nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2380|Trả lời: 0

Đem Thiên Đàng Vào Địa Ngục

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 13-7-2011 20:36:03 | Xem tất |Chế độ đọc

Đem Thiên Đàng Vào Địa Ngục
Mục Lục
Chương
1. Thế nào là sự ngợi khen?
2. Từ một ông lớn thành kẻ trắng tay
3. Sự tha thứ ba chiều
4. Làm thế nào khiến người chết sống lại
5. Hãy tháo bỏ những xiềng xích của bạn
6. Sức mạnh của bạn là gì
7. Hãy nhìn chăm một hướng
8. Quyền lực và sự thuận phục
9. Bạn có thật sự vui mừng không
10.Ai là nhân vật số một?
11.Yêu Chúa


THẾ NÀO LÀ SỰ NGỢI KHEN?
Tôi đã viết và giảng về sự ngợi khen trong suốt bảy năm sôi động, nhưng bây giờ tôi tự thấy mình chỉ đang ở vào trình độ mẫu giáo của sự ngợi khen. Đây không phải là câu nói khiêm nhường giả tạo đâu. Càng ngày tôi càng tin chắc rằng tôi biết rất ít về những gì cần học trong sự ngợi khen. Tôi thật sự khám phá ra rằng ngợi khen Chúa là một trong những điều quan trọng nhất tôi có thể học khi còn trên đất nầy, vì Chúa muốn chúng ta ngợi khen Ngài trong mọi lãnh vực của đời sống chúng ta.
Ngợi khen được coi là điểm chủ yếu trong mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời.
Nhiều năm qua tôi từng chứng kiến hàng ngàn người bày tỏ sự ngợi khen Chúa. Với một số người, việc ngợi khen Chúa đã đổi mới hoàn toàn đời sống họ, với một số người, ngợi khen chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi cũng nhận thấy nghịch lý nầy trong chính mình. Đôi khi sự ngợi khen có kết quả, đôi khi những lời ngợi khen của tôi thật tẻ nhạt và rỗng tuếch.
Do đâu có sự khác biệt nầy?
Trước hết, ngợi khen không phải là hình thức bề ngoài, không phải nói “Ngợi khen Chúa! Ngợi khen Chúa!” suốt ngày. Nhưng là những gì tuôn chảy từ con người thật của bạn, và đem đến sự đáp ứng tức khắc từ lòng Đức Chúa Trời.
Đó mới chính là sự ngợi khen thật. Ngợi khen thật bao gồm những gì? Những điều kiện nào cần có trong đời sống chúng ta để có được sự ngợi khen thật Nếu được sống đến trăm tuổi, tôi vẫn cần học nhiều hơn nữa về những điều nầy.
Vượt lên trên diễn trình ca ngợi là tấm lòng và bí quyết đem thiên đàng vào địa ngục. Hơn bất cứ điều gì khác trên đời nầy, tôi ao ước hiểu rõ Đức Chúa Trời muốn tôi ca ngợi Ngài như thế nào. Trên hết mọi sự, tôi muốn lòng tôi tuôn tràn dòng suối thờ phượng Đức Chúa Trời.
Đau khổ đem con người đến gần nhau. Nếu bạn đau khổ và nghĩ rằng những người khác không khổ đau, bạn sẽ cho rằng họ không thể nào cảm thông với bạn. Nếu bạn đọc những sách của tôi và nghĩ rằng “Ông Merlin không bao giờ thực sự đau khổ vì Chúa luôn luôn trả lời tức khắc những điều ông ta cầu nguyện”, bạn sẽ không tin rằng tôi có thể giúp bạn. Nhưng tôi từng chịu nhiều đau khổ và Chúa thường để tôi chờ đợi rất lâu trước khi Ngài cho tôi thấy kết quả lòng tin cậy của tôi đối với Ngài. Có lần một người tôi rất yêu mến và tin cậy, tố cáo tôi đã lạm dụng công quỹ của Hội Thánh, lời tố cáo nầy hoàn toàn vô căn cứ và không có chút bằng cớ. Quan tòa xem bản cáo trạng trong vài phút và nói “Tại sao lại có cái nầy ở đây? Chẳng có một chút bằng cớ nào về lỗi của bị cáo cả”. Thế nhưng điều nầy cũng gây nên tác hại xấu xa rồi. Uy tín của tôi bị nghi ngờ và đó chính là điều người tố cáo tôi muốn. Nhiều người chụp lấy cơ hội, “Từ lâu tôi đã biết có cái gì đó mà!”, hay “Đây là bằng cớ chứng minh sự cảm tạ được ban thưởng bằng...đô-la!”, và rồi còn biết bao lời buộc tội khác. Nhưng vấn đề là tôi muốn học sự vâng phục như chính Ngài đã học, “Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng phục bởi những nỗi khổ mà Ngài phải chịu” (HeDt 5:8).
Khi chia xẻ với anh chị em những điều tôi đang học, nguyện anh chị em cũng ao ước lòng mình rộng mở để tuôn chảy nguồn ngợi ca Đức Chúa Trời vinh hiển và minh chứng tình yêu và quyền năng của Ngài.

TỪ MỘT ÔNG LỚN THÀNH KẺ TRẮNG TAY
Cánh cửa sắt lạnh lùng đóng sập lại, chỉ còn người tù một mình trong ngăn xà-lim nhỏ hẹp dưới đất. Lời nói của người gác tù còn văng vẳng bên tai: “Vô đó đi ông lớn, năm mươi năm nữa chúng tôi sẽ đem ông ra”.
Đây không phải là một cơn ác mộng. Ngoài đời, tù nhân là một luật sư hình sự nổi tiếng, vui hưởng quyền lực mà sự giàu sang lẫn “nhất thân nhì thế” đem đến. Ông đã sống theo tín điều của kẻ mạnh: “Thích thì làm và muốn là chiếm đoạt”.
Chính lòng ham thích sự hào hứng sôi nổi đã dẫn ông đến tội ác của thời đại: buôn lậu ma túy, buôn bán vũ khí và chất nổ, đánh cướp ngân hàng và gian lận tiền bảo hiểm. Ông toàn giao thiệp với những người nổi tiếng trong giới tội phạm. Vào tuổi bốn mươi, khi uy quyền đang lên thì ông bị bắt vì tội buôn bán ma túy. Ông mất tất cả, vợ và hai con nhỏ bơ vơ. Ông bị kêu án năm mươi năm tù ở, cộng thêm một số án treo. Những án nầy sẽ được thêm vào nếu ông còn sống sau những năm tù ở.
Bốn bức tường xà-lim dính đầy những vết máu và vết phân. Một tù nhân khốn khổ nào đó đã dùng bút chì đánh dấu lên tường thời gian: 10 năm - 20 năm - 30 năm. Không lối thoát. Xà-lim tối tăm và ẩm thấp. Sự yên lặng thỉnh thoảng chỉ bị khuấy phá do tiếng đóng mở cửa ầm ầm hay tiếng la hét của một tù nhân nào đó trong tình trạng điên loạn.
Bị tước mất tất cả những gì đẹp đẽ và thành công của thế giới bên ngoài, bất ngờ trở nên hoàn toàn bất lực, người tù thấy mình như bị chôn sống trong một nấm mồ hôi thối, bị quên lãng và rất cô đơn. Chịu hết nổi, ông quì xuống nền đất lạnh. Giống như đứa trẻ, ông bật khóc nức nở, “Ôi, Chúa ơi! Con cũng không biết có Ngài hay không, nhưng nếu Ngài ở đó và có thể nghe con - Con rất hối hận về những gì con đã làm. Xin tha thứ cho con. Nếu Ngài tha thứ và cho con thêm chỉ một cơ hội nữa, con sẽ dâng đời con cho Ngài, dâng tất cả và mãi mãi!”
Trong bóng tối đầy im lặng, một điều gì đó đã xảy ra. Sợ hãi và kinh khiếp đã qua đi. Thay vào đó, lòng ông tràn ngập cảm giác được tha thứ và yêu thương. Những giọt nước mắt biết ơn chảy dài trên đôi má. Ông thấy mình như một đứa trẻ đã chạy đến với cha mình để xin tha thứ và rồi được cánh tay mạnh mẽ đầy yêu thương ôm choàng lấy.
Xà-lim đáng nguyền rủa không còn là nơi cô đơn tuyệt vọng. Ước muốn ra khỏi nơi nầy cũng không còn nữa. Người tù ấy viết cho tôi: “Chưa bao giờ tôi cảm thấy được tự do và hạnh phúc như vậy. Tôi cảm tạ Chúa vì Ngài đã đem tôi vào cái lỗ hôi thối nầy để gặp Ngài”.
Người tù ấy là tiến sĩ Gene Neill. Tôi biết đến ông khi nhận được thư ông báo tin đã nhận được quyển Quyền Năng Của Sự Cảm Tạ. Sau khi dâng đời mình cho Chúa, ông đã hăng say học Kinh Thánh do một người nào đó đưa lén vào xà-lim. Ông muốn biết ý chỉ của Chúa trên đời sống mình hơn bất cứ điều gì khác. Đọc cuốn Quyền Năng Của Sự Cảm Tạ, ông thấy rõ Chúa muốn ông cảm tạ trong mọi trường hợp.
Vì thế ông cảm ơn Chúa về lũ chấy rận, gián và về sự ngược đãi, lời chửi rủa của những người canh tù. Ông cám ơn Chúa về mùi hôi thối của nước tiểu và rác rưởi trong xà-lim. Ông cảm tạ Chúa vì đứa con trai năm tuổi của ông sẽ là một trung niên trước khi ông ra khỏi tù. Ông lại còn cảm tạ Chúa vì lòng tham và sự nhẫn tâm của ông đã khiến ông phá hoại gia đình.
Việc cảm tạ Chúa đem đến những kết quả kỳ diệu trong đời sống của Gene Neill. Ngoài việc ông tràn ngập sự vui mừng, những người khác cũng chịu ảnh hưởng. Những bạn đồng tù và những người canh gác trở lại tin Chúa. Ít lâu sau, Gene được chuyển đến một trại giam vùng đầm lầy thuộc Florida. Suýt bị muỗi làm thịt, ông cảm tạ Chúa và những con muỗi thôi không đốt ông nữa, những bạn đồng tù đã đoan quyết rằng ông đã giấu giếm một loại thuốc ịt muỗi cực mạnh nào đó. Chẳng bao lâu những người khác cũng bắt đầu đáp ứng lại quyền năng của Đức Chúa Trời bày tỏ qua đời sống Gene.
Sau hai năm, Gene được thả ra. Lệnh thả được loan báo từ thủ đô Washington. Được tự do, ông gặp lại vợ con đang sống trong cảnh nghèo túng. Họ cùng nhau cảm tạ Chúa về hoàn cảnh của gia đình và những nhu cầu hằng ngày của họ đã được Chúa cung ứng đầy đủ. Có lần, một người lạ mặt chặn họ lại ngoài đường, đưa cho Gene một số tiền lớn với lời giải thích đơn giản: “Chúa bảo tôi đưa cho ông số tiền nầy!”. Lần khác, họ đang cảm tạ Chúa về bữa ăn đạm bạc thì có người gõ cửa chiếc xe buýt cũ kỹ được cải tiến thành “nhà” của Neill, ông ta đưa cho họ gói thịt bò bít-tết rồi đi.
Tại sao sự cảm tạ có kết quả trong trường hợp Gene Neill? Điều gì đã tuôn chảy từ lòng ông và được Chúa đáp ứng tức khắc như vậy?
Chìa khóa của vấn đề là sự tha thứ.
Gene cầu xin được tha thứ và dâng đời mình vào tay Chúa. Chúa đáp ứng tức thời. Luôn luôn như vậy. Sự ngợi khen thật là đáp ứng tự nhiên từ một tấm lòng đã được tha thứ. Tha thứ là nền tảng cần thiết cho sự ngợi khen, là mấu chốt của toàn mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời.
Không ai biết rõ bản chất chúng ta hơn Đấng tạo nên chúng ta, Ngài biết chúng ta không vâng phục, và sự không vâng phục ngăn cách chúng ta với Ngài. Và từ khi biết rằng không thể trông cậy bất cứ điều công bình nào của chúng ta, thì từ ban đầu Ngài quyết định chúng ta phải trông cậy vào chính Ngài. Chúng ta đáng phải chết khi không vâng phục, nhưng Đức Chúa Trời đã để Con Ngài là Giê-xu Christ chết thế chúng ta. Như vậy nợ tội của chúng ta đã được trả và phương pháp tha thứ của Đức Chúa Trời được thiết lập.
Tha thứ có nghĩa là không còn đòi hỏi sự đền bồi từ người có tội. Chúng ta là những tội nhân, căn cứ vào điều Chúa Giê-xu đã làm, Đức Chúa Trời không còn đòi hỏi chúng ta trả giá nữa. Ngài không có điều gì nghịch với chúng ta nữa. Điều nầy quá đơn giản và hiển nhiên đến nỗi chúng ta không thể thấu đáo được. Khi tận tường, lòng chúng ta tràn ngập sự biết ơn, và niềm vui còn mãi trong suốt cuộc đời chúng ta. Hầu hết chúng ta đều không hiểu hết giá trị của phương thức tha thứ của Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ còn biết cám ơn Chúa vì Ngài là Đấng biết tất cả.
Mục đích chương trình cứu chuộc để tái lập mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời, nhưng chương trình không thực hiện được nếu chúng ta không chấp nhận. Bạn nghĩ rằng ý tưởng được giải thoát khỏi tội lỗi sẽ làm chúng ta hứng khởi sao? - Không đâu, chúng ta đã ở trong một phương thức dẫn đến thất bại và phải thừa nhận chúng ta sai. Tôi cho rằng điều khó khăn nhất với con người là chấp nhận mình không làm được điều gì đúng. Hầu hết mọi điều chúng ta làm là để mong sao không bị “mất mặt” và khỏi phải chấp nhận điều Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta.
Một trong những nguyên nhân là từ ấu thơ chúng ta đã được dạy rằng “Hãy làm hết phần của mình” để tìm con đường riêng. Chúng ta hãnh diện vì đã tự lập và nói: “Hãy nhìn Joe, nhìn Susie kìa, tự họ đã làm được điều nầy điều kia”.
Tự mãn về những thành tích của riêng mình khiến chúng ta xa cách Chúa. Chúng ta muốn mình tự giải quyết vấn đề và chiến đấu cho đến khi những vấn đề và những nỗi đau khổ trở thành quá sức chịu đựng. Ngay cả lúc đó chúng ta cũng cố chống lại phương cách của Đức Chúa Trời và nói: “Tôi rất xấu hổ khi phải đến với Chúa như một người ăn xin. Đợi đến khi nào tôi thoát khỏi sự rắc rối nầy đã”.
Trong chúng ta có một số lời ăn năn nửa vời. Chúng ta nói mình hối tiếc nhưng hành động của chúng ta phủ nhận điều chúng ta nói khi chúng ta làm lại điều chúng ta từng làm. Trong sự ăn năn chúng ta thiếu một yếu tố chủ yếu, yếu tố đầu phục ý chỉ của Chúa. Đầu phục có nghĩa là hoàn toàn đặt mình dưới quyền người khác. Trong quan hệ giữa chúng ta với Chúa, thực hiện ít hơn điều trên chỉ có nghĩa là chúng ta đùa giỡn mà thôi. Có thể điều nầy có nghĩa chúng ta không thật sự hối tiếc vì đã làm sai mà chỉ tiếc vì đã bị bắt gặp đó thôi.
Sự tha thứ thật khiến mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời được tái lập phải xoay quanh việc chúng ta đầu phục ý chỉ của Ngài. Không có sự đầu phục nầy chúng ta giống như một đứa trẻ bỏ nhà đi hoang đã quyết định trở về khi đã hết thời oanh liệt. Cậu ta có thể nói: “Tôi rất hối tiếc vì đã bỏ nhà ra đi, tôi muốn trở về, nhưng tôi không thích luật lệ của cha mẹ, tôi muốn được tự do để tóc, ăn mặc và làm điều tôi muốn”.
Bạn có cư xử với Chúa như vậy không? Bạn có nói “Chúa ơi, con đang tự gây họa cho con, nếu Ngài đem con ra khỏi rắc rối nầy, con sẽ cố gắng không tái phạm nữa”. Nếu bạn không thật sự thành thật, Chúa sẽ đọc được những ý nghĩ thầm kín của bạn và Ngài bảo: “Nhưng con đang thích thú điều con đang làm và sẽ tiếp tục khi con thoát nạn!”.
Chúng ta sẽ không có được mối tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời theo cách đó, cũng như đứa trẻ không bằng lòng ở nhà với cha mẹ nó vậy.
Kinh Thánh kể câu chuyện về mối quan hệ cha con được phục hồi hoàn toàn. Người con đòi phần gia tài của mình và ra đi. Ở phương xa, anh ta sống trong sự phóng túng cho đến khi hết nhẵn tiền và bị bạn bè bỏ rơi. Đói khát và cô đơn, anh xin làm mướn cho một chủ trại và được giao cho việc chăn heo. Anh ta ăn thức ăn thừa của heo và ban đêm ngủ cùng chúng, cuộc sống chẳng hứng thú gì và một ngày kia anh ta tỉnh ngộ, nhận thấy mình đã sai lầm. Trong nhà cha anh ta, ngay cả đầy tớ cũng được ăn uống dư dật.
Hối hận sâu xa về tội lỗi của mình, anh ta biết mình không xứng đáng được đối xừ như một đứa con vì đã phá tán gia tài. Rồi anh ta quyết định trở về xin cha cho một chỗ làm việc ở nông trại, anh sẵn sàng làm việc như một đầy tớ. Với suy nghĩ đó, anh vội về nhà và khi gặp cha, anh đã thưa: “Con thật có tội với Trời và với cha, không đáng làm con của cha nữa...”
Thay vì quở trách anh, người cha hết sức vui mừng. Ông ta ôm hôn anh, sai lấy quần áo mới cho anh mặc, đeo nhẫn vào ngón tay để tỏ rằng anh là con, là người kế nghiệp chính thức. Rồi ông ra lệnh làm thịt bê mập để dọn tiệc ăn mừng anh trở về (LuLc 15:1-32).
Cũng vậy, Đức Chúa Trời chờ đợi mỗi người chúng ta quay về. Khi chúng ta thừa nhận mình đã sai lầm và sẵn sàng để Đức Chúa Trời sắp xếp cuộc đời chúng ta thì sự đáp ứng của Ngài cũng giống như sự đáp ứng của người cha trong câu chuyện. Ngài vui mừng vì chúng ta trở về, lấy quần áo mới mặc cho chúng ta và mở tiệc lớn ăn mừng vì “con ta đã mất mà nay tìm lại được”.
Đức Chúa Trời đang chờ đợi để tha thứ, nhưng một số trong chúng ta không chịu trở về để vui hưởng. Nếu người con trai hoang đàng chỉ hối hận về những lỗi lầm của mình nhưng lại không trở về nhà xin cha tha thứ thì sao? Một số người khốn khổ và hối tiếc vô cùng vì đã rơi vào tình trạng như vậy, họ cũng khóc lóc về tội lỗi mình nhưng nhất định không xin sự tha thứ của Đức Chúa Trời.
Giu-đa là thế đó. Ông hối tiếc vì phản nộp Chúa Giê-xu và muốn trả lại ba mươi miếng bạc mà ông đã nhận. Nhưng điều đó không ích gì, và tội lỗi của ông đã khiến ông tự treo cổ. Ông không bao giờ nghe được lời nói của Chúa Giê-xu trên thập tự giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết điều mình làm” (23:24).
Bạn có bị tội lỗi đè nặng đến nỗi định tự hủy mình không? Các nhà tâm lý cho rằng tội lỗi không giải quyết được khiến ta có khuynh hướng tự hủy. Chúng ta cố tự trừng phạt mình bằng cách trở thành những người nghiện rượu, những người tham ăn, những kẻ nghiện ma túy và những tên tội phạm.
Chúng ta có thể nghĩ rằng mình không xứng đáng để được tha thứ và tội lỗi của chúng ta quá khủng khiếp nên Đức Chúa Trời không thể tha thứ cho chúng ta được. Có thể có một số người không hiểu rằng Chúa muốn tha thứ cho họ, nhưng thường là do lòng kiêu ngạo khiến chúng ta không muốn nhận sự tha thứ trọn vẹn của Chúa. Chúng ta muốn nhận trách nhiệm tự đền tội và từ chối chấp nhận sự tha thứ của Chúa là phương cách duy nhất để chuộc tội chúng ta.
Một số trong chúng ta chỉ đi bước đầu thôi. Chúng ta thừa nhận tội lỗi mình với Đức Chúa Trời và xin Ngài tha thứ cho, nhưng chúng ta lại không tin nổi là Ngài đã thứ tha. Chúng ta cứ lặp đi lặp lại rằng chúng ta hối tiếc lắm nhưng chẳng hề tin rằng Ngài đã nghe chúng ta rồi. Bạn thử tưởng tượng người con trai hoang đàng đến thưa với cha mình: “Cha ơi, con đã phạm tội, xin hãy tha thứ cho con”. Và không đợi câu trả lời, anh ta lặp lại: “Cha ơi, con đã phạm tội, xin hãy tha thứ cho con”. Mỗi ngày anh ta cứ nói đi nói lại điều ấy, và không chịu chấp nhận rằng cha anh đã tha hết cho anh ngay từ lần đầu tiên.
Một người tù đã trải qua gần hết cuộc đời sau song sắt viết cho tôi, ông ta đã qua năm trường cải tạo, mười một nhà tù, và vô số trại giam. Theo bộ dạng bên ngoài thì quả là ông ta đáng gặp rắc rối, ông tin chắc Đức Chúa Trời đang phạt ông bằng cách cứ bỏ ông vào hết trại giam nọ đến nhà tù kia. Cuối cùng ông đi đến kết luận là cách duy nhất để thoát ra khỏi tù là trở nên tốt để xứng đáng với ân huệ của Chúa. Thế là mỗi ngày ông đọc Kinh Thánh từ mười đến mười hai tiếng. “Mỗi ngày tôi xin Chúa tha thứ cho tôi cả ngàn lần cũng như tôi chống cự ma quỷ cũng từng đó lần”, ông ta viết cho tôi: “Tôi nghĩ Chúa là một quan tòa giận dữ và tôi chắc chắn rằng Ngài không yêu một tội nhân như tôi”.
Có người đưa ông cuốn sách Quyền Năng Của Sự Cảm Tạ, nhưng ông nghĩ tác giả thật khùng khi khuyên ông phải cảm tạ Chúa về việc ông bị bỏ tù. Ông tiếp tục chiến đấu để trở nên xứng đáng với sự tha thứ của Chúa cho đến khi ông không còn hơi sức nào để chiến đấu nữa. Ông nức nở trong tuyệt vọng và thừa nhận mình thất bại: “Chúa ơi, Ngài phải tha thứ cho con vì con hoàn toàn bị thất bại rồi. Nếu Ngài muốn con người thật của con thì xin tiếp nhận con và làm bất cứ điều gì Ngài muốn đối với con. Nhưng xin Ngài đừng chấp nhất con vì con không còn có thể cố gắng hơn nữa để làm vừa lòng Ngài được”.
Gối ông ta ướt đẫm nước mắt nhưng đêm đó ông đã ngủ như một đứa trẻ. Ông viết tiếp “Bây giờ Đức Chúa Trời với tôi là bạn thân rồi, Ngài là người bạn đồng tù tốt nhất mà một người có thể mơ ước. Nhưng chữ “Hãy cảm tạ Chúa” đến với tôi ngay cả trong giấc ngủ. Chúa Giê-xu tốt lắm, Ngài yêu tôi, Ngài thật sự hiện hữu và là một người bạn thật khi chúng ta công nhận điều Ngài đã làm cho chúng ta trên thập tự giá”.
Khi chúng ta muốn tự mình đền tội, chúng ta từ chối không nhận điều Ngài đã làm cho chúng ta. Chúng ta muốn Chúa tha thứ cho chúng ta những việc chúng ta làm. Tội lỗi chúng ta trở thành một gánh nặng không cần thiết mà chúng ta phải gánh ấy vì chúng ta quá kiêu ngạo, quá bướng bỉnh nên không đặt vào bàn tay chờ đợi của Chúa. Lòng của Đức Chúa Cha mong mỏi chúng ta, Ngài nói: “Con yêu dấu, ta biết hết những gì con đã làm, ta biết mọi hành động xấu ca, mọi suy nghĩ độc ác của con. Con đã phạm tội cùng ta và cùng người khác, nhưng ta tha thứ cho con. Hãy trở về. Hãy để ta cho con áo mới, lương thực và đổ ơn phước trên con. Hãy để ta yêu con và chữa lành những vết thương cùng tấm lòng tan vỡ của con”.
Hành động khước từ ơn tha thứ của Ngài có thể cũng không rõ ràng lắm. Chúng ta có thể nói mình thừa nhận tội lỗi và nhận sự tha thứ của Ngài nhưng lại cư xử như thể chúng ta đang phải gánh chịu hậu quả của những tội lỗi đó. Nhiều người thuộc loại nầy đã trở thành những 'công nhân Cơ Đốc'. Họ dâng đời họ để hầu việc Chúa với tư cách mục sư, giáo viên Trường Chúa Nhật, người hướng dẫn, nữ tu hay linh mục, nhưng họ làm việc vì bổn phận hơn là vì tình yêu và không hưởng được nhiều niềm vui khi hầu việc Đấng Christ. Có lúc tất cả chúng ta cũng đã cư xử như vậy.
Thử tưởng tượng người con trai hoang đàng trở về và nói: “Cha ơi, con biết cha tha thứ cho con, nhưng con không đáng hưởng bữa tiệc vui mừng, cha cứ ăn mừng đi nhưng con không dự. Con không xứng đáng sống trong nhà cha, không xứng đáng ngồi cùng bàn với cha, vì vậy con sẽ ở ngoài. Con hứa sẽ làm việc cật lực từ sáng sớm đến chiều tối để đền bù lại phần gia tài con đã phung phí. Con không có quyền hưởng hạnh phúc nữa. Cha sẽ hãnh diện về cách con chuộc lại những điều kinh khủng mà con đã phạm”.
Điều nầy nghe như tin kính và hy sinh lắm phải không? Bạn thử nghĩ xem Chúa thấy điều đó ra sao khi Ngài đã thu xếp sẵn một phương thức khác để giải quyết tội lỗi của chúng ta?
Có thể khi chúng ta đóng vai của một người tuẫn đạo, trả lại cho Chúa những gì chúng ta cảm thấy mình nợ Ngài thì trước cái nhìn của những người khác chúng ta có vẻ tốt lành. Nhưng đó không phải là điều Chúa muốn. Chúng ta đã khước từ điều Christ đã làm để xóa bỏ món nợ cho chúng ta. Chúng ta đang phủ nhận Ngài là Cứu Chúa và chúng ta làm điều nầy do chính lòng kiêu ngạo chứ không phải sự khiêm nhường.
Đa-vít đã thưa với Chúa rằng: “Vì Chúa không ưa thích của lễ, bằng vậy, tôi chắc đã dâng; Của lễ thiêu cũng không đẹp lòng Chúa. Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời ấy là tâm thần đau thương thống hối. Đức Chúa Trời ôi! Lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu” (Thi Tv 51:16,17).
Chính tấm lòng kiêu ngạo không chịu tan vỡ cứ khăng khăng đòi tự mình đền lấy tội mình. Chúa Giê-xu nói: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ” (Mat Mt 11:28). Trong đời nầy không có gì nặng nề hơn là cố sức để gánh chịu hậu quả tội lỗi của chính mình. Khi chúng ta cứ còn làm điều ấy thì chúng ta không bao giờ biết được sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ không bao giờ kinh nghiệm niềm vui của một tấm lòng được tẩy sạch. Mối quan hệ giữa chúng ta với Chúa không bao giờ là mối tương giao mật thiết. Sự cảm tạ của chúng ta sẽ chỉ là những lời rỗng tuếch.
Một gánh nặng hết sức to lớn rớt khỏi lưng chúng ta khi chúng ta học tiếp nhận sự tha thứ trọn vẹn của Chúa. Nhu cầu cần được tha thứ của chúng ta phải là một nguồn vui mừng chứ không phải là nỗi thất vọng. Chỉ co1 một tấm lòng được tha thứ mới hiểu được tình yêu của Đức Chúa Trời. Càng được tha thứ nhiều chừng nào chúng ta càng yêu Ngài và càng cảm tạ Ngài chừng ấy. Khi đó chúng ta có thể hát như Đa-vít rằng:
“Phước thay cho người nào được tha thứ sự vi phạm mình, Được khỏa lấp tội lỗi mình! Phước thay cho người nào Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho; Và trong lòng không có sự giả dối! Hỡi người công bình, hãy vui vẻ và hớn hở nơi Đức Giê-hô-va! Ớ các người có lòng ngay thẳng, hãy reo mừng”. (Thi Tv 32:1, 2, 11).

SỰ THA THỨ BA CHIỀU
Cha của Steve chết trong một tai nạn xe hơi. Chứng kiến tận mắt tai nạn nầy, một cảnh sát nói người tài xế xe kia hoàn toàn có lỗi mà lại không hề hấn gì. Lòng căm giận cùng sự buồn rầu ăn sâu vào Steve.
Một năm sau Steve trở thành một Cơ Đốc nhân, nhưng lòng anh không có được sự bình an. Nỗi buồn mất cha và niềm cay đắng với người đã giết cha mình ngày đêm cứ giày vò tâm trí anh ta. Anh xin Chúa cất những điều nầy đi, nhưng dường như sự việc ngày lại càng tệ hơn.
Một người nào đó đưa cho Steve xem cuốn Từ Ngục Tù Đến Ca Ngợi và anh đã thử cố gắng ca ngợi Chúa về tai nạn đã cướp mất mạng sống của cha anh. Rồi bất ngờ anh nhận ra rằng nỗi buồn và sự thù hận đã ăn sâu làm anh không muốn tha thứ cho người kia. Được mở mắt để nhận ra tội lỗi mình, Steve xin Chúa tha thứ cho mình vì đã hận thù và giúp đỡ anh để anh tha thứ người kia. Anh viết cho tôi, “Việc xảy ra đã mấy tháng rồi và hiện giờ càng lúc tôi càng yêu mến người tài xế kia. Chúa yêu ông ta, và tôi cũng cần phải làm vậy. Tôi đã tìm được sự bình an tuyệt vời”.
Sự ca ngợi mở đường cho sự tha thứ bước vào lòng Steve, nhưng nếu anh từ chối không chịu tha thứ thì sự ca ngợi của anh ta sẽ chỉ là máy móc và chẳng đem lại kết quả nào. Một tấm lòng không chịu tha thứ không thể là một tấm lòng ca ngợi. Tha thứ không những là then chốt trong quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời mà còn là then chốt trong quan hệ giữa chúng ta với những người khác. Thật ra Đức Chúa Trời đã khiến hai mối quan hệ nầy tùy thuộc lẫn nhau. Tha thứ là một mệnh đề ba chiều.
Chúa Giê-xu nói “Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi”.
Khi chúng ta thú tội với Đức Chúa Trời, tức khắc Ngài tha cho chúng ta, đó là bản chất của Ngài. Nhưng nếu chúng ta không tha thứ cho người khác, chúng ta sẽ đau khổ. Sự không tha thứ sẽ làm mất đi bình an, vui mừng và sức khoẻ của chúng ta. Chúa dựng nên chúng ta như vậy, Ngài đã đặt điều đó vào lòng chúng ta và chúng ta không kiểm soát được nó.
Một thiếu phụ trẻ đến gặp tôi vì có một vấn đề đang đe dọa hủy hoại hạnh phúc của cô ta. Cô thấy mình không thể nào đáp ứng được tình yêu của chồng, thay vào đó, cô lại khó chịu và sợ hãi khi chồng chạm vào người cô. Cô rất yêu chồng nhưng không hiểu nổi thái độ của mình, và dù cố gắng đến đâu, cô cũng không thể thay đổi được thái độ của mình.
Khi cô kể chuyện, tôi bắt đầu hình dung thời thơ ấu bất hạnh của cô. Cha cô thường xuyên mắng chửi và đánh đập cô. Khi cô trốn dưới gầm giường, ông ta túm tóc cô kéo ra và đánh tiếp. Sợ hãi và cay đắng nung nấu lòng cô trong nhiều năm đến nỗi cô thấy ghê tởm đàn ông nói chung và chồng cô nói riêng. Ngoài ra cô còn cảm thấy mình tội lỗi vì đã ghét bỏ cha mình mặc dầu cô đã cố đè nén cả sự thù hận lẫn tội lỗi của cô để đừng nghĩ đến chúng nữa.
Thiếu phụ nầy đã nhận được sự tha thứ của Đức Chúa Trời về thái độ không tha thứ của cô, và cũng hiểu được Đức Chúa Trời đã tha thứ cho cha cô nữa. Khi cô có thể tha thứ cho cha cô thì sự sợ hãi và khó chịu đối với chồng cô cũng biến đi và cô được tự do đáp lại tình yêu của anh ấy.
Nguồn gốc những vấn đề trong gia đình chúng ta hiện tại thường bắt nguồn từ những kinh nghiệm đau thương của thời thơ ấu. Có thể là một kinh nghiệm không vui với cha hoặc mẹ, anh, chị hoặc em vẫn còn ám ảnh chúng ta. Những vết thương cũ chỉ huy thái độ của chúng ta và chúng ta cứ tiếp tục làm khổ những người chúng ta muốn yêu thương nhất cho đến khi những vết thương đó được chữa lành.
Một người đã kể lại rằng sự nghi ngờ và ghen tuông của anh đã suýt làm vợ anh phải bỏ đi. Khi còn bé, anh đã phẫn uất và hổ thẹn vì tính tình thiếu đứng đắn của mẹ mình và anh đã không thể tha thứ cho bà được. Thái độ không tha thứ cho mẹ đã khiến anh theo dõi từng cử chỉ của vợ, chờ đợi để mong khám phá rằng cô ấy không chung thủy. Ngay khi anh tha thứ cho mẹ anh thì sự nghi ngờ với vợ anh cũng tan biến.
Từ vô thức, chúng ta có thể chuyển những tình cảm của mình trong quá khứ đến những mối liên hệ trong hiện tại. Với những trở ngại như vậy thì nếu nhiều người trong chúng ta đang gặp khó khăn cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên.
Không phải chỉ có chúng ta bị giam hãm trong những vấn đề chưa được giải quyết của quá khứ mà những người quanh ta cũng vậy. Họ có thể phản ứng với chúng ta vì cách cư xử của chúng ta đụng đến những vết thương cũ của họ. Chúng ta cần phải hỏi Đức Chúa Trời, “Chúa ơi, có sự không tha thứ nào trong con khiến con đau ốm, khổ sở hay khiến gia đình con buồn phiền?”.
Là người, chúng ta có thể lâm vào những tình thế mà chúng ta cho là không thể nào tha thứ được, nhưng điều đó hoàn toàn không thật. Không cần phải đè nén những kỷ niệm xưa hay che giấu những vết thương cũ vì Kinh Thánh tuyên bố: “Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do” (GiGa 8:36). Chúa Giê-xu đến để đảm bảo chúng ta được tha thứ về mọi hành động hay tư tưởng sai phạm của chúng ta và ban cho chúng ta khả năng có thể tha thứ mọi hành động và toan tính của một người nào khác chống lại chúng ta. Tội lỗi của chúng ta hay tội lỗi của những người khác không có quyền lực trói buộc chúng ta khi chúng ta được tha thứ và khi chúng ta đang tha thứ.
Chúng ta có thể nghĩ ra nhiều lý do khiến chúng ta không thể tha thứ cho người khác. “Làm sao tôi tha thứ được khi những người làm tổn thương tôi không đáng để tôi tha thứ?” Điều nầy có lẽ cũng đúng - họ không đáng để được tha thứ - nhưng phải chăng chúng ta cũng chẳng đáng được tha thứ mà Đức Chúa Trời vẫn tha thứ cho chúng ta?
Phao-lô viết “Chớ lấy ác trả ác cho ai...”, “Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy ấy điều thiện thắng điều ác” (RoRm 12:17, 21). Cứ giữ thái độ không tha thứ là một cách ấy ác trả ác, và bởi thái độ đó chúng ta đã để điều ác thắng mình. Cách duy nhất để thắng hơn điều ác là tha thứ. Đó là cách mà Đức Chúa Trời đã thắng hơn điều ác trong chúng ta. Đức Chúa Trời thắng điều ác trong chúng ta bằng cách tha thứ cho chúng ta. Khi chúng ta tha thứ và yêu thương những người làm hại mình, quyền lực điều ác không còn trên chúng ta nữa.
Thể xác bạn có thể đau đớn khi họ tra tấn hay đánh bạn - Chúa Giê-xu không hứa rằng chúng ta sẽ không phải chịu đau đớn về thể xác - nhưng họ không thể làm mất đi sự bình an, vui mừng ở nội tâm bạn. Thật vậy, tôi đảm bảo rằng nếu bạn đáp lại điều ác bằng sự tha thứ và tình yêu thương thật, bạn sẽ kinh nghiệm được niềm vui mừng lớn lao.
“Phước cho các ngươi khi vì cớ Con người, thiên hạ sẽ ghét, đuổi, mắng nhiếc các ngươi, bỏ tên các ngươi như đồ ô uế! Ngày đó, hãy vui vẻ, nhảy nhót và mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi trên trời sẽ lớn lắm” (LuLc 6:22, 23). Bạn chỉ có thể nhảy nhót và mừng rỡ khi bạn đã tha thứ cho những người làm hại bạn.
Để có thể yêu được kẻ thù, việc đầu tiên là bạn phải tha thứ cho họ. Nếu bạn thấy khó, hãy thử suy nghĩ thế nầy: Đức Chúa Trời tha thứ cho cả những người nặng tội nhất và tội lỗi chúng ta càng lớn, chúng ta lại càng có lý do để biết ơn Ngài về sự tha thứ đó. Nếu ai đó làm hại tôi nhiều bao nhiêu, người ấy cần được tha thứ nhiều bấy nhiêu và tôi lại càng có nhiều cơ hội để trở nên giống Đấng Christ khi tha thứ cho người đó.
Có lẽ bạn không muốn bỏ qua cơ hội để thực tập tình yêu Cơ Đốc, nhưng hãy suy nghĩ điều nầy: Nếu không có ai làm tổn thương bạn thì sẽ không bao giờ bạn biết đến niềm vui của sự tha thứ.
Đôi lúc chúng ta né tránh vấn đề và nói: “Tôi sẽ tha thứ nếu người ấy xin lỗi tôi”. Sự tha thứ của Chúa đến với chúng ta ngay cả trước khi chúng ta xin Ngài. Bị treo trên thập tự giá, Chúa Giê-xu nói: “Xin Cha tha cho họ vì họ không biết điều mình làm”. Những người chế nhạo Ngài, đánh Ngài và đóng đinh Ngài không hề xin Ngài tha thứ hay quan tâm gì đến sự tha thứ đó. Nhưng Ngài vẫn tha thứ cho họ vì Con Đức Chúa Trời không thể hành động khác hơn. Cũng vậy, chúng ta không thể làm gì khác hơn nếu thật lòng muốn làm theo ý chỉ của Chúa. Chúa muốn chúng ta tha thứ cho những người đã làm hại chúng ta trong suốt cuộc đời dù họ có biết hay không biết điều họ làm, hoặc họ có muốn hay không muốn chúng ta tha thứ cho họ.
Không những điều nầy giúp chúng ta tha thứ mà Đức Chúa Trời còn sắp xếp để điều nầy giúp cho những ai được chúng ta tha thứ - ngay cả khi họ không biết chúng ta đã tha thứ cho họ. Khi chúng ta thưa với Chúa, “Xin hãy tha cho họ về những điều họ làm hại con”, thì Chúa tha thứ ngay. Ngài dùng sự tha thứ của chúng ta để bắt đầu giải phóng họ khỏi quyền lực tội lỗi và kéo họ đến gần Ngài hơn.
Khi Phao-lô đứng trong đám đông để xem Ê-tiên bị ném đá đến chết, “Chúng đang ném đá thì Ê-tiên cầu nguyện rằng: Lạy Đức Chúa Giê-xu, xin tiếp lấy linh hồn tôi Đoạn người quì xuống, kêu lớn tiếng rằng: Lạy Chúa, xin đừng đổ tội nầy cho họ! Người vừa nói lời đó rồi thì ngủ. Sau-lơ vốn ưng thuận về sự Ê-tiên bị giết” (Cong Cv 7:59, 60; 8:1a). Tôi chắc rằng Chúa làm việc trong lòng Phao-lô ngay hôm đó và những lời nói tha thứ của Ê-tiên đã thôi thúc mạnh mẽ.
Trách nhiệm tha thứ người khác được giao cho chúng ta cách rõ ràng. Nếu chúng ta không tha thứ, chúng ta sẽ cầm buộc chính mình cùng những người chúng ta không chịu tha thứ và ngăn trở tình yêu của Đức Chúa Trời.
Bill là một tù nhân đã viết thư kể lại việc anh kinh nghiệm thế nào về sự tha thứ của Chúa. Ngay hôm sau tại phòng ăn tập thể, anh đối diện với kẻ thù không đội trời chung. Trong suốt mười năm, hai người nầy tìm cách giết nhau, và những giới chức của trại giam đã giam họ ở những chỗ khác nhau, hồ sơ của họ ghi đầy những lời cảnh cáo là đừng bao giờ để họ ở gần nhau. Nhưng có sự lầm lẫn nào đó mà giờ đây họ đang đối diện với nhau tại bàn ăn sáng. Phản ứng đầu tiên của Bill là sợ hãi, nhưng rồi ý nghĩ “Hãy cảm tạ Ta vì điều nầy” đến với Bill và anh đã đáp ứng gần như máy móc, “Cám ơn Chúa vì Ngài đã để con đối diện với Ron sáng nay”.
Ron rất bình tĩnh khi họ nói chuyện với nhau. Bill kể cho anh ta nghe về sự thay đổi Chúa Giê-xu đã làm trong đời sống mình, và hai người đã chia tay như hai người bạn. Giữa khuya Bill thức dậy, trong đầu vang lên tiếng nói “Hãy tha thứ cho Ron”, Bill liền nói: “Chúa ơi, hãy tha thứ cho Ron!” rồi anh cảm thấy lòng bình an và vui mừng khôn tả. Sáng hôm sau anh biết được tin Ron cũng muốn gặp Chúa Giê-xu.
Sự tha thứ mở cửa nhà tù của hận thù và những ác ý về người khác trong chúng ta. Bạn có thể tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả chúng ta tha thứ cho mọi người về mọi điều họ làm tổn thương chúng ta không?
Hầu hết chúng ta đều đặt điều kiện cho sự tha thứ của mình. Chúng ta nói: “Được rồi, tôi sẽ tha thứ cho anh nếu anh thay đổi!”, đó không phải là sự tha thứ thật. Sự tha thứ thật không đòi hỏi bất cứ một sự đền trả nào từ phía người gây ra tội. Điều đó có nghĩa là người ấy không hề mắc nợ chúng ta ngay cả một lời xin lỗi và chúng ta không có quyền mong đợi người ấy thay đổi. Tha thứ có nghĩa là chấp nhận người ấy trong thực trạng ngay cả khi người đó tiếp tục làm chúng ta tổn thương.
Phi-e-rơ hỏi Chúa Giê-xu: “Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bảy lần không? Ngài đáp rằng: Không, bảy mươi lần bảy” (Mat Mt 18:21, 22). Nếu bạn cộng lại và nói: “Được rồi, sau 490 lần tôi sẽ không phải tha thứ cho anh nữa, bạn đã hiểu sai sứ điệp rồi.
Một phụ nữ viết thư kể cho tôi một câu chuyện kỳ lạ về sự tha thứ. Bà đọc cuốn Từ Ngục Tù Đến Ca Ngợi vào buổi tối trước khi phải trải qua một cuộc giải phẫu và quyết định cám ơn Chúa về cơn đau bà phải gánh chịu sau đó. Trước sự ngạc nhiên của bà và của các bác sĩ, y tá, bà không bị đau gì cả và không cần ngay cả một viên aspirin để giảm đau. Giờ đây bà tin chắc là cảm tạ Chúa có kết quả và quyết định cảm tạ Ngài về bất cứ điều gì xảy đến cho bà.
Thử thách lớn đến liền sau đó. Chồng bà loan báo muốn làm một cuộc ly hôn thử. Ông nói ông đang nghĩ đến ly dị nhưng trước hết ông muốn xem liệu có thể sống xa con cái được không. “Ngay lúc đó tôi nhận biết Chúa cho phép tôi nhìn thấy quyền năng của sự cảm tạ Ngài như thế nào để bây giờ tôi có được năng lực để cảm tạ Chúa”.
Sau một tháng người chồng trở về. Ông không chịu được cảnh sống xa những đứa con. Tuy nhiên ông cũng thú nhận trong ba năm qua ông đã yêu một người đàn bà khác và hết lòng muốn chung sống với người ấy.
Bà viết “Nỗi đau thật cùng cực khi nhìn thấy chồng tôi khổ, ông ta khốn khổ vì thiếu người đàn bà ông yêu, nhưng ông lại không thể cách xa những đứa con. Ông bị giằng xé không biết chọn đàng nào”. Tuy nhiên bà quyết định vẫn cảm tạ Chúa về điều nầy, “Tôi bắt đầu cảm tạ Chúa về cuộc hôn nhân đổ vỡ nầy, vì người phụ nữ mà chồng tôi yêu, vì chồng tôi không còn yêu tôi nữa và muốn ly dị tôi”.
Bà tiếp tục làm như vậy trong một năm. Chồng bà ở nhà suốt thời gian nầy và một ngày kia họ khám phá ra họ đã có một tình yêu mới mẻ còn sâu xa hơn trước kia nhiều. “Điều vẫn còn làm chúng tôi ngạc nhiên là tình yêu chúng tôi cứ lớn hơn và thấy rằng với Chúa bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra”. Ngài đã thật sự biến nỗi đau buồn của tôi thành niềm vui và đã biến ngay cả một tai họa như của chúng tôi thành một điều tốt lành và đẹp đẽ. Ngợi khen Chúa!”
Bí quyết thành công của người phụ nữ nầy không hề nằm trong quyết tâm ca ngợi Chúa, năng lực phát ra từ sự ca ngợi của bà vì bà sẵn sàng tha thứ cho chồng và chấp nhận thực trạng của ông.
Bạn có thể tưởng tượng điều nầy khó đến mức nào không? Người chồng không hề xin lỗi vợ mình hay hứa sẽ thay đổi gì cả. Mỗi ngày bà thấy ông chỉ mơ tưởng đến người phụ nữ khác cách công khai nhưng bà vẫn cảm thương cho sự đau khổ của ông thay vì thương hại chính mình. Hầu hết chúng ta có thể hiểu được dễ dàng nếu bà phản ứng cách giận dữ và cay đắng.
Tôi nhận được nhiều thư từ những phụ nữ khác kể lại những câu chuyện tương tự nhưng không có được một kết thúc tốt đẹp. Trong những lá thư ấy, tinh thần không tha thứ được bày tỏ qua giọng điệu cay đắng và than trách: “Tôi đã cảm tạ Chúa về hoàn cảnh của tôi, nhưng vẫn không thể nào chịu đựng nổi và chồng tôi vẫn nhỏ nhen như trước”.
Một đặc điểm chung của những người không chịu tha thứ là họ không muốn hay không thể nhìn thấy tội lỗi của chính họ. Một phụ nữ thuộc Hội Thánh chúng tôi kể rằng trải qua nhiều năm cuộc hôn nhân của bà giống như một cuộc trượt dốc, hết leo lên lại lao xuống. Hai ông bà đã ly dị nhau một lần và nhiều lần ly thân. Bà trở thành Cơ Đốc nhân và đi nhóm tại nhà thờ chúng tôi vì bà muốn học cảm tạ Chúa về chồng bà để Chúa thay đổi ông ta. Bà nghĩ rằng tính ích kỷ và thái độ đòi hỏi của chồng bà là nguyên nhân mọi vấn đề của họ.
Tuy nhiên sự cảm tạ của bà không đem lại kết quả nào. Trong thời gian ly thân, khi bà nghĩ là sẽ ly dị lần nữa, bà tự hứa và hứa với Chúa rằng bà sẽ thử lần cuối cùng, “Tôi quyết sẽ hết sức thành thật với chính mình và với Chúa, không giả bộ gì hết”, bà viết cho tôi như vậy.
Sáng hôm sau hai vợ chồng đi lễ và trong suốt bài giảng bà nhận thức đầy trọn mình cần được Đức Chúa Trời tha thứ. Quì trước tòa giảng bà khóc mãi và khi trở về chỗ ngồi, bà xin chồng bà tha thứ cho bà. Bà nói “Thình lình trong lòng tôi đầy tràn sự biết ơn đối với chồng tôi. Và điều kỳ lạ là suốt thời gian qua tôi cứ nghĩ rằng chồng tôi có lỗi, tôi giận dỗi vì ông ta chẳng khi nào xin lỗi tôi hay nhận rằng ông có lỗi về điều gì. Bây giờ cuối cùng tôi nhận ra rằng mình đã hiểu ngược vấn đề. Chính tôi mới là người ích kỷ, khó tính và cần được tha thứ”.
Giờ đây sự ca ngợi của bà tuôn tràn từ một tấm lòng tràn ngập tình yêu và sự bình an. Sự bồn chồn hay thay đổi ngày trước nay không còn nữa.
Chúa Giê-xu có kể một thí dụ về người đầy tớ nợ vua khoảng 10 triệu đô-la. Không trả nổi món nợ, anh ta xin vua tha cho. Vua tha nợ cho anh ta, nhưng ngay khi được thả ra, anh tìm đến người bạn nợ anh khoảng 200 đô-la, túm cổ người bạn và đòi phải trả ngay. Người bạn không có tiền nên quì xuống xin anh thư thả cho một thời gian, nhưng người đầy tớ nọ không chịu và để cho người bạn bị tống giam cho đến khi nào trả xong nợ. Được tin, vua gọi người đầy tớ đến và nói: ”...Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi vì ngươi cầu xin ta, ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc với ngươi như ta đã thương xót ngươi sao?” Thế là vua nổi giận phú nó cho kẻ giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ. “Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy”.
Không tha thứ là một chất độc giết người và nó đang tàn phá nhiều gia đình. Sự phật ý về những điều nhỏ nhặt dần dà lớn lên và nếu cứ tiếp tục thì chúng ta sẽ không nhận ra được là điếu đó đang che giấu một thái độ không tha thứ rất nguy hiểm.
Một thiếu niên nổi giận vì cha em không cho em mượn xe hơi của gia đình để đi chơi. Em nói “Tại sao em phải tha thứ cho cha? Cha không tin em mà”.
Em thiếu niên ơi, em có tin rằng Chúa có thể thay đổi ý kiến của cha em nếu Ngài muốn. Và nếu Ngài không muốn thì chắc hẳn ngay bây giờ Chúa không muốn em lái xe. Em có thể cảm tạ Chúa về cha em không? Và tha thứ cho cha em không? Nếu em làm như thế, tôi đảm bảo rằng không khí trong gia đình em sẽ tốt hơn 100%. Cha em còn có thể cho em mượn xe hơi đấy, nhưng đó không phải là điểm quan trọng. Điều em sẽ nhận ra rõ nhất là em loại bỏ được tình cảm xấu xa trong lòng cứ nổi lên mỗi khi nghĩ tại sao cha em lại xấu tính và bất công như vậy.
Đôi khi chúng ta dường như thích thú khi từ chối không tha thứ ngay cả khi chúng ta được xin lỗi. Cảnh tượng nầy có quá quen thuộc không?
Một ông chồng than phiền suốt ba ngày liền vì không thích những món ăn nấu theo cách hướng dẫn trên truyền hình. Người vợ cảm thấy mình có lỗi vì đã không sắp xếp thì giờ khéo léo hơn. Người chồng văng tục, không thèm ăn nữa, đóng sầm cửa lại và bỏ đi. Nhưng chẳng bao lâu ông trở về và nói “Cưng ơi, anh xin lỗi vì đã làm em buồn. Tha lỗi cho anh nhé”.
Đây chính là cơ hội để xóa bỏ khoảng cách giữa hai vợ chồng, nhưng người vợ che giấu tình cảm thật của mình sau nụ cười 'ngọt ngào' và thì thầm: “Anh không làm gì để em buồn cả, có gì đâu mà tha lỗi”. Nhưng đằng sau câu nói ấy là nỗi buồn phiền và sự không tha thứ ngấm ngầm, “Anh đã làm tôi xấu hổ. Bây giờ tôi sẽ để cho anh khốn khổ một thời gian chứ”.
Đã bao lần chúng ta lặp lại cảnh nầy với vài thay đổi nhỏ. Khi có ai đó chạm tự ái chúng ta, miệng chúng ta thì nói: “Không có gì, chắc chắn là tôi không giận gì anh”, nhưng hành động của chúng ta lại tỏ rõ rằng chúng ta đã không quên điều xấu xa anh ta đã làm và cũng không để cho anh ta quên điều đó được.
Nếu có ai xin bạn tha thứ, hãy tha thứ, ngay cả khi bạn nghĩ rằng người đó không hề làm bạn buồn. Sự tha thứ của bạn có ý nghĩa to lớn và rất quan trọng đối với người đó trong mối quan hệ giữa anh ta và Đức Chúa Trời.
Nếu chúng ta có thể bắt đầu bằng cách luôn luôn tha thứ cho những người trong gia đình chúng ta thì sẽ có một sự thay đổi hết sức lớn lao. Thay vì nổi giận với người khác, chúng ta có thể nói: “Cám ơn Chúa vì cha con vừa thất hứa với con lần thứ một triệu. Con tha thứ cho cha con và xin Ngài cũng tha thứ cho cha con”. Hay là “Cảm tạ Chúa vì đứa con của con đã quên không dọn giường lần thứ không biết bao nhiêu. Con tha thứ cho nó”. Hãy bắt đầu phản ứng như vậy đi để không khí trong gia đình bạn và tại bàn ăn nhà bạn sẽ khiến khách khứa muốn biết bí quyết nào để được như vậy. Khi đó bạn hã giới thiệu Chúa Giê-xu cho họ. Sẽ có một sự khác biệt nổi bật nếu chúng ta bắt đầu tha thứ cho những người khó tính mà chúng ta làm việc chung và cảm tạ Chúa vì tính tình họ như vậy.
Roy Wyman trở thành Cơ Đốc nhân và đã đọc những sách của tôi về việc cảm tạ Chúa trong mọi sự. Công ty của ông đang gặp khó khăn về tài chánh và đã có những bất bình về phía những người cộng tác. Trong một buổi họp ban quản trị, người ta đã phát biểu bao lời lẽ chói tai Roy, rồi đến lượt ông lên tiếng. Ray vốn là người phản ứng nhanh và hay nổi nóng. Trong suốt buổi họp ông thầm nguyện với Chúa: “Chúa ơi, con cám ơn Ngài vì những người nầy và tất cả những gì đang xảy ra tại đây”. Khi Roy mở miệng, ông cũng ngạc nhiên về chính những lời ông nói: “Tôi chỉ còn biết nói với các bạn là tôi yêu các bạn!”
Công ty được tổ chức lại khi người hùn vốn khó tính nhất quyết định bán phần hùn của ông ta. Chẳng bao lâu tiền lời bắt đầu tăng lên và có những sự thay đổi đáng kể trong nhân sự, từng người bắt đầu tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của họ. Sau đó vài tháng, tại một đại hội Cơ Đốc giáo trong thành phố, người đã hùn vốn và đã rời bỏ công ty vì giận dữ cũng tiếp nhận Chúa. Roy nói: “Tôi mất đi một người hùn hạp, nhưng cảm tạ Chúa, chẳng bao lâu tôi lại được một anh em trong Chúa”.
Thỉnh thoảng các Cơ Đốc nhân thấy khó hòa hợp với anh em trong Hội thánh. Nhưng Chúa Giê-xu đã nói: “Vì các ngươi yêu thương nhau mà mọi người nhận biết các ngươi là môn đồ của ta!”
Khi Hội Thánh có vẻ nguội lạnh và các Cơ Đốc nhân khó chịu, chỉ trích lẫn nhau, tinh thần không chịu tha thứ có thể bóp nghẹt tất cả sự vui mừng và tình yêu thương. Nếu bạn ở trong một Hội Thánh như vậy, hãy bắt đầu cảm tạ Chúa vì Ngài đặt để bạn tại đó và hãy để ý đến thái độ của bạn.
Phao-lô viết: “Hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau, như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành. Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em, là bình an mà anh em đã được gọi đến đặng hiệp nên một thể; lại phải biết ơn” (CoCl 3:13, 15).
Nếu tất cả các Cơ Đốc nhân sống đúng với trách nhiệm và đặc ân yêu thương cũng như tha thứ cho nhau thì ngày nay chúng ta có rất ít giáo phái. Đặc ân tuyệt vời của chúng ta là tha thứ và yêu thương, để cho lòng chúng ta tràn đầy sự bình an và luôn uôn cảm tạ Chúa.
Nếu bạn cảm thấy đời sống tâm linh mình bế tắc, hãy hỏi Chúa: “Con đã không tha thứ điều gì?” Có bao giờ bạn nghĩ rằng Chúa đã xử không đẹp với bạn không? Nếu có, bạn cần giải quyết vấn đề với Ngài. Hãy thưa với Ngài “Chúa ơi, con không hiểu tại sao Ngài lại để những người nầy làm hại con và những nan đề cứ chồng chất trên đời sống con. Ngài chẳng làm điều gì tốt đẹp cho đời sống con, con nghĩ rằng Ngài không quan tâm đến con. Hãy tha thứ cho con vì con đã suy nghĩ như vậy. Con muốn tin là Ngài yêu con và đang giải quyết những nan đề trong đời sống con vì ích lợi cho con”.
Gene Neill, bạn của tôi thuật lại chuyện của Roy Roach, người đã bị bắt và bị kết án vì lời chứng dối của người khác. Roy bị giam chung với Gene tại nhù tù Eglin Air Force Base Federal tại Fort Walton Beach, Florida. Một ngày kia anh nghe tin người vu cáo anh đã bị bắt về một tội gì đó và bị giam chung trại. Lòng căm thù và cay đắng nổi ên, Roy âm mưu ám sát người kia, anh kể cho Gene nghe và Gene khuyên anh ta nên từ bỏ kế hoạch và thay vào đó bằng sự cảm tạ Chúa về mọi điều. Ý kiến nầy không tác động gì đến Roy và anh ta tiếp tục âm mưu giết người.
Một ngày kia anh nhận được tin vợ và con gái đều bị ung thư không thể chữa được. Trong nỗi đau khổ cùng cực, anh cầu xin Chúa giúp đỡ mình và yêu cầu Gene cầu nguyện với anh. Gene nhắc lại lời khuyên, rằng Roy nên cảm tạ Chúa về mọi điều. Sự tuyệt vọng đưa Roy đến đường cùng, quì gối xuống, từ bỏ lòng thù hận với người kia, anh xin Chúa tha thứ cho mình và cảm tạ Chúa vì bị ở tù và vì bệnh tình của vợ con. Anh đã có thể tin được là Chúa đã dùng những tai họa ấy để làm vinh hiển danh Ngài và để ích lợi cho gia đình anh.
Sau đó hai tuần, một điều vô cùng kỳ lạ xảy ra. Vợ và con gái của Roy đến thăm anh, cho biết mọi triệu chứng ung thư đã biến mất, quang tuyến X không tìm ra dấu hiệu bệnh tật nào cả. Sự tha thứ của Roy đã khiến quyền năng chữa lành của Chúa được thể hiện.
Bạn có đang bị đối xử cách bất công không? Có đang chịu khổ vô cớ không? Bạn có tin rằng Chúa sắp đặt như vậy để ích lợi cho bạn không? Giô-sép bị các anh mình bán làm nô lệ ở Ai-cập, sau đó ông lại phải vô tù hai năm vì một điều mình không hề làm, sau khi được trả tự do và giữ địa vị cao nhất nước chỉ sau Pha-ra-ôn, các anh của ông đến mua lúa. Và họ thật sự kinh hoàng khi nhận ra Giô-sép bởi nghĩ chắc rằng ông sẽ trả thù, nhưng Giô-sép nói: “Các anh toan hại tôi nhưng Đức Chúa Trời lại toan điều ích cho tôi”.
Không có sự khác biệt gì nếu những người hại bạn toan làm điều dữ. Đức Chúa Trời sẽ không để bạn bị hề hấn gì nếu qua đó Ngài không toan làm điều ích cho bạn. Nếu bạn tin như vậy, bạn có thể cảm tạ Ngài về điều đó không? Bạn có thể tha thứ đến độ thật sự vui về những gì bạn đang phải chịu không? Vui, vui và rất vui? Nếu bạn vui như vậy, Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho bạn. Ngài sẽ khiến Thánh Linh ngự vào lòng bạn, loại bỏ đi điều lâu nay từng làm hại bạn - cái khối u nhỏ xấu xí của sự không tha thứ đã lan ra như bệnh ung thư tước đoạt niềm vui và sức khỏe của bạn.
Đức Chúa Trời biết rõ chúng ta vì Ngài tạo ra chúng ta. Ngài biết rằng chỉ một chút không tha thứ nuôi dưỡng trong lòng cũng sẽ làm hại bạn rất nhiều về thể xác, tình cảm và tâm linh. Khi chúng ta chịu khổ như vậy, Ngài chỉ rõ cho chúng ta: “Nỗi đau khổ của con là do không chịu tha thứ. Nếu con không tha thứ thì ta cũng không thể tha thứ cho con. Nhưng nếu con tha thứ cho người khác, ta sẽ tha cho con, chữa lành cho con và cho con hoàn toàn được tự do”.

LÀM THẾ NÀO KHIẾN KẺ CHẾT SỐNG LẠI
Một dẫn chứng lạ lùng về quyền năng của sự ca ngợi là việc Chúa Giê-xu kêu La-xa-rơ sống lại. Chúa Giê-xu được cho biết La-xa-rơ đau nặng nhưng Ngài đã không đến ngay, đến khi La-xa-rơ chết rồi Ngài mới nói với các môn đồ: “Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê” (GiGa 11:7). Các môn đồ chẳng muốn đi chút nào, vì lần trước khi họ ở đó những người Giu-đa đã tìm cách giết Chúa Giê-xu. Tại sao phải liều mạng để đi dự một đám tang!
Lúc đó Chúa Giê-xu nói một điều rất kỳ lạ với các môn đồ: “La-xa-rơ chết rồi. Ta vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin...” (11:14, 15). Chúa Giê-xu vui vì La-xa-rơ chết, mọi người coi đó là một bi kịch nhưng Chúa Giê-xu có cái nhìn khác hơn về sự việc ấy và Ngài vui.
Khi họ đến làng Bê-tha-ni là nơi La-xa-rơ cư ngụ, gia đình, bè bạn và nhiều nhà lãnh đạo Do Thái đang tụ tập để than khóc người chết. Nhiều tiếng than vạn, khóc lóc nhưng chẳng có một lời ca ngợi và cảm tạ. Khi thấy Chúa Giê-xu đến, một số người giận dữ và nói: “Người đã mở mắt kẻ mù được, há chẳng có thể cũng làm cho người nầy không chết sao?” (11:37).
Chúa Giê-xu thất vọng trước phản ứng của họ và hỏi: “La-xa-rơ được chôn ở đâu?”, họ chỉ cho Ngài, rồi Ngài bảo: “Hãy lăn hòn đá đi!”.
Cho đến lúc nầy thì bạn hoặc tôi có thể làm được những gì Chúa Giê-xu làm. Chúng ta có thể dự tang lễ, an ủi tang quyến và nếu chúng ta tin điều Kinh Thánh nói, “mọi sự hiệp kại làm ích cho kẻ yêu mến Chúa”, thì chúng ta có thể cố gắng nói với tang quyến rằng điều đó xảy ra là có ích lợi. Nhưng có lẽ bạn và tôi chỉ làm đến đó mà thôi, ngay cả khi chúng ta bị gia đình người quá cố thách thức: “Anh nói anh là một người Cơ Đốc, và Chúa của anh có thể làm mọi sự, sao anh không xin Ngài làm một điều gì ngay bây giờ đi?”
Chúa Giê-xu làm gì? Ngài có xin Đức Chúa Trời giúp đỡ không? Ngài có nài xin rằng “Lạy Cha, xin hãy nghe con vì con đang có một việc rất hệ trọng cần Cha giúp đỡ”?
Không, Ngài đứng đó và nói: “Thưa Cha, con cảm tạ Cha vì Ngài đã nhậm lời con”. Chúa Giê-xu không xin Đức Chúa Trời làm điều gì, Ngài chỉ cảm tạ Đức Chúa Trời vì điều đó đã được thực hiện rồi, Ngài đang nói: “Cám ơn Cha vì vấn đề không còn là vấn đề nữa”.
Một đám đông khá lớn đang vây quanh mộ than van khóc lóc. Các môn đồ đứng sau lưng họ đang lo sợ bị bắt và bị giết. Chúa Giê-xu là người duy nhất đứng đó mà không có vấn đề gì, Ngài chẳng có điều gì phải cầu xin Đức Chúa Trời. Ngài chỉ nói: “Cảm tạ Cha vì Cha đã nhậm lời con”. Và rồi Ngài nhìn thẳng vào mộ và ra lệnh: “Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!”.
Tại sao bạn và tôi lại không thể làm điều nầy? Chúa Giê-xu đã bảo các môn đồ sau đó: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha. Các ngươi nhân danh ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh nơi Con” (14:12, 13).
Đó là một trong những câu Kinh Thánh khiến chúng ta không được thoải mái. Tôi chưa gọi người chết nào sống lại và có lẽ bạn cũng chưa. Ngay cả những vấn đề nhỏ phải đối diện mà chúng ta còn giải quyết chưa nổi. Nhưng Chúa Giê-xu nói rằng chúng ta có thể và Ngài cũng đã chứng minh cách làm. Ngài chỉ nói đơn giản: “Con cám ơn Cha vì Cha đã nhậm lời con”.
Đó là điều khiến tôi tin chắc rằng ca ngợi và cảm tạ được coi là sự bày tỏ chủ yếu của lòng tin cậy và đức tin nơi Đức Chúa Trời - và tại một thời điểm nào đó trên bước đường học tập cảm tạ Chúa về mọi điều, quyền năng của Ngài sẽ thành hiện thực trong đời sống chúng ta. Tôi biết bí quyết không nằm trong những lời nói của Chúa Giê-xu. Tôi có thể đứng trước một quan tài mở nắp và nói đi nói lại nhiều lần với những giọng điệu khác nhau: “Con cám ơn Cha vì Cha đã nhậm lời con”, nhưng điều nầy không làm cho xác chết đứng dậy được. Vậy thì không phải ở cách nói mà là một điều gì trong lòng Chúa Giê-xu đã tuôn tràn thẳng vào lòng Đức Chúa Trời. Nếu chính điều đó có thể tuôn tràn qua lòng chúng ta thì tình yêu của Chúa sẽ tràn vào đời sống chúng ta và hoàn cảnh chung quanh chúng ta, chắc chắn sẽ như ánh sáng mặt trời tràn qua cánh cửa mở rộng để căn phòng ngập tràn ánh sáng và được ấm áp.
Làm cách nào chúng ta có thể cảm tạ Đức Chúa Trời theo cách của Chúa Giê-xu. Tôi chắc chắn rằng có nhiều cách để bắt đầu, nhưng bạn phải bắt đầu ở một điểm nào đó, còn tôi bắt đầu cảm ơn Chúa về những điều nhỏ nhặt như chiếc xe hơi cũ không chịu chạy. Thoạt tiên điều nầy có vẻ ngớ ngẩn, nhưng Kinh Thánh dạy chúng ta phải “vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời” (Eph Ep 5:20). Mọi sự bao gồm cả xe cũ, bánh mì cháy, dụng cụ bị hư hỏng...
Thoạt đầu tôi cũng chẳng thật sự có ý cảm tạ, nhưng cảm tạ là một hành động biểu lộ vâng phục đối với điều Chúa muốn tôi làm. Đó là bước đầu của tôi, và phải trải qua một thời gian khá lâu trước khi tôi thấy được nhiều kết quả. Sự thay đổi đến từ từ, dần dần tôi bắt đầu thật sự cảm tạ khi nói “Cám ơn Chúa”, và cứ thế tôi thấy mình thật sự sung sướng về một số điều trước kia vẫn làm tôi lo buồn. Cũng vậy, càng ngày tôi càng tin tưởng hơn rằng Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm về tất cả mọi sự xảy đến cho tôi và cũng không khó khăn lắm để tin rằng Ngài đưa tôi vào những hoàn cảnh đó để tỏ cho tôi biết Ngài yêu tôi.
Khi tôi bắt đầu chia xẻ với mọi người và cảm tạ Chúa về những hoàn cảnh khó khăn của họ, bằng chứng lại rõ ràng hơn; cảm tạ như một biểu lộ của đức tin đem đến nhiều kết quả kỳ lạ hơn là cứ van nài, cầu xin với Chúa. Tôi thấy không phải chỉ thỉnh thoảng mới cảm tạ. Kinh Thánh nói đi nói lại rằng cảm tạ là cách biểu lộ chính xác sự thờ phượng và tình yêu đối với Đức Chúa Trời.
Nhưng trước khi hiểu được nhiều như vậy tôi đã phải đối diện với một số vấn đề. Nhiều lúc cảm tạ Chúa chẳng đưa tôi đến đâu cả, sự việc dường như còn rắc rối hơn trước khi tôi bắt đầu. Thất vọng xâm chiếm tôi, những lời cảm tạ của tôi - khi tôi có thể nói - trống rỗng và vô nghĩa.
Có điều gì sai trật? Tôi thử nhiều cách cảm tạ mới. Tôi sử dụng ý chí để làm điều nầy dù đôi khi tôi muốn bỏ cuộc. Vẫn không lối thoát. Cuối cùng tôi cảm tạ Chúa về việc thiếu niềm vui và thiếu đức tin của tôi và xin Ngài chỉ cho tôi biết điều gì sai trật. Ngài chỉ ra rằng đến một lúc nào đó dù tôi có ý chí đến đâu, dù có lặp đi lặp lại bao nhiêu lần những lời cảm tạ cũng không đem tôi đến gần một giải pháp nào. Vấn đề không phải ở những điều tôi nói hay làm, chính tôi mới là vấn đề.
Khi Chúa Giê-xu nói những lời đơn sơ:“Cảm tạ Cha vì Cha đã nhậm lời con”. Quyền năng của Đức Chúa Trời đã truyền ngay qua Chúa Giê-xu, vì giữa Chúa Giê-xu với Đức Chúa Trời không có vấn đề gì hết. Không có điều gì trong lòng Chúa Giê-xu ngăn trở mối tương giao giữa Ngài với Đức Chúa Trời, cả hai là một. Chúng ta biết Chúa Giê-xu cầu nguyện cho tất cả những ai sẽ tin Ngài: “Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để hiệp làm một cũng như chúng ta vẫn là một: Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con” (GiGa 17:22, 23).
Cảm tạ Chúa như một hành động bày tỏ ra bên ngoài lòng vâng phục là điều tốt nhưng đó chỉ là bước khởi đầu. Sớm muộn gì cũng đến một lúc những lời cảm tạ của chúng ta dường như mòn mỏi. Điều đó thường có nghĩa là chúng ta cần có điều gì khác nữa.
Giá thì cao và việc trả giá thường đau đớn; phải từ bỏ điều nào đó trong lòng đã ngăn trở mối tương giao giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Mặc dù phần thưởng là sự hiệp một với Chúa Giê-xu Christ nhưng chúng ta luôn luôn không muốn từ bỏ.
Một viên quan Do Thái hỏi Chúa Giê-xu điều ông phải làm để được sự sống đời đời. Ông ta nói: “Tôi đã giữ các điều răn từ khi còn nhỏ”.
Nhưng Chúa Giê-xu phán với ông: “Còn thiếu cho ngươi một điều; hãy bán hết gia tài mình, phân phát cho kẻ nghèo, thì ngươi sẽ có của cải ở trên trời; bấy giờ hãy đến mà theo ta”, nhưng người ấy nghe mấy lời thì trở nên buồn rầu vì giàu có lắm.
Đức Chúa Giê-xu thấy người buồn rầu, bèn phán rằng: “Kẻ giàu vào nước Đức Chúa Trời là khó biết dường nào!” (LuLc 18:18, 22-24).
Vấn đề không phải ở chỗ giàu sang của người mà là lòng yêu mến sự giàu sang đó. Chúa Giê-xu biết điều nầy trong lòng người ấy và đã chỉ đúng điều đã gây ngăn trở mối tương giao giữa người đó với Đức Chúa Trời. Bất cứ điều gì chúng ta không từ bỏ vì Chúa Giê-xu, đó chính là điều chúng ta thấy quan trọng hơn mối quan hệ giữa chúng ta với Ngài. Chúng ta hãy tự hỏi mình câu hỏi sau đây: “Có điều gì hay người nào trong đời sống tôi khiến tôi không vì Chúa từ bỏ hay không cảm tạ Chúa không?”. Nếu câu trả lời là có, đó chính là điều hay người đã xen giữa chúng ta với Đức Chúa Trời.
Có lần một phụ nữ kể cho tôi nghe những vấn đề của bà về tiền bạc, sức khỏe và gia đình, “tôi muốn dâng hết cái mớ rắc rối nầy lên cho Chúa - Tôi cũng đã cố cảm tạ Ngài nhưng mọi sự cứ tệ hại hơn, xin cho biết tôi phải làm gì?”
Tôi hỏi: “Có điều gì bà biết Chúa muốn bà làm mà bà không muốn làm không?”
Bà ta đỏ mặt và nói: “Chỉ có một điều là tôi không thể tha thứ, tôi cũng không thể nói ra điều đó”.
Tôi bảo: “Đó chính là điều Đức Chúa Trời muốn bà làm trước khi bất cứ điều gì khác có thể xảy ra”.
Bà ta khóc nhưng nét mặt rất cương quyết, “thế thì tôi tiếp tục chịu đau khổ thôi, tôi không thể nào tha thứ được”.
Hầu hết chúng ta cứ cố che đậy hay chối bỏ những vấn đề đích thực. Giê-rê-mi tỏ ra hiểu bản chất con người khi ông viết: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa: ai có thể biết được? Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng..." (Gie Gr 17:9, 10).
Đa-vít đã tỏ ra thành thật khi nói: “Đức Chúa Trời ơi, xin hãy tra xét tôi, và biết lòng tôi. Hãy thử thách tôi, và biết tư tưởng tôi; xin xem thử tôi có lối ác nào chăng? Xin dắt tôi vào con đường đời đời” (Thi Tv 139:23, 24).
Nếu bạn cầu nguyện như vậy, Chúa sẽ trả lời. Ngài sẽ nhắc bạn những gì bạn đang cố che giấu. Thường thì những đầu mối được tìm ra trong những hoàn cảnh đau đớn mà chúng ta cảm thấy quá nặng nề. Chúng ta có thể cảm ơn Ngài về những hoàn cảnh nầy vì Ngài không dùng chúng để hình phạt nhưng để đem chúng ta đến gần Ngài hơn.
Khi biết sự thật, chúng ta phải làm một điều gì đó, “Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi” (66:18). Bất cứ điều gì chúng ta giấu Chúa, đó là tội lỗi. Khi chúng ta cứ còn bám chặt điều đó, Chúa không thể nghe chúng ta. Phương thuốc duy nhất cho tội lỗi là sự tha thứ của Đức Chúa Trời, và điều này mang chúng ta trở lại nền tảng ban đầu của mối quan hệ giữa chúng ta với Đấng Tạo Hóa; chúng ta thú nhận tội lỗi của mình, dâng nó cho Ngài và Ngài tha thứ.
Còn sống bao lâu tôi sẽ còn tùy thuộc vào sự tha thứ của Ngài lấy lâu. Hơn bao giờ hết, tôi ý thức rõ điều nầy và hy vọng trong tương lai tôi sẽ càng tùy thuộc vào điều nầy hơn nữa. Bạn có sợ hay xấu hổ vì phải xin Ngài tha thứ nhiều lần không? Bạn có nghĩ làm thế là bạn đang đùa với Chúa và Ngài sẽ giận dữ, chán nản hết muốn tha thứ cho bạn không? Đó không phải là sự khiêm tốn mà chính là lòng kiêu ngạo khiến bạn không thể thấy được bạn phải tùy thuộc vào sự tha thứ của Chúa.
Ngày nọ tôi đứng ở bờ biển, thấy một cậu bé chạy xuống và múc nước đầy cái xô đồ chơi. Rồi nó chạy lên bờ, đổ nước trong xô vào cái lỗ đào trên cát. Nó cứ chạy lên, chạy xuống, rồi bỗng nhiên tôi nhận thức được sự tha thứ của Đức Chúa Trời cũng bao la như đại dương. Chúng ta cứ múc hết xô nọ đến xô kia và ngay lập tức nước lại tràn vào để thay thế số lượng nước nhỏ nhoi mà chúng ta vừa múc. Dù chúng ta có múc bao nhiêu nước thì đại dương vẫn tràn đầy nước như khi chúng ta bắt đầu múc. Và dù chúng ta có đổ bao nhiêu xô nước vào cái lỗ nhỏ trên cát thì nước cũng biến mất ngay và chẳng bao lâu chúng ta lại cần một xô nước khác.
Lòng Đức Chúa Trời vui mừng khi con cái Ngài đến nhận sự tha thứ, Ngài không tha thứ cách miễn cưỡng và bảo: “Nữa! Lại xin nữa rồi! Đến khi nào con mới nên người!”. Cứ mỗi lần Ngài thấy chúng ta trở lại, Ngài lại nói: “Ta rất vui mừng vì con đã trở lại, ta tha thứ cho con và ta yêu con”.
Những lần trở lại với Chúa để Ngài tha thứ và quên đi là con đường huyết mạch trong quan hệ giữa chúng ta với Chúa. Mỗi lần chúng ta thừa nhận tội lỗi mình và đầu phục Ngài, Đấng Christ lại có thêm quyền kiểm soát trên lãnh vực đời sống của chúng ta. Sự thay đổi trong chúng ta có thể từ từ hay lập tức, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng sự thay đổi đang xảy ra.
Chúng ta không thể tự thay đổi, đó là lý do vì sao Phao-lô nói với người Ê-phê-sô: ”...Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh..." (Eph Ep 5:18). Khi Thánh Linh kiểm soát đời sống chúng ta, sẽ có trái của Thánh Linh trong chúng ta, “ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ” (GaGl 5:22, 23). Những trái nầy chúng ta không thể nào tự mình có được.
Đầy dẫy Đức Thánh Linh có nghĩa gì? Sẽ dễ hiểu điều nầy hơn nếu chúng ta nghĩ đến sự đầy dẫy Thánh Linh như một quá trình hơn là một sự kiện xảy ra tức khắc. Khi Phao-lô nói: “Hãy đầy dẫy...”, ông dùng hình thức của một từ ngữ không có trong Anh ngữ. Từ ngữ chỉ hành động thuộc thời hiện tại diễn tiến dùng để mô tả một ống dẫn nước đang được nước chảy vào. Ống được đầy khi nước tiếp tục chảy qua. Nếu ta khóa vòi hay có vật gì bít ống nước lại thì nó không còn đầy nước được nữa. Hoặc ống nước sẽ trống trơn hoặc sẽ chứa nước đọng.
Bạn cũng như tôi, giống như ống nước đó và chúng ta được lệnh phải đầy dẫy Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh không bất động nhưng tuôn chảy qua chúng ta. Mở vòi nước là thái độ đầu phục Đấng Christ liên tục, bất cứ điều gì xen vào giữa Ngài và chúng ta sẽ bít kín ống nước. Bây giờ bạn đã hiểu giữ cho sự liên lạc giữa chúng ta với Đức Chúa Trời luôn được thông suốt là điều quan trọng như thế nào chứ? Và hẳn bạn cũng hiểu chúng ta phải lệ thuộc vào sự tha thứ liên tục của Chúa ra sao?
Tôi biết tôi không giống tôi cách đây năm năm, và mối quan hệ giữa tôi với Chúa bây giờ cũng không như hồi đó. Hy vọng tôi đã lớn lên, đã trưởng thành đôi chút và đã đầu phục Chúa nhiều hơn trong những lãnh vực khác trong đời sống để ngày càng đầy dẫy Thánh Linh của Ngài. Ngài chỉ có thể đầy dẫy khi tôi sẵn sàng để lòng trống không và sẵn sàng vươn tới, lớn lên trong nhiều phương diện.
Giống như những ống chứa và luôn luôn dẫn nước, bạn và tôi có thể chứa đựng Đức Thánh Linh ngày càng nhiều hơn khi mối tương giao giữa chúng ta với Chúa sâu đậm hơn. Một ống dẫn nước có thể bị tắc nghẽn, và chúng ta cũng vậy, bạn có thể đầy dẫy Đức Thánh Linh và rồi bạn nổi nóng hay Chúa chỉ cho bạn một điều nào đó cần phải từ bỏ, nhưng bạn từ chối. Lúc đó bạn có còn đầy dẫy Thánh Linh không? Hay bạn đã bị tắc nghẽn?
Một số người kể một người nào đó là đầy dẫy Đức Thánh Linh khi nói đến kinh nghiệm đầu phục Đức Thánh Linh đặc biệt nào đó. Từ đó trở đi, họ trông đợi “người đầy dẫy Thánh Linh” này sẽ là một người gần như toàn hảo. Điều nầy hoàn toàn trái ngược với thực tế. Người đã mở lòng ra để được đầy dẫy Thánh Linh rồi sau đó lại bị tắc nghẽn là một người khó có thể chung sống và khó cảm thông. Khi đã nếm trải sự tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời và rồi lại quay về đường xưa lối cũ thì lẽ tự nhiên chúng ta trở nên dễ nổi nóng và luôn đau khổ. Đức Thánh Linh đem đến sự bình an nội tâm và khi sự bình an mất đi, chúng ta có thể phản ứng một cách thiếu thiện chí đối với mọi sự việc và mọi người chung quanh.
Nếu chúng ta nói: “Hiện giờ tôi đang được đầy dẫy Đức Thánh Linh”, thay vì nói: “Tôi được đầy dẫy Đức Thánh Linh”, thì chúng ta mới mô tả cách chính xác hơn phương thức Đức Thánh Linh làm việc. Phao-lô đã được chính Đức Thánh Linh soi dẫn cẩn thận để dùng động từ đầy dẫy ở thời hiện tại diễn tiến. Điều nầy nhấn mạnh cho các Cơ Đốc nhân đầu tiên thấy nhu cầu cần được Thánh Linh đầy dẫy liên tục. Đây không phải là kinh nghiệm trong chốc lát nhưng là một quá trình tiếp diễn tùy thuộc tình trạng tương giao giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Chúng ta có luôn sẵn sàng thú nhận những thất bại của mình và xin Ngài tha thứ chăng? Nếu được như vậy nghĩa là chúng ta đang dứt bỏ những gì ràng buộc và chúng ta ngày càng đầy dẫy chính Ngài hơn.
Chúa Giê-xu liên tục đầy dẫy Thánh Linh. Ngài, Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh là một. Hình ảnh Ngài dùng mô tả liên hệ giữa chúng ta với Ngài rất sống động: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh...” (GiGa 15:5). Nhánh không thể tự lớn lên hay ra trái khi bị cắt lìa khỏi cành. Chúng ta cần nhựa sống chảy qua liên tục, đây là hình ảnh của sự lệ thuộc hoàn toàn, nhựa sống chính là Đức Thánh Linh. Chúng ta càng tận hiến đời sống và chính mình cho Ngài, chúng ta càng kinh nghiệm sự hiệp một mà chúng ta hưởng được trong Đức Chúa Giê-xu Christ.
Sự ca ngợi thật phát sinh từ sự hiệp một với Đấng Christ và như cái máy lọc, ca ngợi thật sẽ biến mọi việc trong đời sống chúng ta thành niềm vui mừng và cảm tạ. Bạn có thể tưởng tượng bạn đang có một máy lọc của sự ngợi khen trong lòng không? Bạn sẽ không còn thấy đau khổ, nan đề hay bị kịch nào mà chỉ thấy những cơ hội tuyệt vời Chúa dùng để chứng minh tình yêu của Ngài đối với bạn.
Chúa Giê-xu là thế đó. Không chỉ môi miệng mà từng thớ thịt của Ngài tuôn tràn sự ngợi khen, vì vậy Ngài có thể nói tại đám tang ở Bê-tha-ni: “Ta vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin”.
Phải chăng một phần cuộc đời bạn đang chết và bị chôn? Có bị hủy hoại và phí phạm không? Có thể đó là hôn nhân, công việc hay tài năng của bạn. Bạn bảo: “Khiến những điều nầy sống lại chẳng ích gì!”, bạn nghĩ vậy là sai đấy!
Hãy thôi, đừng than van khóc lóc nữa. Thay vào đó, hãy nói: “Tôi rất sung sướng vì điều nầy xảy ra để vinh hiển danh Chúa!”, đã đến thời điểm của sự sống lại - “Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!"


HÃY THÁO BỎ NHỮNG XIỀNG XÍCH CỦA BẠN
Một nhóm người hay đùa giỡn ác ý tặng cho người bạn một dây xích sắt to cột thêm một hòn sắt nặng 50 cân ở đầu dây nữa. Họ xích đầu dây kia vào chân anh bạn ấy rồi ném chìa khóa đi. Họ trêu anh ta: “Nào! Bây giờ xem anh chạy nhanh cỡ nào!”, không do dự, người bị xiềng bê hòn sắt lên, kẹp vào nách và bắt đầu đi, không lấy gì làm khó khăn lắm. Toét miệng cười, anh ta nói: “Cám ơn các bạn rất nhiều. Đây đúng là thứ tôi luôn ao ước đấy, dây xích với hòn sắt của riêng tôi”.
Bạn đã từng gặp ai thích bị xiềng chưa. Có lẽ tôi nên hỏi: Bạn có thích bị xiềng không? Trong thư gởi cho người Hê-bơ-rơ, tác giả viết: “Chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta” (HeDt 12:1).
Hầu hết Cơ Đốc nhân chúng ta đã bỏ đi những tội lỗi tỏ tường như trộm cắp, giết người, ngoại tình. Còn những gì chúng ta chưa từ bỏ thường được giấu trong trí và trong lòng. Đó có thể là thái độ của chúng ta đối với những tay trộm cắp, giết người và ngoại tình.
Chúa Giê-xu chỉ cho chúng ta biết nguồn gốc những vấn đề của chúng ta nằm trong những tư tưởng kín giấu không thấy được trong lòng chúng ta. Ngài nói: “Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng, những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối và lộng ngôn” (Mat Mt 15:19).
Giống anh bạn mang xiềng xích có hòn sắt, chúng ta bảo rằng có thể sống thoải mái với những gánh nặng thêm vào. Chúng ta bào chữa: “Tôi chỉ là một con người với những yếu đuối nhưng ít ra tôi cũng không đến nỗi tồi tệ như người kia”. Chúng ta có thể làm thế trong một thời gian ngắn nhưng rồi sẽ có ngày Đức Chúa Trời buộc chúng ta phải chú ý đến sự yếu đuối của chúng ta.
Trong nhiều năm tôi phải tranh chiến với những tư tưởng bất chính, những giấc mơ dâm dục. Điều nầy làm tôi luôn luôn có mặc cảm tội lỗi và tôi cầu xin Chúa tha thứ, giải thoát tôi khỏi sự cám dỗ, nhưng đâu vẫn hoàn đấy. Đó là cái vòng lẩn quẩn và tôi nghĩ chắc mình phải sống với nó suốt đời.
Rồi một ngày kia tôi nhận ra rằng điều nan giải nhất với con người chúng ta chính là điều Đức Chúa Trời muốn làm cho chúng ta. Nếu tôi thật sự muốn từ bỏ những tư tưởng bất chính của mình, Chúa sẽ cất bỏ chúng và thay vào đó những tư tưởng của Christ. “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có” (Phi Pl 2:5).
Dĩ nhiên tôi lập tức thưa với Chúa: “Chúa biết là con chỉ muốn có những tư tưởng thánh khiết”. Nhưng rồi một ý tưởng nẩy sinh: “Tôi có sẵn lòng để cho tất cả tư tưởng của mình được chiếu trên một màn ảnh cho mọi người thấy không?”
Tôi thấy người nóng bừng lên. Nếu tôi muốn giữ lại một tư tưởng xấu, chỉ trong giây lát thôi, trước khi từ bỏ nó thì sao? Bất ngờ tôi thấy mình không còn dám chắc là sẵn sàng dâng mọi tư tưởng cho Chúa.
Vấn đề của tôi không còn là một tội lỗi tôi không ngăn chặn được, nhưng là một tội lỗi mà tôi không chắc rằng mình có muốn ngăn chặn nó. Trước đây, tôi tự coi mình như một nạn nhân không may của ma quỉ và nài xin Chúa giải thoát. Bây giờ Ngài cho biết là tôi có thể được giải thoát ngay tức khắc nếu tôi thật lòng muốn. Lẽ thật trong những lời Gia-cơ nói bừng lên trong trí tôi: “Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình”.
Tôi phải xấu hổ thừa nhận rằng thật sự tôi đã thích thú với những tư tưởng kín giấu nầy. Dứt bỏ chúng thật ra không dễ dàng, Sa-tan cứ luôn miệng thì thầm vào tai tôi là kể từ giờ phút nầy trở đi đời sống tôi sẽ buồn tẻ. Cuối cùng tôi có thể nói: “Lạy Chúa, con cám ơn Ngài vì tất cả những ý nghĩ nầy đã dạy con biết sự thật về chính con. Bây giờ, xin Ngài tha thứ cho con, xin hãy chiếm hữu tâm trí con. Con xin dâng cho Ngài và nếu muốn chiếu lên màn ảnh những tư tưởng của con thì con cũng bằng lòng, chỉ xin cho con có tâm trí của Đấng Christ”.
Luôn luôn là vậy, những lời thì thầm của Sa-tan là hoàn toàn vô căn cứ. Thay vì buồn chán, tôi đã kinh nghiệm sự nhẹ nhàng tuyệt vời; và từ đó, bất cứ khi nào tôi nhìn thấy một cô gái đẹp, tôi chỉ còn cảm thấy tràn ngập niềm vui và lòng biết ơn. Mỗi khi tôi ý thức được niềm vui mới, trong sạch mà Chúa ban cho, nước mắt tôi trào ra. Bây giờ tôi có thể thưởng thức được vẻ đẹp nơi những tạo vật của Đức Chúa Trời mà trước đây đã bị những tư tưởng không xứng đáng của tôi làm hoen ố đi.
Tôi muốn chia xẻ sự tự do mới của mình với các nam tín hữu trong Hội Thánh, và khi chuẩn bị cho buổi họp mặt ấy thì sự đen tối nặng nề bao trùm căn phòng. Dường như chính ma quỉ bước vào và nói: “Đừng nói về vấn đề đó, đây là lãnh vực của ta, đừng xen vào!”
Khi đứng trước các tín hữu, cổ họng tôi khô lại và nói ra một cách khó khăn. Nhưng tôi có thể kể cho họ thử thách mà chính tôi từng trải, nhiều người đã theo tôi mà dâng cho Chúa tư tưởng của họ.
Ngày hôm sau, Mary và tôi bay đến Indiana trong một chuyến đi diễn thuyết. Ở đó chúng tôi gặp Gene và Vivian Leak, những người bạn tốt. Gene dẫn tôi ra nông trại của ông để xem một thiết bị mới: một cái quạt khổng lồ để sấy khô. Tôi cúi xuống quan sát kỹ, lúc đó Gene vặn quạt và một con chuột núp trong đó bị xé tan, nguyên cả đống đó văng vào người tôi. Khi máu me, ruột gan bắn vào cả mặt mũi lẫn miệng và chảy xuống áo sơ-mi sạch sẽ của tôi, dường như tôi nghe tiếng ma quỉ ranh mãnh nói trong tai tôi: “Đó là điều ngươi phải gánh chịu vì đã dám xâm phạm lãnh thổ của ta khi định làm sạch lòng của mọi người”.
Tôi cảm nhận với nỗi vui mừng to lớn: Sa-tan có thể làm tôi dơ bẩn bên ngoài nhưng Đấng Christ đã làm tôi sạch bên trong.
Có điều gì bạn đã cố từ bỏ mà không được chăng? Có thể đó là điều thấy rõ được như rượu, thuốc lá, ma túy; hay không rõ lắm như xem video quá nhiều, đọc những sách bậy bạ hay nghe những bài hát nhảm nhí. Bất cứ là gì thì vấn đề cũng bắt nguồn từ tư tưởng bạn. Giới y học cũng phải đồng ý với Chúa Giê-xu về điều nầy, họ có thể dùng sức mạnh để cất bỏ rượu, thuốc lá, ma túy và ngay cả những ca-lô-ri dư thừa ra khỏi một người, nhưng khi mà “thói nghiện tâm lý” vẫn còn thì người đó sẽ chứng nào tật nấy khi có cơ hội đầu tiên. “Thói nghiện tâm lý” là một từ ngữ chỉ một điều gì đó mà tâm lý và lòng chúng ta không chịu từ bỏ.
Hãy thành thật với chính bạn và với Đức Chúa Trời. Bạn có kín đáo thích thú sự yếu đuối của mình không? Bạn có cố từ bỏ nhưng đồng thời vẫn suy nghĩ và tơ tưởng đến nó không?
Bạn có thật sự muốn từ bỏ không? Hãy trắc nghiệm sự thành thật của chính bạn đi. Bạn có thể thưa với Chúa: “Hãy đưa những tư tưởng của con lên màn ảnh để cho vợ con, hàng xóm, bạn bè con có thể biết con nghĩ những gì”. Khi một tư tưởng xấu xa xuất hiện - và nó sẽ xuất hiện để thử bạn đấy - hãy tưởng tượng nó được đưa lên màn ảnh. Hãy thú tội với Chúa và nói: “Con xin từ bỏ tư tưởng nầy. Con sẽ không nghĩ đến nữa. Nhất quyết không!”.
Hãy quyết tâm suy nghĩ về một điều gì khác. Như Phao-lô khuyên: “Phàm điều chi chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thanh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến” (4:8).
Khi Chúa thấy bạn dốc lòng mong muốn từ bỏ điều đang trói buộc, Ngài sẽ thêm đức tin để bạn có thể làm được. Một tín hữu trong Hội Thánh chúng tôi đấu tranh với bả thân để bỏ thuốc lá. Một ngày kia ông nhận ra Chúa đang nói với ông: “Đừng trì hoãn nữa. Ta đã kiên nhẫn lâu rồi, hôm nay là ngày ta muốn con từ bỏ thói xấu đó đi”. Đang lái xe đến nhà thờ ông liền dừng xe lại bên dường và cúi đầu cầu nguyện :“Chúa ơi, con muốn biết đây có phải chính Ngài phán với con không, nếu đúng vậy thì con biết Ngài có thể chữa cho con khỏi tật hút thuốc khi con dâng nó cho Ngài”. Ông yên lặng, cúi đầu và nghĩ: “Chúa ơi, con rất muốn thấy một dấu hiệu tỏ ra chính Ngài đang hán”.
Ngay khi đó một xe tuần tiễu ngừng lại và viên cảnh sát đến gần. Việc này không có gì bất thường, nhưng viên cảnh sát hỏi: “Ông đang cầu nguyện à?”. Khi người tín đồ gật đầu, viên cảnh sát điềm tĩnh nói: “Có gì phiền nếu tôi lên xe và cầu nguyện với ông không?”. Đây có phải là sự ngẫu nhiên không?
Chúa không tỏ dấu hiệu cho mọi người nhưng Ngài thường làm điều đó khi đức tin chúng ta yếu đuối mà lòng chúng ta thì khao khát. Những dấu hiệu không phải để chúng ta tin tưởng vào quyền năng của Chúa nhưng được dùng để khích lệ khi chúng ta quyết định tin.
Nếu chúng ta đã thử lối trắc nghiệm đưa lên màn ảnh tư tưởng của chúng ta và lại quyết định không muốn từ bỏ những ý nghĩ thầm kín đó thì mọi người không thể tin rằng vấn đề của chúng ta là do tội lỗi không chịu buông tha, nhưng chúng ta biết rằng chính chúng ta là người không chịu từ bỏ tội lỗi. Sự từ chối đầu phục của chúng ta trở thành một vấn đề nghiêm trọng hơn với sự thật phơi bày ra. ”...Bởi lòng ngươi cứng cỏi, không ăn năn, thì tự chấp chứa cho mình sự giận về ngày thạnh nộ” (RoRm 2:5).
C.S.Lewis, tác giả người Anh nói rằng: “Đức Chúa Trời thì thầm với chúng ta khi chúng ta vui, Ngài nói với lương tâm chúng ta, nhưng la to trong những lúc chúng ta đau đớn, hoạn nạn. Đó là cái loa của Ngài để đánh thức những người điếc”. Nếu Đức Chúa Trời không còn cách nào để thu hút sự chú ý của chúng ta thì Ngài phải dùng đến những biện pháp mạnh bạo hơn là chỉ nói nhỏ nhẹ.
Đấng Toàn Năng có đang làm bạn bối rối không? Ngài có lớn tiếng với bạn qua hoạn nạn không? Bạn có biết ơn Ngài về điều đó không? Đa-vít biết ơn Chúa: “Tôi đã bị hoạn nạn thật lấy làm phải, hầu cho học theo luật lệ của Chúa” (Thi Tv 119:71). Hiểu rằng Chúa cho chúng ta chịu hoạn nạn vì Ngài yêu chúng ta có khó không? Tác giả thư Hê-bơ-rơ nói: “Lại đã quên lời khuyên anh em như khuyên con rằng: Hỡi con, chớ dể ngươi sự sửa phạt của Chúa, và khi Chúa trách, chớ ngã lòng. Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu, hễ ai mà Ngài nhận làm con, thì cho roi cho vọt” (HeDt 12:5, 6).
Trước đây tôi thường nghĩ rằng những lời nầy quá cứng rắn và không hợp lý. Nhưng sau vài kinh nghiệm được Chúa uốn nắn trong đời sống mình, tôi nhận biết Chúa khuấy rối tôi vì Ngài quá yêu tôi nên không thể để tôi tiếp tục phản kháng Ngài và xa cách Ngài. Lòng tôi ước ao kinh nghiệm sự hiệp một với Đấng Christ. Nếu Đức Chúa Trời cho tôi gặp hoạn nạn hay ở trong những hoàn cảnh khó khăn để đem tôi đến gần Ngài hơn thì tôi chỉ có thể ngợi khen và cảm tạ Ngài vì những điều khiến tôi đau đớn đó đã lôi kéo sự chú ý của tôi.
Cách đây không lâu, một cặp vợ chồng gởi thư xin tôi cầu nguyện cho con trai họ đang chờ ngày ra tòa về tội ăn cắp. Con trai đã bỏ nhà ra đi khi 18 tuổi vì không chịu nổi những luật lệ của bố mẹ. Thoạt đầu họ buồn rầu và lo lắng lắm, nhưng có người đưa họ xem cuốn Từ Ngục Tù Đến Ca Ngợi. Họ quyết định dâng những nỗi lo lắng cùng với con trai họ cho Đức Chúa Trời và cám ơn Ngài về mọi hoàn cảnh Ngài đem đến trong đời sống con trai họ.
Ít lâu sau, con của họ dính líu vào một vụ ăn cắp, bị bắn rồi bị bắt. Cậu ta bị bắn mù một mắt nhưng vẫn nhất quyết là mình vô tội và xin được xét xử. Trong thời gian chờ đợi, anh ta dâng đời mình cho Chúa.
Trong thư, cha mẹ anh kể rằng anh được tòa xét là vô tội và hiện đã trở về nhà, họ vui mừng vì Chúa đã gìn giữ đời sống anh một cách đặc biệt. “Con chúng tôi thường nói: Cảm tạ Chúa vì con bị mất một mắt. Thà mất một mắt còn hơn cả thân thể vào địa ngục” (Mat Mt 5:29).
Đức Chúa Trời không thường sử dụng những biện pháp như vậy để thu hút sự chú ý của chúng ta. Nhưng nếu Ngài phải hành động như vậy để cứu chúng ta khỏi bị hư mất hoàn toàn thì chúng ta có lý do để vui mừng. Những đau đớn, thử thách của chúng ta là những bằng chứng tình yêu Ngài đối với chúng ta. Ngài muốn giải thoát chúng ta khỏi từng tội lỗi nhỏ vương vấn quanh chân chúng ta vì nó làm chúng ta vấp ngã và không hiệp một với Cha trên trời.
Một trong những tội lỗi tinh vi nhất chúng ta dễ vướng mắc là thái độ chỉ trích. Tôi tin rằng thái độ nầy gây ra nhiều đau đớn hơn tất cả những căn bệnh thân thể hợp lại. Nó làm đổ vỡ những cuộc hôn nhân, khiến con cái lìa bỏ gia đình và các nhóm chia rẽ. Con người trở nên bệnh tật khi tinh thần bị tổn thương quá nhiều do bị chỉ trích thường xuyên. Một số người rơi vào những chứng bệnh tâm thần, số khác thì phạm tội ác và quay ra uống rượu, dùng ma túy, ăn uống quá độ hoặc trở thành những người không hòa nhập được với xã hội hay những người thất bại kinh niên chỉ vì người ta cứ nhai đi nhai lại với họ rằng bất cứ điều gì họ làm cũng sai hết.
Toàn xã hội xấu đi do nọc độc chết người của sự chỉ trích. Chỉ trích thâm nhập vào gia đình, lớp học, nhà thờ, các phương tiện thông tin, chính trị và quan hệ quốc tế.
Tất cả chúng ta đều biết một lời phê bình chỉ trích có thể làm hỏng trọn một ngày của chúng ta, nhưng những người tuôn ra lời chỉ trích lại thường cảm thấy họ làm điều đúng. Chúng ta thường tự nhủ rằng chúng ta chỉ trích vì muốn nói lên sự thật và muốn giúp đỡ người khác mà thôi.
Tôi đã nhận hàng ngàn lá thư tiêu biểu cho quan điểm nầy.
Kính gửi Mục sư Carothers,
Chồng tôi chỉ chịu đi nhà thờ khi tôi năn nỉ anh ấy, rồi một ngày kia tôi khám phá ra anh ấy lén lút hút thuốc. Tôi đã nói đi nói lại rằng hút thuốc là sai nhưng anh ấy không chịu nghe. Rồi mẹ tôi đã đưa cho tôi xem cuốn Từ Ngục Tù Đến Ca Ngợi. Tôi quyết định thử cám ơn Chúa về thói quen của chồng tôi thay vì than phiền. Thế rồi tôi khám phá ra rằng chính tôi cũng có một thói quen: mỗi ngày tôi xem chương trình nhạc kịch trên truyền hình trong một giờ, tôi không muốn bất cứ điều gì cản trở giờ xem chương trình truyền hình của tôi. Tôi lấy quyền gì để chỉ trích chồng khi chính tôi cũng vướng phải một thói quen xấu? Tôi dâng thói quen đó cho Chúa và bắt đầu dùng thì giờ đó mỗi ngày để cầu nguyện và cảm tạ Chúa cho chồng tôi. Trong vòng một tuần, anh ấy trở về, cho biết đã bỏ hút thuốc và đã quay lại với Chúa.
Hầu hết những lá thư tôi nhận được đều có một kết thúc tốt đẹp, nhưng trong hồ sơ của tôi cũng có rất nhiều thư kể ra những công sức vô ích bỏ ra để cầu nguyện và ngợi khen trong khi người chồng, người vợ hoặc người con bỏ nhà ra đi vẫn không trở về hay vẫn cứ nghiện ngập rượu chè, ma túy. Thường thì một nhận xét cay đắng hay một thái độ than van trong lá thư giúp ta nhận ra lý do của sự thất bại đó.
Chúa Giê-xu gọi sự chỉ trích là giết người. Ngài cũng nói: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người” (GiGa 8:7). Những lời nói tiêu cực, chỉ trích, kết tội có thể hủy phá con người y như ném đá họ vậy.
Chỉ trích rất nguy hiểm cho những ai thích chỉ trích. Chúa Giê-xu nói: “Các ngươi đừng đoán xét ai để mình khỏi bị đoán xét. Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy” (Mat Mt 7:1-2).
Tội lỗi của người khác ví như cọng rác và thái độ chỉ trích của chúng ta như một cây đà. Chúng ta càng nói và nghĩ về những lỗi lầm, thất bại của người khác và càng cố gắng để sửa đổi họ thì chúng ta càng phạm tội.
Chỉ còn cách nhờ Chúa nhổ cây đà khỏi mắt chúng ta, chúng ta mới có thể giúp đỡ anh em chúng ta bỏ cọng rác. Mục đích là loại bỏ cả cây đà lẫn cộng rác - nhưng phải theo thứ tự trên.
Thừa nhận thái độ chỉ trích của chúng ta là bước đầu tiên nhưng điều đó thật không dễ dàng. Thấy lỗi lầm của người khác là thói quen ăn sâu trong lòng hầu hết chúng ta. Khi nhìn người khác, ý tưởng đầu tiên nẩy sinh trong trí chúng ta thường là tiêu cực. Chúng ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng người khác cần sự tha thứ của Chúa hơn là chúng ta - một triệu chứng rõ ràng là có cây đà chỉ trích nhô ra từ mắt chúng ta. Ngoài gia đình và những người cộng sự thân thiết nhất, chúng ta thường che giấu những tư tưởng chỉ trích đằng sau những lời lẽ tâng bốc những người chúng ta không thích. “Chúng đều dùng lời dối trá mà nói lẫn nhau. Lấy môi dua nịnh và hai lòng, mà trò chuyện nhau” (Thi Tv 12:2). Hãy thử tưởng tượng bất cứ người nào bạn nói chuyện bạn cũng có thể trông thấy những gì bạn nghĩ về họ trên màn ảnh phía trên đầu bạn! Điều nầy chắc hẳn sẽ nhanh chóng phơi bày thái độ chỉ trích của chúng ta.
Những tác hại của sự chỉ trích được bày tỏ rõ hơn hết trong hàng triệu gia đình vốn đã thành địa ngục do những lời nói và thái độ xấu xa. Dường như chúng ta thường làm tổn thương những người mà chúng ta nghĩ rằng mình yêu mến. Mỗi ngày có biết bao người muốn kể cho tôi nghe về những sai trái của các người thân trong gia đình họ. Tôi thường đáp lại: “Đức Chúa Trời muốn chữa lành gia đình bạn bắt đầu ngay từ chính bạn nếu bạn sẵn sàng ngừng chỉ trích để tạ ơn Chúa dù tình trạng hiện tại của gia đình là như vậy”.
Chúng ta phải thấy rõ bản chất của sự chỉ trích là tội lỗi khủng khiếp. Chúng ta phải xin Chúa tha thứ và dâng tư tưởng mình cho Ngài. Ngài đầy dẫy trong chúng ta tình yêu đối với những người mà ta thường chỉ trích. Thế nên khi một ý tưởng bắt lỗi ai thoáng qua tâm trí, chúng ta phải khước từ nó và thay vào đó, làm theo lời khuyên của Phao-lô: ”...Điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhơn đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến” (Phi Pl 4:8).
Khi bắt đầu nghĩ đến những điểm hay của người khác thì điều lạ lùng là chẳng bao lâu chúng ta sẽ thán phục, tán thưởng và cảm tạ Chúa về họ. Chẳng bao lâu những lỗi lầm của họ sẽ không còn nghiêm trọng như trước. Với thái độ thay đổi của chúng ta, Đức Chúa Trời có thể đưa tay ra và cất bỏ cái rác trong mắt anh em chúng ta.
Ngoài những tư tưởng chỉ trích, chúng ta cũng phải dâng cho Chúa cái lưỡi của mình để Ngài kiểm soát. Đã bao lần bạn hối tiếc những điều bạn lỡ lời nói sao? Cái lưỡi đã gây bao rắc rối cho con người từ buổi đầu tiên. “Cái lưỡi là một quan thể nhỏ, mà khoe được những việc lớn, ...đốt cháy cả đời người, chính mình nó đã bị lửa địa ngục đốt cháy... Cái lưỡi, không ai trị phục được nó, ấy là một vật dữ người ta không thể hãm dẹp được: đầy dẫy những chất độc giết người” (Gia Gc 3:5, 6, 8).
Các bậc làm cha làm mẹ có ý tốt thường cảm thấy phải nói đi nói lại cho những đứa con ở tuổi thiếu niên những lời khuyên nhủ dù họ biết chẳng ích lợi gì. Họ có biết đâu trong 99% trường hợp những lời nói của họ chỉ làm cho bọn trẻ tệ hơn. Hậu quả tai hại của việc lắm lời - dù là có ý tốt - được thấy rõ trong quan hệ gia đình, nhưng với bạn bè, công việc, qua điện thoại và trên tòa giảng chúng ta cũng làm y như vậy. Những người Cơ Đốc lắm lời đã làm cho nhiều người xa cách Chúa.
Có thể chúng ta vẫn sai khi nói ra những điều tốt và thật, “chớ nói vào lỗ tai kẻ ngu muội, vì nó sẽ khinh dể sự khôn ngoan của các lời con” (ChCn 23:9). Có lẽ cần nói với kẻ ngu muội một đôi điều, nhưng khi đã không chịu nghe thì không nên nói với họ nữa.
Việc chúng ta buộc phải nói cho người khác những gì mình nghĩ là họ phải biết, không đến từ Đức Chúa Trời nhưng từ thái độ chỉ trích dựa trên sự công bình riêng của chúng ta, và mỗi lời chúng ta “xây dựng” họ chỉ gây buồn phiền, đau đớn và bất hòa. Chúa Giê-xu không bao giờ lắm lời, Ngài biết khi nào nên nói và khi nào nên bày tỏ tình yêu bằng cách khác. Ngài nói với các môn đồ: “Vả, ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà các ngươi sẽ bị phạt” (Mat Mt 12:36, 37). Hãy tưởng tượng bạn đang đứng trước mặt Chúa và được nghe lại tất cả những lời thiếu suy nghĩ và hư không bạn đã thốt ra! Suy nghĩ nầy giúp chúng ta chín chắn hơn.
“Nếu có ai không vấp phạm trong lời nói mình, ấy là người trọn vẹn, hay hãm cầm cả mình” (Gia Gc 3:2). Nếu chúng ta tuôn ra bất cứ điều suy nghĩ trong đầu thì hành động chúng ta có lẽ cũng hỗn loạn như vậy.
Bạn có phải là người ít lời không? Nếu bạn không biết, có lẽ bạn nên hỏi một người bạn thành thật của mình. Hầu hết chúng ta vô ý để cho miệng lưỡi hoạt động liên tục. Nhưng những người khác thì nhận ra - sự lắm lời của chúng ta có thể làm tổn thương hay gây chán ngấy, và những lời tràng giang đại hải của chúng ta có thể làm tối nghĩa những gì ta thật sự muốn nói. Đức Chúa Trời cho chúng ta khả năng suy nghĩ và nói, trước tiên là để chúng ta có thể trò chuyện với Ngài và với người khác, nhưng hầu hết chúng ta dùng sai đặc ân tuyệt vời nầy.
Dù bạn là người ít lời hay lắm lời, nếu bạn đã sử dụng sai lời nói thì xin Đức Chúa Trời tha thứ cho bạn. Ngài có thể thay đổi những lời chỉ trích, chán chường của chúng ta thành những câu yêu thương, khích lệ. Những lời nói huyên thuyên hay những câu nói lắp vô ích có thể trở thành những câu nói rõ ràng và ý nghĩa. Hãy để lời cầu nguyện của Đa-vít thành lời cầu nguyện của bạn: “Hỡi Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, và là Đấng Cứu Chuộc tôi. Nguyện lời nói của miệng tôi, sự suy gẫm của lòng tôi được đẹp ý Ngài!” (Thi Tv 19:14).
Hãy dâng miệng lưỡi bạn cho Chúa - xin Ngài cầm giữ và sử dụng nó. Khi thấy cần nói bạn hãy hỏi: “Chúa ơi, điều con muốn nói có thật sự cần không?”. Nếu chúng ta yên lặng chờ đợi Ngài, Chúa sẽ ban những lời thích hợp để chúng ta nói những câu nhân từ, khích lệ, nâng đỡ, đáp ứng trực tiếp nhu cầu của mọi người theo cách mà chúng ta không bao giờ làm được với trí óc bình thường của chúng ta.
Có lần một phụ nữ giận dữ viết cho tôi, rằng tôi không nên phí thì giờ để viết những cuốn sách ngu xuẩn. Bà kể rằng bà đã dại dột thử cảm tạ Chúa nhưng không có kết quả gì. Đứa con bà sinh ra chậm phát triển và tất cả những lời cầu nguyện hay ngợi khen chẳng hề thay đổi tình trạng của nó, “Vậy thì tại sao ông lại mất thì giờ để kể những câu chuyện buồn cười như thế?”.
Tôi có thể giải thích bằng hàng ngàn lời lẽ rằng bà đã hiểu lầm những quyển sách tôi viết. Nhưng thay vì làm vậy, tôi thưa với Chúa xem có thể giúp bà ta điều chi. Trong trí tôi “thấy” hình ảnh một phụ nữ mang thai đi mua sắm, bị ngã và bị thương. Tôi thấy chồng bà giận dữ vì bà đã đi ra ngoài một mình. Khi đứa bé sinh ra bị chậm phát triển, người chồng đổ lỗi cho người vợ.
Hình ảnh sống động đến nỗi tôi mô tả trong lá thư trả lời cho bà ta, bà ta lập tức hồi âm. Tôi đã nói đúng sự việc đã xảy ra và điều nầy khiến bà ta tin Đức Chúa Trời thật sự quan tâm và biết rõ mọi hoàn cảnh của bà. Không phải trí thông minh của tôi hay cách khéo dùng từ đã gây ấn tượng trên bà mà là lời giải đáp của Đức Chúa Trời cho bà và cho tôi.
Hãy nghĩ đến thành quả của cái lưỡi khi chúng ta để Chúa kiểm soát nó. Lúc đó những người chúng ta nói chuyện sẽ lắng nghe thay vì quay đi. Đức Chúa Trời sẽ nói qua chúng ta và họ sẽ nghe lời Ngài.
Kể từ nay bạn có thể là người luôn luôn khích lệ mọi người bằng lời nói. Gặp bạn, họ sẽ vui mừng vì biết bạn luôn luôn có lời tử tế và yêu thương. Chồng bạn vội trở về nhà, vợ bạn nôn nóng gặp bạn, con bạn đem bạn nó về nhà sau buổi học vì nhà bạn là nơi ấm áp đầy tình thương và luôn nói những điều tốt về người khác. Các đồng nghiệp, bạn bè hay khách hàng tìm gặp bạn vì những lời nói giúp họ cảm thấy vui tươi chứ không thất vọng, chán nản.
Sự hiệp một với Đấng Christ ngày càng trở thành hiện thực khi chúng ta dâng tội lỗi kín giấu, tư tưởng và lời nói cho Ngài. Đức Thánh Linh có thể liên tục chiếm hữu những lãnh vực mới đó trong đời sống chúng ta. Với tấm lòng trong sạch và cái lưỡi đầu phục, sự ngợi khen ngày càng có ý nghĩa phong phú và sâu xa hơn. Bây giờ chúng ta có thể cùng nói với Đa-vít: “Khi tôi học các đoán ngữ công bình của Chúa, thì tôi sẽ lấy lòng ngay thẳng mà ngợi khen Chúa” (19:7). “Hỡi người công bình, hãy vui vẻ và hớn hở nơi Đức Giê-hô-va! Ớ các người có lòng ngay thẳng, hãy reo mừng” (32:11).
Sự công bình và ngay thẳng là điều kiện cho sự ngợi khen thật, nhưng chúng ta không thể tự mình đạt những điều nầy. Đó là tặng vật rộng rãi của Đức Chúa Trời cho một tấm lòng ăn năn.

SỨC MẠNH CỦA BẠN LÀ GÌ?
Những điều tốt đẹp có thể xen vào giữa chúng ta và Đức Chúa Trời, khiến cho sự ngợi khen thật không thực hiện được. Điều tốt trong đời sống tôi có thể không giống những điều trong đời sống bạn, nhưng chúng ta có thể nhận ra chúng trong vài câu trắc nghiệm:
Bạn nghĩ cần có những gì để sống hạnh phúc và thành công? Hầu hết người Cơ Đốc sẽ trả lời ngay: “Tất nhiên là Chúa Giê-xu”. Nhưng có thật Chúa Giê-xu là tất cả những gì bạn đang cần không? Bạn có thể trả lời “Đúng vậy”, nhưng phải chăng nơi sâu thẳm bạn đang hành động như thể bạn cần có Chúa cộng thêm một điều gì nữa? Thế còn những người bạn thương yêu thì sao? Có bao giờ bạn lo lắng sẽ mất họ không? Còn công việc của bạn? Bạn có quan tâm đến việc kiếm đủ tiền để thanh toán nợ nần không? Còn sức khỏe, năng lực hay tài trí của bạn? Mất những điều đó có làm bạn lo lắng không?
Chúng ta thường không ý thức được chúng ta lệ thuộc vào một điều gì khác hơn là vào Đức Chúa Trời cho đến khi điều đó bị cất đi. Một trong những Cơ Đốc nhân vui vẻ nhất mà tôi gặp là bà Miriam Peterson. Bà là con một, được cha mẹ yêu thương, lập gia đình với một người rất mực tận tâm. Họ có ba đứa con khôn sáng, có tài chánh ổn định và một số đông bạn bè. Hai ông bà đều không nghĩ đến Đức Chúa Trời. Tôn giáo không quan trọng cho đến khi Steve, cậu con cưng của họ bất ngờ nổi loạn. Miriam không hiểu nổi tại sao và nghĩ rằng có lẽ mình đã không làm trọn bổn phận làm mẹ. Lần đầu tiên trong đời, bà cầu nguyện với Chúa, nếu Ngài thật hiện hữu, bằng cách nào đó xin hãy bày tỏ cho bà.
Điều đáng ngạc nhiên là chồng bà rủ bà cùng đi nhà thờ. Miriam khởi sự đọc Kinh Thánh và bắt đầu đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu. Không lâu sau đó, dường như toàn bộ cuộc sống ổn định của họ tan nát hết. John, con trai lớn nhất của họ bắt đầu dùng ma túy và trong khi say thuốc đã đánh chết con của bạn gái mình. John bị bắt, Steve cũng bắt đầu dùng ma túy và theo hết tôn giáo phương Đông nầy đến tôn giáo khác. Miriam kinh khiếp và bị dằn vặt bởi ý nghĩ “Tôi đã không dạy cho các con tôi yêu Chúa”. Cảm nhận tội lỗi, bà xin Chúa tha thứ và siêng năng học Kinh Thánh để hiểu rõ Lời Ngài hơn.
Trong khi John ở tù, chồng Miriam qua đời. Steve bị bắt vì sử dụng ma túy rồi đào tẩu sang Âu châu. Các bạn cũ của Miriam xúc động trước những thảm kịch dồn dập xảy đến trên “gia đình hạnh phúc” nầy, đã họp lại quanh bà, nhưng bà thấy mình không còn chịu đựng nổi cơn ác mộng nầy nữa. Lòng bà quặn thắt: “Tại sao, Chúa ơi, tại sao?”
Có người đưa cho bà cuốn Từ Ngục Tù Đến Ca Ngợi, gần như chết điếng vì sợ hãi và đau khổ, bà nghĩ: “Tôi còn có thể mất gì nữa?”. Ở vào đường cùng, bà bắt đầu cảm tạ Chúa về mọi điều xảy ra. John được thả ra khỏi tù nhưng lại bị những cơn nóng giận áp chế dữ dội. Tâm lý trị liệu không giúp gì được. Một buổi sáng, anh đánh thức mẹ anh dậy để nói rằng anh có ý định giết bạn gái của mình rồi sau đó tự tử. Để chứng tỏ mình mạnh như thế nào, anh đi tới đi lui trong nhà đập phá đồ đạc. Miriam đưa cho anh cuốn Từ Ngục Tù Đến Ca Ngợi và nói “Quyển sách nầy có điều gì đó có thể cứu hai mẹ con chúng ta”.
Đi làm về, Miriam thấy John hoàn toàn thay đổi. Anh đã dâng đời mình cho Chúa, nhận được sự tha thứ và lòng bình an. Không lâu sau đó, Steve gọi điện thoại từ Thụy Sĩ về kể lại câu chuyện hết sức lạ lùng. Vào một buổi tối tuyết rơi lạnh lẽo, anh hết nhẵn tiền và được đầu bếp của một quán ăn cho ít thức ăn và chỗ ngủ. Đến khuya khi chủ quán khám phá ra, ông tống anh ta ra ngoài trời rét buốt. Steve với ít quần áo không biết đi đâu, nghĩ rằng đến sáng anh sẽ chết, anh thấy cả cuộc đời mình chẳng ra sao cả. Anh gục đầu xuống tuyết và lần đầu tiên trong đời, anh cầu nguyện: “Chúa ơi, nếu thật có Ngài, xin giúp con”.
Lúc đó Steve thình lình biết rằng Chúa có thật và Ngài đã đến để cứu anh. Với những giọt nước mắt ăn năn và vui mừng, anh xin Chúa nhận lấy đời sống của mình Rồi anh đứng dậy và bắt đầu đi bộ trên tuyết. Chẳng bao lâu anh tìm thấy một chiếc xe hơi người ta bỏ không. Anh leo vào đó và suốt đêm cảm tạ Chúa vì đã cứu anh. Sau khi gọi điện cho mẹ, anh bắt đầu lên đường trở về, làm những việc linh tinh, anh kiếm đủ tiền mua vé trở về. Anh chấp hành bản án và không lâu sau đó được trả tự do.
Miriam rạng rỡ khi thuật lại điều Đức Chúa Trời hành động trong đời sống các con trai bà, họ hiện đang hầu việc Chúa với những người trẻ trong Hội Thánh. Niềm vui của bà không hề giảm sút khi kể lại những lúc bi đát mà Chúa cho bà trải qua. Đa-vít viết: “Xin Chúa làm cho chúng tôi được vui mừng tùy theo các ngày Chúa làm cho chúng tôi bị hoạn nạn, và tùy theo những năm mà chúng tôi đã thấy sự tai họa” (90:15).
Qua những ngày hoạn nạn, Miriam khám phá ra niềm vui chỉ tùy thuộc vào một mình Chúa. Bà nói: “Trước đây tôi dựa vào gia đình và những bạn bè lúc nào cũng vây quanh tôi. Khi Chúa cất đi tất cả, tôi học được rằng tôi chỉ cần một mình Ngài để vui thỏa”.
Trước khi những thử thách chồng chất trên cuộc đời, bà tự cho mình là một người hạnh phúc, vui vẻ, “nhưng đó chỉ là bề ngoài”, bà nói, “Nếu bất cứ điều gì trục trặc, ngày hôm đó của tôi coi như hỏng, và tôi tràn ngập sự chán nản, lo âu”. Với nụ cười sung sướng bà nói tiếp: “Bổn phận của tôi không phải là lo lắng nhưng là cảm tạ Chúa trong mọi sự”.
Gần đây bà đánh rơi gần 10kg thực phẩm lên tấm thảm mới tinh. Bà cười: “Tôi không buồn chút nào, tất cả những gì tôi có thể nói là “ngợi khen Chúa”. Nếu chưa được thay đổi con người cũ tôi đã lên cơn rồi”.
Miriam vẫn còn những vấn đề với đứa con gái thứ ba, và trong một cơn khủng hoảng đặc biệt, bà lo lắng suốt gần một ngày. “Nhưng tôi biết mỗi giây phút tôi lo lắng chỉ làm buồn Chúa là Đấng đang lo liệu mọi sự”. Ngày nay Miriam được gia đình và bạn bè rất mực yêu thương, nhưng bà không còn dựa vào họ nữa. Chúa Giê-xu là tất cả những gì bà cần. Khi chúng ta nhận biết điều nầy thì tất cả những điều khác có thể là của chúng ta trong chừng mực Chúa biết chúng ta cần có để thật sự được hạnh phúc trong Ngài.
Ngay bây giờ đất nước chúng ta và toàn thể thế giới đang trải qua những giai đoạn kinh tế hiểm nghèo. Cả những quan sát viên kinh nghiệm nhất cũng không dám quả quyết điều gì sẽ xảy đến. Tôi tin là Chúa cho phép tình thế nầy xảy ra để chúng ta có cơ hội nương cậy vào Ngài về sự an toàn kinh tế. Nếu không thì làm sao chúng ta học được?
Thời đại nầy có làm bạn bối rối không? Bạn có quan tâm đến giá trị tài sản của mình hay tương lai của gia đình mình không? Nếu có thì điều nầy chứng tỏ bạn cần tiền để thấy được an toàn hơn là cần Chúa.
Một người kể cho tôi nghe là ông đã làm việc cực nhọc cả đời để đủ chi dùng hàng ngày, nhưng những hóa đơn luôn vượt hơn tiền lương của ông. Làm thêm giờ cũng không ích gì và ông sống với nỗi sợ hãi ngày càng tăng là mình sẽ không đủ sức để trả nợ.
Có người tặng ông cuốn sách về sự ngợi khen và ông thấy mình đã sai lầm trong cách đối phó với tình thế. Ông quyết tâm ngợi khen Chúa về mỗi hóa đơn và bắt đầu chi trả cho hóa đơn cần nhất. “Tôi nhìn tờ giấy nhỏ trước mặt và nói: Cám ơn Chúa vì hóa đơn nầy. Xin Chúa ban phước cho tờ chi phiếu và người sẽ nhận nó”. Ông chợt nghĩ là tem và bì thư cũng tốn tiền và vì vậy ông xin Chúa ban phước cho người đã bán những thứ đó cho mình. Rồi ông thấy cái đèn trên bàn viết và nói: “Xin Chúa chúc phước cho người gởi cho con hóa đơn tiền điện”. Sau đó ông xin Chúa ban phước cho người chủ căn nhà ông đang ở và người chủ của những vật dụng ông đang thuê.
Ông nói: “Người thu thuế cũng cần được chúc phước. Tôi cứ tiếp tục như vậy và bất ngờ tôi nhận ra rằng tôi thường nguyền rủa những người thu tiền của tôi. Bây giờ tôi thật sự biết ơn vì tấm chi phiếu đầu tiên đã sẵn sàng được gửi đi. Xin Chúa chúc phước cho vì đã làm nhẹ bớt nỗi buồn rầu lo lắng của tôi”.
Trong vòng một tuần, ông nhận được thư trả lời, chủ nợ đầu tiên cho biết họ đã tính nhầm, ông không nợ họ mà trái lại họ nợ ông. Trong thư là chi phiếu ông đã gửi và một chi phiếu khác ghi cùng số tiền tương tự. Từ trước đến giờ chưa hề có chuyện như vậy xảy ra. Ông xin Chúa sự khôn ngoan để sử dụng món tiền và nhận thấy rằng hai tấm chi phiếu nầy đủ để trả một món nợ cũ. Ông đã nhiều lần nhận thư nhắc nhở của công ty vì vậy ông biết lần nầy tiền gửi đi sẽ không trở lại. Thế là ông gửi chi phiếu trả nợ với lời chúc “Xin Chúa chúc phước cho”.
Ông nhận được thư của công ty yêu cầu ông đến cửa hàng để nhận giải thưởng đặc biệt vì là người đầu tiên hưởng ứng thư của họ. Bẵng đi một thời gian ông không nhận được thêm thư nào từ công ty nầy và nghĩ rằng lời mời chỉ là một mánh lới để ông mua thêm hàng vì ông đã thanh toán xong hóa đơn cũ.
Rồi ông nhớ lại đã nhận tiền để thanh toán hóa đơn nầy như thế nào và quyết định đi đến cửa hàng. Một viên thư ký lễ độ giải thích rằng họ tặng giải thưởng đặc biệt cho bất cứ ai chịu trả món nợ lâu một năm hoặc hơn nữa. Ông là người đầu tiên, và họ xin phép chụp hình ông để đăng trên báo địa phương, khuyến khích những người khác trả nợ.
Phần thưởng là gì? Ông sững sờ khi được biết: gấp mười lần số tiền ông bỏ ra để thanh toán hóa đơn!
“Bây giờ tôi có gấp 20 lần số tiền tôi viết trên chi phiếu đầu tiên. Tôi cầm tấm chi phiếu mới và trở về nhà xin Chúa ban phước. Có nhiều hóa đơn khác cần được thanh toán và tôi xin Chúa cho có sự khôn ngoan để biết cách sử dụng món tiền nầy. Nhưng câu trả lời làm tôi rúng động, tôi cảm thấy Chúa muốn tôi dâng số tiền đó, điều nầy không giúp cho hoàn cảnh tôi chút nào. Tôi vẫn còn nợ ngập đầu, nhưng dù có cầu nguyện thế nào thì tất cả những gì tôi nghĩ đến chỉ là: “Hãy dâng món tiền đó đi”.
Cuối cùng ông đến gặp mục sư để dâng số tiền đó cho Hội Thánh, vị mục sư cám ơn ông vì đã đáp ứng quá nhanh nhu cầu của Hội Thánh.
“Nhu cầu nào?”
“Nhu cầu mà tôi đã thông báo cho Hội Thánh vào Chúa nhật trước. Đúng số tiền ấy”.
Tuần trước ông không đến nhà thờ và không biết gì về lời yêu cầu của mục sư. Bây giờ ông hoàn toàn tin tưởng Chúa đang chịu trách nhiệm về tiền bạc của mình. Ông tiếp tục xin Ngài chúc phước trên mỗi hóa đơn và chi phiếu, ông viết thư cho tôi kèm một số tiền dâng lớn cho sự hầu việc Chúa trong các trại giam và kết luận rằng bây giờ Chúa cho ông thịnh vượng về mọi mặt. Vì vậy ông đang tìm cách đầu tư những gì Chúa ban cho mình.
Nếu bạn bắt đầu cảm tạ Chúa về những hóa đơn phải trả, Ngài có làm cho bạn giống như vậy không? Điều nầy hoàn toàn có thể nếu bạn thực hiện một điều kiện quan trọng. Ngợi khen Chúa trở thành một bước ngoặc với người đàn ông nầy vì điều đó chứng minh lòng đầu phục bên trong của ông về vấn đề tiền bạc. Ông đã sẵn sàng vâng lời Chúa dạy về việc sử dụng tiền bạc.
Chúa có thể không làm cho bạn giàu có nhưng không bao giờ bạn phải lo lắng về tiền bạc miễn là bạn nhận biết mỗi đồng tiền đều đến từ Chúa và thuộc về Ngài. Hãy sử dụng chúng theo ý Ngài muốn, rồi những nhu cầu của bạn sẽ luôn được đáp ứng dù tình trạng kinh tế thế giới có thế nào đi nữa. Phao-lô đã viết: “Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết sự dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Phi Pl 4:12, 13).
Bí quyết Phao-lô khám phá ra sức mạnh thật của ông đến từ đâu. Không phải từ tiền bạc, bạn bè hay từ những nỗ lực riêng tư, nhưng từ Đấng Christ, Ngài là năng lực của chúng ta.
Một tù nhân đã phấn đầu để làm Cơ Đốc nhân trong một thời gian đã viết cho tôi. Mặc dù rất nhiều cố gắng, anh vẫn rơi vào “tình trạng thụt lùi khủng khiếp”, anh ngưng cầu nguyện và đọc Kinh Thánh để học pháp thuật, cuối cùng anh thấy đời mình vô nghĩa. Anh viết: “Tôi không thích phải thừa nhận là mình không thể tự cứu, nhưng chính tại điểm ấy mà Chúa Giê-xu đến để nhấc tôi lên. Lòng kiêu ngạo đã khiến tôi trước đây không nhận Ngài nhưng khi đã xuống tận đáy tôi chẳng còn điều gì để có thể tự hào nữa. Tôi sung sướng vì Chúa đã đem tôi xuống thấp để tôi có thể nhận biết lẽ thật và ân điển kỳ diệu của Ngài”.
Trong vai trò mục sư, hằng ngày tôi được nghe những lời tương tự như thế: “Tôi đã cố gắng trọn đời để làm điều lành nhưng thất bại. Khi tôi bỏ cuộc thôi không phấn đấu nữa và chấp nhận bất cứ điều gì Chúa muốn làm cho tôi thì điều tuyệt diệu xảy ra. Tôi thôi không cố gắng trong sức riêng của mình nữa và kinh nghiệm năng lực của Chúa”.
Sức riêng của chúng ta dù mạnh đến đâu cũng không đủ và sẽ không bao giờ đúng. Và khi chúng ta học được rằng mình chẳng bao giờ đúng và mạnh mẽ đủ, dù có cố gắng đến đâu, cuối cùng chúng ta cũng hiểu rằng cần phải tùy thuộc vào Chúa Giê-xu, để Ngài thực hiện những điều đó cho chúng ta. Khám phá tuyệt diệu nầy giải thoát chúng ta khỏi những nỗ lực riêng tư và tự do đón nhận tất cả những gì Chúa muốn ban cho mình.
Chúng ta càng mạnh và càng có khả năng bao nhiêu thì càng khó thấy mình cần đến Chúa. Ngài có thể đưa đến những hoàn cảnh làm tan chảy tính tự mãn của chúng ta.
Tom Silsby là một học sinh trung học cao ráo và đẹp trai. Với đôi vai rộng khác thường và vóc dáng tuyệt vời, Tom làm tất cả cậu trai nào biết anh đều mong được như anh. Bất cứ cuộc tranh tài nào Tom tham dự anh đều đoạt giải. Cha mẹ anh đều là Cơ Đốc nhân, nhưng từ năm thứ hai đại học, Tom dần dần xa rời niềm tin của mình. Anh nghĩ rằng mình không cần đến Chúa. Sức mạnh và tài năng của anh được giới sinh viên thán phục và sợ hãi. Đến năm cuối của đại học thì anh trở thành một tay bợm nhậu và một kẻ hay bắt nạt người khác, anh kiếm tiền bằng cách sửa chữa xe cũ bán để kiếm lời và mục đích đời sống của anh là trở thành một nhân vật quan trọng. Hình ảnh của anh xuất hiện đều đặn trên những trang thể thao; Tom là một cầu thủ bóng bầu dục sáng chói, vô địch môn đánh vật và bơi lội.
Một buổi sáng, trên đường về nhà sau một bữa tiệc thâu đêm, xe lao đi vun vút thì anh ngủ gục và chiếc xe lao thẳng qua một vách đá cao hơn 300 bộ. Tại bệnh viện những vết thương trên mặt Tom được may lại, anh còn bị một vết thương dài và sâu trong sọ. Không cái xương nào bị gãy nhưng anh mê man và những thử nghiệm cho thấy não bộ tổn thương nghiêm trọng. Một nhóm bác sĩ đã giải phẫu nhưng họ không hy vọng anh hoàn toàn bình phục được.
Trong khi đó, cha mẹ và anh em của Tom, các mục sư và anh em trong Chúa xa gần hiệp ý cầu nguyện giao phó Tom và tương lai anh vào tay Chúa. Cha me anh rất vững tin là Chúa sẽ chữa lành cho Tom, Tom thì cứ nửa tỉnh nửa mê trong nhiều tuần lễ. Khi tỉnh hẳn, anh nhận ra cha mẹ mình nhưng không còn nhớ gì nữa, và chỉ có thể nói được vài tiếng ngập ngừng. Các bác sĩ cho rằng thần kinh và nửa người bên trái của anh khó có thể hoạt động bình thường được.
Tại bệnh viện phục hồi trong năm tuần, Tom học ngồi, học ăn, học đứng lên trong vài phút, nhưng trí óc của anh chỉ là trí óc của một em bé. Thỉnh thoảng Tom nhớ lại vài điều nhưng quên hết những gì anh đã học được. Những lời cầu nguyện cứ tiếp tục, cha mẹ anh vẫn tin chắc Chúa đang chữa lành cho anh và họ rất vui mừng đem anh về nhà.
Bây giờ Tom bắt đầu một cuộc đấu tranh kiên trì để học lại những gì anh đã biết. Được cha mẹ khuyến khích, anh bắt đầu tập thể dục, nhấc tạ, chạy rồi tiếp đến là tập bơi. Thoạt đầu anh vấp té mỗi khi cố gắng chạy vì một chân của anh yếu hơn chân kia. Trong hồ bơi anh đập nước và cười khúc khích như một đứa trẻ. Khi thử bơi, anh chìm xuống đáy hồ và cha anh phải kéo anh lên.
Lần hồi Tom bắt đầu có lại được một số khả năng của cơ thể nhưng trí óc của anh vẫn hoạt động ở trình độ lớp năm, anh nhớ rất ít về quá khứ. Cha mẹ anh bảo rằng anh có thể phục hồi lại được nếu anh học nương dựa vào sức mạnh của Đấng Christ thay vì dựa vào sức riêng của anh, và Tom đồng ý.
Bây giờ bắt đầu những kinh nghiệm nhục nhã cho một cựu kiện tướng. Tom được phép trở lại đội bơi nhưng anh phải hết sức nhọc nhằn mới hoàn tất cuộc đua thay vì thắng trận. Trong môn đấu vật anh bị những người nhỏ con hơn vật xuống sàn. Đội bóng cũ cũng nhận anh lại nhưng những hiểu biết về bóng bầu dục anh lại quên hết. Những người bạn thô lỗ nhạo cười sự vụng về của anh. Khi được nhận vào trường trung học anh luôn đội sổ.
Nhưng qua chính những kinh nghiệm nhục nhã đó mà sự hiện diện của Chúa Giê-xu trở nên thiết thực với Tom. Trong sự bất lực của mình, anh khám phá ra sức mạnh của Chúa Giê-xu là điều đáng tin cậy. Anh nói: “Tôi đã học để đặt Chúa Giê-xu lên trên tất cả. Tôi nhận biết mình cần một mục sư và sự thông công với anh em để lớn lên trong Chúa như một vận động viên cần người huấn luyện và đồng đội vậy. Mỗi môn thể thao có những luật lệ và thường thì tôi phải được huấn luyện nhiều lần trước khi có thể áp dụng các luật chơi đó. Là Cơ Đốc nhân chúng ta có một Huấn Luyện Viên Lớn và một Quyển Luật Lớn. Có một số điều tôi chưa hiểu phải áp dụng thế nào vào cuộc sống, nhưng Huấn Luyện Viên Lớn kiên nhẫn giải thích cho và tôi biết rằng một ngày kia tôi sẽ áp dụng được”.
Ngày nay trong trường Tom học khá hơn và có thể diễn tả rõ ràng. Anh để nhiều thì giờ làm việc với thanh niên trong Hội Thánh và do tính tình tử tế, kín đáo, anh được nhiều người yêu mến và ái mộ. Anh khác hẳn con người hay bắt nạt kẻ khác trước đây.
Anh nói: “Tôi suýt chết, nhưng Chúa ban cho tôi đời sống thật. Trước đây tôi có mọi thứ tôi nghĩ là mình cần. Tôi cao lớn, khỏe mạnh và thành công. Tôi có mọi sự mình muốn và mỗi sáng khi thức dậy tôi tự hỏi điều gì có thể làm mình vui thích trong ngày hôm nay.
Tôi đã thắng trong cái nhìn của người đời, nhưng chính nhờ thua tôi mới thực sự trở thành kẻ thắng. Chúa cất đi tất cả mọi sự để tôi thấy chỉ có Ngài mới thật sự là quan trọng. Tôi đã học được bí quyết của cuộc sống là tiếp nhận từ Chúa hơn là cố gắng đoạt lấy những gì mình có thể chiếm được”.
Tom đã có thể đồng ý với Đa-vít: “Hãy cho tôi nghe sự vui vẻ mừng rỡ, để các xương cốt mà Chúa đã bẻ gãy được khoái lạc” (Thi Tv 51:8).
Khi Chúa làm gãy xương cốt chúng ta, Ngài muốn chúng ta khám phá niềm vui mừng khoái lạc chúng ta tìm được khi nương cậy vào sức mạnh của Ngài.
Từ sức riêng chuyển sang sức của Chúa không phải là điều dễ dàng cho bất cứ ai. Có thể chúng ta nương cậy vào Ngài trong lãnh vực nầy nhưng trong lãnh vực khác thì không - hoặc trong những điều nầy chúng ta tin cậy Ngài hơn trong những điều kia. Hoàn toàn tin cậy vào Ngài là quá trình của cả đời sống. Chúng ta nghĩ mình đã đạt đến điểm nầy nhưng con người cũ của chúng ta bất ngờ nổi lên và hướng mọi sự theo đường xưa lối cũ.
Nói “Đức Giê-hô-va là sức lực của tôi” dễ hơn là sống đúng như vậy. Những năm qua Hội Thánh chúng tôi tại Escondido và Hội Ca Ngợi đã phát triển rất nhanh. Cứ mỗi lần có thêm một cuốn sách mới thì chồng thư độc giả lại cao lên và những cú điện thoại, những cuộc viếng thăm và những lời mời tôi đến một nơi nào đó lại tràn ngập văn phòng. Tôi tin tất cả những lời yêu cầu giúp đỡ đều đến từ Chúa. Không giải quyết nổi thư từ và các lời yêu cầu tôi cảm thấy mình có tội vì đã không thể giúp đỡ mọi người.
Trong nhiều tháng tôi chiến đấu với áp lực ngày càng tăng. Mặc cảm phạm tội càng tăng khi tại nhà chúng tôi có điện thoại không ghi trong sổ niên giám mà vẫn có những cú điện thoại làm tôi phải thức suốt đêm. Tôi kêu xin Chúa ban thêm sức lực nhưng thay vào đó, tôi càng mỏi mệt thêm; vợ tôi và những người cộng tác bắt đầu lo ngại cho sức khoẻ của tôi. Tôi cứ cảm tạ Chúa về mỗi cú điện thoại, mỗi lá thư và xin Ngài tha lỗi vì không thể trả lời hết được. Thế nhưng, tôi không sao vứt bỏ được những mặc cảm phạm tội. Cuối cùng, không còn gì để làm ngoài việc thôi không cố giải quyết vấn đề nữa. Tôi nói: “Chúa ơi, con rất tiếc vì không thể lo cho tất cả những người Chúa đã gởi đến cho con. Chúa phải đáp ứng nhu cầu của họ bằng cách nầy hay cách khác thôi...”
Sau khi im lặng khá lâu tôi cảm thấy Chúa nói: “Merlin ơi, ta rất vui vì cuối cùng con nhận ra rằng ta có thể làm được một số điều mà không cần con”.
“Thưa Chúa, dĩ nhiên con biết là Ngài có thể làm nhiều điều không cần đến con...”
“Vậy thì tại sao con lại hành động như chính cá nhân con có trách nhiệm giúp đỡ những người nầy? Con không biết là họ cần ta nhiều hơn là cần Merlin Carothers sao?”
Tội lỗi thình lình hiện rõ ra trước mặt. Trong nhiều năm tôi cứ nói chính Chúa Giê-xu chứ không phải Merlin Carothers đã giúp đỡ những người “tôi” chăn dắt. Tôi từng cầu nguyện: “Chúa ơi, xin dùng con làm vinh hiển danh Ngài chứ không phải của con”. Thế nhưng trong nơi sâu kín, tôi đã giành cho mình một ít vinh hiển. Tôi đã làm việc một phần với sức riêng của mình. Vấn đề là sự kiêu ngạo, và mặc cảm tội lỗi cùng sự mệt mỏi là những dấu hiệu rõ ràng.
Có thể Chúa đang chiếu rọi vào bạn những dấu hiệu cảnh báo tương tự. Nếu bạn đang làm điều gì mà nghĩ rằng Chúa muốn bạn làm nhưng vẫn cảm thấy phạm tội vì làm chưa đủ và thấy mệt mỏi vì gánh nặng công việc, xin hãy tự hỏi: “Chúa có thể dùng một người nào khác thay chỗ tôi và người đó cũng làm tốt như vậy không?” Nếu điều nầy đụng đến tự ái bạn và bạn không dám chắc là Chúa có thể làm rất tốt mà không cần đến bạn thì hãy coi chừng!
Thú nhận tội lỗi của mình, cuối cùng tôi có thể nói: “Chúa ơi, Ngài là sức mạnh của con, Chúa ơi. Xin hãy dùng con ở nơi nào Ngài muốn, con cảm tạ Ngài vì tất cả công việc Ngài sẽ làm qua những người khác”.
Mặc cảm tội lỗi và sự căng thẳng tiêu tan, nhu cầu được những người khác bắt đầu đáp ứng. Ngày nay chúng tôi có đường dây điện thoại suốt 24 tiếng do một số người tình nguyện đảm trách. Hơn 150 chấp sự cùng các truyền đạo phụ tá lo khích lệ Hội Thánh và những người cần giúp đỡ. Tôi có 7 mục sư phụ tá và một ban trị sự. Có 6 thư ký làm việc trọn thời giờ và 700 người tình nguyện trả lời thư của các tù nhân khắp nước Mỹ và những quốc gia khác.
Giờ đây hàng triệu người đã đọc sách của tôi, có nhiều người thường xuyên gọi đến tôi và nói: “Chỉ cần ông cầu nguyện cho tôi, tôi biết Chúa sẽ làm thành điều gì đó”. Đây là những câu nói đáng sợ vì họ tin rằng tôi có thể làm một điều gì đó mà chỉ Đức Chúa Trời mới làm được. Chúa không cần đến Merin Carothers để rao giảng về sự ngợi khen hay sự cầu nguyện cho mọi người. Nếu tôi nghĩ là Ngài cần, sẽ có nguy cơ tôi hướng dẫn hàng ngàn người tùy thuộc vào mình thay vì vào Chúa Giê-xu.
Một vị mục sư đến làm việc tại một Hội Thánh nhỏ, chỉ trong một thời gian ngắn thuộc viên Hội Thánh đó tăng lên nhiều lần. Vị mục sư được mọi người ưa thích và Hội Thánh phát triển mạnh, sau hai năm mục sư ấy được chuyển đi nơi khác, Hội Thánh phát triển nhanh thế nào thì cũng sa sút chóng như vậy và nhà thờ phải đóng cửa. Người ta giải thích: “Mục sư đó có cá tính tuyệt vời, chúng tôi không tìm được ai để thay ông ta”.
Trong Hội Thánh đó ai là người được nhiều người theo? Mục sư hay Chúa Giê-xu? Khi bạn có mặt ở nơi nào đó, mọi người hưởng ứng ai? Đấng Christ trong bạn hay chỉ mình bạn thôi?
Tôi cố gắng để có thể đi chia xẻ ở những nơi mời tôi đến. Thời khóa biểu của tôi rất căng và Chúa để cho sức khỏe tôi chịu ảnh hưởng lây. Tôi tiếp nhận ý Chúa cách từ từ, cám ơn Chúa vì Ngài không để tôi hoạt động bằng sức riêng - một chút cũng không - vì điều đó che đậy lòng kiêu ngạo giấu kín trong tôi. Khóc lóc xin thêm sức khỏe cũng không ăn thua gì. Ngài kiên trì chờ đợi đến khi tôi sẵn sàng đầu phục và nói: “Chúa ơi, con từ bỏ sức riêng. Con không còn sức nữa. Ngài là sức lực của con và con cảm tạ Ngài vì Ngài sẽ dùng những diễn giả khác chứ không dùng Merlin Carothers”.
Nói điều nầy không dễ vì tôi thích giảng dạy. Tôi rất muốn được dự phần vào sự hầu việc Chúa. Nhưng tôi biết đây là công việc của Ngài, không phải là việc của tôi và công việc nầy sẽ tiếp tục sau khi tôi qua đời cũng như đã khởi đầu trước khi tôi đến.
Làm sao đạt đến chỗ Chúa là tất cả sức lực của chúng ta? Khi còn sử dụng sức riêng, Chúa không thể dùng sức của Ngài qua tôi. Chỉ khi nào tôi dâng sức riêng cho Ngài tôi mới khám phá ra ý nghĩa lời Đa-vít nói: “Phước cho người nào được sức lực trong Chúa” (Thi Tv 84:5).
Benjamin Franklin tuyên bố: “Đức Chúa Trời giúp những người tự giúp mình”. Nhưng thật ra Đức Chúa Trời giúp những kẻ bất lực. Bất lực không chưa đủ, chúng ta phải thôi không cố tự giúp mình nữa và đầu phục Ngài.
Sức riêng chỉ là một ảo tưởng, nhưng chúng ta vẫn bám lấy và không muốn từ bỏ. Muốn Đức Chúa Trời là sức mạnh của chúng ta thì phải thưa với Ngài: “Con dâng hết sức riêng cho Ngài. Kể từ giờ phút nầy Ngài là sức lực duy nhất của con”.
Nếu bạn nói điều đó và thấy mình càng lúc càng mệt mỏi hơn - hãy ngợi khen Chúa! Ngài đang để cho bạn dùng hết sức riêng và dẫn bạn đến chỗ nương cậy Chúa trong mọi sự. Cuối cùng bạn có thể nói như Đa-vít: “Đức Giê-hô-va là sức mạnh và là cái khiên của tôi; lòng tôi đã nhờ cậy nơi Ngài, và tôi được cứu tiếp; vì vậy, lòng tôi rất mừng rỡ, tôi sẽ lấy bài ca mà ngợi khen Ngài” (28:7).

HÃY NHÌN CHĂM MỘT HƯỚNG
Khi đi khám mắt, bác sĩ giơ một tấm thẻ trước mặt bạn và nói: “Hãy nhìn vào đây nhưng nói cho tôi biết khi nào bạn nhìn thấy tay kia của tôi”. Rồi ông đưa tay ra phía sau đầu bạn và ngay sau đó qua khỏe mắt, bạn nhìn thấy tay của ông. Bạn vẫn còn nhìn thấy tấm thẻ nhưng cũng thấy cái tay.
Đây là một khả năng Đức Chúa Trời ban cho con mắt thuộc thể cũng như con mắt thuộc linh của chúng ta. Chúng ta nhìn vào Đấng Christ, nhưng đồng thời cũng có thể một điều gì khác đang cố lôi kéo sự chú ý của chúng ta. Đây là điều tùy thuộc vào chúng ta. Hoặc chúng ta tập trung toàn bộ sự chú ý vào Đấng Christ không để tâm đến sự quấy rầy bên cạnh - hoặc chuyển sự chú ý đến điều khác - hoặc giống như hầu hết điều chúng ta làm, tức là lưỡng lự giữa hai điều, nhìn tới rồi lại nhìn lui và không thể quyết định chọn cái nào.
Nếu ở trong hạng người chót, bạn giống như Gia-cơ mô tả: “Người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định; người như thế chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa” (Gia Gc 1:7, 8). Không ai khổ hơn một người hai lòng hay phân tâm. Đôi khi bạn biết chắc mình có đức tin nơi Chúa và ngày hôm sau bạn lại không đoan chắc.
Chúa Giê-xu nói: “Mắt là đèn của thân thể; nếu mắt ngươi sõi sàng, cả thân thể ngươi được sáng láng; song nếu mắt ngươi xấu, thân thể ngươi phải tối tăm” (LuLc 11:34). Chúa Giê-xu nói rằng nghi ngờ và phân chia sự chú ý của mình giữa Chúa với một điều gì khác là tội lỗi. Điều nầy nghe có vẻ khắt khe nhưng hãy nhớ điều răn đầu tiên và lớn nhất mà Chúa Giê-xu đã ban: “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi” (Mat Mt 22:37).
Rơi vào tình trạng phân tâm, hai lòng là ở trong tình trạng khốn khổ của sự nghi ngại và tội lỗi. Đức Chúa Trời đã nói về dân Y-sơ-ra-ên: “Nhơn đó, ta giận dòng dõi nầy. Và phán rằng: Lòng chúng nó lầm lạc luôn, chẳng từng biết đường lối ta” (HeDt 3:10). Chúa đã hứa cho dân Y-sơ-ra-ên một xứ đượm sữa và mật nếu họ cứ chăm nhìn Ngài. Nhưng họ đã bỏ lỡ dịp may và đánh mất đất hứa vì nhìn về một chỗ khác.
Điều gì khiến chúng ta phân tâm? Bạn nhìn thấy gì qua khoé mắt khiến bạn phải quay đi không nhìn Đấng Christ? Một trong những điều chúng ta chú ý nhiều nhất là thân thể của mình. Từ khi sinh ra chúng ta đã quen thỏa mãn những nhu cầu của thân xác. Chúng ta thấy đói bụng, ấm áp, lạnh lẽo, yếu đuối, mạnh mẽ, đau đớn, buồn ngủ, đầy ham muốn - và trí óc chúng ta biến những cảm giác thành sự thật. Chúng ta đã tùy thuộc rất nhiều vào cảm xúc của mình.
Khi tin Chúa, Đức Thánh Linh ngự vào thân thể chúng ta và trong đời sống chúng ta có một tiếng nói mới. Đức Thánh Linh phán qua những tư tưởng chúng ta và thường thì ngược lại với những cảm giác của chúng ta. Bất ngờ một trận chiến đang diễn ra trong nội tâm chúng ta.
Đây là nguồn gốc của sự hai lòng. Mỗi Cơ Đốc nhân được tái sanh bắt đầu đời sống mới của mình với một tâm trí phân đôi. Tâm linh chúng ta là một chiến trường nơi Chúa Giê-xu thắng trận quyết định nhưng mỗi một chúng ta “hãy vì đức tin mà đánh trận tốt lành” (ITi1Tm 6:12) cho đến khi chúng ta tập trung sự chú ý vào Chúa với một tâm trí và tấm lòng không bị phân chia.
Có nhiều người không nhận biết mình phân tâm, họ cho rằng mọi suy nghĩ đều từ trí óc mà ra. Khi đã thấy rõ tình trạng thật của mình, chúng ta có thể bắt đầu chọn lựa những gì mình đang suy nghĩ. Chúng ta không có khả năng ngăn chặn những ý nghĩ nẩy sinh trong tâm trí mình nhưng Chúa đã ban cho chúng ta năng lực để đối phó khi chúng phát sinh. “Vậy, hỡi anh em, chúng ta chẳng mắc nợ xác thịt đâu, đặng sống theo xác thịt. Thật thế, nếu anh em sống theo xác thịt thì phải chết; song nếu nhờ Thánh Linh, làm cho chết các việc của thân thể, thì anh em sẽ sống” (RoRm 8:12, 13).
Chúng ta cắt đứt mọi hành động theo bản năng bằng cách quyết định nghe theo tiếng Chúa và chống lại những cảm giác cùng suy nghĩ của mình. Chúng ta không có khả năng cưỡng lại sự lôi kéo của bản năng cũ nhưng khi chúng ta đầu phục Chúa và gắn chặt vào Đấng Christ thì quyền năng Ngài sẽ thắng hơn bản chất cũ trong chúng ta.
Khi gạn lọc những suy nghĩ của mình, chúng ta phải nhận thấy Sa-tan luôn lôi kéo bản chất cũ và làm sống lại những cảm giác của chúng ta. Trong khi đó Đức Thánh Linh bày tỏ cho chúng ta biết Lời Chúa nói gì. Lúc đó chúng ta gặp lại cảnh quen thuộc trong phòng khám của bác sĩ. Đức Thánh Linh phán: “Hãy nhìn hướng nầy, đây là những gì Đức Chúa Trời muốn. Hãy nhìn chăm vào Giê-xu”. Từ phía sau Sa-tan tiến tới và thì thầm: “Chúa không quan tâm đến tình trạng của bạn đâu. Bạn đâu có cảm thấy Ngài hiện diện phải không?”
Bạn sẽ làm gì? Bạn có giao động và nói: “Khô-ông, tôi không cảm thấy gì hết. Có lẽ Chúa đã bỏ tôi...?” Hay bạn sẽ thú nhận tình trạng phân tâm của mình và quyết định tin vào Lời Chúa dù bạn có cảm thấy hoặc không cảm thấy gì?
Đức Thánh Linh cho chúng ta biết trong Đấng Christ chúng ta có sự bình an trọn vẹn của Ngài (GiGa 14:27). Nhưng tình cảnh chúng ta khốn khổ đến nỗi chẳng cảm thấy bình an chút nào. Chúng ta có thể làm gì về điều nầy? Bản chất cũ của chúng ta sẽ đổ thừa cho hoàn cảnh làm mất bình an, nhưng Lời Chúa nói với chúng ta: “Trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin, và sự tạ ơn mà trình các sự cầu xin của mình cho Đức Chúa Trời”, thì “sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và ý tưởng chúng ta trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (Phi Pl 4:6, 7). Lời hứa là chúng ta sẽ có lòng bình an trọn vẹn khi lòng và trí chúng ta tập trung vào Chúa Giê-xu chứ không vào hoàn cảnh của mình.
Chúng ta có sự tự do trong Đấng Christ để quyết định không để cho hoàn cảnh và tình cảm cai trị đời sống mình. Đó không phải là điều hết sức tuyệt vời sao? Đó không phải là lý do để lớn tiếng vui mừng cảm tạ Chúa sao?
Bạn có sự yếu đuối đặc biệt nào thì đó là nơi những cảm giác cũ sẽ hoạt động để nói rằng bạn vẫn là người còn con người cũ như trước. Lời Chúa nói bạn là người đã được dựng nên mới trong Christ (IICo 2Cr 5:17), bạn sẽ tin ai?
Cứ mỗi lần chúng ta cắt đứt hành động theo bản năng bằng cách vâng theo Đức Thánh Linh và dâng những cảm giác cũ cho Đức Chúa Trời thì sự hai lòng của chúng ta được thay thế bằng đức tin. Và đức tin là phẩm chất cho phép chúng ta thưa: “Chúa ơi, con tin Ngài cho dù cảm xúc và tình cảm có nói với con những điều ngược lại”.
Càng phân vân giữa hai ý kiến, đức tin chúng ta lại càng suy giảm. Chúng ta nói: “Chúa ơi, nếu Ngài chỉ cho con cảm thấy vui để thay đổi không khí một chút hoặc cho con thấy một phép lạ con sẽ dễ tin cậy hơn”. Chúng ta không cần đến đức tin khi nhìn thấy hay cảm thấy một phép lạ. Cơ hội sử dụng đức tin đến khi mọi sự không ổn thỏa và chúng ta cảm thấy buồn chán.
Đức Thánh Linh phán: “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn...” (Phi Pl 4:4). Điều nầy thoạt nghe thấy vô lý vì vui mừng thuộc lãnh vực cảm xúc. Nhưng chúng ta được lệnh là hãy vui mừng, và Chúa không bao giờ bảo chúng ta điều không thể làm được. Vì vậy luôn vui mừng là điều có thể làm được dù hoàn cảnh có ra sao đi nữa.
Chúng ta quen nghĩ là những hoàn cảnh sung sướng đem đến sự vui mừng nhưng Đức Chúa Trời muốn chúng ta khám phá ra nguồn gốc thật của sự vui mừng. Đa-vít viết: “Chúa sẽ chỉ cho tôi biết con đường sự sống; trước mặt Chúa có sự khoái lạc, tại bên hữu Chúa có điều vui sướng vô cùng” (Thi Tv 16:11). Bạn nghĩ Đa-vít học được kinh nghiệm vui mừng thật và niềm khoái lạc sung sướng trong sự hiện diện của Chúa ở những hoàn cảnh nào? Phải chăng khi ông trốn trong hang đá vì bị Sau-lơ, người định giết ông, săn đuổi?
Phao-lô và Si-la đã hành động như thể họ đang kinh nghiệm những niềm vui mừng khi ở trong ngục, lưng thì chảy máu và chân thì bị cùm. Họ đã hát ngợi khen Chúa (Cong Cv 16:22-25). Richard Wurmbrandt, người đã trải qua nhiều năm trong một nhà tù ở Đông Âu, đã kể rằng ông khám phá ra được niềm vui mừng trong sự hiện diện của Chúa khi ông đang bị tra tấn trong xà-lim. Những tù nhân Cơ Đốc tại Á châu cũng kể lại kinh nghiệm trên, chính ở trong ngục tù tăm tối nhất họ khám phá sự vui mừng thật trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Hằng ngày chúng tôi nhận được thư của các tù nhân nói là chính trong những lúc đen tối nhất mà sự sáng của Chúa đã chiếu đến trên họ.
Con người chúng ta thích tiện nghi, và bạn nghĩ là ai sẽ khuyến khích chúng ta tin có thể kinh nghiệm tốt nhất về sự hiện diện của Chúa khi mọi việc tiến triển như lòng ta mong muốn. Khi thoải mái chúng ta thường quan tâm đến những điều mình thích chứ không phải là Chúa. Chính khi mọi sự trở nên khó khăn chúng ta mới học biết để thôi không nhìn vào hoàn cảnh nữa mà khám phá ra niềm vui sâu xa được ở với Chúa.
Chính trong bệnh tật chúng ta học được Chúa có thể chữa lành. Chính trong nghèo đói chúng ta khám phá Ngài đáp ứng nhu cầu thể nào. Chính trong đau buồn chúng ta thấy Ngài an ủi, nhưng chúng ta sẽ không học được bất cứ điều gì nếu chỉ chú tâm vào nan đề của mình. Chúng ta chỉ thêm nghèo nàn, đau ốm và buồn rầu mà thôi.
Gần đây tôi nghe một người cha nói với bạn trai của con gái mình: “Tôi muốn anh lúc nào cũng cư xử với con bé giống như lúc tôi có mặt”. Nếu đó là điều một người cha trên đời mong ước cho con gái mình thì bạn nghĩ Cha trên trời mong ước gì cho chúng ta? Ngài ở với chúng ta mọi lúc và muốn chúng ta hành động như chúng ta tin vào điều nầy. Cảm giác có thể nói bạn đang cô đơn nhưng Lời Chúa phán rằng Ngài ở với bạn. Bạn tin điều nào? Nếu bạn không biết chắc, hãy ăn năn về sự nghi ngờ của mình và rồi nhìn vào Chúa Giê-xu. Mỗi lần làm như vậy, đức tin sẽ tăng trưởng và sự hiện diện lẫn sự vui mừng của Chúa sẽ ngày càng trở thành hiện thực với bạn.
Khi quyết tâm tin rằng Đức Chúa Trời dùng những nan đề hay những nỗi khổ đau để đưa chúng ta đến niềm vui mừng sâu xa hơn về sự hiện diện của Ngài thì chúng ta sẽ thật sự vui mừng khi gặp nan đề. Chúng ta sẽ dâng cho Ngài mọi cảm giác cũ và tập trung toàn bộ sự chú ý vào Đấng Christ với lòng vui mừng ngợi khen.
Một số tôn giáo dạy rằng thân thể và những bản năng thiên nhiên của con người là tội lỗi xấu xa, không cần quan tâm đến hay chối bỏ, đây là bóp méo Lời Chúa dạy. Ngài tạo nên thân thể con người, ban cho bản năng và cảm giác. Khi chúng ta giao thác tất cả cho Ngài thì giống như hạt giống rơi xuống đất và mọc thành cây xinh đẹp. Thân thể và tình cảm chúng ta nếu dâng trọn vẹn cho Chúa, sẽ mặc lấy sự sống mới ngay khi chúng ta vẫn còn ở trên đất nầy. Chúng ta sẽ vui hưởng sức khỏe và sức sống nhiều hơn, những cảm giác sẽ trở thành một phần kinh nghiệm về sự vui mừng mới mẻ trong Đấng Christ.
Khi chúng ta thôi không tùy thuộc những cảm giác để chỉ trung thành với Đức Thánh Linh thì bản chất cũ hay đòi hỏi phải chết đi. Và con người mới có thể kinh nghiệm niềm vui khoái lạc về sự hiện diện của Chúa bằng cả thể xác, tình cảm lẫn tâm linh.
Sau thân thể, quan niệm về thời gian là điều ngăn trở lớn nhất cho đức tin của nhiều người trong chúng ta. Chúng ta sống trong một thế giới tự nhiên mà mọi biến cố được tính bằng thứ tự thời gian và chúng ta đem quan niệm về thời gian đó vào mối quan hệ với Đức Chúa Trời đời đời.
Đức Chúa Trời đã tạo ra thời gian, Ngài sử dụng thời gian nhưng không bị giới hạn, “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày” (IIPhi 2Pr 3:8).
Không có quá khứ hay tương lai đối với Đức Chúa Trời mà chỉ có hiện tại đang xảy ra. Chúa Giê-xu nói với những người Do Thái làm họ ngỡ ngàng: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta” (GiGa 8:58). Nếu sống theo thời gian của Đức Chúa Trời, ngay bây giờ chúng ta sẽ thấy Chúa Giê-xu đang ở trên thập tự giá vì tội lỗi của chúng ta. Chúng ta cũng thấy Ngài đang từ kẻ chết sống lại.
Nếu dùng thời gian để tính kết quả những lời cầu nguyện được nhậm thì cũng giống như dùng cuốn lịch để tính trọng lượng. Đồng hồ hay lịch đều không thể dùng sai mục đích vì vậy chúng ta phải dành trọn sự quan tâm cho một điều gì đáng tin cậy hơn. Lời Chúa nói: “Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta. Nếu chúng ta biết không cứ mình xin điều gì, thì chúng ta biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài” (5:14, 15).
Theo lịch thời gian của Chúa, chúng ta nhận được câu trả lời. Bạn có thể nói: “Nhưng đó không phải là quan niệm của tôi về thời gian; điều đó không giúp gì cho tôi ngay bây giờ!”. Nếu là một Cơ Đốc nhân thì bạn đã bước vào chiều hướng đời đời của Chúa - một hiện tại đời đời. “Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến Danh Con Đức Chúa Trời” (IGi1Ga 5:13). Chính sự phân tâm đã khiến chúng ta qua khoé mắt nhìn những cái đồng hồ và những tấm lịch của trần gian khi đang cố tập trung đức tin vào sự trả lời của Chúa. Làm như vậy sẽ không bao giờ có kết quả. Chúng ta có năng lực để quyết định chọn hoặc thời khóa biểu của Đức Chúa Trời hay thời khóa biểu của mình.
Đa-vít đã khám phá ra nguyên tắc nầy: ”...Kỳ mạng của tôi ở trong tay Chúa” (Thi Tv 31:15). Đức Thánh Linh bày tỏ điều nầy là đúng đối với bạn nhưng con người cũ của bạn vẫn còn ràng buộc với thế giới vật chất và thời khóa biểu sẽ nói: “Xem kìa, đã sáu tháng rồi Chúa chưa trả lời điều tôi cầu xin. Chắc Ngài không bao giờ trả lời nữa”.
Chúng ta có thể làm nô lệ cho thì giờ hay để Chúa dạy mình sử dụng thì giờ Chúa ban. Khi đó chúng ta sẽ không bao giờ phải lo lắng về việc có quá nhiều hoặc quá ít thì giờ. Đức Chúa Trời cho chúng ta đủ thì giờ cần thiết để làm những gì Ngài muốn, bạn có cảm thấy quá trẻ hay già quá nhanh không? Bạn thấy chán chường hay luôn bận rộn? Hãy dâng thì giờ cho Chúa và thú nhận sự phân tâm của mình. Ngài sẽ tha thứ và vui lòng chịu trách nhiệm quản lý thì giờ của bạn.
Nếu bạn đang đợi Chúa trả lời điều mình xin thì bạn đang nhìn sai hướng và để ngày giờ trôi qua làm suy yếu đức tin của mình. Thay vào đó hãy để cho mỗi giây phút trôi qua làm đức tin bạn mạnh mẽ hơn bằng cách gắn chặt vào Chúa Giê-xu. Hãy nhớ trong chiều hướng thời gian của Đức Chúa Trời mọi lời cầu nguyện đều đã được trả lời. Hãy vui mừng vì bạn có cơ hội luyện tập đức tin. Người tập ta mỗi ngày nâng tạ lâu hơn một chút và bắp thịt càng săn chắc hơn. Đức tin chúng ta lớn lên trong mỗi giây phút quyết định vững tin nơi Chúa cho dù đồng hồ trên đất chỉ vào giờ nào. Chúng ta đang tập tin cậy điều chưa thấy và khi đức tin lớn lên, tấm lòng, nhãn quan chúng ta ngày càng trở nên chuyên chú. Như thế chúng ta càng đến gần chỗ hiệp một với Cha trên trời.
Trước đây tôi thường nổi giận khi người ta không đúng hẹn. Tôi trở nên nhức đầu và đau bao ử vì họ không hiểu là thì giờ quí báu như thế nào. Họ phí phạm thì giờ một cách vô ý thức.
Có lần tôi được mời trả lời một cuộc phỏng vấn trên truyền hình, một vị mục sư khác phụ trách phần đầu của chương trình, còn tôi lo phần sau. Tôi có nhiều điều quan trọng muốn nói và canh đồng hồ chờ đến phiên mình. Nhưng vị mục sư nói lố giờ qui định, giành gần hết thì giờ dành cho phần sau của tôi. Tôi nghĩ thầm: “Chúa ơi, ông nầy làm mất thì giờ của con. Sao Ngài không bịt miệng ông ta lại để chúng ta có thể đi vào phần quan trọng hơn!”.
Khi ông ngưng nói thì chỉ còn vài phút, tôi phải thú nhận là tôi đã không hoàn toàn thật lòng cầu nguyện. Tôi thưa: “Chúa ơi, Ngài đã có thể bịt miệng anh chàng ba hoa nầy bất cứ lúc nào Ngài muốn. Nhưng Ngài đã không làm điều đó tức là Ngài có lý do khi để con ngồi đây chờ đợi. Ngợi khen Ngài về mọi sự, xin tha thứ cho con vì đã chỉ trích người kia và ngợi khen Chúa về điều Ngài sắp làm trong vài phút còn lại”.
Chẳng còn thì giờ để giải thích dài dòng, tôi bắt đầu ngay việc khuyến khích khán thính giả ngợi khen Chúa về những nan đề họ thay vì phàn nàn, rồi Ngài sẽ đáp ứng qua những cách họ phải kinh ngạc. Tôi khuyên các bậc cha mẹ ngợi khen Chúa vì con họ bỏ nhà ra đi, các bà vợ ngợi khen Chúa vì chồng mình luôn vắng nhà, những người đau ốm vui mừng trong bệnh tật và những người thiếu thốn vui mừng vì những hóa đơn chưa thanh toán được.
Trong vài phút điện thoại reo liên tục, khán giả đáp ứng khác thường đến nỗi người phỏng vấn được lệnh kéo dài chương trình hơn thường lệ. Khán giả cứ liên tục để lại những kết quả kỳ diệu của những lời cầu nguyện ngợi khen. Một người mẹ cám ơn Chúa vì con trai bà đã bỏ đi sáu tháng nay, thế mà mới đây cậu ta gõ cửa nhà xin trở về. Một người vợ cám ơn Chúa vì chồng mình nghiện rượu. Người chồng đã bước vào nhà và nói là lần đầu tiên kể từ mười năm nay nghĩ đến rượu là ông muốn bịnh.
Tôi nghĩ rằng sứ điệp của Chúa có thể bị ngăn trở vì thiếu thì giờ. Tôi quên mất Ngài là Đấng Chủ tể, Ngài có thể làm mặt trời mọc sớm hay trễ (Ngài đã làm điều nầy trong lịch sử). Nếu không có đủ thì giờ, Ngài có thể tạo thêm ra. Thật đáng nực cười khi tôi là con của Ngài lại lo lắng trong lúc Ngài có thể biến một ngày thành một ngàn năm.
Tôi đã không tập trung nhìn vào Chúa Giê-xu trong khi đợi đến lượt mình. Nhưng tôi đã để nhìn vào thì giờ và bị thuyết phục là Chúa không làm chủ tình thế. Tôi đã thú nhận tội hai lòng và cảm tạ Chúa về lòng kiên nhẫn, nhân từ vô hạn của Ngài. Tôi đã có thể tránh được những rối loạn của bao tử nếu nhìn đúng hướng.
Tâm trí chúng ta là trung tâm kiểm soát, là nơi chúng ta ghi nhận những thúc đẩy của các giác quan và tình cảm. Đó là nơi lý trí cân nhắc những cảm nghĩ mới mẻ tương phản với tình cảm, là nơi tích lũy kiến thức và là nơi quyết định cách phản ứng với mọi tình huống.
Sa-tan thường lợi dụng sự hiểu biết của con người. Nó gợi cho chúng ta những ý tưởng thông thái khiến chúng ta tự mãn vì tưởng mình đã nghĩ ra. Nó khích lệ chúng ta giải thích mọi thái độ cư xử hoặc suy nghĩ cách thuần lý và nghi ngờ bất cứ điều gì Đức Thánh Linh phán dạy mình. Sa-tan luôn nhắm vào mục đích khiến chúng ta không quan tâm đến Chúa. Nếu nó thành công tức là chúng ta đang ở trong bẫy của nó.
Tôi không biết làm cách nào để diễn giải điểm nầy, “Khi tôi cố tìm xem Chúa muốn tôi chia xẻ về đề tài nào đó - tôi biết chắc rằng Sa-tan cũng đang cố làm tôi phân tâm. Không biết Sa-tan sẽ nói với tôi điều gì?”. Ngay lúc đó, tôi chợt nghĩ: “Có lẽ mình đang chuẩn bị cho một sứ điệp không cần thiết”. Trầm tư một lúc, tôi thấy điều nầy có vẻ thật vì không biết phải nói gì. Nếu quả đây là sứ điệp cần nói thì Chúa phải dạy tôi chứ?
Tôi lớn tiếng tự nhủ: “Tôi tin Chúa sẽ ban những lời thích hợp”, nhưng ngay lúc đó, tôi vẫn nghĩ: “Có lẽ mình đã không tin cậy Chúa đủ để Ngài dạy mình điều phải nói - ngoài ra có thể mọi người cũng sẽ không hiểu!”. Tôi nghĩ ngợi hoài đến khi thấy chán nản tột độ: “Cố lắm cũng chẳng ích lợi gì. Có làm hết sức cũng không đạt yêu cầu!”.
Tôi đã tập trung sự chú ý vào đâu? Không vào Chúa Giê-xu mà vào những suy nghĩ Sa-tan khơi dậy trong tôi. Nó chỉ lừa gạt, chiếm đoạt, lấy đi tất cả sự bình an, vui mừng và đức tin chúng ta - nhưng chỉ khi nào chúng ta nghe theo nó.
Có lẽ bạn không tin Sa-tan có thể làm được điều đó. Bạn nghĩ mình khôn ngoan sáng suốt và không ai có thể xâm chiếm tâm trí của bạn. Nhưng bạn có biết Sa-tan khôn khéo thuyết phục chúng ta rằng: Làm gì có Sa-tan, lời nói của Sa-tan lại càng không có nốt. Chúng ta tự hào vì hiểu biết nhiều và ma quỉ biết rõ điều ấy. Cho nên ma quỉ không thiếu những luận cứ thích hợp để thỏa mãn tính kiêu ngạo của chúng ta. Lời Chúa cảnh cáo: “Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con" (ChCn 3:5).
Tôi rất vui mừng về những điều Chúa cho tôi hiểu, nhưng nếu để sự hiểu biết đó ngăn cản tôi tin những gì Chúa phán thì tôi đang sử dụng sự hiểu biết của mình cách sai lạc. Người ta thường hỏi về một số câu Kinh Thánh khó và thỉnh thoảng tôi vẫn nói rằng tôi không hiểu được. Đôi khi chúng ta vẫn nói: “Tôi mong hiểu được vì sao Chúa lại làm điều nầy” hay “Nếu như tôi hiểu được điều kia có nghĩa gì”.
Tôi có thể tập trung vào những điều khó hiểu trong Kinh Thánh và chẳng bao lâu trở nên hoàn toàn bối rối. Nhưng tập trung vào điều dễ hiểu thì tốt hơn biết bao. Thật dễ biết bao để hiểu Chúa yêu tôi và muốn tôi biết ơn Ngài về mọi điều Ngài đã làm. Chỉ cần nghĩ như thế là tôi cảm thấy vui mừng rồi. Nhưng tôi nhận biết Sa-tan đang thì thầm vào tai: “Merlin, anh không nghĩ là mình phải quan tâm đến những gì anh chưa hiểu sao? Dù sao anh cũng là mục sư, các tín hữu thường hỏi anh và muốn được trả lời”. Điều nầy nghe rất hợp lý, nhưng qua kinh nghiệm tôi biết nó sẽ đưa tôi đến đâu.
Bây giờ khi gặp một đoạn Kinh Thánh khó, tôi nhìn vào Chúa Giê-xu và làm theo lời khuyên của Đức Thánh Linh “Vì bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời...thì kẻ ấy sẽ được ban cho”. Chỉ có Thánh Linh mới mở mắt chúng ta hiểu được những điều Chúa muốn. Nếu đoạn Kinh Thánh đó vẫn còn làm tôi bối rối, tôi có thể quyết định tập trung vào những điều tôi biết chắc chắn như: Chúa yêu tôi và nếu Ngài muốn tôi hiểu, tôi sẽ hiểu. Vì vậy tôi có thể an toàn giao phó những điều mình không biết cho Cha ở trên trời, là Đấng hiểu biết mọi sự.
Sự hiểu biết của chúng ta giống như phần còn lại của bản tánh cũ. Khi chúng ta cố gắng sử dụng bằng sức riêng sự hiểu biết sẽ đưa chúng ta đến sự phân tâm và bối rối. Khhi chúng ta đặt vào tay Chúa, Ngài sẽ sử dụng sự hiểu biết vào mục đích của Ngài và chúng ta sẽ khám phá ra rằng Ngài dạy chúng ta hiểu những điều mà chúng ta không thể hiểu nổi.
Vì sao lại có những người đầy dẫy vui mừng đang khi những người khác buồn rầu chán nản? Tôi thường quan sát hai người trong cùng cảnh ngộ. Cả hai đều mắc bệnh ung thư hay đều thất nghiệp, cả hai đều mất một người thân hay gặp cảnh gia đình tan vỡ. Một người thì khốn khổ còn người kia vui mừng. Vì sao vậy? Đó là vì một người tập trung sự chú ý vào Chúa Giê-xu còn người kia chỉ nhìn vào nan đề của mình.
Hãy thử làm điều nầy. Bạn để một vật gần mình tượng trưng cho Chúa Giê-xu, và chọn một vật khác tượng trưng cho những gì bạn nghĩ là những thất bại trong cuộc đời bạn. Hãy ngắm vật thứ hai trong một lúc và nghĩ đến những điều bạn đã mong ước mà không xảy ra. Thử nghĩ đến từng vấn đề, từng nỗi khó chịu, từng điều đau đớn. Hãy suy nghĩ trong vài phút, bạn sẽ thấy hoàn toàn khốn khổ phải không?
Bây giờ hãy nhìn vào vật tượng trưng cho Chúa Giê-xu, Ngài yêu bạn, Ngài đã giải quyết tất cả những nan đề của bạn. Ngài đã tha thứ mọi tỗi lỗi của bạn. Ngài đặt để mọi sự và mọi người trong đời sống bạn để bày tỏ tình yêu của Ngài. Ngài đã đến để bạn được vui mừng và bình an. Điều nầy không làm bạn vui hơn sao? Và ngay cả khi chưa cảm thấy vui, bạn vẫn thấy mọi sự đều tốt hơn từ hướng nhìn nầy.
Chúa Giê-xu đến trần gian để thực hiện những điều con người không thể tự làm được. Chúng ta không thể giải quyết nan đề hay những nỗi đau đớn hay bằng cách phớt lờ chúng, nhưng vẫn có một điều chúng ta có thể làm được. Có lẽ ngay bây giờ bạn cảm thấy bệnh tật làm bạn yếu đuối, các nan đề làm bạn chán nản, bạn bị hiểu lầm và lợi dụng và bạn thấy không làm gì được. Đức Chúa Trời biết bạn yếu đuối và sa sút như thế nào. Ngài biết bạn không thể tự vực mình dậy được, nhưng Ngài muốn bạn làm một điều mà Ngài đã cho bạn khả năng để làm: Hãy mở mắt ra và nhìn vào Ngài, “Hễ điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến” (Phi Pl 4:8b). Hãy nghĩ đến Chúa Giê-xu, Ngài có đáng cho chúng ta ngợi khen không? Hãy nghĩ đến Ngài là ai, đã làm gì cho đến khi bóng tối quanh bạn nhường chỗ cho ánh sáng.
Nếu thấy người nào đó đang đi ngoài đường, mặt mày sáng rỡ và vui mừng, đừng nghĩ người ấy không có vấn đề gì. Có thể người ấy có nhiều nan đề gấp mười lần bạn, bạn có nói: “Sao tôi không được như vậy? Sao tôi lại khốn khổ và anh ấy lại sung sướng như vậy?” Bạn biết câu trả lời rồi đấy, anh ấy đã học tập trung sự chú ý vào Đấng Christ, tức đã học cách đem thiên đàng vào địa ngục.
Bạn có khả năng làm được điều đó. Nếu gặp nan đề gì, bạn có thể nói “Ngợi khen Chúa, đây không phải là vấn đề của tôi mà là của Ngài”. Sự chú ý của tôi được tập trung vào Chúa Giê-xu, Đấng đã phán: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa” (GiGa 14:1).
Sa-tan đang thì thầm phía sau, kích động bạn lo lắng và cho biết dù bạn có làm gì đi nữa thì mọi sự cũng vẫn trục trặc.
Sa-tan là kẻ nói dối. Không có điều gì trục trặc cả - mọi sự sẽ tốt đẹp nếu bạn chú tâm cứ nhìn vào Chúa Giê-xu với một tấm lòng trọn vẹn. Hãy tập trung mọi suy nghĩ vào Chúa Giê-xu. Hãy ăn năn về sự phân tâm và bạn có thể nói như Đa-vít: “Hỡi Đức Chúa Trời, lòng tôi vững chắc, lòng tôi vững chắc; tôi sẽ hát, phải, tôi sẽ hát ngợi khen...Tôi sẽ cảm tạ Chúa giữa các dân” (Thi Tv 57:7, 9).


QUYỀN LỰC VÀ SỰ THUẬN PHỤC
Ngày được giải ngũ sai hai năm phục vụ trong quân đội thời đệ nhị thế chiến, tôi nhảy cẫng lên vì vui mừng. Đó không phải là niềm vui của Đức Chúa Trời, tôi chỉ vui vì được ra khỏi “cái quân đội thối tha và hôi hám”. Tôi không thích suốt ngày bị buộc phải thức dậy đúng giờ, ăn mặc ra sao, làm việc gì và làm thế nào. Tôi mừng được thoát khỏi đến nỗi tuyên bố rằng hễ còn sống không bao giờ tôi muốn trở về và nhìn lại quân ngũ nữa.
Nhưng sau khi tốt nghiệp thần học và sẵn sàng hầu việc Chúa, tôi hỏi: “Chúa ơi, có con đây, Ngài muốn con làm gì?”
“Hãy làm tuyên úy trong quân đội”.
Phải mất một thời gian dài tôi mới nuốt trôi được điều nầy, cuối cùng tôi quyết định nhận công tác đó trong ba năm. Trong quân ngũ cũng có nhiều điều thích thú, có điều tôi không chịu cho ai ra lệnh; và khi trở lại tôi nhận thấy mọi chuyện còn tồi tệ hơn trước nhiều. Là một sĩ quan tuyên úy tôi vẫn phải thức dậy khi có lệnh, ăn mặc quân phục, xếp mền đúng qui cách và ăn những món dọn sẵn. Thỉnh thoảng có lệnh: “Thức dậy lúc bốn giờ, ra khỏi hàng lúc năm giờ, đi bộ đến 6g3o', dọn đồ đạc trong ba lô ra, đứng đó chờ kiểm tra”. Tôi cũng hít đất và bò qua bùn lầy với đoàn quân. Thật bực mình, nhưng bây giờ là tuyên úy, không phải làm những điều ấy nhưng tôi còn phải tỏ ra vui thích trước mặt mọi người!
Ba năm trôi qua, tôi nghĩ: “Ngợi khen Chúa, con sắp được thoát”. Nhưng tiếng Chúa phán rất rõ: “Merlin, ta nghi con cần ở thêm một thời gian nữa”. Vậy là tôi ở thêm một năm nữa, rồi năm năm, sáu năm và cuối cùng là hai mươi năm. Theo thời gian, nhiều điều nẩy sinh trong tôi, tôi học được nhiều hơn về tình yêu của Chúa và hiểu được lý do vì sau Ngài để tôi trong những nơi khó khăn. Sự chống đối trong tôi mất dần và sau một thời gian, tôi thật sự thích tuân lệnh, tôi đã học được tinh thần thuận phục mà trước đây tôi không hề có và Đức Chúa Trời biết rằng thiếu sự thuận phục tôi sẽ chẳng bao giờ kinh nghiệm trọn vẹn tình yêu và chương trình của Chúa trên đời sống mình.
Trong Cơ Đốc giáo có một số điều khó hiểu và khó chấp nhận hơn những điều khác đó là sự thuận phục. Khi trở thành Cơ Đốc nhân, một trong những điều đầu tiên nói với chúng ta về đời sống mới là: “Hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời” (GiGa 1:12). Lần đầu tiên khám phá ra câu nầy tôi đã nghĩ: “Tuyệt vời, tất cả quyền phép đó là của mình”. Rồi tôi lại thấy những câu hay hơn nữa: “Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: Kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ” (RoRm 8:17). Hãy thử tưởng tượng mình là kẻ đồng kế tự với Con Đức Chúa Trời, Đấng đã phán: “Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta” (Mat Mt 28:18).
Thật tuỵệt diệu! Nhưng có điều làm tôi và bạn bối rối. Nếu tất cả quyền phép đó là của bạn thì sao bạn chưa làm được điều gì cả? Chúa Giê-xu có quyền trên gió và thời tiết. Ngài có thể khiến bão yên lặng còn bạn đã khiến bão yên lặng lúc nào? Chúa Giê-xu có quyền trên nước, Ngài có thể đi trên nước hay xuống dưới nước để nhận báp-tem. Còn tôi chưa thể tự chọn lựa như vậy được.
Nếu nghe điều nầy có vẻ rắc rối là vì chúng ta đã hiểu sai về quyền lực và sự thuận phục. Trong quá trình trưởng thành chúng ta đã học được cách đạt được điều mình mong muốn. Chúng ta học cách đòi hỏi, điều khiển và kiểm soát người khác lẫn hoàn cảnh. Chúng ta gọi đó là quyền lực. Một số khác trong chúng ta lại thấy chẳng bao giờ được như ý, chúng ta quá yếu đuối không thể chống lại những kẻ áp bức hay lợi dụng chúng ta, chúng ta gọi điều đó là thuận phục.
Giữa hai thái cực nầy là hầu hết chúng ta, những người tìm cách làm theo ý mình thì lại cảm thấy cứ bị buộc phải nhượng bộ người khác hay hoàn cảnh. Chúng ta thấy bị chèn ép đến mức tối đa bởi cha mẹ, anh, chị hay những kẻ chuyên bắt nạt kẻ khác. Vì vậy, khi Chúa nói “Hãy thuận phục” thì chúng ta không thích.
Trong những năm gần đây nhiều phong trài “giải phóng” nổi lên, họ tuyên truyền rằng chúng ta có “quyền” làm người và cần đứng lên dành lấy. Nhưng những phong trào nầy đều dựa trên những quan điểm sai lầm về quyền lực và sự thuận phục. Họ cho rằng quyền lực là chiếm lấy những gì thuộc về mình và thuận phục là để cho người khác chà đạp trên mình.
Chúng ta cần hiểu rằng những quan niệm trên không đúng với sự thật. Áp dụng những quan niệm nầy vào nếp sống Cơ Đốc thì không hiệu quả.
Quyền lực thật là sức mạnh chính đáng và hợp pháp được ban cho chúng ta để ra lệnh hay hành động. Đó không phải là điều chúng ta đòi hỏi cho mình. Sự thuận phục thật là một hành động tự nguyện phó thác chính mình cho ý muốn của một người khác, đó không phải là sự ép buộc.
Trong đời sống Cơ Đốc, quyền lực và sự thuận phục tùy thuộc vào nhau. Thiếu một trong hai điều thì không làm gì được. Chúa Giê-xu đã chỉ cho chúng ta nguyên tắc nầy trong hành động, Ngài nói: “Bởi ta chẳng nói theo ý riêng ta; nhưng Cha sai ta đến, đã truyền lệnh cho ta phải nói điều chi, phải nói thể nào” (GiGa 12:49).
Chúa Giê-xu, Đấng đã được ban cho quyền năng chính đáng để ra lệnh và hành động, chỉ nói những lời đầy uy quyền khi Cha bảo Ngài nói. Con Đức Chúa Trời, Đấng có tất cả quyền phép đã tự nguyện giao thác chính Ngài cho ý chỉ của Đức Chúa Cha. Ngài nói: “Ta không thể tự mình làm nổi điều gì; ta xét đoán theo điều ta nghe, và sự xét đoán ta là công bình, vì ta chẳng tìm ý muốn của ta nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai ta” (5:30).
Điều quyền năng nhất Chúa Giê-xu đã từng làm là khi Ngài bẻ gãy thế lực của Sa-tan trên thế gian. Phải chăng Ngài làm điều nầy bằng cách sử dụng tất cả quyền lực của Ngài? Không, Ngài đã đầu phục Cha. Quyền năng vĩ đại đằng sau việc chịu đóng đinh trên thập tự giá là sự đầu phục hoàn toàn, Ngài đã có thể giết chết những kẻ kết tội Ngài bằng một tiếng phán hay bằng cách gọi một đạo binh mười ngàn thiên sứ, nhưng nếu thế thì đã không có sự cứu chuộc cho thế gian hư mất - không có sự chiến thắng tội lỗi. Bạn và tôi ngày nay được tự do vì Chúa Giê-xu đã đầu phục, chịu chết thế cho chúng ta.
Nếu Chúa Giê-xu sử dụng quyền lực để tự cứu mình thì đã không có quyền năng nào đằng sau biến cố đó. Ngài nói: “Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống và có quyền lấy lại; ta đã lãnh mạng lệnh nầy nơi Cha ta” (10:18).
Sự thuận phục mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi chúng ta luôn luôn là hành động vâng lời tự nguyện. Khi chúng ta làm điều nầy, Đức Chúa Trời đáp ứng bằng cách bày tỏ uy quyền và năng lực của Ngài trên hoàn cảnh của chúng ta. Sự thuận phục ép buộc không đem đến sự thể hiện quyền năng nhưng chỉ làm cho chúng ta khốn khổ hơn thôi.
Các cấp chỉ huy quân sự muốn thuộc cấp vâng lệnh cách vui lòng chớ không vì khiếp sợ. Như thế, họ tỏ lòng tin cậy thượng cấp và biết rằng tuân lệnh sẽ dẫn đến chỗ hoàn thành nhiệm vụ.
Hãy xem hình ảnh một con chó được huấn luyện kỹ càng, đầu ngẩng cao, đuôi vểnh lên, nó hăm hở tuân theo bất kỳ mệnh lệnh nào của chủ. Giữa nó và chủ có mối liên hệ thật đẹp đẽ của sự trung thành và tin cậy.
Bây giờ hãy nghĩ đến một con chó cụp đuôi trước một người chủ tàn nhẫn. Con chó nầy cũng vâng lời nhưng vì nó sợ bị đòn nếu không tuân lệnh. Không có tình yêu thương và sự kính trọng giữa nó và chủ, và chúng ta biết rằng nếu có cơ hội con chó sẽ bỏ trốn.
Con chó hăng hái nghe lời chủ vì yêu chủ là hình ảnh của sự thuận phục thực sự. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta tự do lựa chọn. Sự vâng lời của chúng ta phải là một hành động tự nguyện, nhưng con người chúng ta không thích thuận phục cũng như không thích nhượng bộ, ăn năn hay tha thứ. Chúng ta bước vào thế gian nầy hò hét và đòi hỏi để được theo ý mình và sự thuận phục luôn luôn trái với bản chất cũ của chúng ta.
Khi trở thành Cơ Đốc nhân, thật khó để chúng ta dâng bản chất cũ cho Chúa. Chúng ta chỉ mỗi lần dâng một chút vì dâng tất cả một lần cho Chúa chúng ta không chịu nổi. Khi khám phá ra tin mừng Đức Chúa Trời ban quyền phép để chúng ta trở nên con cái của Ngài, chúng ta muốn hét to lên: “Hoan hô, tôi được tự do, không ai có quyền trên tôi ngoại trừ Chúa!”.
Điều nầy đúng, nhưng Chúa bảo chúng ta làm gì? Ngài nói: “Bây giờ ta muốn con thuận phục lời của ta, những hoàn cảnh ta đặt con vào và những người ta cho ở quanh con”.
Tại sao chúng ta phải thuận phục? Chúa biết bản chất cũ của chúng ta và cách duy nhất để chế ngự nó là vâng lời. Nguồn gốc của mọi tội lỗi là sự không vâng phục và sự chống đối - và điều nầy phá hủy mối tương giao với Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu nói: “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi” (Mat Mt 7:21).
Nếu từ chối thuận phục ý chỉ của Chúa, đời sống Cơ Đốc của chúng ta sẽ đến chỗ bế tắc. Chúng ta không thể có sự hiệp một với Đấng Christ hay ở trong tình yêu của Ngài. Chúng ta sẽ không có được bình an hay vui mừng, “Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài. Ta nói cùng các ngươi những điều đó, hầu cho sự vui mừng của ta ở trong các ngươi, và sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn” (GiGa 15:10, 11).
Làm thế nào chúng ta có thể học được khi sự thuận phục trái với bản tánh cũ của chúng ta? Trước hết phải nhận biết rằng sự “phục tùng” lúc trước - nghĩa là nhượng bộ một cách bất mãn vì không làm chủ được tình thế - không phải là sự thuận phục. Hãy xin Chúa cất khỏi bạn những sự chống đối cũ để dạy bạn thuận phục đúng nghĩa - thuận phục đem đến sự hiệp một với Đức Chúa Cha, khiến Ngài bày tỏ năng lực và uy quyền của Ngài trên đời sống bạn.
Chúa Giê-xu thật sự đầu phục vì Ngài biết Ngài là ai. Đây chính là bí quyết của sự thuận phục thật. Chúng ta phải biết chúng ta là ai. Bạn có nghĩ mình là một con người khốn khổ, bị đối xử tệ bạc, bị hoàn cảnh bó buộc và bị Chúa bỏ quên không? Thế thì bạn không ở trong địa vị có thể thuận phục thật được. Lòng bạn cần nhận biết một cách sâu xa rằng bạn là con của Đức Chúa Trời - với tất cả quyền lợi và đặc ân Ngài đã ban cho bạn - và không giây phút nào bạn có lý do để nghi ngờ tình yêu của Ngài. Bây giờ bạn có thể thuận phục mà không sợ hãi. Nền tảng thực sự duy nhất cho sự thuận phục là sự tin quyết về tình yêu của Cha chúng ta trên trời.
Một đứa bé không được lựa chọn bị buộc phải vâng lời cha mẹ. Đến một thời điểm nào đó nó nhận ra là không có gì bắt buộc phải vâng lời. Nó đã đủ sức để chống lại. Có bao giờ bạn từng quan sát một thiếu niên tự đấu tranh để khám phá bản thân là ai, có những quyền lợi gì và những bổn phận nào? Trong quá trình nầy em thường đả kích mọi thứ uy quyền, tranh cãi với cha mẹ và bảo vệ quyền lợi của mình.
Nếu sâu xa trong lòng thiếu niên nầy không biết cha mẹ yêu em thì sự bất mãn và sự phản kháng có thể trở thành sự chống đối ra mặt nghiêm trọng. Ngày nay hàng ngàn người trẻ tuổi bị rơi vào cái bẫy nầy. Qua cơn khủng hoảng, được trưởng thành và thật sự thuận phục, em thiếu niên biết rõ mình được yêu thương và cha mẹ chỉ muốn điều tốt cho em.
Là Cơ Đốc nhân chúng ta đối diện với cơn khủng hoảng tương tự khi cố gắng để tìm được cá tính của chúng ta trong Đấng Christ. Thuận phục là con đường dẫn đến sự trưởng thành đúng nghĩa, nhưng sẽ không thể đạt đến được nếu chúng ta không biết là Cha trên trời thật sự yêu chúng ta và chỉ muốn điều tốt nhất cho chúng ta. Nhận biết nầy là cái neo giữ chúng ta giữa cơn bão tố khi bản ngã cũ bướng bỉnh chống lại sự thuận phục mà Chúa đòi hỏi chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn.
Nếu còn nghi ngờ tình yêu của Ngài, bạn hãy quay lại vài lẽ thật căn bản Chúa phán với chúng ta. Nếu đã quyết định tin nhận bạn là con của Chúa, bạn được yêu vì Đức Chúa Trời đã ban Chúa Giê-xu chết thế cho bạn. Hãy dán vài câu Kinh Thánh bạn ưa thích nhất lên tường để luôn được nhắc nhở. Hãy tập trung suy nghĩ của bạn vào những câu nầy. Hãy lớn tiếng đọc đi đọc lại câu nầy, bạn có tin bạn là người như Đức Chúa Trời phán không, hay bạn chỉ để ý đến những nỗi nghi ngờ.
Khi biết bạn là ai, sự thuận phục không đe dọa đến cá tính thật của bạn nhưng nó báo hiệu ngày tàn của bản chất cũ trong bạn và đó là lý do tại sao con người cũ lại chống trả kịch liệt như vậy. Thoạt tiên chỉ thuận phục những điều nhỏ nhặt cũng là một cuộc chiến đấu. Hãy nói với Đức Chúa Trời là bạn sẵn sàng và thú nhận những tình cảm chống đối của bạn. Khi thuận phục, bạn sẽ thấy Đức Chúa Trời thay đổi bên trong bạn. Đây là quá trình của cả một cuộc đời nhưng bước khởi đầu là khó nhất, điều nầy sẽ trở nên dễ dàng hơn với mỗi bước bạn đạt được.
Trong quân đội, binh sĩ nào phục tùng cách tận tâm sẽ được cấp trên chú ý và được thăng cấp trước. Mỗi lần được thăng tiến, người lính sẽ thấy những đòi hỏi phải phục tùng trở thành ít đi trong khi sự trung thành và sự vâng lời ngày càng trở thành một phần của chính anh. Đời sống Cơ Đốc nhân cũng giống như vậy. Đầu tiên chúng ta thấy bị đè nén bởi những hoàn cảnh và những con người khó chịu từ mọi phía. Nhưng khi đã thuận phục và Chúa bắt đầu hành động để lòng chúng ta có sự thuận phục, chúng ta sẽ kinh nghiệm sự hiệp một mới mẻ với Đấng Christ. Và thấy rằng thuận phuc sẽ khiến chúng ta trong những hoàn cảnh hay những quan hệ khó khăn không thấy đau đớn nữa. Chúng ta có thể thực sự vui mừng vì những điều nầy, giống như tôi cuối cùng đã học để thấy vui vẻ khi nhận những mệnh lệnh trong quân đội.
Khi thuận phục thoạt đầu chúng ta nói cách miễn cưỡng: “Chúa ơi, con chấp nhận ý chỉ của Ngài đối với con, nhưng con thích được như ý riêng con hơn”. Chúng ta vẫn còn quyết định hầu hết mọi việc và xem Chúa như một cố vấn bán thời gian. Tiếp theo chúng ta có thể nói: “Con nhận Ngài là Đấng điều khiển cuộc đời con cách tốt hơn. Con rất sẵn lòng nghe theo sự chỉ dẫn của Ngài bất cứ khi nào con gặp rắc rối”. Khi đó có lẽ chúng ta dành cho Chúa Giê-xu quyền kiểm soát nửa cuộc sống của chúng ta. Nhưng chỉ khi chúng ta nói: “Chúa ơi, con chỉ muốn làm theo ý Ngài chứ không theo ý con”, lúc đó chúng ta mới đến gần sự trưởng thành mà Chúa muốn.
Phao-lô viết cho những người Cô-lô-se: ”...hầu cho bày tỏ mọi người trở nên trọn vẹn trong Đấng Christ ra trước mặt Đức Chúa Trời” (CoCl 1:28). Sự trọn vẹn Cơ Đốc là gì? Là khi nhìn vào bạn người ta chỉ thấy Đấng Christ. Chỉ có một cách duy nhất đó là qua sự thuận phục Đức Chúa Trời thực hiện sự biến đổi đó trong bạn và tôi.
Khi biết chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, được Ngài yêu, chúng ta cũng biết rằng Ngài đã ban cho chúng ta quyền lực trên bản chất cũ hay nổi loạn. Chúng ta có thể quyết định thuận phục cách vui lòng trước bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào Chúa đặt để. Sự thuận phục nầy là một sức mạnh, không những thay đổi chúng ta mà còn khiến Đức Chúa Trời thể hiện được quyền năng của Ngài trên hoàn cảnh chúng ta. Chúng ta càng thuận phục thì quyền năng của Ngài càng bày tỏ.
Đau khổ không hề là mục đích dành cho con cái của Chúa. Sa-tan sẽ nói với bạn là thuận phục để chịu khổ, nghĩa là bạn sẽ luôn luôn phải đau khổ. Sự thật trái lại, bạn có thể ở trong một xà-lim đến hai mươi lăm năm hay đau đớn trên giường bệnh trong những tháng năm sắp đến, hay những vấn đề tài chánh hoặc riêng tư đang chồng chất đe dọa sẽ đè bẹp bạn. Sa-tan thì thầm rằng bạn là nạn nhân của hoàn cảnh, nhưng đó là lời dối trá. Bạn có thể sử dụng quyền lực của đứa con yêu dấu của Đức Chúa Trời bằng cách tự nguyện thuận phục những hoàn cảnh đó và cám ơn Chúa về những hoàn cảnh nầy. Khi đó quyền lực của tội lỗi bị bẻ gãy. Bạn và cảnh ngộ của bạn được an toàn trong tay Chúa và Ngài hoàn toàn tể trị mọi sự. Bạn biết điều nầy là thật vì sự bình an của Ngài đã thay thế những xáo động trong lòng bạn.
Chúng ta thường trích câu Kinh Thánh nói chúng ta là những người đồng kế tự với Đấng Christ, nhưng chúng ta ít khi để ý đến phần hai của câu nói, chúng ta là ”...kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài” (RoRm 8:17).
Chúng ta là những kẻ đồng kế tự với Đấng Christ khi vui vẻ chịu khổ với Ngài. Bây giờ bạn đã vui với một cơ hội thuận phục trước cảnh khó khăn chưa? Bạn có thể chắc rằng điều nầy sẽ dẫn đến một sự vinh hiển nào đó trong mối quan hệ giữa bạn và Đức Chúa Trời.

BẠN CÓ THẬT SỰ VUI MỪNG KHÔNG?
Bạn có đứng núi nầy trông núi nọ không? Có muốn là người nào khác hơn là chính bạn không? Có muốn làm một điều gì khác hơn điều bạn đang làm bây giờ không? Có nghĩ đến một thay đổi nào bạn muốn có trong hoàn cảnh của bạn không?
Nếu câu trả lời là có thì bạn chưa học được cách để vui mừng thực sự.
Tôi biết một phụ nữ trên mỗi bàn tay và bàn chân bẩm sinh chỉ có một ngón. Cô ấy tin rằng Chúa đã tạo nên như vậy theo ý Ngài và biết rằng điều nào là tốt nhất cho cô, vì vậy cô rất biết ơn Ngài. Trong thời gian cô và người chồng tương lai đang tìm hiểu nhau, một hôm người nầy đến nhà cô để ăn cơm tối và cô cố gắng để gây ấn tượng tốt đối với anh ta. Bất ngờ cô đánh rơi một cái đĩa. Bạn có thể tưởng tượng cô suy nghĩ gì không? Cô mau mắn nói đùa một câu hai nghĩa: “Em thật là vụng về và em không nói ngoa đâu!” (Câu nói nầy nghĩa đen là “Em chỉ toàn có ngón cái không thôi và em không nói ngoa đâu!"). Không một chút lúng túng mà chỉ có tiếng cười sung sướng.
Sau nầy họ lấy nhau, cô trở thành mẹ của hai đứa con mà trên mỗi bàn tay và bàn chân chỉ có một ngón. Ngay từ ấu thơ, các đứa trẻ đã được dạy rằng trước mắt Đức Chúa Trời chúng rất đặc biệt. Khi đứa bé nhất được bốn tuổi, có lần nó nói với người bán hàng trong tiệm: “Cháu nghĩ là cô ngạc nhiên không hiểu vì sao cháu chỉ có một ngón tay. Chúa có lý do để tạo ra chúng cháu như vậy”.
Bạn có tin rằng Chúa tạo dựng bạn như vậy vì một lý do nào đó không? Và đặt bạn ở nơi Ngài muốn? Hãy suy nghĩ về điều nầy. Nếu bạn giống tôi và những người khác mà tôi biết thì bạn đang ở trong nhiều hoàn cảnh khác nhau và bạn đang phản ứng theo một trong hai cách. Nếu bạn không vui về những hoàn cảnh của bạn thì chúng đang làm bạn xuống tinh thần. Nếu bạn vui mừng thì chúng đang khiến bạn lên tinh thần. Vậy thì hiện giờ tinh thần bạn đang lên hay xuống?
Là con cái Chúa chúng ta có thể có quyền trên hoàn cảnh của chúng ta. Chúng ta sử dụng quyền đó cách nào? Đương nhiên là bằng cách đi lên - nhưng con đường đi lên là con đường nào? Hãy tưởng tượng bạn đang đi ở chỗ có sóng, nước lên đến nách bạn - và có một con sóng lớn ập đến. Nếu không biết nhiều về sống có thể bạn muốn chạy trốn nhưng con sóng cuốn lấy và quật bạn ngã xuống. Không bám vào đâu được bạn ngoi lên ngoi xuống cho đến khi chân đạp vào chỗ nước cạn, mình mẩy bầm dập và ướt như chuột lột.
Những người bơi lội có kinh nghiệm có một cách tốt hơn. Họ bình tĩnh đối diện với cơn sóng đáng sợ và lặn thẳng vào ngọn sóng sủi bọt. Chỉ vài giây sau họ đã nhô lên mặt nước, quay lại và nổi một cách dễ dàng trên mặt phẳng lặng của con sóng để bơi vào bờ.
Đối với một tay bơi lội, cách để được ở trên đỉnh ngọn sóng là lặn vào ngọn sóng. Đối với Cơ Đốc nhân, cách để ngoi lên đỉnh của vấn đề là thuận phục.
Hầu hết chúng ta biết rất rõ là để cho các nan đề đè bẹp có nghĩa gì. Suốt đời chúng ta bị hoàn cảnh xô đẩy làm bầm dập và thương tích. Nhưng đó không phải là sự thuận phục mà là điều ngược hẳn lại với sự thuận phục. Đó là sự ngã quị, có nghĩa là bị chìm đắm, mất tinh thần. Thuận phục là hành động tự nguyện của con cái Đức Chúa Trời vì biết rằng Cha mình đang lo liệu nên giao phó chính mình vào tay của Cha. Sự thuận phục khiến quyền lực của Đức Chúa Trời thắng hơn hoàn cảnh.
Khi bị ngã quị, mắt chúng ta nhìn vào vấn đề và tâm trí chúng ta đầy tiếng phàn nàn. Khi chúng ta thuận phục, mắt chúng ta nhìn vào Đấng Christ và tâm trí chúng ta đầy lời ngợi khen. Theo thời gian sự ngã quị sẽ kéo chúng ta đến gần sự khốn khổ và buồn rầu. Ngược lại sự đầu phục theo thời gian sẽ nâng chúng ta lên sự vui mừng hoan lạc trong Đấng Christ dù cho vấn đề vẫn còn đó.
Có nhiều quốc gia đã chế tạo ra hơi độc dùng trong chiến tranh. Chất khí nầy vô hình và không mùi vị nên nạn nhân hít vào không hề hay biết. Sa-tan cũng có hơi độc giết người có thể tràn vào lòng và trí của chúng ta mà chúng ta không hề hay biết. Đó là thái độ phàn nàn than thở. Một số trong chúng ta quen thói phàn nàn đến nỗi chúng ta nghĩ đó là quyền tự nhiên, thế nhưng chính sự than thở lằm bằm đã khiến dân Y-sơ-ra-ên chết trong đồng vắng. Phao-lô đã cảnh cáo các Cơ Đốc nhân đầu tiên: “Lại cũng chớ lằm bằm như mấy người trong họ đã lằm bằm mà bị chết bởi kẻ hủy diệt” (ICo1Cr 10:10).
Lằm bằm là một tội đáng chết vì bày tỏ lòng vô tín và không tin cậy. Sẽ không còn bằm bằm nếu bạn thật sự nghĩ Đức Chúa Trời đang lo liệu và đang làm điều tốt nhất cho bạn. Khi lằm bằm là lúc bạn ngã quị. Nhưng nếu lằm bằm giống như một chất khí vô hình thì làm sao có thể nhận ra trong đời sống? Chúng ta có thể chịu đựng nỗi khổ cách can đảm và còn có thể nói: “Ngợi khen Chúa vì mọi sự”. Nhưng có thể vẫn còn thái độ lằm bằm kín giấu đâu đó trong chúng ta không?
Môi-se cảnh cáo dân Y-sơ-ra-ên là Chúa sẽ rủa sả họ: “Bởi ngươi không vui lòng lạc ý phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” (PhuDnl 28:47). Đây chính là máy dò sự lằm bằm của chúng ta. SÂU THẲM TRONG THÂM TÂM, BẠN CÓ THẬT SỰ VUI MỪNG KHÔNG? Bạn có vui mừng vì bạn có nan đề không? Có vui mừng vì bị tổn thương không? Khi vui mừng, bạn không lằm bằm. Khi bạn vui mừng, điều nầy có nghĩa chắc chắn bạn là con cái của Chúa. Bạn chắc chắn về tình yêu của Ngài đối với bạn và chắc chắn rằng Ngài đang hành động để mọi sự hiệp lại có ích cho bạn. Bạn có lý do để vui vì biết rằng vấn đề của bạn, nỗi đau của bạn để ích lợi cho bạn. Vui mừng là dấu hiệu của sự thuận phục.
Khi thuận phục đến mức chúng ta nói được: “Con thật sự vui mừng” thì lời ngợi khen của chúng ta trở nên trong sáng và hết lòng. Lần tới khi bạn muốn nói: “Ngợi khen Chúa” hãy nói “Chúa ơi, con rất mừng vì Ngài đã để điều đó xảy ra”. Nếu lòng bạn không thật như lời bạn nói thì bạn đang giấu đâu đó một lời lằm bằm nho nhỏ hay một chút vô tín. Chỉ cần chút than phiền nhỏ cũng khiến bạn không thể thật sự thuận phục và ca ngợi trong lãnh vực đó của đời sống bạn.
Khi cuốn sách Vừa Đi Vừa Nhảy của tôi đã được xuất bản, tôi rất giận dữ khi thấy nhiều chỗ in sai. Tôi cũng nhớ ngợi khen Chúa về những lỗi nầy, nhưng cũng viết cho nhà xuất bản một lá thư để báo cho họ biết, và tôi biết tôi không thể vui mừng vì có những sai sót nầy. Cho đến khi nhận thư trả lời của nhà xuất bản, tôi mới thấy tôi phản ứng sai lầm như thế nào.
Nhà xuất bản viết cho tôi: “Có lẽ ông rất thích thú nghe kể về lá thư chúng tôi đã nhận của một phụ nữ đang gặp rắc rối về một số cây đào trong vườn của bà. Bà ta đọc sách của ông và khi đọc đến chỗ in sai rõ nhất: “Sự bình an vượt quá mọi sự hiểu biết” đã in thành “Trái đào vượt quá mọi hiểu biết”, bà đã thật sự vui mừng vì thấy đó là một chứng cớ hiển nhiên của việc Chúa quan tâm đến cây đào của bà. Ngợi khen Chúa!”.
Tôi đã để vấn đề nhỏ làm mình giận dữ và mất tinh thần, và những lời ngợi khen của tôi không đem lại niềm vui thật sự. Sự phàn nàn giấu kín trong tôi đã bị sự thiếu vui mừng chỉ rõ ra nhưng tôi đã không lưu ý đến dấu hiệu cảnh cáo đó.
Khi chúng ta học để hoàn toàn thuận phục đến nỗi sự vui mừng và ngợi khen liên tục tràn ngập vào lòng, chúng ta sẽ được nâng lên trên những nan đề của mình để đến một mức sống mới với Đấng Christ. Đã bao giờ bạn từng mang một đôi giày cứ làm chân bạn đau và rồi sau đó mua được đôi khác vừa vặn với bạn không? Đổi thói quen phàn nàn cả đời để lấy thói quen vui mừng và ngợi khen cũng giống y như vậy.
Phải chăng điều nầy có nghĩa là chúng ta sẽ luôn luôn đầu phục trước mọi hoàn cảnh, cả tốt lẫn xấu? Thế còn uy quyền của chúng ta là những con cái Chúa thì thế nào? Chúng ta sẽ không dùng đến sao?
Chỉ có một lãnh vực mà Chúa bảo chúng ta không bao giờ thuận phục và luôn sử dụng quyền lực của chúng ta - đó là trên lãnh vực tội lỗi. Cách nầy hay cách khác mỗi một thử thách và đau khổ của chúng ta đều có liên quan đến bản chất tội lỗi cũ của chúng ta. Nhưng ngay cả trong cuộc chiến nầy, sự thuận phục vẫn đi trước quyền lực. “Vậy hãy phục Đức Chúa Trời, hãy chống trả ma quỉ, thì nó sẽ lánh xa anh em” (Gia Gc 4:7). Bước đầu vẫn luôn là thuận phục - sự thuận phục sẽ khiến chúng ta có quyền năng để chống lại tội lỗi. Nhưng hãy nhớ là quyền lực của chúng ta chỉ dựa trên quyền năng của Chúa. Chúng ta sẽ thua trận nếu chiến đấu bằng sức riêng của mình.
Vậy nếu bạn đối diện với một vấn đề nhỏ - hay những vấn đề lớn chồng chất đến nỗi cảm thấy không chịu nổi nữa thì bước đầu tiên là hãy thuận phục Đức Chúa Trời là Đấng đang kiểm soát mọi sự. Hãy tự hỏi để dò tìm sự lằm bằm, “Tôi có thật sự vui mừng về mọi sự không?”. Nếu bạn không vui mừng thì đây là lúc để sử dụng quyền lực của bạn, sự lằm bằm là cái mặt nạ che giấu tội vô tín và chống đối. Đừng để nó kéo bạn sâu hơn vào nỗi khốn khổ. Hãy chống cự lại nó bằng cách xưng ra với Chúa. Hãy hết sức cụ thể và thành thật, hãy xin lỗi Chúa vì bạn không vui mừng về cách Ngài đang lo liệu cho đời sống của bạn. Khi đã thành thật ăn năn, đã biết Ngài tha thứ, bạn có thể thưa với Chúa rằng bạn sẵn sàng thuận phục trước những gì Ngài đặt để trên đời sống bạn. Khi đã hoàn toàn thuận phục, quyền năng của Chúa sẽ thể hiện trên hoàn cảnh và sẽ đem vui mừng đến trong lòng bạn.
Đa-vít hiểu rõ thế nào là thuận phục và ăn năn. Ông viết: “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nghe và thương xót tôi; Đức Giê-hô-va ơi! Khá giúp đỡ tôi. Ngài đã đổi sự buồn rầu tôi ra sự khoái lạc, mở áo tang tôi, và thắt lưng tôi bằng sự vui mừng” (Thi Tv 30:10, 11).
Khi chúng ta thuận phục Đức Chúa Trời và chống trả tội lỗi, Ngài sẽ đổ sự vui mừng trên chúng ta. “Chúa ưa điều công bình, ghét điều gian ác. Cho nên hỡi Chúa, Đức Chúa Trời của Chúa lấy dầu vui mừng xức cho, khiến Chúa trổi hơn kẻ đồng loại mình” (HeDt 1:9).
Dấu hiệu của sự đầu phục hoàn toàn là vui mừng. Đó là lý do tại sao Đa-vít viết: “Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng. Hãy hát xướng mà đến trước mặt Chúa” (Thi Tv 100:2). Chúng ta không thể hầu việc Đức Chúa Trời trừ phi thuận phục ý chỉ của Ngài và nếu chưa vui mừng thì đó là chúng ta chưa thuận phục.
Chúa muốn chúng ta hầu việc Ngài, Ngài có một chương trình tuyệt diệu cho bạn và tôi, nhưng làm sao Ngài có thể hướng dẫn chúng ta vào đúng hướng nếu chúng ta cứ luôn muốn theo ý riêng? “Ngài sẽ dẫn kẻ hiền từ cách chánh trực, chỉ dạy con đường Ngài cho người nhu mì” (25:9). Những người nhu mì là những người đã học để thuận phục ý chỉ của Chúa cách vui mừng. Không nơi đâu để học tốt hơn là trong những hoàn cảnh khó khăn ngược lại với những ưa thích tự nhiên của chúng ta.
Chúng ta nói: “Chúa ơi, hãy sử dụng con. Hãy sai con làm một nhiệm vụ trọng đại. Con sẽ tuân theo những mạng lịnh nhỏ nhất của Ngài”. Với lời yêu cầu như vậy đây là điều Đức Chúa Trời trả lời: “Ngay tại nơi con đang ở, ta đã giao cho con một nhiệm vụ. Hãy tỏ cho ta biết sự vâng phục của con bằng cách thật sự vui mừng về mọi chi tiết trong hoàn cảnh của con”.
Tôi biết nhiều thanh niên thấy chán gia đình và công việc nên họ nói: “Đức Chúa Trời đã kêu gọi tôi để rao giảng Phúc Âm và sống bằng đức tin”. Họ bỏ công việc buồn chán và những người thân khó chịu để đi đến một cộng đồng ở xa và chờ những Cơ Đốc nhân khác dành cho họ một nơi ăn chốn ở.
Đây không phải là thuận phục ý chỉ Đức Chúa Trời. Phao-lô đã cho các tân tín hữu một vài lời khuyên thực tế: “Anh em thân mến, mỗi người ở cương vị nào khi tin Chúa, hãy tiếp tục sống trong cương vị ấy trước mặt Chúa” (ICo1Cr 7:24 - Bản Diễn Ý). Phao-lô tiếp tục làm nghề may trại và tự lo cho mình bất cứ nơi nào ông đến giảng Tin Lành.
Đức Chúa Trời có thể kêu gọi bạn làm một điều gì khác hơn điều bạn đang làm. Nhưng nếu không thích vị trí hiện tại của bạn thì bạn chưa sẵn sàng để đi nơi khác. Đầu phục hoàn cảnh hiện tại của bạn là bước đầu tiên. Đức Chúa Trời đặt bạn nơi nào đó đều có một mục đích, và chỉ có thể hoàn tất được khi bạn hoàn toàn thuận phục. Dấu hiệu của sự thuận phục là vui mừng. Khi bạn vui vì ở trong hoàn cảnh đó, có thể Chúa sẽ gọi bạn đi nơi khác, nhưng trước khi đó thì không. Nếu theo ý mình tự bỏ đi thì bạn sẽ đối đầu với những nan đề còn lớn hơn những nan đề bạn đang đối diện.
Điều nầy cũng đúng cho mỗi một thử thách bạn phải đối diện. Chúa định dùng điều đó để làm ích lợi cho bạn, nhưng chỉ khi bạn thuận phục thì mới thấy ích lợi. Khi bạn có thể nói: “Cảm tạ Chúa về điều làm con đau đớn. Con vui mừng về điều làm con đau đớn” thì thử thách có thể chấm dứt. Cho dù bạn biết thử thách không chấm dứt bạn vẫn vui mừng vì sự vui mừng của bạn đã lấy đi những nỗi đau đớn. Mục đích tốt đã được thực hiện. Sự thuận phục đem đến cho bạn uy quyền trên thử thách và Đức Chúa Trời nhấc bạn lên trên thử thách để vượt qua cách an toàn và đi đến bất cứ nơi nào Chúa đã định.
Chúng ta quen nghĩ thuận phục là dấu hiệu yếu đuối, nhưng thật ra đó là chìa khóa cho sức mạnh của chúng ta. Mỗi nan đề, mỗi đau đớn đều được định sẵn để giúp chúng ta tăng thêm sức mạnh. Khi một em bé còn nằm trong nôi, nó không cần nhiều sức mạnh. Nhưng khi đứng dậy bước đi, nó sẽ thấy sức hút kéo nó xuống. Để đi và chạy được nó cần phát triển sức mạnh. Càng mạnh mẽ, đứa trẻ càng có thể chạy nhảy, nhưng nếu không có sức hút kéo nó xuống thì chẳng bao giờ bắp thịt đứa trẻ phát triển.
Những Cơ Đốc nhân đầu tiên đã phải chiến đấu chống lại những sức mạnh to lớn, những sự bắt bớ và thử thách dữ dội hơn điều chúng ta có thể hiểu được. Họ bị trục xuất khỏi nhà, bị săn đuổi như những con thú, bị tra tấn, ném cho sư tử - phải sống trong các hang động và hầm mộ. Họ có rất ít thực phẩm, nước uống và tiện nghi. Nhưng chính trong những hoàn cảnh đó Đức Chúa Trời đã dạy cho dân Ngài cội nguồn thực sự của sức mạnh và sự vui mừng của họ. Chính tại đó họ đã học ngợi khen Ngài với tấm lòng hoan hỉ.
Nếu chỉ vui mừng và biết ơn khi sự việc như ý thì bạn giống như một em bé nằm trong nôi. Trong các vấn đề bạn đã không bắt đầu dựa vào sức mạnh của Chúa để chống lại sức hút đang kéo bạn xuống. Khi một thảm kịch xảy ra trong đời sống, chúng ta thường nghĩ đến việc xin Chúa giúp đỡ. Còn cố gắng để ngợi khen Ngài về một nan đề có thể là một kinh nghiệm nản lòng bởi vì chúng ta có thói quen cố hữu là phàn nàn trước những điều làm chúng ta thất vọng.
Giống em bé tập đi, chúng ta có thể bắt đầu luyện tập những cơ bắp thuộc linh bằng những vấn đề nhỏ. Cứ mỗi lần đáp ứng cách đúng đắn, chúng ta lại thấy mình được nhắc lên và sẵn sàng đối diện với một vấn đề lớn hơn với niềm tin tưởng mạnh mẽ hơn. Hãy nghĩ đến một điều rất nhỏ, như sự giận dữ khi thấy người khác chiếm mất chỗ đậu xe duy nhất còn sót lại trong khu phố. Bạn để cho cơn giận nhận chìm hay đẩy bạn lên?
Hãy dừng lại tại đây và sử dụng uy quyền trên sự giận dữ của bạn. Hãy thú nhận đó là một lời phàn nàn tội lỗi. Hãy xin lỗi Chúa vì bạn đã không vui mừng, nhưng bạn rất muốn vui mừng. Rồi hãy cảm tạ Ngài vì đã để cho người kia chiếm chỗ của bạn. Anh ta phải có một chỗ đậu tốt hơn. Bạn không thấy vui vì đã không được đậu xe vào chỗ bạn muốn sao?
Có bao giờ bạn phàn nàn vì đã mua lầm một món hàng kém phẩm chất và cửa hàng đã từ chối trả tiền lại cho bạn không? Tôi đã từng bị như vậy và khi còn giận dữ thì điều đó cứ sôi sục trong tôi và làm tác hại đến những suy nghĩ và hành động của tôi trong nhiều ngày. Tôi đã bị kéo xuống rất nhanh. Hãy nhớ bạn là con cái của Chúa với tất cả quyền năng và quyền lực mà Ngài ban. Không ai có thể lợi dụng bạn được. Nếu bạn thấy dường như bạn đang bị lợi dụng thì bạn đã quên rằng Đức Chúa Trời đang kiểm soát mỗi cửa hàng và mỗi người quản lý trên thế giới. Nếu Ngài cho phép họ giữ lại tiền của bạn hay bán quá đắt cho bạn thì chắc chắn là vì bạn cần kinh nghiệm đó. Bạn có thể vui mừng khi điều nầy xảy ra!
Nếu phàn nàn trong những điều bất ưng nho nhỏ thì làm sao bạn có thể chịu đựng nổi cuộc chiến thật sự chống lại tội lỗi. Tất cả những điều xảy đến cho bạn đều do Chúa đưa đến vì một mục đích tốt. Sự thuận phục đưa chúng ta vượt lên trên vấn đề và khiến năng lực và sự vui mừng của Chúa được thể hiện. Sa-tan khuyến khích chúng ta than thở vì biết rằng càng than thở nhiều chúng ta càng đau khổ lâu.
Tôi nhận được thư của một thiếu niên kể về cha em mới mất. Ông chỉ tin Chúa mới có ba tháng, nhưng em thiếu niên rất biết ơn Chúa. Em viết: “Cha mẹ em ly dị và em sống với cha. Mẹ em chưa tin Chúa nhưng bây giờ đã đến sống với chúng em. Em biết đó là lý do tại sao Chúa Giê-xu đem cha em về nhà trên trời với Ngài. Chúng em đang cầu nguyện cho mẹ và chúng em biết Chúa rất yêu mẹ”.
Cô gái đó đã không chìm đắm trong buồn phiền. Cô thuận phục hoàn cảnh và vui mừng vì biết Chúa đang lo liệu. Trong đời sống, chúng ta càng bị kéo mạnh xuống thì càng có cơ hội tốt hơn để phát triển cơ bắp tâm linh. Phao-lô viết: “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (Phi Pl 4:13). Phao-lô thấy được chân lý nầy khi từng trải những hoàn cảnh rất khó khăn.
Sức mạnh của chúng ta không phải là chúng ta mà là Christ. Chúng ta kinh nghiệm được điều đó khi đầu phục Ngài, nhưng chính qua sự thuận phục hằng ngày mà quyền lực và sức mạnh của Ngài mới kiểm soát đời sống chúng ta.
Một đoạn khác trong Kinh Thánh cho chúng ta biết “Sự vui vẻ của Đức Giê-hô-va là sức lực của ngươi” (NeNe 8:10). Đó là sự vui vẻ đến từ sự thuận phục hoàn toàn. Khi chúng ta hoàn toàn nhờ cậy Chúa mà nói: “Con vui mừng vì mọi sự xảy ra như vậy!”, sức lực của Ngài sẽ nâng chúng ta lên và biến mọi vấn đề, mọi nỗi đau đớn thành niềm vui mừng.
Sự vui mừng và sức lực như vậy không bao giờ đến với những người kiêu ngạo mà chỉ đến với người khiêm nhường. Người kiêu ngạo không biết cách giao thác chính mình cho Đức Chúa Trời và không khi nào có thể kinh nghiệm sự hiệp một với Ngài. Chúa Giê-xu đã nói với các môn đồ: “Vậy, hễ ai trở nên khiêm nhường như đứa trẻ nầy, sẽ là lớn hơn hết trong nước thiên đàng” (Mat Mt 18:4).
Sự thuận phục nhằm làm giảm bớt vai trò con người cũ của chúng ta và tăng thêm vai trò của Chúa trong đời sống chúng ta - chúng ta ít đi và Ngài nhiều lên.
Tôi nhận một lá thư của một phụ tá mục sư chia xẻ về niềm vui khi anh ngợi khen Chúa về tất cả mọi sự. Chính âm điệu của lá thư đã gây cho tôi một ấn tượng mạnh. Nguồn vui của thanh niên nầy ở chỗ anh ta thật sự thấy mình tầm thường và thấy Chúa là vĩ đại. “Bằng nhiều cách Chúa đã cho tôi thấy tôi thật sự chẳng là gì cả, và tôi ngợi khen Chúa vì bây giờ tôi hiểu rõ Ngài cao cả làm sao. Biết Chúa yêu tôi là một cảm biết tuyệt vời nhất trên thế gian. Tôi cảm thấy mình nhỏ bé và thiếu khôn ngoan, nhưng tôi cũng như mọi vấn đề của tôi ở trong tay Chúa. Tôi không còn lo lắng về bất cứ điều gì nữa. Chúa đang tể trị mọi sự. Ngợi khen Ngài!”
Bạn có còn lo lắng về điều gì không? Thỉnh thoảng bạn có mất ngủ giữa đêm vì sợ nhận được tin chẳng lành không? Bạn có sợ thất nghiệp? Hay sợ bị ung thư? Có quá nhiều người sống trong sự sợ hãi. Tại sao vậy? Chúng ta chỉ sợ về những điều chúng ta chưa dâng lên cho Chúa.
“Ha-lê-lu-gia! Phước cho người nào kính sợ Đức Giê-hô-va, rất ưa thích điều răn Ngài!...Người cũng chẳng hề bị lay động, kỷ niệm người công bình còn đến đời đời. Người không sợ cái tin hung; lòng người vững bền, tin cậy nơi Đức Giê-hô-va” (Thi Tv 112:1, 6, 7).
Tôi tin chắc rằng trong tương lai chúng ta sẽ trải qua những thời kỳ khó khăn - khó khăn về kinh tế, về sự sụp đổ của luật lệ và trật tự, sự khan hiếm thực phẩm - những điều đáng sợ nếu chúng ta chưa học để nương dựa vào sức lực của Đức Chúa Trời qua sự thuận phục.
Sợ hãi bơm chất adrenalin vào cơ thể và khiến chúng ta hoạt động. Châ1t nầy cho chúng ta sức lực khác thường để làm những điều mà bình thường chúng ta không làm được. Hãy nghĩ đến tác động của đức tin nếu chúng ta luôn để cho đức tin kiểm soát giống như trước đó chúng ta để cho sự sợ hãi hoành hành - đức tin sẽ khiến chúng ta thuận phục Chúa không chút do dự. Hãy nghĩ đến sức mạnh phi thường Đức Chúa Trời thể hiện qua sự thuận phục của chúng ta!
Để hiểu tại sao Chúa muốn chúng ta thuận phục ý chỉ của Ngài có quá khó không? Ngài biết điều gì sẽ xảy đến trong đời sống chúng ta khi chúng ta thôi không than thở và học để nói: “Chúa ơi, con thật sự vui mừng!”.

AI LÀ NHÂN VẬT SỐ MỘT?
Bạn có nghĩ là nếu không ở chung với những người khó tính sẽ dễ dàng trở nên trọn vẹn hơn không? Nhưng tại sao những người khó tính đó lại có ở đây? Chúng ta thường trích câu Kinh Thánh “Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (Phi Pl 4:19). Có bao giờ bạn nghĩ Đức Chúa Trời cung cấp những người bạn cần sống chung không?
Có lẽ bạn bảo: “Nhưng, Chúa ơi, con không cần một người chồng nghiện rượu hay một người vợ thiếu yêu thương hay một đứa con chống nghịch cứ muốn bỏ nhà ra đi hay một ông chủ không biết điều!” Nhưng những gì bạn có là điều Chúa nói bạn cần, nếu không Ngài đã chẳng ban cho bạn.
Chúng ta đã nói về việc Chúa đặt chúng ta trong những hoàn cảnh khó khăn để lột bỏ bản chất và dạy chúng ta vui lòng thuận phục ý chỉ Ngài. Không có điều gì dạy chúng ta thuận phục hữu hiệu bằng việc phải sống với những người khó tính. Chúa thường đưa đến đời sống chúng ta một người nào đó làm chúng ta tức giận đến muốn chết đi được, chỉ vì chúng ta cần người đó. Người đó khiến chúng ta bộc lộ cái xấu nhất ra, và chúng ta cần thấy cái xấu đó để loại bỏ đi. Cái “tôi” bướng bỉnh, cứng đầu cứng cổ của chúng ta gân cổ lên nói: “Tôi không muốn làm những gì người khác bảo tôi làm. Tôi không muốn nghe những lời nói càn của bất cứ ai!!”. Bạn có nhận ra trong chúng ta điều xấu xa cứ muốn nổi lên và cứ cho mình là người có tiếng nói quyết định không? Điều đó được gọi là xác thịt, bản chất cũ, và chỉ có sự thuận phục mới chế ngự được.
Phao-lô đã đưa ra những hướng dẫn rõ ràng cho đời sống Cơ Đốc:
1. ...Phải đầy dẫy Đức Thánh Linh
2. Hãy thường nhơn danh Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta.
3. Hãy kính sợ Đấng Christ mà vâng phục nhau (Eph Ep 5:18, 20, 21)
Bước thứ ba là điều khó chấp nhận nhất đối với chúng ta - nhưng không có bước nầy thì hai bước trên không có kết quả. Vâng phục người khác là phần hết sức cần thiết trong quá trình tăng trưởng của Cơ Đốc nhân. Đức Chúa Trời biết rõ chúng ta hơn chính chúng ta, ban cho chúng ta những cơ hội vâng phục một số người nào đó để chúng ta trở nên giống như ý Ngài muốn.
Ngay Chúa Giê-xu cũng học sự thuận phục qua kinh nghiệm. Khi còn nhỏ Ngài có nhiều khôn ngoan và hiểu biết hơn bất cứ ai trên đời và tôi chắc rằng Ngài biết rõ điều đó. Khi được 12 tuổi, Ngài theo cha mẹ lên đền thờ Giê-ru-sa-lem. Khi họ trở về Chúa Giê-xu còn ở lại để thảo luận với các thầy thông thái, và những người nầy đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết của Ngài. Khi cha mẹ Ngài khám phá ra con trai họ còn ở lại, họ lo lắng trở lại tìm Ngài. Khi gặp được Ngài, họ bảo Ngài trở về nhà ngay tức khắc.
Chúng ta biết Ngài đã trở về Na-xa-rét và phục tùng cha mẹ (LuLc 2:41-52). Hãy nghĩ đến điều nầy, Con Đức Chúa Trời sống trong sự thuận phục trọn vẹn đối với cha mẹ trên đất dù Ngài khôn ngoan hơn họ nhiều. Ngài lặng thinh và làm những gì cha mẹ bảo. Ngài lắng nghe và học hỏi. Ngài học điều gì? “Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu” (HeDt 5:8).
Chúa Giê-xu được 30 tuổi khi Ngài bắt đầu chức vụ. Quyền năng phía sau uy quyền của Ngài là sự thuận phục trọn vẹn đối với Cha trên trời, đối với những hoàn cảnh và những người mà Cha Ngài đặt để quanh Ngài.
Nếu bạn còn trẻ và muốn có sự vui vẻ của Đức Chúa Trời thì hãy vâng lời cha mẹ. Có thể cha mẹ cứ nhắm vào bạn để mắng nhiếc. Có thể họ không tin bạn. Có thể họ không hiểu tôn giáo của bạn và muốn bạn đừng nói về Chúa Giê-xu và ở nhà không đi nhà thờ nữa. Bạn có thể nói: “Tôi sẽ vâng lời Chúa chứ không vâng lời con người” và cứ đi nhà thờ. Bạn đang sai lầm, lời khuyên đầu tiên cho bạn là “Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa vì điều đó là phải lắm (Eph Ep 6:1). Khi ở nhà không đi nhà thờ vì vâng lời cha mẹ thì bạn gần Chúa hơn là khi bạn trái ý cha mẹ mà đến nhà thờ.
Hãy cố gắng để thuận phục ít nhất là một tuần một lần rồi nếu bạn có thể làm được thì hãy thử một tuần lễ nữa - rồi một tuần nữa - rồi một tháng - rồi một năm. Bạn có thể làm điều nầy cách vui mừng không? Có thể bạn nói: “Tôi chỉ có thể làm đúng điều đó thôi”. Đối với người mới bắt đầu thì đây là một điều tốt nhưng hãy thử tự nhìn lại mình để xem tại sao không thể làm điều đó cách vui mừng.
Bạn có tin là Đức Chúa Trời cho bạn có cha mẹ giống như vậy vì bạn cần những người nầy không? Nếu Ngài có ý khác chắc đã đặt bạn vào trong một gia đình khác. Nếu bạn đang sống với một bố mẹ nuôi thì điều nói trên vẫn đúng. Đức Chúa Trời cho cha mẹ có quyền trên bạn vì nhu cầu của bạn. Bạn có thể cảm tạ Chúa về cha mẹ của bạn không? Bạn có thật sự vui mừng vì cha mẹ bạn như vậy không? Nếu không vui mừng thì bạn đang than thở và hãy nhớ là than van là một tội lỗi nghiêm trọng. Đức Chúa Trời sẽ tha thứ và ban cho bạn tình yêu mới mẻ với cha mẹ khi bạn cầu xin Ngài điều nầy.
Nếu bạn yêu cha mẹ thì sự thuận phục rất dễ dàng vì “tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ” (ICo1Cr 13:4, 5). Tình yêu thương nầy có mô tả được tình cảm và hành động của bạn đối với cha mẹ không?
Một thanh niên viết cho tôi: “Cha mẹ tôi chưa được cứu và mong muốn của tôi là họ nhận biết Chúa Giê-xu. Tôi cố gắng làm một Cơ Đốc nhân tốt, nhưng mỗi lần tôi nói hay làm điều gì chống lại ý muốn của cha mẹ, họ đổ lỗi đó cho Chúa Giê-xu. Tôi chán nản và thất vọng.
Cách mạnh mẽ nhất để bày tỏ Cơ Đốc giáo cho cha mẹ bạn là vâng phục trong tình yêu thương. Hãy nhớ rằng bạn ở trong mối quan hệ ba chiều. Đầu tiên khi thuận phục Đấng Christ, Ngài sẽ giúp bạn cách thuận phục cha mẹ để họ thấy Đấng Christ và tình yêu Ngài trong bạn.
Đức Chúa Trời cho cha mẹ có quyền trên con cái, nhưng uy quyền nầy sẽ không có thật và sự gây tác hại nếu chúng ta không học để kết hợp nó với sự thuận phục thật. Bước đầu tiên là thuận phục ý chỉ của Chúa và nhận biết Ngài đã ban cho chúng ta đúng những đứa con chúng ta cần. Nếu con cái chúng ta thông minh hay chập chạp, có khả năng hay vụng về, vâng lời hay vô kỷ luật thì chúng là những gì chúng ta cần và chúng ta là những gì chúng cần. Đức Chúa Trời đã kết hợp chúng ta một cách hết sức thận trọng, dù cho con cái là do chúng ta sinh ra hay đến với chúng ta qua một cách nào khác.
Nếu có xáo trộn và đụng chạm thường xuyên trong gia đình thì đó là do các bậc làm cha làm mẹ đã không học để sử dụng đúng đắn uy quyền và sự thuận phục của mình. Chúng ta luôn muốn điều tốt nhất cho con cái và có khuynh hướng tự cho mình có lỗi khi con cái làm điều sai trái. Trong nỗi thất vọng chúng ta thường cố gắng không dùng kỷ luật hoặc là chúng ta trở nên quá khắt khe. Kinh Thánh cho chúng ta biết một phương pháp tốt hơn: “Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con cái mình giận dữ, hãy dùng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa mà nuôi nấng chúng nó” (Eph Ep 6:4).
Đừng quá khắt khe nhưng cũng đừng để mặc con cái mà không áp dụng kỷ luật yêu thương. Không thể nào làm được điều nầy nếu chúng ta không thuận phục Chúa và xin Ngài qua chúng ta đáp ứng nhu cầu của con cái. Chỉ có Ngài mới biết nhu cầu của chúng - có thể chúng cần một trận đòn hoặc cần một chuyến đi chơi với cha. Nếu trước đây chúng ta không hiểu phải tùy thuộc vào Chúa, chúng ta sẽ có cơ hội hiểu điều nầy khi con chúng ta lớn lên!
Hầu hết chúng ta bắt đầu có vấn đề khi những con cái đến tuổi thiếu niên. Những bậc cha mẹ đến gặp tôi không thể nào hiểu được tại sao những đứa con dễ thương lúc trước lại trở nên xa cách, nổi loạn và đáng ghét. Vào thời điểm nầy các bậc cha mẹ dễ cảm thấy mình phạm tội. Chúng ta lo ngại rằng chúng ta đã hoàn toàn thất bại.
Dưới cái nhìn của Chúa, sự việc không giống như vậy. Khủng hoảng trong gia đình là một cơ hội tuyệt diệu để mọi người cùng học hỏi. Cảm tạ Chúa về vấn đề xảy ra là bước thứ nhất.
Một sai lầm thông thường của các bậc cha mẹ là nghĩ rằng con cái là thuộc về chúng ta - chúng ta giữ chặt lấy chúng và cố gắng uốn nắn chúng. Chúng ta cần giao thác con cái cho Chúa và ý thức rằng mối quan hệ giữa chúng với Ngài quan trọng hơn mối quan hệ giữa chúng với chúng ta. Chúng ta có cám ơn Chúa vì Ngài đang lo liệu cho chúng không? Chúng ta có thể cám ơn Chúa về tất cả mọi điều chúng nói và làm không?
Một bà mẹ kể cho tôi nghe rằng con gái bà hay nổi nóng và hét lên: “Con căm thù mẹ!” Bà mẹ cũng hét lên bắt con phải câm miệng lại, và những cảnh la hét mỗi ngày trở nên lâu hơn và càng lớn tiếng hơn. Trong thời điểm nầy bà mẹ đến với Hội Thánh chúng tôi và bắt đầu học cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh.
Một tối kia cô gái nổi giận lên và chửi rủa om sòm nhưng bà mẹ vẫn bình tĩnh đáp rằng: “Ngợi khen Chúa!”, cô ta lại càng giận hơn vì thấy không chọc tức được mẹ nên buộc tội mẹ uống rượu. Người mẹ cũng vẫn mỉm cười và nói: “Cám ơn Chúa vì tất cả những điều nầy”.
Gần phát điên lên, cô chạy vào phòng và ở đó suốt đêm. Sáng hôm sau khi ra ăn điểm tâm, cô đã hoàn toàn đổi mới, tươi cười và dịu dàng. Chuyện xảy ra cách đây ba năm, và từ đó đến nay, hai mẹ con không hề cãi nhau nữa.
Qua sự thuận phục của người mẹ, quyền năng Chúa được thể hiển và đời sống người con được thay đổi. Nhưng nếu Đức Chúa Trời đỏi hỏi bạn phải cứng rắn với con cái trong tuổi thiếu niên thì sao? Ngay cả khi đó sự cứng rắn của bạn cũng phải đặt căn bản trên sự thuận phục, phải cầu xin Chúa ban cho những lời thích hợp để nói trong tình yêu thương.
Nếu đứa con 18 tuổi của bạn nói: “Cám ơn cha mẹ đã khuyên bảo nhưng con không muốn nghe theo”, thì quyền quyết định thuộc về nó. Bạn có biết ơn Chúa không? Bạn có giao thác con cái cho Chúa và yên nghỉ trong nhận biết việc đưa con cái vào kỷ luật bây giờ là tùy thuộc vào Cha nó ở trên trời không?
Hai vợ chồng tín đồ kia đã dâng con gái họ cho Chúa và cô ta được trưởng dưỡng trong Hội Thánh. Khi được 16 tuổi, cô đi trốn với người yêu. Cùng với người bạn trai nầy, cô sống lang bạt nhiều nơi và chỉ gọi điện thoại về nhà bảo rằng cô hạnh phúc và không muốn cha mẹ can thiệp vào đời sống của mình.
Ba năm trôi qua, cha mẹ cô buồn rầu. Rồi trong một dịp học Kinh Thánh nhóm, họ thảo luận câu “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (RoRm 8:28). Ngài hướng dẫn giải thích điều đó có nghĩa là phải cảm tạ Chúa về mọi hoàn cảnh trong đời sống. Lời chia xẻ làm người mẹ bối rối vì bà nghĩ Chúa không định cho họ cảm tạ Ngài khi con gái họ đang sống trong tội lỗi.
Vài tuần sau, một người bạn đưa cho họ cuốn Từ Ngục Tù Đến Ca Ngợi. Họ đọc nhưng nghĩ điều nầy không thể áp dụng vào trường hợp của họ. Sau đó họ đọc cuốn Quyền Năng Của Sự Cảm Tạ và suy gẫm cẩn thận những câu Kinh Thánh được nêu trong sách. Cuối cùng họ được thuyết phục để tin rằng Chúa muốn họ đủ tin cậy để ca ngợi Ngài với lòng tin rằng nếu con gái họ đang làm điều gì thì đó là vì ý Chúa cho phép, Ngài sẽ dùng hoàn cảnh nầy cho một điều gì ích lợi. Khi đã thuận phục hoàn cảnh họ thấy sự bình an, vui mừng mới mẻ trong đời sống. Họ tin cậy Chúa trong một cách thức mới, với một uy quyền và một năng lực mới để giúp đỡ những người khác.
Vào thời điểm nầy con gái họ và người yêu của cô ta đang sống trong một túp lều đổ nát tại một tiểu bang khác. Khi lục lọi những cái thùng mà những người thuê lều trước bỏ lại, cô tìm thấy một cái quạt giấy bìa cứng quảng cáo cho một nơi chuyên lo mai táng tại địa phương đó. Trên quạt có hình Chúa Giê-xu, Đấng chăn chiên đang bồng một con chiên con. Thình lình cô ta nghĩ: “Đức Chúa Trời yêu mình giống như Chúa Giê-xu yêu con chiên nhỏ bé nầy”. Ý nghĩ nầy cứ ở trong tâm trí và sau đó vài ngày cô tìm được một trang giấy Kinh Thánh nhàu nát. Cô đọc ngấu nghiến những lời quen thuộc và nhận ra rằng cô đang mong mỏi tìm cách trở lại với Chúa. Cô điện thoại cho cha và xin ông cầu nguyện để biết cô phải làm gì. Cha cô trả lời: “Con yêu dấu, con biết con có thể tìm thấy Chúa Giê-xu ngay nơi con ở nếu con nói chuyện với Ngài”.
Tuần đó cô gọi về nhà nhiều lần và cuối cùng nói với cha mẹ rằng: “Con đã dâng đời con cho Chúa. Con muốn làm theo ý chỉ Ngài”. Cô hỏi cha cô xem có nên bỏ người yêu và quay về nhà không, cha cô nói: “Cha sẽ vui lòng gởi cho con một vé máy bay, nhưng con phải tự quyết định để trở về khi con cảm thấy đó chính là điều cần phải làm”.
Cô gái rất yêu người mà cô đang chung sống, nhưng cuối cùng quyết định rằng ở lại với anh ta là điều sai trái. Cô trở về nhà với cha mẹ và suốt ngày đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Sự thuận phục của cô đối với ý chỉ của Chúa hoàn toàn đến nỗi cô đã trưởng thành nhanh chóng trong đời sống đức tin.
Vài tháng sau, người yêu cô tìm đến, cô đi vắng nhưng có một người bạn trong Chúa đang ở tại đây. Người nầy đã chào đón người yêu của cô một cách nồng nhiệt, người nầy hỏi anh ta có biết Đấng Christ không.
Anh ta trả lời: “Tôi chưa bao giờ đi nhà thờ nhưng tôi biết người yêu tôi sẽ không bỏ tôi nếu có một điều gì quan trọng xảy ra. Tôi muốn cầu nguyện với Chúa của cô ấy để xem tôi có tìm được điều cô ấy đã tìm thấy không?
Vài giờ sau, anh ta tin nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình. Anh chẳng có nghề nghiệp và của cải gì, nhưng ở chung với những người bạn Cơ Đốc, chẳng bao lâu anh đã trở thành một Cơ Đốc nhân nhiệt thành và tận hiến. Anh muốn làm theo ý chỉ của Chúa và sẵn sàng từ bỏ hy vọng được lại cô bạn cũ nếu đó là chương trình của Chúa. Trong thời điểm đó, Chúa sắp xếp những hoàn cảnh để đưa hai người trở lại với nhau. Đám cưới của họ là một trong những đám cưới hạnh phúc nhất tại Hội Thánh đó và ngày nay họ hầu việc Chúa rất tích cực.
Câu chuyện nầy có đoạn kết rất đẹp, nhưng tôi biết có những bậc cha mẹ không thể giao thác cho Chúa những đứa con bỏ nhà ra đi, và không thể cưỡng lại ước muốn kiểm soát đời sống của những đứa con khi chúng trở về. Vì thiếu thuận phục mà vẫn còn những quan hệ đổ vỡ và đau đớn.
Làm vợ hay làm chồng lại cho chúng ta một cơ hội tuyệt vời khác để thuận phục. Bạn không vui mừng vì chồng bạn giống như vậy sao? Bạn có thấy giá trị của việc Chúa đã chọn cho bạn một người vợ để đáp ứng đặc biệt cho nhu cầu của bạn không? Một phụ nữ trong Hội Thánh chúng tôi kể là thoạt đầu bà cố ngợi khen Chúa về ông chồng của bà với hy vọng Chúa sẽ thay đổi đời sống ông ta. Nhưng chẳng có gì xảy ra, rồi bà bắt đầu nghe những bài giảng về cách thuận phục những gì Chúa muốn. Bà bắt đầu nhìn lại thái độ của mình và xin Chúa thay đổi bà. Khi bà thay đổi thì chồng bà cũng thay đổi.
Thuận phục người bạn đường của chúng ta trước hết có nghĩa là chúng ta thật sự vui mừng vì họ giống như vậy. Nếu họ là những người khó sống chung thì đó là vì chúng ta cần điều ấy. Không có cách nào tốt hơn để loại bỏ những khía cạnh xấu xa của cái tôi bướng bỉnh trong chúng ta. Bạn không vui vì có cơ hội được biến đổi thành một người nhân từ, yêu thương và kiên nhẫn hơn sao?
Sự thuận phục thật là sức mạnh. Đó là lý do Phi-e-rơ viết” “Vợ nên thuận thảo với chồng; nếu người chồng nào không chịu nghe vợ nói về Chúa, cũng có thể nhìn thấy cách ăn nết ở của vợ mà được cảm hóa” (IPhi 1Pr 3:1 - Bản Diễn Ý).
Cách đây không lâu, văn phòng chúng tôi nhận được lá thư sau đây: “Từ 35 năm nay chồng tôi nghiện rượu, và có lẽ việc tôi tự cho mình là người đạo đức đã đẩy ông ta đến chỗ đó. Qua Kinh Thánh, tôi được Chúa chỉ cho biết nếu để Ngài đặt tôi vào đúng vị trí của một người vợ trong hôn nhân, Ngài sẽ chịu trách nhiệm về chỗ ở của chồng tôi trong vương quốc của Ngài. Tôi quì xuống bên giường chồng tôi khi ông ấy đang nằm vì say và xin tha thứ cho tôi về tất cả những lần tôi đã chiếm đoạt quyền của ông ấy và hứa từ giờ trở đi sẽ là một người vơ thuận phục.
Hãy đoán xem điều gì đã xảy ra? Chúa lo liệu mọi sự ngay lập tức. Chồng tôi nằm dài bất động trên giường ba ngày, rồi ông ta đứng dậy và kể từ đó không uống rượu nữa. Ông đã tiếp nhận Chúa Giê-xu và Thánh Linh Ngài. Ngợi khen Chúa! Ngài thật tuyệt vời!”
Có những người vợ nhiều năm sống dưới sự thống trị của một người chồng đòi hỏi. Họ đã học để có một sự thích nghi bề ngoài hầu giữ hòa khí trong gia đình, nhưng đó không phải là sự thuận phục thật. Nếu bạn là một người vợ đang chịu khổ, hãy xem lại thái độ của bạn. Lòng tự thương hại che giấu sự phàn nàn, và phàn nàn là một tội lỗi. Bạn có biết ơn Chúa vì chồng bạn giống như vậy không? Hay bạn muốn chồng bạn khác như vậy?
Sự thuận phục chỉ có thật sự khi bạn vui lòng thích nghi với chồng. Khi điều đó xảy ra bạn sẽ khám phá rằng Chúa đã biến đổi người bề trong của bạn. Bạn sẽ kinh nghiệm sự vui mừng và bình an lớn hơn, và uy quyền cùng quyền năng của Chúa cũng sẽ được thể hiện quanh bạn.
Hôn nhân là một quan hệ ba chiều. Là người vợ, bạn nghĩ ai là nhân vật số một? Đó phải là Chúa Giê-xu và chồng bạn là người thứ hai. Nếu bạn nghĩ đến mình đầu tiên, muốn được sự quan tâm, muốn được yêu thương nhiều hơn thì bạn không đang yêu - vì tình yêu không tìm kiếm sự thỏa lòng riêng nhưng tìm cách làm thỏa lòng người mình yêu.
Là người chồng, bạn nghĩ ai là nhân vật số một? Đó phải là Chúa Giê-xu và tiếp theo là vợ bạn. Người chồng có quyền trên vợ nhưng không chỗ nào trong Kinh Thánh bảo người chồng phải đòi cho được quyền của mình. “Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình, như Đấng Christ đã yêu Hội Thánh, phó chính mình vì Hội Thánh” (Eph Ep 5:25).
Trong nhiều cuộc hôn nhân hiện đại, những người chồng đã nhườg quyền quyết định cho vợ. Nếu đó là điều bạn đang làm thì bạn đã không quan tâm đến nhu cầu thật của vợ. Chúa đã chỉ định bạn là đầu của vợ để hướng dẫn và điều khiển nàng với tình yêu thương của Đấng Christ, Đấng là đầu của bạn. Nếu người vợ không muốn lắng nghe lời khuyên của bạn thì bạn có vui không? Đó sẽ là cơ hội để bạn nương cậy vào Chúa và giao thác người vợ cho Ngài. Nếu bạn để cho Chúa đặt bạn vào đúng vị trí, tức là đầu của vợ thì bạn có thể tin cậy Ngài lo liệu về sự thuận phục của nàng. Bạn chỉ có việc vui mừng vì có người vợ giống như vậy và yêu thương nàng.
Giữa vợ chồng thường nổ ra những chống đối sâu kín nhất. Điều nầy cho chúng ta những cơ hội tuyệt vời để nhìn thấy con người thật của chúng ta và dâng trình những tội lỗi lên cho Chúa. Không thể loại bỏ khi chúng còn bị che đậy, thế thì tại sao bạn không thể vui mừng khi Chúa ban cho một người vợ hay một người chồng biết làm cho bạn nhận ra tội lỗi?
Điều khó khăn nhất để chấp nhận có lẽ là sự chỉ trích từ bất cứ người nào. Tôi thường bị những người nhìn thấy lỗi lầm của tôi làm tổn thương và phản ứng tự nhiên của tôi là trả đũa lại. Rồi tôi bắt đầu hiểu rằng Đức Chúa Trời cho tôi nghe những lời nầy vì tôi cần chúng. Nếu bạn sẵn lòng làm những gì Chúa phán dạy, liệu bạn có sẵn lòng nghe những gì Ngài muốn bạn nghe không?
Chúa Giê-xu chịu đựng những lời chỉ trích và sự nhục mạ mà không bao giờ dùng một lời xấu xa nào để trả đũa lại. Đôi khi những điều người khác nói về chúng ta cũng đúng. “Nguyện người công bình đánh tôi, ấy là ơn. Nguyện người sửa dạy tôi, ấy khác nào dầu trên đầu. Đầu tôi sẽ không từ chối. Vì dầu trong khi chúng nó làm ác, tôi sẽ cứ cầu nguyện” (Thi Tv 141:5).
Khi một ai đó thấy lỗi lầm của chúng ta, phản ứng đầu tiên của chúng ta phải là cám ơn Chúa. Hãy thật sự vui mừng, rồi hãy để cho ánh sáng của Đức Thánh Linh chỉ cho chúng ta xem có sự thật nào trong những lời đó không. Nếu có chúng ta cần xưng tội.
Nếu bị chỉ trích sai, chúng ta cũng có cớ để vui mừng. Đây là một cơ hội tốt nhất để chứng minh quyền năng của Chúa qua sự thuận phục. Nếu chúng ta đáp lại bằng những lời nói xấu xa, thì vòng tròn tội lỗi vẫn tiếp tục. Nếu đáp ứng bằng tình yêu thương, thì vòng tròn ấy bị bẻ gãy. Tình yêu của Christ lấy nọc độc ra khỏi những lời nói đó và đem lời hứa đến chữa lành tâm hồn cay đắng và bị tổn thương của người lên án bạn.
Một ngày kia tôi đang chơi đánh gôn (golf) với Roy Wyman, bạn tôi. Hôm đó trời thật đẹp và chúng tôi đi bộ thoải mái trên bãi cỏ xanh rợp bóng cây. Đến lỗ banh cuối cùng chúng tôi nghe thấy tiếng la phía sau. Một người đàn ông mặt đỏ gay giơ tay đấm về phía chúng tôi, ông ta hét lớn: “Mấy anh không nghĩ đến ai hết. Biết bao nhiêu người đang đợi để chơi”.
Chúng tôi cảm thấy thoải mái đến nỗi quên mất không chơi cho chóng xong. Trong một thoáng tôi chợt thấy con người Merlin khi trước đang muốn biện minh cho mình. Cách đây vài năm tôi đã vung gậy đánh gôn lên và bảo người kia câm miệng. Thay vào đó, tôi thấy thương ông ta và thật sự ân hận vì đã làm ông ta buồn. Tôi xin lỗi với nụ cười và gương mặt đỏ gay của ông ta dịu dần.Ông lẩm bẩm vài lời rồi bỏ đi. Trước đây những lời chỉ trích như vậy đã làm hỏng nguyên buổi chiều của tôi. Bây giờ tôi cảm thấy bình an vui mừng khi nhận biết sự thay đổi mà Chúa đã đem đến cho tôi.
Bằng cách nầy hay cách khác chúng ta thấy mình đúng khi không thuận phục những điều chúng ta nghĩ là sai. Nếu ông chủ chúng ta chỉ trích tôn giáo chúng ta, chúng ta thấy mình có quyền đứng về Chúa Giê-xu để chống lại những luật lệ của công ty. Nhưng Kinh Thánh nói sao? “Hỡi kẻ làm tôi tớ, hãy lấy lòng rất kính sợ mà phục theo chủ mình, chẳng những phục người chủ hiền lành mà thôi, lại phải phục người chủ khó tánh nữa” (IPhi 1Pr 2:18).
Nếu chủ bảo bạn không được nói về Chúa Giê-xu trong những giờ làm việc thì bạn phải im lặng và vui mừng. Ông chủ không thể nói như vậy với bạn trừ phi bạn cần như vậy. Lời làm chứng hữu hiệu nhất của người Cơ Đốc trong công việc là vui vẻ phục tùng đối với bất cứ điều gì chủ đòi hỏi. Khi đã học được những điều cần học, bạn sẽ rất vui mừng vì chủ của bạn giống như vậy và bạn không quan tâm đến việc ông có thay đổi hay không. Bạn có thể cảm tạ Chúa về ông và quyền năng của Chúa sẽ bày tỏ trong cửa tiệm hay văn phòng đó.
Sự thuận phục của bạn có giới hạn nào không? Không bao giờ trong thái độ bên trong, nhưng một ngày kia có thể Chúa bảo: “Đủ rồi, bây giờ ta muốn con nói với uy quyền của ta”. Nếu ông chủ bảo bạn: “Hãy đi giết người!”, bạn phải nói: “Rất tiếc, thưa ông chủ, tôi không thể làm được điều đó”. Nếu ông ta bảo: “Uống rượu cho say đi”, bạn nói: “Thưa ông chủ, rất tiếc tôi cũng không làm điều đó được”. Nhưng nếu ông ấy nói: “Hãy im đi và làm việc trở lại” thì bạn có thể nói: “Thưa ông, vâng”.
Chính quyền có thể sai lầm nhưng nếu chống lại thì chúng ta không vâng lời Chúa. “Mọi người phải vâng phục các đấng cầm quyền trên mình; vì chẳng có quyền nào mà không đến bởi Đức Chúa Trời, các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định” (RoRm 13:1). Nếu bạn nghĩ luật lệ quá hà khắc, thuế má quá cao, thì đó là những điều để chúng ta học hỏi sự thuận phục. Bạn có biết ơn người cảnh sát giao thông khi ông ta chặn bạn lại vì bạn phóng xe quá nhanh không?”
Có thể có một ngày chính quyền nói: “Hãy vây bắt sáu triệu dân Do Thái và giết họ đi”. Đó là khi Chúa sẽ bảo bạn sử dụng uy quyền của Ngài và bạn có thể trả lời: “Rất tiếc, tôi không thể làm điều đó”. Hay họ có thể nói: “Hãy chối bỏ đức tin của anh nếu không anh sẽ mất tự do”. Và bạn nói: “Tôi rất tiếc nhưng xin cứ bỏ tôi vào tù”. Hay họ có thể giết bạn. Điều nầy đã xảy ra cho nhiều Cơ Đốc nhân từ đó đến nay và họ xem việc chết cho Đấng Christ là một đặc ân vui mừng, bạn có nghĩ vậy không?
Phần lớn chúng ta còn phải học nhiều về sự thuận phục để đạt được điều nói trên. Ngay cả trong Hội Thánh chúng ta còn chưa thể thuận phục lẫn nhau! Những giáo phái khác nhau là kết quả của những Cơ Đốc nhân không thuận phục.
Bạn nghĩ là tại sao Chúa đặt những người khó tánh với nhau trong Hội Thánh? Ngài làm vậy để chúng ta học yêu thương nhau. Và chỉ khi chúng ta thuận phục thì tình yêu thương của chúng ta mới là tình yêu thương thật. Có những chấp sự hay gắt gỏng trong Hội Thánh bạn không? Có một truyền đạo non choẹt và huênh hoang luôn dạy mọi người phải làm gì không? Có tín đồ hay ngồi lê đôi mách không? Có Hội Thánh không được thuộc linh như ý bạn không? Nếu bạn rời bỏ Hội Thánh trước khi Đức Thánh Linh hướng dẫn bạn, bạn sẽ bỏ lỡ cơ hội để học sự thuận phục. Chúa có thể thay đổi những người nầy và có rất nhiều khả năng là Ngài sẽ làm điều nầy khi bạn đã học để thật sự vui mừng vì họ giống như vậy.
Trước khi trở lại đạo, Phao-lô ắt hẳn là một người rất kiêu ngạo khi ông bắt bớ các Cơ Đốc nhân. Ông kiêu ngạo về học thức và sự khôn ngoan, về dòng dõi và địa vị của mình. Phao-lô được dạy để có sự thuận phục và ngợi khen thật qua nhiều từng trải khó khăn và nhục nhã. Và ông đã học được. Khi Phao-lô nói với uy quyền, người ta vẫn thấy rõ sự thuận phục bên trong ông. Ông viết: “Về những kẻ đã cưới gả rồi, thì tôi, nhưng chẳng phải là tôi, bèn là Chúa, truyền rằng vợ không nên lìa bỏ chồng” (ICo1Cr 7:10). Ý Phao-lô muốn nói: “Tôi không áp đặt uy quyền của tôi trên anh em, điều nầy đến từ Chúa”. Sau đó ông viết: “Đến như những kẻ khác, chẳng phải Chúa, song là chính tôi bảo họ rằng..." (7:12). Ông thận trọng không ra lệnh khi Chúa không ban cho ông uy quyền rõ ràng.
Khi viết thư cho Phi-lê-môn, một trưởng lão trong Hội Thánh tại Cô-lô-se, Phao-lô đã bỏ đi uy quyền của ông và thuận phục người kia. Lá thư nói về Ô-nê-sim, người nô lệ đào tẩu của Phi-lê-môn, người nầy đã tin Chúa khi Phao-lô thi hành chức vụ ở Rô-ma. Phao-lô gởi trả Ô-nê-sim về cho chủ cũ của anh ta với lời thư: ”...Vậy nên, dầu trong Đấng Christ tôi có quyền truyền dạy anh việc nên làm, song vì lòng yêu thương của anh, nên tôi nài xin thì hơn. Tôi vốn muốn cầm người ở lại cùng tôi, đặng thế cho anh mà giúp việc tôi trong cơn vì Tin Lành chịu xiềng xích. Nhưng tôi không muốn làm điều gì mà chưa được anh đồng ý, hầu cho điều lành anh sẽ làm chẳng phải bởi ép buộc, bèn là bởi lòng thành” (Phil Plm 1:8, 9, 13, 14).
Phao-lô có quyền buộc Phi-lê-môn nghe theo nhưng ông biết rằng sự thuận phục như vậy sẽ mất đi quyền năng và mục đích nếu không phải là sự thuận phục tự nguyện. Vì vậy Phao-lô thuận phục Phi-lê-môn và nói rằng ông sẽ chấp nhận bất cứ điều gì Phi-lê-môn làm. Ông cũng cho Phi-lê-môn cơ hội để làm giống như vậy với Ô-nê-sim, người đã tự nguyện trở về để tuân phục chủ cũ. Bạn có thấy rằng loại uy quyền và loại thuận phục nầy khiến mọi người được tự do không?
Uy quyền thật không bao giờ tìm cách để tự củng cố hay bắt ép người khác. Nó chỉ tìm kiếm lợi ích lớn nhất cho những người ở dưới quyền thôi. Chúa Giê-xu tự gọi mình là đầy tớ và để chứng tỏ điều nầy, Ngài đã quì xuống trước mặt các môn đồ và rửa chân cho họ. Nếu được đặt vào một chức vụ có quyền trên những người khác trong nhà, tại nhà thờ, nơi làm việc, trong chính phủ, bạn có nghĩ là bạn đang hầu việc họ không? Bạn có tìm kiếm ích lợi lớn nhất cho họ và muốn họ có sự thuận phục chín chắn và tự nguyện không?
Nếu có sự xung đột, bạn có vui mừng không? Nếu có người nào biếng nhác, bất cẩn, vô lễ và hay cãi cọ, bạn có biết ơn không? Bạn có nhận biết Đức Chúa Trời cho phép họ như vậy là để dạy bạn uy quyền thật không? Bạn có nghĩ đến Chúa Giê-xu là nhân vật số một và người dưới quyền bạn là nhân vật số hai không? Bạn có thể hình dung bạn quì xuống và rửa chân cho người đó không? Nếu không thì sự thuận phục của bạn còn thiếu một điều gì đó, và uy quyền của bạn không đúng như ý Chúa muốn. Bạn có vui khi khám phá ra điều nầy không? Giờ nầy bạn có thể xưng tội, được tha thứ và cầu xin Chúa cất khỏi lòng bạn bất cứ trở lực nào cho sự thuận phục thật.
Bạn không thể nào tách rời uy quyền khỏi sự thuận phục. Một khi đã thật sự hiểu rõ thì không ai có thể lợi dụng bạn và bạn sẽ không lợi dụng ai. Bạn đang học để thuận phục cách vui mừng ý chỉ của Chúa dù Ngài yêu cầu bạn nắm quuyền hay chỉ làm tấm thảm chà chân. Nếu Ngài muốn bạn là một tấm thảm chà chân, thì hãy là một tấm thảm sung sướng chưa từng thấy, bởi vì bạn đang học để trở nên điều Chúa muốn và sự ngợi khen của Chúa sẽ tuôn tràn từ một tấm lòng đầy sự vui vừng của Đấng Christ, Chúa Giê-xu nói: ”...Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ...hãy đến hưởng sự vui mừng của Chúa ngươi” (Mat Mt 25:21). Bạn đang nhìn thấy thiên đàng tuôn tràn vào địa ngục.

YÊU CHÚA
Một trong những người sung sướng nhất tôi được biết là bà nội tôi. Khi sắp qua đời, bệnh hoại thư làm cho đôi chân bà đen bầm và gian phòng và ở bốc mùi hôi thối. Những người đến thăm để bày tỏ tình thương, khi ra về đã kinh ngạc trước niềm vui tuôn trào từ môi miệng bà. Bà chỉ nghĩ đến một điều duy nhất là chẳng bao lâu nữa bà sẽ được ở với Chúa Giê-xu yêu dấu. Dưới mắt mọi người, tình cảnh của bà thật khủng khiếp nhưng trong nhiều năm bà chỉ chăm nhìn vào Đấng Christ cho nên niềm vui mừng là chủ đề chính của bà.
Cha tôi cũng giống bà, ông là công nhân của một xưởng thép tại Pensylvania. Bảy năm sau khi cha tôi mất, tôi cũng làm việc trong cùng xưởng nầy. Tôi có một văn phòng nhỏ ở gần những lò luyện kim nơi cha tôi làm việc khi xưa. Một công nhân công giáo người Ý thường đến thăm tôi và luôn bỏ mũ ra trước khi nói chuyện: “Merlin à, khi nào anh trở thành Cơ Đốc nhân thì hãy trở thành một Cơ Đốc nhân giống như cha anh”.
Tôi vụng về hỏi: “Ông nói vậy nghĩa là sao?”
“Cha anh luôn luôn vui vẻ. Ông đi quanh các lò luyện kim, thấy ai mệt nỏi hoặc chán nản thì nói chuyện với họ rồi bước ra một bên. Chúng tôi thấy ông giơ hai tay lên và biết rằng ông đang cám ơn Chúa”.
Những câu chuyện nầy luôn làm tôi bối rối cũng như hồi còn bé, tôi từng bối rối khi ngồi tại hàng ghế đầu trong nhà thờ với cha tôi. Trong ngôi giáo đường trầm lặng đôi khi bỗng cảm hấy hết sức vui mừng, ông đứng bật dậy và nói: “Ngợi khen Chúa!” Tôi chỉ muốn chui xuống trốn dưới gầm ghế, còn mẹ tôi thì cảm thấy hãnh diện vì bà đã cầu nguyện trong nhiều năm để cha tôi nhận biết Chúa Giê-xu.
Cha tôi qua đời lúc mới được 36 tuổi nhưng tôi vẫn nhớ niềm vui sướng - rất tiêu biểu của ông - khi ông ngồi dậy trên giường và nói: “Nhìn kìa! Họ đến để đem tôi đi”. Rồi ông nằm ngã trên gối và qua đời.
Tôi phải mất nhiều năm mới bắt đầu hiểu được bí quyết hạnh phúc của bà nội tôi và cha tôi. Họ chắc chắn về tình yêu của Chúa, họ biết Ngài và tin cậy Ngài và nhìn thấy mỗi hoàn cảnh, ngay cả sự đau đớn và sự chết là tặng phẩm từ Ngài.
Đã lâu lắm rồi tôi ao ước có thể ngợi khen Chúa như vậy. Một ngày gần đây khi đang suy nghĩ về điều nầy tôi thấy có sự thúc giục: “Merlin ơi! Hãy lên cao hơn”. Ý tưởng nầy được lặp lại nhiều lần và tôi thắc mắc không hiểu ý nói đến điều gì. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là núi cao và máy bay. Có lẽ tôi cần phải đi bộ và đi máy bay nhiều hơn.
Một con sóc nhỏ vụt chạy lên cái cây trước mắt và tim tôi thót lên. Lỡ con sóc bám nhằm chỗ vỏ cây sắp tróc ra và rớt xuống đất thì sao? Trong khi nhìn con sóc cứ càng lên cao tới tận ngọn cây và chạy ra một cành cây bé tí xíu trĩu xuống dưới sức nặng của nó. Đứng nhìn thì thật là khiếp đảm, nhưng khi con sóc di chuyển nhẹ nhàng lên xuống đến tận trên cao, bỗng nhiên tôi nhận ra rằng nó đang hưởng những giây phút tuyệt vời. Thì ra, điều dường như là chiều cao nguy hiểm đối với tôi là môi trường tự nhiên của con sóc. Trên ngọn cây con sóc thấy thoải mái hơn ở dưới đất.
Tôi lại cảm thấy sự thúc giục nhẹ nhàng: “Merlin, hãy lên cao hơn, lên cao với ta, nơi thuộc về con. Con sẽ được hưởng những giây phút tuyệt vời”. Là con người chúng ta sợ những độ cao tâm linh cũng như sợ những chiều cao vật chất. Vì không muốn bị ngã đau nên chúng ta nghĩ rằng ở dưới đất an toàn hơn dù chúng ta thuộc về nơi cao hơn. Chúa nói: “Ta tạo dựng các con để tương giao với ta. Ta muốn các con lên nơi cao trong không khí trong lành của sự trưởng thành Cơ Đốc chứ không phải ở dưới thấp, nơi bị ô nhiễm bởi sự bẩn thỉu đê hèn, nơi sẽ làm nản lòng và kéo các ngươi xuống”.
Tôi nghĩ: “Chúa ơi, con muốn lên cao hơn, nhưng làm sao lên đó được?”
Trong trí tôi hiện lên câu chuyện Chúa gặp thiếu phụ Sa-ma-ri bên giếng nước. Ngài bảo với chị, nước trong giếng chỉ làm đỡ khát một thời gian ngắn, nhưng Ngài có một thứ nước sẽ thành một mạch nước trong tâm hồn và tuôn tràn mãi mãi sức sống vĩnh cửu. Thiếu phụ nói chị muốn uống một ít nước ấy và rồi nêu một câu hỏi dường như không liên quan gì đến đề tài trên: “Chúng tôi phải thờ phượng Đức Chúa Trời trên núi tại Sa-ma-ri hay tại thành Giê-ru-sa-lem?”
Chúa Giê-xu đáp: “Các ngươi (người Sa-ma-ri) thờ lạy sự các ngươi không biết. Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy” (GiGa 4:22, 23).
Tôi nghĩ “Nhưng thưa Chúa, con biết mạch nước hằng sống - đó là Đức Thánh Linh trong con - và con cũng biết một số điều về việc thờ phượng bằng tâm thần và lẽ thật...”
“Thờ phượng bằng tâm thần và lẽ thật là một việc liên tục giống như mạch nước hằng sống không bao giờ cạn - con có đang làm điều đó không?”
“Thưa Chúa, không...”
“Con muốn lên cao hơn không?”
“Thưa Chúa, có...”. Im lặng một lúc lâu, tôi nghĩ đến việc chúng ta thường xuyên đến nhà thờ ngồi hát thánh ca và nói “Ngợi khen Chúa” nhưng chúng ta không đang thờ phượng bằng tâm thần và lẽ thật. Khi bắt đầu học để ngợi khen Chúa, chúng ta thấy những lời cầu nguyện được nhậm và sự ngợi khen làm cho chúng ta cảm thấy tốt lành và thỏa lòng trong một thời gian - rồi sự nản lòng xen vào và chúng ta lại khao khát. Câu hỏi hiện ra trong trí tôi: “Điều gì làm cho mạch nước trong con chảy liên tục?”
“Con càng yêu ta thì mạch nước càng chảy...”
“Nhưng con có yêu Ngài mà...”. Yên lặng, rồi mắt tôi nhìn thấy câu Kinh Thánh: “Các ngươi thờ phượng sự các ngươi không biết”. Ý nghĩa bỗng trở nên rõ ràng. Khi sự thờ phượng trở nên trống rỗng thì đó là vì chúng ta không hiểu hay không biết đủ về Chúa, chúng ta không thể yêu điều chúng ta không biết. Tôi thường nghe mọi người nói: “Làm sao tôi thật sự yêu Chúa được? Tôi không thấy Ngài. Tôi biết Ngài là toàn năng cao cả - làm sao một con người nhỏ bé lại có thể thật sự yêu điều to lớn và mơ hồ như vậy”.
Hầu hết chúng ta thừa nhận rằng yêu Chúa đôi khi là một ý niệm khó hiểu, thế nhưng yêu Ngài không phải là một điều con người chúng ta có thể tự làm lấy được. “Chúng ta yêu Ngài, vì Chúa đã yêu chúng ta trước” (IGi1Ga 4:19). Chính khi tình yêu của Ngài đụng đến mà chúng ta đáp ứng lại bằng cách yêu Ngài, khi đã chấp nhận tình yêu Ngài ban cho chúng ta qua Đấng Christ, chính Chúa Giê-xu nói với chúng ta: “Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết” (Mat Mt 22:37, 38).
Vậy thì yêu Chúa không phải là điều chúng ta ao ước làm, nhưng đó là một mệnh lệnh. Chúng ta phải đến với Chúa và nói “Làm thế nào để con học yêu Ngài?”, Chúa Giê-xu chỉ cho chúng ta “Nếu ai yêu mến ta, thì vâng giữ lời ta” (GiGa 14:23). Yêu là một động từ, một từ chỉ hành động và chúng ta yêu Chúa bằng cách làm những điều Ngài dạy chúng ta. Khi Ngài nói: “Hãy bày tỏ tình yêu của các con bằng cách ngợi khen ta trong mọi sự”, chúng ta bắt đầu làm điều đó vì vâng lời Ngài dù chúng ta có thích hay không.
Càng vâng lời Ngài, chúng ta càng biết rõ Ngài và càng muốn yêu mến cũng như vâng lời Ngài hơn. Chúa Giê-xu nói: “Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta, người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết ta” (14:21).
Bạn nghĩ Chúa Giê-xu sẽ tỏ Ngài ra ở đâu? - Ở trong chính những hoàn cảnh mà trước đây chúng ta chỉ nhìn thấy sự đau khổ.
Sandra, một người vợ trẻ khoảng 30 tuổi, từ tuổi thiếu niên đã bị những cơn nhức đầu dư dội. Những cơn nhức đầu xảy ra bất chợt khiến cô gần như bị tê liệt trong suốt 24-48 tiếng đồng hồ. Mắt cô mờ đi, cô bị sốt và không có thuốc men hay cách trị liệu nào tỏ ra có hiệu quả.
Khi trở thành Cơ Đốc nhân, cô khóc với Chúa để xin chữa lành, nhưng cơn đau không suy giảm. Đôi khi cô nghĩ rằng, bây giờ chắc chắn cô đã có sự sống đời đời trong Đấng Christ rồi nên thà chết đi còn hơn chịu đựng nỗi thống khổ nầy.
Một ngày kia có người tặng cô cuốn sách Vừa Đi Vừa Nhảy của tôi. Ý tưởng cảm tạ Chúa về mọi điều rất mới mẻ đối với cô và cô không chắc là mình đồng ý về điều đó. Vài ngày sau, khi đang dự một bữa tiệc thì cô lên cơn nhức đầu. Cô báo cho một người bạn biết và giải thích rằng cô phải trở về nhà trước khi mắt mờ làm cô lái xe không được.
“Có khi nào chị nghĩ đến việc cảm tạ Chúa vì những cơn nhức đầu không?”
“Đương nhiên là không!” Sandra bị giao động rõ ràng. “Tôi cảm tạ Chúa về những điều tốt lành, nhưng làm sao tôi có thể đổ lỗi cho Ngài về một điều khủng khiếp như cơn đau nầy? Làm vậy không đúng đâu”.
“Vậy thì tôi cảm tạ Ngài hộ chị được không?”, người bạn hỏi. “Chị biết không, tôi tin Đức Chúa Trời mạnh hơn cơn đau trong chị và Ngài có thể cất nó đi nếu Ngài muốn. Nếu Ngài không cất đi, ắt hẳn Ngài muốn chị bị như vậy vì một lý do tốt lành nào đó? Vậy thì tại sao lại không cảm tạ Ngài về điều nầy và xem việc gì sẽ xảy đến?”
Sandra nghe bạn trích vài câu trong Kinh Thánh nhấn mạnh chúng ta phải cảm tạ Chúa về mọi điều. Rồi cô gật đầu quả quyết: “Tôi biết Đức Chúa Trời mạnh hơn cơn đau đầu trong tôi. Tôi đã luôn tự bảo tôi phải cảm tạ, thì dù có phải chết vì làm vậy, tôi hứa sẽ thử”. Cô nhăn mặt và khuôn mặt cô cho thấy rõ cơn đau nhức mỗi lúc một tăng. “Chúa chắc biết rõ hơn tôi điều gì tốt cho tôi và tôi muốn vâng lời Ngài...”
Suốt 24 tiếng đồng hồ sau khi Sandra khám phá ra điều quan trọng. Khi suy nghĩ cô hướng về Chúa và cám ơn Ngài về nỗi thống khổ thì cô thấy có thể chịu đựng được. Khi cô chú tâm đến cơn đau thì nó lại càng tăng thêm. Cô thì thầm trong bóng đêm: “Chúa ơi, có phải Ngài đang kiểm soát cơn đau của con không? Con cám ơn Chúa vì đã tỏ cho con biết Ngài thật sự ở đây và quan tâm đến cơn nhức đầu của con”.
Đêm đó là lần đầu tiên từ khi bị nhức đầu, Sandra đã không ra khỏi giường để tìm cách làm giảm cơn đau. Cô không đắp nước đá, tắm nước lạnh hay uống thuốc giảm đau. Thay vào đó, cô nói với Chúa: “Bây giờ khi biết Ngài kiểm soát mọi sự thì con biết Ngài thấu hiểu hơn hết những gì con có thể chịu. Ngài sẽ không làm cho cơn đau quá sức chịu đựng của con. Cám ơn Chúa”.
Sáng hôm sau, chồng cô thấy những dấu vết của cơn sốt và nói: “Em yêu, chắc đêm qua em khổ sở lắm. Sao không đánh thức anh dậy như mọi khi?”
Cô mỉm cười nói: “Không sao đâu anh, Chúa hiện diện và tể trị trên cơn đau của em. Em biết em có thể chịu được bất cứ điều gì Ngài ban cho”.
Vài tuần sau, một số người trong gia đình Sandra đến Hội Thánh chúng tôi và xin cầu nguyện đặc biệt cho cô. Họ cảm biết chắc chắn Chúa nghe lời cầu nguyện và chữa lành cho cô nên trở về báo tin làm Sandra kinh ngạc, “Cô sẽ không bao giờ bị đau đầu nữa”.
Hai tuần sau, Sandra lại bị nhức đầu dữ dội như trước, nhưng Sandra sung sướng thổ lộ với bạn cô: “Vậy là Chúa không muốn tôi lành bệnh ngay, nhưng tôi thực sự thấy mình may mắn khi chịu những cơn đau như vậy. Chúa dùng những cơn đau nầy cho tôi thấy Ngài yêu tôi biết bao. Chồng tôi thất vọng vì thấy tôi chưa khỏi nhưng tôi nói: “Anh đừng lo, cứ để em nằm yên và vui hưởng những điều Chúa muốn dạy em lần nầy”. Giọng cô vui mừng: “Tôi bắt đầu biết Chúa cách hoàn toàn mới. Suốt thời gian nhức đầu Chúa ở với tôi. Tôi trò chuyện với Chúa như thể tôi chưa từng nói vì cớ bận bịu với những công việc hằng ngày. Tôi lặng yên và sự hiện diện của Ngài trở nên rất thật. Ngài làm tôi cảm thấy tôi rất đặc biệt và rất được yêu thương”.
Giọng của Sandra trở nên ngập ngừng: “Cứ nghĩ đến bao nhiêu năm tôi cảm thấy tự thương hại mình. Sao lại như vậy khi chính điều tôi phàn nàn lại trở thành một trong những phước hạnh lớn lao nhất của đời sống tôi”.
Sandra cầu nguyện để mẹ cô có được mối tương giao với Chúa Giê-xu. Cô nói: “Từ khi tôi bắt đầu cảm tạ Chúa về sự đau đớn, mẹ tôi đã hết sức tò mò về Cơ Đốc giáo. Bà đã thấy suốt bao nhiêu năm tôi gần như muốn điên lên vì bệnh nhức đầu. Bây giờ bà thấy có điều gì thật sự xảy đến cho tôi. Thật tuyệt diệu biết bao nếu Chúa dùng những nỗi đau đớn của tôi để bày tỏ cho mẹ tôi biết tình yêu của Ngài”.
Sandra tin rằng một ngày nào đó Chúa có thể cất đi những đau đớn của cô. “Nhưng Ngài chưa làm điều đó, khi Ngài còn có một điều gì tuyệt vời đề dạy tôi qua những nỗi đau đớn, và tôi thật vui mừng”.
Sandra đã khám phá ra điều Phao-lô muốn nói khi ông viết: “Cho nên tôi vì Đấng Christ mà đành chịu trong sự yếu đuối, nhuốc nha, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó, vì khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ” (IICo 2Cr 12:10).
Phao-lô thích thú trong những nan đề và những nỗi đau đớn, không phải ông chịu đựng mà vui hưởng chúng. Có thể bạn không hiểu tại sao bạn có những vấn đề hay những nỗi đau đớn, nhưng bạn có thể chắc chắn về điều nầy - nếu vui thích chúng thì chúng sẽ bày tỏ cho bạn những kho tàng kín giấu của tình yêu Đức Chúa Trời.
Khi tôi đến Alaska, có người chỉ cho tôi ngọn đồi nơi một người tên là Ed Lung từng ngồi, anh hoàn toàn sạt nghiệp và tuyệt vọng trong những ngày của Cuộc Đổ Xô Đi Tìm Vàng năm 1897. Ed là một trong những người đầu tiên đến Alaska khi người ta tìm thấy vàng tại đó, nhưng Ed luôn luôn đến nơi người ta tìm ra vàng trễ một ngày. Một ngày kia anh ta ngồi trên ngọn đồi gần như muốn khóc và quyết định đành trở về nhà ở Tacoma Washington trắng tay và sạt nghiệp. Vài tuần sau đó một người khác cuốc xuống đúng ngay chỗ anh Ed ngồi và khám phá ra ngọn đồi vàng sản xuất số lượng vàng trị giá 1 tỉ đô-la.
Bạn có đang ngồi thất vọng và buồn rầu vì chính vấn đề có thể là nguồn của niềm vui lớn nhất của bạn nếu bạn vâng lời Chúa và cảm tạ Ngài về điều ấy không?
Đức Chúa Trời muốn bạn tin cậy và yêu Ngài đủ để vâng lời Ngài. Có bao giờ bạn đi dự tiệc ở nhà một người nào và họ dọn một món ăn bạn chưa từng nếm trước đây không? Bạn không biết nên vì lịch sự múc vào đĩa một muỗng nhỏ hay múc nguyên đĩa đầy. Vợ bạn ngồi bên cạnh thì thầm: “Anh yêu, em biết anh sẽ thích món nầy”. Không do dự bạn múc đầy đĩa vì biết vợ bạn biết rõ những gì bạn thích.
Nếu có thể tin cậy người vợ như vậy thì sao bạn không thể tin cậy Chúa trước những hoàn cảnh xảy đến cho bạn. Ngài cúi xuống thì thầm: “Ta biết điều nầy, con sẽ thích nó”.
Từ chối những gì Chúa ban cho chúng ta là không vâng lời Ngài và điều nầy có nghĩa chúng ta không yêu Ngài. Nói yêu Ngài khi không vâng lời Ngài là mâu thuẫn. Chúa Giê-xu nói: “Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta” (GiGa 15:10).
Nếu đã không vâng lời, bạn cần xưng tội và nói: “Chúa ơi, con xin lỗi Ngài vì con không quan tâm đến Ngài để làm những gì Ngài muốn. Xin tha thứ cho con và giúp con yêu Ngài hơn nữa”.
Khi thưa với Chúa điều đó, bạn đang nói với Ngài bạn muốn lên cao hơn và Ngài chỉ đòi hỏi bạn hai điều: Hãy bày tỏ tình yêu bằng cách vâng lời Ngài với tất cả khả năng của bạn - và hãy nói lên tình yêu đối với Ngài trong sự thờ phượng và ngợi khen.
Tại sao Chúa cần mọi người nói cho Ngài biết là Ngài vĩ đại như thế nào? Ngài không cần nhưng chúng ta cần làm điều đó. Chúa biết rõ sự vĩ đại của Ngài nhưng chúng ta vẫn cần học để biết điều đó. Khi ca ngợi Chúa về tất cả những gì Ngài đã làm cho chúng ta, điều nầy ảnh hưởng đến chúng ta và chúng ta sẽ nhìn thấy sự vĩ đại của Ngài rõ hơn trước. Thánh Linh trong chúng ta cùng ngợi khen với chúng ta và chúng ta được nhấc lên ngày càng cao hơn.
Mỗi ngày hãy thưa với Chúa là bạn muốn yêu Ngài hơn và hãy xưng tội khi thấy bạn đang phàn nàn. Chúng ta không thể nào yêu Chúa trọn vẹn được khi còn sống trong thân thể cũ kỹ nầy, nhưng Chúa vui lòng khi thấy chúng ta làm tất cả những gì có thể làm. Đó là tất cả những gì Ngài yêu cầu và chúng ta như thế nào thì Ngài yêu chúng ta như vậy. Hãy thử làm một bản liệt kê ngày càng dài hơn. Hãy cảm ơn Chúa về từng điều một. Hãy lớn tiếng, hãy hát lên những ơn phước của bạn. Hãy chia xẻ với những người khác về những ơn phước nầy.
Phao-lô khuyên các Cơ Đốc nhân tại Ê-phê-sô: “Hãy lấy ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa” (Eph Ep 5:19). Khi thường xuyên làm điều nầy, bạn sẽ thấy được cất lên trên những chán nản hay những tính khí bất thường và tình yêu của bạn với Chúa sẽ ngày một lớn thêm lên.
Thiếu phụ trẻ Gloria than phiền rất nhiều về công việc nhà của cô, và người chồng nói cô luộm thuộm và cẩu thả. Đúng là nhà cô chẳng lúc nào được sạch sẽ. Một ngày kia cô nghe nói về việc ngợi khen Chúa trong mọi sự và nhận ra rằng sự than phiền của cô là một tội lỗi nghiêm trọng. Cô thưa với Chúa lời xin lỗi và hứa sẽ hết sức để vâng lời trong tương lai. Cô bắt đầu cảm tạ Chúa về những điều cô ghét nhất: bếp dính đầy mỡ, tủ lạnh lộn xộn, sàn nhà bẩn thỉu. Khi đi lại trong nhà cô bỗng nhận ra là Chúa đã ban cho cô tất cả những thứ nầy. Ngài sẽ không ban cho cô bất cứ điều gì nếu nó không đặc biệt và quí báu, và Ngài muốn cô yêu chính những điều cô chưa bao giờ thích.
Đây là một khám phá thú vị đối với Gloria, “tôi bắt đầu thấy Chúa yêu căn nhà và những vật dụng của tôi. Mỗi cái ghế, mỗi tấm thảm, mỗi bức tranh, mỗi cái nồi và mỗi cái đĩa dự nhiên trông khác hẳn. Trước đây tôi lơ là với chúng biết bao! Tôi xin Chúa tha thứ vì đã không yêu mến những gì Ngài ban cho để tôi chăm sóc chúng. Cứ mỗi lần nhìn thấy góc nhà bị bỏ bê, tôi lại nói: “Tội nghiệp chưa! Chúa yêu em và tôi cũng yêu em, tôi sẽ không bỏ bê em nữa đâu”. Cô ta cười khi kể, “Tôi thấy yêu căn nhà mình và yêu cả chính tôi nữa! Tôi ghét sự cẩu thả và luộm thuộm của tôi, nhưng Chúa đã tha thứ mọi lỗi lầm và tất cả những gì Ngài yêu cầu là tôi làm hết sức. Ngài chỉ muốn tôi yêu Ngài ở mức độ cao nhất mà tôi có thể và mỗi ngày tôi yêu Ngài nhiều hơn một chút.
Công việc nội trợ không còn chán ngắt nữa. Cặp mắt nâu của Gloria sáng lên và thích thú. “Tình yêu mới mẻ trong tôi vững chắc hơn cảm xúc. Nó không hề bị ảnh hưởng bởi những điều tôi cảm thấy từ ngày này qua ngày khác. Khi nghĩ đến Chúa yêu tôi thế nào thì tôi phải yêu mọi điều Ngài ban cho. Tôi yêu ngay cả những vết chân bẩn của những đứa con trên tấm thảm trong phòng khách và những vết mỡ chúng chùi trên tường. Tôi nói: “Cảm tạ Chúa vì những vết dơ đó. Cảm tạ Chúa vì những đứa con, xin giúp con yêu chúng nhiều hơn”. Và tôi thấy tình yêu lớn lên trong tôi, và tôi là người may mắn nhất trên thế giới vì có quá nhiều điều để yêu”.
Chồng cô không còn phàn nàn vì nhà cửa bừa bãi nữa. Các phòng đều sạch sẽ, các bình đầy hoa nở và nhà bếp của Gloria thơm nức mùi thức ăn ngon. Cô đã khám phá ra điều Phao-lô muốn nói khi ông đề cập đến sự vui thú trong cảnh nghèo túng. Chính những điều nhỏ nhặt chúng ta phải làm - như thức dậy vào buổi sáng, rửa chén, rửa xe, mua thực phẩm hay trét lỗ hổng trên mái nhà - thường khiến chúng ta phàn nàn. Nhưng Chúa giao cho chúng ta mỗi một công việc vặt một cách đặc biệt cẩn thận và dặn chúng ta: “Mặc dầu anh em nói hay làm cũng phải nhân danh Đức Chúa Giê-xu mà làm mọi điều, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha” (CoCl 3:17). Mỗi điều chúng ta làm nên là một sự bày tỏ tình yêu với Chúa và tình yêu của Ngài sẽ nâng chúng ta lên cao hơn nữa.
Có một người nào bạn thật sự yêu mến không? Vợ bạn, chồng bạn hay đứa con đầu? Chỉ cần nhìn họ là bạn thấy mềm lòng rồi. Bạn thích ở gần họ, bạn luôn miệng khen họ và nghĩ đến những điều làm cho họ sung sướng. Bạn yêu họ không phải vì những gì họ làm cho bạn nhưng vì họ là họ. Đó là mối quan hệ Chúa đã ban cho Mary vợ tôi và tôi. Chúng tôi chưa từng cãi nhau, chưa từng nói với nhau một lời giận dữ và chưa khi nào có mong ước cỏn con là người kia sẽ thay đổi về một phương diện nào đó. Chúng tôi luôn ngạc nhiên vì Chúa đã chọn để ban cho chúng tôi một sự hòa hợp hoàn hảo, vững bền mà chúng tôi thấy mình không xứng đáng nhận.
Tuy vậy Mary cũng đem đến cho tôi một vấn đề. Thỉnh thoảng nàng làm tôi thức giấc giữa khuya vì tiếng cười dịu dàng của nàng. Nàng vừa ngủ vừa lẩm nhẩm: “Cám ơn Chúa Giê-xu” rồi lại cười sung sướng. Niềm vui của nàng cũng đem đến một vấn để nhỏ khác nữa. Sau khi Mary lên làm chứng trong một chiến dịch quanh thành phố của chúng tôi, tôi đã hỏi khán thính giả, những người đang nghĩ “Cô nầy chắc chắn là trẻ hơn ông chồng rất nhiều” thì có đến 90% đã giơ tay đồng ý. Tôi báo cho họ biết Mary là mẹ của một thanh niên 24 tuổi. Những tiếng ồ chứng tỏ họ không thể nào tin nổi Mary hơn 24 tuổi. Hạnh phúc và tình yêu làm cho nhiều người trông trẻ hơn tuổi thật rất nhiều.
Khi tình yêu chúng ta đối với Chúa đến mức độ nào đó thì chúng ta bắt đầu yêu Ngài tha thiết. Lòng chúng ta tuôn tràn sự ngợi khen không thể nói thành lời và chúng ta nói: “Cha ơi, con không muốn Cha làm bất cứ điều gì cho con nữa, con chỉ muốn ở gần Cha và yêu Cha thôi. Con không cần một phước hạnh nào khác để làm dịu cơn khát tâm linh. Con thỏa lòng vì Cha yêu con, Chúa ơi, và con yêu tất cả những gì Chúa cho con”.
Đa-vít viết: “Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài!” (Thi Tv 103:1). Khi tất cả những gì trong nơi sâu thẳm của chúng ta nói trìu mến và biết ơn: “Chúa ơi, con thật sự yêu Ngài!” thì mạch nước trong chúng ta bắt đầu chảy liên tục. Đời sống Cơ Đốc của bạn sẽ không trồi sụt nữa mà chỉ ngày một lên cao hơn. Bạn không cần nhờ ai cầu nguyện cho bạn để cảm thấy vui vì mạch nước trong bạn cứ chảy liên tục.
Niềm vui của bạn không đến vì được chữa lành hay vì những lời cầu nguyện được trả lời, dù cho những điều nầy có tuyệt vời đến đâu. Niềm vui đến vì bạn đang yêu Chúa.
Một trong những người vui vẻ nhất tôi được gặp là người đã nằm trên giường để đến Hội Thánh chúng tôi. Bà Esther Lee bị mù, tê liệt và chỉ sử dụng được ngón tay cái. Xương của bà giòn đến nỗi bà sẽ gãy chân nếu đi lại.
Khi tiếp chuyện với bà trước đó qua điện thoại, giọng bà vang lên sung sướng giống như giọng của người được ban ơn phước dồi dào. Tôi biết bà phải nằm trên giường nhiều năm vì bệnh viêm khớp. Cách đây không lâu những bác sĩ đã bó tay và báo cho chồng bà hãy chuẩn bị để bà về với Chúa. Một người bạn đã đem cuốn Từ Ngục Tù Đến Ca Ngợi và đọc lớn lên cho bà nghe ba lần. Chẳng còn gì để mất bà quyết tâm thử ngợi khen Chúa về nỗi đau đớn thay vì oán trách Ngài. Đây là một bước ngoặt trong đời sống bà.
Bà cứ tiếp tục ngợi khen trong khi những tai họa cứ đổ xuống trên gia đình, vụ phá sản của nhà băng, cơn đau tim của người chồng và bệnh tật của những đứa con. Qua những việc nầy bà bắt đầu nhìn thấy tình yêu của Chúa một cách mới mẻ. “Ngài đã chỉ cho tôi thấy trong suốt bao năm qua tôi là một con người khóc lóc, khốn khổ, lằm bằm, cay đắng như thế nào và khi tôi khóc để xin Ngài tha thứ thì tình yêu Ngài đã chữa lành tâm hồn tội lỗi bệnh tật của tôi và khiến tôi tràn ngập vui mừng và bình an”.
Do thiếu sức khỏe, giọng của bà bị yếu đi nhưng bà cứ lớn tiếng: “Chúa ơi, con ngợi khen Ngài. Chúa ơi, con yêu Ngài”, cho đến khi giọng bà mạnh mẽ hơn. Chưa từng là một người sành nhạc nhưng khi bà ngợi khen Chúa thì những giai điệu và lời lẽ đến với tâm trí bà. Bà bắt đầu hát và giọng ngày càng bộc lộ phẩm chất chưa từng có trước đây. Những người khác tìm được phước khi nghe bà hát và đã thuyết phục bà ghi lại băng nhạc mang tên “Nơi Sự Vinh Hiển Bắt Đầu”.
Một điện thoại điều khiển bằng ngón tay cái được đặt cạnh giường bà, như vậy bà có thể nói chuyện với mọi người khắp nơi trên nước Mỹ gọi đến bà để được nâng đỡ trong đức tin.
Để đến Hội Thánh chúng tôi, bà đã đi suốt từ nhà ở Palm Springs cho đến Escondido trong một toa kéo móc đủ rộng để chứa cái giường của bà. Hôm ấy trời nóng và toa kéo đóng bít bùng như cái lò bằng thiếc. Chuyến đi thật là khổ sở, phải đợi hai năm bà mới có cơ hội đến thăm chúng tôi và bà tin rằng sẽ được lành bệnh đúng lúc bước chân vào nhà thờ.
Tôi tin rằng điều đã xảy ra gây cho những người hiện diện một ấn tượng mạnh mẽ hơn là việc bà từ giường bệnh bước xuống đất được. Bà đã cảm tạ Chúa với sự ngợi khen thật lòng đến nỗi chúng tôi biết bà đang vui mừng. Nằm trên giường trước mặt hội chúng, bà nói chuyện về những ơn phước Chúa đã ban cho. Bà hướng dẫn hát thánh ca và ngợi khen bằng một giọng vui mừng xen lẫn tiếng cười.
Tình trạng cơ thể của bà khiến ai nhìn thấy cũng thương cảm và buồn rầu. Thay vào đó mọi người đã cảm động đến nỗi vừa khóc vừa cười khi nhìn thấy ở bà mối quan hệ đẹp đẽ với Đức Chúa Trời qua thân thể yếu đuối tàn tật trên giường bệnh. Bà bị mù và bị liệt nhưng đang dạy cho chúng tôi về quyền năng vinh hiển của sự cảm tạ. Bà nói về việc tìm được sự sống trong sự phó thác và tìm được tình yêu kỳ lạ và mật thiết của Chúa qua những nỗi đau đớn khổ sở kinh hoàng hơn những gì chúng ta có thể tưởng tượng được.
Tình yêu rạng rỡ trên gương mặt khi bà hướng dẫn chúng tôi ca ngợi Cha trên trời - tình yêu không tùy thuộc vào những gì Ngài làm cho chúng ta nhưng vào những gì Ngài đã thực hiện cho chúng ta trong Đấng Christ. Đây là tình yêu mạnh hơn sự tàn tật ghê gớm của thân thể - tình yêu thấy được Đức Chúa Trời qua đôi mắt mù lòa. Tôi nghĩ đến Thi Thiên của Đa-vít: “Nguyện các thánh Ngài mừng rỡ về sự vinh hiển, hát vui vẻ tại trên giường mình!” (149:5).
Bạn có đang hát ngợi khen Chúa không? Trong nỗi đau đớn, trong những nan đề, trong những hoàn cảnh khó khăn bạn có thể lớn tiếng hát:"Chúa ơi, con yêu Ngài; Chúa ơi, con cảm tạ Ngài”. Hay bạn chán nản đợi Chúa từ một nơi nào đó đến để an ủi bạn? Hãy lắng tai và bạn sẽ nghe tiếng Ngài: “Hãy lên cao hơn chút nữa, hãy học để yêu ta...”. Nếu bạn chưa yêu Ngài đúng mức, hãy yêu Ngài nhiều như bạn có thể yêu. Bạn cũng có yêu Ngài chút ít phải không? Ngài tha thứ cho bạn vì chưa yêu Ngài nhiều hơn và sẽ giúp bạn khi bạn bắt đầu nói: “Chúa ơi, con yêu Ngài với tất cả sức lực của con, xin hãy giúp con yêu Ngài nhiều hơn”.
Phao-lô viết: “Cầu Chúa cho lòng anh em đeo đuổi tình yêu thương của Thượng Đế” (IITe 2Tx 3:5 - BDY). Chính Chúa Giê-xu sẽ hướng dẫn lòng chúng ta khi chúng ta thật sự muốn yêu mến Ngài. Khi nghe theo sự hướng dẫn của Ngài, bạn sẽ khám phá niềm an ủi không đến từ sự đổi thay của hoàn cảnh bên ngoài. Mạch nước hằng sống bắt đầu chảy liên tục khi bạn bắt đầu thờ phượng Đức Chúa Trời bằng tâm thần và lẽ thật. Những nan đề là để giúp bạn làm được điều nầy. Khi mạch nước đó chảy trong bạn thì dù cho những nan đề có tồn tại hay được giải quyết cũng không quan trọng nữa. Điều quan trọng là bạn đang yêu Chúa.
Đó chính là tình yêu mà Phao-lô nói đến trong ITi1Tm 1:5 “Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra”. Khi yêu thương như vậy, bạn sẽ ngợi khen Chúa cho đến ngày bạn lìa đời. Trong ngày cuối cùng của cuộc đời Charles Wesley, người ta nghe ông thì thầm lời của bài thánh ca: “Hễ tôi còn sống ngày nào thì tôi sẽ ngợi khen Đấng Tạo Dựng tôi ngày nấy”. Và khi yếu dần, ông chỉ có thể nói: “Tôi sẽ ngợi khen, tôi sẽ ngợi khen”. Ông nhắc đi nhắc lại những lời nầy đến khi trút hơi thở cuối cùng.
Kinh Thánh có rất nhiều đoạn nhắc chúng ta nhớ đến sự vĩ đại của Cha chúng ta trên trời. Lớn tiếng đọc những đoạn nầy giúp chúng ta bày tỏ tình yêu đối với Ngài. Một trong những đoạn tôi thích nhất là Thi Thiên 103. Thi Thiên nầy cho tôi những lý do tuyệt diệu để nói: “Chúa ơi, con tha thiết yêu Ngài!”
“Hỡi linh hồn ta, khá ngợi khen Đức Giê-hô-va! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, Chớ quên các ân huệ của Ngài, Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, Chữa lành mọi bịnh tật ngươi Cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát Lấy sự nhân từ và sự thương xót mà làm mão triều đội cho ngươi. Ngài làm cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, Tuổi đang thì của ngươi trở lại như của chim phụng hoàng. Đức Giê-hô-va thi hành sự công bình Và sự ngay thẳng cho mọi người bị hà hiếp. Ngài bày tỏ cho Môi-se đường lối Ngài, Và cho Y-sơ-ra-ên biết các công việc Ngài Đức Giê-hô-va có lòng thương xót, hay làm ơn, Chậm nóng giận, và đầy sự nhân từ Ngài không bắt tội luôn luôn, Cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi, Cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi. Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu, Thì sự nhân từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu. Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, Thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu”
(Thi Tv 103:1-12)
Ngài đã đem thiên đàng của Ngài vào trong cái trước đây là địa ngục của tôi.




† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 20-2-2018 02:09 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách