† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2680|Trả lời: 0

Công Tác Của Mục Sư

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 9-7-2011 21:06:52 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Công Tác Của Mục Sư
Tác giả: Eleaser E. Javier

Giới thiệu chương trình học
ĐƠN VỊ MỘT: TRANG BỊ CHO MỤC SƯ
1. Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời
2. Những chiều hướng của sự kêu gọi
3. Đời sống thuộc linh và sự phát triển
4. Theo đuổi học vấn
ĐƠN VỊ HAI: NHỮNG MỐI QUAN HỆ CỦA MỤC SƯ
5. Những mối quan hệ gia đình
6. Những mối quan hệ cộng đồng
7. Nguyên tắc xử thế của mục sư
ĐƠN VỊ BA: CÔNG TÁC CỦA MỤC SƯ
8. Giảng
9. Dạy
10. Chăm sóc
11. Những công tác đặc biệt
ĐƠN VỊ BỐN: VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA MỤC SƯ
13. Xếp đặt những ưu tiên
14. Huấn luyện
15. Công tác quản trị
Chú giải thuật ngữ
Sách tham khảo

GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH HỌC
Ngày nay tại nhiều nơi trên thế giới, hội thánh tăng trưởng đến mức không thể tưởng tượng nỗi. Kết quả, một số lượng lớn tân tín hữu cần sự chăm sóc và lãnh đạo. Kinh thánh so sánh những tân tín hữu này giống như những con chiên của một bầy chiên vì họ cần được một người chăn chiên tận tụy hướng dẫn và chăm sóc. Thực tế là Đấng Christ dùng hình ảnh của một người chăn chiên để mô tả công tác của mục sư. Như chúng ta đã thấy, ẩn dụ về người chăn chiên thích hợp nhất vì nó mô tả những thái độ, phẩm chất và trách nhiệm mà người mục sư cần triển khai khi người ấy được kêu gọi để phục vụ dân sự của Đức Chúa Trời.
Loạt bài học này được chia làm bốn đơn vị. Đơn vị một liên quan đến sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, gồm sự sửa soạn về mặt thuộc linh và học vấn. Trong đơn vị này bạn sẽ khảo sát vai trò của mình trong việc đáp ứng sự kêu gọi hưởng ơn cứu chuộc và sự kêu gọi vào sự phục vụ đặc biệt. Bạn cũng sẽ khảo sát tầm quan trọng của sự sửa soạn chính mình để phục vụ trong những khả năng khác nhau, bồi dưỡng đời sống tâm linh của chính bạn và trưởng thành trong mối thông công với Đấng Christ.
Đơn vị hai đề cập đến những mối quan hệ của mục sư. Trong những bài học nầy bạn sẽ khảo sát mối quan hệ của mục sư với những người khác, kể cả gia đình, cộng đồng của mình và với những mục sư khác. Mỗi nhân sự trong hội thánh và đặc biệt những người khác trong vai trò lãnh đạo phải quan hệ với nhiều người trong nhiều cách khác nhau. Vì sự trưởng thành và sự vững chắc của hội thánh và sự ảnh hưởng của hội thánh trong một cộng đồng có tác động rất lớn đến những mối quan hệ của mục sư, nên các mối quan hệ là phần quan trọng sống động trong sự phát triển của mục sư.
Đơn vị III và IV tập trung vào nhiều khía cạnh thực tế của chức vụ mục sư. Trước hết, trong đơn vị III, bạn sẽ khảo sát về ‘cách’ hành lễ và bạn sẽ ước định được bản chất và ý nghĩa của sự giảng và dạy trong công tác của mục sư. Sau đó, bạn sẽ đánh giá vai trò lãnh đạo của mục sư trong đơn vị IV. Ở đây bạn sẽ tập trung vào tầm quan trọng của việc đặt đúng những ưu tiên, huấn luyện nhân sự trong Hội thánh, và xác định những nhu cầu thực tiển về quản trị hành chánh đòi hỏi trong cuộc sống của hội thánh địa phương.
Khi nghiên cứu loạt bài này, mong rằng những bài học này động viên, chỉ dạy và cảm thúc bạn trở nên một quản gia trung tín về thời gian và những khả năng mà Đức Chúa Trời giao phó cho bạn. Nguyện bạn khao khát trở nên một người chăn giống như Đấng Chăn Chiên vĩ đại là Chúa Jêsus Christ chúng ta.
MÔ TẢ MÔN HỌC.
Công việc của mục sư là loạt bài nghiên cứu tập trung vào sự kêu gọi và sự sửa soạn cho chức vụ phục vụ Cơ Đốc nhân. Loạt bài khảo sát về những mối quan hệ góp phần sống động cho sự thành công trong chức vụ và xem xét lại những trách nhiệm nguyên thủy của mục sư. Dựa vào các sách I và II Timôthê và Tít, loạt bài này giúp cho học viên nhận diện và áp dụng những nguyên tắc Kinh Thánh vào những hoàn cảnh khác nhau mà người ấy gặp phải trong một hội chúng địa phương. Vì bài học tậptrung vào sự kêu gọi và đời sống thuộc linh của mục sư, cũng như những nhiẹïm vụ của mục sư, nên bài học nhấn mạnh cả bản chất lẫn thực hành.
MỤC TIÊU CỦA MÔN HỌC.
Hoàn tất loạt bài học này bạn có thể:
l. Giải thích ý nghĩa sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống một người.
2. Nhìn nhận những tiêu chuẩn và phẩm chất của Kinh Thánh có giá trị cần thiết cho chức vụ hiệu quả.
3. Nhận diện những lãnh vực yếu kém và phương cách khắc phục.
4. Thảo luận nhu cầu tiếp tục tăng trưởng và phát triển đời sống thuộc linh và trí tuệ của mục sư.
5.Đánh giá đầy đủ hơn công tác của mục sư và những đặc ân cùng trách nhiệm đi kèm theo công tác ấy.
6.Trình bày những quan niệm cá nhân sai lầm về chức vụ mục sư trong mối quan hệ với hoàn cảnh riêng của bạn.
7. Aùp dụng những nguyên tắc làm nền tảng cho chức vụ của mục sư trong hoàn cảnh riêng của bạn.
8. Thiết lập những ưu tiên thích hợp trong đời sống cá nhân và chức vụ của bạn.
9. Vạch ra một thời gian biểu vừa thực tế vừa có hiệu năng.
SÁCH GIÁO KHOA
Bạn sẽ dùng cuốn CÔNG TÁC CỦA MỤC SƯ của Eleazer Javier vừa làm sách giáo khoa vừa làm sách hướng dẫn cho loạt bài học này. Kinh thánh (Bản Nhuận Chánh Quốc Tế,NIV) là cuốn sách Giáo khoa khác cần đến . Đa số câu Kinh Thánh trích dẫn đều từ bản NIV. Nếu trích những bản khác chúng tôi sẽ ghi dấu hiệu (KJV, RSV, TEV).
THỜI GIAN HỌC
Thời gian học cần thiết cho mỗi bài lệ thuộc phần nào vào kiến thức của bạn về đề tài và sức mạnh của kỷ năng học của bạn trước khi bạn bắt đầu môn học. Thời gian bạn sử dụng cũng tùy thuộc mức độ bạn làm theo những hướng dẫn và phát triển những kỹ năng có cần cho việc tự học. Hãy lạäp thời gian biểu để bạn có đủ thì giờ đạt được mục tiêu do tác giả loạt bài đưa ra cũng như những chỉ tiêu của chính bạn.
PHƯƠNG PHÁP HỌC.
Hãy đọc kỹ phần giới thiệu về phương pháp học ở trong Túi dành cho học viên (Student packet). Phương pháp này sẽ giúp bạn biết điều mà chương trình ICI mong đợi bạn khi học một bài, ôn tập cho việc đánh giá sự tiến triển qua nhiều bài học của một đơn vị và chuẩn bị bài kiểm tra cuối khóa bao gồm tất cả loạt bài. Nếu bạn không thường học theo cách ICI giới thiệu, bạn có thể sử dụng phương pháp riêng của bạn để đạt hiệu quả cao nhất trong môn học này.
PHƯƠNG CÁCH HỌC LOẠT BÀI NẦY.
Nếu bạn tự học loạt bài ICI này, tất cả bài làm của bạn ngoại trừ bài kiểm tra cuối khóa bạn có thể gửi bằng thư đến văn phòng chúng tôi. Mặc dù chương trình ICI dự kiến dành loạt bài này cho bạn tự học, nhưng bạn vẫn có thể học chung trong nhóm hay trong lớp. Nếu bạn học theo nhóm hay ở trong lớp, hướng dẫn viên chỉ đạo sẽ giúp bạn hiểu thêm. Nếu vậy, hãy tuân theo sự chỉ đạo của vị ấy.
ĐỀ CƯƠNG BÀI HỌC.
Mỗi bài học gồm có:
1.Tựa đề.
2.Nhập đề.
3.Dàn ý.
4.Những mục tiêu của bài học.
5.Những hoạt động học tập.
6.Những chữ căn bản.
7.Triễn khai bài học bao gồm những câu hỏi nghiên cứu.
8.Bài tự trắc nghiệm và
9.Giải đáp những câu hỏi nghiên cứu.
Dàn ý và những mục tiêu của bài học sẽ giúp bạn tổng lượt đề tài, giúp bạn tập trung sự chú ý vào những điểm chính khi bạn học và cho bạn biết nội dung mình sẽ học.
Phần triển khai bài học sẽ giúp bạn dễ nắm vấn đề. Qua việc nghiên cứu từng phần bạn có thể dùng thời gian ngắn để học mỗi khi bạn có thì giờ, thay vì phải chờ đợi cho đến khi đủ thì giờ học toàn cả bài một lần. Những phần bình luận, bài tập và câu trả lời đều có chủ đích giúp bạn đạt được những mục tiêu của bài học.
Đa số những câu hỏi nghiên cứu trong phần triển khai bài học của sách giáo khoa đều có chừa khoảng trống để bạn trả lời, nhưng những câu trả lời dài, bạn phải viết vào sổ tay. Khi ghi vào sổ tay nhớ ghi số của câu hỏi và tựa đề bài học. Hãy ghi những câu trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu theo đúng số thứ tự. Điều này sẽ giúp bạn ôn bài để làm bản Tường Trình Học Tập.
Đừng xem phần giải đáp trước, hãy đợi đến khi bạn trả lời xong các câu hỏi. Nếu bạn tự trả lời trước, bạn sẽ nhớ kỹ những gì mình đã học. Sau khi bạn đã trả lời những câu hỏi nghiên cứu hãy kiểm tra lại câu trả lời của mình với phần giải đáp được đưa ra ở cuối bài học. Sau đó hãy sửa lại những câu mình trả lời chưa đúng.
Những câu hỏi nghiên cứu này rất quan trọng. Những câu đó sẽ giúp bạn phát triển và cải tiến sự hiểu biết và phục vụ Cơ Đốc của bạn. Những hoạt động học tập dược đề nghị cũng giúp bạn sử dụng sự hiểu biết của mình trong ứng dụng thực tiển.
TÚI DÀNH CHO HỌC VIÊN.
Kèm theo loạt bài học này có một túi hồ sơ đựng phần hướng dẫn việc đánh giá tiến trình học tập qua một đơn vị và bài kiểm tra cuối khóa. Trong túi ấy còn có những câu trả lời phần Bài trắc nghiệm cá nhân, những bản đánh giá tiến trình học tập qua 1 đơn vị và những phiếu trả lời cùng những mẫu quan trọng khác. Dùng danh sách liệt kê trên bìa túi để xác định những tài liệu bạn gởi cho hướng dẫn viên chỉ đạo và gởi khi nào.
NHỮNG BẢN ĐÁNH GIÁ TIẾN TRÌNH HỌC TẬP QUA MỘT ĐƠN VỊ VÀ BÀI KIỂM TRA CUỐI KHÓA.
Mặc dù điểm của bạn về những câu hỏi nghiên cứu, bài trắc nghiệm cá nhân và những bản đánh giá tiến trình học sau mỗi đơn vị (Unit Progress Evaluations) không dược kể trong thứ hạng môn học của bạn (Coursegrade), nhưng bạn nên gởi những phiếu trả lời cho những bản đánh giá học tập sau mỗi đơn vị đến hướng dẫn viên chỉ đạo để được chấm bài và góp ý cho việc học tập của bạn. Sau đó bạn có thể ôn lại những tài liệu trong sách giáo khoa tự học này và những phần Kinh Thánh liên quan đến những điểm khó hiểu đối với bạn. Ôn lại những mục tiêu học tập, bài trắc nghiệm cá nhân và những bản đánh giá học tập qua mỗi đơn vị sẽ giúp bạn chuẩn bị tốt cho bài kiểm tra cuối khóa.
CHỨNG NHẬN HỌC LOẠT BÀI NẦY.
Để có được Giấy Chứng Nhận của ICI về loạt bài này bạn phải thi đậu kỳ thi cuối khóa. Bài thi này được viết dưới sự chứng kiến của giám sát viên được ICI công nhận. Vì chúng tôi có những giám sát viên coi thi ở nhiều quốc gia, nên có lẽ bạn sẽ không khó gặp một người ở trong vùng bạn ở. Hướng dẫn viên chỉ đạo của ban sẽ chỉ cho bạn biết những chi tiết.
Ngoài ra, loạt bài học này có thể chỉ mang lại cho người học giá trị thực tiễn của nó chớ không phải chứng chỉ. Trong trường hợp đó bạn không cần gửi bài làm nào cũng như bài kiểm tra cuối khóa. Nghiên cứu loạt bài này sẽ làm phong phú cuộc sống bạn cho dù bạn học để có chứng chỉ hay không.
CHỨNG NHẬN BẰNG KỲ THI.
Bạn cũng có thể nhận được giấy chứng nhận học loạt bài về công tác của mục sư mà không cần dùng tài liệu này. Như vậy bạn chỉ cần đổ kỳ thi cuối khóa. Tuy nhiên những bài tập và trắc nghiệm cá nhân của sách giáo khoa tự học này được soạn ra để chuẩn bị cho kỳ thi cuối khóa của bạn, do đó bạn nên học theo những tài liệu này. Hãy hỏi ý kiến vị hướng dẫn viên chỉ đạo quốc gia của bạn sẽ cho bạn chi tiết.
THỨ HẠNG VỀ KHÓA HỌC (Course Grade)
Thứ hạng về khóa học dựa vào bài thi cuối khoá có giám sát. Thứ hạng môn học của bạn sẽ được kể như sau:
A.Loại ưu hạng, xuất sắc.
B.Khá, trên trung bình.
C.Trung bình.
D.Dưới trung bình.
U.Không cấp chứng chỉ được.
Inc.chưa hoàn tất.
WP. (withdrew passing), bỏ thi.
WU. (withdrew unacceptable) không chấp nhận cho thi.
CHUYÊN GIA SOẠN SÁCH GIÁO KHOA TỰ HỌC.
Eleazer E. Javier, chuyên gia soạn cuốn CÔNG TÁC CỦA MỤC SƯ, ông viết từ bối cảnh rộng rãi về kinh nghiệm mục sư của ông. Ông đã phục vụ nhiều năm làm mục sư của Hội chúng Đức Chuá Trời Trung Ương tại Manila (Central Assembly of God in Manila, Philippines). Ngoài kinh nghiệm chăn bầy, Mục sư Javier còn là Viện Trưởng của Học Viện Kinh Thánh Bethel (BBI - Bethel Bible Institute) và Giáo sư Trưởng của Trường Cao Đẳng Thần Học Viễn Đông (FEAST - Far East Advanced School of Theology), cả hai đều tọa lạc tại Manila. Ông cũng là hướng dẫn viên chỉ đạo ở tại hai trường trên.
Mục sư Javier còn phục vụ trong Tổng Hội Hội Chúng Đức Chúa Trời ở Phi Luật Tân trong một số lãnh vực quản trị. Trước hết là Trưởng Đoàn Thanh Niên (Director of youth), kế đó là Tổng Thư ký của Tổng Hội và hiện thời làm Tổng quản nhiệm, Mục sư Javier đã đi nhiều nơi và giảng dạy rộng rãi ở nhiều hội đồng khác nhau trong cộng đồng của ông.
Mục sư Javier tốt nghiệp hai học vị Cử nhân và Thạc sĩ tại trường Cao Đẳng Cơ Đốc ở Phi luật Tân. Những khả năng về học vấn cùng kinh nghiệm làm mục sư, nhà giáo dục và công tác quản trị cấp quốc gia, đã giúp ông hội đủ tư cách viết ra nội dung của môn học này. Là người đã thực hiện đầy đủ và áp dụng những nguyên tắc đưa ra trong công tác này, tác giả từ vị trí kinh nghiệm đã rút ra các bài học giúp ích cho những ai sắp bước vào chức vụ chăn bầy mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi họ.
HƯỚNG DẪN VIÊN CHỈ ĐẠO BẠN HỌC.
Hướng dẫn viên chỉ đạo bạn học chương trình này sẵn lòng giúp đỡ bạn trong mọi cách có thể được. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về việc xếp đặt cho kỳ thi cuối khóa thì cứ tự nhiên hỏi. Phải sắp xếp đủ thì giờ để thực hiện chương trình ấy cách thích hợp. Nếu vài người muốn học chung, hãy xin vị ấy sắp xếp đặc biệt cho cả nhóm.
Cầu xin Đức Chúa Trời ban phước cho bạn khi bạn bắt đầu loạt bài CÔNG TÁC CỦA MỤC SƯ. Nguyện môn học này sẽ làm phong phú đời sống bạn, cùng sự hầu việc Chúa của bạn, cũng như giúp bạn hoàn thành vai trò của mình trong Thân Thể của Đấng Christ cách hiệu quả.

SỰ KÊU GỌI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Công tác phục vụ là một sự kêu gọi thánh và độc nhất vô nhị. Điều này phản ánh lời nói của sứ đồ Phao lô gởi cho Hội thánh Êphêsô: ‘Ngài (Chúa Jesus Christ chúng ta)... cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm nhà truyền giảng, và một số khác làm mục sư và giáo sư’ (Eph Ep 4:11). Mặc dù vị sứ đồ không nêu bật chữ vài (một số), chúng ta ghi nhận rằng công tác gây dựng dân sự của Đức Chúa Trời cho đến lúc họ đạt đến sự hiệp nhất trong đức tin và trở thành trưởng thành thuộc linh được giao cho một số người.
Hơn nữa, như chúng ta sẽ thấy, công tác phục vụ đòi hỏi sự kêu gọi. Thật vậy, chắc chắn phải có sự kêu gọi đặc biệt của Đức Chúa Trời thì một người mới có được phẩm chất đảm nhiệm công tác cao cã và xứng đáng này. Biết rõ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, một người mới có thể trông đợi Đức Chúa Trời nâng đỡ mình trong mọi hoàn cảnh; nếu không có sự kêu gọi nầy một người khó lòng dấn thân vào công tác phục vụ. Vì sự kêu gọi rất quan trọng, nên bạn cần phải hiểu đầy đủ những gì nó đòi hỏi. Trong bài học này, bạn sẽ nghiên cứu những phạm vi khác nhau của chữ kêu gọi. Bạn cũng sẽ thấy rằng khi Đức Chúa Trời kêu gọi người nào đó dấn thân vào một công việc, thì Ngài cũng phú cho người ấy những khả năng cần thiết để hoàn thành công tác.
Khi bạn nghiên cứu bản chất của sự phục vụ, sự kêu gọi và những đặc tính cũng như sự ban cho mà Đức Thánh Linh cung ứng cho mục sư, tôi nguyện cầu bạn sẽ nhìn nhận cách mới về vinh dư ïvà đặc ân cao cả của sự kêu gọi đặc biệt vào chức vụ mà Đức Chúa Trời dành cho bạn. Và tôi cầu xin Chúa chobạn có thể bày tỏ lòng biết ơn trong quyết tâm phục vụ ở mức tốt nhất khi bạn hầu việc trong Danh của Ngài.
DÀN Ý BÀI HỌC.
Sự Kêu Gọi Hưởng Ơn Cứu Rỗi.
Sự Kêu Gọi Vào Công Tác Phục Vụ.
Sự Kêu Gọi Vào Chức Vụ Đặc Biệt.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC.
Học xong bài này bạn phải có thể:
Nhận diện những hàm ý khác nhau của từ kêu gọi và những điều đó liên quan đến tín hữu Cơ Đốc như thế nào.
Trình bày những sự ban cho của Thánh Linh để trang bị cho sự phục vụ.
Đánh giá đầy đủ hơn về những trách nhiệm, cũng như những đặc ân dành cho bạn khi bạn được Đức Chúa Trời kêu gọi.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP.
1.Đọc phần giới thiệu về sách Giáo khoa tự học nầy (Viết tắt là SGK TH). Chú ý đặc biệt đến phần Đề cương Bài học và Cách Học. Phần nấy chứa đựng những chỉ dẫn quan trọng giúp bạn thành công trong môn học. Chú ý phần mục tiêu của bài học. Tất cả đều quan trọng, nhưng có lẽ một số điều sẽ nổi bật đối với bạn. Hãy ghi các điều đó vào sổ tay của bạn.
2.Nghiên cứu dàn ý bài học và những mục tiêu. Những điều đó sẽ giúp bạn nhận diện những gì mình phải cố gắng học khi nghiên cứu bài.
3.Đọc cẩn thận phần triển khai bài học trong tập sách tự học này. Nhớ đọc kỹ những phần Kinh Thánh tham chiếu, làm những bài tập và kiểm soát lại những câu trả lời của mình có đúng không.
4.Làm bài trắc nghiệm cá nhân ở cuối mỗi bài, và đối chiếu cẩn thận các câu trả lời của bạn với lời giải đáp được để trong Túi riêng dành cho học viên. Ôn lại những câu nào bạn trả lời chưa đúng.
NHỮNG CHỮ CĂN BẢN.
Hiểu rõ những chữ căn bản chúng tôi liệt kê ở phần đầu của mỗi bài học sẽ giúp bạn hiểu rõ bài hơn. Bạn hãy dò định nghĩa của những chữ căn bản này theo vần mẫu tự ABC được liệt kê ở phần Chú Giải Từ Ngữ ở sau SGK TH này. Nếu bạn nghi ngờ về ý nghĩa của bất kỳ chữ nào trên bảng liệt kê thì bạn có thể xem lại ngay bây giờ hoặc khi bạn gặp phần chữ ấy trong bài học.
Bản năng.
Đương thời.
Độc nhất vô nhị.
Mộ đạo.
Phân biệt.
Tôn cao.
TRIỂN KHAI BÀI HỌC.
SỰ KÊU GỌI HƯỞNG ƠN CỨU RỖI.
Mục tiêu 1: Giải thích ý nghĩa của sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi và những điều nào bao gồm ở trong đó.
Sự xúc động lớn nhất hay phép lạ mà bất cứ con người nào có thể kinh nghiệm trong cuộc sống nầy là trở nên con cái của Đức Chúa Trời. Được rời khỏi nước tối tăm để vào nước sáng láng kỳ diệu của Đức Chúa Trời vượt quá bất cứ niềm vui nào của con người. Đức Chúa Trời đang kêu gọi con người đến hưởng ơn cứu rỗi, vì Ngài không muốn người nào bị chết mất.
Để mục đích của Ngài được mọi người trên đất biết rõ, thì Ngài hành động qua con người - những con người đã đáp ứng lời mời gọi của Ngài để hưởng ơn cứu rỗi. Tất cả những ai đáp ứng sự kêu gọi đầu tiên của Ngài đều phải chịu trách nhiệm loan báo tin mừng. Tuy nhiên, một số trong những người này được Ngài biệt riêng làm công tác phục vụ đặc biệt, tức là sự kêu gọi bổ sung đặc biệt mà chúng ta thấy trong phần giới thiệu Bài học. Trong bài này, chúng ta sẽ khảo sát đầy đủ ý nghĩa sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, nhưng trong phần đầu quan trọng này chúng ta sẽ tập trung về sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi.
Tuy nhiên, trước hết, chúng ta cần nhấn mạnh tại sao ‘sự kêu gọi hưởng ơn cứu chuộc’ lại bao gồm trong loạt bài nói về sự phục vụ của Cơ Đốc nhân. Ngày nay ở trong vài tập thể, ‘sự phục vụ’ (hay chức vụ) chỉ được coi như một nghề khác. Theo ý nghĩa này một người chọn nghề ‘mục sư’ phải thông qua những sự chuẩn bị chính thức mà nghề nghiệp này đòi hỏi, và rồi người ấy tìm kiếm một giáo sở nào cần đến tài năng khéo léo của mình. Nhận thức của chúng tôi về sự phục vụ Cơ Đốc khác hẳn, chúng tôi nhìn nhận đó là một sự kêu gọi. Vì lý do đó, chúng tôi muốn bàn vấn đề này cách đặc biệt theo như điều ấy được bày tỏ trong Kinh thánh, vạch ra cách cẩn thận từ sự kêu gọi đầu tiên đến sự kêu gọi tối hậu vào chức vụ.
Ý NGHĨA CỦA TỪ KÊU GỌI.
Mục tiêu 2: Phân biệt những cách dùng của chữ kêu gọi.
Tự điển liệt kê một số ý nghĩa khác nhau của chữ kêu gọi. Nói chung, kêugọi có nghĩa là” yêu cầu, triệu tập vào một công tác, một hoạt động hay một chức vụ đặc biệt, ra lệnh phải đến, gặp nhau hay tụ họp lại”. Đây chỉ là vài ý nghĩa của nhiều cách dùng trong tự điển về chữ kêu gọi.
Trong Kinh Thánh Cựu Ưùơc và Tân ước cũng có một số cách dùng khác nhau về chữ kêu gọi. Về ý nghĩa chung, thì tự điển và Kinh Thánh đều có ý nghĩa gần giống nhau hơn. Ví dụ chữ gọi trong SaSt 3:9 và GiGa 10:3 có nghĩa là” gọi bằng tiếng nói”, trong khi ở DaDn 4:14 và Cong Cv 4:18, có nghĩa là” dùng uy quyền triệu đến”, Chúa Jêsus dùng chữ này trong Mat Mt 9:13 với nghĩa “ mời”. Kêu gọi (call) còn dược dùng để mô tả sự đặt tên cho một người như trong ISa1Sm 1:2 và Mat Mt 1:21 hay nói về việc chỉ định một người vào một cơ quan hay chức vụ cao trọng (HeDt 5:4).
(1) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu đúng.
a.Chữ kêu gọi có một ý nghĩa rộng lớn trong cả cách dùng chung chung cũng như trong Kinh Thánh.
b.Ý niệm về sự kêu gọi vào một công tác hành chánh hay chức vụ đặc biệt dường như nói về ý nghĩa của Kinh Thánh hơn là cách dùng thông thường.
c.Ý niệm về việc dùng uy quyền triệu tập ám chỉ đặc biệt về ý nghĩa chung hơn là cách dùng của Kinh Thánh.
BẢN CHẤT CỦA SỰ KÊU GỌI HƯỞNG ƠN CỨU RỖI.
Mục tiêu 3: Mô tả bản chất và phạm vi của sự kêu gọi để hưởng ơn cứu rỗi.
Sự kêu gọi để hưởng ơn cứu rỗi, trước hết là một sự công bố về kế hoạch cứu chuộc. Thứ hai, đó là sự công bố về nhu cầu ăn năn của tội nhân và tin nhận Chúa Jêsus Christ. Lời mời gọi này dành cho tất cả mọi người, không phân biệt đối xử với ai cả. Kinh thánh mô tả rõ ràng rằng” bất kỳ ai tin nơi Ngài...sẽ được sự sống vĩnh cửu (đời đời)” (GiGa 3:16).
Mạng lịnh” rao giảng tin mừng cho mọi người” chỉ về phạm vi và đối tượng của việc công bố Phúc Aâm (Mac Mc 16:15). Từ ngữ mọi quốc gia bao gồm tất cả; lời hiệu triệu này dành cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, quốc tịch, ngôn ngữ, địa vị xã hội hay kinh tế, hay bối cảnh giáo dục (Mat Mt 28:19-20).
Sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi mở rộng cho mọi người vì mọi người đều cần được cứu khỏi sự hình phạt tội lỗi. Trong RoRm 3:23-24 cho chúng ta biết rõ ràng là” mọi người đều đã phạm tội, hụt mất vinh quang của Đức Chúa Trời”; nhưng nhờ việc đáp ứng lời mời gọi của Đức Chúa Trời để hưởng ơn cứu rỗi thì mọi người” được xưng công nghĩa cách nhưng không do ân phúc của Ngài qua sự cứu chuộc đến từ Chúa Jêsus Christ”.
(2) Đọc GiGa 6:37, Cong Cv 2:21, ITi1Tm 2:4, IIPhi 2Pr 3:9 và trình bày những gì họ phải nói về bản chất của sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi.

(3) Đọc Mat Mt 11:28-30 cách kỹ lưỡng, rồi trình bày ai là người mời, người được mời là ai và mời đến để nhận điều gì.

ĐÁP ỨNG SỰ KÊU GỌI.
Mục tiêu 4: Giải thích những gì bao gồm trong sự đáp ứng hưởng ơn cứu rỗi.
Như chúng ta đã thấy, Đức Chúa Trời đã kêu gọi mọi người tiếp nhận món quà cứu rỗi Ngài ban, và lời mời này đòi hỏi một đáp ứng ! Đối với một người, món quà này không những ảnh hưởng trên cuộc sống hiện tại nhưng còn trên số mệnh vĩnh cửu của người ấy nữa. Trong khi Kinh Thánh cho chúng ta vô số ví dụ về việc người ta đã đáp ứng sứ điệp Tin Mừng, chúng tôi muốn nhấn mạnh về sự đáp ứng của người cai ngục thành Philíp.
Công vụ các sứ đồ đoạn 16 ghi lại sự giải cứu Phaolô và Sila ra khỏi nhà tù tại thành Philíp. Kinh thánh cho biết hai anh em đã bị đánh đập và bị giam giữ rất kỹ. Thay vì phiền nảo, họ đã cầu nguyện và hát Thánh ca ngợi khen Đức Chúa Trời. Thình lình một cơn động đất lớn rung chuyển ngục tù làm cho các tù nhân được cởi xích trói. Thấy những tù nhân ở dưới trách nhiệm của mình đưỡc tự do, ông ta quyết định tự tử. Nhưng Phaolô gọi lớn: “ Đừng làm hại mình ! Chúng ta đều còn đây cả” (c.28).
Sau khi chứng kiến sự can thiệp lạ lùng của Đức Chúa Trời, người đề lao ăn năn tội mình và hỏi phải làm gì để được cứu. Phaolô và Sila trả lời” Hãy tin Chúa Jêsus, thì anh sẽ được cứu - anh và cả người nhà của anh” (c.31). Người đề lao đã tin và anh cùng gia đình tràn ngập niềm vui cách xúc động và kiên định. Vì thế, sự đáp ứng tin cậy của người đề lao là yếu tố quyết định trong kinh nghiệm cứu rỗi của ông ta.
Phaolô giải thích sự đáp ứng tin cậy này đầy đủ hơn trong RoRm 10:9-10. Ở đây Phaolô ghi nhận rằng sự đáp ứng ấy bao gồm đức tin tức là sự nhìn nhận cách cá nhân về quyền chủ tể của Chúa Jêsus Christ. Như vậy, khi một người xác quyết rằng Jêsus là Chúa và xưng nhận điều ấy bằng môi miệng thì được cứu. Xưng bằng miệng và tin nơi lòng bày tỏ sự đáp ứng bên trong và bên ngoài của tín hữu. Sự tin quyết bên trong phải dược diễn đạt ra bên ngoài.
Khi một người xưng nhận Jêsus là Chúa, người ấy công bố thần tánh và sự tôn cao Đấng Christ. Hơn nữa người ấy công bố sự thật rằng mình thuộc về Đấng Christ. Đức tin của một người nơi sự phục sinh chứng tỏ người ấy biết rằng Đức ChúaTrời hành động và đắc thắng tại thập tự giá. Như vậy, khi một người xưng nhận Đấng Christ là Chúa, dựa vào sự tin quyết vững chắc nơi lòng mình, thì người ấy sẽ được cứu.
Sự tin cậy hay niềm tin của tín hữu là một hoạt động liên tục, và đó là bằng cớ của sự ngay thẳng (nghĩa là sự công bình dưới cái nhìn của Đức Chúa Trời). Sự xưng nhận là hành động đang tiến triển và kết quả từ sự được cứu rỗi của tín hữu, nghĩa là, sự tương giao của người ấy với Đức Chúa Trời. Xưng nhận Đấng Christ vừa là sự tuôn tràn tự nhiên từ đời sống mới thuộc linh vừa là kết quả hợp lý của một người trong mối thông công tươi mới với Đấng Christ. Xưng nhận Đấng Christ nghĩa là chia sẻ sự cứu rỗi kỳ diệu của Ngài, đó là một trong những đặc điểm chính yếu của các tân tín hữu. Và đó cũng là một khía cạnh của đời sống thuộc linh không bao giờ giảm bớt. Tin cậy và xưng nhận là những đặc tính cố định, suốt cả đời sống của tín hữu vốn phát xuất từ sự tin quyết của họ.
Sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời trao tặng cho mọi người trở thành thực tế khi cá nhân nào ăn năn tội lỗi của mình, tin cậy nơi Đức Chúa Jêsus Christ và tiếp nhận Jêsus Christ làm Cứu Chúa của cá nhân mình.
Tôi nhớ lại kinh nghiệm được cứu của mình. Tôi lớn lên trong một gia đình rất khắc khe và rất năng động ở nhà thờ. Ngay cả tôi không biết tí nào về sự cứu rỗi của cá nhân mình nơi Đấng Christ. Trong năm cuối cùng của bậc Trung học, Hội thánh tôi sinh hoạt đồng ý góp phần vào một chiến dịch truyền giảng lộ thiên. Chiến dịch này kéo dài 30 đêm. Vì đến thành phố lớn thì thật là vui, nên tôi đồng ý đi theo. Có rất nhiều thức ăn để mua vàø thật là tuyệt khi được nghỉ ngơi với bạn bè trên bãi cỏ ngoài trời nơi tổ chức chiến dịch.
Tuy nhiên, một đêm nọ xảy ra khúc quanh của cuộc đời. Tôi ở trong một chiếc xe buýt đậu gần bục giảng. Cùng với vài người bạn, tôi ngồi nghỉ ngơi và cố gắng nghe một ít những gì nhà truyền giảng chia sẻ. Dù sự chú ý của tôi được khơi gợi bởi phép lạ Đức Chúa Trời thực hiện trong một đêm trên đời sống của một minh tinh màn bạc nổi tiếng, tôi vốn có sự mộ đạo làm tôi cảm thấy bình an. Nghĩa là, tôi vẫn thấy bình an cho đến khi nhà truyền giảng hỏi một câu khẳng định,” Nếu đêm nay bạn chết đi, bạn sẽ sống cõi đời đời tại đâu ?”. Câu hỏi này quấy động lòng tôi đến nỗi tôi khó có thể cử động được. Bất chấp bạn bè và những người quen ở trên xe buýt. Khi có lời mời gọi tiếp nhận Đấng Christ tôi đáp ứng lời mời gọi ấy cùng với hàng trăm người khác, tôi đã mời Đấng Christ vào đời sống mình, làm Cứu Chúa của cá nhân mình. Tôi đáp ứng lời mời của Đức Chúa Trời để hưởng ơn cứu rỗi.
Sự đáp ứng lời mời để hưởng ơn cứu rỗi rất quan trọng. Nó mở cửa cho đời sống thuộc linh và phục vụ. Mặc dù đa số chúng ta không có kinh nghiệm được cứu cách xúc động như Phaolô (Cong Cv 9:1-48) nhưng chúng ta đều có một khúc quanh đễ tiếp nhận Jêsus Christ. Đáp ứng cách cá nhân và tích cực, chúng ta được đi vào mối thông công mới lạ và kỳ diệu với Đức Chúa Trời. Sự đáp ứng này mở cửa để bước vào cuộc sống phong phú, nhưng đồng thời nó cũng đòi hỏi những trách nhiệm quan trọng.
Học tập kỹ càng sự đáp ứng của tín hữu Hội thánh đầu tiên chúng ta thấy rằng họ nói, giảng, dạy, và chia sẻ kinh nghiệm cứu rỗi của họ ở khắp mọi nơi họ đi. Họ chẳng bao giờ ngưng việc xưng nhận Jêsus là Chúa, vì thế Hội thánh lớn lên cách lạ thường như điều Đức Chúa Trời dự kiến. Trong khi thời gian đổi thay, ý định của Đức Chúa Trời vẫn y nguyên: mọi người trên thế giới cần biết sự cứu rỗi của Ngài và họ phải học tập qua sự làm chứng của nhiều người.
(4) Trong kinh nghiệm cứu rỗi của Liđi trong 16:14-15, người đề lao thành Philíp ở 16:30-34 và Cơrítbu trong 18:8 có điểm chung nào ?
(5) Giải thích ngắn gọn những gì bao gồm trong lời mời gọi hưởng ơn cứu rỗi.
SỰ KÊU GỌI VÀO CÔNG TÁC PHỤC VỤ.
Mục tiêu 5: Nhận diện những lời diễn đạt giải thích tại sao tín hữu được trang bị để phục vụ.
Như chúng ta đã thấy, sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi còn liên quan đến những gì khác hơn việc được cứu khỏi sự đoán phạt của tội lỗi. Mặc dù được cứu khỏi tội lỗi là một kinh nghiệm phi thường, đó mới khởi đầu cho một mối quan hệ thuộc linh. Cứu Chúa chúng ta so sánh mối quan hẹä này với mối quan hệ hiện hữu giữa gốc nho và cành nho (GiGa 15:1-8). Từ lúc Chúa Jêsus trở thành Cứu Chúa của chúng ta khi chúng ta được cứu, chúng ta trở nên tôi tớ của Ngài và chúng ta noi theo thái độ và hành động của Ngài.Ngài chấp nhận thái độ và công tác của sự phục vụ, và đó là vai trò mà Ngài kêu gọi chúng ta (So sánh 13:1-16 với Phi Pl 2:5-11). Ngài cũng kêu gọi chúng ta vào một chức vụ giải hòa, chức vụ chia sẻ kinh nghiệm cứu rỗi của chúng ta với những người chưa tin (IICo 2Cr 5:17-18). Để giúp chúng ta phục vụ cách hiệu quả, Ngài ban cho chúng ta một số khả năng như sau.
SỰ BAN CHO ĐỂ PHỤC VỤ.
Trong khi Chúa Jêsus so sánh mối quan hệ của Ngài với tín hữu giống như mối quan hệ giữa gốc nho và cành nho, thì sứ đồ Phaolô so sánh mối quan hệ này như của thân thể con người đối với cái đầu (ICo1Cr 12:12-28). Trong thân thể, mỗi bộ phận đều có một chức năng. Từ phần lớn nhất cho đến nhỏ nhất, thấy được hoặc không thấy được, mỗi phần đều có một chức năng riêng biệt nhưng lại liên quan mật thiết với nhau. Kinh thánh thiết lập rõ ràng nguyên tắc mỗi tín hữu là một chi thể - một phần - của thân thể Đấng Christ và như vậy có một chức năng hay công tác trong mối quan hệ với Đấng Christ là Đầu (IPhi 1Pr 4:10). Điều này có nghĩa là để đáp lại mỗi Cơ Đốc Nhân có một công tác phục vụ, và qua thân thể của Đấng Christ (ICo1Cr 12:7), công tác ấy bắt đầu khi người ấy trở thành chi thể của thân.
Đức Chúa Trời hết sức quan tâm đến những lợi ích nhất của thân thể, vì vậy Ngài ban những ân tứ phục vụ cho mỗi người (12:7, 11). Điều nhấn mạnh của phân đoạn Kinh Thánh này là có những ân tứ khác nhau và mọi người không cùng có một ân tứ hay những ân tứ giống nhau. Đúng hơn là Đức Thánh Linh ban những ân tứ này cho mỗi người tùy theo ý muốn tối thượng của Ngài, nghĩa là theo điều Ngài quyết định. Như vậy, mỗi người sử dụng bất cứ ân tứ nào mình nhận được để phục vụ kẻ khác, người ấy sử dụng ân phúc của Đức Chúa Trời trong những hình thức khác nhau (IPhi 1Pr 4:10) và toàn thể nhu cầu của thân thể được đáp ứng.
Phaolô mô tả sự hài hòa của những chi thể trong thân thể của các tín hữu Êphêsô như sau:
Phải dùng tình thương nói ra lẽ thật để trong mọi sự chúng ta đều được lớn lên trong Đấng làm đầu tức là Đấng Christ, nhờ Ngài mà cả thân thể đều kết cấu liên lạc bởi sự tương trợ của các lắc léo, tùy theo công dụng đã ban cho từng phần, khiến thân thể lớn lên và tự gây dựng trong sự thương yêu.
Eph Ep 4:15-16.
Một cách đặc biệt, công tác mà sứ đồ Phaolô nói đến là gì ?. Trong RoRm 12:3-8, ông đề cập đến ơn tiên tri, phục vụ, dạy dỗ, khuyên bảo, dâng hiến, lãnh đạo, và bày tỏ sự thương xót. Đức Chúa Trời ban những ân tứ này cho những chi thể của thân thể Đấng Christ tùy vào ân phúc của Ngài. Những ân tứ ấy không dành cho vinh quang hay sự tôn trọng cá nhân nào, nhưng dành cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời vì chúng góp phần vào sức khỏe, sự phát triển và trưởng thành của thân thể. Ở ICo1Cr 12:28, Phaolô mô tả các ân tứ khác mà Đức Chúa Trời ban cho tín hữu, trong số đó có những người sử dụng ơn chữa bịnh, làm phép lạ, giúp đỡ những người khác, quản trị và nói các ngôn ngữ khác.
Lướt nhanh qua những ân tứ được đề cập trong RoRm 12:1-21 và ICo1Cr 12:1-31, chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến sự phát triển thuộc linh của tín hữu, vì vậy, có một thiên hướng thuộc linh mạnh mẽ đối với những ân tứ này vốn là phần quan trọng sống động đối với tân tín hữu, là con đỏ trong Đấng Christ. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy rằng có một số ân tứ trong bản chất rất thực tiễn. Chúng tôi muốn nói cách đơn giản là những ân tứ ấy không bị hạn chế trong nội dung hình thức những buổi nhóm của Hội Thánh. Đúng hơn, những điều ấy phải được thể hiện vào cuộc sống hàng ngày. Giúp đỡ, khích lệ, cung cấp những nhu cầu cho người khác, có lòng thương xót, và phục vụ người khác phải là đặc tính của đời sống tín hữu sống mỗi ngày trong thế giới đầy dẫy nhu cầu và đau đớn này. Những ân tứ thực tiễn này bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời đối với con người, và những điều đó nói lên bằng cớ về sự sống động của kinh nghiệm Cơ Đốc Nhân .
Minh họa: Hình hai tín hữu tặng một cặp gà cho một gia đình 1 mẹ 5 con nghèo khổ.
Tóm lại của những gì chúng ta đã thảo luận là sự kêu gọi tín hữu hưởng ơn cứu rỗi có liên quan đến sự kêu gọi vào công tác phục vụ. Mối liên quan này sống động đối với sức khỏe của thân thể Đấng Christ, vừa cho sự tăng trưởng và phát triển bên trong và cả sự làm chứng bên ngoài. Như vậy, sự phục vụ không phải tùy lúc hay không bắt buộc, mà đó là phần sống động của sức sống mới của tín hữu ở trong thân thể Đấng Christ .
Trong RoRm 12:1 chữ được dịch là” sự thờ phượng thuộc linh” (Spiritual Worship - NIV) cũng có thể được dịch là” sự phục vụ” (Service - KJV). Nội dung câu ấy gợi ý rằng sự phục vụ ám chỉ ở đây được đặt trên nền tảng tình yêu chân thật của tín hữu đối với Đức Chúa Trời để đáp lại tất cả những gì Ngài đã làm cho người ấy. Sự thờ phượng thuộc linh có ý nghĩa rộng rãi hơn việc các tín hữu đến với nhau vào ngày Chủ nhật. Nó chỉ về sự phục vụ toàn bộ được thúc đẩy bởi tình yêu và thể hiện cách tốt nhất khi một người dâng thì giờ, tài năng và sức lực để phục vụ Đức Chúa Trời . Hơn nữa sự thờ phượng thuộc linh này hay sự phục vụ trở thành một phẩm tính của tất cả tín hữu, nó không hạn chế cho những người được biệt riêng bằng sự kêu gọi đặc biệt hơn cho công tác phục vụ trong thân thể của Đấng Christ .
(6) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu ĐÚNG.
a. Những tín hữu chỉ nhận được những ân tứ thuộc linh khi họ trưởng thành về phương diện thuộc linh .
b. Những ân tứ thuộc linh là những phương tiện qua đó Đức Chúa Trời cung cấp ân phúc của Ngài cho thân thể của Đấng Christ .
c. Những ân tứ vận hành trong thân thể của Đấng Christ nhấn mạnh vào những nhu cầu thuộc linh hơn là những nhu cầu thực tế.
d. Vì từ ngữ ân tứ thuộc linh được dùng để ám chỉ sự ban cho của Đức Chúa Trời trên những tín hữu trưởng thành về thuộc linh, nên những người chưa tin không hưởng lợi ích gì từ sự ban cho này.
e. Sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi cũng là sự kêu gọi vào công tác phục vụ, nói lên mối liên hệ của một người với Đấng Christ và đáp ứng những nhu cầu của thân thể Ngài .
f. Sự thờ phượng thuộc linh hay sự phục vụ không hạn chế vào thì giờ của sự thờ phượng chính thức, cũng không phải là việc làm tùy hứng hay không bắt buộc.
SỰ KÊU GỌI VÀO CHỨC VỤ ĐẶC BIỆT.
Mục tiêu 6: Từ những ví dụ về những loại kêu gọi khác nhau, hãy nhận diện những ví dụ nào liên quan đến chức vụ đặc biệt.
Từ trong Kinh Thánh chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi tín hữu một ân tứ cá biệt để giúp cho người ấy phục vụ có hiệu quả trong thân thể Đấng Christ . Và chúng ta đã thấy rằng tất cả tín hữu được kêu gọi để phục vụ trong thân thể của Đấng Christ, sử dụng những ân tứ khác nhau của họ để làm lợi cho thân thể. Bây giờ chúng ta sẽ chú ý vào một số người được kêu gọi để phục vụ cho cơ thể trong những khả năng đặc biệt (Eph Ep 4:11). Và chúng ta sẽ thấy rằng mặc dù tất cả Cơ đốc nhân được kêu gọi để phục vụ, nhưng không phải tất cả đều được kêu gọi vào công tác mục sư.
MỘT SỐ NGƯỜI ĐƯỢC ĐỂ RIÊNG
Theo Eph Ep 4:7-16.
Ở phần giới thiệu của bài này, chúng ta ôn lại bức thư của Phaolô gửi cho Hội thánh tại Êphêsô. Trong Đoạn 4 của bức thư ấy, chúng ta thấy một số tín hữu được để riêng cho công tác đặc biệt (c.11). Họ là những sự ban cho của Đức Chúa Trời cho thân thể để giúp thân thể phát triển cách lành mạnh và trưởng thành, bày tỏ sự hiệp nhất và giống Đấng Christ thật sự (xem 4:7-16).
Vì sự chống đối của Satan có thật và con đỏ thuộc linh gặp phải những nan đề trong việc tăng trưởng, nên sứ đồ nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kêu gọi một số người đặc biệt phục vụ trong chức năng của những sứ đồ, những tiên tri, những người truyền giảng, những mục sư, và giáo sư. Những người được kêu gọi đặc biệt này phục vụ cho việc phổ biến Phúc âm, truyền đạt những khải tượng thiên thượng, động viên tín hữu hoạt động, nuôi dưỡng đức tin của những người đáp ứng sứ điệp Phúc âm, và phát triển sự dạy dỗ thuần chánh để gây dựng họ trong đức tin. Qua công tác của những người được kêu gọi đặc biệt này, thân thể hoạt động hài hòa và kết quả theo như Đức Chúa Trời dự định.
Trong Cong Cv 13:1-3, chúng ta thấy một trong những ví dụ tốt nhất về sự biệt riêng một số người. Hãy chú ý cẩn thận những điều sau:
1.Những người lãnh đạo Hội thánh tại Antiốt là một nhóm người pha trộn về dòng giống và xã hội (c.1), và họ nhất trí làm việc với nhau.
2.Những người lãnh đạo này phục vụ Chúa và sử dụng những ân tứ của họ.
3.Từ những con người đã phục vụ, Đức Thánh Linh khuyên bảo nhóm người ấy để riêng Phaolô và Banaba cho Ngài .
4.Đức Thánh Linh khởi đầu sự kêu gọi.
5.Những người lãnh đạo Hội thánh, nhìn nhận có quyền năng của Đức Chúa Trời trên hai anh em này, nên đặt tay trên họ và sai họ đi.
(7) Đọc 13:1-3; 16:1-10; ITi1Tm 4:14 và IITi 2Tm 1:6 và ghi chú vào những ô bên dưới công tác của mỗi người khi họ được biệt riêng, ai biệt riêng người ấy và người ấy làm gì sau khi được biệt riêng ra.
Tên
Việc làm trước khi
Ai biệt riêng người ấy
Việc làm sau khi được biệt riêng
a.Banaba
b.Phaolô
c.Timôthê
NHỮNG VÍ DỤ TRONG KINH THÁNH.
Kinh Thánh đưa ra nhiều ví dụ về những người được Đức Chúa Trời kêu gọi để làm những công tác đặc biệt. Các ví dụ trong Kinh Thánh chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời kêu gọi họ bằng nhiều cách khác nhau vào những công tác đặc biệt mà Ngài hoạch định cho họ. Trong mỗi trường hợp công tác của những người này đáp ứng những nhu cầu đặc biệt trong việc gây dựng, bảo vệ và dẫn dắt dân sự của Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta nghiên cứu những ví dụ về những con người mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi, thì chúng ta thấy một chân lý nổi bật: Đức Chúa Trời khởi đầu sự kêu gọi. Dù hoàn cảnh mỗi sự kêu gọi của mỗi người có thể khác nhau, nhưng bản thân sự kêu gọi rất rõ ràng. Khi Đức Chúa Trời kêu gọi một người vào một công tác nào đó, chữ kêu gọi có nghĩa là” bổ nhiệm vào một chức vụ” (to appoint to an office).
(8) Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê những phần Kinh Thánh bên dưới vào 1 cột. Bên phải cột nầy gạch thêm 3 cột nữa, cột thứ nhất ghi” Người được kêu gọi”, cột thứ hai” Đáp ứng sự kêu gọi”, cột thứ ba” Kết quả của sự kêu gọi”. Đọc mỗi phần Kinh Thánh tham chiếu và điền vào khoảng trống bên dưới những lời giải đáp phù hợp.
a.SaSt 12:1-8.
b.XuXh 3:1-22
c.31:1-11; 35:30-39, 43.
d.Dan Ds 27:15-23.
e.Cac Tl 6:1-24.
f.Mat Mt 4:18-22.
g.Mac Mc 2:13-17.
h.Cong Cv 9:1-31.
Ở Eph Ep 4:7 và những chỗ khác chúng ta thấy rằng Cứu Chúa chúng ta đã ban cho mỗi tín hữu một ân tứ, một khả năng để phục vụ trong thân thể của Đấng Christ. Và chúng ta cũng ghi nhận rằng một số tín hữu được chỉ định vào những chức vụ đặc biệt, trong số đó có 5 chức vụ được gọi tên trong 4:11. Khi chúng ta khảûo sát năm chức vụ này cách ngắn gọn, thì chúng ta sẽ thấy thế nào những người được kêu gọi vào những chức vụ này thi hành công tác của mình để giúp cho những tín hữu khác thực hành những công tác tương ứng của họ.
Những sứ đồ được nêu danh đầu tiên, và họ thường được nhận diện là những người thành lập Hội thánh ngay từ đầu. Họ rao giảng trước khi có một Hội thánh và dạy dỗ thêm cho những tín hữu trước khi họ chuyển sang công tác ở vùng đất mới. Những tiên tri là những người có tầm cở thuộc linh khác thường (unusual spiritual stature), họ nói ra những sứ điệp thiên thượng cho Hội thánh trong thời của họ, khi Tân ước chưa được viết, để hướng dẫn những tín hữu. Những nhà truyền giảng, người ta thường nghĩ là những cá nhân mang sứ điệp, Phúc âm rao ra bên ngoài Hội thánh, truyền giảng cho những người chưa được cứu, và tiếp tục công tác của những sứ đồ.
Giáo sư là những người có khả năng dạy dỗ người khác trong đức tin, nghĩa là, biết và tin về Đấng Christ phục sinh. Họ cũng có khả năng dạy bảo tín hữu về cách cư xử thích hợp cho những người tin theo Đấng Christ. Cuối cùng, từ ngữ mục sư chỉ về những cá nhân được trang bị cách đặc biệt để chăm sóc tín hữu trong cộng đồng Cơ Đốc hay cộng đồng tiếp cận với Cơ đốc nhân. Cộng đồng này bao gồm những người tò mò, tìm hiểu đạo, tân tín hữu, người yếu đuối, người thất vọng, người bị mất người thân, cô đơn và lầm đường lạc lối. Có người nhận xét rằng dù những giáo sư giúp đỡ bằng sự truyền đạt kiến thức, nhưng mục sư lại giúp đỡ người ta bằng sự động viên, bày tỏ lòng thương xót, lời khuyên khôn ngoan, và tình thân thiện. Vì vậy, công tác mục sư có thể được so sánh với sự chăm sóc mà người chăn dành cho bầy chiên của mình. Về sự kêu gọi cuối cùng, công tác của mục sư, chúng ta sẽ nghiên cứu ở phần cuối của bài học này.
(9) Xếp đặt cho phù hợp về sự kêu gọi (số) với sự mô tả thích hợp (chữ).
1) Kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi.
2) Kêu gọi vào công tác phục vụ.
3). Kêu gọi vào chức vụ đặc biệt.
...a. Liên quan đến hoạt động của một số người để giúp cho những người khác sử dụng ân tứ của họ hiệu quả hơn.
...b. Liên quan đến lời mời ngay từ đầu mà Đức Chúa Trời mở ra cho tất cả mọi người.
...c. Liên quan đến hoạt động mà tất cả những tín hữu được Đức Thánh Linh trang bị.
(10) Xếp đặt cho phù hợp mỗi công tác đặc biệt (số) với sự mô tả thích hợp (chữ).
1) Những sứ đồ
2) Những tiên tri
3) Những nhà truyền giảng
4) Những mục sư
5) Những giáo sư
....a. Những người được trang bị để ưu tiên chăm sóc cho mọi người ở trong cộng đồng Cơ đốc hay cộng đồng tiếp cận với Cơ đốc nhân .
....b. Những người có khả năng dạy dỗ tín hữu về nội dung của đức tin của họ và phẩm hạnh Cơ đốc nhân thích hợp.
....c. Những người được nhận diện la øngười thành lập Hội thánh ngay từ đầu.
....d. Những người có chủ đích rao giảng Phúc âm cho người chưa tin, một số người nghĩ rằng họ tiếp tục công tác của sứ đồ.
....e. Những người nói ra sứ điệp của Đức Chúa Trời cho Hội thánh trong thời đại của họ.
SỰ CHỈ ĐỊNH CHỨC VỤ MỤC SƯ (Pastoral Appointmet).
Thi Tv 23:1-6; GiGa 10:1-16; Cong Cv 20:17-35; IPhi 1Pr 5:1-4.
Mục tiêu 7: Nhận diện những phương cách mà sự kêu gọi của một người sẽ được bày tỏ trong sự phục vụ Cơ đốc.
Trong phần trước chúng ta đã thấy sự mô tả chung về những bổn phận của mục sư. Tại đấy chúng ta ghi nhận vài bổn phận quan trọng mà mục sư phải thực hiện. Trong quan điểm của Đức Chúa Trời, mục sư giữ một vị trí độc nhất vô nhị về chức vụ. Tuy vậy, người ta thường có những cái nhìn khác nhau về công tác của mục sư, và những quan điểm này thường bắt buộc mục sư trở thành” Tất cả mọi sự cho tất cả mọi người”. Dẫu thế, Kinh Thánh sẽ cho chúng ta quan điểm chính xác hơn về công tác của mục sư. Và Kinh Thánh cũng chỉ cho chúng ta biết mục sư phải thuộc hạng người nào.
Trong Cong Cv 20:1-38, Phaolô mô tả bằng những chữ khác nhau để làm sáng tỏ công việc của chức vụ mục sư . Trong câu 17, ông dùng chữ trưởng lão (elders) để chỉ những người chịu trách nhiệm ở Hội thánh Êphêsô . Rồi qua câu 28, ông nói về những anh em đó là những giám mục (quản nhiệm - overseers). Và cuối cùng, cũng trong câu 28, ông khuyên bảo những anh em này trở nên những người chăn bầy. Những từ ngữ này mô tả những người trưởng thành về thuộc linh, có khả năng lãnh đạo con người và điều hành những kế hoạch, và chăm sóc để nuôi nấng, phát triển đời sống thuộc linh và sự tăng trưởng của dân sự Đức Chúa Trời. Hơn nữa, mỗi thành viên trong nhóm những mục sư lãnh đạo này được nhắc nhở rằng Đức Thánh Linh là Đấng biệt riêng người ấy ra cho công tác đặc biệt này, và mỗi người phải nhận trách nhiệm với Ngài .
Từ ngữ người chăn bầy là một sự mô tả chính xác về mục sư, vì chữ ấy nói lên nhu cầu phải nhạy bén đối với những yêu cầu khác nhau của người ta. Dưới quyền của Đấng Chăn Chiên Trưởng, những người chăn bầy cấp dưới phải phục vụ cách tự nguyện bởi vì họ đầu phục Ngài và cũng vì họ chia sẻ tình yêu của Ngài cho mọi người (IPhi 1Pr 5:1-4). Như vậy, mục sư là người được Đức Chúa Trời kêu gọi và chỉ định để ủy thác trách nhiệm lãnh đạo, cung cấp thức ăn và bảo vệ những người mà Đức Chúa Trời đặt để dưới sự chăm sóc của người đó.
Trong GiGa 10:1-16 Chúa Jêsus giải thích đầy đủ hơn về ý nghĩa của người chăn bầy đối với bầy chiên của Ngài. Điều nhấn mạnh của đoạn này là người chăn hiền lành biết con chiên của mình và quan tâm sâu xa về sự hưng thịnh của chiên. Mối quan hệ của người ấy với chiên là sự chăm sóc từng con một, đây không chỉ là hình thức và nghề nghiệp. Như vậy, điều này đòi hỏi phó thác sự sống mình (c.11) để quan tâm đến sự hạnh phúc tối hậu của những con chiên mình đang chăm sóc.
Đavít cũng giới thiệu Chúa là Đấng Chăn Chiên của mình trong Thi Tv 23:1-6. Ông ghi nhận rằng Đấng Chăn Chiên chú ý đến từng con chiên cũng như tất cả bầy. Đây là sự quan tâm mà mục sư phải triển khai. Dù ông là mục sư của toàn thân thể, nhưng ông phải nhạy bén với những nhu cầu của từng cá nhân.
Bức tranh Đavít giới thiệu ở đây là một trong những gương mẫu tận tụy yêu thương, chăm sóc chu đáo, và liên tục quan tâm. Con chiên vốn có bản năng tin cậy người chăn cho nó ăn, cung cấp nhu cầu để nó phát triển và bảo vệ nó. Là người lãnh đạo khôn ngoan, người chăn bầy hướng dẫn những người theo mình không chỉ để yên nghỉ và tăng cường sức lực mà còn kinh qua những đấu tranh và nguy hiểm. Vì vậy, người ấy cung ứng những nhu cầu của họ, chuẩn bị họ để đối phó với những nguy cơ của cuộc đời và bảo vệ khi họ trưởng thành.
(11) Từ sự mô tả vai trò của mục sư được ghi trong GiGa 10:1-42; Cong Cv 20:1-36; Eph Ep 4:1-21; Tit Tt 2:1-15 và IPhi 1Pr 5:1-14 cùng những thảo luận của chúng ta qua các phần Kinh Thánh này, hãy xét những hoạt động dưới đây, điều nào
trình bày ý niệm của Kinh Thánh về sự chăm sóc của mục sư.
....a. An ủi người cô đơn, bị tổn thương và mồ côi.
....b. Lau sạch nhà thờ.
....c. Quở trách một anh em phạm lỗi.
....d. Dạy dỗ Lời Đức Chúa Trời .
....e. Chơi một nhạc cụ.
....f. Nuôi dưỡng tân tín hữu.
....g. Nêu gương mẫu bằng cách làm điều tốt.
....h. Đếm tiền dâng hiến.
....I. Trang trí nhà thờ.
....j. Động viên và khiển trách bằng uy quyền.
CHỨC VỤ MỤC SƯ: TRỌN THÌ GIỜ hay BÁN THỜI GIAN.
Mục tiêu 8: Nhận ra những lý do của Kinh Thánh và trong thực tế để chứng minh cho chức vụ mục sư làm việc trọn thì giờ hoặc bán phần thời giờ.
Một câu hỏi thưòng được nêu lên khi chúng ta thảo luận về chức vụ mục sư là” Một người có thể nào được biệt riêng làm chức vụ mục sư và vẫn giữ một việc làm trần tục ?”,” Liệu mục sư làm công việc trần tục để có lương trong khi vẫn chăm sóc một Hội thánh được không ?” Có lẽ bạn đã gặp hoặc đang đối diện vấn đề này. Nếu thế, phần thảo luận sau đây sẽ giúp ích cho bạn khi bạn khảo sát một số nguyên tắc Kinh Thánh về câu hỏi nầy.
Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận rằng chức vụ mục sư rất khác biệt tùy từng nơi. Ở một vài nơi, một mục sư cao niên làm mục sư trưởng ở một Hội thánh mẹ rất lớn, để điều hành những nhóm Hội thánh nhỏ hơn trong khu vực đó. Trong những trường hợp này, mỗi Hội thánh nhỏ, Hội thánh lệ thuộc do một vị mục sư phụ trách, là người dựa vào mục sư niên trưởng để hướng dẫn chương trình của Hội thánh mình. Thông thường, sự sắp xếp này xảy ra tại những nơi kinh tế không cho phép mục sư của các Hội thánh nhánh dành trọn thì giờ cho chức vụ của mình. Kết quả họ tự lo sinh sống bằng những công việc ngòai đời.
Tại những nơi khác, có những Hội thánh đủ khả năng để cấp dưỡng cho mục sư, như vậy mục sư có thể dành trọn thì giờ để chăn bầy. Rõ ràng, sự sắp xếp này cho phép mục sư dành nhiều thì giờ hơn để sửa soạn cho việc giảng dạy, cũng như dành thì giờ nhiều hơn cho những người trong hội chúng cũng như cộng đồng của mình. Chúng ta hãy xem Kinh Thánh nói gì về vấn đề này và những lựa chọn nào được nói đến.
Trong ICo1Cr 9:1-27, sứ đồ Phaolô bàn về những quyền hạn của sứ đồ. Trong câu 6 ông hỏi” ...Có phải chỉ một mình tôi và Banaba phải làm việc để kiếm sống sao ?”. Trong những câu sau, sứ đồ Phaolô thảo luận về việc những người phục vụ có quyền nhận cấp dưỡng từ những người được họ phục vụ (câu 7,12). Những người trồng nho hay làm ruộng có quyền mong đợi nhận lãnh bông trái công lao khó nhọc của mình là điều hoàn tòan hợp lý. Cũng vậy, Phaolô nói rằng những ai gieo giống thuộc linh có thể mong đợi cách hợp lý nhận được những lợi ích vật chất, nghĩa là, họ có thể mong đợi được cấp dưỡng bởi những người họ đang phục vụ. Hơn nữa, ông cũng nhận thấy rằng chính Chúa Jêsus ủng hộ ý niệm này, có lẽ ông dẫn chứng việc Chúa sai mười hai và bảy mươi môn đệ đi (Mat Mt 10:10).
Trước khi Tân ước dạy dỗ về điều này thì kinh nghiệm của dân sự Đức Chúa Trời trong thời Cựu ước cũng đặt trên nguyên tắc tương tự. Dân số ký đoạn 18 mô tả ý định của Đức Chúa Trời cho quốc gia Ysơraên. Tại đây Môise được Chúa bảo phải để riêng chi phái Lêvi khỏi 11 chi phái khác để phục vụ. Từ câu 8-32 mô tả thế nào 11 chi phái khác đã cấp dưỡng cho những thầy tế lễ và người Lêvi là những người dâng mình để phục vụ. Câu 24 cho thấy họ được cấp dưỡng qua việc hội chúng dâng 1/10 và các khỏan dâng khác. Hơn nữa lịch sử Cựu ước ký thuật rằng hễlúc nào sự sắp xếp này được tôn trọng thì dân Ysơraên thịnh vượng. Nhưng khi điều này bị bỏ rơi, thì quốc gia lại chịu khốn khổ về mặt thuộc linh và đi vào thời kỳ suy đồi (xem NeNe 13:10-13, đặc biệt câu 11, sau khi những người Giuđa bị lưu đày trở về, cũng xem MaMl 3:6-12).
Chúng ta đã khảo sát sơ lược sự dạy dỗ của Kinh Thánh về việc cấp dưỡng cho mục sư. Và chúng ta đã thấy rằng sự dạy dỗ của toàn bộ Kinh Thánh ấy là những ai phục vụ sẽ được những ngừơi mình phục vụ cấp dưỡng để duy trì chức vụ. Dù vậy, Kinh Thánh cũng đưa ra trường hợp ngoại lệ. Chẳng hạn, thế nào sứ đồ Phaolô binh vực quyền nhận được sự ủng hộ tài chánh (ICo1Cr 9:12-23). Tuy nhiên ông đã chọn việc không sử dụng quyền này vì ông tin rằng công việc của Chúa cần ông phục vụ “ cách nhưng không” (câu 18). Như vậy ông tham gia vào việc may trại để nuôi mình trong khi ông mở mang Hội thánh tại Côrinhtô (Cong Cv 18:3). Bạn có thể nhận thấy rằng ông không phàn nàn về sự sắp xếp này, trái lại ông còn phấn khích về việc ấy. Một mục sư đương thời cũng có hoàn cảnh hơi tương tự đã phát biểu: “ Tôi làm việc 10 giờ 1 ngày suốt 5 ngày trong tuần để có tiền cho gia đình sinh sống, nhưng công việc trọn thời gian của tôi là làm công việc Chúa”.
Chúng ta có thể kể thêm một hoàn cảnh trong đó Chúa dẫn dắt cặp vợ chồng mục sư trẻ có hai con phục vụ tại một thành phố chưa có công việc nào khác trong nhà thờ. Trong giai đoạn đầu, mục sư trẻ này làm một công việc ngoài đời. Sau đó, khi số người thêm vào Hội thánh tăng lên và có thể cung lương cho ông, thì ông nghỉ làm bên ngoài và để Hội thánh cấp dưỡng cho mình. Đây là một khuôn mẫu chung cho những Hội thánh tăng trưởng đòi hỏi sự dành trọn thì giờ và sự quan tâm của mục sư.
Một người khi được kêu gọi vào chức vụ mục sư thì phải nhìn nhận một số điều. Kinh Thánh chỉ ra rằng người ấy phải chịu trách nhiệm nuôi nấng gia đình mình (ITi1Tm 5:8). Như chúng ta đã thấy, Kinh Thánh còn nói rõ ràng rằng những ai rao giảng Tin lành sẽ được người họ phục vụ cấp dưỡng. Những giai đoạn đầu của công tác trong Hội thánh, một người có thể cần tham gia vào công việc bên ngoài. Nhưng khi công việc gia tăng và phát triển, Hội thánh phải có trách nhiệm theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh cấp dưỡng cho người ấy. Cách này tốt nhất khi Hội thánh tăng trưởng và đòi hỏi trọn thì giờ, tài năng và sức lực của mục sư. Bằng cách này thì những lợi ích của tập thể và của mục sư đều được đáp ứng tốt nhất.
(12) Bạn hãy tìm một mục sư đang làm việc trong chính phủ, trường học, điều hành một việc kinh doanh, làm nông hoặc hành nghề khác, khi Chúa hướng dẫn người ấy rời khỏi công việc đã làm và dâng trọn thì giờ vào công tác mục sư, bạn hãy phỏng vấn người đó theo những gợi ý hướng dẫn như sau:
a. Ông đã làm công việc ngoài đời được bao lâu ?
b. Điều gì khiến ông quyết định nghỉ việc và dâng trọn thì giờ cho công tác mục sư ?
c. Ông đã được sự tái bảo đảm nào để biết rằng Chúa đang kêu gọi ông vào công tác mục sư ?
d. Liệu kinh nghiệm và những sự huấn luyện liên quan đến việc ngoài đời có giúp đỡ gì trong chức vụ mục sư của ông không ?
(13) Hãy tìm một mục sư dấn thân vào công việc” trọn thì giờ” nhưng người ấy lại kiếm sống bằng phương tiện công việc trần gian. Hãy dùng các câu hỏi sau đây gợi ý cho cuộc phỏng vấn:
a. Khó khăn nào người ấy phải đương đầu trong hoàn cảnh đòi hỏi nầy ?
b. Có phải sự gắn bó với công tác mục sư của người ấy dựa vào một sự kêu gọi đặc biệt hay dựa vào nhu cầu hiện tại của hội chúng ?
c.Điều nào khiến người ấy quyết định duy trì công việc bên ngoài và gánh vác trách nhiệm công tác mục sư ?
d. Hội chúng của ông ta phản ứng thế nào đối với hoàn cảnh này ?
(14) Khoanh tròn mẫu tự trước câu ĐÚNG.
a. Sự xếp đặt thực tế lý tưởng và theo Kinh Thánh là mục sư dâng trọn thì giờ cho công tác mục vụ.
b. Sứ đồ Phaolô trình bày rõ ràng rằng mục sư có quyền nhận cấp dưỡng từ những người ông phục vụ .
c. Sứ đồ Phaolô không nhấn mạnh về quyền được cấp dưỡng vì việc dâng hiến là điều khó cho tín hữu.
d. Ý tưởng cấp dưỡng cho những người phục vụ những nhu cầu thuộc linh của con người là ý niệm nghiêm khắc của Tân ước.
c. Thực tế chung trong việc mở mang Hội thánh là mục sư giữ công việc trần tục cho đến khi Hội thánh của họ có thể cấp dưỡng họ.
V
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
Sau khi bạn đã ôn bài học này, hãy làm bài trắc nghiệm cá nhân. Rồi kiểm tra các câu trả lời của bạn với phần Giải Đáp trong Túi dành cho học viên. Ôn lại những câu bạn trả lời chưa đúng.
CÂU HỎI LỰA CHỌN
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi
1. Khi nói đến sự kêu gọi để hưởng ơn cứu rỗi, kêu gọi có nghĩa là:
a.” đặt tên”
b.” chỉ định vào một chức vụ”
c.” mời”
d.” triệu tập cuộc họp”
2.” Hễ ai tin Ngài sẽ được sự sống đời đời” xác nhận rằng sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi mở rộng cho tất cả những ai:
a. tôn vinh Đấng Christ
b. công nhận sự dạy dỗ của Đấng Christ
c. làm theo những nguyên tắc Cơ Đốc
d. tiếp nhận Jêsus làm Cứu Chúa
3. Đáp ứng sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi gồm những điều dưới đây NGOẠI TRỪ:
a. nhìn nhận cách cá nhân quyền Chủ Tể của Chúa Jêsus
b. phục hồi trước hết những tội lỗi trong quá khứ
c. xưng nhận bằng môi miệng rằng Jêsus là Chúa
d. tin nơi sự sống lại thân thể của Chúa Jêsus
4. Những ân tứ thuộc linh được ban cho những tín hữu
a. chỉ khi nào họ đã trưởng thành về mặt thuộc linh
b. là phương tiện để chuyển giao ân phúc của Đức Chúa Trời cho con dân của Ngài
c. để phục vụ những nhu cầu thuộc linh hơn là những nhu cầu thực tiễn
d. cho những sự phục vụ giới hạn vào hình thức thờ phượng của một nhóm
5. Khi Đức Chúa Trời kêu gọi một người vào sự phục vụ đặc biệt, chữ” kêu gọi” có nghĩa là:
a.” chỉ định vào một chức vụ”
b.” gọi tên”
c.” triệu tập cuộc họp”
d.” mời”
6. Sự kêu gọi vào chức vụ đặc biệt trước hết liên quan đến
a. sự kêu gọi đầu tiên mà Đức Chúa Trời dành cho mọi người.
b. sự ban quyền năng cho tất cả tín hữu do Đức Thánh Linh .
c. sự kêu gọi vào chức sứ đồ được giới hạn trong thời Tân ước.
d. sự ban cho để giúp người khác phục vụ kết quả hơn.
7. Từ ngữ dùng để chỉ về người đầu tiên thành lập Hội thánh là:
a. nhà truyền giảng.
b. tiên tri.
c. sứ đồ.
d. giáo sư.
8. Những người dạy bảo tín hữu về đức tin có công tác đặc biệt của những:
a. giáo sư
b. nhà truyền giảng
c. sứ đồ
d. tiên tri
9. Vì một mục sư chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo thuộc linh, nuôi dưỡng và bảo vệ, nên Kinh Thánh mô tả người ấy là:
a. tiên tri
b. người chăn bầy
c. sứ đồ
d. nhà cai trị
10. Đề cập đến việc cấp dưỡng tài chính cho một mục sư, Phaolô dạy rằng:
a. một mục sư phải dâng trọn thì giờ cho chức vụ
b. những mục sư phải làm công việc trần gian để tự túc
c. cấp dưỡng một mục sư là sự khó khăn cho tín hữu
d. những người được mục sư phục vụ bắt buộc phải cấp dưỡng cho mục sư .

V
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) a và b đều đúng.
(2) Đề tài chung của những câu này là sự cung ứng của Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi là phổ quát. Vì mọi người đều đã phạm tội, cần có phương cách cứu chữa cung ứng cho mọi người.
(3) Chúa Jêsus mời, Ngài mời tất cả mọi người và Ngài ban sự yên nghỉ cho những ai đến với Ngài .
(4) Mỗi người đáp ứng cách cá nhân, và gia đình của mỗi người cũng tin nơi Đức Chúa Trời nữa.
(5) Trong lòng người ấy phải tin rằng Jêsus Christ là Chúa. Và người ấy phải nói lên sự tin quyết nầy bằng môi miệng mình. Tin và xưng nhận bao gồm trong sự kêu gọi này.
(6) b, e và f là những câu đúng.
(7) Câu trả lời của bạn phải tương tự như sau:
a. Là một trong những giáosư/tiên tri đi đến Chíprơ và Tiểu Á làm giáo sĩ
Thánh Linh lãnh đạo ở Hội thánh Antiốt
b. Là một trong những giáo sư/tiên tri đi đến Chíprơ và Tiểu Á làm giáo sĩ
Thánh Linh lãnh đạo ở Hội thánh Antiốt
c. Là một môn đệ ở Hội thánh Líttrơ đi với Phaolô và Sila trong cuộc truyền giáo lần 2
Thánh Linh phán qua sứ điệp tiên tri
(8)
- Người được kêu gọi
a. Áp ram
b. Môise
c. Bếtâsalêên và Ôhôliáp
d. Giôsuê
e. Ghêđêôn
f. Phierơ, Anhrê, Giacơ và Giăng
g. Lêvi
h. Phaolô (Saulơ)
- Đáp ứng sự kêu gọi
a. Rời Urơ đến Canaan
b. Rời Mađian, trở về Êdíptô
c. Trông coi mọi công việc xây dựng
d. Kế tục Môise làm người lãnh đạo
e. Nhận sự kêu gọi nhưng hơi chậm
f. Bỏ nghề chài lưới và đi theo Chúa Jêsus
g. Bỏ bàn thâu thuế và đi theo Chúa Jêsus
h. Tiếp nhận Đấng Christ và theo Ngài
- Kết quả của sự kêu gọi
a. Trở nên cha của quốc gia được chọn
b. Dẫn dân Ysơraên ra khỏi Êdíptô
c. Xây dựng đền tạm và làm những đồ trang trí
d. Dẫn dân Ysơraên vào xứ Canaan
e. Lãnh đạo dân Ysơraên đắc thắng quân Mađian
f. Trở nên môn đồ của Chúa Jêsus, một phần của 12 người.
g. Trở nên một trong 12 môn đệ
h. Trở nên sứ đồ cho dân ngoại
(9) a. 3) Sự kêu gọi vào chức vụ đặc biệt.
b. 1) Sự kêu gọi hưởng ơn cứu rỗi .
c. 2) Sự kêu gọi vào công tác phục vụ.

(10) a. 4) mục sư
b. 5)Giáo sư
c. 1) Sứ đồ
d. 3) Nhà truyền giảng
e. 2) Tiên tri
(11) Một mục sư có thể làm tất cả mọi sự đã ghi trong bản liệt kê nếu người ấy có thì giờ và không còn ai khác để làm, tuy nhiên dựa vào những từ trong Tân ước như Giám mục hay người chăn bầy, thì bạn có thể trả lời câu a, c, d, f, g và j.
(12) Chúng tôi tin rằng bạn đã ghi nhận về cuộc phỏng vấn này. Có lẽ bạn cũng thấy những điểm tương tự giữa sự kêu gọi vào chức vụ mục sư của người ấy với kinh nghiệm và những ví dụ chúng ta tham khảo trong Kinh Thánh.
(13) Một lần nữa chúng tôi tin rằng bạn đã ghi chú cẩn thận cuộc phỏng vấn nầy. Nếu bạn có thể tìm ra vài mục sư ở dạng nầy, chắc chắn bạn thấy rằng họ có những quan điểm khác nhau về những câu hỏi này. Hoàn cảnh khó khăn và phương cách trong đó những mục sư đáp ứng hay phản ứng với những khó khăn thường quyết định sự thành công lâu dài trong chức vụ.
(14) a, b, và e đều đúng. c, sai (như chúng ta đã thấy, ông muốn giới thiệu Phúc âm cáchnhưng không cho những người nghe ông).

&
CÁC CHIỀU HƯỚNG CỦA SỰ KÊU GỌI.
Trong bài 1, bạn học về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Bạn biết rằng sự kêu gọi còn có nhiều ý nghĩa hơn là một lời mời hưởng ơn cứu rỗi. Ngòai việc tất cả tín hữu được kêu gọi vào sự phục vụ Cơ Đốc, bạn cũng thấy có một số người được biệt riêng làm những công tác đặc biệt và được Thánh Linh ban cho những khả năng đặc biệt. Trong bài học này chúng ta sẽ tập trung sự chú ý vào những chiều hướng của sự kêu gọi. Hơn nữa chúng ta sẽ khảo sát Kinh Thánh để xác định những phương cách mà Đức Chúa Trời kêu gọi những cá nhân vào những công tác đặc biệt. Chúng ta cũng sẽ quan sát những nguyên tắc cơ bản trong đó Đức Chúa Trời chuẩn bị lòng và đời sống của những đầy tớ Ngài dành cho công tác phục vụ.
Có bao giờ bạn tự hỏi” Phải chi Đức Chúa Trời phán với mình bằng một tiếng nói nghe được, mà không phải khó khăn quá để biết Đức Chúa Trời muốn gì” không ? có bao nhiêu lần bạn ao ước Đức Chúa Trời đến bên giường ngủ hoặc trong buổi nhóm tại nhà thờ với giọng nói lớn gầm vang: “ Đây là Lời Chúa phán, Ta muốn con trở thành một mục sư” không ? Điều đó thật tuyệt vời ! Hoặc, bạn có thể ao ước Đức Chúa Trời sẽ phán với mình như Ngài đã phán với những người Ngài kêu gọi trong thời kỳ Kinh Thánh. Nghe Đức Chúa Trời phán từ trong bụi gai đang cháy, hoặc nhìn thấy một thiên sứ tuốt gươm trần nói với mình sứ điệp từ Đức Chúa Trời, chắc chắn là một kinh nghiệm hãi hùng.
Mặc dù có thể bằng một cách khác Đức Chúa Trời vẫn phán với dân sự Ngài trong thời đại nầy. Trong bài này bạn sẽ khảo sát cách thức Ngài bày tỏ ý muốn Ngài cho những người nam và những người nữ bằng những cách khác nhau. Rồi bạn cũng sẽ ghi nhận sự bảo đảm kỳ diệu khi hiểu được điều này.
DÀN Ý BÀI HỌC
Chiều dọc
Chiều Nội tâm
Chiều ngang
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Nhận diện những nguyên tắc mẫu mực trong Kinh Thánh nói về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời cho những cá nhân.
* Mô tả thế nào một người có thể nhận biết sự kêu gọi của Đức Chúa Trời vào một công tác đặc biệt.
* Biểu lộ sự đánh giá cao đối với sự góp phần của những mục sư đồng lao trong chức vụ và đời sống bạn.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1. Nghiên cứu bài học nầy và làm bài trắc nghiệm cá nhân theo những chỉ dẫn của bài 1.
2. Sự nghiên cứu bài học này đòi hỏi bạn phải đọc một số Kinh Thánh tham chiếu. Phải chắc chắn rằng bạn tham khảo và nghiên cứu cẩn thận những phần Kinh Thánh đó khi học bài này.
3. Trong khi đọc Kinh Thánh hoặc những sách khác, bạn có gặp những chữ mình không hiểu chăng ? Bạn có tập tra tự điển để tìm định nghĩa của những chữ ấy không ? Bạn sẽ hiểu bài học này kỹ hơn nếu bạn liên tục sử dụng tự điển và phần chú giải thuật ngữ ở phần cuối sách tự học này. Có thể viết định nghĩa của những chữ mới vào sổ tay để hổ trợ việc nghiên cứu của bạn.
NHỮNG CHỮ CĂN BẢN
- Khởi đầu
- Nghe được
- Sự tin quyết
- Tính mãnh liệt
- Uûy nhiệm
TRIỂN KHAI BÀI HỌC
CHIỀU DỌC
Bằng cớ hiển nhiên trong cả Kinh Thánh ấy là Đức Chúa Trời kêu gọi những công nhân làm công tác của Ngài. Đức Chúa Trời luôn luôn khởi đầu bất kỳ đó là sự kêu gọi để hưởng ơn cứu rỗi, kêu gọi vào công tác phục vụ hay chức vụ đặc biệt. Trong bài học này bạn sẽ đọc những đoạn Kinh Thánh về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời đối với một số cá nhân. Khi đọc, hãy tìm những phương cách liên hệ đến kinh nghiệm của họ đối với đời sống cá nhân bạn. Trước hết, chúng ta sẽ khảo sát những cách khác nhau mà Đức Chúa Trời dùng để kêu gọi những người làm công tác đặc biệt.
Mục tiêu 1: Nhận diện những nguyên tắc minh họa trong Kinh Thánh liên quan đến việc Đức Chúa Trời kêu gọi những cá nhân.
ĐỨC CHÚA TRỜI KHỞI ĐẦU SỰ KÊU GỌI.
Trong Tân ước,” được kêu gọi” có liên quan đến việc được Đức Chúa Trời đến gần cá nhân đó. Chính Đức Chúa Trời bắt đầu tiến trình này, Ngài kêu gọi con người cho Ngài. Chúa Jêsus phán” Aáy chẳng phải các con đã chọn ta, nhưng ta đã chọn các con” (GiGa 15:16). Ở đây Ngài chứng tỏ cho các môn đồ thấy rằng Ngài đã chọn họ vì mục đích đặc biệt. Hơn nữa, Ngài nói rõ rằng Ngài đã chọn họ không phải vì họ muốn được chọn hoặc vì họ đã tình nguyện, nhưng vì ý muốn tối cao của Ngài.
Trong sự cứu rỗi, chính Đức Chúa Trời hoạch định chương trình cứu chuộc, và Ngài là Đấng mở rộng lời mời cho tất cả mọi người. Trong sự phục vụ, Đức Thánh Linh ban những ân tứ thuộc linh cho mỗi người theo ý Ngài muốn. Cũng vậy, khi Đức Chúa Trời chỉ định một người vào một công tác đặc biệt. Đức Chúa Trời gọi một người vào một chức vụ nào đó, thì bổn phận của người được kêu gọi là đáp ứng. Tiếp nhận ơn cứu rỗi, người ấy cảm nhận sự biết ơn Đấng đã làm điều đó cho mình (LuLc 7:47). Lòng yêu mến và biết ơn sẽ tìm cách biểu lộ trong những phương hướng phục vụ khác nhau để đem lại vinh hiển và tôn quí cho Chủ mình.
ĐỨC CHÚA TRỜI BIỆT RIÊNG CON NGƯỜI.
Như vậy, Đức Chúa Trời là Đấng kêu gọi con người cho Ngài. Ngài là Đấng triệu tập và chỉ định con người vào những công tác và chức năng đặc biệt trong chương trình cứu chuộc của Ngài. Khi bạn nghiên cứu về những con người được Đức Chúa Trời kêu gọi, thì hãy chú ý rằng mỗi người được kêu gọi vào một mục đích đặc biệt. Hãy quan sát cách đáp ứng của người được kêu gọi. Mỗi kinh nghiệm đều độc đáo, nhưng có một điều giống nhau trong tất cả: mỗi người biết rõ, không nhầm lẫn rằng Đức Chúa Trời đã phán. Đức Chúa Trời mặc khải ý muốn của Ngài cho mỗi người, và mỗi người phải đáp ứng lại.
ĐỨC CHÚA TRỜI SỬ DỤNG KHÁC NHAU.
Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời của sự khác nhau (God is a God of variety). Ngài chẳng bao giờ hạn chế chính mình Ngài vào bất kỳ một phương cách duy nhất nào trong việc bày tỏ ý muốn của Ngài cho con người. Kinh Thánh cho chúng ta nhiều ví dụ về những đường lối trong đó Đức Chúa Trời bày tỏ kế hoạch của Ngài cho những người Ngài đã chọn. Không những Đức Chúa Trời đã kêu gọi con người trong những cách khác nhau, nhưng Ngài còn kêu gọi vô số con người khác nhau. Bạn sẽ khảo sát một số ví dụ trong những câu Kinh Thánh dưới đây. Trong những kinh nghiệm này hãy chú ý việc Đức Chúa Trời kết hợp những phương cách để làm rõ sự kêu gọi và để xác định sự bổ nhiệm. Trong vài trường hợp, Ngài sai thiên sứ, ban cho một khải tượng hay một giấc mơ hay dùng những cách khác.
A. Nhân vật
1. Dùng tiếng nói nghe được để phán với con người:
- Môise
- Ghêđêôn
- Samuên
- Mari
- Phaolô
B. Kinh Thánh tham khảo:
XuXh 3:1-22
Cac Tl 6:1-40
ISa1Sm 3:10-14
LuLc 1:26-38
Cong Cv 9:1-43
C. Mục đích của sự kêu gọi
- dẫn dắt và giải cứu dân Ysơraên
- đánh bại kẻ thù
- phục vụ như thầy tế lễ
- rao giảng Lời Đức Chúa Trời
2. Đức Chúa Trời dùng những người khác để xác nhận sự bổ nhiệm
- Giôsuê: Dan Ds 27:18 chiếm lĩnh Đất Hứa
- Êlisê IVua 1V 19:19-20 Kế tục Êli làm tiên tri
- Timôthê Cong Cv 16:1-3 Trở nên nhà truyền giảng, mục sư
3. Cha mẹ dâng hiến được xác nhận bởi sự hướng dẫn của Chúa.
- Samuên ISa1Sm 1:11 phục vụ như thầy tế lễ
- Samsôn Cac Tl 13:1-25 giải phóng dân Ysơraên
4. Chứng minh bằng chức vụ của họ.
- Banaba Cong Cv 9:26; 13:1-2 Làm công tác của người truyền giảng
- Bêrítsin và Aquila 18:18-26 RoRm 16:3 Làm giáo sư, giáo sĩ
- Antrônicơ và Giu-nia 16:7 Làm những sứ đồ, những người lãnh đạo Hội thánh
- Tít IICo 2Cr 8:23, sách Tít Làm nhà truyền giảng, mục sư

Quan sát nhiều hạng người mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi và những công tác khác nhau Ngài giao cho họ làm.
(1) Bạn có tìm thấy những điểm giống nhau giữa cách Đức Chúa Trời kêu gọi bạn với những cách của những người được liệt kê ở Bảng 2-1 (trang 53) không ?
(2) Liệt kê thêm những cách khác nhau mà bạn nhớ từ Kinh Thánh về việc Đức Chúa Trời sử dụng trong sự bày tỏ ý muốn Ngài cho con người.
(3) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG liên quan đến sự kêu gọi của Đức Chúa Trời.
a. Sự kêu gọi dựa vào sự khao khát của một người muốn dâng mình cho công tác của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời cần những tài năng người ấy dâng hiến.
b. Đức Chúa Trời khởi đầu sự kêu gọi thật về sự cứu rỗi và sự phục vụ.
c. Sự ứng nghiệm về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời tùy thuộc vào một đáp ứng.
d. Từ Kinh Thánh một người có thể nhìn thấy một khuôn mẫu dự đoán về hạng người mà Đức Chúa Trời kêu gọi vào những chức vụ nào đó.
e. Trong sự mặc khải chính mình và kế hoạch của Ngài cho con người, Đức Chúa Trời dùng nhiều phương tiện khác nhau và hành động qua nhiều người khác nhau.
f. Đức Chúa Trời xác nhận sự chỉ định trên một số người Ngài kêu gọi trực tiếp, nhưng trong những trường hợp khác Ngài truyền sứ điệp của Ngài qua những phương tiện gián tiếp.
ĐỨC CHÚA TRỜI KÊU GỌI MÔISE.
Mục tiêu 2:Phân tích cách thức trong đó Đức Chúa Trời kêu gọi và sửa soạn Môise cho công tác mà ông đảm nhiệm.
Môise kinh nghiệm một sự kêu gọi gây ấn tượng mạnh từ Đức Chúa Trời. Trước hết, chúng ta hãy chú ý con người của ông, kế đó chúng ta hãy nhìn vào những gì Kinh Thánh nói về Timôthê và sự kêu gọi của chàng. Kinh Thánh ghi lại rất nhiều về Môise, còn những sự kiện về Timôthê không có nhiều chi tiết. Chúng ta biết vềTimôthê từ vài câu trong sách Công vụ các sứ đồ và từ sự khuyên bảo của Phaolô cho chàng trai này.
Một trong những lời diễn đạt hay nhất trong Kinh Thánh nói về Môise là trong PhuDnl 34:10-12 cho chúng ta biết rằng Môise là tiên tri lớn nhất chưa từng có trong Ysơraên.” Về sau, trong Ysơraên không còn dấy lên tiên tri nào giống như Môise mà Đức Giêhôva biết giáp mặt, người đã làm các dấu kỳ, phép lạ mà Đức Giêhôva sai người tại xứ Êdíptô...không có ai đã từng bày tỏ quyền năng phi thường hoặc thực hiện những hành động đáng kinh hải như Môise đã làm trước mắt cả Ysơraên”. Chúng ta cũng đọc về Môise trong sách Xuất Êdíptô ký, HeDt 11:1-40 và Cong Cv 7:1-60. Từ những đoạn Kinh Thánh này bạn sẽ học được những điểm chính về Môise và sự kêu gọi của ông.
Đức Chúa Trời có chương trình bảo vệ Môise.
Khi Môise được sinh ra, cha mẹ cậu bé biết rằng có điều khác thường về con trai của họ. Dĩ nhiên mọi bậc cha mẹ đều nhìn thấy con cái mình đặc biệt cả, nhưng Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng cha mẹ của Môise thấy” con mình không phải là đứa trẻ bình thường”. Quyết định từ chối chiếu chỉ của vua dựa vào đức tin, tin rằng Đức Chúa Trời có điều gì đó cho con trai mình. Cách họ sửa soạn để cứu con không những phát xuất từ lòng khao khát tự nhiên nhưng từ một cảm nghĩ về mục đích thiên thượng của Đức Chúa Trời. Những câu Kinh Thánh trong HeDt 11:1-40 chứng tỏ rằng chương trình và mục đích của Đức Chúa Trời cho dân Ysơraên chắc chắn là sự huấn luyện đầu đời mà Môise nhận được từ cha mẹ. Từ câu” người ngửa trông sự ban thưởng cho mình”, có thể Đức Chúa Trời đã chỉ cho Môise hướng đi của cuộc sống mà ông phải chọn ngay từ những ngày đầu cuộc đời. Phân đoạn Kinh Thánh trong Hêbơrơ đưa ra một ý nghĩ mạnh mẽ về tính đồng nhất với Đức Chúa Trời, với dân sự của Ngài và số phận của họ đến nỗi khi ông lớn lên, ông có thể” bằng đức tin” chọn lựa đúng đắn. Nhưng rồi thời gian bốn mươi năm dường như” im lặng”. Dường như không có mối quan hệ gì với việc Đức Chúa Trời bày tỏ cho Môise và với cha mẹ ông trong thời gian 40 năm này.
Đức Chúa Trời có chương trình đưa Môise vào kinh nghiệm.
Tại sao có 40 năm trong sa mạc ? Dù Kinh Thánh không cho chúng ta một lý do đặc biệt nào, nhưng chúng ta có thể biết chắc rằng Ngài có một mục đích đặc biệt. Có phải Đức Chúa Trời đang hình thành những phẩm chất cần thiết nơi đời sống Môise không ? Có phải Môise đạt được sức lực để trở thành người lãnh đạo tài giỏi không ? Đức Chúa Trời cũng đang điều khiển mục đích của Ngài trong đời sống của dân Ysơraên. Thêm 40 năm nữa ở dưới xiềng xích nô lệ và áp bức bấy giờ họ than khóc để được giải cứu.” Môise này là người họ cự tuyệt mà rằng” Ai lập ngươi lên làm thủ lãnh và quan án ?” đã được chính Đức Chúa Trời sai phái lãnh đạo và giải cứu họ” (Cong Cv 7:22, 35).
Đức Chúa Trời trang bị cho Môise bằng uy quyền của Ngài
Trong kinh nghiệm đầy ấn tượng về bụi gai đang cháy Đức Chúa Trời ủy nhiệm cho Môise làm một công tác quá lớn (XuXh 3:1-22). Đó là một công việc cực kỳ khó khăn. Môise đã làm người chăn chiên suốt 40 năm trong sa mạc Sinai trước khi Đức Chúa Trời phán với ông. Dù Đức Chúa Trời hiện ra với ông bằng phương cách siêu nhiên và bảo đảm với ông về sự hiện hữn của Ngài, ông vẫn đầy sợ hãi và ngờ vực. Ông cảm thấy mình thật không đủ khả năng. Làm thế nào để ông có thể đảm đương công việc quá lớn mà Đức Chúa Trời kêu gọi ? Ông có nhiều câu hỏi và nghi ngờ (3:11-4:1). Hãy chú ý Đức Chúa Trời trả lời cho những nghi ngờ của Môise. Đức Chúa Trời đáp lại mỗi thối thoát, tái xác quyết là Ngài vẫn ở cùng ông và quyền năng của Ngài sẽ ở với ông. Những phân đoạn Kinh Thánh tuyệt vời này cho chúng ta thấy rằng khi Đức Chúa Trời kêu gọi, thì Ngài cũng trang bị. Khi những sự việc lần lượt xảy ra, tất cả đều dẫn đến sự huấn luyện, kinh nghiệm và tấm lòng của người chăn nơi Môise.
Bạn có thễ tự hỏi” Tôi không muốn đợi 40 năm”. Sửa soạn không chỉ được coi là thời gian” chờ đợi”. Điểm chủ yếu của sự phân tích này là dành cho để bạn thấy cách Đức Chúa Trời đang thực hiện mục đích của Ngài trong bạn. Hơn nữa, yếu tố thời gian còn tùy thuộc vào mức độ đầu phục Đức Chúa Trời của bạn.
(4) Hãy liệt kê những gì trong đời sống mà bạn cảm thấy không thích hợp với mình. Bạn có cảm thấy những điều này gây khó khăn trong chức vụ mục sư của bạn không ? Dùng sổ tay ghi lại những điều ấy.
Hầu hết mọi người chúng ta đều xưng nhận rằng mình cảm thấy không đủ khả năng thực hiện sứ mạng Đức Chúa Trời giao cho chúng ta. Chúng ta phải nhớ rõ rắng Đức Chúa Trời không kêu gọi kẻ có khả năng, nhưng Ngài ban khả năng cho kẻ được gọi.
Khi chúng ta trông đợi và học tập nơi Chúa, thì Ngài sẽ dùng những kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta để dạy chúng ta phó thác đường lối mình cho Ngài. Khi chúng ta đáp ứng với sự kiên nhẫn của Ngài, và vẫn tin nơi sự dẫn dắt vững chắc của Ngài, thì Ngài sẽ uốn nắn chúng ta thành những chiếc bình hữu dụng. Lúc chúng ta học biết rằng tất cả những điều không thích hợp có thể trở thành những cơ hội cho chúng ta nương cậy hoàn toàn và trọnvẹn nơi sự đầy đủ của Ngài, thì chúng ta sẽ vượt qua giai đoạn nhờ cậy khả năng riêng của mình và tiến đến sự tin cậy hoàn toàn nơi Ngài.
(5) Trong sổ tay của bạn, hãy mô tả những gì Đức Chúa Trời đang hành động trong đời sống bạn để đáp ứng những điều không thích hợp đó.
(6) Chép những phần Kinh Thánh tham khảo bên dưới vào sổ tay của bạn. Đọc những câu ấy rồi viết ra phần phân tích ngắn về những cách trong đó Đức Chúa Trời kêu gọi và chuẩn bị Môise cho công tác ông sẽ phải làm.
a. Cong Cv 7:19-20; HeDt 11:23; XuXh 2:1-3.
b. Cong Cv 7:23, 35
c. XuXh 3:11; 4:1-17
ĐỨC CHÚA TRỜI KÊU GỌI TIMÔTHÊ.
Mục tiêu 3: Nhận diện những khía cạnh trong đời sống Timôthê vốn là những bước trong sự sửa soạn chức vụ của chàng.
Ví dụ thứ hai rút ra từ Tân ước, đó là sự kêu gọi Timôthê. Bạn sẽ khảo sát về ba khía cạnh chính trong đời sống Timôthê vốn chứng minh phương cách mà Đức Chúa Trời biệt riêng chàng ra cho chức vụ sau này.
Di sản của gia đình.
Cong Cv 16:1-3; IITi 2Tm 1:5 và 3:14-16 cho ta ý tưởng về bối cảnh gia đình của Timôthê. Tại đây Timôthê được mô tả là một chàng thanh niên có đức tin thành thật. Phaolô nói đó là một đức tin” trước kia đã ở trong Lô ít, bà ngoại con, và trong Ơ nít, mẹ con, ta chắc rằng nay cũng ở trong con nữa”. Timôthê đã được dạy dỗ Kinh Thánh từ khi còn bé nhỏ. Không còn nghi ngờ gì về ảnh hưởng gia đình trên Timôthê bao gồm nhận thức đúng đắn và khích lệ trong phục vụ Chúa. Một di sản như vậy là một phước hạnh và đặc ân rất lớn. Tuy nhiên dù được phước hạnh như thế, đó không phải là điều kiện để nhận sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Chính sự kêu gọi và xức dầu của Đức Chúa Trời mới ban quyền năng trên chức vụ của một người. Dường như Timôthê được lợi bởi di sản tin kính của gia đình; một số người khác đã dựa vào ảnh hưởng gia đình lại bị thất bại.
Tích cực học tập.
Những đoạn Kinh Thánh trong Công vụ và IITimôthê chứng tỏ rằng Timôthê là sản phẩm của một tiến trình” môn đồ hoá” tích cực. Chàng được nhận diện là một con người học hỏi, một môn đệ. Rõ ràng là gia đình và Hội thánh góp phần trong tiến trình này.
Được nhiều anh em làm chứng tốt cho.
Trước khi có những biểu hiện để bổ nhiệm vào công tác đặc biệt, có lẽ Timôthê đã tham gia vào sự hầu việc Chúa, nếu không, chắc chẳng có lời làm chứng tốt của anh em. Mặc dù thơ của Phaolô gởi cho Timôthê về sau có ám chỉ rằng chàng đang gặp những khó khăn trong việc lãnh đạo chăn bầy, nhưng rõ ràng lúc đó không ai nghi ngờ về việc chàng là một cộng tác viên thích hợp của Phaolô. Từ những gì chúng ta biết về kinh nghiệm của Phaolô trong chức vụ, hai điều có thể ngăn cản Phaolô lựa chọn Timôthê nếu chàng đã là một cộng sự không ưa thích.
1. Kinh nghiệm mới xảy ra cho Phaolô với Giăng Mác trong Cong Cv 15:1-41 khiến ông nhạy bén hơn trong việc lựa chọn những người cộng tác.
2. Cha của Timôthê là người Hy lạp, thuộc Dân ngoại, và Timôthê chưa chịu cắt bì. (Dĩ nhiên trở ngại nầy có thể nhanh chóng được giải quyết do việc Timôthê được cắt bì - Cong Cv 16:1-3.
Điều có ý nghĩa ấy là Luca không bình luận thêm gì về những phẩm chất của chức vụ Timôthê trong phần còn lại của sách Công vụ các sứ đồ. Dù những thơ của Phaolô gởi cho Timôthê rõ ràng bàn về những nan đề sau nầy của chức vụ mục sư, như đã nói ở trên,nhưng những nan đề này không phủ nhận sự kiện là Đức Chúa Trời đã ban cho Timôthê những ân tứ cần thiết cho công tác phục vụ. Vì vậy Phaolô khích lệ Timôthê phải đắc thắng mọi trở ngại trong chức vụ bằng cách sử dụng những ân tứ chăn bầy chàng nhận được, và không để bất cứ ai khinh dễ chàng vì tuổi trẻ (ITi1Tm 4:12, 14).
(7) Vì Timôthê được ban cho những ân tứ thuộc linh, cộng thêm với sự rèn luyện và những phẩm chất cá nhân nên chàng:
a. Là một mục sư trẻ có một chức vụ thành công, bình lặng, vì chàng được ban ân tứ và vì vậy được bảo đảm thành công.
b. Kinh nghiệm rất ít khó khăn thuộc linh trong chức vụ mục sư .
c. Được trang bị cho công tác mục sư, nhưng vẫn không được miễn trừ những thử nghiệm thuộc linh nếu chàng không thực tập những ân tứ của mình cách đúng đắn.
Đặt tay để biệt riêng ra. Kinh Thánh không nói khi nào thì việc này thực sự xảy ra, dù Phaolô ám chỉ điều này trong 4:14. Có lẽ điều này xảy ra khi Phaolô đem Timôthê đến Lítrơ và biệt riêng chàng cho công tác phục vụ. Trong trường hợp đó, những trưởng lão đặt tay trên chàng, và Phaolô lặp lại điều này khi ông viết cho Timôthê để động viên và thách thức chàng trong việc lãnh đạo chăn bầy.
(8) Khoanh tròn mẫu tự trước lời hoàn chỉnh ĐÚNG.
Những khía cạnh của cuộc đời Timôthê vốn chứng minh rằng Đức Chúa Trời chuẩn bị chàng cho công tác phục vụ bao gồm
a. Bối cảnh gia đình Cơ đốc của chàng vững mạnh.
b. Sự quyết tâm học tập của chàng và lời chứng tốt của những bạn đồng công.
c. Sự không sợ hãi trong việc giảng dạy và lãnh đạo của chàng.
d. Mối thân thiện của chàng với một nhà lãnh đạo Hội thánh nổi tiếng.
Hai ví dụ về Môise và Timôthê cùng những nhân vật Kinh Thánh khác mà bạn đã đọc, chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời không thể bị hạn chế vào một cách duy nhất trong việc biệt riêng ra những con người cho những công tác hay chức vụ đặc biệt. Dù Đức Chúa Trời chọn phương cách nào, thì người được kêu gọi đều biết chắc và nhận thức sự kêu gọi ấy, và Đức Chúa Trời ban khả năng để người ấy phục vụ. Từ những ví dụ ghi trong Kinh Thánh có thể tóm tắt những gì chúng ta quan sát về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời cho những cá nhân:
1. Đức Chúa Trời lựa chọn cá nhân và khởi đầu sự kêu gọi. Con người không có phần gì trong sự kêu gọi nầy.
2. Sau sự kêu gọi ban đầu, có một thời gian sửa soạn. Có thể là thời gian học tập sẵn sàng vâng lời sự kêu gọi, hoặc thời gian chờ đợi và học hỏi. Bằng nhiều cách khác nhau, tiến trình học tập vẫn cứ kéo dài suốt cuộc đời người được kêu gọi.
3. Đức Chúa Trời cung cấp khả năng để hoàn thành sự kêu gọi, và những người khác nhận thấy uy quyền của Đức Chúa Trời trên đời sống cá nhân đó.
(9) Xếp đặt cho phù hợp (những) phương pháp đặc biệt hay (những) cách đặc biệt (phải) trong đó Đức Chúa Trời để riêng những cá nhân (trái) cho các mục đích đặc biệt. (Đức Chúa Trời có thể dùng nhiều cách hay phương pháp để kêu gọi vài người trong số những cá nhân này).
1) Đức Chúa Trời phán trực tiếp bằng giọng nói nghe được.
2) Đức Chúa Trời dùng những người khác để bày tỏ sự bổ nhiệm.
3) Sự cung hiến của cha mẹ được xác nhận bởi Chúa hướng dẫn cách riêng tư.
.....a. Môise
.....b. Giôsuê
.....c. Ghêđêôn
.....d. Samsôn
.....e. Samuên
.....f. Êlisê
.....g. Giêrêmi
.....h. Mari, mẹ Chúa Jêsus
.....I. Phaolô
.....j. Timôthê
.....k. Tít
CHIỀU NỘI TÂM. (The Internal Dimension)
Mục tiêu 4: Mô tả cách thế nào để một cá nhân có thể nhận biết sự kêu gọi của Đức Chúa Trời.
SỰ THÔNG CÔNG CÁ NHÂN.
Nếu chính bạn chưa đặt vấn đề này, thì có lẽ bạn cũng đã nghe có người nói” Tôi đang cầu nguyện và tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời” trong vấn đề nào đó, hoặc có người than thở” Phải chi tôi biết được ý muốn của Đức Chúa Trời !”. Đức Chúa Trời chẳng bao giờ có ý định không cho con cái Ngài biết ý muốn của Ngài. Một Cơ đốc nhân bước đi cùng Chúa với tấm lòng rộng mở có thể” nghe” tiếng phán của Đức Chúa Trời (GiGa 10:27). Khả năng thuộc linh để thông công với Đức Chúa Trời đưọc bao gồm trong sự tái sanh thuộc linh.
Mặc dù một Cơ đốc nhân có thể không cần phải” nghe” Đức Chúa Trời phán bằng tiếng nói nghe được, nhưng vẫn phân biệt được. Có sự thông công thuộc linh. Sự kiện này được tác giả Thi Thiên ghi nhận bằng sự quan sát” Những bước của người công bình do Đức Giêhôva định liệu” (Thi Tv 37:23, KJV). Chẳng hạn, khi chúng ta được cứu thì có lẽ Đức Thánh Linh không đứng trước mặt chúng ta và nói với giọng nghe được,” Đây là Đức Chúa Trời phán: Bây giờ con được cứu”. Đúng hơn là” Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời” (RoRm 8:16).
Như vậy, bước đầu của sự nhận thức tiếng gọi của Đức Chúa Trời là sự cảm nhận thuộc linh - được hình thành trong đời sống của một người. Một số người so sánh điều này với” tiếng nói nhỏ nhẹ” được đề cập trong IVua 1V 19:12 (KJV). Trong đặc tính này, Phaolô nói rằng những điều thuộc về Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời chỉ có người thuộc linh mới nhận ra hay hiểu được (ICo1Cr 2:14). Như vậy qua những nhắc nhở và ấn tượng, Đức Chúa Trời hướng dẫn những bước đi của dân sự Ngài khi họ phó thác đời sống mình trong sự kiểm soát của Ngài. Và điều này là một kinh nghiệm chủ quan cần yếu.
Dầu vậy, trong sự khôn ngoan tuyệt vời của Đức Chúa Trời, Ngài đã cung cấp cho chúng ta những phương tiện để phê chuẩn tiếng nói chủ quan bên trong của Đức Thánh Linh. Lời viết ra của Đức Chúa Trời là phương tiện khách quan, nhờ dó Đức Chúa Trời làm sáng tỏ và nhấn mạnh trong lòng bạn những gì tiếng nói” bên trong” đang gây ấn tượng. Lời Đức Chúa Trời cung cấp những chỉ đạo cho cuộc sống và chỉ rõ ý muốn của Đức Chúa Trời là gì. Như vậy, phương tiện này khác hơn việc” tình cờ” lật một trang trong Kinh Thánh để xác nhận ấn tượng của mình. Trái lại, phải là một sự tập trung (di động đến một điểm), những lẽ thật của Kinh Thánh để hình thành một khuôn mẫu và tái khẳng định những gì bạn” cảm nhận” bên trong. Sau đó, điều này phát huy một sự tin quyết mà bạn sẽ khảo sát ở phần kế tiếp.
(10) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt mô tả ĐÚNG về phương cách một người có thể nhận ra rằng Đức Chúa Trời đang kêu gọi mình vào một công tác đặc biệt.
a. Khi một người được tái sinh, người ấy tiếp nhận khả năng để thông công thuộc linh.
b. Một người được” hòa hợp cách thuộc linh” với Đức Chúa Trời sẽ kinh nghiệm được sự dẫn dắt thiên thượng, có lẽ bằng những ấn tượng mà Đức Thánh Linh đã đặt trong lòng của người.
c. Trong Cựu ước Đức Chúa Trời chỉphán qua sự thông công trực tiếp, còn trong Tân ước Ngài có những quan hệ theo cách gián tiếp.
d. Tiếng nói bên trong của Thánh Linh Đức Chúa Trời phán với những linh của chúng ta phải được xác nhận và làm sáng tỏ bằng Lời Đức Chúa Trời.
e. Có một sự tập trung lẽ thật của Kinh Thánh để hình thành một mẫu mực và xác nhận những gì một người” cảm thấy” bên trong.
SỰ TIN QUYẾT BÊN TRONG (Inner Conviction).
Khi bạn tiếp tục mở lòng ra cho Đức Chúa Trời, thì những điều Đức Thánh Linh đã làm chứng trong tâm linh bạn sẽ cứ lớn lên mạnh mẽ. Sự xác quyết bên trong có thể làm cho bạn cảm thấy khổ sở trong những lúc bạn tìm cách tái hướng cuộc đời mình vào một sự kêu gọi khác (ICo1Cr 9:16). Nó cũng có thể tạo nên một sự khao khát mãnh liệt trong lòng, bạn chỉ muốn vâng lời Đức Chúa Trời cách nghiêm chỉnh và hiến dâng trọn vẹn, hoặc bạn có thể chiến đấu với lòng tin quyết nếu chương trình” tự nhiên” của bạn không phù hợp với những gì Đức Chúa Trời bày tỏ cho bạn. Tại điểm này bạn cần phải làm cho mình hữu dụng cho Chúa. Những con đường phục vụ khác nhau mà Ngài sẽ mở ra cho bạn, sẽ tăng cường sức mạnh cho sự xác quyết này hơn nữa.
Từ lúc sứ đồ Phaolô đầu phục Chúa và được kêu gọi trên con đường Đamách (Cong Cv 9:1-43) cho đến khi ông thực sự khởi đầu chức vụ (13:1-52), có vài điều có ý nghĩa xảy ra:
1. Có một thời gian chờ đợi và lắng nghe (GaGl 1:15-17). Ví dụ này được đưa ra không hàm ý là mọi người phải trải qua kinh nghiệm giống nhau. Mặc dù chúng ta có thể nói rằng trong thời kỳ ở riêng tương đối này Phaolô nhận biết rõ ràng hơn về những gì Chúa đang sửa soạn cho ông làm. Có lẽ kinh nghiệm của Phaolô được so sánh với thời gian học tại trường thần đạo của bạn. Chắc chắn bạn cũng nhận thấy rằng những người được kêu gọi khác có kinh nghiệm không hoàn toàn giống bạn. Tuy nhiên, thời kỳ chờ đợi trước mặt Chúa vẫn cần thiết cho sự trưởng thành và phát triển thuộc linh của một người.
2. Phaolô cũng ở trong số những người tích cực phục vụ Chúa tại Antiốt. (Cong Cv 13:1). Chúng ta có thể phỏng định rằng trong thời kỳ này Phaolô từng trải một sự căng thẳng gia tăng về cảm giác” Nếu tôi không rao giảng Tin lành thì khốn khó cho tôi thay” (ICo1Cr 9:16). Ý nghĩ mang ơn cũng sẽ lớn lên trong bạn khi bạn nhận thức sâu xa hơn về món quà cứu rỗi kỳ diệu của Đức Chúa Trời và ý thức rằng nhiều người chưa hưởng niềm vui của cuộc sống trong Đấng Christ. Tình yêu thương của Đấng Christ sẽ làm cho bạn vươn tới những ai đang có nhu cầu (IICo 2Cr 5:14).
(11) Những cơ hội phục vụ nào Chúa đang mở ra cho bạn ?
(12) Câu nào diễn tả mối quan hệ tốt nhất giữa việc theo đuổi sự phục vụ và biệt riêng cho Đức Chúa Trời cùng sự tăng trưởng của niềm tin quyết nơi một người được biệt riêng cho chức vụ đặc biệt ?
a. Khi một người trở thành” ngập chìm” trong công tác phúc âm và nhận thức rằng công tác này tương đương với sự” biệt riêng cho Đức Chúa Trời”, thì người ấy sẽ được một sự xác nhận về sự kêu gọi và mục đích của Đức Chúa Trời trong đời sống mình.
b. Khi một người phụng sự Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện cách quyết tâm và có hệ thống, Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ mục đích của Ngài qua nhiều cách khác nhau. Sau đó, khi những cơ hội mở ra và một người dâng mình cho công tác thuộc linh thì sự xác quyết sẽ gia tăng, thúc đẩy người ấy hoàn thành sự kêu gọi mình.
Mặc dù bạn có thể chọn câu trả lời a), trước tiên vì nó dường như đúng, nhưng chỉ công việc thuần túy thì không phải là những gì Đức Chúa Trời muốn. Ngài muốn đầy tớ Ngài công nhận sự yếu đuối của xác thịt. Trong công tác thuộc linh khả năng đến từ Đức Chúa Trời còn học vấn, sự huấn luyện đặc biệt, và kinh nghiệm chỉ đơn giản là điều phụ thuộc vào phẩm chất đầu tiên dành cho chức vụ: sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống người phục vụ.
TÀI SẢN HỮU ÍCH ( Useful Possesion).
Khi một người ương hột giống của cây vào lòng đất, mọi tiềm năng để cây sinh quả hẳn nằm sẵn ở đấy. Dầu vậy, nếu hột giống đã đạt đến tiềm lực của nó, thì nó vẫn cần được tưới, vun trồng và phải có ánh nắng nữa. Được cung cấp những điều này, hột giống bắt đầu lớn lên cho đến khi ngẩu nhiên trở thành một cây trổ hoa. Phải, tiến trình này đều bắt đầu từ một hột giống - hột giống chứa đựng tất cả tiềm năng dành cho sự phát triển tối hậu của nó.
Khi Đức Chúa Trời kêu gọi một người vào một công tác đặc biệt, Ngài ban cho người ấy những ân tứ thuộc linh cần thiết cho một chức vụ có hiệu quả. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là tài sản đó hoặc có những ân tứ thuộc linh thì sẽ bảo đảm cho một người có kết quả thật sự. Trong trường hợp của Timôthê, dù chàng đã được ban cho những ân tứ (ITi1Tm 4:14; và IITi 2Tm 1:6), chàng cần phải” thổi bùng ân tứ của Đức Chúa Trời”. Như vậy, cần sự rèn luyện và cách sử dụng những khả năng Đức Chúa Trời ban cho. Có được những ân tứ thuộc linh mà không sử dụng nó thì giống như hạt giống của cây. Nếu không tưới, vun trồng và để ánh nắng chiếu vào thì nó chẳng bao giờ trở thành một cái cây- đạt đến tiềm lực mà nó được tạo dựng.
Tiến trình hình thành này, nghĩa là, đạt đến tiềm năng của một người, tùy thuộc phần lớn vào mức độ của một người tự áp dụng vào công việc. Điều này áp dụng không những vào sự chuẩn bị cho công tác phục vụ nhưng còn cả vào sự phó thác suốt đời và đầu phục điều tốt nhất của Đức Chúa Trời dành cho đời sống của một người (Phi Pl 3:14).
Có thể có trường hợp chúng ta không nhận diện được những khả năng Đức Chúa Trời ban cho nên chúng ta không sử dụng hay phát triển chúng. Một lần nữa, chúng ta lại thấy rằng mình phải phát triển một lĩnh vực của khả năng nhiều hơn các lĩnh vực khác vì cớ bối cảnh gia đình, môi trường xung quanh và sự huấn luyện và kinh nghiệm trước kia.
Do đó, một người được Đức Chúa Trời kêu gọi và được ban cho những ân tứ cần sẵn sàng cho công tác phục vụ, tận hiến cho nhiệm vụ Đức Chúa Trời giao phó, cam kết sử dụng và phát triển những ân tứ của mình và thúc đẩy tối đa mỗi cơ hội như một quản gia có trách nhiệm.
(13) Hãy so sánh tại sao việc sử dụng những ân tứ của mục sư lại coi như hột giống của một cây ?
(14) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG liên quan đến sự sở hữu những ân tứ thuộc linh.
a. Sở hữu những tài sản thuộc linh mà không sử dụng thích đáng những ân tứ này sẽ dẫn đến ứ đọng thuộc linh, mất những cơ hội và một sự sút giảm quyền năng thuộc linh .
b. Một người không cần sử dụng sự ban cho thuộc linh của mình cho đến khi những sự ban cho ấy được toàn vẹn. Trong khi những ân tứ này có thể làm phong phú cho cuộc sống của một người, thì vẫn bị hạn chế trong thực hành cho những người khác.
Trong vài trường hợp sự phát triển của ân tứ thuộc linh còn chậm chạp.Thực tế thì tiến trình để thích hợp tùy thuộc vào phương cách mà một người áp dụng chính mình cho công tác, cũng như vào những yếu tố nền tảng khác. Sự phát triển thuộc linh thực ra là tiến trình kéo-dài-cả-cuộc-sống.
CHIỀU NGANG.
Mục tiêu 7: Nhận diện những phương cách trong đó sự kêu gọi của một người được bày tỏ trong Sự Phục Vụ Cơ Đốc
SỰ DẤN THÂN CỦA CÁ NHÂN.
Bạn có để ý khi một người thắp một đèn cầy hay đèn thường thì luôn luôn đặt trên cái giá hay bệ cao. Người ấy làm vậy để những đèn này tỏa sáng khắp vùng. Thường thì đèn điện được mắc trên trần nhà hay trên tường. Thật có ý nghĩa khi Chúa Jêsus dùng hình ảnh của cái đèn để mô tả về những người theo Ngài (Mat Mt 5:15). Đặc tính của một ngọn đèn là tỏa ánh sáng. Cơ đốc nhân không thể sống cô lập. Người ấy phải vương ra và tiếp xúc với đời sống của những người khác.
Khi sự kêu gọi của Đức Chúa Trời được ghi khắc vào lòng bạn và sự tin quyết tăng lên mạnh mẽ, thì tốt hơn hết bạn nên để cho những điều đó bày tỏ bằng một số công việc thực tế để Đấng Christ được tôn cao, Hội thánh được xây dựng và Vương quốc được mở rộng. Bạn có thể góp phần hữu dụng vào sự sống và sự phục vụ của Hội thánh.
Có một thiếu niên mười sáu tuổi cảm nhận được sự kêu gọi của Đức Chúa Trời vào công tác mục sư . Vì vậy cậu bắt đầu với những sinh hoạt của trường Kinh Thánh vào dịp hè ở sân sau chỗ khoảng trống dưới những nhà cao tầng. Dù còn nhỏ, nhưng cậu cũng tham gia vào những toán công tác đến những địa điểm giảng để hướng dẫn chương trình. Ban đầu cậu làm rất ít, nhưng cậu quan sát cách sắp xếp những sự việc và cậu học hỏi. Sau một thời gian, cậu được mời làm phụ tá cho một giáo viên của một trong những lớp học Trường Chúa Nhật. Sau một năm, cậu đảm nhiệm lớp này và có khả năng xây dựng lớp lớn lên về phần thuộc linh lẫn số lượng. Bây giờ cậu là mục sư của một trong những hội chúng lớn nhất của giáo phái của mình. Điểm chính ấy là cậu đã đáp ứng sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, sẵn sàng dấn thân phục vụ, và chấp nhận công tác được giao phó. Kết quả, kiến thức, tài khéo léo và kinh nghiệm thuộc linh của cậu được tăng trưởng và phát triển.
Trước hết, Samuên tham gia vào một công tác giản đơn (ISa1Sm 3:15).Mở các cửa nhà của Chúa là một phần việc của cậu. Tuy vậy, cậu vẫn trung tín trong công tác này, và cuối cùng sự trung tín này dẫn Samuên vào địa vị lớn hơn: làm quan xét của dân Ysơraên. Có lẽ tác giả Thi thiên Đavít nghĩ đến điều này khi ông viết” Thà tôi làm kẻ giữ cửa trong nhà Đức Chúa Trời tôi còn hơn ở trong trại của kẻ ác” (Thi Tv 84:10).
Nhiều lúc bạn có thể ngạc nhiên không hiểu tại sao những người lãnh đạo Hội thánh lạikhông giao công tác cho mình làm hay phục vụ trong Hội thánh khi mình rất muốn hầu việc Chúa. Bạn nên nhớ rằng, trước hết Đức Chúa Trời đặt để chúng ta tại nơi có cơ hội học tập và phát triển trước khi Ngài giao thác cho chúng ta trách nhiệm lớn hơn. Khi chúng ta chứng tỏ sự trung tín trong những nơi phục vụ ban đầu ấy, thì Ngài sẽ ban cho chúng ta nhiều vai trò quan trọng hơn để hoàn tất. Sau đây là vài gợi ý bạn cần nhớ khi bạn dâng hiến đời sống mình cho sự phục vụ:
1. Phải có mặt. Bạn không thể mong chờ người khác nhận ra bạn nếu bạn không có mặt. Hãy kiên nhẫn, nhưng phải có mặt tại nơi có hoạt động. Dần dần, Chúa sẽ dẫn dắt bạn vào những lãnh vực phục vụ mà bạn có thể góp phần. Điều này có thể là khởi đầu cho việc bạn tích cực góp phần. Nếu Hội thánh tổ chức những buổi truyền giảng lộ thiên, những buổi thăm viếng ở bệnh viện, hay công tác tại trại giam, bạn hãy tình nguyện phụ giúp những hoạt động ấy. Điều này sẽ tạo kinh nghiệm có giá trị, và sẽ khiến những lãnh đạo Hội thánh biết rằng bạn đang sẵn sàng và muốn phục vụ.
2. Được hội ý với các trưởng lão của Hội thánh, bạn có thể khởi đầu công tác phục vụ ở vài lĩnh vực của Hội thánh cùng với nhiều người khác mà không đua tranh hoặc dẫm chân cách không cần thiết về những gì đã làm.
3. Phải thỏa lòng với cương vị của người đi sau. Có thể đây là điều cần thiết để bạn giữ vai trò này trong một thời gian cho đến khi khả năng lãnh đạo hay tiềm lực của bạn được nhìn nhận.
Trung tín trong việc nhóm lại và sẵn sàng phục vụ và kiên nhẫn trong tiến trình học tập phục vụ để bày tỏ thái độ đẹp lòng Chúa và có thể được một lời báo cáo tốt từ những người lãnh đạo.
(15) Chọn từ trong những câu sau đây, câu nào bày tỏ bằng chứng thực tiễn nhất về sự kêu gọi của một người vào chức vụ đặc biệt là sự khao khát được gắn bó với sự phục vụ.
a. Một người khăng khăng đòi một vị trí phục vụ rõ ràng và làm cho sự có mặt của mình được nhiều người biết bằng cách nói về những phẩm chất, kinh nghiệm những khả năng lãnh đạo của mình và mong muốn tập tành trách nhiệm lãnh đạo.
b. Một người sẵn sàng phục vụ, (không kể đến vị trí hoặc loại hình phục vụ), bày tỏ thiện chí phục vụ, và khi hội ý với những lãnh đạo thuộc linh, người ấy cho biết sự kêu gọi và hướng dẫn của Đức Chúa Trời trên đời sống mình. Đồng thời người ấy cho những lãnh đạo thuộc linh của mình biết rằng người ấy sẵn sàng phục vụ bất cứ ở đâu và khi nào có nhu cầu.
Trong câu hỏi trên, có lẽ bạn chọn câu b). Tuy nhiên có vài người chọn câu a) vì nghĩ rằng họ phải công nhận chính mình để” tiến lên” và được công nhận là những mục sư quan trọng. Tuy nhiên, Chúa Jêsus phán cùng các môn đệ rằng nếu họ muốn trổi hơn trong công tác phục vụ Ngài, thì họ phải theo gương Ngài và chọn địa vị của một tôi tớ (Mat Mt 20:27). Hơnnữa, Ngài đưa ra một nguyên tắc rất căn bản của tinh thần tôi tớ,” Vì hễ ai nhắc mình lên thì sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống thì sẽ được nhắc lên” (23:12). Trong chương trình của Đức Chúa Trời,nói cách đơn giản, con đường đi lên là con đường đi xuống. Đúng thời điểm của Đức Chúa Trời, người trung tín sẽ có kết quả trong sự trưởng thành thuộc linh trong năng suất và trong những cơ hội phục vụ.

KHUYÊN BẢO VÀ CHẤP NHẬN NHỮNG MỤC SƯ ĐỒNG LAO.
Mục tiêu 8: Liệt kê ba phương cách căn bản trong đó những người phục vụ có quan hệ với nhau.
Bạn phải nhận thấy Banaba, Phaolô, Sila, Giăng Mác, Timôthê, Tít và một số người khác trong Tân ước đạt nhiều lợi ích từ sự cộng tác của họ với những anh em khác ở trong chức vụ. Những mục sư trưởng thành về thuộc linh sẽ góp lời khuyên bảo khôn ngoan và sự vững vàng thuộc linh trong chức vụ. Vì mỗi người là một chi thể trong thân thể của Đấng Christ,nên người ấy không thể sống cô lập và nói rằng mình không cần những phần còn lại của thân thể. Vì vậy, sự phục vụ luôn luôn xảy ra trong bối cảnh của Hội thánh địa phương.
Trong bất kỳ hoàn cảnh phục vụ nào, vẫn luôn luôn có mối quan hệ hỗ tương giữa các cá nhân. Vì thế mối quan hệ của bạn với các mục sư đồng nghiệp rất quan trọng cho sự trưởng thành và phát triển của bạn trong công tác phục vụ. Đây là lý do Tân ước nhấn mạnh tầm quan trọng của việc được” Lời chứng tốt” từ những người mình cộng tác. Cuối cùng, sự kêu gọi đầu tiên mà Chúa đặt để trong bạn phải được Hội thánh cùng những vị lãnh đạo Hội thánh xác nhận khi họ phê chuẩn công tác phục vụ của bạn và phong chức cho bạn.
Sự chấp nhận của những mục sư đồng lao là quan trọng đối với chức vụ của bạn. Ngoài việc khuyên bảo, góp ý khôn ngoan và hổ trợ tinh thần để giúp bạn trưởng thành, họ còn hình thành một sự đánh giá về tính tình cùng nếp sống trong mối quan hệ của bạn với công việc của Đức Chúa Trời. Việc đánh giá này không bảo đảm cho sự thành công, nhưng nó muốn nói rằng những đồng đẳng với bạn đã quan sát nếp sống Cơ Đốc thực tế của bạn và bạn đã được họ tín nhiệm và chúc phước. Đối với một Hội thánh đang tìm một báo cáo khách quan về: “ người chăn bầy” có khả năng, thì sự nhìn nhận này cũng vạch một phương hướng cho họ. Và dĩ nhiên sự phong chức bằng hình thức nầy công bố rằng bạn được đồng nhất với Hội thánh và được chấp thuận là một trong những phụ tá chăn bầy (undershepherd).
(16) Liệt kê ba phương cách cần thiết trong đó những bạn đồng lao quan hệ với bạn trong công tác phục vụ :
Cộng tác với những người khác là ý định của Đức Chúa Trời để phát triển những công nhân trong vườn nho của Ngài. Sau đây có thể là một hướng dẫn trong việc bạn liên hệ với những bạn đồng công khác trong chức vụ:
1. Thiết lập mối quan hệ Phaolô Timôthê với người nào đó có kinh nghiệm và trưởng thành hơn bạn cả trong Chúa và trong công việc của Ngài.
2. Sẵn sàng đónnhận lờikhuyên,kể cả phê bình và sửa sai. Có trường hợp, một mục sư trẻ đầy hứa hẹn đã phá hỏng chức vụ của mình vì người ấy có tinh thần ương ngạnh, không thể dạy bảo được. Tùy thuộc vào thái độ của một người, mọi sự phê bình đều đem lại kết quả gây dựng cả. Phải tránh thái độ” biết tất cả” (know-it-all), cho dù bạn có học thức cao.
3. Đừng làm một” người vừa lòng mọi người” (man pleaser). Con người có thể sai lầm và phạm những lỗi. Phân tích cho cùng, thì bạn phải khai trình mọi sự với Đức Chúa Trời . Và trong khi bạn tôn trọng những vị trưởng lão của bạn và những người cộng tác trong chức vụ, thì trách nhiệm đầu tiên của bạn là đối với Đức Chúa Trời.
Khi bạn học xong bài này, có lẽ Chúa đã bày tỏ cho lòng bạn về những chiều hướng khác nhau trong chức vụ. Tại sao không ngừng lại ngay giờ này, và ngợi khen Ngài về ân phúc và sự thương xót Ngài bày tỏ trong việc phát triển những bình đất loài người mỏng manh thành những dụng cụ phục vụ để thế giới có thể biết về kế hoạch yêu thương và cứu chuộc của Ngài.
(17) Hãy nghĩ đến những người đã góp phần trong đời sống thuộc linh của bạn. Hãy liệt kê vào sỗ tay những lợi ích bạn thu nhận được từ công tác phục vụ của họ.
V
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
CÂU HỎI LỰA CHỌN
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Trong Kinh Thánh, khi Đức Chúa Trời kêu gọi một người vào những công tác đặc biệt, thì Ngài :
a. thường phán bằng một giọng nói có thể nghe được.
b. luôn luôn xác nhận sự kêu gọi bằng một hiện tượng bi tráng.
c. thường sai một thiên sứ đưa ra những chi tiết về sự kêu gọi.
d. sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để thông báo và xác định sự kêu gọi.
2. Những gương trong Kinh Thánh chỉ cho thấy sự kêu gọi vào chức vụ:
a.được chứng tỏ bằng sự khao khát phục vụ của một người.
b. được Đức Chúa Trời khởi đầu sự kêu gọi.
c. được khởi trước bằng sự cung hiến của cha mẹ.
d. theo một khuôn mẫu lập sẳn.
3. Những ví dụ kể ra trong bài học này chứng tỏ rằng sự kêu gọi của Đức Chúa Trời thường theo sau bằng một thời kỳ sửa soạn và:
a. một thời kỳ giáo dục qui định cho công tác phục vụ.
b. một thời kỳ không hoạt động trong đó một người suy gẫm về sự kêu gọi của mình.
c. sự ban cho thiên thượng.
d. sự thử nghiệm trong mọi khía cạnh của chức vụ.
4. Đức Chúa Trời xác nhận sự kêu gọi một người vào chức vụ đặc biệt cách khách quan bằng phương tiện:
a. Lời Ngài.
b. Hoặc một khải tượng hay giấc mơ.
c. Lời chứng của nhiều Cơ đốc nhân trưởng thành hơn.
d. những bạn đồng công.
5. Khi Phaolô chọn Timôthê đồng đi trong cuộc hành trình truyền giáo lần thứ hai, thì Timôthê là:
a. một tân tín hữu từ cộng đồng những người kính sợ Đức Chúa Trời tại Lít trơ.
b. Trợ giúp cha mình là một người ngoại làm thợ bạc.
c. Một môn đệ được lời chứng tốt trong vòng những anh em ở khu vực đó.
d. Một mục sư trẻ đã chiến đấu với những khó khăn của chức vụ mục sư .
6. Nói chung, ngày nay Đức Chúa Trời không kêu gọi dân sự Ngài bằng tiếng nói nghe được.
a. Vì phương cách ấy được giới hạn trong thời Cựu ước.
b. Vì những Cơ đốc nhân trong hiện tại không nhạy bén với tiếng phán của Ngài.
c. Nhưng ngày nay đối xứng với họ bằng phương thức gián tiếp: qua bạn bè, bạn đồng công và hoàn cảnh.
d. Nhưng xác định tiếng nói bên trong của Đức Thánh Linh qua Lời của Ngài.
7. Khi Đức Chúa Trời xác nhận sự kêu gọi một người vào công tác mục sư, người ấy phải:
a. tìm một Hội thánh để làm mục sư .
b. bỏ bất cứ việc gì mình đang làm và ghi danh vào trường Thần đạo.
c. Giống như Phaolô, ở riêng một mình trong thời gian dài.
d. là người trung tín trong Hội thánh địa phương và sẵn sàng phục vụ.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI: ghi Đ cho câu đúng, S cho câu sai.
.....8. Ví dụ về Timôthê chứng tỏ rằng có lời chứng tốt trong vòng bạn đồng công là cần thiết cho chức vụ.
.....9. Cơ đốc nhân nào được kêu gọi vào chức vụ phải tìm cách phát triển ân tứ mục sư liên tục.
.....10. Vì chính Đức Chúa Trời khởi đầu sự kêu gọi vào công tác đặc biệt, nên một người phải tìm lời khuyên hay sự chấp nhận của những anh em trưởng thành thuộc linh cho đếnkhi người ấy tìm kiếm sự tấn phong.
V

GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Câu trả lời của bạn.
(2) Có vài điều bạn có thể liệt kê. Ví dụ, Đaniên 2, là ví dụ của việc Đức Chúa Trời dùng khải tượng để bày tỏ ý muôn và mục đích của Ngài. Trong Sáng thế ký 37 Đức Chúa Trời dùng một chiêm bao để chứng minh mục đích của Ngài cho tuyển dân Ysơraên.
(3) b, c, e và f là những câu đúng.
(4) Câu trả lời của bạn. Bạn có thể cảm thấy không đủ khả năng với những trách nhiệm mục sư và lo sợ về bổn phận chinh phục cộng đồng của mình cho Đấng Christ. Dầu vậy, đừng quên rằng Đức Chúa Trời sẽ ban khả năng để bạn hoàn thành công tác nầy.
(5) Câu trả lời của bạn. Mặc dù đa số chúng ta đều muốn đạt đến hiệu quả tối đa cách nhanh chóng, nhưng lớn lên và trưởng thành trong chức vụ là một tiến trình kéo dài cả cuộc sống. Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời về những chiến thắng Ngài đã ban và tiếp tục tin cậy Ngài về những điều chưa xảy đến.
(6) a. Cong Cv 7:19-20; HeDt 11:23; XuXh 2:1-3. Môise được Đức Chúa Trời chọn. Đức Chúa Trời ban cho cha mẹ ông có đức tin để coi thường mạng lịnh của vua và tìm cách duy trì sự sống của Môise.
b. Cong Cv 7:23, 35, Đức Chúa Trời dẫn dắt Môise qua những kinh nghiệm học tập làm người chăn chiên trong sa mạc. Đức Chúa Trời cũng sửa soạn tấm lòng của dân Ysơraên trong thờigian này để họ sẵn sàng chấp nhận Môise làm lãnh tụ của họ.
c. XuXh 3:11; 4:1-17. Đức Chúa Trời xức dầu cho Môise bằng quyền năng của Ngài và trang bị cho Môise để ông thực hiện sự kêu gọi mà Ngài đã ban cho ông.
(7) c) được trang bị cho công tác mục sư .
(8) b) Sự quyết tâm học tập của chàng và lời chứng tốt của những bạn đồng công.
(9) a. 1) Đức Chúa Trời phán trực tiếp.
b. 2) Đức Chúa Trời dùng người khác
c. 1) Đức Chúa Trời phán trực tiếp.
d. 3) Sự cung hiến của ch mẹ.
e. 1) Chúa phán trực tiếp và 3) cha mẹ cung hiến.
f. 2) Đức Chúa Trời dùng người khác.
g. 1) Đức Chúa Trời phán trực tiếp.
h. 1) Đức Chúa Trời phán trực tiếp.
I. 1) Đức Chúa Trời phán trực tiếp.
j. 2) Đức Chúa Trời dùng người khác.
(10) a, b, d, và e là những câu đúng. Câu c) sai. Đức Chúa Trời dùng nhiều phương tiện khác nhau dể truyền đạt trong Cựu ước và Tân ước. Sự kêu gọi của Phaolô là sự ghi lại về tiếng nói nghe được.
(11) Câu trả lời của bạn. Đa số chúng ta đều nhận ra rằng có nhiều phạm vi cần phục vụ hơn những gì chúng ta có thể đáp ứng.
(12) b) khi một người phụng sự Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện cách quyết tâm và có hệ thống, Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ mục đích của Ngài.
(13) Mọi tiềm năng của cây nằm trong hột giống. Aân tứ chăn bầy chứa đựng tiềm năng cần phải phát huy. Khi cây được nuôi dưỡng, nó sẽ mang quả. Những ân tứ của mục sư phát triển và lớn lên qua việc sử dụng và áp dưng trong suốt đời người.
(14) a và c là những câu đúng.
(15) b) Một người phải sẵn sàng cho sự phục vụ bất kỳ lúc nào.
(16) 1) Họ cung ứng lời khuyên khôn ngoan.
2) Họ có thể làm chứng tốt cho.
3) và họ đồng ý phong chức.
(17) Câu trả lời của bạn. Có lẽ bạn thích giữ bản liệt kê này và sẽ thêm vào khi bạn tiếp tục trong chức vụ .
'
ĐỜI SỐNG THUỘC LINH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN.
Trong bài học vừa rồi, chúng ta khảo sát về các chiều hướng khác nhau của sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống một người. Từ những ví dụ trong Kinh Thánh chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã sử dụng nhiều cách khác nhau để bày tỏ sự kêu gọi của Ngài cho những cá nhân. Kế đó, chúng ta ghi nhận rằng khi một người đã xác quyết được sữ kêu gọi của mình, thì người ấy phải sẵn sàng cho công tác phục vụ, thảo luận gánh nặng của mình với những lãnh đạo Hội thánh, và dấn thân vào bất kỳ chức vụ nào Chúa mở ra. Như vậy, cho đến điểm nầy, điều nhấn mạnh là người ấy phải bắt đầu và phát triển những ân tứ Đức Chúa Trời ban cho mình để hoàn thành sự kêu gọi của Chúa trên đời sống mình. Tuy nhiên, bây giờ chúng ta sẽ khảo sát tầm quan trọng sống động của đời sống thuộc linh và sự phát triển của người ấy.
Một khi người nào đắm chìm vào sự hầu việc Chúa, sẽ có sự gia tăng đòi hỏi thì giờ của người ấy. Những hoạt động trong Hội thánh, với cộng đồng và gia đình cần đến sự quan tâm đúng mức của người ấy. Tất cả những hoạt động này coi như là chân chính cả, tuy nhiên, vì nó đòi hỏi quá nhiều thì giờ nên có khuynh hướng lấn áp những điều thiết yếu như đọc Kinh Thánh, suy gẫm, cầu nguyện, thì giờ nghiên cứu và thì giờ dành cho gia đình mình. Phaolô, một đầy tớ kỳ cựu của Đức Chúa Trời đã nhắn nhủ Timôthê” Hãy cảnh giác đời sống con và cẩn thận nghiên cứu giáo lý” (ITi1Tm 4:16, NIV). Vì sự phát triển đời sống thuộc linh của mục sư có tầm quan trọng sống động đối với hiệu quả của chức vụ mình, nên mục sư chẳng có thể bỏ qua điều đó được.
Trong bài học này, chúng ta sẽ khảo sát những kinh nghiệm thuộc linh vốn là căn bản cho một đời sống của mục sư . Chúng ta cũng khảo sát một kế hoạch thuộc linh sung mãn nhằm chuẩn bị cho một mối quan hệ nhất quán năng động và sống động với Đức Chúa Trời. Khi chúng ta khám phá những điều này, nguyện mỗi chúng ta đồng thanh với tác giả Thi Thiên tìm thấy rằng chúng ta có một khát vọng về Đức Chúa Trời thúc đẩy chúng ta thưa với Chúa rằng: “ ...Linh hồn con khát khao Chúa” (Thi Tv 143:6). Khi chúng ta áp đặt những nguyên tắc được nêu ra trong bài học này cho đời sống thuộc linh của chúng ta.
DÀN Ý BÀI HỌC
Những kinh nghiệm cá nhân với Đức Chúa Trời.
Tài bồi đời sống thuộc linh .
Những nguyên tắc về tăng trưởng thuộc linh.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Chứng minh câu nói sau đây là đúng: “ Kinh nghiệm sự tái sanh và sự ở trong Đấng Christ là điều rất cần thiết cho một người nếu người ấy đang sở hữu và duy trì đời sống thuộc linh”.
* Thảo luận về sự tài bồi đời sống thuộc linh của mục sư và liệt kê ít nhất bốn thói quen để nuôi dưỡng điều ấy.
* Giải thích bản chất của bông trái thuộc linh và bông trái ấy liên hệ đến mục tiêu của đời sống thuộc linh như thế nào.
* Đánh giá sự kết ước thuộc linh với Chúa của cá nhân bạn.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1. Nghiên cứu bài học này và làm bài trắc nghiệm cá nhân theo những chỉ dẫn ở bài 1.
2. Khi nghiên cứu phần triển khai bài học, nhớ tìm và đọc tất cả những phần Kinh Thánh tham chiếu mà không có trích dẫn đầy đủ trong tập sách tự học này. Điều này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn phần thảo luận trong bài học.
NHỮNG CHỮ CĂN BẢN
Cưỡng bách
Giải hòa
Gây thành kiến
Lựa chọn
Ngoan cố
Tài bồi (vun trồng)
Tái sanh
Thông công

TRIỂN KHAI BÀI HỌC
NHỮNG KINH NGHIỆM CÁ NHÂN VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI.
Mục tiêu 1: Nhận diện những yếu tố căn bản làm cơ sở cho nền tảng đời sống thuộc linh kết nhiều quả.
Kinh Thánh giới thiệu với chúng ta một Đức Chúa Trời có thân vị, Đấng đối xử với những cá nhân. Kết quả là những kinh nghiệm khởi đầu và tiếp theo sau nầy của đời sống thuộc linh đều là những hành động đức tin của cá nhân đối với Đức Chúa Trời. Mặc dù những người khác có thể động viên và giúp đỡ bạn, nhưng mối thông công của bạn đối với Đức Chúa Trời vẫn là mối thông công cá nhân cần thiết.
Vượt hơn phạm vi tái sanh (Beyond the New Birth)
Trong bài 1, chúng ta thấy rằng động cơ bước vào chức vụ của một số người không gắn liền với một kinh nghiệm với Đức Chúa Trời .Điều này không phải là mới vì ngay cả trong thời Cựu ước, một số tiên tri rõ ràng là những người lừa đảo. Đó là lý do Đức Chúa Trời cảnh cáo dân Ysơraên về sự chết do điều này tạo ra trong PhuDnl 18:20” ...còn kẻ tiên tri...nhơn danh ta nói điều chi ta không bảo người nói...thì kẻ tiên tri ấy phải chết”.
Rõ ràng ngay từ đầu lịch sử Hội thánh vẫn có một số cá nhân đã thử làm những nhiệm vụ tôn giáo mà họ không được kêu gọi hay được công nhận. Ngay cả John Wesley, nhà sáng lập hội Giám lý (Methodism) đã giảng một thời gian trước khi ông kinh nghiệm sự qui đạo” nóng cháy”. Vì vậy vẫn có thể có những người ở trong chức vụ mà chưa hề được tái sanh.
Tuy nhiên,chức vụ hòa giải đòi hỏi bản thân người phục vụ phải được giải hòa với Đức Chúa Trời .Người rao giảng ân phúc của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi thì trước hết phải đáp ứng bằng đức tin và tiếp nhận sự sống đời đời trong Chúa Jêsus Christ . Người muốn kêu gọi tội nhân ăn năn tội lỗi mình thì trước hết phải ăn năn tội lỗi của chính mình.Rõ ràng một người không thể dẫn người khác vào một kinh nghiệm mà mình chưa có được. Có một người đã nhận định” Một người không thể nói thêm về những gì mình không biết hơn là có thể trở lại từ chỗ người ấy không biết gì”. Vì thế, người hầu việc Chúa nhiệt tình phải trải qua một sự tái tạo căn bản (IICo 2Cr 5:17) trước khi người ấy co ùthể trở thành một người rao giảng Phúc âm.
Không điều gì thay thế được sự tái sanh. Tái sanh là hành động tái tạo bản chất sa ngã của con người bằng hành động ân phúc của Thánh Linh. Kinh Thánh dạy chúng ta rằng sự cứu rỗi là sự tái tạo con người trên căn bản phục hồi mối quan hệ với Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Điều này chứng tỏ rằng sự cứu rỗi là sự thay đổi tận gốc rễ và trọn vẹn được Thánh Linh Đức Chúa Trời (Tit Tt 3:5; Eph Ep 4:24) thực hiện trong linh hồn (RoRm 12:2; Eph Ep 2:22). Nhờ sự thay đổi này một người trở thành một con người mới (4:24; CoCl 3:10), là người không còn phù hợp với thế gian này. Được mặc vào ‘một bản chất mới’, người ấy được làm mới lại trong tri thức theo hình ảnh của Đấng tạo hóa mình, và bắt đầu tiến trình trở nên giống như Cưú Chúa của mình trong sự công bình và thánh khiết nhờ quyền năng của Thánh Linh. Sự tái tạo trong Đấng Christ cũng thay đổi cá tính của bản ngã cũ từ việc tìm kiếm sự thỏa mãn dục vọng, vô luật pháp và không có Đức Chúa Trời (RoRm 3:9-18; 8:7) sang con người tin cậy và yêu thương. Kết quả người được tái sanh có sự mong muốn vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời.
(1) Phẩm chất thuộc linh đầu tiên đòi hỏi một người khao khát chức vụ mục sư là sự tái sanh, vốn:
a. Tiêu biểu cho một sự thay đổi rất căn bản trong tâm trí của một người.
b. Là tư tưởng tốt nhất như một định hướng triết học hoàn toàn mới.
c.Là sự thay đổi toàn bộ và hoàn hảo được thực hiện trong tâm linh của một người bởi Thánh Linh làm cho người ấy trở nên một tạo vật mới.
d. Là sự đồng hóa của một cá nhân với một niềm tin tôn giáo hay thần linh mà điều đó đưa người ấy vào một tiến trình khác của cuộc sống.
Ở trong Đấng Christ
Tái sanh là phép lạ lớn nhất mà bất cứ người nào cũng có thể có được trong cuộc đời này. Tuy nhiên, đó chưa phải là điểm kết thúc, mà chỉ là bước khởi đầu. Bạn thử nghĩ điều gì sẽ xảy ra cho một em bé mới ra đời khỏe mạnh, xinh tốt nhưng lại bị bỏ rơi không săn sóc, cho ăn uống và bảo vệ ? Chắc chắn bạn đồng ý rằng chẳng bao lâu em bé bị bỏ rơi nầy sẽ yếu dần và chết. Cũng vậy, Cơ đốc nhân mới được sanh ra phải được giữ mối quan hệ liên tục với nguồn sự sống, được săn sóc, nuôi nấng và bảo vệ nếu sự sống thuộc linh của người ấy được duy trì. Người ấy phải tuyệt đối duy trì mối quan hệ thuộc linh sinh động với Đấng Christ.
Trong Giăng đoạn 15 Chúa Jêsus giới thiệu với chúng ta sự dạy dỗ quan trọng về sự sống thuộc linh của chúng ta tiếp theo sau sự tái sanh. Đây là sự dạy dỗ về sự ở trong Đấng Christ. Những bản dịch Kinh Thánh hiện đại dùng chữ ‘ở lại’ (remain) hơn là chữ ‘ở trong’ (abide). Ở lại có nghĩa là ‘lưu lại’ (stay), còn ‘ở trong’ có nghĩa là ‘ở lại trong cách thức lâu dài’ (remain in an enduring manner). Trong phần Kinh Thánh nầy, sự ở trong ám chỉ về mối quan hệ liên tục, tăng trưởng và sống động của mỗi Cơ đốc nhân với Đấng Christ. Khi mối quan hệ nầy phát triển và trưởng thành thì nó càng trở nên ngọt ngào hơn, phong phú hơn, thỏa mãn hơn và bổ ích hơn. Ở trong Đấng Christ có nghĩa là tiếp tục trong mối tương giao với Ngài vốn được tạo thành qua sự tái sanh.
(2) Đọc cẩn thận GiGa 15:1-8, đặc biệt quan sát câu 5 trong đó Chúa Jêsus phán” Ta là gốc nho, các con là nhánh”. Dựa vào những câu trong 15:1-27 nầy hãy trả lời các câu hỏi sau:
a. Điều gì xảy ra cho những nhánh không kết quả ?
b. Điều gì xảy ra cho những nhánh đang mang quả ?
c. Chìa khóa của sự mang quả là gì ?
d. Lợi ích không hạn chế đến từ những người ở trong Đấng Christ là gì ?
Vì vậy những người tiếp nhận sự sống của Jêsus Christ cần tiếp tục trong sự sống đó. Nguồn cội của sự sống nầy chính là Đấng Christ (15:1-4). Bức tranh mà Giăng giới thiệu trong những câu này thật đẹp: Gốc nho và những nhánh nho. Đấng Christ không chỉ là rễ hay là nguồn; Ngài là toàn bộ cái cây và dân sự của Ngài bao gồm trong Ngài. Vì thế Ở TRONG ĐẤNG CHRIST là sự kiện thuộc linh vô cùng quan trọng.
Từ cây nho phát sinh sự sống; từ những nhánh, là kết quả, phát sinh trái nho. Vậy, trái là bằng cớ chứng minh mối quan hệ của một môn đệ. Sự ở trong Christ nối liền chúng ta với nguồn sự sống và Ngài ở trong chúng ta cho phép chúng ta kết quả. Bạn cần nhớ ba điểm có ý nghĩa sau đây:
1. Đấng Christ là nguồn sự sống.
2. Một người phải lệ thuộc và cứ ở trong Ngài để duy trì sự sống.
3. Trái được sinh ra nhiều khi sự sống được trợ sức.
(3) Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt ĐÚNG sau đây dựa vào sự quan tâm của chúng ta về sự ở trong Đấng Christ.
a. Đấng Christ mong đợi những người ở trong Ngài sản sinh ra trái. Nếu họ không họ là đối tượng của hành động kỷ luật nghiêm túc của một Đức Chúa Trời yêu thương nhưng công bằng.
b. Sự ở trong đưa ra ý tưởng thụ động không tích cực. Một người chỉ đơn giản và tự động mang quả mà không có ý thức muốn làm điều đó vì sự gắn liền của họ với cây nho và Gốc nho làm hết mọi sự.
c. Trong ví dụ này những cành cây không bị bắt buộc phải mang quả. Điều này dẫn đến kết luận là Cơ đốc nhân mới có một khả năng tự quyết định. Người ấy chọn việc vận dụng ý muốn của mình và đáp ứng với sự tuôn tràn của sức sống thiên thượng, hoặc người ấy có thể từ chối và gây nguy hại cho mối liên hệ của mình với Đức Chúa Trời.
d. Sự sống thuộc linh của một người phát sinh từ sự tái sanh và mối quan hệ của người ấy với Chúa Jêsus. Một khi sự sống mới bắt đầu nẩy nở thì sức mạnh và sự sống động của mối quan hệ được chứng tỏ bằng sự mang quả.
(4) Như chúng ta đã thấy, mỗi Cơ đốc nhân cần đáp ứng cách quyết tâm trong mối quan hệ mới của mình với Đấng Christ. Không đáp ứng nhiệt tình hay thất bại trong sự ở trong Đấng Christ dẫn đến sự sửa trị nghiêm nhặt hay sự phá sản toàn bộ về mặt thuộc linh. Có những điểm nào trong đời sống bạn ảnh hưởng đến mối quan hệ của bạn với Đấng Christ không ? Hãy viết ra trên sổ tay bạn và cầu xin Chúa giúp bạn từ bỏ những điều ấy và phục hồi sự tuôn chảy dồi dào sức sống thiên thượng vào tâm linh bạn.
Khi chúng ta hờ hững trong việc xây dựng mối tương giao của mình với Đức Chúa Trời, thì nguồn sự sống bị suy yếu. Chúng ta phải nhớ rằng mối quan hệ này là một quan hệ phối hợp hổ tương. Chuá Jêsus phán” Nếu các con cứ ở trong ta và lời ta ở trong các con, hãy xin mọi điều mình muốn thì sẽ được ban cho” (GiGa 15:7). Như thế chìa khóa của sự sống động và hiệu quả thuộc linh là duy trì mối quan hệ của chúng ta với Ngài. Chẳng hạn, chúng ta cần được nuôi dưỡng bằng lời của Chúa và thông công với Ngài mỗi ngày. Chúng ta phải quyết định chắc chắn rằng lời Ngài sẽ cứ ở trong chúng ta, và chúng ta không chỉ thỉnh thoảng đọc lời ấy.
(5) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt chứng minh một yếu tố căn bản làm cơ sở cho đời sống thuộc linh.
a. Theo phần thảo luận của chúng ta, một đòi hỏi cơ bản cho việc mang quả thuộc linh là sự giáo dục chính qui của trường Kinh Thánh.
b. Để sản sinh bông trái thuộc linh, trước tiên mỗi cá nhân phải có một mối quan hệ bản thân với Đấng Christ.
c. Một tín hữu có thể bắt đầu sản sinh bông trái thuộc linh và có một đời sống Cơ đốc nhân kết quả chỉ sau khi người ấy nhận báp têm.
d. Sự mang quả thuộc linh tiếp theo sau khi một người trở nên một thành viên của một Hội thánh được thành lập, có lời chứng tốt và được giới thiệu để phục vụ.
e. Khi một người duy trì mối quan hệ của mình với Đấng Christ và lời của Ngài cứ ở trong mình, thì người ấy có thể kết quả thuộc linh.
Sự tài bồi đời sống thuộc linh.
Một người hoặc duy trì hoặc bóp chết sự sống trong Đấng Christ mà người ấy nhận được sự qua sanh lại. Như chúng ta đã ghi nhận, sự sanh lại tạo ra một mối thông công có sự cộng tác hai chiều. Điều này có nghĩa tín hữu phải đáp ứng nhiệt tình và thực hiện phần của mình để giúp duy trì và phát triển sự sống nầy trong Đấng Christ. Tiến trình lớn lên, phát triển và tăng trưởng của đời sống thuộc linh có thể so sánh với những nhu cầu căn bản của một trẻ con. Bé cần thức ăn, không khí và sự chăm sóc thích đáng nếu nó muốn lớn lên và phát triển đúng đắn. Trong lúc một em bé lớn nhanh trong một số nhu cầu thì nhu cầu về thực phẩm, không khí và sự chăm sóc vẫn còn - mặc dù số lượng và chất lượng có thể thay đổi. Cũng vậy, tín hữu mới trong Đấng Christ có những nhu cầu nhất định nếu người ấy đang lớn lên và phát triển đúng đắn. Những điều gợi ý sau đây cho đời sống thuộc linh và sự phát triển của mục sư là thức ăn, không khí và sự chăm sóc của đời sống thuộc linh.
ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU KINH THÁNH.
Mục tiêu 2: Nhận diện điều đòi hỏi để có một kế hoạch học Kinh Thánh hầu nâng cao đời sống thuộc linh và sự phát triển của một người.
Khi Chúa Jêsus bị ma quỉ cám dỗ, Ngài công bố” Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh, nhưng nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời”. (Mat Mt 4:4). Tác giả Thi thiên cũng thú nhận trong Thi Tv 1:2 rằng” sự vui sướng của người công bình là trong luật pháp của Đức Giêhôva”.
Trong chương này bạn sẽ suy nghiệm rằng sự đọc và nghiên cứu Kinh Thánh là điều đầu tiên nhắm vào sự phong phú đời sống thuộc linh của bạn. Điều này có nghĩa là nuôi bạn và không phải chuẩn bị thực phẩm thuộc linh cho những người khác. Nói cách rõ ràng, điều bạn nhận được khi bạn đọc với cả tấm lòng sẽ có lợi cho chức vụ của bạn liên quan đến những người khác, nhưng mối băn khoăn chính của bạn tại đây là duy trì đời sống thuộc linh của chính bạn. Vấn đề là: Tôi phải làm thế nào trong điều này ? Chúng tôi đã liệt kê một số ít nguyên tắc chung để hướng dẫn bạn khi bạn tìm cách phát triển đời sống dâng mình của chính bạn.
(6) Đọc và so sánh Giop G 23:12; Thi Tv 1:1-2; Mat Mt 4:4, 7, 10; Cong Cv 6:2 và IITi 2Tm 2:15. Trong sổ tay của bạn, hãy ghi ra những kết luận chúng ta có được từ những câu Kinh Thánh nầy.
Sự học Kinh Thánh phong phú.
1. Học tập nghiêm chỉnh.
Sự thật của vấn đề là thức ăn thuộc linh của bạn - lời Đức Chúa Trời - là một vấn đề sống còn hay chết mất, nói cách thuộc linh. Nếu bạn xác quyết điều nầy, thì bạn sẽ cẩn thận canh chừng thì giờ suy gẫm Kinh Thánh của mình vì đời sống thuộc linh của bạn hoàn toàn tùy thuộc vào đó. Vì thế, bạn phải cấp bách thực hiện việc đọc Kinh Thánh của riêng mình và nghiên cứu cách nghiêm chỉnh.
Sự nuôi dưỡng đời sống thuộc linh chẳng bao giờ được coi là tùy hứng hay chỉ cần thiết khi thuận tiện. Bạn không thể hờ hững trong việc tài bồi và phát triển đời sống thuộc linh của mình. Chủ đích hay sự đòi hỏi nầy bắt buộc bạn quyết định sẽ không cho phép bất cứ điều gì khác chen vào giữa bạn và sinh hoạt nầy.
Có lẽ bạn đã nghe một số người nói” không có Kinh Thánh, không có điểm tâm” vốn chứng tỏ một kỷ luật mà người đặt ra cho mình. Rõ ràng, người như vậy coi việc đưa lời Đức Chúa Trời vào đời sống mình là quan trọng vô cùng. Nếu bạn thành công trong việc đặt sinh hoạt này vào đỉnh cao trong đời sống bạn, thì bạn phải chắc chắn quyết định đưa giờ phút tĩnh tâm học Kinh Thánh vào loại ưu tiên của đời sống mình. Điều nầy có nghĩa là bạn sẽ chấp nhận một kế hoạch giúp bạn thiết lập một mẫu mực thường xuyên trong việc chăm sóc đời sống thuộc linh của mình.
(7) Lời diễn đạt nào bày tỏ lý do tốt nhất tại sao một người phải nghiên cứu và học hỏi Kinh Thánh cách nghiêm túc ?
a. Lý do chính về việc nhấn mạnh thái độ nghiêm túc ấy là tất cả chúng ta là tạo vật có thói quen. Nếu chúng ta không nghiêm túc về những gì mình đang làm, thì chúng ta cũng dễ lắm mà từ bỏ nó.
b. Nghiêm chỉnh đối với bất cứ việc gì chứng tỏ rằng chúng ta thực sự tận tụy với những cá nhân. Cơ đốc nhân cần nghiêm túc về mọi sự và trong mọi lúc, bất chấp mọi hoàn cảnh.
c. Thái độ nghiêm chỉnh nói lên sự hiểu biết của một người về tầm quan trọng của sự đọc và nghiên cứu Kinh Thánh. Vì đó là nền tảng của đời sống thuộc linh, một người không thể hời hợt đối với việc đó.
Một số người nhận ra rằng hứa nguyện là nguồn trợ giúp to lớn trong kỷ luật bản thân. Nếu bạn phải hứa nguyện bạn sẽ thấy Chúa tăng cường sức lực và giúp đỡ bạn hoàn thành điều ấy. Tuy nhiên, điều nầy không có nghĩa là bạn sẽ hoàn trả sự hứa nguyện của mình cách dễ dàng. Trái lại, kẻ thù sẽ dùng mọi cách trong quyền hạn của nó để ngăn trở bạn thực hiện điều ấy. Nhưng bạn có lời của Đức Chúa Trời, gươm của Thánh Linh vốn là vũ khí sống động, tích cực và một vũ khí có hiệu quả cao được sử dụng để chống lại ma quỉ (Eph Ep 6:10-17; HeDt 4:12). Khi bạn nắm chặt gươm của Thánh Linh, thì đó là dấu báo hiệu sự thất bại của kẻ thù.
(8). Ma quỉ không muốn tín hữu dành thì giờ học hỏi lời Đức Chúa Trời vì điều đó:
a. Nuôi dưỡng đời sống thuộc linh của họ.
b. Xây dựng đức tin và sản sinh sự trưởng thành trong đời sống Cơ đốc nhân.
c. Là một vũ khí mạnh mẽ được sử dụng để chống lại các thế lực thuộc linh gian ác ở trên trời.
d. Hoàn thành những điều ghi ra ở trên.
e. Chỉ hoàn thành điều a) và c) ở trên.
Trong Êphêsô đoạn 6, Phaolô mô tả rằng gươm là một phần quan trọng trong toàn bộ binh giáp của Đức Chúa Trời. Thật vậy, gươm quan trọng đến nỗi chúng ta không thể tiến hành cuộc chiến thuộc linh đến thắng lợi nếu không có nó. Bạn có thể ghi nhận rằng nếu trừ gươm ra, thì tất cả những binh giáp thuộc linh khác chỉ dùng để bảo vệ thôi. Tuy nhiên, trước nhất gươm là vũ khí tấn công. Nếu chúng ta sử dụng gươm của mình - Lời Đức Chúa Trời - cách đúng đắn, chính xác, thì chúng ta sẽ không bị giới hạn chỗ đứng và giữ được vị trí của mình. Hơn nữa chúng ta có thể di chuyển về phía trước và tiến công trong đức tin để hoàn thành công tác Chúa đã giao cho chúng ta.
(9) Đọc Eph Ep 6:10-17; IICo 2Cr 10:3-5; IPhi 1Pr 5:8-9 và Gia Gc 4:7. Trong sổ tay của bạn, hãy cho biết những câu này dạy điều gì về những thực tế trong việc duy trì và phát triển đời sống thuộc linh của một người.
2. Nghiên cứu với thái độ tìm kiếm, khao khát.
Hành dộng mạnh mẽ của ý chí bạn phải đi đôi với một tấm lòng cởi mở. Điều kiện tấm lòng này được diễn đạt cách tuyệt vời qua tác giả trong Thi Tv 119:20” Linh hồn tôi hao mòn vì mong ước các mạng lịnh Chúa luôn luôn”. Hơn nữa, sự tìm kiếm hay cử chỉ thành thật được liên kết với sự khao khát chi phối muốn biết ý chỉ của Đức Chúa Trời và mục đích của cuộc sống. Trên hết mọi sự, nó tự biểu lộ sự mong muốn hiểu biết Đức Chúa Trời (Phi Pl 3:8-11). Một thái độ như vậy sẽ giúp bạn vượt qua những khuynh hướng thần học và giáo phái của bạn để Thánh Linh chiếu rọi sự hiểu biết của bạn về lời của Đức Chúa Trời. Tâm trí thuộc linh nầy đã nêu lên đặc điểm của người Bêrê, và khiến họ tách ra khỏi những tín hữu khác trong thời đại Phaolô.Với lòng nhiệt tình cao độ họ tiếp nhận sứ điệp của Phaolô và tra cứu Kinh Thánh đễ xem lời giảng của Phaolô có thật không (Cong Cv 17:11). Vì họ đói khát lời Đức Chúa Trời, nên họ tìm kiếm vì chỉ một mình lời ấy mới làm họ thỏa mãn đời sống thuộc linh và mong ước của họ. Một học viên học lời Chúa cách nghiêm chỉnh sẽ mở lòng mình ra cho vị Giáo Sư Vĩ Đại, tức là Thánh Linh, khi người ấy vui vẻ tiếp nhận Lời và tìm kiếm chân lý.
(10) Dựa vào phần thảo luận ở trên và ICo1Cr 8:1-3, chúng ta có thể nói cách chính xác nhất rằng hành động mạnh mẽ của ý chí của một người phải đi kèm với tâm linh ngọt ngào và tấm lòng cởi mở vì:
a. Kiến thức như là một kết cuộc tự nó sản sinh sự kiêu ngạo.
b. Không có sự yêu mến Đức Chúa Trời như là lý do thúc đẩy sự học hỏi, người ta rơi vào thảm họa trở thành khoe khoang kiến thức mình thu đạt được.
c. Tri thức đối kháng với đức tin vì điều đó thường tạo ra sự nghi ngờ và vô tín vốn dẫn một người lạc mất đức tin.
d. Tất cả những điều ghi nhận trong câu a), b), và c).
e. Chỉ những điều ghi nhận trong câu a), và b).
Phát triển kế hoạch nghiên cứu Kinh Thánh.
Nếu bạn muốn gặt hái lợi ích lớn nhất từ việc đọc và nghiên cứu Kinh Thánh, thì bạn cần có một kế hoạch để nhắc nhở bạn về mục đích của mình vừa có tính cách toàn diện và có hệ thống. Một kế hoạch mang lại lợi ích phải bao gồm những mục tiêu sau:
1. Gây dựng cá nhân: Điều nầy cần được nhắc lại ở đây vì lợi ích trong sáng và nhấn mạnh rằng điều liên quan đến bạn đầu tiên là sự gây dựng cá nhân của bạn. Một mặt, nếu bạn là một mục sư, người liên tục giảng và dạy, thì bạn luôn luôn phát ra. Tuy nhiên, bạn cần phải tiếp nhận nữa, bạn cần được nuôi dưỡng. Sự đọc và nghiên cứu Kinh Thánh nầy không phải là việc soạn bài giảng, mặc dù chắc chắn những bài giảng sẽ chịu ảnh hưởng của đời sống tĩnh nguyện của bạn.
2. Nghiên cứu toàn diện: Bạn thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra cho bạn nếu bạn ăn điểm tâm, ăn trưa, ăn tối mỗi ngày và suốt cả năm bằng trứng luộc ? Mặc dù trứng là thức ăn bồi dưỡng tốt, bạn cũng cần những thức ăn khác như rau tươi, đậu, các loại củ, hạt ngũ cốc, tinh bột, chất đạm, trái cây, thịt, cá...để có một khẩu phần ăn cân bằng, đầy đủ các chất bổ dưỡng.
Điều này cũng tương tự cho việc đọc và nghiên cứu Kinh Thánh. Kế hoạch của bạn phải bao gồm toàn bộ Kinh Thánh. Nhưng bạn có thể nói” Cựu ước chẳng hay gì mấy”, hoặc” Tôi chẳng thích những tiếng loa và những con thú kỳ dị của sách Khải huyền”. Mặc dù có những phần Kinh Thánh bạn ưa thích nhất, nhưng bạn cũng cần phải có khẩu phần thuộc linh đầy đủ về sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời (Cong Cv 20:27).
(11) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu ĐÚNG nói về cách sử dụng một kế hoạch cho việc đọc và nghiên cứu Kinh Thánh.
a. Một người không được phí phạm thì giờ cho việc đọc và nghiên cứu Kinh Thánh cách hết lòng giờ tĩnh tâm vì người ấy có thể soạn bài giảng trong lúc giãn xả.
b. Mặc dù một người có thể chọn lựa để đọc những sách có nội dung phong phú, nhưng kế hoạch đọc và nghiên cứu của người ấy phải bao trùm toàn bộ Kinh Thánh.
c. Sử dụng một phương pháp có thể giúp cho người ấy nghiêm khắc với bản thân để sự nghiên cứu và suy gẫm với trọng tâm hướng người ấy vào sự tăng trưởng đầy ý nghĩa trong sự hiểu biết lời Đức Chúa Trời.
d. Khi chúng ta nói về một kế hoạch cho đời sống thuộc linh, thì chúng ta đang nhìn nhận nhu cầu để tăng trưởng và phát triển.
3. Nghiên cứu có hệ thống: Thật khó mà liệt kê tất cả những phương pháp hay những hệ thống mà bạn có thể sử dụng trong việc đọc và nghiên cứu Kinh Thánh. Tuy nhiên bạn cần được hướng dẫn vào sự sử dụng một phương pháp hay một hệ thống. Sau đây là vài hướng dẫn tổng quát sẽ giúp bạn gặt hái được nhiều nhất từ việc đọc và nghiên cứu Kinh Thánh.
Trước hết, hệ thống hay phương pháp học phải hướng về nội dung Kinh Thánh (Bible content oriented). Điều nầy có nghĩa là phương pháp đó phải trước nhất dựa hẳn vào chính quyển Kinh Thánh hơn là vào những sách nói về Kinh Thánh. Chẳng hạn, có một số sách nói về sự tĩnh nguyện, khởi đầu đưa ra một câu Kinh Thánh ngắn. Sau đó một giai thoại được tóm tắt hay một câu chuyện tiếp sau câu Kinh Thánh nầy và giờ tĩnh nguyện kết thúc với lời cầu nguyện kết luận ngắn. Mặc dù loại này có thể chứa đựng những tài liệu có ích và gây cảm hứng, bạn không nên dùng nó để thay thế cho việc đọc và suy gẫm Kinh Thánh.
Kế đó, bạn nên khởi đầu với cái toàn diện, rồi đi vào từng phần. Trước hết hãy có một cái nhìn của con chim từ trên cao, rồi đi vào những chi tiết. Chẳng hạn, bạn sẽ hiểu rõ sách Hêbơrơ hơn nếu bạn đọc sách Lêvi ký trước. Và để hiểu hết những gì bạn nghiên cứu về các sách Tiên tri, thì bạn cần cái phối cảnh lịch sử mà các sách về lịch sử chứa đựng. Lý do là Kinh Thánh trong thực tế vốn là một cuốn sách toàn bộ, dù Kinh Thánh gồm sáu mươi sáu quyển. Và để đánh giá đầy đủ tầm nhìn của bạn vào từng phần, thì bạn phải có cái nhìn toàn diện của toàn bộ.
Vì thế, kế hoạch sẽ giúp bạn xác định mình đang đi đâu, làm thế nào để đến đấy và phải mong đợi gì.
(12) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG có liên quan đến sự cần thiết phải có một kế hoạch đọc và nghiên cưú Kinh Thánh.
a. Một chương trình nghiên cứu có kế hoạch dành cho giờ tĩnh nguyện sẽ có ích vì nó bày tỏ tính chất thuộc linh của một người.
b. Kế hoạch là bằng chứng cho biết người đó là một uy quyền của Lời Đức Chúa Trời.
c. Một kế hoạch đưa ra mục đích và hướng đi cho đời sống tĩnh nguyện của một người.
d. Không có một hệ thống đọc và suy gẫm Kinh Thánh cách thường xuyên, hầu hết người ta có khuynh hướng tiến đến đời sống thuộc linh theo kiểu ngẫu nhiên hay cẩu thả.
e. Lý do lớn nhất để động viên những mục sư Cơ Đốc chấp nhận một hệ thống nghiên cứu Kinh Thánh là gương mẫu tĩnh nguyện nổi bật của sứ đồ Phaolô.
(13) Bạn đã đọc toàn bộ Kinh Thánh chưa ? Nếu chưa, đây phải là một phần căn bản cho kế hoạch của bạn.
Vì mục đích cung cấp một ví dụ đặc biệt, tôi sẽ đưa ra một kế hoạch đọc Kinh Thánh đơn giản (và một thay đổi) sẽ giúp bạn đọc cách có hệ thống suốt Kinh Thánh từ Sáng thế ký đến Khải huyền. Yếu tố thời gian trong mỗi kế hoạch có thể mềm dẻo tùy thuộc vào thì giờ thực tế mà bạn có thể dành cho việc này.
Để đọc xong toàn bộ Kinh Thánh trong một năm bạn phải đọc 5 đoạn vào mỗi ngày Chúa nhật, và 3 đoạn vào mỗi ngày trong tuần.
Để đọc xong toàn bộ Kinh Thánh trong 6 tháng bạn phải đọc 5 đoạn vào mỗi ngày Chúa nhật, 3 đoạn vào mỗi buổi sáng, và 3 đoạn vào mỗi buổi chiều của mỗi ngày trong tuần.
Nếu bạn muốn, bạn có thể thu ngắn kế hoạch gợi ý nầy (hoặc nếu không thì cũng sửa đổi nó). Để rút ngắn, bạn chỉ việc tăng cường số đoạn lên mỗi lần bạn đọc. Bạn cũng nhận thấy rằng chúng tôi không thể ước định thời gian đọc của kế hoạch này vì tốc độ khác nhau giữa người nầy với người khác. Tuy nhiên, bạn có thể chấp nhận điều nầy như một kế hoạch đơn giản và thực tế để giúp bạn đọc toàn bộ Kinh Thánh cách có hệ thống.
GIỜ CẦU NGUYỆN CÁ NHÂN.
Mục tiêu 3:Giải thích giờ cầu nguyện cá nhân bổ túc cho sự đọc và nghiên cứu Kinh Thánh như thế nào.
Có lẽ bạn đã nghe người ta nói rất nhiều lần rằng khi bạn đọc Kinh Thánh tức là Đức Chúa Trời phán với bạn và khi bạn cầu nguyện là bạn nói với Đức Chúa Trời. Muốn có sự cầu nguyện thông công hai chiều giữa bạn và Đức Chúa Trời, bạn cần phải nói với Ngài cách riêng tư. Đây là một sự tương giao trên bình diện cá nhân, nghĩa là một thì giờ bạn cầu nguyện với Đức Chúa Trời vì lợi ích cho chính mình bạn. Sự nhấn mạnh ở đây là nhu cầu cho riêng bạn, là” phòng riêng”. Bạn cần sự cầu nguyện cá nhân, riêng tư này thêm vào thì giờ cầu nguyện lễ bái với gia đình, giờ cầu nguyện với Trường Chúa nhật của bạn và với các nhân viên trong Hội thánh, với những cấp lãnh đạo khác trong Hội thánh hoặc cầu nguyện cho ai đó tại nhà riêng của họ. Khi chúng ta dành sự thông công cách cá nhân nầy với Đức Chúa Trời chiếm hữu đời sống chúng ta, thì lập tức nó bày tỏ trong cách sống và trong chức vụ của chúng ta.
(14) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG có liên quan đến bản chất của giờ cầu nguyện cá nhân của bạn.
a. Đó là giờ cầu nguyện cho người bệnh.
b. Một trong những mục tiêu của giờ nầy là phụng sự Đức Chúa Trời .
c. Bạn phải phục vụ cho nhu cầu của gia đình bạn trong thì giờ nầy.
d. Đó là thì giờ tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời.
e. Bạn có thể dành thì giờ chỉ” trông đợi trong sự hiện diện của Chúa”
f. Không có gì thay thế được cho sự cầu nguyện cá nhân bền đỗ.
Một tác giả thánh ca diễn tả bản chất của sự thông công cá nhân này rất đúng:
Ngài đồng đi với tôi,
Ngài trò chuyện với tôi,
và Ngài nói tôi thuộc Ngài .
Và niềm vui khi chúng tôi nấn ná ở đấy,
Không một ai khác hiểu được.
(Chúa đồng đi suốt với tôi,
Chuyện trò thân mật bảo tôi biết rằng:
Con nay đã thuộc về ta.
Niềm vui cùng Chúa sánh sao cho bằng:
Chưa ai từng biết điều này.)
Mối quan hệ này có thể so sánh với đôi tình nhân nam nữ yêu nhau tha thiết. Họ muốn ở bên nhau, thảo luận về những kế hoạch của mình,và bày tỏ bằng lời nói và hành động để biểu lộ tình yêu đối với nhau.Mối quan hệ của chúng ta với Đấng Christ là một kinh nghiệm tuyệt vời của sự thông công mà chúng ta có thể mô tả như mối tình lãng mạng thuộc linh .Trong sự hiện diện của Ngài, lời Chúa bắt đầu có ý nghĩa tươi mới khi Ngài soi sáng tâm linh chúng ta .Khi chúng ta trông đợi sự hiện diện của Ngài, tình yêu Chúa của chúng ta càng lớn lên và phát triển, và phẩm hạnh của chúng ta thay đổi đến nỗi những người khác có thể nhìn thấy sự phản chiếu của Ngài trong lời nói và hành động của chúng ta .Trong những thì giờ cầu nguyện này Thánh Linh khiến những điều thuộc về Đấng Christ thành thực tế cho chúng ta .Ngài cũng tiết lộ cho chúng ta những sự hầu đến và ban cho chúng ta những quan điểm thực tế và những giải đáp cho các nan đề mà chúng ta đang đối diện (GiGa 16:13-15).
Thì giờ tốt nhất thích hợp cho sự tương giao cá nhân với Đức Chúa Trời thay đổi tùy người và nơi chốn. Nói chung, tốt nhất là nên biệt riêng những giờ sáng sớm khi bạn đã được nghỉ ngơi và các quan năng tỉnh táo, nhạy bén với tiếng phán của Thánh Linh. Tuy nhiên nếu không thể được như vậy, hoặc bạn thích chọn thời gian buổi tối, đó cũng là thì giờ tốt. Điều quan trọng ấy là bạn dành một thì giờ đặc biệt và bạn thực hành điều này liên tục.
(15) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG về sự cầu nguyện cá nhân bổ túc cho việc đọc và nghiên cứu Kinh Thánh.
a. Về cơ bản, cầu nguyện cá nhân là sự thông công một chiều từ con người lên đến Đức Chúa Trời trong đó con người tìm kiếm sự xác nhận những gỉai pháp mà người ấy thấy được cho những nan đề của mình.
b. Đọc và nghiên cứu lời Đức Chúa Trời bày tỏ bản tính của Đức Chúa Trời và ý muôn của Ngài cho dân sự. Trong sự cầu nguyện cá nhân chúng ta dâng lên Chúa sự ca ngợi, thờ lạy, và khẩn đảo, và Ngài đáp lời bằng sự tăng cường sức lực, soi sáng trong lời Chúa, ban bình an và sự hiểu biết sâu hơn về ý muốn của Ngài cho đời sống cá nhân của chúng ta.
c. Sự cầu nguyện cá nhân của chúng ta không có ý xác định những quan điểm trước kia của chúng ta về sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Đúng hơn là sự cầu nguyện tiêu biểu cho thái độ lệ thuộc vào giáo sư vĩ đại, tức là Thánh Linh, Đấng đem chúng ta ra khỏi những hạn chế về sự hiểu biết khi học Kinh Thánh và giúp chúng ta tin cậy trọn vẹn nơi Ngài để được Ngài dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật.
d. Chúng ta không thể trông chờ Thánh Linh quấy động những gì không có trong tâm trí và tấm lòng chúng ta. Vì vậy, chúng ta có trách nhiệm đọc và nghiên cứu lời Kinh Thánh. Phần của Đức Chúa Trời là quấy động điều nầy khi chúng ta chờ đợi Chúa trong sự cầu nguyện.
SUY GẪM.
Mục tiêu 4: Thảo luận chức năng của sự suy gẫm trong đời sống của người hầu việc Chúa.
Suy gẫm là một nghệ thuật bị đánh mất đối với nhiều Cơ đốc nhân vì họ hoặc quá lười hoặc có quá nhiều việc đòi hỏi thì giờ của ho. Suy gẫm có nghĩa là” tập trung sự chú ý của một người vào, hay ngẫm nghĩ về, hoặc cân nhắc về”. Rõ ràng việc nầy đòi hỏi thì giờ của bạn. Đừng lầm lẫn với mơ tưởng hão huyền. Bạn có thể hỏi” Làm sao phân biệt được giữa suy gẫm và mơ tưởng hão huyền ?”. Câu trả lời thật đơn giản, mơ tưởng là sản phẩm của trí tưởng tượng và nó không nhằm vào thực tế. Trái lại, suy gẫm dựa vào thực tế và vì thế nó có đối tượng thật và cụ thể.
Tác giả Thi thiên nói đến sự suy gẫm về luật pháp và những công việc của Đức Chúa Trời mang nhiều ý nghĩa trong cuộc đời ông. (Thi Tv 63:6; 77:12; 143:5). Suy nghĩ về sự uy nghiêm và sự quan phòng của Đức Chúa Trời là những đặc trưng chống đỡ cho cuộc đời ông.
(16) Đọc 119:1-175. Trong cuốn sổ tay của bạn hãy liệt kê trong một cột những câu Kinh Thánh nào nói về sự suy gẫm của tác giả. Cột kế bên ghi ra đối tượng của sự suy gẫm đó.
Khi bạn dành riêng những giờ phút yên lặng với Chúa, bao gồm sự đọc và nghiên cứu Kinh Thánh, và cầu nguyện thì bạn cũng phải dành thì giờ suy gẫm. Bạn cần cân nhắc những gì bạn đã đọc và những gì Chúa muốn giúp bạn hiểu cùng thực hành. Điều này giống như việc thưởng thức mùi vị thức ăn trước khi bạn nuốt. Tác giả Thi thiên mô tả kinh nghiệm nầy như là sự phấn khởi của cuộc đời mình (1:2). Sau đây là những điều bạn làm khi suy gẫm:
1. Cân nhắc: Cân nhắc là sự” đắn đo trong tâm trí xem xét lại về mặt trí tuệ, suy nghiệm cách yên lặng, chừng mực và sâu sắc”. Đây có thể là một sự ôn lại về những gì Chúa đã dạy dỗ bạn qua một đoạn Kinh Thánh mà đã được nhấn mạnh do một kinh nghiệm bạn đã chịu đựng hay do một sai lầm bạn đã phạm phải. Điều đó sẽ đâm thấu vào phần sâu kín nhất của bản thể thuộc linh bạn nơi mà người gần gũi nhất với bạn cũng không thể tới gần được.
2. Suy tưởng: Nếu cân nhắc liên quan nhiều đến sự ôn lại, thì suy tưởng là” xem xét với sự chú ý liên tục”. Cân nhắc liên quan đến những gì đã xảy ra trong khi suy tưởng liên quan dến những gì có thể hay phải xảy ra. Chẳng hạn, khi bạn nghĩ ngợi về một đoạn Kinh Thánh và Chúa đã làm sáng tỏ điều gì đó liên quan đến đời sống bạn về tội lỗi phải tránh và một mạng lịnh phải tuân theo, bạn suy tưởng về những gì Chúa muốn bạn làm về điều ấy. Nên nhớ, điểm tập trung ấy là mối quan hệ của bạn với Chúa trước hết, điều nầy áp dụng như thế nào đối với đời sống hằng ngày và chức vụ của bạn.
(17) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời mô tả ĐÚNG về sự suy gẫm vốn thích hợp với đời sống của người hầu việc Chúa.
a. Người ấy tập trung sự chú ý của mình vào luật pháp của Chúa.
b. Người ấy lo nghĩ về những nan đề trong hội chúng của mình.
c. Người ấy hình dung mình là một diễn giả có quyền năng.
d. Đôi khi người ấy phản chiếu một điểm đặc biệt của bài giảng mà mình được nghe.
e. Người ấy tưởng tượng mình đang sống trong một thế giới hòa bình nơi mà không có khó khăn, tranh đấu, bệnh tật hay chết chóc.
f. Trong khi di chuyển đến một nơi khác, người ấy suy tưởng về những sự dạy dỗ trong Rôma đoạn 8.
(18) Trong sổ tay của bạn hãy viết ra phần thảo luận tóm tắt về chức năng của sự suy gẫm trong đời sống của người hầu việc Chúa.
NHỮNG NGUYÊN TẮC DÀNH CHO SỰ TĂNG TRƯỞNG THUỘC LINH.
Mục tiêu 5:Nhận thức những nguyên tắc tăng trưởng thuộc linh .
Chúng ta đã thảo luận một số yếu tố giúp cho sự tăng trưởng và phát triển thuộc linh. Về mặt này, chúng ta phải nhớ rằng tiến trình tăng trưởng liên quan đến cả cuộc chiến thuộc linh và một vài khuynh hướng của con người. Một mặt ma quỉ dùng nhiều phương cách làm nản lòng những cố gắng của chúng ta, mặc khác bạn phải đương đầu với thời dụng biểu của chính bạn và khuynh hướng xem kế hoạch phát triển thuộc linh của bạn như” lề thói hằng ngày”. Vì thế chúng ta sẽ khảo sát vài nguyên tắc giúp bạn duy trì chương trình tăng trưởng thuộc linh của bạn.
Duy trì sự bền đỗ
Nếu như bạn giống như đa số những người khác, bạn sẽ phấn khởi khi thực hiện kế hoạch đọc, nghiên cứu Kinh Thánh, cầu nguyện và suy gẫm. Nhưng sau một thời gian bạn có thể cảm thấy việc này chỉ quá nhạt nhẽo. Điều này có thể đặc biệt đúng vào những trường hợp khi mà bạn bị tràn ngập bởi nhiều trách nhiệm khác nhau -tất cả những điều đó có thể liên quan đến công việc Chúa. Ma quỉ, kẻ thù của bạn là một kẻ thù rất quỉ quyệt, và nó sẽ làm bất cứ điều gì để lừa dối, gạt gẫm bạn đưa vào cảm giác là bạn quá bận rộn không thể cầu nguyện hôm nay. Nó dùng một sợi dây thật dài để ngăn cản bạn vào phòng riêng, để thông công mật thiết với Đức Chúa Trời. Nếu bạn bị mắc mưu, trước tiên bạn có thể đánh mất sự cầu nguyện và nghiên cứu Kinh Thánh chỉ một lần. Tuy nhiên nếu bạn không canh chừng kế hoạch của mình cách cẩn thận, thì bạn sẽ có khuynh hướng bỏ qua hai ngày, rồi bốn hay năm ngày, và tiếp tục như thế bạn mất luôn mục đích nguyên thủy của mình. Tôi muốn đưa hai điều cảnh giác ở điểm này. Một là tích cực, hai là tiêu cực.
1. Bền đỗ (làm việc không ngừng) (keep at it).
Bạn có thể bắt đầu bằng việc nhỏ và chậm thay vì việc lớn và nhanh. Nghĩa là bạn có thể chọn khởi đầu với một kế hoạch khiêm tốn trong sự đọc, nghiên cứu Kinh Thánh và cầu nguyện, suy gẫm hơn là hoạch định một thời biểu đầy tham vọng. Điểm quan trọng ấy là bạn phải bền đỗ. Loại bền đỗ này cũng giúp bạn học xong chương trình tự học ICI nữa. Nên nhớ, dù sự tăng trưởng chỉ xảy ra bằng sự nuôi dưỡng thuộc linh hằng ngày, nhưng với một ý chí có mục đích mạnh mẽ bạn phải đưa sự nuôi dưỡng thuộc linh vào vị trí ưu tiên hàng đầu.
2. Đừng làm việc đó cách máy móc. Có lẽ bạn cũng thấy rằng tất cả chúng ta đều có khuynh hướng xem những gì mình làm thường xuyên trở nên nhàm chán và máy móc. Bạn có thể thấy rằng đây là một cuộc chiến liên tục. Làm thế nào để bạn thắng được cuộc chiến ? Điều này có vẽ kỳ lạ, sự chiến thắng tùy thuộc vào sự củng cố mối thông công của bạn với Chúa qua sự cầu nguyện, đọc và học hỏi Kinh Thánh cùng suy gẫm .
Chúng ta có thể trình bày vài nguyên tắc tăng trưởng thuộc linh cần được tập trung tại điểm này. Trước hết chúng ta cần bền đỗ, đặt kế hoạch tăng trưởng thuộc linh vào hàng ưu tiên cao nhất. Thứ hai, chúng ta phải lưu ý đừng để kế hoạch của chúng ta trở nên nhàm chán và máy móc. Nếu chúng ta giữ vững những nguyên tắc này, chúng ta có thể tránh cả hai, sự đói kém và mỏi mệt thuộc linh.
(19) Từ sự khảo sát của chúng ta về sự bền đỗ trong sự cầu nguyện và học Kinh Thánh chúng ta biết rằng bền đỗ:
a. Chỉ đơn giản là vấn đề thói quen.
b. Đến rất dễ dàng với những người xu hướng thuộc linh .
c. Đòi hỏi sự quyết tâm và kiên trì.
d. Không tương hợp với thời biểu của những người bận rộn nhất.
Phát triển bông trái của Thánh Linh
Khi bạn dành nhiều thì giờ với Chúa, Thánh Linh sẽ có một cơ hội lớn hơn để phát triển đặc tính của Chúa Jêsus trong đời sống bạn. Sứ đồ Phaolô gọi tên những yếu tố của sự phát triển đặc tính trong GaGl 5:22-23:” Nhưng trái của Thánh Linh ấy là yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ”. Chắc chắn bạn thấy rõ những điều Phaolô mô tả ở đây là đặc tính của Chúa Jêsus .
Sứ đồ Phaolô cho chúng ta cái nhìn sâu sắc hơn về tiến trình mang quả thuộc linh trong Galati 5. Ông nói rằng chúng ta phải” sống bởi Thánh Linh”(câu 16). Điều này có nghĩa là chúng ta phải đầu phục sự kiểm soát của Ngài (so sánh với RoRm 8:5-14) và phải nhạy bén với sự lãnh đạo của Ngài. Như vậy, chúng ta phát triển một sự nhận biết cách hướng dẫn của Ngài và có thể” bước đi theo Thánh Linh” (c.25). Từ từ và tiến dần chúng ta “ được biến đổi giống như Ngài với sự vinh hiển liên tục gia tăng” (IICo 2Cr 3:18). Và chúng ta có thể tiêu biểu tinh thần của Đấng Chăn Chiên thật.
Trong phần phân tích cuối cùng này chúng ta sẽ thấy tất cả ý nghĩa của đời sống thuộc linh. Khởi đầu Đức Chúa Trời kêu gọi bạn cho chính Ngài, Ngài định trước cho bạn được phù hợp với hình ảnh con yêu dấu của Ngài (RoRm 8:29, 30), vì vậy mọi khả năng, tài trí, kỹ năng tinh thông nhất và các hoạt động của bạn phải xuất phát từ loại sự sống này. Trận chiến thực sự trong đời sống và chức vụ của bạn không phải trước nhất ở sự làm việc (doing), vì mỗi mục sư có lương tâm thường quá mức bận rộn với những việc làm. Đúng hơn, đó là bản chất bạn sẽ trở nên giống như hình ảnh của Con Đức Chúa Trời (RoRm 8:23). Nhờ ân phúc của Chúa, bạn có thể đầu phục Ngài để những người khác sẽ nhìn thấy Đấng Christ là hy vọng vinh hiển trong bạn.
(20) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG về nguyên tắc của sự tăng trưởng thuộc linh:
a. Trái của Thánh Linh phát triển tự nhiên trong đời sống người hầu việc Chúa không kể gì đến bất cứ sự góp phần có ý thức nào của người ấy.
b. Người mang trái thuộc linh khi người ấy bước đi liên tục trong Thánh Linh và nhạy bén cùng vâng theo sự kiểm soát của Ngài.
c. Vì mục đích của bông trái thuộc linh là sự cứu rỗi, kết quả từ công việc làm của tín hữu, nên họ phải làm thật nhiều.
d. Theo sứ đồ Phaolô, mục tiêu của tín hữu là phải dâng sự kiểm soát cuộc đời mình cho Thánh Linh và bước theo sự hướng dẫn của Ngài.
e. Một nguyên tắc cơ bản của sự tăng trưởng thuộc linh là bền đỗ, cứ kiên trì điều đó bất chấp tất cả các yêu cầu khác.
f. Một điểm lợi của một kế hoạch tăng trưởng thuộc linh là sau một thời gian nó trở thành bình thường và ít đòi hỏi cố gắng và chú tâm hơn.


BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
CÂU HỎI LỰA CHỌN.
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Kinh nghiệm đầu tiên để xây dựng cho tất cả mọi sự tăng trưởng và phát triển thuộc linh là:
a. Tiệc thánh.
b. Báp têm bằng nước.
c. Làm thành viên trong một Hội thánh địa phương.
d. Sự sinh ra thuộc linh.
2. Trái thuộc linh nảy sinh từ mối quan hệ cá nhân với Đấng Christ, tuy nhiên để có kết quả và trưởng thành trong đức tin, một người phải:
a. Rập khuôn đời sống mình theo đời sống các ông, các bà kính sợ Chúa.
b. Bày tỏ cho những người khác thấy sự tận hiến của mình đối với Chúa bằng việc trở nên một uy quyền của lời Chúa.
c. Chính mình đầu phục sự kiểm soát và dẫn dắt của Thánh Linh.
d. Làm công việc của Chúa để bày tỏ yêu thương và sự công bằng.
3. Một thực hành cơ bản sẽ đáp ứng hầu hết những nhu cầu thuộc linh của mục sư là:
a. Học tập những cách giải luận để thu đạt kiến thức tốt của lời Đức Chúa Trời.
b. Liên tục đọc và nghiên cứu lời Đức Chúa Trời.
c. Sự bao gồm một số điều học tập về lời Đức Chúa Trời - ít nhất như là nền tảng cho những bài giảng luận.
d. Theo học để tốt nghiệp một trường Kinh Thánh, và sau đó nghiên cứu những điều cần thiết cho công tác giảng dạy chính thức.
4. Một người quyết định tài bồi lời Đức Chúa Trời trong đời sống thì cũng phải có thái độ:
a. Khao khát tìm biết ý chỉ của Đức Chúa Trời và mục đích cho đời sống mình.
b. Tìm kiếm chân lý như là mục đích quan trọng.
c. Quán triệt lời Đức Chúa Trời để đánh bại những kẻ chống đối Phúc Aâm.
d. Để Đức Chúa Trời lập kế hoạch dưỡng linh đặc biệt cho mình.
5. Chúng ta đã thấy rằng đọc và nghiên cứu lời Chúa cung cấp sự nuôi dưỡng thuộc linh vốn:
a. Cung cấp một tích lũy kiến thức và làm cho con người có tầm thước vóc giạc trong thân thể Đấng Christ.
b. Có giá trị đạo đức để con người sống trọn vẹn không chỗ chê trách.
c. Trang bị cho một người những binh giáp thuộc linh có cần để duy trì sức sống thuộc linh và thực hành sứ mạng của Phúc Aâm.
d. Ban cho con người một ý thức niềm tin khi người ấy học tập suy xét và nhận thức đúng đắn y theo nguyên bản lời Chúa.
6. Lý do quan trọng nhất tại sao kế hoạch đọc và nghiên cứu Kinh Thánh của một người phải bao gồm toàn bộ Kinh Thánh là:
a. Nếu một người chỉ đọc Tân ước, người ấy sẽ không đánh giá được những công việc có tính lịch sử của Đức Chúa Trời .
b. Nếu một người chỉ tập trung vào sách Phúc Aâm người ấy sẽ đánh mất những lẽ thật, giáo lý quan trọng.
c. Chân lý trong mỗi phần của lời Đức Chúa Trời tiêu biểu một cách tổng hợp toàn bộ lời khuyên dạy của Đức Chúa Trời.
d. Điều này cho phép một người nhìn thấy Cựu ước đã được hoàn tất như thế nào, và vì thế trở thành cổ xưa so với Tân ước.
7. Hệ thống đọc và nghiên cứu Kinh Thánh của một người phải hướng về nội dung Kinh Thánh vì:
a. Các sách bồi linh không đáp ứng những nhu cầu thuộc linh.
b. Một người không cần sự giúp đỡ bên ngoài hay hiểu biết về nội dung của Kinh Thánh.
c. Một số ít người biết cách chọn tài liệu tốt khác để đọc.
d. Kinh Thánh là lời Đức Chúa Trời để truyền đạt ý muốn và mục đích của Ngài cho chúng ta và nuôi dưỡng đời sống thuộc linh của chúng ta.
8. Giờ cầu nguyện cá nhân vô cùng giá trị cho Cơ đốc nhân nói chung và cho người hầu việc Chúa nói riêng vì:
a. Giờ phút ấy ban cho người ấy cơ hội nói chuyện với Đức Chúa Trời cũng như được lắng nghe Ngài nữa.
b. Cầu nguyện là phương tiện đầu tiên qua đó người ấy nhận nhiều điều từ Đức Chúa Trời.
c. Cầu nguyện là phương tiện qua đó người ấy dâng lên Đức Chúa Trời những nhu cầu của mình.
d.Cầu nguyện thay đổi người khác và hoàn cảnh, và như vậy làm cho cuộc sống người ấy dễ dàng hơn.
9. Lời nói nào bên dưới KHÔNG giải thích như thế nào sự cầu nguyện và đọc cùng nghiên cứu Kinh Thánh bổ túc cho nhau ?
a. Cầu nguyện cá nhân giúp cho một người bỏ qua một bên ý riêng của mình và nương dựa Thánh Linh dẫn dắt mình vào mọi lẽ thật.
b. Cầu nguyện cá nhân và thông công cung cấp cơ hội để Chúa bày tỏ ý muốn và bản chất của Ngài cho những tôi tớ Ngài .
c. Cầu nguyện giúp cho người ta xác định những cách giải quyết mà người tìm được cho các nan đề của mình.
d. Thánh Linh sẽ quấy động lời mà người ấy đã đọc và nghiên cứu để những lời ấy trở thành thực sự có ý nghĩa cho người ấy.
10. Trái của Thánh Linh trong đời sống của tín hữu là:
a. Một kết quả tự nhiên của sự sanh lại nên mới trong Đấng Christ.
b. Bằng chứng của sự trưởng thành trong đức tin của một người và thông thường đối với tất cả các tín hữu.
c. Sự dành được cách tốt nhất do siêng năng cố gắng và phấn đấu không ngừng để làm những gì phải lẽ và đẹp lòng Đức Chúa Trời.
d. Kết quả của sự đầu phục sự kiểm soát của Thánh Linh.
]
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

(1)c) Là sự thay đổi toàn bộ và hoàn hảo được thực hiện trong tâm linh của một người bởi Thánh Linh làm cho người ấy trở nên một tạo vật mới.
(2)a) chúng bị chặt bỏ .
b) chúng được tỉa sửa để được sai trái hơn.
c) ở trong Đấng Christ là chìa khóa của sự mang quả.
d) Họ có thể cầu xin những gì mình muốn và điều đó sẽ được ban cho (câu 7).
(3) a), c), và d) là những lời diễn đạt đúng.
(4) Câu trả lời của bạn. Tất cả chúng ta đều cần khảo sát đời sống mình cách định kỳ để thấy đời sống mình có đạt được mức độ theo tiêu chuẩn Đức Chúa Trời đặt ra cho chúng ta trong Lời Ngài không. Bằng việc duy trì mối thông công hàng ngày của chúng ta với Ngài, chúng ta có thể biết chắc được sự giúp đỡ của Ngài trong việc chỉ cho chúng ta thấy” những nhánh chết” cần được chặt bỏ khỏi đời sống chúng ta - chẳng hạn những tưởng độc ác, ích kỷ hoặc những hành động không xứng đáng với một Cơ đốc nhân (hoặc những điều khác).
(5) b và e la ønhững lời diễn đạt đúng.
(6) Câu trả lời của bạn có thể chứa đựng những tư tưởng này: chúng ta không thể quá nhấn mạnh tầm quan trọng của Lời Đức Chúa Trời trong đời sống của một người. Lời Chúa nuôi dưỡng linh hồn mang lại phước hạnh của Đức Chúa Trời, cung ứng sự chống trả tấn công của kẻ thù, và là sứ điệp mang sự cứu rỗi cho tội nhân và sự trưởng thành cho tín hữu. Không có Lời Chúa linh hồn trở nên yếu đuối và con người thuộc linh mất đi sự sống sinh động của mình.
(7) c) Thái độ nghiêm chỉnh nói lên sự hiểu biết của một người về tầm quan trọng của sự đọc và nghiên cứu Kinh Thánh. Vì đó là nền tảng của đời sống thuộc linh, một người không thể hời hợt đối với việc đó.
(8) d) hoàn thành những điều ghi ra ở trên.
(9) Câu trả lời của bạn. Tôi đã ghi nhận rằng Cơ đốc nhân có liên hệ đến trận chiến liên tục trong thế giới này. Tuy nhiên sự chiến đấu của người ấy không phải đối nghịch với con người hay thể chế của con người, nhưng lời đả kích, cá nhân đúng hơn là người ấy phải đương đầu với những quyền lực của linh tăm tối. Để đứng vững trên lập trường của mình, lớn lên và phát triển thuộc linh cũng như tổ chức một trận chiến thuộc linh, một người vẫn phải mang những khí giới mạnh mẽ hơn mà Đức Chúa Trời trang bị cho dân sự Ngài. Hằng ngày sử dụng binh giáp thuộc linh sẽ mang lại sự chiến thắng và sức lực cho tín hữu và sự mở mang công việc của Đức Chúa Trời trên đất nầy.
(10) e) chỉ những điều ghi nhận trong những lời diễn đạt a) và b).
(11) b), c) và d) là những câu đúng.
a) sai vì thì giờ tĩnh nguyện có một trọng tâm khác với giờ soạn bài giảng.
(12)c)và d) là những lời diển đạt đúng.
(13) Tôi hy vọng bạn trả lời” Đã đọc xong”, nhưng nếu không, xin xem xét gương mẫu của những mục sư có lương tâm. Họ tin rằng để trở nên những người giảng và dạy có hiệu quả, thì họ phải đọc toàn bộ Kinh Thánh ít nhất mỗi năm một lần và Tân ước hai lần. Có lẽ đây là mục tiêu bạn sẽ muốn thực hiện.
(14) b, d, e, và f là những lời diễn đạt đúng.
(15) b, c, và d là những lời diễn đạt đúng.
(16) Câu Kinh Thánh Đối tượng của sự suy gẫm:
- Đối tượng của sự suy gẫm:
Giềng mối Chúa c. 15
Luật lệ Chúa c. 23
Công việc lạ lùng của Chúa c. 27
Các luật lệ Chuá c. 48
Các giềng mối Chúa c. 78
Luật pháp Chúa. c. 97
Các chứng cớ Chúa c. 99
Lời Chúa. c. 148
(17) a, d, và f là những lời diễn đạt đúng.
(18) Câu trả lời của bạn phải bao gồm những tư tưởng sau: suy gẫm tạo cho chúng ta một cơ hội khảo sát những gì Đức Chúa Trời đang cố gắng dạy chúng ta qua những kinh nghiệm và bất hạnh của chúng ta, cũng như qua Lời của Ngài. Thêm vào đó sự suy gẫm cho phép chúng ta tập trung sự chú ý của mình vào sự đáp ứng những gì Ngài yêu cầu - chúng ta sẽ áp dụng chân lý Ngài bày tỏ như thế nào.
(19) c) đòi hỏi sự quyết tâm và kiên trì.
(20) b, d, và e là những lời diễn đạt đúng.

&

THEO ĐUỔI HỌC VẤN.
Trong bài 3, sự sửa soạn cho chức vụ mục sư trước hết được tập trung vào sự trang bị thuộc linh. Chúng ta thấy rằng nhu cầu cơ bản nhất ấy là sự tái sanh. Kế đó chúng ta thảo luận những phương cách nhờ đó đời sống thuộc linh được duy trì và phát triển để tiến tới sự trưởng thành của Cơ đốc nhân. Bây giờ chúng ta chuyển sang khía cạnh những phẩm chất phục vụ của mục sư có liên quan đến học vấn.
Đức Chúa Trời dự định mỗi đời sống Cơ đốc nhân phải được tập trung trong Đấng Christ và phát triển tiềm năng đầy trọn nhất. Mỗi khả năng Đức Chúa Trời ban cho một người có một phần của toàn bộ lý do hiện hữu của người ấy. Các khả năng ấy có một quan hệ mật thiết và là dấu hiệu phân biệt giữa con ngườivới những tạo vật khác. Chẳng hạn, loài người được nổi bật qua khả năng lý luận, phân tích những kết quả của một hành động và nhận ra sự khác biệt tùy theo những công bố của luật pháp và lương tâm. Con người cũng được tạo dựng bằng một thân thể vật chất và một linh hồn phi vật chất. Như bạn có thể thấy, như vậy mỗi người là một tạo vật phức hợp có nhiều khả năng, mà phần lớn có thể và phải được phát triển để làm vinh hiển Đức Chúa Trời.
Vì mục sư gánh vác chức vụ thánh dẫn dắt và nuôi dưỡng” bầy của Đức Chúa Trời”, nên bắt buộc phải được trang bị cho chức vụ quan trọng này. Một phần của” sự trang bị” có liên quan đến học vấn. Bài học này sẽ chỉ cho bạn những khía cạnh khác nhau của những cơ hội học vấn mà một mục sư nhiệt tình có thể đáp ứng. Khi nghiên cứu bài này, hãy nhớ những lời của Phaolô dặn dò chàng thanh niên Timôthê” Hãy làm hết sức mình để trình diện trước mặt Đức Chúa Trời như một công nhân được chấp nhận không cần phải bị hổ thẹn và ngay thẳng nắm vững lời của lẽ thật” (IITi 2Tm 2:15, NIV - hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật).
DÀN Ý BÀI HỌC
Sự Sửa Soạn Chung
Năng khiếu giáo dục
Tiếp tục học vấn.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Giải thích sự bắt buộc cá nhân mà một người hầu việc Chúa cần có để chuẩn bị về mặt học vấn.
* Mô tả những chương trình hữu dụng cho sự học vấn hay sự huấn luyện chức vụ mục sư.
* Đánh giá những lợi ích của việc tiếp tục con đường học vấn trong đời sống bạn.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1.Nghiên cứu bài và làm bài trắc nghiệm cá nhân theo như các lời chỉ dẫn trong bài 1.
2.Ôn bài 1 đến bài 4 để sửa soạn tiến trình đánh giá đơn vị I của bạn. Đọc trang chỉ dẫn trong túi dành cho học viên của bạn và lấy ra mẫu trả lời trong đó. Theo những chỉ dẫn để làm bài trong Phiếu trả lời, rồi gởi cho hướng dẫn viên chỉ đạo bạn học là người sẽ chấm điểm và cho bạn biết kết quả.
NHỮNG CHỮ CĂN BẢN
Cạn kiệt
Canh tân
Độc lập
Kết thúc
Phân chia
Tóm tắt
Thông suốt
Thu thập
Thuận tiện
Thấu triệt
Vật lộn
TRIỂN KHAI BÀI HỌC
SỰ SỬA SOẠN CHUNG
ĐỌC VÀ NGHIÊN CỨU ĐẠI CƯƠNG.
Mục tiêu 1: Nhận diện những lời diễn đạt giải thích tại sao một mục sư cần được thấm nhuần trong những lãnh vực kiến thức đại cương.
Trọng tâm của phần này liên quan đến những hoạt động thách thức và làm phong phú tâm trí của mục sư. Đáng tiếc thay, một số người cho rằng có sự đối lập giữa thuộc linh và trí tuệ, nhưng điều đó không đúng. Mặc dù sự tận hiến cho Đức Chúa Trời có liên quan đến chiều kích thuộc linh của một người, nhưng nó cũng bao gồm cả tâm trí, vì thế không có sự đối lập thật sự. Chẳng hạn, trong Mat Mt 22:37, con cái Đức Chúa Trời được truyền bảo phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí mà yêu mến Đức Chúa Trời . Tuy vậy, có một số người sợ hãi vô căn cứ rằng khi một người trở thành có khả năng tri thức, người ấy sẽ trở nên yếu về thuộc linh. Họ cũng tin rằng tâm trí và tâm linh chẳng bao giờ hòa hợp được. Từ bằng chứng Kinh Thánh, cũng như từ đời sống của những nhà lãnh đạo vĩ đại trong Hội thánh, chúng ta thấy điều này không đúng. Trong Kinh Thánh những đời sống của Giôsép, Đaniên, Luca, và Phaolô là một số ít ví dụ đã bác bỏ một ý niệm như vậy.
Mặc dù Phaolô khuyên bảo Timôthê” Hãy chăm chỉ đọc sách” (ITi1Tm 4:13) nói về việc đọc Kinh Thánh giữa hội chúng, nhưng lời khuyên của ông cũng thích hợp cho những lãnh vực đọc khác. Loại sách mà một người ưa thích đọc là một phản chiếu trung thực bản tính con người đó.
Vài thập niên trong quá khứ có một sự bùng nổ về thông tin. Với hầu hết dân chúng thì phương tiện duy nhất để thu thập lợi ích từ số lượng lớn tin tức mới này là đọc sách báo. Người hầu việc Chúa nào muốn thông công với nhiều hạng người cần phải đọc và nghiên cứu trong những lãnh vực phổ quát để mở rộng kiến thức phổ thông của mình. Với sự bùng nổ về thông tin và sự loan truyền tin tức nhanh chóng qua các phương tiện truyền thông hiện đại, dân chúng ngày nay tiếp nhận thông tin tốt hơn nhiều so với những thế hệ trong quá khứ. Kết quả thế giới ngày càng trở nên nhỏ hơn ? Ngay cả ở những vùng thật xa, chỉ cần một chiếc radio bán dẫn bé nhỏ cũng đem thế giới lại gần hơn. Bây giờ tại nhiều nơi nhờ có vô tuyến truyền hình, bạn có thể có một chỗ ngồi thuận lợi (sát cạnh) khi những biến cố chính yếu trên thế giới xảy ra.
(1)Tại sao một số người lại sợ việc tài bồi kiến thức ?
(2)Mô tả vắn tắt hai phương cách mà sự bùng nổ thông tin đã đem đến sự thay đổi trong lãnh vực của bạn và sự thay đổi này đã ảnh hưởng thế nào trên chức vụ của bạn ?
Với tất cả một loạt thông tin hữu dụng này, mục sư nào khao khát kiến thức phải đồng thời khôn khéo kén chọn. Trong tiến trình kích thích tâm trí và tăng cường những khả năng của trí tuệ, cuối cùng mục sư phải cố tìm cách” thích hợp cho Chủ sử dụng”. Mục sư cần phải biết những gì đang xảy ra trên thế giới và đại để người ta đang đáp ứng và đối phó thế nào với những gì đang xảy ra. Phải nhớ rằng mục sư là người tiếp xúc với quần chúng hiện đang đối diện với những thực tế đời sống hằng ngày cùng tất cả sức ép và căng thẳng do cách kiếm sống hiện đại mang lại. Mục sư có thể phục vụ dân sự hiệu quả hơn nếu hiểu được người ta bị tổn thương ở đâu và tổn thương như thế nào. Có nhiều vấn đề ở sở làm, trường học, gia đình mà người ta phải vật lộn hàng ngày có thể khác với những gì một mục sư” phụng sự trọn thì giờ” phải đối diện. Trong những hoàn cảnh như thế, người ta thường trông mong mục sư giúp đỡ và hướng dẫn.
(3) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a.Phương tiện truyền thông hiện đại làm cho thế giới thu nhỏ hơn, vì vậy sự tập trung của mục sư phải được hạn chế trong cộng đồng riêng của mình.
b.Là một người lãnh đạo thuộc linh, sự đọc của mục sư phải giới hạn trong lãnh vực thuộc linh vốn đối lập với văn phẩm tri thức.
c.Biết những gì đang xảy ra trên thế giới sẽ giúp mục sư gắn bó với những con người phải đối diện những thực tế và những căng thẳng của cuộc sống.
d.Sự bùng nổ về thông tin và loan truyền tin tức ảnh hưởng đến những phản ứng trong hội chúng của một Hội thánh.
MỤC ĐÍCH CỦA SỰ ĐỌC SÁCH TỔNG QUÁT.
Mục tiêu 2: Chọn lựa những lời diễn đạt mô tả thế nào một mục sư có thể nhận được nhiều điều bổ ích qua việc đọc sách.
Francis Bacon phát biểu” Đọc sách làm cho con người phát triển đầy đủ”(Reading make a full man). Chắc chắn bạn đã thấy một chiếc xe gắn máy bị hỏng ở trên đường. Hình như máy đang ở điều kiện tốt, những vỏ xe vẫn bơm phồng và bình điện được sạc đầy. Chỉ một điều sai trật: Hết nhiên liệu (xăng). Máy móc lệ thuộc vào nhiên liệu. Vì vậy, khi việc cung cấp nhiên liệu cạn kiệt thì máy cũng ngừng lại.
Điều tương tự cũng xảy ra với bạn nếu bạn cứ phục vụ bằng sự giảng, dạy và khuyên bảo mà chẳng đổ thêm chút” nhiên liệu” nào. Bạn cần phải bổ sung năng lượng thuộc linh mỗi ngày. Bạn cần được cung cấp năng quyền thuộc linh và sự xức dầu cho công tác phục vụ, nếu không bạn sẽ khô cạn thuộc linh. Nhiều mục sư cảm thấy nản lòng và” kiệt lực” sau một năm phục vụ. Nhiều người cảm thấy mình” cạn kiệt” qua mỗi bài giảng hay mỗi ý tưởng trong đó. Một trong những lý do chính của sự” cháy rụi” này là thất bại trong việc đọc sách và nghiên cứu. Hoặc là họ sao lãng không tái đổ thêm năng lực thuộc linh hay họ chỉ có một sự cung cấp không đầy đủ.
John Wesley bảo những mục sư trẻ tuổi ở trong tập đoàn Wesley (Wesley Society), hoặc họ đọc sách hoặc họ phải rời khỏi chức vụ ! Thật rõ ràng ông đã thấy giá trị của sựï tăng trưởng và phát triển trí tuệ để được thành công trong chức vụ thuộc linh.
(4)Một mục sư không đọc và nghiên cứu có thể so sánh với chiếc xe hết xăng trong đó người ấy:
a.Hình như đã chạm đến điểm cuối của chức vụ có ích.
b.Cần được tạm thời” nâng lên” để lấy lại năng lực thuộc linh.
c.“Trống rỗng” về mặt thuộc linh, sự cung cấp năng lực thuộc linh của người ấy đã cạn hết.
d.Không có khả năng để tiếp tục chức vụ.
LUYỆN TẬP TRÍ TUỆ. (Mental Exercise).
Trước hết, bạn đọc để kích thích trí tuệ và hưởng lợi. Tâm trí bạn cũng giống như các bắp thịt: Nó cần được” duỗi ra”. Nếu trí tuệ không được kích thích nó sẽ lụt đi. Nó cần được gợi hứng và thách thức để đạt đến đỉnh điểm của nó. Cơ thể cần phải được tập thể dục thế nào, thì đọc sách và nghiên cứu cũng cần cho tâm trí thể ấy. Đọc và nghiên cứu sẽ gia tốc tiến trình suy nghĩ của bạn bởi thế, nếu bạn giã vờ không biết những điều ấy, thì tiến trình trí tuệ của bạn sẽ chậm lại và ‘rỉ sét”. Sự khích lệ trong việc đọc và nghiên cứu sẽ giúp cho tâm trí bạn lanh lẹ. Nó cũng giúp làm cho sắc bén những khả năng Đức Chúa Trời ban cho bạn và làm phong phú cuộc sống bạn. Sự động viên này có được do sự thông công của bạn với những đầu óc vĩ đại của các thời đại qua trang chữ in ấn.
(5)Giống như việc tập thể dục tăng cường sức mạnh cho thân thể, bạn nghĩ gì về việc luyện tập trí tuệ ?
THU NHẬN TIN TỨC.
Thêm vào việc đọc để luyện tập trí tuệ, bạn phải đọc và nghiên cứu để thu nhận tin tức. Nói chung, có một số lượng lớn tin tức có giá trị và sẵn sàng cho nhiều người ngày nay hơn là trong quá khứ. Chính yếu là qua sự đọc sách báo bạn thu thập được tin tức. Điều này cũng có nghĩa là vì có quá nhiều tin tức có giá trị, bạn cần đọc cách liên tục và phổ cập để có được thông tin đầy đủ. Đọc là một cách để mục sư có thể theo kịp các biến cố trên thế giới. Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, nên ít ra chúng ta cũng quan tâm đủ để biết những gì đang diễn tiến trong dân cư trên thế giới. Điều này đưa chúng ta đến câu hỏi nên đọc và nghiên cứu điều gì.
(6)Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG về những khiá cạnh có lợi cho việc đọc và nghiên cứu của mục sư .
a.Vì có quá nhiều tin tức, nên mục sư phải hạn chế sự đọc của mình nếu không đầu óc ông ta sẽ trở nên lộn xộn và theo đuổi vật chất.
b.Đọc và nghiên cứu khích lệ và bổ sung cho tâm trí đồng thời làm cho chức vụ có hiệu quả hơn.
c.Sự quan tâm của mục sư đối với con người và các nhu cầu của họ đòi hỏi mục sư ấy theo kịp những chuyển biến của thế giới qua những gì mình đọc.
d.Sự luyện tập tâm trí cần cho việc đọc có mục đích chính là cung cấp cho mục sư một ngữ vựng xúc động.
MỤC SƯ NÊN ĐỌC NHỮNG GÌ.
Mục tiêu 3: Xác định loại tài liệu đọc nào mà một mục sư phải nắm vững trong sự đọc tổng quát của mình.
Phải chọn lựa.
Như chúng ta đã thảo luận, có một số lượng lớn tin tức có giá trị ngày nay qua những tài liệu đọc. Nguyên tắc chúng ta phải theo là: Chọn lựa. Bạn biết rằng nhiều tài liệu in ra không đáng giá cho thì giờ của bạn. Chúng tôi đã gợi ý một số loại tổng quát dùng để hướng dẫn bạn thay vì liệt kê những tài liệu có trong thực tế mà bạn phải đọc. Sự đọc của bạn cũng phải sắp xếp sao cho có ích hay có lợi cho bạn trong hoàn cảnh hiện tại và cho những gì mình dự kiến thực hiện. Có hai loại căn bản trong lãnh vực tài bồi trí tuệ.
(7)Câu hỏi căn bản một người có thể hỏi để hướng dẫn sự đọc tổng quát là:
a.Điều này có phổ biến trong cộng đồng của tôi không ?
b.Điều này có giá trị không ?
c.Tôi có thể tiếp thu điều đó không ?
d.Điều đó có mang lợi ích thiết thực cho tôi không ?
Nắm vững thông tin.
Tin tức. Trước đây chúng ta đã đề cập việc một mục sư cần theo kịp những chuyển biến trên thế giới. Nhật báo là một trong những nguồn cung cấp chính củøa loại thông tin này. Điều bao gồm ở đây không chỉ là những bản tin mới nhưng là phần bình luận thời sự phân tích tin tức và xã luận. Những bài xã luận tập trung sự chú ý về những vấn đề khẩn cấp và hiện tại của tin tức và cũng đưa ra những quan điểm khác nhau về những biến cố quan trọng.
Những tài liệu đương thời và cổ điển
Đọc và nghiên cứu tổng quát bao gồm những quyển sách đương thời và văn chương cổ điển thêm phong phú cuộc sống của mội người và cung cấp một phương tiện cho sự học tập lâu dài. Loại đọc này có thể không trực tiếp liên quan đến sự sống thuộc linh và sự kêu gọi của bạn, nhưng nó thêm vào một chiều kích của cuộc sống bạn vừa thích thú vừa hữu ích. Hơn nữa thật sự không thể nào phân chia cuộc sống con người vào những hạng thuộc linh và không thuộc linh. Chẳng hạn, một mục sư phải làm quen với lịch sử, khoa học và văn chương, vì nền tảng này sẽ làm cho người ấy ý thức nhiều hơn về thế giới mình đang phục vụ và nó sẽ thêm vào một chiều kích thực tế cho chức vụ của mình.
Với phí khoản đòi hỏi liên quan đến những tài liệu mà mục sư cần, thì có vẽ như không thực tiển để thảo luận về việc mua thêm những tài liệu khác. Trong khi bạn không thể mua nỗi những sách văn chương hiện hành hoặc cổ điển, thì bạn cũng có thể tìm những địa điểm khác như trường học, những nơi đọc sách công cộng và thư viện là nơi mà bạn có thể mượn những tài liệu ấy hay được quyền vào những tiện nghi này. Hiện nay, nhiều nơi cũng tổ chức thư viện lưu động có thể đến các miền quê. Ngay cả địa điểm có sẳn gần nhất là một thành phố lớn hay thị xã trong khu vực bạn, thì bạn cũng nên đến thăm những nơi đọc sách này cách định kỳ và để ra vài giờ hoặc cả ngày hoặc một hai ngày để làm tươi mới và thách thức tâm trí bạn. Chạm trán với những tác phẩm nổi tiếng trong quá khứù và hiện tại sẽ giúp giữ bạn nhanh nhẹn và nhạy bén. Đây là một phần của sự phát triển con người của bạn.
(8)Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Những tài liệu mà một mục sư có thể tham khảo trong việc đọc tổng quát gồm có.
a.Những bài bình luận tin tức hợp với quan điểm chính trị của ông ấy.
b.Nhật báo kể cả những bài phân tích tin tức và xã luận .
c.Tác phẩm văn chương cổ điển mà ông có thể mua vì những loại nầy rất có giá trị không thể mượn được.
d. Bất cứ loại sách phổ biến đương thời nào.
e. Những sách đương thời và cổ điển có giá trị để kích thích và làm phong phú tâm trí và kinh nghiệm của ông ấy.
Phải học hỏi
Thái độ thích học hỏi là nền tảng cho tất cả những gì chúng ta thảo luận ở đây. Sự khao khát tìm kiếm kiến thức cũng thế. Bạn có thể học hỏi từ nhiều nguồn. Một người hay nói đùa cũng đã nhận xét” bạn cũng có thể học từ một kẻ -ngốc nữa”. Mặc dù chúng tôi không giới thiệu kẻ ngốc làm điểm để bạn khởi đầu việc tìm kiếm của mình, nhưng bạn phải biết có rất nhiều điều bạn vần học hỏi ở thế giới chung quanh bạn, cũng như con người và thiên nhiên, cũng như vị vua già khôn ngoan trong Châm ngôn 30. Vậy hãy mở rộng tầm nhìn đến tất cả những nguồn kiến thức ở chung quanh bạn và chúng sẽ dạy bạn mỗi ngày.
THƯ VIỆN CỦA MỤC SƯ.
Mục tiêu 4: Nhận diện những loại sách cần thiết ở trong tủ sách ( thư viện) căn bản của mục sư
Nhiều mục sư, đặc biệt những vị mà lúc bắt đầu chức vụ chăn bầy có số tài chính rất hạn chế. Tại thời điểm này có nhiều điều đòi hỏi thì giờ và nguồn lực của mục sư trẻ, nên khi nói đến” thư viện cá nhân của mục sư” thì dường như đó là điều phi thực tế.Tầm quan trọng của thư viện của một mục sư có thể vừa mới được quá nhấn mạnh. Sách hầu như là công cụ quan trọng nhất của thiên chức mục sư. Vì thế, mục sư cần để ý đến việc xây dựng một thư viện thích nghi.
Sách hay có thể góp phần vào đời sống và chức vụ của mục sư trong nhiều phương diện. Chẳng hạn, sách tốt yểm trợ bạn với những minh hoạ cho bài giảng, những ý tưởng mới, và nhiều quan điểm khác nhau kích thích sự suy luận của bạn. Điều này có thể khích lệ bạn tiếp tục theo đuổi con đường nghiên cứu học hỏi xa hơn. Những sách hay còn cho phép bạn bội tăng chức vụ của mình. Những người lãnh đạo Hội thánh cũng như những thành viên trong Hội thánh thường cần tiếp xúc với loại văn phẩm ấy, và mục sư có thể cho phép họ mượn sách họ thích theo kế hoạch thỏa thuận cho mượn. Bằng cách này nhiều người hơn cũng hưởng được lợi ích của việc nghiên cứu những sách hay mà mục sư đã mua được.
(9) Liệt kê ba lý do tại sao sách là dụng cụ quan trọng đối với mục sư
Có lẽ bạn đang làm việc vất vả để cung cấp tài chánh cho gia đình bạn. Nếu thế, có lẽ bạn cảm thấy rằng mình cần tiền nhiều hơn để lo cho gia đình hơn là mua sách cho thư viện của mình. Hãy dừng lại một phút để suy nghĩ điều này: khi mục sư chú ý đến trách nhiệm hàng đầu của mình, chăn bầy cách trung tín, thì bầy chiên sẽ được tăng cường sức lực, lớn lên về mặt thuộc linh và số lượng. Hơn nưã Chúa sẽ chăm sóc nhu cầu tài chánhcủa mục sư khi ông đặt những ưu tiên của mình theo đúng thứ tự.
Bạn phải chú ý đến vấn đề cân đối khi bạn suy nghĩ việc sưu tập sách. Bạn không xây dựng thư viện của mình để người ta biết về số lượng sách bạn có. Nếu bạn dự kiến có được một chức vụ toàn vẹn, thì bạn cần bảo vệ an toàn những loại sách khác nhau và những tài liệu đọc bổ sung khác.
(10) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Trong việc phát triển một thư viện, mục sư phải
a. chờ đợi cho đến khi có đủ tiền để mua tất cả những sách mình cần.
b. chọn lựa những sách giúp mình phát triển một chức vụ toàn vẹn.
c. xem xét những nhu cầu thuộc linh của hội chúng.
d. chờ đợi cho đến khi Hội thánh có khả năng mua sách cho mình.
Những Sách Ưu Tiên và Thứ Yếu
Những Sách Ưu Tiên: Đây là những tài liệu căn bản dành cho chức vụ của bạn và đó là những sách bạn sẽ sử dụng liên tục. Mặc dù những mục sư có cái nhìn khác nhau về những gì có thể tạo thành sự sưu tập căn bản, nhưng bạn có thể thấy những điều gợi ý sau đây là những loại gói ghém những nhu cầu ưu tiên.
KINH THÁNH. Kinh Thánh là sách số 1 ở trong thư viện của bạn. Ngày nay có nhiều bản dịch và nhuận chánh khác nhau bạn khó có thể quyết định bản nào là tốt nhất. Để thuận lợi, bạn nên có vài bản dịch mới vốn trung thành với bản gốc (text) và kết hợp với những khám phá mới và uyên thâm. Những bản Kinh Thánh ấy sẽ giúp đỡ bạn trong công tác soạn bài giảng. Tôi cần nói thêm rằng quyển Kinh Thánh nghiên cứu của bạn không bắt buộc là quyển Kinh Thánh mà bạn có trong tay để giảng. Vì có nhiều bản nhuận chánh ngày nay, nên bạn cần hỏi” Bản nhuận chánh nào sử dụng tốt nhất ?”.
Ngày nay có nhiều học giả gợi ý rằng bản New International Version (NIV - Bản nhuận chánh quốc tế) cũng tốt như bất cứ bản dịch tiếng Anh có giá trị nào khác. Đó là một ủy ban dịch thuật gồm nhiều học giả nổi tiếng trong Giáo Hội Tin Lành truyền thống. The Good News Bible (Khi trước gọi là Today’s English Version - TEV, nhuận chánh theo tiếng Anh hiện hành) cũng rất tốt. New English Bilbe là một bản dịch từ Anh ngữ tuyệt hảo. Những bản dịch này tốt cho việc đọc đều đặn và nghiên cứu căn bản. Kèm theo một hay nhiều bản trên, bạn cũng cần sử dụng cuốn Revised Standard Version, là bản cập nhật mới nhất của cuốn Kinh James Version. Nếu bạn muốn thêm vào một bản dich thoát, bạn có thể dùng bản diễn ý theo Anh ngữ hiện hành, bản dịch của Philíp là một bản tốt.
TỪ ĐIỂN. Bạn cũng cần phải tra ý nghĩa và bối cảnh của từ ngữ cả nghĩa chung lẫn nghĩa của Kinh Thánh. Từ điển Kinh Thánh như The New Bible Dictionary (Inter - Varsity Press) hay Unger’s Bible Dictionary (Moody Press) là một sự chọn lựa thích hợp. Cuốn Webster’s New Collegiate - Dictionary, một ấn bản từ điển trung học, cũng là một đơn vị cần thiết. Một cuốn Bách khoa từ điển Kinh Thánh cũng rất hữu ích cho sự nghiên cứu mà bạn có thể sắm càng sớm càng tốt.
THÁNH KINH PHÙ DẪN.
Đa số Kinh Thánh tiếng Anh đều bao gồm phần tóm tắt của Thánh kinh phù dẫn.Tuy nhiên khi bạn theo đuổi một nghiên cứu có chiều sâu hơn về Kinh Thánh cho chức vụ bạn thì có lẽ bạn cảm thấy cần có 1 cuốn Thánh kinh phù dẫn đầy đủ hơn. Cuốn Strong’s Exhaustive Concordance of the Bilbe là một lựa chọn rất tốt của loại này.
NHỮNG SÁCH CHÚ GIẢI.
Đây là phần tuyển chọn và phí tổn có thể đưa ra nhiều hơn một nan đề vì một số lượng lớn tác phẩm tốt đều có giá trị. Mặc dù bạn có thể chọn ngay một cuốn sách giải nghĩa chung toàn bộ Kinh Thánh vì vấn đề giá cả, nhưng bạn sẽ thấy những lời chú giải thường rất ngắn. Mặt khác, đa số những bộ sách giải nghĩa nhiều tập thì rất thấu đáo tỉ mỉ, nhiều chi tiết, nhưng giá bán cũng quá đắt.
Một lời khuyên cho bạn như sau: mua từng cuốn sách giải nghĩa thay vì mua một quyển trọn bộ. Điểm lợi ấy là bạn có được chất lượng và điều bạn có thể thực hiện. Ngoài ra, bạn có thể chọn lựa tác giả giải Kinh bạn thích. Chẳng hạn, bạn có thể mua một cuốn sách giải nghĩa hay. Khải huyền do một tác giả độc lập với những tập khác trong một bộ. Một tác giả khác có thể chú giải hay hơn ở một sách khác. Một điểm lợi nữa là bạn không phải mua tất cả những sách giải nghĩa cùng một lượt, và bạn có thể thiết lập bộ sưu tập của bạn bằng những tác phẩm hay nhất của mỗi cuốn sách trong Kinh Thánh. Hơn nữa, bạn có thể mua từng cuốn khi có nhu cầu và khi bạn có đủ khả năng mua.
NHỮNG SÁCH THỨ YẾU.
Những lãnh vực đặc biệt. Sẽ rất tốt để bạn có thể lên kế hoạch đòi hỏi cho những công tác chính trong những vực đặc biệt sau đây:
Thần học: Có những tác phẩm cổ điển lẫn đương thời về Kinh Thánh và Hệ Thống Thần học, nhiều sách thật sự tuyệt hảo. Những tác phẩm ấy rất cần thiết cho công tác của bạn ở lãnh vực giáo lý.
Sách giới thiệu Kinh Thánh: Những sách này có ích trong lãnh vực phê bình về nguồn gốc tác giả của sách, niên đại học, sự cảm thúc và những điều tương tự như vậy.
Lịch sử Hội thánh: Loại này phải bao gồm cả lịch sử Hội thánh ban đầu cho đến hiện tại. Bạn cũng phải bao gồm cả sách lịch sử của Hội thánh quốc gia bạn.
Nghiên cứu Từ ngữ: Dù bạn thành thạo ngôn ngữ gốc của Kinh Thánh hay không, thì những sách này cũng giúp bạn trong việc giảng và dạy.
Bạn cũng nên có những sách về chuyên môn của công tác mục sư như giảng, dạy, khuyên bảo, thăm viếng, điều hành Hội thánh, truyền giảng, truyền giáo, và nếu được, phải có cuốn Kim Chỉ Nam của Mục sư dành cho những lễ nghi đặc biệt. Ngoài ra, còn có những sách về các chủ đề như khoa học, tiểu sử, lịch sử đại cương và những chủ đề khác tùy theo sở thích của bạn.
Bộ sưu tập này sẽ vô dụng nếu tất cả chỉ để đóng bụi. Sách phải được sử dụng. Phần sau của loạt bài này, chúng ta sẽ có một bài học nói về việc sử dụng thì giờ và thời khóa biểu những hoạt động của mục sư. Chúng ta sẽ được khảo cứu những lãnh vực này để thấy cách nào mục sư có thể hoàn thành công tác của mình và tránh việc bỏ rơi những lãnh vực cần thiết. Một trong những lãnh vực thiết yếu này gồm có đọc và nghiên cứu. Những ưu tiên của bạn sẽ quyết định số lượng và phẩm chất của thì giờ bạn đầu tư để sử dụng những công cụ này cho sự chuẩn bị và phát triển cá nhân của chính bạn trong chức vụ giảng, dạy và những công tác khác của mục sư.
(11) Hãy đọc tựa đề của bản liệt kê các sách sau đây. Viết số 1 vào khoảng trống nếu đó là sách ở phần ưu tiên dành cho thư viện của mục sư; viết số 2, nếu đó thuộc loại thứ yếu.
....a. The Good News Bible (Kinh Thánh Phúc Âm)
....b. Cruden’s Bible Concordance (Thánh Kinh Phù Dẫn của Cruden)
....c. The Minister as a shepherd (Mục sư là một người chăn bầy)
....d. The Pulpit Commentary (Bình luận vềø Tòa giảng)
....e. The Pilgrim’s Progress (Thiên lộ lịch trình)
....f. Lectures in Systemmatic Theology (Những bài thuyết trình về Hệ thống Thần Học)
(12) Sau một quyển Kinh Thánh, giả định một mục sư trẻ có tiền chỉ đủ mua một cuốn sách. Sách tốt nhất người ấy có thể chọn là:
a) Cuộc đời của Thánh Augustine.
b) Lịch sử Hội thánh Cơ đốc.
c) Nhân chủng học văn hóa.
d) Chú giải Kinh Thánh của Wycliffe.
GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH
Mục tiêu5: Nhận ra những nét khác biệt của các chương trình giáo dục mục vụ khác nhau.
Ở đầu bài học này, chúng đề cập đến việc bùng nổ tin tức. Với số lượng thông tin càng ngày càng gia tăng trong thế giới của chúng ta hôm nay, chuyên ngành trở thành một phần quan trọng của nền giáo dục. Cách đây vài năm, những khóa học bình thường dành cho mục sư tập trung vào Kinh Thánh và Thần học. Bây giờ thêm vào đó còn có những khóa học chuyên ngành dành cho những mục sư phụ trách thanh niên, âm nhạc, những người có chức vụ khuyên bảo, hay lo về hành chánh quản trị của Hội thánh và có thể còn các phần vụ khác.
Nhu cầu giáo dục về mục vụ được nhấn mạnh trong Êphêsô, tại nơi sứ đồ Phaolô khẳng định rằng mục sư và giáo sư phải” trang bị cho dân sự Đức Chúa Trời trong công tác phục vụ để thân thể của Đấng Christ được gây dựng” (Eph Ep 4:12). Vì mục tiêu tối hậu của mục sư là gây dựng thân thể địa phương mà Đấng Christ đã ủy thác cho người ấy chăm sóc, nên người ấy phải chuẩn bị chính mình cho công tác quan trọng này. Đây là chỗ dành cho ngành giáo dục bước vào.
Nền giáo dục ngày nay được đánh dấu bằng nhiều sự canh tân cải tiến, ảnh hưởng bởi nhiều thay đổi trong xã hội. Trong khi nền giáo dục theo truyền thống mở ra trong một phòng nhỏ hay với một thầy một trò, nhưng bây giờ nó đã phát triển thành một cơ chế tinh vi, đôi khi phức tạp nữa. Những cải tiến trong ngành giáo dục không những nhắm vào sự cải tiến về chất lượng nhưng cũng đem lại lợi ích cho nhiều người nữa. Tự nhiên, giáo dục mục vụ cũng đã ảnh hưởng do nhiều thay đổi xảy ra trong nền giáo dục nói chung.
Kèm theo với những thay đổi trong phương cách và nội dung của sự giảng dạy, thì cũng có những thay đổi trong sự sắp xếp về hình thức truyền thống nữa. Ví dụ, ngoài chương trình học nội trú thường lệ ở những học xá cao đẳng, thì bây giờ chương trình được mở rộng ở nhiều loại (đôi khi gọïi là” những trường học không có vách tường”) những lớp Đại học trên truyền hình, hàm thụ và nhiều cách khác. Như vậy, bây giờ không còn là điều mới lạ khi nghe người nào đó nói rằng họ đã hoàn tất một học vị mà không đi đến một học viện hữu thể nào.
Loạt bài ICI bạn đang nghiên cứu bây giờ cũng là một bằng cớ của sự kiện ấy. Loạt bài này và những loại khác tương tự như thế, chứng tỏ phẩm chất của chương trình học được đánh giá cao, được kết hợp để đáp ứng những nhu cầu thực tiễn của con người trên bình diện trao đổi văn hóa. Hơn nữa, tất cả những sự tiếp xúc này được tái nhấn mạnh bởi những cung ứng rộng rãi hơn về tài liệu như những thiết bị nhìn hay thiết bị hiện hình, băng từ và những băng thư khác. Những dĩa thu vẫn còn giá trị ngày nay mà bạn sử dụng bằng ngón tay ấn trên nhạc cụ cát tông xếp lại. Những ví dụ sắp tới về sự cải tiến trong những chương trình giáo dục và những tài liệu phổ biến chứng tỏ cán cân thay đổi đang xảy ra.
Trong chương sau chúng ta sẽ xem xét một số chương trình chính thức cho ngành giáo dục mục vụ. Chúng ta sẽ chia thành những học viện hay những chương trình học nội trú và ngoại trú và khảo sát chi tiết từng phần.
(13) Ngày nay nền giáo dục được đánh dấu bằng sự canh tân bởi vì:
a. Những hệ thống của quá khứ đã lỗi thời.
b. Những thay đổi lớn đang xảy ra trong xã hội.
c. Những dụng cụ thính thị và hiện hình hiện nay rất tiện dụng.
d. Xã hội càng trở nên giống nhau.
NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH CHÍNH THỨC.
Những chương trình học nội trú.
Nhiều loại chương trình nội trú khác nhau có thể sắp xếp để huấn luyện từ một số tuần lễ cho đến vài năm. Mỗi chương trình đều cố gắng đáp ứng một số nhu cầu để công bố thời gian học và nội dung của chương trình huấn luyện.
Những Trường Đoản Kỳ (Short-term school). Những chương trình tại lớp học chính qui này có thể kéo dài từ vài tuần lễ đến sáu tháng. Đôi khi, những trường học đoản kỳ này được coi là những chương trình” tăng cường” (crash) vì nó tương tự như các chương trình huấn luyện thời chiến. Cái gọi là” chương trình tăng cường” này được tổ chức để đáp ứng nhu cầu quan trọng trong thời gian ngắn nhất nếu được. Như vậy. mục tiêu của những lớp học đoản kỳ này là dạy cho nhanh chóng cho mỗi người những điều cần thiết và gởi người ấy đi ra làm công việc. Vì những chương trình này thực hiện cách khẩn cấp, nên những lớp học có khuynh hướng căng thẳng, vì vậy học viên phải tiếp thu tài liệu nhiều trong một thời gian rất ngắn. Dĩ nhiên, những chương trình học loại này đòi hỏi kỷ luật bản thân cao.
Thần Học Viện (Bilbe Institutes). Nói chung Thần học viện có những chương trình kéo dài từ một năm đến ba năm. Khi hoàn tất chương trình qui định, Thần học viện sẽ cấp một chứng chỉ hay một văn bằng. Mặc dù điều kiện thu nhận học viên có khác nhau, nhưng sự nhấn mạnh cơ bản vẫn đặt trên kinh nghiệm cá nhân với Đức Chúa Trời và một sự kêu gọi rõ ràng vào chức vụ. Tùy thuộc vào tiện nghi ăn ở và nhân viên, những Thần học viện này có thể là trường nội trú, trường buổi tối hay ban ngày, hoặc kết hợp cả ba. Các môn học cung ứng bao gồm những lãnh vực trong Kinh Thánh, thần học, giáo dục phổ thông và những chức vụ trong Hội thánh và môn thực tập. Điều nhấn mạnh là nội dung Kinh Thánh và mục vụ. Thường thường những trường hợp cung cấp những cơ hội quá đủ cho công tác phục vụ thực tế Cơ Đốc. Trong vài trường hợp, những kỹ xảo nghề nghiệp cũng được dạy dỗ. Những trường học loại này làm nổi bật những chương trình được kết thúc cách tự nhiên.
Những Trường Cao Đẳng Thần Học và Đại Chủng Viện. (Bible Colleges and Seminaries). Những cơ chế này cung cấp những chương trình hoàn chỉnh và dự bị. Văn bằng tú tài và học vị cao hơn được cấp cho những lãnhvực chính yếu trong sự nghiên cứu Kinh Thánh, những lãnh vực khác nhau về thần học, chức vụ trong Hội thánh và âm nhạc của Hội thánh. Vài chương trình cũng dẫn đến những lãnh vực chuyên ngành cao hơn. Sự phát triển về mặt số lượng của những học viện này cung cấp chương trình mở rộng và đa dạng để cung ứng nhu cầu của những sinh viên học bán thời gian và đặc biệt.
Những chương trình nói trên có thể được một giáo phái bảo trợ hay có thể do một liên hiệp nổ lực bảo trợ của một số tổ chức. Một trường cũng có thể được xây dựng trên nền tảng phi giáo phái.
Những Chương Trình Học Ngoại Trú.
Những Chương Trình Hàm Thụ. Những chương trình này sử dụng việc tự nghiên cứu qua đường bưu điện. Nó giúp cho học viên theo học các môn và hoàn tất chương trình mà khỏi phải rời nhà mình. Những tài liệu phục vụ vừa là giáo viên hướng dẫn vừa thuận tiện cho việc học hỏi. Mặc dù trên cơ bản chương trình ICI là chương trình hàm thụ, nhưng chương trình học vẫn có thể sử dụng cho những chương trình nội trú. Những quốc gia có vùng quê rộng lớn như Xăngđinavi (tức là Đan mạch, Nauy, Thụy điển, Aixơlen), Uùc, Gianãđại v.v... đều sử dụng các khóa học hàm thụ dành cho hầu hết tất cả các thể loại giáo dục. Càng ngày càng có những cơ hội như vậy mở ra để cung ứng chất lượng giáo dục cho những ai không thể có điều kiện dự học theo truyền thống trước đây.
Những Lớp Học Mở Rộng. ( Extension studies).
Chương trình này có thể được mô tả là một chương trình” lai, ghép” giữa chương trình nội trú và chương trình ngoại trú. Nói chung các học viên sử dụng tài liệu theo giáo trình. Ngoài ra, những trung tâm học tập được đặt ở những vị trí chiến lược dể phục vụ như thư viện, những nhu cầu về diễn đàn và giải trí cho học viên. Giống như chương trình hàm thụ, chương trình học cá nhân cao cấp này phục vụ cho những người không thể đến các trường nội trú vì những trách nhiệm gia đình và việc làm. Vài chương trình mở rộng chỉ đơn giản là những lớp học bên ngoài khu đại học, tại đấy giáo sư vẫn hướng dẫn như những lớp học chính thức. Một số trường cũng có những chương trình mở rộng ra hải ngoại tại đấy họ gởi những nhân viên thuộc đại học hay sử dụng những người đủ tư cách hướng dẫn những lớp học hợp thức. Trong vài trường hợp, ngay cả thời gian biểu cũng được điều chỉnh để thích nghi với những khóa học cấp tốc.
Rõ ràng, sự giáo dục đào tạo chính qui có giá trị cho nhiều người ngày nay hơn bao giờ hết qua những chương trình mà chúng tôi mô tả ở trên. Gần như, mỗi vùng xa xôi hẽo lánh trên quả địa cầu cũng có thể tiếp xúc với một hoặc sự kết hợp của những chương trình này. Ngay cả hàng rào ngôn ngữ cũng được vượt qua bằng việc sử dụng các thông dịch viên và bản dịch của những tài liệu.
(14) Xếp đặt cho phù hợp loại chương trình giáo dục với sự mô tả hay cách sử dụng.
1) Trường đoản kỳ.
2) Thần học viện.
3) Cao đẳng Thánh Kinh
4) Trường hàm thụ
5) Lớp học mở rộng.
...a. Chương trình này cung cấp văn bằng Tú tài và học vị cao hơn, có thể hoặc nội trú hoặc ngoại trú.
...b. Cách này cung ứng cho sự học tập từ một đến ba năm và thường nhấn mạnh về nội dung Kinh Thánh.
...c. Chương trình này có ích cho sáu tuần học tập căng thẳng.
...d. Chương trình này có thể được sử dụng để nhận một học vị trong trường hợp một mục sư ở một vùng rất xa.
...e. Chương trình cá nhân hoá này được dạy tại một trung tâm xa cách đại học đỡ đầu.
...f. Trong chương trình này tài liệu môn học phục vụ như là giáo viên và thuận tiện cho việc học hỏi.
GIÁO DỤC TỰ CHỈ ĐẠO (Seft-directed Education).
[gr9 Mục tiêu 6: Liệt kê ba phương cách mà một người có thể đạt được một nền giáo dục không chính qui.
Hãy hình dung trong trí bạn một người có những bổn phận phải lo cho gia đình và cũng chẳng có được sự giáo dục chính qui hoặc không mục vụ gì cả. Giả sử người ấy phải chăm lo cho gia đình. Người ấy đáp ứng theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời vào chức vụ mục sư và phải đảm nhận chăm sóc một hội chúng địa phương - mặc dù phải tiếp tục tự cấp dưỡng. Người ấy có thể làm gì để được huấn luyện về mục vụ ?
Rõ ràng người ấy cũng không thể từ bỏ những trách nhiệm đối với gia đình mình để đến trường hoặc bỏ mặc bầy chiên mà Đức Chúa Trời tin cậy giao phó. Dù tại điểm này, những lựa chọn có thể như bị hạn chế, nhưng vẫn còn có những điều khác để người ấy có thể nhận được sự huấn luyện về mục vụ. Một sự lựa chọn là đăng ký học một chương trình hàm thụ. Tuy nhiên, chúng ta có thể giả định rằng người ấy không biết tiếng Anh, và những tài liệu có sẳn cũng chưa được dịch ra ngôn ngữ của người ấy. Người ấy có thể làm gì ?
Một người ở hoàn cảnh này phải lệ thuộc vào sự giáo dục tự chỉ đạo. Người ấy phải lập ra chương trình tự học cho mình và điều này sẽ đòi hỏi một kỹ luật nghiêm khắc. Một chương trình như vậy sẽ không chính qui theo ý nghĩa là chẳng có công nhận chính thức nào (hoặc chứng chỉ, hoặc văn bằng). Vì đây chỉ là cách duy nhất để người ấy tự cải tiến bản thân, nên cần theo những điều sau đây:
1. Liên hệ với một mục sư đã thành công trong chức vụ qua một thời gian.
2. Sắp xếp để sử dụng một số sách hay tạp chí của ông ấy, hoặc mua những tài liệu này từ các nguồn cung ứng khác nếu có bán.
3. Tự học bằng những tài liệu tự chỉ đạo có thể có sẳn bằng ngôn ngữ của người ấy.
4. Thiết lập mối quan hệ tốt với một mục sư trưởng thành để ông sẽ có những lời khuyên hữu ích.
Mặc dù những điều này không phải là cách sắp xếp lý tưởng nhất, nhưng bất cứ người nào muốn nghiêm túc áp dụng loại học tập tự chỉ đạo không chính qui này sẽ tìm được những cơ hội để trưởng thành. Những hoạt động này, mà chúng ta sẽ thảo luận kỹ hơn ở phần kế tiếp sẽ tiêu biểu cho một sự đầu phục của cuộc đời mình vào sự cải tiến bản thân.
(15) Nếu bạn cần phải tự giáo dục mình cho công tác mục sư, thì có ba bước nào bạn cảm thấy cần thiết để làm một chức vụ cho chu đáo.
TIẾP TỤC CON ĐƯỜNG HỌC VẤN
Mục tiêu 7: Trình bày bản chất và mục đích của việc tiếp tục học vấn.
Mặc dù sứ đồ Phaolô nhìn nhận rằng sự chết sắp xảy đến cho ông, nhưng ông vẫn dặn Timôthê mang sách của ông đến cho ông ở trong tù (IITi 2Tm 4:13). Như vậy ông cứ giữ cho tâm trí sinh động bằng việc nghiên cứu cho đến cuối cùng. Sự huấn luyện mục vụ chẳng bao giờ được coi là một chương trình học trong quá khứ hoặc chỉ đơn giản là một việc sửa soạn cho chức vụ. Dù ít xảy ra, nhưng khi một sinh viên tốt nghiệp trường Thần học, dường như người ấy cảm thấy rằng mình đã đạt đến đỉnh cuối của cuộc đời học vấn của mình. Vì vậy người ấy gánh trách nhiệm chăm sóc một hội chúng, chính mình bị tràn ngập bởi quá nhiều công việc không bao lâu cảm thấy mình chẳng còn thì giờ nào để tiếp tục chương trình học. Nhưng sự cần thiết để sự lớn lên và phát triển trong công tác phục vụ đòi hỏi người ấy phải tiếp tục học.
Một cách lý tưởng, mục sư trẻ cần phải tiếp tục thêm vào chương trình cơ bản mình đã hoàn tất ở nhà trường bằng vài loại chương trình trong chức vụ (in-service). Những bác sĩ và luật sư nhìn nhận tầm quan trọng của sự theo kịp những phát sinh mới. Thật ra, nhiều nghề nghiệp đòi hỏi những thành viên của ngành phải cập nhật những kỷ xảo và kiến thức thì mới duy trì được giấy chứng nhận của họ. Tại sao mục sư lại không ? Một số trường học và giáo phái để có chương trình chính thức và qui định tiếp tục học vấn để đáp ứng những nhu cầu này. Điều quan trọng là phải nhanh nhẹn bắt lấy mọi cơ hội để dự những buổi hội thảo chuyên đề và những chương trình tiếp tục học vấn vì chúng cung cấp một phương tiện khác cho sự tăng trưởng và phát huy trong lãnh vực của một người.
Bản Chất Của Việc Tiếp Tục Học.
Theo như cái tên bài gợi ý, bản chất của việc tiếp tục học là một chương trình giáo dục dành cho người đã đang phục vụ hoặc đang chăn bầy để người ấy có thể theo đuổi suốt cuộc đời mình. Bình thường, việc tiếp tục học ám chỉ về một chương trình học mà mục sư theo đuổi sau khi người ấy đã hoàn tất chương trình chính qui trước đó.
Chương trình tiếp tục học vấn có thể là chính qui hoặc không chính qui, nội trú hay ngoại trú, có học vị hay không có học vị, và một người có thể hưởng lợi ích từ đó bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn, một thanh niên mới đầu học xong một chương trình hoàn chỉnh ba năm được mời làm phụ tá cho một mục sư . Sau một thời gian, chàng cảm thấy nhu cầu phải được huấn luyện chính thức thêm, vì vậy chàng bắt đầu ghi danh học trong khi vẫn phục vụ Hội thánh cho đến khi học xong chương trình hoàn chỉnh khác. Sau đó chàng lại học tiếp một chương trình khác. Qua việc học những loạt bài mới đó, công tác phục vụ của chàng có gia tăng hiệu quả ở nhiều lãnh vực. Tiếp tục học vấn thường là một chương trình sau khi tốt nghiệp chương trình trong chức vụ mà có thể thực hiện bằng một số phương cách khác nhau. Trong phần trước chúng ta đề cập đến nhiều lối canh tân đã xảy ra trong lãnh vực giáo dục mà một người có thể theo đuổi học bằng hàm thụ hay qua những khoá chuyên đề và hội thảo. Vì sự tiếp tục học tập là sự phát huy định hướng, nên một người phải theo đuổi suốt đời.
Mục Đích Của Việc Tiếp Tục Học.
Mục đích của một chương trình tiếp tục học là giúp đỡ mục sư trong chức vụ tiếp tục phát huy chính mình để có hiệu quả cao hơn. Những ai tham gia sinh hoạt này đều nhìn nhận rằng họ không thể học mọi thứ họ cần trong một thời gian. Họ cũng ý thức được rằng một người không thể để tâm trí mình trì trệ. Các chương trình tiếp tục học có giá trị trong việc cung cấp cho mục sư những cơ hội gần gủi với các mục sư khác và thảo luận những nan đề và nhu cầu chung. Đây là điều mục sư phải cần vui thích mong đợi vì ông cần sự thông công và sự thách thức để lớn lên và phát triển.
Khi những chương trình chính qui không có sẳn cho mục sư, thì ông không nên bỏ cuộc và nói rằng việc tiếp tục học không có giá trị đối với mình. Trong hoàn cảnh ấy ông phải càng đặt nặng kế hoạch học tập tự chỉ đạo; tuy vậy, ông vẫn tìm thấy rằng những sách, thư viện, tạp chí, và những khóa học hàm thụ, sẽ cung cấp hầu hết những nguồn tài nguyên không hạn chế cho việc học hỏi chừng nào ông ấy còn sống trên trần gian này. Hễ nơi đâu bất kỳ mục sư nào thấy rằng việc học tự chỉ đạo là sự lựa chọn duy nhất của mình, thì người ấy nên phối hợp với một mục sư khác xếp đặt thì giờ để chia sẻ, thảo luận và trao đổi sách hoặc những tài liệu khác với nhau.
(16) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG liên quan đến bản chất và mục đích của việc tiếp tục học hỏi.
a. Sự khởi đầu cá nhân và sự cải tiến là những thành tố cần thiết trong việc tiếp tục học.
b. Chương trình tiếp tục học dự kiến để đáp ứng cho học viên hơn là chuẩn bị học viên đáp ứng với một chương trình.
c. Đa số những chương trình tiếp tục học là những chương trình chính qui hoàn chỉnh.
d. Nắm vững tin tức là một mục tiêu thấp trong sự tiếp tục học vấn hơn là sự đạt hiệu quả cao trong chức vụ .
e. Mặc dù việc tiếp tục học vấn là đáng khao khát, nhưng nó được giới hạn cho những người đã có một nền tảng huấn luyện chính qui trước kia.
Khi bạn học xong bài này, nguyện điều này trở thành bước khởi đầu cho sự theo đuổi vô tận để có sự tuyệt hảo khi bạn tìm cách phát triển đến mức đầy trọn nhất những khả năng thuộc linh và trí tuệ mà Đức Chúa Trời ban cho bạn.
YYYY
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
CÂU HỎI LỰA CHỌN
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Biết được những vấn đề thuộc thế giới xung quanh mình giúp cho mục sư:
a) Giảng với sự xức dầu thuộc linh hơn.
b) Phục vụ hiệu quả hơn cho dân sự của mình.
c) Thách thức những người có thể bất đồng ý kiến với mình.
d) Nói ra với uy quyền.
2. Theo sách Tự Học của bạn, sự bùng nổ tin tức gây ra bởi
a) Những phương tiện truyền thông hiện tại.
b) Những trường học tăng thêm.
c) Sự thông minh tăng thêm.
d) Thiếu về thuộc linh.
3. Nói với những mục sư trẻ, John Wesley bảo:
a)” Trí tuệ và linh là hai phần đối lập nhau”.
b)” Bạn là người giống như những điều mình đọc”.
c)” Hoặc đọc sách hoặc rời khỏi chức vụ”
d)” Đọc nhiều quá sẽ làm yếu tâm trí đi”
4. Mục sư hưởng được nhiều lợi ích từ việc đọc vì điều đó giúp ông:
a) Thu đạt tin tức và luyện tập trí tuệ.
b) Được tôn trọng trong cộng đồng.
c) Quên đi những nan đề nghề nghiệp của mình.
d) Được chuẩn bị để tranh luận những vấn đề của thế giới.
5. Với sự bùng nổ về tin tức ngày nay, một mục sư được nhắc nhở nên:
a) Tránh sự xáo trộn tâm trí do việc đọc quá nhiều.
b) Hạn chế việc đọc của mình vào những gì đòi hỏi cho việc soạn bài giảng.
c) Tập trung vào những tạp chí uyên bác.
d) Đọc cách hệ thống và có chọn lọc.
6. Trong vấn đề đọc nói chung để biết tin tức, một mục sư phải đọc:
a) Những bài phân tích tin tức trên tạp chí của giáo phái mình.
b) Một tờ báo hằng ngày, một tạp chí tin tức và phân tích tin tức .
c) Một tuần báo tóm tắt tin tức và sách bình luận hiện hành.
d) Sách nói về tiên tri của thời kỳ cuối cùng và nhật báo địa phương.
7. Trong kế hoạch lập một thư viện, một sự cân nhắc căn bản là:
a) Số lượng hay kích thước.
b) Uy tín.
c) Cân đối.
d) Tiết kiệm.
8. Những sách ưu tiên mà tài liệu Tự Học này giới thiệu cho thư viện của mục sư là:
a) Kinh Thánh và những sách hỗ trợ Kinh Thánh.
b) Văn chương cổ điển.
c) Những sách hiện hành.
d) Tiểu sử Cơ Đốc.
9. Trong những sách sau đây, sách nào được tài liệu Tự Học này xếp vào loại thứ yếu cho thư viện của mục sư:
a) Từ điển Kinh Thánh của Unger (Unger’s Bible Dictionary)
b) Tân ước Philips (The Philips New Testament)
c) Lịch sử của Hội thánh Cơ Đốc (A History of The Christian Church)
d) Chiến tranh Yom Kippur (The Yom Kippur War).
10. Những cải tiến trong ngành giáo dục trong những thập niên gần đây đã:
a) Hạ thấp giá trị của giáo dục.
b) Giảm chất lượng của những bản tin hưũ ích cho dân chúng.
c) Giảm bớt thực chất của giáo dục.
d) Làm cho nền giáo dục có giá trị rộng rãi hơn.
11. Đối với mục sư có lương tâm thì sự giáo dục:
a) Chỉ đạt được tại một trường Cao Đẳng Thần học chính qui.
b) Là một tiến trình suốt cả đời sống.
c) Phải đạt được tại một Thần học viện.
d) Phải được coi như không thể thay thế cho sự nhiệt tình.
12. Những tài liệu học tập vừa bổ ích cho kiến thức và vừa thuận tiện là đặc trưng của:
a) Những chương trình của Thần Học Viện.
b) Những chương trình của Cao đẳng Thần Học.
c) Những Trường học đoản kỳ.
d) Những Trường hàm thụ.
Ì

ĐÁNH GIÁ TIẾN TRÌNH HỌC TẬP ĐƠN VỊ I.
Bây giờ bạn đã học xong Bài 1 đến 4, hãy ôn lại để chuẩn bị cho Bản Đánh Giá Tiến Trình Học Tập Đơn Vị 1. Bạn sẽ tìm thấy bản đánh giá này trong Túi dành cho học viên. Hãy trả lời tất cả những câu hỏi trong đó mà không tham khảo trong sách Tự học của bạn. Gởi phiếu trả lời cho giáo viên chỉ đạo ICI của bạn, kèm với những tài liệu khác nêu ra ở ngoài bì túi dành cho học viên. Sau đó bạn có thể tiếp tục học bài 5.
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Họ có một sự sợ hãi vô căn cứ rằng khi khả năng trí tuệ gia tăng thì sẽ làm cho đời sống thuộc linh yếu đi.
(2) Câu trả lời của bạn. Có lẽ bạn có nhiều tin tức phát thanh và truyền hình và nhiều tạp chí và những sách có giá trị hơn một số năm trước đây. Chắc chắn điều này ảnh hưởng đến chức vụ của bạn vì người ta quan tâm đến những biến cố của thế giới ảnh hưởng trên đời sống Cơ Đốc của họ như thế nào.
(3) c) và d) là những câu đúng.
(4) c)” trống rỗng” về mặt thuộc linh, sự cung cấp năng lực thuộc linh của người ấy đã cạn hết.
(5) Đọc và nghiên cứu luyện tập tâm trí. Những điều đó cũng làm phong phú đời sống của một người và thách thức người ấy cố gắng tối đa trong công việc Chúa.
(6) b) và c) là những lời diễn đạt đúng.
(7) d) Điều đó có mang lại lợi ích thiết thực cho tôi không ?
(8) b) và e) là những lời diễn đạt đúng.
(9) Sách vở làm phong phú chức vụ của một nguời bằng sự nảy sinh những ý tưởng mới và cung cấp những quan điểm khác nhau. Sách thúc đẩy cho việc học thêm nữa và có thể nhân lên chức vụ của mục sư do việc tiếp xúc với những người khác.
(10) b), và c) là những câu hoàn chỉnh đúng.
(11) a) 1...
b) 1...
c) 2...
d) 1...
e) 2...
f) 2...

(12) d) Chú giải Kinh Thánh của Wycliffe.

(13) b) Những thay đổi lớn đang xảy ra trong xã hội.

(14) a) 3) Cao Đẳng Thần học.
b) 2) Thần học viện.
c) 1) Trường đoản kỳ.
d) 4) Trường hàm thụ.
e) 5) Lớp học mở rộng.
f) 4) Trường hàm thụ.

(15) Câu trả lời của bạn. Có lẽ bạn nên theo sự gợi ý của sách Tự học của bạn để cộng tác với một người khác là người có những tài liệu mà bạn có thể sử dụng và có ý muốn giúp đỡ bạn. Sự chủ động của bạn là nguồn năng lực tốt nhất.

(16) a), b) và d) là những lời diễn đạt đúng.
¯¯¯
NHỮNG MỐI QUAN HỆ GIA ĐÌNH.
Trong đơn vị này chúng ta sẽ thảo luận những mối quan hệ của mục sư, khởi đầu là một bài học về gia đình. Khi nghiên cứu về những mối quan hệ gia đình của mục sư, chúng ta sẽ thấy rằng về mặt lịch sử gia đình là nhóm xã hội đầu tiên xuất hiện giữa loài người. Trong hình thức sơ khai gia đình chứa đựng nền tảng của Hội thánh và quốc gia. Vì Đức Chúa Trời đã chỉ định gia đình là cấu trúc căn bản của xã hội, nên gia đình đóng một vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống của mục sư. Do đó, trong những thư tín Giám mục, sứ đồ Phaolô vạch ra cho Timôthê thấy những phẩm chất quan trọng liên hệ đến gia đình mục sư. Mặc dù người ta có thể rất chú tâm để tìm ra những phẩm chất về giáo dục và thuộc linh của mục sư, nhưng điều cũng rất quan trọng là người ta nhìn thấy tầm quan trọng của những mối liên hệ gia đình tốt. Điều có ý nghĩa ấy là Kinh Thánh cho chúng ta biết sự hệ trọng của hôn nhân và gia đình, và cũng dạy cho chúng ta về những vai trò và trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình mục sư.
Tự nhiên chúng ta đều biết rằng khi một người trở thành một mục sư, người ấy không chấm dứt vai trò làm chồng và làm cha. Ngay cả không dễ gì luôn luôn giữ những vai trò làm chồng và làm cha trong đầu óc khi một người cố hoàn tất những trách nhiệm chăn bầy muôn mặt của mình. Hãy nhớ điều đó, bây giờ chúng ta sẽ thảo luận những vai trò trong gia đình của mục sư và nhấn mạnh đến nhu cầu để người ấy thực hiện những vai trò đó trên một nền tảng hàng ngày. Theo cách này mỗi chúng ta có thể tìm sự hướng dẫn của Kinh Thánh cho những vai trò khác nhau mà chúng ta được kêu gọi để thực hiện. Chúng ta cũng sẽ thấy rằng khi chúng ta trung tín hoàn tất những vai trò này thì chúng ta sẽ, trong một ý nghĩa hạn chế, bày tỏ bản chất của Cha Thiên Thượng của chúng ta.
DÀN Ý BÀI HỌC
* Tầm Quan Trọng Của Hôn Nhân.
* Những Vai trò trong Hôn nhân.
* Vai trò của người vợ của mục sư .
* Vai trò của mục sư.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Giải thích tầm quan trọng của sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong đời sống hôn nhân của mục sư.
* Mô tả những vai trò thuộc linh khác nhau của mục sư trong những mối quan hệ gia đình.
* Nhận diện những lợi ích thiết thực khi mục sư trung tín hoàn tất mỗi vai trò của gia đình và chức vụ mình.
* Đánh giá tầm quan trọng của việc đặt mỗi một vai trò Đức Chúa Trời ban cho bạn trong phối cảnh đúng đắn của nó.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1. Nghiên cứu bài dựa theo những lời chỉ dẫn trong bài 1.
2. Khi học phần triển khai bài học, nhớ viết câu trả lời của chính bạn cho mỗi câu hỏi nghiên cứu trước khi xem câu giải đáp mà chúng tôi cho. Điều đó sẽ giúp bạn nhớ những gì mình học dễ dàng hơn và hiểu được hầu hết loạt bài học.
3. Làm bài trắc nghiệm cá nhân và kiểm tra những câu trả lời của bạn so với đáp án trong túi dành cho học viên.
NHỮNG CHỮ CĂN BẢN
Cấp tiến
Chọc tức
Quản lý
Giai cấp
TRIỂN KHAI BÀI HỌC
TẦM QUAN TRỌNG CỦA HÔN NHÂN.
Mục tiêu 1: Nhận diện những lý do tại sao hôn nhân rất quan trọng theo quan điểm của Kinh Thánh và đặc biệt quan trọng đối với mục sư.
Có thể nói truy nguyên khởi đầu mối quan hệ của chồng với vợ mình là ngay từ khi chàng trai trẻ bắt đầu cảm thấy tình cảm đặc biệt đối với người khác phái. Trong sự lựa chọn người bạn đời của mình, chàng trai mơ mộng điều lý tưởng là việc rất tự nhiên. Đối với thanh niên Cơ Đốc, đặc biệt đối với một mục sư, việc chọn lựa người bạn đời là việc rất hệ trọng đòi hỏi sự hướng dẫn của Chúa. Điều này đúng vì” Người vợ khôn ngoan do nơi Đức Giêhôva mà đến” (ChCn 19:14). Vị vua khôn ngoan làm sáng tỏ điều này:
“Người nữ tài đức ai sẽ tìm được ? Giá trị nàng trỗi hơn châu ngọc. Lòng người chồng tin cậy nơi nàng, người sẽ chẳng thiếu huê lợi. Trọn đời nàng làm cho chồng được ích lợi, chớ chẳng hề sự tổn hại” (31:10-12).
Vì có nhiều yếu tố mà một người có thể khảo sát về hôn nhân, nên chúng ta không mong gì thảo luận tất cả trong bài học này. Cũng vậy, phong tục tập quán khác nhau rất nhiều giữa nền văn hóa này với nền văn hóa khác, nên khó phổ biến đến mức độ lớn lao nào của đề tài. Tuy nhiên vẫn có thể trình bày vài nguyên tắc chung để giúp ích cho ai đang tìm kiếm một người bạn đời hoặc cho những ai đang trong tiến trình làm công tác giúp đỡ một cuộc hôn nhân.
Trong một số nền văn hóa, ảnh hưởng của cha mẹ và bạn bè có thể trở thành sự cân nhắc chính trong việc lựa chọn người bạn đời của một chàng trai. Ở những nền văn hoá khác, những người ngoại cuộc lại quyết định cho đôi nam nữ kết hôn. Dù tiến trình chọn lựa như thế nào, ít khi một người có tất cả những phẩm chất tạo nên một người bạn đời tốt. Đó là một lý do tại sao việc chọn lựa không dễ dàng dù người chọn đó là ai. Sự chọn lựa người bạn đời phải được quyết định bằng sự kêu gọi và những mục tiêu tối hậu của đời sống của một người. Điều này đòi hỏi thì giờ, sự cân nhắc cẩn thận và trên hết mọi sự là sự cầu nguyện.
Mặc dù điều lý tưởng là biết được ý muốn của Đức Chúa Trời trước khi có một quyết định nhưng điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng. Trong vài trường hợp, một người đã kết hôn và thành lập một gia đình trước khi tiếp nhận Jêsus Christ làm Cứu Chúa mình. Trong những hoàn cảnh đó, rõ ràng người ấy không biết gì hoặc cân nhắc theo những phương châm Kinh Thánh khi mình chọn lựa. Như chúng ta sẽ thấy, biết những gì Kinh Thánh nói về những vai trò riêng của mỗi người trong hôn nhân là yếu tố chủ chốt đối với sự thành công của một người trong chức vụ mục sư.
Hãy xem hai câu Kinh Thánh chỉ cho chúng ta thấy tầm quan trọng của hôn nhân theo quan điểm của Đức Chúa Trời. Ngay từ khởi điểm khi con người hiện hữu. Đức Chúa Trời phán” Người nam ở một mình thì không tốt. Ta sẽ dựng nên một người giúp đỡ thích hợp với nó” SaSt 2:18 - NIV). Về sau, khi nhìn lại khởi nguyên của hôn nhân, Chúa Jêsus phán” Vì lý do này, người nam sẽ lìa cha mẹ mình và kết hợp với vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một thịt, vì vậy họ không còn là hai nữa, mà là một” (Mat Mt 19:4-6). Những đoạn này bày tỏ rằng ngoài việc làm tăng dân cư trên đất. Đức Chúa Trời thiết lập hôn nhân để yểm trợ lẫn nhau, bạn đồng hành và đồng nhất. Cho nên, hôn nhân quan trọng vì nó đáp ứng những nhu cầu tâm lý và thể chất.
Một cuộc hôn nhân tốt rất quan trọng cho mỗi người bước vào hôn nhân, nhưng nó càng quan trọng hơn cho một mục sư để có cuộc hôn nhân tốt đẹp. Vì những trách nhiệm đặc biệt của mình, một mục sư phải:
1. Có khả năng giúp đỡ người khác chuẩn bị hôn nhân.
2. Được chuẩn bị để khuyên bảo những người có thể có những nan đề trong hôn nhân liên quan đến những phương cách nâng cao đời sống lứa đôi của họ.
3. Cố gắng để có một cuộc hôn nhân và gia đình làm mẫu mực tốt cho những người khác.
4. Có những nhu cầu của riêng mình được đáp ứng để những mối quan hệ của người ấy đem lại sự hoàn hảo và góp phần vào ý thức khỏe mạnh của chính mình.
Để kết luận phần đầu nói về sự quan trọng của hôn nhân, chúng ta phải nhìn nhận rằng một cuộc hôn nhân tốt đẹp có thể giúp đỡ mục sư vô cùng. Vợ của mục sư và gia đình có thể khen ngợi vai trò của ông. Hơn nữa, sự hài hòa trong mối quan hệ hôn nhân và sự hiệp nhất vẫn tồn tại trong gia đình có thể hình thành một gương mẫu có tác dụng tốt cho những người họ phục vụ. Trái lại, cuộc hôn nhân không mấy tốt đẹp có thể trở nên điều sỉ nhục cho chức vụ của mục sư và cướp mất khả năng làm gương cách hiệu quả những mối quan hệ Cơ Đốc trong hôn nhân và gia đình.
(1) Một cuộc hôn nhân tốt đẹp quan trọng cho tất cả Cơ Đốc nhân nhưng đặc biệt cho một mục sư vì hôn nhân:
a. Cho người ấy một cơ hội để chứng tỏ qua những quan hệ của mình sự hữu hiệu của khuôn mẫu Kinh Thánh về hôn nhân.
b. Cho phép người ấy khuyên bảo cộng đồng họ đang phải đối diện, từ một nền tảng thích đáng của kinh nghiệm trong những mối quan hệ của mình.
c. Cho phép người ấy có những nhu cầu được thỏa mãn của mình để người cảm thấy những mối quan hệ của mình được thực hiện đầy đủ.
d. Góp phần vào tất cả những điều ghi ra ở trên.
e. Góp phần ở những điều chỉ ghi trong câu b và c.
(2) Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt ĐÚNG liên quan đến quan điểm của Kinh Thánh về hôn nhân.
a. Mục đích đầu tiên trong hôn nhân là đáp ứng những nhu cầu thể chất và tâm lý, cũng như làm tăng số sinh sản giống nòi.
b. Mặc dù những nền văn hóa khác nhau về việc ai là người xếp đặt hôn nhân, nhưng thường thường có thể tìm được một người có tất cả những phẩm chất để làm một người bạn đời tốt.
c. Đức Chúa Trời thiết lập hôn nhân để đáp ứng nhu cầu; vì thế hôn nhân được hình thành sau khi con người phạm tội nguyên thủy.
d. Câu Kinh Thánh” Một người vợ tốt, ai có thể tìm được ?” bày tỏ sự đánh giá cao về một người vợ tài đức vẹn toàn.
NHỮNG VAI TRÒ TRONG HÔN NHÂN.
Mục tiêu 2: Phân biệt theo Kinh Thánh vai trò của người chồng và người vợ trong mối quan hệ với nhau.
Hoặc bạn đã kết hôn hay dự định kết hôn, điều rất quan trọng là phải hiểu vai trò riêng theo Kinh Thánh của người chồng và người vợ trong mối quan hệ với nhau và với con cái của họ. Hiểu được ý niệm về vai trò là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc lựa chọn người bạn đời cách khôn ngoan. Hơn nữa nó còn giúp cho đôi vợ chồng mới thiết lập và duy trì mối quan hệ hài hòa và giúp cho mỗi người hiểu được những nhu cầu và những mong đợi chính đáng nơi người phối ngẫu.
Ý NIỆM VỀ VAI TRÒ.
Từ ngữ (vai trò) chỉ về cách cư xử mong đợi nơi một người có một vị trí hay địa vị nhất định. Chẳng hạn, trong một xã hội, người chồng được đòi hỏi phải thực hiện một vai trò, có thể khác hơn vai trò của người chồng trong một xã hội khác. Người chồng bắt đầu học những vai trò khác nhau từ khi còn là con trẻ trong một gia đình, và người ấy học biết nhiều hơn khi tiếp xúc với những hoạt động khác trong xã hội như nhà thờ, trường học và bạn bè. Khi gần đến tuổi bước vào hôn nhân, người ấy đã tiếp nhận một sự xã hội hoá khác biệt với mỗi một người khác. Điều tương tự như thế có thể nói cho mỗi người chuẩn bị hôn nhân; như vậy, mỗi người có một ý niệm khác nhau về vai trò mà anh ấy hay chị ấy được đòi hỏi thực hiện cách đúng đắn như một người chồng hay người vợ.
Một đôi nam nữ tiến đến hôn nhân, ý niệm của một người có thể trái ngược với ý niệm văn hóa chung. Thường thường, những ý niệm về vai trò của mỗi người lại mâu thuẫn với những gì Kinh Thánh mô tả. Nan đề này thường tệ hại hơn do những phong trào dấy lên từng hồi từng lúc. Vài phong trào này nhấn mạnh những cải cách triệt để trái ngược với những giá trị truyền thống. Khi điều này xảy ra và một người được dẫn đến vấn đề phải chọn quan điểm, thì người ấy có thể được bảo đảm rằng Kinh Thánh cung cấp một chỉ đạo khách quan và không phân biệt văn hóa nào cho những vai trò thích hợp của gia đình.
3) Từ ngữ vai trò có thể định nghĩa như là:
a. Ý kiến một người có đối với cha mẹ của mình.
b. Thái độ mong đợi nơi một người ở một vị trí nào đó.
c. Aûnh hưởng của nền giáo dục trong một đời sống thơ ấu.
d. Sự mong đợi mà một người hy vọng đạt được trong đời sống mình.
NHỮNG Ý NIỆM CỦA KINH THÁNH VỀ VAI TRÒ.
Những đoạn Kinh Thánh chính trong Tân ước liên quan đến những vai trò của hôn nhân và gia đình là Eph Ep 5:21-33, CoCl 3:18-20 và IPhi 1Pr 3:1-7.
Trong những đoạn Kinh Thánh này có liên quan đến các mối quan hệ cá nhân, tác giả đã bắt đầu từ nền tảng gia đình - mối quan hệ giữa chồng và vợ. Điều đó có nghĩa là, trong những đoạn này, người chồng và người vợ được nhắc nhở về những bổn phận của họ đối với nhau hơn là những quyền lợi. Thật vậy, chủ đề hi sinh có ý nghĩa xuyên suốt. Eph Ep 5:21 giới thiệu phần thảo luận với” Hãy kính sợ Đấng Christ mà vâng phục nhau”, và chủ đề này nổi bật trong tất cả những lời dạy dỗ của Kinh Thánh nói về tình yêu Cơ Đốc.
Trong Eph Ep 5:21-33 trong phần thảo luận về những mối quan hệ vợ - chồng, người đầu tiên được nói đến là người vợ. Bổn phận của người vợ là thuận phục” chồng mình như vâng phục Chúa” (c.22) ám chỉ rằng người vợ đang thuận phục Quyền làm chủ của Đấng Christ. Dù Tân ước nhấn mạnh rằng người nam và người nữ bình đẳng về mặt thuộc linh trước mặt Đức Chúa Trời (GaGl 3:28), tuy nhiên để giữ trật tự và hiệp nhất trong gia đình, trách nhiệm về sự lãnh đạo và quyền hành nằm ở người chồng. Với trách nhiệm này, bổn phận của người chồng được tóm tắt bằng chữ yêu thương. Trong Eph Ep 5:25, động từ yêu phù hợp với danh từ yêu thương ở trong ICo1Cr 13:1-13. Chữ này mang ý nghĩa là tự chối mình, liên tục quan tâm đến lợi ích cao nhất của người khác. Nó không những chỉ về một hành động đem lại lợi ích cho người khác, nhưng còn là một sự sẵn sàng liên tục từ chối thú vui riêng của mình để giúp đỡ và đem lại lợi ích thiết thực cho người kia.
Hãy suy nghĩ tình yêu được mô tả trong ICo1Cr 13:1-13 như thế nào. Đó là một tình yêu mang tính kiên nhẫn, tử tế, khiêm tốn, lịch sự, tin cậy và chu cấp. Đó là tình yêu khiến một người nhiệt tình tìm hiểu những nhu cầu và lợi ích của người khác, và làm tất cả những gì có thể được cung ứng những nhu cầu này. Đó là loại tình yêu mà người chồng phải yêu vợ mình. Người chồng phải yêu vợ” như Đấng Christ yêu Hội thánh” (Eph Ep 5:25), yêu vợ như yêu chính thân mình (c.28). Người chồng phải bày tỏ quan tâm ích kỷ về hạnh phúc của người vợ y như đối với cá nhân mình; vì thế người ấy phải nuôi nấng, chăm sóc vợ y như chăm lo cho thân thể mình. Người chồng phải có tình yêu hi sinh bản thân cho vợ mình như Đấng Christ đối với tân phụ của Ngài là Hội thánh.
Phaolô so sánh tình yêu tự hiến này với mối quan hệ của Đấng Christ và Hội thánh, mà ông nói rằng đó là một” sự mầu nhiệm sâu sắc”. Mặc dù có những hạn chế tương đồng, mối quan hệ hôn nhân cao quí hơn nhiều trong so sánh. Ở đây hoặc trong những đoạn khác, Phaolô không gợi ý rằng hoặc người chồng hay người vợ cách tự nhiên hay thuộc linh là thấp hơn hoặc cao hơn người kia. Điều ông dạy ở đây là một phẩm trật thiên thượng về trách nhiệm. Do cách đối xử trong mối quan hệ giới tính trong bối cảnh này, Phaolô đã đặt tước vị cao trọng thiết yếu của phụ nữ nói chung và những người vợ nói riêng trên một nền tảng không gì lay chuyển được.
(4) Kinh Thánh khuyên bảo người chồng và người vợ phải có thái độ đối với người bạn đời trong hôn nhân có thể được mô tả cách tốt nhất bằng:
a. Tự quyết.
b. Tự hạ mình.
c. Tự thực hiện.
d. Hi sinh.
(5) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG có liên quan đến những mối quan hệ của người vợ và người chồng như Kinh Thánh định nghĩa.
a. Tình yêu của người chồng là tình yêu hi sinh.
b. Điều bắt buộc đầu tiên của người chồng là dạy dỗ vợ về những vấn đề thuộc linh.
c. Vì Đấng Christ yêu Hội thánh trước, nên người vợ không cần vâng phục chồng mình cho đến khi người chồng bày tỏ tình yêu đối với nàng.
d. Bằng sự thuận phục chồng, một người vợ chứng tỏ uy quyền của Đấng Christ trên Hội thánh.
e. Người chồng có uy quyền trên gia đình trong đó những thành viên có sự bình đẳng về thuộc linh.
Trong chương này chúng ta đã thảo luận về mối quan hệ căn bản theo Kinh Thánh giữa người chồng và người vợ để áp dụng cho tất cả Cơ đốc nhân. Để hiểu biết thêm về gia đình Cơ Đốc, bạn cần nghiên cứu một loạt bài ICI khác như Hôn nhân và Gia đình hoặc Cơ đốc nhân có trách nhiệm. Khi chúng ta tiếp tục bài này, chúng ta sẽ nhấn mạnh về những nhu cầu đặc biệt trong những mối quan hệ của gia đình mục sư.
VAI TRÒ CỦA VỢ MỤC SƯ.
Mục tiêu 3: Nhận diện những hình ảnh minh họa cho thấy những đặc tính và trách nhiệm mong mỏi nơi người vợ của mục sư.
Người vợ của mục sư đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống và chức vụ của chồng mình. Nhận lãnh trách nhiệm làm người vợ của mục sư, nàng cũng phải chấp nhận vai trò của mình là một sự kêu gọi từ Đức Chúa Trời. Có như thế vợ mục sư mới tìm được niềm vui khi mở lòng ra cho Đức Chúa Trời và để Ngài hoàn thành sự kêu gọi chính đời sống của nàng nữa. Điều đó sẽ làm nàng hạnh phúc khi biết rằng Chúa sẽ ban cho mình sức lực, sự khôn ngoan và sự hướng dẫn khi nàng cùng phục vụ bên cạnh chồng trong công tác Chúa giao.
Vai trò của vợ mục sư không phải là một công tác dễ dàng. Vì một số bà vợ mục sư chẳng bao giờ có một vai trò mẫu xứng hợp, họ sợ hãi do những gì họ nhận thức như những mong đợi hão huyền. Trong những trường hợp như thế mục sư cần giúp vợ mình bằng cách tìm những cuốn sách để hướng dẫn vợ, hoặc có thể giới thiệu vợ mình với vợ của mục sư niên trưởng, kinh nghiệm hơn, có thể giúp những lời khuyên đẹp ý Chúa và thực tế cho nàng.
Vợ mục sư có thể được kêu gọi thực hiện những vai trò và trách nhiệm nào để trung tín hoàn thành thiên chức của mình ? Những chương sau đây có thể được coi là quan trọng đặc biệt.
TRONG NHÀ.
Nhà nàng là trách nhiệm đầu tiên của nàng. Mục sư và gia đình ông có thể không thích như thế, nhưng những người ở trong cộng đồng của ông biết mục sư ở đâu và nhìn xem nhà của ông. Người ta muốn nhà của mục sư phải là nhà mẫu và gia đình ông là gia đình mẫu. Nếu cộng đồng đó chẳng bao giờ thấy một căn nhà của Cơ đốc nhân, thì nhà của mục sư phải là tấm gương tốt nhất về một cái nhà của Cơ đốc nhân. Một sự mong đợi như vậy không thể thực hiện được nếu vợ mục sư không quyết định làm như thế. Hơn nữa, nàng không thể hi vọng thành công trong công tác của mình nếu lại bị những trách nhiệm khác đè nặng khiến nàng không thể làm một người nội trợ đảm đang.
Mục sư phải thấy rằng vợ mình không thể đảm nhiệm quá nhiều trách nhiệm và bổn phận ở bên ngoài. Vì nàng cần phải giữ cho nhà cửa ngăn nắp, thứ tự và hấp dẫn, nên nàng phải duy trì công việc này, chắc chắn rằng nàng làm tốt mỗi ngày. Điều này sẽ góp phần cho chức vụ của mục sư và nêu một gương cho những người vợ khác bắt chước. Mặc dù có nhiều công việc khác phải làm ở nhà thờ và cộng đồng, nhưng nàng không để mình dấn thân đến quá nhiều hoạt động khác. Điều này dẫn chúng ta đến trách nhiệm thứ hai.
TRONG HỘI THÁNH.
Vợ của mục sư không được quá gắn liền với những chức vụ trong Hội thánh. Trách nhiệm đầu tiên của vợ mục sư là nhà của mình, vì không ai khác có thể gánh vác vai trò này. Nàng sẽ không thể hoàn thành trách nhiệm này nếu đảm nhiệm quá nhiều công việc khác ở nhà thờ. Đặc biệt khi vợ chồng mục sư bắt đầu một công việc mới, có thể không có ai khác dạy một lớp Trường Chúa nhật, sử dụng một nhạc cụ, hướng dẫn ban phụ nữ hay thực hiện nhiều công tác khác. Tuy nhiên, nếu vợ mục sư gánh vác một số công tác nầy, chắc hẳn chúng sẽ giới hạn thì giờ của nàng để có thể lo cho nhà mình. Cũng có thể ở vài điểm nàng bị chỉ trích là đã cố dành quyền nhiều quá. Cuối cùng nàng có thể tạo ra một tiền lệ gây khó khăn cho những người kế vị noi theo.
Vợ mục sư phải sử dụng khôn ngoan trong việc nhận lãnh chức vụ. Mặc dù vợ mục sư không nên đảm trách quá nhiều công việc, nhưng cũng phải nhận lãnh vài trách nhiệm trong Hội thánh để nêu một gương tốt cho các phụ nữ khác. Nàng có thể chỉ cho họ thấy làm thế nào để có thể phục vụ Chúa mà vẫn tròn những trách nhiệm đầu tiên trong gia đình. Tại một nhiệm sở mới, vợ mục sư phải khôn ngoan chờ đợi trong một thời gian ngắn để xem mình cần phục vụ ở vị trí nào để có thể phục vụ với lợi ích cao nhất. Nàng nên tìm cách yểm trợ những hoạt động khác nhau trong Hội thánh. Rồi, khi lãnh một trách nhiệm thì phải hoàn thành hết khả năng mình.
Vợ mục sư có thể giúp chồng trong công tác thăm viếng bầy chiên. Thường vợ mục sư không cần tháp tùng chồng trong những công tác mục vụ thường lệ. Tuy nhiên có những trường hợp, sự có mặt của vợ mục sư sẽ giúp ích và cần thiết. Chẳng hạn, nàng có thể cùng đi với chồng đến thăm một gia đình mới trong Hội thánh, hoặc để nàng tìm cách làm quen với những phụ nữ và thanh niên trong gia đình đó. Quan trọng nhất là khi mục sư đi thăm những phụ nữ độc thân hoặc những phụ nữ có thể có những động cơ đáng ngờ trong việc mời ông đến viếng thăm, thì vợ mục sư phải cùng đi với chồng. Điều này sẽ giữ uy tín cho mục sư và làm cho chức vụ của ông khỏi bị chê trách. Chúng ta sẽ khảo sát về vấn đề thăm viếng của mục sư chi tiết hơn ở những bài sau của loạt bài này.
Vợ của mục sư có thể có một chức vụ trong giới phụ nữ, thanh nữ và nhi đồng trong cộng đồng. Trong vài trường hợp vợ của mục sư có thể tham gia tích cực vào chức vụ dạy dỗ, tuy nhiên, nếu không có ơn dạy, thì vợ mục sư vẫn có một chức vụ như là một gương mẫu cho nữ giới. Có thể vợ mục sư làm người khuyên bảo phụ nữ, giúp họ giải quyết nan đề của mình và dạy những phụ nữ khác biết cách trở thành những người vợ Cơ đốc đảm đang và giỏi việc gia đình. Để giúp ích đắc lực trong việc hướng dẫn những phụ nữ có nan đề, vợ mục sư nên đọc sách. Trong bất cứ trường hợp nào, vợ mục sư cũng phải học tập lắng nghe mà không phê phán và quá đổi sửng sốt về những gì mình được nghe. Hơn nữa, vợ mục sư có thể có một chức vụ cầu nguyện với những ngươi đã chia sẻ gánh nặng của họ với nàng.
ĐỐI VỚI CHỒNG.
Vợ mục sư là người yểm trợ tích cực cho chồng. Có đôi khi công việc của người chồng hết sức căng thẳng. Thêm vào đó, có những khi ông ta thất vọng. Trong những dịp này, vợ mục sư là người giúp đỡ thực sự vì ông ta có thể tâm sự với nàng những điều thất vọng và bất mãn của mình khi mà ông không thể nói cho một ai khác. Đôi khi tất cả việc nàng có thể làm là chỉ lắng nghe nhưng vẫn vui vẻ sử dụng đức tin. Trong những giờ phút căng thẳng đó nàng có thể tạo trò tiêu khiển dễ chịu hay làm một món ăn thật đặc biệt mà chồng ưa thích. Khi người mục sư bị đè ép bởi công việc của mình, thì sự an ủi tại gia đình trở nên quan trọng hơn tất cả.
Vợ mục sư là một người góp ý trung thực. Có những lúc vợ mục sư phải là một người bạn chân tình của chồng và nói với chồng những điều mà không ai khác có thể nói với ông ấy được. Các mục sư có thể phát triển thói quen kiểu cách, trở thành nhàm chán hoặc dùng ngữ pháp nghèo nàn trên tòa giảng. Một người vợ khôn ngoan sẽ không chỉ trích những điều này khi chồng xuống tinh thần, nhưng sẽ thận trọng chọn đúng thời điểm, và giúp chồng cách tế nhị, và chân thành nâng đỡ. Tuy nhiên, khi nói về bài giảng của mục sư, vợ mục sư có thể giúp đỡ cách tốt nhất bằng những lời khen khôn ngoan. Nếu có điều gì nàng nghĩ là phải nói, thì nàng không nên nói ngay sau khi chồng giảng xong. Tốt hơn hết là nên chờ vài ngày sau và cầu xin Chúa ban sự khôn ngoan trước khi nói điều gì. Một mục sư khao khát tăng trưởng và hiệu quả trong chức vụ của mình sẽ đánh giá cao sự góp ý xây dựng của vợ. Một người không thể tiếp thu sự góp ý là một người non nớt vô ích. Hơn nữa, việc từ chối những lời góp ý xây dựng có thể ngăn trở người ấy phát triển và góp thêm những lỗi lầm trong chức vụ .
Vợ của mục sư phải kín miệng. Một trong những đặc tính quan trọng và cần thiết nhất đối với mục sư và vợ ông là đừng bao giờ lập lại bất cứ sự tâm sự nào mà người ta chia sẻ với họ. Người ta xem mục sư và vợ ông là những người lãnh đạo mà họ có thể đem những nan đề và kinh nghiệm mình ra chia sẻ để bàn thảo. Thật vậy, đó là những kinh nghiệm mà họ không thể chia sẻ với một người nào khác. Mục sư và vợ ông phải cùng nhau cầu nguyện cho những vấn đề người khác mang đến với mình, nhưng phải chẳng bao giờ lặp lại những nan đề đó, ngay cả cho người thân trong gia đình mình hoặc những người bạn gần gũi nhất. Thổ lộ một chuyện tâm sự của người khác có thể phá hỏng một mối quan hệ tin cậy mà chẳng bao giờ khôi phục lại được. Vợ mục sư phải rất cẩn thận về việc bình phẩm bất cứ điều gì liên quan đến những hoạt động của chồng. Chẳng hạn, một nhận xét tùy tiện như: “ ông Thôma nói chuyện với chồng tôi cả buổi sáng nay” dường như là một nhận xét vô tội vạ.Tuy nhiên, có thể ông Thôma không muốn ai biết rằng mình đang thảo luận một việc gì với mục sư. Vì vậy, những gì dường như một nhận xét vô tội vạ lại có thể gây tổn thương cho người có liên quan.
(6) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Mỗi vợ mục sư sẽ phải quyết định hoặc công tác của Hội thánh hoặc gia đình là trách nhiệm đầu tiên của mình.
b. Vợ mục sư có thể gánh vác vài trách nhiệm trong Hội thánh, nhưng phải quyết định số lượng mình đảm trách.
c. Vợ mục sư không cần phải tham gia hết các công tác thăm viếng thường lệ, nhưng nàng phải cùng chồng đi thăm các phụ nữ độc thân hoặc những phụ nữ mời đến nhà vì những lý do đáng ngờ.
d. Theo phần thảo luận của chúng tôi, vợ mục sư phải là người trung tín ủng hộ chồng và đôi khi cũng có một góp ý chân thành.
e. Trong công tác phục vụ giữa phụ nữ và thanh nữ trong Hội thánh, vợ mục sư có giá trị rất hạn chế trừ phi nàng có một chức vụ dạy dỗ.
f. Cả mục sư và vợ ông phải trung tín giữ kín tất cả những nan đề tâm sự người ta chia sẻ với họ.
VAI TRÒ CỦA MỤC SƯ.
Mục tiêu 4: Mô tả thế nào một mục sư có thể bày tỏ vai trò là một người chồng theo Kinh Thánh.
LÀ MỘT NGƯỜI CHỒNG.
Là một mục sư, đến một phạm vi nào đó sự thành đạt tùy thuộc vào mức độ thành công như một người làm chồng và một người làm cha. Nếu những mối quan hệ trong gia đình người ấy không chỗ chê trách, thì họ sẽ khích lệ và làm gương mẫu cho những người của Hội thánh mình về cách cư xử trong một gia đình Cơ Đốc.
Chúng ta đã thảo luận vắn tắt về vai trò của người chồng theo Kinh Thánh. Theo lời Chúa, mối quan hệ yêu thương của người chồng tuôn chảy tự nhiên từ mối quan hệ của mình với Đấng Christ. Vậy thì, rõ ràng không phải là điều người ấy giữ với ý thức trách nhiệm. Tình yêu kéo dài những căng thẳng của cuộc sống - một loại tình yêu chúng ta thấy trong Kinh Thánh - là loại tình yêu mà Cứu Chúa chúng ta bày tỏ cho Hội thánh. Tình yêu vị tha, không hề hư mất này đã trả giá bằng chính mạng sống của Ngài, và đó là loại tình yêu mà mỗi mục sư phải diễn đạt thành tình yêu vợ mình.
Trong vai trò là một người chồng, làm thế nào mục sư bày tỏ tình yêu này trong thái độ và thực tế ? Sau đây là những gợi ý của cả Kinh Thánh lẫn thực tế để giúp người chồng có hướng đi đúng đắn.
Phải ân cần, ý tứ và hiểu biết. Phierơ khuyên những người chồng” Trong tình yêu, hãy ân cần tử tế khi ăn ở với vợ mình, hãy đối đãi họ với sự tôn trọng như là người cộng tác yếu đuối hơn và như người cùng thừa hưởng ơn phước sự sống với anh em” (IPhi 1Pr 3:7,) . Tuy mỗi người vợ đều xứng đáng được hưởng sự đối đải như thế từ chồng mình, mục sư phải càng đặc biệt đối xử với vợ theo cách này. Điều này đúng vì những người trong Hội thánh và trong cộng đồng thiếu hiểu biết đã đặt trên nàng những đòi hỏi và những sức ép vô lý. Người ta ngạc nhiên nếu đôi khi thấy treo một cái bảng lớn vì lợi ích của nàng” Xin vui lòng nhẹ tay !”. Điều này cũng đặc biệt khi vợ mục sư không có những tài năng mà nhiều người trong Hội thánh mong mỏi (như không có giọng hát tốt hay không biết đánh đờn, hoặc biểu thị những ân tứ” thấy được” nào khác).
Đối xử với nàng bằng sự tôn trọng và ưu ái. Khi mục sư bị căng thẳng và dưới sức ép, ông ấy có thể bị cám dỗ” trút đổ hết trên vợ mình”. Tuy nhiên, vì tình yêu sản sinh sự tôn trọng, thành thật, nên, ngay cả khi còn căng thẳng có một chút hy vọng rằng người chồng sẽ nói những điều mà ông sẽ hối tiếc. Dầu vậy, nếu người ấy phó mình cho sự cám dỗ và phản ứng theo sức ép của công việc bằng cách” trút đổ hết trên vợ mình” thì người ấy sẽ công nhận mình có lỗi và xin lỗi. Người chồng càng sớm làm điều này thì càng dễ hồi phục sự hòa hợp trong mối quan hệ với nhau trong gia đình. Người chồng có thể bày tỏ sự tôn trọng vợ mình bằng cách nhìn nhận cá tính của nàng. Mặc dù tài năng và khả năng của vợ mục sư có thể khác nhiều so với những bà mục sư khác, nhưng nàng cần biết rằng chồng mình đánh giá cao điều đó và hết sức quý trọng mình.
Chung thủy với vợ mình. Hôn nhân là một sự hiệp nhất trong đó chồng và vợ” trở nên một thịt” (SaSt 2:24). Vì thế, mục sư phải tích cực duy trì sự chung thủy thánh thiện này. Vì mục sư là một tấm gương công cộng và được Hội thánh kính nể, nên nhiều người sẽ tìm cách làm cho ông ta chú ý. Một số phụ nữ rất thiết tha mong được mục sư chú ý, xem mục sư như là người chồng lý tưởng mà họ không có; vì vậy mục sư phải nhạy bén trước mối nguy hiểm có thể xảy ra này. Mục sư có thể bảo vệ mình nếu ông cho hội chúng biết bằng nhiều cách khác nhau, rằng ông đánh giá cao, tôn trọng và yêu thương vợ mình. Trong bài học của chúng ta về nguyên tắc xử thế của mục sư, chúng ta sẽ thảo luận một số khía cạnh thực tiễn của đề tài này.
Nuôi dưỡng tình trạng khỏe mạnh thuộc linh của vợ. Giờ tĩnh nguyện riêng tư là thì giờ quí báu cho mỗi Cơ đốc nhân. Dù những giờ ấy quan trọng cho tất cả những tín hữu nhưng đối với vợ mục sư lại là điều quyết định. Nhiều mục sư có một thì giờ tĩnh nguyện vào buổi sáng sớm, nhưng vợ của họ có thể thấy khó khăn đi vào tĩnh nguyện vào giờ đó. Họ thường bận sửa soạn bữa điểm tâm, chuẩn bị sẵn sàng cho con cái đi học, hoặc chăm lo những công tác cần thiết khác. Nếu mục sư giúp đỡ vợ mình tìm thì giờ cho nàng tĩnh nguyện riêng tư, thì ông đã bày tỏ tình yêu và quan tâm của mình đến nhu cầu thuộc linh của nàng. Ông cũng phải dành thì giờ cầu nguyện và suy gẫm thờ phượng chung với vợ. Đây sẽ là giờ quí báu để thông công với nhau và với Chúa.
Bầu không khí yêu thương mà người chồng khởi đầu sẽ lan tỏa ra toàn thể gia đình. Trong tương lai xa điều này sẽ đem lại phước hạnh không chỉ cho các thành viên trong gia đình mà còn cho cả Hội thánh lẫn cộng đồng nữa. Đó là một lãnh vực thực sự sống động của Cơ đốc giáo và sự giả hình không thể phát triển. Mối quan hệ hằng ngày giữa mục sư và vợ ông phải được đánh dấu bằng tình yêu thể hiện trong hành động. Nó phải được tỏa sáng bằng những cơ hội, ngày kỷ niệm đặc biệt để đem gia đình lại gần với nhau hơn và dâng vinh hiển và sự tôn kính lên Đức Chúa Trời.
(7) Những cách cư xử được bày tỏ trong phần thảo luận trên là một bằng chứng của trách nhiệm theo Kinh Thánh của người chồng về:
a. Uy quyền.
b. Sự thuận phục.
c. Tình yêu thương.
d. Sự vâng lời.
(8) Phần thảo luận của sách Tự Học này tập trung vào bốn cách trong đó người mục sư có thể bày tỏ trách nhiệm là một người chồng. Viết một câu ngắn sau mỗi ví dụ sau đây, nói lên rằng mục sư đã hoàn tất hay thất bại trong trách nhiệm của mình đối với vợ.
a. Ông ấy bảo đảm rằng mỗi tối vợ chồng ông có một thì giờ yên tĩnh với nhau để nói chuyện, đọc Lời Chúa và cầu nguyện
b. Thêm vào việc dạy một lớp cho các em gái, ông còn muốn vợ ông sửa soạn tiệc thánh và lau nhà thờ.
c. Ông mời hai chấp sự cao tuổi cùng đi với ông đến thăm một phụ nữ, người này thường muốn ông mục sư chú ý mình.
d. Ông đối xử với vợ cách thành thật, lịch sự ở nơi công cộng hay chốn riêng tư.
LÀ MỘT NGƯỜI CHA.
Mục tiêu 5: Trình bày bốn phẩm chất căn bản vốn cần thiết trong mối quan hệ của mục sư với con cái mình.
Con cái thường dành cho cha mẹ sự tin cậy thiêng liêng và điều này đòi hỏi những trách nhiệm. Rõ ràng con trẻ không chọn việc được chào đời trên quả đất này. Nhưng chúng được sinh ra và đối diện với sự sống cùng cõi vĩnh hằng như là những hữu thể có trách nhiệm đạo đức (responsible moral beings). Vì lý do này, việc nuôi dạy con cái là một thách thức nghiêm trọng hơn hết và nó đòi hỏi sự hi sinh và tận hiến tối đa nếu cha mẹ muốn thành công.
Vì thế, hôn nhân Cơ đốc còn kèm theo trách nhiệm lập kế hoạch một gia đình và nuôi dạy con cái. Nơi nào cha mẹ có một hứa nguyện tận tâm và săn sóc con cái chu đáo, thì nơi ấy hôn nhân mang ý nghĩa đầy trọn hơn và cuộc sống phong phú không thể đo lường hết. Tuy vậy, sự hứa nguyện để có một gia đình nầy đòi hỏi sự yểm trợ đồng nhất của cha mẹ. Và trong khi điều này đòi hỏi thời gian dài, thì cha mẹ vẫn phải yêu thương và hi sinh tối đa.
Mặc dù sự khao khát muốn dựng nên một gia đình là khao khát tự nhiên và bình thường của hầu hết người trẻ muốn kết hôn, nhưng người ta có thể gặp đôi trường hợp một người phối ngẫu không muốn có con. Rõ ràng, một người muốn có con không nên kết hôn với người không muốn có con vì chắc chắn điều đó sẽ dẫn đến sự đau lòng và mất hạnh phúc.
Vợ chồng trẻ chờ đợi một thời gian trước khi đứa con đầu lòng thì có thì giờ để học tập vai trò tương ứng làm vợ làm chồng trước khi họ đảm đương những vai trò mới làm cha làm mẹ. Một khi họ quyết định có con, thì có một loạt thay đổi xảy ra trong gia đình có thể gây căng thẳng trong mối quan hệ đã điều chỉnh tốt nhất rồi. Chẳng hạn, có những thay đổi về tình cảm và thể chất mạnh mẽ xảy ra. Dù những thay đổi này ảnh hưởng chính yếu đến người vợ, nhưng nó cũng ảnh hưởng đến người chồng nữa. Vì vậy, họ lại cần phải điều chỉnh những sự thay đổi về tình cảm và thể chất khi bào thai lớn dần.
Cuối cùng, thời gian dài chờ đợi đã đến và đứa bé ra đời. Vợ chồng bây giờ dành thì giờ và tình thương của họ cho đứa bé. Người cha thường mừng rối rít trong vai trò làm” cha”, và người mẹ sung sướng trong vai trò làm” mẹ”. Tuy nhiên, người cha chưa trưởng thành có thể cảm thấy bị tổn thương và ghen tị với đứa trẻ sơ sinh vì đứa trẻ đã nhận được sự quan tâm nhiều hơn mình. Mối nguy hiểm ấy là người mẹ có thể quá quan tâm đến vai trò này và sao lãng chồng mình, và điều này có thể tạo ra nan đề. Người chồng có thể trở thành đối thủ của đứa bé vì sự chú ý và tình cảm của người vợ dành cho con. Khi đứa bé trở thành” trung tâm” của đời sống nàng, thì người chồng có thể cảm thấy mình như kẻ” ngoài cuộc”.
Tuy nhiên, nhiều khó khăn có thể tránh được nếu trước khi đứa bé ra đời, người chồng và người vợ thảo luận một số điều thay đổi mà họ hi vọng sẽ xảy ra và phải lên kế hoạch đối phó như thế nào. Mặc dù đa số những sự sửa soạn hướng về đồ vật, như là quần áo cho em bé và những thứ giống như vậy nhưng rất ít chú ý về những rắc rối tâm lý khi đứa trẻ ra đời.
Khi cha mẹ nhận lãnh nghĩa vụ gia đình lần đầu tiên, họ chấp nhận trách nhiệm đáng kính sợ nuôi dạy con cái để làm vinh hiển Đức Chúa Trời nhưng hoàn toàn không được” giáo dục” về cách làm cha mẹ. Công tác nuôi dạy con cái và uốn nắn chúng để có cuộc sống thành công hầu làm vinh hiển Đức Chúa Trời không phải là chuyện dễ. Hơn nữa, nó lại càng phức tạp hơn nếu cha mẹ phải vật lộn với xã hội, văn hóa hay những thái độ cá nhân mà hoặc bóp méo hoặc không biết gì về mẫu mực của Kinh Thánh trong cách làm cha mẹ Cơ đốc.
Chẳng hạn, nếu người chồng/ngườicha chấp nhận rằng trách nhiệm chăm sóc con cái thuộc về người vợ/người nẹ thì người ấy làm cho công tác nuôi dạy con cái lại càng khó hơn. Tuy nhiên, Kinh Thánh phán dạy rõ ràng về điểm này, nhấn mạnh việc dưỡng dục con cái là một trách nhiệm chung. Vì vậy, trong Eph Ep 6:4 Phaolô khuyên: “ Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con cái mình giận dữ, mà hãy dùng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa mà nuôi nấng chúng nó” (xem thêm CoCl 3:21). Rồi trong ITi1Tm 3:4, nói về những người hành sử trong khả năng của chức vụ chăn bầy, ông nói thêm” Người ấy phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn”(Người ấy phải khéo cai trị nhà riêng mình, và thấy được con cái người vâng lời người với lòng tôn kính thật sự, NIV).
Người ta thường đặt câu hỏi này” Bạn bắt đầu xây dựng tính tình cho đứa bé từ lúc nào ?”. Mặc dù đứa bé sơ sinh thường được gọi là” nó” hơn là gọi” cô bé” hay” cậu bé” ngay từ lúc đầu, nhưng sự hình thành tính tình thực sự bắt đầu như một số chuyên gia xác nhận bằng sự sắp xếp của chính cha mẹ. Nói theo cách con người, thì ra cha mẹ đặt đá nền tảng để con cái xây dựng cuộc sống mình lên đó.
GƯƠNG MẪU.
Vai trò” làm cha” của mục sư bắt đầu khi sự sống mới tượng hình trong tử cung người mẹ. Mối quan hệ người ấy thiết lập với vợ mình hoặc ôm ấp mầm sống mới trong tình yêu hoặc vây phủ bào thai bằng sự căng thẳng và thất vọng. Tại điểm này, người ấy phải đặc biệt cố tạo một mẫu mực cư xử để có thể và phải trở thành thói quen cho mình. Rồi khi đứa trẻ ra đời, người ấy đã sẵn sàng chứng minh những giá trị của Kinh Thánh cho đứa trẻ tuân theo rất lâu trước khi đưá bé được ‘nghe đến’.
Nói cách đơn giản một đứa bé phải ‘nhìn’, hành động cụ thể của tình yêu cũng như được dạy dỗ về khái niệm của tình yêu. Mỗi ngày cách sống của người cha trước mặt đứa bé liên quan đến những thành viên trong gia đình, Hội thánh, cộng đồng và Đức Chúa Trời sẽ hình thành một nền tảng cho sự dạy dỗ bằng lời. Trong khi huấn luyện là điều thiết yếu cho sự học tập của con cái, thì nhiều điều trong cuộc sống ‘được bắt gặp’ (caught) hơn là ‘được dạy dỗ ‘ (taught); trẻ con học bằng cách quan sát hơn là dạy dỗ chính thức. Vì lý do đó, cách cư xử của người cha trong gia đình vô cùng quan trọng.Chúng ta hãy ghi nhận ba lãnh vực trong đó người cha có thể là mẫu mực có tác dụng tốt:
1. Cách đối xử vớivợ. Cách người chồng đối xử với vợ là chứng minh đầu tiên của một mối quan hệ yêu thương mà trẻ con có thể thấy và cảm nhận được, trong đó nó không phải là đối tượng trực tiếp. Không những thái độ của người cha trong lãnh vực này ảnh hưởng đến những giá trị của đứa con nhưng còn đưa ra thực chất của Phúc âm mình rao giảng.
2. Sự lãnh đạo trong gia đình. Ngày lại ngày đời sống của người chồng/người cha là một bài học cụ thể bao gồm một hệ thống quyền hành, sự tôn trọng thẩm quyền trên những thứ bậc khác nhau, trách nhiệm và sự khai trình. Nếu người cha yếu ớt trong sự lãnh đạo và người mẹ chiếm ưu thế trong bối cảnh gia đình, thì đứa trẻ lớn lên với những ý niệm méo mó về vai trò xác thực. Như vậy, người cha phải tìm cách sống thực bên ngoài đời sống mình những giá trị mình ôm ấp cách riêng tư và công bố cho mọi người. Nếu người ấy không tìm cầu ý thức làm điều này, thì người ấy sẽ trở nên lơ là trong trách nhiệm dạy dỗ con cái và trong những mối quan hệ với mọi người, tìm cách lôi kéo họ theo mục đích của mình. Khi điều ấy xảy ra thì người bị buộc phải nhờ cậy vào lời bào chữa đuối lý: “ Hãy làm theo điều tôi nói, không theo điều tôi làm”.
3. Sự quản lý: Sự quản lý bao trùm cả cuộc sống con người. Đó chính là nơi hệ thống giá trị được hình thành và chấp nhận. Người cha ảnh hưởng đến ý niệm của những giá trị của con cái rất lớn bằng những gì chiếm hữu thì giờ, sự chú ý của ông, tiền bạc của ông được xử dụng ở đâu, ông quan tâm đến thân thể, của cải và các điều khác như thế nào. Mỗi ngày, dù ý thức hay không ý thức, người cha vẫn là một chứng minh sống động. Điều này nhấn mạnh rằng tấm gương đó là dụng cụ dạy dỗ lớn nhất của tất cả. Không có uy quyền mạnh mẽ nào bằng một tấm gương tốt.
KỶ LUẬT.
Chữ ‘kỷ luật’ rất thường được hiểu là ‘hình phạt’ do cả người thi hành lẫn người chịu kỷ luật. Tuy nhiên, từ kỷ luật xuất phát từ chữ Latin disiplina theo nghĩa đen là ‘dạy dỗ’, ‘học tập’. Kỷ luật ngụ ý lời hướng dẫn và sửa trị, là sự huấn luyện để cải thiện, uốn nắn, tăng cường sức mạnh và cá tính trọn vẹn. Đó là đạo đức giáo dục mà một người đạt được do nghiêm chỉnh vâng lời dưới sự giám sát và kiểm soát.
Giá trị của kỷ luật bởi người cha xác thể được nhấn mạnh trong ChCn 13:24; 19:18 và 23:13. Sứ đồ Phaolô cũng chọn thí dụ đặc biệt về người cha trong Eph Ep 6:4 là người phải huấn luyện, dạy dỗ con cái mình. Trong việc thực hiện chức năng sửa trị này, người cha phải hòa hợp sự cứng rắn và sự dịu dàng với tình yêu. Với lợi ích suốt đời của đứa trẻ, ông phải dạy con cái vâng lời. Sau đó, khi đứa trẻ lớn lên, đến lượt nó sẽ được thích hợp để điều khiển. Thật vậy, kỷ luật là một hành động vô cùng tinh tế, vì thế nếu muốn đạt được mục đích này, thì nó phải được thực hiện theo cách không làm cho đứa trẻ giận dữ và làm cho nó phát triển một khuynh hướng bất trị. Có vài nguyên tắc sửa trị có thể áp dụng trong những cách thực tiễn:
Trước hết, cha mẹ phải đồng ý về những gì chấp nhận được và những thái độ không chấp nhận được. Rồi họ phải nói rõ ràng cho con cái biết điều này. Cha mẹ cũng phải giải thích vì sao một số hành vi không chấp nhận được để trẻ con hiểu tại sao điều đó không cho phép.
Thứ hai, cha mẹ phải làm sáng tỏ rằng đó là sự cư xử không đúng đắn bị loại bỏ và không vì đứa trẻ. Cha mẹ phải chắc chắn rằng đứa con luôn luôn cảm thấy yên tâm trong tình yêu của cha mẹ.
Thứ ba, dĩ nhiên, một người phải sửa trị đứa con mình càng sớm càng tốt, sau khi nó vi phạm một qui tắc hoặc cư xử không đúng. Điều này đặc biệt đúng với trẻ con. Nhưng nên nhớ: Sự sửa trị có hiệu quả phải đúng lúc nhưng đừng quá vội vàng.
Thứ tư, sự sửa trị phải không thay đổi (nhất quán). Nếu sự sửa trị hay kỷ luật được đánh dấu bằng sự không kiên trì đứa trẻ sẽ có khuynh hướng lẫn lộn. Hành động sai trật, hôm nay sẽ là hành động sai trật bất cứ ngày nào khác, không cần biết ai làm điều đó.
(9) Trong việc hoàn thành vai trò cai quản trong gia đình, sự sửa phạt được người cha thực hiện trước tiên bao gồm:
a. Hình phạt.
b. Dạy bảo.
c. Uy quyền.
d. Quyền thế.
SỰ NUÔI DƯỠNG THUỘC LINH.
Mặc dù những đặc điểm mà mục sư phát triển trong đời sống gia đình là một gương mẫu cho toàn thể gia đình mình, nhưng những điều đó cũng là một tấm gương cho cộng đồng. Tóm lại, những đặc tính này mô tả sự không ích kỷ và sự phấn khởi. Điều gì làm cho đứa trẻ cảm thấy mình được đặc ân làm con cái của mục sư và có một kỷ niệm hạnh phúc tại nhà mình ? Câu trả lời là” Gia đình là một nơi hạnh phúc, chiếu sáng niềm vui Cơ đốc”. Hơn nữa, đứa trẻ có thể phát triển một thái độ tích cực về chức vụ nếu nó không bị dẫn đến cảm nghĩ rằng chức vụ đã tước đoạt cha nó khỏi nó.
Mặc dù khó khăn và đau buồn xảy ra cho mọi gia đình cách tự nhiên, nhưng một mục sư có thể vượt qua những khó khăn này khi sự hiện diện của Đức Chúa Trời thể hiện rõ trong gia đình mình. Nếu mục sư và vợ ông quyết định ngay từ khi khởi đầu cuộc chung sống của họ rằng họ sẽ xếp đặt thì giờ dành cho gia đình lễ bái mỗi ngày, Đức Chúa Trời sẽ khen ngợi lời hứa nguyện của họ và đổ đầy trên gia đình họ một không khí đầm ấm yêu thương. Trong giờ lễ bái đó, trẻ con có thể học tập chia sẻ niềm vui của chúng và không những quan tâm đến cha mẹ chúng nhưng còn liên hệ đến Cha Thiên Thượng nữa. Hãy dành thì giờ cầu nguyện với nhau mỗi ngày, như một gia đình mục sư phải bày tỏ sự ưu tiên cao độ mà ông dành cho sự gây dựng hạnh phúc thuộc linh của gia đình.
(10) Giả sử bạn làm cha của những em bé chưa đến tuổi đi học. Làm thế nào để giờ gia đình lễ bái trở thành một kinh nghiệm vui vẽ, và hữu ích thuộc linh cho chúng ? Đến tuổi thiếu niên thì bạn làm sao ?
Trong phần nghiên cứu mới đây về những em thiếu niên con của những mục sư, những quan sát viên đã thấy rằng những em sung sướng và thành công có ba thái dộ chính về chức vụ của cha mình:
1. Các em cảm thấy ‘được kêu gọi’ cùng với cha mẹ mình và tin rằng chức vụ hầu việc Chúa là cuộc sống tốt đẹp nhất.
2. Các em quan tâm trên một vài phương diện đến công việc của cha mẹ, và cảm thấy mình có giá trị và hữu ích trong khả năng của mình.
3. Các em nhìn thấy đời sống mình có ích và thú vị.
Trái lại những em thiếu niên cảm thấy bất mãn hay cay đắng chức vụ của cha mình đã đưa ra những lời diễn đạt sau:
1.” Hầu như không bao giờ em gặp mặt cha em”.
2.” Cha em luôn xa nhà.Cha nói cha sẽ thay đổi, nhưng ông chẳng bao giờ thay đổi”.
3.” Cha mẹ em nghĩ rằng chức vụ của họ quan trọng hơn chúng em. Thật vậy, cha mẹ cũng nói như thế nữa”.
Những em thiếu niên ở phần sau đang bị tổn thương. Các em khao khát cha mẹ quan tâm đến mình và chia sẻ điều chúng lo lắng. Không ngạc nhiên gì nhiều em bị bỏ rơi như thế đã phát triển những thái độ tiêu cực đối với chức vụ. Hơn nữa, nếu cha mẹ không nhận ra và sắp lại những ưu tiên của mình, thì nhiều em sẽ quay lưng trong sự cay đắng đối với Đức Chúa Trời. Thường thường, các em rơi vào những khó khăn nghiêm trọng và làm cho chức vụ của cha mẹ bị nhục nhã, cướp mất đi những gương mẫu có tác dụng tốt nhất.
Trẻ con, như các em được mô tả ở trên, thất vọng và giận dữ vì ‘sự vắng mặt của cha mẹ’. Nếu bạn có các con ở tuổi thiếu niên, hãy hỏi xem các em nghĩ gì về chức vụ của cha mẹ. Phải lắng nghe và không được lờ đi những cảm nghĩ của các em. Bạn có thể nghĩ rằng mình không phải là” Một phụ huynh vắng nhà”. Nhưng để cho chắc hãy tự hỏi những câu sau:
1. ‘Tôi có vắng nhà thường xuyên không ?’
2. ‘Tôi có biết những hoạt động của con cái mình qua vợ thuật lại không ?’
3. ‘Nếu con tôi muốn tôi dành thì giờ cho nó, câu trả lời đầu tiên của tôi có phải là ‘không được, ba bận lắm’ không ?’.
4. ‘Tôi có làm việc trong thời gian nghỉ hè, thay vì lên kế hoạch cho những sinh hoạt vui chơi của gia đình mình không ?’
5. ‘Tôi có thường lập kế hoạch xả hơi với gia đình tôi không ?’
6. ‘Tôi có thấy việc trưởng dưỡng con cái là nhiệm vụ của vợ tôi không ?’
Nếu bạn trả lời ‘có’ cho ba hoặc nhiều hơn các câu hỏi này, thì có lẽ bạn đang bị nguy cơ, là một phụ huynh vắng mặt, và con cái bạn có thể bị tổn thương và thất vọng. Hãy hỏi con cái bạn để xem chúng trả lời như thế nào về bạn qua những câu hỏi này. Rồi cùng nhau thảo luận để được những câu trả lời ‘có’, bạn sẽ là một người cha tốt hơn khi cố gắng làm điều đó.
Mặc dù mục sư hầu hết đều thích giảng và dạy về các lãnh vực thuộc phạm vi đời sống gia đình, nhưng bài trắc nghiệm thực tế là ông có thực hành những điều ấy trong gia đình mình không. Nên nhớ làm cha mẹ không phải là một phần có thể lựa chọn tùy ý trong công tác của mục sư, mà nó là điểm trung tâm điểm trong chức vụ mục sư. Nếu bạn cứ giữ tiêu điểm này thì bạn sẽ chẳng bao giờ cần nói, như một con người khôn ngoan.” Họ đã đặt tôi coi giữ các vườn nho, còn vườn nho riêng của tôi, tôi đã không coi giữ” (Nhã ca của Salômôn)
(11) Một đứa trẻ học về ý niệm vai trò và hệ thống giá trị qua của cha nó.
(12) Một đứa con trai dường như tức giận và phẫn uất đối với cha mình. Có lẽ người cha cần với em nhiều hơn.
(13) Theo Tân ước, điều gì sẽ tránh cho một người cha không làm cho con cái mình giận dữ (hoặc bực tức) ?
LÀ MỘT NGƯỜI CUNG CẤP.
Mục tiêu 6: Nhận ra những lời diễn đạt, mô tả hành vi nhất quán của sự dạy dỗ Kinh Thánh về vấn đề tiền bạc.
Mặc dù mục sư có rất nhiều trách nhiệm thuộc linh nghiêm chỉnh, nhưng ông còn phải có một thu nhập cho gia đình mình. Có lẽ bạn biết một số mục sư đã bỏ chức vụ vì sự căng thẳng về kinh tế liên tục. Mặt khác, bạn có thể biết một số mục sư vẫn ở lại chức vụ mà họ có thể tránh nhận cấp dưỡng tiền bạc. Trong bất kỳ trường hợp nào, mục sư vẫn phải đóng vai trò là người cung cấp.
THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI TIỀN BẠC.
Kinh Thánh không kết án chính tiền bạc, nhưng mô tả rằng sự yêu mến (ham) tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác (ITi1Tm 6:10). Kinh Thánh cũng chỉ rõ rằng chất chứa của cải như là một cứu cánh của cuộc đời mình là sự ngu dại. Cả Phaolô và Giăng đều coi sự yêu mến tiền bạc là ngang hàng với tội thờ hình tượng, vì điều đó dẫn các tín hữu cách xa khỏi hi vọng Cơ đốc chân chính (CoCl 3:5; Eph Ep 5:5; IGi1Ga 2:15). Sự tham lam và lòng ham muốn giàu có mãnh liệt mà những tác giả này kết tội là sự khao khát làm điều ác hay tìm kiếm tư lợi, vì một khi bạn thèm muốn mạnh mẽ để chiếm hữu một vật gì, thì thực sự nó đã chiếm hữu một phần của đời sống bạn.
Có lẽ một trong những lý do chính gây ra sự khó khăn trong gia đình là thái độ đối với tiền bạc - thiếu tiền và sự sử dụng tiền. Mặc dù một người phối ngẫu có thể xuất thân từ một gia đình đánh giá cao tiền bạc vì nó có thể mua được địa vị, còn người kia xuất thân từ một gia đình tiết kiệm trong việc sử dụng tiền bạc. Từ những quan điểm khác nhau về sử dụng tiền bạc, mỗi người phải có một sự điều chỉnh công bằng đáng kể.
Kinh Thánh đưa những ví dụ về hạng người bị tiền bạc chế ngự, và những người sử dụng tiền bạc như là một sự ủy thác từ Đức Chúa Trời. Trên một phương diện câu chuyện ngụ ngôn về người giàu có dại dột được cảnh cáo về nguy hiểm của việc để của cải vật chất chế ngự mình mà không quan tâm đến những giá trị thuộc linh. Người giàu dại dột tự nhủ” mày đã được nhiều của cải dự trử để dùng trong nhiều năm, thôi hãy nghỉ, ăn uống và vui vẻ”. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời phán cùng người rằng” Hỡi kẻ dại, chính đêm nay linh hồn mi sẽ bị đòi lại, vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai ?”. Rồi Chúa cảnh cáo,” Hễ ai thâu trữ của cải cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời thì cũng như vậy”(LuLc 12:19-20).
Mặt khác, những tín hữu tại Maxêđoan là những tấm gương tốt về những người sử dụng của cải một cách khôn ngoan và đúng đắn. Phaolô nói rằng” Họ trước hết đã dâng chính mình cho Chúa và sau lại cho chúng tôi, theo ý muốn của Đức Chúa Trời” (IICo 2Cr 8:5). Từ điểm này chúng ta học biết rằng khi chúng ta dâng mình cho Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ biết đặt những giá trị đúng chỗ.
Mục sư, phải luôn luôn cảnh giác về sự xâm chiếm của chủ nghĩa vạät chất vào đời sống mình. Người ấy phải nhắc nhở chính mình cùng gia đình rằng tất cả những gì mình sở hữu đều thuộc về Chúa và phải thuận phục Ngài. Con người không phải là chủ nhân, nhưng là người quản lý, coi sóc điều hành hàng hóa và tài sản của người khác.
(14) Trong CoCl 3:5 tại sao Phaolô liệt kê cả tội tham lam và thờ lạy hình tượng vào chung một loại tội ghê tởm ?
SỐNG TRONG PHẠM VI PHƯƠNG TIỆN MÌNH CÓ.
Thà hoàn thành công việc với một số tiền mà được phước của Chúa hơn là với nhiều tiền mà không được Đức Chúa Trời chúc phước. Một trong những nan đề chính có liên quan đến tiền bạc là số lương ‘không phù hợp’ của mục sư. Một số những nhóm Cơ đốc nhân không thích dùng chữ ‘lương’ vì trong quan điểm của họ chữ ‘lương’ chỉ về ‘người làm công’ trong ý nghĩa trần tục. Vì họ không muốn nghĩ đến mục sư như là một công nhân được thuê mướn, họ thích dùng những từ khác. Dù gọi bằng gì đi nữa, thì chúng ta đều ám chỉ về sự giúp đỡ mà Hội thánh cung ứng cho mục sư để cấp dưỡng cho gia đình ông.
Điều có ý nghĩa cần ghi nhận ở đây là yếu tố quan trọng của nền tài chánh gia đình là thái độ của vợ mục sư đối với tiền bạc. Thái độ của bà có một ảnh hưởng sâu sắc trên gia đình, và đặc biệt trên chồng bà. Bà giữ vai trò trung tâm vì thái độ của bà đối với tài chánh sẽ ảnh hưởng cả gia đình. Chẳng hạn, nếu bà không thỏa lòng và liên tục phàn nàn với chồng về sự túng thiếu, thì bà có thể làm cho chồng trở nên thất vọng và rời khỏi chức vụ.
Thái độ của người vợ cũng sẽ ảnh hưởng trên con cái, và có thể khiến chúng lớn lên với thái độ sai lầm về chức vụ. Chúng có thể cảm nghĩ rằng chức vụ sẽ tước đoạt những nhu cầu bình thường của cuộc sống khỏi chúng và vì thế chúng đã hi sinh quá nhiều. Một lần nữa, sự thỏa lòng là chìa khóa của một gia đình hạnh phúc, bất chấp điều kiện vật chất như thế nào. Vì vậy, người vợ nào làm việc tích cực và quản lý khôn khéo trong vấn đề tiền bạc sẽ là một ơn phước lớn cho chồng con mình.
Gia đình mục sư cần phải có một tình trạng tài chánh ổn định trong xã hội. Điều này sẽ khiến gia đình có lời chứng mạnh mẽ cho Chúa trước Hội thánh và cộng đồng. Mục sư cần tập trung vào một số điều cơ bản liên quan đến những nguồn cung cấp cho mình (những món quà biếu, tiền mặt và thu nhập bình thường).
Ông cần lập một kế hoạch sử dụng ngân sách cách mềm dẻo và thực tế. Ngân sách là một kế hoạch giúp cho một người giữ cân đối số thu nhập và số chi tiêu của mình. Ngân sách giúp cho gia đình thực hiện sự quản lý tốt qua việc sắp xếp những ưu tiên. Như vậy, gia đình phải liệt kê những gì cần và khoản chi phỏng chừng của mỗi mục. Điều đó sẽ giúp cho việc xác định nếu khoản thu nhập vừa đủ đáp ứng những nhu cầu cơ bản. Nếu kế hoạch chứng tỏ rằng số chi trội hơn số thu, thì gia đình phải xét lại phiếu liệt kê để xem nên giảm bớt khỏan nào. Ngân sách không phải là một ông chủ, trái lại, nó chỉ là dụng cụ giúp một người sử dụng nguồn tài chánh Đức Chúa Trời ban cho mình một cách ý nghĩa. Cuối cùng, ngân sách sẽ giúp cho một người thấy trước được tiền bạc của mình phải được dùng vào việc gì trước nhất.
Ông cần lên kế hoạch cho những chi tiêu khẩn cấp. Nếu được mục sư nên dành riêng ra một số thu nhập nào đó để cho những nhu cầu không dự kiến hay những chi tiêu khẩn cấp. Khi những điều này xảy ra, thật có ích để có một sự tín nhiệm tốt; tuy nhiên việc vay mượn đòi hỏi một kỷ luật nghiêm khắc và có kế hoạch. Trong nhiều trường hợp những mục sư bị buộc rời khỏi chức vụ cách hổ thẹn vì họ không khả năng trả nợ. Vì lý do này, mục sư chỉ nên mượn tiền trong những lúc hết sức khẩn cấp.
Mục sư cần xem xét có nên để vợ mình đi làm bên ngoài gia đình không ? Sự lựa chọn này lệ thuộc vào một số yếu tố. Nhiều nhất là tùy nền văn hóa, phong tục và những cơ hội ở địa phương. Điều lý tưởng là, đặc biệt khi con cái còn nhỏ, người mẹ nên dành trọn thì giờ để lo cho con cái và công việc nhà.
Những hoàn cảnh đều khác nhau và tùy thuộc nhiều vào nhu cầu cũng như động cơ để người vợ đi làm. Đây là những lãnh vực mà mục sư và vợ ông phải chân thành cầu hỏi ý Chúa khi họ nghiêm chỉnh theo đuổi ý muốn và sự dẫn dắt của Ngài . Có những trường hợp, nhu cầu cho người vợ làm việc bên ngoài gia đình dường như khá rõ ràng, chúng tôi sẽ đề cập một số trường hợp sau đây:
1. Khi một mục sư khởi đầu một công tác mới và không có tín hữu nào yểm trợ mình, người vợ có thể cần đi làm. Mục sư/chồng của nàng nhờ đó có thể dâng trọn thì giờ để thành lập Hội thánh.
2. Khi mục sư /chồng đang làm công tác tiên phong và đang làm việc bán thời gian, thì vợ ông có thể đi làm để giúp cấp dưỡng cho gia đình.
3. Nếu người chồng đi học để tiến cao hơn đang khi làm mục sư, người vợ có thể đi làm. Có lẽ họ cần có thêm tiền để lo việc học ngoài những chi phí bình thường khác, và việc kiếm tiền của người vợ dường như rất cần thiết.
4. Trong vài nền văn hóa, những bắt buộc về gia đình có thể đòi hỏi người vợ đi làm. Chẳng hạn, nếu nàng là chị cả, có lẽ nàng buộc phải đi làm để cấp dưỡng cho những em trai, em gái hay cho cha mẹ già của mình.
Tuy nhiên, quyết định cuối cùng phải dựa vào sự quản lý tốt, những động cơ đúng đắn và điều gì tốt nhất cho gia đình và Hội thánh.
Tóm lại, nếu con cái đã đủ tuổi để hiểu biết, đây là một lợi thế để giải thích ngân sách cho các con biết. Điều này sẽ giúp chúng có những hy vọng thực tế. Điều này cũng là một cơ hội để mọi người duy trì một thái độ tin cậy Đức Chúa Trời là Đấng nuôi nấng những con chim sẻ và mặc đẹp cho các loài hoa ngoài đồng.
(15) Quyết định về việc người vợ có nên đi làm công việc ở bên ngoài không, trước nhất nên dựa vào:
a. Nhu cầu tài chánh.
b. Khả năng và trình độ văn hóa của người vợ.
c. Những động cơ liên hệ.
d. Nền văn hóa địa phương.
(16) Liệt kê ba đặc tính mà một người cần có trong việc lập ngân sách gia đình.
(17) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi ví dụ sau đây nêu một gương mẫu của Kinh Thánh về sự dạy dỗ liên quan đến tiền bạc.
a. Anna cảm thấy mình có thể mua bất kỳ điều gì gia đình mình cần vì nàng tin rằng Đức Chúa Trời sẽ cung cấp những điều gia đình nàng muốn.
b. John cảm thấy sự giảng dạy của mình bị hạn chế vì ông không có một cuốn sách chú giải Kinh Thánh, tuy nhiên, ông vẫn chi trả những phiếu thanh toán và tiết kiệm mỗi tuần một ít để mua cuốn sách giải kinh đó.
c. Trong khi đang mở mang một Hội thánh mới, William phải làm việc vất vả để cấp dưỡng cho gia đình bằng một thu nhập giới hạn. Ông không ngủ ngon vì lo lắng về việc mua lương thực cho gia đình.
d. Là người đi mua sắm khôn ngoan và cẩn thận, Mary biết tiết kiệm như thế nào khi mua những thức ăn. Điều này giúp cô tiếp trợ kẻ nghèo.
µµµµ
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
CÂU HỎI LỰA CHỌN
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Một cuộc hôn nhân tốt đẹp thật quan trọng cho một mục sư vì trước nhất điều đó:
a. Bảo vệ mục sư khỏi sự cám dỗ.
b. Giúp mục sư tuân thủ với những tục lệ xã hội.
c. Cho phép mục sư có một địa vị xã hội thích nghi hơn.
d. Giúp mục sư lập mẫu cho một mối quan hệ Cơ đốc hài hòa.
2. Thái độ mong đợi nơi một người có một vị trí nào đó là:
a. Vai trò.
b. Ưu tiên.
c. Thành kiến.
d. Xã hội hóa.
3. Thái độ hi sinh bản thân trong gia đình mô tả:
a. vai trò của người vợ
b. vai trò của tất cả Cơ đốc nhân
c. vai trò của con cái
d. vai trò của người chồng
4. Lời diễn đạt” Trong Christ...không còn nô lệ hay tự do, nam hay nữ...” chứng tỏ rằng:
a. Những thành viên trong gia đình có quyền bình đẳng trong nhà mình.
b. Những người vợ không phải là những nô lệ của chồng mình.
c. Những thành viên trong gia đình đều bình đẳng về mặt thuộc linh trước mặt Đức Chúa Trời. d. Chỉ một mình Đấng Christ có quyền hành trên gia đình Cơ đốc.
5. Theo phần thảo luận của chúng ta, vai trò đầu tiên của vợ mục sư là:
a. Có thể phục vụ bất kỳ nơi nào cần đến nàng.
b. Chứng tỏ tình trạng được đề cao của gia đình mục sư.
c. Xem nhà mình là trách nhiệm đầu tiên của nàng.
d. Dành tất cả quan tâm cho con cái mình.
6. Nếu mục sư và vợ muốn có một chức vụ hiệu quả giữa vòng dân sự Chúa, họ phải có thể:
a. Gánh vác những trách nhiệm nặng nề trong Hội thánh.
b. Hướng dẫn nhiều nhóm phục vụ khác nhau trong Hội thánh.
c. Làm nhiệm vụ xã hội trong cộng đồng với khả năng lãnh đạo .
d. Giữ kín những tâm sự.
7. Theo sách tự học này, trách nhiệm khởi đầu và duy trì tình yêu trong gia đình thuộc về:
a. Người chồng.
b. Con cái.
c. Người vợ.
d. Chúa.
8. Bằng việc bày tỏ công khai rằng mình tôn trọng và đánh giá cao vợ mình, thì mục sư:
a. Gia thêm phẩm chất thuộc linh của vợ.
b. Chỉ ra nàng trổi hơn những người vợ khác như thế nào.
c. Nâng cao sự tự nhận thức của nàng.
d. Bày tỏ sự hứa nguyện và tình yêu của mình đối với vợ.
9. Nếu một mục sư muốn con cái ông có thái độ nhiệt tình đối với chức vụ, ông phải:
a. Nói về tầm quan trọng của chức vụ mục sư cho các con.
b. Nhắc nhở cách liên tục rằng các con phải làm gương cho những người khác.
c. Dành thì giờ cho các em và quan tâm đến những nhu cầu của chúng.
d. Giải thích tại sao Hội thánh là ưu tiên một của ông.
10. Lý do chính tại sao một ngân sách là cần thiết cho một mục sư, ấy là:
a. Giữ cân đối trong việc thu và chi của ông.
b. Giữ cho vợ ông không tiêu quá nhiều tiền.
c. Cho con cái hiểu tại sao các em không thể mua mọi thứ các em thích.
d. Giúp ông quyết định việc vợ ông cần đi làm hay không.
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) d) góp phần vào tất cả những điều ghi ra ở trên.
(2) a) và d) là những câu đúng.
(3) b) thái độ mong đợi nơi một người ở một vị trí nào đó.
(4) d) hi sinh.
(5) a), d) và e) là những câu đúng.
(6) b, c, d, và f là những lời diễn đạt đúng.
(7) c) tình yêu thương.
(8) a. Ông ấy đang nuôi dưỡng phẩm chất thuộc linh của vợ.
b. Ông ấy không ý tứ và hiểu biết. Có lẽ vợ ông không có đủ thì giờ để làm những việc này, mà các thành viên khác trong Hội thánh có thể đảm trách.
c. Ông bày tỏ sự tôn trọng vợ mình, và ông tránh sự cám dỗ không chung thủy với vợ.
d. Ông bày tỏ sự kính trọng và ưu ái.
(9) b) dạy bảo.
(10) Dùng một câu chuyện Kinh Thánh mà các em có thể hiểu được. Đối với bất kỳ lứa tuổi nào, giờ tĩnh tâm phải giúp các em thông hiểu tình yêu của Đức Chúa Trời đối với các em.
(11) Sự lãnh đạo.
(12) Bày tỏ sự quan tâm, hay, dành thì giờ.
(13) Cung cấp cho các em sự huấn luyện và sự dạy dỗ của Chúa (Eph Ep 6:4).
(14) Tham lam là nguyên nhân gây ra do một người bị sự thèm muốn cao độ kiểm soát, điều này còn được gọi là sự thờ phượng tiền bạc và vì thế phạm tội thờ thần tượng.
(15) c) những động cơ liên hệ.
(16) Ngân sách phải thực tế, mềm dẻo và dự trù cung ứng cho những trường hợp cấp bách.
(17) Bạn phải khoanh tròn câu b và d.
&
NGUYÊN TẮC XỬ THẾ CỦA MỤC SƯ
Trong bài 6 chúng ta tập trung chú ý vào các mối quan hệ của mục sư trong thế gian và cộng đồng chung quanh mình. Chúng ta thấy thế nào ông ấy phải sống trong thế gian và liên hệ với dân chúng trong khi mình vẫn giữ địa vị là đại diện của Đấng Christ. Trong bài học cuối này của đơn vị nói về những mối quan hệ của mục sư, chúng ta sẽ khảo sát những mối quan hệ dựa vào những giá trị của một người trong cuộc sống. Những điều này có thể được gọi là những tiêu chuẩn bên trong lòng và trí của con người vốn có một ảnh hưởng trên đời sống hàng ngày.
Những người sống và làm việc chung quanh mục sư quan sát mỗi giai đoạn của cuộc sống ông. Kết quả là ngay khi rời khỏi tòa giảng và tiếp xúc với người khác thì những lời giảng của ông được thực sự trắc nghiệm ngay. Thật vậy, chính trong thời gian không ở trên tòa giảng mới là lúc mục sư áp dụng nguyên tắc đạo đức vào trong đời sống và chức vụ của mình. Điều này cũng bao gồm cả cương vị quản gia thân thể vật lý của mục sư. Dù khía cạnh này của bài học không liên quan trực tiếp đến quy tắc xử thế của mục sư, nhưng nó có ảnh hưởng đến cách mục sư nhìn và cảm nghĩ, và cũng ảnh hưởng đến cung cách ông ấy thi hành nhiệm vụ của mình. Đến lượt điều này lại cho phép ông nhận thức một số nguyên tắc có thể làm tăng hình thức bên ngoài của mình, uy tín cá nhân và gián tiếp tăng hiệu suất của chức vụ mình.
Khi bạn học suốt bài này, tôi mong ước bạn sẽ thực hiện như vậy với lời cầu xin Đức Chúa Trời xức dầu trên đời sống bạn và khiến bạn trở nên một nguồn phước thay vì làm vật vấp ngã cho những người mình phục vụ. Nguyện xin Chúa làm cho bạn nhạy bén với những gì liên quan đến chức vụ hầu việc Chúa lâu dài của bạn.
DÀN Ý BÀI HỌC
* Đời sống cá nhân của mục sư.
* Đời sống cộng đồng của mục sư.
* Tư cách nghề nghiệp của mục sư.

NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Khi học xong bài này bạn phải có thể:
* Mô tả mối quan hệ giữa sức khoẻ tốt với hiệu quả của một người trong công tác phục vụ.
* Nhận diện những tiêu chuẩn đạo đức đòi hỏi một mục sư Cơ đốc trong mối liên hệ với những mục sư khác và với thân thể của Hội thánh.
* Đánh giá những tiêu chuẩn đạo đức và tán thưởng sự thích ứng của các tiêu chuẩn đó đối với đời sống và công tác của mục sư.
NHỮNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1. Nghiên cứu bài học và làm Bài Trắc nghiệm cá nhân y theo những sự chỉ dẫn trong bài 1.
2. Ôn từ bài 5 đến bài 7 như được gợi ý theo những chỉ dẫn trong túi tài liệu học viên của bạn. Rồi trả lời Phiếu Đánh Giá Tiến Trình Học Tập Đơn vị 2, trong túi dành cho học viên. Sau đó gởi ngay đến giáo viên hướng dẫn bạn học loạt bài ICI, người sẽ chấm bài và cho bạn biết kết quả.
NHỮNG CHỮ CĂN BẢN
Châm biếm
Giải độc
Người giữ chức vụ
Quá mức
Tiền thù lao
Xen vào
TRIỂN KHAI BÀI HỌC
Mục tiêu 1: Cho biết mối quan hệ giữa sự quản lý thân thể vật lý của mục sư với hiệu quả của chức vụ của ông.
ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN CỦA MỤC SƯ.
Thật châm biếm, khôi hài nếu chúng ta nói về đời sống cá nhân của mục sư trong khi dường như ông ta chẳng có nhiều riêng tư gì cả. Chắc chắn mục sư thường có cảm nghĩ mình được mọi người xem là tài sản công cộng. Đôi khi dường như mọi người đều muốn can thiệp vào đời sống mục sư và cố uốn nắn theo ý tưởng riêng của mình rằng mục sư phải là người như thế này và phải như thế kia.
Trong phần đầu của bài học này, chúng ta sẽ thảo luận những lãnh vực trong đời sống mục sư mà người ta thường ít đề cập đến ở nơi công cộng, nhưng như chúng ta sẽ thấy, những điều ấy sẽ tác động cách hiển nhiên trên diện mạo và hành động của mục sư. Hơn nữa nếu không đề cập những điều này cách đúng đắn, thì nó trở thành vấn đề nghiêm trọng.
Sức khỏe của mục sư.
Mụïc sư bận rộn cần một thân thể cường tráng, khỏa mạnh vì sức khỏa thể chất ảnh hưởng đến tình trạng thuộc linh và trí tuệ. Về mặt này, ông cần nhớ rằng thân thể mình là đền thờ của Thánh Linh (ICo1Cr 6:15-20). Là một tín hữu Cơ đốc, bạn là người quản lý cơ thể của mình, nó không thuộc về mình. Đức Chúa Trời đã đơn thuần giao phó thân thể này cho bạn như là một phương tiện qua đó bạn có thể hoàn thành công việc của mình. Đó là một sự kiện mà mọi người đều biết, tức là tình trạng của thân thể ảnh hưởng đến cách ứng xử của con người, vì vậy nếu thân thể bạn yếu đuối và bịnh hoạn, thì bạn không thể thực hiện cách hiệu quả gánh nặng của trách nhiệm mục sư.
Chẳng hạn, bạn có thể thấy rằng mình đang bực bội với những con người mình gặp trong ngày. Có thể vì bạn ngủ không đầy đủ trong đêm trước đây. Sự bực bội, mệt mỏi, và chán nản có thể là những triệu chứng của điều gì sai trật trong cơ thể bạn. Để tránh những nan đề thêm nữa, bạn cần phải biết các nguyên nhân gây ra và bạn có thể làm gì đối với những hiện tượng đó. Trong những phần sau đây, chúng ta sẽ thảo luận một số điều cơ bản để duy trì một thân thể cường tráng khỏe mạnh.
Nghỉ ngơi đầy đủ và giản xả thỏa mái. Mỗi mục sư đều có những trách nhiệm nặng nề và mang một khối lượng công việc to lớn. Dường như ông không bao giờ có được thì giờ thực sự để nghỉ ngơi, hoặc ông có thể cảm thấy mình không phải dành thì giờ để xả hơi khi còn quá nhiều đòi hỏi về thì giờ của mình. Chúa Jêsus đã có lý do khi nói rằng” Vì loài người mà lập ngày Sabát” (Mac Mc 2:27). Ngài công bố rằng ngày nghỉ được lập nên vì lợi ích của chính con người. Để sống còn và mang đến lợi ích trong chức vụ mục sư, bạn cần ý thức rằng thân thể bạn được tạo dựng với một khả năng tự phục hồi qua nghỉ ngơi và giản xả. Đức Chúa Trời cũng truyền lệnh nghỉ ngơi trong những điều răn của Ngài khi Ngài phán:
“Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi... Trong ngày đó ngươi không làm bất cứ một công việc gì. Vì trong sáu ngày
“Đức Giêhôva đã dựng nên trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ.” (XuXh 20:9-11.)
Những câu này chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đã làm gương qua việc nghỉ một trong bảy ngày. Ngài làm như vậy vì con người cần một ngày trong tuần để nghỉ. Không biết nghỉ ngơi là lạm dụng thân thể vật lý của một người. Bạn có lưu ý thế nào thân thể bạn dễ dàng ngã bịnh khi bạn lạm dụng nó không ? Thường thường khi chúng ta bị quá mệt, chúng ta dễ bị nhiễm trùng và mắc bệnh. Vậy với thời gian dài, nếu chúng ta thất bại trong việc nghỉ ngơi có cần, thì hoặc chúng ta có thể rút ngắn thời gian phục vụ hoặc chúng ta làm cho sự phục vụ kém hiệu quả hơn.
Ít ra lúc khởi đầu chức vụ, bạn có thể nghĩ vài ảnh hưởng có hại chẳng thấm vào đâu. Chẳng hạn, khi bạn cảm thấy buồn ngủ giữa ban ngày do thiếu nghỉ ngơi trong ban đêm, bạn có thể không nghỉ đúng đắn về chuyện đó. Có lẽ, thỉnh thoảng một lần bạn có thể gạt bỏ vì không quan trọng đến thế, nhưng nếu bạn thường xuyên mắc phải thì nó có thể làm bạn tiêu hao dần và sẽ gây ra những nan đề thường xuyên. Hãy xem xét điều ‘nho nhỏ’ này có thể ảnh hưởng trên hành vi bạn như thế nào. Khi bạn buồn ngủ giữa ban ngày, khả năng chú ý của bạn sẽ bị ngắn lại, và bạn có thể có thái độ khiếm nhã, thô kệch. Thường thường bạn không thể suy nghĩ sáng suốt. Mặc dù số giờ ngủ cần đến khác nhau ở mỗi cá nhân, nhưng bạn cần phải biết thế nào là vừa phải đối với bạn và tập một thói quen thường xuyên nghỉ ngơi cho đủ. Chúa Jêsus nhìn nhận nhu cầu này cho những môn đệ của Ngài khi Ngài phán” Hãy đi với ta lánh ra một nơi vắng vẻ và nghỉ ngơi một chút” (Mac Mc 6:31).
Kỳ nghỉ: Khi Chúa Jêsus phán” Hãy theo ta”, điều này có nghĩa là” hãy đi nơi khác với ta”, nghĩa là đến một địa điểm khác. Vì sự giản xả cần thiết, nên mỗi mục sư sẽ được hưởng lợi ích từ một kỳ nghỉ mỗi năm. Ông cần một thay đổi về sinh hoạt, một thay đổi về cảnh vật và một thay đổi nhịp độ sống. Thời điểm trong năm và số lượng thời gian sẽ tùy thuộc vào Hội thánh và hoàn cảnh, tuy nhiên, muốn có một kỳ nghỉ thật sự thì ít nhất phải một tuần và tối thiểu qua một ngày Chúa nhật. Kỳ nghỉ ngơi là một thì giờ để mục sư và gia đình được quây quần với nhau và vui hưởng một thời gian thoải mái, tránh khỏi mọi ràng buộc khác. Đó phải là một thời gian để làm những điều mới, tiếp xúc những người mới và có những kinh nghiệm mới. Mỗi mục sư phải lên kế hoạch cẩn thận cho mình cùng gia đình để có một kỳ nghỉ ngơi thú vị và ích lợi nhất. Đó phải là kỳ nghỉ ngơi thực sự cho gia đình, chứ không phải là một dịp mục sư đi giảng tại một thành phố khác.
Thói quen ăn ngon. Kinh Thánh khuyên chúng ta tiết độ trong mọi sự, và điều này gồm cả việc ăn uống, như vậy kỷ luật là chiếc chìa khóa ở đây. Từ đầu chúng ta phải ghi nhận rằng không cần phải giàu có để có một chế độ ăn cân đối thích đáng. Có nhiều món ăn vẫn đầy đủ chất bổ dưỡng mà lại ít tốn kém. Hầu hết mọi nơi trên thế giới đều có thể tìm ra các loại đậu và gạo. Thường thường những loại thực phẩm này đều không đắt tiền, nhưng vẫn làm cơ sở cho một khẩu phần ăn uống cân đối, đủ chất bổ. Sự thật của vấn đề ấy là nhiều món ăn chế biến đắt giá được gọi là ‘quà vặt’ (‘junk food’) có nghĩa là
những thức ăn ấy không có giá trị gì về mặt dinh dưỡng. Thói quen ăn uống điều độ sẽ giúp bạn giữ cho phần thể chất mình thích ứng với nhiều trách nhiệm của mình và vẫn giữ được sự nhiệt tình và nhanh nhẹn.
Tập thể dục thường xuyên. Mục sư phải tập thể dục thường xuyên. Ông ấy nên chọn một loại thể dục không đắt tiền - một thứ không gây phiền trách cho lời giảng của mình. Mặc dù bổn phận hàng ngày của mục sư đòi hỏi những khả năng về cảm xúc và trí tuệ rất lớn, nhưng nó lại hiếm khi đòi hỏi nhiều cố gắng thể lực. Vậy nếu ông không tập thể dục, ông mất dần sự rắn chắc của cơ bắp và thường xuyên nói rằng ông luôn luôn mệt mỏi. Dĩ nhiên có nhiều lý do khác giải thích tại sao một người cảm thấy lừ đừ uể oải, nhưng một trong những yếu tố chính là thiếu tập thể dục. Có lẽ bạn nhận thấy rằng hễ lúc nào mình cảm thấy uể oải thì cũng cảm thấy cáu kỉnh. Trong cái nhìn thời gian rảnh rỗi hạn chế của bạn là một mục sư nếu bạn có thể sử dụng ít nhất một phần giờ tập thể dục của bạn trong một hình thức hoạt động mà cả gia đình có thể tham dự với nhau thì bổ ích biết bao. Như vậy bạn lại hoàn thành được hai mục đích tốt đẹp.
(1) Hãy tưởng tượng một mục sư trẻ xin bạn cầu nguyện cho vì cảm thấy kiệt sức và ngã lòng. Người ấy cũng nói rằng vợ và các con cũng không hạnh phúc vì người ấy đã dành quá ít thì giờ cho họ. Bạn cũng biết rằng trong lúc người ấy đang mở mang Hội thánh mới, thì người ấy phải làm việc mười bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày và mấy tháng liền không có lấy một ngày nghỉ.
a. Người ấy đang bỏ quên nguyên tắc Kinh Thánh nào?---------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------
b. Liệt kê ba lời khuyên mà bạn sẽ giúp người ấy ---------------------------
--------------------------------------------------------------------------------------------
c. Mục sư này cũng nói rằng ông ta ăn không nhiều vì ông muốn ‘tiết kiệm thì giờ’. Điều này nguy hiểm như thế nào ?-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Dáng vẻ bên ngoài của mục sư.
Trang phục cá nhân chỉnh tề.
Mặc dù chúng ta có thể nói rằng phần thảo luận của chúng ta về sức khỏe liên quan đến con người thể chất bên trong, tình trạng bên trong có một ảnh hưởng sâu đậm đến bên ngoài. Khi chúng ta nói về tình trạng thể chất của một người, chúng ta không thể bỏ qua dáng vẻ bên ngoài của người ấy vì đó là những gì người khác thực sự thấy rõ. Thường thường ấn tượng đầu tiên có khuynh hướng hình thành một dư luận lâu dài. Vì lý do đó, người của Đức Chúa Trời phải giữ mình gọn gàng và sạch sẽ không chỉ bề trong (thuộc linh và thể chất) nhưng cũng bề ngoài nữa (thể chất, diện mạo). Một đại diện của Đấng Christ mà xuất hiện lôi thôi lếch thếch trước công chúng là điều không thể tưởng tượng nổi ! Mặc dù loài người xem dáng vẻ bên ngoài, Đức Chúa Trời nhìn thấy trong lòng là đúng. Và nếu chúng ta muốn ảnh hưởng trên một người cho Đấng Christ cách tích cực, chúng ta không muốn làm nãn lòng người ấy vì cớ dáng vẻ bên ngoài của chúng ta.Vì thế chúng ta phải chăm sóc cách hợp lý diện mạo bên ngoài của chúng ta.
Mặc dù một người phải chăm lo dáng vẻ bên ngoài, nhưng sẽ không khôn ngoan nếu quá quan tâm và quá chú ý đến quần áo, và sự chải chuốt. Bí quyết ở đây là sự thích hợp, nghĩa đơn giản là” thích hợp từng thời điểm”. Mỗi nền văn hóa đã thiết lập những qui cách thích hợp riêng, và người ta phải tuân theo mà không bị quá cứng nhắc. Bạn có thể nghĩ rằng đây là một quan tâm quá mức đến việc mặc quần áo đúng theo mỗi trường hợp. Một lần nữa, cũng như vấn đề ăn uống, điều thích hợp không cần phải là đắt tiền. Khiêm tốn, giản dị, là đặc tính của một Cơ đốc nhân và điều nầy đơn giản nói về một kiểu mà không lôi kéo sự chú ý đến bản chất của một người. Tóm lại, sạch sẽ. gọn gàng và quần áo giản dị luôn luôn là điều thích hợp.
Cách ứng xử ngoài xã hội.
Với dáng vẻ bề ngoài của mục sư, trang phục chỉnh tề là quan trọng, cũng như là ấn tượng về cách ứng xử ngoài xã hội của ông. Lại một lần nữa, chìa khóa ở đây vẫn là sự thích hợp. Mục sư phải kết hợp với đủ tầng lớp người trong cuộc sống, và luôn luôn hành động như một Cơ đốc nhân lịch sự. Mỗi xã hội đều có những tiêu chuẩn về xã giao tốt và cách cư xử nhã nhặn, và đó là điều mục sư phải biết và sử dụng trong mối quan hệ của mình bất cứ lúc nào. Thói quen lịch sự sẽ làm cho một người cảm thấy tốt hơn về chính mình, và nó sẽ phát huy những mối quan hệ êm thắm trong Hội thánh và một lời chứng tốt trong cộng đồng.
(2) Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt ĐÚNG.
Nếu câu nào sai hãy viết lại cho đúng ở hàng gạch trống chừa lại bên dưới.
a. Nghỉ ngơi đúng mức, một chế độ ăn uống cân đối và giản xả thích hợp đều hữu ích, nhưng cũng là một xa xỉ đối với một mục sư bận rộn.
b. Tình trạng thể chất và diện mạo của một mục sư có thể ảnh hưởng đến hiệu quả chức vụ của ông cả về chất lượng lẫn thời gian phục vụ.
c. Đối với một mục sư, khiêm tốn, và thích hợp là những chữ chìa khóa liên hệ với trang phục chỉnh tề và cách cư xử ngoài xã hội.
d. Mục sư phải ăn mặc hơi sang trọng và đắt tiền hơn những chức viên công cộng khác một chút như là một minh chứng về sự cung cấp của Đức Chúa Trời.
Đời sống cộng đồng của mục sư.
Trong phần này của bài học, chúng ta sẽ thảo luận những lãnh vực đặc biệt khác của những mối quan hệ mà chúng ta chưa đề cập trong bài trước. Trước tiên những điều này liên quan đến những thực hành đạo đức của mục sư trong chức vụ công cộng. Dù một vài hoàn cảnh có thể không tác động đến bạn ngay bây giờ, nhưng chắc chắn có những lần trong tương lai khi những điều đó sẽ trở thành quan trọng. Vì lý do nầy hãy nghiên cứu chúng cách kỹ lưỡng.
Mục tiêu 2: Nhận diện những thực hành đạo đức cần thiết trong mối quan hệ mục sư với những mục sư đi trước mình hoặc đến sau trong một chức vụ chăn bầy.
NHỮNG MỐI QUAN HỆ VỚI NHỮNG MỤC SƯ KHÁC.
Bổn phận của bạn là một người tiền nhiệm.
Từng hồi từng lúc, Chúa hướng dẫn một mục sư đến một thị xã khác hay một loại công tác khác. Điều này có nghĩa là người ấy phải rời vị trí chức vụ hiện tại và để người khác thế chỗ của mình. Đến thời điểm đó thì bạn trở thành người” tiền nhiệm”. Tùy thuộc vào thái độ của những người liên quan, những trường hợp như vậy có thể là những lúc thỏa lòng vì một công việc đã thực hiện tốt, hoặc đó là những lúc đau lòng cho cả những người lãnh đạo lẫn những thành viên trong Hội thánh. Bất cứ một mục sư nào đã phục vụ một hội chúng với một trách nhiệm thực sự và yêu mến dân sự mình thì người đó sẽ được nhiều người yêu mến lại và người đó sẽ có một lực lượng ủng hộ tốt. Đó là hoàn toàn bình thường. Nếu bạn gieo yêu thương bạn gặt yêu thương. Khi những người được trưởng dưỡng yêu thương bạn là mục sư của họ, dĩ nhiên họ rất buồn khi bạn rời khỏi. Họ sẽ nhớ bạn và bạn nhớ họ; kết quả không dễ gì kềm chế được những quan hệ tình cảm chặt chẽ này. Tuy nhiên, để công việc được tốt đẹp, bạn nên cắt đứt những quan hệ đó và di chuyển đến nhiệm sở mới, thỏa lòng với những kỷ niệm đẹp và những giờ phút tuyệt vời mà Đức Chúa Trời đã ban thưởng.
Tuy nhiên, nếu bạn hay bám chặt những mối liên kết cũ, thì bạn sẽ tạo ra những vấn đề cho mục sư kế tiếp bạn. Vậy, bạn có thể làm gì để tạo ra sự chuyển tiếp nhẹ nhàng? Làm thế nào để bạn có thể giúp tín hữu Hội thánh bạn bắt đầu yêu thương và tôn trọng vị mục sư mới ngay cả khi ông ta chưa đến ? Có một vài bước thực tế mà bạn, người đang giữ chức vụ, có thể tạo ra sự quá độ dễ dàng cho mọi người có liên hệ.
Sự giới thiệu có lợi cho người kế vị bạn trước hội chúng.
Bạn làm điều đó bằng sự dạy dỗ tín hữu trong Hội thánh bạn nhìn vào Đấng Christ là Đấng Chăn Chiên trưởng và nhìn những mục sư là những người chăn còn kém. Bạn có thể thành thật xây dựng mục sư kế vị trước hội chúng như một người được Đức Chúa Trời sai đến làm người chăn của họ. Hãy cho họ sự bảo đảm rằng Đức Chúa Trời sẽ giúp người ấy dẫn dắt hội chúng để hoàn thành kế hoạch của Đức Chúa Trời cho Hội thánh. Khi bạn tin và hành động như thế Hội thánh thuộc về Đấng Christ, thì bạn sẽ làm việc ấy dễ dàng hơn. Tiếc thay, một số mục sư lại tuyên bố như thể Hội thánh là ‘của riêng mình’ mà mình là người đã mở mang. Nên nhớ dù ai mở mang Hội thánh địa phương, thì Hội thánh vẫn không trở thành ‘sở hữu’ của người ấy.
Mời mục sư kế vị đến phục vụ Hội thánh đang khi bạn còn ở đấy, giúp bạn có cơ hội giới thiệu người ấy cho cả hội chúng. Qua việc tiếp đón nồng nhiệt, thành thật, tôn trọng và ủng hộ, bạn có thể hướng sự ủng hộ, lòng tín nhiệm và tình yêu thương của hội chúng đến với người ấy. Sau đó, họ sẽ bắt đầu chấp nhận, coi trọng và yêu mến người ấy. Vì thế, trong thời điểm chuyển tiếp quan trọng và ưu ái này, người ta sẽ nhìn xem bạn khi bạn tạo không khí chung cho sự thay đổi có hiệu quả.
Chuyển giao Hội thánh cho mục sư mới trong điều kiện tốt.
Điều đó đúng ! Nó bao gồm cả cơ sở Hội thánh tư thất chủ tọa, các thứ trang bị, các hồ sơ - mọi thứ. Mọi thứ đều phải sạch sẽ, trong tình trạng tốt, và đúng thứ tự.Tốt hơn hết là bạn nên làm bảng kiểm kê toàn bộ tài sản của Hội thánh trước khi bạn ra đi. Như vậy, một khi bạn rời khỏi, thì mọi sự phải hoàn toàn ‘rời khỏi tay bạn’. Trong một thời gian sẽ có số tín hữu trong Hội thánh là những người yêu mến bạn có thể viết thư cho bạn và tiếp tục xin bạn khuyên bảo. Tuy nhiên, bằng sự ân cần và lịch sự, hãy chuyển họ đến mục sư của họ và khích lệ họ nhờ ông ấy khuyên bảo. Điều bạn cần phải thận trọng và cảnh giác ấy là bị cám dỗ tiếp tục ‘làm mục sư’ của các tín hữu thuộc Hội thánh cũ của mình.
Chia sẻ toàn bộ kế hoạch tương lai cho mục sư kế vị.
Mặc dù mục sư kế vị không bị bắt buộc phải tiếp tục những gì bạn đã bắt đầu, nhưng cũng tốt thôi nếu ông ta biết tình trạng hiện tại của Hội thánh, những gì đã được hoàn tất, những gì còn dang dở, và những dự kiến tương lai bạn đã thực hiện. Điều này có thể giúp ông có một phối cảnh về ‘tình trạng hiện tại’ của Hội thánh . Nếu bạn khéo léo chia sẻ thì người kế vị bạn sẽ không cảm thấy bị bạn cố gắng gây ấn tượng tốt trên ông. Trái lại, ông sẽ xem đó như là một cố gắng để giúp ông thấy những gì đang diễn tiến.
Sử dụng khôn ngoan và cẩn thận trong việc nhận lời mời của những tín hữu ở Hội thánh cũ.
Điều dễ hiểu là những người mà đời sống họ đã được phước hạnh trong thời gian phục vụ của bạn thì họ sẽ không thể quên bạn khi bạn rời khỏi. Có những trường hợp có thể phát sinh khi bạn được mời dự lễ cưới, lễ tang hay những lễ lộc khác...Nếu các trường hợp đó xảy đến, đừng quên thảo luận với mục sư đương nhiệm trước khi bạn nhận lời. Nếu bạn phải nhận lời thì khẳng định rằng mục sư sở tại cũng tham dự trong trường hợp đó. Đây là điều ‘đúng đắn’ và nó sẽ phát triển những mối quan hệ tốt với mục sư hiện tại.
Hành động lịch sự khi đi thăm những tín hữu của Hội thánh cũ.
Rất ít khi bạn có thì giờ hay lý do để thăm viếng các thành viên trong một Hội thánh cũ. Nhưng nếu điều đó xảy ra, thì qui tắc xử thế mục sư và lịch sự thông thường đòi hỏi bạn phải đến thăm mục sư sở tại trước. Bạn hình thành những mối quan hệ bè bạn cả đời mình khi bạn sống tại một nơi trong một thời gian nào đó và không có lý do gì để bạn không thăm viếng bạn bè nếu bạn đang hiện diện trong khu vực ấy. Tuy nhiên bạn có thể tránh hiểu lầm và phát huy những mối quan hệ mục sư tốt nếu vị mục sư sở tại biết sự thăm viếng xuất phát từ nơi bạn chứ không phải do những thành viên trong Hội thánh của ông ta.
(3) Giả sử bạn đang lên kế hoạch tiếp nhận một nhiệm sở mới. Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê bốn điều bạn mong muốn mục sư sở tại thực hiện trước khi bạn đến. Cho biết lý do của câu trả lời của bạn.
Là Người Kế Vị Bạn Có Bổn Phận.
Trừ khi một mục sư bắt đầu mở mang Hội thánh mới, thì người ấy có lúc sẽ tiếp quản một hội chúng từ một mục sư khác. GiGa 4:36-38 và ICo1Cr 3:6-7 là những đoạn Kinh Thánh tuyệt đẹp nói về những người cùng làm việc với bạn trong vườn nho. Những câu Kinh Thánh này sẽ giúp bạn đánh giá công tác của những người mà bạn kế vị. Dù kẻ trồng, người tưới đều quan trọng nhưng chính Đức Chúa Trời ban phước cho công việc và làm cho tăng trưởng. Như vậy mỗi người trong chúng ta đều góp phần trong việc xây dựng tòa nhà công việc của Đức Chúa Trời, và mỗi người đều sống động trong sự phát triển của mình. Trong vai trò của chúng ta là người tiền nhiệm hoặc người kế vị, thì chúng ta vẫn phải thực hành Qui Tắc Vàng. Phần thảo luận sau đây tập trung về những bổn phận của bạn đối với mục sư đi trước mình.
Đừng làm mất thể diện người tiền nhiệm của bạn.
Bạn có thể làm mất thể diện bằng những gì bạn nói, hành động, đôi khi chỉ bằng lời nói diễu cợt hay lời nói bóng gió. Nói nghịch lại hay chỉ trích công trình xây dựng của mục sư đi trước mình là hành vi không thích hợp với một người của Đức Chúa Trời. Cách ứng xử như thế chứng tỏ sự không vững vàng và tự nó biểu lộ rõ ràng sự ganh tị. Kết quả là một người có thể cố gắng xóa đi mỗi dấu vết của vị mục sư trước đây. Chắc chắn thái dộ như thế làm hại cho tâm linh mình và sẽ không được sự yêu mến và kính trọng của hội chúng. Trái lại, một mục sư đúng đắn sẽ chẳng bao giờ nghe lời đàm tiếu (thật hoặc không thật) về mục sư trước đây. Hơn nữa nếu mục sư trước đây được yêu cầu hiện diện vào những trường hợp đặc biệt, thì mục sư hiện tại phải không cảm thấy bị xúc phạm hoặc bực mình. Trái lại người ấy sẽ chào đón mục sư tiền nhiệm cách thật lòng và nồng nhiệt. Hội chúng sẽ đánh giá cao phép lịch sự và tình yêu nầy được thể hiện đối với mục sư trước kia của họ.
Nhìn nhận những nét khác nhau trong cá tính.
Điều này có lợi mục sư mới nếu người ấy biết rằng mình không thể giống như một người tiền nhiệm, đặc biệt nếu người là một mục sư có tài và có cá tính mạnh mẽ. Mặc dù người ta vẫn thường so sánh mục sư mới và mục sư cũ trong một thời gian, nhưng điều đó phải được vượt qua dễ dàng. Nếu sự việc tương tự xảy ra cho bạn, thì đừng để điều đó khiến bạn bối rối và cũng đừng cố gắng bắt chước giống mục sư tiền nhiệm. Nếu có sự so sánh chỉ ra một lãnh vực trong đời sống bạn mà bạn có thể cải thiện, không cần làm giống như một người khác, thì bạn cứ chấp nhận và tiếp tục làm như vậy. Tuy nhiên, trong tiến trình đó đừng đánh giá mình thấp hay tự xem thường mình. Hãy làm hết sức mình và hãy cứ là chính mình.
Chẳng hạn nếu mục sư tiền nhiệm là người hùng biện thi phú, được nhìn nhận là người tài ba. Nếu bạn không có tài năng tương tự, thì hãy công nhận ông ta. Không có những đức hạnh đặc biệt đang tồn tại giống như mục sư tiền nhiệm, tuy nhiên nếu lãnh vực so sánh có liên kết với một sự yếu đuối trong chính đời sống bạn, thì hãy công nhận rằng bạn đang cải thiện và bạn cần Hội thánh cầu nguyện cho. Sự công nhận này sẽ giúp hội chúng biết rằng họ là một phần của chức vụ bạn và sau một thời gian họ sẽ không còn so sánh nữa.
Giới thiệu sự thay đổi cách sáng suốt.
Vì bạn là một cá tính khác biệt nên cách nhìn sự vật cũng khác. Vài mục sư lo rằng thay đổi như thế sẽ phản ảnh phong cách đặc biệt của họ. Tuổi tác là một yếu tố phụ thêm ở đây, bởi vì một người trẻ có khuynh hướng năng nổ hơn trong lúc một người già thường thì thận trọng hơn. Có lẽ điều này chứng thực rằng kinh nghiệm là một ông thầy tốt. Bằng bất cứ giá nào, tiến hành trong khôn ngoan và thận trọng mỗi khi bạn giới thiệu sự thay đổi. Một mặt, đừng nghĩ lầm rằng vì đó là ý kiến của một người khác, nên sai. Hoặc mặt khác, cũng đừng in trí rằng ví đó là ý kiến của bạn, nên đúng. Bạn cần phải hiểu toàn bộ hoàn cảnh trước khi bạn có thể thực sự giới thiệu những sự thay đổi chính thức. Bạn không nên thay đổi với lý do đơn giản là có thay đổi. Sự thay đổi mà bạn thực hiện phải có mục đích và làm cho tốt hơn. Nếu bạn chỉ thích thay đổi nhãn hiệu của mình trên mọi sự, thì bạn đang phạm một lỗi lầm nghiêm trọng. Hơn thế nữa, người kế vị bạn cũng sẽ thay đổi để thích hợp với những mục đích của người ấy.
(4) Trong khoãng trống trước mỗi lời diễn đạt, hãy viết chữ ĐÚNG nếu câu đó mô tả đúng cách cư xử của mục sư. Viết chữ SAI nếu không phải như vậy.
...a. Trong vòng tháng đầu tiên tại một giáo sở mới, ông John thay đổi ngày, thì giờ và kế hoạch những buổi thờ phượng của Hội thánh.
...b. Sáu tháng sau khi rời khỏi một Hội thánh mà ông đã phục vụ hai mươi năm, ông Ian được mời cử hành hôn lễ cho một cô gái đã được ông dâng cho Chúa khi cô ta còn nhỏ. Ông nhận lời mời đến cử hành lễ tại nhà thờ ông phục vụ trước đây ngay khi được gọi điện thoại.
...c. Ông Manuel mở mang Hội thánh ông đang làm chủ tọa. Tháng tới sẽ có một mục sư mới đến thay. Ông Manuel mời mục sư mới đến giảng tuần nầy và tuần kế tiếp. Thêm vào đó, ông lên kế hoạch một cuộc tiếp đón ông ấy sau buổi nhóm tối để ông ta có thể gặp và thông công với những tín hữu trong Hội thánh.
...d. Trong tháng đầu tiên làm mục sư, ông Philip khen ngợi công tác tốt đẹp của vị mục sư tiền nhiệm. Ông cũng cho biết rằng ông ủng hộ để tiếp tục những chính sách và chương trình của Hội thánh.
...e. Trong nhiệm sở đầu tiên, ông Saven học theo một diễn giả năng động, vui nhộn. Để đắc thắng bản tính nhút nhát của mình, ông Saven cố bắt chước kiểu cách của vị mục sư tiền nhiệm.

(5) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Khi bạn rời khỏi một giáo sở và chuẩn bị đảm nhiệm một vị trí khác, bạn nên duy trì mối dây thân ái với những tín hữu thuộc Hội thánh cũ và chầm chậm rút lui khỏi họ sau một thời gian.
b. Một chìa khoá tiến đến một chuyển tiếp nhẹ nhàng giữa những mục sư ấy là bạn xem hội chúng mình săn sóc là dân sự của Đức Chúa Trời và vì vậy bạn mô tả có lợi cho mục sư mới trước hội chúng.
c. Vì những mục sư đều khác nhau trong phương pháp, hành động và phong cách xử thế, nên bạn không cần cho mục sư kế vị biết hiện trạng của Hội thánh.
d. Khi bạn rời giáo sở cũ, tốt hơn hết là bạn bàn giao mọi sự trong tình trạng tốt, trong thứ tự đúng đắn, và cắt hoàn toàn mọi ràng buộc mình với Hội thánh.
e. Vì bạn có những bè bạn riêng của mình trong giáo hạt cũ, bạn có thể đi thăm họ với lương tâm tốt mà không cần thông báo cho mục sư.
f. Là một người hầu việc Chúa, làm một người kế nhiệm bạn sẽ không làm bất cứ điều gì mất thể diện mục sư tiền nhiệm của bạn.
g. Là mục sư mới đến bạn nên cẩn thận, hết sức khôn ngoan và cẩn trọng trong việc giới thiệu sự thay đổi trong Hội thánh.
Mục tiêu 3: Nhìn nhận những nguyên tắc đạo đức mà một mục sư phải tuân thủ trong mối quan hệ với hội chúng của mình.
NHỮNG MỐI QUAN HỆ VỚI HỘI CHÚNG.
Hành đạo không thiên vị.
Vì mục sư là mục sư của toàn thể hội chúng, nên ông không thể có một nhóm người hoặc những cá nhân nào được yêu thích nhất trong Hội thánh. Như vậy, hoặc bản thân mục sư hoặc vợ mục sư cũng không nên có ‘những người thân thích nhất’ trong vòng những tín hữu trong Hội thánh mình quản nhiệm. Mục sư và vợ ông nên cẩn thận khi thiết lập những bạn bè ‘thân tín’ bên ngoài gia đình Hội thánh, có thể với mục sư của Hội thánh kế cận và gia đình ông.
Mục sư cũng không nên có một nhóm được ông lưu tâm hơn nhóm khác. Những sinh hoạt của thiếu nhi, thanh niên và tráng niên v.v... tất cả phải được cân đối với nhau. Mục sư phải bày tỏ mối quan tâm với mọi người và là một phần của mỗi giai đoạn của đời sống Hội thánh.
Giữ sự tín nhiệm tuyệt đối.
Chúng tôi sẽ thảo luận đề tài giữ kín những tâm sự đầy đủ hơn trong bài học Chăm sóc của chúng ta, nhưng ở đây tôi muốn nhắc nhở bạn rằng điều gì người ta chia sẻ tâm sự cho bạn, bạn phải tuyệt đối giữ bí mật. Bạn không được lặp lại cho bất cứ người nào, ngay cả vợ bạn. Khi bạn phản bội sự bí mật này, thì bạn phản bội sự tin cậy và đó là việc làm thiếu đạo đức. Nếu bạn muốn có hiệu quả lâu dài nào trong chức vụ, tín hữu của bạn phải biết rằng họ có thể hoàn toàn tín nhiệm bạn.
(6) Theo cái nhìn của cuộc hội thảo của chúng ta. Trong tất cả những lời diễn đạt dưới đây có một câu không phản ánh đúng những nguyên tắc đạo đức chân chính. Đó là câu nào?
a. Dù một mục sư có thể thích công tác phục vụ này hơn công tác phục vụ khác, nhưng ông không được để lộ rõ sự quan tâm của mình về một công tác này hơn những công tác kia.
b. Ông mục sư và vợ ông thiết lập tình bạn thân thiết với những người họ hết sức quí mến.
c. Mục sư và vợ ông, điều đó được mọi người biết, đã dành nhiều thì giờ với một cặp vợ chồng trong Hội thánh, và những thành viên khác gọi cặp vợ chồng đó là ‘người thân thích nhất’ của mục sư.
d. Một mục sư và vợ ông là người yêu mến tín hữu của Hội thánh mình cách chân tình thỉnh thoảng họ đi thăm mục sư ở thành phố kế cận và cả hai cặp vợ chồng này chia sẻ những khó khăn của nhau và có mối quan hệ bằng hữu tốt.
Đối xử khôn ngoan với người khác phái.
Kẻ thù của linh hồn chúng ta chẳng bao giờ ngưng cố gắng tiêu diệt chúng ta. Nếu nó không làm điều đó qua sự yêu mến tiền bạc hay kiêu ngạo, thì nó sẽ làm qua dục vọng của xác thịt. Có một câu tục ngữ” phòng bịnh hơn chữa bịnh” (biết trước hiểm họa để sẵn sàng đối phó). Trong trường hợp này, biết trước bản chất cám dỗ của Satan, thì bạn không vô tình rơi vào tội lỗi. Nhưng, như chúng ta sẽ thấy, điều này đòi hỏi sự hiểu biết hơn là duy trì sự toàn vẹn về mặt đạo đức và thuộc linh. Bạn phải cảnh giác trong những mối quan hệ mỗi ngày, và bạn phải học tập tin cậy nơi Chúa đầy đủ hơn trong việc giúp bạn giữ một lời chứng trong sáng trước mặt Ngài và giữa những người bạn sống và làm việc.
Công việc của mục sư đòi hỏi ông phải tiếp xúc với mọi loại người và mọi hoàn cảnh. Không có nghề nghiệp nào có thể so sánh được với công việc mục sư làm. Với công tác này, mục sư làm việc gần gũi với con người trong mọi lúc, và hầu như thường xuyên có nhiều nữ hơn nam trong một hội chúng. Hơn nữa, vì phụ nữ có chiều hướng nhiều cơ hội đến nhà thờ hoặc văn phòng mục sư hơn là nam giới, nên điều này có thể gây một số vấn đề cho mục sư. Điều này đặc biệt đúng nếu mục sư không ý thức những vấn đề này và không cẩn trọng phòng xa để bảo vệ uy tín của mình trước người khác phái. Vì lẽ đó, mục sư cần nắm vững những gì chúng tôi lưu ý dưới đây:
Mục sư là đối tượng của sự ngưỡng mộ.
Vì chức vụ của mình, mục sư trở thành đối tượng của sự ngưỡng mộ và yêu mến. Vẻ trang trọng đạo mạo người ấy mang lên tòa giảng cùng với mối quan tâm và sự chú ý mà ông giảng giải cho hội chúng là những giá trị lớn người ta ngưỡng mộ. Tín hữu có khuynh hướng xem mục sư như là một con người lý tưởng, thông suốt trong nhiều vấn đề, ăn mặc chỉnh tề, và cung cách lịch sự. Những phẩm chất nầy thường cám dỗ người ta đặt mục sư vào một chỗ sùng bái để ông trở thành mộ loại kiểu mẫu. Thường thường những bà vợ ước ao chồng mình có thể giống như mục sư. Tất cả những điều này tạo thành những vấn đề tiềm tàng nếu các bà vợ trở thành bất mãn với chồng mình và bắt đầu ngưỡng mộ mục sư.
Mục sư là cái đích cho Satan tấn công.
Phierơ nói rằng ‘kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ, như sư tử rống, đi ruồng quanh tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được’ (IPhi 1Pr 5:8). Điểm chính ở đây là bạn càng muốn sống cho Đức Chúa Trời chừng nào thì ma quỉ càng bận rộn đưa bạn vào sự cám dỗ của nó để tiêu diệt bạn chừng nấy. Kẻ thù sẽ lợi dụng mọi cơ hội tóm lấy bạn vì thiếu cảnh giác. Vì vậy, phải nhạy bén và tự kiềm chế trong khi bạn làm việc giữa nhiều người. Phải duy trì giờ tĩnh nguyện của bạn và dầm thấm trong Lời Đức Chúa Trời. Trên hết mọi sự, đừng bao giờ khoe khoang rằng mình mạnh mẽ. Với sức riêng của bạn, bạn không đối đầu nỗi những mưu chước của ma quỉ, như Phaolô ghi nhận trong ICo1Cr 10:12. Anh em chỉ mạnh mẽ ‘ở trong Chúa và ở trong sức mạnh vô biên của Ngài’ khi anh em ‘trang bị đầy đủ binh giáp của Đức Chúa Trời’ (Eph Ep 6:10-18).
Giữ phẩm hạnh của bạn không chỗ chê trách. (ITe1Tx 5:22).
Mục sư không cần đến phạm tội trái đạo đức mới dính dáng vào rắc rối. Nếu ông làm một chút việc nào đó dấy lên sự ngờ vực thì cũng đủ hủy hoại lời chứng và chức vụ của mình. Đó là lý do Phaolô nói trong câu Kinh Thánh trên. ‘Hãy tránh mọi điều gian ác’. Khi những tiếng đồn bắt đầu lan truyền thì thường thường mục sư là người biết sau cùng. Đôi khi tiếng đồn này bắt đầu từ sự lo lắng có thiện chí, nhưng mục sư đã không cẩn trọng. Dường như ông ta thấy chẳng có gì phải nghi ngờ, điều đó hầu như không đúng. Những gì chúng tôi muốn nói đây là,” Sử dụng sự khôn ngoan và lương tri”. Chẳng hạn tránh việc tiếp xúc với một phụ nữ một mình. Nếu người phụ nữ ấy muốn nhấn mạnh sự riêng tư, thì hãy xếp đặt sự khuyên bảo ở một nơi người ta thấy được mình nhưng không nghe được. Nếu bạn được mời đến nhà của phụ nữ độc thân, thì hãy đem người nào đó được tin cậy cùng đi. Trên hết mọi sự, phải nhạy bén với những ám hiệu gây rắc rối. Nói chung, vợ của mục sư có thể phát hiện ra những gì về tánh hạnh của một phụ nữ khả nghi. Dù bạn không thể nhận ra điều ấy nhưng vợ bạn có thể biết được. Nếu bạn giữ những cảnh giác hợp lý trong việc thiết lập những lần khuyên bảo, thì bạn có thể là một người có giá trị cao thực sự cho hội chúng của bạn, và bạn có thể hành động rất nhiều để tránh tự phơi mình vào sự cám dỗ vô ích.
Tăng cường sức mạnh cho những mối quan hệ gia đình của bạn.
Đây là một trong những phương thuốc giải độc tốt nhất chống lại sự tấn công của kẻ thù. Chúng ta đánh bại sự đau yếu bằng cách sống mạnh khỏe. Điều này rất đúng trong mối quan hệ hôn nhân của bạn. Hãy giữ mối quan hệ hôn nhân bạn khỏe mạnh và hạnh phúc, không cần biểu hiện tình cảm công khai quá đáng, hãy cho mọi người biết rằng bạn yêu và quí trọng vợ bạn. Điều đó sẽ làm nãn lòng những phụ nữ vốn có thể nghĩ rằng bạn cần sự chú ý của họ. Mặt khác, nếu bạn phàn nàn về gia đình mình hoặc vợ mình cách công khai, bạn đang cho những phụ nữ gian ngoa một gợi ý rằng tình trạng hôn nhân của bạn đang lung lay và bạn không yên nghỉ. Điều này có thể khích lệ họ tranh thủ sự chú ý và cảm tình của bạn. Tuy nhiên, nếu bạn xây dựng gia đình mình trên tình yêu thương và sự tin cậy, thì những đức tính tốt đó trở thành một pháo đài vững mạnh bảo vệ bạn khỏi ‘những tên lửa’ của ma quỉ.
Duy trì sức mạnh và năng quyền thuộc linh.
Vượt trên và vượt quá mọi quan tâm và cẩn thận thuộc khả năng con người, bạn cần có sức mạnh và quyền năng Thánh Linh. Điều này mới thực sự là nền tảng của sự đắc thắng của bạn. Vì bạn đang tham gia vào một trận chiến thuộc linh, bạn cần phải có vũ khí thuộc linh (IICo 2Cr 10:4-6). Không có nó bạn không thể vượt trội kẻ thù. Nhưng khi bạn sử dụng những vũ khí này, mọi tài nguyên thiên đàng đang sẵn sàng giúp bạn đánh bại kẻ thù.
(7) Một thành viên trong Hội thánh xưng ra một tội lỗi với mục sư, ông ta đã ăn năn và bồi thường. Bây giờ ông ta là một ứng cử viên chức thủ quĩ của thành phố. Mục sư phải:
a. Thông báo cho hội đồng thành phố biết về quá khứ của người này.
b. Bảo thành viên ấy rút lui.
c. Hỏi ý kiến của ban chấp hành Hội thánh.
d. Im lặng không nói gì cả.
(8) Để tránh cho mình khỏi các điều phiền trách trong những mối quan hệ với phụ nữ, mục sư phải làm tất cả những điều sau. TRỪ một điều ấy là:
a. Tránh việc đề cập đến vợ mình ở nơi công cộng.
b. Cảnh giác những điều cám dỗ.
c. Giữ mối quan hệ gia đình mạnh mẽ.
d. Tránh tiếp xúc với một phụ nữ riêng một mình.
(9) Trong công tác phục vụ giữa giới phụ nữ, mục sư phải:
a. Biết chắc rằng khi ông khuyên bảo thì được người khác nhìn thấy ông nhưng không nghe ông nói gì.
b. Nhạy bén với những biểu hiệu gây khó xử, những gì chứng tỏ rằng người tìm sự giúp đỡ có động cơ hay ý định sai lầm.
c. Biết nhu cầu để duy trì hôn nhân của mình và cho nhiều người biết qua lời gợi ý tế nhị rằng mình có một hôn nhân hạnh phúc.
d. Những gì được ghi ra trong cả ba câu trên.
e. Những gì được ghi trong câu a) và b) mà thôi.
Mục tiêu 4: Nhận diện những thói quen đạo đức cần thiết trong việc làm công tác phục vụ Chúa.
HẠNH KIỂM CHỨC NGHIỆP CỦA MỤC SƯ.
Là một đại sứ của Cha Thiên Thượng, mục sư phải bày tỏ sự toàn vẹn và đáng tin cậy của vị VUA mình đại diện. Cả đời sống của mục sư phải phản chiếu những đặc tính vốn là những điều kiện đầu tiên của một thương gia thành công. Thật vậy, toàn thể lãnh vực quan hệ của mục sư đều nằm tại đây. Điều đáng tiếc hết sức nhưng lại là sự thật ấy là một số mục sư bê trễ trong công tác phục vụ Chúa. Một lý do cho điều nầy ấy là họ tự lập thời gian biểu cho chính mình, vì vậy họ không nghiêm khắc với thì giờ như những công nhân làm trong các xí nghiệp. Có một vài tiêu chuẩn nào đó mà một mục sư có thể tuân theo để giúp ông được hiệu quả và hợp đạo đức trong công tác phục vụ Chúa . Mặc dù có thể có những gợi ý khác, nhưng chúng ta hãy xem xét những mô tả hành vi chức nghiệp sau đây vốn có thể hướng dẫn mục sư trong những vai trò của ông.
Tại văn phòng mục sư.
Là một đại sứ của Đấng Christ, mục sư phải nghiêm túc trong công việc của mình. Những thương gia và những người chuyên nghiệp của thế giới có những giờ làm việc đều đặn, và họ cống hiến trọn vẹn vào ngành nghề của mình, vận dụng mọi cố gắng để đạt được thắng lợi. Mặc dù mỗi ngày không có người giám sát trực tiếp kiểm soát bạn, nhưng bạn phải tự hỏi những câu sau đây:
1. Tôi có dành thì giờ nghiên cứu thường xuyên không?
2. Tôi có dành thì giờ để soạn bài giảng không ?
3. Tôi có chương trình tự cải tiến thường xuyên không ?
4. Tôi có thể thành thực nói” Tôi không lười biếng trong công việc của mình” không ?
5. Tôi có thể thành thực nói rằng tôi đang làm hết sức mình để phát huy chức vụ mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi tôi không ?

Có thể còn nhiều lĩnh vực khác mà bạn cần tự tra xét, nhưng tất cả những điều này phải là những nhắc nhở cho huynh hướng làm việc của bạn. Tuy nhiên, có một số điều khác đáng cho chúng ta chú ý ngay.

Kiên trì hoàn thành những hứa nguyện. Bạn có thể không nghĩ rằng phạm vi đạo đức này là rất quan trọng, nhưng một mục sư có thể dễ dàng phá hủy uy tín của mình bằng sự thất hứa. Điều này có thể liên quan đến một buổi họp, một buổi nói chuyện được thỏa thuận trước hoặc một cuộc hẹn với ai đó. Bạn cần đem theo một cuốn nhật ký bỏ túi để ghi những giờ hẹn. Điều này sẽ giúp bạn nhớ những lời hứa ấy và chuẩn bị đủ thì giờ để giữ đúng lời hứa. Nếu không thì có thể lắm bạn sẽ quên mất.

Bạn phải ghi sổ tất cả những chi tiết của lời cam kết gồm có ngày giờ, địa điểm và điều gì xảy ra ở mỗi trường hợp. Bạn cũng cần cho vợ bạn biết những việc này, nàng sẽ nhắc bạn đều đặn và lưu ý bạn những trục trặc có thể có trong thời dụng biểu của bạn. Một điều bạn phải nhớ là khi hứa với ai điều gì, thì bạn bắt buộc phải hoàn thành điều đó.

Đúng giờ. Mỗi nền văn hóa hình như có một ý niệm riêng về sự tính toán thì giờ. Chẳng hạn, ở vài nơi nếu bạn đến đúng giờ hẹn vào những trường hợp hẹn nào đó thì là bất lịch sự vì điều đó chứng tỏ là bạn quá nhiệt tình. Tuy nhiên, nói chung, mọi người đều nhìn nhận nhu cầu đúng giờ cho dù họ không thể thực hiện. Bất cứ điều gì là đúng thì mục sư phải làm gương trước. Nếu bạn (hay tín hữu của Hội thánh bạn) không tập thói quen đúng giờ, thì lúc bắt đầu khó thật, tuy nhiên, khi bạn kiên trì làm gương, thì người ta sẽ học theo và đánh giá cao sự lãnh đạo của bạn.

Tôi nhớ lại thời mới nhận nhiệm sở đầu tiên, lúc ấy tôi bắt đầu một công tác tiên phong tại một làng nhỏ, đa số người ta không có đồng hồ. Vì thế để kêu gọi mọi người đến thờ phượng, chúng tôi phải tìm một vài phương tiện để báo cho họ giờ nhóm lại. Do đó chúng tôi đặt trong nhà thờ một cái chuông cở lớn, giống cái chuông của trường học. Kế đó chúng tôi thông báo rằng hồi chuông thứ nhất là mời đến nhóm và hồi chuông thứ hai bắt đầu giờ nhóm. Phương pháp làm việc quá tốt đến nỗi chẳng bao lâu chúng tôi không cần chuông, vì vậy chúng tôi bán nó đi. Mục sư hãy luôn nhớ rằng thà mình chờ đợi tín hữu tốt hơn để tín hữu chờ đợi mình.
(10) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Công tác của mục sư đòi hỏi những tiêu chuẩn đạo đức cao mà mục sư có thể bày tỏ bằng
a. Những bài giảng hùng biện.
b. Hoàn thành những lời hứa.
c. Hội thánh được ưa thích.
d. Sự đúng giờ.
e. Những bài giảng chuẩn bị kỹ.
f. Sự đáng tin cậy.
Trong vai trò chủ nhà.
Có trường hợp có thể bạn muốn mời những người khách đến hầu việc Chúa tại Hội thánh bạn. Đó là những lúc bạn muốn đề cao một diễn giả đặc biệt, có những lúc khác bạn có thể muốn mời một ca đòan hoặc một ban nhạc đến phục vụ Hội thánh bạn. Mặc dù những công tác của những vị này có thể là một phước hạnh cho Hội thánh bạn mỗi khi có nhu cầu, nhưng bạn đừng nên lệ thuộc vào những loại phục vụ ấy để nuôi dưỡng thuộc linh hội chúng của bạn. Bầy chiên của bạn không thể sống lâu bằng những loại thức ăn thuộc linh nầy . Người chăn nào biết dân sự của mình và hiểu nhu cầu tăng trưởng đặc biệt của bầy là người thực sự được Chúa kêu gọi và xức dầu để nuôi dưỡng chiên. Như vậy bạn chắc chắn cũng phải giữ khía cạnh này trong chương trình của Hội thánh bạn được cân đối.

Đôi khi vị trí của Hội thánh thuận tiện cho nhiều mục sư ghé qua. Nếu bạn ở trong khu vực như thế, bạn cần phải lựa chọn những người bạn mời giảng cho Hội thánh mình. Phải cẩn thận đừng rơi vào cái bẩy của việc mời diễn giả để tránh sự nghiên cứu và sửa soạn cần thiết cho sự nuôi dưỡng bầy chiên của bạn. Việc lựa chọn này có thể thuận lợi cho một cách che giấu sự lười biếng của một người, nhưng nó cung cấp rất ít cho nhu cầu thuộc linh của hội chúng.

Tuy nhiên, khi bạn phải mời khách, bạn cần chăm sóc họ cách thích đáng. Tôi liệt kê một số điều thiết thực bạn cần ghi nhớ:
1. Hướng dẫn đầy đủ cách thế nào để đến nhà bạn hay Hội thánh của bạn.
2. Một khi khách đến, bạn phải dành một chỗ riêng biệt cho người ấy, nếu người ấy thích ở một mình.
3. Dành thì giờ đầy đủ và một chỗ thích hợp cho người ấy tắm rửa để tỉnh táo lại và một chỗ để làm việc nếu người ấy cần.
4. Giải thích cho người ấy biết chương trình thờ phượng thường xuyên. Bàn thảo bất cứ nét đặc trưng nào (hoặc khác thường) về các buổi họp hay thờ phượng hoặc bất kỳ điều gì bạn muốn hoặc không muốn cho họ làm. Cố gắng hết sức để làm cho khách thoải mái và không có sự ngạc nhiên nào.
5. Cho người ấy biết giờ thờ phượng kéo dài bao lâu. Vài Hội thánh thích hát nhiều đến nỗi hội chúng hát cả một giờ trước và sau khi giảng. Ở một vài nơi đây là một sinh hoạt được chấp nhận, ở những chỗ khác điều này không thể thực hiện được.
6. Bạn phải gởi cho khách một khoản thù lao (Tôi hy vọng đây là một thông lệ chung). Bạn nên chỉ định ai đó chịu trách nhiệm việc này.
7. Bạn phải chuẩn bị trước những bữa ăn hoặc nước giải khát.
8. Bạn phải sắp xếp cho khách nào lưu lại trong thời gian dài. Phải đảm bảo những gì bạn xếp đặt thì thoải mái và thích nghi. Đó phải là một nơi bạn thích lưu trú.
Trong trường hợp khẩn cấp và bạn buộc phải rút lời mời lại, thì thông báo cho khách biết ngay và giải thích lý do hủy bỏ. Nếu có thể được sắp xếp mời lại một lần khác.
(11) Mỗi cột mục dưới đây, ghi vắn tắt hai nhiệm vụ mà một mục sư phải có đối với khách mời:
a. Trước khi khách đến
b. Trong thời gian khách viếng thăm
c. Nếu phải rút lại lời mời
Những mối quan hệ trong giáo phái.
Trong khi mục sư tập trung sự chú ý vào hội chúng và cộng đồng của ông, ông còn có trách nhiệm đạo đức đối với giáo phái của mình. Có lẽ giáo phái của bạn, giống như hầu hết các giáo phái khác, có một điều lệ về đạo đức mà các mục sư đều nhất trí. Những qui luật nầy thường bao quát những lãnhvực sau đây liên quan đến đời sống và công việc của mục sư . Chúng bao gồm hành vi cá nhân và những mối quan hệ của mục sư với
1. Hội thánh mình phục vụ.
2. Những mục sư đồng lao.
3. Cộng đồng.
4. Nghề nghiệp.
5. Giáo phái.
6. Hội thánh phổ thông.
Trong bài học trước, chúng ta thảo luận về một số thái độ liên quan đến sự trung thành đối với giáo phái của một người. Bài học nầy bao quát những mối quan hệ thường được đề cập trong điều lệ đạo đức. Nếu bạn chưa đọc, thì bạn phải đọc, hiểu rõ và đồng ý với điều lệ đạo đức mục sư của giáo phái bạn.
(12) Hãy đọc điều lệ đạo đức của giáo phái bạn, nếu có thể, đọc thêm một bản của một giáo phái Cơ đốc khác. Những qui tắc ấy có giống nhau không?
Tôi thiết nghĩ bạn sẽ đồng ý rằng đời sống và chức vụ của mục sư vừa là thách thức lẫn hứng thú. Nó đòi hỏi điều tốt nhất của một người nhưng nó cũng trả bằng phần lợi nhuận to lớn vô cùng khi một người dâng hiến chính mình cho công tác vĩ đại nhất trên trần gian này. Bây giờ bạn đã học được nửa phần môn học. Tôi chúc mừng bạn vì đã chuyên tâm học đến bài này, và khích lệ bạn hãy kiên trì tiếp tục.
&
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
CÂU HỎI LỰA CHỌN . Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Một mục sư cần chăm sóc thân thể mình và duy trì sức khỏe của mình trước tiên:
a. Như là một Cơ đốc nhân gương mẫu.
b. Để tạo ra một ấn tượng tốt.
c. Như là một quản lý tốt của những gì Đức Chúa Trời giao phó.
d. Để có thể gánh vác nhiều trách nhiệm.
2. Một mục sư phải duy trì sức khỏe tốt vì:
a. Người ấy sẽ sống và làm việc lâu dài hơn.
b. Gia đình người ấy sẽ hạnh phúc hơn.
c. Sức khỏe tốt sẽ tiết kiệm được nhiều hơn.
d. Chức vụ của ông sẽ hiệu quả hơn.
3. Bằng sự đề cao một mục sư kế vị, mục sư đương nhiệm sẽ:
a. Chứng tỏ rằng Hội thánh thuộc về Đấng Christ.
b. Mất địa vị trước mắt hội chúng của mình.
c. Nịnh hót mục sư mới.
d. Cắt đứt mọi mối quan hệ của mình với Hội thánh.
4. Có được một nhóm thanh niên thật đông trong Hội thánh, mục sư giảng những bài giảng cho thanh niên, chỉ có một ca đoàn thanh niên và những sinh hoạt thanh niên. Trong mối quan hệ với Hội thánh, mục sư
a. Không có đủ số bài giảng được chuẩn bị.
b. Thất bại trong thực hành không thiên vị.
c. Muốn gắn bó với thanh niên.
d. Cần có một mục sư lo cho thanh niên.
5. Lời khuyên tốt nhất dành cho một mục sư liên quan đến những mối quan hệ đúng đắn với những tín hữu khác phái nhằm mục đích để ông ta:
a. Tránh tiếp xúc với phái nữ.
b. Giữ người vợ bên mình.
c. Sử dụng sự khôn ngoan và lương tri.
d. Liên tục chống trả ma quỉ.
CHỌN LỰA THAY ĐỔI. Đọc những lời diễn đạt sau đây. Nếu mục sư được mô tả đang duy trì những tiêu chuẩn đạo đức đúng đắn, viết chữ A vào chỗ trống, nếu không, viết chữ B.
...6. Một mục sư đang khuyên bảo một cặp vợ chồng. Vì ông thấy khó hiểu được quan điểm của người vợ, nên ông thảo luận nan đề của cặp vợ chồng nầy với vợ ông ta.
...7. Một mục sư thấy không có vấn đề gì khi đi thăm một mình nhà một góa phụ trẻ vì ông ta biết cô ấy đang buồn rầu và cần sự an ủi.
...8. Mặc dù vài thành viên niên trưởng trong Hội thánh chưa đến, nhưng mục sư vẫn bắt đầu sự thờ phượng buổi sáng đúng theo giờ đã thông báo.
...9. Mục sư viết giờ cầy nguyện và giờ nghiên cứu cũng như những giờ hẹn trong cuốn lịch công tác hằng ngày của ông.
...10. Khi nghe được một vài báo cáo không thuận lợi về vị khách được mời mà ông mong đợi sẽ đến thì ông mục sư hủy bỏ lời mời mà không đưa ra lời giải thích nào.
ĐÁNH GIÁ TIẾN TRÌNH HỌC TẬP ĐƠN VỊ 2.
Trước khi bạn tiếp tục học bài 8, hãy ôn từ bài 5 đến bài 7 để chuẩn bị làm bài đánh giá tiến trình học tập đơn vị 2. Bạn sẽ tìm thấy bản đánh giá này và mẫu phiếu trả lời trong túi dành cho học viên. Hãy trả lời tất cả các câu hỏi mà không nhìn vào sách Tự Học của bạn. Gởi phiếu trả lời cho hướng dẫn viên chỉ đạo bạn học, kèm với những tài liệu khác hướng dẫn ở ngoài bì của túi dành cho học viên. Sau đó bạn có thể tiếp tục học bài 8.


GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU.
(1) a) Người ấy bỏ quên nguyên tắc nghỉ một ngày trong bảy ngày theo lời Kinh Thánh dạy.
b) Người ấy cần nghỉ ngơi đúng mức, nếu không thân thể người ấy sẽ suy nhược. Việc làm quá tải của người ấy sẽ phá hỏng gia đình cũng như sức khỏe của người ấy. Một người quản lý tốt của Đức Chúa Trời sẽ không sao lãng gia đình hay thân thể mình.
c) Người ấy liều lĩnh trong việc làm mất nhiều thời giờ hơn vì người ấy sẽ yếu đi và đau ốm vì cớ ăn uống không đủ chất bổ.
(2) b) và c) là những câu đúng. Câu a) phải đọc như sau: Nghỉ ngơi đúng mức, khẩu phần ăn uống cân đối và nghĩ giản xả thích hợp là điều có ích, và những điều đó rất cần thiết cho một mục sư bận rộn. Câu d) phải đọc như
sau: Một người của Đức Chúa Trời phải mặc khiêm tốn và thích hợp cho những chức năng công cộng.
(3) Có lẽ câu trả lời của bạn bao gồm: 1) Mời tôi nói chuyện trước khi tôi đến làm mục sư. Điều này sẽ cho tôi cơ hội gặp những tín hữu và để cho mục sư của họ giới thiệu tôi và bày tỏ sự ủng hộ tôi. 2) Giới thiệu có lợi cho tôi trước hội chúng để họ chấp nhận tôi làm mục sư của họ. 3) Bàn giao cơ sở Hội thánh, những phần báo cáo, cùng mọi thứ cho tôi trong điều kiện tốt để tôi có thể tiến hành bước đầu cách tốt đẹp và rõ ràng.4) Thông báo cho tôi về những chương trình đặc biệt trong tương lai có thể có của Hội thánh để tôi biết cách cộng tác với Hội thánh.
(4) Bạn viết chữ ‘sai’ trước câu a, b, và e. Viết chữ ‘đúng’ trước câu c và d.
(5) b, d, f và g là những câu đúng.
(6) c) Mục sư và vợ ông ta dành nhiều thì giờ với một cặp vợ chồng.
(7) d) không nói gì cả.
(8) a) tránh việc đề cập đến vợ mình ở nơi công cộng.
(9) d) những gì được ghi ra trong cả ba câu trên.
(10) Bạn có thể khoanh tròn câu b, d, e, và f.
(11) a. Nói cho người ấy biết bạn mong đợi gì nơi người ấy và cho người ấy biết rõ vị trí và hướng dẫn cách thức đến nhà của bạn hay Hội thánh của bạn.
b. Cung cấp chỗ ở riêng, thảo luận về sự thờ phượng, thì giờ và những nhu cầu đặc biệt. Bạn cũng cung cấp sự giải trí và trao cho người ấy một khoản thù lao.
c. Thông báo cho người ấy lập tức, và giải thích lý do bạn hủy bỏ lời mời, và sắp xếp lời mời khác.
(12) Câu trả lời của bạn. Có lẽ bạn thấy rằng những qui tắc ấy giống nhau và bao quát những lãnh vực chúng tôi đề cập trong bài học của chúng ta.
Bài Giảng

Trong đơn vị 2 chúng ta khảo sát những mối quan hệ của mục sư với những người chung quanh ông. Chúng ta xem qua những mối quan hệ cá nhân của gia đình mục sư, những mối quan hệ của ông với cộng đồng, rồi đến các nguyên tắc đạo đức hướng dẫn hành vi của đời sống cá nhân và cộng đồng của mục sư. Bây giờ chúng ta sẵn sàng nhìn vào điều mà chúng ta có thể gọi là công việc đầu tiên của mục sư - chức vụ giảng. Trong bài học này chúng ta khảo sát tầm quan trọng của sự giảng. Chúng ta sẽ thấy Tân ước nhấn mạnh điều này như thế nào. Mặc dù vai trò của mục sư không chỉ dành riêng cho việc giảng, nhưng đó là công việc mà mục sư phải tiêu hao nhiều thì giờ và công sức, và chiếm một vai trò rộng lớn trong sự hoàn thành mỹ mãn chức vụ Chúa kêu gọi mình. Chúng tôi khích lệ bạn học kỹ về nghệ thuật giảng. Trong loạt bài Phục vụ Cơ đốc nhân của ICI, có môn học tựa đề” Giảng và Dạy”. Trong phân ngành Cao đẳng bạn có thể tìm thấy môn” Giảng theo cách Giải Kinh” (Expository Preaching), cũng như” Những nguyên tắc Giảng” (Principles of Preaching) sẽ giúp ích cho bạn.
Bài học này sẽ giải thích bản chất của sự giảng và một số lãnh vực thực tế liên quan đến chức vụ giảng. Một phần của môn học bàn về những thể loại bài giảng và những thể loại này được dùng như thế nào trong chức vụ giảng.Chúng tôi cũng sẽ thảo luận cách bạn có thể lên kế hoạch cho việc giảng để bạn có thể bao quát được phạm vi rộng của chân lý Kinh Thánh.
Khi bạn chú ý vào ý nghĩa và tầm quan trọng của sự rao giảng, tôi cầu nguyện để bạn sẽ thấy mình khao khát được Chúa sử dụng trong công tác rao giảng sứ điệp của Ngài. Nguyện bạn được thách thức với sự kêu gọi để giảng, và sử dụng chức vụ ấy để chinh phục người hư mất, dạy dỗ những tín hữu và làm cho Hội thánh tăng trưởng để đạt đến toàn bộ mức độ của sự đầy trọn trong Đấng Christ.

Dàn ý bài học
*Bản chất và tầm quan trọng của Sự Giảng.
*Sửa soạn công tác Giảng.
*Phân phát Sứ Điệp.
*Nhu cầu khác nhau trong Sự Giảng.
Những mục tiêu của bài học
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Dựa theo Kinh Thánh giải thích vì sao giảng là chức vụ hàng đầu của mục sư.
* Nhận diện mục tiêu của sự rao giảng.
* Mô tả những thể loại bài giảng và mục đích của một kế hoạch giảng Kinh Thánh toàn diện.
* Nhận diện những phương pháp cải tiến cách phân phát sứ điệp và nội dung sứ điệp.
Những hoạt động học tập
1. Nghiên cứu bài học và làm bài Trắc nghiệm cá nhân theo sự hướng dẫn ở bài 1.
2. Nhớ xem nghĩa của bất cứ chữ căn bản nào bạn không biết ở phần Chú Giải.
Những chữ căn bản
Bán chánh thức.
Bao hàm, bao quát.
Chói sáng.
Giải luận.
Khuyên bảo.
Khôi phục.
Lịch Cơ Đốc.
Nẩy sinh
Nghi thức.
Phân phát sứ điệp.
Phát ngôn viên.
Tồn trữ.
Vận dụng.
Triển khai bài học
Mục tiêu 1: Giải thích mối quan hệ của sự giảng và mục đích giảng.
BẢN CHẤT VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ GIẢNG.
Khi nói về tầm quan trọng của sự rao giảng, chúng ta có thể ngạc nhiên khi đọc thấy Phaolô nói rằng qua sự ngu dại (foolishness) của sự rao giảng mà thế giới sẽ nghe Phúc Aâm và được cứu (ICo1Cr 1:21). Từ quan điểm của người nghe, sự rao giảng có thể được xem là một công việc rất dễ dàng. Sự rao giảng quan trọng và ám ảnh đến nổi sứ đồ Phaolô đã nói” còn không rao giảng Tin lành thì khốn khó cho tôi thay” (9:16). Trong bài học này chúng ta sẽ nghiên cứu sự rao giảng và chứng tỏ vì sao đây là công tác hàng đầu của mục sư.
GIẢNG LÀ GÌ ?
Chữ giảng xuất phát từ tiếng Latinh có nghĩa là” tuyên bố công khai”. Một số người khác lại định nghĩa đó là” sự khuyên bảo cách bán chính thức hoặc buồn chán”. Nếu bạn chỉ nắm lấy những định nghĩa này và không có gì hơn, thì bất cứ hình thức thuyết trình hay phát biểu công khai đều được coi là sự giảng. Ví dụ, một thầy giáo đang thuyết trình bài cũng xem là giảng. Từ những định nghĩa này dường như một người có thể rao giảng mà không dính dáng bất cứ điều gì đến Đấng Christ và lời của Ngài. Chúng ta hãy quay sang lời Đức Chúa Trời và tìm định nghĩa của Kinh Thánh về sự rao giảng.
ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ NGUỒN GỐC.
Tân ước cho chúng ta đủ chứng liệu để chúng ta có thể hiểu ý nghĩa của sự rao giảng theo nội dung Kinh Thánh. Một số từ được dùng để mô tả sự rao giảng trong Kinh Thánh. Những từ chính là:
1. Công bố, báo trước: 61 lần.
2. Loan báo tin mừng : 50 lần.
3. Dạy bảo : 90 lần.
Khi chúng ta cẩn thận nghiên cứu Kinh Thánh, sự rao giảng không tập trung ý tưởng của con người về Đức Chúa Trời . Tiêu điểm là những gì Đức Chúa Trời đã làm cho con người, đã truyền đạt cho họ bởi những người được Đức Chúa Trời kêu gọi. Kinh Thánh chỉ ra rằng đã có những tiên tri giả nói bằng lời nói trống rỗng của mình, tuy nhiên Đức Chúa Trời đã tuyệt giao với họ (Gie Gr 14:14). Tiên tri Giêrêmi cũng nói rằng có những lần mà lời Chúa trái ngược lại với tư tưởng của sứ giả. Vậy, trong Kinh Thánh điểm nhấn mạnh của sự rao giảng là công bố những gì Đức Chúa Trời đã phán và đã thực hiện. Chữ” Đức Giêhôva vạn quân phán vậy” làm cho lời công bố có uy quyền, chứ không phải là sứ giả. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng yếu tố đầu tiên của định nghĩa, ấy là sự rao giảng có liên quan đến một sứ điệp từ Đức Chúa Trời.
SỨ GIẢ.
Sự kiện cho rằng sự rao giảng có liên quan đến sứ điệp từ Đức Chúa Trời hàm ý rằng có một sứ giả làm ống dẫn cho sứ điệp của Đức Chúa Trời, nói cách khác, sứ điệp của Đức Chúa Trời được phân phát như thế nào ? Một số người nghĩ rằng sự phân phát mạnh mẽ làm cho sứ điệp có thẩm quyền, nhưng điều này không đúng. Tập trung vào chức vụ tiên tri của thời Cựu ước chúng ta thấy Đức Chúa Trời là chủ thể của lời nói tiên tri, Ngài ban cho lời tiên tri một uy quyền tối thượng. Cho nên, không phải sự mạnh mẽ của diễn giả đem lại uy quyền cho sứ điệp, mà là chính sứ điệp. Con người (Tiên tri, người rao giảng) chỉ là cái loa hay phát ngôn viên, con người vốn lá đối tượng. Ở đây chúng ta thấy một bức tranh với ba nhân vật: Đức Chúa Trời, vừa là nguồn gốc vừa là chủ thể; tiên tri, sứ giả hay cái miệng qua đó Đức Chúa Trời phán; và con người, đối tượng của sứ điệp.
Trong Tân ước, ý niệm tương tự cũng được trình bày theo một số phương cách. Trong thơ tín gởi cho người Tesalonica, Phaolô cho chúng ta bản tóm tắt” Khi anh em nhận lời Đức Chúa Trời mà chúng tôi truyền cho, thì chẳng nhận như lời của loài người nhưng như lời của Đức Chúa Trời, mà lời ấy thực sự là như vậy, vốn đang hành động trong anh em là người tin” (ITe1Tx 2:13).
Lời được ban cho các tiên tri, thể hiện qua Đức Chúa Con, ủy nhiệm cho các sứ đồ, được dành riêng cho chúng ta trong Kinh Thánh. Lời đó không phải là tài năng khéo léo của người nói cũng không phải ý tưởng của con người về cuộc sống, tôn giáo hoặc những suy nghĩ và sức mạnh của sự thuyết phục mà làm thành lời giảng, nó là sự công bố của Lời Chúa.
Từ quan điểm của Kinh Thánh vì thế, sự rao giảng có thể được định nghĩa là sự công bố trung thành toàn thể lời khuyên dạy của Đức Chúa Trời, do một người được Đức Chúa Trời sai phái, với mục đích là thuyết phục con người đáp ứng cách tích cực với Đức Chúa Trời.
(1) Dùng một sơ đồ để giải thích những gì liên quan trong sự rao giảng, điền vào khoảng trống những nhân vật đại diện.
A nguồn gốc.
B ống dẫn
C người nhận
(2) Trong định nghĩa của Sách tự Học này về sự rao giảng, thì mục đích của sứ điệp là------------------------------------------------------------------------------------
Mục tiêu 2: Dẫn chứng nền tảng Kinh Thánh nói rằng rao giảng là nhiệm vụ hàng đầu của mục sư.
TẠI SAO PHẢI RAO GIẢNG ?
RoRm 10:13-15 chứng tỏ rõ rằng tại sao rao giảng là phương tiện Đức Chúa Trời chọn để công bố Phúc âm. Phân đoạn này chỉ rõ rằng rao giảng có một mục đích. Nó không chỉ đơn giản là tài hùng biện hay một sự luyện tập trong sự vận dụng tình cảm.
Vì cớ tội lỗi con người bị xa cách Đức Chúa Trời, nên con người cần được giải hòa với Đức Chúa Trời. Phúc âm của Đấng Christ, tin mừng (tin lành) là sứ điệp mà Đức Chúa Trời cung cấp mọi sự con người cần để được giải hòa, và tin tức đó phải được phân phát cho mọi người (1:16). Phaolô đã hỏi ‘không có người rao giảng thì làm sao họ nghe ?’ (10:14). Câu hỏi của ông chỉ cho chúng ta thấy sự rao giảng quan trọng làm sao. Đọc những câu hỏi của Phaolô theo thứ tự đảo lộn thì chúng ta thấy rõ sự rao giảng là điểm xuất phát cho việc công bố Phúc âm. 10:13-14 mô tả tiến trình:
1. Lời Chúa được rao giảng.
2. Tội nhân nghe những gì được rao giảng.
3. Tội nhân tin sứ điệp.
4. Khi tin, tội nhân kêu cầu Danh Đức Chúa Trời.
5. Khi kêu cầu danh Chúa, tội nhân được cứu.
Vì vậy chúng ta thấy rằng những gì bắt đầu với sự rao giảng được kết thúc bằng sự cứu chuộc. Tầm quan trọng của sự rao giảng được nhấn mạnh bằng những phân đoạn Kinh Thánh khác để mô tả rao giảng là gì:
1. Sự rao giảng là công cụ của sự cứu rỗi. Phaolô công bố rằng Đức Chúa Trời hài lòng qua sự rao giảng để cứu những người tin (ICo1Cr 1:21). Ở đây nhấn mạnh về nội dung của sự rao giảng chứ không phải hành động rao giảng. Phúc âm được rao giảng là quyền năng của Đức Chúa Trời đem sự cứu rỗi cho những người tin. Chính là qua sự rao giảng tội nhân có thể đáp ứng và tiếp nhận ân phúc của Đức Chúa Trời.
2. Rao giảng phúc âm là phơi bày những gì vốn đã giấu kín. Công tác rao giảng là phơi bày những bí mật của Đức Chúa Trời. Nó trình bày ý nghĩa của sự mặc khải của Đức Chúa Trời cho con người.
3. Rao giảng đưa ra một thách thức đòi hỏi sự đáp ứng. Sứ giả được ban cho quyền năng để kêu gọi con người đáp ứng. Điều này đòi hỏi người rao giảng phải ban phát sứ điệp cách rõ ràng nhất hầu cho con người có thể đáp ứng sự kêu gọi. Một khi sứ điệp được hiểu thấu đáo, người nghe không thể đứng trung lập. Người ấy phải đi đến một quyết định hoặc chống lại sự kêu gọi.
4. Rao giảng là công bố một sứ điệp khẩn cấp. Tin mừng phải được truyền ra khắp đầu cùng đất như một nhân chứng. Đức Chúa Trời không muốn người nào chết mất, nhưng Ngài muốn mọi người ăn năn để được cứu.
(3) Khoanh tròn mẫu tự trước những lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Rao giảng là công tác đầu tiên của mục sư vì Kinh Thánh công bố rằng rao giảng:
a. Là phương tiện đầu tiên của việc công bố tin mừng.
b. Là bày tỏ những sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời.
c. Là sự vận dụng tình cảm.
d. Là sự kêu gọi một đáp ứng với Đức Chúa Trời.
e. Là tài hùng biện có sức thuyết phục.
(4) Theo RoRm 10:13, yếu tố cần thiết để một người được cứu là gì ?
Là người rao giảng, khi bạn nhân danh Chúa Jêsus để nói thì bạn có một trách nhiệm đáng kính sợ. Trong một ý nghĩa, số phận của những người nghe đang nằm trong tay bạn. Khi bạn giảng, bạn đang ban phát sứ điệp của Chúa của vũ trụ cho con người. Đây là một cơ hội rất lớn.
Mục tiêu 3: Nhận diện những sự chuẩn bị chung và đặc biệt góp phần cho việc xây dựng bài giảng.
SỬA SOẠN CÔNG TÁC RAO GIẢNG.
Vì Đức Chúa Trời kêu gọi mục sư để ban phát sứ điệp của Ngài cho con người, nên mục sư vừa tiếp xúc với Đức Chúa Trời vừa tiếp xúc với con người. Bạn không có chuẩn bị chu đáo trừ khi bạn quen thuộc cả hai. Vì bạn được Đức Chúa Trời chỉ định, nên bạn cần dựa vào sự hướng dẫn của Ngài khi bạn chuẩn bị giảng.
SỰ CHUẨN BỊ CHUNG.
Kiểm soát sự Phát Triển Thuộc Linh của Bạn.
Bài 3 bàn về sự phát triển thuộc linh của chính bạn vốn là cơ bản của mối thông công liên tục, sống động với Đức Chúa Trời. Muốn được năng động phải có sự bền đỗ. Bạn phải có sự quen biết thân mật với Đức Chúa Trời để bạn có thể nhạy bén với sự hướng dẫn của Thánh Linh, nếu không, có thể lắm bạn trình bày không đúng về Đức Chúa Trời cho người khác vì bạn không thực sự biết Ngài.
Phát Triển một Nguồn Cung ứng Bài Giảng.
Tất cả những kinh nghiệm của bạn, những sự nghiên cứu sách báo và học hỏi, đều là những nguồn có thể cung cấp cho bạn tài liệu để soạn bài giảng. Khi bạn thực sự ngồi xuống soạn bài giảng, thì bạn rút ra từ nguồn dự trữ này. Khi bạn đã đọc một bài báo trước đây nhiều năm, bạn không có ý định làm một bài giảng đặc biệt, nhưng bạn thấy nó có giá trị. Bạn cất giữ và giờ đây bạn có thể đem ra sử dụng. Nó cũng có thể là một nan đề mà bạn phải đối đầu hoặc là một kinh nghiệm bạn đã chia sẽ với những người khác. Khi bạn suy gẫm ký ức của bạn được khơi dậy và những sự vật bắt đầu kết tinh trong lòng bạn. Nền tảng của tất cả những điều đó phải là sự đọc và học hỏi Kinh Thánh của bạn. Điều này luôn luôn là nguồn dự trữ đầu tiên của bạn. Bạn cần phải mở lòng ra cho Đức Chúa Trời, cho con người và cho thế giới chung quanh. Đức Chúa Trời có thể gieo một hột giống, một ý tưởng mà sẽ nảy mầm để cuối cùng ban phước cho bạn và cho hội chúng của bạn.
Bạn cần phát triển thói quen tốt trong việc lưu trữ những tài liệu có ích cho việc soạn bài giảng. Thực tế mỗi ngày chúng ta đều tình cờ gặp những tài liệu có ý nghĩa cho việc sử dụng trong hiện tại và tương lai. Đó có thể là một trích dẫn, một bài báo, một bức tranh minh hoạ, một bản tin thống kê hoặc những điều khác. Ngay cả khi có những điều này không ích lợi ngay lập tức nhưng lại có thể giúp đỡ bạn cách lạ thường trong tương lai. Người ta thường nói rằng chúng ta bị mất khoảng chín mươi phần trăm những gì đi qua tâm trí chúng ta . Nếu điều này đúng, thì chúng ta cần nghĩ ra một phương cách lưu trữ những tài liệu để khi cần chúng ta lấy nó ra. Một trong những cách tốt nhất ấy là lập hệ thống lưu trữ. Bạn có thể quyết định một cách thức tiện lợi đáp ứng cho nhu cầu của mình. Nếu bạn không thể cắt lấy những tài liệu đó, thì hãy sao chép lại và lưu giữ. Bạn có thể xếp những tài liệu theo chủ đề. Chẳng hạn bạn có thể dùng một phong bì đựng tài liệu dán nhản đề tài” ĐỨC TIN”. Rồi bạn để tất cả những lời trích dẫn, câu chuyện hay những gì liên quan đến đức tin vào phong bì ấy. Bạn cần có một hệ thống hữu hiệu sắp xếp để xác định vị trí trong việc lưu trữ để khi cần bạn lấy nhanh nhất.
(5) Viết một lời hoàn chỉnh ngắn cho những câu sau:
a. Phương tiện tốt nhất của tôi để giới thiệu Đức Chúa Trời qua lời của Ngài là
b. Nguồn dự trữ đầu tiên cần cho sự chuẩn bị chung cho việc rao giảng là
c. Giá trị của một nguồn dự trữ bài giảng là
SỰ CHUẨN BỊ ĐẶC BIỆT.
Làm thế nào để một người bắt đầu soạn một bài giảng? Người ấy khởi sự ở đâu ? Như trong phần trước, mục sư phải liên tục ở trong mối quan hệ mật thiết với Đức Chúa Trời.
Tất cả đều khởi đầu từ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống của bạn khi bạn tiếp nhận mạng lịnh ra đi ban phát sứ điệp của Đức Chúa Trời. Mối tương giao cá nhân của bạn với Đức Chúa Trời được nuôi dưỡng bằng sự tĩnh nguyện, thông công và phục vụ Chúa, sẽ giữ bạn luôn luôn liên lạc với ‘tổng hành dinh’.
Sự chuẩn bị đặc biệt bắt đầu với một” Sứ điệp”. Sứ điệp là một ý tưởng được Đức Chúa Trời nhấn mạnh nơi lòng bạn qua lời sứ điệp đến từ Đức Chúa Trời, nhưng nó được người rao giảng triển khai và ban phát cho người nghe như một bài giảng. Phải thận trọng, đừng để sứ điệp của Đức Chúa Trời bị che khuất vì quá ‘bài giảng hóa’ (sermonizing). Mục đích soạn bài giảng là ban phát sứ điệp của Đức Chúa Trời cho con người, vì vậy công tác chính của việc soạn bài giảng là trả lời câu hỏi” làm thế nào để ý tưởng thiên thượng được diễn đạt bằng thuật ngữ có thể hiểu được ?”.
Sự chuẩn bị đặc biệt bắt đầu với sự giải thích Kinh Thánh chính xác. Điều này đòi hỏi một sự nghiên cứu cẩn thận một đoạn văn trong bối cảnh cùng sự liên hệ của mạch văn ấy với toàn thể sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Rõ ràng điều này không xảy ra khi đọc Kinh Thánh cách tình cờ. Sự chuẩn bị này đòi hỏi một sự chuyên tâm học hỏi. Cẩn thận nghiên cứu đòi hỏi một người chuyên tâm học những điều sau:
1. Bối cảnh lịch sử của đoạn văn Kinh Thánh.
2. Cấu trúc ngữ pháp của đoạn văn.
3. Những tham khảo đối chiếu của đoạn văn.
4. Ý nghĩa thần học của đoạn văn.
Sử dụng những dụng cụ và phương tiện trợ giúp chúng tôi đề cập trong bài 4 sẽ mang nhiều ích lợi cho bạn khi nghiên cứu Kinh Thánh. Nơi nào không có sẵn những điều trên, thì bạn cần dành càng nhiều thì giờ càng tốt để đọc đoạn Kinh Thánh bạn dùng để giảng. Bạn cần dành nhiều thì giờ kiên nhẫn học hỏi với những dụng cụ nghiên cứu có sẵn (Thánh kinh phù dẫn, những sách giải kinh, những sách giải thích từ ngữ, Thánh kinh tự điển v.v...). Những người rao giảng có kinh nghiệm tin rằng thời gian thực sự để soạn bài giảng đòi hỏi không dưới hai mươi giờ mỗi tuần. Nếu bạn giảng ít nhất ba bài trong một tuần, thì số giờ soạn bài sẽ tăng lên. Đó là lý do tại sao bạn phải lập thời gian biểu mà chúng ta sẽ thảo luận trong bài 12. Bằng mọi phương tiện hãy tận dụng một phần rộng rãi thì giờ nghiên cứu của bạn cho việc soạn bài giảng. Tôi hy vọng bạn cũng được thuyết phục để đầu tư một số tiền mua những dụng cụ tốt nhất và những phương tiện trợ giúp nghiên cứu hữu ích cho bạn, để tăng thêm chiều sâu cho sự hiểu biết của bạn và giúp bạn truyền đạt lời Đức Chúa Trời hiệu quả hơn.
Sự chuẩn bị đặc biệt phát xuất từ những hoàn cảnh sống thực. Kinh Thánh là một quyển sách phi thời gian. Những nguyên tắc của Kinh Thánh có tác dụng không những vào thời đại của Kinh Thánh, nhưng đối với mọi

giai đoạn của lịch sử. Trách nhiệm của người rao giảng là giúp cho mọi người biết cách áp dụng những chân lý trường cữu này vào những hoàn cảnh đương thời của họ. Những kinh nghiệm cá nhân của bạn sẽ đi vào bức tranh này. Hãy nhìn xem sự tăng trưởng, sự phát triển và những phản ứng của con cái bạn. Chúng cung ứng những bức tranh minh họa rất tốt về sự tăng trưởng thuộc linh. Nhu cầu của con ngườinói chung và hội chúng của bạn nói riêng cung ứng dữ kiện phong phú về sự am hiểu những chân lý thuộc linh.
Hãy tìm trong nguồn dự trữ của bạn những tin tức, những hình ảnh minh họa hoặc sự kiện có thể làm tăng sự năng động và thích thú cho bài giảng của bạn. Hệ thống lưu trữ có phương pháp cũng sẽ rất có ích cho bạn tại điểm này.
Sự chuẩn bị đặc biệt tiếp theo sau những phương pháp kết cấu đúng đắn. Đa số những người rao giảng bắt đầu với một dàn ý sau khi họ đã chọn được định đề chính của sứ điệp. Dàn ý giống như một khung sườn. Nó cần được lấp đầy và bao phủ bằng nội dung. Những kết quả của việc nghiên cứu đoạn văn, những hình ảnh minh họa và áp dụng sẽ hoàn tất sự hình thành bài giảng. Là một người rao giảng, bạn cần phải làm cho lời của Đức Chúa Trời rõ ràng đối với thính giả của bạn. Ý nghĩa thật của những gì Đức Chúa Trời đang nói phải được sáng tỏ. Khi bạn sử dụng hình ảnh minh họa, thì những hình ảnh đó phải cộng thêm ánh đèn và chói sáng. Giữ cá nhân và nhu cầu của họ cho rõ nét khi bạn áp dụng chân lý vào hoàn cảnh sống của tín hữu của bạn. Sự áp dụng cần phải chỉ rõ lý do tại sao mỗi cá nhân cần đáp ứng với sứ điệp. Phần kết luận của bài giảng, bạn có thể kêu gọi sự hứa nguyện ngay lập tức. Sẽ luôn luôn là thích hợp để kêu gọi cá nhân đáp ứng. Người rao giảng kêu gọi sự hứa nguyện tựa như người chủ nhà đã dọn một bàn tiệc với thức ăn ngon và mời mọi người đến và thưởng thức.
Bạn phải quyết định viết hết từng lời của toàn bài giảng hay không. Nếu bạn là người mới bắt đầu, viết hết cả bài giảng là tốt cho bạn. Bằng cách này bạn có thể xem xét kỹ lưỡng toàn bài trước khi bạn ban phát. Tuy nhiên, điều đó không tự động có nghĩa là bạn mang toàn bộ bản thảo của mình lên tòa giảng. Bạn có thể đem hoặc không đem. Chúng ta sẽ nói thêm vài điều nữa về vấn đề này ở chương kế tiếp.
(6) Xếp đặt cho phù hợp những điều kiện của sự chuẩn bị đặc biệt cho bài giảng với phần mô tả ví dụ về hành động của bạn trong việc chuẩn bị.
1) Sứ điệp từ Thánh Linh
2) Giải thích Kinh Thánh đúng.
3) Những sự kiện, ví dụ minh họa đương thời.
4) Tư liệu liên quan đến đề tài.
5) Kết cấu dàn ý
...a. Bạn xem hồ sơ của mình về thông tin lịch sử Hội thánh tăng trưởng.
...b. Bạn khai triển những điểm chính cho một bài giảng.
...c. Trong sự cầu nguyện và học hỏi Kinh Thánh bạn có nhận thức mới về sự thách thức truyền giảng cho thế giới của Hội thánh.
...d. Bạn tìm lại trong hồ sơ lưu trữ một bản báo cáo về kế hoạch làm chứng của một Hội thánh và sự tăng trưởng phi thường.
...e. Bạn xem xét những phần tham chiếu Kinh Thánh, tra cứu Thánh kinh tự điển, Thánh kinh phù dẫn và sách giải thích từ ngữ Kinh Thánh.
Mục tiêu 4: Nhận thức phong cách sứ điệp thích hợp để đáp ứng nhu cầu khác nhau và hoàn cảnh riêng biệt.
BAN PHÁT SỨ ĐIỆP.
Bạn có cảm nghĩ như thế nào khi nghe một mục sư cố hết sức làm y như một người khác ? Đôi lúc những giảng viên trẻ có khuynh hướng thần tượng hóa một diễn giả vĩ đại. Một cách vô ý thức họ bắt chước phong cách và điệu bộ của vị đó. Những người khác lại cố làm giống như người nào đó mà họ ngưỡng mộ. Mỗi một diễn giả cần phát triển phong cách riêng của mình. Thường thì lúc bắt đầu giảng, bạn có cảm giác lúng túng, tuy nhiên, về sau, khi bạn có kinh nghiệm và tin quyết, thì bạn sẽ thư giãn và cảm thấy dễ chịu hơn. Hễ bạn càng chuẩn bị kỹ lưỡng bao nhiêu thì bạn sẽ được tự do hơn trong sự ban phát sứ điệp bấy nhiêu. Chúng ta sẽ thảo luận một số yếu tố ảnh hưởng đến việc bạn giảng, một số thuộc về bên ngoài và một số thuộc về cá nhân.
Những ảnh hưởng bên ngoài.
Tôi liệt kê ra đây một số yếu tố bên ngoài sẽ ảnh hưởng trên sứ điệp của bạn. Chúng ta hãy nghiên cứu kỹ từng yếu tố một.
1. Mục đích và nội dung của sứ điệp của bạn. Bạn sẽ thấy khá rõ ràng rằng giảng một sứ điệp về hy vọng hầu như khác hơn giảng sứ điệp về sự đoán xét. Giọng nói và lối diễn đạt của bạn sẽ hỗ trợ cho những gì Đức Chúa Trời muốn người ta biết. Bạn không nói về sự đoán phạt và cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời cách nhẹ nhàng bằng một nụ cười toe toét trên môi. Mặt khác, bạn cũng không thể giảng một sứ điệp yêu thương, hi vọng và vui mừng bằng bộ mặt nghiêm nghị khó chịu.
2. Hướng suy nghĩ của người nghe. Bất kỳ loại thính giả nào cũng tiêu biểu cho con người ở trong những mức độ tăng trưởng thuộc linh khác nhau, và những người này có các thái độ khác nhau đối với một buổi thờ phượng. Bạn có những người tin và những người nghi ngờ, người có thiện cảm và người đề kháng, và bạn sẽ tìm thấy có những người vui lòng đến và những người bị ép buộc đến. Mỗi một người nầy đều có hướng suy nghĩ riêng. Suốt cả tuần lễ họ vật lộn với cuộc sống, cố gắng kiếm lấy miếng ăn. Một số trong họ đấu tranh cách tuyệt vọng để được công nhận, chấp nhận hoặc thành công. Trẻ cũng như già đều đối diện những cám dỗ. Nếu bạn đứng sau tòa giảng mà không bày tỏ sự thông cảm nhiệt tình, hoặc bạn nghĩ rằng tất cả những người đó đều đề kháng quá mức, thì bạn có thể tưởng tượng sự tiếp xúc của bạn sẽ làm được gì cho họ.
3. Tầm cỡ của cử tọa. Giọng nói của bạn là một dụng cụ đắc lực cho việc truyền thông có hiệu quả. Thật vậy, giọng nói và điệu bộ của bạn vang xa sứ điệp đến người nghe. Bạn phải điều chỉnh giọng nói tùy theo số lượng thính giả. Mặc dù không cần ráng sức nói lớn khi bạn nói với 35 người, nhưng bạn phải nổ lực lớn tiếng khi nói với 500 người. Những phương tiện phóng thanh có thể giúp ích nếu được sử dụng đúng cách và ở trong tình trạng hoàn hảo. Tuy nhiên, một hệ thống phát thanh công cộng quá lớn sẽ gây khó chịu và một hệ thống không hoạt động cách thích hợp rất có thể gây xao lãng. Số lượng cử tọa cũng ảnh hưởng đến cách bạn nói. Nếu bạn nói với một nhóm người từ 20 đến 30 người, có lẽ bạn sẽ có thái độ thoải mái hơn khi bạn nói với hàng ngàn người trong một hội trường lớn.
(7) Xếp đặt cho phù hợp phong cách giảng với tình trạng thính giả.
1) Nghiêm trang, khích lệ, nhiệt tình.
2) Giọng nói phấn khởi, cử chỉ chan hòa.
3) Yên tĩnh, êm dịu, hi vọng.
4) Vui vẻ cùng với sự nghiêm trang.
...a. Đám tang một đứa trẻ.
...b.Chiến dịch truyền giảng trong vận động trường thể thao.
...c. Lễ thành hôn của đôi bạn trẻ.
...d. Hội chúng gồm những tân tín hữu nghèo, làm việc cực nhọc.
Mục tiêu 5: Nhận ra các yếu tố có thể cải tiến việc ban phát sứ điệp.
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CÁ NHÂN.
1. Cá tính riêng của bạn. Khó có thể tưởng tượng được khi một người thường nói nhỏ nhẹ lại la lớn liên tục khi người ấy giảng. Một vài giảng viên có khuynh hướng nói rất dịu dàng, nhưng khuynh hướng này có thể gây ấn tượng là họ bị dọa dẫm. Mặc dù Timôthê có thể cảm thấy mình bị khinh dễ vì trẻ tuổi, nhưng Phaolô bảo đảm rằng chàng đủ khả năng đảm nhiệm công việc. Nếu bạn cảm thấy mình không đủ khả năng đảm nhiệm công việc, thì việc ban phát sứ điệp có thể bộc lộ sự hối tiếc, và bạn không muốn biểu lộ điều này cho những người nghe mình. Vấn đề ấy là bạn ít học hơn đa số những tín hữu của bạn có thể thấy được trong lời giảng của bạn. Trước hết, bạn phải nhớ rằng bạn đang công bố sứ điệp của Đức Chúa Trời, chứ không nói theo ý riêng mình. Đức Chúa Trời kêu gọi bạn và ủy thác cho bạn quyền ban phát sứ điệp của Ngài. Thứ hai, nếu bạn chuẩn bị kỹ, chắc chắn Chúa sẽ giúp đỡ bạn. Thứ ba, bạn cần nhớ rằng Đấng kêu gọi bạn cũng ban sức để bạn làm mọi công việc. Có người đã nói” Đức Chúa Trời không kêu gọi người có đầy đủ phẩm chất, mà Ngài ban phẩm chất cho những người Ngài kêu gọi”. Hãy nhớ điều Phaolô khuyên Timôthê” hãy thổi bùng lên ân tứ Đức Chúa Trời ban” ở bên trong và” làm gương cho những tín hữu” giữa những người mình làm việc (IITi 2Tm 1:6, ITi1Tm 4:12).
2. Việc bạn sử dụng phần ghi chú bài giảng. Tôi muốn nói cách vắn tắt về việc bạn nên đọc bài giảng của mình hay không. Dĩ nhiên, lý tưởng nhất là một người rao giảng không nên đọc bài giảng của mình. Tuy nhiên, khi bạn mới bắt đầu công tác giảng, để người nghe hiểu được và bạn cảm thấy an tâm về bài giảng của mình thì nên đọc sao cho thoải mái để người nghe dễ tiếp thu hơn là cố giảng từ những ghi chú viết tắt. Tuy nhiên, khi bạn cảm thấy thoải mái hơn ở trên tòa giảng, thì bạn đừng để mình bị buộc chặt vào những lời đã ghi ra. Những phần soạn bài có thể giúp bạn giữ được dàn ý bài giảng không đi lạc đề, nhưng nó không thể ngăn cản bạn đáp ứng sự dẫn dắt của Thánh Linh khi bạn giảng. Tôi đề nghị bạn nên viết ra toàn bản thảo bài giảng, rồi đọc đi đọc lại thật to mà không cần thuộc lòng. Rồi khi bạn giảng, bạn sẽ thấy những lời bạn viết đến với mình dễ dàng làm sao, cho dù bạn không cần nhìn vào ghi chú. Khi bạn có kinh nghiệm hơn, bạn có thể dùng một dàn ý chi tiết để giảng. Điều đó cũng sẽ giúp bạn trong những trường hợp được mời đột xuất mà không có thời gian chuẩn bị. Trong những trường hợp đó bạn không có cơ hội để viết ra điều gì bạn chỉ cần ghi nhớ những gì mình phải nói.
Những thói cầu kỳ (Mannerisms).
Hầu hết mỗi người đều có một kiểu cầu kỳ riêng mà nó sẽ nổi bật khi bị căng thẳng thần kinh. Khi bạn cố giấu sự căng thẳng của mình, bạn sẽ không biết rõ những kiểu cách cầu kỳ ấy. Chẳng hạn, vợ tôi có một cô em họ, cô ta là người hướng dẫn ca đoàn rất có khả năng. Cô được huấn luyện ở một học viện có nhiều giáo sư rất giỏi và chẳng bao lâu cô ta trở thành một nhạc trưởng xuất sắc. Về sau, cô ta đến một đại học nổi tiếng để học thêm lên nữa, tại đấy những sinh viên điều khiển các ban nhạc trình diễn
đều được quay phim để phân tích. Lần đầu tiên thấy mình điều khiển trong phim, cô ta khiếp sợ. Cô ta đã không ý thức về những thói cầu kỳ làm khó chịu của mình bị phô bày trên màn ảnh.
Điều đó cũng xảy ra cho những người rao giảng. Bạn có thể không biết những kiểu cầu kỳ làm cho những người nghe bạn khó chịu. Vài kiểu cầu kỳ rõ ràng như mang kính vào rồi lấy ra, vặn chặt hai bàn tay, nháy mắt lia lịa, rút khăn mu-soa ra, cắn môi, gãi đầu, sửa quần áo lại hay một ngàn lẽ một kiểu cách khác. Sự thật xáo trộn là những thành viên Hội thánh ít khi nói với bạn về các thói quen này. Nếu bạn có gia đình, thì vợ bạn là người có thể giúp bạn nhiều về những điều đó. Cô ta có thể quan sát các thói cầu kỳ này trong lúc bạn nói, rồi sau đó thảo luận với bạn để bạn có thể tránh đi.
Ngôn ngữ của Cơ thể (Body language).
Dường như đây là một khám phá lý thú mới mẽ trong một lãnh vực của sự truyền thông, diễn đạt bằng cử chỉ của thân thể (kinesis). Đó là một hệ thôâùng nghiên cứu mối quan hệ giữa động tác của thân thể và sự truyền thông. Ngôn ngữ của thân thể có thể bộc lộ những thái độ khác với những gì người ta nói. Chẳng hạn, nếu bạn nói một cách nhiệt tình về điều gì đó trong khi bạn uể oải rũ xuống bục giảng, thì bạn đang trình bày sự tương phản cho thính giả của mình. Và nếu bạn đứng với tư thế hung hăng và dọa dẫm, thì bạn không thể truyền đạt sứ điệp yêu thương được. Nên nhớ rằng ngôn ngữ của thân thể bộc lộ thái độ chân thật của bạn. Vì bạn đang ban phát sứ điệp của Đức Chúa Trời cho con người, nên thật là quan trọng vì ngôn ngữ của thân thể bạn phải hợp với những gì bạn nói.

Khi bạn đã hoàn toàn thông suốt đề tài của mình và phụ thuộc vào sứ điệp, thì thân thể bạn sẽ chấp nhận một sự diễn đạt phù hợp. Sau đây là vài hứơng dẫn bạn cần nhớ:
1. Ngôn ngữ của thân thể phải tăng cường sức mạnh sứ điệp chứ không làm giảm giá trị.
2. Ngôn ngữ của thân thể phải thích hợp với sự nhấn mạnh.
3. Ngôn ngữ của thân thể không chế ngự sứ điệp bằng lời.
Ngôn ngữ của thân thể là một chức năng tiềm thức hỗ trợ cho sứ điệp của bạn khi bạn có ý thức về bản thân mình. Bạn càng tập trung vào nội dung của sứ điệp chừng nào thì càng ít chú ý đến mình chừng nấy. Kết quả bạn sẽ truyền đạt sứ điệp của Đức Chúa Trời đến những người nghe cách thích đáng.
(8) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu mô tả một cách trau giồi việc ban phát sứ điệp.
a. William viết ra đầy đủ bài giảng của mình, rồi anh nhìn vào gương để tự tập giảng.
b. John giảng những bài giảng hay, nhưng anh không nghe lời góp ý của vợ về việc anh thường đằng hắng trong khi giảng.
c. Mặc dù Kwame rất ngưỡng mộ cha anh, một người giảng năng động, lớn tiếng và có uy quyền, nhưng anh tiếp tục giảng cách khoan thai dịu dàng của riêng mình.
d. Khi giảng Giăng 17, Henry thường đập mạnh vào tòa giảng để chắc rằng hội chúng đang chú ý nghe mình.
e. George, một mục sư phụ tá trẻ, nhút nhát, giảng mỗi khi anh có cơ hội.
(9) Trong câu (8), lời diễn đạt nào bạn không khoanh tròn mẫu tự ở đầu câu, hãy viết ra lý do trên những hàng sau đây:
Mục tiêu 6: Mô tả ba cách xếp loại chính của những loại bài giảng.
NHU CẦU KHÁC NHAU TRONG SỰ RAO GIẢNG.
Những Loại Bài Giảng.
Chúng ta sẽ tóm tắt những loại bài giảng trong phần này. Bảng tóm tắt sẽ cho chúng ta biết mỗi loại có cách dùng riêng. Mỗi mục sư có ý kiến khác nhau về loại nào là tốt nhất, nhưng bạn sẽ thấy mỗi loại đều có vị trí thích đáng và hữu dụng cho một số mục đích nhất định.
Thường thường có ba yếu tố quyết định loại bài giảng. Những yếu tố đó là:
1. Cấu trúc của bài giảng.
2. Nội dung của đoạn Kinh Thánh, và
3. Cách người giảng sử dụng đoạn Kinh Thánh.
Những bài giảng dựa vào cấu trúc gồm có: bài giảng qui nạp (inductive sermon), bài giảng suy diễn (deductive sermon) và bài giảng luận đề - phản đề (thesis-antithesis sermon). Nếu bài giảng dựa vào nội dung của đoạn Kinh Thánh, thì có bài giảng về giáo lý và bài giảng về tiểu sử nhân vật. Và nếu bài giảng dựa vào cách một người giảng sử dụng đoạn Kinh Thánh, thì bài giảng được phân theo loại theo đề tài, nội dung hoặc giải kinh.
Có ba cách chính xếp loại bài giảng tùy theo cấu trúc. Bạn có thể tìm thấy những phương pháp khác để phân loại bài giảng, nhưng ba loại sau được coi là cơ bản.
1. Bài giảng theo đề tài ( The topic sermon).
Bài giảng theo đề tài có một chủ đề chính, đề tài. Bài giảng có những phần chính rút ra từ đề tài đó, và độc lập với một đoạn Kinh Thánh. Mỗi phần chính được hổ trợ bởi một trưng dẫn Kinh Thánh tham chiếu được rút ra từ từng phần trong Kinh Thánh.
2. Bài giảng theo nội dung ( The textual sermon).
Những phần chính trong bài giảng theo nội dung rút ra từ một bản văn ngắn của Kinh Thánh. Chủ đề và những thành phần được hổ trợ chính yếu từ bản văn này.
3. Bài giảng giải Kinh (The expository sermon).
Bài giảng giải Kinh dựa vào ba hoặc nhiều câu Kinh Thánh được dẫn giải liên quan đến một đề tài hay một ý tưởng chính. Có năm điều cốt yếu phải trình bày trong một bài giảng giải Kinh, đó là:
A. Phải có sự trình bày cách chi tiết. Trình bày là từ ngữ giải thích hoặc phơi bày. Người giảng phải làm cho rõ ý nghĩa của đoạn Kinh Thánh và phơi bày nó cách rộng mở. Mọi từ ngữ và câu căn bản đều phải được giải thích.
B. Phải có phần áp dụng. Điều này có nghĩa là chân lý phải đem vào thực tế, người giảng phải kêu gọi một sự đáp ứng.
C. Tất cả những điểm chính phải đến từ một phân đoạn Kinh Thánh.
D. Phải đặt nền tảng trên ba hoặc nhiều câu Kinh Thánh liên tiếp.
E. Có một định đề một ý tưởng chủ yếu để kết cấu bài giảng. Định đề nối kết những phần chính lại với nhau và làm cho bài giảng đạt tính đồng nhất. Tất cả mọi loại bài giảng đều phục vụ cho mục đích riêng của sứ điệp và sử dụng một số bổ sung đa dạng góp phần truyền đạt chân lý của Đức Chúa Trời hiệu quả hơn. Tuy nhiên tôi đã mô tả kỹ hơn về loại bài giảng giải Kinh vì người ta thường áp dụng loại này nhiều nhất. Đây là cách lựa chọn thích hợp hơn hết để dạy và đem tín hữu đến sự trưởng thành trong Chúa. Chắc chắn một người giảng cần phải học về việc xây dựng bài giảng nhiều hơn điều tôi trình bày ở đây. Tôi cũng nhấn mạnh bạn nên theo học một lớp về truyền đạo pháp. Một lần nữa tôi cũng khuyên bạn nên học những loạt bài ICI mà tôi đã giới thiệu trước ở đầu môn học này.
(10) Xếp loại bài giảng với dàn ý mẫu.
1) Chủ đề.
2) Theo nội dung.
3) Giải Kinh.
...a. Tựa đề: Sự vâng lời của Exơra (Exo Er 7:10). Những phần chính: Exơra sẵn sàng vâng lời, sự vâng lời trọn vẹn, và sự vâng lời tiếp tục.
...b. Tựa đề: Binh giáp của Đức Chúa Trời (Eph Ep 6:10-18). Những phần chính: nhuệ khí của Cơ đốc nhân (c.10-13), khí giới của Cơ đốc nhân (c.14-17). Đời sống cầu nguyện của Cơ đốc nhân (c.18).
...c. Tựa đề: Đức Chúa Trời có quyền. Những phần chính: Đức Chúa Trời có quyền giải cứu (HeDt 7:25), Đức Chúa Trời có quyền ban ân phúc (IICo 2Cr 9:8), Đức Chúa Trời có quyền gìn giữ (Giu Gd 1:24).
LẬP KẾ HOẠCH CHO VIỆC GIẢNG CỦA BẠN.
Nếu bạn giảng ít nhất ba bài trong một tuần, thì bạn phải giảng 156 lần trong 1 năm. Mặc dù số lượng bài giảng nhiều đấy, nhưng bạn chỉ mới chạm qua bề mặt của mỏ vàng thuộc linh của Kinh Thánh. Hầu như tự nhiên, ai cũng có một số chủ đề mình thích, nhưng bạn phải nuôi dân sự mình bằng tất cả toàn bộ Lời Đức Chúa Trời. Bạn không đủ khả năng để giảng 156 lần về lời tiên tri trọn một năm, trong thời gian 5 hay 10 năm. Bạn cần phải cung cấp một thực đơn thuộc linh quân bình cho hội chúng của bạn. Điều này đòi hỏi bạn phải có một kế hoạch giảng bao gồm toàn diện Kinh Thánh. Phần sau đây tôi ghi ra một số trong những tiết mục mà bạn có thể khảo sát khi soạn kế hoạch giảng.
1. Nhu cầu cấp bách của dân sự bạn: Đức Chúa Trời có một sứ điệp cho con người trong hoàn cảnh của họ. Khi bạn tương giao với Đức Chúa Trời và biết rõ anh em mình, bạn sẽ hiểu được những nhu cầu cấp thiết trong đời sống họ. Khi bạn vừa mới bắt đầu công tác hay khởi lập một Hội thánh, rất có khả năng bạn sẽ giảng ở ngoài trời hay ở trong nhà mà nhu cầu đầu tiên là đưa người ta đến với Đấng Christ. Nhưng khi bạn ở trong một Hội thánh được thành lập chính thức rồi, thì bạn sẽ giảng trước tiên là để gây dựng tín hữu trong Hội thánh bạn. Rồi đến lượt họ, họ sẽ truyền giảng bất cứ nơi nào họ ở và sống đắc thắng trên thế gian này. Vì vậy điểm đầu tiên của kế hoạch giảng của bạn là: Những nhu cầu của tín hữu trong Hội thánh mình.
2. Sử dụng lịch Cơ Đốc. Xuyên qua niên lịch, có một số ngày đặc biệt gợi ý một số giáo lý căn bản và chủ đề đặc biệt. Tại điểm này, tôi xin bạn lưu ý: Đừng khóa mình vào đấy, tuy nhiên, hễ thấy thuận lợi thì dùng. Một số giáo phái sử dụng sách hướng dẫn nghi thức cho việc giảng có cung cấp những chủ đề, những câu Kinh Thánh, và những sự nhấn mạnh thuộc linh dựa vào niên lịch Cơ Đốc. Các ngày đặc biệt có thể là những dịp lễ mà người ta thường hướng tới để ăn mừng, tuy nhiên, quan trọng hơn nữa các dịp này cho bạn những cơ hội để dạy những giáo lý liên quan đến những chủ đề lớn về đức tin: sự Chúa thành nhục thể, sự phục sinh, sự ban quyền năng trong ngày lễ ngũ tuần cũng như tầm quan trọng của sự Cải chánh và những biến cố đặc biệt và lịch sử khác.
3. Nhu cầu phát huy sự trưởng thành thuộc linh. Chỉ giảng để đáp ứng những vấn đề cấp bách mà tín hữu đối đầu thì chưa đủ. Một hội chúng cần phải được xây dựng đến mức trưởng thành đầy đủ trong Chúa. Tín hữu cần được giới thiệu những mục tiêu mà họ có thể đạt được trong đời sống thuộc linh của mình và trong đời sống của Hội thánh. Nếu những người lãnh đạo Hội thánh sử dụng một niên lịch Cơ đốc, thì có những mục tiêu để họ có thể muốn đạt tới trong một khoảng thời gian. Bạn có thể lập kế hoạch giảng của bạn để chỉ rằng một mục tiêu ấy hình như là vật chất. Ví dụ một sự gia tăng số lượng thành viên, thực ra là một mục tiêu thuộc linh - sự truyền giảng.
4. Dạy về giáo lý và những nhân vật tin kính. Trong một khoảng thời gian trong năm, bạn có thể chú ý đến vài đề tài chính trong Kinh Thánh. Bạn có thể giảng một loạt bài về mỗi đề tài trong số những đề tài lớn để làm rõ chân lý về giáo lý, về sự tĩnh nguyện dưỡng linh và ngay cả sự truyền giảng. Nghiên cứu về những nhân vật trong Kinh Thánh như Môise, Giôsép, Đaniên, Đavít, hoặc Phierơ sẽ cung cấp chứng liệu cho những bài giảng dạy về đặc tính của Đức Chúa Trời. Những sự học hỏi này dạy về cách Đức Chúa Trời đối xử với con người và những phẩm chất cá nhân mà Đức Chúa Trời muốn hình thành trong họ.
(11) Mục tiêu đầu tiên của kế hoạch giảng của mục sư sẽ là:
a. Tránh làm cho hội chúng nhàm chán.
b. Động viên hội chúng suy nghĩ.
c. Gia tăng sự am tường Kinh Thánh.
d. Cung cấp một khẩu phần thuộc linh cân đối.
(12) Xếp đặt cho phù hợp mục đích đề cặp trong kế hoạch giảng với chủ đề bài giảng được gợi ý.
1) Đáp ứng nhu cầu cấp bách của hội chúng.
2) Sử dụng niên lịch Cơ đốc.
3) Phát huy sự trưởng thành thuộc linh.
4) Dạy về giáo lý.
5) Nghiên cứu nhân vật.
...a. Giôsép là một người quản lý giỏi.
...b. Phước cho những người bị ngược đãi vì sự công bình.
...c. Về những ân tứ thuộc linh, anh em chẳng nên không biết.
...d. Một gái đồng trinh sẽ sanh một trai.
...e. Người công bình sống bởi đức tin.
...f. Nếu chúng ta chỉ hy vọng nơi Đấng Christ trong đời này thì chúng ta là kẻ đáng thương.
Không kể đến điều cơ bản của kế hoạch giảng của bạn, là một mục sư điều quan trọng đối với bạn là phải suy nghĩ trước và lập những mục tiêu cho hội chúng của bạn. Kế đó, khi bạn nhận được sự dẫn dắt của Chúa, bạn có thể tiết lộ những điều kỳ diệu của lẽ thật thiên thượng. Một kế hoạch có hiệu quả sẽ giúp bạn tránh những bi kịch của việc chuẩn bị và giảng những bài giảng không thể hiểu được mà bạn soạn cách cẩu thả trong ngày hôm trước. Kế hoạch cũng giúp bạn suy nghĩ trước và chuẩn bị sẳn những tài liệu mà bạn sẽ cần cho mỗi trường hợp. Đây là một số điều nhắc nhở sau cùng:
1. Nêu rõ những mục tiêu giảng của bạn.
2. Chuẩn bị chu đáo từ trước.
3. Kế hoạch giảng của bạn phải linh hoạt, và quan trọng hơn hết là:
4. Luôn luôn lệ thuộc vào Chuá.
Bây giờ, những gì bạn đã học xong mới chỉ là sự khởi đầu. Khi bạn thực hiện những điều gợi ý này, bạn có thể hướng tới một” chương trình nuôi dưỡng thuộc linh” được nâng cao cho hội chúng hiện tại của bạn, hoặc cho những người mà Đức Chúa Trời sẽ giao cho bạn khi bạn bước vào chức vụ.
v
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
CÂU HỎI LỰA CHỌN.
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Yếu tố chủ chốt liên quan đến sự giảng là:
a. Uy quyền của sứ giả.
b. Sứ điệp từ Đức Chúa Trời.
c. Sự động viên của sứ giả.
d. Sự đáp ứng của người nghe.
2. Sách Tự Học của bạn định nghĩa rao giảng là sứ điệp của Đức Chúa Trời, được công bố do sứ giả của Ngài, với mục đích:
a. Nói cho người ta về Đức Chúa Trời
b. Nói bằng quyền năng.
c. Dạy về Kinh Thánh.
d. Khuyến giục người ta đến với Đức Chúa Trời.
3. Từ RoRm 10:13-14, chúng ta có thể hiểu rằng giảng là:
a. Sự khuyến giục.
b. Sự cải tổ.
c. Sự cứu rỗi.
d. Sự giải luận.
4. Muốn đem người nghe đến quyết định tích cực với Đức Chúa Trời, thì giảng phải là:
a. Một thách thức đòi hỏi một đáp ứng.
b. Thích ứng với những gì người ta cảm thấy thích hợp.
c. Đầy xúc động và ban phát mạnh mẽ.
d. Một sự bày tỏ những mầu nhiệm thuộc linh sâu sắc.
5. Bước thứ nhất trong việc chuẩn bị đặc biệt cho sự giảng là:
a. Làm một dàn ý bài giảng.
b. Tìm kiếm hồ sơ cho một đề tài.
c. Tìm một đoạn Kinh Thánh thích hợp.
d. Nhận một sứ điệp từ Đức Chúa Trời.
6. Mục đích quan trọng nhất của một hồ sơ lưu trữ là:
a. Xếp đặt những tài liệu theo đề tài.
b. Sắp những tài liệu cần thiết cho dễ tìm.
c. Đáp ứng tài liệu minh họa tốt.
d. Cung cấp một hệ thống chỉ dẫn tham khảo.
7. Tầm cở và thái độ của hội chúng có thể ảnh hưởng đến bài giảng:
a. Đề tài.
b. Phong cách ban phát.
c. Độ dài.
d. Thời gian sửa soạn.
8. Loạt bài giảng tập trung trên ba hoặc nhiều câu Kinh Thánh liên tiếp là:
a. Bài giảng theo đề tài.
b. Bài giảng theo nội dung Kinh Thánh.
c. Bài giảng lịch sử.
d. Bài giảng giải Kinh.
9. Mục sư đảm bảo một khẩu phần thuộc linh cân đối cho hội chúng mình bằng việc:
a. Mời một số diễn giả khách đa dạng.
b. Giảng theo thứ tự thời gian hết trọn Kinh Thánh.
c. Sử dụng một kế hoạch giảng Kinh Thánh toàn diện.
d. Aùp dụng niên lịch Cơ đốc.
10. Để hoàn thành một chương trình giảng cân đối tốt, mục sư phải quan sát tất cả những điều dưới đây NGOẠI TRỪ:
a. Trông đợi sự cảm thúc cho bài giảng vào phút cuối.
b. Chuẩn bị kế hoạch giảng tốt từ trước.
c. Thừa nhận kế hoạch giảng linh hoạt.
d. Lệ thuộc vào sự dẫn dắt của Thánh Linh.
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) a. Đức Chúa Trời
b. Sứ giả (tiên tri hay người giảng).
c. Người ta (người nghe sứ điệp).
(2) Khuyến giục con người đáp ứng cách tích cực với sứ điệp của Đức Chúa Trời.
(3) Bạn có thể khoanh tròn câu a, b, và d
(4) Người ấy phải nghe Lời Chúa được giảng ra, tin nhận và kêu cầu Chúa.
(5) Theo từ ngữ của bạn, câu trả lời có thể tương tự như sau:
a. Duy trì mối thông công mật thiết với Đức Chúa Trời.
b. Kinh Thánh hoặc bạn có thể nói, sự hiểu biết của tôi về Đức Chúa Trời và về Kinh Thánh.
c. Tài liệu (những hột giống) sẵn sàng cho việc soạn bài giảng, những hình ảnh minh họa, những bài báo về lịch sử, và truyền cảm, và những kinh nghiệm cá nhân.
(6)
a. 4) Tư liệu liên quan đến đề tài.
b. 5) Kết cấu dàn ý.
c. 1) Sứ điệp từ Thánh Linh.
d. 3) Những sự kiện, ví dụ minh họa đương thời.
e. 2) Giải thích Kinh Thánh đúng.
(7) a. 3) yên tĩnh, êm dịu, hy vọng.
b. 2) giọng nói phấn khởi, cử chỉ chan hòa.
c. 4) vui vẻ cùng với sự nghiêm trang.
d. 1) nghiêm trang, khích lệ, nhiệt tình.
(8) Bạn có thể khoanh tròn câu a, c, và e.
(9) Trong câu b) John làm giảm giá trị những bài giảng của mình bằng thái độ cầu kỳ gây khó chịu của anh. Trong câu d) cử chỉ của Henry không thích hợp cho đề tài bài giảng.
(10)
a. 2) Theo nội dung khúc Kinh Thánh.
b. 3) Giải Kinh.
c. 1) Đề tài.
(11) d) cung ứng một khẩu phần thuộc linh cân đối.
(12)
a. 5) nghiên cứu nhân vật.
b. 1) Đáp ứng nhu cầu cấp bách của hội chúng.
c. 3) Phát huy sự trưởng thành thuộc linh.
d. 2) Sử dụng niên lịch Cơ Đốc.
e. 4) Dạy về giáo lý.
f. 2) Sử dụng niên lịch Cơ đốc hay 4) dạy về giáo lý.
Dạy
Trong bài 8 chúng ta đã thảo luận về giá trị của sự giảng trong chức vụ của mục sư. Chúng ta ghi nhận rõ rằng giảng là phương tiện đầu tiên của việc loan báo tin mừng và đem người ta đến với Đấng Christ. Chúng ta cũng thấy rằng muốn cung cấp một khẩu phần thuộc linh cân đối và có hiệu quả, thì sự giảng cần được lên kế hoạch. Như vậy sự rao giảng phục vụ cho nhu cầu tăng trưởng và phát triển của dân sự Chúa. Người giảng có thể cung ứng một thực đơn thuộc linh cân đối qua một kế hoạch giảng và một chương trình dạy kỹ lưỡng mà chúng ta khảo sát trong bài học này.
Khi tân tín hữu làm theo sự dạy dỗ của sứ điệp, thay đổi cuộc sống và bắt đầu cuộc sống mới trong Chúa Jêsus Christ, thì họ giống như các em bé mới sanh. Như vậy bạn phải giúp đỡ họ tăng trưởng và học biết ý nghĩa đời sống một Cơ đốc nhân trong ngôn ngữ thiết thực và điều này liên quan đến sự dạy. Những ví dụ trong Tân ước cho chúng ta thấy rằng Chúa Jêsus đã dạy suốt thời gian Ngài thi hành chức vụ, và những ví dụ ấy biểu lộ tính chất là một giáo viên của công tác mục sư. Chẳng hạn, trong ITi1Tm 3:2 Phaolô nói rằng một mục sư phải ‘có khả năng dạy’. Kinh Thánh bày tỏ cho chúng ta thấy rằng dạy là cần thiết cho việc bảo toàn những kết quả của sự truyền giảng. Nó cũng cần thiết để giúp cho tân tín hữu trưởng thành trong Đấng Christ để họ ‘không còn là con trẻ nữa, bị các cơn sóng dồi dập, thổi đi đây đi đó’ (Eph Ep 4:14). Như vậy, nhu cầu dạy gợi ý rằng chúng ta phải khảo sát thế nào giáo sư đào tạo được cũng cố trong Hội thánh.
Khi chúng ta thấu triệt về chức vụ dạy, chúng ta càng thấy rõ hơn về bổn phận của chúng ta, không những chinh phục con người hư mất cho Đấng Christ mà còn đào tạo họ thành môn đệ nữa. Nguyện mục đích của chúng ta là noi theo gương của Giáo Sư Trưởng của chúng ta là Chúa Jêsus Christ và tận hiến đời mình cho công tác đào tạo môn đệ cho sự vinh hiển của vương quốc Ngài.
Dàn Ý Bài Học
* Ý nghĩa của Sự Dạy.
*Mục đích của Sự Dạy.
*Lãnh đạo trong việc Dạy.

Những mục tiêu của bài học
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Giải thích ý niệm Kinh Thánh về sự dạy cũng như tính chất và mục đích của sự dạy.
* Thảo luận mối quan hệ giữa giảng và dạy.
* Lập kế hoạch thích hợp cho việc dạy và những mục tiêu huấn luyện của giáo viên.
* Đánh giá tiềm năng của sự dạy dỗ trong việc nuôi dưỡng và gây dựng tín hữu trong thân thể của Đấng Christ.

Những hoạt động học tập
1. Nghiên cứu bài học theo những sự chỉ dẫn trong Bài 1.
2. Khi bạn nghiên cứu bài, nhớ trả lời những câu hỏi nghiên cứu trước khi xem phần giải đáp. Có như thế bạn mới nhớ lâu những gì mình học.
Những chữ căn bản
Triển khai bài học
Mục tiêu 1: Nhận diện những lời mô tả chính xác tính chất của sự dạy.
Ý NGHĨA CỦA SỰ DẠY.
Trong ba năm rưỡi thi hành chức vụ tại trần gian, Chúa Jêsus đã dành hầu hết thì giờ của Ngài để giảng, dạy và chữa bệnh (Mat Mt 4:23). Các sách Phúc Aâm cho biết Ngài dạy cho những đám đông, những nhóm nhỏ và những cá nhân. Điểm chính ấy là dạy dỗ con người là một phần sống động của chức vụ của Ngài.
TÍNH CHẤT CỦA SỰ DẠY.
Một trong những chữ mà những trước giả Tân ước dùng để chỉ về ‘sự dạy’ là didasko. Cuốn Kinh Tiết Sách Dẫn cho chúng ta biết rằng những trước giả được mặc khải đã dùng chữ này 99 lần trong Kinh Thánh. Mặc dù những trước giả cũng sử dụng những chữ khác trong Kinh Thánh để mô tả sự giảng hay vai trò của người dạy, nhưng chữ didasko là một trong những chữ thường dùng nhiều nhất trong Tân ước để mô tả chức năng này. Đây là một chữ Hylạp có nghĩa đơn giản là ‘dạy’. Didasko bao gồm cả thuyết trình và các loại thảo luận của việc dạy. Hơn nữa, khía cạnh thú vị của chữ didasko ấy là chữ ấy nhấn mạnh người giáo viên và ám chỉ ‘sự thích hợp cho nhiệm vụ’
Ý niệm dạy tập trung sự chú ý về khả năng của thầy giáo trong việc dạy (ITi1Tm 3:2). Sứ đồ Phaolô liệt kê sự dạy là một trong những phẩm chất và kỹ năng của mục sư cần có để giúp trang bị người ấy trong chức vụ của mình. Trong Eph Ep 4:11, Phaolô hàm ý rằng công tác mục sư rõ ràng bao gồm chức năng dạy được chỉ rõ bằng từ ngữ ‘mục sư và giáo sư’. Trong ngôn ngữ nguyên thủy gợi ý rằng đây không phải là hai chức năng riêng biệt, mà cũng là chức năng của công tác hay chức vụ mục sư. Điều này chỉ ra rằng những người chăn bầy cũng được xem là những giáo sư. Như vậy Kinh Thánh nêu rõ rằng mục sư phải thực hiện công tác dạy xem đó như là một phần không thể thiếu trong chức năng mục sư của mình.
Đối với đám đông vây quanh Chúa Jêsus, Ngài là một giáo sư hơn là một tiên tri. Ngay cả Nicôđem ông đã nhìn nhận điều này khi nói với Chúa Jêsus” Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là một giáo sư từ trời đến”(GiGa 3:2). Suốt thời gian thi hành chức vụ, Chúa Jêsus đã dạy trong những nhà hội, nhà riêng, ngoài đường, bên một cái giếng trong làng, trên núi và tại nhiều nơi khác. Sự dạy dỗ của Chúa Jêsus đặc biệt nổi bật về những phẩm chất chung sau đây:
1. Ngài dạy có quyền năng. Mác mô tả cách đơn giản, ‘dân chúng đều kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy họ cách có quyền năng’ (Mac Mc 1:22). Chữ ‘kinh ngạc’ là một từ rất mạnh nghĩa. Nó có nghĩa ‘gây ấn tượng với tác động ngạc nhiên cực kỳ mãnh liệt’. Cách dạy cũng như nội dung dạy của Chúa Jêsus làm dân chúng ngạc nhiên. Phong cách của Ngài khác hẳn những thầy thông giáo là những sinh viên và giáo sư dạy về Luật pháp bằng văn tự cũng như truyền khẩu. Cách dạy của họ là trích dẫn những câu nói có uy quyền của những thầy thông giáo trước họ, trong khi Chúa Jêsus nói ra bằng uy quyền có được trực tiếp từ Đức Chúa Trời.
2. Sự dạy là một phần thiết yếu của đời sống và chức vụ của Ngài. Trong Mac Mc 10:1 trước giả Phúc âm viết” quần chúng lại kéo đến tụ họp chung quanh Ngài, và Ngài dạy dỗ họ như Ngài vẫn thường làm” (TEV). Bản Nhuận Chánh Quốc Tế (NIV) viết như sau” Một lần nữa, dân chúng đến với Ngài, và theo thói quen, Ngài dạy dỗ họ”. Bất kể nơi chốn hoặc số lượng người nghe, Chúa Jêsus vẫn liên tục thực hiện chức vụ giảng và dạy.
3. Sự dạy là một phần sống động của đời sống và chức vụ củaHội thánh đầu tiên. Khi chúng ta nhìn vào lịch sử của thế kỷ thứ nhất và phần ký thuật của Kinh Thánh, thì chúng ta thấy rõ tầm quan trọng và sự cấp bách mà Hội thánh đầu tiên đặt vào sự dạy dỗ. Hãy xem trong một chốc lát mà một số đông người đáp ứng Phúc âm và đòi được tiếp nhận vào Hội thánh. Dù bối cảnh của họ là người Do Thái hay người ngoại bang, họ đều cần được dạy dỗ về nếp sống Cơ đốc căn bản trong một giai đoạn. Họ cần có thì giờ để phản chiếu quyết định của mình và gánh chịu hệ quả. Họ cần phải suy nghĩ lại hoặc hiện tại họ muốn cởi bỏ nếp sống cũ và trở thành một cách thực sự những người muốn hưởng vương quốc của Đấng Christ hay không.
Sứ đồ Phaolô trình bày giai đoạn phát triển này của Hội thánh cách tuyệt đẹp trong Cong Cv 20:20 như sau” Tôi chẳng ngần ngại dạy bất cứ điều nào có ích lợi cho anh em, hoặc giữa công chúng hoặc từ nhà nầy sang nhà kia”.
Từ cách dùng của chữ didasko và từ những ví dụ trong Kinh Thánh, bằng chứng hiển nhiên đã kết luận rằng sự dạy liên quan đến sự hội họp của những người có nhu cầu, cả người hư mất lẫn người được chuộc, uốn nắn họ điều gì Đức Chúa Trời muốn họ trở thành.
(1) Chữ didasko như được dùng trong Kinh Thánh, có nghĩa đơn giản là:
a. Hướng dẫn những lớp học truyền kiến thức.
b. Dạy.
c. Phục vụ những nhu cầu thuộc thể hay thuộc linh.
d. Thực hiện một tuyên bố công khai.
(2) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu ĐÚNG.
a. Trong Tân ước, chữ được dịch là ‘dạy’ có liên quan đến sự thuyết trình và các loại thảo luận của việc dạy.
b. ‘Sự thích hợp’ của người giảng huấn được ám chỉ trong chữ ‘didasko’.
c. Theo thông lệ thực tiễn của Tân ước, những chức vụ giảng và dạy là riêng biệt và tách rời.
d. Sự dạy dỗ của Chúa Jêsus khác với những người khác trong ý nghĩa là Ngài dạy bằng chứng cớ hơn là bằng uy quyền.
e. Kinh Thánh chứng tỏ rằng sự dạy của Chúa Jêsus là một phần thiết yếu của đời sống và chức vụ của Ngài.
f. Những lãnh đạo của Hội thánh đầu tiên đánh giá sự dạy là một phương tiện đào tạo nhiều người qui đạo về những bổn phận của đời sống Cơ đốc.
g. Sứ đồ Phaolô tập trung vào sự truyền giảng đám đông hơn là chức vụ dạy dỗ.
Mục tiêu 2: Mô tả mối quan hệ giữa giảng và dạy.
MỐI QUAN HỆ GIỮA DẠY VÀ GIẢNG.
Cả Cựu ước lẫn Tân ước đều nói về dạy và giảng, trong nhiều trường hợp, có thể thay thế cho nhau. Có lẽ bạn quan sát thấy rằng trong những văn phẩm của mình Phaolô kết hợp hai chữ này. Điều đó nói lên rằng dạy có quan hệ mật thiết với giảng. Dạy là phần của Phúc âm dựa vào sự công bố của lời Chúa. Nó có thể được định nghĩa như là lời khuyên có tính luân lý và đạo đức chỉ cho những người đã tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ biết sống cách nào trên trần gian này. Dựa vào sự sử dụng những từ ngữ này của Kinh Thánh, tách rời dạy và giảng là điều sai lầm. Như vậy, chúng ta có thể chắc chắn rằng: dạy luôn luôn tùy thuộc vào và bắt nguồn từ sự giảng.

Tuy nhiên, một số người có sự phân biệt sắc bén giữa dạy và giảng. Họ tin rằng hai chữ này loại trừ nhau. Dù có những sự phân biệt, nhưng dạy và giảng không thể tách rời nhau. Trong chức vụ của Chúa Jêsus thật khó vẽ lằn ranh giới khác biệt rõ ràng giữa hai điều này. Cũng không có nghĩa là giảng và dạy chỉ là hai tên của cùng một chức năng, trái lại nó chỉ mối quan hệ mật thiết với nhau.
Phaolô không để lại trong tâm trí chúng ta chút nghi ngờ nào việc ông xem sự giảng về Đấng Christ chịu đóng đinh là trách nhiệm đầu tiên của ông. Ngay cả Kinh Thánh cũng chỉ cho chúng ta thấy ông tham gia cả hai chức vụ dạy và giảng. Tại Êphêsô, ông dạy theo kiểu tranh luận của người Hylạp trong hội trường Tiranu (Cong Cv 19:9). Và trong các bức thư gởi cho Timôthê, ông nhấn mạnh tầm quan trọng của sự dạy dỗ, cả trong chức vụ của riêng Timôthê và Hội thánh nói chung. Theo những phần Kinh Thánh ghi lại, dạy và giảng không loại trừ nhau, mà là bao hàm nhau. Hãy quan sát những điều sau đây:
1. Sự giảng Tin lành của các sứ đồ bao gồm yếu tố dạy. Trong Tân ước, cách dùng của những chữ ‘tiên tri’, ‘giáo sư’ và ‘mục sư’ hình như có thể thay thế cho nhau. Vì bản liệt kê những chức năng trong thư Côrinhtô. (ICo1Cr 12:28-30) sót chữ ‘thầy giảng’, nên chúng ta cho rằng những chữ khác hay những chức năng khác bao gồm công tác này. Hơn nữa, khi so sánh Cong Cv 17:18 với 17:19 chúng ta thấy rằng sự giảng của Phaolô về Chúa Jêsus và sự phục sinh ám chỉ là một sự ‘dạy dỗ’ mới !
Khi chúng ta nghiên cứu về những bài thuyết giảng của Phaolô tại Littrơ và Athên, bạn nhận thấy rằng những dạy dỗ căn bản về độc thần (chỉ tin có một Đức Chúa Trời) và những trách nhiệm đạo đức của con người hình thành một phần của sự giảng của ông. Ông phải giảng như vậy, vì ông muốn xóa đi niềm tin nhiều thần (đa thần) của người nghe ông và những sự thờ cúng thần tượng khác của họ. Sứ đồ hầu như thường phải biện bác và tranh luận trong khi giảng vì sự giảng Tin lành gắn liền với đối thoại và thảo luận cẩn thận. Trong CoCl 1:27-28 ông sử dụng một chữ Hy lạp có nghĩa là ‘nói cho thông suốt’ (to tell throughly), thường được dùng trong quan hệ với người chưa tin. Kinh Thánh ghi lại rằng Phao-lô dạy trong nhà hội, nơi chợ búa, và trong những trường dạy triết học. Và tất cả những sự dạy này đã truyền giảng cả về mục đích lẫn tâm trạng.
2. Sự dạy của các sứ đồ cho Cơ đốc nhân bao gồm yếu tố giảng. Khi bạn bắt đầu tham gia dạy Lời Chúa, bạn thấy rằng nó bắt rễ từ nền đất công bố. Chúng ta thấy bằng cớ này trong sự giảng của Phaolô. Lặp đi lặp lại chúng ta truy nguyên những vấn đề được dạy trong tất cả các thơ tín đều đâm rễ từ sự qui đạo, hoặc chúng ta nhận diện những điều ấy bằng sự kết hợp trực tiếp với ân phúc và những sự kiện cứu chuộc. Thật ra, chúng nhận được sự sống và ý nghĩa bởi mối quan hệ của chúng với kinh nghiệm qui đạo.
Vì thế, hiển nhiên một mục sư trình bày những lời phán của Đấng Christ trong sự công bố. Ngay cả, ông cũng phải giới thiệu Ngài là Đấng Christ. Đấng kêu gọi chúng ta bước vào mối thông công cá nhân năng động và gần gũi với Đức Chúa Trời. Và kết quả của mối quan hệ này sẽ được diễn đạt trong một đời sống được thay đổi - một đời sống phản chiếu hình ảnh của Đấng Christ.
(3) Theo phần thảo luận của chúng ta, dạy và giảng:
a. Được coi như thay thế nhau trong nhiều trường hợp trong Kinh Thánh.
b. Tiêu biểu cho hai chức năng riêng biệt vốn loại trừ nhau.
c. Xem như không thể tách rời, trong tất cả mọi ý định và mục đích.
d. Là những gì được ghi nhận trong câu a) và c) ở trên.
e. Được định nghĩa rõ ràng nhất bằng phần ghi nhận ở c âu (b)
(4) Trong phần thảo luận mối quan hệ giữa dạy và giảng, chúng ta thấy những câu sau đều đúng, chỉ TRỪ một câu. Đó là câu nào ?
a. Một mục sư trình bày những lời công bố của Đấng Christ và trách nhiệm đạo đức của con người trong sự giảng.
b. Khi một mục sư bắt đầu dạy, người ấy thấy rằng sự dạy có gốc rễ trong lời công bố của Phúc âm.
c. Giảng Phúc âm không gồm việc tranh luận, đối thoại, tranh cải hoặc thảo luận.
d. Sự giảng của sứ đồ bao gồm một yếu tố dạy.
e. Sự dạy của sứ đồ bao gồm yếu tố giảng.
(5) Trong khoảng trống dưới đây, mô tả vắn tắt mối quan hệ giữa dạy và giảng.

MỤC ĐÍCH CỦA SỰ DẠY.
Khi Chúa Jêsus giao trọng trách cho những môn đệ của Ngài đi và dạy mọi quốc gia (Mat Mt 28:19-20), thì Ngài thiết lập một khuôn mẫu cho nhiệm vụ của Hội thánh vốn báo hiệu sự bi thảm nếu bị phớt lờ đi. Chức năng dạy không thể hoàn tất trong một chương trình trước đây hay đạt kết quả trong một mùa. Sự dạy đòi hỏi kiên trì nghiên cứu, chuẩn bị cẩn thận, một khải tượng không nản lòng, và sự tận hiến đối với sự thách thức của Thầy, mà đó có thể là một lý do hiếm thấy trong một số Hội thánh. Khi chúng ta nhấn mạnh vào mục đích của sự dạy, bạn sẽ thấy cách tốt hơn tại sao dạy dỗ lại đòi hỏi những phẩm chất mà chúng ta vừa nêu ở trên.
Mục tiêu 3: Nhận diện những lời diễn đạt bày tỏ tại sao có một nhu cầu dạy trong Hội thánh.
NHU CẦU DẠY TRONG HỘI THÁNH.
Nhìn từ quan điểm của Tân ước, sự dạy dỗ có một số mục đích. Chúng ta ghi nhận rằng sự dạy dỗ gắn liền một cách sống động với sự công bố của Phúc âm. Vì vậy, Phúc âm Mathiơ chỉ ra rằng sự ủy thác để chinh phục linh hồn hư mất phải chiếm ưu tiên trong ý thức rằng đó là khởi đầu sự kêu gọi vào đời sống thuộc linh. Nhưng khi người ta vượt qua sự chết để vào sự sống và trở nên môn đệ của Đấng Christ, thì họ cần được dạy dỗ để vâng theo những điều Đấng Christ truyền bảo. Điều này đòi hỏi việc giới thiệu nhiều lần để họ biết sự kêu gọi của Đấng Christ để thật sự kết ước làm môn đệ. Chúng ta cũng phải cho họ đối diện với thực tế của Vương quốc và thách thức họ đầu phục trọn vẹn cho điều đó.
Một mục đích có liên quan đến sự dạy là nhu cầu huấn luyện tín hữu đầy đủ hơn về lẽ thật của Phúc Âm. Họ cần phải vượt qua những đòi hỏi căn bản để duy trì sức sống thuộc linh và tiến tới sự lớn lên, phát triển, và trưởng thành thuộc linh. Họ cũng cần bỏ lại phía sau những sự hiểu biết không đúng đắn về Đức Chúa Trời, về chính mình và về thế gian. Trong khi Mười hai môn đệ của Chúa Jêsus lớn lên với một số thành kiến Do Thái, thì mỗi chúng ta cũng mang theo mình thành kiến, tính khí và sự nhận thức về những sự vật vào trong kinh nghiệm Cơ đốc của mình. Vì thế chúng ta cần có một sự chuyển biến về phẩm cách liên quan đến việc lìa bỏ những sự việc cơ bản và không bị kiểm soát của sự non trẻ thuộc linh (sữa) và tiến lên gánh vác những trách nhiệm trong sự phát triển thuộc linh, sự làm chứng và sự lãnh đạo (thực phẩm cứng - HeDt 5:11-14). Một mục đích xa hơn của sự dạy là nhu cầu huấn luyện tâm trí và tấm lòng cho những môn đệ để họ phục vụ như Chúa Jêsus đã phục vụ. Chắc chắn bạn nhớ rằng những học viên của Chúa Jêsus về sau đã trở thành ‘những người được sai đi’. Vậy, dựa theo gương mẫu của Chúa, chúng ta cần phải đào tạo những con người để giúp mở rộng và làm vững công việc của Chúa trên khắpđất. Bằng chứng từ những cuộc quan sát và những hình thức nghiên cứu khác cho thấy rõ rằng tín hữu trong Hội thánh biết rất ít về Kinh Thánh. Sự kiện thất học về Kinh Thánh trong thời đại chúng ta là một nguyên nhân của những vấn đề trầm trọng. Mặc dù chúng ta không thể đổ lỗi cho tình trạng bi thảm hiện tại về giáo dục Kinh Thánh dựa trên một yếu tố đơn độc, nhưng có một số lý do lại làm rõ nét vấn đề này. Tôi đã liệt kê hai lý do chính mà tôi đã quan sát hoặc đọc được ở trên khắp thế giới.
1. Sự đổ vỡ của gia đình. Đặc tính tổ chức của gia đình thời ‘Giao ước cũ’ đòi hỏi cha mẹ phải nuôi nấng con cái trong sự nghiêm nhặt và chuyên cần dạy dỗ Kinh Thánh (PhuDnl 6:5-9). Đức Chúa Trời truyền lịnh dân sự Ngài phải suy gẫm Lời Chúa ngày và đêm. Ngài cũng bảo họ phải dạy những mạng lịnh của Ngài cho những thành viên trong gia đình cách tự nhiên. Mọi sự ngay cả việc trang trí trong gia đình - cũng phải chịu ảnh hưởng bởi sự nhấn mạnh đặc biệt việc truyền đạt Lời Đức Chúa Trời. Hơn nữa, Đức Chúa Trời đã thiết lập những phương cách để nhắc nhở luôn luôn những thành viên trong gia đình về những bổn phận thuộc linh của họ. Môi trường sống và gia đình, vì vậy, là phương tiện đầu tiên Đức Chúa Trời dùng để dạy và truyền đạt những giá trị thuộc linh. Bất hạnh thay, gia đình, nơi Đức Chúa Trời dự kiến là đồn lũy của sự giáo dục thuộc linh, lại mất ảnh hưởng vì bị đổ vỡ. Bây giờ gia đình hoàn toàn lẹä thuộc vào Hội thánh để đảm nhiệm công tác giáo dục Cơ đốc. Về một phương diện gia đình bị cuốn hút vào mạng sinh sống hiện đại ngày nay mà đã hầu như rút mất khung cảnh tự nhiên của cuộc sống gia đình. Tiếc thay, đôi khi Hội thánh lại góp phần trong sự vỡ ra nầy của gia đình bằng cách rút đi các thành viên của nhau trong gia đình qua những sinh hoạt không được sắp xếp cách khôn khéo. Kết quả là gia đình chẳng có đủ thì giờ ngồi lại với nhau trong những giờ phút cầu nguyện, chia sẻ và thông công có ý nghĩa. Dù vậy, lý do đáng chỉ trích nhất là sự thiếu khả năng của những người lớn trong gia đình trong việc dạy dỗ tất cả thành viên cùng sống trong ngôi nhà. Vì cha mẹ không cảm thấy được trang bị để dạy nên họ giao phó công tác này cho Hội thánh.
2. Chất lượng dạy dỗ thấp kém trong Hội thánh.Dường như chúng ta đi lòng vòng ở đây. Nếu gia đình không thể dạy những giá trị và giáo lý Cơ đốc ở nhà, thì chúng ta cho rằng Hội thánh có thể. Nhưng Hội thánh làm được không ? Nên nhớ, cũng rất nhiều người đã thất bại trong việc dạy dỗ tại gia đình lại là những người trong ủy ban giáo dục ở nhà thờ. Rõ ràng, chúng ta có một nan đề ! Vì thế, trong hầu hết các trường hợp, dù ở gia đình hay ở Hội thánh, đã không có một chương trình hiệu quả cho việc dạy và học. Nếu điều này đúng và Hội thánh không có chương trình giáo huấn có thể thực hiện được thì trách nhiệm đầu tiên ở nơi mục sư. Phẩm chất yếu kém của sự giáo huấn có thể bắt nguồn từ quan điểm dạy dỗ của mục sư. Chẳng hạn, mục sư có xem việc dạy là một công tác của phụ nữ không ? Ông có nghĩ việc huấn luyện chỉ dành cho trẻ em không? Ông có ủng hộ cho những hoạt động dạy dỗ khác nhau trong Hội thánh không ? Những câu hỏi này được xem như là quyết định cho toàn bộ chương trình của Hội thánh.
Nói chung, khuynh hướng tự nhiên của mục sư có ảnh hưởng đến phương cách Hội thánh phát triển. Để tôi trình bày với bạn một ví dụ. Nếu bạn là một mục sư thích âm nhạc và bạn thực sự yêu mến âm nhạc, bạn sẽ có khuynh hướng nhấn mạnh về chương trình này trong Hội thánh. Phần âm nhạc sẽ có chiều hướng độc chiếm chương trình, và chẳng bao lâu nó được xem là khía cạnh quan trọng nhất của công việc. Như vậy, khi nào có một nhu cầu ở lãnh vực âm nhạc, bạn lập tức đáp ứng và khuyến khích người khác làm theo. Tuy nhiên, khi bạn làm cho một hoạt động nổi bật và bỏ rơi những chức năng thiết yếu khác, thì bạn thường tạo ra một chương trình mất quân bình. Sự thật của vấn đề ấy là một Hội thánh có thể mạnh mẽ mà không có một ca đoàn nhưng Hội thánh không thể mạnh mẽ nếu không có một chương trình dạy dỗ liên tục. Là mục sư, bạn đang nắm chiếc chìa khóa. Khi chúng ta kết thúc phần này của bài học, tôi muốn liệt kê vài điều thực tiễn mà bạn, là một mục sư, có thể thực hiện:
1. Hãy bắt đầu một chức vụ giảng và dạy cân đối ở tòa giảng. Nêu gương và đưa sự dạy dỗ vào đúng vị trí phải lẽ.
2. Nhằm trước tiên trang bị cho những người lớn tuổi trong gia đình để họ thực hiện việc giáo dục Cơ đốc được Chúa giao phó tại gia đình. Mặc dù bạn khởi đầu sinh hoạt này, nhưng nó không chấm dứt với bạn đâu.
3. Làm cho chức vụ giáo huấn của Hội thánh thực sự mạnh mẽ, hỗ trợ và những sinh hoạt bổ sung chớ không thay thế - cho những gì có cần tại gia đình. Điều này đòi hỏi sự phải cộng tác chặc chẽ giữa gia đình và Hội thánh. Bạn có thể tìm những loại tài liệu thích hợp để giúp hướng dẫn chương trình huấn luyện cho gia đình nhưng những kết quả sẽ tưởng thưởng bạn xứng đáng với thì giờ bạn sử dụng.
Khi mục sư thấy nhu cầu của một chức vụ dạy dỗ cân đối trong Hội thánh, trước tiên là trang bị cho những thành viên trong thân thể để họ thực hiện nhiệm vụ Đức Chúa Trời giao phó tại gia đình mình, thì sẽ có trưởng thành.
(6) Mục đích của sự dạy dỗ trong Hội thánh (Theo Mat Mt 28:19, 20) là:
a. Giới thiệu sự công bố đầu tiên của Phúc âm.
b. Dạy những mạng lịnh của Đấng Christ cho những người trở thành môn đệ.
c. Chính thức hóa sự dạy dỗ và đưa nó ra ngoài phạm vi gia đình.
d. Giới thiệu cho những thành viên của Hội thánh một chương trình toàn diện.
(7) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Tín hữu cần sự dạy dỗ để giúp họ thắng vượt sự non trẻ thuộc linh gồm cả thành kiến và tính khí không giống Đấng Christ.
b. Tín hữu cần sự dạy dỗ để phát triển những kỹ năng họ cần cho sự lãnh đạo.
c. Sự dốt nát về Kinh Thánh phát xuất chủ yếu từ sự đổ vỡ gia đình và sự thất bại của cha mẹ trong việc dạy cho con cái họ những giá trị Cơ đốc.
d. Chất lượng dạy yếu kém tại Hội thánh trước tiên là do lỗi của người dạy.
e. Một cách để vượt qua sự dạy dỗ thiếu kém trong Hội thánh là trang bị cho những người lớn để họ trách nhiệm việc giáo dục Cơ đốc tại gia đình.
Mục tiêu 4: Nói rõ những gì đòi hỏi đối vớùi trách nhiệm ủy thác trong việc đào tạo môn đệ của Hội thánh.
ĐÀO TẠO MÔN ĐỆ TRONG HỘI THÁNH.
Một mục đích khác của sự dạy dỗ trong Hội thánh là hoàn tất sự ủy nhiệm trong việc đào tạo môn đệ trong Hội thánh. Sứ đồ Phaolô cho chúng ta một khuôn mẫu đẹp về sự ủy thác việc đào tạo môn đệ trong IITi 2Tm 2:2” Và những điều con đã nghe nơi ta ở giữa nhiều người chứng kiến, hãy phó thác cho những người trung tín, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác”. Ý niệm này mô tả một dây chuyền hoạt động, bắt đầu với mục sư.
Nói một cách lý tưởng, sơ đồ này có thể cứ tiếp tục, hầu như không hạn chế. Ghi nhận rằng mục sư bắt đầu với ba người, nhưng toàn thể sơ đồ tăng lên một tổng số là 16. Mặc dù tôi chắc rằng còn có những cách khác để minh hoạ IITi 2Tm 2:2, nhưng đây là cách đơn giản nhất để thực hành.
Nếu Hội thánh thật như là điều Đức Chúa Trời đã dự trù cho, thì Hội thánh không thể né tránh nhiệm vụ đào tạo môn đệ. Vì một môn đệ là một học trò, đào tạo môn đệ gắn liền với việc dạy và học. Hãy dừng lại một chút để suy nghĩ câu này” Mỗi Cơ đốc nhân vừa là một môn đệ (người học) vừa là một người đào tạo môn đệ”.
Đề cập đến việc đào tạo môn đệ, có những sự kiện nổi bật đến với trí óc chúng ta. Trước hết, đào tạo môn đệ bắt đầu bằng sự truyền giảng. Lời công bố Phúc âm trung thành là khởi điểm vì trong sự kiểm soát của Đức Chúa Trời điều này mang lại những người qui đạo. Vì vậy, lời phán của Chúa Jêsus” Còn ta, khi ta được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta”(GiGa 12:32). Lúc bắt đầu có thể chậm, nhưng, nói chung, sẽ có một đáp ứng đức tin thật và một nhân các tín hữu sẽ hình thành. Trong khi có thể bắt đầu với một cá nhân hoặc cả một hộ, thì nhiệm vụ đào tạo môn đồ đã chỉ mới bắt đầu.
Chúng ta cũng thấy rằng sự đào tạo môn đệ tiếp tục bằng sự nuôi dưỡng. Sau khi vui mừng vì một tội nhân ăn năn (LuLc 15:10), nhiều Hội thánh bỏ mặc những em bé trong Đấng Christ ấy tự lo. Trong thực tế, bạn làm gì cho một em bé mới sinh? Bạn có bỏ mặc cho nó sống một mình không ? Dĩ nhiên là không ! Nhưng đó lại là những gì chúng ta thường làm trong Hội thánh. Chúng ta cần phải nuôi dưỡng và chăm sóc em bé thuộc linh bằng tình yêu và sự kiên nhẫn. Dĩ nhiên, người mới tin có sự sống, nhưng người ấy không tự lực được. Phải cần nhiều dạy dỗ để người ấy lớn lên mạnh mẽ khỏe khoắn và có thể bắt đầu tự lo cho mình rồi mới lo cho người khác. Trong thời gian đó chúng ta không bỏ mặc người, nếu họ bị ốm đau hay không thực hiện được điều chúng ta mong đợi. Trái lại, chúng ta chăm sóc người và nuôi dưỡng để người phục hồi sức khỏe hoặc giúp đỡ người phát triển theo cách mà chúng ta cảm thấy người đó có thể làm. Vì vậy người ấy lớn lên, phát triển, trưởng thành và cuối cùng đứng vào chỗ những người nuôi dưỡng người khác.
Chúng ta cần loại thận trọng nầy đối với những ai vốn là thành phần trong thân thể của Đấng Christ nhưng chưa trưởng thành đầy đủ. Cong Cv 2:41-42 chép rằng những người đã được báp têm” Cứ bền lòng trong sự dạy dỗ của các sứ đồ và sự thông công”. Dường như mỗi người tiếp nhận tình yêu và sự tha thứ của Đức Chúa Trời qua sự rao giảng của Phierơ trong ngày lễ Ngũ tuần đều tham gia vào công tác dạy và học liên tục cả ở đền thờ lẫn tại nhà riêng. Rõ ràng, các sứ đồ đặt ưu tiên cho chức vụ ban phát Lời (6:4). Sau đó khi cơn bách hại khủng khiếp bắt buộc nhiều tín hữu rời Hội thánh Giêrusalem đi rải rác khắp nơi, họ” giảng Lời Chúa tại bất cứ nơi nào họ đến”(8:4). Bạn có thể tưởng tượng nổi điều này không ? Tất cả tín hữu đều giảng được ! Với tiến trình đào tạo môn đồ thực hiện như dự định, các sứ đồ có thể tập trung vào công tác ưu tiên và để những người khác thực hành chính những chức vụ của họ. Đây là một ví dụ đẹp đẽ và nó hướng chúng ta vào vấn đề phục vụ cách hợp lý.
PHỤC VỤ.
Đào tạo môn đệ không phải là một tiến trình chỉ liên quan đến việc ‘quan sát’ hay ‘tiếp nhận’, vì nó có một mục đích rất cố định. Người được dạy để người ấy có thể dạy lại người khác, như Phaolô nhắc nhở Timôthê (IITi 2Tm 2:2). Tiến trình tái sinh sản nhấn mạnh vào cả hai: trách nhiệm và chịu trách nhiệm của tín hữu. Người ấy có trách nhiệm với người mình đang đào tạo và chịu trách nhiệm trước người huấn luyện mình. Những mục đích môn đồ hóa làm cho Cơ đốc nhân trở thành những người phục vụ có hiệu quả cho thân thể Đấng Christ và cho thế giới.

(8) Sự ủy thác việc đào tạo môn đệ của Hội thánh có liên quan với:
a. Việc huấn luyện những người đáng tin cậy để họ thực hiện chức năng đào tạo môn đệ.
b. Tập trung vào một chương trình đặc biệt của Hội thánh hơn là nhiều chương trình.
c. Làm cho dân sự đồng nhất trong niềm tin của họ và giáo lý.
d. Thực hiện tất cả sự huấn luyện cho tín hữu trong Hội thánh.
(9) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt hoàn chỉnh ĐÚNG. Đào tạo môn đệ:
a. Bắt đầu với người được nghe giảng Tin lành hoặc được chinh phục cho Đấng Christ.
b. Tiếp tục với sự nuôi dưỡng để thân thể Đấng Christ cung cấp ít tín hữu trưởng thành hơn.
c. Quan tâm chăm sóc những người vấp ngã thuộc linh và bị thất vọng, ngã lòng hoặc hoang mang.
d. Trong Hội thánh đầu tiên là một chương trình toàn diện để củng cố đức tin cho tân tín hữu và chuẩn bị để họ đào tạo người khác thành môn đệ.
e. Đòi hỏi dành ưu tiên cao nhất cho các công việc, nghĩa là tham gia những chương trình của Hội thánh.
LÃNH ĐẠO TRONG VIỆC DẠY.
Là một người lãnh đạo trong Hội thánh, mục sư đang chiếm một vị trí chiến lược. Đức Chúa Trời đã ban cho mục sư món quà dạy dỗ. Mặc dù chúng ta thường kết hợp sự dạy với một sự trình bày qui định, nhưng chúng ta cũng dạy bằng cách làm gương nữa. Vì mục sư gây ảnh hưởng rất nhiều qua việc làm gương, nên chúng ta hãy xem việc này được thể hiện như thế nào.
Mục tiêu 5: Nhận diện những đặc tính của sự lãnh đạo trong việc dạy dỗ mà mục sư phải là mẫu mực.
MỤC SƯ LÀ MỘT KIỂU MẪU.
Làm thế nào để một mục sư quan tâm đến chức năng dạy của Hội thánh ? Ông có độc chiếm trách nhiệm dạy không ? Ông có khả năng để làm tất cả công việc dạy dỗ cần thiết để nuôi dưỡng và phát triển kinh nghiệm thuộc linh của hội chúng mình không ? Rõ ràng, câu trả lời là ‘không !’. Ông có thể phát huy một số việc và có lẽ quan trọng hơn là việc tạo một không khí chung cho loại chương trình động viên những người khác dạy. Chúng ta hãy ghi nhận một số điều sau đây, và thảoluận chúng cách vắn tắt.
1. Mục sư phải là một kiểu mẫu hay là một gương về sự dạy dỗ có hiệu quả như Phaolô đã khuyên Timôthê (ITi1Tm 4:12). Làm như vậy, Timôthê phải gìn giữ cả đời sống và sự dạy dỗ của mình (ITi1Tm 4:16). Như chúng ta đã nói ở trên, mục sư phải môn đồ hóa những tín hữu để trở nên những Cơ đốc nhân trưởng thành và huấn luyện họ để họ chinh phục và dạy những người khác. Bằng cách đó, ông trở thành một kiểu mẫu cho những người khác trong Hội thánh là những người đang học để trở nên những người dạy. Họ thấy ông đưa ra những mục tiêu cho những giai đoạn khác nhau. Có lẽ đó sẽ là một loạt bài về những giáo lý chính mà ông sẽ thông qua trong sáu tháng. Một giai đoạn khác, ông có thể dành một vài tháng nghiên cứu học hỏi về các nhân vật Kinh Thánh. Mục sư cũng có thể chú ý đến những nhu cầu đặc biệt của cá nhân hay nhóm người trong Hội thánh và lập kế hoạch dạy dỗ để đáp ứng các nhu cầu này. Như vậy mẫu mực của mục sư trong chức vụ giảng đạo chứng minh một chiến lược huấn luyện hữu hiệu những giáo viên có nhiệt tình, chứng tỏ rằng sự dạy dỗ không phải là sự cảm hứng ở phút chót, mà là một hệ thống có chủ đích, kế hoạch hẳn hoi.
2. Mục sư phải đề xuất những chỉ tiêu dạy dỗ của các khóa học được tổ chức trong Hội thánh . Điều cần yếu là mục sư phải cung cấp những sinh hoạt dạy và học cho những lớp khác nhau nếu dân sự cảm thấy những hoạt động nầy là quan trọng. Hơn nữa, ông cũng cần động viên những người góp phần vào công tác dạy dỗ, cũng như mọi người nói chung,
tham gia vào những dự án học tập. Nếu mục sư đang dạy một lớp hoặc giúp đỡ người khác trong việc dạy thì bước thứ nhất là cầu nguyện cho những nhu cầu của từng cá nhân trong nhóm. Đáp ứng những nhu cầu này là mục tiêu. Sự lãnh đạo của mục sư hỗ trợ cho những người tham gia việc dạy dỗ, và gương mẫu của ông dạy họ rằng đáp ứng những nhu cầu thuộc linh là mục tiêu của việc dạy. Bằng cách đó những người học tập làm giáo viên nhìn nhận giá trị công việc của mình vì họ thấy rằng công tác đó khớp với mục tiêu chung của Hội thánh.
3. Mục sư phải lập những mục tiêu huấn luyện. Ông phải lên kế hoạch huấn luyện những ai có ân tứ dạy dỗ. Qua sự quan sát và tiếp xúc với nhiều người, ông sẽ thấy rằng trong Hội thánh có một số người có khả năng dạy. Kế đó là nhiệm vụ của ông góp phần phát huy những ân tứ này. Ông có thể thực hiện một đóng góp lâu bền cho Hội thánh bằng việc huấn luyện những giáo viên. Quyết định dấn thân vào công tác huấn luyện tiêu biểu cho chiều hướng suy nghĩ hoặc sự sốt sắng dạy dỗ người khác để đào tạo môn đệ, chứ không phải việc mỗi năm mở ra một hoặc hai lớp học.
Sự huấn luyện kéo dài và góp phần vào sự sống của Hội thánh đòi hỏi bạn phải lập những chỉ tiêu cho mỗi năm. Những chỉ tiêu này liên quan đến số lượng người được huấn luyện, số giờ dạy và cơ hội thực tập với những trợ huấn cụ khác nhau. Khi bạn lên khung chương trình học và đặt những chỉ tiêu, thì những học viên sẽ thấy tầm quan trọng của những gì bạn đang làm. Họ cũng thấy có một giá trị lâu dài của điều họ đang làm. Huấn luyện những giáo viên là một chức vụ liên tục mà bạn phải giữ cho sống động và tích cực nếu bạn muốn thấy hội chúng của bạn lớn lên, phát triển về mặt thuộc linh và tiến tới đời sống Cơ đốc nhân trưởng thành.
Vì những tín hữu trong Hội thánh bạn sẽ phản chiếu những giá trị của bạn, bạn xem điều nào đó là quan trọng họ cũng thấy là quan trọng. Vì vậy, bạn cần động viên những người gắn bó với công tác dạy dỗ và tuyên dương công nhận họ. Điều này nâng cao công tác dạy dỗ và khuyến khích những người khác tham gia vào sự huấn luyện. Nên nhớ mục sư không nên giữ độc quyền những trách nhiệm dạy dỗ trong Hội thánh. Mặc dù bạn có thể làm hầu hết hoặc tất cả công tác dạy dỗ khi bạn mở mang một Hội thánh mới, nhưng một trong những nhiệm vụ hàng đầu của bạn là giao phó trách nhiệm này cho những người khác.
(10) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a. Về cơ bản, mục sư thông báo mọi điều mình tin về sự dạy dỗ qua những gì ông nói.
b. Mục sư không chỉ nói lên một tiếng mà cũng hướng dẫn Hội thánh qua việc ông làm gương hay cách ông mô phỏng điều ông tin tưởng về phát triển sự lãnh đạo trong việc dạy.
c. Mục sư góp phần vào sự huấn luyện những giáo viên bằng việc lập những chỉ tiêu cho các khóa học mà Hội thánh tổ chức trong chương trình giáo dục của Hội thánh.
d. Mục sư ‘tìm’ những người có khả năng dạy dỗ trước nhất bằng việc đưa ra lời kêu gọi công khai để có những người dạy.
e. Mục sư trở thành một mẫu mực dạy dỗ có hiệu quả bằng những chương trình ông đặt ra cho việc huấn luyện, kế hoạch giảng ông sử dụng, và những con người hay nhóm người ông phát triển qua việc tiếp xúc cá nhân.

(11) Những điều sau đây, điều nào KHÔNG PHẢI là gương tốt cho sự lãnh đạo của mục sư trong việc dạy dỗ ?
a. Mục sư quan tâm đến những nhu cầu đặc biệt của những nhóm và những cá nhân và ông lập kế hoạch để đáp ứng các nhu cầu này.
b. Mục sư nêu một gương mẫu khi cung cấp khẩu phần thuộc linh cân đối cho hội chúng mình qua những chương trình huấn luyện có kế hoạch tốt.
c. Mục sư nhấn mạnh công tác âm nhạc, huấn luyện về âm nhạc, trình diễn âm nhạc, như vậy, âm nhạc nhận vị trí tối ưu trong mọi đường hướng.
d. Mục sư môn đồ hóa các tín hữu để trở nên những Cơ đốc nhân trưởng thành, huấn luyện họ để đến lượt họ đi chinh phục và huấn luyện người khác.
Mục tiêu 6: Xếp đặt cho phù hợp những hướng dẫn cho một chương trình dạy cân đối với một hoạt động sinh động.
MỤC SƯ CUNG CẤP MỘT CHƯƠNG TRÌNH DẠY CÂN ĐỐI.
Rõ ràng chúng ta không thể thảo luận toàn thể phạm vi giáo dục Cơ đốc trong một chương của bài học và mong đợi thực hiện đúng đắn được. Có những loạt bài ICI khác đề cập đến giáo dục Cơ đốc chi tiết hơn. Ở đây chúng tôi chỉ kể đến những trtiển vọng của nền giáo dục Cơ đốc và nhu cầu để bạn kết hợp những chương trình khác nhau hầu đạt hiệu quả tối đa và tránh những sự trùng lặp không cần thiết.
Nhiều chương trình giáo dục của Hội thánh bị những người chỉ trích tấn công liên tục/ vì họ cảm thấy những hoạt động ấy thoái hóa, vô nghĩa với những mục tiêu không rõ ràng. Ơû đây, mục đích của chúng tôi không phải là cho bạn biết chương trình nào bạn nên sử dụng, nhưng chúng tôi liệt kê một số hướng dẫn để bạn xem xét và cùng với Hội thánh của bạn đánh giá công tác dạy dỗ của bạn.
Chương trình dạy trong Hội thánh có thể liên quan đến những nhóm khác nhau như:
1. Những lớp học cho trẻ em đủ mọi lứa tuổi (Trường Chúa Nhật hay tương tự).
2. Những lớp cho tân tín hữu.
3. Những lớp cho các nhóm có quan tâm khác nhau, thí dụ các nam thiếu niên hướng đạo, nữ thanh thiếu niên, các bà mẹ trẻ, các người lớn độc thân, các người hưu trí, các cặp vợ chồng và nhiều nhóm khác nữa.
4. Những lớp huấn luyện cho người lãnh đạo.
5. Hội thánh trẻ em.
6. Những nhóm học Kinh Thánh tại gia.
7. Thánh kinh mùa hè.
Bạn có thể có hoặc không có những chương trình này trong Hội thánh bạn. Đó là điều bạn quyết định. Những gì chúng tôi đang nói đây là dạy dỗ không phải là điều lựa chọn, mà là mạng lịnh ! Những hình thức đặc trưng bạn sử dụng trong việc dạy có thể năng động và sáng tạo. Đừng phải là tĩnh
lặng quá ‘chúng tôi luôn luôn làm như thế’ hoặc giới hạn lại. Đôi khi dễ khởi sự từ đầu hơn là tháo dỡ hết những chương trình và cấu trúc dạy dỗ không hiệu quả. Chúng tôi xin giới thiệu những hướng dẫn sau đây để nhấn mạnh những mục đích và tính hiệu quả hơn là làm tồn tại mãi mãi truyền thống.
1. Phải đổi mới. Bất cứ hình thức nào của chức vụ dạy trong Hội thánh bạn phải bảo đảm rằng có sự sáng tạo và sinh động. Đừng để ý niệm ‘cách thức đó trước đây chúng tôi chưa từng làm’ cản trở bạn thử nghiệm những phương pháp có thể đưa ra một chiều kích mới toàn diện cho chương trình giáo dục của bạn. Vài năm trước đây không ai nghĩ đến việc học Kinh Thánh trong giờ nghỉ ăn trưa ở một xí nghiệp, hoặc những điểm tập trung học vào buổi trưa ở một cửa tiệm trung tâm thành phố. Tuy nhiên, bây giờ, những hoạt động đó đang được thực hiện rất thành công tại nhiều nơi. Nhu cầu học tập không giới hạn trong ngôi giáo đường. Hãy xem những nơi nào người ta tụ họp được và phải tìm kiếm sự đổi mới phương cách đáp ứng những nhu cầu của họ.
2. Bao gồm mọi lứa tuổi. Hiện trạng dạy và học phải bao gồm mọi lứa tuổi. Hơn nữa, việc lập những nhóm không nên chỉ dựa vào tuổi tác. Trong mọi hoàn cảnh học tập mà chỉ thấy một nhóm đồng địa vị, ngang hàng với nhau hiện diện là không mấy tự nhiên. Đó là lý do tại sao Đức Chúa Trời đã xếp đặt một khung cảnh tự nhiên của gia đình là địa điểm đầu tiên cho việc dạy dỗ, giữa vòng trẻ, già và những người đương thời ngồi lại với nhau.
3. Gắn bó với học viên trong tiến trình. Học viên là những người tham gia, chứ không phải khán giả. Họ không đến để giải trí, họ muốn học. Những giáo viên có thể gắn bó với học viên bằng cách tiếp xúc hơn là phương pháp thuyết rình. Chẳng hạn, có những nhóm thảo luận, những buổi giải đáp thắc mắc, những lần thuyết minh, diễn kịch v.v... là một vài cách trong đó học viên có thể tích cực góp phần trong tiến trình học tập.
4. Dạy mỗi ngày. Dạy và học phải xảy ra hàng ngày. Chúng ta có thể so sánh tiến trình đào tạo môn đệ với sự lớn lên và phát triển của thân thể. Như một người phải ăn và tập thể dục mỗi ngày thì tín hữu cũng cần thực đơn thuộc linh cân đối mỗi ngày. Toàn bộ tiến trình khởi đầu bằng sự truyền giảng và tiếp tục với chăm sóc phải xảy ra mỗi ngày, không chỉ trong những ngày Chúa nhật thôi.
5. Phải chắc chắn gồm có cả nội dung lẫn phương pháp. Bạn cần bảo đảm rằng chương trình của mình gồm đầy đủ lẽ thật của Kinh Thánh. Ngoài ra bạn cũng phải chắc chắn những phương pháp mình sử dụng thích hợp với hoàn cảnh của bạn.
6. Phải bảo đảm nội dung thuần túy Kinh Thánh và thích nghi với văn hóa. Phải xem kỹ những tài liệu bạn định# sử dụng cho những chương trình huấn luyện khác nhau của bạn. Mặc dầu một số tài liệu học tập có thể hấp dẫn về mẫu mã bao bì và trình bày đẹp nhưng cũng chứa đựng sai lầm. Vậy hãy kiểm soát mọi thứ thật kỹ trước khi bạn chọn để huấn luyện tín hữu của mình. Bạn cũng phải nhớ rằng những lẽ thật của Kinh Thánh vượt hơn văn hóa. Một lần nữa, phải chắc rằng những tài liệu truyền đạt rõ ràng sứ điệp của Kinh Thánh, đầy ý nghĩa cho tín hữu của Hội thánh bạn.
Khi bạn đọc kỹ Kinh Thánh, bạn sẽ thấy rằng những hướng dẫn trên không mới lạ gì, chúng đã được thử nghiệm qua thời gian và có thể được sử dụng khắp mọi nơi. Điều mà chúng ta gợi ý là thực tiễn và thích hợp với những gì ngày nay chúng ta đang làm trong nền giáo dục Cơ đốc. Hơn nữa, những hướng dẫn trên không nhất thiết dành cho những nhóm đông người hoặc giàu có và cũng không đòi hỏi phải có những chương trình tại các cao ốc đắt tiền hoặc những tài liệu đặc biệt.
Khi bạn áp dụng những sự thật chúng tôi nêu trong bài học này, chắc bạn sẽ kinh nghiệm được niềm vui mà Phaolô diễn tả khi ông chào từ giả vĩnh viễn những anh em tại Êphêsô (Cong Cv 20:1-38). Ngoài ra, bạn sẽ thấy kết quả của công lao mình trong những đời sống được uốn nắn theo hình ảnh của Đấng Christ.
(12) Xếp cho phù hợp nguyên tắc hướng dẫn việc dạy cân đối với các hoạt động ví dụ.
1). Bao gồm mọi lứa tuổi.
2). Phải đổi mới phương cách.
3). Gắn bó với học viên.
4). Dạy mỗi ngày.
5). Nội dung đầy đủ.
...a. Các sinh viên thảo luận những vấn đề giáo viên nêu lên tại lớp học.
...b. Chương trình Hội thánh của Paul bây giờ bao gồm những hoạt động học tập cho trẻ em, thanh niên, tráng niên, những người có gia đình, các ông, các bà.
...c. Harold phân phối lịch học Kinh Thánh cho tín hữu trong Hội thánh mình vào tháng giêng và động viên họ tham gia vào phương pháp có hệ thống để họ có thể đọc Kinh Thánh suốt năm.
...d. Mục sư giúp người lãnh đạo thanh niên

··
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
CÂU HỎI ĐÚNG SAI.
Viết chữ Đ vào khoảng trống trước câu ĐÚNG, chữ S nếu câu ấy SAI.
...1. Chữ đầu tiên được dịch là” dạy dỗ” trong Kinh Thánh có nghĩa là ‘dạy’.
...2. Chữ ‘dạy dỗ’ như chúng ta đã học trong bài này, có liên quan đến thuyết trình và thảo luận.
...3. Chữ được dịch là ‘dạy dỗ’ nhấn mạnh vào giáo viên và ám chỉ ‘sự thích hợp cho nhiệm vụ’.
...4. Theo phần thảo luận của chúng ta, dạy và giảng là hai chức năng loại trừ lẫn nhau.
...5. Dạy nội dung của Tân ước bao gồm bàn cãi, thảo luận, tranh luận, và đối thoại.
...6. Một trong những mục đích chính của sự dạy dỗ là khuyên dạy về những mạng lịnh của Đấng Christ cho những ai trở thành môn đệ của Đấng Christ.
...7. Sự dốt nát về Kinh Thánh thường nảy sinh từ sự thất bại của gia đình trong việc dạy dỗ con cái về các giá trị Cơ đốc tại gia đình.
...8. Những tín hữu cần được dạy dỗ để giúp họ vượt ra khỏi tình trạng con đỏ thuộc linh, bước vào sự trưởng thành trong Đấng Christ và phát triển những kỹ năng họ cần để đào tạo những kẻ khác.
...9. Sự ủy thác việc đào tạo môn đệ của Hội thánh liên quan đến việc huấn luyện những người được tín nhiệm để tiếp tục chức năng đào tạo môn đệ.
...10. Để cung ứng sự lãnh đạo cho việc dạy dỗ, mục sư hoàn thành đầy đủ trách nhiệm của mình bằng những gì mình nói.
...11. Mục sư lên tiếng về giáo dục Cơ đốc và hướng dẫn Hội thánh bằng cách ông nêu lên quan điểm của mình về sự phát triển việc lãnh đạo trong dạy dỗ.
...12. Những hướng dẫn mà một mục sư cần ghi nhớ về chương trình giáo dục của Hội thánh mình bao gồm sự cung cấp những hoạt động cho các nhóm ở mọi lứa tuổi, gắn bó với các học viên trong tiến trình học tập, phát triển một nền tảng Kinh Thánh chương trình đầy đủ và phát huy việc học trên cơ bản hàng ngày.
V
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU.
(1) b) dạy.
(2) a, b, d, e, và f là những câu đúng.
(3) d) những gì ghi nhận trong câu a, và c ở trên.
(4) c) giảng Phúc âm không gồm việc tranh luận, đối thoại, tranh cãi hoặc thảo luận.
(5) câu trả lời của bạn có thể tương tự. Hai chức năng này liên hệ với nhau cách sống động và bổ túc lẫn nhau. Mặc dù giảng thường kết hợp với sự truyền giảng đầu tiên, nhưng nó không bị giới hạn vào điều này. Sự dạy đặt nền tảng trên sự giảng và bắt nguồn từ đó.
(6) b) dạy những mạng lịnh của Đấng Christ cho những người trở thành môn đệ.
(7) a, b, c, và e là những câu đúng.
(8) a) việc huấn luyện những người đáng tin cậy để họ thực hiện chức năng đào tạo môn đệ.
(9) a, b, c và d là những lời hoàn chỉnh đúng.
(10) b, c, và e là những câu đúng.
(11) c) mục sư nhấn mạnh công tác âm nhạc.
(12)
a. 3) quan tâm những học viên.
b. 1) bao gồm mọi lứa tuổi.
c. 4) dạy hàng ngày.
d. 2) phải đổi mới phương cách.
e. 5) nội dung đầy đủ.

*

CHĂM SÓC
Trong bài trước chúng ta khảo sát chức vụ dạy dỗ. Chúng ta suy nghiệm ý nghĩa của chữ dạy và nhấn mạnh bản chất cùng mục đích của sự dạy. Hơn nữa, chúng ta thảo luận ý niệm quan trọng về lãnh đạo trong sự dạy, bao gồm việc tiếp xúc của mục sư, những phương pháp ông có thể dùng, và vài hướng dẫn chỉ đạo giúp tiến tới tiêu điểm của ông. Bây giờ chúng ta chuyển sang vai trò của mục sư là người chăn bầy.
Như Phaolô nhắn nhủ lời cuối cùng cho các mục sư ở Êphêsô, ông nói” Hãy giữ mình và luôn cả bầy mà Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc. Hãy làm những người chăn bầy của Hội thánh Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết Ngài” (Cong Cv 20:28). Chữ người chăn được dùng ở đây bao gồm các chức năng đa dạng. Nó gồm việc nuôi bầy chiên bằng chức vụ giảng và dạy của mục sư. Nó cũng bao gồm những trách nhiệm khác của mục sư, không tập trung trên tòa giảng nhưng lại hổ trợ và tăng cường cho chức vụ trên tòa giảng của mục sư. Ơû đây chúng ta sẽ khảo sát chức vụ của mục sư liên quan đến những mối quan hệ rất gần gũi và sâu sắc. Trong lãnh vực chăn bầy bạn tiến gần con người hơn để dẫn họ đến với Đấng Chăn Chiên Yêu Thương, là Chúa Jêsus Christ để được nâng đỡ, an ủi và hướng dẫn. Giống như Đavít trong vai trò này, nói theo nghĩa bóng, bạn cũng sẽ cần cây trượng và cây gậy để thực hiện nhiệm vụ làm người chăn của mình.
Khi học bài này, bạn sẽ cần đánh giá chính thái độ của mình đối với nhu cầu của những người ở chung quanh bạn. Khi bạn chăn bầy hoặc chuẩn bị chăn bầy của Đức Chúa Trời, hãy mở lòng mình ra trước mặt Chúa và cầu xin Ngài tạo thành một quả tim của người chăn bầy trong lòng bạn.
DÀN Ý BÀI HỌC
Mục sư là một Người Chăn Chiên.
Thăm viếng.
Khuyên bảo.
Cầu thay.
Sửa trị.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Đánh giá ý niệm của Kinh Thánh về chức vụ của mục sư như một người chăn bầy.
* Phát huy một hệ thống thăm viếng của mục sư.
*Aùp dụng những nguyên tắc thích hợp trong chức vụ khuyên bảo.
* Giải thích vai trò làm thầy tế lễ của mục sư .
* Mô tả bản chất và mục đích của kỷ luật trong Hội thánh.

NHỮNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1. Nghiên cứu bài học và làm bài trắc nghiệm cá nhân theo sự chỉ dẫn của bài 1.
2. Xem lướt qua bản liệt kê những chữ căn bản, có từ nào mới hoặc khó hiểu đối với bạn không. Nhớ tìm nghĩa ở phần Chú Giải ở cuối tài liệu tự học này.
3. Nhớ viết câu trả lời của chính bạn cho các câu hỏi nghiên cứu trước khi đối chiếu phần giải đáp ở cuối bài. Phương pháp này sẽ giúp bạn học bài nhanh hơn.

NHỮNG CHỮ CĂN BẢN
Mục tiêu 1: Nhìn nhận những hàm ý của ẩn dụ người chăn chiên trong đời sống và công tác của mục sư.
LÀ NGƯỜI CHĂN CHIÊN.
Như chúng ta đã thấy trong bài 1, chữ Hy lạp được dịch” mục sư” là poimen. Chữ này phát xuất từ một chữ gốc có nghĩa là” bảo vệ”. Ý nghĩa căn bản của chữ này là” chăn bầy”, chữ này được dùng 18 lần trong Tân ước. Hiểu được ẩn dụ về người chăn sử dụng trong Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta thấy những khía cạnh quan trọng của việc chăn bầy.
CHÚA JÊSUS, ĐẤNG CHĂN CHIÊN HIỀN LÀNH.
Bảy lần trong các sách Phúc âm, những trước giả dùng chữ người chăn chiên để mô tả về Chúa Jêsus. Một lần nữa, Chúa Jêsus được gọi là Đấng Chăn Chiên vĩ đại trong HeDt 13:20; và IPhi 1Pr 2:25. Tuy nhiên, Kinh điển Phúc Aâm đề cập đến vai trò của Chúa Jêsus như người chăn là GiGa 10:11-14. Ơû đây Chúa Jêsus đưa ra mặc khải chủ yếu trong kiểu mẫu trọn vẹn này của tư tưởng. Là người Chăn Chiên Hiền Lành, Chúa Jêsus hoàn tất sự trình bày về Đức Giêhôva trong Cựu ước (Thi Tv 23:1), vì vậy Chúa Jêsus tự đặt mình chống lại những nhà lãnh đạo làm tổn thương bầy chiên vì lòng gian ác của họ. Thay vì duy trì sự sống của mình. Người Chăn Chiên Hiền Lành nói rằng Ngài vì chiên mình mà phó sự sống mình. Đây là thái độ mà Chúa vẽ ra bức tranh quá rõ ràng trong đoạn này. Điều này là một tương phản đối với kẻ chăn thuê chẳng chăm sóc gì đến chiên mà đúng hơn là bỏ mặc bầy chiên trong nguy kịch. Những chữ chìa khoá trong bức chân dung nầy là quan tâm và chăm sóc.
(1) Là người chăn bầy của mình làm sao bạn có thể chứng tỏ sự chăm sóc như Đấng Chăn Chiên Hiền Lành đã làm không?- Mặc dù Chúa đã bị vu khống bởi chính những con người Ngài đến để cứu giúp. Ngài vẫn khóc cho họ với lòng thương cảm sâu xa (LuLc 13:34). Ngài động lòng thương xót khi thấy đoàn dân bối rối khủng hoảng và bất lực như chiên không có người chăn (Mat Mt 9:36). Chữ thương xót mà thánh Giăng sử dụng ở đây theo nghĩa Hy lạp là ‘có lòng thương cảm sâu xa’ (to have bowels of yearning). Có nghĩa là Chúa Jêsus cảm động sâu xa và cảm thấy rất xót đau đến độ bị bệnh. Trong LuLc 15:4-6, chúng ta
thấy một khía cạnh khác trong thái độ của người chăn. Qua câu chuyện ngụ ngôn về Con Chiên lạc mất, Chúa Jêsus mô tả cảm xúc của một người chăn chiên. Điều này có thể là sự mô tả về chính Chúa Jêsus. Trong câu 4 những chữ” ...đi tìm cách giành lại con chiên lạc” rất có ý nghĩa. Chữ tìm cách gợi ý rằng không những người chăn tìm dấu vết của con chiên nhưng cũng còn tìm chính con chiên. Đi tìm chiên lạc mô tả một sự kiên quyết không ngừng nghỉ cho đến khi thành công mới thôi. Điều này ám chỉ rằng người chăn không ngưng đột ngột việc tìm chiên. Cứ tìm cho đến khi gặp được.
(2) Ngày nay một mục sư có thể bày tỏ thế nào lòng thương xót, sự tìm kiếm và tìm cho bằng được chiên lạc mất ?

PHAO LÔ, NGƯỜI CHĂN CHIÊN ĐẦY TỚ.
Một trong những đoạn Kinh Thánh lý thú đề cập đến ý niệm mục sư - chăn chiên được tìm thấy trong Cong Cv 20:18-31. Đoạn này được xem là một kiệt tác. Trong ba năm sống tại Êphêsô, Phaolô đã là một người chăn bầy, phục vụ như một tên nô lệ (c.19). Phaolô khuyên bảo những mục sư sẽ gánh trách nhiệm lãnh đạo chăn bầy khi ông rời khỏi họ, rất rõ ràng (c.28). Điều này gợi ý về mối thông công mật thiết cá nhân đã có giữa Phaolô và những tín hữu Êphêsô, và đó là tấm gương thích đáng cho chúng ta noi theo. Phaolô không hài lòng khi có sự hiểu biết chung chung về một nhóm người, bằng cớ là ông đã lập một sự hiểu biết cá nhân về những con chiên của ông (So sánh 20:20 với GiGa 10:3). Là người chăn bầy, những trưởng lão người Êphêsô phải canh giữ bầy chiên. Canh giữ bao gồm một số lớn trách nhiệm chăm sóc mà mục sư phải tự gắn bó với những nhu cầu khác nhau của dân sự mình. Ông ở giữa họ như người chăm sóc và phục vụ.
Điều hàm ý của câu 29 ấy là mục sư phải bảo vệ bầy của mình. Ở đây Phaolô muốn ám chỉ về sự bảo vệ khỏi những giáo sư giả là kẻ tìm cách hủy diệt đức tin của tín hữu và gây chia rẽ Hội thánh. Vì vậy ông khuyên những mục sư phải cảnh giác liên tục. Họ phải chịu trách nhiệm để thấy rằng bầy của mình được an toàn. Có thể bạn liên tưởng đến việc thiếu niên Đavít bảo vệ chiên của cha mình như thế nào. Cậu bảo vệ chiên bằng cách dùng cái trành ném đá mà về sau cũng dùng cái trành đó để giết tên khổng lồ Gôliát. Phạm vi mà người chăn chiên sẽ đi để bảo vệ chiên của mình là bài thử nghiệm cho một người chăn tốt. Mặc dù kẻ chăn thuê không dám liều mạng sống mình vì chiên, nhưng người chăn tốt lúc nào cũng hi sinh đến mức tối đa cho chiên của mình.

Sứ đồ Phaolô dùng kinh nghiệm của ông ở Êphêsô để chứng minh vai trò đúng đắn của người chăn. Ông đã làm việc đó với mối quan tâm khiêm tốn và yêu thương. Dù phải quở trách những người chống nghịch, cũng như an ủi những người buồn rầu, nhưng ông đã không thực hiện chỉ vì bổn phận. Ông hết lòng làm vì yêu thương người Êphêsô.

Những gương mẫu này của Chúa Jêsus và sứ đồ Phaolô chứng tỏ ý niệm của Kinh Thánh về sự chăn bầy của mục sư. Cả hai đều vẽ bức tranh mô tả những khía cạnh khác nhau của người chăn bầy để chỉ cho chúng ta thấy rằng ẩn dụ về người chăn trong Kinh Thánh có một sứ điệp đặc biệt cho các mục sư. Từ ẩn dụ này chúng ta học biết ý niệm về người chăn chiên phản ảnh mối quan tâm tổng quát và sự chăm sóc người khác một cách cá nhân và thân thiết. Vì vậy, mục sư không ngừng tìm kiếm phước hạnh cho chiên mình mà không hề quan tâm đến giá phải trả và nỗ lực mà sự chăm sóc này đòi hỏi mình.

(3) Xếp đặt những đoạn văn khi bạn đọc trong Kinh Thánh, với phần mô tả về cách một mục sư có thể bày tỏ đặc tính của người chăn trong chức vụ của mình như thế nào.
1) GiGa 10:11-12.
2) Mat Mt 9:36
3) LuLc 15:4-6
4) GiGa 10:3
5) Cong Cv 20:31.
...a. Ông quan tâm vì sự bất lực của con người trong những đấu tranh của cuộc sống.
...b. Ông cảnh cáo người khác về cạm bẫy của tội lỗi và đau lòng trước tình trạng của họ.
...c. Ông có mặt với tín hữu mình trong mọi khó khăn, thử thách và nguy hiểm và sẵn sàng hi sinh tối đa vì họ.
...d. Ông không kể đến sự an toàn và tiện nghi của bản thân mà cứ đi ra và phục vụ tích cực những người hư mất trong tội lỗi, và vui mừng dù chỉ có một số ít người được cứu.
...e. Ông yêu thương dân sự mình, họ biết ông và họ biết rằng ông yêu họ, vì vậy họ lắng nghe ông và vâng theo sự dạy dỗ của ông.
Mục tiêu 2: Mô tả những mục đích mục sư đến thăm tại nhà riêng và hình thành một hướng dẫn cơ bản để lập kế hoạch thăm viếng tại nhà.
THĂM VIẾNG.

Nói chung, khi mục sư đến thăm viếng một gia đình hay một người ở bệnh viện, thì điều đó khác hơn là một sinh hoạt xã hội. Sự thăm viếng của mục sư liên quan đến chức vụ, nhưng để rõ ràng trong phần này chúng ta sẽ sử dụng những từ ngữ đơn giản và đặc biệt như” thăm tại nhà riêng” (home calls) và” thăm tại bệnh viện” (hospital calls).
LẬP KẾ HOẠCH THĂM TẠI NHÀ RIÊNG.
Thăm tại nhà riêng là” trách nhiệm của mục sư đòi hỏi ông phải thăm viếng có hệ thống từng nhà của tín hữu trong Hội thánh mình hay trong cộng đồng mà họ cần đến sự giúp đỡ của mục sư”. Điều này giúp cho ông biết rõ tín hữu và những nhu cầu của họ để ông có thể phục vụ họ hữu hiệu hơn.
Có hai phạm vi căn bản mà chúng ta cần thảo luận ở đây, tức là: đi thăm ai và làm thế nào để thực hiện một cuộc thăm viếng.

ĐI THĂM AI.
Khi bạn bắt đầu khảo sát xem ai là người cần mục sư đến thăm, thì khó tìm ai là người không có một loại nhu cầu nào. Danh sách này sẽ kéo dài vô tận nếu chúng ta cố nêu tên tất cả những nhu cầu của dân sự. Tuy nhiên, để đơn giản, chúng ta bắt đầu với hai đặc tính chính: Tín hữu và người chưa tin, những người đi nhà thờ và những người không đi nhà thờ. Theo mỗi phân loại này, có nhiều nhu cầu khác nhau mà bạn, là mục sư, cần xem xét.
1. Những người không đi nhà thờ và chưa tin Chúa. Có thể trong cộng đồng có nhiều người không đi nhà thờ hơn là người đi. Mặc dù một số người có thể gia nhập vào một Hội thánh, nhưng nhiều người không đi nhà thờ của họ. Dĩ nhiên cũng có một số người đi nhà thờ vẫn chưa có kinh nghiệm cá nhân về sự cứu rỗi. Tuy nhiên, những người khác là những người không tin nên chưa gia nhập với Hội thánh nào. Mục sư và những tín hữu được tái sanh phải có trách nhiệm đem tất cả những người này đến sự hiểu biết về ơn cứu rỗi. Như vậy, mục sư phải tìm nhiều cách để đem những người lạc mất này vào chuồng của Đức Chúa Trời.
Bạn có thể bắt đầu với những người mà chúng ta sẽ gọi là” thân hữu” (prospects). Đây là những người đã tiếp xúc với sứ điệp Cơ đốc, những sinh hoạt của nhà thờ hay với những tín hữu. Chẳng hạn, chúng ta có thể nói đến một người tham dự một trong những cuộc mời đặc biệt của bạn như một chương trình Giáng sinh, và bạn ghi tên và địa chỉ của người ấy trên một Phiếu khách vãng lai. Người này là đối tượng của sự thăm viếng. Mục đích chính của sự thăm viếng là truyền giảng. Tại điểm này có thể nói rõ là mục sư không phải là người duy nhất có thể đi thăm. Tuy nhiên, ông có thể nêu gương, và ông có thể bắt đầu một kế hoạch để huấn luyện những người khác đi thăm viếng.
2. Những thành viên trong hội chúng của bạn. Những tín hữu trong hội chúng của bạn có những nhu cầu khác nhau. Có những người đau, những người nản chí, những người cô đơn, mồ côi, gia đình đổ vỡ và những người có nhiều nhu cầu khác. Có những người có thể có các nhu cầu không rõ rệt nhưng lại rất nghiêm trọng. Vài người chẳng bao giờ bày tỏ nhu cầu của mình lại nhận được sự khích lệ thuộc linh rất lớn khi được mục sư thăm viếng. Họ biết rằng họ được chăm sóc, và sự thăm viếng của mục sư tăng cường sức lực cho họ vì họ cần ở trong thân thể của Đấng Christ. Không kể đến những nhu cầu của họ, mục sư, là người chăn bầy, phải chăm sóc và khích lệ về mặt thuộc linh cho tất cả tín hữu trong hội chúng của mình.
(4) Viết câu trả lời ngắn cho những câu hỏi sau:
a. Lý do đầu tiên của việc mục sư đi thăm là gì ?
b. Viết ra hai mục đích của việc mục sư đi thăm những thành viên của Hội thánh.
LẬP MỘT KẾ HOẠCH THĂM VIẾNG.
Nếu mục sư không lập một hệ thống đi thăm viếng, thì ông sẽ không đủ thì giờ để đi thăm những nơi cần thiết. Hệ thống mà bạn sắp xếp cần uyển chuyển đủ để có chỗ trống cho những nhu cầu bất ngờ và những trường hợp khẩn cấp. Giống như mọi kế hoạch, hệ thống này phải phục vụ bạn chú không phải bạn phục vụ cho kế hoạch. Sau đây là một vài gợi ý để giúp bạn thành lập một kế hoạch thăm viếng.
1. Chia thành phố hoặc thị trấn của bạn thành nhiều khu vực. Không phải mọi thành phố đều có sẵn những bản đồ để bạn có thể mua được. Bạn có thể tùy cơ ứng biến làm ra một bản đồ riêng của mình. Điều này sẽ giúp ích nhiều cho bạn, đặc biệt nếu bạn mới đến khu vực ấy. Số lượng khu vực tùy thuộc vào mức độ rộng của thị trấn hoặc tùy thuộc vào hệ thống chuyên chở của bạn. Một số thành phố và thị trấn có sự phân chia tự nhiên, như những quận hoặc huyện ngoại thành. Vị trí của những nơi quan trọng như cơ quan hành chánh, nhà trường, chợ và nhà thờ. Dĩ nhiên là vị trí của Hội thánh bạn là nơi đánh dấu rõ ràng . Có lẽ bạn có một Hội thánh hạt nhân, hãy đánh dấu những nhà tín hữu trong Hội thánh bạn. Điều này sẽ cho bạn thấy tín hữu được phân phối khắp cả khu vực như thế nào. Khi bạn lên kế hoạch thăm viếng, bạn có thể sử dụng thì giờ mình có hiệu quả hơn nếu bạn cố gắng đi thăm những người trong cùng một khu vực, cùng một thời gian.
2. Lập kế hoạch đi thăm của bạn. Là một mục sư phục vụ năm đầu tiên, điều quan trọng là bạn phải tiếp xúc cách cá nhân với mọi người gắn bó với Hội thánh. Nếu là Hội thánh lớn quá, bạn có thể hình thành vài cách cải tiến trong việc đi thăm. Một số Hội thánh lớn có những buổi họp của những nhóm nhỏ hay tổ tế bào. Trong vài tháng đầu của nhiệm kỳ mục sư, bạn có thể lần lượt đi thăm mỗi nhóm đó và có cơ hội gặp tất cả thành viên cách cá nhân. Sau một vòng thăm viếng đầu tiên thì những nhu cầu khẩn cấp sẽ xác định lúc nào và nơi nào bạn sẽ đi thăm. Như chúng tôi đề cập ở trên, việc lập kế hoạch thăm viếng sẽ giúp bạn tiết kiệm thì giờ cũng như năng lực và tiền bạc.
- Tên của người được thăm:
John, Suarez, Lydia, Palma
- Ngày và giờ đến thăm:
8/10/88, 4:30 chiều
23/11/88, 6:30 chiều
- Các thành viên khác của gia đình có mặt: vợ, hai con, bà gia, cha, mẹ, 4 chị em, người dì
- Ghi chú hoặc các nhu cầu, tình trạng gia đình:
. Roméo đã bị đau sốt hai ngày mất việc. Là lao động duy nhất. Còn yếu. Cần ăn uống bổ dưỡng hơn. Bà gia chưa được cứu.
. Muốn kết hôn trái với ý cha mẹ. Cha mẹ mến người đàn ông ấy nhưng hy vọng họ chờ hai năm nữa cho những em gái của cô ta hoàn tất việc học. Lydia 29 tuổi. Cô ta cay đắng toàn bộ sự việc.
Lập một hệ thống ghi chép đơn giản sẽ giúp bạn tổ chức việc thăm viếng dễ dàng. Một phần của một trang được trình bày ở đây gợi ý những tin tức có thể ghi nhận. Bạn có thể thay đổi hình thức và thêm nhiều cột mục nữa, nếu bạn cần dựa vào những nhu cầu đặc biệt của bạn. Vì những điều ghi nhận nầy có tính cách cá nhân và phản ảnh những nhận xét” kín” của bạn, nên phải cất kỹ các ghi chú ấy. Điều đó sẽ tránh những khó khăn rắc rối về tin đồn, chuyện ngồi lê đôi mách do những gì bạn đã ghi riêng trong sổ tay của mình.
3.Thời gian thăm viếng. Không có qui luật nào về thời gian của một lần thăm viếng. Ơû vài nơi người ta mong đợi một cuộc thăm viếng lâu và họ bất mãn nếu như mục sư chỉ ngồi chơi vài phút rồi lại vội vã ra đi. Còn tại nhiều nơi khác, thời gian có hạn chế. Vì vậy bạn phải tìm hiểu phong tục địa phương trước khi bắt đầu một chương trình thăm viếng. Mục đích của việc thăm viếng sẽ giúp bạn quyết định thời gian lưu lại của mình. Nếu trong gia đình có một vấn đề nghiêm trọng, có lẽ bạn sẽ ở lâu hơn.
Tuy nhiên, có những lúc khác nếu người bệnh mà bạn đến cầu nguyện cần được nghỉ ngơi, thì bạn phải rút ngắn thời gian. Vì vậy, điều hết sức quan trọng là bạn phải nhạy bén đối với những nhu cầu của hoàn cảnh. Mục đích của bạn là đem phước đến chứ không đem gánh nặng. Mục đích chính của việc thăm viếng là giúp đỡ về mặt thuộc linh và phục vụ các nhu cầu của những người bạn đang thăm.
Thì giờ đi thăm cũng có thể thay đổi tùy theo mỗi nơi. Bình thường, mục sư đi thăm vào xế chiều và trước khi sẫm tối. Tuy nhiên, trong những trường hợp khẩn cấp, thì ban ngày hay ban đêm chẳng phải là yếu tố quyết định. Thực ra, có nhiều trường hợp bạn có thể đi thăm ngay giờ ăn hoặc ban đêm. Những nhu cầu khẩn cấp không hề chú ý đến đồng hồ, và một người chăn bầy phải sẵn sàng đi bất cứ giờ nào để chăm sóc bầy của mình.Ở một vài nơi điều này cần thực hiện cách thuận lợi đối với mục sư và thích hợp với người được thăm. Mục sư có thể hẹn với một số người nào đó thì giờ mình đến thăm. Tôi được biết có một mục sư thường thông báo trên tòa giảng hướng đi thăm của ông nhưng không nói rõ sẽ đến thăm nhà nào. Công việc đó rất thích hợp trong hoàn cảnh của ông và tín hữu trong Hội thánh cũng hưởng ứng. Khi ông ta đến một nhiệm sở khác, ông cũng thử áp dụng phương pháp này, nhưng tín hữu lại không tán thành chút nào. Họ nói ông làm như thế khiến họ liên tục hồi hộp vì không biết chính xác lúc nào mục sư sẽ đến. Vì thế, như bạn đã thấy, bạn cần điều chỉnh cách nào cho phù hợp với dân chúng tại mỗi địa phương. Trong cộng đồng những người làm ruộng, các nông dân có thể thức dậy rất sớm và làm việc ngoài đồng mãi cho đến tối mịt. Trong hoàn cảnh ấy bạn có thể ra đồng để gặp người mình muốn tiếp xúc. Có thể bạn phải lội xuống bùn để nói chuyện trong khi họ đang cày. Bạn có thể nhớ lại câu chuyện của Êli đã làm khi ông muốn gặp Êlisê (IVua 1V 19:19-20).
4. Bạn làm gì khi đến thăm. Mỗi lần thăm đều có tính đặc biệt và những nhu cầu cá nhân phải được quan tâm. Dĩ nhiên, phục vụ cho những nhu cầu của người ấy là mục đích đầu tiên. Nếu người được thăm là một tín hữu, thì có thể khác hơn việc đi thăm một người chưa tin. Hầu hết mỗi lần thăm bạn nên đọc một phần Kinh Thánh ngắn và cầu nguyện cho những nhu cầu đặc biệt của người ấy. Tuy nhiên nếu là người đau, thì tốt hơn là bạn nên cầu nguyện ngay cho người ấy thay vì chờ đến khi chấm dứt sự thăm viếng. Bạn phải hướng dẫn cuộc nói chuyện để được vui vẻ, và gây dựng. Đôi khi tất cả điều bạn cần làm là ngồi xuống và lắng nghe. Bạn không cần phải độc chiếm buổi nói chuyện.
(5) Liệt kê những yếu tố ảnh hưởng đến thời gian mà một mục sư sử dụng trong một lần thăm và ông làm gì khi đến thăm ?
(6) Nếu bạn vừa thực hiện những cuộc thăm viếng gần đây, lý do đi thăm của bạn là gì:
a. Đối với những thành viên trong Hội thánh ?
b. Đối với những người không phải là thành viên của Hội thánh?
(7) Sao chép những tiêu đề của bản này vào sổ ghi chú của bạn. Kẻ thêm những cột mục và điền cho đầy đủ vào một trang giấy với một kế hoạch sẽ giúp bạn trong những cuộc thăm viếng chăm sóc. (Tên, Ngày giờ, Hoàn cảnh gia đình, Ghi chú, Kết quả hay sự theo dõi.)
(8) Nếu một Hội thánh đang tăng trưởng nhanh hơn bạn đề nghị những bổ sung nào vào kế hoạch ?
Mục tiêu 3: Nhận diện các hướng dẫn cho sự thăm viếng tại bệnh viện của mục sư.

THĂM TẠI BỆNH VIỆN.
Khi một mục sư đến thăm tại bệnh viện, những nguyên tắc chung mà chúng ta thảo luận trong việc thăm viếng tại nhà cũng sẽ áp dụng tại đây. Tuy nhiên, tôi sẽ ghi thêm một số hướng dẫn đặc biệt nữa để bạn ghi nhớ.
1. Làm quen với cơ quan hành chánh của bệnh viện. Là một mục sư bạn có thể tự giới thiệu với những người có trách nhiệm. Khi họ biết bạn và mục đích của bạn, thì bạn sẽ có thể đến ngoài giờ thăm viếng bình thường. Điều đó sẽ giúp bạn thảo luận với họ bất cứ những quan tâm đặc biệt nào với ý nghĩ vì lợi ích của bệnh nhân.

2. Hỏi ý kiến bác sĩ điều trị. Trong nhiều trường hợp, bạn sẽ giúp cho chính mình cũng như cho bệnh nhân nếu bạn nói chuyện với bác sĩ chịu trách nhiệm để tìm ra cách mà bạn có thể đem lại ích lợi nhất cho tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Giả sử một trong các thành viên của Hội thánh bạn được đưa vào một bệnh viện theo qui chế” không cho phép người nào vào thăm”. Tự nhiên bạn rất muốn thăm người ấy và gia đình cũng muốn bạn đến thăm bệnh nhân tại bệnh viện và cầu nguyện cho người ấy. Với hoàn cảnh căng thẳng mà chúng ta vừa mô tả như thế, rõ ràng bạn phải tiếp xúc trước với bác sĩ điều trị hoặc người cố vấn trách nhiệm ở bệnh viện. Bạn muốn làm tròn trọng trách của mình và đáp ứng yêu cầu của gia đình, nhưng đồng thời bạn không muốn quấy rầy sự chăm sóc bệnh nhân của bệnh viện. Bạn cũng phải nhớ rằng gia đình của bệnh nhân cũng cần đến nhiệm vụ của bạn nữa.
3. Kết hợp với những người khác trong việc đi thăm tại bệnh viện. Thăm viếng tại nhà và thăm tại bệnh viện không phải là nhiệm vụ chỉ dành riêng cho mục sư. Ghi nhớ điều này thì bạn phải tổ chức huấn luyện và động viên các toán thăm viếng để phục vụ mọi người. Một lãnh vực đặc biệt có cần là tổ chức thăm viếng truyền giảng tại bệnh viện, cũng như tại các hội quán khác và nhà riêng. Một cách để huấn luyện người đi thăm là đem theo một hoặc hai người trong Hội thánh cùng đi thăm viếng với bạn. Sau vài lần họ quan sát bạn, họ có thể đi thăm một mình và rồi hướng dẫn người khác trong công tác này.
4. Lập kế hoạch theo dõi chăm sóc. Trong hầu hết các trường hợp, nhất là việc thăm viếng truyền giảng, điều quan trọng là biếu một số sách nhỏ hoặc có sắp xếp để theo dõi chăm sóc. Nếu có thể được và sẵn sàng tài liệu, thì mỗi lần đi thăm luôn luôn mang theo những truyền đạo đơn thích hợp hoặc văn phẩm khác để biếu cho những người mình đến thăm.

(9) Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt đúng về việc mục sư đến thăm tại bệnh viện.
a. Mối quan tâm của mục sư phải giới hạn đối với tình trạng thuộc linh của bệnh nhân.
b. Mục sư quen biết với cơ quan hành chánh của bệnh viện sẽ có thể dễ dàng vào thăm và một chức vụ thăm viếng tại bệnh viện sẽ hiệu quả hơn.
c. Vì sự thăm viếng người bệnh là một công tác khó khăn nên tốt hơn là dành việc ấy cho một mục sư kinh nghiệm.
d. Công tác theo dõi chăm sóc là một phần thiết yếu của sự thăm viếng truyền giảng.
KHUYÊN BẢO.
Rất nhiều sách và bài báo viết về sự khuyên bảo. Thật ra khuyên bảo là một nghề nghiệp đòi hỏi nhiều nghiên cứu. Nếu bạn muốn hiểu thêm về đề tài này, mời bạn học loạt bài ICI về Khuyên bảo Cơ Đốc, Phép chữa trị bằng tình thương (Agape Therapy) và Chức vụ khuyên bảo của mục sư (Pastoral Counseling).
Thật thích hợp để nói rằng công tác chăm sóc và khuyên bảo của mục sư phải bổ túc cho nhau. Tôi chưa hề thấy mục sư nào có thể né tránh việc khuyên bảo, bằng cách này hay cách khác ngay cả khi Hội thánh có một vị khuyên bảo chuyên ngành phục vụ trọn thời gian trong ban lãnh đạo. Bản chất thật của chức vụ là bạn vẫn gắn liền ở vài mức độ của sự khuyên bảo. Phần thảo luận sau đây sẽ chú ý đến việc khuyên bảo là gì và có liên quan đến những vấn đề nào.
Mục tiêu 4: Định nghĩa sự khuyên bảo Cơ đốc và nhận ra những ví dụ của hai loại chính.
KHUYÊN BẢO LÀ GÌ
Theo quan điểm Cơ đốc, khuyên bảo là một thiến trình làm thay đổi và tăng trưởng trong một người qua công tác của một mục sư hay người khuyên bảo luôn tìm cách sử dụng mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên hay của con người để đem lại sự tươi mới, sự chữa lành, sự toàn vẹn và trưởng thành cho người được khuyên. Đối với nhiều người, khuyên bảo đơn giản là lời khuyên. Mặc dù những người làm công tác khuyên bảo tín hữu nhìn nhận rằng những nhu cầu và những nan đề còn tồn tại, nhưng đồng thời họ công bố rằng những tài nguyên không hạn chế của Đức Chúa Trời vẫn hữu hiệu cho những người đáp ứng bằng đức tin.
Sự Khuyên Bảo Cá Nhân.
Tiếp xúc trực tiếp. Sự tiếp xúc này thường được sử dụng với cá nhân hoặc khuyên bảo một với một. Thông thường khi một tín hữu trong Hội thánh có một nan đề trầm trọng mà người ấy không thể tự giải quyết, người ấy đến với mục sư mong đợi nhận được lời khuyên hay được khuyên bảo. Có lẽ người ấy không nắm chắc về giải pháp của Kinh Thánh như thế nào và muốn được nghe lời cố vấn. Mục sư có thể nói chuyện với người ấy, đọc Kinh Thánh và khuyên lơn rồi tín hữu này có thể sung sướng về nhà. Đấy là sự khuyên bảo tiếp xúc trực tiếp và có thể là giải pháp cho một số nan đề; tuy nhiên, có một số nhà khuyên bảo không hoàn toàn nhất trí với loại tiếp xúc này. Dầu vậy, đối với một số trường hợp điều này đủ cho nhu cầu.
Tiếp xúc gián tiếp. Còn có những trường hợp khác, phải làm nhiều hơn là lời khuyên bảo. Trong cách tiếp xúc gián tiếp, người nhân sự khuyên bảo được hướng dẫn để tìm lời giải đáp cho chính mình. Đôi khi mục sư chỉ lắng nghe người này và không nói gì cả. Thường thường thì chỉ cần nói nan đề cho người nào khác là đã giúp người này tìm ra giải pháp cho mình, mặc dù người chưa nhận được lời khuyên trực tiếp. Những câu hỏi gợi ý để cho người ấy nhận thức đúng về nan đề của mình và lựa chọn những giải pháp khả dĩ. Một số lớn nhà khuyên bảo nhận thấy đây là cách tiếp xúc tốt hơn. Tuy nhiên trong vài hoàn cảnh kết hợp cả hai loại tiếp xúc là cần thiết.
Sự Khuyên Bảo Theo Nhóm.
Đây là một hoàn cảnh khuyên bảo có liên quan đến hơn một người (ngoài mục sư) . Khuyên bảo theo nhóm thường sử dụng cách tiếp xúc gián tiếp và mất nhiều thời gian hơn là khuyên bảo cá nhân. Khuyên bảo trước hôn nhân, mà chúng ta sẽ thảo luận trong bài kế tiếp thuộc loại này. Trong sự khuyên bảo theo nhóm, vấn đề có liên quan đến hai cá nhân hoặc một nhóm tín hữu cùng có chung một nan đề và phải cùng nhau đối phó. Đôi khi loại khuyên bảo này được gọi là phương cách cứu chữa cho cả nhóm. Cách cứu chữa cả nhóm này thường được sử dụng trong những vấn đề của gia đình, có liên quan đến toàn thể thể gia đình cùng làm việc với nhau.
(10) Một thành viên trung học phổ thông trong Hội thánh bạn đến nói với bạn rằng em ấy muốn làm một người khuyên bảo. Em ấy hỏi bạn” Sự khuyên bảo Cơ đốc là gì?”. Bạn trả lời cho em ấy như thế nào ?
(11) Ghi chữ TT vào trước những lời diễn đạt mô tả cách tiếp xúc trực tiếp, và GT nếu đó là cách tiếp xúc gián tiếp.
.....a. Joe, một tân tín hữu, hỏi mục sư rằng Kinh Thánh nói gì về việc kết hôn với một người ngoại.
.....b. Kevin muốn biết phải làm gì về những vấn đề trong cuộc hôn nhân của anh đang đe dọa, phá hủy gia đình anh.
.....c. Mary khốn khổ vì cô ta ganh tị với giáo viên Trường Chúa nhật đến trước cô ấy. Mục sư khuyên cô đọc ICo1Cr 3:5-9.
.....d. Sau khi nghe những nan đề của một cặp vợ chồng, mục sư yêu cầu mỗi người mô tả quan điểm của người kia đối với vấn đề.

Mục tiêu 5: Nhận ra những lời nói mô tả cách chính xác về trách nhiệm của mục sư trong việc khuyên bảo.
TRÁCH NHIỆM CỦA MỤC SƯ.
Như chúng ta đề cập trước đây, việc chỉ là một mục sư sẽ liên hệ bạn với một loại khuyên bảo nào đó. Người ta đến chia sẻ với bạn về những nan đề của họ. Dù bạn dán nhãn hiệu cho những thảo luận ấy là khuyên bảo hay không thì bạn vẫn sẽ có một số trách nhiệm. Những nguyên tắc sau đây sẽ giúp hướng dẫn bạn:
1. Chấp nhận sự khuyên bảo như là một phần chăm sóc của mục sư. Sẵn sàng chia sẻ những nan đề của con người là một phần của sự quan tâm toàn bộ và chức vụ chăm sóc của mục sư. Sự thật là việc người ta có những nan đề và những nhu cầu cũng đủ lý do để có một chức vụ như thế. Nhờ sự giúp đỡ của Chúa, khi bạn nhận nhiệm vụ này bạn sẽ có cơ hội hướng dẫn bầy chiên mình học biết rằng Chúa chăm sóc và có một giải đáp cho tất cả những nhu cầu của họ.
2. Có những lời khuyên kịp thời khi cần thiết. Có một số vấn đề, đặc biệt là những vấn đề của một bản chất thuộc linh, khiến cho mục sư là người khuyên bảo có tư cách nhất. Tuy nhiên, điều dễ hiểu là có đôi lúc bạn cảm thấy mình không thích hợp vì mình không được học những khóa huấn luyện về tâm lý. Mặt khác, bạn lại tiếp xúc với nguồn tài nguyên mà một nhà tâm lý học lỗi lạc hay một người không phải là Cơ đốc nhân không thể có. Bạn không cần phải sợ hãi. Tuy nhiên, khi có bằng cớ về những vấn đề tâm lý sâu sắc như bệnh trạng xã hội nghiêm trọng hoặc bệnh tâm thần, thì nên chuyển người đến một sự giúp đỡ chuyên khoa. Điều đó không có nghĩa là bạn bỏ rơi người được khuyên bảo. Bạn có thể luôn luôn làm sáng tỏ rằng bạn mong muốn gắn bó với một vai trò tư vấn qua việc thăm viếng và giúp đỡ hướng dẫn về mặt thuộc linh . Mặc dù bạn có thể không thảo ra những lời khuyên hợp pháp, nhưng bạn có thể giúp những lời khuyên thuộc linh. Kinh Thánh vẫn còn là cuốn sách rộng mở mà bạn có thể dùng để hướng dẫn, an ủi và tạo hy vọng cho những người bạn đang phục vụ.
3. Đừng tạo sự lệ thuộc mãi mãi. Mục đích của sự khuyên bảo là giúp cho người được khuyên đạt được sự trọn lành và trưởng thành. Chức vụ khuyên bảo của bạn phải luôn luôn hướng về sự chấm dứt việc lệ thuộc vào bạn càng sớm càng tốt. Chủ đích là phải giúp cho người được khuyên bảo tìm nguồn năng lực cho mình từ Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Dĩ nhiên rất dễ cho bạn tiếp nhận sự khâm phục của một số người lệ thuộc vào bạn về hỗ trợ tình cảm lẫn các nhu cầu khác. Tuy nhiên, thái độ như thế sẽ làm hại cho toàn bộ mục đích chăm sóc. Dẫn dắt một người đến sự trưởng thành trong Chúa phải luôn luôn là mục tiêu của bạn.
4. Hoàn toàn giữ kín tất cả thông tin liên quan đến sự khuyên bảo. Nguyên tắc này không thể nào nhấn mạnh đủ được. Có lẽ không điều gì phá hoại tính hiệu quả của chức vụ mục sư cách nhanh chóng cho bằng một sự thiếu tín nhiệm. Ơû đây, tính chính trực của mục sư trở thành một phẩm chất quan trọng. Bạn không bao giờ được chia sẻ với ai, ngay cả với vợ bạn hay vợ hoặc chồng của người được khuyên bảo về những vần đề có trao đổi với bạn nếu không có phép rõ rệt của người được khuyên bảo. Tại nhiều quốc gia, những điều tâm sự, chia sẻ với mục sư được pháp luật bảo vệ. Sự kiện này phải giúp bạn bảo đảm rằng không có những vấn đề cá nhân nào trở thành đầu đề cho những cuộc ngồi lê đôi mách.
(12) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt đúng liên quan đến trách nhiệm của mục sư trong việc khuyên bảo.
a. Một mục sư đang khuyên bảo một đôi vợ chồng trẻ. Để có cái nhìn rộng rãi hơn về vấn đề của họ, ông thảo luận điều ấy với vợ mình.
b. Biết mình còn thiếu kinh nghiệm, một mục sư trẻ bảo với người được khuyên bảo rằng mình có thể mời một mục sư có kinh nghiệm hơn để thảo luận với họ.
c. Vì mục sư không được học về khuyên bảo và ông rất bận rộn trong việc xây dựng một Hội thánh mới, nên ông chuyển mỗi một người có vấn đề đến với ông đến một người khuyên bảo chuyên nghiệp.
d. Mục sư bày tỏ thái độ chăm sóc của ông bằng cách hướng dẫn người được khuyên bảo tìm ra giải pháp cho nan đề của họ.
Mục tiêu 6: Giải thích thế nào mục sư hành sử chức năng như một thầy tế lễ.
CẦU THAY.
Đa số công tác của mục sư được thực hiện giữa công chúng. Tuy nhiên chức vụ công khai hiệu quả chịu ảnh hưởng lớn bởi chức vụ ở trong” phòng riêng” (Mat Mt 6:6). Điều này không có nghĩa là chức vụ cầu thay của mục sư bị giới hạn trong sự cầu nguyện riêng, nhưng đây là nơi sự cầu thay được chủ yếu thực hiện. Trước khi Chúa Jêsus chọn trong số những môn đệ của Ngài Mười Hai Sứ đồ, thì Ngài đã dành trọn cả đêm để cầu nguyện (LuLc 6:12). Trong những tác phẩm của mình. Phaolô thường đề cập đến sự cầu thay vì lợi ích của những người ở các nơi khác nhau ông đã phục vụ.
MỤC SƯ LÀ MỘT THẦY TẾ LỄ.
Thầy tế lễ trong Cựu ước là người đại diện của dân sự trước mặt Đức Chúa Trời. Người ấy cũng là một phát ngôn viên cho dân sự đến với Đức Chúa Trời. Qua thấy tế lễ mà dân sự được đến gần Đức Chúa Trời. Nhờ sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá, bây giờ chúng ta được phép đến gần ngôi ân phúc mà không cần có thầy tế lễ con người nào. Vì tấm màn của đền thờ bị xé làm đôi trừ trên chí dưới khi Chúa Jêsus xả thân vì chúng ta trên thập tự giá (Mat Mt 27:51), nên tất cả những tín hữu đều có thể đến gần sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Và bây giờ họ là những vị vua và những thầy tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời (KhKh 1:6; IPhi 1Pr 2:5, 10). Kinh Thánh cũng dạy rằng chúng ta phải cầu nguyện cho nhau (Gia Gc 5:16) và mang gánh nặng của nhau (GaGl 6:2).
Mục sư có một vị trí cầu thay duy nhất vì ông biết rõ những nhu cầu của hội chúng hơn bất cứ ai khác. Ông là người chăn chiên vác chiên bị thương, và nhiều lần mục sư là người duy nhất có thể chia sẻ một gánh nặng với một thành viên khổ đau trong Hội thánh. Trong Hêbơrơ đoạn 4 và 5 chúng ta có thể góp nhặt những bài học quan trọng về chức tế lễ của Đấng Christ, được xem như một gương cho mục sư trong vị trí là thầy tế lễ.
1. Ông nhạy bén với những nhu cầu. Khi làm việc giữa công chúng, mục sư quen với những nhu cầu của con người, các vấn đề cần chăm sóc, những cám dỗ và nan đề. Và ngay cả có thể vì quá quen thuộc với những nhu cầu và vấn đề này nên mục sư có thể lạnh nhạt hoặc không thông cảm đối với những điều ấy. Khi một mục sư nhạy bén, người ấy không cần phải nghe nhiều, mà vẫn có thể nhận ra được điều gì đó sai trật. Vì vậy, Thánh Linh cũng có thể giúp bạn phát triển đức tính này nữa.
2. Ông có thái độ thương xót, thông cảm đối với những người thất bại. Bởi vì theo nhân tính của riêng ông, mục sư cần có lòng khoan dung và nhẫn nại đối với người trượt ngã. Vào những lúc đó, mục sư phải cho họ biết rằng có sự thương xót và ân sũng trong thì giờ có cần (HeDt 4:16). Khi một tín hữu thất bại, đó không phải là lúc để mục sư dùng tòa giảng để đả kích người ấy. Mặc dù lời của Đức Chúa Trời có ích cho việc” bẻ trách và sửa trị” (IITi 2Tm 3:16-17), nhưng điều đó phải được dùng với lòng khoan dung. Khiển trách là cần nhưng nó phải được thực thi với lòng thương xót để mang kẻ lầm lạc đến sự tha thứ.
3. Ông bày tỏ sự quan tâm đến từng cá nhân. Thầy tế lễ không thể tách rời khỏi dân sự. Kinh Thánh mô tả rằng Chúa Jêsus bị cám dỗ trong tất cả mức độ như chúng ta, nhưng Ngài không phạm tội. Biết những gì con người đương đầu, bạn có thể đến gần và phục vụ những nhu cầu của họ trong sự nhạy bén và thông cảm. Trong nhiều trường hợp, bạn sẽ phải đau đớn trong sự cầu nguyện riêng tư. Kinh nghiệm của Chúa Jêsus trong vườn Ghếtsêmanê có thể lắm là một khuôn mẫu. Trong lúc các môn đồ ngủ gục thì một mình Chúa Jêsus lại cầu thay cho họ.
(13) Giải thích những chức năng như một thầy tế lễ của mục sư
Mục tiêu 7: Nhận diện mục tiêu tối hậu của việc thi hành kỷ luật sửa dạy ở trong thân thể Hội thánh.
KỶ LUẬT
Một trong những công tác khó khăn và nhạy bén nhất mà một mục sư và những người lãnh đạo Hội thánh phải đương đầu ấy là phương pháp thích hợp để áp dụng kỷ luật sửa dạy đúng đắn. Chẳng ai thích bị sửa trị cũng như chẳng ai thích áp dụng việc sửa trị. Thật ra đa số mục sư cũng chẳng muốn nói đến việc kỷ luật lại càng không làm bất cứ điều gì về việc đó. Đó không phải là một công tác thú vị và một phần nữa là do ý nghĩ bao hàm của từ ngữ. Thông thường, chữ kỷ luật có nghĩa là” trừng phạt” trong khi thực tế chữ này có một ý nghĩa rộng rãi hơn nhiều.
KỶ LUẬT LÀ GÌ ?
Ý nghĩa của kỷ luật liên quan đến hai vấn đề: sự dạy dỗ và sự sửa lại cho đúng. Sự dạy dỗ có nghĩa là“huấn luyện để uốn nắn hay làm cho hoàn thiện đặc tính đạo đức”. Sự sửa lại cho đúng, có nghĩa là” kiểm soát những gì đạt được bằng mệnh lệnh hay cưỡng bách vâng lời”. Chúng ta thường so sánh sự sửa dạy mà Cha Thiên Thượng ban cho với sự dạy dỗ, uốn nắn mà một người cha trần gian dành cho.
MỤC ĐÍCH CỦA KỶ LUẬT.
Mục đích tối hậu của kỷ luật không phải là hình phạt nhưng là cứu chuộc (HeDt 12:10-11). Kỷ luật mà Hội thánh thi hành phải có mục tiêu phục hồi những thành viên lầm lạc đi vào sự thông công trọn vẹn với Đức Chúa Trời và với thân thể của Đấng Christ. Sự sửa trị trong bất cứ trường hợp nào cũng không nhắm vào sự hủy diệt, nhưng có dụng ý xây dựng đức tánh của Đấng Christ nơi người ấy và phát triển có tính xây dựng sự tự kỷ luật bản thân mình.
Khi một phần nào của cơ thể vật lý bị yếu hay đau, chúng ta chữa trị nó. Trong lúc đó toàn thân thể đều đau đớn. Thông thường khi chúng ta chữa trị, thì toàn thân cảm thấy đau nhức. Có trường hợp, vấn đề cần phải giải phẩu, thì tiến trình giải phẫu luôn luôn gây đau đớn.
Bạn bắt buộc áp dụng kỷ luật sửa dạy trong những vấn đề liên quan đến:
1. Sai phạm về giáo lý (RoRm 16:17; ITi1Tm 6:3-5).
2. Vô luân (Mac Mc 7:20-22; ICo1Cr 5:1-13).
3. Tinh thần kiêu ngạo và không ăn năn (Mat Mt 18:17).
NHỮNG NGUYÊN TẮC CỦA KỶ LUẬT.
Có thể mục sư cần phải khởi đầu kỷ luật cần thiết trong Hội thánh, nhưng kỷ luật là một vấn đề của toàn Hội thánh chứ không riêng gì của mục sư. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mỗi người đều có dính dáng đến tiến trình này. Phương cách và lúc nào bạn thi hành kỷ luật có thể có một ảnh hưởng trên toàn Hội thánh.
Vì sức khỏe của toàn thân thể Hội thánh, bạn phải dựa theo một số nguyên tắc Kinh Thánh trong kỷ luật sửa dạy sau đây.
1. Kỷ luật phải được áp dụng theo những qui luật của Hội thánh như hiến chương hay điều lệ đã được mọi người đồng ý. Bạn có thể giải quyết những vấn đề nhỏ trong một cuộc thăm viếng thân mật, nhưng bạn không thể giải quyết những vấn đề liên hệ đến Hội thánh chung trong một cuộc thăm viếng cách riêng tư. Tuy nhiên, khi bạn giải quyết, bạn cần sự ủng hộ của những lãnh đạo khác và hội chúng.
2. Bạn không thể kết án anh em hoặc chị em phạm lỗi mà không cho người ấy có một cơ hội trình bày quan điểm của mình hoặc lời biện hộ (Mat Mt 18:15-17). Người phạm tội phải hiểu bản chất của sự phạm tội.
3. Kỷ luật phải căn cứ vào Kinh Thánh. Động cơ trước tiên ở đàng sau kỷ luật là đem người phạm lỗi đến sự ăn năn thành thật. Rồi sau đó bạn phải phục hồi người ấy đến sự thông công đầy đủ với Đấng Christ và trong thân thể Hội thánh. Kỷ luật được thực hiện với thái độ đúng đắn có thể là một phần tích cực trong sự lớn lên và phát triển của cá nhân và Hội thánh.

4. Khi những sự phạm lỗi có tính cách công khai, thì thành viên ăn năn có thể cần phải bày tỏ công khai rằng sự ăn năn của mình là thành thật. Điều này đòi hỏi một thời gian để người ấy bày tỏ sự thay đổi thật và người ấy thành thật muốn được phục hồi vào mối thông công. Điều này không làm rối trí người nhưng tạo một hiệu quả lành mạnh cho tất cả mọi người.

5. Người ăn năn phải được trọn vẹn phục hồi vào mối thông công. Kinh Thánh chứng tỏ thân thể có một hệ thống kết cấu để giữ cho nó mạnh mẽ và khỏe khoắn. Thông thường khi bạn lâm vào giữa nan đề, bạn cảm thấy bất lực và dường như mọi việc sẽ sụp đổ. Hãy nhìn vào tấm gương của đời sống Phierơ. Khi ông nói dối và chối Chúa của mình, ông có thể nghĩ rằng mình chẳng bao giờ được phục hồi, vì vậy trường hợp của ông gần như tuyệt vọng. Nhưng hãy xem Chúa Jêsus đối xử với ông như thế nào (GiGa 21:15-19). Bằng cách tế nhị, Chúa Jêsus bắt đầu khôi phục Phierơ bằng cách hỏi về tình yêu và sự đầu phục của ông. Chúa Jêsus không đòi hỏi ông giải thích tại sao ông thất bại. Ngài chỉ hỏi ông xem xét lại tình yêu của mình đối với Chúa. Chúa Jêsus phục hồi Phierơ cách trọn vẹn khi tế nhị giao phó cho ông một nhiệm vụ mới. Bấy giờ Phierơ biết mình đã được tha thứ và được Chúa cần dùng. Đức Chúa Trời đã đặt các mục sư trong Hội thánh để cung ứng loại lãnh đạo tế nhị khéo léo này đối với bầy chiên và bày tỏ sự quan tâm đầy đủ và sự chăm sóc yêu thương chu đáo đối với cả những người có cần.

(14) Mục tiêu tối hậu của kỷ luật trong Hội thánh là để:
a. Cảnh cáo những thành viên trong thân thể Hội thánh chống lại sự phạm tội.
b. Phục hồi người phạm lỗi trở lại mối thông công trong Đấng Christ.
c. Chứng minh rằng có sự trong sạch trong Hội thánh.
d. Theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh để khai trừ người phạm tội.
Bây giờ bạn đã hoàn tất bài học thứ 10. Vậy tiếp tục làm bài trắc nghiệm cá nhân và nhớ kiểm lại các câu trả lời của bạn.
****

BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM
CÂU HỎI LỰA CHỌN.
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Một mục sư được so sánh với người chăn bầy chủ yếu trong sự:
a. Giảng và dạy của ông.
b. Sự khuyên bảo và cảnh cáo của ông.
c. Sự canh giữ và chăm sóc của ông.
d. Lập chương trình và thực hiện của ông.
2. Sự thăm viếng tại gia đình của mục sư nên bao gồm:
a. Chỉ những ai không đi nhà thờ.
b. Chỉ những ai thành viên của Hội thánh ông.
c. Chỉ những ai mời ông đến thăm.
d. Bất cứ ai cần đến chức vụ của ông.
3. Mục đích chính của sự thăm viếng của mục sư là để:
a. Củng cố sự gắn bó của nhiều người với Hội thánh.
b. Tìm những thân hữu để trở nên thành viên của Hội thánh.
c. Phục vụ bầy chiên.
d. Chăm sóc và động viên về mặt thuộc linh.
4. Mục sư cần lập một kế hoạch thăm viếng chủ yếu để được hiệu quả và để:
a. Tiết kiệm thì giờ, năng lực và tiền bạc
b. Chứng tỏ tài lãnh đạo của ông.
c. Làm quen với người mới.
d. Gia tăng số thành viên của Hội thánh lên.
5. Đề cập đến những lần thăm viếng tại bệnh viện, mục sư nên:
a. Cảm thấy chỉ có một mình mình là có thể lo cho những nhu cầu thuộc linh.
b. Xem mình là một phần của ban chăm sóc cho bệnh nhân.
c. Ủy thác các cuộc đi thăm này cho những người khác.
d. Chờ đợi cho đến khi những người có liên quan yêu cầu đến thăm.
6. Một khía cạnh quan trọng của việc khuyên bảo gián tiếp là:
a. Ban cho những hướng dẫn trực tiếp.
b. Lập những nhóm chữa trị.
c. Lắng nghe người được khuyên bảo nói.
d. Có sự giúp đỡ kịp thời.
7. Những chữ sau đây mô tả vai trò một thầy tế lễ của mục sư. NGOẠI TRỪ:
a. Nhạy bén.
b. Cầu thay.
c. Thương xót.
d. Kỷ luật.

CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ trước mỗi câu đúng và S trước mỗi câu sai.
.....8. Aån dụ về người chăn chiên ám chỉ rằng sự chăm sóc của mục sư có tính cách toàn bộ mà không còn quan tâm đến cái giá mà cá nhân mình phải trả.
.....9. Khuyên bảo chủ yếu là cho lời khuyên tốt.
.....10. Người được khuyên lệ thuộc vào người khuyên bảo chứng tỏ sự khuyên bảo ấy thành công.
.....11. Người chăn vác một con chiên bị thương tích có thể sánh với sự cầu thay của mục sư.
.....12. Mục tiêu tối hậu của kỷ luật trong Hội thánh là làm tinh sạch thân thể của Đấng Christ.
&
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Là một người chăn chiên chân chính, bạn có thể để qua một bên lợi ích riêng của mình và tự chối mình để chăm sóc bầy chiên.
(2) Người ấy có thể dốc đổ lòng mình ra trong sự cầu thay cho người hư mất và ra đi mang Phúc âm đến với những con người tội lỗi.
(3)
a. 2) Mat Mt 9:36.
b. 5) Cong Cv 20:31.
c. 1) GiGa 10:11-12.
d. 3) LuLc 15:4-6.
e. 4) GiGa 10:3.
(4)
a. Ý định đầu tiên là truyền giảng.
b. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm những nhu cầu đặc biệt như thăm viếng người bệnh, người thất vọng và những người có những nan đề gia đình. Hoặc bạn có thể trả lời, phục vụ những nhu cầu đặc biệt và khuyến khích những người có thể không trình bày những nhu cầu đặc biệt của họ.
(5) Phong tục địa phương và mục đích của cuộc viếng thăm sẽ ảnh hưởng đến thời gian thăm viếng. Những gì mục sư làm tùy thuộc vào tình trạng thể chất, thuộc linh và những nhu cầu đặc biệt của người được thăm.
(6) Câu trả lời của bạn. Trong cả hai trường hợp một phần câu trả lời của bạn có thể là phục vụ cho các nhu cầu của họ.
(7) Câu trả lời của bạn. Nếu bạn chưa có một kế hoạch, hãy lập theo kế hoạch này, hoặc kế hoạch tương tự như thế để giúp cho bạn trong sự thăm viếng.
(8) Một số gợi ý như: làm một hồ sơ gồm cạc để liệt kê tên người cần được thăm và ghi danh một số người thực tập giúp đỡ việc thăm viếng, có một hệ thống chấp sự được chỉ định trách nhiệm trong một số khu vực.
(9) b, và d là những câu đúng.
(10) Câu trả lời của bạn có thể tương tự như sau: sự khuyên bảo Cơ đốc là mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều người hơn trong đó người khuyên bảo sử dụng tất cả những phương tiện của con người và những nguồn tài nguyên thiên thượng để đem đến sự tươi mới, sự chữa lành, sự khôi phục trọn vẹn và sự trưởng thành cho người được khuyên bảo.
(11) a, và b là sự tiếp xúc trực tiếp, c và d là sự tiếp xúc gián tiếp.
(12) b và d là những câu đúng.
(13) Câu trả lời của bạn có thể bao gồm những điều như mục sư phải nhạy bén, cảm xúc được nhu cầu, phải có lòng thương xót những người thất bại, và trình dâng từng người lên để Chúa thương xót họ.
(14) b) phục hồi người phạm lỗi trở lại mối thông công trong Đấng Christ.

)


NHỮNG CÔNG TÁC ĐẶC BIỆT

Trong bài vừa rồi, chúng ta nghiên cứu về chức vụ chăm sóc của mục sư. Chúng ta đã thảo luận về sự thăm viếng và lập kế hoạch thăm viếng để thực hiện công tác này cách hữu hiệu. Rồi chúng ta cũng ghi nhận vai trò của mục sư trong sự khuyên bảo những người bị tổn thương và có nhu cầu. Chúng ta cũng khảo sát về nhu cầu cầu thay cho bầy của mình và thực hiện kỷ luật tùy trường hợp. Bây giờ chúng ta sang những công tác khác có liên quan đến những sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến đời sống tín hữu trong Hội Thánh.
Chúng ta gọi” những công tác đặc biệt” (occasional ministries) vì chúng liên quan đến những trường hợp quan trọng với gia đình và cộng đồng Hội Thánh. Mỗi khi có nhu cầu mục sư phục vụ cách đặc biệt đối với tín hữu trong hội chúng của mình. Ngoài ra ông còn mở rộng chức vụ của mình đến với những người có thể không tham dự thường xuyên ở nhà thờ, nhưng họ đến đó vì có mối liên hệ bà con, bạn bè. Chúng ta sẽ tìm xem cách thế nào qua những cơ hội này để truyền giảng cho những người mà nếu không thì chúng ta có thể chẳng bao giờ tiếp xúc được với họ. Vì những cơ hội đặc biệt thường có liên quan gần gũi với phong tục địa phương dù khác nhau tùy chỗ, nhưng lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa địa phương. Vì vậy các tân tín hữu cần học biết cách tổ chức những nghi lễ làm sao cho vinh hiển Danh Đấng Christ và chứng thực quyền năng của Phúc âm.
Khi bạn học bài này, tôi tin chắc bạn sẽ nhận thức được rằng Đức Chúa Trời đã đặt mình vào một chức vụ chiến lược. Rồi khi bạn đối diện những sự kiện đặc biệt trong nếp sống của Hội Thánh, bạn có thể có một tầm nhìn mới về phương cách bạn có thể chia sẻ tình yêu của Đức Chúa Trời cho tín hữu trong Hội Thánh và cho những người cần biết tình thương của Ngài .
Dàn ý bài học
Lễ Báp têm nước.
Lễ Tiệc Thánh.
Lễ Dâng con.
Lễ Thành hôn.
Tang lễ.
Những lễ của quốc gia và Hội Thánh .
Những mục tiêu của bài học
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Áp dụng những nguyên tắc của Kinh Thánh vào mọi công tác đặc biệt .
* Nhận diện những cơ hội để tiếp xúc bên ngoài qua những công tác đặc biệt .
* Nhìn nhận nhu cầu dạy dỗ trước và gồm cả công tác chăm sóc trong tất cả những công tác đặc biệt .
Những hoạt động học tập
1. Học suốt bài theo tiến trình bình thường.
2. Ôn từ bài 8 đến bài 11 để chuẩn bị cho việc làm Bản Đánh Giá Tiến trình học tập đơn vị 3. Lấy ở trong túi dành cho học viên Phiếu Trả Lời, rồi trả lời các câu hỏi như thường lệ. Và gởi Phiếu trả lời đến Hướng dẫn viên ICI của bạn học, và học tiếp bài 12.
3. Nếu bạn chưa làm được như trên, hãy bàn với hướng dẫn viên ICI của bạn để sắp xếp cuộc thi Cuối khóa cho bạn.

Những chữ căn bản
Triển khai bài học

Mục tiêu 1: Nhận diện trách nhiệm của mục sư qua nghi lễ Báp têm trong nước.

LỄ BÁP TÊM NƯỚC.
Hầu hết các Hội Thánh Tin lành đều cử hành hai nghi lễ của Hội Thánh: Báp têm nước và Tiệc Thánh. Cả hai nghi thức tượng trưng quan trọng này chính là trái tim của Phúc âm. Mặc dù sự cứu rỗi không lệ thuộc vào hai nghi lễ này, nhưng đó là điều cần yếu khi một người muốn vâng theo những nghi thức của Kinh Thánh và công bố những phước hạnh của Chúa cho đời sống thuộc linh và sự trưởng thành của mình. Trong phần thứ nhất này chúng ta sẽ khảo sát về lễ Báp têm nước.
Chúa Jêsus đã công nhận nghi thức Báp têm nước lúc Ngài khởi đầu chức vụ khi Ngài giục giã Giăng làm Báp têm cho Ngài. Sau đó, vào lúc cuối chức vụ của Ngài trên đất, ngay trước khi Ngài thăng thiên về trời, Ngài thách thức các môn đệ của Ngài” ...ra đi và môn đồ hoá muôn dân, nhơn danh Đức Cha, Đức Con và Thánh Linh mà làm Báp têm cho họ” (Mat Mt 28:19).
CHUẨN BỊ CHO LỄ BÁP TÊM NƯỚC.
Báp têm nước là một sự công bố rằng một người đã tiếp nhận Đấng Christ. Có người đã ghi nhận rằng” Đây là một dấu hiệu bên ngoài của một tác động bên trong”. Như vậy, đối với tân tín hữu, sau khi họ tiếp nhận Đấng Christ và được dạy dỗ về ý nghĩa của nghi lễ này thì điều quan trọng là cho họ nhận lễ Báp têm nước càng sớm càng tốt.
1. Dạy dỗ những người cầu lễ. Hoặc bạn hành lễ Báp têm mỗi tuần một lần, hay mỗi năm một lần, điều quan trọng ấy là bạn phải chuẩn bị người cầu lễ qua sự dạy dỗ đúng đắn từ trong Kinh Thánh. Một số Hội Thánh tổ chức các lớp giáo lý Báp têm thường xuyên cho tân tín hữu như là một phần của chương trình giáo dục Cơ đốc, tuy nhiên có những Hội Thánh khác chỉ tổ chức các lớp này khi phát sinh nhu cầu. Vì những người tiếp nhận Đấng Christ đến từ những bối cảnh khác nhau, nên họ cần hiểu sự dạy dỗ của Kinh Thánh về Báp têm nước. (Nội dung đó phải nằm trong một khóa học chuẩn bị cho lễ Báp têm nước không ở trong khuôn khổ bài này, nhưng bạn có thể tìm những tài liệu thích hợp cho trách nhiệm này). Chi tiết trình bày như thế nào của sự dạy dỗ phải tùy thuộc vào bối cảnh của các người qui đạo. Điều cần thiết là người cầu lễ phải hiểu cách tỏ tường ý nghĩa biểu tượng của hành động này.
Trong Tân Ước rõ ràng là các tân tín hữu được nhận Báp têm ngay khi họ xưng nhận Đấng Christ là Cứu Chúa. Người thuộc xứ Êthiôpi trên đường xuống Gaxa và người cai ngục ở thành Philíp là hai ví dụ của sự việc này (Cong Cv 8:1-40; 16:1-40). Tuy nhiên, vì điều kiện của địa phương, một số Hội Thánh không làm Báp têm ngay cho người qui đạo. Những lãnh đạo của các Hội Thánh này tin rằng những người qui đạo cần bày tỏ sự chân thật của việc họ qui đạo trước khi họ chịu lễ Báp têm. Điều này tùy Hội Thánh của bạn quyết định. Điểm chính ở đây là tân tín hữu phải được dạy dỗ đủ để họ hiểu rõ ràng ý nghĩa của Báp têm nước. Họ cần biết rằng hành vi của họ trong cuộc sống phải xác nhận sự sống mới của họ trong Đấng Christ . Nếu bạn muốn những người cầu lễ phải chứng minh trước khi bạn dìm họ trong nước, thì bạn cần phải nói cho họ biết những gì bạn mong đợi nơi họ.
2. Sự chuẩn bị về thể chất. Trong phần cuối của sự dạy dỗ, nhớ hướng dẫn cho ứng viên biết cách ăn mặc thích hợp trong nghi lễ Báp têm. Bạn phải nói cho họ biết họ cần mang theo những thứ gì. Chỉ dẫn cho họ cách xuống nước rồi lên khỏi mặt nước và ai là người sẽ giúp đỡ họ. Nhớ nhắc họ không nên mang kính, đội mũ, quàng khăn trên đầu, đội tóc giả, hoặc bất cứ đồ dùng gì khác có thể gây trở ngại khi xuống nước. Nếu trước đó họ chưa thấy nghi thức lễ Báp têm thì hãy giải thích trình tự cho họ trước khi hành lễ. Chỉ định người cung ứng các nơi riêng biệt cho nam và nữ để thay quần áo sau khi làm lễ Báp têm.
3. Chuẩn bị của mục sư. Nếu trước đây bạn chưa từng làm Báp têm cho ai, thì hãy thực tập trước lần cử hành lễ đầu tiên của bạn. Không phải dễ như nhìn thấy đâu. Hãy nhờ một mục sư có kinh nghiệm chỉ dẫn cho bạn. Bạn phải biết cách đỡ những người cao quá và nặng quá. Điều quan trọng là bạn phải thư giãn trong lúc hành lễ. Sự căng thẳng và bồn chồn trong khi hành lễ Báp têm có thể phá hỏng ý nghĩa thuộc linh đặc biệt của lễ.
4. Chuẩn bị cho buổi lễ. Lễ Báp têm nước được thông báo trước ít nhất hai tuần lễ. Đây là một buổi lễ rất quan trọng đáng được một nhóm đông người chứng kiến, và được tổ chức càng công khai càng tốt. Bản thân của lễ này là sự công nhận công khai dứt bỏ đời sống cũ tội lỗi và tuyên bố tiếp nhận sự sống mới trong Đấng Christ. Nếu bạn cần đi đến một con sông, hồ hoặc bể bơi công cộng, thì cũng nên thông báo cho những tín hữu trong hội chúng biết trước địa điểm, ngày và giờ hành lễ.
(1) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi phần hoàn chỉnh ĐÚNG.
Trước khi hành lễ Báp têm nước, mục sư cần biết chắc rằng những người cầu lễ:
a. Hiểu rằng nghi thức này là một lễ nghi rất quan trọng nhưng không bắt buộc.
b. Được dạy dỗ lịch sử truyền thống Hội Thánh về lễ Báp têm nước.
c. Bày tỏ bằng chứng về kinh nghiệm cứu rỗi qua đức tin trong Đấng Christ.
d. Sẵn sàng xưng nhận Đấng Christ cách công khai.
e. Hiểu rõ ý nghĩa tượng trưng của Báp têm về sự đồng chết, chôn và đồng sống lại của Đấng Christ.
TRONG KHI HÀNH LỄ BÁP TÊM NƯỚC.
Trong phần liệt kê các sách tham khảo ở cuối tài liệu tự học này, bạn có thể tìm thấy những sách chỉ dẫn cách hành lễ mà bạn có thể áp dụng cho nghi thức Báp têm và các lễ nghi hác, chúng ta sẽ đề cập đến trong bài
học này. Vì vậy, chúng tôi không đề nghị một kiểu mẫu hành lễ nào trong phần này.

Tại buổi lễ Báp têm, mục sư phải hoàn toàn chú ý đến các người cầu lễ và cung cách hành lễ thực tại. Vì vậy, đây là một nghi lễ mà những nam chấp sự, nữ chấp sự hay trưởng lão có thể giúp đỡ mục sư rất nhiều. Một trong những trưởng lão hoặc một phụ tá mục sư có thể hướng dẫn hội chúng hát lúc khai lễ. Vài Hội Thánh có một buổi truyền giảng vì có nhiều khán giả đến để xem. Cách bạn hành lễ sẽ tùy thuộc vào địa điểm và nhu cầu của khu vực đó.
Trong giờ hành lễ, theo thông lệ mỗi người cầu lễ làm chứng ngắn trước khi bạn dìm người ấy xuống nước. Rõ ràng có người nào đó cần phối trí tất cả những người cộng tác trong buổi lễ. Một số người giúp đỡ cũng phải sẵn sàng trợ giúp những người cầu lễ xuống nước và lên khỏi nước.
Buổi lễ có thể kết thúc bằng lời cầu nguyện cho tất cả những người vừa mới nhận Báp têm. Vài Hội Thánh dùng việc này để chào mừng nhận họ làm thành viên của Hội Thánh. Ơû nhiều nơi, mục sư cấp cho mỗi người một giấy chứng đã nhận lễ Báp têm và ông ghi tên họ vào Sổ ghi danh những người chịu Báp têm. Mỗi cố gắng đều thực hiện để đánh dấu trường hợp này như là một bước đầu quan trọng trong đời sống Cơ đốc của tân tín hữu.
TIẾP THEO SAU BÁP TÊM NƯỚC.
Những bài học khác nhau trong loạt bài này đã nhấn mạnh nhiều lần về nhu cầu nuôi dưỡng các tín hữu cách đầy đủ như những nhà lãnh đạo đã làm trong thế kỷ đầu tiên (Cong Cv 2:41-42). Nhiệt tình nuôi dưỡng không cần tàn lụn sau phép Báp têm. Tại điểm này tân tín hữu cần được tiếp tục nuôi dưỡng. Hãy khảo sát những điều sau:
1. Tân tín hữu cần sự dạy dỗ liên tục. Mạng lệnh của Kinh Thánh dành cho những người đã chịu Báp têm trong Mat Mt 28:20 chép” Dạy họ giữ mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi”. Có những lẽ thật thuộc linh vĩ đại mà người qui đạo mới chịu Báp têm cần học tập và áp dụng. Những tân tín hữu này phải nhận sự dạy dỗ mạnh mẽ và trung tín. Như vậy họ mới trở thành những Cơ đốc nhân có kết quả.
2. Dẫn các tân tín hữu vào những con đường phục vụ . Mỗi tân tín hữu cần phải biết rằng mình có thể góp một phần vào thân thể của Đấng Christ. Một trong những lý do khiến những tân tín hữu lui đi vì họ cảm thấy mình vô dụng. Khi tân tín hữu tìm được vị trí của mình và đã được môn đồ hóa kỹ lưỡng thì người ấy có thể trở thành một trong những” Anh Rê” là người có thể đưa những người khác như” Simôn Phierơ” đến với Chúa.
Những hoạt động nuôi dưỡng này không phải là công tác độc quyền của mục sư, chúng tiêu biểu cho chức vụ của thân thể Hội Thánh cùng làm việc với nhau.
(2) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG nói về vai trò của mục sư trong nghi thức Báp têm nước.
a. Mục sư nên thông báo về lễ Báp têm nước cách công khai vì hành động này là một minh chứng bên ngoài của một đức tin nơi Đấng Christ bên trong.
b. Đòi hỏi sự trưởng thành thuộc linh nơi một người qui đạo trước khi chịu lễ Báp têm bảo đảm một sự tuân phục mạnh mẽ đối với Hội Thánh.
c. Sự chuẩn bị cho người cầu lễ Báp têm nên hạn chế vào những vấn đề thuộc linh vì đó là một biến cố thuộc linh.
d. Hội Thánh phải góp phần trong việc nuôi dưỡng những tín hữu mới chịu lễ Báp têm.
e. Tiếp tục dạy dỗ và trách nhiệm trong sự phục vụ là phần chăm sóc thiết yếu cho những tín hữu mới chịu Báp têm.
Mục tiêu 2: Mô tả vai trò của mục sư trong sự sửa soạn cho lễ tiệc thánh.
TIỆC THÁNH.
Chúa Jêsus thiết lập Bàn Tiệc của Chúa hay Tiệc Thánh khi Ngài phán” Hãy làm điều này để nhớ đến Ta” (LuLc 22:19). Sau khi ăn lễ Vượt Qua với các môn đồ của Ngài, Ngài thiết lập lễ Tiệc Thánh không những cho người Do Thái nhưng còn cho cả Dân ngoại là thành phần trong Hội Thánh của Ngài, Ngài cũng để lại một tưởng nhớ để tuân thủ cho tất cả tín hữu” Hễ khi nào các ngươi ăn bánh này và uống chén này, thì nhớ rao truyền sự chết của Chúa cho tới khi Ngài đến” (ICo1Cr 11:26).
Tiệc thánh là một trong những lễ nghi có ý nghĩa nhất của đức tin Cơ đốc. Một số người gọi đó là sự” Bẻ Bánh”. Đây là giờ phút đặc biệt để mỗi thành viên của Hội Thánh tưởng nhớ đến Chúa và công tác cứu chuộc của Ngài.
Trải qua nhiều thế kỷ người ta thường thảo luận về việc tổ chức lễ tiệc thánh trong Hội Thánh theo chu kỳ nào Kinh Thánh không định rõ chu kỳ của lễ này, như vậy mỗi Hội Thánh nên tổ chức theo lời khuyên dạy,” Hễ khi nào anh em ăn bánh này, uống chén này thì rao truyền sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến” (11:26). Hội Thánh của bạn phải quyết định chu kỳ tổ chức lễ tiệc thánh. Tuy nhiên có ít nhất ba điều về thời gian mà bạn phải suy xét:
1). Bạn nên thiết lập lễ ở khoảng cách đều đặn.
2). Bạn nên sắp đặt những lễ này khá thường xuyên có lẽ không ít hơn một lần mỗi tháng. Bạn không nên xem tiệc thánh trở thành thông lệ và chung chung, nhưng bạn phải tổ chức khá thường xuyên, người dự có thể vui hưởng ơn phước mà tiệc thánh mang lại và ý thức tầm quan trọng của lễ.
3). Bạn nên cử hành lễ khi một số lượng lớn nhất người có thể tham dự. Không kể đến chu kỳ nào hay thì giờ nào bạn tổ chức lễ này, những nguyên tắc sau đây sẽ giúp hướng dẫn bạn.
CHUẨN BỊ CHO TIỆC THÁNH.
1. Chỉ định người chuẩn bị các chi tiết. Thường thường có người được chỉ định để sửa soạn bánh và chén theo cách luân phiên hoặc có một ban chuyên lo công việc này. Những người này cần ý thức rằng đây không phải chỉ là một công tác, mà là phục vụ Chúa.
2. Dạy về ý nghĩa tượng trưng của các yếu tố. Điều quan trọng là mục sư phải dạy dỗ dựa trên cơ sở Kinh Thánh về ý nghĩa tượng trưng của bánh và chén. Trong một vài nền văn hóa, người ta có khuynh hướng mạnh mẽ quá chú trọng đến các yếu tố hơn là ý nghĩa của các yếu tố đó. Trong thời Cựu Ước con sinh vật bị giết cho bữa ăn của lễ Vượt qua cùng với rau đắng là những yếu tố trong gia đình tượng trưng cho những gì Đức Chúa Trời làm để giải cứu dân sự Ngài ra khỏi Êdíptô. Bây giờ, trong thời Tân ước bánh và chén là những biểu tượng để tôn cao sự chịu khổ và sự chết của Đấng Christ và làm cho ý nghĩa đó trở nên sống thực với mỗi người.
3. Chuẩn bị sự phục vụ cho đầy đủ. Nếu bạn tổ chức” dự Tiệc thánh chung” nghĩa là sự thông công mở ra cho mọi Cơ đốc nhân hiện diện, dù là thuộc viên chính thức hay không chính thức của Hội Thánh, thì phải chắc chắn có đầy đủ cho mọi người. Có dư thừa một chút cũng không hại gì.
4. Hướng dẫn đầy đủ cho người giúp đỡ. Những người giúp đỡ cho mục sư ban Tiệc thánh phải được thông báo trước giờ Tiệc thánh và được phân phối việc làm cách chính xác. Họ phải là Cơ đốc nhân trưởng thành hiểu đầy đủ ý nghĩa của Tiệc thánh. Sự tiến hành của họ sẽ chứng tỏ rằng đây không phải là một lễ hội hay nghi thức tôn giáo trống rỗng vì họ làm mọi sự với một thái độ nghiêm trang tôn kính.
(3) Trong sổ tay của bạn hãy mô tả 4 điều mà mục sư phải làm để chuẩn bị Tiệc thánh và ý nghĩa của mỗi điều.
Mục tiêu 3: Giải thích việc mục sư nhấn mạnh ý nghĩa của lễ Tiệc thánh như thế nào.
SỰ TƯỞNG NHỚ.
Cầu nguyện là phần sửa soạn chính cho lễ Tiệc thánh. Mục sư phải bắt buổi lễ với thái độ cầu nguyện. Không hành lễ cách vội vã hoặc kéo dài. Thời gian không phải là điều quan trọng. Mục sư cần dành thì giờ để giải thích các yếu tố và hướng dẫn mọi người bước vào thái độ thờ phượng. Mặc khác cũng nên nhớ là đừng nói những gì không cần thiết hoặc bình luận những gì không thích hợp cho buổi lễ. Một số gợi ý cho sự cử hành lễ như sau:
1. Ý nghĩa của Tiệc thánh phải được giải thích rõ cho mọi người. Nếu không làm điều đó, thì buổi lễ sẽ thoái hóa thành một lễ vô nghĩa.
2. Những bài thánh ca và những đoạn Kinh Thánh phải tập trung vào chủ đề của buổi lễ. Những phần Kinh Thánh liên quan đến Tiệc thánh như là một tưởng nhớ phải được đọc, và những bài hát nói về thập tự giá rất thích hợp trong dịp này.
3. Đây là thì giờ mà bạn có thể dẫn cả Hội Thánh đi vào một sự nhận thức sâu xa về sự chết của Chúa trên thập tự giá. Họ phải thấy trong biểu tượng nầy rằng Ngài đã hoàn thành tuyệt mỹ sự hy sinh đền tội vì lợi ích của toàn thể nhân loại.
4. Những tín hữu phải cảm nhận một kết ước mới với Đấng Christ và với nhau trong thân thể.
Một cách mà bạn có thể giảm thiểu trình tự nghi thức lễ Tiệc thánh ấy là thay đổi thứ tự của buổi lễ. Chẳng hạn, có một mục sư để tòa giảng sang một bên, đặt bàn Tiệc thánh ở chính giữa. Ông giảng ngay ở bàn Tiệc thánh, giải thích ý nghĩa của bánh và kêu gọi mọi người nhìn nhận sự hy sinh cao cả mà Đấng Christ đã thực hiện. Sau đó các trưởng lão đem bánh đến cho toàn thể hội chúng và mọi người cùng ăn. Kế đến, mục sư giải thích về ý nghĩa của chén và công hiệu của huyết đổ ra của Đấng Christ. Ông khuyên bảo hội chúng về sự liên hệ đến huyết của Đấng Christ, và các chén được phát cho mỗi người. Sau đó, hội chúng hát một thánh ca rồi giải tán. Bạn không cần phải thay đổi theo cách đó chỉ vì muốn thay đổi, bạn cũng không bị đòi hỏi phải thực hiện nghi thức luôn luôn giống như thế. Trái lại, lúc nào cũng cử hành lễ để làm cho rõ ràng, xác thực mục đích và ý nghĩa của nghi lễ.
(4) Trong sổ tay của bạn, giải thích mục sư có thể nhấn mạnh ý nghĩa của lễ Tiệc thánh với tín hữu như thế nào.
Mục tiêu 4: Nhận diện những trách nhiệm của mục sư trong việc dâng con trẻ cho Chúa.
LỄ DÂNG CON TRẺ.
Khắp các quốc gia trên thế giới con trẻ được xem là quí giá. Sự ra đời của một đứa trẻ được kể như là một trường hợp hạnh phúc nhất. Với lòng mong đợi đầy vui mừng cha mẹ hướng tới cơ nghiệp nầy của Chúa.
Các Hội Thánh Tin lành không hành lễ Báp têm cho trẻ con, nhưng nhiều Hội Thánh đã cử hành lễ dâng con trẻ và các em thiếu nhi cho Chúa cách công khai. Khi cha mẹ đến với mục sư xin dâng con mình cho Chúa, thì có một số điều mà mục sư cần làm để giúp đỡ gia đình đó. Chúng ta sẽ thảo luận những vấn đề này trong phần sau đây:
CHUẨN BỊ CHO LỄ DÂNG CON TRẺ.
1. Giải thích mục đích. Dâng con trẻ là sự nhìn nhận công khai của cha mẹ về trách nhiệm của họ trong việc nuôi con cái lớn lên trong sự kính sợ và khuyên dạy của Chúa. Mục sư phải nói chuyện với cha mẹ để biết chắc họ hiểu được mục đích của nghi lễ. Phải nói rõ cho họ rằng đây không phải là phép Báp têm hoặc lễ đặt tên thánh. Họ phải hiểu rằng dâng con trẻ không phải là chủ yếu cho đứa trẻ, mà là sự hứa nguyện của họ trong việc nuôi dạy con cho Chúa.
2. Hồ sơ dâng con trẻ. Ngay trước khi dâng con trẻ, hãy điền vào một giấy chứng nhận dâng con trẻ cho cha mẹ đứa trẻ giữ. Ơû những nơi xa có thể không thực hiện hồ sơ hộ tịch hoặc giấy khai sinh. Trong trường hợp đặc biệt này, giấy chứng nhận dâng con đó có thể là chứng liệu khai sinh duy nhất của đứa bé. Phải ghi rõ ngày dâng đứa nhỏ, ngày sinh của đứa nhỏ, tên cha mẹ, và nơi sinh, tất cả đều phải chính xác, và nhớ ký vào giấy chứng nhận này. Về sau khi cha mẹ cần chứng từ gì về đứa trẻ để gởi đi học hay đi du lịch, thì Hội Thánh có thể chứng nhận ngày sinh của đứa bé.
NGHI LỄ DÂNG CON TRẺ.
Lễ nghi dâng con trẻ thường được cử hành trong một buổi sáng Chúa nhật thờ phượng bình thường. Một số Hội Thánh chỉ định một ngày Chúa nhật mỗi tháng để cha mẹ có thể đem con mình đến nhà thờ để dâng. Thông thường những bà con của gia đình tuy không thuộc về Hội Thánh nhưng vẫn đến để chứng kiến việc dâng con trẻ và chung vui với gia đình ấy.
Trong khi hành lễ, mục sư cần giải thích cho hội chúng rằng Kinh Thánh dạy đây không phải là lễ Báp têm hay một” Lễ đặt tên”. Cha mẹ được động viên và thách thức để hứa nguyện làm theo điều Kinh Thánh dạy dỗ về bổn phận cha mẹ. Mục sư cũng nên thách thức cả hội chúng, là thân thể của Đấng Christ phải phô bày những giá trị Cơ đốc trong nếp sống trước đứa bé này và cầu nguyện cho đứa trẻ cùng cha mẹ em.
Mục sư phải nhận từ cha mẹ và bồng em bé trên tay mình trong khi cầu nguyện dâng em lên cho Chúa. Lời cầu nguyện bao gồm sự cảm tạ Đức Chúa Trời về đứa trẻ và cầu xin Chúa ban sự khôn ngoan và sự hướng dẫn đặc biệt cho cha mẹ trong trách nhiệm làm cha mẹ của họ.
TIẾP THEO SAU SỰ DÂNG CHO TRẺ.
Sau buổi lễ dâng con trẻ, mục sư cấp cho cha mẹ giấy chứng nhận dâng con và ghi vào một sổ hồ sơ dâng con trẻ của Hội Thánh. Nếu chưa có sẵn, một số Hội Thánh liền ghi tên em bé vào một lớp ấu nhi, là nơi đứa bé và có thể cả mẹ em hoặc người nào khác chăm sóc cho đứa bé sẽ được giúp đỡ. Dù hệ thống tổ chức như thế nào, thì vẫn cần có công tác chăm sóc theo dõi sau khi dâng em bé.
Những bà mẹ trẻ cần được khích lệ nhiều khi họ bận lo cho một em nhỏ. Mỗi Hội Thánh cần có một lớp học hay nhóm nhỏ cho những bà mẹ này ngồi lại với nhau để chia sẻ kinh nghiệm cũng như khích lệ lẫn nhau. Nếu không thì, họ có thể mất cơ hội gắn bó với Hội Thánh và có cảm giác bị bỏ rơi. Trước khi đứa trẻ ra đời, người mẹ có thể tham gia tích cực trong Hội Thánh, nhưng bây giờ em bé đòi hỏi hầu hết thời gian của người mẹ. Cô ta còn có thể có mặc cảm phạm lỗi về sự thiếu tham gia của mình. Những người mẹ lớn tuổi và có nhiều kinh nghiệm hơn có thể giúp đỡ và động viên những bà mẹ trẻ. Đối với bạn nhu cầu cung cấp một nơi cho những bà mẹ để chăm sóc con mình rất quan trọng. Đó phải là một chỗ để họ vừa có thể lắng nghe và quan sát sự thờ phượng của Hội Thánh và có một cơ hội phục vụ những người khác.
(5) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Trách nhiệm của mục sư và mục đích của việc dâng con trẻ cho Chúa cách công khai bao gồm:
a. Sự bày tỏ từ trong Kinh Thánh những phước hạnh và trách nhiệm của gia đình Cơ đốc.
b. Bảo đảm cho cha mẹ về sự cứu rỗi của đứa bé.
c. Hướng dẫn cha mẹ nuôi con theo lời dạy của Kinh Thánh.
d. Aûnh hưởng đến cha mẹ chưa được cứu của đứa bé hướng về Phúc âm
e. Cấp một giấy chứng nhận và ghi sổ ngày sinh cùng ngày dâng đứa bé.
f. Thách thức những thành viên trong Hội Thánh
g. Cung ứng một sự thay thế cho phép Báp têm cho con trẻ trong những cộng đồng có phong tục đó.
LỄ THÀNH HÔN.
Bây giờ chúng ta đến một phần thảo luận về một bổn phận vui vẻ khác của mục sư. Hôn lễ là một trong những dịp vui nhất mà mục sư có thể chia sẻ với những thành viên trong Hội Thánh mình. Đây là trường hợp rất vui nhưng cũng là giờ phút rất nghiêm trọng đến nỗi mục sư cần tiến hành cách kỉnh kiền và với sự chuẩn bị tốt nhất có được.
Mục tiêu 5: Thảo luận những sự chuẩn bị cần thiết mà mục sư phải chịu trách nhiệm trước khi cử hành một lễ thành hôn.
CHUẨN BỊ CHO HÔN LỄ.
Một trong những điều quan trọng nhất mà mục sư phải biết ấy là những đòi hỏi hợp pháp để cử hành long trọng những lễ thành hôn. Trong hầu hết mọi quốc gia, một cuộc hôn nhân phải làm theo cả hai thủ tục về pháp lý lẫn tôn giáo. Ở nhiều quốc gia, hôn nhân sẽ không hợp pháp nếu không tuân theo những qui định của chính quyền. Ở một số quốc gia, những qui định về hôn nhân có thể chi tiết và phức tạp hơn các quốc gia khác. Trong một số khu vực, những qui định có thể thay đổi theo từng thành phố. Vì thế, điều quan trọng ấy là mục sư phải biết tất cả những luật lệ này và phải nắm vững tất cả những qui định hiện hành. Ngoài việc biết những qui định về pháp lý, còn những trách nhiệm cần thiết khác để mục sư tuân thủ.
Khi một đôi nam nữ trong Hội Thánh muốn tiến đến hôn nhân, họ cần đến với mục sư để sắp xếp cho lễ thành hôn. Tại điểm này, cần phải xem xét những điều sau đây:
1. Cha mẹ của hai bên có biết gì về kế hoạch không? Ngay cả khi đôi bạn ở tuổi kết hôn và có thể lập gia đình ngoài sự cho phép của cha mẹ, nhưng điều quan trọng là họ phải biết: Nếu cả hai bên cha mẹ đều là tín hữu của Hội Thánh thì sẽ gây ra sự chống đối nếu họ tín hữu của Hội Thánh thì sẽ gây ra sự chống đối nếu họ
2. Định ngày thành hôn và ghi ngày ấy vào lịch công tác của Hội Thánh.
3. Định những lần họp khuyên bảo với đôi nam nữ. Sự sửa soạn trước hôn nhân là một công tác rất quan trọng và sống động. Bạn có thể nghiên cứu những cuốn sách có giá trị về đề tài này và lên kế hoạch của bạn. Sau đây là một số ít hướng dẫn căn bản mà các mục sư thường áp dụng:
a. Cuộc hôn nhân dự kiến có đúng theo những tiêu chuẩn của Kinh Thánh, điều lệ của Hội Thánh, và luật pháp của quốc gia không ? Chẳng hạn, Kinh Thánh dạy một tín hữu không được kết hôn với người chưa tin Chúa. Nhiều Hội Thánh cấm kết hôn với một người ly dị. Bạn phải nêu lên những vấn đề này ngay từ đầu.
b. Một số mục sư đề nghị việc gặp mặt với đôi bạn đến 6 lần. Hỏi hai người có những nhu cầu đặc biệt nào cần trình bày không. Thì giờ và chiều sâu của đề tài thảo luận tùy theo nhu cầu của họ. Thêm vào đó bạn phải thảo luận các trách nhiệm của người vợ, người chồng theo Kinh Thánh, và bạn cần thảo luận những trách nhiệm của họ trong việc thành lập một gia đình và mái ấm Cơ đốc. Trong những phiên gặp mặt này cần nghiên cứu và thảo luận những đoạn Kinh Thánh sau:
1. ICo1Cr 13:1-113; 7:3-6.
2. Eph Ep 5:21-33.
3. IPhi 1Pr 3:1-7.
Nếu mục sư giúp cho đôi nam nữ trình bày rõ ràng và thảo luận về những điều họ mong đợi về cuộc hôn nhân và những gì mong đợi của mỗi người đối với nhau, thì sẽ giúp ích cho họ về sau này.
c. Phải có một lần khuyên bảo dành cho chú rễ, một lần khuyên bảo dành cho cô dâu. Trong lần khuyên bảo dành cho cô dâu, có thể bạn nên kết hợp với vợ bạn, hoặc một mình vợ bạn khuyên bảo cô dâu.
d. Phiên họp cuối cùng sẽ dành cho những chi tiết của việc tổ chức lễ. Phải lên kế hoạch để diễn tập cuộc lễ.
(6) Trong khu vực của bạn, một mục sư có được những trách nhiệm về pháp lý trong việc hành lễ hôn phối không ? Nếu có hãy ghi ra ở đây
(7) Hãy liệt kê ba trách nhiệm, khác với những điều đòi hỏi về mặt pháp lý, mà một mục sư phải hoàn tất trước một lễ thành hôn.
(8) Hãy liệt kê vắn tắt ba khía cạnh mà mục sư phải thảo luận trong những phiên họp khuyên bảo cho cô dâu chú rễ trước ngày thành hôn
Mục tiêu 6: Nhìn nhận những cách thức trong đó hôn lễ cũng là một cơ hội để truyền giảng.
CỬ HÀNH HÔN LỄ.
Cách tổ chức lễ thành hôn có thể khác nhau tùy theo truyền thống của gia đình và cộng đồng. Nơi nào Cơ đốc giáo còn xa lạ đối với một khu vực, thì việc cử hành lễ hôn phối đầu tiên trở thành những tiêu chuẩn rất quan trọng cho tất cả những lễ cưới về sau. Điều quan trọng là đám cưới phải đơn giản, không phung phí và diễn tả sứ điệp Cơ đốc. Vài sự sắp xếp thực tiễn cho hôn lễ được tiến hành như sau:
1. Mục sư phải ăn mặc cho thích hợp với dịp lễ.
2. Có những lần diễn tập để chuẩn bị cho mỗi người góp phần trong buổi lễ biết chính xác điều mình phải làm. Nếu có gì thay đổi phải kịp thời thông báo cho từng người.
3. Chương trình đánh máy phải trao tận tay mỗi người có dự phần trong buổi lễ.
4. Chỉ định một người chịu trách nhiệm tất cả dụng cụ cần thiết và trang trí trước ngày hành lễ.
Lễ thành hôn và những sinh hoạt trước và sau hôn lễ phải bày tỏ rằng cuộc hôn nhân chân chính là một biểu tượng đẹp về mối quan hệ của Đấng Christ đối với Hội Thánh. Hôn nhân cũng là một cơ hội để mục sư giải thích sự dạy dỗ Cơ đốc cho đôi bạn trẻ, cho gia đình, Hội Thánh và toàn thể cộng đồng.
SAU LỄ THÀNH HÔN.
Trách nhiệm của mục sư đối với đôi tân hôn không chấm dứt sau giờ hành lễ. Cặp vợ chồng mới cưới cần thực hiện nhiều sự điều chỉnh. Họ cần sự tiếp tục quan tâm và khuyên bảo của mục sư. Sau lễ cưới mục sư còn có vài trách nhiệm nữa. Tôi sẽ nhắc đến 2 điểm đặc biệt mà mục sư cần phải thi hành:
1. Cấp cho hai vợ chồng một giấy chứng nhận kết hôn. Nếu những hồ sơ cần bất cứ một bảo đảm nào về mặt pháp lý lo liệu trong khoảng thời hạn qui định. Ghi chép vào sổ hồ sơ của Hội Thánh.
2. Thăm cặp vợ chồng mới ở nhà họ càng sớm càng tốt khi thuận tiện. Điều này sẽ giúp cho họ biết rằng bạn vẫn quan tâm đến họ và sẵn sàng giúp đỡ họ. Điều này còn giúp cho việc thiết lập mối quan hệ tốt giữa đôi vợ chồng mới và bạn và cũng giúp thắt chặt họ với Hội Thánh.
(9) Diễn tả vắn tắt 2 khía cạnh của Kinh Thánh về hôn nhân mà một Mục sư phải dùng để khuyên bảo trong thời kỳ tiền hôn nhân.
(10) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Mục sư cử hành một hôn lễ bởi chắc chắn rằng tất cả những sự kiện:
a. Được thực hiện trong sự đơn giản và tốt đẹp.
b. Hài hòa với phong tục địa phương.
c. Bày tỏ mối quan hệ của Đấng Christ đối với Hội Thánh của Ngài.
d. Được tiến triển với sự quan tâm và khuyên bảo của ông.
e. Đều theo bất cứ gì cặp vợ chồng ao ước cho hạnh phúc của họ.
Mục tiêu 7: Chọn những lời diễn đạt bày tỏ những hướng dẫn mà mục sư cần tuân theo khi ông thi hành chức vụ đối với tang gia.
Hôn lễ là một trong những lễ nghi đẹp nhất mà bạn có thể thực hiện trong chức vụ của mình . Đức Chúa Trời sử dụng bức tranh về cô dâu chú rể trong Kinh Thánh khi Ngài muốn bày tỏ cho con người hay chết về mối quan hệ giữa Chúa Jêsus với Hội Thánh. Đối với cặp vợ chồng mới cưới, thì đây là khởi đầu của một mối quan hệ tăng trưởng. Một mục sư khôn ngoan sẽ bày tỏ rằng ông luôn sẳn sàng khuyến khích và giúp nâng đỡ mối quan hệ này bằng sự cầu nguyện và khuyên bảo.
TANG LỄ .
Chúng ta chuyển từ một lễ nghi vui vẻ của hôn lễ sang một biến cố buồn bã xảy ra trong mỗi Hội Thánh. Mặc dù đối với Cơ đốc nhân, sự chết cuối cùng là một lý cớ của vui mừng, nhưng nổi buồn của sự phân rẽ vẫn có thể làm cho những người còn sống tan vỡ. Từ bản chất của sự kêu gọi, mục sư phải đối diện với nhiều đau đớn và buồn thảm. Vì vậy, mục sư cần được Báp têm trong tình yêu của Đức Chúa Trời và sự dịu dàng của Thánh Linh, e rằng ông trở thành một người lạnh nhạt, và chỉ hành nghề trong những mối quan hệ của ông. Ông phải chẳng bao giờ hành sử trách nhiệm của mình cách quá máy móc đến nỗi hụt hẵn lòng mình trước toàn bộ vấn đề. Là một mục sư, bạn được kêu gọi để ‘vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc’. (RoRm 12:15).
TRƯỚC KHI CỬ HÀNH TANG LỄ.
Mục sư làm gì khi ông được thông báo có một người trong giáo sở của ông qua đời ? Những hướng dẫn sau đây sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi này.
1. Thăm viếng gia đình hữu sự càng sớm càng tốt.
Điều cần thiết là gác qua một bên mọi việc đang làm, bạn lập tức đến nơi để giúp đỡ an ủi. Bạn không thể trì hoãn trong trường hợp này. Vì vậy, người ta không ngạc nhiên khi thấy mục sư ở cạnh giường của những thành viên của Hội Thánh mà sự sống của họ như chỉ mành treo chuông.
2. Giúp đỡ gia đình có người chết. Thường thường gia đình có tang rơi vào tình trạng bị sốc. Ngay cả khi người thân yêu của họ đã bị bệnh trong một thời gian dài, nhưng sự phân rẽ cuối cùng khỏi đời này cũng gây đau đớn nhiều cho họ. Hãy lắng nghe những gì họ muốn nói, và dùng lời Chúa qua những chân lý vinh diệu của sự sống lại hoặc một số lời an ủi khác để nâng đỡ họ.
3. Giúp đỡ gia đình làm những việc cần thiết cấp bách. Trong vài trường hợp, mục sư có thể liên lạc với những bà con khác của họ. Có thể lắm không có người thân cư ngụ gần họ, và tang gia không thể nào thực hiện mọi chi tiết nếu không có sự giúp đỡ từ những thành viên gia đình khác. Tôi nhớ có một sự kiện xảy ra trong chức vụ của tôi. Một người đàn ông trẻ có vợ và hai con nhỏ, bị chết trong một tai nạn thảm khốc. Vì gia đình anh không ở ngay tại thành phố, nên Hội Thánh phải liên hệ với cha mẹ anh sống ở một hòn đảo khác. Những tín hữu trong Hội Thánh quyên góp tiền và thuê tàu chở linh cữu của anh về quê để an táng. Biến cố này đòi hỏi sự giúp đỡ của một số người trong Hội Thánh mặc dù chúng tôi vẫn có những buổi thờ phượng đặc biệt vào mỗi tối.
4. Giúp đỡ gia đình sắp đặt tang lễ. Khi những thành viên trong gia đình sẵn sàng thảo luận về tang lễ, thì họ cần sự giúp đỡ trong một số điều sắp xếp. Bạn sẽ cần sắp xếp phù hợp với ước muốn của họ, ngoại trừ những gì trái với Kinh Thánh và phong tục Cơ đốc giáo. Thì giờ, nơi chốn, những người tham dự và trình tự của buổi lễ đều phải được quyết định trước. Gia đình có thể mong ước có những mục sư tiền nhiệm tham dự tang lễ. Nếu họ muốn như vậy, bạn nên lịch sự tiếp xúc với những mục sư này.
TRONG GIỜ CỬ HÀNH TANG LỄ.
Tùy nền văn hóa mỗi nơi, phong tục có thể khác nhau. Nơi nào không chịu ảnh hưởng của Cơ đốc giáo, thì những phong tục ngoại đạo có thể được liên kết với tang lễ. Nếu vậy, bạn có một cơ hội để trình bày những thái độ Cơ đốc về sự chết và hi vọng của Cơ đốc nhân nơi sự sống lại. Tuy nhiên, có những trách nhiệm của mục sư vẫn không Tuy nhiên, có những trách nhiệm của mục sư vẫn không
1. Lên kế hoạch cho tang lễ cách cẩn thận. Dù cử hành ở trong hoặc ngoài nhà thờ, buổi lễ phải bày tỏ sự đắc thắng của Đấng Christ đối với sự chết và nhờ đến sự an ủi của Đức Thánh Linh. Giúp gia đình chọn bản nhạc và những bài hát phù hợp. Mặc dù bản nhạc với nội dung an ủi, nhưng cũng phải chứa đựng một sứ điệp hi vọng.
2. Giảng một bài giảng theo Kinh Thánh và thích hợp. Bạn có thể sử dụng một bài giảng trong hồ sơ của bạn để dùng cho những trường hợp này, nhưng phải bảo đảm sự tươi mới và thích nghi với nhu cầu và hoàn cảnh đặc biệt của tang gia. Đây cũng có thể là cơ hội duy nhất để bạn giảng một sứ điệp cứu rỗi và hi vọng cho những thành viên một sứ điệp cứu rỗi và hi vọng cho những thành viên
3. Hướng sứ điệp đến những người sống. Sứ điệp phải đem lại sự an ủi và hi vọng cho gia đình. Những người chưa tin Chúa ở đấy cần nghe về lý do của niềm hi vọng của chúng ta, và họ cần nghe một sự trình bày rõ ràng về Phúc âm trong một cung cách thích hợp. Đối với một số người, có thể đây là lần đầu tiên họ được nghe một sứ điệp Phúc âm.
4. Đi cùng với gia đình cử hành lễ hạ huyệt tại nghĩa trang. Bạn phải xem xét lại luật lệ địa phương liên quan đến lễ an táng tại nghĩa trang. Ở một vài quốc gia, những lễ nghi như thế không được phép thực hiện. Tuy nhiên, nếu được phép, những lời an ủi và sự có mặt của bạn là một sự nâng đỡ lớn cho gia đình. Bạn nên lưu lại với gia đình một thời gian ngắn sau buổi lễ. Trong thời gian đó, bạn bày tỏ tình yêu, sự quan tâm và cùng cầu nguyện với họ.
SAU TANG LỄ.
Lời hướng dẫn cuối cùng là điều quan trọng nhất: không được quên gia đình này. Sau tang lễ, có bao nhiêu công việc và mối quan hệ đang chờ đợi bạn, và dễ lắm bạn bị bận rộn với những điều khác. Nhưng tang gia trở về nhà với căn phòng trống rỗng, chiếc ghế trống và nhiều thứ khác khiến họ nhớ lại người thân yêu của mình đã ra đi. Chính lúc này họ cần làm một số điều chỉnh. Nhiều người biểu hiện sự thương cảm trước và trong lễ tang, nhưng bạn là người phải giúp đỡ tang gia khi tất cả mọi người khác đã ra về và nổi đau đớn của sự chia cắt càng thêm sâu đậm. Trong nhiều trường hợp, bạn nên đến nhà của người quá cố sau lễ an táng và ở lại một lúc để an ủi. Đôi khi không cần thiết phải nói gì. Chỉ sự hiện diện của bạn sẽ là một nguồn trợ lực và khích lệ.
Một vài lần gọi điện thoại hoặc thăm viếng trong những tuần lễ kế tiếp sẽ giúp ích cho tang gia qua một giai đoạn khó khăn. Hãy động viên những tín hữu khác trong Hội Thánh phụ giúp trong công tác này, và đây là một sự phục vụ. Nên nhớ Kinh Thánh khuyên chúng ta hãy chăm sóc người góa bụa và kẻ mồ côi (Gia Gc 1:27).
(11) Được thông báo có một tín hữu trong Hội Thánh mới qua đời, điều đầu tiên mục sư phải làm là:
a) Lên kế hoạch lễ tang, làm giảm bớt mối lo lắng của gia đình.
b) Gọi điện thoại hoặc gởi một điện báo rằng ông sẽ đến càng sớm càng tốt. c) Bắt đầu điện thoại cho những thân nhân ở các thị trấn lân cận.
d) Đến nhà có tang càng sớm càng tốt.
(12) Trong phần bài tập sau đây, viết số 1 trước mỗi lời diễn tả về một ví dụ hướng dẫn đúng mà một mục sư phải theo khi ông lo cho gia đình người quá cố, viết số 2 nếu là không đúng.
.....a. Ông bảo đảm với những thanh viên trong gia đình rằng họ nên vui mừng vì người thân yêu của họ đã đau quá lâu.
.....b. Ông gác qua một bên công việc đang làm, cho dù việc ấy khẩn cấp đi nữa, và đi ngay đến gia đình có tang.
.....c. Ông lắng nghe những người trong gia đình khi họ trình bày nhu cầu của mình và xác định nhu cầu nào họ cần trước khi ông sắp xếp lễ tang.
.....d. Ông giảng một bài giảng về tang lễ trong đó ông lên án những phong tục tang lễ của người ngoại đạo vì có một số người chưa tin Chúa hiện diện.
.....e. Ông giúp gia đình chọn bản nhạc an ủi, tươi vui cho tang lễ.
.....f. Ông đến thăm gia đình vài lần trong các tuần lễ sau lễ tang và động viên những tín hữu trong Hội Thánh làm như vậy.
Trước khi qua phần cuối của bài học này, tôi cần lưu ý rằng Hội Thánh phải lưu giữ hồ sơ về những trường hợp đặc biệt này. Ở vài nơi những sổ ghi dành cho Hội Thánh có bày bán sẳn ở các hiệu sách Cơ đốc. Nếu trong khu vực của bạn không có sẵn, thì Hội Thánh có thể dùng một cuốn tập ghi chú của học sinh để vô sổ những thông tin liên hệ với các sự kiện này. Một cuốn sổ dầy có thể chia ra nhiều phần như lễ dâng con trẻ, lễ Báp têm nước, lễ thành hôn và tang lễ. Những cuốn sổ này lưu tại Hội Thánh chứ không thuộc riêng của mục sư. Nếu bạn là mục sư, thích giữ hồ sơ cho chính mình, bạn nên làm sổ riêng của bạn, khác với sổ hồ sơ của Hội Thánh.
Mục tiêu 8: Phát triển vài ý tưởng về một số ngày lễ của quốc gia và Hội Thánh có thể được cử hành trong Hội Thánh bạn.
NHỮNG LỄ CỦA QUỐC GIA VÀ HỘI THÁNH.
Có những biến cố lịch sử của quốc gia mà mỗi nước cử hành thường xuyên. Ở vài nơi những ngày đó được gọi là lễ hợp pháp. Bạn có thể lợi dụng những sự kiện này cho thời biểu giảng của mình. Đôi khi, với khả năng mục sư của bạn, bạn sẽ được quan chức chánh quyền mời tham dự những ngày quốc lễ để dâng lời cầu khẩn hoặc tham gia trong một vài cách khác. Bạn có thể làm tăng ảnh hưởng của mình trong cộng đồng mà không bị liên kết chính trị với bất cứ đảng phái nào khi dự phần vào những cơ hội này.
Ngoài những buổi lễ của quốc gia, Hội Thánh Cơ đốc còn có những buổi lễ như Phục sinh, lễ Chúa nhật Ngũ Tuần, lễ Giáng sinh, và những biến cố có ý nghĩa khác về lịch sử Hội Thánh, hay những chương trình hoặc sắc thái đặc biệt về hệ phái.
Vài gợi ý cần nhớ về những sự kiện như vậy có thể được tóm lược như sau:
1. Bạn không bị ràng buộc bởi những biến cố này trong việc giảng lời Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, bạn có thể sử dụng chúng như những ý tưởng bài giảng theo đề tài để góp phần vào nổ lực công bố sứ điệp Phúc âm của bạn.
2. Bạn có thể sử dụng những sự kiện này vào kế hoạch giảng của mình. Chẳng hạn, nếu quốc gia cử hành ngày lễ độc lập, bạn có thể giảng về” Sự Giải phóng khỏi gông cùm của tội lỗi”.
3. Những ngày lễ Cơ đốc giáo có thể dùng cho những chương trình đặc biệt qua đó toàn thể cộng đồng đều được mời dự. Nhiều Hội Thánh phục vụ rất hữu hiệu cộng đồng của họ qua chương trình thánh nhạc vào lễ Giáng sinh và Phục sinh. Rõ ràng những ngày lễ này là cơ hội vươn ra để truyền giảng Phúc âm. Vào một số buổi lễ này, đã có nhiều người mới được chinh phục cho Đấng Christ và được nhập vào Hội Thánh.
(13) Sau mỗi ngày lễ hoặc mỗi cơ hội đặc biệt, hãy viết tựa đề của một bài giảng hay một chương trình nhấn mạnh mà bạn có thể sử dụng trong Hội Thánh mình.
a. Lễ thăng thiên:
b. Lễ Ngũ tuần:
c. Lễ Phục sinh:
d. Tết nguyên đán (Ngày đầu năm):
Những công tác đặc biệt này là những cơ hội rất tốt cho bạn, là mục sư, để đến gần mọi người bằng sứ điệp yêu thương và tha thứ của Đức Chúa Trời. Bạn không kém hơn người chăn chiên của Đức Chúa Trời chút nào khi bạn dẫn luận về các sinh hoạt đặc biệt này, vậy hãy đại diện Chủ của Mùa gặt coi tất cả họ là bạn thân.
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào khoảng trống trước mỗi lời hoàn chỉnh ĐÚNG về những lẽ thật mà mục sư phải truyền đạt trong các dịp lễ đặc biệt trong Hội Thánh. Viết S nếu là SAI.
.....1. Sự cứu rỗi không lệ thuộc vào phép Báp têm nước, nhưng nó cần thiết nếu một người vâng theo đầy đủ các mạng lịnh của Chúa.
.....2. Quyết định dâng đời sống mình cho Đấng Christ là một điều sâu sắc cá nhân, vì vậy Báp têm nước cũng phải riêng tư và có tính cách cá nhân.
.....3. Trong sự thiêng liêng của lễ Tiệc thánh, thì bánh và chén trở thành thân và huyết của Chúa.
.....4. Mục đích thiết yếu của Tiệc thánh là nhớ đến sự hi sinh của Đấng Christ trên thập tự giá và hướng về sự tái lâm của Ngài.
.....5. Lễ dâng con trẻ được tổ chức chủ yếu là vì lợi ích của đứa trẻ.
.....6. Không những cha mẹ nhưng toàn thể Hội Thánh có một trách nhiệm trong lễ dâng con trẻ.
.....7. Mục sư phải bảo đảm rằng tất cả khía cạnh của một lễ thành hôn phải phù hợp với Kinh Thánh, Hội Thánh, và luật dân sự đòi hỏi trước khi mục sư bắt đầu những sắp xếp sau cùng cho hôn lễ.
.....8. Lễ thành hôn tổ chức ở Hội Thánh là một phước hạnh cho đôi tân hôn, nhưng lại giới hạn những cơ hội truyền giảng.
.....9. Qua sự chết của một tín hữu, hi vọng rằng gia đình bày tỏ sự vui mừng và không buồn rầu như là một lời chứng cho những người chưa tin.
.....10. Một bài giảng thích hợp cho tang lễ chứa đựng hi vọng và sự an ủi cũng trình bày một sứ điệp cứu rỗi.
.....11. An ủi và giúp đỡ tang quyến là một điều Kinh Thánh dạy bảo.
.....12. Tổ chức những ngày lễ Cơ đốc tạo ra sự ràng buộc thuộc về nghi thức, vì vậy nên tránh tổ chức những lễ này.

ĐÁNH GIÁ TIẾN TRÌNH HỌC TẬP
Trước khi bạn tiếp tục học bài 12, hãy ôn từ bài 8 đến bài 11 rồi lấy trong túi dành cho học viên Bảng Đánh Giá Tiến Trình Học Tập Đơn Vị 3. Gởi phiếu trả lời cho hướng dẫn viên chỉ đạo ICI của bạn kèm với những tài liệu khác được chỉ dẫn ở ngoài bì của túi dành cho học viên. Sau đó bạn có thể tiếp tục bài 12.
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU.
(1) c, d, và e là những câu hoàn chỉnh đúng.
(2) a, d và e là những lời diễn đạt đúng.
(3) Để chuẩn bị cho Tiệc thánh, mục sư phải:
1. Chỉ định sự chuẩn bị vì đây là một công tác phục vụ của những thành viên Hội Thánh.
2. Dạy về ý nghĩa tượng trưng của bánh và chén để người dự hiểu được ý nghĩa thuộc linh.
3. Phải biết chắc những chi tiết phục vụ đầy đủ đã được chuẩn bị, nếu mở rộng cho nhiều người có mặt tham dự, thì có thể không biết trước số lượng đúng, và
4. Hướng dẫn tốt những người trợ giúp để buổi lễ được tôn nghiêm và cung kính.
(4) Theo lời của bạn: mục sư đọc Kinh Thánh và hướng dẫn những bài thánh ca nhấn mạnh về đề tài, ông đưa mọi người đến một nhận thức về công ơn cứu chuộc của Đấng Christ trên thập tự giá, và đến một sự đầu phục tươi mới Đấng Christ và với nhau.
(5) a, c, e, f là những lời hoàn chỉnh đúng.
(6) Câu trả lời của bạn. Đây là điều cần yếu mà bạn phải biết. Phải bảo đảm cập nhật hóa theo những thủ tục đòi hỏi.
(7) Theo lời riêng của bạn: mục sư phải chắc rằng cha mẹ của cô dâu chú rễ được thông báo việc thành hôn của họ, hôn nhân này phải đáp ứng những yêu cầu của Kinh Thánh, Hội Thánh và luật pháp, lên lịch ngày cưới vào lịch công tác của Hội Thánh và có những lần họp mặt khuyên bảo đôi bạn nam nữ.
(8) mục sư khuyên bảo họ theo điều họ mong đợi về cuộc hôn nhân. Ông thảo luận những tiêu chuẩn Kinh Thánh về trách nhiệm của họ đối với nhau, và những tiêu chuẩn của một gia đình Cơ đốc.
(9) Câu trả lời của bạn có thể bao gồm những trách nhiệm đối với nhau của vợ và chồng theo Kinh Thánh và những trách nhiệm của họ trong một tổ ấm và gia đình Cơ đốc. Bạn có thể nói thêm về hôn nhân là một biểu tượng của Đấng Christ và tân phụ của Ngài, tức là Hội Thánh.
(10) a, c và d là những lời hoàn chỉnh đúng.
(11) d) đến nhà có tang càng sớm càng tốt.
(12) a. 2).
b. 1).
c. 1).
d. 2).
e. 1).
g. 1).
(13) Câu trả lời của bạn. Đây là vài gợi ý:
a. Ngài được cất lên thể nào, cũng sớm trở lại thể ấy.
b. Phải đầy dẫy Thánh Linh.
c. Lên kế hoạch một chương trình thánh nhạc hay một vở kịch về sự Phục sinh.
d. Một thời điểm để lập những kế hoạch mới và những chỉ tiêu mới cho Hội Thánh.
XẾP ĐẶT NHỮNG ƯU TIÊN.

Bây giờ chúng ta đến đơn vị cuối của loạt bài học nầy. Điểm lại những gì đã học trong đơn vị vừa rồi chúng ta nhớ lại những đề tài tạo nên chức vụ của mục sư: Giảng, dạy, chăm sóc và những công tác đặc biệt. Những yếu tố này của chức vụ mục sư chỉ cho thấy công việc” thường xuyên” của ông bận rộn đến mức độ nào, không kể những gì ngoài kế hoạch, những công tác đặc biệt. Với tất cả những nhiệm vụ này, bạn có thể bị tràn ngập bởi những đòi hỏi của trách nhiệm của bạn. Vì vậy, thật là thích đáng để xem xét làm sao đương đầu với những vấn đề quan trọng này. Do đó trọng tâm của bài học này giúp bạn” xếp đặt những ưu tiên”.
Dường như lúc nào cũng có hàng ngàn tiếng nói đòi hỏi bạn chú ý, nên bạn cần phải có cách xếp đặt những mục tiêu và những ưu tiên. Trong bài học này chúng ta sẽ thảo luận cách thế nào để hiểu rõ sứ mạng của bạn hầu quyết định những ưu tiên của mình. Chúng ta sẽ khảo sát những hoạt động nào bạn cần đặt vào vị trí ưu tiên cao nhất vì những điều đó đòi hỏi hầu hết thì giờ và năng lực của bạn. Đức Chúa Trời đã ban cho bạn một trong những món quà quí giá nhất: thì giờ. Hoặc bạn khôn ngoan sử dụng thì giờ, hoặc bạn phung phí nó. Mục đích của bài này là giúp bạn biết sử dụng thì giờ cách tốt nhất và tăng năng suất tối đa.
Chúa Jêsus phán,” Của cải con ở đâu, lòng của con cũng ở đấy” (Mat Mt 6:21). Câu này nhắc nhở chúng ta rằng cách chúng ta xếp đặt những ưu tiên cho thấy điều gì là quan trọng nhất đối với chúng ta. Những ai được Đức Chúa Trời kêu gọi để chia sẻ sứ điệp cứu rỗi của Ngài cho thế giới thì sẽ không có ưu tiên nào cao hơn việc loan báo tình yêu cứu chuộc của Ngài cho toàn thể nhân loại. Khi bạn học bài này, hãy đặt trong lòng mình mục đích làm vinh hiển Đức Chúa Trời qua cách xếp đặt những ưu tiên trong cuộc sống hằng ngày của bạn.
Dàn ý bài học
Làm sáng tỏ sứ mạng của chúng ta.
Cách sử dụng thì giờ.
Xếp đặt những ưu tiên cho công việc.
Những mục tiêu của bài học
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Giải thiùch sứ mạng của Hội Thánh.
* Nhận diện những ưu tiên của chính bạn quan tâm đến sứ mạng của Hội Thánh.
* Xếp đặt những ưu tiên để sử dụng thì giờ cách tốt nhất.
* Thực hiện một thời biểu thực tế về những hoạt động của bạn đối với sứ mạng của mình.
Những hoạt động học tập
1. Nghiên cứu phần triển khai bài học và làm bài trắc nghiệm cá nhân theo sự chỉ dẫn ở bài 1.
2. Nhớ đọc hết những phần Kinh Thánh trích dẫn mà không có ghi ra đầy đủ trong bài học.
3. Kiểm tra lại những câu hỏi nghiên cứu và trắc nghiệm cá nhân bạn đã làm so với đáp án của chúng tôi.
Những chữ căn bản
Đánh giá
Sứ mạng
Trì hoãn
Ưu tiên
Triển khai bài học
LÀM SÁNG TỎ SỨ MẠNG CỦA CHÚNG TA.
Có một lời truyền khẩu nói rằng,” Không nhắm vào mục tiêu nào cả và đó đúng là điều mà bạn sẽ chạm phải” (Aim at nothing and that is exactly what you will hit). Trong nhiều Hội Thánh, một trong những bi kịch là mục sư và tín hữu của ông chẳng biết lý do của sự hiện hữu của họ. Trong hoàn cảnh này, Hội Thánh mất phương hướng và khá thường xuyên bị thu hút bởi nhiều hoạt động, lúc nào cũng bận rộn nhưng lại không có mục đích rõ ràng. Chúng ta có thể so sánh điều này với cái ghế xích đu. Nó cứ chuyển động nhưng chẳng đi đến đâu cả. Tại điểm này chúng ta phải hỏi,” tại sao Đức Chúa Trời đã lập một Hội Thánh trên quả đất nầy ?”. Tuy nhiên, trước khi chúng ta thảo luận về những ưu tiên, chúng ta phải định nghĩa sứ mạng của Hội Thánh để khám phá lý do hiện hữu của Hội Thánh. Bấy giờ định nghĩa này sẽ giúp chúng ta lên kế hoạch cho thì giờ của mình cách thích hợp.
Mục tiêu 1: Mô tả sứ mạng tam diện của Hội Thánh về nhận diện những phương cách mà Hội Thánh bạn sẽ thực hiện sứ mạng này.
SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH.
Chúng ta cần tìm kiếm trong Kinh Thánh để thấy một sự mô tả toàn diện sứ mạng của Hội Thánh. Kinh Thánh khải thị rằng chúng ta chịu trách nhiệm một số việc nếu chúng ta muốn hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời. Khi xem xét những lãnh vực trách nhiệm này, tôi sẽ trích dẫn một số câu Kinh Thánh căn bản cho mỗi mục. Tôi cũng động viên bạn nên tìm đọc những đoạn có liên quan khác và thực hiện một nghiên cứu về sự hiểu sứ mạng của bạn thế nào sẽ hướng dẫn những ưu tiên của bạn. Khi bạn đọc những đoạn này, hãy đánh giá xem Hội Thánh bạn đã thực hiện mỗi khía cạnh của sứ mạng đến mức độ nào. Từ những phân đoạn này, chúng ta hãy cố gắng trả lời: sứ mạng của Hội Thánh là gì?
Sứ mạng liên quan đến ĐỨC CHÚA TRỜI.
Trong mối liên hệ với đức chúa trời hội thánh là một tập thể hợp nhất trong đó con người có thể thờ phượng Đức Chúa Trời. Có những ưu tiên mà chúng ta cần trình bày nếu chúng ta muốn hoàn thành khía cạnh này của sứ mạng.

1. Thờ phượng Đức Chúa Trời trong Thánh Linh và trong lẽ thật.” Đức Chúa Trời là Linh, và những người thờ phượng Ngài phải thờ trong tâm linh và trong lẽ thật” (GiGa 4:24).

2. Duy trì mối thông công liên tục với Đức Chúa Trời.” Nhưng nếu chúng ta bước đi trong ánh sáng, như Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta thông công với nhau và huyết của Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi điều gian ác của chúng ta” (IGi1Ga 1:7). Xem thêm Eph Ep 4:15-16.

3. Chia sẻ trong chức vụ cầu thay.” Cùng một cách ấy, Thánh Linh giúp đỡ sự yếu đuối của chúng ta. Chúng ta chẳng biết mình phải cầu nguyện điều gì nhưng chính Thánh Linh cầu thay cho chúng ta”(RoRm 8:26). Một lời khuyên quan trọng khác là: “ và hãy cầu nguyện trong Thánh Linh trong tất cả mọi trường hợp với mọi loại cầu nguyện và nài xin. Với điều này trong trí mình phải thức canh và luôn luôn tiếp tục cầu nguyện cho tất cả thánh đồ” (Eph Ep 6:18).

4. Thuận phục Đức Thánh Linh để Ngài bày tỏ trọn vẹn những ân tứ và bông trái của Ngài.” Sự bày tỏ của Thánh Linh được ban cho mỗi người để ai nấy
đều được ích lợi chung” (ICo1Cr 12:7, 14). Cũng xem GaGl 5:22-25 và CoCl 3:12-15.
Sứ mạng liên quan đến các TÍN HỮU.
Sứ mạng của Hội Thánh liên quan đến các tín hữu là: trở nên một ống dẫn cho kế hoạch của Đức Chúa Trời xây dựng một thân thể các thánh đồ được hoàn thiện trong hình ảnh của Con Ngài. Những ưu tiên là:
1. Nuôi dưỡng một ý thức trách nhiệm hổ tương như những chi thể của thân thể Đấng Christ để hoàn thành sứ mạng của chúng ta.” Vì chúng ta là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời, anh em là ruộng của Đức Chúa Trời, là nhà của Đức Chúa Trời ... thân thể là một đơn vị, dù nó được tạo dựng bởi nhiều phần, và dù tất cả các phần của thân thể có nhiều, nhưng chúng hình thành một thân thể. Đối với Đấng Christ cũng vậy” (ICo1Cr 3:9; 12:12). Cũng xem thêm ở Eph Ep 4:11-16; Phi Pl 1:3-5 và IITe 2Tx 3:1.
2. Sử dụng lời của Đức Chúa Trời cả trong Hội Thánh lẫn trong giờ tĩnh nguyện cá nhân.” Hãy để lời của Đấng Christ ngự trị trong anh em cách dư dật để khi anh em dạy dỗ và khuyên bảo người khác đầy sự khôn ngoan, và khi anh em hát thi thiên, thánh ca và những bài hát thuộc linh với lòng biết ơn Đức Chúa Trời” (CoCl 3:16) và” Giống như trẻ sơ sinh, anh em khao khát sữa thuộc linh tinh khiết để anh em có thể lớn lên trong sự cứu rỗi của mình” (IPhi 1Pr 2:2). Xem thêm Mat Mt 4:4 và IITi 2Tm 3:14-17.
3. Nhìn nhận ý nghĩa lời tiên tri của thời đại chúng ta.” Còn anh em hãy kiên nhẫn và đứng vững vì sự trở lại của Chúa chúng ta gần rồi” (Gia Gc 5:8). Hãy tỉnh thức về ngày Chúa trở lại,” vì anh em biết rất rõ ràng ngày của Chúa sẽ đến giống như kẻ trộm trong ban đêm” (ITi1Tm 5:2). Tĩnh thức về ngày Chúa trở lại và đề cao cảnh giác trước sự tấn công của ma quỉ trong những ngày cuối cùng được mô tả trong IITi 2Tm 3:1-5. Xem thêm LuLc 21:24-33; ITe1Tx 4:16-17; IITi 2Tm 3:1-5.
4. Giữ gìn những giá trị vĩnh cữu. Vì” tất cả chúng ta đều phải trình diện trước tòa án đoán xét của Đấng Christ” (IICo 2Cr 5:10-11), chúng ta phải hết sức làm công việc của Đức Chúa Trời. Xem thêm RoRm 14:10-12.

Sứ mạng liên quan đến THẾ GIỚI. Sứ mạng của Hội Thánh liên quan đến thế giới là: trở nên công cụ đại diện của Đức Chúa Trời để truyền giảng cho thế giới. Những ưu tiên là:
1. Truyền giảng vì nhu cầu đầu tiên của con người là tái sanh. Sự cứu rỗi dành cho người hư mất là ưu tiên số một, và tiếp theo là sự cải thiện về mặt xã hội. Chúa đã công bố mạng lịnh này,” nếu một người chẳng sanh lại, người ấy không thể thấy Vương quốc của Đức Chúa Trời” (GiGa 3:3). Hội Thánh phải công bố sứ điệp” Nếu ai ở trong Đấng Christ, người ấy là một tạo vật mới, sự cũ qua đi, mọi sự đều trở nên mới !” (IICo 2Cr 5:17). Xem thêm RoRm 3:20-25 và Tit Tt 3:5.
2.. Quí trọng linh hồn con người mà Đấng Christ chịu chết thay.” Vì anh em biết rằng không phải bằng những vật dễ hư hoại như bạc hoặc
vàng mà anh em đã được chuộc khỏi lối sống trống rỗng do tổ tiên truyền lại nhưng bằng huyết báu của Đấng Christ là Chiên Con không tì vít không lỗi lầm” (IPhi 1Pr 1:18-19). Xem thêm Mac Mc 8:35-37; GiGa 3:16 và KhKh 21:8.
3. Ý thức bi kịch của những linh hồn bị hư mất đời đời.” Ai không tin thì đã bị đoán phạt rồi, vì người ấy không tin Danh con độc sanh của Đức Chúa Trời” (GiGa 3:18).” Những kẻ không tin...phần của chúng nó ở nơi hồ lửa diêm sinh cháy bừng bừng. Đó là sự chết thứ hai” (KhKh 21:8). Cũng xem Mac Mc 9:43, LuLc 16:19-31 và KhKh 20:11-15.
4. Khẩn đảo sự ban cho của Thánh Linh để chinh phục người hư mất.” Các con sẽ nhận lãnh quyền năng khi Thánh Linh giáng trên các con, và các con sẽ trở nên những chứng nhân của ta...cho đến những miền tận cùng trái đất” (Cong Cv 1:8. Xem thêm GiGa 15:26-27; Cong Cv 2:1-41 và 8:26-39).
(1) Xếp đặt cho phù hợp yếu tố sứ mạng của Đức Chúa Trời dành cho Hội Thánh (phải) và mô tả phương cách mà Hội Thánh hoàn thành khía cạnh đó của sứ mạng (trái).
1). Một tập thể để thờ phượng.
2). Một ống dẫn của mục đích Đức Chúa Trời.
3). Một công cụ của sự truyền giảng
.....a. Thách thức những tín hữu xây dựng một tập thể các thánh đồ với bản chất trọn vẹn trong hình ảnh của Đấng Christ.
.....b. Cung ứng sự khích lệ về mối thông công với Đức Chúa Trời và cầu thay.
.....c. Tìm kiếm lời của Đức Chúa Trời để được dạy dỗ và làm thức ăn cho đời sống thuộc linh.
.....d. Ý thức sự khẩn cấp của việc chinh phục người hư mất và cứu họ ra khỏi sự phân rẽ đời đời với Đức Chúa Trời.
.....e. Giảng sứ điệp đầu tiên về sự cứu chuộc qua huyết Chúa Jêsus và sau đó chăm nom những nhu cầu về mặt xã hội.
(2) Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê những cách khác nhau trong đó Hội Thánh của bạn đã xếp đặt những mình
Mục tiêu 2: Nhìn nhận vai trò của mục sư trong việc xếp đặt những ưu tiên để giúp Hội Thánh hoàn thành sứ mạng của mình.
MỐI QUAN HỆ CỦA MỤC SƯ ĐỐI VỚI SỨ MẠNG.
Tại điểm này, điều quan trọng là làm sáng tỏ vai trò của mục sư trong mối quan hệ đối với sứ mạng của Hội Thánh. Cả hai như là một cá nhân và là một lãnh đạo, là người hiểu biết rõ ràng về sứ mạng của Hội Thánh. Ông là người phải truyền đạt sứ mạng này cho toàn thể hội chúng. Mục sư phải hiểu được sứ mạng của Hội Thánh mới xác định được tiêu điểm chính của Hội Thánh và loại hoạt động mà Hội Thánh sẽ đảm trách.
Với sự hướng dẫn của mục sư mỗi Hội Thánh phải xác định những ưu tiên của chính mình trong trách nhiệm. Thật không phải lẽ cho một Hội Thánh chỉ bắt chước những gì Hội Thánh khác làm. Là một mục sư bạn sẽ phải cầu nguyện để có một khải tượng thích hợp cho sứ mạng này. Bấy giờ bạn mới có thể vạch một hướng đi và hoàn thành những gì Đức Chúa Trời dự kiến. Chúng ta hãy khảo sát những bước sau đây để bạn có thể truyền đạt khải tượng của mình cho Hội Thánh và thực hiện một kế hoạch.
1. Duy trì một sự phục vụ cân đối. Khi bạn xem sứ mạng của Hội Thánh là tất cả, bạn có thể tránh sự nhấn mạnh quá nhiều về một hướng và loại trừ hướng kia. Như đã nói ở bài 8, một mục sư có thể hướng về sự truyền giảng. Chẳng hạn, trong trường hợp của bạn nếu bạn hoàn toàn chú trọng việc truyền giảng, đều này có thể chuyên môn hóa Hội Thánh. Nếu vậy, bạn làm gì với những người đã được truyền giảng rồi ? Bạn chỉ giảng những bài về truyền giảng sao ? Không, dĩ nhiên là không ? Những Cơ đốc nhân trưởng thành cần những thức ăn thuộc linh tiêu biểu cho một thực đơn thuộc linh khác (HeDt 5:11-14). Sự nghiên cứu Tân ước sẽ giúp bạn đi vào một chức vụ cân đối. Bạn sẽ thấy từ sự dạy dỗ cân đối qua những đoạn Kinh Thánh này rằng Hội Thánh không phải chỉ hiện hữu để truyền giảng hoặc bất cứ chỉ một loại chức vụ nào khác. Hội Thánh cần một hoạt động mạnh, cân đối cho tất cả những người ở trong gia đình của Đức Chúa Trời với các giai đoạn tăng trưởng thuộc linh khác nhau.
2. Tạo những hoạt động có chủ đích. Mục tiêu những hoạt động của Hội Thánh là phải hoàn tất sứ mạng của Hội Thánh. Không lý do nào tổ chức hoạt động chỉ để người ta bận rộn mà thôi. Mục tiêu và mục đích của mỗi hoạt động trong Hội Thánh phải là chinh phục người hư mất, huấn luyện những người đã tiếp nhận Đấng Christ và phát triển tất cả dân sự của Đức Chúa Trời cho công việc của Ngài và sự phục vụ.
3. Đầu tư các nguồn tài nguyên cách khôn ngoan. Biết được nguồn tài nguyên là bước đầu cho mục sư. Dưới sự hướng dẫn của mục sư, Hội Thánh phải biết các nguồn tài nguyên có sẵn nào về con người, tiền bạc và vật liệu. Mục sư dẫn dắt Hội Thánh nhận diện những mục tiêu, xếp đặc những ưu tiên và sử dụng các nguồn tài nguyên cách lợi ích nhất.
4. Đánh giá các mục tiêu. Bạn có thể đánh giá các hoạt động của mình khi bạn thiết lập những mục tiêu và làm rõ nét mục đích. Có những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn. Mỗi lần đặt mục tiêu, hãy hạn định thời gian hoàn thành mục tiêu ấy. Khi đến hạn cuối của giai đoạn ấy, bạn có thể đánh giá những cố gắng của mình. Bạn đã hoàn thành chỉ tiêu của mình chưa ? Bạn có đặt những ưu tiên của mình đúng cách thích đáng không ? Bạn đã hoàn tất điều gì ? Bạn thất bại chỗ nào ? Bạn cải thiện làm sao ? Đây là những câu hỏi mà bạn sử dụng để đánh giá.
Đó là trách nhiệm của người chăn bầy khi lãnh đạo bầy chiên và giúp bầy hoàn thành sứ mạng của chúng. Mục sư nên xếp các chỉ tiêu cá nhân cho cuộc đời và chức vụ của mình với sứ mạng tam diện của Hội Thánh.
(3) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Mục sư xếp đặt những ưu tiên để giúp Hội Thánh hoàn thành sứ mạng của mình khi ông:
a. Thường xuyên họp những nhân viên hoặc ban lãnh đạo Hội Thánh để xét lại giá trị các chương trình và hoạt động của Hội Thánh, để lập những kế hoạch tương lai và đặt chỉ tiêu cho những ban ngành khác nhau.
b. Tổ chức những buổi truyền giảng vào mỗi cuối tuần vì có sự đáp ứng tốt với sứ điệp cứu rỗi và ông chỉ nhấn mạnh về truyền giảng trong chương trình của Hội Thánh.
c. Tổ chức một lớp cá nhân chứng đạo, đặt chỉ tiêu cho thời gian sử dụng để làm chứng và phân chia khu vực cho mỗi người tham dự đi ra làm chứng về Phúc âm.
d. Chỉ định một mục sư phụ tá trẻ giảng một tháng hai lần và giúp đỡ ông phát triển loại bài giảng giải kinh và một kế hoạch giảng để bao quát toàn bộ hoạt động của Hội Thánh.
e. Giữ giới trẻ của Hội Thánh bận rộn, biết rằng lười biếng có thể dẫn đến nhiều nan đề.
(4) Mỗi câu trong bài tập (3), hãy viết vào sổ tay của bạn bước nào trong việc lập những ưu tiên mà mục sư thực hiện hay không thực hiện.
Mục tiêu 3: Phân tích cách nào bạn sử dụng thì giờ của mình, và nhận diện những điều bạn cần
CÁCH SỬ DỤNG THÌ GIỜ.
Có bao nhiêu lần bạn đã nói” Ước gì có thêm thì giờ mình sẽ làm công tác tốt hơn !”. Chúng ta hoàn tất sứ mạng của mình tốt đẹp bao nhiêu tùy thuộc nhiều vào cách sử dụng tốt thì giờ của chúng ta bấy nhiêu. Trong khi thông thường có lẽ bạn ước ao mình có thêm thì giờ, mà rõ ràng là ai cũng có một số lượng thì giờ như nhau. Vậy tại sao dường như có một số người làm được nhiều việc hơn, còn những người khác đang kéo lê đàng sau mình những công việc chưa làm xong ? Mỗi tuần có 168 giờ. Mỗi ngày có 24 giờ. Một người trung bình có thể chia chu trình 24 giờ thành 3 phần:
1. Tám giờ làm việc.
2. Tám giờ để ngủ.
3. Tám giờ cho các hoạt động khác như ăn uống, tập thể dục, đi lại, làm công tác xã hội và những nhu cầu khác.
Là mục sư, bạn sử dụng chu kỳ 24 giờ của bạn như thế nào ? Bạn phải chịu trách nhiệm về việc xếp đặt thời gian biểu của mình. Bạn có trọn quyền tự do lập kế hoạch cho thì giờ của mình. Thật vậy bạn hoàn toàn tự do sắp xếp thì giờ của chính bạn. Đôi khi nhiều mục sư lại thích sự tự do này nhiều đến nỗi họ phung phí thì giờ của họ trong những hoạt động không kết quả và nó phản tác dụng đối với chức vụ của họ. Bạn không những có quyền tự do trong việc lập kế hoạch sử dụng thì giờ của mình, nhưng bạn còn phải chịu trách nhiệm về điều đó nữa. Bạn có biết cách sử dụng thì giờ của bạn không ? Đôi khi những ngày hoặc những tuần qua đi và chúng ta chẳng có thể kiểm chứng lại những gì mình đã làm trong thì giờ đó. Có người đã phỏng tính, trung bình quãng đời của một người bảy mươi tuổi, đã sử dụng thì giờ của mình như sau:
3 năm lo việc học hành.
8 năm vui chơi.
6 năm ăn uống.
5 năm đi lại.
4 năm nói chuyện.
14 năm làm việc.
3 năm đọc sách.
24 năm ngủ.
3 năm dưỡng bịnh.
Bạn có thể dễ dàng thấy thì giờ của một người đi vào nơi nào nhiều nhất. Trong phần tới bạn sẽ xem xét vài cách xếp đặt và tính toán phương cách bạn sử dụng thì giờ của bạn.
PHÂN TÍCH VIỆC SỬ DỤNG THÌ GIỜ.
Một dụng cụ rất đơn giản sẽ giúp bạn khám phá ra cách mình thật sự sử dụng thì giờ là Bảng Phân Tích thì giờ. Bảng này phát họa cho bạn để xác định cho mình cách sử dụng thì giờ của bạn. Làm bài tập sau đây, cẩn thận làm theo những chỉ dẫn.
(5) Dùng Bảng phân tích thì giờ ở trang kế, cứ 30 phút có một khoảng cách. Viết tóm gọn những hoạt động của bạn trong 3 ngày. Dùng những chữ tắt mà bạn có thể hiểu được. Ở mỗi ô viết đúng những gì bạn đã làm, và thời gian thật sự bạn sử dụng. Phải viết hết mọi việc bạn làm. Theo mẫu đó kẻ thêm 2 trang nữa. Nếu để nửa giờ ngồi bên cửa sổ nhìn người ta qua lại, cũng viết vào đúng như thế.
Sau khi bạn đã làm bài tập ở trên, và có một bảng ghi chép của 5 ngày, tổng kết tài liệu phát hiện của bạn và lặp lại bài tập này một tuần sau đó.
NHẬN DIỆN NHỮNG THÌ GIỜ PHÍ PHẠM.
Từ bảng phân tích thì giờ bạn sẽ dễ dàng thấy những thì giờ phí phạm. Đây là những hoạt động không sinh lợi đã” ăn” mất thì giờ của bạn. Dưới đây liệt kê một số có thể là thì giờ phí phạm. Có điều nào trong bảng phân tích thì giờ của bạn không ?
1. Mộng tưởng. Vì mục sư có nhiều dự án” quan trọng” khác nhau, nên rất nguy hiểm cho mục sư mơ màng nghĩ đến sự hoàn thành, hoặc những điều khác lớn hơn mà ông khao khát đạt kết quả. Nếu bạn cho phép điều này là một trong những mối bận tâm của mình, thì bạn sẽ thấy rằng mình chẳng làm xong gì cả ngoài mộng tưởng hão huyền (day dream). Bạn không giải quyết vấn đề nào cũng chẳng hoàn tất điều gì qua mộng tưởng. Dĩ nhiên, bạn biết có sự khác nhau giữa mộng tưởng và suy nghĩ (refleet). Bạn nên suy nghĩ về những gì mình cần làm, những gì mình đã đọc và những gì mình đã nghe. Tuy nhiên điều này khác hẳn với việc nhìn chằm chằm ra cửa sổ như chúng ta ghi nhận trong bài 3, khi chúng ta thảo luận về sự suy nghĩ và sự suy gẫm (meditation).
2. Những mục tiêu không rõ ràng. Khi bạn không biết mình muốn hoàn tất điều gì, bạn thường cứ làm, cứ làm. Kết quả, cuối ngày bạn không thực sự hoàn thành điều đáng kể nào cả.
3. Sự hòa nhập với xã hội kéo dài, không cần thiết. Thường thường các mục sư yêu mến con người vì thế ông thích nói chuyện và hòa nhập với xã hội. Đó là đức tính tốt vì bạn không muốn tách rời khỏi quần chúng. Tuy nhiên, sự hòa nhập không cần thiết mà kéo dài nhiều giờ, đặc biệt với một số người như nhau, có thể đánh mất thì giờ hữu ích của bạn. Hơn nữa, nó sẽ ngăn trở bạn không thực hiện những nhiệm vụ quan trọng hơn, đơn giản là những công việc ấy sẽ chẳng hoàn tất được.
4. Sự ủy thác không phù hợp. Có một số công việc thiết yếu của công tác mục sư, như soạn bài giảng, bạn không thể giao cho ai khác. Tuy nhiên, có nhiều công tác khác có thể cột chặt thì giờ của bạn trong sự bận rộn, chẳng hạn như những công việc lẻ tẻ hoặc việc vặt. Mặc dù những công việc bé nhỏ ấy có thể quan trọng, nhưng bạn có thể ủy thác cho người khác làm được. Thật là nguy hiểm cho bạn nếu bạn trở thành dính chặt trong loại công việc bận rộn bởi vì nó gây cho bạn một cảm giác chưa hoàn tất. Thêm vào đó, sự ủy thác không phù hợp sẽ cướp mất năng lực của bạn và bạn không còn thì giờ để dành cho những phần thiết yếu của chức vụ bạn. Trong khi đó bạn không khả năng chuẩn bị tốt cho chức vụ ưu tiên dành cho hội chúng của bạn.
5. Sự trì hoãn. Thói quen bỏ trôi công việc là một vấn đề thường xảy ra. Mọi nơi người ta đều phải chống lại khuynh hướng trì hoãn những nhiệm vụ không mang lại phần thưởng hay thú vị như những công tác khác. Đối với mục sư có thể là thăm viếng một người nào đó. Dù dưới hình thức nào, cũng có thể có những hệ quả tai hại. Chẳng hạn, vào thứ hai bạn biết là mình phải đi thăm một người đã vắng mặt hai tuần không đi nhóm, nhưng bạn lại dời việc đó qua ngày mai. Giữa tuần lễ người ấy chết và bạn cảm thấy buồn bã và xấu hổ. Bạn cũng trì hoãn việc soạn bài giảng và bài học Kinh Thánh. Bạn cứ tiếp tục để qua một bên số dự án này cho đến ngày thứ sáu bạn cuống cuồng vì lo lắng. Nếu bạn trở thành nạn nhân của khuynh hướng này, thì chắc chắn bài giảng của bạn trong ngày Chúa nhật sẽ nghèo nàn lắm.
(6) Xem lại bảng phân tích thì giờ lần nữa và ngẫm nghĩ lại thời gian hai tuần qua. Có những thời gian phí phạm nào mà đã cướp mất thì giờ quí báu của bạn không ? Nếu có, trong cuốn sổ tay, hãy ghi ra nan đề của bạn và phác thảo một kế hoạch để vượt qua.
(7) Nếu tôi cảm thấy không ai có thể làm công tác tốt như tôi, tôi có thể phí phạm thì giờ vì:
a. Sự trì hoãn.
b. Những mục tiêu không rõ ràng.
c. Sự kém hiệu năng.
d. Sự ủy thác không phù hợp.

XẾP ĐẶT NHỮNG ƯU TIÊN CHO CÔNG VIỆC.
Bây giờ chúng ta đã nhận diện được một số thời gian phung phí đã cướp mất thì giờ quí báu của bạn, chúng ta hãy xem thử bạn có thể làm gì để giúp bạn sử dụng thì giờ của mình cách tốt nhất.
Thời gian biểu và cách chia thì giờ.
Bạn đã quyết định rằng mục tiêu của mình là hoàn thành sứ mạng mà Đức Chúa Trời đã nung đốt trong lòng bạn. Ngay cả bạn phải giữ sự cảm thúc về sứ mạng nóng cháy này bằng sự đầu phục Đức Chúa Trời một cách mới. Sứ mạng của Hội Thánh lớn đến nổi đôi khi chúng ta khó nhận thức rằng những vấn đề đơn giản, chẳng hạn như một thời gian biểu, là những phương tiện giúp chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Chúng ta sẽ liệt kê ở đây những nguyên tắc và những gợi ý thực tiễn để giúp bạn quản lý thì giờ của bạn tốt hơn. Vì những nền văn hóa khác nhau có những quan điểm khác nhau về thời giờ nên đây là những hướng dẫn có thể áp dụng khắp mọi nơi. Trước hết đây là một vài câu đơn giản hướng dẫn việc sử dụng thì giờ của chúng ta:
1. Phải là người quản lý tốt thì giờ. Các quản gia tốt được đòi hỏi phải trung thành (ICo1Cr 4:4). Đây là tất cả nền tảng cho việc sử dụng thì giờ của chúng ta. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta thì giờ để sử dụng cách hữu ích. Đây là một sự kiện phổ quát của Kinh Thánh. Không kể đến khuynh hướng văn hóa khi bạn là mục sư có thái độ này, thì ưu tiên của bạn sẽ là sử dụng mỗi phút cho Đức Chúa Trời và mục đích của Ngài.
2. Lập những chỉ tiêu. Như đã đề cập ở phần đầu của bài này, Hội Thánh phải có mục đích cho những chỉ tiêu dài hạn và ngắn hạn. Một khi bạn lập những chỉ tiêu này, bạn có thể lên kế hoạch cho những chỉ tiêu hằng ngày, hàng tuần, hàng tháng và hàng năm.
3. Lập thời gian biểu. Lập thời gian biểu và kế hoạch để đáp ứng nhu cầu của bạn. Khi bạn có một hệ thống chạy đều, hãy sử dụng nó.
Một thời gian biểu hằng tuần.
Khi bạn lập một thời gian biểu, bạn phải xếp đặt các ưu tiên dựa theo lượng thời gian bạn cần cho những hoạt động nào đó. Một mục sư cần phải xem xét cách mình sử dụng thì giờ cho:
1. Những sử dụng thiết yếu.
2. Những sử dụng thứ yếu.
3. Những sử dụng không bắt buộc (uyển chuyển).
Hãy xem bảng gợi ý thời gian biểu hàng tuần ở trang sau. Bạn có thể thấy rằng nghiên cứu học hỏi và phát triển thuộc linh chiếm hầu hết thời gian. Rõ ràng những điều này rất cần thiết cho đời sống bạn. Đây là ưu tiên thứ nhất trong thì giờ của bạn. Mẫu này có thể thích hợp với nhu cầu của bạn. Vì vậy nếu bạn chưa lập một thời gian biểu hàng tuần cho bạn, thì bây giờ hãy lập đi, đó là một đầu tư thì giờ khôn ngoan.
1. Lập một thói quen làm những công việc thường lệ vào một thì giờ nhất định mỗi ngày. Thói quen ấy sẽ giúp bạn tiết kiệm nhiều phút quí báu mỗi ngày. Thêm vào đó, phân loại những công việc thường xuyên khác nhau và xếp chúng lại với nhau thành cụm.
2. Lập những thời hạn cuối cùng cho chính mình. Chẳng hạn có một mục sư định một qui tắc là những bài giảng của ngày Chúa nhật phải được soạn xong vào trưa thứ năm. Khi bạn đọc một cuốn sách, hãy định một thời gian mà bạn mong muốn đọc xong.
3. Cho phép sự gián đoạn. Thời gian biểu là một dụng cụ, là một tên nô lệ, để phục vụ bạn, chứ không phải là chủ của bạn. Có những lúc Đức Chúa Trời sai người ta đến với bạn cách bất ngờ. Đừng bực bội về điều đó ! Hãy rộng mở đối với sự ngắt quãng của Đức Chúa Trời, nhưng đừng để bị bối rối bởi mọi sự kéo theo sau.
4. Học biết nói” không”. Tránh trở thành một người sưu tầm công việc. Là mục sư, bạn là một đầy tớ để mang sứ điệp từ Đức Chúa Trời, chứ bạn không phải là một cậu bé chạy việc vặt cho mỗi một tổ chức trong Hội Thánh.
5. Lên bảng giờ giấc cho gia đình bạn. Đây là một điều bi thảm nhất nếu bạn liên tục bỏ gia đình bạn qua một bên. Sau khi giảng dạy cho nhiều người, chớ liều lĩnh để mất chính gia đình bạn.
6. Giữ sự cân đối lành mạnh trong thời dụng biểu của bạn. Bạn phải dành nhiều thì giờ nhất cho những công tác và những trách nhiệm quan trọng.
(8) Trong bảng thời gian biểu mẫu hàng tuần, hãy viết trong sổ tay của bạn một thời gian biểu hàng tuần đáp ứng nhu cầu của bạn.
(9) Theo thời gian biểu của bạn, hãy trả lời ngắn cho các câu hỏi sau:
a. Hoạt động nào bạn đã dành nhiều thì giờ nhất ?
b. Bạn có dành một ngày nghỉ không ? Tại sao bạn chọn ngày ấy ?
c. Tại sao bạn đã chọn giờ ấy để học tập và nghiên cứu ?
d. Thì giờ bạn dành cho gia đình có khả năng bị gián đoạn không ?
Khi chúng ta lập một thời gian biểu mỗi tuần, thì chúng ta có một kế hoạch để làm theo. Thay vì bị các sự cố trong ngày làm chủ, chúng ta nên cố kiểm soát các sự kiện càng nhiều càng tốt. Bạn có thể đánh giá liệu bạn có phải là người quản lý thì giờ tốt hay không qua việc nhìn vào thời gian bạn sử dụng.
Phiếu kế hoạch hàng tuần.
Để giúp bạn trong những chi tiết của các hoạt động hàng tuần và hàng ngày, hãy xem biểu mẫu 12.3 như một phiếu mẫu kế hoạch hàng ngày cho suốt một tuần. Hãy thận trọng để không trở thành bận tâm với việc giấy tờ, với việc liệt kê danh sách và thảo ra kế hoạch. Một dàn ý kế hoạch sẽ giúp bạn nhớ những giờ hẹn và sắp xếp thì giờ để bạn không trở lui theo lối cũ, hoặc quên các bổn phận có thể làm phung phí thì giờ. Nếu có một nhân sự làm trọn thì giờ để có thể điền vào những lần hẹn trong tuần của bạn thì tốt biết mấy. Nếu không, bạn tự làm lấy thôi.
(10) Sử dụng biểu mẫu 12.3, bạn hãy viết một kế hoạch hàng tuần thích hợp với thời gian biểu của bạn.
Kế hoạch hàng ngày.
Những chi tiết hàng ngày nào có thể không khớp với bảng thời gian biểu hàng tuần thì có thể viết trên một phiếu tương tự biểu mẫu 12.1. Tôi có một cuốn sổ tay nhỏ mang theo bên mình luôn, nhờ vậy tôi có cái nhìn rõ ràng về một ngày, nhắc nhở tôi những lần hẹn và giúp tôi đặt kế hoạch xa hơn ở phía trước.
(11) Bạn có làm kế hoạch hàng ngày không ? Kế hoạch đó có phục vụ bạn tốt không ? Nếu bạn chưa lập kế hoạch hàng ngày, thì hãy lập một bảng trong sổ tay của bạn cho hôm nay và ngày mai, sau đó lập một bảng thật giúp ích cho bạn để tiếp tục sử dụng.
Mục đích của những công cụ này là giúp bạn làm lợi cho Vương Quốc của Đức Chúa Trời mỗi ngày và mỗi tuần, tránh cho không quá chú trọng một số điều và sao lãng những điều chính yếu khác. Bạn có thể điều chỉnh những mẫu gợi ý trên để thích hợp các nhu cầu và hoàn cảnh của bạn.
(12) Mục đích hàng đầu của các thời gian biểu hay kế hoạch sử dụng thì giờ là để:
a. Chỉ ra thời gian nào bị phung phí.
b. Phục vụ như một công cụ cho sản xuất.
c. Tránh những sự gián đoạn.
d. Tăng thêm thì giờ trong ngày.
Dù rất bận rộn, nhưng vị mục sư khôn ngoan sẽ tìm cách giải quyết trước những vấn đề quan trọng và cần thiết. Điều đó sẽ giúp cho Hội Thánh hoàn thành sứ mạng của mình dưới sự hướng dẫn và chức vụ của ông. Kết quả là một chức vụ thành công, cảm động người ta và đem họ đến chỗ hoàn chỉnh.
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM.
CÂU HỎI LỰA CHỌN.
Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời, sứ mạng của Hội Thánh là phải trở nên một:
a. Phương tiện để gây dựng tín hữu trong Hội Thánh.
b. Tập thể nơi những tín hữu có thể thờ phượng Đức Chúa Trời.
c. Ống dẫn của sự giúp đỡ hỗ tương cho tín hữu.
d. Cộng đồng chia sẻ những phước hạnh.
2. Trong mối quan hệ với tín hữu, sứ mạng của Hội Thánh là:
a. Trở nên một ống dẫn của mục đích của Đức Chúa Trời để gây dựng tín hữu trong hình ảnh của Đấng Christ.
b. Phát huy mối thông công liên tục giữa những người trong hội chúng.
c. Trở nên một nguồn của những nhận thức thuộc linh.
d. Truyền giảng cho người hư mất.
3. Trong mối quan hệ với thế gian, sứ mạng Hội Thánh là:
a. Bày tỏ chức vụ cầu thay.
b. Duy trì mối thông công với Đức Chúa Trời.
c. Bày tỏ sự thờ phượng thuộc linh.
d. Trở nên một đại diện của Đức Chúa Trời để truyền giảng Phúc âm.
4. Truyền giảng là một ưu tiên của Hội Thánh vì:
a. Nhu cầu số một của con người là được tái sanh cách thuộc linh.
b. Là tập thể cần phục vụ.
c. Đó là một phần của chức vụ cầu thay.
d. Các tín hữu dự phần trong sự thờ phượng chung.
5. Một mục sư phải hiểu sứ mạng của Hội Thánh để:
a. Thách thức các tín hữu đặt những chỉ tiêu.
b. Có một chức vụ giảng dạy năng động.
c. Quyết định những ưu tiên cho Hội Thánh.
d. Chống lại những giáo sư giả.
6. Muốn làm một bước trong việc đặt những ưu tiên đúng, một mục sư phải:
a. Giữ các tín hữu tham gia vào những sinh hoạt.
b. Chỉ định người phụ tá để định ra các mục tiêu.
c. Chỉ định những chấp sự đánh giá các tài nguyên của Hội Thánh.
d. Duy trì một chức vụ giảng cân đối.

CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào khoảng trống trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG, viết chữ S nếu câu đó SAI. Trên hàng kẻ tiếp sau, viết lại cho đúng mỗi lời diễn đạt sai.
.....7. Vài mục sư có thể hoàn tất được nhiều công tác hơn vì họ có nhiều thì giờ hơn. Vài mục sư có thể hoàn tất được nhiều công tác hơn vì
.....8. Một yếu tố góp phần cho nổ lực truyền giảng không thành công là vì có những mục tiêu không rõ ràng. Một yếu tố góp phần cho nổ lực truyền giảng không thành công
.....9. Định thời hạn cuối cùng cho những dự án của một người thường đem lại kết quả là thất vọng và phí thì giờ. Định thời hạn cuối cùng cho những dự án của một người thường đem lại kết quả là
.....10. Một sự quân bình lành mạnh được tìm thấy trong thời gian biểu của một mục sư khi ông dành hầu hết thì giờ của mình vào những hoạt động thích thú nhất. Một sự quân bình lành mạnh trong thời gian biểu của một mục sư cung ứng hầu hết thì giờ vào

GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU. (1) a. 2) một ống dẫn của mục đích.
b. 1) một tập thể cho sự thờ phượng.
c. 2) một ống dẫn của mục đích.
d. 3) một đại diện của sự truyền giảng.
e. 3) một đại diện của sự truyền giảng.
(2) Câu trả lời của bạn. Có lẽ bạn sẽ liệt kê những cách người ta được dạy dỗ và khuyến khích để thờ phượng và chia sẻ trong sự cầu thay; thế nào bạn đặt trước họ những mục đích của Hội Thánh như là thân thể của Đấng Christ, và các cách nhấn mạnh những thách thức cho sự truyền giảng.
(3) a, c, và d là những câu hoàn chỉnh đúng.
(4) a. Ông ấy đang hành động theo từng bước xếp đặt và đánh giá những mục tiêu.
b. Ông ấy không duy trì một chức vụ cân đối.
c. Ông ấy đang làm cho những hoạt động có mục đích rõ ràng.
d. Ông ấy sử dụng nguồn năng lực cách khôn khéo, đồng thời cũng giúp duy trì một chức vụ cân đối.
e. Ông ấy không làm cho những hoạt động trở nên hữu ích.
Mục tiêu của hoạt động phải quan trọng hơn việc chỉ khiến người ta bận rộn.
(5) Câu trả lời của bạn. Ghi lại những gì bạn làm để bạn có thể nhận diện các bước cần cải thiện trong việc sử dụng thì giờ của bạn.
(6) Câu trả lời của bạn. Bạn có một khó khăn nào trong việc trì hoãn không ? Có lẽ việc nhận ra và lập kế hoạch cho mỗi ngày sẽ giúp bạn vượt qua thói quen này.
(7) d) sự ủy thác không phù hợp.
(8) Câu trả lời của bạn. Chắc chắn bạn ghi ra hết những gì bạn phải làm.
(9) a. Các câu trả lời của bạn. Thường thường nghiên cứu học hỏi chiếm nhiều thì giờ nhất.
b. Ngày nào không thành vấn đề nhưng điều thiết yếu cho bạn là phải nghỉ một ngày. Nhiều mục sư thích ngày thứ hai, nhưng một ngày khác cũng thuận lợi cho những người khác vậy.
c. Bạn thường định giờ nghiên cứu học hỏi vào lúc tâm trí mình tươi mới nhất. Đối với hầu hết nhiều người đó là những giờ sáng sớm. Các mục sư cần bắt đầu sớm cho ngày mới của mình. Mỗi sáng John Wesley thức dậy lúc 4 giờ để dành 2 tiếng đồng hồ cho sự cầu nguyện và suy gẫm. Ông nói” Tôi có rất nhiều việc phải làm đến nỗi tôi phải dành vài giờ để cầu nguyện trước khi có thể làm những việc đó”.
d. Chọn một thì giờ mà các gián đoạn không chắc xảy ra. Trường hợp khẩn cấp có thể xảy đến, nhưng cố gắng bù lại các gián đoạn đó.
(10) Câu trả lời của bạn. Kế hoạch của bạn phải chỉ rõ rằng những ưu tiên của bạn được xếp đúng thứ tự.
(11) Câu trả lời của bạn.
(12) b) phục vụ như một công cụ cho sản xuất.
HUẤN LUYỆN.
Trong bài 12, chúng ta chú trọng về sự sắp xếp những ưu tiên. Chúng ta thấy rằng mục sư phải có một sự thông suốt về sứ mạng của Hội Thánh trước khi ông có thể lập một bảng sắp xếp ưu tiên tốt đẹp. Ông cũng phải hết sức chú ý vào việc sử dụng thì giờ, và phải sẳn sàng tiến hành những bước sữa chữa bất cứ vấn đề nào trong bảng tự phân tích của mình chỉ ra. Sau khi có cái nhìn rõ ràng về sứ mạng của Hội Thánh và sự hiểu biết về một kế hoạch làm việc có hiệu quả, mục sư mới có thể xếp đặt những ưu tiên. Điều này đưa chúng ta đến vấn đề huấn luyện - sửa soạn tín hữu cho công tác phục vụ trong Hội Thánh.
Trong một thời đại đánh dấu bằng sự thay đổi nhanh chóng, thì sự sống của Hội Thánh phải theo những mẫu mực của Kinh Thánh nếu muốn Hội Thánh tồn tại. Hội Thánh không thể giả bộ làm ra vẽ như hướng dẫn những buổi thờ phượng mỗi tuần. Mỗi Hội Thánh phải hướng các tín hữu vào mục tiêu xây dựng Vương Quốc của Đức Chúa Trời. Mục sư phải có một khải tượng vững vàng. Ông cũng cung cấp sự lãnh đạo thuần túy theo Kinh Thánh và ngay cả thích nghi với đương thời khi ông cố gắng giúp đỡ mọi người phát huy tiềm năng của họ như là những thành viên của thân thể. Ngày nay Đức Chúa Trời đang cung ứng những tín hữu có khả năng, nhiều người rất nhiệt tình để có một phần việc tích cực. Nhiều người học thức uyên thâm và họ cần được thách thức để nhìn nhận những ân tứ họ có và giúp đạt được mục tiêu của thân thể.
Trong bài 13, chúng ta sẽ học về một trong những khía cạnh thú vị nhất của sự lãnh đạo của mục sư: Sự phát triển các cấp lãnh đạo. Một số người định nghĩa lãnh đạo là” Bất cứ sự góp phần nào đến từ bất kỳ thành viên nào trong nhóm để đạt được những mục tiêu của nhóm”. Chúa ban những ân tứ cho Hội Thánh để bổ sung cho tất cả những khả năng thuộc linh cần thiết cho sự tăng trưởng. Ước mong bạn nhìn nhận trách nhiệm của bạn như một lãnh đạo của bầy chiên và giúp mỗi một tín hữu sử dụng ân tứ của họ để gây dựng Hội Thánh.
Dàn ý bài học
Ôn lại những ý niệm về Hội Thánh.
Chuẩn bị tín hữu để họ phục vụ.
Huấn luyện cho sự phục vụ.
Những mục tiêu của bài học
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Nhận diện những ý niệm của Kinh Thánh về sự phục vụ trong Hội Thánh.
* Nhìn nhận rằng những ân tứ thuộc linh không phải là độc quyền của một số ít có đặc quyền đặc lợi.
* Khảo sát chức vụ của bạn trong việc sửa soạn tín hữu để họ phục vụ.
* Aùp dụng những nguyên tắc ủy thác nhiệm vụ cho người khác.

Những hoạt động học tập
1. Nghiên cứu bài theo sự chỉ dẫn ở bài 1.
2. Nhớ xem ở phần Chú Giải Thuật Ngữ ý nghĩa của bất cứ từ căn bản nào mà bạn chưa biết rõ.
3. Đọc tất cả những câu Kinh Thánh trích dẫn mà không ghi ra đủ câu trong bài học. Điều này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn bản văn đang học.
4. Làm bài trắc nghiệm và kiểm tra lại các câu trả lời của bạn so với đáp án. Nhớ sửa lại câu nào bạn đã trả lời sai.
Những chữ căn bản
Triển khai bài học
Mục tiêu 1: Phân biệt những ý niệm của Kinh Thánh về sự chuẩn bị các tín hữu cho sự phục vụ, với ý niệm phân cách hàng giáo dân.
ÔN LẠI NHỮNG QUAN NIỆM VỀ HỘI THÁNH.
SỰ PHÂN CÁCH CỦA HÀNG GIÁO DÂN.
Trong bài 1 chúng ta thấy rằng một số tín hữu trong Hội Thánh đầu tiên được để riêng cho công tác phục vụ đặc biệt như chức vụ sứ đồ, tiên tri, mục sư, giáo sư và nhà truyền giảng. Mặc dù là những nhà lãnh đạo với các sự kêu gọi này, nhưng rõ ràng tất cả tín hữu đều góp phần tích cực trong đời sống của Hội Thánh. Tuy nhiên, sớm hay muộn hàng giáo phẩm lại tách biệt với giáo dân. Những thành viên của hàng giáo phẩm được giáo dục và họ làm công tác giảng, dạy, trong lúc những tín hữu thường chỉ nghe và làm theo những điều họ được dạy bảo. Sự thay đổi này tuần tự xảy ra sau một vài thế kỷ đầu tiên và đã trở thành chính thức hơn khi điều này quen thuộc với Hội Thánh. Kết quả, trải qua nhiều năm ý niệm Kinh Thánh về thân thể của Đấng Christ bị hiểu sai. Hội Thánh Tin lành đã cố gắng loại bỏ sự phân cách giữa hàng giáo phẩm và giáo dân. Trong những Hội Thánh xảy ra sự tách biệt này người ta thường nghĩ rằng vì họ trả lương để mục sư làm mọi công tác của Hội Thánh, nên họ chỉ cần ngồi và nghe. Mặc khác, mục sư (hàng giáo phẩm) thường thường muốn thấy dân sự dấn thân nhiều hơn. Đôi lúc mục sư tin rằng nếu mình không làm mọi công việc cần phải làm trong Hội Thánh thì mình không phải là một mục sư tốt. Bây giờ chúng ta hãy khảo sát quan niệm sai lầm này và những điều khác mà cả Hội Thánh lẫn các nhà lãnh đạo đang nắm giữ ngày nay.
Những hiểu sai về bản chất của Hội Thánh.
Trong nhiều trường hợp, kết quả của sự phân cách giữa các mục sư và dân sự là do không hiểu bản chất của Hội Thánh. Sự hiểu sai này đã dẫn đến một số quan niệm sai lầm phổ biến về bản chất của Hội Thánh. Những quan niệm sai này ngăn trở sự phát triển thuộc linh và cũng dẫn đến những cách đối xử không đúng. Một số mục sư và tín hữu tin rằng Hội Thánh:
1. Giống như một trạm xăng: Người ta đến đấy để đổ cho đầy bình xăng. Mục sư là người phục vụ, vì vậy một người đến, mục sư đổ đầy cho họ, và tín hữu cứ đường mình mà đi.
2. Giống như một nhà bảo sanh: Người ta được ra đời ở đây và mục sư là một y sĩ phục vụ. Sau khi một người ra đời, người ấy về nhà và cuộc sống cứ tiếp tục.
3. Giống như một rạp hát: Người ta đi nhà thờ và ngồi xuống để được giải trí. Diễn viên chính là mục sư, và sau buổi trình diễn mọi người về nhà.
4. Giống như một vận động trường: Một người có thể bày tỏ nhiệt tình bằng cách cổ vũ những người tranh tài, nhưng người ấy thực sự chỉ là một khán giả, chứ không phải là người tham gia. Dĩ nhiên, người ta biết mọi sự cần phải thực hiện như thế nào. Ngay cả điều này là quá tệ. Người ấy không đến để tham gia, chỉ để xem mà thôi.
5. Giống như trạm sạt bình điện: Khi bình điện ắcqui bị yếu hay không còn hơi, người ta đem đến tiệm sạt cho đầy. Và rồi người ấy đi ra và lại phục hồi sinh khí mới.
Tôi có thể liệt kê thêm những quan niệm sai lầm về Hội Thánh đến nỗi người ta đến rồi đi, cảm thấy thỏa mãn với chỉ buổi nhóm mà thôi. Một mục sư cảm thấy không an tâm và có thể cứ tiếp tục để Hội Thánh lệ thuộc vào sự thành thạo của mình vì không ai khác có thể làm những gì ông đang làm. Mọi việc xảy ra trong Hội Thánh, ít nhất trong quan điểm của ông, đều lệ thuộc vào ông.
(1) Sự phân cách giữa hàng giáo phẩm và giáo dân mâu thuẫn với biểu tượng của Hội Thánh như là một
QUAN NIỆM SAI VỀ VAI TRÒ.
Khi một mục sư tin rằng ông phải làm mọi sự liên quan đến chức vụ và mọi sự được thực hiện trong Hội Thánh đều lệ thuộc vào ông, thì ông làm tồn tại mãi những nan đề khác trong Hội Thánh. Có hai lý do căn bản của sự quan niệm sai về vai trò.
1. Chỉ mục sư mới có những ân tứ phục vụ. Mục sư không hiểu vai trò của mình trong Hội Thánh. Vài mục sư cảm thấy hãnh diện khi người ta khen họ làm việc tích cực. Có lẽ một mục sư thích nghe người ta nói” Ồ, mục sư sơn trần nhà thờ đấy, mục sư rửa sạch tất cả vách tường, mục sư quét sàn nhà, mục sư sửa bàn ghế gãy, mục sư thay tất cả bóng đèn cháy. Ông là một mục sư giỏi thật !”. Tôi không biết, nếu bạn làm tất cả những việc ấy, thì thử nghĩ bạn có đủ thì giờ để chuẩn bị thức ăn thuộc linh để cung cấp thích đáng cho dân sự mình không ? Thật sai lầm nghiêm trọng nếu một mục sư làm tất cả những điều đó trong lúc mọi người đứng xem. Người ta thường thích trở thành khán giả hơn là người tham gia. Trái lại những sứ đồ đã từ chối” Việc phục vụ bàn tiệc” không phải vì họ lười biếng, nhưng vì công tác hàng đầu của họ là chức vụ ban Lời và cầu nguyện (Cong Cv 6:4). Đó là điều ưu tiên của họ. Những người khác được chọn để làm những công việc hàng ngày. Kết quả, Hội Thánh tăng trưởng (Cong Cv 6:7).
2. Chỉ có số một ít người được Đức Chúa Trời ban ân tứ. Quan niệm về một nhóm quan trọng nhất không phải là quan niệm của Hội Thánh thời Tân ước. I Côrinhtô 12 cho chúng ta sự trái ngược và sự dạy dỗ trong Roma 12 và Êphêsô 4 nhấn mạnh sự kiện là những ân tứ được ban cho tất cả những chi thể của thân thể. Điều này tương phản với ý tưởng cho rằng chỉ có những nhà lãnh đạo thuộc linh được huấn luyện và có đủ tư cách làm mọi việc, để mặc cho những thành viên trong Hội Thánh chỉ ngồi và lắng nghe.
Tình trạng này không bao giờ xảy ra trong một Hội Thánh thời Tân ước, Hội Thánh của bạn. Bạn là mục sư, cần phải tránh những vấn đề đó. Bạn ở trong một vị trí chiến lược để khởi đầu một chương trình huấn luyện thuần túy Kinh Thánh cho mọi người (kể cả chính mình). Phần kế tiếp sẽ bàn về quan niệm của Kinh Thánh trong việc huấn luyện tín hữu để họ phục vụ, trái ngược với quan niệm phân cách giáo dân.
NỀN TẢNG KINH THÁNH VỀ SỰ PHỤC VỤ.
Phaolô định nghĩa rõ ràng công tác đầu tiên của mục sư ở Eph Ep 4:11-12” Ấy chính Ngài là Đấng ban...một số người làm mục sư và giáo sư để sửa soạn dân sự Đức Chúa Trời cho những công tác phục vụ”. Đây là toàn thể Hội Thánh mà mục sư chuẩn bị qua sự đào tạo để góp phần trong công tác phục vụ. Ngày nay một số Hội Thánh thấy khó làm theo mẫu mực Tân ước này. Có lẽ vì mục sư cảm thấy rằng tự mình làm hết mọi việc thì tốt hơn. Bằng cách này ông làm nhanh hơn và ít vấn đề xảy ra hơn. Từ Kinh Thánh chúng ta thầy rằng một chức vụ cần yếu của mục sư là giúp cho người khác khám phá và phát triển những ân tứ của họ.
Chúng ta hãy xem mục sư có thể làm theo những ý niệm của Kinh Thánh trong việc chuẩn bị tín hữu cho những công tác phục vụ. Kinh Thánh cho chúng ta biết những điều sau:
1. Mỗi tín hữu có một ân tứ: một vài tín hữu có thể có nhiều hơn một ân tứ, nhưng mỗi người có ít nhất một ân tứ (4:7; IPhi 1Pr 4:10; ICo1Cr 12:11). Đây là lẽ thật nền tảng của sự dạy dỗ của Phaolô. Vỉ Đức Chúa Trời ban những ân tứ cho con người, nên mục sư không cần phải làm mọi việc trong khi tín hữu trở thành những khán giả. Mỗi một ân tứ Đức Chúa Trời ban cho cần phải được trao dồi. Và vì không một tín hữu nào có tất cả các ân tứ, nên có sự lệ thuộc lẫn nhau giữa những chi thể trong thân thể. Mỗi người cần sự phục vụ của ân tứ nơi người khác.
2. Có những ân tứ thuộc linh khác nhau. Trong sự khôn ngoan của Đức Thánh Linh, Ngài phân phối những ân tứ cách chính xác (RoRm 12:6; ICo1Cr 12:4). Những ân tứ này cũng đa dạng như phẩm cách của con người. Những học giả Thánh kinh đồng ý rằng bảng liệt kê những ân tứ mà chúng ta thấy trong Kinh Thánh chỉ là tiêu biểu hơn là bao hàm. Đức Thánh Linh sáng tạo có thể quấy động nhiều ân tứ để tăng cường sức lực và sự phát triển cơ thể của Đấng Christ. Là một phần của sự giáo dục của mình, mục sư phải duy trì sự cân bằng trong việc dạy về giá trị của mỗi ân tứ trong thân thể Hội Thánh.
3. Mỗi ân tứ đều cần thiết. Mỗi người trong thân thể đều phải cung ứng những gì làm cho thân thể mạnh mẽ (Eph Ep 4:16), cho nên tất cả những bộ phận cùng làm việc với nhau. Thân thể con người có kết cấu phức tạp biết bao: không một chi thể nào có thể là chi thể lớn hơn bởi vì những cái lắt léo cũng rất quan trọng nữa. Một người có thể nhận biết ân tứ nào của mình, và lại còn cảm thấy khó tiếp nhận bởi vì nó không phải là một trong những ân tứ” bộc lộ” rõ ràng. Khi bạn khảo sát thân thể vật chất, có những phần nổi rõ luôn luôn dễ nhìn thấy chẳng hạn mắt, mũi, tai, môi và những bộ phận khác. Tuy nhiên chúng ta không thể thấy nhiều bộ phận trong cơ thể. Có những bộ phận rất quan trọng không những kín dấu bên trong nhưng còn rất nhỏ về kích cở so với những cái khác. Vì vậy, có thể cắt mất một tai mà vẫn sống, nhưng làm lộn xộn một bộ phận không thấy được bên trong và bạn có thể chết lập tức. Một số thành viên trong Hội Thánh có thể cảm thấy việc đi nhà thờ là một lao dịch vì tất cả những gì họ làm là ngồi nghe một người hành sử những ân tứ của mình. Họ cần nghe, nhưng họ cũng cần góp phần xây dựng cho toàn thể thân thể.
4. Mỗi tín hữu chịu trách nhiệm trong việc sử dụng ân tứ của mình. Mặc dù trách nhiệm của Đức Chúa Trời là ban ân tứ, nhưng trách nhiệm của con người là sử dụng những ân tứ (IITi 2Tm 1:6; ITi1Tm 4:14). Có một bảng dịch Kinh Thánh nói về ân tứ của tín hữu” Hãy giữ cho sống động”. Là một thầy giáo, mục sư phải động viên các tín hữu vượt qua những sợ sệt và sử dụng ân tứ của họ.
(2) Ý niệm phân rẽ hàng giáo dân làm cho những tín hữu
a. Nhận trách nhiệm về việc tăng trưởng.
b. Phát triển những ân tứ thuộc linh.
c. Nâng cao thuộc linh cho mục sư.
d. Trở thành những khán giả.
(3) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời hoàn chỉnh ĐÚNG.
Quan niệm của Kinh Thánh về việc chuẩn bị các tín hữu cho công tác phục vụ nói rõ rằng
a. Tất cả tín hữu đếu có cùng những ân tứ thuộc linh
b. Một số tín hữu không đủ tư cách để có những ân tứ thuộc linh.
c. Tất cả tín hữu đều phải được chuẩn bị để phục vụ.
d. Mục sư chịu trách nhiệm về việc phát huy những ân tứ thuộc linh của tín hữu.
e. Đức Chúa Trời ban những ân tứ thuộc linh cho tất cả tín hữu.
f. Tất cả những ân tứ thuộc linh đều cần thiết như nhau.
Mục tiêu 2: Xếp đặt cho phù hợp những ví dụ mô tả với các hướng dẫn để chuẩn bị tín hữu cho việc phục vụ.
CHUẨN BỊ TÍN HỮU CHO SỰ PHỤC VỤ.
Có vài trường hợp trong Tân ước chỉ dạy mục sư huấn luyện những người khác trong chức vụ phục vụ. Đoạn Kinh Thánh chúng ta đọc ở trên (Eph Ep 4:11-12) mô tả rằng công tác của mục sư là chuẩn bị dân sự của Đức Chúa Trời để họ làm công tác phục vụ. Đây là nhiệm vụ cơ bản của sự lãnh đạo của mục sư. Giúp đỡ các tín hữu khám phá và sử dụng những ân tứ của họ là một trong các công tác cao quí nhất mà mục sư có thể thực hiện. Làm thế nào mục sư có thể thi hành điều này ? Đây là 4 hướng dẫn cơ bản trong việc chuẩn bị tín hữu cho công tác phục vụ.
1. Giảng và dạy giáo lý Kinh Thánh. Chức vụ trên tòa giảng là khởi điểm mà nhiều tân tín hữu bắt đầu hiểu được vị trí của họ trong thân thể Đấng Christ. Một người chỉ đọc những câu chuyện Phúc âm để thấy rằng Chúa dạy các môn đồ của Ngài bằng lời giáo huấn và cũng bằng thực hành nữa. Tuy nhiên, điều này chưa là chấm hết. Lời mời gọi của Chúa Jêsus cho những con người bình thường là” Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những tay đánh lưới người”. Lời diễn đạt này nhận thức rằng những người đó chỉ là những ngư phủ bình thường mà Chúa có thể sử dụng cho những mục đích của Ngài. Ngài ban cho họ lời thách thức để ‘trở nên’. Chức vụ giảng và dạy của mục sư phải theo gương mẫu của Đấng Christ và phải:
1). Kêu gọi sự tận hiến cho những nhiệm vụ của Vương Quốc Đức Chúa Trời.
2). Dạy những kiến thức nền tảng và sâu nhiệm của Kinh Thánh.
3). Dạy về sự tăng trưởng và gây dựng thuộc linh.
4). Chỉ giáo về cách thế sống hợp chân lý của lời Chúa.
2. Cung cấp kinh nghiệm thực tế về sự phục vụ. Có những mục sư trung tín và mạnh mẽ dạy Kinh Thánh sáng Chúa nhật, tối Chúa nhật và vài lần trong tuần. Sau một thời gian, nhiều tấm lòng chịu cảm động và linh hồn được no đủ. Tuy nhiên, về sau sự phấn chấn của việc nghe lời Đức Chúa Trời bắt đầu tan biến. Rồi trở thành một lệ thường lý thuyết và thực tập. Điều gì đã sai trật ? Tôi nhìn nhận rằng những chi thể của thân cần sử dụng việc học tập của họ trong những cách thực tế. Họ cần:
a). Phục vụ người khác trong bối cảnh những mối quan hệ.
b). Sử dụng những gì họ đã học trong công tác truyền giáo.
c). Mở rộng và tăng cường việc học của mình bằng thực hành.
d). Phát huy những phương pháp mới và những cơ hội phục vụ.
3. Nhìn nhận tiềm năng thực hữu trong mọi người. Mục sư không nên lầm lẫn phẩm chất và khả năng. Tươnhg đối một người dễ được xúc động trước những thành đạt lớn lao của người nào đó. Tuy nhiên, Kinh Thánh đánh giá cao hơn về phẩm chất. Nghĩa là con người như thế nào chứ không phải những gì con người đã làm được. Chúng ta có thể học nhiều điều từ những gì Phaolô khuyên Timôthê thể hiện” Nếu có ai mong được trở thành...” (ITi1Tm 3:1). Rồi ông liệt kê những phẩm chất mà mỗi người phải bày tỏ để được chỉ định vào một vị trí lãnh đạo thuộc linh. Tất cả những điều này là những phẩm chất của bản thể, luôn luôn đi trước việc làm. Trong một thời kỳ khi mà thành tích trở nên quan trọng đến nỗi chúng ta phải cẩn thận nhấn mạnh những phẩm chất thuộc linh của sự thực hữu trong Đấng Christ.
4. Làm gương. Khi sứ đồ Phaolô nói lời từ giả những người Êphêsô trong Cong Cv 20:1-38, chúng ta thấy ông đã dâng hiến trọn đời mình để chuẩn bị sẵn sàng cho dân sự của Đức Chúa Trời. Ông thúc giục những trưởng lão theo gương ông làm người chăn bầy của Đức Chúa Trời. Đây là nền tảng của lời khuyên nhủ của ông cho Timôthê khi ông bảo” Hãy làm gương cho các tín hữu” (ITi1Tm 4:12).
(4) Xếp cho phù hợp những hướng dẫn của mục sư với ví dụ mô tả về việc chuẩn bị một tín hữu cho sự phục vụ.
1) Giảng và dạy giáo lý Kinh Thánh .
2) Cung cấp kinh nghiệm phục vụ thực tiễn.
3) Phát triển tiềm năng thuộc linh.
4) Làm gương.
5) Không phải là một chỉ dẫn.
.....a. Mục sư động viên các tân tín hữu nghiên cứu GiGa 15:1-27.
.....b. Một nhóm tín hữu thăm viếng, ca hát và làm chứng trong trại giam.
.....c. Một diễn viên nhạc rock mới tin Chúa được sắp xếp để tổ chức một buổi hòa nhạc tại nhà thờ.
.....d. Mục sư hướng dẫn một loạt bài nghiên cứu Kinh Thánh sách Philíp và Colose.
.....e. Những nhóm nhỏ tại tư gia được hình thành để nghiên cứu học hỏi và thông công.
.....f. Mục sư giảng những bài giảng trong tháng trước Phục sinh có liên quan đến sự Phục sinh và đời sống trong Đấng Christ.
.....g. Mục sư đến sớm nhất trong giờ tĩnh nguyện buổi sáng và là người cuối rời khỏi đó.
Mục tiêu 3: Nhận diện cách sử dụng thích hợp của những phương pháp huấn luyện được lựa chọn.
HUẤN LUYỆN CHO SỰ PHỤC VỤ.
Mỗi Hội Thánh cần người được đào tạo đa dạng để phục vụ theo nhiều cách khác nhau. Có vài cách thực tế để huấn luyện người, và chúng không cần phải đắt tiền hay là chính thức. Bạn nên nhớ rằng Chúa Jêsus huấn luyện các môn đồ của Ngài khi đang đi trên đường, ngồi cạnh các sườn đồi hoặc di chuyển trên một con thuyền. Bạn có thể huấn luyện cho các nhóm hoặc các cá nhân trong những lớp học bình thường hoặc bằng những trình bày đơn giản. Ở đây tôi liệt kê một ít phương pháp có thể giúp ích cho bạn.
NHỮNG PHƯƠNG PHÁP HUẤN LUYỆN.
Một thầy một trò (Tutorial). Đây có thể là cách dạy kèm một thầy một trò, chính thức hoặc không chính thức. Đây là cách hướng dẫn hay dạy một người về một chủ đề đặc biệt hoặc một mục đích đặc biệt. Chẳng hạn, khi tôi mới mở mang một Hội Thánh, tôi cần người nào đó hướng dẫn hát. Một thành viên kia cho thấy có khiếu âm nhạc, cho nên tôi mời người trẻ đó đến mỗi tuần một lần để tôi chỉ dạy cho cách hướng dẫn hội chúng hát. Cũng trong Hội Thánh này, tôi chọn một người khác gặp tôi mỗi tuần một lần và từng bước một tôi chuẩn bị cho người ấy dạy về Kinh Thánh. Khi được chuẩn bị sẵn sàng người ấy cộng tác với tôi dạy một số bài học.
Hội thảo chuyên đề. Bạn có thể mời một ai đó thành thạo và có kinh nghiệm về một số lãnh vực để hướng dẫn cho một nhóm nghiên cứu đặc biệt. Một hội thảo chuyên đề được định nghĩa là một buổi nhóm nêu lên thông tin và thảo luận. Mục sư có thể hướng dẫn buổi hội thảo chuyên đề, chia sẻ về khả năng lãnh đạo cho người khác, hoặc ông có thể mời một chuyên gia bên ngoài hướng dẫn. Thường thường những buổi hội thảo chuyên đề bàn về một chủ đề nào đó có liên quan đến nhu cầu hoặc lợi ích của nhóm. Một số buổi hội thảo chuyên đề có thể đòi hỏi người tham gia phải dự tất cả các buổi họp. Sau đó, trong nhiều trường hợp những người tham dự nhận được giấy chứng nhận hoàn tất khóa học. Các lớp hội thảo chuyên đề khác có thể là chính thức và không đòi hỏi đặc biệt về sự có mặt dự hay tham gia.
Những bài học hàm thụ. Dựa vào nhu cầu của Hội Thánh, mục sư có thể sử dụng những bài học hàm thụ để dạy cho những nhóm hoặc ông khuyên các cá nhân ghi danh học những khóa hàm thụ của Viện Hàm Thụ Quốc Tế ICI chẳng hạn. Một số Hội Thánh sử dụng những bài hàm thụ cho nhóm học tập. Theo sự sắp xếp này thì những thành viên trong nhóm có thể
làm việc chung với một hướng dẫn viên chỉ đạo học tập trong khi họ theo học. Các Hội Thánh khác dùng những tài liệu cho cả nhóm, nhưng mỗi cá nhân có thể học theo tiến độ riêng, sau đó thỉnh thoảng cả nhóm cùng họp lại để thảo luận. Đây là một trong những cách huấn luyện có hiệu quả nhất. Các bài học được sử dụng cho những mục đích truyền giảng, dạy giáo lý Cơ đốc, chức vụ hầu việc Chúa, những chương trình lấy học vị, hay bồi dưỡng cá nhân.
Mang tín hữu đi theo. Đôi khi gọi phương pháp này là mang đệ tử đi theo. Đây là phương pháp huấn luyện bằng cách quan sát và tham gia. Mục sư mang tín hữu theo mình khi ông phục vụ trong một số trường hợp. Một ví dụ ấy là việc thăm viếng truyền giảng. Trong vòng vài tuần, mục sư có thể mời một hoặc hai tín hữu trong Hội Thánh cùng đi với ông để tiếp xúc giới thiệu Phúc âm cho dân chúng. Khi bạn sử dụng phương pháp này, bạn có thể bổ sung cho sự kiến tập này bằng cách hướng dẫn những người bạn” mang theo” trước và sau khi làm công tác. Trong khi bạn di chuyển từ nơi này sang nơi khác bạn có thể thảo luận hoặc khuyên bảo những người cộng tác khác hoặc cho họ cơ hội để nêu thắc mắc.
Học việc tại chỗ. Người học việc là một người học bằng kinh nghiệm thực tế với một người thành thạo việc hơn. Điều này tương tự với phương pháp mang tín hữu đi theo nhưng thường thường có hình thức hơn. Từ ngữ học việc được dùng khi người dạy và người học thỏa thuận với nhau rằng học viên sẽ giữ vị trí học việc trong thời gian nào đó để hoàn thành những chỉ tiêu đã đề xuất. Một số trường Kinh Thánh sử dụng phương pháp này và gọi đó là giáo sinh thực tập (internship). Trong năm cuối của chương trình này, sinh viên phục vụ như là một phụ tá cho mục sư trong một thời gian nhất định. Lúc đó mục sư của Hội Thánh giao thác cho sinh viên một vài trách nhiệm trong Hội Thánh và ông giám sát việc làm của sinh viên ấy.
Đào tạo tại chỗ. Một vài quốc gia lại sử dụng” Trường Thần Học - ở ngoài - đường phố” (Seminary-in-the-street). Phương pháp này tương tự với việc học việc tại chỗ nhưng không phải là một sự sắp xếp học tập chính thức. Những người đến tiếp nhận Chúa Jêsus làm Cứu Chúa của mình được thúc giục bước vào những trách nhiệm” nâng cấp” (gradded) khi họ bước trên đức tin của mình. Tiến trình này cung cấp những cơ hội học hỏi không những qua các lớp dạy mà còn qua sự quan sát và cộng tác. Phương pháp này cũng tạo cơ hội phục vụ những người khác. Như bạn sẽ thấy, tiến trình này tăng cường sức lực cho tín hữu và giúp người ấy phát triển những ân tứ của mình. Khi các tín hữu làm việc với mục sư và bắt đầu thấy thái độ của ông thì một sự kết hợp hài hòa giữa bông trái và ân tứ sẽ được bày tỏ.
(5) xếp đặt cho phù hợp những phương pháp huấn luyện với sự mô tả về cách sử dụng thích hợp.
1) Một thầy một trò.
2) Hội thảo chuyên đề.
3) Bài học hàm thụ
4) Mang tín hữu đi theo.
5) Học việc tại chỗ.
.....a. Trong một thị xã, mục sư cho những sinh viên thích học Kinh Thánh ghi danh vào một lớp của một đại học có uy tín để họ có thể học theo tiến độ của họ.
.....b. Trong thời gian nghỉ hè 3 tháng của Trường Kinh Thánh, một sinh viên năm chót đi tập sự làm phụ tá mục sư.
.....c. Mục sư thường đem 2 chấp sự trẻ cùng đi với ông khi ông dạy lớp Kinh Thánh ở một trại giam. Thỉnh thoảng ông để họ dạy và sau đó ông thảo luận với họ về sự dạy dỗ.
.....d. Một mục sư thường gặp một thành viên, ông dạy anh ấy cách sử dụng bảng nỉ và trợ huấn cụ nghe nhìn. Rồi ông xếp đặt cho tín hữu này dạy một loạt bài học.
.....e. Một mục sư mời một giáo sư Trường Kinh Thánh đến trong 3 ngày thứ bảy liên tiếp để tổ chức những buổi huấn luyện cho các giáo viên Trường Chúa nhật.
Mục tiêu 4: Giải thích những nguyên tắc của sự ủy thác.
ỦY THÁC CHO NGƯỜI LÃNH ĐẠO ĐÃ ĐƯỢC HUẤN LUYỆN.
Trong phần thứ nhất của bài này, chúng ta đã nói rằng tín hữu phải tham gia vào sự phục vụ. Khi những tín hữu được huấn luyện để lãnh đạo trong những lãnh vực nào đó thì bạn phải sử dụng những tài năng này. Một mục sư có khả năng lãnh đạo mạnh mẽ và có nhiều năng khiếu sẽ thấy khó trong việc ủy thác trách nhiệm - ngay cả đối với những người mà chính ông ta đã huấn luyện. Tuy nhiên, khi Hội Thánh tăng trưởng, sự ủy thác trách nhiệm là điều thiết yếu. Trước hết ủy thác là gì? ủy thác có thể được định nghĩa là” Giao phó trách nhiệm cho những người khác và cho họ quyền hành để thực hiện những trách nhiệm đó !”. Bạn có bao giờ gặp một mục sư cảm thấy rằng mình có thể làm mọi việc tốt hơn bất cứ người nào khác không ? Ông đánh máy nhanh hơn và đẹp hơn, và ông có thể dạy có kết quả hơn. Ông ta có thể hát, chơi những nhạc cụ và làm hầu hết mọi việc rất tốt. Có thể ông nghĩ” Tại sao lại để cho những người khác lãnh những trách nhiệm này cách vụng về !”. Trong trường hợp này dường như mục sư ưa thích cảnh” một người trình diễn”. Nếu đặt một loạt câu hỏi sau, thì việc sắp xếp này chẳng bao giờ là một lựa chọn tốt trong một số những rắc rối lâu dài. Điều gì xảy ra khi mục sư rời nhiệm sở? Liệu công việc có bị sụp đổ không ? Còn những ân tứ của dân sự thì sao ? Những ân tứ ấy có bị uổng phí không ? Rõ ràng, một mục sư là người thực sự chăn bầy và dẫn dắt bầy chiên mình cách đúng đắn, thì phải ủy thác trách nhiệm. Câu hỏi thường được nêu lên: Tôi cần làm gì để ủy thác trách nhiệm cách đúng đắn ? Tôi sẽ liệt kê 3 nguyên tắc chính của sự ủy thác:
1. Trình bày sự ủy thác cách rõ ràng. Giả sử một bà mẹ bảo cậu con trai ra tiệm mua cho bà một xấp giấy viết thơ. Tuy nhiên, khi cậu bé trở về, cậu lại mua một tập giấy kẻ hàng chiếc, người mẹ nổi giận và bảo cậu trả lại xấp giấy vì bà ta không cần loại giấy đó. Thế là mất thì giờ, cậu con trai cảm thấy bị xúc phạm và lúng túng vì đã phạm một sai lầm và phải trở lại chỗ mua. Nguyên tắc ấy là: khi ủy thác trách nhiệm phải nói cho rõ ràng. Người ủy thác phải trình bày rõ ràng những gì phải làm và làm trong những giới hạn đặc biệt nào. Người được ủy thác cũng cần biết Ai, Cái gì, Thế nào, Bao nhiêu và Bao lâu hoặc bất luận một thông tin nào giúp mình hiểu rõ điều gì mình phải làm.
2. Ban cho thẩm quyền cùng với sự ủy thác. Có nghĩa là người được ủy thác phải có thực quyền để thực hiện trách nhiệm. Chẳng hạn, bạn nhờ ai đó mua một số ghế nhỏ cho lớp học mẫu giáo, thì bạn phải cho người ấy quyền quyết định loại ghế nào thích hợp trong phạm vi giá cả nào đó và cho phép người đó mua sắm. Điều bực mình nhất là bị bắt buộc làm một công việc mà không được quyền quyết định gì cả. Nếu bạn ủy thác cho người nào một công việc gì đó, thì người ấy không cần phải xin phép ai cả, bạn phải giao trọn trách nhiệm cho người đó thừa hành. Trong vài trường hợp bạn có thể yêu cầu người ấy tường trình từng giai đoạn khi bạn ủy thác công việc. Điều này sẽ giúp bảo đảm rằng công tác vẫn tiến hành theo thời biểu và không bị sai lạc.
3. Làm sáng tỏ sự chịu trách nhiệm cùng với sự ủy thác. Người được ủy thác phải chịu trách nhiệm với người ủy thác công việc. Người được chỉ định mua ghế không chỉ chịu trách nhiệm trong việc mua ghế nhưng còn phải làm việc ấy đúng thời điểm trong vòng giới hạn đã ấn định. Không phải chỉ là vấn đề làm một nhiệm vụ nhưng còn là nhiệm vụ đã được thực hiện như thế nào. Người được giao công việc phải tường trình cho người giao công việc cho mình vào những khoảng thời gian đã thỏa thuận trước hay khi công việc đã xong. Người ấy không cần một vài người canh chừng hoặc kiểm soát đã làm đến đâu.

Chúng ta phải chia sẻ công việc vì đó là cần thiết để hoàn thành sứ mạng của Hội Thánh trong việc công nhận rằng các ân tứ mà Đức Chúa Trời đã ban cho những thành viên trong thân thể. Khi mỗi bộ phận thực hiện đúng chức năng của mình thì thân thể lớn lên khỏe mạnh và vững vàng. Một sự phân chia công tác của một kế hoạch tốt đẹp sẽ tiện lợi cho việc phối hợp các hoạt động và tránh sự trùng lặp và cạnh tranh không cần thiết. Nó cũng phân phối gánh nặng để không một người nào bị gánh nặng đè bẹp. Sự san sẻ gánh nặng không những là điều Kinh Thánh dạy nhưng nó còn có lợi cho tất cả người có liên quan. Đó là sự bày tỏ thực tế của cả thân thể cùng làm việc với nhau vì lợi ích hỗ tương của tất cả.
(6) Giả sử bạn là một mục sư của một Hội Thánh có 500 tín hữu. Bạn và một phụ tá mục sư đang thảo kế hoạch về một chiến dịch truyền giảng. Bạn nhờ người phụ tá chịu trách nhiệm về mọi việc xếp đặt quảng cáo và những nhu cầu liên quan đến địa điểm của chiến dịch. Hãy giải thích ngắn gọn những yếu tố của 3 nguyên tắc ủy thác mà bạn phải truyền đạt cho người ấy.
a.
b.
c.
Mục tiêu 5: Nhận diện những hướng dẫn trong việc lựa chọn người để ủy thác công việc.
CHỌN NGƯỜI ỦY THÁC CÔNG VIỆC.
Một trong những công tác khó nhất của sự lãnh đạo là đặt đúng người vào đúng công việc. Đó không phải là điều nhanh chóng và dễ dàng. Khi bạn tìm đúng người cho một công việc đó là một phước hạnh lớn. Nhưng chọn không đúng người cho một công việc thì bạn có cảm tưởng như là một sự rủa sả. Nên nhớ đặt một người nào đó vào một chức vụ thì dễ hơn là rút người ấy ra khỏi vị trí đó.
Khi bạn chọn người vào một công tác nào đó, bạn nên theo những chỉ dẫn thực tiển:
1. Nhận diện công tác cần phải làm. Trước khi bạn nhờ ai làm công việc gì, bạn phải biết chắc những gì cần làm.
2. Xác định những phẩm chất cần thiết để thực hiện nhiệm vụ. Bạn tự hỏi những câu sau:
- Loại người nào thích hợp cho nhiệm vụ này ?
- Những kỹ năng nào cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ ?
- Người đó sẽ cần đến loại huấn luyện nào ?
3. Nghiên cứu trong hội chúng để tìm người có những phẩm chất cần thiết.
4. Xếp người cho phù hợp với nhiệm vụ. Giải thích công tác rõ ràng, và cho người ấy biết rằng đó là một sự kết ước với Đức Chúa Trời và công việc của Ngài.
5. Cung cấp sự huấn luyện nếu cần.
6. Mời người ấy nhận nhiệm vụ, như dạy một lớp học Trường Chúa nhật chẳng hạn. Bạn có thể mời người ấy dạy thay hoặc giao công tác” tập sự” trong thời gian 3 hay 4 tháng. Điều này cho bạn một thời gian” học việc” không chính thức. Nếu trong thời gian ấy người đó không đủ khả năng thì bạn lẫn người đó đều có một lối thoát đương nhiên chấm dứt thời gian tập sự.
7. Nếu cần, cũng nên có sự giám sát hữu ích và kiểm tra định kỳ toàn bộ.
(7) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
a). Người lãnh đạo cần kỹ năng, kiên nhẫn và khôn ngoan để tìm đúng người cho một nhiệm vụ.
b). Thật là một ý kiến hay khi cho phép một người làm một nhiệm vụ trong Hội Thánh theo cách riêng của người ấy.
c). Phần lớn nhiệm vụ trong Hội Thánh có thể được thực hiện do bất cứ người nào sẵn sàng cố gắng làm việc.
d). Có nhân cách, khéo léo và được huấn luyện là một phần của người được kể là một ứng viên chịu trách nhiệm trong Hội Thánh.
e). Nếu một người không có khả năng để làm công việc được yêu cầu thì giải pháp duy nhất là cầu nguyện cho điều ấy.
Bất cứ người nào mới mẻ trong một nhiệm vụ đều rất có thể phạm lỗi lầm. Là mục sư, bạn cần kiên nhẫn, điều chỉnh những sai trật và cứ luôn luôn phát huy tiềm năng nơi người ấy. Bạn có nhớ lại ngày mình mới bắt đầu không ? Ai đó đã kiên nhẫn với bạn và đã giúp bạn bất chấp những lỗi lầm ? Bây giờ đến lượt bạn giúp một người mới bắt đầu khác. Nên nhớ: lãnh đạo tốt là giúp phát triển những người lãnh đạo khác.
&
BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM.
CÂU HỎI LỰA CHỌN.
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Sự phân cách giữa hàng giáo phẩm và giáo dân là:
a. Dựa vào khuôn mẫu của Hội Thánh đầu tiên.
b. Những gì cản trở sự phát triển thuộc linh của tín hữu.
c. Điều được sự dạy dỗ của Tân ước hỗ trợ.
d. Là một phương tiện lớn mạnh trong thân thể của Đấng Christ.
2. Trong việc ban những ân tứ thuộc linh cho tất cả tín hữu, Đức Chúa Trời bày tỏ rằng:
a. Tất cả tín hữu đều phải là những người lãnh đạo.
b. Một số ân tứ cần thiết hơn những ân tứ khác.
c. Một số Hội Thánh bị hạn chế với hai hoặc ba ân tứ.
d. Mỗi tín hữu đều chịu trách nhiệm về việc sử dụng ân tứ của mình.
3. Biểu tượng của Kinh Thánh về Hội Thánh như một cơ thể vật lý.
a. Chỉ ra sự sai lầm của việc phân cách hàng giáo phẩm và giáo dân.
b. Chỉ ra rằng những chi thể lớn và thấy được là quan trọng hơn.
c. Dạy rằng những chi thể bị thương phải được cắt bỏ.
d. Tượng trưng cho bản chất tạm thời và trần tục của Hội Thánh.
4. Khi một người giảng và dạy giáo lý của Kinh Thánh, người ấy chuẩn bị cho tín hữu
a. Kinh nghiệm trong việc cá nhân chứng đạo.
b. Có nền tảng kiến thức về Kinh Thánh.
c. Có uy quyền trong công tác phục vụ.
d. Có mối quan hệ với những công tác phục vụ.
5. Tiềm năng được phát triển trong những tín hữu liên quan đến
a. Sự ở trong Đấng Christ.
b. Khả năng làm việc Chúa.
c. Học biết công tác của Hội Thánh.
d. Sự trình diễn.
6. Bước thứ nhất trong sự ủy thác một nhiệm vụ là
a. Yêu cầu nộp những bảng tường trình công tác.
b. Chịu trách nhiệm về những kết quả.
c. Sau khi giao trách nhiệm, thì quên điều đó luôn.
d. Định nghĩa nhiệm vụ cho rõ ràng.
7. Muốn tường trình rõ ràng trong nhiệm vụ được ủy thác, một người phải
a. Nói rõ nhiệm vụ.
b. Đồng ý về thời gian hoàn tất và một kết quả chấp nhận được.
c. Từ bỏ mọi trách nhiệm.
d. Chia sẻ trách nhiệm đối với công tác.
8. Ủy thác trách nhiệm mà không ban quyền hành là
a. Phương pháp tốt nhất cho người mới bắt đầu.
b. Một phương pháp tiết kiệm thì giờ.
c. Sự huấn luyện tốt.
d. Cách ủy thác không đúng.
9. Trong việc lựa chọn một người làm một nhiệm vụ, trước hết một người phải
a. Nhận diện công việc.
b. Nói rõ những phẩm chất.
c. Huấn luyện người đó.
d. Đặt chỉ tiêu cho công tác.
10. Để tránh việc chọn sai người cho một công việc, một người phải
a. Cung cấp một sự huấn luyện đầy đủ.
b. Thách thức người ấy làm công việc cho Chúa.
c. Aán định một thời gian học việc không chính thức
d. Chỉ sử dụng những ai chứng minh được tài năng.

GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU.
(1) Thân thể.
(2) d) trở thành những khán giả.
(3) c, e, và f là những câu hoàn chỉnh đúng.
(4)
a. 3). Phát triển tiềm năng thuộc linh.
b. 2). Cung cấp kinh nghiệm thực tế cho sự phục vụ.
c. 5). Không phải là nguyên tắc chỉ đạo.
d. 1). Giảng và dạy giáo lý Kinh Thánh hay 3) phát triển tiềm năng thuộc linh.
e. 2). Cung cấp kinh nghiệm thực tế cho sự phục vụ hay 3) Phát triển tiềm năng thuộc linh.
f. 1). Giảng và dạy giáo lý Kinh Thánh.
g .4). Làm gương.
(5) a. 3) Bài học hàm thụ.
b. 5) Học việc tại chỗ.
c. 4) Mang tín hữu theo.
d. 1) Một thầy một trò.
e. 2) Hội thảo chuyên đề.
(6) Theo lời riêng của bạn, bạn phải bao gồm
a) Mô tả rõ ràng việc người ấy phải làm, tại đâu, bao nhiêu, ai tham gia và hạn định thời gian.
b) Cho người có quyền về giá cả, số người tham gia, khoảng đất và những tiện nghi để thuê và giải thích những giới hạn của quyền hạn giao cho người ấy.
c) Định thời gian và nội dung của việc báo cáo kết quả hay hoàn tất, báo cáo ngân khoản và chịu trách nhiệm với ai.
(7) a và d là những câu diễn đạt đúng. ***
CÔNG TÁC QUẢN TRỊ
Trong đơn vị cuối của loạt bài học này, bạn đã nghiên cứu vài công tác bên ngoài sự giảng dạy của mục sư. Trong bài 13, chúng ta khảo sát tầm quan trọng của sự chuẩn bị tín hữu qua sự huấn luyện đúng đắn để góp phần vào sự sống của Hội Thánh. Chúng ta thấy rằng vài sự huấn luyện được thực hiện qua chỉ dạy chính thức, nhưng đa số được thực hiện bằng sự thuyết minh, làm gương và dạy từng bước một. Bây giờ chúng ta sẽ thảo luận những phương cách qua đó mục sư sử dụng những ân tứ phục vụ và nguồn tài nguyên của Hội Thánh.
Khi chúng tôi nói về đề tài Sự Quản Trị, có lẽ bạn muốn nói, hoặc bạn nghe những mục sư khác nói” Tôi được kêu gọi để giảng chứ không phải để quản trị”. Tuy nhiên, nếu chúng ta nghiên cứu kỹ chữ mục sư (minister) thì chúng ta thấy rằng chữ đó có nghĩa là” phục vụ” (to serve). Đây là những gì một mục sư phải làm, và trong trường hợp này chữ ấy có nghĩa” phục vụ qua sự quản lý hay qua sự chỉ đạo”.
Như vậy, chúng ta có thể khảo sát sự quản trị liên quan đến công tác của Hội Thánh và làm thế nào để sử dụng tốt nhất nguồn tài nguyên nhân lực trong Hội Thánh. Chúng ta cũng sẽ nghiên cứu những hướng dẫn cho việc quản lý trong một Hội Thánh địa phương và chúng ta sẽ khảo sát cách áp dụng thành công trong cả hai loại hội chúng nhỏ và những hội chúng đông đúc.
Khi bạn nghiên cứu bài này, hãy tìm kiếm những cách thức trong đó bạn có thể phục vụ hữu hiệu hơn trong sự quản lý tài sản con người trong hội chúng. Cầu xin Cứu Chúa Jêsus Christ giúp bạn nhạy bén với con người và với nhu cầu cùng những khả năng của họ. Cuối cùng, chúng ta kiên quyết làm mọi sự trong cách thức trật tự và phù hợp với hoàn cảnh.
Dàn ý bài học
Ôn lại Những Chức Năng về Quản Trị.
Lập Kế Hoạch.
Tổ Chức.
Chỉ đạo.
Đánh Giá.
Những mục tiêu học tập
Học xong bài này bạn phải có thể:
* Aùp dụng việc lập kế hoạch quản trị cho những hoạt động của Hội Thánh.
* Nhìn nhận cấu trúc tổ chức và những mối quan hệ, và lập một biểu đồ tổ chức cho một Hội Thánh.
* Mô tả trách nhiệm của người lãnh đạo trong tiến trình truyền thông.
* Nhận ra cách sử dụng những phương pháp giải quyết vấn đề trong việc quyết định.
* Tán đồng việc sử dụng sự đánh giá, xem đó như là một công cụ hữu ích cho chức vụ.
1. Học toàn bài như thường lệ và làm bài tự trắc nghiệm khi bạn học xong phần triển khai bài học.
2. Ôn từ bài 12 đến bài 14 và trả lời những câu hỏi của Bảng Đánh Giá Tiến Trình Học Tập Đơn Vị 4. Bạn sẽ tìm thấy những chỉ dẫn trong túi hồ sơ học viên của bạn.
3. Ôn từ bài 1 đến bài 14 để chuẩn bị cho bài kiểm tra cuối khóa. Nếu bạn chưa liên lạc với hướng dẫn viên chỉ đạo của bạn để sắp xếp cho bạn thi cuối khóa, thì hãy liên hệ ngay.
4. Lật sang phần chú giải thuật ngữ xem những chữ căn bản khó hiểu đối với bạn .
Những chữ căn bản
Chức năng.
Hoàn ngược.
Triển khai bài học
Mục tiêu 1: Nhận diện những chức năng chung của sự quản trị.
XÉT LẠI NHỮNG CHỨC NĂNG QUẢN TRỊ.
Trong phần mở đề của bài học này, chúng ta đã lưu ý rằng chữ” mục sư” bao gồm trong chữ” người quản trị” (administer). Khi chúng ta nhìn vào những hoạt động hành chánh là phần của sự” phục vụ” và” chức vụ”, thì chúng ta ý thức rằng những hoạt động này cũng thuộc linh như những ân tứ phục vụ khác. Những điều đó chẳng bao giờ thay thế cho công tác của Thánh Linh. Phaolô nhấn mạnh điều này khi ông liệt kê trong những ân tứ Đức Chúa Trời ban cho thân thể của Đấng Christ có” ân tứ quản trị” (gifts of administration) (ICo1Cr 12:28).
Theo nghĩa của tự điển, chữ quản trị có nghĩa là” phục vụ điều hành hay giám sát việc sử dụng hay chỉ đạo”. Dưới đây chúng ta liệt kê vài chức năng bao gồm trong chữ quản trị. Khi tiếp tục bài học này, chúng ta sẽ thảo luận mỗi chức năng chính của việc quản trị liên quan đến công tác phục vụ của toàn bộ thân thể Hội Thánh. Hãy nghiên cứu dàn ý sau đây và nhớ lại cách mình đã sử dụng một số hay tất cả những chức năng này như thế nào những lúc gần đây.
I. Lập kế hoạch.
A. Những yếu tố của việc lập kế hoạch.
1. Khảo sát, ước lượng.
2. Đặt những mục tiêu.
3. Phát triển những chính sách.
4. Phát triển những thủ tục.
5. Lập thời gian biểu.
6. Lập kế hoạch chi tiêu.
II. Tổ chức.
A. Những yếu tố của sự tổ chức.
1. Phát triển cơ cấu tổ chức.
2. Uûy thác.
3. Nhận diện những mối quan hệ.
III. Lãnh đạo.
A. Những yếu tố của sự lãnh đạo.
1. Thông tin liên lạc.
2. Quyết định.
3. Huấn luyện nhân viên.
IV. Đánh giá.
A. Những yếu tố của sự đánh giá.
1. Lập một tiêu chuẩn.
2. Kiểm tra lại so với tiêu chuẩn.
3. Điều chỉnh.
Những chức năng này chắc không mới đối với bạn . Có lẽ bạn đã thực hiện chúng mỗi ngày. Khi Hội Thánh bạn tăng trưởng và bạn có thêm trách nhiệm, bạn buộc phải gánh vác nhiều hơn trong mỗi chức năng hoặc phát triển các đường lối để ủy thác những chức năng này. Hễ càng có thêm
việc phải thực hiện bao nhiêu, thì chúng ta càng ý thức tầm quan trọng của việc lập kế hoạch bấy nhiêu. Như vậy, khi các nhiệm vụ và số lượng con người gia tăng, thì sự tổ chức càng trở nên rất quan trọng. Chúng ta có thể thấy các chức năng này điều liên hệ hỗ tương, tuy nhiên chúng phải được sắp xếp và có trật tự, và điều đó gắn liền với tổ chức. Tổ chức có thể định nghĩa là” tiến trình xếp đặt những sự việc theo hệ thống kế hoạch”. Sau đó, để bảo đảm cho sự tổ chức được lên kế hoạch đúng đắn và thực hiện hiệu quả, thì chúng ta phải đánh giá. Khi chúng ta tiếp tục học bài này, chúng ta sẽ nhận thấy những chức năng này có cần cho những hoạt động khác nhau của Hội Thánh biết bao.
(1) xếp đặt cho phù hợp giữa những hoạt động quản trị với chức năng của nó.
.....a. Động viên một giáo viên cứ tiếp tục lớp của cô ấy với một loạt bài học mới.
.....b. Liên kết các tân tín hữu với nhau trong một lớp học với một giáo viên biết cách dạy dỗ họ.
.....c. Thực hiện một bảng” những việc cần làm” cho ngày mai.
.....d. Sửa sai những lỗi lầm và giải thích tại sao và thế nào.
.....e. Tính toán thời gian cần thiết cho một chương trình.
.....f. Chỉ định trách nhiệm và quyền hành để công việc được hoàn tất.
1) Lập kế hoạch.
2) Tổ chức.
3) Chỉ đạo.
4) Đánh giá.
Mục tiêu 2: Áp dụng những nguyên tắc lập kế hoạch cho một kế hoạch hoạt động cuûa Hoäi Thaùnh.
LẬP KẾ HOẠCH.
Có lẽ bạn đã nghe câu tục ngữ” Nếu bạn thất bại trong việc lập kế hoạch, thì bạn đang lập kế hoạch để thất bại”(if you fail to plan, you are planning to fail). Giống như hầu hết các câu châm ngôn, câu này chứa đựng một sự thật. Khi chúng ta nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta thấy rằng chính Đức Chúa Trời là mẫu mực trọn vẹn về việc lập kế hoạch. Từ khởi thủy Đức Chúa Trời đã công bố kế hoạch của Ngài về sự cứu chuộc loài người. Chúng ta cũng thấy kế hoạch thiên thượng trong đời sống của những nhân vật trong Kinh Thánh khi Đức Chúa Trời dẫn dắt cuộc đời họ và đem ảnh hưởng đến những thế hệ nối tiếp. Giôsép nhắc lại kế hoạch mà Đức Chúa Trời hoạch định nhiều năm trước, khi ông nói với các anh em mình,” Đức Chúa Trời sai em đi trước các anh để bảo tồn nòi giống các anh trên đất và cứu chuộc mạng sống các anh bằng một sự giải cứu lớn” (SaSt 45:7).
LẬP KẾ HOẠCH LÀ GÌ ?
Một kế hoạch là” một đường hướng hoạt động được định trước”. Như bạn đã thấy trong bảng liệt kê những yếu tố của việc lập kế hoạch, nó có thể liên quan đến vài loại hoạt động. Một từ ngữ đơn giản của việc lập kế hoạch là “ nhìn thấy trước”. Bất cứ lúc nào chúng ta cố nghĩ về những gì mình muốn làm hoặc sẽ cố gắng làm, ấy là dính líu đến việc lạäp kế hoạch. Điều này trái ngược với việc chỉ đi tới phía trước bằng mò mẫm học tập từ những thất bại hoặc làm bằng sự may rủi. Lập kế hoạch là một sự cố gắng có cân nhắc để hình dung sự việc trước khi bạn thực sự thi hành. Hãy xem xét cách một người xây cất nhà. Thông thường trước khi làm điều gì khác, người đó vẽ một bảng thiết kế - một kế hoạch. Vì vậy người chủ tương lai của ngôi nhà biết khái quát ngôi nhà sẽ như thế nào trước khi ông ta thực sự xây cất. Người chủ cân nhắc xem mình cần bao nhiêu phòng. Nếu người ấy có một gia đình gồm 6 người và muốn nhiều chỗ để giải trí, thì phải xây cái nhà rộng hơn. Như vậy kế hoạch phải phù hợp với mục đích. Ngay cả khi một người không vẽ kế hoạch ra trên giấy thì người ấy cũng phải phác họa trong trí. Bạn phải nghĩ ra một số yếu tố trước khi bạn hành động. Loại kế hoạch này cần thiết cho toàn bộ hoạt động cũng như sự phát triển của Hội Thánh.
AI LẬP KẾ HOẠCH ?
Ai chịu trách nhiệm về việc lập kế hoạch của Hội Thánh? Mỗi kế hoạch đều khác nhau. Ơû một số Hội Thánh kế hoạch được thực hiện bởi những người được hiến chương Hội Thánh qui định. Hoặc ở một số Hội Thánh nhỏ, kế hoạch được thực hiện trên nền tảng thỏa thuận không chính thức. Trong nhiều trường hợp ban chấp hành Hội Thánh được xem là ủy ban lập kế hoạch. Nếu đó là một Hội Thánh lớn, thì mỗi ban ngành có thể có một ủy ban chịu trách nhiệm việc lập kế hoạch. Tuy nhiên, nếu có nhiều ủy ban trong những ban ngành, thì họ phải có cách nào đó để phối hợp với toàn bộ Hội Thánh chung. Điều chúng ta đang nói đây liên quan đến việc lập kế hoạch cho toàn bộ Hội Thánh hơn là một bộ phận của Hội Thánh. Có một số nguyên tắc đơn giản bạn cần phải theo nếu nhóm lập kế hoạch hoặc do bạn chịu trách nhiệm hoặc do người nào đó mà bạn chỉ định.
Chức năng lập kế hoạch thường do một nhóm hay một ủy ban thực hiện. Đôi khi kế hoạch căn bản do cá nhân đưa ra nhưng trong tiến trình hoạch định thì một ủy ban hoặc một nhóm phải được tham vấn hoặc chấp thuận. Có vài nguyên tắc về các nhóm lập kế hoạch cũng góp phần vào sự thành công của họ.
1. Phải là một nhóm nhỏ, vừa đủ để có thể hoạt động được. Nếu nhóm lập kế hoạch quá lớn, thì khó tập trung mọi thành viên. Số lượng nhóm viên tùy thuộc vào những gì phải được thực hiện. Mặc dù 3 người được coi là số ít nhất, nhưng 5 hoặc 7 người là nhóm làm việc tốt. Tuy nhiên nếu ủy ban được chỉ định cho một chức năng đặc biệt bao gồm nhiều hoạt động, thì bạn cần một nhóm lớn hơn. Chẳng hạn, một ủy ban công ước truyền giáo có thể gồm từ 11 đến 15 thành viên, và những phân ban sẽ chịu trách nhiệm cho những hoạt động khác nhau. Mỗi ủy ban phải nhỏ vừa đủ để hoàn thành công việc và lớn vừa đủ để thực hiện nhiệm vụ cách hiệu quả. Bạn sẽ thấy rằng phần nhiều các ủy ban đông người thường làm việc không đồng bộ và họ có khuynh hướng dọa dẫm một số người. Phải giữ sao cho gọn gàng để sự ‘lớn’ ấy không làm cho một số thành viên lo sợ khiến họ không tham gia.

2. Nhóm phải lớn đủ để có thể đại diện. Những phân ngành nhỏ khác nhau trong các công tác của Hội Thánh đều phải có người đại diện. Đôi khi những ban ngành trong Hội Thánh được chia theo lứa tuổi hoặc được chia theo mục đích của kế hoạch.
(2) Khoanh tròn những chữ mô tả các yếu tố góp phần cho sự thành công của một nhóm lập kế hoạch.
a. Độc quyền.
b. Bao hàm tất cả.
c. Thuộc về chức năng.
d. Phụ thuộc.
e. Có đủ tư cách đại diện.
Tôi muốn minh họa hai cách khả dĩ tạo thành một nhóm lập kế hoạch cho Hội Thánh.
Theo nhóm A, những công tác trong Hội Thánh được chia theo trách nhiệm hoặc lợi ích đặc biệt. Chẳng hạn, các lợi ích có thể là giáo dục người lớn và thiếu nhi, ngoại vụ, huấn luyện, âm nhạc, truyền giáo, công tác phụ nữ, công tác thanh niên. Trong mỗi ban ngành này có một nhóm lập kế hoạch, ở mỗi nhóm đều có một chấp sự liên hệ để biết nhu cầu và kế hoạch của ban ngành đó rồi trình cho ban lãnh đạo của Hội Thánh. Một số Hội Thánh lớn thực hiện theo cách này.
Theo nhóm B, những thành viên của nhóm là những đại diện của các ban ngành và hoạt động chính của Hội Thánh. Thêm vào đó còn bao gồm tất cả chấp sự và trưởng lão cũng như thủ quĩ. Dường như cách này có hiệu quả trong hầu hết các trường hợp. Toàn thể Hội Thánh đều được đại diện đầy đủ và không chức vụ nào cảm thấy bị bỏ rơi hay bị coi thường.
NHỮNG CHỨC NĂNG CỦA VIỆC LẬP KẾ HOẠCH.
Dù cá nhân, nhóm người hoặc một Hội Thánh cần lập một kế hoạch, thì cũng phải trả lời hai câu hỏi: Khi nào thực hiện kế hoạch nầy ? Và kế hoạch này được thực hiện bằng cách nào?
Dĩ nhiên” khi nào” thực hiện kế hoạch phải tùy vào” những gì” cần được lên kế hoạch. Nếu đề tài được quan tâm là chương trình giáo dục Cơ đốc, thì có lẽ nó sẽ theo năm học của trường. Nếu đó là ngân sách của Hội Thánh thì nó sẽ theo lịch tài chính hằng năm. Điều quan tâm đầu tiên” khi nào” kế hoạch hoàn tất phải tính vừa đủ thời gian trước khi thực sự có giá trị. Khởi lập kế hoạch hai tuần trước khi bạn muốn tổ chức một chiến dịch truyền giảng cho cả thành phố kể như là vô ích. Chúng ta sẽ thảo luận đề tài này nhiều hơn trong bài học này khi khảo sát việc lập thời gian biểu.
Nếu nhóm lập kế hoạch chịu trách nhiệm về những nhu cầu cho suốt cả năm thì nhóm này phải họp trước khi năm đó bắt đầu và vạch ra một kế hoạch. Một số hoàn cảnh hay dự án có thể đòi hỏi một kế hoạch năm năm, kế hoạch từng năm, hoặc kế hoạch từng quí. Nếu Hội Thánh của bạn mới mở và nhóm lập kế hoạch mới bầu, thì tốt nhất nên hoạch định những dự án nhỏ hoặc kế hoạch ngắn hạn.
Lên bảng giờ giấc là điều chính yếu khi làm kế hoạch, như vậy bạn cần một lịch tổng thể. Đây là một lịch mà mỗi chức năng hoạt động trong Hội Thánh đều được lên bảng giờ giấc hầu cho bất cứ nhóm làm kế hoạch nào cũng có thể tham khảo lịch đó và tránh được vấn đề mâu thuẩn về thời gian hoặc cố gắng trùng lặp.
Khi chúng ta nhìn vào cách thực hiện kế hoạch, chúng ta nên theo những bước sau:
1. Đưa ra những chỉ tiêu. Bất cứ kế hoạch nào lập ra cho Hội Thánh phải có một mục tiêu đặt trên sứ mạng toàn bộ của Hội Thánh. Mục tiêu là đích mà mỗi cố gắng đều phải hướng vào đó. Một mục tiêu là sứ mạng toàn bộ chẳng hạn, truyền giảng là một trong những mục tiêu của Hội Thánh. Mục đích của một chiến dịch truyền giảng là rao giảng Phúc âm cho mỗi gia đình trong một khu vực nào đó. Khi bạn thực hiện tốt điều này, bạn đã đạt được mục tiêu của mình, thế nhưng bạn chưa hoàn thành trọn vẹn mục đích của việc truyền giảng.
2. Nói rõ những mục tiêu trong từng giai đoạn ước lượng được. Điều này có nghĩa là bạn phải có cách nào đó để biết được mình đã đạt được mục tiêu. Chẳng hạn, với mục tiêu rao giảng Phúc âm cho từng gia đình trong một khu vực nào đó làm sao bạn có thể biết được mình đã hoàn thành hay chưa ? Tuy nhiên nếu bạn trình bày mục tiêu trong thời gian ước lượng được, bạn sẽ nói” mục tiêu của chúng tôi là 1) Từ ngày 1-15 tháng 6, chúng tôi phân phát chứng đạo đơn cho 300 hộ ở làng chúng tôi. 2) Vào ngày 5, 10, 15 tháng 6, chúng tôi tổ chức những buổi truyền giảng lộ thiên ở những khu vực trung tâm”. Sau ngày 15 tháng 6, bạn có thể xác định được mình đã đạt mục tiêu hay chưa.
3. Làm cho những mục tiêu trở thành thực tế. Một số người có khuynh hướng suy nghĩ rằng nêu những mục tiêu có tính cách thực tế cho thấy sự thiếu đức tin. Một ví dụ của một mục tiêu phi thực tế như: một Hội Thánh có 20 thuộc viên công bố rằng mục tiêu của họ là chinh phục 10.000 linh hồn trong một tháng. Điều này có thể ước lượng được nhưng phi thực tế. Mục tiêu trình bày ở điểm 2) sẽ thực tế hơn khi nói” tổ chức một chiến dịch truyền giảng tại một khu vực và chinh phục 500 linh hồn”. Bạn có thể cầu xin Chúa mang 500 linh hồn đến nhưng có lẽ Thánh Linh sẽ mang 550 linh hồn đến. Những gì bạn có thể ước lượng cách đặc biệt và làm được ấy là phân phối văn phẩm và làm chứng cho 300 gia đình, và dĩ nhiên là cầu nguyện.
4. Quyết định những nhu cầu để đạt tới những mục tiêu. Đây là những điều thực tế bạn phải làm để thấy rõ mục tiêu. Nó bao gồm những việc như:
a). Có được giấy phép của chính quyền.
b). Mời diễn giả.
c). Thông báo rộng rãi.
d). Dự trù về tài liệu, nhân lực và tài chánh.
e). Lập thời gian biểu.
f). Bao gồm những mục nào được liệt kê trong phần” những yếu tố của việc lập kế hoạch”.
Chẳng hạn, việc lập thời gian biểu, cách nào tốt nhất để chuẩn bị giờ giấc cho một công tác truyền giảng ? Một cách tốt nhất để làm điều này là khởi sự từ” thời điểm kết thúc” trở lui về trước. Nếu mục tiêu của bạn là tổ chức một chiến dịch từ ngày 1-6 tháng 6, thì bắt đầu từ ngày này trở về trước để quyết định bạn cần bao nhiêu thời gian để chuẩn bị cho từng hoạt động.
(3) Khoanh tròn những lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Khi lập kế hoạch, thì những mục tiêu cần phải
a). Hạn chế cố gắng của Hội Thánh vào một số ít mục tiêu.
b). Biết những gì phải hoàn tất và sẽ hoàn tất bằng cách nào.
c). Kết hợp và hướng dẫn những cố gắng của những người góp phần.
d). Mở rộng đức tin đến khả năng không giới hạn.
e). Dự đoán những thành tố cần thiết cho sự thành công.
(4) Trong sổ tay của bạn hãy viết một kế hoạch bao quát cho hoàn cảnh sau: Giả sử bạn là mục sư của Hội Thánh có 200 tín hữu. Bạn và ban chấp hành đã quyết định mời một vị giáo sư đến huấn luyện những người trong Hội Thánh bạn trở thành những hướng dẫn viên nghiên cứu Kinh Thánh. Hãy khảo sát những yếu tố sau đây trong kế hoạch của bạn: - Mục tiêu của Hội Thánh: trở thành một ống dẫn cho mục đích của Đức Chúa Trời để xây dựng một tập thể tín hữu lớn lên tầm thước vóc giạc về mặt thuộc linh.- Mục tiêu của chương trình: chuẩn bị 10 nhân sự hướng dẫn các nhóm học Kinh Thánh bằng cách huấn luyện họ trong 16 giờ thảo luận chuyên đề vào 8 buổi chiều Chúa nhật trong tháng Giêng và tháng hai.- Hãy viết một thời gian biểu chương trình từng bước của những gì phải thực hiện để chuẩn bị cho lớp chuyên đề này. Hãy xem xét về ngày, tháng, người tham dự, tiếp tân, thông báo tin tức và những mục liên quan đến ngân khoản. Xét lại những mục ở phần những yếu tố của việc lập kế hoạch.
Hội Thánh không phải là một dịch vụ kinh doanh trong ý nghĩa là một tổ chức làm ra tiền, tuy nhiên đó là dịch vụ của Vua, và nó đòi hỏi chúng ta phải chăm lo cách hữu hiệu nhất. Những phương pháp chúng ta đã mô tả là những phương tiện để giúp Hội Thánh hoàn thành chức năng của mình hiệu quả hơn.
Mục tiêu 3: Nhìn nhận những phương pháp tổ chức và vẽ một sơ đồ tổ chức.
TỔ CHỨC.
Cấu Trúc
Có nhiều lý thuyết khác nhau về sự tổ chức và có nhiều sách viết về đề tài này. Cùng với tất cả lý thuyết về sự tổ chức thì cũng có nhiều định nghĩa. Với mục đích của bài này, chúng ta hãy nói rằng tổ chức liên quan đến” một tiến trình hình thành nhóm, xếp đặt và chỉ định công tác phải thực hiện bởi một nhóm người để đạt một mục đích chung”.
Ý niệm về tổ chức có hai khía cạnh chính. Một là tiến trình đưa nhiều người vào làm việc với nhau trong những mối quan hệ tốt nhất để đạt được mục đích chung. Chẳng hạn, một nhóm thanh niên kết hợp lại để chinh phục, huấn luyện và động viên những thanh niên khác phục vụ Chúa.
Một khía cạnh khác của tổ chức là cấu trúc, hay một kế hoạch chứng tỏ mối quan hệ giữa người này với người khác như thế nào. Khi mối quan hệ này viết ra trong một kế hoạch thì được gọi là” sơ đồ tổ chức”. Sơ đồ chỉ về cấu trúc và cũng chỉ cho thấy người này có liên hệ với người khác như thế nào trong tổ chức đó. Một loại tổ chức thông thường được sử dụng trong quân đội và các công ty lớn gọi là tổ chức trực tiếp.
Loại tổ chức này không thích hợp với Hội Thánh, vì trong thực tế mỗi người chỉ được liên lạc với người giám sát trên mình và không đi trực tiếp đến người lãnh đạo về hành pháp (Executive leader). Một loại tổ chức khác được gọi là theo chiều nhân sự (line-staff). Người chịu trách nhiệm hành chánh chính có những thành viên cố vấn và với sự cố vấn của họ ông giám sát những lãnh đạo cấp trung.
Loại thứ ba của tổ chức được gọi là theo chức năng. Trong loại này những nhân viên làm việc và được giám sát theo công việc có liên quan. Cách người này liên hệ với người kia dựa theo nhiệm vụ hơn là vị trí. Sơ đồ mẫu này chứng tỏ rằng Hội Thánh địa phương có một hình thức tổ chức hội chúng của một chính phủ. Nó có thể được mô tả vắn tắt như sau:
1. Mục sư chịu trách nhiệm trực tiếp trước hội chúng. Ông được hội chúng bầu cử.
2. Các chấp sự phục vụ như những cố vấn và được hội chúng bầu lên. Thường thường có ít nhất 3 chấp sự và cứ 50 tín hữu lại bầu thêm 1 chấp sự nữa.
3. Những chấp sự, là những người đồng chủ tịch (cochairmen) của những ban ngành đại diện cho những bộ phận khác nhau trong sinh hoạt và sứ mạng của Hội Thánh.
4. Gạch thẳng là những đường chỉ về quyền hạn, còn gạch chấm chấm là đường chỉ về sự hội ý.
5. Sơ đồ kết hợp những khung về vị trí và những khung về chức vụ.
6. Đối với những Hội Thánh lớn, mỗi lãnh vực của công tác có thể có sơ đồ tổ chức riêng
Hầu hết Hội Thánh sử dụng một kết hợp của 3 loại tổ chức này với rất ít loại tổ chức theo trực tiếp. Công tác của Hội Thánh gồm những nhiệm vụ đa dạng nên những người lãnh đạo và nhân sự liên hệ nhau theo chức năng. Những chức năng thường được thực hiện theo khuôn mẫu tương tự như sau:
1). Nhận diện một mục tiêu và những nhiệm vụ cần phải thực hiện.
2). Phân chia công tác cho những thành viên trong nhóm.
3). Quyết định mối quan hệ giữa người và công tác với nhau để tránh việc giẫm chân.
4). Giữ cho tổ chức năng động. Tái lập lại chức năng và cấu trúc để đáp ứng những nhu cầu.
(5) Xếp đặt cho phù hợp loại tổ chức với các mô tả.
1) Theo trực tiếp.
2) Theo nhân sự.
3) Theo chức năng.
...a. Những chấp sự góp ý với mục sư về những nhu cầu công tác Hội Thánh với những người có liên quan. Mục sư cho họ biết những gì ông mong muốn thực hiện. Những chấp sự truyền đạt lại với những người ở dưới sự giám sát của họ.
...b. Trong một Hội Thánh lớn mục sư chỉ liên hệ với những mục sư phụ tá. Họ lại liên hệ với những nhân sự dưới quyền họ.
...c. Đối với chương trình âm nhạc Phục sinh, trưởng ban âm nhạc bàn với mục sư về những bài hát và ca sĩ thích hợp. Cùng với một mục sư phụ tá, họ lập chương trình.
(6) Trong sổ tay của bạn hãy vẽ một sơ đồ tổ chức cho một Hội Thánh có một mục sư, 5 chấp sự và 3 trưởng ban chịu trách nhiệm về truyền giảng, giáo dục và âm nhạc.
Mục tiêu 4: Chọn những lời diễn đạt giải thích được những mối quan hệ trong một tổ chức.
NHỮNG MỐI QUAN HỆ.
Sơ đồ tổ chức cho biết trách nhiệm của một người ở trong một tổ chức, và nó cũng có thể cho thấy những mối quan hệ. Những mối quan hệ có được trong hai chiều: 1) một người phải biết mình thích hợp với tổ chức như thế nào. Và 2) người ấy phải biết thực hiện trách nhiệm của mình như thế nào. Muốn cho tổ chức thành công thì người lãnh đạo (mục sư) phải biết rõ điều đó cho chính mình và ông phải giúp những người cộng tác với mình hiểu được những mối quan hệ của họ. Có hai phương pháp để giúp mục sư làm điều này:
1. Mô tả công việc. Bạn sẽ có cảm nghĩ như thế nào nếu bạn được yêu cầu làm một công việc mà người ta không nói rõ họ mong đợi bạn thực hiện điều gì không ? Điều đó sẽ gây bực mình. Mô tả công việc sẽ cho thấy sự mô tả về bổn phận, trách nhiệm và quyền hạn. Những mục sau đây thường bao gồm trong một bảng mô tả công việc:
a). Tên công việc.
b). Chịu trách nhiệm với ai.
c). Những phẩm chất cần thiết.
d). Mô tả những bổn phận.
Những phần mô tả công việc khác có thể bao gồm một bảng liệt kê những lợi ích như những dịp nghỉ có hưởng lương, nghỉ vì bệnh và những lợi ích về khuyết tật hoặc bất lực nhưng những điều này có thể không cần thiết cho trường hợp của một Hội Thánh.
Ai chịu trách nhiệm định rõ công việc ? Những hoàn cảnh thay đổi đối với từng Hội Thánh, vì thế điều này phải uyển chuyển. Đôi khi một ban hay ủy ban định nghĩa công việc. Nếu bạn đang mở mang một Hội Thánh mới, thì bạn có thể làm việc đó. Nếu vị trí đã có sẵn thì người đang ở trong vị trí có thể mô tả công việc ấy tốt nhất. Khi một công việc được mô tả xong, thì người giám sát có thể ngồi xuống với người nhận việc và thông qua các chi tiết của công việc để chắc chắn rằng người ấy đã hiểu công việc cách rõ ràng.
2. Phối hợp các trách nhiệm. Thật thú vị khi biết một thân thể khỏe mạnh phối hợp nhịp nhàng làm sao. Mối quan hệ giữa những phần khác nhau của thân thể con người chứng tỏ rằng mỗi phần có một trách nhiệm với những phần khác. Đó là cách mà những mối quan hệ phải phối hợp trong thân thể Hội Thánh, mỗi phần chịu trách nhiệm và lệ thuộc vào phần khác.
Giả định có một giáo viên Trường Chúa nhật trong Hội Thánh bạn cần những bút chì màu cho lớp mình. Người ấy phải xin ai ? Nếu không phải bạn, thì ai ? Nếu nhiều người trong Hội Thánh bạn đều có loại nan đề tương tự, chắc hẳn bạn là người rối trí nhất. Bằng việc phân rõ giới hạn trách nhiệm, mỗi người hiểu được mình ở chỗ nào trong dây chuyền quan hệ vốn được mô tả là giới hạn quyền hành, hoặc giới hạn của sự hội ý. Chúng ta không thể mô tả hết mọi khía cạnh của một tổ chức cách đầy đủ bằng một sơ đồ trên giấy vì có nhiều phức tạp và thay đổi xảy ra từng hồi từng lúc. Thật vậy, sự năng động của một tổ chức đòi hỏi sơ đồ phải thay đổi và cải tiến theo nhu cầu. Mục đích chính của sơ đồ là đưa ra hình ảnh của những công việc được phân phối như thế nào và chúng liên hệ với nhau làm sao.
(7) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Trong những mối quan hệ mỗi người tham gia cần phải hiểu
a. Người ấy thích hợp với tổ chức như thế nào và chịu trách nhiệm với ai.
b. Những giới hạn về quyền hạn của mình và làm thế nào để duy trì sự kiểm soát.
c. Những gì người ta mong đợi nơi người ấy.
LÃNH ĐẠO.
Chúng ta đã định nghĩa sự lãnh đạo như là sự góp phần đến từ bất kỳ thành viên nào trong nhóm để đạt được mục tiêu của nhóm. Tôi thích định nghĩa này vì nó chứng tỏ sự lãnh đạo không hạn chế chỉ một người hoặc vài người. Trong phần này của bài học chúng ta sẽ khảo sát hai phẩm chất chính góp phần vào sự lãnh đạo tốt. Đó là sự” truyền đạt rõ ràng” và” quyết định”. Trước hết chúng ta hãy xem làm cách nào vượt qua những hàng rào để truyền đạt.
Mục tiêu 5: Mô tả những trách nhiệm của người lãnh đạo trong tiến trình truyền thông.
TRUYỀN ĐẠT VÀ LÃNH ĐẠO.

Mỗi người đều có mối liên hệ với sự truyền thông. Đó là tiến trình và nghệ thuật của sự chuyển giao một sứ điệp. Sự truyền thông được cấu thành bởi 3 yếu tố chính. Trước hết, người đề xướng có một ý định, hay ý nghĩa. Đây có thể là một ý tưởng, một cảm xúc hay một tin tức. Kế đó là người nhận. Người nhận là người có những nhận thức có thể ảnh hưởng như thế nào về việc mình tiếp nhận ý nghĩa đó. Khi tiến trình truyền đạt được rõ ràng, thì người nhận hiểu được ý nghĩa chính xác như người đề xướng muốn. Sau đây là vài gợi ý giúp cho người nhận hiểu được sứ điệp bạn muốn truyền đạt:

1. Hiểu và biết những gì bạn muốn truyền đạt. Có một mục tiêu ý tưởng rõ ràng về những gì mình muốn nói, không chỉ là vài ý niệm mơ hồ. Nếu bạn cần trình bày một sự thông báo hay vấn đề gì có tính cách trang trọng, thì hãy viết ra trên giấy rồi tập nói lớn để bạn có trong trí chính xác những gì mình muốn nói. Hãy có thói quen sử dụng cách ghi chép và dàn ý.

2. Biết về con người mà bạn muốn truyền đạt. Bạn càng biết rõ về người nhận sứ điệp bao nhiêu, thì bạn có thể mô tả sứ điệp của mình rõ ràng để người ấy có thể hiểu được bấy nhiêu. Nếu bạn biết về cá tính của người ấy, thì bạn sẽ hiểu được những nhận thức của người tốt hơn.

3. Khích lệ việc liên tục hoàn ngược. Chữ hoàn ngược phát xuất từ chữ điện tử liên quan đến hệ thống âm thanh. Nó có nghĩa đơn giản là sự phản hồi những hiệu ứng của một quá trình về nguồn gốc của nó. Trong việc truyền đạt điều này có nghĩa là sự đáp ứng. Chấp nhận sự hoàn ngược, hay đáp ứng, từ người nhận sẽ cho bạn biết những gì người ấy hiểu. Điều này liên quan đến sự lắng nghe, vốn là một phần quan trọng của sự truyền đạt. Lắng nghe trong trường hợp này có nghĩa là” nghe với sự chủ ý đầy đủ”. Hội Thánh không đòi hỏi một” hộp góp ý” để cho sự truyền đạt tuôn chảy tự do. Mục sư cần duy trì một bầu không khí trao đổi lành mạnh, một sự tuôn chảy tới lui của sự truyền đạt.
4. Sử dụng ngôn ngữ chính xác, đúng đắn. Bất cứ lúc nào có thể được cũng phải dùng chữ chính xác, đừng dùng những chữ mơ hồ dường như bạn muôâùn che dấu một điều gì. Sử dụng những chữ để người nghe sẽ hiểu được. Họ không bị những từ phức tạp xa lạ với họ làm cho họ ngỡ ngàng. Tránh các từ ngữ như: nhiều, một thời gian ngắn, chỉ một vài. Nếu có nan đề gì hãy nói trực tiếp và rõ ràng cho người có liên hệ, đừng nói những từ bóng gió cho một nhóm, để lại ấn tượng là một người vô danh nào đó phạm lỗi lầm.
(8) Mô tả ngắn gọn tiến trình truyền đạt:
(9) Xếp cho phù hợp giữa trách nhiệm truyền đạt của người lãnh đạo (phải) với thực tế sử dụng (trái).
1) Biết những gì bạn muốn nói.
2) Biết người nghe mình.
3) Động viên sự hoàn ngược.
4) Sử dụng ngôn ngữ chính xác.
...a. Yêu cầu bình luận và đặt câu hỏi, và lắng nghe những đáp ứng.
...b. Sử dụng sổ ghi chép và có một sứ điệp rõ ràng trong trí. Kiểm tra sứ điệp của mình bằng sự thực tập.
...c. Học trước kinh nghiệm, sự nhận thức và loại cá tính của người nghe.
...d. Nói cách chân thành, sử dụng những chữ thông thường và cố tránh những chữ mơ hồ.
Mục tiêu 6: Nhận diện những yếu tố quyết định theo những bước giải quyết vấn đề.
NGƯỜI LÃNH ĐẠO QUYẾT ĐỊNH.
Quyết định có liên quan chặt chẽ đến giải quyết vấn đề. Trí phán đoán mà mỗi người phải sử dụng và những phương pháp phải noi theo rất giống nhau. Trong nhiều trường hợp đưa ra một quyết định là giải quyết một vấn đề. Sự khác nhau ấy là nhiều quyết định phải thực hiện cho những hoàn cảnh thông thường để giữ cho công việc tiến triển. Vì những quyết định khó nhất đều xoay quanh sự giải quyết một vấn đề, nên chúng ta phải khảo sát tiến trình của sự giải quyết vấn đề và xem thử làm thế nào để áp dụng cho những hoàn cảnh khác nhau.
Những người nghiên cứu những chức năng lãnh đạo thường nhận diện mấy giai đoạn trong tiến trình giải quyết vấn đề. Những giai đoạn này tương tự như 6 bước liệt kê sau đây:
1. Nhận diện hay định nghĩa nan đề. Bước thứ nhất giúp cho việc quyết định là biết nan đề thật là gì. Có thể nan đề thật không thấy rõ ngay từ đầu. Khi bạn nhận diện vấn đề, hãy mô tả nó bằng những chữ đặc biệt. Bạn phải nhận diện nan đề cách chính xác hơn là nói” Tôi cảm thấy buồn về trường hợp này”. Bạn phải nói, như Nêhêmi nói khi ông nhận diện nan đề ở Giêrusalem: “ Những bức tương bị đổ xuống và bị lửa thiêu đốt”. (NeNe 2:17).
2. Phân tích và mô tả hoàn cảnh chung. Bạn phải trình bày xem xét mọi sự kiện liên quan đến vấn đề. Trong tiến trình này bạn có thể xác định nan đề có khẩn cấp, nghiêm trọng hay mới ướm thử, và bạn có thể quyết định hoặc hành động tức thì hay chờ đợi một thời gian. Để có thể đưa ra quyết định tốt nhất, bạn nên bàn thảo với người nào khác về vấn đề này.
3. Lập những tiêu chuẩn để giải quyết vấn đề. Hệ thống có giá trị của những quyết định sẽ xác định các tiêu chuẩn. Ở trong Hội Thánh, hệ thống đó là những giá trị của Kinh Thánh.

4. Xem xét những giải pháp thay đổi. Đôi khi điều này được gọi là” vấn đề động não” (brainstorming), tại đó mỗi người chỉ nói những gì vừa đến với tâm trí họ mà chẳng có hạn chế nào cả. Đây là một cơ hội để đề xuất những thuận lợi và bất lợi của một số giải pháp, và mỗi một lời đề nghị đều được đánh giá cao.

5. Chọn lúc hành động và quyết định chọn theo thủ tục. Hãy cho những người có liên hệ biết về quyết định và giải thích nếu cần. Người ta sẽ thích cộng tác hơn nếu họ hiểu rõ những lý do đưa đến những quyết định đó và có thể thấy đó là những quyết định tốt đẹp.

6. Thực hiện hành động và đánh giá thủ tục. Điều này có thể khó áp dụng trong Hội Thánh, đặc biệt là thi hành kỷ luật đối với một thành viên trong Hội Thánh hoặc vài loại khó xử khác. Tuy nhiên, khi những quyết định đó được thực hiện trong tình yêu Cơ đốc, thì lợi ích của việc hoàn thành trách nhiệm sẽ đắc thắng những khó khăn.
Tiến trình giải quyết vấn đề phải được theo dõi với sự đánh giá kết quả. Nếu kết quả đem lại sự thỏa lòng, thi quyết định ấy đúng. Nếu không, chúng ta phải hỏi những câu sau:
1. Vấn đề đã được nhận diện đúng đắn chưa ?
2. Đã đưa ra quyết định đúng đắn chưa ?
3. Đã thực hiện hoàn chỉnh chưa ?
Nếu quyết định đưa ra không đúng lắm, thì người đề xuất quyết định phải công nhận lỗi lầm của mình, điều tra thêm nữa, trở lại từ đầu theo tiến trình, và điều chỉnh quyết định.
(10) Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG liên quan đến việc giải quyết vấn đề.
a. Bước thứ nhất trong việc giải quyết vấn đề là định nghĩa vấn đề. Kế tiếp là một sự phân tích hoàn cảnh chung, vốn xác định phạm vi của vấn đề đặc biệt đó.
b. Một khi vấn đề đã được định nghĩa và phân tích, một người có thể chuyển sang việc lập những tiêu chuẩn cho một giải pháp. Ngoài ra, người ấy có thể khảo sát những giải pháp thay đổi.
c. Sau khi một người đã chọn một trong vài giải pháp thay đổi, người ấy thực hiện một đường hướng hành động. Đã đi theo những bước này. Người ấy có thể chắc chắn rằng kết quả sẽ là thành công.
ĐÁNH GIÁ.
Đánh giá là sự đo lường hiệu quả hay giá trị của bất cứ chương trình nào để xem nó có đáp ứng được những mục đích và chỉ tiêu đã đề ra hay không. Có thể không có sự đánh giá chân thật trừ khi những mục đích và chỉ tiêu được trình bày cách rõ ràng.
Chúng ta hãy thừa nhận mục tiêu của bạn trong buổi thờ phượng sáng Chúa nhật là: Cung ứng một thì giờ cho sự thờ phượng thuộc linh qua sự cầu nguyện, hát ngợi khen và chức vụ ban lời để đẩy mạnh sự tăng trưởng thuộc linh. Để xác định liệu bạn đã đạt chỉ tiêu hay không, bạn cần đo lường điều đó so với những tiêu chuẩn do bạn lập ra. Hệ thống đánh giá đơn giản mà bạn có thể sử dụng là lập một bảng câu hỏi rồi phân phối cho những người có liên quan với chương trình. Nếu bạn muốn đánh giá cách rộng rãi chương trình thờ phượng sáng Chúa nhật, thì hãy chuyển bảng câu hỏi này cho những người đến thờ phượng khi chấm dứt buổi lễ. Yêu cầu họ đem về nhà, trả lời những câu hỏi, và Chúa nhật tới mang trở lại. Một số câu bạn có thể hỏi là:
1. Giờ nhóm sáng Chúa nhật có thích hợp không ?
Thích hợp không .
2. Nếu không, giờ nào là thích hợp nhất ?
3. Bạn có thích những bài hát chúng ta hát không ?
Thích không .
4. Chúng ta hát như vậy là đủ chưa ? Đủ Chưa .
5. Những bài giảng có dài quá không ? Dài Không .
6. Những bài giảng có đáp ứng nhu cầu của bạn không ?
Đáp ứng Không .
7. Những bài giảng có nhấn mạnh quá nhiều về một vài đề tài không?
Có Không .
8. Những đề tài nào giảng chưa đủ ?
9. Chúng ta phải có thêm âm nhạc đặc biệt bổ sung cho ca đoàn không?
Có Không .
10. Bạn có những nhận xét khác không ?
Mục đích của sự đánh giá là xác định xem có thiếu sót nào trong một số lãnh vực và có thành công nào trong những lãnh vực khác. Một khi bạn đã nhận được sự đánh giá, hoặc từ bảng câu hỏi giống như trên hay từ sự thảo luận với những người gắn bó trong công tác phục vụ, thì bạn phải nắm lấy cơ hội. Những lời bình phẩm có thể tái xác nhận rằng chức vụ của bạn đã thành công trong việc đạt những chỉ tiêu đã đề xuất. Cũng có thể có những điều bạn không đạt chỉ tiêu. Người ta có thể chỉ ra những lãnh vực bạn yếu kém trong chức vụ. Điều này giúp bạn chống đỡ những lãnh vực” yếu kém” trong chương trình.
Là mục sư, sự đánh giá rất quan trọng đối với bạn. Điều đó cũng quan trọng đối với tất cả những người cộng tác trong Hội Thánh bạn. Một nhân sự làm bất kỳ loại công việc có giá trị nào đều cần sự hoàn ngược. Trao cho người nào bảng đánh giá khi họ hoàn thành công tác được giao, sẽ làm cho người ấy một cảm nghĩ đã hoàn tất và người ấy sẽ được khích lệ để bắt đầu một dự án mới với nghị lực tươi mới. Ngay cả nếu một nhân sự tiếp tục gánh vác cùng một trách nhiệm đó trong thời gian dài, như dạy một lớp Trường Chúa nhật, người ấy cần được sự công nhận và đánh giá theo từng khoảng cách thường xuyên. Sự công nhận ấy sẽ tránh được sự vô tình và có cảm tưởng chẳng ai quan tâm đến những gì mình đang làm. Một mục sư, là một người lãnh đạo khéo léo, sẽ luôn luôn cung cấp sự động viên qua sự đánh giá thường xuyên chính công việc của mình và của những người cộng tác với mình.
(11) Ôn lại bảng câu hỏi ở trên. Trong sổ tay của bạn, hãy viết ra 6 câu hỏi mà bạn sẽ dùng để đánh giá một lớp Trường Chúa nhật cho những em mẫu giáo. Chỉ tiêu đề xuất cho lớp học là: Tăng số lượng các em ghi danh vào lớp học và phát triển trong các em nhiệt tình học tập những lẽ thật thuộc linh qua đời sống các nhân vật trong Kinh Thánh.
(12) Một mục đích sinh lợi của việc đánh giá là nó
a. Bày tỏ đức tin của người lãnh đạo.
b. Chứng minh sự tận hiến của một người cho công tác.
c. Cung cấp sự hoàn ngược và đưa ra sự động viên.
d. Giải thích những lý do của sự thiếu khả năng.
Bây giờ chúng ta đến phần kết luận việc chúng ta nghiên cứu về công tác của mục sư. Tôi cầu nguyện cho những sự nghiên cứu này sẽ đem lại cho bạn một tấm lòng của người chăn chiên và làm cho sắc bén tiêu điểm của bạn trong chức vụ. Ước mong bạn áp dụng những gì bạn đã học và nhìn nhận rằng tất cả chúng ta cùng làm việc chung với Hội Thánh khắp nơi trên thế giới để xây dựng Hội Thánh của Chúa Jêsus Christ.



BÀI TỰ TRẮC NGHIỆM.
CÂU HỎI LỰA CHỌN.
Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi.
1. Một sơ đồ tổ chức phục vụ mục đích cho thấy
a) Cấu trúc và những mối quan hệ.
b) Những mục tiêu.
c) Những phương pháp và những chỉ tiêu.
d) Định nghĩa công việc.
2. Chịu trách nhiệm với ai và những gì mong đợi trong một tổ chức, mô tả
a) Quyền hành của một người.
b) Vị trí của một người.
c) Mối quan hệ của một người.
d) Chức năng của một người.
3. Sự truyền đạt có hiệu quả khi người đề xướng và người tiếp nhận
a) nghe những từ ngữ như nhau.
b) hiểu những lời nói theo cùng một cách.
c) đồng ý trong những thái độ của họ.
d) có những cá tính tương tợ nhau.
4. Trong sự truyền đạt, những người lãnh đạo phải tránh niềm tin cho rằng
a) làm cho người hiểu được là chuyện có thể xảy ra.
b) ngôn ngữ đơn giản, chính xác là điều hiệu quả nhất.
c) yêu cầu sự hoàn ngược trợ giúp cho sự truyền đạt.
d) bất cứ điều gì nói ra sẽ được các người nghe hiểu rõ.
5. Bước thứ nhất trong tiến trình giải quyết nan đề là
a) phân tích hoàn cảnh.
b) nhận diện vấn đề.
c) lựa chọn hành động cần thiết.
d) lập những tiêu chuẩn.
6. Đánh giá là một công cụ có ích cho việc đo lường.
a) sự kiêu ngạo.
b) tiến trình của nhóm.
c) mục tiêu đạt được.
d) sự tăng trưởng của Hội Thánh.
SẮP XẾP CHO PHÙ HỢP. Vào tháng 9 mục sư Ivan khảo sát ý tưởng cho rằng một buổi hòa nhạc Giáng sinh do 20 thanh niên của Hội Thánh ông thực hiện trình diễn tại một trường Trung học của thị xã, sẽ là một cơ hội chứng đạo Cơ đốc có hiệu quả trong cộng đồng nhỏ bé của họ. Hãy xếp đặt cho phù hợp sự liên phát đúng của việc lập kế hoạch của ông và tổ chức với hoạt động.
a) thứ nhất.
b) thứ nhì.
c) thứ ba.
d) thứ tư.
e) thứ năm.
f) thứ sáu.
.....7. Chọn một ngày giờ ghi vào lịch của Hội Thánh, nêu rõ ngày giờ đó với nhà trường.
.....8. Thảo luận ý tưởng đó với ban chấp hành Hội Thánh và ủy ban lo về thanh niên, gặt được sự nhiệt tình cộng tác của họ.
.....9. Dự trù một ngân khoản cho sự kiện này, tham khảo ý kiến người lãnh đạo thanh niên, thủ quĩ của Hội Thánh và một thành viên khác của ban chấp hành.
.....10. Chỉ định một ủy ban để quảng cáo và phổ biến.
.....11. Bảo đảm được phép ban điều hành nhà trường để tổ chức buổi hoà nhạc.
.....12. Kết hợp với người hướng dẫn hát và trưởng ban thanh niên trong việc chọn nhạc thích hợp.
ĐÁNH GIÁ TIẾN TRÌNH HỌC TẬP ĐƠN VỊ 4
VÀ THI KIỂM TRA CUỐI KHÓA.
Bây giờ bạn đã hoàn tất công tác học tập trong cuốn Sách Giáo Khoa Tự Học này. Hãy ôn lại từ bài 12 đến bài 14 cẩn thận rồi trả lời câu hỏi trong phiếu trả lời của Bảng Đánh Giá Tiến Trình Học Tập Đơn Vị IV. Gởi Phiếu Trả Lời cho hướng dẫn viên chỉ đạo ICI để sắp xếp cho bạn thi cuối khóa. Ôn thi cuối khóa bằng việc nghiên cứu những mục tiêu của môn học, mục tiêu của bài học, các bài tự trắc nghiệm và những Bảng Đánh Giá Tiến Trình Học Tập. Ôn lại bất cứ nội dung bài học nào cần thiết để làm tươi mới trí nhớ của bạn. Nếu bạn ôn bài kỹ thì việc làm bài thi cuối khóa sẽ không khó khăn đối với bạn.
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU.
(1)
a.3) lãnh đạo.
b.2) tổ chức.
c.1) lên kế hoạch.
d.4) đánh giá.
e.1) lên kế hoạch.
f. 2) tổ chức.
(2) c và e đúng.
(3) b, c, và e là những lời hoàn chỉnh đúng.
(4) câu trả lời của bạn. Kế hoạch của bạn phải bao quát những vấn đề tương tự như phương pháp sau: Bạn có thể không gồm tóm đủ mỗi tiết mục nhưng hãy khảo sát kế hoạch của bạn để bảo đảm tất cả các bước cần thiết điều có.
Ngày 1 tháng 9: chỉ định người phối hợp mở lớp Hội thảo chuyên đề. Mời người cộng tác.
Ngày 7 tháng 9: họp ủy ban làm việc và người phối hợp để quyết định về:
a. Giáo viên lớp chuyên đề và người ủng hộ.
b. Chương trình học được sử dụng.
c. Đề nghị các hoạt động.
d. Ngân khoản cần thiết gồm có:
Nhân lực: một người phối hợp tổ chức lớp chuyên đề, ủy ban làm việc, thành viên, ủy ban tiếp tân.
Tài liệu: Giấy, stencil, đồ thị v.v...
Tài chánh: lạc quyên hay tiền thù lao cho diễn giả, tiền tài liệu, tem, linh tinh...
Ngày 8 tháng 9: gởi thơ mời giáo viên với chương trình học gợi ý và yêu cầu trả lời trong vòng 14 ngày.
- 20 tháng 9: xác nhận sự nhận lời mời của giáo viên. Hội ý về chương trình học.
-27/9 đến 5/10: Chuẩn bị những tài liệu của chương trình học, phân phối, và những trang bị cần thiết
- 20 - 30/11: xác định những sắp xếp tiếp tân có cần. Kiểm tra lại tất cả dụng cụ và tài liệu.
- 10/12: họp với ủy ban làm việc để xem xét lại tất cả kế hoạch và những sắp xếp, để biết chắc mỗi việc đều thông qua.
- 27/12: sắp xếp sự tiếp đón diễn giả và các sự tiếp đãi cần thiết khác (uống trà vào buổi chiều)
- 29/12: kiểm tra tất cả sự sắp xếp một lần nữa để biết chắc mọi sự đã sẳn sàng.
- 6/1: lớp hội thảo chuyên đề bắt đầu.
(5) a.2) theo nhân sự.
b.1) theo trực tiếp.
c.3) theo chức năng.
(7) a và c là những câu đúng.

(8) câu trả lời của bạn phải tương tự như sau:
Một người đề xướng gởi một sứ điệp mà đã được nhận và hiểu như người đề xướng mong muốn.
(9) a.3) động viên sự hoàn ngược.
b.1) biết những gì mình muốn nói.
c.2) biết người nghe mình.
d.4) sử dụng ngôn ngữ chính xác.
(10) a và b là những câu đúng. Câu c sai, có thể một trong những bước chưa được thực hiện đúng.
(11) Câu trả lời của bạn có thể gồm những câu hỏi tương tự như sau:
a. Có bao nhiêu em mới đã ghi danh lớp này năm nay ?
b. Nếu có em nào bỏ cuộc, vì lý do gì ?
c. Các phương pháp giảng dạy có gây thích thú không ?
d. Các em có chăm chú không ?
e. Có bằng cớ nào chứng tỏ các em nhận diện được đặc tính của những nhân vật các em học không ?
f. Làm sao giáo viên xác định được một em có hiểu bài ?
g. Những giáo viên có nhiệt tình với lớp học không ? Nếu không, tại sao không ?
(12) c) cung cấp sự hoàn ngược và đưa ra sự động viên.
&

CHÚ GIẢI TỪ NGỮ.
- Ẩn dụ: một chữ theo nghĩa đen chỉ về một vật hay một ý tưởng dùng để gợi ý về một sự tương tự ở nghĩa khác.
- Bản năng: khuynh hướng vốn có hay sự thôi thúc
- Bán chánh thức: xen vào công việc của người khác.
-Bao hàm: gồm tất cả vào
- Ban phát sứ điệp: cách thức hay phong cách nói.
- Cạn kiệt: chấm dứt.
- Cưỡng bách: bắt buộc, không tránh khỏi được.
- Canh tân: những phương pháp hay ý tưởng mới.
- Cấp tiến: khởi sự từ chỗ bình thường hay thuộc về truyền thống.
- Chọc tức: gây ra sự bực bội hay phẩn nộ.
- Châm biếm: không thực tế, không phù hợp với sự kiện.
- Chói sáng: phát ra ánh sáng, sáng rực.
- Cầu thay: sự can thiệp giữa hai bên.
- Chiến lược: liên quan đến việc lập kế hoạch và chỉ huy các phong trào quân sự
- Chuyên đề: mỗi khóa học được sắp xếp trước
- Chức năng: một hành động góp phần vaò một hành động lớn hơn.
- Cộng đồng giáo hội toàn thế giới: tiêu biểu cho Hội Thánh chung trên toàn thế giới.
- Dâng hiến: để riêng cho mục đích đặc biệt hay mục đích thánh.
- Đương thời: cùng một thời kỳ như nhau.
- Độc nhất: chỉ có một mà thôi.
- Đối lập: phân làm hai nhóm trái ngược nhau.
- Đơn độc: điều kiện ở một mình.
- Đàm thoại: nói chuyện giữa hai hay nhiều người.
- Độc thần: giáo lý hay niềm tin nơi một mình Đức Chúa Trời
- Đa thần: tin nơi nhiều thần.
- Đánh giá: quyết định giá trị bằng nhiều sự khen ngợi.
- Giải hòa: phục hồi tình bạn và hài hòa
- Gây thành kiến: có một sự chống đối
- Giai cấp: cấp bậc về vị trí hay quyền hành
- Giàn giáo: một cái khung tạm thời để làm việc
- Giải độc: thuốc chữa hay ngăn ngừa tác hại
- Giải luận: giải thích, đưa ra ý nghĩa.
- Giáo khu: cộng đồng hội chúng địa phương
- Giáo phẩm: những người được phong chức để thi hành những lễ nghi tôn giáo
- Giáo dân: những người có đức tin tôn giáo khi chuyên biệt với hàng giáo phẩm chuyên nghiệp.
- Giáo thể: hình thức tổ chức đặc biệt
- Hạt nhân: trung tâm từ đó mọi hoạt động xảy ra
- Hiệu lực: sức mạnh để phát sinh ra hiệu quả
- Hoàn ngược: trả lại sự truyền đạt đã đưa ra (đáp ứng)
- Khuyên bảo: thúc đẩy cách mạnh mẽ
- Khôi phục: đem trở lại tình trạng như cũ hay tình trạng tốt hơn, kiếm trở lại
- Khuôn khổ: một loại đặc biệt
- Khán giả: người xem nhưng không góp phần
- Lựa chọn: không đòi hỏi, một vấn đề phải lựa chọn
- Lịch Cơ đốc: lịch những ngày lễ hàng năm của Cơ đốc giáo
- Lễ rửa tội và đặt tên: một lễ làm báp têm và đặt tên cho một em bé
- Mộ đạo: nhiệt tình quá độ về tôn giáo
- Nghe được: có khả năng nghe được
- Ngoan cố: cứ tiếp tục cách cứng đầu mặc dù còn sự chống đối
- Nghiêm khắc: không uốn nắn được, không mềm dẻo
- Nhiệm chức: giữ một chức vụ hay vị trí đặc biệt.
- Nẩy sinh: mọc lên và phát triển.
- Nghi thức: một hình thức thủ tục hay thờ phượng của một buổi lễ tôn giáo.
- Người được khuyên: người tiếp nhận lời khuyên.
- Nhà tâm lý học: Khoa học gia nghiên cứu về tâm lý và cách cư xử.
- Nghi lễ: một lễ được định trước.
- Phân biệt: nhìn thấy sự khác nhau.
- Phân chia: phân thành từng phần nhỏ
- Phát ngôn viên: một người đại diện cho một người khác để nói
- Phép chữa bịnh: cách cứu chữa cho sự mất ổn định.
- Phối hợp: đem vào một hoạt động chung.
- Phức tạp: có những phần ràng buộc lẫn lộn với nhau.
- Quản lý: sự điều phối tài sản của người khác.
- Quá mức: vượt quá số lượng hay phí tổn.
- Sự tin quyết: hành động kiên quyết vào một chân lý.
- Sứ mạng: được giao phó cho một mục đích nhất định.
- Tính mãnh liệt: phẩm chất của sự căng thẳng, một sức mạnh dữ dội hay một cảm xúc sâu sắc.
- Tài bồi: tiến trình làm cho lớn nhanh
- Tái sinh: sinh ra về mặt thuộc linh để có đời sống mới và tốt hơn.
- Thông công: một hành động chia sẻ, một lễ kỷ niệm về sự chết của Đấng Christ.
- Tóm tắt: làm ngắn lại mà không mất ý nghĩa.
- Thông suốt: trống rỗng không có vật cản.
- Thuận tiện: làm cho mọi sự dễ dàng hơn.
- Thấu triệt: cố sức cho hiểu kỹ vấn đề.
- Thu thập: tiếp nhận và sử dụng cách thích hợp
- Thuộc giáo hội: liên quan đến tổ chức Hội Thánh
- Tôn cao: đem lên địa vị hay quyền hành cao hơn.
- Tương tự: giống nhau ở vài điểm đặc biệt của hai vật đồng dạng.
- Tiền thù lao: trả tiền cho sự phục vụ mà không phải bắt buộc trả đúng giá.
- Tồn trữ: nơi cất giữ.
- Tĩnh học: tình trạng vững vàng, không thay đổi, hay tiến triển.
- Tháo dỡ: lấy ra từng phần rời đem đi.
- Thận trọng: canh chừng để ngăn ngừa nguy hiểm.
- Tùy cơ ứng biến: làm nên sáng tạo với những vật có sẵn.
- Tổn thất: mất mát vì cái chết của người thân.
- Trình tự hành lễ (kim chỉ nam của mục sư): thi hành một lễ nghi tôn giáo.
- Trì hoãn: có ý định bỏ những việc đáng lẽ phải thực hiện.
- Tập sự: thời kỳ thử thách học tập.
- Tiềm năng: có khả năng xuất hiện hay hoạt động.
- Tinh túy: vượt lên trên hay một nhóm người có quyền hành.
- Thành thạo: khéo léo hay hiểu biết cách đặc biệt.
- Thể chế hóa: tổ chức với sự nhấn mạnh về cấu trúc.
- Ủy nhiệm: có quyền hành động thế cho
- Ưu tiên: định rõ vị trí thứ tự điều nào đặt trước.
- Vận dụng: khéo léo sử dụng ảnh hưởng, khéo tay hay đối xử tinh tế.
- Vật lộn: vùng vẫy để chiếm ưu thế.
- Vu khống: nói điều ác nghịch với.
- Vĩnh viễn: cứ tiếp tục không giới hạn.
- Xen vào: tự mình bận tâm với công việc của kẻ khác


SÁCH THAM KHẢO
Bradley, J.T. A MANUAL FOR MINISTERS, Cheltenham, England, Grenehurst Press, n.d.
Christensen, James L. THE MINISTER’S CHURCH, HOME AND COMMUNITY SERVICES HANDBOOK, New Jersy, Fleming H.Revel Co. 1980
Pearlman, Myer, THE MINISTER’S SERVICE
Pickthorn, William F. MINISTER’S MANUAL. Volumes 1, 2, 3 Springfield, Missouri: The Gospel Publishing House, 1965




† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 14-11-2018 02:36 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách