† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2600|Trả lời: 0

Đừng Làm Nửa Vời

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 15-7-2011 12:52:52 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Đừng Làm Nửa Vời
Tác giả: Xuân Thu
· Nghệ Nhân với Con Thuyền và Cái Chai.
· Nhà Giáo Dục Cơ Đốc - Bạn Là Ai?
· Chăn Bầy.
· Hiểu Người.
· Đừng Làm Nửa Vời.
· Thương Thì Thương Cho Trót.
· Khi Tình Yêu Thương Đi Với Sự Khôn Ngoan
· Khi Bất Cẩn Đi Đôi Với Yêu Thương.
· Chẳng Lẽ Bỏ Mặc?
· Yêu & Ghét.
· Mở rộng

Nghệ nhân với con thuyền và cái chai.
Trong nhiều gian hàng mỹ nghệ chúng ta thấy trưng bày những cái chai lớn nhỏ, bên trong mỗi chai có một con thuyền. Thật là độc đáo, con thuyền lớn có cột buồm cao với những cánh buồm rộng, còn cổ chai thì nhỏ, thế mà con thuyền lại nằm gọn bên trong cái chai. Nhiều người tự hỏi: Làm sao đưa con thuyền vào trong cái chai được?
Muốn có sản phẩm độc đáo đẹp đẽ này cần có:
+ Nghệ nhân
+ Cái chai
+ Con thuyền
+ Công việc: Làm sao đưa con thuyền vào trong cái chai mà thuyền không vỡ vụn, chai không bể.
1. Trước hết nghệ nhân phải có cái chai, có những vật liệu cần thiết và tất nhiên phải có phác thảo của con thuyền.
2. Thứ nhì, nghệ nhân phải hiểu biết về cái chai. Nếu nghệ nhân không hiểu biết về cái chai có thể làm chai bể; nếu không hiểu biết những vật liệu sẽ không hoàn tất công việc được; nếu không hiểu biết về con thuyền thì sẽ làm thuyền vỡ vụn.
3. Thứ ba, nghệ nhân cần có tay nghề. Cần biết cái ‘thuật’, biết phương pháp để làm thế nào đưa con thuyền vào trong cái chai. Muốn vậy anh ta phải học và tập tành để có ‘nghề’. Qua việc học hỏi với thầy với bạn, học qua sách vở và bằng thực tiễn.
4. Thứ tư, anh ta cần thời gian với lòng kiên nhẫn để lần lượt đưa từng vật liệu của con thuyền qua cái cổ chai vào bên trong chai để nối kết và dán lại với nhau. Sau một thời gian làm việc cách tỉ mỉ và cẩn thận, con thuyền nằm gọn trong cái chai.
Từ chuyện con thuyền và cái chai chúng ta có thể đặt vấn đề cho công tác giáo dục Cơ Đốc nhân.
Để học viên (trong mọi lứa tuổi) có Chúa Giê-xu ngự trong lòng họ, biến đổi đời sống họ trở thành một nếp sống đẹp đẽ lạ lùng chúng ta cần có:
+ Người dạy.
+ Người học.
+ Chúa Giê-xu
+ Công tác: Làm sao đưa Phúc Âm, đưa Chúa Giê-xu vào trong tâm hồn của người học mà không gây đổ vỡ cho cả Phúc Âm lẫn đối tượng là người học.
Dựa theo lập luận ở trên:
1. Trước hết người dạy phải có đối tượng để dạy . Phải có ai đó làm ‘cái chai’. Đó là con em của chúng ta, là học viên trong các lớp Kinh Thánh, là những thanh thiếu nhi, những người mới tin Chúa mà chúng ta có trách nhiệm hướng dẫn… Rồi chúng ta phải có nội dung dạy đó là Lời Chúa, là Đấng Cứu Thế. Bên cạnh đó chúng ta phải xác định mục tiêu của việc dạy .
2. Thứ nhì, người dạy phải hiểu đối tượng (học viên), phải hiểu bài (nội dung dạy) . Hiểu đối tượng mình dạy nghĩa là hiểu con người, hiểu về tâm lý của học viên, nhu cầu, hoàn cảnh của học viên. Hiểu nội dung dạy là hiểu về Kinh Thánh một cách có phương pháp, là hiểu biết giáo lý và có kinh nghiệm về Chúa Cứu Thế, hiểu biết về Chúa Giê-xu.
3. Thứ ba, người dạy cần học biết về phương pháp để có thể truyền đạt nội dung Phúc Âm cho người học hiệu quả. Phương pháp giúp cho người dạy Phúc Âm có thể hình thành Chúa Cứu Thế trong đời sống của học viên. Làm sao để học viên không dị ứng với sứ điệp, mà Phúc Âm cũng không ‘bể tan’.
Nếu một nghệ nhân hiểu rằng không thể làm con thuyền ở ngoài rồi ra sức đẩy con thuyền vào bên trong cái chai, thì người dạy cũng cần hiểu rằng không thể cố gắng nhồi nhét Kinh Thánh vào trong tâm hồn của học viên. Tốt nhất là cần bắt chước nghệ nhân kia, dù anh ta không làm con thuyền trước, nhưng anh ta đã phác thảo, có sơ đồ chi tiết, có vật liệu để làm ra con thuyền. Người dạy cũng vậy, cần dự định trước sẽ truyền đạt, sẽ đưa những nội dung nào vào trong trí tuệ, tình cảm và hành vi của người học.
4. Thứ tư, người dạy cần thời gian với lòng kiên nhẫn . Không thể có một hệ thống Cơ Đốc giáo dục theo kiểu mì ăn liền, hoặc học Lời Chúa theo kiểu thức ăn nhanh. Cũng không có một nhà thờ nào có thể sản sinh ra một Cơ Đốc nhân phi thường, một siêu sao Cơ Đốc nhân qua các khoá học cấp tốc. Giáo dục phải có thời gian và lòng kiên nhẫn. Chúa Giê-xu kiên nhẫn với các môn đệ, các bậc cha mẹ kiên nhẫn với con cái, các giáo viên kiên nhẫn với học viên.
Nhờ xác định mục tiêu, nhờ hiểu người, nhờ nắm vững nội dung, nhờ biết vận dụng phương pháp và nhất là nhờ lòng kiên trì mà theo thời gian người dạy lần hồi đưa Chúa Cứu Thế vào trong đời sống của học viên một cách tốt đẹp, ‘chai không bể và thuyền không vỡ vụn’.
Đưa con thuyền vào trong chai là một nghệ thuật, công việc đó không đòi hỏi khả năng sẵn có nơi con người, điều cần thiết là con người có ước muốn trở thành nghệ nhân không. Và để trở nên một nghệ nhân xuất sắc cần nỗ lực của bản thân người đó.
Đưa Phúc Âm của Chúa Giê-xu vào đời sống của người học là cái thuật của người dạy. Để có được cái thuật dạy dỗ, người dạy Phúc Âm cần có thái độ đúng đắn đối với công việc của mình. Người dạy cần đầu tư thì giờ công sức cho công tác giáo dụcCơ Đốc . Muốn vậy chúng ta cần xem xét lại những vấn đề sau đây.
1. Chúng ta đã tin Chúa chưa? Đã có kinh nghiệm thuộc linh chưa? Đã có đủ vật dụng cần thiết để đưa con thuyền vào cái chai chưa? Có tham gia những khoá huấn luyện về việc giáo dục Cơ Đốc, có tìm sách vở để đọc và học không?
2. Chúng ta đã xác định ‘cái chai’ chưa? Ai là đối tượng để chúng ta dạy lời Chúa? Chúng ta có hiểu ‘cái chai’, có hiểu đối tượng chúng ta dạy dỗ không? Chúng ta hiểu học viên đến mức độ nào? Vì sao chúng ta hiểu học viên nhưng vẫn có những đổ vỡ khi chúng ta dạy dỗ họ? Rồi chúng ta có nắm vững những nội dung chúng ta dự định truyền đạt cho học viên không? Chúa Giê-xu mà chúng ta dự định hình thành trong đời sống của đối tượng là Chúa Giê-xu nào? Chúa Giê-xu của Kinh Thánh hoặc là một Chúa Giê-xu theo ý riêng của chúng ta?
3. Chúng ta có học những phương pháp để có thể đưa Chúa Cứu Thế vào đời sống của đối tượng không? Liệu phương pháp chúng ta đang thực hiện có làm méo mó hoặc vỡ vụn Phúc Âm hoặc làm tổn thương người chúng ta dạy không? Họ có hiểu Phúc Âm một cách đúng đắn không?
4. Chúng ta có thời gian và lòng kiên trì không? Thời gian chắc ai cũng có, nhưng có thời gian dành cho việc ‘đưa thuyền vào chai’ không? Kèm theo thời gian là lòng kiên trì với công việc. Rất nhiều công trình thuộc linh bị dang dở, cho nên nhiều học viên rất mù mờ về Chúa Giê-xu. Họ không kinh nghiệm sự tái sinh, không hiểu biết Kinh Thánh. Vì những người giúp đỡ việc gây dựng và hình thành đời sống thuộc linh tỏ ra rất lơ là hoặc bỏ ngang công việc.
Ông Phao-lô viết cho các tín hữu Hội Thánh ở Ga-la-ti: “Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sinh nở, cho đến chừng nào Đấng Cứu Thế thành hình trong các con”
(GaGl 4:19).
Tóm lược _ Thảo luận
Có bao giờ bạn nhìn thấy con thuyền trong cái chai chưa?
• Thảo luận
Muốn có sản phẩm độc đáo đẹp đẽ này cần có:
+
+
+
+
Để có một tác phẩm độc đáo như vậy, nghệ nhân cần:
1.
2.
3.
4.
Từ chuyện con thuyền và cái chai chúng ta chuyển sang vấn đề cho việc giáo dục Cơ Đốc.
Chúng ta có:
+ Người dạy.
+ Người học.
+ Công tác: Làm sao đưa Phúc Âm, đưa Chúa Giê-xu vào trong tâm hồn của học viên mà không gây đổ vỡ cho cả Phúc Âm lẫn học viên .
Theo lập luận ở trên, chúng ta cần:
1.

2.

3.

4.

Tự xem xét
1.


2.


3.


4.



Câu Kinh Thánh suy ngẫm.
“Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sinh nở, cho đến chừng nào Đấng Cứu Thế thành hình trong các con”
(GaGl 4:19).

Nhà giáo dục Cơ Đốc - Bạn là ai ?
(Soạn theo ý một bài viết trong tạp chí Child Evangelism những năm 1960).
Người dạy cần biết vai trò của mình đối với học viên. Đôi khi người dạy vô tình trở thành những nhân vật mà mình không hề ngờ đến.
A. Người dạy không phải là:
1. Cảnh sát.
Đôi khi một giáo viên dạy thiếu nhi mà một tay cầm Kinh Thánh một tay cầm roi. Nội dung dạy là hỗn hợp giữa lời Chúa và những lời la rầy. Đôi khi phần lớn thời gian trong lớp dành cho việc mắng mỏ, doạ dẫm, hăm he, ra lệnh, phân xử… học viên trong lớp. Giờ học luôn luôn bị gián đoạn vì học viên chọc phá nhau và vì giáo viên phải ngưng việc dạy để tái lập trật tự. Giáo viên cứ như là cảnh sát thổi còi và lập biên bản liên tục, cho nên ai nấy đều cảm thấy nản lòng.
Một lớp học trật tự và có kỷ luật là điều rất cần thiết. Một giáo viên khôn ngoan khéo léo không bao giờ lập trật tự bằng những biện pháp kiểu cảnh sát. Cần đặt vấn đề: Học viên mất trật tự là vì ai? Giáo viên thường cho rằng học viên là nguyên nhân của cảnh mất trật tự trong lớp. Nhưng thật ra lớp học có thể có trật tự nếu:
• Bài học lý thú.
• Khung cảnh hấp dẫn.
• Chỗ ngồi thoải mái.
• Môi trường yên tĩnh.
Trong bốn yếu tố trên ta thấy nguyên nhân mất trật tự có thể không phải đến từ người học, mà có thể đến từ người dạy. Dạy không lý thú, không sinh động.
Đôi khi giáo viên ngăm đe học viên bằng những vấn đề thuộc linh. Một cô giáo kia đứng trước một lớp Thánh Kinh Hè đã nói: “Ai đã tin Chúa Giê-xu mà không làm chứng về Ngài thì không được lên thiên đàng!”(?) Người dạy hiểu sai sự cứu rỗi cách vô điều kiện và việc phục vụ Chúa. Có phục vụ thì mới có thưởng.
Có giáo viên khác dùng Kinh Thánh như dùng súng hăm doạ học viên: “Theo lời Kinh Thánh thì em chỉ có nước đi địa ngục”(!). Lời Chúa là chân lý, nhưng không thể dùng chân lý như súng ống để từ diễn đàn bắn xuống người nghe.
Có khi giáo viên dùng câu chuyện Kinh Thánh tưởng là để giáo dục học viên nhưng lại vô tình hù doạ học viên. Một anh hướng dẫn thiếu niên làm chứng lại chuyện của bản thân anh như thế này: “Các em ơi, hãy yêu mến Chúa và lo học lời của Ngài. Tháng vừa rồi anh lơ là không đọc Kinh Thánh, không cầu nguyện cho nên tuần rồi anh gặp thử thách, Chúa làm cho anh bị mất cái đồng hồ.” Anh hướng dẫn hiểu lầm về Chúa và hoạt động của Ngài. Anh cũng quên rằng có nhiều em thiếu niên cả năm không đọc Kinh Thánh cầu nguyện mà chẳng mất một món quí giá nào cả.
Chúng ta cũng cần nhớ là trình bày chân lý trong tình yêu thương chứ không phải trong tinh thần thù địch. Chúng ta bày tỏ tình yêu thương cho học viên chứ không phải trút cơn tức giận. Nói tóm một điều, người dạy không phải là cảnh sát thuộc linh.
2. Nhà ảo thuật.
Nhiều người nghĩ mục sư truyền đạo là những ‘nhà ảo thuật’ có thể thay đổi con người qua một câu nói, một lời cầu nguyện, hoặc qua một lần gặp gỡ. Giới phụ huynh đôi khi cũng cho rằng giáo viên dạy Kinh Thánh là ‘nhà ảo thuật’ có thể biến những thói hư tật xấu (mà họ dung dưỡng lâu nay) của con em họ thành những tánh tốt trong một thời gian ngắn. Một số người nói: “Sao tôi cho con đi học Kinh Thánh đã nửa năm nay mà chẳng thấy nó thay đổi gì cả?” hoặc là: “Tôi tưởng tôi thay đổi nó không được thì cô giáo thay đổi nó được chứ! Vì tôi nói nó không nghe, còn cô giáo nói chắc là nó nghe.” Những bậc phụ huynh nói như thế quên rằng họ đi nhà thờ đã hết nửa đời người mà vẫn chưa có gì thay đổi, trong khi họ đòi con em mình phải thay đổi tức thì. Xin các bậc phụ huynh đừng xem người dạy là nhà ảo thuật.
Rồi đôi khi người dạy cũng nói một cách tự tin như nhà ảo thuật rằng: “Cứ giao nó cho tôi, tôi làm cho nó thay đổi ngay cho mà xem.” Đây là trường hợp trong một ban thiếu nhi hoặc thiếu niên có những em bị xem là ngựa chứng, ai cũng bó tay ngoại trừ người nói: “Cứ giao nó cho tôi.” Người này vừa dùng tài nghệ của nhà ảo thuật vừa dùng uy lực của cây dùi cui cảnh sát để thay đổi con dê thành con cừu. Đôi khi có thể nhìn thấy sự thay đổi, nhưng chỉ thay đổi bên ngoài mà thôi. Ở nhà thờ thì sống khác, về nhà thì sống khác. Khi có cảnh sát thì nghiêm chỉnh, nhưng khi không có cảnh sát thì chứng nào tật nấy.
Thay đổi tâm tính con người không phải là việc bất khả thi, nhưng không thể thực hiện trong quan niệm xem giáo dục như là một loại phù phép hoặc áp lực để hoá xấu thành tốt. Giáo dục đem đến sự thay đổi. Có những thay đổi lập tức, nhưng cũng có những thay đổi về sau này mới nhận ra. Sự thay đổi là một tiến trình đòi hỏi người dạy hợp tác với các bậc phụ huynh, Hội Thánh hợp tác với gia đình. Và cần đến một yếu tố then chốt đó là quyền năng của Đức Chúa Trời.
Là người dạy chúng ta đừng nghĩ rằng mình có quyền năng thay đổi học viên.
3. ‘Người giữ trẻ’.
Đôi khi giới thẩm quyền trong Hội Thánh coi người dạy như ‘người giữ trẻ’, như chị lớn trông coi em nhỏ. Khởi đầu là vì không muốn giờ thờ phượng của Hội Thánh bị ồn ào xáo trộn cho nên người ta tập trung thiếu nhi vào một căn phòng gọi là nhà trẻ, rồi giao cho một hai cô giữ trẻ. Ở một vài Hội Thánh khác đôi khi người ta dồn hết thiếu nhi từ tuổi mẫu giáo cho đến cấp 1 vào trong một nơi gọi là Hội Thánh Thiếu Nhi cho một nhóm thanh niên phụ trách. Nhiệm vụ của những người này là giữ trẻ cho đến khi Hội Thánh thờ phượng Chúa xong thì trả chúng về cho cha mẹ. Trong giờ gọi là Hội Thánh Thiếu Nhi đó, đa số người dạy chẳng biết làm gì ngoài chuyện cho trẻ hát, kể chuyện, trò chơi sinh hoạt… để trám cho kín giờ, chứ mục đích chính là giữ trẻ để cha mẹ chúng an tâm nghe giảng.
Thật ra chỉ việc giữ trẻ cũng cần phải học tập chứ đừng nói đến việc dạy trẻ. Vấn đề là vì giới có thẩm quyền quan niệm người dạy trẻ chỉ cần giữ trẻ nên không lo trang bị, huấn luyện để người dạy trẻ thật sự là người dạy dỗ có mục đích, có chương trình rõ ràng thay vì chỉ canh giữ nhóm trẻ trong trật tự an toàn.
Đôi khi tự thân người dạy cũng nghĩ rằng họ chỉ là người giữ trẻ. Vì vậy nhiều người dạy chẳng quan tâm gì đến nội dung bài dạy, chất lượng giáo dục, cũng chẳng quan tâm đến việc trau dồi kiến thức và phương pháp . Họ chỉ quan tâm đến việc học viên có đi nhà thờ không, có ngồi trong lớp hay không, như vậy là đã đạt rồi, là an tâm, hài lòng rồi. Và vì không rèn luyện để trở thành người dạy đúng nghĩa, mà chỉ lo canh giữ học viên cho nên họ chỉ giữ được thể xác trong lớp còn tâm trí và tấm lòng của học viên thì họ bất lực.
Chúng ta cần lưu ý là học viên của chúng ta hằng tuần chỉ đến với lớp Kinh Thánh vỏn vẹn có 1 tiếng đồng hồ thôi, nếu tính toàn bộ thời gian ở nhà thờ thì khoảng 2 tiếng đồng hồ. Người dạy đã làm gì? Có tận dụng khoảng thời gian ít oi đó không? Khi học viên đến lớp dù họ đang ở trong tình trạng nào thì người dạy cần biết nhu cầu của người học là được học. Người dạy cần tạo hứng thú học tập và thoả mãn nhu cầu học của học viên. Người giữ trẻ chỉ mong thì giờ qua mau, mong sao phụ huynh trẻ mau đến đón trẻ. Còn người dạy trẻ thì ước ao thì giờ chậm lại để có thể truyền đạt cho trẻ thật nhiều điều.
Với các tín hữu, đôi khi chúng ta chỉ mong sao cho họ có mặt trong giờ thờ phượng tại nhà thờ vào sáng Chúa nhật, hoặc tham gia vào một lớp học Kinh Thánh nào đó là chúng ta có thể an tâm. Những giáo viên trong lớp Kinh Thánh thiếu được quan tâm giúp đỡ và huấn luyện cho nên vai trò của họ cũng chẳng khác gì người giữ trẻ. Giữ một người ở trong nhà thờ, trong tổ chức chưa chắc đã giúp họ an toàn.
Cần cẩn thận kẻo chúng ta bỏ qua những thời gian vàng ngọc dành cho linh hồn của học viên.
4. Nhà thông thái.
Quan niệm người dạy là một nhà thông thái làm cho nhiều người e ngại không dám nhận công tác và dễ nản lòng trong khi dạy dỗ. Đồng thời quan niệm này cũng làm cho nhiều người chủ quan trong việc dạy dỗ.
Nhiều giáo viên, nhất là giáo viên mới, cảm thấy e ngại sợ sệt khi học viên nêu thắc mắc và người dạy lại không giải quyết được vấn đề, cho nên nản lòng. Họ cho rằng khi không giải đáp được những thắc mắc của học viên thì không xứng đáng là người dạy. Thậm chí có người xin rút lui chỉ vì thấy tri thức mình còn yếu kém quá. Cần nhớ rằng người dạy học không phải là nhà thông thái, không phải là người biết hết mọi chuyện, mọi vấn đề để giải đáp cho học viên.
Khi dạy mà học viên thắc mắc là điều đáng mừng vì đã làm cho học viên phải động não, suy nghĩ. Tuy nhiên học viên thắc mắc nhiều thì người dạy càng dễ nản lòng nếu không giải đáp được. Vì sự thật là dù có chuẩn bị bài tốt đến đâu đi nữa thì người dạy cũng không thể trả lời tất cả các câu hỏi của học viên. Đừng thất vọng, vì người dạy không phải là nhà thông thái.
Người dạy có cơ hội gặp học viên nhiều lần, nhiều năm chớ không phải chỉ gặp một lần. Vấn đề là người dạy có thành thật nhận mình chưa nắm rõ vấn đề hoặc không? Có dám hứa hẹn với học viên là sẽ giải đáp thắc mắc trong lần gặp tới hoặc không? Có dám nhờ những học viên khác trong lớp tham gia giải đáp không? Người dạy cần nhìn nhận điều mình chưa biết, cần khơi dậy sự thắc mắc chung của cả lớp, dành thời gian tìm hiểu để lần học tới giải quyết vấn đề. Vì người dạy không phải là nhà thông thái.
Bạn cũng cần nhớ rằng, kiến thức chỉ là chất xám còn cây đời thì xanh tươi mãi mãi. Câu trả lời phát xuất từ kinh nghiệm của người dạy có tác dụng mạnh mẽ hơn là mớ lý thuyết uyên thâm.
Người dạy không phải là nhà thông thái cũng làm cho nhiều người chủ quan. Đây là những giáo viên ‘sống lâu lên lão làng’ hoặc coi thường thiên chức của mình. Họ tự lừa dối mình khi không chịu cố gắng học hỏi, không chịu bổ sung cho những lỗ hổng về kiến thức Kinh Thánh của mình, hoặc không chịu tham gia những khoá huấn luyện.

B. Người dạy là…
Nếu người dạy không phải là cảnh sát,
không phải là nhà ảo thuật,
không phải là người giữ trẻ,
không phải là nhà thông thái.
Thế thì người dạy là ai? Xin suy nghĩ và ghi ra: Là người dạy, tôi là…
Gợi ý:
1. Người dạy Kinh Thánh là thợ mài ngọc.
Thánh ca 396 mô tả trẻ em giống như những viên ngọc được gắn trên vương miện của Chúa Giê-xu:
Lóng lánh như tia sáng sao mai, mũ Ngài đầy ngọc soi chói; Những viên ngọc rực rỡ quanh ngai, ấy bửu ngọc thuộc Ngài.
Trẻ em là ngọc, nhưng
Ngọc kia chẳng dũa chẳng mài,
Cũng là vô dụng cũng hoài ngọc đi.
Thoạt tiên ngọc chỉ là một hòn đá quí, và hòn đá quí đó phải qua tay người thợ mới thành viên ngọc.
Mài ngọc thì phải có phương pháp, phải biết cấu tạo của đá ra sao để khi mài không làm sứt mẻ. Không biết phương pháp và không cẩn thận sẽ làm viên ngọc hư, xấu xí, méo mó, mất giá trị.
Trẻ em cũng vậy, dù là ngọc, nhưng khởi đầu trẻ chưa phải là những viên ngọc lấp lánh. Chắc chắn hòn đá quí này chưa như ý của chúng ta, còn dại khờ, còn cứng cỏi. Nhưng chúng ta cần thấy vẻ đẹp tiềm ẩn của trẻ. Hơn nữa chúng ta cần biết rõ tâm sinh lý của trẻ. Rồi với tư cách người thợ mài ngọc, bạn cần hết sức cẩn thận trong công tác tỉ mỉ lâu dài này. Khinh xuất trong việc dạy trẻ, thờ ơ, soạn bài qua loa, dạy dỗ cẩu thả viên ngọc sẽ bị méo mó, sứt mẻ, không thể phản chiếu ánh sáng lấp lánh trên mão miện của Chúa được.
2. Nếu ví học viên như những trang giấy trắng chờ hoạ sĩ vẽ tranh thì người dạy là người đang vẽ tranh.
Mỗi lời dạy tựa như những nét cọ trên tâm hồn trong trắng của học viên với hy vọng sẽ hình thành một bức tranh tuyệt mỹ. Thoạt tiên học viên chỉ biết tiếp nhận vì chưa phân biệt được phải trái, đúng sai, hay dở.
Một bức tranh đẹp phải có chủ đề, có sự hài hoà về đường nét, màu sắc, bố cục… Bạn có mục đích gì khi dạy Kinh Thánh, bạn đang vẽ lên tâm hồn học viên những gì? Có người đến lớp dạy không biết mình dạy cái gì, không thấy mục tiêu của bài là gì. Bài dạy rất mù mờ, bài học không gây một ấn tượng nào cho học viên ngoài cảm giác khó chịu chán chường.
3. Nếu ví học viên là con chiên, thì người dạy là người chăn chiên.
“Những chiên ta đi lạc trên mọi núi và mọi đồi cao; những chiên ta tan tác trên cả mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm” (Exe Ed 34:6).
Chúa dùng tiên tri Ê-xê-chi-ên để trách giới chăn chiên không chịu chăn dắt, chăm sóc cho bầy chiên, bỏ mặc cho chiên trở thành miếng mồi cho thú dữ.
Chúa trách người chăn không chịu đi tìm kiếm chiên đi lạc cho nên chiên lạc vẫn xa bầy; Chúa trách người chăn không chịu nuôi chiên mà chỉ lo nuôi bản thân mình để chiên ốm o bệnh hoạn.
Chính Chúa, người chăn chân chính sẽ đi tìm kiếm chiên, cứu chiên, đem chiên về bầy, chăm sóc, chữa lành, chăn dắt chúng.
C. Người dạy phải như thế nào?
1. Người dạy phải là Cơ Đốc nhân thật.
Người dạy lẽ thật Cơ Đốc phải là một Cơ Đốc nhân thật. Về nguyên tắc, người dạy những vấn đề thuộc linh là người nắm giữ chìa khoá của Nước Trời. Chính vì đặc quyền này mà thường thường không mấy ai đặt vấn đề “tin Chúa chưa?” đối với người dạy những vấn đề thuộc linh. Chúng ta quen nghĩ rằng một khi đứng lên dạy Kinh Thánh thì đương nhiên đương sự đã tin Chúa. Nhưng sự thật không phải luôn luôn là như vậy.
Trong thực tế có những giáo viên Trường Chúa Nhật, những người hướng dẫn thiếu nhi, thiếu niên vẫn còn băn khoăn không biết mình có phải là con của Chúa chưa. Thậm chí có người còn hoàn toàn chưa quyết định dứt khoát tin Chúa.
Có người giống như tiền giả, giả nhưng trông rất thật. Nhiều người có hành vi Cơ Đốc nhân, nói năng như Cơ Đốc nhân… nhưng trong thâm tâm họ chưa bao giờ thừa nhận bản chất thật của mình, chưa bao giờ đối diện với thập tự giá nơi Chúa Giê-xu chịu chết vì tội lỗi của họ, chưa bao giờ kinh nghiệm thế nào là được cứu, thế nào là được sống lại từ cõi chết. Một đời sống chưa kinh nghiệm thì dù tài giỏi đến đâu cũng không thể nào có kết quả, không thể nào dẫn dắt học viên đến với Chúa được.
Khi người ta hỏi Chúa Giê-xu: “Chúng tôi phải làm gì để hoàn thành công việc của Đức Chúa Trời?” Chúa Giê-xu trả lời: “Công việc của Đức Chúa Trời là anh em tin Đấng Ngài đã sai đến” (GiGa 6:28-29). Nhiều người muốn làm công việc Chúa nhưng quên rằng phải có niềm tin trước khi làm công việc của Đức Chúa Trời. Sống làm một Cơ Đốc nhân thật, một môn đệ thật của Chúa Giê-xu là bước khởi đầu cho những ai muốn dấn thân vào công việc nhà Đức Chúa Trời.
Người dạy là một Cơ Đốc nhân thật hoặc giả thì chỉ có bản thân đương sự và chính Chúa biết rõ mà thôi.
2. Người dạy phải có ánh sáng thật.
Có bao giờ bạn thấy tiền giả chưa? Đôi khi chúng ta cầm trúng tiền giả mà không hề hay biết đó là tiền giả. Đặc điểm của tiền giả là giống y như tiền thật. Không bao giờ những người làm tiền giả lại rêu rao rằng tiền đó là tiền giả cả. Nếu người dạy là một Cơ Đốc nhân giả thì cũng làm như vậy. Người ngoài dễ lầm lẫn lắm.
Có thể ví người dạy với một cây đèn. Nhưng nếu là một Cơ Đốc nhân giả thì cây đèn này không sáng được vì không có dầu. Nhìn bên ngoài cứ như là thật, nhưng sâu xa toàn là giả. Là người dạy dỗ, lo dẫn dắt học viên ra khỏi quyền lực của tối tăm mà người dạy lại không có sự sáng thì tai hoạ sẽ nghiêm trọng ra sao?
Kinh Thánh là ánh sáng thật, Chúa Giê-xu là nguồn sáng thật, Đức Thánh Linh là Đấng dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật. Bạn có những điều đó trong cuộc đời của mình chưa?
Có câu chuyện về người gác tàu lửa tại một ga kia. Ông ta phải ra hầu toà vì trong đêm có ca trực của ông đã xảy ra tai nạn.
Quan toà hỏi: “Đêm hôm đó, vào giờ ông trực, ông thức hay là ngủ?”
Người gác tàu trả lời: “Thưa, tối đó tôi thức.”
“Ông có cầm cây đèn báo hiệu chứ?”
“Thưa, tôi có cầm cây đèn”
“Thế ông có đưa qua đưa lại để báo hiệu không?”
“Thưa, tôi có đưa qua đưa lại để báo hiệu.”
Sau khi được tha bổng, ông gác tàu nói riêng:
“Nếu quan toà hỏi: Cây đèn của ông lúc đó có sáng không, thì tôi không biết phải trả lời thế nào!”
Dù thức, dù có cầm đèn, dù có đưa qua đưa lại để báo hiệu nhưng đèn không có ánh sáng thì có ích lợi gì?
3. Người dạy phải thể hiện tình yêu thương thật.
Muốn gắn bó phải có tình yêu thương, tình yêu thương làm cho con người gắn bó. Hội Thánh Ê-phê-sô bị trách là đã bỏ tình yêu thương ban đầu. Đó là nguyên nhân làm cho họ sa sút.
Bạn có yêu thương học viên không? Hoặc là bạn bị ép buộc nhận công tác này trong khi thật ra bạn không muốn dấn thân và gắn bó với việc dạy Kinh Thánh?
Nếu bạn trả lời là có yêu thương học viên thì vẫn chưa đủ. Bạn cần tự hỏi xem bạn có thật sự yêu thương học viên không? Vì nếu bạn có tình yêu thương thật, tình yêu thương của bạn sẽ có phẩm chất tình yêu thương của Chúa. Bạn sẽ yêu thương như Chúa đã yêu thương. Nghĩa là tình yêu thương của bạn không phải chỉ dành cho học viên khi họ có mặt trong lớp, còn khi học viên ra khỏi lớp thì tình yêu thương và sự quan tâm cũng chấm dứt. Cũng không phải bạn chỉ yêu thương những học viên học giỏi, dễ thương, hát hay, y phục tươm tất...
Coi chừng tình yêu thương của bạn chỉ là cử chỉ thể hiện khi dạy Kinh Thánh tại lớp chớ không vượt ra khỏi lớp học, hoặc ngoài giờ học.
Người dạy thường chỉ chú ý đến những học viên giỏi nhất và kém nhất, hoặc chỉ chú ý đến những trẻ ngoan nhất và nghịch nhất. Còn về tình cảm thì thương yêu và quí những học viên học giỏi, có đạo đức, và tất nhiên ít có cảm tình nếu không nói là ghét bỏ những học viên học kém và nghịch ngợm.
Chúng ta rất dễ yêu thương những người ăn mặc đẹp đẽ, mặt mày sáng sủa còn lơ là với những người mặt mày khó coi, áo quần lôi thôi, dơ bẩn… Tình yêu thương của bạn đối với học viên có đồng đều không? Bạn có đối xử với học viên như nhau không?
4. Người dạy phải dạy dỗ có tác dụng.
Sau khi hoàn tất một giờ dạy, là giáo viên bạn nghĩ gì? Nhiều người thở phào nhẹ nhõm như đã trả xong món nợ. Yên tâm vì tuần tới đến phiên người khác rồi. Có người chưa dạy đã biết thất bại rồi, vì thật ra đâu có chuẩn bị gì cho giờ lên lớp. Có người cảm thấy không vui không buồn vì sinh hoạt Cơ Đốc như người máy vậy. Có người thấy vui, thoả lòng và háo hức chuẩn bị bài mới. Phản ứng của giáo viên sau khi dạy cho thấy ít nhiều bài dạy của họ tác dụng ra sao đối với học viên.
Có lẽ người dạy tự hỏi làm sao để đánh giá một bài dạy có tác dụng tốt? Có hai loại tác dụng:
(1)Tác dụng vô hình và lâu dài. Đó là loại tác dụng mà ta sẽ thấy trong tương lai. Đây là điều Châm Ngôn có đề cập: Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo; dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó.
(2)Tác dụng tức thời. Đây là loại tác dụng thấy rõ và thấy liền qua các học viên, qua thái độ hứng thú trong giờ học; qua những thay đổi trong suy nghĩ; thay đổi trong lời nói, việc làm; và nhất là qua việc tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của mình.
Khi bạn, người dạy:
có một đời sống Cơ Đốc thật,
có sự sống thật,
có tình yêu thật,
thì bài dạy của bạn sẽ:
có tác dụng tốt nhờ quyền năng của Thánh Linh.
Tóm lược _ Thảo luận
Người dạy cần biết mình đóng vai trò nào đối với học viên. Đôi khi người dạy vô tình trở thành những nhân vật mà mình không hề ngờ đến.
A. Giáo viên thuộc linh không phải là.
1. Người dạy Kinh Thánh không phải là cảnh sát.
Những biểu hiện nào cho thấy giáo viên trở thành cảnh sát:

Vì sao giáo viên rơi vào trường hợp này?


2. Người dạy Kinh Thánh không phải là nhà ảo thuật.
Ai có thể nghĩ giáo viên là nhà ảo thuật?


Vì sao giáo viên rơi vào trường hợp này?


3. Người dạy Kinh Thánh không phải là “người giữ trẻ”.


Vì sao người dạy trẻ rơi vào trường hợp này?


4. Người dạy Kinh Thánh không phải là nhà thông thái


Vì sao người dạy Kinh Thánh rơi vào trường hợp này?

Nếu người dạy không phải là



B. Người dạy Kinh Thánh là.
Gợi ý:
1.

2.

3.

C. Người dạy phải như thế nào?
1. Người dạy phải là .



2. Người dạy phải có .



3. Người dạy phải thể hiện .



4. Người dạy phải dạy bài học




Chăn bầy.
“Hãy ráng biết cảnh trạng bầy chiên con, Và lo săn sóc các đàn bò của con.”
(ChCn 27:23)
Ai khuyên ai?
Đây có thể là lời khuyên của một người cha khuyên con mình trong lãnh vực chăn nuôi. Có thể người cha này có nhiều kinh nghiệm chăn bầy, như ông Áp-ra-ham khuyên ông Y-sác, như ông Y-sác khuyên ông Gia-cốp, như ông Y-sai khuyên ông Đa-vít.
Cũng có thể là lời khuyên của người từng trải công việc chăn nuôi chỉ dẫn lại cho người mới bước vào nghề. Như thầy chỉ lại cho trò, sư phụ chỉ cho đệ tử, người đi trước chỉ dẫn cho người đi sau.
Cũng có thể một người trẻ tuổi đi chăn, sau một thời gian xem lại bầy đàn, thấy không có kết quả - chiên không lớn, hoặc chiên bị bệnh, hoặc chiên bị lạc mất hoặc bị chết… cho nên đi hỏi một người lớn tuổi, có kinh nghiệm và nhận được lời khuyên này.
Ai là người chăn? Hội chúng cho rằng mục sư là người chăn, hội chúng là bầy chiên. Còn những người khác như phụ tá mục sư, ban trị sự và chấp sự, trưởng ban ngành chỉ nhận họ là người giúp đỡ cho người chăn. Có người còn khiêm nhường hơn nữa, cho rằng mình chỉ là con vật trung thành của người chăn mà thôi. Nói chung ai cũng tránh nhận mình là người chăn. Nhưng thật ra Cơ Đốc nhân nào cũng có thể là người chăn: Các bậc trưởng lão, những người có trách nhiệm trong Hội Thánh, các bậc cha mẹ, các anh chị hướng dẫn thanh thiếu nhi, những người đang âm thầm chăm sóc người mới tin Chúa, các giáo viên Trường Chúa Nhật, lớp học Kinh Thánh… đều là người chăn.
Chúa Giê-xu là Cha khuyên chúng ta là Con của Ngài trong lãnh vực chăn bầy. Chúa Giê-xu, Đấng Chăn Lớn khuyên chúng ta những người chăn nhỏ. Chúa Giê-xu, Người Chăn Hiền Lành đầy kinh nghiệm, khuyên chúng ta những người mới tập tễnh chăn bầy, và cả những người chăn bầy lâu năm. Chúng ta muốn thành công trong việc chăn bầy, hoặc sau một thời gian, xem xét lại bầy đàn và thấy chưa có kết quả, chúng ta đến với Chúa và thưa với Ngài: “Chúa ơi, Ngài khôn ngoan hơn con, Ngài kinh nghiệm hơn con, xin chỉ cho con cách chăn bầy có kết quả. Xin giúp con”, thì đây là lời khuyên của Chúa dành cho chúng ta:
“Hãy ráng biết cảnh trạng bầy chiên con,
Và lo săn sóc các đàn bò của con.”
Một trong những nguyên tắc dạy là phải biết nội dung sẽ dạy và biết đối tượng sẽ học. Biết nội dung là biết sứ điệp sẽ truyền đạt; biết đối tượng sẽ học là biết con người. Mở đầu lời khuyên là “hãy ráng biết cảnh trạng”, hướng về việc hiểu biết đối tượng.
Phải có ước muốn biết đối tượng. Nhiều người thiếu tinh thần và ước muốn tìm hiểu. Chăn bầy nhưng không chịu ‘biết’ đối tượng mình chăn. Người chăn chiên phải biết chiên, chăn bò phải biết bò. Trồng cây phải biết cây, nuôi cá phải biết cá… Thầy phải biết trò, cha mẹ phải biết con cái, giáo viên phải biết học trò. Biết tên biết tuổi, biết ở đâu, biết gia đình của học viên, biết hoàn cảnh của từng người, biết tâm lý, biết học viên thích gì, ghét gì, biết vì sao vui, vì sao lại buồn….
Phải có trách nhiệm tìm hiểu đối tượng. Đây là công việc cần thiết của người chăn bầy. Để tìm hiểu chính xác cần có phương pháp (Xem xét kinh nghiệm bản thân, quan sát đối tượng, trắc nghiệm, đọc sách, tâm sự….). Kèm theo phương pháp cần có thời gian, vì không thể nào hiểu trong một sớm một chiều được. Muốn như vậy cần thêm một yếu tố nữa đó là nỗ lực của người muốn tìm hiểu.
Nhiều người chỉ biết cách sơ sài, biết cho có chuyện, biết không đến nơi đến chốn, biết nông cạn chưa thấu đáo. Vì sao? Vì không chịu vận dụng những phương pháp để tìm hiểu, không dành thời gian cho việc tìm hiểu, và không cố gắng, không nỗ lực để tìm hiểu.
Phải chịu khó, phải dành nhiều nỗ lực và thời gian trong việc tìm hiểu. Lời khuyên ở đây là ‘hãy ráng biết’, chữ biết ở đây có kèm theo từ ‘ráng’. Hãy cố gắng tìm hiểu , hãy nỗ lực để có thể hiểu được . Muốn ‘ráng’ bản thân người chăn cần cố gắng,
Người chăn bầy không kết quả vì bản thân người chăn không chịu khó tìm hiểu bầy đàn của mình. Đôi khi người chăn nghĩ rằng mình đã dành nhiều thì giờ cho bầy chiên nhưng thật ra không hoàn toàn như vậy. Người chăn có thể tốn rất nhiều thì giờ cho việc lo sửa chuồng chiên hoặc làm chuồng mới cho chiên, nhưng thử hỏi người chăn làm chuồng thật ra là vì chiên hoặc vì bản thân? Người chăn tốn thì giờ đi tìm những đồng cỏ là để cho chiên hay cho bản thân?
Các giáo viên dạy Kinh Thánh dành bao nhiêu thì giờ để tìm hiểu học viên (nói chuyện riêng với từng học viên, thăm viếng từng học viên, cầu nguyện với từng học viên, quan sát hành vi, lời nói của từng học viên, đọc sách về tâm lý con người…), có lẽ rất ít, thậm chí hầu như không có. Có thể họ dành nhiều thì giờ họp hành, dành nhiều thì giờ huấn luyện tay nghề, dành nhiều thì giờ soạn bài dạy… Nhưng nếu không ‘ráng biết cảnh trạng bầy chiên’ của mình thì làm sao có thể tìm đúng phương cách để nuôi nấng và chăm sóc họ?
Một số phụ huynh than thở: “Tôi không hiểu nổi con cái”. Vài thầy cô nói: “Tôi không hiểu nổi đám học trò”, có khi người chồng nói: “Tôi không hiểu nổi bà vợ tôi”… Vì sao? Vì không nỗ lực, không dành thì giờ và không có phương pháp trong việc tìm hiểu. Cha mẹ không lo tìm hiểu con cái, không chịu dành thì giờ nói chuyện với con, họ chỉ lo kiếm tiền cho con đi học, họ dành thì giờ cho những công việc khác. Kết quả là gì? Con còn đó, nhưng đã mất rồi, nó lớn phần xác nhưng hư phần hồn, nó tốt tướng nhưng xấu nết.
Giáo viên dạy thiếu nhi cũng vậy, nếu không lo tìm hiểu các thiếu nhi, không dành thì giờ cho các em; thì dù có được huấn luyện, dù có hát hay, soạn bài tốt, nhưng vì không biết thiếu nhi cho nên dạy không có tác dụng, thay vì cho uống sữa lại cho ăn cơm, thay vì cho ăn cháo lại cho ăn xôi. Cho nên nó đau bao tử, lủng ruột mà chết. Dạy hay nhưng không phù hợp thì không thể kết quả được.
‘Biết cảnh trạng’ cũng là thừa nhận tình trạng bầy đàn của mình. Chúa Giê-xu kể ẩn dụ Con Chiên Đi Lạc, nói về một người có một trăm con chiên và có một con đi lạc (Mat Mt 18:12-14). Đây là người chăn có đàn chiên, biết chính xác số lượng chiên của mình, biết tình trạng của chiên, cho nên khi lạc mất một con thì biết và đi tìm ngay. Điều khá lạ lùng là nhiều người chăn ngày hôm nay không biết rõ mình có bao nhiêu chiên. Lớp cô phụ trách có bao nhiêu em? Câu trả lời thường là hai mươi mấy, người lớp khác thì nói ba mươi mấy, cộng đồng lớn hơn thì nói trăm mấy…
Một điều lạ lùng nữa là chúng ta không dám nhìn nhận tình trạng bầy đàn của mình. Nhiều giáo viên cho rằng mình dạy tốt thì làm sao có những con chiên lạc, làm sao có những học trò Cơ Đốc kém cỏi được. Còn những bậc cha mẹ ‘biết cảnh trạng’ của con mình nhưng lại không chịu thừa nhận vì sĩ diện, sợ mất uy tín hoặc cho rằng gia đình mình yêu mến Chúa thì con cái phải ngoan. Cho nên cứ nói: “Con tôi ngoan lắm, con tôi giỏi lắm, con tôi yêu mến Chúa lắm.” Thầy giáo biết tình trạng của học sinh của mình, nhưng không chịu thừa nhận. Cách giải quyết là “dùng tình yêu thương (thiếu hiểu biết) để che đậy vô số tội lỗi”. Thử hỏi nếu đã là ‘con ngoan trò giỏi’ rồi thì cần gì đến việc giáo dục nữa? Chúa Giê-xu nói: “Người bệnh mới cần thầy thuốc.”
Nếu bạn là người chăn nhưng trong bầy của bạn có những con chiên yếu ớt, bệnh hoạn, hư hỏng và đang lạc mất, bạn hãy thừa nhận, đừng sợ hãi và mất hi vọng. Vì thừa nhận tình trạng của một người không có nghĩa là chấp nhận cứ để người đó ở mãi tình trạng như vậy.
Khi đã biết, đã thừa nhận ‘cảnh trạng’ bầy đàn của mình, thì sau đó mới có thể ‘săn sóc’ chúng được.
Muốn biết cảnh trạng bầy đàn ta phải ‘ráng’, phải cố gắng và tốn thì giờ; muốn ‘săn sóc’ hiệu quả ta phải ‘lo’. Trong chữ ‘ráng biết’ bao gồm sức lực của trí tuệ, thì trong chữ ‘lo săn sóc’ bao gồm tình thương của con tim. Cả hai đều cần phương pháp kèm theo nỗ lực, lòng kiên trì và thời gian. Nhiều người dạy dỗ nhưng thiếu cả lòng nhiệt thành của cả khối óc lẫn con tim, nếu không nói là lơ là, khinh xuất, coi thường công tác giáo dục Cơ Đốc.
‘Lo’ ở đây hình ảnh của tình yêu thương, của trái tim nhiệt thành và của hành động nhiệt thành . Mẹ lo cho con không những thương con mà còn tảo tần vất vả vì con; thầy lo cho trò không phải chỉ yêu thương trò mà còn hết lòng chỉ bảo dạy dỗ trò.
Nhiều người chăn bầy, chỉ ‘chăn’ nhưng không hề ‘lo chăn’, nghĩa là không hết lòng yêu thương và không hết lòng hành động vì bầy chiên. Nhiều giáo viên dạy thiếu nhi trong Hội Thánh, họ có dạy thiếu nhi, nhưng họ không thật sự ‘lo’ dạy dỗ các em, họ không có tình yêu thương như Chúa yêu thương, không hề có hành vi sẵn sàng vì bầy chiên như Chúa sẵn sàng vì bầy chiên. Cho nên săn sóc qua loa, chiếu lệ, cho ăn uống sơ sài, toàn cỏ khô, uống toàn nước đắng, có người thay vì ‘chăn chiên’ lại đi ‘ăn chiên’, có người thay vì yêu thương chiên thì lại ghét bỏ chiên, thay vì đem chiên vào chuồng thì lại làm cho tan tác, thay vì chết thay cho chiên, chịu đau thế chiên, họ lại bắt chiên bị đau, chịu chết thay cho họ.
‘Lo săn sóc’ cũng nói lên cách chăn bầy có phương pháp thích hợp. Nếu đã hiểu rõ đối tượng thì sẽ săn sóc đúng phương pháp, đúng cách thức. Thí dụ: chúng ta biết trẻ thích hoạt động, ta sẽ tổ chức hoạt động trong giờ học (thay vì bắt trẻ ngồi yên mà nghe); chúng ta biết trẻ thích tìm tòi khám phá, ta sẽ ‘lo’ sao cho trong giờ dạy trẻ được thấy hình ảnh, thị cụ minh hoạ, hoạt động…
Phương pháp không thích hợp là vấn đề cần lưu ý trong việc dạy dỗ. Một trong những lý do làm cho người học có phản ứng tiêu cực đối với Kinh Thánh là do phương pháp dạy. Người học đến lớp chỉ vì thích một điều gì đó nhưng giáo viên lại dạy Kinh Thánh với một phương pháp nào đó làm cho người học rơi vào tâm trạng không thích, hoặc trở nên ghét Kinh Thánh.
Có học viên nói: “Tôi muốn học Kinh Thánh, nhưng sau khi đến với lớp học Kinh Thánh tôi chẳng còn thiết tha gì tới việc tìm hiểu Kinh Thánh nữa!” Nguyên nhân là do phương pháp dạy của giáo viên không những chẳng gây hứng thú mà còn làm cho học viên nản lòng nữa.
Qua câu Kinh Thánh:
“Hãy ráng biết cảnh trạng bầy chiên con,
Và lo săn sóc các đàn bò của con.”
(ChCn 27:23)
về phương diện tiêu cực, những người dạy dỗ có thể:
+ Không hiểu biết đối tượng họ dạy dỗ.
+ Không hiểu biết nội dung sứ diệp họ dạy dỗ.
+ Không biết sử dụng các phương pháp dạy dỗ.
Bạn hãy nhớ ba điều trong giáo dục:
+ Biết con người,
+ Biết nội dung,
+ Biết vận dụng phương pháp.
Tóm lược _ Thảo luận
Hãy ráng biết cảnh trạng bầy chiên con, Và lo săn sóc các đàn bò của con.
(ChCn 27:23)
1. Ai khuyên ai?

2. Ai là người chăn?

3. Biết cảnh trạng bầy chiên nghĩa là:
“Ráng biết cảnh trạng bầy chiên” nghĩa là:

Làm thế nào để biết bầy chiên? Nêu cụ thể.



4. Lo săn sóc nghĩa là:


Làm thế nào để săn sóc bầy chiên cách hiệu quả? Nêu cụ thể.




5. Người dạy có thể gặp những trở ngại nào trong công tác giáo dục?




6. Ghi nhớ.



Hiểu người
Giáo viên dạy ngoại ngữ phải biết ngoại ngữ. Tuy nhiên không phải tất cả những người biết ngoại ngữ đều có thể dạy ngoại ngữ. Người dạy cần hiểu biết điều mình dạy nhưng cũng cần hiểu biết người mình dạy.
Con người có tri thức, tình cảm và hành vi. Có thể dùng hình ảnh cái đầu tượng trưng cho tri thức, hình ảnh trái tim tượng trưng cho tình cảm, tay chân tượng trưng cho hành vi và nền tảng là Chúa Cứu Thế.
Bạn thử nhận xét về ba loại người Cơ Đốc dưới đây.
1. Người thứ nhất là người Cơ Đốc có đầu to, tim nhỏ, tay chân nhỏ (Hình 2).
Đây là người học cao hiểu rộng. Nếu là một thiếu nhi thì thuộc rất nhiều câu gốc, biết nhiều câu chuyện trong Kinh Thánh. Nếu là một thanh niên, có thể gọi là một ‘triết gia Cơ Đốc’, anh ta có thể bàn về Kinh Thánh rất hay, rất trí tuệ, có thể nắm vững những giáo lý Cơ Đốc, nhiều kiến thức về thần học, những nguyên tắc trong Kinh Thánh. Anh ta không bao giờ thất bại trong các cuộc tranh luận về Cơ Đốc giáo. Là người Cơ Đốc chỉ chú trọng đến ‘cái đầu’ cho nên cuộc sống Cơ Đốc của anh ta chỉ hoạt động ‘từ cổ trở lên’ mà thôi.
Về kiến thức anh ta nắm rất rõ về cuộc đời của Chúa Cứu Thế vì đã bỏ ra nhiều năm tháng để nghiên cứu về Chúa Giê-xu một cách có hệ thống thông qua việc đến lớp học Kinh Thánh, nghe giảng tại Hội Thánh, tự học qua tài liệu sách vở… Nhưng những nỗ lực của người học và người dạy chỉ giúp anh ta phát triển từ cổ trở lên mà thôi, điều đó làm anh ta sinh ra tự cao, tự mãn nhưng không quan tâm giúp đỡ phục vụ ai cả.
Theo thời gian, càng học anh ta càng to đầu còn tim và tay chân vẫn vậy hoặc teo tóp dần, từ con người thông minh phi thường dần dần trở thành con người bất thường và dị thường. Sinh hoạt chính của con người này là ngồi và nằm. Còn đi lại, làm việc thì rất khó khăn, vì để giữ cho được cái đầu to trên thân thể nhỏ bé cũng là mệt rồi lắm rồi cho nên về phần thuộc linh người này không hữu dụng gì cả mà còn cần người khác an ủi, chỉ dẫn sống cho đúng theo tinh thần Cơ Đốc.
Những hoạt động của người này chỉ nằm trong phần trí tuệ. Anh ta thuộc nhóm ngồi và nằm. Chỉ ngồi một chỗ để nghe, nhìn, suy tư, nghiên cứu, học hỏi. Biết nhiều cho nên nói nhiều, xét đoán nhiều, chỉ trích nhiều gây rạn nứt, đổ vỡ, bất hoà trong tập thể Cơ Đốc (Hình 2a và 2b).
Có một thanh niên kia, trong nhà thờ nói rất hay, thảo luận về Kinh Thánh rất lanh lẹ, nhiều người tán đồng về cách lập luận của anh ta. Nhưng khi sống ngoài xã hội anh ta lại là người chuyên đi xe lửa lậu, và ra tỏ ra rất tự hào về chuyện đó. Cái đầu to với những lý luận Cơ Đốc chẳng giúp gì cho cách sống của bản thân anh ta cũng chẳng giúp ích gì cho ai cả. Anh ta như thầy tế lễ và người Lê-vi đứng trước người bị nạn bên đường, dù trí tuệ đến mấy, họ chẳng đem lại ích lợi gì cho nạn nhân mà còn có thể gây đau lòng, vấp phạm và ô danh Chúa.
Hình 2a
Hình 2b
Thử tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra nếu trong cộng đồng Cơ Đốc chỉ gồm toàn những con người phát triển ‘từ cổ trở lên’? Thật ra không phải họ chào đời trong đại gia đình của Đức Chúa Trời với tầm vóc kỳ dị như vậy, nhưng tiến trình Cơ Đốc giáo dục đã tạo ra những con người này. Chúng ta chỉ lo cung cấp cho thật nhiều kiến thức Kinh Thánh, kiến thức giáo lý, hệ thống thần học; rồi đến những phương pháp, kỹ thuật… Nói cách khác là chỉ nhấn mạnh phần trí tuệ.
Chẳng hạn như chúng ta luôn luôn nghe câu hỏi này: “Tuần này, ai thuộc câu gốc?” nhưng chưa bao giờ nghe câu hỏi: “Trong tuần vừa qua, có ai thực hiện điều câu Kinh Thánh này dạy?” Hoặc chúng ta thường nói: “Các bạn có nhớ tuần rồi chúng ta học về nhân vật nào trong Kinh Thánh không?” nhưng không bao giờ nói: “Có bạn nào suy nghĩ và và đã làm một việc tương tự như ông Ê-li đã làm không?”
2. Người thứ nhì là người Cơ Đốc có tim to còn đầu nhỏ, tay chân cũng nhỏ (Hình 3).
Hình 3
Chúng ta không bàn về những người đang tìm hiểu về Chúa Cứu Thế, có thể họ có những tình cảm tốt đối với Chúa và Phúc Âm, nhưng chưa quyết định tin Chúa. Chúng ta bàn về người nhận mình là Cơ Đốc nhân nhưng chỉ sống bằng cảm xúc Cơ Đốc.
Con người với trái tim thật to này có rất nhiều cảm xúc Cơ Đốc. Từ khi đi nhà thờ trái tim bé bỏng này đã chịu ảnh hưởng của những trái tim chỉ biết thổn thức khi nghe giảng, những rung động trong tiệc thánh, những cảm xúc nhất thời đối với nhà thờ, với lời Chúa, với những lời dạy dỗ chợt đến nhưng cũng chóng qua. Hằng tuần, hằng tháng hoặc mỗi quý cảm xúc Cơ Đốc làm cho con tim người này rung động dữ dội qua bài giảng, lễ Tiệc Thánh hoặc trong những dịp bồi linh. Đặt biệt khi có những sứ giả phục hưng thì cảm xúc Cơ Đốc trong lòng lại dâng lên dữ dội.
Những cảm xúc nhiệt thành của người này có đặc điểm là (1)mau đến và cũng mau qua, như lửa rơm nhanh bùng lên nhưng cũng tắt ngấm ngay sau đó; và (2)chẳng bao giờ có hành động tương xứng với cảm xúc. Người này có thể khóc lóc quỳ gối gọi là ăn năn sau khi nghe giảng với những lời hứa nguyện rất tha thiết và cảm động nhưng sau khi hát Ha-lê-lu-gia, ra khỏi nhà thờ thì đâu lại vào đó. Đây là hình ảnh những người “lấy nước mắt, khóc lóc, than thở mà che lấp bàn thờ Đức Giê-hô-va” (MaMl 2:13). Cho nên sau nhiều năm theo Chúa, dù rất nhiều lần cảm động và thưa với Chúa nỗi lòng của mình, nhưng cuộc đời của người này vẫn không có gì thay đổi. Trái tim cứ to dần lên còn tay chân thì không phát triển tương xứng.
Những người có trái tim quá khổ thường được được giới thiệu là những người có tấm lòng. “Anh ấy có tấm lòng lắm!” “Chị đó là người có tâm tình”. Khi quan sát kỹ đời sống của những ‘người Cơ Đốc có tâm tình’ chúng ta nhận ra một điều là nếp sống Cơ Đốc của họ chỉ dừng lại ở tấm lòng mà thôi. Họ nói năng, chia sẻ nghe như có tấm lòng hăng say, họ cầu nguyện với tâm tình thật tốt, nhưng chẳng thấy có hành động gì tương xứng với lời nói cả. Họ chẳng khác gì những người luôn miệng nói yêu thương, luôn nói về đức tin nhưng chẳng bao giờ thấy việc làm. Có lắm người hướng dẫn thiếu niên thường nói: “Tôi thương bọn trẻ lắm!” nhưng chẳng làm việc gì cụ thể cho bọn trẻ cả. Đây là hình ảnh của người nói yêu nhưng không bao giờ chịu tiến đến đám cưới. Có cảm xúc, có tình cảm nhưng không bao giờ chịu gắn bó qua hành vi. Yêu thương linh hồn tội nhân nhưng không lo dấn thân cứu người; yêu thương những người khuyết tật nhưng chẳng làm gì cụ thể giúp họ; yêu mến Lời Chúa nhưng không bao giờ chịu học và làm theo lời Ngài…
Trong cộng đồng Cơ Đốc có nhiều người Cơ Đốc to tim thì sẽ thế nào? Vì là ‘người Cơ Đốc lãng mạn’ cho nên con người này thường sống ở trên mây. Họ suy nghĩ và nói về những chuyện cao xa và dừng lại ở đó. Người Cơ Đốc to tim sẽ tạo nên những cảm xúc mãnh liệt trong hội chúng, tuy nhiên cộng đồng Cơ Đốc đó chỉ có những đám mây vần vũ nhưng mưa không bao giờ rơi cả, chỉ toàn là những cảm xúc nhưng không có hành vi. Rồi vì sống theo cảm xúc cho nên họ chỉ có những quyết định nửa vời, họ trở nên biếng nhác đối với công việc và trở thành những người sốt sắng bằng miệng.
Người Cơ Đốc lãng mạn có thể rơi vào hai trường hợp. Một mặt họ bị lương tâm cắn rứt, luôn luôn cảm thấy có lỗi, thấy mình không xứng đáng với Chúa. Thế nhưng khi trở nên rất uỷ mị họ cũng trở nên rất chai lì khi tự lừa dối bản thân và cho rằng so với người khác họ cũng là người yêu mến Chúa. Sau bài giảng chúng ta thường nghe những lời cầu nguyện rất cảm động kèm theo câu: “Xin Chúa đừng để chúng con lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình”, và lời cầu nguyện này được lập đi lập lại nhiều lần trong những năm tháng theo Chúa. Một khi con người để cho sứ điệp Cơ Đốc dừng lại ở cảm xúc với những lời hứa thì chẳng bao lâu con người đó sẽ quen với tình trạng của bản thân. Đã quen rồi thì dần dần sẽ trở nên chai lì, không còn cảm thấy xúc động gì nữa.
Một ‘giáo viên Cơ Đốc to tim’ sẽ dạy Kinh Thánh như thế nào? Người đó sẽ truyền đạt những gì cho học viên? Tấm gương mà người đó để lại cho học viên là gì? Chắc chắn việc để cho cảm xúc hướng dẫn đời sống không giúp cho người dạy lẫn người học trưởng thành theo đúng với lời Chúa.
Thật đáng tiếc cho những người Cơ Đốc to tim, phải chi họ bớt đắm đuối trong cảm xúc, phải chi họ chịu vận động một chút thì bản thân họ sẽ khoẻ lên và cộng đồng Cơ Đốc đã thay đổi.
3. Người thứ ba là người Cơ Đốc có tay chân to còn đầu nhỏ, tim nhỏ (Hình 4).
Đây là người Cơ Đốc chuyên hành động. Người này hoạt động rất nhiều, có thể gọi là tả xung hữu đột, chịu khó chịu nhọc, hay lam hay làm. Đi nhà thờ nhiều lần trong tuần, xung phong làm hết việc này đến việc kia, từ chuyện dạy thiếu nhi đến việc dạy Trường Chúa Nhật, đi thăm viếng chăm sóc, chứng đạo… Không ai làm việc bằng anh ta, không ai bận rộn bằng anh ta. Có thể gọi đây là một ‘người Cơ Đốc đa năng’ hoặc ‘người Cơ Đốc cơ bắp’ hoặc ‘Cơ Đốc nhân siêu hạng’.
Cơ Đốc nhân theo kiểu ‘cơ bắp’ có rất nhiều thế mạnh. Cơ cấu tổ chức và những hoạt động của nhà thờ tuỳ thuộc nhiều vào nhóm ‘người Cơ Đốc cơ bắp’ này. Đây là những con người nổi danh về sự cống hiến và phục vụ. Con người này lấy công việc, sự phục vụ làm thước đo cho đời sống thuộc linh, tưởng rằng càng phô trương cơ bắp thì càng là người thuộc linh. Lời cầu nguyện của người Pha-ri-xi trong Ẩn dụ Người Pha-ri-xi và Người thu thuế (LuLc 18:9-14) cho thấy có những người dựa vào thành tích cá nhân để kể công với Chúa.
Người Cơ Đốc chuyên hành động cũng rất dễ so sánh mình với người khác, như người Pha-ri-xi lên Đền Thờ cầu nguyện nhưng chỉ để so sánh ông ta với người thu thuế và nghĩ rằng mình hơn người; hoặc để bất mãn với người khác, như cô Ma-thê bất mãn với cô Ma-ri, vì cho rằng công việc phục vụ mới là thành tích. Kèm theo là tánh hay phàn nàn với Chúa vì cho rằng mình phải làm nhiều việc trong khi người khác chỉ biết ngồi chơi xơi nước.
Tuy nhiên con người cơ bắp này cũng có yếu điểm về mặt tri thức. Sự hiểu biết của đương sự rất cạn cợt, cho nên dù làm nhiều nhưng làm đâu là hư đó vì không biết Kinh Thánh, không hiểu gì về Chúa, về giáo lý; hoặc vì không biết phương pháp làm việc cho nên tốn rất nhiều thời gian để hoàn tất công việc.
Trong Cộng đồng Cơ Đốc chúng ta nghe nhiều lời khích lệ hướng về công việc: Hãy hầu việc Chúa, hãy ra đi làm chứng, hãy chăm sóc, hãy làm điều này điều kia… nhưng không hướng dẫn cách thức hầu việc Chúa cho nên nhiều người tham gia vào những công việc của hội thánh nhưng rất lúng túng và thường thất bại và thất vọng.
Nhiều người có tấm lòng, có thiện ý, kèm theo họ cũng có công việc cụ thể, nhưng vì thiếu tri thức cho nên công việc không đạt được kết quả như mong muốn. Nhiều người yêu linh hồn tội nhân, sốt sắng đi làm chứng, nhưng không biết cách làm chứng; nhiều người có tinh thần ra đi chăm sóc tân tín hữu, nhưng vì không có phương pháp nên làm nhiều tân tín hữu rút lui khỏi Hội Thánh; nhiều người yêu mến thiếu nhi, nhận dạy các em nhưng không có phương pháp cho nên các em không thèm đến lớp.
Tại Hội Thánh kia, một nhóm trung niên được mời phụ trách dạy thiếu nhi. Họ rất năng nổ, chịu khó, nhưng điều đặc biệt là chẳng có ai trong họ chịu tham dự một khoá huấn luyện dạy thiếu nhi. (Còn những tín hữu trẻ từng được huấn luyện lại bị cho ra rìa và lại trở thành người dạy thiếu nhi ở những hội thánh khác). Vì chủ quan, tự mãn cho nên nhóm phụ trách thiếu nhi vướng phải rất nhiêu sai trật trong việc chọn tài liệu dạy, trong việc mời người dạy trẻ, trong phương pháp giáo dục. Đây là hình ảnh những người có tim to, tay chân to nhưng cái đầu lại quá nhỏ (Hình 5)
Người chỉ biết hành động đôi khi là người đang bỏ qua hoặc đang trốn chạy sự tương giao. Nhiều người chỉ theo đạo, thực hiện những nghi thức tôn giáo, chú trọng đến hành vi bề ngoài hơn là niềm tin từ tấm lòng. Có Cơ Đốc nhân phạm tội đã thay thế cho việc ăn năn bằng cách lao vào những công tác gọi là hầu việc Chúa. Có người lo phục vụ Hội Thánh đến nỗi đánh mất sự tương giao với Chúa. Người chưa tin Chúa, người tin Chúa nhưng đang phạm tội, những người tin Chúa đang phục vụ Ngài đều có thể trở thành những người to tay và to chân.

Nền tảng của Cơ Đốc Giáo dục là Lời Chúa, là Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên:
Cơ Đốc Giáo Dục thất bại khi chỉ cung cấp kiến thức Cơ Đốc mà không thôi thúc ước muốn thể hiện những điều con người hiểu biết và yêu mến.
Cơ Đốc Giáo dục thất bại khi chỉ dùng sự hiểu biết Cơ Đốc để gây xúc động theo kiểu “lấy nước mắt, khóc lóc, than thở mà che lấp bàn thờ Đức Giê-hô-va” (MaMl 2:13).
Cơ Đốc Giáo dục cũng thất bại khi chỉ chú trọng đến hành vi Cơ Đốc mà không giải thích vì sao phải làm như vậy; hoặc chỉ chú trọng đến hành động bên ngoài mà không thấy được hành vi đó có phát xuất từ tình yêu thương và sự hiểu biết hay không; hoặc chỉ chú trọng đến con người bề ngoài mà không quan tâm đến con người bề trong.
Cơ Đốc Giáo dục chỉ hoàn hảo khi cả ba yếu tố tri thức Cơ Đốc được cung cấp, tình cảm Cơ Đốc được ươm tưới, gây dựng và hành vi Cơ Đốc được chỉ dẫn và hướng dẫn cách quân bình.
Ngày nay nhiều Cơ Đốc nhân sống đời sống Cơ Đốc thất thường vì cớ tri thức Cơ Đốc quá nhiều mà tình yêu thương và nếp sống Cơ Đốc bị hạn chế; hoặc vì tình cảm Cơ Đốc quá nhiều nhưng lại không có hành vi, hoặc vì thiếu hiểu biết nên phát sinh hành vi lệch lạc; hoặc chỉ chú trọng đến hành vi Cơ Đốc nhưng lại thiếu sự hiểu biết và không có tình yêu thương nên sống làm Cơ Đốc nhân ro-bot.
Chúng ta cần xem xét lại những bất thường và những thất thường trong chính chúng ta là nhà giáo dục Cơ Đốc, và phát hiện những bất thường và thất thường trong học viên để điều chỉnh lại cho quân bình.
Như vậy chúng ta phải bắt đầu từ đâu? Phải chăng từ tri thức Cơ Đốc? Không hẳn phải là như vậy. Có những công tác giáo dục bắt đầu từ tâm trí, nhưng cũng có những công tác giáo dục bắt đầu ở tình cảm hoặc hành vi, tuỳ theo từng trường hợp. Tuy nhiên dù bắt đầu ở yếu tố nào giáo dục Cơ Đốc cũng phải đầy đủ ba yếu tố tri thức, tình cảm và hành vi.
Dạy học viên hiểu biết lời Chúa, yêu mến lời Chúa và làm theo lời Chúa.
Dạy học viên biết Chúa Giê-xu là ai, yêu mến Chúa Giê-xu và sống noi gương Chúa Giê-xu.
Dạy học viên biết nếp sống Cơ Đốc là gì, có ước muốn sống nếp sống Cơ Đốc, và sống thể hiện nếp sống đó.
Vì sao trong một bài dạy, khi soạn giáo án giáo viên cần xử lý ba khía cạnh: Kinh Thánh dạy học viên (1)Hiểu biết về điều gì? (2)Yêu mến hoặc ghét điều gì? Và (3)Làm việc gì? (Thay đổi thái độ, có hành động thích hợp với điều mình hiểu và yêu mến)
Vì sao giáo viên cần xem xét lại thời gian biểu của bài dạy? Vì chúng ta hầu như dành trọn thời gian nhồi nhét Kinh Thánh vào đầu học viên hoặc lo giúp học viên khám phá và yêu mến Lời Chúa, rồi phát hiện những nguyên tắc Kinh Thánh và tập thực hành những nguyên tắc đó trong lớp, tại gia đình, trường học, xã hội… Thí dụ: Chúng ta dạy về người Xa-ma-ri thương người, ai cũng hiểu, ai cũng cảm động. Nhưng không học viên nào đi đến với người nghèo, người đau ốm, người khuyết tật để giúp đỡ họ vì chúng ta không dành thời gian dẫn dắt học viên vào việc làm cụ thể trong thực tế. Cần uốn nắn, dẫn dắt học viên cách cân đối giữa sự hiểu biết - tình cảm - hành vi.
Một trong những cách giúp chúng ta điều chỉnh phương pháp dạy là xem xét lại câu hỏi và cách hỏi của chúng ta.
-Câu hỏi của bạn thường nhắm vào khía cạnh nào? Trí tuệ, tình cảm hoặc hành vi của học viên?
Khi hỏi: “Em có biết ….” bạn nhấn mạnh đến trí tuệ.
Khi hỏi: “Em nghĩ gì về…” bạn nhấn mạnh đến trí tuệ và tình cảm.
Khi hỏi: “Em có cảm tưởng gì…” bạn nhấn mạnh đến tình cảm.
Khi hỏi: “Em sẽ làm gì khi…” bạn nhấn mạnh đến hành vi và phương pháp.
-Câu hỏi của bạn nhấn mạnh đến cá nhân hoặc tập thể?
Khi bạn hỏi: “Các em biết gì về ông Phao-lô?” thì câu hỏi của bạn mang tính tập thể (các em). Khác với câu hỏi: “Em Vũ, em biết gì về ông Phao-lô?” thì câu hỏi của bạn mang tính cá nhân (em Vũ).
-Bạn dạy bài để khích lệ học viên hiểu biết thật nhiều về Kinh Thánh; hoặc gây cảm xúc nhiều nơi học viên; hoặc chỉ dẫn cho học viên cách thực hiện điều Kinh Thánh dạy? Trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ nhận ra rằng nội dung giờ dạy Kinh Thánh của chúng ta nhắm nhiều vào trí tuệ và chỉ đụng chạm đến tập thể ‘các em’ mà không mang tính toàn diện và cho từng đối tượng. Ngay cả khi chúng ta dạy một câu chuyện Chúa Giê-xu kể nhắm đến việc khuyên giục cá nhân và khích lệ cách sống yêu thương (Chúa Giê-xu kể câu chuyện Người Xa-ma-ri Nhân Lành - LuLc 9:25-37, phát xuất từ một thắc mắc mang tính cá nhân: “Tôi phải làm gì….” Sau khi kể xong câu chuyện, câu hỏi của Chúa nhắm vào cá nhân: “Theo ông, trong ba người ấy, ai là người láng giềng của nạn nhân?”. Rồi Chúa khích lệ việc thực hiện, cũng là câu nói nhắm vào cá nhân: “Ông hãy đi và làm như vậy.”) thì những người dạy Kinh Thánh ngày nay cũng chỉ dừng lại ở việc truyền đạt câu chuyện Chúa kể, kèm theo là những câu hỏi nhắm vào tập thể lớp học và lời kêu gọi mang tính khẩu hiệu (là con cái Chúa, chúng ta phải yêu thương….) Đó là lý do khiến cho những người đi học Kinh Thánh ngày hôm nay trở thành những ‘Cơ Đốc nhân to đầu’ và dửng dưng trước những việc xảy ra quanh họ.
Người ta nói rằng cứ 100 người Cơ Đốc thì 10 người bỏ nhà thờ, 80 người đến nhóm lại nhưng không làm gì, và chỉ có 10 người tham gia những công tác của Hội Thánh. Vì sao trong 100 người Cơ Đốc có đến 80 người Cơ Đốc thụ động? Có nhiều nguyên nhân, nhưng chắc chắn một trong những nguyên nhân là do đường lối giáo dục trong Hội Thánh.
Điều khó khăn của người dạy Kinh Thánh là truyền đạt kiến thức, là khơi dậy tình cảm hoặc là chỉ dẫn cách sống cho học viên? Là người dạy, có thể bạn suy nghĩ nhiều đến phương pháp, điều đó không sai. Tuy nhiên điều rõ ràng nếu người dạy chẳng có kinh nghiệm về những gì mình đang nắm giữ thì người đó sẽ chẳng làm được gì ngoài việc truyền thụ một mớ kiến thức Cơ Đốc. Bạn có thể dạy về cách làm chứng nhưng có thể bạn chưa bao giờ làm chứng cho ai cả. Bạn dạy về sự cầu nguyện nhưng bạn không kinh nghiệm về sự cầu nguyện. Bạn dạy về hi sinh, trả giá cho đời sống theo Chúa nhưng có thể bạn vẫn chưa sống theo những điều bạn dạy.
Bản thân người dạy cũng cần tự hỏi hiết đâu mình thuộc loại to đầu, hoặc to tim, hoặc to tay chân. Đôi khi người dạy là những thầy cô ‘dị tướng’ cho nên học viên khó mà trở nên quân bình vì thầy cô ra sao thì học trò như vậy.
Có khi nào người dạy thuộc loại ‘to đầu’ hoặc ‘to tim’ không? Người dạy nên làm gì với các loại học viên chỉ ‘to đầu’, ‘to tim’ và ‘to tứ chi’?
Mời bạn vẽ ra hình ảnh biểu tượng về con người Cơ Đốc ở trong bạn. Xin ghi ra ưu điểm hoặc khuyết điểm bạn phát hiện được. Bạn cần ‘vẽ chính mình’ trước khi ‘vẽ học trò’. Người dạy cần chấm điểm chính mình trước khi chấm điểm học trò.
Mời bạn vẽ ra hình ảnh biểu tượng về con người Cơ Đốc trong học viên của bạn hiện nay. Ghi ra những ưu điểm đã đạt đến, và những khuyết điểm cần loại bỏ.
Cuối cùng xin vẽ ra hình ảnh biểu tượng về con người Cơ Đốc mà chính bạn muốn có và muốn học viên bạn đạt được.
Tóm lược _ Thảo luận
Ta thử dùng vài hình ảnh để hiểu về con người trong công tác giáo dục. Con người có tri thức, tình cảm và hành vi. Ta dùng hình ảnh cái đầu tượng trưng cho tri thức, hình ảnh trái tim tượng trưng cho tình cảm, tay chân tượng trưng cho hành vi và nền tảng là Chúa Cứu Thế.

Đừng làm nửa vời.

10 Vả, khi A-tha-li, mẹ của A-cha-xia, thấy con trai mình đã chết, bèn chỗi dậy diệt cả dòng giống vua Giu-đa. 11 Nhưng Giô-sa-bát, con gái của vua, bồng trộm Giô-ách, con trai của A-cha-xia, đem khỏi vòng các con trai vua mà người ta toan giết, rồi để nó và người vú nó trong phòng ngủ. Như vậy Giô-sa-bát, con gái của vua Giô-ram, vợ thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, giấu Giô-ách khỏi trước mắt A-tha-li, và A-tha-li không giết nó được; Giô-sa-bát là em gái của A-cha-xia. 12 Giô-ách được ẩn giấu với họ trong sáu năm tại đền thờ của Đức Chúa Trời, còn A-tha-li cai trị trên xứ.
(IISu 2Sb 22:10-12)

1 Giô-ách được bảy tuổi khi người lên làm vua; người cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem, mẹ người tên là Xi-bia, quê ở Bê-e- Sê-ba. 2 Giô-ách làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, trọn đời thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. 3 Giê-hô-gia-đa cưới hai vợ cho Giô-ách; người sinh được những con trai và con gái.
(IISu 2Sb 24:1-3)

17 Sau khi Giê-hô-gia-đa đã qua đời, các quan trưởng Giu-đa đến chầu lạy vua. Vua bèn nghe theo lời của chúng, 18 lìa bỏ đền Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, mà phục sự những thần A-sê-ra và các hình tượng; tại cớ tội lỗi ấy, bèn có cơn giận của Chúa nghịch cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. 19 Đức Giê-hô-va sai các đấng tiên tri đến cùng chúng, để dắt chúng trở lại cùng Đức Giê-hô-va; nhưng chúng không chịu nghe. 20 Thần của Đức Chúa Trời cảm động Xa-cha-ri, con trai của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa; người đứng dậy trước mặt dân sự, mà nói rằng: Đức Chúa Trời phán như vầy: Cớ sao các ngươi phạm các điều răn của Đức Giê-hô-va? Các ngươi sẽ chẳng may mắn được, vì đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, và Đức Giê-hô-va cũng đã lìa bỏ các ngươi. 21 Chúng bèn phản nghịch với người, và theo lịnh vua ném đá người tại trong hành lang của đền Đức Giê-hô-va.22 Ấy vậy, vua Giô-ách không nhớ đến sự nhân từ của Giê-hô-gia-đa, cha của A-xa-chia, đã làm cho mình, nhưng giết con trai người đi; khi người chết thì có nói rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và báo lại cho!
(IISu 2Sb 24:17-22)
Giô-ách được cứu.
Giô-ách là ai? Giô-ách là hậu duệ của vua Đa-vít. Là con trai của vua A-cha-xia. IIVua 2V 12:3-4 đánh giá về cuộc đời của Giô-ách như thế này: Giô-ách làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, trọn lúc Giê-hô-gia-đa, thầy tế lễ, dạy dỗ người. Song người chẳng cất bỏ các nơi cao đi, dân sự vẫn tế lễ và xông hương trên các nơi cao.
Cuộc đời của Giô-ách gắn liền một nhân vật và một gia đình, đó là thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa và gia đình ông. Vợ thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa tên là Giô-sa-bát, con gái của vua Giô-ram. Dù là hoàng tử, nhưng khi còn thơ dại mạng sống Giô-ách đã bị đe doạ. Bà nội là A-tha-li tìm cách tuyệt diệt hoàng tộc Đa-vít để chiếm quyền. Bà A-tha-li là người đi theo con đường làm điều ác, thờ hình tượng. Đức Chúa Trời dùng vợ thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa là Giô-sa-bát đem Giô-ách giấu trong một căn phòng, và sau đó họ đem Giô-ách giấu trong Đền Thờ và nuôi dạy Giô-ách suốt sáu năm trời.
Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa là người có công lao rất lớn đối với đất nước Y-sơ-ra-ên, là người trung tín hầu việc Đức Chúa Trời, và tu bổ đền thờ. Khi thầy tế lễ Giô-ha-gia-đa qua đời người ta chôn ông trong thành Đa-vít chung với các vua, vì “người có công lao trong Y-sơ-ra-ên, có hầu việc Đức Chúa Trời, và tu bổ đền của Ngài” (IISu 2Sb 24:15-16).
Chuyện ông bà Giê-hô-gia-đa cứu Giô-ách rồi nuôi dạy Giô-ách cho chúng ta rất nhiều bài học về việc cứu người và cách dạy người.
Nhiều người thấy mà không cứu. Trong Kinh Thánh có những câu chuyện liên quan đến tình trạng của con người, những con người đó lâm vào hoàn cảnh nguy hiểm, có người thấy, nhưng không lo cứu giúp.
Các anh của Giô-sép thấy em mình khốn khổ sợ hãi tột cùng ở dưới hố sâu, chẳng những họ không lo cứu em, mà họ còn ngồi lại ăn uống với nhau, sau đó lại tính chuyện bán em nữa! Còn Ru-bên muốn cứu em thì không lo cứu ngay lại lo làm những việc khác nên mất cơ hội. Khi phát hiện em bị bán mất, anh Ru-bên chỉ còn biết xé áo và khóc lóc và chịu tội với cha mà thôi (SaSt 37:25-30).
Chúa Giê-xu kể câu chuyện thầy tế lễ thấy người bị nạn nằm bên đường mà không cứu, người Lê-vi cũng thấy người bị nạn và cũng không cứu; chỉ có người Xa-ma-ri thấy người bị nạn thì ra tay cứu ngay. Nếu trì hoãn không cứu ngay thì kết cuộc của người bị nạn có thể sẽ rất thê thảm (LuLc 10:30-35).
Người chăn chiên mất một con chiên (Lu-ca 15), ông ta lo đi tìm chiên ngay, không chần chờ, không trì hoãn. Thử nghĩ xem, nếu để vài ngày sau mới lo đi tìm chiên thì thể nào? Chắc chắn quá trễ, vì hoặc chiên bị lạc đi quá xa, bị người khác bắt hoặc ở trong bụng của thú dữ rồi.
Chúng ta đang nhìn thấy cảnh tượng gì? Exe Ed 34:6:
“Những chiên ta đi lạc trên mọi núi và mọi đồi cao, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.”
Người chăn thuộc linh cần thấy những con chiên đang bị lạc mất để ra tay cứu giúp; các bậc cha mẹ phải thấy con cái mình trong tình trạng nguy hiểm về thuộc linh, có thể chết mất trong tội lỗi; phải thấy mới lo cứu và lo cứu ngay.
Phải chăng giới trẻ, thanh niên, thiếu niên, thiếu nhi đang bị bỏ rơi và lạc mất ngay trong Hội Thánh địa phương? Hội chúng không quan tâm đã đành, còn giới lãnh đạo, những người chịu trách nhiệm, các bậc phụ huynh lại cũng thờ ơ sao? Có thể chúng ta nói chúng ta đã quan tâm, nhưng quan tâm vào lúc nào? Phải chăng khi nếp sống diễn biến theo chiều hướng xấu, lúc đó mới quan tâm. Cần nhớ trong ẩn dụ Chúa kể, người chăn có một trăm con chiên, chỉ lạc mất một con là người chăn biết và lo đi tìm ngay. Chi tiết này cho thấy người chăn luôn luôn quan tâm đến bầy đàn của mình, một sự quan tâm tích cực. Còn bầy của chúng ta có thể đã lạc mất chín mươi chín con, chỉ còn mỗi một con, vì chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến bầy đàn của mình.
Chúng ta có nghĩ đến tương lai của một con người khi người đó được cứu không? Khi cứu Giô-ách thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa thấy rằng tương lai Giô-ách sẽ làm được nhiều điều cho dân tộc và cho Đức Chúa Trời.
Xin Chúa cho chúng ta thấy được tình trạng nguy hiểm cấp bách của những người chung quanh. Xin Chúa cho chúng ta chẳng những thấy tình trạng mà cũng ra tay cứu giúp. Xin Chúa cho chúng ta thấy được tương lai của những người chúng ta cứu sẽ như thế nào.
Giô-ách được nuôi dạy.
Giô-ách chẳng những được cứu mà còn được chăm sóc và dạy dỗ. Cứu Giô-ách là cứu thể xác của ông thoát khỏi cái chết; nhưng dạy dỗ Giô-ách là dìu dắt Giô-ách lớn lên thoát khỏi cách sống sai lầm khiến cho cuộc đời Giô-ách có ích, có ý nghĩa. Vợ chồng thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa chẳng những cứu Giô-ách thoát chết, mà còn đem Giô-ách về đền thờ để nuôi nấng và dạy dỗ.
Cứu là một công việc có tính cấp thời, nhưng nuôi dạy là một công việc đòi hỏi nhiều thời gian và nhiều năm tháng; cứu phải có phương pháp thích hợp, nuôi dạy cũng vậy, phải có phương pháp thích hợp. Cứu đòi hỏi phải thấy, phải quan tâm, phải yêu thương, nuôi dạy cũng vậy, phải thấy mục tiêu lâu dài, phải quan tâm, phải có lòng yêu thương.
Hai ông bà Giê-hô-gia-đa đã nuôi nấng và dạy dỗ Giô-ách trong 6 năm, đây là những năm đầu đời quan trọng của cuộc đời con người, nếu nói về các thiếu nhi trong Hội Thánh. Các thiếu nhi trong Hội Thánh có thể biết Chúa Cứu Thế, đặt lòng tin nơi Chúa trong những năm đầu đời của các em. Nếu nói về người mới tin Chúa thì mấy năm đầu cũng là thời gian cần được nuôi dạy kỹ trong phần thuộc linh.
Khi Chúa Giê-xu nói với ông Ni-cô-đem: Hầu cho hễ ai tin; (GiGa 3:16) và khi Chúa nói với các môn đệ của Ngài: Song, nếu ai làm cho những đứa nhỏ này đã tin ta sa vào tội lỗi, thì thà buộc cối đá vào cổ, mà quăng nó xuống biển còn hơn (Mat Mt 18:6). Chúa dùng cùng một từ tin . Người già như ông Ni-cô-đem tin cũng như các trẻ em tin. ‘Đứa nhỏ’ mà Chúa Giê-xu nói ở đây không phải là em bé còn nằm trong nôi, hoặc mới tập tễnh bước đi. Đây là trẻ có khả năng tin và cũng có thể phạm tội. Vấn đề Chúa đề cập là có người làm cho trẻ sa vào tội lỗi. Người lớn hơn trẻ xui khiến nó phạm tội có thể là người từng dẫn dắt trẻ tin Chúa; cũng có thể là người tin Chúa lâu năm xui khiến và gây cho người non trẻ trong đời thuộc linh phạm tội.
Khi cứu thiếu nhi về cho Chúa chúng ta cũng cần lo nuôi dạy để các em không rơi vào trong tội lỗi. Các em cũng cần được dạy dỗ về nếp sống Cơ Đốc trong những năm đầu đời. Càng lớn lên thì càng khó khăn trong việc tập tành nếp sống trong sinh hoạt cũng như trong niềm tin. Chúng ta tập cho trẻ thói quen đánh răng từ khi còn nhỏ hoặc chúng ta đợi trẻ lớn hẳn. Trẻ nên tập tành nhờ cậy Chúa từ nhỏ hoặc là đợi lớn mới tập nhờ cậy Chúa? Từ khi còn nhỏ lo tập đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, đi nhà thờ, dâng tiền từ nhỏ hoặc đợi lớn lên rồi mới tập?
Đối với các tân tín hữu cũng vậy. Lúc vừa tin Chúa, họ được tái sinh đổi mới. Là trẻ mới sinh ra trong gia đình của Chúa, họ cần gì? Cần được dạy dỗ để trở nên môn đệ của Chúa Giê-xu. Rồi họ sẽ trở nên những người xây dựng Nhà Chúa. Nhưng nếu chúng ta không thấy khả năng họ sẽ phục vụ Hội Thánh trong tương lai, chúng ta bỏ mặc họ, không lo dạy dỗ họ thì coi chừng, họ sẽ trở thành gánh nặng cho Hội Thánh. Thay vì sửa sang, xây dựng đền thờ của Chúa như vua Giô-ách, họ sẽ làm hư hỏng, phá hại đền thờ của Chúa; thay vì dâng tế lễ cho Chúa như thời của vua Giô-ách, họ lại quay lui dâng tế lễ cho thần tượng ngoại bang.
Trong Hội Thánh ngày hôm nay có rất nhiều tình trạng đáng buồn: có Hội Thánh không cứu người (không có người mới tin Chúa) và cũng không lo dạy dỗ người đã tin; có Hội Thánh chỉ lo cứu người (có người mới tin) nhưng không lo dạy dỗ; lại có những Hội Thánh chỉ lo dạy dỗ nhưng không lo cứu ai cả. Cứu người và dạy người, sinh ra và nuôi dạy là hai việc cần thiết không thể thiếu và phải đi đôi với nhau trong Hội Thánh. Cũng có những Hội Thánh lo cứu người, lo dạy dỗ; có sinh, có dưỡng, nhưng không hề tạo cơ hội cho tín hữu phục vụ trong Hội Thánh. Đó là chúng ta chưa bàn đến việc cứu ảo, dạy ảo; sinh ảo, nuôi ảo; hoặc là theo lối công nghiệp, máy móc.
Cứu người Dạy dỗ Đưa vào phục vụ Hội Thánh
Hội Thánh A Không Không Không
Hội Thánh B Có Không Không
Hội Thánh C Không Có Không
Hội Thánh D Ảo Ảo Ảo
Hội Thánh Đ Có Có Không
Hội Thánh E Có Có Có

Hiệu quả của việc dạy dỗ còn tuỳ theo cách dạy dỗ. Ông bà Giê-hô-gia-đa đã cứu sống Giô-ách, đã nuôi dạy Giô-ách, thậm chí còn cưới vợ cho Giô-ách nữa. Việc dạy dỗ của họ có thành công không? Có kết quả tốt không? Câu trả lời là có phần tốt và có phần không tốt. Vì sao?
Giô-ách làm điều thiện.
Kinh Thánh cho biết: “Giô-ách làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, trọn lúc Giê-hô-gia-đa, thầy tế lễ, dạy dỗ người. Song người chẳng cất bỏ các nơi cao đi, dân sự vẫn tế lễ và xông hương trên các nơi cao” (IIVua 2V 12:2).
Trước hết, trong cuộc đời của vua Giô-ách, những việc thiện vua làm như sửa sang lại đền thờ, một phần từ sự dạy dỗ và ảnh hưởng tốt của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Nhưng vì sao vua Giô-ách không cất bỏ những nơi thờ phượng hình tượng tại nơi công cộng? Dường như thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa chỉ chú ý đến sự thờ phượng tại đền thờ và đã lập lại các buổi thờ phượng, nhưng không (hoặc không dám) triệt để chỉnh sửa những sai trái của dân Chúa trong đời sống thường ngày. Đây là hành động thiếu triệt để trong sự tin thờ Chúa. Thờ Chúa tại đền thờ, nhưng về đến nhà, sinh hoạt trong xã hội thì thờ hình tượng.
Ngày hôm nay cũng có nhiều người có cách sống như vậy: Chúa nhật đến nhóm lại thờ Chúa tại nhà thờ thường xuyên, còn từ thứ hai đến thứ bảy, đi đâu, làm gì, tuỳ ý, không tính đến chuyện có kính sợ Chúa hoặc không. Phải chăng chúng ta chỉ quan tâm lo cho con em chúng ta hằng tuần đến nhà thờ thờ phượng? Hoặc chúng ta cần quan tâm đến nếp sống hằng ngày của chúng nữa sao? Nhiều bậc phụ huynh thấy con mình có mặt trong nhà thờ là an tâm cám ơn Chúa rồi. Nếu muốn có niềm tin, lòng kính sợ Chúa tại nhà thờ, thì cũng phải có niềm tin và lòng kính sợ Chúa trong đời sống gia đình và sinh hoạt trong xã hội.
Chúng ta không thể nói với con em mình rằng: Ở nhà muốn làm gì thì làm, nhưng ở nhà thờ phải tỏ ra đàng hoàng, lịch sự, tôn trọng người khác. Cũng không thể nói với con chúng ta hãy tỏ ra siêng năng học Kinh Thánh ở nhà thờ, còn ở nhà có biếng nhác thì chẳng ai biết, chẳng ai quan tâm.
Tâm tánh của con người ưa sống hai mặt, hai lòng và ‘bị đi giẹo hai bên’. Cần giúp thiếu nhi và người mới tin phát hiện ra tánh xấu đó trong bản thân và biết từ bỏ cách sống đó, để tập tành nếp sống thánh khiết, như vậy mới là dứt khoát và triệt để trong niềm tin.
Thứ hai, trong IISu 2Sb 24:14c ghi: Trọn đời Giê-hô-gia-đa, người ta hằng dâng của lễ thiêu tại đền thờ của Đức Giê-hô-va luôn luôn. Vua Giô-ách tin Chúa, tôn thờ Chúa, thờ phượng Chúa, sửa sang lại đền thờ của Chúa, nhưng sự tin thờ này lại tuỳ thuộc vào thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Nếu thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa còn sống, còn ảnh hưởng thì vua Giô-ách còn tin Chúa, còn thờ Chúa; đến khi ông Giê-hô-gia-đa chết đi, không còn ảnh hưởng, thì vua Giô-ách hết tin, hết thờ Chúa. Khi ông Giê-hô-gia-đa còn sống, còn ảnh hưởng, thì trong đền thờ còn dâng của lễ thiêu, nhưng khi ông Giê-hô-gia-đa chết đi, hết ảnh hưởng, thì không còn dâng của lễ cho Chúa nữa.
Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa chẳng những không dạy cho vua Giô-ách một niềm tin dứt khoát nơi Chúa, mà qua cách dạy dỗ của ông, vua Giô-ách bị ràng buộc với con người chứ không ràng buộc với Đức Chúa Trời. Hình ảnh và uy quyền của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa lấn át hoàn toàn hình ảnh và uy quyền của Đức Chúa Trời. Vua Giô-ách sợ ông Giê-hô-gia-đa, sợ con người hơn là sợ Đức Chúa Trời; vua Giô-ách sợ làm cho ông Giê-hô-gia-đa buồn, nhưng không sợ làm Đức Chúa Trời buồn. Dạy dỗ nửa vời làm cho con người phân tâm, thiếu dứt khoát. Cần hết sức tránh không chi phối học trò bằng ảnh hưởng của chúng ta nhưng hãy để Chúa chi phối và ảnh hưởng.
Ông Phao-lô viết cho các tín hữu Hội Thánh Ga-la-ti: “Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sinh nở, cho đến chừng nào Đấng Cứu Thế thành hình trong các con” (GaGl 4:19). Ông Phao-lô dù phải chịu khổ cả về vật chất lẫn tâm linh vì các tín hữu tại Ga-la-ti. Ông vì người khác là một tấm gương, nhưng mục tiêu của ông không phải là để được tôn sùng ca ngợi nhưng để Đấng Cứu Thế được thành hình trong đời sống các tín hữu.
Xin Chúa giúp cho chúng ta dẫn dắt học viên vào vùng ảnh hưởng của Chúa chứ không áp đặt ảnh hưởng của chúng ta trên học viên. Chúng ta giúp người khác trở nên môn đệ của Chúa, chứ không phải biến người khác thành người theo phe chúng ta hoặc là môn đệ của chúng ta. Xin Chúa giúp chúng ta dạy người khác cùng chúng ta trung thành theo Chúa chứ không phải theo một con người bất toàn nào.
Giô-ách lìa bỏ… không nhớ…”
Kết cuộc, khi thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa qua đời:
1. Vua Giô-ách “lìa bỏ đền Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, mà phục sự những thần A-sê-ra và các hình tượng.” Vì sao vua Giô-ách lại làm như thế? Kinh Thánh cho biết các quan trưởng Giu-đa đến chầu lạy vua và vua bèn nghe theo lời của chúng. Khi ông Giê-hô-gia-đa còn sống, vua Giô-ách nghe theo lời của ông Giê-hô-gia-đa, sau khi ông Giê-hô-gia-đa qua đời vua Giô-ách nghe theo lời các quan trưởng Giu-đa. Đời sống của vua Giô-ách hoàn toàn tuỳ thuộc vào người khác, vua sống theo kiểu đi với bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy. Dường như vua Giô-ách không bày tỏ được niềm tin và thái độ của vua đối với Đức Chúa Trời và Đền Thờ của Ngài ngoài quan niệm ‘ai sao ta vậy’. Cũng có thể vua tính toán để được sự ủng hộ của các trưởng lão trong việc cai trị đất nước. Sống theo chủ nghĩa duy lợi thì sẵn sàng lìa bỏ Đức Chúa Trời.
2. Chẳng những thế, vua Giô-ách còn ra lịnh ném đá Xa-cha-ri, con trai của Giê-hô-gia-đa. Lịch sử dân Chúa ghi: “Vua Giô-ách không nhớ đến sự nhân từ của Giê-hô-gia-đa, cha của A-cha-xia, đã làm cho mình, nhưng giết con trai người đi.” (IISu 2Sb 24:17-22).
Thật ra tiên tri Xa-cha-ri không phải là người đầu tiên cảnh cáo vua Giô-ách và các quan trưởng. Trước đó Chúa đã sai nhiều tiên tri đến để thức tỉnh và đưa họ trở lại cùng Chúa nhưng họ không chịu nghe. Đến khi tiên tri Xa-cha-ri lên tiếng thì vua Giô-ách là hình ảnh của người hùa theo các quan trưởng và dân sự.
Điều chúng ta phát hiện trong câu chuyện này là con trai của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa là tiên tri Xa-cha-ri và vua Giô-ách là hai người từng biết nhau từ nhỏ, cùng học chung một người thầy. Ông Xa-cha-ri trở thành một tiên tri trung thành của Đức Chúa Trời. Còn ông Giô-ách trở thành vị vua có một khởi đầu tốt nhưng cuối cùng đã không nhớ đến sự nhân từ của Giê-hô-gia-đa.
Phải chăng thầy Giê-hô-gia-đa đã hết lòng hết sức với hai cậu học trò, còn việc vâng lời hoặc không là việc của họ? Nhưng phải chăng thầy Giê-hô-gia-đa đã tỏ ra quá dễ dãi với vua Giô-ách và nghiêm khắc với con mình trong quá trình dạy dỗ?
Bài học
Rất nhiều người không quan tâm đến việc cứu người và dạy dỗ người . Đó là một vấn đề lớn. Nhưng có hành động thiết thực để cứu người và dạy người là một vấn đề khác nữa.
Cứu được con người không phải đã xong việc, cần phải nuôi nấng dạy dỗ con người cho đúng cách . Để con người đó tin và theo Chúa suốt đời, trung thành và ích lợi cho Đức Chúa Trời suốt đời.
Giáo dục hiệu quả cần tình yêu thương và sự quan tâm tích cực trước khi nói đến phương tiện.
Giáo dục từ lúc học viên còn nhỏ tuổi hoặc mới tin Chúa. Dầu vậy dứt khoát cần dạy đúng phương pháp thì mới có kết quả tốt.
Nếu có phương pháp nhưng không có nội dung đúng đắn thì cũng thất bại.
Cần giáo dục trong một thời gian lâu dài và không được bỏ dở. Nếu không bắt đầu ngay thì dần dà thời gian sẽ đem lại nhiều trở ngại không vượt qua được.
Cần nhắm đến mục tiêu ngắn hạn lẫn mục tiêu dài hạn trong công tác giáo dục
Cần dứt khoát, triệt để, không nửa vời trong công tác giáo dục.
Cần lấy Chúa làm ảnh hưởng, không lấy mình làm ảnh hưởng. Cần làm cho người trở nên môn đệ của Chúa chứ không phải trở nên môn đệ của con người.

Thương thì thương cho trót.
21 Ru-bên nghe qua lời đó, liền giải cứu chàng ra khỏi tay các anh mà rằng: Chúng ta đừng giết chết nó; 22 lại tiếp: Chúng ta chớ nên làm đổ máu ra, hãy liệng nó trong cái hố nước nơi đồng vắng kia, và đừng tra tay vào mình nó. Người nói vậy, có ý muốn giải cứu chàng khỏi tay họ, để trả chàng về cùng cha mình. 23 Vừa khi Giô-xép đến gần các anh, họ bèn lột áo chàng, là áo có nhiều sắc đương mặc trong mình; 24 rồi bắt chàng đem quăng trong hố nước. Vả, hố khô cạn, chẳng có nước.
25 Đoạn họ ngồi lại ăn. Nhướng mắt lên chợt thấy một đoàn dân Ích-ma-ên ở phía Ga-la-át đi đến, trên lưng lạc đà họ chở đầy thuốc thơm, nhũ hương và một dược đang đem đi đến xứ Ê-díp-tô. 26 Giu-đa bèn nói cùng các anh em rằng: Giết em ta mà giấu máu nó, có dùng cho ta được việc chi? 27 Hè! Hãy đem bán nó cho dân Ích-ma-ên và đừng tra tay vào mình nó; vì nó là em, là cốt nhục của chúng ta. Các anh em đều nghe theo lời người nói. 28 Vả, khi những lái buôn Ma-đi-an đi ngang qua, các anh kéo Giô-xép lên khỏi hố nước, rồi bán chàng giá hai mươi miếng bạc cho dân Ích-ma-ên đem qua xứ Ê-díp-tô.
29 Ru-bên trở lại hố; này Giô-xép đâu mất rồi; bèn xé áo mình, 30 trở lại nơi các em mình mà nói rằng: Ôi! Đứa trẻ đâu mất rồi! Còn tôi, sẽ đi đâu? (SaSt 37:21-30)
Chúng ta không bàn về anh Giu-đa và mấy người anh khác đang muốn giết em mình, nhưng bàn về Ru-bên, người anh không muốn giết em, người anh muốn cứu em nhưng cuối cùng lại để mất em. Người em là Giô-xép đang lâm nguy vì chính mấy ông anh (do anh Giu-đa cầm đầu), nhưng vẫn còn ít nhiều hy vọng sẽ được anh Ru-bên giải thoát.
Trong câu chuyện có hai lập luận. (1)Lập luận của anh Giu-đa người ghét em, và (2)Lập luận của anh Ru-bên, người thương em.
(1)Tuy anh Giu-đa là người anh ghét em, tính giết em và bán em, nhưng lập luận của anh Giu-đa tưởng như còn vương hơi ấm của lòng yêu thương, ‘vì nó là em, là cốt nhục của chúng ta’ cho nên chúng ta không giết nó, chúng ta chỉ bán nó, cho khuất mắt chúng ta. Lập luận của anh Giu-đa thật ra chỉ là giả nhân giả nghĩa, đã bán em cho người xa lạ mà lại còn dám nói đến hai chữ cốt nhục. Anh Giu-đa tìm đủ mọi cách để không còn nhìn thấy em nữa. Nếu không nên giết thì bán nó đi, cho khuất mắt, cho rảnh nợ. Ghét em, bán em thì đương nhiên là mất em.
(2)Còn anh Ru-bên thương cha và thương em, muốn giải cứu em khỏi tay các anh, muốn trả em về cho cha, nên đã bàn ra “Chúng ta đừng giết chết nó” , và gợi ý thêm: “Hãy liệng nó trong hố nước nơi đồng vắng kia, và đừng tra tay vào mình nó.” Câu nói này sao có vẻ giống kiểu mèo vờn chuột trước khi ăn thịt con mồi. Đây có phải là một gợi ý khôn ngoan của người anh không? Kinh Thánh cho biết ẩn ý của anh Ru-bên: “Người nói vậy, có ý muốn giải cứu chàng khỏi tay họ, để trả chàng về cùng cha.”
Có ý định giải cứu, hoặc muốn giải cứu rất khác với quyết định giải cứu. Ý định không có tính dứt khoát, còn quyết định có tính dứt khoát. Câu nói của người có ý định khác với câu nói của người có quyết định. Lẽ ra anh Ru-bên phải nói: “Chúng ta không được giết chết nó, không được liệng nó xuống hố nước, phải đưa em về cho cha ngay.” Đây là câu nói quyết định. Muốn nói một câu nói quyết định dễ hay khó? Muốn nói một câu nặng tính quyết định sẽ phải vượt qua những trở ngại nào?
Nếu so sánh với anh Giu-đa thì anh Ru-bên có vẻ thương em. Nhưng anh Ru-bên thương em ở mức chỉ có ý định cứu em chứ chưa đến mức quyết định dứt khoát phải cứu em bằng mọi giá và ngay lập tức. Trong khi đó anh Giu-đa ghét em, ghét đến mức quyết định làm hại em cách dứt khoát rõ ràng. Sống bằng ý định giải cứu hoặc với quyết định giải cứu chẳng những ảnh hưởng đến số phận của đứa em mình quan tâm mà còn ảnh hưởng đến bản thân của anh Ru-bên rất nhiều.
Vì sao mất?
Nếu câu hỏi này dành cho anh Giu-đa thì câu trả lời là em bị mất vì các anh ghét nó, tìm cách giết nó, và bán nó cho khuất mắt họ.
Nếu câu hỏi này dành cho anh Ru-bên thì câu trả lời là em bị mất vì anh chỉ quan tâm và yêu thương em một cách nửa vời. Tình yêu thương của anh Ru-bên chưa đủ để cứu em mình và đưa em về cho cha. Thương em, không đồng ý giết em, nhưng sao nỡ quăng em xuống hố nước trong đồng vắng? Yêu thương như vậy cũng chẳng khác gì ghét bỏ. Cứu khỏi cái chết trong nháy mắt nhưng lại đẩy vào cái chết khác, chết chìm, chết ngộp, chết từ từ. Anh Ru-bên hy vọng rằng anh sẽ tìm ra cơ hội để cứu em nhưng cũng an toàn cho mình. Bình thường khi gặp trường hợp một người bị rơi xuống hố, chẳng cần nghĩ ngợi cân nhắc hoặc chờ cơ hội, chúng ta phải lo cứu ngay. Đằng này anh Ru-bên lại đề nghị quăng em xuống hố nước, chắc còn lâu anh mới thực hiện kế hoạch cứu em. Vấn đề của anh Ru-bên là không vượt qua trở ngại của bản thân, không dám vượt qua áp lực và sự đe doạ của người chung quanh để quyết định dứt khoát cứu em ngay.
Rồi trong khi em mình đang hoảng sợ ở dưới hố, đang kêu la cầu cứu thì anh đành lòng ngồi ăn với mọi người, vì chưa biết làm thế nào để cứu em. Dù sao anh Ru-bên vẫn cứ nuôi ý định cứu em. Nhưng khi em bị lôi lên và bán đi thì anh Ru-bên lại không có mặt ở đó. Có thể anh Giu-đa đã bịa chuyện để đẩy anh Ru-bên đi xa cho các em rảnh tay hành động. Cũng có thể đúng lúc anh Ru-bên đang đi giải quyết một vài việc nào đó, có lái buôn đi qua thế là họ tự do hành động theo ý mình. Khi quay trở lại, không nghe tiếng em kêu khóc, không thấy em mình dưới hố, lúc đó anh Ru-bên mới biết em đã bị bán với hai mươi miếng bạc. Anh Ru-bên xé áo mình và than thở trước mặt các em: “Ôi! Đứa trẻ đâu mất rồi! Còn tôi, sẽ đi đâu?”
Vì chỉ có ý định cứu giúp, chỉ có tình yêu thương nửa vời nên anh Ru-bên gặp thêm rắc rối. Tình yêu thương và ý định theo kiểu của anh Ru-bên không đủ sức thúc đẩy con người đến chỗ sẵn sàng hy sinh, cũng không đem đến niềm vui thoả, trái lại chỉ đem đến sự buồn rầu hối tiếc mà thôi. Mất em rồi, anh Ru-bên có xé bao nhiêu cái áo đi nữa, liệu có ích lợi gì? Nước mắt của anh Ru-bên có thể đem em về cho cha được không? Lời nói ân hận “còn tôi, sẽ đi đâu?” liệu có gỡ tội cho anh Ru-bên được không?
Chúng ta có yêu thương con em của mình không? Có thật lòng quan tâm đến giới trẻ trong Hội Thánh không? Tình yêu thương của chúng ta có đủ mạnh không, hoặc chỉ là tình yêu thương nửa vời?
Nhiều người nói yêu thương, có ý định cứu con em của mình nhưng tình yêu thương của họ không đủ mãnh liệt để quyết định, nên dù họ không đẩy con em mình đến chỗ phạm tội, nhưng cũng không làm gì để cứu con em thoát khỏi hố tội lỗi, thoát khỏi xiềng xích nô lệ cho tội lỗi. Con em của họ dù còn sống nhưng thật ra họ đã mất con rồi.
Nếu nói thương yêu thiếu nhi thì phải chủ động yêu thương ngay hôm nay bằng những quyết định dứt khoát, đừng để đến khi thiếu nhi hư hỏng rồi, khi thiếu nhi bị ma quỷ cướp lấy, bị làm nô lệ, bị bán cho thế gian rồi mới khóc than hối tiếc vì không còn cơ hội, không thể giúp gì cho thiếu nhi đó nữa. Chúng ta cần thận trọng kẻo lại trở thành thủ phạm và nguyên nhân làm cho thiếu nhi bị mất, rồi chỉ còn có thể khóc than hối tiếc cách vô ích vì đã quá muộn.
Làm thế nào để không mất?
36 Gia-cốp, cha họ, bèn nói rằng: “Bay làm mất các con tao; Giô-xép đã mất biệt, Xi-mê-ôn cũng mất biệt; mà bây giờ lại muốn dẫn Bên-gia-min đi nữa sao! Các nông nỗi này đều đổ lại cho tao hết! 37 Ru-bên thưa lại cùng cha rằng: “Cha hãy giao em nơi con, con sẽ dẫn về cho. Ví bằng chẳng dẫn em về, thì cha hãy giết hai đứa con trai con đi.” 38 Nhưng Gia-cốp đáp rằng: “Con út tao sẽ chẳng đi xuống với bay đâu; vì anh nó đã chết rồi, chỉ còn một mình nó mà thôi. Nếu điều rủi ro chi xảy đến cho nó nơi dọc đường bay đi, tất nhiên bay làm cho kẻ tóc bạc này đau lòng xót dạ xuống âm phủ.”
(SaSt 42:36-38)
8 Giu-đa thưa cùng Y-sơ-ra-ên, cha mình, rằng: “Hãy cho đứa trẻ theo con, thì chúng con sẽ đứng dậy đi, hầu cho chúng ta, nào các con, nào cha, nào các cháu của cha đây đều được sống và khỏi chết. 9 Con sẽ bảo lãnh em cho; cha sẽ cứ nơi con mà đòi em. Nếu không dẫn em về, không để em trước mặt cha, thì con đây sẽ cam tội cùng cha mãi mãi.”
(SaSt 43:8,9)
30 Cha thương em út tôi lắm cho đến nỗi hai linh hồn khắng khít nhau; nếu bây giờ, khi tôi trở về nơi kẻ tôi tớ chúa, là cha tôi, mà không có em út đó, 31 thì khi vừa thấy con út không còn nữa, chắc người sẽ chết. Nếu vậy, các tôi tớ chúa sẽ làm cho cha già tóc bạc của chúng tôi - cũng là kẻ tôi tớ chúa, - đau lòng xót dạ, xuống âm phủ. 32 Vì kẻ tôi tớ này có chịu bảo lãnh em út đó và thưa rằng: Nếu con không đem em về cho cha, thì sẽ cam tội cùng cha mãi mãi.
33 Vậy bây giờ, xin cho kẻ tôi tớ chúa làm tôi mọi thế cho đứa trẻ, đặng nó theo trở lên cùng các anh mình. 34 Vì, nếu đứa trẻ không theo về, làm sao tôi dám về cùng cha tôi? Ôi, tôi nỡ nào thấy điều tai hoạ của cha tôi ư!
(SaSt 44:30-34)
Sau khi đã làm mất em như thế chắc nay anh Ru-bên có thể trả lời trôi chảy câu hỏi “Làm thế nào để không bị mất em?” Nhưng tiếc thay, nhiều khi trong thất bại, con người vẫn không thay đổi gì cả và cũng không tìm được bí quyết vì không chịu học tập từ những thất bại.
Những năm tháng nhìn cha mình để tang khóc than cho Giô-xép, chắc chắn anh Ru-bên và anh Giu-đa không thể nào thản nhiên được. SaSt 37:34-35 ghi lại nỗi đau của ông Gia-cốp như sau: Người xé quần áo mình ra, lấy bao quấn ngang hông, và để tang lâu ngày cho con trai mình. Hết thảy con trai, con gái hiệp lại an ủi người, nhưng người không chịu; bèn nói rằng: “Ta để tang luôn xuống chốn âm phủ cùng con ta!” Ấy đó, cha Giô-xép khóc than chàng như vậy. Nhìn cảnh cha già khóc con trẻ, anh Ru-bên và anh Giu-đa, hai người có trách nhiệm trong việc làm mất em nghĩ gì? Lòng họ cảm thấy như thế nào?
Và bây giờ họ đang đối diện với một trường hợp nghiêm trọng không kém: số phận của út Bên-gia-min. Cụ Gia-cốp không muốn cho út Bên-gia-min đi với các anh vì “anh nó (Giô-xép) đã chết, chỉ còn một mình nó mà thôi”. Cụ Gia-cốp không muốn con út gặp bất cứ chuyện rủi ro nào. Cụ không muốn phải đau lòng khóc con một lần nữa. Trước tình cảnh này, anh Ru-bên và anh Giu-đa đều lên tiếng, mỗi người một cách.
Anh Ru-bên bày tỏ lòng thương cha và thương em qua một đề nghị: “Cha hãy giao em nơi con, con sẽ dẫn về cho. Ví bằng chẳng dẫn em về, thì cha hãy giết hai đứa con trai con đi” (Câu 37). Anh Ru-bên đem hai người con trai của mình ra để thế mạng cho Bên-gia-min. “Mạng đổi mạng”. Câu nói của anh Ru-bên nghe có vẻ dữ dội lắm, có vẻ hiểu thấu đáo trách nhiệm lớn lao, rồi cũng dám hy sinh vì trách nhiệm, dám đem hai con ruột của mình ra để thế một mạng. Nhưng thật ra câu nói của anh Ru-bên chưa hẳn là lời của người con, người anh và người cha có trách nhiệm. Thử hỏi nếu mất con, lẽ nào cụ Gia-cốp vừa là cha cũng vừa là ông nội lại chịu cảnh vừa mất con lại mất luôn cả hai đứa cháu nội! Cho nên điều anh Ru-bên gọi là trả giá hoặc hy sinh ở đây không thực tế và thiếu thuyết phục.
Còn anh Giu-đa nói gì? “Hãy cho đứa trẻ theo con, thì chúng con sẽ đứng dậy đi, hầu cho chúng ta, nào các con, nào cha, nào các cháu của cha đây đều được sống và khỏi chết. Con sẽ bảo lãnh em cho; cha sẽ cứ nơi con mà đòi em. Nếu không dẫn em về, không để em trước mặt cha, thì con đây sẽ cam tội cùng cha mãi mãi.” Nghe lời đề nghị này chúng ta không thấy có gì là đao to búa lớn cả. Bảo lãnh em nhưng không có gì thế chấp cả, ngoài lời nói ‘sẽ cam tội cùng cha mãi mãi’. Nói như vậy thì ai mà chẳng nói được. Nhưng đây lại là lời bảo đảm từ chính bản thân Giu-đa, từ lòng yêu thương thật sự, từ quyết định hy sinh cho em từ tấm lòng của người anh đã thay đổi.
Và thật lạ lùng, cụ Gia-cốp chấp nhận lời đề nghị của anh Giu-đa. Có thể chúng ta nghĩ lần này cụ Gia-cốp lại giao trứng cho ác mà không biết. Nhưng bên cạnh những đứa con không thay đổi thì theo thời gian cũng có những đứa con thay đổi.
Gặp lại các anh em mình và đặc biệt là út Bên-gia-min, ông Giô-xép tìm cách giữ em Bên-gia-min ở lại với mình. Các anh của út Bên-gia-min, đặc biệt là anh Ru-bên và anh Giu-đa đối diện với nguy cơ mất em một lần nữa. Khi đối diện với khó khăn ta thấy hai hình ảnh anh Ru-bên và anh Giu-đa khác hẳn nhau. Trong lần đầu xuống Ai-cập, ông Giô-xép ra điều kiện trong các anh em một người phải ở lại để làm con tin, nghĩa là họ phải mất một người. Các anh em nói gì với nhau?
Họ nói với nhau rằng: “Quả thật chúng ta cam tội cùng em (Giô-xép) ta rồi; vì lúc trước ta thấy tâm hồn nó buồn thảm khi nó xin nhờ ơn, nhưng ta không khứng cho; vậy nên tai vạ này mới xảy đến cho chúng ta” (42:21). Các anh em nói với nhau là họ đã làm điều sai, họ đã tàn nhẫn với em họ, cho nên tai hoạ đổ xuống trên họ. Khi có chuyện bất trắc xảy ra họ chỉ nhớ đến quá khứ tội lỗi, chỉ than thân trách phận, họ không nghĩ đến việc cần làm để không mất thêm một đứa em nữa.
Anh Ru-bên nói gì? Ru-bên nói: “Anh há không có nói cùng các em rằng: Chớ phạm tội này cùng đứa trẻ (Giô-xép) đó sao? Nhưng các em không nghe; nên bây giờ huyết nó đòi chúng ta thường lại” (42:22) . Anh Ru-bên vẫn chẳng khác chi ngày xưa, với giọng kẻ cả, câu nói của anh có ý trách móc, đổ hô . “Thấy chưa, anh đã nói rồi mà các em không chịu nghe! Bây giờ thì ác lai ác báo!” Trách móc, đổ hô cũng không thể cứu em được. Kết quả là Xi-mê-ôn bị bắt ở lại, và các anh cũng chẳng giải quyết được gì.
Không biết trong lần thứ hai này anh Ru-bên có còn trách móc các em của mình về chuyện xưa nữa không? Không biết anh Ru-bên nghĩ gì về lời hứa rất sôi nổi của mình với cha: “Ví bằng chẳng dẫn em về, thì cha hãy giết hai đứa con trai con đi”? Chúng ta không thấy anh Ru-bên nói gì và làm gì cả. Con người chỉ sống với ý định yêu thương qua bao năm tháng vẫn không hề thay đổi. Chẳng thà thương cho ra thương, ghét cho ra ghét, có lẽ dễ thay đổi hơn.
Trước nguy cơ mất em Bên-gia-min, anh Giu-đa đứng ra nhận lỗi : “Chúng tôi sẽ nói cùng chúa làm sao? Sẽ phân lại làm sao? Sẽ chữa mình chúng tôi làm sao? Đức Chúa Trời đã thấu rõ điều gian ác của tôi tớ chúa rồi. Này, chúng tôi cùng kẻ đã bị bắt được chén nơi tay đều làm kẻ tôi tớ cho chúa” (44:16). Khi ông Giô-xép nói chỉ giữ lại em Bên-gia-min thì anh Giu-đa đứng ra tình nguyện ở lại chịu thế tội cho em .
Lời biện bạch của anh Giu-đa chứa đầy tình thương yêu đối với cha và đối với em. Vì yêu thương cha nên Giu-đa bằng lòng đánh đổi tất cả (bản thân, gia đình, vợ con…) để cứu em, trả em về cho cha. Đây là tình yêu thương của người hoàn toàn được đổi mới.
Quá khứ của anh Giu-đa không có gì tốt đẹp cả. Đối với em mình, anh Giu-đa vốn là người ghét em, tính chuyện giết em. Ông đã quăng em xuống hố và đã bán em của mình. Đối với cha, ông Giu-đa là người dối cha, đem lại đau khổ cho cha suốt bao năm. Thế nhưng bây giờ ông Giu-đa đã ăn năn, ông đã thay đổi. Từ chỗ ghen ghét em mình, bây giờ ông biết yêu thương các em mình. Từ chỗ phỉnh gạt cha, nói dối cha, bây giờ ông thật sự thương yêu cha, “tôi nỡ nào thấy điều tai hoạ của cha tôi ư?”
Sẵn sàng hy sinh chính mình để không mất em, để không nhìn thấy cảnh cha phải đau lòng, đó là tinh thần của người yêu thương em và yêu thương cha. “Vậy bây giờ, xin cho kẻ tôi tớ chúa làm tôi mọi thế cho đứa trẻ, đặng nó theo trở lên cùng các anh mình. Vì, nếu đứa trẻ không theo về, làm sao tôi dám về cùng cha tôi? Ôi, tôi nỡ nào thấy điều tai hoạ của cha tôi ư!”
Ngày hôm nay Chúa cũng hỏi chúng ta: “Em ngươi đâu?” Cha của chúng ta sẽ buồn rầu, đau đớn biết bao nếu chúng ta trả lời như Ca-in: “Tôi không biết; tôi là người giữ em tôi sao?” hoặc chúng ta sống theo tinh thần của các anh Giô-xép, họ đã ghen ghét em mình, đã nhẫn tâm quăng em xuống hố, rồi bán em mình đi. Nếu mỗi người có thể tự lo cho mình, tự cứu lấy mình thì Chúa không phải hoá thân làm người, cũng không phải chết trên cây thập tự. Nếu mỗi người có thể lo cho mình thì Cha chúng ta không đặt chúng ta trong vai trò là những người anh bên cạnh ai đó để yêu thương và hy sinh cho người đó.
Cũng có thể chúng ta luôn luôn sống với những ước muốn và ý định, chúng ta có quan tâm, có tình thương, nhưng không dám quyết định cho đối tượng chúng ta yêu thương, vì chúng ta sợ phải trả giá cho quyết định của mình.
Cũng có thể chúng ta đã quyết định nhưng không theo đuổi quyết định đó đến cùng.
Bạn cần:
• Ăn năn, xét lại tình yêu thương của mình đối với Chúa và đối với người ‘bị mất’.
• Sống với quyết định chớ không dừng lại ở ý định.
• Sẵn sàng hy sinh cho người ‘bị mất’. Sẵn sàng trả giá để đem thiếu nhi về cho Cha.
• Cần dâng mình cho công cuộc dạy đạo và truyền giảng. Vừa có nghề nghiệp, vừa dâng mình hầu việc Chúa.
• Tham gia những khoá huấn luyện để biết phương pháp phục vụ.
• Người “bị mất” đang ở dưới cái hố nào? Đang làm nô lệ cho điều gì? Bạn làm cách nào để cứu? Làm gì để cứu? Đừng để quá trễ mất cơ hội rồi hối tiếc.

Khi tình yêu thương đi với sự khôn ngoan.

1 Bấy giờ, Đa-vít nói rằng: Có người nào của nhà Sau-lơ còn sống chăng? Ta muốn vì cớ Giô-na-than mà làm ơn cho người. 2 Vả, có một tôi tớ của nhà Sau-lơ, tên là Xíp-ba; người ta gọi nó đến cùng Đa-vít. Vua hỏi: Ngươi là Xíp-ba chăng? Người thưa: Phải, ấy là tôi, kẻ đầy tớ vua. 3 Vua tiếp rằng: Chẳng còn có người nào về nhà Sau-lơ sao? Ta muốn lấy ơn của Đức Chúa Trời mà đãi người. Xíp-ba thưa cùng vua rằng: Còn một người con trai của Giô-na-than bị tật hai chân. 4 Vua hỏi rằng: Người ở đâu? Xíp-ba thưa rằng: Người ở trong nhà Ma-ki, con trai A-mi-ên, tại Lô-đê-ba. 5 Vua Đa-vít bèn sai tới nhà Ma-ki, con trai A-mi-ên, tại Lô-đê-ba, mà đòi người đến.
6 Khi Mê-phi-bô-sết, con trai của Giô-na-than, cháu Sau-lơ, đã đến bên Đa-vít, thì sấp mình xuống đất và lạy. Đa-vít nói: “Ớ Mê-phi-bô-sết!” Người thưa: “Có tôi tớ vua đây.” 7 Đa-vít nói cùng người rằng: “Chớ sợ, ta muốn làm ơn cho ngươi vì cớ Giô-na-than, cha ngươi; ta sẽ trả lại cho ngươi những đất của Sau-lơ, ông nội ngươi, và ngươi sẽ ăn chung bàn ta luôn luôn. 8 Mê-phi-bô-sết bèn lạy, mà nói rằng: “Kẻ tôi tớ tôi là gì, mà vua lại đoái mắt đến một con chó chết, như tôi đây?”
11 ...Ấy vậy, Mê-phi-bô-sết ăn chung bàn Đa-vít như một con trai của vua vậy. 12 Mê-phi-bô-sết có một con trai nhỏ, tên là Mi-ca; và hết thảy những người ở trong nhà Xíp-ba đều là tôi tớ của Mê-phi-bô-sết. 13 Mê-phi-bô-sết ở tại Giê-ru-sa-lem, bởi vì người ăn luôn chung bàn của vua. Người bị què hai chân.
(IISa 2Sm 9:1-13)
Khi lên ngôi vua, Đa-vít vẫn không quên lời kết ước với người bạn chân tình của mình là Giô-na-than (ISa1Sm 20:12-17), vua cho tìm người nhà của Sau-lơ và Giô-na-than để thực hiện lời kết ước của mình. Vua Đa-vít đã tìm được người con trai của Giô-na-than tên là Mê-phi-bô-sết. Có điều đặc biệt là Mê-phi-bô-sết bị què cả hai chân.

Vì sao bị tật?
Vì sao Mê-phi-bô-sết lại bị què? Kinh Thánh cho chúng ta biết: “Giô-na-than, con trai vua Sau-lơ, có một con trai bại chân: khi tin Sau-lơ và Giô-na-than thác ở Gít-rê-ên thấu đến, thì nó đã được năm tuổi. Vú nó đem nó chạy trốn, trong cơn lật đật trốn, nó té, nên nỗi nó trở nên què. Tên nó là Mê-phi-bô-sết” (IISa 2Sm 4:4).
Đứa trẻ này có thể đã bị lạc mất nếu người ta bỏ rơi nó. Đứa trẻ cũng có thể đã bị chết nếu trong cơn hỗn loạn người ta chỉ lo cho bản thân và bỏ mặc nó. Người gần gũi nhất với đứa trẻ lúc đó là người vú. Vú nuôi không phải là mẹ, không phải là chị, không phải là họ hàng thân thích. Vú nuôi chỉ là người được giao cho nhiệm vụ nuôi đứa trẻ, tắm rửa cho nó, lo cho nó ăn, ru cho nó ngủ, bảo vệ cho nó được an toàn.
Người vú trong câu chuyện là người trung thành có trách nhiệm. Trong cơn hỗn loạn, ai cũng lo cho bản thân nhưng người vú này không bỏ rơi đứa trẻ, không muốn nó lạc mất, không muốn nó chết, cô ta lo đùm bọc đứa trẻ. Nhưng tiếc thay, trong hoàn cảnh hỗn loạn và hoảng sợ, trong khi đem đứa trẻ đi trốn, đứa trẻ té nên bị què chân.
Trong chuyện này ai là người có lỗi? Đứa trẻ bị tật là do hoàn cảnh, do người vú hoặc là do đứa trẻ? Con người thường đổ lỗi cho hoàn cảnh. Học trò thi rớt, thầy cô đổ lỗi cho hoàn cảnh, tức là do đề thi khó quá. Con cái hư, tín hữu hư, học viên lớp Kinh Thánh có những tật xấu, vấp ngã, người có trách nhiệm cũng thường đổ lỗi cho hoàn cảnh là tình hình khó khăn, thói xấu lan tràn, kinh tế khó khăn, tệ nạn đầy dẫy…
Thật ra hoàn cảnh là cơ hội khẳng định khả năng của con người: mạnh, yếu, tốt, xấu. Hoàn cảnh làm cho con người trở nên vững vàng hơn nếu trước đó con người được trang bị đầy đủ. Nếu không đổ lỗi cho hoàn cảnh thì người ta lại đổ lỗi cho con người, nhưng không phải là ‘tôi’. Chúng ta thường nói: “Vì đứa trẻ không chịu vâng lời”, như vậy là do đứa trẻ. Nói chung chúng ta thường cho rằng đứa trẻ hư không phải là do người chịu trách nhiệm dạy dỗ dẫn dắt.
“Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” là cách nói để cho thấy nguyên nhân không phải ở hoàn cảnh mà là ở người dạy dỗ (dù người đó là mẹ hoặc là bà hoặc là cô). Học viên lớp Kinh Thánh trở nên hư hỏng, có những tật xấu trong đời sống thuộc linh, có những tật xấu trong nếp sống hằng ngày là do những người có trách nhiệm dạy dỗ dẫn dắt. Như vậy cha mẹ, giáo viên dạy Kinh Thánh, người hướng dẫn trong ban ngành chịu trách nhiệm về cuộc đời của đứa trẻ trong tầm ảnh hưởng của mình.
Có thể chúng ta yêu thương, tỏ ra có trách nhiệm và không bỏ mặc học viên, nhưng khi làm công tác chúng ta còn va vấp sai trật làm cho học viên phát triển không cân đối cho nên khi trưởng thành trong Chúa họ trở thành tật, trở nên một ‘phế nhân’ trong Hội Thánh. Họ là những người chỉ biết ngồi đó để hưởng thụ chớ không muốn động tay động chân giúp đỡ ai cả.
Rồi cũng có thể trước một hoàn cảnh nào đó chúng ta không hơn gì học viên, trong khi bồng ẵm săn sóc, chúng ta vẫn có thể bị té và làm cho học viên té theo cho nên bị thương, rồi lâu ngày trở thành tật. Chẳng hạn như người hướng dẫn thiếu niên bị té (thất bại) trong vấn đề tình cảm và hôn nhân, chẳng những bản thân bị thương mà các em cũng bị thương theo. Nếu không chịu chấn chỉnh lại, khi các em lớn lên sẽ sai trật như người hướng dẫn đã từng sai trật.
Cũng có thể đứa trẻ lúc đầu bị té, bị gãy chân, nhưng đâu phải đứa trẻ nào bị gãy chân cũng trở thành què. Vấn đề là do người có trách nhiệm không lo chỉnh sửa ngay hoặc không đúng cách, không đến nơi đến chốn, cho nên hành động sai lâu ngày thành tật, không thể sửa được nữa. Thí dụ: Trẻ phạm lỗi, làm điều sai quấy, người hướng dẫn dạy dỗ xử trí quá đáng gây tổn thương nặng nề. Trong lòng đứa trẻ trở thành căm giận, thù oán hoặc có thành kiến suốt đời.

Tính sao đây?
Trong công tác giáo dục, chẳng ai dự tính dạy thói hư tật xấu cho học viên, cũng chẳng ai tiên liệu khi học viên trưởng thành trong đời thuộc linh họ sẽ vướng vào thói hư tật xấu. Chúng ta cần tránh gây vấp ngã cho học viên và chỉnh sửa tới nơi tới chốn những tật xấu khi mới lộ ra. Tuy nhiên trong cộng đồng Cơ Đốc không phải lúc nào cũng chỉ gồm toàn là người lành lặn, vẫn còn có nhiều người ‘mang tật’. Một mặt chúng ta tìm cách giảm thiểu nguy cơ làm cho học viên có thể bị té, một mặt chúng ta chữa trị tới nơi tới chốn khi học viên va vấp té ngã để họ sớm lành lặn. Chúng ta cũng cần quan tâm nỗ lực giúp những học viên đầy cố tật mà chúng ta nghĩ là đã quá muộn để sửa chữa. Tinh thần và thái độ này giúp chúng ta cứ tiếp tục hy vọng khi chung đụng với những người Cơ Đốc ‘có tật’ trong cộng đồng Cơ Đốc. Chúng ta nên đối xử với họ như thế nào?
1. Vua Đa-vít nói với Mê-phi-bô-sết: “Ta muốn làm ơn cho ngươi vì cớ Giô-na-than, cha ngươi”. Dù làm ơn vì cớ ông Giô-na-than vốn là bạn chí thiết thuở hàn vi của vua, vua Đa-vít vẫn nêu cho chúng ta tấm gương về lòng nhân từ với người bị tật. Tình yêu thương đặt biệt dành cho người bị tật là điều rất quan trọng. Đây không phải chỉ là một chút cảm xúc nhất thời, một chút tiền bạc bố thí mà cần lòng yêu thương sâu xa bền bỉ gắn bó lâu dài. Vua Đa-vít bày tỏ tình yêu thương đối với Mê-phi-bô-sết trong suốt cuộc đời của ông. Đây không phải là một việc dễ làm, vì theo thời gian việc làm vì cảm xúc có thể sẽ biến thành gánh nặng. Thường xuyên cư xử nhân hậu đối với một người ngoan ngoãn dễ thương có lẽ dễ dàng hơn là thường xuyên cư xử nhân hậu với một người lắm tật xấu.
2. Vua Đa-vít trả lại đất đai cho ông Mê-phi-bô-sết. Vua không xử sự với ông Mê-phi-bô-sết như với người ăn mày khố rách áo ôm. Vì thương yêu ông Mê-phi-bô-sết, vua Đa-vít không muốn ông mãi mãi là người mình trần thân trụi. Vua Đa-vít muốn ông có trách nhiệm trên đời sống của bản thân. Ông ta cần một đời sống tự lập, cho nên thay vì lâu lâu cho tiền một lần, vua Đa-vít đã trả lại đất đai cho ông. Một người có đất đai là người có giá trị, có thể tự lo cho bản thân và gia đình của mình.
Những người bị tật thường bị loại ra ngoài cộng đồng. Họ bị xem là mất khả năng, không còn giá trị. Nếu đối xử với những người bị tật với thái độ đó chúng ta làm cho họ mặc cảm, mất lòng tự tin và tự trọng. Họ sẽ chấp nhận sống một đời sống thấp thỏi, thiếu nỗ lực và hoàn toàn lệ thuộc vào người khác. Nếu chúng ta yêu thương họ, chúng ta cần giúp họ có một đời sống tự lập, tự lo cho bản thân và những người trong gia đình của họ. Người lành lặn nhận thấy mình có giá trị đã là khó huống chi là người bị tật. Vì vậy cần tạo điều kiện để người bị tật vượt qua mặc cảm và nhận thấy họ cũng là con người có giá trị.
3. Vua Đa-vít cho ông Mê-phi-bô-sết ăn chung bàn với vua. Kinh Thánh chép: “Mê-phi-bô-sết ăn chung bàn Đa-vít như một con trai của vua vậy” (IISa 2Sm 9:11) Đây là một vinh dự cho con trai của ông Giô-na-than khi mỗi ngày được gặp gỡ và dùng bữa chung với vua Đa-vít. Cách bày tỏ tình yêu thương của vua Đa-vít cho thấy (a)Vua nâng cao giá trị của ông Mê-phi-bô-sết, coi ông như con trai của mình. (b)Vua muốn che chở, bảo vệ cho ông vì ông vẫn còn có những kẻ thù (IISa 2Sm 21:1-9). (c)Vua tạo cơ hội tương giao với Mê-phi-bô-sết.
Đối với những người có tật xấu trong phần thuộc linh chúng ta cần tạo cơ hội gần gũi thông công với họ, cần đối xử ân cần như khi đối xử với người khác để có cơ hội cảm hoá họ.
4. Mê-phi-bô-sết có gia đình, có tôi tớ. Kinh Thánh cho chúng ta biết Mê-phi-bô-sết có những điều mà một người bình thường có. “Mê-phi-bô-sết có một con trai nhỏ.” Nghĩa là Mê-phi-bô-sết có gia đình có con cái. Giúp cho một người bị tật có thể tự lo cho bản thân, có được mái ấm gia đình, thậm chí có những người tôi tớ là thành công rất lớn.
Kinh Thánh không nói đến, và chúng ta cũng tin rằng con trai của Mê-phi-bô-sết không bị tật như cha của nó. Nói như vậy không có nghĩa là nó không bị té, nhưng hi vọng rằng quá khứ của người cha không tái diễn trong cuộc đời của cậu Mi-ca.
Câu kết về Mê-phi-bô-sết: “Người bị què hai chân” (câu 13b) cho thấy người bị tật cần được chúng ta thương yêu và giúp đỡ thay vì chúng ta đòi hỏi họ phải giúp đỡ người khác. Giúp cho họ có thể tự lo cho bản thân và gia đình của họ là tốt lắm rồi. Yêu cầu ông Mê-phi-bô-sết vươn ra ngoài bản thân và gia đình của ông có lẽ hơi khó, vì sao? Vì người bị què hai chân.
Về phần thuộc thể lắm khi không thể thay đổi hoặc chỉnh sửa tình trạng khuyết tật. Nhưng đối với tật nguyền thuộc linh thì việc thay đổi là việc có thể xảy ra. Nếu trong lãnh vực thuộc thể, cách cư xử của vua Đa-vít đem lại sự thay đổi trong cuộc đời của ông Mê-phi-bô-sết, thì cách cư xử của chúng ta đối với những người ‘có tật’ trong lãnh vực thuộc linh sẽ đem đến những phép lạ trong đời sống của họ. Khi đời sống thuộc linh được thay đổi có nghĩa là những cố tật sẽ dần dần tan biến trong nếp sống. Đó là lúc những con người với những thói tật tưởng chừng không bao giờ thay đổi lại được Chúa biến đổi và dần hồi trở nên những người có tầm thước vóc giạc trong Chúa Cứu Thế.

Khi bất cẩn đi đôi với yêu thương

16 Bấy giờ, có hai con bợm đến cùng vua, đứng trước mặt vua. 17 Một đứa nói: Chúa tôi ôi! Người đàn bà này và tôi ở chung nhau một nhà, và tôi đẻ bên người trong nhà đó. 18 Sau ba ngày, người này cũng đẻ; chúng tôi ở chung nhau, chẳng một người lạ nào ở với chúng tôi trong nhà; chỉ có hai chúng tôi ở đó mà thôi. 19 Lúc ban đêm, con trai của người này chết, bởi vì người đã nằm đè trên nó. 20 Đêm khuya người chỗi dậy, và trong khi con đòi vua ngủ, thì người lấy con trai tôi khỏi bên tôi, mà để nó nằm trong lòng mình; rồi đặt con trai chết của nó nằm trong lòng tôi. 21 Sáng sớm, tôi thức dậy đặng cho con trai tôi bú, thì thấy nó đã chết; nhưng sáng rõ, tôi nhìn nó kỹ càng, thấy chẳng phải là con trai tôi đã đẻ. 22 Người đàn bà kia trả lời rằng: Không phải vậy; vì đứa sống là con trai tao, đứa chết là con trai mày. Song đàn bà này nói: Không phải vậy đâu; đứa chết là con trai mày, còn đứa sống là con trai tao.
Hai người cãi nhau như vậy trước mặt vua. 23 Vua bèn phán rằng: “Người này nói: ‘Đứa còn sống là con trai tao, và đứa chết là con trai mày’ Người kia nói: ‘Không phải vậy đâu; song con trai mày ấy là đứa chết, còn con trai tao ấy là đứa sống. 24 Vua bèn tiếp rằng: Vậy, hãy đem cho ta một cây gươm. Người ta đem cho vua một cây gươm. 25 Vua lại phán: “Hãy chia đứa trẻ sống làm hai; phân nửa cho người này và phân nửa cho người kia. 26 Nhưng mẹ của đứa trẻ sống - vì gan ruột cảm động thương yêu con mình, - bèn tâu với vua rằng: “Ôi, chúa tôi! Xin hãy cho người kia con trẻ sống, chớ giết nó.” Nhưng người kia nói rằng: “Nó sẽ chẳng thuộc về tao, cũng chẳng thuộc về mày; hãy chia nó đi. 27 Bấy giờ vua cất tiếng phán rằng: “Hãy cho người này đứa trẻ sống, chớ giết nó; ấy là mẹ nó.” (IVua 1V 3:16-22)
Vì sao chết bất ngờ?
Có nhiều nguyên nhân gây ra chết chóc: Chết vì thiếu ăn, vì bệnh tật, vì không nhà cửa, vì bạo lực chiến tranh. Nhưng ở đây nguyên nhân làm cho đứa trẻ chết thật là buồn cười: Đứa trẻ chết vì người mẹ nằm đè trên nó. Thật khó giải thích việc mẹ nằm đè con mình mà không hề hay biết, đến nỗi đứa bé phải chết. Một số người khi kể câu chuyện này không chịu được cảnh người mẹ đè chết con như vậy. Họ cho là trong khi người mẹ cho con bú, bà ta đã ngủ quên đến nỗi vú mẹ làm đứa bé chết ngạt. Nhưng cứ theo lời kể của người mẹ bị tráo con, thì chính người mẹ đã đè chết con mình. Chắc chắn bà ta đã ngủ say đến nỗi đè con mình chết. Thật khó tưởng tượng ra và lý giải được chuyện này. Chính vì thế, khi người mẹ đè chết con nhìn thấy sự thể, bà ta không chấp nhận đó là sự thật . Làm sao tôi là mẹ, tôi yêu thương con tôi mà tôi lại làm cho nó chết được? Ở đây chúng ta thấy tình yêu thương và sự bất cẩn.
Người mẹ không chấp nhận mình là người vô tình làm chết con, bà ta cũng không chấp nhận là con mình đã chết , cho nên trong đêm khuya đi lấy đứa trẻ còn sống của người ta làm con trai mình và tráo đứa trẻ chết của mình làm con trai người ta. Thật lạ lùng khi chúng ta vừa thấy một người mẹ ngủ say đè chết con mình, đồng thời cũng thấy một người mẹ ngủ say bị người khác lấy mất con mình mà không biết. Với người mẹ đi tráo con, chúng ta thấy tình yêu thương bất cẩn kéo theo sự ích kỷ, sự gian dối gây tổn hại cho người khác.
Điều may mắn trong câu chuyện là người mẹ bị tráo con nhận ra đứa trẻ chết không phải là con mình đã sinh ra: “Sáng sớm, tôi thức dậy đặng cho con trai tôi bú, thì thấy nó đã chết; nhưng sáng rõ, tôi nhìn nó kỹ càng, thấy chẳng phải là con trai tôi đã đẻ” (câu 21). Người mẹ này không chấp nhận đứa chết là con mình vì nó thật sự không phải là con của bà. Con trai của bà còn sống, nhưng đang ở trong tay người khác
Đến khi hai người mẹ cãi nhau trước mặt vua, một người nói: “Đứa sống là con trai tao, đứa chết là con trai mày”, người kia nói lại: “Đứa chết là con trai mày, đứa sống là con trai tao” (3:22). Một người giành con theo lẽ phải, vì nó là con; một người giựt con theo mưu mẹo, vì không muốn nhận đứa trẻ chết là con mình dù cả hai đều vì tình mẫu tử. Ở đây chúng ta thấy tình yêu thương bất cẩn gây ra tranh cãi, giành giựt, bất hoà.
Đến khi vua ra lệnh: “Hãy chia dứa trẻ sống làm hai; phân nửa cho người này và phân nửa cho người kia” (câu 25). Nghĩa là khi đứa trẻ bị đặt trước cái chết thì tình mẫu tử của người mẹ ruột bộc lộ rõ ràng khi sẵn sàng chịu thiệt về phần mình mà để cho đứa trẻ sống: “Ôi, chúa tôi! Xin hãy cho người kia con trẻ sống, chớ giết nó”, đồng thời tình mẫu tử giả hiệu cũng tự nhiên lộ ra, khi người mẹ giả nói: “Nó sẽ chẳng thuộc về tao, cũng chẳng thuộc về mày; hãy chia nó đi” (câu 26). Ở đây chúng ta thấy ở một người mẹ tình yêu thương và sự hy sinh, còn ở một người mẹ không còn tình yêu thương, chỉ có sự độc ác mà thôi.
Làm sao tránh bất hạnh?
Có nhiều nguyên nhân gây nên vô số bất hạnh cho cả trẻ em cũng như người lớn về phần thuộc thể:
-Đói kém, thiếu thực phẩm - vấn đề dinh dưỡng.
-Bệnh tật, - vấn đề chăm sóc sức khoẻ.
-Không nhà cửa - vấn đề an sinh.
-Tai nạn - vấn đề bảo vệ.
-Chiến tranh - vấn đề hoà bình.
Còn về phần thuộc linh chúng ta cần làm gì để tránh gây bất hạnh cho những người nằm trong tầm ảnh hưởng của chúng ta? Đứng về những người có trách nhiệm chúng ta cần:
1. Nuôi cho thật tốt. Giáo dục Cơ Đốc có ‘thực phẩm’ rất tốt nhưng người nuôi có cung cấp thực phẩm cách hợp lý chưa? Chúng ta cho ăn nhiều (học Kinh Thánh nhiều) nhưng có cho vận động không?
Nuôi nghĩa là phải dạy, phải tập luyện. Để không bị tật xấu cần có chiều hướng tích cực, đó là cần tập những tính tốt. Khi ngã và bị thương cần chữa trị ngay. Thấy có tật phải sửa liền. Giúp học viên nhận ra những thói xấu của họ và quyết định từ bỏ thói xấu đó. Tích cực hơn nữa là chỉ dạy, tập tành những thói quen tốt cho học viên.
2. Chủng ngừa. Đây là điều giúp tránh những căn bệnh hiểm nghèo. Chúng ta cần suy ngẫm về câu khẩu hiệu ‘đừng chết vì thiếu hiểu biết’. Cần chủng ngừa trước những gì? Người ta thường để bệnh dịch hoành hành rồi mới lo chủng ngừa và cô lập. Thật ra chúng ta cần phải làm điều này trước, vì ‘phòng bệnh hơn là trị bệnh’.
Trong phần thuộc linh, chủng ngừa cho học viên là giúp học viên biết trước những cạm bẫy của Ma quỷ trong đời sống hằng ngày. Dạy học biết về những nguyên tắc của tình bạn, tình cảm, tình dục…, cách sử dụng thì giờ giải trí, đọc sách… Đây là việc giáo dục có tính thực tế.
3. Tạo mái ấm (cộng đoàn). Thật là lý tưởng khi trẻ em được lớn lên trong gia đình Cơ Đốc, được sinh hoạt trong cộng đồng Cơ Đốc. Tuy nhiên chúng ta cần tự hỏi vì sao nhiều đứa trẻ lại bỏ nơi an toàn để tìm đến nơi không an toàn? Chúng ta nghĩ sao khi có người nói rằng trong số 100 thiếu nhi được đưa đến nhà thờ khi còn thơ ấu, đến tuổi trưởng thành chỉ có 10 thanh niên còn đến nhà thờ? Có thật sự gia đình Cơ Đốc, cộng đồng Cơ Đốc là mái ấm cho những người đang sống và sinh hoạt trong đó không?
Mái ấm Cơ Đốc phải là nơi nhiều người muốn sống và sinh hoạt trong đó vì là nơi có nhiều người thương yêu nhau; nơi có nhiều bạn bè thân thiết; nơi có những bữa ăn ngon lành; nơi có những giờ học thoải mái, lý thú và hấp dẫn.
4. Đừng bất cẩn. Đứa bé sơ sinh trong câu chuyện chết không phải vì đói, không phải vì bệnh, không phải vì vô gia cư, cũng không phải vì chiến tranh; nhưng chết do sự bất cẩn của người gần gũi nó nhất. Đứa trẻ chết chỉ vì người chăm sóc nó bất cẩn.
Mấy chục năm về trước báo chí bên Anh Quốc đăng tin một người mẹ trẻ kia không muốn tiếng khóc của con mình làm phiền hàng xóm nên cô ta đã dùng bông gòn bịt miệng đứa bé để ngưng tiếng khóc. Việc này vô tình làm đứa trẻ chết ngạt. Mới đây, có người mẹ đi siêu thị bỏ con một mình trong xe hơi đóng kín cửa; người khác thì bỏ con mình trong ngăn cất giữ hành lý. Rồi có cặp vợ chồng chở đứa con hai tháng tuổi đi xa, để gió làm cho con ngộp thở, khi đi gần đến nơi thì con đã tái tím cả người. Người khác để hai đứa con ở nhà một mình, chơi với nhau. Hai đứa trẻ chơi trốn tìm, một đứa trốn vào cái lu nước rồi chết ngộp trong đó. Nếu kể về những bất cẩn của người lớn đã làm chết trẻ em thì không phải là ít.
Hai bên quốc lộ có cắm nhiều bảng cảnh báo. Người đi đường phải nhìn cẩn thận, đừng coi thường, đừng khinh xuất, bằng không, tai nạn sẽ xảy ra. Cho nên trước hết chúng ta phải tuân thủ những luật lệ, những lời cảnh báo. Sự khinh xuất, bất cẩn của một người sẽ gây hoạ cho nhiều người. Trong sinh hoạt hằng ngày chúng ta có thể bất cẩn trong nhiều lãnh vực: (a)Thức ăn đồ uống. (b)Lời nói: nói dối nửa vời, nói dối trắng trợn tưởng con cái không biết nói gạt; nói giỡn độc địa thô tục làm cho trẻ bắt chước… (c)Hành vi: làm điều dối trá, giả hình, sống hai mặt…. Những điều bất cẩn đó vô tình ‘đè chết con trẻ’ vào lúc nào chúng ta không ngờ.
5. Có môi trường bình an. Thiếu gì những giáo viên dạy Kinh Thánh nói những điều hay lẽ phải trong giờ học, nhưng ngay sau đó, trong giờ họp họ lại dùng những lời lẽ nặng nề đối với nhau hoặc đối với người vắng mặt mà không ngờ rằng các học viên nghe được. Thiếu gì những bậc cha mẹ bề ngoài trông rất đáng kính nhưng thỉnh thoảng, trong đêm khuya, con họ thức giấc và nghe tất cả những lời mà chúng không bao giờ nghĩ là có thể thốt ra từ người cha người mẹ đáng kính của chúng. Trong gia đình kia, hai anh em nói chuyện với nhau: “Hôm nay con rắn độc đi chợ, còn con chó sói đi làm.” chỉ vì trong lúc hai vợ chồng cãi nhau ông bố thường rủa: ‘Đồ rắn độc!’ còn bà mẹ rủa lại: ‘Đồ chó sói!’
Người lớn đôi khi làm gương xấu cho trẻ nhỏ. Trẻ con đôi khi là bản sao của người lớn. Ai ai cũng biết: ‘Cha sao con vậy’, ‘cha nào con nấy’. Nhiều thiếu nhi hút thuốc, uống rượu, chửi thề… Vì sao? Vì chúng học từ người lớn. Cho nên muốn cho trẻ con không bị tật, người lớn chẳng những không sống bất cẩn mà còn phải xét lại xem bản thân có những tật nào cần từ bỏ? Khi người lớn không quyết định từ bỏ tật xấu, thử hỏi làm sao trẻ con từ bỏ được.
Nguyên tắc thật đơn giản, khi từ bỏ tật xấu thì sẽ thêm thói quen tốt; không làm gương xấu tất nhiên phải làm gương tốt. Mà ngược lại cũng đúng vậy!

Chẳng lẽ bỏ mặc?
14 Khi về đến chỗ các môn đệ kia, họ thấy đông đảo dân chúng cùng các thầy thông giáo đang vây quanh và tranh luận với các môn đệ ấy. 15 Vừa thấy Chúa, tất cả dân chúng đều ngạc nhiên, chạy đến chào Ngài. 16 Chúa hỏi các môn đệ: “Anh em đang tranh luận với họ về việc gì?” 17 Một người trong đám đông trả lời: “Thưa Thầy, tôi đem con trai tôi đến cùng Thầy, cháu bị quỷ ám. 18 Mỗi khi nhập vào cháu, bất kỳ cháu đang ở đâu, quỷ đều vật ngã cháu xuống, làm cháu xùi bọt mép, nghiến răng, cứng đờ ra; tôi xin các môn đệ thầy đuổi quỷ, nhưng họ không đuổi được!”
19 Chúa trả lời với họ: “Hỡi dòng dõi vô tín! Tôi phải ở với anh em cho đến chừng nào? Tôi phải kiên nhẫn với anh em cho đến bao giờ? Hãy đem cháu đến đây cho tôi!”
20 Họ đem đứa trẻ đến cho Ngài. Vừa thấy Chúa, quỷ liền vật đứa trẻ qua lại, làm nó ngã xuống đất, lăn lộn rồi sùi bọt mép.
21 Chúa hỏi cha đứa trẻ: “Việc này xảy đến cho cháu bao lâu rồi?”
Ông ấy trả lời: “Thưa, từ hồi nhỏ. 22 Quỷ cũng thường quăng cháu vào lửa và ném xuống nước để giết cháu; nhưng nếu Thầy có thể làm được gì, thì xin thầy thương mà giúp đỡ chúng tôi!” 23 Chúa Giê-xu bảo ông ấy: “Ông nói ‘nếu Thầy có thể’ Hễ ai tin đều có thể làm được tất cả mọi việc.”
24 Cha của đứa trẻ liền thưa to: “Tôi tin! Xin Thầy giúp cho lòng vô tín của tôi!”
25 Khi thấy dân chúng đổ xô lại, Chúa Giê-xu quở uế linh: “Quỷ câm điếc! Ta truyền cho mày phải xuất khỏi đứa trẻ này, và không bao giờ nhập vào nó nữa!”
26 Quỷ thét lên, vật đứa trẻ lăn lộn, rồi xuất ra. Đứa trẻ trở nên như chết, nên nhiều người nói: “Nó chết rồi!” 27 Nhưng Chúa Giê-xu nắm tay đỡ đứa trẻ, và nó đứng dậy.
28 Khi Chúa vào nhà, các môn đệ hỏi riêng Ngài: “Vì sao chúng tôi không đuổi được thứ quỷ ấy?”
29 Ngài trả lời: “Thứ quỷ ấy không thể đuổi được nếu không cầu nguyện.”
(Mac Mc 9:14-29)
(Mat Mt 17:14-21 LuLc 9:37-43)

Người cha thưa với Chúa: “Thưa Thầy, tôi xin Thầy thương đến con trai tôi, vì cháu là con một của tôi” (LuLc 9:38). Gia đình người này chỉ có cậu con trai duy nhất, thế mà cậu ta lại bị quỷ ám. Quyền của ma quỷ rất mạnh. Quỷ không những ám vào những người lớn như Ma-ri Ma-đơ-len (Mac Mc 16:9) mà còn ám vào cả thiếu nhi nữa.
Thế giới của ma quỷ là một thế giới đáng sợ và quyền lực của ma quỷ rất đáng kinh khiếp. Kinh Thánh không cho chúng ta biết vì sao quỷ lại ám vào cậu bé này, nhưng theo lời than thở của người cha thì quỷ nhập vào cậu bé để: (1)Điều khiển cậu bé làm theo ý của nó. (2)Hành hạ cậu bé. Và (3)Giết cậu bé. Tình trạng của thiếu nhi bị quỷ ám thật khốn khổ trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Cha của cậu bé bị quỷ ám nói: “Tôi đã xin các môn đệ Thầy đuổi nó ra, nhưng họ không thể đuổi được” (LuLc 9:40). Câu nói này bộc lộ một tình cảnh bi đát hơn. Những con người từng được Chúa Giê-xu gọi đến ‘ban cho họ năng lực và uy quyền đuổi tất cả các quỷ và chữa lành các tật bệnh’ (LuLc 9:10), những người từng có kinh nghiệm đuổi các quỷ (Mac Mc 6:13) thì nay lại thất bại. Khi đi với nhau chỉ có hai người thì có thể “đuổi các quỷ và xức dầu chữa lành cho nhiều người bệnh” (Mac Mc 6:13), còn khi ở với nhau chín người (lúc đó ông Phi-e-rơ, ông Giăng và ông Gia-cơ đi với Chúa) thì mười ý cho nên không đuổi được quỷ. Rồi dường như họ chỉ có thể đuổi quỷ cho người lớn chớ còn trẻ em bị quỷ ám thì họ không đuổi được. Nghe cứ như thể đôi khi bác sĩ chuyên trị bệnh người lớn lại bó tay trước bệnh của trẻ em. Giống như trong nhà thờ đuổi quỷ cho những người lớn thì được mà đuổi quỷ cho tuổi thiếu niên, thiếu nhi thì không thể. Điều này có vẻ hơi lạ lùng nhưng lại có thật trong thực tế. Nhiều khi chúng ta có thể dẫn dắt người trưởng thành từ bỏ nếp sống thờ ma lạy quỷ nhưng bó tay với thiếu nhi. Thực hư vấn đề này ra sao? Cần trả lời câu hỏi này trong những phần tiếp theo.
Thất bại trong việc đuổi quỷ cho một cậu bé gây ra cảnh tranh cãi nhốn nháo giữa các môn đệ với dân chúng và các thầy thông giáo, thậm chí với cả cha của cậu bé. Chúng ta không biết họ trao đổi với nhau những điều gì, nhưng chắc chắn các môn đệ bị chỉ trích dữ dội. Còn các môn đệ tìm đủ mọi cách giải thích vì sao họ không đuổi quỷ được. (Thật ra lúc đó các môn đệ tranh luận về một vấn đề họ chưa biết)
Người cha của cậu bé nhận định về các môn đệ là: “Họ không đuổi được” (nguyên văn là “họ không mạnh”). Điều này thức tỉnh mỗi chúng ta, phải chăng điểm yếu của chúng ta là không giải quyết được những nan đề của cá nhân và gia đình trước quyền lực của ma quỷ? Ngày nay chúng ta có thể mạnh và thành công trong những lãnh vực như xây dựng nhà thờ, tổ chức lễ hội, ban ngành đầy đủ, phương tiện hiện đại nhưng vẫn đang bó tay trước tình trạng các thiếu nhi đang bị quỷ ám trong Hội Thánh.
Nhìn cảnh các môn đệ không đuổi quỷ ra khỏi cậu bé, chúng ta thấy: (1)Cậu bé thật đáng thương. Đầu xanh có tội tình gì? (2)Gia đình, cha mẹ cậu bé thật đáng thương. Họ khốn khổ vì tình trạng của con, mặc cảm về tình trạng của gia đình. Và (3)Các môn đệ thật đáng thương vì họ bó tay, mất quyền năng, không giúp được gì cả và không biết vì sao họ lại ra nông nỗi này.
Trong ba nhóm người trên đây, ai là người có thể giúp cậu bé? Bản thân cậu bé không thể tự chống chọi với quỷ. Cha mẹ cậu bé đã bó tay nên mới đem đến cho các môn đệ. Chỉ có các môn đệ, những người theo Chúa Giê-xu, học nơi Chúa mới có thể giúp cậu bé. Như vậy thành phần lãnh đạo Cơ Đốc, giới môn đệ của Chúa Giê-xu là những người được các bậc phụ huynh tin tưởng và kỳ vọng là có thể giúp con em của họ thoát khỏi quyền lực của ma quỷ.
Trước tình cảnh này, Chúa Giê-xu nói gì và làm gì? 1. Chúa Giê-xu cho biết nguyên nhân không đuổi quỷ được. Nguyên nhân là dòng dõi vô tín. (Ông Ma-thi-ơ ghi lại rõ hơn: “Hỡi dòng dõi không tin và lầm lạc!”) Các thầy thông giáo, dân chúng, cha đứa trẻ, các môn đệ, ai là người thuộc về dòng dõi không tin và lầm lạc? Chẳng ngoại trừ một ai cả. Từ dân chúng những người chẳng quan tâm gì đến số phận của cậu bé, cho đến nhóm người ‘thừa nước đục thả câu’là các thầy thông giáo, cho đến người thân thuộc là cha của cậu bé, lẫn những người có trách nhiệm cứu giúp cậu bé là các môn đệ, tất cả đều thuộc dòng dõi không tin và lầm lạc. Niềm tin là điều thiết yếu trong việc cứu giúp cậu bé. Dân chúng bàng quan chỉ muốn chứng kiến phép lạ, nhưng khi phép lạ xảy ra họ chẳng thèm tin; khi Chúa đuổi quỷ cho cậu bé rồi, họ lại nói: “Nó chết rồi!”, và sau khi nhìn tận mắt phép lạ họ cũng chẳng chịu tin. Còn nhóm người yêu thương, quan tâm đến tình trạng của cậu bé, có tìm cách cứu giúp cậu bé, có những hành động thiết thực nhưng tiếc thay tình yêu và công việc của họ không phát xuất từ niềm tin.
Chúa Giê-xu cho biết không đuổi được quỷ là do tinh thần của người cha khi ông nói với Chúa: “nếu Thầy có thể làm được gì”. Trong câu trả lời Chúa nhấn mạnh với ông rằng “hễ ai tin đều có thể làm được tất cả mọi việc.” Chúa không hỏi người cha về quyền năng đuổi quỷ. Nhưng Chúa nhấn mạnh với ông về lòng tin. Ông chỉ thấy các môn đệ là nguyên nhân: vì “họ không đủ mạnh” nên không đuổi được quỷ. Nhưng ông không nhận ra rằng bản thân ông, người thương con mình nhất, muốn con mình thoát ách ma quỷ, cũng không mạnh trong niềm tin và đang lầm lạc. Điều này cảnh tỉnh các bậc phụ huynh không thể có suy nghĩ lầm lạc khi cứ ‘đem con bỏ nhà thờ’ rồi trông mong có phép lạ từ các môn đệ của Chúa. Chúa muốn nhìn thấy niềm tin của các bậc cha mẹ khi đem con em đến với Ngài. Yêu thương con chưa đủ, quan tâm, lo lắng, chữa chạy, tìm người cứu giúp con mình chưa đủ. Cần xem lại niềm tin của mình nơi Chúa như thế nào.
Chúa Giê-xu cũng cho biết không đuổi được quỷ là do các môn đe . (a)Họ có niềm tin, nhưng niềm tin của họ chỉ là niềm tin yếu ớt. Khi các môn đệ hỏi Chúa: “Vì sao chúng tôi không thể đuổi nó được?” Chúa Giê-xu trả lời: “Vì niềm tin yếu ớt của anh em!” (Mat Mt 17:19-20a) Có niềm tin nhưng yếu ớt thì cũng như không, vì niềm tin yếu ớt không làm được gì cả. Chúa Giê-xu nói với các môn đệ “nếu có niềm tin bằng hạt cải” (Mat Mt 17:20b) thì có thể xoay chuyển được tình thế. Thật là lạ lùng khi so sánh giữa ‘niềm tin yếu ớt’ với ‘có niềm tin bằng hạt cải’. Chúa không nói hãy làm cho ‘niềm tin yếu ớt’ mạnh lên, Ngài khuyên các môn đệ hãy ‘có niềm tin bằng hạt cải’. (b)Họ không cầu nguyện: “Thứ quỷ ấy không thể đuổi được nếu không cầu nguyện” (Mac Mc 9:29). Mat Mt 17:21 còn nhấn mạnh thêm nội dung của việc cầu nguyện: “Nhưng loại quỷ này sẽ không xuất ra nếu ta không cầu nguyện và kiêng ăn.” Câu 14 cho thấy các môn đệ chỉ lo tranh luận với các thầy thông giáo, dân chúng và cha của đứa trẻ. Họ bị lôi kéo vào việc tranh cãi hơn thua, lý luận về quyền năng, giải thích về phương pháp… mà không nhận ra quyền năng thắng hơn quỷ đến từ sự cầu nguyện .
Trong thời Chúa Giê-xu, ngoài ngày Đại Lễ Chuộc Tội là ngày kiêng ăn bắt buộc, người ta còn kiêng ăn vì những lý do sau: (a)Khi có tang chế. (b)Khi muốn chuộc lại lỗi lầm, bày tỏ lòng ăn năn. (c)Khi chuẩn bị cho một vấn đề quan trọng. Trong ba lý do kiêng ăn và cầu nguyện cho việc đuổi quỷ, lẽ nào chúng ta không buồn rầu khi nhìn thấy con em chúng ta dở sống dở chết dưới quyền lực ma quỷ? Lẽ nào chúng ta vui chơi ăn uống trong khi con em chúng ta đang bị ma quỷ quăng vào lửa và ném xuống nước? Vì con em chúng ta có sẵn sàng ăn năn không? Ăn năn vì đã không quan tâm đúng mức , vì không bảo vệ được chúng, không cứu chúng thoát khỏi cái ách của ma quỷ… Việc đuổi quỷ có phải là một vấn đề quan trọng, vấn đề sống còn hoặc chỉ là vấn đề thêm vào, được hoặc không cũng chẳng thành vấn đề? Khi chúng ta công nhận đây là vấn đề nghiêm trọng thì chúng ta phải dành thì giờ và phương cách thích đáng để giải quyết. Cầu nguyện kiêng ăn vì tình trạng của chính bản thân và vì tình trạng của con em chúng ta là điều cần làm trước rồi mới có thể cứu giúp chúng.
2. Chúa Giê-xu nói: “Hãy đem cháu đến đây cho tôi!” Chúa vừa nhận trách nhiệm vừa đem hi vọng đến cho những người đang thất vọng. Chúa hỏi thăm về tình trạng của cậu bé: “Việc này xảy đến cho cháu bao lâu rồi?” Chúa khuyến cáo và khích lệ niềm tin của người cha: “Ông nói ‘nếu Thầy có thể’! Hễ ai tin đều có thể làm được tất cả mọi việc.” Chúa truyền cho quỷ phải xuất khỏi cậu bé và không bao giờ nhập vào nó nữa. Chúa nắm tay đỡ cậu bé.
Chúa biến thất vọng thành hi vọng. Chúa không nói Ngài sẽ làm hết mọi chuyện trong việc đuổi quỷ. Trước hết Ngài thay đổi suy nghĩ tiêu cực của người cha, Ngài thay đổi cách nhìn nhận và niềm tin của người cha. Niềm tin của người cha là một trong những yếu tố để con của ông được giải thoát khỏi quyền lực của ma quy . Sau đó Ngài mới trực tiếp đối diện với ma quỷ. Ngài chẳng những đuổi quỷ xuất ra khỏi cậu bé mà còn tuyên bố quỷ không bao giờ được nhập vào cậu bé nữa. Khi quỷ đã xuất ra khỏi đứa trẻ, Chúa đụng đến cậu bé, Ngài nắm tay đỡ cậu bé để nó có thể đứng dậy.

Yêu & Ghét
Một người nọ làm chứng về quá trình theo đạo và tin đạo của mình gồm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất gọi là giai đoạn tin đồ (tin không có dấu sắc), đây là thời gian đi nhà thờ nhưng chưa có niềm tin thật vì mong được hưởng những nhu cầu vật chất mà người ấy tin là Chúa sẽ ban cho. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn tín đồ (tin có dấu sắc), đây là kinh nghiệm niềm tin người ấy có được sau một thời gian tham gia lớp học Kinh Thánh. Nếu cứ tiếp tục tham gia lớp Kinh Thánh chắc chắn người ấy sẽ kinh nghiệm được giai đoạn tiếp theo. Biết đâu sẽ là giai đoạn môn đồ ?
Trong những quyển sách về Cơ Đốc Giáo Dục luôn luôn có câu này:
-Trước hết học viên học yêu thương giáo viên.
-Kế đó học viên học yêu thương Kinh Thánh của giáo viên.
-Rồi học viên học yêu thương Cứu Chúa của giáo viên.
Chúng ta có thể vẽ một hình tam giác tượng trưng cho phản ứng của con người đối với Phúc Âm. Từ trên xuống dưới gồm có bốn phần, với phần đáy đặc biệt lớn:
Hình 1.
Tìm hiểu từ số 4 đến số 1.

4. Không thích - ghét.
Đại đa số những người chúng ta tìm cách giáo dục thường không thích nhiều điều. Có thể ví họ với ‘những con ngựa chứng’. Những điều chúng ta ưa thích và muốn dạy cho học viên lại là những điều họ không thích và ghét bỏ. Chúng ta yêu mến Chúa trong khi học viên không thích nói đến chuyện yêu Chúa. Đôi khi họ phàn nàn về chúng ta rằng: “Hở một chút là nói đến Chúa!” Chúng ta nhắc nhở học viên đọc Kinh Thánh trong khi họ rất ghét, rất ớn Kinh Thánh. Cầu nguyện là sinh hoạt vô cùng khó khăn. Học viên không thích cầu nguyện và cho là không hợp thời. Rồi hầu như ai ai cũng tránh làm chứng về kinh nghiệm bản thân, tránh chia sẻ Phúc Âm. Cho nên nếu liệt kê ra hết những điều học viên của lớp học Kinh Thánh không thích và ghét bỏ thì bảng liệt kê đó rất dài: Không thích Chúa Giê-xu, không thích nhà thờ, không thích Hội Thánh, không thích làm Cơ Đốc nhân, không thích Kinh Thánh, không thích điều răn mạng lệnh của Chúa, không thích làm theo ý muốn Chúa, không thích làm chứng về Chúa, không thích giờ học Kinh Thánh, không thích phát biểu, không thích người dạy Kinh Thánh...
Kinh Thánh có ghi lại một số nhân vật với những điều họ không thích: tuyển dân của Chúa không yêu thích điều răn và mạng lệnh của Chúa. Họ thấy điều răn là nặng nề trong khi Chúa nói điều răn luật lệ của Ngài chẳng phải là nặng nề. Ông Giô-na không thích công việc Chúa muốn ông thực hiện. Vua Hê-rốt không thích hài nhi Giê-xu. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-xi không thích Chúa Giê-xu, họ đi theo Chúa chỉ để tìm cơ hội bắt bẻ Chúa, hãm hại Chúa đến nỗi Chúa Giê-xu phải nói thẳng với họ: “Các ngươi ghét ta vô cớ.” Ông Sau-lơ không thích Chúa Giê-xu lẫn những người tin Ngài cho nên ông bắt bớ Chúa và Hội Thánh.
Một khi đã không thích lời Chúa thì có thể nào yêu Chúa và sẵn sàng làm theo lời Chúa không? Đôi khi chúng ta kêu gọi những con người không thích lời Chúa phải chuyên cần học Kinh Thánh, trong khi lẽ ra chúng ta nên tìm cách giúp học viên ưa thích Kinh Thánh trước đã. Chúng ta kêu gọi học viên tham gia làm việc giúp Hội Thánh trong khi họ chưa ưa thích Hội Thánh cũng chưa có tinh thần sẵn sàng. Như vậy chẳng khác gì chưa ra hoa mà đã lo hái trái. Vì cớ chủ trương sai lầm nên phương pháp sai lầm, rồi dẫn đến sứ điệp không phù hợp, cho nên lời giáo huấn cứ như nước đổ lá môn để rồi theo năm tháng học viên ngán ngẫm, tai nghe mà lòng than thầm: ‘Biết rồi, khổ lắm, nói mãi’.
Nhiều thiếu nhi đi nhà thờ vì bị cha mẹ ép buộc nên không thích tham dự các lớp Kinh Thánh, cũng không thích thờ phượng chung với cha mẹ. Cũng không thiếu gì những người lớn tuổi chịu khó đi nhà thờ mỗi sáng Chúa nhật, nhưng lại không thích giờ thờ phượng, họ cảm thấy như đang bị ép buộc phải nghe những bài hát khó hiểu, phải nghe bài giảng với những nội dung không thực tế, phải nghe những lời thông báo không cần thiết, phải nghe những lời dẫn giải hoặc tóm lược dư thừa…
Nên làm gì khi học viên không thích? Phải chăng cứ để mặc họ, từ từ Chúa sẽ thay đổi họ? Hoặc phải chăng cần tìm hiểu nguyên nhân? Một giáo viên không chịu tìm hiểu những học viên đang mắc chứng ‘không thích’ thì có lẽ bản thân giáo viên đó cũng đang bị mắc chứng ‘không thích’: không thích làm giáo viên, không thích thay đổi cách dạy.
Vì sao học viên không thích giờ học Kinh Thánh? Có thể vì cớ giáo viên không thích dạy. Cũng có thể vì cớ học viên chưa thấy học Kinh Thánh là bổ ích. Có thể lắm vì cớ bầu không khí của lớp học, hoặc vì cớ thiếu tình thân giữa các học viên với nhau hoặc với giáo viên. Ngoài ra biết đâu chừng nội dung bài không phù hợp với lứa tuổi của học viên. Vì sao học viên không thích giáo viên? Có thể vì không thích phương pháp dạy của giáo viên, có thể vì không thích tác phong của giáo viên. Chúng ta có cách nào giúp học viên quan tâm và thích một khía cạnh nào đó của giờ học Kinh Thánh không? Thí dụ: có bạn bè, thích giáo viên, thích thảo luận, thích diễn kịch, thích thủ công, thích ca hát, thích vẽ…
Không tìm hiểu nguyên nhân khiến học viên ‘không thích’ sẽ không bao giờ có phương thức tốt, sẽ không bao giờ có một giờ dạy bổ ích, cũng không bao giờ trở nên giáo viên giỏi. Nếu cứ kéo dài tình trạng ‘không thích’, vô hình trung giáo viên biến giờ học Kinh Thánh thành những giờ giáo viên và học viên làm khổ lẫn nhau, biến những chuyện Kinh Thánh sinh động hào hứng thành chuyện khô khan buồn tẻ, biến những nhân vật anh hùng đức tin thành đối tượng bị tẩy chay thay vì trở nên những tấm gương sáng cho học viên. Đó là lý do vì sao giờ học Kinh Thánh thiếu niềm vui, không có tiếng cười, chẳng có hào hứng, chỉ có một bầu không khí nghiêm trọng nặng nề và buồn nản bao trùm từ giáo viên đến học viên.
3. Thích … một điều gì đó, một cái gì đó - không phải là Phúc Âm.
Trẻ em đi nhà thờ vì thích không khí vui vẻ, vì ít bị rầy la cấm cản, vì thích có bạn có bè, vì thích chơi đùa, thích phần thưởng, bánh kẹo… Thiếu niên đi nhà thờ không thích nghe giảng mà chỉ thích nói chuyện, tán gẫu với nhau. Thanh niên đi nhà thờ vì thích tìm bạn khác phái ở chỗ lịch sự, tôn nghiêm. Người lớn đi nhà thờ vì thích bạn giáo đường hơn bạn hàng xóm…
Nhiều người nói tin Chúa, theo Chúa, nhưng đi nhà thờ không phải vì yêu Chúa mà yêu một cái gì đó có hơi hướm của Chúa. Thay vì làm tín đồ của Chúa họ làm tín đồ của Hội Thánh. Chúa Giê-xu từng nói: “Anh em tìm tôi không phải vì đã chứng kiến dấu lạ, nhưng vì đã được ăn bánh no nê” (GiGa 6:26), dân chúng thích bánh của Chúa chứ không phải thích chính Chúa.
Ai trong chúng ta cũng biết câu chuyện một người mẹ kia hỏi con trai. “Con ơi, muốn có kẹo hay muốn có mẹ?” Cậu bé trả lời không chút do dự: “Con muốn có kẹo!” Câu trả lời của cậu bé nói lên tâm lý chung của đa số những người theo Chúa. Họ chỉ muốn nhận sản phẩm chớ chưa quan tâm đến Đấng làm ra sản phẩm. Cậu bé có thể nghĩ rằng nếu nói: “Con muốn có mẹ!” thì cậu sẽ không được ăn kẹo. Có thể lắm chúng ta cũng suy nghĩ giống như vậy, tức là tưởng rằng nếu thưa với Chúa: “Con muốn có Ngài!” thì chúng ta sẽ chẳng có gì cả.
Khi đọc Phúc Âm Mac Mc 10:17-22 về Anh Thanh Niên Giàu Có, có thể chúng ta thắc mắc: Anh thanh niên giàu có yêu mến Chúa hoặc yêu tiền tài danh vọng? Rồi sau đó là chuyện ông Giăng và ông Gia-cơ trình bày với Chúa điều họ mong ước (Mac Mc 10:35-37). Khi đó họ yêu Chúa Giê-xu hay yêu địa vị quyền lực mà Chúa có thể cho họ?
Theo Chúa Giê-xu vì yêu phước lành Chúa cho, yêu bánh Chúa ban, yêu tiền Chúa thưởng, yêu bảo hiểm của Chúa cấp, … Đó là ‘chủ trương’ khá phổ biến giữa vòng Cơ Đốc nhân. Tất nhiên chúng ta không phủ nhận hoặc không vui mừng tiếp nhận những phước hạnh Chúa ban cho. Nhưng nếu tin Chúa chỉ vì những món hời của Chúa thì có đúng không?
Một khi yêu một điều gì đó có liên quan đến Chúa chứ không yêu chính Chúa thì có sẵn sàng làm theo lời Chúa không? Câu trả lời là còn tuỳ. Anh thanh niên nọ không sẵn sàng làm theo lời Chúa dạy bảo vì anh ta yêu vật chất tiền tài, anh ta nghĩ rằng nếu vâng theo lời Chúa thì bản thân sẽ bị thiệt hại. Còn ông Gia-cơ và Giăng nói họ sẵn sàng uống chén Chúa uống cũng chỉ vì họ yêu địa vị và quyền lực. Nói tóm lại sẵn sàng hoặc không sẵn sàng làm theo lời Chúa dạy có thể là vì yêu món lợi cho bản thân.
Dù Chúa là Đấng yêu thương nhưng chúng ta nào có muốn dạy học viên trở thành người chuyên mặc cả và đổi chác với Chúa, phải không? Thí dụ: Nếu con làm việc này cho Chúa, Chúa phải làm cho con việc nọ. Nếu con học Kinh Thánh, Chúa phải cho con thi đậu. Nếu con dâng tiền, Chúa phải cho con trúng mánh. Nếu con yêu mến Chúa, Chúa phải cho người đó yêu con. Nếu con hầu việc Chúa, Chúa phải thoả mãn những yêu cầu trong đời sống con… Thật đúng là ‘có qua có lại’, toàn những chuyện thực tế, trần tục và phi thuộc linh.
Giáo viên cần và phải hướng dẫn những con người sống trong thực tế trần tục đó nhận biết vị trí và vai trò của Chúa trong đời sống của họ. Bản thân họ cần làm gì, thay vì cứ đến với Chúa và cầu cạnh Ngài như là cầu cạnh một vị thần, mặc cả với thần sao có lợi cho mình.
Phúc Âm Giăng chương 6 cho chúng ta thấy dân chúng theo Chúa vì nhiều lý do khác nhau: vì thấy người khác theo Chúa nên cũng đi theo, vì mong chứng kiến tận mắt những phép lạ Chúa làm, vì muốn nghe những lời dạy khôn ngoan của Chúa, vì thức ăn Chúa ban cho, hoặc vì những động cơ riêng tư khác. Nhưng cũng chính những người đó lại trở thành những người ghét Chúa, tranh cãi với Chúa, chống nghịch Chúa và không tiếp tục theo Chúa. Vì Chúa không làm theo ý họ mong muốn, vì lời Chúa nói không hợp với họ. Hoá ra họ theo Chúa vì chính điều họ ưa thích chứ không phải vì chính Chúa là Chúa.
Những trường hợp điển hình trên cho thấy nếu một người đến với Chúa vì cớ thích một điều gì đó có liên quan đến Ngài nhưng không phải vì yêu thích chính Ngài thì sau một thời gian mối quan hệ giữa người đó với Chúa sẽ rơi vào tình trạng tồi tệ vô cùng. Ông bà Gióp đều học chung một lớp trong Trường Học của Đức Chúa Trời nhưng suy nghĩ của họ về Đức Chúa Trời không giống nhau. Ông Gióp tin thờ Đức Chúa Trời vì Ngài là Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng ban cho và là Đấng cất đi. Còn bà Gióp có lẽ là học viên tin đồ , bà không thể nào chấp nhận Đức Chúa Trời có thể để những tai hoạ xảy ra cho người tin Ngài.
Chúng ta nên làm gì cho những học viên đang ưa thích một điều gì đó chứ không ưa thích Chúa? Chúng ta sẽ chê trách họ hoặc cứ bỏ mặc họ, để cho họ lúc thích cái này lúc thích cái kia… hoặc chúng ta tìm cách giúp họ thay đổi suy nghĩ để có ước muốn đúng đắn hơn?
Tất nhiên không ai muốn học viên cứ mãi ở trong tình trạng ưa thích một điều gì đó mà không phải là yêu thích chính Chúa và lời của Ngài. Trong quá trình giáo dục Cơ Đốc chúng ta sẽ nhận ra rằng giúp học viên từ chỗ ghét bỏ đến chỗ ưa thích một điều gì đó có lẽ dễ dàng hơn là giúp học viên từ chỗ ưa thích một điều gì đó đến chỗ yêu lời Chúa và chính Ngài. Đây là thách thức đối với giáo viên.
2. Yêu Chúa - yêu Lời Chúa.
38 Chúa Giê-xu và các môn đệ tiếp tục lên đường; khi Chúa vào ngôi làng kia, một phụ nữ tên là Ma-thê đón Ngài vào nhà 39 Bà có người em gái tên là Ma-ri, thích ngồi nơi chân Chúa để nghe Ngài. 40 Bà Ma-thê bận rộn nhiều việc để tiếp đãi khách, nên đến thưa: “Thưa Thầy, Thầy không thấy em tôi để tôi một mình tôi làm việc sao? Xin thầy bảo cô ấy giúp tôi!” 41 Chúa trả lời: “Cô Ma-thê ơi, cô lo lắng và bận rộn nhiều việc, 42 nhưng chỉ có một việc cần thiết thôi, cô Ma-ri đã chọn phần tốt mà không ai lấy của cô ấy được.”
(LuLc 10:38-42)

Nếu cô Ma-thê dạy Kinh Thánh, cô ấy sẽ là một giáo viên rất năng nổ, nhiệt tình, hết lòng với công việc. Cô Ma-thê muốn có người cộng sự với mình và các học viên sẽ có rất nhiều hoạt động thực tế. Điều cô Ma-thê nhấn mạnh trong khi dạy là hãy làm điều này, phải thực hiện việc kia, không được bỏ qua việc nọ… Còn nếu cô Ma-ri dạy Kinh Thánh, cô ấy sẽ khuyến khích các học viên yêu thích lời Chúa, say mê học Kinh Thánh. Giờ dạy của cô sẽ có nhiều lời trao đổi giữa cô với học viên, với Chúa và với những nhân vật trong Kinh Thánh. Cô Ma-ri nhấn mạnh mối tương giao giữa học viên với Chúa Giê-xu và với lời của Ngài
Cô Ma-thê được đề cập đến nhiều trong phân đoạn Kinh Thánh này. Cô là người đón Chúa Giê-xu vào nhà, là người bận rộn nhiều việc, là người cần có người cùng làm việc, là người lo liệu mọi việc. Cô Ma-thê là con người sẵn sàng hành động, luôn luôn làm việc và muốn người khác cùng làm việc với mình. Trong khi cô Ma-ri dường như bị chỉ trích là quá thụ động khi đón Chúa Giê-xu vào nhà. Cô chỉ biết ngồi một chỗ để nói chuyện với Chúa và lắng nghe Ngài.
Cô Ma-thê làm vui lòng Chúa Giê-xu qua thành quả, qua công tác phục vụ, còn cô Ma-ri làm vui lòng Chúa Giê-xu qua sự tương giao. Một người đi tìm sự phục vụ, một người đi tìm sự tương giao. Phục vụ Chúa và tương giao với Chúa có phải là hai điều cần thiết của người Cơ Đốc không? Việc nào cần thực hiện trước, việc nào thực hiện sau? Có thể thực hiện cả hai cùng một lúc không?
Nếu Chúa Giê-xu là giáo viên lớp Kinh Thánh tại tư gia thì trong lớp Ngài có hai loại học viên, một loại thích nghe lời Ngài dạy, một loại thích lăng xăng làm việc này việc kia và cả hai đều muốn làm vui lòng Chúa. Tất nhiên Chúa rất vui khi cả hai loại học viên này đến lớp của Ngài và cách dạy của Ngài là thoả mãn lòng mong đợi chính đáng của học viên Ma-ri và thay đổi cách nhìn của học viên Ma-thê đối với lòng mong đợi đó.
Nhiều học viên yêu Chúa, thích nghe lời Chúa, hăm hở đến lớp học Kinh Thánh, nhưng giáo viên làm cho họ thất vọng vì họ không học được gì từ nơi giáo viên. Cũng có những học viên đến lớp với những suy nghĩ chưa đúng, nhưng giáo viên cũng chẳng giúp họ thay đổi cách nhìn đối với vấn đề học lời Chúa và phục vụ Chúa. Vì đối với cả hai loại đối tượng này giáo viên chỉ dạy những điều chung chung hoặc nói về Kinh Thánh một cách máy móc như hô những khẩu hiệu Cơ Đốc.
Khi học viên yêu mến Chúa Giê-xu và lời của Ngài thì giáo viên cần hướng dẫn học viên xây dựng mối tương giao giữa bản thân với Chúa, giúp học viên tìm hiểu ý muốn Chúa, và kinh nghiệm về lời của Ngài.
Khi học viên bỏ qua hoặc lẩn tránh mối quan hệ với Chúa Giê-xu mà chỉ lo làm công việc của Hội Thánh, giáo viên cần giúp họ thấy ưu tiên trong cuộc sống theo Chúa. Trước hết phải thiết lập mối tương quan với Chúa, trở nên con của Ngài, sau đó mới có thể làm việc cho Ngài.
Chúa Giê-xu nói với cô Ma-thê: “Cô lo lắng và bận rộn nhiều việc” Trước hết không lo thiết lập mối tương giao mà chỉ lo tìm công việc trước thì sẽ trở nên một người lo lắng và bận rộn nhiều việc mà không hài lòng. Dù thuộc loại người sẵn sàng làm việc cho Chúa, nhưng công việc sẽ trở thành gánh nặng, gây phiền toái và khốn khổ cho đương sự. Sẽ nảy sinh ghen tị, sao tôi làm mà nó không làm. Sẽ lo lắng vì làm hoài mà không hết việc. Sẽ than thở, ngã lòng… Cho nên cô Ma-thê cần theo gương cô Ma-ri trước khi làm việc cho Chúa.
Chúa Giê-xu hài lòng vì ‘một việc cần thiết’ của cô Ma-ri nhưng không có nghĩa là Ngài không hài lòng đối với sự phục vụ của cô Ma-thê. Vấn đề là nên thực hiện như thế nào. Sau khi dạy xong LuLc 10:38-42, giáo viên đề nghị học viên kể tiếp câu chuyện, hoặc diễn lại câu chuyện này trong đó học viên là nhân vật. Học viên hiểu bài sẽ viết hoặc diễn theo trình tự sau đây: (1) Chị Ma-thê, em Ma-ri và học viên đón Chúa Giê-xu. (2) Cả ba chị em cùng ngồi nghe lời Chúa. (3) Cả ba chị em cùng đi làm bếp để mời Chúa dùng bữa. (4) Cả bốn người cùng ăn với nhau. (Ở những lớp đông học viên hơn thì sẽ có cả các môn đệ cùng học, cùng làm và cùng ăn). Khi đúc kết bài học, giáo viên hỏi: Khi cô Ma-thê, cô Ma-ri và bạn đón Chúa Giê-xu vào nhà thì ba người tính phân chia thời gian ra sao? (Nói chuyện với Chúa, lắng nghe Chúa, mời Chúa dùng bữa) Trong khi nói chuyện với Chúa, lắng nghe Chúa họ có thể nấu ăn, dọn bàn được không? (Không được, vì đó là giờ học) Khi làm bếp, dọn bàn và nhất là khi dùng bữa mà nói chuyện với Chúa có được không? (Tất nhiên là được. Có thể Chúa Giê-xu cũng muốn tham gia…) Qua các câu trả lời học viên nhận ra rằng tương giao với Chúa là vấn đề ưu tiên; tương giao dẫn đến phục vụ, rồi trong khi phục vụ vẫn cần tương giao với Chúa và với nhau.
Bạn cần suy xét xem điều gì thúc đẩy học viên làm công việc Hội Thánh? Vì tình yêu đối với Chúa (tình yêu Chúa thôi thúc), hoặc vì thầy cô (vì có người bảo làm cho nên làm), hoặc vì áp lực của người khác (người ta làm được tôi cũng làm được)… hoặc vì cớ gì.
Đọc thêm: Thi Tv 119:12-16 119:97
1. Sẵn sàng làm theo Lời Chúa.
15 Sau khi ăn xong, Chúa Giê-xu hỏi ông Xi-môn Phi-e-rơ: “Này, anh Xi-môn, con ông Giô-na, anh yêu tôi hơn những người này không?” Ông trả lời với Chúa: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết tôi mến Thầy.” Chúa bảo: “Hãy nuôi đàn chiên con của tôi!” 16 Chúa lại hỏi ông lần thứ nhì: “Này, anh Xi-môn, con ông Giô-na, anh yêu tôi không?”Ông trả lời với Chúa: “Vâng, thưa Thầy, Thầy biết tôi mến Thầy.” Chúa bảo ông: “Hãy chăn đàn chiên của tôi!” 17 Chúa lại hỏi ông lần thứ ba: “Này, anh Xi-môn, con ông Giô-na, anh yêu tôi không?” Ông Phi-e-rơ buồn bã vì Chúa hỏi mình lần thứ ba rằng: “Anh yêu tôi không?” Ông thưa với Chúa: “Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự, Thầy biết tôi mến Thầy.” Chúa Giê-xu bảo: “Hãy nuôi đàn chiên của tôi!” (GiGa 21:15-17).
Ông Phi-e-rơ vốn là một mẫu người đầy lòng yêu thương, rất sôi nổi nhưng cũng rất nông nổi. Lời nói của ông nghe có vẻ chắc như đinh đóng cột, nhưng đối diện với thực tế thì ông hoàn toàn thất bại. Có lẽ đôi khi ông Phi-e-rơ cũng tự hỏi: “Mình có thật yêu thương Thầy không? Có thật là mình sẵn sàng đồng tù đồng chết với Thầy không?” Nếu ông Phi-e-rơ có băn khoăn nghi hoặc về thái độ thật của ông đối với Chúa thì chúng ta vẫn tin rằng ông có tình yêu thương và có tinh thần sẵn sàng.
Sau một đêm làm việc tích cực mà không có kết quả, nhóm môn đệ hội ngộ với Chúa bên bờ hồ. Ngài đãi họ một mẻ lưới đầy cá và một bữa điểm tâm với bánh và cá bên bếp than nồng ấm. Chúa dùng cơ hội đó để dạy ông Phi-e-rơ về việc yêu thương Ngài và sẵn sàng làm công việc Ngài giao. Trước đây ông Phi-e-rơ từng dùng một câu nói rất mạnh mẽ để bày tỏ lòng yêu thương Chúa: “Tôi sẵn sàng hy sinh tính mạng vì Thầy!”, bây giờ ông bộc lộ lòng ông yêu thương Chúa qua câu nói rất khiêm nhường: “Thầy biết tôi mến thầy!” Trong khi Chúa hỏi ông bằng từ ‘yêu’, ông chỉ dám trả lời bằng từ ‘mến’. Trước đây ông nói yêu Chúa rất mạnh mẽ, rất giỏi nhưng làm rất dở; bây giờ ông nói yêu Chúa cách rụt rè, yếu ớt và khiêm tốn nhưng sống yêu Chúa rất mạnh mẽ.
Cách dạy của Chúa Giê-xu vẫn nằm trong qui luật có yêu mến mới sẵn sàng. Nhưng không phải ai nói mình yêu mến cũng đều thật sự sẵn sàng. Nhiều người dạy học viên thành cái máy hô rất to tiếng và rất giòn giã những khẩu hiệu thuộc linh: Nào là đầy dẫy, tràn trề, đầu phục, yêu mến Chúa trọn cả cuộc đời, sống vì Chúa, quyết định dâng cả cuộc đời cho Chúa, đi đến bất cứ nơi nào Chúa sai đi… nhưng đời sống thì không hề có dấu hiệu yêu mến Chúa.
Nay tình yêu thương của ông Phi-e-rơ dành cho Chúa không phải là tình yêu thương khua chiêng gióng trống, hoặc khua môi múa mép cho ầm ĩ, nhưng là tình yêu thương ‘Thầy biết tôi’. Trước đây tôi là loại thùng rỗng kêu to để cho mọi người biết tôi yêu thương Thầy, bây giờ tôi học được bài học tình-yêu-thương-Thầy-biết-tôi-yêu-thương-Thầy, giữa cá nhân tôi với Thầy.
Phải chăng chúng ta dạy học viên hô hoán cho hội chúng nghe rằng họ yêu thương Chúa? Nhiều người đang theo đuổi cách dạy dỗ phô trương lực lượng, hô to những khẩu hiệu thiêng liêng cho nhiều người nghe thấy và cho rằng đó là thành quả. Hãy nhìn vào thất bại của ông Phi-e-rơ. Hãy tìm cách giáo huấn học viên đến chỗ yêu thích lời Chúa, tìm kiếm Ngài trong những lúc thất bại lẫn thành công; hãy đưa Chúa đến gặp gỡ học viên để Ngài hỏi thẳng học viên, rồi học viên có thể trả lời riêng với Ngài rằng: “Chúa biết con yêu Chúa!”
Khi ông Phi-e-rơ xác nhận tình yêu của mình, Chúa sẵn sàng trao trách nhiệm cho ông và ông sẵn sàng chu toàn trách nhiệm. Sẵn sàng ở đây không phải là sẵn sàng làm theo ý riêng hoặc làm vì một động lực nào khác. Không phải sẵn sàng làm để có lợi cho bản thân. Nhưng sẵn sàng làm vì Chúa và vì bầy chiên của Ngài.
Cũng có thể dùng hình tam giác (Hình 2) để biểu thị phản ứng của một nhóm học viên đối với sứ điệp Phúc Âm. Lớp có mười học viên thì có thể có một người sẵn sàng hành động theo sứ điệp, hai người yêu mến, ham muốn học hỏi lời Chúa, ba người thích một điều gì đó không phải là Chúa, và bốn người không thích Kinh Thánh, không thích giờ học lẫn không thích phương pháp dạy của giáo viên. Tất nhiên không phải lớp học Kinh Thánh nào cũng như vậy. Đây chỉ là một ví dụ để những ai là giáo viên dạy Kinh Thánh suy nghĩ. Nếu bạn đang dạy một lớp học như vậy, bạn nghĩ gì và sẽ làm gì?
Nhiều giáo viên cảm thấy thất vọng và nản lòng khi nhận dạy một nhóm học viên như thế. Tuy nhiên chúng ta cần nhớ rằng người bệnh mới cần thầy thuốc. Nếu học viên lớp học Kinh Thánh đã tốt rồi thì cần gì đến giáo viên nữa?
Nhiều giáo viên nghĩ rằng họ sẽ dẫn dắt những học viên từ chỗ ghét, không thích Kinh Thánh dần dần yêu thích một điều liên quan đến Kinh Thánh; những học viên đang yêu thích một điều liên quan đến Kinh Thánh dần dần yêu thích lời Chúa, yêu mến Chúa; những học viên yêu mến lời Chúa dần dần sẵn sàng làm theo lời Chúa. (Hình 3)
Tuy nhiên chúng ta cần chú ý rằng học viên trong lớp học Kinh Thánh có nhiều trình độ kiến thức (giỏi Kinh Thánh, dở Kinh Thánh…) nhưng trình độ kiến thức không ảnh hưởng đến trình độ thuộc linh. Học viên không thể thuộc lòng câu gốc, lật Kinh Thánh chậm chạp không có nghĩa là họ yếu kém trong phần thuộc linh và không sẵn sàng làm theo lời Chúa. Trình độ hiểu biết của học viên có thể từ nông cạn, đơn sơ đến sâu nhiệm nhưng tất cả đều có thể có đức tin nơi Chúa, yêu Chúa, sẵn sàng vâng lời Chúa. Hơn thế nữa nếu học viên yêu Chúa, sẵn sàng làm theo lời Chúa mà họ có thích trở thành bác sĩ, kỹ sư, thương gia… thì có hề gì?
Một vấn đề khác nữa là giáo viên nên gần gũi thân cận với học viên đến mức nào để có thể biết được tình trạng và phản ứng của học viên. Nếu người dạy không có sự quan tâm và gần gũi với người học thì làm sao hiểu được học viên. Hoặc người dạy chỉ đoán mò theo cảm tính, hoặc phân loại học viên theo kiểu cân đong đo đếm liệu có ích lợi gì không?
Đôi khi học viên sẵn sàng làm theo lời Kinh Thánh nhưng giáo viên không tạo cơ hội cho họ. Tấm lòng học viên đã sẵn sàng nhưng giáo viên chẳng chỉ dẫn cách thực hiện. Thí dụ học viên sẵn sàng cầu nguyện, viết thư, dâng tiền gởi quà cho một nhà truyền giáo, nhưng khi dạy về nhà truyền giáo Phao-lô, giáo viên không hề khích lệ, không cho họ tên tuổi, địa chỉ cùng những thông tin cần thiết về một nhà truyền giáo đương thời trong nước hoặc ở nước ngoài thì làm sao học viên thực hiện theo lời Chúa? Học viên thích học Kinh Thánh trong không khí sinh động, cởi mở nhưng giáo viên không chịu đầu tư, tìm tòi và thay đổi phương pháp thì trước sau gì học viên cũng ghét giờ học Kinh Thánh và ghét luôn giáo viên nữa.
Biết học viên của mình là đã tiến một bước rất tốt, nhưng tốt hơn nữa là chính giáo viên tự xét xem bản thân đang thuộc nhóm nào. Vì đôi khi giáo viên khích lệ học viên sẵn sàng trong khi bản thân giáo viên chưa sẵn sàng. Thí dụ, giáo viên khuyến khích học viên cầu nguyện cụ thể cho một người bạn và nói về Chúa Cứu Thế cho người bạn ấy, nhưng chính giáo viên chưa bao giờ thực hiện điều mình nói. Hoặc giáo viên bảo học viên đọc Kinh Thánh hằng ngày trong khi bản thân giáo viên không có thói quen đó. Hoặc giáo viên khích lệ học viên làm những tấm thẻ nhỏ để ghi những câu Kinh Thánh đáng ghi nhớ trong khi giáo viên chẳng làm gương gì cả. Đời sống của giáo viên ảnh hưởng rất nhiều đến học viên. Người dạy lời Chúa không thể nói: “Hãy nghe những gì tôi nói nhưng đừng nhìn những gì tôi làm”, nhưng phải nói: “Hãy làm như tôi.”
Chúng ta cũng có thể dùng hình tam giác số 4 (Hình 4) để biểu thị lối sống của một học viên.
Thoạt tiên trong nội tâm học viên tình trạng ưa thích - ghét bỏ rất hỗn loạn. Họ mệt mỏi và khốn khổ vì cứ phải làm điều mình không ưa thích, và lại ghét bỏ điều đáng ra phải ưa thích. Họ ghét tội lỗi, nhưng lại thường phạm tội. Yêu mến Chúa nhưng cũng tham tiền bạc. Sẵn sàng đi học Kinh Thánh nhưng cũng sẵn sàng đánh nhau. Thích đi nhà thờ nhưng cũng thích đi chơi trò chơi điện tử. Ghét tội lỗi nhưng cũng thích phạm tội. Học viên thấy trong con người mình vừa ưa điều thiện nhưng cũng không thể dứt bỏ được điều ác, vừa sẵn sàng làm thiên thần nhưng cũng không thể không làm ác quỷ.
Chính vì thế mà từng học viên mới cần đến giáo viên. Làm sao qua lớp học Kinh Thánh (đời sống của người dạy, lời Chúa, bạn bè, công việc….) mỗi cá nhân học viên dần dần nhận biết tình trạng của họ và tìm được giải pháp cho đời sống của họ. Thật đáng buồn khi nhiều học viên siêng năng đi nhà thờ, chăm học Kinh Thánh, sẵn sàng làm theo lời Chúa, ai nấy tin tưởng họ là mẫu người yêu mến Chúa, nhưng chính họ lại thú nhận là không rõ họ có được tái sinh chưa và không rõ có được lên thiên đàng hay không.
Cần chỉ dẫn cho học viên yêu mến và vâng theo lời Chúa cách đúng nghĩa. Khi đã sẵn sàng cho Chúa thì phải biết từ bỏ và từ khước những gì. Có mối tương quan nào giữa việc sẵn sàng làm theo lời Chúa với việc yêu mến lời Chúa và với việc ưa thích - ghét bỏ theo tiêu chuẩn của lời Chúa. Vì không thể nào vừa yêu Đức Chúa Trời lại vừa yêu Ma-môn được.
Có một trật tự trong suy nghĩ, trong quyết định và trong cách sống của một người yêu Chúa, sẵn sàng sống cho Chúa, yêu những điều Chúa yêu và ghét những điều Chúa ghét.
Giáo dục Cơ Đốc là dùng Kinh Thánh để hướng dẫn học viên:
+ từ chỗ ghét bỏ lời Chúa đến chỗ yêu thích lời Chúa;
+ từ chỗ yêu thích đời này đến chỗ ‘coi mọi sự như rơm rác’;
+ từ chỗ không sẵn sàng làm theo ý muốn Chúa đến chỗ sẵn sàng làm theo ý muốn Chúa;
+ từ chỗ sẵn sàng sống theo thế gian đến chỗ không sẵn sàng làm theo đời này.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-7-2018 08:46 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách