạn để biết mình có đang đạt được chúng hay không.
Hãy xem trọng những biện pháp đo lường này. Hãy viết chúng ra, lần theo chúng từ năm này sang năm nọ. Hãy xét mỗi thành phần để xác định bạn có thể cải tiến cách thực hiện của mình như thế nào trong chiều hướng đó, để kỳ đánh giá kế tiếp sẽ cho thấy những kết quả còn tốt hơn nữa. Mục đích duy nhất của tiến trình đo lường chính là đẩy mạnh một đời sống được hướng dẫn bởi khải tượng và là một đời sống đang biến đổi vì Chúa Giêsu Christ. Hãy khảo sát những kết quả của bạn theo mục tiêu này.
Một câu châm ngôn trong giới kinh doanh ngày xưa báo trước: “Nếu bạn không thể đo lường công việc đó, thì nó không xứng đáng cho mình làm.” Theo đuổi khải tượng của bạn dứt khoát là một việc đáng làm. Nhớ bảo đảm bạn đầu tư những nguồn cung ứng để khảo sát xem mình đang tiến hành tốt đến đâu trong cuộc tìm kiếm khải tượng.

Tạo Dựng Tương Lai
“CÒN GÌ TỆ HẠI HƠN LÀ RA ĐỜI MÀ BỊ MÙ? CÒN GÌ TỆ HẠI HƠN RA ĐỜI CÓ MẮT SÁNG MÀ KHÔNG CÓ KHẢI TƯỢNG” HELLEN KELLER
Hiện tại đang là những lúc đầy biến động cho Hoa Kỳ, sự thay đổi diễn ra nhanh chưa từng thấy, và đa số những thay đổi này rất lớn lao. Người ta đang tìm kiếm những góc nhìn nào giúp họ định vị được những cơn sóng dữ của thay đổi này. Họ đang tìm kiếm những người nào thấy được bức tranh toàn cảnh và có thể giúp xác định rõ sự việc đang dẫn đến đâu và làm sao để tận dụng được những cơ hội chớm nở ấy?
Người Mỹ đang chủ động tìm kiếm những lãnh đạo nào có lòng tin quyết vào một điều gì đó khác hơn mình và những người có thể dựa trên niềm tin đó để thúc đẩy người khác.
Tìm Kiếm Khải Tượng
Người Mỹ đang đòi hỏi khải tượng.
Chúng ta đã thử khải tượng của những lãnh tụ chính trị và thấy thật nản lòng. Chúng ta đã thử khải tượng của những chuyên gia tôn giáo và thấy nó bị xuyên tạc. Chúng ta đã thử khải tượng của những người phát triển liên đoàn kinh doanh lớn và thấy nó thật trống rỗng. Chúng ta đã thử khải tượng của những triết gia và những nhà giáo dục và thấy nó sai sót.
Các đường lối của người đều là trong sạch theo mắt mình, song Đức Giêhôva cân nhắc cái lòng (ChCn 16:2).
Người Mỹ đang đòi hỏi khải tượng của Đức Chúa Trời.
Tương lai chúng ta sẽ thế nào? Không ai biết chắc chắn. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng tương lai ấy đã được tạo dựng nên, ngay giờ này, bởi những con người được thúc đẩy bởi khải tượng mà họ tin hết lòng, khải tượng mà người đó sẵn sàng trung thành gắn bó, khải tượng mà họ đấu tranh cho đang đại diện tương lai tốt nhất mà chúng ta có thể hy vọng được.
Chúng ta biết rằng rất nhiều - nếu không nói là hầu hết - những người có khải tượng đang tiến lên hết tốc độ lại là những người không đang dẫn chúng ta đi theo đường lối mà Đức Chúa Trời đã truyền, nhưng đang theo đuổi những ham muốn thất thường và những lý tưởng mà họ đã chế ra trong tâm chí hay lòng họ.
“Đức Giêhôva phán: Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta” (EsIs 55:8).

Cánh Đồng Đã Vàng Sẵn Cho Mùa Gặt
Đã đến lúc Thân Thể Đấng Christ khẳng định lại sự lãnh đạo của hội thánh tại đất nước chúng ta. Nắm bắt lại địa vị ảnh hưởng không liên quan đến việc nắm bắt quyền lực chính trị hay phô trương sự gia tăng nhanh về số lượng. Công việc này căn cứ trên nhu cầu được Đức Chúa Trời yêu và được giao thông với Ngài. Nó căn cứ trên nhu cầu cần một đời sống có ý nghĩa và mục đích, một đời sống được thúc đẩy và định nghĩa bởi những điều quan trọng.
Đã đến lúc dân sự Chúa đẩy mạnh khải tượng của Chúa để tạo ra những mục tiêu của Đức Chúa Trời cùng với những phước hạnh của Ngài.
“Ngươi khá chép lấy sự hiện thấy và rõ rệt nó ra trên bảng... Vì sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhất định, sau cùng nó sẽ kíp đến, không phỉnh dối đâu” (HaKb 2:2, 3).

Bạn Đứng Nơi Đâu?
Bạn đứng nơi đâu trên chiến trường của những ý kiến, những niềm tin, những mối quan hệ, những cơ hội và khải tượng này? Tôi xin nêu cho bạn 6 câu hỏi kết luận.
1. Bạn đứng đâu trên đẳng cấp khải tượng? Bạn đã đạt đến tiềm năng tối đa của mình chưa? Nếu chưa, bạn đang làm gì để bảo đảm bạn đang đạt đến điều đó.
2. Vì mỗi một người nào trong chúng ta yêu mến và tin cậy Đức Chúa Trời thì đều được trao phó ít nhất một khải tượng nhỏ, vậy bạn đang làm trọn khải tượng ấy như thế nào trong gia đình, trong sự nghiệp, trong những mối quan hệ cá nhân và trong hội thánh của bạn?
3. Khải tượng của hội thánh bạn là gì? Khải tượng cá nhân của bạn có những điểm nào phù hợp với những điểm trong khải tượng của hội thánh bạn? Bạn đang kiên trì thế nào để kết hợp khải tượng của Đức Chúa Trời dành cho đời sống mình với khải tượng Ngài đã ban cho hội thánh bạn?
4. Khi gặp người khác, bạn nhận biết đầy đủ đến mức nào về khải tượng của họ cho đời sống? Đối với những người cần tăng trưởng trong khải tượng của họ, bạn theo đuổi những bước nào để hậu thuẫn trợ giúp sự phát triển của họ trong tư cách những người có khải tượng?
5. Bạn thấy những loại hiệu quả nào phát xuất từ việc bạn theo đuổi khải tượng của Chúa? Ai chịu trách nhiệm nghe bạn khai trình về khải tượng này? Bạn sử dụng những biện pháp chính yếu nào để đánh giá khách quan?
6. Có bằng chứng nào cho thấy bạn đã tiếp nhận đầy đủ khải tượng, đem lại kết quả là nếp suy nghĩ và hành vi của bạn đúng như cách phải có của người có khải tượng? Sự khác biệt giữa nếp suy nghĩ và hành vi của bạn ngày hôm nay với trước lúc bạn nhận biết khải tượng của Chúa đã thể hiện rõ như thế nào?

Không Để Bất Cứ Điều Gì Thay Thế Khải Tượng
Nếu bạn muốn làm một lãnh đạo trong bất kỳ một công việc nào trong đời, tại bất kỳ bình diện tinh tế hay cường độ nào, thì bắt buộc phải có khải tượng. Không điều gì thay thế được khải tượng của Chúa - bất kể là làm việc siêng năng, cực kỳ thông minh, những ý kiến tinh khôn hay những danh hiệu cao quí cũng không.
Đời sống của bạn là quan trọng đối với Chúa. Đời sống bạn cũng quan trọng đối với những người mà Chúa muốn ảnh hưởng đến thông qua bạn nếu bạn tìm kiếm, nhận biết, sở hữu và làm trọn khải tượng của Ngài dành cho bạn. Một khi bạn sống bằng khải tượng, bạn sẽ không bao giờ nhìn lại phía sau. Đời sống của bạn và của những người bạn tiếp xúc thông qua việc thực hiện khải tượng sẽ được biến đổi hoàn toàn. Ngợi khen Chúa!
Phụ Lục 1
Mô tả bản thân : Nữ 40 tuổi, đã có gia đình và hai con.
Sứ mạng : Sống giống với Đấng Christ trong mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh, bất luận phải trả giá nào.
Khải tượng : Hậu thuẫn chồng tôi trong những nỗ lực phụ bằng cách khích lệ, đánh giá trung thực và giúp quản lý; nuôi dạy con cái trở thành người tin Đấng Christ, để các con có lời tuyên xưng đức tin nhất quán với hành vi, những giá trị, những thái độ và những mối quan hệ của chúng.
Những Giá Trị : Lòng trung thành, ngay thật, vui hưởng đời sống, những mối quan hệ yêu thương, phạm vi từng trải rộng, tôn trọng người khác, biết hy sinh, có ý thức toàn cầu.
Các Ân Tứ : Dạy dỗ, quản lý.
Những Tài Năng : Lên kế hoạch, tổ chức, dạy dỗ.
Nghề Nghiệp : Làm mẹ, nội trợ.
Mô Tả Bản Thân : Nữ, 31 tuổi, có gia đình và một con.
Sứ mạng : Yêu Đức Chúa Trời và yêu người khác như chính mình.
Sứ mạng : Sử dụng nhà tôi là một trung tâm chăm sóc, thương xót, và chữa lành tình cảm cho khu hàng xóm tôi dựa trên những mối quan hệ chân thật.
Những Giá Trị : Yêu thương, hi vọng, trung thực, cảm thông, bền lâu, quân bình, chấp nhận, có chiều sâu tâm linh, có tính cộng đồng.
Những Ân Tứ : thương xót, hiếu khách.
Những Tài Năng : nấu ăn, các nghề thủ công, chăm sóc trẻ, giao tiếp, nội trợ, có trí nhớ tốt.
Nghề Nghiệp : có bằng chăm sóc trẻ tại nhà riêng.
Mô Tả Bản Thân : Nam, 55 tuổi, độc thân, không có con cái.
Sứ Mạng : Sống bằng mọi cách nào đem lại vinh hiển và tôn kính Chúa.
Sứ Mạng : Tạo ra một mạng lưới điện tử toàn cầu để giúp phổ biến hữu hiệu kiến thức Kinh Thánh đến cho những tín hữu thiếu tài liệu và để truyền bá hữu hiệu Tin Lành đến cho người chưa biết Chúa.
Những Giá Trị : Trung thực, ngay thẳng, siêng năng, có lòng thương xót, có kiến thức Kinh Thánh thực tiễn, Có chức vụ hữu hiệu, theo chủ nghĩa khắc khổ, tận tâm và cam kết, sống đơn giản.
Những Ân Tứ : phục vụ.
Những Tài Năng : Điện tử, biểu diễn âm nhạc, nghề thủ công.
Nghề Nghiệp : Kỹ thuật viên vi tính.
Mô Tả Bản Thân : Nam, 48 tuổi, có gia đình và 4 con.
Sứ Mạng : Nhận lãnh các phước hạnh của Chúa với lòng khiêm nhường và biết ơn, để rồi đem phước hạnh đến cho người khác.
Khải Tượng : Khôi phục hy vọng và mục đích cho đời sống của những trẻ em bị thiệt thòi bằng cách dạy về tình yêu của Đấng Christ và những kỹ năng kiếm sống thực tiễn.
Những Giá Trị : Công lý, tính đa dạng, biết trao quyền, phẩm hạnh cá nhân, khích lệ, cộng đồng, khiêm nhường, hy sinh.
Những Ân Tứ : Lòng thương xót.
Những Tài Năng : Gặp gỡ giao tiếp, tư vấn, thương lượng, giúp cho người khác cảm thấy dễ chịu.
Nghề Nghiệp : Giáo viên trường công.
Phụ Lục 2
Những Nguồn Tài Liệu Liên Quan Đến Sứ Mạng, Khải Tượng, Giá Trị Và Sự Điềm Tĩnh Bản Thân
Abrahams, Jeffrey. The Mission Statement Book . Berkeley, Calif.: Ten Speed Press, 1995.
Anderson, Leith. Winning the Values War . Minneapolis: Bethany House Publishers, 1994.
Barker, Joel. Future Edge. New York: William Morrow & Company, 1992.
Barna, George. The Power of Vision . Ventura, Calif.: Regal Books, 1992.
Hedges, Charlie. Getting the Right Things Right . Sisters, Oreg.: Questar Publishers, 1996.
Hybels, Lynne and Bill. Rediscovering the Church . Grand Rapids: HarperCollins/Zondervan, 1995.
Kawasaki, Guy. Selling the Dream . New York: HarperCollins, 1991.
Lewis, Hunter. A Question of Values . San Francisco: Harper-San Francisco, 1990.
Liebig, James. Merchants of Vision . San Francisco: Berrett-Koehler, 1994.
Malphurs, Aubrey. Developing a Vision for Ministry . Grand Rapids: Baker Book House, 1992.
Nanus, Burt. Visionary Leadership . San Francisco: Jossey-Bass, 1992.
Senge, Peter. The Fifth Discipline . New York: Doubleday Currency, 1990.


Phụ Lục 3
Thông Tin Về Barna Research Group, Ltd.
Khải tượng của Barna Research Group, Ltd. là:
Cung cấp thông tin đương thời, chính xác và đáng tin cậy có sẵn ở cỡ vừa, và giá cả phải chăng, cho lãnh đạo hội thánh nhằm mục đích giúp họ có những quyết định tốt hơn trong chức vụ.
Phải mất rất nhiều năm trong công việc làm ăn và vật lộn với Chúa trước khi khải tượng này cho công ty thể hiện rõ cho George Barna. Sự xuất hiện khải tượng này dẫn đến công tác tái thiết toàn diện cho tổ chức, thay đổi tiêu điểm từ phục vụ các công ty lớn ngoài đời sang phục vụ hội thánh địa phương. Do phương cách truyền đạt khải tượng đã được thay đổi kể từ khi mới được xác minh bước đầu đến nay, các yếu tố nòng cốt của khải tượng này vẫn giữ nguyên, và đã xác định đặc điểm và tiêu điểm của công ty Barna Research.
Kể từ khi bắt đầu vào năm 1984, Barna Research đã phục vụ hơn 200 tổ chức. Một số những khách hàng nổi tiếng hơn của công ty này gồm có Visa, The Disney Channel, Southwestern Bell Telephone, the U.S. Army, CARE, United Cerebral Palsy và BankOne.
Rất nhiều hiệp hội đã được công ty phục vụ như: Billy Graham Evangelistic Association, Campus Crusade for Christ, World Vision, Word Publishing, Thomas Nelson Publishing, American Bible Society, Prison Fellowship, Youth for Christ, Salvation Army, Willow Creek Community Church, Compassion International, Fuller Theological Seminary, Dallas Theological Seminary, Trinity Broadcasting Network, Ministries Today, New Man và nhiều hiệp hội khác.
Qua những cuộc điều nghiên toàn quốc, Barna Research thăm dò đặc điểm các quan điểm và hành vi của người dân Hoa Kỳ, đặc biệt liên quan đến những niềm tin tôn giáo và những từng trải đức tin của họ. Đây là một công ty độc lập tư nhân, nhằm giúp những cá nhân, những hiệp hội và cả những tổ chức có lợi nhuận để tìm cách nâng cao phẩm chất của công tác phát triển tâm linh con người.
Qua những tác phẩm của chủ tịch công ty, là George Barna, công ty đã phổ biến thông tin qua nhiều phương tiện truyền thông khác nhau. Trong số này có bản tin phát hành hai tháng một lần - là The Barna Report - các bản báo cáo theo đề tài, băng ghi âm, những buổi thuyết trình trực tiếp về những phát hiện qua cuộc điều nghiên trong các khóa hội thảo và các hội nghị, băng ghi hình và những thông cáo báo chí. Barna cũng đã viết 21 tác phẩm sau đây:
The Frog in the Kettle
User Friendly Churches
The Power of Vision
Virtual America
Today’s Pastors
Church Marketing
Baby Busters Ten Years Later
The Index of Leading Spiritual Indicators
Evangelism That Works
Generation Next
Turnaround Churches
Absolute Confusion
If Things Are So Good, Why Do I Feel So Bad ?
Để biết thêm thông tin về Barna Research Group hay các nguồn tài liệu sẵn có, xin viết thư về:
Barna Research
2487 Ivory Way
Oxnard, CA 93030


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-9-2018 10:47 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách