nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2454|Trả lời: 0

Con Đường Đức Tin

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 9-7-2011 17:51:46 | Xem tất |Chế độ đọc

Con Đường Đức Tin
Tác giả: Phạm Xuân Bahnar Trung
Hội thánh tháp Ba-bên và Hội thánh lễ Ngũ tuần
Con đường Đức tin
Cộng đồng dân Chúa xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem
Tín hữu Phi-e-rơ
Tha thứ mấy lần
Xức dầu cho Chúa
Vác cây thập tự
Con chiên đi lạc
Người Pha-ri-xi và người thu thuế
Nước thành rượu
Con chẳng có ai
Song Hỷ
“Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng . Nhưng khi ở Đông phương dời đi , người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó . Người này nói với người kia rằng : Hè , chúng ta hãy làm gạch thế cho đá , còn chai thế cho hồ . Lại nói rằng : Nào ! Chúng ta hãy xây một thành phố và dựng lên một cái tháp , chót cao đến tận trời ; ta hãy lo làm cho rạng danh , e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất . Đức Gia-vê ngự xuống để xem cái thành và tháp của con người xây nên . Đức Gia-vê phán rằng : Này , chỉ có một thứ dân , cùng đồng một thứ tiếng ; và kia kìa công việc họ đang khởi làm ; bây giờ chẳng còn chi ngăn họ làm các điều đã quyết định được . Thôi ! chúng ta hãy xuống , làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó , cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia . Rồi , từ đó Đức Gia-vê làm cho con người tản ra khắp trên mặt đất , và họ thôi công viêc xây cất thành . Bởi cớ đó đặït tên thành là Ba-bên , vì nơi đó Đức Gia-vê làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian , và từ đây Ngài làm cho con người tản ra khắp trên mặt đất .”
SaSt 11:1-9
“Vả , những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các Sứ đồ , sự thông công của anh em , lễ bẻ bánh . và sự cầu nguyện . Mọi người đều kính sợ , vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các Sứ đồ . Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau , lấy mọi vật làm của chung , bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau , tùy sự cần dùng của từng người . Ngày nào cũng vậy , cứ chăm chỉ đến đền thờ ; còn ở nhà , thì bẻ bánh và dùng bữa chung vói nhau cách vui vẻ thật thà , ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng . Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh .”
Cong Cv 2:42-47

Hội Thánh Tháp BaBên
Kinh thánh Sáng thế ký chương 11 và Công vụ các Sứ đồ chương 2 đề cập đến hai loại Hội thánh: Hội thánh tháp Ba-bên và Hội thánh lễ Ngũ tuần.
Hội thánh tháp Ba-bên là gì?
Công Trình Của Con Người
Hội thánh này của con người, do con người dùng sức mình xây dựng nên. Hội thánh này có nhiều sáng kiến và tài sáng chế, đã tìm ra được cách làm gạch thế cho đá, làm chai thế cho hồ, không còn phải lệ thuộc vào đá thiên nhiên nữa. Rồi muốn tận dụng những phát minh của mình, Hội thánh này bắt đầu xây dựng công trình của mình. Ngày nay chúng ta có thể gọi Hội thánh này là một Hội thánh lớn, phát triển tốt, có tổ chức chặt chẽ, có đầy đủ nhân lực và tài lực.
Hội thánh tháp Ba-bên bàn với nhau: “Hè! Chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp...”
Chúng ta hãy xây..., Chúng ta dựng lên... ! Chúng ta đã trưởng thành, nên chúng ta có quyền nói, có quyền làm, có quyền tự lập. Hội thánh này nghĩ rằng không cần Đức Chúa Trời nữa. Quan trọng là ý muốn của mình. Nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng: khi chúng ta muốn, đó là lúc chúng ta bắt đầu thất bại, “sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau”!
Chúa truyền cho tiên tri Giô-na: “Hãy đi đến thành phố lớn Ni-ni-ve...”! Nhưng tiên tri Giô-na muốn theo ý riêng mình, đi Ta-rê-si, nên ông thất bại. Trước khi đến Ta-rê-xi, ông đã bị rơi vào bụng cá!
Sau khi Chúa phục sinh, ông Phi-e-rơ nói với các bạn mình: “Tôi muốn đi đánh cá!”. Các môn đệ khác cũng phụ hoạ theo: “Chúng tôi muốn đi với anh”! Kinh thánh kể rằng, họ đi ra, xuống thuyền, đánh cá suốt đêm nhưng chẳng được chi hết!
Tương tự, trong cuộc đời theo Chúa của mỗi cá nhân, cũng như của toàn thể Hội thánh, chúng ta thường xuyên kinh nghiệm rằng, nếu dựa vào sức riêng mình thì con người không thể làm được gì hết. Những gì mà chúng ta gọi là thành công mỹ mãn, là kết quả vượt bực, thực ra chỉ là cỏ khô, rơm rạ ... mà thôi.
Nỗ Lực Làm Rạng Danh Mình
Hội thánh tháp Ba-bên nói rằng: “Hè! Chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp!”. Tất cả các nền văn minh của nhân loại đều để lại dấu vết của mình qua các công trình kiến trúc. Sau khi bỏ cuộc sống du mục và bắt đầu định cư, con người bắt đầu xây dựng. Con người lúc bấy giờ muốn xây dựng một thành phố và một cái tháp. Một công trình kiến trúc vĩ đại như thế không thể do một vài người thực hiện được, vì thế con người đã tập họp lại với nhau.
Đoàn kết để xây dựng: một việc làm đáng khen. Những sáng chế kỹ thuật tối tân đều nhằm mục đích giúp con người tổ chức chặt chẽ hơn. Tất cả công sức phải được tập họp lại để phục vụ cho phúc lợi của con người. Thành phố có nhiệm vụ ngăn ngừa con người bị phân tán. Cái tháp sẽ tiêu biểu cho tình đoàn kết.
Phát minh không phải là tội lỗi. Kiến trúc, xây dựng là những công trình rất đáng tán thưởng. Nhưng trong câu chuyện, sau câu chính “Hè! Chúng ta hãy xây một thành phố và dựng lên một cái tháp...” còn có thêm một câu phụ: “...Ta hãy làm cho rạng danh!”. Qua câu phụ ngắn ngủi này ta có thể đoán được hậu ý của Hội thánh tháp Ba-bên. “Ta hãy làm cho rạng danh!” nghĩa là gì?
Từ “danh” trong nguyên ngữ Hi-bá-lai không chỉ có nghĩa là tên, họ như ta thường hiểu. Người Do-thái quan niệm “tên ra sao, người như vậy”! Trong Kinh thánh từ “danh” là một từ rất quan trọng.
Khi phán với con người, Chúa nhân danh Chúa mạc khải cho con người biết Chúa là ai: “Ta là Đấng Ta là. Ta là Đấng đã, đang và sẽ hiện hữu cho các con”. Chúa mạc khải danh Chúa cho con người như thế.
Khi tạo dựng con người, Chúa ban một danh xưng cho con người. Chúa đặt tên cho con người, dạy cho con người biết mình là ai: là A-đam, là “người” (SaSt 5:2). Và để khích lệ dân Y-sơ-ra-ên, Chúa phán: “Đừng sợ, vì Ta đã chuộc con. Ta đã lấy tên con gọi con; con thuộc về Ta!” (EsIs 43:1).
Như thế: Chúa mạc khải danh của Chúa cho con người, Chúa đặt tên cho con người, Chúa lấy tên người gọi con người... Tất cả những nhận xét này cho ta thấy con người là ai: chỉ là một loài thọ tạo, do Chúa tạo ra từ tro bụi mà thôi. Con người không thuộc về mình nhưng thuộc về Chúa. Chúa - chứ không phải con người - xác định con người là ai và con người phải như thế nào.
Nhưng bây giờ Hội thánh tháp Ba-bên “muốn làm rạng danh” mình, muốn tự mình tạo dựng mình. Như thế, “chúng ta hãy làm cho rạng danh !” là thái đọä từ khước Chúa, là nỗ lực tự xác định mình, không còn muốn làm loài thọ tạo và lệ thuộc vào Chúa nữa.
Trong lịch sử nhân loại, con người thường xuyên tìm cách thống nhất các khuynh hướng chính trị, các nền văn minh, tận dụng kỹ thuật để từ khước Đức Chúa Trời. Ngay cả trong cuộc sống theo Chúa của mỗi cá nhân và của Hội thánh, chúng ta cũng thường có khuynh hướng tự xây cho mình một tháp Ba-bên. Chúng ta đặt một viên đá tự chế của mình lên viên đá khác, một ý muốn riêng này lên một ước mơ riêng khác, để xây dựng cho chúng ta một cuộc đời, một Hội thánh không có Chúa! Hậu quả là gì?
Mặc Cảm Xa Lạ
Hậu quả là các thành viên trong Hội thánh tháp Ba-bên không còn hiểu nhau được nữa.
Câu chuyện tháp Ba-bên giải thích tại sao nhân loại có nhiều ngôn ngữ khác nhau. Nan đề của con người không phải là ngôn ngữ dị biệt nhưng là “không nghe được tiếng nói của người này với người kia”! Vấn đề ở đây không phải là vấn đề ngôn ngữ khác nhau, mà là mặc cảm xa lạ của con người! Con người tuy sống chung, làm việc chung, cùng có chung một mục tiêu, một ước mơ, nhưng vẫn xa lạ nhau.
Con người xa lạ nhau không phải vì mỗi người sử dụng một ngôn ngữ riêng, nhưng vì: người không hiểu tôi, và tôi cũng không hiểu người! Cùng nói một ngôn ngữ nhưng chúng ta vẫn thường xuyên không hiểu nhau. Cùng dùng một câu, một từ nhưng mỗi người thường ngụ một ý khác.
Vì thế trong gia đình cha mẹ không hiểu con cái, con cái không hiểu cha mẹ, vợ chồng, anh chị em không hiểu nhau! Chủ không hiểu thợ, thợ không hiểu chủ! Dân tộc này không hiểu dân tộc khác, thế hệ này không hiểu thế hệ khác!
Nhưng “không nghe được tiếng nói của người này với người kia ” cũng là vấn đề của Hội thánh. Hội thánh chia rẽ, anh chị em trong Chúa hiểu lầm nhau, người phục vụ Chúa không thể cộng tác với nhau... là tình trạng phổ biến trong Hội thánh! Ta sống mỗi ngày ở Ba-bên. Tháp Ba-bên ở tất cả mọi nơi, dưới nhiều hình dạng khác nhau. Khi từ khước Chúa, con người cũng từ khước nhau. Khi ta kiêu ngạo, muốn làm rạng danh mình, đó cũng là lúc ta đang xây dựng tháp Ba-bên. Chủ trương sống không có Chúa là một chủ trương rất thịnh hành trong tất cả mọi thời đại ở tất cả mọi nơi, kể cả ở trong Hội thánh.

Hội Thánh ngũ Tuần
Công Trình Của Chúa
Sau khi Hội thánh tháp Ba-bên thất bại, Chúa có một chương trình xây dựng Hội thánh lễ Ngũ tuần của Ngài. Sau biến cố tháp Ba-bên, Chúa liền phán với ông Áp-ram: “Ta sẽ ban phước cho con, cùng làm nổi danh con” (chương 12) và đặt cho ông một tên mới: “Thiên hạ chẳng còn gọi con là Áp-ram nữa, nhưng tên con sẽ là Áp-ra-ham , vì ta đặt con làm tổ phụ của nhiều dân tộc” (chương 17).
Tên “Áp-ra-ham” như vậy là một Lời Hứùa rất lớn dành cho toàn thể nhân loại. Chúa hứa sẽ đem toàn thể nhân loại trở về một mối. Mặc dầu con người từ bỏ Chúa, nhưng Chúa không từ bỏ con người. Trong khi con người đắm chìm trong mặc cảm xa lạ thì Chúa hứa “Áp-ra-ham” với con người. Chúa hứa qua ông Áp-ra- ham Chúa sẽ xây dựng một Hội thánh mới, một đại gia đình, trong đó mọi người thông cảm nhau. Và Lời Hứa này đã thành tựu, thành tựu trong lễ Ngũ tuần.
Năng Nổ Làm Rạng Danh Chúa
Khi được đầy dẫy Chúa Thánh Linh, các Sứ đồ hăng say giảng dạy. Họ giảng dạy gì? - Các Sứ đồ không giảng dạy về mình nhưng giảng dạy về danh Chúa .
Trong bài giảng của mình, ông Phi-e-rơ trích tiên tri Giô-ên khẳng định rằng: “Ai cầu khẩn danh Chúa thì sẽ được cứu” . Ông khuyên mọi người: “Anh em phải hối cải...., mọi người phải nhân danh Chúa Giê-xu chịu phép báp tem, để được tha tội mình...” (Cong Cv 2:3, 8).
Đặc điểm của Hội thánh lễ Ngũ tuần là năng nổ rao truyền danh Chúa. Trước đó họ sợ hãi trốn trong nhà riêng, bây giờ dạn dĩ công khai rao truyền danh Chúa trong đền thờ. Người thì rao truyền danh Chúa trước toà án, kẻ thì rao truyền danh Chúa trong nhà tù. Sứ đồ Phi-líp rao truyền danh Chúa cho hoạn quan Ê-thi-ô-bi trong sa mạc, chấp sự Ê-tiên vì rao truyền danh Chúa nên bị ném đá chết; trước khi thở hơi cuối cùng ông vẫn còn năng nổ rao truyền danh Chúa.
Sứ đồ Phi-e-rơ được Chúa dắt dẫn đến gặp ông Cọt-nây cũng để rao truyền danh Chúa. Các hành trình của Sứ đồ Phao-lô cũng là các hành trình để rao truyền danh Chúa. Ông khẳng định rằng: “Chúng tôi chẳng rao giảng chính mình chúng tôi, nhưng rao giảng Chúa Cứu thế Giê-xu, tức là Chúa.” (IICo 2Cr 4:5).
Phép Lạ Thông Cảm
Kết quả là phép lạ thông cảm xảy ra. Dân chúng nghe các Sứ đồ giảng dạy là những người đến từ các nước, các tỉnh khác nhau, nói nhiều ngôn ngữ khác nhau: họ đến từ tháp Ba-bên. Họ bơ vơ, lạc lõng trong thành phố thánh. Họ là người Do thái, hành hương trở về quê hương Do thái của mình, thế mà họ không thể hiểu nhau! Nhưng rồi thình lình họ nghe tiếng mẹ đẻ của họ và hiểu lời các Sứ đồ đang giảng dạy.
Kết quả là: anh chị em trong Hội thánh hiểu nhau, yêu thương, dùm bọc nhau. Họ “đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung, bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, ...ở nhà thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà.” (Cong Cv 2:44-46). Phép lạ thông cảm đã xảy ra trong Hội thánh.
Kết quả là: Chúa làm rạng danh người làm rạng danh Chúa. Vì tất cả những ai tiếp nhận Chúa đều được Chúa ban cho quyền năng “trở nên Con Cái Đức Chúa Trời” (GiGa 1:12).
“Con cái Đức Chúa Trời” là tên mà Chúa muốn đặt cho chúng ta, trong Chúa Giê-xu. Danh này rất quí. Chúng ta không cần xây tháp Ba-bên để viết danh này lên mây trời nữa, vì danh này đã được ghi trong “sách sự sống”. Nhờ có danh này, chúng ta trở thành một mối, sống trong một đại gia đình, có Chúa là Cha, và tất cả chúng ta là anh chị em trong gia đình của Chúa.
Trong gia đình này, Người Cha và tất cả con cái đều hoà thuận, vui vẻ và thông cảm nhau. Trong gia đình này người già người trẻ, người nam người nữ, các giai cấp, các dân tộc, các thế hệ hiểu nhau, vì “trong Chúa Cứu thế Giê-xu tất cả anh chị em đều là một” (GaGl 3:27;).
Sứ đồ Giăng thấy được sự ứng nghiệm này trong ngày cuối cùng: “Tôi nhìn xem , thấy vô số người không ai đếm được , từ mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra . Họ đứng trước ngôi và trước chiên con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là , cất tiếng lớn kêu rằng ; chúng đứng trước ngôi và trước chiên con ,# mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là , cất tiếng lớn kêu rằng : Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời ta, là Đấng ngự trên ngôi, và thuộc về chiên con” (KhKh 7:9-10).
*
* *
Hội thánh tháp Ba-bên và Hội thánh lễ Ngũ tuần là hai Hội thánh hoàn toàn khác nhau.
Hội thánh tháp Ba-bên là công trình của con người, do con người xây dựng dựa vào sức mình, còn Hội thánh lễ Ngũ tuần là công trình của Chúa, do Chúa thành lập, xây dựng và hướng dẫn.
Hội thánh tháp Ba-bên nỗ lực làm rạng danh mình, còn Hội thánh lễ Ngũ tuần năng nổ làm rạng danh Chúa.
Hội thánh tháp Ba-bên từ chỗ đoàn kết đi đến chỗ chia rẽ nhau, còn Hội thánh lễ Ngũ tuần gồm nhiều thành phần dị biệt, mỗi người có một cá tính khác, một khả năng riêng, nhưng anh chị em biết yêu thương nhau, thông cảm và đùm bọc nhau.
Hội thánh chúng ta là loại Hội thánh nào? Là Hội thánh tháp Ba-bên hay Hội thánh lễ Ngũ tuần?
Tất nhiên Hội thánh chúng ta không phải là Hội thánh tháp Ba-bên, nhưng nếu xét kỹ, cũng chẳng phải là Hội thánh lễ Ngũ tuần! Phải chi chúng ta là Hội thánh tháp Ba-bên, thì chắc chúng ta đã thấy rõ thực chất khốn khổ của mình và đã ăn năn thống hối với Chúa từ lâu rồi. Nhưng nếu chúng ta là Hội thánh lễ Ngũ tuần thì tại sao chúng ta còn dựa vào sức riêng của mình trong các hoạt động xây dựng Hội thánh, tại sao chúng ta chưa năng nổ làm rạng danh Chúa, và tại sao chúng ta chia rẽ như thế.
Có lẽ chúng ta vừa là Hội thánh lễ Ngũ tuần vừa là Hội thánh tháp Ba-bên. Chúng ta không lạnh cũng không nóng; ước gì chúng ta “hoặc lạnh hoặc nóng” thì hơn!
Chúng ta vừa nhờ sức Chúa, nhưng cũng dựa vào sức mình, cũng cầu nguyện cầu hỏi ý Chúa, nhưng thường xuyên dựa vào sự khôn ngoan của mình để quyết định, nhất là khi nếu lấy ý muốn Chúa làm chuẩn thì chắc chắn chúng ta đã có những quyết định hoàn toàn khác hẳn.
Chúng ta muốn làm rạng danh Chúa, nỗ lực chia sẻ Phúc âm cho thân hữu, tích cực tham dự vào các hoạt động trong Hội thánh để rao truyền danh Chúa cho thân hữu, nhưng đồng thời cũng muốn làm rạng danh mình, nên thường xuyên làm tối danh Chúa qua nếp sống cá nhân mình, nhất là qua cách đối xử với nhau.
Chúng ta cầu nguyện xin được đầy dẫy Chúa Thánh Linh, nhưng trong Hội thánh vẫn còn nhiều tinh thần xác thịt của con người. Chúng ta là - và vẫn thường quả quyết chúng ta là anh chị em trong Chúa, nhưng không thể hợp tác với nhau, ngoài miệng tuyên bố yêu thương, nhưng trong lòng ôm ấp một bầu cay đắng!
Lời Chúa cảnh cáo Hội thánh Lao-đi-xê ngày xưa cũng cảnh cáo chúng ta ngày nay: “Vì ngươi hâm hẩm không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta” (KhKh 3:16)!

Con Đường Đức Tin
Khi mọi việc kia đã xong, Đức Chúa Trời thử Áp-ra-ham; Ngài phán rằng: Hỡi Áp-ra-ham! Người thưa rằng: Có con đây. Đức Chúa Trời phán rằng: Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu, là Y-sác, và đi đến xứ Mô-ri-a, nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi kia mà ta sẽ chỉ cho.
Áp-ra-ham thức dậy sớm, thắng lừa, đem hai đầy tớ và con mình, là Y-sác, cùng đi; người cũng chặt củi để dùng về của lễ thiêu, rồi đi đến nơi mà Đức Chúa Trời đã truyền dạy.
Qua đến ngày thứ ba, Áp-ra-ham nhướng mắt lên thấy nơi đó ở lối đằng xa, thì nói cùng hai người đầy tớ rằng: Hãy ở lại đây với con lừa; ta cùng đứa trẻ sẽ đi đến chỗ kia để thờ phượng, rồi sẽ trở lại với hai ngươi. Áp-ra-ham lấy củi về của lễ thiêu, chất lên Y-sác, con mình; rồi người cầm lửa và dao trong tay, và cả hai cha con đồng đi.
Y-sác nói cùng Áp-ra-ham, cha mình, rằng: Hỡi Cha! Người đáp: Con ơi! Cha đây. Y-sác nói: Củi đây, lửa đây, nhưng chiên con đâu có để làm của lễ thiêu? Áp-ra-ham đáp rằng: Con ơi! Chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con để dùng làm của lễ thiêu; rồi cả hai cho con cứ đồng đi.
Họ đến chỗ Đức Chúa Trời đã phán dạy; tại đó, Áp-ra-ham lập bàn thờ, chất củi lên, trói Y-sác con mình lại, để lên đống củi trên bàn thờ. Áp-ra-ham giơ tay ra cầm lấy dao để giết con mình. Thiên sứ của Đức Gia-vê từ trên trời kêu xuống mà rằng: Hỡi Áp-ra-ham, Áp-ra-ham! Người thưa rằng: Có con đây! Thiên sứ phán rằng: Đừng tra tay vào mình con trẻ và chớ làm chi hại đến nó; vì bây giờ ta biết rằng ngươi thật kính sợ Đức Chúa Trời, bởi cớ không tiếc với ta con ngươi, tức con một ngươi. Áp-ra-ham nhướng mắt lên, xem thấy sau lưng một con chiên đực, sừng mắc trong bụi cây, liền bắt con chiên đực đó dâng làm của lễ thiêu thay cho con mình. Áp-ra-ham gọi chỗ đó là Gia-vê Di-rê. Bởi cớ ấy, ngày nay có tục ngữ rằng: Trên núi của Đức Gia-vê sẽ có sắm sẵn.” (SaSt 22:1-14)
Một nhà tâm lý học nổi tiếng, ông Stanley Milgram, cho rằng ông Áp-ra-ham là một người tàn bạo, hạng cấp dưới chỉ biết thừa lịnh cấp trên, không dám phản đối chống lại những mệnh lệnh vô đạo đức.
Một triết gia người Ba-lan, Lesek Kolakowski, cũng phê bình ông Áp-ra-ham tương tự như vậy. Kolakows-ki cho rằng, dĩ nhiên ông Áp-ra-ham cũng yêu thương gia đình, vợ con, nhưng có bản tính của một anh binh nhì chỉ biết tuân lịnh một cách mù quáng mà không biết suy nghĩ.
Câu chuyện ông Áp-ra-ham dâng con không nhắc đến vai trò của bà Sa-ra! Nhiều người quả quyết rằng, câu chuyện này sẽ hoàn toàn khác hẳn nếu Chúa truyền lịnh cho bà Sa-ra thay vì cho ông Áp-ra-ham. Theo quan điểm của những người này: khuynh hướng truyền lịnh và tuân lịnh tuyệt đối là đặc tính của nam giới. Sở dĩ ông Áp-ra-ham sẵn sàng dâng con mình vì thật ra ông cũng chỉ là nạn nhân của tính điên cuồng của loại người đàn ông thuần tuý mà thôi.
Theo Immanuel Kannt, đáng lẽ ông Áp-ra-ham phải biết rằng lịnh truyền dâng con không phải là lịnh truyền của Đức Chúa Trời Gia-vê. Khi nghe một lịnh truyền như thế, đáng lẽ ông phải trả lời rằng: “Tôi chắc chắn rằng tôi không cần giết đứa con thân yêu của tôi đâu. Nhưng tôi không chắc rằng ngài là Đức Chúa Trời Gia-vê. Ngài không thể là Đức Chúa Trời Gia-vê được, mặc dù lịnh truyền này từ trên trời xuống.”. Theo Kannt, lịnh truyền giết con không thể là lịnh truyền của Chúa, và đáng lẽ ông Áp-ra-ham phải biết điều đó.
Ngoài ra còn có nhiều chủ trương tương tự phê bình hành động dâng con của ông Áp-ra-ham. Tất cả những chủ trương này đều lấy lý trí và luân lý làm căn bản để thẩm định giá trị của một hành động đức tin. Dựa trên luân lý và luận lý, con người phê bình Chúa là Đấng đòi hỏi con người vâng lời tuyệt đối và phê bình ông Áp-ra-ham là người đã vâng lời tuyệt đối.
Người vô tín chỉ có thể phân tích một hành động dâng con của ông Áp-ra-ham mà không thấy được toàn bộ Con đường Đức tin của ông. Thực ra Sáng-thế-ký chương 22 không chỉ kể lại một hành động đức tin mà thôi, nhưng tường thuật lại toàn bộ hành trình theo Chúa của ông Áp-ra-ham, một hành trình tiêu biểu cho hành trình của tất cả mọi người tín hữu. Trên Con đường Đức tin này, khách bộ hành không lý luận những lý luận của con người, vì lý luận của con người “chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, nhưng nghĩ đến việc của con người” (Mat Mt 16:23)!
Con Đường Đức Tin Là Gì?
Vâng Lời
“Đức Chúa Trời phán rằng : Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu , là Y-sác , và đi đến xứ Mô-ri-a ,nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi kia mà ta sẽ chỉ cho.”.
Lời Chúa khó hiểu! Cha muốn giết con là việc khó hiểu, cha có bổn phận giết con lại càng khó hiểu hơn, nhưng ở đây khó hiểu nhất là chính Chúa, Đấng Yêu Thương, lại truyền lịnh giết con! Nhưng đức tin là vâng lời tuyệt đối, mặc dầu lời Chúa khó hiểu!
Ý muốn của Chúa nhiều lúc dường như mâu thuẫn! Ông Y-sác là con thừa tự. Chúa đã hứa với ông Áp-ra-ham rằng: “Con sẽ trở thành cha của nhiều dân tộc.” Như vậy ông Y-sác chẳng những là con thừa tự nhưng cũng là con của Lời Hứa. Qua người con này, Lời Hứa của Chúa mới được ứng nghiệm thực sự. Vậy mà bây giờ Chúa truyền ông Áp-ra-ham phải dâng con. Nhưng tin thì phải vâng lời tuyệt đối mặc dù ý của Chúa dường như mâu thuẫn.
Trong Kinh thánh Cựu ước không có từ “tôn giáo”. Thay vì dùng từ “tôn giáo” Cựu ước dùng từ “sự kính sợ Chúa”. “Kính sợ Chúa” phải cụ thể, phải biểu lộ qua hành động vâng lời. Khi nghe Chúa truyền lịnh dâng con, ông Áp-ra-ham không lý luận nhưng vâng lời. Ông “thức dậy sớm , thắng lừa , đem hai đầy tớ và con mình là Y-sác... đi đến nơi mà Đức Chúa Trời truyền dạy”.
Muốn vâng lời, cần phải học. Muốn vâng lời tuyệt đối, cần phải học với Chúa kỹ càng. Ông Áp-ra-ham đã học bài học vâng lời với Chúa nhiều lần, và ông cũng đã bất tuân nhiều lần! Khi Chúa kêu gọi ông Áp-ra-ham rời bỏ quê hương, ông vâng lời ra đi, dù “người đi mà không biết mình đi đâu !”. Nhưng khi đến Ca-na-an, gặp nạn đói lớn, ông Áp-ra-ham vội lánh nạn qua Ai-cập. Tại đó, nếu không có Chúa quan phòng thì gia đình ông đã tan rã!
Chúa hứa sẽ ban ông Y-sác cho ông Áp-ra-ham. Ông Áp-ra-ham tin, nhưng ông cũng đã vội vã sinh ông Ích-ma-ên. Sau này dòng dõi của ông Ích-ma-ên trở thành kẻ thù của dân Do-thái.
Nhiều lần ông Áp-ra-ham học tập được rằng: muốn theo Chúa cần vâng lời Chúa. Cứ mỗi lần ông vâng lời Chúa thì Chúa đều ban phước cho ông, và cứ mỗi lần ông không vâng lời Chúa thì Chúa lại yêu thương dạy dỗ ông. Đức tin phải có hành động vâng lời cụ thể. Không vâng lời, Con đường Đức tin buồn bã lắm!
Im Lặng
Trên đường đến núi Mô-ri-a, ông Áp ra-ham im lặng. Ông Áp-ra-ham, ông Y-sác và hai người đầy tớ cùng đi trên một con đường, nhưng mỗi người có một tâm sự khác nhau. Chỉ thỉnh thoảng họ mới trao đổi với nhau một đôi lời, một vài câu hỏi ngắn, một vài câu trả lời ngắn, thế thôi. Chúa đã đặt lên vai của ông Áp-ra-ham một gánh rất nặng. Ông Y-sác cũng có gánh nặng, phải vác củi, nhưng tình nguyện. Còn ông Áp-ra-ham phải gánh Lời Chúa, và ông phải tự gánh gánh nặng này một mình, không thể chia cho con hoặc cho hai người đầy tớ được.
Trên Con đường Đức tin nhiều khi ta phải im lặng. Con đường Đức tin không chỉ vang lên những tiếng hát tôn vinh, cũng không phải chỉ có tiếng cười vui vẻ. Lòng khách bộ hành không luôn luôn khoan khoái tận hưởng quang cảnh chung quanh. Có những giây phút ta phải im lặng, im lặng không phải vì tuyệt vọng, nhưng vì gánh nặng Lời Chúa. Ta muốn nghe tiếng Chúa, im lặng chờ đợi ý muốn của Ngài. Nhiều lúc ta phải khóc. Những giây phút đó là những giây phút cần thiết để đức tin trưởng thành. Những lúc đó ta sẽ không tiến xa, nhưng tiến sâu trong đức tin. Nhiều anh chị em khác trong Chúa đang cùng đồng hành trên đường với ta, nhưng đối với ta con đường bỗng trở nên vắng lặng, ta đi một mình trong đêm tối với tâm tình của ta với Chúa - một mình với Chúa mà thôi. Lúc đó ta không ao ước gì hơn là ao ước Chúa, chỉ muốn nghe tiếng Chúa, chỉ muốn thấy mặt Chúa. Những lúc đó là những giây phút quí báu nhất trên Con đường Đức tin.
Lạy Chúa, “xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài trong đêm tối..., xin cho con biết lắng nghe Lời Ngài dạy con lúc khổ đau...”!
Chiến Đấu
Ông Áp-ra-ham im lặng, nhưng ta có thể nghe được tiếng tranh chiến trong lòng của ông. Con đường Đức tin là một bãi chiến trường khốc liệt. Trên bãi chiến trường đó, ta phải chiến đấu trong nhiều cuộc chiến cam go khác nhau, hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác. Nhưng cuộc chiến cam go nhất là khi ta chiến đấu với chính ta . Chỉ khi nào ta thắng ta , lúc đó ta mới theo Chúa thực sự. Cứ mỗi bước đi là một cuộc chiến đấu, và cứ mỗi lần bước được một bước là một chiến thắng.
Trong xã hội, nếp sống hằng ngày đòi hỏi ta xác định: đức tin của ta nằm ở đâu? Trong Hội thánh, tất cả các công tác đều đòi hỏi ta quyết định, hoặc làm vui lòng người hoặc làm vui lòng Chúa. Ta phải chiến đấu cam go mới có thể vâng lời Chúa trọn vẹn.
Tất cả mọi quyết định: chọn nghề nghiệp, chọn chỗ làm, chọn bạn bè, lập gia đình, mỗi lời nói, việc làm, mỗi hành vi, cử chỉ, mỗi tư tưởng suy nghĩ trong lòng đều phải là những chiến lợi phẩm mang về cho Chúa. Nhưng nhiều khi ta không mang về được một chiến lợi phẩm nào cả, mà chỉ mang về những hậu quả tai hại của một cuộc chiến bại mà thôi!
Vì thế cho nên ông Áp-ra-ham im lặng. Ông phải quyết định giữa hai bên: một bên là tình thương dành cho cậu con trai độc nhất, một bên là đức tin dành cho Đức Chúa Trời độc nhất. Cũng có lẽ ông Áp-ra-ham im lặng để hỏi ý kiến ta. Nếu ở trong trường hợp của ông, ta sẽ quyết định như thế nào?
Hiến Dâng
Nhưng cái im lặng của ông Áp-ra-ham cũng là tiếng trả lời với Chúa: “Có con đây!”. Khi nghe Chúa gọi, ông thưa với Chúa: “Có con đây!” Nhưng suốt con đường đi đến núi Mô-ri-a là con đường “Có con đây!”. Khi thức dậy sớm, ông Áp-ra-ham thức dậy sớm với tinh thần “Có con đây!”, “thắng lừa” với tinh thần “Có con đây!”, “chất củi”, “đem hai đầy tớ và con mình... cùng đi” với tinh thần “Có con đây!”. Mỗi bước đi của ông Áp-ra-ham là một bước đi của một ông lão loạng choạng nhưng vang rền lên tiếng “Có con đây!”. Tin không có nghĩa là một lần trước đây một thời gian, năm năm, mười năm hoặc hai mươi năm..., thưa với Chúa “Có con đây!”, nhưng ta phải thưa “Có con đây!” với Chúa mỗi ngày.
Đến núi Mô-ri-a mới làm lễ hiến dâng con, nhưng lúc khởi hành chính ông Áp-ra-ham đã phải chết, và suốt con đường là “con đường hiến dâng”. Tin không phải chỉ là một lần hiến dâng đời ta cho Chúa, nhưng ta phải hiến dâng, phải chết mỗi ngày. Đức tin đích thực là tâm tình hiến dâng mỗi ngày.
Ông Áp-ra-ham đi ba ngày đường, ba ngày trọn vẹn “Có con đây!”, một tâm tình dâng hiến hoàn toàn . Chúa không đòi hỏi ta phải hiên ngang trên đại lộ, chỉ nhắn nhủ ta vâng lời bước đi từng bước trên con đường hẹp. Chúa không đòi hỏi ta hoàn tất đại sự, chỉ dạy bảo ta trung tín trong những việc nhỏ. Thường thường Chúa không kêu gọi ta chết tuận đạo, nhưng sống tuận đạo. Tuận đạo có nghĩa là “làm chứng” (trong nguyên ngữ Hi-lạp). Sống làm chứng, chết làm chứng. Làm chứng mỗi ngày, tuận đạo mỗi ngày. Như thế, sống cho Chúa khó hơn là chết cho Chúa. Con đường Đức tin của ta trên trần thế là một thách thức rất to lớn vì đức tin không chỉ là một lần quyết định trong quá khứ, nhưng đòi hỏi những hành động vâng lời có ý thức nối tiếp và liên tục trong hiện tại và tương lai.
Tin như thế đồng nghĩa với trung tín. Kinh thánh để lại nhiều gương thất bại của các bậc anh hùng đã từng tin, nhưng không trung tín.
Ông Sam-sôn được Chúa lựa chọn từ trong lòng mẹ, được đại dụng giải cứu dân Do-thái nhiều lần khỏi ách thống trị của người Phi-li-tin. Nhưng ông không luôn luôn vâng lời Chúa. Câu cuối cùng trong câu chuyện về ông Sam-sôn là: “Anh em người và cả nhà cha người đi xuống, đem thây người về!”. Đó là hậu quả của một người tin Chúa mà không trung tín, được Chúa chọn lựa, kêu gọi và sử dụng nhưng không hoàn toàn vâng lời Ngài. Người đó chết tức tưởi chung với những người không tin, rồi “anh em người và cả nhà cha người” trong Hội thánh phải đau đớn đem thây người về!
Vua Sau-lơ được Chúa lựa chọn làm vị vua đầu tiên của dân tộc Do-thái. Chúa đã dùng vua chiến thắng người Phi-li-tin nhiều lần. Nhưng vua Sau-lơ cũng không hoàn toàn vâng lời Chúa, đến nỗi thầy Tế lễ Sa-mu-ên phải nhắc nhở vua rằng: “ Sự vâng lời tốt hơn của lễ , sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực .” (ISa1Sm 15:22). Cuối cùng, vua bị chết, ba con trai của vua cũng bị chết, dân tộc của vua thất trận. Kinh thánh kể: “Khi dân Gia-bê ở Ga-la-át hay điều dân Phi-li-tin đã làm cho Sau-lơ , thì những người dõng sĩ trong bọn đứng dậy , đi trọn đêm , gỡ lấy xác của Sau-lơ và của con trai người khỏi tường thành Bết-san ; rồi họ trở về Gia-bê , thiêu đốt thây tại đó , lấy cốt của họ mà chôn dưới cây liễu xủ tơ ...”. Một người thất bại, cả gia đình thất bại, toàn thể Hội thánh thất bại. Đó là hậu quả của một Đức tin không trung tín vâng lời Chúa.
Đàm Thoại Với Chúa
Chúa phán: “Vậy nên dân ta sẽ biết danh ta ; thật , trong ngày đó , nó sẽ biết rằng chính ta là Đấng phán rằng : Này ta đây !” (EsIs 52:6). Trên Con đường Đức tin, Chúa thường xuyên phán với ta rằng: “Này ta đây!”. Trong nguyên ngữ Hi-bá-lai hai chữ: “Có con đây!” và “Này, ta đây!” thực ra chỉ là một chữ “Hi-nê-ni!” mà thôi.
“Này ta đây!” là Lời Hứa của Chúa ban cho chúng ta. Chúa hứa sẽ luôn luôn đi cùng chúng ta trên mọi nẻo đường đời. Chúng ta thưa với Chúa: “Có con đây! Hi-nê-ni!”, và Chúa thì thầm bên tai chúng ta: “Này, ta đây! Hi-nê-ni!”.
Theo Chúa không thể dựa vào sức mình, nhưng “nhờ Đấng ban thêm sức” cho chúng ta. Chúng ta không chiến đấu một mình nhưng Chúa chiến đấu với chúng ta. Kinh nghiệm đi trên Con đường Đức tin là kinh nghiệm đồng hành với Chúa và nghe tiếng Chúa phán với mình trên suốt chặng đường rằng: “Này ta đây! Này ta đây!” Vì thế chúng ta đi một mình mà không cô đơn, Con đường Đức tin tuy im lặng mà vang tiếng đàm thoại giữa Chúa và ta: “Này ta đây!” - “Có con đây!” - “Này ta đây!”.
Đây là điểm khích lệ chúng ta trên bước đường theo Chúa. Chúa thành tín, không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chúa chia sẻ cuộc sống trần thế với chúng ta, thông cảm chúng ta, buồn tủi những buồn tủi của chúng ta, khóc rơi những giọt nước mắt của chúng ta. Lúc có những gánh nặng nặng trĩu trên vai, ta nên nhớ lời Đa-vít làm chứng rằng: “Đáng ngợi khen Chúa thay , là Đấng hằng ngày gánh gánh nặng của chúng ta !” (Thi Tv 68:1-35). Khi chúng ta bị cám dỗ, muốn bỏ cuộc, hãy nhớ lời Phao lô làm chứng lại rằng: “Đức Chúa Trời là thành tín , Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu , nhưng trong sự cám dỗ , Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi , để anh em có thể chịu được .” (ICo1Cr 10:1-33).
Lạy Chúa! Thế mà con cứ tưởng con đi một mình!
Đầu Phục
Ông Áp-ra-ham sẽ giết con để dâng làm của lễ, nhưng lại nói với hai người đầy tớ rằng: “... Ta cùng đứa trẻ sẽ đi đến chốn kia để thờ phượng , rồi chúng ta sẽ trở lại với hai người .” Ông Áp-ra-ham muốn nói với hai người đầy tớ rằng, ông sẽ trở về với con mình. Có người cho rằng, ở đây ông Áp-ra-ham không nói sự thật.
Ông Y-sác hỏi cha: “Củi đây , lửa đây , nhưng chiên con đâu để làm của lễ thiêu ?”. Ông Áp-ra-ham trả lời rằng: “Con ơi , chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con để dùng làm của lễ thiêu .”. Có người cho rằng, ông Áp-ra-ham không nói sự thật để con mình không sợ hãi vô ích.
Nhưng thực ra, hai câu trả lời này nói lên lòng tin cậy trọn vẹn của ông Áp-ra-ham. Khi trả lời cho hai người đầy tớ và cho con mình, ông đồng thời cũng muốn xưng nhận đức tin của mình với Chúa nữa. Dù Chúa đặt ông vào một hoàn cảnh rất bi đát, ông vẫn đặt đức tin của mình nơi Chúa. Ông tin chắc ông sẽ trở về với người con của mình.
Nếu nhận xét theo mắt trần, con đường đi đến núi Mô-ri-a thực ra là con đường đi vào vực thẳm. Đứa con này là tương lai, nhưng bây giờ tương lai phải chết! Lời Hứa của Chúa hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế. Tại sao? Phải chăng Đức Chúa Trời bất lực? Nếu Đức Chúa Trời có quyền năng tại sao ta gặp nan đề, gia đình tang tóc, tại sao Hội thánh bị chia rẽ bên trong, bị tấn công bên ngoài, tại sao dân tộc ta đau khổ triền miên...? Thực tế hoàn toàn trái ngược với Lời Hứa của Chúa! Nhưng “đức tin là con chim hót trên cành, mặc dầu trời vẫn còn tối đen” (Châm ngôn Ấn độ).
Khi ông “Áp-ra-ham giơ tay ra cầm lấy dao để giết con mình ”, Chúa phán với ông rằng: “Hỡi Áp-ra-ham ! Áp-ra-ham ! Đừng tra tay vào mình con trẻ !”. Thì ra: lúc Lời Hứa của Chúa dường như là ảo tưởng, chính lúc đó Lời Hứa của Chúa cụ thể rõ ràng nhất. Lúc Đức Chúa Trời dường như chết, chính lúc đó Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống. Ta tưởng Đức Chúa Trời bỏ rơi ta, kỳ thực Ngài đang rất gần gũi ta. Thực tế mà ta tưởng mâu thuẫn với Lời Hứa của Chúa thực ra biểu lộ tình thương vô bờ bến của Ngài dành cho ta đó thôi. Nếu biết đầu phục Chúa, hoàn cảnh hiện tại đen tối và tương lai mờ mịt của ta sẽ trở thành lời chứng sống, hùng hồn về sự ứng nghiệm của Lời Hứa của Chúa.
Kinh Nghiệm Gia-vê Di-rê
Chỗ đó ông Áp-ra-ham đặt tên là Gia-vê Di-rê. Di rê nghĩa là “sắm sẵn”, hoặc “thấy”. Chúa sắm sẵn, Chúa thấy. Chúa thấy, Chúa không nhìn thụ động, nhưng Chúa thấy rõ, thấy suốt, thấy tích cực. Con mắt xác thịt của con người không thể nào thấy suốt. Ta không thể hiểu tại sao ông Y-sác phải chết! Với nhãn quan của con người, ta không thể thấy được ý nghĩa của hoàn cảnh hiện tại. Ta không thấy, nhưng Gia-vê Di-rê thấy và sắm sẵn.
Ngày xưa trong sa-mạc, mỗi sáng Chúa sắm sẵn Ma-na cho dân Do thái, mỗi chiều Chúa sắm sẵn chim cút cho họ. Không có nước, Chúa sắm sẵn đá phun nước cho họ uống; ban ngày trời nắng, Chúa sắm sẵn trụ mây; ban đêm trời lạnh, Chúa sắm sẵn trụ lửa. Chúa sắm sẵn tất cả. Gia-vê Di-rê.
Ông Áp-ra-ham đầu phục Chúa, nên Chúa sắm sẵn cho ông; ông thấy một con chiên: Chúa mạc khải Chúa cho người tin Chúa. Trên Con đường Đức tin, Chúa thấy chúng ta và cũng cho ta thấy Ngài. Phân tích câu chuyện ông Áp-ra-ham dâng con, nhiều khi ta vội vã cho rằng cao điểm của câu chuyện là lúc ông “giơ tay ra cầm lấy dao để giết con mình ”. Thực ra đó không phải là cao điểm của câu chuyện. Cao điểm của câu chuyện là lúc ông Áp-ra-ham “nhướng mặt lên và thấy một con chiên ”. Cao điểm của Con đường Đức tin là lúc ta thấy chính Chúa. Đó là mục tiêu của Con đường Đức tin của chúng ta: được Chúa mạc khải, được thấy Chúa. Càng đi theo Chúa, càng thấy Chúa rõ hơn, càng hiến dâng càng thấy rõ Chúa đã hiến dâng trên cây thập tự, và rồi cuối cùng ta sẽ gặp mặt Chúa mặt đối mặt.
Ta có thể đặt tên cho câu chuyện này là câu chuyện “Ông Áp-ra-ham thấy một con chiên ”. Con chiên đó giải quyết tất cả mọi khúc mắc của câu chuyện. Nhờ con chiên đó ta mới hiểu được tại sao Chúa truyền lịnh cho ông Áp-ra-ham dâng con. Nhờ con chiên đó hành động vâng lời của ông Áp-ra-ham mới không phải là hành động mù quáng của một anh binh nhì chỉ biết tuân lịnh cấp trên. Nhờ con chiên đó mà Con đường Đức tin của ông Áp-ra-ham, và của ta, mới có ý nghĩa. Nhờ con chiên đó mới có giáng sinh, thương khó và phục sinh.
* * *
Ngày hôm đó, trên núi Mô-ri-a, tuy ông Y-sác không bị chết, nhưng đối với Chúa, ông Áp-ra-ham đã thực sự dâng con. Trên đường trở về, ông Áp-ra-ham không trở về với một người con trai khác, nhưng với một ông Y-sác khác - là quà tặng của Chúa, một tương lai của Chúa ban cho.
Nếu ta không dám dâng hiến cuộc đời ta cho Chúa, cuộc đời ta sẽ mãi mãi là một cuộc đời vô nghĩa như tất cả những cuộc đời khác. Nhưng nếu ta biết dâng cuộc đời ta cho Chúa thì cuộc đời ta sẽ khác hẳn. Chúa sẽ không ban cho ta một cuộc đời khác, nhưng cuộc đời ta được biến đổi, sẽ khác hẳn, sẽ là một phước hạnh và là nguồn phước cho nhiều người.
Năm 1944, trại tập trung người Do thái ở Warschau/Ba lan bị đốt cháy. Tất cả nhà cửa đều bị thiêu huỷ. Hàng trăm hàng ngàn người Do thái bị giết. Một người Do thái trong trại, trước khi chết, đã kể lại câu chuyện sau đây: “Có một người Do thái và vợ con bị người Tây ban nha kỳ thị nên phải chạy trốn. Vợ chồng con cái vượt biển cả trên một chiếc ghe nho nhỏ. Ghe trôi đến một hòn đảo đá nhỏ giữa biển khơi. Bỗng có một cơn mưa lớn kéo đến, người vợ bị sét đánh chết. Rồi có một cơn bão đánh vào đảo, sóng cuốn người con ra khơi. Người chồng còn lại, một mình, trần truồng, lạnh run bần bật, bị bão đánh dồi dập, sợ hãi vì tiếng sấm sét.
Vừa đau đớn, vừa kinh hãi, vừa kiệt sức, người chồng cố gắng lết vào bờ, vừa đi vừa giơ tay lên trời thưa với Chúa rằng: Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! Con chạy trốn đến đây để có thể tự do thờ phượng Chúa, để làm trọn điều răn của Chúa, để danh Chúa được nên thánh. Chúa đã làm tất cả, Chúa đã đánh con, đã cất khỏi con những điều quí giá nhất của đời con. Chúa có thể đánh con chết, nhưng con sẽ tin cậy Chúa, sẽ yêu thương Chúa không thôi. Bây giờ, trước khi chết, con xin thưa với Chúa những lời cuối cùng của đời con: Chúa ôi, dầu thế nào đi nữa con vẫn tin Chúa. Con sẽ chết, nhưng con sẽ chết như lúc con còn sống: con chết trong đức tin hoàn toàn nơi Chúa.”
Lạy Chúa, có con đây!
- Này ta đây!

Cộng Đồng Dân Chúa Xây Dựng Tường Thành Giê-Ru-Sa-Lem
“Ê-li-a-síp , thầy tế lễ thượng phẩm , chổi dậy với các anh em mình , là những thầy tế lễ , và xây cất cái cổng Chiên . Họ biệt nó riêng ra thánh và đặt hai cánh cổng ; họ biệt nó riêng ra thánh cho đến tháp Mê-a và cho đến tháp Ha-na-nê-ên . Kế Ê-li-a-síp , người thành Giê-ri-cô , xây cất ; kế họ , Xa-cu , con trai của Im-ri , xây cất .
Con cháu của Sê-na xây cất cổng Cá . Họ đặt khuôn và tra cánh , chốt với then nó . Kế họ , Mê-rê-mốt , con trai của U-ri , cháu của Ha-cốt , lo sửa xây . Kế họ , Mê-su-lam , con trai Bê-rê-kia , cháu Mê-sê-xa-Lê-ôn , làm tu bổ . Kế họ , Xa-đốc , con trai của Ba-a-na , tu bổ . Kế họ , những người Tê-cô-a tu bổ ; song các người tước vị họ chẳng ghé vai vào công việc của Chúa mình .
Giô-gia-đa , con trai của Pha-sê-a và Mê-su-lam , con trai của Bê-sô-đia , sửa-xây cái cổng cũ lại ; họ lợp nó , tra cánh , chốt , và then . Kế họ , Mê-la-tia , là người Ga-ba-ôn , và Gia-đôn , là người Mê-rô-nốt , cùng những người Ga-ba-ôn và người Mích-ba , thuộc về địa hạt của quan tổng trấn bên kia sông , đều tu bổ . Kế họ , U-xi-ên , con trai Hạt-ha-gia , một người trong các thợ vàng , tu bổ ; kế người , Ha-na-nia , là người trong các thợ hoà hương , tu bổ ; họ sửa-xây Giê-ru-sa-lem cho vững bền đến vách rộng . Kế họ , Rê-pha-gia , con trai Hu-rơ , làm quản lý phân nửa quận Giê-ru-sa-lem , tu bổ . Kế họ , Giê-đa-gia , con trai Ha-ru-máp , tu bổ nơi đối ngang với nhà người . Kế người , Hát-túc , con trai của Ha-sáp-nia , tu-bổ . Manh-kia-gia , con trai của Ha-rim và Ha-súp , con trai của Pha-hát-Mô-áp , tu bổ một phần khác và cái tháp lò . Kế họ , Sa-lum , con trai của Ha-lô-he , làm quản lý phân nửa quận Giê-ru-sa-lem , và các con gái của người , đều tu bổ .
Ha-nun và dân cư Xa-nô-a sửa cái cổng Trũng ; họ xây cất nó , tra cánh cổng , chốt và then ; cũng xây một ngàn thước vách ngăn , cho đến cổng Phân .
Manh-ki-gia , con trai Rê-cáp , quản lý quận Bết-Hác-kê-rem , sửa cái cổng Phân ; người xây cất nó , tra cánh cổng , chốt , và then .
Sa-lun , con trai của Côn-hô-xe , quản lý quận Mích-ba , sửa cái cổng Giếng ; người xây nó , lợp nó , tra cánh cổng , chốt , và then ; cũng xây vách ngăn của ao Si-lô-ê gần bên vườn vua , và cho đến cái thang từ thành Đa-vít trở xuống .
Kế người , Nê-hê-mi , con trai của A-búc , quản lý phân nửa quận Bết-Xu-rơ , sửa xây vách cho đến ngang các lăng tẩm Đa-vít , cho đến ao đã đào , và cho đến nhà của các dũng sĩ . Kế người , Rê-hum , con trai Ba-ni , người Lê-vi , tu bổ . Kế người , Ha-sa-bia , quản lý phân nữa quận Kê-i-la , tu bổ về phần quận mình . Kế người , có anh em của họ , là Ba-vai , con trai của Hê-na-đát , quản lý phân nửa quận Kê-i-la , tu bổ . Kế người , Ê-xe , con trai của Giô-suê , quản lý Mích-ba , tu bổ một phần khác , đối ngang dốc đi lên kho binh khí ở về góc thành . Sau người có Ba-rúc , con trai của Xáp-bai lấy lòng sốt sắng tu bổ một phần khác , từ góc thành cho đến cửa vào nhà Ê-li-a-síp , thầy tế lễ thượng phẩm . Sau người có Mê-rê-mốt , con trai U-ri , cháu Ha-cốt , sửa một phần khác , từ cổng vào nhà Ê-li-a-síp cho đến cuối nhà người . Sau người có những thầy tế lễ , là những người ở đồng bằng Giô-đanh , tu bổ . Kế họ , Bên-gia-min và Ha-súp tu bổ phần đối ngang nhà mình . Kế họ , A-xa-ria , con trai của Ma-a-xê-gia , cháu A-na-nia , tu bổ phía bên cha mình . Kế người , Bin-nui , con trai của Hê-na-đát , sửa một phần khác , từ nhà A-xa-ria cho đến nơi cạnh và cho đến góc thành . Pha-lanh , con trai của U-xai , sửa nơi đối ngang góc thành và nơi tháp cao ló ra của đền vua , đụng giáp cái sân ngục . Kế người đó có Phê-đa-gia , con trai của Pha-rốt , tu bổ . Vả , người Nê-thi-nim ở tại Ô-phên cho đến nơi đối ngang cổng Nước về phía đông , và tháp ló ra . Kế người ấy có người Thê-cô-a sửa một phần khác đối ngang tháp lớn ló ra , và cho đến vách Ô-phên .
Những thầy tế lễ sửa trên cổng Ngựa , mỗi người sửa phần đối ngang nhà của mình . Sau họ , Xa-đốc , con trai Y-mê , sửa nơi đối ngang nhà mình . Kế sau người có Sê-ma-gia , con trai Sê-ca-nia , người giữ cổng Đông , tu bổ . Kế người , Ha-na-nia , con trai của Sê-lê-mia , và Ha-nun , con thứ sáu của Xa-láp , sửa một phần khác . Kế họ , Mê-su-lam , con trai của Bê-rê-kia , sửa nơi đối ngang nhà mình . Kế người , Manh-ki-gia , một người trong bọn thợ vàng , sửa cho đến nhà của người Nê-thi-nim và tay buôn bán , đối ngang cổng Mi-phơ-cát , và cho đến nơi dốc của góc thành . Còn những thợ vàng và tay buôn bán đều sửa phần giữa nơi góc thành và cổng Chiên .”
NeNe 3:1-32
Sau khi chiếm được Giê-ru-sa-lem, vua Nê-bu-cát-nết-xa cho triệt hạ tường thành bao quanh thành phố (IIVua 2V 25:10). Vào thời bấy giờ, thành phố phải có tường thành bao quanh để chống lại quân thù. Nếu thiếu tường thành, khi quân thù đến dân trong thành phố sẽ vô phương tự vệ.
Trong đời Át-ta-xét-xe I, người Do-thái có ý định xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem; nhưng vì ông Rê-hum và ông Sim-sai chống đối nên vua truyền đình chỉ công trình (Exe Ed 4:7-23). Mãi đến năm 445 trước công nguyên, người Do-thái dưới sự lãnh đạo của ông Nê-hê-mi mới được phép xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem; và người Do-thái đã hoàn tất công tác trong vòng 52 ngày. Câu chuyện này được ghi lại trong Kinh Thánh sách Nê-hê-mi (từ chương 1 đến chương 6).
Lúc bấy giờ có một phái đoàn do ông Ha-na-ni hướng dẫn về thăm thành phố Giê-ru-sa-lem (chương 1). Khi trở lại Ba-by-lôn, phái đoàn tường trình rằng Giê-ru-sa-lem đã bị phá huỷ, chỉ còn là một thành phố không tường không cổng. Ông Ha-na-ni kể rằng: “Những người bị bắt làm tù lưu đày còn sót lại trong tỉnh bị tai nạn và sỉ nhục lắm ; còn vách thành của Giê-ru-sa-lem thì đổ nát , và các cổng thành đã bị lửa đốt cháy ” (NeNe 1:3).
Nghe tin ấy, ông Nê-hê-mi “ngồi mà khóc , cư tang mấy ngày ; tôi cữ ăn và cầu nguyện Đức Chúa của các từng trời ” (1:4). Nhưng ông không dừng lại ở đây, ông quyết định tiến thêm một bước. Ông Nê-hê-mi “xin vua hãy sai tôi về Giu-đa , đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi , để tôi xây cất thành ấy lại ” (2:5).
Sách Nê-hê-mi chương 3 để lại cho ta một số chi tiết về việc xây sửa tường thành Giê-ru-sa-lem. Nếu chỉ đọc lướt qua chương này ta sẽ cảm thấy rất nhàm chán. Chương này nhắc đến tên của nhiều người xa lạ đối với ta, cũng tương tự khi ta đọc một gia phả vậy. Nhưng nếu đọc kỹ ta sẽ thấy chương Kinh Thánh này vẽ lại một bức tranh đẹp tuyệt vời, một cộng đồng dân Chúa đang tận tâm phục vụ Ngài.
Khác Biệt Nhưng Hoà Hợp
Trong bức tranh này ta thấy có một đặc điểm: cộng đồng dân Chúa tuy gồm rất nhiều người hoàn toàn khác biệt nhau nhưng đoàn kết chặt chẽ với nhau, làm việc hoà hợp, nhịp nhàng với nhau.
Nhìn vào bức tranh ta thấy công việc xây sửa tường thành Giê-ru-sa-lem bắt đầu ở cổng Chiên, rồi đến cổng Tây, rồi cổng Bắc và cổng Nam. Những người đầu tiên làm gương cho tất cả mọi người là các thầy Tế lễ. “Ê-li-a-síp , thầy Tế lễ Thượng phẩm chổi dậy với các anh em mình , là những thầy Tế lễ , và xây cất cái cổng Chiên ”. Tuy là các thầy Tế lễ, suốt ngày chỉ biết kinh kệ, nhưng họ không nề hà việc làm nặng nhọc.
Sau đó ta thấy có những tay thợ lành nghề xây dựng và các nông dân, những người hằng ngày lao động nặng nhọc. Rồi ta thấy có những người thợ vàng, thợ hoà hương, các thương gia. Các công chức cũng không ngại chân lấm tay bùn v.v...
Nếu ngắm bức tranh kỹ hơn, ta sẽ thấy các vị quận trưởng của thành phố Giê-ru-sa-lem và của các quận phụ cận. Giê-ru-sa-lem có hai quận trưởng, một người tên là Rê-pha-gia, một người tên là Sa-lum. Cả hai đều hoà mình lao động với mọi người. Trong số những người đang làm việc chẳng những có các thanh niên lực lưỡng mà thôi, nhưng chị em phụ nữ cũng hăng say không kém. Các con gái của quận trưởng Sa-lum cũng tích cực tham gia công tác.
Công trình xây tường thành Giê-ru-sa-lem là một công trình to lớn, đòi hỏi sự cộng tác của tất cả mọi người. Mọi người đều có trách nhiệm và mọi người đều có thể dự phần. Điểm hay và đẹp ở đây là: mọi người đều tình nguyện làm việc vui vẻ.
Đối với một số người, công việc xây dựng tường thành rất nặng nhọc. Họ phải khiêng, gánh, phải dọn dẹp, đào hồ, đào mương, phải đẽo đá rồi vác đá, pha hồ v.v... Nhưng tất cả đều làm việc vui vẻ, phấn khởi, vì có cơ hội góp phần vào công trình này. Công việc Chúa vĩ đại, đa đoan, một người hoặc một vài người không thể chu toàn. Nhưng Chúa gia ân kêu gọi tất cả mọi người.
Phục vụ Chúa không phải là công tác riêng của một nhóm người. Xây dựng Hội thánh không phải là bổn phận và độc quyền của một hạng người. Trong công trình xây tường thành Giê-ru-sa-lem không ai phải thất nghiệp cả. Tất cả chúng ta đều có cơ hội xây sửa tường thành Giê-ru-sa-lem. Tuy chúng ta không xứng đáng, nhưng Chúa cho phép chúng ta phục vụ Chúa. Phục vụ ở đâu?
Đối Ngang Nhà
“Mọi người sửa phần đối ngang nhà của mình ”. Ta có thể xây sửa tường thành Giê-ru-sa-lem ở chỗ ta đang sinh sống: tại địa phương mình, trong nhà của mình... Ta phục vụ Chúa trong trường học, trong xưởng làm, trong văn phòng, trong nhà bếp... Chúa đặt để ta ở đâu, ta phục vụ Chúa ở đó. Chỗ nào có những linh hồn đang bị ma quỉ tấn công và đe doạ, Chúa đặt để ta ở đó để xây sửa tường thành. Như thế ta luôn luôn có cơ hội phục vụ Chúa và có thể phục vụ Chúa ở tất cả mọi nơi. Đó là một ân phúc to lớn mà Chúa ban cho tất cả chúng ta: khi Chúa kêu gọi chúng ta đến ân Cứu rỗi, Chúa cũng ban cho tất cả chúng ta thường xuyên có cơ hội phục vụ Ngài ở tất cả mọi nơi.
Làm Việc Kế Nhau
Trong chương Kinh Thánh này, từ “kế” là từ được lập đi nhắc lại nhiều lần nhất: “kế họ”, “kế người”. “Con cháu của Sê-na xây cất cổng Cá . Họ đặt khuôn và tra cánh , chốt với then nó . Kế họ , Mê-rê-mốt , con trai của U-ri , cháu của Ha-cốt , lo sửa xây . Kế họ ..., kế họ ...”. Những người xây tường thành sánh vai làm việc với nhau, kề nhau, kế bên nhau.
Trong bức tranh này ta thấy chẳng những có những người trong nội thành Giê-ru-sa-lem mà thôi, nhưng cũng có nhiều người sống ở ngoại thành thuộc vùng quê, có người sống trên vùng núi Giu-đê và dưới đồng bằng sông Giô-đanh nữa. Tuy không sống trong thành phố, nhưng đối với họ thành phố Giê-ru-sa-lem cũng là thành phố của họ, nên họ cũng tình nguyện tham gia công tác xây sửa tường thành. Và tuy họ “chỉ” là những người “nhà quê”, không sống trong nội thành, nhưng khi họ tình nguyện góp phần làm việc thì những người trong nội thành cũng không khinh khi hay xua đuổi họ.
Ta cũng thấy có một vài người thợ chuyên nghề xây dựng. Họ là những người có nghề, làm việc rất giỏi, khéo tay, lanh lẹ; bên cạnh họ có rất nhiều tay ngang, làm việc chậm chạp, té lên té xuống. Nhưng tất cả làm việc chung với nhau. Họ kính trọng nhau, chấp nhận nhau, không ai la ai, không ai hối ai. Trên trời: nắng chang chang; dưới đất: cát bụi mịt mù và công việc nặng nhọc. Thế mà đoàn người hăng say làm việc với nhau. Tuy có địa vị, chức phận khác nhau, đàn ông đàn bà, người già người trẻ, người giàu người nghèo, người mạnh người yếu, người thành phố người nhà quê, thợ chuyên môn và tay ngang..., nhưng họ làm việc hoà hợp nhịp nhàng với nhau. Quả là một bức tranh tuyệt đẹp.
Bức tranh tuyệt đẹp không vì có nhiều màu sắc, nhưng vì các màu sắc hoà hợp nhau. “Có các sự ban cho khác nhau , nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh . Có các chức vụ khác nhau , nhưng chỉ có một Chúa . Có các việc làm khác nhau , nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời là Đấng làm mọi việc trong mọi người cho ai nấy đều được sự ích chung ” (ICo1Cr 12:1-31).
Trong Hội Thánh nhỏ bé của chúng ta, Chúa cho mỗi người có một hoàn cảnh khác nhau, cá tính khác nhau, hoạt động trong các môi trường và bằng những phương tiện khác nhau. Nhưng tất cả chúng ta đều phải có chung một mục tiêu : xây sửa tường thành Giê-ru-sa-lem, chung quanh một Nước Trời - tại quê hương cũng như ở nước ngoài, của Một Chúa mà thôi.
Hiện nay, trong công tác xây sửa tường thành này, chẳng những thiếu người tình nguyện phục vụ Chúa, nhưng cũng thiếu người tình nguyện phục vụ Chúa “kế” bên nhau.
Lạy Chúa ! Xin Chúa tha tội cho chúng con !
Vâng Phục Lãnh Đạo
Tuy “mỗi người sửa phần đối ngang nhà của mình ” nhưng “toàn vách thành đều dính liền nhau ”. “Vậy chúng tôi xây vách thành lại và toàn vách thành đều dính liền nhau ”! Có lẽ nhiều người thích làm việc ở những chỗ quan trọng như ở công trường Đền thờ, hoặc ở các công trường xây dựng các cổng thành. Có lẽ chẳng ai muốn làm việc ở cổng Phân! Nhưng ông Nê-hê-mi có một hoạ đồ thiết kế. Ông chia cộng đồng ra làm 35 đội, làm việc ở 35 công trường khác nhau. Ông phân công cho mỗi người tuỳ theo khả năng, nghề nghiệp và chỗ nhà mình ở. Một đội xây cổng Chiên, một đội xây cổng Phân, một đội khác xây cổng Nước..., một số người phải làm việc ở đồng bằng, một số người khác phải làm việc trên các tháp cao..., và mọi người đều vui vẻ vâng phục. Không người nào phân bì. Không ai cảm thấy thiệt thòi. Mọi người đều khiêm nhường và vâng phục. Tất cả đều giữ kỷ luật và thoả lòng với công việc.
Nếu mỗi người có một hoạ đồ thiết kế riêng, tự ý xây sửa theo ý riêng của mình, không giữ kỷ luật, không muốn vâng phục, không biết khiêm nhường, thì chắc chắn bức tường không thể nào “dính liền nhau” được. Nếu mỗi người có một hoạ đồ thiết kế riêng thì chắc chắn đã có hàng trăm hàng ngàn hoạ đồ thiết kế khác nhau, trong số đó chắc chắn có nhiều hoạ đồ rất tốt, nhưng chắc chắn cũng đã không có một bức tường Giê-ru-sa-lem nào hết. Muốn hoàn tất công trình xây dựng Hội thánh, mọi người phải giữ kỷ luật. Mà muốn giữ kỷ luật thì phải có tinh thần vâng phục. Mà muốn vâng phục thì phải học khiêm nhường.
Nan đề của Hội Thánh ta không phải là Chúa Thánh Linh không có quyền năng, không phải là dân tộc ta chai lì, cũng không phải chỉ vì ta thiếu phương tiện, hoặc thiếu tổ chức..., nhưng nan đề là chúng ta mỗi người đều muốn tự xây một tường thành cho riêng mình. Nan đề phổ thông trong Hội thánh Chúa không phải là - hoặc chỉ là - thiếu một Nê-hê-mi lãnh đạo, nhưng là có quá nhiều người muốn làm Nê-hê-mi lãnh đạo.
Ta có thể nhận diện dễ dàng một trong những nguyên nhân chính gây ra các nan đề trong Hội thánh địa phương của mình: chính ta không phục vụ Chúa nhưng chỉ phục vụ ý riêng mình. Ta chỉ là một phần tử bé nhỏ, chỉ là người “thợ vịn”, cùng với một vài anh chị em khác xây một phần nhỏ của tường thành mà thôi, nhưng nhiều khi ta tự mãn tưởng rằng, một mình ta đang xây toàn bộ tường thành. Giê-ru-sa-lem có mười hai cổng thành, ta đang lăng xăng ở một trong số mười hai cổng thành đó. Vậy mà ta cứ huênh hoang, làm như thể mình là người duy nhất đang xây cái cổng thành duy nhất của thành phố! Khi xây tường thành, ông Nê-hê-mi không xây tường thành một mình ở nhà riêng. Nhưng khi ở nhà ông khóc, cư tang, cữ ăn và cầu nguyện, khi đến với cộng đồng ông cộng tác làm việc chung với toàn thể cộng đồng. Ngày nay ta thường xử sự ngược lại: khi đến với Hội thánh ta thường khóc lóc, cư tang, cữ ăn và cầu nguyện rất thiêng liêng, rồi khi về nhà ta ngạo mạn “hầu việc Chúa” một mình ta theo ý riêng ta!
Lạy Chúa! Xin Chúa giải cứu Hội thánh của Chúa khỏi tay con.
Đối Diện Những Khó Khăn
Ngày nay ngắm bức tranh người Do-thái ngày xưa xây sửa tường thành Giê-ru-sa-lem, ta đừng tưởng rằng toàn bộ công tác tiến hành êm đẹp. Nếu bức tranh này hoàn hảo, cộng đồng người Do-thái hoàn toàn đoàn kết, tất cả mọi người đều hăng say làm việc, có lẽ ta sẽ thầm nghĩ: Quá lý tưởng! Nhưng cũng quá xa vời! Thực ra công tác xây sửa tường thành Giê-ru-sa-lem ngày xưa không hoàn toàn trôi chảy đâu. Trong bức tranh ta thấy có một số người ăn mặc sang trọng. Trong khi những người khác làm việc mệt nhọc, những người này khoanh tay, thản nhiên đứng nhìn người khác làm việc. Những người này là ai? - Đó là “những người có tước vị ” của chi họ Tê-cô-a#, “họ chẳng ghé vai vào công việc của Chúa mình ”! Họ là những người duy nhất trong thành phố không tham gia vào công tác xây dựng! Người nào không góp phần làm việc thì người đó tự mình cô lập với cộng đồng dân Chúa. Người từ chối phục vụ Chúa chứng tỏ chưa kinh nghiệm hoặc đã sớm quên tình yêu tha thứ của cây thập tự, chưa thấu đáo hoặc đã đánh mất niềm tin. Ta có thể là “tín đồ kỳ cựu” đã “tin Chúa lâu năm”, là người có chức vị trong Hội thánh, cung cách rất sùng đạo, ăn nói rất thiêng liêng, trưng dẫn Kinh Thánh làu làu, nhưng “nếu đức tin không có hành động thì tự nó chết đi.” Ai không tham dự vào công tác xây dựng Hội thánh, người đó đánh mất ân phúc của Chúa dành cho mình.
Trong bức tranh ta thấy có một số người rất lực lưỡng, nhưng vừa làm việc vừa nhăn nhó. Đó là chi họ Giu-đa; nét mặt của họ lộ vẻ tuyệt vọng. Họ nói: “Còn nhiều đồ hư nát , và sức lực của kẻ khiêng gánh đã yếu mỏi , chúng ta không thể xây cất vách thành được ” (NeNe 4:10). Chi họ Giu-đa đã từng được tổ phụ Gia-cốp chúc phước rằng: “Cây phủ phiệt chẳng hề dời khỏi Giu-đa , người lập pháp không dứt khỏi giữa chân nó , cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới ” (SaSt 49:1-25). Chi họ Giu-đa là một chi họ rất ưu tú, rất trung thành và rất can đảm. Quân đội của chi họ Giu-đa luôn luôn dẫn đầu và thường thắng trận. Nhưng bây giờ, đối với họ, công trình xây sửa tường thành quá vĩ đại, không thể nào thực hiện được. Họ bắt đầu nhụt chí, muốn bỏ cuộc. Họ phản đối, rồi chỉ trích, có dẫn chứng cụ thể.
Đặc biệt trong bức tranh có một số người vừa làm việc vừa cầm khí giới trên tay. Lý do là: kẻ thù bên ngoài âm mưu phá hoại. “Xảy khi San-ba-lát , Tô-bi-gia , những người Ả-rập , dân Am-môn và dân Ách-đốt hay rằng việc tu bổ vách thành Giê-ru-sa-lem tấn tới , và các nơi hư lủng hầu lấp lành , thì chúng nó lấy làm giận dữ , bèn tập lập nhau hết thảy đặng đến , hãm đánh Giê-ru-sa-lem và làm cho nó bị rối loạn ” (NeNe 4:7).
Cộng đồng dân Chúa ngày xưa thể nào, cộng đồng dân Chúa này nay cũng thể ấy, luôn luôn bị đe doạ. Ma quỉ vừa tìm cách gây chia rẽ ở bên trong, vừa rình rập ở bên ngoài để tấn công và tiêu diệt Hội thánh. Trước những khó khăn này, ông Nê-hê-mi phản ứng như thế nào?
Chiến Đấu
Ông Nê-hê-mi khích lệ cộng đồng: “Chớ sợ chúng ; khá nhớ Chúa là một Đấng cực đại và đáng kính , hãy chiến đấu ...” (4:8).
Ông Nê-hê-mi chia dân chúng ra làm hai đội, một đội làm việc, một đội cầm giáo, khiên, cung và giáp. Còn những người xây sửa thì có đeo giáo bên hông. Người tín hữu sinh hoạt như thế, vừa tin vừa sống, vừa là người thợ xây dựng vừa là chiến sĩ thập tự, vừa trung thành phục vụ vừa dũng cảm chiến đấu.
Muốn chiến đấu và chiến thắng, ta phải trang bị bằng gươm của Chúa Thánh Linh, tức là Lời của Đức Chúa Trời. Ta không có một khí giới nào khác để có thể chiến thắng sa-tan ngoài ra Lời của Đức Chúa Trời.
Ông Giô-suê trước khi ra trận được Chúa dạy rằng: “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi ”. Nhờ giữ Lời Chúa nên ông đã chiến thắng và chiếm được toàn bộ lãnh thổ Ca-na-an.
Sứ đồ Phao-lô đã dùng khí giới nào để chiến thắng ngoại giáo? - Nhờ Lời của Đức Chúa Trời.
Nhờ bí quyết nào Hội thánh Phi-la-đen-phi, một Hội thánh nhỏ bé, yếu ớt, có ít năng lực, có thể thắng những người thuộc hội quỉ sa-tan? - Nhờ giữ Lời Chúa, nên được Chúa khen: “Con đã giữ Lời Ta .” (KhKh 3:8).
Trong sa-mạc, khi bị ma quỉ cám dỗ ba lần, cả ba lần Chúa đều dùng Lời Chúa trả lời với ma quỉ: “Có lời chép rằng ...có lời chép rằng ...có lời chép rằng ...”.
Các tôi tớ Chúa, Hội thánh của Chúa và chính Chúa đã dùng Lời Chúa để chiến đấu và chiến thắng. Vì thế, những người xây sửa tường thành Giê-ru-sa-lem vừa làm việc vừa đeo gươm bên hông.
Nhớ Chúa
Khi xây sửa tường thành Giê-ru-sa-lem, cộng đồng Do-thái vừa bị công việc thách thức, vừa bị quân thù tấn công. Nếu chỉ nhìn vào công việc, như chi họ Giu-đa, ta sẽ dễ dàng bỏ cuộc vì công việc nặng nhọc. Nếu chỉ nhìn vào quân thù, lúc quân thù mạnh thế ta có thể thất trận và tuyệt vọng. Vì thế ông Nê-hê-mi kêu gọi: “Khá nhớ Chúa ...!” Trong tất cả các công tác phục vụ Chúa, ta cần đặt niềm tin trọn vẹn nơi Chúa, Đấng đã chiến đấu cho ta trên cây thập tự, và chiến thắng.
“Nhớ Chúa” là gì? Một vị đầy tớ trung thành của Chúa ao ước rằng cái cửa sổ duy nhất trong văn phòng của mình có hình cây thập tự. Nếu cửa sổ có hình cây thập tự thì ta sẽ thấy tất cả cảnh vật bên ngoài đều có hình cây thập tự. Ta sẽ chẳng những thấy ánh sáng rạng rỡ của mặt trời có hình cây thập tự, nhưng ta cũng thấy mưa to, gió lớn, bão thổi, sóng gầm có hình cây thập tự. Ta sẽ thấy vinh quang và tủi nhục, thành công và thất bại, anh chị em và kẻ thù đều có hình cây thập tự. Tất cả những khó khăn của ta và nan đề của Hội thánh, những trách nhiệm nặng nề của ta và con người yếu đuối của mình đều có hình cây thập tự. Nhưng ta cũng sẽ thấy trên cây cây thập tự đó Chúa “đang mang sự đau ốm của chúng ta , đang gánh sự buồn bực của chúng ta ... đang vì tội lỗi của chúng ta mà bị vết , vì sự gian ác chúng ta mà bị thương ...”. Rồi ta sẽ ăn năn, sẽ khóc, sẽ cư tang, cữ ăn và cầu nguyện, và sẽ đáp lại tiếng kêu gọi “Hãy đến , xây cất các vách thành Giê-ru-sa-lem lại ”.

Tín Hữu Phi-e-rơ
Khi đã vào địa phận thành phố Sê-xa-rê Phi-líp , Đức Chúa Giê-xu hỏi các môn đồ rằng : Theo lời người ta nói thì Con người là ai ? Các môn đồ thưa rằng : Người nói là Giăng Báp-tít ; kẻ nói là Ê-li ; kẻ khác nói là Giê-rê-mi , hay là một đấng tiên tri nào đó . Ngài phán rằng : Còn các con xưng ta là ai ? Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng : Chúa là Chúa Cứu thế , Con Đức Chúa Trời hằng sống . Bấy giờ , Đức Chúa Giê-xu phán cùng người rằng : Hỡi Si-môn , con Giô-na , con có phước đó ; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho con biết điều này đâu , bèn là Cha ta ở trên trời vậy . Còn ta , ta bảo con rằng : Con là Phi-e-rơ , ta sẽ lập Hội thánh ta trên đá này , các cửa âm-phủ chẳng thắng được hội đó .”
Mat Mt 16:13-18
Chúa Giê xu đi với các môn đệ đến địa phận Sê-xa-rê Phi-líp. Chúa chọn chỗ này làm địa điểm để phán về Hội thánh của Ngài. Nếu ở trong địa vị của Chúa chắc chắn chúng ta sẽ chọn một chỗ khác quan trọng hơn, như thành phố Giê-ru-sa-lem, chỗ có đền thờ, trung tâm thờ phượng và các sinh hoạt tôn giáo, để làm địa điểm lần đầu tiên long trọng tuyên bố sẽ thành lập Hội Thánh của mình. Nhưng Chúa không chọn thành phố Giê-ru-sa-lem.
Sê-xa-rê Phi-líp thuộc vùng của người ngoại tộc, ở ngoài địa phận Y-sơ-ra-ên, ở xa các thầy thông giáo và người Pha-ri-xi. Chỗ này ở xa đám đông. Ở đây Chúa muốn dạy cho các môn đệ biết về Hội thánh mà Chúa sẽ thành lập. Tại sao? Vì Chúa không muốn xây dựng Hội thánh của Chúa trên các thầy thông giáo và người Pha-ri-xi, cũng không muốn xây dựng Hội thánh của Chúa trên đám đông. Chúa không cần một hội đoàn sinh hoạt ồn ào náo nhiệt, khoa trương ở giữa muôn người như các hội đoàn của đời này, nhưng Chúa muốn có một Hội thánh, một cộng đồng những người xưng nhận Chúa.
Xưng Nhận Chúa
Chúa Giê-xu hỏi các môn đệ: “Theo lời người ta nói thì Con người là ai !” Có lẽ các môn đệ đã đoán trước được rằng Chúa sẽ hỏi họ câu hỏi này, nên họ trả lời ngay: “Người nói là Giăng Báp-tít ; kẻ nói là Ê-li ; kẻ khác nói là Giê-rê-mi , hay là một Đấng tiên tri nào đó .” Đó là những quan niệm, những suy luận, những chủ trương về Chúa. Ta có thể thêm vào câu trả lời này nhiều chủ trương khác nữa: Chúa là một nhà cách mạng, một bậc anh hùng, một vị giáo chủ, là một Hippi đầu tiên, v.v... Người đời có rất nhiều quan niệm, nhiều suy luận, nhiều chủ trương về Chúa vì họ chưa biết Chúa thực sự là ai.
Các môn đệ cũng từng có một chủ trương về Chúa. Họ chủ trương rằng Chúa là một nhà ái quốc, một Đấng Mê-xi mà theo quan niệm của họ, Chúa là Đấng mà các tiên tri đã báo trước sẽ xuất hiện để giải phóng Y-sơ-ra-ên ra khỏi tay của người ngoại tộc. Họ chủ trương rằng, khi đến thành phố Giê-ru-sa-lem Chúa sẽ khơi động và lãnh đạo một phong trào giải phóng, rồi Chúa sẽ khôi phục nước Do-thái và sẽ lên “ngồi trên ngôi vua Đa-vít”. Vì thế họ tranh cãi ai là người quan trọng nhất, rồi dành nhau chức tước, rồi chia rẽ với nhau.
Đó là hậu quả của những chủ trương về Chúa. Chủ trương về Chúa rất tai hại, vì có thể dẫn chúng ta đi lầm lạc và làm chúng ta chia rẽ. Một tà giáo là một hội gồm nhiều người có cùng một chủ trương về Chúa. Sở dĩ Hội thánh chia rẽ vì có nhiều chủ trương về Chúa. Khi ta có một chủ trương về Chúa, ta sẽ sinh hoạt trong Hội thánh theo chủ trương của ta, rồi ta tìm cách thuyết phục nhiều người theo phe ta, rồi ta tranh cãi để mọi người chấp nhận chủ trương của ta là đúng nhất. Đó là hậu quả của những chủ trương về Chúa.
Chúa không xây dựng Hội thánh trên những người có chủ trương về Chúa. Vì thế cho nên Chúa hỏi lại các môn đệ: “Còn các con thì xưng ta là ai ?” Đối diện với câu hỏi này ta không thể trả lời: “Có lẽ Chúa là...”, hoặc: “Dưới con mắt của tôi, theo nhận xét của tôi, tôi quan niệm rằng, tôi chủ trương rằng Chúa là...”. Đối diện với câu hỏi này hoặc là ta im lặng, hoặc là ta phải dứt khoát xưng nhận Chúa.
Ông Phi-e-rơ đã dứt khoát xưng nhận: “Chúa là Chúa Cứu thế , Con Đức Chúa Trời hằng sống .” Có nhiều chủ trương, nhưng xưng nhận đức tin nơi Chúa chỉ có một : Chúa là Chúa Cứu thế , Con Đức Chúa Trời hằng sống . Ông Phi-e-rơ xưng nhận Đức Chúa Trời, xưng nhận sự sống vĩnh cửu, và xưng nhận Chúa Cứu Thế. Giữa biết bao nhiêu quan niệm, suy luận, chủ trương về Chúa, đây là một lời dứt khoát xưng nhận Chúa.
Ở đây ông Phi-e-rơ không còn dùng lý trí để nhận xét về Chúa. Trước khúc Kinh Thánh này người Pha-ri-xi và Sa-đu-xê xin Chúa làm một dấu lạ cho họ xem (Mat Mt 16:1). Họ cần một dữ kiện để phân tích, rồi tổng hợp để có thể đi đến một kết luận về Chúa. Nhưng ở đây ông Phi-e-rơ không suy luận về Chúa, ông dứt khoát xưng nhận đức tin, nhờ sự mạc khải của Đức Chúa Trời.
Con người Phi-e-rơ thực ra không có gì trội hơn những người khác! Ông không can trường hơn người khác, không mộ đạo hơn, không tài năng hơn, không thông hiểu hơn. Chỉ khác là: ông Phi-e-rơ xưng nhận đức tin. Ông cùng đi với Chúa trên một con đường rồi nhận biết Chúa, và bây giờ dứt khoát xưng nhận đức tin nơi Chúa của mình.
Chúa muốn các tín hữu Phi-e-rơ Việt nam cũng dứt khoát trả lời: “Chúa là Chúa Cứu thế , Con Đức Chúa Trời hằng sống ”. Mỗi tín hữu Phi-e-rơ cần dứt khoát xưng nhận Chúa. Ta không cần bận tâm người đời chủ trương như thế nào về Chúa, ta cũng không cần mất thì giờ bàn cãi xem chủ trương của ai trong chúng ta là đúng nhất, nhưng ta trung tín xưng nhận đức tin của mình. Mỗi ngày ta lập lại lời xưng nhận của ông Phi-e-rơ một cách mới mẻ, phù hợp với hoàn cảnh sống của ta, trong môi trường chính trị, văn hóa, xã hội mà ta đang sống. Hễ khi nào, bất cứ lúc nào Chúa hỏi ta: “Còn con xưng Ta là ai?” thì ta đều trả lời tức khắc: “Thưa Chúa, Chúa là Chúa Cứu thế, Con Đức Chúa Trời hằng sống.” Tín hữu nào trung tín xưng nhận đức tin của mình thì cuộc đời theo Chúa của người đó sẽ là hạt giống có kết quả, “một hạt ra ba chục ... sáu chục ...một trăm ”.
Kinh Thánh có kể câu chuyện về ông Gióp, một người trung tín xưng nhận Chúa trong mọi hoàn cảnh. Ông Gióp xưng nhận Chúa lúc giàu có, mạnh khỏe, hạnh phúc, nhưng khi bị mất tất cả: mất của cải, mất con cái, và khi thân thể bệnh hoạn, ông vẫn trung tín xưng nhận Chúa.
Thật ra, lúc nghèo khổ, đau yếu, bất hạnh mà vẫn trung tín xưng nhận Chúa là khó, nhưng khi giàu có, mạnh khỏe, hạnh phúc mà vẫn trung tín xưng nhận Chúa lại càng khó hơn. Bị bức hại, bị giam trong lao tù mà vẫn trung tín xưng nhận Chúa là khó, nhưng khi được tự do tín ngưỡng mà vẫn trung tín xưng nhận Chúa lại càng khó hơn.
Là người theo Chúa, dù đang sinh sống ở đâu, ta cũng thường xuyên đối diện với câu hỏi “Còn con xưng Ta là ai ?”. Chúng ta xưng nhận Chúa khi chúng ta làm chứng, khi Hội thánh tổ chức truyền giảng, nhưng chúng ta cũng xưng nhận Chúa qua nếp sống hằng ngày của chúng ta, trong gia đình, trong Hội thánh và trong xã hội. Người tín hữu xưng nhận Chúa qua cách đối xử với nhau, trong cách nói về nhau. Mục sư Truyền đạo xưng nhận Chúa trong khi giảng dạy, trong cách làm việc chung với nhau, trong khi bàn luận, lúc có ý kiến khác nhau, trong cách giải quyết những khó khăn trong Hội thánh...
Nói tóm lại: toàn bộ cuộc đời của người tín hữu phải là Bài Tín điều: “Tôi tin Đức Chúa Trời ...” Trong nghi lễ Thờ phượng của một số Hội thánh, sau phần tuyên đọc Lời Chúa (đọc Kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước) có mục hội chúng đứng dậy đồng thanh đọc Bài Tín điều các Sứ đồ. Như vậy, Bài Tín điều là lời trả lời của Hội thánh trả lời Lời Chúa. Hầu hết các Hội thánh Tin lành Việt Nam rất tiếc không có nghi lễ này. Chương trình các Lễ Thờ phượng do các vị Mục sư, Truyền đạo chủ toạ tự soạn thảo, nên phần tuyên đọc Lời Chúa và phần đọc Bài Tín điều các Sứ đồ có hoặc không, trước hoặc sau tuỳ sự “cảm động” của từng vị! Rất tiếc! Nhưng điểm quan trọng hơn là: toàn bộ sinh hoạt của Hội thánh và cuộc đời của cá nhân ta phải là Bài Tín điều, phải là lời sống động của ta trả lời Lời Chúa: Con tin Đức Chúa Trời... Con tin Chúa Cứu thế Giê-xu... Con tin Chúa Thánh Linh...
Trong Hội thánh có các sinh hoạt nào? - Trong Hội thánh có các sinh hoạt xưng nhận Chúa: hát xưng nhận Chúa, cầu nguyện xưng nhận Chúa, truyền giảng xưng nhận Chúa... Tất cả các sinh hoạt trong Hội thánh đều là - phải là - những sinh hoạt xưng nhận Chúa. Ngoài ra Hội thánh không có các sinh hoạt nào khác nữa. Nếu tổ chức Hội thánh nào chỉ có hay còn có những sinh hoạt nào khác: đó là dấu hiệu tổ chức Hội thánh đó xây trên cát, khi có mưa sa, gió thổi, nước dâng lên, Hội thánh đó sẽ sụp đổ tan tành. Nhưng nếu tất cả các sinh hoạt trong Hội thánh đều là những sinh hoạt xưng nhận Chúa thì Hội thánh sẽ như một ngôi nhà xây trên một nền đá, sẽ mãi mãi hiên ngang đứng vững trước mọi cơn bão tố.
Chúa khen người tín hữu biết xưng nhận Chúa: “Con là Phi-e-rơ , Ta sẽ lập Hội thánh Ta trên đá này .” Ông Phi-e-rơ xưng nhận Chúa nên được Chúa chọn làm hòn đá để xây Hội thánh của Ngài. Nhưng ông không phải là hòn đá duy nhất mà là một hòn đá bên cạnh những hòn đá khác được Chúa dùng để xây dựng Hội thánh. Ngoài ông Phi-e-rơ ra Chúa còn chọn nhiều Phi-e-rơ khác nữa. (Eph Ep 2:20; KhKh 21:14). Ai xưng nhận Chúa, không phân biệt nam nữ, tuổi tác, học vấn..., dù không có chức sắc trong giáo hội, đều là một Phi-e-rơ, đều được Chúa chọn làm hòn đá để xây dựng Hội thánh của Ngài.
Chối Chúa
Phi-e-rơ có nghĩa là “đá”, rất cứng, vững chắc, nhưng ông Phi-e-rơ không phải là một người cứng rắn. Niềm tin của ông không luôn luôn mạnh mẽ. Một lần Chúa cho ông đi bộ trên mặt nước, nhưng khi thấy sóng to gió lớn, ông sợ quá đến nỗi gần chìm xuống nước; nên Chúa phải trách ông rằng: “Hỡi người ít đức tin , sao người hồ nghi vậy ?” (Phúc âm Ma-thi-ơ chương14). Trong khúc Kinh Thánh này, ông Phi-e-rơ xưng nhận Chúa và được Chúa khen, nhưng ngay sau đó ông dùng ý riêng của mình để can ngăn Chúa nên Chúa đã quở trách rằng: “Ớ sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta!” (Mat Mt 16:23). Trong đêm Chúa bị bắt, ông rất sợ hãi nên đã bỏ Chúa trốn đi. Trong khi Chúa cô đơn, bị tòa xét xử, thì ông ngồi chung và sưởi ấm với bọn lính đã bắt Chúa. Và trong đêm đó, ông chối Chúa, chối Chúa ba lần.
Ông Phi-e-rơ là người rất yếu đuối, vấp ngã nhiều lần, chối Chúa nhiều lần. Con người Phi-e-rơ có rất nhiều khuyết điểm. Một người như ông, người đời không thể nào tin tưởng được. Ngày nay nếu ông đi làm cho một hãng xưởng nào đó, chắc chắn ông đã bị sa thải từ lâu rồi. Ngày nay, một tín hữu không trung tín như tín hữu Phi-e-rơ có lẽ đã bị dứt phép thông công từ lâu rồi.
Nhưng nếu kiểm điểm lại, chúng ta sẽ thấy biết bao lần mình cũng yếu đuối, vấp ngã, chối Chúa: chối Chúa vì thường xuyên sao lãng nhiệm vụ, chối Chúa vì không trung tín phục vụ Chúa, chối Chúa qua nếp sống hằng ngày. Vợ chồng chối Chúa trong cách sống với nhau, trong cách dạy dỗ con cái. Các bạn trẻ chối Chúa trong cách làm ăn, trong cách giải trí. Hội thánh chối Chúa vì chia rẽ, vì không thể tha thứ cho nhau, vì nói xấu nhau, chỉ trích lẫn nhau.
Ăn Năn
Ông Phi-e-rơ “đi ra khóc lóc đắng cay”. Ta cần ăn năn. Ông Giu-đa Ích-ca-ri-ốt không “đi ra khóc lóc đắng cay” mà chỉ “đi ra thắt cổ”.
Ăn năn là gì? Ăn năn là khi ta “đang ngồi trên mé sông Ba-by-lôn , bèn nhớ lại Si-ôn và khóc ” (Thi Tv 137:1-9). Người tín hữu chối Chúa cần có tâm tình như thế. “Nhớ lại Si-ôn và khóc” nghĩa là tìm con đường trở về, là trở về với nguồn cội, là đứa con đi hoang trở về với cha quì xuống khóc lóc. Người tín hữu không chỉ xưng nhận nhưng cũng chối Chúa, không chỉ chối Chúa nhưng cũng phải ăn năn. Ông Nê-hê-mi phải khóc trước, rồi sau đó mới được Chúa cho trở về xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem. Tất cả các cuộc phục hưng đều bắt đầu bằng nước mắt. Theo Chúa muốn vui mừng thì trước hết phải biết buồn bã, muốn đắc thắng thì trước hết phải biết rằng mình đang thất bại, thất bại trên bước đường đi theo Chúa. Chúa không đòi hỏi chúng ta trước hết phải sống một nếp sống mộ đạo, phải đi Nhà thờ thường xuyên, phải tổ chức Hội thánh chặt chẽ. Nhưng Chúa muốn rằng chúng ta trước hết phải biết ăn năn tội lỗi, phải biết khóc lóc vì sự yếu đuối của mình. Mỗi người phải khóc vì cá nhân mình, gia đình mình, vì nhóm tín hữu của mình, và vì Hội thánh mình.
Nếu chúng ta ngại không dám khóc, nếu lòng chúng ta chai đá không chịu ăn năn, dù chúng ta nghe giảng bao nhiêu đi nữa, hoạt động tích cựïc bao nhiêu đi nữa, thì cũng vô ích mà thôi. Hội Thánh chúng ta có giáo lý phù hợp theo Kinh Thánh, trung tín thờ phượng Chúa hết tuần này qua tuần khác, nhưng tại sao Hội thánh chúng ta ít tăng trưởng về phẩm cũng như về lượng? Lý do là: Trong Hội thánh có quá ít nước mắt.
Chúng ta thờ phượng Chúa bằng những bản thánh ca rất có ý nghĩa, cầu nguyện bằng những lời cầu nguyện rất thiết tha, chia sẻ Lời Chúa rất sâu nhiệm, nhưng nếu chúng ta không chịu dâng lên Chúa những tấm lòng đau thương thống hối, thì Chúa sẽ gớm ghê sự thờ phượng của chúng ta (AmAm 5:21)
Chúng ta nỗ lực chia sẻ Phúc âm cho người chưa biết Chúa, nhưng tại sao ít tội nhân trở về với Chúa? Lý do là: Chúng ta không biết khóc vì tội lỗi của mình thì làm sao chúng ta có thể khóc vì tội lỗi của tội nhân và đem họ trở về với Chúa?
Dĩ nhiên là chúng ta cũng có làm chứng, cũng có tổ chức truyền giảng, nhưng chỉ là thói quen tổ chức truyền giảng, thói quen làm chứng mà thôi, nên không có quyền năng từ trên cao. Chúng ta không biết ăn năn, không xưng tội mình, không kiêng ăn, cầu nguyện thì sẽ không bao giờ nhận được quyền năng và phước hạnh của Chúa. Nếu không biết ăn năn, số phận của chúng ta sẽ không khác gì số phận của ông Giu đa Ích-ca-ri- ốt.
Thực ra thỉnh thoảng chúng ta cũng khóc, nhưng thường là cảm động nhất thời khi nghe một bài giảng “hay”. Điều Chúa muốn là chúng ta để Chúa Thánh Linh cáo trách, rồi có tấm lòng đau thương thống hối về tội lỗi của mình, rồi khiêm nhường hạ mình xưng tội lỗi của mình ra để Chúa tha thứ cho. Vì “của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời , ấy là tâm thần đau thương ” (Thi Tv 51:16).
Chúng ta cầu nguyện xin Chúa cho Hội thánh được Phục hưng, cho dân tộc Việt nam ta có nhiều người tin Chúa. Nhưng không có một cuộc phục hưng nào không bắt đầu bằng nước mắt, và không có một cánh đồng truyền giáo nào có kết quả tốt mà trước đó không thấm máu tuận đạo. Cả hai, nước mắt và máu tuận đạo, chúng ta đều có, nhưng rất ít; máu tuận đạo rất ít đã đành, mà nước mắt cũng rất ít.
Đắc Thắng
“Các cửa âm phủ sẽ chẳng thắng được hội đóù”! Chúa hứa rằng, Hội thánh của tín hữu Phi-e-rơ sẽ đắc thắng vì Chúa, Đấng lập Hội thánh này, đã đắc thắng.
Sau khúc Kinh Thánh này, Chúa tỏ cho các môn đệ biết rằng Chúa phải đi đến Giê-ru-sa-lem, ở đó Chúa sẽ chịu thống khổ, sẽ chịu bắt, chịu xử và chịu giết. Như vậy: Chúa hứa thành lập Hội thánh của Ngài trong khi Chúa đang đối diện với cái chết. Tại sao Chúa không chọn một thời điểm khác? Lý do là: Chúa muốn xây dựng Hội thánh đối diện với cái chết; vì thế nên Hội thánh thường xuyên bị cái chết đe doạ. Trong số tất cả các quyền lực trên đời này, cái chết là quyền lực mạnh hơn hết, có thể tiêu diệt mọi thế lực, mọi tổ chức, mọi cộng đồng của con người. Nhưng Chúa hứa rằng, ngay cả cái chết cũng không thể tiêu diệt Hội thánh của Ngài.
Hội thánh Chúa thường xuyên bị cái chết đe dọa. Nhưng Hội thánh vẫn sống và xưng nhận Chúa. Không có một quyền lực nào trên đời này có thể tiêu diệt Hội Thánh của Ngài. Dưới nhãn quan của con người, các Hội thánh Tin lành của người Việt tại quê nhà cũng như ở các nước ngoài - những tổ chức nhỏ bé, yếu ớt, có ít tài chánh, thiếu phương tiện, thiếu nhân sự, bên ngoài tấn công dồn dập, bên trong chia rẽ trầm trọng - không thể nào tồn tại được. Nhưng chúng ta tin chắc rằng, Hội thánh của Chúa sẽ sống. Không có một quyền lực nào trên đời này có thể tiêu diệt Hội thánh. Chúa đã hứa với chúng ta như thế.
Sự đắc thắng của Chúa không phải là vinh quang của đời này. Trên đời này, Hội thánh không có vinh quang gì hết. Vinh quang của Hội thánh, thân thể của Chúa, khác hẳn và lớn hơn tất cả mọi vinh quang của đời này. Chúa của Hội thánh cũng không hề có và không hề tìm vinh quang của đời này. Khi Chúa Giê-xu sắp bắt đầu chức vụ, ma quỉ đã dùng vinh quang của đời này cám dỗ Chúa, nhưng Chúa đã từ chối, thà “vâng phục cho đến chết , thậm chí chết trên cây thập tự . Cũng vì đó nên Đức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao , và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh , hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Giê-xu , tất cả mọi đầu gối trên trời , dưới đất , bên dưới đất đều quì xuống , và mọi lưỡi đều xưng Chúa Giê-xu Cứu thế là Chúa ...”. Vinh quang của Chúa nằm trong sự nhục nhã, phục sinh bắt đầu từ cái chết.
Chúa hứa: “Các cửa âm phủ sẽ chẳng thắng được hội đó !”. Nhưng chúng ta đừng lầm tưởng rằng, như vậy có nghĩa là Chúa sẽ cho tổ chức Hội thánh của chúng ta tồn tại mãi mãi với bất cứ giá nào. Chúng ta đừng an tâm nghĩ rằng, thôi ta không cần lo gì nữa, Hội thánh ta ra sao cũng được, Chúa đã hứa rồi mà!
Chúa hứa Lời Hứa này cho Hội Thánh Của Chúa, tức là cho “cộng đồng của những người xưng nhận Chúa”. Nhưng nếu chúng ta sinh hoạt chẳng khác gì cộng đồng của những người không xưng nhận Chúa thì Lời Hứa này không dành cho chúng ta. Nếu chúng ta đối với Chúa, với người khác, và nhất là với nhau như những người không tin, hoặc nhiều khi còn tệ hơn những người không tin nữa, thì làm sao hội chúng ta có thể gọi là Hội thánh được?
Nhiều Hội thánh danh tiếng, có tên trong Kinh Thánh và trong lịch sử Hội thánh nhưng ngày nay không còn nữa. Chúa đã từng cảnh cáo Hội thánh Lao đi xê rằng: “Ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta .” (KhKh 3:16). Chúa cũng đã từng cảnh cáo Hội thánh Thi-a-ti-rơ rằng: “Ta sẽ đánh chết con cái nó ; và mọi Hội thánh sẽ rõ Ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người ; và ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo lại .” (KhKh 2:23).
Như vậy, nếu chúng ta thất bại thì không phải vì những lý do bên ngoài nhưng vì những lý do bên trong, hoặc đúng hơn, vì lý do từ trên: không phải vì Chúa không giữ Lời Hứa nhưng vì chúng ta không được hưởng Lời Hứa. Nếu thay vì trung tín xưng nhận Chúa chúng ta cứ khăng khăng giữ những chủ trương của mình, nếu thay vì ăn năn tội lỗi của bản thân mình chúng ta cứ tiếp tục đào bới tội lỗi của người khác, nếu thay vì để Chúa xây dựng Hội thánh chúng ta cứ tiếp tục chia rẽ nhau, thì Lời Hứa “Các cửa âm phủ sẽ chẳng thắng được hội đó!” sẽ đổi lại thành lời kết án “Các cửa âm phủ sẽ thắng được hội này”.

Tha Thứ Mấy Lần
“Phi-e-rơ đến gần Đức Chúa Giê-xu mà hỏi rằng : Thưa Chúa , nếu anh em con phạm tội cùng con , thì sẽ tha cho họ mấy lần ? Có phải đến bảy lần chăng ? Ngài đáp rằng : Ta không nói cùng con rằng đến bảy lần đâu , nhưng đến bảy mươi lần bảy .
Vậy nên , nước thiên đàng giống như vua kia , muốn tính sổ với các đầy tớ mình . Khi vua bắt đầu soát sổ , có người đem nộp một tên kia mắc nợ vua một vạn ta-lâng . Bởi vì người chẳng có gì mà trả , chủ dạy bán người , vợ con và gia tài người , để trả nợ . Người đầy tớ bèn sấp mình xuống dưới chân chủ mà xin rằng : Thưa chủ , xin giãn cho tôi , tôi sẽ trả hết ! Chủ động lòng thương xót , thả người về , và tha nợ cho . Nhưng khi đầy tớ đó ra về , gặp một người bạn cùng làm việc , có thiếu mình một trăm đơ-ni-ê , thì nắm bóp cổ bạn mà nói rằng : Hãy trả nợ cho tôi ! Người bạn sấp mình xuống mà nài xin rằng : Xin giãn cho tôi , thì tôi sẽ trả cho anh . Song người chẳng khứng , cứ việc bắt bỏ tù cho đến khi trả hết nợ .
Các bạn thấy vậy , buồn lắm , đến thuật lại cùng chủ mình mọi điều đã xảy ra . Chủ bèn đòi đầy tớ ấy đến mà nói rằng : Hỡi đầy tớ độc ác kia , ta đã tha hết nợ cho ngươi , vì ngươi cầu xin ta ; ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc với ngươi như ta đã thương xót ngươi sao ? Chủ nổi giận , giao nó cho người giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ . Nếu mỗi người trong các con không thành tâm tha lỗi cho anh em mình , thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các con như vậy .”
Mat Mt 18:21-35
“Xin tha tội lỗi cho chúng con , như chúng con cũng tha người phạm tội nghịch cùng chúng con .”
Mat Mt 6:12;
Chúa đang trên đường về thành phố Giê-ru-sa-lem để chịu thương khó; các môn đệ đi theo Ngài. Theo Chúa là cùng về thành phố Giê-ru-sa-lem để cùng chịu thương khó với Ngài. Nhưng các môn đệ lại mang một ưu tư khác. Họ nghĩ rằng, khi về đến thành phố Giê-ru-sa-lem, Chúa sẽ thành lập Nước Trời rồi lên ngôi làm vua, còn họ phen này chắc chắn sẽ được “làm lớn”, bõ công sống chết với Chúa mấy năm nay. Nhưng khổ nỗi, họ có đến mười hai người! Vì thế “họ tranh luận với nhau xem người nào lớn nhất ” (Mac Mc 9:35), người này khoe người này giỏi, người kia bảo người kia hay. Tranh luận với nhau bất phân thắng bại, cuối cùng họ hỏi thẳng Chúa: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” (câu 1).
Có lẽ các môn đệ đã cãi nhau kịch liệt, chỉ trích nhau thẳng tay, người nào cũng ăn miếng, trả miếng, không ai chịu thua ai. Rồi họ bắt lỗi nhau, không người nào chịu tha lỗi cho anh em mình.
Có lẽ ông Phi-e-rơ, người xông xáo nhất trong số các môn đệ, luôn luôn đi đầu, luôn luôn làm trước nên bị ganh tị nhiều nhất, cũng có nhiều sơ hở nhất nên bị chê trách và bị phê bình nhiều nhất. Có lẽ anh em nóng quá, lỡ miệng, làm ông Phi-e-rơ đau quá! Ông đã từng tha lỗi cho anh em nhiều lần. Người ngoại tộc tha thứ một lần. Người Do-thái sùng đạo sẵn sàng tha thứ hai lần, nhiều nhất ba lần. Nhưng ông Phi-e-rơ rộng lượng hơn, tha thứ nhiều lần hơn. Ông còn nhớ rõ, đếm đi đếm lại kỹ càng, bảy lần rồi! Nhưng lần này, “sức người có hạn”. Vì thế ông Phi-e-rơ đến với Chúa, hỏi cho ra lẽ: “Nếu anh em con phạm tội cùng con , thì sẽ tha cho họ mấy lần ? Có phải đến bảy lần chăng ?”.
Muốn theo Chúa thực sự, phải học tập tha thứ. Trong Hội thánh, ta sinh hoạt với Chúa là Cha và với các anh chị em khác. Làm khách lữ hành trên bước đường đời này - rồi mai đây ta sẽ về đến quê hương trên Trời - không có gì quí hơn là có Người Cha quan phòng hướng dẫn và có người anh, người chị, người em trong Chúa cùng đi với ta để an ủi, khích lệ, đùm bọc nhau. Nhưng sống chung với nhau trước sau cũng có lúc đụng chạm. Vì một lý do nào đó ta bất đồng ý kiến với nhau, vô tình hoặc cố ý ta chạm tự ái nhau. Rồi thương nhau lắm cắn nhau đau. Có lẽ ta đã “bỏ qua” cho người anh, người chị, người em trong Chúa một lần, hai lần, nhiều lần rồi. Người đời “sự bất quá tam”, trong Chúa bảy lần là nhiều, phải không? Chúa Giê-xu trả lời: “Không , bảy mươi lần bảy !”, rồi kể ẩn dụ về Người Đầy tớ không biết tha thứ này.
Ẩn dụ này liên hệ mật thiết với lời Cầu xin tha tội trong bài Cầu nguyện chung: “Xin tha tội lỗi cho chúng con , như chúng con cũng tha người phạm tội nghịch cùng chúng con !”. Sự tha tội của Chúa là nhân hay quả của sự tha thứ của chúng ta? Phải chăng sự tha thứ nhau là điều kiện để được Chúa tha tội? Hoặc chúng ta tha thứ nhau vì Chúa đã tha tội cho chúng ta? Qua ẩn dụ này, Lời Chúa dạy rõ ràng: Chúa tha tội cho ta trước, rồi ta sẽ - ta phải - tha thứ cho anh chị em mình.
Luật Pháp
Ẩn dụ Người Đầy tớ không biết tha thứ gồm tóm toàn bộ nội dung của Kinh thánh: Luật pháp và Phúc âm. Luật pháp khẳng định mọi người đều có tội, Phúc âm công bố ân xá tội cho mọi người.
Sống trên trần gian mọi người đều nợ nần, tội lỗi. Trong ẩn dụ, người đầy tớ mắc nợ vua, người bạn mắc nợ người đầy tớ. Ta có lỗi với người, người có lỗi với ta. Trong gia đình, con cái có lỗi với cha mẹ, cha mẹ với con cái; anh chị em có lỗi với nhau. Bà con có lỗi với ta, ta với bà con, với bạn bè, với làng xóm. Học trò có lỗi với thầy, thầy với học trò; người dân với chính quyền, chính quyền với người dân; cá nhân với xã hội, xã hội với cá nhân. Dân tộc này có lỗi với dân tộc khác; thế hệ này có lỗi với thế hệ khác... Và cuối cùng, toàn thể nhân loại đều có tội với Đức Chúa Trời.
Ở đâu có con người, ở đó có tội lỗi. Chúa ban cho ta đôi mắt để chiêm ngưỡng vinh quang của Đấng Tạo Hóa và nhận diện đồng loại, nhưng bao lần ta đã lạm dụng nhìn hau háu, nhìn lầm, nhìn lén, nhìn bậy, nhìn trừng trừng... (xem tự điển!), rồi nhắm mắt lại lúc cần nhìn thấy! Chúa ban cho ta môi miệng để ca tụng Chúa và tương giao với người khác, nhưng bao lần ta đã lạm dụng nói bá láp, nói bậy, nói càn, nói chớt, nói dóc, nói dối, nói gạt, nói gian, nói gièm, nói gỡ, nói hành, nói kháy, nói khích, nói khoác, nói lẫy, nói móc, nói lén, nói phách, nói phét, nói quàng, nói xiên, nói xỏ...(nt), rồi im lặng lúc cần nói! Chúa ban cho ta đôi tay để phụng sự Chúa và phục vụ người khác, nhưng bao lần ta đã lạm dụng làm ác, làm ẩu, làm bậy, làm càn, làm chết, làm đau, làm giả, làm hại, làm hỏng, làm khó, làm khổ, làm thừa làm thiếu, làm tình làm tội ... (nt), rồi khoanh tay lại lúc cần làm! Con người của trần gian là con người tội lỗi (Thi Tv 51:7; RoRm 3:23).
Có tội, nhưng không ai thích nhận tội! Ông A-đam thưa với Chúa: “Người nữ mà Chúa đã để gần tôi !”, bà Ê-va thưa với Chúa: “Con rắn dỗ dành tôi !”. Mọi người tìm cách đổ lỗi cho nhau, và cuối cùng, tất cả đổ lỗi cho Chúa.
Con người chối tội, nhưng vua “muốn tính sổ với các đầy tớ mình ”! Tất cả những ánh mắt, lời nói, việc làm, tư tưởng... đều bị phơi bày ra ánh sáng và bị luật pháp kết án nghiêm khắc. “Chủ dạy bán người , vợ con và gia tài người , để trả nợ ”. Người “đầy tớ” này có lẽ là một vị quan toàn quyền, đã biển thủ hoặc phung phí thuế của dân đóng cho vua. Số nợ khổng lồ: 10.000 ta-lâng, tức là 100.000.000 đơ-ni-ê, một trăm triệu lương công nhật của một người lao động! Vua truyền “bán người , vợ con và gia tài người ”. Luật của người Do-thái chỉ cho phép bán người trong trường hợp người ăn cắp không thể bồi thường số tiền mình đã ăn cắp, nhưng tuyệt đối cấm bán thân nhân của người đó. Ở đây, trong ẩn dụ, vua áp dụng luật của người ngoại tộc truyền bán cả vợ con của người đầy tớ, nghĩa là tất cả mọi người và mọi vật thuộc về người đầy tớ. Nhưng giả sử bán hết tất cả, số tiền thu được bao nhiêu? Thời bấy giờ giá một người nô lệ từ 500 đến 1.000 đơ-ni-ê, chẳng thấm vào đâu so với số nợ khổng lồ. Như vậy, lịnh truyền của vua chủ yếu phản ánh sự nghiêm khắc của luật pháp chứ không phải vì vua muốn đòi bồi thường thiệt hại.
Phúc Âm
Tuy nhiên, Chúa không chỉ công bằng nhưng cũng nhân từ. Đức Chúa Trời kết án, nhưng cũng sẵn sàng ân xá. Con người tội lỗi có thể đến với Chúa và xin Ngài tha thứ như người đầy tớ trong ẩn dụ. Khi khẩn khoản xin vua giãn nợ, có lẽ người đầy tớ chỉ dám nghĩ, mình sẽ phải làm thân trâu kéo cày trả nợ cho vua suốt đời. Nhưng vua “động lòng thương xót , thả người về , và tha nợ cho ”. Phúc âm hoàn toàn ngoài sự mơ tưởng, vượt xa lời cầu xin của con người tội lỗi.
Lời van xin của người đầy tớ: “Xin giãn cho tôi...” tương tự như lời Cầu xin tha tội trong bài Cầu nguyện chung của chúng ta: “Xin tha tội lỗi cho chúng con !”. Lời Cầu xin tha tội bắt đầu bằng liên tự “và”: “Xin cho chúng con hôm nay đồ ăn đủ ngày và xin tha tội lỗi cho chúng con !”. Lời Cầu xin tha tội và lời Cầu xin lương thực liên hệ mật thiết với nhau. Sự tha thứ cần thiết như lương thực hằng ngày. Nếu không có lương thực thân thể sẽ hao mòn, nếu không có sự tha thứ linh hồn sẽ bị hư mất.
Nhưng lời Cầu xin tha tội của ta “... xin tha tội lỗi cho chúng con ...” không dừng ở đây mà phải tiếp tục “... như chúng con cũng tha người phạm tội nghịch cùng chúng con .”. Hằng ngày ta ra mắt chầu Vua Thiên Thượng với lời Cầu xin tha tội này, hằng ngày lời Cầu xin này cũng phải được thể hiện cụ thể trong nếp sống của ta, nếu không, ta chỉ cầu nguyện đầu môi chót lưỡi như “bọn giả hình” mà thôi (Mat Mt 6:5). Lời Cầu xin tha tội sẽ là lời Cầu xin chân thành của ta - chứ không phải là đọc kinh trả bài cho Chúa - khi ta sẵn sàng tha thứ cho người khác.
Chúa tha ta, ta tiếp tục tha người... Ân sủng như thể một cuộc chạy đua tiếp sức. Người trước trao thanh gỗ cho người sau, người sau cũng phải tiếp tục trao thanh gỗ cho người kế tiếp... Nếu trong đội một người không tiếp tục trao thanh gỗ cho người kế tiếp, thanh gỗ sẽ không bao giờ đến đích, toàn đội dù chạy nhanh thế nào đi nữa cũng không có hi vọng đoạt giải. Cũng tương tự, ân sủng phải được tiếp tục trao lại cho người khác thì mới đạt có hiệu lực.
Người đầy tớ trong ẩn dụ đã không tiếp tục trao thanh gỗ đó, nhưng hành động ngược lại với lương tâm của một người vừa mới nhận được ân sủng. Gặp một người bạn mắc nợ, anh liền “nắm bóp cổ bạn mà nói rằng : “Hãy trả nợ cho ta !”! Trường hợp này ta kinh nghiệm mỗi ngày. Nhiều khi ta không thể tha thứ cho anh chị em của mình. Lỗi người khác nặng quá, ta không thể “bỏ qua”. Nhưng lời Cầu xin tha tội là: “...như chúng con cũng tha ...”.
Tha thứ mấy lần? Tha thứ không đếm mấy lần! Tha thứ mà còn đếm mấy lần tức là còn Luật pháp chứ chưa phải Phúc âm, là gượng gạo tha thứ nhờ khả năng tự kiềm chế chứ không phải vui lòng tha thứ do quyền năng của Phúc âm. Tha thứ như thế, người tha mệt lắm vì phải nhờ sức mình, mà người “được” tha cũng khổ lắm vì phải đội ơn hoài.
Tha thứ cũng không nhớ dai, phải quên; vì quên nên không thể đếm mấy lần. Tha mà không quên, ta sẽ khổ lắm, vì còn cay đắng, mà người cũng còn mệt - mệt với ta! Không nên tha như thế, mà cũng chẳng ai thích bị tha như thế.
Chúa Giê-xu dạy: tha thứ bảy mươi lần bảy, tha thứ hoàn toàn. Vết thương phải lành hẳn, không còn vết thẹo! Khi chưa tha thì tự nhủ trong lòng rằng: “Ta sẽ giết Gia-cốp, em ta, đi.”; lúc tha rồi thì “chạy đến trước mặt người, ôm choàng cổ mà hôn, rồi hai anh em đều khóc” (SaSt 27:33).
Nhưng tha thứ “bảy mươi lần bảy ” không phải chỉ là thay đổi thái độ, mà còn là thay đổi hướng nhìn . Ta không còn thấy người chắp tay cúi đầu đứng trước mặt mình nữa, nhưng ta quay lại hướng về cây thập tự để thấy Chúa. Ta sẽ thấy Chúa - bị treo trên cây thập tự, thân thể lơ lửng giữa trời giữa đất, bị Đức Chúa Cha và toàn thể nhân loại ruồng bỏ - đang cầu nguyện xin Đức Chúa Cha gia ân tha thứ cho những người bắt mình và tra tấn mình, tha thứ cho những người kết án và giết mình, cũng tha thứ cho ta và người có lỗi với ta. Ta sẽ nghe tiếng Chúa thiết tha: “Lạy Cha , xin tha tội cho họ , vì họ không biết mình làm điều gì ” (LuLc 23:34)! Lúc đó ta sẽ không còn đặt vấn đề tha hay không tha, cũng không cần vận dụng khả năng tự kiềm chế, cũng chẳng còn bận tâm đếm mấy lần, nhưng ta sẽ nở miệng cười mà không chờ người mở lời xin lỗi trước. Ta sẽ nói với anh chị em mình rằng: “Em là Giô-sép đây! Cha em còn sống chăng?” (SaSt 45:1-28).
Tại sao chúng ta không thể tha thứ cho nhau? Ta nợ 100.000.000 đơ-ni-ê, còn người chỉ nợ ta 100 đơ-ni-ê. Để làm nổi bật sự tương phản giữa hai số nợ, có người đã đưa ra một hình ảnh sống động như sau: giả sử số nợ phải trả bằng bạc cắc, một trăm đơ-ni-ê chỉ mang trong một túi nhỏ, trong khi đó một trăm triệu đơ-ni-ê cần đến một đoàn quân 8.600 người mới có thể mang được, mỗi người phải mang một túi xách nặng khoảng 12 cân, đứng cách nhau một thước thành một hàng dài tám cây số. Nợ ta lớn như thế, nhưng nay đã được tha, ta cũng phải tha nợ nhỏ cho người. Ta đã nghe Phúc âm, tại sao ta hành xử với người bằng Luật pháp? Ta được hạnh phúc nhờ ân sủng của Chúa, nhưng cái hạnh phúc này sẽ không toàn vẹn và lâu dài nếu ta không biết chia sẻ ân sủng của Chúa cho người khác. Cuộc đời của ta sở dĩ có ý nghĩa nhờ Chúa tha tội cho ta, nhưng cuộc-đời-có-ý-nghĩa này sẽ sớm trở thành một cuộc-đời-vô-nghĩa nếu ta khăng khăng bắt lỗi anh chị em mình.
Người đầy tớ bị bắt nợ lại: “Chủ nổi giận , giao nó cho người giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ !”. Người nào thọ lãnh ân sủng của Đức Chúa Trời mà không sống xứng đáng với ân sủng của Ngài, số phận của người đó sẽ đen tối hơn trước (Luther)!
Lạy Cha, xin tha tội lỗi cho con, như con cũng tha người có lỗi với con!

Xức Dầu Cho Chúa
“Đức Chúa Giê-xu ở tại làng Bê-tha-ni , trong nhà Si-môn là người phung . Ngài đang ngồi bàn ăn , có một người đàn bà vào , đem một cái bình bằng ngọc , đựng đầy dầu cam tòng thật rất quí giá , đập bể ra mà đổ dầu thơm trên đầu Đức Chúa Giê-xu . Có vài người nổi giận nói với nhau rằng : Sao xài phí dầu thơm ấy như vậy ? Vì có thể bán dầu đó được hơn ba trăm đơ-ni-ê , mà bố thí cho người nghèo . Vậy , họ oán trách người . Nhưng Đức Chúa Giê-xu phán rằng : Hãy để mặc người ; sao các ngươi rầy người làm chi ? Người đã làm một việc tốt cho ta . Vì các ngươi luôn có người nghèo ở với mình , khi nào muốn làm phước cho họ cũng được ; nhưng các ngươi chẳng có ta ở luôn với đâu . Người đã làm điều mình có thể làm được , đã xức xác ta trước để chôn . Quả thật , ta nói cùng các ngươi , trong khắp cả thế gian , hễ nơi nào Tin lành này được giảng ra , việc người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để nhớ đến người .”
Mac Mc 14:3-9
Trong những ngày Chúa Giê-xu yêu dấu của chúng ta chịu thương khó, ngoài các môn đệ còn có rất nhiều người khác ở bên cạnh Chúa: các thầy tế lễ, các thầy thông giáo, nhiều người thuộc các phái Pha-ri-xi và Sa-đu-xê, và quần chúng đông đảo. Có hàng trăm hàng ngàn người chứng kiến Chúa đi trên con đường thập tự. Nhưng chỉ có ba người nhận biết rằng, con người Giê-xu này chính là Đấng Mê-xi, Chúa Cứu thế.
Người thứ ba là viên đội trưởng chỉ huy đội lính đóng đinh Chúa. Kinh Thánh kể rằng: Khi Chúa chết, “người đội trưởng đứng đối ngang Ngài , thấy Ngài trút linh hồn như vậy , thì nói rằng : Người này quả thật là Con Đức Chúa Trời .” (5:38).
Người thứ hai là một trong hai anh cướp bị xử treo trên cây thập tự bên cạnh Chúa. Kinh Thánh kể rằng: Một anh cướp thưa với Chúa: “Hỡi Giê-xu , khi Chúa đến trong nước mình rồi , xin nhớ đến con !” (LuLc 23:42).
Và người thứ nhất là một phụ nữ - theo Phúc âm Giăng người này là bà Ma-ri - chẳng nói một lời xưng nhận Chúa, nhưng hành động cụ thể: “đem một cái bình bằng ngọc , đựng đầy dầu cam tòng thật rất quí giá , đập bể ra mà đổ dầu thơm trên đầu Đức Chúa Giê-xu ”.
Xức dầu cho Chúa nghĩa là gì?
Tôn Chúa Làm Vua
Phúc âm Lu-ca kể về một người đàn bà tội lỗi xức dầu trên chân Chúa (chương 7). Xức dầu trên chân là một hành động biết ơn. Ở đây, theo Phúc âm Mác, bà Ma-ri không chỉ xức dầu trên chân nhưng cũng xức trên đầu của Chúa nữa. Đó là cách xức dầu tôn làm Vua.
Bà Ma-ri biết rằng, con người tầm thường này, “bị người ta khinh dể và chán bỏ..., bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì”, như tiên tri Ê-sai (chương 53) miêu tả, là một con người cao thượng, sẽ hi sinh chịu chết cái chết của chính mình và của toàn thể nhân loại. Vì thế bà Ma-ri xức dầu tôn Chúa làm Vua của mình. Trong khi kẻ thù âm mưu giết Chúa, trong khi ông Giu-đa phản Chúa, ông Phi-e-rơ chối Chúa và các môn đệ bỏ Chúa trốn đi, người phụ nữ này âm thầm xức dầu cho Chúa.
Lúc bấy giờ Chúa đang dự tiệc, những sự việc diễn biến chung quanh đều sửa soạn cho cái chết của Ngài. Bên ngoài, “các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo tìm mưu để bắt Chúa Giê-xu và giết đi ” (câu 1). Bên trong, sau bữa tiệc, ông Giu-đa Ích-ca-ri-ốt đi ra liên lạc với các thầy tế lễ cả để tìm cách nộp Chúa (câu 11). Còn các môn đệ khác thì dửng dưng, không tin Chúa sẽ phải chịu thương khó. Chúa đã báo trước cho các môn đệ về sự thương khó của mình, nhưng “các môn đệ không hiểu Chúa muốn nói gì ” (Mac Mc 9:31), còn ông Phi-e-rơ thì đem Chúa riêng ra can ngăn: “Hỡi Chúa , Đức Chúa Trời nào nỡ vậy !” (Mat Mt 16:22). Đối với các môn đệ, chức vụ vinh quang của Chúa không thể nào chấm dứt một cách nhục nhã như thế được. Họ vẫn nghĩ, khi đến Giê-ru-sa-lem Chúa sẽ bách chiến bách thắng, cho nên họ mải lo tranh giành chức vị, rồi chia rẽ với nhau (10:35-41). Vì thế, trong những ngày đó Chúa là người đau khổ nhất, cô đơn nhất. Trong câu chuyện có nhắc đến những người nghèo khổ cần được giúp đỡ, nhưng Chúa mới chính là người cần được giúp đỡ nhất. Kẻ thù âm mưu hại Chúa đã đành, các môn đệ cũng không hiểu Chúa. Chỉ có bà Ma-ri hiểu Chúa, biết Chúa, kính sợ Chúa thực sự, phục vụ Chúa cụ thể.
Dâng Trọn Cuộc Đời
Bình ngọc - dầu cam tòng - thật - rất quí giá. Những người dự tiệc tính nhẩm, chai dầu của bà Ma-ri đáng giá hơn ba trăm đơ-ni-ê, tiền công của một năm lao động.
Thật ra nhà bà Ma-ri không thuộc loại cơm bạc đũa ngà. Thời bấy giờ nhà giàu có người hầu kẻ hạ, nhưng gia đình bà không có người hầu kẻ hạ. Một lần Chúa đến nhà thăm, bà Ma-thê, chị của bà Ma-ri, phải đích thân làm gà làm gỏi đãi khách. Bình dầu có lẽ là gia tài của cha mẹ để lại, có lẽ ba anh em làm lụng để dành được, có lẽ là vốn để học nghề, để lập gia đình, để xây dựng tương lai, để mua nhà cửa, để về hưu... Nhưng bà Ma ri không ngại “đập bể ra mà đổ dầu thơm trên đầu Chúa Giê-xu ”. Tôn Chúa làm Vua là đập bể tấm lòng, dốc đổ cuộc đời cho Chúa. Khi tôn Chúa làm Vua, ta không tiếc tiền bạc, sức lực, thì giờ, không tiếc gì cả. Ta dâng trọn cuộc đời, hiện tại và tương lai, cho Chúa. Ta dâng cho Chúa linh hồn, thân thể, và trái tim ta. “Ta không muốn dâng cho Gia-vê Đức Chúa Trời ta những của lễ thiêu không đáng giá chi ” (IISa 2Sm 24:24). Ta không tính toán, không do dự. Ta thành tâm dâng hết cho Chúa, tôn Chúa làm Vua “hết mình”.
Một Thách Thức
Xức dầu cho Chúa không phải dễ, khó lắm. Sống trong một xã hội trọng nam khinh nữ, bà Ma-ri “chỉ” là một người đàn bà. Người đàn ông Do Thái ngày xưa mỗi ngày cầu nguyện cảm tạ rằng: “Đức Chúa Trời ôi, cảm tạ Đức Chúa Trời đã sinh con ra làm một người đàn ông”. Bây giờ các ông ngồi lại dự tiệc, các bà phải lo phục vụ trong nhà bếp! Vậy mà bà Ma-ri dám cả gan bước vào phòng tiệc của những người đàn ông này, bất chấp những cặp mắt xoi bói, những nụ cười mỉa mai, những lời nói kết án. Trên tay bà Ma-ri cầm một bình ngọc, không phải là bình rượu để mời các ông nhậu. Rồi bà Ma-ri đập bình, đổ hết dầu thơm ra. Phải chi chỉ là một cái bình bằng đất, phải chi bà Ma-ri không đập bể bình mà chỉ nhỏ một vài giọt dầu thơm ra mà thôi, hoặc phải chi dầu không phải là “hàng ngoại”, loại cam tòng nguyên chất nhập cảng từ Ấn độ mà chỉ là “hàng nội”, nước hoa Sài-gòn hoặc loại dầu dừa rẻ tiền, thì chắc không ai nói gì. Rồi khi xức dầu cho Chúa, bà Ma-ri không chỉ xức trên chân mà cũng xức trên đầu nữa. Chúa đang chú tâm đàm đạo, bỗng đầu và chân bị ướt sủng. Người dự tiệc đang trò chuyện vui vẻ, bây giờ phải dừng lại, im lặng, khó chịu! Căn phòng đang thơm phức mùi tỏi, mùi dầu, mùi nước mắm, bây giờ có mùi khác!
Con người của bà Ma-ri, sự hiện diện của bà, và tất cả những việc làm của bà đối với môi trường chung quanh đều bất thường và khó hiểu. Cho nên bà Ma-ri bị chê, bị trách. Người tôn Chúa làm Vua nhiều khi “không giống ai hết”! Tôn Chúa làm Vua đòi hỏi lòng thành kính, tính can đảm và kiên trì. Muốn phục vụ Chúa phải chấp nhận nhục nhã. Âm mưu giết Chúa dễ hơn, phản bội Chúa, chối Chúa, tranh nhau chức vị dễ hơn. Ngồi ăn với Chúa rồi nói bán dầu để bố thí cho người nghèo dễ hơn, dễ hơn là xức dầu cho Chúa. Hoạt động rầm rộ, hăng say tổ chức không phải khó, khó là dám đập bể tấm lòng, dốc đổ cuộc đời làm thơm cho Chúa.
Vì tôn Chúa làm Vua mà nhiều người bị gia đình mắng nhiếc, bị xã hội ruồng bỏ, bị bức hại và khinh khi. Sống giữa hàng trăm hàng ngàn người khác mà ta tưởng chừng như cô đơn trong sa mạc. Vì sao? - Vì quan điểm của người tôn Chúa làm Vua và của người đời hoàn toàn khác nhau. Người đời ghen ghét Chúa, bà Ma-ri kính sợ Chúa. Người đời âm mưu giết Chúa, bà Ma-ri phục vụ Chúa.
“Phung Phí”
“Có vài người nổi giận nói với nhau rằng : Sao xài phí dầu thơm ấy như vậy ?”. Đối với người đời, xức dầu cho Chúa là phí! Đi nhà thờ là phí thì giờ! Hoạt động cho Chúa là phí sức! Đọc Kinh Thánh, cầu nguyện hằng ngày là phí công! Dâng tiền cho Chúa là phí của! Bỏ nghề nghiệp để phục vụ Chúa trọn thời gian là phí đời, phí tương lai!
Rồi người đời lý luận rằng: “Vì có thể bán dầu đó được hơn ba trăm đơ-ni-ê , mà bố thí cho người nghèo ”. Bình dầu này sử dụng cách khác ích lợi hơn! Số tiền này, thì giờ này, khả năng này, cuộc đời này... sao lại đem đổ xuống chân như thế (GiGa 12:4-6)? Người đời luôn luôn lý luận như thế, những lý luận thực tế và hữu lý. Vì sao? - Vì người đời chẳng hề yêu Chúa. Vì “thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài ” (1:10). Nhưng bà Ma ri không lý luận như vậy, bà suy nghĩ khác rồi quyết tâm hi sinh bình dầu.
Trong câu chuyện của chúng ta, không phải chỉ ông Giu-đa và một vài người dự tiệc trách bà Ma ri mà thôi. Chính các môn đệ cũng lên tiếng: “Sao phí của như vậy ?” (Mat Mt 26:8). Chính những người đã biết Chúa và đang theo Chúa cũng không dám “phung phí” cho Chúa. Đối với đời chúng ta dám phung phí, nhưng đối với Chúa chúng ta luôn luôn tiết kiệm, thỉnh thoảng hà tiện, cũng có khi tính toán nhỏ mọn, kỳ kèo với Chúa nữa. Khi ôn lại quá khứ, một số các bậc phụ huynh thường tiếc nuối rằng mình đã phung phí tuổi thanh xuân của mình cho đời. Nếu nhìn vào cuộc sống hiện tại, nhiều bạn thanh niên phải thú nhận rằng mình đang phung phí tuổi trẻ hiện tại và tương lai rực rỡ của mình cho đời. Chẳng những ta phung phí cuộc đời của bản thân ta, nhưng nhiều khi ta cũng vô tình phung phí cuộc đời của những người thân yêu trong gia đình mình nữa.
Ước chi ta biết tiết kiệm với đời và “phung phí” cho Chúa. Ước chi ta sẵn sàng “phung phí” tiền bạc, tài năng, thì giờ, tâm lực, sinh lực... cho Chúa. Nhiều tín hữu, kể cả những tín hữu “kỳ cựu”, chưa hề có kinh nghiệm “phung phí” này. Thực ra không phải chúng ta không muốn xức dầu cho Chúa. Thỉnh thoảng chúng ta cũng nhỏ ra một vài giọt dầu, cũng dâng một vài đồng tiền lẻ, cũng dùng những thì giờ rảnh rỗi không biết làm gì để “làm một cái gì đó” cho Chúa. Khi phục vụ đời chúng ta rất gương mẫu: đúng giờ, vui vẻ, kỷ luật, hoà thuận với mọi người, nghiêm túc hoàn tất mọi công tác..., nhưng khi thờ phượng và phục vụ Chúa chúng ta chờ được mời, được năn nỉ, rồi hẹn nay hẹn mai, rồi chỉ trích, chia rẽ... Nhiều khi sợ “phung phí” quá, ta dùng dầu giả, loại rẻ tiền, hoặc dùng nước lã xức cho Chúa rồi lên tiếng hỏi “góp ý: Tại sao thân thể Chúa không “thơm nức mùi dầu ” (IICo 2Cr 2:14) ?
Nhưng ta có phung phí cho Chúa không? Ta tưởng ta phung phí cho Chúa, nhưng thực ra chính Chúa đã phung phí cho ta trước. Trước khi ta đập bể lòng mình ra cho Chúa, chính Chúa đã đập bể thân Chúa cho ta rồi. Trước khi ta dốc đổ đời mình ra cho Chúa, chính Chúa đã đổ huyết Chúa ra cho ta rồi. “Thật vậy , khi chúng ta còn yếu đuối , Chúa Cứu Thế đã theo kỳ hẹn chịu chết vì người có tội ” (RoRm 5:6).
Vì thế không có điều gì gọi là phung phí cho Chúa hết. Bình dầu tuy rất quí giá, nhưng thực ra không xứng đáng để xức cho Chúa đâu. Con người ta, cuộc đời ta tuy rất quí trọng nhưng không xứng đáng để phục vụ Chúa đâu. Sở dĩ ta được phép tôn Chúa làm Vua, mến yêu Chúa, phục vụ Chúa là vì ân sủng của Chúa đối với ta đó thôi. Khi mắt mở ra, thấy được giá trị đích thực của Chúa và của bản thân mình, ta sẽ thấy không có gì là phung phí cho Chúa nữa.
Cơ Hội “Ngàn Năm Một Thuở”
Chúa Giê-xu phán: “... Các ngươi chẳng có ta ở luôn với đâu !”. Cơ hội xức dầu cho Chúa là cơ hội “ngàn năm một thuở”. Nếu ngày nay ta không nắm lấy cơ hội này, ngày mai sẽ trễ!
Vài ngày sau khi bà Ma-ri xức dầu cho Chúa, có một số phụ nữ khác cũng muốn xức dầu cho Chúa. Họ chịu khó thức dậy rất sớm, ra đi lúc trời còn tinh sương. Họ cũng mang dầu thơm theo, lòng cũng tràn đầy tình kính mến Chúa không kém gì bà Ma-ri, nhưng họ không còn có cơ hội xức dầu cho Chúa nữa.
Bà Ma-ri đã có diễm phúc này. Bà Ma-ri đã “đem một cái bình bằng ngọc , đựng đầy dầu cam tòng thật rất quí giá , đập bể ra mà đổ dầu thơm trên đầu Chúa Giê-xu ”.
Anh Barnabe là một nghệ sĩ xiệc rất lành nghề. Anh có thể đứng bằng hai tay, dùng hai chân quăng sáu trái cầu bằng sắt qua lại, lên xuống rồi dùng cổ chụp sáu trái cầu sắt đó lại. Anh cũng có thể dùng chân quăng rồi chụp mười hai con dao nhọn rất tài tình.
Anh Barnabe ngang dọc hết thành phố này đến thành phố khác, làm trò, ai cũng thích, nhưng không kiếm đủ tiền để sống. Một vị tu viện trưởng thấy tội nghiệp anh, thương tình đem anh về tu viện của mình, chăm sóc chu đáo.
Lúc đầu anh Barnabe mãn nguyện lắm. Nhưng sau một thời gian, anh rất buồn, vì thầm nghĩ rằng: “Chúa ôi, con khổ lắm, vì con không thể phục vụ Chúa được gì hết. Ngài tu viện trưởng trước tác được nhiều tác phẩm thần học. Thầy Alexander tạc được nhiều tượng đẹp cho tu viện. Còn thầy Marbodius thì biết vẽ Chúa. Còn con, con chỉ là một người ngu đần, không khéo tay, chẳng biết viết, chẳng biết làm thơ, không biết tạc tượng, không biết vẽ đẹp. Con không có gì hết, con không làm được gì hết cho Chúa.”.
Nhưng một buổi sáng kia, anh Barnabe thức dậy sớm, vẻ mặt hân hoan khác thường, chạy đến Nhà Nguyện rồi ở luôn trong đó cho đến trưa. Từ hôm đó, ngày nào cũng vậy, mỗi sáng anh đều đến Nhà Nguyện, mãi đến trưa mới về phòng mình.
Một ngày kia, vị tu viện trưởng và hai tu sĩ khác tò mò nhìn qua khe cửa xem anh Barnabe làm gì trong Nhà Nguyện. Họ thấy anh đang ở trước bàn thờ, đứng bằng hai tay, dùng hai chân làm xiệc bằng sáu trái cầu sắt và mười hai con dao nhọn. Thì ra vì không biết làm gì khác cho Chúa, anh nghĩ chỉ còn cách làm xiếc trước mặt Chúa mà thôi.
Hai vị tu sĩ kia không hiểu ý anh Barnabe, định lên tiếng trách anh đã phạm thượng với Chúa: trước bàn thờ mà dám làm xiếc. Còn vị tu viện trưởng thì nghĩ rằng anh điên. Ba người định chạyï vào lôi cổ anh chàng Barnabe này ra khỏi Nhà Nguyện.
Nhưng thình lình họ thấy một thiên sứ từ trên bàn thờ bước xuống, dùng áo choàng của mình lau mồ hôi lấm tấm trên trán của anh Barnabe.
Thấy vậy, ba người vội quì mọp xuống đất. Vị tu viện trưởng nói rằng: “Phước thay cho những người có lòng khó khăn, vì Nước Thiên đàng của những người ấy.”. Hai vị tu sĩ kia đáp lại: “A-men!”.

Vac Thập Tự
“Có một bác Si-môn kia , người thành Sy-ren , là cha A-léc-xan-đơ và Ru-phu , ở ngoài ruộng về , đi ngang qua đó ; họ bắt phải vác cây thập tự .”
Mac Mc 15:21
Từ dinh thống đốc Phi-lát đoàn người bắùt đầu di chuyển. Đi đầu là các anh lính La-mã có nhiệm vụ thi hành bản án tử hình. Chúa Giê-xu vác cây thập tự, một cây đà gỗ khá dài. Theo sau có thêm hai tử tội khác nữa. Kế đến là các thầy tế lễ, các thầy giáo luật, những người tố cáo Chúa. Quần chúng chen lấn, kẻ la người hò hét. Trong đám đông lẫn lộn mọi hạng người: Bạn bè có, kẻ thù có, kẻ thì vì hiếu kỳ, người thì đã từng theo Chúa lâu nay. Người thì nét mặt đau đớn tuyệt vọng, kẻ thì vui mừng chiến thắng. Thân nhân, bạn bè nước mắt ràn rụa, kẻ thù tươi cười khoái chí. Mọi người xô đẩy nhau tiến từng bước về Gô-gô-tha.
Đến trước cổng thành bỗng đoàn người dừng lại. Có tiếng của các anh liùnh quát tháo ở phía trước, quần chúng xôn xao ở phía sau. Mọi người hoang mang hỏi nhau việc gì xảy ra. Thì ra Chúa Giê-xu bị ngã quị, hình như vì kiệt sức, không vác nổi cây thập tự nữa. Kiệt sức là phải. Bị hai ba phiên toà xử tới xử lui, bị tra tấn, hành hạ suốt đêm thì không kiệt sức sao được. Các anh lính La-mã nhìn nhau, rồi nhìn cây đà, rồi nhìn vào đám đông tìm một người vác thế. Nhưng tìm được một người trong đám đông không phải dễ, khó lắm. Người nào cũng tránh né, từ chối, “nhường” cho người khác, “bán cái” cho nhau. Có người lẩn ra sau, một vài người chạy trốn. Hồi xưa như thế, ngày nay cũng thế; chỗ nào đông người, chỗ đó thiếu người gánh vác.
* * *
Vừa lúc đó có một nông phu từ xa đi lại, bác Si-môn quê ở Sy-ren. Ta chẳng biết nhiều về tông tích của bác Si-môn. Chỉ biết tên bác và quê bác. Phúc âm Mác cho biết thêm bác là cha của ông A-léc-xan-đơ và ông Ru-phu, thế thôi. Si-môn có nghĩa là “Được Nhậm”. Có lẽ bố mẹ bác muộn màng, cầu khẩn với Đức Chúa Trời lâu lắm mới sinh được bác, nên đặt tên bác là “Được Nhậm”. Như thế bác là đứa con thừa tự. Có lẽ hồi còn bé bác được cưng lắm.
Sy-ren là Li-by ngày nay, nằm ở miền bắc Phi châu. Bố mẹ của bác Si-môn là người Do-thái sống ly hương ở nước ngoài, nhưng bác nghĩ “ta về ta tắm ao ta...” nên đã khăn gói hồi hương trở về quê mẹ. Bác tự nhủ không ở đâu bằng ở thành phố thánh, rồi đến định cư tại Giê-ru-sa-lem.
Kinh thánh kể, bác Si-môn “ở ngoài ruộng về , đi ngang quađó ”. Sáng sớm hôm đó bác có nghe mọi người bàn tán xôn xao. Nhiều người rủ nhau chạy lại dinh thống đốc để xem sự việc. Nhưng bác chẳng bao giờ màng đến những vụ tranh chấp thần học đó, chỉ lo cày sâu cuốc bẫm. Cơm nước xong bác vội ra đồng làm việc; không hiểu sao bây giờ bác đã “ở ngoài ruộng về”. Có lẽ bác cảm thấy mệt, hoặc bồn chồn không yên nên về sớm. Hoặc bác định về sớm để lo sửa soạn cho ngày Sa-bát Vượt qua. Nghĩ đến tối nay, ngày Sa-bát Vượt qua sẽ bắt đầu, lòng bác lâng lâng phấn khởi đôi chút. Từ xa bác đã thấy bụi bay mịt mù, đến gần bác thấy đám đông đang nhốn nháo. Đúng là chạy chẳng khỏi trời. Có lẽ bác muốn tránh qua lối khác, hoặc quay trở lại, hoặc đứng tấp vào lề đường chờ đám đông đi qua. Bác chưa biết tính sao thì đã muộn. Mọi người đã thấy bác. Các anh lính La-mã đã thấy bác. Thấy bác mọi người thở phào, nhẹ nhõm. May quá, bác đến đúng lúc, như trời định.
Ta không biết bác Si-môn hồi hương lúc nào, đã định cư ở thành phố Giê-ru-sa-lem bao lâu, tại sao ra đồng rồi lại về sớm. Điều chắc chắn là bác hồi hương đúng lúc, định cư kịp thời, ra đồng đúng ngày, trở về kịp giờ. Mọi việc xảy ra như thể bác đã mơ tưởng và sửa soạn từ lâu. Nhưng cả Phúc âm Mác lẫn Phúc âm Lu-ca (23:26) đều khẳng định rõ ràng: các anh lính La-mã ép buộc bác phải vác cây thập tự. Đối với con người là việc ngẫu nhiên, nhưng đối với Đức Chúa Trời không có điều gì ngẫu nhiên xảy ra cả. Đức Chúa Trời sắp xếp mọi sự, an bài mọi người. Khi nhậm lời cầu khẩn, Đức Chúa Trời không nhậm vì cớ một lý do trước mắt, nhưng vì cớ toàn bộ chương trình cứu rỗi của Ngài.
* * *
Ép được bác, các anh lính La-mã an tâm tiếp tục thi hành phận sự; thế là các anh cũng “được nhậm”, tuy rằng các anh chả cầu khẩn lời nào! Bác Si-môn khom lưng, cẩn thận quàng hai tay lên cây đà, một tay ra trước một tay ra sau cho thăng bằng. Không biết lúc đó bác đang nghĩ gì? Bác vừa vác cây đà vừa nhăn nhó, cằn rằn, phản đối? Có lẽ lúc đó bác đau lắm. Đau vì cây đà đè nặng trên vai hoặc vì ấm ức, nhục nhã? Trời nắng chang chang, không khí ngột ngạt, bác cố lê từng bước theo sau Chúa. Mặc cho đoàn người xô đẩy, bác cúi đầu lầm lũi. Nhục nhã với mọi người, hổ thẹn với chính mình. Thế nào cũng có người kể lại cho vợ con. Biết nói sao đây cho thằng A-léc-xan-đơ và thằng Ru-phu hiểu. Đúng là ách giữa đàng đem quàng vào cổ! Vác cây gỗ này... Ôi thôi, thế là bị nhiễm uế, không được phép dự buổi Lễ dâng sinh tế trong lễ Vượt qua này! Có lẽ thỉnh thoảng bác cũng ngước mắt nhìn Chúa, thương hại hoặc trách móc? Chúa cũng quay lại nhìn bác, ánh mắt biết ơn và chan chứa tình thương. Chắc bác không biết mình đang vác cây thập tự của chính mình. Lúc đó nếu ai nói điều đó cho bác nghe chắc bác cũng không hiểu được. Cây thập tự của Chúa chính là cây thập tự của bác, của ta, và của mọi người.
Cây thập tự của con người nhưng không ai muốn vác. Con người không bao giờ tình nguyện chịu nhục nhã, lại càng không bao giờ đi tìm đau khổ, cho dù là cây thập tự của chính mình. Mọi người đều từ chối khổ đau. Thấy cây thập tự ở đâu, ta luôn luôn tìm cách né tránh ngay. Tất cả cố gắng của con người chẳng qua đều là nỗ lực giảm thiểu khổ đau trong cuộc đời. Chỉ có một người sẵn sàng vác cây thập tự; đó là người “vốn có hình Đức Chúa Trời , song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi , lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người . Ngài đã hiện ra như một người , tự hạ mình xuống , vâng phục cho đến chết , thậm chí chết trên cây thập tự .”.
Tuy kiệt sức, ngã quị, không vác nổi cây đà nữa, nhưng Chúa vẫn tiếp tục vác gánh nặng tội lỗi của con người. Bác Si-môn vác cây thập tự giúp Chúa một quãng đường ngắn, nhưng không thể vác gánh nặng tội lỗi thế Chúa được, có chăng là chỉ có thể làm cho gánh nặng đó đã nặng lại càng nặng thêm thôi. Chỉ Chúa “là Chiên Con của Đức Chúa Trời , là Đấng cất tội lỗi thế gian đi ” (1:29).
* * *
Ta không biết cuộc đời của bác Si-môn sau này như thế nào! Riêng trong thư Rô-ma, Sứ đồ Phao-lô có gửi lời “chào Ru-phu , người được chọn của Chúa , và chào mẹ người , cũng là mẹ tôi ” (16:13). Phải chăng Ru-phu này là con của bác Si-môn? Bác Si-môn bị lính La-mã ép buộc, nhưng ông Ru-phu được Chúa chọn. Chúa ban phước cho người vác cây thập tự và cho con cháu của người đó (Thi Tv 103:17; 115:14). Luật của Chúa hồi xưa như thế, kinh nghiệm ngày nay cũng còn như thế.
Nhưng niềm tin nơi Chúa, sinh hoạt tâm linh... của bác Si-môn như thế nào, tất cả đều nằm trong bóng tối. Phải chăng bác Si-môn đã đặt niềm tin của mình nơi Chúa? Hoặc sau đó bác đã bỏ đi không bao giờ trở lại? Vác cây thập tự không đương nhiên sẽ được phước. Biết bao người đeo thánh giá mà vẫn chà đạp thánh giá. Biết bao lần cây thập tự bị lạm dụng cho những lợi lộc riêng tư hoặc cho những mưu đồ tiêu diệt Hội thánh của Ngài. Quan trọng là thái độ của người vác cây thập tự đối với cây thập tự. Quan trọng là sau đó bác Si-môn có thực sự gặp gỡ Đấng đã chết trên cây thập tự không. Chỉ khi nào thực sự gặp gỡ Đấng đã chết trên cây thập tự, người vác cây thập tự mới được phước, và sẽ là nguồn phước cho gia đình, con cháu và nhiều người khác.
Ta không biết rõ cuộc đời của bác Si-môn sau này như thế nào, cũng không biết rõ cuộc đời của ta sẽ ra sao, chỉ biết tương lai của mình nằm trong tay Chúa. Nhưng phẩm chất của cuộc đời ta tùy thuộc vào thái độ của ta đối với cây thập tự, đối với Đấng đã chết trên cây thập tự.

Con Chiên Đi Lạc
“Tất cả những người thu thuế và người có tội đến gần Đức Chúa Giê-xu để nghe Ngài giảng . Các người Pha-ri-xi và các thầy thông giáo lằm bằm mà nói rằng : Người này tiếp những kẻ tội lỗi , và cùng ăn với họ .
Chúa phán cho họ lời thí dụ này : Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên , nếu mất một con , mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng , để đi tìm con đã mất cho kỳ được sao ? Khi đã kiếm được , thì vui mừng vác nó lên vai ; đoạn , về đến nhà , kêu bạn hữu và người lân cận , mà rằng : Hãy chung vui với ta , vì ta đã tìm được con chiên bị mất . Ta nói cùng các ngươi , trên trời cũng như vậy , sẽ vui mừng về một người có tội ăn năn hơn là chín mươi chín người công bình không cần phải ăn năn .”
LuLc 15:1-7

Những người công bình phê bình rằng Chúa Giê-xu hoà mình với những người thu thuế và tội lỗi.
Những người công bình này là ai? Họ là những thành viên cốt cán trong cộng đồng dân Chúa. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, họ là những người sùng đạo, sùng đạo hơn tất cả mọi người khác. Họ đọc Kinh Thánh chăm chỉ và nỗ lực sống đúng theo lời Kinh Thánh dạy. Họ thường xuyên đi Nhà thờ và tự nguyện làm trọn các điều răn của Chúa. Họ trung tín dâng tiền. Tóm lại, họ là những tín hữu gương mẫu. Chúa có thể tin cậy vào những người công bình này.
Còn những người thu thuế và tội lỗi là ai? Họ cũng là những thành viên trong cộng đồng dân Chúa, nhưng là những phần tử xấu. Họ không tin Chúa, không sinh hoạt trong Hội thánh, chẳng đọc Kinh Thánh, chẳng cầu nguyện, chẳng dâng tiền...
Thế mà bây giờ Chúa Giê-xu hoà mình với những phần tử này. Chúa không chỉ đến với họ mà thôi, nhưng còn xả thân chịu nhiễm uế nữa: Chúa ăn uống với họ! Vì thế những người công bình phê bình. Phê bình là phải.
Để giải thích hành động của mình, Chúa Giê-xu kể ẩn dụ Con Chiên Đi Lạc. Chúa vay mượn những kinh nghiệm hằng ngày trong cuộc sống: Mất và bị mất , tìm và tìm thấy . Hằng ngày ta mất: mất chìa khoá, mất tiền, mất của. Nhục nhất là mất danh dự. Đau nhất là mất uy tín. Khổ nhất là mất hi vọng. Mỗi ngày ta mất một lần, nhiều lần, rồi tìm, rồi “nếu may” thì tìm thấy. Những kinh nghiệm này không phải là những kinh nghiệm đặc biệt. Chiên đi lạc là việc thông thường. Chủ đi tìm con vật đi lạc cũng không phải là việc lạ. Nhưng Chúa Giê-xu vay mượn những kinh nghiệm thông thường này để dạy cho chúng ta về một kinh nghiệm đặc biệt, một kinh nghiệm về Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời vui mừng về một người có tội ăn năn hơn là chín mươi chín người công bình không cần ăn năn.
Người Chăn Đi Tìm
“Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên , nếu mất một con ...”. Ẩn dụ dạy về Đức Chúa Trời, nhưng ẩn dụ không nhắc đến Đức Chúa Trời, chỉ kể về những sự việc trên trần thế. Chúa dạy ta về Đức Chúa Trời bằng cách đề cập về con người.
Một con chiên đi lạc. Ngày nay các chủ trại nuôi chiên có thể đóng bảo hiểm mất chiên. Các hãng bảo hiểm có thể thống kê các trường hợp mất chiên. Điểm đặc biệt ở đây là Đức Chúa Trời suy nghĩ và hành xử hoàn toàn khác hẳn với con người. Đức Chúa Trời không đành lòng để một con chiên nào đi lạc hết. Ngài là Người chăn tốt, Người chăn hằng ngày chăm sóc bầy chiên, quí mến, nâng niu từng con một. Vì thế Người chăn lên đường đi tìm một con chiên đi lạc.
Thỉnh thoảng chúng ta cũng đi tìm, hăng hái tìm, tìm sôi nổi, nhưng chỉ nhất thời. Chúng ta có thể quan tâm đến một người nào đó, chăm sóc người đó chân tình, nhưng rồi chẳng bao lâu chúng ta lại thờ ơ với người đó. Chúng ta có thể dễ dàng quên lãng một người thân và để tâm trí mình hướng đến một người khác. Đức Chúa Trời kiên nhẫn hơn chúng ta. Khi tìm, Chúa tìm cho đến khi tìm thấy. Khi đã yêu thương, Ngài yêu thương cho đến cuối cùng. Nhiều khi Ngài phải đến với một người nhiều lần. Ngài tìm không mệt mỏi. Nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm.
Chúa tìm những người đang cấp bách cần Ngài - tất cả mọi người: những người trên giường bệnh, trong nguy nan và dưới bùn lầy, những người dễ mến và những người đáng ghét. Ngài tìm tất cả những người đang lầm lạc để cứu giúp.
Chúa đi tìm vì Chúa thương chiên. Chúa không đặt vấn đề tại sao chiên lạc, vì cám dỗ bên ngoài quá lớn, hoặc vì chiên không biết vâng lời; có lẽ vì cả hai. Chúa cũng chẳng trách chiên đã lạc nhiều lần, chẳng ngại đường tìm gian khổ, chỉ biết chiên đang cần mình, chỉ băn khoăn chiên đang gặp nạn. “Chúa động lòng thương xót” vì chiên không có người chăn (Mat Mt 9:36). “Chúa khóc” (LuLc 19:41). Chúa đi tìm “khắp xứ” (Mat Mt 4:23; Mac Mc 6:6), đi “khắp các thành, các làng” (Mat Mt 9:35), rồi đi lên đồi Sọ, tìm cho đến khi tìm thấy trên cây thập tự. Chúa đi tìm vì Chúa là tình thương.
Như thế ẩn dụ này không phải - không chỉ - là ẩn dụ Con Chiên đi lạc nhưng là - cũng là - ẩn dụ Người chăn đi tìm. Người chăn đi tìm các em thiếu nhi chưa biết cầu nguyện, đi tìm các bạn thiếu niên ăn chơi phóng đãng quên cả tương lai, đi tìm các bạn thanh niên không có hoặc đã đánh mất lòng tin, đi tìm các ông chỉ biết lao động quên cả gia đình, đi tìm các bà thường xuyên lo lắng đến nỗi bệnh hoạn, đi tìm toàn thể nhân loại đang lầm lạc trong tội lỗi.
Người chăn đi tìm chiên lạc; khi tìm được, Người chăn vác chiên về, cho chiên ăn uống, băng bó các vết thương, xoa dầu trên những chỗ bầm, rồi cho chiên đoàn tụ với bầy. Rồi Người chăn vui mừng mời bạn bè, làng xóm đến chia vui với mình. Sau bao nhiêu năm tháng, hao phí bao nhiêu công sức, tìm được mỗi một con chiên. Người đời cười mỉa, nửa khinh bỉ nửa thương hại, nhưng đối với Người chăn, một con chiên trở về với bầy là một sự cố vĩ đại. Trên đời chẳng ai quan tâm, nhưng trên Trời tổ chức đại tiệc ăn mừng. Người đời nhẩm tính, một con chiên giá chẳng là bao, nhưng Đức Chúa Trời tính khác, một linh hồn quí hơn cả thế gian. Ngài vui mừng về một người lầm lạc trở về “hơn là chín mươi chín người công bình không cần phải ăn năn .”
Con Chiên Đi Lạc
Ẩn dụ không nhắc đến Đức Chúa Trời, nhưng cũng chẳng đề cập trực tiếp đến con người. Chúa Giê-xu không đường đột làm ta trơ trẽn, nhưng muốn ta tự nhìn thấy chính mình ta. Ta là ai? Ta cần soi mình trong ẩn dụ để tự khám phá ra bản chất thật của chính mình. Ta có thể nhận ra ta trong con chiên đi lạc, cũng trong Người chăn đi tìm.
Trước hết, ta là con chiên đi lạc. Đối với người tín hữu, nhất là đối với các tín hữu “kỳ cựu”, ẩn dụ này có vẻ vừa quen thuộc vừa xa lạ. Quen thuộc vì đã đọc, đã học, đã nghe và đã chia sẻ lại cho người khác vài lần, nhiều lần rồi. Xa lạ vì ẩn dụ này không “ám chỉ” mình. Ta đã tin Chúa, ta đi Nhà thờ mỗi tuần, hoạt động đắc lực trong Hội thánh, chiên đi lạc nào phải là ta! Chúng ta có thói quen không thấy mình trong con chiên đi lạc, chỉ thấy người khác. Chúng ta thường cho rằng, con chiên đi lạc phản ánh những “người ở ngoài” Hội thánh. Chúng ta gọi họ là “người ngoại”, “người không tin Chúa”, cẩn thận hơn thì gọi là “người chưa tin Chúa”, lịch sự hơn: “thân hữu”! Rồi chúng ta năng nổ dùng ẩn dụ này kêu gọi họ sớm ăn năn tội lỗi trở về với Chúa, nếu không sẽ đi địa ngục! Thói quen này cần điều chỉnh ít nhiều. Con chiên đi lạc không chỉ là những người chưa biết Chúa hoặc đã biết nhưng chưa tiếp nhận Ngài. Trong cuộc sống hằng ngày chính chúng ta cũng thường lầm lạc nhiều lần, trong hành động, lời nói và nhất là trong tư tưởng của mình. Chúng ta cũng thường, tương tự như các con chiên, không bao giờ tự hỏi mình từ đâu đến, sẽ đi đâu và sống để làm gì!
Biết bao lần ta hoàn toàn xa Chúa. Ta đã từng tin yêu Chúa thiết tha mà nay đã “bỏ lòng kính mến ban đầu”. Biết bao lần khi lâm nạn, ta đã từng thành khẩn: “Đức Gia-vê là Đức Chúa Trời tôi”, nhưng bây giờ tai qua nạn khỏi, ta đang “đóng trại tại Si-chem” (SaSt 28:1-22; 33:1-20). Biết bao lần ta xa Chúa, “ở trong” Hội thánh nhưng xa hơn “người ngoại”, vô tín hơn “người không tin Chúa”. Mỗi năm ta dự lễ Giáng sinh mà cuộc đời vẫn “không có chỗ” cho Ngài, dự lễ Thương khó mà sống vẫn “chẳng hề biết người ấy”, dự lễ Phục sinh mà “không tin và lòng cứng cỏi”, dự lễ Thăng thiên mà vẫn còn “đứng ngóng lên trời”. Mỗi tuần ta dự lễ Thờ Phượng Chúa mà chẳng bao giờ “thấy Chúa ngồi trên ngôi cao sang” (EsIs 6:1-13). Hằng ngày nghe, đọc, chia sẻ Lời Chúa mà “không hiểu Lời ấy” (Mac Mc 9:32). Làm con mà: “Xin chia cho tôi phần của mà tôi sẽ được”. Làm anh chị em mà giả nhân giả nghĩa: “Tôi là người giữ anh chị em tôi sao?”. Làm đầy tớ mà hỏi: “Ai là người lớn nhất?”... Xa nhất là lúc ta nghĩ ta gần Chúa lắm mà không biết mình đang rất xa Chúa, lúc ta nói: “Ta giàu , ta nên giàu có rồi , không cần chi nữa ” mà không biết mình “khổ sở , khốn khó , nghèo ngặt , đui mù và loã lồ ” (KhKh 3:17).
Có thể chúng ta không biết chúng ta sa xuống hố sâu đến độ nào, cũng không biết Chúa đánh giá chúng ta cao đến độ nào, nhưng Chúa biết và đi tìm. Có người, nhiều người, không chịu để Ngài thăm hỏi, “không tin Ngài” (GiGa 12:37), “không tiếp rước Ngài” (LuLc 9:53;), “xin Ngài ra khỏi địa phận mình” (Mac Mc 5:17;). Cũng có người lấy ân trả oán, ném đá Chúa (GiGa 10:31), “kéo Ngài ra ngoài thành, đưa Ngài lên đến chót núi, là nơi họ xây thành ở trên, để quăng Ngài xuống” (LuLc 4:29;). Chỉ có một vài người, rất ít, biết Chúa và nhận ra tiếng của Ngài, rồi được Ngài tìm thấy và được đem về.
Đó là kinh nghiệm về Chúa mà mỗi người tín hữu cần kinh nghiệm. Đức tin không liên hệ đến truyền thống, thói quen. Gia đình, ông bà, cha mẹ tin Chúa mấy đời: chưa đủ, đạo dòng không cứu được ai, Chúa không có cháu, chỉ có con! Thường xuyên đi Nhà thờ, trung tín dâng tiền: “còn thiếu một điều”. Thực hiện tất cả mọi giáo nghi, sống nếp sống mộ đạo: “ngươi chẳng xa Nước Đức Chúa Trời đâu”; nhưng “chẳng xa” vẫn chưa phải là gần, dù gần cũng chưa phải là đã ở trong Nước Chúa! Quan trọng là bản thân đã có kinh nghiệm về Chúa: Chúa đã tìm thấy ta và đem ta về.
Chúa đem ta về, hồi đó một lần và từ đó đến nay nhiều lần. Kinh nghiệm này lập đi lập lại mỗi ngày, mỗi Chúa nhật. Chúa tìm thấy ta nhiều lần nằm dài trên lộ, trong nếp sống hằng ngày, những lúc ta yếu đuối và vấp ngã, gặp gỡ ta mỗi lần ta đọc Lời Chúa, mỗi Chúa nhật khi ta quây quần với những con người lầm lạc khác. Rồi khi nghe tiếng Chúa, rồi được tìm thấy, ta được đem về.
Con Chiên Đi Lạc và Người Chăn Đi Tìm
Tìm và tìm thấy , đem về rồi vui mừng - một chương trình sống của Chúa cho ta để ta không còn lầm lạc, và cần là của ta cho Chúa để Chúa vui mừng và nhiều người khác không còn lầm lạc nữa. Đó là chương trình sống để “tìm và cứu những người bị lạc ”.
Ẩn dụ này đề cập đến ân cứu rỗi dành cho tất cả mọi người. Sự cứu rỗi của tất cả mọi người là niềm vui mừng của thiên đàng. Hội thánh làm vui lòng Chúa nếu Hội thánh là một trạm cứu cấp, người tín hữu là đội viên cứu cấp chuyên lo đi tìm người đi lạc để đem về cho Chúa. Hội thánh không thể sống khác hơn chương trình sống của người Chủ Chăn của mình.
Ta thường lo tưởng nhiều về bản thân ta, về những điều mình đã được hưởng, hoặc không hoặc chưa được hưởng. Nhưng Chúa muốn ta lo tưởng nhiều hơn về những người chưa được hưởng gì. Dĩ nhiên tìm làm “mất” thì giờ và “tốn” công, và “mệt” sức. Nhiều người “mất” cả đời, có người “mất” sự sống. Nhưng “ai gìn giữ sự sống mình, thì sẽ mất...”. Chúa đã đem ta về không phải để ta cứ mãi mãi làm con chiên lạc trong chuồng, nhưng để trở thành Người chăn đi tìm. Chúa truyền cho người đã từng chối Chúa: “Hãy chăn chiên ta !”. Với những người đã từng bỏ Chúa trốn đi, Chúa nhắn nhủ: “Hãy đi khắp thế giới ...”!
Tại sao khi Chúa Giê-xu còn tại thế “tất cả những người thu thuế và người có tội ” đến với Chúa? Kinh thánh ghi rõ ràng chữ “tất cả ”. Nhưng ngày nay chỉ một số ít người “thu thuế và người có tội” đến với Chúa mà thôi! Tại sao?
Ngày nay nếu Chúa Giê-xu kể ẩn dụ này cho Hội thánh của Ngài, có lẽ Chúa sẽ bắt đầu khác hẳn. Có lẽ Chúa sẽ bắt đầu: Trong các con ai là người có một trăm con chiên, nếu mất chín mươi chín con ... . Phải chăng chúng ta xây rào chắn lối cản trở người khác trở về? Ta nghe tiếng chiên lạc mà “rầy, biểu nín đi” (Mac Mc 10:48)? Ta “đông quá, đến nỗi trước cửa không còn chỗ trống” (2:2)? Hoặc chúng ta đánh giá họ khác hơn Chúa? Hoặc chúng ta đã bỏ rơi những người đi lạc (LuLc 9:54;)?
Trong Phúc âm Giăng có ghi lại lời của Chúa Giê-xu: “Ta là Người chăn nhân lành ; Người chăn nhân lành vì chiên mình hi sinh mạng sống mình ... Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng này ; ta cũng phải dẫn nó về nữa ...” (GiGa 10:11, 16). Trên cây thập tựï, chỗ Chúa tìm thấy chúng ta, đã hi sinh chịu chết để đem chúng ta trở về, Chúa đã mạc khải Chúa là Người chăn nhân lành. Tại đó chúng ta cũng cần nhận biết chúng ta là ai và phải là gì: là Con chiên đi lạc, đã được tìm thấy, và cần trở thành Người chăn đi tìm.

Người Pha-ri-si và Người Thu Thuế
“Chúa Giê-xu lại phán thí dụ này về người cậy mình là người công bình và khinh dể người khác : Có hai người lên đền thờ cầu nguyện : một người Pha-ri-xi và một người thu thuế . Người Pha-ri-xi đứng cầu nguyện thầm như vầy : Lạy Đức Chúa Trời , tôi tạ ơn Ngài , vì tôi không phải như người khác , không tham lam , không bất nghĩa , không gian dâm , cũng không phải như người thu thuế này . Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần , và nộp một phần mười về tất cả món lợi của tôi . Người thu thuế đứng xa xa , không dám ngước mắt lên trời , đấm ngực mà rằng : Lạy Đức Chúa Trời , xin thương xót con , vì con là người có tội ! Ta nói cùng các ngươi , người này trở về nhà mình , được xưng công bình hơn người kia ; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống , ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên .”
LuLc 18:9-14
Chúa kể ẩn dụ Người Pha-ri-xi và Người Thu thuế này cho những người “cậy mình là người công bình và khinh dể người khác”. Ai là người “cậy mình là người công bình”? Đó là người “tự nhắc mình lên”, tự hào về con người lương thiện của mình, rồi khinh thường người khác.
Phúc âm Lu-ca không nói rõ những người “cậy mình là người công bình” này là ai. Có lẽ Chúa kể ẩn dụ này cho người Pha-ri-xi vì họ là những người thường tự cho mình là công bình, giải thích luật pháp rất chặt chẽ và thường khinh dể người khác. Đối với họ, quần chúng là những người không biết luật pháp và đáng bị nguyền rủa (GiGa 7:49).
Ngày nay, muốn hiểu ẩn dụ này ta cần nhìn vào những con người “cậy mình là người công bình và khinh dể người khác”. Tất cả chúng ta đều là loại người này!
“Có hai người lên đền thờ”. Có lẽ họ sống trong một thành phố, nhưng nếu gặp nhau thì tránh mặt nhau. Hôm nay tình cờ họ lên đền thờ cùng một lúc. Họ không quen biết nhau, nhưng mọi người trong thành phố đều biết họ: “một người Pha-ri-xi và một người thu thuế”. Đây là hai mẫu người hoàn toàn trái ngược nhau. Một người tốt, một người xấu; người này là một nhà đạo hạnh, người kia là một tay ma giáo.
Chúng ta thuộc mẫu người nào? Có lẽ nhiều người tự cho mình là người tốt như người Pha-ri-xi. Có lẽ ít người tự cho mình là người xấu như người thu thuế. Có lẽ hầu hết mọi người đều thuộc loại người trung dung: vừa là người thu thuế vừa là người Pha-ri-xi, thỉnh thoảng là người Pha-ri-xi, thỉnh thoảng là người thu thuế. Trong đời ta thường biết ít nhiều về những người khác chung quanh ta, nhưng quan trọng là ta phải biết mình thuộc mẫu người nào. Ta thực sự là ai? Bản chất Pha-ri-xi và thu thuế của ta như thế nào?
“Hai người lên đền thờ cầu nguyện”. Khi cầu nguyện hai người này bộc lộ con người của mình ra cho Chúa. Qua lời cầu nguyện họ trình dâng lên cho Chúa con người của mình, rồi Chúa xét xử con người của họ.
Một người cầu nguyện xin Chúa chứng giám sự công bình của mình, còn một người cầu nguyện xin Chúa thương xót mình. Ta cũng thường xuyên cầu nguyện. Ta cũng cần được Chúa chứng giám sự công bình của ta, vì nếu không được Chúa xưng công bình thì ta không thể nào sống còn trước mặt Chúa được. Nhưng đồng thời ta cũng tìm cầu ân thương xót của Chúa vì nếu Chúa không thương xót thì ta cũng không thể nào sống còn trước mặt Chúa được.
Người Pha-ri-xi
Trước hết ta quan sát người Pha-ri-xi. Ta thường có ấn tượng xấu về người Pha-ri-xi. Thực ra người Pha-ri-xi là người lương thiện. Người Pha-ri-xi hoạt động tích cực cả trong tôn giáo lẫn ngoài xã hội. Người Pha-ri-xi biết rằng Đức Chúa Trời thể hiện ý muốn của Ngài qua luật pháp, và luật pháp là thẩm quyền duy nhất trong cuộc sống của mình. Đối với người Pha-ri-xi, sống trên đời quan trọng là phải biết phân biệt thiện, ác.
Con người lương thiện này đi lên đền thờ và đang đứng trước mặt ta. Vẻ mặt người đó sáng ngời. Theo thói quen người đó ngước mặt lên, giang hai tay ra và cầu nguyện cảm tạ Chúa. Đó một người có lương tâm trong sạch. Lời cầu nguyện của người Pha-ri-xi cho ta thấy người đó là một người hiền lành. Nhưng qua lời cầu nguyện người Pha-ri-xi đã dâng lên cho Chúa điều gì?
Người Pha-ri-xi cầu nguyện rằng: “Lạy Đức Chúa Trời , tôi tạ ơn Ngài , vì tôi không phải như người khác , không ...”. Trong thời Chúa Giê-xu, một số người Pha-ri-xi thường cầu nguyện như thế. Họ cảm tạ vì họ là những người đặc biệt, hoàn toàn khác với những người khác. Thực ra cảm tạ như thế không phải là sai. Tham lam, tức là lấy tài sản của người khác làm tài sản của mình một cách bất hợp pháp: Cảm tạ Chúa tôi không tham lam. Gian dâm, một tội rất thịnh hành trong thời bấy giờ: cảm tạ Chúa tôi không gian dâm. “Cảm tạ Chúa tôi không phải như người thu thuế này ”. Cảm tạ như thế nào phải là sai?!
Nhưng khi cầu nguyện như thế, người Pha-ri-xi chẳng qua chỉ dâng lên cho Chúa con người tiêu cực của mình mà thôi. “Con không phải là...”, không phải như người khác, không tham lam, không bất nghĩa, không gian dâm, không phải như người thu thuế. Người Pha-ri-xi không thể xác định con người tích cực của mình. Ta là ai? Vâng, ta không vô tín, nhưng có trung tín không? Ta không yếu đuối, nhưng có mạnh mẽ không? Ta không phá hoại Hội thánh, nhưng có xây dựng Hội thánh không? Chúng ta không chia rẽ, nhưng có yêu thương, đoàn kết với nhau để phục vụ Chúa không?
Trong Hội thánh luôn luôn có người Pha-ri-xi và người thu thuế. Giữa hai mẫu người này có một hố sâu. Đó là hố sâu giữa xấu và không xấu, giữa tội lỗi và không tội lỗi, giữa người yếu đuối và người không yếu đuối. Ở đâu có hố sâu này, ở đó có sự so sánh, bất mãn, xung đột và chia rẽ, ở đó sẽ không có tình thương và ân sủng. Ai so sánh rồi bất mãn? Ai xung đột rồi chia rẽ? - Người Pha-ri-xi!
Người Pha-ri-xi phân tích, so sánh rồi tự cho mình hơn người khác, thấy người khác sai lầm rồi bất mãn và chỉ trích: “Lạy Chúa , tôi không phải như người thu thuế này ...”. Như vậy, chính trong lời cầu nguyện người Pha-ri-xi đã đào hố sâu chia rẽ giữa mình và người thu thuế. Hầu hết những nan đề trong Hội thánh đều bắt nguồn từ những người “thiêng liêng”, mộ đạo. Ta tưởng mình năng nổ phục vụ Chúa, nhưng trong khi ta phục vụ Chúa, tích cực hoạt động trong Hội thánh, thực ra ta chỉ, hoặc cũng gây chia rẽ, phá đổ Hội thánh.
Người Pha-ri-xi thấy tất cả những lỗi lầm của người khác, nhưng không yêu thương xây dựng người khác, trái lại đã lợi dụng lỗi lầm của người khác để dìm người khác xuống. Tín hữu nào không thể xác định mình là ai là một người rất nguy hiểm cho Hội thánh. Người đó có thể phân tích tình trạng Hội thánh rất chính xác, có thể nhận thấy tất cả khuyết điểm của người khác... để chỉ trích, luôn luôn chống đối và chia rẽ mọi người.
Sau khi dâng lên cho Chúa con người tiêu cực của mình, người Pha-ri-xi nêu lên những hành động tích cực của mình: “Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần ...”. Tuy cầu nguyện cảm tạ Chúa, nhưng thực ra người Pha-ri-xi tự khoe mình đó thôi: Tôi ... , tôi ..., tôi ... ! Nhiều khi ta phục vụ Chúa, nhưng thực ra ta chỉ phục vụ cái tôi .
Kinh Thánh Cựu ước đòi hỏi kiêng ăn một năm một lần - vào ngày Lễ Chuộc tội Jom Kippur - mà thôi. Nhưng từ khi bị lưu đày qua Ba-by-lôn những người Do-thái sùng đạo kiêng ăn mỗi tuần hai lần, vào ngày thứ hai và thứ năm. Kiêng ăn và dâng tiền không phải là sai, trái lại rất đáng khuyến khích. Người kiêng ăn một tuần hai lần và trung tín dâng hiến một phần mười chắc chắn phải là một người rất sùng đạo. Trong các Hội thánh Tin lành Việt nam của chúng ta dễ gì có được một người như thế. Người kiêng ăn một tuần hai lần là một người gần gũi Chúa, rất sâu nhiệm, có thể chia sẻ Lời Chúa cho nhiều người khác. Người trung tín dâng hiến một phần mười có thể góp phần đắc lực phát triển Hội thánh.
Nhưng khi cầu nguyện như thế, người Pha-ri-xi chẳng qua chỉ dâng những công quả của mình lên cho Chúa mà thôi, tương tự như “ông Ca-in dùng thổ sản làm của lễ dâng cho Đức Gia-vê”, rồi tưởng như vậy là đủ! Người Pha-ri-xi tưởng rằng những công quả của mình có thể chứng minh mình là một người công bình.
Nhưng trước mặt Chúa, công quả dù nặng bao nhiêu cũng “bị cân trên cái cân, và thấy là kém thiếu” (DaDn 5:26). “Kiêng ăn một tuần hai lần và dâng một phần mười” chưa đủ. Người Pha-ri-xi còn thiếu một điều: dâng chính con người của mình. Dù ta hoạt động tích cực bao nhiêu đi nữa, dù ta dâng hiến bao nhiêu đi nữa, đối với Chúa chưa đủ. Chúa đòi hỏi con người thực sự và toàn diện của ta, toàn bộ cuộc đời ta.
Người Thu Thuế
Người thu thuế đi lên đền thờ. Người thu thuế hoàn toàn trái ngược với người Pha-ri-xi. Người thu thuế là tay bất lương. Người thu thuế thuộc vào một trong những giai cấp xấu xa nhất trong thành phố Giê-ru-sa-lem. Người thu thuế là hạng phản quốc, là người cộng tác với kẻ thù, tiếp tay với chính quyền La-mã bóc lột nhân dân. Người thu thuế vừa thu thuế cho nhà nước vừa hối lộ, tham nhũng, làm lợi riêng cho mình.
Con người bất lương này ít khi đi lên đền thờ, nhưng ngày hôm đó người này đi lên đền thờ. Vào đền thờ người thu thuế không dám tiến lên phía trước, nhưng rón rén ở phía sau, “đứng xa xa” ở một góc, có lẽ là chỗ dành riêng cho những người ngoại tộc. Khi cầu nguyện cảm tạ, người thu thuế không dám ngước mặt lên vì biết rằng Chúa thánh khiết quá, còn con người của mình bất khiết quá. Theo thói quen, người Do-thái thường giơ tay lên trời khi cầu nguyện. Sứ đồ Phao lô cũng “muốn những người đàn ông đều giơ tay thanh sạch lên trời mà cầu nguyện...” (ITi1Tm 2:8). Nhưng con người bất lương này không dám giơ tay lên trời vì biết rằng hai tay của mình nhơ nhớp lắm! Thay vì giơ tay lên người này dùng tay đấm ngực.
Người thu thuế không cầu nguyện: “Lạy Chúa, người Pha-ri-xi đó bề ngoài tuy khác con, nhưng thực ra bên trong cũng tội lỗi như con!”. Giả sử người thu thuế cầu nguyện như thế thì chẳng qua cũng là nói lên sự thật mà thôi. Nhưng người thu thuế không cầu nguyện như thế. Khi thành tâm đến với Chúa ta sẽ chỉ thấy con người bất khiết của ta trước sự thánh khiết của Chúa mà thôi. Lúc đó ta sẽ không còn quan tâm so sánh ta với người khác nữa. Tất cả những sự thật khác đối với ta đều sẽ trở thành thứ yếu. Lúc đó ta chỉ thấy ta tội lỗi quá, xa cách Chúa quá.
Vì thế người thu thuế đấm ngực thưa với Chúa rằng: “Lạy Đức Chúa Trời , xin thương xót con , vì con là người có tộí !”. Người này thưa với Chúa tất cả sự thật về chính mình: tôi là một tội nhân, một con người xấu xa trước mặt Đức Chúa Trời, trước luật pháp của Chúa, trước những tiêu chuẩn đạo đức của con người cũng như trước lương tâm của mình.
Qua lời cầu nguyện của mình người thu thuế đã dâng lên cho Chúa con người tội lỗi của mình: “Con là người có tội ”. Đó là một sự thật làm mọi người khinh thường ta. Thường ngày có lẽ người thu thuế, cũng như mọi người khác, không bao giờ biết nhận lỗi, hễ bị phê bình là bào chữa ngay, hoặc phê bình trả đũa lại người phê bình mình. Nhưng bây giờ người này dám xưng tội mình. Kinh thánh dạy rằng: “Vậy nếu ai xưng tội mình thì Chúa là Đấng thành tín sẽ tha thứ tội lỗi cho người đó .”
Người thu thuế không hề làm một công quả nào nên không xin Chúa thưởng công cho mình gì hết. Người này không kiêng ăn, không dâng phần mười. Giả sử người này có dâng phần mười thì cũng chẳng có giá trị gì, vì là phần mười của tiền tham nhũng. Người thu thuế đi lên đền thờ, chỉ đứng đó, không có gì hết, không làm gì hết, chỉ biết cầu xin ân thương xót của Chúa mà thôi. Người đó trải lòng mình ra, thành thật trình cho Chúa cuộc đời thất bại của mình, thế thôi. Luther tâm sự: “Tất cả chúng ta đều là những người hành khất.”
Chúa Giê-xu
Kể ẩn dụ xong, Chúa Giê-xu dạy rằng: Người thu thuế tội lỗi “được xưng công bình hơn người kia”.
Nếu Chúa dạy: Người Pha-ri-xi được xưng công bình hơn người thu thuế, và người thu thuế tuy tội lỗi nhưng cũng được Chúa thương xót, thì chắc ta dễ hiểu. Nhưng Chúa dạy: Người thu thuế tội lỗi được xưng công bình hơn người Pha-ri-xi công bình. Chúa đảo lộn toàn bộ nấc thang giá trị của con người. Người xấu công bình hơn người tốt! Chúa chấp nhận người bất lương và từ khước người lương thiện!
Trong sự tương giao với Chúa, biết bao lần ta từng kinh nghiệm được điều này: Chúa chấp nhận con người thu thuế của ta và từ khước con người Pha-ri-xi của ta. Ta cũng thường kinh nghiệm rằng, ta tương giao với Chúa mật thiết hơn khi ta chấp nhận những con người thu thuế và tội lỗi ở chung quanh ta, vì Chúa là bạn của những người thu thuế và tội lỗi. Khi ta thấy được tấm lòng của những người yếu đuối chung quanh ta, nhận thức được rằng Anh Chị Em tội lỗi của ta là những người đã được Chúa xưng công bình, lúc đó Chúa cũng sẽ thấy tấám lòng của ta và xưng ta là người công bình.
Một số thủ bản không có chữ “hơn người kia”. Vì thế câu Kinh thánh này có thể đọc là: Người thu thuế được xưng công bình trở về nhà mình. Người này đứng trước mặt Chúa, chỉ dám cầu xin ân thương xót của Chúa mà thôi, thế mà lại được Chúa xưng là người công bình. Khi đến với Chúa và theo Ngài, ta cần kinh nghiệm như thế. Một người thành tâm đến với Chúa và cầu xin Ngài với tất cả tâm hồn mình sẽ được Chúa ban cho nhiều hơn những điều mình cầu xin và suy tưởng. Chúa dạy: “Người này được xưng công bình trở về nhà mình”, tức là Chúa đứng bên ta, ở với ta và khích lệ ta.
Còn về phần người Pha-ri-xi thì sao? Người Pha-ri-xi không được nhắc nhở gì đến nữa!
Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót con, vì con là người có tội!

Nước Thành Rượu
“Cách ba ngày sau , có đám cưới tại thành phố Ca-na , trong tỉnh Ga-li-lê ; mẹ Đức Chúa Giê-xu có mặt tại đó . Đức Chúa Giê-xu cũng được mời đến dự đám với các môn đệ Ngài . Vừa khi thiếu rượu , mẹ Đức Chúa Giê-xu nói với Ngài rằng : Người ta không có rượu nữa . Đức Chúa Giê-xu đáp rằng : Hỡi đàn bà kia , ta với ngươi có sự gì chăng ? Giờ ta chưa đến . Mẹ Ngài nói với những người hầu bàn rằng : Người biểu chi , hãy vậng theo cả . Vả , tại đó có sáu cái ché đá định dùng về sự rửa sạch cho người Giu-đa , mỗi cái chứa hai ba lường nước . Đức Chúa Giê-xu biểu họ rằng : Hãy đổ nước đầy những ché này ; thì họ đổ đầy tới miệng . Ngài bèn phán rằng : Bây giờ hãy múc đi , đem cho người coi tiệc . Họ bèn đem cho . Lúc người coi tiệc nếm nước đã biến thành rượu (vả , người không biết rượu này đến từ đâu , còn những người hầu bàn múc nước thì biết rõ ), bèn gọi chàng rể , mà nói rằng : Mọi người đều đãi rượu ngon trước , sau khi người ta uống nhiều rồi , thì kế đến rượu vừa vừa . Còn anh , anh lại giữ rượu ngon đến bây giờ .
Đó là tại Ca-na , trong tỉnh Ga-li-lê , mà Đức Chúa Giê-xu làm phép lạ thứ nhất , và tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy ; các môn đệ bèn tin Ngài .”
GiGa 2:1-11
Đọc câu chuyện này ta có thể đặt ra nhiều nghi vấn. Câu chuyện có bố cục rõ ràng, văn chương bóng bẩy và có nhiều màu sắc, những lời đối thoại rất sống động. Người đọc thích thú biết thêm một tập tục đãi khách của người Do-thái qua cââu nói của “người coi tiệc”, có lẽ là người hầu bàn chính, nói với chú rể: “Mọi người đều đãi rượu ngon trước , sau khi người ta uống nhiều rồi , thì kế đến rượu vừa vừa . Còn anh , anh lại giữ rượu ngon đến bây giờ .”. Tưởng tượng bộ mặt vừa ngạc nhiên vừa ngượng ngùng của chú rể ta không khỏi buồn cười và thương hại. Nhưng câu chuyện có thực không? Có người cho rằng câu chuyện này chỉ là phóng ảnh của một truyền thuyết cổ - truyền thuyết thần Dionysos biến nước thành rượu - mà thôi.
Ta cũng có thể đặt câu hỏi: Phép lạ này có cần thiết không? Các phép lạ khác như chữa cho người què đi được, người mù thấy được... rõ ràng là cần thiết và có ý nghĩa, vì là những phép lạ cứu người, giúp người cụ thể, nhưng ở đây, phép lạ này rất “kỳ”: không cần thiết, vì không có bệnh tật, chết chóc, ngay cả khách dự tiệc có lẽ cũng chẳng biết tiệc thiếu rượu.
Thực ra thiếu rượu lại là một điều hay, vì - như câu nói của “người coi tiệc” cho biết - khách dự tiệc đã uống quá nhiều, đến nỗi số rượu dự trữ cũng không còn nữa. Có lẽ nhiều người đã ngà ngà say. Thế thì nếu có tài làm phép lạ thì làm, nhưng làm phép lạ này thì quả là không cần thiết. Hoá bánh cho người đói ăn là việc hữu lý, nhưng tiếp tế rượu cho những người đã xỉn nào phải là sứ mạng của Chúa Cứu thế?! Biến nước thành rượu là việc lạ thực, nhưng tầm thường quá, nếu không muốn nói là ngây thơ, vô nghĩa.
Đối với người Tin Lành Việt nam ta thì dù bị ép mời cũng nhất quyết không uống rượu, còn chuyện mời người khác uống thì người tín hữu lại càng tuyệt đối không bao giờ làm. Tín hữu Việt nam ta một lòng một dạ với Chúa như thế, mà Chúa thì lại như thế! Nếu biết anh chị em nào yếu đuối, thỉnh thoảng “chén anh chén tôi”, ta sẽ chỉ mặt điểm danh ngay, hoặc giảng một bài cho nghe, hoặc thất vọng, lắc đầu quay đi... Thế mà Chúa lại biến nước thành rượu! Phải chi hôm đó, trước khi khách bắt đầu nhập tiệc Chúa biến rượu thành nước mới đúng là cao tay ấn, phải không?
Ngoài ra, câu trả lời của Chúa trả lời cho bà Ma-ri nghe sao “lạ” quá, “lạ” hơn phép lạ nữa. “Hỡi đàn bà kia , ta với ngươi có sự gì chăng ? Giờ ta chưa đến ”. Nghe chẳng được tí nào. Chả dạ chả thưa gì hết, bề nào cũng là mẹ, cho dù chỉ là mẹ về phần xác. Trả lời “lạ” như thế, nhưng rồi cũng làm phép lạ, thế có lạ không?
Ta có thể dựa vào khoa học, thần học và lịch sử đưa ra nhiều câu hỏi khác nữa để thảo luận, nhưng ta cũng sẽ không bao giờ thảo luận xong và đi đến một kết luận nào. Điểm chắc chắn là: trước giả Phúc âm Giăng là một người, cũng như tất cả các tín hữu khác, tin vào quyền năng của Chúa. Chúa đã và còn làm phép lạ. Khi tường thuật câu chuyện này, cũng như tất cả các câu chuyện khác trong Phúc âm của mình, trước giả chẳng những kể lại một câu chuyện có thực, đã xảy ra, nêu tên các nhân vật chính, địa danh, thời điểm rõ ràng, nhưng cũng “để cho anh chị em tin rằng Chúa Giê-xu là Chúa Cứu thế , là con Đức Chúa Trời , và để khi anh chị em tin , thì nhờ Danh Ngài mà được sống ” (GiGa 20:31).
Như thế, quan trọng là ý nghĩa của câu chuyện này đối với ta. Trước giả Giăng gọi câu chuyện này là “phép lạ thứ nhất”, nguyên văn: “dấu lạ thứ nhất”. Như người đi đường cần bảng chỉ đường, các nhà bác học cần ngôi sao “đi trước mặt cho đến chừng ngay trên chỗ Con Trẻ ở mới dùng lạiï”, người tìm Chúa cần các dấu lạ hướng dẫn đến với Chúa. Nhờ “dấu lạ thứ nhất” này “các môn đệ bèn tin Ngài ”.
“Dấu lạ thứ nhất” này muốn chỉ dẫn điều gì?
Chủ Tiệc Đích Thực
Dấu lạ này cho biết Chúa Giê-xu là ai. Phúc âm Giăng bắt đầu bằng một câu khó hiểu: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt , ở giữa chúng ta .” (1:14). Câu chuyện này giúp ta thấu đáo “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt” nghĩa là gì. Chúa trở thành một người như tất cả mọi người, làm khách được mời dự tiệc cưới, cũng ăn, uống, liên hoan và chia vui với cô dâu chú rể.
Đọc các sách Phúc âm, ta hầu như không bao giờ thấy Chúa có cung cách đạo mạo, uy nghi như trong những bức tranh vẽ Chúa, chỉ thấy Chúa rất “người”, “người” hơn con người. Bắt đầu ta thấy Chúa là một em bé nghèo khổ, đáng thương, nằm trong máng cỏ, là một thiếu niên bị cha mẹ phiền trách. Rồi ta thấy Chúa ngao du với bọn thâu thuế và phường tội lỗi, cũng đói, khát, khóc, than, mệt, ngủ, cũng cầu nguyện kêu trời - “Đức Chúa Trời tôi ôi ! Đức Chúa Trời tôi ôi ! Sao Ngài lìa bỏ tôi !” - như tất cả mọi người chung quanh. Cuối cùng con người đó bị bắùt và bị xử, bị chết. Trong suốt cuộc đời tại thế Chúa luôn luôn hoà mình sống với mọi người, quan tâm đến từng cá nhân một. Nhờ đó không ai quá thấp hèn đến nỗi không đến với Ngài được, vì Chúa đã hạ mình xuống đến chỗ thấp hèn nhất. Cũng không ai quá tội lỗi đến nỗi không được Chúa thông cảm và tha thứ, vì Chúa đã chết chung với những người có tội.
Chúa sinh hoạt phàm tục với những người phàm tục như thế, đối với những người mộ đạo rất khó hiểu, khả nghi và đáng trách: “Đó là người ham ăn mê uống , bạn với người thâu thuế và kẻ có tội .” Nhưng Phúc âm nằm ở trong chỗ phàm tục đó. Chỉ từ trong xác thịt phàm tục của con người Chúa mạc khải mình là Con Trời, và - trong câu chuyện này - từ một người khách được mời dự tiệc Chúa mạc khải mình là Chủ tiệc đích thực mời mọi người dự Tiệc của Ngài. Sáu “ché đá” của người Hi-lạp cổ, loại có hai quai, thường làm đất nung nhưng ở đây là loại ché đá, tổng cộng chứa khoảng từ 480 đến 700 lít rượu. Ngày hôm đó Chúa đãi khách rất hậu. Rượu trong Tiệc của Chúa là loại đặc biệt, không phải là rượu mạc-ten, cũng chẳng phải là rượu đế quốc doanh. Vì loại rượu nào cũng đều làm “đỏ mắt” (SaSt 49:12), “say sưa” (9:21), làm “choáng váng, xiêu tó” (EsIs 28:7), “khiến người ta nhạo báng” (Châm ngôn 20:1;)... Rượu trong Tiệc của Chúa không phải là rượu ngoại, cũng chẳng phải là rượu nội, nhưng là rượu thiên thượng từ trên ban xuống, từ cây thập tự đổ ra, là “chén cứu rỗi ” (Thi Tv 116:13), “chén phước lành ” (ICo1Cr 10:16), là “giao ước mới ” (11:25), là “huyết ta , huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội ”.
Như thế, “dấu lạ đầu tiên” trong tiệc cưới này báo trước bữa Tiệc Vượt qua cuối cùng với các môn đệ và Tiệc Cưới Chiên Con với Hội thánh của Ngài ở trong Nước Chúa. Chúa là Chủ tiệc, và Chúa cũng là Tiệc. Chúa mời mọi người: “Tất cả hãy uống đi !”.
Quyền Năng Biến Đổi
Dĩ nhiên Chúa có thể tạo từ không ra có, từ sáu ché trống không thành sáu ché đầy rượu ngon. Nhưng Chúa muốn bày tỏ quyền năng biến đổi.
Nước trong sáu ché đá dùng để tẩy uế - theo Do-thái giáo; đóù là nước Luật pháp. Rượu so với nước quí hơn và có tác dụng xúc tác nhiều hơn. Rượu tượng trưng cho niềm vui, “là vật khiến hứng chí loài người ” (Thi Tv 04:15). Rượu của Chúa lại còn quí hơn nữa: rượu Phúc âm.
Đó là ý nghĩa căn bản của tất cả các phép lạ của Chúa, kể cả các phép lạ chữa bệnh. Chúa có quyền năng biến đổi bình thường thành phi thường, tầm thường thành quí giá, vô dụng thành hữu dụng, từ Cựu ước thành Tân ước, từ Luật pháp thành Phúc âm. “Dấu lạ đầu tiên” này không phải chỉ là việc lạ biến nước thành rượu; ma quỉ cũng có thể thực hiện những việc lạ tương tự (XuXh 7:11-12). Niềm tin nơi Chúa không phải là tin Chúa có thể làm việc lạ, nhưng tin Chúa đã và có thể biến đổi con người một cách kỳ diệu. Chúa đã và ngày nay có thể biến đổi con người từ đau yếu thành mạnh khoẻ, từ tuyệt vọng thành hi vọng, từ đau khổ thành hạnh phúc, từ buồn rầu thành vui vẻ, từ ô uế thành thánh khiết, từ chết thành sống, từ nô lệ của ma quỉ thành con cái của Đức Chúa Trời, từ những con người bất lực thành những con người hữu dụng hoàn thành những công tác to lớn và khó khăn cho Ngài.
Hãy Đổ Nước Đầy!
Trong câu chuyện, bà Ma-ri đã nói một câu rất có ý nghĩa: “Người bảo chi , hãy vâng theo cả !”. Câu này dành cho những người hầu bàn ngày hôm đó, cũng dành cho Hội thánh của Chúa ngày nay.
Chúa muốn con người tham dự vào sự mạc khải của Ngài. Để vào đời Chúa mượn lòng của bà Ma-ri. Nghe tiếng kêu cứu của anh mù Ba-ti-mê Chúa truyền các môn đệ: “Hãy kêu người đến!”. Thấy quần chúng đói khát, Chúa dạy các môn đệ: “Chính các con phải cho họ ăn !” rồi dùng năm cái bánh và hai con cá để nuôi hơn năm ngàn người. Trước khi thăng thiên Chúa nhắn nhủ các môn đệ: “Hãy đi ...!”. “Như Cha đã sai ta thể nào , ta cũng sai các con thể ấy ”. Chúa muốn sử dụng con người. Trong câu chuyện này Chúa bảo những người hầu bàn: “Hãy đổ nước đầy những ché này !”. Có lẽ những người hầu bàn không biết Chúa sẽ làm gì, chỉ vâng lời làm theo những điều Chúa chỉ bảo để rồi được chứng kiến - được tham dự - vào “dấu lạ đầu tiên” của Chúa. Khi vâng lời Chúa, ta sẽ vinh dự được tham dự vào sự mạc khải của Ngài.


Con Chẳng Còn Ai
“Kế đó , có một ngày lễ của dân Giu-đa , Đức Chúa Giê-xu lên thành Giê-ru-sa-lem . Số là , tại thành Giê-ru-sa-lem , gần cổng Chiên , có một cái ao , tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Bê-tết-đa , xung quanh ao có năm cái vòm cửa . Những người đau ốm , mù loà , tàn tật , bại xuội nằm tại đó rất đông , (chờ nước động ; vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao , làm cho nước động ; lúc nước đã động rồi , ai xuống ao trước hết , bất kỳ mắc bịnh gì , cũng được lành ). Nơi đó , có một người bị bịnh đã được ba mươi tám năm . Đức Chúa Giê-xu thấy người nằm , biết rằng đau đã lâu ngày , thì phán : Con có muốn lành chăng ? Người bịnh thưa rằng : Thưa Chúa , con chẳng có ai để quăng con xuống ao trong khi nước động ; lúc con đến , thì người khác đã xuống ao trước con rồi . Đức Chúa Giê-xu phán rằng : Hãy đứng dậy , vác giường con và đi . Tức thì người ấy được lành , vác giường mình và đi . Vả bấy giờ là ngày Sa-bát .”
GiGa 5:1-9
Bê-tết-đa có nghĩa là “Nhà Ân Sủng”. Ao này nằm gần cổng Chiên, về phía đông bức tường thành phố Giê-ru-sa-lem, có năm hành lang: bốn hành lang nằm dọc bốn bờ ao và một hành lang ở chính giữa chia ao ra làm hai phần. Theo các nhà khảo cổ, năm hành lang này, trong câu chuyện gọi là “vòm cửa”, rất lớn, có thể chứa cả ngàn người.
Ngày hôm đó, khi Chúa Giê-xu đi đến ao Bê-tết-đa, có những người “đau ốm , mù loà , tàn tật , bại xuội nằm tại đó rất đông ”. Trong số những người bịnh, Chúa Giê-xu thấy một người. Chúa trìu mến hỏi: “Con có muốn lành chăng?” Người bịnh đáp: “Thưa Chúa , con chẳng có ai ...”.
“Chẳng có ai!” là tình cảnh của một người bịnh cô đơn trên bờ ao Bê-tết-đa ngày xưa, nhưng cũng là tình cảnh của muôn ngàn người trên thế giới ngày nay, và cũng là tình cảnh của người Việt Nam ta. “Chẳng có ai!” là lời than thở của một người đau khổ sống trong một xã hội thiếu tình thương, người đó cần được giúp đỡ mà không có ai sẵn lòng giúp đỡ. “Chẳng có ai!” cũng là lời cầu nguyện thiết tha dâng lên cho Chúa Cứu Thế Giê-xu: “Thưa Chúa, con chẳng có ai!”
Người Bịnh Cô Đơn
Cô đơn không phải là cô độc. Người bịnh trong câu chuyện không sống một mình. Trong ba mươi tám năm trường bị bịnh có lẽ mỗi ngày anh đều lê thân đến nằm bên bờ ao Bê-tết-đa. Chung quanh anh không phải là “chẳng có ai”. Có những người cùng hoàn cảnh bịnh tật như anh: người mù, người què, người tê liệt... . Ngoài ra, vì năm hành lang rất lớn, có lẽ còn có nhiều người mạnh khoẻ - những thân nhân của những người bịnh khác - đang chen chúc bên cạnh anh nữa. Nhưng anh nằm đó, ba mươi tám năm trời giữa hàng trăm hàng ngàn người mà “chẳng có ai”. Jean Racine cũng đã phải than rằng: “Những thành phố đông đúc nhất là nơi ta cảm thấy cô đơn nhất!”
Thì ra người sống giữa muôn người mà vẫn cô đơn! Muôn người sống trong cùng một thế giới, một quốc gia, một thành phố, một cộng đồng, một gia đình... mà mỗi người đều sống cho mình, vì mình, với một mình mình. Cùng lao động với nhau trong một nhà máy, cùng sống chung trong một phố, một nhà, có chung một tâm trạng, một hoàn cảnh, một số phận, một ưu tư mà biết bao lần ta phải đau khổ trong cô đơn! Cùng là đồng hương sống trên một quê hương, đồng loại trong một thế giới mà biết bao lần ta phải thổn thức: “Tôi chẳng có ai!”
Biết bao lần ta khắc khoải mong người thông cảm! Biết bao lần ta trằn trọc mơ ánh mắt yêu! Biết bao lần ta lang thang tìm nụ cười lành! Mà không có, mà không có, mà không có!
* *
*
Người bịnh cô đơn này là ai? Phúc âm không nhắc đến tên của người bịnh. Một người bịnh vô danh.
Nói đến người bịnh vô danh ta thường liên tưởng ngay đến những người khác, những người ta không quen biết, sống nghèo khổ ở những nước đang phát triển tại Phi châu, tại Nam Mỹ, tại Á châu... hoặc đồng bào ruột thịt của ta đang chân lấm tay bùn. Trên thế giới hiện nay có hàng triệu người đang sống trong lầm than đói rách, không có cơm ăn, áo mặc, không có nhà ở, các cháu không có trường học, người bịnh không có thuốc chữa... Nhưng người bịnh vô danh không phải chỉ là những người khốn khổ sống xa ta mà ta chỉ biết qua báo chí hoặc các bảng thống kê, nhưng cũng có thể là một người đang sống rất gần ta. Có thể người đó đang sinh hoạt hàng bao nhiêu năm nay với ta trong gia đình, nhưng vẫn vô danh đối với ta. Người bịnh có thể là người đang đi học hoặc đi làm với ta, gặp ta hằng ngày nhưng ta vẫn chưa thấy, chưa quen, chưa hiểu, chưa sống thực sự với người đó.
“Bịnh” không phải chỉ là tình trạng đau yếu về phần xác hoặc cảnh thiếu thốn vật chất, nhưng cũng là tâm hồn bất an, là tâm linh tuyệt vọng, là cuộc đời thiếu ý nghĩa. “Người bịnh” là người đang buồn, đang chán, đang có nan đề trong cuộc sống. Người đó đang đi tìm một ý nghĩa cho cuộc đời mà không tìm được, mong gặp một người giúp đỡ mà “chẳng có ai” !
“Người bịnh” là người đang thổn thức: “Chẳng ai có thì giờ cho tôi! Chẳng có ai thông cảm tôi! Chẳng có ai chia xẻ nỗi khổ với tôi! Tôi chẳng có ai! ...”
Như thế, người bịnh vô danh không phải chỉ là những người mà ta không quen biết, nhưng cũng có thể chính là ta nữa.
* * *
Tại sao người bịnh trong câu chuyện lại chẳng có ai? Có biết bao nhiêu người, những người mạnh khoẻ lẫn những người bịnh tật khác, đang chen chúc chung quanh anh.
Lý do “vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao , làm cho nước động ; lúc nước đã động rồi , ai xuống ao trước hết , bất kỳ mắc bịnh gì , cũng được lành ”. Thì ra người bịnh cô đơn vì con người ích kỷ, vì tình người bạc bẽo. Có lẽ thường ngày người ta cũng thương hại anh, thỉnnh thoảng cũng hỏi han, trò chuyện với anh, nhưng khi nước động thì ai ai cũng chỉ nghĩ đến bản thân mình hoặc nghĩ đến thân nhân của mình mà thôi. Lúc đó không còn tình thương nữa mà chỉ có hận thù. Lúc đó con người không còn nhường nhịn, giúp đỡ nhau nữa, mà chỉ chen lấn, chửi mắng, giành giựt. Giúp lời không ai giúp của, giúp đũa không ai giúp cơm!
Chắc người bịnh buồn tủi lắm. Ao Bê-tết-đa đáng lẽ phải là chỗ để con người sống tin cậy, hi vọng và yêu thương, nhưng “Nhà Ân sủng” đã trở thành địa ngục trần gian. Con người cô đơn là vì người nhìn người mà không thấy, người thấy người mà không quen, người quen người mà không hiểu, người hiểu người mà không sống với.
Nhưng cái cô đơn của con người có một nguyên nhân sâu xa hơn nữa: con người tội lỗi không chấp nhận Chúa làm Chúa và Chủ của cuộc đời mình. Con người không ngờ rằng, khi ra đi xa rời nguồn cội của mình, nghĩa là xa rời Chúa, con người đồng thời cũng xa rời nhau nữa. Vì không chấp nhận Chúa nên con người cũng không thể chấp nhận nhau! Chỉ khi nào ta thành tâm kính Chúa, lúc đó ta mới có thể yêu người thực sự.

Chúa Giê-xu
Ba mươi tám năm trời người bịnh sống giữa hàng trăm hàng ngàn người mà “chẳng có ai”! Mãi đến ngày hôm đó, khi Chúa Cứu Thế Giê-xu đến bờ ao Bê-tết-đa, lần đầu tiên trong đời người bịnh mới gặp được Một Người thực sự.
Chúa Cứu Thế Giê-xu tuy là Trời nhưng “người” hơn con người chúng ta. Chúa nhìn, Chúa thấy, Chúa thông cảm, Chúa sống với. Chúa Giê-xu là Con Người duy nhất của nhân loại vì Ngài đã yêu thương nhân loại đến nỗi đã trở thành người để sống với người.
Chúa đã hi sinh sống cái cô đơn của con người để ta ngày nay có thể sống với Chúa và với nhau. Lúc sinh ra đời, Chúa phải nằêm trong chuồng chiên máng cỏ. Vì vua Hê-rốt âm mưu giết Chúa nên ông Giô-sép và bà Ma-ri phải đưa Chúa đi lánh nạn ở nước ngoài. Những năm tháng hành đạo là những năm tháng cô đơn. Con Trời mà phải chịu ma quỉ cám dỗ, dòng vua mà phải đóng thuế. Sống ở quê hương mà quê hương không chấp nhận, truyền bá Phúc âm mà bị vu cáo là báng bổ, đuổi quỉ mà bị nghi là vận dụng quỉ quyền. Chẳng những kẻ thù ghen ghét và tìm cách diệt trừ Chúa, nhưng chính gia đình cũng tưởng Chúa điên cuồng mất trí. Các môn đệ của Chúa cũng không hiểu Ngài. Cuối cùng, khi Chúa bị bắt, một trong mười hai môn đệ phản Chúa, một người khác chối Chúa, tất cả các môn đệ còn lại đều bỏ Chúa trốn đi. Chính những người mang ân Chúa, được Chúa yêu thương giảng dạy Phúc âm và chữa trị các tật bịnh, cũng lên án Chúa: “Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự ! Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tư !!”. Cô đơn nhất là lúc bị treo trên cây thập tự, hi sinh cho nhân loại mà bị nhân loại ruồng bỏ, vâng phục Đức Chúa Cha mà bị Đức Chúa Cha lánh xa. Vì thế trước khi thở hơi cuối cùng Chúa đã phải cầu nguyện rằng: “Đức Chúa Trời tôi ôi ! Đức Chúa Trời tôi ôi ! Sao Ngài lìa bỏ tôi ?”. Cuộc đời của Chúa như thế, hi sinh sống cái cô đơn của ta vì yêu thương ta thực sự và thông cảm ta hoàn toàn.
Con Người Giê-xu khác với con người chúng ta. Chúa không ích kỷ. Tuy đang trên đường, Chúa không chỉ nhìn thấy con đường của mình nhưng cũng nhìn thấy nỗi khổ của những người chung quanh. Chúa không chỉ lo đi dự Lễ nhưng cũng đã ghé lại ao Bê-tết-đa, để rồi giữa hàng trăm hàng ngàn người Chúa thấy ngay được tình cảnh “chẳng có ai” của một người bịnh và chữa lành cho anh.
Khi chữa cho người bịnh, Chúa hỏi: “Con có muốn lành chăng ?” Một câu hỏi giản dị, không chào hỏi khách sáo, không văn tự dài dòng, không nhập đề quanh co. Câu hỏi của Chúa chẳng những giản dị nhưng đối với ta ngày nay có phần vừa khôi hài vừa vô lý nữa. Ai bị bịnh mà không muốn được lành? Dĩ nhiên người bịnh muốn được lành, vì thế nên anh đã đến bờ ao nằm chờ đợi hàng bao nhiêu năm nay. Tại sao Chúa lại hỏi một câu hỏi như thế? Nhưng Chúa đã hỏi câu hỏi giản dị, “khôi hài”, “vô lý” đó. Giáo lý của Chúa như thế, giản dị, đối với ta dường như khôi hài và vô lý, nhưng thiết thực vì là giáo lý của một Con Người yêu thương và thông cảm.
* *
*
Người bịnh trong câu chuyện chắc cũng không ngờ mình sẽ được Chúa chữa lành ngay. Đối với anh, có một người đến bắt chuyện là anh đã mãn nguyện lắm rồi, phước lắm mới có người sẵn sàng chờ khi nước động đưa mình xuống ao trước nhất. Còn được chữa lành ngay?! Chắc người bịnh không dám nghĩ đến. Nhưng Chúa đã chữa cho người bịnh được lành ngay. Ao Bê-tết-đa đã trở thành Nhà Ân sủng thật sự. Việc làm của Chúa là như thế. Chúa thường đãi ta nhân hậu, nhiều khi ban cho ta khác hẳn và nhiều hơn là những điều ta hằng cầu xin và suy tưởng.
Lạy Chúa, con chẳng có ai!
Kinh Thánh không cho biết người bịnh tên gì; người bịnh vô danh có thể mang tên của chính ta. Phải chăng ta “chẳng có ai”? Chúa cũng đang hỏi ta: “Con muốn được lành không?”
Nếu ta thành khẩn thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con chẳng có ai!”, thì Chúa sẽ giúp đỡ ta, sẽ cùng đi với ta trên các nẻo đường đời. Chúa hứa với ta rằng: “Ta thường ở cùng các con luôn cho đến lúc tận thế .”
Bài “Dấu chân trên cát” (phỏng dịch) sau đây nói lên sự quan phòng của Chúa dành cho cuộc đời của ta:
Đêm khuya tôi nằm mơ ,
thấy mình dọc theo bờ ,
sóng gió gào biển động ,
tay trong tay với Chúa .
Trước mắt tôi bỗng hiện ,
suốt cuộc đời gian truân ,
gai chông mỗi chặng đường ,
trên cát bốn dấu chân ,
hai dấu : dấu chân tôi ,
hai dấu : dấu chân Chúa .
Đến cuối chặng đường đời ,
tôi xao xuyến nhìn lại ,
thấy lúc mình đau khổ ,
gặp khốn đốn nguy nan ,
nhiều lần in trên cát ,
chỉ có hai dấu chân .
Tôi trầm ngâm suy nghĩ ,
quay qua Chúa , hỏi Ngài :
“Ôi Chúa yêu ! Hồi đó ,
con bỏ hết theo Ngài ,
thì Chúa cầm tay dạy :
‘Ta sẽ luôn bên con !’
Thế sao trên đường đời ,
khi đêm tối hiểm nguy ,
con lo âu , đau khổ ,
chỉ có hai dấu chân ?
Sao lúc con cần Chúa ,
Chúa bỏ con cô đơn ?”
Chúa âu yếm ôm tôi :
“Con yêu của Cha ôi !
Cha nào nỡ bỏ con .
Lúc đời con sầu não ,
bối rối và đớn đau ,
lúc đó con chỉ thấy
hai dấu chân trên cát ,
là vì Cha yêu con ,
ôm ẵm con trong lòng .”
Nếu ta thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con chẳng có ai!”, ta sẽ kinh nghiệm được rằng: ta có Một Người , ta có Chúa Giê-xu.
Làm Một Người Của Người Khác
Chúa Giê-xu đã tình nguyện làm Một Người cho ta, nhưng Chúa cũng đòi hỏi ta phải làm một người của tha nhân.
Người có Chúa ý thức rằng người khác đang cần mình. Chính ta phải nhìn, phải thấy, phải sẵn sàng nghe người khác tâm sự: “Tôi chẳng có ai!”. Ta phải quan tâm đến người khác, sẵn sàng giúp đỡ, an ủi, hi sinh cho người khác.
Ta nhận thức như thế với tất cả sự bất lực của ta - ta không thể làm được gì hết! - và với lòng tin nơi quyền năng của Chúa - “tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi”. Để thực hiện phép lạ chữa lành người bịnh, Chúa Giê-xu đã bắt đầu bằng một câu hỏi giản dị. Thường ta không cần phải hoàn tất những công tác to lớn vĩ đại, chỉ cần không sợ mất thì giờ, không cần những lời nói cầu kỳ bóng bẩy, chỉ cần bắt đầu bằng một lời thăm hỏi chân thành, một nụ cười thân thiện. Đó là những việc làm nho nhỏ - thường thường nhỏ hơn năm cái bánh và hai con cá rất nhiều - mà ta có thể bắt đầu, rồi Chúa sẽ làm phép lạ.
Người bịnh có thể là một người cùng học chung một lớp, cùng làm chung một sở, hoặc sống chung trong một gia đình với ta. Người bịnh cũng có thể là một người vô danh nào đó, một người ta không quen biết mà ta gặp “bất ngờ”. Đó có thể là một người đang đau yếu, thiếu thốn vật chất, đang buồn lo vì có những nan đề trong cuộc đời mình. Người bịnh cũng là người chưa hề nghe Phúc âm của Chúa, hoặc đã nghe về Chúa nhưng chưa tiếp nhận Ngài vào cuộc đời mình. Ngày nay ta đang sống trong một xã hội “không có thì giờ”. Thì giờ dành cho ta chưa đủ thì làm sao ta còn có thể nghĩ đến người khác. Lo cho mình chưa xong thì làm sao lo nghĩ đến người. Vấn đề ở đây không phải chỉ là trách nhiệm làm người, nhưng cũng là trách nhiệm làm một người đi theo Chúa.
Theo Chúa là học tập nơi Chúa, là năng nổ học bài học này: sống làm một người cho những người khác, để rồi qua nếp sống của ta sẽ có nhiều người kinh nghiệm được phép lạ của Chúa, sẽ tiếp nhận ân sủng của Ngài và hân hoan rằng: “Cảm tạ Chúa , bây giờ con có Một Người !”

Song Hy
“Hãy vâng phục nhau trong sự kính sợ Chúa Cứu thế !”
Eph Ep 5:21
Song Hỷ, hai chữ Hỷ viết liền nhau. Song Hỷ được in vào thiệp cưới. Song Hỷ được trang hoàng trong phòng cưới, phòng tiếp tân, trong nhà hàng, trên khán đài, trong nhà hai họ trước bàn thờ tổ tiên, trên quà tặng cô dâu chú rể... Song Hỷ, một cho cô dâu, một cho chú rể, để
Nghĩa chồng vợ lấy ân tình hiệp ,
Cảnh gia hoà phu xướng phụ tuỳ .
Tam cang
Người Do-thái thường tổ chức đám cưới vào ngày thứ ba. Phúc âm Giăng có kể về một đám cưới tại Ca-na, được tổ chức vào “ba ngày sau” (GiGa 2:1), tức là vào ngày thứ ba. Lý do là trong câu chuyện Đức Chúa Trời dựng nên trời đất, Kinh thánh ghi câu “Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành ” mỗi ngày một lần, riêng ngày thứ ba Kinh thánh ghi câu đó hai lần (SaSt 1:10, 12). Dựa vào nhận xét này các Ra-bi Do-thái cho rằng ngày thứ ba là ngày “Song Hỷ”: một cho cô dâu, một cho chú rể, để “sanh sản , thêm nhiều , làm cho đầy dẫy đất ”.
Ngày nay, nhiều cô dâu chú rể tín hữu thích chọn câu Kinh thánh “Hãy vâng phục nhau trong sự kính sợ Chúa ” để in vào thiệp cưới. Các vị Mục sư cũng thường chọn câu Kinh thánh này để chia sẻ trong lễ Thành hôn. Lý do là câu Kinh thánh cũng nói lên ý nghĩa Song Hỷ , một dâng lên Chúa, một trao cho nhau.
Hỷ Dâng Lên Chúa
Ngày cưới đẹp vì nắng ngày cưới hồng, bầu trời ngày cưới xanh, gió ngày cưới thổi nhẹ. Chú rể âu yếm nhìn cô dâu, lắp bắp..., cô dâu thẹn đỏ mặt, thì thầm... Ngày cưới đẹp thật.
Nhưng đối với người tín hữu, cho dù nắng không hồng, trời không xanh, gió không nhẹ thì ngày cưới vẫn đẹp, chẳng những đẹp mà còn thiêng liêng, đẹp vì thiêng liêng. Vì ngày cưới trong Chúa không chỉ nói lên tình yêu đôi lứa như theo lệ thường, nhưng chủ yếu, cô dâu chú rể trang trọng dâng tình yêu của mình lên cho Chúa: “Chúng con kính sợ Chúa.”.
“Kính sợ Chúa”, vì không phải “tôi”, cũng không phải “chúng tôi”, nhưng Chúa, Chúa chủ động tất cả. Chúa đã yêu thương tạo dựng nên hai người và dắt dẫn hai người đi đến hôn nhân. Mỗi người một khung trời, một thế giới, xuất thân từ một gia đình khác nhau, nhiều khi rất dị biệt về học thức, văn hoá, chủng tộc... nhưng Chúa đã chuẩn bị hai người cho nhau từ khi hai người chưa biết nhau.
Chúa đã hướng dẫn hai người trở về với tình thương của Chúa, cho phép hai người sinh hoạt trong đại gia đình của Ngài, để rồi cả hai có thể đồng tâm thưa rằng: “Chúng con kính sợ Chúa.”.
Như vậy, khi nói “kính sợ Chúa” là nói lên tình yêu vô bờ bến của Chúa đối với ta và đồng thời hiến dâng tình yêu của mình lên cho Chúa là Đấng đã tạo dựng và cứu rỗi, quan phòng và hướng dẫn ta.
Hỷ Trao Cho Nhau
Cô dâu chú rể lập gia đình với nhau, nhưng trong ngày cưới, chú rể không nói: Em phải phục tùng anh, và cô dâu cũng không nói: Anh phải chìu ý em, nhưng hai người cần đồng thanh nói: “Chúng mình vâng phục nhau.”.
Hôn nhân không phải chỉ là nhận lãnh, nhưng cũng là trao cho, không phải để có người vâng phục mình, nhưng để chúng mình “vâng phục nhau”.
“Vâng phục nhau” không phải dễ! Mới quen nhau, “vâng phục nhau” dễ, nhưng khi đã hứa hôn với nhau, “vâng phục nhau” bắt đầu khó, rồi khi lập gia đình với nhau rồi “vâng phục nhau” càng ngày càng khó! Sống nghèo khổ vợ chồng “vâng phục nhau” không phải dễ, nhưng khi được sung túc, vợ chồng “vâng phục nhau” lại càng khó hơn nữa.
Vợ chồng chỉ có thể “vâng phục nhau trong sự kính sợ Chúa” mà thôi. Kinh Thánh dạy rằng, mối tương quan chồng và vợ tương tự như mối tương quan Chúa và Hội thánh (GaGl 5:22-31). Trong một gia đình kính sợ Chúa, người vợ không nói: Em là nội tướng, em có quyền lèo lái gia đình theo ý của em! Nhưng “người vợ vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa ”, người chồng cũng không nói: Chồng chúa vợ tôi, anh có quyền quyết định mọi việc theo ý của anh. Nhưng người chồng “yêu vợ mình , như Chúa Cứu thế đã yêu Hội Thánh , phó chính mình vì Hội Thánh ”.
Như vậy, nếu hai vợ chồng người tín hữu thực sự biết “vâng phục nhau trong sự kính sợ Chúa” thì gia đình sẽ hạnh phúc, đồng thời cũng sẽ nói lên “lẽ đạo mầu nhiệm” về mối tương quan mật thiết giữa Chúa và Hội Thánh. “Thế thì mỗi người trong anh em phải yêu vợ mình như mình , còn vợ thì phải kính chồng .” (5:33)
Song Hỷ Cho Người Khác
Như thế Song Hỷ - kính sợ Chúa và vâng phục nhau - thể hiện ý nghĩa của cây thập tự. Trên cây thập tự Chúa đã gặp gỡ ta: “Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.” và ta gặp gỡ nhau: “Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.” Nhưng cây thập tự không chỉ nối kết Chúa với ta, và ta - hai ta - với nhau mà thôi, nhưng còn muốn vươn dài đến nhiều người khác nữa.
Kinh Thánh dạy: “Người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình ” (5:31). Cô dâu chú rể sẽ cùng nhau xây dựng một gia đình riêng, một tổ ấm riêng. Nhưng nếu ta “kính sợ Chúa” thì gia đình, tổ ấm, con cái, hạnh phúc... riêng của ta không nhằm phục vụ ta, nhưng nhằm phục vụ Chúa và mọi người. Khi phục vụ Chúa và phục vụ người, ta sẽ tìm thấy hạnh phúc trong khi phục vụ. Chúa đem hai người lại với nhau không để hai người vị kỷ, nhưng để vị tha, không để sống cho mình nhưng cùng nhau sống cho người khác. Để nối kết một người nam và một người nữ nên nghĩa vợ chồng, Chúa không xây một nhà tù chật hẹp giam giữ hai người, nhưng vẽ hai khung trời gặp nhau để thế giới của hai người mở rộng đủ chỗ đón tiếp mọi người. Nếu ta chỉ chăm lo đi tìm hạnh phúc cho riêng mình thì ta sẽ không bao giờ tìm được hạnh phúc thực sự. Ta chỉ hạnh phúc thực sự khi biết hiến dâng hạnh phúc của mình cho Chúa và chia sẻ hạnh phúc của mình cho mọi người.
Song Hỷ Toàn Bộ Hôn Nhân
Nhiều đám cưới được tổ chức rất “xôm tụ”. Gia đình hai họ - đúng ra là các ngài phụ huynh - đạo diễn lễ Thành hôn trong Nhà thờ như thể đóng phim, mượn Nhà Chúa làm phim trường, mượn Mục sư và các anh chị em trong Hội thánh làm phụ diễn, mượn danh Chúa làm chơi. Mượn như thế không kính sợ Chúa sao? Mượn như thế không sợ kẻ ác làm khán giả cười sao?
Thực ra lễ Thành hôn trong Nhà thờ không phải là một lễ cưới của riêng cô dâu chú rể và của gia đình hai họ, lại càng không phải là dịp để các ngài phụ huynh nở mày nở mặt, nhưng chủ yếu là một lễ Thờ phượng của Hội thánh. Trong lễ Thờ phượng này, cũng như trong tất cả các lễ Thờ phượng khác, toàn thể Hội thánh tôn vinh, cảm tạ Chúa và nghe Lời Chúa. Qua nghi lễ hôn phối cô dâu chú rể chẳng những dâng lên Chúa tình yêu của mình, nhưng đồng thời cũng chia sẻ đức tin của mình: Chúng tôi kính sợ Chúa, chúng tôi xưng nhận Chúa là gia trưởng của gia đình chúng tôi.
Như thế, lễ Thành hôn trong Nhà thờ chú yếu là một lễ Thờ phượng và Truyền giảng. Mọi người tham dự với tinh thần thờ phượng và truyền giảng, kể cả người chụp ảnh, quay phim cũng cần giữ thái độ kỉnh kiềng. Nhưng thờ phượng và truyền giảng không chỉ trong lễ Thành hôn mà thôi. Trong suốt tương lai trước mặt, tất cả các sinh hoạt của gia đình mới - cũng như của tất cả các tín hữu - phải là một lễ Thờ phượng sống và là một lễ Truyền giảng sống. Vợ chồng sẽ thờ phượng, tôn vinh và cảm tạ Chúa qua gia đình “vâng phục nhau trong sự kính sợ Chúa” của mình. Ta sẽ thờ phượng Chúa và truyền giảng về Chúa trong cách cư xử với nhau, những lúc ta tâm đầu hiệp ý cũng như những lúc bất đồng ý kiến với nhau. Ta sẽ thờ phượng và truyền giảng trong tiếng hát tôn vinh Chúa, lời cầu nguyện, giờ đọc Kinh thánh hằng ngày. Ta sẽ thờ phượng và truyền giảng trong cách giáo dục con cái, những lúc và cách ta tiếp khách, những lúc và cách ta giải trí v.v. . Tóm lại, toàn bộ hôn nhân của người tín hữu cần là một Lễ. Tất cả mọi sinh hoạt gia đình đều phải trang trọng thể hiện tinh thần Song Hỷ như trong ngày cưới: “vâng phục nhau trong sự kính sợ Chúa”. Được như thế, mỗi ngày sống với nhau đều là một ngày cưới, đẹp và thiêng liêng. Song Hỷ toàn bộ hôn nhân.
Gia đình của người tín hữu, như tất cả mọi gia đình khác, chắc chắn phải đối diện với nhiều nan đề trong cuộc sống. Có những thất bại, những yếu đuối và vấp ngã. Có những lúc song “hỉ”: Chồng nói vợ “hỉ?”, vợ nói chồng “hỉ?”. Đó là những lúc mà ta không thể thờ phượng Chúa và truyền giảng về Chúa được nữa. Những lúc đó ta không thấy Chúa Cứu thế mà vợ chồng mình kính sợ, chỉ thấy người chồng, người vợ đối diện mà mình không thể vâng phục được nữa.
Những lúc đó ta nên đến với cây thập tự, nguồn của Song Hỷ. Chúa từng nhắn nhủ: “Hỡi những người mệt mỏi và gánh nặng , hãy đến cùng ta , ta sẽ cho các con được an nghỉ !”. Dưới chân cây thập tự, ta sẽ thấy Chúa Cứu thế đã “vâng phục cho đến chết ” (Phi Pl 2:8). Ta sẽ thấy hai bàn tay mang dấu đinh của Chúa dang ra để dìu dắt ta - hai ta - lại gần với Chúa và lại gần với nhau trong đại gia đình của Ngài.



† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 21-2-2018 05:30 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách