† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2553|Trả lời: 0

Đời Sống Thuộc Linh

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 14-7-2011 07:28:50 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Đời Sống Thuộc Linh
Tác giả: Richard Goswiller
A. Người thuộc linh theo Kinh Thánh.
1. Những nét đặc trưng của đời sống Cơ Đốc.
Sau nhiều năm trong chức vụ mục sư và làm công tác khải đạo trong lãnh vực tâm linh, tôi thấy đời sống Cơ Đốc có những nét đặc trưng sau đây:
Sau khi thật sự được tái sanh bởi Đức Thánh Linh, những Cơ Đốc nhân rất phấn khởi với đời sống mới trong Chúa Giê-xu Christ. Họ thiết tha yêu mến Đấng rất mực khoan dung cứu chuộc họ, và họ không còn ước muốn phạm tội như trước. Thật vậy, vì chưa cảm thấy khuynh hướng muốn phạm tội ngay nên họ cho rằng mình sẽ không còn phạm tội nữa và hẳn sẽ có thể thắng hơn bất cứ cám dỗ nào. Tuy nhiên, theo thời gian, khi đời sống tâm linh trở thành thực hữu, họ khám phá ra rằng trong thâm tâm họ vẫn có ước muốn phạm tội. Thực tế họ biết mình đang phạm tội. Tệ hơn nữa, họ còn thấy tội lỗi tiềm tàng đó mạnh mẽ cách kỳ lạ. Vào thời điểm này họ trở nên bối rối, có khi bối rối đến độ nghi ngờ cả kinh nghiệm qui đạo của mình. Họ lo âu, chán nản, và thất vọng khi cố gắng tìm cách giải quyết tình trạng khó xử của họ.
2. Những cách đáp ứng thông thường đối với vấn đề.
a. Thỏa hiệp với thế gian.
Một số người khi phải đương đầu với tình trạng khó xử này đã quyết định nhượng bộ với tội lỗi và sự yếu đuối của xác thịt họ. Họ tìm cách biện minh hay hợp lý hóa thái độ của mình. Họ còn có thể thay đổi cả quan điểm thần học để cất bỏ nỗi day dứt do ý thức về tội lỗi ấy. Làm như thế, họ không kể thái độ đó là tội lỗi, thực chất là họ bước theo thế gian làm hại đến những tiêu chuẩn cao trọng của Đức Chúa Trời.
b. Tình trạng hâm hẩm.
Một số khác đi đến chỗ tự lừa dối mình suy nghĩ rằng tất cả những gì Đức Chúa Trời đòi hỏi là những biểu lộ mang tính thuộc linh. Vì vậy họ cố gắng giữ một mức độ 'Cơ Đốc giáo' vừa phải - đi nhà thờ, dâng hiến cho công việc nhà Chúa và còn có thể hầu việc Chúa trong một số khả năng nào đó, nhưng chưa bao giờ họ xử lý lối sống của họ một cách đúng đắn để nhận lời hứa được giải thoát khỏi tội lỗi và sự tầm thường.
c. Chiến đấu liên tục, thất bại và chán nản.
Do nhạy bén với Đức Thánh Linh, một số khác tỏ ra nghiêm túc hơn. Họ thấy kinh khiếp chính họ. Họ ghê tởm tội lỗi và lối sống của họ. Họ hết lòng mong ước được giải thoát để Chúa được vinh hiển qua đời sống họ. Họ nỗ lực đủ cách để nghe ngóng kết quả - nào cầu nguyện, kiêng ăn, nào chiến đấu, khuyên bảo. Nhưng kết quả dường như luôn luôn là: THẤT BẠI!
d. Sự đầy dẫy Thánh Linh thật và chiến thắng.
Cũng còn những người khác cứ quyết tâm bươn tới và cuối cùng khám phá được rằng thật ra Đức Chúa Trời đã cung cấp mọi điều cần thiết cho đời sống tâm linh. Họ tìm được đời sống phong phú mà Chúa định sẵn cho mỗi một con cái Ngài và họ bắt đầu cuộc sống ở một mức độ mà họ chưa bao giờ nghĩ rằng khả thể.
3. Con đường đến sự giải cứu và chiến thắng hoàn toàn.
Theo tôi, không có cách nào để bước vào một đời sống thuộc linh thật nếu chúng ta không hiểu ý nghĩa sự sống thuộc linh hoặc không biết Đức Chúa Trời đã dự trù những gì cho sự sống thuộc linh này!
"Tiếp theo con đường dẫn đến sự cứu rỗi thì không có đề tài nào quan trọng đối với tâm trí con người hơn là chương trình thiên thượng để qua đó một Cơ Đốc nhân có thể sống làm vinh hiển danh Chúa. Sự thiếu hiểu biết và sai lầm có thể đưa đến thất bại tâm linh cách bi thảm. Cũng giống như trong việc rao giảng Phúc Âm, nhu cầu rất trọng đại là nói ra cách chính xác về giáo lý, của Kinh Thánh về sự cứu rỗi khỏi quyền lực của tội lỗi là một nhu cầu rất lớn" (Lewis Sperry Chafer, Major Bible Themes, p.190
Do đó, tôi đề nghị câu sau đây sẽ làm nền tảng căn bản cho cả bài học này:
Giống như trong sự xưng nghĩa của một tín đồ, sự nên thánh của người ấy cũng do ân điển của Đức Chúa Trời; căn bản sự nên thánh của người ấy là do công tác cứu chuộc của Chúa Giê-xu và phương tiện đạt đến sự nên thánh đó chỉ do đức tin mà thôi!
Vì vậy, mỗi một Cơ Đốc nhân cần hiểu rõ lẽ thật của Phúc Âm để đặt niềm tin đúng đắn vào Đức Chúa Trời trong vấn đề nên thánh của mình. Có như vậy, chúng ta mới đạt được chiến thắng.
4. Ba loại người (ICo1Cr 2:6-3:4)
Căn cứ trên khả năng hiểu và tiếp nhận lẽ thật đã được Đức Thánh Linh bày tỏ, ba loại người này được phân biệt như sau:
a. Người thiên nhiên.
Tình trạng (ICo1Cr 2:11):
Trong người ấy chỉ có linh loài người (c.11). Do đó người ấy dự phần cách thoải mái những việc của đồng loại mình vì người ấy cũng giống y như vậy. Họ là người cùng hội cùng thuyền và sinh hoạt cùng một lãnh vực.
Tình trạng của người đó không thể thay đổi được:
Không thể thay đổi trình độ hay lãnh vực hiện đang sống của người thiên nhiên. Nói cách khác, người ấy không thể tuột xuống mức độ của thú vật nhưng cũng không thể leo lên mức độ thiên thượng. Người ấy có thể cố gắng hiểu, để phân biệt hay để tiến bộ ở tầm cao hơn. Nhưng bằng khả năng của riêng mình sẽ chẳng bao giờ người ấy vượt khỏi mức độ hiện đang sống.
Tình trạng bất năng của người thiên nhiên (ICo1Cr 2:14):
Người ấy không có khả năng thay đổi tình trạng của mình và cũng không thể hiểu được bất cứ điều gì cao hơn mức độ thiên nhiên của mình. Thật ra người đó bị Sa-tan thống trị và đang bị Sa-tan làm mù lòng (Eph Ep 2:2, IICo 2Cr 4:4). Vì vậy đối với người ấy tất cả lẽ thật thiêng liêng là sự rồ dại và người ấy chối bỏ lẽ thật này.
Kết luận tổng quát:
Con người thiên nhiên có thể có nhiều khả năng tự nhiên, kiến thức rộng, sự khôn ngoan ở đời, có những khuynh hướng tôn giáo v.v... Nhưng từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi người ấy cứ sống trong lãnh vực thiên nhiên và không thể thay đổi tình trạng của mình vì không thể hiểu nổi lẽ thật thiêng liêng.
b. Người xác thịt.
Một số người không chấp nhận quan điểm này. Họ cho là 'Cơ Đốc nhân' và 'xác thịt' không thể đi đôi với nhau. Dù quan điểm này có phần đúng, vì Kinh Thánh tuyên bố rằng tất cả Cơ Đốc nhân không còn ở trong xác thịt mà ở trong Thánh Linh nhưng Kinh Thánh dường như cũng chỉ ra là một người có thể sống trong Thánh Linh nhưng tâm trí cũng vẫn còn thuộc về xác thịt (xin xem lại ghi chú ở phần đầu).
Tình trạng người xác thịt (ICo1Cr 3:1-4):
Đoạn này nêu những điểm sau đây về tính xác thịt.
Câu 1: Người xác thịt được gọi là 'con đỏ' (còn là em bé), mặc dù không phải tất cả những con đỏ trong Christ đều là xác thịt.
Câu 2: Những người xác thịt này vẫn còn 'bú bình' - họ cần sữa hay thức ăn của trẻ con vì họ chưa tiêu hóa nổi thức ăn cứng.
Câu 3,4: Hai câu này dường như nói rằng những người này thật sự là những Cơ Đốc nhân nhưng họ có tâm trí xác thịt và do đó cư xử theo xác thịt. Vì vậy, dù là những Cơ Đốc nhân nhưng họ ăn ở như người thiên nhiên mô tả trong chương 2;.
Minh họa tình trạng người xác thịt:
Dường như Phao-lô muốn nói Cơ Đốc nhân xác thịt là người không lớn lên đúng mức. Hãy tưởng tượng niềm vui của bạn khi ngắm xem đứa bé sơ sinh của bạn lớn dần theo từng giai đoạn của tuổi ấu thơ thích hợp với sự phát triển của nó. Nhưng hãy tưởng tượng nỗi lo sợ của bạn, nếu đứa con tuổi 16 vẫn còn ở trong giai đoạn ấu nhi!
Kết luận tổng quát:
Người xác thịt hơn người thiên nhiên vì có Đức Thánh Linh. Nhưng người ấy đã không tăng trưởng đúng mức. Người ấy có thể 'ở trong Thánh Linh' nhưng tâm trí và đời sống bị xác thịt chi phối. Hội thánh đã sai lầm khi chấp nhận tình trạng này, nhưng Kinh Thánh thì dứt khoát xem điều đó là bất thường!
c. Người thiêng liêng.
Tình trạng (ICo1Cr 2:9-15):
Đây là loại người thứ ba nói chung, nhưng là loại Cơ Đốc nhân thứ hai nói riêng.
Câu 12: Người thiêng liêng có thể biết Chúa qua Đức Thánh Linh.
Câu 9: Lẽ thật thiêng liêng không phải tự nhiên mà hiểu được.
Câu 13: Người thiêng liêng không cần dạy dỗ bằng những phương cách tự nhiên hay sự khôn ngoan của thế gian nhưng được dạy dỗ bởi Đức Thánh Linh.
Câu 15: Sự sâu nhiệm của người thiêng liêng không bị giới hạn, người ấy có thể hiểu tất cả mọi điều (kể cả thiên nhiên và thiêng liêng) mặc dù người thiên nhiên và người xác thịt không thể hiểu được người ấy.
Khác biệt giữa người thiêng liêng và người xác thịt.
Khác biệt chủ yếu: Mặc dù các Cơ Đốc nhân đều 'ở trong Thánh Linh' nhưng Cơ Đốc nhân thiêng liêng là người đã học được ý nghĩa của việc 'bước đi trong Thánh Linh'
Do đó, đời sống người ấy được Đức Thánh Linh chi phối khi cứ bước theo Ngài.
Nhấn mạnh chủ yếu: Một người được kể là một Cơ Đốc nhân vì người ấy có một mối quan hệ đúng đắn với Đấng Christ. - Một Cơ Đốc nhân được kể là thiêng liêng vì người ấy có mối quan hệ đúng đắn với Đức Thánh Linh.
Kết luận tổng quát:
Bí quyết của sự thiêng liêng Cơ Đốc là bước đi theo Đức Thánh Linh. Cố gắng để biến một người thiên nhiên hay một Cơ Đốc nhân xác thịt thành một người Cơ Đốc thiêng liêng còn khó hơn việc làm cho nước chảy ngược lên đồi! Chẳng đưa đến kết quả gì! Chúng ta thường cố gắng thúc đẩy mọi người thực hiện những sinh hoạt thuộc linh như đi nhà thờ, cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, dâng 1/10, vâng phục Chúa, làm chứng cho những người hư mất. Tuy nhiên gần như là vô ích khi thúc giục một người xác thịt làm những sinh hoạt này còn với người thiêng liêng thì chẳng cần thúc giục để làm những điều ấy. Nan đề đặt ra là làm thế nào để một người Cơ Đốc trở thành thiêng liêng. Xét cho cùng đó là việc chỉ có Chúa làm được mà thôi!
d. Tiến trình của phân đoạn Kinh Thánh với ba loại người.
Mặc khải không thể hiểu được bằng những phương cách tự nhiên (c.9,10).
Người thiên nhiên không thể hiểu biết mặc khải, chỉ có Đức Thánh Linh mới biết mà thôi.
Đức Thánh Linh được ban cho các tín đồ để giúp họ hiểu (c.10).
Người thiên nhiên không thể nhận được lẽ thật thiêng liêng (c.14).
Do tính xác thịt nên Cơ Đốc nhân xác thịt bị ngăn trở không nhận được lẽ thật thiêng liêng (3:1-4)
Người thiêng liêng có thể nhận được tất cả lẽ thật thiêng liêng (2:15) mà không bị cản trở chút gì.
B. Ý nghĩa thật của sự được cứu.
1. Sự cứu rỗi không phải:
a. Theo một tôn giáo.
Được cứu không chỉ có nghĩa là tin vào Đức Chúa Trời, hay trên tinh thần chấp nhận mọi đòi hỏi của Đấng Christ; hoặc chịu báp-tem; gia nhập Hội thánh hay dự thông công. Một người có thể làm tất cả những điều này cách hết sức thật lòng mà cũng chẳng bao giờ trở thành Cơ Đốc nhân.
b. Chỉ là 'chấp nhận Christ'.
Sự cứu chuộc không chỉ có nghĩa là 'nắm lấy Giê-xu' hay 'nhận Giê-xu' hay 'mời Giê-xu vào lòng'. Nó còn mang nhiều ý nghĩa khác hơn là 'quyết định tin theo Giê-xu'. Giống như trên, một người có thể làm tất cả những điều này một cách hoàn toàn máy móc và cũng chẳng khi nào thật sự trở thành một Cơ Đốc nhân.
c. Chủ yếu là một kinh nghiệm của cảm xúc hay trí tuệ.
Đức tin Cơ Đốc chắc chắn là một điều hợp lý và chỉ nhờ đó tâm trí của người mới có thể thỏa mãn. Về một phương diện đức tin này có yếu tố cảm xúc và ta không nên loại bỏ cảm xúc này ra khỏi đời sống Cơ Đốc. Tuy nhiên, những kinh nghiệm này không phải là những điều quan trọng duy nhất và chỉ với những kinh nghiệm như thế, không thể khiến một người trở thành một Cơ Đốc nhân được.
d. Cố gắng tỏ ra thiêng liêng.
Đừng bao giờ hiểu Cơ Đốc giáo là 'hãy làm những điều này' và 'đừng làm những điều kia'. Đó là tôn giáo của đời này. Cũng vậy, Cơ Đốc giáo không phải là 'cố hết sức' hay 'làm hết sức mình' hay 'được tiếng tốt' trước mặt người khác. Cơ Đốc giáo không phải là một tôn giáo hay là sự thiêng liêng do con người tạo ra. Những cố gắng tỏ ra thiêng liêng có thể lừa dối người khác hay lừa dối chính mình, nhưng sẽ chẳng bao giờ được kể là công bình trước mặt Đức Chúa Trời.
2.Tầm quan trọng của việc suy nghĩ theo Kinh thánh, theo thần học và một cách thiêng liêng.
a. Thực tế khách quan và chủ quan.
Ngay cả khi đã là Cơ Đốc nhân chúng ta cũng có khuynh hướng nhìn sự vật theo mối liên hệ của chúng đối với chúng ta (bản chất của nhân bản chủ nghĩa). Chúng ta quan tâm chủ yếu đến những tình cảm của chúng ta , đến ý kiến của chúng ta , đến kinh nghiệm của chúng ta và đến thế giới của chúng ta . Và chúng ta đánh giá chân lý trong tương quan của nó đối với chúng ta. Tuy nhiên, phải nhớ rằng chân lý là chân lý, dù chúng ta nghĩ gì hay cảm thấy gì chăng nữa.
b. Lẽ thật theo kinh nghiệm và lẽ thật được bày tỏ.
Ngày nay, trong Hội thánh cũng như ở ngoài đời người ta thường nhấn mạnh đến khía cạnh kinh nghiệm. Những gì quan trọng nhất là những gì bạn đã kinh nghiệm và tất cả mọi thứ (kể cả Lời Chúa) đều được giải thích bằng kinh nghiệm. Tuy nhiên, kinh nghiệm của bạn về một điều gì đó không biến điều đó thành chân lý. Nói cách khác, mặc dù kinh nghiệm có thể rất thật nhưng điều đó cũng không biến nó thành sự thật (đây là một điều rõ ràng nếu chúng ta suy xét đến sự lừa dối đã xảy ra trong cả các tôn giáo đời này lẫn trong tà giáo 'Cơ Đốc'. Thật vậy, hầu hết những lẽ đạo quí báu nhất trong Cơ Đốc giáo không hề được các tín đồ thực sự kinh nghiệm. Những lẽ thật này đã được bày tỏ cho họ là điều chân thật!
c. Sự hiểu biết là cần yếu cho đức tin thật.
Hội thánh ngày nay thường nhấn mạnh đến đức tin. Chúng ta đã trở thành những Cơ Đốc nhân 'có đức tin vào đức tin của mình'. Đúng ra, trọng tâm phải được đặt vào 'lẽ thật' do Đức Chúa Trời bày tỏ. Do đó, sự hiểu biết lẽ thật là yếu tố cần thiết dẫn đến đức tin. Chúng ta được mời gọi để biết lẽ thật, để xem xét lẽ thật và rồi tin vào lẽ thật. Vì vậy niềm tin đúng đắn và mọi suy nghĩ về Kinh Thánh phải được đặt căn bản trên sự kiện là biết lẽ thật của Kinh Thánh!
d. Kết luận tổng quát.
Điều tôi muốn nói rất đơn giản: khi chúng ta cố gắng để trả lời một câu hỏi như là 'ý nghĩa đích thực của sự cứu rỗi là gì?' - chúng ta không được dựa trên những phân tích khách quan hay theo kinh nghiệm mà nên tìm biết Đức Chúa Trời đã thật sự trả lời câu hỏi đó như thế nào!
3. Sự cứu rỗi thật sự chính là:
a. Điều Đức Chúa Trời đã làm từ ngàn xưa.
Sự cứu rỗi có nghĩa là được Đức Chúa Trời chọn lựa:
Sự chọn lựa có thể hiểu là hành động tối cao của Đức Chúa Trời qua đó Ngài chọn ra một dân sự cho riêng Ngài giữa vòng nhân loại.
Điều này chỉ có nghĩa là từ ngàn xưa, từ trước khi thế gian được dựng nên, Đức Chúa Trời đã chọn bạn làm đối tượng cho tình yêu của Ngài. Chính vào lúc đó Ngài đã tỏ lòng yêu thương đối với cá nhân bạn (RoRm 8:29, Eph Ep 1:4).
Sự cứu rỗi là được định sẵn bởi Đức Chúa Trời:
Sự định trước được coi như là hành động tối cao của Đức Chúa Trời qua đó Ngài dự bị những phương tiện hoàn hảo để làm thành những mục đích hoàn hảo của Ngài đối với những người mà Ngài đã lựa chọn từ trước.
Nói cách khác, những người mà Đức Chúa Trời đã tỏ lòng yêu thương từ ngàn xưa, những người mà Đức Chúa Trời đã có một mục đích rõ ràng và nhất định cho họ, thì Ngài cũng định những phương cách chính xác để hoàn thành mục đích đó (RoRm 8:28-30, Eph Ep 1:4-6).
b. Điều Đức Chúa Trời đã làm trong không gian và thời gian.
Sự cứu rỗi là sự được kêu gọi có kết quả:
Có thể định nghĩa sự kêu gọi có kết quả là một lời kêu gọi tối cao và rõ ràng trong lòng tội nhân, qua lời kêu gọi này, họ được mời đến và được ban cho khả năng tin nhận sứ điệp của Phúc Âm để được cứu.
Có một lời kêu gọi tổng quát ngoại tại của Phúc Âm qua việc rao giảng lời Chúa và một lời kêu gọi đặc biệt và rõ ràng phía của Đức Thánh Linh. Điều gì đã khiến cho một tội nhân có thể đáp ứng? Đức Chúa Trời đã ban khả năng này qua của Đức Thánh Linh (EsIs 55:11, GiGa 5:21, 6:37, RoRm 10:17 v.v.;.)
Sự cứu rỗi là được tái sanh:
Có thể định nghĩa sự tái sanh là công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời qua đó Ngài khiến tâm linh chết của con người được sống lại bởi được 'sinh từ trên cao'.
Sự tái sanh còn có thể được định nghĩa là công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời qua đó sự sống mới được dẫn truyền và đặt vào trong một người, bởi đó khuynh hướng chủ trị tội nhân đã được thánh hóa và hướng về Đức Chúa Trời.
Đó chính là cốt lõi của 'sự qui đạo'. Đó chính là điều Chúa Giê-xu nhấn mạnh khi Ngài tuyên bố mạnh mẽ rằng tội nhân hư mất phải được sanh lại. Tại sao đây lại là điều cốt lõi? Vì chúng ta không thể thay đổi hay cải tạo xác thịt. Chúng ta phải là kẻ được dự phần vào bản chất thiên thượng (GiGa 3, GiGa 1:12, 13, Gia Gc 1:18, Tit Tt 3:5, Eph Ep 2:4, 5 v.v...).
Sự cứu rỗi là sự hiệp một với Christ:
Đây là công việc siêu nhiên của Đức Thánh Linh qua đó Ngài kết hợp tội nhân đã tin vào thân vị của Chúa Giê-xu đến đời đời.
Tín đồ khi đó được xem là 'ở trong Christ' và không còn 'ở trong A-đam' nữa (RoRm 5:12-21, 6:6). Xin lưu ý sự phân biệt sau đây:
Tái sanh - đó là 'Christ trong bạn'.
Hiệp một - đó là 'bạn trong Christ'.
Chúa Giê-xu nói về chính điều này trong GiGa 14:19, 20 và ở những chỗ khác. Xin tham khảo những tài liệu khác về vấn đề này.
Sự cứu rỗi là được xưng công bình:
Sự xưng công bình có thể được định nghĩa là lời tuyên bố hợp pháp một cách vô điều kiện (ân điển) và một cách công bình (sự đền tội) của Đức Chúa Trời qua đó Ngài tha thứ mọi tội lỗi cho tội nhân và ban sự công nghĩa cho họ. Việc này chỉ dựa trên sự hy sinh chuộc tội đã được Chúa Giê-xu Christ hoàn tất.
Đây là lời tuyên bố có giá trị đời đời của Đức Chúa Trời vì dựa trên sự đền tội của Đấng Christ. Do đó một tín đồ có thể biết chắc được rằng:
Người ấy không có mặc cảm phạm tội - có nghĩa là Đức Chúa Trời đối xử với bạn như thể bạn chưa bao giờ phạm một lỗi lầm nào trong cả cuộc đời!.
Người ấy là công bình - có nghĩa là Đức Chúa Trời đối xử với bạn như thể bạn đã tuân giữ luật pháp suốt cả đời bạn!
Vì vậy một tín đồ hưởng sự công bình nhờ đức tin chớ không nhờ việc làm (RoRm 1:16, 17, 10:4, Phi Pl 3:9, HeDt 7:18, 19 v.v...)
Sự cứu rỗi là được Đức Thánh Linh cư trú và ấn chứng:
Đây là mục đích đặc biệt của Đức Chúa Trời trong việc tuyên bố quyền sở hữu của Ngài, trong việc gìn giữ, bảo vệ những gì thuộc về Ngài và trong việc đảm bảo sự chuộc tội đời đời cho mỗi một người đã được tái sanh.
Không phải Đức Thánh Linh làm công việc ấn chứng mà chính Đức Thánh Linh là ấn chứng. Đây là dấu hiệu xác nhận của Đức Chúa Trời đối với mỗi một con cái của Ngài. Đây là cách Ngài bảo vệ họ và đây là lời Ngài hứa sẽ làm trọn công việc của Ngài.
Sự cứu rỗi là được hòa thuận lại, được nhận làm con:
Đây là công việc đặc biệt của Đức Chúa Trời, qua đó Ngài đem tội nhân xa lạ vào trong mối tương quan phải lẽ với Ngài và hơn thế nữa, tiếp nhận tội nhân trước đây vốn xa lạ đó làm con nuôi trong chính gia đình Ngài.
Khi tội nhân còn ở trong xác thịt, trong A-đam và đi theo Sa-tan thì người ấy là kẻ thù của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là trước đây tất cả chúng ta đều xa cách Ngài và ở dưới cơn thạnh nộ thiên thượng của Ngài. Đó chính là ý nghĩa của sự bị lạc mất và chưa trọn vẹn! Nhưng bây giờ bởi dòng huyết Chúa Giê-xu chúng ta đã được, đem đến gần và hơn thế nữa, đã nhận vào gia đình của Đức Chúa Trời.
c. Điều Đức Chúa Trời đang làm trong hiện tại.
Sự cứu rỗi có nghĩa là đang được thánh hóa:
Sự nên thánh có thể được định nghĩa là công việc siêu nhiên mà Đức Thánh Linh làm bên trong một tín đồ để qua đó người ấy được nên giống như Chúa Giê-xu Christ.
Tôi nhấn mạnh tại đây cái thực tế của sự nên thánh ở hiện tại. Phải nhớ rằng sự xưng công bình thật luôn luôn dẫn đến sự nên thánh. Do đó qua tái sanh đời sống mới đã được trồng vào, giờ đây đang được lớn lên và ảnh hưởng đến đời sống người tín đồ với mức độ ngày càng gia tăng. Bằng cách này, mỗi một tín đồ đang được biến đổi đi từ vinh hiển đến vinh hiển để đến kết quả là được trở nên giống như Ngài!
d. Điều Đức Chúa Trời sẽ làm trong tương lai.
Sự cứu rỗi là được sống lại về thân thể:
Đây là một công việc siêu nhiên của Đức Chúa Trời qua đó Ngài khiến thân thể người tín đồ từ cõi chết được sống lại đến một đời sống vĩnh cửu trong sự hiện diện của Ngài.
Kinh Thánh dạy rằng một ngày kia tất cả mọi người từ cõi chết sẽ được sống lại để hưởng một đời sống hạnh phước khôn tả với Đức Chúa Trời. Do đó, 'sự cứu rỗi vĩ đại' của chúng ta nhất định có bao gồm sự cứu chuộc của thân thể.
Sự cứu rỗi là được làm vinh hiển:
Sự biến hóa vinh hiển là công việc siêu nhiên của Đức Chúa Trời qua đó thân thể hay hư nát được sống lại từ cõi chết biến thành không hư nát và thân thể hay chết được biến thành vĩnh cửu. Kết quả là người tín đồ được đời đời cất khỏi sự hiện diện của tội lỗi và khả năng phạm tội.
Thân thể hiện nay của chúng ta một ngày kia sẽ được biến hóa thành không hư nát. Thân thể là 'thân thể của tội lỗi' (RoRm 6:1-23) và vẫn còn bị ảnh hưởng của bản ngã xác thịt. Hậu quả là xác thịt này tìm cách thống trị đời sống của người tín đồ. Nhưng một ngày kia chúng ta sẽ thoát khỏi thân thể này và do đó sẽ thoát khỏi bản ngã xác thịt mãi mãi. Chính vào thời điểm ấy, người tín đồ được giải thoát khỏi sự hiện diện của tội lỗi và không bao giờ phải đấu tranh với xác thịt và những cám dỗ phạm tội nữa.
Hãy để ý là mỗi một định nghĩa nêu trên đều bắt đầu với lời tuyên bố: Đó là công việc của Đức Chúa Trời! Thật vậy, sự cứu rỗi chỉ đến từ Đức Chúa Trời! Ngợi khen Ngài!
Giáo lý của sự tái sanh
Tại sao cần thiết?
SaSt 3:1, 13, GiGa 8:34, 3:3, 6a, Gie Gr 13:23, RoRm 8:5-8, Eph Ep 2:1-3
Bản chất của sự sanh lại.
Đức Chúa Trời là tác giả của sự tái sanh. GiGa 1:12, 13
Đức Thánh Linh là tác giả chính của sự tái sanh. GiGa 3:5-8
Lời Chúa là công cụ của sự sanh lại. IPhi 1Pr 1:23
Sự tái sanh xảy ra và hoàn tất ngay trong một lúc, không giống như sự nên thánh vốn là một quá trình liên tục.
Kết quả của sự tái sanh.
Khi được sanh lại. Chúng ta thật sự tiếp nhận sự sống của Christ vào đời sống chúng ta. IICo 2Cr 13:5, IGi1Ga 5:12, GaGl 2:20, CoCl 1:27
Sự sống chúng ta nhận được là sự sống đời đời. GiGa 5:24, 10:28, RoRm 6:23
Đức Thánh Linh ngự trong người đã tái sanh. RoRm 8:9-11, ICo1Cr 3:16
Người được tái sanh thật sự trở thành một 'tạo vật mới'. RoRm 6:1-14, IICo 2Cr 5:17
Người được sanh lại có khả năng sống một đời sống thánh khiết trước mặt Chúa. RoRm 6:1-14, 8:1-4
Người được sanh lại có khả năng hiểu những điều thiêng liêng. ICo1Cr 2:6-16
Người được sanh lại có Chúa làm việc cách cá nhân trong đời sống. Phi Pl 2:13.
Sự hiệp một của tín đồ với Christ
(địa vị 'ở trong Christ'của người tín đồ)
RoRm 8:1, Eph Ep 2:6, CoCl 1:14, Eph Ep 1:4, IICo 2Cr 5:17, CoCl 2:10, 11, 12, RoRm 6:23, Eph Ep 1:3, 6, 2:5, 13, 18, Phi Pl 4:13, ICo1Cr 15:57, RoRm 8:38, 39, 37, IICo 2Cr 5:21.
C. Công việc của Đức Thánh Linh.
1. Đức Thánh Linh và sự sống thuộc linh.
'Mặc dù còn có nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến vấn đề đầy dẫy Đức Thánh Linh, nhưng rõ ràng Đức Thánh Linh là món quà vô giá của Đức Chúa Trời ban cho những người được cứu. Kinh Thánh đánh giá về tầm quan trọng của tặng phẩm này, cao hơn sự đánh giá của Cơ Đốc nhân rất nhiều. Sự kiện Đức Thánh Linh ở trong tín đổ, không được bày tỏ trong bất cứ kinh nghiệm nào; tuy nhiên, sự kiện đó là nền tảng mà tất cả mọi công việc khác làm cho một con cái của Chúa phải tùy thuộc vào' (trích trong He That Is Spiritual, Lewis Sperry chafer Zondervon trang 33.
a. Sự sống thuộc linh sản sinh bởi Đức Thánh Linh.
Sự sống thuộc linh không được thực hiện những phương cách tự nhiên. Đó không phải là điều mà người tín đồ cố đạt đến được. Sự sống thuộc linh là một phẩm chất của sự sống mà chỉ Đức Chúa Trời mới có thể tạo nên mà thôi. Đó là công việc của một mình Đức Chúa Trời!
Nhiều người lầm lẫn sự sống thuộc linh với những hoạt động bề ngoài, hay với một số kinh nghiệm thờ phượng đầy cảm xúc hay ngay cả với những cá tính riêng biệt (thí dụ: một người có tính tình dịu dàng và thụ động thường được xem là 'thuộc linh' hơn người khác). Nhưng sự sống thuộc linh là công việc siêu nhiên của chính Đức Chúa Trời Toàn Năng!
b. Sự sống thuộc linh là bởi năng lực của Đức Thánh Linh.
Trên thực tế, Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta sống một đời sống thiêng liêng và tiêu chuẩn Ngài định thì hết sức cao. Tuy nhiên, đồng thời Ngài biết chúng ta không thể nào đạt đến tiêu chuẩn Ngài đã đặt ra. Do đó, sự sống thuộc linh mà Ngài muốn, không phải đạt được bởi nỗ lực của chúng ta, cũng không bởi công tác của chúng ta hay sự đấu tranh phấn đấu nào của chúng ta cả. Sự sống thuộc linh không phải việc chúng ta làm cho Chúa!
Mỗi một tín đồ phải luôn luôn nhớ rằng sự xưng công bình là công việc Chúa làm cho chúng ta và sự nên thánh là công việc Chúa làm trong chúng ta.
c. Sự sống thuộc linh là do bởi sự đáp ứng của chúng ta đối với Đức Thánh Linh.
Vì sự sống thuộc linh là công việc của Chúa, và vì Chúa đã ban cho chúng ta Thánh Linh của Ngài để hoàn thành việc ấy nên đương nhiên, những tiến bộ trong đời sống thuộc linh của chúng ta được quyết định do đáp ứng đúng đắn của chúng ta với Đức Thánh Linh. Nói cách khác, chúng ta cần sẵn sàng cho Đấng đã đến, để Ngài làm những gì mà chỉ một mình Ngài có thể làm! Do đó chúng ta phải đi với Ngài; chúng ta không được làm buồn lòng hay dập tắt Ngài, và chúng ta không được chống cự những phương cách Ngài đã chọn để làm thành công việc của Ngài. Một lần nữa, trách nhiệm của người tín đồ chỉ là bước đi trong Thánh Linh!
'Ôi, anh ta đã làm được bao điều to tát, nào cầu nguyện, nghe giảng, nào đọc sách và thảo luận rất nhiều; thế nhưng anh ta có Đức Thánh Linh hay không? Qua Kinh Thánh, tôi biết được sự khác biệt lớn lao nhất giữa những thánh đồ và những tội nhân, đó là những người này thì có Thánh Linh còn những người kia thì không' (trích trong A Puritan Golden Treasury, Walter trang 142.
'Công việc của Đức Thánh Linh là hình thành trong người tín đồ một đời sống có tính thiên thượng. Đời sống này không thể bắt chước được; tuy nhiên người ta thường cho rằng sự sống thuộc linh có nghĩa là phấn đấu thực hiện một số luật lệ đặc trưng nào đó hay là sự mô phỏng theo lý tưởng của thiên đàng. Sự sống thuộc linh không phải do gắng sức đấu tranh mà có được, mà là điều đã được công bố. Không phải là bắt chước theo lý tưởng ở thiên đàng mà là sự được dự phần quyền năng thiên thượng, là năng lực duy nhất có thể thực hiện đời sống lý tưởng đó'. (trích trong He that is Spiritual của Lewis Sperry Chafer, trang 61.
'Sự sống thuộc linh thật là sự biểu hiện của Đức Thánh Linh trong và qua cá nhân mà Ngài đầy dẫy. Đó là một sản phẩm thiên thượng của đời sống, hơn là việc chỉ chấm dứt những điều thuộc về 'thế gian'. Sự sống thuộc linh thật không bao gồm những điều tiêu cực mà người ta không làm mà là gồm những điều tích cực mà người ấy làm. Đó không phải là sự đè nén mà là sự biểu lộ. Đó không phải là việc tự kềm chế bản ngã mà là tuôn đổ Đấng Christ. Người không được tái sanh sẽ không được cứu cho dù người đó thôi không phạm tội, người đó không được sanh bởi Đức Chúa Trời. Một Cơ Đốc nhân sẽ không trở thành thiêng liêng (thuộc linh) nhờ mình không làm theo thế gian, nhưng do người đó không có được một biểu hiện nào của Đức Thánh Linh' (trích trong He that is Spiritual của Chafer, trang 60.
2. Nhiệm vụ ba phần của Đức Thánh Linh trong đời sống tín đồ.
a. Đức Thánh Linh 'với' tín đồ.
Đức Thánh Linh là Đấng 'Paraklete' thiên thượng - Đấng đã đến với người tin Chúa để giúp đỡ. Do đó Ngài là Đấng Trợ giúp thiên thượng; Đấng Hướng dẫn, Đấng Yên ủi, Đấng giúp chúng ta mang gánh nặng. Bạn có thể tin cậy rằng Ngài sẽ làm những điều Ngài đã đến để làm, nhưng Ngài cũng sẽ đòi hỏi bạn làm những gì Chúa muốn bạn làm. Thêm vào đó, Ngài đến để thi hành nhiệm vụ theo cách thức này mãi mãi, và Ngài sẽ không bao giờ rời khỏi hoặc bỏ rơi bạn!
b. Đức Thánh Linh 'trong' người tín đồ.
Đức Thánh Linh không chỉ ở bên cạnh mà Ngài còn tái sanh và ban sự sống thuộc linh cho tội nhân hư mất. Từ đó, Ngài thường xuyên ở trong cuộc đời của người tín đồ. Thật vậy, đây là lẽ thật thực sự biến một người thành Cơ Đốc nhân và khiến Cơ Đốc nhân khác với người thế gian. Chính qua sự cư trú này mà Đức Thánh Linh hoàn tất công tác của Ngài là làm cho người tín đồ nên thánh và biến đổi người ấy để trở nên giống Christ (đây là sự đầy dẫy đương đề cập trong Eph Ep 5:18-21). Kết quả và bông trái của Thánh Linh sản sinh trong đời sống của người tín đồ. (Hê 8 và 10;, Phi Pl 2:13, GaGl 5:22, 23 v.v..).
c. Đức Thánh Linh 'trên' người tín đồ.
Đức Thánh Linh muốn ban năng lực và xức dầu cho mỗi tín đồ để hầu việc có kết quả. Điều này có thể được nói đến như là 'biểu hiện đặc biệt' của quyền năng Đức Thánh Linh. Chúng ta thấy điều này trong suốt Cựu ước (lưu ý đặc biệt đến các quan xét và các tiên tri) trong các sách Phúc Âm () và xuyên suốt sách Công vụ (trong sách này, điều ấy được nói đến như sự 'đầy dẫy'. Đây là sự ban quyền năng đặc biệt của Đức Thánh Linh liên hệ đến việc làm chứng về Đấng Christ của tín đồ; về những ân tứ cũng như chức vụ đặc biệt của tín đồ (Chúa Giê-xu đã hứa ban quyền phép này và Ngài trông đợi chức vụ họ được thực hiện bởi quyền phép này Luca 24 và Cong Cv 1:8).
3. Nhiệm vụ của Đức Thánh Linh trong đời sống tín đồ.
a. Đức Thánh Linh khiến người tín đồ nhận biết lẽ thật (GiGa 16:12-15)
Đức Thánh Linh dạy dỗ người tín đồ bằng cách bày tỏ lẽ thật thiêng liêng cho người ấy. Ngài khiến người tín đồ biết những gì không thể biết được bằng phương cách tự nhiên. Sự dạy dỗ của Ngài luôn luôn liên quan đến lời Chúa! Ngài sẽ soi sáng tâm trí, ban khả năng hiểu biết và khiến lẽ thật trở nên sống động trong lòng người. Ngài dạy dỗ để đem người ấy đến đời sống trưởng thành và kết quả.Vì Ngài là Giáo sư nên trách nhiệm của chúng ta là phải luôn luôn tỏ ra là người chịu dạy dỗ.
b. Đức Thánh Linh dắt dẫn người tín đồ (RoRm 8:4)
Đức Thánh Linh đã đến ở bên người tín đồ để giúp đỡ, hướng dẫn và an ủi. Sẽ không bao giờ có một thời điểm hay một hoàn cảnh nào mà Ngài không hiện diện. Ngài sẽ đem đến sự an ủi và lời khuyên bảo từ Chúa, qua đó dẫn chúng ta đến ý chỉ được bày tỏ của Đức Chúa Cha. Tuy nhiên, phải nhớ rằng sự dẫn dắt này có thể ngược lại những gì mà chúng ta thường tự nhiên chọn lựa (Xem Mat Mt 4:1). Nhưng những ai được Thánh Linh hướng dẫn cũng là con cái thật của Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ dạy cho họ cách đồng bước đi với Thánh Linh. Vì Ngài là Đấng hướng dẫn nên trách nhiệm của chúng ta chỉ là đi theo!
c. Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng của người tín đồ (RoRm 8:16)
Đức Thánh Linh sẽ nói sâu xa trong lòng và lương tâm của người tín đồ Ngài biến lẽ thật thiêng liêng quí báu trở thành sự thật đối với lòng của người tin. Ngài làm cho lẽ thật này trở nên sống động, mạnh mẽ và hứng thú! Ngài đem đến lòng của người tín đồ sự đảm bảo về sự cứu chuộc. Tuy nhiên, điều này sẽ không xảy ra nếu người ấy còn dung túng tội lỗi, vì khi đó nhiệm vụ của Đức Thánh Linh sẽ là thuyết phục cáo trách. Biết mình đã được xưng công bình là một chuyện và biết quyền năng không mô tả nổi của lẽ thật này lại là một chuyện khác!Vì Ngài làm chứng cho sự cứu chuộc và sự được nhận làm con của chúng ta nên trách nhiệm của chúng ta là không bao giờ dập tắt hay làm buồn lòng Ngài.
d. Đức Thánh Linh cầu thay cho người tín đồ (RoRm 8:26, 27)
Đây là đoạn văn thường bị hiểu sai và do đó đã tước đoạt lẽ thật quí báu của nó đối với người tín đồ. Điều này nói đến lẽ thật không thể mô tả nổi rằng Đức Thánh Linh đang thật sự cầu nguyện cho người tin ở ngay chính trong lòng người ấy. Đây là một nhiệm vụ kín nhiệm của Đức Thánh Linh mà chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được nếu Đức Chúa Trời không bày tỏ lẽ thật này cho chúng ta. Hãy lưu ý rằng Ngài cầu thay cho chúng ta theo ý chỉ của Đức Chúa Trời và vì vậy mà Đức Chúa Trời nghe Ngài. Do đó, chúng ta có một Đấng cầu thay trên thiên đàng (Chúa Giê-xu) và một Đấng cầu thay trong lòng chúng ta (Đức Thánh Linh).Vì Ngài cầu thay cho chúng ta, chúng ta cũng có thể trông cậy Ngài giúp chúng ta cầu nguyện trong ý Chúa.
e. Đức Thánh Linh tạo tâm linh của Christ trong người tín đồ (GaGl 5:1-26)
Đây là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của Đức Thánh Linh. Trách nhiệm của chúng ta không phải là tạo ra bông trái - trái đó được gọi là trái Thánh Linh. Tâm tính Cơ Đốc không phải là việc làm của chúng ta, cũng không phải việc làm của chúng ta cộng với việc làm của Ngài, đó là việc làm của Đức Thánh Linh và việc làm ấy được kết quả vì chúng ta là những cành nho nối liền với cây nho. Vì Ngài tạo ra bông trái nên trách nhiệm của chúng ta là hợp tác!
Bông trái và ân tứ của Đức Thánh Linh
GaGl 5:22, 23 ”Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. Không có luật pháp nào cấm các sự đó"
Eph Ep 4:7-1 ”Ngài đã lên nơi cao, dẫn muôn vàn kẻ phu tù, và ban các ơn cho loài người. Ấy chính Ngài đã cho này làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư để cho các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch".
RoRm 12:3-8 ”Vì chúng ta có những sự ban cho khác nhau tùy theo ơn đã ban cho chúng ta, hãy lấy lòng vui mà làm:
1. Nói tiên tri
2. Làm chức vụ
3. Dạy dỗ
4. Khuyên bảo
5. Bố thí
6. Cai trị
7. Làm sự thương xót
ICo1Cr 12:4-11 ”Vả, có các sự ban cho khác nhau...nhưng Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi người cho ai nấy đều được sự ích chung:
1. Lời nói khôn ngoan
2. Lời nói tri thức
3. Đức tin
4. Ơn chữa tật bệnh
5. Làm phép lạ
6. Nói tiên tri
7. Phân biệt các thần
8. Nói nhiều thứ tiếng
9. Ơn thông giải
Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.
D. Biết Chúa cách riêng tư.
Cuốn sách 'Knowing God' (Biết Chúa) xác quyết rằng sự thiếu hiểu biết về Đức Chúa Trời - thiếu hiểu biết về cả những đường lối của Ngài lẫn cách thông công với Ngài - là nguồn gốc của phần lớn sự yếu đuối của Hội thánh ngày nay (trích Knowing God của J.I.Packer trang 6).
'Lỗi lầm của chúng ta là tự soạn thảo những luật lệ của riêng mình trên đất này cho đời sống Cơ Đốc - sao chúng ta có thể tự phụ thế nhỉ? thay vì lắng nghe những gì chính Đức Chúa Trời muốn nói với chúng ta, chẳng hạn 'Nếu các ngươi muốn trở thành một Cơ Đốc nhân thì trước nhất các ngươi phải lớn lên trong sự hiểu biết về Ta' (trích A Heart for God của Sinclair Ferguson, trang 15,16
1. Biết Chúa là một thực hữu
a. Vấn đề: trở lực của con người trong việc biết Chúa.
Tự nhiên con người không thể hiểu biết về Đức Chúa Trời. Điều này chủ yếu do ba lý do sau đây:
1. Đức Chúa Trời là Đấng Vô Hạn, chúng ta chỉ là những tạo vật hữu hạn.
2. Đức Chúa Trời ở trong cõi vĩnh hằng trong khi chúng ta ở trong thế giới bị giới hạn 'bởi không gian và thời gian'.
3. Đức Chúa Trời tuyệt đối thánh khiết còn chúng ta là những tạo vật đầy tội lỗi.
Kết quả là, chúng ta không thể hiểu biết Ngài nếu Ngài không muốn tự bày tỏ chính Ngài cho chúng ta. Và ngay cả khi đó, Ngài cũng phải tự bày tỏ bằng một cách thức khả dĩ chúng ta hiểu được. Hơn thế nữa, Ngài phải làm việc trong lòng chúng ta để khiến chúng ta ước ao muốn biết Ngài.
b. Giải pháp: lời hứa thiên thượng về sự bày tỏ riêng tư.
Đức Chúa Trời đã chọn để làm cho tạo vật của Ngài biết Ngài. Ngài đã làm điều này qua nhiều cách khác nhau.
1. Ngài đã tự bày tỏ cách tổng quát qua sự sáng tạo của Ngài.
2. Ngài đã tự bày tỏ cách đặc biệt qua Kinh Thánh.
3. Ngài đã tự bày tỏ cách đặc biệt nhất là qua Con Ngài.
Ngài cũng đang làm việc trong lòng chúng ta để khiến chúng ta có thể hiểu được sự bày tỏ của Ngài (Gie Gr 24:7, 31:34, HeDt 1:1-3). Vậy thì, vì Đức Chúa Trời đã chọn để tự bày tỏ và vì Ngài hành động để khiến chúng ta có tể hiểu được sự bày tỏ đó nên biết Chúa cách riêng tư là một khả năng có thực!
c. Điều cần làm trước hết: tầm quan trọng của sự nhận biết Chúa.
Vì ta ưa và đẹp lòng sự nhìn biết Đức Chúa Trời (OsHs 6:6).
Người Hê-bơ-rơ đã lập ra một nghi thức thờ phượng mà trọng tâm là việc dâng của lễ. Nhưng nghi thức dâng của lễ không phải là điều Đức Chúa Trời muốn, dù chính Ngài đã chỉ định cách thức thờ phượng. Đức Chúa Trời phán rằng điều Ngài ưa thích nhất là sự nhìn biết Chúa cách riêng tư của mỗi chúng ta và kết quả mới là sự thờ phượng. Chúng ta rất dễ dàng bị lạc đường.
Kính sợ Đức Giê-hô-va ấy là khởi đầu sự khôn ngoan (ChCn 9:10)
Biết Chúa cách riêng tư thật sự là khởi điểm, là con đường và mục đích của sự cứu rỗi của chúng ta. Mọi điều trong đời sống thuộc linh đều liên hệ trực tiếp đến khái niệm quan trọng này. Chúng ta sẽ đạt được rất ít hay chẳng đạt được tiến bộ nào trong đời sống Cơ Đốc nếu chúng ta sai lầm ở điểm căn bản này.
Sự sống đời đời là nhìn biết Cha (GiGa 17:3)
Sự sống đời đời không chỉ đơn giản là một sự sống không bao giờ chấm dứt (từ bản chất tất cả mọi linh hồn đều vĩnh cửu). Sự sống đời đời là sự sống có liên quan đến Đức Chúa Trời; đó là sự sống được đầy dẫy Ngài và trong sự hiện diện của Ngài. Điều này chỉ có thể có được qua sự hiểu biết chính xác Đức Chúa Trời là ai theo như lẽ thật.
Nhìn biết Đức Chúa Trời là căn bản cho sự thờ phượng Ngài phải lẽ (GiGa 4:24)
Chúng ta không bao giờ 'khép kín' tâm trí mình khi thờ phượng hay chỉ vui hưởng một cuộc gặp gỡ đầy cảm xúc với Đức Chúa Trời. Chúng ta phải thờ phượng Chúa theo những lẽ thật Ngài đã bày tỏ về chính Ngài. Chúng ta không được làm ô danh Chúa bằng một sự thờ phượng 'rỗng tuếch' hay bằng cách duy trì một khái niệm không xứng đáng với Ngài về chính Ngài.
Sự nhìn biết Chúa là điều cao cả nhất con người có thể đạt được (Gie Gr 9:23-24)
Bạn có muốn đạt được điều gì đó trong đời này không? Bạn có muốn được một điều gì thật sự có giá trị không? Bạn có khoe hay hãnh diện về một điều gì không? Nếu có hãy quyết tâm tìm biết Đức Chúa Trời đi. Trong đời này chúng ta không thể nào theo đuổi, đạt được hay hoàn thành bất cứ một điều gì cao quý hơn hay có giá trị hơn là sự nhận biết Chúa. Đây phải là mục đích của chúng ta.
d. Niềm say mê: Sự cố gắng để nhìn biết Chúa.
Nếu đã xác quyết được lẽ thật này thì chúng ta còn chờ đợi gì nữa khi mình là Cơ Đốc nhân? Tại sao chúng ta không dành ưu tiên cho điều được Đức Chúa Trời ưa thích nhất. Tại sao chúng ta không chọn để theo đuổi mục đích mà vì nó chúng ta đã được tạo dựng và cứu chuộc? Chúng ta hãy gắng sức nhìn biết Chúa, xem đó là mối ưu tiên và tham vọng lớn nhất của đời sống chúng ta (OsHs 6:3a). Chúng ta chẳng có gì để mất, và chúng ta có thể đạt được mọi sự đấy!
'Mục đích tối hậu của con người là gì? Mục đích tối hậu của con người là tôn thờ Đức Chúa Trời và tận hưởng Ngài mãi mãi' (trích trong Westminster Shorter Catechism)
2. Những kết quả của việc nhìn biết Chúa.
a. Đức tin vào Đức Chúa Trời.
Đức tin tự nó gần như không có nghĩa gì cả - chính đối tượng của đức tin mới là điều quan trọng! Nhìn biết Đức Chúa Trời cách đúng đắn sẽ giúp chúng ta đặt niềm tin vào đúng Đấng ấy. Nếu chúng ta đặt đức tin mình vào một khái niệm không xứng đáng thì sẽ không đưa đến kết quả gì. Vì vậy hãy nhìn biết Chúa cách đúng đắn rồi đức tin sẽ tự động phát triển.
b. Kính sợ Đức Chúa Trời.
Chỉ có sự hiểu biết chân thật về Đức Chúa Trời mới đem đến trong lòng chúng ta một sự kính sợ kỉnh kiềng theo đúng Kinh Thánh. Ngày nay có rất ít hoặc gần như không có sự kính sợ Chúa, có lẽ là do sự nhận biết về Đức Chúa Trời của chúng ta quá thiếu sót hay quá thiếu chính xác. Sự kính sợ thật chỉ có được khi ta hiểu biết đúng đắn về chính mình Ngài.
c. Yêu mến Đức Chúa Trời.
Chúng ta sẽ dễ dàng yêu Đấng mà chúng ta đã hiểu biết cách đúng đắn. Tình yêu này không phải loại cảm xúc thông thường nhưng là một tình yêu trong lẽ thật và luôn luôn đưa đến sự vâng phục.
d. Thờ phượng Đức Chúa Trời.
Chỉ khi nhận biết Chúa cách chính xác ta mới có một sự thờ phượng đúng đắn và chỉ có sự thờ phượng ấy mới được Đức Chúa Trời chấp nhận. Tôi muốn nói đến một sự thờ phượng vừa được dâng lên cho Chúa và vừa được Chúa vui nhậm. Ngài đang tìm kiếm những người như vậy để thờ phượng Ngài và không gì khác có thể làm Ngài thỏa lòng dù có thiện chí đến đâu đi chăng nữa.
3. Những bước dẫn đến sự nhận biết Chúa.
a. Ý thức Đức Chúa Trời là tác giả của mọi hiểu biết về chính Ngài!
Ngài phải khởi xướng, Ngài phải tự bày tỏ và Ngài phải ban trí hiểu. Chúng ta hoàn toàn tùy thuộc Ngài về vấn đề này.
b. Ý thức sự nhận biết Chúa đòi hỏi trí hiểu thiêng liêng!
Sự nhận biết này không bao giờ đạt được bằng những phương tiện thiên nhiên, nhưng do sự soi sáng tâm linh, sự phát triển tâm linh và sự khôn ngoan của Chúa ban.
c. Ý thức rằng muốn tăng trưởng trong sự nhận biết Chúa thì phải chuyên cần, nhẫn nại và bền bỉ.
Sự nhận biết này không bao giờ có được bằng một phương pháp dễ dàng hay một công thức nhanh gọn nào đó. Chúng ta bẩm sinh không sốt sắng để nghe và có rất nhiều trở lực cho sự tăng trưởng trong việc nhận biết Chúa. Chúng ta phải thật sự mong muốn và theo đuổi điều này.
d. Ý thức rằng sự nhận biết Chúa không bao giờ có thể tách rời khỏi lòng trung tín và nếp sống thánh khiết cá nhân.
Mục đích sau cùng của sự nhận biết này là thay đổi lối suy nghĩ, thái độ và cách ăn nết ở của chúng ta. Sự nhận biết Chúa là phương tiện để thực hiện mục đích cho một đời sống đức tin và thánh khiết. Trong sự nhận biết Chúa luôn luôn có hàm ý đạo đức. Ngài càng biểu lộ chính Ngài thì Ngài càng đòi hỏi chúng ta. Nếu chúng ta không đáp ứng cách đúng đắn thì điều này sẽ ngăn trở mọi sự tăng trưởng sâu xa hơn!
'Chúa yêu dấu ơi, mỗi ngày con xin Chúa ba điều:
Được thấy Ngài càng rõ hơn
Được yêu Ngài càng nhiều hơn
Được theo Ngài càng gần hơn
(Lời cầu nguyện tin kính của Richard of Chichester 1197-1253 trích trong A heard of God của Sinclair Ferguson trang 11.
Những thuộc tính của Đức Chúa Trời
1. Sự tự hữu của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời không có nguồn gốc và Ngài tồn tại mà không hề tùy thuộc bất cứ điều gì ngoài Ngài, Ngài hoàn toàn tự chủ và tự lập.
2. Sự tự chu cấp của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Ngài hoàn toàn tự túc được và không cần bất cứ điều gì ngoài Ngài, Ngài tự vận hành, tự chủ và tự thỏa mãn.
3. Sự vĩnh cửu của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời còn đến mãi mãi, Ngài không có khởi đầu, không có những sự phát triển kế tiếp và không có chấm dứt. Từ ngày xưa Chúa như thế nào thì bây giờ Ngài cũng như vậy và cũng sẽ như thế cho đến đời đời.
4. Sự vô hạn của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời hoàn toàn độc lập với bất kỳ giới hạn nào; Ngài không thể có thêm bất cứ điều gì hay đạt một điều gì khác hơn những điều Ngài hằng có từ ngàn đời. Đức Chúa Trời vô hạn và vô lượng trong chính Ngài.
5. Sự toàn năng của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời có thể làm bất cứ điều gì phù hợp với bản thể trọn vẹn của Ngài; Đức Chúa Trời có quyền năng để thực hiện và làm trọn ý chỉ của Ngài.
6. Sự toàn tại của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời hiện diện mọi nơi, trong mọi phần của thế giới Ngài tạo ra, cũng như những gì vượt ra khỏi thế giới đó, Ngài hiện diện đồng thời toàn vẹn, ở khắp nơi.
7. Sự toàn tri của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời biết tất cả mọi sự, biết đồng một lúc, tất cả những gì đang xảy ra và tất cả những gì có thể xảy ra.
8. Sự bất biến của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời hoàn toàn không thể thay đổi được Đức Chúa Trời như thế nào trong quá khứ thì hiện giờ Ngài cũng thế và cũng sẽ tiếp tục như vậy trong tương lai.
9. Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời đã thực sự sử dụng sự khôn ngoan vốn có; Đức Chúa Trời hành động trong sự khôn ngoan là khả năng sắp đặt một mục đích hoàn hảo, tìm ra những cứu cánh hoàn hảo và hoàn thành những cứu cánh đó bằng những phương tiện hoàn hảo.
10. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện trong Đức Chúa Trời hoàn toàn không có chút bất khiết nào, Ngài hoàn toàn phân rẽ khỏi bất cứ sự bất khiết nào ở ngoài Ngài và Ngài chống nghịch bất kỳ sự bất khiết và sự không công bình nào.
11. Sự ngay thẳng của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn hành động cách trong sạch và đúng đắn, Ngài sẽ luôn luôn hành động một cách hoàn toàn xứng hiệp với sự thánh khiết của Ngài.
12. Sự công bình của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn bày tỏ sự công bình Ngài cho các tạo vật tinh thần của Ngài dưới hình thức công lý đạo đức. Sự công bình là công lý và đền trả cách chính xác và xứng đáng y như Đức Chúa Trời đã định.
13. Cơn giận của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn bày tỏ sự thạnh nộ của Ngài đối với mọi tội lỗi và những con người phạm tội đó là sự trừng phạt mọi điều bất khiết so với sự thánh khiết trọn vẹn của Ngài.
14. Sự thành tín của Đức Chúa Trời - Đó là sự kiện Đức Chúa Trời luôn luôn trước sau như một, rằng Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn thành thật trong mọi phương diện và không khi nào nói dối; Ngài sẽ luôn luôn thành tín đối với mọi thành viên trong gia đình theo giao ước của Ngài.
15. Lòng tốt của Đức Chúa Trời - Đó là sự trọn vẹn trong Ngài khiến Ngài cư xử nhân từ và rộng lượng với tất cả mọi tạo vật của Ngài; Đức Chúa Trời luôn muốn bày tỏ lòng nhân từ, rộng lượng, thân thiện và đấy thương xót của Ngài.
16. Tình yêu của Đức Chúa Trời "Tình yêu của Đức Chúa Trời là sự thể hiện lòng tốt của Ngài đối với từng tội nhân, tự đồng hóa chính Ngài với hạnh phúc của tội nhân, Ngài đã ban cho họ chính Con Ngài để làm Đấng Cứu Chuộc họ và đem họ đến sự nhận biết và tận hưởng Ngài trong mối quan hệ bởi giao ước" (trích từ 'Knowing God' của J.I.Packer)
17. Ân điển của Đức Chúa Trời - Đó là ân huệ không tìm kiếm được,, không xứng đáng và không cần đền đáp nỗi mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho những tội nhân - Đó là ân huệ cứu chuộc cao trọng mà Đức Chúa Trời thể hiện bằng cách ban ơn phước trên những con người mà trong chính họ chẳng có gì xứng đáng và Ngài không hề đòi hỏi bất cứ sự đền đáp nào...đó là ân mà Đức Chúa Trời bày tỏ cho những người không có chút công lao nào nhưng hoàn toàn đáng phải chịu đau khổ và chỉ đáng ở địa ngục (trích trong 'The Attributes of God' của A.W.Pink)
18. Sự tối cao của Đức Chúa Trời - Đức Chúa Trời có uy quyền tuyệt đối và Ngài có quyền thể hiện uy quyền đó trên các tạo vật của Ngài, những tạo vật vật chất cũng như phi vật chất. Đức Chúa Trời hành động theo ý Ngài đẹp lòng, chỉ theo ý Ngài đẹp lòng và luôn luôn theo ý Ngài đẹp lòng.
E. Quyền chủ tể của Chúa Giê-xu Christ.
1. Vấn đề hiện đang bàn cãi trong Hội thánh.
a. Nhận diện vấn đề.
Giê-xu có cần phải là Đấng Chủ Tể để làm Đấng Cứu Thế không?
b. Vấn đề được tranh cãi.
Người ta không thể đánh giá quá cao tầm quan trọng của vấn đề này trong mối tương quan của nó đối với cả sự cứu rỗi lẫn sự nên thánh. Sứ điệp của đức tin không thôi và sứ điệp của đức tin cộng với sự phó thác của đời sống không thể đồng thời là Phúc Âm; do đó một trong hai sứ điệp đó phải là Phúc Âm giả và phải chịu sự rủa sả của việc xuyên tạc Phúc Âm hay truyền bá một Phúc Âm khác (GaGl 6:9) và đây là một vấn đề rất quan trọng (trích trong Balacing the Christian life của Charles trang 170.)
Thế nhưng mặt khác của vấn đề thì cũng không kém phần thách thức. Đây là quan điểm được những Cơ Đốc nhân nhiệt tình nhưng sai lầm tin nhận. Họ tin rằng Chúa Giê-xu có thể là Đấng Cứu Thế mà không cần phải là Đấng Chủ Tể. Họ còn đi xa hơn nữa khi cho là thuyết 'Đấng Cứu Thế đồng thời là Đấng Chủ Tể' là Phúc âm sai. Chúng tôi những người chống lại điều nói trên, cho rằng chỉ có một Đấng Cứu Thế, một Chúa Giê-xu Christ và bất cứ ai tin vào một Đấng Cứu Thế mà không phải là Đấng Chủ Tể, thì không đang tin vào Đấng Christ thật và không được tái sanh. Chúng ta kêu gọi sự phó thác cho Christ, Đấng Christ thật và thách thức quan điểm tự cho mình là Cơ Đốc nhân mà lại không ngó ngàng tới hay làm theo những lời dạy của Đấng Christ (trích trong Christ's Call ta Discipleship của James Boice trang 10.)
"Tin Lành đang thịnh hành ngày nay đưa ra một niềm hy vọng giả tạo cho các tội nhân. Tin Lành này hứa với họ rằng họ có thể có sự sống đời đời trong khi vẫn tiếp tục sống nghịch lại với Đức Chúa Trời. Thật vậy, Tin Lành này khuyến khích mọi người nhận Giê-xu là Đấng Cứu Thế nhưng hoãn lại sự vâng theo Ngài như vâng theo một Đấng Chủ Tể. Tin lành này hứa sự cứu chuộc khỏi địa ngục nhưng không nhất thiết tự do khỏi tội lỗi. Nó đem đến một sự an toàn giả tạo cho những người miệt mài trong tội lỗi của xác thịt và bác bỏ con đường của sự thánh khiết. Bằng cách tách rời đức tin khỏi sự trung tín Tin lành này đã cho người ta có cảm tưởng là sự chấp nhận về mặt trí tuệ cũng có hiệu lực như sự hết lòng vâng theo lẽ thật. Vì vậy Tin Lành của Christ đã nhường chỗ cho tin dữ của một chủ nghĩa dễ dàng và quỷ quyệt, không đưa ra một đòi hỏi đạo đức nào trên đời sống của những người tin. Đây không phải là sứ điệp mà Chúa Giê-xu đã tạo ra. Tin Lành mới này đã sản sinh ra một thế hệ những người tự nhận mình là Cơ Đốc nhân nhưng thái độ cư xử thì thường không khác thái độ chống nghịch của những người được tái sanh" (trích trong The Gospel according to Jesus) của John Mac Arther trang 16,17.
Cá nhân tội cảm thấy rằng việc vấn đề này đang được Hội thánh nói ra là một điều tốt. Từ lâu nay, tôi đã cảm thấy đây thật sự là một vấn đề trong Hội thánh ngày nay. Bây giờ chúng ta phải chắc chắn rằng tất cả chúng ta quay trở lại lời Chúa để tìm câu giải đáp chỉ không tìm ở những quan điểm quen thuộc của 'nhóm' hoặc 'giáo phái' của chúng ta.
c. Vấn đề được nói đến.
Mối tương quan giữa đức tin và sự tái sinh.
Đức tin và sự tái sinh không thể tách rời mà luôn đi cùng nhau. 'Chỉ có một mình đức tin mới cứu chuộc được nhưng đức tin cứu chuộc đó không bao giờ ở một mình' Sự tái sinh thường luôn đi kèm với đức tin truyền vào người tin một sự sống mới và một khuynh hướng mới. Điều này luôn được thể hiện ra trong việc làm.
Mối tương quan giữa đức tin và sự ăn năn.
Đức tin và sự ăn năn không thể tách rời mà luôn đi cùng nhau. Để có thể đặt niềm tin nơi Christ tội nhân phải quay lại với Ngài. Để có thể quay lại với Ngài, tội nhân phải từ bỏ tội lỗi và thế gian. Vậy thì chỉ một mình đức tin mới cứu được nhưng đức tin đó luôn luôn đi cùng với sự ăn năn thật.
Bản chất của 'đức tin cứu chuộc thật'.
Vậy, đức tin cứu chuộc thật không chỉ là sự chấp nhận về mặt lý trí hay một kinh nghiệm cảm xúc. Đức tin này bao gồm toàn thể con người (trí tuệ, tình cảm, ý chí, tấm lòng, cả đời sống). Điều này được nói rất rõ trong RoRm 10:9, 10, đức tin cứu chuộc này là căn bản, gốc rễ vì nó bao gồm sự sanh lại của toàn thể con người.
Kết luận tổng quát.
Tôi đồng ý với Packer và một số người khác trong quan điểm là toàn thể cuộc tranh cãi về vấn đề 'Đấng Cứu Thế đồng thời là Đấng Chủ Tể' chính là vấn đề xác định cách chính xác đức tin cứu rỗi là gì. Chính sự hiểu biết của chúng ta về đức tin là điều cần nói đến và là điều trọng tâm trong sự hiểu biết của chúng ta về cách thức để một người thật sự được cứu rỗi. Packer đã nói về vấn đề một cách vắn tắt như sau: "Để đạt được mục đích này, giống như những người Sademanians, họ xem đức tin là sự chấp nhận đơn giản đối với lẽ thật và vai trò cứu chuộc của Giê-xu và do đó những sự giảng dạy của họ bị phê bình là đề cao đức tin theo một cách làm hủy hoại đức tin. Việc chấp nhận đơn giản Phúc âm, tách rời khỏi sự phó thác cho Đấng Christ hằng sống để được biến đổi, theo tiêu chuẩn của Kinh Thánh, thì chưa phải là đức tin và càng chưa phải là đức tin cứu chuộc và suy luận ra sự chấp nhận như vậy chỉ đưa đến những sự qui đạo giả. Do đó Phúc Âm đang bị lâm nguy trong cuộc thảo luận này, mặc dù không phải theo cách của những người chống đối. "Đấng Cứu Thế đồng thời là Đấng Chủ Tể' suy nghĩ. Vấn đề đáng nói là bản chất của đức tin (J.I.Packer trong lời tựa của sách The Gospel Accordinh to Jesus của John Mac Arthur trang 9.
2. Sự nhận biết về Đấng Christ.
a. Giê-xu là Chúa.
Giê-xu không chỉ là một vĩ nhân và Ngài không chỉ là vị cứu tinh vĩ đại. Giê-xu Christ là Đức Chúa Trời Toàn Năng. Tội nhân không chỉ đơn giản 'nhận Giê-xu là Đấng Cứu Thế của mình' hay chỉ thêm Giê-xu này vào đời sống mình. Tội nhân đến với Giê-xu như là đến với Thượng Đế và nhận lấy Ngài làm Đấng Cứu Chuộc. Tội nhân đến với Giê-xu như là đến với Đấng đang xét đoán họ về tội lỗi của họ và rồi sau đó ban cho họ món quả của sự tha thứ.
b. Giê-xu là Đấng Tối Cao.
Giê-xu là Đấng có quyền tối cao trên tất cả những gì Ngài đã tạo ra. Ngài là Đấng nuôi dưấng và duy trì mọi sự bằng quyền năng tối cao của Ngài, Ngài là Đấng cho tội nhân sống thêm một phút nữa và là Đấng chọn để ban cho tội nhân đời sống mới. Một lần nữa, Giê-xu này không chỉ là một con người và phải được thừa nhận là Thượng Đế nếu chúng ta muốn được Ngài cứu chuộc.
c. Giê-xu là Đấng Cứu Thế.
Mặc dù Giê-xu là Chúa, là Đấng tối cao, Đấng Toàn năng và Đấng xử đoán công bình của cả trái đất, Ngài cũng đã trở thành Đấng Cứu Thế bằng cách nhận lấy án phạt dành cho các tội nhân. Việc Ngài sống lại từ kẻ chết là ấn chứng của Đức Chúa Cha rằng công tác chết đền tội đã làm trọn và do đó khiến sự chết của Ngài thành sự đền trả xứng đáng những tội lỗi của dân sự Ngài.
d. Giê-xu là Đấng Chủ Tể.
Tất cả những điều chúng ta đòi chứng minh đơn giản xác định Quyền Chủ Tể của Chúa Giê-xu. Đây là vần đề trung tâm của sứ điệp Tin Lành. Vì quyền chủ tể của Christ là trung tâm con người Ngài và Con người Ngài là trung tâm của công việc Ngài! Vấn đề Giê-xu có cần là Chúa để làm Đấng Cứu Chuộc hay không gần như phi lý. Chúng ta không khiến cho Giê-xu thành Chúa Tể. Giê-xu Christ đã là Chúa Tể rồi! Chúng ta đã thật sai lầm khi cố phân chia con người của Christ!
3. Những yếu tố cần thiết bao gồm quyền chủ tể của Giê-xu.
a. Đức tin cứu chuộc.
Đức tin không chỉ là một sự chấp nhận của lý trí về những dữ kiện lịch sử hay lẽ thật về giáo lý. Đức tin là từ toàn thể của một con người và tiếp nhận lấy toàn thể của con người Đấng Christ (RoRm 10:9-10)
b. Sự ăn năn thật.
Giê-xu đến để gọi các tội nhân chỉ không phải những người công bình ăn năn. Nếu một tội nhân muốn đến với Giê-xu, vì người đó nhận biết rằng người đó rất cần đến một Đấng Cứu Thế, thì người ấy phải dứt khoát với tội lỗi.
c. Sự thuận phục hoàn toàn.
Thuận phục có nghĩa là đặt chúng ta dưới uy quyền của một người khác. Giê-xu gọi dân sự Ngài đến và theo Ngài, có nghĩa là họ phải thuận phục đường lối Ngài ngay cả khi họ không nhận thức được hết là điều này sẽ có ý nghĩa như thế nào trong đời sống họ.
d. Sự vâng lời không điều kiện.
Tội nhân không thể hoàn toàn đi theo Christ mà không hoàn toàn vâng lời ở vào mức độ hiểu biết đó. Ngay Giê-xu đã nói "Sao các ngươi gọi ta Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?" (LuLc 6:46).
e. Phó thác hoàn toàn.
Không ai có thể theo Giê-xu mà không hoàn toàn phó thác cho Ngài và sẵn sàng làm theo ý chỉ của Ngài. Chúng ta chỉ có thể phó thác chính mình cho điều chúng ta hoàn toàn tin tưởng và cho là đáng giá nhất trong đời sống chúng ta. Thiếu sư phó thác như vậy bày tỏ một sự tin cậy chưa đầy đủ, còn một sự phó thác hết mình sẽ bày tỏ một đức tin đầy đủ đưa đến sự cứu rỗi.
"Không thể có một đức tin thật trừ phi có sự nhận biết đối tượng để tin, sự chấp nhận giá trị của đối tượng này và sự phó thác cho đối tượng thật và đáng tin cậy này không thể nói rằng chúng ta tin nếu chúng ta thiếu tin cậy đến nỗi không dám phó thác cho đối tượng đó" (Trích trong Biblical and Theological Studies của Benjamin Warfield trang 402,403.
CÂU HỎI
1. Xin hãy mô tả chính bạn trong mối liên hệ đến con người thiên nhiên, xác thịt và thiêng liêng đã được mô tả trong đề cương khóa học. Xin giải thích lý do khiến bạn hài lòng hoặc không hài lòng về tình trạng hiện tại của mình và xin nói những điều bạn định làm với tình trạng này.
2. Hãy so sánh quan điểm cứu rỗi mới của Hội thánh ngày nay với quan điểm trình bày trong lớp học. Những lý do nào đã đưa đến quan điểm mới này?
3. Xin giải thích tại sao sự hiểu biết đúng đắn về sự cứu rỗi thật sự là gì trong ý nghĩa trọn vẹn nhất của khái niệm này lại quan trọng đối với bạn?
4. Nếu Đức Thánh Linh quan trọng như vậy đối với nếp sống thuộc linh thì bạn phải có những biện pháp gì để khiến đời sống bạn thích ứng với Ngài tốt đẹp hơn?
5. Bạn phải chiến đấu nhiều nhất đối với thuộc tính nào của Đức Chúa Trời? Xin hãy giải thích lý do tại sao bạn phải chiến đấu một cách đặc biệt với thuộc tính này và bạn định làm thế nào để thắng hơn sự khó khăn này?
6. Bất kể quan điểm của bạn về vấn đề "Đấng Cứu Thế đồng thời là Đấng Chủ Tể ra sao, thì hiện bây giờ bạn có thuận phục quyền chủ tể của Đấng Christ trong đời sống bạn không? Xin hãy giải thích lý do tại sao và rồi nói thật rõ về những lãnh vực nào trong đời sống của bạn mà cần có sự thuận phục lớn hơn.
Do tổ tiên
Trong xác thịt hay thân thể của tội lỗi RoRm 8:8
Do sự sanh ra
Trong Thánh LinhRoRm 8:9
Theo xác thịt
Do sự chọn lựa
Theo Thánh Linh GaGl 5:16 hay theo xác thịt
RoRm 8:12, 13
A. Tiến trình: Hiểu rõ sự thánh khiết theo Kinh Thánh.
1. Sự thánh khiết theo Kinh Thánh không phải là:
a. Sinh hoạt thuộc linh:
Có nghĩa là việc sốt sắng đọc Kinh Thánh, cầu nguyện nhiều; dự nhóm 7 ngày một tuần; làm chứng cho bất cứ ai sẵn lòng nghe.
b. Cách nói thánh thiện:
Có nghĩa là những ngôn từ thông thường mà Cơ Đốc nhân chúng ta hay sử dụng, không phải cứ luôn nói 'ngợi khen Chúa' là khiến cho một người trở thành thiêng liêng.
c. Theo những mốt nhất thời:
Có nghĩa là những sự thích thú kỳ lạ trong giáo lý đang thịnh hành, đến việc theo kịp những tin tức mới nhất về những lời tiên tri hay nghe âm nhạc Cơ Đốc đang được ưa chuộng nhất.
d. Tri thức thuộc linh:
Có nghĩa chỉ biết Kinh Thánh mà thôi; có khả năng trích dẫn 'đoạn mấy, câu mấy', có nhiều tri thức về thần học.
e. Sự ngoan đạo của cá nhân:
Có nghĩa là việc làm sạch các hành động của chúng ta; chúng ta lìa bỏ những thói xấu xa như chửi thề, hút thuốc, khiêu vũ, uống rượu, ham muốn xấu xa, v.v..
f. Sự trọn vẹn vô tội:
Có nghĩa là việc chúng ta trở thành trọn vẹn tuyệt đối; thánh khiết không phải là đạt đến 'sự trọn vẹn vinh hiển' hay cố gắng để đạt đến một số tiêu chuẩn về sự công bình của loài người hay của Đức Chúa Trời.
2. Sự thánh khiết theo Kinh Thánh thật sự:
a. Là điều bắt đầu và được giữ vững bởi việc làm của Đức Chúa Trời (GaGl 6:15)
Như bài học này đã bày tỏ rõ ràng sự công bình riêng của chúng ta hay sự tuân thủ luật pháp không phải điều chính yếu điều quan trọng thật sự là chúng ta được tái sanh thật bởi Đức Thánh Linh và được dựng nên mới.
b. Là sự tìm kiếm Chúa hết lòng (Mat Mt 6:33)
Trong đoạn này chúng ta được bảo phải tìm kiếm Chúa và sự công bình của Ngài, nhưng đây chỉ nhằm đáp lại việc Đức Chúa Trời đã tìm và thấy chúng ta trước.
c. Là lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu mến người khác như chính mình (Mat Mt 22:36-40)
Trong đoạn này chúng ta được dặn bảo rõ là phải yêu Chúa bằng cả con người chúng ta, có nghĩa là tha thiết và mãnh liệt. Rồi chúng ta còn phải yêu mến người khác như thể là chúng ta yêu mến và kính trọng chúng ta. Tình yêu người khác này đầu tiên là đối với Cơ Đốc nhân, rồi đến những người hư mất và rồi đến cả những kẻ thù của chúng ta.
d. Là việc thực hiện sự công bình cá nhân trong mọi lãnh vực (Mat Mt 5:17-20)
Sự công bình chính là điều Đức Chúa Trời muốn tìm thấy trong đời sống Cơ Đốc nhân. Thực hiện sự công bình có nghĩa là làm những điều gì phải trong cái nhìn của Đức Chúa Trời. Sự công bình không phải là hành động cho chính bạn hay cho lợi ích của người khác nhưng là làm điều gì bạn biết Chúa muốn bạn làm và điều gì sẽ làm Ngài vui lòng.
e. Là làm theo luật vàng trong mọi quan hệ (Mat Mt 7:12)
Luật vàng là 'Hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ'. Đây là một điều tích cực chỉ không phải tiêu cực. Nói cách khác, đây không phải là 'Bạn không muốn người khác đối xử với mình thế nào thì cũng đừng đối xử với họ như vậy'. Đây là sự kêu gọi đến hành động hy sinh từ bỏ bản ngã!
f. Là thực hiện sự từ bỏ chính mình theo Kinh Thánh (Mat Mt 16:24-28LuLc 14:25-35).
Đây không phải là sự tự hủy hoại thân thể của thời Trung cổ cũng không phải sự tự hành xác để ăn năn hối lối của người Công giáo. Điều này đơn giản có nghĩa là bạn phải luôn luôn nói 'không' với chính bạn, khi 'cái tôi' đang đối lập với ý chỉ của Đức Chúa Trời.
g. Là sự bày tỏ bông trái của việc Đức Thánh Linh làm bên trong đời sống người tín đồ.
Vì vậy sự công bình không phải là những gì cuối cùng đã làm được trong đời sống người tín đồ. Mà đó là điều do Đức Thánh Linh sản sinh ra. Đời sống của Cơ Đốc nhân chỉ là phương tiện để bày tỏ công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời (đời sống Cơ Đốc nhân chỉ là 'cái cành' sẽ mang trái).
3. Mô tả một người thánh khiết.
'Hãy để tôi cố gắng chỉ ra sự thánh khiết thực tiễn chân thật là gì, những loại người nào được Chúa gọi là thánh khiết' (trích trong Holiness, của J.C.Ryle trang 34; những lời trích sau đây cũng là từ cùng tác phẩm trang 35-39.
a. Sự thánh khiết là thói quen luôn có đồng tâm trí với Đức Chúa Trời, theo như Kinh Thánh đã mô tả về tâm trí Ngài.
Nói một cách khác, sự thánh khiết là đồng ý với những gì Chúa nói là đúng, ghét những gì Ngài ghét và yêu những gì Ngài nói Ngài yêu!
b. Người thánh khiết sẽ hết sức tránh xa mỗi một tội lỗi biết được và làm theo mỗi một điều răn biết được.
Người thánh khiết có sự kính sự sâu xa đối với Đức Chúa Trời đưa đến nỗi lo sợ không làm vừa ý Ngài hơn là sợ hãi con người hay thế gian!
c. Một người thánh khiết sẽ bươn tới việc trở nên giống như Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta.
Người này sẽ lấy tấm gương toàn hảo của Giê-xu Christ làm mẫu mực cho những suy nghĩ, thái độ, lối nói và cách ăn ở hàng ngày của mình.
d. Một người thánh khiết sẽ theo đòi sự nhu mì, nhẫn nại, mềm mại, nhịn nhục, nhơn từ và sự điều khiển được miệng lưấi.
Điều này hàm ý rằng trái của Thánh Linh sẽ rất hiển nhiên và người thánh khiết sẽ không đòi hỏi quyền lợi của mình với người khác.
e. Một người thánh khiết sẽ theo đòi sự tiết độ và sự từ bỏ chính mình.
Do đó người này sẽ chịu lao nhọc để làm chết những công việc của thân thể và những ham muốn của xác thịt cách liên tục và hàng ngày.
f. Một người thánh khiết sẽ theo đòi sự khoan dung và tình yêu thương với anh em.
Người này sẽ để cho 'luật vàng' điều khiển các cư xử của mình, luôn luôn tỏ ra tôn trọng và biết nghĩ đến người khác.
g. Một người thánh khiết sẽ theo đòi một tinh thần thương xót và rộng lượng đối với người khác.
Người này sẽ không chỉ hài lòng với việc không làm hại người khác mà sẽ cố gắng làm điều lành cho người khác.
h. Người thánh khiết sẽ theo đòi một tấm lòng trong sạch.
Người thánh khiết sẽ kinh hãi mọi sự nhơ bẩn của tấm lòng và tâm trí và mong muốn có một tấm lòng trong sạch bề trong trước mặt Chúa.
i. Một người thánh khiết sẽ theo đòi sự kính sợ Chúa.
Sự kính sợ này không giống nỗi sợ hãi của một kẻ nô lệ nhưng là sự kính sợ của một đứa trẻ vô cùng yêu thương và kính trọng cha nó.
j. Một người thánh khiết sẽ theo đòi sự khiêm nhường.
Người này sẽ biết về chính mình như Chúa biết và do đó sẽ có cái nhìn đúng về mình và điều này sẽ đưa đến sự tôn trọng người khác.
k. Một người thánh khiết sẽ theo đòi sự trung tín trong mọi bổn phận và quan hệ trong cuộc sống.
Người này sẽ tôn trọng những người ngang hàng với mình, người hôn phối, người chủ của mình. v.v... Người này cũng sẽ thuận phục mọi quyền lực và làm theo mọi luật lệ và qui định.
l. Cuối cùng nhưng không phải là kém quan trọng nhất một người thánh khiết sẽ theo đòi sự ưa thích thiêng liêng.
Người ấy sẽ ham mến những điều ở trên trời, không bao giờ kể sự sống mình là quí và do đó sẽ đưa đến một cái nhìn đời đời về cuộc sống.
'Đó là nét đại cương về sự thánh khiết mà tôi đánh bạo phác họa ra. Đó là tính cách mà những người được gọi là 'thánh khiết; theo đời. Đó là những đặc điểm chính của một người thánh khiết...Tôi chắc chắn rằng điều ao ước lớn nhất và lời cầu nguyện tha thiết nhất của mọi Cơ Đốc nhân thật là có được tâm tánh như tôi đã phác họa. Họ nôn nóng bươn đến điều này nếu như họ chưa đạt được. Họ có thể không đạt đến được nhưng họ luôn luôn nhắm đến mục đích này. Đó là điều họ cố gắng và dốc sức để được nếu như đó không phải là điều họ đang có'. (Ryle trang 38,39.
4. Tầm quan trọng của sự thánh khiết.
'Tiếp theo, hãy để tôi cố gắng trình bày một số lý do vì sao sự thánh khiết thực tiễn lại quan trọng đến thế... Thế thì tại sao sự thánh khiết lại quan trọng đến thế? Tại sao vị sứ đồ lại nói, 'Vì không nên thánh thì không ai thấy được Đức Chúa Trời' (trích trong Holiness, của Ryle trang 40, những lối nhận định tiếp đây là trích từ trang 40-45.
a. Chúng ta phải thánh khiết trước hết vì lời Chúa trong Kinh Thánh đã truyền lệnh rõ ràng.
Kinh Thánh nói: "Hãy nên thánh vì ta là thánh" (IPhi 1Pr 1:15) và "Nếu sự công bình các ngươi chẳng trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si..." (Mat Mt 5:20).
b. Chúng ta phải thánh khiết vì đây là một mục đích lớn mà Chúa Giê-xu đã đến trong thế gian.
Giê-xu chịu chết không chỉ để cất bỏ án phạt của tội lỗi mà còn để cắt bỏ quyền lực của nó mãi mãi. (RoRm 6:2, IICo 2Cr 5:15, Tit Tt 2:1-15).
c. Chúng ta phải thánh khiết vì đây là bằng chứng vững vàng duy nhất của việc chúng ta có đức tin cứu rỗi Chúa Giê-xu Christ.
Việc lành không loại bỏ tội lỗi cũng không xưng công bình hay cất bỏ được cơn thạnh nộ thiên thượng. Nhưng việc lành là chứng cớ tốt nhất về việc Đức Chúa Trời đã thực hiện một công tác cứu chuộc trong đời sống người tín đồ. (Gia Gc 2:14-26).
d. Chúng ta phải thánh khiết vì đó là điều duy nhất chứng minh là chúng ta thật lòng yêu Chúa Giê-xu.
Giê-xu nói 'Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn điều răn ta' (GiGa 14:15, 21, 23, 15:14). Nói rằng chúng ta yêu Ngài mà không nghe lời Ngài là điều nực cười.
e. Chúng ta phải thánh khiết vì đây là bằng cớ vững vàng duy nhất chứng minh rằng chúng ta là con cái thật của Đưc Chúa Trời.
Con cái thì rất giống cha mẹ; chúng ta phải rất giống Cha chúng ta ở trên trời nếu chúng ta thật sự thuộc về Ngài.
f. Chúng ta phải thánh khiết vì đây là cách thích hợp nhất để giúp đỡ người khác.
Chúng ta luôn luôn ảnh hưởng đến những người chung quanh chúng ta. Câu hỏi được đặt ra là 'Ảnh hưởng của chúng ta như thế nào?' và 'Ảnh hưởng của chúng ta có phải là ảnh hưởng thánh không?'
g. Chúng ta phải thánh khiết vì rằng sự an vui hiện tại của chúng ta tùy thuộc vào đó.
Có một sự liên quan rõ ràng giữa tội lỗi và sự đau buồn, giữa sự thánh khiết và hạnh phúc (sự thỏa lòng trong Chúa). Hãy nhớ: tội lỗi có thể được hạ nhưng hậu quả nhiều khi cũng rất quyết liệt.
h. Cuối cùng chúng ta phải thánh khiết vì nếu không thánh khiết trên đất chúng ta sẽ chẳng bao giờ được chuẩn bị để vui hưởng thiên đàng.
Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết, thiên đàng là một nơi thánh và những kẻ cư ngụ trên đó là những tạo vật thánh. Nếu chúng ta không thánh khiết chúng ta sẽ không vui hưởng thiên đàng.
Bạn có thánh khiết không? Bạn có thật sự ao ước sự thánh khiết theo Kinh Thánh không? Bạn có xem sự thánh khiết quan trọng như Kinh Thánh đã nói không? Ngay hôm nay Bạn phải làm gì để bắt đầu theo dõi sự thánh khiết?
B. Tiến trình: "Biết" ()
1. Câu hỏi quan trọng của sứ đồ (c.1)
a. Thái độ của người ngộ đạo:
Tội lỗi được chấp nhận vì nó chỉ ảnh hưởng đến phần vật chất của một con người chỉ không đụng đến phần tâm linh.
Quan điểm nhị nguyên này nhấn mạnh sự phân chia giữa phần vật chất và phần phi vật chất. Phần phi vật chất thì tốt còn phần vật chất thì xấu, do đó tội lỗi có thể chấp nhận được vì nó chỉ tác động đến khía cạnh vật chất của con người.
b. Thái độ của người theo thuyết 'antinomian':
Cơ Đốc nhân muốn sống thế nào cũng được vì họ được cứu chỉ bởi ân điển và qua đức tin mà thôi!
Vì cớ đầu tiên Cơ Đốc nhân chẳng thể làm điều gì để đạt được sự cứu rỗi của họ và vì cớ họ chẳng có thể làm điều gì để gìn giữ sự cứu rỗi đó được, nên có thể kết luận rằng Cơ Đốc nhân muốn sống ra sao cũng được.
c. Thái độ hiện đại:
Miệt mài theo đuổi sự công bình riêng và sự thánh khiết là quá thiển cận và cuồng tín.
Nói cho cùng, cuộc sống không chỉ là 'tôn giáo'. Còn có nhu cầu phát triển toàn vẹn và nhu cầu hạnh phúc. Do đó phân tích đến cùng thì bạn sống ra sao cũng không quan trọng. Điều này dẫn đến sự hâm hẩm, một thái độ thờ ơ và một Hội thánh theo chủ nghĩa khoái lạc.
2. Câu trả lời dứt khoát của vị sứ đồ (c.2).
a. Tính chất của câu trả lời (c.2a):
Tính chất lối trả lời của Phao-lô rất có ý nghĩa. Ông không nói 'không, anh không nên phạm tội!' hay 'không, hãy cố hết sức để đừng phạm tội!' hay 'đừng phạm tội nữa kẻo Đức Chúa Trời sẽ nổi giận với bạn!' hay 'Tốt hơn anh đừng phạm tội vì không khéo sẽ hụt mất sự cứu rỗi!'. Trong đầu vị sứ đồ không có bất cứ ý nào nêu trên.
b. Nền tảng cho câu trả lời (câu 2b)
Câu trả lời của vị sứ đồ là tiếng 'KHÔNG' mạnh mẽ - nhưng nền tảng của nó rất quan trọng vì ông nói cho chúng ta biết tại sao câu trả lời của ông là 'không'. Ông chỉ đơn giản nói rằng Cơ Đốc nhân thật không thể sống trong tội lỗi nữa, rằng làm như hoàn toàn không thích hợp. Tại sao? Vì rằng những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta mãi mãi giải thoát chúng ta khỏi quyền lực của tội lỗi. Mỗi Cơ Đốc nhân đã được hoàn toàn và mãi mãi giải thoát khỏi quyền lực và sự thống trị cua tội lỗi. Sau đó, ông giải thích cách Đức Chúa Trời làm để hoàn thành việc này. Ghi chú: Sau đây là tóm tắt nhu cầu của tội nhân dưới mắt Đức Chúa Trời.
Chúng ta cần được giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi về những gì chúng ta đã phạm (tội lỗi)
Chúng ta cần được giải thoát khỏi những điều chúng ta đang làm (đang phạm tội)
Chúng ta cần được giải thoát khỏi địa vị hiện tại của chúng ta (tội nhân)
3. Lời giải thích đầy ý nghĩa của sứ đồ (c.3-10).
Theo sứ đồ Phao-lô có ba điều mà mỗi một Cơ Đốc nhân cần phải biết.
a. Biết điều này: "chịu phép báp-tem vào trong sự chết của Đấng Christ" (c.3-4)
Tín đồ đã chịu báp-tem vào trong Đấng Christ (ICo1Cr 12:13)
Đức Chúa Trời không chỉ cứu chúng ta khi chúng ta đang ở trong A-đam hay ở trong thế gian.Đức Chúa Trời giải thoát chúng ta khỏi địa vị của chúng ta 'trong A-đam'
Và Ngài làm phép báp-tem cho chúng ta vào trong thân vị và thân thể của Chúa Giê-xu Christ. Do đó chúng ta bước vào vương quốc Đức Chúa Trời bởi sự chết và sự sanh lại.
Tín đồ đã chịu báp-tem vào trong sự chết của Đấng Christ (c.3)
Phép báp-tem này vào trong Đấng Christ - là sự liên hiệp của chúng ta với thân vị của Christ - là một sự liên hiệp với Ngài trong sự chết của Ngài! Vì vậy sự liên hiệp của chúng ta với Đấng Christ hằng sống trước hết là một sự liên hiệp trong sự chết của Ngài tại đồi Gô-gô-tha. Đức Chúa Trời bao gồm mỗi một chúng ta, hay đã đồng hóa mỗi một cá nhân chúng ta trong cái chết của Con Ngài.
Tín đồ bị chôn cùng với Đấng Christ (c.4a)
Điều gì xảy ra khi Chúa Giê-xu bị đóng đinh? Ngài chết! Chúng ta làm gì với một xác chết? Chúng ta chôn nó! Vậy thì Giê-xu bị đóng đinh, Ngài chết, và rồi Ngài được chôn. Cũng giống vậy, vì rằng chúng ta đã được liên hiệp với Ngài trong sự đóng đinh, chúng ta cũng chết và vì rằng chúng ta đã chết với Ngài chúng ta cũng đã bị chôn với Ngài.
Tín đồ được cùng sống lại với Đấng Christ (c.4b)
Nhưng mồ mả không thể 'giữ nổi' Giê-xu và Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Một lần nữa, cũng giống vậy, vì rằng chúng ta đã được liên hiệp với Ngài trong sự chết và sự chôn, chúng ta cũng được liên hiệp với Ngài trong sự sống lại. Do đó chúng ta cũng được kéo đến sự sống vinh hiển đời đời bởi sự liên hiệp của chúng ta với Giê-xu Christ.
Kết luận tổng quát.
Lẽ thật này trở thành nền tảng cho sự nên thánh của chúng ta và cho tất cả sự sống thuộc linh thật. Đây là một lẽ thật mà chúng ta không thể biết được nếu không có sự mặc khải thiên thượng và lẽ thật này phải được mỗi con cái Chúa hiểu rõ. Tại một chỗ khác, sứ đồ Phao-lô nói:
"Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài" (CoCl 1:13).
"Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới, những sự cũ đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới" (IICo 2Cr 5:17).
Vậy thì sự đổi mới của đời sống không phải là một điều chúng ta đang hi vọng, đang cầu xin hay đang cố gắng theo đuổi hay đang để cho phát triển từ từ hay đang chờ đợi Chúa thực hiện cho chúng ta. Đây là một lẽ thật đã xảy ra và đây là một sự kiện đã được hoàn tất. Do đó, đời sống mới của chúng ta trong Christ là hoàn toàn, rõ ràng và vĩnh cửu!
b. Biết điều này: "con người cũ đã bị đóng đinh với Christ" (c.6-7)
Thời gian của sự cùng đóng đinh (c.6).
Từ ngữ 'đã bị đóng đinh' (thì bất định của Hi-lạp) chỉ một hành động quá khứ được hoàn tất đưa đến một lợi ích liên tục ở hiện tại.
Không phải do kinh nghiệm mà người ta hiểu biết được lẽ thật này, mà là do sự soi sáng thuộc linh. Kinh Thánh nói rõ là chúng ta đã bị đóng đinh với Christ; rằng chúng ta đã chết khi Giê-xu chết. Do đó chúng ta phải để ý đến lẽ thật Đức Chúa Trời đã công bố về chúng ta liên quan đến thập tự giá - đừng bao giờ nhìn vào kinh nghiệm nào đó để xác định hay làm cho lẽ thật có giá trị.
Ý nghĩa của từ 'con người cũ' (c.6).
Con người cũ không phải chỉ là 'bản chất cũ' nhưng là toàn thể con người chúng ta 'trong A-đam'.
Đó không phải là bản chất cũ (thật sự có sự nhầm tên) hay bản chất xác thịt hay xác thịt. Đó là con người chúng ta 'trong A-đam' (chỉ có hoặc 'trong A-đam' hoặc 'trong Christ'). Do đó con người cũ là thân vị trước đây của tôi, được sinh ra từ dòng dõi A-đam; con người đã thừa hưởng khuynh hướng tội lỗi và con người đã chịu khổ vì án phạt của A-đam. Đó là thân vị mà tôi đã liên hiệp với A-đam, tổ phụ của mình.
Lý do của việc đồng bị đóng đinh (c.6).
'Người cũ' đã bị đóng đinh với Christ hầu cho 'thân thể của tội lỗi' bị trở nên vô quyền và không còn làm phận sự được nữa (tiêu diệt đi).
Có nhiều từ đồng nghĩa có thể được sử dụng để mô tả lẽ thật của đoạn Kinh Thánh này. Thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt; nó bị tước đoạt mất quyền lực, nó bị làm cho không có hiệu quả hay không còn hoạt động được.
Có nhiều cách để minh họa lẽ thật này. Thí dụ: Nếu như tôi có mua một xe thể thao kiểu mới có thể chạy trên 150 dặm/giờ vì nó có máy mạnh như vậy nhưng nếu bạn lấy đi chìa khóa xe của tôi, bạn đã khiến nó trở nên bất năng (vô quyền). Không có gì thay đổi trong chiếc xe hay trong tiềm năng của nó nhưng khi bạn còn giữ chìa khóa của chiếc xe thì bạn còn khiến nó không hoạt động được.
Thân thể của tội lỗi bị làm cho vô quyền, mặc dù nó vẫn còn tiềm năng phạm tội như lúc trước, qua sự chết của 'con người cũ' bị đóng đinh trên thập tự giá cùng Đấng Christ. Một số người cổ dạy dỗ rằng việc đóng đinh con người cũ là một quá trình chậm chạp và thống khổ, rằng con người cũ không sẵn sàng chết nhưng điều đó không đúng với Kinh Thánh. Con người cũ đã bị đóng đinh trên thập tự giá cùng Đấng Christ và đã bị chôn!
Ý nghĩa của từ 'thân thể của tội lỗi' (c.6)
Thân thể của tội lỗi là thân xác của người tín đồ mà vẫn còn bị xác thịt thống trị và tác động đến và vẫn còn tồn tại cho đến khi có sự sống lại.
Điều rất quan trọng cần phải biết là thân thể tội lỗi không phải là con người cũ hay bản chất xác thịt. Đó là thân xác mà chúng ta tiếp tục sống trong và thân xác này vẫn còn bị sa ngã. Thân thể này chưa được cứu chuộc và chúng ta chờ đợi sự sống lại hoàn tất điều này. Vì vậy chính 'thân thể của tội lỗi' này đã phục vụ như một phương tiện qua đó công việc của xác thịt được bày tỏ ra.
Lý do phải khiến 'thân thể tội lỗi' bị vô quyền (c.6).
Thân thể của tội lỗi bị làm cho vô quyền để chúng ta có thể thực sự sống đời sống thánh khiết trong khi chờ đợi sự cứu chuộc của thân thể.
Nếu Cơ Đốc giáo chỉ là sự cứu chuộc khỏi án phạt của tội lỗi không hơn không kém và nếu Đức Chúa Trời không giúp chúng ta thoát khỏi quyền lực của tội lỗi thì chúng ta sẽ sống phần còn lại của cuộc đời chúng ta trong thân thể chưa được cứu chuộc và bị thống trị của tội lỗi. Sẽ chẳng có hi vọng ở một điều gì ngoại trừ việc giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi và viễn ảnh thiên đàng ở một thời điểm nào trong tương lai. Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến thân thể của tội lỗi bị làm cho vô quyền để cho tội lỗi không còn cai trị trên chúng ta và chúng ta có thể sống đời sống thánh khiết Ngài mong muốn!
Những người được chia phần lợi ích của lẽ thật này.
Những người được hưởng lợi ích của lẽ thật này là những người đã đồng chết với Christ; tất cả những người này đã được mãi mãi giải thoát khỏi sự thống trị của tội lỗi.
Chỉ có những người đã thật sự chết mới được thoát khỏi ách thống trị của tội lỗi. Vì vậy kết luận hiển nhiên mà mọi người rút ra là họ phải chết cách này hoặc cách khác. Tuy nhiên, lẽ thật khó tin nổi mà sứ đồ Phao-lô dạy dỗ là 'bạn đã chết với Christ rồi'. Và nếu đó là trường hợp của bạn thì bạn đã được giải thoát mãi mãi khỏi cái ách thống trị của tội lỗi!
Lưu ý: Những người học Kinh Thánh nghiêm túc cần lưu ý đến những sự giải thích sai lầm về phân đoạn Kinh Thánh này cũng như về quan điểm nó đưa ra. Sau đây là những sự giải thích sai lầm đó:
1. Người tín đồ không còn đáp ứng với tội lỗi nữa (điều này thường được minh họa bởi một xác chết không còn phản ứng nữa).
2. Người tín đồ phải chết đối với tội lỗi trong đời sống của mình (nhưng thì động từ dùng đây là thì bất định của Hi-lạp chớ không phải ở mệnh lệnh cách).
3. Người tín đồ đang chết về tội lỗi mỗi ngày (nhưng lần nữa thì động từ không phải ở hiện tại, diễn tả một hành động tiếp diễn).
4. Người tín đồ không thể phạm tội vì đã từ bỏ tội lỗi (ở đây ít ra thì của động từ dùng đúng nhưng lại biến thành một điều mà Cơ Đốc nhân làm (quan điểm của Charles Hodge).
5. Cơ Đốc nhân đã chết về mặc cảm phạm tội (Robert Haldore nêu ra; nhưng quan điểm này không thích hợp với nội dung chương này vì điều đó được nói đến trong 3-5.
John Stott, John Murray, Martih Lloyd.Jones là những người đồng ý với quan điểm trình bày trong giáo trình này.
Kết luận tổng quát.
Dựa trên những gì Đức Chúa Trời đã thực hiện trong Đấng Christ, Cơ Đốc nhân thật đang được thách thức để thôi không sống như thể vẫn còn 'trong A-đam' và được sự cai trị của tội lỗi mà bắt đầu sống đúng đắn 'trong Christ'.
"Người cũ chúng ta đã bị đóng đinh với Đấng Christ để chúng ta có thể được giải phóng khỏi ách nô lệ của tội lỗi về mọi mặt; vì người nào đã chết thì hoàn toàn thoát khỏi quyền lực, sự cai trị, ách nô lệ và sự bạo ngược của tội lỗi (trích trong The New Man, Martyn Lloyd.Jones, trong bộ Giải nghĩa sách Roma trang 89. Có lẽ đây là một trong những lời giải nghĩa hay nhất về đoạn Kinh Thánh hết sức quan trọng này).
c. Biết điều này: "Christ chết cho tội lỗi một lần đủ cả" (c.8-10)
Đây là câu chìa khóa vì nó là 'gạch nối' giữa thần học (lẽ thật) và sự ứng dụng thực tế (lời khuyên giục) theo sau. Nhưng thật hết sức lạ lùng là đoạn văn đặc biệt này đã bị hiểu sai rất nhiều. Chúng ta hãy theo thật sát suy nghĩ của Phao-lô.
Ý nghĩa sự chết về tội lỗi của Đấng Christ (c.9-10)
Đấng không hề biết tội lỗi đã chết đối với lãnh vực tội lỗi và lãnh vực này mất đi ảnh hưởng, sự cai trị và quyền lực của nó.
Chúng ta không nên chỉ xem tội lỗi và sự chết như là 'những hành động' hay một 'sự kết thúc về vật chất'. Cả hai đều là những quyền lực; cả hai đều là những chủ nhân và đều là kẻ cai trị; và cả hai đều cầm quyền trong vương quốc của chúng. Đoạn văn này dạy rằng Giê-xu đã chết đối với vương quốc của tội lỗi và sự chết, và đã chiến thắng cả hai trong diễn trình này! Không còn cách nào khác để Giê-xu có thể chết về tội lỗi vì Giê-xu không ở trong tội lỗi và chưa hề phạm bất cứ một tội lỗi nào.
Tính chất trọn vẹn của sự chết đối với tội lỗi của Đấng Christ (c.9-10)
Cái chết của Giê-xu là đầy đủ, hoàn toàn, một cái chết một lần đủ cả đối với vương quốc của tội lỗi và sự chết.
Vấn đề ở đây là Giê-xu không ở lại trên thập tự giá hay đang chết. Ngài đã chết và do đó biến cái chết của Ngài thành một biến cố quá khứ. Và cái chết đó một lần đủ cả, hết sức đầy đủ cho mãi mãi. Do đó, Ngài đã dứt khoát mãi mãi với vương quốc của tội lỗi và sự chết vì cái chết của Ngài không thể lập lại nữa.
Thực hữu của sự sống lại của Christ (c.9-10)
Sự sống lại chứng minh rằng Ngài đã đáp ứng mọi đòi hỏi của luật pháp và sự sống lại đặt Ngài lên trên vương quốc của tội lỗi và trên cái nọc của sự chết, do đó sự chết không còn quyền cai trị trên Ngài.
Vương quốc của tội lỗi và sự chết đã mất quyền cai trị trên Ngài bởi sự sống lại. Ngài đã được sống lại sau khi đã nếm trải cái chết và Ngài sẽ không bao giờ phải chết nữa. Và đời sống hiện Ngài đang sống là sống trong vương quốc của Đức Chúa Trời mãi mãi!
Mối liên hệ của người tín đồ với sự chết và sự sống lại của Đấng Christ.
Mỗi tín đồ có thể hoàn toàn chắc chắn rằng vì mình đã dự phần vào sự chết và chôn của Đấng Christ thì mình cũng sẽ dự phần vào sự sống đời đời của Ngài.
Đây là một lẽ thật tuyệt diệu để chúng ta suy gẫm. Vì cớ lịch sử của một tín đồ thật sự bắt đầu với sự chết của Đấng Christ và sau đó tiếp tục với sự sống lại của Ngài, chúng ta có thể kết luận rằng tương lai của chúng ta là sống đời đời với Đức Chúa Trời.Tuy nhiên điểm Phao-lô muốn nhấn mạnh là chúng ta bây giờ đang sống cho Chúa trong hiện tại - chúng ta đang sống cho Chúa trong vương quốc của sự công bình vì chúng ta đã chết mãi mãi đối với vương quốc trước đây của tội lỗi.
4. Những hàm ý thuộc linh của đoạn quan trọng này.
a. Sự sai lầm của quan điểm hoàn hảo
Người theo thuyết hoàn hảo nói rằng bạn có thể có, hay đúng hơn, bạn phải có 'kinh nghiệm sự chết' riêng của bạn (quan điểm này cũng có nhiều điều khác nhau nhưng tất cả đều dạy dỗ điểm chung nói trên cách này hay cách khác). Thuyết này cũng dạy rằng bạn có thể có hay đúng hơn bạn phải có 'kinh nghiệm riêng tư về Đức Thánh Linh'. Kết quả của hai kinh nghiệm này là sự tiêu diệt bản chất tội lỗi hay sự tiêu diệt tâm trí xác thịt. Quan điểm này trình bày sự cần thiết phải có một kinh nghiệm có tính cách quyết định để qua đó công việc trên được hoàn tất và nhờ đó Cơ Đốc nhân mới có thể bước đi trong sự thánh khiết (xem Thuyết hoàn hảo của Benjamin Warfield để có thể phân tích được quan điểm này).
b. Sự sai lầm của quan điểm 'đời sống sâu nhiệm hơn'
Quan điểm mới 'đời sống sâu nhiệm hơn' chỉ là sự sửa đổi của quan điểm hoàn hảo. Quan điểm này cũng nói là bạn phải có 'kinh nghiệm sự chết' để giúp bạn bởi đức tin nhận lấy sự chiến thắng đưa đến một sự đầu phục hoàn toàn ý chỉ của Đức Chúa Trời. Họ cho rằng chiến thắng sẽ cứ thuộc về bạn miễn là bạn cứ tiếp tục tin tưởng.
c. Chấp nhận quan điểm 'đời sống thuộc linh' theo Kinh Thánh.
Kinh Thánh, theo cách nói quen thuộc, lại nói cho chúng ta biết rằng Chúa đã làm cho chúng ta (ân điển). Những gì mà chúng ta không thể tự làm cho chính mình. Cả nguyên đoạn RoRm 6:1-10 trong thơ Rô-ma chỉ là sự bày tỏ những gì Đức Chúa Trời đã làm, do sứ đồ Phao-lô tường thuật lại để chúng ta có thể biết. Đức Chúa Trời muốn chúng ta nhận biết một cách đầy đủ những gì đã được hoàn tất qua cái chết của Con Ngài. Do đó, đây là sự bày tỏ về ân điển của Đức Chúa Trời để cho tín đồ được biết và để cho chúng ta có thể chiếm hữu lẽ thật này bằng đức tin.
'Đoạn văn này nói gì về tôi? Nó nói cho tôi biết về địa vị, chỗ đứng và thân phận của tôi. Nó nói về vương quốc mà bây giờ tôi đang thuộc về với tư cách Cơ Đốc nhân. Đấng Christ đã từng ở trong vương quốc của tội lỗi và sự chết, Ngài không còn ở tại đó nữa. Tôi cũng đã từng ở trong vương quốc của tội lỗi và sự chết, bất cứ ai chưa phải là Cơ Đốc nhân vẫn còn ở trong vương quốc của tội lỗi và sự chết, người ấy thuộc về sự tối tăm, thuộc về vương quốc của Sa-tan. Điều mà sứ đồ Phao-lô nói với tôi ở đây là như Đấng Christ đã từng bước vào vương quốc đó một thời gian và bây giờ không còn ở đó nữa thì cũng y như vậy, tôi không còn thuộc về vương quốc đó nữa, tôi đã được đưa ra khỏi vương quốc đó với Ngài vì tôi ở trong Ngài' (Martyn Lloyd Jones)
C. Tiến trình: 'Kể như' (RoRm 6:11)
1. Tóm tắt lẽ thật (RoRm 6:1-10)
a. Mọi người đều sinh ra trong A-đam - họ sống liên tục trong vương quốc của tội lỗi và sự chết.
b. Giê-xu Christ được sanh ra trong vương quốc của tội lỗi và sự chết để Ngài có thể đồng hóa với chúng ta.
c. Giê-xu lên thập tự giá và chết; tội lỗi và sự chết cai trị Ngài khi Ngài nhận lấy tội lỗi chúng ta 'con người cũ' của chúng ta cũng bị đóng inh với Ngài trong sự chết của Ngài.
2. Lời khuyên giục thực tế 'kể như'
a. Ý nghĩa của chữ 'Vậy'
Chữ 'Vậy' đây có nghĩa là 'cũng giống như vậy'. Do đó có một sự liên quan nhất định giữa những gì Phao-lô đã nói từ câu 1-10 với điều bây giờ ông nói trong câu 11. Sự diễn ý sau đây cho thấy rõ mối liên quan.
Vì rằng Giê-xu chắc chắn đã chết đối với vương quốc, quyền lực và sự thống trị của tội lỗi - nên người thật sự tin nhận Christ cũng chết giống như vậy. Do đó chúng ta được bảo hãy kể mình như chết về tội lỗi (c.11a).
Các câu 2-10 bày tỏ lẽ thật về công việc của Đức Chúa Trời và bây giờ Cơ Đốc nhân được bảo một cách đơn giản là hãy tin vào điều đó và hãy kể điều đó là thật (đây là lần đầu tiên người tín đồ được bảo làm một điều gì đó trong suốt sách Rô-ma!)
Vì rằng Giê-xu chắc chắn đã được sống lại từ kẻ chết, sự chết mất quyền cai trị trên Ngài và hiện giờ Ngài sống đời đời trong Đức Chúa Trời, nên người thật sự tin nhận Christ cũng được sống giống như vậy. Do đó chúng ta được bảo hãy 'kể như' mình sống động cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-xu Christ (c.11b).
Câu chuyện của chúng ta bắt đầu với sự chết của Christ và tiếp tục với Ngài từ thời điểm đó, vì chúng ta đã được làm một với Ngài cho đến đời đời vì chúng ta 'ở trong Ngài'. Kết quả là số phận của Ngài trở thành số phận của chúng ta vì không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi Ngài.
Đó là lý do vì sao chúng ta có thể có lòng tin quyết lớn lao vào sự sống đời đời!
b. Ý nghĩa của từ 'kể như' (reckon)
'Kể như' là 'quyết định dựa trên một cơ sở vững chắc' hay 'xem như hay nghĩ về một điều như...' hay là 'chấp nhận, kể như một điều gì là chắc chắn' (theo Tự điển New Collegiate của Webster). Webster cũng cho từ 'dựa vào' (rely) là đồng nghĩa với 'kể như'.
Do đó chúng ta thấy từ 'kể như' trước hết là một thái độ của đức tin, mang ý nghĩa là kể như thật những gì Đức Chúa Trời đã nói là thật. Nó có nghĩa là để sự thật đó trước mắt bạn và dựa vào sự thật đó và nhìn xem chính bạn theo như sự thật đã được đưa ra. Do đó chúng ta phải xem chúng ta như đã chết về tội lỗi và đang sống cho Đức Chúa Trời, bởi vì Đức Chúa trời đã tuyên bố rằng điều này là thật cho tất cả các con cái của Ngài.
Điều này có thể giúp chúng ta nhìn vấn đề theo cách sau đây: chúng ta được xưng công bình bởi hành động tin nhận, nhưng chúng tam đang được nên thánh bởi thái độ tin nhận.
c. Những sai lầm thông thường liên quan đến sự 'kể như'.
Sau đây là ba sai lầm thông thường nhất liên quan đến việc áp dụng ý niệm 'kể như'
'kể như' là 'làm như tin' sự thật.
Đây là ý kiến cho là dù điều đó không thật dự đúng nhưng chúng ta sẽ có lợi nếu chúng ta 'giả bộ' hay hành động như thể điều đó đúng.
'kể như' là cố gắng biến những điều đó thành thật.
Đây là ý kiến cho rằng những điều đó chỉ thật khi tôi xem chúng là thật và khi tôi 'kể như' một cách đúng đắn thì tôi thật sự biến những điều đó thành thật.
'kể như' là kinh nghiệm lẽ thật.
Đây là ý kiến cho rằng 'kể như' là một 'phương tiện để đạt đến cứu cánh' và là phương pháp để kinh nghiệm những sự thật.
d. Ví dụ về sự 'kể như' trong đời sống hàng ngày của chúng ta.
Những sai lầm nêu trên rất nghiêm trọng, và sẽ không thể dẫn người tín đồ đến phương thức hành động đúng. 'Sự kể như' không bao giờ được xem là một phương pháp để biến một điều gì đó thành thật vì chúng ta chỉ có thể 'kể như' thật những gì thật sự có thật. Thí dụ nếu tôi có hai chiếc ghế và mua thêm hai chiếc nữa thì dù tôi có kể như tôi hiện có 6 chiếc ghế cũng không bao giờ có thể khiến điều đó thành thật được. Vì rằng trên thực tế tôi chỉ có 4 chiếc ghế, tôi phải chấp nhận thực tế và chỉ coi như thật khi dựa trên những sự kiện có thật.
e. Kết luận tổng quát.
Chúng ta được bảo hãy kể như chính mình đã chết về tội lỗi và đang sống cho Đức Chúa Trời bởi vì điều đó thực sự có thật. Đức Chúa Trời đã cho chúng ta một dữ kiện có thật. Điều này không dựa trên một lời hứa mà dựa trên một sự kiện! Điều này không liên quan đến một việc ở tương lai mà là một việc đã được hoàn tất.
'Đây không phải một câu nói để thử nghiệm, không phải là vấn đề kinh nghiệm. Nó như vậy là vì, như tôi mới vừa nói xong, chúng ta được bảo hãy 'kể'là thật đối với chúng ta một điều đã là thật đối với Christ. Vì vậy chúng ta không được bắt đầu suy nghĩ với một ý thức về tội lỗi trong chúng ta và làm sao chúng ta có thể loại bỏ nó vì trong Christ chẳng hề có tội lỗi bao giờ và Ngài chẳng hề có ý thức nào về tội lỗi. Vậy thì đó không phải một câu nói để thí nghiệm. Chúng ta được bảo hãy ý thức điều đó và luôn để trước mắt chúng ta và trong ý thức chúng ta một sự thật về địa vị hay tình trạng của chúng ta. Đây không phải một lời khuyên giục chúng ta làm một điều gì đối với tội lỗi nhưng là nhận biết điều đã được làm cho chúng ta về mối quan hệ của chúng ta với tội lỗi. Đây là lời khuyên giục chúng ta hãy nhớ những gì đã là thật đối với chúng ta và nhận thức những gì đã xảy đến cho chúng ta, những Cơ Đốc nhân, những người đã được liên hiệp với Đấng Christ. Và điều thật đối với chúng ta là chúng ta đã ở trong một vị trí và tình trạng hoàn toàn mới mẻ đối với tội lỗi. Đây là một điều mà chúng ta phải tin, chỉ vì lời Chúa dạy như vậy. Bạn không hề 'kinh nghiệm' địa vị của bạn, bạn được nói cho biết về địa vị này và bạn tin điều đó (Martyn Lloyd Jones trong cuốn The New Man, trang 120-121.
3. Hành động 'kể như' thực tế.
a. Khía cạnh tiêu cực: 'Hãy kể mình như chết về tội lỗi'
'Chết vì tội lỗi' dứt khoát không phải:
Điều tôi cần phải đạt đến vì tôi là Cơ Đốc nhân!
Điều răn tôi phải vâng lời theo vì tôi là Cơ Đốc nhân!
Tội lỗi hiện giờ đã chết trong tôi!
Một kinh nghiệm mà bạn có thể hoặc phải có!
Ý nghĩa quan trọng của 'Hãy kể mình như chết về tội lỗi'.
Sự chết về tội lỗi của người tín đồ phải y hệt như sự chết về tội lỗi của Chúa Giê-xu!
Người tín đồ đã chết đối với vương quốc của tội lỗi mãi mãi và một lần đủ cả.
Người tín đồ không được bao giờ quay trở lại với sự thống trị của tội lỗi!
Người tín đồ phải xác quyết rằng cả tội lỗi lẫn sự chết đã mất quyền cai trị trên đời sống mình mãi mãi vì quyền lực của chúng đã bị bẻ gãy.
Người tín đồ phải chấp nhận sự thật này về đời sống mình:
Người ấy sẽ chẳng bao giờ đạt đến mức độ không thể phạm tội được.
Nhưng người ấy luôn luôn ở trong địa vị có thể không phạm tội.
b. Khía cạnh tích cực: "Hãy kể mình như sống cho Đức Chúa Trời".
Khía cạnh quan trọng này thường bị bỏ quên.
Con số những nhà giải kinh ngừng lại ở khía cạnh tiêu cực là một con số đáng kinh ngạc. Dường như họ cho rằng mọi sự đều tốt đẹp một khi vấn đề tội lỗi được giải quyết xong. Tuy nhiên Giê-u không chỉ giải quyết vấn đề tội li. Ngài còn đem đến vấn đề sự sống đời đời.
Địa vị sống cho Đức Chúa Trời.
Trước khi được cứu chúng ta ở dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, dưới án phạt chính đáng của Ngài, bị ngăn cách khỏi sự thông công với Ngài và bị chết về phần tâm linh trong những vi phạm và tội lỗi của chúng ta.
Nhưng bây giờ chúng ta 'ở trong Christ', Đức Chúa Trời đã giải thoát chúng ta khỏi cơn thạnh nộ (dựa trên một của lễ chuộc tội thỏa đáng), đã tha thứ mọi tội lỗi chúng ta, đã đem chúng ta đến phước hạnh đời đời của Ngài và đã làm cho chúng ta được sống động về phần tâm linh đối với Ngài!
Những ích lợi của việc sống cho Đức Chúa Trời.
Chúng ta được hưởng những ơn phước của sự được hòa thuận, sự được xưng công bình, sự được tái sanh và nhận làm con trong gia đình của Chúa, sự được liên hiệp với Christ và được ban cho Đức Thánh Linh như là ấn chứng của Đức Chúa Trời về sự cứu chuộc.
Chúng ta cũng có những lời hứa về sự hiện diện đời đời của Ngài, lời hứa về sự chăm sóc và hướng dẫn đời đời của Ngài, lời hứa về sự tiếp tục tha tội của Ngài và lời hứa kà Ngài sẽ khiến chúng ta nên thánh trọn vẹn bằng cách hoàn tất công việc Ngài đã bắt đầu khi chúng ta được sống lại trong thân thể vinh hiển của chúng ta.
4. Những hàm ý thuộc linh của đoạn quan trọng này.
a. Chúng ta phải nhận biết là điều chúng ta được bảo hãy 'kể như' là một điều thật sự đúng với mỗi một tín đồ 'ở trong Christ'
Công việc hoàn tất bởi Đức Chúa Trời thì trọn vẹn trong mọi phạm vi và hoàn hảo về mức độ, không thể thêm bất cứ điều gì vào nữa.
b. Chúng ta phải nhận biết rằng mỗi một tín đồ đã thật sự chết đối với vương quốc của tội lỗi cũng như đã được giải phóng khỏi đó mãi mãi!
Quyền lực của tội lỗi đã thật sự bị bẻ gãy trong đời sống tín đồ và người ấy không còn ở dưới ách thống trị của nó nữa.
c. Chúng ta phải nhận biết rằng mỗi một tín đồ đã được làm cho sống động lại đối với Chúa mãi mãi!
Đây không phải là một địa vị để đạt đến mà là một thực tế hiện tại.
d. Chúng ta phải nhận biết rằng mỗi một tín đồ phải xác quyết những sự thật này một cách riêng tư.
Những lẽ thật vinh hiển này thật sự có thật dù cho chúng ta biết chúng, tin chúng hay chấp nhận chúng hay không. Tuy nhiên, chúng sẽ không ích lợi gì cho cá nhân nào nếu chúng không được chính cá nhân đó sở hữu.
Vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta có tiếp tục sống trong tội lỗi để ân điển dư dật hơn lên không? Làm sao mà chúng ta có thể nghĩ đến việc ấy trước ánh sáng của những lẽ thật vinh hiển này?
Điều Phao-lô đã làm trong phân đoạn Kinh Thánh này chính là nói cho chúng ta biết tại sao Cơ Đốc nhân phải sống một nếp sống thánh khiết hơn là làm sao để chúng ta có thể chiến thắng những ý tưởng sau đây có thể dùng để tóm tắt tư tưởng chính của phân đoạn Kinh Thánh nêu trên.
Lập luận của Phao-lô thật là hoàn chỉnh.
1. Chúng ta nhận được sự tha tội qua Christ.
2. Sự nhận được này đòi hỏi sự liên hiệp với Christ.
3. Đấng Christ mà chúng ta được liên hiệp với đã chết về tội lỗi.
4. Vì chúng ta đã được liên hiệp với Ngài, chúng ta cũng đã chết về tội lỗi.
5. Nếu chúng ta đã chết về tội lỗi, chúng ta không thể tiếp tục sống trong tội lỗi.
6. Do đó chúng ta không thể tiếp tục phạm tội để ân điển càng dư dật hơn lên.
'Sự xưng công bình có được chỉ do đức tin, nhưng vì sự xưng công bình khiến chúng ta liên hiệp với Đấng Christ là Đấng làm cho nên thánh, nên sự xưng công bình và sự nên thánh không thể tách rời nhau cũng như chính Đấng Christ cũng không thể bị phân chia ra' (Trích trong 'The Reformed View' của B.Fergreson; và Christian Spirituality: Five views of Sanctification của Donald.L.Alexander, trang 54.
D. Tiến trình: 'Dâng' (RoRm 6:12-14)
1. Ý nghĩa của sự nên thánh.
a. Sự nên thánh không phải là:
Sự nên thánh không phải là một quà tặng của Đức Chúa Trời mà người tín đồ chỉ nhận lấy bởi đức tin.
Có một số người dạy rằng sự nên thánh cũng được nhận lấy bởi đức tin giống như sự xưng công bình.
Sự nên thánh không phải là một kinh nghiệm được giải phóng ngay khỏi tội lỗi một lần đủ cả.
Có nhiều người cố gắng để được nên thánh ngay bởi đức tin qua kinh nghiệm nào đó với Đức Thánh Linh hay bằng cách chết đi bản ngã v.v... Nhp4ng người tìm kiếm sự giải thoát khỏi tội lỗi bằng cách này sẽ kết thúc trong sự thất bại và đưa đến một cuộc sống đầy bối rối, thất vọng.
Sự nên thánh không phải là một lời kêu gọi 'đầu phục hoàn toàn' đưa đến một sự thụ động tâm linh.
Đây là chủ đề đang được giảng dạy trong Hội thánh tân tiến ngày nay đưa ra những sứ điệp như 'Hãy để mặc và để Chúa làm' hay 'Hãy để Ngài sống cuộc đời Ngài qua bạn' hay 'Thôi đừng gắng sức nữa và bắt đầu tin cậy'. Hầu hết Cơ Đốc nhân không biết phải thực hành những lời khuyên huyền bí này. Chắc chắn là chúng ta không được cố gắng làm những gì chỉ có Chúa làm được nhưng đồng thời chúng ta cũng phải làm những gì Chúa đòi hỏi chúng ta làm.
b. Sự nên thánh thật sự là
Sự nên thánh đặt căn bản trên sự hiểu biết và sự tin cậy liên tục vào sự làm một cá nhân người tín đồ với Đấng Christ trong sự chết và sự sống lại.
Duy chỉ điều này là căn bản và là nến tảng vững chắc cho sự nên thánh của riêng chúng ta. Do đó chúng ta phải biết lẽ thật này và chúng ta phải liên tục sở hữu lẽ thật này bằng đức tin.
Sự nên thánh là cuộc chiến liên tục và cần thiết chống lại tội lỗi của người tín đồ, một cuộc chiến sẽ cứ tiếp tục khi người tín đồ vẫn còn ở trong thân thể vật chất của mình.
Tội lỗi và xác thịt sẽ luôn tìm cách cai trị đời sống của người tín đồ; thống trị toàn bộ đời sống người ấy và tự bày tỏ ra qua đời sống người ấy. Cuộc chiến này sẽ không bao giờ chấm dứt trong cuộc đời hiện tại này mà chỉ kết thúc khi chúng ta được vào sự vinh hiển.
Sự nên thánh là quá trình diễn tiến để ngày càng trở nên giống Christ được hoàn tất bởi Đức Thánh Linh.
Đây lại là phần việc của Đức Chúa Trời vì chỉ có Ngài mới có thể làm được sự thay đổi cần thiết ở bên trong. Tuy nhiên, người tín đồ phải nhớ rằng Ngài sẽ làm nhiệm vụ này một cách hoàn hảo và trọn vẹn!
2. Trách nhiệm của người tín đồ trong sự nên thánh.
a. Khía cạnh tiêu cực.
Vì mỗi tín đồ đã chết mãi mãi đối với vương quốc của tội lỗi, họ phải kể như mình đã chết về tội lỗi và họ được bảo không để tội lỗi cai trị trên thân thể hay chết của họ hay nộp chi thể của họ như là đồ dùng của tội lỗi.
Sự nô lệ trước đây cho tội lỗi khi còn 'trong A-đam'.
Trong A-đam tất cả chúng ta đều là nô lệ của tội lỗi và tội lỗi cai trị cho đến chết. Chúng ta được sinh ra trong tội lỗi, làm nô lệ cho tội lỗi, yêu mến tội lỗi và phải chết vì tội lỗi. Chính tội lỗi đó rất muốn tiếp tục thống trị chuyên chế ngay cả sau khi bạn đã được tái sanh.
Ý nghĩa của 'thân thể hay chết'
Dường như đây là từ ngữ đồng nghĩa với 'thân thể của tội lỗi' (RoRm 6:6). Nói một cách khác, đây là từ ngữ nói đến thân thể chưa được cứu chuộc mà xác thịt vẫn tiếp tục ở trong. Đây chính là thân thể bị hư nát đang trong quá trình tàn lụi đi. Vì vậy chúng ta phải thấy 'con người mới trong Christ' vẫn còn ở trong 'thân thể cũ chưa được cứu chuộc'
Ý nghĩa của 'chi thể'
Chi thể là nói đến những phần khác nhau của thân xác vật chất của con người. Thí dụ chân, tay, miệng và những phần khác của thân thể. Mỗi phần của thân thể có những năng lực và nhiệm vụ nhất định thích hợp cho một mục đích rõ ràng nào đó.
'Chi thể' cũng được hiểu là nói đến những khả năng khác của con người như là trí tuệ, cảm xúc, tưởng tượng và ý chí.
Trách nhiệm của cá nhân tín đồ.
Bây giờ, người tín đồ phải 'nhận trách nhiệm' và không để cho tội lỗi cai trị trên đời sống người ấy bằng cách không nộp cho những chi thể của mình cho tội lỗi. Điểm cốt lõi là: Đức Chúa Trời đã làm tất cả những gì Ngài có thể làm trong việc phá bỏ quyền lực của tội lỗi và Ngài sẽ không làm cho chúng ta những gì Ngài đòi hỏi là không bao giờ nộp chi thể của mình cho tội lỗi và không bao giờ để cho tội lỗi cai trị đời sống họ nữa. Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng:
Đừng bao giờ quên những gì Chúa đã làm cho bạn (phần của Chúa)

Đừng bao giờ trở thành thụ động mà không đáp ứng (phần của chúng ta).
b. Khía cạnh tích cực.
Vì mỗi một tín đồ bây giờ đang sống trong vương quốc của sự công bình, họ phải coi như mình đang sống cho Đức Chúa Trời và được bảo dâng chính họ cũng như chi thể của họ để làm đồ dùng của sự công bình.
Ý nghĩa của việc 'dâng chính mình' cho Chúa.
Một cách tổng quát đây là việc giao thác chính mình một cách trọn vẹn để phục vụ người khác; nó có nghĩa là đặt chính mình hoàn toàn dưới sự sử dụng cua người khác. Do đó quan điểm của Phao-lô rất rõ ràng:
Đừng phó chính mình cho tội lỗi song thà phó chính mình cho một mình Chúa thôi!
Người tín đồ phải đến với Đức Chúa Trời và khiến mình lúc nào cũng sẵn sàng để phục vụ Ngài. Đây là của lễ mà Đức Chúa Trời đẹp lòng.
Mức độ của sự dâng mình.
Sự dâng mình này phải bao gồm mọi phương diện của đời sống người tín đồ trước mặt Chúa. Điều này bao gồm toàn thể con người của bạn (con người mới của bạn 'trong Christ'). Điều này cũng bao gồm những chi thể của bạn (mỗi một khả năng thiên bẩm). Điều này cũng bao gồm chính thân xác bạn như là một của lễ.
Do đó chúng ta có thể kết luận rằng đây là một mệnh lệnh mà sẽ tác động đến toàn thể con người và đời sống của mỗi một Cơ Đốc nhân thật lòng!
Trách nhiệm của tín đồ.
Đây phải là một hành động hiến dâng tự nguyện của mỗi một con cái Chúa. Đây là mệnh lệnh thiên thượng nhưng bạn có thể không tuân theo. Lý do Phao-lô khuyên phải tuân theo đặt căn bản trên lẹ thật đã được trình bày trước đó và bước vâng lời chỉ là hành động hợp lý tiếp theo sau của một Cơ Đốc nhân thật lòng, thật vậy bạn có thể thấy diễn trình này trong RoRm 12:1 nơi Phao-lô khuyên giục Cơ Đốc nhân hãy tiến đến sự dâng mình và tuyên bố rằng đó chỉ là một việc làm hợp lý trước ánh sáng những gì Đức Chúa Trời đã làm cho họ.
3. Lời khích lệ thiên thượng về sự nên thánh (RoRm 6:14)
a. Tính chất của câu nói quan trọng này.
Có hai điều quan trọng cần để ý liên quan đến câu nói này: Đầu tiên đây không phải một mệnh lệnh cho người tín đồ (nghĩa là một điều mà chúng ta phải làm). Thứ hai, đây không phải là hậu quả (nghĩa là không do hành động chúng ta đưa đến "Nếu bạn làm điều này thì điều ấy sẽ trở thành thật".
Đây chỉ là câu nói trình bày sự thật và một lời khích lệ.
b. Sự bất lực của luật pháp trong sự nên thánh.
Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta đến sự thánh khiết, vì Ngài là Đấng Thánh. Chúng ta không được để tội lỗi cai trị trên thân thể hay chết của chúng ta nhưng luật pháp của Đức Chúa Trời không thể giúp được chúng ta. Nhưng tội lỗi sẽ không cai trị trên chúng ta vì chúng ta ở dưới ân điển!
c. Sự đắc thắng của ân điển trong sự nên thánh.
Đức Chúa Trời đã dự bị sẵn cho mỗi nhu cầu của chính bạn để bạn có thể sống đời sống thánh khiết mà Ngài đòi hỏi và mong muốn. Vì vậy đừng để tội lỗi cai trị vì nó không có quyền lực nào để cai trị. Nhờ Ân Điển!
E. Tiến trình: 'Làm cho chết' (RoRm 8:12-13)
'Nhiệm vụ của chúng ta không phải là biến đổi hay biến hóa 'xác thịt, nhưng là giết chết nó, từ chối những thôi thúc của nó, khước từ những khát vọng của nó và làm chết đi những ham muốn của nó' (A.W.Pink trong cuốn Practical Christianity, trang 142,143.
1.Sự tương phản giữa xác thịt và Thánh Linh (RoRm 8:5-11)
a. Hai cách nhìn cơ bản (c.5)
Chăm về 'điều xác thịt'.
Đây là nơi người đó đặt tâm trí vào; đây là điều anh ta lưu ý đến và đây là nơi anh ta đặt tình cảm và sự quan tâm của mình.
Chăm về 'điều thuộc linh'
Đây là nơi người đó đặt tâm trí vào, đây là điều người ấy lưu ý đến và đâu là nơi người ấy đặt tình cảm và sự quan tâm của mình.
b. Hai hậu quả cơ bản (c.6)
Chăm về xác thịt sanh sự chết.
Cách nhìn này hoàn toàn không có sự sống của Đức Chúa Trời. Cách nhìn thù nghịch lại với Đức Chúa Trời; làm cho người ta không thể sống đẹp lòng Đức Chúa Trờivà do đó khiến người ta xa cách với Đức Chúa Trời.
Chăm về Thánh Linh sanh sự sống.
Cách nhìn này hoàn toàn đầy dẫy với sự sống của Đức Chúa Trời. Cách nhìn này ở trong sự tương giao với Đức Chúa Trời; nó khiến người ta thực sự sống đẹp lòng Đức Chúa Trời và do đó khiến người ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời.
c. Hai lối sống.
Sống theo xác thịt là bị cai trị, bị kiểm soát bởi xác thịt mang những đặc tính của xác thịt.
Cần phải nhớ rằng điề này không chỉ có nghĩa là 'những hành động xấu xa' mà trước hết đó là một thái độ và một cách sống.
Sống theo Thánh Linh là để cho Thánh Linh cai trị, kiểm soát và mang những đặc tính của Thánh Linh.
Cần phải nhớ rằng điều này không chỉ có nghĩa là một số 'những hành động công bình' mà trước hết đó là một thái độ và một cách sống.
d. Kết luận tổng quát liên quan đến đời sống thuộc linh.
Sau những nhận thức cá nhân đầy đủ về sự hiểu rõ, sự kể như và sự dâng mình của RoRm 6:1-14, còn có thêm hai điều kiện nữa cho sự thánh khiết và cho sự sống thuộc linh.
Người tín đồ phải làm chết những việc của thân thể.
Đây là bước tiếp theo rất quan trọng của mỗi tín đồ thật sự coi trọng sự thánh khiết. Đây phải là một hành động dứt khoát và liên tục.
Người tín đồ phải liên tục bước đi trong Thánh Linh.
Đây là bước tiếp theo rất quan trọng đối với mỗi tín đồ thật sự coi trọng sự thánh khiết. Đây cũng phải là một hành động dứt khoát và liên tục.
2. So sánh lời dạy của Chúa Giê-xu và của Phao-lô ([dc Mat 16:24;, [dc Ro 8:12-13;).
Nghiên cứu kỹ lưấng hai đoạn Kinh Thánh này, chúng ta sẽ thấy có nhiều điểm tương đồng không được bỏ qua. Thí dụ:
a. Cả hai đều nói đến việc người tín đồ được đòi hỏi phải hoàn tất!
b. Cả hai đều ở thì hiện tại nói lên hoạt động liên tục!
c. Cả hai đều liên quan đến quan điểm căn bản về sự chết!
d. Cả hai đều hàm ý một sự từ bỏ chính mình và một sự lựa chọn Đức Chúa Trời.
e. Cả hai đều đưa ra một lời hứa phước hạnh và một lời cảnh cáo hết sức nghiệm trọng.
3. Giáo lý về 'việc làm cho chết' (RoRm 8:12-13)
a. Ý nghĩa của việc làm cho chết.
Người tín đồ phải làm cho chết những việc của thân thể.
Trong kinh nghiệm riêng tư của người tín đồ sẽ có nhu cầu làm cho chết những việc làm của thân thể tội lỗi được nhắc đến trong RoRm 6:6-12. Đây là điều cốt lõi vì thân thể chưa được cứu chuộc là phương tiện bày tỏ của xác thịt - vì vậy mỗi Cơ Đốc nhân phải làm cho chết các việc của thân thể.
b. Những sia lầm trong việc hiểu và ứng dụng 'việc làm cho chết'
Đây không phải quan điểm xa xưa của Công giáo La-mã của việc sống trong tu việc kèm theo sự hành xác.
Đây là tư tưởng hai mặt của 'việc xuất thế' đưa đến việc coi như tách rời khỏi cám dỗ và tội lỗi; thường kèm theo những việc tự hành xác bằng cách mặc quần áo thiếu thoải mái, kiêng ăn quá độ hay làm thương tổn đến thân thể.
Đây không phải chủ nghĩa luật pháp tự hành xác hay theo chủ nghĩa thanh giáo.
Tôi muốn nói đến chế độ nghiêm ngặt của 'hãy làm' và 'đừng làm' hay sự coi rẻ những vui thú cá nhân. Đây không phải sự từ khước một số việc làm (thí dụ một số thức ăn, thức uống hay hoạt động). Nó một cách khác, đó không chỉ là tự tước đoạt đi những thú vui hay tự ấn định một kỷ luật hợp pháp.
Đây không phải là điều làm được do nỗ lực riêng hay chỉ do quyết tâm đạo đức.
Đây không phải sự cố gắng để thắng hơn xác thịt bằng năng lực của xác thịt. Đây cũng không phải 'cố hết sức mình' để từ bỏ một thói quen nào đó hay 'cố hết sức mình' để đạt đến một phẩm chất đạo đức nào đó.
c. Sự hiểu biết và ứng dụng đúng đắn của 'làm cho chết'.
Đó là từ bỏ quyền hành động độc lập với Đức Chúa Trời.
Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta đã được mua bằng một giá rất cao - và bây giờ chúng ta thuộc về Chúa. Vì vậy, chúng ta phải từ bỏ những quyền hành động độc lập với Chúa của chúng ta và sẵn lòng giao thác đời sống chúng ta cho uy quyền, sự hướng dẫn và ý chỉ của Đức Chúa Trời.
Đó là sự tách mình hoàn toàn khỏi mọi tội lỗi biết được.
Không thể có sự dung thứ tội lỗi trong đời sống của Cơ Đốc nhân. Do đó cũng không thể có bất cứ sự sẵn lòng thỏa hiệp nào. Nhưng phải nhớ rằng sự tách rời khỏi tội lỗi không được làm bằng nỗ lực của xác thịt mà phải là trên căn bản của sự nhận biết những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta trong Christ.
Đó là không cung cấp cơ hội cho xác thịt.
Điều này có nghĩa là tránh xa những thứ cám dỗ bạn và tránh xa những người gây cho bạn thỏa hiệp hay làm bạn vấp ngã. Đừng dự phần vào những điều bạn biết sẽ làm cho bạn ngã.
Đó là liên tục giữ thân thể chúng ta dưới sự kiểm soát của Đức Thánh Linh.
Chúng ta không được để cho những ham muốn xác thịt chế ngự chúng ta. Chúng ta phải luyện tập kỷ luật và sự tự kiềm chế. tấm gương của các vận động viên rất thích hợp ở đây vì họ sẵn lòng tập luyện kỷ luật và sự từ kềm chế.
Đó là giải quyết ngay với những thôi thúc đầu tiên của sự cám dỗ.
Phạm tội là luôn luôn trải qua một quá trình hay một sự phát triển dần dần tiến đến sự bày tỏ tội lỗi ra. Nó bắt đầu bằng việc nhìn thấy cám dỗ, ấp ủ nó trong tâm trí, ham muốn nó với cảm xúc và rồi chọn lựa nó bằng ý chí. Chúng ta phải học để nói 'KHÔNG' vào giai đoạn đầu tiên trước khi quá trễ.
4. Kết quả của việc 'làm cho chết' (RoRm 8:12-13)
a. Tiến trình thiêng thượng: Công việc Đức Chúa Trời làm cho người tin.
Người tín đồ được đồng chết với Đấng Christ. Do đó người tín đồ đã chết về tội lỗi và được thoát khỏi tội lỗi. Do đó người tín đồ không được cho phép tội lỗi cai trị trên thân xác mình cũng như không nộp chi thể mình cho tội lỗi.
Do đó người tín đồ phải làm chết các việc của thân thể. Người tín đồ đã được đồng sống lại với Đấng Christ. Do đó người tín đồ hiện đang và mãi mãi sống cho Chúa. Do đó người tín đồ phải dâng chính mình cho Đức Chúa Trời. Do đó người tín đồ phải liên tục bước đi trong Thánh Linh.
b. Phương cách thiên thượng: trách nhiệm của người tín đồ trong quá trình 'làm cho chết'
Làm cho chết được trình bày như là trách nhiệm của người tín đồ - do đó nó là sự đáp ứng của đức tin thật. Nếu không có quá trình hay bằng chứng thật sự của việc làm cho chết thì sẽ không thể có sự tái sanh thật.
c. Kết quả thiên thượng: người tín đồ sẽ kinh nghiệm được sự sống thuộc linh.
Đây là phẩm chất đời sống Chúa định cho chúng ta. Quá trình làm cho chết không cho phép xác thịt biểu lộ qua đời sống của một người và cung cấp phương tiện để qua đó đời sống phong phú của Christ có thể được bày tỏ ra. Đó là lý do vì sao Chúa Giê-xu đến thế gian và đó là tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời tìm kiếm trong tất cả con cái của Ngài.
'Tội lỗi không bị làm chết đi là trái với toàn ý định của Phúc âm - như thể là sự y sinh của Đấgn Christ làm chúng ta vui thú trong tội lỗi hơn là cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi' (A.W.Pink trong cuốn Practical Christianity trang 141.
'Nếu bạn là Cơ Đốc nhân, Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở trong bạn và Ngài đang làm việc trong bạn. Ngài ban khả năng cho chúng ta, Ngài ban sức mạnh và năng lực cho chúng ta. Ngài đứng giữa đem đến cho chúng ta sự cứu rỗi vĩ đại mà Đức Chúa Giê-xu Christ đã làm cho chúng ta và giúp cho chúng ta thực hiện được sự cứu rỗi này. Cơ Đốc nhân không bao giờ được than phiền vì thiếu khả năng hay năng lực. Đối với một Cơ Đốc nhân, nói rằng 'Tôi không thể làm điều này' có nghĩa là chối bỏ Kinh Thánh. Một người có Đức Thánh Linh ngự bên trong không bao giờ được nói ra một câu tương tự; đó là sự chối bỏ lẽ thật về chính mình (Trích trong The Sons of God, của Martyn Lloyd Jones, trang 136.
'Thật phi lý khi tưởng tượng rằng Đức Chúa Trời xưng công bình cho một dân sự mà không khiến họ nên thánh hay Ngài xưng công bình cho một dân sự mà Ngài không thể làm cho vinh hiển' (Trích trong The Golden Treasury of Paritan Quotations của Thomas Watson trang 141.
'Ngài chẳng dẫn người nào khác lên thiên đàng ngoài người Ngài đã làm nên thánh trên đất. Cái đầu sống sẽ không chấp nhập những chi thể chết' (John Owen, Itad trang 142
F. Tiến trình: 'Bước đi'
Thập tự giá là phương tiện Đức Chúa Trời dùng để đem sự cứu rỗi đến chúng ta.
Thánh Linh được ban cho để tạo ra sự cứu rỗi trong chúng ta.
1. Địa vị trong Thánh Linh của người tín đồ (RoRm 8:9)
Trong A-đam
Dưới Luật pháp
Trong xác thịt
2. Ý nghĩa của 'bước đi trong Thánh Linh'
a. Ở trong Christ (GiGa 15:1-8)
Đây là nhu cầu của người tín đồ: ở trong hay ở trong thân vị Đấng Christ và vương quốc của Thánh Linh; điều này còn có thể được mô tả là 'phó thác thoải mái cho Chúa Giê-xu Christ'.
Hình ảnh nhánh nho rút sự sống từ cây nhi là một minh họa rõ ràng cho ý niệm này. Nhánh nho sẽ mạnh mẽ, khỏe mạnh và có kết quả miễn là nó được nối liền với cây nho. Nó sẽ không còn sống và hoạt động được nữa. Kinh Thánh đưa ra hình ảnh của con cái Chúa cuối cùng đã 'ổn định cuộc đời' trong Chirst và đang rút tỉa sự sống từ chính cây nho. Và khi chúng ta đã ổn định cuộc đời 'trong Christ' thì Ngài cũng sẽ ổn định để cai trị trong chính lòng chúng ta.
Lệnh truyền cho người tín đồ: Hãy ở trong Ngài (lẽ thật khách quan).
Cơ Đốc nhân tìm kiếm Đức Chúa Trời; nương cậy vào Giê-xu và chỉ mình Ngài để có sự sống và sức mạnh. Chúng ta phải yêu mến những sự ở trên cao trong khi vẫn đứng vững chắc trong vương quốc của Đức Thánh Linh.
Lời hứa cho người tín đồ: 'Ngài ở trong bạn' (lẽ thật chủ quan).
Chỉ khi nào chúng ta làm trọn lời đòi hỏi của Đức Chúa Trời là ở trong Ngài thì chúng ta mới kinh nghiệm thực tế chủ quan của việc Christ 'ở trong chúng ta'. Có quá nhiều Cơ Đốc nhân đang hướng nội để 'kinh nghiệm Christ' họ luôn luôn tìm kiếm một loại kinh nghiệm chủ quan nào đó. Bí quyết là nương cậy vào Giê-xu, liên tục ở trong Ngài và rồi phương diện chủ quan của sự hiện diện của Ngài trong chúng ta sẽ được hiện thực.
b. Bước đi trong Thánh Linh (GaGl 5:16-18)
Nhu cầu phải bước đi theo mỗi thôi thúc của Thánh Linh.
Việc 'bước đi theo Thánh Linh' phải kết hợp với lời Chúa chỉ không phải với sự tưởng tượng hay suy nghĩ của bạn về sự hướng dẫn của Thánh Linh. Do đó 'bước đi theo Thánh Linh' có nghĩa 'theo sự hướng dẫn của Ngài' và điều này có nghĩa là một đời sống của sự thuận phục thật.
Nhu cầu nương cậy hoàn toàn cũng như tin cậy khả năng của Thánh Linh.
Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã đến để làm những gì mà chúng ta tự mình không thể làm được. Bước đi trong Thánh Linh đòi hỏi một sự nhờ cậy hoàn toàn vào khả năng của Ngài. Chúng ta có thể diễn tả điều này như sau.
Không sống dựa trên những ước muốn, ý chỉ hay khả năng của chúng ta .
Mà sống dựa trên những ước muốn và năng quyền của Đức Thánh Linh.
Nếu có thể ví sánh Cơ Đốc giáo như việc đưa một chiếc xe nặng lên đỉnh ngọn đồi - có quá nhiều Cơ Đốc nhân đang cố đẩy chiếc xe hơn là di chuyển nó bằng sức mạnh của nó.
Đời sống Cơ Đốc thì siêu nhiên và chỉ sống được bởi có năng lực thiên thượng truyền vào. Những tiêu chuẩn của Tân ước dưới ân điển đều không thể thực hiện nổi và Đức Chúa Trời không hề định cho người tin Ngài phải làm trọn những tiêu chuẩn này bằng sức riêng của mình. Chỉ qua sự nương cậy hoàn toàn vào Đức Thánh Linh đời sống Cơ Đốc mới có thể sống được và vui hưởng được.
Vì vậy bạn phải nương cậy vào nguồn năng lực để sống đời sống Cơ Đốc! Một minh họa khác có thể giúp chúng ta. Nếu bạn ở trong một căn phòng tối dần và bạn cần có ánh sáng để đọc - bạn có ngồi đó và nhìn chăm chăm vào bóng đèn không? Bạn có chăm chú nhìn để xem nó có sáng lên không? Đương nhiên là không! Bạn sẽ hướng sự chú ý của bạn vào nguồn năng lượng và một khi bạn đã được nối liền với nguồn năng lượng này bạn sẽ có ánh sáng! Có quá nhiều Cơ Đốc nhân đang nhìn sai phía và chiến thắng mà họ hết lòng mong mỏi cứ luôn vượt khỏi họ.Vì vậy, chúng ta phải chỉ nhờ cậy hoàn toàn vào Đức Thánh Linh mà thôi!
3. Sự chống nghịch của xác thịt đối với bước đi trong Thánh Linh (GaGl 5:17)
a. Bản chất của xác thịt.
Người tín đồ không ở trong xác thịt nhưng xác thịt vẫn còn 'ở trong người ấy'
Hãy nhớ rằng bạn vẫn còn sống trong thân thể tội lỗi trong thân thể hay chết này. Và cũng nhớ rằng xác thịt đã không thay đổi chỉ vì bạn đã trở thành một Cơ Đốc nhân. Xác thịt đang và tiếp tục sẽ là tất cả những gì nó đã từng là xác thịt.
Xác thịt ở trong sự chống đối liên tục và cơ bản với tất cả những gì thuộc về Đức Chúa Trời.
Xác thịt sẽ không bao giờ bỏ cuộc chiến đấu; nó sẽ chẳng khi nào kêu gọi ngừng chiến hay ngừng bắn. Xác thịt luôn luôn thù nghịch với Đức Chúa Trời và với ham thích thiêng liêng của bạn và nó sẽ luôn luôn tìm cách thống trị bạn cũng như sự bước đi trong Thánh Linh của bạn.
b. Cuộc chiến với xác thịt (GaGl 5:17)
Bản chất của sự xung đột này.
Đây là một sự xung đột, khác với sự xung đột mô tả trong Rôma 7, người đó đang tranh chiến với những đòi hỏi của luật pháp và với sự bất lực của chính mình. Trong Rôma 7, người đó đang khám phá ra quyền lực của tội lỗi bên trong cũng như khả năng đánh bại ngay cả những thiện ý tốt lành nhất của người đó.
Mức độ của sự xung đột này.
Sự xung đột này xảy ra ngay cả với những Cơ Đốc nhân trưởng thành nhất vì có một cuộc chiến liên tục giữa xác thịt và Thánh Linh (khi đó hiển nhiên sự xung đột này chỉ có mình Cơ Đốc nhân đó biết). Xác thịt chống lại Đức Thánh Linh và Đức Thánh Linh chống lại xác thịt.
Do đó người đang bước đi theo Thánh Linh sẽ biết sự chống đối lại của xác thịt. Nhưng người đó cũng sẽ biết được sự đắc thắng hơn của Đức Thánh Linh.
c. Kết luận tổng quát.
Cơ đốc nhân đang bước đi theo Thánh Linh không được hiểu sai là sẽ gặp sự chống đối nào trong việc bước đi này hay nghĩ là có điều sai trật khi thấy có sự chống đối. Thật sẽ có sự chống đối to lớn và hết sức nghiêm trọng đối với người đang bước đi trong Thánh Linh. Và thật ra nếu không có sự chống đối thì bấy giờ chúng ta càng có lý do để phải quan tâm nhiều hơn.
4. Kết quả của việc bước đi trong Thánh Linh.
a. Thánh Linh luôn luôn tranh chiến với xác thịt và những đều ưa muốn của nó.
Những ưa muốn của xác thịt thì trái với Thánh Linh. Do đó bước đi trong Thánh Linh là cảm thấy, là biết sự chống đối của xác thịt!
Những ưa muốn của Thánh Linh thì trái với xác thịt. Do đó bước đi theo xác thịt là cảm thấy, là biết sự lên án của Thánh Linh!
b. Thánh Linh sẽ khuất phục xác thịt đến một mức độ mà người tín đồ sẽ được biết sự đắc thắng không ngừng (GaGl 5:16-18, RoRm 6:14).
Cuộc chiến của Đức Thánh Linh chống lại với xác thịt xó một kết quả vĩ đại:khi người tín đồ bước đi trong Thánh Linh thì Thánh Linh có thể khuất phục xác thịt! Đây là trận chiến của Thánh Linh và là lãnh vực trách nhiệm của Ngài - Chỉ một Thánh Linh là đủ cho công tác rồi - Hãy bước theo thôi!
c. Đức Thánh Linh sẽ làm trọn sự công bình luật pháp đòi hỏi trong đời sống người tín đồ (RoRm 8:4)
Đức Thánh Linh không chỉ khuất phục xác thịt và khiến nó hết hiệu lực nhưng Ngài còn làm trọn luật pháp trong người bước đi theo Thánh Linh. Cơ Đốc giáo không chỉ là chấm dứt phạm tội mà là bày tỏ sự sống!
d. Đức Thánh Linh sẽ sinh ra bông trái nói lên sự hiện diện cũng như công việc thánh hóa của Ngài (GaGl 5:22, 23)
Đây là trái Thánh Linh tương phản với việc làm của xác thịt. Trái không phải là kết quả của nỗ lực nhận thức của cá nhân nhưng là kết quả tự nhiên của sự sống với thời gian!
G. Tiến trình: 'Thất bại / Chiến thắng' (RoRm 7:1-25)
1. Tính chất của vấn đề được đưa ra.
Tất cả những Cơ Đốc nhân đều ở 'trong Christ' và 'trong Thánh Linh'.
Tất cả Cơ Đốc nhân đang bước đi hoặc theo Thánh Linh hoặc theo xác thịt (theo ý riêng bản ngã).
Bất cứ Cơ Đốc nhân nào mà bước đi theo ý riêng thì trước hết tin cậy khả năng riêng của mình rồi sẽ phát triển một lối sống Cơ Đốc dựa trên việc làm và sau cùng sẽ chịu dưới ách luật pháp của Đức Chúa Trời.
Tất cả những gì thật về địa vị của những Cơ Đốc nhân này 'ở trong Christ' chẳng bao giờ được thực hiện hoàn toàn cho đến khi họ học tập 'bước đi trong Thánh Linh'.
Nhưng họ sẽ chẳng bao giờ học để 'bước đi trong Thánh Linh' cho đến khi họ được hoàn toàn giải thoát khỏi luật pháp trong quan hệ riêng tư với Đức Chúa Trời (mặc dù họ đã được giải phóng luật pháp khi 'ở trong Christ').
Những Cơ Đốc nhân này sẽ không được giải thoát khỏi luật pháp cho đến khi chính luật pháp buông họ ra khỏi ách của nó và luật pháp sẽ không buông tha họ ra cho đến khi nó đã làm trọn mục đích thiên thượng.
Việc làm này của luật pháp có thể là một quá trình ngắn hoặc dài và thống khổ; dài chỉ vì chúng ta không thật sự biết chiều sâu của tội lỗi cá nhân hay là vì chúng ta chưa cảm thấy tuyệt vọng trong việc tìm kiếm sự thánh khiết.
Do đó Cơ Đốc nhân phải hiểu rằng nên thánh là một công việc của ân điển Đức Chúa Trời cũng như việc xưng công bình và sự nên thánh là công việc của Đức Chúa Trời chớ không phải của 'bản ngã' (cái tôi), y như sự xưng công bình vậy.
2. Mô tả đời sống thất bại (RoRm 7:14-25)
Người được mô tả trong RoRm 7:14-25 đi đến sự nhận biết và chấp nhận một số sự thật quan trọng về chính mình:
Người ấy nhận biết rằng mình thật sự có bản chất mang tính xác thịt (c.14).
Người ấy thừa nhận rằng mình 'bị bán cho tội lỗi' một lời xác định rất mạnh ý nói rằng 'Tôi liên tục làm nô lệ cho tội lỗi’ (c.14).
Người ấy cũng được soi sáng đủ để hiểu ý định thiêng liêng của luật pháp (người Pha-ri-si đã hiểu sai quan điểm này).
Người ấy muốn giữ luật pháp và đồng ý với điều luật pháp tuyên bố về tình trạng của mình (c.15,16) và người ấy còn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng (c.22).
Người ấy cũng bối rối và không hiểu nổi những hành động của chính mình; luôn luôn có sự đối chọi hai chiều trong đời sống của người ấy (c.15,16).
Người ấy thú nhận rằng vấn đề không phải là 'sức mạnh của ý chí' vấn đề là tội lỗi hết sức mạnh mẽ còn ở bên trong (c.17,18).
Đây là một người đã bắt đầu nhìn thấy chiều sâu của tội lỗi mình và quyền lực nó có trên đời sống của người ấy. Anh ta phạm tội vì anh ta là một tội nhân!
Người ấy thú nhận rằng tội lỗi luôn luôn ám ảnh anh ta vì dường như nó luôn luôn hiện diện trong đời sống anh ta; anh ta thấy nó ở rất sâu bên trong, nó đã ăn sâu đến độ có một luật của tội lỗi bên trong, do đó nó giống như 'xiềng xích' mà tự anh ta không thể tự thoát ra khỏi (c.21).
Người ấy xưng nhận rằng sự gian ác này luôn luôn thắng cuộc; nó thắng hơn anh ta và thống trị những hành động của anh, 'bị bán cho tội lỗi' (c.14) mô tả tình trạng của anh, nhưng bây giờ anh ta mô tả diễn tiến đang xảy ra trong cuộc đời của anh ta, mặc dù anh muốn nó xảy ra khác đi (c.23).
Cuối cùng anh ta thú nhận rằng anh ta là kẻ khốn nạn - nguyên nghĩa đen muốn nói đến 'sự kiệt sức vì làm việc quá vất vả' - người này thất bại hoàn toàn: khốn khổ và hết lòng mong mỏi được giải thoát (c.24)
Sau đó, người ấy rút ra một lời tóm tắt cho tình trạng riêng của mình; anh ta nói rằng với trí khôn anh chọn để phục theo luật pháp của Đức Chúa Trời nhưng người ấy đã khám phá ra rằng với xác thịt anh ta đang thực sự phục vụ cho luật pháp của tội lỗi trong chi thể của anh.
3. Những bài học quan trọng rút ra từ thí dụ này.
a. Tội lỗi bên trong, ngay cả trong đời sống của một Cơ Đốc nhân đã được tái sanh cũng vô cùng mạnh mẽ. Thật vậy, nó mạnh hơn ý chí chống lại nó của Cơ Đốc nhân rất nhiều.
b. Kết luận hiển nhiên là Cơ Đốc nhân thì hoàn toàn bất lực và không có quyền năng để chiến đấu với tội lỗi bên trong bằng những nỗ lực riêng của mình.
c. Còn có thể rút ra một kết luận rằng luật pháp của Đức Chúa Trời, dù thiêng liêng và công bình và tốt lành cũng không cung cấp bất cứ sự giúp đỡ nào để giải quyết cho nan đề của Cơ Đốc nhân.
d. Do đó chúng ta thấy một người hoàn toàn thất bại, một người kêu khóc lên trong nỗi tuyệt vọng của mình chính là người sẵn sàng đáp ứng lại sự dự bị vinh hiển và đầy ân điển của Đức Chúa Trời để giúp chúng ta.
Người này đã khám phá ra rằng anh ta không có trong anh ta điều cần thiết để sống đời sống Cơ Đốc, dù anh ta có thể có những ước muốn mới, sức mạnh mới của ý chí hay những thiện ý, vì đời sống Cơ Đốc là một đời sống thuộc linh và hoàn toàn siêu nhiên từ đầu cho đến cuối. Đời sống này được sống bởi quyền năng của Đức Chúa Trời!
4. Những điều Đức Chúa Trời dự bị cho sự đắc thắng
a. Sự giải thoát hoàn toàn khỏi luật pháp (RoRm 7:4-6)
b. Không còn sự đoán phạt (RoRm 8:1-3)
c. Quyền lực và sự cai trị của tội lỗi đã bị bẻ gãy mãi mãi (RoRm 6:14)
TÓM TẮT GIÁO LÝ VỂ SỰ NÊN THÁNH
1. Nên thánh là hậu quả tự nhiên và không thể tách rời được của sự tái sanh. Hai điều này phải tồn tại song song với nhau. Tái sanh là việc làm của Đức Chúa Trời đưa đến kết quả là một con người mới và sự tái sanh sẽ luôn luôn được bày tỏ ra bằng sự nên thánh của cá nhân.
2. Nên thánh là dấu hiệu chắc chắn duy nhất của việc được Đức Chúa Trời chọn. Chúng ta được chọn trong Đấng Christ, từ trước sáng thế, để làm nên thánh (Eph Ep 1:4); được chọn và được định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài (RoRm 8:29). Do đó người tín đồ được khuyên giục làm cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình (IIPhi 2Pr 1:10).
3. Nên thánh là điều mà tất cả những tín đồ thật phải hết lòng tìm kiếm. Chúng ta có trách nhiệm sống thánh khiết và Đức Chúa Trời đã khiến điều đó có thể thực hiện được bằng sự tái sanh và bằng việc làm hiện tại bên trong của Đức Thánh Linh. 'Phước cho những kẻ đói khát sự công bình...' (Mat Mt 5:6), 'Cũng tìm sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời' (HeDt 12:14). Kinh Thánh nói rất rõ ràng về tầm quan trọng của sự nên thánh và trách nhiệm của người tín đồ trong vấn đề này.
4. Sự nên thánh được sản sinh hai thực hiện cho những phương cách của Đức Chúa Trời ban cho. Sự nên thánh chủ yếu được hoàn thành qua chức của Đức Thánh Linh áp dụng lời Chúa. Do đó, chúng ta phải khiến việc học lời Chúa thành ưu tiên lớn nhất trong đời sống chúng ta; chúng ta phải đọc, học, nhớ, suy gẫm và áp dụng lời Chúa. Thêm vào đó, chúng ta phải sử dụng những phương cách khác do Chúa định sẵn như cầu nguyện, thờ phượng riêng tư hay công cộng, thông công với anh em trong Chúa, nghe giảng lời Chúa, dự Tiệc Thánh, nhịn nhục chịu đựng nhiều thử thách, v.v... Chính qua những phương cách này mà Đức Chúa Trời hoàn tất công tác làm nên thánh người đó.
5. Nên thánh không miễn trừ người tín đồ khỏi việc kinh nghiệm những sự xung đột tâm linh bên trong của mọi thánh đồ. Sẽ luôn luôn có sự tranh chiến giữa xác thịt và tâm linh được tái sanh. Sự tăng trưởng của người tín đồ trong phương diện thuộc linh không loại trừ cuộc tranh chiến. Cuộc tranh chiến không hề chỉ ra một điều gì sai lầm nhưng nó chính là dấu hiệu chắc chắn nhất nói lên thực hữu của sự sống thật, nó cho biết Đức Chúa Trời đang hành động và quá trình tăng trưởng đang xảy ra cách rõ ràng.
6. Nên thánh luôn luôn là kết quả của sự xưng công bình và do đó là một điều kiện cần có để vào thiên đàng theo một ý nghĩa nào đó. Sự thật thì người tín đồ được cứu chỉ bởi ân điển và qua đức tin thôi, nhưng đức tin cứu rỗi thì không chỉ có một mình. Sự nên thánh làm chứng cho sự thực hữu của ân điển thật và có hiệu quả trong đời sống tín đồ! Chỉ tuyên bố mình là Cơ Đốc nhân thôi mà không có ân điển cứu chuộc Cơ Đốc nhân, thì sẽ chẳng bao giờ sản sinh ra sự sống thuộc linh hay đạt đến sự vinh hiển. Vì những người Ngài đã xưng công bình thì Ngài cũng làm vinh hiển; nhưng quá trình tiến từ điều này đến điều kia không thể bị bỏ qua. Quá trình đó chính là sự nên thánh.
thế gian - 'Bạn tin gì hay bạn sống làm sao cũng được'
- 'Bạn tin gì là điều quan trọng nhưng bạn sống ra sao cũng không cần thiết lắm'
Cơ Đốc nhân - 'Bạn tin gì và bạn sống ra sao là điều hết sức quan trọng'.
"Chỉ một mình đức tin là cứu rỗi được nhưng đức tin cứu rỗi được không bao giờ chỉ có một mình". John Calvin
Tóm tắt và phê bình về sự nên thánh.
Qua việc xem xét những kinh nghiệm Cơ Đốc trải qua nhiều thế kỷ người ta thấy dường như có hai vấn đề quan trọng, liên quan đến sự hiểu biết đúng đắn của người tín đồ về quá trình nên thánh. Thứ nhất, dường như có sự lầm lẫn nào đó trong việc xác định sự phân biệt giữa vai trò của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người trong sự nên thánh. Thứ hai, dường như cũng có sự lầm lẫn đó trong việc xác định sự phân biệt giữa địa vị của người tín đồ 'trong Christ' và kinh nghiệm thực tế của người ấy. Mỗi một vấn đề đưa ra một tình trạng khó xử cần được giải quyết nếu chúng ta muốn có những tiến bộ đúng mức trong việc tìm kiếm sự thánh khiết. Lời trích dẫn sau đây là để giúp cho việc làm sáng tỏ sự phân biệt trong cả hai vấn đề, mặc dù nó không hoàn toàn giải quyết nan đề cá nhân. Tuy nhiên, tôi thấy lời trích dẫn này trình bày quan điểm của Kinh Thánh.
'Sự thật của vấn đề là bây giờ với tư cách là một Cơ Đốc nhân tôi phải nhìn chính mình từ viễn cảnh và nói lên hai điều tương phản về chính mình: Trong tôi chẳng có điều lành nào do bản chất của tôi (RoRm 7:18) và trong Christ tôi được rửa sạch, được xưng công bình và được nên thánh để sự vinh hiển có thể bắt đầu trong tôi (ICo1Cr 6:11)... Tân ước sẽ không cho phép chúng ta thu gọn hai đặc tính hoàn toàn tương phản nhau thành một mẫu sứ chung. Chúng ta phải nói cả hai: Đức Chúa Trời đã ban cho tôi một cá tính mới với một số phận vinh hiển; trong chính tôi, tôi hoàn toàn ô uế và chỉ xứng đáng với sự chết. Tôi thuộc về một thời kỳ khi tội lỗi hiện tại và vinh hiển tương lai gối lên nhau. Do đó tôi phải nhìn chính tôi từ hai viễn cảnh. Không nắm được điều này chúng ta sẽ hụt mất đạo lý nên thánh theo Kinh Thánh, vì hình ảnh chính mình của Cơ Đốc nhân sẽ không trung thực khi nhìn qua ống nhòm, với hai khía cạnh được thu gọn lại làm một, mà chỉ trung thực khi nhìn qua kính hiển vi, để thấy những trạng thái sinh hoạt khác nhau liên quan đền việc tăng trưởng trong sự nên thánh. Bây giờ thì phải thấy rõ rằng trong thần học Cải chánh, sự nên thánh tuyệt nhiên không phải là một kinh nghiệm huyền nhiệm qua đó chúng ta có sự thánh khiết mà không cần nỗ lực nào. Đức Chúa Trời ban cho sự tăng trưởng trong sự nên thánh bằng cách dùng đến tâm trí, ý chí, cảm xúc và hành động của chúng ta. Chúng ta có dự phần vào trong tiến trình này. Đó là lý do vì sao lời dạy về sự nên thánh trong Kinh Thánh xuất hiện ở cả hai cách, mệnh thái cách ("Ta, Đức Chúa Trời khiến các ngươi nên thánh" và trong mệnh lệnh cách ("các ngươi hãy tự làm nên thánh". Trích trong Christian Spirituality; Five views of Sanctification, của Donal L.Alexander trang 67.
CÂU HỎI
1. Dựa trên lời mô tả của J.C.Rule về một người thánh khiết, bạn đánh giá đời sống bạn ra sao? Bạn đáp ứng thế nào với lời cáo trách của Chúa về điểm này? (Hãy rõ ràng, cụ thể
2. Bạn có thật sự chết về tội lỗi chưa? Xin hãy giải thích và chứng minh câu trả lời của bạn.
3. Xin hãy nói tỉ mỉ về ý nghĩa của sự kể như đối với riêng bạn trong quan hệ của nó với việc áp dụng cá nhân của sự dâng chính mình cho Chúa trong việc theo tìm sự thánh khiết.
5. Hãy mô tả bạn cần phải làm gì để thực hành tốt hơn nữa việc làm chết những việc làm của chi thể (Hãy rõ ràng)
6. Bạn cần phải bước đi theo Thánh Linh nhiều hơn nữa trong lãnh vực nào của đời sống bạn?
7. Đời sống bạn dường như tương đồng với lời mô tả về đời sống thất bại trong chương này ở những phương diện nào? Tại sao đời sống bạn lại tương đồng như vậy? Bạn cần phải làm gì để có những tiến bộ cá nhân trong việc trở thành một Cơ Đốc nhân đắc thắng hơn?
8. Có sự tương quan nào giữa sự thánh khiết riêng của bạn (hay sự thiếu thánh khiết của bạn) với việc bước vào thiên đàng trong tương lai của bạn? (hay việc không được vào thiên đàng)
9. Lời kêu gọi đến sự thánh khiết trong đời sống Cơ Đốc có phải là điều bạn cần quan tâm đến một cách nghiêm túc hơn không? Xin hãy giải thích câu trả lời của bạn.
10. Bạn sẽ truyền đạt cho Hội thánh ngày ngay sứ điệp gì liên quan đến nhu cầu về sự thánh khiết cá nhân?
A. Những yếu tố tự nhiên của sự đối nghịch.
1. Sự đối nghịch của thế gian.
a. Những định nghĩa căn bản
Từ 'Kosmos'.
Từ Hi-lạp này được sử dụng 176 lần trong Tân ước và có nghĩa 'thứ tự và sự sắp xếp '.
Từ 'oikoumene'.
Từ Hi-lạp này được dùng trong các phân đoạn Kinh Thánh như Mat Mt 24:14 và có nghĩa đen là 'đất có người ở'.
Từ 'aion'.
Từ Hi-lạp này được dùng trong các đoạn Kinh Thánh như trong HeDt 1:2 và 11:3 và có nghĩa đen là 'một thời đại hay một khoảng thời gian'.
b. Thực hữu của sự đối nghịch của thế gian.
Ý niệm 'thế gian' trong Kinh Thánh là từ tiếng Hi-lạp 'kosmos' và có nghĩa trật tự và sự sắp xếp' liên quan đến hệ thống sa đọa do con người lập nên, khi hành động không theo luật lệ của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh cũng dạy là chính Sa-tan đang cai trị trên hệ thống này (Eph Ep 2:1-3, CoCl 2:8, 20, ICo1Cr 11:32). Chính hệ thống thế gian này đưa ra một thách thức cho các Cơ Đốc nhân. Nó cố ấn Cơ Đốc nhân vào khuôn mẫu của nó, để có thể uốn chúng ta theo hình ảnh thế gian. Nó hoàn thành những mục đích của nó qua những người khác, qua những giá trị văn hóa (vì những giá trị này không đặt căn bản trên Kinh Thánh) và qua những ham muốn của xác thịt chúng ta đối với sự kiêu ngạo ở đời. 'Hệ thống thế gian' hiện đại này là kẻ thù thực sự của thánh đồ!
c. Thái độ của Cơ Đốc nhân đối với thế gian.
Có hai yếu tố chính để hình thành thái độ và hướng dẫn cách cư xử của Cơ Đốc nhân liên quan đến thế gian.
Trước hết mỗi Cơ Đốc nhân phải nhận biết rằng mình đã được giải thoát mãi mãi khỏi thế gian do sự liên hiệp của người ấy với Con Đức Chúa Trời (Eph Ep 2:2, IIPhi 2Pr 1:4, 2:20).
Thứ hai là mỗi Cơ Đốc nhân phải từ bỏ mỗi ngày ảnh hưởng của thế gian trong đời sống của họ (Tit Tt 2:12, RoRm 12:2, IGi1Ga 2:15-17). Có câu chuyện kỳ lạ về những người nô lệ được giải thoát khỏi chủ nhân của họ trong cuộc nội chiến, đã trở lại tình trạng nô lệ vì tình trạng này quá quen thuộc với họ. Chúng ta không được làm điều này!
2. Sự đối nghịch của xác thịt.
a. Những định nghĩa căn bản.
Từ 'sarx'.
Từ này có thể mang ý nghĩa thân xác trong một số bản văn - văn mạch sẽ xác định điều này. Tuy nhiên, trong vấn đề đang được thảo luận, từ này được hiểu là bản chất sa đọa hay gian ác đang là nguyên tắc cai trị trong mỗi con người chưa được tái sanh. Do đó, nó là một phần của bản chất A-đam trong mỗi người chúng ta và tự bày tỏ ra bằng 'những công việc xác thịt' hay những 'hành động tội lỗi' thật sự.
b. Bản chất cơ bản của xác thịt.
Xác thịt là điều tự nhiên thừa hưởng qua dòng dõi A-đam (Eph Ep 2:3)
Chẳng có điều lành nào trong xác thịt (nghĩa là chẳng có điều thiêng liêng hay điều nào có khả năng cứu chuộc được - RoRm 7:18)
Xác thịt ở trong tình trạng nghịch hoàn toàn và liên tục đối với Đức Chúa Trời và ý chỉ của Ngài (RoRm 8:7).
Xác thịt trái với Thánh Linh và chẳng có thể làm được gì ngoài việc sản sinh ra những việc làm tội lỗi (không thể được Đức Chúa Trời chấp nhận GaGl 5:17-21)
c. Ảnh hưởng của xác thịt.
Mỗi người chưa được tái sinh bị xác thịt thống trị liên tục.
Điều này không có nghĩa là mọi người chưa tái sanh thì luôn luôn làm những điều xấu mà họ có thể làm - học còn luôn luôn có thể hành động xấu xa hơn!
Bị cai trị bởi xác thịt có nghĩa là khuynh hướng thống trị họ là tội lỗi; họ có đầu óc thế gian; họ tìm kiếm tư lợi và đời sống của họ bị đánh dấu và làm hư hỏng bởi những việc làm tội lỗi (ít ra thì đó cũng là điều Đức Chúa Trời nhận định về những việc làm này)
Không hề có tình yêu hết lòng đối với Đức Chúa Trời trong đời sống của họ!
Mỗi một tín đồ thật sự được tái sanh vẫn còn có xác thịt ở trong.
Khi bạn trở thành Cơ Đốc nhân, xác thịt không hề bị cất bỏ, phá hủy, đóng đinh hay tận diệt hay thay đổi cách này hay cách khác. Như Chúa Giê-xu đã nói với Ni-cô-đem "hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt" (GiGa 3:1-10). Nói cách khác, mỗi Cơ Đốc nhân vẫn còn có khả năng và tiềm năng tội lỗi mà họ có trước khi qui đạo. Thật sự, Cơ Đốc nhân sẽ thấy rằng xác thịt vẫn còn muốn cai trị đời sống họ và bày tỏ công việc tội lỗi của nó ra.
d. Thái độ của Cơ Đốc nhân đối với xác thịt
Điều này sẽ được nói đến rõ ràng trong phần nói về sự thánh khiết cá nhân nhưng trong phần này, những điểm sau đây đòi hỏi sự chú ý của chúng ta.
Nhận biết xác thịt đã bị đánh bại trong sự đoán xét 'con người cũ' (RoRm 6:1-14)
Con người cũ là con người chúng ta được sinh ra qua A-đam. Kinh Thánh dạy rằng con người cũ này đã bị đóng đinh để cho thân thể của tội lỗi (là thân thể mà chúng ta vẫn còn ở trong và vẫn còn bị xác thịt ảnh hưởng đến) bị tiêu diệt đi. Mục đích của điều này là để đảm bảo rằng thân thể sẽ không cai trị đời sống chúng ta nữa.
Nhận biết rằng bước đi theo Thánh Linh sẽ thắng hơn được xác thịt (RoRm 8:3, 4, GaGl 5:16-18)
Những nỗ lực của xác thịt sẽ chẳng bao giờ đánh bại được xác thịt. Xác thịt chỉ có thể bị quyền năng to lớn của Đức Thánh Linh đánh bại và quyền năng này biểu lộ ra khi Cơ Đốc nhân ở trong Christ và bước đi theo Thánh Linh. Hãy nhớ rằng quyền năng hiện đang làm việc trong bạn chính là quyền năng đã khiến Giê-xu Christ từ kẻ chết sống lại (Eph Ep 1:19-21).
Nhận biết rằng phải đánh bại xác thịt bằng cách làm cho chết các việc của thân thể (RoRm 8:12, 13)
Nói một cách khác, tín đồ phải có trách nhiệm chống lại xác thịt do đó chúng ta phải có một thái độ thù nghịch với xác thịt. Chúng ta phải làm chết những công việc xấu xa của thân thể này đang bị giục bởi bản tính xác thịt xấu xa hành động trong chúng ta.
3. Sự đối nghịch của luật pháp.
a. Bản chất và mục đích của luật pháp.
Luật pháp bày tỏ điều gì đó về tính thánh khiết của Đức Chúa Trời và những gì Ngài đòi hỏi nơi những người có quan hệ với Ngài. Hãy nhớ rằng luật pháp là thánh, công bình và tốt lành và đã được ban cho vì một mục đích rõ ràng (hãy xem 'Cái nhìn của Tân ước về Luật pháp của Đức Chúa Trời).
b. Sự bất lực của luật pháp.
Luật pháp không thể xưng công bình cho một tội nhân (RoRm 3:5) và cũng không thể làm nên thánh một thánh đồ chân thành (RoRm 6:15, 8:4). Do đó luật pháp không thể sản sinh ra sự sống thuộc linh mà chúng ta tìm kiếm (hãy xem 'cái nhìn...'.
c. Cơ Đốc nhân và luật pháp.
Điểm quan trọng là Cơ Đốc nhân không ở dưới luật pháp vì Cơ Đốc nhân nhờ ân điển mà được quan hệ với Đức Chúa Trời. Luật pháp sẽ phá hủy những Cơ Đốc nhân thành thật lẫn những tội nhân hư mất (xem 'Cái nhìn..;.).
d. Kết luận tổng quát.
Luật pháp không thể xưng công bình một tội nhân, cũng không thể làm nên thánh một thánh đồ! Thánh đồ cần nhận biết những giới hạn của luật pháp chấp nhận sự giải thoát khỏi luật pháp của cá nhân mình và rồi học để bước đi theo ân điển.
4. Những điểm đối nghịch cá nhân.
a. Vấn đề vô tín.
Đức tin là một yếu tố chủ yếu trong đời sống Cơ Đốc nhân vì chúng ta được cứu bởi ân điển qua đức tin. Nếu chúng ta không tin nổi Đức Chúa Trời thì chúng ta cũng không thể sở hữu được ân điển của Ngài. Đó là con đường chắc chắn đưa đến sự thất bại trong đời sống Cơ Đốc vì cốt lõi đời sống chúng ta là ân điển tuyệt diệu của Đức Chúa Trời! Giải đáp cho vấn đề là phải đi đến một sự hiểu biết rõ hơn về Đức Chúa Trời là ai Ngài đã làm gì cho chúng ta. Sự khám phá này về ân điển của Ngài sẽ làm đức tin chúng ta mạnh mẽ hơn.
b. Vấn đề mặc cảm phạm tội.
Không có gì làm tê liệt một Cơ Đốc nhân nhanh chóng và hữu hiệu 'bằng mặc cảm phạm tội. Mặc cảm này thường kèm theo ý thức về sự trừng phạt và một sự hướng nội không lành mạnh. Thái độ này không chỉ ngăn trở mà còn thực sự chặn đứng sự tuôn tràn ân điển vào đời sống của thánh đồ. Ngược lại, nếu như không có điều gì làm tê liệt bằng mặc cảm tội lỗi, thì cũng không có điều gì đem đến sự giải thoát hơn là nhận thức chúng ta không còn ở dưới bất cứ sự phán xét nào. Chính lẽ thật vinh hiển này sẽ khiến chúng ta tiến nhanh đến đời sống thuộc linh mà chúng ta mong ước.
c. Vấn đề sợ hãi.
Sợ hãi là một trong những chiến thuật hữu hiệu nhất của Sa-tan. Nó cũng nhanh chóng làm Cơ Đốc nhân mất năng lực. Chúng ta thấy sợ hãi ở mức độ nào thì chúng ta sẽ thầy đức tin chúng ta giảm nét ở mức độ đó. Sự thật thì cũng có nhiều điều đáng sợ xảy đến trên cuộc hành trình của một Cơ Đốc nhân nhưng chúng ta không được ngã theo khuynh hướng sợ hãi tự nhiên. Kinh Thánh liên tục thúc giục các con cái Chúa đừng sợ hãi và chúng ta phải hết lòng nhận lấy lời răn bảo này. Hãy nhớ rằng tình yêu trọn vẹn xua tan mọi sự sợ hãi - không phải tình yêu trọn vẹn của chúng ta đối với Chúa mà chính là sự nhận biết liên tục về tình yêu trọn vẹn của Ngài đối với chúng ta.
Cái nhìn của Tân ước về luật pháp Chúa
Mục đích của luật pháp:
RoRm 4:20, 4:15, 7:5, 7, ICo1Cr 15:56, GaGl 3:23, 24
Sự bất lực của luật pháp:
RoRm 3:20, 8:3, GaGl 2:16, 21, 3:21, 22, HeDt 7:18, 19, 10:1
Thái độ của người tin đối với luật pháp :
RoRm 7:7, 12, 14
Mối quan hệ giữa người tin và luật pháp:
RoRm 6:14, 7:1-4, 6, 10:4, GaGl 3:12, 13, 23, 34, 25, 5:18, 22, 23.
Luật pháp được làm trọn trong đời sống tín đi:
Mat Mt 5:17, 18, RoRm 8:3, 4, 13:8, 9, 10, GaGl 5:14, 22, Gia Gc 2:8.

B. Sự thực hữu của Sa-tan.
1. Nhận biết bản chất của Sa-tan.
a. Sự sa ngã của Sa-tan.
Mặc dù Sa-tan được dựng nên là một thiên sứ đẹp đẽ và được dành cho một địa vị cao trên thiên đàng nhưng Kinh Thánh tuyên bố rằng lòng Sa-tan đã kiêu ngạo vì sự đẹp của mình, vì sự vinh hiển của Sa-tan đã khiến cho Sa-tan làm hơ sự khôn ngoan của mình (Exe Ed 28:17a). Kinh Thánh cũng mô tả rõ ràng tiến trình sa ngã của Sa-tan. Thực ra đây là lời mô tả sự phát triển tính kiêu ngạo trong lòng:
Ta sẽ lên trời!
Ta sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Đức Chúa Trời!
Ta sẽ ngồi trên núi hội!
Ta sẽ lên trên cao những đám mây!
Ta sẽ làm ra mình bằng Đấng rất cao!
Lời mô tả lạ thường này được thấy trong EsIs 14:13, 14. Do đó tạo vật đẹp đẽ và vinh hiển, gọi là 'luxiphe' này, đã sa vào tội lỗi và bị đuổi ra khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời, vốn là chỗ ở của nó.
b. Bản chất hiện tại của Sa-tan.
Kết quả của sự sa ngã này Sa-tan trở thành địch thủ của Đức Chúa Trời (đây chính là nghĩa đen của từ Sa-tan). Sa-tan hiện giờ đang ở trong tình trạng chống nghịch liên tục với bản chất của Đức Chúa Trời và những gì Ngài làm. Mục đích lớn nhất của Sa-tan là chống nghịch lại và làm hơn hỏng những chương trình của Đức Chúa Trời để đem sự sứ nhục đến cho Ngài. Sa-tan còn có cả một đạo quân quỷ sứ phụ lực (những thiên sứ sa ngã đi giúp nó trong công việc này. Phương châm của Sa-tan đã được Milton mô tả hùng hồn như sau: "Thà cai trị dưới địa ngục còn hơn hầu việc trên thiên đàng!"
2. Nhận biết khả năng của Sa-tan.
a. Quyền năng của Sa-tan.
Quyền năng này liên hệ đến khả năng cai trị bằng sức mạnh cố hữu. Sa-tan có sức mạnh cố hữu không mô tả hết được và do đó có khả năng cai trị trên vương quốc của nó.
b. Uy quyền của Sa-tan.
Uy quyền liên quan đến QUYỀN được cai trị vì địa vị của mình. Sa-tan có một địa vị quyền uy và do đó có quyền cai trị vương quốc của nó.
Ghi chú: Sự khác biệt căn bản giữa quyền năng và uy quyền là gì? Minh họa sau đây có thể giúp chúng ta hiểu. Một chiếc xe tải lớn có 18 bánh xe có quyền - khả năng - làm gián đoạn sự lưu thông hàng dặm nếu bị lật, nhưng nó không có uy quyền chận dòng xe cộ lại. Tuy nhiên một cảnh sát có thể chặn được dòng xe cộ này vì vị trí có uy quyền của ông, mặc dù ông không có sức mạnh để chặn.
c. Quyền năng, uy quyền của Sa-tan và Cơ Đốc nhân.
Mặc dù Sa-tan có quyền lực và sức mạnh lạ thường trong vương quốc của nó nhưng những điều này bị giới hạn bởi ý chỉ của Chúa, như vậy thì chúng ta có thể an tâm là: bất có ước muốn thể hiện sức mạnh và quyền lực nào của Sa-tan, ngoài phạm vi vương quốc nó, đều bị giới hạn bởi ý chỉ của Đức Chúa Trời (hãy xem chuyện của Gióp). Do đó Cơ Đốc nhân không còn phải sợ (tuy rằng phải nên nể nang) con người đáng sợ này, vì chẳng có điều gì có thể xảy ra nếu Đức Chúa Trời không đặc biệt cho phép!
3. Nhận biết phương pháp của Sa-tan.
a. Sử dụng mưu chước (IICo 2Cr 2:11)
Nói đến sự sử dụng những mưu kế khôn khéo, khả năng dối trá và sự quỷ quyệt của Sa-tan. Sa-tan muốn lừa chúng ta để khiến chúng ta không đề phòng và nó có nguyên một kế hoạch quỷ quyệt để chống lại chúng ta. Kế hoạch này được mô tả rất sinh động trong cuốn The Screwtape letters của Lewis. Tuy nhiên, Phao-lô nói là Cơ Đốc nhân không phải (và không nên) là không biết đến những phương cách của Sa-tan!
b. Sử dụng lưới bẫy (IITi 2Tm 2:26)
Nói đến ước muốn và khả năng gài bẫy chúng ta của Sa-tan. Sa-tan đặt bẫy khắp mọi nơi để bất ngờ chộp lấy những tín đồ không hay biết và không nghi ngờ. Bạn sẽ làm thế nào để đặt bẫy một con vật?
Chắc chắn bạn sẽ không đặt bẫy ở chỗ có thể thấy được rõ ràng; bạn sẽ dấu nó trên lối đi và tìm đủ cách để cho đậy nó.
Bạn sẽ đặt một loại mồi hấp dẫn nào để dụ dỗ nạn nhân của bạn.
Bạn sẽ kiên nhẫn chờ đợi con vật đến và biết chắc rằng nó phải không nghi ngờ sự hiện diện của bạn trong khu vực này.
Thành công của bạn tùy thuộc vào khả năng có thể che giấu của bạn. Đó là phương pháp của Sa-tan. Phao-lô nói rằng chúng ta phải thoát khỏi cạm bẫy nếu chúng ta bị mắc phải nhưng tốt hơn chúng ta phải bước đi cách khôn ngoan nhạy bén và tránh khỏi những cạm bẫy đó!
c. Sử dụng lời nói dối (GiGa 8:44)
Nói đến sự kiện về bản chất của Sa-tan là nói dối với chúng ta. Đây là nghệ thuật sử dụng sự thật hay chỉ nói phần nào sự thật hay nói dối nhằm để đạt được mục đích. Và sau đây là chiến thuật dối trá với người tín đồ của Sa-tan.
Sa-tan có thể nói với người tín đồ của Sa-tan rút ra một kết luận sai.
Sa-tan có thể bóp méo sự thật đi một chút.
Sa-tan có thể nói dối thẳng nếu nó cảm thấy nói xong chẳng ai hay biết cả.
Chúng ta phải nhận biết điều này về Sa-tan, từ chối không chấp nhận lời lẽ của Sa-tan và chỉ tin cậy vào những gì Đức Chúa Trời đã bày tỏ là thật qua Lời của Ngài!
d. Sử dụng trò lừa dối (IICo 2Cr 11:4)
Nói đến khả năng lừa bịp của Sa-tan bằng sự giả mạo khôn khéo, bằng cách đóng kịch hay bằng cách 'làm ra vẻ'. Có lẽ đây là khí cụ hữu hiệu nhất của Sa-tan và nó đã sử dụng khí cụ nào qua suốt lịch sử. Ngay cả người tín đồ cũng phải chịu bị lừa gạt nhiều lần và chỉ có lẽ thật của lời Chúa mới có thể chỉ ra sự lừa dối này (xem thêm Vũ khí của sự lừa dối)
Vũ khí của sự lừa dối
Nghệ thuật lừa dối là phương pháp Sa-tan sử dụng thường xuyên nhất để tấn công vào đời sống Cơ Đốc nhân. Đây là điều rất nguy hiểm vì nó được sử dụng kết hợp với mỗi một vũ khí khác mà Sa-tan có được. Do đó, Cơ Đốc nhân khôn ngoann phải nhận biết khả năng có thể bị lừa dối và phải dùng những biện pháp phòng ngừa cần thiết để chống lại quyền lực của sự tối tăm.
Hiểu rõ ý nghĩa của sự lừa dối rất có ích lợi.
"Lừa dối" - khiến chúng ta chấp nhận là thật hay là có giá trị những điều gì sai lầm hay vô giá trị. (đồng nghĩa - làm lạc lối, đánh lừa, lừa gạt)
"Sự lừa dối" - hành động lừa dối; sự kiện hoặc tình trạng bị lừa dối.
"Có thể bị lừa dối" - người có thể bị lừa gạt.
Mặc dù Sa-tan là nguồn lừa dối chủ yếu trong đời sống người tín đồ, còn có ba lãnh vực khác thường bị khai thác nữa.
1. Sự tự lừa dối.
a. Chúng ta tự lừa dối mình nếu chúng ta nghe mà không làm theo (Gia Gc 1:22, 4:17, IPhi 1Pr 1:13).
b. Chúng ta tự lừa dối mình nếu chúng ta nói mình không phạm tội IGi1Ga 1:8.
c. Chúng ta tự lừa mình nếu chúng ta cho rằng mình ra chi dù mình chẳng ra chi hết (GaGl 6:3).
d. Chúng ta tự lừa mình nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta khôn ngoann theo cách đời này (ICo1Cr 3:18).
e. Chúng ta tự lừa dối lòng mình nếu chúng ta tưởng mình là tin đạo mà không cầm giữ lưấi mình (Gia Gc 1:26).
f. Chúng ta bị lừa dối nếu chúng ta tưởng rằng chúng ta sẽ không gặt những gì chúng ta gieo (GaGl 6:7).
g. Chúng ta bị lừa dối nếu chúng ta nghĩ rằng những người không công bình sẽ hưởng nước Đức Chúa Trời (ICo1Cr 6:9)
h. Chúng ta bị lừa dối nếu chúng ta nghĩ có thể chơi với bạn bè xấu mà không bị hư hỏng theo (ICo1Cr 1:23).
2. Các tiên tri và giáo sư giả lừa dối.
a. Họ làm những dấu lớn, phép lạ (Mat Mt 24:4, 11:24, KhKh 13:13, 14 Thử nghiệm để xem ai là tiên tri giả qua lời nói PhuDnl 13:1, 18:15-22, Mat Mt 7:15-20 v.v...).
b. Họ làm việc trong Hội thánh (IICo 2Cr 11:13-15, IIPhi 2Pr 2:1 thử nghiệm của điều này ở trong IGi1Ga 3:7-9).
3. Các thần lừa dối.
Các thần này sẽ dạy dỗ qua nhiều người và qua những giáo sư chính thức của Hội thánh nhưng cũng có khi dạy dỗ đạo lý của quỷ dữ trực tiếp vào tâm trí của tín đồ (ITi1Tm 4:1)
CÂU HỎI
1. Xin hãy nhận diện khía cạnh đối nghịch nào của đời sống thuộc linh đã cản trở bước đi của bạn nhiều nhất? Hãy nói rõ lý do vì sao bạn lại gặp khó khăn nhất đối với khía cạnh này và bạn phải làm gì để thắng hơn được sự đối nghịch này.
2. Xin hãy nhận diện ra những điểm khác biệt giữa Sa-tan và Đức Chúa Trời (Hãy suy nghĩ đến những bản tính của Đức Chúa Trời khác với con người của Sa-tan). Cuối cùng bạn có những lời khuyên nào đối với một người đang phải chiến đấu hoặc bị bối rối về vấn đề này?
3. Bạn định làm gì để giảm bớt khả năng lừa dối của Sa-tan trong chính đời sống của bạn?
A. Tầm quan trọng của xưng tội, ăn năn và thống hối
1. Định nghĩa những từ ngữ trong Kinh Thánh.
a. Xưng tội:
Định nghĩa cơ bản của xưng tội là 'nói ra hay làm cho biết'
Trong Cựu ước từ Hê-bơ-rơ 'yadah' có căn nghĩa là ném khỏi mình điều gì đó, loại trừ ra, thờ phượng với hai tay giơ lên - và như vậy là ý niệm của xưng tội.
Trong Tân ước Hi văn 'homologeo' có nghĩa nói cùng một điều giống một người khác, đồng ý với lời nói của một người khác hay chấp thuận lời nói của một người khác.
b. Ăn năn:
Định nghĩa từ ăn năn theo tự điển Webster là rời bỏ tội lỗi và dành trọn đời mình để sửa đổi lại; thấy hối tiếc hay thống hối, thay đổi ý kiến.
Trong Cựu ước, từ Hê-bơ-rơ 'shwb' có nghĩa quay trở lại hay trở về, quay lại, đổi ngược hướng đi; rút lui.
Trong Tân ước, từ Hi văn 'metanoia' có nghĩa một sự thay đổi sâu xa trong tâm trí gây ảnh hưởng đến toàn bộ lối sống của một người.
c. Thống hối:
Định nghĩa tổng quát của từ này theo Tự điển Webster là 'đau buồn và ăn năn vì tội lỗi hay khuyết điểm'.
Trong Cựu ước tiếng Hê-bơ-rơ 'daka' nghĩa đen là sụp đổ hay thâm tím lại; đập ra từng mảnh hay vỡ ra từng mảnh; đập mạnh hay đè nén hay tự hạ mình.
Trong Tân ước từ Hi văn 'lupeo' nghĩa đen là đau buồn hay nặng trĩu tấm lòng; cảm thấy hối hận sâu xa; hết sức buồn rầu.
Những định nghĩa nêu trên được lượm lặt từ:
Theological Wordbook of theo Testament của Hauis, Archer và Waltke; New Wilson's Old Testament Word Studies của William Wilson; Theological Dictionary of the New Testament của Geoffrey Bromily, ed;. A Greek English Lexicon of the New Testament and other Early Christian Literature, của Bauer, Arndt và Gingrich; The New International Dictionary of the New Testament Theology của Colin Brown.
2. Phân tích theo Kinh Thánh và thí dụ về các từ ngữ này.
a. Xưng tội:
Sự xưng tội cá nhân được Đức Chúa Trời phán truyền theo như luật pháp Môi-se thời Cựu ước (LeLv 5:5); sự xưng tội toàn quốc của dân Y-sơ-ra-ên cũng được bảo làm và được thầy tế lễ thượng phẩm thực hiện vào ngày lễ Chuộc tội (LeLv 16:21).
Sự xưng tội cá nhân cũng là phương tiện Chúa định để Cơ Đốc nhân có thể giữ được mối thông công mật thiết và riêng tư với Đức Chúa Trời.
Cơ Đốc nhân được khuyến giục để sẵn sàng xưng tội mình với những chi thể khác trong thân thể Đấng Christ (Gia Gc 5:16).
Đức Chúa Trời hứa đáp ứng lời cầu nguyện xưng tội với sự thương xót (ChCn 28:13), với sự tha thứ và rửa sạch (IGi1Ga 1:9).
Đa-vít trong Thi Tv 32:5 là ví dụ của một người tin kính đã khám phá ra phước hạnh của sự xưng tội mình kể cả sau khi ông đã từ chối làm điều này một thời gian; Nê-hê-mi là một ví dụ khác của một người tin kính đã đi đến sự nhận biết rằng những tội lỗi của ông và tội lỗi của dân tộc ông là nguyên nhân chủ yếu của sự thiếu ơn phước; ngay lập tức ông đã thú nhận tội lỗi với Đức Chúa Trời, kèm theo sự than khóc và kiêng ăn và đã khám phá ra phước hạnh của Đức Chúa Trời (NeNe 1:1-11).
Lời cầu nguyện xưng tội của Đa-ni-ên (DaDn 9:4-13) là một ví dụ điển hình của 'Homologeo' khi ông cứ liên tục xác nhận tội lỗi mà Đức Chúa Trời đã phán về tuyển dân của Ngài (ông cũng xác nhận quyền xử đoán của Ngài)
b. Ăn năn:
Ăn năn là yếu tố cần thiết cho những người bước đi với Chúa; ăn năn biểu thị đặc điểm của chức vụ tiên tri (Exe Ed 14:6, 18:30), chức vụ của Giăng Báp-tít (Mat Mt 3:2), chức vụ của Đức Chúa Trời (Mat Mt 4:17). Phao-lô bảo những triết gia ở thành Athen là Đức Chúa Trời bảo các người ở mọi nơi phải ăn năn (Cong Cv 17:30) và sứ điệp này cũng là đặc điểm của những lời sau cùng Đức Chúa Trời nói với Hội thánh (KhKh 2:3).
Ăn năn bao hàm sự xây lại khỏi mọi đường ác mình (Gie Gr 35:7) và cũng bao hàm sự quay trở lại với Chúa (Cong Cv 3:19). Cả hai khía cạnh này tượng trưng cho bản chất thật của sự ăn năn theo Kinh Thánh.
Một sự ăn năn thật cũng sẽ đem đến một kết quả nhất định và rõ ràng đối với người khác (Mat Mt 3:8).
Sự ăn năn thật sẽ thường được bày tỏ qua một lời cầu nguyện xưng tội với Đức Chúa Trời (IVua 1V 8:33, 34, 46-50).
Sự ăn năn thật mang nhiều ý nghĩa hơn là sự chấp nhận về tâm trí; nếu sự ăn năn thành thật nó sẽ ảnh hưởng đến toàn thể con người nghĩa là đến tâm trí, cảm xúc và ý chí 'hết lòng, hết ý' là ý nghĩa của sự ăn năn trong Kinh Thánh (IVua 1V 8:4)
Sự ăn năn thật là một yếu tố cần thiết để kinh nghiệm ơn phước và sự tha thứ của Chúa (IVua 1V 8:48-50, Mat Mt 5:14-15). Đức Chúa Trời đầy thương xót và sẵn lòng tha thứ và đã tha thứ mỗi tín đồ 'ở trong Christ', nhưng sự xưng tội và sự tha thứ là những phương tiện Chúa định sẵn để nhận được thực tại này một cách riêng tư.
Gióp là thí dụ của một người kính sợ Chúa được đẩy đến sự ăn năn qua nhận thức mới mẻ về tình trạng tội lỗi của chính mình và một sự nhận biết lớn hơn về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời (Xem Giop G 40:1-5, 42:1-6).
c. Sự thống hối:
Thi Tv 51:1-19 là thí dụ tuyệt diệu về một nỗi buồn rầu về tội lỗi của người kính sợ Chúa; lời cầu nguyện này được Đa-vít nói lên sau khi cuối cùng đã hiểu mức độ to lớn của tội lỗi trước một Đức Chúa Trời thánh khiết.
Thí dụ về người Pha-ri-si và người thâu thuế (LuLc 18:9-14) nói lên bản chất thật và ý nghĩa của sự thống hối và kết quả của một tấm lòng thống hối.
Phao-lô nói với Hội thánh Cô-rinh-tô (IICo 2Cr 2:9-10) rằng ông rất vui mừng vì họ đã kinh nghiệm một sự đau buồn về tội lỗi, một sự đau buồn theo như ý chỉ của Đức Chúa Trời bởi vì nó đưa đến kết quả của sự ăn năn thật.
Ê-sai là thí dụ khác của một người kính sợ Chúa bày tỏ một tấm lòng thống hối thật. Khi ông nhìn thấy Đức Chúa Trời và sự thánh khiết đáng sợ của Ngài được bày tỏ, ông đã kêu lên rằng 'Khốn nạn cho tôi, xong đời tôi rồi! Vì tôi là một người có môi dơ dáy...' (EsIs 6:1-5). Đây là lời bày tỏ hết sức rõ ràng về sự thống hối hay của sự tan nát tấm lòng, kết quả của một sự nhận biết sâu xa hơn về tội lỗi riêng tư và sự thánh khiết đáng kinh khiếp của Đức Chúa Trời toàn năng!
3. Sơ lược những nguyên tắc trong Kinh Thánh:
a. Nhạy bén với tội lỗi:
Những câu Kinh Thánh và những thí dụ nêu trên cho thấy là một tín đồ phải có một ước muốn bước đi với Chúa mãnh liệt; điều này hàm ý sự sẵn sàng bước đi 'trong lẽ thật' vì nhạy bén với lời cáo trách tội lỗi của Đức Thánh Linh và vì nhận biết tội lỗi ngăn trở một đời sống thuộc linh phong phú và dư dật (ChCn 28:9, Thi Tv 66:18).
b. Ăn năn thật lòng:
Sự ăn năn xảy đến khi một người được làm cho nhận biết tội lỗi phải là chân thật và hoàn toàn có nghĩa là tất cả tội lỗi biết được phải được từ bỏ hoàn toàn và kèm theo việc hết lòng quay trở lại với Đức Chúa Trời. Không thể có thái độ thoả mãn hay hâm hẩm liên quan đến vấn đề quan trọng này.
c. Kết quả của sự ăn năn:
Sự ăn năn thật thường được bày tỏ ra với Đức Chúa Trời trong lời cầu nguyện và luôn luôn được bày tỏ qua đời sống của một người một cách hết sức rõ ràng (xem Thi Tv 51)
d. Sở hữu sự tha thứ:
Đức Chúa Trời luôn khoan dung và tha thứ nhanh chóng và đây là một ơn phước không điều kiện. Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng xưng tội và ăn năn là điều kiện tiên quyết để sở hữu ơn phước trong đời sống cá nhân bạn (Thi Tv 32:1-6).
e. Sản sinh ra lòng thống hối:
Sự thống hối thật không phải là điều chúng ta 'tạo nên' trong lòng nhưng là kết quả của việc thành thật với Chúa về chính chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta ngắm xem Đức Chúa Trời thì chúng ta mới nhìn thấy chính chúng ta dưới ánh sáng thật và do đó trở nên 'nghèo khó trong tâm linh'. Kết quả của lòng thống hối phát sinh ra từ sự hiểu rõ về bản chất của Đức Chúa Trời (ngắm xem sự thánh khiết của Ngài sẽ cho ta thấy mức độ nghiêm trọng của tội lỗi của chúng ta và phải đưa đến một tấm lòng thống hối; nhìn thấy tình yêu của Ngài khiến chúng ta có thể ăn năn; thấy sự toàn tri của Ngài khiến chúng ta có thể thành thật xưng tội) (xin xem thêm Đức Hạnh Khó Nhất).
f. Tấm lòng tan vỡ:
Đức Chúa Trời đang tìm kiếm một tấm lòng tan vỡ và thống hối (Thi Tv 51). Đây là phẩm chất rất thiếu vắng trong Hội thánh ngày nay mặc dù Chúa Giê-xu đã nói chính những con người có phẩm chất đó mới thật sự được ơn phước (Mat Mt 5:3-6). Kết quả là một Hội thánh nguội lạnh và một mối tương thuyết những gì Chúa về tình trạng của chúng ta là một chuyện còn có một thái độ thật sự thống hối lại là một chuyện khác.
"Vì Chúa không ưa thích của lễ, bằng vậy, tôi chắc đã dâng; Của lễ thiêu cũng không đẹp lòng Chúa. Cửa lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời là tâm thần đau thương. Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu". Thi Tv 51:16-17.
4. Giá trị và sự ứng dụng thực tế:
a.Ăn năn và thống hối:
Hai điều này là nền tảng cho mối quan hệ của Cơ Đốc nhân với Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta muốn kinh nghiệm Chúa càng hơn thì chúng ta phải càng trở nên nghèo nàn về mặt tâm linh. Nhưng ăn năn và thống hối không phải là những điều máy móc chúng ta phải làm, vì chúng tượng trưng cho cả một thái độ phải trau dồii và điều này chỉ có thể làm được qua một sự tiếp xúc sâu sắc và lâu dài với chính thân vị của Đức Chúa Trời.
b. Xưng tội:
Xưng tội thực sự có hai mặt. Một mặt chúng ta thừa nhận tình trạng tội lỗi của chính chúng ta, mặt khác chúng ta thừa nhận sự vĩ đại tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Đây phải là sự quan tâm chủ yếu trong đời sống cầu nguyện của chúng ta. Toàn thể động cơ của sự cầu nguyện phải là sự tôn vinh, ca tụng và vinh hiển của Đức Chúa Trời hơn là sự tập trung vào những nhu cầu cá nhân của chúng ta. Về phương diện này chúng ta nên học theo những thì dụ tốt đẹp về lời cầu nguyện được chép lại trong Kinh Thánh.
c. Xưng tội ngay:
Chúng ta phải học bài học này qua đời sống Đa-vít (xem Thi Tv 32:3-4). Đừng bao giờ để mọi việc cứ trôi qua cho đến lúc mà bạn cảm thấy bạn không thể đến với Chúa. Đó chính là lời dối trá của kẻ thù! Nhưng bằng cách 'tính sổ luôn luôn' với Chúa nghĩa là nhanh chóng thú nhận mọi điều Chúa chỉ ra, chúng ta sẽ không để cho Sa-tan có cơ hội để tấn công vào lãnh vực đặc biệt này trong đời sống tâm linh của chúng ta.
d. Xưng tội với người khác:
Thật đáng buồn vì đây là điều đang bị lơ là trong Hội thánh ngày nay. Tôi tự hỏi, không biết đây có phải là lý do khiến sự hiệp ý cầu nguyện của Hội thánh quá nông cạn hời hợt không? Có phải vì vậy mà một số những lời xưng tội của chúng ta quá ư máy móc, gần như chỉ nặng về hình thức không? Thừa nhận theo ý nghĩa tổng quát chúng ta là tội nhân với chính chúng ta là một chuyện còn thừa nhận những tội lỗi rõ rệt của chúng ta trước thân thể Đấng Christ lại là một chuyện hoàn toàn khác. Một sự sẵn lòng xưng tội trước người khác sẽ đưa đến một tấm lòng thành thật và khiêm nhường ngay tức khắc và theo sau là quyết tâm trong lòng sẽ không bao giờ phạm tội như vậy nữa.
e. Đức Chúa Trời tha thứ:
Dù cho chúng ta có rơi xuống thấp đến đâu so với tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời thì Ngài cũng vui sướng mà tha thứ và phục hồi chúng ta. Hãy luôn luôn tự nhắc bạn và nhắc những người khác về lẽ thật trọng đại này! Và luôn luôn nhớ rằng sự tha thứ đặt căn bản trên công tác đã được hoàn tất bởi Đấng Christ có nghĩa là chúng ta không cần giúp thêm gì vào sự cứu chuộc tội lỗi chúng ta. Nhưng cũng cần nhớ rằng Đức Chúa Trời chỉ tha thứ trên căn bản của sự công bình nghĩa là phải có một sự đền trả xứng đáng cho tội lỗi của chúng ta và chính Đấng Christ đã đứng vào chỗ chúng ta và đền trả án phạt cần thiết!
SUY GẪM
ĐỨC HẠNH KHÓ ĐẠT ĐƯỢC NHẤT
Khiêm tốn thật không phải là tự hạ nhục mình mà chính là tán tụng Đức Chúa Trời.
Trong cuốn 'The Night and Nothing', Gale D.Webbe đã viết rằng 'Khiêm tốn là đức hạnh khó đạt được nhất'. Tuy rất khó để đạt được đức hạnh này nhưng tìm những cơ hội để thực tập đức hạnh này lại không khó chút nào. Những suy nghĩ dưới đây được trích từ chương II trong cuốn sách rất hấp dẫn của ông về những điểm cần nhấn mạnh trong sự sống thuộc linh.
Vô số nguyên liệu thô để làm phát triển tính khiêm nhường của chúng ta đang có sẵn ngay trong những cám dỗ của chúng ta. Con người tự lập phản ứng cách giận dữ khi những nhược điểm của mình do đó bị chỉ ra; cùng một kinh nghiệm tương tự một người thuộc linh cứ học mãi sự bất lực sâu xa để làm điều lành của mình. Người ấy sẽ sử dụng chứng cớ thường xuyên về tiềm năng phạm tội của mình để dẫn mình vào sự nương cậy nơi Chúa nhiều hơn nữa. 'Tôi được như vậy chỉ là nhờ ân điển của Chúa'. Có lẽ thỉnh thoảng người ấy cũng vui mừng suy nghĩ là ma quỷ ắt hẳn đang thất vọng não nề khi thấy những cuộc tấn công dữ dội nhất của mình lại có tác dụng ngược lại nhưng một nguồn cơ hội chắc chắn nhất để phát triển khiêm nhường được tìm thấy trong sự bị hạ nhục. Nguồn cung cấp bên trong dồi dào cho điều này luôn được tìm thấy trong những tội lỗi của chúng ta và trong sự nhục nhã khi chúng bị khám phá ra (điều này có lẽ không thường xuyên lắm vì chúng ta rất khéo léo trong việc che giấu tội lỗi). Đi tìm kiếm sự nhục nhã là điều hoàn toàn không cần thiết. Trong thế giới sa đọa của chúng ta chỉ cần chúng ta đón nhận với tất cả ân điển những sự nhục mạ mà thế gian ném vào con đường của chúng ta là quá đủ. nguyên một binh đoàn thiết giáp của một môi trường tội lỗi, ngu xuẩn và bất công - những sự hiểu lầm, những trích dẫn sai, những vu cáo, những thất bại - khiến một con người thiên nhiên phải đỏ mặt, thất vọng, chán nản và có khi còn tuyệt vọng, chính là loại vật liệu tốt nhất để học hỏi sự khiêm nhường, khi được sử dụng đúng cách . Những sự cám dỗ và sự nhục mạ là những giáo viên kiên trì và thường xuyên của trường học khiêm tốn. Thêm vào đó thỉnh thoảng có một giám khảo đến để kiểm tra sự tiến bộ của chúng ta. Trong mọi đời sống đều có những lúc khủng hoảng, những lúc mà chúng ta biết rõ rằng chúng ta không dám tin vào sức mạnh của chúng ta. Có những lúc - như là khi chúng ta đối diện với một cuộc giải phẫu nghiêm trọng hay nhận một nhiệm vụ mới hay nhìn xem công việc của chúng ta thất bại hay bị lạc ở trong rừng - khi toàn thể sự việc của con người hay vũ trụ quá lớn lao đối với chúng ta. Chúng ta đang ở trên một chiếc bè nhỏ xíu lênh đênh giữa đại dương bao la vô tận. Trong tình trạng này, khi một người bị đẩy về những xoay xở thông thường thì người ấy có thể dễ dàng trở nên liều lĩnh hoặc tuyệt vọng hàng trăm cách khác nhau. Mặt khác, nếu biết lợi dụng kinh nghiệm này, người ấy có thể học để nương cậy vào sức Chúa ở một mức độ cao hơn. Ba yếu tố sau đây - cám dỗ, nhục mạ, khủng hoảng - dù đến với đời sống chúng ta do sự cho phép của Đức Chúa Trời hay do sự trớ trêu độc ác của hoàn cảnh, cung cấp vật liệu tốt nhất để phát triển sự khiêm nhường. Yếu tố sau cùng được nhắc đến ở đây là sự hợp tác của chúng ta qua đời sống cầu nguyện, khi chúng ta đang mò mẫm để tiến đến đức hạnh này. Khiêm nhường không xuất phát từ sự tự hạ thấp chúng ta xuống. Một sự tự hạ mình như vậy là do lòng kiêu ngạo sinh ra. Sự khiêm nhường thật, ngược lại, đến qua sự tán tụng tôn cao của chúng ta chỉ là lối bình luận về bài xưng tụng Đức Chúa Trời của bà Ma-ri). Sự khiêm nhường thật phát sinh ra và phát triển như một phó sản phẩm của thói quen nhìn lên và không nhìn về chính mình. Một rặng núi, đại dương vô tận, dải sao ban đêm - Ngắm nhìn những sự vật này thường giúp cho người nhìn nhận ra kích thước thật của mình. Cũng giống vậy lời cầu nguyện tôn sùng (von Hugel đã chỉ ra cho chúng ta là thái độ tôn giáo chủ yếu là sự tôn sùng) nhận biết vị trí trong tâm của Đức Chúa Trời và vị trí phụ thuộc của người tôn sùng. Nhận biết sự tương xứng đúng đắn này là cốt lõi của sự khiêm nhường.
Do đó lời cầu nguyện ngợi khen và cảm tạ, thái độ thờ phượng và tôn sùng là những lời cầu nguyện căn bản và những lời cầu nguyện này phải là những yếu tố ngày một phải kiểm tra đời sống cầu nguyện của chúng ta. Qua sự trau dồii kỹ lưấng, những yếu tốt này sẽ ngày càng chiếm một địa vị quan trọng hơn trong đời sống cầu nguyện của chúng ta và sự hiểu biết về địa vị tạo vật của chúng ta từ từ len dần vào.
Sự cố gắng này là sự trau dồi của cái được gọi một cách dễ ngộ nhận là 'sự dửng dưng thánh' (holy indifference) một ước muốn làm theo ý chỉ của Chúa, ước muốn tích cực chỉ không tiêu cực. Sự 'dửng dưng thánh' ước muốn điều Chúa ước muốn vào thời điểm và theo cách thức của Ngài. Một người dù làm tổng thống hay gác cổng cũng được, miễn đó là điều Chúa muốn. Dù được sống trong niềm vui hay trong nỗi buồn, trong những cảm hứng hay trong một nhiệm vụ khô hạn tẻ nhạt, cũng không có gì quan trọng, miễn đó là điều Chúa muốn vào thời điểm đó.
Cốt lõi của vấn đề là 'sự dửng dưng thánh' không lấy mình làm quan trọng mà chỉ chú trọng đến Chúa. Thật vậy nó không đấu tranh với cái tôi, tranh luận với cái tôi mà chỉ xem cái tôi chẳng là giá trị đặc biệt nếu so sánh với Đức chúa Trời, thế nhưng cái tôi ấy được an toàn trong cánh tay của Chúa. Đây chính là ánh sáng rạng lên chấm dứt tình trạng tối tăm của sự khiêm tốn.
Gale D.Webbe
B. Vị trí của sự cầu nguyện trong đời sống thuộc linh.
1. Ý nghĩa của sự cầu nguyện.
a. Mô tả:
1. Cầu nguyện chỉ là mở lòng tôi ra để đáp lại Đức Chúa Trời. Do đó sự cầu nguyện có ý nghĩa luôn luôn là một cuộc đối thoại hơn là độc thoại.
2. Cầu nguyện là phương tiện truyền thông giữa con cái Chúa với chính Chúa. Do đó đây là một sự chuyện trò chân thật giữa Đức Chúa Trời và chúng ta cũng y như là có sự truyền thông giữa Giê-xu và môn đồ của Ngài khi Ngài vẫn còn ở trong xác thịt.
3. Cầu nguyện là cần thiết cho đời sống thuộc linh, đó là hơi thở của linh hồn.
4. Cầu nguyện chỉ có thể thực hiện được với hai điều kiện sau:
- Sự bất lực - cầu nguyện và sự bất lực không thể tách rời. Sự bất lực tạo ra ước muốn cầu nguyện thật sự.
- Đức tin - đức tin đảm bảo cho chúng ta là sự cầu nguyện có kết quả. Đức tin thúc giục chúng ta bày tỏ về chúng ta cho Chúa trong lời cầu nguyện.
- Kết luận: Sự bất lực cùng với đức tin làm phát sinh ra sự cầu nguyện.
b. Những khó khăn:
1. Một sự hiểu biết sai lầm, không đầy đủ về thân vị của Đức Chúa Trời.
2. Một sự hiểu lầm về những mục đích toàn thể của Đức Chúa Trời. Những câu trả lời của Chúa luôn phù hợp với những mục đích toàn thể của Ngài; những câu trả lời của Ngài không phải chỉ tác động đến đời sống cá nhân của chúng ta mà còn làm nhiều hơn thế nữa. Do đó sự trả lời của Ngài thường phức tạp hơn những gì chúng ta suy tưởng rất nhiều.
3. Một sự hiểu biết thiếu sót về bản chất và mục đích của con người.
4. Một quan điểm căn bản sai lầm về sự cầu nguyện.
5. Một sự hiểu biết thiếu quân bình về lời Chúa. Do đó một số đoạn Kinh Thánh được nhấn mạnh quá đáng và những đoạn khác bị lơ là.
6. Một sự phân tách Đức Chúa Trời ra làm nhiều phần. Từ đó có những suy nghĩ như là 'Chúa hiện diện nhiều hơn trong buổi thờ phượng'; 'Ngài hiện diện hơn nếu có 2 hay 3 người', 'chúng ta phải đến ngôi ân điển'. Những ý tưởng là Ngài chỉ hiện diện ở những nơi nào đó, trong những hoàn cảnh nào đó; hay ở nơi này nhiều hơn nơi khác v.v...
c. Định nghĩa:
Cầu nguyện không phải là phương cách để cố gắng đạt được những gì chúng ta muốn từ Chúa nhưng đó chính là phương cách để qua đó chúng ta làm cho Chúa có thể ban cho chúng ta điều Ngài muốn!
2. Cầu nguyện và Bản chất của Đức Chúa Trời.
a. Những thuộc tính 'Toàn' của Đức Chúa Trời:
1. Toàn tri: Đức Chúa Trời biết rõ mọi sự, mọi việc đang xảy ra và mọi việc có thể xảy ra.
Chúng ta có thể biết là Ngài biết mọi điều về hoàn cảnh mà chúng ta đang cầu nguyện. Ngài biết mọi điều có thể chọn lựa, mọi khả năng, mọi phương cách.
Do đó, chỉ có mình Ngài mới có khả năng chọn phương hướng hành động tốt nhất và sự toàn tri của Ngài cho Ngài khả năng để khiến mọi sự trở nên điều Ngài biết là tốt nhất.
Hiểu rằng Đức Chúa Trời toàn tri khiến chúng ta hoàn toàn an tâm trong sự cầu nguyện.
2. Toàn tại: Đức Chúa Trời hiện diện khắp nơi trong toàn thể thân vị của Ngài.
Chúng ta có thể biết rằng tất cả những gì Đức Chúa Trời là - luôn luôn hiện diện với chúng ta dù các hoàn cảnh ra sao đi nữa hay dù cho các cảm xúc của chúng ta nói gì với chúng ta đi nữa. Do đó Ngài có thể được kêu cầu ngay tức khắc, vào bất cứ lúc nào, trong bất cứ nhu cầu nào và bởi bất cứ đứa trẻ nào.
Hiểu rằng Đức Chúa Trời toàn tại đem đến cho chúng ta một sự dễ dàng và đơn giản hết sức trong đời sống cầu nguyện.
3. Toàn năng: Đức Chúa Trời có quyền năng thực hiện ý chỉ của Ngài; Ngài có thể làm bất cứ điều gì phù hợp với bản chất của Ngài.
Chúng ta có thể biết rằng Đấng mà chúng ta đang nói chuyện với có một quyền năng không có giới hạn và đối với Ngài tất cả mọi điều đều có thể làm được. Ngài phán và vũ trụ được dựng nên! Chẳng có gì là quá khó đối với Ngài và cũng chẳng có điều nào khó hơn điều nào.
Do đó có khả năng giải quyết bất cứ nan đề nào mà chúng ta có thể gặp. Chẳng có gì là quá lớn, quá phức tạp đối với Ngài. Chẳng có gì có thể đánh bại những mục đích hoàn hảo của Ngài.
Hiểu rằng Đức Chúa Trời toàn năng đem đến cho chúng ta một sự tin cậy lớn lao trong đời sống cầu nguyện.
b. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời:
Sự thánh khiết: Đức Chúa Trời không hề có sự bất khiết đạo đức hay tội lỗi nào. Đây là sự phân cách và một thái độ thù nghịch với sự gian ác. Một cái nhìn đúng đắn về tội lỗi chỉ có thể có được qua một sự hiểu biết đúng về sự thánh khiết của Chúa. Vì rằng Đức Chúa Trời thánh khiết còn chúng ta thì không, nên chúng ta không có quyền dù chỉ nói chuyện với Ngài.
Tất cả tội lỗi đều là phạm cùng Chúa (Thi Tv 51:4) và là sự nhục mạ đối với sự thánh khiết của Ngài. Tất cả mọi tội lỗi ảnh hưởng đến mối quan hệ của chúng ta với Chúa và tội lỗi sẽ ngăn trở Chúa đáp lại lời cầu nguyện của chúng ta.
Do đó tội lỗi phải được giải quyết trong đời sống người tín đồ. Để cho ánh sáng tìm kiếm của Đức Chúa Trời rọi vào đời sống chúng ta là điều kiện tiên quyết cho một đời sống cầu nguyện năng động và đặt chúng ta vào vị trí đúng để nhận được lời trả lời cho sự cầu nguyện của chúng ta.
Do đó nhận biết sự thánh khiết của Đức Chúa Trời là động cơ để nhận biết và được rửa sạch khỏi tội lỗi và cũng là một sự theo dõi sự thánh khiết để đạt đến một đời sống cầu nguyện hiệu quả hơn.
c. Quyền chủ tể của Đức Chúa Trời:
Quyền chủ tể: Quyền lực tuyệt đối của Đức Chúa Trời và quyền tuyệt đối để cai trị trên đất cả tạo vật của Ngài. Đức Chúa Trời chẳng tùy thuộc vào ai khác và chẳng hề bị ảnh hưởng bởi bất cứ ai hay bất cứ điều gì ở ngoài Ngài. Ngài làm như ý Ngài muốn, chỉ khi nào Ngài muốn và luôn luôn như Ngài muốn.
Đức Chúa Trời kiểm soát những biến cố lịch sử. Ngài không làm sự việc gì bởi vì sự việc đó đúng, mà sự việc đó đúng bởi vì Ngài đã làm.
Đức Chúa Trời là nguyên nhân tối hậu của mọi biến cố hoặc bởi mệnh lệnh của Ngài hoặc bởi sự cho phép của Ngài. Tuy nhiên, khi Đức Chúa Trời hành động, Ngài luôn luôn hành động phù hợp với toàn thể bản chất của Ngài. Do đó một sự nhận biết quyền chủ tể của Đức Chúa Trời phải đem đến cho chúng ta một sự tin cậy lớn lao vào những lời cầu nguyện của chúng ta (Ngài đang ngồi trên ngôi! và đồng thời cũng nhận biết rằng chỉ ý chỉ của Ngài sẽ được nên!
Do đó chúng ta có thể kết luận: Cầu nguyện là điều Đức Chúa Trời khởi xướng và truyền thi hành như là phương tiện của một mục đích: để cho ý chỉ hợp tác và dự phần của con người.
Tại sao lại phải cầu nguyện nếu Đức Chúa Trời toàn tri và là Đấng Chủ Tể? Sự toàn tri và sự Chủ Tể của Đức Chúa Trời không bày tỏ cho chúng ta biết là chúng ta không cần phải cầu nguyện mà đây chính là lời mời gọi tha thiết để đến và dự phần vào diễn trình! Đây là cơ hội!
d. Tình Cha con của Đức Chúa Trời:
1. Đức Chúa Trời là Cha.
- Trong ý nghĩa tổng quát: Đức Chúa Trời là Cha của cả nhân loại bởi sự sáng tạo của Ngài. Ngài là Đấng chu cấp và bảo tồn cho cả nhân loại (Mat Mt 5:45)
- Trong ý nghĩa riêng: Đức Chúa Trời chỉ là Cha của mọi người tin vì họ được sinh bởi Ngài (GiGa 1:12-13)
- Trong ý nghĩa đặc biệt: Đức Chúa Trời là 'Abba' Cha của mọi kẻ tin. Tiếng Abba này gần giống như tiếng 'ba'. Ý niệm ở đây là sự sâu sắc và thân mật và bày tỏ một mối quan hệ không có chút sợ hãi với một sự cởi mở hoàn toàn. Từ Abba này được Chúa Giê-xu sử dụng trong (Mac Mc 14:36) và trong các thư tín của Phao-lô (RoRm 8:15-16).
2. Mối quan hệ với Đức Chúa Trời được mang đặc tính 'Abba, Cha' quan niệm là những con cái sẽ đến với Cha với thái độ của một đứa con đang cần được giúp đỡ.
3. Mối quan hệ Abba
Đức Chúa Trời - thương yêu/ ân điển/ thương xót/ quan tâm.
Con - tôn vinh/ kính trọng/ vâng lời/ nhận kỷ luật
4. Tình Cha Con của Đức Chúa Trời là một đặc ân lớn lao cho chúng ta. Hiểu và áp dụng ý niệm quan trọng này là cốt lõi của một đời sống cầu nguyện năng động và sẽ đem đến lòng tin cậy, sự đơn sơ và sự chân thật trong lời cầu nguyện của chúng ta.
3. Cầu nguyện và đức tin.
a. Tầm quan trọng của đức tin:
Đức tin là thành phần chủ yếu của một đời sống cầu nguyện năng động
- HeDt 11:6 ”Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài."
- Mat Mt 21:21-22 ”...nếu các ngươi có đức tin, và không nghi ngờ chi hết...các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thảy đều được cả."
- Gia Gc 1:6-8 ”Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ...chớ nên tưởng mình lãnh được vật chi từ nơi Chúa."
b. Bản chất đức tin:
Đức tin thực sự là gì?
1. Đức tin là tin vào sự kiện Chúa hiện hữu như một thân vị
2. Đức tin là tin vào sự kiện tự bày tỏ trong Kinh Thánh.
3. Đức tin là tin vào sự kiện Chúa quan tâm đến tôi và chắc chắn là Ngài có thể giúp tôi, Ngài có giải pháp cho nhu cầu của tôi.
4. Đức tin là đến với Chúa để nhận lãnh từ Ngài. Do đó, Đức Chúa Trời là đối tượng đức tin chúng ta. Đức tin tự nó không là gì cả. Chẳng có quyền năng hay đức hạnh sẵn có trong đức tin. Chúa Giê-xu bảo các môn đồ của Ngài 'hãy có đức tin nơi Đức Chúa Trời' (Mac Mc 11:20)
c. Đối tượng của đức tin:
Ưu tiên: Cần thêm đức tin? HAYtập trung vào đối tượng của đức tin?
1. Tại sao lại cho chúng ta cần thêm đức tin? Ngài sẽ nghe chúng ta rõ hơn ư? Hay điều đó sẽ giúp Chúa thực hiện ý chỉ của Ngài?
2. Các môn đồ Chúa Giê-xu xin Ngài thêm đức tin và Giê-xu trả lời, 'Nếu các ngươi có đức tin bằng hột cải...' LuLc 17:6. Một cách khác, qua điều này Chúa Giê-xu đang nói:
- Điều quan trọng không phải là số lượng đức tin - bất cứ lượng đức tin nào cũng đủ bởi vì chính đối tượng của đức tin mới là quan trọng.
- Dường như Ngài muốn chỉ ra rằng thay vì quan tâm đến số lượng đức tin của chúng ta, chúng ta phải nên vận dụng đức tin chúng ta đang có.
3. Có lần người ta khen Corrie Ten Boon về đức tin lớn của bà. Bà đã trả lời rằng 'Tôi không có đức tin vĩ đại nhưng tôi đã đặt đức tin tôi vào một Đức Chúa Trời vĩ đại'.
d. Đức tin của người tín đồ:
1. Tôi tin rằng mỗi một chúng ta đã có nhiều đức tin hơn chúng ta nhận biết. Cốt lõi của đức tin là đến với Đức Chúa Trời.
2. Khi Chúa Giê-xu bảo mọi người rằng đức tin của họ đã cứu họ hay đức tin của họ đã khiến họ lành bệnh, Ngài không hề muốn nói rằng có một điều gì sẵn ở trong đức tin hay có một điều gì đặc biệt về đức tin của họ. Sự nhấn mạnh thực sự ở đây là đức tin của họ đã đem họ đến với một Đức Chúa Trời mà đối với Ngài không có gì là bất năng.
3. Đức tin là chắc chắn về những gì Đức Chúa Trời đã hứa. Đức tin là tin tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ hành động cách khôn ngoan khi điều chúng ta cầu xin dường như phù hợp với ý chỉ của Ngài (DaDn 3:16-18).
4. Cầu nguyện và vâng phục
a. Mối liên hệ quan trọng:
Có sự tương quan nào giữa một đời sống vâng phục và sự cầu nguyện có hiệu quả?
1. GiGa 9:31 ”Chúng ta vẫn biết Đức Chúa Trời chẳng nhậm lời kẻ có tội, mà nếu ai kính sợ Đức Chúa Trời, làm theo ý muốn Ngài, thì Ngài nhậm lời."
2. GiGa 11:41, 42 ”...Thưa Cha, tôi tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời tôi. Tôi biết rõ rằng Cha nhậm lời tôi luôn..."
3. Kết luận:
. Chúa chỉ nghe lời cầu nguyện của người công bình
. Giê-xu biết Đức Chúa Cha luôn nghe lời Ngài bởi vì Ngài đang sống một đời sống hoàn toàn thuận phục.
. Con cái Chúa phải luôn được Chúa nghe. Đức Chúa Trời không thể thưởng cho sự không vâng phục. Ngài yêu chúng ta quá nhiều đến nỗi không thể để mặc chúng ta (HeDt 12:5) và Ngài sẽ luôn luôn kiên định với sự thánh khiết của Ngài.
b. Sự ủng hộ của Kinh Thánh:
Sự vâng phục theo Kinh Thánh là điều kiện để lời cầu nguyện được trả lời
1. GiGa 15:7 ”Ví bằng các ngươi cứ ở trong ta, và những lời ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được đều đó."
2. IGi1Ga 3:22 ”và chúng ta xin đều gì mặc dầu, thì nhận được đều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những đều đẹp ý Ngài."
c. Điều kiện thuận phục:
Bằng cách nào sự thuận phục khiến lời cầu nguyện của chúng ta có hiệu quả?
1. Có phải lời cầu nguyện của chúng ta được trả lời để thưởng cho sự công bình của chúng ta không? KHÔNG BAO GIỜ! Sự công bình của chúng ta không có giá trị gì trước mặt Chúa.
2. Sự công bình có giá trọ trước mặt Chúa là sự công bình mà của Chúa Giê-xu nhờ đó có được con đường đến với Đức Chúa trời.
3. Thế thì làm sao mà sự thuận phục cá nhân của chúng ta lại là điều kiện để nhận được sự trả lời cho lời cầu nguyện của chúng ta? Bằng cách nào mà sự thuận phục làm cho lời cầu nguyện chúng ta có hiệu quả?
. Chỉ qua một đời sống thuận phục ý chỉ của Chúa mà tôi thật sự học biết về Ngài.
. Khi chúng ta học biết nhiều về Ngài hơn thì chúng tá có thể biết rõ và lĩnh hội được ý chỉ của Ngài.
. Khi chúng ta biết ý chỉ của Ngài rõ hơn thì chúng ta có thể cầu nguyện một cách thích hợp với ý chỉ của Ngài thì chúng ta biết Ngài nghe chúng ta.
. Nếu chúng ta biết Ngài nghe chúng ta thì chúng ta biết Ngài sẽ nhậm lời cầu xin của chúng ta.
4. Địa vị công bình của chúng ta là trong Giê-xu và do đó chúng ta được đến gần Chúa nhưng sự thuận phục cá nhân của chúng ta khiến lời cầu nguyện chúng ta có hiệu quả và khiến chúng ta ở trong điều kiện nhất định để nhận được sự trả lời cho lời cầu nguyện.
5. Lời Kinh Thánh giúp làm rõ lẽ thật này:
- GiGa 14:21, 23: Vâng phục cá nhân / Đức Chúa Trời tự bày tỏ ra. Do đó chúng ta sẽ biết Ngài và ý chỉ của Ngài.
- IGi1Ga 5:14-15: dạn dĩ trong sự cầu nguyện / cầu nguyện trong ý chỉ của Ngài. Do đó chúng ta sẽ nhận được sự đáp lại lời cầu nguyện của chúng ta.
6. Do đó, sự vâng phục là chủ yếu cho một đời sống cầu nguyện hiệu quả.
Đó là ý nghĩa thật của sự nhân danh Chúa Giê-xu mà cầu nguyện (GiGa 14:13, 14)
5. Cầu nguyện và Đức Thánh Linh
a. Sự trợ giúp của Đức Thánh Linh:
1. RoRm 8:26-27 ”Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy."
2. Đoạn văn này nói cho chúng ta biết nhiều điều về vai trò của Đức Thánh Linh trong đời sống cầu nguyện của bạn.
- Ngài tuyệt đối cần thiết vì chúng ta không biết phải cầu nguyện thể nào.
- Một chức vụ quan trọng của Đ1ưc Thánh Linh ở trong chúng ta là giúp chúng ta trong sự yếu đuối này. Ngài thúc giục chúng ta cầu nguyện / Ngài bày tỏ ý chỉ của Đức Chúa Trời qua lời Chúa / Ngài giúp đỡ và hướng dẫn chúng ta cầu nguyện / Ngài giúp chúng ta cầu nguyện thành lời / v.v...
- Ngài cũng cầu thay cho chúng ta - vậy là chúng ta có một Đấng cầu thay ở trên trời là Chúa Giê-xu và Đấng cầu thay trong lòng chúng ta là Đức Thánh Linh.
- Chức vụ cầu thay của Ngài luôn phù hợp với ý chỉ hoàn hảo của Đức Chúa Trời và là một chức vụ liên tục
b. Cầu nguyện trong Đức Thánh Linh:
1. Eph Ep 6:18 ”Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin..."
Giu Gd 1:20 ”Hấi kẻ rất yêu dấu... nhơn Đức Thánh Linh mà cầu nguyện."
2. Cầu nguyện trong Đức Thánh Linh nghĩa là gì?
- Đó là cầu nguyện với sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh / tuyệt đi phụ thuộc vào Ngài trong đời sống cầu nguyện.
- Đó là cầu nguyện hợp với ý chỉ của Đức Chúa Trời.
- Đó là cầu nguyện với địa vị ở trong Christ / sống một đời sống phù hợp với ý chỉ của Ngài.
- Đó là biến cầu nguyện thành cách sống - liên tục - luôn luôn đáp ứng với những sự thúc giục của Đức Thánh Linh khi Ngài khích lệ chúng ta cầu nguyện.
c. Cầu nguyện với Đức Thánh Linh:
1. ICo1Cr 14:14-17 ”Vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ, thì tâm thần tôi cầu nguyện, nhưng trí khôn tôi lơ lửng. Vậy thì tôi sẽ làm thế nào? Tôi sẽ cầu nguyện theo tâm thần, nhưng cũng cầu nguyện bằng trí khôn..."
2. Cầu nguyện với Đức Thánh Linh trong đoạn văn này là cầu nguyện bằng tiếng lạ
- Nói tiếng lạ không phải là nói với con người mà là với Đức Chúa Trời (ICo1Cr 14:2)
- Cầu nguyện bằng tiếng lạ là tâm thần người ấy nói thẳng với Đức Chúa Trời - điều này vượt quá trí hiểu.
- Với ân tứ này chúng ta có khả năng diễn tả những gánh nặng trong lòng mà với trí hiểu của chúng ta không khi nào chúng ta có thể truyền thông được.
3. Cầu nguyện trong Đức Thánh Linh phải là đặc điểm của mọi lời cầu nguyện của chúng ta! Cầu nguyện với Đức Thánh Linh là đặc điểm của một số lời cầu nguyện của chúng ta.
6. Cầu nguyện và sự bền đỗ
a. Sự bền đỗ có cần thiết không?
1. Một số người sẽ trả lời 'không!' Họ nói rằng đã xin một lần mà còn xin lại lần nữa bày tỏ sự thiếu đức tin. Một lần là đủ!
2. Kinh Thánh trả lời: "Có!"
- Mat Mt 7:7-8: "Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, cửa sẽ mở cho..."
(Hi-lạp: Cứ tiếp tục xin, cứ tiếp tục tìm, cứ tiếp tục gõ cửa)
- LuLc 11:5-10: đây là ẩn dụ của một người hàng xóm bền lòng và đoạn này cũng kết thúc bằng câu trong Mat Mt 7:7-8. Vậy Chúa Giê-xu dạy dỗ sự bền đỗ trong cầu nguyện.
b. Lý do của sự bền đỗ:
Tại sao sự bền đỗ lại cần thiết?
1. Có phải đó là cách để khiến cuối cùng Chúa nhượng bộ chăng?
- Có phải đó là 'mè nheo', 'quấy rầy' Chúa cho đến khi nào chúng ta đạt được điều chúng ta muốn chăng?
- Có phải đó là dùng tình cảm để khiến Ngài thay đổi ý định chăng?
"KHÔNG!"
- Hãy nhớ rằng Chúa muốn ban phước cho chúng ta!
- Hãy nhớ rằng Ngài vui sướng ban cho con Ngài những tặng phẩm quí!
- Hãy nhớ rằng Ngài không muốn từ chối chúng ta.
2. Vậy thì, tại sao có nguyên tắc này?
- Sự bền đỗ bày tỏ mức độ đức tin của chúng ta.
- Sự bền đỗ là một phần của cuộc chiến thuộc linh cần thiết để thắng hơn thế lực tối tăm đang tìm cách làm dập tắt đời sống cầu nguyện của chúng ta.
- Sự bền đỗ bày tỏ sự lệ thuộc của lời cầu nguyện vào Cha và vào ân điển và quyền năng của Đức Chúa Trời gia tăng lên trong sự yếu đuối của chúng ta (Ngài là Đấng duy nhất chúng ta có thể xin giúp đỡ, chúng ta phụ thuộc vào Ngài - chúng ta còn biết đi đâu khác.
- Sự bền đỗ dưới ánh sáng của điều Chúa nói 'Có thể' hay 'chờ đợi' là cách thức Đức Chúa Trời dùng để đem chúng ta đến những đoạn Kinh Thánh mới / để dạy chúng ta lắng nghe / dạy chúng ta chờ đợi và kiên nhẫn / dạy chúng ta sự khôn ngoan.
- Sự bền đỗ của chúng ta có thể thay vì khiến Chúa thay đổi ý định lại khiến chúng ta thay đổi ý kiến về những gì chúng ta đang cầu xin. Chúng ta có thể luyện lọc lời cầu nguyện tốt hơn, cầu xin với những động cơ trong sạch hơn, cầu xin phù hợp với ý chỉ của Đức Chúa Trời.
- Sự bền đỗ của chúng ta là sự vâng phục vì chúng ta làm theo sự thúc giục của Đức Thánh Linh khi Ngài cứ tiếp tục đặt gánh nặng trong lòng chúng ta.
c. Lời khuyên giục bền đỗ:
Hãy bền đỗ trong sự cầu nguyện: hãy tiến bước trong cầu nguyện.
1. CoCl 4:12 ”Ê-pháp-ra, người hàng xứ với anh em, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ,...người vì anh em chiến đấu không thôi trong khi cầu nguyện..."
2. Gia Gc 5:16-18 ”...người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện thật có linh nghiệm nhiều..."
3. Vậy hãy bền lòng tiếp tục cầu nguyện!
7. Cầu nguyện và kiêng ăn.
a. Cơ Đốc nhân và kiêng ăn:
1. Mat Mt 6:16 ”Khi các ngươi kiêng ăn, chớ làm bộ buồn rầu như bọn giả hình; vì họ nhăn mặt, cho mọi người biết họ kiêng ăn. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, bọn đó đã được phần thưởng của mình rồi."
2. Mat Mt 9:14-15 ”Khi ấy, các môn đồ của Giăng đến tìm Đức Chúa Jesus, mà thưa rằng: Cớ sao chúng tôi và những người Pha-ri-si kiêng ăn, còn môn đồ thầy không kiêng ăn? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Trong khi chàng rể còn ở với bạn hữu đến mừng cưới, thì những bạn hữu đó có thể nào buồn rầu được ư? Nhưng đến ngày nào chàng rể sẽ bị đem đi khỏi họ, thì họ mới kiêng ăn."
3. Cả hai đoạn văn trên do chính Chúa phán dường như chỉ ra rằng Ngài xem sự kiêng ăn là một phần trong đời sống thuộc linh của các môn đồ.
b. Mục đích của sự kiêng ăn:
1. EsIs 58:1-11 bày tỏ ý định của Đức Chúa Trời về sự kiêng ăn
- Để làm cho tiếng chúng ta được nghe thấu nơi cao (c.4)
- Để tự hạ chúng ta xuống trước mặt Chúa (c.5)
- Để tìm kiếm một thái độ ăn năn (c.5b)
- Để tìm sự giải cứu cho chúng ta và người khác (c.6)
- Để cho kẻ nghèo tìm chỗ ở cho những người không có nhà / mặc cho những kẻ trần truồng.
- Chúng ta sẽ nhận được sự chữa lành tâm linh và sự soi sáng (c.8)
- Đức Chúa Trời sẽ nghe lời cầu nguyện và đáp lại chúng ta (c.9)
- Mối tương giao của chúng ta với Ngài sẽ được tươi mới lại và mạnh mẽ hơn lên.
2. Kiêng ăn phải đi đội với thái độ thống hối / và phải được làm trước mặt Chúa chỉ không phải trước mặt con người.
3. Kiêng ăn là một kỷ luật tinh thần và thuộc linh to lớn.
4. Hãy coi chừng! Kiêng ăn không khiến Chúa nghe chúng ta nhiều hơn - điều đó sẽ không khiến chúng ta được kể là công bình!
Nhưng sự kiêng ăn thật sự cho chúng ta có cơ hội tập trung sự chú ý của chúng ta nhiều hơn vào Chúa và điều đó sẽ đưa đến những kết quả thuộc linh.
Một lần nữa - sự tập trung / đối tượng của sự chú ý phải là Đức Chúa Trời chỉ không phải sự kiêng ăn!
5. Vậy mục đích thật sự của sự kiêng ăn là dành một số thì giờ lớn hơn để tìm kiếm Đức Chúa Trời. Vì vậy kiêng ăn sẽ có một tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến đời sống cầu nguyện của chúng ta.
c. Các loại kiêng ăn khác nhau:
1. Kiêng ăn bình thường: Không dùng tất cả mọi loại thức ăn thức uống nào khác ngoại trừ nước! (1-40
2. Kiêng ăn hoàn toàn: không ăn, không uống Cong Cv 9:9
3. Kiêng ăn phần nào: không ăn một số thức ăn / một số bữa ăn
4. Kiêng ăn về tình dục: Kiêng cữ về tình dục để chuyên tâm cầu nguyện (ICo1Cr 7:5)
8. Những gợi ý thực tế cho sự cầu nguyện có hiệu quả.
a. Nhận biết tầm quan trọng to lớn của sự cầu nguyện:
Cầu nguyện là công việc quan trọng nhất trong vương quốc Đức Chúa Trời! Điều mà Hội thánh (và thế giới) ngày nay cần hơn tất cả mọi sự là trở nên một dân sự hết lòng cầu nguyện. Chúng ta bất lực nếu không có Chúa Giê-xu và chúng ta sẽ chẳng bao giờ thấy Ngài là một thực hữu cho đến khi nào chúng ta cảm thấy Ngài là một nhu cầu.
b. Trung tâm của sự cầu nguyện:
Phải luôn luôn là Đấng Tạo Hóa chỉ không phải là tạo vật. Do đó, luôn luôn tìm cách qui vinh hiển về Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện.
c. Cầu nguyện là làm việc:
Là một cuộc đấu tranh, một cuộc chiến. Những gương cầu nguyện trong Kinh Thánh là những hình ảnh của sự cấu tranh, sự vật lộn thống khổ sự mãnh liệt (xem thái độ của Phao-lô trong RoRm 15:30-31). Nhưng hãy nhớ rằng cuộc chiến không phải là với Đức Chúa Trời, để moi cho được câu trả lời của Ngài. Cuộc chiến là chống lại quyền lực của tối tăm và xác thịt (Eph Ep 6:12). Do đó, chúng ta phải luôn luôn mang lấy khí giới của Đức Chúa Trời (Eph Ep 6:10-18).
d. Học gương cầu nguyện trong Kinh Thánh và tìm cách làm theo:
Thí dụ: Chúa Giê-xu đã cầu nguyện với một cách thức mà thường được dùng xuyên suốt Kinh Thánh (GiGa 12:27-28)
- Có một vấn đề trong hiện tại
- Có một sự nhớ lại về sự thành tín của Chúa trong quá khứ
- Điều này đưa đến một tin tưởng để tin cậy Chúa trong tương lai.
e. Hãy để lời cầu nguyện của bạn đơn giản, rõ ràng và đúng vào vấn đề:
Chúng ta không cần phải gây ấn tượng với Chúa bằng sự hùng biện của chúng ta. Hãy nhớ rằng khi chúng ta biện luận về thần học trong lời cầu nguyện thì Chúa cũng không học thêm được điều gì.
f. Hãy nhớ trong khi cầu nguyện chung, bạn đang cầu nguyện với Chúa chỉ không phải với người khác.
Có người đã nói 'Khi tôi cầu nguyện trước đám đông, tôi cầu nguyện với người khác. Khi tôi cầu nguyện riêng, tôi cầu nguyện với tôi. Nhưng bây giờ tôi cầu nguyện với Chúa'. Chúa Giê-xu nói rằng những người mà cầu nguyện để cho người ta thấy hay nghe thì đã được phần thưởng rồi (Mat Mt 6:5). Ý nghĩa của từ Hi-lạp là 'Bạn đã được trả đầy đủ rồi'. Bạn chỉ có thể nhận được từ loại cầu nguyện này kết quả là ấn tượng nó đã tạo ra trên người khác.
g. Hãy nhớ đừng nói những lời lập lại vô ích (Mat Mt 6:7)
Chúa không nặng tai hay bị những lời nói dông dài của chúng ta gây ấn tượng. Hãy để ý đến lời cầu nguyện của tiên tri Ê-li trong IVua 1V 18:16-40 đặc biệt các câu 36-37. Hay làm theo gương mẫu này!
h. Hãy tự chế trong lời cầu nguyện (tự chế (tiết độ;) là một bông trái của Thánh Linh).
- Hãy nhớ bạn đang nói chuyện với một người và hãy nhớ người ấy là Ai trong sự toàn vẹn của Người.
- Ngài đáng cho chúng ta hoàn toàn chú tâm đến - bạn không thường ngủ gục khi đang nói chuyện với người khác.
- Phải tỉnh táo và chú ý. Coi như đang có một câu chuyện diễn ra. Hãy tỏ cho Ngài biết bạn quan tâm thích thú.
i. Hãy cố gắng có thì giờ cầu nguyện đều đặn.
Nhưng đừng biến thành thói quen nhàm chán. Và cũng đừng rơi vào hệ thống luật pháp ở điểm này - điều đó sẽ bắt đầu dập tắt đời sống cầu nguyện của bạn. Tuy nhiên về phía bạn cũng cần có một kỷ luật nào đó. Nhưng lợi ích thuộc linh sẽ xứng đáng hơn công sức bỏ ra rất nhiều Đa-ni-ên là một gương mẫu về một người có thì giờ cầu nguyện đều đặn (DaDn 6:10-11)
j. Cầu nguyện không phải là phương cách để trốn công việc.
Đức Chúa Trời đáp ứng lời cầu nguyện khi giải pháp không nằm trong khả năng của chúng ta. Do đó đừng cầu nguyện để tự cho phép mình đặc quyền được làm biếng. Lời cầu nguyện chân thật thường dẫn đến hành động chỉ không thay thế hành động. Đức Chúa Trời chờ đợi chúng ta làm phần việc của chúng ta.
k. Có nhiều cách ngăn trở bạn trong sự cầu nguyện.
Điều này hầu như luôn luôn là kết quả của sự không vâng phục. Nhưng hãy coi chừng những sự ngăn trở - vấn đề của sự cầu nguyện không được đáp lời có thể là do lỗi của chúng ta và một sự nhận biết và xưng ra đơn giản có thể là tất cả những gì cần làm để có kết quả.
- Thiếu sự vâng phục cá nhân sẽ ngăn trở không cho chúng ta nhận được IGi1Ga 3:22, GiGa 15:7
- Cầu xin không đúng ý Chúa IGi1Ga 5:14-15
- Không cầu xin và cầu xin trái lẽ Gia Gc 4:2
- Không xưng tội biết được ra Thi Tv 66:18
- Người chồng tôn trọng vợ IPhi 1Pr 3:7
- Không cầu xin trong danh Chúa Giê-xu GiGa 14:13, 15:16
- Không tha thứ cho người khác hay không làm lành lại Mac Mc 11:25, Mat Mt 5:23, 24, 18:21, 35, LuLc 17:3, 4
l. Đức Chúa Trời trả lời lại chúng ta bằng cách nào?
Hãy nhớ chúng ta phải lắng nghe và tìm kiếm sự trả lời của Chúa!
- Câu trả lời của Chúa luôn luôn phù hợp với lời của Ngài! Luôn luôn! Bất cứ lời trả lời nào cũng phải đánh giá theo ánh sáng của Kinh Thánh.
- Song nếu có nhiều mưu sĩ, bèn được yên ổn ChCn 11:14. Hãy chia xẻ với anh em, nghe lời khuyên của họ, tìm kiếm sự khôn ngoan của họ, đôi khi những gì chúng ta nghĩ là câu trả lời (hay muốn là câu trả lời) thật sự không phải là câu trả lời!
- Xin lời khuyên của các trưởng lão, mục sư. Đức Chúa Trời đã dựng họ nên để chăm sóc, giữ gìn và bảo vệ đàn chiên.
- Sẽ có ấn chứng của Thánh Linh cho bất cứ câu trả lời nào đến từ Đức Chúa Trời.
- Hãy để cho hoàn cảnh chứng thực sau những bước nêu trên. Chúng ta quá dễ dàng để hoàn cảnh làm cho lầm lạc.
- Sự trả lời có thể đến từ từ. Hãy kiên nhẫn và chờ đợi Chúa. Đừng chạy trước Ngài. Ngài biết điều Ngài đang làm. Và hãy nhớ rằng sự trả lời đem đến nhiều điều hơn chỉ là một ảnh hưởng đến đời sống của bạn.
m. Hãy nhớ Chúa là ai đối với chúng ta.
Ngài là Chua chúng ta trên trời và Ngài muốn ban cho, chúc phước. Ngài quan tâm đến điều gì tốt đẹp nhất cho mỗi một chúng ta. Hãy dành thì giờ cho Ngài. Khi bạn càng yêu Ngài hơn bạn sẽ càng mong muốn dành nhiều thì giờ cho Ngài hơn. Hãy khiêm tốn! Chúng ta cần Ngài nhiều hơn là chúng ta nghĩ. Đừng e ngại vì sự bất lực của bạn. Đức Chúa Trời để cho bạn bị ở vào tình trạng đó, bị đi bị lại, để Nga2i có thể là 'Nguồn' đáp ứng của chúng ta. Hãy cầu nguyện! Hãy cầu nguyện! Hãy cầu nguyện! biết rằng bạn sẽ tham gia vào một quá trình đem đến lợi ích đời đời cho chính bạn và cho những người bạn đang cầu thay cho.
"Bấy giờ các người sẽ kêu cầu ta, sẽ đi và cầu nguyện ta và ta sẽ nhậm lời. Các người sẽ tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng" (Gie Gr 29:12-13).
Trường Cầu Nguyện của Armin Gesswein
Hãy biện luận với những lời hứa của Đức Chúa Trời!
D.L. Moody: 'Mỗi công việc của Đức Chúa Trời đều mang dấu vết của sự quì gối'.
Thay đổi cách suy nghĩ
Khi mới bắt đầu chức vụ tôi đã có một kinh nghiệm làm thay đổi hoàn toàn sự hiểu biết của tôi về cầu nguyện. Thật là một sự biến đổi diệu kỳ! Tôi được kêu gọi để thành lập Hội thánh và vừa mới khám phá ra 'lẽ thật của sự nhóm lại cầu nguyện' trong Công vụ các sứ đồ. Vì thế tôi bắt đầu một buổi nhóm cầu nguyện - buổi nhóm đầu tiên mà tôi tham dự.
Một đêm có một vị cao tuổi phái Methodist đến dự. Khi ông cầu nguyện, tôi khám phá ra một điều mới lạ 'Tôi chưa từng nghe cầu nguyện giống vậy', tôi tự nhủ. Đây không chỉ là sự nóng cháy - sự nóng cháy thì tôi có đầy. Khi ông cầu nguyện, trời và đất hợp lại cùng nhau ngay tức khắc. Có một sự gần gũi hết sức kỳ lạ, lời cầu nguyện và câu trả lời không cách xa nhau - thực tế đang cùng nhau bước đến. Ông ta nắm chắc câu trả lời trong tay, tôi thấy dường như vậy. Đức Thánh Linh ở ngay đó, đang hành động đảm bảo cho ông về câu trả lời ngay cả khi ông đang cầu nguyện. Khi tôi cầu nguyện, Đức Chúa Trổ ở ngoài đó, một nơi nào khá xa và đang lắng nghe. Câu trả lời cũng ở một khoảng cách nào đó, trong tương lai.
Khám phá.
Nóng lòng muốn biết bí quyết của ông, một ngày kia tôi đến thăm ông. Tên ông là Ambrose Whaley và mọi người gọi ông là 'Bác Am'. Ông là một thợ rèn đã về hưu và cũng là một người giảng lời Chúa của phái Methodist. Tôi đi thẳng vào đề ngay 'Bác Am, con muốn cầu nguyện với Bác'. Ngay lập tức ông đứng lên, dẫn tôi băng qua lối đi, đến một nhà cỏ khô. Tại đó, trên cỏ khô có hai cuốn Kinh Thánh một cuốn được mở ra. Tôi nghĩ 'Cái gì đây?'. Tôi cầu nguyện trước, tôi nhớ nhớ như vậy. Tôi trút đổ lòng ra cho Chúa những nhu cầu, những gánh nặng, những mong ước, những khát vọng và những tham vọng. Rồi đến lượt ông cầu nguyện và lại có sự khác biệt đó lần nữa. Tại đó trong đám cỏ khô, quì trên đầu gối, nhìn vào mắt ông, tôi hỏi 'Bác Am, điều gì đây?...bác có một bí quyết nào trong sự cầu nguyện...Bác chia xẻ cho con được không?'
Khi đó tôi 24 tuổi và ông 73 (ông sống đến 93 tuổi) và với cái nhìn sắc sảo ông nói 'Hấi người trẻ tuổi hãy học để biện luận với những lời hứa của Đức Chúa Trời!'
Thế là đủ!
Kể từ đó sự cầu nguyện của tôi không giống như trước nữa. Lời nói đó làm thay đổi hă3n quan niệm của tôi về sự cầu nguyện, Nó đã thật sự cách mạng hóa sự cầu nguyện của tôi. Tôi thấy ngay khi ông nói điều đó. Thấy cái gì? Khi tôi cầu nguyện, có sự nóng cháy, có tham vọng v.v... (Đức Chúa Trời cũng không hề ngăn cản những điều này) nhưng tôi thiếu đức tin. Cầu nguyện là bí quyết để ến thiên đàng nhưng đức tin mới mở khóa cửa ra. Phải có đức tin, Đức tin đến từ đâu? Từ nghe lời của Chúa. Bác Am sẽ biện luận về Kinh Thánh hết đoạn này đến đoạn khác, nhắc nhở Đức Chúa Trời hết lời hứa này đến lời hứa khác, y hệt một luật sự biện hộ cho vụ án của mình - Đức Thánh Linh đổ đầy sự đảm bảo của Ngài là lời cầu nguyện đang được nghe. Ông cụ này thuộc nằm lòng những lời hứa. Dường như ông không cần đến 2 cuốn Kinh Thánh trên cỏ khô. Sau đó tôi được biết ông là một người cầu thay mạnh mẽ, Ông cầu nguyện rõ ràng thông suốt. Ông cầu nguyện qua suốt Kinh Thánh. Ông dạy tôi bí quyết của sự cầu thay. Làm sao tôi có thể bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với Chúa vì Ngài đã dẫn tôi đến một chiến sĩ cầu nguyện giống vậy!
Điều gì xảy ra?
Với khám phá này, Đức Chúa Trời thật sự đưa đến cho tôi một cuốn Kinh Thánh mới. Tôi chưa lọc cách để biến Kinh Thánh cuốn sách cầu nguyện của tôi. Điều này đã đem đến cho tôi một động cơ mới để học Kinh Thánh. Tôi bắt đầu đào sâu. Giờ đây tôi sẽ tìm tòi Kinh Tháhh, suy gẫm, đánh dấu những lời hứa rồi ghi nhớ, ghi nhớ, GHI NHỚ! Có hàng ngàn lời hứa: mỗi lời hứa cho một nhu cầu, gánh nặng, nan đề, hoàn cảnh.
Người trẻ tuổi, hãy học để biện luận với những lời hứa của Đức Chúa Trời! Nhưng lời này vẫn vang lên trong linh hồn tôi!
Hãy biện luận với những lời hứa của Đức Chúa Trời! (2
"Vì chưng cũng như các lời hứa của Đức Chúa Trời điều là phải ở trong Ngài cả"
(IICo 2Cr 1:20)
D.L.Moody:'Cứ nán lại ở một lời hứa, và Đức Chúa Trời sẽ gặp bạn tại đó'.
Những lời hứa tiên đoán câu trả lời.
Chúng là những cái khuôn để chúng ta tuôn đổ lời cầu nguyện vào. Chúng nói trước những gì chúng ta có thể trông chờ. Chúng hình thành lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng thúc giục, hướng dẫn và xác định lời cầu xin của chúng ta.
Những lời hứa giống những lời sau đây:
"Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết" (Gie Gr 33:3). " Trong khi cầu nguyện các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thảy đều được cả" (Mat Mt 21:22), "Nếu các ngươi nhơn danh ta cầu xin điều chi, ta sẽ làm cho" (GiGa 14:14).
Điều này khiến lời cầu nguyện của Cơ Đốc nhân khác đi! Khác thế nào? Trong một ý nghĩa thực sự chúng ta cầu nguyện từ câu trả lời - với câu trả lời trong đầu. Đây là phương cách của Đức Chúa Trời, phương cách của đức tin. Ngài hứa chúng ta tin. Chúng ta hành động theo lời của Ngài. Bằng cách này lời cầu nguyện được trả lời không chỉ làm chúng ta thỏa lòng mà còn làm Đức Chúa Trời hài lòng vì đang làm trọn lời của Ngài, Và đây là điều quan trọng nhất đối với Đức Chúa Trời.
Thí dụ: Hãy nhớ lại cuốn sách số học ngày xưa. Nó có tất cả đáp số ở cuối sách. Một cuốn sách kỳ diệu! Đương nhiên, bạn phải chờ đợi - đầu tiên làm bài toán rồi mới xem đáp số! Nhưng không! Bạn vội vàng nhìn vào đáp số, bạn không thể chờ sợi. Rồi bạn làm bài toán, với đáp số trong đầu, để cho khớp. Đây là cách chúng ta cầu nguyện. Chúng ta cầu nguyện từ những lời hứa của Chúa tức là câu trả lời của Ngài và trông chờ lời này được ứng nghiệm. Cũng vậy, giống như với cuốn sách số học, có những giải đáo khác nhau cho những vấn đề khác nhau. Kinh Thánh chứa đựng câu giải đáp cho hàng ngàn những nhu cầu và lời cầu nguyện của chúng ta. Những lời hứa rất nhiều loại đủ mọi kích thước và hình dáng. Với những lời hứa sự cầu nguyện của chúng ta có một hình thức khác và bước vào sự hành động của Đức Chúa Trời. Thật kỳ lạ! Kinh Thánh biến thành cuốn sách chứa đựng câu trả lời của tôi.
Điều này được thực hiện ra sao? Hãy tìm lời hứa thích hợp với nhu cầu của bạn. Kinh Thánh có một tầm cỡ thích hợp vì cũng lớn như cuộc sống. 'Cuốn sách của Đời sống" giải đáp cho mọi hoàn cảnh. Những lời hứa có tầm cỡ của cuộc sống.
- Có một lời hứa cho công việc bạn cần: nhưng trước hết hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi đều ấy nữa (Mat Mt 6:33)
- Có rất nhiều lời hứa cho sự hướng dẫn mà bạn đang tìm: Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời (RoRm 8:14). Một lời hứa khác trong Phi Pl 4:6, 7. Hãy hỏi ý Đức Chúa Trời chỉ đừng đi xem số tử vi. Ngài sẽ đáp l2i cầu xin của bạn bằng sự 'bình an' Đèn xanh của Ngài, sự cho phép của Ngài để bước đi.
bạn thiếu sự vui mừng chăng? Hãy đọc Philíp.
Để có thêm đức tin, hãy đọc Hê-bơ-rơ
Bạn đang chịu khổ ư? Hãy xem I,II Phi-e-rơ
Bạn đang chịu cám dỗ ư? Đào sâu Mat Mt 4:1-25 và LuLc 4:1-43
Bạn cần được khích lệ? IICo-rinh-tô đầy sự giúp đỡ
Bạn cần được chữa lành? Gia Gc 5:1-20 và nhiều đoạn Kinh Thánh khác như IIIGi 3Ga 1:2
Cũng hãy tìm những đoạn Kinh Thánh khuyên giục bạn cầu thay, giúp đấ kẻ nghèo đói, kẻ mồ côi, người góa bụa: Gia Gc 1:27, Thi Tv 41:1, Mat Mt 25:35
Bạn có đang cầu nguyện cho cuộc phục hưng và sự đổi mới không? Hãy xem IISu 2Sb 7:14, HaKb 3:2, Cong Cv 2:17, KhKh 1:3
Còn sự nhóm lại để cầu nguyện? Bạn có hiểu rõ Kinh Thánh về đều này không? Nền tảng Kinh Thánh cho sự nhóm lại cầu nguyện của Hội thánh. Hãy xem nguyên sách Công vụ các sứ đồ, "cuốn sách của Hội thánh".
Cứ như vậy và như vậy cho đến khi nào chúng ta học để làm mọi sự bằng 'sự cầu nguyện, nài xin và cảm tạ' và học để 'sống bằng lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời' (Phi Pl 4:6, 7, LuLc 4:4.
Có người đã nói chúng ta không bao giờ nên cầu nguyện mà không đọc Kinh Thánh và chúng ta không bao giờ nên đọc Kinh Thánh mà không cầu nguyện.
Tất cả đưa đến điều này: chúng ta phải học để biến Kinh thánh quyển sách cầu nguyện của chúng ta!
C. Thực hành sự kiêng ăn.
1. Định nghĩa 'kiêng ăn'.
'Hành động kiêng dùng thức ăn, hoàn toàn hoặc phần nào trong một khoảng thời gian, thường vì những lý do đạo đức hay tôn giáo' (theo R.D.Linter; 'Fast, Fasting' trong Tự điển thần học Kinh Thánh của Walter Elwell, trang 406, 407.
2. Những thí dụ kiêng ăn trong Kinh Thánh.
a. Trong Cựu ước.
Môi-se (XuXh 34:1-35), Đa-vít (Thi Tv 35:13), Ê-li (IVua 1V 19:1-21), Đa-ni-ên (DaDn 1:8-16, 10:2, 3), Ê-xơ-ra (Exo Er 10:6).
b. Trong thời kỳ Phúc âm.
Giăng Báp-tít và các môn đồ của ông (Mat Mt 9:14, 15), người Pha-ri-si (Mat Mt 9:14, 15) và chính Chúa Giê-xu (Mat Mt 4:1-11).
c. Trong thời kỳ Hội thánh Tân ước.
, 13:1-3 và 14:23 trong Hội thánh đầu tiên; có nhiều thí dụ khác suốt lịch sử Hội thánh.
3. Tính chất của sự kiêng ăn.
a. Những hình thức kiêng ăn khác nhau.
- Kiêng ăn bình thường: không ăn, không uống gì khác ngoại trừ nước (Mat Mt 4:2)
- Kiêng ăn hoàn toàn: không ăn, không uống gì hết (Exo Er 4:16, Cong Cv 9:9)
- Kiêng ăn phần nào: không ăn hoặc hạn chế ăn loại thức ăn, thức uống nào đó; hay ngay cả nguyên bữa ăn nào đó (DaDn 1:8-10, 10:2, 3).
- Kiêng cữ tình dục: kiêng cữ mọi quan hệ tình dục để dành thì giờ tìm kiếm Chúa trong một khoảng thời gian nào đó (ICo1Cr 7:5)
b. Những thời hạn kiêng ăn khác nhau.
- Kiêng ăn giới hạn: sự kiêng ăn được giới hạn là chỉ một bữa ăn hay một thời gian rất ngắn (Exo Er 10:6).
- Kiêng ăn bình thường: đây là sự kiêng ăn bình thường hay hoàn toàn kéo dài từ 1-3 ngày (EtEt 4:16, Cong Cv 9:9).
- Kiêng ăn kéo dài: đây là sự kiêng ăn bình thường kéo dài từ 1 đến 3 tuần (sự kiêng ăn của Đa-ni-ên trong DaDn 1:11-16, 10:2, 3).
- Kiêng ăn dài hạn: sự kiêng ăn kéo dài đến 40 ngày (Môi-se, XuXh 34:1-35 Ê-li IVua 1V 19:1-21 Chúa Giê-xu Mat Mt 4:1-25).
4. Mục đích hay lý do chung của sự kiêng ăn.
Những đoạn Kinh Thánh sau đây nói lên rõ ràng lý do chung cho bất cứ loại kiêng ăn nào là tự hạ mình hay đau buồn trước mặt Chúa, tìm cách để phát huy một lòng đau thương thống hối trước Đức Chúa Trời.
'Còn tôi, khi chúng nó đau, tôi bèn mặc lấy bao, kiêng ăn ép linh hồn tôi. Lời cầu nguyện tôi trở vào ngực tôi' (Thi Tv 35:13)
'Ngày hai mươi bốn tháng ấy, dân Y-sơ-ra-ên nhóm lại, cữ ăn, mặc bao và phủ bụi đất. Dòng Y-sơ-ra-ên chia rẽ các người ngoại, đứng dậy xưng tội lỗi mình và sự gian ác của tổ phụ mình' (NeNe 9:1, 2)
'Ta để mặt hướg về Chúa là Đức Chúa Trời, lấy sự khấn nguyện, nài xin, với sự kiêng ăn, mặc bao gai, đội tro mà tìm. Vậy, ta cầu nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta, và ta xưng tội cùng Ngài mà rằng: Ôi! Chúa là Đức Chúa Trời cao cả và đàng khiếp sợ! Ngài giữ lời giao ước và sự nhơn từ đối với những kẻ yêu Ngài và giữ các điều răn Ngài' (DaDn 9:3, 4)
'Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ cũng hãy hết lòng trở về cùng ta, kiêng ăn, khóc lóc và buồn rầu. Hãy xé lòng các ngươi, và đừng xé áo các ngươi. Khá trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; vì Ngài là nhơn từ và hay thương xót, chậm giận và giàu ơn, đổi ý về sự tai vạ. Ai biết được Ngài sẽ chẳng xây lòng đổi ý, chẳng để lại phước lành sau mình, tức là của lễ chay, lễ quán cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, hay sao?' (Gio Ge 2:12-14)
'Tại đó, gần bên sông A-ha-va, ta truyền kiêng cữ ăn, để chúng ta hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta, và cầu xin Ngài chỉ cho biết đường chánh đáng chúng ta, con cái chúng ta, và tài sản mình phải đi' (Exo Er 8:21)
Hãy lưu ý mỗi quan hệ giữa sự kiêng ăn, lòng hạ mình lòng thống hối, sự ăn năn và sự cầu nguyện (đặc biệt là sự xưng tội trong lời cầu nguyện)
5. Mục đích của sự kiêng ăn.
Bất cứ khi nào người tín đồ kiêng ăn cũng phải có một mục tiêu - một kết quả mong muốn và một mục tiêu rõ ràng. DaDn 58:1-11 trong Ê-sai bày tỏ mục tiêu Chúa định cho sự kiêng ăn.
- Để tiếng chúng ta được nghe ở nơi cao; để đảm bảo có được cuộc hội kiến nghiêm túc với Đức Chúa Trời (c.4)
- Để hạ mình và đau buồn trước mặt Đức Chúa Trời chí cao (c.5)
- Để có một thái độ ăn năn, thống hối (c.5b)
- Để tìm kiếm sự giải cứu cho chính chúng ta và những kẻ khác (c.6)
- Để cho người nghèo những gì ta có, để lo nhà ở cho những người không có nhà và lo đồ mặc cho những người trần truồng (c.7)
- Để ở trong địa vị có thể nhận được sự chữa lành tâm linh và sự sáng cho linh hồn (c.8)
- Để biết rằng Đức Chúa Trời sẽ nghe lời cầu nguyện của chúng ta và sẽ đáp lời (c.9)
- Để làm tươi mới, làm mạnh mẽ, làm sống lại mối tương giao giữa chúng ta với Chúa (c.10-11)
6. Động cơ và thái độ đúng đắn khi kiêng ăn.
Sự kiêng ăn mà chúng ta chọn phải là vì những nguyên nhân đúng kèm theo thái độ đúng nếu không sẽ không có ơn phước thuộc linh nào đến từ sự kiêng ăn.
a. Kiêng ăn sẽ không được kể là sự công bình của bạn; không có công trạng gì trong việc kiêng ăn và nó cũng không khiến bạn có được ân huệ của Chúa.
b. Kiêng ăn phải luôn luôn được thực hiện trước mặt Chúa và không bao giờ trước mặt con người (XaDr 7:5, Cong Cv 13:2)
c. Kiêng ăn cho phép người tín đồ đứng đắn tập trung sự chú ý của mình trực tiếp vào Chúa và điều đó sẽ đưa đến những kết quả thuộc linh rõ ràng. Nhưng hãy nhớ rằng sự tập trung phải là vào Chúa chỉ không phải vào sự kiêng ăn hay ý kiến của người khác (Mat Mt 6:17)
d. Kiêng ăn không chỉ có những lợi ích thuộc linh nhưng cũng là một sự kỷ luật thân thể và tinh thần lớn lao (ICo1Cr 9:27)
e. Kiêng ăn là do Chúa thúc đẩy và được tín đồ thực hành để làm trọn mục đích của Chúa (EsIs 58:1-14). Vì vậy, nguyên tắc hướng dẫn trong mọi sự kiêng ăn là gác sang một bên một điều nào đó chúng ta cho là quan trọng và nhiều khi thiết yếu để có thể dành thời gian nhất định và nguyên cả thời gian kiêng ăn để tìm kiếm Chúa hết lòng.
7. Những nguy cơ của sự kiêng ăn.
a. Nguy hiểm về thể lý.
Mỗi tín đồ phải chắc chắn hết sức thận trọng khi kiêng ăn, hết sức tránh những sự quá độ và cực đoan!
b. Nguy hiểm về tâm lý.
Có bằng chứng là sự kiêng ăn kéo dài đưa đến những ảo tưởng (những khải tượng do chính mình nghĩ ra) và những hiện tượng tâm lý kỳ lạ khác; hãy thận trọng!
c. Yếu tố thuộc linh.
Có nỗi cám dỗ về sự công bình riêng và thái độ kiêu ngạo!
8. Cơ Đốc nhân và sự kiêng ăn
"Khi ấy, các môn đồ của Giăng đến tìm Đức Chúa Jesus, mà thưa rằng: Cớ sao chúng tôi và những người Pha-ri-si kiêng ăn, còn môn đồ thầy không kiêng ăn? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Trong khi chàng rể còn ở với bạn hữu đến mừng cưới, thì những bạn hữu đó có thể nào buồn rầu được ư? Nhưng đến ngày nào chàng rể sẽ bị đem đi khỏi họ, thì họ mới kiêng ăn." Mat Mt 9:14-15
D. Thực hành sự suy gẫm.
1. Tính chất của sự suy gẫm bày tỏ qua Kinh Thánh.
'Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước' (Gios Gs 1:8)
'Song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm' (Thi Tv 1:2)
'Khi trên giường tôi nhớ đến Chúa, bèn suy gẫm về Chúa trọn các canh đêm' (Thi Tv 63:6)
'Cũng sẽ ngẫm nghĩ về mọi công tác Chúa, suy gẫm những việc làm của Ngài' (Thi Tv 77:12)
'Tôi sẽ suy gẫm về giềng mối Chúa, chăm xem đường lối Chúa. Vua chúa cũng ngồi nghị luận nghịch tôi; song tôi tớ Chúa suy gẫm luật lệ Chúa.Cầu Chúa làm cho tôi hiểu biết con đường giềng mối Chúa, thì tôi sẽ suy gẫm các công việc lạ lùng của Chúa. Tôi cũng sẽ giơ tay lên hướng về điều răn Chúa mà tôi yêu mến, và suy gẫm các luật lệ Chúa. Nguyện kẻ kiêu ngạo bị hổ thẹn, vì chúng nó dùng sự giả dối mà đánh đổ tôi; song tôi sẽ suy gẫm các giềng mối Chúa. Canh đêm chưa khuya, mắt tôi mở tỉnh ra, đặng suy gẫm lời Chúa' (Thi Tv 119:15, 23, 27, 48, 78, 148)
'Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con' (ITi1Tm 4:15)
2. Tính chất của sự suy gẫm được bày tỏ qua các tác phẩm của Hội thánh.
'Tại sao có quá nhiều sự giảng dạy và có quá ít sự thực hành? Vì thiếu sự suy gẫm... Những suy tư thường xuyên có hiệu quả và sự trầm ngâm suy tưởng làm lửa bùng cháy. Không phải một tia lửa có thể làm gỗ tươi cháy lên mà chính là hành động thổi thường xuyên' (Thomas Manton)
'Chúng ta không suy gẫm để chúng ta có thể nghỉ ngơi trong sự trầm tư mặc tưởng mà là để bước đến sự vâng phục' (Thomas Manton)
'Có vô số vấn đề để chúng ta suy gẫm như là bản chất và những thuộc tính của Đức Chúa Trời; những vị trí và chức vụ của Đấng Christ, con người ba phần, bốn điều sau cùng... chúng ta có thể chọn trong những vấn đề này một điều, rồi lúc khác một điều khác để làm đề tài đặc biệt cho những suy tư của chúng ta. Chọn nhiều hơn một điều mỗi lần sẽ làm chúng ta mất đi lợi ích của tất cả' (George Swinnock)
Có hai điều khiến sự suy gẫm trở thành khó. Điều thứ nhất là con người không quen làm điều này và điều thứ hai là vì họ không yêu Chúa đủ. Cái gì khởi đầu cũng khó: viết văn hay vẽ lúc đầu cũng khó và suy gẫm sẽ khó khi mới bắt đầu. Nhưng điều gì chả là khó đối với những người không muốn làm. Chẳng có gì khó với những người đang yêu, tình yêu biến mọi sự thành dễ dàng. Đối với một người đang yêu nghĩ đến hay suy gẫm về người mình yêu có phải là điều khó không? (William Bridge)
Tất cả những lời trên đều trích trong cuốn A Puritan golden Treasury của I.D.E Thomas trang 183-187.
3. Định nghĩa/Ý nghĩa của suy gẫm
a. Ngoài Kinh Thánh.
Suy gẫm là 'tập trung suy nghĩ vào' hay 'ngẫm nghĩ' (Tự điển Webster's Collegiate).
Những từ đồng nghĩa thông thường là 'trầm ngâm, tư lự, ngẫm nghĩ' và những từ tương tự là 'ngắm xem, xem xét, cân nhắc, ngẫm nghĩ, suy luận, thận trọng, suy nghĩ chín chắn, xem xét, nghiên cứu cẩn thận' (Tự điển Webster's New dictionary of Synonyms, 1973.
Suy gẫm là một hành động tin kính riêng tư, gồm sự suy tư về một lẽ thật thuộc linh hay một điều huyền bí, kèm theo sự cầu nguyện và những hành động của tình cảm và ý chí, đặc biệt là đưa đến những quyết tâm về cách cư xử trong tương lai. Suy gẫm là bổn phận mà tất cả những ai mong ước điều tốt đẹp cho những mối quan tâm thuộc linh phải làm. Sự suy gẫm phải kỹ lưấng, tỉ mỉ và liên tục (Thánh Kinh Tự điển của Onger, trang 709.
b. Cựu ước.
'siah' (động từ dịch thành 'suy gẫm' hay 'than thở'. Ý nghĩa căn bản dường như là nhắc lại, lập lại hay liên tục nghĩ về một điều gì (thí dụ 'suy gẫm' trong Thi Tv 119:15, 23, 27, 48, 78, 148 nếu ngắm nhìn Đức Chúa Trời (thân vị, thuộc linh, ý chỉ..;.) và 'than thở' trong Thi Tv 77:3-6 nếu nhìn xem những nỗi đau đớn hoạn nạn cá nhân).
'haga' (động từ dịch thành 'suy gẫm'. Ý nghĩa căn bản dường như là nói ra, thầm thì rên rĩ hay than vãn. Đó là tiếng nho nhỏ giống tiếng gù của chim bồ câu (EsIs 38:14, 59:11) hay tiếng gầm gừ của con sư tử khi được mồi (EsIs 31:4). (Xem Thi Tv 1:2, 63:6, 77:12)
c. Tân ước.
'meletao' (động từ dịch thành suy gẫm. Ý nghĩa căn bản dường như là suy gẫm, lập lại hay liên tục. Điều này đưa ra ý niệm mạnh mẽ về kỷ luật và chuyên cần và chỉ được dùng có ba lần trong Tân ước (ITi1Tm 4:15).
4. Sự thực hành và lợi ích của sự suy gẫm.
a. Mặc dù sự suy gẫm là một thói quen thời Cựu ước hơn là một công việc của Hội thánh, những thánh đồ trải qua các thời đại đã hưởng nhiều lợi ích từ lãnh vực này và Hội thánh ngày nay nên làm mới lại thói quen này.
b. Nghệ thuật suy gẫm phải được các Cơ Đốc nhân thực hành vì đó không phải là một điều tự nhiên mà có. Do đó ý chí phải chọn lựa sự thực hành, tâm trí và tình cảm phải luôn luôn được thúc đẩy và chế ngự cho đến khi sự suy gẫm trở thành một việc làm đều đặn và thường xuyên trong đời sống thuộc linh của người tín đồ.
c. Thực hành sự suy gẫm rất quan trọng cho đời sống thuộc linh của người tín đồ vì bởi sự suy gẫm mà chúng ta nhận được chất bổ dưấng qua việc học Lời Chúa và thân vị vinh hiển của Ngài.
'Thân thể của chúng ta không phải được nuôi dưấng chỉ bằng cách cho thức ăn vào miệng nhưng quá trình mà thật sự nuôi dưấng bắp thịt, dây thần kinh, gân và xương là quá trình của sự tiến hóa. Chính bởi sự tiêu hóa mà những thức ăn bên ngoài được đồng hóa với sự sống bên trong. Và đối với linh hồn chúng ta cũng vậy; chúng không được nuôi dưấng chỉ bởi những gì chúng ta nghe được bằng cách đi đây, đi đó, và bằng cách lúc thì nghe cái này, khi thì nghe cái kia, lúc khác lại nghe cái khác. Nghe, đọc, để ý và học, tất cả đòi hỏi một sự tiêu hóa bên trong; và sự tiêu hóa bên trong của lẽ thật nằm trong sự suy gẫm về lẽ thật' (Charles H.Spurgeon).
d. Thực hành sự suy gẫm cũng rất quan trọng cho đời sống thuộc linh của người tín đồ vì nó sẽ giúp chúng ta khiến tư tưởng của chúng ta hợp với tư tưởng của Chúa và do đó khắc vào tâm trí lẽ thật.
'Nếu trí nhớ của bạn không giữ được lẽ thật lần thứ nhất thì hãy suy nghĩ về nó, nghĩ đi, nghĩ lại và rồi bởi có những lớp sơn phủ lên như vậy, cả vấn đề sẽ ở lại trong trí. Đừng phàn nàn về trí nhớ của bạn hãy phàn nàn về chính bạn nếu bạn không thực hành sự suy gẫm. Hãy để căn phòng riêng của bạn khiển trách bạn và bạn ít có ở đó thường xuyên nếu trí nhớ của bạn tỏ ra mong manh' (Charles H.Spurgeon).
e. Thực hành sự suy gẫm cũng quan trọng cho người tín đồ vì đó là phương cách duy nhất để có thể hiểu được phần lớn lẽ thật của Chúa. Có quá nhiều đoạn văn bị hiểu sai quá dễ dàng, có quá nhiều đoạn văn không được hiểu hay hiểu đúng với mạch văn. Cần phải có nỗ lực tập trung tư tưởng và suy gẫm để những lẽ thật phước hạnh của những đoạn văn được hé mở ra và trở thành rõ ràng cho lòng và trí của người tín đồ.
f. Thực hàh sự suy gẫm cũng làm phát triển óc suy tưởng nghiêm túc về sự uy nghi vinh hiển của Đức Chúa Trời một cách đúng đắn, điều mà Hội thánh ngày nay thường xao lãng. Sự suy gẫm sẽ làm mạnh mẽ đời sống tin kính của mọi tín đồ và cũng sẽ nâng cao đời sống cầu nguyện rất nhiều. Cũng sẽ có một sự quen thuộc hơn với thân vị của Đức Chúa Trời và một sự thoải mái hơn khi ở bên Ngài.
E. Bản chất và thực hành sự thờ phượng.
1. Những định nghĩa liên quan đến sự thờ phượng.
a. Trong Cựu ước.
Từ 'shachah' có nghĩa 'cúi mình xuống, sấp mình xuống để bày tỏ lòng tôn kính, để tôn thờ người được xem là có giá trị' (SaSt 18:2, 22:5, XuXh 4:31, Thi Tv 95:6, 138:2)
b. Trong Tân ước.
Từ ngữ 'proskyneo' có nghĩa 'bày tỏ sự vâng phục với, sấp mình xuống, bày tỏ sự tôn kính với người khác' nghĩa đen là 'hôn' hàm ý sự thân mật (KhKh 4:8-11,5:8-10).
2. Những định nghĩa liên quan đến sự ngợi khen.
a. Trong Cựu ước.
Từ ngữ 'halah' nghĩa đen là 'gây tiếng động hay phát biểu bằng lời nói' là từ chữ 'Hallelujah' nghĩa đen là 'ngợi khen ye yah' ('yah' chữ viết tắt của 'yahweh' hay là như chúng ta nói 'ngợi khen Đức Chúa Trời' (Thi Tv 150:1-6)
Từ ngữ 'yadah' bao gồm những hành động của thân thể kèm với sự ngợi khen và thờ phượng của người Hê-bơ-rơ nghĩa đen là 'giơ cao hai tay' (SaSt 49:8, IISu 2Sb 7:3, 6).
Từ ngữ 'zamai' bao gồm sự ca hát và sử dụng nhạc cụ làm kèm với sự ngợi khen và thờ phượng đặc biệt của người Hê-bơ-rơ (Thi Tv 7:17, 9:2, 11, 47:6).
b. Trong Tân ước.
Từ ngữ 'epianos' có nghĩa 'Ngợi khen Đức Chúa Trời' nhưng đặc biệt để nói đến công việc cao cả của Ngài trên đời sống của mọi tín đồ (Phi Pl 1:11, Eph Ep 1:12).
Từ ngữ 'eucharists' có nghĩa là 'cám ơn' nhưng nó cũng hàm ý một sự thân mật về phần người cám ơn và người nhận sự cám ơn (Cong Cv 27:35, 28:15, RoRm 7:25, ICo1Cr 1:14).
Từ ngữ 'humneo' nghĩa đen là 'hát ngợi khen người khác' (Cong Cv 16:25, HeDt 2:12, Mat Mt 26:30).
3. Tính chất của sự ngợi khen và thờ phượng trong Kinh Thánh.
a. Giá trị của đối tượng được thờ phượng.
Hành động thờ phượng nghĩa là tôn một 'sự xứng đáng' và 'giá trị' cho Đức Chúa Trời, nó là dạng cổ xưa của từ ngữ 'worthship' (worth: giá trị.
Hãy lưu ý những điểm liên quan đến ý tưởng 'worthship' sau đây:
- Không ai gán giá trị cho một điều mà họ không quí trọng hay là một điều mà họ cho là không có giá trị.
- mọi người đều gán giá trị cho điều gì họ kính mến hay họ thật sự xem là có đủ giá trị, xứng đáng!
- mọi người đều gán một giá trị lớn nhất cho điều họ cho là có giá trị lớn nhất.
Do đó, sự thờ phượng thật của người tín đồ luôn luôn do mức độ giá trị mà tự trong lòng họ đặt cho Chúa quyết định!
b. Sự xứng đáng của đối tượng được thờ phượng.
Sự thờ phượng dành cho Đức Chúa Trời tỷ lệ thuận với những lý do khiến chúng ta thấy Ngài xứng đáng với sự thờ phượng này. Bởi những nguyên nhân nào mà Đức Chúa Trời xứng đáng với những sự ngợi khen và thờ phượng như vậy?
- Bởi vì Ngài là Đấng như vậy! (Thi Tv 145:1-3, 148:13, IISa 2Sm 22:4)
- Bởi những gì Ngài đã làm! (XuXh 15:1, 2, Thi Tv 144:9-11,147:1-20, LuLc 1:68, 69, KhKh 5:9-14)
- Bởi những gì Ngài đang làm! (Thi Tv 28:7, 59:17, 71:6-8, Eph Ep 5:20, EsIs 5:18)
- Bởi những gì Ngài hứa sẽ làm! (IVua 1V 8:56, IPhi 1Pr 1:3-5)
Mục đích chính của con người là gì? Mục đích chính của con người là thờ phượng Đức Chúa Trời và vui hưởng Ngài mãi mãi (The Westminster Shorter Catechism) 'Khi ra lệnh cho chúng ta làm vinh hiển danh Ngài, Đức Chúa Trời đang mời gọi chúng ta vui hưởng Ngài'.
4. Những nguyên tắc hướng dẫn sự thờ phượng của chúng ta trong Kinh Thánh.
a. XuXh 4:31: "Chúng bèn tin, hiểu rằng Đức Giê-hô-va đã thăm viếng dân Y-sơ-ra-ên, và thấy đều cực khổ của mình; chúng bèn cúi đầu và thờ lạy".
Thờ phượng và ngợi khen là kết quả của sự nhơn từ của Đức Chúa Trời (hay một sự hiểu biết nhất định, rõ ràng về Đức Chúa Trời) dành cho chính cá nhân chúng ta!
b. PhuDnl 6:5: "Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi".
Sự thờ phượng phải nồng nhiệt, phải mang ý nghĩa của sự tin kính bên trong thiêu đốt cả con người của người thờ phượng.
c. Thi Tv 95:1-3, 6-7: "Hãy đến hát xướng cho Đức Giê-hô-va, cất tiếng mừng rỡ cho hòn đá về sự cứu rỗi chúng tôi... Hãy đến, cúi xuống mà thờ lạy; khá quì gối xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đấng Tạo Hóa chúng tôi!"
Thờ phượng và ngợi khen là thái độ trong lòng nhưng nó cũng được biểu lộ qua thân thể, thường là qua một tư thế rất sinh động.
d. Cong Cv 16:25: "Lối nửa đêm, Pao-lô và Si-la đương cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe".
Sự thờ phượng và ngợi khen không được tùy thuộc vào những tình cảm và những hoàn cảnh lúc bấy giờ của người tín đồ.
e. GiGa 4:24: "Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy'.
Đức Chúa trời muốn có và đang đi tìm những kẻ thờ phượng chân thật; những người mà sẽ thờ phượng bằng lẽ thật, theo như những gì Đức Chúa Trời là và bằng tâm thần; theo như nơi Đức Chúa Trời ở.
f. IISu 2Sb 5:13, 14: "Xảy khi kẻ thổi kèn và kẻ ca hát đồng thinh hòa nhau như một người, mà ngợi khen cảm tạ Đức Giê-hô-va rằng: Ngài từ thiện, lòng thương xót Ngài hằng còn đời đời, thì đền của Đức Giê-hô-va bị mây lấp đầy; đến đỗi những thầy tế lễ vì mây không thể đứng đó hầu việc được, vì sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy lấp đền của Đức Chúa Trời".
Sự thờ phượng và ngợi khen hòa làm một sẽ đưa đến một kinh nghiệm về sự hoàn toàn hiệp một và kết quả là một sự thăm viếng rất đặc biệt của Đức Chúa Trời.
5. Sự thờ phượng Đức Chúa Trời cách trái lẽ.
a. Thờ phượng các thần giả là sự thờ phượng trái lẽ đối với Đức Chúa Trời chân thật!
b. Sự thờ phượng Đấng Chân Thần không đúng cách cũng là sự thờ phượng trái lẽ! (XuXh 32:7-9 - thờ phượng không đúng với Kinh Thánh - những nghi lễ, nghi thức..;.).
c. Sự thờ phượng Đấng Chân Thần đúng cách nhưng với thái độ sai cũng là thờ phượng trái lẽ (nhận biết Ngài đúng và thái độ đúng).
d. Sự thờ phượng Chân Thần không phải là một phương tiện để đạt đến mục đích và phương cách để đạt được những gì chúng ta mong muốn: đó là sự thờ phượng trái lẽ!.
6. Cơ Đốc nhân và sự thờ phượng Chúa đúng cách.
a. Chúng ta đều được kêu gọi để thờ phượng Chúa và phải nhận biết rằng Đức Chúa Trời chỉ tìm kiếm những người thờ phượng thật lòng để thờ phượng Ngài. Do đó sự thờ phượng Chúa của chúng ta phải trở thành mục đích to lớn nhất của Cơ Đốc nhân trong đời sống.
b. Chúng ta thờ phượng chỉ vì lợi ích của Chúa chỉ không vì lợi ích của chúng ta.
Sự thờ phượng của chúng ta là sự bày tỏ giá trị của Chúa bởi vì chúng ta xem Ngài là có giá trị nhất và xứng đáng nhất. Nói một cách khác, sự thờ phượng thật có mục đích là chúc phước và tán tụng Chúa, dâng hiến cho Ngài hoàn toàn hơn là một cố gắng để đạt được điều gì cho chúng ta (thí dụ: không phải 'Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời để có được một ơn phước' hay 'Bạn có cần một phép lạ trong đời sống bạn không? Hãy thử ngợi khen đi!'
c. Sự thờ phượng của chúng ta phải xứng đáng và có thể chấp nhận được trước mặt Đức Chúa Trời. Kẻo không thì Ngài sẽ chẳng nhận. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta dâng lên cho Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng của chúng ta, nhưng những gì dâng lên chỉ được nhận, khi nó xứng đáng được nhận.
d. Chúng ta thờ phượng không phải vì ngẫu nhiên chúng ta thấy ưa thích hay vì chúng ta muốn được ơn phước nhưng vì Đức Chúa Trời luôn luôn xứng đáng để được thờ phượng. Nói cách khác, chúng ta ngợi khen Chúa khi trời nắng, nhưng chúng ta cũng có ngợi khen Ngài như vậy khi trời mưa không? Cả hai điều này đều đến từ Chúa! Chúng ta phải thờ phượng và ngợi khen Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống dù cho chúng ta có thấy những hoàn cảnh này khó khăn như thế nào (ISu1Sb 16:25, Thi Tv 48:1, Cong Cv 16:25, HeDt 13:15, KhKh 4:11, 5:9, 12, 13).
e. Sự thờ phượng của chúng ta phải luôn luôn 'trong tâm thần và lẽ thật'. 'Tâm thần' đề cập đến nơi chốn duy nhất được đòi hỏi và 'lẽ thật' đề cập đến sự đòi hỏi rằng mọi sự thờ phượng phải phù hợp với đặc tính của Đức Chúa Trời. Nói một cách khác, không thể có một sự thờ phượng với một 'tấm lòng trống rỗng' cũng như không thể có sự thờ phượng với một 'cái đầu trống rỗng'.
f. Sự thờ phượng của chúng ta không được trở nên phù phiếm hay nghi thức quá. Tất cả mọi sự thờ phượng và ngợi khen phải luôn luôn thành khẩn và xuất phát từ một tấm lòng chân thật. Đừng để sự 'Ngợi khen Đức Chúa Trời' của bạn đồng nghĩa với 'cool' hay 'right on' hay bất cứ điều gì thường được nói đến trong nền văn hóa ngày nay). Đây là một sự thờ phượng không xứng đáng với Đức Chúa Trời toàn năng!
g. Sự thờ phượng của chúng ta có ý nghĩa hơn hành động hay thời giờ chúng ta sử dụng để thờ phượng Đức Chúa Trời đã định cho sự thờ phượng trở nên một cách ăn ở, một cách sống. Nói một cách khác, tất cả điều gì thuộc về chúng ta, tất cả điều gì chúng ta suy nghĩ, tất cả điều gì chúng ta cảm thấy, tất cả những gì chúng ta chọn lựa và tất cả điều gì chúng ta làm, đều phải được bày tỏ qua sự thờ phượng của chúng ta (RoRm 12:1).
h. Lòng mong muốn và khả năng thờ phượng ngợi khen Chúa sẽ do sự hiểu biết của chúng ta về Ngài quyết định rất nhiều! Vì vậy, chúng ta phải lớn lên trong sự hiểu biết cá nhân về thân vị tuyệt vời của Đức Chúa Trời. Và vì thế, chúng ta phải dành nhiều thì giờ cho Lời của Ngài vì đó là nơi Ngài tự bày tỏ cho chúng ta!
F. Tầm quan trọng của thì giờ tĩnh nguyện có chất lượng.
1. Ý nghĩa và bản chất của sự tin kính.
a. Theo các từ ngữ trong Cựu và Tân ước.
- 'gafhesh' có nghĩa là biệt riêng (XuXh 28:3, 30:30)
- 'nazar' nghĩa là tách riêng ra khỏi điều gì (Dan Ds 6:7, 9, 12)
- 'lahag' thường được dịch là 'học' (TrGv 12:12) nhưng từ này hàm ý sốt sắng, chuyên cần mãnh liệt, dâng hiến trọn vẹn.
- 'sebomai' có nghĩa là sùng kính, nhấn mạnh đến sự kính sợ hoặc hoàn toàn tôn thờ (Mat Mt 15:9, Mac Mc 7:7, Cong Cv 16:14, 18:7, 13)
- 'proskyneo' có nghĩa là nằm úp sấp mặt xuống, bày tỏ sự tôn kính đối với, và rất thân thiết với ('hôn' (GiGa 4:21-24, KhKh 4:8-11, 5:8-10).
b. Theo Cựu và Tân ước.
Thi Tv 42:1, 2 ”Đức Chúa Trời ôi! linh hồn tôi mơ ước Chúa, như con nai cái thèm khát ke nước. Linh hồn tôi khát khao Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống: Tôi sẽ đến ra mắt Đức Chúa Trời chừng nào?"
Thi Tv 62:1-5 ”Linh hồn tôi nghỉ an nơi một mình Đức Chúa Trời; sự cứu rỗi tôi từ Ngài mà đến. Một mình Ngài là hòn đá tôi, sự cứu rỗi tôi, và là nơi ẩn náu cao của tôi; tôi sẽ chẳng bị rúng động nhiều... Hấi linh hồn ta, hãy nghỉ an nơi Đức Chúa Trời"
Thi Tv 63:1 ”Hấi Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời tôi, vừa sáng tôi tìm cầu Chúa; trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước, linh hồn tôi khát khao Chúa, thân thể tôi mong mỏi về Chúa".
Thi Tv 91:1 ”Người nào ở nơi kín đáo của Đấng Chí Cao, sẽ được ở dưới bóng của Đấng Toàn Năng".
IICo 2Cr 3:18 ”Chớ ai tự dối mình: nếu có ai trong vòng anh em tưởng mình khôn ngoan theo cách đời này, hãy trở nên dại dột, để được nên khôn ngoan".
c. Những kết luận tổng quát được rút ra.
- Phải có một thái độ yêu mến, sùng kính và thờ phượng sâu xa trong lòng. Đây phải là đặc điểm của đời sống tín đồ nói chung và đặc biệt là của thì giờ tĩnh nguyện, nói riêng.
- Đây phải là một thái độ sâu xa, mãnh liệt, nóng cháy và sốt sắng; do đó phải có một sự nghiêm túc và một sự mong đợi tha thiết trong mỗi lần gặp Chúa.
- Thái độ này phải đem đến 'sự gắn bó' với chính mình Đức Chúa Trời mà luôn luôn cần đến một sự tách rời, phân rẽ tất cả những gì không thuộc về Ngài.
2. Những yếu tố chính cho thì giờ tĩnh nguyện.
a. Yếu tố đầu tiên là kỷ luật.
Đây chính là kỷ luật của một 'ý chí bị tan vỡ ' hơn là quan niệm thông thường về kỷ luật tự đặt cho mình. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể bẻ gãy ý chí của con cái Ngài và khi điều này xảy ra thì người con sẽ ở trong vị trí phước hạnh là chỉ muốn những gì mà Cha muốn. Khi đó thì giờ tĩnh nguyện biệt riêng có chất lượng có thể được thực hiện.
b. Yếu tố thứ hai là sự siêng năng.
Đây là việc ứng dụng của ý chí bị bẻ gãy và trách nhiệm của con cái Chúa. Ý chí đã bị bẻ gãy và người con muốn ý chỉ của Cha, nhưng người con phải thực hành sự siêng năng đấu tranh chống lại tất cả những gì chống lại ý chỉ của Cha và trong quá trình đó kiên trì đuổi theo việc làm theo ý chỉ của Ngài.
c. Yếu tố thứ ba là sự trông đợi.
Sự gặp gỡ Đức Chúa Trời phải được coi là một biến cố to lớn! Phải có sự trông chờ to lớn về sự gặp gỡ này và những mong đợi to lớn, kết quả của sự gặp gỡ này. Những ơn phước của Đức Chúa Trời được sở hữu bằng đức tin, vì vậy con của Chúa không được đem sự nghi ngờ và vô tín vào khung cảnh của thì giờ tĩnh nguyện riêng.
d. Yếu tố thứ tư là thời gian.
Đây là một trong những vấn đề lớn nhất trong việc tìm kiếm một thì giờ biệt riêng có chất lượng. Chúng ta quá ư bận rộn với những thời khóa biểu đầy ắp và chúng ta thường cảm thấy là chúng ta không có đủ thời gian. Tuy nhiên vấn đề thực sự không phải là 'không đủ thời gian', mà là chúng ta chọn lựa để làm gì với thời gian của chúng ta. Chúng ta luôn luôn có đủ thì giờ để làm những gì mà chúng ta cho là thiết yếu và có giá trị nhất! Nếu muốn một thì giờ biệt riêng đưa đến những kết quả và ảnh hưởng trên đời sống thì chúng ta phải sẵn sàng dành ra thì giờ cần thiết.
3. Mục đích của thì giờ tĩnh nguyện biệt riêng.
a. Mục đích là một sự 'ý thức về Đức Chúa Trời'.
Đây là ý thức về sự hiện diện của Chúa, mọi sự nhận biết cá nhân về Chúa. Điều này có được là bởi nhận biết cá nhân về Chúa. Điều này có được là bởi một thì giờ biệt riêng kéo dài, đều đặn và có chất lượng mà qua đó Đức Chúa Trời có thể bày tỏ về chính Ngài như Ngài muốn.
b. Mục đích là một 'sự tập trung vào Đức Chúa Trời'.
Đó chính là nơi Đức Chúa Trời trở thành trọng tâm của toàn bộ sự chú ý của chúng ta, chỉ không phải phương tiện để chúng ta thờ phượng, cầu nguyện v.v... Bây giờ chỉ có bạn và chính Đức Chúa Trời. 'Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời ngươi'.
c. Mục đích là 'Biết Chúa'.
Đây chính là nơi chúng ta bắt đầu nhìn thấy sự thực hữu của chính mình Đức Chúa Trời như Ngài đã tự bày tỏ qua Kinh Thánh. Chúng ta sẽ lớn lên trong sự hiểu biết về Ngài để có thể thờ phượng và hầu việc Ngài cách đúng đắn.
4. Những gợi ý thực tế về thì giờ biệt riêng.
a. Chất lượng khác với thời lượng.
Cả hai phương diện này đều quan trọng và thiết yếu. Nhưng thà có những thời lượng ngắn hơn nhưng có chất lượng thật còn hơn là thời lượng dài mà có ít hoặc không có chất lượng. Chúng ta phải cố gắng để biến mỗi thì giờ tĩnh nguyện riêng thành một thì giờ có chất lượng và rồi sẽ cố gắng thực hiện vấn đề thời lượng càng nhiều càng tốt.
b. Sự tin kính khác với những nghi thức thờ phượng.
Chỉ có những nghi thức thờ phượng thì rất là thiếu sót nếu không có lòng tin kính Đức Chúa Trời thực sự kèm theo. Chúng ta phải luôn luôn chắc chắn rằng chúng ta nhớ lý do của những nghi thức thờ phượng, rằng động cơ và thái độ chúng ta là đúng đắn. Một lần nữa, hãy nhớ rằng đây là một cơ hội lớn cho một cuộc gặp gỡ thiên thượng đặc biệt.
c. Kỷ luật khác với tự do.
Sẽ cần có kỷ luật cá nhân nếu chúng ta muốn duy trì sự chuyên cần trong thì giờ tĩnh nguyện biệt riêng. Tuy nhiên điều này cũng là nguyên nhân của nhiều mặc cảm tội lỗi cũng như nhiều sự chán nản khi không làm được điều chúng ta ấn định. Do đó chúng ta phải có những giới hạn hợp lý và phải đặt ra những mục tiêu thực sự có thể đạt được (thí dụ cố gắng để có hai tiếng đồng hồ tĩnh nguyện mỗi ngày thì không thực tế đối với một số người). Và cũng hãy nhớ rằng không có sự đoán phạt nào vì vậy đừng có mặc cảm tội lỗi khi bạn không đạt được những tiêu chuẩn đã đặt ra.
d. Sự đều đặn khác với thói quen.
Chuyên cần phải là một mục tiêu trong đời sống tin kính của bạn, điều này có nghĩa là sự đều đặn rất là quan trọng. Tuy nhiên, chúng ta phải tránh để không biến những thì giờ tĩnh nguyện thành một thói quen nhàm chán. Vì vậy hãy hết sức để giữ thì giờ tĩnh nguyện đều đặn nhưng hãy tránh biến thì giờ này thành thói quen hay hình thức. (Tránh những hình thức đều đặn, những thói quen 'nhàm chán' và những 'lối nói huênh hoang rỗng tuếch' rất dễ rơi vào). Một lần nữa, hãy nhớ trọng tâm là dâng hiến chúng ta cho Đức Chúa Trời trong mối tương giao mật thiết không thể để cho thì giờ này trở nên nhàm chán được!
e. Cấu trúc khác với sáng tạo.
Cần phải có một cấu trúc nào đó cho thì giờ tĩnh nguyện của bạn. Thì giờ này sẽ bao gồm cầu nguyện, đọc Kinh Thánh, đọc sách, suy gẫm, thờ phượng v.v... Tôi còn khuyên các bạn nên ghi nhật ký nữa. Nhưng trong cái cấu trúc đó hãy cố giữ lại một cái gì tự nhiên và uyển chuyển. Chắc bạn không hề muốn mất đi yếu tố ngạc nhiên, kỳ lạ và hứng thú trong những thì giờ đặc biệt dành cho Đức Chúa Trời!
f. Tìm kiếm khác với kiên nhẫn.
Đây lại là hai mặt khác của đời sống tĩnh nguyện. Một mặt, phải có sự chuyên cần và mong đợi nhiều trong thì gì biệt riêng, ao ước một cuộc gặp gỡ sâu sắc với Đức Chúa Trời. Nhưng đồng thời, một mặt khác thì chính Đức Chúa Trời đang kiểm soát thì giờ này và người tín đồ phải có thái độ kiên nhẫn chờ đợi Ngài. Do đó đừng 'ép buộc' thời gian, đừng 'cố gắng dựng' nên những cảm xúc, đừng đòi hỏi Chúa làm việc theo như những mong đợi của bạn. Vì vậy hãy kiên trì tìm kiếm Đức Chúa Trời với tất cả tấm lòng của bạn và kiên nhẫn chờ đợi Đức Chúa Trời làm công việc của Ngài!
g. Đấu tranh khác với tiến bộ.
Sẽ luôn luôn có một trận chiến thuộc linh trong đời sống tĩnh nguyện của bạn, nếu bạn thật sự có sự tin kính. Sẽ có sự kháng cự và chống đối với những ước muốn và nỗ lực của bạn, và sẽ có những lúc mà trận chiến sẽ rất ác liệt. Tuy nhiên nếu cứ tiếp tục, bạn sẽ có những tiến bộ - ngay cả khi dường như bạn chẳng tiến bộ gì hết hay dường như những tiến bộ đó không nhanh như bạn mong đợi. Đừng bao giờ quên nguyên tắc căn bản của sự gieo và gặt - bạn sẽ gặt được một vụ mùa thuộc linh nếu cứ tiếp tục gieo hạt giống tốt trong cánh đồng của Thánh Linh và nếu bạn không nản lòng!
h. Thời gian khác với cõi đời đời.
Cần có một thời gian kéo dài trong đời sống tĩnh nguyện của bạn (thí dụ trong mỗi thì giờ biệt riêng của cá nhân cũng như trong thời giờ tích lũy của cả cuộc đời). Có lẽ đây là một trong những chướng ngại vật gay nhất đối với Cơ Đốc nhân ngày nay, vì dường như họ luôn luôn không có đủ thời gian và thì giờ tĩnh nguyện bị bỏ đi quá dễ dàng. Tuy nhiên, chúng ta đánh giá cái lý lẽ 'không đủ thì giờ' không thỏa đáng này, dựa trên cái nhìn vĩnh cửu về những điều thật sự quan trọng. Phân tích cho đến cùng thì rõ ràng là chúng ta luôn luôn có đủ thời giờ để làm những gì mà chúng ta cho là thật sự quan trọng. Vì rằng phải cần đến nhiều thời gian chất lượng để có thể gây một ấn tượng sâu sắc và lâu dài trên con cái của Chúa, chúng ta phải dành càng nhiều thì giờ càng tốt cho những thời giờ tĩnh nguyện riêng của chúng ta.
Công thức đơn giản sau đây bày tỏ tầm quan trọng thật sự của thời giờ chất lượng dành cho Chúa.
ẤN TƯỢNG = THỜI GIAN x CƯỜNG ĐỘ
'Đã tìm thấy Chúa mà vẫn còn tìm kiếm Ngài là tình yêu nghịch lý của linh hồn. Tình yêu này, bị những nhà tôn giáo dễ dàng thỏa lòng khinh rẻ, nhưng tình yêu này được chứng thực bằng kinh nghiệm phước hạnh của những con cái Chúa, có tấm lòng nóng cháy' (A.W.Tozer; The Pursuit of God, trang 15
CÂU HỎI
1. Bạn giải thích như thế nào về mối quan hệ giữa sự xưng tội, ăn năn, thống hối và sự thờ phượng Chúa. Hiện giờ bạn có đang làm những gì bạn giảng không?
2. Hãy giải thích những suy nghĩ của bạn về lối định nghĩa và sự cầu nguyện trong giáo trình này.
3. Hãy phát biểu suy nghĩ của bạn về vấn đề rõ ràng là khó xử này: vì Đức Chúa Trời là Đấng Chủ Tể tuyệt đối và biết hết mọi chuyện thì tôi có cầu nguyện hay không cũng không quan hệ.
4. Nếu sự vâng phục cá nhân trực tiếp liên quan đến một đời sống cầu nguyện có hiệu quả thì bạn phải bổ sung ngay bước vâng phục nào?
5. Vì hầu như chắc chắn là Đức Chúa Trời chưa trả lời tất cả những lời cầu nguyện của bạn ngay lập tức vậy có thể Ngài đang dạy bạn điều gì liên quan đến sự bền đỗ?
6. Xin cho biết bạn có thể thay đổi việc thực hành kiêng ăn theo cách nào sau khi đã được nghe trình bày về điều này trong lớp học?
7. Mặc dù sự suy gẫm là một lãnh vực bị xao lãng nhiều trong Hội thánh ngày nay, bạn cần có những biện pháp gì để phát triển thói quen này trong đời sống bạn?
8. Xin giải thích mối quan hệ giữa giá trị mà hiện giờ bạn đang gán cho Chúa với sự thờ phượng Chúa của bạn. Bạn phải làm gì để trở nên một người thờ phượng Chúa tốt hơn?
9. Hãy nói kỹ về ý niệm sự thờ phượng phải là cách sống hơn là những biểu hiện thỉnh thoảng của lòng sùng bái.
10. Bạn sẽ khuyên những Cơ Đốc nhân khác điều gì về tầm quan trọng của một thì giờ tĩnh nguyện biệt riêng có chất lượng dành cho Chúa?
Bạn có đang thực hiện điều bạn giảng cho người khác không?
Nếu không, bạn phải có ngay những biện pháp gì?
A. Khía cạnh quan trọng của việc huấn luyện môn đồ.
1. Lời kêu gọi trở thành môn đồ của Chúa.
'Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai hay là con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta; ai không vác cây thập tự mình mà theo ta, thì cũng chẳng đáng cho ta. Ai gìn giữ sự sống mình, thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta mất sự sống mình, thì sẽ tìm lại được' (Mat Mt 10:37-39)
'Đức Chúa Giê-xu phán cùng môn đồ rằng: Nếu ai muốn theo ta, thì phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai vì cớ ta mà mất sự sống thì sẽ được lại. Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại?' (Mat Mt 16:24-26)
2. Ý nghĩa của từ 'môn đồ' theo Kinh Thánh.
Từ này diễn tả một quan niệm khá thông thường của thời xưa nói chung và vào thời Chúa Giê-xu từ ngữ này hàm ý là có một giáo sư và những người theo học, do đó Chúa Giê-xu là giáo sư và những người theo Ngài là những môn đồ; từ ngữ này thật sự có nghĩa là 'người học', 'người đi theo' nhưng những ý nghĩa này không phải là những lời mô tả thích hợp để diễn tả sự sâu sắc của lòng tin kính và sự phó thác cho Giê-xu vì vậy sau cùng từ này đã không được giới Cơ Đốc sử dụng nữa (trích trong Evangelical Dictionary of Theology, Water Elwell xuất bản, trang 216.
Có hai từ gốc Hi-lạp liên quan đến 'môn đồ':
- 'akolouthe' nghĩa đen là 'đi theo' hay 'đi đằng sau'. Từ này nói đến hành động của một người trả lời sự kêu gọi của Chúa Giê-xu và đời sống đó được đổi hướng đi theo sự vâng phục Ngài.
- 'mathetes' nghĩa đen là 'người học, học trò, hay môn đồ'. Từ này nói đến một người đã nghe lời kêu gọi của Giê-xu và theo Ngài. Một người được gọi là 'mathetes' khi người đó ràng buộc với mộtt người khác để có thể có được kiến thức về lý thuyết cũng như về thực hành của người kia. Một người chỉ có thể là một 'mathetes'. Khi ở cùng với một 'didaskalos' hay 'giáo sư'.
(New International Dictionary of New Testament Theology, Colin Brown xuất bản trang 480-492.
3. Bản chất của thái độ và cách sống của người môn đồ.
a. Chúa Giê-xu Christ phải được tôn lên là giá trị cao cả nhất trong đời sống của người môn đồ, do đó người môn đồ sẽ sẵn lòng đặt Ngài vào vị trí ưu tiên lớn nhất và dành cho chỉ mình Ngài tất cả sự tin kính và tình cảm của mình (Mat Mt 10:37-39).
b. Chúa Giê-xu, bấy giờ, quay lại với nhóm môn đồ và chỉ cho họ biết rằng nguyên tắc không tránh được của đời sống Cơ Đốc là tôi tớ không hơn chủ; điều gì xảy đến cho Christ, dù đó thật sự là điều duy nhất, cũng phải được thấy trong các người theo Ngài (Ma-thi-ơ, William Hendriksen, trang 656. Đó là nguyên tắc mà chính Chúa Giê-xu diễn tả khi tự mô tả về Ngài như 'đường đi, lẽ thật và sự sống' và rằng 'chẳng bởi Ta thì chẳng ai đến được cùng Cha' (Mat Mt 16:24).
c. Phúc âm là lời kêu gọi đi theo Đức Chúa Giê-xu Christ và đời sống thuộc linh chính là đi theo Đức Chúa Giê-xu. Do đó Ngài là người lãnh đạo duy nhất trong khi môn đồ là người hạ mình đi theo. Ngài là giáo sư trong khi môn đồ là người học trò; Ngài là Chúa và Chủ trong khi tín đồ là người nô lệ sẵn lòng (Mat Mt 16:24).
d. Người môn đồ phải hoàn toàn chối mình hay từ bỏ chính mình! Người ấy phải sẵn lòng giao thác toàn thể con người mình cho chủ. Đây là điều kiện tiên quyết và cũng là đặc tính thường xuyên của đời sống thuộc linh của người tín đồ (Mat Mt 16:24).
e. Người môn đồ phải 'vác thập tự giá mình một cách liên tục. Đây là một sự chấp nhận tự tình nguyện đồng chết với Christ, nhưng điều này phải được bày tỏ bằng một thái độ liên tục và phải được phản chiếu trong đời sống hàng ngày. Điều này mang nhiều ý nghĩa hơn là chỉ chịu khổ hay chịu đựng những thử thách khó khăn vì thập giá được xem cũng như được chấp nhận như một dụng cụ hành hình và nó chưa bao giờ không làm trọn mục đích của nó. Nói một cách khác, thập giá có ý chí của riêng nó và luôn luôn thành công trong việc áp đặt ý chí này trên các nạn nhân của nó; thập giá không bao giờ đầu hàng hay chịu thua, nó luôn luôn thắng, thập giá luôn luôn tiêu diệt các nạn nhân của nó bằng cách loại trừ chúng (The Old Cross and the New của A.W.Tozer) (Mat Mt 16:24).
f. Người tìm cách cứu sự sống mình BẰNG CÁCH TRÁNH MANG THẬP TỰ GIÁ, chắc chắn sẽ mất sự sống mình mãi mãi. Vì điều này thực sự chứng tỏ rằng người ấy không phải là người môn đồ thật của Chúa Giê-xu. Nhưng người mà sẵn lòng mất sự cống mình và CHỮU CHỀT TRÊN THẬP TỰ GIÁ sẽ cứu được sự sống mình cho đến đời đời. Và phân tích cho đến cùng thì điều gì là thật sự quan trọng nhất trong đời sống? (Mat Mt 16:25, 26).
'Nhìn rõ điểm này rất tốt cho chúng ta. Chúng ta không được tự giấu giếm điều này. Cơ Đốc giáo thật mang đến trong đời này một thập tự giá thường xuyên nhưng một mão triều thiên vinh hiển trong đời sau' (J.C.Ryle trong Ryle's Expontory thoughts on the Gospels, tập I trang 202.
THẬP GIÁ CŨ VÀ THẬP GIÁ MỚI (A.W.TOZER)
Ngày nay trong những nhóm Tin Lành được nhiều người ưa thích đã xuất hiện một cách bất ngờ và gần như không nhận biết rõ, một thập giá mới. Nó giống như thập giá cũ nhưng lại khác hẳn: sự tương đồng chỉ ở bề mặt còn sự khác biệt ở trong nền tảng.
Từ thập tự giá mới này nảy sinh ra một triết lý mới về đời sống Cơ Đốc và từ triết lý mới này xuất hiện một kỹ thuật truyền bá Phúc âm mới mẻ - một loại nhóm họp và một loại rao giảng Phúc âm mới. Sự truyền bá Phúc âm mới này sử dụng cùng loại ngôn ngữ như xưa nhưng nội dung và sự nhấn mạnh không như trước nữa.
Thập giá cũ không dính dáng gì đến thế gian. Đối với bản tính xác thịt kiêu ngạo của Adam nó có nghĩa là sự kết thúc . Nó thi hành bản án do luật pháp Si-nai áp đặt.
Thập giá mới không chống nghịch lại loài người mà còn là một người bạn thân thiện và nếu hiểu đúng thì nó chính là nguồn của vô số những niềm vui trong sạch và những sự giải trí vô hại. Nó để cho Adam sống mà không can thiệp gì vào. Động cơ sống của Adam không thay đổi; Adam vẫn sống cho sự vui thú riêng của mình chỉ có là bây giờ thì vui vẻ hát thánh ca và xem những phim tôn giáo thay vì hát những bài hát tục tĩu và uống rượu mạnh. Sự nhấn mạnh vẫn là trên sự vui thú mặc dù niềm vui bây giờ có một mức độ đạo đức cao hơn nếu không phải mà trí thức hơn. Thập giá mới khuyến khích một cách nhìn về Phúc âm hoàn toàn mới và khác hẳn. Người truyền bá Phúc âm không đòi hỏi sự từ bỏ đời sống cũ trước khi nhận đời sống mới. Người ấy không giảng những điều tương phản nhưng giảng những điểm tương đồng với những sử thích của quần chúng bằng cách chứng tỏ rằng Cơ Đốc giáo không đưa ra những đòi hỏi khó chịu mà là đem đến những điều cũng giống ở thế gian nhưng ở mức độ cao hơn. Bất cứ điều gì mà thế giới tội lỗi điên rồ này đang lớn tiếng đòi hỏi đã được chứng tỏ một cách khéo léo rằng đó cũng chính là những điều mà Phúc âm đem đến, có điều là sản phẩm tôn giáo thì tốt hơn. Thập giá mới không giết chết tội nhân mà chỉ đổi hướng thôi. Nó hướng tội nhân đến một cách sống trong sạch và vui vẻ hơn và không làm mất đi sự tự trọng của người ấy. Đối với những người hay tự khẳng định mình, nó nói 'Hãy đến và tự khẳng định chính mình cho Christ'. Đối với những người tự cao tự đại, nó nói 'Hãy đến và khoe khoan trong Chúa'. Đối với những người tìm kiếm sự hứng thú, nó nói 'Hãy đến và vui hưởng sự hào hứng của mối thông công Cơ Đốc. Sứ điệp Cơ Đốc nói lên theo chiều hướng của những điều thịnh hành để có thể được công chúng chấp nhận.
Triết lý hậu thuẫn cho những điều loại này có thể là thành thật nhưng sự thành thật của nó cũng không cứu nó khỏi sự sai trật. Triết lý này sai vì mù quáng. Nó đã hoàn toàn hụt mất toàn thể ý nghĩa của thập tự giá.
Thập giá cũ là biểu tượng của sự chết. Nó tượng trưng cho sự chấm dứt đột ngột và dữ dội của con người. Thời đế quốc La-mã, người vác thập tự giá lên và bắt đầu đi là trước đó đã chào vĩnh biệt bạn bè. Anh ta không trở lại không phải anh ta ra đi để cuộc đời mình được đổi hướng mà là để cho nó bị kết thúc. Thập giá không nhân nhượng, không thay đổi điều gì và không tha một điều gì; nó giết toàn bộ con người, giết hoàn toàn và giết luôn. Thập giá cũ không cố để giữ hòa khí với nạn nhân của nó. Nó đánh mạnh và hung bạo và khi nó đã hoàn tất công việc thì nạn nhân không còn nữa.
Dòng dõi Adam ở dưới án phạt tử hình. Không có sự chuyển hướng hay lối thoát nào. Đức Chúa Trời không thể chấp nhận bất cứ bông trái nào của tội lỗi dù cho đối với con người, chúng có thể tỏ ra đẹp đẽ và vô tội như thế nào đi chăng nữa. Đức Chúa Trời cứu chuộc một người bằng cách giết người đó và rồi cho người đó sống lại một cuộc đời mới.
Loại Phúc âm mà đưa ra một sự tương đồng giữa phương cách của Đức Chúa Trời và của con người thì sai trật đối với Kinh Thánh và độc ác đối với linh hồn của người nghe. Đức tin của Christ không song song với thế gian mà cắt bỏ (X! thế gian. Khi đến với Christ chúng ta không đem đời sống cũ của chúng ta lên một nơi cao hơn mà chúng ta bỏ nó tại thập tự giá. Hạt lúa mì phải rơi xuống đất và chết đi.
Chúng ta những người rao giảng Phúc âm không được nghĩ mình là những nhân viên tiếp xúc quần chúng được gửi đi để thiết lập mối giao hảo tốt đẹp giữa Christ và thế gian. Chúng ta không được tưởng tượng mình được ủy nhiệm để làm cho Christ có thể được giới tư bản, báo chí, thế giới thể thao hay nền giáo dục hiện đại chấp nhận. Chúng ta không phải là những nhà ngoại giao nhưng là những tiên tri và sứ điệp của chúng ta không phải là một bản thỏa hiệp mà là một tối hậu thư.
Đức Chúa Trời ban sự sống nhưng không phải một đời sống cũ được cải biến. Đời sống Ngài ban cho là một đời sống ra từ sự chết. Nó luôn đứng ở phía xa bên kia thập giá. Bất cứ ai muốn có được sự sống này phải chịu đi qua dưới thập giá. Người ấy phải từ bỏ chính mình và đồng ý với bản án công bình của Đức Chúa Trời dành cho người ấy.
Điều này có nghĩa gì đối với từng cá nhân, từng con người đã bị định tội mà lại tìm được sự sống trong Christ Giê-xu? Làm thế nào để chuyển lý thuyết thần học này thành sự sống? Một cách đơn giản, cá nhân ấy phải ăn năn và tin nhận. Người ấy phải từ bỏ tội lỗi của mình rồi tiếp tục từ bỏ chính mình. Người ấy đừng che giấu điều gì , đừng biện hộ điều gì người ấy đừng tìm cách quan hệ tốt với Đức Chúa Trời nhưng người ấy hãy cúi đầu trước cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời và nhận biết rằng mình đáng tội chết.
Sau khi đã làm xong điều đó người ấy hãy ngước lên nhìn vào Đấng Christ phục sanh với một đức tin đơn sơ; và từ Ngài sẽ có sự sống và sự tái sanh sự rửa sạch và quyền năng. Thập giá mà đã kết thúc đời sống trên đất của Chúa Giê-xu giờ này kết thúc cuộc đời tội nhân và quyền năng đã khiến Christ từ kẻ chết sống lại giờ này đem tội nhân đến một đời sống mới với Christ.
Đối với những ai có thể phản đối điều này hay xem đây chỉ là một quan điểm hẹp hòi và riêng tư về lẽ thật thì tôi xin nói rằng Đức Chúa Trời đã xác nhận sự tán đồng của Ngài trên sứ điệp này từ thời Phao-lô cho đến ngày nay. Dù có được nói ra bằng chính những lời lẽ nêu trên hay không, điều này đã và đang là nội dung của tất cả mọi sự rao giảng đã đem đến sự sống và quyền năng cho thế giới qua nhiều thế kỷ. Những nhà thần bí, những nhà cải chánh những dấu kỳ phép lạ của Đức Thánh Linh ấn chứng sự tán đồng của Đức Chúa Trời.
Chúng ta, những người kế thừa của một quyền năng hợp pháp như vậy, lại dám sửa chữa lẽ thật sao? Chúng ta lại dám xóa bỏ đường nét của bản thiết kế hay hay sửa đổi mẫu mực dù được ban cho chúng ta trên Núi sao? Cầu xin Chúa ngăn cấm điều này. Chúng ta hãy rao giảng thập giá cũ và chúng ta sẽ kinh nghiệm quyền năng xưa.
B. Tìm biết ý chỉ Chúa cho đời sống bạn là điều cần thiết.
1. Một ý chỉ rõ ràng (hoặc chương trình) cho mỗi tín đồ là điều thực hữu
a. Theo ý nghĩa tổng quát
"Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, đều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình; vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jesus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo" (Eph Ep 2:8-10).
b. Theo ý nghĩa đặc biệt
"Vì ý muốn Đức Chúa Trời là khiến anh em nên thánh...mỗi người phải biết giữ thân mình cho thánh sạch và tôn trọng...Bởi chưng Đức Chúa Trời chẳng gọi chúng ta đến sự ô uế đâu, bèn là sự nên thánh vậy" (ITe1Tx 4:3-7).
2. Tầm quan trọng của việc tìm biết ý chỉ của Đức Chúa Trời
- "Vậy chớ nên như kẻ dại dột, nhưng phải hiểu rõý muốn của Chúa là thế nào" Eph Ep 5:15-17.
- "Cho nên, chúng tôi cũng vậy, từ ngày nhận được tin đó, cứ cầu nguyện cho anh em không thôi, và xin Đức Chúa Trời ban cho anh em được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài, với mọi thứ khôn ngoan và hiểu biết thiêng liêng nữa" CoCl 1:9.
- "Ê-pháp-ra, người hàng xứ với anh em, tôi tớ của Đức Chúa Jesus Christ, có lời chào anh em; người vì anh em chiến đấu không thôi trong khi cầu nguyện, để anh em trở nên toàn vẹn và trọn niềm vâng phục mọi ý muốn của Đức Chúa Trời" CoCl 4:12.
- "Đức Chúa Trời bình an, là Đấng bởi huyết giao ước đời đời mà đem Đấng chăn chiên lớn là Đức Chúa Jesus chúng ta ra khỏi từ trong kẻ chết, nguyền xin Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ khiến anh em nên trọn vẹn trong mọi sự lành, đặng làm thành ý muốn Ngài, và làm ra sự đẹp ý Ngài trong chúng ta; sự vinh hiển đáng về Ngài đời đời vô cùng! A-men" HeDt 13:20-21.
3. Cơ Đốc nhân và sự tìm biết ý chỉ của Đức Chúa Trời
Thường có một sự khó khăn lớn liên quan đến ý chỉ của Đức Chúa Trời.
a. Vấn đề căn bản.
- Có một sự khó khăn rõ ràng trong việc tìm biết ý chỉ của Đức Chúa Trời
- Có một sự ngần ngại rõ ràng trong việc làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời.
b. Giải pháp căn bản đề ra.
- Sự nhận biết: Đây là sự tìm ra những phương cách thực sự qua đó bày tỏ ý chỉ của Ngài cho Cơ Đốc nhân.
- Sự hứa nguyện: Đây là sự tự nguyện sẵn lòng đặt ý chỉ của Chúa vào trong bối cảnh 'của cá nhân' và 'trong hiện tại'
- Sự làm theo: Đây là việc thật sự làm theo ý chỉ của Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh và vào mọi thời điểm.
4. Bản chất ý chỉ của Đức Chúa Trời.
Ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài được bày tỏ theo hai cách sau đây:
a. Ý chỉ tổng quát
Định nghĩa:
Ý chỉ tổng quát của Đức Chúa Trời là ý chỉ sẽ áp dụng cho toàn bộ cuộc đời của mọi tín đồ của mọi thời kỳ.
Nơi bày tỏ:
Ý chỉ tổng quát của Đức Chúa Trời luôn luôn được bày tỏ trong Kinh Thánh và ý chỉ tổng quát là nơi mà mỗi một tín đồ phải bắt đầu trong sự ao ước bước đi trong sự vâng phục Đức Chúa Cha.
b. Ý chỉ đặc biệt.
Định nghĩa:
Ý chỉ đặc biệt (cụ thể) của Đức Chúa Trời là ý chỉ sẽ áp dụng cho những hoàn cảnh rõ ràng và đặc biệt trong đời sống người tín đồ.
Nơi bày tỏ:
Ý chỉ đặc biệt (cụ thể) của Đức Chúa Trời luôn luôn được bày tỏ qua thân thể Đấng Christ, được xác định bên trong bởi Đức Thánh Linh ấn chứng trong lòng người ấy và bên ngoài được xác định bởi những hoàn cảnh rõ ràng.
c. Những thí dụ có ích.
Những thí dụ sau đây có thể giúp phân biệt rõ ràng ý chỉ tổng quát và ý chỉ đặc biệt của Đức Chúa Trời.
- Đối với mọi Cơ Đốc nhân của mọi thời đại và trong mọi hoàn cảnh thì ý chỉ tổng quát của Đức Chúa Trời là lập gia đình 'trong Chúa' nhưng còn người mà bạn có thể lập gia đình với là một sự bày tỏ ý chỉ cụ thể của Ngài.
- Ý chỉ tổng quát của Đức Chúa Trời là mỗi Cơ Đốc nhân phải tham dự vào một nhóm thông công Cơ Đốc nhưng với nhóm thông công nào thì đó là sự bày tỏ ý chỉ cụ thể của Ngài.
- Ý chỉ tổng quát của Đức Chúa Trời là mỗi Cơ Đốc nhân phải là một người quản lý tài chánh của mình cách tốt đẹp nhưng ý chỉ cụ thể của Đức Chúa Trời là bạn phải dâng chính xác bao nhiêu và ở đâu.
5. Việc thực hành làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời của Cơ Đốc nhân.
a. Người tín đồ sẽ luôn luôn gặp khó khăn lớn trong việc tìm biết ý muốn cụ thể của Đức Chúa Trời nếu họ không có sự sung sướng để được biết hay lòng quyết tâm thực hiện ý muốn Đức Chúa Trời đã được bày tỏ ra.
b. Phần lớn vấn đề trong đời sống người tín đồ liên quan đến ý muốn Đức Chúa Trời, không phải ở chỗ tìm biết ý muốn của Ngài thật sự là gì mà là ở sự do dự hay miễn cưấng, không biết thật sự người ấy có muốn làm theo hay không.
c. Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ bày tỏ ý muốn của Ngài để người tín đồ xem xét nó: Ngài chỉ sẽ bày tỏ ý muốn của Ngài để được vâng phục! Do đó người tín đồ nào không quyết tâm làm theo điều Chúa muốn chắc chắn sẽ gặp nhiều trở ngại lớn trong việc tìm biết ý muốn chính xác của Ngài.
d. Ý chỉ của Đức Chúa Trời phải được nhìn xem dưới khía cạnh thực tế hiện tại của người tín đồ hơn là sự lo lắng quan tâm đến ý muốn của Chúa cho tương lai. Tất cả những gì người tín đồ cần biết là ý muốn của Chúa cho ngày nay, tất cả những gì một người tín đồ có thể làm là thực hiện ý chỉ của Chúa cho hôm nay và tất cả những gì Chúa sắp bày tỏ là ý muốn của Chúa cho ngày hôm nay. Và khi ý muốn của Chúa cho hôm nay được bày tỏ và vâng theo thì toàn bộ quá trình của đời sống bắt đầu và sẽ đưa đến sự bày tỏ và thực hiện ý muốn của Chúa cho bất cứ ngày nào trong tương lai.
e. Ý muốn của Đức Chúa Trời KHÔNG ĐƯỢC XEM LÀ GÁNH NÓNG cho người tín đồ (IGi1Ga 5:3) nhưng phải được chứng tỏ qua kinh nghiệm cá nhân là TÚT LÀNH, ĐÊP LÒNG VÀ TRỌN VÊN (RoRm 12:2). Nói một cách khác người tín đồ mà đã học biết được ý muốn của Đức Chúa Trời, đã hoàn toàn giao thác đời sống mình để làm trọn ý muốn đó và đã thật sự bắt đầu bước đi theo ý muốn đó chắc chắn sẽ khám phá ra rằng ý muốn của Chúa là sự khoái lạc thỏa lòng trong đời sống của mình. Người ấy có một sự thỏa lòng riêng tư mà không thể nào đo lường hay so sánh với bất cứ điều gì thế gian có thể đem lại. Sự thỏa lòng nơi người con của Chúa, thật sự làm ứng nghiệm điều Chúa đã định cho người ấy từ thuở ban đầu là điều mà người ấy đã được cứu chuộc để làm ra!
f. Hãy nhớ thử nghiệm kỹ càng những gì bạn xem là ý chỉ cụ thể của Đức Chúa Trời. Thường thì chúng ta hay tự lừa dối mình để tin rằng đó là ý chỉ của Đức Chúa Trời chỉ vì đó là điều mà chúng ta hết sức mong ước. Trong những trường hợp đó hãy hết sức khách quan hãy thử nghiệm mọi thứ dựa trên ý chỉ tổng quát của Đức Chúa trời, lời khuyên của những Cơ Đốc nhân trưởng thành, thời gian trôi qua và những hoàn cảnh tổng quát của đời sống mình.
C. Ước muốn đầu phục hoàn toàn là điều cần thiết.
1. Những suy nghĩ về sự vâng phục.
"Đức Chúa Trời chỉ truyền ra những gì có lợi. 'Hấi Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời đòi hỏi ngươi điều gì ngoài việc kính sợ Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và vâng giữ các điều răn Ngài mà ta truyền ra hôm nay vì lợi ích của ngươi?' Vâng lời Đức Chúa Trời là một đặc ân của chúng ta hơn là một bổn phận" (Thomas Watson, A Purutan Golden Treasury page 199.
' Sự vâng lời thật, dù là đối với Đức Chúa Trời hay với con người, là khi chúng ta nhìn vào tâm trí của người làm luật hơn là nhìn vào chính những luật lệ' (John Trapp, The Puritan Golden Treasury, page 199.
'Sau cùng thì chứng cứ lớn nhất của lòng tin kính sống động là sự đầu phục thực tế. Tính tình con người là do cách sống của người đó quyết định. Tôi cho đây là thử nghiệm lớn nhất của một niềm tin thật. Và đây cũng là cách đánh giá không bao giờ sai trật Cách ăn ở của một người là do lòng người đó điều khiển (Gardiner Spring, The Distinguishing traitsof Christian character, page 69.
"Sao các ngươi gọi là ta Chúa, Chúa mà không làm theo lời ta phán...." LuLc 6:46-49.
'Không có lẽ thật nào rõ ràng hơn lẽ thât này trong tôn giáo lời nói mà không việc làm thì vô ích và còn đáng khinh nữa. Nhưng ít việc làm lại là điều hết sức phổ biến. Một nhà bình luận đã viết. Tội lỗi rõ ràng, và sự vô tín thừa nhận công khai chắc chắn sẽ giết hàng ngàn người. Nhưng rao truyền đức tin mà không có việc làm sẽ giết hàng chục ngàn người'. Đó là điều Chúa Giê-xu đã nghĩ đến khi Ngài nói những kẻ gọi Ngài Chúa Chúa mà không làm theo sẽ bị cuốn theo dòng thác của cuộc sống (Hames Boice; trích trong J.C.Ryle's Expository Thoughts on the Gospels: Luke, trong Christ's Call ta Discipleship trang 50
"Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng...." Mat Mt 7:21-23
'Giu-đa đã nghe tất cả những bài giảng của Christ. Thomas Goodwin, A Puritan Golden Treasury trang 200'
2. Bản chất và ý nghĩa của sự vâng phục.
a. Định nghĩa và mô tả.
- Vâng phục là 'làm theo lệnh truyền hay sự hướng dẫn; tuân theo'
- Sự vâng phục là hành động vâng lời; phẩm chất hay tình trạng biết vâng lời.
- Biết vâng lời là thuận phục sự bắt buộc hay lệnh truyền của uy quyền.
(Định nghĩa rút ra từ Tự điển Webster's New Collegiate)
- 'Cơ Đốc nhân được kêu gọi để sống một đời sống vâng phục nhưng điều này không chỉ đơn giản có nghĩa là tuân theo luật lệ... Đời sống vâng phục chủ yếu là một đời sống mở đón ra thích ứng với công việc Đức Thánh Linh hành động trong lòng mỗi người tín đồ và trong những biến cố tạo thành hoàn cảnh lịch sử trong đó mỗi tín đồ sống, có những quyết định và vâng lời.
(Obedience: The Gateway to Freedom của Joseph Culliton)
b. Kết luận.
- Vâng phục là một quyết tâm làm tất cả ý muốn của Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh (sự thuận phục của một nô lệ đối với chủ.
- Vâng phục là một quyết tâm thích ứng hay điều chỉnh mình để theo sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh.
- Vâng phục là một quyết tâm đáp ứng với mỗi sự thúc giục của Đức Thánh Linh để có thể đi theo và làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
- Kết quả là ý muốn của Đức Chúa Trời hay luật pháp của Đức Chúa Trời ược ứng nghiệm trong đời sống của người tín đồ (xem RoRm 8:4)
3. Vâng phục là điều bắt buộc.
Đức Chúa Trời TRUYỂN LỆNH rằng tất cả dân sự của Ngài phải bước đi trong sự vâng phục. DO ĐÓ SỰ VÂNG PHỤC LÀ MỘT ĐIỂU BẮT BUỘC CHÌ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT SỰ LỰA CHỌN CỦA CƠ-ĐÚC NHÂN (XuXh 19:5, Gios Gs 1:9, IGi1Ga 2:4, 5:3, IPhi 1Pr 1:1, 2)
4. Thí dụ của sự vâng lời.
Sự luyện tập vâng lời
"Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu" (HeDt 5:8).
Sự chọn lựa vâng lời
"Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài" (GiGa 4:34).
Phạm vi của sự vâng lời
"Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự" (Phi Pl 2:8).
5. Thí dụ về sự không vâng lời (ISa1Sm 15:1-35)
6. Sự chu cấp cho sự vâng lời (IGi1Ga 1:9)
Mục đích duy nhất là sự thuận phục hoàn toàn và tuyệt đối!
Sự thất bại cá nhân là một thực tế thường xuyên!
Phương cách là thành thật thú nhận tội lỗi với Đức Chúa Trời!
Sự phục hồi dựa trên công việc đã được hoàn tất của Christ!
Đức Chúa Trời thành tín với lời hứa tha thứ vì công lý của Ngài đã được thực hiện và cơn thạnh nộ của Ngài đã hoàn toàn nguội xuống qua công tác đền tội hoàn hảo trọn vẹn của Chúa Giê-xu Christ.
Nhưng công việc của Đấng Christ luôn luôn là căn bản duy nhất cho sự tha thứ!
Kết luận tổng quát.
Rõ ràng là ân điển không cho phép sống trong xác thịt mà cung cấp năng lực để sống trong Thánh Linh. Đức tin, giống như ân điển, không ở thể tĩnh. Đức tin cứu rỗi không chỉ là hiểu các sự kiện rồi ưng thuận ngầm. Đức tin này không thể tách rời khỏi sự ăn năn, phó thác và một lòng ao ước siêu nhiên muốn thuận phục. Quan điểm của Kinh Thánh về đức tin cứu rỗi bao gồm mọi yếu tố trên. Không một yếu tố nào có thể được tuyệt đối xem như là công việc của con người và chính đức tin thì lại càng không phải là một nỗ lực của con người John Mac Arthur; The Gospel according ta Jesus, trang 31.
D. Chấp nhận sự sửa trị của Đức Chúa Trời là điều cần thiết.
1. Sự sửa trị của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài là điều có thật.
"Hấi con, chớ khinh điều sửa phạt của Đức Giê-hô-va, Chớ hiềm lòng khi Ngài quở trách; Vì Đức Giê-hô-va yêu thương ai thì trách phát nấy, như một ngời cha đối cùng con trai yếu dấu mình" (ChCn 3:11, 12).
"Sự hình phạt nặng nề dành cho kẻ bỏ chánh lộ; và kẻ ghét lời quở trách sẽ chết mấ" (ChCn 15:10)
"Ấy vì cứ đó mà torng anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ" (ICo1Cr 15:10)
"Khi Đấng Christ còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhơn đức Ngài, nên được nhậm lời. Dầu Ngài là Con, cũng đã học tập vâng lời bởi những sự khốn khổ mình đã chịu, và sau khi đã được làm nên trọn vẹn rồi, thì trở nên cội rễ của sự cứu rỗi đời đời cho kẻ vâng lời Ngài" (HeDt 5:7-9)
"Lại đã quên lời khuyên anh em như khuyên con rằng: Hấi con, chớ dễ ngươi sự sửa phạt của Chúa,...........nhưng về sau sanh ra bông trái công bình cho những kẻ đã chịu luyện tập như vậ"' (HeDt 12:5-11)
2. Bản chất sự sửa trị của Đức Chúa Trời (HeDt 12:5-14)
a. Ý nghĩa của sự sửa trị.
Ý nghĩa sai.
Nhiều người cho rằng sửa trị đồng nghĩa với 'trừng trị' và có nghĩa là Đức Chúa trời đang 'báo trả' kẻ phạm tội vì những hành động không công bình của họ sửa trị được xem như công lý báo trả của Đức Chúa Trời.
Ý nghĩa đúng.
Sự sửa trị không phải là công lý báo trả mà là kỷ luât chữa trị, bản chất của nó luôn mang ý nghĩa cải tạo, do đó nó không có tính chất phá hoại mà mang tính chất xây dựng; tiếng Hi-lạp là 'paideias' nghĩa đen là huấn luyện, dạy dỗ hay đưa vào kỷ luật.
b. Nhớ đến sự sửa phạt (c.5a)
Lời mở đầu của đoạn nói về sửa trị rất quan trọng vì nó diễn tả một điểm thường bị bỏ quên. Lối này hàm ý rằng sự sửa trị là một thực tế thường xuyên và dân sự của Chúa phải nhớ sự kiện này. Tác giả đang nhắc những người này rằng họ phải biết rõ sự kiện này, rằng lẽ ra họ đã phải biết lẽ thật này và rằng họ đã nghe điều này trước đây nhưng đã quên mất. Họ và chúng ta quên sao quá dễ dàng!
c. Thái độ đối với sự sửa trị (c.5b)
Vì sự sửa trị là một thực tế thường xuyên trong đời sống người tín đồ và khi hiểu ý nghĩa đúng đắn của sự sửa trị thì điều quan trọng là phải có một thái độ đúng đắn đối với sự sửa trị.
Tác giả khuyên độc giả của ông chớ dễ ngươi sự sửa trị (có nghĩa là coi thường) và chớ ngã lòng (có nghĩa là nản chí hay bị áp đảo) khi việc này xảy đến. Thái độ rất quan trọng nếu như sự sửa trị phải làm thành mục đích của nó vì nếu thái độ không đúng sẽ có nguy cơ trở nên cay đắng và cứng lòng hơn. Rồi người tín đồ sẽ mất đi lợi ích định sẵn cho và sẽ mất đi sự an ủi sâu xa đến từ Chúa.
Sự sửa trị sẽ khiến bạn cay đắng hơn hay tốt lành hơn tùy theo thái độ của bạn đối với nó.
d. Động cơ đằng sau sự sửa trị (c.6)
Động cơ duy nhất đằng sau sự sửa trị là tình yêu của Đức Chúa trời đối với con cái Ngài! Sự sửa trị là kết quả hay sản phẩm của tình yêu vô tận của Đức chúa Trời và là chứng cớ chắc chắn là Ngài đang làm việc trên đời sống của con cái Ngài!
- Nếu bạn là con cái của Đức Chúa Trời bạn sẽ bị sửa trị; bạn sẽ được thường xuyên huấn luyện và sửa chữa vì Ngài quá yêu thương chúng ta nên không thể để chúng ta đi vơ vẩn hay lạc lối.
- Nếu bạn là con cái của Đức Chúa trời, bạn sẽ bị sửa trị; ý chí của bạn sẽ bị bẻ gãy để không làm theo sự bướng bỉnh của riêng bạn mà sẽ đi theo ý chỉ hoàn hảo của Đức Chúa Trời.
Người tín đồ nào vui mừng trong tình yêu của Đức Chúa Trời phải học tập chấp nhận động cơ của sự sửa trị chính là tình yêu lớn lao đó.
e. Sự sửa trị là điều chắc chắn (c.7,8)
Do đó con cái thật của Đức Chúa Trời sẽ bị sửa trị và phải học để chờ đợi điều này; đây là một điều bình thường, quen thuộc và là một thực tế chắc chắn mà không một con cái nào của Chúa thoát được (ngay cả Con Đức Chúa Trời như đã bày tỏ trong HeDt 2:10, 5:7-9). Nếu điều này là thật đối với Ngài thì nó lại càng tuyệt đối cần thiết với những con cái Chúa, vốn mang bản chất tội lỗi.
Người tín đồ không bao giờ được suy nghĩ sai lầm là họ sẽ không phải chịu sửa trị nếu họ thật sự là con Đức Chúa Trời vì chính bởi họ là con của Đức Chúa Trời mà họ phải chịu sửa trị!
Người tín đồ có thể được đảm bảo về tình yêu và sự quan tâm của Đức Chúa trời cũng như về bằng chứng mình là con Đức Chúa Trời khi chịu sự sửa trị.
f. Thái độ đáp ứng với sự sửa trị (c.9)
Hai yếu tố chủ yếu quyết định cho một thái độ đáp ứng thích hợp là:
1. Sự KÍNH TRỌNG đối với Chúa (sự kính sợ Chúa).
Vì sự sửa trị đến trực tiếp từ Đức Chúa Trời. Vậy chúng ta có không nghĩ rằng Ngài làm điều này là cần thiết chăng? Chúng ta có không cho rằng Ngài đang tể trị tuyệt đối trên những biến cố đi kèm với sự sửa trị chăng? Chúng ta có không cho rằng sự sửa trị được sự khôn ngoan, tài năng, sự tốt lành, sự công bình và sự thành tín của Ngài hướng dẫn chăng?
2. LÒNG TIN CẬY NƠI Đức Chúa Trời (đặt lòng tin nơi Ngài)
Nếu sự sửa trị được xem xét theo cách nhận biết và kính trọng Đức Chúa Trời thì có thể hoàn toàn tin cậy Ngài. Điều này sẽ được bày tỏ bằng sự hết lòng thuận phục Ngài giữa những hoàn cảnh khó khăn. Chúng ta có nên làm hổ danh Ngài bằng sự nghi ngờ không? Bằng sự chống cự lại hay có khi bằng sự thách thức?
Nếu chúng ta sẵn lòng vâng phục 'cha về phần xác' khi bị sửa trị thì chúng ta chẳng nên sẵn lòng hơn nữa mà thuận phục 'cha về phần hồn' hay sao?
g. Mục đích của sự sửa trị (c.10-11)
Chỉ có một mục đích duy nhất và chính yếu của Đức Chúa Trời trên đời sống của mỗi tín đồ.
Eph Ep 1:4 ”Trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời".
RoRm 8:29 ”Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài.
Đoạn này bày tỏ rằng sự sửa trị của Đức Chúa Trời hoàn toàn phù hợp với mục đích toàn thể của Ngài đối với đời sống người tín đồ. Thật ra đây là phương tiện Chúa chọn để hoàn tất mục đích này!
Do đó những sự sửa trị đến với đời sống người tín đồ không phải là không có mục đích hay chỉ là ngẫu nhiên, không có nguyên nhân. Sự sửa trị được định theo một mục đích thiên thượng, được sắp sẵn như là một phần của chương trình hoàn hảo của Đức Chúa Trời.
Người tín đồ phải nhìn biết sự sửa trị theo ánh sáng của mục đích đã định sẵn chỉ không phải theo những cảm xúc nhất thời.
h. Bông trái của sự sửa trị (c.14)
Nếu chúng ta là con cái thật, chúng ta sẽ bị sửa trị.
Nếu bị sửa trị, chúng ta sẽ trở nên thánh khiết.
Nếu thánh khiết, chúng ta chắn chắn sẽ thấy thiên đàng.
Nếu không bị sửa trị (hay kháng cự lại) thì chúng ta không phải là con thật.
Nếu không là con thật, chúng ta sẽ không trở nên thánh khiết.
Nếu không thánh khiết, chúng ta sẽ chẳng bao giờ thấy thiên đàng!
E. Đối diện với thử thách một cách đúng đắn là điều cần thiết.
1. Kinh Thánh nghĩ gì về thử thách.
"Hấi kẻ rất yêu dấu khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu, thì hãy vui mừng bất nhêu, hầu cho đến ngày anh em cũng được vui mừng nhảy nhót" (IPhi 1Pr 4:12, 13)
"Hấi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục. Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào. Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho. Nhưng phải lấy đức tin mà cầu xin, chớ nghi ngờ; vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió động và đưa đi đây đó" (Gia Gc 1:2-6)
2. Bản chất của những thử thách (Gia Gc 1:2-6)
a. Thử thách là một thực tế.
Đoạn này bảy tỏ một sự kiện quan trọng liên quan đến thử thách, vì cho thấy rằng thử thách là một thực tế trong đời sống Cơ Đốc. Không phải 'nếu' bặn gặp thử thách mà là 'khi' bạn gặp thử thách.
- Thử thách sẽ đến liên tục trong đời sống tín đồ.
- Thử thách thường đến ở những thời điểm bất ngờ không thể tiên đoán trước được.
- Do đó người tín đồ nên chờ đợi những thử thách hơn là ngạc nhiên khi thử thách đến.
b. Nhiều loại thử thách
Đoạn này cũng cho biết có nhiều loại thử thách: có nhiều cách để thử thách và nhiều loại khó khăn khác nhau.
- Một số thử thách dường như đến thẳng từ Sa-tan (ICo1Cr 12), số khác dường như là hậu quả của những hoàn cảnh trong cuộc sống (thí dụ mất việc) hay hậu quả của những thiên tai (thí dụ: những thiên tai xảy đến với Gióp).
- Một số thử thách tấn công người tín đồ về mặt tinh thần, số khác về mặt tình cảm và số khác nữa về mặt thể xác; nhưng đối với Cơ Đốc nhân, tất cả những thử thách này sẽ có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tâm linh nên cần phải được giải quyết về phương diện này nữa.
c. Mục đích của thử thách.
Đoạn Kinh Thánh cũng bày tỏ mục đích của Đức Chúa Trời đối với sự thử thách, những thử thách được định để đem đến sự nhẫn nại và nhịn nhục trong đời sống dân sự Ngài. Đây chính là đức tính kiên định, bền đỗ, trung tín thường được xem là đức tính hàng đầu.
Sự nhịn nhục, mô tả nơi đây, ở thì hiện tại nói lên một hành động diễn tiến hay một phẩm chất đang có. Nó có thể được mô tả như 'sức chịu đựng dẻo dai' (thí dụ hình ảnh một người đang ở dưới một gánh nặng và cứ nhất quyết chọn đứng ở đó hơn là cố để thoát ra khỏi). Do đó 'sức chịu đựng dẻo dai' là cái tinh thần bền bứ vẫn giữ vững dưới áp lực trong khi chờ đợi Chúa ban thửơng hay cất áp lực.
3. Thái độ không đúng đắn đối với thử thách.
a. Thí dụ về thái độ này trong Kinh Thánh (LuLc 8:22-25, Mac Mc 4:35-41)
- Hãy nhớ đây là những người có đức tin; đã từng đi với Chúa Giê-xu trong một thời gian, đã từng chứng kiến những phép lạ của Ngài và đã từng nghe sự giảng dạy có quyền của Ngài, họ nhìn xem Ngài, tin Ngài và hy vọng ở Ngài.
- Đoạn Kinh Thánh cho thấy cách họ đáp ứng với thử thách: họ có xem đó là sự vui mừng không? Không! Họ giao động dữ dội và hoảng sự đến độ nghĩ rằng họ chắc sẽ chết. Họ chỉ có thể nhìn thấy tính nghiêm trọng của vấn đề không có lối thoát và đức tin của họ nhanh chóng tan biến!
- Đoạn Kinh Thánh cũng cho thấy (xem Mác) họ cảm thấy Chúa hoặc chẳng quan tâm gì lắm đến tình trạng hiểm nghèo của họ. Và tệ hơn nữa, nếu Ngài có biết và có quan tâm thì tại sao Ngài chẳng làm một điều gì?
Những người này tập trung toàn bộ sự chú ý của họ vào chính nan đề!
Họ tập trung toàn bộ sự chú ý vào sự bảo toàn!
Họ không hề tập trung sự chú ý vào Đức Chúa Trời!
b. Một thí dụ tiêu biểu về thái độ không đúng đắn của người tín đồ.
- Người tín đồ thường ngạc nhiên trước thử thách, thử thách đến với họ một cách bất ngờ!
- Khi đó người tín đồ bắt đầu hỏi 'Tại sao?' 'Có gì không ổn' 'Có gì đang xảy ra?'
- Người tín đồ có khuynh hướng nhìn vào chính vấn đề, vấn đề lù lù xuất hiện quá ư là to lớn, khủng khiếp.
- Người tín đồ khi đó bắt đầu tìm cách tự bảo vệ 'Làm sao tôi có thể tránh được? Làm sao tôi có thể thoát ra khỏi?'
- Rồi vì không nhìn thấy Đức Chúa Trời trong đúng bối cảnh, người tín đồ bắt đầu nghi ngờ, rồi hoảng sợvà rồi đòi hỏi; người ấy băn khoăn lo lắng vì dường như Đức Chúa Trời không hành động theo chương trình và thời điểm vạch sẵn!
- Cuối cùng, đức tin của người tín đồ suy giảm dữ dội khiến Chúa Giê-xu phải hỏi câu hỏi thật 'Đức tin các người ở đâu?'
4. Thái độ đúng đắn trước thử thách.
a. Áp dụng nguyên tắc đức tin (Mac Mc 4:35-41)
Trong thí dụ trước Chúa Giê-xu quở trách những môn đồ vì họ thiếu đức tin giữa cơn thử thách. Qua điều đó Ngài hàm ý rằng họ phải bước đi bằng đức tin giữa cơn thử thách. Nếu chúng ta muốn nhận thức rõ mục đích trọn vẹn của những thử thách chúng ta phải áp dụng những nguyên tắc đức tin sau đây khi gặp thử thách.
- Đức tin không 'tình cờ xảy ra' mà là một sự chọn lựa
- Đức tin không phủ nhận những hoàn cảnh khó khăn nhưng từ chối không để những hoàn cảnh khó khăn kiểm soát hay đè bẹp
- Đức tin không phủ nhận những tình cảm riêng tư nhưng từ chối không để những tình cảm này kiểm soát vì đức tin không phải là một tình cảm
- Đức tin không phủ nhận sự sợ hãi nhưng đức tin nhận thức rằng sự sợ hãi cần được hèm chế kẻo không thì đức tin sẽ bị dập tắt.
- Đức tin luôn luôn đưa ra những lý lẽ hợp lý từ những sự kiện trong Kinh Thánh và áp dụng những lý lẽ này cho hoàn cảnh khó khăn đang gặp
b. Hãy xem thử thách như điều vui mừng trọn vẹn (Gia Gc 1:2, 3)
Lời khuyên nhủ của Gia-cơ hoàn toàn kỳ lạ với cách đáp ứng tiêu biểu của Cơ Đốc nhân vì chúng ta thường 'xem đó như một nỗi đau đớn' hay 'Một trở ngại'. Thái độ này sẽ chẳng thay đổi cho đến khi người tín đồ bắt đầu nhìn thấy mục đích của thử thách và lợi ích của riêng họ. Hãy lưu ý những nguyên tắc sau đây:
- Coi là đều vui mừng trọn vẹn khọng có nghĩa là mọi việc đều sẽ vui vẻ (điều này không đồng nghĩa với niềm vui thú; chúng ta được bảo để xem hay coi điều đó như đều vui mừng vì mục đích mà sự thử thách sẽ đem lại.
- Coi là đều vui mừng cho thấy rằng phải đánh giá thử thách theo cái nhìn của Đức Chúa Trời (hãy so sánh tình trạng 'phước hạnh' của những ơn phước lớn) nhìn xa hơn tình cảm để thấy mục đích; nhìn xa hơn hiện tại để thấy cõi đời đời.
c. Mang đến kết quả mong muốn (Gia Gc 1:4)
Có một phẩm chất quan trọng trong đoạn này; thử thách được định để đem đến 'sức chịu đựng dẻo dai' nhưng điều này hàm ý rằng người tín đồ phải ở dưới ảnh hưởng của sự thử thách cho đến hết thời điểm Chúa định để có được kết quả mong muốn! Hãy lưu ý đến những nguyên tắc sau đây:
- Thử thách phải được đón nhận với một thái độ đúng đắn (coi như điều vui mừng) và rồi nó sẽ đưa đến kết quả là 'sức chịu đựng dẻo dai'.
- Người tín đồ phải học sự nhịn nhục ở giữa thử thách và sự nhịn nhục đó sẽ trở thành 'sức chịu đựng dẻo dai'
- Kết quả sau cùng nhận được từ quá trình thử thách là sự trọn lành toàn vẹn; sự phát triển nhân cách!
5. Những nguyên tắc liên quan đến thử thách.
a. Người tín đồ phải đón nhận những thử thách cách nghiêm túc và học để đánh giá thử thách theo cái nhìn thuộc linh hay của Kinh Thánh. Nếu thái độ cơ bản của chúng ta sai, thì khi chúng ta đối diện với một thử thách đặc biệt, sẽ có nhiều khả năng là chúng ta sẽ tự động đáp ứng cách sai lầm. Vì vậy hãy bắt đầu bằng cách học những gì Chúa phán và áp dụng vào đời sống mình.
b. Người tín đồ phải từ chối không hỏi Chúa câu hỏi thông thường 'Tại sao' mỗi khi đối diện với một thử thách khó khăn. Câu hỏi tự nó cho thấy một quan điểm sai lầm vì 'tại sao' không thật sự là điều quan trọng. Cách đặt câu hỏi cũng sẽ dẫn bạn đi sai hướng vì Đức Chúa Trời có lẽ sẽ không trả lời bạn. Phần lớn của các câu hỏi 'Tại sao' sẽ không được trả lời ngay và có những phần khác sẽ chẳng bao giờ được trả lời trong đời này. Hỏi những câu hỏi mà giúp bạn nhận được lợi ích lớn nhất từ những kinh nghiệm khó khăn là điều quan trọng hơn nhiều.
c. Câu hỏi cần đặt ra là 'Tôi có thể học được điều gì qua đó'. Điều này có nghĩa chúng ta cần nhìn xem mỗi thử thách, vấn đề hay nỗi khó khăn như là một cơ hội Chúa cho, để chúng ta có thể học được một số điều giá trị. Nói một cách khác, đừng bỏ phí những thử thách của bạn! Hãy học biết về Chúa, về chính bạn, về người khác, về sự trưởng thành và phát triển thuộc linh. Bạn sẽ trưởng thành vượt bực trong quá trình thử thách và bạn sẽ có được sự khôn ngoan thông sáng khiến bạn hầu việc người khác được hiệu quả hơn.
d. Một câu hỏi cần được đặt ra nữa là 'Làm thế nào để qua đó tôi được lớn lên'. Hãy học để nhìn xem thử thách như một cơ hội để lớn lên về mặt tâm linh. Thật mứa mai nếu chúng ta xem những thử thách như là những gì đè bẹp, giam hãm chúng ta hoặc kết thúc mọi sự trong khi đó chúng là những phương tiện Chúa dùng để đưa chúng ta đến sự phát triển năng lực tâm lực to lớn nhất. Do đó hãy biến điều có lẽ bạn cho là một kinh nghiệm tiêu cực thành một kinh nghiệm tích cực; hãy biến hòn đó ngăn trở thành hòn đá để tiến lên. Hãy như Warren Wiersbe đã diễn tả điều này trong tựa đề một cuốn sách của ông 'Những cú đụng mạnh là những bậc thang để bạn leo lên'.
e. Và cuối cùng một câu hỏi hết sức quan trọng bạn luôn luôn cần đặt ra là 'Làm thế nào để Chúa được vinh hiển qua điều này?' Hãy nhớ chính tay Chúa đã đem thử thách đến cho bạn. Mục đích hai chiều của Ngài luôn luôn là làm vinh hiển danh Ngài và phát triển đời sống thuộc linh của chúng ta. Câu hỏi đặt với Chúa là làm thế nào để Ngài được vinh hiển chắc chắn sẽ được trả lời và nếu qua quá trình thử thách Ngài được vinh hiển thì tôi tin rằng bạn chắc chắn sẽ nhận được lợi ích to lớn nhất. Câu hỏi này sẽ thay đổi hoàn toàn cách nhìn vấn đề của bạn vì nó khiến bạn hướng suy nghĩ của bạn về Chúa hơn về chính mình. Chắc chắn bạn sẽ đem Chúa vào trong hoàn cảnh của bạn khi hỏi câu này.
F. Nhu cầu được trang bị bằng khí giới của Đức Chúa Trời.
1. Đoạn Kinh Thánh liên quan đến đề tài này
"Vả lại, anh em phải làm mạnh dạn trong Chúa, nhờ sức toàn năng của Ngài. Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỷ. Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối này, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy. Vậy nên, hãy lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, hầu cho trong ngày khốn nạn, anh em có thể cự địch lại, và khi thắng hơn mọi sự rồi, anh em được đứng vững vàng. Vậy, hãy đứng vững, lấy lẽ thật làm dây nịt lưng, mặc lấy giáo bằng sự công bình, dùng sự sẵn sàng của Tin Lành bình an mà làm giày dép. Lại phải lấy thêm đức tin làm thuẫn, nhờ đó anh em có thể dập tắt được các tên lửa của kẻ dữ. Cũng hấy lấy sự cứu chuộc làm mão trụ, và cầm gươm của Đức Thánh Linh, là lời Đức Chúa Trời" (Eph Ep 6:10-17)
2. Trận chiến của Cơ Đốc nhân (Eph Ep 6:11-12)
Đoạn Kinh Thánh này cho thấy mỗi một Cơ Đốc nhân tham gia vào cuộc chiến dữ dội chống lại một kẻ thù có sức mạnh và sự xảo trá không tưởng tượng nổi. Do đó, mỗi Cơ Đốc nhân là một chiến sĩ và phải mang lấy vũ khí để chống lại kẻ thù, không chỉ vì lợi ích riêng tư mà còn vì lợi ích của người khác cũng như vì chính nghĩa của Đấng Christ.
Hãy lưu ý những điều đoạn văn nói về bản chất của cuộc chiến này:
- Đây không phải cuộc chiến của thể xác, không phải là một cuộc chiến hữu hình mà là một cuộc chiến của tâm linh, một cuộc chiến vô hình.
- Chiến trường là ở 'các miền trên trời' nơi mà Đức Chúa Trời trị vì và Cơ Đốc nhân được đồng ngồi và nơi có sự chống nghịch dữ dội với Đức Chúa Trời.
- Kẻ thù là Sa-tan và các thần dữ của hắn; chúng đang là vua chúa của thế gian mờ tối và lãnh đạo sự chống nghịch lại Đức Chúa Trời.
- Những giá phải trả của cuộc chiến này to lớn vô cùng. Đây không phải là một trò chơi! Kẻ thù rất nghiêm trọng những cuộc tấn công của nó thì hung bạo và nó tìm cách thắng trận bằng bất cứ giá nào, và tổn thất của cuộc chiến là những linh hồn con người!
3. Người lính Cơ Đốc (Eph Ep 6:10-11)
Mặc dù đã được cứu chuộc bằng huyết Đấng Christ, được tái sanh bởi Đức Thánh Linh, và đang được dẫn đến sự vinh hiển nhưng Cơ Đốc nhân không nên suy nghĩ sai lầm là mọi việc đương nhiên sẽ đến. Cơ Đốc nhân phải bước trên con đường hẹp với rất nhiều sự chống đối và kẻ thù trên đó. Cơ Đốc nhân phải tham dự vào một cuộc chiến tàn khốc và một người chiến sĩ khôn ngoan sẽ phải chuẩn bị thích hợp cho cuộc chiến không phải chỉ để sống còn mà là để đạt chiến thắng!
- Bạn phải biết rõ ràng lòng tin của bạn hướng về đâu; bạn thật sự đứng ở phía nào?
- Bạn phải cần biết chắc nguồn khí giới nào dành sẵn cho bạn.
- Bạn cần biết chắc loại khí gíi nào bạn có thể sử dụng và cách sử dụng từng thứ một.
- Bạn cần biết chỗ mạnh và chỗ yếu của kẻ thù và số lượng 'binh sĩ' tham chiến.
- Bạn cần biết vị trí của kẻ thù và nơi sẽ xảy ra trận đấu.
- Bạn cần biết phương pháp của kẻ thù, tính chất những cuộc tấn công, các chiến thuật, cách tiếc hành cuộc chiến.
- Bạn cũng cần biết những mục tiêu của kẻ thù và sự quyết tâm đạt những mục tiêu này.
Vấn đề là người lính khôn ngoan phải chuẩn bị!
Người lính khôn ngoan xem trọng cuộc chiến vì biết rõ cái giá phải trả của nó!
Do đó người lính khôn ngoan không đưa ra những phỏng đoán! Không để mặc bất cứ điều gì cho may rủi!
Đoạn Kinh Thánh cho thấy những gì Đức Chúa Trời đã làm để đảm bảo chiến thắng cho binh lính của Ngài.
- Ngài đã hiệp một binh lính của Ngài với Con Ngài, Đấng trở thành vị chỉ huy của đạo binh và ban quyền năng cần thiết để chiến thắng.
- Ngài cung cấp toàn bộ khí giới có khả năng bảo vệ binh lính của Ngài chống lại bất kỳ sự tấn công nào của địch quân.
- Do đó chiến binh Cơ Đốc được chuẩn bị kỹ càng cho trận đấu.
4. Kẻ thù của Cơ Đốc nhân (Eph Ep 6:11-13)
a. Bản chất các cuộc tấn công của địch quân.
Có nhiều loại tấn công khác nhau mà kẻ thù sẽ dùng để thắng trận. Người lính khôn ngoan sẽ lưu ý đến để chuẩn bị một chiến lược bảo vệ thích hợp. Những cuộc tấn công bao gồm những điều sau đây
Kẻ thù có nhiều mưu chước (IICo 2Cr 2:11)
Webster định nghịa 'mưu chước' là một kế hoạch hay chương trình hành động, đặc biệt là một chương trình xảo trá hay bí mật và 'sheming' (âm mưu) là sắp xếp những mưu chước, đặc biệt là những âm mưu quỷ quyệt xảo trá.
Những âm mưu của Sa-tan là những chương trình quỷ quái, những chiến lược xảo trá, những hành động tinh ma để làm thàn ước muốn của nó. Đó là những cố gắng của ma quỷ để lừa phứng Cơ Đốc nhân, để làm chao đảo, để khiến không tỉnh thức và để làm cho vấp ngã. (Cuốn The Screwtape letters của C.S.Lewis mô tả một con quỷ tập sự đang ược truyền cho nghệ thuật tinh thế của các âm mưu lừa gạt quỷ quyệt; rất đáng đọc!
Kẻ thù đặt bẫy (IITi 2Tm 2:26)
Webster định nghĩa 'cái bẫy' là 'cái làm cho một người vướng mắc; làm cho vướng mắc khó khăn hay gây cản trở; một điều gì lôi cuốn để làm cho lầm lạc.
Điều này mô tả phương pháp của ma quỷ dùng để đánh bẫy chúng ta khi ch1ung ta không đề phòng. Người đặt bẫy cố để bắt con mồi cách bất ngờ vì vậy mới đặt cái bẫy rối che dấu nó đi và còn có thể đặt mồi để dụ dỗ nạn nhân rồi kiên nhẫn chờ đợi cái bẫy hoàn tất mục đích của nó. Đây là một phương pháp chủ yếu của Sa-tan và hoạt động rất hiệu quả đối với người không biết gì về mưu chước này. Chúng ta phải đề phòng!
Kẻ nói dối (GiGa 8:44)
Webster định nghĩa 'nói dối' là 'đưa ra một lời không thật với ý định lừa gạt; hay tạo ra một ấn tượng sai trật hay lầm lẫn'.
Ma quỷ dùng lời nói dối để tấn công bằng một trong ba cách chủ yếu sau đây:
1. Nó có thể nói cho bạn sự thật về một vấn đề nào đó nhưng nó chỉ làm vậy để lừa dối bạn bằng cách rút ra những kết luận sai trật.
2. Nó thường bóp méo sự thật.
3. Nó sẽ nói dối trắng trợn nếu nó nghĩ là người ta sẽ tin.
Ma quỷ nói dối liên tục vì đó là bản chất của nó và nó sẽ chỉ sử dụng sự thật khi sự thật đó có thể giúp nó đạt mục đích.
Kẻ giả dạng (IICo 2Cr 11:14)
Webster định nghĩa 'sự giả dạng' là 'quần áo mặc để che dấu diện mạo của mình hay để giả làm người khác; sự trình bày sai bản chất thật của điều gì'.
Những điều này tiêu biểu cho những cuộc tấn công của Sa-tan, qua đó nó giả dạng hay xuất hiện dưới một hình thức khác. Thí dụ, nó xuất hiện như một thiên thần sáng láng như một tiên tri của Đức Chúa trời với những lời dụ dỗ để mơn trớn dân sự của Chúa, như một con người vĩ đại của Đức Chúa Trời mang những lẽ thật đặc biệt mà người khác chưa khám phá ra, như một người rao giảng Phúc âm với một sứ điệp êm dịu và cảm động đối với người thiên nhiên. Sa-tan có khả năng tự biến hóa nhiều cách khác nhau để phù hợp với mục đích của nó. Và nó chuyên gia trong việc làm này, lừa gạt dễ dàng số lớn những người không chút nghi ngờ.
Kẻ lừa dối (IICo 2Cr 11:3)
Webster định nghĩa 'lừa dối' là 'làm cho người ta nhận là đúng và có giá trì vể những gì sai và không có giá trị'.
Điều Phao-lô quan tâm đến trong đoạn này là những Cơ Đốc nhân ở Cô-rinh-tô sẽ bị lừa dối cách này cách khác (từ Hi-lạp chỉ sự lừa dối hoàn toàn) bởi Sa-tan giống như nó đã dối gạt Ê-va. Tat cả những chiến thuật của Sa-tan mà chúng ta đã thảo luận ở trên đều liên quan đến sự lừa dối, phương thức chủ yếu của nó để tiến chiếm mục tiêu. Sửa chữa lại tác hại của sự lừa dối là điều rất khó vì những người bị lừa, bây giờ cho sự dối trá là lẽ thật và nhìn xem lẽ thật sẽ giải phóng họ như một lời dối trá.
b. Mô tả một cuộc tấn công của kẻ thù (SaSt 3:16)
Đoạn Kinh Thánh này cho chúng ta một cái nhìn vào bên trong cách tấn công của kẻ thù. Hãy lưu ý những nguyên tắc căn bản sau đây:
- Kẻ thù cải trang rồi hiện ra với Ê-va (nó đến với Ê-va trong sinh hoạt bình thường của cuộc sống và Ê-va không hề ngĩ đó là kẻ thù của Đức Chúa Trời và do đó là kẻ thù của bà (c.1)
- Kẻ thù thử nghiệm sự hiểu biết lời Chúa củ abà; nó trích Kinh Thánh, nó kêu gọi đến khả năng phán đoán của bà (c.1)
- Kẻ thù dụ dỗ Ê-va trò chuyện và Ê-va đã phạm lỗi lầm tai hại là bước vào cuộc đối thoại với Ma quỷ (c.2,3)
- Kẻ thù khi đó đưa ra một lời dối trá trắng trợn ngược lại với những gì Chúa đã phán, kêu gọi đến lý trí và tình cảm của bà (c.4)
- Rồi kẻ thù củng cố lập trường của nó và đưa ra 'lẻ thật' (sự lừa dối)_ với ý định thay thế cho lẽ thật phi lý mà Ê-va đang nắm giữ (c.5)
- Kẻ thù dẫn dụ Ê-va xét lại lập trường của mình rồi Ê-va nhượng bộ hay chấp nhận lời dối gạt mà Sa-tan đưa ra (c.6)
Cũng hãy để ý đến sữ tiến triển tinh tế của sự việc:
Kẻ thù cải trang xuất hiện
Kẻ thù thử nạn nhân của mình
Kẻ thù kêu gọi họ đi đến lý lẽ và tình cảm
Kẻ thù chống lại lập trường có sẵn
Kẻ thù đưa ra một lập trường mới có hậu thuẫn
Người nữ nói chuyện với kẻ thù
Người nữ để cho sự phòng vệ của mình bị bẽ gãy
Người nữ 'thấy' và kết quả là sự ham muốn thuộc thể
Người nữ 'thích thú' và tình cảm bị khơi dậy
Người nữ 'hợp lý hóa' sự chọn lựa của mình
Người nữ dẫn người khác đến tội lỗi.
Đây là chiến thuật tấn công 'lâu đời' của Sa-tan. Nó sẽ sửa đổi tùy theo từng hoàn cảnh nhưng nó thấy chiến thuật này có hiệu quả cao và phương pháp cơ bản, chiến thuật và mục đích vẫn y nguyên như vậy.
c. Kết quả của một cuộc tấn công thành công.
Kẻ thù tấn công với một mục đích nhất định trong đầu. Những điểm sau đây tiêu biểu cho một cuộc tấn công đã khá thành công.
Người tín đồ sẽ bị lừa dối.
Sự lừa dối này liên quan đến bất cứ điều gì, từ một học thuyết của lẽ thật đến việc hiểu sai ý chỉ của Đức Chúa Trời hay sự chọn lựa tội lỗi trong thái độ cư xử. Sự lựa dối thoạt đầu rất tinh tế nên dường như vô hại nhưng bất cứ sự lừa dối nào cũng trở thành một sự bóp méo ăn sâu vào suy nghĩ, niềm tin và sẽ đưa đến những sự lừa dối và bóp méo lớn hơn.
Người tín đồ sẽ bị làm mù mắt.
Điều này khiến người ấy không còn hiểu trọn vẹn phúc âm hay sự mặc khải. Thân vị của Đức Chúa Trời sẽ bị hiểu sai, có nghĩa là sự cứu rỗi, ý chỉ của Chúa sẽ bị hiểu sai và toàn bộ những điều này sẽ đưa đến một cách sống, ở mức độ này hay mức độ khác, không giống cách sống Đức Chúa Trời mong muốn cho con cái Ngài.
Người tín đồ sẽ có những sự nghi ngờ.
Webster định nghĩa 'nghi ngờ' là 'không chắc chắn về niềm tin hay ý kiến liên quan đến việc quyết định'. Tâm trí của người tín đồ trở nên bối rối, không rõ Đức Chúa Trời là ai, Ngài phán điều gì và họ phải làm gì v.v... Ma quỷ vui thú về sự xáo trộn do cuộc tấn công của nó gây ra và ít nhất thì cũng khiến người tín đồ không làm gì được cho đến khi người ấy giải quyết xong những nỗi nghi ngờ trong tâm trí.
Người tín đồ sẽ cảm thấy bị kết án.
Chẳng có gì khiến người tín đồ bị lụn bại bằng mặc cảm tội lỗi. Bất cứ mặc cảm tội lỗi nào, dù thật hay tưởng tượng cũng đưa đến kết quả như nhau. Đây có thể là một điểm yếu trong đời sống của bất cứ tín đồ nào vì thật sự thì chúng ta có tội trước mặt Chúa và kẻ thù muốn khai thác triệt để lẽ thật này. Điều này sẽ khiến người tín đồ ở trong tình trạng thất vọng, xa cách với Đức Chúa Trời và bằng cách này hay cách khác tìm cách lấy lòng Chúa để nối lại mối tương giao. Điều này sẽ đưa đến cách cậy luật pháp chỉ làm cho vấn đề rắc rối thêm ra vì luật pháp chỉ làm nặng thêm sự kết án công bình.
Người tín đồ sẽ sợ hãi.
Sợ hãi thường đi kèm với sự nghi ngờ và sự kết án. Sợ hãi làm tiêu tan đức tin và người tín đồ sẽ cảm thấy xa cách Chúa hơn. Sợ hãi có khả năng rất to lớn. Nó áp đảo một người hoàn toàn đến độ đưa người ấy đến cách suy nghĩ rất phi lý và cách cư xử kỳ lạ. Điều này làm sâu đậm hơn ý thức bị kết án, cho là từ Đức Chúa Trờiđến. Ý thức này đến lượt nó làm sâu đậm hơn những nỗi nghi ngờ và kế tiếp những nỗi nghi ngờ này làm đậm thêm sự lừa dối. Và chu kỳ này một khi đã được khởi động có thể hết sức tai hại đến đời sống của bất kỳ tín đồ nào và rất khó có thể thắng hơn được.
7. Khí giới của Cơ Đốc nhân (Eph Ep 6:10-17)
a. Mạng lệnh liên quan đến khí giới (c.11a, 13a)
Cơ Đốc nhân phải nhận biết rằng đó là khí giới của Đức Chúa Trời.
Khí giới là những gì chính Chúa nghĩ là cần thiết và do đó được cung cấp cho con cái Ngài.
Cơ Đốc nhân phải mang lấy khí giới.
Mặc dù Chúa cung cấp khí giới, con cái Chúa phải biết rằng Ngài chờ đợi mỗi một con cái Ngài tự mang lấy khí giới (không phải Ngài hay một người nào khác làm điều ấy cho bạn, đó là điều mà mỗi một con cái Chúa phải học để làm).
Cơ Đốc nhân phải mặc lấy toàn bộ khí giới của Đức Chúa Trời.
Việc bỏ qua bất cứ một khí giới nào cũng đem đến những hậu quả bi thảm trên đời sống của một người.
b. Mục đích của khí giới (c.11b,13b)
Để giúp Cơ Đốc nhân đứng vững.
Mỗi người lính Cơ Đốc phải có khả năng chống cự lại cuộc tấn công của kẻ thù, có khả năng đứng vững và giữ được đất của mình!
Cái nhìn của Kinh Thánh về sự đứng vững.
Hình ảnh Kinh Thánh là mỗi một Cơ Đốc nhân phải giữ vững lãnh thổ hay pháo đài đã được Giê-xu chiếm được!
Để giúp Cơ Đốc nhân đứng vững trong 'ngày khốn nạn'.
'Ngày khốn nạn' đơn giản chỉ cái ngày (thời điểm) mà kẻ thù tấn công, chúng ta không cần chỉ đứng vững về mặt l1 thuyết mà chúng ta phải có thể đứng vững ở trung tâm trận chiến!
c. Bản chất của khí giới.
Khí giới này chủ yếu là để tấn công hay để phòng thủ?
Khí giới được mô tả trong đoạn này thì rõ ràng có tính chất phòng thủ và phải được các Cơ Đốc nhân quan niệm như vậy!
Kinh Thánh có ủng hộ cho quan điểm này không?
Tôi nghĩ rằng Kinh Thánh rất ủng hộ điều này. Thí dụ, Chúa Giê-xu được đầy dẫy Đức Thánh Linh vào lễ báp-tem rồi được đưa vào đồng vắng để chịu cám dỗ và rồi bị kẻ thù tấn công dữ dội. Ngài tự bảo vệ bằng gươm của Thánh Linh. Thêm vào đó, điều Phao-lô giảng trong Eph Ep 1:3 chỉ cho thấy rõ ràng là Cơ Đốc nhân đã được đặt vào một vị trí chiến lược và rồi Eph Ep 6:1-24 giảng rằng Cơ Đốc nhân phải chuẩn bị đề phòng cuộc tấn công của kẻ thù vào vị trì của mình. Phao-lô mong muốn rằng mỗi một con cái Chúa sẽ đứng vững trong vị trí của mình!
d. Mô tả khí giới (c.14-17)
Dây nịt lưng lẽ thật (c. 14)
Công dụng : dây nịt lưng là vật dụng đầu tiên mà người lính La-mã đeo vào khi mặc quần áo vì tất cả bộ phận của khí giới đều được cột vào dây nịt lưng.
Một số nhà phê bình cho rằng cái đó chỉ chính trực, ngay thẳng; sự chơn thật nơi bề trong (Thi Tv 51:6).
Tôi nghĩ rằng đây là toàn bộ lẽ thật mà Cơ Đốc nhân chúng ta tin nhận; nói một cách khác, đây là lẽ thật căn bản, nền tảng để làm một Cơ Đốc nhân chân thật.
Kết luận : Mỗi người tín đồ phải thắt lưng bằng lẽ thật của Đức Chúa Trời được mặc khải trong Kinh Thánh.
Giáp của sự công bình (c.14)
Công dụng : giáp này bảo vệ trái tim và những bộ phận quan trọng khác của người lính, nó từ cổ đến đùi.
Một số nhà phê bình cho rằng đây là sự công bình riêng của Cơ Đốc nhân; nói một cách khác, tính tình ngay thẳng của một Cơ Đốc nhân thật.
Tôi cho là điều này tượng trưng cho sự công bình của Chúa Giê-xu; sự công bình đến bởi đức tin (do đó đồng nghĩa với 'sự xưng công bình bởi đức tin'
Kết luận : Mỗi tín đồ phải tự bảo vệ mình để khỏi bị Sa-tan tấn công, kiện cáo về tội lỗi bằng cách giữ sự công bình của Christ an toàn, ở đúng vị trí.
Giày dép của Tin Lành bình an (c.15)
Công dụng : giày dép là để người lính có chỗ đứng an toàn; và bảo vệ chân người ấy trong những nhiệm vụ quân sự khác nhau.
Một số nhà bình luận cho là điều này nói đến trách nhiệm luôn sẵn sàng để chia xẻ Tin Lành.
Tôi cho là điều này tượng trưng cho khí giới đem đến cho Cơ Đốc nhân chỗ đứng an toàn và sự nhanh nhẹn cần thiết; đây là trạng thái 'đã được vững chắc'
Kết luận : Mỗi tín đồ phải có thể đứng vững vàng với một chỗ đứng an toàn và vững chắc trong Tin lành bình an đời đời.
Thuẫn đức tin (c.16)
Công dụng : đây là một cái khiên không cháy dùng để chống đỡ gươm, tên lửa, đá v.v... của kẻ thù.
Một số nhà phê bình đã trở nên quá lo lắng về đức tin và nhu cầu một đức tin lớn cho mỗi tín đồ.
Tôi cho là điều này tượng trưng cho sự bảo vệ chống lại những tên lửa của kẻ thù hay chủ yếu là những cuộc tấn công của kẻ thù vào lãnh vực tinh thần. Ma quỷ không ngớt ném những suy nghĩ của nó vào người tín đồ và có thể gây ra sự bối rối và tác hại to lớn nếu thực sự trúng vào mục tiêu.
Kết luận : Mỗi Cơ Đốc nhân cần tự bảo vệ mình chống lại những suy nghĩ, nghi ngờ mà Sa-tan gửi đến và chúng ta làm điều này bằng cách dập tắt chúng với sự đáp ứng đúng đắn theo Kinh Thánh bằng đức tin.
Mão trụ của sự cứu chuộc (c.17)
Công dụng : mão trụ của người lính là để bảo vệ đầu và bộ óc người ấy; trong ý nghĩa thuộc linh điều này chỉ đến bộ phận suy nghĩ của Cơ Đốc nhân.
Một số nhà phê bình tìm cách giới hạn ý nghĩa của 'sự cứu rỗi' vào một khía cạnh đặc biệt. (Charles Hodge nói sự cứu rỗi không có ý nghĩa nào khác hơn là sự nhận biết chúng ta thật sự là Cơ Đốc nhân trong hiện tại).
Tôi cho là điều này nói đến sự hiểu biết đúng đắn của Cơ Đốc nhân về mọi giai đoạn hay mọi khía cạnh của sự cứu rỗi (thí dụ quá khứ, hiện tại và tương lai kết hợp lại).
Kết luận : Mỗi Cơ Đốc nhân phải chắc đã nắm được sự sống đời đời của mình - nhận biết những gì Đức Chúa Trời đã làm, đang làm và hứa sẽ làm.
Gươm của Đức Thánh Linh (c.17)
Công dụng : Trong 4 từ Hi-lạp mà thường được dịch là gươm, từ này thật sự có nghĩa là cây dao găm hai lưấi.
Một số nhà phê bình cho đây là một vật liên quan đến sự tự vệ của Cơ Đốc nhân chống lại Sa-tan.
Tôi cho là điều này liên quan đến việc Cơ Đốc nhân sử dụng Lời Chúa trong cuộc cận chiến! (Chúa Giê-xu trong Math 4.
Kết luận : Mỗi Cơ Đốc nhân phải đeo nịt lưng lẽ thật tổng quát nhưng họ cũng phải sẵn sàng với gươm cụ thể của Đức Thánh Linh khi kẻ thù đánh cận chiến.

CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Xin vui lòng nói rõ hơn về ý nghĩa của việc bạn đang là môn đồ của Đấng Christ.
2. Xin phát biểu những suy nghĩ riêng của bạn về những nhận xét của Tozer liên quan đến thập giá cũ và mới.
3. Nếu ý chỉ cụ thể của Chúa sẽ được bày tỏ khi bạn tuân theo ý chỉ tổng quát của Chúa thì Chúa đang kêu gọi bạn thực hiện những bước vâng phục nào ngay lập tức?
4. Nếu để Chúa tra xét đời sống bí mật của bạn thì có lãnh vực nào trong đó bạn có ý không vâng phục không? Nếu có, hãy chỉ ra điều Chúa đang bảo bạn làm (Hãy cụ thể
5. Xin hãy giải thích tại sao bạn thấy được an ủi hay sợ hãi khi nghĩ đến viễn ảnh Chúa sửa trị đời sống bạn.
6. Khi bạn xem xét bước đi với Chúa trong quá khứ bạn thấy mình thường đáp ứng thế nào với sự sửa trị của Ngài?
Bạn đã học được gì trong quá khứ mà có thể giúp bạn đáp ứng tốt hơn trong tương lai?
7. Xin hết sức thành thật diễn tả thái độ thông thường của bạn đối với thử thách. Tại sao bạn đáp ứng cách này?
8. Tại sao bạn nên học để đáp ứng với thử thách theo cách Gia-cơ khuyên bảo?
9. Bạn thấy Sa-tan hoạt động hiệu quả nhất theo phương cách nào trong đời sống bạn?
10. Bạn sẽ sử dụng khí giới cụ thể nào để có thể đứng vững chống lại Sa-tan trong lãnh vực khó khăn của bạn?
A. Vị trí của sự phục vụ của Cơ Đốc nhân.
1. Bản chất của sự hầu việc Chúa.
- Phải luôn nhớ rằng sự cứu rỗi là việc làm ân điển đó là công việc Chúa làm cho chúng ta, trong chúng ta và qua chúng ta - đó là một công việc thiên thượng từ đầu cho đến cuối. Đó là món quà nhưng không của ân điển tối cao ban cho mỗi một người tin thật!
- Do đó, sự cứu rỗi không thể nào đạt được (mua được) dù bởi bất kỳ cố gắng nào của con người; và người nhận sự cứu rỗi nhưng không, sẽ chẳng bao giờ xứng đáng với nó, dù cho có đạt được mức độ thuộc linh nào đó hay dù cho có hầu việc Chúa trong tương lai đi nữa!
- Do đó không thể có sự 'đền trả lại' cho Chúa vì những gì Ngài đã ban cho; không có một sự đền trả bắt buộc nào và cũng không có món nợ nào mà người tín đồ có trách nhiệm thanh toán!
Người tín đồ không bị bắt buộc hầu việc Chúa.
Người tín đồ không mắc nợ Chúa gì cả.
- Tuy nhiên, đồng thời cũng có một mối liên hệ nhất định giữa sự cứu rỗi mà người tín đồ đã nhận được với đời sống hầu việc kèm theo một sự cứu rỗi lớn như vậy!
Sự cứu rỗi là chỉ nhừ ân điển, bởi đức tin (Eph Ep 2:8, 9)
Sự cứu rỗi luôn luôn đưa đến sự làm việc lành (Eph Ep 2:10)
Đức tin luôn đưa đến việc lãnh (Gia Gc 2:14-26)
Tình yêu là động cơ của các việc lành (RoRm 5:8 IGi1Ga 3:16)
Đây là một lẽ thật quan trọng thường bị lầm lẫn đặc biệt là khi những người đọc Kinh Thánh thấy sự tương phản giữa sứ điệp cứu rỗi đưa đến việc lành của Gia-cơ. Lời trích dẫn sau đây có thể giải quyết nhanh chóng sự lầm lẫn này:
'Phao-lô sử dụng Sáng 15 để chứng minh đức tin là cần thiết. Gia-cơ sử dụng Sáng 22 để chứng minh việc làm là cần thiết. Phao-lô dạy rằng việc làm phải xuất phát tự đức tin. Gia-cơ dạy rằng đức tin phải được chứng thực bởi việc làm' (W.H.Griffith Thomas, The Principles of Theology, trang 205
- Do đó chúng ta kết luận rằng sự hầu việc Chúa không phải là sự đáp lại những gì chúng ta nợ Ngài như là thái độ 'Tôi có thể làm được gì cho Ngài?' Đây là sự bày tỏ tình yêu do sự nhận biết riêng tư về tình yêu lớn lao Ngài dành cho chúng ta! Do đó chúng ta phải kết luận rằng hầu việc Chúa không phải là một sự trả nợ mà là một thái độ biết ơn! Tất cả mọi sự hầu việc Chúa thật phải luôn được thực hiện với thái độ này! Và chính thái độ này làm Đấng đã chết vì chúng ta đẹp lòng nhất!
2. Tính chất của sự hầu việc Chúa.
Có một suy nghĩ rất quan trọng liên quan đến sự hầu việc Chúa của chúng ta mà thường hoặc không được biết đến hoặc bị lãng quên.
- Một mặt, có thái độ thông thường là lơ là với sự hầu việc Chúa. Người tín đồ có thể biết về ý niệm hầu việc Chúa nhưng cụ thể thì người đó không dính líu dì đến sự hầu việc Chúa vì nhiều lý do cá nhân và vị kỷ khác nhau. Đây là một vấn đề trong đó 'sự trì hoãn' cai trị tối hậu với nhiều tín đồ cứ thường xuyên 'hoãn lại' sự hầu việc Chúa để chờ một cơ hội thuận tiện hơn.
- Mặt khác, một thái độ thông thường khác là nhận biết lời kêu gọi của Đức Chúa Trời trong sự hầu việc và sự đáp ứng của người tín đồ có kèm theo động cơ và nhiệt tình mạnh mẽ. Tuy nhiên, kết quả là người tín đồ cuối cùng chỉ làm bất cứ việc lành nào thích hợp vào thời điểm đó. Mặc dù điều này đem đến những hoạt động bận rộn nhưng chúng có giá trị rất đáng ngờ và kết quả là người tín đồ thường cảm thấy rất chán nản.
- Thái độ ít thông thường nhất, nhưng lại là thái độ lý tưởng nhất, là thái độ điềm tĩnh và quân bình trong sự hầu việc Chúa. Thái độ này bao hàm sự nhận biết, sự chấp nhận và sự theo đuổi lãnh vực hầu việc cụ thể mà Chúa đã định sẵn cho mỗi con cái Ngài. Do đó 'hầu việc Chúa' không chỉ là 'làm những việc lành' nhưng là làm công việc mà Đức Chúa Trời đã dựng sẵn cho chúng ta làm theo - đó là làm công việc mà Chúa đã cứu chuộc chúng ta để làm.
Đó chính là làm công việc mà bởi công việc đó bạn hiện hữu như một con người!
Đó chính là một đời sống hầu việc mà mỗi phần, mỗi hành động cá nhân liên quan trực tiếp đến toàn bộ ý chỉ của Chúa cho đời sống bạn.
Như vậy thì người tín đồ phải nhìn sự hầu việc Chúa của mình và ý chỉ của Chúa đối với sự hầu việc này theo cái nhìn rộng lớn hơn của Kinh Thánh: đó là một đời sống hoàn toàn hiến dâng cho Chúa!
3. Thái độ hầu việc Chúa.
a. Để làm vinh hiển danh Chúa.
Làm điều gì cũng vì vinh hiển Chúa mà làm phải luôn là mong ước cơ bản đầu tiên của mỗi Cơ Đốc nhân (ICo1Cr 10:31). Chúa luôn làm những gì Ngài muốn để nêu cao sự vinh hiển của Ngài trên mọi điều khác. Do đó, một Cơ Đốc nhân khôn ngoan sẽ hết sức để không lệch khỏi động cơ và mục đích cao cả này.
b. Để làm cho Chúa.
Kế đến, Cơ Đốc nhân phải hầu việc Chúa với một tấm lòng trong sạch, chân thật và trọn vẹn. Chúng ta phải luôn luôn làm cho Chúa vì tất cả những gì chúng ta làm phải chỉ để cho Ngài thôi. Không được làm vì tư lợi, không tìm sự khen thưởng, kính trọng từ người khác (Eph Ep 6:6-8 và CoCl 3:22-24)
c. Để bày tỏ tình yêu với Chúa.
Thứ ba chúng ta không nên chỉ hầu việc Chúa vì yêu Ngài mà còn phải sẵn sàng hầu việc người khác vì yêu họ (vì điều này bày tỏ tình yêu đối với Chúa một cách cụ thể. Chúng ta phải yêu những anh em trong Hội thánh (GiGa 13:34, 35); chúng ta phải yêu những người lân cận của chúng ta (LuLc 10:25-37) và chúng ta phải yêu kẻ thù của chúng ta (Mat Mt 5:43-48, RoRm 12:17-21).
4. Gương hầu việc Chúa.
Đức Chúa Giê-xu đã nêu gương hầu việc (làm tôi tớ một cách rõ ràng khi Ngài rữa chân cho các môn đồ. Chúng ta có thể học được nhiều bài học thực tế và đáng giá từ tấm gương này.
a. Giê-xu hầu việc Cha bằng cách hầu việc người khác!
b. Giê-xu hầu việc người khác hết lòng và vô điều kiện!
c. Giê-xu chứng minh vị trí của chúng ta, bất kể nhiệm vụ, ân tứ hay chức vụ, là vị trí của người đầy tớ! (nô lệ
d. Giê-xu chứng minh cho tất cả những người theo Ngài rằng hầu việc Chúa con đường dẫn đến đời đời là sống vui thỏa!
e. Giê-xu cũng truyền lệnh cho chúng ta hầu việc Chúa bằng cách hầu việc người khác.
5. Phần thưởng của sự hầu việc Chúa.
Trong Tân ước có đề cập thường xuyên đến phần thưởng dành cho sự trung tín hầu việc Chúa. Mặc dù chúng ta không thể xác định chính xác những phần thưởng đó là gì nhưng cũng có chứng cớ đầy đủ là chúng rất có giá trị và sẽ có ảnh hưởng lớn đến cõi đời đời. Chúng ta rất cần nghiên cứu kỹ lưấng 'thí dụ về các ta lâng' (Mat Mt 25:14-30) và những mão miện khác nhau được đề cập đến trong Tân ước (ICo1Cr 9:25, ITe1Tx 2:19, IITi 2Tm 4:8, Gia Gc 1:12, IPhi 1Pr 5:4).
Vậy nên mỗi một tín đồ phải hết lòng chạy cuộc đua để giựt giải vì biết rằng điều này sẽ có ảnh hưởng nào đó trong những ơn phước đời đời của họ.
'Và hãy để tôi nói với bạn rằng, bạn càng làm việc nhiều cho nước Trời chừng nào, bạn càng được nhiều vinh hiển chừng đó. Nếu ở địa ngục có nhiều mức độ đau đớn khác nhau thì trên thiên đàng cũng có nhiều mức độ vinh hiển khác nhau (Mat Mt 23:14). Vinh quang của vì sao này khác vinh quang của vì sao kia thì vinh quang của người thánh đồ cũng vậy (ICo1Cr 15:41). Mặc dù mỗi bình chứa ơn thương xót sẽ đầy nhưng bình này vẫn có thể chứa được nhiều hơn bình kia (Thomas Watson, The Golden Treasury of Puritan Quotations; I.D.E.Thomas trang 260.
B. Sự ban quyền năng để hầu việc.
1. Phần mở đầu.
Đây là một đề tài đã gây ra rất nhiều sự rối rắm và chia rẽ không cần thiết trong Hội thánh vì thường chỉ có sự khác biệt bề ngoài về ý kiến (ngữ nghĩa pháp) chỉ không phải là một sự khác biệt thật sự. Sự nghiên cứu sau đây là một cố gắng để bày tỏ những gì Kinh Thánh nói về việc Đức Thánh Linh ban quyền năng. Tôi có ý định giữ mức quân bình trong việc này để tránh sự lãng quên cũng như sự nhận mạnh quá mức và cuồng tín về toàn bộ vấn đề này. Sự lãng quên làm Hội thánh khô hạn trong khi thái độ ngược lại khiến Hội thánh thiếu hay có ít căn bản vững chắc cho đức tin và sự thực hành.
2. Những từ ngữ thông thường chỉ sự ban quyền năng.
a. Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh
Đây là từ Giăng Báp-tít dùng trong các ký thuật của Phúc âm và được Chúa Giê-xu nhắc lại trong Cong Cv 1:4-8
b. Được đầy dẫy Đức Thánh Linh
Đây là cách Lu-ca mô tả sự ban quyền năng suốt sách Công vụ.
c. Đức Thánh Linh 'Giáng lâm'.
Đây là một từ ngữ được dùng trong suốt Cựu ước, thường xuyên trong các sách Phúc âm (đặc biệt là trong Lu-ca) và trong Cong Cv 1:8.
d. Sự xức dầu của Đức Thánh Linh.
Đây là một từ ngữ trong Kinh Thánh và có lẽ cũng là một từ ngữ thích hợp mà ngày nay người ta dùng để đề cập đến sự kiện được Đức Thánh Linh ban quyền năng.
3. Những quan điểm nổi bật về phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh.
a. Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh chỉ xảy ra ở Lễ Ngũ tuần.
Đây là một quan điểm cực đoan thông thường cho rằng Đức Thánh Linh báp-tem cho cả thân thể Đấng Chist và công việc này không cần phải lập lại. Nói một cách khác người ta được cứu và đặt vào trong thân thể đã được báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Quan điểm này ngày nay không còn được thịnh hành như vào thời kỳ phát triển đầu tiên của thần học tùy theo sự phân phát.
b. Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh chỉ xảy ra khi qui đạo.
Đây là một quan điểm bảo thủ thông thường cho rằng báp-tem bằng Đức Thánh Linh với sự tái sanh là một (họ dùng ICo1Cr 12:13). Tiếp theo phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh khi qui đạo này là nhiều lần 'đầy dẫy'
c. Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh xảy ra theo sau sự qui đạo.
Quan điểm này đã được duy trì trải qua lịch sử hội thánh và đã được chứng thực qua đời sống của nhiều thánh đồ đã được Đức Chúa Trời đại dụng. Quan điểm này đã là nền tảng cho cả thần học thánh khiết lẫn ngũ tuần mặc dù phương cách và kết quả được hai nhóm hiểu khác nhau.
Quan điểm thánh khiết cho rằng phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh xảy ra sau khi qui đạo để đáp ứng với đức tin của người tín đồ. Kết quả là sự tiêu trừ tâm trí xác thịt và bản chất tội lỗi. Chỉ có kinh nghiệm này mới cho phép người tín đồ sống một đời sống tự do khỏi tội lỗi, và do đó bước đi trong sự vâng phục ý chỉ của Chúa được bày tỏ.
Quan điểm ngũ tuần cho rằng phép báp-tem bằng Thánh Linh xảy ra sau khi qui đạo để đáp ứng với đức tin của người tín đồ. Kết quả là quyền năng và phép lạ chứng thực qua việc nói tiếng lạ. Chỉ có kinh nghiệm này mới cho phép người tín đồ có quyền năng để sống đắc thắng và hầu việc cách kết quả.
4. Sự tương phản giữa những quan điểm này.
* Quan điểm 'lúc qui đạo'
Kinh Thánh: ICo1Cr 12:13
Người làm báp-tem: Đức Thánh Linh
Tác nhân: Vào thân thể Đấng Christ
Kết quả: Tái sanh, liên hiệp với Christ
Mục đích: Đời sống thuộc linh trong Christ
.
PHÉP BÁP-TEM BẰNG ĐỨC THÁNH LINH DƯỜNG NHƯ LÀ MỘT CÔNG VIỆC RIÊNG RẼ VÀ THEO SAU SỰ TÁI SANH CỦA NGƯỜI TÍN ĐỒ!
NÓI CÁCH KHÁC, KINH THÁNH PHÂN BIỆT RÕ RÀNG GIỮA SỰ TÁI SANH (NHẬN SỰ SỐNG) VÀ BAN QUYỀN NĂNG ĐỂ HẦU VIỆC CÁCH KẾT QUẢ (BÀY TỎ SỰ SỐNG).
5. Mục đích của sự ban quyền năng.
- Đó là Đức Thánh Linh giáng trên người tín đồ để ban quyền năng cho người ấy.
- Đó là được báp-tem hay được dầm thấm bằng Đức Thánh Linh
- Đó là Đức Thánh Linh tuôn đổ xuống trên đời sống người tín đồ.
- Đó là người tín đồ được mặc lấy quyền phép từ trên cao.
- Đó là Đức Thánh Linh đầy dẫy trên đời sống người tín đồ!
- Đó là công việc phi thường của Đức Thánh Linh so với công việc bình thường của Ngài!
Mục đích là ban quyền năng để hầu việc có kết quả.
"Có một hình ảnh giúp làm sáng tỏ quan điểm này. Bạn có thể đi bộ dọc theo con đường miền quê và có thể có một trận mưa bụi nhưng vì bạn không có áo khoác bị ướt ngấm nhưng cũng phải mất một khoảng thời gian nào đó chỉ là một trận mưa nhẹ. Nhưng có thể vào một thời điểm khác bạn cũng đi bộ dọc theo cùng con đường này và bất ngờ có một cơn mưa to và trong vài giây bạn ướt sũng. Trong cả hai trường hợp thì đều là mưa nhưng có một sự khác biệt to lớn giữa một cơn mưa nhẹ và một trận mưa to bất thần" (Martyn LLoyd - Jones, Joy Unspeakable, trang 68
6. Mục đích được minh họa qua Kinh Thánh.
a. Thí dụ trong Cựu ước.
Hãy lưu ý khi Thánh Linh giáng trên Ghi-đê-ôn, Giép-thê, Sam-sôn, các tiên tri và các vua luôn luôn có kèm theo sự bày tỏ quyền năng siêu nhiên.
b. Những thí dụ trong sách Phúc âm.
Hãy lưu ý Đức Thánh Linh giáng trên Giê-xu vào lúc Ngài chịu báp-tem (Mat Mt 3:13) để xức dầu cho chức vụ của Ngài; cũng xem những thí dụ khác khi Đức Thánh Linh giáng trên, có kèm theo những sự bày tỏ siêu nhiên LuLc 1:41, 42, 67, 2:25-32, v.v..)
c. Những thí dụ trong sách Công vụ.
Có một sự thay đổi từ ngữ 'báp-tem bằng Đức Thánh Linh' (Cong Cv 1:4-5) đến 'Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi' (Cong Cv 1:8) rồi 'đầy dẫu Đức Thánh Linh' được sử dụng suốt phần còn lại của sách. Tuy nhiên mục đích và kết quả vẫn y nguyên trong mọi trường hợp. Chúng ta nên lưu ý đến sự phân biệt quanh từ 'đầy dẫy' của bản văn Hi-lạp.
- Plereis (plerouthe en preumati) có nghĩa là tràn ngập hay được phủ đầy kín nhưng chỉ một trạng thái lâu dài của sự đầy trọn hay một phẩm chất tiếp diễn của đời sống (LuLc 4:1, Cong Cv 6:3-5, 8, 11:24, Eph Ep 5:18) (Xem Greek English of the New Testament trang 517 của Thayer; Theological Dictionary of the New Testament của Geoffrey Bromily trang 867
- Pimplemi có cùng ý nghĩa được tràn ngập nhưng chỉ một sự đầy dẫy đặc biệt hay một sự hà hơi bất ngờ; đó là sự ban quyền năng cho một 'mục đích đặc biệt' của Đức Thánh Linh (LuLc 1:41-42, 2:25-32, Cong Cv 2:4, 4:8, 31, 9:17, 13:9)
'Trong Cong Cv 9:17 điều này chỉ sự kiện hoặc trở thành tín đồ, nhận quyền năng tiên tri hay được ban cho các ân tứ sứ đồ. Trong Công vụ, từ này được dùng để kết hợp sự ban ơn tổng quát cho Cơ Đốc nhân với sự ban cho những ân tứ đặc biệt để giảng Tin Lành. Theological Dictionary of the New Testament, Geoffrey Bromily trang 840
Phép báp-tem bằng Thánh Linh và tất cả những sự đổ đầy kế tiếp bao hàm ý niệm về 'sự hà hơi bất ngờ' hay 'sự ban quyền năng và xức dầu vì một mục đích đặc biệt' để hầu việc Chúa có kết quả ngay!
Đây chính là công việc phi thường của Đức Thánh Linh mà Martyn LLoyd - Jones đã minh họa phía trên!
7. Tóm lược các điểm quan trọng.
a. Có quan điểm 'phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh' theo Kinh Thánh được mô tả trong giáo trình này.
b. Đức Chúa Giê-xu Christ là Đấng làm báp-tem bằng Đức Thánh Linh.
c. Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh thường xảy ra tiếp theo sự tái sanh.
d. Phép báp-tem đưa đến sự xức dầu đặc biệt hay quyền năng siêu nhiên, mục đích là để hầu việc, thi hành chức vụ hầu làm trọn ý chỉ của Đức Chúa Trời.
e. Phép báp-tem bằng Thánh Linh dường như là cách thông thường để nói đến lần thứ nhất Đức Thánh Linh giáng trên người tín đồ nhưng có thể có nhiều lần đổ đầy đặc biệt khác khi Đức Thánh Linh lại giáng trên Người tín đồ.
f. Phép báp-tem bằng Thánh Linh là một công việc tối cao và đầy ân điển của Đức Chúa Trời.
8. Sự đón nhận quyền năng này của cá nhân.
a. Thái độ tiêu biểu.
Nếu một người tin rằng công việc này xảy ra lúc được tái sanh hay đồng nghĩa với sự tái sanh thì hiển nhiên sẽ không có vấn đề tiếp nhận.
Nếu đồng ý rằng công việc này xảy ra tiếp theo sau sự tái sanh, thì thái độ thông thường là 'nắm lấy bởi đức tin' và đơn giản là 'nhận ơn phước'. Vấn đề đặt ra ở đây là đức tin chỉ có thể sở hữu điều gì đã được Đức Chúa Trời hoàn tất hay tuyên phán. Nói một cách khác, quan điểm này khó dung hòa được với đức tin mong đợi một việc quyền năng (thí dụ như chữa lành bệnh) vì trong trường hợp này tất cả những gì một người có thể thực sự làm là cầu xin Chúa. Vấn đề thông thường mà thái độ này đưa đến là việc con người bắt chước những kết quả mong đợi; cố gắng để 'dựng nên' hay làm lại một kinh nghiệm đã được chấp nhận (với sự nhấn mạnh thông thường trên tiếng lạ; hay là chán nản bỏ đi vì 'chẳng có điều gì xảy ra'. Tôi cũng nghĩ là có nhiều người đã 'nắm lấy bởi đức tin' và rồi bước đi trong thất vọng vì họ không nhận thức ra rằng Đức Chúa Trời đã không thực sự làm công việc đó.
Tất cả những điều này đưa đến sự thất vọng, bối rối và chán nản cho dân sự của Đức Chúa Trời.
b. Thái độ rõ ràng trong Kinh Thánh.
Trong mỗi một thí dụ thấy trong Kinh Thánh (đặc biệt là trong Tân ước và đặc biệt hơn nữa là trong sách Công vụ đây là một công việc hoàn tất và tối cao của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời thực hiện phép lạ là đổ đầy Thánh Linh Ngài!
Trách nhiệm của con người là gì? Tôi nghĩ LuLc 11:1-13 cho chúng ta câu trả lời thích hợp. Đây là lời khuyên giục tìm kiếm chính Chúa! Bền đỗ trong sự cầu nguyện! Để Chúa thánh hóa những động cơ của mình. Để Chúa chuẩn bị tấm lòng cho công việc quyền năng của Ngài. Để chúng ta có thể tiếp nhận ơn phước thật từ Đức Chúa Trời!
C. Những ân tứ khiến sự hầu việc có kết quả.
Những ân tứ này để bày tỏ Đức Thánh Linh (ICo1Cr 12:14)
1. Phần mở đầu.
a. Định nghĩa ân tứ.
- Từ Hi-lạp 'chaeisma' có nghĩa sự ban quyền năng thiên thượng hay khả năng làm phép lạ
- Từ Hi-lạp 'doma' có nghĩa là tặng quà hay ân tứ cho một người khác.
- Theo tự điển Webster 'quà' nghĩa là một điều gì một người chuyển giao sang người khác mà không có sự đền bù.
Kết luận: Một ân tứ thuộc linh là một sự ban quyền năng thiên thượng hay khả năng làm phép lạ mà Đức Chúa Trời ban cho con cái Ngài cách nhưng không.
b. Những loại ân tứ thuộc linh khác nhau.
- Các ân tứ chức vụ (doma) được Chúa ban cho thân thể Đấng Christ (Eph Ep 4:8-12). Những ân tứ này gồm ơn làm sứ đồ, tiên tri, thầy giảng Tin Lành, mục sư và giáo sư.
- Các ân tứ động cơ (charisma) ban cho cá nhân tín đồ (RoRm 12:3-8) gồm các ơn nói tiên tri, phục vụ, dạy dỗ, khuyên bảo, bố thí, cai trị và thương xót.
- Các ơn tứ bày tỏ (charisma) ban cho cá nhân tín đồ (ICo1Cr 12:4-11) gồm ơn được lời nói khôn ngoan, lời nói tri thức, đức tin, ơn chữa các bệnh, làm phép lạ, nói tiên tri, phân biệt các thần, nói nhiều thứ tiếng khác nhau và thông giải các thứ tiếng ấy.
c. Bản chất của các ơn tứ bày tỏ.
- Sự khác biệt giữa ân tứ bày tỏ và các ân tứ khác. Cái tên 'bày tỏ' mà Kinh Thánh dùng cho loại ân tứ này nói lên sự độc nhất cũng như mục đích đặc biệt của chúng:
'tỏ' có nghĩa làm thành rõ ràng, chắc chắn bằng cách chỉ ra hay phô bày ra.
'sự bày tỏ' có nghĩa một sự bày tỏ quyền năng hay mục đích công khai giữa mọi người.
Kết luận: Một ân tứ bày tỏ là một sự bày tỏ của Đức Thánh Linh qua một tín đồ ở trước công chúng để phô bày hay chứng minh quyền hay mục đích của Đức Chúa Trời.
- Những người nhận loại ân tứ này.
Những ân tứ này chỉ ban cho các tín đồ, có thể cho tất cả tín đồ (ICo1Cr 12:7-11)
- Người ban cho.
Những ân tứ này được Đức Chúa Trời, đặc biệt là Đức Thánh Linh ban cho (ICo1Cr 12:4-7).
- Mục đích của sự ban cho.
Những ân tứ chủ yếu không phải để ban cho người xức dầu sử dụng chúng mà là vì sự gây dựng và ích lợi chung cho người khác (ICo1Cr 12:4-7)
- Sự sắp loại các ân tứ bày tỏ.
. Ân tứ mặc khải: lời khôn ngoan, tri thức, phân biệt các thần
. Ân tứ quyền năng: đức tin, chữa các bệnh, làm các phép lạ.
. Ân tứ ngôn ngữ: tiên tri, nói nhiều thứ tiếng khác nhau, thông giải các thứ tiếng.
2. Sự rối rắm liên quan đến việc thôi ban ân tứ.
a. Cuộc tranh luận về vấn đề này.
Những lý lẽ đưa ra để ủng hộ quan điểm thôi ban ân tứ.
- Chỉ có các sứ đồ mới có các ân tứ như vậy và Phao-lô viết cho Hội thánh Cô-rinh-tô vì họ không đang sử dụng những ân tứ đích thực mà họ đang dính líu đến những sự bày tỏ giả mạo.
- Những ân tứ (thí dụ tiếng lạ là một ân tứ dấu chỉ cho quốc gia Y-sơ-ra-ên về sự phán xét sắp đến của Đức Chúa Trời và vì vậy những ân tứ này chấm dứt sau khi đền Giê-ru-sa-lem bị tàn phá vào năm 70 SC (ICo1Cr 14:20-25).
- Những ân tứ là phương cách Đức Chúa Trời dùng để ban phát sự mặc khải thiên thượng cho Hội thánh và chỉ cần thiết cho đến khi toàn bộ sự mặc khải của Ngài được hoàn tất qua Kinh Thánh (ICo1Cr 13:8-10).
- Người ta thường việc đến lịch sử Hội thánh, thời kỳ dường như những ân tứ của Đức Thánh Linh không còn thấy nữa.
Kết luận tổng quát: Vì rằng mục đích nguyên thủy mà Đức Chúa Trời định sẵn cho các ân tứ của Đức Thánh Linh rõ ràng đã được thực hiện nên những ân tứ này không còn cần thiết nữa và Đức Chúa Trời đã cất khỏi Hội thánh khi các sứ đồ qua đời nếu không muốn nói rằng sớm hơn.
Lời đáp lại những lý lẽ nêu ra trên.
- Không chỉ có các sứ đồ sử dụng các ân tứ này (xem Cong Cv 1:15 với 2:1-4, Cong Cv 10:44-48, 19: 1-7 v.v...). Hơn nữa, không có dấu hiệu nào tỏ ra rằng Phao-lô nói đến vấn đề các ân tứ giả mạo trong thơ Cô-rinh-tô. Nếu như đó là vấn đề có thật thì cách giải quyết đơn giản (và duy nhất) là thôi không sử dụng chúng nữa. Điều dường như ông muốn nói là vấn đề không hiểu rõ về các ân tứ (ICo1Cr 12:1), sự lạm dụng và sử dụng sai các ân tứ (ICo1Cr 14:40). Sứ điệp của Phao-lô có thể tóm tắt như sau đây:
. Những ân tứ thuộc linh phải được xem là có một giá trị tương đối.
. Những ân tứ thuộc linh phải được sử dụng theo sự hướng dẫn thuộc linh phải sử dụng cách trật tự.
. Những ân tứ thuộc linh phải được sử dụng cách trật tự.
- Kinh Thánh dường như không chỉ ra rằng mục đích của những ân tứ chủ yếu là một dấu chỉ cho quốc gia Y-sơ-ra-ên. Một dấu chỉ rõ ràng được thực hiện khi những ân tứ được bày tỏ và sự hiện diện thiên thượng được phô bày, nhưng dường như không phải những ân tứ được ban cho vì mục đích này và rồi bị cất đi khi mục đích được hoàn tất. Mục đích của những ân tứ được nói rõ trong ICo1Cr 12:7 và mục đích đó tiếp tục vẫn còn cần thiết và cần được thực hiện trong Hội thánh ngày nay.
- Những ân tứ cũng không phải phương cách của Đức Chúa Trời để ban phát sự mặc khải thiên thượng. Có rất nhiều sự nhầm lẫn liên quan đến bản chất của lời tiên tri và những cái gọi là 'sứ điệp bằng tiếng lạ'. Những điều này không hề được cho là những ân tứ mặc khải và sự mặc khải trọn vẹn chắc chắn đã chấm dứt khi việc công nhận Tân ước được hoàn tất. Tuy nhiên, vì những ân tứ không mang tính chất mặc khải nên dựa tên cơ sở đó mà cho rằng chúng không hề bị gián đoạn là điều đúng đắn. Thêm vào đó ICo1Cr 13:8-10, đoạn Kinh Thánh thường được sử dụng để ủng hộ quan điểm các ân tứ thôi không được ban cho nữa, đúng ra là đoạn Kinh Thánh bày tỏ rằng cuối cùng thì chỉ có tình yêu thương mới có giá trị thật sự và vĩnh cửu. Việc sử dụng ân tứ phải luôn được xem xét dưới ánh sáng của lẽ thật này. Những ân tứ này cũng chưa được trọn vẹn và sẽ không cần thiết khi Đức Chúa Trời trở lại vào thời kỳ sau rốt của Hội thánh.
- Việc nghiên cứu lịch sử Hội thánh vô cùng quan trọng để biết rõ về quá khứ, để được soi sáng về những vấn đề hiện tại và để có thể chuẩn bị tốt hơn cho tương lai. Lịch sử Hội thánh dường như chỉ ra rằng những ân tứ đã không đóng một vai trò quan trọng, trong sự phát triển Hội thánh. Những ân tứ dường như không thấy có hay ít ra thì cũng bị xem là không quan trọng và điều này dường như phù hợp với những bản văn của Tân ước, không hề nhấn mạnh đến những ân tứ như nhiều Cơ Đốc nhân đương thời. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng có những thời kỳ trong lịch sử Hội thánh khi việc sử dụng các ân tứ nổi bật lên. Đây là một khuynh hướng rất hay vì thường kết hợp với những thời kỳ phục hưng và sự đổ đầy lại của Đức Thánh Linh. Dưới ánh sáng của điều này chúng ta có thể rút ra kết luận sau đây. Sự xuất hiện của các ân tứ kết hợp với sự phục hưng thật của Đức Thánh Linh và sự biến mất của các ân tứ có thể kết hợp với sự trở lại của một Cơ Đốc giáo hâm hẩm hay chỉ có trên danh nghĩa.
Kết luận tổng quát: Vì những mục đích ban đầu của Đức Chúa Trời đối với Hội thánh không thay đổi và Kinh Thánh cho biết không có sự thay đổi nào trong tính chất và mục đích của các ân tứ, chúng ta có thể quả quyết rằng những ân tứ không bị cất đi và do đó được xem là một phần quan trọng trong đời sống của Hội thánh. Thật hợp lý khi cho rằng những ân tứ sẽ không bị cất đi cho đến khi Đức Chúa Trời hoàn tất những mục đích của Ngài đối với và qua Hội thánh.
b. Những ý kiến phản đối thường có về việc quá quan tâm đến các ân tứ.
Có nhiều sự quan tâm và phê bình có giá trị đến thái độ đương thời đối với các ân tứ của Đức Thánh Linh.
- Sai lầm nghiêm trọng của 'sự mặc khải mới' và hậu quả là sự lơ là hoặc không coi trọng Lời Chúa.
- Sự nhấn mạnh không đúng đắn trên 'cá nhân' hay 'kinh nghiệm' đưa đến việc nhiều tín đồ tìm kiếm trạng thái xuất thần và phớn phở.
- Sự 'kiêu ngạo thuộc linh' thường bày tỏ qua việc phân biệt giữa những người có ân tứ và những người không có.
- Sự quá nhấn mạnh đến chính các ân tứ và đặc biệt là ân tứ nói tiếng lạ.
- Những người quá quan tâm đến các ân tứ thường đi lệch ra khỏi Cơ Đốc giáo truyền thống và các học thuyết chính thống.
- Cũng có những phong trào trong đó phụ nữ dường như đóng vai trò trổi hơn trong việc sử dụng các ân tứ và những phong trào trong đó họ nổi bật lên.
Kết luận tổng quát: Có nhiều người đã thành thật cho rằng tốt hơn hết là không dính líu gì đến việc sử dụng các ân tứ thuộc linh để tránh những sai trái gần như luôn luôn đi kèm với những ân tứ này.
Những lo lắng kể trên là chính đáng và phải được đánh giá cẩn thận.
- Một sự đánh giá: Những lời than phiền nêu trên là nghiêm túc và thường chính đáng. Cũng rất đáng buồn vì những người sử dụng các ân tứ thường hoàn toàn không biết gì về những sai trái của họ.
- Một câu giải đáp chân thật: Điều này dường như có cùng tính chất của vấn đề Phao-lô nói với người Cô-rinh-tô. Nhưng ông đã rút ra một kết luận hơi khác hơn những người đã chọn để bỏ mặc các ân tứ hầu tránh những sai lầm. Tôi đề nghị thay vì tránh né hoàn toàn vấn đề, là một thái độ cũng sai lầm không kém, tại sao chúng ta không học để làm theo những lời hướng dẫn của Kinh Thánh. Nói một cách khác, chúng ta hãy là người của toàn bộ cuốn sách!
3. Mô tả các ân tứ bày tỏ của Đức Thánh Linh.
a. Mô tả các ân tứ mặc khải (ICo1Cr 12:7-11)
Lời nói khôn ngoan.
Sự ứng dụng siêu nhiên của hiểu biết vào một hoàn cảnh đặc trưng.
Đây không phải sự khôn ngoan tự nhiên cũng không phải sự khôn ngoan thuộc linh tự nhiên do sự trưởng thành bình thường của tâm linh. Ân tứ này thường biểu hiện trong các trường hợp khải đạo và trong sự quản trị Hội thánh.
Các thí dụ trong Kinh Thánh: Cong Cv 6:1-6 (đặc biệt c.5a) và Cong Cv 15:12-29.
Lời nói có tri thức.
Sự mặc khải siêu nhiên về một số sự kiện trong tâm trí của Đức Chúa Trời mà một người không thể biết được nếu Đức Chúa Trời không chọn để bày tỏ ra.
Đây không phải sự thông minh tự nhiên hay kiến thức thu thập được; cũng không phải kiến thức có được qua việc học hỏi và nghiên cứu cá nhân. Ân tứ này biểu hiện qua một số tình huống khác nhau khi Đức Thánh Linh truyền tri thức thích hợp đưa đến hiệu quả trong chức vụ.
Những thí dụ đặc trưng trong Kinh Thánh GiGa 4:17-18 và Cong Cv 10:19-20
Phân biệt các thần.
Khả năng siêu nhiên để nhìn thấy thực trạng của lòng người hay thấy được ảnh hưởng của một linh nào.
'Phân biệt' là 'từ Hi-lạp có nghĩa 'phán đoán qua' hay nói một thực dụng là việc nhìn thấy qua tất cả những gì ở bên ngoài và nhìn đúng vào những gì ở bên trong ('nhìn thấy tận đáy lòng' hay 'nhìn thấy cốt lõi của sự vật'. Đó chính là sự nhìn thấy siêu nhiên được ban cho trong một hoàn cảnh đặc trưng.
Ân tứ này không có tính chất chỉ trích hay phê phán; nó chỉ là sự hiểu thấu lòng người hay cá tính; nó không phải là sự phân biệt thuộc linh tự nhiên mà các Cơ Đốc nhân trưởng thành, qua đó có thể khám phá ra các tiên tri giả (Mat Mt 7:15-20) và vạch trần những học thuyết và sự giảng dạy sai. Các thí dụ tiêu biểu trong Kinh Thánh Cong Cv 5:1-11, 8:14-24 và 16:16-18
b. Mô tả các ân tứ quyền năng (ICo1Cr 12:7-11)
Đức tin
Lòng tin cậy siêu nhiên đem đến phép lạ hay mục đích đặc biệt.
Đây không phải đức tin đem đến sự cứu rỗi trong Eph Ep 2:8 qua đó người tin bước vào mối tương giao với Đức Chúa Trời; đây không phải đức tin đẹp lòng Đức Chúa Trời mô tả trong HeDt 11:6.
Đây có lẽ là đức tin mà Chúa Giê-xu nói đến trong Mac Mc 11:22-23 và hiển nhiên là đức tin Phao-lô đề cập đến trong ICo1Cr 13:2.
Những thí dụ tiêu biểu trong Kinh Thánh;, IVua 1V 18:20-40 và Cong Cv 3:1-6
Ơn chữa bệnh
Sự chữa lành siêu nhiên làm một người khỏe mạnh về phần xác.
Điều này không hàm ý rằng người đã từng được dùng để sử dụng ân tứ này có thể chữa lành theo 'ý muốn' hay 'không có sự ngoại lệ' nào. Nó cũng không loại bỏ sự kiện là tất cả mọi tín đồ đều có thể đặt tay trên người bịnh và cầu nguyện cho họ được chữa lành (Mac Mc 16:18) cũng như các trưởng lão có thể xức dầu và cầu nguyện cho người bịnh Gia Gc 5:14.
Không nên lầm lẫn ân tứ này và quá trình lành bệnh tự nhiên của thân thể.
Các thí dụ tiêu biểu trong Kinh Thánh Cong Cv 3:1-10, 8:6-7, 9:33-35, 28:8-9
Ơn làm các phép lạ.
Sự biểu lộ siêu nhiên của quyền năng Đức Chúa Trời. Ân tứ đức tin tin cậy về những phép lạ trong khi ơn làm các phép lạ thì có kết quả là phép lạ. Chúa Giê-xu nói rằng những người theo Ngài sẽ làm những việc Ngài làm và còn làm những việc lớn hơn nữa. Sự làm phép lạ là những công việc quyền năng ('dunamis' hay dynamite)
Những thí dụ tiêu biểu trong Kinh Thánh Cong Cv 9:36-41, 19:11-12,
c. Những ân tứ ngôn ngữ (ICo1Cr 12:7-11)
Lời nói tiên tri.
Khả năng siêu nhiên để nói ra tư tưởng của Đức Chúa Trời để gây dựng, khuyên bảo hay an ủi người nghe. Bản chất và mục đích lời tiên tri được nói trong ICo1Cr 14.
Đây không phải lời nói có cùng sự cảm thúc hay sự trọn vẹn của một tiên tri thời Cựu ước hay một sứ đồ thời Tân ước ('...nói tiên tri cũng chưa trọn vẹn. ICo1Cr 13:9); đây không phải những lời tiên đoán thấy trong sách khải huyền, cũng không phải chỉ là lời truyền giảng được xức dầu và cũng không chỉ là những lời làm chứng của con cái Chúa cho thế gian (xem KhKh 19:10). Những thí dụ tiêu biểu trong Kinh Thánh: LuLc 1:67-69
Nói nhiều thứ tiếng khác nhau.
Khả năng siêu nhiên nói được một thứ tiếng mà người nói không biết. Bản chất, mục đích và cách sử dụng đúng đắn ân tứ này được mô tả rõ ràng trong ICo1Cr 14.
Đây không phải khả năng học, nói một ngôn ngữ khác ân tứ này siêu nhiên và xảy đến khi Đức Thánh Linh ban quyền năng hay 'ban cho lời nói'; người nói có thể kiểm soát được ân tứ này.
Thông giải các thứ tiếng.
Khả năng siêu nhiên để nói ra ý nghĩa của những điều được nói bằng tiếng lạ.
Đây không phải là dịch hay nói điều chính yếu hay ý nghĩa của những gì được nói bằng tiếng lạ; ích lợi của ân tứ này được mô tả đầy đủ trong ICo1Cr 14:1-40.
4. Hướng dẫn cách sử dụng đúng đắn các ân tứ lời nói (ICo1Cr 14:1-40)
a. Ân tứ nói tiên tri.
- Ân tứ này được định nghĩa trong ICo1Cr 14:3, khi ân tứ này được bày tỏ, Đức Chúa Trời nói với dân sự Ngài và kết quả là họ được gây dựng, khích lệ hay an ủi.
- Ân tứ này chủ yếu là để gây dựng thân thể Đấng Christ (ICo1Cr 14:4)
- Ân tứ này dường như nên được ao ước hơn là ân tứ nói tiếng lạ (ICo1Cr 14:1, 5)
- Ân tứ này có thể bắt phục được lòng của người chẳng tin và khiến họ qui đạo (ICo1Cr 14:24, 25)
- Ân tứ nói tiên tri phải được sử dụng trong trật tự, mỗi lần chỉ chừng 2 đến 3 người thôi và nói lần lượt (14:29-31)
- Ân tứ nói tiên tri sẽ được những người ngồi nghe suy xét, lời suy xét, nói ra theo sự cảm thúc sâu xa hơn của lời Chúa (ICo1Cr 14:29)
- Lời nói tiên tri ở dưới sự kiểm soát của nhà tiên tri do đó người nói luôn luôn chịu trách nhiệm trước Chúa (ICo1Cr 14:32)
- Ân tứ nói tiên tri phải được khuyến khích tại Hội thánh (14:39)
b. Ân tứ về các thứ tiếng.
- Ân tứ nói các thứ tiếng không phải để cho người tín đồ khả năng nói tiếng nói ngoài hầu người ấy truyền giảng cá nhân có kết quả (một sự hiểu sai Cong Cv 2:1-13)
- Ân tứ nói tiếng lạ không phải là Đức Chúa Trời nói với dân sự (thí dụ ý tưởng 'các sứ điệp bằng tiếng lạ' vì như vậy là nói tiên tri; ân tứ tiếng lạ là người tín đồ nói với Đức Chúa Trời (CoCl 14:2, 17 và Cong Cv 2:11, 10:46)
- Ân tứ nói tiếng lạ chủ yếj là để gây dựng Hội thánh nhưng ân tứ này cũng gây dựng người nói nữa (ICo1Cr 14:4)
- Ân tứ nói tiếng lạ không gây dựng Hội thánh nếu không kèm theo ơn thông giải (14:5)
- Phao-lô dường như gán cho ơn nói tiên tri một giá trị to lớn hơn vì lợi ích gây dựng tức thời nhưng ông cũng ao ước tất cả mọi người đều nói được tiếng lạ (14:5).
- Ân tứ tiếng lạ hoàn toàn vô giá trị trong buổi nhóm chung nếu không có sự thông giải đúng đắn kèm theo (14:6-12)
- Người nói tiếng lạ tại một buổi nhóm hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc thông giải và phải cầu nguyện để được thông giải tiếng ấy nếu như chưa có sự thông giải (14:13)
- Ơn nói tiếng lạ là cách để giao thông với Đức Chúa Trời ngay cả khi người nói không hiểu mình đang nói gì (14:13)
- Ơn nói tiếng lạ có thể được biểu lộ ra bằng nhiều cách giữa hội chúng (thí dụ cầu nguyện, ca hát hay nói) nhưng phải có sự thông giải cần biết cho việc gây dựng Hội thánh (14:15)
- Ơn nói tiếng lạ phải được bày tỏ một cách trật tự, hai hoặc ba người là cùng và từng người nói theo lượt mình và phải có người thông giải. Phải làm thinh nếu không có ai thông giải (14:28)
- Không được ngăn trở ơn nói tiếng lạ trong các buổi nhóm họp (14:39)
5. Mục đích và tầm quan trọng của các ân tứ bày tỏ.
a. Mục đích của các ân tứ nói chung.
Những ân tứ bày tỏ được ban cho để ai nấy đều được ích lợi chung. Do đó, những ân tứ không phải chủ yếu định để đem đến sự vui thú hay gây dựng riêng cho người sử dụng. Đức Chúa Trời muốn làm việc qua những ân tứ vì ích lợi chung cho mọi người để đáp ứng nhu cầu của họ cũng như làm vinh hiển danh Ngài.
b. Mục đích của các ân tứ trong thân thể Đấng Christ.
Mục đích duy nhất của những ân tứ này trong thân thể Đấng Christ là để gây dựng thân thể ấy. Do đó các ân tứ này tượng trưng cho những phương cách thiên thượng mà Đức chúa Trời đã chọn để đem dân sự Ngài đến mức độ đầy trọn cao hơn. Vì vậy nhấn mạnh đúng đắn đến việc sử dụng các ân tứ này trong sinh hoạt hội chúng là điều hợp lý. Và mỗi một thành viên phải được khuyến khích tìm kiếm ý chỉ của Đức Chúa Trời liên quan đến các ân tứ của mình và rồi được dành cho cơ hội bày tỏ các ân tứ này trong sinh hoạt của Hội thánh cũng là một điều hết sức hợp lý. Sự mạnh mẽ của thân thể phần nào cũng do phẩm chất của việc các thành viên chăm sóc lẫn nhau quyết định.
c. Mục đích của các ân tứ trong việc làm chứng cho thế gian.
Có một mục đích quan trọng khác của các ân tứ bày tỏ mà ngay cả những người thường nhấn mạnh đến các ân tứ hầu như không để ý đến. Mục đích này liên quan đến việc làm chứng về Chúa cho thế gian và đặc biệt những gì được nói khi chứng đạo cá nhân. Những thí dụ sau đây trong Kinh Thánh sẽ minh họa mối quan hệ giữa các ân tứ của Đức Thánh Linh và sự làm chứng có kết quả.
- "Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành và những dấu lạ này sẽ cặp theo..." (Mac Mc 16:15-18 mặc dù có sự không chắc chắn về bản văn)
- "Kẻ nào tin ta..." (GiGa 14:12)
- "Đức Chúa Trời cũng dùng những dấu kỳ sự lạ..." (HeDt 2:1-4)
Kết luận: Việc những sự bày tỏ thuộc linh (ân tứ và những hiện tượng siêu nhiên có thể đi kèm với những nỗ lực rao giảng Tin Lành của chúng ta là điều có thể xảy ra và là điều trông đợi hợp lý.
- "Người què được chữa lành" (Cong Cv 3:1-10)
- "Nhiều phép lạ cặp theo chức vụ của Phi-líp" (Cong Cv 8:4-8)
- " Lời nói tiên tri có khả năng thuyết phục to lớn" (ICo1Cr 14:24-25)
Kết luận: Sự bày tỏ của các ân tứ thuộc linh có thể cảm động sâu xa và đưa những người chưa tin đến một sự hiểu biết đem đến sự cứu rỗi.
- "Này, xin Chúa xem xét sự họ ngăm dọa, và ban cho các đầy tớ Ngài rao giảng đạo Ngài một cách dạn dĩ, giơ tay Ngài ra, để nhờ danh Đầy tớ thánh của Ngài là Đức Chúa Giê-xu, mà làm những phép chữa lành bệnh, phép lạ và dấu kỳ" (Cong Cv 4:29-30)
Kết luận: Thí dụ này cho thấy khả năng có thể rao giảng Tin Lành dưới sự xức dầu và cứng minh của Đức Thánh Linh và quyền năng. Dường như đây là một điều thông thường trong Tân ước về sự rao giảng và quyền năng.
Kết luận tổng quát: Theo Kinh Thánh thì những ân tứ là một thực tế hiện tại, cần được sử dụng một cách đúng đắn, không được chỉ giới hạn trong các buổi nhóm họp và phải đóng một vai trò tích cực mạnh mẽ trong việc rao giảng Tin Lành cho thế giới đang cần này.
6. Việc đón nhận các ân tứ bày tỏ của Đức Thánh Linh.
a. Khía cạnh thiên thượng của vấn đề.
- Đức Chúa Trời là Đấng ban cho tuyệt đối và tối cao của mọi ân tứ thiêng liêng do đó chính Ngài chọn lựa người được ban cho và ân tứ (ICo1Cr 12:11, 18, 28)
- Đức Chúa Trời cũng là Đấng Chủ tể tuyệt đối trên các phương tiện qua đó một ân tứ đặc biệt nào được ban cho: hãy nhớ rằng đây là những sự bày tỏ của Đức Thánh Linh hơn là một ân tứ được sử dụng theo ý chúng ta.
b. Khía cạnh con người của vấn đề.
Tôi không phản đối những gì đang được giảng dạy hay những gì đang xảy ra liên quan đến các ân tứ của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, những lời đề nghị sau đây nên được xem như có liên quan đến khía cạnh con người của vấn đề.
- Người tín đồ được lệnh phải tìm kiếm, ước ao và cầu xin để nhận được các ân tứ của Đức Thánh Linh (ICo1Cr 12:31, 14:1, 13, 19). Do đó người tín đồ đóng một vai trò tích cực trong việc tìm cầu các ân tứ chỉ không được có thái độ thụ động 'có cũng được, không thì thôi'
- Người tín đồ cũng phải bước đi trong đức tin trong lãnh vực này cũng như trong mọi lãnh vực khác của đời sống Cơ Đốc. Khi xem kỹ về các ân tứ trong sách Công vụ người ta luôn thấy rằng đức tin là cần thiết đối với cái bình đang được Chúa sử dụng. Những bình chứa không chỉ là những dụng cụ mà Đức Thánh Linh nắm quyền kiểm soát. Đúng hơn, những bình này hợp tác một cách trung tín với những sự cảm thúc của Đức Thánh Linh.
- Người tín đồ cũng phải hoàn toàn thuận phục Chúa. Đây không chỉ là đặc điểm của toàn thể đời sống nói chung mà còn là đặc điểm của lãnh vực đặc biệt của các ân tứ nói riêng. Đây là sự thuận phục quyền tối cao của Đức Chúa Trời Đấng theo ý Ngài muốn phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người (ICo1Cr 12:11). Vì vậy người tín đồ phải sẵn lòng đón nhận từ Chúa bất cứ điều gì Ngài đã cho là tốt nhất và phải quyết tâm không thỏa lòng với bất cứ điều gì ít hơn điều Chúa đã định. Nói một cách khác, mỗi một tín đồ chỉ đơn giản thuận phục Đấng biết rõ điều gì tốt nhất cho mỗi cá nhân và chức vụ đặc biệt của người ấy và cũng là Đấng chỉ mong ước điều tốt nhất và thích hợp nhất cho mỗi cá nhân.
- Sự xức dầu đặc biệt của Đức Thánh Linh thường đi trước bất cứ một sự ban ân tứ bày tỏ nào. Chúa Giê-xu nói rằng chúng ta sẽ nhận được quyền phép khi Đức Thánh Linh giáng trên chúng ta một cách thông thường để diễn tả quyền phép sẽ là những ân tứ bày tỏ (dù phải thừa nhận rằng quyền phép nhắc đến ở đây liên quan đến việc làm chứng có kết quả. Và trong Kinh Thánh thường ký thuật lại rằng 'phép báp-tem bằng Thánh Linh' hay 'sự giáng trên' của Đức Thánh Linh hay sự 'đầy dẫy Đức Thánh Linh' có kèm theo những sự bày tỏ siêu nhiên. (Điều này thật đối với một số trường hợp trong Cựu ước, trong sách Phúc âm và trong sách Công vụ. Có thể suy nghĩ một cách hợp lý rằng sẽ có rất ít sự bày tỏ của Đức Thánh Linh trong đời sống của một tín đồ không biết gì về chức vụ đổ đầy hay xức dầu của Đức Thánh Linh đối với đời sống của mình. Tuy nhiên, thái độ tiêu biểu đối với toàn bộ vấn đề ân tứ này đã gây tác hại quá nhiều đến chính nghĩa của Đấng Christ và đã ngăn trở rất nhiều người không nhận được ơn phước thật từ Chúa. Chắc chắn phải có sự quay lại để chuyên tâm bền bứ tìm kiếm Đức Chúa Trời tối cao, Đấng sẽ ban những ơn phước của Ngài bằng bất cứ phương cách và thời điểm nào Ngài thấy là thích hợp (LuLc 11:5-13).
Những ân tứ động cơ của Đức Thánh Linh (RoRm 12:3-8)
1. Phần mở đầu.
a. Những ân tứ của Đức Thánh Linh.
- Từ Hi-lạp 'charisma' có nghĩa sự ban quyền năng thiên thượng hay khả năng làm phép lạ.
- Từ Hi-lạp 'doma' có nghĩa là tặng quà cho người khác mà không có sự đền bù.
- Tự điển Webster định nghĩa 'quà' là một điều gì một người tự nguyện chuyển giao sang người khác mà không nghĩ đến sự đền bù.
Kết luận: Một ân tứ thuộc linh là một sự ban quyền năng thiên thượng hay khả năng làm phép lạ mà Đức Chúa Trời ban cho con cái Ngài để họ có thể hầu việc Ngài có kết quả.
b. Những loại ân tứ thuộc linh khác nhau.
- Ân tứ chức vụ ban cho thân thể Đấng Christ (Eph Ep 4:8-12). Những ân tứ này liên quan nhiều đến một cá nhân mà Đức Chúa Trời ban ân tứ, đã kêu gọi và đã đặt trong chức vụ hầu việc đặc biệt đó tại Hội thánh. Do đó ân tứ này chủ yếu là con người được Đức Chúa Giê-xu ban cho thân thể Đấng Christ. Những ân tứ này được mô tả là các sứ đồ, các tiên tri, các thầy giảng Tin Lành và các mục sư giáo sư.
- Các ân tứ bày tỏ (charisma) được ban cho các tín đồ (ICo1Cr 12:3-8). Những ân tứ này có tính chất siêu nhiên vì là sự bày tỏ của Đức Thánh Linh. Do đó những ân tứ này được mô tả là sự biểu lộ trước công chúng của Đức Thánh Linh qua một tín đồ được chọn để chứng minh quyền năng hay mục đích của Đức Chúa Trời. Những ân tứ này gồm: lời nói khôn ngoan, lời nói tri thức, đức tin, ơn chữa bệnh, lời nói tiên tri, ơn phân biệt các thần, ơn nói tiếng lạ và ơn thông giải tiếng lạ.
- Các ân tứ động cơ (charisma) cũng được ban cho các tín đồ (RoRm 12:3-8). Những ân tứ này có căn bản dựa theo cá tính của một người và cũng do cái động cơ, khuynh hướng sống của người ấy. Do đó những ân tứ này cũng liên quan đến việc tạo mỗi tín đồ thành một cá nhân độc đáo. Kết quả là mỗi ân tứ của cá nhân khiến cho họ có cái nhận thức duy nhất và có giá trị về cuộc sống. Những ân tứ này là nói tiên tri, phục vụ, dạy dỗ, khuyên giục, ban cho (bố thí, hướng dẫn và thương xót.
Kết luận: Phân biệt rõ ràng các loại ân tứ thuộc linh là một điều quan trọng. Sẽ rất rắc rối và bất lợi nếu các ân tứ này được sắp thành một nhóm mà thôi vì bản chất và mục đích của mỗi nhóm riêng rẽ không được khám phá ra đánh giá đúng mức hay phát triển hết tiềm năng.
2. Mô tả các ân tứ động cơ của Đức Thánh Linh.
a. Mô tả tổng quát từng ân tứ.
Ân tứ động cơ là ân tứ của ân điển Đức Chúa Trời, là căn bản theo cá tính người tín đồ và do khuynh hướng hay động cơ thúc đẩy người ấy trong cuộc sống.
- Nói tiên tri là nói ra sự thật; ân tứ nhìn thấu suốt. Đây là khả năng Chúa ban để 'nhìn' thấy con người, chương trình thật sự ra sao. Động cơ thúc đẩy căn bản là biến các động cơ thành đúng, đáp ứng những nhu cầu thuộc linh.
- Phục vụ là giúp đỡ cách cụ thể. Đây là khả năng nhìn thấy những nhu cầu và rồi giúp đỡ để thực hiện công việc ấy. Động cơ thúc đẩy căn bản là chứng tỏ tình yêu thương bằng cách đáp ứng các nhu cầu thực tế ân tứ đáp ứng nhu cầu thực tế của người khác.
- Dạy dỗ có nghĩa là làm sáng tỏ sự thật, truyền bá Kinh Thánh. Đây là khả năng truyền thụ sự hiểu biết và dẫn những người khác vào lẽ thật được mặc khải của Đức Chúa Trời. Động cơ thúc đẩy là tìm tòi và tỏ rõ giá trị lẽ thật đã được bày tỏ; ân tứ này đáp ứng cả nhu cầu của tâm trí lẫn tâm linh.
- Khuyên bảo có nghĩa là đẩy mạnh sự tiến bộ cá nhân và khuyến khích người khác. Đây là khả năng khuyến khích những tín đồ khác lớn lên và đối phó thành công với những kinh nghiệm trong cuộc sống. Động cơ thúc đẩy căn bản là khuyến khích đức tin và sự tăng trưởng cá nhân của người khác; ân tứ này đáp ứng các nhu cầu cá nhân.
- Bố thí là chủ yếu chia xẻ về vật chất. Đây là khả năng giữ được sự quản lý tốt trên các nguồn lợi mình và ban cho người khác từ những lợi lộc của mình. Động cơ thúc đẩy căn bản là đáp ứng nhu cần của công việc Chúa cũng như của các chức vụ người khác để họ tiến bộ; ân tứ này đáp ứng nhu cầu tài chánh và vật chất.
- Lãnh đạo (cai trị) là khả năng tổ chức và giúp đỡ việc lãnh đạo. Người này có khả năng nhìn thấy hàng loạt mục tiêu và tạo sự dễ dàng cho những người khác trong những công việc thích hợp. Động cơ thúc đẩy căn bản là phối hợp những sinh hoạt của những người khác. Ân tứ này đáp ứng nhu cầu cách hiệu quả.
- Thương xót được biểu lộ bằng cách bày tỏ sự nâng đỡ cá nhân và thông cảm với người khác. Đây là khả năng 'cảm' thấy được tình trạng thật của người khác và rồi đồng cảm với họ. Động cơ thúc đẩy căn bản là làm cho những người đang gặp đau khổ được nhẹ nhàng; ân tứ này đáp ứng nhu cầu tình cảm.
b. Những sự kiện tổng quát liên quan đến các ân tứ
- Mỗi một người tín đồ chỉ có một ân tứ động cơ chủ yếu. Đoạn Kinh Thánh nêu trên dường như hàm ý này và tính chất của mỗi ân tứ ủng hộ sự kiện này. Do đó mỗi người phải khám phá xem ân tứ đặc biệt của mình là gì và rồi tập trung để hầu việc trong phạm vi của ân tứ đó mà thôi. Sơ đồ sau đây sẽ làm sáng tỏ điểm này.
- Có hai phạm trù tổng quát trong các ân tứ động cơ.
Ân tứ nói - nói tiên tri / dạy dỗ / khuyên bảo
Ân tứ phục vụ - phục vụ / bố thí / lãnh đạo / thương xót
- Những câu hỏi căn bản liên quan đến việc tìm ra ân tứ động cơ của bạn.
Trong hai loại tổng quát trên, bạn thấy loại nào tự nhiên hơn?
Cá nhân bạn có khuynh hướng hay động cơ thúc đẩy nào?
Quan niệm tự nhiên của bạn về cuộc sống là gì?
Bạn cảm thấy ân tứ nào trong mỗi loại tổng quát có thể sử dụng dễ dàng và và tự nhiên nhất? Tại sao?
- Những điều kiện tiên quyết căn bản để sử dụng ân tứ động cơ của bạn.
Cần phải dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh (RoRm 12:1-2)
Cần phải mong ước sự vinh hiển của Chúa hơn sự vinh hiển của mình (IPhi 1Pr 4:10-11)
Cần phải dựa vào sự ban cho khả năng của Đức Thánh Linh (IPhi 1Pr 4:11)
3. Mục đích và tầm quan trọng của mỗi ân tứ động cơ.
a. Ơn nói tiên tri.
Có lẽ gọi ân tứ này là 'sự hiểu thấu' vì có những sự nhầm lẫn về từ 'tiên tri trong thế gian (và ngay cả trong Hội thánh). Theo ISa1Sm 9:9, những nhà tiên tri được gọi là những nhà tiên kiến (seers). Thực chất của ân tứ này là khả năng nhìn thấy. Những người có ân tứ này dường như có một khả năng trực giác băén nhạy đối với thực trạng của con người và sự vật. Do đó họ có ý thức rõ ràng về tình trạng thực. Họ có khả năng nhận biết những động cơ bên trong của con người, điều mà những người khác không có được khuynh hướng căn bản của ân tứ này là nhìn xem người khác hay một nhóm người hay bất kỳ một hoàn cảnh đặc biệt nào trong ánh sáng của đời sống của họ trước mặt Chúa và các tiêu chuẩn đạo đức của Ngài. Những nguyên tắc thêm vào dưới đây sẽ làm sáng tỏ hơn nữa bản chất của ân tứ này.
- Có ba lợi ích tổng quát của ân tứ này được chỉ ra trong ICo1Cr 14:3
. 'oikodome' là sửa chữa, cải tiến hay gây dựng
. 'paraklesis' là giúp đỡ hay làm mạnh mẽ hơn.
. 'poramuthia' là khuyến khích hay yên ủi.
- Ân tứ này có thể ảnh hưởng đến người nghe nhiều cách. Từ ICo1Cr 14:24-25 nơi ân tứ nói tiên tri được nói là có một ảnh hưởng rõ rệt trên những người nghe, người ta có thể rút ra được 5 cách sau đây:
. Ân tứ này khiến người ta có ý thức trách nhiệm về hành động của mình.
. Ân tứ này bày tỏ thái độ và các động cơ trong lòng người.
. Ân tứ này thuyết phục lòng người nghe.
. Ân tứ này mang đến sự nhận biết về sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
. Ân tứ này dẫn một người đến sự hạ mình và ăn năn thật.
- Con người và chức vụ của Giăng Báp-tít minh họa cho người có ân tứ động cơ nói tiên tri (LuLc 3:1-20)
. Đoạn Kinh Thánh trên cho thấy nhà tiên tri có một chức vụ khá khó khăn. Sự thẳng thắn của ông thường bị lầm lẫn với sự khắc nghiệt. Do đó nhà tiên tri thường bị khinh rẻ và ghét bỏ.
. Giăng dường như nhận biết rất rõ ràng về sự không xứng đáng của mình (c.16). Những người có ơn này dường như nhận biết điều này và thừa nhận cách công khai. Họ có khuynh hướng rất khe khắt với bản thân và thường muốn những người khác chỉ ra lỗi lầm và sự đui mù của mình.
. Giăng ý thức được rằng ông chỉ là tiếng nói cho Đức Chúa Trời và phải tùy thuộc vào lẽ thật trong Kinh Thánh để làm rõ uy quyền của mình (c.4-6)
. Giăng có một cách nói rất thẳng thắn và trực tiếp (c.7-14)
. Giăng mong đợi sự ăn năn như là kết quả chức vụ của mình (c.8)
. Giăng nhấn mạnh đặc biệt trên sự công bình và sự sai trí và có khả năng nhận diện tội lỗi; ông quan tâm đến động cơ hành động (10:14)
. Giăng có lòng can đảm để công khai cáo trách tội lỗi (19
. Giăng có khả năng phân biệt được động cơ hành động của người khác (c.7)
- Ân tứ động cơ về nói tiên tri không nên được nhầm lẫn với tâm linh hay phê bình hay một thái độ hay xét đoán. Người có ân tứ này sẽ được chính Đức Chúa Trời xử lý theo một cách khiến cho người ấy đến chỗ nhận biết về sự không xứng đáng của chính mình.
b. Ơn khuyên bảo
Tiếng Hi-lạp ở đây là 'paraklesis' và đây là một ân tứ liên quan đến đời sống một cách mạnh mẽ. Ân tứ này đặt trọng tâm vào kinh nghiệm của con người. Động cơ thúc đẩy là nhìn thấy mọi người tăng trưởng và trưởng thành, có đời sống riêng tư và các quan hệ xã hội được ổn định, thành công. Ân tứ này có thể được gọi là ân tứ khích lệ sự tiến bộ cá nhân. Đây là khả năng khích lệ mọi người đến đời sống phong phú. Do đó những người khuyên bảo thường rất được mọi người yêu mến, hoan nghênh. Những người khuyên bảo thường có một thái độ và cái nhìn tích cực đối với cuộc sống. Họ thường không quá hướng nội và thường chấp nhận ngay cả trong những thời điểm căng thẳng. Không giống người dạy dỗ, sự thật là sự thật đối với người khuyên bảo, dù sự thật đó đến từ Kinh Thánh hay từ kinh nghiệm. Thật vậy, người khuyên bảo cần xác định lẽ thật của Kinh Thánh qua kinh nghiệm. Đối với người ấy, 'lời' phải trở thành 'xác thịt'. Người dạy dỗ có khuynh hướng tin rằng lẽ thật trình bày là xác đáng nhưng người khuyên bảo sẽ không thỏa lòng cho đến khi người ấy đạt đến được những kết quả riêng tư. Khi một người khuyên bảo phát triển, người ấy cần sự quan tâm và chú ý hoàn toàn của người nghe vì đây chính là trọng tâm của ân tứ: con người! Những nguyên tắc sau đây sẽ giúp làm rõ hơn ân tứ này.
- Có rất nhiều sự khuyên bảo trong lời của Đức Chúa Trời. Một vài thí dụ sẽ chứng minh người khuyên bảo nhấn mạnh đến những gì liên quan đến đời sống.
. Phải sống một đời sống đẹp ý Đức Chúa Trời (ITe1Tx 4:1)
. Phải bền đỗ trong đức tin dù phải trải qua nhiều khó khăn (Cong Cv 14:22)
. Phải sống xứng đáng với sự kêu gọi của Chúa (Eph Ep 4:1)
. Ăn ở xứng đáng với Đức Chúa Trời (ITe1Tx 2:10-12)
. Cần hiểu rõ sự sửa trị của Đức Chúa Trời (HeDt 12:5-13)
. Cần phải lớn lên trong tình yêu thương cho đến khi điều này tỏ rõ trong đời sống (ITe1Tx 4:9-12)
. Phải dâng toàn thân thể mình cho Chúa (RoRm 12:1)
- Banaba là một điển hình trong Kinh Thánh về người khuyên bảo. Ông còn được gọi là 'con trai của sự yên ủi' trong Cong Cv 4:36. Hãy lưu ý đến một số đặc biệt cá nhân cũng như trọng tâm của chức vụ của ông từ sách Công vụ.
. Sứ điệp của ông kêu gọi đến ý chí của những người nghe (Cong Cv 11:23)
. Mục đích của ông là sự tăng trưởng cá nhân và đời sống thành công của người tín đồ (Cong Cv 14:22)
. Ông luôn chú trọng đến con người và thực tế (Cong Cv 9:27, 15:39)
. Thái độ của ông luôn tích cực và dường như không mất hi vọng về mọi người (Cong Cv 15:39)
. Chức vụ của ông có thể được mô tả là 'một người cha đối với con cái' (ITe1Tx 2:11)
. Ông chứng minh lòng mong ước thấy người khác và các dự tính được tiến triển qua sự hy sinh của cá nhân ông (Cong Cv 4:36, 37)
c. Ơn dạy dỗ.
Ân tứ này là khả năng truyền đạt kiến thức và hướng dẫn người khác vào lẽ thật. Ân tứ này chủ yếu quan tâm đến việc 'làm sáng tỏ sự thật' hay 'truyền bá đạo'. Động cơ thúc đẩy chính trong việc dạy dỗ là tìm tòi và làm rõ giá trị của sự thật đã được tuyên phán và rồi sau đó, chia xẻ lại với người khác những gì đã tìm ra. Do đó chức vụ chính của giáo sư là ở giữa những thành viên trong thân thể Đấng Christ và người ấy sẽ gây dựng trên nền của người khác. Về phần người dạy dỗ, thì một khi người ấy đã truyền bá lẽ thật, xem như phần chủ yếu của công việc người ấy đã được hoàn tất. Những nguyên tắc thêm vào sau đây giúp làm sáng tỏ bản chất của ân tứ này.
- Con người và chức vụ của A-bô-lô mô tả những đặc điểm của một người dạy dỗ. Hãy lưu ý công việc duy nhất của ông và trọng tâm chức vụ của ông dưới ánh sáng của Cong Cv 18:24-28 và ICo1Cr 3:6
. Ông rất có ích cho các tín đồ (Cong Cv 18:27). Chức vụ của một giáo sư thì hầu như ở trong vòng thân thể Đấng Christ và công việc của họ rất cần thiết (Eph Ep 4:11)
. Ông giữ chức vụ tưới hơn là trồng (ICo1Cr 3:6). Những giáo sư theo sau việc làm khởi đầu của các sứ đồ, tiên tri và thầy giảng Tin Lành.
. Ông được mô tả là 'logios'. Điều này nghĩa là học nhiều và có tài hùng biện (Cong Cv 18:24). Tất cả các giáo sư phải thích đọc sách và nghiên cứu và họ nhấn mạnh đến sự chính xác của sự kiện và từ ngữ. Thật vậy, họ cảm thấy vui thỏa trong việc tìm tòi nghiên cứu cũng như trong việc phát biểu lẽ thật theo đúng như sự trình bày của tài liệu.
. Phương pháp giảng dạy của ông được mô tả là 'akribos'. Điều này có nghĩa ông đã giảng dạy cách chính xác, kỹ càng, có hệ thống và chuyên cần (Cong Cv 18:25). Các giáo sư có khuynh hướng muốn trình bày lẽ thật một cách có hệ thống và hợp lý và có thể chống lại việc thảo luận tự do.
. Ông rất thông hiểu Kinh Thánh và sử dụng Kinh Thánh làm nền tảng cho chức vụ của mình (Cong Cv 18:24-28). Các giáo sư có khuynh hướng thiên về 'sự kiện' và 'lẽ thật'. Vì vậy, họ thường chống lại việc sử dụng những minh họa trong Kinh Thánh tách khỏi mạch văn và còn có thể tránh không dùng các minh họa từ những nguồn khác Kinh Thánh. Không giống như người khuyên bảo, giáo sư phải luôn làm tỏ rõ giá trị của lẽ thật và sẽ kiểm tra kiến thức của những người dạy họ.
. Ông sẵn sàng học hỏi ở người khác (Cong Cv 18:26) mặc dù một giáo sư thì sẽ luôn luôn kiểm tra lẽ thật được trình bày. Giáo sư phải sẵn lòng học hỏi từ người khác vì chức vụ của họ tùy thuộc vào sự đóng góp của các học giả khác. Do đó các giáo sư là những học sinh vĩ đại nhưng họ có khuynh hướng trở nên độc đoán trong phương cách giúp đỡ người khác ('sự hay biết thì sanh kiêu căng' ICo1Cr 8:1). Các giáo sư cũng có khuynh hướng nghĩ rằng ân tứ của họ là nền tảng cho các ân tứ khác.
. Ông là người có tinh thần sốt sắng (Cong Cv 18:25). Sự khách quan của một giáo sư có thể khiến người nghe có cảm tưởng là giáo sư ấy thiếu sự nóng cháy thật. Một giáo sư thì có khuynh hướng 'sự kiện' hơn là 'tình cảm'.
. Ông giảng dạy đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ (Cong Cv 18:26, 28). Giáo sư sẽ không do dự để công bố lẽ thật mà ông tin theo và sẽ tìm cách 'chứng minh' lẽ thật từ Kinh Thánh.
d. Ân tứ phục vụ.
Ân tứ này được định nghĩa là đem đến sự giúp đỡ thiết thực. Động cơ thúc đẩy, là để bày tỏ tình yêu thương bằng ách đáp ứng những nhu cầu thực tế và đem đến sự giúp đỡ bất cứ nơi nào, vào bất cứ lúc nào. Người phục vụ được thỏa lòng nhất khi phục vụ người khác và ân tứ của họ được bày tỏ rõ ở hành động hơn ở lời nói. Vì lý do này, có nhiều người phục vụ có đôi tay rất khéo léo và dường như họ có một khả năng chịu đựng to lớn về thể chất không hề biết đến sự mệt mỏi. Họ dường như cũng có khả năng 'nhìn thấy' những việc cần phải làm và sẽ cố gắng để làm lấy chỉ không nhờ người khác. Những nguyên tắc sau đây sẽ giúp chúng ta hiểu về bản chất của ân tứ này.
- Con người của Ma-thê là một điển hình xuất sắc về người phục vụ trong Tân tước. Hãy lưu ý đến những đặc điểm và sự nhấn mạnh đến thái độ của bà qua các đoạn Kinh Thánh LuLc 10:38-42 và GiGa 12:2-8.
. Ma-thê rõ ràng có khuynh hướng chính mình làm mọi sự, tự tay mình giải quyết mọi việc. Ma-thê phục vụ cho những người khách của bà (GiGa 12:2, LuLc 10:40).
. Ma-thê không phải là người biết phân chia nhiệm vụ, Ma-thê nói với Chúa Giê-xu để Ngài bảo Ma-ri giúp bà (LuLc 10:40), những người phục vụ có thể có khuynh hướng trở nên tiêu cực và hay chỉ trích khi làm việc chung với người khác.
. Ma-thê có một thái độ muốn người khác chú ý đến mình và gây ấn tượng là đang làm chủ tình thế. Điều này chắc chắn sẽ đem đến sự thất vọng cho một người phục vụ thật vì họ không hề mong muốn cũng như không có ơn lãnh đạo. Họ thấy sung sướng nhất là khi đực tự do để phục vụ người khác.
. Ma-thê đã để cảm xúc lấn át và trở nên bối rối về nhiều điều và dường như không cáng đáng nổi tình thế gần như quá sức cho bà lúc bất giờ (LuLc 10:40, 41). Những người phục vụ có thể thường xuyên gặp phải sự khó khăn này, hậu quả của việc nhận số lượng công việc quá lớn so với khả năng giải quyết của họ. Họ thường thấy khó lòng từ chối người khác vì họ rất mong muốn phục vụ và làm vui lòng mọi người.
. Ma-thê dường như tập trung và hướng tất cả năng lực của bà vào công việc hơn là vào người được bà phục vụ. Bà quá lo lắng và bối rối với những chi tiết của công việc đang làm (LuLc 10:41)
. Ma-thê có thể nhìn rõ công việc cụ thể và cần làm ngay (thí dụ nấu ăn cho khách) và cố gắng để đáp ứng nhu cầu này hơn là mục đích lâu dài mà Ma-ri thấy và Chúa Giê-xu đã khen ngợi (thí dụ việc chôn Chúa Giê-xu trong GiGa 12:3-8 và sự thờ phượng Chúa Giê-xu trong LuLc 10:41-42).
- Những người phục vụ thật cần lời khen ngợi biết ơn thành thật Vì họ là những người 'làm việc' chỉ không phải người 'tình cảm', họ cần được nói cho biết là họ đã làm tốt công việc và được đánh giá cao. Họ rất có ơn khi làm những công việc cụ thể và trong những công tác lao động chân tay. Ma-thê có lẽ biết khá chính xác những món ăn Chúa Giê-xu thích hoặc không thích nhưng có lẽ bà không rõ là những người khác thương bà vì chính bà hay là vì những bữa ăn bà nấu. Đối với một số ân tứ động cơ khác, sự nhấn mạnh của người phục vụ vào sự việc hay kế hoạch làm cho họ có vẻ nông cạn về mặt thuộc linh hoặc những người phục vụ có thể bị xem là không quan tâm đến con người và những mối quan hệ.
e. Ân tứ ban cho.
Ân tứ này còn có thể gọi là ân tứ 'góp phần' hay 'chia xẻ đặc biệt' vì ban cho là trọng tâm của ân tứ này. Từ Hi-lạp dùng cho chữ 'ban cho' ở đây là 'metadodomi'. Từ này là gồm từ gốc 'didomi' có nghĩa là ban cho, truyền cho hay chia xẻ trong khi tiếp đầu ngữ 'meta' làm mạnh thêm ý nghĩa của ân tứ vì thêm vào ý nghĩa 'với'. Do đó ý nghĩa căn bản là chia xẻ với người khác một sự chia xẻ chính sự sống của mình hay phó sự sống của mình vì lợi ích của người khác. (Trích trong Vine's Expository Dictionary of New Testament Words). Chính tinh thần tự nguyện của những người ban cho khi ban cho chính sự sống của mình làm cho ân tứ của họ có sức mạnh nâng đỡ như vậy (ITe1Tx 2:8, RoRm 1:11). Động cơ thật đằng sau ân tứ này là nâng đỡ người khác và có thể gọi đây là 'ân tứ nâng đỡ ' vì người nhận luôn luôn cảm nhận được một sự nâng đỡ mạnh mẽ từ phía người cho. Ban cho hay góp phần thường hay được biểu lộ bằng tài chánh nhưng đây không phải là hình thức cụ thể duy nhất để bày tỏ ân tứ này. Những nguyên tắc sau đây sẽ giúp hiểu rõ hơn về bản chất của ân tứ này.
- Tân ước đưa ra năm ý khác nhau liên quan với từ 'metadidomi'. Điều này đưa ra những cách thức khác nhau qua đó ân tứ này được bày tỏ.
. Sự chia xẻ những của cải vật chất (thức ăn, quần áo) (LuLc 3:11)
. Sự chia xẻ những ân tứ thuộc linh (RoRm 1:11)
. Sự chia xẻ những tiền của riêng với người khác (Eph Ep 4:8)
. Sự chia xẻ sự sống của mình với người khác (ITe1Tx 2:8)
. Sự chia xẻ Tin Lành với người khác (ITe1Tx 2:8)
- Nhân vật Áp-ram là một điển hình về người góp phần trong Kinh Thánh. Hãy lưu ý đến những đặc điểm thấy được qua sách Sáng thế ký.
. Đức Chúa Trời ban cho Áp-ram tài vật dồi dào (SaSt 1:2 và 24:1). Thêm vào đó Áp-ra-ham công nhận Đức Chúa Trời đã ban phước cho ông.
. Áp-ra-ham nổi tiếng về sự hào phóng đối với người khác; ông chia xẻ ơn phước vật chất (SaSt 13:9-10)
. Áp-ra-ham sẵn sàng hành động vì lợi ích người khác khi ông nhận biết đó là điều cần thiết (SaSt 14:14-16)
. Áp-ra-ham dâng 1/10 cho Chúa một cách dễ dàng (SaSt 14:20)
. Áp-ra-ham mong muốn Đức Chúa Trời được mọi sự vinh hiển qua sự ban cho của ông.
. Không một chút phô trương, ông sẽ yên lặng hi sinh kho tàng quí giá nhất của mình (Y-sác) nếu ông biết đó là điều Chúa đòi hỏi (SaSt 22:1-3)
. Ông mong ước rằng những của cải của ông được sử dụng cho những mục đích tốt nhất (SaSt 24:10).
. Tuy nhiên ông quan tâm đến giá cả mọi thứ và biết giá trị của các của cải vật chất (SaSt 23:1-20
. Ông vui mừng khi những gì ông ban cho liên quan đến lời cầu nguyện được nhậm (SaSt 24:12-26)
- Những người ban cho được đòi hỏi làm điều này cách rộng rãi và có thể họ sẽ bị thử nghiệm trong chính lạnh vực này của ân tứ. Từ Hi-lạp chỉ sự rộng rãi là aplotes có hai nghĩa đơn giản có nghĩa là món quà không được phức tạp, không phải để mua chuộc người nhận và không phô trương để trục lợi.
f. Ân tứ lãnh đạo.
Ân tứ này còn có thể gọi là 'tạo điều kiện thuận lợi'. Từ Hi-lạp sử dụng ở đây là 'proistemi' nghĩa đen là 'người đứng trước mặt người khác. Đó là ý tưởng về người lãnh đạo, người cai trị, người bảo vệ, nhà vô địch v.v... Bản dịch NEB là 'ai cai trị, hãy siêng năng mà cai trị'. Bản RSV dịch là 'đem đến sự giúp đỡ ' do đó mô tả vai trò lãnh đạo như là sự hướng dẫn những người khác. Từ chính xác nhất để mô tả công dụng của ân tứ này có lẽ là 'người tạo thuận lợi vì người này lãnh đạo bằng cách làm việc với và qua người khác. Không giống những người phục vụ, người lãnh đạo thường không thấy vui mừng và thỏa lòng khi chính họ phải làm công việc. Trong Hội thánh, họ hoạt động bằng cách điều hành và khiến mọi sự dễ dàng cho người khác. Từ 'facilitate' nghĩa đen là mang đến sự dễ dàng cho bất cứ hành động hay hoạt động nào. Trong Tit Tt 3:14, từ 'proistemi' cũng được dùng với ý nghĩa là làm cho vững, người tín đồ được khuyên giữ vững những việc lành. Công việc chủ yếu của những người 'tạo thuận lợi' là giữ vững Hội thánh. Họ có trách nhiệm giúp đỡ thân thể Đấng Christ xác định và thực hiện mục tiêu bằng cách giúp đỡ về mặt lãnh đạo và đáp ứng nhu cầu hiệu quả. Những nguyên tắc sau đây giúp làm sáng tỏ bản chất của ân tứ đặc biệt này.
- Nê-hê-mi là một thí dụ điển hình về người lãnh đạo hay người tạo thuận lợi trong Kinh Thánh. Hãy để ý đến nhiệt tình và trọng tâm chức vụ của ông.
. Ông có một tình đặc biệt đối với dân sự Chúa và công việc nhà Chúa (NeNe 1:4)
. Ông có khả năng nhận thức toàn bộ các vấn đề và xem xét các nhu cầu cấp bách (NeNe 2:12-15)
. Ông biết rằng những người khác cũng phải tham gia vào một kế hoạch to lớn như vậy nên ông đã phân chia trách nhiệm (NeNe 2:16-18)
. Dường như ông có khả năng ước tính thời gian và ông biết cụ thể những công việc sẽ tốn mất bao nhiêu thời gian (NeNe 2:6)
. Ông có khả năng nhận biết phải cần bao nhiêu nhân lực và vật lực để hoàn tất công việc (NeNe 3:1-32)
. Ông tả ra có khả năng chịu được áp lực do kế hoạch gây ra và có thể tiếp tục ngay cả khi có sự chống đối (NeNe 4-6)
. Ông cũng đủ bản lĩnh để đương đầu và đối phó với sự hỗn loạn do các công nhân của ông gây ra (NeNe 5:1-13, 7:3-4, 13:11)
. Ông có khả năng độc đáo khiến mọi sự trở nên dễ dàng cho người khác và chính ông không là một gánh nặng (NeNe 5:14-19)
. Ông có khả năng phân chia quyền hạn và cảm nhận người nào thích hợp nhất với công việc (NeNe 7:1-2).
- Người 'tạo thuận lợi' có cái nhìn hiểu biết về mọi người cách thấu đáo và thường có khả năng đặt đúng người vào đúng công việc cần làm. Họ thường không ngại tiếp cận với những cá nhân và rồi hướng dẫn những người nào đến mục tiêu đã đề ra. Người tạo thuận lợi thường không cảm thấy thất vọng chán nản như người phục vụ. Người phục vụ quan tâm đến công việc tức thời còn người tạo thuận lợi thì quan tâm đến các mục tiêu lâu dài. Dù cho chương trình của người này cũng có lúc bị ngăn trở nhưng người ấy có khả năng thích ứng và đứng vững trên mục tiêu 'Hãy dự tính những gì bạn làm và hãy làm những gì bạn dự tính' có thể được xem như phương châm của người tạo thuận lợi.
g. Ân tứ thương xót.
Đây là ân tứ quen thuộc và cần thiết nhất trong tất cả các ân tứ động cơ. Ân tứ này là đồng cảm với; an ủi và nâng đỡ những người đang gặp đau khổ. Về bản chất ân tứ này giống như sự thương cảm, thương hại, sự nhân từ và sự chịu đựng. Mục đích ân tứ này là giúp người khác bằng cách đồng cảm với họ trong khi họ cần và đem đền bất cứ sự an ủi nào cho họ. Nếu những người phục vụ là những người làm việc thì những người thương xót là những người tình cảm. Khả năng đặc biệt của họ là cảm nhận được tình trạng thật của mọi người và rồi đến với họ để thương cảm và nâng đỡ. Ân tứ này đáp ứng nhu cầu tình cảm của con người. Trong xã hội chúng ta, những người có ân tứ này thường bị hiểu lầm và đôi khi cũng khó nhận ra. Họ thường được dạy để đè nén tình cảm và thường bị cho là yếu đuối, thiếu cương quyết. Có lẽ hơn bất cứ ân tứ nào khác, những người có ân tứ này cần được khích lệ để sử dụng ân tứ của họ và bày tỏ năng lực thương xót của Đức Thánh Linh. Cùng giống những người ban cho, những người có ơn thương xót có khả năng nhận biết sự không thành thật và họ sẽ gần gũi những người không thành thật và cứng lòng. Những người có ơn này thấy khó khiển trách người khác nhưng họ thật sự có một ảnh hưởng mạnh, âm thầm đến người khác. Những nguyên tắc sau đây sẽ làm sáng tỏ bản chất của ân tứ này.
- Có lẽ thí dụ hay nhất về ơn thương xót trong Kinh Thánh là câu chuyện người Sa-ma-ri nhơn lành trong LuLc 10:29-37
. Ông nhìn thấy người gặp nạn và động lòng thương xót. Ông có khả năng 'cảm nhận' tình cảnh và nhu cầu người đó (c.33)
. Rồi ông đến với người đó. Những người có ân tứ này thường cảm thấy gần những người đang đau khổ. Dường như họ thường đến gần những người đau khổ và khốn cùng (c.34)
. Rồi ông làm một điều gì đó cho người gặp nạn. Ông băng bó vết thương và cố gắng làm giảm những nỗi đau (c.34)
. Ông chăm sóc CHÍNH CON NGƯỜI này. Ông quan tâm đến cảm xúc cũng như tình trạng sức khỏe của người này (c.34)
. Ông còn trả tiền hộ người này. Ông cũng rất nhạy cảm nên cảm nhận cả được sự bối rối mà người này có thể có, vì không đủ khả năng trả tiền. Ông nhận ra được những vấn đề tế nhị mà có thể làm tổn thương đến tình cảm người khác (c.35)
. Ông tin cậy người chủ quán - rõ ràng ông có khả năng nhận thấy sự thành thật của người chủ quán cũng như cảm thấy là chính sự quan tâm của ông với người gặp nạn sẽ thúc giục người chủ quán tiếp tục chăm nom cho người kia (c.35).
- Những người có ơn thương xót được khích lệ để làm chức vụ với một tinh thần vui vẻ. Họ có thể dễ dàng đè nén tình cảm, đặc biệt là phái nam, và có thể bị cám dỗ để hướng nội và trở nên buồn rầu. Thêm vào đó, những người có ơn này rất dễ bị tổn thương vì họ là những người sống bằng tình cảm. Chính ân tứ của họ không để cho họ thành người cứng rắn. Khi ơn tứ này không được sử dụng cách đúng đắn, họ có thể để cho tình cảm cứ tích tụ lại rồi bùng nổ ra trong một cơn giận ngắn hay họ cứ tiếp tục đè nén những tình cảm ấy và buồn bã trong lòng.
4. Minh họa các ân tứ động cơ của Đức Thánh Linh.
Chúng ta đã nói rằng các ân tứ động cơ của Đức Thánh Linh cơ bản là thuộc về cá tính của một người và được cảm thúc bởi khuynh hướng sống căn bản của người đó. Nói một cách khác, mỗi người sẽ nhìn cuộc đời qua lăng kính của các ân tứ động cơ của mình. Bạn sẽ đáp ứng với những kinh nghiệm trong cuộc sống theo các ân tứ đặc biệt của bạn. Và mỗi một người khác cũng sẽ nhìn cuộc đời và đáp ứng với những việc xảy ra qua ân tứ duy nhất của họ. Tôi xin minh họa ý tưởng này bằng cách giả sử rằng có một gia đình gồm 7 người và mỗi người trong gia đình tượng trưng cho một ân tứ động cơ. Gia đình này vừa mới cùng nhau ăn cơm tối xong và đang đợi món tráng miệng. Bất thình lình có tiếng đánh 'xoảng': người dọn tráng miệng đã đánh rơi cái khay xuống sàn. Đây là cách mà mỗi thành viên của gia đình này có thể phản ứng tùy theo ân tứ động cơ duy nhất của họ.
Tiên tri - 'Đó là điều sẽ xảy ra khi không cẩn thận!' (động cơ là để sửa chữa thái độ; đúng và sai)
Phục vụ - 'Thôi nào, hãy để tôi giúp bạn dọn dẹp!' (động cơ là giúp đỡ thiết thực; đáp ứng một nhu cầu)
Dạy dỗ - 'Lý do cái khay rớt xuống là vì một bên của nó quá nặng!' (động cơ là tìm biết tại sao điều này xảy ra và làm sáng tỏ vấn đề
Khuyên bảo - 'Nếu như lần tới ta dọn món tráng miệng cùng với bữa ăn, thì sẽ không bị như vậy' (động cơ là dự bị cho sự thành công; sửa chữa cho tương lai, tạo một thái độ tích cực cho tương lai)
Ban cho - 'Tôi sẽ rất vui sướng mua một món tráng miệng khác 'cho cả nhà' (động cơ là giúp đỡ về vật chất)
Lãnh đạo - 'John dẹp mấy cái ghế này. Linda lấy giẻ lau. Sally, bắt đầu lau chỗ này đi (động cơ là lãnh đạo; tổ chức)
Thương xót - 'Thôi đừng có buồn; chuyện này thì ai cũng thể có gặp cả' (động cơ là thông cảm, bày tỏ sự thương xót).
Minh họa này chỉ mô tả đáp ứng theo mỗi một ân tứ động cơ mà thôi. Bạn sẽ thấy mình đáp ứng nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào các hoàn cảnh vì tất cả mọi ân tứ đều có trong cá tính của bạn ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên bạn sẽ thấy có một cái nổi bật hơn và một khuynh hướng tự nhiên nhất trong đời sống bạn và đó chính là ân tứ động cơ của bạn. Một khi bạn đã tìm ra ân tứ của bạn, bạn sẽ tự do để chấp nhận con người thật của bạn cũng như chấp nhận con người của người khác. Thêm vào đó, bạn sẽ hoàn toàn tự do để phát triển đến mức độ cao nhất ân tứ động cơ của bạn. Nhưng chúng ta cũng nên nhớ điều này: chúng ta không được phép để cho các ân tứ và các khuynh hướng tự nhiên của chúng ta biến thành cái cớ để không cư xử theo ý chỉ của Chúa! Thêm vào đó, Đức Chúa Trời đòi hỏi tất cả chúng ta yêu hương, phục vụ, bảy tỏ sự thương xót v.v... bất cứ khi nào cần đến dù chúng ta có ân tứ nào đi chăng nữa.
5. Để các ân tứ động cơ của Đức Thánh Linh có hiệu quả.
Cần phải thực hiện nhiều bước để đảm bảo việc phát triển các ân tứ động cơ của bạn đến tiềm năng cao nhất của chúng. Những lời gợi ý sau đây là để giúp bạn khởi sự làm việc này.
a. Bạn phải nhận biết các ân tứ này thực hữu, có ảnh hưởng đến đời sống bạn và rất cần thiết trong thân thể Đấng Christ. Mỗi một người đã được ban phước với một ân tứ động cơ (RoRm 12:3-8) đưa ra ý này vì chúng ta phải chỉ tập trung vào một ân tứ động cơ và Đức Chúa Trời đã ban cho bạn đủ ơn để sử dụng đến từ này trong sinh hoạt của Hội thánh Ngài (RoRm 12:3, 6)
b. Bạn phải dâng chính mình cho Đức Chúa Trời (RoRm 12:1). Điều này có nghĩa là bạn phải sẵn sàng đầu phục một cách vô điều kiện và hoàn toàn tuyệt đối ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với đời sống của bạn. Bạn không còn mong muốn điều gì theo ý riêng của mình nữa nhưng chỉ mong muốn những gì theo ý Chúa mà thôi. Bạn sẽ chẳng bao giờ biết đến, bắt đầu sử dụng hay phát triển ân tứ của bạn nếu không có bước đầu phục Chúa đầu tiên và hết sức quan trọng này.
c. Bạn và các chi thể khác trong thân thể Đấgn Christ cũng phải phó mình cho nhau. Khi làm như vậy bạn cũng dâng ân tứ của bạn cho thân thể Đấng Christ (xem ICo1Cr 12:12, 14, 18-19-27). Điều này sẽ chỉ trở thành một thực tế trong đời sống bạn khi bạn bắt đầu nhận thức được rằng những ân tứ Chúa ban cho BẠN là để ích lợi cho NHỮNG NGƯỜI KHÁC. Và ơn phước đến qua việc phục vụ trong ân tứ này và nhìn thấy Chúa ban phước cho những người khác.
d. Bạn phải tập trung vao việc phát triển ân tứ riêng của bạn vì đó là trách nhiệm của chính bạn. Chúa đã ban cho bạn ân tứ và lượng đức tin cần thiết để sử dụng ân tứ này. Bạn được kêu gọi để sử dụng ân tứ này. Bạn được kêu gọi để sử dụng tùy theo lượng đức tin (RoRm 12:3). Cách duy nhất để phát triền ân tứ là sử dụng nó! Rõ ràng điều này đòi hỏi sự tham gia tích cực của bạn vào sinh hoạt Hội thánh. Bạn không hề được kêu gọi để làm việc một mình và bạn không thể nào sử dụng ân tứ của bạn nếu không liên hệ gì đến thân thể Đấng Christ. Chúng ta phụ thuộc vào nhau và những ân tứ được thi hành trong sinh hoạt của Hội thánh!
e. Bạn phải học để chấp nhận những giới hạn của mình: đừng cố là người việc gì cũng làm. Điều này bao hàm hai ý nghĩa:
- Hãy sẵn sàng chấp nhận bị giới hạn trong ân tứ của mình khiến bạn phải tùy thuộc vào người khác và những ân tứ của họ.
- Hãy sẵn sàng chấp nhận những giới hạn của bạn trong việc sử dụng ân tứ và nhận biết rằng những người khác sẽ sử dụng ở những mức độ kém hơn hoặc cao hơn.
Bạn không cần phải cảm thấy bị đi dọa vì nhận biết những giới hạn của riêng mình. Hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời đã ban ơn và đã đặt trong thân thể Đấng Christ những gì Ngài cho là tốt nhất. Mỗi chi thể có một nhiệm vụ do Đức Chúa Trời định sẵn và điều này có nghĩa tất cả chúng ta cần chung sức làm việc với nhau một cách hòa thuận.
f. Bạn phải sống một đời sống thánh khiết nếu bạn muốn sử dụng ân tứ động cơ của mình một cách hiệu quả (RoRm 12:9-21). ĐỪNG TÌM CÁCH LỪA DỐI CHÚA!
g. Việc khám phá ra rằng tất cả chúng ta đều có những ân tứ khác nhau và những cách sử dụng khác nhau không nên là nguyên nhân gây chia rẽ trong thân thể Đấng Christ. Mà điều đó phải làm tăng thêm sự hiệp một cũng như hiệu quả trong chức vụ.
h. Không những bạn nên biết rõ ân tứ của mình mà còn cần biết về ân tứ của người khác nữa. Bạn sẽ thấy hiểu họ hơn và nhìn họ như những con người độc đáo. Thay vì thấy những người khác là kỳ dị hay bị thần kinh vì họ đáp ứng với cuộc sống khác bạn, bạn có thể bắt đầu hiểu, chấp nhận và ngay cả biết ơn họ. Bởi vì bạn cần sự đóng góp độc đáo duy nhất của họ, cũng y như là bạn cảm thấy họ cần sự đóng góp của bạn. Bằng cách này, cuối cùng chúng ta thấy tư do để yêu thương, phục vụ lẫn nhau theo cách mà Đức Chúa Giê-xu thực sự mong muốn!
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Bạn sẽ giải quyết vấn nạn này ra sao: vì chúng ta không được cứu bởi việc làm và vì tôi không thể đền đáp được ơn cứu rỗi của Chúa vậy thì tại sao lại bận tâm đến sự hầu việc Ngài?
2. Dù quan điểm riêng của bạn về 'báp-tem bằng Thánh Linh' là gì thì tại sao quyền năng thuộc linh lại hoàn toàn cần thiết để hầu việc Chúa?
3. Nếu các quan điểm về 'Báp-tem bằng Đức Thánh Linh' của bạn khác với quan điểm được trình bày trong lớp học thì xin hãy nêu ra một cách ngắn gọn và đưa ra lời hậu thuẫn của Kinh Thánh.
4. Xin đưa ra những lý do khiến bạn tin hoặc không tin là những ân tứ vẫn còn có giá trị trong Hội thánh ngày nay. Những lý do đó có được Kinh Thánh chứng minh hay chỉ chủ quan và do kinh nghiệm?
5. Xin tự do nói ra những ân tứ động cơ nào đang hoạt động trong đời sống bạn hay những ân tứ động cơ mà bạn mong có được. Nếu bạn trả lời câu hỏi sau thì xin cho biết tại sao bạn lại mong muốn những ân tứ đặc biệt này?
6. Sau khi học xong bạn thấy ân tứ động cơ nào là chủ yếu trong đời sống bạn? Do đâu mà bạn nghĩ như vậy?
Hiện giờ bạn có đang sử dụng ân tứ này trong thân thể Đấng Christ không? Nếu có thì ở mức độ nào? Nếu không thì bạn thấy cần thực hiện những bước thích hợp nào để bắt đầu?
7. Bạn có thể thực hiện những bước nào để phát triển ân tứ của bạn đến mức độ cao nhất?
8. Hãy cho biết bạn hiểu như thế nào về mối quan hệ giữa những ân tứ riêng của bạn với sự dự phần của bạn vào thân thể Đấng Christ?

A. Vui hưởng mối tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời.
Đời sống thuộc linh có thể được mô tả một cách lý tưởng như là 'mối tương giao mật thiết' với Đức Chúa Trời. Đây chắc chắn là một trong những mục đích chủ yếu của Đức Chúa Trời trong sự cứu chuộc. Ngài mong muốn một thực tế thuộc linh 'hiện tại' vượt hẳn sự giải thoát khỏi địa ngục hay sự vinh hiển tương lai trong thiên đàng. Sau đây là một số ý kiến của Kinh Thánh cũng như của cá nhân liên quan đến đề tài này.
1. IGi1Ga 1:2-3 ”vì sự sống đã bày tỏ ra, chúng tôi có thấy, và đang làm chứng cho, chúng tôi rao truyền cho anh em sự sống đời đời vốn ở cùng Đức Chúa Cha và đã bày tỏ ra cho chúng tôi rồi; chúng tôi lấy đều đã thấy đã nghe mà truyền cho anh em, hầu cho anh em cũng được giao thông với chúng tôi. Vả chúng tôi vẫn được giao thông với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Giê-xu Christ".
2. Để có mối thông công mật thiết với một người bạn thì cần có ba điều. Thứ nhất người bạn ấy phải có thật và hiện diện giữa chúng ta: không thể có mối thông công với một người chúng ta không biết hay ở cách xa chúng ta. Thứ hai chúng ta phải được tự do đến gần người ấy, một cách tin cậy và bạo dạn: không thể có mối thông công khi những hình thức ngăn cản chúng ta đến gần hay khi sự sợ hãi đè nặng trên linh hồn. Thứ ba phải có sự yêu thương và tin cậy lẫn nhau. Không thể có mối thông công khi tình yêu thương không có hay đã nguội lạnh. Bây giờ hãy áp dụng điều này vào chủ đề hiện tại của chúng ta. Nếu linh hồn muốn vui hưởng kinh nghiệm hiệp một và thông công với Christ thì Ngài phải là một thực tế sống động đối với lòng chúng ta, đức tin phải đem Ngài đến gần và cho chúng ta được tự do đến với Ngài và tình yêu thương phải được giữ cho nóng cháy và sống động, kẻo không thì tôn giáo của chúng ta sẽ nhanh chóng thoái hóa thành một thói quen máy móc nhàm chán, thiếu đi sự thực hữu và niềm vui mừng." (trích trong Spiritual Union and Canmunion của A.W.Pink, trang 100.
3. Thi Tv 27:4 ”Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy! Ấy là tôi muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê-hô-va, để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê-hô-va, và cầu hỏi trong đền của Ngài"
4. GiGa 14:21, 23 ”Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta; người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết ta. Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: nếu ai yêu mến ta, thì vâng giữ lời ta, Cha ta sẽ thương yêu người, chúng ta đều đến cùng người và ở trong người".
5. GiGa 17:20-23 ”Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến. Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để hiệp làm một cũng như chúng ta vẫn là một: Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con"
6. KhKh 3:20 ”Này, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với ta"
7. Henry Scougal, Giáo sư thần học tại King's College, Aberdeen, qua đời năm 1678 khi mới 28 tuổi đã viết một cuốn sách có ảnh hưởng lớn mạnh tên là 'Sự sống của Chúa trong linh hồn của con người'. Trong sách này ông than rằng có quá ít người ở vào thời của ông hiểu được ý nghĩa thật của tôn giáo. Ông viết rằng có một số người thì bản chất của tôn giáo là ở những khái niệm và quan điểm chính thống trong khi một số khác thì cho là ở những nghi thức bên ngoài (tôn giáo và đạo đức), một số khác nữa thì đặt tôn giáo vào trong những tình cảm, những sự nóng cháy và sùng kính mê ly, xuất thần. Thế nhưng cốt lõi của tôn giáo không phải ở tri thức. bề ngoài hay tình cảm mà là một điều hoàn toàn khác hẳn. Điều đó là gì? 'Tôn giáo thật là sự hiệp một của linh hồn với Đức Chúa Trời, một sự dự phần thật sự về bản chất thiên thượng, chính hình ảnh của Đức Chúa Trời vẽ trên linh hồn hay nói như các sứ đồ đó là Christ thành hình trong chúng ta' (Trích trong Understanding Christ của John Stott trang 55.
B. Trái Thánh Linh kinh nghiệm được
1. Bản chất của Trái Thánh Linh.
Hiểu rõ ý nghĩa của Trái Thánh Linh là điều hết sức quan trọng đối với người tín đồ. Sau đây là một số suy nghĩ ngắn gọn về bản chất của Trái Thánh Linh.
- Đây là trái của Đức Thánh Linh! Đây là công việc của Ngài là bông trái của Ngài trong đời sống người tín đồ. Cơ Đốc nhân không thể làm thành hay sản sinh ra. Cơ Đốc nhân chỉ là những cành mang bông trái (xem GiGa 15:1-17 và GaGl 5:22)
- Trái này có nguồn gốc siêu nhiên, công việc trực tiếp của Đức Chúa Trời mặc dù trái có mọc và phát triển một cách tự nhiên (hãy so sánh sự phát triển một cách tự nhiên (hãy so sánh sự phát triển trái Thánh Linh với sự phát triển của trái trong thiên nhiên)
- Trái này ở số ít so với các công việc của xác thịt ở số nhiều (tương phản trong GaGl 5:19-21 với 5:22, 23). Tuy nhiên, không phải tất cả mọi công việc đều bày tỏ ra một lúc trong đời sống một người, nhưng trái Thánh Linh thì luôn luôn bày tỏ ở dạng duy nhất.
- Trái đó sẽ tăng trưởng theo số lượng rất dư dật. Tuy nhiên điều này chỉ có thể thực hiện được trong đời sống người tín đồ với môt số điều kiện 'tăng trưởng' lý tưởng sau đây:
. Người tín đồ PHẢI có sự sống tâm linh! Người tín đồ phải được bảo đảm về sự sống thuộc linh. Trái Thánh Linh sẽ là một kết quả đương nhiên của một sự sống tâm linh thực sự.
. Người tín đồ PHẢI gieo giống tốt trong cánh đồng của Thánh Linh nếu muốn có một vụ mùa trái Thánh Linh dư dật, phong phú (GaGl 6:7, 8). Nói một cách khác, đời sống thuộc linh bên trong phải được vun trồng nếu muốn có kết quả.
. Người tín đồ PHẢI luôn ở 'trong Đấng Christ' để giữ được sự sống tâm linh và có kết quả (GiGa 15:1-8). Điều này không những ngăn ngừa sự sa sút thuộc linh và mất đi những bông trái tiềm tàng mà còn ảnh hưởng đến mối thông công mật thiết với Đức Chúa Trời và đến kết quả dư dật nữa.
Để Đức Thánh Linh sản sinh ra được bông trái có chất lượng và ở số lượng lớn người tín đồ PHẢI hết lòng hợp tác. Đây là một nguyên tắc Kinh Thánh bất di bất dịch vì khi ta gieo giống gì ta sẽ gặt giống ấy. Câu tục ngữ xưa đã nói rõ ý này:
Gieo một tư tưởng sẽ gặt một hành động
Gieo một hành động sẽ gặt một thói quen
Gieo một thói quen sẽ gặt một tính tình
Gieo một tính tình sẽ gặt một số phận
(Baptism and Fullness: The Work of the Spirit Today, of John Scott, Intervarsity Press, Trang 80,81
2. Mô tả trái Thánh Linh.
Sau đây là lời mô tả ngắn gọn về trái Thánh Linh ghi lại trong GaGl 5:22-23
a. Trái biểu hiện bằng tình yêu thương (agape).
Đây là một tình yêu vô điều kiện và tự hi sinh.
Đây không phải là những cảm xúc dễ chịu hay chỉ là những tình cảm tốt.
b. Trái biểu hiện bằng sự vui mừng (chara).
Đây là một sự thoái mái sâu xa dựa trên những thực tế thuộc linh.
Đây không phải là hạnh phúc thế gian hay những cảm xúc đến từ những hoàn cảnh thuận lợi.
c. Trái biểu hiện bằng sự bình an (eirene).
Đây là sự bình yên của tâm trí kết quả của mối thông công cứu rỗi với Đức Chúa Trời.
Đây không chỉ là thái độ tốt và không bị ảnh hưởng bởi các hoàn cảnh thuận lợi.
d. Trái biểu hiện bằng sự nhịn nhục (makrothumia).
Đây là sự chịu đựng và chịu khổ lâu dài, sự điềm tĩnh vui lòng chấp nhận những hoàn cảnh khó chịu hay đau đớn.
Đây không phải là sự kiên nhẫn tự nhiên hay tính khí dễ chịu và không do ảnh hưởng của các hoàn cảnh thuận lợi.
e. Trái biểu hiện bằng lòng nhân từ (chrestotes).
Đây là một sự quan tâm mềm mại đến người khác.
Không nên lầm lẫn điều này với sự yếu đuối hay thiếu sự nhận thức về tội lỗi.
f. Trái biểu hiện bằng sự hiền lành (agathos).
Đây là một đặc điểm đạo đức và thuộc linh nổi bật được người khác biết đến qua sự dịu dàng và lòng tử tế tích cực.
Đây không phải lòng tốt tự nhiên do những hoàn cảnh thuận lợi đem đến.
g. Trái biểu hiện bằng lòng trung tín (pristis).
Điều này chủ yếu mang ý nghĩa lòng trung thành và sự đáng tin cậy nhưng cũng còn ý phụ khác của sự chịu đựng, kiên trì.
Đây không phải điều chỉ do những hoàn cảnh thuận lợi đem đến hay là một sự đáp ứng có điều kiện.
h. Trái biểu hiện bằng lòng mềm mại (prautes).
Có lẽ tốt hơn nên dịch từ này là 'nhu mì'. Đây là thái độ khiêm tốn có mong muốn thuận phục sự xúc phạm, hoàn toàn không có mong muốn trả thù hay trừng phạt.
Không được xem đây là sự 'yếu đuối' hay thiếu bản lĩnh đặc biệt khi trái này biểu hiện ở phái nam.
i. Trái biểu hiện bằng sự tiết độ (enkrateia).
Đây là khả năng tiết chế những đam mê ham muốn cá nhân trái với ý chỉ đã được tỏ ra của Đức Chúa Trời, hay là vì lợi ích tốt nhất của sự tăng trưởng và hài hòa thuộc linh.
Không được xem điều này như sự tiết chế tự nhiên hay tinh thần luật pháp.
Tôi kết luận bằng cách đưa ra lời trích dẫn làm sáng tỏ ý nghĩa thật của trái Thánh Linh sau đây để bạn suy xét:
"Theo tiếng Anh dùng trên báo chí, đoạn này sẽ giống như sau:
Trái của Thánh Linh là tính hay thương mến và đáng yêu, tinh thần rạng rỡ và tính khí vui vẻ, tâm trí thanh thản và thái độ yên tịnh, sự chịu đựng kiên nhẫn trước những hoàn cảnh phiền toái và những con người khó chịu, sự cảm thông sâu xa và sự giúp đỡ tế nhị, sự nhận định khoan dung và lòng bác ái cao cả, lòng trung thành và sự đáng tin cậy trong mọi hoàn cảnh, sự khiêm tốn quên mình vì niềm vui của người khác tự chủ và tự chế, dấu hiệu sau cùng của sự hoàn hảo. Đây là loại tâm tánh thuộc về bông trái của Đức Thánh Linh. Mọi điều là ở trong chữ Trái. Không phải bởi cố gắng mà là bởi cứ ở trong, không phải bởi lo lắng mà là bởi tin cậy, không phải bởi việc làm mà là bởi đức tin (của Samuel Chadwick, do A.W.pink trích trong The Holy Spirit, Baker Book House, trang 174)
C. Phục hưng thuộc linh là điều thực hữu.
1. Mô tả sự phục hưng.
a. Phục hưng không phải là
Buổi nhóm phục hưng.
Ngày nay nhiều Cơ Đốc nhân thường kết hợp tư tưởng phục hưng với 'buổi nhóm phục hưng' quen thuộc của ngày xưa. Kiểu nhóm họp này được một số mục sư có thiện chí tổ chức có kèm theo sự giảng đạo đầy kịch tính và cảm xúc thường đưa đến một sự biểu lộ cảm xúc của những người tham dự buổi họp. Hiểu về phục hưng như vậy có lẽ là so sự kiện rất ít Cơ Đốc nhân hiểu thế nào là phục hưng thật sự, từ đó đưa ra một quan điểm và một sự hiểu biết sai lạc về bản chất sự phục hưng.
Phong trào thuộc linh.
Những người khác kết hợp 'phục hưng' với một số phong trào thuộc linh chung chung trong sinh hoạt của Hội thánh (thí dụ: phong trào thánh khiết, cái gọi là phong trào ân tứ hiện đại). Mặc dù thật sự đã có nhiều phong trào phục hưng thuộc linh thật trải qua suốt lịch sử Hội thánh, những phong trào này cũng không thể xem là sự phục hưng thật theo ý nghĩa duy nhất của từ này. Trong bất kỳ trường hợp nào thì chắc chắn cũng sai lầm khi đơn giản cho là tất cả những phong trào đó là sự phục hưng thật, do đó kết hợp máy móc 'sự phục hưng' với những phong trào đó là sai.
Chiến dịch truyền giáo.
Một số người khác thì kết hợp 'phục hưng' với sự truyền bá Phúc âm đặc biệt là các loại chiến dịch truyền giáo (thí dụ những chiến dịch của Billy Graham) Chiến dịch truyền giáo có thể đưa đến sự hành động của Thánh Linh Đức Chúa Trời, nhưng công việc lớn lao mà qua đó nhiều linh hồn được cứu không đồng nghĩa với phục hưng. Có sự khác biệt rõ ràng giữa truyền giảng Tin Lành (cá nhân hay chiến dịch) với sự phục hưng thật. Điều này được chỉ ra rõ ràng trong câu sau đây
"Không nên lầm lẫn giữa truyền giảng và phục hưng mặc dù hai việc này có liên quan mật thiết với nhau. Phục hưng là một kinh nghiệm trong Hội thánh, truyền giảng là sự bày tỏ của Hội thánh" (Paul Rees trích trong Why Revival Tarries của Leonard Ravenhill, trang 44.
Kết luận tổng quát
Thật bất lợi cho sự phục hưng trong Hội thánh nếu chúng ta hiểu sai ý nghĩa thực của phục hưng. Do đó tôi xin đề nghị lời kết luận sau đây: Phục hưng là một nhu cầu thường xuyên trong Hội thánh, nhưng khi điều này xảy ra thì sẽ có sự biểu lộ rõ ràng từ Hội thánh. Sự biểu lộ duy nhất này có thể đem đến kết quả to lớn trong việc truyền giảng (hãy lưu ý đến lời phán của Chúa Giê-xu trong Cong Cv 1:8 và sự biểu lộ này đã được chứng minh rõ ràng suốt sách Công vụ
b. Phục hưng chính là
Sau khi đã mô tả phục hưng không phải là những điều nêu trên thì đương nhiên phải hỏi 'Vậy phục hưng là gì?'. Một cách đơn giản phục hưng không phải truyền vào sự sống mà là phục hồi sự sống đã bị suy giảm về một phương diện nào đó. Webster định nghĩa "phục hưng" là "nhận thức lại sự sống trở nên hoạt động lại hay phát triển, phục hồi từ một trạng thái chán nản, không hoạt động hay vô dụng (Tự điển Webster's New Collegiate).
Tôi xin đưa ra một vài lời mô tả của những người khác trong đó có một số đã kinh nghiệm sự phục hưng.
"Phục hưng, nói một cách chính xác, là sự hoạt động trở lại của những gì đã đang sống nhưng ở trong trạng thái suy thoái. Sự kiện này chủ yếu liên quan đến Hội thánh như một tổng thể và đến Cơ Đốc nhân như những cá thể" (Joseph Kemp; trích trong Heart Cry for Revival của Stephen Olford trang 17
"Phục hưng là sự can thiệp thiên thượng vào tiến trình bình thường của những vấn đề thuộc linh. Đó chính là Đức Chúa Trời tự bày tỏ cho con người trong sự thánh khiết đáng sợ và quyền năng không thể cưấng lại được" (Arthur Wallis, trích trong Lord, Open the Heavens của Stephen Olford trang 15.
"Khi sử dụng từ Phục hưng, tôi muốn nói đến sự chuyển động phi thường của Đức Thánh Linh đem đến những kết quả phi thường" (Richard Roberts, Ravivals, trang 16,17; tác phẩm này cũng mô tả xuất sắc những gì phục hưng đem đến ở trang 23.
"Phục hưng là hành động tối cao của Đức Chúa Trời trên Hội thánh qua đó Ngài can thiệp để nhấc tình thế hoàn toàn ra khỏi bàn tay con người và thực hiện quyền năng phi thường" (Geoffrey King, trích trong Lord Open the Heavens của Stephen Olford trang 15.
"Hình thành một ý niệm rõ ràng và nhất định về ý nghĩa của sự phục hưng tôn giáo là điều hết sức quan trọng. Sự phục hưng bao gồm hai điều - sự truyền vào sự sống mới, sức mạnh mẽ và năng lực tỉnh thức và biến đổi kỳ lạ của những linh hồn mà cho đến bây giờ vẫn còn lơ là và vô tín: nói một cách khác phục hưng là sự sống thuộc linh mới truyền cho những kẻ chết và là sức mạnh thuộc linh mới truyền cho những người đang sống (James Bachanan The Offica and Work of the Holly Spirit trang 227. Hầu như đây là tác phẩm duy nhất về Đức Thánh Linh mà nói về phục hưng!
Sau đây là lời chứng của Jonathan Edwards người đã được Đức Chúa Trời ban ơn để hơn một lần kinh nghiệm sự phục hưng thật trong suốt chức vụ của ông.
"Và bây giờ, hãy nhìn xem! Đấng mà chúng ta tìm kiếm bất ngờ đã đến đền thờ của Ngài! Ngày nay chúng ta đang ở dưới sự ban phát ân điển mà chắc chắn rằng cả cha ông chúng ta lẫn chúng ta cũng chưa từng chứng kiến; và trong một vài trường hợp sự ban phát này kỳ diệu đến độ tôi tin rằng không hề có sự nào giống như vậy kể từ khi Đức Thánh Linh giáng xuống cách phi thường ngay sau khi Đức Chúa Giê-xu thăng thiên. Thời kỳ các sứ đồ dường như trở lại với chúng ta; cũng có sự bày tỏ của quyền năng và ân điển của Đức Thánh Linh trong hội chúng của dân sự Ngài và cũng có những ấn chứng Ngài ban cho lời Kinh Thánh" (Jonathan Edwards, Jonathan Edwards Revival, trang 77
Do đó chúng ta rút ra những kết luận tổng quát sau đây:
Phục hưng là như một sự bày tỏ thiên thượng ở trong Hội thánh
Phục hưng là như một sự thăm viếng siêu nhiên của Đức Chúa Trời trên Hội thánh!
Phục hưng là như sự đổ đầy của Đức Thánh Linh trên Hội thánh một cách phi thường!
Phục hưng là như công việc tối cao và siêu nhiên của Đức Chúa Trời ở trong Hội thánh đem đến quyền năng và ân điển phi thường.
c. Kết luận vần đề theo Kinh Thánh.
Tôi trích câu sau đây để vừa tóm tắt cho những ý kiến đã nêu lên và vừa kết luận theo Kinh Thánh về ý nghĩa của sự phục hưng.
'Trong nhiều trường hợp từ 'revive' (tiếng Anh) 'haya' (tiếng Hê-bơ-rơ và 'anazao' (tiếng Hi-lạp có nghĩa đen là sống lại "linh hồn của đức trẻ trở lại trong mình nó và nó sống lại" (IVua 1V 17:22). "Đấng Christ đã chết và sống lại" (RoRm 14:9). Và ngay cả khi đó không phải là ý nghĩa của nó thì từ này mang một sức mạnh lớn hơn là sức mạnh mang cho chúng ta ngày nay vì chúng ta đã lầm lẫn giữa phong trào phục và truyền giáo. Truyền giáo là Tin Lành; phục hưng là sự sống mới. Truyền giáo là con người làm cho Đức Chúa Trời, phục hưng là Đức Chúa Trời hành động một cách tối cao thay cho con người (F.Carlton Booth; Baker's Dictionary of Theology, Everett F.Harrison, ed trang 460
"Ôi, ước gì Ngài xé rách các từng trời, Ngài ngự xuống và làm rúng động các núi trước mặt Ngài, như lửa đốt củi khô, như lửa làm sôi nước, hầu cho kẻ thù nghịch biết danh Ngài, các dân tộc run rẩy trước mặt Ngài. Khi Ngài đã làm những sự đáng sợ mà chúng tôi không trông mong, thì Ngài ngự xuống, và các núi đều rúng động trước mặt Ngài. Từ xưa người ta chưa hề biết, tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy ngoài Ngài có Đức Chúa Trời nào khác, hay vì kẻ trông đợi mình mà làm những sự thể ấy. Ngài đã đón rước kẻ vui lòng làm sự công bình, kẻ đi trong đường lối Ngài và nhớ đến Ngài. Này, Ngài đã nổi giận vì chúng tôi phạm tội; đã lâu như vậy, thì còn được cứu sao?" (EsIs 64:1-5)
2. Nhu cầu phục hưng
a. Vấn đề: không nhận biết nhu cầu
Đây có lẽ là sự ngăn trở duy nhất và to lớn nhất cho sự phục hưng thật. Hội thánh đã không nhận ra tình trạng tuyệt vọng của mình cũng như nhu cầu to lớn cho một sự phục hưng từ trên đổ xuống. Chúng ta quá dễ dàng trở nên tự mạn, thoải mái và nhiều khi còn thờ ơ đối với tình trạng thuộc linh của mình. Thật vây chúng ta dễ dàng bị lừa dối về tình trạng thuộc linh thật của mình. Về phương diện này chúng ta rất giống Hội thánh Lao-đi-xê ngày xưa:
"Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù, và lõa lồ..." (KhKh 3:17).
Sự lừa dối này và nhận thức sai lầm 'Tất cả đều ổn thỏa với linh hồn tôi', đã loại trừ bất cứ nhận thức nào về nhu cầu phục hưng. Chúng ta nghĩ chúng ta đang tốt đẹp và có thể duy trì tình trạng thuộc linh của mình vì chúng ta đã trở thành đui mù với tình trạng thuộc linh thật của chúng ta. Kinh Thánh liên tục đề cập đến nguy cơ này trong Cựu ước vì dân Y-sơ-ra-ên đã phạm lỗi lầm này. Giăng Báp-tít lại đề cập đến nguy cơ này khi kêu gọi nhóm Pha-ri-si trở lại với tình trạng thuộc linh thật. Cùng cách đó, Chúa Giê-xu đã kêu gọi Hội thánh Lao-đi-xê. Trong những trường hợp vừa nêu, vấn đề cơ bản là dân sự Chúa đã không nhận biết được tình trạng thật của họ, kết quả là họ đã không tìm kiếm Chúa để được Ngài sửa chữa.
b. Giải pháp: phải có sự nhận biết nhu cầu
Câu hỏi quan trọng cần đặt ra là 'tình trạng thuộc linh thật của chúng ta dưới mắt Chúa ra sao?' Một cách hỏi khác là 'khi nào thứ sự phục hưng thật sự cần thiết trong đời sống chúng ta (cá nhân và Hội thánh(. Lời gợi ý sau đây có thể được xem là câu trả lời đúng đắn cho câu hỏi nêu trên.
- Khi cá nhân hay Hội thánh có mộ 'hình thức tôn giáo' nhưng không có sự sống thuộc linh hay quyền năng!
- Khi cá nhân hay Hội thánh tin tất cả những đều đúng nhưng không có hành động kèm theo!
- Khi một cá nhân hay Hội thánh làm hại đến tiêu chuẩn đạo đức và tội lỗi, ở bất cứ mức độ nào mà được dung thứ trong đời sống hay trong nhà của Chúa!
- Khi một cá nhân hay Hội thánh trở nên thoải mái và tự mãn và mọi sự dường như tốt đẹp cả nhưng không cò ngọn lửa thánh khiết hay nhiệt tình dành cho Đức Chúa Trời!
- Khi một cá nhân hay Hội thánh không còn lo đến việc bảo vệ lẽ thật - khi họ đánh mất ước muốn thấy Đức Chúa Trời vinh hiền trên hết mọi sự - và khi họ sẵn lòng dung thứ 'một loại Phúc âm khác' và 'một hình thức Cơ Đốc giáo khácc'
c. Kết luận tổng quát.
Trong mỗi trường hợp nêu trên và còn nhiều trường hợp khác sự phục hưng là điều hết sức cần thiết! Đức Chúa Trời chắc chắn nhận biết nhu cầu vô cùng to lớn của Hội thánh vào thời điểm này nhưng dân sự Ngài có nhận biết nhu cầu này bằng cách chấp nhận nhận định của Đức Chúa Trời về tình trạng thuộc linh thật của họ không? Thường thì nhu cầu phục hưng chỉ được nhận ra khi một cá nhân hay Hội thánh 'bị đè nén quá đỗi ' đến nỗi họ trở thành tuyệt vọng. Y-sơ-ra-ên chắc chắn có nhu cầu này. Đức Chúa Trời Toàn Năng chắc chắn nhận ra nhu cầu của họ nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã không nhìn thấy nhu cầu của họ vì họ từ chối lời tuyên án của Đức Chúa Trời về tình trạng của họ. Hội thánh ngày nay có ở trong cùng tình trạng đó và chúng ta có sẽ phạm cùng lỗi lầm đó không?
"Đứng trên mọi quan điểm thì nhu cầu to lớn nhất của Hội thánh là sự thăm viếng của Đức Thánh Linh và chỉ khi nào Hội thánh nhận được sự thăm viếng này thì Hội thánh mới có tể hiểu lại, nắm được và giảng cho ngời khác sứ điệp cứu rỗi của Con Đức Chúa Trời... không có gì là vấn đề sống chết hơn" (Martyn Lloyd-Jones; Joy unspeakable trang 164)
"Bạn phải nhận biết nhu cầu, sự bất lực của chính mình. Bạn phải nhận biết là mình đang đối diện với một điều nào đó sâu sắc đến nỗi những phương pháp riêng của bạn không thể loại bỏ hay giải quyết và bạn cần một điều gì đó để bạn có thể xuống tận dưới quyền lực của tội lỗi để xé tan nó ra và chỉ có một điều có thể làm được việc này, đó là quyền năng của Đức Chúa Trời.
Và chúng ta cũng phải nhận biết cũng như phải cảm nhận điều đó cho đến khi chúng ta trở nên tuyệt vọng. Chúng ta phải tự hỏi xem làm thế nào chúng ta có thể thành công nếu không có uy quyền này, sự ủy thác này, sức mạnh và quyền năng này. Chúng ta phải hoàn toàn và tuyệt đối tin chắc là mình có nhu cầu ấy. Chúng ta phải thôi không tin tưởng quá nhiều vào chính mình, vào tất cả những phương pháp, tổ chức và vào sự khéo léo của chúng ta. Chúng ta phải nhận thức rằng mình phải được đầy dẫy Đức Thánh Linh và chúng ta cũng phải chắc chắn rằng Đức Chúa Trời có thể khiến chúng ta đầy dẫy Thánh Linh Ngài... chúng ta cần một quyền năng có thể đi vào linh hồn của con người, làm ta vỡ họ và bể nát họ, hạ họ xuống và rồi làm cho họ mới lại. Và đó là quyền năng của Đức Chúa Trời hằng sống. Và chúng ta phải tin rằng ngày nay Đức Chúa Trời cũng có quyền năng như Ngài đã từng có hàng trăm năm, hay hàng hai trăm năm trước kia và vì vậy chúng ta phải bắt đầu tìm kiếm và cầu nguyện để có quyền năng ấy. Chúng ta phải bắt đầu nài xin và khát khao quyền năng này" (Martyn LLoyd Jones, Revival trang 19
Thách thức đặt ra là: bạn sẽ là một phần của vấn đề vì không nhận biết nhu cầu phục hưng tâm linh của chính mình hay bạn sẽ trở thành một phần của giải pháp bằng cách để cho Đức Chúa Trời bày tỏ cho lòng mình điều Ngài biết là tình trạng tâm linh thật của bạn?... (OsHs 6:1-2)
3. Những đòi hỏi đối với cá nhân.
Đức Chúa Trời đã phác họa cách rõ ràng những bước cần làm theo một khi vấn đề 'không nhận biết' đã được giải quyết. Một khi chúng ta đã nhận biết sự phá sản tâm linh của mình và tin chắc rằng mọi nỗ lực của con người đều vô ích, trong IISu 2Sb 7:14 có thể được dùng để hướng dẫn chúng ta kêu cầu Chúa ban sự cứu chữa thiên thượng của Ngài.
a. Giới hạn tham gia.
Đây không phải lời mời gọi chung cho cả thế gian. Đây là sự kêu gọi của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài. Vì vậy, bước đầu tiên là phải biết rằng chúng ta là dân sự của Ngài, ngay cả khi sự cảm nhận nhu cầu của chúng ta sẽ bị Sa-tan sử dụng để thuyết phục chúng ta điều ngược lại. Khi biết rằng chúng ta là dân của Ngài, thì phải nghe tiếng Ngài và đồng ý với những gì Ngài đã bày tỏ về tình trạng của chúng ta. Đừng tìm cách làm tổn thương hoặc coi nhẹ thuyết phục của Đức Thánh Linh ở điểm này.
b. Hạ mình xuống là điều cần thiết.
Đây là việc đào sâu sự nhận biết về tình trạng chúng ta trước mặt Chúa. Hạ mình xuống không phải chỉ có nghĩa là nghĩ thấp thỏi về mình vì chúng ta cũng vẫn có thể khoe khoang ngay trong sự hạ mình của mình. Người hạ mình là người đang nhìn thấy rõ tình trạng thực của mình và sẵn lòng chấp nhận sự thật về chính mình và trở nên rất thành thật với những gì Đức Chúa Trời đang bày tỏ. Người đó không che đậy và trong sáng trước mặt Chúa. Đương nhiên là sự tự nhận biết sẽ kèm theo thái độ thống hối và tan vỡ (xem Thi Tv 51:1-6, Mat Mt 5:3, 4, LuLc 18:9-14).
c. Tìm kiếm Chúa là điều cần thiết.
Người trong tình trạng tan vỡ này không còn bị lừa dối về chính mình nữa. Trong thâm tâm họ biết mình chẳng có gì xứng đáng với Đức Chúa Trời và rằng con người không có phương cách cứu chữa tình trạng của họ. Do đó sự lựa chọn duy nhất của họ là tìm kiếm Chúa hết lòng, khóc lóc xưng tội với Ngài để được phục hưng và ban phước. Bây giờ họ sẽ nôn nả tìm kiếm Chúa vì tin chắc rằng chẳng có cách nào khác hơn sẽ đem đến sự chữa lành cho tình trạng khủng khiếp của họ. Đây không phải những người thờ ơ đối với sự cầu nguyện mà là những người đã trở nóng cháy trong việc tìm kiếm Chúa (xem Gie Gr 29:12, 13, Mat Mt 7:7-12, LuLc 11:1-13)
d. Ăn năn là điều cần thiết
Những người đang tìm kiếm Chúa vì tình trạng của mình cũng phải nhận biết rằng họ không thể tiếp tục sống như trước nữa. Họ đã gặp Chúa cách kỳ lạ và không thể nào tiếp tục ở trong tình trạng trước đây. Họ phải sẵn lòng lìa bỏ bất cứ tội lỗi nào dù cho tội lỗi đó đối với họ trước đây là nhỏ bé vô nghĩa đến đâu. Họ không được để cho bất cứ điều gì ngăn trở công việc phục hưng đã khởi sự trong lòng họ, họ phải không để cho điều gì ngăn cản bước tiến thuộc linh của họ dù ở mức độ nào (Xem Mat Mt 5:29, 30, 6:24, RoRm 6:15-18)
4. Lời hứa về sự phục hưng thật.
a. Lời hứa là chắc chắn.
Đoạn Kinh Thánh cho biết rằng những người đã trở nên nghiêm túc như vậy đối với Đức Chúa Trời, bày tỏ qua việc họ đáp ứng những điều kiện rõ ràng nêu trên cũng sẽ được gặp Đức Chúa Trời. Ngài hứa Ngài sẽ nghe, sẽ tha thứ và sẽ chữa lành cho họ! Nói một cách khác, Ngài hứa sẽ hết sức lắng nghe lời cầu nguyện của những con người như vậy.
Mặc dù đúng là sự phục hưng chân chính là công việc tối cao của Đức Chúa Trời nhưng cũng đúng là Đức Chúa Trời bày tỏ một số điều kiện nào đó cần đáp ứng và sử dụng chúng làm phương tiện để qua đó Ngài làm thành điều Ngài mong muốn. Chúng ta có thể so sánh điều này với công tác rao giảng Phúc âm của con người và công việc tối cao, kỳ diệu để cứu vớt tội nhân của Đức Chúa Trời. Do đó, một tín đồ khôn ngoan sẽ để Đức Chúa Trời bày tỏ tình trạng thuộc linh thật của mình và rồi thực hiện ngay những bước cụ thể mà Chúa đã phác họa trong lời Ngài. Lời hứa là chắc chắn cho tất cả những người tìm kiếm Chúa hết lòng!
b. Sự ngăn trở cá nhân.
Trong ánh sáng của lời hứa vinh hiển mà Chúa ban cho dân sự Ngài tại sao lại có quá ít thánh đồ theo đuổi con đường đưa đến ơn phước như vậy? Ở đây tôi đề cập đến những người mà đã nhận thức được sự thuyết phục của Đức Thánh Linh rằng đời sống thuộc linh của họ có thể được phục hưng mạnh mẽ. Nói một cách khác, vấn đề nhận biết đã được nói đến rồi nhưng họ không mau chóng giải quyết vấn đề. Sau đây là ba lý do chủ yếu khiến người tín đồ bị ngăn trở ở điềm này.
- Dửng dưng - Có sự thiếu quan tâm chung: hầu hết mọi người thấy quá thoải mái về tình trạng đang có của họ hay quá bận rộn nên không thể thay đổi tình trạng này. Không thể có sự tuyệt vọng hoàn toàn về tình trạng của họ trước mặt Chúa.
- Sợ hãi - thường có sự nghi ngờ về giá trị của việc trở nên quá nghiêm túc như vậy với Đức Chúa Trời. Họ sợ rằng phải trả giá quá nhiều; họ nghi ngờ không hiểu điều này có xứng đáng với nỗ lực bỏ ra không; họ sợ rằng cuối cùng có thể bỏ rơi họ. Có nỗi lo sợ là Chúa không đáp ứng những mong đợi của họ.
- Bỏ cuộc - Có một số người thực sự khởi đầu rất tốt. Nhưng ở vào một thời điểm nào đó Đức Chúa Trời sẽ thử nghiệm lòng cũng như động cơ của họ và Sa-tan tìm cách làm nản lòng họ. Khi kết quả không đến theo cách hay vào thời điểm mong đợi, họ bỏ cuộc. Họ thiếu sự kiên nhẫn và niềm tin bền bứ vào lời hứa của Chúa!
Đây là điều mà Charles Simeon of Cambridge nói trong Joy unspeakable trang 208 do Martyn LLoyd Jones trích lại 'Đức Chúa Trời sẵn lòng ban ơn phước này cho tất cả những ai tìm kiếm. Và những người duy nhất tìm kiếm ơn phước này là những tín đồ, những người đã được tái sanh. Nếu bạn chưa có được ơn phước này thì hãy tra xét lại xem có điều gì trong chúng ta đã khiến Đức Chúa Trời giữ lại mà không ban cho chúng ta'.
5. Những bông trái của sự phục hưng
Có những bông trái phục hưng rõ ràng luôn biểu hiện qua suốt lịch sử của các cuộc phục hưng. Mặc dù có thể có những sự biểu hiện khác thường của Đức Thánh Linh, những điều sau đây dường như là những bông trái tiêu biểu có ích lợi và lâu dài nhất của một sự phục hưng thật.
a. Nhận thức về tội lỗi.
Khi có sự phục hưng thì luôn luôn có một sự nhận thức sâu xa và mãnh liệt cũng như sự hổ thẹn về tội lỗi. Điều này luôn dẫn đến một nỗi hối hận và buồn rầu sâu xa về tình trạng thuộc linh của mình. Sự nhận thức này luôn luôn được cảm nhận ở hai mặt: thứ nhất là một nhận thức sâu xa về những tội lỗi bên ngoài đã phạm phải trong đời sống và thứ hai sẽ là một nhận thức sâu xa về những tội ở trong lòng. Điều này không có nghĩa là cá nhân đó phạm tội nhiều hơn trước đây nhưng mà là người ấy đã trở nên nhạy bén đối với tội lỗi đã đang hiện diện trong đời sống của mình. Nói một cách khác, điều trước đây không biết đến hay được dung thứ bây giờ hiện rõ ra là một tội lỗi rành rành đến nỗi người ta có thể nghi ngờ không biết mình có thật sự là Cơ Đốc nhân hay không.
b. Sự xưng tội.
Do nhận thức sâu xa về tội lỗi nên luôn luôn có một sự dạn dĩ mới mẻ để xưng tội mình ra. Xưng tội (từ Hi-lạp homologeo) có nghĩa nói cùng một điều hay đồng ý với những lời nói của một người khác. Do đó một cá nhân đang đồng ý với Chúa và tán thành những gì Chúa nói về tình trạng thuộc linh của mình. Sự xưng tội này thường được biểu lộ ra ba cách: đầu tiên, là sự xưng tội thành thật với Đức Chúa Trời vì những tội lỗi biết được (Thi Tv 32:3-5, 51) rồi sẽ có sự xưng tội trước mọi người giữa cơn phục hưng (Gia Gc 5:16, Cong Cv 19:18). Và thứ ba có sự xưng tội với người khác để giảng hòa (Mat Mt 5:23, 24, 18:18-20). Nhận thức sâu xa về tội lỗi đương nhiên sẽ đưa đến sự xưng tội công khai.
c. Sự biến đổi của những người chưa được cứu.
Trong trường hợp cá biệt này, tôi đề cập đến những người chưa được cứu đang tham gia vào sinh hoạt của Hội thánh. Có nhiều người chỉ là những 'giáo sư' về đức tin, nhiều người khác chỉ 'đi nhóm'. Khi những loại người này chịu ảnh hưởng của Đức Thánh Linh giữa một cơn phục hưng thật thì thường đưa đến sự biến đổi thật. Nhận thức về tội lỗi của những người này hầu như có lúc khiến họ chịu không nổi và có thể kéo dài trong một khoảng thời gian. Đây là điều rất phổ biến trong sự phục hưng và có lẽ sẽ còn phổ biến nhiều hơn nữa trong sinh hoạt chung của Hội thánh nếu chúng ta đừng ngăn trở công việc của Đức Thánh Linh bằng những cố gắng tuyệt vọng để giải thoát họ ra khỏi tình trạng của mình một cách mau chóng. Sự thuyết phục là công việc của Chúa, lương tâm mềm mại là một công việc của Chúa và sự biến đổi linh hồn cũng là một công việc của Chúa. Chúng ta phải để Ngài làm công việc đặc biệt của riêng Ngài!
d. Sự thánh hóa của những người được cứu
Một cách tương tự, Cơ Đốc nhân thật sẽ có nhận thức hết sức rõ ràng về tội lỗi và rất nhạy bén với sự thuyết phục của Đức Thánh Linh. Kết quả là họ sẽ quay đến với Chúa một cách mới mẻ và sống động. Tuy nhiên, Cơ Đốc nhân kinh nghiệm sự phục hưng như vậy trong lòng phải không những nhận biết về tội lỗi hay buồn rầu và xưng ra mà còn phải từ bỏ tội lỗi mình (điều này đương nhiên cũng áp dụng cho những người chưa được cứu). Và khi làm điều này, người ấy cũng phải dâng trọn đời sống mình cho Chúa. Đây là sự thánh hóa đẹp lòng Đức Chúa Trời và được mô tả qua việc dâng của lễ thiêu trong Cựu ước (Xem LeLv 1:3-17 và RoRm 12:1-2). Điều này sẽ đưa đến mối tương giao ngọt ngào với Đức Chúa Trời ở một mức độ cao nhất).
e. Đời sống giống Christ và sự thánh khiết.
Do những bông trái phục hưng đã đề cập phía trên cũng có một sự thay đổi to lớn và tận gốc trong tính tình và thái độ của những người đang chịu ảnh hưởng của sự phục hưng thật. Hãy lưu ý những biểu lộ sau đây của một đời sống 'giống Christ'
- Những cách sống tội lỗi, vô đạo đức trước đây (dù chỉ ở trong lòng) bây giờ chấm dứt (xem Eph Ep 4:17-32)
- Có một tinh thần hiệp một và hòa hợp mới mẻ biểu lộ ra giữa vòng anh em (xem Phi Pl 2:1-11, RoRm 12:9-21 v.v..;.)
- Có sự nhạy cảm lớn hơn trong các mối quan hệ riêng tư với những người khác (Xem Mat Mt 7:12, 18:15-20, CoCl 3:12, 13)
- Có tình yêu thương thật trong sinh hoạt của Hội thánh (Cong Cv 2:44-45 và 4:32-35)
- Có bông trái Thánh Linh biểu hiện trong đời sống của cá nhân lẫn Hội thánh (GaGl 5:22-23)
- Và cuối cùng có sự cầu nguyện sốt sắng hơn, có sự khao khát lời Chúa và một sự mong ước thông công thật lớn lao hơn.
Như vậy Cơ Đốc nhân sống theo cách Đức Chúa Trời đã định, là những môn đồ thật và là những người bắt chước Chúa Giê-xu Christ (xem GiGa 13:34, 35, 17:20-26, Mat Mt 5:13-16, IGi1Ga 2:6, 3:6-9)
f. Quan tâm đến linh hồn của người khác.
Mỗi người thật sự được phục hưng sẽ luôn luôn quan tâm đến linh hồn của người khác. Sự quan tâm này sẽ được biểu lộ ra cả trong Hội thánh lẫn đối với thế gian. Mỗi Cơ Đốc nhân trong ý nghĩa này sẽ là một giáo sĩ và đầy tớ Đấng Christ vì bạn không thể ngồi chơi mà nhìn mọi người phá hủy cuộc đời của họ. Bạn sẽ muốn người khác kinh nghiệm sự phục hưng mà bạn đã kinh nghiệm. Bạn sẽ muốn những người hư mất biết được sự cứu rỗi mà lòng bạn đã nhận biết cách rõ ràng. Như vậy thì một sự phục hưng thật sẽ luôn luôn biểu hiện ra bằng sự hầu việc Chúa sốt sắng hơn. Trong sự phục hưng điều quan trọng nhất là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và người tín đồ được phục hưng không mong ước điều gì hơn là dâng phần còn lại của đời sống mình để hầu việc Chúa để làm vinh hiển danh Ngài. Bỗng nhiên sự đời đời sẽ quan trọng hơn là sự tạm thời, và sự gần gũi với Chúa quí giá hơn bất cứ điều gì thế gian có thể đem đến. Không người nào ở trong tình trạng này lại có thể thờ ơ với tình cảnh tuyệt vọng của đồng loại mình.
6. Con đường cá nhân đến sự phục hưng.
Những điều sau đây là để cho thấy vài ý niệm về con đường mà tất cả những người đang hết lòng tìm kiếm Chúa và cầu nguyện cho sự phục hưng có lẽ sẽ đi qua.
a. Lòng khao khát.
Đến một lúc bạn cảm thấy chán 'thói quen' sinh hoạt Cơ Đốc. Bạn mong ước nhiều hơn ở Chúa, bạn bắt đầu mong ước lòng bạn được phục hưng, bạn mong ước sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đời sống bạn hơn bao giờ hết, bạn muốn có đời sống Cơ Đốc mà được mô tả là 'sự vui mừng khôn kể xiết và đầy dẫy sự vinh hiển', bạn tin chắc rằng cuộc đời không đáng sống nữa nếu không có cái ơn phước duy nhất đó từ Đức Chúa Trời!
b. Lời cầu nguyện
Kết quả là bạn bắt đầu hết lòng tìm kiếm Chúa trong sự cầu nguyện. Vì bạn biết điều mình khao khát thì bất kỳ nỗ lực nào của con người cũng không thể đem đến được nên bạn kêu xin với Chúa để Ngài can thiệp. Bạn thật sự tin chắc rằng bạn chưa bao giờ cầu nguyện bền đỗ như vậy cho bất cứ điều gì trong cả đời sống bạn. Vì tin chắc mình đang cầu nguyện trong ý chỉ của Chúa nên bạn sẽ tiếp tục kêu xin Ngài bằng tất cả tấm lòng.
c. Sự mong đợi
Khi bạn cầu nguyện như vậy thì bạn trông đợi Chúa trả lời bạn một cách nhanh chóng và hào hứng. Chúng ta có thể bị cám dỗ để nghĩ là Chúa sẽ gặp chúng ta bằng cách nhấc chúng ta lên tầng trời cao và bày tỏ vinh hiển của Ngài cho chúng ta còn có thể phạm tội bằng cách chỉ cho Chúa trong những lời cầu nguyện của mình về những điều chúng ta nghĩ Ngài nên làm. Sự trông đợi Chúa đáp lại lời cầu nguyện của chúng ta là điều thích đáng nhưng những suy nghĩ và chỉ định của chúng ta sẽ gây cho chúng ta những khó khăn lớn.
d. Tình thế nan giải.
Điều mà chúng ta thường không nhận biết hay chấp nhận là khi chúng ta cầu nguyện cho một công việc thuộc linh giống như vậy thì Đức Chúa Trời sẽ hại chúng ta xuống đến tận cùng. Khi chúng ta mong ước độ cao thuộc linh, Đức Chúa Trời đáp lại bằng cách đưa chúng ta xuống vực thẳm. Thật ra chỗ cao nhất mà chúng ta có thể đạt đến là một tâm thần hạ mình và thống hối vì đó chính là nơi Đức Chúa Trời ngự (EsIs 57:15)
e. Câu hỏi.
Vì không nhận ra cách thức làm việc của Chúa chúng ta có thể hỏi 'Có điều gì không ổn?' Đây không phải là điều tôi mong đợi. Có sự đấu tranh trong linh hồn, vấn đề của chúng ta dường như trầm trọng ra, đời sống chúng ta dường như sụp đổ và dường như có một sự thụt lùi xảy đến trong đời sống chúng ta. Bạn còn có thể tự hỏi không biết mình có phải là một Cơ Đốc nhân không. Nhiều người đã bỏ 'con đường phục hưng' vào thời điểm này và từ bỏ ý định tìm kiếm ơn phước (Hãy xem bài thơ của John Newton đã mô tả rất hoàn hảo sự đấu tranh vất vả của linh hồn:
Tôi xin Chúa cho tôi được lớn lên
Trong đức tin, tình yêu và ân điển
Tôi xin Chúa cho tôi được hiểu thêm
Về sự cứu rỗi lớn lao của Ngài
Và tôi xin Chúa cho tôi được
Tìm kiếm mặt Ngài nôn nả hơn.
Đó là điều Ngài dạy tôi cầu nguyện
Và tôi tin Ngài đã nhậm lời rồi
Nhưng cách Ngài dùng để đáp lời tôi
Hầu như đã đẩy tôi vào tuyệt vọng
Tôi ao ước trong một giờ phước hạnh
Ngài đáp ngay lời cầu nguyện của tôi
Dùng năng lực của tình yêu mạnh mẽ
Để tiêu trừ tội lỗi ở trong tôi
Cho tôi được bước vào trong yên nghỉ
Thay vì vậy Ngài khiến tôi cảm nhận
Những gian ác dấu kín ở trong tâm
Và mặc cho quyền lực của tối tăm
Từ mọi phía tấn công hồn tôi đó
Còn hơn thế, chính tay Ngài như đã
Khiến nặng thêm nỗi sầu khổ lòng tôi
Ngài hủy phá mọi chương trình tốt đẹp tôi vẽ
Làm cho tôi gục ngã xuống, hao mòn
Tôi run rẩy hỏi Ngài 'Sao vậy Chúa?
Ngài đưa con vào sự chết hay sao?'
'Đó là cách Ta đáp lời cầu nguyện
Để xin thêm ân điển với đức tin
Ta đã dùng những thử thách bên trong
Để cứu con khỏi kiêu căng, bản ngã
Và Ta đã cố tình phá hỏng
Mọi mưu cầu hạnh phúc ở trần gian
Để con phải tìm cầu tất cả
Chỉ ở trong mỗi một chính Ta thôi'
John Newton
f. Con đường.
Đây có thể gọi là 'con đường ít người'. Vấn đề là đây chính phương tiện Đức Chúa Trời chọn để dẫn chúng ta đến cái ơn phước chúng ta tìm kiếm! Tại sao Đức Chúa Trời làm việc theo cách này? Tôi nghĩ câu trả lời rất đơn giản.
Vì chúng ta quá ngu dốt vè chính mình!
Chúng ta nghĩ rằng Chúa có thể ban cho chúng ta điều lòng mình ao ước ngay trong tình trạng hiện tại của chúng ta. Nhưng không phải như vậy. Chúa phải xử lý chúng ta. Ngài phải hạ chúng ta xuống và Ngài phải chuẩn bị chúng ta cho ơn phước lớn lao này!
Do đó Đức Chúa Trời đưa chúng ta đi vào một cuộc hành trình nhọc nhằn đau đớn để bày tỏ cho rõ hơn nhu cầu vô cùng khẩn thiết của chúng ta đối với ơn phước của Ngài và đó chính là cách Ngài đáp lời cầu nguyện của chúng ta! Cách của Chúa là đem chúng ta xuống thấp hơn và rồi thấp hơn nữa và rồi lại còn thấp hơn thế nữa. Chúng ta có thể nghĩ là có điều gì đó rất không ổn nhưng Đức Chúa Trời đang làm việc cách tốt đẹp! Chúng ta có thể nghĩ Chúa đang làm việc cách chậm chạp nhưng thực tế Ngài đang làm việc rất có hiệu quả!
Đây là cách Đức Chúa Trời chuẩn bị chúng ta cho sự phục hưng!
Đây là công việc vinh hiển của Đức Chúa Trời khi hạ chúng ta xuống để nhận ơn phước Ngài.
Đây có lẽ sẽ là con đường dẫn đến sự phục hưng thật!
Vì vậy hãy để Đức Chúa Trời đập vỡ và xé rách chúng ta ra. Vì những người Ngài đập vỡ thì chắc chắn Ngài cũng sẽ làm cho sống lại!
Những đoạn Kinh Thánh nói về sự phục hưng và làm mới lại:
Thi Tv 85:4-7 ”Hấi Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi chúng tôi, xin hãy đem chúng tôi trở lại, và dứt sự tức giận về chúng tôi. Chúa sẽ giận chúng tôi mãi mãi ư? Cơn thạnh nộ Chúa há sẽ còn đời đời sao? Chúa há chẳng khứng làm cho chúng tôi sống lại, hầu cho dân Chúa vui vẻ nơi Chúa sao? Hấi Đức Giê-hô-va, xin cho chúng tôi thấy sự nhơn từ Ngài, và ban cho chúng tôi sự cứu rỗi của Ngài"
EsIs 57:15 ”Đấng cao cả, ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh, có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, với người có lòng ăn năn đau đớn và khiêm nhường, đặng làm tươi tỉnh thần linh của những kẻ khiêm nhường, và làm tươi tỉnh lòng người ăn năn đau đớn"
EsIs 64:1-7 ”Ôi, ước gì Ngài xé rách các từng trời, Ngài ngự xuống và làm rúng động các núi trước mặt Ngài, như lửa đốt củi khô như lửa làm sôi nước, hầu cho kẻ thù nghịch biết danh Ngài, các dân tộc run rẩy trước mặt Ngài. Khi Ngài đã làm những sự đáng sợ mà chúng tôi không trông mong, thì Ngài ngự xuống, và các núi đều rúng động trước mặt Ngài. Từ xưa người ta chưa hề biết, tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy ngoài Ngài có Đức Chúa Trời nào khác, hay vì kẻ trông đợi mình mà làm những sự thể ấy. Ngài đã đón rước kẻ vui lòng làm sự công bình, kẻ đi trong đường lối Ngài và nhớ đến Ngài. Này, Ngài đã nổi giận vì chúng tôi phạm tội, đã lâu như vậy, thì còn được cứu sao? Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi. Chẳng có ai kêu dầu danh Ngài, hay là gắng sức đặng cầm lấy Ngài; vì Ngài đã ẩn mặt khỏi chúng tôi, để chúng tôi bị tiêu mất bởi tội ác mình"
IISu 2Sb 7:14 ”và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ"
OsHs 6:1-2 ”Hãy đến, chúng ta hãy trở về cùng Đức Giê-hô-va; vì Ngài đã xé chúng ta, song Ngài sẽ chữa lành cho; Ngài đã đánh chúng ta, song sẽ buộc vết tích. Trong hai ngày, Ngài sẽ khiến chúng ta tỉnh lại; ngày thứ ba, Ngài sẽ dựng chúng ta dậy, chúng ta sẽ sống trước mặt Ngài"
D. Mục đích của Phúc âm.
Tôi muốn đề cập đến vấn đề quan trọng là mục tiêu của Đức Chúa Trời trong sách Phúc âm. Nói một cách khác tại sao khởi đầu Đức Chúa Trời lại chọn để cứu chúng ta và mục đích sau cùng mà Ngài theo đuổi là gì? Tôi muốn khai triển đề tài này theo cách sau đây, đó là mời bạn xem xét lại sự đánh giá riêng của bạn về ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong đời sống bạn.
1. Bản chất ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong sách Phúc âm.
Có nhiều yếu tố chủ yếu liên quan đến ân điển cứu chuộc ủa Đức Chúa Trời mà mỗi tín đồ phải biết và nhớ.
- Chúng ta phải nhớ rằng trước hết Đức Chúa Trời không có bổn phận phải tạo ra chúng ta và thứ đến Ngài cũng không hề có bổn phận phải cứu chúng ta.
Nói một cách khác, chúng ta không muốn nhìn Đấng Toàn Năng như một con người cô đơn trong quá khứ đời đời và quá mong ước có bạn nên thấy rằng cần phải tạo ra những người khác. Hơn nữa chúng ta cũng không muốn xem Ngài như là chỉ vì thấy thương hại cho tình trạng hư mất của chúng ta mà phải tạo ra nhu cầu cứu rỗi.
-Chúng ta phải nhớ rằng Đức Chúa Trời không hề mắc nợ con người sa ngã cứu rỗi của Ngài!
Đức Chúa Trời không hề bị bắt buộc hay có bổn phận phải cứu bất cứ ai. Do đó chúng ta kết luận rằng Ngài không hề hành động vì bị một sự ép buộc nào từ bên ngoài. Sự thực của vấn đề là Đức Chúa Trời quả có 'mắc nợ' mọi người sa ngã sự đoán phạt đời đời và sẽ tỏ ra hoàn toàn công bình và phù hợp với bản chất của Ngài khi áp đặt bản án đó trên tất cả chúng ta.
- Chúng ta phải nhớ rằng Đức Chúa Trời chẳng được điều gì khi cứu chúng ta!
Đấng Toàn Năng hoàn toàn độc lập và tự thỏa lòng trong chính Ngài và không cần bất cứ điều gì ngoài Ngài để được hạnh phúc. Nói một cách khác Đức Chúa Trời chẳng được thêm điều gì khi cứu chúng ta khỏi hình phạt mà chúng ta đáng phải chịu.
Vì vậy: không phải Đức Chúa Trời cứu chúng ta vì đó là bổn phận của Ngài. Vì tất cả chúng ta chỉ đáng chịu cơn thạnh nộ đời đời của Ngài nên Ngài hoàn toàn tự do để làm bất kỳ điều gì Ngài muốn với bất kỳ ai và bằng bất kỳ cách thức nào (đó là nói về những hành động ân điển của Ngài đối với các tội nhân đáng bị hình phạt)
Vì vậy: không phải Đức Chúa Trời cứu chúng ta vì lợi ích riêng của Ngài mà chính là để làm thành điều mà ý Ngài đã định từ trước.
Vì vậy: sự cứu rỗi của bạn là một sự lựa chọn tối cao của Đức Chúa Trời, theo ý chỉ của Ngài và được định để là sự bày tỏ tình yêu riêng và ân điển tuyệt vời của Ngài với bạn.
Để ngợi khen vinh hiển đời đời của Ngài!
2. Những kết quả của ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong sách Phúc âm.
Đức Chúa Trời cứu những tội nhân không thể tự cứu để làm vinh hiển danh Ngài qua việc bày tỏ ân điển. Hãy thử tưởng tượng tất cả các tạo vật khi nhìn lên Hội thánh trong tình trạng vinh hiển.
Họ sẽ lấy làm lạ trước sự kiện Đức Chúa Trời chọn để cứu một nhóm người như chúng ta!
Họ sẽ lấy làm lạ trước quyền năng của Đức Chúa Trời đã tái sanh chúng ta và làm chúng ta được sống trong Giê-xu Christ!
Họ sẽ lấy làm lạ trước sự kiện chúng ta được gọi là thánh đồ và chính Đức Chúa Trời sẵn lòng ở giữa chúng ta!
Họ sẽ lấy làm lạ về ân điển thánh hóa của Đức Chúa Trời đã tạo ra vừa ước muốn lẫn khả năng đầu phục ý chỉ của Ngài.
Họ sẽ lấy làm lạ trước sự kiện không một tín đồ thật nào bị ngã luôn nhưng đều được quyền năng của Chúa gìn giữ qua huyết của Chiên Con.
Họ sẽ lấy làm lạ khi nhìn thấy chúng ta trong trạng thái vinh hiển, bày tỏ rằng mục đích của Đức Chúa Trời khi cứu chúng ta cuối cùng được thực hiện cách hoàn hảo trong đời sống chúng ta!
Thật vậy họ sẽ lấy làm lạ về thân vị của Đức Chúa Trời, công tác cứu chuộc của Con Ngài và chức vụ bền bứ của Đức Thánh Linh đã đem đến một sự cứu rỗi lớn lao như vậy cho những con người bất lực và cần được cứu như vậy!
3. Mục đích ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong sách Phúc âm.
Những câu khẳng định sau đây về mục đích của Phúc âm trong đời sống của người tín đồ có vẻ như quá đơn giản nhưng thật sự chỉ ra điều sâu xa nhất mà một con người có thể đạt đến. Khi chúng ta xem những câu này là tượng trưng cho điều sâu xa nhất mà những tội nhân chỉ đáng cho địa ngục có thể đạt được thì ân điển của Đức Chúa Trời lại càng tỏ ra lớn lao là dường nào!
- Mục đích của sách Phúc âm là đem đến cho mỗi người tín đồ một sự đánh giá chính xác về công việc tối cao của Đức Chúa Trời trong đời sống của họ (Mat Mt 10:34-39, LuLc 14:25-33).
- Mục đích của sách Phúc âm là đem mỗi một tín đồ đến nơi mà mục đích cao nhất của họ trong đời sống là đem niềm vui đến cho Đức Chúa Trời (ICo1Cr 5:6-9).
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Hiện bây giờ bạn có đang vui hưởng một mối tương giao mật thiết với Đức Chúa Trời không? (Hãy thành thật!
Nếu có, thì bạn phải làm gì để duy trì một mối tương giao như vậy?
Nếu không, thì bạn phải bắt đầu thực hiện những bước nào để phát triển mối tương giao giống như vậy?
2. Khi xem xét bản liệt kê 'bông trái Thánh Linh' thì bạn thấy bông trái nào được biểu hiện kém hơn những bông trái khác?
Bạn giải thích điều này ra sao?
Bạn phải làm gì để phát triển yếu tố còn thiếu sót này trong đời sống bạn?
3. Bạn có thấy phục hưng là một nhu cầu trong Hội thánh ngày nay không? Nếu có thì tại sao và nếu không thì tại sao?
4. Bạn có nhìn thấy phục hưng là một nhu cầu trong đời sống bạn không? Nếu có thì tại sao và nếu không thì tại sao?
5. Cần phải làm gì cho nhu cầu được phục hưng hiển nhiên của ngày hôm nay?
Bạn có sẵn lòng trả cái giá cần thiết không? Có thật vậy không?
6. Dưới ánh sáng của mục đích được nêu ra trong sách Phúc âm thì Đấng Christ thật sự đã có ảnh hưởng gì trên đời sống cá nhân của bạn?
Dưới ánh sáng của câu hỏi nêu trên thì bạn hy vọng Đấng Christ sẽ có ảnh hưởng gì trên đời sống bạn?



† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-7-2018 08:37 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách