† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3283|Trả lời: 0

Cứu Thục Học Giản Lược

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 9-7-2011 21:40:27 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Cứu Thục Học Giản Lược
NỀN TẢNG SỰ CỨU RỖI
I. NHỮNG ĐỊNH NGHĨA
1. Cứu thục học (Soteriology): Xuất xứ từ hai từ ngữ Hylạp: Soteria là sự cứu rỗi, và logia là lời hoặc bài thuyết giảng. Cứu thục học là môn học nghiên cứu về công tác của Đấng Christ trong việc khôi phục người hư mất trở lại cùng Đức Chúa Trời.
2. Ân điển (Grace): Hen trong Cựu Ước và Charis trong Tân Ước đều chỉ về điều đem lại vui mừng, thỏa thích, hài lòng. Chúng có nghĩa là sự chấp nhận, thiện chí, đặc ân, được dùng để chỉ sự nhơn từ của Đức Chúa Trời trên những tội nhân bất xứng.
. Như thế, nguồn gốc của sự cứu rỗi là ân điển của Đức Chúa Trời. Ân điển không gạt qua một bên đức công chính của Đức Chúa Trời, nhờ sự hy sinh của Đấng Christ. ân điển không bào chữa nhưng xóa sạch tội lỗi (RoRm 3:26).
II. CÁC LOẠI ÂN ĐIỂN
1. Ân điển phổ thông: Là sự nhân từ của Đức Chúa Trời đối cùng cả nhân loại, dù họ có tội: Ngài ban mưa nắng, mùa màng, sự vui vẻ. . . . Ân điển ấy hạn chế tội lỗi và phát huy trật tự và sự công bình (Mat Mt 5:45).
2. Ân điển chuyên biệt: Là ân điển cứu rỗi. Nó kéo con người đến cùng Đấng Christ (GiGa 6:44), đổi mới tấm lòng, giải phóng con người khỏi tội lỗi. Ân điển nầy được bày tỏ đầy đủ trong Đấng Christ (1:17).
III. ÂN ĐIỂN TRONG KINH THÁNH
1. Từ ngữ thông dụng: Từ ân điển xuất hiện 38 lần trong Cựu Ước và 128 lần trong Tân Ước. Từ ân huệ xúat hiện 64 lần trong Cựu Ước và 6 lần trong Tân Ước.
2. Đức Chúa Trời bày tỏ ân điển: Từ ân điển thường được dùng liên kết với Đức Chúa Trời: Bản tính Ngài là hay làm ơn. Ngài bày tỏ ân điển ra trong việc: a. Ban ơn lành cho mọi người (Mat Mt 5:45). b. Muốn mọi người được cứu (IIPhi 2Pr 3:9). c. Bảo tồn dân sót Ysơraên (RoRm 11:1-6). d. Gìn giữ Cơ Đốc nhân lúc khó khăn (IPhi 1Pr 5:6-10).
3. Ân điển và bình an: Phao Lô gắn liền ý niệm shalom Cựu Ước, là sự vẹn lành đầy bình an với charis: Bình an với Chúa và bình an của Chúa.
IV. CÁC LÝ THUYẾT VỀ SỰ CHUỘC TỘI
1. Thuyết Origen: Chúa Jesus đã trả giá cao để chuộc tội nhân khỏi quyền lực ma quỷ. Tuy nhiên, Chúa không trả giá chuộc cho ma quỷ.
2. Thuyết Anselm: Sự chết của Chúa Jesus thỏa đáp đầy đủ cho tội lỗi chúng ta. Tuy nhiên quan niệm nầy quá duy lý.
3. Thuyết Abelard: Sự chết của Chúa Jesus là mặc khải tối cao về tình yêu của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, hãy nhớ là sự chết đó không chỉ ảnh hưởng trên tội nhân, nhưng sự chết đó còn cứu vớt họ nữa.
4. Thuyết Socinus: Sự chết thuận phục của Chúa Jesus là gương sáng chúng ta cần noi theo. Tuy nhiên, tội nhân không thể chết thay tội nhân.
5. Thuyết Grotius: Chúa là Đấng Cai trị đạo đức, luôn hành động vì lợi ích của thần dân. Tuy nhiên, Ngài còn xưng nghĩa tội nhân.
6. Thuyết Aulen: Sự chết của Chúa Jesus là một cuộc tranh chiến với Satan (SaSt 3:15). Tuy nhiên đây không phải là tấm bi kịch.
7. Thuyết Calvin: Đấng Christ đã trả sự đền tội cho chúng ta là những tội nhân. Ngài đã thế chỗ cho chúng ta trong tư cách người chịu thay.
V. CÁC KHÍA CẠNH CỦA SỰ ĐỀN TỘI
1. Khía cạnh tổng quát: Sự chuộc tội thùy thuộc vào sự vâng phục của Đấng Christ (liên quan đến sự nhập thể và công tác chuộc tội của Ngài).
2. Mặt chủ động: Ngài vâng phục mọi đòi hỏi của luật pháp: Lễ nghi, dân chính và đạo đức.
3. Mặt thụ động: Ngài phục tùng mọi hình phạt gắn liền với luật pháp.
VI. SINH TẾ (Sacrifice)
1. Định nghĩa: Sinh tế là một của lễ dùng để chuộc tội. Sự hy sinh của Đấng Christ là một sự chuộc tội (atonement), một của lễ hy sinh để khỏa lấp tội lỗi con người. Đây là từ ngữ có ý nghĩa rộng nhất.
2. Giống các của lễ Cựu Ước: Sự hy sinh của Đấng Christ giống các của lễ thời Cựu Ước trên bốn phương diện:
a. Một sinh tế không tì vít chỉ về sự vô tội của Đấng Christ.
b. Mang lấy tội lỗi của tội nhân.
c. Sinh tế phải chịu giết.
d. Đưa con người trở lại thông công với Đức Chúa Trời.
3. Khác các của lễ Cựu Ước: Sự hy sinh của Đấng Christ độc nhất trên năm phương diện:
a. Ngài chủ động vâng phục.
b. Ngài đền chuộc tội một lần đủ cả.
c. Đây là việc của Đức Chúa Trời.
d. Có khả năng xóa sạch tội.
e. Khiến tội nhân tự do đến gần Đức Chúa Trời không giới hạn.
VII. SỰ ĐỀN TỘI (Propitiation)
1. Định nghĩa: Sự đền tội (propitiation) hay sự vãn hồi, mang hai ý nghĩa che đậy và giải hòa. Bởi sự chết trên Thập tự giá, Ngài che đậy tội lỗi chúng ta và xoa dịu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Sự đền tội khác với sự đền chuộc (expiation) nói đến khỏa lấp tội lỗi đối với loài người.
2. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời: Đây là cơn giận công bình và phải lẽ, mang tính pháp lý của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi con người, không giống như sự giận dữ của con người (GiGa 2:13-16, Mac Mc 3:1-6).
VIII. SỰ GIẢI HÒA (Reconciliation)
1. Định nghĩa: Sự chết của Đấng Christ xóa bỏ nguyên nhân thù nghịch giữa con người với Đức Chúa Trời: Tội lỗi.
2. Chủ động giải hòa: Ngay từ ban đầu, Đức Chúa Trời đã khởi xướng việc phục hồi con người trở lại thông công với Ngài (SaSt 3:9). Sự giải hòa đã hoàn tất trên Thập tự giá, nhưng con người phải đáp ứng.
IX. SỰ CỨU CHUỘC (Redemption)
1. Định nghĩa: Cứu chuộc là hành động mua một người nô lệ và trả tự do cho người đó.
2. Lãnh vực giải phóng: Chúa Jesus đã giải phóng chúng ta khỏi: a. Sự rủa sả của luật pháp. b. Sự nô lệ cho luật pháp. c. Việc giữ luật pháp như một điều kiện được Đức Chúa Trời chấp nhận. d. Sự nô lệ cho tội lỗi.
X. MỨC ĐỘ CỦA SỰ CỨU CHUỘC
1. Thuyết phổ thông không giới hạn: Đấng Christ chịu chết thay cho mọi người, nên mọi người đều được cứu (ITi1Tm 2:4; 4:10; IGi1Ga 2:2).
2. Thuyết phổ thông có tiếp nhận: Đấng Christ chịu chết cho mọi người, nhưng chỉ những người tiếp nhận mới được cứu (GiGa 3:16, 36; Eph Ep 2:8. . . ).
3. Thuyết đặc thù (particularism): Đấng Christ chỉ chịu chết cho những người được chọn mà thôi (Cong Cv 13:48).
. Thật ra, giá trị của sự chuộc tội là vô hạn, nhưng áp dụng của sự chuộc tội thì có giới hạn. Đây là một huyền nhiệm của sự chọn lựa thần hựu của Đức Chúa Trời bên cạnh ý chí tự do của con người.
. Quá nhấn mạnh vào thuyết đặc thù, có thể sẽ tạo ra sự thất vọng hoang mang cho cá nhân. Quá nhấn mạnh đến thuyết phổ quát có thể sẽ dẫn đến sự thiếu quan tâm, bỏ qua cơ hội. . .
Ý MUỐN ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG SỰ CỨU RỖI
I. TỔNG QUÁT
1. Thuật ngữ của Kinh Thánh: Sự tuyển chọn và sự định trước là những thuật ngữ của Kinh Thánh: Ý nghĩa thì rất rõ ràng, nhưng kết hợp chúng vào sự sắp đặt chung của thần học lại rất mơ hồ.
2. Một dữ kiện thần học: Đây không phải là những hành động độc đoán và bất thường của Đức Chúa Trời. Chúng xuất phát từ tình yêu khoan nhân và vô điều kiện của Đức Chúa Trời.
. Phao Lô và người Do Thái nói chung đều chấp nhận chúng như những dữ kiện thần học.
3. Không thể giải thích: Tại đây, chúng ta có thể thấy sự tuyển chọn và định trước của Đức Chúa Trời (Calvin) cũng đồng thời thấy ý chí tự do Chúa ban cho con người. Vì thế, đây là sự kiện không thể giải thích!
II. Ý NGHĨA CỦA SỰ TUYỂN CHỌN
1. Trong Cựu Ước: Từ ngữ chính trong tiếng Hybá (bachar), 164 lần trong Cựu Ước, có nghĩa là sự tuyển lựa hay chọn lọc, nặng tính thần học.
. Tuy nhiên sự chọn lựa của Đức Chúa Trời khiến dân Ysơraên phải nhận một trách nhiệm lớn lao: Càng biết Chúa chừng nào, họ càng bị xét xử nghiêm khác và hình phạt nặng hơn khi họ chống nghịch Chúa.
2. Trong Tân Ước: Tân Ước dùng nhiều từ khác nhau để chỉ sự tuyển chọn: Eklegomai (chọn), ekloge (sự chọn lựa), ekletos (kẻ được chọn), xuất hiện 50 lần, một nửa số đó có ý nghĩa về thần học.
. Yếu tố tự do chọn lựa trong Tân Ước được nổi bật cách đặc biệt.
. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không có chỗ nào trong Tân Ước mà sự chọn lựa tương phản rõ ràng với sự định tội: Thí dụ: Chúa chọn Giacốp không phải trong lãnh vực cứu rỗi mà trong sự lãnh đạo.
. Lưu ý từ “ghét” trong câu “ghét Êsau” không phải là ghét bỏ, nhưng chỉ được dùng để làm nổi bật với sự yêu thương dành cho Giacốp (RoRm 9:13).
III. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ SỰ TUYỂN CHỌN
1. Các nền tảng: Có hai nền tảng về sự cứu rỗi. Đó là:
a. Nền tảng tối hậu: Mục đích vĩnh hằng của Đức Chúa Trời.
b. Nền tảng khí cụ: Sự thi hành của Ngài về mục đích đó trong lịch sử.
2. Ba quan điểm chính về sự tuyển chọn: Có ba quan điểm chính. Đó là:
a. Phái Arminian: Đức Chúa Trời tuyển chọn chúng ta trên cơ sở đức tin được biết trước. Quan điểm nầy phù hợp với Kinh Thánh nhiều nhất.
. Đức Chúa Trời không bị buộc phải chọn ai cả. Đó là sự lựa chọn tự do của Ngài từ trong cõi vĩnh hằng. Những kẻ mà Ngài đã chọn chắc chắn sẽ được cứu. Họ không thể nào bị trật phần ân điển.
b. Phái Karl Barth: Sự tuyển chọn là trên hết và chủ yếu là sự tuyển chọn của Đấng Christ.
. Đức Chúa Trời, theo ý tể trị tốt lành của Ngài, đã lựa chọn một số người để được cứu rỗi, dù không có một sự xứng đáng nào nơi họ.
c. Phái Calvin: Sự tuyển chọn của Đức Chúa Trời là tuyệt đối vô điều kiện. Tuy nhiên, đó không phải là sự lựa chọn độc đoán mà dựa trên tình thương.
3. Tiền định kép: Đấng Christ vừa là Người được chọn, vừa là Người bị chối bỏ. Karl Barth gọi đây là tiền định kép.
IV. Ý NGHĨA SỰ ĐỊNH TRƯỚC
1. Định trước và tiền định: Sự tiền định (predestination) hàm ý một hành động độc đoán, nhưng Cơ Đốc giáo không tin vào thuyết định mệnh, nên từ “định trước” (foreordination) thường được dùng hơn.
. Đức Chúa Trời là Đấng Tể trị, nhưng Ngài đã dựng nên con người có thể chống lại ý muốn Ngài (Ngài ban cho họ ý chí tự do). Vì thế, họ có thể chống lại tiếng phán của Thánh Linh đem họ đến sự cứu rỗi.
2. Từ ngữ: Sự định trước do chữ proorizo, là hình thức nhấn mạnh của từ horizo, có nghĩa là giới hạn, đạt ranh giới, với nghĩa bóng là xác định, chỉ định: Đức Chúa Trời xác định trước theo sự nhìn thấy trước của Ngài những gì Ngài biết sẽ xảy ra. Đây là một sự mầu nhiệm xuất phát từ tình yêu và ân điển của Đức Chúa Trời.
V. CƠ SỞ của SỰ ĐỊNH TRƯỚC
1. Sự biết trước: Phân đoạn Kinh Thánh then chốt là RoRm 8:28-30: Phao Lô làm sáng tỏ trật tự của Đức Chúa Trời: Biết trước rồi mới đến sự định trước. Phierơ cũng dạy rằng sự biết trước dẫn đến quyết định về sự tuyển chọn (IPhi 1Pr 1:1-2). Thứ tự là: Biết trước - Tuyển chọn - Định trước.
2. Mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời trong sự định trước: Mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời là khiến chúng ta trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài.
VI. SỰ ĐỊNH TRƯỚC TRONG KINH THÁNH
1. Từ định trước trong Tân Ước: Từ nầy xuất hiện sáu lần trong cả Tân Ước. Trong từng trường hợp, từ nầy có nghĩa là xác định hay quyết định trước, nghĩa là ấn định trước.
2. Những điều Đức Chúa Trời định sẵn: Sau đây là các thí dụ:
a. Cong Cv 4:27-28: Đức Chúa Trời định sẵn sự cứu chuộc của Đấng Christ, thông qua Hêrốt, Philát, dân ngoại và dân Do Thái.
b. RoRm 8:29-30: Chúng ta được định trước để trở nên giống như hình ảnh của Đấng Christ.
c. Eph Ep 1:5: Đức Chúa Trời định sẵn cho chúng ta trở nên con cái Ngài.
d. 1:11-12: Ngài định sẵn để chúng ta ngợi khen sự vinh hiển Ngài.
VII. ORDO SALUTIS
1. Từ ngữ: Ordo salutis là một từ ngữ Latinh có nghĩa là trật tự của sự cứu rỗi: Bắt đầu từ cõi vĩnh hằng, tới cõi thời gian, rồi trở lại cõi vĩnh hằng.
2. Giải thích: Ordo salutis bắt đầu từ cõi vĩnh hằng với sự tuyển chọn và định trước của Đức Chúa Trời.
. Các yếu tố sự tái sanh, xưng công chính và nhận làm con nuôi được xảy ra đồng thời. . . những yếu tố nầy được xảy ra trong cõi thời gian.
. Cuối cùng là sự làm cho vinh hiển được xảy ra trong cõi vĩnh hằng.
VIII. BA QUAN ĐIỂM CHÍNH
1. Cùng một mục đích: Dù có những quan điểm khác nhau, cả ba quan điểm đều có cùng một mục đích: Sự cứu rỗi tối hậu và vĩnh hằng của người tin Chúa.
2. Phái Lutherans và phái Arminians: Cả hai phái đều nhấn mạnh đến vai trò của con người trong sự cứu rỗi: Đức Chúa Trời kêu gọi, con người hưởng ứng, và rồi Ngài thay đổi họ, xưng nghĩa họ và cuối cùng đưa họ vào sự vinh hiển.
3. Phái Calvin: Phái Calvin nhấn mạnh đến công tác của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi: Sự cứu rỗi bắt đầu với sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, và sau đó chuyển ngay đến sự tái sanh: Đức Chúa Trời lựa chọn một số người một cách vô điều kiện nên Ngài tái sanh họ và khiến họ đáp ứng bằng sự ăn năn và đức tin. Nhưng thế, Đức Chúa Trời dựng nên một con người mới rồi mới đưa họ vào đức tin để được cứu rỗi.
PHẦN CỦA CON NGƯỜI: SỰ ĂN NĂN
I. ĐỊNH NGHĨA TÍCH CỰC
1. Theo Freligh: Ăn năn là một hành động nhờ đó một người nhìn nhận, xưng nó ra cùng Đức Chúa Trời và quyết định xoay bỏ khỏi nó. Như thế, chúng ta thấy có ba khía cạnh trong sự ăn năn. Đó là:
a. Khía cạnh trí tuệ: Thừa nhận tội lỗi của mình.
b. Khía cạnh cảm xúc: Cảm thấy hối tiếc về tội lỗi.
c. Khía cạnh ý chí: Xưng ra và từ bỏ tội lỗi.
2. Trong tiếng Hybá: Ý chính của từ ngữ ăn năn là “thở hổn hển, thở dài hay than thở”. Nó nhấn mạnh đến sự than khóc, buồn rầu trong hành động. Từ ngữ nầy giúp chúng ta thấy ý nghĩa của “sự ăn năn của Đức Chúa Trời” (SaSt 6:6-7 XuXh 32:14. ISa1Sm 15:11).
. Mũi nhọn chính yếu của từ ngữ ăn năn bao hàm sự buồn rầu, hối tiếc đi kèm theo hành động. Đức Chúa Trời là Đấng Toàn tri, là Đấng Bất biến. Ngài không thay đổi nhưng con người đã thay đổi.
. Từ Hybá dùng cho ăn năn cũng bao hàm cả trí năng và ý chí (15:24-35). .
3. Trong tiếng Hylạp: Có hai từ Hylạp chỉ về sự ăn năn:
a. Metamelomai: chỉ về những cảm xúc khác nhau: Hối hận, buồn tiếc. . . Động từ nầy được dùng 6 lần. Nó nói đến sự trải qua những cảm xúc khác nhau (melei).
b. Metanoeo: Dùng để chỉ sự ăn năn theo ý nghĩa thần học, chỉ về một người đã đi đến chỗ người đó có một cái nhìn khác: Người đó phải biết đổi ý, đổi lòng. Sự ăn năn đòi hỏi phải có xưng tội.
II. ĐỊNH NGHĨA TIÊU CỰC
1. Xoay bỏ: Về phương diện tiêu cực, sự ăn năn đề cập đến sự xoay bỏ khỏi một điều gì đó. Trong trường hợp của Exơra (Exo Er 9:3) và Phierơ (LuLc 22:62), sự ăn năn liên hệ đến sự xoay bỏ khỏi tội lỗi riêng.
2. Từ bên trong: Người ta có thể bày tỏ cảm xúc mạnh mà không có lòng ăn năn. Những buổi truyền giảng Tin Lành gây nhiều cảm xúc thường tạo ra những hạng đất đá sỏi làm cây khô héo khi mặt trời mọc lên.
. Nhiều người thối lui vì họ chưa bao giờ thực sự ăn năn !
III. KHÍA CẠNH TRÍ TUỆ
1. Nhận thức tình trạng chính mình: Sự ăn năn giống như một tam giác mà trí tuệ là một cạnh: Người ăn năn phải biết mình phải ăn năn điều gì. Vì thế họ phải nhận thức tình trạng của mình trước mặt Chúa: Họ là kẻ phản loạn, xa cách Đức Chúa Trời.
2. Nhận thức tội lỗi: Họ cũng phải biết tội lỗi là gì: Đó là sự xúc phạm cá nhân với một Đức Chúa Trời Thánh khiết (Thi Tv 51:1-19
3. Sự cần thiết của sứ điệp cứu rỗi: Sự kêu gọi ăn năn luôn được gắn liền với sự rao giảng sứ điệp cứu rỗi.
IV. KHÍA CẠNH CẢM XÚC
1. Sự đau buồn không thể thiếu: Sự ý thức về tội lỗi xúc phạm Đức Chúa Trời Thánh khiết yêu thương sẽ sinh ra sự đau buồn. Càng yêu mến người bị phạm lỗi, chúng ta càng đau buồn chừng nấy.
2. Cách thức bày tỏ có thể khác nhau: Phierơ đã khóc lóc cách đắng cay, người thâu thuế đã đấm ngực. Tuy nhiên sự kiềm chế cảm xúc không có nghĩa là không ăn năn.
V. KHÍA CẠNH Ý CHÍ
1. Phải hành động: Ý chí là đường đáy của tam giác ăn năn: Phải biến những gì mình biết và cảm xúc thành hành động dứt khoát. Có lẽ đây là khía cạnh quan trọng nhất trong ba khía cạnh của sự ăn năn. Nó đòi hỏi một quyết định và một hành động.
2. Thể hiện hành động của ý chí: Một người ăn năn thật phải:
a. Xưng tội mình trước mặt Chúa (Thi Tv 38:18).
b. Phải dứt khoát từ bỏ tội lỗi (Thi Tv 55:7).
c. Phải quay trở về cùng Đức Chúa Trời (ITe1Tx 1:9).
VI. VẤN ĐỀ HOÀN TRẢ
1. Hoàn trả là gì? Hoàn trả là trả lại những gì chúng ta đã lấy một cách không đúng, hoặc làm lại cho đúng điều mình đã làm sai.
2. Giá trị sự hoàn trả: Hoàn trả không phải là một công đức cứu rỗi, mà chỉ là xác nhận đường lối cũ là sai và mình quyết định trở lại vâng phục Chúa, làm theo Lời dạy của Ngài. Đây là thể hiện của sự ăn năn thật.
VII. TÂN ƯỚC VÀ SỰ ĂN NĂN
1. Từ ngữ ăn năn: Từ “ăn năn” xuất hiện 64 lần trong Tân Ước. Tuy nhiên Phúc Âm Giăng và các thư tín Phao Lô lại không nhấn mạnh đến ăn năn vì mục đích các sách đó nhấn mạnh đến đức tin (Giăng) hay giáo lý và áp dụng (Phao Lô).
2. Bước đầu tiên để trở về: Ăn năn là bước đầu tiên để trở về cùng Đức Chúa Trời: Tân Ước mở đầu với các sứ điệp ăn năn của Giăng Báptít và Chúa Jesus. Chúa Jesus đã giảng về ăn năn suốt chức vụ của Ngài.
3. Mạng lệnh phải giảng về ăn năn: Chúa Jesus đã truyền cho môn đồ giảng về sự ăn năn (LuLc 24:47). Phierơ, Phao Lô đều giảng về sự ăn năn, vì Chúa muốn mọi người đều ăn năn (IIPhi 2Pr 3:9).
VIII. MỌI NGƯỜI PHẢI ĂN NĂN
1. Ai phải ăn năn? Mọi người phải ăn năn (Cong Cv 17:30):
a. Người chưa tin Chúa phải ăn năn (LuLc 13:3; Cong Cv 2:38).
b. Người đánh mất lòng kính mến Chúa ban đầu phải ăn năn (KhKh 2:5).
c. Người tín đồ hâm hẩm cần phải ăn năn (3:19). Tín hữu phạm tội phải ăn năn ngay, không vì sự cứu rỗi mà vì mối tương giao với Chúa.
2. Tại sao phải ăn năn? Lý do đơn giản là vì mọi người đều phạm tội (RoRm 3:23: Thiếu điểm, trật mục tiêu). Có hai loại tội lỗi: Tội vi phạm luật pháp Chúa (IGi1Ga 3:4) và tội bỏ qua luật pháp Chúa (Gia Gc 4:17). Lưu ý:
. Tội lỗi không phải chỉ là hành động bên ngoài, mà còn trong trí, trong lòng và trong thái độ (Tham muốn, ghen ghét, giận. . . ).
. Cám dỗ tự nó chưa phải là tội lỗi, nhưng tiếp tục suy nghĩ đến nó, cưu mang nó là bước đầu của tội lỗi (Gia Gc 1:14-15). Vì thế, dù không thể cản được tư tưởng tội lỗi, chúng ta vẫn có thể cản nó “làm tổ” trong tâm trí chúng ta.
3. Sự ăn năn phát sinh như thế nào? Chính Đức Chúa Trời là Đấng ban sự ăn năn: Đức Thánh Linh thuyết phục tội nhân về tội lỗi (GiGa 16:8) cũng như làm chứng về Chúa Jesus (15:26), khiến tội nhân ăn năn (Cong Cv 11:18; IITi 2Tm 2:25). Nên nhớ đức tin và ăn năn luôn đi đôi với nhau.
4. Kết quả của sự ăn năn là gì? Một trong những kết quả tuyệt diệu của sự ăn năn là niềm vui của Thiên đàng.
PHẦN CỦA CON NGƯỜI: ĐỨC TIN
I. TRUNG TÂM CỦA SỰ CỨU RỖI
1. Đức tin cứu rỗi: Kinh Thánh dạy rõ rằng một người được cứu là nhờ đức tin tiếp nhận ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời (Cong Cv 16:31; Eph Ep 2:8).
2. Quyết định số phận đời đời: Đức tin của một người quyết định số phận đời đời của người đó. Không có đức tin nơi cõi đời đời cũng là đức tin !
II. SỰ THỰC HŨU CỦA THƯỢNG ĐẾ LÀ MỘT VẤN ĐỀ ĐỨC TIN
1. Đức tin đến gần Đức Chúa Trời: Trước giả Hêbơrơ dạy rằng kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài (HeDt 11:6). Như thế, đức tin vừa xác nhận sự thực hữu của Đức Chúa Trời vừa xác nhận hành động của Ngài.
2. Những lập luận duy lý về sự thực hữu của Đức Chúa Trời: Sự thực hữu của Đức Chúa Trời không phải là một vấn đề có thể tra xét cách duy nghiệm. Tuy nhiên, có một số lập luận duy lý thông thường:
a. Vũ trụ luận (Cosmological): Mọi vật hiện hữu phải có một nguyên nhân thích hợp cho sự bắt đầu của nó.
b. Mục đích luận (Teleological): Các trật tự và cách thiết kế của vũ trụ tiết lộ một căn nguyên cực kỳ thông minh.
c. Bản thể luận (Ontological): Sự hoàn hảo của bản thể tự nó là một sự bày tỏ về sự thực hữu của Thượng Đế.
d. Nhân chủng học (Anthropological): Niềm tin phổ phát một cách trực giác nơi Thượng Đế chứng tỏ Ngài thực hữu.
e. Đạo đức học: Ý thức về một luật đạo đức thường trực có uy quyền trên con người chứng tỏ Đấng đã ban hành luật pháp đó.
f. Tính thích hợp: Niềm tin nơi Đức Chúa Trời là giải thích tốt nhất cho sự hiện hữu của muôn vật.
3. Vượt trên lý luận: Những lý luận trên có thể hợp lý, nhưng người Cơ Đốc không lệ thuộc vào chúng để tin Đức Chúa Trời thực hữu.
III. ĐỨC TIN LÀM ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Đức tin làm đẹp lòng Đức Chúa Trời: HeDt 11:6.
2. Đức Chúa Trời đáng tin: Ngài đã nói cho con người về chính Ngài qua thế giới, qua Chúa Jesus và qua Lời Ngài.
IV. ĐỊNH NGHĨA ĐỨC TIN
1. Định nghĩa: Đức tin là hành động của ý chí bằng lòng phó nhu cầu của mình cho một đối tượng và để đối tượng ấy quản trị các hành động.
. Đối tượng của đức tin Cơ Đốc là Đức Chúa Trời. Đức tin nầy được phát sinh nhờ nghe Lời của Đức Chúa Trời (RoRm 10:17).
. Đức tin là niềm tin và sự tin cậy. Hai điều nầy bất khả phân ly.
2. Trong Cựu Ước: Đức tin được thể hiện như phản ứng của con người đối với một hành động trước đó của Đức Chúa Trời, có thể ảnh hưởng đến cả quốc gia. Sự vững chắc nơi Đức Chúa Trời toát ra năng lực cho đức tin.
3. Trong Tân Ước: Danh từ đức tin được dùng như một thuật ngữ tôn giáo, khác với tiếng Hylạp cổ. Đôi khi từ ngữ đức tin chỉ về nội dung của điều được tin (IITi 2Tm 4:7; KhKh 2:13).
4. Faith: Trong đức tin cứu rỗi, tôi bỏ tất cả sự vô tín và tự tin của mình, và chọn Đấng Christ để gửi gắm số phận đời đời của tôi cho Ngài (Từ ngữ FAITH = Forsaking All I Take Him).
V. PHÂN LOẠI ĐỨC TIN
1. Đức tin phi tôn giáo: Đó là loại đức tin trong sinh hoạt thường nhật: Tin nơi ngân hàng, phi công, tài xế, người bán hàng. . .
2. Đức tin lịch sử: Đức tin trí óc, tin vào những dữ kiện về Chúa nhưng lại không tiếp nhận Ngài. Giacơ bảo rằng ma quỷ có loại đức tin nầy:
. Mac Mc 1:24 Nó xưng Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời.
. Cong Cv 16:17 Nó xưng Phao Lô và Sila là đầy tớ của Đức Chúa Trời.
3. Đức tin cứu rỗi: Khi một người tin và phó thác chính mình cho Đấng Christ là Chúa và Cứu Chúa của mình. Đức tin cứu rỗi là sự tin cậy nương dựa nơi thân vị Đấng Christ. Đức tin ấy đem lại sự cứu rỗi không phải chỉ vì bản chất đức tin mà quan trọng nhất là vì cớ đối tượng của đức tin.
4. Đức tin sống động: Kết quả của đức tin cứu rỗi nhằm chỉ đến sự phó thác vâng phục Chúa và liên tục sống cho Chúa cùng những mục đích của Ngài (GaGl 2:20).
5. Đức tin chết: Là đức tin đã có lần sống động, nhưng giờ đây đã ngừng hoạt động. Kết quả là nó không tạo được một việc làm nào, như xác không có hồn vậy (Gia Gc 2:26).
VI. SỰ HIỂU BIẾT
1. Không phải là bước nhảy vọt phi lý: Đức tin không phải là một bước nhảy vọt phi lý, chỉ chú trọng đến hành động tin, đến đối tượng tin mà không cần biết mình tin điều gì.
. Không thể nói như Tertullian: Tôi tin nó bởi vì nó vô lý !!!
2. Cần biết điều mình tin: Kinh Thánh dạy rằng chúng ta cần tin Chúa, nhưng cũng phải tin Lời Ngài nói, điều răn Ngài dạy.
. Chúng ta phải tin rằng Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời, là sự ban cho vĩ đại của Đức Chúa Trời. Ngài ở cùng Cha, là sự mặc khải của Cha. . .
3. Lý trí và đức tin: Lý trí là một sự ban cho từ Đức Chúa Trời, là một phần hình ảnh của Đức Chúa Trời nơi con người.
. Tuy nhiên, lý trí tự nó không thể đưa chúng ta vào sự cứu rỗi. Chúng ta cần đức tin dẫn chúng ta vào những lãnh vực mà lý trí không thể đạt tới.
. Lý trí và đức tin không hề mâu thuẩn nhau: Đức tin không phải không cần hợp lý. Đức tin vượt trên lý trí mà không phản lý trí.
VII. SỰ THỪA NHẬN
1. Phần cảm xúc: Sự thừa nhận liên quan đến cảm xúc: Đức tin là sự thừa nhận của tấm lòng đối với sự thật của những gì chúng ta biết.
2. Biết chưa đủ: Không những chúng ta phải biết rằng điều nầy là đúng mà còn phải tiếp nhận nó cho chính mình nữa.
. Tấm lòng chúng ta phải đáp vâng với những gì Đấng Christ làm và những gì Ngài muốn chúng ta làm. Đây là điều thầy thông giáo đã làm sau khi nghe câu trả lời của Chúa Jesus: “Thầy nói phải” (Mac Mc 12:32).
VIII. SỰ TIN CẬY
1. Phần ý chí: Trong đức tin, chúng ta cần sử dụng ý chí để quyết định chấp nhận và trao phó chính mình cho những gì mình tin là những nguyên tắc chỉ đạo cho cuộc sống.
2. Phần quyết định: Người ta có thể hiểu biết và chấp nhận các chân lý Cơ Đốc giáo, nhưng không tin nhận Chúa Jesus vì đức tin là một quyết định của ý chí.
IX. BÍ QUYẾT TĂNG TRƯỞNG ĐỨC TIN
1. Sự cần thiết: Đức tin phải được tăng trưởng, nếu không chúng ta sẽ không thể chống lại những lo âu, sợ hãi, nghi ngờ. . .
2. Thử nghiệm: Đức Chúa Trời thử nghiệm đức tin chúng ta, đưa chúng ta vào sự thử luyện để làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn (SaSt 22:1).
3. Cám dỗ: Đức Chúa Trời không cám dỗ, vì mục đích của cám dỗ là dẫn chúng ta đến chỗ phạm tội. Tuy nhiên, Chúa có thể cho phép cám dỗ xảy ra để dạy chúng ta bí quyết chiến thắng (Gióp, Phierơ).
SỰ HOÁN CẢI : CON NGƯỜI QUAY VỀ
I. ĐỊNH NGHĨA SỰ HOÁN CẢI
1. Định nghĩa: Sự hoán cải Cơ Đốc là hành động nhờ đó một người xoay khỏi tội lỗi và đến cùng Chúa Jesus để được tha tội và được cứu rỗi khỏi tội lỗi.
2. Xoay hướng hoàn toàn: Hoán cải là một sự thay đổi trong tâm linh con người, trong ý chí, ước muốn, trong toàn cách sống cũng như cách nhìn cuộc sống. Đó là một sự xoay hướng hoàn toàn.
II. BA THÀNH TỐ CỦA SỰ HOÁN CẢI
1. Bước chuẩn bị: Sự tĩnh tâm: Hành động mà không xem xét kỹ càng thì thật là rồ dại. Vì thế, trước tiên cần cẩn thận xem xét chính mình để khám phá sự yếu đuối thất bại của chính mình để ăn năn. Tuy nhiên, khi đã ăn năn, tội lỗi đã được giải quyết, đừng để ma quỷ cám dỗ chúng ta đào bới lại những ô uế, thối rửa của quá khứ trong các buổi xưng tội!!!
2. Bước hành động: Quay về cùng Đức Chúa Trời: Ăn năn và đức tin là hai khía cạnh cơ bản của sự hoán cải. Sau khi ăn năn tội lỗi, chúng ta cần lấy đức tin quay về với Đức Chúa Trời.
. Tuy nhiên, cần lưu ý sự hoán cải để được cứu rỗi là một hành động duy nhất trong đời sống. Chúng ta không cần phải hoán cải nhiều lần, dù trong một số lãnh vực, chúng ta cần phải tái diễn sự xưng tội.
3. Bằng chứng bên ngoài: Sự vâng lời Chúa: Không tiếp tục vâng lời Đấng mà chúng ta đã quay về là tự phụ. Sự vâng lời Chúa là bằng chứng của sự hoán cải. Tuy nhiên, đừng quá nhấn mạnh đến hình thức bên ngoài để trở thành hình thức (cách ăn mặc hoặc hành động).
III. CÁC YẾU TỐ CỦA SỰ HOÁN CẢI
1. Ăn năn và đức tin: Ăn năn xoay chúng ta ra khỏi tội lỗi với sự buồn rầu về tội lỗi và hướng về Thập tự giá. Đức tin là hành động tích cực khi quay về cùng Đức Chúa Trời.
2. Các yếu tố của sự hoán cải: Con người là một hữu thể toàn vẹn: Trí năng, cảm xúc và ý chí. Sự hoán cải gồm cả ba phần đó.
IV. LƯU Ý KINH NGHIỆM HIỆN SINH
1. Quan điểm kinh nghiệm hiện sinh: Ngày nay, người ta có khuynh hướng xem kinh nghiệm hiện tại là bằng cớ kiểm chứng lẽ thật. Có lẽ là do ảnh hưởng phần lớn của thuyết hiện sinh: Kinh nghiệm hiện tại của tôi là tất cả thực tại có được.
2. Chứng cớ nội tại: “Nếu hỏi chứng cớ Chúa sống đâu nào? Rằng Chúa sống trong lòng nầy”. Thật ra, đây là một kinh nghiệm chủ quan mà tín đồ các tôn giáo khác cũng có thể tuyên bố tương tự như vậy.
3. Cần tiêu chuẩn khách quan trong Kinh Thánh: Dĩ nhiên chúng ta không loại bỏ kinh nghiệm chủ quan, nhưng tự nó chưa đủ để chứng minh điều gì là đúng, điều gì là sai. Chúng ta cần sự mặc khải mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta trong Kinh Thánh.
V. CÁCH DÙNG TỪ HOÁN CẢI
1. Hoán cải tích cực: Đôi khi từ hoán cải chỉ đề cập đến sự thay đổi có tính thuộc thể (Cong Cv 9:40) hay thuộc về trí tuệ (13:46), và không hàm ý tôn giáo hay thần học.
. Sự hoán cải tích cực hàm ý tôn giáo được thấy trong ISa1Sm 10:6: Saulơ được hoán cải “hóa ra một người khác”. Phierơ kêu gọi dân sự hãy ăn năn và trở lại để tội lỗi của họ được xóa đi (Cong Cv 3:19). Như thế có sự liên kết giữa việc ăn năn và việc trở lại cùng Chúa để được tha thứ.
2. Hoán cải tiêu cực: Giêrêmi cáo buộc dân sự về sự hoán cải tiêu cực, sự bội đạo (Gie Gr 2:27). Phierơ cũng đề cập đến sự ăn năn tiêu cực khi dùng hình ảnh “chó liếm lại đồ nó đã mữa ra, heo đã rửa sạch rồi lại lăn lóc trong vũng bùn”( IIPhi 2Pr 2:22).
3. Ý nghĩa từ hoán cải trong Kinh Thánh: Sự hoán cải đích thực là trở lại mục đích nguyên thủy của Đức Chúa Trời dành cho đời sống người đó, là trở nên như con trẻ. . .
4. Gương Bà Lyđi: Bà Lyđi là một gương mẫu rõ ràng về sự hoán cải: Bà đã nghe Phao Lô giảng về sứ điệp cứu rỗi trong Chúa Jesus, bà đã vui mừng tiếp nhận, và tỏ bày sự hoán cải bằng cách chịu báptem và bằng sự ân cần tiếp đãi Phao Lô và Sila. . .
5. Ba yếu tố của sự hoán cải của Phao Lô: Phao Lô đã kinh nghiệm đầy đủ ba yếu tố của sự hoán cải. Đó là:
a. Trí năng: Phao Lô đã được nghe về Đấng Christ qua Êtiên (Cong Cv 7:1-8:1), đã nghe về những gì “chẳng làm ra cách chùng vụng” (26:26), và đã nghe được Lời Chúa Jesus nói cùng ông (9:1-8).
b. Cảm xúc: Phao Lô bị xúc động rất nhiều bởi các biến cố siêu nhiên và bởi việc nhìn thấy chính Chúa Jesus trên đường Đamách.
c. Ý chí: Phao Lô đã cho thấy sự can dự của ý chí bằng câu hỏi: Lạy Chúa, Ngài muốn tôi phải làm chi?
VI. CĂN NGUYÊN XUẤT PHÁT
1. Đức Chúa Cha kéo đến: Chúa Jesus dạy rằng nếu Cha không kéo đến thì không ai được đến cùng Ngài (GiGa 6:44). Như thế Đức Chúa Trời là căn nguyên xuất phát của sự hoán cải. Chính công tác phát khởi của Ngài qua Lời Ngài và Thánh Linh của Ngài đã đem sự hoán cải đến kết quả.
2. Nguyên nhân thúc đẩy: Nguyên nhân thúc đẩy sự hoán cải là ý muốn tốt lành của Đức Chúa Trời. Nó không tùy thuộc vào công lao của một người nào cả, vì không một ai xứng đáng để được cứu cả.
VII. ĐÁP ỨNG CỦA CON NGƯỜI
1. Chết nhưng vẫn hiện hữu: Tâm linh con người đã chết trong lầm lỗi và tội ác mình (Eph Ep 2:1), nghĩa là về phương diện tâm linh, con người bị phân cách khỏi Đức Chúa Trời. Tuy nhiên tâm linh vẫn còn là một phần tử cấu thành của bổn tánh con người, nó sẽ được sống lại khi con người trở về với Đấng Christ.
2. Con người đáp ứng: Chúa Jesus cho biết Ngài đứng bên ngoài cửa mà gõ, nếu ai nghe tiếng Ngài và mở cửa thì Ngài sẽ bước vào. Ngài không ép buộc đường lối Ngài vào cuộc đời của chúng ta. Như thế, phần của chúng ta là phải mở cửa (Lưu ý đây không phải là công đức).
. Đức Chúa Trời tôn trọng ý chí tự do của con người. Ngài xem con người là một hữu thể có khả năng đáp lại tiếng gọi của Ngài.
VIII. NGUYÊN NHÂN KHÍ CỤ
1. Sự rao giảng Tin Lành: Đức Chúa Trời đã chủ động xoay chuyển con người trở lại cùng Ngài. Ngài dùng nguyên nhân khí cụ của sự hoán cải là sự rao giảng Tin Lành để đưa họ trở về.
. Đức Thánh Linh đã sử dụng Lời Đức Chúa Trời để cáo trách tội lỗi (GiGa 16:9) và tạo ra đức tin trong người nghe (RoRm 10:17).
2. Sứ điệp Tin Lành: Sứ điệp trọng tâm là Đức Chúa Jesus và Đức Chúa Jesus bị đóng đinh trên Thập tự giá (ICo1Cr 2:2). Tuy nhiên sứ điệp Tin Lành phải bao hàm cả sự phục sinh của Chúa Jesus và công tác của Đức Thánh Linh (15:1-11). Dù không thể phủ nhận sự tham dự của trí năng, luận lý, sức lực con người, nhưng yếu tố quyết định của sự rao giảng Tin Lành vẫn là quyền năng Đức Thánh Linh.
PHẦN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI: SỰ TÁI SANH
Vai trò của con người, dù cần thiết, nhưng không đáng kể gì khi so sánh với phần của Đức Chúa Trời.
I. ĐỊNH NGHĨA
1. Định nghĩa: Tái sanh là một sự thay đổi tức thì và siêu nhiên do Đức Thánh Linh thực hiện trong bổn tánh của cá nhân nào tiếp nhận Đức Chúa Jesus Christ. Nó không phải là một sự thay đổi tiến hóa, nhưng là một sự thay đổi cách mạng.
2. Những từ mô tả sự tái sanh: Kinh Thánh mô tả sự tái sanh là: Vượt khỏi sự chết đến sự sống (GiGa 5:24). Sự dựng nên mới trong Đấng Christ (IICo 2Cr 5:17). Trở nên người mới (GaGl 6:15). Mặc lấy người mới, dựng nên giống Đức Chúa Trời (Eph Ep 4:24). Sự rửa về sự lại sanh - Sự đổi mới của Đức Thánh Linh (Tit Tt 3:5).
II. Ý NGHĨA CỦA SỰ TÁI SANH
1. Ba nguyên tắc của sự tái sanh: Có ba nguyên tắc về sự tái sanh. Đó là:
a. Từ trong cõi đời đời, Đức Chúa Trời muốn chúng ta được tái sanh.
b. Tái sanh được thể hiện trong đời nầy với niềm hy vọng, tình yêu thương, và nếp sống công chính.
c. Tái sanh đưa chúng ta vào cõi đời đời, vào trong nước Đức Chúa Trời.
2. Một quan điểm Do Thái giáo: Trong Do Thái giáo, một tín hữu tân tòng, mới quy đạo cũng được xem như một trẻ thơ mới được sinh ra. Tuy nhiên, điều Nicôđem ngạc nhiên là vì sao người Do Thái phải tái sanh.
3. Tái sanh và hoán cải: Tái sanh là hành động của Đức Chúa Trời trong linh hồn, trong khi hoán cải là hành động của con người quay về Chúa.
. Tái sanh đưa vào sự sống mới trong khi hoán cải bắt đầu sự sống mới.
. Tái sanh là công việc bề trong, trong khi hoán cải là biểu lộ bên ngoài.
III. TỔNG QUÁT
1. Bản chất: Sự tái sanh có tính cách siêu nhiên và cách mạng.
2. Thời điểm: Sự tái sanh xảy ra ngay khi tội nhân ăn năn tội và tin nhận
Chúa Jesus làm Chúa Cứu Thế của chính đời sống mình.
3. Tác nhân: Chính Đức Thánh Linh thựchiện sự tái sanh.
4. Đối tượng: Chỉ những người ăn năn tội và tin nhận Chúa Jesus làm Chúa Cứu Thế của mình mới kinh nghiệm sự tái sanh.
IV. TÁI SANH VÀ CẢI CÁCH
1. Bình diện: Cải cách thuộc bình diện con người, còn tái sanh thuộc bình diện Đức Chúa Trời.
2. Bản chất: Cải cách nhằm vào sự thay đổi bên ngoài, còn tái sanh nhằm vào sự thay đổi bên trong, nghĩa là cải cách cốt thay đổi hành vi, còn tái sanh cốt thay đổi tâm tính.
3. Phương cách thực hiện: Cải cách được thực hiện do nổ lực riêng, do sự cố gắng cá nhân , còn tái sanh là do sự sống mới Chúa ban từ con người bề trong. (Xem thêm Exe Ed 11:19, 36:26-27, 37:1-10).
VI. NGUYÊN DO CỦA SỰ TÁI SANH
1. Ơn Thần hựu: Đây là ý muốn của Đức Chúa Trời từ trong cõi đời đời dành cho con người (GiGa 1:13).
2. Mục đích: Tái sanh đưa con người vào sự thấy (3:3), và bướcvào Nước Đức Chúa Trời (3:5).
3. Kết quả: Bởi sự tái sanh, chúng ta có sự trông cậy sống (IPhi 1Pr 1:3), chúng ta có thể sống yêu thương (IGi1Ga 4:7, 5:1), tránh xa tội lỗi (3:9), và làm điều công chính (2:29).
VI. TÍNH THỤ ĐỘNG TRONG SỰ TÁI SANH
1. Thụ động trong chương trình: Chương trình cứu rỗi và tái sanh hoàn toàn do Đức Chúa Trời hoạch định và thực hiện. Tội nhân không có phần chi trong việc thực hiện.
2. Không thụ động khi đáp ứng: Đức Chúa Trời ban cho con người ý chí tự do để tiếp nhận hay khước từ tiếng gọi của Tin Lành.
3. Thụ động trong sự tái sanh: Khi ăn năn tội, tin nhận Chúa, tội nhân hoàn toàn phó thác đời sống để Chúa toàn quyền thực hiện sự tái sanh.
VII. TÁI SANH VÀ BÁPTEM
1. Quan điểm sai lầm: Một số người cho rằng các cá nhân, kể cả trẻ em, kinh nghiệm sự tái sanh khi họ nhận phép báptem.
2. Giải thích: Chúng ta cần lưu ý những điểm sau:
a. Phép báptem là một nghi lễ quan trọng: Chính Chúa Jesus nêu gương và truyền dạy cho môn đồ phải thực hiện phép báptem cho mọi người tin.
b. Tuy nhiên, muốn khẳng định một giáo lý, phải xem xét trong ánh sáng của toàn bộ Kinh Thánh chứ không chỉ dựa vào vài câu khó hiểu.
c. Lưu ý: GiGa 3:5 Chúa Jesus nói với Nicôđem về nước theo quan điểm của
một người Do Thái chính thống là sự tẩy uế chứ không hàm ý báptem.
. Mat Mt 28:19 hàm ý sự công khai xưng nhận đức tin trước mọi người.
. Cong Cv 2:38 là lời kêu gọi ăn năn tổng quát, chứ không nhằm dạy giáo lý.
. Tit Tt 3:5 chỉ nói đến sự thanh tẩy chứ không phải phép báptem. Phao Lô xem việc ít làm báptem cho người khác là điều tốt cho ông (ICo1Cr 1:14).
. Chỉ có IPhi 1Pr 3:21 là hoàn toàn khó hiểu ngay từ câu 20. . .
VIII. THỜI ĐIỂM ĐƯỢC TÁI SANH
1. Quan điểm sai lầm: Một số người cho rằng tái sanh là một kinh nghiệm có ý thức rõ ràng không thể quên, và ai không nhớ được là chưa tái sanh.
2. Giải thích: Vấn đề là hiện nay tôi là ai, tôi đang sống như thế nào, chứ không phải quá khứ hay ký ức.
IX. LÝ DO PHẢI ĐƯỢC TÁI SANH
1. Mọi người đều là tội nhân: Mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (RoRm 3:23), tự nhiên làm con của sự thạnh nộ (Eph Ep 2:3). Tội lỗi là một căn bệnh phổ quát, lưu truyền từ Ađam, ảnh hưởng đến mọi thành phần của bản thể con người: Con người phạm tội vì con người là một tội nhân.
2. Mọi người đều chết tâm linh: Con người bị phân cách khỏi Đức Chúa Trời: Con người chết trong lầm lỗi và tội ác mình (2:1), khiến không có điều lành trong người cũ hay người xác thịt.
X. NHỮNG BẰNG CHỨNG VỀ SỰ TÁI SANH
1. Ba bằng chứng nội tại: Có ba bằng chứng nội tại của sự tái sanh:
a. Nhận thức rõ ràng sự sống mới Chúa ban cho mình, dẫn đến động lực mới, nhãn quan mới, lý tưởng mới cho cuộc sống.
b. Cảm nhận Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng rằng mình là con cái của Đức Chúa Trời (RoRm 8:16).
c. Được Đức Thánh Linh hướng dẫn từ bên trong lòng về mọi quyết định của cuộc sống (8:14).
2. Bằng chứng ngoại tại: Sự sống mới phải được thể hiện ra bên ngoài:
a. Thắng hơn thế gian (IGi1Ga 5:4-5) với những quyền lực tối tăm.
b. Làm sự công bình (3:7-10) mà trước đây không thể làm.
c. Yêu thương anh em (3:10; 4:7) bằng tình yêu của Chúa.
d. Bông trái của Thánh Linh (GaGl 5:22) bày tỏ vẽ đẹp của Chúa.
. Đây là công việc cứ diễn tiến cho đến ngày chúng ta được vinh hiển.
SỰ XƯNG CÔNG CHÍNH
I. Ý NGHĨA SỰ XƯNG NGHĨA
1. Định nghĩa: Sự xưng nghĩa (xưng công bình) là hành động của ân điển Đức Chúa Trời, tuyên bố người nào đặt đức tin nơi Đấng Christ làm Đấng Thay thế và Cứu Chúa cho người ấy.
2. Từ ngữ: Cả tiếng Hêbơrơ (tsadaq) lẫn tiếng Hylạp (dikaioo) đều có cùng một ý nghĩa theo bối cảnh Tân Ước: Người được xưng nghĩa chính là người được tuyên bố đang làm theo các quy định của luật pháp.
. Trong Cựu Ước: Xưng công bình cho một người vô tội (ChCn 17:15).
. TrongTân Ước: Xưng công bình cho tội nhân tin nhận Chúa Jesus.
3. Tính chất khách quan: Ý nghĩa chính yếu của sự xưng nghĩa là công bố sự công bình của một người. Đây là công tác khách quan xảy ra bên ngoài chúng ta: Nó không liên quan đến tình trạng thuộc linh của chúng ta, nhưng liên quan đến mối liên hệ thuộc linh (chỗ đứng) của chúng ta.
4. Ý nghĩa sự xưng nghĩa trong Tân Ước: Trong Tân Ước, sự xưng nghĩa gồm có ba phần: Xóa bỏ tội lỗi, xóa bỏ sự định tội, và xóa bỏ sự ngăn cách giữa tội nhân với Đức Chúa Trời.
5. Phương tiện của sự xưng nghĩa: Để xưng nghĩa tội nhân, Đức Chúa Trời phải: Kể sự công bình của Đấng Christ cho chúng ta, Tha thứ tội lỗi chúng ta và phục hồi mối tương giao giữa chúng ta với Ngài.
II. SAI LẦM CỦA TINH THẦN BÀI LUẬT PHÁP
1. Chủ nghĩa bài luật pháp: Chủ nghĩa bài luật pháp dạy rằng sự xưng nghĩa chỉ đơn thuần bởi ân điển, nên con người không bị ràng buộc bởi các đòi hỏi của luật pháp, con người có thể sống nếp sống buông thả.
2. Chủ nghĩa “bài thân thể”: Chủ nghĩa nầy cho rằng mọi vấn đề, kể cả thân thể, đều là xấu, chỉ có tinh thần mới đáng kể, rằng con người có thể phạm các tội thân thể, miễn là tinh thần phải giữ cho thanh sạch.
3. Giải đáp: Phao Lô khẳng định rằng một Cơ Đốc giáo bài luật pháp là một sự mâu thuẩn (RoRm 6:15). Điều nầy chẳng khác gì một cái giếng vừa cho ra nước ngọt lẫn nước đắng. Hơn nữa, cho rằng thân thể là xấu, chỉ tâm thần mới có giá trị, là đã tách con người ra làm nhiều phần, mà không hề có một sự kết hợp nào. Như thế, một Cơ Đốc nhân có thể bị quỷ ám sao? hay một thân thể vừa là đền thờ của Thánh Linh, vừa là nhà của
tà linh sao?
III. SAI LẦM CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC TÌNH HUỐNG
1. Luân lý mới: Đạo đức học tình huống đề xuất một hình thức “luân lý mới” chủ trương rằng không có một luật lệ đạo đức nào có thể chi phối tuyệt đối con người ở mọi thời đại. Mọi luật lệ đều tùy thuộc vào tình huống, nghĩa là chính tình huống quyết định sự đúng sai của hành động.
. Họ chủ trương rằng nguyên tắc chi phối mọi hành động là tình yêu thương, bất kể bản chất của nó như thế nào (dối trá, tà dâm. . . ).
2. Giải đáp: Trong đạo đức Cơ Đốc, tình yêu là động cơ của lối cư xử, chứ không thể là kim chỉ nam. Tình yêu giống như sức mạnh chuyển động đoàn tàu, còn luật pháp của Đức Chúa Trời giống như đường ray.
. Dĩ nhiên, có một số điều lệ thuộc vào nền văn hóa riêng của dân tộc (RoRm 14:1-15:13). Tuy nhiên, khi Lời Đức Chúa Trời đặc biệt ngăn cấm, thì điều đó phải bị xem là tội lỗi.
3. Liên hệ giữa luật pháp và xưng nghĩa: Luật pháp là tốt lành nhưng không thể xưng nghĩa tội nhân vì xác thịt yếu đuối không thể giữ được luật pháp (Gia Gc 2:10). Luật pháp như gia sư (paidagogos) chỉ cho con người thấy tội lỗi cũng như thấy nhu cầu cần được xưng nghĩa bởi đức tin.
IV. PHÂN BIỆT ĐẶC TÍNH SỰ XƯNG NGHĨA
1. Sự Tái sanh: Sự tái sanh là một công tác chủ quan, xảy ra đồng thời với sự xưng nghĩa. Đây là một công tác ngay tức khắc thực hiện bên trong đời sống những người tin nhận Đức Chúa Jesus.
2. Sự nên thánh: Sự nên thánh cũng là một công tác chủ quan, xảy ra bên trong đời sống người tin Chúa, nhưng là một công tác diễn tiến.
3. Sự xưng nghĩa: Sự xưng nghĩa là một công tác khách quan, xảy ra ngay tức khắc, đồng thời với sự tái sanh, đưa chúng ta vào một địa vị đúng trước mặt Đức Chúa Trời.
V. NGUỒN CỦA SỰ XƯNG NGHĨA
1. Phương diện tiêu cực: Không một người nào được xưng nghĩa nhờ các việc làm của Luật pháp, vì luật pháp buộc phải có sự vâng phục trọn vẹn, mà con người hoàn toàn bất năng.
. Một số Cơ Đốc nhân cũng bị cám dỗ nổ lực thờ phượng, phục vụ Chúa để mong được cứu rỗi nhiều hơn! Đây là quan niệm phản Kinh Thánh vì sự chết đền tội của Chúa Jesus đã hoàn toàn đầy đủ. Kinh Thánh lên án
và rủa sả những người như thế (GaGl 1:8-9; 3:1-3:10; 5:4).
. Lưu ý Phao Lô và Giacơ không hề mâu thuẩn nhau: Phao Lô đề cao đức tin cứu rỗi, Giacơ mô tả đức tin cứu rỗi. Phao Lô chống chủ nghĩa duy luật pháp, Giacơ chống chủ nghĩa bài luật pháp vì cả hai đều sai.
2. Phương diện tích cực: Chỉ có một nguồn duy nhất của sự xưng nghĩa. Đó là ân điển vô điều kiện của Đức Chúa Trời qua sự chết chuộc tội của Chúa Jesus. RoRm 3:24 dạy rằng chúng ta được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jesus Christ.
. Thập tự giá của Đấng Christ không chỉ bảo đảm cho chúng ta rằng Đức Chúa Trời sẵn sàng xưng nghĩa chúng ta, mà còn bảo đảm cho chúng ta về sự công chính của Ngài khi thực hiện điều ấy. Sự xưng nghĩa bởi Thập tự giá biểu hiện ân điển của Đức Chúa Trời và bảo vệ bản tánh Ngài.
VI. CÁC MINH HỌA VỀ SỰ XƯNG NGHĨA
1. Sự xưng nghĩa tích cực: Trong sự xưng nghĩa tích cực, Đức Chúa Trời kể sự công bình của Chúa Jesus cho chúng ta. Đó là điều Ngài phán về Ápraham khi Ápraham tin Đức Chúa Trời.
2. Sự xưng nghĩa tiêu cực: Trong sự xưng nghĩa tiêu cực, Đức Chúa Trời không kể tội lỗi cho chúng ta nữa. Đây là điều Đavít nói trong Thi Tv 32:1.
. Chính ân điển qui kể sự công bình của Đấng Christ cho chúng ta, nhưng ân điển càng thêm không kể tội lỗi cho chúng ta nữa.
3. Vấn đề hậu quả tội lỗi: Dù Đavít đã được Chúa “không kể gian ác cho”, Đavít vẫn phải gánh lấy hậu quả trước mắt của tội lỗi mình (IISa 2Sm 12:1-15). Lời tiên tri nầy đã được ứng nghiệm trong 12:1-19:43 và IVua 1V 1:1-53.
. Bởi đức tin trong Đấng Christ, các hậu quả đời đời của tội lỗi chúng ta đã được chuyển giao cho Đấng Christ là Đấng thay thế chúng ta.
VII. KẾT QUẢ CỦA SỰ XƯNG NGHĨA
1. Toàn bộ ơn phước Thiên đàng: Ích lợi của sự xưng nghĩa thật dồi dào: Toàn bộ ơn phước Đức Chúa Trời ban cho chúng ta đều phát lưu từ công tác xưng nghĩa của Ngài.
2. Phước hạnh liên kết với sự xưng nghĩa: Rất nhiều, chẳng hạn như được giải phóng khỏi luật pháp, hòa thuận với Đức Chúa Trời, thoát khỏi đoán phạt,trở nên kẻ dự phần kế nghiệp. . .
3. Đức Thánh Linh: Thánh Linh là phước hạnh của sự xưng nghĩa trong tư cách ấn chứng, của cầm, Đấng thánh hóa, ban ân tứ, sinh bông trái. . .
SỰ LÀM CON NUÔI
I. NHỮNG LƯU Ý
1. Một giáo lý bị bỏ sót: Giáo lý sự nhận làm con nuôi thường bị bỏ sót, chỉ được một mình Phao Lô đề cập đến năm lần thôi.
2. Dưỡng tử thuyết: Là một thuyết sai lầm cuối thế kỷ thứ hai. Theo tà thuyết nầy, Chúa Jesus vốn chỉ là một con người dù được sinh bởi nữ đồng trinh, Đức Chúa Trời đã thưởng cho Ngài sống lại và nhận vào bản thể Đức Chúa Trời: Ngài vốn là một con người trở thành Đức Chúa Trời.
. Như thế, Dưỡng tử thuyết phủ nhận Ba Ngôi đời đời, liên hệ với Duy nhất thần giáo, gián tiếp liên hệ với Mormon (trở thành Đức Chúa Trời).
. Lưu ý Chúa Jesus là Con Độc sanh của Đức Chúa Trời không có nghĩa là do Đức Chúa Trời tạo dựng như tà thuyết Arius và Chứng nhân Giêhôva. . . Ngài có mối liên hệ đặc biệt duy nhất với Cha.
3. Mối liên hệ Đấng Tạo hóa và tạo vật: Sự nhận làm con nuôi cũng không phải mối liên hệ giữa Đấng Tạo hóa với chúng ta là tạo vật, vì như thế sự chết của Chúa Jesus thật là hoang phí !
II. Ý NGHĨA SỰ NHẬN LÀM CON NUÔI
1. Định nghĩa: Sự nhận làm con nuôi là hành động cụ thể của ân điển Đức Chúa Trời (khác biệt với sự tái sanh), bởi đó Ngài đặt những kẻ tiếp nhận Chúa Jesus vào địa vị làm con, ban cho họ mọi quyền hạn và đặc ân của tư cách làm con cái Đức Chúa Trời.
2. Tái sanh và nhận làm con: Tái sanh mang lại sự biến đổi trong bản tánh chúng ta, khiến chúng ta trở nên con cái Đức Chúa Trời. Sự nhận làm con nuôi nhấn mạnh đến địa vị và đặc quyền của con cái thật.
. Từ ngữ Hylạp có nghĩa là “được đặt trong tư cách một người con trai” lại không có trong bản Bảy mươi, dù Cựu Ước có đề cập đến các trường hợp nhận làm con nuôi như Môise, Êxơtê, Ghebunát (IVua 1V 11:20).
. Ý niệm nhận làm con nuôi không bắt nguồn từ tiếng Latinh, nhưng sự kiện dân Ysơraên là con trai Đức Chúa Trời và phương thức nhận làm con của người Lamã rất phù hợp với giáo lý nầy.
III. TẦM QUAN TRỌNG
1. Tổng quan: Sự làm con nuôi là một giáo lý hết sức quan trọng, dù chỉ xuất hiện 5 lần trong Kinh Thánh. Đây là một giáo lý trọng tâm của
Phao Lô, một giáo lý đẹp đẽ, cảm động trong Tân Ước.
2. Đối chiếu: Trong năm câu Kinh Thánh nói về sự nhận làm con nuôi, Phao Lô đối chiếu sự làm con nuôi với:
a. Thái độ trước đây: Tâm thần sợ hãi của đầy tớ (RoRm 8:15-16).
b. Hậu quả trước đây: Sự thở than của muôn vật (8:20-23).
c. Địa vị trước đây: Người không được nhận làm con (RoRm 9:4-12).
d. Tình trạng trước đây: Ách nô lệ thời luật pháp (GaGl 4:3-7).
e. Nếp sống trước đây: Nếp sống tội lỗi ngày trước (Eph Ep 1:4-7).
IV. MỐI TƯƠNG GIAO MỚI
1. Tương quan giữa Đức Chúa Trời với Ysơraên: Mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời và dân Ysơraên được ví sánh với mối liên hệ Cha con, Chủ vườn và vườn nho (EsIs 5:1-7), Chủ và đầy tớ (65:8-10), Chồng với vợ.
2. Phướchạnh của tương giao mới: RoRm 9:4 nói về dân Ysơraên, nhưng chúng ta là Ysơraên thuộc linh: Mọi ân phước chúng ta nhận được đều liên quan đến sự kiện chúng ta là con của Đức Chúa Trời, vì Ngài không tiếc bất cứ điều tốt lành nào cho chúng ta (8:32).
3. Thái độ mới: Chúng ta cần phải xem toàn bộ nổ lực của chúng ta chẳng xứng đáng chi so với tình yêu lớn lao Ngài đã bày tỏ, và những điều mình làm cho Chúa chỉ là điều đáng phải làm thôi (LuLc 17:7-10).
V. CUỘC SỐNG MỚI
1. Đấng chủ động: Chính Đức Chúa Trời nhận chúng ta làm con nuôi.
2. Đấng thực hiện: Chính Chúa Jesus khiến chương trình nầy trở thành hiện thực cho chúng ta.
3. Động cơ thực hiện: Sự nhận con nuôi là hành động đời đời của ân điển Đức Chúa Trời, phát lưu từ tình yêu của Ngài, theo ý chỉ tốt lành của Ngài dành cho những tội nhân bất xứng như chúng ta.
4. Mục đích thực hiện: Khiến chúng ta được thánh hóa không chỗ trách để khen ngợi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
VI. GIAI ĐOẠN HIỆN TẠI
1. Một từng trải hiện tại: Sứ đồ Giăng bảo rằng: Chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời (IGi1Ga 3:2). Nhờ đó, chúng ta được:
a. Giải thoát khỏi món nợ tội lỗi về số phận của mọi tội nhân (RoRm 8:1).
b. Giải thoát khỏi tình trạng nô lệ. Chúng ta đã từng làm nô lệ cho tội lỗi, bản ngã và Satan, sống trong sợ hãi và sự chết (HeDt 2:14-15). Nhưng
Đấng Christ đã giải quyết mọi sự bằng sự chết và sự sống lại của Ngài.
2. Một mối liên hệ thân thiết: Sự nhận làm con nuôi đưa chúng ta vào mới liên hệ thân thiết với Đức Chúa Trời đến nỗi chúng ta có thể gọi Ngài là Aba, Cha (RoRm 8:15): Aba là tiếng Aram chỉ về cha. Nó luôn được liên kết với từ Hylạp hopater, mang âm điệu thân thiết, quý mến.
a. Chúng ta không còn sợ hãi Đức Chúa Trời, nhưng kính sợ, tôn thờ Đấng Yêu thương đã làm mọi sự vì cớ chúng ta.
b. Chúng ta kinh nghiệm một mối liên hệ thân thiết, ngọt ngào, quý mến, nhưng không lố lăng.
3. Một của đặt cọc: Sự nhận làm con nuôi đưa chúng ta vào địa vị kẻ kế tự Đức Chúa Trời và đồng kế tự với Đấng Christ (8:17). Ngay hôm nay, chúng ta đang nhận Đức Thánh Linh như của cầm, bảo đảm chúng ta sẽ hưởng trọn cơ nghiệp mà chúng ta chỉ mới bắt đầu hưởng.
VII. GIAI ĐOẠN TƯƠNG LAI
1. Sự vinh hiển tương lai: Sự nhận làm con nuôi chưa hoàn tất dù chúng ta vẫn đang là con cái Đức Chúa Trời, vì sự vinh hiển trọn vẹn chưa đến, chúng ta vẫn chưa đạt đến tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ.
2. Một sự biến thể vinh diệu: Trong 8:23, sự cứu chuộc trọn vẹn được thực hiện là sự cứu chuộc thân thể. Đây là sự thay đổi lớn lao trong con người tổng thể của chúng ta. Đây là một sự biến thể vinh diệu của con sâu biến thành con bướm, khi chúng ta có thân thể phục sinh của Đấng Christ. Chúng ta sẽ “giống Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy”.
VIII. PHƯƠNG TIỆN CỦA SỰ LÀM CON NUÔI
1. Phần của con người: Dù không phải là chính yếu, nhưng rất cần thiết, giống như tái sanh, xưng nghĩa. Phần của con người phải tin, một niềm tin vượt quá trí khôn, bao gồm con người tổng thể trong sự vâng phục Cha.
2. Phần của Đức Chúa Trời: Là phần chắc chắn. Đức Chúa Trời nhận chúng ta làm con, không tùy thuộc bất cứ công lao nào của chúng ta, mà hoàn toàn là công việc của Đức Chúa Trời trong tình yêu và ân điển.
IV. CÁC BẰNG CHỨNG VỀ SỰ LÀM CON NUÔI
1. Lời Đức Chúa Trời: Lời Đức Chúa Trời thực sự là lời chứng quan trọng nhất cho sự làm con nuôi.
2. Từng trải bên trong và thể hiện ra ngoài: Tuy nhiên, còn có những bằng chứng bên trong và bên ngoài như sau: Cảm nhận được Đức Thánh Linh dẫn dắt, thể hiện bằng tình yêu anh em và sự vâng phục Chúa.
SỰ NÊN THÁNH
I. TỔNG QUÁT
1. Giáo lý sự nên thánh: Sự nên thánh là một giáo lý liên quan đến sự thay đổi địa vị (nên thánh địa vị) dẫn đến sự tăng trưởng tiệm tiến của tín hữu (nên thánh thực nghiệm) đến mức giống như chính Đấng Christ.
2. Sự nên thánh và giáo lý cứu rỗi: Sự nên thánh liên hệ mật thiết với toàn bộ giáo lý về sự cứu rỗi như sự tái sanh, xưng nghĩa . . .
II. NỀN TẢNG CỦA SỰ NÊN THÁNH
1. Mục tiêu của sự định trước: Phao Lô cho biết Đức Chúa Trời đã thực hiện chương trình Ngài cho chúng ta để chúng ta làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm, nghĩa là khiến chúng ta càng ngày càng giống với Đấng Christ hơn.
. Việc chúng ta đươc chọn, được gọi, được tái sanh, được nhận làm con nuôi . . . thảy đều dẫn đến kết quả tất yếu là phải có nếp sống công chính.
2. Phương pháp trước tác của Phao Lô: Nghiên cứu phương pháp trước tác của Phao Lô qua các thư Rôma, Galati, Êphêsô, Côlôse, chúng ta thấy có một sự tương quan bất khả phân ly giữa thần học và nếp sống đạo đức.
III. ĐỊNH NGHĨA SỰ NÊN THÁNH
1. Định nghĩa: Sự nên thánh là việc làm của ân điển Đức Chúa Trời, khiến chúng ta phân rẽ khỏi tội lỗi, và được biệt riêng cho nếp sống thánh khiết.
2. Phân tích từ ngữ: Từ sanctification xuất xứ từ tiếng Latinh, có nghĩa là làm cho thánh khiết hoặc làm cho thiêng liêng. Trong tiếng Hybálai (qodesh) hoặc Hylạp (hagios) đều có nghĩa là biệt riêng ra hay phân rẽ ra.
3. Các từ mô tả sự nên thánh: Kinh Thánh có nhiều từ mô tả sự nên thánh như: Sự nên thánh, tấm lòng thanh sạch, sự thánh khiết, đời sống đắc thắng, tình yêu thương trọn vẹn. . .
IV. SỰ THÁNH KHIẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Hai loại thánh khiết: Horne phân biệt hai loại thánh khiết của Chúa:
a. Sự thánh khiết oai nghiêm: Chỉ về Chúa đáng tôn thờ, trên muôn vật.
b. Sự thánh khiết đạo đức: Chúa hoàn toàn phân cách khỏi tội lỗi.
2. Lưu ý các tà thuyết: Trong vấn đề nên thánh, cần lưu ý các tà thuyết:
a. Thiên nhiên thuyết: Chủ trương Đức Chúa Trời tách biệt khỏi thế gian đến nỗi Ngài không giao tiếp gì với thế gian cả.
b. Phiếm thần thuyết: Chủ trương Đức Chúa Trời là một thành phần của thế giới, đến nỗi muôn vật đều có thể là Đức Chúa Trời !
c. Trí huệ thuyết: Chủ trương Đức Chúa Trời cách con người quá xa đến nỗi cự tuyệt cả ý nghĩ tiếp xúc với chúng ta.
3. Đức Chúa Trời đối với tội lỗi: Đúng là Đức Chúa Trời thánh khiết hoàn toàn phân cách với tội lỗi, nhưng Ngài không phân cách với tội nhân. Ngài rất ghét tội lỗi nhưng Ngài yêu thương tội nhân .
V. BA THÀNH PHẦN CỦA SỰ NÊN THÁNH
1. Sự phân rẽ: Một vật được gọi là thánh khi được biệt riêng cho các mục đích thánh khiết (tiêu cực). Nó là thánh chứ không phải biến nên thánh.
2. Sự dâng hiến: Sự dâng hiến mang tính tích cực. Khi chúng ta dâng chính mình để làm trọn các mục đích thánh, chúng ta được nên thánh.
3. Sự thực hiện: Sự nên thánh được thực hiện không ngừng trên đời sống khi chúng ta dâng chính mình cho Chúa.
VI. PHẦN ĐỨC CHÚA TRỜI
1. Tác giả của sự nên thánh: Đức Chúa Trời chính là tác giả của tiến trình thánh hóa. Chính sự thánh khiết của Ngài cung cấp nền tảng để chúng ta có thể hiểu biết nhu cầu và ý nghĩa của sự nên thánh.
2. Mục đích tiến trình nên thánh: Ý định của Đức Chúa Trời là làm cho chúng ta nên thánh hoàn toàn, “khiến chúng ta không chỗ trách được trước mặt Ngài trong ngày Đấng Christ hiện ra” (ITe1Tx 5:23).
VII. CÔNG TÁC ĐỨC THÁNH LINH
1. Lột bỏ tánh xác thịt: Đức Thánh Linh ban năng quyền khiến chúng ta lột bỏ tánh xác thịt để mặc lấy người mới tức là thể hiện ra bên ngoài nếp sống mới Chúa ban bên trong.
2. Làm chết bản tánh cũ: Tuy nhiên, điều chúng ta cần là “làm chết các việc của thân thể” thì sự sống mới mới có thể phát triển. Điều nầy phải có quyền năng của Đức Thánh Linh (RoRm 8:13) và phải được thực hiện liên tục. Đức Thánh Linh cũng sẽ làm sống động, khiến “hạt giống” của sự sống mới (IGi1Ga 3:9) được lớn lên, thể hiện ra bằng nếp sống mới.
VIII. THỂ HIỆN SỰ NÊN THÁNH
1. Đối với Đức Chúa Trời: Chúng ta sẽ hết lòng tôn kính, yêu mến, vâng phục và tương giao thân thiết với Chúa. Chúng ta sẽ làm mọi sự vì cớ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 10:31).
2. Đối với Đấng Christ: Chúng ta sẽ luôn luôn tôn cao Chúa Jesus là Chúa, là Chủ, đặt Ngài trước mặt chúng ta để noi gương Ngài, đến cùng Ngài, tương giao với Ngài trong sự thánh khiết (IGi1Ga 1:7).
3. Đối với Đức Thánh Linh: Chúng ta sẽ bước đi theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh, tận hưởng mọi phước hạnh trong Ngài, và không làm buồn Ngài hay dập tắt Ngài.
4. Đối với tội lỗi: Chúng ta sẽ biết ghét tội lỗi, đau buồn khi phạm tội và tránh thật xa tội lỗi với lòng khao khát dứt khoát, đoạn tuyệt với nó.
5. Đối với người xung quanh: Chúng ta sẽ thể hiện bông trái của Đức Thánh Linh trong mối quan hệ với người xung quanh: Yêu mến anh chị em và thể hiện tình yêu đối với linh hồn tội nhân . . .
IX. HAI LOẠI NÊN THÁNH
1. Nên thánh địa vị: Đây là sự nên thánh khách quan hay nên thánh tức thời, được diễn ra khi chúng ta hiệp một với Đấng Christ trong sự chết và sự sống lại, nghĩa là khi chúng ta thật lòng ăn năn tội, tin nhận Chúa Jesus làm Chúa Cứu thế của đời sống mình.
. Theo ICo1Cr 6:9-20, Phao Lô xem sự rửa sạch, sự nên thánh và sự xưng nghĩa đều là những hành động quá khứ đối với tín hữu. Phao Lô gọi các tín hữu là thánh đồ, là những người được nên thánh trong Đức Chúa Jesus Christ (1:2), nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời (6:11).
2. Nên thánh thực nghiệm: Trong CoCl 3:1-10, Phao Lô nối kết sự nên thánh địa vị với công tác đã hoàn tất của Đấng Christ, và rồi quả quyết rằng từng trải Cơ Đốc phải tuôn tràn từ nếp sống tin kính. Nếp sống nầy luôn tiến lên chỗ cao hơn. Sự nên thánh thực nghiệm là sự đổi mới tâm chí (RoRm 12:2) do quyền năng Đức Thánh Linh (RoRm 8:13) làm chết các tham muốn thuộc về trần gian (CoCl 3:5).
II. PHƯƠNG TIỆN SỰ NÊN THÁNH
1. Về phía Đức Chúa Trời: Chúa có thể:
a. Cho phép nghịch cảnh xảy đến trên đời sống con dân Ngài để thanh tẩy họ, sửa dạy họ (HeDt 12:11).
b. Dùng Lời của Ngài để thanh tẩy chúng ta (GiGa 15:3).
c. Dùng huyết Chúa Jesus để làm sạch gian ác chúng ta (IGi1Ga 1:7).
2. Về phía con người: Chúng ta được thánh hóa khi chủ động phân rẽ mình khỏi tội lỗi, bởi việc liên tục dâng đời sống mình cho Đức Chúa Trời và cho mục đích Ngài dành cho đời sống mình.
SỰ CẦU NGUYỆN
I. TẦM QUAN TRỌNG
1. Sư cầu nguyện và sư cứu rỗi: Cầu nguyện là một trong những phương tiện của ân điển, như một số các nhà thần học đã gọi. Nó là một phương tiện Đức Chúa Trời đã ban để chúng ta nhờ đó có thể chiếm lấy ân điển của Ngài ở một mức độ đầy đủ hơn, để duy trì chúng ta trong sự cứu rỗi Ngài đã ban cho chúng ta.
2. Kinh Thánh nói về tầm quan trọng của sự cầu nguyện: Sự cầu nguyện là sự lưu xuất tự nhiên của tấm lòng một người được cứu rỗi. Kinh Thánh cho thấytầm quan trọng lớn lao của sự cầu nguyện:
. Exơra xem cầu nguyện quan trọng hơn đạo quân và lính kỵ (Exo Er 8:21-23).
. Chúa Jesus xem cầu nguyện cần hơn thức ăn và giấc ngủ (Mat Mt 4:2; 14:23).
. Các sứ đồ đặt cầu nguyện trước sự giảng đạo (Cong Cv 6:4).
II. ĐỊNH NGHĨA SỰ CẦU NGUYỆN
1. Cầu nguyện và truyền thông: Cầu nguyện là sự truyền thông giữa con người và Đức Chúa Trời đời đời vô hạn. Bằng sự cầu nguyện, chúng ta giao tiếp với Đức Chúa Trời: Cầu nguyện là sự đàm thoại của linh hồn với Đức Chúa Trời.
. Chúa Jesus đã cầu nguyện lớn tiếng. Cầu nguyện lớn tiếng khiến chúng ta dễ tập trung và chính xác trình lên Chúa điều mình muốn.
2. Định nghĩa: Cầu nguyện là sự truyền thông của một con người: linh hồn, tâm thần, lý trí, ý chí, cảm xúc và ngay cả thân thể người ấy nữa, với một Đức Chúa Trời Chân thật, Hằng sống là Đức Chúa Trời ở tại đó, ngay bên ngoài chính con người ấy.
III. ĐỐI TƯỢNG CỦA SỰ CẦU NGUYỆN
1. Đối tượng duy nhất: Là Đức Chúa Trời Ba Ngôi hiệp Một.
2. Cầu nguyện với Ai? Chúa Jesus cầu nguyện với Đức Chúa Cha và dạy chúng ta cầu nguyện với Cha (GiGa 16:23). Chúng ta có thể cầu nguyện với Đức Chúa Con (IICo 2Cr 12:8. IITi 2Tm 2:22). Không có chỗ nào bảo chúng ta cầu nguyện với Đức Thánh Linh cả dù chúng ta có hát như thế (Tc. 137).
. Như thế, chúng ta cầu nguyện với Đức Chúa Cha trong Danh Đức Chúa Jesus bởi sự giúp sức của Đức Thánh Linh.
IV. BẢN CHẤT SỰ CẦU NGUYỆN
1. Sư cầu nguyện của các tôn giáo: Sự cầu nguyện của tín đồ Phật giáo thật sự chỉ là một tiến trình tinh thần, một sự luyện tập về mặt tâm lý.
. Trong Ấn độ giáo, sự cầu nguyện chỉ là sự suy gẫm hay nhập định, mang nặng tính nghi thức, vì họ không hề có một vị thần có thân vị.
. Sự cầu nguyện của tín đồ Hồi giáo chủ yếu là sự vâng phục ý chỉ của Đức Allah chứ không phải là một phương tiện để nhận lãnh một điều gì.
. Khác Do Thái giáo cổ truyền, Do Thái giáo cải cách xem lời cầu nguyện như một tâm trạng của tâm lý.
2. Đối với Cơ Đốc giáo: Chúng ta tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời duy nhất và chúng ta chỉ cầu nguyện với Ngài. Dựa trên công tác Đấng Christ trên Thập tự, chúng ta được Ngài nhậm lời cầu nguyện (GiGa 14:6).
. Chúng ta có thể dạn dĩ đến gần với Ngai khoan dung để tìm được sự thương xót và cứu giúp trong thì giờ có cần dùng (HeDt 4:14-16).
V. LỜI CẦU NGUYỆN TRONG KINH THÁNH
1. Các hình thức: Kinh Thánh nêu nhiều hình thức cầu nguyện: Khẩn cầu, cầu xin, yêu cầu, ước muốn, nài xin, cầu thay. . .
2. Từ ngữ: Cựu ước dùng 12 từ Hybá lai để dịch chữ cầu nguyện. Chữ phổ thông nhất là palal có nghĩa là khiến người khác can thiệp hay phân xử trường hợp của mình. Đó không phải chỉ là giải tỏa cảm xúc mà đến với một Đức Chúa Trời Hằng sống, quyền năng là Đấng Phán xét công bình.
. Từ ngữ phổ thông ở Tân Ước là Proseuchomai và deomai. Proseuchomai nói về cầu nguyện là một sự kiện có thực, là sự vận dụng thuộc linh của linh hồn nhưng ít nhấn mạnh đến nội dung lời cầu nguyện như từ deomai.
3. Nguyên tắc cầu nguyện theo Chúa Jesus: Chúa Jesus dạy:
a. Cầu nguyện được hướngvề Cha thánh khiết trên trời (Mat Mt 6:6-15).
b. Chính cá nhân đứng trước mặt Chúa mà cầu nguyện (LuLc 18:10-14).
c. Cầu nguyện có tiềm năng lớn khi cầu nguyện với đức tin (Mac Mc 11:24).
d. Cầu nguyện là thuộc linh, không theo hình thức (Mat Mt 6:5-8).
e. Lời cầu nguyện phải thực tế: Bánh ăn, tha thứ, cầu thay. . .
Phao Lô thêm: Cầu nguyện cũng là thờ phượng (Eph Ep 5:19). Ba Ngôi đều dự phần trong sự cầu nguyện. Cần chiến đấu trong sự cầu nguyện . . .
VI. CÁC LÝ DO CỦA SỰ CẦU NGUYỆN
1. Chúa truyền dạy chúng ta cầu nguyện: Chúng ta cầu nguyện vì Chúa truyền dạy chúng ta cầu nguyện: Ngài dạy môn đồ cầu nguyện và hứa đáp lời cầu nguyện. Tuy nhiên nên nhớ rằng chúng ta không thể ép Chúa làm điều mà Ngài không muốn làm.
2. Cầu nguyện là phương tiện Chúa thực hiện ý định của Ngài: Đaniên nhận biết thời hạn 70 năm và cầu nguyện. Dù Chúa vẫn có cách để thực hiện ý định Ngài, nhưng trong sự khôn ngoan và ân điển Ngài, Ngài cho phép con người được dự phần với Ngài.
3. Cầu nguyện vô cùng quan trọng: Không cầu nguyện là làm buồn lòng Chúa, phạm tội với Ngài (ISa1Sm 12:23). Thiếu cầu nguyện, điều ác sẽ xảy ra và cầu nguyện chính là phương tiện để chúng ta tiếp nhận những điều Chúa muốn ban cho mình.
. Cầu nguyện mang tính sống còn đối với sự hưng vượng của Cơ Đốc nhân: Thay đổi cuộc đời, giải quyết nan đề cá nhân, Hội Thánh, dân tộc.
VII. CÁCH THỨC CẦU NGUYỆN
1. Tư thế cầu nguyện trong Kinh Thánh: Các thánh đồ đã cầu nguyện trong mọi tư thế: Quỳ gối, sấp mình xuống đất, nằm trên giường, ngồi. . .
2. Thời điểm cầu nguyện: Mọi thời điểm: Buổi chiều, buổi sáng, ban trưa, trước khi ăn, những dịp đặc biệt . . .
3. Một vấn đề riêng tư: Ở đâu, khi nào, cách nào là một vấn đề riêng tư của cá nhân miễn là theo đúng các nguyên tắc trong Kinh Thánh.
VIII. SỰ CẦU NGUYỆN VÀ SỰ BỀN ĐỖ
1. Tín đồ cầu nguyện: Lời cầu nguyện của tín đồ giữ một phần sống còn trong sự bền đỗ của họ. Cần hiểu câu “Cầu nguyện không thôi” là bền đỗ trong sự cầu nguyện.
2. Đấng Christ cầu thay: Đấng Christ cầu thay bảo đảm cho chúng ta tình yêu bất biến (RoRm 8:31-35), ân điển cứu rỗi toàn vẹn (HeDt 7:25) và sự tha thứ tội lỗi chắc chắn (IGi1Ga 2:1-2)(trừ phi con người chống cự).
3. Đức Thánh Linh cầu thay: Đức Thánh Linh tìm ra những ý tưởng thầm kín nhất của tâm trí, bù đắp sự yếu đuối của chúng ta, cộng tác với chúng ta để đem sự bảo đảm cho sự bền đỗ của chúng ta.
IX. NHỮNG NGĂN TRỞ CỦA SỰ CẦU NGUYỆN
1. Những ngăn trở: Có nhiều lý do ngăn trở lời cầu nguyện được nhậm. Đó là: Tội lỗi (Thi Tv 66:18), bất tuân (ChCn 28:9), ích kỷ (Gia Gc 4:3), tinh thần không tha thứ (Mat Mt 6:12), thiếu đức tin (HeDt 11:6), thần tượng trong lòng (Exe Ed 14:1-3), rắc rối giữa vợ chồng (IPhi 1Pr 3:7). . .
2. Ngăn trở chính yếu: Ngăn trở chính yếu là tội lỗi chưa được giải quyết: Không ai không chịu ăn năn mà lại được Chúa nhậm lời. . . Chúa đòi hỏi chúng ta phải thành thật và bước đi ngay thẳng với Ngài.
X. CẦU NGUYỆN NHƯ THẾ NÀO ?
1. Những điều phải tránh: Chúa dạy chúng ta phải tránh:
a. Những lời lặp vô ích: Nhiều người lạm dụng Danh Chúa trong khi cầu nguyện hoặc lặp đi lặp lại “Alêlugia”, “ngợi khen Chúa”. . .
b. Nhằm gây ấn tượng cho người nghe: Khi cầu nguyện giữa đám đông, hãy nhớ mình đang mang lấy vai trò của một thầy tế lễ để dâng lên Chúa lời cầu nguyện, cần chuẩn bị cẩn thận, nhưng không phải cho người nghe.
c. Lòng vô tín: Cầu nguyện mà không hết lòng tin.
d. Động cơ ích kỷ: Hãy cầu nguyện vì sự vinh hiển của Chúa.
2. Chín phương cách: Freligh đưa ra chín phương cách của sự cầu nguyện:
a. Nhơn Danh Chúa Jesus: Lời cầu nguyện phù hợp với bản tánh Chúa.
b. Nhờ Đức Thánh Linh: Trong và bởi sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh.
c. Với lòng sốt sắng: Tập trung nổ lực (không nhất thiết đầy cảm xúc).
d. Với sự kiêng ăn: Không phải công đức nhưng để tập trung dâng mình.
e. Với sự tạ ơn: Tạ ơn làm vui lòng Chúa và Chúa xứng đáng được tạ ơn.
f. Với tín hữu khác: Đồng tâm chiến đấu trong sự cầu nguyện.
g. Trong nơi kín nhiệm: Một số vấn đề cá nhân, nhất là sự xưng tội.
h. Bởi đức tin: Phải đặt trọn vẹn niềm tin nơi Chúa khi cầu nguyện.
i. Không thôi: Phải bền đỗ trong sự cầu nguyện, không hề mõi mệt.
XI. MỤC ĐÍCH CỦA SỰ CẦU NGUYỆN
1. Liên quan đến cá nhân: Chúng ta cầu nguyện để bắt ý muốn mình đầu phục ý muốn của Đức Chúa Trời: Trong sự xưng tội lẫn cầu xin.
2. Liên quan đến tha nhân: Xin Chúa thực hiện chương trình của Ngài.
3. Liên quan đến Đức Chúa Trời: Để Đức Chúa Trời được vinh hiển.
SỰ LÀM CHO VINH HIỂN
NỀN TẢNG SỰ LÀM CHO VINH HIỂN
I. ĐỊNH NGHĨA SỰ LÀM CHO VINH HIỂN
1. Đại cương: Về cơ bản, bản chất của sự làm cho vinh hiển là một sự kiện. Về phạm vi, nó bao gồm toàn thể dân sự của Chúa. Về thời điểm, nó sẽ xảy ra cùng một lúc trong tương lai. Về mục tiêu, nó là sự thực hiện mục đích cứu chuộc. Về chương trình, nó có từ cõi đời đời.
2. Định nghĩa: Sự làm cho vinh hiển là công việc do Đức Chúa Trời thực hiện để sự cứu rỗi chúng ta được hoàn tất, khi chúng ta được trở nên trọn vẹn cho cõi đời đời về mặt đạo đức, được đem vào sự hiện diện của Ngài với một thân thể giống như thân thể vinh diệu của Đấng Christ.
II. NỀN TẢNG CỦA SỰ LÀM CHO VINH HIỂN
1. Nền tảng duy nhất: Tư trước vô cùng cho đến đời đời, sự cứu rỗi căn cứ trên của lễ chuộc tội của Đấng Christ.
2. Giá trị sự chết chuộc tội của Chúa Jesus: Sự chết của Chúa Jesus:
a. Đã xác định sự công bình của Đức Chúa Trời để xưng nghĩa chúng ta.
b. Đã thực hiện sự giảng hòa (che đậy tội lỗi và giải hòa).
c. Đã hoàn tất sự tẩy sạch tội lỗi, thánh hóa đời sống chúng ta.
d. Đã hoàn tất sự cứu chuộc (mua chuộc và giải phóng).
3. Phần của chúng ta: Sự làm cho vinh hiển được thiết lập trên công tác đã được hoàn tất của Đấng Christ. Tuy nhiên, chúng ta phải lấy đức tin tiếp nhận sự bảo đảm vững chắc nầy cho mình.
III. BẢN CHẤT CỦA SỰ LÀM CHO VINH HIỂN
1. Mục đích của sự cứu rỗi: Toàn bộ sự cứu rỗi cho chúng ta đều hướng về tương lai: Đó là sự làm cho vinh hiển. Điều nầy có thể được so sánh với sự đồng quy của các phương diện trong sự cứu rỗi (Tái sanh, xưng nghĩa, nên thánh, nhận làm con nuôi).
2. Sự trọn lành về đạo đức: Sự làm cho vinh hiển chủ yếu nói đến sự trọn lành về đạo đức mà chúng ta sẽ có, như sứ đồ Giăng đã nói: Chúng ta sẽ giống như Ngài (IGi1Ga 3:2) dù chúng ta không phải là Thần như Ngài.
. Hiện nay chúng ta không thể không phạm tội, nhưng rồi chúng ta sẽ không thể phạm tội (non posse peccare), không vết (amomos), thỏamãn đức thánh khiết của Chúa (hagios), không nhiễm tội (eilikrines). . .
BẢO ĐẢM của SỰ LÀM CHO VINH HIỂN
I. MỘT SỰ TRỌN LÀNH ĐẠO ĐỨC TUYỆT ĐỐI
1. Đạo đức trọn lành: Trong sự làm cho vinh hiển, chúng ta sẽ không thể phạm tội, không chỗ trách được (amomos), thỏa mãn sự thánh khiết của Chúa (hagios), thóat khỏi mọi lý do gây vấp phạm (aproskopos), không nhiễm tội (eilikrines), không bị buộc tội (anegkletos), không có lỗi lầm (amemptos), không vết, không nhăn (spilos - rhutis).
2. Xã hội trọn lành: Cuối cùng, chúng ta sẽ có điều mà thế giới mơ tưởng: Một xã hội trọn vẹn tuyệt đối với những thành viên trọn vẹn tuyệt đối.
3. Sự sống đời đời: Chúng ta không chỉ không hề chết, mà kinh nghiệm sự sống đời đời phước hạnh trong mối tương giao với Đức Chúa Trời.
II. MỘT SỰ TỰ DO TUYỆT ĐỐI
1. Nhu cầu được tự do: Con người cần được tự do khỏi tội lỗi, khỏi áp lực của luật pháp và khỏi sự chết đang cai trị do hậu quả của tội lỗi Ađam.
2. Bí quyết: Chúng ta sẽ được tự do khỏi ba điều trên khi chúng ta tự tự thuận phục mình dưới “ách” của Đấng Christ. Điều nầy dường như một nghịch lý, nhưng lại là một sự thật phước hạnh.
. Chúa Jesus tuyên bố rằng: “Các ngươi sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi” (GiGa 8:32). Lẽ thật ở đây là lẽ thật về chính Ngài, Ngôi Lời nhập thể, và Ngài chính là Lẽ thật (14:6).
III. MỘT THÂN THỂ TRỌN LÀNH
1. Xác thịt và thân thể: Chúng ta cần lưu ý hai từ xác thịt và thân thể:
a. Xác thịt: Thường chỉ về bản tánh tội lỗi của con người. Chúng ta gọi đó là bản ngã hay là con người cũ.
b. Thân thể: Thân thể được dùng để chỉ về mặt thể chất của hữu thể con người, gồm có tay chân, mặt mủi. . . mà tự nó không có tội lỗi.
c . Thân thể không có gì xấu xa, ghê tởm, hèn hạ như nhiều người Hylạp ngoại đạo đã suy nghĩ, trừ phi con người tự làm cho nó trở nên hèn hạ. . .
2. Hai cách làm cho vinh hiển của thân thể: Chính thân thể sẽ dự phần trong sự vinh hiển. Tùy theo tình trạng thân thể lúc Chúa tái lâm:
a. Thân thể đã chết sẽ được sống lại thật vinh hiển, toàn vẹn.
b. Thân thể còn đang sống sẽ được biến hóa. Hai cách nầy là những phép lạ kỳ diệu do chính Chúa thực hiện (như sự gieo hạt ICo1Cr 15:42-44).



† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 23-7-2018 07:40 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách