† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2664|Trả lời: 0

Dâng Trọn Cuộc Đời

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 10-7-2011 09:04:11 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Dâng Trọn Cuộc Đời
Tác giả: Michael Griffiths

Lời Nói Đầu
Quân Bình hay Cuồng Nhiệt?
Tự Do hay Nô Lệ?
Nhàn Hạ hay Bị Thúc Bách?
Cần Kiệm hay Rời Rộng?
Thành Kiến hay Tin Chắc?
Tình Sử hay Tình yêu?
Khán Giả hay Diễn Viên?
Nói Chuyện Suông hay Cảm Thông Nhau?
Chỉ Hành Nghề hay Theo Tiếng Gọi?
Hoạt Động Chủ Nghĩa hay
Được Phú Cho Quyền Năng?
“Tầm quan trọng của thái độ không nhiệt thành”
Ngày nay, mọi người hình như đều nghĩ rằng muốn trở nên trưởng thành, già dặn, bạn phải là một con người không nhiệt thành, không tha thiết đến bất cứ một cái gì hết; hoặc nếu cần phải tỏ ra sốt sắng, nhiệt thành, bạn phải giấu mình dưới một chiếc mặt nạ dửng dưng, xem thường tất cả. Điều càng tệ hại hơn sự nhiệt thành, đó là tính nhiệt cuồng, nhất là nhiệt cuồng trên phương diện tôn giáo, hay cuồng tín. Trong xã hội nói chung, một tín đồ Đấng Christ ý thức được sứ mạng về sự dâng mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời là một người hiếm có, không được lòng thiên hạ, có khi còn bị chế giễu nữa. Khuynh hướng của thời đại chúng ta là san bằng mọi dị biệt, với sự trợ giúp của những phương tiện truyền thông đại chúng khiến chúng ta phải giống y nhau trong việc hạn chế ăn uống, dùng kem đánh răng, may mặc và những niềm tin tôn giáo. Quan điểm thế gian nói chung dạy chúng ta nên chừng mực trong mọi việc. “Phải biết châm chế lẫn nhau. Tại sao lại vô lễ đến độ muốn nhấn mạnh vào những điểm dị biệt của nhau, hay nhiệt cuồng đến nỗi tin rằng mình là phải, còn người khác là trái?”
Giữa vòng các sinh viên, vẫn còn một số người muốn chọn lấy một lý tưởng, khiến nó trở thành một chính nghĩa cho riêng mình để đương đầu với những đối xử cứng rắn, những chế giễu, giam cầm và tiến thẳng đến mục tiêu họ nhằm vào. Dầu họ đang ngồi trên các vệ đường tại Anh quốc, hay đang hát là “Chúng ta sẽ thắng” tại Hoa Kỳ, hoặc nối đuôi nhau đi lượn phố bên Nhật Bản, họ đều sẵn sàng hoạt động tích cực cho điều mình tin tưởng. Họ rải truyền đơn, tổ chức những buổi mít-tinh ngoài trời, đi biểu tình, ngồi trên đường phố để thách đố dùi cui, lựu đạn cay, và bắt bớ giam cầm của cảnh sát. Nhưng dĩ nhiên là điều đó hoàn toàn khác biệt với tôn giáo.
So với họ thì tín đồ Đấng Christ là một số người dường như sống cách vô vị và ôn hoà hơn. Bạn không thể nào bận tâm đến các định chế Cơ Đốc giáo, nếu ít ra bạn không yêu mến nó. Dường như tôn giáo không thúc bách mấy về việc đó. Nó không phải là một vấn đề đương đại, nhưng dường như liên hệ trước nhất đến việc bảo tồn các đền đài cổ, đóng góp tiền bạc để mua phong cầm, gìn giữ các thánh tích của một thế hệ trước đây. Nó phảng phất mùi ẩm mốc của ghế nhà thờ, của những quyển sách kinh đặc biệt. Nó cũng có thứ ngôn ngữ riêng, phần lớn là ngôn ngữ cũng có từ ít ra ba thế kỷ về trước hay lâu hơn nữa. Tôn giáo rất dễ đưa đến, nếu không phải là sự mê tín thực sự, thì ít ra cũng là một thái độ nhạy cảm, trốn tránh thực tại. Đối với các vấn đề đau khổ và bất công trên thế gian, dường như nó chỉ đưa ra một giải pháp tin kính tầm thường, thỉnh thoảng có những cuộc biểu quyết chớ không có một hành động thực tiễn nào. Dường như giáo hội Cơ Đốc không hề hoạch định những “bước nhảy vọt quan trọng”, và viễn tượng nó nhằm vào luôn luôn là một cái gì hình như cứ càng ngày càng thấy lui xa hơn. Làm tín đồ Đấng Christ dường như tốt nhất là nên như người đi bộ, chứ không phải là hoàn toàn đứng yên, hay tệ hại hơn là thụt lùi.
Có người thuật lại rằng Oliver Wendell Holmes đã nói: “Trong lòng tôi có một gốc cây nhỏ gọi là Cây Tôn Kính cần phải tưới nước mỗi tuần một lần”. Cơ Đốc giáo đã được đồng nhất hoá với một thứ nghi thức cứng nhắc phải thực hiện mỗi tuần một lần, và chỉ có một số ít người thành kính còn chủ tâm đến việc nhóm lại là còn thực hành. Nếu không cần đến lễ báp-tem, lễ hôn phối và lễ an táng, người ta có thể nghĩ rằng tất cả mọi sự đều sẽ phải dẹp đi. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ bao nhiêu khi thấy rằng làm tín đồ Đấng Christ dường như chỉ có nghĩa là trở thành một con người chậm chạp, tầm thường, không hấp dẫn bao nhiêu đối với phần lớn mọi người.
Chữ “Cơ Đốc giáo” chẳng bao giờ có trong Kinh Thánh, chứ chữ “Cơ Đốc nhân” thì có, nhưng dường như là để mô tả một con người hoàn toàn khác hẳn con người mà chúng ta gọi là “tín đồ Đấng Christ” ngày nay. Phải chăng tín đồ Đấng Christ như chúng ta ngày nay chỉ là một số người giả dối miệng luôn nói mình tin vào những điều mà thật ra chúng ta không tin? Gần đây nhiều người đã viết ra những ý kiến khác nhau về hình dáng của Đức Chúa Trời. Hình ảnh phổ thông về một tín đồ Đấng Christ phải ra thế nào dường như cũng chịu chung một số phận như vậy, thậm chí ngay cả trong các Hội Thánh. Mục đích của quyển sách nhỏ này là muốn cho chúng ta suy nghĩ lại ý nghĩa của việc làm tín đồ Đấng Christ - làm một trong số những người của Đấng Christ - theo ý nghĩa của từ ngữ ấy trong Kinh Thánh. Rõ ràng là nó bao gồm nhiều việc hơn là một giờ mỗi tuần đi nhóm lại một cách thụ động trong một ngôi nhà dành riêng cho sự thờ phượng tôn giáo, xem những gì được một người có huấn luyện chuyên môn về thần học chỉ dạy cho, nghe một bài giảng ngắn, và ném vài đồng bạc vào một chiếc túi đựng tiền dâng.
Những đức tính hiện đại như châm chước và chừng mực dường như chỉ chiếm một chỗ rất khiêm nhượng trong Kinh Thánh. Điều Đấng Christ phán dạy các môn đệ Ngài dường như là tất-cả-hay-không-là-gì-cả. Làm tín đồ Đấng Christ có nghĩa là biệt riêng ra như một cái gì sống động và sinh động. Người tín đồ là người có một nguồn sinh lực, có lòng nhiệt thành, và sự vui mừng trong đời sống. Quyển sách này là một lời khích lệ hành động - một lời khuyên trở về với loại người tín đồ Đấng Christ gương mẫu của Kinh Thánh, một Hội Thánh kiểu mẫu của Tân Ước. Không có quyển sách nào kích thích được chúng ta hành động - chỉ một mình Thánh Linh của Đức Chúa Trời có thể làm được việc đó mà thôi. Đó là lý do khiến cho mỗi chương đều kết thúc theo cách đã có, vì đây là một quyển sách viết về lòng nhiệt thành của người tín đồ Đấng Christ đáp lại lời Đức Chúa Trời bằng việc phục vụ vui mừng, tự phát, đối với Đức Chúa Trời và loài người. Amy Carmichael thường đòi hỏi “những lời lẽ nẩy lửa” và những quyển sách có “sắt và máu” bên trong. Kinh Thánh chính là quyển sách đó. Tôi không biết là trong quyển sách này có “sắt và máu” hay không, nhưng tôi biết là chúng ta muốn có loại tín đồ Đấng Christ “sắt và máu”.
Tokyo
Tháng 10, 1965


QUÂN BÌNH hay CUỒNG NHIỆT?
Xin Chúa tiếp nhận lòng con , nó là của Ngài
để trở thành ngai ngự của Ngài
Khi bàn đến vấn đề “đầu phục Đấng Christ một cách trọn vẹn”, nhiều người cảm thấy khó chịu. “Về việc dâng mình trọn vẹn đó có thể là quá mấu, và rất dễ đi quá xa. Lẽ dĩ nhiên là Cơ Đốc giáo không hề đưa ra những đòi hỏi ngông cuồng buộc chúng ta trở thành những con người cuồng tín. Chúng ta phải thực tế và hợp lý - chắc ai cũng biết là phải ‘tiết độ trong mọi sự’. Kinh Thánh đã chẳng dạy như vậy sao?”
Tôi nhớ là đã bị một bạn giáo sĩ trêu đùa như sau: “À, tôi biết là bạn ở trong nhóm IVF. Phải chăng các bạn chủ trương phải sống quân bình?” Lẽ dĩ nhiên là phần đông chúng ta đều bênh vực cho nếp sống quân bình, chừng mực. Chúng ta phải tìm hết cách để tránh các cực đoan. Tuy nhiên, với tư cách tín đồ Đấng Christ, trước hết chúng ta phải sống hợp Kinh Thánh, và nếu chúng ta thành thật thì phải nhận rằng sự quân bình, chừng mực mình hay rêu rao đó, có thể trở thành một chiếc áo khoác ngoài rất thuận tiện để chống chế cho thái độ dễ thoả hiệp, dửng dưng và biếng nhác của chúng ta.
Nhưng thiết tưởng đi ngay vào cuộc bàn cãi phải đặt việc sử dụng thì giờ và tiền bạc của chúng ta vào kỷ luật, phải dâng tất cả mọi điều mình có cho Đức Chúa Trời, thì không ích lợi gì, vì nó có thể khiến cho một số người run sợ, trong khi phần đông chúng ta sẽ viện ra sự phước hạnh của nếp sống quân bình, chừng mực, vốn là một lý luận rất đúng. Cho nên trước hết, chúng ta phải tìm xem Kinh Thánh đã khuyến khích sự cuồng nhiệt mù quáng hay nó vốn là mẫu mực của một đời sống thuần chánh, tiết độ, vui tươi và hoàn toàn hợp lý. Chúng ta cũng phải nhớ rằng đây không phải chỉ là một cuộc bàn cãi lý thuyết, trừu tượng mà chúng ta đang đề cập đến Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đó thực hữu và Ngài muốn có một mối tương giao thực sự với chúng ta. Thế là ngay lập tức chúng ta đã trở nên thận trọng rồi; vậy xin hãy chừng mực và đừng để cho một cái gì ám ảnh mình cả. Một số người muốn trốn tránh khi nghe đề cập đến vấn đề hôn nhân chỉ vì họ thình lình biết được là hôn nhân gồm có những gì. Cũng vậy, một số người bỗng đâm ra ngại ngùng khi thình lình được biết rằng làm tín đồ Đấng Christ là phải tương giao với Đức Chúa Trời - và không có lời lẽ nào lại có thể nói lên sự sợ hãi, kinh ngạc có trong giọng nói của chúng ta khi chúng ta thốt lên chữ cuối cùng của câu này. Như thế thì phải chăng Đấng Tạo Hoá, Cha Thiên thượng Đức Chúa Trời là Cứu Chúa, người Bạn thân thiết đầy lòng thương xót của chúng ta đã đòi hỏi chúng ta một điều vô lý, bất chính? Xin hãy đánh tan ý nghĩ đó đi! Nếu chúng ta không tin cậy ở Ngài, thì còn có thể tin cậy được ai? Cho nên rõ ràng là trước hết chúng ta phải suy nghĩ đến các nền tảng để dựa vào đó, chúng ta sẽ thiết lập mọi lời kêu gọi vào các hành động của người tín đồ Đấng Christ, dầu hành động đó chỉ là vừa phải theo một chừng mực nhất định.
Chính Kinh Thánh cũng tán dương rất ít về sự vừa phải đó. Có câu Kinh Thánh nào dạy chúng ta phải tốt lành vừa phải, thánh khiết vừa phải, sốt sắng vừa phải chăng? Hay có chỗ nào cho phép chúng ta ích kỷ vừa phải, dễ dãi vừa phải với chính mình chăng? Nói như thế là nhái lại Kinh Thánh. Chúng ta có thể bảo rằng Cựu Ước là lịch sử của một dân tộc chỉ muốn chừng mực, dễ dãi trong vấn đề tôn giáo, và cách thức Đức Chúa Trời đã không cho phép họ như vậy. Ngài luôn luôn quở trách và kiên trì kêu gọi họ phải nhiệt thành theo đuổi sự thánh khiết, duy trì công bằng xã hội, đừng dung dưỡng các tôn giáo khác và sốt sắng về sự công nghĩa. Và khi họ vẫn ngoan cố không chịu tự phân rẽ mà cứ hoà hoãn với hình tượng, vẫn gây bất công trong xã hội và sống bất khiết, mặc dầu những lời cảnh cáo luôn được nhắc đi nhắc lại, thì Ngài đã đoán xét và trừng phạt họ.
Nhiều câu Kinh Thánh bị trích dẫn sai lầm
Nhưng dầu Cựu Ước có nói gì đi nữa, thì chắc chắn là Tân Ước phải chăng đã có một thái độ hợp lý và dễ dãi hơn? Dầu sao, Phao-lô cũng nói: “Phải cho mọi người biết nết ôn hoà (moderation: vừa phải, chừng mực, tiết độ hay ôn hoà) của anh em” (Phi Pl 4:5, theo bản AV). Vậy, “ôn hoà” có nghĩa gì? Nó có nghĩa là không đi đến cực đoan, trái với việc đi đến chỗ quá độ. Đúng, nhưng phải chăng đó là ý Kinh Thánh muốn dạy? Lightfoot gọi đó là tinh thần “tử tế và nhẫn nhục”, mà “nhẫn nhục” là tinh thần trái với tranh đua, tự tôn. Tóm lại, từ ngữ Hi Lạp epieikçs là một chữ có nghĩa là “nhường nhịn, tử tế, nhu mì” và đã được dịch là “mềm mại, hoà nhã” trong ITi1Tm 3:3; Tit Tt 3:2; Gia Gc 3:17; IPhi 1Pr 2:18. Như thế, rõ ràng chữ “ôn hoà” là một lối dịch không được sát nghĩa lắm.
Nhưng lương tri chắc cũng bảo rằng cưỡng ép dùng một câu trong sách Phi-líp để biện minh cho tính hờ hững, dửng dưng là điều không mấy khôn ngoan! Chúng ta hãy đọc kỹ phần còn lại của thư tín ấy. Nó đã đề cập đến Đức Chúa Giê-xu Christ là Đấng đã đi đến bước cùng cực để cứu rỗi loài người, đến tuyệt điểm là mặc lấy hình tôi tớ (Phi Pl 2:6, 7), chịu khổ, chịu nhục và cuối cùng, phải mất cả thể diện khi chịu chết như một kẻ gian manh, lường gạt. Chính Phao-lô cũng nói là mình sẵn sàng đổ mạng sống ra trên của lễ hy sinh là đức tin của người Phi-líp (2:17). Ông đã nói một cách quá mức về ý nghĩa của người theo Đấng Christ: “Đấng Christ là sự sống tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi” (1:21, theo bản nhuận chánh: sống là Christ, chết là lợi). “Tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó” (3:8). Chắc những ý niệm đó không hề khuyến khích sự “vừa phải” trong vấn đề đức tin. Cho nên rõ ràng là câu đó không hề chứa đựng cái ý nghĩa mà thỉnh thoảng người ta đã gán cho nó; mà thật ra Kinh Thánh không có chỗ nào dạy chúng ta về sự “vừa phải”.
Chúng ta có thể hiểu như vậy từ việc trích dẫn sai một vài câu trong cùng một thơ tín ấy để chứng minh cho một sự kiện thật thú vị là những chỗ nhấn mạnh trong Kinh Thánh rất ít khi chỉ mang tính tương đối, mà luôn là những lời tuyên bố tuyệt đối, không hề bị một hạn chế nào làm ảnh hưởng đến ý nghĩa của chúng cả. Phao-lô đã không cầu nguyện cho tình thương của người Phi-líp chỉ bị bó buộc trong khuôn khổ của lý trí hay trong một mức độ tri thức và nhận thức nhất định để họ có thể tương đối chấp nhận những điều tuyệt hảo, hay được trở nên thánh sạch, sẵn sàng và không chỗ trách được một cách vừa phải trong ngày Chúa đến, và được đầy dẫy một nửa những bông trái của sự công nghĩa (xem 1:9-11). Ông cũng không hề mong ước cho họ trở thành những con cái của Đức Chúa Trời chỉ không chỗ trách được, sẵn sàng, ngay thẳng một cách tương đối, giữa một dòng dõi gian dối, hư hỏng để rồi ở giữa chúng, họ sẽ chỉ chiếu ra một thứ ánh sáng yếu ớt như lũ đom đóm trong buổi hoàng hôn (xem 2:15).
Trái lại, thái độ vui mừng và đức tin hoan lạc trong Chúa mà Phao-lô đề cập đến chính là xuất phát từ lòng vâng phục vô điều kiện những mạng lệnh tuyệt đối, tuôn trào từ một tấm lòng hoàn toàn vâng theo một Đức Chúa Trời mà ông chỉ có thể mô tả bằng một loạt những danh từ mang ý nghĩa tuyệt đối. Trong chính bản tính Ngài, một Đức Chúa Trời như thế không thể nào chịu thoả mãn với những hậu thuẫn hữu hạn, với sự vâng phục có điều kiện, hay với sự thánh khiết tương đối. Đối với Ngài chỉ có điều tuyệt hảo mới đủ tốt lành mà thôi.
Đức Chúa Giê-xu có dạy cho chúng ta nên ôn hoà không?
Trong những đòi hỏi và lệnh truyền của Đấng Christ, rõ ràng là có cái đặc tính tất-cả-hay-không-gì-cả. Chúng là những điểm nhấn mạnh, những mạng lệnh tuyệt đối, đinh thép gần như khiến chúng ta phải rùng mình vì không có khoản nào là tương đối hay ngoại lệ. (Đến nỗi Giám mục Charles Gore đã muốn nêu ra trường hợp ngoại lệ trong Mat Mt 19:9 “ngoại trừ vì cố ngoại tình” mà ai cũng biết là một trường hợp thêm thắt vào bản tiếng Việt dịch là “không phải vì cớ ngoại tình” chớ không phải là câu nói đúng nguyên văn của Đức Chúa Giê-xu, mặc dầu không có bản văn chính thức nào đủ rõ ràng để hậu thuẫn cho vấn đề tranh luận ấy!).
Chúng ta hãy xét lại một vài điều Chúa Giê-xu đã nói. Lẽ dĩ nhiên là chúng tôi sẽ đề cập chi tiết hơn đến một vài điểm trong phần sau của quyển sách này, nhưng chúng ta hãy lấy một thí dụ, như những ý niệm về việc theo Chúa, vâng lời Đức Chúa Trời và cung hiến cho Ngài.
Bước theo Chúa Giê-xu
Đức Chúa Giê-xu thường gọi người ta theo Ngài. Các môn đệ đầu tiên là Phi-e-rơ và Anh-rê, đã được truyền: “Hãy theo ta, ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người”. Tức thì, họ bỏ lưới mà theo Ngài. Rồi từ đó ra đi, Ngài lại thấy hai anh em khác là Giăng con trai Xê-bê-đê với em mình đang vá lưới trong chiếc thuyền của cha họ là Xê-bê-đê. Và Ngài gọi họ. Tức thì, họ bỏ thuyền và cha mình mà theo Ngài” (4:18-22). Chúng ta không được nói cho biết là cha họ đã nghĩ sao về việc đó, gia đình họ đã xoay sở ra sao cho xong mọi việc khi không còn sự giúp đỡ của hai người con. Chúng ta không thấy có lời bàn cãi nào về điều kiện phục vụ. Họ chỉ được gọi và đã ra đi.
Về sau, có người tỏ ý muốn đi theo Đức Chúa Giê-xu bất cứ nơi nào Ngài đi đến thì được Ngài khuyên phải suy xét lại thái độ của mình, có lẽ là vì người ấy đã không thực sự sẵn sàng theo Ngài vô điều kiện; trong khi có người khác tìm cách trì hoãn việc phải thực sự đoạn tuyệt với gia đình lại được kêu gọi hãy theo Ngài lập tức (8:19-22). Không có một lý do nào có thể viện ra để trốn tránh việc phải vâng theo tiếng gọi của Đấng Christ.
Chính Ma-thi-ơ đã đứng dậy, lìa bỏ ngay công việc của mình khi ông được gọi. Không hề có sự bàn cãi về vấn đề phải làm thế nào để ông lãnh được phần hưu bổng vì đã nghỉ hưu trước tuổi, cũng không có kỳ hạn để ông tìm một người thay thế chỗ làm việc cho mình, hoặc vấn đề từ nay về sau, ông sẽ giải quyết vấn đề tài chính làm sao. Đức Chúa Giê-xu nói: “Hãy theo ta”, và Ma-thi-ơ đã lập tức làm y như vậy (9:9).
Việc theo Chúa đó là một vấn đề mang khái niệm tuyệt đối. Chúa Giê-xu phải được chúng ta yêu mến hơn cả cha mẹ, con trai hay con gái chúng ta (vì đối với phần đông chúng ta, đó là những mối liên hệ quý báu và cấp thiết nhất), và “người nào không vác thập tự giá mình mà theo ta thì không xứng đáng cho ta” (10:38). Trong vấn đề này, không có gì là “ôn hoà”, “vừa phải” hết. Không một người nào đọc những khúc sách như thế bằng tấm lòng chân thành lại có thể nghĩ rằng nó có nghĩa là chúng ta phải ôn hoà trong việc theo Chúa Giê-xu. Phi-e-rơ là con người luôn luôn thẳng thắn, đã nói: “Này, chúng tôi đã bỏ hết mọi sự mà theo thầy”. Theo Chúa Giê-xu là một việc làm phải để cả tấm lòng mình vào đó và mọi việc khác chỉ chiếm địa vị thứ yếu. Trong cả Tân Ước, không có chỗ nào dạy chúng ta nên chừng mực trong việc theo Chúa Giê-xu.
Vâng theo Đức Chúa Trời
Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Chúa Giê-xu đã nghiêm nghị quở trách những kẻ xem thường các lệnh truyền của Đức Chúa Trời hay là dạy người khác làm như vậy. Luật pháp phải được tuân phục (5:17-21). Điều quan trọng không phải là những lời lẽ cảm kích đầu môi chót lưỡi “Lạy Chúa, Lạy Chúa”, những việc làm cảm kích như các phép lạ của nhà tiên tri, những bài kinh, bài cầu nguyện hay những điều giống như vậy, nhưng là làm theo “ý chỉ của Cha ta ở trên trời” (7:21-27). Ở đây không dạy chúng ta phải chừng mực. Phải tuân phục từng ly từng tí, vâng theo các lệnh truyền của Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn. Điều đáng ghi nhận, ấy là Bài Giảng Trên Núi không phải chỉ là rất nhiều lời khuyên dạy bổ ích về luân lý hay khích lệ chúng ta phải ăn ở đạo đức, nhưng là những mạng lệnh xác định liên hệ đến việc phải vâng phục hết lòng. Sau đó, Chúa Giê-xu cảnh cáo rằng đến ngày phán xét, chúng ta phải trả lời về tất cả “những lời tầm phào” (bản Anh văn dịch là careless: những lời nói ra cách vội vàng thiếu suy nghĩ, thiếu cân nhắc bất cẩn, 12:36). Câu này không hề gợi ý rằng đối với lời nói thì năm mươi phần trăm kể là thi đậu rồi.
Trong Phúc Âm Lu-ca (LuLc 6:46), chỗ khúc sách nói về việc xây nhà trên tảng đá, Chúa Giê-xu bảo: “Sao các ngươi gọi ta: Lạy Chúa, Lạy Chúa! Mà không làm theo lời ta dạy?”. Đối diện với Đấng Christ trong ý nghĩa Ngài là Chúa chúng ta thật là một thử thách kỳ lạ; nó có nghĩa là Ngài đang trông đợi chúng ta vâng lời. Sự vâng lời một phần, vừa phải, không hề được cho là đủ.
Người đàn bà tin kính đã đưa một nhận xét ra vẻ cao đạo về phước hạnh của người được làm mẹ Đức Chúa Giê-xu, được trả lời bằng câu thấm thía: “Những kẻ nghe và giữ lời Đức Chúa Trời còn có phước hơn” (11:28). Đối với Đức Chúa Giê-xu, không có gì quan trọng hơn sự vâng lời. Thật là khó thấy được người ta có cách nào để vừa biện luận là phải chừng mực trong việc tuân phục các mạng lệnh của Đức Chúa Trời, vừa vẫn thực sự theo đúng những gì Kinh Thánh đã chép. Sự vâng lời vừa phải chỉ là một lối nói tránh của sự không vâng lời mà thôi.
Cung hiến cho Đức Chúa Trời
Có gì cuồng nhiệt hơn hành động của người goá phụ nghèo đã dâng những đồng tiền cuối cùng của mình cho công quỹ đền thờ để phục vụ Đức Chúa Trời? (21:2). Dầu vậy, lối dâng tiền của bà đã được đề cao, bởi vì bà “đã dâng hết của mình có để nuôi sống”.
Hay cũng có một người đàn bà khác (Mat Mt 26:7) mà có người bảo là chính Ma-ri, em của Ma-thê (GiGa 12:3 và tt) đã đập vỡ chai dầu cam tòng hương quí giá để xức cho Đức Chúa Giê-xu. Dầu bị nhiều người khác cho là một việc làm có tính cách hoang phí, nhưng Đức Chúa Giê-xu đã bênh vực bà: “Người đã làm một việc đẹp đẽ cho ta… Khắp thế gian, hễ nơi nào Tin Lành này được giảng ra. Thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người”. Chính hương thơm của sự cung hiến không chừng mực đó đã tràn đầy ngôi nhà. Lắm lúc, khi chúng ta đọc truyện tích ấy, chúng ta đã bị người đàn bà kia khiến mình bối rối và cảm thấy là chúng ta xây mắt mà nhìn vào chỗ khác. Nhưng, đó chính là sự cung hiến trọn vẹn, sự dâng mình hết lòng cho Đấng Christ mà Tin Lành dạy chúng ta phải làm.
Thế quân bình
Thế thì, phải chăng sự tiết độ, chừng mực, không được Kinh Thánh cho là một đức tính, và hễ là tín đồ thì chúng ta bị bắt buộc phải cuồng nhiệt? Theo một ý nghĩa nào đó thì tôi nghĩ là đúng như vậy! Lời dạy dỗ của Kinh Thánh có một thế quân bình thật kỳ diệu. Tuy nhiên, những điều kiện đã không xuất hiện như những ngoại lệ hay nhằm mục đích sửa đổi các nguyên tắc tuyệt đối đã được thiết đặt. Thật ra, các mạng lệnh và các nguyên tắc đã bổ sung cho nhau, không phải theo một cách thức để làm suy yếu sức mạnh tuyệt đối của chúng, mà để giúp chúng ta hiểu rõ hơn về việc chúng ta phải áp dụng chúng như thế nào. Chúng ta hãy xét ba thí dụ trong đó các nguyên tắc tuyệt đối và những mạng lệnh Kinh Thánh đã thiết đặt có liên hệ hỗ tương:
1. “Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất… nhưng… ở trên trời” (Mat Mt 6:19). Nguyên tắc rõ rệt đó, theo một ý nghĩa, đã được xác định bằng mạng lệnh: “Ví bằng có ai không săn sóc đến bà con mình, nhất là không săn sóc đến người nhà mình, ấy là người chối bỏ đức tin, lại xấu hơn người không tin nữa” (ITi1Tm 5:8). Nguyên tắc thứ hai này không cho phép chúng ta hiểu mạng lệnh trên có nghĩa là chúng ta không nên để dành bất cứ một số tiền nào hay không nên gởi bất cứ số tiền nào ở ngân hàng. Nhưng rõ ràng là trợ giúp bà con, thân thuộc, có thể là một việc làm đòi hỏi tốn kém và hi sinh, mà khi làm vậy, tôi sẽ chứa của cải tôi trên trời, cho nên nguyên tắc trước đã không hề bị huỷ bỏ. Tôi phải để dành một ít của cải dưới đất này để trợ cấp cho những người thân thuộc, nhưng phải thận trọng là đừng để nhiều hơn số có cần cho mục đích ấy, cũng như đừng bao giờ quên người ăn mày đang nằm trước cửa nhà tôi. Như thế, các nguyên tắc sẽ hỗ trợ lẫn nhau để ngăn ngừa chúng ta áp dụng sai hay khiến chúng thành ra lệch lạc. Đó không phải là vấn đề chỉ lo lắng có chừng mực cho những người thân thuộc của chúng ta, hay chỉ dự trữ một số của cải có chừng mực trên trời; mà cả hai lệnh truyền vẫn tiếp tục được áp dụng song song.
2. “Hãy hạ mình xuống dưới tay quyền phép của Đức Chúa Trời” (IPhi 1Pr 5:6). Đây là một nguyên tắc tuyệt đối. Không có chỗ nào dạy chúng ta phải hạ mình vừa phải và tránh việc hạ mình đến tột độ. Có một thí dụ rất hay về thế nào một đức tính như sự khiêm nhượng tự hạ mình xuống có thể bị hiểu sai lệch trong quyển “Truyện tích một nữ tu sĩ”. Nhân vật chính trong truyện là một nữ tu sĩ, con gái của một bác sĩ, rất thông minh và có khả năng trong nghề y tá. Có người tưởng rằng cần phải có một việc gì xảy ra để hạ bớt tánh kiêu căng về các khả năng của cô. Có người gợi ý rằng cô phải cố ý thi trượt môn “Y khoa nhiệt đới” như một “thái độ hạ mình”, vì những người khác sẽ cho rằng cô thi hỏng là vì ngu dốt hay lười biếng. Cô đã trải qua một cuộc chiến đấu nội tâm mãnh liệt: phải chăng Đức Chúa Trời muốn tôi phải thi trượt? Phải chăng sự kiêu căng trí thức đã khiến cô ngần ngại, không chịu viết những câu trả lời sai? Giả sử, cô không thể nào giả bộ được, và đã đỗ trong số người đứng đầu bảng. Phải chăng điều đó có nghĩa là cô không chịu khắc phục tính kiêu căng trí thức, và cô chỉ cần một chút khiêm nhượng, một sự hạ mình vừa phải là đủ? Rõ ràng là nếu cô thi trượt thì rất tốt, bởi vì tánh kiêu căng trí thức của cô sẽ bị hạ xuống. Nhưng trường hợp này còn liên hệ đến các nguyên tắc khác của Kinh Thánh. Chúng ta phải ngay thẳng đối với bản thân, bởi vì viết sai những câu trả lời mình biết rõ là làm điều giả dối, một cách làm chứng dối. Thứ hai, người tín đồ Đấng Christ phải chăm chỉ, phải làm mọi việc cách tận tâm vì vinh hiển Đức Chúa Trời. Thứ ba, còn có vấn đề phải tốn thì giờ và tiền bạc cho khoá học, phải làm người quản lý trung tín những khoản đó của Đức Chúa Trời. Phương pháp để đạt đến một tinh thần hạ mình vốn được gợi ra cho cô không thể nào thực hiện mà khỏi phạm vào các nguyên tắc khác của Cơ Đốc giáo.
3. “Người hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi” (Mat Mt 22:37). Thật rõ ràng là yêu mến Chúa như vậy không có nghĩa rằng chúng ta sẽ không còn chút tình yêu nào cho bất luận một ai khác! Dầu chữ “hết” có tính cách hoàn toàn tuyệt đối, bao gồm mọi lãnh vực, nhưng yêu mến Đức Chúa Trời như vậy vẫn không loại bỏ việc phải yêu kẻ lân cận như mình, là lệnh truyền tiếp theo trong mấy câu sau đó. Không ai có thể viện cớ là vì quá bận yêu Chúa mà mình không thể nào yêu người lân cận được! (dầu thật ra, nhiều người có tâm trí hay lý luận quỉ quyệt đã làm lơ đối với người bị thương tích nằm bên đường, để cuối cùng người ấy phải trông cậy vào sự giúp đỡ của người Sa-ma-ri tốt bụng kia). Một người đàn ông yêu vợ hết lòng vẫn không được miễn trừ việc phải yêu đứa con nàng mang trong lòng vì mình! Hơn nữa, tình yêu đó còn lan rộng ra để bao gồm cả những đứa con sẽ thêm vào đó về sau, mà không hề làm suy giảm chút nào tình yêu của người ấy đối với người vợ và đứa con đầu lòng của mình. Không hề có vấn đề phải giảm tình yêu đối với vợ, lần thứ nhất 50%, lần thứ hai còn 33,33% và vân vân! Yêu đồng loại và yêu Chúa không có nghĩa là chúng ta phải yêu Chúa cách vừa phải (thí dụ như 50%) và yêu người lân cận cũng vừa phải (25%), bằng với phần dành lại để yêu chính mình (25%)! Tuân theo mạng lệnh yêu kẻ lân cận tức là theo cùng một con đường, thi hành cùng một cách thức chúng ta đã tỏ ra trong việc yêu mến Đức Chúa Trời.
Như vậy, thế quân bình không phải là một vấn đề tính tỷ lệ bằng toán học, chú ý đến việc chia đều các nguyên tắc của Kinh Thánh, thí dụ như 25% cho phần này, 35% cho phần nọ. Tất cả các nguyên tắc đều đồng thời phải được tuân giữ 100%. Trong một tấm lòng chân thành và vâng phục Đức Chúa Giê-xu Christ, không có chỗ nào là “ tương đối hay vừa phải” cả.
Sự cuồng tín
“Cuồng tín” là một chữ ai cũng sợ (như bên Mỹ người ta còn gọi nhiều người theo nhiều giáo phái khác nữa: Methodist, Pietist, Enthusiast, Fundamentalist và v.v….). Chúng ta dùng nó để bêu xấu một số người nhẹ dạ, tin tưởng hết lòng. Chữ này gợi lên cho chúng ta thấy một con người có đôi mắt cuồng tín, khắc khổ, hay ra điệu bộ, cầm trên tay một quyển Kinh Thánh khổ lớn, một con người kỳ dị, quái đản, ăn nói khác thường, có lập trường cực đoan, kỳ quái về mọi vấn đề. Có khi chữ này nói lên một phần nào về chính con người đã dùng đến nó, vì cớ người đã định nghĩa người cuồng tín là “một người bị lòng số sắng quá mức thúc đẩy, dường như người ấy đang đứng trước hiện diện của nhiều người khác không bị sự sốt sắng quá mức thúc đẩy y như mình”. Rất có thể là như vậy, nhưng người ta vẫn gặp những người như thế; họ là những người cuồng tín, và không có tên nào khác để gọi họ.
Cái gì đã khiến cho một người hay làm mích lòng người ta như vậy? Có thể là vì họ muốn phô trương, khinh suất, có cử chỉ vô giáo dục, tính tình trịch thượng, hẹp hòi, bảo thủ, đang đội lốt tôn giáo, và v.v.. Tuy nhiên, những thái độ hay làm mích lòng đó không phải là do người đó hiểu quá nhiều về Kinh Thánh đến độ đem những quan niệm Cơ Đốc giáo của mình đi quá xa; trái lại, một người có thái độ như vậy là vì người ấy đã không thông hiểu tường tận Kinh Thánh. Nếu quí vị ứng dụng Cơ Đốc giáo một cách phải lẽ, quí vị sẽ không đẩy Cơ Đốc giáo đến chỗ “quá mấu” như thế. Người thực sự hiểu Kinh Thánh có thể khiến cho chúng ta cảm thấy không an lòng, nhưng người đó có một cái gì vui tươi, lôi cuốn, khiến chúng ta nhớ lại chính Đấng Christ. Nếu có người “cuồng tín” khiến nhiều người mích lòng, thì không phải là vì người ấy cố sống theo “nguyên văn” Kinh Thánh, mà thật ra là vì người ấy đã không tuân giữ một vài nguyên tắc tối quan trọng của Kinh Thánh, và nhấn mạnh quá đáng đến một số nguyên tắc trong khi lại không đếm xỉa gì đến các nguyên tắc khác. Không phải là tại người ấy thiếu chừng mực, mà vì người ấy không “cuồng tín” đồng đều đối với tất cả những gì Đấng Christ đã dạy, thí dụ như những lời dạy dỗ rất mạnh mẽ về việc khoe khoang trong Ma-thi-ơ đoạn 6 chẳng hạn. Họ còn cần phải “cuồng tín” trong việc tôn trọng kẻ khác, và “quá mấu” trong vấn đề hạ mình nữa! Kinh Thánh dạy chúng ta phân rẽ với thế gian (chúng ta phải “cuồng tín” trong vấn đề này theo đầy đủ ý nghĩa của Kinh Thánh khi nói về xác thịt và tâm trí xác thịt của chúng ta, chớ không phải là chỉ kiêng kỵ những phong tục, tập quán vẫn thay đổi từ xứ này qua xứ khác mà thôi), nhưng câu đó không có ý bảo rằng người tín đồ không nên tiếp xúc với người không tin Chúa, ngoại trừ việc rao giảng sự đoán xét cho họ (IICo 2Cr 6:17 và tt phải được đọc trong sự thông hiểu ý nghĩa của ICo1Cr 5:10). Chúng ta phải bước đi y như Ngài đã bước đi (IGi1Ga 2:6), và Ngài vốn là bạn thiết của những người thâu thuế và kẻ có tội. Thế thì, yếu tố làm mích lòng trong sự cuồng tín là do việc không hiểu Kinh Thánh đến nơi đến chốn và không hành động giống như Đức Chúa Giê-xu. Theo nghĩa đen thì người như thế được gọi là khác thường và mất thăng bằng (eccentric), như một chiếc bánh xe không tròn đúng mức, quá “cuồng tín” vào một số các chân lý Cơ Đốc giáo hơn một số khác. Những người ấy không phải cần ôn hoà, chừng mực hơn, nhưng đúng hơn là cần phải “quá mấu” vâng theo tất cả mạng lệnh của Đấng Christ chớ không phải chỉ “quá mấu” trong một vài mạng lệnh mà thôi. Chính Chúa Giê-xu là một con người hết lòng, tận tuỵ, nhưng Ngài đã lôi cuốn quần chúng chứ không khiến cho người ta xa lánh mình.
Cho nên, chúng ta không cần phải trở thành ôn hoà, chừng mực hơn, nhưng phải chăm chỉ nghiên cứu Kinh thánh nhiều hơn để tìm xem thật ra thì các mạng lệnh của Chúa là thế nào, để xứng đáng gọi Ngài là Chúa và làm đúng điều Ngài đã dạy. Lời truyền dạy của Chúa Giê-xu : “Hãy đi, khiến muôn dân trở nên môn đồ ta, làm báp-tem cho họ…” được tiếp nối bằng : “dạy họ tuân giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi” (Mat Mt 28:19), gợi ý rằng điều chúng ta phải dạy dỗ là sự vâng phục tuyệt đối, trọn vẹn với những điều Đức Chúa Giê-xu Christ đã dạy. Chỉ có như vậy, chúng ta mới tránh được thái độ ôn hoà nguội lạnh, một thứ Cơ Đốc giáo lỏng lẻo, và mặt khác, là một loại cuồng tín sai lầm, kỳ quặc, một chiều.
Điều cũng thường xảy ra, ấy là khi chúng ta đối chiếu sự ôn hoà, chừng mực với lòng cuồng tín, thì điều thực sự chúng ta muốn biện minh, bênh vực là sự lười biếng chớ không phải là sự chăm chỉ, thận trọng, là để dung hoà chớ không phải để vâng lời. Đã có lần người ta xếp sự lười biếng vào số Bảy Tội Lỗi Có Thể Chết, nhưng nó rất gần với tính ôn hoà, chừng mực, châm chước, cho nên rất ít thấy đề cập đến cách thô lỗ ngày nay. Chúng ta xa lánh những người phạm một vài tội đối với xã hội, và trong một vài cuộc họp mặt, chúng ta trốn tránh những người uống rượu hay hút thuốc, nhưng chúng ta không hề nghe nói rằng có người nào đã bị xa lánh chỉ vì biếng nhác. Phải chăng đó là điều không hợp lý?
Đức Chúa Giê-xu có ôn hoà, chừng mực không?
Chúa Giê-xu của các sách Phúc Âm là một con người chống với các quốc giáo chủ nghĩa. Chỉ cần đọc sơ lược các sách ấy, chúng ta cũng thấy rõ ràng rằng Đức Chúa Giê-xu đã luôn luôn bị chỉ trích bởi vì Ngài không chịu theo đúng những kiểu mẫu như người ta mong muốn. Theo ý của dân chúng thời Ngài, thì Ngài cật lực chống lại các tập tục. Tại sao Ngài lại giao thiệp với những kẻ không ra gì, những người mang tiếng xấu (Mac Mc 2:16)? Tại sao họ lại tiệc tùng mà không kiêng ăn (2:18)? Tại sao họ lại chểnh mảng trong việc tuân giữ các chi tiết của luật pháp (2:24)? Ngài đã trả lời tất cả những câu hỏi đó, nhưng dường như cả những câu trả lời lẫn những lý do Ngài đưa ra đều không có ai hiểu.
Chẳng những Ngài bị tố cáo là không biết tuân giữ các tập tục sẵn có, mà còn bị tố cáo là cuồng tín nữa. Họ đã không dùng từ ngữ ấy, nhưng lời lẽ họ dùng đều nhằm gây tổn thương, làm đau lòng Ngài. Họ bảo Ngài bị Bê-ên-xê-bun ám và cậy quyền của chúa quỉ mà đuổi quỉ (Mac Mc 3:22). Họ bảo Ngài bị quỉ ám và điên loạn (GiGa 10:20). Họ bảo Ngài là dân Sa-ma-ri và bị quỉ ám (GiGa 8:48). Họ bảo Ngài tham ăn, tục uống và làm bạn với bọn người tội lỗi, không ra gì (LuLc 7:34). Dường như Ngài không phải là một người điều độ, mực thước. Ngài không phải là hạng người không có cá tính, mà người ta không thể nói xấu cũng không thể nói tốt cho. Ngài không phải là hạng người ba phải để làm đẹp lòng dân chúng, dung hoà mọi sự để tránh mất lòng. Ngài đã nhấn mạnh rằng rượu mới của giao ước mới không thể nào đựng trong các bầu da luật pháp cổ lổ được. Các nghi thức đã được mọi người thừa nhận không hữu hiệu và không phục vụ được vương quốc mới.
Dường như Ngài vốn là một con người chúng ta khó sống chung được, nhưng khi Ngài làm trái với các tập tục của thời mình, chúng ta đã thấy rằng Ngài có lý khi làm trái như vậy, và chính những ý tưởng của chúng ta mới sai lầm. Trong tất cả những điều Ngài nói và làm đều có sự toàn hảo, thứ tự, sáng suốt. Ngài là Đấng làm đúng mọi sự, đầy ân điển và chân lý; lời lẽ ra từ miệng Ngài là những lời đầy ân huệ, và lẽ dĩ nhiên là chưa hề có ai đã nói được những điều lạ lùng như Ngài đã nói (Mac Mc 7:37; GiGa 1:14; LuLc 4:22; GiGa 7:46). Điều Ngài đòi hỏi dường như có tính cách cực đoan, tuyệt đối, và uy quyền Ngài dùng để đòi hỏi là uy quyền tối cao. Sự dâng mình của Ngài là để hoàn tất công tác (4:34; 5:36) mà Cha Ngài đã giao phó, và thức ăn vật uống của Ngài là vâng phục ý chỉ Đức Chúa Trời. Ngài luôn luôn ý thức sự bó buộc, thúc bách (LuLc 12:50) nếu công tác ấy chưa được thực hiện. Ngài mạnh dạn quay mặt, tiến về phía Giê-ru-sa-lem (9:51) đến nỗi những kẻ theo Ngài phải run rẩy vì lòng nóng nảy cao độ đối với ý định Ngài (Mac Mc 10:32 và tt). Phải chăng đó là một thái độ ôn hoà, không làm mọi việc một cách quá mấu? Ngay tại Ghết-sê-ma-nê, Ngài đã lớn tiếng và đổ nước mắt ra để kêu cầu Đức Chúa Trời (HeDt 5:7), để tiến tới chỗ chết, dầu là một cái chết nhục nhã trên thập tự giá. Phải chăng đó là sự chừng mực?
Mục đích của quyển sách này là muốn kêu gọi người tín đồ Đấng Christ hãy có cùng một sự dâng mình không đắn đo y như thế cho ý chỉ Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta thêm vào chương trình làm việc đã quá bận rộn của chúng ta một vài công tác đạo đức, nếu chúng ta chỉ tưới gốc cây tin kính của chúng ta mỗi tuần một lần, thì chưa đủ. Theo một ý nghĩa lành mạnh và đúng mực mà Kinh Thánh dạy, chúng ta hãy sẵn sàng nghĩ rằng mình nên cuồng nhiệt - nếu chữ này được hiểu là phản nghĩa với sự lười biếng, sự ôn hoà một cách dửng dưng và sống một đời sống đạo đức tầm thường quá dễ dãi, ươn hèn. Người tín đồ Đấng Christ không nên tìm cách tỏ ra lập dị, khác thường, cũng không nên theo đòi một cách ăn nết ở khiến người ta phải chú ý đến mình; nhưng cũng có khi lời làm chứng của người tín đồ sẽ khiến cho người ta khinh dể, cười nhạo, chống đối hay bị xã hội bài trừ, là những điều mà các tín đồ Đấng Christ thường e sợ. Xin chúng ta đừng chán nản vì lời tố cáo bảo chúng ta là “cuồng tín”, miễn là chúng ta chỉ điên (IICo 2Cr 5:13) theo một ý nghĩa mà Kinh Thánh dạy. Không một ai trong chúng ta muốn tỏ ra lố bịch (ICo1Cr 4:9) trước mắt người khác. Phần đông chúng ta muốn sống đúng theo mẫu mực, sống giống như người khác trong phạm vi mình có thể làm được, và việc trở thành một tên điên cuồng, dầu là điên cuồng vì danh Chúa (4:10) dường như cũng không hấp dẫn chúng ta lắm. Phần đông chúng ta, khi muốn tạm thời làm vui lòng bè bạn, đã bị cám dỗ như Phi-e-rơ; chúng ta phân vân, không dám đứng hẳn về phía Đức Chúa Giê-xu là Đấng đã bị khinh dể và chối bỏ, với những làn roi rướm máu trên lưng, những bãi nước bọt trên mặt. Đã có một sự thử thách trên thập tự giá, cũng như trong việc chữa bệnh, chúc phước và tha tội. Chúng ta chỉ cần suy nghĩ đơn sơ như thế này: phải chăng Đức Chúa Giê-xu đã chịu tất cả mọi sự đó là vì tôi? Vậy thì có điều gì tôi làm cho Ngài là quá đáng chăng?
Chúng ta sợ bị người ta cho là cuồng tín hay điên dại. Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta phải cam chịu những danh hiệu đó, nếu chúng ta muốn trung thành với Chúa Giê-xu. Đây cũng là chủ đề của quyển sách này.
Nếu chỉ đọc sách và hiểu biết các chân lý bằng tâm trí, hay thừa nhận chỗ yếu đuối của mình trên phương diện lý thuyết, mà không có một hành động thuộc linh nào tương xứng, thì thật là dễ dàng. Cho nên mỗi chương của quyển sách này đều chấm dứt bằng những lời gợi ý để chúng ta cầu nguyện riêng với Chúa.
Những điểm gợi ý để cầu nguyện và suy gẫm
Tôi có phạm tội trong việc dung hoà mọi sự, xem đó là thế quân bình, và che giấu sự lười biếng dưới nhãn hiệu ôn hoà, chừng mực không? Tôi phải giải quyết vấn đề ấy thế nào?
Tôi đã dâng mình cho Đức Chúa Giê-xu Christ để vâng phục Ngài với tư cách là Chúa tôi đến mức độ nào và tôi có thật sự chuẩn bị để chấp nhận quyền tể trị cao cả của Ngài , trong những đòi hỏi của Ngài đối với đời sống của tôi chăng
Bây giờ, tôi có cần phải cầu nguyện ăn năn và tin cậy Chúa Giê-xu một cách mới mẻ để dâng đời sống tôi cho Ngài một lần nữa không?
Lòng sốt sắng phục vụ Đấng Christ của tôi có bị thời gian làm nguội lạnh đi chăng ?
Trước kia, phải chăng tôi đã sống quân bình, tôi đã già dặn, trưởng thành, hay bây giờ, đức tin tôi nóng nảy hơn, lòng tôi tận tuỵ hơn?
“Ta biết công việc của ngươi ; ngươi không lạnh cũng không nóng : Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay ! Vậy , vì ngươi hâm hẩm , không nóng cũng không lạnh , nên ta sẽ nhả ngươi khỏi miệng ta
KhKh 3:15-16
“Lạy Chúa , trong Ngài không có sự nguội lạnh ,
Vậy , xin Ngài hãy luôn nhen lên trong chúng tôi
một ngọn lửa kẻo chúng tôi chỉ đem dâng
Cho Chúa yêu dấu của chúng tôi tại Gô-gô-tha ,
Những đống tro tàn để làm của lễ mà thôi”.
AMY CARMICHAEL


TỰ DO hay NÔ LỆ?
Xin Chúa nhận lấy ý chí con ,
khiến nó trở thành của Ngài ;
Nó sẽ không thuộc về con nữa .
Thỉnh thoảng, người truyền đạo có những lời kêu gọi đại khái như: “Quí vị có muốn phục vụ và bước theo Đấng Christ chăng?” Do đó, chúng ta bị sai lầm và thường có thói quen nghĩ rằng chúng ta đã thực sự làm ích lợi cho Đức Chúa Trời, thay vì phải hiểu rằng việc được trở thành tín đồ Đấng Christ là một ân huệ đối với chúng ta. Từ ý nghĩ đó, chúng ta sẽ dễ dàng bước thêm một bước nữa để bảo rằng tôi sẽ phục vụ Chúa nếu có cơ hội và nếu có thể thu xếp được với tất cả những việc khác mà tôi đang muốn làm, vì cuộc sống hiện nay thật là bận rộn.
Theo Kinh Thánh, tín đồ Đấng Christ là một nô lệ của Chúa Giê-xu. Nếu chúng ta gọi Ngài là “Chúa Giê-xu”, thì điều đó ngụ ý rằng Ngài là Chúa của tôi, và tôi là nô lệ Ngài. Ý niệm về nô lệ (tôi mọi) hay phục vụ (hầu việc) vốn rất thường gặp trong Tân Ước. Chữ Hi Lạp thông dụng nhất, doulos , có nghĩa là một tên nô lệ, trái nghĩa với Ông Chủ hay một người tự do. Các động từ liên hệ mô tả sự phục vụ do một tên nô lệ có mang xiềng xích thực hiện, nghĩa là nó bị bắt buộc phải làm việc đó cho chủ. Chữ thông dụng thứ hai, diokonos (do đó mà có chữ deacon: chấp sự) và các động từ liên hệ, nhấn mạnh công tác người nô lệ làm hơn là mối liên hệ giữa người ấy với chủ. Chữ này thường được dùng trong việc hầu bàn. Cũng có nhiều chữ khác được dùng, trong số đó có những chữ như gia bộc (đầy tớ trong nhà, oiketçs ), quản gia (oikonomos ) nghĩa là người lo tất cả mọi việc trong nhà, chịu trách nhiệm trước mặt chủ, đáng cho chúng ta chủ ý, bởi vì ý niệm người tín đồ là “quản gia” cho Đấng Christ là một chữ thông dụng chúng tôi sẽ đề cập đến về sau.
Tín đồ Đấng Christ là một nô lệ
Chắc chúng ta cho rằng khái niệm nô lệ là hơi làm mích lòng vì “Tôi không muốn ai bảo tôi phải làm việc này, việc nọ”. Nó có vẻ phong kiến, lỗi thời. Tuy nhiên, đó là chữ mà chính Đức Chúa Giê-xu đã dùng. Trong thư tín gởi cho người Phi-líp (Phi Pl 2:7) vị Chúa tể thiên đàng (kurios ) đã mặc lấy hình hài của một tên nô lệ (doulos ). Ngài cũng dùng cho chính mình động từ hầu bàn khi Ngài nói rằng mình không đến để được người khác phục vụ cho, nhưng là để phục vụ mọi người (Mat Mt 20:28). Nếu chúng ta nhận Ngài là Chúa (và nếu không nhận, chúng ta sẽ không phải là tín đồ, RoRm 10:9), và nếu Đấng vốn là Chúa chúng ta đã sẵn lòng làm một tên nô lệ, một kẻ hầu bàn cho chúng ta thì chúng ta phải sẵn lòng làm nô lệ, hầu bàn cho Ngài càng hơn. Bất cứ lúc nào chúng ta đề cập đến Chúa Giê-xu Christ thì đều hàm ý mối liên hệ này. Chúng ta đã hứa trung thành với Ngài. Điều rất có ý nghĩa, ấy là trong khi những chữ khác được dùng ám chỉ những người làm nghề phục vụ kẻ khác là chữ đầy tớ theo nghĩa đen, thì chữ nô lệ đã được dùng ám chỉ người tín đồ Đấng Christ theo nghĩa bóng, để diễn tả mối liên hệ giữa người đó với Chủ mình.
Người đầy tớ là tài sản của chủ mình; thân thể còn sống của người ấy thuộc về chủ, và không có tự do nếu chưa chết. Người ấy không phải là một người làm thuê như những kẻ cày thuê trong vườn nho, vì họ được trả tiền công mỗi ngày (Mat Mt 20:1 và tt, chữ Hi Lạp là ergatçs ). Người đó hoàn toàn thuộc quyền sử dụng của Chủ. Điểm này làm rõ nghĩa cho những khúc sách như ICo1Cr 6:19, 20 “Anh em không thuộc về chính mình. Anh em đã được chuộc bằng một giá cao. Vậy hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời”. Phao-lô nói rằng chúng ta đã được Đức Chúa Trời mua như những tên nô lệ nên chúng ta không còn là tài sản thuộc riêng về mình nữa. Bổn phận của chúng ta là phải phục vụ người chủ đã mua chúng ta để phục vụ mình. Trong mấy đoạn tiếp theo đó, ông còn nói thêm khi đề cập đến các giai cấp xã hội: “Ngươi đương làm tôi mọi mà được gọi chăng? Chớ lấy làm lo. Song nếu ngươi có thể được tự do, thì hãy nhân dịp đó là hơn. Vì kẻ tôi mọi được Chúa gọi, ấy là kẻ Chúa đã buông tha; cũng một lẽ ấy, ai đương tự do mà được kêu gọi, thì làm tôi mọi cho Đấng Christ” (7:21-24). Nghĩa là một người có thể tự do về mặt xã hội, nhưng vẫn là nô lệ của Đấng Christ. Hay một chỗ khác nữa trong khúc sách rất quen thuộc là RoRm 6:17-22, Phao-lô bảo rằng các độc giả của ông trước kia vốn là “tôi mọi của tội lỗi” (câu 17), nhưng bây giờ là “tôi mọi của sự công nghĩa” (câu 18), rồi (trong câu 22) ông dùng một động từ (“trở thành nô lệ”, trong nguyên bản Hi văn) để bảo rằng họ đã trở thành tôi mọi của Đức Chúa Trời. Ý niệm này đã làm nổi bật ý nghĩa của mấy chữ chúng tôi từng trích dẫn trong Mat Mt 20:28 “Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người”. Giá chuộc là số tiền để mua một tên nô lệ, cho nên chúng ta có thể diễn rộng câu này như sau: “Ta đã không đến để người ta phục vụ mình, nhưng để phục vụ thiên hạ và để lấy mạng sống ta mua những tên nô lệ.” Tại thập tự giá, Chúa Giê-xu đã trả giá chuộc để giải phóng chúng ta khỏi xích xiềng tội lỗi, do đó, lời hứa nguyện trung thành của chúng ta được chuyển sang Đấng đã trở thành Sở Hữu Chủ mới của chúng ta.
Đến đây, chúng ta phải ngừng lại và tự vấn: Tôi là nô lệ của ai? Tôi có nhận Đức Chúa Giê-xu Christ làm Chủ của mình không? Tôi có thể nói rằng: “Tôi không phải là của tôi nữa, nhưng tôi thuộc về Ngài chăng”? Bên Nhật, ý niệm về một ông chủ và những kẻ trung thành thuộc về người chủ đó là một ý niệm rất phổ thông, có thể gặp nhiều lần trong lịch sử và văn chương. Trở thành tín đồ Đấng Christ là nhìn nhận Chúa Giê-xu làm chủ tuyệt đối của mình, làm Vua của các vua và Chúa của các chúa, là xưng nhận rằng từ nay về sau mình là vật sở hữu đã được Ngài mua rồi, là nô lệ của Ngài. Quyển sách này sẽ tiếp tục đề cập đến lòng trung thành và sự vâng phục Ngài, nhưng điều đó sẽ hoàn toàn vô ích nếu bạn không thuộc về Ngài. Những đòi hỏi của Ngài sẽ có vẻ cực đoan, những mạng lệnh của Ngài sẽ có vẻ quá nặng nề, và phản ứng của bạn sẽ là sự oán ghét và phản loạn - trừ phi chúng ta đã trước nhất giải quyết xong vấn đề căn bản này: Bạn đã xưng nhận Chúa Giê-xu là Chúa của riêng mình chưa?
Cái nhục của tên nô lệ
Chúng ta đã có tấm gương cao cả nhất là Chúa Giê-xu, Đấng đã tự hạ mình để được sinh ra làm một con trẻ yếu đuối trong chuồng bò với mùi hôi hám của phân thú vật, Đấng đã sống như một công nhân tỉnh lẻ trong một xứ chư hầu bé nhỏ nhất của đế quốc La Mã. Ngài đã mặc lấy hình dạng của một tên nô lệ. Ngài đã tự hạ mình đến nỗi chịu chết trên thập tự giá, thoi thóp thở dưới sức nặng của toàn thân bị tan vỡ của Ngài chịu cho người ta treo lên bằng những cây đinh đóng vào cây thập tự. Con người đã từng tự xưng là có quyền năng, vinh hiển, đã bị xử tử như kẻ hèn yếu, nhục nhã. Nếu sự kiêu hãnh của chúng ta có chùn bước trước sự nhục nhã, hãy nhớ rằng Chúa của chúng ta đã làm gương trước cho mình. Không hề có sự nhu mì giả dối nào ngăn được Ngài trà trộn với đám người bình dân xấu xa, không hề có sự khó tánh nào khiến được Ngài chùn bước trước những kẻ bơ vơ, bệnh tật của xã hội.
Ngài mời gọi chúng ta cùng bước vào công việc phục vụ một cách thấp hèn, nhục nhã với Ngài. Ngài đã dùng thí dụ về một con bò đang mệt mỏi vì chở nặng đang loạng choạng tiến bước giữa cái ách với một gánh nặng quá sức trên lưng. Ngài phán: “Hãy đến cùng ta, cùng mang ách chung với ta, vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng.” Điều chúng ta chẳng bao giờ làm một mình, chúng ta sẽ có thể làm nếu được mang chung ách với Ngài. “Hãy học theo ta, vì ta có lòng nhu mì, khiêm nhường” (Mat Mt 11:29). Chính vị Chúa Tể nhu mì, khiêm nhường đã tự hạ mình làm đầy tớ, đã kêu gọi ta cùng phục vụ với Ngài. Dầu Ngài là Chúa và chúng ta là nô lệ Ngài, Ngài vẫn hạ mình đến nỗi sẵn sàng cộng tác với chúng ta để phục vụ. Sự nhu mì của Ngài cũng được đề cập đến một lần nữa trong đoạn tiếp theo đó của Phúc Âm Ma-thi-ơ khi Ngài trích dẫn một khúc sách về người Đầy Tớ của Ê-sai (và rất có thể là quan niệm đó của Cựu Ước cũng được ngụ ý trong Phi Pl 2:7 khi Phao-lô đề cập đến việc “lấy hình của người Đầy tớ ” (bản dịch Anh văn có định quán tự the ). Chúng ta được cho biết là Ngài không bẻ cây sậy đã giập, chẳng tắt tim đèn gần tàn, Ngài sẽ dịu dàng quạt chiếc tim đèn ngún cháy của chúng ta cho đến khi nào nó cháy bùng lên.
Nhưng các môn đệ của Đấng Christ vốn không có bản tính nhu mì, khiêm nhường; chúng ta phải học đức tính ấy nơi Ngài. Con người thiên nhiên của chúng ta hay kiêu căng, phách lối, chẳng bao giờ sẵn lòng chiếm chỗ ngồi thấp nhất. Trên đường đi đến Phòng Cao (LuLc 22:24-27) các môn đệ đã cãi nhau về vấn đề ai sẽ là người lớn nhất giữa vòng họ, Chúa Giê-xu đã nói cho họ biết rằng việc lãnh đạo trong Cơ Đốc giáo hoàn toàn khác hẳn: “Ai cai trị phải hầu việc” (chữ được dùng ở đây là “hầu bàn”, nghĩa là kẻ lãnh đạo phải hầu bàn trong khi số người còn lại dùng bữa), và khi đã ngồi vào bàn ăn, Ngài đã nói: “Nhưng ta ở giữa các ngươi như kẻ hầu bàn vậy”. Cùng một sự việc ấy cũng được ký thuật trong GiGa 13:1-16.
Chiều hôm ấy, họ đến Phòng Cao với những đôi chân phồng lên và ướt đẫm mồ hôi; bụi đường bám đầy chân, giầy dép của họ. Nhưng không một ai trong số những người có mặt đứng ra làm công việc của người đầy tớ để rửa chân cho họ. Chắc ai cũng thấy rõ ràng là chân của họ phải được rửa sạch bởi vì nằm duỗi dài ra theo kiểu của thời đó, để đầu và tay ở gần bàn bằng cách chống toàn thân trên một cùi chỏ, thì chân của những kẻ khác nằm đúng trên vai bên kia của bạn. Bất cứ ai từng sống trong một xứ nhiệt đới đều quen biết mùi hôi của những đôi chân chưa rửa sạch! Nhưng nếu bạn vừa cãi nhau để tranh xem ai là người quan trọng nhất, thì bạn không thể nào đi trước và nhận rằng trong tất cả mọi người hiện diện, bạn là kẻ nhỏ nhất. Bầu không khí lúc bấy giờ thật là nặng nề, khó chịu và… khó thở. Chính Đức Chúa Giê-xu Christ đã đứng dậy, cổi áo ngoài ra, lấy khăn vấn ngang hông để làm cái công tác của người đầy tớ là rửa chân cho các môn đệ Ngài. Tiếng nước bắn tung toé trong chậu và hình ảnh ông Thầy quì gối rửa những đôi chân dơ bẩn của học trò mình, chắc đã khiến cho sự im lặng lúc ấy trở thành một sự im lặng đầy bối rối. Đấng vốn thanh sạch, thánh khiết như Ngài lại bằng lòng tự hạ mình xuống để rửa đi sự dơ dáy của tôi , để chịu vấy bẩn sự ô uế của tôi . Những lời lẽ nặng nề Ngài đã trách Phi-e-rơ vạch rõ rằng phải có sự đầu phục - vì điều đó tiên báo cực hình thập tự giá - khi Ngài cần nhận lấy tất cả tội lỗi, ô uế của nhân loại trên tấm lòng thuần khiết, thánh sạch của Ngài. Hạ mình có nghĩa là Đấng vốn cao cả, thánh khiết, quang vinh phải nhận lấy mọi sự đó, khiến nó chất hết trên người mình. Nếu chúng ta đã lui bước không chịu làm những tên nô lệ, chúng ta quá tự kiêu để từ chối địa vị tôi mọi, chắc chúng ta phải xấu hổ khi thấy điều Ngài đã làm. “Vậy nếu ta là Chúa là Thầy mà đã rửa chân cho các ngươi, thì các ngươi cũng nên rửa chân lẫn cho nhau. Vì ta đã làm gương cho các ngươi, để các ngươi cũng làm như ta đã làm cho các ngươi. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, đầy tớ không lớn hơn chủ mình…!” Nói cách khác, ta đã làm nô lệ cho các ngươi, vậy thì bây giờ các ngươi cũng hãy làm nô lệ lẫn cho nhau.
Đức tin Cơ Đốc giáo là một đức tin mang tính cách mạng. Nó đòi hỏi một sự thay đổi hẳn thái độ. Nhưng trong nhiều cuộc cách mạng, mục đích của chúng là đưa người thấp lên cầm đầu, trong khi cuộc cách mạng ở đây là người tự cao phải tự đặt mình xuống dưới! Chúng ta đang sống trong một xã hội mà địa vị xã hội rất quan trọng. Mỗi một người trong chúng ta đều muốn tạo cho mình một chiếc trang thờ cho tính cách quan trọng của chính mình. Kẻ ngồi trên phán xuống cho kẻ dưới những điều phải làm, và người dưới thì trông đợi, hi vọng rằng một ngày kia, mình sẽ chiếm được địa vị của người trên. Nhưng Đấng Christ đã phán rằng con người quan trọng trước mặt Đức Chúa Trời là con người chủ tâm vào việc đánh giày cho kẻ khác chớ không phải là kẻ muốn mang đôi giày của họ, chiếm lấy địa vị của họ. Việc đó cũng rất dễ xảy ra trong các Hội Thánh địa phương. Những người không có địa vị trong xã hội nói chung, thường tìm cách tự tôn mình làm “giáo hoàng” trong một hội chúng nhỏ hẹp của một nhà thờ địa phương. Không gì dễ gây thù hận giữa tình bạn chân thành hơn là việc người ta tranh nhau làm lớn, tranh nhau tỏ ra mình là quan trọng trong một Hội Thánh nhỏ - hay một Hội Thánh lớn.
Cả đến các nhóm học sinh, sinh viên cũng không thoát khỏi cái hiểm hoạ này, và một học sinh học năm thứ năm có óc tự kiêu cũng độc đoán không thua bất cứ vị giáo hoàng nào. Một nhà lãnh đạo có uy quyền là hay, nhưng những người như thế thường thất bại trong việc đào tạo những kẻ kế vị mình, và sau khi họ bỏ chức vụ, liền có một sự sa sút, hoặc họ được một người tự kiêu khác kế vị, một người hiểu biết rất mơ hồ về giáo lý, do đó, sẽ đưa cả nhóm đi sai đường lối đích thực của họ. Trắc nghiệm về tài lãnh đạo chỉ xảy ra sau đó. Điều đáng chú ý là trong Tân Ước, cấp lãnh đạo Hội Thánh dường như thường thường thuộc số nhiều chớ không phải thuộc số ít, ngoại trừ một trường hợp đáng ghi nhận và rất có ý nghĩa của Đi-ô-trép (IIIGi 3Ga 1:9), con người đã tách riêng ra vì cớ uy thế cá nhân. Các học sinh, sinh viên cũng rất quen thuộc với vấn đề tranh giành quyền lãnh đạo để đến độ phải chia phe lập đảng; hoặc một học sinh hay sinh viên bị thất cử vào một chức vị lãnh đạo có thể giận dữ ra đi và bỏ luôn cả nhóm - điều đó chứng minh rằng những người cho rằng anh ta hay chị ta không xứng đáng với chức vị là có lý! Một tín đồ Đấng Christ còn ấu trĩ, không chịu để cho kẻ khác hướng dẫn mình như thế, chắc chắn là không xứng đáng với chức vị lãnh đạo.
Bà mẹ của Gia-cơ và Giăng (Mat Mt 20:20 và tt) vốn có nhiều tham vọng về các con mình, và muốn họ chiếm được địa vị cao khi Chúa Giê-xu cầm quyền. Chắc Gia-cơ và Giăng, hai người thường ở trong “bộ ba” vẫn thỉnh thoảng được cùng đi với Chúa Giê-xu trong khi những người khác bị bỏ lại, cũng đồng ý với cách diễn tả tham vọng thật ngây thơ của mẹ mình. Nhưng giá trị của người tín đồ Đấng Christ hoàn toàn khác biệt. Các dân ngoại luôn luôn muốn làm chủ, làm chúa lẫn nhau. Nhưng tầm quan trọng của người tín đồ Đấng Christ thuộc một loại khác và Đức Chúa Giê-xu là Chúa họ chính là tấm gương vĩ đại về Đấng đã đến để phục vụ kẻ khác.
Lòng trung thành của tên nô lệ
Trong quyển “Tâm tình người tín đồ Đấng Christ”, Harry Blamies có viết một đoạn rất hay về lòng trung thành, mà ông gợi ý là “một tài giả vờ được khai thác để tạo ra một thứ hương vị giả dối cho những hành động phi đạo đức hay vô đạo đức”, và nói rằng: “Lòng trung thành có thể bảo là tội ác theo ý nghĩa là nếu hành động nào cũng chỉ đều được bênh vực trên nền tảng là sự trung thành mà thôi thì nó không hề được bênh vực trên những nền tảng hợp lý chút nào”. Nói cách khác, theo ý nghĩa nó thường được dùng, lòng trung thành hẳn không phải là một đức tính của Cơ Đốc giáo. Khi có ai đó tuyên bố một điều gì nhân danh lòng trung thành thì chúng ta nghĩ rằng họ đã vi phạm một nguyên tắc đạo đức nào đó: có thể trung thành với hãng buôn, dầu việc ta làm là bất lương; trung thành với chính mình để giữ thể diện; trung thành với tổ quốc ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải có thái độ lăng mạ đối với quốc tế; trung thành với nòi giống của mình dầu phải bóc lột các giống dân khác bất chấp điều răn phải yêu người lân cận. Liêm chính là một đức tính của Cơ Đốc giáo, nhưng trung thành một cách mù quáng thì không phải.
Ý niệm này sẽ rất hay cho người sống tại Nhật Bản, nơi mà chữ “tín” từ ngàn xưa đã được nâng lên hàng đức tính. Sử ký cũng như văn chương đều đầy dẫy các truyện tích về những kẻ tận trung với chủ, với chúa mình cho đến chết, dầu cái chết đó không hề làm ích lợi gì cho người chủ, cho vị lãnh chúa, vì chính người ấy cũng đã chết rồi. Đối với người Tây phương, dường như thái độ ấy vừa có tính cách cao thượng lại vừa rởm nữa. Đối với người tín đồ Đấng Christ biết suy xét thì việc tự gán cho mình một tiêu chuẩn trung thành như thế thì gần như là một thứ thờ hình tượng; thường bao gồm cả việc tự tử và việc phải báo thù cũng không phải là không thường xảy ra đối với một người nào đó, dầu người ấy có địa vị cao đến đâu chăng nữa. Nguyên nhân sâu xa của tất cả những điều vừa kể dường như là lòng trung thành chỉ là một đức tính của Cơ Đốc giáo, nếu là trung thành với một mình Đức Chúa Trời mà thôi, và như thế, các ý niệm về thờ phượng, vinh dự và vâng phục càng được thông dụng hơn. Blamires gợi ý rằng lòng trung thành đối với một người, một đảng phái, một quốc gia, một nghĩa vụ sẽ đứng vững hay sụp đổ là tuỳ theo con người, đảng phái, quốc gia kia thực sự có chính đáng, có thiện hảo đến cái mức độ mà lòng trung thành kia đòi hỏi hay không. Nếu nghĩa vụ là chính đáng thì lời kêu gọi trung thành là thừa, bởi vì nếu nghĩa vụ đó là chính đáng và đứng đắn, thì nó xứng đáng được ủng hộ. Nhưng khi chúng ta đề cập đến Đức Chúa Trời, thì đây không phải chỉ là một Đấng thiện hảo tương đối nhưng là một Đấng thiện hảo tuyệt đối. Lắm lúc chúng ta phải đương đầu với một cơn thử thách về lòng trung thành với Đức Chúa Trời, nhưng cơn thử thách đó sẽ chỉ trở thành một vấn đề đức tin hay lòng trông cậy Đức Chúa Trời, cho nên lòng trung thành có thể được xem như một lối diễn tả tích cực đức tin và lòng trông cậy vào Đức Chúa Trời.
Lòng trung thành của Chúa Giê-xu đã bị ma quỷ thách đố ngay trong giai đoạn đầu, khi nó đề nghị để Ngài dễ dàng thoát khỏi cực hình tại Gô-gô-tha: “Nếu ngươi sấp mình trước mặt ta mà thờ lạy” (Mat Mt 4:9, 10). Chúa đã trả lời ngay là: “Hỡi quỉ Sa-tan, ngươi hãy lui ra! Vì có lời chép rằng: Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Từ ngữ Hi Lạp ở đây là latreuơ , nghĩa là sự phục vụ có tính cách tôn giáo). Nhưng chúng ta cũng thấy lòng trung thành của Đức Chúa Giê-xu trong đời sống hằng ngày: “Vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài” (nghĩa là Đức Chúa Cha GiGa 8:29). Chúng ta cũng thấy lòng trung thành cao cả ấy tại Ghết-sê-ma-nê, trong mấy lời Ngài nói: “dầu vậy, xin ý Cha được nên chớ không theo ý con” (LuLc 22:42).
Sự thử thách về lòng trung thành đó cũng được gán cho người tín đồ Đấng Christ: “Chẳng ai được làm tôi hai chủ, vì sẽ ghét người này mà yêu người kia, hoặc trọng người này mà khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời, lại làm tôi Ma-môn nữa” (Mat Mt 6:24). Ở đây chính là động từ “làm nô lệ” nghĩa là các ngươi không thể làm nô lệ cho hai chủ đồng thời. Điểm này còn rõ rệt hơn trong LuLc 16:13 khi chữ được dùng cho “tôi tớ” là chữ ám chỉ “tôi tớ trong nhà”, bạn không thể nào cùng một lúc làm “tôi tớ trong nhà” cho hai ông chủ được. Vấn đề là hoặc tôi thuộc về Chúa và nhà Ngài hoặc là không.
Đó là điều được thấy rõ ràng trong câu nói của viên đội trưởng: “Tôi nói với đầy tớ tôi rằng: Hãy làm việc này, thì nó làm” (Mat Mt 8:9). Ông ta biết rằng Chúa Giê-xu có quyền tối cao đó trên mọi sự. Nếu Ngài là Chúa, tôi phải tuyệt đối thừa nhận uy quyền của Ngài. Tôi không ở trong địa vị có thể chọn lựa, phân biệt điều gì tôi bằng lòng, đồng ý vâng phục, với điều tôi không thích. Đối với các lệnh truyền rõ rệt của Đức Chúa Giê-xu, chúng ta phải trung thành tuân phục không đắn đo, do dự.
Lắm lúc, có sự tranh chấp giữa tình cảm gia đình của chúng ta và lòng trung thành với Đấng Christ (10:34-39). Chúng ta không thể nghi ngờ gì được về sự trung thành nào là cao cả hơn. Ngài đòi hỏi chúng ta phải đặt Ngài đứng trước những người gần gũi, thân yêu nhất của chúng ta. Như đã thấy, thường thường thì đúng ra, khi chúng ta yêu mến họ, làm đẹp lòng họ, tức là chúng ta cũng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời; nhưng thỉnh thoảng, cũng có trường hợp phải tranh chấp, nhất là khi những kẻ được chúng ta yêu mến nhất lại chưa phải là tín đồ Đấng Christ. Chúng ta phải đối diện để tranh chấp với việc kết hôn cùng một người không tin Chúa, với quyền ưu tiên sử dụng thì giờ của ngày nghỉ hoặc việc quá dễ dãi trong vấn đề tiêu pha tiền bạc.
Cuộc tranh chấp này xảy ra đồng thời với nhiều việc liên hệ khác. Thường thường thì đối với việc dùng thì giờ của Chúa Nhật, chúng ta đã nhận thấy nó thành vấn đề rõ ràng: chúng ta có cần đặt ra vấn đề tranh chấp trong cuộc thử thách: học ôn bài để đi thi hay đi nhà thờ chăng? Cái nào được ưu tiên? Hay nên chọn giữa một cuộc cắm trại cùng anh em tín đồ để đem đến cho nhiều người khác nữa một kỳ nghỉ hè tươi đẹp, với việc xuất ngoại rất tốn kém để đi du lịch một mình? Hoặc nên chọn việc cắm đầu vào sách vở một mình hay tham gia vào một nhóm những kẻ phí phạm thì giờ trong tổng hội sinh viên? Hoặc nên chọn giữa cuộc hẹn hò với bạn gái, bạn trai không tin Chúa, với việc nhóm lại học Kinh Thánh trong Ban Thanh Niên của Hội Thánh? Đấng Christ luôn luôn đòi hỏi được đứng trước mọi đòi hỏi khác. Việc lựa chọn giữa một cái tốt với một cái tốt hơn vẫn khó hơn việc chọn lựa rạch ròi giữa điều thiện và điều ác.
Sự tự chối mình của người nô lệ
“Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mất sự sống, thì sẽ ‘cứu vãn được nó’. Nếu ai được cả thiên hạ mà chính mình phải mất hoặc hư đi, thì có ích gì?” (LuLc 9:23-25).
Chúng ta đã có thái độ nào đối với bản thân và đời sống chúng ta? Phải chăng chúng ta đã chỉ chú tâm đến việc sống thế nào cho dễ dãi, yên vui riêng cho cá nhân ta, muốn mình luôn luôn được bảo vệ an toàn, và không bao giờ chịu đặt đời sống của chúng ta vào một cuộc phiêu lưu không chắc chắn? Hay đối với chúng ta, Chúa Giê-xu và chỉ có một mình Ngài là trước hết mà thôi? Nếu vì Ngài, chúng ta có sẵn sàng sống và làm việc ở những nơi có thể làm suy giảm sức khoẻ hay nguy hiểm đến tánh mạng chăng? Nếu vì Ngài, chúng ta buộc phải quay lưng lại đối với những thức ăn ngon, những thú vui, những trò chơi thể thao hay giải trí, hay cả đến những bà con, bè bạn mình yêu mến thì chúng ta sẵn lòng ngay chăng? Người nào hướng vào những điều đó, muốn “cứu sự sống mình” thì chỉ là đánh mất nó. Phần đông chúng ta đều vô cùng lo sợ phải mất đi một cái gì, những điều tốt nhất, trong cuộc sống.
Sự lo sợ đó đã được Cựu Ước nhìn nhận trong một khúc sách rất hay, khi dân chúng được chọn lọc trước khi xuất trận (PhuDnl 20:5-7). Các quan trưởng phải hỏi: Ai mới cất nhà mà chưa ăn tân gia? Hãy cho người ấy về, kẻo người ấy tử trận và kẻ khác sẽ ăn tân gia trong ngôi nhà ấy chăng. Ai mới trồng một vườn nho mà chưa được ăn trái nó? Hãy cho người ấy về, kẻo người ấy bị giết ngoài mặt trận, và một kẻ khác sẽ hái trái chăng. Ai đã hứa hôn với một cô gái mà chưa cưới chăng? Hãy cho người ấy về, kẻo người ấy bị chết ngoài mặt trận và kẻ khác sẽ cưới nàng chăng. Đó là những điều lo sợ đã ăn sâu vào phần đông chúng ta, và dân Y-sơ-ra-ên nhìn nhận rằng một người đang có những điều đó trong đầu sẽ lo thoát thân hơn là sẵn sàng vì Chúa mà chiến đấu. Tốt nhất là nên cho người ấy về, còn hơn là dùng một người thiếu tinh thần chiến đấu, có thể quay lưng chạy trốn, làm ngã lòng số người còn lại.
Nhưng điểm rất có ý nghĩa, ấy là ba trường hợp kể trên cũng được ghi lại trong khúc sách khủng khiếp nhằm rủa sả những kẻ vi phạm giao ước Đức Chúa Trời, tiếp theo những lời hứa dành cho những kẻ giữ giao ước Ngài. Câu ấy như sau: “Ngươi sẽ làm lễ hỏi một người nữ, nhưng một người nam khác lại nằm cùng nàng; ngươi cất một cái nhà, nhưng không ở được; ngươi trồng một vườn nho, song không được hái trái” (28:30). Hay nói cách khác, người nào muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất nó, cũng mất luôn tất cả những gì người ấy muốn dùng để giữ vững nó. Người ấy đã quay lưng lại với Đức Chúa Trời để giữ lấy những điều khác đó, nhưng rồi người ấy sẽ nhận ra rằng điều mình vẫn sợ, cuối cùng đã xảy đến cho mình. Chúng ta sẽ trước hết tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công nghĩa của Ngài (Mat Mt 6:33), hay những điều khác kia? Hãy trước nhất tìm kiếm Đấng Christ, rồi “mọi điều khác nữa cũng sẽ được ban cho các ngươi”. Rất có thể là ý kiến đó của Cựu Ước đã tiềm tàng trong những lời cáo từ mà những kẻ được mời dự tiệc đưa ra. Có người xin kiếu vì mới mua ruộng, mua bò; người khác xin kiếu vì mới cưới vợ (LuLc 14:18-20).
Chúa Giê-xu đòi hỏi chúng ta phải từ chối mình, và điều đó có thể cũng có nghĩa là chúng ta phải trang bị sẵn sàng cho công việc không lấy gì làm thích thú đó. Các nữ tu sĩ phục vụ tại bệnh viện trong quyển “Truyện tích một nữ tu sĩ” của Kathryn Hulme đã chứng minh rằng dầu chúng ta có bài xích các phẩm trật tôn giáo trên phương diện giáo lý thế nào đi nữa, vẫn thực sự phải có một tinh thần theo đúng Kinh Thánh đến mức độ là: “Tất cả vì Chúa Giê-xu - dì phước William đã vừa cho tay vào đôi bao tay cao su vừa nói. Các bạn sinh viên thân mến, xin các bạn hãy nói như thế mỗi khi các bạn được kêu gọi làm một việc mà đối với các bạn, dường như một việc không thể làm nổi. Rồi các bạn sẽ thanh thản làm được mọi sự. Đó là câu phù chú sẽ cất hết những gì là khó chịu trong nhiều nhiệm vụ của người y tá. Các bạn hãy nói như thế khi bưng “bô”, lúc tắm cho người già cả khi họ đại tiểu tiện ngay trên giường, khi mang những chiếc ống nhổ của những người bị lao. Tout pour Jésus (bằng Pháp văn trong nguyên tác) - dì nói - khi bà cúi xuống để thay chiếc áo vấy bẩn của mình”.
Đó có thể là ý nghĩa của việc từ chối mình, và vác thập tự giá mình mà theo Chúa. Người nô lệ không có quyền hành gì cả; nó được kêu gọi để chăm chỉ phục vụ và cứ tiếp tục phục vụ. Nếu có mệt mỏi, đau yếu hay buồn bực riêng tư thì không có gì quan trọng cả; phận sự của nó là phải tiếp tục làm việc. Điểm này được trình bày rất rõ ràng trong LuLc 17:7-10 “Ai trong các ngươi có đầy tớ đi cày hoặc đi chăn, khi ở ngoài đồng về, biểu nó rằng: Hãy đến ngay mà ngồi ăn, hay sao? Trái lại, há không biểu nó rằng: Hãy dọn cho ta ăn, thắt lưng hầu ta, cho đến chừng nào ta ăn uống xong, rồi sau ngươi sẽ ăn uống sao? Đầy tớ vâng lệnh mà làm thì chủ có cám ơn nó chăng? Các ngươi cũng vậy, khi làm xong việc truyền phải làm, thì hãy nói rằng: Chúng tôi là đầy tớ vô ích; điều chúng tôi đã làm là điều chắc phải làm”.
Nếu bạn là một tên nô lệ, bạn phải làm việc như một tên nô lệ. Rất có thể là bạn đã mệt mỏi lắm sau một ngày làm việc ngoài đồng. Lúc đó đã quá sáu giờ chiều rồi. Nhưng không có một liên hiệp nghiệp đoàn Cơ Đốc giáo nào định thì giờ cho loài người làm việc vì Đấng Christ (lẽ dĩ nhiên là có những “tín đồ Chủ nhật”, chỉ dành mỗi tuần hai giờ thờ phượng mà thôi). Nếu bạn là một tên nô lệ, bạn sẽ chẳng bao giờ hết việc làm. Ông chủ nói, hãy dọn bữa ăn tối cho ta. Bạn cũng không đáng được cám ơn hay khen lao hoặc ghi công hay tiền công nào. Dầu sao thì bạn cũng chỉ là một tên nô lệ. Một tên nô lệ thì có thể làm gì khác hơn? Phần ăn của bạn chỉ có sau khi đã làm xong mọi việc. Và cuối cùng, sau khi đã làm xong cả, chúng ta phải nhìn nhận rằng mình chỉ là những đầy tớ vô ích. Chúng ta còn có tâm tình ấy càng hơn khi phục vụ với tư cách tín đồ Đấng Christ.
Nhưng chắc các bạn sẽ bảo: một ông Chủ lịch sự phải cám ơn người nô lệ của mình, dầu người đó chỉ làm phận sự? Phải chăng đó chỉ là một thí dụ, và Đấng Christ không phải là một ông Chủ khắc nghiệt, một ông cai coi sóc nô lệ? Đúng nữa, và chân lý bổ túc ấy đã được giải thích trong 12:37 “Phước cho những đầy tớ ấy, khi chủ về thấy họ thức canh! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ thắt lưng mình, cho đầy tớ ngồi bàn mình và đến hầu việc họ”.
Thoạt nhìn, thì hai truyện tích trên đây dường như trực tiếp mâu thuẫn nhau. Nhưng mục đích của hai câu chuyện rất khác nhau. Truyện tích thứ nhất dạy rằng chúng ta không có quyền hành gì, còn truyện tích thứ hai dạy rằng chúng ta có một ông Chủ đầy ân hậu. Ngài không phải là một bạo chúa. Chúng ta là nô lệ Ngài, nhưng phần phục vụ Ngài không phải là việc làm như của một tên nô lệ. Dầu chúng ta vốn là những đầy tớ vô ích, không xứng đáng, nhưng Ngài vốn đầy lòng thương xót, nhân từ, ân cần, và luôn luôn đổ xuống trên chúng ta các phước hạnh, cả đến những chi tiết nhỏ nhặt nhất của đời sống hằng ngày. Đó là bài học về sự phục vụ chăm chỉ, không hề mỏi mệt, nhưng nó còn là việc làm của tình yêu vì có một ông Chủ mà ta yêu mến.
Sự chăm chỉ của người đầy tớ
Chúng tôi đã từng gợi ý rằng thường khi muốn chống đối sự cuồng tín thì thật ra chúng ta lại bỏ luôn sự chăm chỉ và khi chúng ta bênh vực sự chừng mực, chúng ta cũng bênh vực luôn tánh biếng nhác. Chẳng những chúng ta đã làm điều không nên làm, mà còn bỏ luôn việc đáng lẽ chúng ta đã phải làm xong rồi. Chúng ta rất thường chú ý đến một đời sống tự do đối với tội lỗi, đến nỗi chúng ta chỉ nhằm vào những cái gì không rõ ràng, không hiển nhiên thích hợp, một loại thánh khiết tiêu cực nhấn mạnh vào những điều chúng ta không nên làm; trong khi Tân Ước vẫn khuyến cáo chúng ta một loại thánh khiết tích cực, tỏ ra những đức tính tích cực. Không phải chúng ta chỉ không nên ghen ghét, than phiền, nhưng chúng ta còn phải tỏ ra yêu thương, vui vẻ. Vậy chúng ta phải tỏ ra chăm chỉ, và trong bản Authorized Version, chữ đó đã được dùng hai lần, trong IIPhi 2Pr 1:5, 10 “Vậy nên về phần anh em phải gắng hết sức (chăm chỉ ) thêm cho đức tin mình sự nhân đức, thêm cho nhân đức sự học thức, thêm cho học thức sự tiết độ, thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính, thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến… Hỡi anh em, hãy chú ý (chăm chỉ ) cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình”.
Khi suy nghĩ về tánh chăm chỉ, chúng ta nhận thấy dường như nó có liên quan đến ba nguyên tắc sau:
1. Kẻ nào đã có thì sẽ cho thêm
Truyện tích về các ta-lâng (Mat Mt 25:14-30) đã nói cho chúng ta biết thái độ của ba người đầy tớ đối với số ta-lâng đã được giao cho họ, cũng như thái độ của chủ họ đối với các kết quả họ đã thu hoạch được. Chúa đã khen những người siêng năng và chăm chỉ, cố gắng tận dụng ngay các cơ hội thuận tiện cho mình. Câu chuyện có vẻ phản dân chủ: có người chỉ được một ta-lâng, trong khi những kẻ khác lại được đến hai lần nhiều hơn, hay cả đến năm lần nhiều hơn nữa! Họ đã không có tài năng ngang nhau, vì ông chủ đã giao cho “tuỳ theo tài mỗi người”. Tuy nhiên, họ có cơ hội đồng đều, vì cả ba đều có một số thì giờ bằng nhau để khai thác triệt để các khả năng của mình. Người chỉ được một ta-lâng đã bị phạt vì biếng nhác . Anh ta là một đầy tớ “dữ và biếng nhác”. Anh ta không chăm chỉ, không cố gắng, Chúa đã không thương xót con người khốn nạn đó bởi vì đến cuối cùng, anh ta cũng vẫn chỉ có một ta-lâng thôi. Không có lý do gì để bênh vực sự lười biếng. Nó là điều ác. Anh ta đã không làm mất điều đã ban cho mình, nhưng đã không làm cho điều mình có sanh được lợi lộc gì.
Tất cả chúng ta đều dễ phạm vào lỗi lầm là “chôn xuống đất” các cơ hội thuận tiện. Chúng ta luôn luôn nghĩ rằng thủng thẳng về sau đã, sau này khi đã ra trường, khi đã tốt nghiệp, hay sau khi lập gia đình, đã ở riêng, hay sau khi chúng ta được thăng chức, đã dọn về ngôi nhà thuộc riêng về mình, hoặc sau khi con cái chúng ta đã lớn và chúng ta có một ngôi nhà rộng, về sau, chừng đó, chúng ta có thể làm một việc gì đó. Tương lai luôn luôn tươi đẹp hơn hiện tại. Chúng ta xem cơ hội hiện tại như chỉ là một ta-lâng, và không chịu sử dụng nó. Đấng Christ đã khen ngợi và ban thưởng cho người có tánh chăm chỉ: “Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm”. Nguyên tắc “kẻ nào đã có thì sẽ cho thêm” của câu 29 đã thường được Tân Ước nhắc đi nhắc lại. Người đã có cơ hội mà không chịu nắm lấy đã bị gọi là “vô ích” (worthless: vô giá trị), và ta-lâng của anh ta đã được ban cho người đã có mười ta-lâng nhưng đã tỏ ra rằng mình vẫn sẵn sàng sử dụng nó. Cùng một nguyên tắc ấy cũng được áp dụng trong Mac Mc 4:25 liên hệ đến việc chăm chỉ nghe lời (Đạo) Đức Chúa Trời: càng hiểu được nhiều, bạn sẽ có thể hiểu được càng nhiều hơn. Đó là một nguyên tắc về những lợi ích phức hợp trên phương diện thuộc linh. Hãy chăm chỉ, cố gắng, và bạn sẽ càng ngày càng được phước hơn: “Nhưng con đường của người công nghĩa giống như sự sáng chiếu rạng, càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa” (ChCn 4:18). Con người chăm chỉ và công nghĩa (đối lập với kẻ lười biếng và gian ác) sẽ từng trải sự sáng láng và phước hạnh càng ngày càng gia tăng đó.
2. Ai được ban cho nhiều,
Nguyên tắc này cho chúng ta thấy rõ rằng người được năm ta-lâng sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn. Người chỉ nhận một ta-lâng đã không làm lợi được gì cả. Nếu anh ta đã làm lợi gấp đôi số vốn đã có, chắc chắn anh ta cũng đã được khen ngợi. Nếu người nhận năm ta-lâng chỉ làm lợi được một ta-lâng mà thôi, chắc anh ta sẽ bị quở trách đích đáng. Nếu việc phân phát các ta-lâng “tuỳ theo tài mỗi người” gợi ý rằng việc ban cho thiếu tính cách dân chủ, thì rõ ràng là việc phân xử liên hệ đến kết quả cũng không hề thay đổi và công minh. Hậu quả được thẩm định trên căn bản chăm chỉ chớ không phải trên căn bản tài năng.
Chúng ta thấy nguyên tắc thứ hai này trong truyện tích về ông Chủ đi xa trở về (LuLc 12:35-48). Chúng ta giống như những người đang chờ đợi chủ mình sẽ trở về không biết giờ phút nào, và phước thay cho người nào tỉnh thức và sẵn sàng. Tất cả chúng ta đều biết điều đó. Nhưng chúng ta có chăm chỉ không, và đã thực hành điều mà tâm trí chúng ta đã biết hay chưa. Việc có thái độ tin chắc về sự tái lâm là một chuyện, còn thực sự sống trong sự mong chờ đó lại là một chuyện khác. Nếu mọi việc không được sắp xếp thứ tự, thì ông chủ sẽ đối xử ra sao với người quản gia? Người đầy tớ ngu dốt, chắc chỉ bị đòn nhẹ. Nhưng “người đầy tớ biết rõ ý muốn chủ mà không sẵn sàng hay hành động theo ý chủ, chắc sẽ bị đánh đòn nghiêm khắc”. Người đó biết điều mình phải làm nhưng không chăm chỉ. Người đó biết bằng trí khôn, nhưng không chịu hành động bằng tay mình.
Chúng ta há không ở trong tình trạng đó sao? Có điều nào chúng ta biết mình phải làm, nhưng còn để lại chưa chịu hành động ngay chăng? Nếu mẹ hay vợ ta luôn luôn nhắc nhở chúng ta phải sửa một chỗ nào đó trong nhà, hay một vài món quần áo nào phải đưa ra vá mà chúng ta cứ lần lữa, chắc trong gia đình chúng ta sẽ có vài tiếng phàn nàn. Nhưng đối với việc Chúa bảo chúng ta làm thì sao? Chúng ta đã biết cái lý tưởng về người tín đồ Đấng Christ phải ra sao, nhưng chúng ta đã làm gì để đạt đến điều đó? Chúng ta được giao cho nhiều điều; chúng ta cũng bị đòi hỏi phải đáp lại nhiều: “Biết” giáo lý Cơ Đốc thì chưa đủ; chúng ta còn phải làm theo nữa. Các truyện tích về những người đầy tớ trong các sách Phúc Âm thật là giản dị, nhưng sứ điệp chúng rao ra thật là rõ ràng. Nếu bạn chăm chỉ, bạn sẽ được phước. Nếu bạn đã được phước thì bạn có trách nhiệm phải chăm chỉ càng hơn. Tín đồ Đấng Christ là người đang làm việc với tư cách một nô lệ của Đức Chúa Giê-xu Christ. Người ấy không phải là một hình nộm trong tủ kính; người ấy phải là một gương mẫu hoạt động. Người tín đồ Đấng Christ bị đòi hỏi phải chăm chỉ phục vụ Ngài.
3. Ai trung tín trong việc nhỏ,
Thật ra, nếu người chỉ nhận một ta-lâng đã trung tín trong việc nhỏ mọn đó, chắc cũng sẽ được ban thưởng để sẽ có cơ hội bày tỏ sự trung tín ấy trong một phạm vi rộng lớn hơn y như hai người bạn chăm chỉ hơn kia. Cho nên một lần nữa, chúng ta lại thấy sự công bằng trong các nguyên tắc đo lường mức thành công của Đức Chúa Trời. Dầu chỉ được một ta-lâng mà thôi, Đức Chúa Trời vẫn muốn cho anh ta sử dụng nó để làm một điều gì đó.
Nguyên tắc thứ ba về sự chăm chỉ này được bày tỏ trong truyện tích rất thú vị về người quản gia bất trung trong 16:1-15 (xin xem phần chú giải cặn kẽ hơn khúc sách này trong chương 4 sau đây). Phần ứng dụng ở đây là người ấy đã tận dụng những cơ hội hiện tại một cách rất khôn ngoan để lo cho tương lai mình được sung sướng (dầu lẽ dĩ nhiên cách ăn ở của người đó là bất lương, và anh ta là một người quản gia bất trung; nhưng câu chuyện thí dụ chú ý nhiều hơn đến sự suy tính trước và lương tri). Đó là một lời khuyến cáo nên dùng tiền bạc bằng con mắt hướng về các hậu quả đời đời chớ không phải nhằm vào những vui thú tạm thời. Nhưng phần lý luận vẫn được tiếp tục; nếu bạn không trung tín về của bất nghĩa, thì ai dám giao cho bạn những của báu thực sự của thiên đàng? Nếu bạn không trung tín đối với tiền bạc của kẻ khác, ai là người dám tin cậy bạn về những gì bạn có? Thoạt đầu, người ấy được khen vì tánh thận trọng lo xa của mình, rồi bị trừng phạt vì cớ sự bất nghĩa của mình. Luận cứ đầu tiên bắt đầu từ việc nhỏ chuyển sang việc lớn, trong cách xử thế của người ấy đối với của cải đời này và trên trời. Nhưng điểm thứ hai, ấy là đời sống của một người trước sau như một và những ai vốn thận trọng trong những vấn đề nhỏ nhặt nhất chính là những người đáng tin cậy trong những vấn đề quan trọng hơn. Tánh chăm chỉ không phải chỉ dành cho những việc lớn mà thôi, nhưng là đặc tính của người tín đồ Đấng Christ trong mọi khía cạnh sinh hoạt, dầu là trong những chi tiết nhỏ nhặt hơn hết.
Vậy ở đây có ba nguyên tắc về sự chăm chỉ, cố gắng: càng hơn, nhiều và nhỏ. Trung tín trong việc nhỏ, sẽ được ban cho nhiều hơn và đòi hỏi càng hơn là ba điểm tóm tắt diễn tiến của sự chăm chỉ. Chúng tôi xin nhường lời cuối cùng về vấn đề trên đây cho Sa-lô-môn, là người dầu có lầm lỗi trên nhiều phương diện khác, nhưng đã không ai trách được ông là thiếu cố gắng, chăm chỉ (xin xem IVua 1V 4:1-34) khi ông nói: “Kẻ thả trôi trong công việc mình, cũng là anh em của kẻ phá hoại” (ChCn 18:9).
Động cơ thúc đẩy người đầy tơ ù
Người tín đồ Đấng Christ với tư cách một tên nô lệ có những mạng lệnh phải theo, nhưng không hề có một ông cai nào đứng cạnh điều khiển mình với một ngọn roi trong tay. Theo một ý nghĩa nào đó, thì một phần vấn đề của chúng ta liên hệ đến tánh lười biếng. Chúng ta được tự do biếng nhác. Không có ai ở trên chúng ta để xem chúng ta có vâng lời hay không. Nô lệ của Đấng Christ là một người tự do không bị ai quản trị cả. Người ấy được tự do để chăm chỉ, cố gắng, cũng như tự do lười biếng. Vấn đề cho chúng ta, ấy là nếu chúng ta biếng nhác thì chỉ có một lương tâm quấy rầy cáo trách chúng ta mà thôi. Sự tự do của tín đồ Đấng Christ đối lập với hợp pháp chủ nghĩa chớ không đối lập với chế độ nô lệ và sự phục vụ. Được tự do không có nghĩa là đi vơ vẩn hay không cần vâng lời hoặc là hoàn toàn độc lập đối với chủ. Người tín đồ Đấng Christ đã tình nguyện đặt mình làm một tên nô lệ. Người ấy được tự do - để phục vụ.
Trong Cựu Ước (XuXh 21:1-7) người nô lệ có một thời gian phục vụ nhất định, và tất cả nô lệ đều được giải phóng vào năm thứ bảy, và có một phương thức mà theo đó, người nô lệ có thể tự buộc mình vĩnh viễn với ông chủ. Nếu muốn, người ấy có thể nói: “Tôi yêu chủ, yêu vợ, con tôi, nên sẽ không ra đi để được tự do” hoặc “Tôi muốn làm nô lệ cho người này bởi vì người này đối xử rất tốt với tôi, và tôi biết là tôi có thể tin cậy ông ta. Ông đã thương tôi, che chở tôi và cung cấp mọi nhu cầu cho tôi. Làm nô lệ cho ông thì sung sướng hơn là được tự do”. Dầu Đấng Christ là Chủ, là Chúa chúng ta, Ngài đã không đối xử với chúng ta như nô lệ, nhưng với tư cách là bạn thiết, là anh em Ngài. Phao-lô đã nói với Phi-lê-môn rằng, kẻ đã có lần vốn là đầy tớ vô ích của ông ta là Ô-nê-sim, hiện đang trở về với ông ta như một anh em yêu dấu. Người nô lệ trở về như một nô lệ, nhưng ông chủ sẽ tiếp đón người ấy như một anh em. Chúng ta đã được Chúa Giê-xu mua chuộc và chúng ta là những nô lệ của Ngài. Dầu vậy, Ngài đã đối xử với chúng ta như anh em (xin xem RoRm 8:29; HeDt 2:11, 12).
Cho nên động cơ thúc đẩy không phải là sự sợ hãi, nhưng là tình yêu. Chúng ta phục vụ Ngài không phải vì bổn phận, nhưng vì muốn làm đẹp ý Ngài. Tôi phải phục vụ Ngài là điều thích hợp, vì Ngài là Chúa tôi.
Những điểm gợi ý để cầu nguyện và suy gẫm
(Cầu nguyện với Chúa về các vấn đề của chúng ta thì có giá trị hơn là chỉ nhìn nhận rằng chúng có thật: và chúng ta để thì giờ cầu nguyện ngay bây giờ thì tốt hơn là bước ngay sang chương tiếp theo).
“Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va về các ơn lành Ngài đã làm cho tôi ? Tôi sẽ cầm cái chén cứu rỗi mà cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va . Tôi sẽ trả xong cho Đức Giê-hô-va những sự tôi hứa nguyện tại trước mặt cả dân sự Ngài .
Thi Tv 116:12-14
Tôi đã tiếp nhận Đấng Christ làm Chúa của đời sống mình một cách rõ ràng, dứt khoát chưa? Điều nầy có thể có nghĩa là khi tôi ăn năn tội, hay cho đến bây giờ, tôi chỉ là một tín đồ Đấng Christ một cách hữu danh vô thực, mà không thấu hiểu được những ý nghĩa sâu xa của việc tôi gọi Ngài là Chúa. Tuy nhiên điều đó không mấy quan trọng so với việc từ nay tôi có chịu dứt khoát đầu phục để vâng lời Ngài trong mọi sự hay không.
Tôi có gọi Ngài là “Chúa ” nhưng vẫn cố ý không vâng lời hay quên đi những điều tôi không muốn vâng lời Ngài chăng ? Bây giờ , tôi đã sẵn sàng sửa đổi lại mọi sự không ?
Tôi đã có kinh nghiệm nào về việc “rửa chân” - nghĩa là hạ mình xuống để phục vụ kẻ khác - chưa? Đã có cơ hội nào cho tôi có thể làm việc ấy, nhưng tôi đã thối lui vì kiêu ngạo - tại nhà riêng, tại sở làm hay trong Hội Thánh - không ?
Tôi đã đặt Đấng Christ đứng đầu mọi sự chưa , hay chỉ làm điều đó khi nào không có sự tranh chấp với tham vọng cá nhân , những mục đích vật chất đắt giá , những điều tôi phải thoả mãn nếu tôi muốn thành công trong đời ? Phải chăng đức tin tôi chỉ là phụ thuộc hay bổ túc cho mục đích chính của đời sống tôi ?
Hiện giờ, có cơ hội thuận tiện nào tôi phải tận dụng vì Đấng Christ chăng? Tôi đang tận dụng chúng hay đang để cho chúng qua đi, đang chôn giấu ta-lâng của tôi xuống đất? Có cách nào để tôi trở thành ích lợi cho Chủ, hay tôi chỉ là một tên đầy tớ biếng nhác và gian ác?
Tôi có trung tín trong những việc nhỏ nhặt không ?
Tôi có thật yêu Chúa và do đó, muốn phục vụ và làm đẹp lòng Ngài chăng? Hay tôi chỉ phục vụ Ngài khi có thì giờ rảnh rỗi?
“Xin cho tôi chỗ thấp nhất ; không phải tôi dám
xin chỗ thấp nhất ấy , mà vì Ngài đã chịu chết
Để tôi được sống và chia sẻ
Vinh quang Ngài bên cạnh Ngài
Xin cho tôi chỗ thấp nhất ; vì nếu đối với tôi
Chỗ thấp nhất đó vẫn còn là quá cao ,
xin hãy cho tôi một chỗ thấp hơn nữa
Để tôi có thể ngồi đó và trông thấy
Đức Chúa Trời tôi , và yêu mến Ngài
xứng đáng với tư cách ấy .”
CHRISTINA ROSETTI

NHÀN HẠ hay BỊ THÚC BÁCH?
Xin Chúa hãy nhận lấy cả thì giờ
và ngày tháng của đời sống tôi
Thì giờ là một cái gì rất kỳ cục. Những ngày nghỉ hè, một buổi chiều với vị hôn thê, một cuộc đàm đạo sôi nổi với người bạn cũ - và thời gian trôi đi nhanh chóng. Trong khi đó, nhiều việc khác như việc trông đợi vị hôn thê đã nói ở trên đến, một giờ tập luyện trong trại lính hay mười phút ngồi trên ghế của ông nha sĩ lại qua đi rất chậm chạp. Nếu thời gian chịu đi chậm khi chúng ta vui thú y như lúc chúng ta buồn bã thì hay biết bao nhiêu…
Tuổi tác cũng ảnh hưởng đến cách nhìn nhận về khái niệm thời gian. Với trẻ con thì một ngày dường như dài quá, và từ Nô-ên này đến Nô-ên sau, hay chờ đợi cho đến ngày sinh nhật, dường như vô tận vậy. Rồi cuộc sống bắt đầu di chuyển tính theo tuần lễ, vì mỗi cuối tuần trẻ con được nghỉ học; sau đó tính từng tháng, rồi từng mùa, từng năm. Mọi sự dường như càng tiến nhanh hơn cùng với tuổi tác. Chúng ta đọc Kinh Thánh, thấy chép rằng ngàn năm trước mặt Chúa như một ngày, nhưng điều đó không có nghĩa là Ngài không hề để ý đến cách sử dụng thì giờ của chúng ta vì trong cùng một khúc Kinh Thánh đó (IIPhi 2Pr 3:8) cũng chép rằng đối với Ngài một ngày cũng như ngàn năm.
Tín đồ Đấng Christ hầu như có thói quen nói đến việc “quản trị” thì giờ và tiền bạc. Nghĩa là khi chúng ta tiêu tiền, phung phí tiền bạc, chúng ta cũng dùng cùng một động từ ám chỉ việc phung phí thì giờ. Thì giờ là một phương tiện phổ quát có thể dùng để mua vật này vật nọ. Ta có thể trực tiếp dùng nó để được tiền; nghĩa là chúng ta đi làm thuế. Nó cũng có thể dùng để theo đuổi học thức, để giáo hoá bè bạn, để vui chơi, để thu thập kinh nghiệm - những điều mà tiền bạc không mua được, nhưng chúng ta có thể mua được nếu chịu tận dụng thì giờ. Sự khác nhau giữa người này với người khác thường tuỳ thuộc vào tài khéo léo sử dụng thì giờ của từng người.
Như chúng ta đã thấy, người tín đồ muốn tỏ ra là một nô lệ biết ơn trong sự phục vụ Chúa phải dùng thì giờ của mình thế nào cho Chủ mình đẹp lòng. Thì giờ của người ấy không thuộc riêng về mình, nhưng thuộc về Chúa Giê-xu. Chúng ta là quản gia, là người quản lý thì giờ của chúng ta để dùng nó cho Ngài.
Lợi dụng thì giờ
Tuy nhiên, thoạt nhìn thì dường như việc quản trị thì giờ không phải là một đề tài mà Kinh Thánh đã trực tiếp đề cập đến. Trong Tân Ước, dường như chỉ có hai chỗ khác nhau trong hai thư tín gởi cho người Ê-phê-sô và người Cô-lô-se (Eph Ep 5:16; CoCl 4:5) là những câu minh hoạ về vấn đề này; nhưng văn mạch và phần liên ý trong hai thư tín dường như lại khác nhau, dầu đều được diễn tả bằng những lời lẽ giống nhau. Đó là câu “Hãy lợi dụng thì giờ” (Bản AV dịch là “cứu vãn (hay cứu chuộc - redeeming- thì giờ”). Dầu vậy, đây không phải là một lời khuyến cáo trực tiếp việc quản trị thì giờ, vì như các nhà chú giải Kinh Thánh luôn luôn mau mắn vạch ra, chữ được dùng không phải chronos có nghĩa là thì giờ tính bằng năm, tháng, tuần lễ hay giờ, mà là chữ kairos , ám chỉ một thì giờ đặc thù hay thuận tiện. Dường như nó có nghĩa là một giai đoạn nghiêm trọng nào đó, một cơ hội đặc biệt chóng qua, và lời khuyên là hãy nắm ngay lấy, lợi dụng ngay lấy trong khi vẫn còn có cơ hội. Từ ngữ Hi Lạp exagorazơ được dịch là “lợi dụng”, thật ra có nghĩa là mua ngoài chợ, do đó, theo Simpson, đúng hơn thì chúng ta nên hiểu là “mua lấy các cơ hội”. Ai thấy một người đàn bà giành giựt một món hàng có thể dùng được nhưng bán với giá thật rẻ nhân dịp một cửa hiệu bán đại hạ giá, đắc thắng chợp lấy vật ấy và nhìn quanh để tìm một “dịp may” khác, sẽ có thể hiểu được một phần ý niệm rất linh động câu này gợi lên. Chúng ta phải tìm những dịp may như những cơ hội đại hạ giá, và giật ngay lấy bất cứ lúc nào có thể, để phục vụ Đấng Christ và mở mang Nước Ngài.
“Vậy hãy giữ cho khéo về sự ăn ở của anh em, chớ xử mình như người dại dột, nhưng như người khôn ngoan. Hãy lợi dụng thì giờ, vì những ngày là xấu. Vậy chớ nên như kẻ dại dột, nhưng phải rõ ý muốn của Chúa là thế nào. Đừng say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Hãy lấy ca vịnh, thơ thánh và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa. Hãy thường thường nhơn danh Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta” (Eph Ep 5:15-20). Cả đoạn văn này dường như chú ý trước nhất đến cách ăn nết ở, phải bước đi (sống) như thế nào, và gợi ý rằng nếu chúng ta có thì giờ rảnh rỗi thì đừng dùng nó để vui chơi phóng túng nhưng hãy dùng nó vào những việc làm thường gọi là “đạo đức” hay muốn cho gần hơn với Cơ Đốc giáo, chúng ta có thể gọi đó là sự thờ phượng, tức là việc ca tụng Chúa và cầu nguyện. Ở thế kỷ thứ nhất, khi đa số tín đồ Đấng Christ đều là nô lệ, họ có rất ít thì giờ rỗi rảnh ngoài thì giờ làm việc, và đây là lời chỉ dẫn họ phải dùng những thì giờ ấy như thế nào. Đừng phí phạm thì giờ trong các quán rượu, nhưng nên tìm gặp các tín đồ khác và lợi dụng những cơ hội để thông công nhau trong khi có dịp tiện. Đồng thời Phao-lô cũng dạy là “thường thường và trong mọi sự” (câu 20), thì giờ của họ cũng phải được đánh dấu bằng một ý thức về sự biết ơn Đức Chúa Trời và sau đó, ông tiếp tục đưa ra những lời chỉ dẫn thực tiễn về sinh hoạt và những mối liên hệ trong gia đình, rồi tiếp theo nữa là thái độ đối với việc làm và đối với chủ (5:21-6:9).
Trong thư Cô-lô-se, sau khi đề cập đến những mối liên hệ trong gia đình và trong việc làm, Phao-lô xin họ cầu nguyện cho việc ông rao giảng Tin Lành và tiếp: “lại hầu cho tôi được tỏ cho biết lẽ thật ấy (một cách rõ ràng) như điều tôi phải nói. Hãy lấy sự khôn ngoan ăn ở với những người ngoại, và lợi dụng thì giờ. Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn và nêm thêm muối, hầu cho anh em biết nên đối đáp mỗi người là thể nào” (CoCl 4:4-6). Vậy ở đây, cả đoạn dường như đề cập đến việc rao giảng Tin Lành, thái độ mỗi người đối với những kẻ chưa tin Chúa và như thế là hãy nắm lấy mọi dịp tiện để làm chứng và cứu rỗi linh hồn người ta.
Tuy nhiên, như trường hợp luôn xảy ra, đây không phải là một vấn đề có thể nghiên cứu chỉ bằng cách tìm chữ “thì giờ” trong một quyển phù dẫn. Nó vẫn thường được đề cập đến hơn bằng những lời lẽ liên hệ đến sự cần thiết phải chăm chỉ và những lời khuyến cáo phải chống lại sự biếng nhác.
Các ta-lâng và các nén bạc
Trong những thí dụ về các ta-lâng và các nén bạc (Mat Mt 25:14-30; LuLc 19:12-26), có một người đã được một số vốn và “một thời gian dài” (Mat Mt 25:19), nhưng đã không lợi dụng cơ hội ấy để làm gì hết. Điều khiến người ấy bị quở trách: “Hỡi đầy tớ dữ và biếng nhác kia!” không phải là việc người ấy được một ta-lâng mà là việc người ấy có thì giờ dùng để làm lợi thêm. Dầu chúng ta muốn hiểu là các ta-lâng hay các nén bạc tiêu biểu cho tài năng thiên phú, sự cứu rỗi hay bất cứ điều gì đi nữa, những người đầy tớ kia đều được mong đợi phải làm một cái gì với điều mình đang có, dầu điều họ có ít hơn người khác. Và họ được ban cho thì giờ để làm việc. Nếu ông chủ đã trở về ngay ngày hôm sau chắc không ai có thì giờ để làm lợi được gì, cũng không một người nào đáng khen hay đáng trách. Cho nên chính việc sử dụng thì giờ đã trở thành có ý nghĩa trong cả hai thí dụ kể trên. Dầu có nhiều chỗ khác nhau, điểm vừa nêu ra vốn giống nhau trong cả hai thí dụ, tức là cả hai phải được hiểu là có ý đề cập đến việc quản trị thì giờ. Mục đích các thí dụ đó dường như muốn nhắc nhở chúng ta rằng có một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ phải khai trình, phải tính sổ về công tác quản lý của chúng ta, về cách chúng ta đã lợi dụng thì giờ và những cơ hội, và liệu chúng ta là những đầy tớ siêng năng của Chủ hay chỉ là những người thụ động, vô kỷ luật.
Tính cách bấp bênh của sự sống
Một điểm nhấn mạnh thường dùng để khích lệ các tín đồ Đấng Christ tận dụng thì giờ là tính cách bấp bênh của đời sống. Điều đó có nghĩa là chẳng những mỗi người có thể có tài năng hay số lượng tài năng khác nhau, mà thì giờ dài ngắn của cơ hội cũng có thể khác nhau. Bản NEB dịch câu “lợi dụng thì giờ” là “tận dụng triệt để cơ hội hiện tại”. Có một số người như David Brainerd, Henry Martyn hay Borden of Yale đã phải qua đời rất sớm, nhưng họ đã hoàn toàn tận dụng thì giờ của mình.
“Hỡi anh em là kẻ nói rằng: Hôm nay hoặc ngày mai, ta sẽ đi đến thành kia, ở đó một năm buôn bán và phát tài - song ngày mai sẽ ra thế nào, anh em chẳng biết! Vì sự sống của anh em là chi? Chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay. Anh em phải nói trái lại: Ví bằng Chúa muốn và ta còn sống, thì ta sẽ làm việc nọ, việc kia. Kìa, anh em lấy những lời kiêu ngạo mà khoe mình! Phàm khoe khoang như vậy là xấu. Cho nên, kẻ biết điều lành mà chẳng làm thì phạm tội” (Gia Gc 4:13-17). Chẳng những chúng ta được nhắc nhở rằng các chương trình ngày mai của chúng ta đều luôn luôn tuỳ thuộc vào sự cho phép của Đức Chúa Trời mà đời sống chúng ta cũng chỉ như hơi nước, một làn khói, và ngày mai, chúng ta rất có thể chết đi. Như thế, phần ứng dụng là nếu chúng ta biết việc phải làm mà không làm thì đó là tội. Câu đó ngụ ý rằng chúng ta không nên để lại ngày mai việc phải lẽ, công nghĩa mà chúng ta phải làm hôm nay.
Người Chủ trở về
Một điểm nhấn mạnh tương tự thường thấy nhắc đi nhắc lại trong Tân Ước là việc trở về của ông Chủ. Không phải cái chết bất ngờ, nhưng rất có thể là sự tái lâm của Chúa sẽ thử nghiệm giá trị của những điều chúng ta đang làm. Phải chăng cách thức làm việc của tôi sẽ đẹp lòng Chúa? Hay vấn đề quan trọng là cách thức nghỉ ngơi, giải trí của tôi?
“Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan mà người chủ đặt cai trị đầy tớ mình, đặng cho đồ ăn đúng giờ? Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến, thấy làm như vậy! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ đặt kẻ ấy coi sóc cả gia tài mình. Nếu trái lại, là một đầy tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm, bèn đánh kẻ cùng làm việc với mình, và ăn uống với phường say rượu, thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ và giờ nó không biết. Chủ sẽ đánh xé xương và định phần nó đồng với kẻ giả hình. Đó sẽ là nơi có khóc lóc và nghiến răng” (Mat Mt 24:45-51). Người đầy tớ ở đây là một quản gia, có trách nhiệm đối với một số người khác, và đã được chủ cung cấp vật thực để phân phát lại cho số người kia. Nếu người ấy lạm quyền, bỏ qua cơ hội phục vụ những người kia và dùng cho mình những gì đúng ra phải dành cho họ, thì Chủ sẽ trở về thình lình và hình phạt anh ta.
Vì chúng ta không biết được ngày nào Chúa chúng ta sẽ trở lại, chúng ta phải luôn luôn hăng hái làm điều đẹp lòng Ngài. Rõ ràng là ý niệm về việc bị “bắt được quả tang” như một cậu bé xấu bị bà mẹ trở về bắt được đang ăn vụng, chỉ là một phần nằm trong chân lý này. Người tín đồ phải nhớ rằng Đức Chúa Trời thấy hết mọi điều mình làm; đây không phải là vấn đề bị một ông chủ từ trước đến giờ không biết gì hết bắt gặp quả tang. Cả hai khúc sách liên hệ đến việc làm trong Ê-phê-sô và Cô-lô-se đều nhấn mạnh điểm là tất cả chúng ta đều biết rằng Chủ Toàn Tri chúng ta ở trên trời là Đấng chẳng bao giờ bị chúng ta lừa dối. Chúng ta có thể làm việc khi người cai nhìn vào chúng ta và nghỉ tay khi ông ta đi chỗ khác; nhưng Đức Chúa Trời không chịu để chúng ta khinh dể Ngài như vậy.
Tai hại của kẻ lười biếng
Điểm dị biệt quan trọng giữa một người chậm chạp và một kẻ lười biếng có thể được nhận thấy ngay khi loại người thứ hai làm một việc gì. Trong sách Châm Ngôn, chính người vợ ở trong nhà là gương mẫu của sự chăm chỉ. “Người vợ đảm đang” của đoạn 31 chính là người trọn đời làm cho chồng được ích lợi. Nàng “thức dậy khi trời còn tối”, và “ban đêm, đèn nàng chẳng tắt”. Nàng “không hề ăn bánh của sự biếng nhác”, và chúng ta đã thấy nàng siêng năng, chú ý đến việc nâng cao địa vị cho chồng (câu 23) như thế nào, chú ý đến phước hạnh của kẻ nghèo khó và thiếu thốn (câu 20), đến sức khoẻ và thịnh vượng chung cho cả nhà, cho con cái, và tất cả đều chổi dậy, chúc phước cho nàng. Bí quyết của nàng ấy là “Kính sợ Đức Giê-hô-va” (câu 30) và nàng đã thật sự tận dụng thì giờ mình có. Chúng ta không thấy có một đoạn sách nào tương ứng đề cập đến người chồng lý tưởng!
Tuy nhiên, ngay trong các Châm Ngôn đầu tiên, chúng ta đã thấy nhiều đoạn mô tả rõ rệt về nhược điểm của kẻ lười biếng, mà ngược lại họ thường được mô tả là người thuộc phái nam. Chúng tôi xin ghi ra đây những đặc điểm của con người đó:
1. Người ấy không hề đặt kế hoạch trước . Anh ta “không cày vào mùa thu; trông đợi mùa gặt, nhưng chẳng được gì hết” (ChCn 20:4 theo bản Anh văn). Loài kiến ra sức làm việc trong mùa hè (6:6 và tt) dự trữ thức ăn cho những ngày khó khăn sắp đến, trong khi kẻ biếng nhác cứ nằm ngủ cả ngày. Anh ta quá buồn ngủ đến nỗi không hề chịu bắt tay vào việc mà chính anh ta biết là mình phải làm. Anh ta không biết lo xa, không có sự khôn ngoan thông thường để biết chuẩn bị cho tương lai. Đây là người đầy tớ không hề biết chuẩn bị gì hết. Ngày nay, chúng ta thường gặp loại người ấy trong những câu nói như: “Tôi không ngờ là thời gian qua nhanh thế”, và “Tôi không biết tại sao lúc này thì giờ lại qua mau như vậy!”
2. Người ấy không hề chịu làm việc . “Lòng kẻ biếng nhác mong ước mà chẳng có gì hết; còn lòng người siêng năng sẽ được no nê” (13:4). Người làm biếng nhìn nhận rằng mình có những nhu cầu. Anh ta biết rằng muốn cho linh hồn mình được ích lợi, mình cần đọc Kinh Thánh, cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban phước cho. Nhưng dầu muốn làm, nhưng vì biếng nhác, anh ta chẳng bao giờ làm được. Người chăm chỉ là người biết lo lắng hơn, biết hành động ngay, do đó, sẽ được dư dật.
3. Người ấy chú ý đến các vấn đề nhiều hơn là giải quyết chúng . “Đường kẻ biếng nhác như một hàng rào gai; còn nẻo người ngay thẳng được ban bằng” (15:19). Con người khốn khổ ấy cứ bị những khó khăn ám ảnh, đến nỗi chỉ ngồi đó mà rầu rĩ, cũng như bạn bè của anh ta (26:13) không chịu bước ra khỏi cửa vì sợ có con sư tử ở ngoài đường. Những người như thế tự làm khó cho chính họ. Họ lý luận để bênh vực sự ù lì bất động của mình. Người tín đồ Đấng Christ sẽ gặp khó khăn, nhưng luôn luôn lo giải quyết chúng; lẽ dĩ nhiên, đó là điểm chính yếu của sự trưởng thành và già dặn. Con người rất thích khi giải quyết các vấn đề. Nhưng kẻ biếng nhác, ở đây được đặt tương phản với người ngay thẳng (như thế là câu này cũng nhìn nhận rằng lười biếng là tội), đã tự tạo ra cho mình nhiều vấn đề. Vì thiếu ngay thẳng, liêm chính, nên người ấy trở thành con người biếng nhác.
4. Người ấy làm trở ngại cho kẻ khác và gây ảnh hưởng tổn hại . “Kẻ thả trôi trong công việc mình, cũng là anh em của kẻ phá hoại (18:9). Chúng ta biết rằng ngày nay có lối làm việc không có giá trị trong các xưởng chế tạo ô-tô, máy bay, xây cất hay những việc làm tương tự. Lối làm việc này thường gây ra nhiều tai nạn khủng khiếp. Điều này cũng đúng cho một số các công tác và vấn đề lãnh đạo trong giáo hội. Buông trôi trách nhiệm của mình có thể gây đổ vỡ cho mối tương giao. Giáo hội có thể bị tan rã do sự buông trôi trách nhiệm hay lười biếng cũng như phải chống lại những cuộc tấn công của Sa-tan.
Ở đây, các cấp lãnh đạo của Ban Thanh Niên phải thực sự chịu trách nhiệm. Phải chăng các bạn chỉ cần giữ cho chiếc bánh xe chạy đều bằng một chương trình đúng y đường lối cũ, thí dụ như phải có người giảng tuần sau, tôi sẽ xin ông ta giảng đề mục gì, và càng ít phải làm việc càng hay? Hay các bạn thực sự phân tích những nhược điểm hiện có và thiết lập một chương trình để giải quyết các nhu cầu thực sự của tình hình hiện tại. Có một số các cấp lãnh đạo chỉ biết hưởng thụ ưu thế của mình, điềm nhiên ăn trên ngồi trước - địa vị mà những người đi trước đã phải khổ công làm việc để tạo ra - thay vì vạch ra một con đường trống, nỗ lực góp thêm phần hoạt động tích cực của mình để đạt đến những mục tiêu đặc biệt. Phần lớn các công tác lãnh đạo đã vướng vào phần tổ chức suông, thậm chí chỉ với một tổ chức rất nhỏ cũng vậy mà thôi.
Kẻ lười biếng là người không quản trị thì giờ của mình để làm rạng danh Đức Chúa Trời. Rất có thể là người ấy chẳng bao giờ nghĩ rằng thời gian là một phương tiện quí báu có thể dùng vào việc ấy. Vậy chúng ta hãy chổi dậy và làm việc trong lúc còn có thì giờ, trước khi bóng tối của mùa đông kéo đến.
Một thì giờ dành cho…
Từ sách Châm Ngôn, lẽ tự nhiên chúng ta cũng bước qua sách Truyền Đạo với những lời dạy dỗ về sự khôn ngoan thông thường của trần gian, những lời khuyên nhủ người trẻ tuổi hãy phục vụ Đức Chúa Trời đang khi mình còn có thể làm được (TrGv 12:1) và những lời mô tả đầy thi vị, đẹp đẽ, nhưng cũng bi thảm về tuổi già (tạ ơn Đức Chúa Trời là chúng ta khỏi phải sống đời đời trong thân thể già nua này, nhưng có thể trông mong được một thân thể mới sau khi đã từng trải sự cần thiết sinh lý của cái chết), cũng như sự bi quan phải chịu nếu chúng ta không được mặc khải về cuộc đời hầu đến. Nhưng chúng ta cũng ghi nhận lời nhắc nhở của nhà Truyền Đạo là có một thì giờ, một kỳ cho mọi sự (3:1 và tt) như một câu trong Cựu Ước có thể dịch là hãy lợi dụng thì giờ, hãy lợi dụng những cơ hội “bán đại hạ giá”, hãy sử dụng thì giờ thế nào cho thích hợp để tôn vinh Đức Chúa Trời. Có những thời kỳ thích hợp cho người trẻ và chỉ thích hợp cho họ mà thôi, cũng như có những cơ hội chỉ cho người già (nhất là bên đông phương) mà giới trẻ và thiếu từng trải không thể nào lợi dụng được. Người trẻ không nên phí thì giờ chờ đợi mình già dặn hơn, cũng như người già đừng than tiếc những ngày tươi đẹp hồi còn trẻ và muốn mình được trẻ mãi. Thiết tưởng ở vào cả hai địa vị, chúng ta phải theo một thứ chủ nghĩa hiện sinh Cơ Đốc giáo, nghĩa là phải biết cái gì thích hợp cho hiện tại. Biết bao nhiêu người trong chúng ta đã phung phí năm tháng, thì giờ vào những cơ hội không thích hợp? Thí dụ như có bao nhiêu người vẫn chơi trò nô đùa với ái tình trong khi còn nhiều năm nữa, họ mới có thể lập gia đình? Biết bao nhiêu người cứ cay đắng, mong một chức vị lãnh đạo, trong khi vào tuổi họ thì bước theo sự hướng dẫn của người khác là hợp lý hơn, cho đến khi được từng trải hơn?
Những năm ở đại học với tư cách sinh viên rõ ràng là “kỳ học tập” chớ không phải là thì giờ để dùng trước nhất vào việc nghỉ ngơi hay những việc vô ích. Giữa sự giải trí vừa phải, quân bình với sự buông mình thờ các thần tượng thể thao như cắm trại, bơi thuyền có rất nhiều dị biệt, cũng y như có chỗ khác nhau giữa việc trực tiếp mở rộng kiến thức với những giờ tiêu phí một cách vô ích, hời hợt bên những tách cà phê đắt tiền nối tiếp nhau không dứt.
Thì giờ và việc nghiên cứu các động tác
Chúng ta đều quen biết với hiệu quả của ngành hướng dẫn chuyên môn, nhằm khám phá ra một sự cố gắng tối thiểu để thu hoạch được những kết quả tốt nhất, tạo ra những con người thời đại với năng suất tối đa. Tất cả những cử động không cần thiết đều bị loại bỏ; những dụng cụ chính yếu phải nằm tại chỗ thuận tiện nhất, những vật liệu chế biến để ở phía bên kia, và vân vân. Cách hướng dẫn để tận dụng thì giờ như thế thật là hay - cũng như có khả năng phá huỷ tâm hồn con người! Không một phút nào bị bỏ phí giữa lúc này với lúc chúng ta đọc Kinh Thánh, với hai mươi hai phút rưỡi chúng ta dùng đọc một quyển sách tiểu sử sau bữa ăn trưa và v.v… Chúng ta tìm những giờ phút bỏ phí, giống như mù-tạt còn lại trên đĩa, và xác định một phương pháp để dùng nó cho có ích lợi. Loại hướng dẫn đó có một giá trị, nhất là cho những kẻ có tính hờ hững thất thường. Nhưng nó cũng có giới hạn. Con người được sinh ra để sống như con người chớ không phải để làm một bộ máy. Chúng ta đồng ý là những người bận rộn có rất ít thì giờ rỗi rảnh, nhưng chúng ta cũng không thích bị đẩy vào một cuộc chen lấn nhau để hiệp với sự sắp đặt chút nào. Sự sắp đặt quá nhiều có thể trở thành một hình tượng nếu chúng ta giận dữ khi có một việc gì đó xảy ra cùng lúc và làm gián đoạn kế hoạch của mình. Chúng ta rất thích gặp những người không hấp tấp vội vàng là kẻ mặc dầu làm rất nhiều công việc nhưng vẫn dành đủ thì giờ để trò chuyện với chúng ta. Có một số người sắp xếp được thời khoá biểu vì tính tình họ thích hợp với việc đó; và lẽ dĩ nhiên, làm được như thế thì tốt hơn là lúc nào cũng bị thúc hối, vội vàng hay sống vô tổ chức, vô trật tự. Đồng thời được thanh thản, thoải mái, vẫn tốt hơn là bị xô đẩy thúc hối luôn.
Phần đông chúng ta đều có thể tổ chức công việc cho có thứ tự hơn, nhưng điều có lẽ còn quan trọng hơn việc tổ chức đó, điều còn cần thiết hơn là lập ra một thứ tự ưu tiên cho mọi sự. Thí dụ như chúng ta phải quyết định nên đọc những tạp chí, nhật báo nào thực sự đáng đọc, và những báo chí nào là không đáng đọc. Chúng ta có thể lãng phí thì giờ vào những giờ đọc báo nhảm nhí, xem vô tuyến truyền hình vô ích, và v.v… Khi nghỉ ngơi thì nghỉ ngơi. Nhưng dường như có một lô những điều đáng sợ mà không nằm về phía nào cả. Chúng ta rất dễ gặp cái tình trạng là ít khi đọc một quyển sách rất hay, và ta có thể suy đoán rằng kẻ phạm lỗi nặng nhất cũng không thèm đọc một tờ lá cải ba xu như sách này!
Giá trị của đời sống
Ngày kia, vì muốn tiết kiệm, hầu như tôi đã phải đi vòng hơi xa thay vì trả tiền một cuốc tắc-xi. Một bạn giáo sĩ thuộc một hội truyền giáo rất nổi tiếng về sự hi sinh có một mức sống rất thấp, đã hỏi tôi rằng có phải thật tình thì giờ của tôi chỉ có giá trị quá ít như vậy không. Ông ta nói: “Hãy tính xem mỗi giờ của một ngày làm việc đáng giá bao nhiêu? Và sau khi làm như thế, tôi nhận ra rằng đúng như lời ông ta nói, đi bộ như vậy là phung phí thì giờ, bởi vì ta có thể đi nhanh hơn; cho nên rốt cuộc, việc tôi đã làm không phải là tiết kiệm tiền bạc mà là phung phí nó! Theo một mức độ thấp nhất, thì giờ của chúng ta có giá trị bằng nguồn lợi nó có thể cung cấp cho chúng ta; còn theo một trình độ cao nhất, giá trị của nó là bất cứ điều gì chúng ta để cho Đức Thánh Linh dùng chúng ta làm. Người tín đồ Đấng Christ không phải nên có óc con buôn, nhưng thì giờ của người ấy rất quí báu bởi vì nó là một tặng phẩm của Đức Chúa Trời. Ngày giờ, năm tháng của tôi là do Ngài ban cho.
Thì giờ có thể là một đồ dùng có giá trị. Lấy thí dụ thông thường về việc họp mặt của một uỷ ban, một hội đồng. Có một câu nói đùa rất xưa, bảo rằng người ta hay tiết kiệm từng phút nhưng lại phung phí hàng giờ, và thật ra, họp hội đồng làm mất rất nhiều thì giờ, và do đó cũng là mất nhiều tiền bạc. Sự tốn kém của nó là tổng số giá trị việc làm của tất cả những người tham dự, cộng thêm lộ phí của những hội viên. Thường thường, tất cả những điều vừa kể, xuất hiện dưới hình thức bị giấu kín là tiền trợ cấp, bởi vì mỗi người trả tiền xe cho riêng mình và dùng chính thì giờ của mình. Nhưng điều đó có nghĩa là việc tới trễ cũng làm hao tốn rất nhiều thì giờ, vì khi đó người đến trước phải lặp lại những điểm không cần thiết hay những điều đã được trình bày cho người mới đến. Trò chơi đó rất tốn tiền và hao phí thì giờ. Khi hội nghị ấy trở thành một hội nghị quốc tế, và các hội viên đến dự phải đi đường từ những nơi rất xa, thì mỗi năm phút là một số tiền kếch sù vứt đi, và khốn thay cho người nào không đi sát đề hay đưa vào những vấn đề hoàn toàn không cần thiết có thể bàn cãi vào những dịp khác. Các hội nghị của học sinh, sinh viên thường gặp cái cảnh chủ toạ lừng khừng vì thiếu kinh nghiệm, mà hội viên thì nông nổi, trẻ con, chỉ bàn bạc trong những chiếc vòng lẩn quẩn và kết thúc mà không biểu quyết gì cả. Nói tào lao hàng giờ về những điều bất hợp thời cho đến khuya làm cho các hội viên được nghỉ ngơi, giải trí, nhưng đó không phải là vấn đề cần thiết cho một cuộc hội nghị!
Nếu thì giờ có giá trị như vậy thì chúng ta cần thận trọng, xét nét trong những giờ làm việc để trả đúng cho chủ giá trị của thì giờ. Chúng ta phải đặc biệt chú ý đến việc mình đang làm nếu muốn cho thì giờ của mình hoàn toàn có giá trị. Chúng ta không bao giờ nghĩ đến việc ăn cắp tiền của chủ, dầu vậy, nếu chỉ làm việc lấy lệ dầu chỉ trong một ngày thôi, chúng ta đã phạm vào lỗi đó, bởi vì chúng ta đã được trả tiền mà không làm điều mình phải làm!
Phần đông học sinh, sinh viên ngày nay đều do dân chúng đài thọ. Một người đi nộp thuế trở về sau một ngày mệt nhọc, khổ sở, lại bị bắt buộc nghe những lời cãi cọ sôi bọt mồm của một số các sinh viên từ một đại học nọ trở về nhà trên chiếc xe buýt của thành phố, rất có lý do để liếc mắt nhìn một cách hằn học bọn sinh viên có vẻ ăn không ngồi rồi, chỉ bàn bạc về các trò chơi và trò thể thao, còn những hoạt động xã hội thì lại bắt chính ông ta phải trả! Trong cách sử dụng thì giờ của sinh viên, rõ ràng là chúng ta phải thấy rõ phần bó buộc đạo đức đối với xã hội.
Những phương pháp cấp tốc
Ngày nay, các phương pháp cấp tốc, dễ dàng rất thịnh hành. Thời kỳ của các phương pháp nghỉ ngơi do bà Beeton khởi xướng đã mở đường cho lối “đánh kem cấp tốc” và “thử bánh ngọt hỗn hợp”. Lối bán trả góp khiến một số người có thể mua sắm và sử dụng nhiều đồ đạc trước khi trả xong số tiền phải trả. Tất cả cố gắng đều nhằm vào việc “tiết kiệm thì giờ”, và những bài quảng cáo máy giặt đều hăng say vạch rõ rằng chiếc máy đặc biệt của chúng sẽ giúp các bà nội trợ được nghỉ ngơi sớm khi các bà không có nó trong những ngày phải giặt giũ. Phải chăng vì muốn làm người quản trị giỏi thì giờ của mình, chúng ta phải đâm đầu vào những phương pháp chỉ dẫn “cấp tốc” kia? Thiết tưởng không cần gì phải mất thì giờ nhiều hơn cho những công việc nội trợ, nhưng chúng ta nên biết là không có lối tắt nào để đi đến thành công trong các lãnh vực như giáo dục, bè bạn, hôn nhân, bà con hay trong vấn đề tối quan trọng là sự nên thánh.
Dầu chúng ta vẫn thích loại sách rút ngắn, một bài báo tóm tắt, cả đến lối biến các tác phẩm của Shakespeare thành những loạt sách dưới hình thức bài đăng báo trường kỳ, một nền giáo dục đích thực đòi hỏi phải có thì giờ. Dường như ngày nay, số học giả hiện có ít hơn là số đã có lúc trước. John Stuart Mill là một thiên tài, nhưng chúng ta phải choáng váng khi thấy ông đã được dạy dỗ như thế nào năm mười ba tuổi. Có lần Adolf Harnack đã triệu tập một lớp học nghiên cứu các Giáo Mục Thư mà điều kiện tham dự là phải thuộc lòng các thư tín ấy trong Hi văn, Đức văn và Anh văn, và phải sẵn sàng để bàn cãi bằng Đức ngữ, Pháp ngữ hoặc Anh ngữ. Chắc một số người trong chúng ta đã từng thử đọc một vài quyển chú giải Kinh Thánh sẽ làm cho mình điên đầu vì những lời chú thích hay nhất đều được trích nguyên văn, dầu là Hi văn, La văn, Pháp văn hay Đức văn, khiến cho đa số những con người hiện đại phải chịu thua xa. Một nền giáo dục đích thực đòi hỏi nhiều thì giờ, và tai hại thay, ngày nay chúng ta đã bị giới hạn trong lãnh vực chuyên môn đến nỗi chúng ta tỏ ra rất dốt nát trong các lãnh vực tri thức khác. Cả đến những xứ có một lý thuyết giáo dục tổng quát hơn, dường như sự ngu dốt rất đặc, có điều là tổng quát hơn mà thôi!
Lẽ dĩ nhiên là người tín đồ Đấng Christ không bị đòi hỏi phải trở thành một bộ Bách Khoa Tự Điển lưu động, nhưng rất cần có một tri thức tổng quát về sử ký, triết học, kinh tế, văn chương v.v.. để sử dụng trong phạm vi lý luận Cơ Đốc giáo, hoàn toàn ở ngoài các giá trị nội tại của chúng. Điều đó không có nghĩa là chúng ta phải gia nhập tất cả các nhóm học giả tài tử, càng không phải là làm thế để viện cớ hầu tránh những nhiệm vụ đối với đời, mà nhất là để không làm gì cả trong phạm vi phục vụ Đấng Christ. Vì chúng ta là những người có Chúa và có một mục đích ở đời, nên có thể là phải bỏ bớt những điều tự chúng vốn hoàn toàn tốt, chỉ vì chúng ta không có thì giờ.
Mối liên hệ giữa người với người
Không một ai có thể tổ chức những cuộc giao thiệp của mình với người khác một cách máy móc được. Charles Hummel thuật lại thể nào sau nhiều giờ, nhiều tháng học hành và làm việc chung với nhau, một bạn đồng học người Trung Hoa, một chiều kia mới nghiêm nghị bảo với ông ta rằng: “Charlie này, tôi xem anh là một người bạn”. Chữ “bạn” rất thường bị coi khinh, nhưng đối với người sinh viên Trung Hoa này, nó được dành riêng cho người nào đó mà anh ta biết rõ, yêu mến và tin cậy. Trong những ngày bận rộn hiện nay, tình bạn đã trở thành một chữ bị mất giá, ám chỉ những cuộc gặp gỡ tình cờ xảy ra khi vài người bắt buộc phải ở chung trong một thời gian. Cứ vào cuối năm, người Nhật đều gởi thiệp cám ơn những kẻ đã đối xử tử tế với họ trong mấy năm trước. Họ chẳng bao giờ quên một hành vi đẹp đẽ nào và rất chu đáo trong cách tỏ lòng biết ơn. Tình bạn là một lãnh vực mà các tín đồ Cơ Đốc giáo phải tỏ ra xuất sắc nhất, nhưng chúng ta lại thường nông cạn, thiếu hiểu biết và tình thương, nên vì lý do đó, chúng ta đã không thể đưa những người khác đến với Chúa Giê-xu. Lắm lúc những người không tin Chúa còn tỏ ra xuất sắc hơn chúng ta về phương diện đó. Carmus có mô tả một cuộc bơi đêm rất đẹp nhân dịp Rieux - vị bác sĩ được sống sót - và Tarrou bạn của ông ta - người về sau đã chết trong nạn dịch hạch tàn phá thành phố - tạm nghỉ ngơi trong thời gian chiến đấu với bệnh dịch. “Quay sang Tarrou, ông ta liếc nhìn gương mặt bạn với cùng một niềm vui không quên một điều gì cả… cũng không nói một lời nào, nhưng cả hai đều ý thức rằng mình hoàn toàn đồng ý là cả hai người đều sẽ ghi nhớ mãi mãi đêm nay”.
Lắm lúc, chúng ta đã không muốn nói cho kẻ khác hiểu mình có thể là vì chúng ta chỉ chú ý đến người khác với tư cách một linh hồn thay vì với tư cách một con người. Tình bạn chân thành có khi phải trả giá rất đắt, cho đến khi nào giữa hai người có sự thông cảm lẫn nhau; giá ấy lắm lúc dường như càng đắt hơn nếu chỉ có một người phải trả. Thí dụ như chúng ta có thể bỏ qua thái độ dễ xúc cảm của một sinh viên ngoại quốc, luôn luôn trốn tránh sự ân cần lo lắng hay hỏi tò mò về những điều mới lạ, tuy vẫn muốn một người bạn chân thành. Thường thường, dầu vẫn tự xưng là tín đồ Đấng Christ, chúng ta hãy còn vị kỷ và trước hết, chỉ tìm lợi ích cho chính mình trong mọi giao thiệp, mà không thực sự nhìn thấy các phản ứng tế nhị của kẻ khác. Đức Chúa Trời dạy chúng ta phải là người thật lòng chú ý và lo lắng cho kẻ khác, có tính tình nồng hậu giống như Đấng Christ, có cái nhìn gây được cảm tình ngay để thiết lập những đầu cầu liên lạc với người khác. Đức Chúa Trời cho phép chúng ta liên lạc với kẻ khác để đem phước hạnh đến cho họ và làm sáng danh Ngài.
Cùng một nhu cầu để thì giờ tìm hiểu lẫn nhau cũng rõ ràng là rất cần thiết cho việc kết hôn. Tán tỉnh nhau thường xuyên mà mắt vẫn nhìn đồng hồ là một thái độ quái gở biết bao! Nhưng thường thường thì sau tuần trăng mật, người vợ cảm thấy mình bị loại ra ngoài những thì giờ của chồng. Có thể là vẫn còn có lúc để trò chuyện với nhau, nhưng không bao giờ đủ để thông cảm nhau về thực chất các vấn đề và theo như lòng mong ước. Đối với con cái cũng vậy, vì dường như cuộc sống ngày nay thường đòi hỏi người cha phải đi sớm về tối, khiến mấy ngày liên tiếp người ấy không thể ngó ngàng gì đến các con nhỏ của mình. Thêm một vấn đề nữa cho các tín đồ, ấy là trong lúc “người thế gian” có thể lấy ô-tô chở con cái họ đi chơi ngày Chúa nhật, thì người tín đồ sốt sắng của Đấng Christ phải bận rộn trong những cuộc nhóm lại, trong Trường Chúa Nhật, khiến con cái họ cảm thấy bị cha chúng bỏ bê. Điểm này có thể xảy ra ngược lại khi con cái đã khôn lớn và bỏ bê cha mẹ mình. “Mua một chục đủ đầu thì rẻ hơn” là một chuyện khôi hài về một chuyên viên khôn ngoan phải làm thế nào để điều hoà cuộc sống gia đình rất đông đảo của mình bằng cùng những nguyên tắc tương tự, và mặc dầu bao nhiêu tổ chức rắc rối, vẻ đẹp đẽ của mối tương giao trong nhà vẫn được giữ vẹn. Mối liên hệ gia đình cũng không hề được điều hoà một cách máy móc theo đồng hồ, mà đòi hỏi chúng ta phải sử dụng thì giờ một cách vui vẻ và rời rộng.
Đề cập vấn đề quản trị thì giờ mà bỏ qua những lãnh vực quan trọng kể trên của đời sống và số thì giờ chúng ta miễn cưỡng phải dành cho những người đòi hỏi nơi chúng ta nhiều nhất, thiết tưởng cũng là một tai hại. Làm sao Đức Chúa Giê-xu lại có thì giờ để bồng ẵm trẻ con trong “nhà” tại Ca-bê-na-um (Mac Mc 9:33-37)? Nếu như “nhà” đó là của Phi-e-rơ (xem 1:21, 29) thì truyện tích ấy gợi ý rằng Chúa đã dành thì giờ để nô đùa với các con của Phi-e-rơ và để lấy lòng chúng (9:42).
Sự thông công thuộc linh
Tất cả chúng ta đều phải đối diện với sự thúc bách rõ rệt và ngày càng gia tăng của trách nhiệm. Dầu trong thời gian học hành, người sinh viên có cảm giác là mình bận rộn đến thế nào đi nữa, thì khi đã tốt nghiệp, người ấy sẽ lập tức thấy rằng mình càng bị thúc bách hơn, càng ít thì giờ để làm việc hơn. Lúc ấy, chúng ta sẽ khó duy trì những giờ “tĩnh nguyện” đều đặn và không bị thúc hối để thông công với Chúa, đọc Kinh Thánh nghe lời Ngài và lời đáp lại của Ngài cho lòng mình hơn. Rồi chúng ta cũng không thể chối cãi rằng việc đi tìm người bạn đời và lập gia đình sẽ đòi hỏi nhiều thì giờ quan trọng của chúng ta, và hơn bao giờ hết, thì giờ sẽ rất khó đầy đủ, thuận tiện cho chúng ta. Khi Chúa ban phước cho chúng ta bằng cách cho chúng ta sanh con cái, thì dường như chúng thường đòi hỏi chúng ta phải gấp rút chăm sóc chúng vào những giờ thật sớm buổi sáng, và nếu chúng không đòi hỏi gì cả, thì cũng thường phá tan sự yên lặng bằng cách thích làm ồn trước giờ ăn điểm tâm. Cho nên càng lớn tuổi thì dường như cuộc chiến đấu để tìm “thì giờ yên tịnh” và để có thì giờ - không nói là yên tịnh nữa - càng trở thành khó khăn hơn chớ không phải là dễ dàng hơn. Cho nên vấn đề “dành riêng thì giờ cho Chúa” sẽ trở thành tối quan trọng. Không một tình bạn nào có thể nảy nở và lớn lên bằng những cái gật đầu gấp rút để “chào anh” mỗi buổi sáng và buổi chiều, với một tấm thiệp chúc mừng Nô-ên mỗi năm. Cả đến người tín đồ bận rộn hầu việc Chúa cũng có thể trở thành lạnh nhạt, xa lạ với Ngài, và cần được đổi mới trong sự hiện diện Ngài luôn. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải quản trị và thu xếp thì giờ.
Một người bạn độc thân của tôi vốn tránh được một số những phiền phức kể trên, thường tuyên bố rằng nếu một thanh niên không học kỹ Kinh Thánh và nắm vững được giáo lý căn bản vào năm hai mươi lăm tuổi, thì chẳng bao giờ làm việc này được! Lẽ dĩ nhiên là chúng ta tập được thói quen học Kinh Thánh “càng sớm càng tốt”, trong khi trí nhớ của chúng ta còn mềm dẽo và giữ những điều đã học được lâu. Tuy nhiên, sự hiểu biết cũng như sự tăng trưởng đều chẳng bao giờ có đường ngắn dẫn đến. Đọc một quyển sách như “Mười bước tiến tới mức trưởng thành của đời sống tín đồ” hay “Sự nên thánh được giản dị hoá” có thể giúp chúng ta nhiều ý kiến về chúng ta phải làm thế nào, phải cầu nguyện thế nào, tuy nhiên, bước đi theo các bước ấy vẫn đòi hỏi chúng ta cả một cuộc đời không hơn không kém.
Cách sử dụng ngày Chúa nhật
George Herbert là một nhà đạo đức, đã viết:
“Những Chúa Nhật của đời người,
Đan vào thời gian,
Thành những chiếc vòng trang điểm cho hoàng hậu
Của vì Vua vinh hiển đời đời.”
Có lẽ không có gì đặc sắc hơn đối với người tín đồ Đấng Christ cho bằng việc giữ Chúa Nhật, dành riêng ngày thứ nhất trong tuần lễ để đặc biệt kỷ niệm ân điển Đức Chúa Trời và nhóm lại với các tín đồ khác để chung vui trong ngày. Dầu chúng ta vẫn nhìn nhận rằng mỗi ngày đều là thánh cho Chúa, chúng ta vẫn cần có một ngày dành riêng để đặc biệt thờ phượng Ngài. Đó là ngày chúng ta có thể dùng để bày tỏ những ưu quyền dành riêng cả đối với chúng ta lẫn với kẻ khác. Khi người tín đồ vui vẻ kỷ niệm ngày Phục Sinh đầu tiên, thì đó là ngày lễ trong mỗi tuần và đối với số đông đó là ngày kỷ niệm hằng tuần cho việc họ gặp Chúa lần đầu tiên và trở lại với Ngài. Người tín đồ Đấng Christ không hề bị một luật lệ nào về ngày Sa-bát bó buộc mình vì chính Chúa đã truyền lệnh rằng ngày ấy không phải được giữ gìn vì chính nó, nhưng vì lợi ích của nhân loại. Đồng thời, Ngài cũng là Chúa của ngày Sa-bát, và đó là ngày chúng ta có thể tôn cao Ngài. Điều đó không có nghĩa là trong ngày ấy, chúng ta phải bù đầu vào những buổi họp này tiếp theo buổi họp khác từ hừng đông cho đến chạng vạng đến nỗi ngày thứ hai chúng ta phải nghỉ bù cho Chúa Nhật. Vì Chúa Nhật thường là ngày duy nhất trong tuần, cả gia đình có thể gặp nhau tại nhà, nên nó là một cơ hội tốt để chúng ta biến mỗi Chúa Nhật thành một ngày đặc biệt đáng ghi nhớ. Dường như chúng ta cũng cần phải quản trị đúng đắn những Chúa Nhật của chúng ta và biến nó thành một ngày đặc biệt theo cách thức của Cơ Đốc giáo.
Vấn đề sử dụng thì giờ không cân xứng
Bản Kinh Thánh Nhật ngữ mới đã dịch lời cầu xin thứ hai của Phao-lô cho các tín dồ Phi-líp trong Phi Pl 1:10 như sau “để anh em phân biệt được điều nào là quan trọng”. Lẽ tự nhiên đó là mục đích tối cao của cách thức chúng ta sử dụng thì giờ. Quyết dịnh hành động nào là đúng, hành động nào rõ ràng là sai, hay có chút nghi ngờ là sai, thì không phải là khó khăn lắm. Chỗ khó khăn là chúng ta không có thì giờ để làm tất cả những gì chúng ta muốn làm, và như thế, chúng ta phải chọn một trong hai việc đều quan trọng, tốt lành như nhau. Chúng ta phải chọn, và trong khi chọn lựa đó, chúng ta càng trưởng thành trong Đấng Christ.
Như chúng ta đã thấy, người tín đồ Đấng Christ phải dành ưu tiên cho một số vấn đề. Cũng như mọi người, chúng ta có những liên hệ gia đình, trách nhiệm nghề nghiệp, những công việc phải làm và những nhiệm vụ phải giữ. Chúng ta không nên xem tất cả những vấn đề đó như chỉ có tầm quan trọng thứ yếu: Chính vì chúng ta là tín đồ Đấng Christ cho nên lẽ đương nhiên chúng ta phải chịu trách nhiệm về mọi thái độ của mình đối với cuộc sống, chúng ta biết phải tỏ ra xuất sắc trong tất cả những cái vô vị nhất của đời sống là quan trọng như thế nào. Nhưng quyết định thế nào để quân bình hoá mọi đòi hỏi khác nhau đối với số thì giờ có giới hạn của chúng ta, khiến nó trở thành một toàn thể hoà hợp, một thánh vịnh sống động, có thứ lớp, một bài ca tụng vinh quang của Đức Chúa Trời chúng ta, thì không phải là việc dễ dàng.
Dùng thì giờ một cách không xứng đáng, như phí cả một buổi sáng để viết một câu không cần hơn năm phút, hay dành mấy giờ để gọt dũa một bài luận không phải vì điều đó sẽ thực sự gây thêm ấn tượng cho giá trị nội tại hay thêm phần giá trị cho nội dung tư tưởng của nó, mà chỉ vì muốn khoe khoang, là một việc quá dễ làm. Chúng ta có thể đã dành quá nhiều thì giờ cho một số công việc, và quá ít cho một số khác. Có lẽ chúng ta đã dành quá nhiều thì giờ cho những chi tiết tổ chức một vài cuộc họp mặt giữa anh em tín đồ hay phần quảng cáo cho những buổi họp đó, nhưng lại để quá ít thì giờ cho việc giúp đỡ những người đến dự. Con người quan trọng hơn công việc, và sự thông cảm nhau quan trọng hơn phần trang hoàng. Chúng ta phải cầu nguyện cho chính chúng ta và cho người khác. Chúng ta phải “phân biệt điều nào là quan trọng”, như Phao-lô đã làm. Điểm khác biệt giữa một người vô trật tự, mệt sắp đứt hơi với một người trầm tĩnh, dẻo dai, thường thường chính là vì loại người thứ hai biết quyết định việc nào là quan trọng và không phung phí thì giờ, không quá lo lắng hay hăng hái lao mình vào những việc không chính yếu.
Những gương mẫu
Ngoài việc làm trọn chức vụ giảng đạo và thăm viếng từng nhà (Cong Cv 20:20), sứ đồ Phao-lô còn làm việc để tự túc và giúp đỡ người khác, cho nên ông đã có thể nhắc nhở các trưởng lão tại Ê-phê-sô rằng “hai bàn tay này đã làm ra sự cần dùng của tôi và của đồng bạn tôi” (câu 34). Chúng ta cũng biết rằng chính trong thành phố ấy. Phao-lô đã dùng trường học của Ty-ra-nu làm nơi hội họp mỗi ngày (19:9). Bản Western còn thêm là “từ mười một đến bốn giờ”, nghĩa là giờ ngủ trưa của một số đông người. Sau một buổi sáng bận rộn với nghề may trại, trong lúc Ty-ra-nu làm xong công việc hàng ngày của mình. Phao-lô đã tới đó giảng đạo cho tất cả những người bằng lòng đến nghe.
Chúng ta hãy thử tưởng tượng những việc làm phi thường của Richard Baxter. Dường như ông đã được gọi là một bảo tàng viện lưu động về bệnh tật, và dầu bệnh hoạn triền miên, ông vẫn nổi danh về chức vụ đi từ nhà này sang nhà khác tại Kidderminster để dạy dạo cho từng gia đình một, lại còn cho xuất bản hai mươi ba quyển sách do nhà xuất bản Orme in. Nhưng dó chỉ là một phần trong tổng số công trình của ông, vì theo ký ức của chính ông, thì ông đã viết “độ một trăm hai mươi tám quyển”, và tất cả các tác phẩm của ông đến sáu mươi bộ khổ lớn, tổng cộng ba mươi lăm ngàn trang đầy chữ in! Chính con người đó đã viết: “Trong bốn mươi năm nay tôi đã ý thức về cái tội làm mất thì giờ, tôi không thể nào phung phí một giờ”. Một trong những đòi hỏi đầu tiên về thì giờ của ông là việc sưu tầm nghiên cứu, và ông đã theo đuổi mục đích ấy với một tinh thần vô tư hiếu học mà tuổi tác chồng chất chẳng bao giờ làm suy giảm. “Cả con người luôn với thì giờ đều quá nhỏ bé so với công tác vĩ đại đó”. Ta có thể tưởng tượng con người ấy đã làm việc ra sao theo mấy lời sau đây: “Còn về tất cả các tác phẩm của tôi, tôi phải thú nhận rằng theo sự phê phán riêng của tôi thì nếu một vài quyển được nghiên cứu kỹ càng, và được gọt dũa thêm thì sẽ hay hơn… quyển về Saints Rest tôi đã để trọn bốn tháng nghỉ ngơi để viết nó (nhưng là viết giữa sự mệt mỏi liên tục và thuốc men). Còn về số còn lại, tôi đã viết giữa những lúc các công việc khác đang chồng chất, khiến tôi không có thì giờ nhiều để nghỉ ngơi, gọt dũa cho chính xác hay tô điểm thêm”.
Nhưng để hợp thời hơn một chút, tôi có thể nhớ lại mấy lời của một giáo sư luật khoa đã từng gây ấn tượng mạnh mẽ trên đời sống sinh viên của tôi. Ông ta là một người rất hoạt động trong công tác phục vụ Chúa và vừa được ban thưởng một cấp bằng cao hơn mà ông hằng mong ước. Điều đó đòi hỏi phải đệ trình một số sách và bài báo tổng cộng hàng trăm ngàn chữ, và khi tôi hỏi ông làm sao có thì giờ làm việc ấy, ông trả lời rất đơn giản với một nụ cười rằng: “Tôi làm việc”.
Nhưng đó là những con người ngoại lệ! Tuy nhiên phải chăng vì họ là những con người đặc biệt cho nên họ bận rộn, hay chính vì họ bận rộn cho nên họ trở thành đặc biệt? Và họ há không phải đã bận rộn vì họ là những Cơ Đốc nhân và vì có nhiều việc cần làm để qui vinh cho Đức Chúa Trời sao? Đối với họ, thì giờ là một báu vật phải tận dụng triệt để cho Chúa và cho Nước Ngài.
Chàng thanh niên Hoa Kỳ, người công giáo La Mã là bác sĩ Dooley, phục vụ trong một bệnh viện tại Thượng Lào, với chứng ung thư treo trên đầu, báo trước một cái chết trẻ, đã trích dẫn mấy câu thơ dưới đây của Robert Frost:
“Rừng thì đẹp, tối tăm và sâu thẳm,
Nhưng tôi đã hứa là ở lại
Và đi nhiều dặm trước khi tôi ngủ”
rồi nói thêm: “Tôi tin rằng điều quan trọng không phải là chúng ta sống được bao lâu, nhưng là chúng ta đã làm gì trong những ngày mình đã được định phải sống”
Chúng ta đang làm gì?
Những điểm gợi ý để cầu nguyện và suy gẫm
Thái độ của tôi trong việc sử dụng thì giờ ra sao; tôi có nhằm mục đích phục vụ Chúa không? Tôi có cần tập thói quen kiểm điểm lại cách sử dụng thì giờ của mình bằng sự cầu nguyện mỗi sáng sớm và chiều tối không?
Tôi có nắm lấy mọi cơ hội vì Chúa , hay thật ra chẳng bao giờ nghĩ đến vấn đề ấy ?
Tôi có đang lâm vào cái hiểm hoạ là làm một kẻ “lười biếng” và sử dụng thì giờ một cách bừa bãi?
Phải chăng năm tháng vẫn trôi qua mà tôi không làm được một việc gì ?
Với tư cách một tín đồ, tôi đã sử dụng thì giờ của mình vào những mục đích nào?
Tôi có bỏ bê gia đình , con cái không ?
Tôi có hay la cà, lông bông không?
Tôi có luôn luôn liều lĩnh , đâm đầu vào những việc làm ngông cuồng không ?
Lạy Chúa yêu dấu, xin cho con cả tánh chăm chỉ, cố gắng, lẫn sự thoải mái trong việc sử dụng thì giờ; xin giúp con biết được điều nào là quan trọng, để dùng những ngày Ngài ban cho con làm vinh danh Ngài.
“Trong một ngày , há không phải có mười hai giờ sao ?... Tối đến , thì không ai làm việc được ” (GiGa 11:9; 9:4)
“Chỉ có mười hai giờ ngắn ngủi - xin đừng bao giờ
Để cho ý thức bị thúc bách
Chết đi trong chúng tôi . Lạy Đấng chăn chiên từ ái ,
Xin luôn luôn cho chúng tôi biết tìm kiếm
các núi với Ngài .”
AMY CARMICHAEL

CẦN KIỆM hay RỜI RỘNG?
Xin lấy cả vàng bạc của con ,
Con không giữ lại dầu chỉ một đồng nhỏ .
“Không có gì để thử nghiệm tình yêu của chúng ta đối với Đấng Christ hay đối với kẻ khác một cách thực tiễn hơn là thái độ chúng ta đối với tiền bạc và của cải chúng ta. Cũng không có gì thử nghiệm những lời rêu rao được giải thoát khỏi cái thế giới gian ác này tốt hơn chúng. Thái độ của người chưa tin Chúa đối với tiền bạc thật quá phổ biến nên ai cũng biết rõ. Thế gian hỏi chúng ta có bao nhiêu tiền; Đấng Christ hỏi chúng ta sử dụng nó như thế nào. Thế gian nghĩ nhiều hơn đến việc làm cho ra tiền; Đấng Christ nghĩ nhiều hơn đến cách ban phát nó. Thế gian hỏi chúng ta cho gì; Đấng Christ hỏi chúng ta cho như thế nào. Thế gian nghĩ đến số tiền; Đấng Christ nghĩ đến động cơ thúc đẩy chúng ta ban cho. Người ta hỏi chúng ta cho bao nhiêu; Kinh Thánh hỏi chúng ta giữ lại bao nhiêu. Đối với người chưa tin Chúa, tiền bạc là một phương tiện được thoả mãn; đối với người tín đồ, nó là một phương tiện để an ủi; đối với người thứ nhất, nó là một cơ hội để mua sắm tiện nghi, đối với người thứ hai, nó là một cơ hội để cung hiến”. Mấy lời nói đầu thẳng thắng của Fred Mitchell, nhà hoá học của Bradford và là một cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo trong quyển sách nhỏ rất đầy đủ và đặc sắc của ông nhan đề “Việc quản lý tiền bạc” là một bài nhập đề rất thích hợp cho chương này. Tác giả quyển sách này nhìn nhận rằng mình đã chịu ơn quyển sách nhỏ kể trên và những người mà tấm gương ban tặng rời rộng và đẹp đẽ sẽ được dùng làm thí dụ soi sáng thực tiễn cho cùng những nguyên tắc được kể ra dưới đây.
Tiền bạc của bạn thuộc về ai? Khi ra đời, bạn đã mang theo bao nhiêu tiền, và khi qua đời, bạn sẽ mang đi được bao nhiêu? Giữa khoảng thời gian đó, các sổ sách kế toán phải được quân bình hoá, nhưng tất cả số chi đã được dùng vào việc gì? Chỉ có một điều chắc chắn, ấy là nếu chúng ta gặp gỡ Đấng Chist thì thái độ của chúng ta đối với tiền bạc và của cải bắt buộc phải thay đổi, hay ít ra cũng phải đặt thành vấn đề. Các đoạn từ 16 đến 21 của Phúc Âm Lu-ca hầu như là một bài “Khảo luận về cách sử dụng tiền bạc của người tín đồ Đấng Christ”, phần lớn vì nó chứa đựng những lời dạy dỗ thực tiễn về cách sử dụng tiền bạc bằng những lời giáo huấn trực tiếp, những thí dụ khuyến khích chúng ta suy gẫm và những tấm gương sống động. Chúng ta gặp nhà phú hộ mặc áo tía và vải gai mịn, tiệc tùng linh đình mỗi ngày; và hầu như thản nhiên không bận tâm gì đến gã ăn mày ngồi trước cửa nhà mình. Chúng ta gặp chàng trẻ tuổi giàu có làm quan được truyền dạy phải bán hết gia tài để phân phát cho kẻ nghèo hầu được một cơ nghiệp trên trời, rồi theo Chúa Giê-xu; nhưng chàng ta đã từ chối cuộc thử thách. Rồi chúng ta lại gặp một trong số những con người khốn khổ, một người ăn mày khác, lần này lại mù nữa, ngồi trên con đường xuống thành Giê-ri-cô và Đức Chúa Giê-xu đã chữa lành bằng cách mở mắt cho. Chúng ta lại gặp một người giàu có khác từ trên cây tụt xuống để mời Đức Chúa Giê-xu vào nhà mình. Vị trưởng phòng thâu thuế này đã trích phân nửa gia tài mình để phân phát cho kẻ nghèo và bồi thường gấp tư những kẻ đã bị mình làm thiệt hại. Chắc chắn là người ăn mày đui mù vừa nói trước, hôm đó đã được hưởng ân huệ đó, và thế là Đức Chúa Giê-xu đã làm cho kẻ nghèo được giàu hơn và kẻ giàu trở thành nghèo hơn. Tuy nhiên, khi làm việc ấy, Ngài đã khiến cho cả hai đều vui lòng. Điều mà người nhà giàu không thấy để làm cho người nghèo khó ngồi trước cửa nhà mình, điều mà chàng thanh niên giàu có, làm quan kia không chịu thi hành khi được lưu ý, thì Xa-chê, người thâu thuế, đã tình nguyện làm trong ngày vui mừng chẳng bao giờ quên được, khi Chúa Giê-xu bằng lòng ở lại trong nhà Xa-chê, khiến ông hối hả tụt xuống khỏi ngọn cây để vui vẻ tiếp rước Ngài. Tất cả những điều đó đều ở trong toàn thể bản văn khi bạn đọc nhiều đoạn Kinh Thánh đồng thời, chớ không phải chỉ mỗi lần đọc vài câu mà thôi. Vì vậy, chúng ta hãy nhìn kỹ hơn vào toàn thể các khúc sách ấy.
Tiền bạc dành để làm gì
LuLc 16:1-9 chép một truyện tích thú vị về người quản lý bất trung, khi biết mình bị sa thải, đã lợi dụng cơ hội đang có để bảo đảm cho tương lai của mình. Bằng một giọng văn phớt tỉnh, Dorothy Sayers đã mô tả con người vốn hành nghề thâu thuế là Ma-thi-ơ chắc phải biết tất cả các mánh khoé liên hệ đến vấn đề sổ sách tiền bạc cũng như cách bôi sửa sổ sách để mỉm cười mai mỉa về việc làm thiếu thận trọng đó. Chúa Giê-xu khen người quản gia bất trung kia đã khôn khéo và biết lo xa, tức là đã biết lợi dụng số tiền mình hiện có quyền kiểm soát để lo cho sự an vui tương lai. Ông ta là một con cái của đời này và hoàn toàn bất lương, đã vi phạm một cách trắng trợn cả hai điều răn thứ tám và thứ chín cùng một lúc. Nhưng dầu là một tên lưu manh, ông ta đã được khen là khôn ngoan, khéo léo. Vì hiện giờ và ở đây tiền bạc phải được dùng để thu phục nhân tâm, để kết bạn với những kẻ sẽ chào đón chúng ta trên thiên đàng sau này; nghĩa là chúng ta phải dùng “của bất nghĩa” (tức là tiền bạc) để làm việc cho Đức Chúa Trời và mở rộng Nước Ngài.
Nếu dùng ngôn ngữ con buôn, thì chúng ta phải biết chắc là khi đến thiên đàng, sẽ có nhiều bạn bè tiếp đón ta ở đó! Khi chúng ta bước vào cửa thiên đàng đồng thời với một tiếng kêu lớn, thì sẽ có một đám đông người reo mừng chào đón chúng ta - những người lạ, số đông trong vòng họ, những kẻ phung xưa kia, người thượng du, trẻ con, người từ muôn nước dưới trời - những người được lên thiên đàng nhờ chúng ta đã sử dụng tiền bạc của mình cách khôn ngoan. Tiền bạc chúng ta quyên trợ lúc còn ở thế gian sẽ là cuộc tiếp đón có thể có lúc mình ở thiên đàng. Lối giải thích này có vẻ không thuộc linh chút nào! Nhưng chắc chắn đó là ý nghĩa của câu 9. Đó là phương pháp gởi tiền bạc trần gian vào ngân hàng thiên thượng, nghĩa là bằng cách quyên trợ một cách khôn ngoan và có ý thức cho những kẻ đang thiếu thốn. Không có những chiếc túi nào trong vải liệm xác chết, nhưng vẫn có phương pháp gởi tiền đi, đó là quyên tặng, bố thí, tung tiền ra! Lẽ dĩ nhiên không phải là tung ra bất cứ cách nào, nhưng là tung ra một cách khéo léo, khôn ngoan như người quản gia bất trung đã làm. Có người nói về John Sargent, bạn thân và là người viết tiểu sử Henry Martyn rằng dường như ông ta không hề biết niềm vui của vật thuộc về mình trừ ra có thể tặng nó cho kẻ khác.
Đấng Christ đã tiếp tục dạy thêm những bài học sâu xa hơn liên hệ đến tiền bạc, đến sự trung tín trong việc nhỏ là dấu hiệu chứng tỏ sẽ đáng tin cậy hơn trong việc lớn (đồng thời, cũng làm sáng tỏ vấn đề là người quản gia bất trung đã không hề được khen vì sự bất lương của mình). Đấng Christ cũng vạch rõ rằng nếu chúng ta không thể tin cậy được trong vấn đề tiền bạc, thì ai là người dám giao cho chúng ta những của cải đích thực của thiên đàng? Tác giả sách Phúc Âm ghi lại rằng những người Pha-ri-si nghe mấy lời đó vốn “ham tiền tài” (câu 14), nên Đức Chúa Giê-xu đã nghiêm nghị quở trách họ khi họ chê cười Ngài vì Ngài dạy rằng sự tôn trọng trước mặt người ta - nghĩa là việc người thế gian coi trọng sự giàu có, của cải - là gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta cần ghi nhớ luôn rằng những thái độ đối với tiền bạc mà chúng ta đã chịu ảnh hưởng từ khi còn trẻ, cũng như việc theo đuổi những địa vị xã hội mà mọi người đều chấp nhận như một thước đo mức độ thành công của chúng ta, đều có thể là những điều gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời.
Những bài quảng cáo ngày nay đã lạm dụng điểm đó, gợi ý rằng bất cứ người nào không mua nổi vật mà họ muốn bán, đều là những người không ra gì, và như thế, ý thức tranh đua với người xung quanh đã được “tôn trọng giữa vòng loài người” (cả nữ giới nữa!). Các nước giàu mạnh của Tây phương thường tự hào một cách sai lầm rằng mình hơn các nước kém phát triển về phương diện vật chất, thỉnh thoảng chế giễu những người có một mơ ước tầm thường đã sướng như điên khi mua được một vật gì mới, chẳng hạn một đôi giày, một cặp kính đeo mắt hay một chiếc xe máy nhỏ, nhưng lại mù quáng không chịu lưu ý rằng phần lớn những cuộc viếng thăm người khác để so sánh các hệ thống nấu nướng, máy điều hoà không khí, vật dụng trong nhà cũng chỉ là một lời nguỵ biện nông cạn cho cùng một hình thức bắt chước, nô lệ người khác, của mình.
Lối sống rập khuôn, nô lệ người khác một cách kỳ cục đó cũng không giới hạn nơi người lớn, mà cả đến những người quả quyết rằng mình là hạng dè dặt cực đoan dường như vẫn bị nô lệ đối với những thời trang thông thường, cũng như những kẻ vẫn tự xưng là chống quy ước, chống sự rập khuôn theo người khác. Những sinh viên bảo là muốn nôn mửa vì cái xã hội giả hình và cứng nhắc này, thấy rõ những cái nông cạn của xã hội mà họ chống lại, rồi cũng bị bắt buộc phải bước xuôi theo những ngông cuồng trong khoảnh khắc. Về phe với nhóm này hay nhóm nọ vẫn là thái độ giống hệt nhau của mọi người thuộc mọi hạng tuổi trong xã hội.
Chiếc túi đầy với con mắt mù
Nguyên tắc về việc sử dụng tiền bạc để bảo đảm rằng chúng ta sẽ được tiếp đón vào các nơi ở trên trời sau đó đã được minh thị (một cách tiêu cực) bằng truyện tích của người nhà giàu và La-xa-rơ (LuLc 16:19-31). Lẽ dĩ nhiên đây không phải là một loại thí dụ có tính cách chính trị chứng minh rằng tất cả những tên tư bản gian ác đều sẽ sa xuống địa ngục và những người vô sản bị chà đạp sẽ được lên thiên đàng, bởi vì cả hai vấn đề đức tin (Áp-ra-ham là ông tổ của những kẻ tin GaGl 3:7; RoRm 4:16) và sự ăn năn (câu 30) hoặc thiếu đức tin và không ăn năn, đều được ngụ ý. Điểm thí dụ này muốn nhấn mạnh không phải là so sánh tiền bạc nhưng là đề cập đến vấn đề cứu cánh của sự chết bằng cách xác định những kết quả đời đời của thái độ chúng ta trong đời sống. Cũng vậy, rõ ràng là tội của người nhà giàu được nhấn mạnh ở đây là sự ngạo mạn và quá dễ dãi đối với chính mình, cùng với thái độ lạnh nhạt đối với những sự thiếu thốn của người chung quanh. Ông ta có chiếc túi đầy tiền để tiêu pha riêng cho mình được sung sướng, với một con mắt đui, đến nỗi không hề nhìn thấy những kẻ mình phải dùng tiền đang có để giúp đỡ cho.
Phần đông chúng ta đều bằng lòng với một chính sách kinh tế giữ được mức sinh hoạt của chúng ta cứ càng ngày càng tăng gia, trong khi biết rằng ở nhiều nơi trên thế giới (và ngay cả nhiều khu vực kém may mắn hơn ở ngay trong xứ chúng ta) nhiều người phải sống rất chật vật. Hãy làm phước cho các dân tộc ngoại quốc và nuôi sống họ tại đó là thái độ phải có. Bảo rằng những người không hề biết đến lối sống khá hơn không thể thiếu những gì chúng ta đã được dạy bảo là tối cần thiết có thể cũng đúng phần nào, nhưng phải chăng thí dụ trên đây đã thách thức chúng ta về điểm đó? Lẽ dĩ nhiên chúng ta nhìn nhận rằng trên phương diện tài năng trí thức và khả năng làm ra tiền, con người không ngang nhau, nhưng sự bất đồng đó xảy ra phần nhiều là do sự may rủi, quốc tịch và cơ hội hơn là do các nguyên nhân khác. Đối với một số người, dường như đó là những hậu quả xã hội chớ không phải tôn giáo, nhưng ông nhà giàu đã không thuyết phục được Áp-ra-ham về điểm đó, và trong ánh sáng của một viễn tượng đời đời (khi ông ta đến một chỗ từ đó có thể nhìn thấy một cái gì khác tốt hơn) dường như người ấy đã nhìn nhận tội lỗi mình và muốn được thấy mặt anh em mình (lẽ dĩ nhiên là lúc đó đang vui hưởng gia tài của người ấy để lại; bởi vì không thể nào người ấy lại để nó cho người nghèo!) thì cũng do cùng một sự đoán phạt ấy mà có.
Tiền bạc rất khó dứt
LuLc 18:18-25. Chàng thanh niên nhà giàu và làm quan có lưu tâm đến những giá trị thuộc linh; chàng ta muốn hưởng sự sống đời đời. Chàng đã nhấn mạnh rằng mình vẫn cẩn thận tuân giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Chúng ta đọc là Chúa rất mến chàng ta (Mac Mc 10:21) mời chàng ta theo mình để làm môn đệ, và đưa ra điều kiện là trước hết hãy bố thí tất cả những gì mình có cho kẻ nghèo, và như thế, sẽ được một gia tài trên thiên đàng. Vậy là trước mặt chúng ta có một con người được thúc giục một cách thuộc linh, có một đời sống thánh khiết được một lời khuyên mời của chính Đấng Christ, nhưng đến cuối cùng, lại coi trọng những của cải vật chất hơn phần gia tài thuộc linh, và buồn bã bỏ đi. Chúng ta đừng vội căn cứ vào đó để bảo rằng Đấng Christ truyền cho mọi người phải cho hết những của cải mình có. Chúng ta biết rằng có lần Ngài và các môn đệ Ngài đã phải nhờ vào lòng rộng rãi của một số dân chúng, trong đó có Gian-nơ và Su-xan-nơ, “giúp của cải cho Ngài” (LuLc 8:3). Cho nên, dường như những người này đã không phải đương đầu với một lời thách thức như vậy. Thật ra thì đối với Ngài, của cải đã trở thành một thần tượng mà mọi người phải dứt bỏ. Đây là một lời cảnh cáo kẻ giàu, bảo rằng một đời sống được mọi người kính trọng chưa phải là đủ nếu của cải đã trở thành một hình tượng, ngăn cản chúng ta hết lòng bước theo Chúa.
Sau khúc sách này là những lời rất nổi danh bảo rằng xỏ một sợi dây thừng to (chữ Hi Lạp là kamilos , rất giống với chữ kamçlos là con lạc đà) qua lỗ kim còn dễ hơn là người giàu vào được nước thiên đàng. Chàng thanh niên giàu có và làm quan kia đã có cơ hội. Ông phú hộ cũng có gã ăn mày nghèo trước cửa nhà mình như một cơ hội để xỏ sợi chỉ quá to của đời sống mình qua lỗ kim của sự cứu chuộc. Nhưng chàng thanh niên đã từ chối lời mời đặc biệt là theo Chúa. Sự chú ý của chàng đã kéo chàng đến chỗ mình phải hành động, nhưng chàng từ chối, không chịu làm. Cho nên không có gì đáng lấy làm lạ, khi trong số những vật làm nghẹt ngòi hột giống là đạo Chúa, ngăn trở không cho nó kết quả, cũng có “sự mê đắm về giàu sang” (Mac Mc 4:19).
Tân Ước hoàn toàn được giao phó nhiệm vụ đề cập đến tầm quan trọng của báu vật thiên đàng. Ở đây, chàng thanh niên giàu có làm quan được nói cho biết rằng nếu anh ta bán gia tài mình và phân phát cho kẻ nghèo, thì sẽ được của cải trên trời. Trong LuLc 12:1-59, có một trại chủ giàu có cũng xây lại các kho lẫm của mình để có thể chứa nhiều của cải trần gian hơn; và chúng ta được cho biết rằng con người “dại” đó đại diện cho những kẻ “không giàu có nơi Đức Chúa Trời” (LuLc 12:21). Rồi một lần nữa, khi Đức Chúa Giê-xu dùng bữa với một người Pha-ri-si nhằm ngày Sa-bát. Ngài đã bảo ông ta hãy dọn tiệc và mời những kẻ nghèo, những người không thể mời trở lại mình, và như thế sẽ được ban thưởng khi những người công bình được sống lại (LuLc 14:12-14). Đây là vấn đề rất xưa cũ phải giải quyết: Chúng ta có thành thật tin vào cõi siêu nhiên chăng? Chúng ta có tin là có một thiên đàng, nơi sẽ có việc tính sổ và là nơi chúng ta có thể dự trữ của báu chăng? Sự ngần ngại dứt bỏ của báu trần gian của chúng ta là thước đo niềm tin thực sự của chúng ta liên hệ đến điểm đó. Nếu chúng ta thật lòng tin Đức Chúa Trời, tin có thiên đàng và tin vào lời Đức Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ nhìn nhận rằng của cải thiên đàng có giá trị của một số vốn đầu tư chắc chắn và được bảo đảm.
Điều lạ lùng là chẳng những nó làm một bản trắc nghiệm cho đức tin của chúng ta, mà còn là một bằng cớ chứng minh cho niềm tin ấy, vì trong kinh nghiệm bản thân của sinh hoạt gia đình, chúng ta chẳng bao giờ dâng một số tiền lớn hơn theo lẽ thường mà không được trả lại càng nhiều hơn từ một nguồn mạch nào khác, và thường thường là được gấp bội để trở thành một dịp may cho chúng ta. Cho nên, dầu đang ở dưới đất này, chúng ta cũng được phần của mình trên thiên đàng nữa. Đức Chúa Trời không bao giờ mắc nợ ai. Những điều Ngài ban cho chúng ta (không phải chỉ đo lường bằng tiêu chuẩn tiền bạc mà thôi) luôn luôn và hiển nhiên là theo một mức độ khiến cho những của dâng của chúng ta so với Ngài thì dường như quá nhỏ bé. Có lẽ điểm này có thể được tóm tắt bằng mấy lời rất lạ lùng và rất quen thuộc là “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (Phi Pl 4:19), mà khi đề cập đến, một nhà chú giải Kinh Thánh đã viết: “Phần thưởng sẽ không phải từ sự giàu có của Ngài đến mà thôi, nhưng cũng theo một cách thức phù hợp với sự giàu có của Ngài - theo một mức độ xứng đáng với sự giàu có của Ngài”.
Đức tin yếu đuối và nghi ngờ của chúng ta liên hệ đến của báu trên trời được mạnh mẽ hơn bằng việc được ban cho dư dật vô cùng mà thỉnh thoảng chúng ta kinh nghiệm được. Kinh nghiệm của những người như Hudson Taylor và George Müller trong quá khứ, được tiếp tục trong kinh nghiệm hiện tại của những công tác họ đã sáng lập, cùng với kinh nghiệm của vô số tín đồ Đấng Christ khác nữa, chắc đều giúp đỡ để thúc đẩy những niềm tin về cõi siêu nhiên của chúng ta.
Dâng phần mười có phù hợp Kinh Thánh không?
Một số đông tín đồ Đấng Christ nghĩ rằng Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta dâng phần mười, nhưng sự kiện được nhận biết là trong Tân Ước, tín đồ Đấng Christ không hề được khuyến giục dâng phần mười. Chúng ta là tín dồ Đấng Christ có phải dâng phần mười không? Dường như chúng ta có thể đối phó với vấn đề này theo nhiều cách khác nhau. Ông Mitchell liệt kê những đóng góp bắt buộc mà dân sự Đức Chúa Trời phải tuân hành theo giao ước cũ:
1. Một phần mười hoa lợi để trợ cấp cho người Lê-vi.
2. Một phần mười hoa lợi dành cho các ngày lễ.
3. Một phần mười hoa lợi cho kẻ nghèo.
4. Những bó lúa đầu mùa.
5. Trái đầu mùa.
6. Mùa màng không thu gặt dành cho kẻ nghèo.
7. Phần mười trong số súc vật và trái nho gia tăng.
8. Trị giá các lễ vật và số thì giờ phải để ra cho việc thờ phượng Giê-ru-sa-lem mỗi ba năm một lần.
Rồi ông tiếp tục gợi ý rằng của lễ lạc hiến chỉ bắt đầu sau đó, nghĩa là sau khi họ đã dâng ít nhất là một phần ba hoa lợi của họ; thí dụ như những của lễ tình nguyện dâng cho việc xây cất Đền Tạm và Đền Thờ, nếu chỉ kể hai vụ “lạc quyên” rõ rệt nhất mà câu trả lời cho hai lần lạc quyên đó đã khiến cho chúng ta giật mình kinh sợ.
Muốn vạch rõ những điểm kể trên, thiết tưởng phải đối chiếu thật chi tiết nhiều câu Kinh Thánh với nhau, vì nếu rõ ràng là dân Y-sơ-ra-ên phải dâng nhiều hơn là chỉ một phần mười thì điều không được rõ rệt, ấy là không rõ có phải cùng một phần mười đó đã được mô tả là dùng cho nhiều việc hay không, bởi vì dầu sao thì trong trường hợp nào nó cũng được dùng cho rất nhiều mục đích. Thí dụ chúng ta có thể dễ dàng đưa ra một khúc sách rất hay như PhuDnl 14:22-28 “Mỗi năm, ngươi chớ quên đóng thuế một phần mười về huê lợi của giống mình đã gieo, mà đồng ruộng mình sanh sản. Tại trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, trong nơi Ngài đã chọn đặt để danh Ngài ở, ngươi phải ăn vật thuế một phần mười về ngũ cốc, rượu, dầu và con đầu lòng của bầy bò hay chiên của ngươi, hầu cho ngươi tập hằng kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho; nếu đường đi lấy làm xa quá cho ngươi, đến đổi không thể đem nộp của thuế một phần mười ấy được - vì chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi chọn để đặt danh Ngài cách xa ngươi - thì bấy giờ ngươi hãy đổi thuế một phần mười đó ra bạc, cầm bạc này trong tay, đi đến nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chọn, rồi đưa bạc ấy đổi lấy mọi thứ chi mình ước ao, hoặc bò hay chiên, hoặc rượu hay là đồ uống say, tức là mọi món chi mình muốn. Ngươi phải ăn nó tại đó, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và vui vẻ với gia quyến mình. Chớ bỏ bê người Lê-vi ở trong thành ngươi, vì người không có phần, cũng không hưởng cơ nghiệp chi chung với ngươi. Cuối hạn ba năm, ngươi phải lấy một phần mười của huê lợi năm ấy ra, chứa tại trong thành mình. Bấy giờ, người Lê-vi vốn không có phần chi, cũng chẳng hưởng cơ nghiệp chi chung với ngươi, luôn với người khác, kẻ mồ côi và người goá bụa ở trong thành ngươi, sẽ đều đến ăn no nê, hầu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho mọi công việc tay ngươi đã làm”.
Khúc sách này dường như chứng tỏ rằng phần mười đã đồng thời được sử dụng cho cả người dâng, lẫn người Lê-vi và người nghèo thiếu. Câu 26 gợi ý về một loại đại tiệc trong Đền thờ mà cả đến việc uống rượu mạnh cũng được cho phép. Rất ít người trong chúng ta nghĩ rằng mình có thể dùng phần mười theo cách thức đó! Cũng có thể lý luận rằng một số trong phần mười đó đã được nộp như những sắc thuế nhà nước, bởi vì các thầy tế lễ và người Lê-vi đã giữ một vài chức vụ không khác gì các chức thanh tra về sức khoẻ dân chúng, một tổ chức y tế, và vân vân. Ngày nay, chúng ta không hề kể rằng việc nộp thuế cho một chánh phủ thế tục là phần quyên trợ mà người tín đồ Đấng Christ phải đóng góp, như điều người Y-sơ-ra-ên đời xưa đã làm dưới chế độ thần quyền. Cho nên chắc chắn là nguyên tắc dâng phần mười rút ra từ Cựu Ước dường như rất khó áp dụng trực tiếp được.
Một lý luận thứ hai là bảo rằng điều luật pháp dạy chỉ là bóng mà hình thật là dưới ân điển, và kỳ kèo về tỷ lệ, chỉ dâng cho Chúa một phần mười chứng tỏ rằng chúng ta không hiểu điều Tân Ước muốn dạy chúng ta phải dâng. Thật ra thì trong Cựu Ước, người ta đã dâng từ khả năng của mình. “Mỗi người sẽ dâng tuỳ theo của mình có, tuỳ theo phước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi” (PhuDnl 16:17). “Tuỳ theo sức mình, chúng dâng vào kho” (Exo Er 2:69) và dường như nguyên tắc ấy cũng được tiếp tục sang thời Tân Ước: “Các môn đồ bèn định, mỗi người tuỳ sức riêng mình, gởi một món tiền bố thí cho anh em ở trong xứ Giu-đê; và họ làm như vậy…” (Cong Cv 11:29) “Cứ ngày đầu tuần lễ, mỗi một người trong anh em khá tuỳ sức mình dành dụm được bao nhiêu thì để tại nhà mình” (hoặc “tuỳ theo sự thịnh vượng Đức Chúa Trời ban cho mình mà để dành” ICo1Cr 16:2).
Thật ra thì dầu có ám chỉ đến việc dâng phần mười một vài lần, Tân Ước dường như đại ý không bênh vực việc làm ấy. Như người Pha-ri-si đã cậy công nghĩa riêng để tự so sánh mình với kẻ khác: “Tôi nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi” (LuLc 18:12) và dường như đã xem đó như một lý do để mình được xưng nghĩa trước mặt Đức Chúa Trời. Một lời ám chỉ khác nữa trong các sách Phúc Âm là chỗ Đức Chúa Giê-xu nói: “Song khốn cho các ngươi, người Pha-ri-si, vì các ngươi nộp phần mười về bạc hà, hồi hương cùng mọi thứ rau, còn sự công nghĩa và kính mến Đức Chúa Trời thì các ngươi bỏ qua! Ấy là các việc phải làm, mà cũng không nên bỏ qua các việc khác!” (LuLc 11:42).
Người Pha-ri-si đã tỏ ra rất chú ý đến các vấn đề nhỏ nhặt, chắc chắn rằng mình đã dâng đúng một phần mười, trong khi lại bỏ qua một số các vấn đề chính yếu. Lẽ dĩ nhiên là trong các thư tín, người tín đồ đã không có lần nào được khuyên phải dâng phần mười, dầu họ có được khuyên dâng tiền. Đấng Christ đã khen ngợi người đàn bà biết dâng tất cả những gì mình có (21:1-4). Trong khúc sách đó, không thấy nói gì đến phần mười cả. Phao-lô viết về lòng rộng rãi quyên tặng của người Ma-xê-đoan như sau: “… lòng quá vui mừng và cơn rất nghèo khó của họ đã rải rộng ra sự dư dật của lòng rộng rãi mình, hoặc cũng quá sức nữa… họ lại làm quá lòng trông cậy của chúng tôi, vì trước hết đã dâng chính mình cho Chúa, và sau lại cho chúng tôi, theo ý muốn Đức Chúa Trời” (IICo 2Cr 8:2-5). Dường như thái độ ấy không hề bao hàm một ý niệm về sự kỳ kèo tỷ lệ, và điều có lẽ rất có ý nghĩa, ấy là ở đây (trong đoạn 8 và 9) và nhiều chỗ khác nữa, khi đề cập đến việc dâng tiền, ông chẳng bao giờ nói đến một phần mười hay xác định một tỷ lệ nào. Có người luận về bài diễn thuyết của ông Temple Gairdner về đề tài “Dâng tiền” đã nói: “Tôi không nghĩ là có người nào được nghe nói mà lại không dâng thêm ít nữa là một phần mười. Tôi tình nguyện trở lại Oxford không phải là chỉ để trả món nợ của tôi, nhưng là để sống chỉ phân nửa theo mức sinh hoạt lúc trước”.
Một tên nô lệ hoàn toàn không có của riêng; những gì người nô lệ có, thật ra đều là của chủ. Nếu chúng ta tỏ ra thái độ bảo rằng tất cả những gì chúng ta có đều thuộc quyền sử dụng của Đấng Christ thì nó sẽ đúng hơn cái thái độ “Tôi dâng một phần mười, và phần còn lại là của tôi” biết bao! Thật ra thì chính chúng ta cũng không thuộc riêng về ta, chúng ta đã được mua bằng một giá chuộc, và tất cả của cải ta cũng vậy. Thật là dễ cho chúng ta dâng một phần nào đó trong số hoa lợi của ta cho Đức Chúa Trời, hoặc bằng cách để riêng ra một số trích trong tiền lương của chúng ta và xem như nhiệm vụ của chúng ta đã xong rồi, và phần còn lại là thuộc riêng về chúng ta, chúng ta có thể tiêu pha tuỳ ý. Lẽ dĩ nhiên là khi bắt đầu, biết để dành một số tiền đều đều, và nếu có thể được cứ càng ngày càng tăng thêm, thì rất tốt. Tuy nhiên, chúng ta phải sử dụng tất cả tiền bạc của chúng ta thế nào cho đẹp ý Chúa. Cũng như những kẻ dâng phần mười đời xưa được dạy là hãy mua những gì mình thích về thức ăn vật uống để ăn chung với người Lê-vi và nghèo thiếu trước mặt Đức Giê-hô-va, họ được dạy là hãy vui mừng và hưởng thụ tất cả trước hiện diện Ngài, thì cũng vậy, chúng ta có quyền tiêu tiền, hưởng thụ những gì nó có thể đem đến nếu chúng ta làm điều đó trước mặt Chúa. Trong tất cả các khoản tiêu pha, mua sắm chúng ta phải tự hỏi: Tôi mua món này có đẹp lòng Đức Chúa Trời không? Rất có thể không phải món chúng ta mua bắt buộc là món rẻ nhất, vì có thể đó không phải là món tốt nhất cho chúng ta mua bằng tiền. Cũng không phải đó là món đắt nhất, vì những vật dụng xa xỉ thường là những vật chúng ta không cần. Chúng ta phải thận trọng tránh tánh quá dễ dãi với chính mình hay sự tự kiêu trong lối ăn mặc cũng như về những gì mình có. Một trắc nghiệm rất hay, ấy là hãy xét xem đó là vật mình cần, hay là để khoe khoang với người khác, hoặc nhìn vào nó một cách thèm thuồng! Trong Cựu Ước thì một chi phái trong mười hai chi phái, một ngày trong bảy ngày và một phần mười hoa lợi đã được xem là đặc biệt thuộc về Đức Chúa Trời. Còn trong giao ước mới, chúng ta thấy rằng tất cả mọi người phải nên thánh, mỗi ngày đều phải là những ngày đẹp lòng Đức Chúa Trời, và tất cả hoa lợi của chúng ta phải được sử dụng cho Ngài.
Kiêng khem hay hoang phí?
Ngày kia, trong vườn Bách thú Whipsnade, có một đám thanh niên đang bàn chuyện giải khát, và họ quyết định sẽ mua kem. Nhưng có một cậu không bằng lòng. Theo điều cậu ta giải thích về sau, thì cậu nghĩ rằng chúng ta phải quản trị tiền bạc và chi tiêu càng ít cho chúng ta càng tốt, ăn kem là tỏ ra quá dễ dãi với mình và chính là một xa xỉ. “Tôi là một tín đồ tốt hơn tất cả những người kia, những người vẫn còn nghĩ đến việc sử dụng tiền bạc vào một mục đích trần gian. Thật là xấu hổ vì họ không thấy là những nhu cầu của mình trong các vấn đề như thế cũng phải theo kỷ luật”. Có lẽ đối với phần đông chúng ta thì điều đó đúng, nhưng đi chung với họ có một ông thánh cao tuổi, một giáo sĩ hồi hương, một giáo sư dạy Kinh Thánh khả kính; ông già đã đứng đó với chiếc nón rộng vành của các tu sĩ lật ngược ra phía sau, đang liếm phần kem còn lại trên mảnh giấy, dầu có vẻ không mấy đứng đắn, nhưng rõ ràng là rất thích thú. Phải chăng ông cũng là một tín đồ phàm tục, vô kỷ luật? Chúng ta biết là không phải vậy, cũng biết là ở nhà, ông đã sống thanh đạm và để dành được một ít tiền mỗi ngày. Nhưng ông đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã cho chúng ta hưởng thụ rất nhiều điều (ITi1Tm 6:17) và cũng như các sứ đồ đầu tiên, ông đang ăn với một tấm lòng vui mừng, hoan hỉ.
Thật là khó xác định thế nào là vừa phải, quân bình. Quyết định tự khép mình vào kỷ luật của chúng ta có thể đưa chúng ta đến chỗ bủn xỉn, hằn học với người khác khi phải mở túi tiền, đếm từng cắc bạc, nắm bàn tay lại, keo kiệt, không rộng rãi bố thí. Mặt khác, khi ý thức về sự tự do của người tín đồ Đấng Christ, ý thức về sự giàu có của Chúa trên trời hay nhu cầu phải rộng rãi đãi khách, chúng ta có thể phung phí quá đáng, khoe khoang, hay âm thầm quá dễ dãi với mình khi làm ra vẻ rộng rãi. Nguyện Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những động cơ thúc đẩy thuần khiết, những tấm lòng vui mừng, tự do nhưng biết thận trọng để chúng ta ban phát và tiếp tục ban phát, vì “ban cho thì có phuớc hơn là nhận lãnh” (Cong Cv 20:35).
Người quản lý
Ý niệm về công việc quản trị này giúp ích rất nhiều cho chúng ta. Oikonomos là người điều khiển trong nhà hay mọi việc nhà, là người được chủ giao phó quyền điều khiển mọi công việc làm ăn, lo lắng mọi khoản chi thu và có nhiệm vụ cắt đặt phần việc thích ứng của tất cả những người trong nhà.
Đây là một bức tranh rất lạ lùng mô tả người tín đồ Đấng Christ và trách nhiệm của người ấy. Chúa đã giao cho chúng ta một số của cải để chúc phước cho cả nhà nói chung, lẽ dĩ nhiên là gồm cả các nhu cầu riêng của chúng ta. Chúng ta phải vì Ngài mà sử dụng nó cho người khác. Họ là tài sản thuộc về Ngài và chúng ta phải trả lời cho Ngài về cách thức chúng ta phân phát của cải ấy. Nếu chúng ta tỏ ra vô lý, phung phí cho riêng chúng ta và keo kiệt với người khác, thì chúng ta sẽ phải tính sổ với Chủ khi Ngài trở lại (LuLc 12:42-48; 16:1, 2). Chúng ta có thể kể ra các nhiệm vụ sau đây của người quản lý:
1. Được Chủ giao của cải cho.
2. Phải dùng của cải đó cho việc nhà.
3. Chính người ấy cũng phải được cung ứng, nhưng không phải do những người kia đài thọ.
4. Phải thận trọng và dự định số chi, đừng tiêu trong một ngày số phải dùng cho cả tháng. Cũng không được giữ lại số tiền phải xuất.
5. Phải tính sổ về cách sử dụng của cải của Chủ.
Chắc ai cũng biết một người tín đồ làm tròn chức vụ quản lý của mình là người như thế nào. Nếu bạn đến thăm viếng họ, bạn sẽ ra đi với một quyển sách mà họ nghĩ rằng bạn rất thích và rất có ích cho bạn. Bạn sẽ được một chi phiếu, bởi vì họ biết rằng trong gia đình bạn đang có nhiều người đau và số tiền ấy sẽ giúp ích được cho bạn. Họ có một ngôi nhà nghỉ mát nhỏ ở bờ biển đang bỏ trống, và họ tính là nếu… (đối với họ, việc họ có thể cho một người nào đó thuê với một số tiền lớn là điều họ không hề nghĩ đến). Nếu họ có rỗi rảnh một buổi chiều, họ liền nghĩ rằng chắc bạn sẽ cần họ giúp bạn trông chừng con cái để vợ chồng bạn có thể đi dạo một vòng. Họ nghĩ không biết con trai bạn có muốn đi cắm trại chung để làm bạn với con trai họ không. Họ biết là gần đây bạn rất bận rộn và họ cũng mới làm bánh, có lẽ nó không ngon bao nhiêu (vì người Tây phương cũng thường chỉ thích những món ăn riêng của mình cũng như bất cứ người Đông phương nào khi phải chọn lựa), nhưng họ vui lòng mua bánh của bạn. Có thể là họ có một chiếc xe cho trẻ con, một cái ghế cao, một giường nhỏ, đồ chơi, tủ lạnh, lò nấu ăn cũ mà họ không dùng nữa… Dường như họ không bao giờ nghĩ rằng những món đó vẫn còn tốt và có thể bán đi các món ấy…
Đó là những quản gia trung tín của Chúa mà lòng thương yêu và rộng rãi đã cùng với của cải họ đem sự ngọt ngào và vui mừng đến cho kẻ khác. Dường như họ luôn luôn nghĩ đến người khác cũng như mọi nhu cầu và hoàn cảnh của những người đó: họ có thể làm gì để giúp những người kia? Nhà họ luôn luôn mở rộng cho kẻ không nhà, tai họ luôn luôn mở rộng để nghe những người khốn khó là người muốn có một ai đó sẵn sàng chia sẻ sự khốn khó của mình, bàn ăn của họ luôn luôn sẵn sàng để mời thêm một người, ô-tô của họ luôn luôn khởi hành rất sớm và trên đường đến nhà thờ, vẫn dành chỗ cho người đau yếu hay già cả để sau đó, lại đưa họ trở về nhà. Đó là ý nghĩa về thế nào là một người quản lý. Phải chăng những người láng giềng của người ấy dường như đều sẵn sàng tin Chúa chỉ là một việc rất ngẫu hợp?
Các học sinh, sinh viên thường có ít hơn người khác về của cải trần gian để có thể bố thí rời rộng, và có lẽ thường thường thì vấn đề là vui lòng cho mượn chớ không phải là ban phát rời rộng. “Chớ từ chối làm lành cho kẻ nào xứng đáng, miễn là tay con có quyền làm điều ấy. Nếu con có vật kẻ lân cận cầu xin, thì chớ nói với người rằng: Hãy đi và trở lại, ngày mai ta sẽ cho” (ChCn 3:27, 28). Đừng nên có thái độ bo bo giữ của, giữ những vật mình có và không chịu cho người khác mượn sách vở hay những vật tương tự. Chúng ta càng không nên giữ của vì sợ rằng người mượn sẽ không trả lại sớm hay những đồ đạc cho mượn sẽ không còn nguyên. Ở vị trí của mình, người học sinh, sinh viên vẫn có thể có nhiều cách để bày tỏ lòng rộng rãi. Tác giả quyển sách này không bao giờ quên được lần đi thăm viếng một vùng quê rất nghèo nàn về phương diện vật chất, đã cảm động đến ứa nước mắt vì lòng rộng rãi của một số học sinh, sinh viên khi họ tặng mình những quà tiễn đưa dành cho du khách, có thể là một tấm thiệp nhỏ để kỷ niệm tự tay họ vẽ ra, tuy không đáng giá bao nhiêu, nhưng đã chứng tỏ được tình thương yêu và huynh đệ trong Đấng Christ.
Lẽ dĩ nhiên là còn có nhiều thái độ khác nữa. Một số trong chúng ta đáng phải run sợ chỉ vì mình luôn luôn là kẻ nhận lãnh mà rất ít khi ban cho. Chúng ta dường như không nghĩ về điều đó trước khi đã quá muộn. Chúng ta ít nghĩ đến những người khác trong nhà, bởi vì chúng ta thường quá bận rộn với những việc riêng của mình. Có một số người không muốn làm kẻ ban cho, cũng không muốn làm người nhận lãnh. “Chúng tôi không muốn mắc nợ ai hết; chúng tôi không muốn làm phiền ai, cũng không muốn ai làm phiền chúng tôi”. Tiền bạc thì vẫn được gởi vào ngân hàng và không được dùng đến cho tới khi chúng ta muốn mua một chiếc ô-tô lớn. Các ngăn tủ thì đầy của cải, đồ vật mà ít khi ta dùng đến, các phòng ngủ dành tiếp khách thì vẫn đẹp đẽ không chê vào đâu được, đồ vật trang hoàng thì luôn luôn bóng loáng, sạch sẽ bởi vì không có một đứa trẻ con nào hơi mạnh tay mạnh chân lại được phép xáo trộn vẻ đẹp trầm lặng trong nhà! Tiền bạc không được dùng đến thật vô ích biết bao, của cải không đá động đến, thật vô nghĩa biết bao! Xin Chúa ban ơn để chúng ta biết làm những quản gia xứng đáng cho Ngài.
Sự ban tặng có phương pháp
Bởi vì chúng ta rất dễ đổi ý, cho nên thiết tưởng điều quan trọng là phải đặt nền tảng thường, hơn hễ khi thấy có cơ hội tốt mà thôi. Hãy nhất định một tỷ lệ nào đó. Vì đối với người quá nghèo thì dường như một phần mười đã là quá nhiều (mà thường thường thì chính những người đáng thương đó lại dâng nhiều tiền. Các hội truyền giáo thường nhận được tặng phẩm của những người cao tuổi, dường như đó không phải là những số tiền lớn, những tặng vật đắt giá, nhưng thường thường biểu lộ một thái độ dành dụm, tiết kiệm). Nhưng đối với người giàu có thì một phần mười lại là quá ít. Tất cả chúng ta đều nên kiểm điểm lại tiền dâng của mình. Phải chăng nếu tôi dâng số đó thì cũng không thấy thiếu thốn gì hết? Phải chăng nó không hề làm giảm bớt những số tiền chi tiêu khác của tôi chút nào? Nếu thế, xin chúng ta cầu nguyện để nhờ Chúa tăng số tiền dâng lên. Nếu 20% không làm thiệt hại cho chúng ta bao nhiêu, hãy thêm chút nữa để xem mình có thể dâng đến bao nhiêu, nhưng nhớ là đừng nói cho một người nào khác biết.
Rõ ràng là tỷ lệ nhất định đó còn tuỳ thuộc vào số tiền thuế, vào các nhiệm vụ khác và vân vân. Người độc thân, không có gánh nặng gia đình, không phải cấp dưỡng cho thân nhân, thì có thể dâng nhiều. Một học sinh hay sinh viên không làm gì ra tiền, nhưng được học bổng của chính phủ hay được trợ cấp của gia đình, thì đứng vào một địa vị khác hẳn với một người đi làm và có tiền lương. Những số chúng ta dâng cho Chúa có thể là tiền lương, tiền làm công, tiền lời, học bổng, tiền người khác cho, tiền túi…
Như vậy là nên nhất định một số nào đó. Hãy suy nghĩ kỹ và cầu nguyện trước khi sử dụng số đó. Nó có thể là một việc làm tốt đẹp cho Hội Thánh địa phương, cho một hội truyền giáo (quốc nội, quốc ngoại hoặc cả hai), cho một người đang thiếu thốn, hay có lẽ là cho một chương trình phát thanh Tin Lành, cho một công tác văn chương hay y tế nào đó của Cơ Đốc giáo. Nó có thể thay đổi từ tháng này qua tháng khác, mỗi quý hay từng năm một. Một nhu cầu cấp bách, thình lình, có thể rất cần chúng ta quyên dâng thêm; một vật đắt giá mà chúng ta định mua thì nên hoãn lại cũng như một vài vật chúng ta hằng ao ước từ lâu, một vài khoản chi tiêu có tính cách xa xỉ. Vấn đề là chúng ta dâng được nhiều bao nhiêu chớ không phải là ít đến mức nào. Lời khuyên của Wesley vẫn còn sức mạnh của nó: “Hãy thâu góp tất cả những gì mình có thể góp. Hãy tiết kiệm, lợi dụng tất cả những gì có thể làm được. Hãy dâng hết những gì bạn có thể dâng được”. Ông Chủ đã giao cho ta của cải, tiền bạc, đã truyền dạy chúng ta phải sử dụng nó chớ không phải là dồn chứa lại; nhưng chúng ta phải dùng chúng vì sự vinh hiển của Ngài, vì hạnh phúc của đồng bào chúng ta.
Những điểm gợi ý để cầu nguyện và suy gẫm
Là một đầy tớ của Chúa Giê-xu, tôi có thừa nhận sự đòi hỏi của Ngài liên hệ đến tất cả của cải của tôi không?
Tôi có phải là một quản gia khi dùng của cải tôi cho kẻ khác , hay chỉ dùng nó cho sự vui thú ích kỷ của riêng mình ? Có phương pháp nào để tôi lập tức sửa đổi hay không ?
Phải chăng tôi chỉ bỏ vào hộp tiền dâng một số tiền nào đó khi có người đưa chiếc hộp ấy qua trước mặt tôi, hay tôi đã định trước là phải dâng một số nhất định nào đó, và khi dâng thì suy nghĩ kỹ càng, dâng rất sáng suốt?
Tôi có đang gặp hiểm hoạ là có thể trở thành bần tiện trong việc tự mình sử dụng tiền bạc theo ý riêng của mình không ?
Tôi có thật sự vui mừng khi sống và dâng mọi sự cho Chúa không?
Có những lý do nào khiến tôi phải cam kết dâng tiền đều đặn không ?
“Có ngày đầu tuần lễ, mỗi người trong anh em khá tuỳ sức mình dành dụm được bao nhiêu thì để tại nhà mình, hầu cho khỏi đợi khi tôi đến rồi mới góp.”
ICo1Cr 16:2
“Vậy thì , như anh em đã trổi hơn về mọi việc , tức là về đức tin , về lời giảng , về sự vâng lời , về mọi sự sốt sắng , về tình yêu chúng tôi , thì cũng hãy chú ý làm cho trổi hơn về việc nhân đức này .”
IICo 2Cr 8:7

THÀNH KIẾN hay TIN CHẮC?
Xin hãy nhận lấy trí khôn con , và dùng
mọi khả năng nào mà Ngài muốn chọn .
Khi có người hỏi trong luật pháp, điều răn nào là quan trọng hơn hết, thì Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn (chữ Hi Lạp là dianoia ), hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi” (Mac Mc 12:30). Khi thầy thông giáo trả lời (câu 33) “kính mến Chúa hết lòng, hết trí” thì người ấy đã dùng một chữ khác để giải thích lòng vòng (chữ Hi Lạp là sunesis ). Đó là một chữ có nghĩa là “khả năng lãnh hội, trí khôn, sự minh mẫn, lanh lợi” và là chữ đã được dùng khi con trẻ Giê-xu đang ngồi trong Đền thờ, vừa nghe vừa hỏi các thầy thông thái tại đó, khiến họ nghe Ngài đều kinh ngạc về “sự khôn ngoan” của Ngài (LuLc 2:47).
Chúng ta phải lấy hết trí khôn mà yêu mến Đức Chúa Trời. Chỉ có một ngăn dành cho tôn giáo trong tư tưởng chúng ta thì chưa đủ. Chúng ta phải dâng cả tâm trí chúng ta cho sự phục vụ Ngài. Chúng ta phải suy nghĩ về đức tin của chúng ta và về cách thức áp dụng nó. Cho nên không có lý do nào để bênh vực được cho sự lười biếng trí thức. Chúng ta phải suy nghĩ để tận dụng sự khôn khéo của mình đối phó với những suy tư người khác, kể cả những người chống đối đức tin Cơ Đốc giáo. Thiết tưởng cần nên nói rõ rằng đức tin không phải là một cái tên có vẻ tôn kính hơn trong tôn giáo để ám chỉ thành kiến hay sự mê tín. Chúng ta phải là những người quan tâm sâu xa đến chân lý, không phải chỉ là loại chân lý đã được Đức Chúa Trời mặc khải, mà cả đến phần chân lý Ngài để cho loài người tự khám phá lấy. Trên khung cửa bước vào Phòng Thí Nghiệm thuốc lá tại trường Đại học Cambridge, chúng ta thấy có tấm bảng viết mấy chữ này: “Công việc Đức Chúa Trời đều lớn lao; phàm ai ưa thích, ắt sẽ tra xét đến” (Thi Tv 111:2). Chúng ta nên biết hoan hỉ với những chân lý của vũ trụ.
Chúng ta phải dâng tâm trí chúng ta cho Ngài dùng để có thể hiểu và cắt nghĩa chân lý Cơ Đốc giáo cho người khác, để chống lại lối suy nghĩ vô giá trị và vô lý giữa vòng các tín đồ, và như thế sẽ có vui mừng trong chân lý. Bảo rằng trở thành tín đồ Đấng Christ có nghĩa là phải bỏ hẳn khả năng phê bình của mình là một điều hết sức vô lý.
Khi đề cập đến sự sụp đổ của loại tôn giáo tổ chức, và việc quét sạch hoàn toàn những nghi thức lủng củng, hỗn tạp của thứ tôn giáo theo định chế, Monica Furlong đã hăng hái viết: “Điều dường như rất rõ ràng, ấy là trong tất cả giáo phái đều có một sự biến dạng mới của người tín đồ (nhưng rất khó phân biệt nếu chúng ta ở trong cái khối bất động đó). Họ cố ý và hăng say đặt vấn đề mọi khía cạnh liên hệ đến đức tin của mình, buồn đến chết được để chống lại những khuôn mẫu cũ kỹ, những trò phỉnh phờ lỗi thời và bầy bò cái linh thiêng rất đông đảo, cũng như tin rằng huỷ hoại tâm trí, hoặc giác quan thì đều làm nhục Đấng Christ”.
Thật lý thú khi chú ý đến chữ “biến dạng” và câu gợi ý rằng cả đến những lúc gần đây, các tín đồ Đấng Christ vẫn còn bằng lòng trở thành những kẻ chăn bò tự xưng là thánh và sẵn sàng chịu huỷ hoại cả tâm trí mình. Như chúng ta sẽ thấy, điều vẫn được luôn luôn đòi hỏi nơi người tín đồ Đấng Christ nếu không phải là một sự thay đổi hẳn, thì ít ra cũng là một sự biến hoá của tư tưởng.
Dĩ nhiên là chúng ta phải biết suy tư. Điều rất phi lý ấy là bảo rằng chỉ có những người theo “Cơ Đốc giáo vô tôn giáo” hay có tư tưởng bị trần tục hoá mới được khuyến giục suy tư. Vì theo điều Harry Blamires viết, thì cái chúng ta có lại chính là một quan điểm ngược lại. “Ngoại trừ một lãnh vực rất hẹp hòi của tư tưởng, nhất là liên hệ đến các vấn đề hoàn toàn thuộc về cách ăn nết ở của từng cá nhân chúng ta, những tín đồ Đấng Christ ngày nay, vì mục đích khuyến khích phần hoạt động tinh thần, đã chấp nhận một hệ thống tư tưởng do trí khôn con người xây dựng lên và một số các tiêu chuẩn phản ảnh cách thẩm định giá trị của người đời mà không hề có một tâm trí Cơ Đốc giáo…”. Lẽ dĩ nhiên là người tín đồ Đấng Christ phải suy tư; nhưng họ phải suy tư bằng tâm trí của một tín đồ Đấng Christ.
Tâm trí của giới phi Cơ Đốc
Dường như có một ít các tác giả bình dân trong khối Cơ Đốc giáo và v.v… đã chịu khó tìm hiểu hay đặt đúng mức vấn đề Kinh Thánh đã nói gì về tâm trí của những người ngoài Cơ Đốc giáo. Kinh Thánh đã nhấn mạnh đến một cuộc cách mạng tư tưởng bởi vì nó có một quan điểm rất u ám về tình trạng đen tối của một con người xem thường Đức Chúa Trời. Cho nên “Vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa, song cứ lầm lạc trong ý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm” (RoRm 1:21) rồi “Đức Chúa Trời đã phó họ theo tâm trí hư xấu” (theo bản Anh văn, nguyên văn là: một tâm trí dành cho sự đoán phạt 1:28) rồi “sự (tâm trí) chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời” (8:7) rồi “còn anh em ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời, và là thù nghịch cùng Ngài trong tâm trí” (CoCl 1:21) và “những kẻ chẳng tin mà chúa đời này đã làm mù tâm trí họ” (IICo 2Cr 4:4) và “bởi sự ngu muội ở trong họ (tâm trí hay sự hiểu biết), và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống Đức Chúa Trời” (Eph Ep 4:18).
Điểm này có lẽ đã được nhấn mạnh bằng chữ dùng trong Tân Ước, theo nguyên văn có nghĩa là một sự thay đổi tâm trí, thay đổi tư tưởng (chữ Hi Lạp là metanoia ), thấy mọi sự bằng một cách khác. Đó cũng là chữ chúng ta dịch là “ăn năn”. Muốn làm tín đồ Đấng Christ, bạn phải thay đổi tâm trí, phải suy nghĩ một cách mới. Tất cả những câu trên đều nhấn mạnh rằng trở thành người tín đồ thật của Đấng Christ có nghĩa là phải yêu mến Đức Chúa Trời hết tâm trí hay hết trí khôn.
Tâm trí không theo đường lối cũ
Trong Cựu Ước (Gie Gr 31:31-34) Đức Chúa Trời hứa rằng dưới giao ước mới, Ngài sẽ đặt các luật lệ Ngài trong tâm trí họ (HeDt 8:10) hay viết chúng trên tâm trí họ (10:16). Trong cùng một khúc sách đã đề cập đến những tâm trí bị lánh xa hay bị làm cho tối tăm, người tín đồ Đấng Christ cũng được khuyến giục “làm nên mới trong tâm thần của tâm trí mình” (Eph Ep 4:23). Ở một chỗ khác, Phao-lô cũng viết: “Đừng làm theo đời này, nhưng hãy biến hoá bởi sự đổi mới của tâm thần mình để thử cho biết ý muốn của Đức Chúa Trời…” (RoRm 12:2). Chữ “biến hoá” trong Hi văn là metamorphoơ . Phải có một sự thay đổi, một sự biến hoá, hay biến hình (chữ đã được dùng cho việc biến hình của Đấng Christ).
Sự biến hoá này tương phản với việc rập mẫu, làm theo đời này. Thật là khó nhận thấy trong phần tương phản nhau này một sự hậu thuẫn nào có thể bênh vực cho quan niệm muốn thế tục hoá Cơ Đốc giáo. Dường như Kinh Thánh đòi hỏi chúng ta phải dứt khoát với thế gian. Điều mà người tín đồ không nên làm bao giờ là rập mẫu xã hội thế tục. Phải có một cuộc cách mạng tư tưởng. Chúng ta phải “tự ý và hăng hái đặt vấn đề đối với mọi sự, mọi chủ đề” của phần tư tưởng cũ; có thể là có hạng người phàm tục được miễn chỉ trích cũng như hạng người thần thánh cùng địa vị đó. Chữ “làm theo, rập mẫu” gợi ý về việc bắt chước một kiểu, một cách thức nào đó, của một cái gì đó. Không ai nghi ngờ gì được về việc thế gian nói chung rất hay bắt chước lẫn nhau, và trong thời đại vô tuyến truyền hình này, áp lực của vô số cách thức quảng cáo dường như chứng minh rằng người ta càng mặc quần áo giống nhau, trang hoàng nhà cửa của mình hầu như in hệt nhau, và vân vân. Tín đồ Đấng Christ là người đặt vấn đề về thời trang và không chịu bắt chước theo những khuôn mẫu của thế gian vì người ấy có một chuẩn mực khác. Mẫu mực đó không bắt buộc phải khác hẳn với tất cả những gì người khác làm. Tư tưởng của người ấy không phải là điều mà những người khác nghĩ. Mẫu mực của người ấy cũng không phải rập khuôn sự bắt chước một cách vô ý thức cách ăn nết ở của những người trong Hội Thánh. Thỉnh thoảng người ấy có thể làm khác họ nếu nhất định làm theo các mẫu mực của Kinh Thánh.
Người tín đồ không phải là người không chịu tuân theo những lề thói chung vì quyền lợi cá nhân mình hay vì một điều gì khác, ngoài lý do vì Đấng Christ cũng không có thái độ đó (xin xem lại chương 1 phần “Chúa Giê-xu có ôn hoà, chừng mực không?”). Luôn luôn có những người nghệ sĩ lang thang (Bohemians) nhất định tỏ ra mình khác hẳn thiên hạ, là kẻ chống đối cái đơn điệu đáng chán của việc rập mẫu xã hội. Người tín đồ Đấng Christ có thiện cảm với những kẻ như thế; họ cũng được kêu gọi tỏ ra khác biệt, hay đặt vấn đề về thái độ ngoan ngoãn như trừu non của đám đông vốn vì những lý do khác hẳn. Họ không nổi loạn chống lại xã hội mà chỉ tìm cách sống theo ý chỉ của Đức Chúa Trời, là Đấng mà xã hội đang chống nghịch lại. Họ không muốn làm cho mình nổi bật hẳn lên hay tỏ ra lập dị vì chính mình; trong trường hợp nếu có những mẫu thời trang thật dị hợm đang thịnh hành, thì việc thiên về thứ thời trang của một thế hệ xa xưa cũng là điều ngu ngốc như thường. Cái nhìn của con người ngày nay chỉ khác hơn thời xưa, chớ không nhất thiết là xấu hay tốt hơn. Tâm trí của người tín đồ Đấng Christ phải luôn luôn luyện tập để biết lúc nào nên phản đối và lúc nào không nên. Người ấy không thể trở thành một kẻ thường xuyên xét nét để cho rằng không có gì là đúng cả. Bạn không thể nào cho rằng mọi sự đều không đáng làm, nhưng phải biết lúc nào ta nên phản đối. Người ấy phải đồng thời nhìn nhận là lúc mình có khuynh hướng tự nhiên muốn bắt chước, cũng như có tính hay nhút nhát, muốn tránh việc tỏ ra khác người.
“Vậy thì chúng ta phải làm gì? Vì một mặt, chắc chắn là khi chúng ta ít nhiều có thái độ không phản đối với một câu chuyện rõ ràng là xấu, chúng ta đang tiếp tay cho kẻ thù. Chúng ta đã khuyến khích những người xung quanh tin rằng ‘bọn Tin Lành kia’ khi ngồi chung quanh bàn ăn cách không thận trọng thì chắc cũng suy nghĩ và cảm giác như mình đó thôi. Chúng ta đã mặc nhiên chối Chúa, tỏ ra như ‘ta chẳng hề biết Người đó’. Mặt khác, cũng như nữ hoàng Victoria, chúng ta có thể tỏ ra là mình ‘không thích’ một câu chuyện như thế không? Hay chúng ta tỏ ra thích gây sự bằng cách luôn luôn ngắt ngang câu chuyện bằng những câu như: Tôi không đồng ý! Tôi không đồng ý! Hay là đứng dậy và bỏ đi chỗ khác? Nhưng bằng những thái độ đó, chúng ta có thể chỉ giúp khẳng định thêm một vài điểm nghi ngờ rất tai hại về ‘đám Tin lành đó’. Chúng ta chính là hạng người ‘tự phụ’ bất nhã theo như cách mà họ vẫn thường gọi”.
Trở thành một con người không a dua, không bắt chước, không rập mẫu kẻ khác không phải là dễ. Chắc chắn là thỉnh thoảng chúng ta không thể nào tránh được đụng chạm, làm mất lòng người khác. Lạy Chúa, xin cho chúng con thấy được lúc nào chúng con đừng nên bắt chước một thói quen đã được mọi người thừa nhận, lúc nào chúng con phải đặt vấn đề với những quan niệm tai hại được mọi người đồng ý mà khỏi trở thành một kẻ tự phụ, kiêu căng.
Nguồn mạch của sự hiểu biết về Đức Chúa Trời
Có lẽ phần nhập đề tốt nhất cho mục này là đoạn trích dẫn rất đặc sắc sau đây của Blamires: “Một khía cạnh bi đát của vấn đề này, ấy là những người ngoài cho rằng phần tiêu biểu của giáo hội là những tiếng cãi cọ ồn ào của những kẻ phản đạo. Dân chúng nghe theo những điều giả dối, sai lạc so với giáo lý chính thống do hàng giáo phẩm nói ra trên báo chí hay trên diễn đàn, và tưởng rằng những điều dạy dỗ của họ chính là những lời giáo huấn của Hội Thánh. Hàng giáo phẩm ly khai vẫn thường đạt đến các kỹ thuật quỉ quyệt rất chính xác và tỏ ra mình cũng hiểu biết như ai bằng những lời lẽ như : ‘Lẽ dĩ nhiên là các học giả lỗi lạc nhất của Anh quốc giáo cũng chủ trương rằng…’ hay ‘Chắc chắn là các nhà tư tưởng Cơ Đốc giáo theo kịp trào lưu nhất cũng đồng ý với quan điểm là….’. Hậu quả của những lối lý luận quanh quẩn như trên, dầu có thể bị những người sáng suốt cho là thiếu tế nhị, vẫn tỏ ra rất hữu hiệu đối với những người thiếu hiểu biết. Một số ẩn ý thâm hiểm của họ đáng được phân tích. Một trong số đó là khái niệm độc hại cho rằng trong thần học, sự cải tiến luôn luôn do một loại phương thức dân chủ của một uỷ ban gồm nhiều nhà tri thức lập ra (điều mà đối với bạn và tôi thì chắc khó hiểu rồi, nhưng may mắn thay, đối với diễn giả lại là những khái niệm rất quen thuộc). Một ẩn ý giả dối khác nữa là cho rằng chân lý nền tảng của Cơ Đốc giáo đều không ít thì nhiều là một cái gì không có thật. Chỉ có một số ý kiến cá nhân nào đó, thỉnh thoảng lại đồng ý với nhau bằng một đa số vừa đủ để tạo ra một đề nghị có thể thành hình”.
Điểm này vạch rõ rằng có rất nhiều người đang phân vân đối với chân lý Cơ Đốc giáo, rằng dầu sao thì đó cũng chỉ là một vài truyền thống cổ xưa nào đó rất có thể bị thay đổi dễ dàng. Người ta cũng nghi ngờ rằng đó chính là điều mà Monica Furlong muốn ám chỉ là đặt lại vấn đề đối với “tất cả các vấn đề liên hệ đến đức tin”
Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy mặt trời do ánh sáng của chính nó tạo ra. Sự hiểu biết về Đức Chúa Trời là điều Ngài đã mặc khải cho chúng ta. Những gì chúng ta biết được về Đức Chúa Trời không phải là một lô những điều dự đoán của một vài nhà tư tưởng tôn giáo nào đó, nhưng là điều Đức Chúa Trời đã chọn lọc để mặc khải cho chúng ta. Chúng ta hầu như không thể biết gì hết về một người lạ, nếu người đó cứ nhất định im lặng. Chỉ khi nào người đó chịu “hé môi” và bắt đầu nói về mình, chúng ta mới biết được về người ấy. Nếu Đức Chúa Trời không nói, thì chúng ta hầu như không biết được gì hết về Ngài. Sở dĩ người tín đồ Đấng Christ có một đức tin thực hữu là vì Đức Chúa Trời đã từng lên tiếng trong lịch sử, đã nhờ Môi-se, các nhà tiên tri, mà nhất là nhờ Đấng Christ mà phán ra. Ngoài phần mặc khải đó, chúng ta không biết gì hết về Đức Chúa Trời, và chúng ta không có uy quyền gì để “cải tiến” nội dung của đức tin Cơ Đốc giáo. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là bảo rằng đức tin là một cái gì như cục bướu thêm vào, một loại khả năng phụ thuộc, hoàn toàn không dính dấp gì với lý trí. Nếu lý trí tự nhiên, không được soi sáng của loài người không thể nào đạt đến sự hiểu biết về Đức Chúa Trời khi Đức Chúa Trời tự tỏ mình ra, thì việc Ngài tự tỏ mình ra đó chứng minh rằng nó hoàn toàn phù hợp với lý trí. Cả hai có một sự “ăn khớp” với nhau. Lẽ dĩ nhiên lý trí là tối cần thiết cho những điều chính nó lãnh hội được. “Chúng ta không thể nào nghĩ rằng điều ích lợi của ánh sáng thiên nhiên đáng phải loại bỏ hay không cần thiết bởi ánh sáng thần thánh đang được nhấn mạnh”.
Tâm trí của người tín đồ phải được chuẩn bị để vật lộn với các tư tưởng phi Cơ Đốc. Loại người vô tín càng khôn ngoan thì càng ít chú ý đến loại Tin Lành được trình bày mà không cho người ta chất vấn, chỉ trích, chỉ quanh quẩn với những điều khó khăn rất giới hạn, để sau khi nhấn mạnh rằng người ta không thể nào ăn năn bằng lý trí, lại cố gắng muốn khiến cho người ta ăn năn bằng cách dùng cảm xúc để thay vào! Người chưa tin Chúa phải biết rằng bạn chấp nhận điều dị luận và ít ra là có thể trả lời như thế nào cho chính bạn được toại nguyện; và khi có một lãnh vực nào mà bạn nhìn nhận là một điểm khó hiểu về phương diện đức tin, thì bạn cần bày tỏ rằng đối với người không tin thì còn khó khăn hơn nữa. Đối với người chưa tin Chúa, chúng ta có phận sự phải xử sự một cách thành thật với những khó khăn đích thực của họ, chớ không phải là tỏ ra bất cần một cách lễ phép, hay tìm cách nói lảng sang chuyện khác bằng cách ám chỉ đến một tâm trí còn tối tăm, chưa được soi sáng không thể nào lãnh hội được. Và khi người ta không trả lời được, thì người tín đồ không nên để mình bị cám dỗ mà tìm đủ cách để chiến thắng trong cuộc bàn cãi bằng bất cứ giá nào - vì như thế việc tôi thắng được bằng lý luận sẽ trở thành quan trọng hơn việc Đức Chúa Trời cứu rỗi linh hồn người kia. Người tín đồ phải tập luyện để thành thật, khiêm nhường chấp nhận rằng mình không biết câu trả lời nhưng sẽ cố gắng để lần lần tìm ra câu giải đáp. To tiếng hay giải quyết vấn đề bằng một đường lối mà cả hai người đều biết rằng mình trốn tránh vấn đề thực sự đã được đặt ra thì không ích lợi gì hết.
Chúa Giê-xu đã mở trí cho các môn đệ Ngài “hiểu Kinh Thánh” (LuLc 24:45) thế nào, thì cũng vậy, Đức Thánh Linh sẽ soi sáng tâm trí để loài người hiểu được sự mặc khải. “Nếu không phải là Thánh Linh từ Đức Chúa Trời đến, hầu được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời. Chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của loài người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh đã dạy, giải bày những chân lý thuộc linh cho người có Đức Thánh Linh. Người có tánh xác thịt không nhận được những ân tứ của Thánh Linh Đức Chúa Trời, vì người ấy xem những điều đó là sự rồ dại, cũng không thể hiểu được vì phải xem xét cách thiêng liêng” (ICo1Cr 2:11-14). Quan điểm của Kinh Thánh về lý trí không được soi sáng của loài người không thể nào thấu hiểu về Đức Chúa Trời có thể là một quan điểm không phổ biến, nhưng nó rất phù hợp với kinh nghiệm, mà hơn nữa, là với lý trí. “Chúng ta phải nhớ rằng sứ điệp của Kinh Thánh dành cho chúng ta chỉ có thể hiểu được nhờ ‘ánh sáng thiên thượng’. Đức tin Cơ Đốc giáo cung cấp cho chúng ta những thông tin mà nhờ đó, chúng ta có thể giải thích và hiểu được thế giới, lịch sử, sinh hoạt và mối liên hệ giữa nó với Đức Chúa Trời. Rõ ràng quan điểm này đối lập với mọi hình thức duy lý - là quan điểm chủ trương rằng lý trí con người với sự toàn hảo nội tại của nó, là một vị thẩm phán có trách nhiệm và rất vô tư đối với cái chân và cái giả của mọi sự vật, dầu là thuộc phạm vi thế tục hay tôn giáo. Đối với suy nghĩ của đa số mọi người, loại duy lý chủ nghĩa đó vẫn tồn tại. Nó là di sản của thế kỷ thứ mười tám và chính yếu tính của cái ‘ảo giác tự do’: cả đến những tư tưởng gia ‘tiến bộ’ nhất từng quen biết với Marx và Freud vẫn tự tin rằng mình theo duy lý chủ nghĩa và khinh miệt người khác. Ý niệm về một lý trí trừu tượng vô tư là một ảo ảnh, một thí dụ đáng ghi nhận về sự cám dỗ muôn đời của con người muốn tự tôn mình lên ngang hàng với các thần, biết điều thiện và điều ác. Như chúng tôi đã ghi nhận trong những phần trước, lý trí của chúng ta tuỳ thuộc vào rất nhiều điều, như giáo dục, hoàn cảnh xã hội, địa vị giai cấp, và vân vân. Thật ra, nếu nó không bị lệ thuộc, nghĩa là không được ngoại giới cung ứng cho nó những thông tin ấy, thì lý trí không thể nào hoạt động được...”.
Đối với tâm trí, hay lý trí của người tín đồ Đấng Christ, thì phần giáo dục đó là sự giáo dục của Đức Chúa Trời, và bối cảnh xã hội là hoàn cảnh của dân sự Đức Chúa Trời. Đó là “điều kiện cần” mà chúng ta phải có nếu chúng ta muốn đạt đến sự hiểu biết chân lý Cơ Đốc giáo. Đó là điều mà Tân Ước nói: “Cho nên chúng tôi cứ cầu nguyện cho anh em không thôi, và cầu xin Đức Chúa Trời ban cho anh em được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài, với mọi thứ khôn ngoan và hiểu biết thiêng liêng nữa” (CoCl 1:9) “… đặng có nhiều sự thông biết đầy dẫy chắc chắn, đến nỗi có thể hiểu sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời, tức là Đấng Christ, mà trong Ngài đã dấu kín mọi sự quí báu về khôn ngoan thông sáng” (CoCl 2:2, 3).
Tín đồ Đấng Christ phải suy tư
Tân Ước đầy dẫy những lời khuyên tín đồ phải suy nghĩ. Được sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh, được Đức Thánh Linh giải thích cho, đã không cất khỏi chúng ta phần trách nhiệm phải suy tư (cũng như việc có một bản nhạc và sự hiện diện của vị nhạc trưởng trên bục gỗ đã không cất đi được phần nhiệm vụ của các nhạc công trong ban nhạc là phải cố gắng hết sức sử dụng nhạc khí của mình cho thật hay). Nếu không, Kinh Thánh đã không đầy dẫy những lời khuyên chúng ta phải suy nghĩ như: “Hỡi anh em về phần tư tưởng, chớ nên như trẻ con, nhưng về sự gian ác, thật hãy nên như trẻ con vậy. Còn về tư tưởng, hãy nên như kẻ thành nhân” (ICo1Cr 14:20) “Hãy suy gẫm về điều ta nói cho con, và chính Chúa sẽ ban cho con sự hiểu biết trong mọi việc” (IICo 2Cr 2:7) “Anh em hãy thắt lưng tâm trí anh em” (IPhi 1Pr 1:13) (Những câu Kinh Thánh này đều dịch theo bản Anh văn tác giả đã dùng). Phải có một sự thức tỉnh về mặt tâm trí, một sự bùng nổ mới mẻ về phương diện hoạt động tinh thần. Tác giả thơ Hê-bơ-rơ đã quở trách người Hê-bơ-rơ bởi vì đáng lẽ họ đã trở thành thầy giáo rồi, nhưng vẫn cần được dạy dỗ trở lại những nguyên tắc sơ đẳng về đức tin (HeDt 5:12). Không có lý do gì bênh vực được sự lười biếng tri thức. Chúng ta phải biết chắc rằng những gì chúng ta nắm lấy là những niềm tin hợp lý chớ không phải là những thành kiến mù quáng.
Tâm trí người tín đồ Đấng Christ phải vật lộn với những điều khiến cho đức tin bị hoài nghi. Chúng ta phải không nên làm ngơ đối với những điểm khó khăn, nhưng phải thành thật đối đầu với chúng và tìm câu trả lời. Chúng ta có thể nhờ các tín đồ khác giải đáp giúp, nhưng trước hết, chúng ta phải suy gẫm về chúng. Điều đó nằm trong vấn đề phải hết trí khôn mà yêu mến Chúa. Thường thường câu trả lời cho một số những lời chỉ trích không phải là đả phá hay quyết liệt chối bỏ. Chúng ta không cần gì phải bênh vực Hội Thánh Đấng Christ hay các giáo hữu của nó là đúng hay sai. Vấn đề ở đây là chúng ta có quyền đặt vấn đề về định chế của giáo hội và những món đồ cũ thời trung cổ mà một số các nhà thờ đã thu góp được quá nhiều đến nỗi có thể biến các nhà thờ ấy trở nên giống như các bảo tàng viện chớ không thể là một cái gì khác nữa được.
Thí dụ như giả sử là chúng ta bị tấn công về các phương pháp phổ biến Tin Lành. Người ta bảo rằng việc giảng đạo của chúng ta chẳng qua là một thứ tẩy não bằng cảm xúc, rằng chúng ta đã lợi dụng sự thắc mắc, bất an của tuổi thiếu niên để thúc đẩy họ đến với Hội Thánh Đấng Christ trong một cơn khủng hoảng về cảm xúc. Việc trở về đạo chỉ là một kỹ thuật tâm lý. Phản ứng đầu tiên của chúng ta có thể là bênh vực cho phương pháp truyền giảng của Hội Thánh. Nhưng chúng ta phải nhận rằng có một vài trường hợp, lời chỉ trích kia rất đúng, và có một số phương thức phổ biến Tin Lành gần với lối mô tả đó một cách lạ lùng. Thậm chí có những trường hợp trở về đạo cũng “chẳng có gì” ngoài lối miêu tả trên. Nhưng điều đó không đánh đổ được giá trị của những việc trở về đạo thành thật đúng nghĩa, cũng không phải tất cả những cơ hội “trở về đạo” đều nhằm vào những người trẻ tuổi hay chỉ giới hạn trong những buổi họp mặt mà họ mô tả. Cũng không phải việc giảng Tin Lành nhất thiết phải theo phương pháp đó mới có kết quả. Dĩ nhiên là khi đã biết trước cái hiểm hoạ đó, chúng ta sẽ thận trọng để cố gắng hết sức tránh loại xưng nhận đức tin một cách giả tạo như thế, một lối nhận đạo do sự thuyết phục của loài người hay do một kỹ thuật cưỡng ép, chớ không phải là do tác động của Đức Thánh Linh. Chúng ta không có huấn lệnh nào để bênh vực những điều trong giáo hội mà chúng ta biết là đi ra ngoài những gì Đức Chúa Trời đã mặc khải trong Kinh Thánh. Dĩ nhiên có những vấn đề mà chính chúng ta cũng phải xét lại.
Có nhiều khi cách thức tuân theo các lệnh truyền phải suy tư của một số tín đồ đã khiến chúng ta giật mình. Họ dám chống lại một số chủ trương mà mọi người đều chấp nhận bởi vì dường như chúng không phù hợp với phần còn lại của Kinh Thánh. Chàng thanh niên William Carey, sống trong một thế hệ không có những buổi họp mặt do các giáo sĩ tổ chức, đã treo một tấm bản đồ thế giới trong xưởng làm việc bên trên chiếc bàn đóng giày của mình, và tìm cách vạch ra những gì mình có thể làm được đối với thế giới ngoại đạo kia. Trong thời của ông, mọi người đều hiểu rằng lệnh truyền phải đi khắp thế gian, khiến muôn dân trở nên tín đồ Đấng Christ, chỉ đặc biệt áp dụng cho các sứ đồ mà thôi. Calvin, Luther và lẽ dĩ nhiên là dường như tất cả các nhà cải chánh khác, cũng đều giữ cùng một lập trường đó. Carey nhận định rằng nếu lời hứa trong câu Kinh Thánh tiếp theo đó được duy trì cho đến thời kỳ cuối cùng, tại sao lệnh truyền lại không được duy trì y như vậy? “Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và này, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Mat Mt 28:19, 20). Khi ông dám gợi ý rằng có lệnh truyền đó cũng được ứng dụng cho đến thời kỳ cuối cùng, có người đã bảo ông rằng: “Cậu ơi, ngồi xuống đây đi. Nếu Đức Chúa Trời muốn cho những người ngoại đạo ăn năn, chắc Ngài sẽ làm việc đó mà không cần gì đến tôi với cậu giúp đỡ Ngài đâu”. Đó là quan điểm thịnh hành của thời ấy; nhưng Carey vẫn duy trì chỉ bảo rằng dạy người khác vâng giữ hết cả mọi điều Đấng Christ dạy, ít ra cũng gồm luôn chính lệnh truyền phải đi khiến muôn dân trở thành môn đệ Ngài. Cả đến các nhà cải chánh cũng có thể sai lầm! Họ cũng chỉ là những người có thể lầm lẫn, và Carey đã chứng minh được chủ trương của mình bằng cách dùng lối lý luận của người tín đồ Đấng Christ được soi sáng về chính những lời chép trong Kinh Thánh.
Tín đồ Đấng Christ có thể khác nhau
Chúng ta vừa thấy rằng nếu Kinh Thánh vô ngộ thì tín đồ có thể ngộ nhận là điều chắc chắn. Cho nên chúng ta phải thận trọng và đừng bao giờ bảo rằng quyển Kinh Thánh vô ngộ thì những lời giải thích Kinh Thánh của chúng ta cũng không thể nào lầm lẫn. Phải chăng mỗi tín đồ Đấng Christ đều phải khác hẳn nhau, và chúng ta đừng bao giờ nên trông đợi một sự đồng tâm, hiệp ý? Nhiều người đã trích dẫn câu này: “Hỡi anh em, tôi nhân danh Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau” (ICo1Cr 1:10) và tôi từng nghe có người dùng cả câu đó như một chiếc đòn bẩy để nhấn mạnh rằng nếu thế thì bạn phải đồng ý với cách giải nghĩa Kinh Thánh của tôi. Kinh Thánh dạy bạn phải đồng ý với tôi!
Nhưng chúng ta cũng phải hiểu khúc sách này trong ánh sáng của nhiều khúc sách khác nữa. Thí dụ như: “Ai nấy hãy tin chắc ở trí mình” (RoRm 14:5) nằm trong khúc sách nói rằng người tín đồ Đấng Christ có nhiều quan điểm khác nhau liên hệ đến việc giữ các ngày lễ, hay trong vấn đề phải ăn loại thực phẩm nào. Nhờ những chỗ khác, chúng ta biết rằng chính Phao-lô đã có lòng tin rất vững chắc liên hệ đến cả hai vấn đề ấy (GaGl 4:10; ICo1Cr 8:13), nhưng ở đây ông nói mọi người hãy tin ở trí mình và đừng lấy đó làm một lý do để phê bình, chỉ trích, gây chia rẽ hay làm tan vỡ tình bè bạn.
Hơn nữa, trong thư tín gởi cho các tín hữu Ga-la-ti, chúng ta thấy thế nào khi bị những người do Gia-cơ sai đến bắt gặp, Phi-e-rơ cũng như tất cả những người Do Thái và cả Ba-na-ba, đều rút lui và không ngồi ăn chung với người ngoại nữa (GaGl 2:12-14). Chỉ trong trường hợp đó, Phao-lô mới chống lại và chứng minh rằng làm như thế là sai lầm. Cả đến các sứ đồ tiền phong cũng có thể lầm lẫn và hiểu sai các vấn đề căn bản. Cũng y như ngay lúc mới tin Chúa, người tín đồ vẫn chưa được giải thoát hoàn toàn khỏi những tội lỗi trong lòng chỉ vì chúng hãy còn lảng vảng đâu đó, cho nên họ cũng chưa hoàn toàn thoát được sự sai lầm nội tâm. Cả về phương diện đạo đức lẫn tri thức, họ vẫn còn có thể bị sai lầm. Đức Chúa Trời cho phép việc đó xảy ra. Lẽ dĩ nhiên, phương pháp để chúng ta trưởng thành là phải chiến đấu với tội lỗi, chiến đấu với lầm lẫn: dường như lắm lúc chúng ta được phép phân vân về một số vấn đề nào đó đều là nhằm vào một mục tiêu - có lẽ là để bắt buộc chúng ta phải suy nghĩ. Nếu đó là ý Chúa, chắc Ngài đã cho vào Kinh Thánh một số những lời chỉ dạy liên hệ đến các vấn đề và cách thức làm lễ báp-tem hoặc về phẩm trật trong Hội Thánh; những lời chỉ dạy đó sẽ loại bỏ được ngay những quan niệm đang mâu thuẫn nhau. Nhưng Đức Chúa Trời đã không muốn làm như vậy. Cho nên chúng ta bị bắt buộc phải suy nghĩ, phải lý luận về ý nghĩa của một vài khúc sách. Chúng ta phải phân biệt điều Kinh Thánh thật sự nói với điều chúng ta nghĩ là Kinh Thánh dạy, và có lẽ như thế, chúng ta mới khỏi hiểu lầm một vài quan niệm được căn cứ trên điều người ta nói mà có lần chúng ta được nghe. Chúng ta phải chú ý đến văn mạch của những câu Kinh Thánh để biết lúc nào lý luận bằng im lặng là có giá trị và khi nào thì nó không có giá trị gì cả. Luôn luôn chúng ta gặp cái hiểm hoạ là chúng ta chỉ khăng khăng giữ vững một quan điểm là vì thiên kiến chớ không phải là vì thật sự tin tưởng.
Giới hạn của tâm trí người tín đồ
Theo cùng một phương diện như trên thì dường như điều cũng tối quan trọng là chúng ta phải hoàn toàn thành thật trong những việc chúng ta không biết. Trong Tân Ước có rất nhiều điều dạy dỗ liên hệ đến những giới hạn hiểu biết của người tín đồ Đấng Christ. Chúng ta được cho biết rằng Đức Chúa Trời “có thể làm trổi hơn vô cùng mọi sự việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng” (Eph Ep 3:20), rằng sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết (Phi Pl 4:7), trong khi ngay trong đoạn Kinh Thánh rất nổi tiếng đề cập đến tình thương yêu, sự hiểu biết hiện tại của chúng ta được đồng nhất hoá với sự hiểu biết của kẻ thành nhân mà một ngày kia chúng ta sẽ trở thành, khi chúng ta không còn nhìn xem như qua một chiếc gương cách mập mờ (ICo1Cr 13:9-12). Phao-lô đã đặc biệt bảo rằng sự hiểu biết của chúng ta rất bất toàn, và chúng ta chỉ biết được một phần nào mà thôi. Điều đó phải nên giúp chúng ta khỏi độc đoán quá mức đối với những vấn đề không được rõ rệt trong Kinh Thánh. Có một số các vấn đề chúng ta phải nhìn nhận là mình không biết và đang bị bối rối vì chúng. Nếu chúng ta làm như vậy, chúng ta sẽ ở chung với một nhóm người rất có giá trị, bởi vì sau khi đề cập đến những mối liên hệ giữa quyền tể trị của Đức Chúa Trời với trách nhiệm con người, Phao-lô chỉ có thể thốt lên những lời tán tụng sau đây: “Ôi, sâu nhiệm thay là sự giàu có, khôn ngoan và thông biết của Đức Chúa Trời! Sự phán xét của Ngài nào ai thấu được, đường nẻo Ngài nào ai hiểu được! Vì, ai biết ý tưởng Chúa, ai là kẻ bàn luận của Ngài? Hay là ai đã cho Chúa trước, đặng nhận lấy điều gì Ngài báo lại? Vì muôn vật đều là từ Ngài, bởi Ngài và hướng về Ngài. Vinh hiển cho Ngài đời đời, vô cùng A-men” (RoRm 11:33-36).
Hết thảy chúng ta phải nhìn nhận rằng sự hiểu biết của loài người có giới hạn. Cũng như Phao-lô, chúng ta chỉ có thể nghiêng mình và ca tụng trước tâm trí cao cả, vĩ đại của Đức Chúa Trời. Chắc điều đó sẽ giúp cho phần tư tưởng nhỏ bé của chính chúng ta được mở rộng, được thấy xa hơn.
Một lời khuyên cần thiết
“Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con, Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo đường của con. Chớ khôn ngoan theo mắt mình...” (ChCn 3:5 và tt). Tin cậy vào sự khôn ngoan của chính mình là điều rất nguy hiểm, nếu chúng ta tưởng rằng chính mình có thể giữ lấy mình và tìm được giải đáp cho tất cả vấn đề. Chính tinh thần đó của người vô tín vốn là yếu tính của tội lỗi, và luôn luôn, nó vẫn là cái hiểm hoạ trở thành tội lỗi của người tín đồ tri thức, dầu là một nhà trí thức về thần học. Có lẽ chúng ta đã có một nền thần học tập trung vào Đức Chúa Trời, nhưng nó vẫn tuỳ thuộc vào lý luận của loài người, và mỗi ngày thái độ của chúng ta chưa thực sự tuỳ thuộc vào Chúa hết lòng, cũng như chúng ta vẫn chưa thuận phục Ngài trong tất cả các đường lối chúng ta. Đức tin chúng ta có thể trở thành một cuộc rèn luyện và “mọi sự hay biết… nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì” (ICo1Cr 13:2). Người tự biết rằng mình là bậc tri thức rất dễ gặp nguy hiểm. Đó là cái hiểm hoạ khiến chúng ta không thực sự đặt trí khôn mình đầu phục Chúa, nhưng chỉ suy tư ngoài sự soi sáng của Đức Chúa Trời, tin cậy vào chính sự hiểu biết của chúng ta.
Chính Phao-lô đã viết về cái hiểm hoạ có tri thức mà không có tình thương, và ông lại là người có nhiều khả năng tri thức. Ông đã viết về “sự giảng rồ dại” (ICo1Cr 1:21), về cái hiểm hoạ là đức tin con người chỉ được xây dựng trên “những lời lẽ khéo léo của sự khôn ngoan (loài người)” (2:4) thay vì trên quyền năng Đức Chúa Trời. Chính con người đó cũng đã từng bảo rằng mình có thể tin cậy vào phần xác, nhưng sau đó, đã xem điều đó như sự lỗ và từ bỏ đi “vì sự nhận biết Đức Chúa Giê-xu là quí hơn hết” (Phi Pl 3:4-8). Phao-lô muốn khuyên chúng ta hãy nhờ cậy Chúa, đừng cậy vào sự linh mẫn hay hiểu biết của chúng ta.
Frances Havergal cầu nguyện rằng: “Xin Chúa hãy nhận lấy trí khôn của con”. Người tín đồ có thể “tin cậy”, có thể chấp nhận các “giáo lý” một cách chính thống, nhưng thật sự đang gặp cái nguy là không chịu dâng trí khôn của mình cho Chúa dùng. Cả phần trí khôn cũng phải được thánh hoá, được biệt riêng cho sự phục vụ Đức Chúa Trời. Điều đó không có nghĩa là chúng ta phải tỏ ra dốt nát, khiêm nhượng bằng một hình thức thiếu thành thật nào đó, nhưng có nghĩa đúng hơn là chúng ta phải tìm cầu sự tự do trọn vẹn trong cách diễn tả tư tưởng bằng cách đầu phục Đức Chúa Trời, là Nguồn Mạch của mọi lý trí, mọi chân lý, chỗ khôn giấu mọi của báu về sự khôn ngoan và thông biết.
Thông minh hay khôn ngoan?
Có một số người trong chúng ta rất khiếm khuyết trong lãnh vực tri thức. Thường chỉ số thông minh của chúng ta không quá mức trung bình. Nhưng không phải chỉ có những người thông minh xuất chúng mới được truyền dạy phải “hết trí khôn” mà yêu mến Chúa. Mỗi người đều có trí khôn. Trí khôn của họ có thể là một, hai, hay năm ta-lâng? Nhưng chúng ta còn được chờ mong đầu tư số vốn trí thức đó vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nếu biết sử dụng, cả đến trí khôn một ta-lâng cũng có thể làm lợi ra được và Kinh Thánh dạy chúng ta phải làm như vậy.
Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta rất nhiều lần rằng phải tìm kiếm sự khôn ngoan nơi Đức Chúa Trời. “Phải, nếu con kêu cầu sự phân biện, và cất tiếng lên cầu xin sự thông sáng: Nếu con tìm nó như tiền bạc, và kiếm nó như bửu vật ẩn bí. Bấy giờ con sẽ hiểu biết sự kính sợ Đức Giê-hô-va, và tìm được điều tri thức của Đức Chúa Trời. Vì Đức Giê-hô-va ban cho sự khôn ngoan, từ miệng Ngài ra điều tri thức và thông sáng” (ChCn 2:3-6). Thật là rõ ràng: Đức Chúa Trời vốn là nguồn mạch của mọi khôn ngoan. Chính Sa-lô-môn đã cầu xin sự khôn ngoan đó (IVua 1V 3:9-12) và ông cũng nói rõ ràng cho người khác biết sự khôn ngoan của ông, sự khôn ngoan đã trở thành tục ngữ, cả tâm trí “khôn ngoan và biện biệt” đó, là một ân tứ của Đức Chúa Trời ban cho mình.
Tân Ước cũng dạy y như vậy. “Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho” (Gia Gc 1:5). Chúng ta được cho biết là mọi của báu về khôn ngoan và thông biết đều được giấu kín trong Đấng Christ (CoCl 2:3), và Đức Chúa Trời là Đấng làm nên sự khôn ngoan cho chúng ta (ICo1Cr 1:30). Trong danh sách các ân tứ thuộc linh, chúng ta được cho biết là Đức Thánh Linh ban cho người này “lời nói khôn ngoan” và kẻ khác “lời nói tri thức, cũng nhờ một Đức Thánh Linh ấy” (ICo1Cr 12:8). Nếu đó là những ân tứ thuộc linh, thì chúng không phải chỉ được phú bẩm cho chúng ta một lần đủ cả khi sanh ra; nhưng những ai thiếu mà muốn được các ân tứ ấy, thì được khuyên là phải tha thiết mong ước chúng (12:31; 14:1), vì cũng như các ân tứ thuộc linh khác, chúng ta phải tìm kiếm chúng nơi Đức Chúa Trời.
Cho nên sự thật là thỉnh thoảng người ta phải ngạc nhiên khi thấy một số người, theo phương diện loài người mà nói, mà nghĩ thì không có gì hứa hẹn hết, nhưng đã thình lình nổi bật hẳn lên nhờ một hay nhiều ân tứ thuộc linh. Việc xảy ra hầu như là Chúa muốn chứng minh cho chúng ta thấy quyền năng Ngài, thấy điều Ngài có thể làm để biện bác về những ý kiến thấp kém chúng ta đã có về một người trong vòng các con cái Ngài. Ngài là Đấng Ban Cho, Đấng Ban Cho Cao Cả, và Ngài ban các ân tứ cho loài người; và dầu chúng ta có quyền cho rằng người khác hơn mình, có tìm cách đánh giá một cách điềm tĩnh những ân tứ nào chúng ta có và những ân tứ nào chúng ta không có. Ngài đã bảo chúng ta là hãy cầu xin sự khôn ngoan và thiết tha mong ước được những ân tứ tốt nhất. Tại sao chúng ta chần chờ?
Trí khôn hành động
Dầu sao thì như chúng ta đã thấy và sẽ thấy, dường như thư Phi-líp đã tóm tắt vấn đề hết lòng vì Chúa và phục vụ Ngài mà chúng tôi muốn viết trong quyển sách này. Cho nên điều quan trọng là tìm ra những điểm mà theo đó, Phao-lô xem việc dâng trọn vẹn trí khôn của mình cho Chúa là điều chính yếu đối với các tín đồ Phi-líp.
Tình yêu mến của họ phải cần tăng thêm càng hơn, nhưng nó phải được dung hoà bởi “sự thông biết và suy hiểu” (và chữ Hi Lạp ở đây là aisthçsis , chắc có liên hệ với chữ aesthetic - thẩm mỹ) “để thử nghiệm (đúng hơn là: tán thưởng) những sự tốt lành…” (Phi Pl 1:9, 10). Đây là một thứ tình yêu thương chan chứa và nồng nàn, không phải do tình cảm hay cuồng dại, nhưng được xem là có giá trị và có đặc tính trí thức của nó. Chúng ta phải thương yêu bằng cả tâm trí của chúng ta.
Họ phải có một tâm trí khiêm nhường vốn là đặc tính của Chúa, Đấng có trí khôn của Đức Chúa Trời, nhưng bằng lòng mặc lấy hình tôi tớ (Phi Pl 2:5-7). Dường như rõ ràng là trong vấn đề thánh hoá và thánh khiết có một chút gì hơi khác nhau. Phao-lô đã nhấn mạnh rằng dầu trong sự trọn vẹn chúng ta có tiến bộ đến mức nào đi nữa, chúng ta cũng phải cố gắng để cứ tiến bộ càng hơn (3:12). Trái với những người bảo rằng mình đã hoàn toàn rồi và có khuynh hướng mãn nguyện với mức độ mình đã đạt đến, có những người suy nghĩ rằng sự toàn hảo không thể nào đạt được trong đời này nên đã dừng lại và không chịu cố gắng nữa. Cả hai đều không có ai tiến tới được. Phao-lô bảo rằng cả hai quan điểm trên đều sai, và họ đã bằng lòng với sự thánh hoá đứng im, với địa vị họ đã đạt được, cho nên ông viết: “Vậy những người trưởng thành trong chúng ta phải có ý tưởng đó, và nếu anh em tưởng đàng khác, Đức Chúa Trời cũng sẽ lấy sự đó soi sáng cho anh em” (3:15). Có thể có những quan điểm khác nhau, nhưng chúng ta phải chờ đợi Đức Chúa Trời để được hiểu biết càng hơn.
Ông nhắc cho người Phi-líp rằng sự bình an của Đức Chúa Trời, vốn vượt hẳn khả năng của trí khôn loài người, khiến họ không thể nào nắm được nó trọn vẹn, nhưng dầu vậy, sẽ giữ được tấm lòng và tâm trí họ trong Chúa Giê-xu Christ (4:7), và sở dĩ như vậy, chắc là nhờ họ không nên lo âu về bất cứ việc gì (cả đến những vấn đề của trí khôn nữa?), nhưng chỉ cần cầu nguyện về những điều đó. Nghĩa là, dầu Đức Chúa Trời đã hứa ban sự bình an, thì con người trí thức cứ lo âu mà không chịu cầu nguyện sẽ chẳng bao giờ hưởng được sự bình an đó.
Sau hết - có một lời khuyến giục quang vinh được mở đầu bằng chữ “rốt lại” thứ hai của ông: “hỡi anh em, điều chi chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thanh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến” (4:8). Có lời khuyên nào hay hơn cho tâm trí người tín đồ Đấng Christ, cho một trí khôn đã dâng trọn cho Chúa? Có việc làm nào tốt hơn, và có lời lẽ nào tốt hơn để kết thúc chương sách này.
Những điểm gợi ý để suy gẫm và cầu nguyện
Tôi có phải là một tín đồ Đấng Christ biết suy tư không? Hay đức tin tôi chỉ là một căn phòng đóng kín, hoàn toàn riêng biệt, tách rời với sinh hoạt trí thức của tôi?
Tôi có mù quáng noi theo những mẫu mực sẵn có , hay luôn luôn căn cứ vào các nguyên tắc của Kinh Thánh để suy nghĩ về cách ăn nết ở của mình ?
Từ ngày tôi tin Chúa đến nay, cuộc cách mạng trí thức của tôi tiến được đến đâu rồi? Hay tôi vẫn còn giữ những mẫu mực tư tưởng trần gian, tập trung vào con người y như trước?
Tôi có suy tư hay rèn luyện cho tâm trí tôi suy tư bằng những quyển sách kích thích tôi suy nghĩ , hay tôi chỉ đọc loại văn chương hời hợt để giải trí mà thôi ?
Tôi chỉ lý luận suông với người chưa tin Chúa, hay đã có thể kích thích tâm trí họ bằng một phương pháp khích động tư tưởng để hướng dẫn họ đến cùng Đấng Christ?
Những giáo lý tôi tin tưởng và những lễ nghi của giáo hội mà tôi làm theo , chỉ là sản phẩm của các thành kiến hay là những niềm tin chân thành ?
Tôi có lâm vào cái hiểm hoạ là kiêu ngạo trí thức, khinh miệt kẻ khác mà lòng thì nguội lạnh và thiếu tình thương yêu là điều tối cần thiết cho người tín đồ Đấng Christ chăng?
Tôi có nghĩ đến những điều chân thật , đáng tôn trọng , công bình , thuần khiết , đáng yêu , đáng chuộng , hoàn hảo và đáng ca ngợi - hay chỉ phí thì giờ vào những điều không phải là những điều vừa kể ?
Tôi có thực sự hết trí khôn phục vụ Chúa không?

TÌNH SỬ hay TÌNH YÊU?

Lạy Chúa , xin nhận lấy tình yêu
của con , con xin dốc đổ
dưới chân Ngài những báu vật
mà nó chất chứa .
Mỗi người trong chúng ta đều có một dung lượng tình yêu chất chứa trong lòng như chiếc chai bằng bạch ngọc đựng dầu thơm. Chúng ta nên giữ kỹ nó cho riêng mình, giấu kín nó để bí mật sử dụng, hay đổ nó ra cách rời rộng cho xã hội loài người được thơm nức mùi dầu đó? (xin xem GiGa 12:3). Vật quí báu đó chúng ta sẽ dùng để làm gì, chúng ta sẽ sử dụng lòng khao khát yêu và được yêu đó vào việc gì? Nếu dùng một lối loại suy kém thi vị và gần gũi hơn, chúng ta có thể nói là trong cái khả năng lớn lao đó của tình yêu nơi con người, có một số phước hạnh và năng lượng đang chờ đợi để được giải toả; nhưng chúng sẽ được sử dụng như thế nào? Nguyên tử năng là một năng lượng linh động có thể được dùng vào các mục tiêu hoặc thiện hoặc ác như thế nào, thì cũng vậy, phần khả năng lớn lao trong chúng ta đó có một sức mạnh quan trọng để ứng dụng cho cả điều thiện lẫn điều ác. Làm sao có thể kiểm soát nó và hướng việc sử dụng nó vào những nẻo đường đầy vui vẻ, phước hạnh? Tình yêu là một cái gì mà tất cả mọi người - nam cũng như nữ - đều có thể ban ra, cũng như là điều mà mọi người, ở bất cứ giai đoạn nào của đời sống, cũng cần nhận lãnh. Trẻ con cần nó, mà người trưởng thành cũng vậy, nhưng chính những người thật cao tuổi mới thường cảm thấy là mình thiếu nó. Vấn đề nan giải là, vì mọi người đều có thể ban ra, và mọi người cũng cần nhận lại, vậy tại sao nó lại trở thành hiếm hoi.
Khi chúng ta nói đến từ ngữ “yêu” là chúng ta muốn nói gì? Nếu muốn mô tả bản tính của Đức Chú Trời hay từng trải của người tín đồ Đấng Christ thì dường như chúng ta không có đủ chữ, đủ lời, và thường trong một bản văn, chữ “tình yêu” đó trở thành rất mờ mịt, mơ hồ. Nó đã được dùng diễn tả cái không thể diễn tả được, và đã thất bại trong nhiệm vụ của mình. Chữ ấy đã được dùng theo rất nhiều nghĩa: lòng ái kỷ, tình yêu cha mẹ, tình yêu nam nữ, tình huynh đệ, tình đồng loại và, vân vân…
Tình yêu của người tín đồ Đấng Christ
Dường như Kinh Thánh xem tình yêu là một cái gì đặc biệt, độc đáo phải có nơi người tín đồ Đấng Christ. Dường như khi trở thành tín đồ Đấng Christ thì cả trong văn phạm của mấy chữ “thay đổi tâm trí” cũng bao hàm một cuộc cách mạng. Vì theo lẽ tự nhiên chúng ta nói “tôi” một cách vị kỷ theo ngôi thứ nhất số ít, và dường như không thấy có gì khó khăn khi kết hợp phần văn phạm đó vào kinh nghiệm sống. Người khác bị liệt vào địa vị của ngôi thứ hai, trong khi người thứ ba là nó (chàng, nàng, hay vật ấy v.v.). Nhưng trong văn phạm Hi Bá Lai chúng ta gặp một điều trái ngược rất lý thú, ấy là ngôi thứ nhất chỉ về “nó”, ngôi thứ hai ám chỉ “anh”, còn chính tôi lại rơi vào tận ngôi thứ ba. Chúng ta thường nghĩ về chính mình trước nhất, đó là lẽ tự nhiên; và Đức Chúa Trời là một nhân vật thứ ba nào đó, nếu chúng ta thỉnh thoảng có nghĩ đến Ngài. Nhưng một khi chúng ta đã thay đổi tâm trí, thì có một cuộc cách mạng, và bây giờ chúng ta nhìn nhận rằng Đức Chúa Trời là ngôi thứ nhất trong đời sống chúng ta. Cho nên điều răn thứ nhất đã được Đấng Christ tóm tắt - là hãy hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức mà yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta (Mac Mc 12:30). Điều răn liên hệ đến ngôi thứ hai và dạy rằng tôi phải yêu người lân cận như mình (Mac Mc 12:31), cho nên từ nay trở đi, thay vì chú ý đến tôi, đặt quyền lợi của chính tôi trên hết, tôi phải đặt quyền lợi kẻ khác trước nhất cũng ngang hàng với chính tôi (lẽ dĩ nhiên là viết hay nói là dễ dàng hơn khi phải thật sự thực hiện theo điều này trong thực tế).
Thế là Kinh Thánh đã đặt một loạt những quyền ưu tiên nói cho tình yêu của chúng ta. Từ ngữ đó xuất hiện rất nhiều lần, thí dụ như nó đã được dùng không ít hơn mười bảy lần, cả dưới dạng động từ lẫn danh từ, trong thư tín gởi cho người Ê-phê-sô. Trong những chỗ khác người ta gặp nó trong những chữ kép có sức hấp dẫn rất lạ lùng, như: philadelphia , “tình yêu thương anh em” (IPhi 1Pr 1:22) hay “yêu nhau như anh em” (RoRm 12:10) philostorgos , tình yêu gia đình, hay “yêu thương mềm mại” (12:10) philoxenos , tình yêu đối với khách lạ hay sự “hiếu khách” (12:13) còn trong Tit Tt 2:4 người ta gặp mấy chữ philandros hay philoteknos , là yêu chồng con. Tín đồ Đấng Christ phải yêu nhau như anh em, như người cùng một gia đình.
Sở dĩ như vậy là vì Đức Chúa Trời đã yêu thương chúng ta trước (IGi1Ga 4:10). Tình yêu của chúng ta được kêu gọi đáp lại tình yêu của Ngài, Đấng đã yêu tôi và phó chính mình Ngài vì tôi (GaGl 2:20). “Vậy, anh em hãy trở nên kẻ bắt chước Đức Chúa Trời như con cái rất yêu dấu của Ngài, hãy bước đi trong sự yêu thương, cũng như Đấng Christ đã yêu thương anh em, và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ, như một thức hương có mùi thơm” (Eph Ep 5:1, 2). Ở đây chúng ta gặp quan niệm về hương thơm của tình yêu Đấng Christ tỏ ra, và chính là để đáp lại tình yêu đó của Đấng Christ và đáp lại sự kiện chúng ta là những kẻ “rất yêu dấu” của Đức Chúa Trời, nên tình yêu đó là một cái gì rất hợp lý đi sau lệnh truyền chúng ta phải bước đi trong tình yêu. Có lẽ khúc sách lạ lùng nhất liên hệ đến vấn đề ấy là Rô-ma đoạn 5, trong đó chúng ta được cho biết rằng “sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta” (RoRm 5:5). Trong mấy câu tiếp theo, chúng ta thấy rằng nếu loài người chỉ yêu những cái gì đáng yêu hay đẹp đẽ, hoặc yêu những người có thể yêu lại mình, thì tình yêu của Đức Chúa Trời hoàn toàn khác hẳn khiến mọi người phải ngạc nhiên bởi tình yêu ấy đã được tỏ ra đối với các tội nhân (câu 8) vốn không có năng lực đạo đức và là những kẻ vô đạo (câu 6), họ thậm chí còn là những cừu địch của Ngài nữa (câu 10). Tình yêu của Đức Chúa Trời đã mở rộng đến cả những người hoàn toàn không xứng đáng nhận lãnh nó, những kẻ vốn ô uế, hư hoại, vô đạo đức trước mặt Ngài, cũng ghen ghét và thù nghịch với Ngài nữa. Như thế, tình yêu của người tín đồ Đấng Christ là sự đáp lại của một tấm lòng tràn ngập một ý thức về sự vô giá trị của mình, một tấm lòng bị tội lỗi và những động cơ ích kỷ làm nhiễm độc; tuy nhiên, đó cũng là một tấm lòng đã tìm ra rằng dầu Đức Chúa Trời biết hết mọi sự về chúng ta, Ngài vẫn yêu chúng ta và Đức Chúa Giê-xu đã chịu chết vì chúng ta.
Tình yêu được đặt vào quỹ đạo
Như chúng ta đã thấy trong một chương trước đây (xin xem lại chương 1, phần cuối mục “Quân bình”), chúng ta yêu Đức Chúa Trời là Đấng không thấy được bằng cách yêu những kẻ chúng ta thấy được (xem IGi1Ga 4:20). Hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức yêu mến Đức Chúa Trời thì không được miễn trừ việc phải yêu những người khác ngoài ra Chúa, nhưng đúng hơn, nó là một bằng cớ chứng minh rằng chúng ta thành thật yêu Ngài. Yêu Ngài như thế là phần nền tảng để yêu kẻ lân cận không đáng yêu giống như chính bản thân mình, cũng như ngược lại, Đức Chúa Trời đã yêu mến tôi dầu tôi không có gì đáng yêu.
Trong diễn tiến tự nhiên của nó, tình yêu của con người thường bị ngăn chận ở một vài điểm nào đó. Đứa trẻ mồ côi không có cha mẹ để yêu mến, muốn tìm người khác để thay vào đó. Đức Chúa Trời không hề muốn cho tất cả mọi người phải kết hôn, và phần tình yêu đáng lẽ phải đổ ra trên người chồng hay người vợ, có thể không được sử dụng như thế. Phao-lô đã thấy rằng đó là điểm đã khiến cho người không lập gia đình được tự do, không bị ngăn chận, để yêu mến Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn (ICo1Cr 7:32-34). Thay vì phục vụ Đức Chúa Trời bằng cách yêu chồng, yêu vợ và yêu thương con cái, còn có một cách bày tỏ tình yêu Chúa trực tiếp hơn, được diễn tả trong tình yêu đồng bào đồng loại nói chung. Hay một cặp vợ chồng có thể sẽ không con, và như thế mục đích của cuộc hôn nhân mà cả hai người mong ước không thành tựu được. Điều đó có nghĩa là họ có cơ hội để mở rộng tình yêu, mở rộng túi tiền và sự chú ý đáng lẽ dành cho chính con cái họ để đổ trên những kẻ đang cần một mái nhà, để tiếp nhận người lạc loài, cô đơn, hay có lẽ là đã nhận nuôi những đứa trẻ đang cần một mái gia đình mà không ai chịu tiếp.
Tuy nhiên dầu chúng ta giả định rằng không có gì cấm đoán tình yêu vợ chồng càng nảy nở thêm khi hai người sanh thêm con cái, không có gì cấm đoán trong tình yêu đối với gia đình, chúng ta phải đặt vấn đề là tại sao tình yêu lại ngưng ở đó mà không tiếp tục tuôn tràn ra để lan rộng đến những người khác nữa? Nếu tình yêu là một cái gì có sức bành trướng vô hạn mà không hề giảm sút phẩm tính, thì niềm vui của nó không phải là chỉ an hưởng nó một cách dễ dãi, ích kỷ, cũng không phải chỉ giới hạn nó trong phạm vi người bạn đời, hay chỉ trong vòng bà con thân thích mà thôi. Đúng ra thì tình yêu trong hôn nhân và trong gia đình phải cung ứng một thứ giàn phóng, một loại hoả tiễn tầng thứ nhất và thứ hai để phóng tình yêu của chúng ta vào quỹ đạo thích ứng của nó. Bởi vì chúng ta đã hưởng được dồi dào tình yêu trong hôn nhân và trong gia đình, cho nên chúng ta cũng nên luôn luôn sẵn sàng bày tỏ tình yêu trong mọi lãnh vực càng mở rộng hơn. Mỗi một cặp vợ chồng mới, mỗi một gia đình mới, đều có một tiềm lực linh động bên trong để đem phước hạnh và điều tốt lành cho những người chung quanh. Thay vì cảm thấy mình bị thoát ly, chúng ta sẽ nhập cuộc. Có lẽ mấy lời sau đây của Chúa Giê-xu đã gợi ý cho những điểm vừa nêu ra ở trên, khi Ngài bảo rằng trên thiên đàng “người ta không cưới vợ, cũng không lấy chồng, song những kẻ sống lại là như thiên sứ trên trời vậy” (Mat Mt 20:20). Chẳng những khi không còn sự chết thì cũng không còn cần sự sinh sản nữa, mà trước mặt Đức Chúa Trời, mỗi người đều chia sẻ cho nhau niềm vui gia đình.
Tình yêu nam nữ
Rõ ràng đây là điểm phải bắt đầu, bởi vì từ tình yêu chồng vợ sẽ xuất phát tình yêu đối với con cái, cũng như tình yêu và trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ; và để tránh lối lý luận lẩn quẩn, chúng ta có thể nói đó cũng là khởi điểm trong Kinh Thánh khi chỉ có độc một cặp vợ chồng. Trong tình yêu chồng vợ, có một tiềm lực linh động hướng về điều thiện. Mỗi người nam, người nữ đều cảm thấy nguồn tiềm lực vận hành bên trong để bắt đầu xây dựng một gia đình. Đó là chai dầu bằng bạch ngọc đựng cam tòng hương, đang chờ đợi được mở nút để dốc đổ số dầu bên trong ra. Nhưng chính đó cũng là nguồn năng lực tiềm tàng hướng về điều ác và đau buồn, bởi vì nếu chúng ta muốn đùa giỡn với nó, muốn dùng nó làm vật thí nghiệm mà thôi, thì nó có thể gây tai hại cho chúng ta. Biết bao lần người ta đã bán rẻ nó để phiêu lưu đi tìm kinh nghiệm: chúng ta phải sử dụng ngay bây giờ, hay ít ra, chúng ta phải chắc chắn rằng mọi sự đang diễn tiến tốt đẹp.
Người Nhật có câu chuyện về một chiếc hộp không bao giờ được phép mở ra. Một ngư phủ kia nhờ đối xử tử tế với một con rùa biển, đã được phép đến viếng Cung Điện Long Vương dưới đáy biển. Sau khi được dạo chơi và đãi ngộ nồng hậu mấy ngày, chàng xin phép trở về và được tặng một chiếc hộp với lời dặn là không bao giờ được phép mở ra. Khi trở về làng cũ chàng nhận ra nhà cửa mình đã biến mất, tất cả những người quen biết với mình đều đã chết từ lâu. Cảm thấy cô đơn và tuyệt vọng, chàng quên mất lời dặn và mở chiếc hộp ra. Một làn khói trắng xông lên và chàng trai lập tức trở thành một cụ già, lẩm cẩm đến không còn đi đứng vững vàng được nữa. Chàng thanh niên chỉ còn lại cái ý thức của một cụ già sống cô đơn, xa lạ trên bờ biển để chờ chết. Tuổi thanh xuân của chàng đã qua đi vĩnh viễn, chẳng bao giờ tìm lại được.
Câu chuyện trên không nhằm ám chỉ trực tiếp một việc gì, nhưng tình yêu nam nữ cũng có một cái hơi giống như chiếc hộp niêm kín kia với lời dặn dò: “Đừng mở ra trước ngày đám cưới”. Nhưng trong những lúc cô đơn, hiu quạnh, chúng ta bị cám dỗ mở chiếc hộp ra. Cách thức tôi mở chiếc hộp, tặng phẩm kỳ diệu của Đức Chúa Trời là tình yêu nam nữ, có đẹp ý Ngài không? Tôi có sẵn sàng giao nó cho Ngài, cho đến thì giờ nào Ngài chọn chăng? Người tín đồ Đấng Christ phải nhìn nhận rằng Đức Chúa Trời có một ý muốn tốt nhất dành cho mình. Ngài muốn ban cho tôi điều tốt nhất, và tôi sẵn sàng tin cậy Ngài. Luật của Đức Chúa Trời không phải là một cái gì phải kiềm chế hay giấu kín, không được phép bộc lộ tự do, nhưng “Giềng mối của Đức Giê-hô-va ngay thẳng, làm cho lòng vui mừng. Điều răn của Đức Giê-hô-va trong sạch, làm cho mắt sáng sủa. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, hằng còn đến đời đời” (Thi Tv 19:8, 9). Ý chỉ của Đức Chúa Trời đối cùng chúng ta vốn lành mạnh, trong sạch, tự nhiên về mọi mặt, gồm cả khía cạnh này.
Sự bộc lộ quá sớm
Có những thúc bách sinh lý ngày càng gia tăng. Dầu vấn đề chưa phải là hiển nhiên, nhưng một số người cho rằng các bản thống kê cho biết là ít nhất tại Anh quốc, thời kỳ kinh nguyệt xuất phát trung bình cứ càng ngày càng sớm hơn một cách có ý nghĩa. Đồng thời, tuổi thực sự để kết hôn dường như càng ngày càng trễ hơn đối với số người có học thức khá. Thêm vào sự thúc bách sinh lý còn có những áp lực tâm lý, hậu quả của việc dùng hàng loạt người đẹp của cả hai phái vào mục tiêu quảng cáo, và từ mọi phía, chúng ta được nghe nói đến mức độ sụp đổ nhanh chóng của xã hội đang vây quanh chúng ta. Chúng ta phải nhìn nhận những thúc bách, những áp lực đó, đồng thời cũng nên ý thức rằng tình trạng của thế giới ngoại đạo mà những người tín đồ Đấng Christ đầu tiên phải bước vào với đạo Tin Lành không phải là không giống như vậy.
Kinh Thánh đã tỏ ra rất thực tế và hợp thời lạ lùng đối với vấn đề thanh thiếu niên ngày nay. Kinh Thánh không đề cập đến vấn đề nam nữ một cách mập mờ hay e lệ tối thiểu mà thôi, nhưng đã nêu lên một bức tranh trung thực về cả phước hạnh lẫn những tấn thảm kịch có thể xảy ra do việc sử dụng đứng đắn hoặc sai lầm nam hay nữ tính của mình. Đối với những ai không chịu chờ đợi thì có vô số những truyện tích rất rõ ràng, đầy đủ. Sách đầu tiên trong Kinh Thánh đã thuật lại câu chuyện của Si-chem, một hoàng tử trẻ tuổi thật lòng yêu nàng Đi-na, nhưng vì không chịu kiên nhẫn chờ đợi làm xong những việc phải làm, do đó, đã gây căm thù với gia đình đàng gái (SaSt 34:1-31). Đây là trường hợp của một người có tình yêu chân thành: tâm hồn chàng vương vấn với Đi-na. Chàng yêu nàng và ngỏ lời nàng thật tha thiết. Cha của Si-chem và chính Si-chem đã chính thức hỏi nàng, nhưng gia đình nàng biết rằng chàng ta đã ăn nằm với nàng nên “giận lắm… vì đó là việc chẳng bao giờ nên làm”. Chàng thanh niên đã không chịu chờ đợi để chấp nhận điều kiện phải chịu cắt bì, vì “con gái của Gia-cốp đẹp lòng chàng”, nhưng nó đã tạo cơ hội cho các anh em nàng đang bất mãn gây nên tội phản bội và sát nhân. Tình yêu của chàng rất chân thật, nhưng đường lối đi đến hôn nhân của chàng đã sai lầm.
Nhưng thỉnh thoảng, có những trường hợp tình yêu gồm nhiều dục vọng giả dối hơn. Đã có nhiều người cho rằng truyện tích của Am-môn và Ta-ma không nên đem ra đọc trước công chúng (IISa 2Sm 13:1-39). Tuy nhiên, câu chuyện buồn đó rất khó thúc giục ai phạm tội, vì chúng ta đã đọc thấy rõ ràng những lời cảnh cáo khủng khiếp cho các thanh thiếu niên của bất cứ một thế hệ nào. Am-môn đã bị người con gái đẹp đẽ kia giày vò đến nỗi sanh bệnh. Vì là bà con ruột thịt với nhau, dường như không thể nào chàng lấy nàng được. Cho nên chàng đã nghĩ ra một kế tồi bại, khiến nàng đến tận giường bệnh để nuôi mình. Chính sự thiếu thành thật và âm mưu đen tối trong cả việc làm đó đã lên án chàng ta ngay. Cô gái đã khuyên chàng là: “Người ta chẳng làm như vầy” (“đó là việc chẳng nên làm” - một tiếng dội của câu chuyện giữa Si-chem và Đi-na); đó là một “ô hạnh”. Nếu chàng ngỏ ý với nhà vua là cha nàng, có lẽ chàng sẽ được phép bởi vì đây không phải là một việc không thể nào xảy ra. Và dường như nếu mọi việc xảy ra phải phép, nàng sẽ không cự tuyệt chàng. Nhưng chàng đã không chịu nghe lời, và ngay khi đã được mãn nguyện, chàng lại ghen ghét nàng, “tình người ghen ghét lại lớn hơn tình thương yêu nàng khi trước”.
Chàng bảo nàng đi ra. Nàng xin được phép ở lại. Đuổi nàng đi là một lầm lỗi lớn. Nàng liền ra đi, kêu khóc ầm ỉ và đóng kín cửa, ở trong nhà của anh mình. Nhà vua buồn lắm, nhưng vì thái độ mới đây của vua cũng là một hành vi tội lỗi nên nhà vua không hành động gì được. Và một lần nữa, chính người anh của cô gái đã báo thù cho em gái mình và giết Am-môn.
Bài học của hai truyện tích tồi bại trên đây thật rõ ràng: tình yêu nam nữ là một cái gì rất quí báu mà chúng ta không nên đem ra để đùa giỡn. Trong cả hai trường hợp, chính vì không chịu làm điều đúng ra phải làm mà các anh em của cô gái là người chịu trách nhiệm vì nàng, phải nổi giận. Chúng ta không thể nào từ chối điều đó mà bảo rằng nó chỉ là một “tập quán”. Tập quán ấy đã được lập ra để bảo vệ các cô gái, để bảo vệ cả cho các thanh niên, và vì cớ trật tự xã hội. Có một chỗ trong sách Ê-xê-chi-ên (Exe Ed 22:11) nhà tiên tri đã liệt tội lỗi về vấn đề nam nữ vào với các hình thức bất công khác của xã hội. Sự ưng thuận không có liên hệ gì đến vấn đề này. Hành động vô luân lý làm sụp đổ trật tự phải có trong xã hội. Nếu chúng ta nổi giận về một vài tội ác xảy ra trong xã hội, mà lại không nổi giận về sự gian ác trong vấn đề nam nữ thì thật là không hợp lý chút nào. Hiện nay ở Hoa Kỳ, hàng năm trung bình có 400.000 cặp vợ chồng ly dị nhau, và hậu quả là có nửa triệu trẻ con, mà hai phần ba dưới mười tuổi, phải chịu cảnh gia đình tan nát; nghĩa là mỗi năm, nửa triệu trẻ con phải chịu cảnh đó. Phân nửa số người ly dị bây giờ là con của những bậc cha mẹ đã ly dị nhau, cho nên, chính sự thiếu an toàn của tuổi trẻ dường như chính là mầm mống của những xáo trộn trong cả đời sống. Sử dụng một cách vô trách nhiệm bản năng tính dục có thể phá hoại xã hội, đó là chưa kể đến vấn đề đặt ra hiện nay là có nên ngăn ngừa thụ thai hay không. Bảo rằng chúng ta có thể nô đùa với cảm xúc của một người khác rồi vứt họ qua một bên, bỏ mặt cho họ bị xao động với cảm xúc ấy cho đến khi họ tìm một người khác sẽ chấm dứt được nó một cách đột ngột, có nghĩa là chúng ta hạ thấp vấn đề nam nữ xuống để biến nó thành một hoạt động máy móc và phá huỷ phần nền tảng trên đó chúng ta có thể xây lên một cuộc hôn nhân hạnh phúc khiến chúng ta được toại nguyện.
Vấn đề làm quen (courtship) với ý thức trách nhiệm giữa thanh niên thiếu nữ
Có hai vấn đề rất nên đặt ra trước khi bàn đến chủ đề bạn trai, bạn gái. Từ ngữ được dùng có vẻ rất đẹp với hương vị thơm tho của nó, có lẽ bởi vì thoạt nghe, nó gần với từ ngữ Anh văn có nghĩa là lịch lãm, lịch duyệt, lịch sự (courteous). Nhưng nếu chúng ta trắng trợn bàn đến khía cạnh sinh lý, bàn đến sự làm quen, tán tỉnh, trong giới động vật, thì đó là một hành động mở đường cho việc chinh phục, mở đường đi đến hôn nhân. Điều đó có nghĩa là trước khi muốn làm quen, muốn tán tỉnh nhau, chúng ta phải tự hỏi: Ta có muốn đi đến hôn nhân với người ấy không? Nếu không, chúng ta đang hành động vô trách nhiệm, rất thiếu tình thương yêu. Chúng ta tỏ ra không đúng đắn với mối tình mà một người khác muốn dâng hiến:
Người nào phỉnh gạt kẻ lân cận mình
Rồi nói rằng : “tôi chơi mà !”
Khác nào kẻ điên cuồng ném than lửa ,
Cây tên và sự chết . (ChCn 26:18, 19)
Nhưng còn có một vấn đề thứ hai nữa. Vì rất có thể là đương sự thành thực muốn đi đến hôn nhân, nhưng tuổi lại còn quá trẻ hay đang theo đuổi một ngành học vấn đòi hỏi người ấy phải sống độc thân nhiều năm nữa. Như thế, câu hỏi xác đáng thứ hai là: Ta có thể nghĩ đến hôn nhân chưa? Nếu chúng ta chưa có thể nghĩ đến một tương lai mà mình có thể kết hôn, thì để tình bạn nẩy nở trong việc làm quen để tán tỉnh là một hành động kém khôn ngoan. Nếu tán tỉnh để không đi đến đâu cả hay phải chờ đợi một thời gian khá lâu, thì điều đó có thể là ích kỷ đối với mình và tàn ác đối với người kia. Lái xe với một cặp thắng bằng cảm xúc năm này sang năm khác như vậy thì tội nghiệp cho sợi thần kinh biết bao.
Chắc chắn là cả trong vấn đề này nữa, nếu chúng ta cần chờ đợi là đẹp ý Chúa, hãy dùng khả năng yêu đương của chúng ta thế nào cho đẹp lòng Ngài nhiều nhất là hơn. Đừng bằng lòng với một thành công tương đối, vừa phải, nhưng chỉ nên toại nguyện với điều gì tuyệt hảo mà thôi.
Sự thất bại
Đối với một số người thì câu cuối cùng trên đây có thể khiến họ thất vọng: đã đành là chúng ta phải nhằm vào cái tuyệt hảo, nhưng nếu chúng ta thất bại thì sao? Như chúng ta đọc thấy trong Gia Gc 3:2 “Vì chúng ta thảy đều vấp phạm nhiều lần…” hay theo bản dịch cũ “Chúng ta thảy đều lầm lỗi nhiều cách lắm”, …. Và dầu mục tiêu nhằm vào hay lý tưởng của chúng ta có là gì đi nữa, rất ít người có thể tránh khỏi những hối tiếc vì thất bại. Cả sau khi đã lầm lỗi, có lẽ chúng ta cũng phải nhằm vào cái tuyệt hảo là tìm cách quay lại với con đường chánh. Dầu khi chúng ta bị thất bại ê chề hơn hết và cảm thấy là mình đang xa cách với cái tuyệt hảo hơn hết, chính Chúa vẫn có thể gặp gỡ chúng ta tại điểm chúng ta cần đến Ngài một cách sâu xa nhất, tại chỗ chúng ta bằng lòng ăn năn, để chỉ cho chúng ta tìm lại con đường chính đáng như thế nào.
Lắm lúc, dường như hậu quả của sự thất bại đặt chúng ta trước một ngõ bí. Cũng như Đa-vít dầu đã sống trọn đời với Bát-sê-ba và luôn luôn nhớ lại tên đầy tớ dũng cảm, tận tuỵ mà vì nàng mình đã đưa vào chỗ chết, nàng Bát-sê-ba vẫn là mẹ của vị hoàng tử sẽ được nối ngôi (IISa 2Sm 11:1-12:31). Kinh Thánh vẫn không chùn bước trước những sự kiện đau thương của trường hợp ấy. Chúng ta cần đến ân điển của Đức Chúa Trời, chẳng những khi thất bại, mà cũng còn cần đến ân điển ấy để sống với những hậu quả của sự thất bại đó. Sự kiện Đa-vít chắc chắn đã được tha tội, và chúng ta có hai Thi Tv 51:1-9 và 32:1-11 để chứng minh thái độ của ông lúc ấy, đã không có nghĩa là ông có thể hoàn toàn phủi tay đối với toàn thể vấn đề. Điều ông đã làm thì ông đã làm rồi, cho nên ông vẫn phải hứng chịu các hậu quả của nó: sự đố kỵ của vị cố vấn là A-hi-tô-phe, ông (nội hay ngoại) của người nữ đã biết rõ hết sự việc; hột giống của gương xấu ông làm cũng ảnh hưởng đến đời sống đạo đức của các con trai đã lớn khôn của chính ông là Am-môn với Áp-sa-lôm. Tất cả đã tạo nên những điều đọc lên nghe thật đáng buồn. Dầu vậy, Kinh Thánh vẫn nói về cùng một người đó, con người đã thống nhất được xứ sở và đưa nó lên đài vinh quang vật chất để chiếm được địa vị cao trọng, rằng trước mặt Đức Chúa Trời ấy là “người vừa lòng ta, người sẽ tuân theo mọi ý chỉ ta” và là người “lúc còn sống, đã làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời” (Cong Cv 13:22, 36). Chính Chúa Giê-xu là Thiết Hữu của tội nhân. Ngài kêu gọi họ trở thành thánh đồ, và Tin Lành của chúng ta là tin mừng cho những người phạm tội.
Từ những nẻo đường tối tăm của tội lỗi , vẫn còn có một
con đường để trở về cùng Đức Chúa Trời .
Có một cánh cửa vẫn mở để bạn có thể bước vào ,
Cây thập tự tại Gô-gô-tha là chỗ bạn nên bắt đầu
Quay về với Chúa Giê-xu , với tư cách một tội nhân .
Vấn đề chung thuỷ theo Cơ Đốc giáo
Lời giáo huấn của Cơ Đốc giáo về chủ nghĩa độc thê rất khe khắt, luôn luôn bị một số người đả phá, dầu thường thường, rõ ràng là họ đã viện lẽ để bào chữa cho chính họ như Shelley đã viết:
“Tôi không hề gia nhập cái giáo phái lớn kia ,
Mà giáo lý thì dạy là mỗi người phải chọn
Giữa đám đông một người tình hay người bạn
Còn số còn lại , dầu đẹp dầu ngoan , thì
Đều phải tỏ ra lạnh lùng để quên đi …”
Giáo lý của Shelley thật rõ ràng là hoàn toàn khác hẳn, cho nên người ta có thể đặt vấn đề là “không biết có đời sống của nhà thi sĩ nào lại lưu những dấu vết tàn hại cho bằng ‘vị thiên thần đẹp đẽ nhưng vô tích sự’ đã để lại phía sau mình từ 1811 đến 1816, để làm chứng rõ ràng, đầy đủ về sự ngay thẳng và tầm quan trọng của ông ta để tái tạo thế giới”. Hậu quả chủ trương của Shelley là sự bỏ bê gia đình, tự tử, trẻ con vô thừa nhận, sự ghen tuông, và nói tóm tắt lại trong một lời, là khác xa với vẻ thiên thần, và sự đẹp đẽ đến nỗi người ta không thể nào tưởng tượng ra. Tóm lại, đó chính là điều Kinh Thánh đã cảnh cáo về hậu quả của sự không trung thành giữa vợ chồng trong ChCn 5:9-11
“...E con trao danh dự mình cho kẻ khác ,
Và năm tuổi con cho kẻ hung bạo ;
E người lạ được no nê hoá tài con ,
Và công lao con về nhà kẻ ngoại ;
Kẻo đến cuối cùng con phải rên siết ,
Vì thịt và thân thể con đã bị hao mòn ...”
Chủ trương của Shelley bênh vực cho những người đồng ý với quan điểm của ông ta chỉ có thể dẫn đến sự mất bình an, mất vui vẻ cho vợ con, mất danh dự, mất lòng kính trọng đối với người chồng, việc phung phí năm tháng, tiền bạc và phung phí cả cuộc đời. Tác giả sách Châm Ngôn đã tiếp tục đặt những câu hỏi văn hoa như sau: “Há có người nào để lửa trong mình, mà áo người lại chẳng bị cháy sao?” Câu ấy gợi ý rằng tất cả những ai phạm tội ngoại tình đều là những kẻ hoàn toàn điên dại, vì hậu quả là sự tự huỷ mình, làm tổn thương, làm nhục, gây oán ghét, căm hờn không nguôi cho kẻ lầm lỗi (ChCn 6:23-35).
Kinh Thánh minh định rằng, tóm lại, đường lối của Đức Chúa Trời là con đường phước hạnh, và trung thành giữ lời hứa, con đường lành mạnh, con đường vui vẻ và bình an cho tâm trí:
“Hãy uống nước hồ con chứa ,
Và nước chảy trong giếng con ,
Các nguồn của con há nên tràn ra ngoài đường ,
Và các suối của con tuôn nơi phố chợ sao ?
Nó khá về một mình con ,
Chớ thông dụng nó với người ngoại ,
Nguyện nguồn mạch con được phước ;
Con hãy lấy làm vui thích với vợ con cưới hỏi đang thì ,
Như nai cái đáng thương và hoàng dương có duyên tốt ,
Nguyện tình thương của nàng làm thoả lòng con luôn luôn ,
Và ái tình nàng khiến cho con say sưa mãi mãi ”
(5:15-19)
Trong lời dạy dỗ này của Kinh Thánh, không có gì là e lệ hay thẹn thuồng giả dối. Cả hai đàng chồng cũng như vợ đều phải yêu nhau thành thật và sâu đậm. Quan điểm của người thế gian có thể đặt vấn đề đối với chữ “luôn luôn”, vì họ cảm thấy là chất rượu hôn nhân có thể mất mùi và trở thành lạt lẽo với thời gian. Nhưng người tín đồ Đấng Christ biết rằng khi đã được mời đến dự tiệc cưới, thì dầu rượu dọn lên trước là loại rượu mong đợi, và nhờ phép lạ của Ngài, rượu cứ càng về sau lại càng ngon! (GiGa 2:10).
Thi sĩ Shelley dường như đã lầm lẫn về mọi phương diện. Người ta chỉ có thể ghi nhận thái độ tự kỷ trung tâm cực đoan của ông khi ông bảo rằng số phận của bất cứ người đàn bà nào không có dan díu với ông là bị hờ hững bỏ quên. Nó minh thị rất rõ ràng cái tâm trạng tự kỷ trung tâm căn bản của quan niệm chống lại Cơ Đốc giáo, chủ trương rằng để thoả mãn dục vọng cá nhân của mình, người ta phải bóc lột và làm hại kẻ khác, phải chọn người này và bỏ người kia vì ghen tuông và phiền muộn. Nhưng như chúng ta đã thấy, ông ta lại sai lầm một lần nữa, bởi vì giáo lý Cơ Đốc giáo không phải là một giáo lý vị kỷ khi khen ngợi sự lạnh lùng quên đi của kẻ khác. “Quên đi tất cả những người” chắc chắn có nghĩa là trở thành một người vợ, một người có gia đình, và sự phong phú của đời sống gia đình xuất phát từ mối độc quyền đó thì vô tận và sự ấm cúng ấy sẽ vượt khỏi phạm vi gia đình để chào đón và đem phước hạnh đến cho kẻ khác. Những cặp vợ chồng là tín đồ Đấng Christ đã tìm được hạnh phúc gia đình mong rằng bạn bè họ cũng hưởng được hạnh phúc y như vậy, chớ không hề tạo rắc rối cho các cuộc hôn nhân của người khác như Shelley đã làm.
Chính tính cách an toàn của mối liên hệ độc quyền mà Kinh Thánh nhấn mạnh là nền tảng của sự an toàn trong gia đình, và nó có thể bành trướng để phước hạnh ấy có thể tràn lan ra mãi cho người chung quanh.
Thế thì, đời sống là nam giới hay nữ giới của tôi, cuộc hôn nhân của tôi có đẹp lòng Đức Chúa Trời không? “Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi như là đồ dùng gian ác, nhưng phải phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công nghĩa” (RoRm 6:13). Như Frances Havergal đã viết là xin dâng cả đời sống, thì giờ, tiền bạc; trí khôn, tấm lòng, ý chí, tay chân, thì chắc chắn là các “chi thể” chúng ta cũng gồm cả đôi mắt, các giác quan và nam nữ tính của chúng ta nữa: tất cả những điều đó đều phải dâng cho Đức Chúa Trời như các khí cụ của sự công nghĩa. Tình yêu là một tặng phẩm Ngài đã ban cho chúng ta, một điều tôi có thể sử dụng mà Ngài đã ban cho tôi. Nguyện tôi dốc đổ tình yêu đựng trong chiếc chai bạch ngọc thành một thức hương thơm trong đời sống hôn nhân, đẹp lòng Đức Chúa Trời, trở thành một nguồn phước hạnh cho người bạn đời mà Ngài đã chọn cho tôi.
Sự bình đẳng giữa vợ chồng
Trong bức thư gởi cho Hội Thánh Lao-đi-xê, chúng ta đọc thấy rằng Chúa không bằng lòng về thái độ hâm hẩm (KhKh 3:16). Nhưng nếu một tín đồ hoạt động, khéo léo, luôn luôn là một người sốt sắng, kết hôn với một tín đồ nguội lạnh, không sốt sắng, thì hai người ăn ở với nhau, dầu người nguội lạnh có hơi sốt sắng đi được một ít, kết quả vẫn là cả hai đều trở thành những tín đồ hâm hẩm! Điều rất quan trọng là khi kết hôn với một người, chúng ta phải biết rằng người ấy cũng sốt sắng phục vụ Chúa y như chúng ta, hay một người mà ta vẫn kính trọng xem như một tín đồ trưởng thành, già dặn hơn cả chúng ta. Sự tự hạ mình đó có nghĩa là cả hai phải coi trọng lẫn nhau, chớ không phải như khi chúng ta nói với một người chơi quần vợt rằng nếu muốn tiến bộ thì luôn luôn nên gia nhập với một người đánh giỏi hơn mình! Tóm lại, lẽ dĩ nhiên là có một người khá hơn người kia, nhưng cả hai phải coi trọng lẫn nhau y như nhau. Nghĩa là một trong những điều chúng ta mong đợi nơi người bạn đời của chúng ta là sự dâng trọn mình cho Chúa, thêm vào với những đặc tính thể chất có sức hấp dẫn cũng như sự phù hợp về phương diện tri thức. Nếu người đó chỉ là tín đồ của một Hội Thánh nào đó, hay tự tạo cho mình một phù hiệu gì đó để tự đeo lấy cho mình thì chưa đủ. Rất có thể là điều vừa kể chỉ có rất ít ý nghĩa, cũng như chiếc bảng hiệu của một tiệm kim hoàn treo bên trên vài sợi dây chuyền có những chiếc thánh giá bằng bạc làm rất khéo tay: “Hãy tỏ ra mình là tín đồ Đấng Christ một cách khiêm nhượng!” Chúng ta phải biết chắc chắn rằng đức tin của người kia không phải chỉ là phần thêm vào cho bảng thời dụng biểu quá bận rộn, nhưng là một người đã dâng cả đời sống mình cho Chúa.
Thật khó sử dụng nhà mình cho Chúa, nếu luôn luôn có một người trong hai vợ chồng đứng phía sau kéo lại, còn khó khăn hơn là tự mình tiến tới và dùng mọi sự cho Chúa. Những gì quyển sách này đã nói về một cá nhân tận tuỵ, rõ ràng cũng có thể áp dụng cho một cặp vợ chồng hết lòng vì Chúa, và một cuộc hôn nhân không cân xứng có thể là một trở lực kinh khủng. Nhưng tai hại thay, một tín đồ dâng trọn mình cho Chúa lại kết hôn với một “tín đồ” không dâng mình y như vậy, không phải là hiếm thấy; Rồi với thời gian, phần đức tin nhập một của họ cứ nguội dần để trở thành một truyền thống hâm hẩm - là chỉ còn hờ hững đi đến nhà thờ mà thôi. Người đáng ra phải sốt sắng, hữu ích đã bị người chồng hay vợ có đời sống thuộc linh kém cỏi lôi kéo để trở thành dửng dưng, trung hoà. Cả trong phạm vi truyền giáo cũng vậy, nếu có một số giáo sĩ được sự hậu thuẫn đắc lực của vợ giữ lại trong chức vụ (vì chính người đàn bà vẫn giữ người đàn ông cho khỏi thối lui), thì trong nhiều trường hợp khác, người đàn ông chỉ có ích lợi nửa phần mà đáng ra họ có thể có ích nếu họ đã cưới được một người vợ sốt sắng dâng mình cho Chúa hơn một chút. Trong một nhóm người nhỏ trong xã hội, nhưng nhất là trong các ban thanh niên nhỏ của Hội Thánh, người ta hay bị lôi cuốn bởi một người có vẻ khá nhất trong nhóm, và có thể liều lĩnh kết hôn với người ấy để rồi sau này phải hối tiếc, bởi vì nếu phải mở rộng phạm vi sinh hoạt trong đó chúng ta phải tranh đấu nhiều hơn, thì những người đó không còn hấp dẫn gì nữa.
Nhiều sinh viên tưởng rằng đại học là môi trường tốt nhất để tìm được người bạn đời, là khu chợ phong phú nhất cho hôn nhân, và nghĩ rằng nếu mình không thành công ở đó thì sau này phải chọn lựa eo hẹp hơn giữa vòng các nhóm nhỏ hơn của xã hội. Tuy nhiên, thời gian vẫn có thể làm gia tăng các cơ hội cho chúng ta gặp gỡ những người tốt, và sự già dặn cứ gia tăng dường như vẫn khiến chúng ta phê phán đúng hơn điều mình thật sự có cần trong đời sống lứa đôi, dầu nó cũng khiến cho chúng ta khó quyết định hơn. 46% những cuộc ly dị đã xảy ra khi người con gái kết hôn lúc chưa được hai mươi tuổi, và trái lại, những người kết hôn sau hai mươi tuổi vẫn ăn ở với nhau đến 85%. Chính việc tảo hôn thường đưa đến đổ vỡ (dầu lẽ dĩ nhiên không phải là tất cả những người kết hôn sớm), và thường thường thì những người lập gia đình muộn có đời sống lứa đôi vững chắc hơn.
Cho nên điều quan trọng là nên tránh sự vội vàng và phải có sự trông mong sâu xa cho cả chính mình lẫn người khác. Tôi không bao giờ quên một giáo sĩ kỳ cựu với mái tóc bạc đã vui vẻ và tỏ lòng cảm ơn Chúa mà bảo rằng: “Tôi đã cưới được một người đàn bà có tâm hồn của một giáo sĩ từ đỉnh đầu đến móng chân!” Họ đã vui sống bên nhau nhiều năm, cùng hợp tác phục vụ Chúa rất hữu hiệu trong các làng mạc xứ Ấn Độ, và đã làm gương tốt cho nhiều thế hệ sinh viên trẻ. Chúng ta không cần lo sợ là mình có thể mất đi một cơ hội tốt. Chính Chúa đã lo liệu cho chúng ta điều tốt nhất, và chúng ta sẽ được vui mừng khi tin cậy Ngài, vì Ngài là Đấng đáng cho chúng ta tin cậy. Tin cậy Ngài trong hôn nhân, để Ngài “sắp đặt” việc đó cho mình thì không lo trục trặc gì hết.
Cuộc sống thành thật
Chúng ta thường có cái khuynh hướng tai hại là khinh thường, hay nghĩ rằng những người sống đơn giản, dầu là do họ tự chọn hay bị bắt buộc, đã chọn những nẻo đường không mấy xứng đáng. Trái lại, có nhiều chỗ trong Kinh Thánh (thí dụ như Mat Mt 19:12; ICo1Cr 7:32 và tt) đã vạch rõ rằng tình trạng đó có lợi và giữ người ta được tự do, thành thật để tiếp tục hiến dâng mình vào những mục tiêu thuộc linh. Những người độc thân có nhiều thì giờ để học hỏi và dành cho kẻ khác hơn là những người phải nuôi nấng và chăm sóc bầy con của mình. Thí dụ như một bà giáo sĩ, nếu đông con, sẽ có thể bị bận rộn để hoàn thành chức vụ Chúa giao cho đối với con cái mình, nên rất ít có thì giờ trực tiếp lo cho công tác truyền giáo và cả đến người chồng cũng bị hạn chế hoạt động trừ phi con cái họ đều ngoan ngoãn dễ dạy. Bất cứ người nào đã từng thử ngồi học trong một phòng có trẻ con nhỏ tuổi chắc sẽ nhận ra ngay vấn đề ấy. Chúng ta không nói là chức vụ của họ cao hơn hay thấp hơn nhau, mà chỉ nói rằng người độc thân có thì giờ dành cho kẻ khác trong khi người có gia đình thường không có.
Chúng tôi cũng thấy là kéo dài cuộc sống độc thân lâu hơn một số đông người hiện nay để phục vụ Chúa theo cách chúng ta có thể làm được vẫn có lợi hơn. Một người có gia đình không thể mà cũng không nên vắng nhà đêm này qua đêm khác nhưng một người độc thân có thể dâng mình tự do hơn để hoạt động tình nguyện cho Hội Thánh, cho các ban thanh niên trong Chúa và những công tác tương tự. Chúng ta có thể nói rất nhiều điều để bênh vực cho những người tự ý chấp nhận cuộc sống đơn giản thành thật vì cớ Nước Trời. Đối với các tín đồ Đấng Christ mà trước hai mươi tuổi đã xem việc lập gia đình như mục đích chính của cuộc đời, thì dường như họ đã phung phí điều mà nếu hành động khác hơn, họ có thể sử dụng nó một cách khôn ngoan để tham gia công tác phục vụ Chúa.
Các học sinh sinh viên vẫn thường bị áp lực mạnh của lối sống ngoại đạo chung quanh, và ngay cả trong một số các ban thanh niên, những người trẻ tuổi cũng bị thúc đẩy cặp đôi với nhau. Vì người sinh viên có số thì giờ rất giới hạn để hoạt động ngoài chương trình, ma quỉ chắc phải mỉm cười khi thay vì thấy họ dùng những cơ hội đáng ra có thể kết bạn hay làm chứng đạo cho các bạn đồng học cùng phái với mình, thì trái lại, họ lại bận rộn với những cuộc đấu hót, tán tỉnh quá sớm. Khi tất cả mọi người đã có đôi, chúng ta phải tự chủ, tự kềm chế và thành thật lắm mới khỏi bị lôi cuốn tham gia vào hội này, nhóm nọ của họ đang mọc lên như nấm. Nhìn thấy những người khác cùng lứa dấn thân vào các nghi thức ve vãn, tán tỉnh, những người chưa có đôi rất dễ bị kích thích và chịu ảnh hưởng xấu.
Lẽ dĩ nhiên là sự đòi hỏi sinh lý có mạnh thật, và khi thấy những người khác ve vãn, tán tỉnh nhau, nó lại càng được tăng cường. Người tín đồ phải cầu nguyện cho tâm trí được thảnh thơi, tự chủ và biết phân biệt đâu là sự dẫn dắt đích thực của Chúa với những cuộc gặp gỡ tình cờ do dục vọng thúc đẩy vốn thường được viện ra làm lý do chống chế khi bị lôi cuốn bắt chước kẻ khác để cặp đôi cặp bạn. Cũng như Sam-sôn, thì giờ và sức lực của người thanh niên có thể bị phung phí vào những tính mê thích tạm thời đó, rồi người ấy sẽ có thể nhìn lại và lấy làm ngạc nhiên là tại sao những năm đầy sinh lực đó, mình lại làm được quá ít công việc.
Chữ tín chia hai?
“Ai không cưới vợ thì chăm lo công việc Chúa, tìm phương cho Chúa đẹp lòng. Song ai cưới vợ rồi thì chăm lo công việc đời này, tìm cách cho vợ mình thoả dạ. Người nữ có chồng và đồng trinh cũng khác nhau như vậy: ai không chồng thì chăm lo việc Chúa, đặng cho thân thể và tinh thần đều được thánh; nhưng ai có chồng thì chăm lo các việc đời này, tìm cách cho đẹp lòng chồng mình. Tôi nói điều đó vì sự ích lợi cho anh em, chớ chẳng phải để gài bẫy, song để dắt anh em theo lẽ phải, hầu cho không phân tâm mà hầu việc Chúa” (ICo1Cr 7:32-35).
Thoạt nhìn thì đoạn sách trên đây có vẻ như mâu thuẫn. Theo một ý nghĩa thì thật ra có xung khắc, vì dầu một người đàn bà có thể phục vụ và làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng việc chăm sóc cho chồng, cho con, rõ ràng là theo một ý nghĩa, nàng sẽ có thì giờ ít hơn để theo đuổi cách trực tiếp vào các hoạt động rao giảng Tin Lành. Tuy nhiên, điều quan trọng là nên nhớ rằng đoạn sách này là câu trả lời của Phao-lô cho vấn đề lợi ích của cuộc sống độc thân, và ở đây, ông đang đề cập đến những điều lợi: ưu điểm là người không lập gia đình có thể yêu Chúa trực tiếp hơn, không bị phân tâm, và thường có thể hoạt động cho Đấng Christ trong một phạm vi rộng rãi hơn. Đồng thời, như chúng ta đã thấy là đối với người đã có gia đình thì không có gì mâu thuẫn nếu họ hết lòng yêu Chúa, mà cũng yêu chồng, yêu vợ con, yêu người lân cận. Chúng ta làm cho họ y như làm cho Chúa. Chúng ta phục vụ Chúa bằng cách phục vụ họ.
Một thí dụ tươi sáng về nét quân bình của Kinh Thánh là khúc sách Đức Chúa Giê-xu nói về những kẻ sống độc thân có thể là do luật thiên nhiên, bị bắt buộc hay tình nguyện. Đó là “những người tự mình làm nên hoạn vì cớ nước thiên đàng ” (Mat Mt 19:12). Nhưng hãy đừng vội cưỡng ép mà đẩy những lời trên đây của Chúa đến chỗ cực đoan để bảo rằng đó là điều kiện cần thiết của một sự kêu gọi cao cả hơn, vì biến cố xảy ra ngay sau đó là việc các bà mẹ đem con trẻ đến để Ngài chúc phước cho chúng. Nghĩa là những người đàn bà không sống độc thân đã đem con cái họ đến cho Ngài, mà lời lẽ Ngài vẫn ở trong văn mạch (như trong mọi trường hợp khác ) và đã có ý nghĩa rất sâu xa: “Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng ngăn trở, vì nước thiên đàng thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy” (19:14). Không phải chỉ những kẻ sống độc thân vì cớ Nước Trời mới được chúc phước, mà cả những người đã nhờ hôn nhân, sanh con cái cũng vì cớ Nước Trời ấy, vẫn được chúc phước. Cả hai đàng đều được Chúa chúc phước.
Cho nên thư Ê-phê-sô (Eph Ep 6:2 và tt) Phao-lô không thấy có gì là không thích hợp khi ông khuyên người chồng phải yêu vợ mình như Đấng Christ đã yêu Hội Thánh và phó mình vì Hội Thánh. Tình yêu giữa các tín đồ có gia đình có thể được dùng để mô tả tình yêu của Đấng Christ. Vậy nên, chúng ta hãy dâng tình yêu của chúng ta cho Ngài, là mối tình vẫn tiềm tàng trong lòng loài người: “Lạy Chúa, xin nhận lấy tình yêu của con, chúc phước cho và dùng nó làm sáng danh Ngài, đem phước hạnh đến cho nhiều người”
Những điểm gợi ý để cầu nguyện và suy gẫm
Tôi có những nghi ngờ nào còn giấu kín liên hệ đến lời dạy dỗ của Cơ Đốc giáo về vấn đề nam nữ và hôn nhân chăng?
Đấng đã tạo nên chúng ta là “người nam , người nữ ”, không đáng cho chúng ta tin cậy sao ?
Chúng ta có quyết định tìm cách tận dụng các nguồn năng lực của phái tính để sử dụng cách vui mừng không?
Tôi có sẵn sàng chờ đợi ý chỉ Ngài bày tỏ rõ ràng về đời sống tôi , và không vội vả đâm đầu vào hôn nhân quá sớm mà không suy nghĩ thích đáng không ?
Tôi có muốn chứng minh cho thế giới ngoại đạo nói chung thấy tính cách lành mạnh, vẻ đẹp đẽ và nét quân bình của lời dạy dỗ từ Đức Chúa Giê-xu liên hệ đến vấn đề nam nữ và hôn nhân không ?
Tôi đã dâng “các chi thể ” của tôi - gồm luôn nam hay nữ tính của tôi - cho Chúa chưa ?
Lạy Chúa , xin giúp con tôn vinh Ngài bằng cách dùng sức mạnh đó của tình yêu . Nếu Chúa muốn cho con một người bạn đời và con cái , xin cho con biết vì cớ Ngài mà hết lòng yêu họ ; và nếu ý Ngài muốn cho con sống độc thân , xin cho con biết sẵn lòng chấp nhận nó một cách vui mừng , và dốc đổ tình yêu của con ra cho Ngài để rải mùi thơm ra cho mọi người chung quanh . Nhân danh Chúa Giê-xu A-men .


KHÁN GIẢ hay DIỄN VIÊN?
Xin lấy hai bàn tay con , khiến chúng cử động ,
Tuỳ sức thúc đẩy của tình yêu Ngài .
Xin lấy đôi bàn chân con , khiến chúng
Trở nên nhanh nhẹn và đẹp đẽ cho Ngài .
Có lần một người bạn của tôi là sĩ quan thuỷ quân thuật cho tôi nghe một câu chuyện về thể nào trong khi cả đoàn thuỷ thủ trên tàu tập họp, và mỗi người đều đang thi hành một vài phận sự nào đó, chỉ có riêng ông ta là còn đứng để đợi lịnh, thì từ trên đài chỉ huy có tiếng hét vang xuống: “Trời ơi, hãy làm một cái gì đi chớ!” Tốt hơn là nên bận rộn đầu tắt mặt tối, chớ đừng đứng đó một cách nhàn hạ, không làm gì cả. “Vì danh Chúa” chúng ta là tín đồ Đấng Christ, được kêu gọi phải hành động. Người tín đồ Đấng Christ phải “làm một cái gì” cho chủ mình.
Một quyển sách hoạt động
Kinh Thánh là lịch sử những hành động của Đức Chúa Trời giữa vòng loài người, những điều Đức Chúa Trời hành động, dường như Ngài thường kêu gọi các cá nhân giữa vòng loài người hãy cùng Ngài và vì Ngài mà hành động, vì danh Ngài mà “làm một cái gì”. Kinh Thánh dường như là lịch sử của những hoàn cảnh hoàn toàn tuyệt vọng, của sự thất bại và bất lực của loài người. Nhưng rồi Đức Chúa Trời dấy lên một người nào đó để dẫn dắt dân sự khỏi hoàn cảnh tuyệt vọng ấy. Khi dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ tại Ai Cập, phải xây những thành phố lớn cho Pha-ra-ôn, Đức Chúa Trời đã sai Môi-se đến tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: “Hãy để cho dân ta đi.” Sau khi Môi-se qua đời, Giô-suê - một con người hành động khác - lại sẵn sàng kế vị ông và được huấn luyện để làm việc ấy. Trong giai đoạn tiếp theo sau đó, nhiều lần dân Y-sơ-ra-ên đã bị các dân ngoại đạo khác chinh phục (thường thường là do Đức Chúa Trời cho phép để hình phạt vì họ bất trung với Đấng vốn là Chân Thần Duy Nhất), và Đức Chúa Trời cũng dấy lên hàng loạt những người nam cũng như nữ (như Đê-bô-ra), trước hết là Các quan xét: Ốt-ni-ên, Ê-hút, Sam-ga, Ba-lác, Ghê-đê-ôn, Giép-thê, Sam-sôn, Sa-mu-ên, sau đó là các vua Sau-lơ, Đa-vít… và cuối cùng là các tiên tri Ê-li, Ê-li-sê, Ê-sai, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên. Sau hết, tình trạng của dân Y-sơ-ra-ên đã được Đức Chúa Trời nhờ tiên tri Ê-xê-chi-ên tuyên bố là: “Ta đã tìm một người trong vòng chúng nó đặng xây lại tường thành, vì đất mà đứng chỗ sứt mẻ trước mặt ta, hầu cho ta không huỷ diệt nó; song ta chẳng tìm được một ai” (Exe Ed 22:30).
Trước đó, có những nhà vua như Giô-si-a và Ê-xê-chia đã kêu gọi dân sự ăn năn và trở lại thờ phượng chỉ một mình Đức Giê-hô-va mà thôi; nhưng bấy giờ thì không còn ai nữa. Cả phần ký thuật của Cựu Ước dường như chép lại việc Đức Chúa Trời luôn luôn mong đợi những người đã sửa soạn sẵn sàng để dâng trọn mình phục vụ Ngài.
Con người hoạt động
Chính Đức Chúa Giê-xu, Đấng đã đi từ chỗ nọ qua chỗ kia để “làm phước” (Cong Cv 10:38) là con người hoạt động siêu đẳng, con người đã đứng tại chỗ sứt mẻ vì biết rằng không phải Đức Chúa Trời cần những con thú làm sinh tế, nhưng cần một Đấng sẵn sàng dâng “thân thể” đã chuẩn bị sẵn sàng cho Ngài “để làm theo ý chỉ Ngài” (HeDt 10:5-7). Chính con người đã đến để hoàn tất công tác Cha Ngài giao phó, và đã hoàn thành nó trên thập tự giá, cũng là Đấng dạy cho các môn đệ tính cách cần thiết của việc hành động.
Đó không phải là điểm chính yếu của đa số các thí dụ hay sao? Trong những ví dụ về các ta-lâng và các nén bạc mà chúng ta đã xét qua, chính người không làm gì hết là người bị lên án, con người đã không chịu hành động như đáng ra phải hành động. Trong ví dụ về chiên và dê, án lệnh kinh khiếp đã được dành cho những người không chịu làm gì cả khi trước mặt mình là cả một nhân loại đang thiếu thốn, khổ đau. “Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta, đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó. Vì ta đói, các ngươi không cho ăn, ta khát, các ngươi không cho uống; ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng” (Mat Mt 25:41-43). Ta đã đói, nhưng các ngươi đã làm gì? Không làm gì cả. Ta đã bị cầm tù, các ngươi đã làm gì? Không làm gì cả. Ta đã bị trần truồng, các ngươi đã làm gì? Không làm gì cả.
Mạng lệnh quan trọng cuối cùng của Đấng Christ là truyền cho chúng ta phải ra đi, làm một cái gì. “Hãy đi dạy dỗ muôn dân, làm báp-tem cho họ… dạy họ giữ hết mọi điều ta đã truyền cho ngươi” (28:19, 20). Hãy đi ra và làm một cái gì: khiến họ trở thành môn đồ, dạy các môn đệ ấy đi ra, làm tất cả những gì ta đã truyền cho các ngươi làm , và lẽ dĩ nhiên là cũng gồm việc thu nhận nhiều môn đệ và dạy họ đi ra, hành động … Nói cách khác, thì đó là một lệnh truyền phải hoạt động mãnh liệt. Cũng không kém gì những con người của Cựu Ước, những con người của Tân Ước đều được kêu gọi trở thành những con người hoạt động, cho nên chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi quyển sách tiếp theo đó của Tân Ước đã được gọi là sách Công Vụ (hay đúng hơn là: Hoạt động của) Các Sứ đồ. Đó là những người đã được Chúa Giê-xu sai đi, để nhờ Thánh Linh Ngài, vì Ngài mà hành động.
Đức Chúa Trời của sự hoạt động
Câu nhấn mạnh này không có gì đáng lấy làm lạ, vì Đức Chúa Trời của Kinh Thánh là một Đức Chúa Trời hành động, làm việc. Ý niệm này rất tương phản với quan niệm phổ thông về “nền tảng hiện hữu của chúng ta” cho rằng Đức Chúa Trời chỉ tác động rời rạc hay đúng hơn là một cách vô hiệu trên phần bản thể sâu xa nào đó của ý thức con người. Dường như có người nghĩ rằng Ngài là một thứ “bánh bằng bột trong vũ trụ” (cosmic tapioca pudding), một “hữu thể” vô hại, thoạt biến, thoạt hiện; Ngài dường như không muốn can thiệp dứt khoát vào công việc của loài người, chỉ tác động gián tiếp qua các môi giới nếu không nói là chẳng tác động gì cả, mà cả đến sự hiện hữu cũng bị hoài nghi! Tất cả nhân loại chủ nghĩa quá khích, sơ khai của Kinh Thánh đều phải vứt đi! Thật ra thì những gì người ta đã làm chỉ là thay thế tất cả bằng một ngữ vựng khác. Họ dùng những hình ảnh của khoảng không gian và của chiều sâu để thay thế cho ngôn ngữ của Kinh Thánh, vốn dùng các hình ảnh của chiều cao.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời của Kinh Thánh là một Đức Chúa Trời luôn luôn làm việc này, việc nọ. Ngài là một Đức Chúa Trời hành động. Ngài nói, Ngài sáng tạo, Ngài hành động, Ngài can thiệp, Ngài đánh các dân các nước, Ngài chạm đến núi non khiến chúng bốc cháy, Ngài khiến các núi nhảy lên như dê con, các đồi nhảy lên như chiên con, Ngài cai trị bằng cây gậy sắt, đường đi Ngài ở trong cơn gió trốt, ở trong bão tố, còn những đám mây và bụi bậm dưới chân Ngài. Ngài là một vị Đại Vương. Tất cả đều là một nhân loại chủ nghĩa cực đoan, quá khích, nhưng đã gợi ý rất rõ ràng sự kiện Đức Chúa Trời vẫn còn sống trong vinh quang và đang hành động trong chiến thắng. Ngài hành động cách có quyền, thích hợp, đầy ân huệ và không ai cưỡng lại nổi theo công lý và bằng sự xét đoán. Có ai sợ hãi một “nền tảng hiện hữu”, một linh thể vô định hình và ngoại chất bao giờ? Nhưng khi loài người gặp Đức Chúa Trời của Kinh Thánh, họ đã sấp mặt xuống đất (như Đa-ni-ên, Ê-xê-chi-ên, Giăng) và luôn luôn được trấn an rằng: “Đừng sợ….” Sợ hãi, kinh khiếp là những phản ứng tự nhiên, tự động khi loài người gặp Đức Chúa Trời. Tất cả những danh từ tối thượng, tuyệt đối mà Phao-lô phải dùng đến, vẫn không đủ để diễn tả quyền năng và sức mạnh cũng như lực lượng sinh động của Đức Chúa Trời toàn năng.
Gặp gỡ Đức Chúa Trời của sự hoạt động, có nghĩa là bị kích thích để hành động, để hoạt động, hoạt động ngay tức khắc. Chúng ta sẽ quỳ xuống trước mặt Ngài và thưa: “Lạy Chúa, xin nhận lấy đôi tay, đôi chân của con… hãy dùng con phục vụ Ngài”.
Hành động để mở đường cho hành động
Người của Đức Chúa Trời bắt đầu mọi sự. Dầu Phi-li-tin có một đạo quân đông đảo và một cấm lệnh rất hữu hiệu về vấn đề độc quyền sản xuất sắt. Họ có quân đội trấn đóng tại vị trí chọn lọc, khiến nước Y-sơ-ra-ên trở thành một xứ bị chiếm đóng dưới quyền kiểm soát của những đồn luỹ kiên cố. Nhưng Giô-na-than tấn công một trong những đồn luỹ đó bằng cách leo núi với chỉ một người vác binh khí duy nhất theo mình, thì toàn thể lực lượng chiếm đóng phải chạy trốn. Hành động của Giô-na-than là một hành động dũng cảm, nhưng chỉ nằm trong một phạm vi nhỏ hẹp mà thôi. Chỉ trong độ nửa công đất, ông đã giết được hai mươi người, hơn một cuộc đụng độ nhỏ chút ít mà thôi. Nhưng hành vi táo bạo đó đã khiến cho quả bóng chuyển động, và mở đầu cho một hành động đưa đến một chiến thắng lớn.
Khi quân Phi-li-tin trở lại với một lực lượng hùng hậu, họ mang theo một thứ khí giới mới dưới hình thức một người khổng lồ hay khoe khoang tên là Gô-li-át. Các chiến binh Y-sơ-ra-ên đứng phía bên kia thung lũng trong bốn mươi ngày, giương mắt nhìn tên khổng lồ kia mà run rẩy. Rồi con người hành động của Đức Chúa Trời đến, hoàn toàn không trang bị vũ khí, một con người thiếu kinh nghiệm nhưng đầy phẫn nộ vì có kẻ dám chống lại Đức Chúa Trời như vậy. Người đó tấn công tên khổng lồ và giết hắn đi trước sự kinh ngạc của mọi người. Chàng ta chỉ giết một người, nhưng việc làm đó là khởi điểm của một hành động vĩ đại, cho nên toàn thể lực lượng Phi-li-tin bị đánh đuổi.
Cả Giô-na-than lẫn Đa-vít đều mở đường cho một hành động tại một trận nhỏ - ngay chỗ họ đang đứng - nhưng điều họ làm đã mở đường cho những chiến thắng lớn. Chúng ta cũng cần gia nhập chiến trường tại địa phương. Chúng ta không thể hy vọng rằng mình sẽ đánh tan toàn thể lực lượng quân thù, nhưng chúng ta cũng không cần phải làm thế. Như có một bài thánh ca đã nói, “có một việc dưới tầm tay bạn để làm cho Chúa Giê-xu, và chúng ta được kêu gọi phải bạo dạn bắt đầu ngay tại chỗ mình đang đứng. Đức Chúa Trời sẽ lo liệu phần còn lại, bằng kết quả của hành động chúng ta sẽ mở rộng cuộc chiến đấu đến khắp các mặt trận”.
Có hai người đã bị thiêu sống trên một trụ hình mà nay là đường Broad Street, tại Oxford. Chắc họ chỉ là những người ý thức được sự yếu đuối và vô nghĩa của mình trước mặt kẻ thù. Nhưng Latimer đã nói: “Thầy Ridley ơi: hãy vui lên… nhờ ơn Chúa, hôm nay chúng ta sẽ được thắp sáng tại Anh quốc như một ngọn đuốc mà (tôi tin là) sẽ chẳng bao giờ tắt đi…” và dầu có nhiều người cố gắng để dập tắt ngọn lửa Tin Lành đó trong giáo hội Anh quốc, nó vẫn còn cháy sáng cho đến ngày nay.
Có thể là một Luther đã treo các đề án của mình lên một cánh cửa tại Wittenberg, một Raikes đã khai giảng trường Chúa Nhật đầu tiên, một William Booth đã nghĩ ra việc giảng đạo trong các xóm nghèo, Hudson Taylor cầu nguyện tại bãi biển ở Brighton, Josiah Spiers đã viết ra một bài cho trẻ con trên bãi biển tại Llandudno… tất cả những tín đồ của Đấng Christ đó dầu là những con người của hành động mà ý chí chủ động, thực hiện trong sự run rẩy đầu phục Đức Chúa Trời, đã dẫn dắt nhiều người khác vào việc phục vụ hữu hiệu cho Đấng Christ. Họ đã bắt đầu một việc, và Đức Chúa Trời đã ban phước cho họ khiến họ thắng trận lớn lao.
Chúng ta cũng cần có cùng một ý chí đó để bắt đầu một việc gì ngay hôm nay, hoặc là bắt đầu tổ chức một ban chứng đạo trong xưởng thợ, mời các bà hàng xóm đến uống cà phê và học Kinh Thánh chung với nhau, một buổi hội thảo trong văn phòng chúng ta làm việc hay một hội Kinh Thánh cho các thanh niên, một Trường Chúa Nhật cho trẻ con. Có thể chúng ta sẽ sáng lập một chi nhánh của Hiệp hội Thánh Kinh hay một thư viện Tin Lành. Chính một cô gái mười sáu tuổi người Mỹ đã bắt đầu phong trào Hiệp hội Kinh Thánh cho người trưởng thành tại Nhật, vào một thời mà các hội viên trong những nước khác, kể cả Anh quốc, đa số vẫn còn là trẻ con. Một giáo viên người Nhật đã mở được ba Hội Thánh rồi cứ duy trì cho đến khi có một số gia đình tin Chúa để có thể mời một mục sư. Chúng ta có bằng lòng dâng đôi bàn tay và bàn chân của chúng ta cho Chúa để trở thành những người bắt đầu một công tác nào đó ngay trong xóm chúng ta ở không?
Hành động để sửa lại những sai lầm
Khi Na-hách người Am-môn hăm he làm nhục dân Gia-be, họ sai sứ giả đến cùng Sau-lơ, thì ông được Đức Thánh Linh cảm động, liền nổi giận phừng phừng, và dân Y-sơ-ra-ên đã đồng lòng hiệp ý với ông như chỉ một người mà thôi. Ông hứa sẽ giải cứu họ trước khi mặt trời mọc, và điều đó có nghĩa là họ phải vượt một đoạn đường dọc theo thung lũng A-ra-ba, một rặng núi lửa hiểm trở, bên trong là con sông Giô-đanh. Đó là một con người của hành động đã kết hợp được dân sự mình để sửa lại một việc làm sai lầm.
Những lời tuyên bố về sự phán xét của các tiên tri thường nhằm vào những sai lầm dân sự. Na-than đã trách cứ Đa-vít về tội ác của vua đã phạm đối với U-ri, Ê-li đã quở trách A-háp khi vị vua này chiếm đoạt vườn nho của Na-bốt, và Giăng Báp-tít đã không hề sợ hãi khi chỉ trích cách sống vô đạo đức của Hê-rốt. Khi luật lệ La Mã bị vi phạm tại Phi-líp, Phao-lô đòi những kẻ phạm pháp phải xin lỗi và không chịu ra đi trước khi họ làm y như vậy (Cong Cv 16:37 và tt). Các bậc tiền bối theo đạo Tin Lành tại Anh quốc như Wilberforce, Shaftesbury là những người đã có một lập trường chính trị vững chắc chống lại tội ác xã hội của thời đại và đã có thể thắng hơn những phản ứng mạnh mẽ vì tư lợi đòi hỏi. Thật đáng tiếc cho những người có cái gọi là “Tin Lành cho xã hội” ngày nay mà không hề có một Tin Lành cứu rỗi, đã bảo rằng người giảng Tin Lành hiện đại muốn im lặng đối với các vấn đề xã hội. Ta có thể đặt vấn đề là không biết những biểu quyết của các thuộc viên trong Hội Thánh có cần thiết hay hữu hiệu không, nhưng thật ra thì ít lắm cũng có một phạm vi để cho các cá nhân tín đồ hoạt động, và lời kêu gọi của họ là cần phải có một lập trường Cơ Đốc giáo rõ rệt trong chính trường.
Trong một quốc gia độc đảng, vấn đề nan giải là khi một chính phủ đã rõ ràng đánh mất thiên chức cai trị của mình, không còn hoàn tất được nhiệm vụ mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho các bậc cầm quyền. Nếu vậy thì người tín đồ Đấng Christ có quyền tìm cách lật đổ chính quyền ấy không, và bằng phương pháp nào? Đó là nan đề của các tín đồ Đức quốc khi rõ ràng là chế độ Quốc xã không phải là một chính phủ có thể chấp nhận được. Những người Do Thái dòng dõi gia đình cách mạng Ma-ca-bê chắc không thấy khó khăn gì để biện minh cho hành động đó hơn người Bắc Mỹ năm 1775! May thay, trong nước dân chủ, có những biện pháp hoàn toàn hợp pháp để lật đổ các chính phủ không còn khả năng cầm quyền nữa. Người tín đồ quan tâm đến vấn đề công bằng xã hội sẽ phải làm chính trị để sửa lại những sai lầm.
Trên khắp thế giới dường như đang có một phong trào của những người trẻ đứng lên lo lắng cho vấn đề công bằng xã hội. Một người Mỹ trong nhóm sinh viên Tin Lành Thông Công mới đây có thuật lại kinh nghiệm của mình trong một buổi họp mặt mà anh ta bị chất vấn: “Cá nhân bạn đã góp phần gì cho nền công bằng xã hội ngày nay?” Họ muốn biết rằng điều anh ta đang nói với họ không phải chỉ là những lời lẽ rườm rà, đừng tự xưng là đã dâng mình cho Chúa nếu không được chứng minh bằng cách hành động. Họ không có thì giờ dành cho một người chỉ biết nói suông. Sự quan tâm đến đồng bào đồng loại phải được chứng minh bằng một bằng cớ thực tiễn.
Tạp chí đó cũng có lời giải thích rất lý thú của một tín đồ từng tham dự nhiều cuộc biểu tình của sinh viên: “Cơ Đốc giáo dường như rất hững hờ và làm ngơ sau khi phong trào tự do ngôn luận thành hình. Chủ nghĩa lý tưởng của Cơ Đốc giáo liên hệ đến một người nào đó, đã sống gần hai ngàn năm trước đây dường như không còn hợp thời nữa so với thế giới hiện tại của người sinh viên, những con người thực sự quan tâm đến việc tự do đi tìm chân lý và hành động trên chân lý ấy. Người trong giáo hội dường như hững hờ và bảo thủ so với các cuộc biểu tình của sinh viên”. Trong lúc chúng ta có thể đặt vấn đề là bầu không khí của một cuộc biểu tình có hoàn toàn được xem là đáng có trong một cuộc gặp gỡ thông công giữa vòng anh em tín hữu hay không, phần trích dẫn trên đây dường như ngụ ý rằng chúng ta đã đánh mất hay đã thất bại trong mọi việc chuyển giao tinh thần cách mạng của sách Công Vụ Các Sứ Đồ, của cuộc cải chánh, hay của giai đoạn những tín đồ Thanh giáo không chịu tuân theo nghi thức cũ đã bị giáo hội quốc gia Anh đàn áp năm 1660-1668, hoặc giai đoạn phục hưng Tin Lành. Trong những giai đoạn chuyển tiếp đặc biệt của lịch sử ngày nay người tín đồ Đấng Christ được xem là những con người trang nghiêm, được kính nể và cũng không ai muốn họ làm khác hơn thế.
Khi giáo hội đóng vai trò khán giả mà không nhận vai trò diễn xuất, thì nó không còn là một giáo hội chủ động mà trở thành một giáo hội thụ động. Thế nên, chúng ta cũng không có gì lấy làm lạ khi thấy nó dường như lạnh nhạt, hững hờ. Nó đang nguội lạnh. Nó cần được phục hưng và quay về với Lời Đức Chúa Trời. Lương tâm nó cần được khích động và sự bất mãn thánh khiết phải nổ bùng lên. Dường như giáo hội vẫn thường nằm giữa những việc xảy ra với thái độ bảo thủ bất động, giữa cái đúng và cái sai. Chúng ta không cần phải sửa đổi sứ điệp của Kinh Thánh để thoả mãn hoàn cảnh hiện đại. Tất cả những gì cần thiết là phải trở về với nội dung chính yếu của Kinh Thánh liên hệ đến sứ mạng ấy.
Hành động để thắng hơn sự ghen ghét và hiểu lầm
Đa số các hoạt động trần gian đều bao hàm việc gây căm thù về phía “đối phương”. Những “buổi họp hận thù” năm 1984 của Orwell nhắc cho mọi người nhớ lại nhiều cuộc “va chạm” và việc cố ý gây căm thù giữa các quốc gia hay các giai cấp với nhau, dường như phần lớn đều có liên hệ với phương pháp làm chính trị của thế kỷ hai mươi. Cay đắng và ác cảm đã được xây lên giữa hai phe; hai bên thách đố nhau. Người ta chờ đợi để đối xử bất công, hay thiên vị; thái độ nghi kỵ nhau, chỉ trích lẫn nhau, đều được đáp lại bằng một thái độ tương ứng. Cũng như Đa-vít trong vụ đối phó với tên Na-banh ti tiện (ISa1Sm 25:1-44), đang đeo gươm bên hông và muốn sử dụng nó. Na-banh đã mắng nhiếc họ và tỏ ra bội bạc đối với sự trợ giúp tử tế mình đã nhận được. Nhưng nàng A-bi-ga-in khôn ngoan, xinh đẹp, ý thức được điều điên dại của chồng mình đã làm, đã hành động mau mắn để hoà giải, xin lỗi và lời giải thích của nàng chẳng những cứu được mạng sống của chồng và cả nhà, mà còn ngăn được Đa-vít trả thù, hay tự làm ô danh mình.
Trong mấy đoạn tiếp theo đó, Sau-lơ đã cùng với ba ngàn người đến tìm cách bắt Đa-vít. Là một thủ lãnh tài ba về du kích chiến, lại được A-bi-sai trợ giúp, Đa-vít đã đột nhập trại quân và đến gần Sau-lơ, lúc ấy đang ngủ mê. Ông đoạt mất cây giáo và bầu nước - nhưng vẫn không làm hại Sau-lơ trước sự bất mãn của A-bi-sai, vì ông này cho rằng đó là một cơ hội rất tốt mà Đức Chúa Trời sắp xếp để trừ diệt Sau-lơ đi. Mục đích của Đa-vít là gì, khi ông muốn cho kẻ thù lưu ý đến cuộc xâm nhập rất thành công và rất yên ổn của ông? Phải chăng chỉ là để chế diễu Áp-ne không canh phòng cẩn mật? Kết quả là lương tâm của Sau-lơ đã bị cắn rứt: đáng lẽ vua đã chết rồi, nhưng chính con người mà nhà vua săn đuổi từ mấy tháng nay và tìm cách giết đi lại tha mạng cho vua. Do hành động khoan dung đối với kẻ thù một cách dứt khoát đó, Đa-vít đã khiến cho Sau-lơ khó lòng thù ghét mình. Đa-vít đã làm nguôi lòng thù hận của Sau-lơ bằng cách lấy thiện trả ác. Theo một ý nghĩa sâu xa của từ ngữ ấy, thì chỉ cần tước mất ngọn giáo, ông đã “tước hết binh khí” của Sau-lơ.
“Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vì có chép rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng. Vậy, nếu kẻ thù mình có đói hãy cho ăn; có khát hãy cho uống… Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác” (RoRm 12:19-21). Nói cách khác, là tín đồ Đấng Christ, chúng ta phải khám phá xem người không thích ta muốn gì, cần gì; và bằng cách giúp đỡ họ, chúng ta có thể bày tỏ tình thương cho họ thấy để tiêu diệt lòng đố kỵ nơi họ. Tín đồ Đấng Christ cũng phải là một con người hoạt động theo ý nghĩa đó nữa. Đừng tìm cách tiêu diệt kẻ thù, nhưng hãy tiêu diệt hận thù bằng cách bước trước đến với họ và làm một cái gì để giúp đỡ họ.
“Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi…” (Mat Mt 5:44). Và “Phước cho những kẻ làm cho người hoà thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời” (5:9). Đây là một lãnh vực dứt khoát của hành động người tín đồ, tức là nên tìm cách xoá tan sự hận thù bằng cách tích cực tỏ ra thân thiện, tử tế với kẻ mang lòng thù hận chúng ta.
Những hành động để cản trở sự thất bại
Dân Y-sơ-ra-ên đã qua sông Giô-đanh, tiến vào lãnh thổ người Ca-na-an và chiếm được thành Giê-ri-cô. Nhưng họ bị đánh bại và phải chạy trốn dân thành A-hi, là một lãnh thổ nhỏ. Do đó, dân chúng đều hoảng sợ. Giô-suê cầu nguyện, nhưng Đức Chúa Trời hỏi ông cầu nguyện để làm gì. Hãy đứng lên đi ra làm một điều. Hãy đứng dậy, sửa lại điều tội lỗi mà dân sự đã phạm (Gios Gs 7:1-26). Có những lúc chúng ta không nên cầu nguyện mà phải hành động. Phải sửa lại điều lầm lỗi trước khi muốn đắc thắng. Đó là thì giờ để ăn năn thật lòng. Không thể nào thay thế hành động bằng lời cầu nguyện được. Lời cầu nguyện không thể đi sau một thái độ bất động, nhưng phải hướng dẫn và hậu thuẫn cho hành động.
Ê-li đã thắng các tiên tri Ba-anh một trận kinh thiên động địa, và quyền năng của Đức Chúa Trời được minh chứng trước mắt mọi người. Cuộc chiến đấu dai dẳng dường như đã chấm dứt. Rồi ông nhận ra rằng Giê-sa-bên vẫn còn sống và đang đòi uống máu ông (IVua 1V 19:1-21). Ê-li chạy trốn để cứu lấy mạng mình, và cuối cùng, vì quá kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần, ông cầu xin được chết. Ông muốn bỏ cuộc. Cuộc chiến đấu và tranh chấp dường như không có hồi chấm dứt, mà ông thì cảm thấy là mình không thể chịu đựng thêm nổi nữa. Thiên sứ của Đức Chúa Trời lo cho ông có chỗ nghỉ ngơi và được ăn uống, đó là phần chính yếu để chữa trị chứng mất tinh thần của ông. Rồi có lời Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hỡi Ê-li, ngươi ở đây làm chi?” Ê-li được trấn an, được bảo đảm sẽ chiến thắng và được sai trở về xức dầu cho ba người sẽ trừng phạt việc thờ phượng Ba-anh; một tân vương cho xứ Sy-ri, một tân vương cho Sa-ma-ri, và Ê-li-sê, người sẽ kế vị cho chính ông. Nhưng không phải chỉ chỉ định những người sẽ tiếp tục cuộc chiến là đủ, chính Ê-li còn phải làm nhiều việc quan trọng, nhất là việc đương đầu với A-háp trong vườn nho của Na-bốt, người đã bị hạ sát cách tàn ác. Ông còn phải nói tiên tri về cái chết của A-háp và việc cả nhà A-háp sẽ bị huỷ diệt, cũng như phần chung cuộc kinh khiếp của chính Giê-sa-bên (21:1-29). Ông lại còn phải nói tiên tri về cái chết của A-cha-xia, người nối ngôi A-háp, vị vua sau này cầu vấn các thần giả thay vì cầu hỏi Đức Giê-hô-va (IIVua 2V 1:1-18). Ê-li nghĩ rằng mình đã thất bại và đã hết nhiệm vụ, nhưng Đức Giê-hô-va lại truyền thêm các mạng lệnh khác cho ông, sai ông ra đi một lần nữa để hành động, và như thế, ông đã đặt nền tảng cho việc lật đổ dứt khoát các bạo quân.
Phi-e-rơ cũng đã thất bại, nhưng trong bữa điểm tâm yên tịnh khi họ quây quần bên nhau trên bờ biển, con người từng chối Chúa ba lần đã tuyên bố ba lần là mình yêu Ngài. Và ông được sai đi để hoạt động, để chăn chiên con và chiên của Đấng Christ (GiGa 21:1-25).
Cả đến những lúc chúng ta thất bại trong hành động, người tín đồ Đấng Christ vẫn được kêu gọi trở về chỗ mình đã thất bại để lại thực hiện những công trình vĩ đại cho Chúa là Đức Chúa Trời mình.
Hành động thận trọng
Tuy nhiên, cũng có những lúc mà tốt hơn hết, chúng ta nên thận trọng, tránh những hành động hấp tấp, vội vàng. Nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng gặp cái hiểm hoạ là không làm gì hết vì tin rằng một thái độ như thế là thuộc linh: chúng ta đang chờ đợi Đức Chúa Trời hành động. Chúng ta giao nó cho Ngài! Chúng ta đã thấy là trong vấn đề trả thù, chúng ta để lại cho Đức Chúa Trời, dầu rằng chúng ta đã được truyền dạy phải đi bước trước để tỏ lòng thương yêu kẻ thù nghịch. Đức Chúa Trời đã truyền cho ta nhiều mạng lệnh rất rõ ràng liên hệ đến một vài vấn đề. Chúng ta không cần những lời dặn bảo mới để cho kẻ thù mình ăn, để cầu nguyện cho những kẻ triệt để sỉ nhục chúng ta, vân vân... Chúng ta không cần những khải tượng đặc biệt mới chịu đi ra giảng đạo, làm báp-tem và dạy dỗ. Những điều đó đã được thiết đặt dứt khoát như trách nhiệm của chúng ta “cho đến tận thế”. Chúng ta không cần những lệnh truyền mới trước khi làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho những người trong Hội Thánh. Có lẽ có người chủ trương một “yên lặng chủ nghĩa”, mà thật ra, chỉ là một hình thức không vâng lời. “Tôi đang chờ được kêu gọi” không phải là một thái độ thuộc linh khi Kinh Thánh đã dạy chúng ta rõ ràng những gì chúng ta phải làm.
Chỉ khi nào vấn đề không được rõ rệt, chúng ta mới cần được Đức Chúa Trời cho mình biết ý chỉ Ngài. “Hãy giao việc ấy cho Chúa” có thể là cách che giấu sự lười biếng hay hèn nhát. Nhiệm vụ tổng quát của chúng ta thật là rõ ràng, không cần phải có lời dặn bảo gì thêm. Trong quân đội, nếu chúng ta không chịu đọc các mệnh lệnh đã có từ lâu, thì không có lý do gì để chữa mình được. Mọi người phải hiểu biết, mà nếu không chịu biết thì không viện lý lẽ gì được cả. Kinh Thánh dạy chúng ta phải hoạt động, và chúng ta phải chắc chắn rằng chẳng những mình biết điều Chúa đã truyền dạy, mà cũng biết chắc rằng mình đang tìm cách vâng theo những gì mình đã biết.
Nhưng có nhiều trường hợp khác, trong đó có những vấn đề liên hệ đến trách nhiệm cá nhân nhiều hơn. Kinh Thánh đã chứng minh rằng người ta thường không chịu hành động, không chịu thi hành các công tác Đức Chúa Trời giao phó. Một thí dụ rất hay là trường hợp của Sa-mu-ên (ISa-mu-ên 16) sau khi Sau-lơ sa ngã. Người duy nhất có thể hành động bây giờ thì ít muốn làm. Chúng ta có thể hiểu được sự cự tuyệt của ông vì bốn lý do sau đây: (1) ông đã chống lại việc đặt một nhà vua trên hết; (2) người ông xức dầu đã sa ngã; (3) có lẽ người tiếp theo đó cũng sa ngã luôn; và (4) dầu sao thì bất cứ hành động nào để xức dầu cho người kế vị cho kẻ khác cũng là một việc làm vô cùng liều lĩnh. Rất có thể là Sau-lơ đã cho người canh chừng ông về một trường hợp ông sẽ di chuyển như vậy, vì Sa-mu-ên đã tuyên bố rằng Đức Giê-hô-va sẽ xé nước khỏi Sau-lơ và ban cho một kẻ lân cận, xứng đáng hơn vua. Thật là một trường hợp rất rõ ràng khiến ông nên ngồi yên mà chờ đợi các biến cố sẽ xảy ra. Chúng ta hãy chờ xem Đức Chúa Trời sẽ làm gì. Sa-mu-ên đã rõ ràng chính là con người phải hành động; ông có trách nhiệm lớn đối với Sau-lơ, việc tuyển chọn Sau-lơ và sự sa ngã của nhà vua. Ai là người có thể chọn một kẻ kế vị? Nhưng có lời Đức Giê-hô-va phán với ông: “Ngươi buồn bực vì cớ Sau-lơ cho đến chừng nào?” Hãy chổi dậy và hành động đi; hãy lấy một cái sừng dầu và đi. Sa-mu-ên đã phản đối hành động nguy hiểm ấy, nhưng trách nhiệm của ông thật là rõ ràng: đó là công tác của Sa-mu-ên, và không một ai khác có thể làm được.
Môi-se cũng viện ra lý này lẽ nọ để tránh lời sai phái rõ ràng mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông (XuXh 3:1-4:31). “Tôi là ai mà dám đến cùng Pha-ra-ôn…”; “Tôi không biết giải thích về Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên như thế nào…”; “Họ sẽ không tin tôi…”; “Tôi không có tài hùng biện…”; và sau cùng: “Ôi lạy Chúa, xin Chúa sai một người khác”. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Kinh Thánh chép rằng Đức Giê-hô-va nổi giận cùng Môi-se, vì là một người gọi Đức Chúa Trời là “Chúa” mà không chịu vâng lời Ngài. Ông đã được Đức Chúa Trời hứa là sẽ ở cùng, giúp đỡ, nhưng vẫn viện lẽ để không chịu đi, không chịu làm.
Loài người thường chùn bước, từ chối hành động. Họ còn dám đòi hỏi cả đến những dấu hiệu đặc biệt, hiển nhiên, để chứng minh rằng Đức Chúa Trời đã kêu gọi họ. Như Ghê-đê-ôn đã được truyền lệnh: “Hãy dùng sức ngươi đang có mà đi giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay Ma-đi-an” (Cac Tl 6:14). Ông viện ra sự hèn mọn của gia đình ông, sự hèn mọn của chính ông. Ông cầu xin một dấu hiệu và được ban bố dấu hiệu ấy. Bấy giờ ông biết rằng dấu hiệu đó là của Đức Chúa Trời. Ông đã run rẩy tiến một bước đầu tiên và phá huỷ chiếc bàn thờ Ba-anh trong nhà mình. Rồi ông xin một dấu hiệu khác và một dấu hiệu khác nữa. Chính chúng ta cũng được kêu gọi hành động, nhưng tất cả chúng ta đều muốn đẩy nó sang cho người khác hơn: … “Chúa muốn sai ai thì sai”. Kinh Thánh là một lời kêu gọi hành động, kêu gọi chúng ta dâng cả đôi tay và đôi chân cho sự phục vụ Chúa:
“Cả Tay , Chân và quả Tim Ngài ,
Đều vì tôi mà bị đâm thủng tại Gô-gô-tha ,
Cho nên tại đây , giờ này , tôi dâng lên Ngài
Đôi tay , đôi chân và tấm lòng tôi làm một của lễ ”.
Những điểm gợi ý để cầu nguyện và suy gẫm
Tôi có bằng lòng làm một loại tín đồ bàng quan thụ động mà thôi không?
Tôi có chủ động , khởi xướng một công tác nào vì Chúa chưa ?
Tôi có chờ đợi thêm sự chỉ dẫn sau khi các lời dặn bảo đã được ban ra đầy đủ rồi không?
Tôi hiện đang thực sự làm gì cho Chúa ? Tôi còn có thể làm gì nhiều hơn không ?
Có người nào tôi quen biết ghen ghét tôi không? Tôi có thể làm gì cho họ không?
Tôi có bỏ cuộc không cố gắng nữa sau khi đã thất bại trong một việc mình bắt đầu không ?
Tại sao tôi không liệt kê ra tất cả những gì mình có thể làm cho Đấng Christ, trong xóm mình ở? Trong sở mình làm? Trong Hội Thánh nhà? Ngay trong gia đình? Hãy thường xuyên cầu nguyện cho các vấn đề ấy và tìm cơ hội để thực hiện chúng.
Có người bệnh , người già cả cô đơn nào cần được thăm viếng chăng ? Một nhà tù địa phương , một trại giam ? Có chỗ nào cần mở một hiệu sách Tin Lành không ? Một chi nhánh Hiệp hội Thánh Kinh ? Một lớp học Kinh Thánh ? Nhà tôi có thể được dùng để làm gì không ? Cho các binh sĩ , sinh viên , học sinh hay các nữ y tá phải sống xa gia đình ? Có người nào trong vùng dường như đều bị mọi người xa lánh , ghen ghét không ? Tôi có tài khéo léo nào có thể làm cho người ấy vì danh Chúa không ? Ông mục sự sở tại có buộc đi thăm viếng từng nhà một những người chưa tin Chúa trong vùng không ? Làm việc đó sẽ phải mất bao lâu nếu ông ấy không có người sẵn lòng cộng tác để bắt tay vào một chức vụ như vậy ?
Đó thật là những việc rất rõ ràng mà tay và chân tôi có thể làm. Nguyện tôi sốt sắng dâng cả tay chân tôi cho Chúa một cách mới mẻ.
“Đây là đôi tay tôi để làm việc ;
Chân tôi sẽ rảo bước vì Ngài ;
Môi tôi sẽ rao vang Tin Lành vinh hiển :
Lạy Chúa , có tôi đây , xin hãy sai tôi …”

NÓI CHUYỆN SUÔNG hay CẢM THÔNG NHAU?
Xin nhận lấy giọng tôi , cho tôi
luôn luôn , và chỉ hát về Vua tôi mà thôi
Xin nhận lấy môi miệng tôi và khiến chúng
Đầy dẫy những sứ điệp từ Ngài
Một trong những khía cạnh rất cảm động và đáng cho chúng ta suy gẫm về đời sống của Helen Keller là việc bà có thể đem đến những phước hạnh, những đặc ân mới mẻ trong việc cảm thông với những người khác. Không nói, không nghe, không hiểu được người khác muốn nói gì, cũng không bày tỏ được những gì mình cảm hay nghĩ, chắc là một từng trải kinh khủng lắm. Chúng ta có thể hiểu được một phần rất nhỏ sự cô đơn ấy nếu chúng ta phải sống một thời gian khá lâu trong một xứ không có ai biết nói tiếng mẹ đẻ của ta, và ta cũng không biết tiếng xứ họ. Ý thức về sự xa lạ, thất vọng có thể gây ra chứng suy nhược thần kinh nếu thời gian đó kéo dài quá mức, và việc giam cầm riêng biệt đã được dùng như một hình phạt có thể nói là một cách hành hạ, tra tấn nữa.
Nhưng tai hại thay, chúng ta rất ít nghĩ rằng có thể cảm thông với người khác là một đặc quyền đáng để ý và đáng lấy làm ngạc nhiên, ngoại trừ khi chúng ta bị bắt buộc phải gặp, một người đã mất đi khả năng cảm thông với người khác. Chúng ta vẫn xem thường khả năng ấy và không cho đó là điều lạ lùng, như có lần một bà rất hoạt bát mà chúng tôi được dịp quen biết, đã bảo: “Tôi chẳng bao giờ suy nghĩ, chỉ nói mà thôi”. Khi người đẹp Eve bị một nhân vật của C. S. Lewis là bác sĩ Ranson lưu ý rằng: “Giống người của cô nói nhiều quá”, thì nàng đã trả lời: “Ông không có một ý niệm nào về chuyện đó cả mà lại khiến cho cái không-có-ý-niệm đó thành lời”.
Một chuyện thật cũng đáng buồn, ấy là chúng ta có thể nói chuyện với người khác mà không hề có ý muốn thông cảm với họ. Chúng ta có thể đưa ra những nhận xét của mình liên hệ đến những việc quan trọng, thí dụ như chúng ta muốn ai đưa mình một cái gì (“Xin cho tôi lọ muối”) hay khi chúng ta muốn thông tin cho nhau về một vấn đề mà cả hai đều biết rõ (“Hôm nay trời đẹp quá phải không?”). Thật ra thì khả năng để nói không phải có vì những mục đích như thế. Một người đàn ông với một người đàn bà có thể sống chung như vợ chồng trong cùng một ngôi nhà; trao đổi cho nhau vài tiếng ậm ừ từ phía sau một tờ báo phát hành vào buổi sáng, giữa lúc miệng ngồm ngoàm nhai bữa điểm tâm; bảo nhau vài tiếng mỏi mệt về việc làm trong ngày sau khi trở về nhà hay trong thời gian của một show quảng cáo trên truyền hình, nhưng chẳng bao giờ thực sự trò chuyện với nhau nhiều hơn về những vấn đề đang khiến họ phải bận tâm đến (mà chắc phần đông đều có một vài vấn đề chứ?). Loài vật hạ đẳng có nhiều phương pháp rất lạ để trao đổi tin tức cho nhau, thường thường rất phức tạp như những công cuộc khảo cứu về loài ong mới đây đã chứng minh. Loài chim liên lạc nhau bằng những dấu hiệu hay những âm thanh nhất định ám chỉ sự cảnh cáo, ve vãn, hăm doạ, vui mừng sau khi đẻ ra một quả trứng và vân vân… Thật là thảm hại nếu loài người không thể diễn tả những điều gì khác hơn vấn đề thời tiết và chiếc bao tử của họ! Chắc chắn rằng đó là điều mà người tín đồ Đấng Christ phải lưu tâm đến. Những lời nói ra từ miệng tôi mỗi ngày đã có ích lợi gì cho Đức Chúa Trời và cho các ý định của Ngài? Nếu chúng không đem đến ích lợi gì thì tôi bị câm đi còn hơn!
Một lá phiếu bằng tiếng nói
“Tất cả những ai đồng ý thì nói: Dạ” có lẽ đem đến câu trả lời yếu ớt nhất. Cách sử dụng tiếng nói của chúng ta có hơi giống cách sử dụng lá phiếu bầu cử của chúng ta. Chúng ta có dùng tiếng nói của mình để bênh vực Đức Chúa Trời hay chống lại Ngài, hay có thể là chúng ta không thèm dùng lá phiếu của mình. Trong số những người xưng mình là tín đồ Đấng Christ, lắm lúc cũng có cảm tưởng rằng thùng phiếu bầu thật quá nhỏ bé, và số người mà bạn mong muốn đứng ra ủng hộ cho chính quyền của Đức Chúa Trời cai trị thế gian, cũng không bày tỏ ý kiến gì. Họ hầu như không để ý gì đến kết quả của cuộc bầu cử. Họ không muốn bị quấy rầy!
Một vài người trong chúng ta có chịu khó mở miệng ra hơi nhiều, không phải chỉ để cho các thức ăn vào đó, mà còn để cho lời nói tuôn ra. Nhưng hành động đó đã làm cho Nước Đức Chúa Trời được đến gần bao nhiêu ngày hôm nay? Dầu chúng ta rêu rao là tin một số chân lý, những hành vi cử chỉ của chúng ta lại dường như đã chứng tỏ điều ngược lại. Nếu thật chúng ta tin chắc điều chúng ta bảo mình tin, há chúng ta không leo lên nóc nhà mà la lên, hay la lên bất cứ nơi nào người ta có thể nghe được, hay sao? Có lẽ chúng ta đã quyết định giao vấn đề đó cho các nhà đạo đức chuyên nghiệp. Nhưng ngoài bài giảng chính thức trên diễn đàn, “Nhiệm vụ phụ” của các nhà truyền đạo dường như cũng “phàm tục” y như bất cứ một ai khác. Một quyển sách mới đây luận về tín đồ của Đức Chúa Trời đã mô tả họ như “Những người nguội lạnh của Đức Chúa Trời”, và dầu tấm lòng họ còn nóng nảy, thì thật ra môi miệng của nhiều người đã quá nguội lạnh rồi. Phải chăng đó là lý do khiến cho Hội Thánh đứng yên thay vì tiến bộ? Nó chỉ cứ giữ thái độ lạnh lùng, khép kín. Phải chăng đó là lý do khiến cho các nhà thờ thường trống vắng, và dường như cũng là lý do khiến chúng ta khó tìm được tín đồ trừ ra vào Chúa Nhật? Phải chăng có một sự đồng ý giữ im lặng vì phép lịch sự?
“Một yếu tố quan trọng đã dự phần làm mất tinh thần đạo đức trong Hội Thánh là quan niệm sai lầm về tình yêu thương trong Cơ Đốc giáo. Người ta đã dạy rằng người có tình thương phải loại bỏ các quan điểm của mình cũng như đã chế phục việc vụ lợi cá nhân. Một thái độ kiểu cách dị kỳ đã xâm chiếm nhiều tín đồ Đấng Christ. Họ đã đi đến chỗ nghĩ rằng một người không vị kỷ phải hãm mình đừng lấy thêm một chiếc bánh ngọt nữa như thế nào, thì cũng vậy, mình phải tự kiềm chế, đừng bao giờ nên đưa ra quan điểm của riêng mình. Nếu khoe khoang về của riêng hay lớn tiếng kể công là xấu thế nào, thì cũng vậy, nói ra niềm tin của mình cũng là xấu… Lẽ dĩ nhiên chính sự kiện hiện nay chúng ta xem các niềm tin như của riêng là triệu chứng của một tinh thần Cơ Đốc giáo đã biến mất. Chính tâm trạng của con người hiện đại đã nhằm vào những khái niệm kỳ dị và khó nắm vững đó để mở rộng mãi quan niệm phàm tục hoá”.
Ý niệm về đức tính không vị kỷ lại bị bóp méo để áp dụng cho người không chịu nói ra cái chân lý mà chính mình thật sự tin quả thật là quái lạ! Hãy tưởng tượng nếu Phao-lô giữ kín không chịu nói gì hết với dân thành A-thên, bởi vì dầu sao họ cũng có hàng lô triết lý về việc thờ hình tượng vốn đã có từ xưa và đang có nhiều ngôi đền thờ cổ vây quanh với rất nhiều ý nghĩa sâu xa, thì nói ra những niềm tin Cơ Đốc giáo là thiếu lịch sự! Hãy tưởng tượng nếu Phi-e-rơ cứ im lặng, bởi vì dầu sao người ta cũng phải kính trọng tín ngưỡng của dân Do Thái dầu không đồng ý với họ! Hãy tưởng tượng Giăng cứ làm thinh giữa các nhà theo Trí Huệ Phái bởi vì dầu sao thì những điều đó cũng chỉ là một vấn đề thần học và rất khó định nghĩa.
Giữ phép lịch sự có khi chỉ là chiếc mặt nạ để che tánh e lệ rụt rè - hay sự hèn nhát. Người ta vẫn hay sợ rằng mình đi vào vấn đề quá gấp và khoá miệng thiên hạ. Đó cũng là một chứng sợ hãi sự “cuồng tín” rất cổ xưa. Thà chúng ta đừng trông thấy cái nụ cười nhẹ rất dễ dãi trên gương mặt của những con người lịch sự muốn che giấu giùm thái độ vụng về trong việc xã giao của bạn, và nói: “Tội nghiệp cho một anh chàng quá hăng đạo. Trông như một người cuồng tín”. Sự quá e dè, thận trọng có khi chỉ là lớp áo bọc ngoài, che đậy cho tánh hèn nhát.
“Thành thật với Đức Chúa Trời” và vân vân
Lẽ dĩ nhiên chúng ta phải sợ cái lời nói ba hoa bằng lợi khẩu, lối nói mà người nghe không biết thật ra mình muốn nói gì. Những danh từ như “sự cứu rỗi”, “tái sanh” là những lối nói vẫn tắt trong thần học, có thể làm rối trí người ta hơn là truyền đạt cho họ một kinh nghiệm sống. Rõ ràng là những chữ đó đều có chứa đựng một chân lý nào đó. Nhưng chúng ta cũng phải tìm một phương pháp mới mẻ để diễn tả một ý niệm đã cũ, những truyện cổ tích cho con người hiện đại có thể hiểu được. Và hình như chưa một ai có thể làm nổi việc đó. Có nhiều vấn đề vượt quá tâm trí của “nhà thần đạo giỏi nhất giữa vòng chúng ta” cho nên nếu chưa thực sự nắm vững vấn đề thì tốt nhất là chúng ta nên ngậm miệng. Đa số đã nhìn nhận rằng lý do khiến cho Hội Thánh thất bại là không thể trình bày được hình ảnh về Đức Chúa Trời cho người ngoại. Cái rắc rối là chúng ta đã không trình bày được một hình ảnh nào cả! Tin Lành đã bị nhốt trong ngôi nhà rộng lớn và chưa bao giờ được trình bày ra cho công chúng.
Chắc chắn là chúng ta phải cố gắng triệt để khảo sát phần nội dung bất biến của Tin Lành để trình bày nó cho cái xã hội trần tục chung quanh chúng ta bằng những ngôn từ họ có thể hiểu được. Nhưng có thật là vấn đề quá khó khăn đến thế không? Tất cả những ai đã từng chưa biết Chúa trước khi tin Ngài đều phải cố gắng để tìm hiểu Tin Lành và đã bị Tin Lành bắt phục. Khi các nam hay nữ tín đồ cố gắng giải thích điều mình tin cho người khác, họ sẽ thấy ngay được đâu là phương pháp trình bày sẽ khiến người ta lưu ý, và lẽ thật sẽ được sáng tỏ, cũng như cách nào thì không hữu hiệu. Có lẽ chúng ta trình bày không được trôi chảy lắm, nhưng sự thành thật sẽ bù vào những khiếm khuyết của các hình ảnh vẽ ra bằng lời nói. Cái khó trong việc cắt nghĩa Tin Lành cho người thế gian không phải là trong cách thức trình bày, nhưng là trong sự kiện nó chẳng bao giờ được trình bày, bất cứ là dưới hình thức nào!
Mối nguy của việc giải thích theo một phương pháp mới là điều nói ra sẽ không còn là Tin Lành nữa. Tấn sĩ Eric Mascall đã diễn tả rất tế nhị điểm đó khi luận về sự đóng góp của Tấn sĩ Lampe trong tạp chí Soundings , khi ông đưa ra một lối giải thích lại về sự chuộc tội: “Tấn sĩ Lampe đã hoàn toàn bỏ qua việc khảo xét bản tính loại suy cần thiết của mọi ý niệm và hình ảnh từ kinh nghiệm thông thường của con người đã được ứng dụng cho các huyền nhiệm Cơ Đốc giáo, cả đến những điều ông bênh vực nữa. Do đó, ông đã từ chối cho là không thể nào chấp nhận được một phần lớn thần học cổ điển Cơ Đốc giáo và thay vào tính cách phức tạp phong phú của nó, một số những điều trình bày được đơn giản hoá quá mức đã trở thành rất nghèo nàn”.
Từ phần trích dẫn trên đây, chúng ta có thể suy ra rằng tốt hơn hết là nên dựa vào Kinh Thánh để dần dần giải thích cẩn thận ý nghĩa của nó. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta phải chuẩn bị để nói cho người khác về Đức Chúa Giê-xu, về việc Ngài là ai, đã làm gì và đang sẵn sàng làm gì cho loài người. Chỉ có kẻ hoàn toàn ngu dại mới thực sự xem việc mình không thể nào tìm được Đức Chúa Trời bằng một chiếc thiên lý kính là một trở ngại không thể nào vượt nổi, không cho phép mình đạt đến đức tin. Anh ta trông mong tìm xem “Đức Chúa Trời” giống như cái gì? Xin đừng để cho sự ôn hoà, chừng mực khoá miệng chúng ta; dầu chúng ta nên sợ rằng cả đến việc giảng đạo cho kẻ khác một cách ôn hoà cũng vẫn bị một số người cho rằng chúng ta cuồng tín như thường! Xin chúng ta dâng môi miệng mình cho Đức Chúa Trời và dùng nó nói ra sự cao cả và ân điển Ngài.
Lòng trống trải… môi miệng cũng trống trải
Tuy nhiên, có một lý do sâu xa hơn đã khiến chúng ta giữ im lặng. Đức Chúa Trời đã phán: “Người lành bởi lòng chứa điều thiện mà phát ra điều thiện, kẻ dữ bởi lòng chứa điều ác mà phát ra điều ác; vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng nói ra (LuLc 6:45). Chúa Giê-xu đã nói và khiến mọi người đều lấy làm lạ về những lời đầy ân hậu từ môi miệng Ngài xuất phát; nhưng cách nói của chúng ta hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc tấm lòng chúng ta có chứa đầy điều thiện y như Ngài hay không. Nếu lòng chúng ta vốn nghèo nàn, trống trải không có vật quý báu gì hay gần như vậy thì đừng nên lấy làm lạ nếu chúng ta không thể rút ra từ đó một báu vật nào tương ứng. Chúng ta thấy là mình không thể nói hay không dám nói chỉ vì chúng ta không hề bị thúc giục nói ra, hay không bao giờ đi đến chỗ được thúc giục để nói ra chỉ vì lời chúng ta nói có vẻ ngập ngừng, mơ hồ, không làm cho chúng ta toại nguyên. Có lẽ từng trải của chúng ta về Đấng Christ vốn yếu đuối, xa rời thực tại cho nên chúng ta không có gì nhiều để nói. Bởi vì lòng chúng ta trống trải quá - hay gần như trống trải - cho nên môi miệng chúng ta cũng trống rỗng theo.
Một giải pháp cho vấn đề ấy là thì giờ thức canh buổi sáng sớm: Thì giờ tĩnh nguyện hằng ngày. Không phải chúng ta chỉ giữ lấy lệ một thì giờ để cầu nguyện và đọc Kinh Thánh như một luật lệ cho sinh hoạt thường nhật, nhưng điều quan trọng là chúng ta có được gặp Chúa hay không. Đó là một thì giờ chúng ta thực sự ngồi dưới chân Ngài và nghe lời Ngài, thực sự được bước vào “nơi ẩn náu của Đấng Chí Cao” - hay nó chỉ là một thói quen tốt không hơn không kém? Vấn đề không phải là học thuộc lòng nhiều câu Kinh Thánh, nhưng là biết cách ứng dụng cho kinh nghiệm mỗi ngày, là khám phá được rằng những lời hứa của Đức Chúa Trời luôn luôn thành tín và công hiệu. Như Ngài đã phán là sẽ ban cho tôi điều đó, thì hôm nay, chắc Ngài sẽ ban điều đó cho tôi. Nếu chúng ta thành thật với chính mình thì đó là việc tự nhìn nhận rằng mỗi người chúng ta đều yếu đuối. Lời làm chứng của chúng ta ít khi hợp thời, và thường khô khan, tẻ nhạt. Điều chúng ta nói có lẽ chỉ là những đoạn phước âm yếu chỉ vẫn thường được lặp đi lặp lại mà chúng ta đã được nghe lần đầu tiên cách đây hàng chục năm rồi. Lời thuật chuyện đó có thể vì nhắc đi nhắc lại quá nhiều lần mà mất hết tính cách tươi mới, dầu đáng ra nó không thể nào mất đi được. Trong cuộc phục hưng tại Đông Phi, các anh em tín đồ Phi Châu đã nhấn mạnh rất đúng về sự làm chứng một cách mới mẻ: “Chúng tôi không muốn nghe điều Đức Chúa Trời đã làm cho bạn mười năm trước đây. Từ đó đến nay, Ngài không làm gì nữa sao? Trong tuần này hay ngay hôm nay, Ngài đã làm gì cho bạn, hãy nói cho chúng tôi biết để giục lòng sốt sắng chung cho chúng ta. Chúng ta rất cần những lời chứng mới mẻ xuất phát từ tấm lòng như vậy, những lời xuất phát từ tấm lòng của một người nào đó, mỗi ngày được thúc giục càng hơn để càng vui hưởng nhiều hơn đời sống thông công với Đấng Christ.”
Chính những lời làm chứng đó sẽ đem đức tin đến cho những người vô tín đang hoài nghi. Dầu sao, phần lớn cuộc bàn cãi liên hệ đến hình ảnh của Đức Chúa Trời hầu như đều chỉ là những giả định về một Đức Chúa Trời không ai biết đến hay đã từng kinh nghiệm được. Cũng vậy, không ai được trải qua và hít thở một bầu không khí hoàn toàn khác hẳn như những kinh nghiệm thật sống động của các tín đồ Cơ Đốc giáo trong Tân Ước. Nếu điều miệng chúng ta nói ra diễn tả những điều ở trong lòng, thì thái độ ít lời chứng tỏ một khiếm khuyết nội tâm tương ứng, hay có lẽ là sự vắng bóng một đức tin đích thực nữa.
Sự tẩy sạch
Lẽ dĩ nhiên không hẳn là như vậy, mà có thể đó chỉ là một tội lỗi chưa được tha thứ. Thường thường thì khi ý thức được một gánh nặng hoặc sự bất khiết, chúng ta sợ hãi và không dám mở miệng vì sợ rơi vào sự giả hình. Khi Ê-sai nhìn thấy vinh quang của Đức Giê-hô-va trong đền thờ, thấy Ngài ngự trên cao và được tôn cao, thì ông biết mình là sắp tàn đời: “Khốn nạn cho tôi, xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!” (EsIs 6:5). Trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, ông ý thức sâu xa về sự ô uế của môi miệng mình. Lời lẽ của ông thật khiếm khuyết bất túc biết bao, chúng vốn dơ dáy biết bao! Rồi một trong số các sê-ra-phin bay đến với phần than lửa đỏ còn lại của chiên con làm sinh tế vừa bị thiêu, gắp nó và cho chạm đến miệng ông, rồi nói: “Này, cái này đã chạm đến môi ngươi, lỗi ngươi được bỏ rồi, tội ngươi được tha rồi”. Và sau khi môi miệng ông được sạch, ông có thể nghe Đức Chúa Trời kêu gọi một người ra đi. Ông liền tình nguyện và tiếng Ngài phán với ông: “Đi đi, nói với dân này rằng…”. Môi miệng được tẩy sạch phải được dùng để rao ra sứ điệp của Đức Chúa Trời. Những sứ điệp từ môi miệng Ê-sai được ban ra cho loài người thật là kỳ diệu biết bao!
Những ai trong vòng chúng ta có quen thuộc với “Những Bài Cầu Nguyện của Giáo hội Anh quốc” chắc đều biết rõ câu này: “Chúa ơi, xin mở môi tôi, rồi miệng tôi sẽ truyền ra sự ngợi khen Chúa” (Thi Tv 51:15). Đoạn văn có câu này mang rất nhiều ý nghĩa, và được liệt vào loại thi thiên sám hối của Đa-vít. Tội lỗi đã khoá miệng ông và cướp đi niềm vui đã được cứu rỗi. Môi ông bị khép chặt và ngăn cản không cho những lời tán tụng thoát ra. Nếu tội chưa được tha mà ông cứ cảm tạ Đức Chúa Trời thì không thể nào thoát khỏi sự giả hình. Nếu Đức Chúa Trời chưa tẩy sạch, thì từ ông không thể nào tuôn tràn ra những lời cảm tạ tự phát, hồn nhiên. Chỉ sau khi việc đó xảy ra, lưỡi ông mới có thể ca hát lớn tiếng sự giải cứu của Đức Chúa Trời (51:14). Nhưng dường như mấy câu này đã cho chúng ta thấy rõ ràng rằng tội lỗi có thể khoá môi miệng ta, và sau khi được tẩy sạch, nó mới được tự do.
Chính người tín đồ Đấng Christ đã được giải thoát khỏi các hầm ghê gớm, khỏi vũng bùn lấm, mới có thể đặt chân mình trên tảng đá, các bước tiến mới được vững chắc và mới có thể bảo rằng Đức Chúa Trời đã đặt vào môi miệng mình một bài ca mới để ca tụng Ngài (40:1-3).
Sự cảm tạ
Môi miệng vừa được tẩy sạch sẽ trước nhất lo chuyện trò với Đức Chúa Trời, và nhất là lo tán tụng Ngài. Chúa không phải là một con người bần tiện, luôn luôn muốn nghe người khác khen ngợi, tán tụng mình. C. S. Lewis đã mô tả điều đó rất hay khi ông nói: “Tất cả những niềm vui hồn nhiên đều tuôn trào thành lời tán tụng… thế gian rung động vì lời tán tụng - kẻ si tình ca tụng người yêu của mình, các độc giả ca tụng những thi sĩ mình mến mộ, khách nhàn du tán thưởng cảnh đẹp…” và ông tiếp tục nói về đủ loại lời khen tặng, ca tụng, chúng ta có thể nghe về mọi mặt. Ông vạch ra rằng chính những tâm hồn cay đắng, bất mãn mới ít ca ngợi Chúa, còn những con người đã được kinh nghiệm sự bình an là thường tán tụng Ngài nhất. Ông nói thêm: “Những người hay ca ngợi những gì thấy là đáng ca ngợi cũng thường tự nhiên, khuyến khích chúng ta đồng thanh với họ để ca ngợi những điều đó: ‘Đẹp chứ? Lạ chứ? Bạn thấy có tuyệt không?’ Các tác giả Thi Thiên khi bảo mọi người hãy ca tụng Đức Chúa Trời, đã làm điều mọi người làm khi nói về điều mình đang chú tâm vào. Tôi nghĩ là chúng ta thích ca tụng điều mình ưa thích bởi vì chẳng những lời ca tụng chỉ diễn tả, mà còn bổ túc cho niềm vui được trọn vẹn; nó là kết quả cần phải có”. Lời cảm tạ là kết quả tất yếu sau khi chúng ta thấu hiểu được Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào. Khi đứa con tự nhiên nói: “Ba ơi, đi dạo với ba thật là thích thú” thì đó là một niềm vui hồn nhiên, muốn cho người cha cũng chia sẻ niềm vui đó với mình. Lời cảm tạ chính là tiếng nói bô bô vui mừng đó khi chúng ta cảm thấy hoan lạc trong Đức Chúa Trời.
Đối với lũ con trẻ tại đền thờ, sự ngạc nhiên về Cứu Chúa và quyền năng Ngài khiến chúng reo lên: “Hô-sa-na” và khi có người chỉ trích, Chúa đã trả lời: “Vậy chớ các ngươi chưa hề đọc lời này: Chúa đã được ca tụng bởi môi miệng con trẻ và con đương bú hay sao?” (Mat Mt 21:16, trích dẫn Thi Tv 8:2). Rồi khi đến gần thành phố, toàn thể các môn đệ Ngài đều vui mừng và lớn tiếng ca ngợi Đức Chúa Trời về những công việc quyền năng họ đã thấy mà rằng: “Đáng ngợi khen thay cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hoà bình ở trên trời, và vinh hiển ở trên nơi rất cao!” Và khi có một người Pha-ri-si nói với Chúa Giê-xu hãy bảo họ im đi, thì Ngài đáp: “Ta phán cùng các ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên” (LuLc 19:37-40).
Lời cảm tạ là sản phẩm của kinh nghiệm bản thân về sự cao cả và vinh quang của Đức Chúa Trời. Chính vì tấm lòng đầy dẫy niềm vui vì biết Ngài là ai và đã làm những việc gì, cho nên nó tuôn trào ra môi miệng. Tôi muốn nói ra điều gì đang có trong lòng; tôi phải diễn tả một phần những gì đang khiến lòng tôi đầy dẫy vui mừng, và mắt tôi ứa lệ. Con người đã được Đức Giê-hô-va cứu chuộc và được mô tả trong Thi Tv 126:1-8, bị những hành động của Đức Chúa Trời thúc bách nên đã nói:
“Bấy giờ miệng chúng tôi đầy sự vui cười ,
lưỡi chúng tôi hát những bài mừng rỡ ;
Trong các dân ngoại người ta nói rằng :
‘Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng tôi những việc lớn’
Nhân đó chúng tôi vui mừng ”
Khi một người nam hay nữ đến cùng Đức Chúa Giê-xu Christ, môi miệng họ liền tìm cách diễn tả một phần niềm vui vì được thuộc về Ngài và bắt đầu ca tụng Đức Chúa Trời. Đó là điều các gã chăn chiên đã làm ngay khi họ trông thấy con trẻ Giê-xu (LuLc 2:20) đó cũng là việc các môn đệ Ngài đã làm khi Đức Chúa Giê-xu đã thăng thiên (24:53) đó là điều các tín đồ đầu tiên đã làm sau khi chịu báp-tem vào ngày lễ Ngũ Tuần (Cong Cv 2:47) và đó cũng là điều mà người vốn què từ thuở sinh ra nhưng bây giờ “liền nhảy, đứng lên và bước đi cùng hai người vào đền thờ, vừa đi, vừa nhảy, vừa ngợi khen Đức Chúa Trời” (3:8) đã làm. Đây là một việc lạ lùng, và người ấy phải nhảy lên để chứng minh điều mình có thể làm được; cả thân thể lẫn môi miệng người ấy đều hiệp nhau để diễn tả tất cả những gì mình có thể làm được để tỏ lòng biết ơn. Sự nóng nảy của lời cảm tạ thường mở môi miệng khiến chúng được tự do một cách diệu kỳ.
Thi Tv 34:1-22 cho chúng ta thấy thể nào việc này đã đưa đến việc kia một cách thú vị:
“Tôi sẽ chúc tụng Đức Giê-hô-va luôn luôn ,
Sự tán tụng Ngài hằng ở nơi miệng tôi ” (câu 1).
Nhưng vui mừng một mình thì chưa đủ, tác giả muốn cho nhiều người khác đồng thanh với mình, nên ông reo lên:
“Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giê-hô-va ,
Chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh Ngài ” (câu 3).
Nhưng dường như có nhiều người không thể làm như thế. Chắc vì họ không cùng có một kinh nghiệm bản thân y như vậy về Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu và khuyên mời họ:
“Khá nếm thử xem Đức Giê-hô-va tốt lành dường bao !
Phước cho người nào nương náu mình nơi Ngài !” (câu 8).
Tác giả cũng muốn chia sẻ điều đó với thanh niên nữa:
“Hỡi các con , hãy đến nghe ta :
Ta sẽ dạy các con sự kính sợ Đức Giê-hô-va ” (câu 11).
Rồi ông tiếp tục dạy bảo họ cách dùng miệng lưỡi cho phải lẽ bằng những lời mà sau này Phi-e-rơ đã vay mượn để nhằm cùng một mục đích (IPhi 1Pr 3:10-12). Nghĩa là việc sử dụng miệng lưỡi dường như bắt đầu ngay lúc nó được tự do. Mạch nước sống đã được khơi động và tuôn trào thành lời tán tụng, rồi được khai thông để dẫn đến các nẻo đường phục vụ Chúa khác nữa. Nếu chúng ta muốn dùng môi miệng cho Chúa theo một cách thức đẹp lòng Ngài, thì điểm bắt đầu phải là sự cảm tạ.
Việc giảng đạo
Có nhiều nhà truyền đạo dùng một quyển “Sách Không Lời”, nhưng người tín đồ Đấng Christ không thể là người tín đồ im lặng, không lời. Theo một ý nghĩa đầy đủ nhất, người tín đồ Đấng Christ không thể nín lặng “vì nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giê-xu ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu” (RoRm 10:9). Điều đó có nghĩa là trước khi trở thành người tín đồ thực sự, chúng ta phải xưng ra đức tin của mình, nhận Chúa Giê-xu làm Chúa. Môi miệng phải bỏ phiếu tán thành: Phải, Đức Chúa Giê-xu là Chúa và Đức Chúa Giê-xu là Chúa tôi. Dường như Đấng Christ đã tẻ ra khỏi con đường chính Ngài đang đi để khiến người ta bước vào con đường đang mở rộng. Thí dụ như trường hợp người đàn bà đã lén rờ trôn áo Ngài và được chữa lành bệnh, có lẽ đang âm thầm muốn lánh mặt đi; nhưng dầu Giai-ru đang nóng ruột muốn Chúa Giê-xu đến gấp với con gái mình đang hấp hối, Ngài vẫn cố ý khiến cả đoàn dân dừng lại để hỏi rằng ai đã chạm đến Ngài. Phải chăng Ngài không biết việc vừa xảy ra, hay Ngài muốn làm khó người đàn bà kia? Lẽ dĩ nhiên là không. Người đàn bà phải có cơ hội xưng ra sự xấu hổ, nhu cầu và sự tuyệt vọng đã đưa bà đến cùng Ngài, để sau đó, công bố sự lạ lùng của việc thân thể mình được chữa lành. Điều đó khiến cho cả bà ta lẫn người được nghe bà đều được phước (Mac Mc 5:24-34). Dầu có lẽ người đàn bà nhát sợ kia có bị bối rối đôi chút, đức tin của bà vẫn phải được công khai xưng ra.
Chúng ta cũng được cho biết đặc biệt là các tín đồ tại Hội Thánh Giê-ru-sa-lem đã bị tan lạc trong cuộc bắt bớ, chỉ có các sứ đồ còn ở lại đó mà thôi (Cong Cv 8:1) và những người bị tan lạc đó đã “đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng đạo (Tin Lành)” (câu 4). Nghĩa là không phải chỉ có các sứ đồ mới được Đấng Christ sai phái mà thôi, nhưng tất cả tín đồ và những người tin Chúa về sau đều đi đây đi đó nói cho người khác biết về Chúa Giê-xu. Trong thế gian, đã có sự dị biệt lớn lao giữa công tác phổ biến Tin Lành của một Hội Thánh khi việc giảng Tin Lành chỉ được thi hành bởi một người duy nhất, thực hiện mỗi tuần chỉ một vài giờ trong một ngôi nhà rộng lớn, với việc phổ biến Tin Lành của một Hội Thánh có hằng trăm nam nữ tín đồ, thực hiện bất cứ giờ phút nào mỗi ngày, bất cứ ngày nào trong tuần lễ và tạo khắp nơi trong thành phố. Nếu Hội Thánh của Đức Chúa Trời chưa trở lại với tinh thần truyền đạo đó, khiến “mỗi tín đồ Đấng Christ đều làm một cuộc cách mạng”, thì Hội Thánh chưa có một sinh hoạt xứng danh là Hội Thánh của Đức Chúa Trời.
Nhưng chắc bạn sẽ nói: Tôi không biết giảng đạo, tôi không biết cắt nghĩa đức tin của tôi cho người khác hiểu. Chắc chắn câu giải đáp sẽ là: Bạn phải biết, phải làm việc đó. Đó là lý do đã khiến bạn trở thành tín đồ Đấng Christ: bạn không phải được kêu gọi để chỉ vui hưởng sự cứu rỗi cho chính bản thân bạn mà thôi, mà còn để đem Tin Lành của Đấng Christ ra khắp mọi nơi. Bạn không hề được đòi hỏi để chỉ làm một khán giả hay một người ghi tên vào sổ của Hội Thánh mà thôi, nhưng để làm một phần tử của một đội, một cuộc cách mạng sôi động chống lại quyền thống trị của điều ác và tội lỗi, tìm cách giải phóng những người nam người nữ khỏi quyền thống trị của nó. Trở thành tín đồ Đấng Christ không giống như gia nhập một thứ Hội Ái Hữu vĩnh viễn cho bằng đầu quân để tham gia một cuộc chiến tranh toàn diện, đòi hỏi mọi người phải nỗ lực, phải nhiệt cuồng.
Nhưng dầu nó có giúp đỡ chúng ta, ý thức về sự khiếm khuyết tài giảng đạo, cắt nghĩa đạo cho người khác vốn rất thông thường giữa vòng chúng ta. Như chàng thanh niên Giê-rê-mi đã nói: “Tôi không biết phải nói làm sao…” và đổ thừa cho tuổi trẻ của mình. Dường như ông quan niệm rằng càng lớn tuổi người ta sẽ càng hoạt bát hơn, điều thỉnh thoảng cũng vẫn đúng. Nhưng Đức Giê-hô-va đã thấy khuyết điểm của ông một cách khác hẳn, nên đã phán với ông: “Đừng nói tôi hãy còn trẻ, vì ngươi sẽ đi khắp nơi nào ta sai ngươi đi, và sẽ nói mọi điều ta truyền cho nói. Đừng sợ chúng nó, vì ta ở với ngươi , đặng giải cứu ngươi. Đức Giê-hô-va phán vậy”. Giê-rê-mi tiếp: “Đoạn, Đức Giê-hô-va giang tay rờ miệng tôi…” (Gie Gr 1:6-9). Lý do thoái thác không phải là sự trẻ tuổi của ông, nhưng vì ông sợ những người mình phải đến. Lời hứa là ông sẽ không đến một mình, nhưng Đức Giê-hô-va sẽ đi với ông, và môi miệng trống rỗng của ông sẽ được đầy dẫy lời lẽ từ Đức Chúa Trời đến.
Như chúng ta đã thấy trong toàn quyển sách của ông, Giê-rê-mi là một con người rất dễ cảm, cho nên việc phải nói ra vì Chúa đã khiến ông thua thiệt rất nhiều. Nhưng ông không thể nào giữ im lặng: và cả những khi ông cảm biết rằng nếu đừng nói thì lịch sự hơn, do đó, tránh phê bình, chỉ trích, ông vẫn không thể nào yên lòng được. “Vì lời của Đức Giê-hô-va làm cho tôi cả ngày bị sỉ nhục chê cười. Nếu tôi nói: ‘Tôi chẳng nói đến Ngài nữa, tôi sẽ chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa’, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, và tôi mệt mỏi vì nín lặng không chịu được nữa” (20:8, 9). Nguyện Đức Chúa Trời khiến cho lòng chúng ta như lửa đốt cháy, đến nỗi chúng ta phải vì Ngài mà nói; đến nỗi giống như Phao-lô, chúng ta phải la lên: “Còn tôi không rao truyền Tin Lành, thì khốn khó cho tôi thay” (ICo1Cr 9:16).
Chàng thanh niên Ê-xê-chi-ên thấy một khải tượng của Đức Chúa Trời và được truyền dạy: “Ngươi khá đem lời ta nói cùng chúng nó, dầu nghe, dầu chẳng khứng nghe…” rồi ông được truyền hãy mở miệng ra và ăn lấy một vật ban cho mình. Và ông được ban cho một quyển sách nhỏ, trong đó có lời Đức Chúa Trời, để ăn (Exe Ed 2:7 và tt). Những gì Đức Chúa Trời ban cho và dạy dỗ ông, ông có thể ban truyền cho người khác. Điều thú vị là tất cả những người như Ê-sai, Giê-rê-mi và Ê-xê-chi-ên đều có một từng trải nào đó, liên hệ đến miệng họ: một miếng than lửa đỏ để tẩy sạch nó, tay Đức Chúa Trời chạm đến nó, lời của Đức Chúa Trời để nuôi dưỡng nó - mọi việc đều xảy ra để sai phái họ trọn đời phục vụ Ngài.
Môi-se cũng trốn tránh việc phải vì Đức Chúa Trời mà nói ra, cũng như đã từ chối mọi trách nhiệm: “Ôi lạy Chúa… tôi vẫn chẳng phải là một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập ngừng”. Có lẽ nhiều người trong chúng ta muốn lặp lại những lời nói đó của Môi-se, và cảm thấy là chúng cũng đúng với mình nhưng Đức Giê-hô-va phán: “Ai tạo miệng loài người ra? Hay là ai đã làm câm làm điếc, làm sáng làm mờ? Có phải là Đức Giê-hô-va chăng? Vậy bây giờ, hãy đi, ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói (XuXh 4:10-12).
Điều đó có nghĩa là điều gì chúng ta không thể cậy sức cậy tài của mình mà làm, thì Đức Chúa Trời hứa chính Ngài sẽ làm. Trong Tân Ước, chúng ta thấy Đức Thánh Linh là Đấng cảm thúc người tín đồ nói ra, và lời Đức Chúa Trời vẫn còn hứa là sẽ giúp chúng ta vì Ngài mà nói ra. Phi-e-rơ là một ngư phủ, với Giăng, đã bị người phê bình là “người dốt nát, không học” (Cong Cv 4:13), nhưng đồng thời chính những người kia phải lấy làm lạ về sự dạn dĩ của họ, và chỉ có một lý do để giải thích cho việc đó, ấy là họ đã từng ở với Chúa Giê-xu. Chính ông Phi-e-rơ đó cũng khuyên những người muốn nói thì hãy “nói như giảng lời sấm truyền của Đức Chúa Trời” và rõ ràng đó cũng chính là điều ông đã làm. Điều quan trọng không phải là tài hùng biện của người nói, nhưng là sự cao cả của Đấng mà người ấy nhận sứ điệp để rao ra.
Chúa đang cần những người nam, người nữ để bởi họ, Ngài có thể truyền phán cho người nam người nữ khác; Ngài đang cần những người muốn cầu nguyện và tìm cơ hội nói về Ngài cho người khác trong sinh hoạt hằng ngày của mình. Chúng ta có sẵn sàng dâng môi miệng cho Ngài để làm việc đó không?
Cô gái có tiếng nói bằng vàng
Trong câu chuyện thần tiên nhan đề “Ba chàng tí hon ở trong rừng” của Grimm, chúng ta gặp hai cô gái. Một cô thì ngoan ngoãn, vâng lời. Cô ta được sai đi tìm trái dâu vào một ngày băng giá với chiếc áo choàng bằng giấy và một mẩu bánh mì nhỏ mà thôi. Cô đã chia mẩu bánh mì với ba chàng lùn và vâng lời dạy của họ, đi ra, quét tuyết và tại đó cô tìm thấy trái dâu. Người chị khác mẹ của cô thì đi ra với chiếc áo choàng bằng lông, với một bữa ăn thịnh soạn, nhưng không chịu chia nó cho ba chàng lùn. Họ cũng dạy cô ta quét tuyết, nhưng cô ta từ chối, cho nên, lẽ dĩ nhiên cô ta không tìm được trái dâu. Họ đã ban thưởng cho cô gái trước, chẳng những một vẻ đẹp cứ ngày càng gia tăng và lời hứa sẽ được kết duyên với một vì vua, mà còn được điều lạ là mỗi khi mở miệng sẽ có những đồng tiền vàng văng ra! Người chị khác mẹ thì bị trừng phạt bằng sự xấu xí ngày càng gia tăng, và mỗi khi mở miệng, sẽ có một… con cóc nhảy ra!
Đã có gì văng ra từ miệng chúng ta, những đồng tiền vàng hay những con cóc? “Miệng người công bình là một nguồn sự sống… Lưỡi người công bình giống như bạc cao” (ChCn 10:11, 20). Chúng ta là tín đồ Đấng Christ phải giống như cô gái mà tiếng nói là vàng, lời lẽ nói ra có thể giúp đỡ người khác, những lời lẽ hợp thời, đầy ân hậu như môt trận mưa những đồng tiền vàng. “Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến” (Eph Ep 4:29).
Nét tương phản giữa hai cách dùng môi miệng trên đây là đề tài Kinh Thánh rất thường đề cập đến. Miệng người công nghĩa giải cứu chớ không khiến họ mắc bẫy gian ác (ChCn 12:6). Lưỡi người khôn ngoan đem đến sự chữa lành, không như những lời lẽ làm tổn thương như gươm đâm (12:8). “Lời lành giống như tàn ong, ngon ngọt cho tâm hồn, và khoẻ mạnh cho xương cốt” (16:24). Trong thế gian, có sự khác biệt rất xa giữa những lời nói gây thương tích, đồn huyễn, tung ra những sự thật nửa chừng, và những lời đẹp đẽ xây dựng, khích lệ, làm tăng thêm sức mạnh. Lời nói chúng ta không những chỉ có thể dùng cho người khác biết về Đấng Christ, mà còn có thể giúp đỡ khích lệ các bạn tín đồ, và chia sẻ với họ phần khải tượng của chúng ta về sự phục vụ Chúa. Chúng ta có thể giúp đỡ cho những người sa ngã, đang cần sự thông cảm và khích lệ. Chúng ta cần có một môi miệng đầy lời bằng vàng, làm rạng danh Đức Chúa Trời, có thể làm cho Nước Ngài mau đến.
Sự thông công theo đúng ý nghĩa của nó
Người tín đồ dường như hay dùng chữ “thông công” để mô tả việc uống trà, ăn bánh ngọt giữa các tín hữu với nhau! Chúng ta đã đề cập đến việc những người tín đồ rất ít hay nói về Đấng Christ, và đã thấy rằng điều đó thường do sự thiếu từng trải thuộc linh, sự sợ hãi phải bộc lộ chỗ trống trải thuộc linh của mình, có thể tạo ra sự giả hình, tạo ra những câu chuyện bị bắt buộc phải nói một cách tin kính, ngoan đạo không tự nhiên.
“Bấy giờ, những kẻ kính sợ Đức Giê-hô-va nói cùng nhau” (MaMl 3:16). Nói về Đấng Christ ở trong nhà, với các tín đồ khác, thì dễ hơn là nói về Ngài cho những người không chịu chú ý, lại có thể còn phản đối nữa. Nếu chúng ta không dám thổ lộ từng trải thuộc linh của mình cho các bạn tín đồ, thì rất có thể là chúng ta chẳng bao giờ nói được gì nhiều hơn cho người không biết Chúa. Chúng ta đã thấy thể nào vấn đề môi miệng hay ngại ngùng có thể được cố gắng giải quyết bằng sự cầu nguyện xin những cơ hội thuận tiện. Thật là bi đát, nếu chúng ta là tín đồ Đấng Christ chỉ có thể “trò chuyện” mà không thể “cảm thông” nhau với đầy đủ ý nghĩa của danh từ ấy về đức tin và các vấn đề mình tìm ra được để ứng dụng cho đời sống hằng ngày. Không một ai trong chúng ta lại muốn làm người ba hoa hay gợi chuyện về những vấn đề tin kính, nhưng thỉnh thoảng cũng có những vấn đề nho nhỏ hay những điều cần giải thích tác động như một vật xúc tác đưa đến một buổi nói chuyện tích cực, hoặc một lối lái khéo cuộc bàn cãi sang những ngõ ngách khác có ích lợi hơn. Nếu chúng ta không tạo được một mối cảm thông sâu xa hơn, chúng ta sẽ không làm ích lợi được như đáng phải có với tư cách một người trong gia đình Cơ Đốc giáo. Lẽ dĩ nhiên nếu phải sống trong trạng thái xa lạ, cô đơn ngay cả trong đám đông các tín đồ Đấng Christ là một điều thật đáng buồn.
Làm một con người thành thật thì không bao giờ có hại gì, và chấp nhận sự trống vắng, khô khan hay sa ngã thuộc linh có thể là bước đầu tiên để tìm lại được sự kết quả. Nếu không biết rõ các nhu cầu sâu xa hay những vấn đề của người khác, chúng ta rất khó cầu nguyện hữu hiệu cho nhau. Gia-cơ đã giải quyết dứt khoát một việc khi ông viết: “Hãy tiếp tục xưng tội cùng nhau” rồi mới tiếp tục dạy rằng hãy cầu nguyện (Gia Gc 5:16). Đức Thánh Linh đã dạy chúng ta phải làm như vậy, Đó là một lệnh truyền, và sự kiện là có nhiều người đã nhấn mạnh quá đáng đến sự xưng tội hay không thực hiện đều đặn việc ấy, cho nên đã ứng dụng nó một cách sai lầm. Chúng ta không nên xem thường lệnh truyền đo. Nếu một nhóm nhỏ các tín đồ Đấng Christ biết thông báo cho nhau một cách thích hợp những vấn đề của mình và cầu nguyện cho nhau một cách thật tâm, thì sẽ được phước lớn. Sự thông công để thảo luận với nhau, nhất là các vấn đề như sự lười biếng hay e lệ, sự khô hạn thuộc linh hay việc ngồi lê đôi mách, có thể sẽ giúp đỡ chúng ta nhiều.
Những điểm gợi ý để cầu nguyện và suy gẫm
Môi miệng tôi đã được sử dụng để nói về Đấng Christ cho người khác, hay tôi vẫn im lặng?
Tại sao tôi không nói được nhiều hơn , hay tìm nhiều cơ hội hơn để làm chứng về Chúa ?
Phải chăng từ lòng tôi đã không có tình yêu mến Chúa tuôn trào ra?
Môi miệng tôi có cần được tẩy sạch , để nó lại có thể mở ra thong thả , tự do không ?
Tôi đã từng trải được những gì trong việc tự nhiên cảm tạ, tán tụng Chúa?
Chúng ta có cầu xin Chúa cho mình khả năng ăn nói , có xin Ngài ban cho chúng ta một lệnh truyền đi ra nói về Ngài cho kẻ khác không ?
Chúng ta có cầu xin “một ngọn lửa cháy trong lòng” sẽ khiến chúng ta nói không?
Tuần lễ vừa qua , chúng ta có đã nói ra “vàng ” hay chỉ mở miệng để có những “con cóc ” nhảy ra ?
Ngay trong nhà tôi, tôi có phải là người thật sự tạo được sự cảm thông, hay tôi chỉ biết nói ra mà thôi. Hãy làm một bảng liệt kê danh sách những người tôi phải nói về Đấng Christ và về đức tin nơi Ngài cho họ.
Hãy cầu nguyện cho những người ấy và tìm cơ hội để nói về Ngài một cách tự nhiên cho họ .
Tôi có khuynh hướng dùng một thứ ngôn ngữ quá chuyên môn mà người khác không hiểu nổi, khiến họ ngỡ ngàng không? Tại sao tôi không cầu nguyện xin Chúa giúp mình diễn tả Tin Lành của Ngài một cách rõ ràng?
Lạy Chúa yêu dấu , con muốn Ngài nhận lấy môi miệng con và tẩy sạch nó , đổ đầy vào đó những lời lẽ thương yêu , gây dựng để có thể đem phước hạnh đến cho kẻ khác . Xin dùng môi miệng con khiến kẻ khác được nghe lời Ngài và đáp lại lời ấy . Xin dùng môi miệng con để khích lệ các bạn hữu tín đồ của con . Nhân danh Chúa Giê-xu .

CHỈ HÀNH NGHỀ hay THEO TIẾNG GỌI?
Nguyện Chúa nhận lấy cả đời sống con ,
để được biệt riêng cho việc phục vụ Ngài .
Chúng ta chỉ có một cuộc đời. Có lẽ chúng ta đã sống nó hết một phần tư, một phần ba, một nửa hay nhiều hơn của cuộc đời đó rồi. Cũng như Clementine phần đó của đời sống ta đã qua đi vĩnh viễn. Nhưng với phần còn lại thì sao? Chúng ta sẽ dùng nó để làm gì? Rất có thể là chúng ta đã gán cho nó một lô những niềm tin và những thói quen thông thường của người tín đồ Đấng Christ, rồi cứ tiếp tục hành động y như chúng ta vẫn luôn luôn hành động mà không bao giờ đặt ra một câu hỏi nào để tự tra vấn chúng ta về mục đích của đời sống.
Một mẫu mực được chấp nhận
Phần đông chúng ta đều chỉ có thể nói rất ít về những điều đã xảy đến cho chúng ta trong thời thơ ấu. Khi chúng ta còn bé thì người khác đã ấn định những điều chúng ta phải làm chứ chính chúng ta không phải quyết định việc gì quan trọng cả. Người khác quyết định cho chúng ta phải học trường nào, phải đi nghỉ lễ, nghỉ hè ở đâu v.v… Có một số quyết định được căn cứ trên những gì người khác đã khảo sát và quyết định cho chúng ta phải làm. Có một số người đã vào đại học, đã ở trong lứa tuổi đôi mươi, mà vẫn chưa thực sự có một quyết định quan trọng nào cho đời sống của mình. Học xong trung học, họ phải đi vào đại học, thế thôi.
Tuy nhiên có hai sự chọn lựa mà càng lớn lên, mỗi cá nhân càng được tự quyền chọn lấy. Điểm này không phải có tính cách phổ quát, vì tại nhiều nơi trong nhiều xứ, các bậc cha mẹ vẫn còn dành quyền quyết định mọi việc quan trọng; nhưng từ 19 tuổi trở đi, phần đông chúng ta đều phải quyết định hai việc quan trọng cho cuộc đời mình, đó là: chọn người bạn đời và một nghề nghiệp cho bản thân. Thông thường thì chúng ta vẫn chưa trưởng thành hoặc chưa được hướng dẫn đầy đủ để tự mình quyết định những điểm đó, mà chỉ bị đẩy đưa cho đến khi gặp một sự sắp xếp nào đó. Đúng hơn thì tất cả chỉ là do tình cờ. Rất may là trong nhiều xứ, việc quyết định về người bạn đời đã được trì hoãn cho đến khi chúng ta già dặn hơn để biết suy nghĩ đến vấn đề tài chánh. Trong nhiều xứ khác, gia đình vẫn còn chú trọng khá nhiều đến việc chọn người bạn đời, cho nên chúng ta có thể được nghe nhiều ý kiến khách quan về vấn đề xứng đôi hay hoà hợp (giữa hai vợ chồng).
Quyết định quan trọng về hướng đi của chúng ta liên hệ đến việc làm hay nghề nghiệp, có thể là do ảnh hưởng công việc làm ăn của gia đình, của một nghề gia truyền, của trường chúng ta học, của việc làm đầu tiên sau khi chúng ta rời ghế nhà trường hay do phần huấn nghệ chúng ta đã hấp thụ được. Một phần là do sự lựa chọn riêng của cá nhân ta và một phần là do sự khuyến khích của cha mẹ và các giáo sư. Trong giới sinh viên, học sinh dường như có người có thể đợi đến ngày tốt nghiệp chỉ trong vài tuần lễ mà không cần biết là về sau mình sẽ làm gì. Nhưng đa số lại thấy rằng phần định hướng nói chung đã được định hình từ những năm sau 15 tuổi hay ở độ trên dưới hai mươi, ngay cả nếu các chi tiết và khả năng thành công, tiến bộ sẽ chỉ phát triển với thời gian. Nhiều người dường như có khả năng thay đổi nghề nghiệp cả đời, nhưng thường thì sự may rủi vẫn nằm đâu đó giữa khoảng từ mười lăm đến hai mươi lăm tuổi. Rồi có lẽ là ở đằng sau một thời gian bốn hay năm mươi lăn lộn với nghề nghiệp, là một giai đoạn về hưu mà các khả năng đều lần lần tiêu tán, và thế là chấm dứt một cuộc đời. Chúng ta sẽ có gì để khoe khoang về nó? Phải chăng nó sẽ chỉ được đánh giá bằng một vài phần thưởng và thành công nhỏ nhặt của cuộc đời, một vài bằng cấp, một vài chiếc cúp bạc chứng minh chúng ta là một lực sĩ đáng khen, một vài miếng huy chương, một vài bài báo cắt để dành, vài lần được thăng thưởng trong thời gian hành nghề, một địa vị khá cao, trong đoàn thể địa phương, được tặng một cái đồng hồ, một mẩu tin buồn đăng trong báo và một đám tang có đông người đi đưa? Phải chăng đó là tất cả ý nghĩa có thể có được của cả đời sống chúng ta.
Một cách đánh giá mới
Giờ đây đứng trên quan điểm một tín đồ Đấng Christ, phải chăng chúng ta tự cảm biết là bất cứ chúng ta đang làm gì, bất cứ những lý do nào, như những phần thưởng bằng tiền bạc, một số hưu bổng cao được bảo đảm, danh tiếng do nghề nghiệp đem đến, lòng hăng say của chúng ta đối với công tác dấn thân vào, hay sức thúc đẩy của sự nghèo đói mà thôi… đều là những động cơ rất khiếm khuyết? Khi một người đã trở thành tín đồ Đấng Christ thì tất cả các động cơ, các thái độ sống của người ấy phải được suy xét, kiểm soát lại. Có lẽ từ trước đến nay, chúng ta đã xem đời sống chúng ta là thuộc riêng về chúng ta. Lẽ dĩ nhiên là khi nhìn lại, chúng ta nhận ra rằng thật ra chúng ta đã lựa chọn rất ít, và giờ này chúng ta chỉ còn lại rất ít: phần huấn luyện chuyên môn cho một khu vực hoạt động nào đó, được tùng sự trong một hãng xưởng đặc biệt nào đó, nhiệm vụ phải phụng dưỡng cha mẹ già yếu, vợ con. Dầu vậy, chúng ta vẫn xem cuộc đời chúng ta là thuộc riêng về chúng ta và có thể dùng nó làm bất cứ việc gì mình thích. Nhưng, chúng ta không thể làm như vậy nữa. “…Anh em không còn là chủ của chính mình nữa. Một giá rất cao đã được trả để chuộc anh em; vậy hãy tôn vinh Đức Chúa Trời bằng cách khiến thân thể anh em trở thành đền thờ của hiện diện Ngài” (ICo1Cr 6:19, 20 bản dịch của Knox).
Như chúng ta đã thấy, người tín đồ Đấng Christ xem mình như một nô lệ của Ngài, và tất cả hành động của người ấy phải được nhìn dưới ánh sáng mới mẻ đó. Trước đây, tôi là một tên phản loạn, đưa quả đấm của mình lên chống lại Đức Chúa Trời và thế gian: “Cuộc đời tôi là của riêng tôi đấy chứ!” Nhưng bây giờ thì không phải vậy. Tôi đã buông xuôi đôi tay phản loạn, gieo mình vào ơn thương xót của Ngài và tình nguyện phục vụ Ngài. Ngài đã khiến tôi trở thành người nhà của Ngài, cho nên bây giờ tôi là nô lệ của Ngài, sẵn sàng tuân phục các mạng lệnh của Ngài, dầu các mạng lệnh ấy có thể mâu thuẫn với điều mà từ trước đến nay tôi vẫn xem là quyền lợi riêng của cá nhân mình. Điều đó có nghĩa là tôi phải xét lại cả thái độ sống của tôi liên hệ đến điều tôi đang làm bằng đời sống duy nhất mà tôi đang có. Có lẽ tôi chưa định đoạt được nghề nghiệp tương lai cho mình, có lẽ trước mặt tôi đang có nhiều việc tôi có thể làm, trong số đó, tôi phải tìm biết ý muốn của Chủ tôi. Trong vài trường hợp, nếu tôi hãy còn là một sinh viên, một quyết định quá sớm phải được xét lại căn cứ trên các nguyên tắc trong phần tiếp theo đây.
Một thái độ mới hay một sự bổ nhiệm mới
Phải chăng trở thành tín đồ Đấng Christ có nghĩa là tôi phải suy nghĩ để tìm cách đổi nghề? Hay tôi chỉ cần thay đổi thái độ với công việc hiện có của tôi mà thôi? Đâu là các nguyên tắc Kinh Thánh dạy? Các nguyên tắc vẫn như nhau nếu có người tin Chúa trước khi quyết định dứt khoát về nghề nghiệp tương lai cho đời sống mình và đang cân nhắc những khả năng của mình. Chúng cũng có thể được áp dụng cho trường hợp một nữ tín đồ nhận biết rằng nghề nghiệp về sau của mình sẽ bị gián đoạn hay ngăn trở bởi việc Chúa sẽ hướng dẫn mình trong vấn đề hôn nhân và lập gia đình.
1. Hãy nhằm vào một địa vị có thể phục vụ tối đa
Hầu như bất cứ một việc làm nào được thực hiện tận tâm đều có thể trở thành một nguồn vui, một phần thưởng và có ích đối với người tín đồ có tinh thần ngay thẳng, thành thật. Có thể có nhiều tiếng kêu gọi mà chúng ta có thể nhờ công việc mình sẽ làm để làm sáng danh Chúa. Điều quan trọng là chúng ta phải có thái độ của một tín đồ Đấng Christ trong công tác mình đang làm. Nhưng dường như điều tối quan trọng và có thể quyết định cho cả đời sống chúng ta là phải tìm cầu ý chỉ Đức Chúa Trời về đời sống chúng ta liên hệ đến nghề nghiệp, hay đúng hơn là chúng ta cần phải được Ngài kêu gọi mình. Nghĩa là, ở địa vị nào tôi sẽ phục vụ Chúa được đắc lực nhất, tôi sẽ trở thành một người hữu ích đến mức tối đa? Lẽ dĩ nhiên là tôi có một vài ưu điểm cũng như một số nhược điểm, nhưng với tất cả năng khiếu và những giới hạn đó, địa vị nào sẽ giúp đỡ tôi trở thành hữu ích hơn hết cho Chúa, và tôi phải làm sao để Ngài được đẹp lòng hơn hết? Có lẽ tôi đã có vợ con rồi, và tôi phải giúp ích cho họ cũng như cho xã hội nói chung. Cả hai loại nhiệm vụ vừa kể đều nằm trong nhiệm vụ phục vụ Chúa của tôi. Nhưng làm thế nào để tôi trở thành ích lợi tối đa cho Chúa và đem đến nhiều phước hạnh nhất cho người khác? Nếu là một người tận tâm như chúng tôi đã nói ở trên, bất cứ một tín đồ nào của Đấng Christ cũng nghĩ đến việc phục vụ Chúa trong công việc mình đang làm; nhưng điều còn quan trọng hơn nữa là Đức Chúa Trời có thể dùng tôi cách nào để được hữu hiệu hơn không? Tôi phải làm gì, ở đâu, để Ngài được tôn vinh và Nước Ngài được mở rộng đến mức tối đa? Ở địa vị nào, tôi sẽ có thể gây tai hại nhiều nhất cho ma quỉ và làm ích lợi nhiều nhất cho Hội Thánh Đức Chúa Trời?
Không phải trong phút chốc mà chúng ta có thể bảo rằng không một ai có thể trở thành ích lợi tối đa cho Chúa nếu việc làm của người ấy không có liên hệ rõ rệt với tôn giáo, với”đạo”. Nếu việc chúng ta đang làm nhằm giúp ích chính phủ có một chính sách cai trị tốt đẹp, nếu chúng ta thiết lập được những tiêu chuẩn ngay thật trong ngành thương mại và kỹ nghệ, nếu chúng ta là những nhà tiểu công nghệ mà phần sản xuất làm đẹp lòng và sáng danh Đức Chúa Trời (và bảng liệt kê này có thể kéo dài ra hầu như vô tận), thì rất có thể đó là địa vị mà chúng ta làm ích lợi cho Chúa nhiều nhất. Giá trị nội tại của một công tác tự nó là phần ân huệ thông thường mà Đức Chúa Trời ban cho loài người. Điều này hoàn toàn khác biệt với giá trị của những tiếp xúc cá nhân chúng ta có thể đem đến cho người khác. Dầu sao thì việc xếp đặt những tín đồ trong những chức vị quan trọng ngoài xã hội, khiến họ trở thành muối của đất, giữ cho thế gian khỏi hư thối, băng hoại, cũng tối quan trọng. Chính loại công tác đó có thể là địa vị khiến họ trở thành ích lợi nhất. Nhưng chúng ta phải luôn luôn tự hỏi: phải chăng tôi đang ở đúng một địa vị có ích lợi nhiều nhất hay không? Chúng ta có thể chắc chắn một điều, ấy là Đức Chúa Trời đã chọn chỗ cho chúng ta, “việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo” (Eph Ep 2:10) và chúng ta cần cầu hỏi Ngài, xin Ngài chỉ cho chúng ta công việc Ngài đã chọn trước cho mình. Cũng vậy, thỉnh thoảng chúng ta cũng cần hỏi lại xem có phải mình vẫn còn ở trong địa vị có ích lợi nhất đó hay không, hay là đã có một thay đổi nào đó, khiến chúng ta không còn hăng say để đương đầu với những tranh chấp mới bằng một nguồn năng lực và một kích thích tố đã được đổi mới, được gia tăng.
2.Cứ đứng trong chỗ mình đã được kêu gọi
“Ai nấy khi gọi ở đấng bậc nào, thì phải cứ ở theo đấng bậc ấy. Ngươi đương làm tôi mọi mà được gọi chăng? Chớ lấy làm lạ; song nếu ngươi có thể được tự do, thì hãy nhân dịp đó là hơn… Hỡi anh em, ai nấy khi được gọi ở đấng bậc nào, thì cứ phải ở theo đấng bậc ấy trước mặt Đức Chúa Trời” (ICo1Cr 7:20-24). Ở đây, Phao-lô đã vạch ra các nguyên tắc tổng quát. Trở thành tín đồ Đấng Christ không phải là lý do để bỏ hết những gì bạn đang làm trước khi tin Chúa. Đức Chúa Trời đã đặt tay Ngài trên chúng ta lâu hơn là điều chúng ta đã được biết. Có lẽ Phao-lô đã học nghề may trại trước khi ông trở thành tín đồ Đấng Christ, nhưng nghề đó đã giúp ích cho ông khi ông phải làm việc để tự túc trong chức vụ rao giảng Tin Lành. A-qui-la và Bê-rít-sin đã không được kêu gọi để thôi hành nghề may trại sau khi đã trở về với Chúa. Một thí dụ rõ ràng nhất là Ô-nê-sim, một nô lệ của Phi-lê-môn, đã trốn chủ mình và tin Chúa khi cùng bị tù với Phao-lô (người tình cờ đã tìm được phương pháp tuân theo “lời kêu gọi” là trở thành một tù nhân để tôn vinh Đức Chúa Trời). Phao-lô đã gởi ông về cho người chủ cũ để lại trở thành một nô lệ - dầu bây giờ là một tín đồ làm nô lệ cho một người chủ cũng tín đồ - nhưng lần này với một mối liên hệ khác xa lần trước, cũng như đã làm việc bằng một thái độ hoàn toàn khác hẳn. Viên đội trưởng người La Mã (Cong Cv 13:1-52) vẫn tiếp tục nghề nghiệp của họ sau khi đã tin Chúa. Tại Phi-líp, chắc Ly-đi vẫn tiếp tục nhề buôn hàng vải, và trong những buổi nhóm họp của Hội Thánh tại đó, chắc người ta vẫn ngửi thấy mùi hương đặc biệt của những kiện hàng sắc tía được chất cao để bán lại. Chúng ta có thể nghĩ rằng người đề lao tại Phi-líp vẫn tiếp tục công tác của mình trong nhà tù của thành phố ấy, nhưng đối xử tử tế hơn với các phạm nhân sau khi nhận ra rằng mình đã vô tình hạ ngục các thiên sứ.
Sức mạnh của một Hội Thánh nằm trong các chức vụ thông thường của thuộc viên Hội Thánh ấy. Nếu chúng ta so sánh các Hội Thánh tại Triều Tiên và Nhật Bản, chúng ta sẽ thấy thích thú và lấy làm ngạc nhiên khi nhận ra rằng Hội Thánh tại Triều Tiên đã phát triển hơn hẳn so với các Hội Thánh tại Nhật Bản. Sở dĩ như thế là vì nhiều lý do góp phần, nhưng không có ai nghi ngờ gì được về việc một phương pháp gọi là của Nevius đã có ảnh hưởng lớn lao trên sự kiện ấy. Hội Thánh bản xứ đã áp dụng các nguyên tắc được gợi ý bởi Nevius, một giáo sĩ ở Trung Hoa kỳ cựu. Nguyên tắc thứ nhất được phát biểu như sau: “Mỗi người cứ ở tại chỗ mình được kêu gọi, dạy dỗ cho mọi người trở thành cá nhân hầu việc Đấng Christ, sống cho Đấng Christ giữa hàng xóm láng giềng, tự túc bằng chính nghề của mình?”. Cho nên hiện nay tại Triều Tiên, mỗi tín đồ là một người hầu việc Đấng Christ, tìm cách giảng Tin Lành cho người chung quanh (tại nhà hoặc tại chỗ mình làm việc), và đều tự túc. Tại Nhật Bản, Hội Thánh chẳng bao giờ tập trung lực lượng vào các tín đồ như vậy, nhưng chỉ tuỳ thuộc vào một số người hoàn toàn để riêng thì giờ lo mở rộng việc chứng đạo. Hội Thánh Triều Tiên cũng là một Hội Thánh từng bị bắt bớ rất nhiều qua lịch sử của nó, Một Hội Thánh tập trung lực lượng vào tín đồ rất khó bị tiêu diệt, nhưng tại Nhật Bản nếu bắt buộc mọi người làm việc ngày Chúa Nhật, bắt giam tất cả mục sư và lấy các nhà thờ dùng vào việc khác, như làm kho chứa hàng vân vân… chắc ai cũng có thể đoán được là người ta sẽ còn có thể tiếp tục làm những gì.
Một bằng chứng hùng hồn khác về giá trị của một hoạt động tập trung vào tín đồ là Hội Thánh tại Trung Quốc. “Hội Thánh bị xem là ‘một nhóm phản động’ và bị chính quyền đóng cửa. Nhưng dầu bị tan lạc, Hội Thánh vẫn họp lại thành từng nhóm nhỏ tại nhà riêng, vẫn tiếp tục yêu cầu các chính quyền địa phương và trung ướng trả nhà thờ lại cho họ. Cuối cùng, chính phủ đã quyết định rằng trả nhà thờ lại cho họ còn tốt hơn là duy trì cái nguy cơ có thể làm tăng thêm ‘các Hội Thánh bất hợp pháp tổ chức lén lút tại gia’”.
Bạn có thể bắt giam các mục sư, là những người thường bị nhận ra ngay trong thời kỳ Hội Thánh bị bắt bớ, nhưng không ai có thể bắt nhốt tất cả các cá nhân tín đồ Đấng Christ, hay ngăn cấm họ chuyện trò với người khác. Chính các Hội Thánh loại đó đã tồn tại sau những cơn bắt bớ khủng khiếp của đế quốc La Mã, và chúng tôi đã không hề nhấn mạnh quá đáng tầm quan trọng của việc mỗi tín đồ cần làm việc và làm chứng về Chúa ngay tại chỗ mình đã được kêu gọi.
3. Một số người phải đổi nghề khi đã tin Chúa
Dầu Ly-đi và người đề lao có thể tiếp tục hành nghề tuỳ theo sự kêu gọi họ, người thứ ba đã tin Chúa tại Phi-líp vì dường như bà thật là người thứ ba (Cong Cv 16:1-40) phải đổi nghề của mình. Nàng là một “đầy tớ của Phi-tôn” gần như là một nữ tư tế cho thần Delphi bị quỉ bói toán ám, và những người chủ của nàng đã lạm dụng nàng để trục lợi. Khi Phao-lô đã đuổi quỉ cho nàng thì “các chủ nàng thấy mình chẳng còn trông được lợi lộc nữa” nên gây náo loạn khiến các sứ đồ bị hạ ngục rồi sau đó người đề lao và cả gia đình đã tin Chúa. Rõ ràng là cô gái ấy không thể nào tiếp tục nghề của mình. Điều đó chắc cũng xảy ra cho Cơ-rít-bu, vốn là một người cai nhà hội Do Thái tại Cô-rinh-tô, và Sốt-then, người tiếp tục công việc của ông, mà nếu thật ông ta chính là người có tên trong thơ tín Phao-lô viết cho Hội Thánh tại đó, thì cũng là một người đã tin Chúa. Họ có thể làm một nghề khác chớ không thể nào tiếp tục làm chức viên của nhà hội sau khi đã trở thành tín đồ Đấng Christ. Điều đó dường như cũng được nghiệm đúng cho số “rất nhiều thầy tế lễ” đã tin Chúa (Cong Cv 6:7). Tính chất của nghề nghiệp họ đòi hỏi họ phải đổi nghề một khi đã tin Chúa.
“Kẻ trộm cắp chớ trộm cắp nữa”, có lẽ là một trường hợp cực đoan trong đó đương sự cần phải đổi nghề, nhưng còn nhắc nhở cho chúng ta là có nhiều nghề bị cấm đoán đối với tín đồ Đấng Christ. Có một số nghề không phải mang tiếng là xấu lắm hay bị kết án là bất nhân, trái lại còn được xem là đáng kính trọng hay có thể được lợi lộc nhiều, nhưng đó là những nghề không sản xuất được gì cả và lợi lộc kiếm được chỉ do lòng tham lam hay sự ngu dại của đồng loại mình mà thôi.
4. Một số người có thể được kêu gọi dâng mình hoàn toàn
Chúng tôi xin nhấn mạnh lại một lần nữa rằng một khi đã trở thành tín đồ Đấng Christ, dầu tất cả chúng ta đều phải là những tín đồ dâng trọn mình với tất cả thì giờ cho Chúa, tất cả chúng ta phải hết lòng tham gia việc phổ biến Tin Lành, thì điều đó không có nghĩa là chúng ta phải nghĩ rằng sự hết lòng đó bắt buộc phải đưa đến việc bỏ hết mọi phương tiện sinh nhai để bước vào chức vụ hầu việc Chúa, hay là sự kêu gọi vào chức vụ đó đáng phải được coi trọng hơn mọi sự kêu gọi khác.
Trước cuộc cải chánh người ta tưởng rằng “đời sống đạo đức” đòi hỏi con người phải hoàn toàn lìa bỏ thế gian tội lỗi; chỉ có “người dâng mình trọn vẹn” mới thực sự sống được cuộc đời đẹp lòng Đức Chúa Trời. Và ngay trong những ngày sáng sủa hiện tại, các bạn vẫn còn nghe các chương trình phát thanh của Giáo hội La Mã đề cao đời sống độc thân, xem đó là cao quí hơn cuộc sống lứa đôi, và tán thành việc những người đã lập gia đình quên đi người bạn đời của họ để phục vụ Chúa trong các tu viện. Cuộc cải chánh đã đặt nền tảng cho giáo lý về sự kêu gọi một chức vụ tư tế cho toàn thể tín hữu. Sự thánh khiết không phải chỉ có thể biểu lộ trong việc kết hôn; không phải chỉ được bày tỏ trong sự nghèo thiếu, mà trong việc sản xuất nữa; không phải là bằng việc đi ăn xin mà bằng cách bố thí rời rộng; không phải là trốn tránh dục tình, nhưng là sử dụng nó làm sao cho sáng danh Chúa; không phải do việc sống độc thân, biệt riêng để được thánh khiết, nhưng là một cuộc sống độc thân nếu đó là ý chỉ Đức Chúa Trời đối với chúng ta, một cuộc sống chung đụng với thế gian, chen vai thích cánh với hàng triệu người đang cần đến ta. Chúng ta không còn bị giới hạn trong phạm vi một giai cấp thánh khiết đặc biệt. Tất cả tín đồ Đấng Christ đều được kêu gọi để trở thành thánh đồ, và mọi người đều được Đức Chúa Trời kêu gọi trực tiếp vào một chức vụ.
Thật lạ lùng vì mặc dầu đã thụ hưởng được phần di sản đó của cuộc cải chánh, cả đến những tín đồ của Giáo Hội Cải Chánh vẫn còn bám víu vào cái tư tưởng là có một loại người phục vụ Chúa chuyên nghiệp đã được một sự kêu gọi cao quí hơn những người khác. Thật ra thì Đức Chúa Trời có dành sự kêu gọi đó cho một số người. Mọi người đều có thể được Chúa kêu gọi trở về với Ngài trong bất cứ giai đoạn nào của đời sống: lúc trẻ, lúc trưởng thành hay lúc đã già. Thật ra thì một người cũng có thể được kêu gọi về dâng trọn đời sống và thì giờ của mình cho Chúa bất cứ lúc nào. Có một số người được kêu gọi lúc đời sống họ đã về chiều, như Ma-thi-ơ được kêu gọi tại sở thâu thuế, và sau đó, còn có bạn ông là Xa-chê, dường như là một thanh tra chánh sở thâu thuế, hay một số nhiều các môn đệ khác vốn là ngư phủ. Một số khác nữa như Ti-mô-thê chẳng hạn, dường như đã được kêu gọi lúc hãy còn thật trẻ (16:1-13). Ông là thí dụ điển hình cho người đã được kêu gọi dâng mình trọn vẹn lúc hãy còn thanh xuân, trước khi bước theo một tiếng gọi nào khác của nghề nghiệp.
Tuy nhiên, một điều thú vị đáng chú ý là nói chung thì trong thời Tân Ước, chính những người cao tuổi đã được chỉ định lãnh đạo các Hội Thánh địa phương, trong khi những người trẻ hơn mà chúng tôi vừa trưng thí dụ, dường như phải hoạt động trên đường trường, hay theo điều chúng ta suy nghĩ ngày nay, là chức vụ giáo sĩ, truyền giáo. Ngày nay thì dường như cán cân lại chổng ngược. Thật ra thì những người được giao phó nhiệm vụ tại các Hội Thánh địa phương, dầu là có cấp bằng đại học, chỉ là những người rất ít từng trải ngoài cuộc đời sinh viên của họ. Điều này dường như hoàn toàn tương phản với mẫu mực của Tân Ước (xin xem ITi1Tm 3:1-13, là phần mô tả phẩm cách của các nhà lãnh đạo địa phương), vốn ít nhấn mạnh đến phần huấn luyện đại học hơn là đặt nền tảng trên những người đã có gia đình, biết quản trị nhà mình, và đã tự mình tạo được tiếng tốt trong xã hội.
Tuy nhiên, sự thiếu từng trải của người non trẻ đặc biệt kia trong việc quản lý các Hội Thánh địa phương đã càng ngày càng được nhiều người nhìn nhận hơn, và trong nhiều xứ, dường như số người lớn tuổi, từng trải hơn bước vào chức vụ hầu việc Chúa bằng tất cả thì giờ của mình cũng gia tăng. Khuynh hướng đó đáng được hoan nghênh như một sự kiện chứng tỏ chúng ta đã trở về với Kinh Thánh từ một vị trí vốn do ảnh hưởng của một viễn tượng xuất phát từ thời tiền Cải chánh gây ra, cũng là một khuynh hướng theo đó thì những người trung niên mới thực sự hi sinh lợi lộc và cuộc sống đầy đủ tiện nghi để chấp nhận việc phục vụ Chúa. Như thế, nếu chúng ta chưa được kêu gọi vào chức vụ trong lứa tuổi đôi mươi, có lẽ chúng ta sẽ được gọi khi được ba mươi, hay lý tưởng hơn nữa là khi đã được bốn mươi hay năm mươi tuổi. Chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc đó chưa?
Chúng ta đã suy nghĩ về vấn đề đó chưa?
Sau khi đã nói hết những điều kể trên, thiết tưởng cũng cần phải có những người dành trọn thì giờ để phục vụ cả cho các thanh niên lẫn cho người lớn tuổi. Thật ra, vấn đề không phải là sự tình nguyện: một số người thiếu khả năng cũng có thể tình nguyện vào chức vụ đó như tất cả chúng ta đều biết, dẫu may thay, đa số bất thích ứng đó đều lần lần bị loại. Chúng ta luôn luôn hơi nghi ngờ đối với một số những người tình nguyện, và có lẽ nếu chúng ta thuộc số người tình nguyện đó, thì phải chăng chúng ta làm vậy chỉ vì mình không đủ khả năng để làm một việc gì khác hơn? Một sự thật đáng buồn, ấy là ở nhiều nơi trên thế giới, đa số các ứng viên trẻ tuổi vào chức vụ mục sư, truyền đạo tại các trường cao đẳng thần học là những học sinh trong các trường đạo đã không thi nổi vào trung học hay đại học. Chính những người thất bại tại các trường đạo bị thúc đẩy vào chức vụ. Điều đó cũng cho ta thấy rằng có một số người thành công ở đại học sẵn sàng quên đi các lợi thế về phương diện tài chánh mà xã hội dành cho phần căn bản giáo dục của họ, nhưng không chịu bước vào chức vụ. Và như thế, chúng ta lâm vào cái thảm trạng là số người hầu việc Chúa chuyên nghiệp đều có trình độ trí thức thấp kém, trong khi những người đáng ra đã dấn thân vào chức vụ lại không được chuẩn bị dâng mình, và chỉ còn có cách là đứng bên ngoài để chỉ trích những khuyết điểm mà ai cũng phải nhận. Tất cả những điều đó đã chứng minh cho sự đổ vỡ mà chúng ta gọi là phương pháp tình nguyện. Kinh Thánh chẳng bao giờ gợi ý về phương pháp ấy.
Mẫu mực mà Kinh Thánh đề nghị dường như là những khả năng và biệt tài của người đã tận dụng chúng bằng cách này hay cách khác trong Hội Thánh, và gợi ý rằng chính những khả năng và biệt tài cần thiết được mọi người công nhận đó sẽ đưa họ đến chức vụ lãnh đạo Hội Thánh. Người đó có thể đã cao tuổi, đã thành công rực rỡ trong nghề nghiệp của mình, nếu có địa vị khá trong xã hội nói chung thì càng tốt. Càng nghiên cứu kỹ sách Công Vụ, chúng ta sẽ thấy là không có một bằng cớ hiển nhiên nào bênh vực cho hệ thống tình nguyện: những người hầu việc Chúa đều được tuyển chọn và sai phái đi. Như Phi-e-rơ và Giăng đã được sai đến Sa-ma-ri (8:14), Ba-na-ba được Hội Thánh Giê-ru-sa-lem phái đến An-ti-ốt (11:22). Ba-na-ba đến tìm Phao-lô rồi đưa ông đến hầu việc Chúa tại An-ti-ốt (11:26), sau khi tất cả các cấp lãnh đạo của Hội Thánh mới mẻ này họp lại cầu nguyện và cầu hỏi ý Chúa, thì hai người đó được phái đi với tư cách giáo sĩ (13:1-4). Sau đó Phao-lô và Ba-na-ba lại được Hội Thánh An-ti-ốt gởi đến Giê-ru-sa-lem với một số người khác (15:2), để rồi Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem lại sai Giu-đa, Ba-na-ba và Si-la đến An-ti-ốt (15:22). Sau đó chúng ta lại đọc thấy là “Phao-lô chọn Si-la” (15:40) và “Phao-lô lại muốn cho Ti-mô-thê đi với mình” (16:3). Điều nổi bật trong tất cả các trường hợp vừa kể ấy là dầu lẽ nhiên một người phải tin chắc ý chỉ của Chúa liên hệ đến chính mình, điểm đó chẳng bao giờ là yếu tố duy nhất khiến những người ấy ra đi dâng trọn thì giờ cho chức vụ hầu việc Chúa. Phần chủ động luôn luôn do một số đông người khác, và một người phải được các anh em trong chính Hội Thánh mình tuyển chọn, hay ít ra cũng được họ gởi gắm và được một người nào đó đã từng dấn thân vào chức vụ và hoạt động đắc lực tuyển chọn.
Một sự diễn tiến như thế đòi hỏi các tín đồ Đấng Christ phải ý thức thật sự trách nhiệm của mình. Nó không phải chỉ là vấn đề Tôi có thể làm gì (vì tự nó có thể bộc lộ một thứ cá nhân chủ nghĩa ấu trĩ, vô trách nhiệm), nhưng vấn đề là chúng ta có thể làm gì? William Carey vốn có một niềm tin sâu xa vào việc phải rao giảng Tin lành cho người ngoại đạo nhưng ông còn sốt sắng hơn trong việc đưa anh em cùng đi với mình. Nói khác đi, điều cần thiết là phải ý thức sâu xa hơn về một trách nhiệm tập thể, phải có sự quyết định chung của một nhóm tín đồ, về khi nào thì một cá nhân giữa vòng họ được gọi dâng trọn thì giờ cho chức vụ. Lối tiến dẫn này giải quyết một phần lớn vấn đề hậu thuẫn bằng sự cầu nguyện và tiếp trợ về tài chánh. Nếu một người đã được sai phái để dâng trọn vẹn thì giờ cho công tác bởi vì toàn thể các bạn tín đồ đều nhất trí tin rằng đó là ý Chúa, thì tự nhiên họ sẽ cảm thấy mình cần phải hậu thuẫn người ấy bằng sự cầu nguyện và cung cấp cho người ấy những nhu cầu vật chất.
Nhan đề của phần này là “Chúng ta đã suy nghĩ về vấn đề đó chưa?” được viết theo số nhiều chính vì lý do quan trọng đó; nghĩa là một quyết định về một người nam hay nữ có thích hợp cho việc dâng trọn thì giờ vào công tác phục vụ Chúa phải là quyết định của một số đông tín đồ Đấng Christ dưới hình thức một nhóm người đang cầu nguyện. Theo một phương diện thì khi làm việc đó, chúng ta đã quay về với nguyên tắc đại gia đình, vốn là một nguyên tắc vẫn còn được áp dụng theo một mức độ nào đó đối với nghề nghiệp của một người, cũng như với việc kết hôn tại một vài xứ. Như thế, việc làm đó rất thích hợp cho gia đình mới, tức là cho Hội Thánh địa phương, bởi vì tất cả đều ý thức về một trách nhiệm liên đới. Điều chúng ta có cần không phải là một lô những cá nhân thừa thãi, hăng hái rất “lửa rơm”, muốn phục vụ Chúa, nhưng là toàn thể Hội Thánh thiết tha muốn hiệp một để phục vụ Ngài. Người hầu việc Chúa trong Hội Thánh có trách nhiệm rất lớn lao, chẳng những trong việc khích lệ mỗi cá nhân trong Hội Thánh tham gia hoạt động (thay vì tự xem mình là nguồn gốc của mọi hoạt động), mà cũng cần khích lệ Hội Thánh hiệp một toàn đội để đi ra cùng khắp khu vực của mình và bất cứ nơi nào có thể gây ảnh hưởng.
Cùng một nguyên tắc ấy cũng nghiệm đúng cho việc Liên Hiệp Tín Hữu. Chúng ta thường gặp một mối nguy là chỉ có ban trị sự được bầu lên cảm thấy mình có trách nhiệm, trong khi số còn lại chỉ cần nhóm họp trong các buổi nhóm được tổ chức và nghĩ rằng những buổi họp đó hoàn toàn không liên hệ gì đến họ. Họ tự đặt mình làm khách bàng quan thụ động để chỉ trích, thay vì ý thức rằng mình cũng là một phần tử trong toàn đội, được mọi người trông đợi dự phần vào và đẩy mạnh công tác. Tài lãnh đạo không những được chứng minh bằng khả năng tổ chức công việc, mà hơn nữa, nó là khả năng động viên được tất cả mọi người có thể hoạt động để khiến họ tham gia vào công tác. Chính nhờ sự thông công chính yếu và sống động đó mà chúng ta có hi vọng số người sẽ được sai phái dâng trọn thì giờ phục vụ Chúa được gia tăng.
Nếu Chúa đã bày tỏ ý chỉ Ngài cho một người và anh em cũng đồng ý khuyến giục người ấy bước vào chức vụ, vấn đề còn lại là cá nhân đó phải chiến đấu để bỏ nghề nghiệp mình đã chọn và có lẽ là phải bỏ cả phần bảo đảm về tài chánh nữa, không những là trong tuổi thanh xuân mà thôi, nhưng còn phải chấp nhận cùng một tinh thần phiêu lưu y như vậy cho cả đời sống, ngay cả trong giai đoạn trung niên. Đó là một vấn đề chúng ta phải suy xét cho kỹ. Trong Tân Ước, những quyết định như thế vốn không có tính cách thuần tuý cá nhân, và thật ra thì phải có một lệnh truyền hợp thời nào đó cho một số người giữa vòng chúng ta. Dường như chắc chắn đó là loại vấn đề mà một Hội Thánh có sự sống thực sự phải đặt ra để cầu nguyện.
Cho đến đầu cùng đất
Tuy nhiên, phân tách nhiệm vụ chung đó của tín đồ Đấng Christ không phải là chấm dứt với các hoạt động địa phương được tập trung vào một ngôi nhà, tại đó có những buổi họp mặt để thờ phượng, hay việc mở rộng nhiều cách để đến từng nhà ở khắp nơi trong địa phận mà nhu cầu cấp bách luôn vẫn là đi ra để kiếm người khác và dẫn họ về với Chúa. Hoạt động truyền giáo dường như chỉ chiếm một chỗ rất khiêm nhượng trong các Hội Thánh trong nước. Lòng tin kính nói chung và sự chú tâm thực sự vào công việc Chúa dường như cũng chỉ căn cứ phần lớn vào thái độ của một số người trong việc họ rất sẵn sàng quyên trợ cho công tác truyền giáo.
Tại sao chúng ta cầu nguyện rằng “Nước Cha được đến, ý Cha được nên” mà không vâng theo những lệnh truyền như “Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ ta…?” Thường thường công tác truyền giáo dường như chỉ gồm có việc chúng ta phải cầu nguyện cho những người mình chưa bao giờ gặp mặt và quyên tặng cho các đại diện của các hội truyền giáo, thay vì tự mình tham gia vào công tác đang được xúc tiến. Theo điều chúng tôi vừa cố gắng trình bày về phần trách nhiệm tập thể, phải chăng nó cũng có nghĩa là nếu chúng ta chấp nhận rằng lệnh truyền đem Tin Lành cho các dân cũng được dành cho chúng ta, thì tất cả chúng ta cũng phải hiệp chung nhau cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, chúng tôi có thể làm chi cho việc đó?” Có một, hai hoặc ba người hay hơn nữa giữa vòng chúng ta có khả năng thực hiện công tác đó hay không? Có người nào để chúng ta có thể sai đi không? Nếu Hội Thánh đã phái người đi thì không còn có vấn đề hậu thuẫn bằng lời cầu nguyện và sự tiếp trợ nữa. Những người đó đã ra đi với tư cách đại diện cho Hội Thánh. Công tác đó không phải là của chính cá nhân ấy, nhưng là của cả nhóm, và lẽ dĩ nhiên là họ phải cầu nguyện và cung cấp nhu cầu cho những người đó. Không phải chúng ta chỉ cần quyên tiền để sai họ đi rồi bỏ mặc họ muốn ra sao thì ra, nhưng phải thực sự vận động để cung ứng mọi nhu cầu để họ có thể sống tại đó. Dầu sao thì sở dĩ họ đến những nơi đó là vì cớ chúng ta, chúng ta sai họ đi cho nên chúng ta có trách nhiệm, chúng ta có liên quan đến vấn đề sống chết của họ.
Tấn thảm kịch vẫn thường xảy ra ấy chỉ có một số ít người lưu tâm đến công cuộc truyền giáo, một số người “sốt sắng quá mấu” trong Hội Thánh, thường là những người cao tuổi, mới có thì giờ để tham gia những buổi họp mặt ngoại lệ, trong khi đáng lý ra đó là vấn đề mà tất cả mọi người đều phải lưu tâm. Chú ý đến công cuộc truyền giáo không phải chỉ là một loại công tác tầm thường ngoại lệ phụ thêm cho các hoạt động khác trong Hội Thánh. Chúng ta phải xem đó là một dấu hiệu cần thiết chứng tỏ mức độ trưởng thành và thánh khiết của người tín đồ Đấng Christ. Xin chỉ cho tôi một người tín đồ thực sự trưởng thành, chắc chắn rằng người đó phải tha thiết chú tâm đến công việc truyền giáo ở khắp nơi trên thế giới.
Còn có nhiều khu vực đang cần đến các nhà truyền gíao tiền phong. Một phần lớn của thế giới Hồi Giáo chưa được Tin Lành hoá. Tại Âu Châu cũng có những khu vực ngoại đạo lớn. Nhiều miền quê trên thế giới chưa có Tin Lành. Và ngày nay công cuộc đô thị hoá càng phát triển, thì các khu vực kỹ nghệ lớn càng cần được truyền đạo. Chẳng những việc truyền bá Tin Lành rất cần trên phương diện địa lý, mà các tầng lớp xã hội chưa được Tin Lành hoá cũng cần đến các chiến sĩ tiền phong; chúng ta rất cần nhiều người để hoạt động trong lãnh vực y tế, làm việc trong giới y tế, với các ngành chuyên môn, với quần chúng lao động. Dầu những người hầu việc Chúa như thế ra đi nhờ sự tiếp trợ tài chánh của Hội Thánh nhà hay tự túc nhờ khả năng hành nghề của chính họ, chúng ta cũng cần có các nhà truyền đạo, các giáo sư cho nhà truyền đạo và nhiều công tác khác song hành với các Hội Thánh hiện hữu trong toàn quốc, là những Hội Thánh thường thường vẫn còn yếu đuối và đang phải chiến đấu. Nếu chịu khó tra cứu sử ký Hội Thánh một chút, dường như chúng ta sẽ được chứng minh rằng, nếu công tác chứng đạo tỏ ra vững chắc và hữu hiệu cho một thế hệ nào đó, thì vì một lý do này hay một lý do khác, công tác ấy sẽ tỏ ra hết hữu hiệu, và xứ đó cần phải được Tin Lành hoá trở lại một cách toàn diện trong thế hệ tiếp theo đó. Đề cập đến vấn đề Tin Lành hoá thế giới trong thế hệ này là điều rất tốt, nhưng đối với thế hệ sau thì sao?
Đừng phung phí thì giờ nữa
“Xin Chúa nhận lấy đời sống tôi”. Còn đời sống của bạn thì sao? Bạn đã ý thức về mục đích và chiều hướng cho đời sống tín đồ Đấng Christ của mình, đã quyết định dùng nó để hầu việc Ngài chưa? Hay các bạn vẫn chưa có mục đích gì cả, vẫn còn làm phí thì giờ và nghĩ rằng người tín đồ Đấng Chrtist sống thế nào cũng được? Rất có thể làm bạn đang thật sự phung phí thì giờ bằng cách đến nhà thờ mỗi tuần, nhưng bạn đang làm gì cho Chúa và cho Nước Ngài? Chúng ta chỉ có một đời sống duy nhất này, có lẽ là đến tám mươi tuổi (hoặc sẽ không lâu đến thế). Chúng ta sẽ làm một cái gì cho Chúa, một công tác sẽ tồn tại đời đời, một cái gì sẽ còn mãi mãi chăng? Hay chúng ta chỉ làm phí thì giờ mà thôi?
Có một sinh viên kia đã từng chiếm giải danh dự về Toán học trong lớp và thêm vào đó còn có giải nhất về Cổ văn của trường Đại học. Tất cả dường như tiên báo là cậu ta sẽ thành công rực rỡ trong giới tri thức Đại học. Nhưng cậu tự chọn để được phong chức truyền đạo trong một Hội Thánh Tin Lành không mấy nổi tiếng. Tốt lắm, nhà truyền đạo của chúng ta có thể sẽ được đổi đến một giáo khu dễ chịu tại một bờ biển miền Nam, và một ngày kia, biết đâu sẽ chẳng chiếm được một địa vị Giám mục? Năm hai mươi bốn tuổi, chàng xin đi Ấn Độ, và phải mất một năm mới được đến đó. Chàng qua đời năm ba mươi mốt tuổi. Nhưng trước khi việc đó xảy ra, chàng đã dịch Tân Ước ra được ba thứ tiếng: Ấn Độ, A Rập, và Ba Tư. Chàng đã làm được một điều gì đó trong phần đời sống ngắn ngủi còn lại của mình trước khi trút hơi thở cuối cùng trong cái nóng như thiêu đốt của vùng sa mạc xứ Ba Tư. Chàng đã không làm phí thì giờ. Khi xuống tàu xuất ngoại chàng chỉ còn lại một phần tư đời sống - nhưng chàng đã dùng nó để làm được một điều nhất định
Hai ngày trước khi chàng qua đời, chân dung chàng đã được gởi về đến Cambridge - cách xa những mấy ngàn dặm - cho Hội Thánh trước đó chàng từng là truyền đạo và cho chủ toạ Hội Thánh ấy là Charles Simeon. Người ta mở ra và treo bức chân dung ấy lên. Đó là ảnh của Henry Martyn, Simeon bảo rằng dường như đôi mắt bức tranh vẫn nhìn mình và nói: “Đừng đùa cợt. Đừng đùa cợt ”. Bức tranh đó vẫn còn được treo trong một giảng đường, là nơi mỗi ngày các sinh viên đều đến để cầu nguyện xin Chúa nhận họ và dùng đời sống họ làm sáng danh Ngài. Và đôi mắt trong bức tranh ấy vẫn nhìn xuống họ, dường như vẫn còn nói: “Đừng đùa cợt ”. Hay nói cách khác là “Đừng phí thời giờ nữa”.
Những điểm gợi ý cầu nguyện và suy gẫm
Phải chăng đời sống tôi đã dâng cho Chúa, để Ngài sử dụng cách nào tuỳ ý?
Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để tiếp tục hành nghề hiện có , lợi dụng tất cả mọi cơ hội để phục vụ Ngài chưa ?
Tôi có chuẩn bị để nếu cần thì có thể bỏ nghề dầu là giữa tuổi trung niên, để phục vụ Hội Thánh Đấng Christ chăng?
Có việc gì tôi có thể làm , chẳng những là dâng trọn mình cho Chúa , nhưng còn khích lệ nhiều người khác trong Hội Thánh cũng làm y như vậy , và hiệp một để tận tình làm tất cả những gì mình có thể làm được cho Ngài chăng ?
Phải chăng công tác truyền giáo chỉ là chuyện hoang đường đối với tâm trí tôi, hay tôi đã đặt nó lên hàng đầu mọi điều tôi phải nghĩ đến, xem như một phần trách nhiệm cá nhân và đoàn thể mà tôi phải tham gia với tư cách tín đồ Đấng Christ?
Có loại tạp chí truyền giáo nào tôi cần đọc để mở rộng nhãn giới chăng ?
Tôi có từ chối họp lại với một nhóm cầu nguyện nào không?
Có lẽ tôi có thể cầu nguyện để nâng đỡ cho một giáo sĩ đặc biệt nào chăng ?
Tôi có đang phung phí thời giờ không? Nếu có bao giờ tôi mới chịu thôi?
Lạy Chúa xin chỉ dạy con điều con phải làm
và thêm sức để con làm trọn công tác ấy .

HOẠT ĐỘNG CHỦ NGHĨA hay ĐƯỢC PHÚ CHO QUYỀN NĂNG?
Xin tiếp nhận cả đời sống con
Để mãi mãi , con chỉ sẽ hoàn toàn thuộc về Chúa .
Mục đích của quyển sách này là thúc giục hành động. Chúng tôi đã cố gắng vạch rõ rằng theo định nghĩa của nó, trở thành tín đồ Đấng Christ là được kêu gọi để hành động. Chúng ta không phải là những khách bàng quang thụ động đối với “tôn giáo” chỉ bằng lòng với việc thỉnh thoảng có mặt tại “nhà thờ”, nhưng chúng ta phải dâng trọn sức lực, tài năng, trí khôn và óc tưởng tượng của chúng ta để nhiệt thành phục vụ Đấng Christ. Chúng ta phải yêu mến Đức Chúa Trời hết lòng, hết linh hồn, hết ý, hết sức. Ôm Kinh Thánh đến nhà thờ để được dạy dỗ về đức tin thì chưa đủ. Đức tin cần phải được đổi thành ngôn từ của sinh hoạt hằng ngày, thành sự vâng phục hăng say, thành việc phục vụ sinh động nhất xuất phát từ lòng thương yêu. Phải đam mê, phải có ý thức về việc dâng trọn mình cho Chúa và cho việc phục vụ Ngài.
Những điều vừa kể trên không có gì mới lạ cả; nhiều quyển sách khác đã từng đề cập đến chúng rất rõ ràng rồi. Thí dụ như quyển “Những người sống lạnh nhạt đối với Đức Chúa Trời” đã chứng minh thế nào một giáo lý sai lầm liên hệ đến việc phục vụ đã ngăn chận người tín đồ, khiến họ phải dừng lại ở một vai trò thụ động. Tuy nhiên căn bản của vấn đề thật ra không phải chỉ liên hệ đến phương diện tổ chức, mà có tính cách thuộc linh. Thúc giục nhau: “Hãy đi ra làm chứng đạo Chúa” thì chưa đủ, bởi vì người đứng trên toà giảng đã nói như thế cho người ngồi trên ghế trong nhà thờ từ nhiều năm rồi và vẫn trung tín nói đi nói lại mãi, cả khi người ấy đã bắt đầu thất vọng vì không thấy có ai để ý đến. Làm sao để có thể động viên được tất cả mọi người? Làm sao khiến được các tín dồ Đấng Christ sống theo thể thức Kinh Thánh dạy chúng ta phải sống? Chúng ta không biết là mình phải làm gì, đó là điều khiến chúng ta bất mãn với chính mình và không thể thoả mãn với người khác. Nhưng một khi chúng ta thấy được một điểm nào đó, mà với tư cách một Hội Thánh sống thực, sinh động của Đức Chúa Trời, chúng ta phải làm và phải trở thành thì làm sao chúng ta có thể khiến cho điều đó thành công?
Bạn không thể làm được gì hết
Một quyển sách thuộc loại như thế này có thể gây nguy hại là nhấn mạnh quá đáng đến con người. Điều chúng ta hẳn không muốn có là một hoạt động chủ nghĩa bồng bột: phải có nhiều cuộc hội họp, nhiều uỷ ban hơn, những cuộc họp mặt, những ban này ban nọ hoàn toàn có tính cách tổ chức và để hoạt động mà thôi. Nếu Đức Thánh Linh bị cất khỏi Hội Thánh, như vinh quang của sự hiện diện Đức Chúa Trời lìa khỏi đền thờ trong khải tượng của Ê-xê-chi-ên (Exe Ed 11:22 và tt), thì chúng ta đừng ngạc nhiên khi thấy phần lớn những cuộc hội họp và những hoạt động của chúng ta vẫn tiếp tục không làm lay chuyển được gì cả. Nói cách khác như có người đã nói, là đa số các hoạt động của chúng ta chỉ do những động cơ thiên nhiên chớ không phải là do những động cơ siêu nhiên thúc đẩy. Chúng chỉ được thực hiện như một quy ước, một thói quen nhất định, mà không có liên hệ gì với Đức Thánh Linh. Đó là lý do khiến cho quyển sách này đã tìm cách không phải khích lệ những ai đọc nó chỉ đọc suông mà thôi, nhưng ở cuối mỗi chương còn phải cầu nguyện và tìm cầu phước hạnh cũng như sự trợ giúp của Đức Thánh Linh cho mỗi trình độ suy gẫm của chúng ta.
Kinh Thánh chép: “Các ngươi không làm chi được”, nhưng chúng ta phải đọc luôn văn mạch; nếu không, câu Kinh Thánh này sẽ khiến chúng ta thất vọng. Điều Đức Chúa Giê-xu đã nói là: “Ngoài ta, các ngươi không làm chi được”.
Ngài đã ví người tín đồ muốn “làm ngoài” Đức Chúa Trời với một nhánh cây bị chặt rời khỏi thân cây, sẽ lần lần tàn héo và chỉ còn có cách là dùng để chụm lửa mà thôi. Bạn không thể dùng một nhánh nho không kết quả vào một việc nào khác hơn là chụm lửa, bởi vì gỗ nó không dùng được vào một việc gì khác hơn (Exe Ed 15:1-8). Đây là một khúc quanh khá dị thường của tư tưởng, bởi vì mới đây, chúng tôi đã phổ biến trong các Hội Thánh một quan niệm là Đức Chúa Trời có dạy chúng ta phải “Làm mà không cần có Ngài” (Đáng lẽ phần trích dẫn đúng là: “Đức Chúa Trời dạy rằng chúng ta phải sống như những con người vẫn xoay sở được nếu không có Ngài” dầu chúng ta phải nhìn nhận rằng trong văn mạch, Bonhoeffer có thể không có ý muốn nói điều mà có người cho là ông đã nói). Tuy nhiên, dường như có người muốn nói là chúng tôi bảo chúng ta phải bỏ hết những thái độ tín kính, ngoan đạo, cũng như bỏ cầu nguyện và v.v…. đi (trừ ra đối với một số ít người có tâm hồn yếu đuối vẫn cần đến những điều đó như một điểm tựa). Người tín đồ “trưởng thành” không cần dành riêng thì giờ để cầu nguyện nữa.
Nếu chịu khó suy nghĩ một chút về tấm gương Đức Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ thấy rằng người ta đã nhấn mạnh điểm ấy một cách sai lầm. Phải chăng Chúa chúng ta là một người chưa trưởng thành, là chứng tích của một con người cổ hủ đối với tôn giáo? Nếu không thì tại sao chúng tôi luôn luôn nói rằng Ngài thường tìm chỗ vắng vẻ để cầu nguyện? Xin các bạn đừng quên điều đó. (Thí dụ như hãy đọc LuLc 3:21; 5:16; 6:12; 9:18; 11:1; 22:41). Ngài dạy chúng ta “phải cầu nguyện luôn, chớ hề mỏi mệt, ngã lòng” (LuLc 18:1). Phải chăng Chúa Giê-xu chỉ là một người “sốt sắng quá mấu” về đạo, hoàn toàn không biết gì đến cái thế giới cổ lỗ thời Ngài? Đúng hơn thì ai cũng biết rằng Ngài là bạn thiết của bọn thâu thuế và kẻ phạm tội, nhưng Ngài vẫn luôn luôn tìm sức mạnh ở sự cầu nguyện. Nếu có ai tự xưng luôn có một mối thông công mật thiết với Đức Chúa Trời và nhờ đó, không cần đến những thì giờ cầu nguyện, thì chắc chắn rằng người đó là Đức Chúa Giê-xu. Trái lại, dường như Ngài đã xem sự cầu nguyện là thiết yếu và đã dạy các môn đệ Ngài bắt chước Ngài. Sự cầu nguyện là thiết yếu nhìn nhận chỗ bất lực của chúng ta, và chấp nhận rằng chúng ta phải tuỳ thuộc vào Ngài. Chúng ta cần đến Ngài; chúng ta phải được Ngài nuôi dưỡng vì Ngài là sự sống của chúng ta. Chúng ta cần phải được tiếp trợ, được giúp đỡ, được khích lệ, được trang bị dồi dào, được ban cho quyền năng của Thánh Linh Ngài. Ngoài Ngài, chúng ta không làm chi được.
Sự tuỳ thuộc trọn vẹn
Nếu quyển sách này là lời kêu gọi hành động, thì nó không phải chỉ muốn nói đến việc hành động hoàn toàn có tính cách nhân loại, nhưng là những hành động do sự thúc đẩy của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Trước hết nó là một lời kêu gọi cầu nguyện rồi sau đó mới hành động. Trước hết, nó là một lời kêu gọi hãy đến ngồi dưới chân Ngài như Ma-ri để tìm biết Ngài muốn chúng ta làm gì, trước khi chúng ta dấn thân hành động, cũng như Ma-thê là người rất bận rộn với nhiều việc mà thật ra Ngài muốn cho chúng ta phải bỏ đi (LuLc 10:38-42).
Chúng ta không thể hành động phù hợp với ý chỉ Đức Chúa Trời nếu trước nhất chúng ta không lo tìm cho biết ý chỉ Ngài là gì. Điều đó chắc chắn có nghĩa là chúng ta phải luôn luôn mở một lỗ tai ra để nghe những lời gợi ý, những tiếng thúc giục của Ngài, nhưng chúng ta cũng phải dành riêng thì giờ để tra cứu về ý chỉ Ngài đã được mặc khải trong Kinh Thánh. Nếu chúng ta không chịu khó khám phá ý chỉ Ngài đã được mặc khải rõ ràng trong Kinh Thánh, thì chờ đợi ý chỉ ấy được bày tỏ bằng một cách thức nào khác là một việc hoàn toàn ngông cuồng. Thật là tai hại nếu chúng ta không biết chắc chắn và rõ ràng những gì Ngài đã mặc khải trong Kinh Thánh, nhưng lại nghĩ rằng nghe theo những trực giác để hướng dẫn mình có lẽ là “thiêng liêng” hơn; bởi vì chúng ta rất dễ lầm lẫn và có thể tưởng rằng những thúc đẩy của ma quỉ là tiếng nói của Đức Thánh Linh. (Jonathan Edwards đã viết trong quyển “Những cảm nghĩ về sự Phục hưng” rằng Sa-tan tìm cách gạt gẫm những tín hữu đã được phấn hưng bằng những điều gợi ý và những cảm hứng vội vàng, khiến họ kết luận rằng những ý nghĩ, những câu Kinh Thánh tự nhiên xuất phát trong tâm trí họ là những mạng lệnh từ Đức Chúa Trời đến).
Chúng ta cần biết chắc chắn rằng mọi việc mình làm đều là hoàn toàn vâng theo ý chỉ đã được mặc khải của Ngài. Như chúng ta đã thấy, yếu tính của cuồng tín chủ nghĩa không phải là vì biết Kinh Thánh quá nhiều, nhưng là vì biết Kinh Thánh chưa đủ. Chúng ta phải dành riêng thì giờ để nghiên cứu Lời Ngài, để nghe tiếng phán của Ngài và để xin Ngài trợ giúp chúng ta vâng lời và làm trọn các mạng lệnh Ngài. Bạn không thể nào hầu việc Đức Chúa Trời nếu bạn không để cho Ngài hướng dẫn bạn. Bạn không thể nào chiến đấu cho Đức Chúa Trời nếu những mối dây liên lạc giữa bạn với Ngài chưa được thiết lập đúng đắn. Bạn không thể nào kết quả cho Ngài, nếu bạn chưa kết hợp được với Ngài thành một cơ thể. Bạn không thể nào làm việc gì cho Đức Chúa Trời nếu bạn không cùng làm việc đó với Ngài. Hoạt động mà thôi thì chưa đủ, nếu không có quyền năng Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta. Làm việc khích động mà thôi thì chưa đủ, nếu chính Đức Chúa Trời không khích động chúng ta.
Để giải nghĩa LuLc 9:55, Calvin đã viết: “Nếu lòng sốt sắng của chúng ta không được Đức Thánh Linh hướng dẫn thì chúng ta không cần gì phải tự bào chữa rằng mình đã làm mọi việc là do lòng sốt sắng thực sự. Nhưng chính Đức Thánh Linh sẽ hướng dẫn chúng ta bằng sự khôn ngoan và thận trọng để chúng ta không làm một việc nào trái với nhiệm vụ hay vượt quá phạm vi chúng ta được kêu gọi”. Ông viết câu trên đây là để chống lại sự sốt sắng lạc hướng, và bảo rằng ôn hoà là một ân tứ của Đức Thánh Linh. Bởi vì ông muốn dùng sự ôn hoà theo ý nghĩa là kỷ luật, tiết độ và tự chủ. Rõ ràng là chúng ta phải tránh sự sốt sắng hoàn toàn do xác thịt mà có và thiếu sự thúc cảm của Đức Thánh Linh, cho nên hơn bao giờ hết, chúng tôi cần nhấn mạnh cả trên sự ban cho năng lực lẫn trên sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh.
Cựu Ước chứa đầy những thí dụ về nhiều người đã thử hành động “ngoài Đức Chúa Trời”, nghĩa là chỉ cậy sức riêng của mình và kết quả là phải gặp thất bại thảm hại. Một gương rõ ràng nhất là khi dân Y-sơ-ra-ên được nói cho biết là vì vô tín nên hiện giờ họ chưa thể bước vào đất hứa được, bởi vì đã không chịu tiến lên sớm hơn. Nhưng họ bỗng đổi ý, và dầu Môi-se có cảnh cáo, họ vẫn tấn công dân A-ma-léc với dân Ca-na-an và bị đánh tan (Dan Ds 14:40 và tt, và PhuDnl 1:41 và tt). Đức Chúa Trời đã không ngự giữa họ, và đáng lẽ họ không nên xuất quân. Có một vấn đề cũng tương tự, ấy là dânY-sơ-ra-ên có khuynh hướng trông cậy vào những liên minh chính trị thuận lợi và những chính sách khôn khéo trần gian thay vì trông cậy vào chính Đức Chúa Trời: “Khốn thay cho những kẻ xuống Ê-díp-tô đặng cầu cứu, nhờ những ngựa, cậy những xe binh vì nó nhiều, và những lính kỵ nó mạnh, mà không ngó về Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, và chẳng tìm cầu Đức Giê-hô-va” (EsIs 31:1).
Nét tương phản quan trọng nhất giữa sức mạnh loài người và sự trợ giúp của Đức Chúa Trời đã được Giê-hô-va vạch ra như sau: “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đáng rủa sả thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy loài xác thịt làm cánh tay, lòng lìa khỏi Đức Giê-hô-va. Nó sẽ như thạch thảo trong sa mạc, không thấy phước đến, nhưng ở trong nơi đồng vắng khô khan, trên đất lạ không dân ở. Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va, và lấy Đức Giê-hô-va làm sự trông cậy mình. Nó cũng như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì, mà cứ ra trái không dứt” (Gie Gr 17:5-8). Hành động cho Đức Chúa Trời thì phải tuỳ thuộc vào một sự kết hợp sống động với Ngài, khi những rễ cây thuộc linh của chúng ta đã được dưỡng nuôi, tiếp trợ bằng những chất bổ dưỡng và được tăng cường bằng sức mạnh của Đức Chúa Trời. Một tự do chủ nghĩa muốn loại bỏ mọi can thiệp siêu nhiên của Kinh Thánh rất có hại, bởi vì nó có nghĩa là chúng ta không thể nào trông mong được một sự can thiệp siêu nhiên của Đức Chúa Trời vào kinh nghiệm của loài người, và con người phải tự lo liệu lấy cho chính mình.
Vậy phải làm cách nào?
Nhưng không phải chỉ có những người theo Tự do chủ nghĩa mới gặp cái nguy cơ là bỏ qua sự khiếm khuyết của tài khôn khéo loài người, vì các môn đệ của Tin Lành cũng đã phạm phải một lầm lỗi tương tự. Nếu có người chỉ nói với tín đồ rằng họ phải hoạt động, thì một số người khác đã thấy rằng nói như vậy chưa đủ, và giải pháp là phải “huấn luyện” họ, nghĩa là phải nói cho họ biết “ cần hoạt động như thế nào”. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà câu hỏi “Phải làm cách nào” đã được đặt ra một cách có phương pháp. Chúng ta được cho biết phải “Làm thế nào để dễ dàng cứu được linh hồn người ta”. Nhưng tại sao việc đó được kể là dễ dàng cứu được linh hồn người ta. Nhưng tại sao việc đó được kể là dễ dàng và thật ra nó có đáng gọi là dễ dàng không? Phải chăng việc khiến cho những người nam, người nữ ăn năn tin Chúa chỉ là một vấn đề có thể được quyết ngay bằng mười bài học rất dễ học? Người ta bảo với chúng ta rằng giảng Tin Lành theo cách đó thì chắc chắn có kết quả. Cái rắc rối của phương pháp minh bạch đó, ấy là chúng ta hàm ý bảo rằng nếu ngay từ đầu, Hội Thánh biết được cái phương pháp ấy thì mọi sự sẽ xảy ra hoàn toàn tốt đẹp. Hầu như người ta hàm ý bảo rằng dầu Kinh Thánh đã được linh cảm, nhưng đã không vạch ra cho rõ ràng, đầy đủ về điểm đó; nhưng cuối cùng thì giờ đây, câu giải đáp đã được khám phá. Nhưng thật ra thì vấn đề vẫn không được giải quyết, cả bằng phương pháp đến với người chưa tin Chúa bằng “Mười Bước Tiến Rất Dễ Dàng” kia, bởi vì chúng ta vẫn còn phải bước những bước tiến ấy, mà vạch ra đại cương là phải bước như thế nào vẫn là một việc làm dễ dàng hơn là khi chúng ta thật sự bước những bước tiến đó.
Mới đây, có người đề cập đến sự toàn hảo của phương pháp “Phổ Biến Tin Lành Sâu Rộng” (và ai cũng đồng ý về giá trị của nó, nhưng phải nhấn mạnh trên sự cần thiết là phương pháp ấy phải được đặt nền tảng trên Đức Thánh Linh chớ không phải là trên chính nó). Người ta đã lý luận rằng nó hữu hiệu đến nỗi cả đến những giáo phái sai lầm, các “tà giáo”, nếu dùng các phương pháp ấy, cũng thu hoạch được kết quả tương tự. Chủ trương như vậy là người ta muốn chứng minh gì? Người ta chỉ muốn chứng minh rằng có một vài phương pháp mà chúng ta có thể trông cậy vào để đạt được “kết quả”, những phương pháp ấy có thể là giả tạo, sai lầm, và có thể nói là hoàn toàn do những lý do trần gian bởi vì tỷ lệ của kết quả sẽ tuỳ thuộc vào một hạng người nào đó mà phương pháp kia muốn nhằm vào. Nếu người ta dám bảo đảm về phương diện kết quả, dầu sứ điệp rao ra không phải là một sứ điệp của Cơ Đốc giáo, thì rất có thể là kết quả ấy đã không do tác động của Đức Thánh Linh.
“Những khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, có sức mạnh để đạp đổ các đồn luỹ” (IICo 2Cr 10:4). Các phương pháp của chúng ta không thể chỉ là những phương pháp trần gian, là áp dụng cho việc phổ biến Tin Lành những phương pháp thuyết phục hay quảng cáo để kinh doanh hay những kỹ thuật bán hàng cho chạy. Các phương pháp của chúng ta phải là những phương pháp thuộc linh, đặt nền tảng trên sự cầu nguyện và tuỳ thuộc một cách thuộc linh vào Đức Thánh Linh. Một tổ chức nghèo nàn, dùng những phương pháp khiến người ta lánh xa mình thay vì lôi cuốn họ thì không có gì đáng khen cả, nhưng chúng ta cũng phải xua đuổi cái ý nghĩ là thành công hoàn toàn chỉ là vấn đề áp dụng những phương pháp của Tân Ước vì họ không biết một phương pháp nào khác hơn. Và họ đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Nhưng họ đã không thành công trong việc phổ biến Tin Lành cho cả thế gian ngay trong thế hệ họ đang sống. Chính Chúa Giê-xu chỉ huấn luyện cho mười hai người. Có phải chúng ta đang muốn ngụ ý rằng nếu Chúa Giê-xu biết dùng “những phương pháp hữu hiệu hơn”, Ngài sẽ thành công hơn chăng?
“Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng lực, bèn là bởi Thần Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (XaDr 4:6). Chúng ta thường có khuynh hướng trông cậy vào tổ chức, vào một công quỹ dồi dào, vào một chương trình tốt đẹp, vào những người có danh tiếng và v.v.. Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những kẻ yếu đuối, ngu dại, không ra gì của thế gian, những người không có địa vị xã hội, không có ân tứ trí thức, để làm hổ thẹn những điều mà loài người rất dễ trông cậy vào vì có danh nghĩa, có địa vị xã hội. Nếu một người được Đức Chúa Trời đại dụng, thì rất dễ cho chúng ta trông mong phước hạnh của Đức Chúa Trời chính vì người ấy giảng đạo, hơn là vì cớ chúng ta cùng trông cậy vào cùng một Đức Chúa Trời đã dùng người ấy. Quyền năng của Đức Chúa Trời không hề cần đến trung gian tổ chức, hoạt động, và những uỷ ban đôi khi chỉ là những chướng ngại vật hơn là một sự trợ giúp.
“Một vấn đề mà tất cả tín đồ Đấng Christ đều đang phải đối diện, ấy là càng ngày chúng ta càng bị biệt lập đối với thế gian, cô lập đối với những người lân cận, những tổ chức phi Cơ Đốc. Vì nắm độc quyền trên thì giờ của chúng ta, đa số hoạt động có tính cách Cơ Đốc giáo của chúng ta chỉ làm gia tăng khoảng cách giữa chúng ta với họ, kể cả những hoạt động như của Hội Quốc Tế Tin Lành Cởi Mở (International Gospel Blimps), được thành lập nhằm mục đích phổ biến Tin Lành. Chúng ta nhóm ban trị sự, hầu bàn lo những bữa ăn, lo việc ấn loát, chúng ta tổ chức và lại tổ chức. Và chúng ta chấm dứt tất cả, nhưng không có thì giờ để gặp những người lân cận của chúng ta, ở riêng ra để tỏ lòng yêu mến họ. Tình yêu là hành động không phải là cảm xúc. Vì vậy tình yêu đòi hỏi phải có thì giờ”. Hành động chủ nghĩa của Cơ Đốc giáo chỉ đưa đến những nhóm nhỏ trong tổ chức Cơ Đốc giáo, đến nỗi chúng ta chỉ bận rộn, và không hề thực sự đi sâu vào cái thế giới phi Cơ Đốc chung quanh chúng ta. Đó là một trong những khuyết điểm quan trọng nhất của thế giới Cơ Đốc Tin Lành. Các tín đồ Đấng Christ thường chỉ có liên lạc, chỉ tiếp xúc giới hạn và lợt lạt với những người chưa tin Chúa.
Như thế, điều chúng tôi muốn khuyến cáo, ấy là chúng ta nên theo ý chỉ của Đấng Christ hơn là theo ý loài người vẫn thường đưa đến những tổ chức, những chương trình vĩ đại cho việc này việc kia. Rất có thể là hậu quả của việc chúng ta càng hết lòng dâng mình cho Chúa thì Ngài có thể đưa một số người nào đó thành lập một vài hiệp hội hay tổ chức mới (dầu thật ra thì chúng ta hiện có khá đầy đủ rồi), nhưng đúng hơn thì mỗi cá nhân tín đồ Đấng Christ, dầu yếu đuối, ngu dại, không ra gì, không thể viết trên tờ giấy viết thơ có in sẵn danh tánh hay đại diện cho một tổ chức có ảnh hưởng lớn nào, cũng vẫn có thể làm được một cái gì cho Đức Chúa Giê-xu Christ.
Có lẽ chúng ta phải yêu mến người láng giềng ở ngay bên cạnh nhà chúng ta bằng một phương pháp thực tế nào đó, đến thăm bệnh viện, nhà lao hay tư thất của một số người già cả tại địa phương của chúng ta. Bayly đã tiếp tục dịch diễn giải IICo 2Cr 4:8 như sau: “Nếu ngày nay tại Hoa Kỳ, Tin Lành có bị giấu kín là bị giấu kín cho người da đen và nhiều nhóm dân tộc thiểu số khác, giấu kín cho các đảng viên của đảng lao động, cho những người không đến nhà thờ, cho kẻ nghèo thiếu”. Thiết tưởng muốn diễn giải câu này sao cho thích hợp với khung cảnh dân tộc, cho những người đang sống bên ngoài ngưỡng cửa nhà thờ, thì thật ra, không phải là một việc làm khó khăn lắm. Điều rất lý thú đáng ghi nhận, ấy là thường thì những công tác tốt đẹp nhất đã do những người không hề biết đến các kỹ thuật và phương pháp tối tân nhất thực hiện. Bất cứ ai được chỉ định làm một việc gì cũng tìm ngay được một phương pháp để làm việc đó.
Chúng ta có lý khi chỉ trích “tôn giáo” và “Cơ Đốc giáo giới theo định chế” cứng nhắc hiện đại (với những âu lo ích kỷ của nó liên hệ đến các chính sách không mấy quan trọng của giáo hội, đánh thuế một phần mười trên bạc hà, hồi hương và rau cần), miễn là chúng ta nhìn nhận phần liên đới và trách nhiệm cá nhân của chúng ta trong vấn đề ấy. Chúng ta không cải thiện được hoàn cảnh bằng cách đưa ra hàng loạt những tổ chức và cơ cấu của loài người. “Đức Giê-hô-va phán: Khốn thay cho con cái bội nghịch, lập mưu chẳng bởi ý ta, kết ước chẳng cậy Thần ta” (EsIs 30:1). Giải pháp cho một giáo hội đã được nhân loại hoá không phải là một giải pháp khác do mưu định của con người. Chúng ta phải quay về với những mẫu mực của Kinh Thánh, cả về phương diện giáo hội, lẫn về phương diện cá nhân tín đồ Đấng Christ. Chúng ta phải cải thiện cả phần hoạt động cá nhân và toàn thể bằng Lời Đức Chúa Trời, và nhận định rằng nó phải do Ngài chủ động, sẽ tồn tại do quyền năng Ngài chớ không phải là do sức lực của chúng ta.
Sự dâng mình trọn vẹn
Có một số người dường như không được sự vui mừng vì mình là tín đồ Đấng Christ. Dường như họ không được hưởng trọn vẹn đời sống vui vẻ của người tín đồ, và không ai lấy làm lạ gì về điều đó, bởi vì họ chẳng bao giờ dâng trọn mình cho việc phục vụ Đấng Christ. Như chúng ta đã thấy trong chương 1, người ta rất sợ phải trở thành một kẻ cuồng tín, nhưng điều có lý hơn, ấy là chúng ta nên lo sợ rằng mình chưa sẵn lòng đầu phục Đấng Christ trọn vẹn. Có lẽ chúng ta lo sợ là Ngài sẽ lợi dụng chúng ta, và như thế chúng ta phải bỏ lỡ phần tốt nhất của đời sống mình. Chúng ta chỉ cần đặt vấn đề như thế này thì sẽ thấy rõ chỗ phi lý của nó: Ai là người có thể hướng dẫn đời sống tôi tốt hơn là Đấng đã tạo ra nó? Có lẽ chúng ta lo sợ rằng nếu chúng ta theo Ngài vô điều kiện, chúng ta sẽ đánh mất đời sống mình. Bởi vì Ngài đã đòi hỏi chúng ta một tinh thần tự liều thân để phục vụ Ngài, sẵn lòng hiến cả đời sống chúng ta vì danh Ngài và vì cớ Tin Lành (Mac Mc 8:35). Nói cách khác, chúng ta phải hoàn toàn thuận phục Ngài là điều rất cần thiết: “Lạy Chúa, con sẵn sàng làm bất cứ việc gì Ngài muốn con làm, đi bất luận nơi nào Ngài sai con đi, và dầu bản thân con có phải chịu thiệt thòi đến mức độ nào. Con tin cậy Ngài và phó thác đời sống con”. Chắc chắn đó là điều Phao-lô muốn nói khi ông thốt ra những lời lẽ nhiệt thành sau đây: “rằng… luôn luôn, dầu tôi sống hay chết, Đấng Christ sẽ được cả sáng trong mình tôi” (Phi Pl 1:20).
Như chúng ta đã thấy trong chương 2, lẽ dĩ nhiên là nếu chúng ta hiểu được điều đó ngay lúc chúng ta trở về với Chúa thì thật là lý tưởng; đó là điều hàm ngụ ngay lúc chúng ta gọi Chúa Giê-xu là “Chúa”. Nó có nghĩa là chúng ta sẽ đáp “Vâng” mỗi khi Ngài đòi hỏi chúng ta. Nhưng nhiều khi việc đó đã không xảy ra, dầu chỉ là một phần nhỏ, lúc chúng ta ăn năn tin Chúa, để về sau chúng ta sẽ đi đến một cơn khủng hoảng vì bất mãn với đời sống tín đồ Đấng Christ của chúng ta. Chúng ta sẽ nghĩ rằng mình đã nhận được phước hạnh của Đức Chúa Trời là vì sự tiện lợi của chúng ta, và chẳng bao giờ dâng mình trọn vẹn cho việc phục vụ Ngài.
Kinh Thánh dạy hai điều liên hệ đến sự dâng mình phục vụ Ngài. Thứ nhất là sự dâng mình một lần đủ cả và thứ hai là một sự dâng mình luôn luôn được lặp đi lặp lại. Thật ra, hai điểm trên đây không có gì mâu thuẫn nhau, vì một cuộc kết hôn chẳng hạn, là một quyết định dứt khoát, một sự dấn thân một lần đủ cả, nhưng nó vẫn được thực hiện và thực thi một cách liên tục bằng việc hi sinh cho nhau giữa hai người hôn phối. Hai người có thể kết hôn và chỉ hiểu được trọn vẹn ý nghĩa quang vinh của nó lần lần về sau, khi họ hết lòng sống vẹn nghĩa bên nhau.
“Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình” (RoRm 6:13). Trên đây là lời Phao-lô viết cho các tín đồ Đấng Christ tại La Mã. Họ đã là tín đồ rồi, nhưng ông khuyến giục họ dâng mình đầu phục Đức Chúa Trời, và các thì của những động từ được dùng chứng tỏ rằng đó là một hành động một lần đủ cả. Thì các động từ đã chuyển từ ý tưởng về sự phó mình liên tục cho tội lỗi đã sa ngã trước sự cám dỗ, sang mệnh lệnh cách của quá khứ, có nghĩa là “dâng mình bằng một hành động dứt khoát, một nỗ lực cho lòng cương quyết”. Nói cách khác, Phao-lô dạy chúng ta phải thuận phục Đấng Christ bằng một hành động dứt khoát, bao gồm cả các chi thể của chúng ta mà mấy đoạn trước đó đã đề cập đến, như tay, chân, trí tuệ, môi miệng, dục tình, năng lực của chúng ta, nghĩa là tất cả những gì chúng ta có. Chúng ta phải dâng hết cho Ngài. Ở một chỗ khác, Phao-lô cũng đã nhắc đến những tín hữu Ma-xê-đoan đã “dâng chính mình cho Chúa” (IICo 2Cr 8:5). Tất cả những gì quyển sách này nhằm vào, chắc chắn là muốn hướng dẫn chúng ta đến chỗ dâng mình đó, tức là dâng trọn chúng ta cho Đấng Christ để phục vụ Ngài.
Trong cùng một thư tín đó (và chúng ta có thể tin chắc rằng không hề có sự mâu thuẫn trong tâm trí Phao-lô), chúng ta lại thấy một lời khuyến giục khác, căn cứ trên lời khuyên bảo trước: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời, khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng thuộc linh của anh em” (RoRm 12:1). Ý tưởng ở đây là cứ tiếp tục dâng mình bằng những hành động hiến thân luôn luôn được lặp đi lặp lại, như của lễ dâng hiến trong đền thờ. Các sinh tế đời xưa gồm cả việc dâng toàn thân con thú; bây giờ, là thân thể của chính chúng ta. Lúc ấy người ta dâng một thân thể chết, nhưng thân thể của chúng ta là một của lễ sống sinh tế dứt khoát. Hành động dâng một lần đủ cả của chúng ta sẽ xác định chiều hướng cho tất cả các ý tưởng của đời sống chúng ta. Còn của lễ dâng lên mỗi ngày là việc dâng lên hằng ngày những khả năng chúng ta có thể cung cấp để Ngài sử dụng. Rất có thể là đang có và chắc chắn là sẽ có nhiều lãnh vực sinh hoạt mà chúng ta chưa dâng trọn vẹn cho Chúa. Đó cũng là những lĩnh vực của chính mình mà chúng ta cần dâng lại một lần nữa khi chúng ta tiếp tục dâng chính mình cho Ngài.
Nhiều người trong chúng ta đã từng kinh nghiệm những cuộc tranh chấp, những cơn khủng khoảng khi chúng ta ý thức rằng mình đã không vâng phục Chúa như đáng lẽ chúng ta phải làm. Có lẽ lòng chúng ta đã ngày càng trở nên lạnh nhạt hơn; có lẽ chúng ta đã trở thành kiêu ngạo thuộc linh hay vô kỷ luật trong vấn đề sử dụng thì giờ và tiền bạc, hoặc chúng ta đã chểnh mảng cầu nguyện, trở thành khô khan, cằn cỏi. Sự ăn năn quay về với Chúa có nghĩa là chúng ta làm cho mới lại sinh tế là chính mình chúng ta để dâng lên cho Ngài, thực hiện một cách mới mẻ sự dâng mình một lần đủ cả mà chúng ta đã từng làm trước đây. Chúng ta cần tiến tới một kinh nghiệm sâu xa hơn về Chúa trong mọi khía cạnh của đời sống chúng ta. Sự tự mãn về những tiến bộ thuộc linh của chúng ta có thể trở thành một chướng ngại vật thực sự. Chúng ta phải trở thành những con người đói khát sự công nghĩa, đang mong ước được trở thành những tín đồ hữu ích, thành công hơn. Giống như Phao-lô, chúng ta muốn hành động, muốn được sử dụng bởi Đấng Christ:
“Lạy Đức Chúa Trời , con cầu mong
Được kéo gần vào tình yêu của Ngài hơn ….”
Tôi muốn biết chắc chắn là hiện tôi đã dâng mình trọn vẹn, muốn cho sự dâng mình ấy cứ ngày càng lặp đi lặp lại để trở thành càng sâu đậm hơn với thời gian.
Được đầy dẫy Đức Thánh Linh
Nhưng sự dâng mình của tín đồ Đấng Christ không phải chỉ là vấn đề tôi phải hết lòng dâng chính đời sống tôi cho Chúa, Đấng tôi yêu mến và đã phó chính mình Ngài vì tôi, mà còn là vấn đề chính Ngài cũng ban trọn vẹn Ngài cho tôi qua Thánh Linh Ngài, vốn được ban cho tôi lúc tôi ăn năn tin Chúa. Như vậy, người tín đồ Đấng Christ đã được định nghĩa là một người được Đức Thánh Linh ngự trong lòng (RoRm 8:9 và tt); Kinh Thánh chép rằng mỗi tín đồ đều được Đức Thánh Linh ấn chứng ngay khi tin Chúa (Eph Ep 1:13) và chỉ cần nghe bởi đức tin là nhận được Ngài rồi (GaGl 3:2). Phao-lô đã dùng một chữ ít thông dụng trong thư Phi Pl 1:19 (epichorçgia ) để đề cập đến sự “giúp đỡ” hay “tiếp trợ” của Đức Thánh Linh. Cùng một chữ ấy cũng được dùng trong thư Eph Ep 4:16 để diễn tả một dây chằng dùng để ràng buộc hay “chống đỡ”. Như thế, trong chữ đó có một ý niệm rất lạ lùng về sự “thắt lưng chặt chẽ”, “tăng cường sức lực”, “khiến cho vững mạnh, rắn chắc hơn”, “đặt xương sống vào cho”, nghĩa là được Đức Thánh Linh tiếp trợ mọi nhu cầu về sức mạnh cho chúng ta để trở thành loại tín đồ mà quyển sách này cố gắng mô tả. Hoặc như Phao-lô cũng dùng ý đó một lần nữa trong cùng một thư tín ấy: “Đức Chúa Trời đang tác động trong anh em để vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài” (Phi Pl 2:13). Sự kiện Ngài ngự bên trong và hành động trong lòng cần được chúng ta chấp nhận, vui mừng; sự hướng dẫn và tiếp trợ quyền năng Ngài phải được thực hiện mỗi ngày.
Trong Kinh Thánh, sự đầy dẫy Đức Thánh Linh là một lệnh truyền mà chúng ta phải vâng theo mỗi ngày thường được nhấn mạnh hơn là một từng trải đơn giản chúng ta phải tìm kiếm (Eph Ep 5:18). Động từ dùng theo để thụ động, trong mệnh lệnh của các thì hiện tại: “Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh luôn luôn”, nghĩa là chúng ta phải để cho Đức Thánh Linh liên tục làm đầy dẫy chúng ta. Lệnh truyền là một lệnh truyền phải luôn luôn nhận lãnh những gì Đức Thánh Linh ban cho như: quyền năng Ngài, tất cả những bông trái của tình yêu, sự vui mừng, bình an, tất cả vẻ tươi mát của những cơn giông tố cũng như sinh lực của nguồn nước sống. Chúng ta phải tiếp nhận tất cả, phải được đầy dẫy, tràn trề.
Đó là phần kết luận cho toàn thể vấn đề. Nếu bạn và tôi là những người hết lòng dâng mình cho Đức Chúa Trời, muốn dùng tất cả những gì mình có thể phục vụ Ngài, muốn hầu việc Ngài trong Hội Thánh và ngoài thế gian, chúng ta phải ở trong quyền năng và ở dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Chúng ta phải phó mình cho Ngài để Ngài làm đầy dẫy chúng ta và dùng chúng ta làm rạng danh Ngài.
“Lạy Đức Thánh Linh , xin ban phước cho dân sự Ngài ,
Đang chờ đợi để cảm thấy được quyền năng Ngài ,
Sẽ vui mừng để càng trưởng thành trong sự thánh khiết .
Như các con cái của sự sáng .
Vì Ngài là Chúa , nên chúng con đến
Dâng chính chúng con làm ngôi ngự Ngài ;
Xin Ngài lấy cả tư tưởng , hành vi và lời nói (chúng con )
Để hoàn toàn thuộc về Ngài ”
Những điều gợi ý để cầu nguyện và suy gẫm
Tôi có vui mừng vì được gắn liền với gốc nho sống và có kết quả cho Ngài chăng?
Phải chăng tôi đã bận rộn hoạt động với tư cách tín đồ Đấng Christ chỉ vì bổn phận hay thói quen , chớ không ý thức sự thật về việc phải tuỳ thuộc vào Đức Thánh Linh ?
Phải chăng những thì giờ tĩnh nguyện của tôi chỉ là những thì giờ nghiên cứu Kinh Thánh một cách vô vị, cầu nguyện một cách khô khan, hay tôi đã nhận thấy Chúa có dạy dỗ tôi về ý chỉ Ngài, và những thì giờ ấy luôn nhắc nhở tôi về sự nhậm lời cầu nguyện nhanh chóng của Chúa một cách nóng sốt?
Phải chăng chúng ta trông cậy vào những buổi nhóm họp , những tổ chức , những phương pháp , những uỷ ban - thay vì trông cậy trực tiếp hơn vào quyền năng và sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh ?
Tôi đã dâng trọn mình cho Chúa Giê-xu, dâng cho Ngài cả chi thể, các khả năng và ân tứ như những công cụ để phục vụ Ngài chưa?
Tôi có lặp đi lặp lại sự dâng mình đó mỗi ngày , dâng chính con người tôi cho Đấng Christ như một công cụ để hầu việc Ngài một cách thực tiễn không ?
Tôi có vâng lời Ngài liên hệ đến lệnh truyền phải tiếp tục đầy dẫy Đức Thánh Linh Ngài mãi không?




† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-9-2018 11:03 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách