nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2474|Trả lời: 0

Giải Phóng Địa Cầu

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 15-7-2011 13:01:45 | Xem tất |Chế độ đọc

Giải Phóng Địa Cầu

Chương 1: Một Ứng Viên Cho Phép Lạ

Phát Súng Không Nổ Số 1 ... Phát Súng Không Nổ Số 2 ... Phát Súng Không Nổ Số 3 ... Quá Trình Cứng Lòng Bắt Đầu ... Bạn Muốn Tin Không... Quảng Trường Thời Gian? Đi Đến Tuần Chay Mardi Gras ... Quá Gần Để An Ủi ... Còn Hơn Là May Mắn... Sự Bắt Đầu Mới Mẻ... Không Phải Dạng Cầu Nguyện... Người Cuồng Tín Quái Dị! Đời Sống Mới Bắt Đầu... Và Một Đứa Trẻ Sẽ Dẫn Chúng Đi... Được Gọi Vào Chức Vụ... Con Đường Thử Thách... Người Học Lớp Ba Già Nhất Thế Giới... Khao Khát Lời Chúa... Đấng Gọi Anh Em Là Thành Tín. Trong - Nhờ Ân Điển Chúa... Lạy Chúa Xin Hãy Để Thư Từ Cứ Đến... Chuẩn Bị Thêm Cho Chức Vụ... Tổng Lược.
Chương 2: Điều Gì Đang Sai Trật Với Loài Người
Loài Người Được Nhìn Thấy Như Một Khuyết Tật Của Sự Tiến Hóa... Chúng Ta Có Sẵn Sàng Để Đi Vượt Quá Tự Do Và Phẩm Giá Không? Hai Trường Phái Đối Lập Nhau... Điều Gì Đã Xảy Ra Đối Với "Tội Lỗi"... Sự Lựa Chọn Sống Còn... Tội Lỗi Đã Tạo Ra Vật Cản... Nguyên Nhân Và Hậu Quả... Vật Cản Bốn Mặt...
Chương 3: Vật Cản Số Một
Bản Tánh Thánh Khiết Của Đức Chúa Trời
Bản Tánh Của Đức Chúa Trời... Khoảng Cách Vô Tận... Luật Pháp Là Gì?... Các Thống Kê Không Nói Dối!... Chìm Đắm Hay Bơi Lội... Tình Thế Lưỡng Nan Thiên Thượng.
Chương 4: Vật Cản Số Hai
Một Món Nợ Tội Lỗi
Được Đóng Vào Cửa Nhà Tù... "Giấy Nợ" Của Loài Người... Không Phải Lỗi Của Môi Trường... Bản Chất Tội Lỗi... Người Xa Lạ Hơn Là Điều Hư Cấu... Có Phải Chúng Ta Phạm Tội Bởi Vì Chúng Ta Là Những Tội Nhân Hay Không? Điều Từ Trong Lòng Mà Ra Mới Quan Trọng. Khi Nào Tội Lỗi Mới Thực Là Tội Lỗi? ... Ađam Không Phải Là Thủ Phạm Duy Nhất.
Chương 5: Vật Cản Thứ Ba :
Làm Nô Lệ Cho Sa Tan .
Chân Lý Thường Không Được Quần Chúng Ưa Thích ... Hai "Cương Vị Làm Cha" Của Nhân Loại... Một Kẻ Thù Có Quyền Năng... Quyền Ủy Nhiệm Của A Đam... Một Con Sói Đội Lốt Rắn... Chợ Nô Lệ Của Tội Lỗi... Chúa Giêxu Bị Cám Dỗ... Không Có Mão Triều Thiên Nếu Không Qua Thập Tự Giá... Satan Là Một Loại Cha Nào Đó.
Chương 6: Vật Cản Thứ Tư :
Sự Chết Thuộc Linh
Loài Người Bị "Đoản Mạch"... Ba Gương Mặt Của Sự Chết... Sự Lây Nhiễm Của Tội Lỗi... Nhìn Loài Người Từ Nhãn Quan Của Đức Chúa Trời... Thân Thể... Linh Hồn... Tâm Thần... Bi Kịch Của Sự Sa Ngã... Vật Cản Được Đầy Đủ.
Chương 7: Tại Sao Thượng Đế Thành Người
Vấn Đề Truyền Thông... Thế Gian-"Tổ Kiến Của Đức Chúa Trời ... Tại Sao Lại Là Tiếng Nói?... Bài Học Thiên Nhiên Đã Bị Lãng Quên... Bước Vào Đấu Trường Của Nhân Loại... Những Vật Cản Phải Vượt Qua!... Đức Chúa Trời Cung Ứng Sự Tha Thứ... Nhưng Tại Sao Lại Phải Trở Thành Người?... Kế Hoạch Của Đức Chúa Trời Dành Cho Loài Người... Con Người Kỳ Diệu.
Chương 8: Người Mà Thượng Đế Trở Thành
Lời Chứng Tiên Tri... Con Đức Chúa Trời... Nhị Tính Hiệp Nhất... Từ Cõi Vĩnh Cửu Đến Cõi Thời Gian... Hai Tình Trạng Trái Ngược Nhau... Chúa Giêxu-Đấng Thần Nhân... Ngài Có Nói Ra Chân Lý Không?
Chương 9: Sự Làm Nguôi Cơn Giận
Cơn Thạnh Nộ Của Đức Chúa Trời Có Thật Chăng?... Sự Làm Nguôi Cơn Giận Được Đề Xuất... Một Lều Tạm Trong Sa Mạc... Khí Mạnh Của Lê Vi Và Các Con Ông... Bánh Manna Cho Mọi Mùa... Cây Gậy Để Ghi Nhớ... Vầng Đá Biết Nói... Đại Lễ Chuộc Tội... Cơn Thạnh Nộ Trở Thành Ơn Thương Xót Như Thế Nào?... Hình Bóng Của Những Điều Sắp Đến... Chúa Giêxu Là Hình Thật... Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm Trọn Vẹn Duy Nhất.
Chương 10: Sự Cứu Chuộc
Giấy Nợ... Ngày Địa Cầu Được Giải Phóng... Tiếng Kêu Rúng Động Thế Giới... Mặt Khác Của Sự Cứu Chuộc... Nhấn Mạnh Đến Sự Tự Do... Nhấn Mạnh Đến Việc Làm Vật Sở Hữu Của Đức Chúa Trời... Nhấn Mạnh Đến Chỗ Nô Lệ...Nhấn Mạnh Đến Tính Vĩnh Cửu Của Sự Tự Do... Chúa Giêxu, Nhà Giải Phóng!... Đấng Cứu Chuộc Vô Tội... Đấng Cứu Chuộc Bà Con... Đấng Cứu Chuộc Trung Bảo... Đấng Cứu Chuộc Sẵn Lòng... Chúa Giêxu Với Tình Yêu Thương... Bi Kịch Của Sự "Có Thể - Đã - Là".
Chương 11: Sự Chết Thay
Công Lý Không Phải Mù Lòa... Sự Hình Phạt Không Tránh Được Của Tội Lỗi... Khái Niệm Về Của Lễ Đền Tội... Lịch Sử Thánh Kinh Về Của Lễ Đền Tội... Một Chiên Con Cho Một Người... Một Chiên Con Cho Một Gia Đình... Một Chiên Con Cho Một Dân Tộc... Một Chiên Con Cho Cả Thế Giới... Chúa Giêxu Đã Chết Hai Lần... Chiên Con Cuối Cùng Của Đức Chúa Trời... Tại Sao?
Chương 12: Sự Giải Hòa
Người Hy Lạp Có Một Chữ Như Thế!... Chữ Thứ 1... Chữ Thứ 2... Chữ Thứ 3... Tiên Tri Ôsê Và Người Vợ Cắm Sừng... Sự Giải Hòa Vô Hiệu Hóa Sự Thù Địch... Đứa Con Đi Hoang Trở Về Nhà... Sự Giải Hòa Không Phải Là Có Lý... Đừng Bỏ Sót Vấn Đề... Các Ngươi Hãy Giải Hòa.
Chương 13: Một Quyết Định Của Số Phận
Sự Làm Nguôi Cơn Giận... Sự Cứu Chuộc... Sự Chết Thay... Sự Giải Hòa... Đừng Để Cái Cày Trước Con Trâu... Ân Điển: Sự Giàu Có Của Đức Chúa Trời Do Đấng Christ Tiêu Pha... Đức Tin Có Cộng Thêm Việc Làm Không?... Ân Điển Là Phần Của Đức Chúa Trời, Đức Tin Là Phần Của Loài Người!... Trường Hợp Số 1: Ápraham... Trường Hợp Số 2: Kỵ Nữ Raháp... Đức Tin Có Cộng Thêm Sự Ăn Năn Không?... Thay Đổi Hay Không Thay Đổi! Đó Là Vấn Đề... Đức Tin Có Cộng Thêm Quyền Chúa Tể Của Đấng Christ Không?... Đức Tin Có Cộng Thêm Lễ Báp Têm Nữa Không?... Một Sai Lầm Cũ Đã Hồi Sinh... Phaolô Không Phải Được Sai Phái Để Làm Báp Têm... Vấn Đề Thực Sự Là Đức Tin, Không Cộng Thêm Gì Hết! Hãy Rút Tiền Của Chúng Ta.
Chương 14: Sự Xưng Nghĩa
Một Nhà Đạo Đức Và Một Người Thâu Thuế... Chúa Giêxu Nhìn Xem Tấm Lòng... Định Nghĩa Sự Xưng Nghĩa... Sự Giải Nghĩa Sai Gây Phân Chia Hội Thánh... Luther Và Cuộc Cải Cách Giáo Hội... Sự Xưng Nghĩa Bởi Đức Tin: Một Giáo Lý Bị Khước Từ... Hai Loại Công Bình... Tại Sao Dân Israel "Bỏ Lỡ Cơ Hội"... Tôi Được Xưng Nghĩa Thế Là Gì?... Hòa Bình Với Đức Chúa Trời... Hòa Bình Với Chính Chúng Ta Và Với Người Khác... Một Chỗ Đứng Trong Ân Điển... Hãy Nghỉ Ngơi Đi, Hỡi Tín Hữu!... Không Còn Đoán Phạt Nữa... Sự Thật Của Việc Không Còn Đoán Phạt Nữa... Bị Đoán Phạt Bởi Ai Và Vì Điều Gì?... Các Nền Tảng Của Sự "Không Còn Đoán Phạt Nữa"... Đức Chúa Trời Đứng Về Phía Chúng Ta... Vì Đức Chúa Trời Không Còn Đoán Phạt Nữa Thì Bạn?... Sự Xưng Nghĩa Là Tên Của Trò Chơi Có Luật Lệ.
Chương 15: Sự Tha Tội
Sự Cứu Chuộc Là Nền Tảng Của Sự Tha Tội... Tất Cả Không Phải Luôn Luôn Là Tất Cả, Cho Tất Cả... Một Nửa Thập Tự Giá Không Đủ Cho Sự Cứu Rỗi... Hai Lẽ Thật Quan Trọng Nhất Về Sự Tha Tội... Chúng Ta Có Thể Tha Thứ Như Đức Chúa Trời Đã Tha Thứ Không?... Tất Cả Sự Cay Đắng Này Có Cần Thiết Không?... Hội Chứng Tội Lỗi: Tội Lỗi, Mặc Cảm Có Tội, Sự Xa Lạ... Các Hậu Quả Của Việc Không Liên Hệ Tội Lỗi Với Thập Tự Giá... Tội Lỗi Không Còn Là Vấn Đề Nữa.
Chương 16: Sự Tự Do
Sự Nô Lệ Có Nhiều Mặt... Một Dụ Ngôn Thế Kỷ 20... Các Nhân Vật Của Dụ Ngôn... Sự Chết Đích Thực Là Gì? Có Phải Tôi? Tự Do Khỏi Quyền Lực Lẫn Hình Phạt... Cái Nhìn Gần Hơn Về Sự Tự Do Của Chúng Ta... Bản Tánh Tội Lỗi Cũ... Satan Nắm Chúng Ta Qua Luật Pháp... Luật Pháp Không Phải Là Thủ Phạm Thần Linh Thay Thế Luật Pháp... Tự Do Khỏi Sự Thống Trị Của Satan... Trường Hợp "Vị Chỉ Huy Bị Hạ Bệ" Hãy Kêu Đòi Các Quyền Hạn Của Bạn.
Chương 17: Sự Tái Sanh
Sự Cải Tạo Của Ông Nicôđem... Loài Người "Không Phải Đều Ở Đó!"... Hai Loại Sự Sống Trong Sự Sáng Tạo Loài Người... Linh... Sự Đổi Mới Của Đức Thánh Linh... Linh Chết Phục Vụ Một Nhiệm Vụ... Sự Sáng Trong Con Người Trở Lại... Hãy Bước Đi Như Con Cái Sáng Láng... Giác Quan Thứ Sáu: Đức Tin... Đức Tin Nương Dựa Trên Sự Thành Tín Của Đức Chúa Trời... Hồn... Ađam "Thổi Mất" Nhưng Ông Không Phải Là Người Đần Độn... Sự Bắt Đầu Của Bản Ngã Con Người Làm Trung Tâm... Thân Xác... Xác Thịt Không Thân Thiện Với Đức Chúa Trời... Hai Mặt Của Xác Thịt... Xác Thịt Rất Xảo Quyệt... Sự Đổi Mới Của Sự Tái Sanh... Cởi Bỏ Con Người Cũ - Mặc Lấy Con Người Mới... Ngài Chiến Thắng Cho Chúng Ta... Bây Giờ Chúng Ta Phải Nắm Lấy... Sự Vâng Lời Và Quyền Năng Của Thánh Linh... Hai Hạng Tín Đồ... Các Tín Đồ Xác Thịt... Tóm Lại
Chương 18: Địa Vị Mới
Tìm Kiếm Sự Sống Sâu Nhiệm Hơn... Tại Sao Tôi Không Thể Sống Như Tôi Vốn Là Tôi?... Những Vật Sở Hữu Và Những Phước Hạnh Mới Của Chúng Ta... Hai Mối Liên Hệ Của Chúng Ta Với Đấng Christ... Giao Thông Tạm Thời... Làm Thế Nào Để Khiến "Địa Vị" Của Tôi Trở Thành "Kinh Nghiệm" Của Tôi... Các Tín Đồ Sống Giống Như Những Người Nghèo Thuộc Linh... "Địa Vị" Của Chúng Ta Là Cơ Sở Của Mọi Sự Chiến Thắng... "Người Cũ" Đã Chết! Thật Là Thoát Nợ!... Ra Khỏi Ađam, Vào Trong Đấng Christ... Ngài Đã Chết Vì Tôi "Là Ai" Và Tôi Đã "Làm Gì"... Đồng Nhất Hóa Với Đấng Christ Từ Thập Tự Giá Đến Ngai Vua... Không Cần Phải Bị Đóng Đinh Hằng Ngày: Một Lần Là Đủ... Chúng Ta Chết Để Sống!... Tại Sao Những Lẽ Thật "Đồng Đóng Đinh" Lại Khó Lĩnh Hội?... Các Tín Hữu Cần Ý Thức Mình Là "Con"... Chỉ Có Tâm Trí Được Đổi Mới Mới Có Thể Nắm Bắt Những Lẽ Thật Về Sự Đồng Đóng Đinh Này... "Bản Ngã Mới" Của Bạn Có Nghĩa Là Bạn Có Thể Có Một Hình Ảnh Mới Về Mình... Lời Kết Theo Sự Làm Chứng Bản Thân.

Lời Giới Thiệu
Bạn có thể mua đủ loại Band-Aids (băng dán vết thương) với đủ kích cỡ để rịt lành đủ các loại vết thương, ngoại trừ loại vết thương người ta mắc phải trong linh hồn - một vết thương lỡ lói làm cho thế giới đau đớn, tổn thương.
Đây không phải nói là chưa từng có những nỗ lực được thực hiện để đặt những băng dán cỡ lớn trên những vết thương đau của nhân loại. Có dịp vào tiệm sách người ta sẽ thấy phơi bày hàng ngàn đề sách hứa chữa lành sự cô đơn, áp bức, nan đề tình dục, vấn đề hôn nhân, các bệnh tâm thần, tội ác, chiến tranh, rượu chè, và hàng loạt những bệnh tật tàn tệ khác đang làm đau khổ con người ngày nay.
Tất cả những chương sách này có một điều chung với nhau. Chúng nhất trí rằng loài người đang gặp rắc rối, nhưng ngoài điểm đó ra, chúng không có sự nhất trí nào về việc phải làm gì để sửa chữa lại những cuộc đời bị thương tổn này.
Cảm tưởng của tôi là bạn không thể nào bắt đầu kê toa thuốc chữa trị cách hiệu quả cho đến khi bạn có được sự chẩn đoán chính xác về tánh chất thật sự của vấn đề đó. Nhưng làm thể nào để chúng ta biết ở đâu để xem thấy, giữa vô số sách vở và các tiếng nói khoa trương về các liệu pháp "công hiệu", về một giải pháp chính xác cho bệnh tật của con người trong thế giới ngày nay? Chúng ta không muốn bị trôi nổi theo những lời hứa nơi các giải pháp rẻ tiền và các phương thức chữa trị nửa vời. Đời sống quá ngắn ngủi để ta phiêu lưu làm như vậy.
Đâu đó ở giữa tất cả những hỗn loạn và bối rối của loài người, chúng ta đã quên mất một sự kiện rất là căn bản. Tất cả các tạo vật dường như có một sự hiệp nhất lớn lao, một kế hoạch và một mục đích và thật không thể nào tưởng tượng nổi đối với tôi khi loài người lại là một ngoại lệ. Chắc phải đã từng có một ý nghĩa và một mục đích nguyên thủy cho con người mà họ đã đánh mất đâu đó trên đường đi và hậu quả là tình trạng xa lạ, thất vọng và buồn bã ngày nay.
Tôi viết quyển sách này để chia sẻ cách làm thể nào tôi đã được giải cứu khỏi tình trạng xa lạ của bản thân tôi với Đức Chúa Trời, với chính tôi và với xã hội cũng như cách thể nào tôi đã tìm thấy được lý do tại sao tôi đã được đặt trên quả đất này. Hy vọng chân thành của tôi là những linh hồn thân hữu đang cần sự tha tội, sự khích lệ, và sự hy vọng sẽ đọc được những trang sách này và tìm được giải pháp của Đức Chúa Trời cho chính đời sống của mình.


MỘT ỨNG VIÊN CHO PHÉP LẠ
Augustine, một triết gia thế kỷ Thứ Tư, đã nói, "Lạy Đức Chúa Trời, Ngài đã dựng nên chúng con cho chính mình Ngài và lòng chúng con vẫn mãi bất an cho đến khi chúng con tìm được sự an nghỉ trong Ngài". Tôi tin rằng Augustine đã mô tả một cách chính xác hai mươi lăm năm đầu của cuộc đời tôi.
Khi tôi lên mười tuổi, sống tại Houston, Texas, lần đầu tiên tôi bắt đầu hỏi những câu hỏi trọng đại, "Có thực có một Đức Chúa Trời mà một người có thể nhận biết cách cá nhân không?" Tôi là một cậu bé bình thường và hơi gan dạ hơn mức bình thường. Tôi gây cho những thân nhân của tôi nhiều lo âu và đau đầu và mặc dầu đời sống gia đình tôi cũng có những thăng trầm, chúng tôi đã sống chung với nhau khá đẹp.
Cha mẹ tôi không phải là hạng người mà bạn gọi là những kẻ đi nhà thờ đều đặn. Mẹ tôi có lúc đi nhà thờ và đưa tôi đi theo mà tôi thì rất lưỡng lự. Tôi nghe giảng rất hời hợt, mong sao tìm được cách nào đó để cảm thấy được gần gũi hơn với Đức Chúa Trời (nếu Ngài thực hữu).
Phát Súng Không Nổ Số 1
Đến tuổi mười hai, do nghiêm túc muốn biết Đức Chúa Trời, tôi được thôi thúc đáp lại lời kêu gọi đến phía trước nhà giảng và lập một lời ước tôn giáo. Khi tôi nói chuyên với người cố vấn, ông nói, "Dĩ nhiên, cậu muốn gia nhập Hội Thánh".
Tôi trả lời: "Vâng, nếu đó là điều ông muốn tôi làm". Ông nói: "Lẽ tự nhiên, cậu muốn chịu phép báp têm chứ?".
Tôi trả lời, "À, vâng, tôi đoán là vậy".
Trong lòng tôi đã nghĩ, "Nào, hãy nói cho tôi biết ý nghĩa của mọi việc này là gì?". Nhưng không ai giải thích cho tôi về việc kết ước thật sự với Chúa Giêxu Christ là gì, ít ra là để tôi có thể hiểu được.
Và thế là tôi đã trải qua nghi thức nhập hội. Tôi đã chịu báp têm. Nhưng có cái gì đó giống như tôi đã vừa thực hiện một loại nghị quyết Năm Mới với Đức Chúa Trời rằng tôi sẽ cố gắng làm điều tốt nhất có thể làm trong suốt cuộc đời tôi. Và nếu vào cuối cuộc đời mà những việc lành của tôi nhiều hơn việc xấu, thì một cách nào đó tôi đã thực hiện được nghị quyết.
Vâng, tôi thực sự cố gắng giữ vững giao ước mới này và tìm ra một vài ý nghĩa trong đó. Thế nhưng sau một vài tháng tôi lại nhận biết rằng nếu có một Đức Chúa Trời thật thì tôi vẫn chưa biết gì về Ngài. Thực tế không có Đức Chúa Trời hay Chúa Giêxu trong đời sống của tôi. Tôi cứ tiếp tục đi nhà thờ định kỳ, lắng nghe và cố tìm xem tôi đã lạc lối ở đâu.
Phát Súng Không Nổ Số 2
Vào năm lên 15 tuổi, tôi cực kỳ vỡ mộng. Có sự xung đột trong gia đình và trong đời sống bản thân nên tôi đang trở thành một thanh niên rất thù nghịch. Nhưng tôi vẫn còn một cảm giác sâu xa về nhu cầu đi đúng con đường tìm đến Đức Chúa Trời, thế là trong năm đó, tại một nhà thờ khác tôi đã lại hưởng ứng một lời mời kêu gọi ai muốn biết về Đức Chúa Trời hãy tiến lên phía trước. Tôi đi một bước dài trong lối đi giữa nhà thờ và tôi hy vọng cách chắc chắn rằng lần này hản sẽ có kết quả thôi.
Tôi được bảo hãy gia nhập Hội Thánh và chịu báp têm trở lại. Thế là tôi được báp têm lần thứ hai, và sau một vài tháng lại vấp ngã với thực tế không thấy Chúa Giêxu trong đời sống mình gì cả, tôi tự nhủ "Mầy biết không chắc phải có cái gì sai trái trong toàn bộ việc tiến lên phía tòa giảng nhà thờ, bởi vì lần này cũng không hiệu quả rồi.
Trong những nhà thờ đặc biệt mà tôi đã dự nhóm họ nhấn mạnh rằng nếu bạn là một Cơ Đốc Nhân, bạn không được uống rượu, không được hút thuốc, không được đi xem phim ảnh và không đi khiêu vũ. Tôi đã chân thành cố gắng chơi trò chơi "Cơ Đốc Nhân" theo như các luật lệ của họ, và đã không làm bất cứ điều gì trong những việc đó. Tôi là một vận động viên, và huấn luyện viên lại không muốn chúng tôi uống rượu hay hút thuốc.
Chẳng bao lâu tôi bắt đầu nhận thấy rằng tất cả những chàng trai khác cùng trang lứa với tôi đang bắt đầu thám hiểm trong tình dục, trong những cuộc say sưa và dường như bọn chúng thích thật, trong khi tất cả những điều tôi phải chứng tỏ cho "Cơ Đốc Giáo" của tôi là tôi muốn làm những gì bọn chúng đang làm nhưng lại không thể được. Tôi bắt đầu suy nghĩ : "Tôi có tất cả các nghĩa vụ và lại không có chút vốn quí nào trong việc làm một Cơ Đốc Nhân cả". Tôi mệt mỏi về Đấng Thượng Đế đang câu thúc, bó buộc và tôi bắt đầu tách xa khỏi toàn bộ khung cảnh nhà thờ.
Phát Súng Không Nổ Số 3
Vào năm tôi được mười bảy tuổi, tôi bắt đầu với một chiến trận nổi lên trong con người tôi. Tôi đã khởi sự làm nhiều việc mà người khác đang làm, nhưng dần dần tôi phát triển một cảm giác sâu sắc về mặc cảm tội lỗi. Tôi chắc rằng nếu có một Đức Chúa Trời, thì Ngài chắc chắn phải nổi giận và có lẽ không muốn dính dáng gì với tôi nữa.
Trong tuyệt vọng, tôi đã quyết định dành cho Đức Chúa Trời một cơ hội nữa bởi vì tôi thực sự cảm thấy như là tôi cần phải tẩy thanh cuộc đời mình. Tôi nhớ mình lại đi một nhà thờ khác theo sự thúc giục của một người bạn, và khi có lời kêu gọi tiến lên phía trước, tôi lại cứ tiến lên làm cho bạn tôi bực mình khá nhiều. Người hướng dẫn tôi quỳ gối cầu nguyện tỏ ra rất thành thật và rất sốt sắng muốn đưa tôi vào chuồng, nhưng ông ta không biết cách truyền thông với một thanh niên và tôi không bao giờ hiểu được tại sao lại như vậy. Cuối cùng ông vòng vo yêu cầu tôi gia nhập Hội Thánh và chịu báp têm, thế là tôi lại phải trải qua quá trình đó lần thứ ba.
Quá Trình Cứng Lòng Bắt Đầu
Vâng, cuộc hành trình thứ ba kéo dài không lâu. Tôi đã khám phá ra cách chắc chắn là chỉ đi lên phía trước tòa giảng trong buổi nhóm có kêu gọi và chịu phép báp têm vẫn không làm cho lòng bạn ngay thẳng với Đức Chúa Trời. Tất cả những sự khởi đầu giả dối này cuối cùng đã đưa tôi đến điểm tôi đã nói, "Tôi cần phải chân thành, tôi không biết có một Đức Chúa Trời không bởi vì tôi đã ra sức tìm kiếm Ngài và đã không tìm được Ngài. Tất cả mọi điều tôn giáo đã làm là cứ câu thúc, gò bó lối sống của tôi. Tôi sẽ loại bỏ hết mọi thứ đó và sẽ sống theo cách mà tôi ưa muốn".
Và tôi đã làm điều đó!
Tôi bắt đầu làm cứng lòng, cứng trí nghịch lại Đức Chúa Trời một cách có hệ thống. Tôi biết điều tôi đang làm, nhưng tôi trở nên rất cay đắng và hình dung ra rằng tôi đã dành cho Đức Chúa Trời một cơ hội tốt nơi tôi và Ngài đã trượt mất rồi. Bây giờ đến phiên tôi phải điều động chính cuộc đời tôi. Và tôi đã sống như thế nào đây! Tôi nhổ hết mọi bảng cấm. Tôi khởi sự chơi bời say sưa trác táng, trai gái xả láng và mặc dầu lúc đầu lương tâm tôi đã cáo trách, cuối cùng tôi cũng đi tới chỗ có thể làm mọi điều mà không thấy lương tâm cắn rứt chút nào.
Tôi gia nhập Đại Học Houston, nhưng lại chia tay hai năm sau, trong một cuộc đánh lộn om sòm. Chú Sam không mấy có ấn tượng tốt với sự nghiệp khoa bảng của tôi và họ đã quyết định là tài năng của tôi có thể được sử dụng tốt hơn trong quân đội. Tôi thích quá và đã gia nhập vào Đội Tuần Duyên Hoa Kỳ (Coast Guard) là nơi tôi nghĩ rằng tôi sẽ không phải đi đánh nhau ở Đại Hàn.
Tôi đã chơi hết mình và khổ công đi học suốt cả năm đầu tiên trong những lớp đặc biệt tại Trường Huấn Luyện Tuần Duyên ở Connecticut. Trong thời gian này tôi thực sự nghĩ rằng tôi đã đạt tới đỉnh của cuộc sống vì tôi may mắn được kết bạn với một số người có nhiều mối liên hệ với thành phố New York. Tôi chơi thân với một chàng có cha là Phó Chủ tịch của một trong những công ty lớn nhất tại Mỹ. Anh chàng đặt giữ thường trực một dãy phòng ở khách sạn sang trọng tại thành phố New York và anh để cho chúng tôi dùng bất cứ lúc nào chúng tôi xuống phố. Dĩ nhiên tôi đã cố tận dụng sự tự do mỗi cuối tuần tại thành phố New York.
Bạn Có Tin Không, Quảng Trường Thời Gian?
Một ngày thứ bảy, sau khi làm tiêu hết số lương trong bữa tiệc hoang phí hôm trước, tôi đang đứng trên quảng trường thời gian (Times Square) với một tay thủy thủ khác và tìm kiếm ai đó động lòng cho mượn ít tiền để chúng tôi có cái ăn. Khoảng ba giờ chiều, chúng tôi nghĩ là cuối cùng chắc chả có ai đến cả.
Từ Times Square tôi nhìn qua bên kia đường và thấy một tấm bảng hiệu viết chữ rất lớn nói rằng: "Lương Thực Biếu Không" . Và có một hàng chữ nhỏ bên dưới viết rằng: "Chúa Giêxu cứu vớt". Tôi thúc cùi chỏ vào anh bạn thân mà nói : "Chúng ta hãy qua bên đó xem, để mấy ông Thánh kia đãi chúng ta ăn - họ tốt đấy".
Bạn thấy không, đến lúc này sự khinh thường tôi có đối với Đức Chúa Trời và tôn giáo đã in sâu vào thái độ của tôi rồi. Nhưng tôi hình dung ra là tôi có thể nuốt trôi sự phản kháng của mình đủ lâu để có được cái gì ăn no cái đã. Chúng tôi ăn xong và định chuồn êm nhưng một nhân sự đã chặn đường và nói với tôi, "Anh bạn trẻ, anh có phải là một Cơ Đốc Nhân không?"
Vì không muốn dính dáng chuyện trò với anh chàng này nên tôi nhìn thẳng vào mắt anh và thì thầm qua kẻ răng nghiến chặt, "Vâng, tôi hy vọng thế". Tôi nghĩ rằng thế cũng đủ để anh ta để tôi yên. Nhưng không phải thế.
Anh ấy nói. "Qua một câu trả lời của anh tôi có thể nói rằng anh không phải là một Cơ Đốc nhân đâu".
Tôi trả đũa một cách chua chát: "làm thế nào anh có thể biết điều của người khác? Mà nếu như có bất cứ điều gì tôi đã khám phá được về toàn bộ công việc của tôn giáo ấy, thì chỉ là anh không thể biết chắc về bất kỳ điều gì cả".
Song anh chàng chẳng màng gì cả, anh ta nhìn tôi bằng ánh mắt thương xót và quan tâm thật sự - điều đó đã chạm đến tôi - Anh ta nói "Tôi nghĩ rằng tôi có thể hiểu rõ vì sao Chúa Giêxu đã phải đến thế gian và thực sự Ngài đã đem lại điều gì cho anh".
Tôi gật đầu và đáp một cách nhát gừng "Chắc hẳn là vậy".
"Bạn thấy đấy, anh chàng thủy thủ, anh ta tiếp tục "trông dường như bạn sống cũng khá vất vả đấy. Nhưng với Chúa thì bạn sống tốt hoặc tệ hại như thế nào thì cũng không thành vấn đề. Điều có ý nghĩa duy nhất đối với Ngài đó là bạn có bằng lòng đến và nhìn xem khi Chúa Giêxu bị treo lên cây thập tự, Đức Chúa Trời đã chất tất cả tội lỗi của bạn lên trên Người, và Chúa Giêxu đã nhận hình phạt của sự chết dành cho những tội lỗi mà đáng ra phải chất trên bạn. Bây giờ Ngài có thể hiến cho bạn một món quà về tình yêu thương và sự tha thứ thay vì cơn giận thánh khiết của Ngài. Nếu bạn nhận sự tha thứ, điều ấy sẽ đem bạn trở lại với Đức Chúa Trời và khiến Ngài trở nên thực hữu cho bạn.
Đã hơn hai mươi năm, song điều anh ta nói với tôi ngày hôm ấy quá rõ ràng và thật ngạc nhiên vì cho đến bây giờ tôi vẫn có thể nhớ từng điều.
Tuy nhiên vì đã xây một tường thành bao quanh tấm lòng mình cho nên tôi đã không thể sẵn sàng để tin điều anh nói. Vì vậy tôi kéo anh bạn tôi ra ngoài đường và cất bước với một giọng cười nhạo báng. Khi tôi bỏ đi rồi, anh ta còn bắn theo một câu cuối cùng mà tôi không bao giờ quên: "Này anh bạn trẻ, bạn có thể từ chối tôi nhưng nếu bạn từ chối món quà yêu thương của Đức Chúa Trời, thì rồi cơn thạnh nộ của Ngài sẽ đổ xuống trên bạn cho đến đời đời."
Phát súng ấy đã "bắn" trúng phần dưới thắt lưng? Đi đến tuần chay Mardi Gras
Đó chỉ là cuộc chạm trán sơ của tôi với những điều thuộc linh dành cho năm năm tiếp theo. Từ Connecticut tôi được chuyển đến New Orleans, là nơi mà khi đến sống, tôi đã nghĩ là vui nhộn nhất trên đất này. Tôi đóng ở đấy khoảng hai năm. Tôi ưa thích New Orleans đến nỗi khi được thuyên chuyển từ Đội Tuần Duyên, tôi đã quyết định ở lại tại đó. Tôi ở gần khu vực của người Pháp.
Với kinh nghiệm thâu đạt được ở tại Đội Tuần Duyên, tôi nhận công tác như một thuyền trưởng tàu kéo trên sông Mississipi. Trong gần bốn năm, tôi làm việc trên sông. Suốt thời gian này tôi cứ làm việc một tuần, nghỉ một tuần. Tôi đến Orleans vào mỗi cách tuần với một túi tiền lương đầy và tiêu sạch trong tuần đó. Cứ mỗi cách tuần, tôi lại lết về tàu, ngất ngư gần chết và rỗng túi. Thế mà! Tôi thực sự nghĩ rằng mình đang sống.
Thế nhưng trong khi miệt mài nộp chính đời mình cho rượu, đàn bà và ca hát, tôi bắt đầu tìm thấy có những lượt về kém giá trị. Càng nếm thử hết điều này sang điều khác, thì tôi lại càng thấy không thỏa mãn. Cuối cùng tôi đã đi vào vấn đề chủ yếu của đời sống và bắt đầu tự hỏi: "Bạn làm gì trong lần thứ hai?".
Bấy giờ tôi đã gần hai mươi sáu tuổi. Tôi bắt đầu tuyệt vọng để nắm bắt được một điều gì đó dường như đem lại ý nghĩa cho cuộc đời tôi. Sống trong một tập thể mà không một ai có suy nghĩ nghiêm túc là một vai trò mà tôi ngày càng chán ghét. Tôi bắt đầu chuyện trò với người khác về các triết lý sống của họ. Và lúc ấy tôi đã nhận ra con người nông cạn của mình như thế nào. Triết lý ăn chơi của tôi đã là "sống phóng đãng chơi bời hết mình, chết trẻ, và để lại một thi thể còn đẹp". Tôi cũng bắt đầu quan tâm trò chuyện với người khác về các ý tưởng của họ đối với tôn giáo. Ý tưởng của mỗi người thật quá khác nhau, tuy nhiên họ đều cho là mình đúng. Song, không thể nào tất cả họ đều đúng. Tôi đi đến kết luận rằng mỗi người đều đã bị bối rối về tôn giáo cũng như tôi vậy.
Quá Gần Để An Ủi
Một đêm nọ đang khi xuống tàu - tôi phải qua sông trong làn sương mù dầy đặc để lấy dầu cho cuộc thao diễn trên sông của thủy thủ đoàn. Sương mù dầy đặc đến nỗi không thể thấy được mũi tàu. Tôi thử cho nổ máy nhưng nó không chạy. Không có máy nổ thì sẽ không có đài dò (radar) và không có hệ thống dò bạn sẽ không biết mình đang ở chỗ nào trên con sông dầy đặc sương mù.
"Thây kệ, chúng tớ chẳng sợ nguy hiểm gì đâu" bọn họ nói.
"Được rồi" tôi bảo "Tính mạng chúng mày đấy". Tôi kéo cần đồng hồ đo giờ cùng một cái la bàn và nhổ neo ra khơi. Thế rồi hoàn toàn bất ngờ, tôi lạnh xương sống khi chợt nghe tiếng hú còi của một chiếc tàu chạy bằng hơi nước sát ngay bên trái mình. Một chiếc tàu lớn đang tiến thẳng về phía chúng tôi. Tôi hãm máy, không thể trông thấy gì cả nhưng tôi có thể nghe tiếng động cơ nổ lớn ập vào tai tôi. Theo bản năng, chứ chẳng phải bởi lý lẽ nào trong kinh nghiệm lái tàu, tôi bẻ lái sang phải và cảm nhận được chiếc thuyền của tôi sợt qua mạn chiếc tàu chạy bằng hơi nước. Chúng tôi bị trượt theo chiếc tàu lớn một khoảng trước khi bị tụt lại đằng sau. Cho đến ngày hôm nay tôi cũng không biết lúc đó làm thế nào chúng tôi tránh được như vậy, Đức Chúa Trời thật sự ở cùng tôi. Nếu bị đâm trúng mạn tàu, nó sẽ cắt đôi chiếc thuyền của chúng tôi và đánh chìm tất cả trong vòng vài giây.
Sau tiếng gọi gần gũi ấy tôi bắt đầu suy nghĩ nhiều về sự chết. Giống như nhiều người, tôi đã từng có những suy nghĩ đưa cuộc đời riêng của mình lao vào nhiều cơ hội, nhưng sự lo sợ bứt rứt về điều có lẽ sẽ nằm ở bên kia phần mộ đã giữ tôi khỏi lao vào điều đó.
Tôi đã thấy rằng, đêm hôm đó, dẫu sao tất cả chúng tôi đều chỉ cách sự chết một bước mà thôi và sự chết có thể tìm được chúng tôi cho dầu chúng tôi không trông đợi nó.
Kinh nghiệm ấy đã gây ảnh hưởng nhiều khiến tôi tỉnh người lại, và bây giờ tôi có thể nhìn biết rằng đó là một bước ngoặc quan trọng trong cuộc đời tôi.
Còn Hơn Cả May Mắn
Mọi sự đến với tâm trí trong một đêm sau đó ít tháng. Tôi trăn trở trên giường mình. Đầu óc tôi xoay tròn với những nỗi nghi ngờ, sợ hãi và những thắc mắc. Tôi phải tìm cho ra một số câu trả lời.
Tôi nhớ mình đã có một quyển Kinh Thánh nằm trong đáy túi xách đi biển. Tôi đã mang nó theo nhiều năm như là một thứ bùa may mắn - như một cái chân thỏ chẳng hạn - nhưng tôi đã không hề đọc đến. Tôi lôi quyển Kinh Thánh ra và bắt đầu lật xem. Tôi thấy mình thật sự thích thú khi đọc được một ít điều về cuộc đời Chúa Giêxu. Ngay sau đó tôi quyết định sẽ cố gắng quên hết mọi điều tôi đã được nghe người ta nói về Chúa và chỉ tìm xem Ngài nói gì về chính mình Ngài mà thôi. Tôi bắt đầu đọc phần mở đầu của Tân ước - trong sách phúc âm Mathiơ.
Thật ngạc nhiên đối với tôi, tôi đọc đến Bài Giảng Trên Núi từ đoạn năm đến đoạn bảy. Tôi chưa bao giờ quá phấn khích như vậy về điều đã được nghe chứa đựng trong Bài Giảng này.
Phần duy nhất tôi có thể nhớ khi được nghe về Bài Giảng này đó là nếu bạn nhìn một người đàn bà với sự tham muốn trong tâm trí, thì bạn đã phạm tội tà dâm trong lòng với người ấy rồi.
Bây giờ đọc lại cũng những lời ấy, ngay trước mắt tôi. Tôi dừng lại và nghĩ ngợi. "Chao ôi, ai mà có cơ may với một bộ luật như thế? Còn tôi thì không chỉ tham muốn một thứ mà thôi."
Khi tôi đọc tiếp và nhìn thấy tất cả các mạng lệnh khác mà Chúa Giêxu đã ban, tôi tự nhủ "Hãy quên nó đi, Lindsey. Mày chẳng có cơ may ấy đâu. Mày đã phạm mọi luật lệ trong sách này."
Sự Bắt Đầu Mới Mẻ
Chán nản tôi lật sang một phần khác trong Tân ước - Giăng đoạn ba. Khi nhìn lướt qua trang Kinh Thánh, tôi chú ý đến cuộc nói chuyện của Chúa Giêxu với một người đàn ông đang trông đợi những lời giải đáp về Đức Chúa Trời, cũng như tôi đã từng trông đợi trong nhiều năm. Tên người đàn ông là Nicôđem, và Chúa Giêxu đã bảo ông rằng nếu không được sinh lại, ông ta sẽ không thể nào hiểu biết hoặc bước vào Nước Trời.
"Tất cả mọi điều về sự "sanh lại" này là gì?" Tôi tự hỏi "Nếu có bất cứ điều gì mình cần, thì đó là được sanh lại hoàn toàn một lần nữa. Tôi đã được sinh một cách sai trái trong lần thứ nhất. Và bạn biết không, ngay thời điểm đó, Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã thật sự bắt đầu làm việc trên tôi bởi vì toàn bộ cuộc đời tôi dường như lóe sáng ở trước mặt tôi. Tôi nhớ lại thế nào tôi đã lớn lên trong sự vật lộn vì tìm ý nghĩa của cuộc sống, đấu tranh để tìm thấy Đức Chúa Trời, với sự đau đớn của tấm lòng, với sức ép của tình cảm và với một sự tự hình dung khủng khiếp. Tôi hồi tưởng lại những năm trung học và tôi biết, cơ bản tôi có nhiều khả năng như thế nào, nhưng bởi vì tôi đã bị hư hỏng về tình cảm nên tôi không bao giờ hoàn tất được bất cứ điều gì mình đã khởi làm. Dường như tôi không thể nào thành công được. Khi xong trung học, tôi chắc chắn lớp đàn anh của tôi nghĩ tôi là anh chàng có nhiều khả năng thi hỏng nhất.
Tôi nhìn thấy toàn bộ cuộc đời mình là một kiểu mẫu của một kẻ thua cuộc, một anh chàng có hơn số ta lâng vừa đủ, kẻ dường như không bao giờ biết góp nhặt nó lại với nhau. Và tôi nghĩ "Chao ôi, chắc hẳn tuyệt vời lắm nếu được bắt đầu tất cả trở lại... chùi sạch bảng đá đen và có một đời sống mới."
Đó là điều mà sự sanh lại đã gợi ra cho tôi - có một đời sống mới! Có lẽ lần thứ hai tôi sẽ được tất cả. Và tuy nhiên, như Chúa Giêxu đã nói về việc được sinh lại, tôi không thể hiểu được làm thế nào một điều gì như thế có thể lại xảy ra cho tôi. Hình như tôi đã đi quá xa.
Khi đọc đi đọc lại Giăng đoạn ba, cuối cùng, hiển lộ ra cho tôi rằng tất cả mọi điều tôi phải làm để được sanh lại đó là tin điều mà Chúa Giêxu đã thực hiện tại thập tự giá là Ngài làm cho cá nhân tôi.
Không Phải Dạng Cầu Nguyện
Tôi thật sự cảm thấy dường như tôi muốn cầu nguyện, nhưng tôi thành thật không biết phải cầu nguyện như thế nào. Tôi chỉ đơn sơ nói lớn lên "Lạy Chúa, nếu điều này có thật, xin Ngài hãy chỉ tỏ cho con cách để tin. Con không có một chút đức tin nào cả. Con cũng không biết ngay cả Ngài có ở đấy hay không."
Quyển Kinh Thánh Tân ước tôi có là một trong số Kinh Thánh Tân ước của hội Ghiđêôn phát cho các trẻ em ở trường công. Phần bìa sau có ghi "Nếu bạn muốn quyết định tin nhận Chúa Giêxu làm Cứu Chúa mình, thì đây là cách để thực hiện điều đó". Họ trích dẫn lời nói của Chúa Giêxu trong KhKh 3:20 "Này, ta đứng ngoài cửa mà gõ, nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với ta". Họ giải thích "cửa" là ý chí của chúng ta và chúng ta có thể chọn để mời Chúa Giêxu Christ vào trong đời sống mình và tiếp nhận sự tha thứ tội lỗi cho chúng ta như sự Chết của Ngài đã làm sẵn.
Vì vậy tôi nói "Lạy Chúa, nếu tất cả điều này là thật, thì con muốn Chúa Giêxu Christ đến và bước vào đời sống con. Con thật sự cần được tha thứ. Nếu Ngài có thể làm được điều đó, thì con xin tiếp nhận Ngài ngay giờ này. Lạy Chúa, xin hãy tỏ bày lẽ thật cho con".
Sáng hôm sau, thật sửng sốt đối với tôi, điều đầu tiên tôi muốn làm khi thức dậy đó là đọc Kinh Thánh - và đó là một điều thật mới mẻ! Bởi vì lần đầu tiên điều đó thật sự trở thành có ý nghĩa.
Tôi trở về New Orleans sau một vài ngày và tiếp tục cuộc hành trình vất vả kéo dài một tuần lễ mênh mông như thường lệ. Điều duy nhất đó là, vào lúc này không còn một sự phản kháng to lớn như luôn luôn có trước kia.
Người cuồng tín quái dị!
Tuần sau khi tôi xuống tàu trở lại, một người chạy việc trên tàu đến gặp tôi và nói "Ông chủ, có một tay lái thuyền neo thuyền ở đây, mà chèn ơi, không biết ổng có khùng không. Ổng đi xuống quán giải khát hàng ngày để giảng đạo".
"Ổng giảng về cái quái gì chớ?" Tôi hỏi.
"Về Giêxu" anh ta trả lời.
"Được, anh hãy bảo ông ta là tôi muốn ổng lên đây" Tôi nói.
"Tôi muốn biết ý kiến của ổng về Chúa Giêxu."
Anh chàng chạy việc nhìn tôi như thể là tôi đã mất trí. Ngày hôm sau anh ta đưa người giảng đạo lên tàu. Người này đã nghe về tôi và có hơi khó chịu. Nhưng tôi đã bắt đầu chuyện trò và anh ta yên tâm.
"Anh biết không, cách đây một tuần có một việc đã xảy ra khiến tôi muốn gặp anh để hỏi ý kiến. Tôi biết anh là một truyền đạo".
Anh ta gật đầu và khởi sự cởi mở đôi chút. Anh ta nói "Đây là chuyến công tác xa xôi, gay go nhất mà tôi chưa từng trải qua. Tôi đã có vợ và sáu đứa con nhỏ ở tại Alabama và tôi đã không thể tìm được một công việc bất cứ nơi đâu ngoại trừ chốn này. Tôi đang tự hỏi mình đang làm gì ở đây trong cái chỗ hoang vắng này."
Tôi khởi sự kể cho anh ta nghe câu chuyện của tôi. Tôi thuật cho anh ta nghe về điều mà tôi đã đọc được trong Kinh Thánh và việc tôi đã cầu nguyện như thế nào. Miệng anh ta hé mở ra, rồi mở rộng hơn một chút và rồi há hốc ra, tôi thật không bao giờ quên câu đầu tiên anh ta đã nói với tôi:
"Vậy anh chính là lý do khiến tôi đã không thể tìm được một việc làm ở bất cứ nơi nào khác".
"Anh nói thế có nghĩa gì?" Tôi hỏi
"Phải, Đức Chúa Trời muốn chúng ta gặp nhau. Rõ ràng Ngài đã sai tôi đến đây để nói chuyện với anh và cho anh biết rằng anh đã làm điều đúng".
Ra là anh ấy chính là một người giảng đạo làm chức khâm sai của Đức Chúa Trời. Anh ta lấy Kinh Thánh và tra xem qua nhiều đoạn mà cơ bản đem cho tôi sự đảm bảo rằng điều tôi đã làm là đúng. Anh ta nói với tôi về tầm quan trọng của việc đọc Kinh Thánh hàng ngày. Lúc anh nói xong, tôi biết Đấng Christ đã ở trong đời sống tôi và biết rằng tôi đã thật sự được sinh lại. Một vài ngày sau anh ta ra đi và tôi không bao giờ còn gặp lại anh ta nữa.
Sự Sống Mới Bắt Đầu
Tôi không khởi sự đi nhóm ở một Hội Thánh nào cả bởi vì tôi không biết nhà thờ nào để đến nhóm, nhưng tôi bắt đầu lưu ý thấy những thay đổi xảy ra trong đời sống tôi ngày càng tăng. Tôi trở nên ham thích cực độ trong việc đọc Kinh Thánh, và không bởi sự cố gắng của tôi để cải thiện chính mình, những khao khát ở bên trong tôi về nhiều điều đã bắt đầu thay đổi. Tôi sẽ rút vào phòng ngủ của tôi để đọc Kinh Thánh bởi vì tôi không muốn thủy thủ đoàn của tôi nghĩ rằng tôi thình lình đổi tôn giáo. Một số đông các bạn của tôi bắt đầu lưu ý đến sự thay đổi trong cách sống của tôi và bắt đầu thật sự băn khoăn về tôi. Một ngày kia họ cũng đưa một vị mục sư đến nói chuyện với tôi, ông ta bảo tôi đừng chỉ hoàn toàn dựa vào Kinh Thánh mà thôi để được phát triển.
Sáu tháng trôi qua. Tôi quyết định New Orleans không phải là một khung cảnh tốt nhất trợ giúp cho đời sống Cơ Đốc của tôi, vì vậy tôi quay về quê hương của tôi ở tại Houston. Tôi còn nhớ đã tự nhủ "Có lẽ mình có thể tìm được ai đó ở đây có thể nói cho mình nhiều hơn về điều Kinh Thánh muốn bày tỏ. Tôi biết mình đã ở trên con đường đúng, nhưng tôi đã bắt đầu trễ quá nên tôi phải học hỏi nhiều một cách vội vã.
Tôi làm nhiều công việc khác nhau, và thường ăn bữa trưa và dọc Kinh Thánh một mình. Ngày nọ một anh chàng nhân công lưu ý đến tôi và hỏi tôi có ý muốn đến nhà thờ của anh ấy và nghe một học giả nói về cuộc xung đột ở Trung Đông (cuộc khủng hoảng ở Sue") không. Anh ta nói rằng vị Mục sư sẽ giải thích thế nào Kinh Thánh đã nói tiên tri về điều sẽ xảy ra tại Trung Đông.
Điều đó thật sự hấp dẫn tôi, nên tôi đi với bạn mình. Vị diễn giả nói trong hai tiếng rưỡi, và tôi đã phấn khích đến nỗi không ngủ được đêm hôm đó. Tôi thức suốt đêm và kiểm tra lại từng chữ theo điều ông ta đã nói và rạng sáng, tất cả những lời tiên tri được ứng nghiệm đó đã thuyết phục tôi rằng Kinh Thánh thật sự là Lời được Thần cảm của Đức Chúa Trời.
Tôi bắt đầu đến nhóm lại tại Hội Thánh này và học hỏi dưới sự dạy dỗ của người đàn ông này. Không hề nhận ra điều gì đang diễn ra, tôi học Kinh Thánh khoảng sáu đến tám tiếng một ngày và giữ một công việc trọn thì giờ cùng khoảng thời gian đó. Những người thân của tôi bắt đầu có chút ít lo lắng về việc tôi đã trở nên quá sốt sắng.
Và Một Đứa Trẻ Sẽ Dẫn Chúng Đi
Cuối cùng bố tôi đã đến với tôi và bảo "Này Hal, Bố nhớ rằng khi con còn sống tại New Orleans, Bố đã đến thăm con và con đã đưa Bố đi tham quan cuộc sống phóng đãng trong khu vực của người Pháp, Bố đã sửng sốt khi thấy cách con sống. Bây giờ một năm sau con trở về nhà với quyển Kinh Thánh dưới nách và con đã hoàn toàn đổi khác, Bố không biết điều gì đã xảy đến với con, nhưng Bố chắc chắn thích con như thế".
Tôi ngồi xuống và hết sức mình để giải thích điều đã xảy ra cho tôi. Thật là sửng sốt đối với tôi, nước mắt dâng tràn lên mắt ông. Ông nói: "Bố ao ước biết Chúa Giêxu Christ như vậy".
Chúng tôi quỳ gối ở phòng trước và ông đã mời Đấng Christ bước vào đời sống mình và trở thành Cứu Chúa của mình. Bố tôi vào lúc năm mươi hai tuổi đã trở thành một đứa bé mới sinh của Đức Chúa Trời cũng như tôi trước đây. Mẹ tôi vẫn còn chưa chắc chắn lắm về điều đang diễn tiến. Bà là một tín đồ thật của Chúa Giêxu. song chưa bao giờ được dạy bất cứ điều gì về cách làm cho đời sống Cơ Đốc của bà hoạt động hàng ngày. Trong vòng vài tháng sau đó, Chúa Giêxu cũng đã trở thành thực hữu với bà.
Được Kêu Gọi vào Chức Vụ.
Sau khoảng một năm rưỡi học Kinh Thánh sốt sắng trong Hội Thánh của tôi, Đức Chúa Trời đã dùng một câu chuyện trong sách Xuất Êdíptô ký để bày tỏ hoạch định Ngài đã phác họa cho đời sống tôi. Ngài muốn tôi dạy dỗ Lời Ngài cho người khác.
Bạn không thể tưởng tượng được tôi đã bị sốc như thế nào khi đọc câu chuyện về Môise và bụi gai cháy và trong những lời lẽ không hề mơ hồ, Ngài đã phán với tôi: "Con sẽ trở thành một bụi gai khác mà qua đó ta sẽ phán".
Lý do khiến tôi ngạc nhiên sửng sốt là vì tôi sợ muốn chết nếu phải đứng lên ở trước mặt nhiều người mà phát biểu. Tôi đã thường bỏ lớp diễn thuyết ở tại trường đại học chỉ bởi vì tôi rất khiếp phải mở miệng ra.
Tôi nói với Chúa: "Nếu Ngài muốn khiến con trở thành một người giảng đạo, thì xin Ngài hãy thi hành một phép lạ trên con trước nhất". "Điều đó không thành vấn đề đối với Ta", Ngài phán "Hãy xem cuộc trò chuyện giữa ta với Môise trong Xuất chương Bốn. Khi ta kêu gọi Môise ra yết kiến Pharaôn và bảo Pharaôn hãy để cho dân Ta ra khỏi cảnh nô lệ ở tại Êdíptô, hãy xem Môise đã nói gì với Ta: "Ôi lạy Chúa, từ hôm qua, hôm nay, hay là từ lúc Chúa phán dạy kẻ tôi tớ Chúa, tôi vẫn chẳng phải một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập ngừng".
"Và đây là điều mà Ta, Đức Chúa Trời vô sở bất năng đã phán cùng Môise "Ai tạo miệng loài người, hay là ai đã làm câm, làm điếc, làm sáng, làm mờ? Có phải ta là Đức Giêhôva chăng? Vậy bây giờ hãy đi, ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói".
Khi tôi nhìn vào những câu Kinh Thánh ấy và nhớ lại phương cách quyền năng mà Đức Chúa Trời đã sử dụng Môise sau biến cố bất ngờ này, tôi nói "Lạy Chúa, Ngài làm được bất cứ điều gì. Nếu Ngài đã làm nên môi miệng con và Ngài đang kêu gọi con sử dụng nó cho Ngài thì Ngài có thể đặt lời vào môi miệng con như Ngài đã thực hiện điều đó cho Môise".
Con Đường Thử Thách
Không lâu sau việc đó tôi được mời dạy một lớp Kinh Thánh cho Thanh niên vào một ngày Chúa nhật. Tôi hầu như đã trả lời không khi họ mời tôi, nhưng sau đó tôi quyết định đây là một dịp tiện tốt để Đức Chúa Trời có cơ hội đặt một số lời của Ngài vào môi miệng tôi.
Tôi nghiên cứu học tập nhiều ngày, và rồi khi đứng lên ở trước lớp chính với đầu gối run rẩy nhưng một tấm lòng mạnh mẽ đã đặt tất cả lòng tin cậy của mình vào trong Đức Chúa Trời! Thật là kinh ngạc (Ôi, tôi, con người đầy đức tin). Người ta thật sự đã được chạm đến bởi điều tôi nói, và sâu xa hơn nữa, điều đó đã là một kinh nghiệm phi thường đối với tôi. Thỉnh thoảng trong bài giảng của tôi, tôi giật mình nhớ lại mình đã từng ở đâu, và sự kinh hoảng cũ khởi sự trong tôi. Thì tôi bèn nhớ lại điều Chúa đã bảo Môise về việc Ngài đặt lời Ngài vào trong môi miệng chúng ta, và lòng tôi được yên tĩnh lại.
Sau buổi học, một phụ nữ bước đến gặp tôi để nói chuyện. Tôi đã chú ý bà ta lúc bà ngồi ở cuối phòng và trông bà như thể đang bị ai đó giẫm lên ngón chân suốt trong lúc tôi chia sẻ. Bà nói "Này anh bạn trẻ, tôi tin rằng Chúa đã để riêng anh để dạy dỗ Lời Ngài rộng khắp một ngày kia, nhưng văn phạm của anh khó nghe quá sẽ khiến cho không ai còn muốn nghe anh nói nữa".
Tôi biết bà ta đã nói đúng. Tôi thật sự giết chết Anh ngữ đúng tiêu chuẩn.
Người Học Lớp Ba Già Nhất Thế Giới
"Tôi là một giáo sư Anh văn" bà ta nói "Nếu anh bằng lòng đến nhà tôi mỗi tuần hai buổi, tôi sẽ dạy anh văn phạm đúng quy cách". Tôi hỏi bà vì sao bà lại vui lòng làm công việc đó. Bà trả lời "Bởi vì Chúa bảo tôi làm".
Vì vậy tôi bắt đầu học. Bà đã phải bắt đầu lại với văn phạm lớp ba, và bà đã đưa tôi lên đến trình độ đại học trong vòng một năm. Trong cùng thời gian này của đời tôi, tôi đã thật sự bắt đầu rung động do một sự hiểu biết rộng mở về Lời Thánh Kinh.
Khao Khát Lời Chúa
Khi tầm hiểu biết của tôi về Thánh Kinh được mở rộng và sự kêu gọi của Chúa trở nên rõ ràng hơn, tôi càng ý thức hơn bao giờ hết nhu cầu của tôi là thật sự học biết Lời Đức Chúa Trời. Một buổi tối nọ, tôi nói "Lạy Chúa, Ngài biết điều con thật sự mong muốn đó là vào trường Thần học".
Nhưng làm thế nào tôi được thâu nhận? Ngoài cái quá khứ nhơ nhớp và không có bất cứ một thứ "chứng nhận tôn giáo" nào cả, tôi lại chưa hề tốt nghiệp đại học - Trường mà tôi muốn theo học là một trường tốt nghiệp bốn năm về thần học, một trong những trường gay go nhất trong quốc gia.
Sự trả lời của Đức Chúa Trời đã đến khi Ngài một ngày kia truyền bảo tôi đọc Thi thiên 71. Tôi đã biết những câu Kinh Thánh này, do Đavít viết ra cách đây nhiều năm, bấy giờ là chiếc áo bao phủ của Đức Chúa Trời mặc trên tôi, vì những lý do gì chỉ có Chúa biết, tôi được trở thành một trong những người bởi cách này hay cách khác, công bố quyền năng của Ngài cho thế hệ của mình.
"Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa đã dạy tôi từ buổi thơ ấu
Cho đến bây giờ tôi đã rao truyền các công việc lạ lùng của Chúa.
Hỡi Đức Chúa Trời, dầu khi tôi đã già và tóc bạc rồi
Xin chớ bỏ tôi, cho đến chừng tôi đã truyền ra cho dòng dõi sau sức lực của Chúa, và quyền thế Chúa cho mỗi người sẽ đến.
Hỡi Đức Chúa Trời, sự công bình Chúa rất cao, chính Chúa đã làm công việc cả thể. Hỡi Đức Chúa Trời, ai giống như Chúa, Chúa là Đấng đã cho chúng tôi thấy vô số gian truân cay đắng. Sẽ làm cho chúng tôi được sống lại. Và đem chúng tôi lên khỏi vực sâu của đất (Thi Tv 71:17-20).
Bởi vì Chúa đang kêu gọi tôi rao truyền cho Ngài, nên điều đó chỉ có ý nghĩa với tôi nếu Ngài tạo cơ hội để tôi được vào trường Kinh Thánh. Khi hiểu vấn đề, tôi thôi lo lắng về tất cả những điều sẽ xảy đến mà chỉ bắt đầu tin cậy Ngài và lập các kế hoạch để lên đường mà thôi.
Đấng Gọi Anh Em Là Thành Tín
Tôi nộp đơn vào Thần học viện và biết chắc rằng khi nhận đơn, họ sẽ phải mất hai đến ba ngày mới hết cười tôi. Thật sự cũng không có một cái gì để điền vào đơn tiến cử tôi như một người dự tuyển vào Thần học viện Dallas.
Không cho tôi hay, vị mục sư của tôi đã thực hiện một chuyến đi đặc biệt đến trường Thần học để nói chuyện với vị giám đốc thâu nhận. Ông ta nói với vị giám đốc "Trên giấy tờ thì anh này không đạt tiêu chuẩn lắm, nhưng anh ta đã tự học tiếng Hy Lạp cách chủ động, sáng tạo và anh ta có một tấm lòng nóng cháy cho Đức Chúa Trời".
Vì thế họ đã gởi đến cho tôi một bản trắc nghiệm IQ (nhận định năng lực) và tôi biết việc thâu nhận tôi tùy thuộc vào sự trình bày của tôi. Tôi nói "Lạy Chúa, con không biết bảng IQ của con là gì (Tôi biết điểm IQ của tôi phải thấp lắm khi tôi bước vào phục vụ bởi vì tôi đã làm bài trắc nghiệm với một sự rã rời khủng khiếp) nhưng con tin Ngài có thể ban cho con sự khôn ngoan siêu nhiên.
Dường như đầu óc của tôi đã trở thành một cái máy điện toán! Tôi biết bàn tay Chúa đã ở trên tôi, và tôi tự nhủ trong khi rào rào viết xong bài trắc nghiệm "Nếu lúc nào mình cũng suy nghĩ được như vầy thì mình trở thành nhà kỷ lục mất". Tôi làm xong trước giờ hạn định. Tôi xem lại bài trắc nghiệm một lần nữa, sửa một đôi chỗ, xếp lại và giao nộp.
Trong - Nhờ Ân Điển của Đức Chúa Trời
Tôi nhận được sự trả lời tức khắc "Anh được thâu nhận". Phép lạ mà tôi trông đợi đã xảy ra!
Nay tôi đây, đã được nhận. Nhưng tôi cũng đã hoàn toàn không tiền! Tôi đã mất việc, bị thất nghiệp vì cuộc rút quân năm 1958.
Một buổi chiều khi tôi đang ngồi ở nhà. Mẹ tôi bước vào và nói "Hal à, con nên viết thư cho trường Thần học và cho họ biết con không thể đến được. Bố mẹ ước gì có tiền để giúp con, nhưng ngay lúc này thì bố mẹ không thể để dành tiền cho con được".
"Mẹ à, Chúa đã kêu gọi con vào Thần học viện và Ngài đã khiến những người ở tại trường Dallas thâu nhận con. Thì bây giờ, bởi cách này hoặc cách khác, Ngài sẽ cung cấp tài chánh".
Tôi còn nhớ mình đã đi vào phòng riêng, đóng cửa lại, quỳ gối sấp mặt xuống đất và thưa rằng "Phải, Lạy Chúa. Con đã nói những lời đó. Bây giờ, xin Ngài hãy bảo hộ con!" Đang khi tôi đang cầu nguyện thì mẹ tôi bước vào phòng với thư từ vừa được gửi tới "Có mấy lá thư của con đây", bà nói.
Lạy Chúa, Xin Hãy Để Thư Từ Cứ Đến
Tôi mở các lá thư, và mỗi lá thư đều có một tấm ngân phiếu. Tôi không cho ai biết nhu cầu của mình cả, song nhiều người về sau này đã nói rằng Đức Chúa Trời đã đặt vào lòng họ một cách lạ lùng và thúc giục họ gởi tiền đến giúp việc đi học trường Kinh Thánh của tôi. Thư từ bắt đầu được gởi đến gần như là mỗi ngày. Đến lúc tôi lên đường để vào trường Dallas thì tôi đã có đủ tiền cho toàn bộ năm thứ nhất.
Đó là cách mà Chúa đã đưa tôi qua suốt bốn năm tại Thần học viện. Tôi không hề có một số thu nhập bảo đảm nào cả, nhưng tất cả các khoản chi phí của tôi đã được thanh toán khi tôi tốt nghiệp. Sống bởi đức tin là một sự chuẩn bị rất tốt cho chức vụ mà Chúa đang sửa soạn cho tôi chức vụ đó.
Chuẩn Bị Thêm Cho Chức Vụ
Một trong những nhu cầu lớn nhất mà tôi đã bắt đầu cảm thấy đó là tôi cần có một người chia sẻ cuộc sống với mình. Tôi đã từng có một kinh nghiệm đau thương với hôn nhân khi tôi chưa tin Chúa lúc ở tại Orleans, người vợ của tôi đã tìm được một người cô ta ưa thích hơn và đã ly dị tôi. Tôi biết mình cần tình yêu và tình bạn của một người nữ, nhưng tôi sợ đến chết được rằng điều đó lại có thể nổ ra một lần nữa với tôi. Vì lý do đó, mặc dầu đã hăm mấy gần ba mươi, tôi cũng không định điều gì trong lúc theo học tại Thần học viện. Tốt nhất là lòng tin rằng Đức Chúa Trời bằng cách nào đó đã chọn lựa một người nữ cho tôi và nếu tôi đơn thành chờ đợi điều tốt nhất của Ngài, thì Ngài sẽ ban người ấy cho tôi.
Tôi biết người nào mà Ngài ban cho tôi sẽ phải là người rất đặc biệt để chịu đựng tôi. Cô ấy cũng phải là người trưởng thành và kết ước sâu nhiệm để hầu việc Đức Chúa Trời. Và tôi cũng nghĩ rằng nếu cô ta xinh đẹp thì cũng không hại gì.
Và khoảng cuối năm thứ ba của tôi ở tại Thần học viện, người thiếu nữ hoàn toàn này, Jan Houghton, thật bất ngờ đã bước vào cuộc đời tôi. Chúng tôi chỉ biết nhau vỏn vẹn có năm ngày trước khi cả hai chúng tôi cùng nhận ra rằng chúng tôi là người đã được Chúa cứu để dành cho nhau.
Năm ngày đó đã là tất cả những gì chúng tôi có được với nhau, bởi vì sau đó, cô ta đã phải trở về với công tác chức vụ của mình trong Chiến dịch Chinh phục Sinh viên cho Đấng Christ ở tại trường Đại học Smith, Northampton, bang Massachusetts. Ba tuần sau, Đức Chúa Trời đã dẫn dắt tôi một cách không thể lầm lẫn được để gọi điện cho cô ta và hỏi cô ta làm vợ. Cô ta đã giao phó việc này cho Chúa và Ngài đã cho có một câu trả lời lập tức. Đó là: Vâng.
Hai tháng sau, giữa chúng tôi, không ai được trông thấy nhau một lần. Jan đã bay đến Houston và kết hôn với tôi. Trong xác thịt, chúng tôi đã là những người hoàn toàn xa lạ, song chúng tôi đã có một mạng lệnh không thể lầm lẫn được từ nơi Chúa đó là chúng tôi thuộc về nhau, và Ngài đã sẵn sàng ban cho chúng tôi một sự hiệp một về tâm linh.
Trải qua những năm chúng tôi chung sống, Đức Chúa Trời đã nhiều lần tôi cho thấy những lý do khiến Ngài đã kết hợp chúng tôi với nhau. Chúng tôi hầu việc Ngài theo một tổ trong Chiến dịch Chinh phục Sinh viên cho Đấng Christ suốt nhiều năm sau những ngày học ở Thần học viện, và hiện nay chúng tôi cùng nhau làm việc trong sự dạy dỗ và diễn thuyết ở khắp đất nước và trong việc viết lách nữa.
Tổng Lược
Tôi hy vọng đến bây giờ bạn có thể thấy được vì sao tôi đã trình bày quá nhiều về cuộc đời riêng của tôi cho bạn như vậy. Tôi muốn bạn nhìn thấy cách Đức Chúa Trời đã vui lòng chọn những cuộc đời rất tầm thường và đôi khi nhơ nhớp nữa để thực hiện những công việc phi thường qua họ. Một ngàn năm đi nữa thì tôi cũng không bao giờ dám mơ rằng Đức Chúa Trời sẽ dùng tôi để viết ra những quyển sách được bán cho hàng triệu người và đã đem lại sự sống và hy vọng cho nhiều người như vậy. Tôi, con người đã sống trong tuyệt vọng suốt nhiều năm trong cuộc đời mình.
Nhưng đó là sự vui thích lạ lùng của Đức Chúa Trời - đã biến đổi Simôn thành Phierơ, Saulơ thành Phaolô, và những người ô nhơ thành ra những chiếc bình có thể đem vinh hiển về cho Ngài.
Trong các chương tiếp theo đây, với tất cả tấm lòng của mình tôi muốn giúp bạn nhìn thấy cái gì đã làm thành điều đó cho đời sống tôi. Chắc chắn, tôi không phải là một "sản phẩm đã hoàn thành", song hàng ngày vẫn được Đức Chúa Trời tỉa sửa để ngày càng trở nên giống với điều Ngài muốn tôi trở nên. Nhưng điều đó cũng là một tiến trình hào hứng và là điều tiếp tục diễn ra trong tất cả chúng ta. Có một cái nhìn tích cực hơn về cách Đức Chúa Trời đang tinh luyện chúng ta và cách Ngài đang trang bị chúng ta để sống vượt lên trên hoàn cảnh của chúng ta trong cuộc đời này sẽ khiến cho tương lai có một điều gì đó để chúng ta vui sướng trông đợi hơn là khiếp sợ.
Nếu bạn muốn dời đổi từ địa vị tầm thường vào trong thế giới của những khả năng vô hạn, thì tôi mời gọi bạn hãy tiếp tục với một tấm lòng và một đầu óc rộng mở, bạn sẽ trở thành một ứng viên cho một phép lạ.


ĐIỀU GÌ ĐANG SAI TRẬT VỚI LOÀI NGƯỜI?
Bất cứ một thầy thuốc đáng tín nhiệm nào cũng đều biết rằng mình không thể hoàn thành việc chữa trị bệnh trừ phi trước tiên phải chẩn đoán chính xác bệnh tình. Các nhà chính trị và các chánh khách phải đánh giá một cách cẩn thận và chính xác những nguyên nhân nằm bên dưới vấn đề trong thành phố, tiểu bang hoặc đất nước của họ trước khi họ có thể thông qua dự luật hữu hiệu để sửa lại các vấn đề.
Cũng vậy khi chúng ta tìm cách để hiểu vấn đề rắc rối và thách thức nhất của mọi thời đại, đó là: "Vì sao người ta lại suy nghĩ và cư xử như họ đã làm?
Không hề thiếu những sự chẩn đoán cho vấn đề vì sao chúng ta làm điều mình làm. Toàn bộ những lãnh vực nghiên cứu về khoa học đều tận lực cho vấn đề này. Khoa tâm lý học cố gắng để tìm ra lý do vì sao những cá nhân suy nghĩ và hành động theo cách họ làm. Khoa xã hội học thì lại chuyên về những động lực của nhóm phẩm hạnh.
Nhưng dầu cho bạn chỉ nghiên cứu về một con người đơn độc hay cùng một nhóm người đi nữa, thì hầu như tất cả những người suy nghĩ hợp lý ngày nay đều đang cố gắng để nắm bắt được rằng điều gì đang sai trật trong phẩm hạnh của loài người, điều gì đang sai trật với những sự thiết lập của chúng ta và điều gì đang sai trật với thế giới.
Loài Người Được Nhìn Thấy Như Một Khuyết Tật Của Sự Tiến Hóa
Một đề nghị trả lời dành cho vấn đề này đã được Arthur Koestler đưa ra trong cuộc nói chuyện vào lần thảo luận thứ mười bốn về giải Nobel ở tại Stockholm năm 1969. ông nói "Từ trước đến nay, đã từng có nhiều cố gắng chẩn đoán được thực hiện nhằm giải thích cách cư xử kỳ dị của con người, từ các tiên tri người Hêbơrơ đến những nhà phong tục học đương thời (những khoa học gia chuyên nghiên cứu cách hành xử của loài thú). Nhưng không một ai trong số họ đã khởi sự lời mở đầu cho rằng loài người là một chủng loại kỳ dị, do một sự hành động sai chức năng về phương diện sinh vật.
Ông ta đã đặt câu hỏi "Có phải sự tấn công đồng loại là do tiếp thu từ xã hội, hay đó là sự kiến tạo về sinh học, một phần của bản tính do di truyền của chúng ta và là di sản của cuộc tiến hóa?"
Koestler chỉ ra rằng từ buổi ban đầu của nhận thức cho đến giữa thế kỷ thứ hai mươi, con người đã phải sống với viễn cảnh về sự chết của mình theo từng cá nhân một. Nhưng từ khi sức mạnh khó tin của năng lượng nguyên tử được khám phá kể từ ba thập niên qua, thì con người bây giờ phải sống với viễn cảnh về sự chết của họ như là một chủng loại.
Đối diện với mối đe dọa tự diệt chủng này, người ta hẳn phải liệu trước những tấn công của con người để ngăn chận cách phải lẽ. Koestler viết "Nhưng những yêu cầu phải lẽ thì luôn luôn rơi vào những kẻ điếc, vì một lý do đơn giản đó là con người vốn không phải là những con người phải lẽ, cũng không có một dấu hiệu nào cho thấy họ đang ở trong tiến trình trở thành một con người phải lẽ".
"Mặt khác, bằng chứng dường như cho thấy rằng ở một lúc nào đó trong các giai đoạn bùng nổ vừa qua theo thuyết tiến hóa về Người Hiện Đại (Homesapiens) thì có cái gì đó đã sai trật. Có một vết xấu, một lỗi lầm tinh vi nào đó về mặt kiến tạo đã hình thành trong sự trang bị tự nhiên của chúng ta để biện giải cho đường vạch hoang tưởng chạy suốt lịch sử của chúng ta"
Trong khi người ta có lẽ không đồng ý với tất cả những kết luận của Arthur Koestler, sự kiện tồn tại cho thấy rằng ông ta cũng đã tìm cách để đưa ra một sự giải thích về cách xử sự sai lệch của con người và đã kết luận rằng chúng ta bị ràng buộc vào một tật quái dị di truyền về bản chất mà theo đó không có hy vọng hoặc phương cách cứu chữa.
Chúng ta có sẵn sàng để đi "Vượt Quá Sự Tự Do Và Phẩm Giá Không?"
B.F. Skinner, tác giả của quyển sách cần được mang ra thảo luận đó là quyển "Vượt Quá Sự Tự Do Và Phẩm Giá" và là người được nhiều người nghĩ là một nhà tâm lý Mỹ có ảnh hưởng sinh thời lớn nhất, ông ta có những lý thuyết về bản chất tự nhiên của con người và cách con người xử sự tốt nhất, tuy nhiên, những luận lý đó hoàn toàn đối nghịch với luận lý của Arthur Koestler, Koestler cảm thấy cơ chế bên trong của con người đã có khuyết điểm và là nguyên nhân sai chức năng của họ, trong khi Skinner cảm thấy toàn bộ cách hành xử lệch lạc của con người ta, đều nằm ở những ảnh hưởng bên ngoài hàng ngày tác động đến người ấy.
Cách giải quyết của Skinner đối với tánh khí tự xem mình là trung tâm đó là đặt một sự kiểm soát vừa đủ trên cách cư xử bên ngoài và nền văn hóa của một người cho đến khi người ấy không còn có bất cứ một sự tự do nào bên trong hoặc có ý chí tự do nữa. Trong tình trạng môi trường được kiểm soát chặt chẽ này, con người sẽ tự chế khỏi tình trạng nhơ nhớp, nạn nhân mãn, nổi loạn, gây chiến tranh, ích kỷ, tham lam, không yêu thương và kiêu ngạo - không phải vì những hậu quả tàn khốc của những điều đó, mà là vì người ấy có điều kiện để muốn điều giúp ích cho phúc lợi của cộng đoàn.
Điều này có lẽ nghe hơi giống với giả thiết về một xã hội toàn hảo của George Orwell năm 1984, nhưng suy nghĩ này đối với Ông Skinner không phải là chuyện đùa chơi. Bởi vì ông từng có nhiều thử nghiệm với việc kiểm soát hành vi của các thú vật (và một số thử nghiệm ít hơn với con người) có nhiều tư tưởng gia danh tiếng đã mua tất cả hoặc các phần thuộc về bản triết lý kiểm soát hành vi này.
Mặc dầu Skinner bị chống đối mạnh mẽ bởi hầu hết các nhà nhân chủng học, các nhà tôn giáo và những nhà phân tích tâm lý thuộc trường phái Freud, ông ta cương quyết giữ vững ý tưởng cho rằng tâm tánh được quyết định hoàn toàn từ bên ngoài chứ không phải từ những gì ở bên trong. Ông ta một mực cho rằng bất cứ một tư tưởng nào về linh hồn hoặc về con người nội tâm đều là một sự mê tín, cũng như lòng tin nơi Đức Chúa Trời bắt nguồn từ sự bất năng của con người để hiểu biết về thế giới của mình và hiểu biết về những hành động của chính mình.
Hai Trường Phái Đối Lập
Nếu chúng ta đã theo triết lý của B.F. Skinner dẫn đến những kết luận không thể tránh được của nó, thì chúng ta cũng buộc phải thừa nhận rằng không một con người nào phải chịu trách nhiệm về việc cư xử không đúng đắn của mình. Người ấy chỉ việc viện cớ rằng mình đã không hề "có điều kiện" để làm điều phải. Điều này sẽ gây ra hậu quả trong sự loại bỏ tất cả nhận thức về tội lỗi cá nhân khỏi con người, song nó cũng sẽ sinh ra tình trạng hỗn loạn về giáo dục và đạo đức.
Điều chúng ta thật sự đang rút ra ở đây trong hai quan điểm tiêu biểu của con người là hai quan điểm này hoàn toàn đối lập nhau về con người và về lý do vì sao con người cư xử theo cách như vậy. Cả hai quan điểm đều đồng ý rằng con người có vấn đề trong cách cư xử, nhưng một quan điểm thì cho rằng đó là vấn đề ở bên trong, và quan điểm kia lại cho rằng đó là vấn đề bên ngoài. Dầu vậy, cả hai trường phái đều không giải quyết thích đáng cho tình trạng nan giải của vấn đề làm thế nào để bắt đầu cho con người ta cư xử một cách vô kỷ, yêu thương, hòa bình, phóng khoáng, tốt đẹp, kiên nhẫn và biết quan tâm theo như họ đã khám phá.
Điều Gì Đã Xảy Ra Đối Với "Tội Lỗi"?
Đã từ nhiều năm, hầu hết các nhà bác sĩ tâm thần và các nhà tâm lý đã bỏ qua khái niệm tín ngưỡng lỗi thời về "tội lỗi", xem như đó là điều không xứng hợp với sự tốt đẹp nhất và sự nguy hiểm hoàn toàn đối với sự tệ hại nhất của nó. Họ đã tố cáo tôn giáo vì đã mang lại mặc cảm tội lỗi trong những người theo tôn giáo và họ khuyên các nạn nhân hãy vứt bỏ mặc cảm phạm tội của họ và hãy làm điều gì mình muốn.
Nhưng nay, một người trong nội bộ của khoa tinh thần bệnh học đã bỏ khỏi những quan điểm trước kia được họ giữ về lý do vì sao con người cư xử không đúng đắn. Bác sĩ Karl Menninger, một nhà tâm thần học danh tiếng của thế giới, đã nói trong quyển sách mới đây của ông "Điều Gì Đã Trở Thành Tội Lỗi"? nói rằng sự mạnh khỏe của tinh thần và sự lành mạnh của đạo đức chỉ là một, và cách duy nhất để làm cho những đau thương, tranh chiến, hiểm nguy của xã hội chúng ta có thể hy vọng ngăn cản các bệnh tật tinh thần đó là nhờ việc nhận biết thực trạng của tội lỗi.
Ông nói "Nếu khái niệm về trách nhiệm cá nhân và về khả năng trả lời của cá nhân đối với chúng ta và đối với người khác là phải quay trở về với sự chấp nhận chung, thì một lần nữa con người sẽ cảm nhận lỗi lầm của tội lỗi ăn năn và thiết lập một lương tâm mà nó hành động như một điều ngăn cản sự phạm tội thêm, thì lúc đó mới có hy vọng để trở lại với thế giới.
Thật bi thảm, Menninger nói rằng ông được thúc giục để viết quyển sách mới này sau khi nói chuyện với một nhóm những người am tường về khoa thần học tự do và nghe họ bày tỏ nỗi thất vọng và tình trạng kém cõi của họ khi xử lý với những nan đề của những người trong giáo khu của họ hoặc đương đầu với sức mạnh của điều dữ khi nó quyến rũ những người trẻ tuổi của họ.
Menninger nói "Tôi chợt thấy rằng hàng giáo phẩm của chúng ta đã trở thành những cây lau sậy bị rung động, những chiếc đèn đóng khói, những chiếc bình bằng đất... những mũi tên đã cùn lụt"
Giải pháp của ông là nêu lên và nói cho thế giới biết vấn đề của tội lỗi là gì. "Hãy giảng truyền điều đó! Hãy nói đúng nó như thế nào. Hãy nói điều đó từ các tòa giảng. Hãy kêu lớn lên từ mọi mái nhà! Những lời của Bác sĩ Menninger, một nhà tinh thần học chứ không phải một nhà truyền giáo!
Sự Lựa Chọn Sống Còn
Bác sĩ Karl Menninger không đánh đổi cương vị nhà tinh thần học của ông cho tòa giảng, và chắc chắn là nhiều người sẽ khám phá ra rằng họ không thể hoàn toàn đồng ý với những điều theo quan điểm của Menninger, song ông đã làm được điều mà nhiều vị mục sư đã thất bại trong thời đại của chúng ta. Đó là ông đã chẩn đoán cho nan đề của con người giống như Kinh Thánh đã dạy: Con người là một tội nhân và cần được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời, với đồng loại và với chính mình.
Tội lỗi đã tạo ra vật cản giữa Đức Chúa Trời và loài người
Tôi thích cứ xem như bất cứ ai đọc quyển sách này cũng đều đọc với một tâm trí cởi mở và muốn hiểu biết sự chẩn đoán của Kinh Thánh về vấn đề nan giải của nhân loại.
Từ sách đầu tiên của Cựu Ước đến sách cuối cùng của Tân Ước, đều mang một chủ đề không thay đổi, đó là Đức Chúa Trời và con người đều kinh nghiệm một sự xa lạ: - một vật cản. Nếu bạn vui lòng để nhìn nhận rằng con người không thể cất vật cản ấy đi nhưng Đức Chúa Trời phán rằng Ngài sẵn sàng loại bỏ.
Mọi lỗi lầm từng được dạy dỗ liên quan đến mối liên hệ của con người với Đức Chúa Trời đều có lịch sử bắt đầu bằng một sự hiểu biết không đúng về tội lỗi và hậu quả hủy hoại của nó trên con người không ích gì để nói về Chúa Giêxu là ai hoặc vì sao Ngài đã đến thế gian cho đến khi nào chúng ta trước hết hiểu biết được bản chất của vật cản hiện tồn tại giữa con người và Đức Chúa Trời.
Nếu có một cặp vợ chồng đã bất hòa với nhau và đã dựng lên một vật cản không thể vượt qua được ở giữa họ, đến gặp tôi, thì tôi chỉ có thể khởi sự giúp đỡ họ giải quyết mối xung đột của họ khi nào tôi bắt đầu tìm hiểu họ để xem vật cản ở giữa họ đã hình thành như thế nào.
Vật Cản Phổ Thông - Nguyên Nhân Và Hậu Quả
Hình ảnh đầu tiên trong Kinh Thánh ghi lại mối liên hệ giữa con người với Đức Chúa Trời. Hình ảnh ấy đã ở trong một bầu không gian đẹp đẽ, có tình giao hữu và thông công thật sự ở giữa Đức Chúa Trời và con người. Trong tất cả mọi lãnh vực con người được tự do làm điều mình muốn , như là một sự biểu lộ của tình yêu và sự vâng lời đối với Chúa, chỉ không được làm một điều là ăn trái cây Chúa cấm trong vườn.
Đối với Đức Chúa Trời thì đòi hỏi như thế dường như không phải là nhiều. Tôi thường yêu cầu các con tôi không được làm một số điều nhất định nào đó và tôi biết rằng hoặc chúng vâng lời hoặc không vâng lời, thì ở mức độ nhất định, đã cho thấy tình yêu và lòng tin cậy của chúng đối với tôi. Bởi vì tôi yêu chúng và không muốn ép chúng phải vâng lời, nhưng tôi thật sự mong mỏi như một sự thừa nhận rằng chúng nó tôn trọng sự phán đoán của tôi trên sự suy xét của chúng - rằng điều tôi đòi hỏi chỉ là vì ích lợi tốt nhất cho chúng nó.
Khi Ađam và Êva quyết định cắn một miếng trái cây cấm bởi coi thường mạng lệnh của Đức Chúa Trời, thì sự không vâng lời của họ đã dựng lên một vật cản ở giữa chính họ với Đức Chúa Trời và tình thông công mà họ đã từng kinh nghiệm với Đấng Tạo Hóa mình bị gãy đổ.
Đó là câu chuyện được chép trong sách thứ nhất của Kinh Thánh, sách Sáng Thế ký, trong ba mươi tám sách còn lại của Cựu Ước và hai mươi bảy sách của Tân Ước, chúng ta có câu chuyện tiếp theo về điều Đức Chúa Trời đã và đang thực hiện để giải hòa con người với chính Ngài bằng cách loại bỏ vật cản phân cách ấy.
Vật Cản Bốn Mặt
Chúng ta có thể quy thành bốn loại vật khối mà chúng ta đã chồng lên hình thành vật chướng ngại phân cách chúng ta với Đức Chúa Trời. Bức tường này không thể xuyên thấu được đến nỗi mọi tôn giáo, mọi triết lý, mọi chủ nghĩa tư tưởng, những việc lành và sự tinh xảo của loài người đều không thể hạ nó xuống được.
Lý do buộc tôi phải viết quyển sách này đó là để truyền đạt tin tức tốt lành nhất mà tôi từng được nghe và đó là: Đức Chúa Trời, chính Ngài đã phá đổ bức tường ngăn cách.
Trước hết chúng ta hãy nhìn vào vật cản, và sau đó chúng ta mới hoàn toàn đánh giá đúng điều mà Đức Chúa Trời đã phải trả giá để phá diệt nó.

VẬT CẢN SỐ MỘT
BẢN TÁNH THÁNH KHIẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Nhiều người trong chúng ta biết một người nào đó có đời sống thánh sạch và gương mẫu, có nhiều điều tốt lành, đến nỗi chúng ta cảm thấy hơi khó chịu trước sự hiện diện của người ấy, đặc biệt nếu chúng ta biết rằng người ấy biết những thói xấu của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta thường không cảm thấy như vậy giữa vòng hầu hết các bạn bè của mình, bởi vì chúng ta biết họ cũng sống giống như mình .
Bạn thử đoán xem điều gì đã khiến chúng ta cảm thấy có một sự khác biệt như thế, dường như là một vật cản vô hình giữa con người đó và chính chúng ta?
Đó chính là bản tánh thánh khiết của người ấy.
Chúng ta biết mình không bằng với tiêu chuẩn phẩm hạnh của người ấy, và chúng ta cảm thấy người ấy có lẽ có khuynh hướng phán xét chúng ta. Vì vậy chúng ta cảm thấy bất mãn.
Ở một mức độ lớn hơn, đó chính là vấn đề giữa Đức Chúa Trời và con người. Bản tánh của Đức Chúa Trời quá toàn hảo và bản chất của con người lại đầy dẫy khiếm khuyết khiến cho sự quá thánh khiết của Ngài trở thành một chướng ngại vật đối với con người.
Bây giờ, trước khi bạn tự bảo "Phải, đó chính là lỗi của Đức Chúa Trời làm cho con người mất thiện cảm đối với Ngài. Đức Chúa Trời cần phải hạ thấp bớt những tiêu chuẩn của Ngài đi, nếu Ngài muốn hòa thuận với con người", chúng ta cần nhìn xem bản tánh của Đức Chúa Trời thật sự là gì.
Chúng ta đang nói đến một tiêu chuẩn phẩm hạnh vượt khỏi tập thể của chúng ta. Hết thảy chúng ta có thể kể ra mười người mình biết, rồi so sánh chính chúng ta với đời sống của họ và kết quả cũng không tệ lắm. Chỉ có một vấn đề nhỏ khi so sánh chúng ta theo bản tánh của Đức Chúa Trời - chúng ta hoàn toàn không có thứ hạng nào so nổi với Đức Chúa Trời! Nếu chúng ta muốn được Ngài chấp nhận và được trở lại hòa thuận với Ngài, chúng ta phải trở nên hoàn toàn như Ngài vậy.
Không thể nào được, có phải bạn sẽ nói vậy không?
Không đâu!
Câu chuyện về phương cách Đức Chúa Trời đã thực hiện để làm cho con người được chấp nhận trở lại, sau khi con người đã đánh mất mối tương giao với Đức Chúa Trời ở tại vườn Êđen, là câu chuyện chúng tôi sẽ kể trong quyển sách này. Điều đầu tiên chúng ta phải hiểu thấu đáo đó là
Bản Tánh Của Đức Chúa Trời #
Đây là các phần hợp thành thuộc tánh Đức Chúa Trời khi Ngài mặc khải Chính Ngài trong Lời Ngài và lịch sử của Ngài liên quan đến con người.

Tất cả các thuộc tánh trên đều được tìm thấy trong Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Linh.
1. Tối Cao. Đức Chúa Trời có một ý chí. Bởi chính Ngài và không bởi sự trợ giúp của ai cả, Ngài thực hiện những quyết định và những phương sách, đặt để các nguyên tắc. Ngài có lẽ phải để thực hiện theo ý Ngài muốn. Ngài luôn luôn hành động phù hợp với tất cả các đặc tính khác của bản tánh Ngài, và Ngài sẽ không bao giờ biểu lộ một thuộc tính nào tổn hại đến một thuộc tính khác.
Ví dụ, một bà mẹ có thể bảo đứa trẻ rằng nó sẽ bị đánh đòn nếu chơi diêm quẹt. Nhưng sau đó, khi đứa bé chơi diêm và bị bỏng, bà sẽ bỏ qua chuyện đánh đòn, mà thay vào đó, ôm nó vào lòng và âu yếm nó. Trong trường hợp đó, bà ta đã tỏ lộ tình yêu thương của mình và làm tổn hại đến sự công minh của bà.
Đức Chúa Trời không như vậy. Ngài biết cách biểu lộ tình yêu thương của Ngài mà không làm tổn hại đến sự công bình của Ngài (PhuDnl 4:39, ISu1Sb 29:12, Thi Tv 47:2, 83:18, 93:1, 135:6, DaDn 4:35, Cong Cv 17:24).
2. Ngay Thẳng: Đức Chúa Trời tuyệt đối công bình và hoàn toàn. Ngài không thể làm hoặc gây ra bất cứ điều sai lầm. Ngài là tiêu chuẩn của tất cả mọi điều chính đáng. Ngài là toàn hảo theo đạo lý mà không hề có bóng của sự cong quẹo (Exo Er 9:15, Thi Tv 48:10; 119:137 145:17; Gie Gr 23:6, IGi1Ga 2:29).
3. Công Bình: Đức Chúa Trời tuyệt đối công bình. Ngài không thể làm bất cứ điều gì bất công hoặc đối với chính Ngài hoặc đối với loài người. Ngài thi hành sự công bình toàn vẹn phù hợp với bản tánh công bình của Ngài. Mọi sự không công bình đều phải bị xét đoán và loại bỏ khỏi mối liên hệ với Ngài (xem RoRm 1:18, PhuDnl 32:4, EsIs 45:21).
4. Yêu Thương. Đức Chúa Trời là tình yêu trọn vẹn và vô tận. Tình yêu đó được ban cho cách nhưng không và không kèm theo bất kỳ sự cân nhắc nào đối với sự đáng yêu hoặc công lao xứng đáng gì của người nhận. Gồm cả những kẻ thù của Ngài cũng như các bạn hữu của Ngài (Mat Mt 5:44, GiGa 3:16; 16:27; RoRm 5:8; Eph Ep 2:4; IGi1Ga 3:1, 4:9, 16)
5. Sự Sống Đời Đời. Từ trước đến nay, chưa bao giờ có một thời kỳ nào mà Đức Chúa Trời đã không hiện diện, và sẽ không có thời kỳ nào mà Ngài thôi hiện diện. Ngài là Đấng Chủ Động không dời đổi, nền tảng của mọi sự đang tồn tại. Sự tồn tại của Ngài không có khởi đầu và không có kết thúc. Ngài là câu giải đáp cho câu hỏi mà con người đã vật lộn với nó từ buổi ban đầu của lịch sử. "Quyền năng, Sức mạnh của Đấng đã tạo dựng mọi điều mọi điều hiện có là gì?" Ngài là nguồn cội tự hữu của cả đời sống thuộc thể lẫn đời sống thuộc linh (XuXh 15:18, PhuDnl 32:40, 33:27, Giop G 36:26, Thi Tv 9:7, 135:13 CaAc 5:19, ITi1Tm 1:17, KhKh 1:8)
6. Toàn Tri. Đức Chúa Trời có tất cả sự thông biết có được, Ngài đã luôn luôn biết và sẽ luôn luôn biết mọi điều xảy ra, đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra. Không có điều gì từng làm Ngài ngạc nhiên được (Giop G 26:6, 31:4, 34:21; Thi Tv 147:5; ChCn 15:3; HeDt 4:13, IGi1Ga 3:20).
7. Toàn Tại. Đức Chúa Trời là vô hạn, và hiện diện khắp mọi nơi một các cá nhân, qua suốt một thời gian và không gian (SaSt 28:15, 31:3; PhuDnl 4:39; 32:6, Gios Gs 1:9, Thi Tv 139:8, ChCn 15:3, EsIs 66:1, Gie Gr 23:24; Cong Cv 17:27, HeDt 13:5).
8. Toàn Năng. Đức Chúa Trời là Đấng có đầy mọi quyền năng, có dư sức mạnh để thực hiện toàn bộ mọi sự. Một câu hỏi mà những kẻ hoài nghi thường hay hỏi, đó là "Liệu Đức Chúa Trời có làm nên một tảng đá lớn đến nỗi Ngài không thể nhấc nó lên được không?" Câu trả lời là "Có, Ngài có thể nhưng nếu làm như thế dễ bày tỏ đặc tánh toàn năng thì sẽ chạm đến tính toàn tri của Ngài. Và vì vậy Ngài sẽ không bao giờ làm điều đó." Nói cách khác, Ngài biết rõ phải làm điều gì (Giop G 42:2, 26:7, Thi Tv 115:3, Mat Mt 19:26; Mac Mc 14:36; LuLc 1:37, HeDt 3:6, KhKh 19:6)
9. Bất Biến. Đức Chúa Trời không hề thay đổi trong bản tánh hoặc những đặc tính của Ngài. Do đó khi Ngài phán Ngài sẽ thực hiện điều gì đó thì chúng ta có thể tin rằng Ngài sẽ làm điều đó. Có hơn 7.000 điều Đức Chúa Trời hứa thực hiện cho những kẻ thuộc về Ngài. Ngài là Đấng giữ lời hứa đáng tin cậy (Dan Ds 23:19, Thi Tv 33:11, HeDt 1:12; 13:8).
10. Chân Thật. Đức Chúa Trời tuyệt đối chân thật. Bất cứ điều gì trong lời nói hay hành động không theo đúng với những gì Ngài đã được mặc khải trong lời Ngài đều không phải là lẽ thật. Được biết Ngài là được biết lẽ thật (PhuDnl 32:4, IISa 2Sm 7:28, Thi Tv 33:4, 146:6; EsIs 65:16)
Điều Khiếm Khuyết Vô Tận
Không có một con người nào từng sống trên đời này có thể đem đời sống mình mà so sánh với bản tánh của Đức Chúa Trời mà chúng ta vừa xem xét qua và sau đó nói "Con người của chính tôi đây cũng như thế đó."
Không, Kinh Thánh đã tuyên bố một lời nghiêm nghị về bản chất của con người: "Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa" và "Sự công bình của chúng ta thảy đều như áo nhớp (Gie Gr 17:9, EsIs 64:6).
Điều đó không quá đáng đấy chứ, phải không? Tiên tri Êsai không nói rằng chỉ có những thói xấu và hành động xấu xa của chúng ta mới nghịch cùng Đức Chúa Trời. Chính điều chúng ta phải suy nghĩ đó là những hành vi tốt của con người chúng ta cũng nghịch cùng Ngài. Ông đã mô tả những hành vi đó là như áo nhớp bởi vì khi đem so sánh với bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời những điều đó kém quá xa.
Tôi biết đây là điều khó chấp nhận, đặc biệt đối với những người luôn luôn tự hào về những điều tốt họ đã làm cho Chúa và cho đồng loại. Nhưng chúng ta hãy lắng nghe điều sứ đồ Gia Cơ nói: Vì người nào giữ trọn luật pháp mà phạm một điều răn, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy" (Phạm toàn bộ luật pháp) (Gia Gc 2:10)
Sứ đồ Phaolô cũng nói một sự thật tương tự "Đáng rủa thay là kẻ không bền đỗ trong mọi sự đã chép ở sách luật đặng làm theo những sự ấy" (GaGl 3:10b)
Luật pháp là gì?
Luật pháp của Đức Chúa Trời, được tóm tắt trong mười điều răn và trong Bài Giảng Trên Núi, bày tỏ sự thánh khiết quá mức của bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời. Tất cả những luật lệ mà Đức Chúa Trời đã từng ban cho con người đều cho chúng ta biết chúng ta phải trở nên như thế nào nếu chúng ta muốn cố gắng đến gần với Đức Chúa Trời bằng công sức riêng của chúng ta.
Nhưng theo sứ đồ Giacơ và Phaolô, chúng ta có thể đã giữ từng điều trong luật pháp song chỉ vi phạm một lãnh vực nhỏ thì cũng đủ để loại chúng ta khỏi niềm vui tương giao với Đức Chúa Trời dầu chỉ trong chốc lát.
Sự Giải thích về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời mới trọng đại làm sao.
Lý do khiến cho chúng ta thấy quá khó khăn để mà chấp nhận sự tuyệt đối của khái niệm này là bởi vì mọi tư tưởng tương đối đã choán chỗ trong đời sống chúng ta. Chúng ta không thể hiểu thấu một sự thánh khiết gì mà lại không thể "nhượng bộ một chút" để phù hợp với những khiếm khuyết của con người. Và không ai trong chúng ta có thể tin rằng những tội lỗi "chút xíu" mà chúng ta phạm đó lại có thể nghịch với Đức Chúa Trời như vậy.
Những thống kê không lừa dối
Dĩ nhiên, một khi chúng ta bắt đầu cố gắng để quyết định xem một trong những tội lỗi của mình là một tội nhỏ hay là một tội lớn, thì chúng ta đã nhận một công việc khó xử. Điều mà chúng ta gọi là "nhỏ" có thể không nhỏ chút nào đối với Chúa.
Nhưng giả sử một người trung bình một ngày chỉ phạm một tội "nhỏ" từ lúc lên năm cho đến khi người ấy sáu mươi lăm tuổi. Đến lúc đó, người ấy sẽ có trên tay (hay là tôi nên nói "trong lương tâm") 21.915 tội.
Điều đó có nghĩa là ít nhất 21.915 lần người ấy đã không với tới bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn trọn vẹn mà Đức Chúa Trời đo con người.
Nhưng, bạn bảo giả sử cứ mỗi tội đã phạm, người ấy sẽ làm năm việc thiện. Như vậy thì có đền bù được những tội lỗi của mình và làm cho quân bình phiếu tính điểm không? Hãy để tôi trả lời điều đó bằng một ví dụ.
Chìm Đắm Hay Bơi Lội
Chính phủ Hawaii khoe khoang về một trong các khí hậu dễ chịu nhất trên toàn thế giới. Nếu bảo rằng bạn và tôi muốn đi một chuyến đến đấy, nhưng không ai trong chúng tôi có đủ khả năng để đi bằng các phương tiện thương mại. Vì thế chúng tôi quyết định phải bơi đến đấy.
Kế hoạch của chúng tôi là tập trung vào 6 giờ sáng trong ngày và khởi hành từ Long Beach, California. Gia đình chúng tôi đi xuống bờ biển để xem chúng tôi ra đi, một người dâng lời cầu nguyện để xin sự hướng dẫn thiên thượng (chúng tôi sẽ cần điều đó) người khác bắn lên không bằng một khẩu súng lục, và chúng tôi lao đi.
Đến nửa buổi sáng, chúng tôi đã kiệt lực, và đến trưa thì chúng tôi bắt đầu chìm. Chúng tôi không có cách nào để thực hiện điều đó - Đơn giản bởi vì điều đó vượt quá khả năng con người. Có thể bạn bơi được mười lăm dặm, tôi bơi được mười dặm, song chúng ta vẫn vô hy vọng, không đạt đến khoảng cách 2.400 dặm.
Có lẽ tay đua vĩ đại nhất trong thời đại của chúng ta Mark Spit" người đoạt 7 huy chương vàng trong giải Olympic, đủ tư cách cho cuộc bơi đường dài và bơi được 200 đến 300 dặm nhưng ngay cả anh ta cũng sẽ thất bại, bởi vì tiêu chuẩn trong trường hợp này là toàn bộ lộ trình đến Hawaii.
Người ta có khuynh hướng so sánh chính mình với từng người khác và xem ai là người đến gần mức nhất, nhưng sự "đến gần" không thể được tính với Đức Chúa Trời. Tình trạng đến gần chỉ được tính trong cuộc thi bắn tên, ném móng ngựa và ném lựu đạn. Nhưng không được tính trong sự thánh khiết.
Điều mà tôi đang tìm cách giải bày đó là không có một phương cách khả dĩ nào để đạt được chỗ đứng phải lẽ với Đức Chúa Trời bởi những nỗ lực riêng của con người chúng ta. Tiêu chuẩn quá gay go! Phải có một sự can thiệp thiên thượng nào đó, nhờ đó con người được nhận sự công bình của chính Đức Chúa Trời một cách siêu nhiên cho mình.
Tình Trạng Nan Giải Thiên Thượng
Chúng ta thấy rằng một vật cản lớn ở giữa Đức Chúa Trời và con người đó là bản tính thánh khiết của Đức Chúa Trời. Bởi con người đã thất bại trong việc đạt đến tiêu chuẩn đó, con người phải chịu lấy bản án công bình của Đức Chúa Trời, đó là "hình phạt của sự chết" (RoRm 1:18).
Tổ phụ đầu tiên của chúng ta, Ađam và Êva, đã được Chúa bảo trước, nếu họ không vâng lời Ngài thì sẽ nhận lãnh một hậu quả khủng khiếp đó là sự chết ngay lập tức về tâm linh, và sự chết dần mòn về thuộc thể. Khi họ xâm phạm mạng lệnh của Đức Chúa Trời và vi phạm luật lệ Thánh của Ngài, họ phải gánh chịu một MÓN NỢ TỘI với Chúa.
Khi bất cứ một luật lệ nào bị vi phạm, thì có một "món nợ đối với luật pháp" phải được trả và công lý sẽ yêu cầu một loại hình phạt nào đó. Cũng vậy khi con người vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, thì sự công bình của Ngài (vốn là một trong các đặc tính bản chất của Ngài) buộc phải có một sự hoàn trả đầy đủ nơi con người đang bị đe dọa trước hình phạt của sự chết đó.
Điều này tương đương với việc con người bị trục xuất khỏi việc tự do ra vào trong sự hiện diện thân mật với Đấng Tạo Hóa yêu thương của mình.
Bây giờ, đây chính là sự nan giải của Đức Chúa Trời (nếu...). Trong khi sự công bình của Đức Chúa Trời giận phừng cùng loài người vì đã xúc phạm đến sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, thì tình yêu của Ngài, cũng tương đương như vậy, nóng nảy muốn tìm ra một phương cách để tha thứ cho người ấy sao cho hợp với lẽ công bình và đem người ấy trở lại trong mối tương giao với chính Ngài.
Nhưng làm thế nào Đức Chúa Trời có thể bày tỏ tất cả tình yêu thương, sự công bình và sự ngay thẳng của Ngài cùng một lúc với con người mà vẫn bắt buộc phải trả một cách công bằng MÓN NỢ TỘI đáng phạt ấy? Chưa bao giờ có một sự thách đố lớn lao hơn mà Đức Chúa Trời phải đương đầu đó là làm thế nào Ngài có thể giữ được sự công bình mà vẫn tuyên bố những kẻ có tội được tha thứ và được xưng công bình. Làm thế nào Đức Chúa Trời có thể thỏa mãn yêu cầu của bản tánh tuyệt đối công bình của Ngài, là điều không thể cho phép bất cứ một con người nào kém hơn tiêu chuẩn đó được vào trong sự hiện diện của Ngài? Cả sự công bình lẫn tình yêu thương đều phải được minh chứng. Nhưng làm thế nào minh chứng được khi yêu cầu hợp lý nghịch lại con người ương ngạnh đó là phải hình phạt người ấy đời đời xa cách khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời thánh khiết?
Có vị thẩm phán nào mà khi con trai mình vi phạm luật pháp lại có thể bỏ luật pháp qua một bên để tha bổng con mình chăng? Câu giải đáp cho các vấn đề này là thông tin quan trọng nhất mà bạn sẽ được học biết và đó là điều mà toàn bộ quyển sách này đề cập đến.


VẬT CẢN SỐ 2: MỘT MÓN NỢ TỘI LỖI
Để hiểu được bản chất của món nợ tội nầy, chúng ta phải lui về các phép tắc của Tòa Đại hình dưới thời Đế Quốc La Mã.
Dưới sự thống trị của Đế quốc LaMã, Hoàng đế xem như mỗi công dân đều phải trung thành và tuân phục luật pháp của ông ta. Công lý nhanh chóng củng cố sự giả định này, và nếu bất cứ công dân nào vi phạm một luật lệ nào của đất nước, người ấy lập tức sẽ phải bị đưa ra trước tòa án hoặc ra trước Hoàng đế (Caesar).
Được Đóng Vào Cửa Nhà Tù
Nếu có người bị cáo là đã phạm tội, vi phạm luật pháp và bị kết án phải ở tù, thì người ta sẽ lên một bảng liệt kê từng tội phạm và hình phạt tương xứng với tội trạng đó. Bảng liệt kê này, chủ yếu ghi lại thế nào người này đã không làm trọn những luật lệ của Caesar. Bảng ấy được gọi là "Giấy Nợ".
Khi người này bị nhốt vào phòng giam, thì tấm Giấy Nợ được đóng vào ngoài cửa phòng giam của người ấy để cho bất kỳ ai đi qua cũng biết được người tù ấy đã bị định tội một cách hợp pháp và cũng có thể biết hạn định của án phạt. Ví dụ, nếu người ấy bị định ba tội và tổng số thời gian ở tù là hai mươi năm. Như vậy nếu người ấy bị nhốt trong hai mươi năm thì đó là điều bất hợp pháp và mọi người đều thấy được điều đó.
Khi người ấy đã thọ hình đủ thời gian và đã được phóng thích người ấy sẽ được trao cho một tấm Giấy Nợ vàng vọt, rách nát với hàng chữ "Đã Trả Đủ" được viết trên đó. Người ấy không bao giờ có thể bị bỏ tù trở lại vì các tội trạng đó bao lâu mà người ấy cứ trình tấm Giấy Nợ đã đóng dấu của mình.
Nhưng cho đến khi án phạt đã được trả, tấm Giấy Nợ đó đã đứng giữa người ấy với sự tự do. Nó đã liên tục làm chứng một sự kiện rằng người bị tù ấy đã không sống theo các luật lệ của La Mã và chủ yếu là một kẻ nghịch lại Caesar.
"Giấy Nợ" Của Loài Người
Như chúng ta đã thấy ở cuối chương, con người phải chịu sự vâng lời hoàn toàn đối với những luật lệ thánh của Ngài như đã được tóm tắt trong Mười Điều Răn và trong Bài Giảng Trên Núi. Bởi thất bại không làm trọn tiêu chuẩn hoàn hảo này, con người đã trở thành một kẻ nghịch lại mọi bản tánh của Đức Chúa Trời và tòa công lý đời đời đã tuyên bố bản án sự chết đối với con người.
Một tờ "Giấy Nợ" đã được chuẩn bị để chống lại mỗi một người đã từng sống, liệt kê những thiếu sót của người ấy, đã không sống đúng theo luật pháp của Đức Chúa Trời trong suy nghĩ, lời nói, hành động. Bản án của sự chết này đã trở thành một MÓN NỢ mà phải được trả, hoặc bởi con người, hoặc nếu có thể, bởi một ai đó đủ tư cách để thay thế người ấy (CoCl 2:14).
Và MÓN NỢ TỘI này đã trở thành một vật cản khác của khối vật cản phân cách Đức Chúa Trời và loài người.
Bây giờ, vấn đề "tội lỗi" không được ưa thích lắm. Bạn có thể bảo một người rằng người ấy đã không đạt đến tiêu chuẩn thánh khiết của Đức Chúa Trời và nếu như người ấy có được một nửa sự chân thật, người ấy sẽ phải đồng ý với điều đó, bởi vì điều đó không làm cho người ấy nghe có vẻ quá tệ.
Nhưng dầu sao người ta cũng không thích bị gọi họ là những tội nhân, mặc dầu họ biết lúc nào họ cũng có phạm những tội lỗi "nhỏ". Đó là toàn phần của sự suy nghĩ theo thuyết tương đối, điều đó đã trở thành một phần của xã hội chúng ta và đã giúp chúng ta hợp lý hóa mọi hành động của chúng ta.
Không Phải Lỗi Của Môi Trường
Chỉ cần xem qua tờ nhật báo là đủ để chúng ta xác định được tình trạng hỗn độn mà con người đã gây ra cho đời sống họ, cũng không cần phải có một trình độ về tâm lý học để hiểu được điều gì đã khiến họ làm như vậy. Chúng ta chỉ cần nhìn vào chính mình và sẽ thấy tất cả mọi thứ tình cảm, dục vọng, mọi cuộc săn đuổi và mọi cám dỗ đã khống chế chúng ta từ giờ này sang giờ khác gây cho chúng ta làm những điều mà tự chúng ta biết là sai trật.
Những hành vi đã được Đức Chúa Trời gọi là "tội lỗi", và không phải môi trường sống của chúng ta đã tạo ra chúng. Nhưng do phản ứng của chúng ta đối với môi trường, và đó là một vấn đề nằm bên trong con người.
Bạn hãy lắng nghe những lời Chúa Giêxu mô tả về loài người và sự phạm tội của họ là như thế nào: "hễ sự gì từ người ra đó là sự làm dơ dáy người. Vì thật là từ trong lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng. Hết thảy những điều xấu ấy ra từ trong lòng thì làm cho dơ dáy người" (Mac Mc 7:20-23).
Những lời này của Chúa Giêxu đã thổi tung tất cả những gì thuộc về khoa tâm lý học của thế tục ra khỏi thang giá trị bởi vì những lời đó cho thấy những hành động sai trái của con người chủ yếu không phải đến từ bên ngoài mà là từ bên trong. Thiếu phẩm hạnh chủ yếu không phải do hậu quả của môi trường chúng ta, song đó là vấn để của tấm lòng.
Bản Chất Của Tội Lỗi
Trong khi dùng chữ "lòng người", Chúa Giêxu muốn nói đến phần nằm bên trong con người, là phần chứa đựng "bản tánh tội lỗi" hoặc là một khuynh hướng nổi loạn nghịch cùng Đức Chúa Trời.
Có khi nào bạn làm một điều gì đó hoàn toàn ngu ngốc và vô nghĩa rồi sau đó bạn tự hỏi "Điều gì đã khiến mình làm chuyện đó chớ?" Sự phán đoán tốt hơn trong bạn cũng đã biết như thế nào là sai, nhưng dầu sao bạn cũng cứ làm. Phải, đó chính là "bản tánh tội lỗi" đã xúi giục bạn làm điều đó.
Kinh Thánh dùng những chữ "xác thịt" và "tội lỗi" (ở số ít) để mô tả cái lực nằm bên trong chúng ta là hoàn toàn nghịch cùng Đức Chúa Trời. "Bản tánh" này đã không có trong con người khi Đức Chúa Trời tạo dựng họ. Nhưng nó đã xâm nhập vào trong Ađam và Êva giây phút họ không vâng lời Đức Chúa Trời và Ngài đã lấy lại sự sống thuộc linh của Ngài nơi họ.
Người Xa Lạ Hơn Là Điều Hư Cấu
Lần nọ tôi được xem một cuốn phim khoa học giả tưởng đã khiến tôi liên tưởng đến cách bản chất tội lỗi hoạt động trong chúng ta: Những người ngoài hành tinh đã đáp xuống trái đất và bắt được một số người. Chúng gắn những điện cực tí xíu vào sau ót con người và qua đó chúng có thể kiểm soát hoàn toàn những hành động của các nạn nhân của chúng.
Sau khi các chiếc tàu vũ trụ đã rời mặt đất thì các nạn nhân của chúng vẫn còn ở lại và mọi biểu hiện của họ vẫn bình thường, như họ vẫn luôn có trước đây. Tuy nhiên, bất cứ khi nào người vũ trụ muốn họ giết ai đó hoặc làm theo một yêu cầu nào đó, thì chúng chỉ việc truyền đạt yêu cầu đó cho các nạn nhân của chúng, là những người đó bị ép buộc phải tuân phục.
Bản chất tội lỗi của chúng ta cũng hoạt động giống như thế. Satan, hoặc trực tiếp, hoặc qua một cám dỗ quỷ quyệt nào đó mời gọi một trong các giác quan của chúng ta, lấy bản chất tội lỗi của mình để khởi sự chống nghịch cùng ý định đã biết trước của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta (như đã bày tỏ trong các luật lệ của Ngài) và bạn biết không, điều trước hết là chúng ta đã chịu thua và đã phạm tội.
Có Phải Chúng Ta Phạm Tội Bởi Vì Chúng Ta Là Những Tội Nhân Hay Không?
Sớm hay muộn gì rồi tất cả chúng ta cũng vòng vo quanh mộtnỗi băn khoăn "Có phải tôi phạm tội bởi vì tôi là một tội nhân không, hay là tôi là một tội nhân vì tôi phạm tội?"
Bây giờ, đó không phải là một câu hỏi ngớ ngẩn như "gà với trứng, cái nào có trước?". Song đó là điều rất quan trọng để biết có phải gốc rễ phạm tội của tôi là do bản chất tự nhiên, tôi sinh ra là đã có hay là đó chỉ là một điều gì đó mà tôi khởi làm bởi vì mọi người khác đều làm và nó "hay lây" như một vài thứ bệnh truyền nhiễm nào đó không.
Thánh Kinh dạy rằng khi Ađam và Êva không vâng lời Đức Chúa Trời tại trong vườn Êđen, thì không những họ đã đánh mất sự nhận biết về mối tương giao với Đức Chúa Trời, mà còn thật sự đã thêm vào một điều gì đó cho họ - đó là một bản chất tội lỗi - và điều đó làm cho họ trở thành những tội nhân. Kể từ cái ngày ô nhục đáng sợ ấy, hết thảy loài người sinh ra đều có cùng một bản chất tội lỗi như nhau, và đó là căn nguyên tội lỗi của chúng ta.
Tôi biết thật khó để mà tin rằng một em bé tí xíu, thơ ngây, u ơ dễ thương trong đôi cánh tay chúng ta lại có thể có trong nó một bản chất tội lỗi mà chẳng bao lâu sẽ bắt đầu phạm tội, nhưng đò là điều Kinh Thánh đã dạy từ khởi đầu cho đến kết thúc.
Khi Nào Tội Lỗi Mới Thực Là Tội Lỗi?
Bị cám dỗ có phải là tội lỗi không?
Câu trả lời là không. Nếu một cô gái bận váy ngắn đứng ngay phía trước tôi cúi xuống ngắt một cành hoa, thì không có cách gì để ngăn chận một tư tưởng cám dỗ băng ngang tâm trí tôi. Nhưng nếu tôi cứ tiếp tục nhìn và bắt đầu đùa giỡn với ý tưởng lên giường với cô ta, thì sự cám dỗ sẽ trở thành tội lỗi.
Sự cám dỗ chưa phải là tội lỗi, tội lỗi là không chịu nói không với cám dỗ và không chịu giao vấn đề đó cho Đấng Christ để Ngài xử lý ngay lập tức.
Điều Từ Trong Lòng Mà Ra Mới Quan Trọng
Đối với tôi, điều lớn lao nhất mà Cơ Đốc giáo chân chính phải cống hiến cho thế giới nói chung và đặc biệt cho mỗi cá nhân nói riêng đó là Đức Chúa Trời sẽ làm việc ở bên trong chúng ta, tẩy sạch và làm chúng ta nên những con người mới hoàn toàn. Ngài sẽ ban cho chúng ta một động cơ mới, một hy vọng mới, và quyền năng mới để sống. Tất cả các tôn giáo chỉ đề ra một chương trình hoặc một bộ luật đạo đức ở bề ngoài nhằm tìm cách thay đổi tâm tánh bên ngoài của con người. Nếu như vấn đề nằm ở bên ngoài, thì điều đó hoàn toàn đúng, song không phải thế. Cách cải tạo bên ngoài đó thường làm mù mắt người ta để khiến họ không nhìn thấy vấn đề thật nằm ở bên trong.
Tôi nghe người ta kể chuyện về một cô bé, cô ta bị đau bụng dữ dội và cô đến bác sĩ để kê thuốc. Bác sĩ cho cô một chai thuốc nước có màu xanh và bảo cô cứ ba tiếng đồng hồ thì uống vào hai muỗng soup. Rồi, thế là cô ta ra về. Cô ta nếm thử một chút thuốc và muốn nôn. Vì vậy cô ta nghĩ ra một phương cách khác. Cô quyết định cứ ba tiếng một lần, xoa hai muỗng thuốc ấy lên bụng.
Cái mùi thuốc cũng khó chịu như cái màu của nó vậy, và lạ quá, mặc dầu cô ta đã xài đủ liều, cũng chẳng thấy đỡ hơn chút nào. Dĩ nhiên là cô quay trở lại gặp vị bác sĩ ông ta cấp tốc thuyết phục để cô ta hiểu rằng mọi thứ thuốc trên trần gian này mà đem thoa ở bên ngoài bụng cô ta thì sẽ không sao làm cô hết bịnh được. Vấn đề nằm ở bên trong và đó là chỗ cần được nhận thuốc.
Bây giờ, thì bạn biết đấy, đó chỉ là một câu chuyện ngớ ngẩn nhưng tôi mong bạn đã nhìn thấy được vấn đề. Vấn đề của con người được gọi là "tội lỗi" và nó nằm sâu ở bên trong chúng ta. Tất cả những "phương thuốc" trị liệu bên ngoài đều không thể nào thấm đến chỗ vấn đề tội lỗi ấy đang nằm được.
Bởi vì con người không chịu nhìn nhận rằng họ có sự yếu đuối nằm ở bên trong được gọi là tội lỗi cho nên họ đã đặt ra "tôn giáo" và "triết lý". Cả hai lãnh vực nghiên cứu này hoặc nhiều hay ít đều thừa nhận rằng con người có một vấn đề, nhưng nói chung, họ đều tin rằng trong bản chất, nó là vấn đề bên ngoài và có thể được giải quyết bằng những nghi thức lễ giáo hoặc bằng lý lẽ.
Riêng tôi thì tin rằng đó cũng chỉ là một trường hợp khác của việc dùng thói quen "thoa dầu lên bụng", và mặc dầu đối với nhiều "bệnh nhân", việc thực hành này dường như thành công song xui rủi thay, bệnh nhân chết.
Tóm Tắt
Trong phần tóm tắt về vật cản này đối với Đức Chúa Trời, đó là MÓN NỢ TỘI của con người, chúng ta có thể thấy vấn đề của con người thực sự có hai mặt.
Thứ nhất là sự kiện Ađam và Êva phạm tội, họ đã đánh mất mối liên lạc và tương giao của họ với Đức Chúa Trời, và một bản chất tội lỗi và chống nghịch Chúa đã được đưa vào trong con người họ và qua họ lưu truyền cho tất cả hậu tự của họ. Bản chất tội lỗi ấy là nguồn gốc của tất cả "hành vi" tội lỗi của chúng ta và là lý do chính khiến cho chúng ta không được chấp nhận trong mối giao thông liên lạc với Đức Chúa Trời.
Thứ hai, họ phải gánh chịu MÓN NỢ TỘI và hết thảy loài người đều phải trả món nợ ấy. Hình phạt của món nợ ấy là sự chết, và món nợ ấy phải được trả hoặc bởi chúng ta hoặc bởi một người nào đó đủ tư cách thay thế chúng ta.
A Đam Không Phải Là Thủ Phạm Duy Nhất
Nhiều người tức giận khi nghe rằng vị tổ phụ xa xưa nào đó đã làm một điều khiến họ phải bị hệ lụy vào những hậu quả đau đớn như vậy. Và tôi có thể cảm thông với điều họ cảm nhận.
Nhưng đối với Đức Chúa Trời, Ađam chỉ là người đại diện - đầu não liên kết của dòng giống loài người - Điều ông đã làm có hệ lụy hợp pháp đến tất cả dòng dõi của ông. Nếu Tổng thống Hoa Kỳ và Quốc hội của chúng ta ngày nay tuyên chiến với một quốc gia nào, thì tôi cũng phải tham chiến, dầu có thể cá nhân tôi không ưa chuyện đó. Tôi bỏ phiếu thuận hay chống thì cũng chẳng làm thay đổi gì. Điều họ làm có liên lụy đến tôi bởi vì họ hành động như là bộ phận đầu não liên kết của tôi.
Một câu chuyện mà tôi được nghe sẽ giải bày rõ điều này.
Trong những ngày làm thân nô lệ, già Mose ngày càng mệt mỏi vì phải làm việc vất vả ngoài các cánh đồng bông, phải đốn củi từ ngày này sang ngày khác, năm này sang năm nọ. Một ngày kia, Mose bắt đầu suy nghĩ xem ai đã gây ra lỗi lầm để khiến cho thân phận của ông trong cuộc sống phải quá cực khổ như vậy. Sau khi tìm ra những sự bào chữa hợp lý cho mọi người mà mình có thể nghĩ đến, cuối cùng ông ta đã quyết định rằng tất cả chính là do lỗi của Ađam bởi vì đã ăn trái táo ấy trong vườn Êđen. Chính điều đó đã đuổi con người ra khỏi khu vườn tươi tốt, đầy đủ mọi sự mà đi đến những cánh đồng phải khó nhọc, đổ mồ hôi trán mới có mà ăn.
Càng suy nghĩ đến điều đó, Mose càng tức giận vì cớ Ađam. Mỗi khi vung chiếc búa lên chặt vào mỗi khúc cây, ông lại lẩm bẩm "Già Ađam, già Ađam", mỗi câu nói, ông lại càng bổ mạnh hơn một chút nữa.
Ngày nọ, ông chủ của ông ta bất ngờ đi qua và nghe được một tràng lẩm bẩm ấy. Ông bèn đến gặp Mose và hỏi rằng ông bảo "già Ađam" như thế có nghĩa gì. Mose đáp "Phải, nếu không phải vì Ađam, thì tôi đâu phải cực khổ như thế này, suốt cả ngày ở đây, cực khổ với đống củi. Đáng lẽ tôi phải được nghỉ ngơi ở trong nhà mà nhấm nháp ly nước cam"!
Người chủ suy nghĩ một lát, đoạn nói với ông Mose "Ông hãy vào nhà đi, Mose à. Từ nay trở đi ông không phải làm công việc cực nhọc nữa, ông được nằm nghỉ ngơi suốt cả ngày và làm bất cứ điều gì ông thích. Dầu vậy, chỉ có một điều. Ông có thấy chiếc hộp nhỏ ở trên bàn không? Ta không muốn ông mở nó ra. Đồng ý chứ? Bây giờ hãy vui hưởng đi"
Thế là trong một vài tuần kế tiếp, Mose không bỏ qua vận tốt của mình. Ông dạo chơi khắp nhà vui hưởng sự nhàn nhã và uống nước cam tươi.
Rồi ông để ý đến chiếc hộp mà ông chủ đã có nói đến. Thoạt đầu ông ta chỉ nhìn ngắm nó mà thôi, nhưng rồi nhiều ngày trôi qua, sự cám dỗ mỗi ngày một mạnh mẽ hơn xui ông muốn sờ thử nó. Sau vài ngày chỉ cầm lấy nó, thăm dò thử và mang nó đi loanh quanh, cuối cùng nó cám dỗ ông mạnh quá đến nỗi ông không thể nghĩ ra điều tai hại gì nếu ông chỉ hé mở một chút để nhìn thôi.
Khi ông thận trọng nhấc một góc của chiếc hộp, thì một mảnh giấy trắng nằm bên trong đập vào mắt ông. Tính hiếu kỳ của ông cũng chưa thỏa mãn cho đến khi ông lôi được mảnh giấy ra và đọc. Tờ giấy viết như vầy:
"Mose, ngươi là ông già đểu giả, ta không bao giờ còn muốn nghe ngươi oán trách Ađam nữa. Nếu lúc ấy ngươi ở trong vườn Êđen thì ngươi cũng đã làm như Ađam đã làm. Bây giờ hãy mau trở ra ngoài đống củi và lại bắt đầu bổ củi đi".
Vấn đề của câu chuyện thật là rõ ràng. Nếu chúng ta ở trong địa vị của Ađam thì cũng có lắm cơ hội tốt để cho chúng ta làm như điều Ađam đã làm. Đức Chúa Trời, trong sự biết trước lớn lao của Ngài (tính toàn tri của Ngài) đã nhìn biết hết thảy loài người, thực vậy, cũng đồng tình với sự phản loạn của Ađam trong chính tâm tánh của họ.
Nếu như Đức Chúa Trời cứ bỏ mặc điều đó và không hề làm điều gì để hòa giải con người với chính Ngài, thì có lẽ người ta bảo Ngài là bất công.
Nhưng tin mừng của "Phúc Âm" đó là Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi, Ngài phải trả một giá vô lượng, Ngài đã đưa ra một phương cách để hủy bỏ MÓN NỢ TỘI của con người và để xử lý bản chất tội lỗi trong con người.


VẬT CẢN SỐ BA: LÀM NÔ LỆ CHO SATAN
Cho đến nay chúng ta đã bàn đến hai vấn đề cơ bản đã hình thành vật cản tồn tại giữa Đức Chúa Trời và con người. Chúng ta đã thấy tội lỗi của con người đã là một sự sỉ nhục đối với BẢN TÁNH THÁNH KHIẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI như thế nào và việc không giữ nổi luật pháp của Đức Chúa Trời đã để lại một MÓN NỢ TỘI ra sao.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào vật cản thứ ba phân cách Đức Chúa Trời và con người, đó là con người đang LÀM NÔ LỆ CHO SATAN.
Tôi biết sự xác nhận này sẽ khiến nhiều người nổi giận bởi vì Chúa Giêxu cũng đã gặp phải phản ứng tương tự khi Ngài nói với một số người trong thời của Ngài rằng Satan là cha của họ.
Chân Lý Thường Không Được Quần Chúng Ưa Thích
Trong suốt giai đoạn đầu của chức vụ mình, Chúa Giêxu đã thường xuyên gây mất lòng cho một số trong vòng những người Do Thái của mình. Trong một dịp nói chuyện với một nhóm người Do Thái quá khích là những người quả quyết rằng bởi vì họ được sinh ra bởi dòng dõi của Ápraham, cho nên họ là những người "Ở trong" và hẳn nhiên được xem Đức Chúa Trời như là Cha.
Chúa Giêxu nói cùng họ rằng nếu Đức Chúa Trời là Cha của họ thì ắt hẳn họ sẽ yêu Ngài (tức là Chúa Giêxu) bởi vì Ngài đến từ Cha và thật được Cha sai xuống trần gian.
Ngài chất vấn "Vì sao các ngươi không hiểu điều ta nói?" và rồi trả lời cho chính câu hỏi của mình, Ngài phán cách đầy uy quyền "Đy là bởi các ngươi chẳng có thể nghe được đạo của ta. Các ngươi bởi cha mình là ma quỷ ma sanh ra, và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu, nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, và không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối" (GiGa 8:43, 44)
Không cần phải nói sự phản ứng mà Chúa Jesus nhận được sau lời buộc tội nặng nề là Ngài đã không còn được hâm mộ lắm. Thật vậy, sau khi gán cho Ngài hai danh hiệu khinh miệt nhất mà họ có thể nghĩ ra đó là - Người Samari (một người Do Thái lại bị ghét bỏ) và người bị quỷ ám - họ cuối cùng đã tìm cách để ném đá Ngài, song Ngài đi thoát khỏi tay họ.
Hai "Cương Vị Làm Cha" của Nhân Loại
Căn cứ vào đâu mà Chúa Giêxu bảo những người Do Thái rằng họ là con cháu của Satan?
Có hai yếu tố quan trọng
. Thứ nhất, người Do Thái tự hào về việc họ làm con cháu của Ápraham bởi sự di truyền về mặt thuộc thể và bởi đó mà họ cũng là con cái của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Giêxu đã không bàn cãi về sự yêu cầu của họ đối với mối quan hệ thuộc thể với Apraham nhưng Ngài quả quyết phủ nhận cho rằng điều đó làm cho họ trở nên con cái của Đức Chúa Trời. Ngài phán cùng họ rằng nếu họ không có đức tin nơi Ngài là Đấng Mêsi như Apraham đã có, thì Đức Chúa Trời của Apraham không phải là Cha của họ, mà là Satan.
. Vấn đề thứ hai mà Chúa Giêxu đã cố gắng nhấn mạnh đó là chỉ có hai cương vị làm Cha của nhân loại, một là cương vị làm Cha của Đức Chúa Trời và một là của Satan. Vì vậy nếu họ không phải là con cái của Đức Chúa Trời thì họ phải là con cái của Satan.
Lời tuyên bố đó đã đã làm cho người Do Thái giận dữ, và ngay nay nó vẫn còn ảnh hưởng đến nhân loại y như vậy. Một lý do khiến cho người ta phản ứng dữ dội đối với lẽ thật này là vì một trong những chiến thuật quan trọng của Satan trong suốt lịch sử nhân loại, đó là làm cho người ta mù mờ và lẫn lộn về vấn đề hoàn toàn xác thật này. Điều đó khiến Satan duy trì sự kiểm soát dễ dàng hơn trên "con cái" của nó, nếu họ không hiểu biết đầy đủ rằng cha của họ thật sự là ai.
Satan đã thành công biết bao trong lãnh vực này, bằng chứng là số lượng các nhà thờ của tất cả các tôn giáo, kể cả Cơ Đốc giáo có một giáo lý cho rằng Đức Chúa Trời là cha của tất cả loài người (dầu họ không thuộc về Chúa) và bởi đó chúng ta hết thảy đều là anh em.
Thực hành tinh thần huynh đệ là điều đáng quý trọng, và tôi không hề chỉ trích về nhu cầu đó, tuy nhiên sự thật của vấn đề đó là Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng của hết thảy nhân loại song Ngài chỉ là cha của những ai có sự sống thuộc linh của Ngài trong họ mà thôi.
Khi con người được tạo dựng, con người có sự sống thuộc linh của Đức Chúa Trời ngự trị trong họ, nhưng khi phạm tội và quay lưng lại với Đức Chúa Trời, thì con người đã đánh mất sự sống thuộc linh ấy. Bây giờ mọi người sinh ra đều không có sự sống ấy, nếu người ấy muốn Đức Chúa Trời là cha của mình từ bây giờ cho đến đời đời, người ấy phải có sự sống của Đức Chúa Trời được đặt trở lại vào trong mình lúc nào đó trước khi chết về thuộc thể trên trần gian này.
Một Kẻ Thù Có Quyền Năng
Làm thế nào mà Satan dường như có được quyền lực mạnh mẽ như vậy? Bởi vì nó có quyền. Đó là điều chắc chắn. Lịch sử đầy dẫy những sự tàn hại mà nó đã thực hiện qua những cá nhân và những quốc gia.
Một ví dụ tiêu biểu nhất về điều gian ác mà một con người chỉ có thể thực hiện được khi bị đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Satan đó là câu chuyện của Adolf Hitler. Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng hoặc ông bị quỷ ám hoặc bị chính Satan chiếm hữu.
Nhưng sự tổn hại lớn lao gây ra hàng ngày trên thế giới này là do một hệ thống suy nghĩ và hành động bị kiểm soát một cách tinh xảo bởi Satan nhằm loại trừ nhu cầu về Đức Chúa Trời. Những nỗi đau khổ của con người, về mặt thuộc thể, về mặt tình cảm và về thuộc linh, do việc thiếu một mối thông công thật sự với Đức Chúa Trời, thật không thể kể xiết. Những gia đình bị đổ vỡ, những vụ tự tử, những vụ giết người, bắt cóc, gian tham, thù ghét - tất cả những điều đó và còn nhiều điều nữa đã là những lời chứng câm lặng cho thấy rằng thế giới này, không thể nào là cách mà Đức Chúa Trời lúc khởi đầu đã hoạch định cho nó. Vậy thì có cái gì đã sai trật?
Quyền Ủy Nhiệm Của A Đam
Trong Sáng thế ký chúng ta được biết Đức Chúa Trời đã đặt con người trên mặt đất và giao cho con người quyền để trị chính mình và mọi tạo vật của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời bảo con người hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất, làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất (SaSt 1:28).
Nói cách khác, Đức Chúa Trời giao trách nhiệm cho con người quản trị hành tinh này cùng mọi sinh vật cư trú trên nó. Ngoại trừ một điều ngăn cấm mà Chúa truyền cho họ, đó là không được ăn trái cây, Biết Điều Thiện và Điều Ác, thì không có những quy định nào khác được thiết định như là phương cách mà theo đó họ phải quản trị mọi tạo vật của Đức Chúa Trời.
Tôi quả quyết điều đó là bởi vì Ađam là một người bạn yêu thương và tin cậy của Đức Chúa Trời. Và trên căn bản đó Ngài giao quyền ủy nhiệm cho ông để thay Ngài quản trị hành tinh này.
Một Con Sói Đội Lốt Rắn
Nhưng đã có một nhân vật quan trọng khác sẵn ở trong khu vườn đó với Ađam khi Đức Chúa Trời giao trách nhiệm cho ông. Đó là kẻ mà cả Đức Chúa Trời lẫn tất cả các thiên sứ của Ngài đều biết rằng hắn ta muốn chiếm đoạt Vị Trí Số Một của Đấng Tạo dựng mình là Đức Chúa Trời.
Danh hiệu của kẻ đó là Lucifer (sau này chúng ta gọi là Satan hoặc ma quỷ). Hắn là một kẻ điên cuồng có quyền năng. Hơn bất cứ điều gì khác, hắn muốn được kiểm soát những gì Đức Chúa Trời đã tạo dựng.
Vì vậy hắn đã có mặt trong vườn Eđen. Và qua những lời dối trá và nói bóng gió cách xảo quyệt về Đức Chúa Trời, hắn đã thuyết phục để cho Ađam và Êva tin rằng Đức Chúa Trời đã đặt ra điều đó cho họ bởi vì Ngài không muốn họ ăn trái cây ấy. Hắn nói với họ rằng Đức Chúa Trời không muốn chia quyền cho họ và rằng bởi vì trái cây ấy sẽ khiến họ trở nên khôn ngoan như Ngài, đó là lý do vì sao Ngài cấm họ ăn trái cây ấy.
Chúng ta hãy nhìn lại chung cảnh lúc ấy để thấy được địa đàng mà họ đang vui hưởng. Rồi hãy nhìn vào thế giới hỗn loạn ngày nay và nói "Chao ôi! Họ đã không biết những điều tốt lành mà họ đã có. Làm sao mà họ lại có thể thổi mất đi một cách tồi tệ như vậy và lại nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã bày đặt ra điều đó cho họ khi mà họ được ban cho một năng lực và uy quyền lạ lùng như thế?"
Phải chi Ađam và Êva nhìn thấy được những hậu quả tàn hại là kết quả sự không vâng lời của họ đối với điều nghiêm cấm của Đức Chúa Trời.
Không những họ đã đánh mất sự sống thuộc linh của họ và khả năng được tự do bước vào trong sự hiện diện và tình thông công với Đức Chúa Trời, song bởi sự hàng phục trước cám dỗ của Satan họ đã chuyển giao năng lực và uy quyền mà Đức Chúa Trời ban cho mình cho sự kiểm soát của Satan một cách không hay biết. Hắn ta trở thành kẻ kiểm soát hợp pháp của hết thảy loài người là những người từng được sinh ra bởi dòng dõi của Ađam. Hắn cũng nắm quyền kiểm soát cả hành tinh và mọi tạo vật trên đó, loài vật và cây cỏ.
"Có lẽ bạn nghĩ "Nhưng làm sao Đức Chúa Trời lại cho phép điều khủng khiếp như thế xảy ra được? Bộ Ngài không thể lấy lại quyền năng khỏi tay Satan một khi hắn đã cướp điều đó từ Ađam sao?"
Không, Ngài không thể làm thế. Bạn thấy đấy. Bản chất Ngài quá công bình đến nỗi Ngài không thể đối xử bất công ngay cả đối với Satan. Nếu đã diễn ra một sự chuyển giao hợp pháp về sở hữu và quyền năng, thì cũng sẽ phải tìm ra được một phương sách hợp pháp để dự bị.
Chợ Nô Lệ của Tội Lỗi
Việc Ađam bán tất cho Satan là hậu quả khiến cho thế giới đi vào chỗ hỗn loạn như ngày hôm nay. Với Satan là kẻ cai trị hợp pháp của hành tinh này, trái đất đã trở thành một bãi chợ nô lệ vĩ đại và mọi người sinh ra trong dòng dõi Ađam đều bị sinh ra để làm nô lệ cho Satan.
Đây là điều mà Chúa Giêxu và các môn đồ của Ngài đã dạy dỗ rõ ràng:
Sứ đồ Giăng viết rằng: "Cả thế gian đều phục dưới quyền của ma quỷ" (IGi1Ga 5:19b). Từ "thế gian" trong câu này là tiếng Hy Lạp cosmos có nghĩa là một hệ thống có trật tự. Nó hàm ý đó khi chúng ta nói rằng Satan ở vào địa vị kiểm soát trên mọi hệ thống của thế giới hiện tại này.
Sứ đồ Phaolô, nhà vô địch về đức tin vĩ đại, đã gọi Satan là "chúa đời này" và bảo rằng hắn đã "làm mù lòng những kẻ không tin, hầu cho họ không thấy sự vinh hiển chói lọi của Tin Lành. Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 4:4).
Ở một chỗ khác trong Tân ước, sứ đồ Phaolô đã nói về Satan như là "vua cầm quyền chốn không trung" và gọi hắn là "thần hiện đương hành động trong các con bạn nghịch" (Eph Ep 2:1-4).
Khi sứ đồ Phaolô chịu ra xét xử ở trước mặt đại đế Acrípba để bênh vực cho sứ điệp mà ông đã rao giảng, ông đã công bố rõ ràng nhu cầu con người là được giải phóng khỏi TÌNH TRẠNG LÀM NÔ LỆ CHO SATAN khi ông nói: "Chúa Giêxu đã sai ta đặng mở mắt họ, hầu cho họ từ tối tăm qua sáng láng, từ quyền lực của quỷ Satan mà đến Đức Chúa Trời (Cong Cv 26:18).
Chúa Jesus Bị Cám Dỗ
Sự phô trương ngạo mạn nhất và quyền thế của Satan được thấy trong lúc hắn cố gắng cám dỗ Chúa Giêxu phạm tội.
Bạn biết, Chúa Giêxu là con người duy nhất từng được sinh vào trong thế gian này mà không phải sinh ra dưới sự thống trị của Satan. Lý do là vì Chúa Giêxu không có một người cha thuộc dòng dõi loài người vì vậy lời nguyền về TÌNH TRẠNG LÀM NÔ LỆ CHO SATAN trải suốt từ Ađam cho đến hết thảy con cháu mình đã không ảnh hưởng đến Ngài.
Chúa Giêxu được gọi là "Ađam thứ hai" bởi vì Ngài là con người toàn hảo thứ hai được đưa vào trong thế giới này (ICo1Cr 15:1-58) Ngài đã có thể phạm tội, như Ađam thứ nhất đã phạm tội, nhưng liệu Ngài có làm như vậy để Ngài bị bắt phục dưới quyền cai trị của Satan chăng, cũng như Ađam đã từng bị vậy.
Bởi vì Ngài là con người duy nhất từng được sinh ra trong thế gian này mà không phải bị nô lệ cho Satan, nên Ngài đã trở thành mục tiêu đặc biệt bị Satan thù ghét. Hắn liên tục tìm cách để hoặc giết Ngài trước khi Ngài bước lên thập tự giá, hoặc làm cho Ngài phạm tội để Ngài cũng bị ở dưới quyền cai trị của Satan như là hết thảy những tội nhân chưa được cứu chuộc đều phải chịu.
Đó là lý do vì sao trong một dịp khi Satan cám dỗ chúa Giêxu, hắn đã chỉ cho Ngài xem mọi nước của thế gian và sự vinh hiển của chúng rồi hắn nói cùng Ngài rằng ta sẽ cho ngươi hết thảy quyền thế và sự vinh hiển của các nước đó, vì đã giao cho ta hết, ta muốn cho ai tùy ý ta. Vậy, nếu ngươi sấp mình xuống trước mặt ta, mọi sự đó sẽ thuộc về ngươi cả." (LuLc 4:6,7).
Không Có Mão Triều Thiên Nếu Không Qua Thập Tự Giá
Chúa Giêxu đã không hề tranh luận gì trước yêu sách của Satan. Ngài đã biết rằng thế gian và loài người bởi Ađam đã bị chuyển nộp dưới quyền cai trị của Satan. Ngài cũng biết Ngài có thể lấy lại điều đó được khỏi tay Satan bất cứ lúc nào Ngài muốn. Nhưng nếu muốn thực hiện điều đó, thì có nghĩa là Ngài phải trải qua con đường thập tự bởi vì chính tại đó, Đức Chúa Trời đã định rằng giá đến chuộc phải được trả để giải phóng loài người bị làm nô lệ và hoàn trả lại quyền thống trị thế giới cho Đức Chúa Trời.
Đối với Ngài, chọn con đường dễ dàng và nhận mão triều thống trị của Satan khi hắn đề nghị là sẽ phạm tội. Và giây phút mà Ngài phạm tội, thì Ngài, cũng sẽ bước vào bãi chợ nô lệ của tội lỗi và bị dưới quyền kiểm soát của Satan.
Vì vậy, sẽ không còn ai là "người tự do" trong thế giới này có thể trả giá đền chuộc và giải phóng con người cho được tự do thoát khỏi tình trạng nô lệ cho Satan. Hết thảy đều phải ở trong chợ nô lệ, và không một ai đủ tư cách để chuộc lại tự do cho bất cứ một ai khác.
SaTan Là Một Loại Cha Nào Đó
Trong phần đầu của chương này, chúng ta đã nói về cuộc đối thoại giữa Chúa Giêxu với một số người Do Thái không tin và Ngài đã bảo họ rằng Satan là cha của họ.
Khi bạn nghĩ về một ai đó là "cha", thì bạn thường mường tượng ra một con người có tấm lòng nhân ái, biết quan tâm và dịu dàng, dễ cảm, là người đặt lòng quan tâm hơn hết cho con cái mình.
Nhưng, mặc dầu Satan biết cách giả làm "thiên sứ sáng láng", tấm lòng của hắn đen tối và hung dữ, đầy dẫy thù ghét và cay đắng để trả thù lại Đức Chúa Trời và loài người. Đấy là một người cha không bình thường. Đấy là một kẻ độc ác, bạo loạn, kẻ đã nhốt con cái mình vào một trại nô lệ chẳng quan tâm đến họ như là những con người. Hắn đã sử dụng họ cho những mục tiêu của mình rồi quẳng họ vào một đống phế thải khi đã xong việc với họ.
Nỗi lo lắng duy nhất của hắn là một ngày nào đó con người sẽ khám phá ra rằng sự đền chuộc cho sự tự do của họ đã được trả xong và không còn lý do gì để giữ họ trong tình trạng nô lệ nữa.
Nhưng cho đến khi nào họ khám phá ra điều đó, thì TÌNH TRẠNG NÔ LỆ CHO SATAN của con người vẫn còn là một vật cản đối với mối tương giao được hồi phục lại với Đức Chúa Trời là Cha thiên thượng.
Để có một sự hiểu biết đầy đủ hơn về Satan, nguồn gốc của nó sự sa ngã của nó, xin mời bạn đọc một tác phẩm khác của tác giả Satan vẫn còn sống và mạnh khỏe trên địa cầu
(Grand Rapids: Nhà xuất bản Zondervan 1972).
VẬT CẢN THỨ TƯ: SỰ CHẾT THUỘC LINH
Một anh bạn kể cho tôi nghe một câu chuyện có thể giải bày khá rõ ràng về điều tương tự như sự chết thuộc linh.
Anh ta có một cậu bé trai vừa nhận được món quà Giáng sinh thật đẹp, đó là chiếc xe lửa chạy bằng điện,hai cha con lắp ráp vào vị trí. Họ cùng chơi hàng giờ với chiếc xe lửa chạy bằng điện ấy, chiếc tàu chạy ngoằn ngoèo lên xuống theo các đường ray, chui vào các đường hầm, vào ga xe lửa.
Một ngày kia khi anh đi làm về, cậu bé con chạy ra đón anh ở cửa với vẻ mặt thật sự lo lắng: chiếc tàu không chạy nữa. Hai cha con cùng nhau tháo rời các bộ phận ra, nhưng xem xét mọi thứ đều thấy ổn cả. Họ kiểm tra các phần nối liền giữa tất cả các toa xe và chúng đều được đặt đúng chỗ.
Sau nhiều giờ đồng hồ cố gắng làm cho tàu chạy, song vô ích. Không có năng lượng chạy qua toa xe lửa. Dẫu làm đủ thứ, nó vẫn bất động.
Thế rồi, may sao, anh bạn tôi nhận ra một miếng kim loại dấu thập bị rơi ngang đường ray và bị che khuất bởi những tòa nhà nằm dọc theo đường ray, khi anh ta nhặt miếng kim loại hình chữ thập khỏi đường ray, chiếc tàu bắt đầu lăn bánh.
Điều xảy ra đó là miếng kim loại tí xíu nằm trên đường ray đã gây ra một sự cố đoản mạch. Tất cả năng lượng của thành phố Los Angles đã bị ngăn cản không vào trong chiếc tàu lửa được bởi vì một mảnh kim loại tí xíu dường như chẳng nghĩa lý gì.
NHÂN LOẠI BỊ "ĐOẢN MẠCH"
Khi chúng ta xem xét các chương trước, đã có một lúc Đức Chúa Trời với con người có một mối tương giao chưa bị gãy đổ và mọi sự giữa họ với nhau đều tốt đẹp. Thế rồi điều gì đó đã xảy ra khiến cho gián đoạn mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và con người. Có cái gì đó đã rơi cắt ngang đường ray của loài người, và tất cả quyền năng thiên thượng cùng sự sống thuộc linh của Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa Toàn Năng bị cắt đứt khỏi vật thọ tạo đặc biệt của Ngài, là con người, và con người trở nên chết mất về thuộc linh.
Cái "điều gì đó"- chính là tội lỗi!
Dầu vậy, hậu quả khủng khiếp ấy không phải là điều bất ngờ đối với Ađam và Êva. Đức Chúa Trời đã phán dặn họ rằng nếu họ ăn trái cây Biết Điều Thiện và Điều Ác thì họ sẽ phải chết (SaSt 2:17). Nhưng vì họ chưa bao giờ thấy cái gì chết đi trước biến cố ấy, cho nên họ đã không hiểu cách trọn vẹn "sự chết" có nghĩa là gì.
BA GƯƠNG MẶT CỦA SỰ CHẾT
Ađam và Êva không có một khái niệm gì về sự tàn hại khủng khiếp của việc bị chết về tâm linh trong mối tương quan với Đấng Tạo hóa kỳ diệu của họ. Cũng vậy họ không hiểu được sự cuối cùng đáng sợ của việc bị cắt đứt cách đột ngột của từng người với những người thân yêu bởi sự chết thuộc thể. Và sau hết, họ hoàn toàn không biết được những gì có liên hệ đến sự chết đời đời, là tình trạng bị phân cách đời đời khỏi Đức Chúa Trời.
Mặc dầu cả ba phương diện của bản án sự chết này đều được áp đặt lên họ và có ảnh hưởng liền, song chỉ có một điều ngay lập tức tác hại rõ rệt đến chính con người. Họ đã biết rằng có một điều gì đó đã xảy ra giữa sự thân mật của họ với Đức Chúa Trời mà không thể khôi phục lại được.
"Điều gì đó" chính là SỰ CHẾT THUỘC LINH
Ađam và Êva lập tức cảm thấy có một sự xa lạ với Đức Chúa Trời, thậm chí đến mức họ phải đi ẩn mình khỏi Ngài. Song, dầu vậy, Đức Chúa Trời đã tìm kiếm họ, bởi những lời phán và hành động khoan hồng đối cùng họ, tái bảo đảm với họ tình yêu thương của Ngài, dầu vậy, Ngài vẫn phải thi hành bản án sự chết và phân cách con người khỏi mối tương giao với chính Ngài. Từ đây trở đi, Ađam bị đuổi khỏi khu vườn và không còn được tự do ra vào trước mặt Đức Chúa Trời nữa.
SỰ LÂY LAN CỦA TỘI LỖI
Tội lỗi và sự chết đã bước vào trong dòng dõi loài người qua sự không vâng lời của một người (RoRm 5:12). Khi Ađam phạm tội, ông ta đã trở thành một tội nhân và bởi một tội lỗi lúc ấy vẫn còn nằm trong cơ quan sinh dục đã lây truyền cho cả dòng dõi loài người với căn bệnh của tội lỗi và sự chết. Kể từ đó, mọi con người sinh ra đều là những tội nhân mang bản án sự chết.
NHÌN CON NGƯỜI TỪ QUAN ĐIỂM CỦA THƯỢNG ĐẾ
Thậm chí không có cách nào để bắt đầu hiểu được thế nào biến cố trong khu vườn ngày ấy đã ảnh hưởng đến nhân loại từ bao thế kỷ và ngay cả đến ngày hôm nay, cho đến khi chúng ta có một cái nhìn về Đức Chúa Trời, đúng như thực tại của Ngài, và nhìn chính mình như Ngài nhìn xem chúng ta.
Trong việc tạo dựng con người, Đức Chúa Trời đã tiên liệu mọi khả năng về thuộc thể và tinh thần mà con người có cần để liên lạc với thế giới vật chất là nơi Ngài đặt họ vào.
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời cũng đã trang bị cho con người chức năng trong việc liên hệ được với lãnh vực phi vật chất hoặc lãnh vực tâm linh cũng đã là một lãnh vực thực hữu. Ngài thực hiện điều đó bằng cách ban cho con người một linh hồn và một tâm linh.
Biểu đồ dưới đây sẽ cho bạn một hình ảnh về cách thức cả ba phần thuộc cơ cấu của con người cùng làm việc với nhau.
Khi chúng ta tìm cách diễn tả lẽ thật thuộc linh, thì không có một sự giải bày nào của con người là toàn hảo, nhưng biểu đồ này cho chúng ta khung sườn cần thiết để nhìn vào các chức năng kết hợp hoặc đôi khi là các chức năng riêng biệt của thân thể, linh hồn và tâm thần của một người.
THÂN THỂ
Thân thể là phần vật chất của con người, phần này giúp con người hoạt động trong thế giới vật lý chung quanh mình và liên lạc với thế giới ấy. Thân thể chứa đựng sự sống vật lý. Đấy là một sức mạnh không thật và không định nghĩa được giữ cho nhịp tim vẫn đập. Mặc dầu có nhiều nỗ lực khác nhau nhằm tạo dựng sự sống con người trong các ống nghiệm, song không một nỗ lực nào thành công trong việc tạo dựng và duy trì thể loại sự sống cần thiết để khiến có thể con người hoạt động theo như đã phác họa.
Khi thân thể chết, nó trở về với bụi đất là nơi nó từ đó mà ra. Nhưng đó chưa phải là kết thúc. Cuối cùng nó sẽ được đem trở lại một lần nữa để tồn tại đời đời, hoặc sống với Đức Chúa Trời, hoặc bị phân cách khỏi Ngài.
LINH HỒN
Linh hồn là phân phi vật chất trong con người. Khi Đức Chúa Trời tạo thành con người, Ngài hà hơi vào lỗ mũi con người hơi thở của sự sống và con người trở thành một linh hồn sống (SaSt 2:7). Chữ Hêbơrơ dịch chữ "sự sống" trong hầu hết các bản Kinh Thánh tiếng Anh thật sự nên được dịch là "các linh sống" bởi vì đó là một chữ ở số nhiều trong bản Kinh Thánh Hêbơrơ nguyên thủy.
Tôi tin rằng, không phải tình cờ mà Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời hà "các hơi sống" vào con người thay vì "hơi sống" bởi vì trải suốt phần còn lại của Kinh Thánh có hai loại sự sống được nói đến khi liên hệ đến con người - sự sống của phần hồn và sự sống thuộc linh.
Sự sống của phần hồn chứa đựng hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người. Mang hình ảnh của Đức Chúa Trời có nghĩa là, con người ấy, giống Đức Chúa Trời, có trí năng, tình cảm, lập luận có đạo đức, có ý muốn, và tồn tại đời đời. Điều đó không cho thấy chúng ta "giống" Đức Chúa Trời về thuộc thể, hoặc có sự sống thuộc linh của Ngài ở trong chúng ta.
Sự sống thuộc thể và sự sống phần hồn là một và giống nhau. Bởi vì, nếu bạn lấy đi sự sống thuộc thể khỏi một người, linh hồn người ấy cũng phân ly khỏi thân thể người ấy. Và nếu bạn lấy linh hồn ra khỏi một con người, có nghĩa là người ấy đã chết về thuộc thể. Mặc dầu một người có thể sống nhiều năm trong tình trạng hôn mê trầm trọng, điều đó không có nghĩa linh hồn đã rời khỏi anh ta. Mà đơn giản là thân thể vật lý của anh ta không đáp ứng với những xung lực do linh hồn người ấy truyền đến.
Năm giác quan được đặt trong thân thể vật lý là các cửa sổ của linh hồn. Chúng là những phương tiện để đưa những thông tin về thế giới vật chất vào trong tâm trí của con người. Nhưng giới hạn của chúng đó là chúng không thể chứng thực được bất kỳ một sự thực nào nằm ngoài phạm vi của chúng, là thế giới vật chất.
Ví dụ, tính hợp lý mà phần lớn thế giới này có đó là nếu điều gì không thấy được, nếm được, sờ được, ngửi được hoặc nghe được, thì điều đó không có thật sự tiếp xúc với sự sống như vậy thường được gọi là thuyết "chủ nghĩa vật chất" hoặc "chủ nghĩa thực nghiệm". Vấn đề với triết lý này đó là nó che khuất toàn bộ. Lãnh vực có thực nằm ngoài thế giới của các giác quan.
Đây là lãnh vực thuộc về tâm linh.
TÂM LINH
Khi Đức Chúa Trời hà vào trong con người "các hơi sống" không những Ngài đã ban cho con người sự sống phần hồn hoặc sự sống thuộc thể, song Ngài cũng đã ban cho con người loại sự sống của chính Đức Chúa Trời - sự sống tâm linh.
Bạn thấy, Đức Chúa Trời là thần linh và để thờ phượng Ngài cách Ngài truyền bảo hay để tương giao với Ngài theo một cơ bản cá nhân, là chúng ta cũng phải là những tạo vật có tâm linh (GiGa 4:24).
Đó là lý do vì sao Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người với một tâm linh. Đó là phần của con người được mang sự sống của Đức Chúa Trời, sự sống thuộc linh. Ađam và Êva đã có sự sống phần hồn và sự sống thuộc linh.
Với sự sống phần hồn của mình, họ đã hiểu được sự đẹp đẽ của thế giới vật chất của môi trường chung quanh và hiểu lẫn nhau. Với sự sống thuộc linh họ kinh nghiệm được sự thông công với Đức Chúa Trời là Đấng đã hiện diện trong khu vườn như một linh.
Có lẽ bạn bảo rằng con người khởi thủy đã được dựng nên với sáu giác quan thay vì năm. Năm trong số sáu giác quan đã nối kết người ấy vào trong thế giới vật chất và đã hoạt động theo năng lực của hồn, nhưng giác quan thứ sáu, được gọi là "đức tin" thì hoạt động theo linh lực. Nó cho người ấy khả năng để thiết lập sự thực hữu trong lãnh vực tâm linh và kinh nghiệm mới thông công cởi mở với Đức Chúa Trời.
BI KỊCH CỦA SỰ SA NGÃ
Ngoài tất cả những hậu quả tàn hại do việc con người không vâng lời Đức Chúa Trời thì có lẽ điều tai hại nhất đó là Đức Chúa Trời đã rút khỏi con người sự sống thuộc linh của Ngài và để con người lại với một tâm linh chết, một khoảng trống về tâm linh - bạn thử nghĩ xem - Con người đã không còn có được sự trang bị thuộc linh ở bên trong để kinh nghiệm được mối quan hệ với Đức Chúa Trời là một linh. Trong vòng một vài thế hệ của Ađam, con người đã mất cả ý niệm của họ về một Đức Chúa Trời chân thật đến nỗi họ lang thang cách vô vọng trong sự tối tăm về mặt tâm linh.
Bạn có thể thấy tình trạng lưỡng nan nổi lên giữa Đức Chúa Trời và con người. Theo thực tế thì Đức Chúa Trời đã làm nên con người theo một phương cách để con người có thể thông công với Ngài qua tâm linh người ấy, nhưng bây giờ con người ấy không còn sự sống tâm linh nữa, Đức Chúa Trời đã phải thông công với con người theo những phương cách mà năm giác quan của họ có thể hiểu được.
Đó là toàn bộ câu chuyện của Kinh Thánh: Đức Chúa Trời tìm cách để cho loài người sa ngã nhận biết được sự hiện diện của Ngài, tình yêu thương của Ngài và sự phán xét của Ngài nghịch cùng tội lỗi. Nhưng Đức Chúa Trời luôn luôn phải hành động trước và đến với con người bằng những phương cách mà con người có thể hiểu được bằng sự nhìn thấy, nghe, nếm, sờ hoặc ngửi.
VẬT CẢN ĐƯỢC ĐẦY ĐỦ
Bây giờ chúng ta đã có được hình ảnh đầy đủ về vật cản phổ thông cho mọi người mà đã phân rẽ con người khỏi Đức Chúa Trời. Con người không thể phá đổ vật cản xuống, cũng không thể vượt qua nó bằng những nổ lực riêng của họ. Thật vậy, con người không thể vượt qua nó bằng sự cộng tác với Đức Chúa Trời. Vật cản phải bị hạ xuống, và chỉ một mình Đức Chúa Trời mới làm được điều đó.
Hàng ngày bạn sẽ gặp gỡ những con người thường hay bảo rằng họ không cần Đức Chúa Trời và không cảm thấy bất cứ một vật cản nào mà chúng ta đã nhìn thấy. Nhưng vấn đề quan trọng đó là Đức Chúa Trời phán rằng họ có một nhu cầu dầu cho họ có nhận biết nhu cầu ấy hay không. Và Lời Ngài cho thấy rất rõ ràng nhu cầu đó là gì. Có thể tôi đến gặp Bác sĩ, và ông ta bảo tôi
"Hal này, anh mắc bệnh nặng đấy, song nếu được điều trị thích đáng thì có thể chữa khỏi hoàn toàn"
"Nhưng, thưa bác sĩ, tôi chẳng cảm thấy bệnh tật gì cả".
"Không thành vấn đề. Những thử nghiệm cho thấy kết luận rằng anh mắc bệnh".
Bởi vì ông ta là một người chuyên môn trong lãnh vực này nên tôi thật sự khó mà chọn điều gì ngoài việc phải nghe lời ông ấy - Rốt lại, phương pháp điều trị hữu hiệu lệ thuộc hoàn toàn vào việc chẩn đoán chính xác. Nhưng sau khi đã chẩn đoán rồi, thì chính mình tôi phải tuân theo quá trình chữa trị.
Đức Chúa Trời phán rằng chúng ta có một vấn đề - Vấn đề đó được gọi là tội lỗi - Đó là một chứng bệnh hiểm nghèo mà chỉ có một Đấng biết cách chữa trị. Bây giờ chúng ta hãy xem cách chữa trị là gì.



VÌ SAO ĐỨC CHÚA TRỜI ĐÃ TRỞ NÊN CON NGƯỜI ?
Có bao giờ bạn dừng lại để tự hỏi: sự kiện chính yếu đã phân chia Cơ Đốc giáo với tất cả các tôn giáo khác là gì không?
Cơ Đốc nhân cũng công nhận Đức Chúa Trời của Cựu Ước mà người Do Thái và nhiều tôn giáo khác công nhận. Nhưng chỗ mà họ chia tay với các tôn giáo khác nằm trong sự dạy dỗ của Cơ Đốc giáo cho rằng Đức Chúa Trời của Cựu Ước đã thật sự mặc lấy thân xác con người trong ba mươi ba năm, và vẫn tiếp tục là Đức Chúa Trời, để sống trên trái đất này như một con người.
Đối với nhiều tôn giáo, và đặc biệt là người Do Thái, tư tưởng này là một điều đáng nguyền rủa. Nhưng trong Cơ Đốc giáo chân chính, niềm xác tín về Đức Chúa Trời mang hình hài con người quan trọng đến nỗi nếu điều đó không phải là sự thật, thì sẽ không có sự giải thích hợp lý cho thấy làm thế nào những vật cản phân rẽ Đức Chúa Trời với loài người có thể phá đổ được.
Ngoài ra, những Cơ Đốc nhân còn tin rằng Cựu Ước có thừa bằng chứng cho sự kiện Đức Chúa Trời một ngày kia sẽ dùng nhân tính trong kế hoạch của Ngài để cứu chuộc nhân loại và đem lại sự hòa giải giữa Thượng Đế và con người.
Nhưng trước khi nhìn xem con người - Trời ấy là ai, chúng ta hãy xem lý do vì sao Đức Chúa Trời trở thành con người lại là điều cần thiết như vậy.
VẤN ĐỀ TRUYỀN THÔNG
Chúng ta biết rất rõ về vấn đề này trong thế giới hiện đại của chúng ta. Các cố vấn về hôn nhân cho chúng ta biết rằng thiếu truyền thông là một trong các yếu tố chính khiến không thể dung hòa được những điểm khác biệt. Các bậc cha mẹ và con cái trở nên xa cách cũng bởi vì vấn đề này.
Nhưng trong số những thất bại tồi tệ về vấn đề truyền thông thì sự sụp đổ tệ hại nhất mà con người phải chịu trong lãnh vực này đó là sự truyền thông giữa chính họ và Đức Chúa Trời.
Chúng ta đã thấy lý do vì sao. Bởi vì Đức Chúa Trời là một linh và Ngài có thể được thông hiểu trong sự nhận thức sâu xa nhất bởi kẻ mà cũng có sự sống thuộc linh. Loài người được sinh ra với sự sống phần hồn là sự sống ban cho họ một sự hiểu biết về thế giới, song họ thiếu mất sự sống thuộc linh mà bởi đó họ có thể truyền thông liên lạc được với Đức Chúa Trời.
Do đó, từ khi con người sa ngã, Đức Chúa Trời đã phải suy tính đến tình trạng bất lực của con người để hiểu được những lẽ thật thuộc linh bằng phương tiện thuộc linh. Ngài buộc phải mặc khải chính mình cho con người qua những phương cách mà họ có thể hiểu được bằng sự sống phần hồn và bằng ngũ giác của họ, nhưng điều đó đã luôn luôn với một cái nhìn như là nhằm đưa họ đến chỗ phải tuân phục Ngài.
Vấn đề của Ngài cũng tương tự như vấn đề của một nhà tự nhiên học, ông ta có một sự quan tâm đặc biệt đến một tổ kiến nọ, ông đã quan sát chúng hàng tháng. Mỗi ngày ông bỏ ra hàng giờ để theo dõi các cuộc diễn tập phức tạp của đàn kiến này và đã đi đến chỗ cảm thấy thân thuộc đặc biệt với chúng.
Một ngày kia nhà tự nhiên học trông thấy một chiếc máy ủi đất khổng lồ từ đàng xa và ông nhận ra ngay rằng tổ kiến nằm ngay trên con đường sẽ được xây dựng.
Ông ta kinh hoảng và lục lọi trong tâm trí một cách tuyệt vọng mong tìm ra một phương cách để dời chuyển đàn kiến. Ông ta vốc chúng lên đầy hai tay, song chỉ khiến chúng cắn ông. Ông nghĩ đến việc dựng một hàng rào quanh ụ kiến nhưng rồi ông biết chiếc máy ủi cũng phá sập mà thôi.
Trong lúc tâm trí bị kích động kịch liệt ông tự nói với mình: "Ước gì ta có thể nói với chúng để cho chúng biết sự nguy hiểm đang ở trước mặt chúng nó - Phải chi ta có thể khiến chúng nhìn biết ta là bạn của chúng và ta chỉ muốn cứu chúng khỏi sự hủy diệt".
Song mặc dầu quan tâm đến mấy đi nữa, ông cũng không thể nghĩ ra cách gì để truyền đạt cho chúng theo cách chúng có thể hiểu được. Để làm được điều đó, ông ta phải trở thành một con kiến, mà vẫn giữ bản chất người thì mới có thể tiếp tục định đoạt vấn đề cách sáng suốt và tỏ cho loài kiến hiểu rõ được.
THẾ GIAN, "TỔ KIẾN" CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Trải suốt lịch sử lâu dài của dòng dõi loài người, Đức Chúa Trời đã không từ một nỗ lực nào nhằm mặc khải chính mình Ngài cho con người trong những giới hạn về các hiện tượng tự nhiên và vật chất mà con người có thể hiểu được.
Đavít, tác giả của Thi thiên, đã cho chúng ta biết rằng toàn bộ thế giới là "vườn trẻ" của Đức Chúa Trời để dạy cho chúng ta bài học ABC về sự thực hữu của Đức Chúa Trời và về lãnh vực thuộc linh.
Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời
Bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm
Ngày này giảng cho ngày kia
Đêm này tỏ sự tri thức cho đêm nọ
Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói
Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó
Dây đo chúng nó bủa khắp trái đất
Và lời nói chúng nó truyền đến địa cực (Thi Tv 19:1-4a).
Đây là một trong những điều sâu nhiệm nhất từng được nói đến trong Kinh Thánh, cho chúng ta biết sự oai nghi vĩ đại và sự kỳ diệu của vũ trụ với các thiên thể, vẻ đẹp sự lạ lùng của nó, sự cân đối đáng kinh ngạc trong việc sắp đặt và chức năng của hết thảy tạo vật của Chúa trên trái đất này đều chính là sự phô diễn bằng lời cho một sự thật đó là bàn tay Chúa đã dựng nên chúng nó.
Sự kiện ngày nối tiếp ngày với một sự nhất định như thế và đêm kế tiếp đêm như công việc của một chiếc đồng hồ là điều giống như Đức Chúa Trời thật sự đang phán với con người về sự thực hữu và sự đáng tin cậy của Ngài.
Đavít đã nói rằng "Chúng không thật sự nói và bạn cũng không chăm chú lắng tai mà nghe bất cứ lời nào như thế, dầu vậy, tiếng chúng nó vang dội khắp cả trái đất".
TẠI SAO LẠI LÀ TIẾNG NÓI?
Mục đích của việc phô bày trong phạm vi thiên nhiên rộng lớn về sự thực hữu của Đức Chúa Trời là gì?
Sứ đồ Phaolô đã cho chúng ta câu trả lời ấy trong Tân Ước.
"Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy. Cho nên họ không thể chữa mình được" (RoRm 1:19-20).
Sứ đồ Phaolô nói rằng bản tánh của Ngài, mắt không thấy được đã được mặc khải cách rộng rãi qua những tạo vật hữu hình của Ngài để cho tâm trí phần hồn của loài người có thể ghép đặt cả hai lại với nhau để tìm thấy sự thực là Đức Chúa Trời hiện hữu.
Nhưng không những chỉ nhận ra rằng Ngài hiện hữu, mà họ còn không thể chữa mình vì không biết rằng cuối cùng Ngài sẽ xét đoán những kẻ không tin kính và áp bức lẽ thật về uy quyền tối thượng của Ngài trên loài người (1:18).
BÀI HỌC VỀ THIÊN NHIÊN ĐÃ BỊ QUÊN LÃNG
Thật khá hiển nhiên đối với một người có suy nghĩ công bằng rằng hầu hết mọi người trải suốt lịch sử của nhân loại đã không rút ra kết luận từ bài học thiên nhiên rằng chỉ có một Đức Chúa Trời và Ngài là Đấng thông hiểu được và xứng đáng với sự ca tụng của chúng ta. Dầu không có một câu hỏi nào cả song mọi nền văn minh đều có một khái niệm về một quyền lực tối cao nào đó mà họ đã không thể nào kiểm soát hoàn toàn được. Và có nhiều bằng cớ trong khảo cổ học cho thấy rằng con người đã có các thần tượng và thờ lạy các thần tượng đó.
Nhưng sứ đồ Phaolô cho chúng ta biết vấn đề với điều đó là gì. Ông nói rằng dẫu họ bởi thiên nhiên đã biết được rằng có một Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, song đời sống họ đã không tôn kính Ngài như Đấng Tối cao, mà vẫn cứ tiếp tục cuộc sống hàng ngày như thể Ngài đã không hề phán điều gì với họ vậy.
Thế rồi họ ngồi lại mà suy đoán những điều thật vô ích như hình dung Ngài ra sao, Ngài đã sống ở đâu, Ngài có lập gia đình chăng, Ngài có con cái không, Ngài tốt bụng và nhân đức hay là khắt khe và độc ác, để rồi cuối cùng kết thúc bằng cách lập lên một số loại hình dung hoặc hình tượng nào đó của một trong các tạo vật của Thượng Đế và thờ lạy chúng (1:21-25).
Bạn thấy đấy, bởi vì họ là những người bị chết mất về phần thuộc linh, nên họ không thể hiểu một cách trọn vẹn Đức Chúa Trời như thế nào, nhưng họ lại có đủ ánh sáng được ban cho mình qua thiên nhiên để đến với một Đức Chúa Trời chân thật và đầu phục chính mình cho Ngài. Nếu như họ làm điều đó, thì Ngài đã đem sự sống thuộc linh đến cho những linh chết của con người và họ được nên con cái của Đức Chúa Trời. Cong Cv 17:26-27 nói rằng nếu loài người hết sức "rờ tìm" Đức Chúa Trời, thì hẳn là họ sẽ phải tìm được Ngài.
BƯỚC VÀO ĐẤU TRƯỜNG CỦA LOÀI NGƯỜI
Bài học về thiên nhiên đầy sức mạnh như thế, song không bao giờ là ý định của sự mặc khải tối hậu của Đức Chúa Trời về chính mình Ngài cho con người. Phương cách duy nhất để cho linh Đức Chúa Trời thật sự có thể làm và nói điều Ngài đã muốn, đó là thật sự lìa bỏ ngai ngự đời đời của Ngài và bước vào đấu trường của con người.
Dẫu đến như vậy Ngài cũng không thể nào truyền thông liên lạc được với con người là kẻ mà hoàn toàn là một tạo vật hữu hình nếu như Ngài, Đức Chúa Trời không mang lấy một hình hài và một đời sống hữu hình. Ngài cũng cần phải giữ lại bổn tánh, và tâm trí thiêng liêng, nếu không Ngài sẽ không thể hoàn thành công tác mà Ngài phải nói và phải làm khi đến trần gian.
NHỮNG VẬT CẢN PHẢI RA ĐI!
Nhưng điều bức bách chính khiến Đức Chúa Trời phải đến trần gian là gì?
Chính là để phá đổ những vật cản mà con người đã dựng lên giữa chính mình và Đức Chúa Trời. Không ai ngoài chính mình Đức Chúa Trời có thể thực hiện được công việc đó. Con người không thể trừ diệt các chướng ngại vật đã phân rẽ họ khỏi Đức Chúa Trời bởi vì những hậu quả của tội lỗi là điều đã làm bại hoại con người về phần thuộc linh và khiến con người trở nên không thể chấp nhận được đối với Đức Chúa Trời.
Một số người cảm thấy Đức Chúa Trời có thể cứ ngự trị Thiên đàng mà điều khiển con người cách dời bỏ các vật cản. Đấy là triết lý "Thượng Đế giúp những kẻ tự biết giúp mình". Xui rủi thay, không một nỗ lực nào hoặc con người hiệp với Đức Chúa Trời có thể thực hiện được bởi vì trong cả hai trường hợp đều không có bất kỳ sự cung ứng nào được thực hiện để dời bỏ tội lỗi là điều đã tạo ra vật cản đầu tiên. Việc đó cũng sẽ để lại bản án sự chết của con người chưa được thanh toán và làm tổn hại đến sự công bình của Đức Chúa Trời.
Không! Bởi vì Đức Chúa Trời thánh khiết, Đấng đã có một tình yêu không thể dập tắt được dành cho loài người và một sự bức bách thiên thượng để chứng minh sự công bình của Ngài, giải pháp duy nhất đó là lìa thiên đàng vinh hiển, mang lấy thịt và huyết, và bước vào dòng dõi loài người. Bởi vì Ngài là quyền uy tối tượng của cả vũ trụ, nên điều này không hề làm hư hoại thần tính của Ngài. Đức Chúa Trời có thể mang lấy bất cứ hình hài nào mà Ngài muốn, mà không ảnh hưởng đến bản chất nội tại của Ngài.
ĐỨC CHÚA TRỜI CUNG ỨNG SỰ THA THỨ
Bạn còn nhớ trong phần thuật lại về sự cám dỗ của Ađam và Êva, sau khi họ đã kết lá vả lại nhằm cố gắng che đậy sự xấu hổ của mình vì đã phạm tội với Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời đã không chấp nhận loại y phục đó và Ngài đã lấy da thú mà mặc cho họ. Nếu bạn suy nghĩ điều đó một chút, bạn sẽ nhận ra rằng sự chết của các thú vật ấy là điều đầu tiên được ghi chép về sự chết thuộc thể của bất kỳ tạo vật nào.
Các thú vật tự nó chẳng làm điều gì đáng tội chết, nhưng trong sự chết của chúng một khuôn mẫu đã được lập nên bởi Đức Chúa Trời - một vật thay thế tội theo sự chọn lựa của Đức Chúa Trời đã phải đổ huyết ra và bởi đó cung ứng một sự tha thứ tạm thời và che đậy tội lỗi của con người.
Mấy trăm năm sau khi luật pháp của Đức Chúa Trời được ban bố qua Môise, Ngài đã truyền dạy ông viết điều này "Không đổ huyết thì không có sự tha thứ" (HeDt 9:22 đã được diễn ý).
Đó là nền tảng của toàn bộ hệ thống dâng hiến thú vật của người Do Thái - một vật thay thế vô tội có thể mang lấy hình phạt của tội lỗi và chết thay cho con người nếu vật hiến tế được dâng lên Đức Chúa Trời phù hợp với hệ thống dâng hiến mà Ngài đã ban truyền và với đức tin trông đợi nơi sự tha thứ của Ngài.
NHƯNG TẠI SAO PHẢI TRỞ THÀNH NGƯỜI?
Hệ thống hiến tế thú vật không thể tiếp tục mãi bởi vì nó chỉ cung ứng một sự che đậy tạm thời tội lỗi con người khỏi mặt Đức Chúa Trời.
Tác giả thư gửi cho người Hêbơrơ trong Tân Ước nói rằng "Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được" đoạn người ấy nói thêm "Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi đi được (10:4, 11). Bạn thấy đấy, sinh tế thú vật không bao giờ cất tội lỗi được, nó chỉ che đậy tạm thời khỏi sự đoán xét của Đức Chúa Trời mà thôi.
Toàn thể bức tranh mà Đức Chúa Trời muốn loài người hiểu được từ việc dâng tế lễ bằng thú vật đó là sự công bằng của Đức Chúa Trời đã truyền rằng một người nào đó phải mang lấy bản án sự chết do người gây ra vì tội lỗi của con người.
Sự việc Đức Chúa Trời không đòi hỏi hình phạt nơi chính con người song cho phép một sự thay thế để chết thay chỗ của con người đã được dự trù để tỏ cho con người thấy chiều sâu của tình yêu thương Đức Chúa Trời.
Song Đức Chúa Trời không bao giờ hoạch định rằng sự tha thứ của Ngài cứ tiếp tục là tạm thời và có điều kiện. Kể từ giờ phút loài người sa ngã trong vườn Êđen, Đức Chúa Trời đã dự trù một kế hoạch mà sẽ cung ứng một sự tha thứ vĩnh viễn do tội lỗi và dời bỏ được các vật cản đã ngăn cách Đức Chúa Trời và con người.
KẾ HOẠCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI DÀNH CHO LOÀI NGƯỜI
Bởi vì chính loài người đã phạm tội và phải gánh chịu hình phạt của sự chết thuộc linh và thuộc thể, cho nên phải có đúng một con người khác trở thành sự thay thế vĩnh viễn và cuối cùng của Đức Chúa Trời dành cho con người. Người đó phải là người mà Đức Chúa Trời chọn lựa, có đủ tư cách để bước vào vị trí thay thế và nhận lấy cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng hết thảy mọi tội lỗi con người đã từng phạm - Sự che đậy tội lỗi do các sinh tế thú vật cung ứng không bao giờ gồm tóm được mọi tội lỗi của một người. Và, dĩ nhiên, nó không cung ứng được cho những người không dự phần và nghi thức ấy.
Song để một người có đủ tư cách thay thế vị trí bị phán xét của loài người và là người gánh tội cho loài người, thì có năm điều người ấy phải thật sự có:
1. Người ấy phải là một con người thật sự, được sinh ra trong thế gian này giống như những con người khác. Người ấy phải sống và phải chết cùng một cách như mọi người.
2. Người ấy không được có một kỷ tội nào do chính mình bởi vì nếu có người ấy sẽ bị ở dưới sự đoán phạt của Đức Chúa Trời. Người ấy phải được sinh ra mà không mắc nguyên tội như Ađam đã được dựng nên không tì vít. Không lúc nào trong cuộc đời người ấy được phạm dù chỉ một tội, song người ấy vẫn phải chịu từng trải những cám dỗ có thật như Ađam đã từng trải.
3. Người ấy phải sống dưới luật pháp của Đức Chúa Trời và giữ trọn vẹn luật pháp. Người ấy phải tuyệt đối công bình trong bản tánh mình cũng như trong mọi hành động để thỏa mãn bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời đòi hỏi rằng đây là một con người không hề vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời dầu chỉ một lần trong hành động, tư tưởng hoặc lời nói.
4. Người ấy phải có sự hiểu biết đầy trọn về điều mình đang thực hiện.
5. Người ấy phải sẵn lòng gánh lấy tội lỗi của nhân loại và bị phán xét, bị án chết vì tội lỗi đó trong địa vị của nhân loại và vì nhân loại.
CON NGƯỜI KỲ DIỆU
Toàn bộ lý do mà quyển sách này được viết ra đó là để làm nổi bật sự thật, đó là con người đó đã đến trong thế gian, theo lời hứa cách đây hơn một ngàn chín trăm năm. Ngài đã làm thành trọn vẹn mỗi một tiêu chuẩn để trở thành Đấng Cứu Thế của loài người.
Con người đó được gọi là Giêxu Christ.


CON NGƯỜI MÀ THƯỢNG ĐẾ TRỞ THÀNH
Một trong những điều đã khiến cho những lời Thánh Kinh trong Cựu Ước tồn tại quá lâu dài và luôn luôn thích dụng được đó là do tầm quan trọng của các lời tiên tri trong Cựu Ước. Không những lịch sử đã được ghi chép lại một cách xác thực cho chúng ta, mà còn có hàng trăm lời dự đoán về những việc trong tương lai được ứng nghiệm.
Nhiều lời tiên tri trong số những lời tiên tri này đã phải ứng nghiệm với sự xuất hiện trong Israel một nhân vật vĩ đại là người được tiên tri rằng sẽ mang lại một nước bình an trên đất và cai trị nước ấy bằng sự công bình và chánh trực.
Con Người này được nhắc đến như là Đấng "Mêsi"
Có lẽ có hàng trăm nhà cải cách nhiệt cuồng đã xuất hiện trên những trang sử của quốc gia Isơraên tìm cách để làm thành sứ mạng của Đấng Mêsi trong việc thành lập một nước Trời trên đất. Tất cả những người ấy đã đi qua sân khấu song rất ít được chú ý hoặc ghi nhớ.
Nhưng có một con người đã không như vậy!
Điều đó có thể được minh chứng rõ ràng đó là có gần ba trăm lời tiên tri dự ngôn về Đấng Mêsi đã thật sự được ứng nghiệm từng chữ trong sự giáng sinh, trong cuộc đời và trong cái chết của Giêxu người Naxarét.
LỜI CHỨNG TIÊN TRI
Khi bạn sắp xếp các phần rời của lời tiên tri trong Cựu Ước có liên quan đến Đấng Mêsi, thì nó hình thành rõ ràng rằng bằng phương cách nào đó, Đấng Mêsi đã được hứa ban này vừa là Trời vừa là người. Điều này được làm rõ qua số lần những lời tiên tri được đề cập đến Ngài như là "con trẻ" hoặc "con trai" sẽ được sinh ra. Kế đó, thường là trong cùng mạch văn lời nói về Ngài là đời đời và là Đức Chúa Trời.
Chúng ta hãy xem một số những lời tiên tri nổi tiếng này trong Cựu Ước.
EsIs 7:14 phán rằng "Vậy nên chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt tên là Emmanuên" Từ "Êmmanuên" trong tiếng Hêbơrơ có nghĩa là "Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta".
Tôi biết các nỗ lực của một số các nhà diễn dịch Kinh Thánh muốn gạt bỏ điều này như lời tiên tri đã được ứng nghiệm trong việc Chúa Giêxu được một nữ đồng trinh sinh ra. Họ đưa ra lý luận rằng chữ alma trong tiếng Hêbơrơ được dùng cho từ "trinh nữ" cũng có thể được dịch là "người đờn bà trẻ".
Điều đó có thể là sự thật. Nhưng sự tranh cãi lớn nhất về nguyên văn chống lại việc dịch thành "người đờn bà trẻ" đó là ít nhất 160 năm trước khi Chúa Giêxu sanh ra, một bản dịch của Cựu Ước được dịch sang tiếng Hy Lạp và các học giả uyên bác người Hêbơrơ thực hiện bản dịch đó, được gọi là "Bản Bảy Mươi" đã dịch chữ alma trong tiếng Hêbơrơ sang chữ parthenos trong tiếng Hy Lạp và chữ ấy trong tiếng Hy Lạp chỉ có nghĩa là "đồng trinh".
Vì vậy, nhiều năm trước khi Chúa Giêxu giáng sinh, người ta đã hiểu rõ rằng một nữ đồng trinh sẽ sinh hạ một con trai và tên của con trai ấy sẽ có nghĩa là "Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta".
Trong một phần khác của sách Êsai, ông viết: "Vì có một con trẻ sinh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng, là Đấng Mưu Luận, là Đức Chúa Trời quyền năng, là Cha Đời Đời, là Chúa Bình An "Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi ở trên ngôi Đavít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời" (9:5-6).
Đây là lời Êsai nói về Đấng sẽ ngồi trên ngôi Đavít đời đời. Ông gọi Ngài là "Đức Chúa Trời Quyền năng" và "là Cha Đời Đời".
Trong khi dùng các danh hiệu đó, có thể không có gì phải thắc mắc, nhưng điều ông đang nói đó là về Đức Chúa Trời của Israel là Đấng một ngày kia sẽ mang lấy thêm xác con người và tự cho phép mình được đưa vào trong thế gian này như bất cứ một con người nào khác, qua phương cách sinh nở của con người.
Tiên tri Michê đã nói tiên tri trước khi Chúa Giêxu giáng sinh bảy trăm năm rằng Đấng Mêsi sẽ được sinh ra trong một làng nhỏ ở tại xứ Giuđa gọi là Bếtlêhem. Ông nói cùng làng này rằng "Từ nơi ngươi sẽ ra cho Ta một Đấng cai trị trong Ysơraên, gốc tích của Ngài bởi từ xưa, từ trước vô cùng" (MiMk 5:1).
Chắc chắn lời tiên tri này được người ta hiểu khi liên hệ đến Đấng Mêsi được hứa ban, bởi vì vào lúc Chúa Giêxu giáng sinh, khi các nhà thông thái từ phương Đông đến với các tặng phẩm, họ hỏi các vị lãnh đạo tôn giáo của quốc gia Ysơraên rằng Đấng Mêsi sẽ sinh tại đâu. Các thầy tế lễ cả người Do Thái bèn tham khảo Thánh Kinh của họ và tìm được lời tiên tri trong 5:1 đoạn họ bảo các nhà thông thái đi đến Bếtlêhem.
Nếu như các thầy tế lễ là những "người thông sáng", thì họ hẳn cũng đã đi đến thờ lạy Đấng Cứu Thế của họ!
CON ĐỨC CHÚA TRỜI
Bất cứ một sự điều tra nghiên cứu trung thực nào về những việc này và về hàng trăm lời tiên tri khác liên quan đến Đấng Mêsi sẽ đưa bạn đến chỗ kết luận rằng không một con người nào ngoài Giêxu người Naxarét có thể làm ứng nghiệm các lời tiên tri đó.
Chúa Giêxu đã được gọi bằng nhiều danh hiệu. Danh hiệu "Đấng Christ" là từ ngữ Hy Lạp dành cho chữ "Messiah" "Giêxu người Naxarét" nói lên quê quán của Ngài. Ngài ưa muốn được gọi là "Con Người" bởi vì nó nhắc nhở Ngài về mối liên hệ thân thuộc với loài người là kẻ Ngài yêu dấu.
Nhưng tôi cho rằng danh hiệu được ưa thích nhất của Ngài đó là "Con Đức Chúa Trời" bởi vì nó khiến toàn thế gian đều biết ai là Cha của Ngài.
Vị thiên sứ báo tin việc mang thai Chúa Giêxu cho Mari đã phán rằng "Này, ngươi sẽ chịu thai và sanh một trai mà đặt tên là Giêxu... Đức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép của Đấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình cho nên con thánh sinh ra phải xưng là Con Đức Chúa Trời" (LuLc 1:31, 35).
"Đấng Rất Cao" che phủ Mari không ai khác hơn là Chính Đức Chúa Trời. Trong phương cách thần diệu nào đó, chiếc trứng trong dạ con của Mari đã được thụ tinh với sự sống tách rời từ một người cha - Đức Chúa Trời chỉ việc đặt một tia sự sống vào trong đó, và tuần tự từng tế bào một, các tế bào bắt đầu phân chia và nhân bội rồi sau chín tháng, Chúa Giêxu được sinh ra.
Đức Chúa Trời là cha của Chúa Giêxu về phần nhân tính. Thần tính của Chúa Giêxu không tập trung trong danh hiệu "Con Đức Chúa Trời", bởi vì thần tính của Ngài không cần có cha, Ngài được gọi là Con Đức Chúa Trời bởi vì trong nhân tính Ngài là Con của Đức Chúa Trời. Thật là đơn giản, thật là sâu nhiệm.
NHỊ TÍNH HIỆP NHẤT
Cụm từ lớn "Nhị tính hiệp nhất" là một danh từ thần học diễn tả bản tánh hai mặt của Chúa Giêxu. Đây là ý nghĩa của nó: Trong một Thân vị của Chúa Giêxu Christ gồm có hai bản tánh: thần tính không suy giảm và nhân tính thật sự. Hai bản tánh này không hề bị lẫn lộn trong bản chất hoặc trong chức năng, và Chúa Giêxu có cả hai bản tánh này kể từ lúc Ngài mang nó trong máng cỏ tại Bếtlêhem cho đến suốt cả cõi đời đời.
Tôi đề cập đến nhị tính hiệp nhất bởi vì đó thường là điều mấu chốt để hiểu được vì sao Ngài phán điều Ngài làm trong các sách Phúc Âm. Đôi khi Ngài phán điều có liên hệ đến thần tính của Ngài như "Ta với Cha là một (trong bản chất)" (GiGa 10:30). Nhưng hầu hết thời gian Ngài đều phán dạy theo nhân tính "Nếu các ngươi yêu mến ta, thì sẽ vui mừng về điều ta đi về cùng Cha, bởi vì Cha tôn trọng hơn Ta" (14:28).
Trong nhân tính của Chúa Giêxu, Ngài lệ thuộc vào Đức Chúa Cha bởi vì Cha Ngài lớn hơn nhân tính của Ngài. Nhưng trong thần tính, Ngài đồng đẳng với Đức Chúa Cha bởi vì Ngài có cùng bổn thể với Cha Ngài.
TỪ CÕI VĨNH CỮU ĐẾN CÕI THỜI GIAN
Đức Chúa Giêxu Christ cũng như Đức Chúa Trời, Ngài luôn luôn hiện hữu trong thân vị Thượng Đế với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Linh, gần hai ngàn năm trước đã lìa Ngôi Đức Chúa Trời để đến trần gian và trở thành một con người. Suy xét đến sự ghê tởm mà công tác này đã trở thành mục đích khiến Ngài, Đấng không hề từng trải bất cứ điều gì ngoài sự vô tội của thiên đàng phải thực hiện, chúng ta phải suy xét cách cẩn thận vì sao Ngài đã bằng lòng làm điều đó.
Chúng ta hãy liệt kê bảy lý do vì sao Đức Chúa Trời đã thấy là cần thiết phải mang lấy một hình hài thấy được và phải trở thành con người Giêxu Christ.
1. Đức Chúa Trời đã trở thành một con người để làm Chúa Cứu Thế cho loài người. Khi viết về nguồn gốc của Chúa Giêxu, sứ đồ Giăng gọi Ngài bằng một danh xưng độc nhất vô nhị, đó là "Ngôi Lời". Ông nói rằng Ngôi Lời đã có trước sự bắt đầu của muôn vật. Ngài đã có ở đó, mặt đối mặt cùng Đức Chúa Trời và thật sự chính là Đức Chúa Trời. (1:1)
Đoạn, Giăng nói "Và Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật, chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của con một đến từ nơi Cha" (1:14).
Không cách gì có thể hiểu sai điều Giăng nói được. Bạn có thể không đồng ý với điều đó, song lời tuyên bố của ông thật rõ ràng. Đấng ấy, được gọi là Ngôi Lời đã hiện diện từ buổi sáng thế và Ngài là Đức Chúa Trời đã mang lấy xác thịt và ngự tại đây trên đất này, ở giữa loài người.
Vì sao bạn cho rằng Chúa Giêxu được gọi là "Ngôi Lời". Bởi vì Ngài là hiện thân của tất cả những gì mà Đức Chúa Cha muốn phán với loài người.
HAI TÌNH TRẠNG TRÁI NGƯỢC NHAU
Nhiều lần trong Tân ước, Chúa Giêxu được nhắc đến như "Ađam thứ hai". Bởi vì khi là người, Ngài đã làm ứng nghiệm hoàn toàn tất cả những mơ ước và những khát vọng mà Đức Chúa Trời khởi đầu đã dành cho Ađam thứ nhất.
Hai tình trạng của nhân loại thường trái ngược nhau bởi điều Ađam đã mang đến cho con người và điều mà Chúa Giêxu đã thực hiện để hủy bỏ nó đi. Chúng ta hãy nhìn xem một số những điều trái ngược này.
"Vì chưng bởi một người (Ađam) mà có sự chết, thì cũng bởi một người (Giêxu) mà có sự sống lại của những kẻ chết. Như trong Ađam mọi người đều chết, thì cũng một lẽ ấy, trong Đấng Christ mọi người đều sẽ sống lại" (ICo1Cr 15:21, 22).
"Vả nếu bởi tội một người (Ađam) mà sự chết đã cai trị bởi một người ấy, thì huống chi những kẻ nhận ân điển và sự ban cho của sự công bình cách dư dật, họ sẽ nhờ một mình Đức Chúa Giêxu Christ mà cai trị trong sự sống là dường nào!
"Vậy như bởi chỉ một tội (tội của Ađam) mà sự đoán phạt rãi khắp hết thảy mọi người thế nào, thì bởi chỉ một việc công bình (sự chết của Đấng Christ) mà sự xưng công bình, là sự ban sự sống, cũng rãi khắp cho mọi người thể ấy.
"Vì như bởi sự không vâng phục của một người (của Ađam) mà mọi người khác (nhân loại) đều thành ra kẻ có tội, thì cũng một lẽ ấy, bởi sự vâng phục của một người (Giêxu) mà mọi người khác sẽ đều thành ra công bình (RoRm 5:17-19).
Vấn đề của tất cả các câu Kinh Thánh trên đó là con người thứ nhất đã đưa nhân loại vào mọi rắc rối, nhưng Đức Chúa Trời đã sai một Con Người khác vào trong thế gian và Ngài đã gỡ rối điều đó.
Để đủ tư cách làm một con người thật sự mà có thể gỡ rối cho thảm kịch tội lỗi, Chúa Giêxu không dung thần quyền đang khi Ngài ở tại trần gian. Phaolô cho chúng ta biết rằng "Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ, chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người" (Phi Pl 2:6, 7 Bản Diễn Ý).
Toàn bộ cuộc đời Chúa Giêxu đã sống lệ thuộc hoàn toàn vào Cha Ngài là Đấng hành động qua Ngài bởi Đức Thánh Linh ở trong Ngài. Đó chính là phương cách mà Đức Chúa Trời có ý định cho tất cả loài người phải sống theo như vậy. Nếu Chúa Giêxu đã từng chịu nỗi một cám dỗ nào hoặc thực hiện một phép lạ nào bằng cách dùng chính thần quyền của Ngài thì Ngài đã không còn hành xử như một con người thật sự và Ngài sẽ không đủ tư cách để Chính mình Ngài là Cứu Chúa của loài người (Xem GiGa 5:19, 30).
Bây giờ chúng ta xem một lý do khác khiến Đức Chúa Trời đã phải trở thành con người.
2. Ngài phải là một người có thể chết và bằng lòng chết cho loài người.
Án phạt của tội lỗi là gì? Sự chết. Đức Chúa Trời có thể chết được không? Dĩ nhiên là không. Vì vậy kẻ mang lấy hình phạt cho con người phải là một con người thật sự cũng như là một Đức Chúa Trời thật sự.
Tác giả sách Hêbơrơ nói rằng bởi ân điển của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giêxu đã vì mọi người nếm sự chết (HeDt 2:9).
Phi Pl 2:8 tuyên bố: "Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự"
Không những Chúa đã có thể chết cho loài người mà Ngài còn sẵn sàng làm điều đó. Có được một người bạn có thể hiến mạng sống của Người ấy cho bạn là một việc, song tìm được một người sẵn sàng chết thay cho bạn lại là một điều hoàn toàn khác!
Chúa Giêxu được sinh ra để chịu chết!
Hết thảy chúng ta đều sẽ đối diện với sự chết như là hậu quả của bổn tánh bị sa bại của mình. Nhưng Chúa Giêxu biết rằng khi Ngài đến trong thế gian thì sứ mạng chính của cuộc đời Ngài là để chết cho loài người (HeDt 10:5-10). Thật là kinh khủng khi điều đó đợi chờ suốt cả cuộc đời mình. Tuy nhiên Kinh Thánh cho chúng ta biết, ấy chính vì sự vui mừng đã đặt trước mặt Ngài mà Ngài đã chịu lấy sự sỉ nhục và đau đớn của thập tự giá (12:2). Sự vui mừng ấy là vì Ngài thấy trước được sự chuyển dời tất cả những vật cản giữa Đức Chúa Trời và loài người để đem lại một sự hòa giải.
3. Đức Chúa Trời đã trở thành con người để làm Đấng Trung Bảo. Kẻ Trung Bảo là người thực hiện một sự hòa giải giữa các phe phái bất hòa. Phaolô viết cho Timôthê rằng "Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giêxu Christ, là người." (ITi1Tm 2:5).
Lui lại sách Gióp, "người trung gian", hay "người trung bảo" (trọng tài) đã cho chúng ta thấy rằng để trở thành người trung gian, thì cần phải có sự ngang bằng với cả hai nhân vật có can dự vào việc hòa giải (Gióp đoạn 9). Đấng có thể đem con người và Đức Chúa Trời lại cùng nhau phải đạt đến tiêu chuẩn của cả hai.
Tiêu chuẩn này đã mau chóng thu hẹp lại cho một Đấng duy nhất trong lịch sử của muôn loài vạn vật. Đó là Đức Chúa Giêxu Christ, Đấng Thần Nhân. Đấng trung bảo này phải là Con Một vô tội của Đức Chúa Trời để có được bổn tánh công bình mà Đức Chúa Trời thánh khiết chấp nhận được trong việc hòa giải. Chúa Giêxu đã có bản tánh toàn hảo đặc biệt đó, và như một lời xác nhận cho sự thật đó, khi Ngài chịu phép báp têm ở tại sông Giôđanh, một tiếng phán từ trên trời đã phán rằng "Này là Con Yêu Dấu Của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng" (Mat Mt 3:17).
Đấng Trung Bảo cũng phải cảm thông được với tình trạng nan giải của con người, vì vậy người ấy cũng phải là một con người thật sự, song là một con người không hề phạm tội.
Chúa Giêxu đã là con người đó.
4. Đức Chúa Trời đã phải trở thành một con người để làm một thầy tế lễ. Thầy tế lễ là một người thay mặt trong cuộc xét xử của nhân loại để đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ngài phải từng trải mọi thử thách và cám dỗ của loài người để làm một Đấng cầu thay có thể cảm thông và có thể hiểu biết được cho loài người.
Sáu đoạn trong Sách Hêbơrơ đều được dành để thảo luận về chức tế lễ của Chúa Giêxu (Hêbơrơ đoạn 4,5,7,8,9,10). Nhưng có sáu câu tóm tắt được công tác của Chúa Giêxu như là chức thầy tế lễ thượng phẩm của nhân loại.
"Vả lại, số các thầy tế lễ (những người từng sống trong lịch sử đã qua của Ysơraên) rất nhiều, song vì cớ sự chết, nên không giữ luôn được chức vụ. Nhưng Ngài (Chúa Giêxu), vì hằng có đời đời nên giữ lấy chức tế lễ không hề đổi thay.
"Bởi đó, Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy."
"Đy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm (Chúa Giêxu) mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời, không như các thầy tế lễ thượng phẩm khác (đời xưa) cần phải hằng ngày dâng tế lễ, trước vì tội mình, sau vì tội dân, Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ.
"Vì luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm thầy tế lễ thượng phẩm, nhưng lời thề có sau luật pháp thì lập Con, là Đấng đã nên trọn lành đời đời (HeDt 7:23-28).
Chúa Giêxu là thầy tế lễ thượng phẩm Đấng đứng vào chỗ của chúng ta. Ngài biết được phải sống dưới các áp lực và những cám dỗ là như thế nào "Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng" (4:15, 16).
5. Ngài đã phải trở thành con người để làm người mặc khải về Đức Chúa Trời.
Loài người, vì chết mất phần tâm linh, nên đã mất cả bất cứ khái niệm chính xác nào về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã phải trở thành hình hài trông thấy được để cho tâm hồn chúng ta có thể nắm bắt được, và Chúa Giêxu là Đức Chúa Trời được làm thành thực hữu trong hình hài loài người.
Chúa Giêxu đã nói về Ngài rằng "Ai đã thấy ta, tức là đã thấy Cha. Ta với Cha là một (GiGa 14:9, 10:30). Trong một ý nghĩ rất thật, Chúa Giêxu là một hình ảnh sống động về Đức Chúa Cha. Tất cả những gì mà Đức Chúa Trời muốn mặc khải về chính Ngài thì Ngài đã tỏ bày ra trong thân vị của Con Ngài, là Chúa Giêxu.
Nhưng Chúa Giêxu không những chỉ mặc khải về Đức Chúa Cha cho con người, mà Ngài cũng mặc khải về chương trình của Đức Chúa Cha dành cho sự cứu chuộc của nhân loại (HeDt 1:1-3).
6. Ngài đã phải trở thành người để chiếm giữ ngôi nước của vua Đavít. Đời xưa, Đức Chúa Trời đã hứa cùng Đavít rằng Ngài sẽ có một con trai cao cả hơn, là người sẽ ngồi trên ngôi nước của ông mà trị vì cả Ysơraên (xem ISu1Sb 17:11-15 và EsIs 9:6-7). Vì vậy mà Chúa Giêxu phải được sanh ra như một dòng dõi có huyết thống trực hệ với vua Đavít nhằm làm ứng nghiệm lời tiên tri ấy.
Khi vị thiên sứ phán với Mari về bào thai mầu nhiệm phải diễn ra trong tử cung mình, về con trẻ, thiên sứ phán: Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao, và Chúa là Đức Chúa Trời sẽ ban cho Ngài ngôi Đavít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Giacốp, nước Ngài vô cùng" (LuLc 1:32, 33).
Cả Mari lẫn Giôsép, chồng bà, đều thuộc dòng trực hệ của vua Đavít. Qua Mari, Chúa Giêxu đã nhận được quyền để hưởng ngôi Đavít về huyết thống và qua người chồng của Mari - là Giôsép - thực hiện vai trò cha về phần xác của Chúa Giêxu, Ngài nhận được quyền hợp pháp.
7. Đức Chúa Trời phải trở thành người để làm "Đấng cứu chuộc bà con"
Đây là một khái niệm đã được dạy dỗ trong Cựu ước, đặc biệt là trong sách Rutơ. Theo luật pháp Môise, hễ một người Giuđa bị bán làm nô lệ, thì người duy nhất có thể trả giá chuộc để giải phóng người đó phải là người "bà con gần" (LeLv 25:25). Điều này đã lập thành nguyên tắc trong trường hợp của nhân loại đó là hễ ai vui lòng làm người giải phóng nhân loại khỏi tình trạng nô lệ cho Satan thì người ấy sẽ trở thành "người bà con gần" của những người đã được giải phóng. Trong việc mang lấy bản tánh con người, Chúa Giêxu đã trở thành "một người bà con" với loài người và đủ tư cách để trở thành "người cứu chuộc bà con". Đây là một trong những lý do khiến Chúa Giêxu ưa thích gọi chính mình là Con Người.
CHÚA GIÊXU, ĐẤNG THẦN NHÂN
Trong hai chương vừa qua, chúng ta đã xem xét hàng loạt những bằng chứng bày tỏ rõ ràng lý do vì sao Đức Chúa Trời cần thiết phải đến trong thế gian này và mang lấy thân xác con người. Chúng ta cũng đã thấy rằng nhân tính trọn vẹn đã được chuẩn bị cho con người để sống trong ba mươi ba năm trên trần gian này không ai khác hơn là Chúa Giêxu người Naxarét.
Chúa Giêxu tin chắc Ngài là Đức Chúa Trời hiện thân (trong xác thịt) Ngài phán rằng Ngài từ Đức Chúa Trời mà đến (GiGa 6:38, 51, 16:27, 28 17:5) và Ngài chính là Đức Chúa Trời (10:30, 20:26-29, Mac Mc 14:61, 62). Ngài nhận sự tôn thờ (Mat Mt 8:2, 3, 9:18, 14:33) và phán với loài người rằng Ngài tha tội cho họ, là việc chỉ có Đức Chúa Trời mới có quyền làm (Mac Mc 2:5-12, Mat Mt 9:1-8).
Ngài nói tiên tri rằng Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết (27:62-66, Mac Mc 8:31, 32, 9:31) và Ngài đã làm ứng nghiệm. Ngài phán rằng Ngài sẽ trở về nhà Cha Ngài để chuẩn bị chỗ ở cho con cái Ngài và rồi Ngài sẽ đích thân trở lại trần gian và đem họ đi với Ngài về thiên đàng (GiGa 14:1-3, Cong Cv 1:10, 11)
NGÀI CÓ NÓI SỰ THẬT CHĂNG?
Bây giờ, bạn có suy nghĩ gì về một con người đã phán mọi điều đó về Chính Mình? Bạn không thể gạt bỏ điều đó chỉ vì bạn không muốn có ý kiến về sự chân thật và sự lành mạnh của Ngài. Bạn phải đi đến một kết luận nào đó trong chính tâm trí mình về Chúa Giêxu.
Như C.S. Lewis, vị học giả uyên thâm người Anh, trong quyển sách kỳ diệu của ông Chỉ Có Cơ Đốc Giáo đã nói về Chúa Giêxu "Tôi hiện đang cố gắng ngăn ngừa bất kỳ ai nói một điều thật ngu xuẩn mà người ta thường nói về Chúa Giêxu, đó là "Tôi sẵn sàng chấp nhận Giêxu là một giáo sư vĩ đại về đạo đức, nhưng tôi không chấp nhận lời tuyên bố của Ngài rằng Ngài là Đức Chúa Trời. Đó là một điều mà chúng ta không được nói. Nếu một con người chỉ là người mà nói được những điều như Chúa Giêxu đã nói thì người ấy không phải là một giáo sư đạo đức vĩ đại. Hoặc người ấy là một người điên - thật thà mà nói, với một người bảo mình là một cái trứng kho hoặc người ấy phải là Quỷ sứ của Địa Ngục. Bạn phải có sự chọn lựa. Hoặc nhân vật này đã và hiện là Con của Đức Chúa Trời hoặc anh ta là một người điên hay một điều gì đó tệ hại hơn nữa. Bạn có thể bảo Ngài là một kẻ xuẩn n gốc hãy ngậm miệng lại, bạn có thể nhổ vào mặt Ngài và giết Ngài như một kẻ độc ác hoặc là bạn có thể phủ phục dưới chân Ngài và xưng Ngài là Chúa và là Đức Chúa Trời. Nhưng xin chúng ta đừng xảy ra bất cứ một sự càn dỡ, vô nghĩa nào ủng hộ ý tưởng cho rằng Ngài chỉ là một giáo sư đạo đức vĩ đại. Ngài chưa hề bày tỏ điều đó cho chúng ta. Ngài không hề có ý định đó". (1)
(1) (C.S. Lewis, Chỉ Có Cơ Đốc Giáo (Nữu Ước: Công ty Macmillan 1943)


SỰ LÀM NGUÔI CƠN GIẬN
Trong hai chương sau cùng, chúng ta đã xem xét lý do vì sao Đức Chúa Trời đã phải trở thành con người và vì sao con người đó không thể là ai khác hơn ngoài Chúa Giêxu.
Bây giờ tôi muốn bày tỏ vì sao Chúa Giêxu đã phải bước lên thập tự giá, vì sao không có một phương cách nào khác để cho Đức Chúa Trời hòa giải loài người với chính Ngài.
Trong hình ảnh trình bày ở bên trên, tôi muốn cho bạn thấy rằng công việc đầu tiên của Đấng Christ ở tại thập tự giá được gọi là "sự làm nguôi cơn giận". Bạn đừng sợ vì nghe từ ngữ này. Đó là một chữ thật đẹp đẽ có nghĩa là "bỏ qua cơn thạnh nộ bởi có một sự làm thỏa mãn được việc vi phạm luật công bình" Tự điển Webster định nghĩa chữ này như làm xoa dịu và hoàn trả cách thích đáng để làm nguôi giận và giải hòa.
Bạn lưu ý, bức tranh minh họa trên đã cho thấy vai trò làm nguôi cơn giận của Đấng Christ, Ngài đã dời chuyển được vật cản xúc phạm bản tánh của Đức Chúa Trời. Bởi vì khi Chúa Giêxu bị treo trên thập tự, Ngài đã gánh lấy cơn giận công bình của Đức Chúa Trời nghịch cùng mọi thứ tội lỗi cả nhân loại. Nay Đức Chúa Trời không còn đổ thạnh nộ trên loài người nữa. Sự công bình của Ngài đã được thỏa mãn vì mọi tội lỗi đã được trả xong.
Sự làm nguôi cơn giận đã dời chuyển được cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời
CƠN THẠNH NỘ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CÓ THẬT CHĂNG?
Tôi thật sửng sốt vì có quá nhiều nhà thần học ở đây đó vẫn đang bảo rằng "Ồ, nếu bạn dạy rằng sự làm nguôi cơn giận dời chuyển cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, thì bạn đang xây dựng cái khái niệm về một Đức Chúa Trời nhỏ mọn, thích được xoa dịu".
Đy là bởi vì họ chỉ muốn nghĩ đến một Đức Chúa Trời yêu thương, nên họ tìm cách gạt bỏ sự việc Kinh Thánh nhắc nhở sâu xa về lẽ thật cơn giận công bình của Đức Chúa Trời nghịch cùng tội lỗi. Chỉ riêng trong Cựu ước, cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng tội lỗi đã được nhắc đến 585 lần.
Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời cũng là một thực tại rất quan trọng trong Tân ước, song nhằm nhấn mạnh đến vai trò làm nguôi cơn giận của Đấng Christ là vai trò đã chuyển dời cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời khỏi loài người (Xem GiGa 3:36, RoRm 9:22, Eph Ep 5:6, CoCl 3:6)
Vì là con người nên chúng ta không luôn luôn xem xét mọi việc được biểu hiện như là trắng, đen rõ ràng. Song nhiều lúc chúng ta đã để cho cảm xúc của mình làm mờ đi sự phán đoán của mình.
Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng Tối Cao và là Đấng phán xét vũ trụ cách công bình, Ngài phải hướng cơn thạnh nộ của Ngài nghịch cùng tội lỗi ở bất cứ nơi nào có tội lỗi và trong bất cứ con người nào phạm tội. Ngài không thể để cho tình yêu của Ngài dành cho con người làm tổn hại đến sự đoán phạt công bình của Ngài đối với tội lỗi của con người.
Ví dụ, tôi biết một vị thẩm phán nọ, ông ta là một con người rất nhân hậu và đáng mến, thật sự có lòng cảm thông với các nhu cầu của con người. Ông ta sẵn sàng bỏ qua và gạt đi những sai sót người ta đối cùng ông trong phạm vi gia đình hoặc bạn bè của ông. Nhưng khi ông thực sự đảm đương vai trò của một vị thẩm phán thì ngay cả khi một thành viên trong gia đình ông vi phạm luật, ông cũng đã không thể bao che sự bê bối của họ mà không thi hành hình phạt. Nếu làm vậy, ông ta không còn đủ tư cách để xét xử nữa. Một vị thẩm phán mà tỏ ra thiên vị hoặc không công bằng trong trách nhiệm thi hành luật pháp thì bất cứ xã hội nào cũng không thể chấp nhận được.
Trong trường hợp của Đức Chúa Trời cũng giống như vậy, Ngài không những chỉ là Đấng tạo hóa của chúng ta, song còn là Đấng phán xét vạn vật vũ trụ. Vì thế, Ngài không có quyền tự do vi phạm chính những luật lệ vốn xuất phát từ bổn tánh của Ngài. Nếu làm vậy, vũ trụ vạn vật sẽ bị đảo lộn. Và sẽ không còn gì những tiêu chuẩn tuyệt đối mà tất cả mọi người có thể tin cậy vào.
Không! Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời là sự thật, nhưng cũng là giải pháp của Ngài - Sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá đã làm nguôi cơn thịnh nộ.
SỰ LÀM NGUÔI CƠN GIẬN ĐƯỢC ĐỀ XUẤT
Bởi vì khái niệm làm nguôi cơn giận này còn quá mới mẻ đối với nhiều người, chúng ta hãy xem xét vấn đề đó một cách sâu sắc hơn. Những câu Kinh Thánh chính yếu trong Tân Ước dạy về giáo lý làm nguôi cơn giận này là RoRm 3:25, 26.
Có hai điểm quan trọng mà tôi muốn nhấn mạnh về sự làm nguôi cơn giận. Thứ nhất, Kinh Thánh phán rằng Đấng Christ đã chịu chết để làm thỏa mãn sự công bình đã bị xâm phạm và làm thỏa mãn sự công chính của Đức Chúa Trời và để xây bỏ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời khỏi những kẻ tin Ngài, kể cả những kẻ tin ở trong thời Cựu Ước, là những người sống trước thập tự giá! Đó là ý nghĩa của lời được phán trong đoạn này "Đức Chúa Trời đã bỏ qua những tội phạm ngày trước" Đức Chúa Trời đã đặt tội lỗi của các thánh sống trong thời Cựu Ước theo một khế ước mới đảm bảo được trả trước bởi lời hứa về Đấng Cứu Thế sẽ đến (Xem EsIs 53:1-12, Gie Gr 31:31-34).
Nhưng điểm nhấn mạnh thứ hai trong Rôma đoạn 3 này là Chúa Giêxu đã được phô bày "giữa công chúng" như một sự làm nguôi cơn giận. Đức Chúa Trời đã thực hiện điều đó để cho cả thế gian đều biết rằng bổn tánh bị xúc phạm của Ngài đã được giải hòa bởi sự chết của Chúa Giêxu và bây giờ Đức Chúa Trời đã có quyền hoàn toàn để tuyên bố sự công bình cho tất cả những ai tin vào sự chết thay của Con Ngài dành cho họ.
LỀU TẠM TRONG ĐỒNG VẮNG
Có lẽ ví dụ rõ ràng nhất trong Kinh Thánh khi hình dung đến ý nghĩa của sự làm nguôi cơn giận được tìm thấy trong phần tương ứng của Cựu Ước. "Sự làm nguôi cơn giận" theo tiếng Hy Lạp là hilasterion tương tự với chữ "chỗ thương xót" theo tiếng Hêbơrơ trong bản Cựu Ước.
"Chỗ thương xót" (Ngôi Thi Ân) là một trong những vật dụng Đức Chúa Trời truyền cho Môise xây dựng và đặt để vào một vị trí riêng biệt của việc thờ phượng trong đồng vắng. Kiến trúc thờ phượng đặc biệt này là một công trình giống như cái lều trại dễ chuyển dời để phục vụ cho những người Hêbơrơ trong việc thờ phượng Đức Chúa Trời của họ trong cuộc hành trình bốn mươi năm trong đồng vắng Sinai được gọi là "Đền Tạm". Đó là nơi Đức Chúa Trời đã ngự xuống để gặp gỡ loài người qua sự cầu thay của thầy tế lễ thượng phẩm của họ, và là nơi con người đến gặp Đức Chúa Trời để được tha tội qua thể thức dâng hiến thú vật, là điều Đức Chúa Trời đã truyền bảo Môise thiết lập.
Mọi vật thuộc về Đền Tạm và các vật dụng (khí mạnh) phụ tùng đều được định ý để mô tả theo một phương cách tạm thời về điều mà một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ thực hiện cách vĩnh viễn. Những sinh tế bằng thú vật sẽ còn có giá trị cho đến khi nào Đức Chúa Trời một ngày kia sẽ cung ứng chiên con mà Ngài chọn.
"Chiên Con" đó chính là Chúa Giêxu, Con Ngài. Và Giăng Báp Tít đã nói về Chúa Giêxu khi ông nhìn thấy Ngài đi đến "Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời là Đấng sẽ cất tội lỗi của thế gian đi" (GiGa 1:29).
KHÍ MẠNH CỦA LÊ VI VÀ CÁC CON ÔNG
Có một số những món đồ về khí mạnh quan trọng trong hai gian của Đền Tạm mà chi phái làm chức tế lễ Lêvi đã sử dụng hàng ngày trong việc họ cầu thay cho dân sự.
Những đồ vật quan trọng nhất trong toàn bộ Đền Tạm đã được đặt ở phòng trong được gọi là "Nơi Chí ThánhÕ. Đây là nơi Đức Chúa Trời hiện diện khi Ngài ngự xuống trên đất, và đó là chỗ "làm nguôi cơn giận" dành cho Đức Chúa Trời. Vật thể trung tâm trong chốn này là một chiếc rương làm bằng cây si tim khá nhỏ, được bọc vàng. Đức Chúa Trời đã ban truyền những chỉ dẫn chính xác và cách làm "Chiếc rương Giao ước" này. Bạn có thể học biết các chi tiết cấu trúc của nó trong Xuất Êdíptô ký đoạn 25.
Mọi điều về món khí mạnh trọng tâm này đều làm biểu tượng về Con người và công việc của Chiên Con hầu đến của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Giêxu Christ. Gỗ cây đặc trưng cho nhân tính của Ngài, vàng là thần tính của Ngài. Phần trên hay là nắp rương là vàng ròng và trở thành được biết như là nắp "thi ân" là từ hilasterion mà Tân Ước diễn tả như là nơi làm nguôi cơn giận.
Đức Chúa Trời không để điều gì ngẫu nhiên trong bản thiết kế chi tiết \cấu trúc chiếc Rương Giao Ước mà Ngài giao cho Môise. Mỗi một chi tiết nhỏ nhặt của nó đều giữ một ý nghĩa của biểu tượng không ngờ được trong kế hoạch đời đời của Đức Chúa Trời để cứu chuộc loài người bị sa ngã.
Điều cực kỳ có ý nghĩa đó là mô hình về hai thiên sứ được gọi là "chê-ru-bin" được làm đối diện nhau với hai cánh xòe ra và xây mặt vào nắp thi ân. Bên dưới nắp thi ân, trong chính chiếc rương, là ba thứ lạ lùng đã được tả ra trong HeDt 9:1-6 cho chúng ta.
BÁNH MA NA CHO MỌI MÙA
Trước hết, Đức Chúa Trời bảo Môise đặt vào trong rương một bình đựng bánh ma na. Bạn còn nhớ ma na là một thứ lương thực mà Đức Chúa Trời cung cấp cho dân Ysơraên suốt bốn mươi năm giới hạn trong đồng vắng. Thoạt đầu, dân sự đã hoan hỉ đón nhận sự cung ứng huyền diệu này, nhưng chẳng bao lâu sau họ đã bắt đầu phàn nàn về nó và đòi hỏi có thay đổi trong loại thực phẩm thường lệ của họ.
Họ lằm bằm: "Ôi, ước chi chúng ta có được những thứ đồ ăn ngon lành đã từng ăn ở tại Ai Cập".
Thái độ của họ đã thật sự chọc giận Đức Chúa Trời. Thế mà, rốt lại không một ai mắc bệnh trong bốn mươi năm đó, vậy đó phải là thức ăn giàu dinh dưỡng.
Vì vậy Đức Chúa Trời đã phán rằng: "Hãy cho ma na vào bình và đặt nó vào rương". Điều đó đã trở thành một biểu tượng về sự từ chối của con người trước những cung ứng về vật chất của Đức Chúa Trời.
CÂY GẬY ĐỂ GHI NHỚ
Thành phần thứ hai trong rương bắt nguồn từ một sự dấy loạn bên trong trại của dân Ysơraên chống lại quyền lãnh đạo của Môise và Arôn (Dan Ds 16:1-17:13). Sau khi Đức Chúa Trời đã xử lý những kẻ chủ mưu dấy loạn, Ngài đã gọi những người lãnh đạo chi phái đến trước mặt Môise. Biểu tượng của quyền lãnh đạo là một chiếc gậy hoặc cây gỗ. Môise đã lấy một chiếc gậy từ nơi mỗi chi phái và để cả mười hai cây vào trong Đền Tạm qua một đêm. Cây gậy của người nào đâm chồi thì đó là người Đức Chúa Trời muốn chọn làm vị lãnh đạo.
Ngày hôm sau, khi các cây gậy được mang ra từ Đền Tạm, thì cây gậy của Arôn đã đâm chồi. Dầu vậy, dân Ysơraên cũng vẫn không chịu tuân phục quyền lãnh đạo của Môise và Arôn, và cây gậy của ông đã được đặt vào trong rương để nhắc nhở sự khước từ của con người đối với quyền lãnh đạo của Đức Chúa Trời.
BẢNG ĐÁ BIẾT NÓI
Thành phần thứ ba trong rương là hai bảng đá mà trên đó có khắc ghi Mười Điều Răn. Sau khi Môise đã nhận hai bảng Luật Pháp cho chính ngón tay Đức Chúa Trời viết ra, ông từ trên núi xuống, song chỉ để thấy dân sự đang rối loạn và thờ hình tượng. Tội lỗi trắng trợn của dân sự đã chọc giận Môise quá sức, ông đã liệng hai bảng đá xuống đất và nó bể nát. Về sau, Đức Chúa Trời đã viết lại các điều răn trên vầng đá và đã đặt chúng vào trong rương như biểu tượng của việc con người từ khước sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.
Chiếc rương, vì vậy, chứa đựng những vật đại diện cho toàn bộ tội lỗi của con người.
Bánh ma na, là sự từ chối của con người về những sự cung ứng của Đức Chúa Trời thuộc về đất.
Cây gậy của Arôn, là sự từ chối của con người đối với quyền lãnh đạo của Đức Chúa Trời.
Hai bảng luật pháp, là sự từ chối của con người đối với sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.
ĐẠI LỄ CHUỘC TỘI
Rương Giao Ước được đặt trong nơi Chí Thánh, gian trong của Đền Tạm. Cả thế gian chỉ có một người độc nhất được phép vào nơi đó, là thầy tế lễ thượng phẩm của Ysơraên và người ấy một năm chỉ một lần vào Ngày Đại Lễ Chuộc Tội. Vào ngày đó, ông ta sẽ lấy huyết của con sinh và rưới lên trên nắp thi ân.
Các Chêrubin trong Kinh Thánh luôn được liên hệ với sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, như là những người canh giữ và là những tôi tớ riêng của Ngài (Exe Ed 1:1-28 SaSt 3:24). Dường như một Chêrubin lượn trên nắp thi ân được đại diện cho sự công bình tuyệt đối của Đức Chúa Trời, và một Chêrubin kia là đại diện cho sự ngay thẳng trọn vẹn của Ngài.
Khi Chêrubin của sự công bình nhìn vào các biểu tượng trong rương, thì thấy tất cả những bằng chứng về sự từ chối của con người đối với Đức Chúa Trời. Chêrubin của sự công chính nhìn thấy rằng con người không còn ưa thích sự công bình của Đức Chúa Trời nữa và đã tuyên bố án phạt của sự chết trên con người.
CƠN THẠNH NỘ ĐÃ TRỞ THÀNH ƠN THƯƠNG XÓT NHƯ THẾ NÀO
Nhưng trong Ngày Lễ Chuộc Tội, các thiên thần đã thấy gì? Các biểu tượng của tội lỗi chăng? Không phải. Họ đã nhìn thấy huyết của một con sinh vô tội được làm nên thánh che phủ các biểu tượng của tội lỗi. Bây giờ sự công chính phán rằng "Ta được thỏa mãn, bởi vì hình phạt của sự chết đã được trả xong". Sự công bình phán "Ta không còn bị xúc phạm bởi vì bằng cớ tội lỗi của con loài người đã được che phủ khỏi mắt ta và ta chỉ nhìn thấy huyết của con sinh vô tội thay thế là sinh tế đã trả thay án phạt sự chết đòi hỏi.
Còn một điều nữa, là một biểu tượng rất quan trọng ở đây. Cái nắp bằng vàng (thi ân) có thể được ví sánh như là ngai của Đức Chúa Trời trên trần gian, bởi vì Ngài phán Ngài sẽ ngự giữa Chêrubin.
"Ta sẽ gặp ngươi tại đó, và ở trên nắp thi ân, giữa hai tượng Chêrubin, trên hòm bảng chứng..." (XuXh 25:22).
Cho đến khi nào huyết của thú vật chưa được rưới lên trên nắp thi ân, thì ngai ngự này của Đức Chúa Trời vẫn còn được xem như là nơi phán xét. Nhưng bởi đã được che phủ bởi huyết một năm một lần, nơi đó đã trở thành ngai thi ân, hay là nơi thi ân. Bây giờ, Đức Chúa Trời đã có thể ngự trên ngai ấy và bày tỏ một khía cạnh trong bổn tánh Ngài được gọi là "thương xót" bởi vì sự công bình và ngay thẳng đã được thỏa mãn hoàn toàn bởi huyết mà Ngài đã làm cho nên thánh!
"Ta sẽ ở trong mây hiện ra trên nắp thi ân". Đức Chúa Trời đã phán trong LeLv 16:2. Đây là nơi mà con người xa lạ bây giờ có thể gặp gỡ Đức Chúa Trời qua môi giới của sinh tế.
Việc dùng biểu tượng được thể hiện trong thể thức dâng sinh tế và trong sự thờ phượng tại Đền Tạm thật là đẹp đẽ. Qua hình ảnh này của Cựu Ước, những kẻ tin Chúa đã học hỏi được nhiều điều về bản tánh của Đức Chúa Trời, về Đấng Cứu Thế của Ngài và phương cách mà Đức Chúa Trời một ngày kia sẽ thực hiện để làm trọn công cuộc cứu rỗi của Ngài.
HÌNH BÓNG CỦA NHỮNG ĐIỀU HẦU ĐẾN
Tôi sẽ đi vào một số chi tiết về Đền Tạm, đặc biệt là về Chiếc Rương Giao Ước, vì những điều được viết về các vật ấy là "hình và bóng của những sự trên trời". Thật vậy, đó là lý do vì sao Môise đã được Đức Chúa Trời căn dặn khi ông chuẩn bị dựng Đền Tạm rằng ông phải làm mọi sự chính xác theo kiểu mẫu mà Đức Chúa Trời đã chỉ bảo ông khi ông còn ở trên núi Sinai. Nó phải được khuôn rập và là ảnh tượng về những việc thật sự hiện hữu ở trên trời (HeDt 8:5).
Mạng lệnh ấy mang một tầm quan trọng lớn lao khi chúng ta khởi sự phân tích các chức năng khác nhau của Đền Tạm và cố gắng tìm hiểu những lẽ thật sâu xa hơn mà đã được "làm hình bóng trước". Chúng ta phải ghi nhớ rằng bất cứ điều gì đã được ban truyền trong biểu tượng và khuôn mẫu của Đền Tạm trên đất là nơi Đức Chúa Trời đã ngự, thì cũng được ban truyền hoặc sẽ có trong tương lai, trong đền thờ trên trời là nơi hiện nay Đức Chúa Trời ngự trị.
CHÚA JESUS LÀ HÌNH THẬT
Một lý do khiến tôi thường sa lầy và mất hàng tháng trong việc dạy các bài học về Đền Tạm trong các lớp học về Cựu Ước là vì mỗi một chức năng và biểu tượng của việc thờ phượng trong Đền Tạm được tìm thấy sự ứng nghiệm sâu xa hơn của nó trong cuộc đời, trong sự chết và sự sống lại của Đức Chúa Giêxu Christ. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể lên kế hoạch cách quá toàn hảo về mối tương quan giữa "hình bóng" và hình thật cuối cùng thật chi tiết và chính xác như vậy.
Nếu bạn muốn có một bài nghiên cứu hấp dẫn và bổ ích về mọi phương cách trong đó Chúa Giêxu đã làm ứng nghiệm các khuôn mẫu được vẽ ra trong Đền Tạm, thì tôi đề nghị bạn hãy đọc quyển "Đền Tạm, Sự Miêu Tả Sinh Động của Đức Chúa Trời về Đấng Christ" Dr. J. Vernon McGee.
Tôi cũng đề nghị bạn hãy đọc xuyên suốt sách Hêbơrơ, bởi vì chính trong sách này mà phần lớn các khuôn mẫu ấy đã được làm sáng tỏ cho chúng ta.
Tác giả Tân Ước, người viết sách Hêbơrơ đã xem đối tượng chính của mình là hàng trăm người Hêbơrơ là những người đã công nhận Chúa Giêxu là Đấng Mê-Si được hứa ban. Chính ông ta cũng phải là người Do Thái thì mới có một sự hiểu biết trọn vẹn như thế về mối tương quan giữa các biểu tượng về sự thờ phượng trong thời Cựu Ước với sự ứng nghiệm của Đấng Christ về các điều đó.
THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM TRỌN VẸN DUY NHẤT
Bởi vì mối quan tâm đặc biệt của chúng ta trong chương này là bàn đến công tác làm nguôi cơn giận của Đấng Christ cho con người, cho nên tôi muốn đặt trọng tâm vào vai trò của Ngài là thầy tế lễ thượng phẩm.
Trong sự thờ phượng nơi Đền Tạm, phận sự của thầy tế lễ thượng phẩm chính là mỗi năm một lần vào trong nơi Chí Thánh và rưới huyết của một con sinh vô tội lên nắp thi ân để bởi đó nhận được sự thương xót của Đức Chúa Trời dành cho dân sự trong một năm nữa.
Bạn hãy lắng nghe điều mà tác giả sách Hêbơrơ nói về Chúa Giêxu:
Nhưng Đấng Christ đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau này, Ngài đã vượt qua Đền Tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời này. Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời (9:11, 12).
Tầm quan trọng của lời tuyên bố này là hết sức lớn lao! Chúa Giêxu, thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta, đã thật sự vào trong nơi Chí Thánh trên trời với huyết của một sinh tế vô tội, đó là HUYẾT CỦA CHÍNH NGÀI. Tại đó Ngài đã rưới huyết ấy trên nơi thi ân trong đền thờ ở trên trời, và đã nhận được không phải chỉ sự tha thứ tạm thời, kéo dài một năm cho loài người, mà là một sự cứu chuộc đời đời. Và lời ấy nói rằng Ngài đã làm điều đó "một lần thì đủ hết" có nghĩa là không bao giờ còn phải làm lại lần nữa, như các thầy tế lễ trước kia đã phải làm.
Bạn hãy suy nghĩ điều đó!
Hành động này của Chúa Giêxu, thầy tế lễ thượng phẩm và Chiên Con đã thỏa mãn được sự ngay thẳng và công bình của Đức Chúa Trời đến đời đời. Huyết linh nghiệm vô cùng của Ngài đã được ghi khắc nơi Ngai của Đức Chúa Trời để cho nó sẽ mãi mãi nhắc nhở rằng cơn thịnh nộ của Ngài đã đổ trọn trên tội lỗi của con người rồi.
Huyết của Chúa Giêxu là sự bảo đảm của chúng ta rằng Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ còn nổi giận một lần nữa với bất cứ kẻ nào tin nơi Chúa Giêxu là Cứu Chúa của cá nhân mình. Huyết của Chúa Giêxu đã biến chiếc Ngai của Đức Chúa Trời từ ngai đoán xét trở nên ngai thương xót.
Sự chết thay của Đấng Christ đã dời bỏ vật cản xúc phạm bổn tánh của Đức Chúa Trời cho hết thảy loài người - tức là cả thế gian - cơn giận của Đức Chúa Trời đã được xoa dịu và hiện nay Ngài được tự do để giao thông với mỗi con người một cách cá nhân dựa trên nền tảng của ân điển. Nếu một người nào còn bỏ phí cả cõi đời đời bị phân cách với Đức Chúa Trời, thì đó không phải là vì cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Mà đó là vì người ấy đã không sẵn sàng chính mình cho lòng thương xót của Đức Chúa Trời đã được thực hiện qua sự chết của Chúa Giêxu trên thập tự giá.


SỰ CỨU CHUỘC
Trong chương vừa qua, chúng ta đã thấy vật cản thứ nhất giữa Đức Chúa Trời và con người - là BẢN TÁNH THÁNH KHIẾT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI - đã bị phá đổ bởi sự làm nguôi cơn giận của Chúa Cứu Thế. Đó là việc làm của Đấng Christ khi dâng huyết mình tại ngôi thi ân trên trời và giành được sự tha thứ vĩnh viễn cho loài người bởi đã làm thỏa mãn cho sự thánh khiết đã bị xúc phạm của Đức Chúa Trời.
Sự Cứu chuộc là công việc của Đức Chúa Giêxu Christ thay cho chúng ta để (1) Vô hiệu hóa MÓN NỢ TỘI và (2) giải phóng chúng ta khỏi tình trạng LÀM NÔ LỆ CHO SATAN và cho bản tánh tội lỗi. Bạn hãy chú ý bức tranh minh họa cho thấy các vật cản này đã bị phá đổ bởi công lao cứu chuộc của Đấng Christ trên thập tự giá.
GIẤY NỢ
Trong chương bốn, khi bàn đến cách con người phải gánh chịu MÓN NỢ TỘI của mình, chúng ta thấy sứ đồ Phaolô, trong việc diễn tả sự mang nợ này, đã dùng một cảnh lấy ngay từ các tòa án La Mã.
Mỗi khi một công dân La Mã bị kết tội, thì luật pháp trong thời đó ra lệnh sửa soạn một "tờ Giấy nợ". Trên tờ giấy nợ đó những hành vi tội phạm phi pháp được liệt kê, từng điều một và hình phạt thích đáng mà người ấy phải nhận. Người ấy sẽ bị đưa vào tù và Tờ Giấy Nợ được đóng ngoài cửa phòng giam. Và nó cứ treo ở đấy cho đến khi nào người ấy ở đủ thời gian của mình và bởi đó trả xong hình phạt dành cho các tội phạm được liệt kê trên tờ Giấy Nợ.
Bạn hãy lắng nghe cách thuyết phục mạnh mẽ của Phaolô khi ông bày tỏ cho các thính giả rằng họ đã được tự do khỏi gánh nợ tội lỗi đối với Đức Chúa Trời "Khi anh em đã chết bởi tội lỗi mình và sự xác thịt mình không chịu cắt bì, thì Đức Chúa Trời đã khiến anh em sống lại với Đấng Christ, vì đã tha thứ hết mọi tội của chúng ta. Ngài đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta, các điều khoản trái với chúng ta nữa, cùng phá hủy tờ khế đó mà đóng đinh trên cây thập tự" (CoCl 2:13, 14).
Giấy nợ của chúng ta bao gồm các điều khoản - tức là các luật lệ của Đức Chúa Trời mà chúng ta vi phạm - và chúng nghịch cùng chúng ta - Các điều khoản ấy "chống lại" chúng ta bởi vì chúng ta không giữ được các điều ấy, mà không phạm phải một số điều - luật pháp Đức Chúa Trời không hề có sự gì sai trật. Thảy đều vẹn toàn. Song vấn đề nằm ở chỗ chúng ta bất năng để giữ theo các điều đó.
Phaolô đã cho chúng ta một bức tranh tuyệt vời về Chúa Giêxu, Ngài mang lấy Tờ Giấy Nợ của bạn và tôi và đóng đinh nó lên cây thập tự. Khi làm điều đó, chẳng khác gì tuyên bố rằng Ngài đã phạm mọi tội được liệt kê trên mỗi tấm giấy nợ của mỗi một con người đã từng được sinh ra. Không những Ngài đã tình nguyện mang tờ giấy nợ của chúng ta, mà Ngài cũng đã nhận lấy án phạt của chúng, đó là sự chết.
NGÀY ĐỊA CẦU ĐƯỢC GIẢI PHÓNG
Chúng ta hãy nhìn sơ qua cái ngày lịch sử đã làm thay đổi vĩnh viễn mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời và con người. Ngày Chúa Giêxu chịu chết.
Đây là cách sự việc đã xảy ra, Chúa Giêxu bị đóng đinh trên thập tự vào khoảng 9 giờ sáng, Ngài đã cầu nguyện cho những kẻ đã đóng đinh Ngài tại đó. Đoạn Ngài dự phòng trước cho mẹ Ngài, chuyển giao bà cho sứ đồ của Ngài là Giăng chăm sóc. Ngay trước buổi trưa Ngài bắt đầu cuộc đối thoại với hai tội phạm ở hai bên mình, và một trong hai người đã ăn năn quay lại với Đức Chúa Trời. Anh ta được Ngài hứa ban một chỗ ở trong nơi lạc viên, bắt đầu từ giờ phút anh qua đời.
Vào giữa trưa Đức Chúa Trời đã giăng một bức màn tối tăm khắp cả trái đất. Một sự tối tăm mù mịt. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời đã làm điều đó để cho không một ai tận mắt chứng kiến sự kinh khiếp về điều xảy đến với Chúa Giêxu khi Ngài chịu treo thân tại đó. Bởi vì trong giờ phút đó, toàn bộ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đã vây bọc Ngài khi Ngài cho phép tội lỗi của hết thảy nhân loại đều chất trên Ngài.
Cho đến giờ phút đó, Chúa Giêxu cũng đã không hề thốt ra một lời than thở.
Nhưng rồi, thật đột ngột, sự yên lặng bị phá vỡ và Chúa Giêxu kêu lớn lên trong nhân tính của Ngài "Eloi, Eloi, lama sabach thani" có nghĩa là "Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?"
Ngay lúc đó, Đức Chúa Trời đã lấy Tờ Khế Ước Nợ của hết thảy nhân loại từ lúc khởi thủy của loài người cho đến khi kết thúc lịch sử, và đóng đinh lên thập tự giá, khiến Chúa Giêxu phải chịu trách nhiệm về sự vi phạm mỗi điều một.
Và Đức Chúa Trời đã quay lưng khỏi chính Con Một của mình trong giờ đau thương lớn lao nhất, bởi vì Đấng Christ đã tình nguyện để Chính mình Ngài trở thành một kẻ tội phạm thay cho chúng ta và Đức Chúa Trời không thể có một mối tương giao với kẻ phạm tội dầu dưới hình thức nào cho đến khi sự cứu chuộc đã được hoàn thành.
Khi nào lên thiên đàng, tôi sẽ hỏi Chúa Giêxu: "Chúa ôi, điều gì đã thật sự xảy ra trong giờ tăm tối ghê sợ đó?"
Dẫu cho Ngài có giải thích cho tôi, thì tôi biết mình cũng sẽ không thể hiểu được cơn thạnh nộ của một Đức Chúa Trời thánh khiết khi trút hết lên Chúa Giêxu như một cuộc bùng nổ hạt nhân thì nó sẽ phải giống như điều gì.
Tiếng kêu của Ngài phát ra từ nỗi thống khổ tận đáy linh hồn, bởi vì đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong cả cõi đời đời. Ngôi Hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, tức là Chúa Giêxu, bị phân rẽ khỏi hai thân vị trong Ba ngôi Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh.
Không một ai từng bị cô độc như Chúa Giêxu khi Ngài ở tại trên cây thập tự. Ngài đã bị phân rẽ khỏi mọi con người mà Ngài từng yêu thương và tin cậy. Ngài bị những người bạn thân yêu nhất từ bỏ, bị Đức Chúa Trời và Chúa Thánh Linh từ bỏ, bị tất cả mọi người từ bỏ. Ngài bị treo tại đó trong sự cô đơn mà không hề có một ai đó dò được.
Bạn có biết vì sao Ngài đã chịu điều đó không?
Đy là để cho bạn và tôi không bao giờ còn phải bị cô đơn nữa. Bởi vì nhờ đó Ngài có thể nói với những người tin cậy Ngài rằng "Ta sẽ không bao giờ lìa ngươi, cũng chẳng hề từ bỏ ngươi" (HeDt 13:5).
TIẾNG KÊU RÚNG ĐỘNG THẾ GIỚI
Nhưng đó chưa phải là kết thúc câu chuyện.
Ngay trước khi Chúa Giêxu từ bỏ cuộc đời trên đất và phó thác linh hồn Ngài cho Đức Chúa Cha, Ngài đã kêu lên một lời là Tuyên Ngôn Tự Do cho tất cả mọi kẻ tin chân chính.
Tiếng kêu chiến thắng đó là "Tetelestail".
Xin hãy để từ ngữ ấy bùng cháy như là một mảnh gỗ đang cháy ở trong tâm trí bạn, bởi vì đó là từ ngữ có ý nghĩa chính xác tương đương mà vị thẩm phán La Mã viết vào Tờ Giấy Nợ của một tội phạm được phóng thích để chứng thực rằng tất cả hình phạt của người ấy đã được trả và cuối cùng người ấy đã được tự do. Từ ngữ được sử dụng theo cách đó có nghĩa là "trả đầy đủ" và được dịch trong nhiều bản Kinh Thánh là "Đã hoàn tất".
Trong tâm trí Đức Chúa Trời, dòng chữ "Đã trả đủ" đã được viết lên Tấm Giấy Nợ của mọi con người từng sống trên đất bởi vì món nợ người ấy mắc Đức Chúa Trời đã được Chúa Giêxu trả đầy đủ.
Song nếu một người dại dột đến nỗi cứ khăng khăng đòi ở trong tù bởi các tội lỗi của mình, thì dẫu cho món nợ của họ đã được trả rồi, thì tấm Giấy Nợ đảm bảo sự tự do cho người ấy cũng chẳng ích lợi gì cho người ấy cả, người ấy sẽ phải trả án phạt của sự chết và chịu sự phân cách với Đức Chúa Trời, mặc dầu đó là điều hoàn toàn không cần thiết.
MẶT KHÁC CỦA SỰ CỨU RỖI
Được xóa bỏ MÓN NỢ TỘI của mình là ích lợi thứ nhất do nơi công lao cứu chuộc của Đấng Christ trên thập tự giá. Song ích lợi thứ hai cũng ngang bằng với điều đó ấy là công cuộc cứu chuộc của Ngài đã giải thoát chúng ta ra khỏi tình trạng làm NÔ LỆ CHO SATAN và khỏi bản tánh tội lỗi ngự trị bấy lâu nay trong chúng ta.
"Sự cứu chuộc" là một từ ngữ rất thân thuộc ở trong thế kỷ thứ nhất bởi vì hầu hết phân nữa thế giới đều đã bị liên lụy vào trong tình trạng nô lệ hoặc cách này hay cách khác.
Từ ngữ ngọt ngào nhất mà một người nô lệ mong mỏi nghe được đó là chữ "sự cứu chuộc".
Bởi vì một trong những cản trở chính giữa Đức Chúa Trời và con người là TÌNH TRẠNG CON NGƯỜI LÀM NÔ LỆ CHO SATAN, các tác giả Tân Ước đã sử dụng một cách tự do ý niệm về sự cứu chuộc để mô tả công việc của Đấng Christ tại thập tự giá, là điều đã giành lại con người từ nanh vuốt của Satan.
Trong ngôn ngữ của người Hy Lạp có nhiều từ khác nhau dành cho chữ "cứu chuộc" nhấn mạnh đến các khía cạnh khác nhau của nó. Những từ ấy đều được dịch ra một chữ là "sự cứu chuộc" trong tiếng Anh của chúng ta. Nhằm đánh giá đúng cách đầy đủ về phạm vi của vấn đề tự do khỏi TÌNH TRẠNG LÀM NÔ LỆ CHO SATAN mà Đấng Christ đã trả giá cho chúng ta, chúng ta hãy nhìn xem bốn điểm nhấn mạnh khác nhau
của từ "sự cứu chuộc".
NHẤN MẠNH ĐẾN SỰ TỰ DO
Chữ thứ nhất là một động từ, lutroo, ý nghĩ gốc của nó là "được tự do" và dĩ nhiên nhấn mạnh đến tình trạng được tự do. Bởi vì chữ ấy có nghĩa là được thả tự do khỏi tình trạng nô lệ nhờ sự mua chuộc, nên nó được dịch là "sự cứu chuộc".
Chữ lutroo được dùng trong IPhi 1Pr 1:18, 19 như sau "Vì biết rằng chẳng phải bởi vật hay hư nát như bạc hoặc vàng mà anh em đã được chuộc khỏi sự ăn ở không ra chi của tổ tiên truyền lại cho mình, bèn là bởi huyết báu Đấng Christ."
NHẤN MẠNH ĐẾN VIỆC LÀM VẬT SỞ HỮU CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Một động từ khác là peripoieo, có nghĩa là "được chuộc" nhưng được dịch là "được mua". Trong Cong Cv 20:28 "chăn Hội Thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua (theo sát từng chữ: "giành được quyền sở hữu") bằng chính huyết của Ngài". Ở đây sự nhấn mạnh ấy không nhắm đến sự tự do như trên, nhưng nhắm vào phương cách để được tự do; hành động mua hoặc giành được quyền sở hữu của điều gì đó để cho nó trở thành quyền sở hữu riêng của bạn. Vì vậy, bởi sự cứu chuộc chúng ta trở thành vật sở hữu riêng của Đức Chúa Trời.
NHẤN MẠNH ĐẾN CHỖ NÔ LỆ
Chữ thứ ba là agorazo, đến từ danh từ gốc, là agora tự nó có nghĩa là một khu chợ nô lệ thật sự. Từ gốc này có nghĩa là "được tự do khỏi khu chợ nô lệ bởi việc đã được trả một giá chuộc". Nó nhấn mạnh đến chốn đáng sợ mà chúng ta đã được chuộc mua ra, được dùng trong KhKh 5:9 "Xứng đáng cho Ngài (Chúa Giêxu)... vì Ngài đã chịu giết, lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc mọi nước".
NHẤN MẠNH ĐẾN TÍNH VĨNH CỬU CỦA SỰ TỰ DO
Và động từ cuối cùng, là một hình thức nhấn mạnh của chữ agorazo, đó là exagorazo. Tiếp đầu ngữ ex được thêm vào có nghĩa là "ra khỏi" ("ex" như trong "exit" "ra khỏi") và nhấn mạnh tình trạng được mua khỏi khu chợ nô lệ, không bao giờ lại bị bán như một kẻ nô lệ nữa.
Điều hàm ý ở đây thật là rõ ràng, như chữ được dùng trong GaGl 3:13 "Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta. Luật pháp là sự rủa sả đối với chúng ta bởi gì chúng ta không giữ nỗi luật pháp, và điều đó đã đưa chúng ta vào tình trạng LÀM NÔ LỆ CHO SATAN và cho tội lỗi. Nhưng Chúa Giêxu đã cứu chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả này, đã nhận sự rủa sả của tội lỗi và sự chết thay cho chúng ta. Tuy nhiên trong sự sống lại, Ngài đã chiến thắng Satan một lần đủ cả và quăng xa quyền thống trị tạm thời của nó trên nhân tính của Ngài.
Lời Đức Chúa Trời mô tả sống động tình trạng của nhân loại không những chỉ phạm tội, mà còn - bởi hậu quả đó - ở trong tình trạng NÔ LỆ CHO SATAN trong một khu chợ nô lệ của tội lỗi. Các câu Kinh Thánh đã cho thấy một điều rất rõ đó là chỉ có một phương cách để thoát ra khỏi tình trạng nan giải. Một Đấng cứu chuộc, người không ở trong chợ nô lệ, nhưng mua chuộc hết thảy nhân loại ra khỏi đó.
Đấng cứu chuộc đó chính là Chúa Giêxu. Và đây là sự minh họa:
Chúa Giêxu phán "Kẻ nào phạm tội là tôi mọi của tội lỗi GiGa 8:34). Bởi vì mọi người đều phạm tội, (nếu bạn tìm được kẻ nào bảo rằng người ấy không phạm tội, thì hãy kiểm tra một vòng với các bè bạn của người ấy!), nên hết thảy chúng ta đều là nô lệ. Đó là một tình trạng khiến chúng ta sinh ra trong thế gian là đã có Satan là cha và là kẻ cầm đầu của loài người sa ngã (8:44). Hắn truyền sức lực cho những người không tin (Eph Ep 2:1-4), cũng như ban quyền cho toàn bộ hệ thống thế giới (IGi1Ga 5:19).
Có bao giờ bạn tự hỏi vì sao thế giới lại hỗn loạn như vậy không?
Bạn hãy suy xét đến nguồn gốc!
Điều ác trong thế gian không chỉ là một sức mạnh khách quan nào đó. Chúng ta đang bàn đến sự thực hữu của một nhân vật có thế lực đến nỗi cả thế gian đều bị làm mồi cho những mưu kế của nó. "Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối này, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy" (Eph Ep 6:12).
CHÚA JESUS, NHÀ GIẢI PHÓNG
Đức Chúa Trời đã sai phái một Đấng mua chuộc đi vào "khu chợ nô lệ của tội lỗi" loạn lạc này để "mở mắt con người hầu cho họ từ tối tăm mà qua sáng láng, từ quyền lực của quỷ Satan mà đến Đức Chúa Trời" (Cong Cv 26:18) nhưng Chúa Giêxu đã không chỉ là "ngẫu nhiên có mặt", mà đó là do một sự định ý thật cẩn trọng trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã không thể chọn bất cứ ai để làm người giải phóng nhân loại, mà người ấy phải đạt đến các phẩm chất của một Đấng cứu chuộc.
Chúa Giêxu đã đạt đến các tiêu chuẩn ấy một cách toàn hảo!
Trong chế độ nô lệ của người La Mã, mọi công dân của triều đình đều biết rằng một người nô lệ không thể tự giải phóng mình được, cũng không thể được giải phóng bởi một người nô lệ khác. Mà phải có một người tự do cùng với một giá chuộc chắc chắn và thích đáng để làm công việc đó.
Cũng vậy, không một con người nào có thể giải phóng một người khác bởi vì hết thảy chúng ta đều cùng nhau ở trong chợ nô lệ. Công việc đó thuộc về một người ở ngoài có đủ tư cách - Một Đấng được Đức Chúa Trời chọn - và bắt buộc, như những điều chúng ta đã thảo luận trong các chương bảy và tám.
Chúng ta hãy ôn lại cách vắn tắt các phẩm chất của Chúa Giêxu là Đấng cứu chuộc của nhân loại.
ĐẤNG CỨU CHUỘC VÔ TỘI
Trước hết, nhân vật có thể cứu chuộc loài người ra khỏi tình trạng làm nô lệ cho Satan phải là người không có kỷ tội. Sau khi cảnh cáo cho những người nghe Ngài về tình trạng nô lệ cho tội lỗi của họ, Chúa Giêxu phán "Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở đó luôn" (GiGa 8:35)
Nói cách khác, con thì luôn thuộc về gia đình mà tôi mọi thì không. Vả bởi vì con ở trên tôi mọi, nên con có quyền trên tôi mọi, ngay cả có quyền cho tôi mọi tự do nếu con muốn.
Đoạn, Chúa Giêxu chuyển sang một lối chơi chữ tuyệt vời - Ngài phán, trong câu kế tiếp "Vậy, nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do. Khi nói với họ điều đó, Ngài xem họ bằng như những người nô lệ, và điều chính yếu, cho họ biết rằng Ngài là Con và chỉ một mình Ngài có quyền để cho họ - những kẻ nô lệ cho tội lỗi được tự do.
Như chúng ta đã thấy, Đấng Christ là con người duy nhất được sinnh ra trên đất này kể từ Ađam mà chính mình không bị trở thành kẻ nô lệ cho tội lỗi. Đó là do sự hoài thai độc nhất vô nhị của Ngài. Đức Chúa Trời đã là Cha về nhân tính của Ngài và mẹ Chúa Giêxu là một nữ đồng trinh. Bởi vì sự gánh chịu tội bị lưu truyền từ cha loài người cho đến con cái, mà Chúa Giêxu đã vượt qua tội di truyền vì "nhánh gia đình" của Ngài về phía Cha Ngài không phải là loài người mà là thần. Và Chúa Giêxu cũng đã sống một cuộc đời hoàn toàn không phạm tội.
Vậy, Chúa Giêxu đã đạt đến tiêu chuẩn thứ nhất dành cho một Đấng Cứu chuộc. Chính mình Ngài là một người tự do và là người duy nhất có khả năng trả giá đền chuộc.
ĐẤNG CỨU CHUỘC BÀ CON
Thứ hai, Đấng cứu chuộc phải là người "bà con gần" với dòng dõi loài người. HeDt 2:14, 15 giải thích lý do của điều đó: "Vậy thì, vì con cái (loài người) có phần về huyết và thịt, nên chính mình Ngài cũng có phần vào đó (huyết và thịt), hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỷ lại giải thoát cho mọi người, vì sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời."
Bạn thấy đấy, giá cứu chuộc con người luôn luôn phải là sự đổ huyết của một sinh vật thay thế vô tội. Môise đã dạy trong luật pháp rằng "Không có sự đổ huyết thì không có sự tha thứ" (9:22). Dẫu vậy, huyết của các thú vật không bao giờ có thể cất tội lỗi đi được, mà chỉ đền chuộc hoặc là che phủ tội lỗi một cách tạm thời cho đến khi Đức Chúa Trời cung ứng một sự tha thứ hoàn toàn qua sự hy sinh cuối cùng của Chúa Giêxu (10:11-14).
Song, bởi vì giá mua chuộc phải là huyết của một sinh tế vô tội bị đổ ra, cho nên Đấng cứu chuộc phải là một con người có máu trong các mạch máu của mình, là kẻ có thể thật sự kinh nghiệm sự chết. Nói cách khác, phải là một con người, song là một con người vô tội hoàn toàn về bất kỳ tội lỗi nào.
Đó là lý do vì sao chúng ta đọc thấy sự Chết của Đấng Christ trong IPhi 1Pr 1:9, rằng sự chết ấy đã làm trọn sự cứu chuộc "bèn là bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi, không vít."
ĐẤNG CỨU CHUỘC TRUNG BẢO
Thứ ba, Đấng Cứu chuộc phải là một người trung bảo, là người ngang bằng với cả hai phía trong cuộc dàn xếp - tức là ngang với những kẻ ở trong chợ nô lệ lẫn Đấng đang tìm cách giải phóng cho nô lệ. Nói cách khác, Đấng Cứu chuộc cần phải vừa là Trời vừa là người. "Vì chỉ có một Đức Chúa Trời và một Đấng trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giêxu Christ, là người, Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người (ITi1Tm 2:5, 6).
ĐẤNG CỨU CHUỘC SẴN LÒNG
Sau cùng, để một người có thể trở thành Đấng Cứu chuộc người ấy phải làm một cách tình nguyện. Hẳn nhiên là một kẻ nô lệ không có địa vị gì để cho một người tự do giải phóng mình. Song người tự do phải được thúc giục bằng cách nào đó để đến và trả giá mua chuộc.
Khi nói đến cuộc sống mà Ngài dùng để ban cho như một sinh tế - vì tội lỗi, Chúa Giêxu đã nói với người Pharisi trong GiGa 10:17, 18 rằng "Ta phó sự sống mình, để được lấy lại. Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho".
Lý do là vì sao?
Vì tình yêu Ngài dành cho bạn và tôi!
Tình yêu đó là điều đã đem Ngài đến thập tự giá, hủy bỏ MÓN NỢ TỘI và mua chuộc chúng ta ra khỏi tình trạng làm NÔ LỆ CHO SATAN. Những điều này không còn là vật cản giữa Đức Chúa Trời và con người nữa.
Trừ phi chúng ta cứ để chúng còn nằm đó!
CHÚA GIÊXU VỚI TÌNH YÊU THƯƠNG!
Sự cứu chuộc mà Chúa Giêxu đã thực hiện cho loài người ở tại thập tự giá là một món quà yêu thương vô điều kiện. Thường thường, chúng ta không nhận được những gì mà không kèm theo việc người ta muốn có cái gì đó đáp trả lại, vì vậy thật khó mà thật sự hiểu được bản chất tặng phẩm của sự cứu chuộc nhưng không lạ lùng này. Nằm đằng sau tâm trí của nhiều người đó là sự suy nghĩ cho rằng phải có một điều khác thường được che giấu ở đâu đó. Không ai ban cho điều gì mà không có mục đích!
Nhưng xin bạn hãy để tôi quả quyết với bạn rằng không hề có những chi tiết bị bỏ sót ở mặt trái của sự cứu chuộc đâu. Sự cứu chuộc ngay cả cũng không bảo rằng chúng ta phải dâng chính mình cho Ngài. Tất cả mọi điều chúng ta được yêu cầu đó là hãy nhận lấy sự tha thứ mà Ngài đã trao tặng cách khoan hồng cho chúng ta và rồi hãy bắt đầu vui hưởng sự tự do mình được.
Chúa Giêxu phán "Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng. Hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ" (Mat Mt 11:28). Mọi việc chúng ta phải làm đó là đến cùng Ngài, trao những gánh nặng của chúng ta cho Ngài và nhận lấy món quà yên nghỉ từ nơi Ngài.
Sứ đồ Giăng viết "Nhưng hễ ai đã nhận Ngài (Chúa Giêxu) thì Đức Chúa Trời ban cho họ quyền phép để trở nên con cái của Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin Danh Ngài (GiGa 1:12). Tại đây một lần nữa chúng ta được yêu cầu chỉ tìn vào điều Chúa Giêxu đã thực hiện cho chúng ta ở tại thập tự giá, đó là đem lại sự tự do cho chúng ta, thì rồi Đức Chúa Trời hẳn ban cho chúng ta quyền năng để trở nên con cái Ngài.
BI KỊCH CỦA SỰ "CÓ THỂ ĐÃ LÀ"
Mặc dầu rất ghét, song tôi phải thêm vào phần lưu ý này trong chương nói về sự cứu chuộc. Bởi vì Đấng Christ đã cứu chuộc hết thảy nhân loại ra khỏi chợ nô lệ của tội lỗi, bất hạnh thay không phải mọi người đều muốn tận dụng sự mua chuộc để được tự do.
Có một câu chuyện kể về một thanh niên nọ bị kết án về việc giết người ở tại một tiểu bang miền Đông nhiều năm về trước. Cha mẹ anh ta là những người có thế lực và giàu có, đã giành được quyền hoãn lại việc thực thi bản án từ nơi nhà cầm quyền và cuối cùng tội nhân đã được ân xá.
Anh này, vẫn còn đang ngồi trong hàng kẻ chết, được tin rằng anh đã được cho tự do. Nhưng khi người ta trao lệnh ân xá cho anh, anh ta đã từ khước. Anh ta nói "Tôi đã phạm tội và tôi phải chết."
Gia đình anh và các luật sư đã làm hết sức song không thể nào thuyết phục anh ta thay đổi ý định. Trong một nỗ lực nhằm giữ anh ta khỏi bị xử tử, gia đình đã đưa vụ án lên thẳng tòa án tối cao trong nước và tòa án đã phán quyết rằng lệnh ân xá sẽ không là ân xá cho đến khi nào lệnh được người ấy thừa nhận.
Vì thế anh ta phải chịu chết, không phải vì không có cách lựa chọn, song là vì anh ta đã khước từ nhận ân xá.
Đối với con người cũng vậy. Những người bỏ mất cả cõi đời đời bị phân cách với Đức Chúa Trời trong sự khổ não cay đắng về linh hồn lẫn thể xác sẽ làm như vậy. Không phải vì họ không có cách lựa chọn nào khác, nhưng là vì họ không nhận sự tha thứ đã được thực hiện rồi.
Nhưng một khi con người tiếp nhận sự tha thứ, thì người ấy sẽ vĩnh viễn được tự do, không phải chỉ sau khi chết, mà người ấy sẽ được tự do trong đời này, ở tại đây, ngay bây giờ cũng như sự vui thú chẳng bao lâu nữa.
Nếu từ trước đến nay bạn chưa hề làm điều này, thì vì sao ngay trong giờ phút này bạn không cảm tạ Chúa Giêxu Christ vì Ngài đã chết thay bạn một cách cá nhân, và tiếp nhận ơn hồng dung xá và tha thứ của Ngài. Bạn sẽ được vui sướng đời đời nếu bạn thực hiện điều đó!


SỰ CHẾT THAY
Mục sư Billy Graham, trong một buổi nói chuyện ở tại trường đại học Yale, đã thuật lại câu chuyện vào một buổi chiều nọ khi ông đang lái xe trong một thành phố nhỏ ở miền Nam thì bị radar trong hệ thống săn bắt các xe chạy quá tốc độ phát hiện. Ông bị ghi là đã chạy quá giới hạn cả mấy dặm.
Một chiếc xe đi tuần của cảnh sát ra hiệu cho ông tấp vào lề và chạy theo xe tuần đến tại tòa thẩm phán trị an ở địa phương đó. Vị quan tòa dường như là người thợ hớt tóc và trụ sở nằm ngay trong cửa hiệu hớt tóc.
Ông Graham kể lại khi ông đã bước vào nơi ấy thì vị quan tòa còn đang bận cạo râu cho một người khách. Ông ta nhìn đồng hồ và kết thúc công việc. Đoạn ông quay sang mục sư Graham và nhanh chóng duyệt xét trường hợp của mục sư "Anh có việc khiếu nại gì?", vị quan tòa hỏi.
"Vi phạm luật ạ, thưa ông", Ông Graham đáp.
"Nộp phạt 15 Mỹ kim", vị quan tòa trả lời.
Ông Graham đưa tay lấy chiếc ví để trả tiền phạt. Vị quan tòa phóng sang ông cái liếc mắt thứ nhì và bảo "Kìa, có phải ông là Billy Graham, nhà truyền giáo không?"
"Vâng, thưa ông, tôi lấy làm tiếc mà nói, chính là tôi ạ". Ông Graham trả lời, đút chiếc ví trở vào túi với vẻ đầy hy vọng.
"Phạt 15 Mỹ kim" ông ta nhắc lại với một nụ cười.
"Nhưng tôi sẽ cho anh biết điều tôi làm" vị thẩm phán nói sau một giây ngần ngừ "Tôi sẽ trả số tiền phạt cho anh". Ông ta thò tay vào túi quần sau để lấy ví tiền, ông rút ví ra và lấy một tờ năm Mỹ kim và tờ mười Mỹ kim, rồi nhét chúng vào hộp đựng tiền mặt trong hộc tủ trên quầy và đóng tủ lại. Ông ta nói "Anh đã từng giúp đỡ rất nhiều cho tôi và gia đình tôi, và đây là cái gì đó mà tôi muốn làm".
CÔNG LÝ KHÔNG PHẢI MÙ LÒA
Luật pháp đã bị xâm phạm, hình phạt đã được ấn định và giá phạt phải được trả.
Nhưng trong trường hợp này, cũng như trong trường hợp Đức Chúa Trời đối nghịch với nhân loại, một sự thay thế đã tình nguyện đứng ra để trả giá phạt. Nộp phạt để "cứu" Billy Graham thì không đáng bao nhiêu, nhưng cái giá mà Đức Chúa Trời phải cung ứng một sự cứu chuộc để trả cho án phạt sự chết của chúng ta chính là sự chết của Chúa Giêxu con Ngài, trong chỗ của chúng ta.
Sự chết thay là chủ đề của chương này. Đó là công việc của Đấng Christ tại thập tự giá để mãi mãi hủy bỏ vật cản SỰ CHẾT THUỘC LINH đang trên đầu mỗi một con người từng được sinh ra. Không những chỉ dời bỏ hình phạt sự chết của chúng ta, song còn khiến cho Đức Chúa Trời có thể khôi phục sự sống của Ngài cho mỗi một người bằng lòng tiếp nhận điều đó.
Chúng ta chỉ ôn lại một cách vắn tắt:
Sự làm nguôi cơn giận là việc làm đối với Đức Chúa Trời để làm thỏa mãn bản tánh công bình và thánh khiết tuyệt đối của Ngài. Sự chết của Đấng Christ đã thực hiện điều đó cho chúng ta.
Sự cứu chuộc là việc làm đối với tội lỗi, cung ứng việc trả món nợ tội qua huyết của Đức Chúa Giêxu Christ. Kết quả con người đã được giải phóng khỏi chỗ nô lệ của tội lỗi cũng như được đem ra khỏi quyền cai trị của Satan. Sự chết của Đấng Christ đã thực hiện điều đó cho chúng ta.
Sự chết thay được thực hiện cho sự chết, qua sự chết của Đấng Christ trong chỗ của chúng ta. Đây là công việc của Đấng Christ mà bây giờ chúng ta cần xem xét cách sâu xa.
SỰ HÌNH PHẠT KHÔNG TRÁNH ĐƯỢC CỦA TỘI LỖI
Từ trước đến nay, sự hình phạt dành cho tội lỗi luôn luôn là sự chết. Một trong những nguyên tắc đầu tiên Ađam và Êva đã học được từ nơi Đức Chúa Trời đó là ngày nào họ ăn trái cây cấm thì họ hẳn sẽ chết (SaSt 2:17). Họ đã không hiểu được một cách đầy đủ rằng "sự chết" ấy ám chỉ đến một sự phân cách về tâm linh khỏi Đức Chúa Trời.
Thế rồi vào cái ngày đau buồn ấy, khi Ađam và Êva ngó nhìn thi thể bất động của con trai mình là Abên, họ đã cùng nhận biết ý nghĩa của sự chết thuộc thể là gì.
Phương diện sau cùng của sự chết vẫn còn nằm trong tương lai và được gọi là "sự chết thứ hai" hay là "sự chết đời đời". Đây sẽ là tình trạng đời đời cuối cùng của tất cả mọi kẻ chết trong thế gian này nếu không được khôi phục lại sự sống tâm linh của họ. Đây không phải là một tình trạng vô ý thức đời đời, mà chính là một tình trạng đau đớn và hối hận có thật đời đời (KhKh 20:14, 15 Mat Mt 8:12 LuLc 16:19-31).
KHÁI NIỆM VỀ CỦA LỄ ĐỀN TỘI
Trong mỗi một lớp đất của nền văn minh mà sự khai quật của các nhà khảo cổ đã khám phá, đã từng có những bằng chứng về các sinh tế được làm cho các vị thần. Bởi vì có nhiều trong số các học giả này đã không chịu chấp nhận khái niệm của Kinh Thánh về sự tạo dựng thiên thượng và sự sa ngã tiếp theo đó của con người, nên họ đã dùng sự có mặt của rất nhiều đồ tạo tác về sinh tế để chế nhạo và xem thường lời tuyên bố của Kinh Thánh về tính hiệu quả của sinh tế bằng thú vật.
Họ tuyên bố rằng người Hêbơrơ là một chủng tộc duy nhất trong số nhiều chủng tộc đã phát triển một chế độ hiến tế nhằm xoa dịu một vị thần mà họ không hiểu biết được. Và họ đưa ra bằng cớ về sự hiến tế đã có trước sự xuất hiện của chủng tộc Hêbơrơ, nhằm cố gắng bác bỏ bất kỳ một công lao nào về khái niệm hiến tế thú vật vì tội lỗi được ghi trong Kinh Thánh.
Nhưng cách bạn giải thích các tàn tích tìm được trong cuộc đào bới của các nhà khảo cổ hoàn toàn lệ thuộc vào giả thiết căn bản mà các bạn có đối với nguồn gốc của các sự việc. Nếu bạn tin rằng con người thuộc trong một diễn trình tiến hóa từ một cơ cấu tế bào đơn đến chỗ trở thành một sinh vật vinh quang phi thường nào đó trong tương lai thì bạn sẽ có khuynh hướng xem nhẹ lời tuyên bố của Thánh Kinh về sự sa ngã của con người và một cuộc tiến hóa thụt lùi sau đó hay là sự thoái hóa.
Song nếu bạn thừa nhận lời tuyên bố của Thánh Kinh rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người phát triển trọn vẹn, theo hình ảnh của chính Ngài và rằng con người đã làm méo mó hình ảnh ấy trong chính mình bởi việc không vâng lời Đức Chúa Trời và vì vậy phải chịu hình phạt của sự chết, thì bạn sẽ thấy rằng khái niệm về sinh tế thay thế là một sự can thiệp trực tiếp cần thiết của Đức Chúa Trời, để tái lập lại mối tương giao với con người.
Rồi thì bạn cũng sẽ hiểu được vì sao mỗi một giai đoạn trong lịch sử nhân loại đều có ghi lại các cuộc hiến tế của thú vật và loài người. Đó là bởi vì đã có một kiểu mẫu nguyên thủy từ lúc bắt đầu lịch sử nhân loại mà theo đó mọi kiểu mẫu khác được triển khai, một số vẫn còn giống với kiểu mẫu đầu tiên và một số khác thì tiến theo những sự lệch lạc kỳ quặc.
LỊCH SỬ THÁNH KINH VỀ CỦA LỄ ĐỀN TỘI
Việc nói đến sinh tế thú vật được tìm thấy ở sách Sáng thế ký trong thời Cựu Ước đã xảy ra từ lâu trước khi Đức Chúa Trời truyền cho Môise thiết lập một thể thức thờ phượng bao gồm các sinh tế bằng thú vật.
Lần đầu tiên một sinh vật vô tội đã phải chịu chết bởi cớ tội lỗi của con người, đó là khi Đức Chúa Trời đã phải giết ít nhất là một con thú, hoặc có thể là nhiều hơn, trong vườn Eđen, để che đậy sự trần truồng cho Ađam và Êva. Họ đã cố gắng che đậy chính mình bằng lá cây, song Đức Chúa Trời đã không nhận nỗ lực yếu ớt đó của họ nhằm che đậy tội lỗi mình khỏi Ngài, Ngài đã lập một nguyên tắc đó là một sinh vật vô tội phải chịu chết để cung ứng một sự che đậy tạm thời cho tội lỗi của con người.
Mặc dầu điều này không được Môise giải thích cặn kẽ từng chi tiết trong khi ông viết sách Sáng thế ký. Song nó đã được làm rõ trong những phần ghi chép tiếp theo về sinh tế thú vật, cho thấy Đức Chúa Trời đã phải giải thích khái niệm về sự chết thay này cho Ađam, rồi từ Ađam cho con cháu mình. Sách Sáng thế ký ghi lại sự kiện cho thấy Abên, Nôê, Ápraham, Ysác, Gióp và Giacốp thảy đều dâng sinh tế cho Đức Chúa Trời trước thời Môise và sự thiết lập việc thờ phượng của đền tạm (SaSt 4:4, 8, 20, 12:7, 26:25, 33:20 XuXh 12:3-11; Giop G 1:5, 42:7-9).
Vì vậy sự cần thiết của việc tìm kiếm sự tha thứ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi qua của lễ của một sinh vật thay thế vô tội đã là một sự thực hành quen thuộc từ buổi ban đầu của lịch sử loài người trên đất. Và đó là một biểu tượng được chính Đức Chúa Trời thiết lập.
Điều đó cũng đã làm rung động tôi khi nhìn thấy cách Đức Chúa Trời triển khai khái niệm về sự chết thay thế của một chiên con cho một con người đối với mục đích sau cùng về khái niệm một chiên con cho cả thế gian.
MỘT CHIÊN CON CHO MỘT NGƯỜI
Vào lúc ban đầu, Đức Chúa Trời đã cho phép việc giết một con thú để chuộc tội cho một người. Điều này được mô tả cho chúng ta trong câu chuyện của người con trai Ađam: Abên dâng của lễ cho Đức Chúa Trời. Anh người, là Cain đã đem dâng của lễ hoa quả cho Đức Chúa Trời, nhưng bị Ngài từ chối. Rõ ràng là trước đó, Đức Chúa Trời ban những huấn lệnh qua Ađam rằng phải có sự đổ huyết để đem lại một sự che đậy cho tội lỗi. Abên đã đem dâng một của lễ phải lẽ, và điều đó đã khiến Cain, anh người tức giận đến nỗi giết người đi (Xem SaSt 3:1-4:26 và HeDt 11:4).
MỘT CHIÊN CON CHO MỘT GIA ĐÌNH
Trong câu chuyện về Lễ Vượt qua, chúng ta thấy kinh nghiệm của người dân Hêbơrơ ở tại xứ Aicập đó là Đức Chúa Trời truyền dạy rằng một chiên con là một của lễ đủ chuộc tội cho một gia đình (XuXh 12:3-14).
Lễ Vượt qua liên hệ đến cái đêm mà Đức Chúa Trời truyền bảo Môise nói cùng Pharaôn rằng nếu vua không để cho dân Hêbơrơ đi ra khỏi nhà nô lệ Aicập, thì mọi con đầu lòng của các súc vật và các gia đình trong xứ (cả của người Hêbơrơ lẫn của người Êdíptô) đều sẽ bị chết khi thiên sứ vượt qua xứ Aicập.
Để cứu con đầu lòng của những người Hêbơrơ khỏi phải chết, Đức Chúa Trời đã thực hiện một sự cung ứng đó là họ có thể giết một chiên con và bôi huyết nó lên trên cửa và lên hai bên cột cửa. Rồi khi thần chết đi qua trên đất Aicập đêm hôm ấy, bất cứ nơi nào Ngài nhìn thấy huyết, thì Ngài sẽ vượt qua nhà đó và những người ở trong đó sẽ được cứu khỏi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời truyền dạy rằng ngày Lễ Vượt qua này sẽ được giữ để kỷ niệm hàng năm như là một sự nhắc nhở về việc Đức Chúa Trời cung ứng sự cứu chuộc cho những kẻ dâng hiến chiên con cho gia đình của họ.
MỘT CHIÊN CON CHO MỘT QUỐC GIA
Sau khi dân Giuđa đã rời bỏ nhà nô lệ của họ ở tại Êdíptô và đang trong hành trình đến đất hứa. Đức Chúa Trời đã gặp Môise tại trên núi Sinai và giao cho ông mười điều răn cùng các luật lệ khác để theo đó mà dân sự được chỉnh đốn đời sống và sự thờ phượng của họ.
Chủ yếu là Môise được truyền để dựng một kiến trúc dễ chuyển dời sẽ được sử dụng vào việc thờ phượng của họ và dâng của lễ cho Đức Chúa Trời. Kiến trúc này được gọi là "Đền Tạm".
Đền Tạm được dựng với một khoảng sân bên ngoài, ở đó có một bàn thờ để dâng hiến thú vật. Bên trong gồm có hai gian - Gian thứ nhất được gọi là "Nơi Thánh" gồm nhiều đồ dùng của các khí mạnh liên quan đến sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Gian trong cùng là chỗ quan trọng nhất trong Đền Tạm, được gọi là "Nơi Chí Thánh" là nơi đặt Hòm Giao ước và sự hiện diện của Đức Chúa Trời ngự trên hòm trong một ánh sáng chói lòa được gọi là "Vinh quang của Shekinah".
Chính trong nơi Chí Thánh này Đức Chúa Trời truyền rằng huyết của một sinh tế chiên con có thể chuộc tội cho cả dân Ysơraên hàng năm, chính công việc của thầy tế lễ thượng phẩm là chọn một sinh vật toàn hảo mỗi năm một lần và đem huyết nó vào trong nơi Chí Thánh, rưới huyết đó lên ngôi thi ân. Làm như vậy, huyết ấy sẽ làm nguôi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng quốc gia trong một năm tới bởi việc chuộc tội lỗi của dân sự. Ngày này đã được gọi là "Ngày Đại lễ chuộc tội".
MỘT CHIÊN CON CHO THẾ GIAN
Người anh em bà con với Chúa Giêxu, Giăng Báp Tít, là người đầu tiên đã gọi Chúa bằng danh hiệu "Chiên con của Đức Chúa Trời". Khi ông thấy Chúa Giêxu đi đến cùng mình ngày nọ, ông đã nói "Kìa, chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi" (GiGa 1:29).
Bây giờ, bạn có thể căn cứ vào đâu để đoán định rằng Giăng đã có trong tâm trí hình ảnh Chúa Giêxu là chiên con, Đấng cất tội lỗi của thế gian đi?
Chắc chắn là do sự hiểu biết của ông về Thánh Kinh Cựu ước và kinh nghiệm của ông với của lễ bằng con sinh ở tại đền thờ Giêrusalem, ông đã chợt nhận biết rằng việc đổ huyết tiếp tục của các sinh vật thay thế đã không cất được tội lỗi hay sự vi phạm do chúng đem lại. Ông phải nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã thực hiện một sự cung ứng khác cho sự tha thứ và sự tẩy sạch. Tôi cũng chắc chắn rằng Đức Chúa Trời hẳn phải mặc khải một cách siêu nhiên cho ông rằng đây là Đấng sẽ được dự bị đời đời cho vấn đề tội lỗi.
Một vài năm sau việc xảy ra giữa Giăng Báp Tít và Chúa Giêxu, tác giả của sách Hêbơrơ đã giải thích toàn bộ lý do vì sao Chúa Giêxu đã được gọi là "Chiên con của Đức Chúa Trời" là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi. Tôi sẽ để ông ấy thuật lại cho bạn bằng chính lời lẽ của ông ta, bởi vì hiển nhiên ông ta là người Do Thái và đã từng trải sự không thỏa lòng của công việc tôn giáo buồn tẻ và trống rỗng của một thể thức thờ phượng bằng các của lễ không thật sự giải quyết được vấn đề tội lỗi.
Bạn hãy lưu ý số lần ông ta đối chiếu việc thực hiện các công việc theo cách thức cũ với phương thức mới mà Chúa Giêxu đã bắt đầu mở ra. Ông bày tỏ rất rõ rằng hệ thống cũ kỹ để đến với Đức Chúa Trời qua huyết các thú vật không bao giờ thỏa mãn con người hoặc Đức Chúa Trời. Và rồi ông ta nêu ra sự kiện có sức thuyết phục cho thấy Chúa Giêxu chính là của lễ đời đời mà Đức Chúa Trời luôn luôn có ý định thực hiện.
"Vả, luật pháp chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, không có hình thật của các vật, nên không bao giờ cậy tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy, mà khiến kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành được. Nếu được, thì những kẻ thờ phượng đã một lần được sạch rồi, lương tâm họ không còn biết tội nữa, nhơn đó, há chẳng thôi dâng tế lễ hay sao? Trái lại, những tế lễ đó chẳng qua là mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi. Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được. Bởi vậy cho nên, Đấng Christ khi vào thế gian, phán rằng:
Chúa chẳng muốn hi sinh, cũng chẳng muốn lễ vật,
Nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi.
Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội.
Tôi bèn nói: Hỡi Đức Chúa Trời, này tôi đến -
Trong sách có chép về tôi -
Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa
Trước đã nói: Chúa chẳng muốn, chẳng nhậm những hi sinh, lễ vật, của lễ thiêu, của lễ chuộc tội, đó là theo luật pháp dạy; sau lại nói: Đây này, tôi đến để làm theo ý muốn Chúa. Vậy thì, Chúa đã bỏ đều trước đặng lập đều sau. Đy là theo ý muốn đó mà chúng ta được nên thánh nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Giêxu Christ một lần đủ cả. Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được, còn như Đấng này, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời, từ rày về sau đương đợi những kẻ thù nghịch Ngài bị để làm bệ dưới chơn Ngài vậy. Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời. (Hêbơrơ 10:1-14;)
CHÚA GIÊXU CHỊU CHẾT HAI LẦN
Khi Chúa Giêxu chịu treo trên thập tự thay thế chúng ta, thì tác giả thư Hêbơrơ cho chúng ta biết, đó là "Ngài đã vì mọi người nếm sự chết" (Hêbơrơ 2:9;). Bởi hình phạt dành cho con người: là một tội nhân là: cả sự chết thuộc linh lẫn thuộc thể, Chúa Giêxu đã phải nếm trải cả hai loại sự chết.
Khi Ngài kêu lên "Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?" trong giờ phút đó, tại thập tự giá Ngài đã thật sự nên tội lỗi vì cớ chúng ta, và trong linh con người của Ngài, Ngài đã chết về mặt tâm linh.
Sứ đồ Phaolô đã nhắc đến điều này khi ông nói "Ngài đã làm cho Đấng (Đức Chúa Giêxu) vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì cớ chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 5:21).
Điều này không có nghĩa là chính Ngài đã thật sự phạm tội. Song có nghĩa là Ngài đã bị Cha Ngài đối xử như là Ngài đã phạm tội. Bởi vì Chúa Giêxu đang mang tội lỗi chúng ta, nên Đức Chúa Trời đã xử Ngài như cách Ngài phải đoán phạt chúng ta vì cớ tội lỗi mình.
Trong sự chết về thuộc linh và thuộc thể thay cho chúng ta Đức Chúa Trời đã nhìn vào cái chết của Chúa Giêxu và kể điều đó cho nhân loại bị sa ngã. Sự chết về thuộc linh của Ngài có nghĩa là Đức Chúa Trời có thể ban sự sống thuộc linh cho hết thảy người nào bằng lòng tiếp nhận, và sự chết thuộc thể của Ngài đã đánh bại nó trong sự sống lại, có nghĩa là cuối cùng Đức Chúa Trời có thể làm cho thân thể vật chất của chúng ta sống lại và ban cho chúng sự sống đời đời.
CHIÊN CON ĐỜI ĐỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Còn có thể nói thêm một chút nữa để làm cho đầy đủ bức tranh sống động về sự chết thay của Chúa Giêxu cho chúng ta. Điều duy nhất phải thêm vào, đó là trong việc trở nên một Chiên Con dành cho tội lỗi của thế gian, Chúa Giêxu đã làm ứng nghiệm nhu cầu đòi hỏi một chiên con cho một người, một chiên con cho một gia đình và một chiên con cho một dân tộc.
Không phải chỉ là một sự trùng khớp ngẫu nhiên mà việc Ngài chịu đóng đinh đã xảy ra vào ngày Lễ Vượt Qua. Đức Chúa Trời đã quyết định để cho Ngài trở thành Chiên Con Lễ Vượt Qua của thế gian, là Đấng bởi huyết Ngài, khi được bôi lên hai cột cửa của tấm lòng mình sẽ làm cho Đức Chúa Trời phải "vượt qua khỏi" chúng ta trong sự phán xét.
Ngài cũng đã nên sự ứng nghiệm về Chiên Con trong Đại lễ Chuộc Tội, Bởi Đấng đó, tội lỗi của dân sự đã được chất lên và là Đấng đã bị giết thay cho họ.
TẠI SAO?
Câu hỏi duy nhất đến với tâm trí đó là "Vì sao Ngài đã làm điều đó?"
Chúa Giêxu đã trả lời cho câu hỏi đó khi Ngài phán cùng các môn đồ rằng "Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình" (GiGa 15:13)
Chúa Giêxu đã chịu chết cho chúng ta là bởi vì Ngài yêu chúng ta!


SỰ GIẢI HÒA
Đối với tôi, một trong những chữ hạnh phúc nhất trong ngôn ngữ tiếng Anh là "sự giải hòa ". Nó khiến tôi liền mường tượng ra hai người được khôi phục lại trong một mối quan hệ mới.
Đó cũng là một trong những chữ được Đức Chúa Trời ưa thích, bởi vì nó có nghĩa là bây giờ Ngài có thể khôi phục con người trong mối tương giao với chính mình Ngài do toàn thể công tác ba mặt của Đấng Christ tại thập tự giá.
1. Sự làm nguôi cơn giận đưa con người không phải ở dưới cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời bởi việc làm thỏa mãn sự công bình và ngay thẳng của Ngài.
2. Sự cứu chuộc đưa con người ra khỏi tình trạng làm nô lệ cho tội lỗi và Satan bởi việc trả một giá chuộc tội.
3. Sự Chết thay đưa con người thoát khỏi án phạt sự chết bởi sự chết của Đấng Christ trong chỗ của chúng ta.
Ba điều kể trên đã phá đổ vật cản do tội lỗi con người đã dựng lên nghịch cùng Đức Chúa Trời. Nhưng mặc dầu vật cản đã bị loại bỏ, mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và con người cũng phải được tái lập lại. Đây là công tác của việc hòa giải.
Bạn thấy đấy, Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Ngài luôn luôn yêu con người và vẫn cứ yêu thương con người. Thế gian cũng không thay đổi, vẫn cứ chống nghịch cùng Đức Chúa Trời. Nhưng điều đã thay đổi đó là vật cản nay đã bị phá đổ, một cách hợp pháp và khi nào bất cứ ai hiểu được điều đó và đặt niềm tin, thì ngay giờ phút ấy, cá nhân người đó trở nên được hòa thuận với Đức Chúa Trời.
Sự hòa giải đưa con người thoát khỏi tình trạng có thái độ của lý trí khiến xa cách đối với Đức Chúa Trời. Với vật cản đã bị cất khỏi đường đi bởi công lao của Đấng Christ tại thập tự giá sự hòa giải có nghĩa là bởi Đấng Christ, ngày nay con người có thể được đưa từ chỗ xa lạ đến chỗ tương giao với Đức Chúa Trời. Thật vậy, chính là khi con người thật sự bắt đầu nhìn biết cách Đấng Christ đã hủy bỏ hoàn toàn vật cản để cho Ngài không còn nổi giận nữa, thì con người bắt đầu cởi mở đối với Đức Chúa Trời và muốn được hòa thuận với Ngài.
NGƯỜI HY LẠP CÓ MỘT CHỮ NHƯ THẾ!
Bạn đã từng nghe câu "Người Hy Lạp có một từ cho điều đó". Ngôn ngữ Hy Lạp có nhiều từ cho mỗi một chữ trong tiếng Anh. Nó là thứ ngôn ngữ phong phú nhất đã từng được đặt ra trong lịch sử của dòng dõi loài người. Tôi quả quyết rằng không phải tình cờ mà nó là thứ ngôn ngữ được Đức Chúa Trời chọn để viết Tân ước.
Có ba từ trong ngôn ngữ Hy Lạp diễn tả ý tưởng của sự hòa giải, và tất cả đều được dịch sang tiếng Anh bằng một từ là "sự hòa giải".
CHỮ THỨ 1
Chữ daillassomai có nghĩa là thay đổi cả hai con người không hòa hợp với nhau thành ra thân thiện. Chữ này được dùng theo nghĩa đó trong Mat Mt 5:24 "... trước hết hãy giảng hòa với anh em người, rồi hãy đến dâng của lễ." Đây là những nhóm người hay "những anh em" đã quay lưng lại với nhau, cả hai bên đều giận dữ và cần được giải hòa.
Từ này không bao giờ được sử dụng để nói về Đức Chúa Trời bởi vì chỉ chúng ta là người đã quay lưng lại với Ngài chứ Ngài không quay lưng lại với chúng ta!
CHỮ THỨ 2
Từ thứ hai dành cho sự hòa giải là apokatallasso. Nó được nối liền với động từ chính mà chúng ta muốn xem xét và nó có nghĩa là một sự thay đổi hoàn toàn từ tình trạng thù địch sang quan hệ bạn hữu. Khi dùng chữ này thì có nghĩa là chỉ có một người ở trong chỗ thù địch và người đó đã được khôi phục hoàn toàn để nên bạn hữu với người kia.
CHỮ THỨ 3
Chữ mà chúng ta sẽ để phần lớn thì giờ để xem xét là chữ thứ ba, katallasso. Chữ này có nghĩa là thay đổi từ tình trạng thù địch sang bạn hữu, đã được dùng nhiều chỗ trong Kinh Thánh Tân ước. Nó được sử dụng suốt trong IICo 2Cr 5:17-21 đoạn mấu chốt nói về sự giải hòa.
Katallasso (sự hòa giải) nhìn vấn đề theo cách này: đây là Đức Chúa Trời, đây là con người. Con người bất hòa với Đức Chúa Trời, con người đã quay lưng lại với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không bao giờ phải được hòa giải, chính con người cần phải được hòa giải. Katallasso chỉ có nghĩa là một người trong mối liên hệ đã quay lưng khỏi và cần được đem trở lại chỉ có một phía.
TIÊN TRI ÔSÊ VÀ NGƯỜI VỢ CẮM SỪNG
Ví dụ đầy đủ về câu chuyện giải hòa là sách Ôsê trong Cựu ước, đặc biệt là trong những trang đầu tiên. Tôi gọi sách này là "Chuyện tình của Sự Hòa Giải". Và đây là lý do.
Đức Chúa Trời bảo tiên tri Ôsê hãy cưới một người đàn bà nhất định mà Ngài đã chọn cho ông. Người đàn bà Đức Chúa Trời đã chọn là một phụ nữ mại dâm. Tiên tri Ôsê đã cưới nàng và đối xử với nàng cách yêu thương và tôn trọng. Nàng đã sinh ra những đứa con của ông.
Thế rồi một ngày kia nàng bỏ trốn khỏi ông và trở lại nghề mại dâm. Đức Chúa Trời bảo Ôsê hãy đi tìm nàng và đưa nàng trở về.Cuối cùng ông đã tìm thấy vợ mình trên đoạn đầu đài ở tại bãi đấu giá nô lệ. Nàng đứng tại đó, phó mặc cho những tay đấu giá, bị lột trần truồng - tục lệ của thời đó trong khi đấu giá nữ nô lệ - chờ đợi để bị bán làm nô lệ - Ôsê đã chuộc lại chính vợ mình, mặc áo quần cho nàng, đưa nàng trở về nhà và tiếp tục yêu thương nàng đúng mực và không hề có sự trả thù.
Một hình ảnh thật lạ lùng! Ôsê đã học kinh nghiệm đúng cách mà Đức Chúa Trời cảm nhận về dân Ysơraên, những sự đi lại yêu đương của dân Ysơraên với các thần ngoại giáo đã làm tổn thương Ngài như thế nào, và cách mà Ngài sẵn sàng chịu bất cứ tổn hại gì để đưa những con người này trở về.
Song đây cũng là một bức tranh về điều mà con người đã làm đối với Đức Chúa Trời và điều Đức Chúa Trời đã làm để đem họ trở về. Đây là một hình ảnh về tình yêu thật. Bạn thấy, Ôsê không hề thôi yêu vợ mình, song chính vợ ông ta đã xây khỏi ông ta. Và ý niệm được nói lên đó là tình yêu lớn lao của tiên tri Ôsê đã phủ lút vợ mình. Nàng ta không thể hiểu nỗi sự thật đó là ông vẫn yêu thương nàng.
Như một bức tranh về sự hòa giải, sách Ôsê là một Rembrandt!
Đức Chúa Trời không bao giờ cần phải được hòa giải. Ngài giống như tiên tri Ôsê. Nhưng chỉ có con người là kẻ cần phải được đem trở về và được giải hòa, đó là ý nghĩa của chữ katallasso.
Cũng Ôsê, Đức Chúa Trời biết chúng ta sẽ không bao giờ được đem trở về với Ngài trừ khi (a) Đức Chúa Trời giữ phần chủ động (b) và Đức Chúa Trời nhận chúng ta "đúng như chúng ta" trong tình trạng tội lỗi của mình. Tiên tri Ôsê đã không cố gắng tẩy sạch vợ mình trước khi đem nàng về nhà mình, mà cô ta cũng không cố gắng tự làm sạch mình. Cô ta đã đến đúng như mình vốn là vậy và sự tẩy rửa sau đó mới xảy ra.
Tôi chắc chắn rằng Gôme, vợ của tiên tri Ôsê, hẳn phải đầy dẫy mặc cảm tội lỗi và sự xấu hổ khi cô nghe Ôsê trả giá để mua chuộc cô ở tại bãi đấu giá nô lệ. Sau khi ông đã đưa cô trở về nhà mình, cái cảm giác về sự vô giá trị và mặc cảm phạm tội của cô ta có thể mang lại một thái độ ngờ vực và lạnh nhạt đối với Ôsê, tự hỏi rằng bao giờ ông ta sẽ tính sổ với cô.
Nhưng rồi khi ngày tháng trôi qua và tất cả những gì Gôme đã nhận được từ nơi Ôsê đều là tình yêu thương và sự chấp nhận, thì sự thù địch của cô ta đã đổi thành sự yêu thương và lòng biết ơn, rồi thì cô ta trở thành một kẻ nô lệ yêu thương của ông.
SỰ GIẢI HÒA VÔ HIỆU HÓA SỰ THÙ ĐỊCH
Sự hòa giải thật luôn luôn hủy bỏ sự thù địch. Đó là điều sứ đồ Phaolô nói đến khi ông bảo "Còn anh em ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời, và là thù nghịch cùng Ngài bởi ý tưởng và việc ác mình, nhưng bây giờ Đức Chúa Trời đã nhờ sự chết của Con Ngài chịu lấy trong xác thịt mà khiến anh em hòa thuận " (CoCl 1:21, 22 .
Nếu chúng ta nghĩ rằng có ai đó đang giữ một điều gì đó nghịch cùng chúng ta, thì chúng ta sẽ cảm thấy xa cách và thù nghịch đối với họ, đơn giản bởi vì sự tự vệ. Sự thật còn hơn như vậy nữa khi điều đó đến từ Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta cảm biết tội lỗi mình vẫn còn là một vấn đề giữa chúng ta với Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ cảm thấy không thích đến cùng Ngài bởi vì chúng ta biết cảm giác của Ngài đối với tội lỗi ra sao.
Nhưng xin bạn hãy lắng nghe tin tức cực kỳ vui mừng từ ngòi viết của Sứ đồ Phaolô "Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi" (IICo 2Cr 5:19).
Bạn đã nhận điều đó chưa? Đức Chúa Trời không còn lấy tội lỗi chúng ta nghịch cùng ta nữa. Sự giải hòa mà Ngài thực hiện đã sẵn dành cho chúng ta, bởi thập tự giá đã vô hiệu hóa cơn giận công chính của Ngài đối cùng tội lỗi của chúng ta.
Đó là lý do vì sao "thập tự giá" phải luôn luôn là sứ điệp trung tâm của Tin Lành, bởi vì chính điều Đấng Christ thực hiện đã làm cho sự giải hòa với Đức Chúa Trời thành khả dĩ. Và không có sự hòa giải thì không có cách nào để hủy bỏ sự xa lạ và nghịch thù mà chúng ta có trong tâm trí đối cùng Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta khám phá ra cách Đức Chúa Trời thực hiện đã hoàn toàn hủy bỏ vật cản đã phân cách chúng ta khỏi Ngài và Ngài không nổi giận với chúng ta nữa, thì chúng ta sẽ muốn "trở về nhà" cũng như vợ của Ôsê đã làm. Và khi chúng ta "trở về nhà" chúng ta sẽ vô cùng biết ơn vì Ngài đã không buộc tội lại chúng ta và hoàn toàn chấp nhận chúng ta, đến nỗi mọi sự mà chúng ta mong muốn làm, đó là phục vụ Chủ mình.
ĐỨA CON ƯƠNG NGẠNH TRỞ VỀ NHÀ
Một sự minh họa đẹp đẽ khác về sự giải hòa đó là câu chuyện mà Chúa Giêxu đã kể lại về đứa con trai hoang đàng (LuLc 15:1-32). Hiểu được khung cảnh của sự việc này hoặc hiểu biết nhiều về ý nghĩa bị hư mất của câu chuyện là điều rất quan trọng. Chúa Giêxu đang giảng dạy và phần đông đảo nhất trong số thính giả của Ngài là những người thâu thuế, và những kẻ tự nhận mình là những kẻ có tội. Rải rác ở giữa họ là một số những người Pharisi giả hình giữ đạo cách nghiêm nhặt và các thầy thông giáo, và họ đã bắt đầu có những lời bình luận cạnh khóe về mối quan hệ bạn hữu giữa Chúa Giêxu với những kẻ có tội.
Chúa Giêxu kể ba câu chuyện cho nhóm người này, mục đích của ba câu chuyện đó là để dạy dỗ cho họ biết thái độ của Đức Chúa Trời như thế nào đối với những kẻ nhìn biết mình là kẻ có tội. Bạn thấy đấy, người Pharisi cũng là những tội nhân, nhưng họ đã không nghĩ rằng mình có tội. Vì vậy Chúa Giêxu đang cố gắng để tỏ cho họ biết rằng nhìn nhận mình là một tội nhân và đặt mình dưới ân điển của Đức Chúa Trời thì tốt hơn là cứ ngoan cố bảo vệ sự công bình riêng của mình và trật mất ơn phước của Đức Chúa Trời.
Riêng trong câu chuyện về người con trai hoang đàng hay là người con trai ương ngạnh này thì như sau: Một người cha nọ có hai đứa con trai. Một ngày kia, người em muốn lấy phần gia tài của mình để bỏ nhà mình ra đi và sống theo ý riêng (Anh này đại diện cho những người thâu thuế và kẻ có tội), người anh cả (đại diện cho những người Pharisi giữ sự công bình riêng) thì ở lại nhà và tiếp tục làm việc cho cha mình (là người đại diện cho Đức Chúa Trời) trong câu chuyện này.
Người em đi đến một xứ xa xôi và tiêu phí hết gia tài mình bằng một đời sống phóng đãng. Một trận đói dữ tợn đến trên vùng đất đó, và cậu ta mới biết mình đã khánh kiệt. Vì vậy anh ta đi làm thuê cho một người bổn xứ và được giao cho việc chăn heo ở ngoài đồng (Người bổn xứ này là Satan).
Cuối cùng, đứa trẻ tự nhủ: "Thật là vô lý, ở đây ta phải chết đói trong khi những kẻ nô lệ trong nhà Cha ta thì lại ăn những thức ăn ngon lành. Ta sẽ đi đến với cha ta mà thưa rằng "Lạy Cha, con biết con đã phạm tội với trời và với cha, vì ngu dại con đã làm tiêu mất phần gia tài của con, và bây giờ con không xứng đáng để làm con trai của cha nữa, nhưng nếu cha bằng lòng cho con trở về, con sẽ vui mừng dầu chỉ làm một đứa đầy tớ của cha thôi".
Dựa vào điều anh ta nói, bạn có thể biết rằng anh ta mong muốn cha mình không cần phải làm một điều gì cho anh cả sau khi anh đã làm buồn lòng cha mình. Nhưng điều chờ đợi anh ta thật là một sự ngạc nhiên lớn!
Đang khi anh vẫn còn cách xa nhà mình, thì cha anh đã nhác thấy được bóng dáng của anh. Rõ ràng là người cha hẳn phải trông chừng một cách hy vọng anh sẽ trở về kể từ lúc anh bỏ nhà ra đi. Và khi đã trông thấy anh, người cha chạy đến với người con và ôm choàng lấy anh và hôn anh.
Rồi người con nói với ông những lời mà anh ta dự định nói về việc không xứng đáng và sẵn sàng làm một kẻ làm mướn trong nhà.
Nhưng người cha chẳng hề nghe một lời gì anh nói, bởi vì ông đã truyền bảo các tôi tớ để chuẩn bị một bữa tiệc lớn đón mừng con ông trở về. Không hề có một sự oán giận hay thịnh nộ trong thái độ của người cha đối cùng đứa con trai, mặc dầu có nhiều lý do để ông buồn phiền.
Thái độ của người cha đã được bày tỏ trong lời tuyên bố của ông với mọi người "Con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại thấy được".
SỰ GIẢI HÒA THẬT LÀ KHÔNG HỢP LÝ
Câu chuyện này là một sự minh họa thật tuyệt vời về sự giải hòa. Rõ ràng là người cha này yêu tha thiết cậu con bằng cả cuộc đời của mình. Nếu không, ông ta không bao giờ cho người con phần gia tài của anh ta trước kỳ định, theo như anh ta đã yêu cầu. Trong suốt những tháng dài đó, hoặc có thể là những năm dài, người cha tiếp tục yêu thương con mình và mong mỏi nó trở về nhà và được hòa giải với ông.
Khi đứa con nhận biết mình thật là ngu dại, thì nó cũng nghĩ rằng nếu nó muốn trở về thì hẳn sẽ có những cản trở khắt khe ở giữa nó và người cha. Song khi nó bước đến chỗ sẵn sàng, thì nó khám phá ra rằng thay vì những vật cản trở thì chẳng có gì ngoài tình yêu thương và sự chấp nhận hoàn toàn.
ĐỪNG BỎ SÓT VẤN ĐỀ!
Có những lẽ thật rất quan trọng nhất định mà câu chuyện đã dạy dỗ, song cũng có một số những điều rất mạnh mẽ mà câu chuyện đã không dạy dỗ.
Trước hết, bạn hãy giữ trong tâm trí rằng đó chỉ là một ví dụ. Đây là một trong những phép ẩn dụ trong việc dạy dỗ được Chúa Giêxu ưa thích nhất. Trong một câu chuyện mỗi nhân vật thường đại diện cho một con người hoặc một hoàn cảnh có thật nào đó.
Trong câu chuyện về người con trai hoang đàng này, điều quan trọng nhất mà câu chuyện không hề dạy đó là hết thảy chúng ta đều là các con trai của Đức Chúa Trời, một số trong những đứa con ấy đơn giản là đã đi lạc. Những con người được người con trai hoang đàng đại diện là những kẻ đã tự nhận mình là kẻ có tội, và đó chính là những người con cần được dẫn đi đúng đường đến Đức Chúa Trời.
Hết thảy loài người đều là những tạo vật của Đức Chúa Trời và vì vậy, là những mục tiêu của tình yêu thương Ngài. Con người đã một lần được ở trong một mối liên hệ thân mật với Đức Chúa Trời, song đã bị rơi vào một tình huống lạc mất và loạn nghịch từ khi Ađam sa ngã. Và sự kiện mà người cha nói về con mình đó là con ông "đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm được" tỏ rõ rằng có một sự thay đổi triệt để đã diễn ra trong mối quan hệ của hai người này.
Sự thay đổi đã được diễn ra đó được gọi là "sự giải hòa".
CÁC NGƯƠI HÃY ĐƯỢC GIẢI HÒA !!!
Nhưng sự giải hòa không có giá trị gì nếu như những vật cản ở trong chỗ đầu tiên đó đã được phá đổ, mà rồi người bị xa lạ không quyết định để được giải hòa. Người con trai hoang đàng đã phải quyết định từ bỏ cuộc đời loạn nghịch mà mình đã chọn để trở về nhà. Điều đó được gọi cách đơn giản là "ăn năn" có nghĩa là thay đổi suy nghĩ và hướng đi của bạn. Vợ của Ôsê đã trốn khỏi ông ta, nhưng khi ông đến gặp nàng, nàng phải bằng lòng quay về nhà với ông.
Bởi bốn công việc quyền năng sau đây của Đấng Christ tại trên thập tự giá.
Sự làm nguôi cơn giận (IGi1Ga 2:2)
Sự cứu chuộc (ITi1Tm 2:5, 6)
Sự chết thay (HeDt 2:9)
Sự hòa giải (IICo 2Cr 5:19)
Đức Chúa Trời đã làm cho hết thảy loài người "có thể được hòa giải", song hiệu quả của những lẽ thật này chỉ trở thành sự thực khi một người chịu tin vào những điều đó. ITi1Tm 4:10 Chúng ta đã để lòng trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi nguời mà nhất là của những kẻ tin".
Phương cách đúng đắn một người được hòa thuận một cách cá nhân với Đức Chúa Trời là một vấn đề có tầm quan trọng lớn lao nhất. Cả số phận đời đời của chúng ta tùy thuộc vào những quyết định đúng trong vấn đề này. Trong chương kế tiếp chúng ta sẽ bàn luận cách cặn kẽ về câu hỏi quan trọng nhất mà chúng ta phải trả lời, đó là "Tôi đã được hòa thuận cách cá nhân với Đức Chúa Trời chưa?".


MỘT QUYẾT ĐỊNH CỦA SỐ PHẬN
Trong bốn chương vừa qua, chúng ta đã thấy những điều diệu kỳ trong tình yêu của Đức Chúa Trời, bởi những điều kỳ diệu đó Ngài đã chẳng bỏ tất cả những vật cản trở nằm giữa chính Ngài và con người.
Song điều thật khó tin được đó là Đức Chúa Trời đã thực hiện một cung ứng hoàn toàn của sự cứu chuộc cho cả những con người mà Ngài biết họ vốn từ chối sự cung ứng đó.
Đức Chúa Trời yêu thương "thế gian" đến nỗi đã ban Con Một của Ngài (GiGa 3:16). Sự cứu chuộc của Ngài không phải chỉ dành cho một phần thế gian mà Ngài biết trước là sẽ tiếp nhận sự cứu chuộc do sự chịu chết của Ngài. Mà là dành cho tất cả mọi người, những người chế nhạo Danh Ngài, chẳng để ý đến sự cứu chuộc của Ngài, khinh thường Lời Ngài và chối từ uy quyền của Ngài.
Dầu họ muốn hay không, thì cả thế gian đều "có thể được cứu" bởi cớ sự chết của Đấng Christ tại trên thập tự giá. Song "có thể được cứu" và "được cứu" là hai điều khác nhau.
Nếu có người nào đó bỏ 100.000 đồng vào tài khoản ngân hàng cho bạn, thì điều đó sẽ chẳng ích gì cho bạn, trừ phi, trước hết bạn được biết điều đó, và thứ hai, bạn sử dụng số tiền đó.
Bốn giáo lý vĩ đại về sự chết của Đấng Christ thay cho con người dành cho cả thế giới, song chỉ có thể ứng dụng được cho những ai sử dụng điều đó cho cá nhân mình.
SỰ LÀM NGUÔI CƠN GIẬN
"Đy chính Ngài (Chúa Giêxu) làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa." (IGi1Ga 2:2).
SỰ CỨU CHUỘC
"Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giêxu Christ, là người, Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người" (ITi1Tm 2:5, 6).
SỰ CHẾT THAY
"Nhưng Đức Chúa Giêxu này, mà đã ở dưới các thiên sứ một chút, chúng ta đã thấy Ngài, vì sự chết Ngài đã chịu được đội mão triều vinh hiển tôn trọng. Đy vậy, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giêxu đã vì mọi người nếm sự chết" (HeDt 2:9).
SỰ GIẢI HÒA
"Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người (IICo 2Cr 5:19).
Một lần tôi được nghe một diễn giả nọ so sánh việc Đức Chúa Trời ban tặng sự cứu chuộc cho cả thế gian này với câu chuyện một ông chủ tiệm bán các gia cầm nọ, ông ta để một chú mèo con trên cửa sổ gian hàng của mình và cho không. Chú mèo ấy được dành sẵn cho mọi người, song nó chỉ trở thành vật sở hữu của người nào đi đến và bắt lấy.
Đức Chúa Trời đã ban cho "sự tha thứ nhưng không" tại cửa sổ và điều đó sẵn sàng cho mọi người, nhưng quyền sở hữu chỉ thuộc về những kẻ nào đến và nhận mà thôi.
ĐỪNG ĐỂ CÁI CÀY ĐI TRƯỚC CON TRÂU!
Hiện nay, trong ánh sáng của việc những vật cản đã được dời bỏ khỏi giữa Đức Chúa Trời và con người, việc Đức Chúa Trời đã ban cho cách nhưng không một mối quan hệ mới với chính Ngài, vậy thì con người phải làm gì để nhận được những kết quả của việc đó và thực sự có được điều đó trong chính cuộc đời của mình?
Không có điều nào khác quan trọng hơn để phân biệt giữa những phương cách để đến với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời và những kết quả của sự cứu rỗi. Điều tối quan trọng đó là chúng ta đừng để cái cày đi trước con trâu trong vấn đề làm thế nào để hưởng dụng tất cả mọi điều Đấng Christ đã thực hiện cho chúng ta trên thập tự giá.
Nếu chúng ta làm cho điều mà Kinh Thánh gọi là kết quả của sự cứu chuộc trở thành phương cách và bởi phương tiện mà chúng ta có được sự cứu rỗi, thì chúng ta đã thêm công sức của con người vào trong hình ảnh về chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Và công lao của con người sẽ làm mất giá trị của toàn bộ khái niệm về một sự cứu chuộc nhưng không.
Bây giờ chúng ta hãy xem một số những công việc mà con người đã cố gắng thêm vào "đức tin" như là những phương sách bổ sung cho sự cứu chuộc.
ĐỨC TIN, CÓ CẦN THÊM VIỆC LÀM KHÔNG?
Sứ đồ Phaolô biết rằng hết thảy loài người đều có tánh cho mình là trung tâm không bao giờ thỏa mãn được khiến họ rất muốn khoe khoang những khả năng về đạo đức hay về tâm linh, nên ông đã viết cho các tín hữu ở tại Êphêsô: "Vả ấy là nhờ ân điển bởi đức tin mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời, ấy chẳng phải kết quả của việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình" (Eph Ep 2:8, 9)
Đó là một lời mô tả xác thực về bản chất của tấm lòng con người, khiến cho ngay từ khi buổi đầu có Cơ Đốc giáo, sứ đồ Phaolô đã phải nhắc nhở loài người rằng sự cứu rỗi là một ân ban nhưng không đến từ Đức Chúa Trời và không có một phương cách khả dĩ nào để làm bất cứ điều gì để xứng đáng với sự cứu rỗi, nếu không sự kiêu ngạo và khoe khoang của con người sẽ chen vào (tràn lấn).
Bạn thấy đấy, nếu như Đức Chúa Trời bắt buộc ở nơi con người một điều gì đó như là những việc lành hoặc những nổ lực để họ được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, thì ắt sẽ có những lý do chính đáng để cho một số người khoe khoang vì họ đã tự giúp mình để vào được trong gia đình của Đức Chúa Trời. Bởi vì, rõ ràng là có một số người sẽ làm việc khó nhọc hơn những người khác nhiều để giành được sự yêu thích của Chúa và điều đó cho phép họ thấy rằng Ngài phải ban cho họ nhiều sự yêu thương và sự chấp nhận hơn những người khác đã không khó nhọc vì như vậy mới là công bằng.
ÂN ĐIỂN: SỰ GIÀU CÓ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI DO ĐẤNG CHRIST TIÊU PHA
Song chúng ta cứ gặp phải một chữ được lặp đi lặp lại mãi trong Tân Ước cho chúng ta biết điều căn bản thật sự mà dựa vào đó Đức Chúa Trời chấp nhận chúng ta. Đó là chữ "Ân Điển".
Nếu như chúng ta chỉ có nửa tá từ trong từ vựng của loài người chúng ta, thì chữ ấy phải là một trong số đó. Chữ này là một trong những chữ mang nặng ý nghĩa, bạn cảm thấy dường như cần phải có năm mươi từ để khởi sự giải thích chữ đó.
Song nói một cách đơn giản, nó có nghĩa là ban cho ai một điều gì đó cách nhưng không mà người ấy không thể có cách nào đáng nhận được hoặc xứng đáng được hoặc kiếm được.
Chỉ cần một tí, ngay cả một thoáng gợi ý về người nào đó cố gắng để xứng đáng hoặc kiếm cách đạt được điều đã được ban cho, thì ân điển không còn là ân điển nữa (Xem RoRm 11:6).
Bây giờ, Đức Chúa Trời đã ban những gì cho chúng ta là điều chúng ta không thể làm cách gì để xứng đáng đuợc.
Tình yêu thương, sự tha thứ, sự công bình, sự chấp nhận, sự thương xót, sự cứu chuộc và sự sống đời đời của Ngài - hết thảy đều được gói ghém trong một chiếc túi được gọi là "sự cứu rỗi". Đấy là điều Ngài đã ban cho chúng ta, nếu chúng ta bằng lòng nhận điều đó, thì nó sẽ được ban cho cách hoàn toàn trên cơ sở của "ân điển".
Cuộc chạm trán đầu tiên của tôi, thành thật mà nói theo cách con người - với khái niệm về ân huệ là khi tôi nhận được hợp đồng bảo hiểm về sức khỏe lần đầu tiên. Sau khi phải trả mười đồng bắt buộc, là số tiền kiếm được cách khó khăn mỗi tháng trong vòng hai năm theo hợp đồng này, tôi đã đi đến chỗ mà tôi không thể góp nhặt được đủ mười Mỹ kim một tháng. Tôi rất ghét việc để cho hợp đồng bị mất hiệu lực bởi vì tôi đã trả vào đó quá nhiều rồi mà sẽ không bao giờ được sử dụng nó lấy một lần.
Nhưng rồi khi hạn trả tiền đến, tôi cũng đã không gởi gì cho họ cả và tôi buồn bã đoán rằng đấy có lẽ là lần cuối cùng tôi nghe về hợp đồng. Thế mà, sau khoảng hai tuần, tôi nhận được một lá thư từ nơi họ cho tôi biết rằng hợp đồng bảo hiểm của tôi đã không bị hủy bỏ và tôi đang trong một thời kỳ ba mươi ngày "ân huệ".
Tôi đã không làm gì để đáng nhận được ba mươi ngày bảo hiểm đó, và tôi không phải trả tiền, nhưng tôi đã khám phá ra rằng, dầu sao tôi cũng đã được bảo hiểm đầy đủ trong bất cứ trường hợp bệnh tật hoặc tai nạn xảy đến cho tôi.
Đó mới chỉ là ân huệ của con người, thế thì bạn có thể hình dung ra ân điển thiên thượng phải như thế nào.
ÂN ĐIỂN LÀ PHẦN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI: ĐỨC TIN LÀ PHẦN CỦA CON NGƯỜI.
Nếu bạn có một món quà dành cho một người nào đó mà bạn yêu mến, nhưng người đó cứ cố gắng kiếm cách để trả cho điều đó, bạn hẳn cảm thấy bị mất mặt trong cố gắng của mình nhắm bày tỏ lòng ưu ái hoàn toàn của bạn. Nếu bạn muốn người ấy làm việc để nhận quà tặng, thì nó sẽ không thật sự còn là một tặng phẩm nữa, mà là tiền công.
Đó là điều Phaolô đã nói về những nỗ lực của con người, làm việc để được sự ưu ái của Đức Chúa Trời: "Vả, đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ, còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình (4:4, 5)
Không còn gì có thể bày tỏ rõ ràng hơn đức tin của một người đặt vào điều Đức Chúa Giêxu đã thực hiện cách nhưng không sẵn dành cho người ấy bởi ân điển tại thập tự giá là điều Đức Chúa Trời kể như là sự công bình cho người ấy. Tôi đặt đức tin mình vào Chúa Giêxu và Ngài đặt sự công bình của Ngài vào trong tôi.
THẾ Ư, NHƯNG ...!
Vấn đề "cái cày đi trước con trâu" có thể ngay lập tức làm bạn thốt lên "Thế ư, nhưng còn điều được nói trong sách Giacơ rằng "Đức tin không có việc làm là đức tin chết" thì sao?
Có một điều quả quyết: Nếu Thánh Giacơ hàm ý rằng đức tin và việc làm cùng làm nên sự cứu chuộc (như có một số người tin rằng ông ta muốn nói như vậy), thì sự dạy dỗ của ông hoàn toàn trái ngược với mọi điều Phaolô đã dạy. Bây giờ bởi vì tôi không tin rằng Kinh Thánh có thể tự mâu thuẫn, cho nên chúng ta hãy xem xét cách đúng đắn về điều mà Thánh Giacơ thật sự nhấn mạnh trong đoạn hai. Trong đoạn hai, Giacơ đang nói với một nhóm người xưng mình là những tín đồ thật trong Chúa Giêxu song không bày tỏ một bằng cớ nào về sự kiện đó trong đời sống họ. Vì vậy, Giacơ đã lấy trường hợp đó để khuyến cáo rằng đức tin chỉ có thể được nhìn thấy qua con người, qua những gì đức tin thể hiện trong một đời sống. Ông đưa ra hai trường hợp hoàn toàn khác nhau được chép trong lịch sử Kinh Thánh để chứng minh cho quan điểm này và để bày tỏ rằng đức tin thật luôn luôn đem lại chứng cơ chân thật của nó.
TRƯỜNG HỢP 1: ÁPRAHAM
Trường hợp thứ nhất mà Giacơ đề cập đến đó là trường hợp của Ápraham khi Đức Chúa Trời kêu gọi xem ông có sẵn lòng để dâng đứa con trai yêu dấu duy nhất, là Ysác, như một của lễ cho Đức Giêhôva không. Trong sự vâng lời và tin cậy tuyệt đối rằng Đức Chúa Trời đã biết điều Ngài đang làm, Ápraham đã thật sự đi quá xa khi đặt Ysác lên bàn thờ và đưa dao lên toan đâm vào lòng cậu. Nhưng Đức Chúa Trời đã bảo Ápraham dừng tay lại vừa đúng lúc. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy điều Ngài muốn thấy, đó chính là Ápraham vẫn là một con người tin cậy Đức Chúa Trời dẫu trong trường hợp nào và rằng ông chính là loại người mà Ngài có thể sử dụng để trở thành cha của một dòng dõi được gọi là dòng dõi "Hêbơrơ".
Bạn thấy đấy, rất quan trọng để mà lưu ý rằng cuộc thử thách ấy trong cuộc đời của Ápraham, được chép trong SaSt 22:1-24 đã xảy ra bốn mươi năm, sau khi Đức Chúa Trời tuyên bố Ápraham công bình, dựa trên cơ sở của đức tin ông mà thôi. 15:6 chép lại cuộc trò chuyện thân mật giữa Đức Chúa Trời với Ápraham khi Ngài cho ông biết rằng ông sẽ có nhiều con cháu. Lúc ấy Ápraham khoảng bảy mươi lăm tuổi, và ông chưa hề có con. Mặc dầu ông không thể hình dung làm cách nào ông có thể trở thành cha của nhiều dân tộc, ông chỉ đơn sơ tin rằng nếu Đức Chúa Trời đã phán rằng ông sẽ trở thành cha của nhiều dân tộc, thì ông sẽ được như vậy.
Và chỉ bởi đức tin đơn sơ ấy đặt nơi Đức Chúa Trời, mà đã khiến Ngài kể Ápraham là công bình. Kể từ ngày đó cho đến ngày ông thật sự đem con trai mình lên Núi Môria để dâng cậu làm của lễ, gần bốn mươi năm đã trôi qua và đã nhiều lần trong suốt thời gian đó, ông đã thất bại trong sự tin cậy Đức Chúa Trời. Nhưng có một điều vẫn đứng vững trong suốt những năm đó là: ông vẫn được xem là một người công bình trước mặt Đức Chúa Trời trên cơ sở đức tin tin cậy của ông lúc ban đầu.
Sau khi đưa ra ví dụ về đức tin của Ápraham trong việc dâng Ysác, Giacơ nói về việc này "Nhơn đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chứ chẳng những cậy đức tin mà thôi" (Gia Gc 2:24).
Con người nhìn thấy việc làm, đó là sự thật. Nhưng Đức Chúa Trời đã nhìn thấy đức tin của Ápraham từ bốn mươi năm trước khi điều đó xảy ra và dựa trên cơ sở đó Ngài xưng ông là công bình vô điều kiện, đó cũng là một sự thật (SaSt 15:1-21, RoRm 4:1-5).
Vấn đề là sau bốn mươi năm được xưng công bình người ta hẳn phải trông đợi Ápraham bày tỏ chứng cớ gì đó của đức tin mình - và ông đã bày tỏ. Song đức tin chính là phương tiện cho sự cứu rỗi của ông, còn việc làm đơn giản chỉ là chứng cớ của lòng tin thật mà thôi.
Đức tin thật sẽ luôn luôn đem đến việc làm như là chứng cớ của đức tin. Nhưng việc làm thì không bao giờ đem lại đức tin thật. Bạn hiểu chứ?
TRƯỜNG HỢP 2 KẤ NỮ RA HÁP
Sợ rằng chúng ta nghĩ rằng muốn được Đức Chúa Trời xưng là công bình, chúng ta phải có những thể hiện của đức tin lớn lao như Ápraham đã có, nên thánh Giacơ đã cho một trường hợp khác trong lịch sử để chứng tỏ thế nào một việc làm nhỏ cũng đủ để làm chứng cớ bày tỏ một đức tin thật.
Vào một giai đoạn trong lịch sử của Ysơraên, khi họ đang tìm cách để vào đất hứa, các thám tử đã được sai đi từ quốc gia Ysơraên du hành vào trong thành Giêricô để biết được loại chống đối nào họ phải đương đầu nếu họ tìm cách vào Giêricô. Hai thám tử người Hêbơrơ đã vào nhà của một kỵ nữ tên là Raháp, mặc dầu cô ta là một người ngoại và không quen biết hai người này, cô đã giấu họ khi các người bổn xứ đến lục soát tìm kiếm các thám tử (Gios Gs 2:1-7).
Sau khi những kẻ đuổi bắt họ đã đi khỏi, Raháp nói với các thám tử Hêbơrơ rằng hết thảy dân tộc họ đã được nghe nói về biến cố Biển Đỏ rẽ nước ra cho dân Ysơraên bốn mươi năm về trước. Và thể nào hết thảy người dân trong thành Giêricô đã sống trong nỗi sợ hãi dân tộc Ysơraên bởi vì những việc lớn lao mà Đức Chúa Trời của họ đã làm cho họ trong việc đem họ ra khỏi nơi giam giữ tại xứ Ai Cập.
Đoạn người kỵ nữ dân ngoại nói "... vì Giêhôva Đức Chúa Trời các ông là Đức Chúa Trời ở trên trời cao kia, và ở dưới đất thấp này. Vậy, bây giờ, vì tôi đã làm nhơn cho ông, thì hai ông cũng phải làm nhơn lại cho nhà cha tôi" khi các ông đến chinh phục xứ sở (11:1-12:24).
Điều đó dường như không giống một việc làm mấy, song đủ để chứng tỏ rằng cô ta đã tin cậy nơi Đức Chúa Trời của dân Ysơraên và cho thấy rằng lòng tin đã thúc đẩy cô hành động để che giấu các thám tử Ysơraên.
Từ cả hai giải bày trong sách Giacơ, chúng ta có thể thấy được rằng đức tin chỉ đúng tùy theo đối tượng của nó, và đối tượng phải là Chúa và là niềm tin cậy đặt nơi quyền năng của Ngài và nơi lời của Ngài. Khi chúng ta có bất cứ loại đức tin nào, hoặc đức tin lớn như Ápraham, hoặc nhỏ như Raháp, mà được đặt vào Đức Chúa Trời thì sẽ dẫn đến bằng cớ có kết quả trong đời sống chúng ta.
Nếu không hề có một công việc công bình nào trong đời sống của một người, thì có thể nói cách mạnh dạn đời sống ấy không có đức tin thật. Song nếu có đức tin thật, thì tôi bảo đảm với bạn rằng cuối cùng sẽ có những việc tốt lành.
ĐỨC TIN CÓ CỘNG THÊM SỰ ĂN NĂN KHÔNG?
Bất cứ khi nào có điều gì được thêm vào thành phần chính yếu của "đức tin" ngõ hầu nhận được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, thì chúng ta đang ở trong sự hiểm nghèo của việc lại để cái cày đi trước con trâu. Một số người quá nhấn mạnh đến sự ăn năn như là một điều kiện thiết yếu để được sự giảng hòa. Dĩ nhiên, ăn năn có liên quan hoàn toàn đến việc trở thành một con cái Đức Chúa Trời, song điều đó phải được định nghĩa cách cẩn thận.
Có những người vì lòng sốt sắng muốn đưa con người xây khỏi đường lối tội lỗi của họ và tiếp nhận Cứu Chúa, gần như đã đặt sự ăn năn đi đôi với niềm tin. Ăn năn được họ định nghĩa như là một sự đau buồn sâu xa về tội lỗi, thường được bày tỏ trong sự khóc lóc và những cảm xúc như thế.
Đây là một sự hiểu biết sai lầm về chữ "ăn năn". Có những sự cảm xúc sâu xa về sự đau buồn vì đã từng bỏ phí cuộc đời chối bỏ Đấng Christ là một điều hoàn toàn đúng, nhưng đó không phải là tất cả những gì có liên quan đến sự ăn năn.
Giuđa Íchcariốt đã cảm thấy một sự đau buồn như vậy vì đã phản bội Chúa Giêxu và đã khóc lóc cách thảm thiết, đến nỗi ông đã trả lại số tiền ông đã nhận vì nộp Ngài cho những kẻ thù nghịch Ngài. Song ông đã không hề ăn năn hay có lòng tin. Thay vào đó, ông tự thắt cổ như là hậu quả của một nỗi tuyệt vọng đến từ tội lỗi (Xem Mat Mt 27:3-5).
Khi chúng ta nói chuyện với ai đó về nhu cầu cần có Chúa Cứu Thế trong đời sống họ, chúng ta cần phải tìm xem đâu là chỗ anh ta quan niệm về vấn đề tội lỗi. Nếu anh ta không nhận biết rằng mình là một tội nhân, thì anh ta cũng sẽ không biết rằng anh ta cần một Đấng Cứu Thế. Trong những trường hợp như thế thì cần phải nhấn mạnh đến cái nhìn của Đức Chúa Trời về tội lỗi và tìm cách để tỏ cho người ấy biết rằng, theo sự định nghĩa của Kinh Thánh, thì người ấy bị xem là một tội nhân.
Nhưng nói chung, chúng ta không nên nhấn mạnh đến những tội lỗi riêng - như nói dối, lừa gạt, gian dâm, dùng ma túy hoặc điều gì đó - mà bạn cố gắng tìm cách để cho người ấy biết làm những việc như thế là xấu. Chúng ta phải nhấn mạnh đến điều Đức Chúa Trời đã làm để dời bỏ tất cả những vật cản ngăn cách Đức Chúa Trời với con người, kể cả vật cản tội lỗi. Chúa Giêxu phải là vấn đề chính yếu.
THAY ĐỔI HAY KHÔNG THAY ĐỔI ĐÓ CHÍNH LÀ VẤN ĐỀ!
Chữ ăn năn, trong tiếng Hy Lạp là metanoeo có nghĩa là một sự thay đổi trong tâm trí về một việc gì đó hay là một người nào đó. Nó có ý nghĩa là xoay hướng từ một thái độ này sang một thái độ khác đem lại một sự thay đổi về phương hướng. Nó là một chữ có liên hệ đến sự suy luận của chúng ta hơn là đến những tình cảm của chúng ta, mặc dầu bất cứ điều gì tác động sâu xa đến suy luận của chúng ta thì cũng sẽ đụng đến những tình cảm của chúng ta.
Sự ăn năn liên hệ đến Đấng Christ, có nghĩa là thay đổi suy nghĩ của chúng ta về Ngài, Ngài là ai và điều Ngài đã thực hiện để mang lại sự tha thứ và giải thoát chúng ta ra khỏi tội lỗi của mình. Khi chúng ta đặt đức tin vào Chúa Giêxu như là Ngài đã thế chỗ chúng ta cách riêng tư trên thập tự giá và đã lãnh hình phạt vì cớ tội lỗi chúng ta, thì tự nhiên chúng ta sẽ ăn năn, bởi vì chúng ta không thể nào thừa nhận Ngài theo cách đó mà không phải thay đổi những suy nghĩ của mình theo một cách nào đó liên quan đến Ngài.
Điểm chính của vấn đề là thế này, bạn có thể ăn năn mà không tin, nhưng bạn không thể tin mà không ăn năn. Đó là lý do vì sao trong sách Tin lành Giăng, điều đã được viết cốt để đưa người ta đến một đời sống mới trong Đấng Christ, điều kiện "đặt đức tin trong Đấng Christ" được nhắc đến chín mươi chín lần. Trong khi chữ "ăn năn" thì không hề được nhắc đến gì cả.
Bạn có thể tự hỏi vì sao tôi đã kết luận như vậy về việc này. Đy là bởi vì tôi đã từng thấy người ta ngồi trong một buổi nhóm hoặc đọc một quyển sách nói về công lao cứu chuộc của Đấng Christ dành cho họ và họ đã tự bảo "Điều đó là đúng sự thật và tôi tin", nhưng sau đó bởi vì họ đã không có một kinh nghiệm ăn năn sâu xa nào đó về mặt tình cảm và có điều kiện phát triển mọi điều đó, họ đã không chắc rằng niềm tin của họ có thành thực đủ để cứu được họ hay không.
Hãy để tôi nói cho bạn ngay bây giờ, nếu đang khi bạn đọc quyển sách này, bạn tự nhủ "Đúng thế, tôi tin. Tôi chưa hiểu hết tất cả, nhưng tôi đã tin điều tôi hiểu được" thì tôi bảo đảm với bạn rằng bạn đã trở nên một con cái của Đức Chúa Trời. Hoặc đức tin của bạn mạnh mẽ như đức tin của Ápraham hoặc yếu ớt như đức tin của Raháp, thì cũng không có gì khác. Bạn đã đặt nó vào đúng đối tượng bởi bạn đã đặt nó nơi Đấng Christ.
ĐỨC TIN CÓ CỘNG THÊM QUYỀN CHÚA TỂ CỦA ĐẤNG CHRIST KHÔNG?
Đây là một hình thức rất tinh vi của công sức loài người mà một số người đã thêm cho "đức tin" như là một điều kiện để được cứu rỗi. Đó lại là một vấn đề "cái cày đi trước con trâu nữa" và điều đó đưa đến một vấn đề rắc rối cực kỳ, bởi vì nó là một điều kiện không có giới hạn và không thể xác định được.
Ví dụ, trong giờ phút này, ai có thể nói rằng dầu thế nào đi nữa bao lâu người ấy còn làm một tín đồ, thì người ấy sẽ đặt hết thảy mọi sự trong cuộc đời mình dưới quyền tể trị của Chúa Giêxu không?
Hết thảy các Cơ Đốc nhân đều muốn điều đó sẽ là sự thật nhưng bao lâu mà chúng ta vẫn còn sống trên trần gian này, với bản chất tội lỗi chưa được biến cải, rồi thế gian, xác thịt, và ma quỷ vẫn luôn cố gắng để chụp lấy chúng ta, thì khó mà có cơ may để trong cuộc đời chúng ta có một thời điểm khi mọi sự đều nằm dưới quyền tể trị của Đấng Christ cùng một lúc.
Nếu ngay cả những tín đồ trưởng thành còn biết rõ có những lãnh vực trong đời sống họ chưa luôn luôn đầu phục Chúa hoàn toàn, thì làm sao chúng ta lại bắt một người chưa tin phải mang lấy trách nhiệm thực hiện một điều gì đó như là điều kiện để được cứu rỗi, là điều chúng ta còn chưa làm nổi?
Những người nói "Nếu Đấng Christ chưa là Chúa Tể mọi sự, thì Ngài không phải Chúa Tể" đã có một khẩu hiệu đáng khâm phục, nhưng họ đang chất một gánh nặng trên những tín đồ có tiềm lực mà họ không thể mang nổi. Song điều tệ hơn đó là họ đang thêm vào một cách tinh vi "những việc làm" đối với đức tin, là điều làm cho ân điển trở nên mất hiệu lực, và làm cho sự cứu rỗi, nếu không thể không có được, thì giống như một cái gông cột nơi cổ của người tín đồ tương lai.
Sự dạy dỗ của Kinh Thánh về vấn đề này là chúng ta phải biết rằng Chúa Giêxu là Chúa tể theo một ý nghĩa Ngài không chỉ là một người, mà là Chúa tể từ trời đến, trở thành một con người để chịu chết cho tội lỗi của chúng ta. Tuy nhiên sự hiểu biết ấy cũng không trở nên trọn vẹn cho đến khi nào chúng ta tin nhận Ngài là Chúa Cứu Thế và nhận được sự sống thuộc linh mới hầu giúp chúng ta hiểu được những lẽ thật thuộc linh.
Không có gì là sai lầm khi nói cho một người có lòng quan tâm tìm kiếm chân lý biết rằng Đấng Christ muốn trở thành Chúa tể đời sống người ấy một khi Ngài đến sống trong người ấy, song, trừ phi sự trình bày đó được kèm theo một sự dạy dỗ có liên quan đến quyền ngự trị của Thánh Linh để làm thăng tiến địa vị Chúa tể của Chúa Giêxu trong đời sống bạn, thì tốt hơn là khoan bàn đến. Một khi người ta đã được cứu, thì chính Đức Thánh Linh sẽ đưa đến kết quả của quyền Tể trị của Đấng Christ.
Trong RoRm 10:9, 10, Sứ đồ Phaolô nói về những gì có liên quan đến việc được cứu như sau: "Nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giêxu là Chúa, và tin trong lòng rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết, thì ngươi sẽ được cứu, vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, và bởi miệng làm chứng thì được sự cứu rỗi".
Hai thành tố của sự cứu rỗi đã được đề cập trong các câu Kinh Thánh đó. Một là nguyên nhân và cái còn lại là kết quả. Điều thứ nhất phải thực hiện bằng tấm lòng hoặc tâm trí, và cái còn lại phải được thực hiện bằng môi miệng.
Hãy xem các câu Kinh Thánh ấy một cách cẩn thận - Phaolô nói rằng điều mà con người tin trong lòng về sự sống lại của Đấng Christ thì có nghĩa là người ấy sẽ được Đức Chúa Trời ban cho sự công bình của Đấng Christ hay nói cách khác, người ấy được trở nên một con cái của Đức Chúa Trời.
Và rằng bởi môi miệng người ấy làm chứng hoặc nói cho thế giới biết rằng Đấng Christ là Chúa và hiện nay cũng là Cứu Chúa của cá nhân mình.
Niềm tin là nguyên nhân của sự cứu chuộc, và kết quả là việc xưng Chúa Giêxu là Chúa ra.
ĐỨC TIN CÓ CỘNG THÊM LỄ BÁP TÊM KHÔNG?
Việc thêm cho đức tin một nghi lễ mà Đức Chúa Trời đã ban truyền và xem đó như là một điều kiện để được cứu là một trong những sai lầm tinh vi nhất trong suốt lịch sử tối tăm giữa mối tương quan Đức Chúa Trời với con người từ trước đến nay. Vấn đề làm phép báp têm bằng nước đã là một vấn đề lộn xộn nhất, bởi vì chính mình Chúa Giêxu đã truyền dạy nghi lễ nầy (Mat Mt 28:19, 20) sách Công vụ các Sứ đồ cũng bày tỏ rằng đây là một sự thực hành phổ biến cho những kẻ tin. Nếu như một người tin Chúa đã nhận được một sự giải thích có ý nghĩa đúng về việc làm báp têm bằng nước thì sẽ chẳng có vấn đề gì, người ấy hẳn sẽ muốn được làm phép báp têm sau khi tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa mình. Lễ báp têm là lời làm chứng của kẻ tin để cho thế gian biết rằng người ấy tin mình được hiệp nhất hoàn toàn với Đấng Christ trong sự chết và sự chôn của Ngài và người ấy nay được sống lại với Chúa Giêxu trong một đời sống mới là nơi tội lỗi không còn quyền cai trị trên mình nữa.
Tôi đặc biệt rung động khi nhìn thấy hàng ngàn người ngày nay khao khát bày tỏ trong cách thức thật xúc động và hiển nhiên cho thấy: việc họ đến tin nhận Đấng Christ là Cứu Chúa của họ. Không ai bắt buộc những người này về sự cần thiết phải chịu báp têm, nhưng thật lạ lùng, một khi đã được liên hiệp với Chúa, dường như họ chỉ muốn nhảy ngay xuống một cái biển, cái hồ hoặc một cái bể tắm gần nhất và công khai tuyên bố rằng họ thuộc về Đấng Christ.
Song mặc dầu biểu tượng cần thiết này thật là đẹp đẽ và đầy ý nghĩa, nó vẫn phải được coi như là một kết quả của sự cứu rỗi chứ không phải là nguyên nhân cũng không phải là một phần nguyên nhân của sự cứu rỗi. Nếu chúng ta kể thêm phép báp têm như là một điều kiện để được cứu, thì nó sẽ trở thành một việc làm và một hành động do công sức của con người là điều vô hiệu hóa ân điển tinh tuyền, là ân điển không cần có thêm điều chi từ con người ngoại trừ đức tin.
MỘT SAI LẦM CŨ ĐƯỢC HỒI SINH
Những người Giuđa trong thời Chúa Giêxu, phần lớn đã phạm phải lỗi lầm giống như một số các tín hữu ngày nay. Phép cắt bì được ban cho họ qua Ápraham tương đương với phép báp têm bằng nước ngày nay.
Sự dạy dỗ về việc bắt buộc phải thêm phép cắt bì vào trong đức tin đã là nguồn gốc của một cuộc tranh cãi lớn trong Hội Thánh đầu tiên (Xem Cong Cv 15:1-11). Sứ đồ Phaolô trong việc chứng minh rằng sự cứu rỗi luôn luôn chỉ do đức tin mà thôi, đã chọn hai trong số những nhân vật vĩ đại nhất của Cựu Ước để giải bày cho sự thật này, đó là Ápraham và Đavít.
Xin bạn hãy đọc kỹ điều Phaolô viết về Ápraham "Nếu Ápraham đã được xưng công bình bởi việc làm, thì có cớ khoe mình nhưng trước mặt Đức Chúa Trời thì không có như vậy. Vì Kinh Thánh có dạy chi? Ápraham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người "(RoRm 4:2, 3).
Sau đó Phaolô bày tỏ rằng Ápraham được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời trên cơ sở đức tin không liên hệ đến bất cứ nghi lễ nào "Vậy lời luận về phía đó chỉ chuyên về kẻ chịu cắt bì mà thôi sao? Hay cũng cho kẻ không chịu cắt bì nữa? Vả chúng ta nói rằng "đức tin của Ápraham được kể là công bình cho người" "Nhưng được kể thế nào? Khi người đã chịu cắt bì rồi, hay là khi người chưa chịu cắt bì?" Đoạn, Phaolô trả lời cho chính câu hỏi của mình "Đy không phải sau khi người chịu cắt bì, bèn là trước. Vậy người đã nhận lấy cắt bì, như dấu ấn của sự công bình mà người đã chịu bởi đức tin, khi chưa chịu cắt bì" (4:9-11).
Phaolô không ngừng tranh cãi về vấn đề này, bởi vì bất cứ một lễ nghi nào, hoặc phép cắt bì, sự thông công, hoặc phép báp têm, nếu được kể thêm vào đức tin như là một điều kiện để nhờ đó được cứu đều sẽ trở thành việc làm của công sức loài người và điều đó bất xứng hợp với ân điển.
SỨ ĐỒ PHAOLÔ KHÔNG ĐƯỢC SAI PHÁI ĐỂ LÀM BÁP TÊM
Phaolô cho thấy rằng phép báp têm rõ ràng không phải là một điều kiện để được cứu rỗi khi ông nói "Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì ngoài Cơrítbu và Gaiút, tôi chưa từng làm phép báp têm cho ai trong vòng anh em"
Và rồi ông chợt nhớ ra một số người đã được ông làm phép báp têm cho và ông kể thêm "Tôi cũng đã làm phép báp têm cho người nhà Sêpha, ngoài nhà đó, tôi chẳng biết mình đã làm phép báp têm cho ai nữa. Vì Đấng Christ đã sai tôi, chẳng phải để làm phép báp têm đâu nhưng để rao giảng Tin Lành, và chẳng dùng sự khôn khéo mà giảng, kẻo thập tự giá của Đấng Christ ra vô ích" (ICo1Cr 1:14-17)
Mặc dầu Phaolô đã dẫn dắt phần lớn người trong Hội Thánh Côrinhtô đến với Đấng Christ, ông đã không thể nhớ rõ những ai đã được ông làm phép báp têm. Sau đó ông tuyên bố một câu thật có giá trị "Đấng Christ đã không sai ta để làm phép báp têm, mà là để giảng Tin Lành" Sứ mạng trong đời Phaolô là để đem con người đến sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ. Nếu phép báp têm là một phần trong tiêu chuẩn để được cứu rỗi, thì ông đã không bao giờ tuyên bố lời trên. Phaolô hẳn đã thật sự kéo theo một phép báp têm quanh sau ông nếu như phép báp têm là một điều kiện của Tin Lành mà ông đã được Đấng Christ ủy thác để rao giảng điều đó.
Nhưng thay vào đó, Phaolô đã tập trung vào một điều là giảng Tin Lành. Bởi vì khi con người tin điều đó, thì quyền năng của Đức Chúa Trời sẽ đem lại sự cứu rỗi (Xem RoRm 1:16, 17).
VẤN ĐỀ THỰC SỰ LÀ ĐỨC TIN KHÔNG CỘNG THÊM GÌ HẾT!
Đức Chúa Trời luôn luôn có một phương cách độc nhất trong việc cứu chuộc con người và điều đó dựa trên nguyên tắc của "ân điển bởi đức tin, ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình" về cách người ấy đã giúp Đức Chúa Trời cứu chuộc mình (Xem Eph Ep 2:8, 9)
Ngay cả trong thời Cựu Ước, sự cứu chuộc cũng bởi "Ân điểm, qua đức tin". Không có người nào có thể nói mình xứng đáng được Ngài tha thứ cả. Hết thảy mọi người đều đáng bị đoán phạt, nhưng trước khi Đấng Christ đến, Đức Chúa Trời đã dự bị cách rộng lượng các sinh tế bằng thú vật để mô tả Chiên Con hầu đến của Đức Chúa Trời là Đấng sẽ cất tội lỗi của cả thế gian đi.
Dầu vậy, chỉ dâng của lễ thôi thì cũng không cứu được một người nào. Mà người ấy phải đến bằng đức tin, tin rằng đấy là sự dự bị của Đức Chúa Trời vào thời bấy giờ để chuộc tội lỗi của mình, và người ấy phải tin cậy Đức Chúa Trời đã nhân từ nhịn nhục không xét đoán người ấy bao lâu mà người ấy đem dâng của lễ với đức tin.
Tân Ước cũng dạy dỗ rõ ràng rằng đức tin là phương tiện để được cứu. Những kết quả thì có rất nhiều. Giữa vòng họ sẽ có những việc lành, sự ăn năn, Đấng Christ dần dần trở nên Chúa tể đời sống bạn, phép báp têm, sự vâng phục, sự hầu việc, những bông trái của Thánh Linh, những ân tứ thuộc linh, và tiếp tục còn nhiều điều nữa.
Song vấn đề chính yếu phải còn lại đó là đức tin, duy đức tin là tất cả những gì cần thiết để được cứu. Bạn còn nhớ tên trộm cướp bên cạnh Chúa Giêxu ở tại thập tự giá chăng. Anh ta đã đặt lòng tin trong Đấng Christ khi đang bị treo trên thập tự và sắp chết. Anh ta không thể bước xuống khỏi thập tự để làm bất cứ việc lành nào, anh ta không thể chịu báp têm, và anh ta không thể đi ra và bày tỏ cuộc đời Cơ Đốc Nhân thánh khiết cho thế gian.
Dầu vậy, Đức Chúa Giêxu đã phán với anh ta rằng ngay chính hôm nay, anh sẽ được ở với Ngài trong nơi Parađi bởi vì anh ta đã đặt lòng tin nơi Chúa Giêxu.
Tôi được biết điều một số người đã dạy dỗ rằng Đức Chúa Trời có nhiều cách khác nhau để cứu con người ở những thời kỳ khác nhau trong lịch sử nhân loại. Nhưng nếu Đức Chúa Trời có từng dung hòa và thực hiện một trường hợp ngoại lệ nào đó vì để cứu thậm chí một người đi nữa, là vì Ngài bị ràng buộc bởi bổn tánh Ngài để thực hiện sự cứu rỗi cho mọi người.
Thuộc tính công chính của Đức Chúa Trời bảo rằng Ngài phải đối xử hợp lý và công bằng với mọi người, như sứ đồ Phaolô đã nêu lên trong RoRm 2:11 "Vì trước mặt Đức Chúa Trời chẳng vị nể ai đâu". Nếu Đức Chúa Trời đã có thể cứu một tên trộm cắp chỉ bởi đức tin của người ấy mà thôi - và Ngài đã làm điều đó - thì Ngài cũng phải làm giống như thế cho mọi người.
Ngoài tất cả những điều đó, nếu như có một phương cách nào khác dành cho con người để họ được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời mà Đức Chúa Trời không phải để Con Một Yêu Dấu của Ngài chịu chết, thì theo bạn, Đức Chúa Trời không làm sao? Nhưng sự chết ấy bắt buộc phải có để hủy bỏ mọi vật cản đứng giữa Đức Chúa Trời và loài người, hầu cho Đức Chúa Trời có thể xử với chúng ta bằng ân điển. Làm điều đó, Đức Chúa Trời không hề áp đặt những điều kiện trên chúng ta, là những điều kiện có liên quan đến bất cứ công lao gì của con người để được cứu vì như vậy sẽ vô hiệu hóa điều khiến Ngài đã phải trả một giá vô tận để thực hiện một tặng phẩm nhưng không cho chúng ta.
HÃY "RÚT TIỀN" CỦA CHÚNG TA
Như tôi đã nói ở phần đầu chương này, nếu có người nào bỏ 100.000 Mỹ kim và tài khoản ngân hàng cho bạn, thì số tiền ấy sẽ chẳng ích lợi gì cho bạn trừ khi bạn biết điều đó và đến ngân hàng rút tiền ra.
Bây giờ bạn đã biết điều Đức Chúa Trời đã làm cho bạn ở tại thập tự giá và biết cách chuẩn bị để nhận được điều đó chỉ bởi đức tin mà thôi.
Bước tiếp theo là tùy thuộc ở bạn!

SỰ XƯNG NGHĨA
Có một câu chuyện được chép trong Tân Ước mô tả thật đẹp đẽ về sự xưng nghĩa, là vấn đề mà tôi sắp nói đến, song phải để một vài trang chỉ để định nghĩa chữ ấy. Khi bạn đã nắm vững "Câu chuyện dài dòng về sự xưng nghĩa", thì một sự định nghĩa nhỏ sẽ là cần thiết.
MỘT NHÀ ĐẠO ĐỨC VÀ MỘT NGƯỜI THÂU THUẾ (Luca 18:9-14)
Hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Một người là một nhà giữ đạo nghiêm nhặt và chuyên làm điều lành được gọi là người Pharisi, còn người kia là một người thâu thuế trong thời Chúa Giêxu.
Trong thời đó, người thâu thuế bị người Pharisi - nhóm người giữ đạo - coi là một tội nhân gian ác nhất trên trần gian. Đó là kẻ đã phản bội lại chính đồng bào của mình bởi đã thâu hơn số thuế mà chính phủ quy định. Số lợi tức gian dối này chính là khoản tiền trả duy nhất cho sự phục vụ mà người ấy nhận được, người ấy không được lãnh lương. Người ấy được bảo phải thâu mọi thứ "vượt hơn và quá mức". Vì vậy mà, một người thâu thuế, đã kiếm tiền bằng cách cắt cổ đồng bào của mình.
Người Pharisi là thành viên của một hệ thống tôn giáo của người Do Thái, họ đến đền thờ ba lần một ngày và cầu nguyện cho chính mình một ngày bảy lần. Trình với Đức Chúa Trời những cố gắng để chồng chất thêm những điểm của việc thiện. LuLc 18:11 nói rằng "Người Pharisi đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải tôi như người thâu thuế này" Rồi sau đó bạn cũng có thể nghe tiếng lầm thầm của ông tiếp tục kể lể mọi việc lành cho Đức Chúa Trời - nào kiêng ăn, nộp phần mười, cầu nguyện, dâng của lễ.
Bạn có nghĩ rằng ông ta đang nói dối không?
Không! Ông đã thật sự làm những công việc đó. Sao, trong một Hội Thánh trung bình ngày nay ông ta hẳn sẽ được xem như một cột trụ thật sự, phải không? Người ta sẽ tán dương ông nhiệt liệt: "Hãy nhìn vị thánh cao cả của Đức Chúa Trời kìa". Mọi điều ông ta làm trước mắt công chúng đều không chỗ trách được.
Rồi đến câu 13, người kia cầu nguyện rằng "Lạy Đức Chúa Trời xin thương xót lấy tôi, vì tôi là người có tội" Câu ấy nói rằng ông không dám ngay cả ngước mắt lên trời, thay vào đó còn đấm ngực mình. Việc "đấm ngực" là một dấu hiệu bày tỏ sự đau buồn và sự không xứng đáng của mình. Ông ta tự coi mình là không xứng đáng để đến cùng Đức Chúa Trời. Lời cầu nguyện của ông phản ánh điều đó.
Chúng ta hãy xem xét kỹ càng hơn nơi lời cầu nguyện xin được thương xót này.
Chữ Hy Lạp hilastheti được dùng ở đây không bao giờ được dịch là "thương xót" trong tiếng Anh bởi vì nó thật ra có nghĩa là "được đoái nhận". Tôi chắc chắn rằng các dịch giả cảm thấy chữ "thương xót" đối với các độc giả người Anh thì gần gũi hơn là chữ "đoái nhận" nhưng về mặt thần học thì nó không bao hàm được ý nghĩa thật sự của từ hoặc của mạch văn.
Như bạn thấy, Đức Chúa Trời không bao giờ phải bị thuyết phục để thương xót. Chính vì lòng thương xót đã khiến Ngài tìm phương cách để làm thỏa mãn bán tính thánh khiết đã xâm phạm của Ngài hầu cho Ngài có thể cư xử với chúng ta trong ân điển. Khi người thâu thuế cầu nguyện với Đức Chúa Trời và xin Ngài "đoái nhận" ông, thật sự ông đang nói rằng "Con biết Ngài không vừa lòng với con. Con không ra chi ngoài một tội nhân không tốt lành, kẻ chỉ đáng chịu cơn giận công bình của Ngài. Nhưng con xin Ngài hãy tiếp nhận con trong ánh sáng của huyết đền tội nơi của lễ trên ngôi thi ân là huyết làm thỏa mãn cơn đoán phạt của Ngài nghịch cùng con.
Có lẽ ông ta đã không dùng đúng những chữ ấy, nhưng khi ông cầu xin Đức Chúa Trời đoái nhận ông, thì đó chính là lời ông muốn nói.
CHÚA GIÊXU NHÌN XEM TẤM LÒNG
Đức Chúa Giêxu đã nói gì về kẻ thâu thuế có tội này? "Ta nói cùng các ngươi, người này trở về nhà mình được xưng công bình hơn người kia, vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhấc lên.
Khiêm nhường có nghĩa là đánh giá đúng chính mình và chỗ đứng của mình với Đức Chúa Trời. Nhận biết bạn không thể làm gì để được sự chấp nhận trong cái nhìn của Đức Chúa Trời, mà chỉ mong Ngài chấp nhận mình mà thôi.
Ngược lại bạn hãy nhìn xem cách người Pharisi kia đã đến với Đức Chúa Trời. Ông ta đầy dẫy sự kiêu ngạo về mọi điều mình làm được để đạt được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Việc lành của ông tự nó không sai trật, chỉ có động cơ của ông là sai. Lòng tự hào của ông đã làm lộ việc ông không hiểu được ý nghĩa thật của sự nguôi giận của Đức Chúa Trời qua sinh tế.
ĐỊNH NGHĨA SỰ XƯNG NGHĨA
Một sự định nghĩa đơn giản mà tôi thường được nghe khi định nghĩa "sự xưng nghĩa" đó là "Được xem như tôi chưa hề phạm tội" Câu ấy nghe thật tuyệt, nhưng bất hạnh thay, nó không đúng như vậy.
Bạn thấy đấy, mặc dầu trong ánh sáng của việc Đấng Christ đã cất hết tội lỗi của chúng ta đi, điều đó mới chỉ để tôi trong một tình trạng trung lập với Đức Chúa Trời. Chỉ việc không còn tội lỗi thì không bao giờ khiến tôi được chấp nhận trong cái nhìn của Đức Chúa Trời.
Để được Ngài chấp nhận, tôi cần có thêm nhiều điều hơn là chỉ trừ đi tội lỗi mình. Tôi cần cộng thêm sự công bình của Đấng Christ.
Sứ đồ Phaolô cho chúng ta biết cách Đức Chúa Trời đã sắp xếp cho sự trao đổi nầy: "Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 5:21). Nói cách khác, Đức Chúa Trời đã lấy tội lỗi của chúng ta chất lên Đấng Christ, và lấy sự công bình của Đấng Christ đổi cho chúng ta.
Đó là ý nghĩa của việc được xưng nghĩa.
Bởi vì sự làm nguôi giận đã được thực hiện xong bởi Đấng Christ Đức Chúa Trời nay được tự do để "xưng công bình" lập tức và dứt khoát cho bất cứ ông, bà hoặc đứa trẻ nào đặt đức tin nơi Đấng Christ như là Cứu Chúa của mình. Đức Chúa Trời tuyên bố rằng người ấy được kể là công bình giống như con Ngài, là Chúa Giêxu Christ trong cái nhìn của Ngài. Đó là "chỗ đứng" mới của chúng ta với Đức Chúa Trời.
SỰ GIẢI NGHĨA SAI, GÂY CHIA RẼ HỘI THÁNH
Tuy nhiên, việc hiểu cho chính xác ý nghĩa của chữ "xưng công bình" được dùng trong Tân ước là điều rất quan trọng. Có một sự khác biệt lớn lao ở giữa việc được "xưng công bình" bởi Đức Chúa Trời và việc thật sự "trở nên" công bình trong cách cư xử hàng ngày của mình. Việc thứ nhất xảy ra ngay giờ phút tôi đặt lòng tin trong Đấng Christ và định đoạt sự tiếp nhận và chỗ đứng của tôi ở trước mặt Đức Chúa Trời đời đời Ngài không bao giờ lại nhìn tôi theo một cách nào khác ngoài cách xem như tôi đã có sự công bình của Con Ngài.
Tuy nhiên, việc "trở nên" công bình trong cách cư xử hàng ngày của tôi là một tiến trình cả đời được bắt đầu bởi việc tôi trở nên một con cái của Đức Chúa Trời và được kết thúc với việc tôi trở nên giống như Chúa Giêxu vào ngày mà tôi bước vào sự hiện diện đời đời của Ngài. Nhưng dầu tôi có thực hiện sự tiến triển tốt đẹp trong sự hoàn thiện hàng ngày hay không, thì điều đó cũng không làm thay đổi việc Đức Chúa Trời tiếp tục nhìn tôi như là một người công bình hoàn toàn vì có sự hiệp nhất của tôi với Đấng Christ.
Sự bất hòa nghiêm trọng nhất từng phát triển trong Cơ Đốc Giáo đã nảy sinh từ một sự nhầm lẫn của chính sự khác nhau giữa việc "được xưng" công bình và việc thật sự trở nên công bình trong tâm tánh. Mối bất hòa nầy đã được biết đến như là "Cuộc Cải Chánh" và nó buộc phải tái xác định tiêu điểm dựa trên hai lẽ thất đã bị lạm dụng nhiều thứ nhất, sự xưng nghĩa là một việc làm độc quyền của Đức Chúa Trời nhờ đó Ngài truyền đạt cho linh hồn kẻ tin sự công bình không thể thay đổi được của Đấng Christ, và thứ hai, sự công bình của Đấng Christ được con người tiếp nhận ngay giây phút cứu rỗi chỉ đặt trên cơ sở đức tin mà thôi.
LUTHER VÀ CUỘC CẢI CHÁNH GIÁO HỘI
Một thầy dòng người Đức, tên là Martin Luther; là một tác nhân đã đưa đến cuộc Cải Chánh. Giáo lý trong thời ông dạy rằng sự xưng nghĩa có nghĩa là khi một người tuyên xưng đức tin nơi Đấng Christ, thì Đức Chúa Trời tuyên bố mọi quá khứ tội lỗi của người ấy đều được tha thứ. Nhưng sau đó, người ấy phải bước vào một tiến trình cả đời để tiếp tục giành được sự tha thứ và sự công bình bởi chính việc giữ đạo của riêng mình. Điều nầy bao gồm cả những điều bắt buộc như : làm việc thiện, từ chối mình, tự hành xác dưới những hình thức: tự chịu đựng sự hình phạt và sự đau đớn, cầu nguyện, xưng tội, bố thí tiền bạc, thờ phượng và v.v...
Mặc dầu đã thực hiện nghiêm nhặt tất cả những điều đó. Luther vẫn luôn khắc khoải với một cảm biết thiếu kém về mặt tâm linh.
Cuối cùng, trong tuyệt vọng, ông ta quyết định đi lên thành Rôma - trung tâm của niềm tin Cơ Đốc Giáo và thực hiện một hành động tự hành xác và chịu đau đớn hòng mong làm dịu bớt lương tâm xao xuyến. Đang khi ông bò bằng đầu gối lên từng bậc cấp của một nhà thờ tại Rôma và tự hỏi liệu tất cả những công việc này có đem lại cho ông một cảm biết an bình về tâm linh như ông hằng tìm kiếm chăng, thì bỗng một câu Kinh Thánh trong Rôma cứ lóe lên trong tâm trí ông "Người công bình sẽ sống bởi đức tin" (RoRm 1:17 )
Điều Luther đang làm trong giờ phút đó không cách gì tương xứng với việc sống bởi đức tin được. Ông ta đang sống bằng "việc làm" và đang tìm cách để cải thiện sự công bình của mình trong cái nhìn của Đức Chúa Trời bằng tất cả những công sức của loài người.
Chính lúc đó, cuộc Cải chánh, là điều đã được ấp ủ suốt một giai đoạn lâu dài, được sinh ra. Luther thôi bò bằng đầu gối, ông đứng lên và với ngòi bút và sự giảng truyền, ông bắt đầu giải phóng hàng trăm ngàn tín đồ thành thật đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời, là những người chưa bao giờ được nghe rằng sự chết của Đấng Christ đã bảo đảm cho họ một sự tha thứ vĩnh cửu và hoàn toàn cùng với một vị trí công chính trước mặt Đức Chúa Trời, là điều chỉ bởi đức tin trong Đấng Christ để nhận được mà thôi.
SỰ XƯNG NGHĨA BỞI ĐỨC TIN, MỘT GIÁO LÝ XAO LÃNG
Trong suốt lịch sử tối tăm của Hội Thánh, sự kiện "xưng nghĩa bởi đức tin" đã là một lẽ thật bị xuyên tạc, bị hiểu lầm và bị xao nhãng nhất trong niềm tin Cơ đốc. Việc không hiểu đúng và không thừa nhận một thực tại của việc được xưng công bình dứt khoát bởi Đức Chúa Trời đã tước mất của các tín hữu sự đảm bảo về chỗ đứng của họ với Đức Chúa Trời, và đã đẩy họ vào trong chỗ suy nghĩ bại hoại rằng họ phải cứ tiếp tục giữ theo những việc làm hàng ngày tẻ nhạt vô tận hòng duy trì sự tiếp nhận của Đức Chúa Trời.
Thật khó mà hiểu được vì sao lẽ thật quan trọng nầy lại có thể bị bỏ quên nếu bất cứ ai có lòng tìm kiếm xem xét và giảng dạy cách cẩn thận lời của Đức Chúa Trời, bởi vì đó chính là trung tâm sứ điệp của Sứ đồ Phaolô. Những điều Chúa Giêxu đã truyền dạy trong nhiều ví dụ thuộc các sách tin lành đều có liên quan đến sự xưng nghĩa. Phaolô đã làm rõ giáo lý ấy trong các thư tín, đặc biệt trong sách Rôma và Galati.
Rõ ràng lý do khiến Phaolô đã nhấn mạnh đến lẽ thật này như vậy là vì tầm ảnh hưởng mà giáo lý này đã tác động đến đời sống của riêng ông. Ông đã làm rõ lẽ thật nầy trong những lời thận trọng ông đã viết cho người Philíp. Trong bức thư gởi cho Hội Thánh non trẻ này. Phaolô tìm cách xóa bỏ một số những sự dạy dỗ sai lạc do một nhóm những người Giuđa thuộc phe Pharisi giữ lễ nghiêm nhặt đã gieo rắc sau lưng ông và điều đó đã mâu thuẫn một cách tinh vi với những lời dạy dỗ trước của ông.
Những người theo Do Thái giáo này là người Giuđa, theo một cách nào đó họ công nhận Chúa Giêxu là Đấng Mêsi, nhưng họ tin rằng phải giữ tất cả những luật lệ xưa của Môise cũng như phải chịu cắt bì. Nếu như họ thất sự muốn được Đức Chúa Trời chấp nhận. Điều này hoàn toàn trái ngược với điều Phaolô đã dạy. Điều ông nhấn mạnh đó là chỉ cậy nơi đức tin mà thôi, là điều kiện đầy đủ để đem lại sự cứu rỗi.
Trong lời khiển trách Hội thánh ở trong (Phi Pl 3:1-9) Phaolô biện luận rằng một người chịu cắt bì thật là người thờ phượng Đức Chúa Trời trong Thánh Linh và không cậy vào những lễ nghi hoặc việc làm của xác thịt. Đoạn ông trích dẫn lời làm chứng tuyệt vời của chính ông về việc ông đã giữ luật pháp của người Giuđa cách không chỗ tránh được như thế nào và về lòng sốt sắng quá đỗi khi ông bắt bớ Hội Thánh, trước khi ông được biến cải.
Đây là điều ông nói: "Ví bằng kẻ khác tưởng rằng có thể cậy mình trong xác thịt, thì tôi lại có thể bội phần nữa. Tôi chịu phép cắt bì ngày thứ tám về dòng Ysơraên, chi phái bên Bêngiamin, người Hêbơrơ, con của người Hêbơrơ, về luật pháp thì thuộc phe Pharisi, về lòng sốt sắng thì là kẻ bắt bớ Hội Thánh".
Bây giờ bạn hãy chú ý điều Phaolô nói về việc giữ luật pháp của mình : "còn như về sự công bình của luật pháp thì không chỗ tránh được" (3:4b-6).
HAI LOẠI CÔNG BÌNH
Do nơi Phaolô vừa nói, bạn có thể nhận biết được có hai loại công bình. Chúng ta đã bàn đến loại thứ nhất, là điều chỉ thuộc về Đấng Christ và sự công bình đó được gán cho hay kể cho những kẻ không làm công việc gì khác ngoài việc đặt đức tin nơi sự chết đền tội của Đấng Christ. Loại công bình thứ hai đến từ việc cố gắng giữ luật pháp Đức Chúa Trời. Điều này có liên quan chặt chẽ với nhau. Nói cách khác, sự công bình trọn vẹn của Đức Chúa Trời có thể được xem như một tiêu chuẩn tiêu biểu là 100 phần trăm. Tất cả những nỗ lực của con người nhằm giữ luật pháp của Đức Chúa Trời đến được một mức nào đó trong khoảng từ số không đến 100, song không ai đạt được 100 phần trăm.
Khi loài người nhìn xem việc giữ luật pháp của chúng ta, họ tán dương nhiệt tình khi chúng ta đến gần mức 100 thường chúng ta cũng tự khen mình, nhưng theo cái nhìn của Đức Chúa Trời thì bất cứ điều gì kém hơn 100 phần trăm của tiêu chuẩn giữ luật pháp toàn vẹn thì đều bị trượt. Đó là điều Êsai muốn nói khi ông bảo "Hết thảy sự công bình của chúng tôi chỉ như áo nhớp trước mặt Đức Chúa Trời" (Xem EsIs 64:6).
Bạn thường nghe câu "Kẻ thù của điều tốt nhất là điều tốt", không ở đâu điều đó đúng hơn là trong vấn đề công bình. Mặc dầu Phaolô có thể khoe mình nhiều hơn bất kỳ một người Pharisi nào khác về sự công bình trong việc giữ luật phát Môise. Chúng ta hãy xem việc ông đánh giá sự công bình riêng của mình so với điều ông đã nhận được từ Đấng Christ. Ông nói "Tôi cũng coi hết thảy mọi sự (hết thảy những việc lành do con người mang lại) như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Giêxu Christ là quý hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà từ bỏ mọi điều lợi đó. Thật tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ và được ở trong Ngài, được sự công bình, không phải công bình của tôi bởi luật pháp mà đến, bèn là bởi tin đến Đấng Christ mà được, tức là công bình đến bởi Đức Chúa Trời, và đã lập lên trên đức tin." (Phi Pl 3:8, 9).
Tất cả mọi điều Phaolô đang cố gắng để nói lên đây là ông sẵn sàng đem so cuộc đời mình với bất cứ người nào bảo rằng sự công bình riêng của người ấy ắt đủ để được Đức Chúa Trời chấp nhận, nếu sự công bình của Phaolô còn chưa cứu được ông thay, thì cũng không một người nào bởi giữ luật pháp mà cứu được mình.
VÌ SAO DÂN YSƠRAÊN "BỎ LỠ CƠ HỘI"
Trong thư gởi cho người Rôma, Phaolô cho biết lý do vì sao phần đông dân tộc Ysơraên đã ương ngạnh cứ bám chặt lấy loại công bình sai trật và vì vậy đã trật mất sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời "còn như dân Ysơraên tìm luật pháp của sự công bình, thì không đạt đến luật pháp ấy. Tại sao? Tại họ chẳng bởi đức tin mà tìm, nhưng bởi việc làm. Họ đã vấp phải HÒN ĐÁ NGĂN TRỞ (Chúa Giêxu) (RoRm 9:31, 32). Ông giải thích thêm "Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời, nhưng lòng sốt sắng đó là không phải theo trí khôn. Bởi họ không nhận biết sự công bình của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công bình riêng của mình nên không chịu phục sự công bình của Đức Chúa Trời, vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, đặng xưng mọi kẻ tin là công bình (RoRm 10:2-4).
Đây không phải Phaolô chỉ trích đồng bào Do Thái của ông. Mà nỗi khao khát trong tấm lòng và sự nguyện cầu kiên trì của ông với Đức Chúa Trời là để cho mắt họ được mở ra để nhìn thấy lỗi lầm mà họ đã phạm bởi đã từ chối phương cách Đức Chúa Trời thực hiện sự công bình mà thay vào đó cậy nơi sự công bình riêng của họ.
TÔI ĐƯỢC XƯNG CÔNG BÌNH - THÌ SAO?
Cho đến nay tôi đã dùng nhiều trang trong chương này để nói đi nói lại mãi hai điều.
Thứ nhất, dựa trên căn bản công việc làm nguôi giận của Đấng Christ tại thập tự giá, bản tánh bị xâm phạm của Đức Chúa Trời đã được thỏa mãn và Đức Chúa Trời hiện nay được tự do để truyền đạt một bản thể mới cho mọi kẻ tiếp nhận Con Ngài là Chúa Cứu Thế. Bản thể mới đó là sự công bình của Đấng Christ và điều đó giống như một cái áo choàng được khoác lên một con người, hoàn toàn che phủ điều nằm trong chính con người đó, ban cho người ấy một chỗ đứng mới hoàn toàn trong cái nhìn của Đức Chúa Trời. Sự công bình được kể cho tôi, nghĩa là bất cứ lúc nào Đức Chúa Trời nhìn xem tôi, khi nay tôi là con cái Ngài, thì Ngài không nhìn thấy sự công bình riêng của tôi nữa (là điều dẫu thế nào cũng không đạt đến sự trọn vẹn của Ngài), mà Ngài nhìn thấy tôi qua sự công bình của Chúa Giêxu và vì thế tôi được chấp nhận như là Chúa Giêxu con Ngài, không màng đến thành tích (sự thực hiện) hàng ngày của tôi.
Điều thứ hai mà tôi đã nhấn mạnh đó là sự công bình ấy được ban cho một người cách nhưng không và hoàn toàn vào giây phút người đặt đức tin nơi Đấng Christ là Cứu Chúa. Điều đó không thể còn được thêm vào, được sửa đổi thêm hoặc bị thu hồi lại bởi Đức Chúa Trời hoặc bởi loài người. Điều đó được ban cho một cách dứt khoát chỉ trên cơ sở của đức tin mà thôi.
Những khía cạnh trong đời sống của một tín hữu "được xưng công bình bởi đức tin" thật khó tin được. Chúng ta sẽ đặt trọng tâm vào ba ích lợi chính: bình an trong Chúa, một chỗ đứng trong ân điển, và không còn sự đoán phạt nữa.
HÒA BÌNH VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI
Trong 5:1 Sứ đồ Phaolô nói "Vậy chúng ta được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta".
"Được xưng công bình" là một động từ ở thì quá khứ không xác định theo Bảng Tân ước gốc, viết bằng tiếng Hy Lạp. Có nghĩa điều này đã xảy ra ở tại một thời điểm trong quá khứ và ngụ ý không bao giờ cần phải được lập lại bởi vì kết quả của nó còn tiếp tục đến mãi mãi.
Nó biểu thị một mệnh lệnh mà chúng ta phải nhận ngay cho tâm trí mình việc chúng ta được xưng công bình một lần đủ cả. Nếu không, thì chúng ta không thể kinh nghiệm "sự hòa bình với Đức Chúa Trời". Nếu thôi nghĩ mối quan hệ của tôi với Đức Chúa Trời cứ bị lâm nguy vì cớ sự yếu đuối của tôi không luôn luôn sống một đời sống Cơ Đốc phải lẽ, thì tôi sẽ trở thành bị suy nhược thần kinh mất, bởi vì cứ lo lắng không biết Đức Chúa Trời có buồn bực với sự thực thi của tôi hay không. Tôi không thể kinh nghiệm được sự bình an với Đức Chúa Trời cho đến khi nào kể việc tôi được ban cho sự công bình của Đấng Christ là sự thật và điều đó làm tôi được Ngài chấp nhận.
Trong quyển sách của Bruce Narramore và Bill Counts "Tôi lỗi và Sự Tự Do (1)", hai ông nêu lên những nguy hiểm ẩn giấu của việc không nhìn chính mình như Chúa nhìn thấy chúng ta. Họ bày tỏ một cách đúng đắn cho thấy tội lỗi đã dựng lên những vật cản rất thật ở giữa Đức Chúa Trời và con người, và mặc dầu Đấng Christ đã phá đổ những vật cản rồi và làm cho Đức Chúa Trời hòa thuận với con người rồi, song vẫn còn những vật cản tâm lý về phía con người. Sự hiểu biết của con người về sự bất năng của mình để làm vừa lòng Đức Chúa Trời đã mang lại nỗi sợ hãi bị trừng phạt, sợ bị từ chối và đánh mất lòng tự quý trọng.
Hoàn toàn không có cách gì để hủy bỏ các vật cản tâm lý ấy khỏi giữa chính chúng ta với Đức Chúa Trời, cho đến khi nào chúng ta thừa nhận việc Đức Chúa Trời nay đã hòa thuận với chúng ta bởi Ngài đã xưng công bình chúng ta một lần đủ cả là sự thật. Nếu tôi có một chút xíu hoang mang trong khi suy nghĩ đến điều này, thì dầu không muốn, tôi cũng sẽ sống với nỗi lo âu bị Đức Chúa Trời phạt và từ bỏ mỗi khi tôi làm buồn Ngài. Cuối cùng sự nhận biết tội lỗi mình sẽ chất đầy trong tâm trí đến nỗi tôi nhìn thấy mình như một con sâu (trùng) và hoàn toàn không còn xứng đáng với Đức Chúa Trời.
Có thể bạn không bao giờ suy nghĩ như vậy, nhưng nếu bạn có những suy nghĩ như thế về chính mình thì cũng giống như một cái tát vào mặt Chúa Jesus. Thực chất, điều bạn đang nói ra khi bạn không tin mình hoàn toàn được Ngài chấp nhận, thì cũng giống như bạn cho rằng bạn có những tiêu chuẩn dành cho chính mình cao hơn là tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, bởi vì sự công bình của Đấng Christ vốn ở trong bạn. Và đó là thái độ vừa tự phụ vừa giả dối.
Nếu Đức Chúa Trời phán Ngài hòa thuận với chúng ta dựa trên việc xưng công bình chúng ta, thì vì lẽ gì chúng ta không được hòa bình với Đức Chúa Trời?
HÒA BÌNH VỚI CHÍNH MÌNH VÀ VỚI NGƯỜI KHÁC.
Một điều chắc chắn, nếu bạn không hòa thuận với Đức Chúa Trời thì bạn sẽ không thể hòa thuận lâu dài với chính mình. Bạn sẽ cứ mãi lên án chính mình vì những thất bại của bạn và sự lên án đó sẽ khiến bạn xoay mục tiêu vào chính mình thay vì vào Chúa Jesus và vào điều ngài đã thực hiện để dời bỏ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời khỏi bạn.
Bạn cũng không thể có hòa thuận với những người khác nếu trước hết bạn chưa ổn định tâm trí rằng Đức Chúa Trời hòa thuận với bạn. Mạng lệnh cao cả sau cùng Chúa Jesus ban cho các môn đồ Ngài là "Các ngươi hãy yêu nhau, cũng như ta đã yêu các ngươi" (GiGa 13:34). Nếu bạn không tin chắc rằng Đức Chúa Trời yêu bạn vô điều kiện dựa trên việc Ngài xưng công bình cho bạn, thì tình yêu bạn dành cho người khác cũng sẽ không là tình yêu vô điều kiện. Bạn sẽ chấp nhận họ như cách mà bạn thấy chính mình được Đức Chúa Trời chấp nhận. Nghĩa là khi bạn thực hiện đúng sự trông mong của Đức Chúa Trời, thì Ngài chấp nhận bạn, và khi bạn không thực hiện được, thì Ngài không chấp nhận bạn.
Đó là cách mà bạn sẽ đáp lại với những người ở chung quanh mình. Khi họ đạt đến điều bạn trông mong bạn sẽ chấp nhận họ vô điều kiện, khi họ làm bạn thất vọng, bạn sẽ lấy lại sự chấp nhận đầy đủ của bạn cho đến khi nào họ tiến triển tốt và lại làm đúng theo các tiêu chuẩn của bạn.
Tất cả lối suy nghĩ sai trật đó đều được sửa ngay lại bởi việc đơn sơ tin rằng điều Chúa phán về chúng ta là thật thì là thật. Chúng ta đã được xưng công bình và hiện nay Đức Chúa Trời đang hòa thuận với chúng ta và không điều gì có thể khiến Ngài thôi hòa thuận với chúng ta.
Điều duy nhất là, chúng ta có bằng lòng tin điều Ngài phán về sư xưng công bình cho chúng ta và có bằng lòng hòa thuận với Ngài không?
MỘT CHỖ ĐỨNG TRONG ÂN ĐIỂN
Một lợi ích lớn thứ hai đến với kẻ tin bởi sự xưng công bình bằng đức tin đó là một chỗ đứng mới trong ân điển.
"Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, là Đấng đã làm cho chúng ta cậy đức tin vào trong ơn này là ơn chúng ta hiện đương đứng vững" (RoRm 5:1, 2).
Hãy nhớ rằng chúng ta đã định nghĩa ân điển là được "mọi sự mà Đức Chúa Trời tùy ý Ngài ban cho chúng ta và làm cho chúng ta, hoàn toàn phân biệt khỏi bất cứ một công lao nào của con người". Nếu chúng ta kiếm được ơn bằng bất cứ cách nào khác, thì ơn không thể được ban cho chúng ta trên nền tảng của ân điển.
Phaolô cho chúng ta biết trong đoạn này rằng chúng ta có một chỗ đứng trong ân điển. Điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời không cư xử với chúng ta bằng một phương cách nào khác ngoài ân điển bởi vì đó là chỗ đứng mới của chúng ta với Ngài. Sẽ không có lúc n ào trong cuộc đời chúng ta Ngài đòi hỏi chúng ta phải xứng đáng hoặc phải kiếm được bất cứ phước hạnh hoặc sự ưa chuộng gì nơi Ngài.
Tôi không hiểu vì sao thật là khó để cho người ta có thể thật sự tin vào điều đó. Họ có thể công nhận việc họ không thể làm gì để đáng được hay kiếm được sự cứu rỗi lúc đầu, nhưng rồi không hiểu vì sao đó, họ đã mắc phải ý tưởng cho rằng họ phải tự kiếm được đặc quyền để được Đức Chúa Trời sử dụng, hoặc để được các ơn phước của Ngài một khi họ đã trở nên con cái của Ngài.
Mới đây thôi, tôi thấy mình cũng đã rơi vào lối suy nghĩ ấy một cách thật tinh vi. Jan và tôi được cho một cơ hội nghỉ mát một tuần trên đường biển đến Mễ tây cơ. Thật như một giấc mơ trở thành sự thật. Chúng tôi được phục vụ từ đầu đến chân, thức ăn thì thật là tuyệt vời, và sướng nhất là không có tiếng chuông điện thoại réo vang hoặc phải giữ những buổi hẹn. Nhưng đến khoảng ngày thứ ba, thì tôi bắt đầu cảm thấy có tội vì đã có kỳ nghỉ thoải mái như vậy. Jan nhận biết có cái gì đó không ổn và nàng hỏi tôi chuyện gì vậy. Tôi nói cho nàng biết là tôi cảm thấy có tội vì dường như mình không thật sự đáng được Chúa yêu thương ban cho một sự đãi ngộ rộng rãi như vậy.
Thế rồi Jan nhắc nhở tôi "Có bao giờ anh đã xứng đáng với bất cứ ơn phước gì mà Chúa ban cho anh đâu?"
Thật vậy! Có ai trong chúng ta xứng đáng với bất cứ điều gì từ một Đức Chúa Trời thánh khiết và công bình bao giờ chăng? Ngoại trừ đáng bị cơn thạnh nộ của Ngài mà thôi? Tuy nhiên, vì cớ Ngài đã xưng chúng ta là công bình như Con Ngài, Chúa Jesus, nên Ngài có thể ban cho chúng ta những ân phước dư dật bất cứ lúc nào, hoàn toàn không liên quan đến bất cứ công lao gì của chúng ta. Bởi vì chỗ đứng trong ân điển của chúng ta với Ngài.
HÃY BỚT CĂNG THẲNG ĐI HỠI TÍN HỮU!
Một trong những điều tuyệt vời khi được ở trong một bầu không khí ân điển đó là bạn không phải bước rón rén như đi trên các vỏ trứng, lo lắng không biết mình có làm mếch lòng ai không, hay có làm cho ai bực dọc vì mình không. Tôi bảo đảm chúng ta đều biết những người chẳng bao giờ tạo được một bầu không khí ân điển, và lúc nào ở gần bên họ chúng ta cũng phải để ý mình sao cho thận trọng và lịch sự vào, để yên trí là chúng ta đã biểu diễn thật đúng. Chẳng bao lâu trước khi nó trở thành một kiểu quan hệ miễn cưỡng và chúng ta cũng chẳng còn muốn ở gần bên con người ấy nữa.
Điều này thường trở nên một trong những yếu tố chính trong các vấn đề rắc rối trong hôn nhân. Một trong hai người có vợ hoặc chồng mình thường hay có tánh khó chịu như thế đó - một mối quan hệ hại - đó là nếu người kia không luôn luôn gây ấn tượng như người phối ngẫu đúng mẫu, thì họ sẽ làm cho người kia biết rằng họ không bằng lòng. Thay vì giúp cho người bạn đời chướng kỳ ấy trở nên lý tưởng, thì điều họ làm đó chỉ buộc chặt người ấy vào nỗi lo lắng vì không biết mình có làm điều gì sai sót hay không. Chắc chắn là điều đó không mang lại một bầu không khí ân điển.
Nhưng với Đức Chúa Trời thì chúng ta không phải đi trên vỏ trứng như vậy, bởi vì chúng ta được đứng trong chỗ ân điển với Ngài. Ngài không dễ nổi giận với chúng ta khi chúng ta không thực hiện được theo cách Ngài muốn. Bạn thấy đấy, việc chúng ta được Ngài chấp nhận chỉ được đặt nền tảng trên một yếu tố mấu chốt duy nhất, đó là chúng ta ở trong Con Ngài và sự công bình của Con Ngài ở trong chúng ta.
Đó là ý nghĩa của điều được "chấp nhận trong Con yêu dấu" (Eph Ep 1:6 KJV). Chúa Jesus chính là Con Yêu Dấu và bởi vì tôi ở trong Ngài, và Ngài ở trong tôi, nên tôi được Đức Chúa Cha chấp nhận giống như Con đã được.
KHÔNG CÒN SỰ ĐOÁN PHẠT NỮA.
Điều thứ ba song có lẽ là điều khó hiểu nhất, ích lợi của sự xưng nghĩa là Đức Chúa Trời không còn định tội chúng ta nữa. Đó là điều Phaolô nói đến khi ông bảo "Hiện nay không còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jesus Christ" (RoRm 8:1)
Ô, tôi còn nhớ rõ ngày mà lẽ thật ấy đã đánh trúng tôi. Nó nổ tung trong đời sống tôi như một quả bom. Tôi đã bị ở dưới đống chồng chất của sự tự đoán phạt đó và điều mà tôi đã nghĩ đến đó là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời, đầu tôi khó có thể tránh khỏi.
Một ngày nọ, khi tôi đang đọc đúng vào câu Kinh Thánh đó và hết sức bất ngờ, tôi khám phá ra chữ "hiện nay". Tôi không biết rằng nó đã luôn luôn nằm ở đó, mà tôi đã trông thấy nó lần đầu tiên và thật sự lời đó đã phán cho tôi! Tôi đã nhận ra ngay lúc đó rằng dựa trên nền tảng của mọi điều Phaolô nói trong bảy đoạn đầu của sách Rôma về sự chết và sự sống lại của Chúa Jesus. Hiện bây giờ, tôi đã không còn ở dưới sự đoán phạt của Đức Chúa Trời nữa và không bao giờ lại ở dưới sự đoán phạt nữa. Điều đó đã mở ra một thời kỳ thuận lợi cho tôi để thôi không tự định tội mình nữa và thôi tin vào những người khác, là những người đã tìm cách làm cho tôi có mặc cảm phạm tội bởi vì tôi không sống đúng với những suy nghĩ của họ về những gì một Cơ Đốc nhân phải có.
Tầm quan trọng hoàn toàn của khái niệm "không còn sự đoán phạt" này rõ ràng khó khăn cho Hội Thánh để điều khiển mọi sự suốt lịch sử của Hội Thánh. Bạn không thể tìm được nhiều điều viết về điều đó trong các văn phẩm của Hội Thánh đầu tiên bởi vì vấn đề đó đã không được dạy hoặc không được hiểu cách rõ ràng. Một phần của lý do đó phải do một phần thêm vào không đúng với bản văn trong 8:1. Chúng ta hãy xem xét điều đó.
SỰ THẬT CỦA VIỆC KHÔNG CÒN SỰ ĐOÁN PHẠT NỮA
Trong câu thứ nhất của Rôma đoạn 8, là nơi Phaolô viết lời tuyên bố tóm tắt là "hiện nay không còn có sự đoán phạt cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jesus Christ", bạn lưu ý rằng bản Kinh Thánh King James đã thêm một câu nữa "là kẻ không bước đi theo xác thịt, nhưng theo Thánh Linh". Câu này không có trong bất cứ các bản thảo cổ nhất nào bằng tiếng Hy Lạp được xác định trước thế kỷ thứ tư. Rõ ràng là có ai đó, hoặc một nhóm người nào đó đã thêm vào ở một thời điểm nào đó giữa các thế kỷ của Hội Thánh. Tất cả các bản dịch của Kinh Thánh gần đây đều không bản nào có câu đó.
Người ta đã cho rằng việc bổ sung thêm câu Kinh Thánh ấy dường như là một điều vô tình và họ giả định rằng câu được sửa lại đó là do lỗi của một thầy thông giáo nào đó khi ông liếc nhìn vào 8:4 ở phần kết thúc câu và bất ngờ chép nó vào tiếp theo câu trên.
Riêng tôi thì không cho đó là một chuyện tình cờ bởi vì đối với tôi thật khó tin được có người nào lại có thể được tự do không chịu sự giám sát trong khi sao chép các tài liệu thánh khiết hơn hết thuộc quyền kiểm soát của Hội Thánh.
Theo ý kiến riêng của tôi thì sự thật hoàn toàn của câu mà Phaolô đã viết - "Hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jesus Christ" - đơn giản hơn là một số các giáo phụ của Hội Thánh đầu tiên có thể đã vận dụng. Họ sẵn sàng đồng ý rằng nếu chúng ta bước đi theo Thánh linh thì sẽ không bị đoán phạt, song họ không thể chấp nhận việc chỉ ở trong Đấng Christ và sự công bình của Ngài ở trong chúng ta mà có thể làm cho chúng ta được thoát khỏi mọi sự đoán phạt.
Nhưng, cảm tạ Đức Chúa Trời, đó chính xác là điều Phaolô muốn nói bởi vì đó là chân lý!
Nếu như chúng ta thừa nhận đúng theo lời tuyên bố mà câu Kinh Thánh đã nói, không đem thêm những thành kiến tôn giáo nào của riêng mình vào đó, thì chúng ta sẽ sớm khám phá ra rằng Phaolô đã có những lập luận đúng và dựa vào đó cho chúng ta biết rằng chẳng còn có sự đoán phạt nào cho chúng ta.
Nhưng trước khi xem xét các lập luận đó chúng ta cần phải xác định đúng ý nghĩa của việc không còn bị đoán phạt nữa là gì?
BỊ ĐOÁN PHẠT BỞI AI VÀ VÌ ĐIỀU GÌ?
Có hai khía cạnh đối với khái niệm "đoán phạt". Thứ nhất, một sự thật dứt khoát không thể chối cãi được, đó là nếu một người không chịu tin vào công lao cứu chuộc của Đấng Christ trên thập tự giá, thì người đó phải chịu đoán phạt, bị phân cách đời đời với Đức Chúa Trời trong một chỗ có thật được gọi là địa ngục.
Nhưng một khi người đó bằng lòng tin vào sự chết thế của Ngài trong chỗ của mình, thì chính mình Chúa Giêxu đã hứa rằng "Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời và không đến sự đoán phạt nhưng vượt khỏi sự chết mà đến sự sống" (GiGa 5:24).
Vì vậy vấn đề đoán phạt đời đời là một vấn đề không thay đổi trong đời sống của một tín hữu thật đặt lòng tin nơi Chúa Giêxu. Đó chính là thực chất của điều Chúa Giêxu phán. Nếu chúng ta đã vượt khỏi sự chết mà đến sự sống, chúng ta không thể lại trở vào sự chết một lần nữa trừ phi Đức Chúa Trời hủy bỏ toàn bộ việc xưng nghĩa của Ngài và KHÔNG đời nào có chuyện đó xảy ra.
Tuy nhiên điều đe dọa nằm trong việc hiểu lầm RoRm 8:1 là hoặc, đã được giải cứu khỏi sự đoán phạt đời đời, một người tin Chúa có thể trở lại dưới bất cứ hình thức đoán phạt nào bởi Đức Chúa Trời vì phẩm hạnh của người đó chăng.
Câu trả lời là hoàn toàn KHÔNG.
Chính lý do mà câu Kinh Thánh được đặt tại vị trí đó, hàm ý xác lập tính kết thúc của việc chúng ta không bao giờ lại có thể bị đoán phạt bởi Đức Chúa Trời kể từ giờ phút chúng ta tin Chúa Giêxu là Cứu Chúa mình. Trong Rôma đoạn 7 chúng ta thấy hình ảnh của kẻ tin Chúa, là Phaolô, đã trải qua giai đoạn tuyệt vọng hơn hết trong cuộc đời Cơ Đốc nhân của ông. Dường như đối với Phaolô mọi sự đều định tội ông - Luật pháp của Đức Chúa Trời, chính lương tâm ông, và có thể, cả đến chính mình Đức Chúa Trời nữa.
Nhưng trong đoạn sau, Rôma đoạn 8, Phaolô đầy sự vui mừng khi ông viết về sự kiện "Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta" (câu 31 bảng KJ). Đây là một tín hữu không còn thất bại và tuyệt vọng nữa.
Bây giờ, bạn hãy nghĩ xem, điều gì đã đem ông từ tình trạng tuyệt vọng trong đoạn 7 sang chiến thắng trong đoạn 8?
Một sự kiện vĩ đại!
Ông nhận biết rằng chẳng còn có sự đoán phạt nào nữa, từ nơi luật pháp, từ nơi Đức Chúa Trời, và do đó không còn sự đoán phạt hợp pháp nào từ chính lương tâm ông nữa, bởi vì ông đã ở trong Đấng Christ. Và sự nhận biết đó đã khiến ông được tự do để bắt đầu để cho Đức Thánh Linh cư trú trong lòng khiến ông nên thánh trong đời sống hàng ngày và thật sự sống trong ông và qua ông phát lộ ra bên ngoài, chính sự công bình của Đấng Christ.
Nhận biết rằng ông không phải sống cho Đức Chúa Trời để không bị đoán phạt, ông bắt đầu yên tịnh lại và tin cậy nơi Đức Thánh Linh để sống cuộc đời Cơ Đốc nhân qua Ngài. Đó là điều ông muốn nói khi bảo rằng Đức Chúa Trời đã từ chối phương pháp dùng luật pháp để cố gắng làm cho người ta cư xử đúng, bởi vì điều đó không bao giờ thực hiện được (RoRm 8:3). Nhưng kết quả, tương tự của sự công bình lại đạt được bởi việc bước đi trong sự lệ thuộc vào Thánh Linh cư trú trong lòng và việc để cho Ngài mang lại sự công bình của Đức Chúa Trời trong ông (8:4)
CÁC NỀN TẢNG CỦA SỰ "KHÔNG CÒN BỊ ĐOÁN PHẠT NỮA"
Bây giờ chúng ta hãy xem xét chỉ hai cuộc tranh luận mà Phaolô nêu lên để chứng minh cho việc Đức Chúa Trời không bao giờ là nguyên nhân của bất cứ một sự đoán phạt nào trên con cái Ngài cả.
Cuộc tranh luận thứ nhất có cơ sở nằm trong các luật lệ về luật học là luật chi phối các phòng xét xử ở tại Hoa Kỳ cũng như tại các quốc gia khác. Có một luật lệ được gọi là "Luật Thiệt Hại Gấp Đôi". Luật lệ này tuyên bố rằng một cá nhân không thể bị đưa ra xét xử và chịu hình phạt lần thứ hai cùng một sự vi phạm.
Điều này được áp dụng hoàn toàn trong trường hợp Đức Chúa Trời nghịch cùng con người. Đức Chúa Trời đã đoán phạt Chúa Giêxu trong chỗ của chúng ta vì mọi tội chúng ta từng phạm. Vì lý do đó, và đúng theo luật thiệt hại gấp đôi, Ngài không thể và sẽ không đoán phạt kẻ nào tin Chúa Giêxu là Đấng thay thế và là Cứu Chúa mình. Có một Đấng đã chịu lấy hình phạt của chúng ta rồi. Nay chúng ta không phải chịu nữa.
Phierơ giải thích việc Chúa Giêxu chịu thay thế chúng ta theo cách này "Vì Đấng Christ cũng vì tội lỗi chịu chết một lần là Đấng công bình thay cho kẻ không công bình để dẫn chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời" (IPhi 1Pr 3:18a). Ngài là Đấng "công bình" còn chúng ta là kẻ "không công bình".
ĐỨC CHÚA TRỜI ĐỨNG VỀ PHÍA CHÚNG TA
Sự tranh luận thứ hai của Phaolô là lý do vì sao chúng ta không bao giờ còn bị Đức Chúa Trời đoán phạt, một khi chúng ta trở nên con cái của Ngài, tiến sâu vào trong chính bổn tánh của Chính Đức Chúa Trời. Hai khía cạnh lớn của bổn tánh Đức Chúa Trời: quyền uy tối cao và tánh bất di bất dịch của Ngài (tức không thể thay đổi được) được nêu lên để làm chứng cho việc Đức Chúa Trời không thể thay đổi việc "vừa giúp chúng ta" và không bao giờ lại có thể đoán phạt chúng ta nữa.
Trong RoRm 8:31-35 Phaolô tóm tắt cuộc tranh luận thứ hai này bằng cách đưa ra năm câu hỏi sâu sắc, những câu trả lời đã hợp thành một lập luận mạnh mẽ cho thấy Đức Chúa Trời không bao giờ còn đoán phạt chúng ta nữa và lý do vì sao chúng ta hoặc bất kỳ ai khác cũng không thể định tội chúng ta một cách hợp pháp được.
Câu hỏi thứ nhất: "Vì nếu Đức Chúa vừa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? (Câu 31). Chính tính chất của câu hỏi đã nhấn mạnh rằng "Còn có ai" nghịch cùng chúng ta? họ chẳng đáng kể bởi vì Đấng Toàn Năng Đức Chúa Trời Tối Cao của cả vũ trụ vừa giúp chúng ta.
Sự kiện này có thể được hỗ trợ mạnh mẽ khi bạn giao phó chỗ đứng của mình cho Chúa trong một tình huống thù nghịch và cảm thấy hơi giống với Lone Ranger (Người Bảo Vệ Cô Độc). Giêsuê vị tiên tri lão thành đã trích dẫn lời Đức Chúa Trời "ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng, vì Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng người trong mọi nơi ngươi đi" (Gios Gs 1:9).
Câu hỏi thứ hai: "Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?" (RoRm 8:32). Điều muốn nói ở đây là, nếu khi chúng ta còn là những kẻ nghịch thù với Đức Chúa Trời, mà Ngài còn phó hết điều quý nhất Ngài có để chịu chết thay cho chúng ta, thì nay khi chúng ta đã là con cái Ngài, Ngài lại ban cho chúng ta kém hơn sao. Dĩ nhiên là không!
"Mọi sự" mà Ngài hứa ban cho chúng ta cách nhưng không liên hệ đến hàng ngàn đặc quyền và ơn phước đã được phác thảo trong những lời hứa của Đức Chúa Trời xuyên suốt cả Kinh Thánh. Những điều đó giống như một kho tàng chỉ đợi chúng ta bước vào.
Bạn có thể thấy, trên cơ sở của lời tuyên bố rõ ràng không thể nhầm lẫn được của câu Kinh Thánh ấy, chúng ta không cần phải van nài nơi cửa sau của thiên đàng vì bất kỳ những sự cần dùng nào của mình. Phaolô viết cho người Philíp rằng Đức Chúa Trời tôi sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của anh em y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển trong Đức Chúa Giêxu Christ" (Phi Pl 4:19)
Một phần ơn phước của việc được biết rằng chúng ta không bao giờ lại bị đoán phạt là điều chắc chắn khi chúng ta đến với Chúa trong sự cầu nguyện, chúng ta sẽ tìm được một sự tiếp nhận nhân từ và yêu thương dầu cho chúng ta đã sống một đời sống Cơ Đốc nhân như thế nào trong cuộc sống của mình. Bạn thấy đấy, khi chúng ta còn là những kẻ thù đáng ghét của Ngài thì Ngài đã làm điều tốt nhất cho chúng ta, thì bây giờ khi chúng ta đã là con của Ngài, Ngài sẽ không làm kém hơn đâu.
Câu hỏi thứ ba: "Ai có thể (đủ tư cách để ) kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời ?" (RoRm 8:33). Ai là người có quyền tố cáo hay xét đoán kẻ mà đã được vị Thẩm phán Tối cao của cả cõi vũ trụ tuyên bố là công bình? Câu trả lời là "Chỉ có chính mình vị Thẩm Phán mà thôi". Nhưng vị Thẩm Phán Toàn Quyền của Thiên Đàng có làm điều đó chăng? Sứ đồ Phaolô ngay cả cũng không bận tâm để trả lời câu hỏi bằng một chữ không nữa, bởi vì câu trả lời đã quá rõ ràng Đức Chúa Trời chính là Đấng xét đoán con người, vì vậy Ngài không định tuyên bố con người là không công bình để mà đoán phạt họ lần nữa.
Điều được cô đọng lại ở đây đó là Đức Chúa Trời không thể đảo ngược một sự tuyên bố đầy hiệu lực, bất di bất dịch mà Ngài đã thực hiện, dẫu cho Ngài có muốn đi nữa. Và bởi vì Đức Chúa Trời đã phải chịu trả một cái giá quá lớn để có thể xưng công bình cho con người, thì làm sao nay Ngài lại muốn vất bỏ tất cả những điều đó đi mà nói rằng tất cả không để làm gì hết? Không hề có một mảy may cơ hội để Ngài muốn điều đó. Giá đã phải trả thật quá đắt rồi!
Câu hỏi thứ tư: "Ai sẽ lên án họ ư? " (8:34). Có một câu nói rằng "Đừng kể đến những người chỉ trích bạn: hãy cân họ xem! " Điều đó thật sự được áp dụng ở đây. Có lẽ sẽ có rất nhiều người, kể cả chính bạn, sẽ lên án bạn, nhưng chỉ có một Đấng duy nhất có quyền làm điều đó, và đó là chính mình Chúa Giêxu.
Sứ đồ Giăng nói với chúng ta rằng "Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con đặng ai nấy đều tôn kính Con, cũng như tôn kính Cha vậy" (GiGa 5:22, 23)
Bây giờ vấn đề là, liệu Chúa Giêxu có định tội kẻ mà Cha đã xưng công bình chăng? Một lần nữa chúng ta phải trả lời với một tiếng vang dội KHÔNG! Làm như vậy là mâu thuẫn với bốn công việc lớn lao nhất của Ngài làm thay cho chúng ta.
Điều thứ nhất là "Ngài chịu chết vì chúng ta". Thứ hai là "Ngài đã sống lại từ kẻ chết" để chứng tỏ Đức Chúa Cha chấp nhận sự đền tội của Ngài thay cho chúng ta. Thứ ba, "Ngài đang ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời" là Đấng vinh hiển bảo đảm chúng ta cũng sẽ ở đó một ngày gần đây. Thứ tư là Ngài liên tục "cầu thay cho chúng ta" như thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta (xem RoRm 8:34).
Câu hỏi thứ năm: Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ " ( 8:35). Câu hỏi thật sự là "Có điều gì hoặc người nào, bất cứ nơi nào trên thế gian này hoặc trong lãnh vực thuộc linh, ai, bởi sự đoán phạt của nó, có thể khiến tình yêu thương không thay dời của Đức Chúa Trời thôi yêu thương đối với chúng ta chăng? Tất cả những điểm Phaolô nêu lên trong Rôma đoạn 8 đều cho thấy rằng không có.
Bây giờ, điều đó không phải nói là sẽ không có những người sẽ định tội chúng ta và tố cáo chúng ta về việc "trượt khỏi ân điển của Đức Chúa Trời" vì cớ một phẩm hạnh nào đó bị xét đoán là sai trật, và có lẽ nó thật sự sai trật. Nhưng không điều gì, ngay cả phẩm hạnh sai trật có thể làm cho Đức Chúa Trời đoán phạt một trong các con cái Ngài một lần nữa.
Bởi vì có quá ít tín hữu thật sự hiểu được những sự sâu nhiệm của lẽ thật này. Họ nhầm lẫn sự đoán phạt của Satan, của các anh em tín hữu, và của chính lương tâm họ và tưởng là những điều đó đến từ Đức Chúa Trời, Satan được sứ đồ Giăng gọi là "kẻ kiện cáo anh em" trong KhKh 12:10. Hắn kiện cáo những kẻ tin Chúa vì hắn biết rằng cũng sẽ chẳng làm được gì khi kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời. Song nếu chúng ta không được neo mình trong lẽ thật vững bền của việc Đức Chúa Trời không thể và sẽ không bao giờ đoán phạt chúng ta một lần nữa, thì chúng ta có thể rơi vào trong sự kiện cáo của Satan và thật sự nghĩ rằng điều đó đến từ Đức Chúa Trời.
BỞI VÌ ĐỨC CHÚA TRỜI KHÔNG CÒN ĐOÁN PHẠT NỮA THÌ BẠN?
Đức Chúa Trời sẵn sàng làm thật nhiều điều để chứng tỏ Ngài không còn đoán phạt chúng ta nữa, vậy thì chúng ta có quyền tự lên án mình không? Không ai có thể có đức tin mạnh mẽ khi cứ quanh quẩn trong việc tự định tội chính mình vì sự thực hành kém cõi của mình trong địa vị con cái của Đức Chúa Trời.
Đức tin thật đến từ việc đặt trọng tâm vào Đấng Christ và vào những gì Ngài đã làm cho bạn qua sự xưng nghĩa. Song nếu bạn không tập trung vào điều đó mà thay vì vậy chú ý vào phẩm hạnh của mình là một người tin Chúa, thì chẳng bao lâu bạn sẽ đi đến tình trạng ngã lòng và tự định tội mình vì không sống đúng với điều bạn biết là Đức Chúa Trời đòi hỏi mình.
Điều này cũng là một sự thật: nếu bạn định tội mình vì một đời sống Cơ Đốc không ra chi, thì bạn cũng bị trói buộc để có một cái nhìn chỉ trích đối với những người khác. Phần lớn những gì chúng ta chán ghét trong những người khác là điều chúng ta chán ghét về mình. Tuy nhiên, nếu Đấng Christ không đoán phạt một anh em nào. song Ngài chấp nhận người ấy trên cơ sở của việc đã xưng công bình người ấy trong Đấng Christ, thì tôi có quyền gì để định tội người ấy? Như Kinh Thánh đã phán rằng "Nhưng ngươi là ai mà dám xét đoán tôi tớ của kẻ khác? Nó đứng hay ngã, ấy là việc của chủ nó - song nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng" (RoRm 14:4).
Một lời hứa thật kỳ diệu! Có phải hết thảy chúng ta đều biết một anh em Cơ Đốc nhân nào đó đã không sống gần gũi lắm với Đức Chúa Trời, và chúng ta đã đem tất cả những loại bắn bừa "thuộc linh" mà nhắm vào người ấy? Câu Kinh Thánh trên hẳn đã cho chúng ta một sự khích lệ lớn bởi vì câu Kinh Thánh ấy nói rằng người ấy là tôi tớ của Đức Chúa Trời và Chúa có quyền khiến người ấyĐ đứng vững. Và người ấy sẽ đứng vững!
Có thể sự đoán xét của chúng ta về người ấy chính là điều khiến người ấy không thấy được rằng Đức Chúa Trời không hề định tội người ấy vì đã đi sai lạc. Không ai thích đến gần một con nhím, và nếu một Cơ Đốc nhân - phạm tội nghĩ rằng Đức Chúa Trời vẫn nổi thạnh nộ với mình và chỉ chực để định tội mình, thì người ấy sẽ không bao giờ muốn quay về trong mối thông công với Chúa.
Thái độ yêu thương và chấp nhận của chúng ta có thể sẽ là con đường trở về của người ấy.
XƯNG NGHĨA LÀ TÊN CỦA MỘT TRÒ CHƠI (Cuộc Chơi Có Luật Lệ)
Tôi nhận ra đây là chương dài nhất, nhưng làm thể nào tôi có thể vội vã thông qua lẽ thật của sự xưng nghĩa bởi đức tin là lẽ thật cấp bách hơn hết này? Nếu chúng ta không đả thông vấn đề này trong suy nghĩ của mình, thì không có điều gì khác sẽ vận hành tốt trong đời sống Cơ Đốc của chúng ta.
Để tóm tắt, tôi chỉ xin nói rằng sự xưng nghĩa là công việc của Đức Chúa Trời, nhờ đó Ngài xưng công bình dựa trên đức tin mà thôi, cho kẻ nào đơn sơ đặt lòng tin nơi Chúa Jesus là Cứu Chúa. Sự công bình nầy là điều được kể thêm vào cho người tin Chúa khi người ấy đặt lòng tin, và điều đó không bao giờ bị có thể bị cất đi. nó đảm bảo cho người ấy ba điều lớn lao, đó là: hoà thuận với Đức Chúa Trời; một chỗ đứng trong ân điển và không còn sự đoán phạt nữa.


SỰ THA THỨ
Trong phần đầu chương này, tôi xin nói rằng một số các bạn đã đọc quyển Sa tan vẫn còn sống và mạnh khỏe trên Địa Cầu của tôi, sẽ nhận ra một số tư liệu lấy từ trong chương có tựa đề "Chuyến Đi Tội Lỗi". Trong quyển sách đó, tôi đã trình bày vấn đề tha thứ từ quan điểm của việc nhìn rõ hơn sự đắc thắng của chúng ta trên Satan. Ở đây tôi muốn chứng minh quyền năng của sự tha thứ từ quan điểm của toàn bộ đời sống Cơ Đốc nhân.
Cách đây không lâu, khi tôi đang nói chuyện với một nhóm những cặp vợ chồng đã kết hôn về những lẽ thật của sự tha thứ hoàn toàn trong Đức Chúa Giêxu Christ. Một cô gái trẻ vẫn còn nấn ná cho đến khi mọi người khác đã đi hết, đoạn cô bước lên và nói "Thưa ông, tôi có một câu hỏi". "Vâng", tôi đáp "Tôi có thể giúp gì cho cô?"
Cô ta cho tôi biết cô và chồng cô cả hai đều tin Chúa nhưng họ chỉ mới kết hôn được chừng ba tháng đã có những vấn đề.
Cô nói "Tôi biết chuyện này nghe thật ngớ ngẩn, nhưng tôi không thể tha thứ anh ấy vì điều anh đã làm. Và đó cũng thật sự là lỗi lầm của tôi, tôi đoán vậy, đó là lỗi của anh ấy".
Cô ta tiếp tục kể cho tôi nghe rằng họ đã ngủ với nhau trước khi kết hôn khi anh ta cứ nhất định đòi, và bây giờ mỗi khi anh ấy muốn làm tình, cô ta lại thật sự phẫn nộ với anh ấy và không thể tha thứ anh ấy vì đã lấy mất sự trinh trắng của cô ấy.
Sự mặc cảm lộ rõ trên nét mặt cô ta, và điều tệ hại hơn nữa, chồng cô ta đang ngồi ở cuối phòng, chờ cho chúng tôi kết thúc cuộc nói chuyện. Tôi không biết anh ta có thái độ như thế nào về cuộc nói chuyện của chúng tôi.
Tôi bắt đầu "Tôi có một số điều quan trọng dành cho cô. Cô có biết điều Đấng Christ đã làm cho tội lỗi khi Ngài chịu chết thay chúng ta không?" Tôi hỏi.
"Có, Ngài tha thứ tội lỗi" Cô ta trả lời.
Tôi hỏi "Bao nhiêu tội?"
"Tất cả mọi tội"
Tôi hỏi "Có bao nhiêu tội lỗi của cô và của chồng cô đã được Chúa tha thứ?"
Cô ta trả lời "Tất cả những tội đó"
Tôi nói "Vậy thì nếu Đức Chúa Trời đã tha thứ cô và chồng cô, thì cô có nghĩ rằng cô cũng phải tha thứ chính mình và chồng mình không?"
Cô nói "Trước đây tôi chưa bao giờ thật sự nghĩ như vậy - Cảm tạ Chúa, bây giờ tôi tha thứ cho anh ấy".
Cô ta cám ơn tôi, và định quay đi tiến về chỗ người chồng đang đợi.
"Tôi không muốn cản trở cô" Tôi nói "Nhưng còn một điều mà cô cần phải biết".
Sự biểu lộ trên gương mặt cô ta cho thấy dường như cô ta nghĩ rằng tôi sắp thu hồi tin lành mà tôi vừa nói và hủy bỏ đi.
"Một điều nữa đó là Đức Chúa Trời không những chỉ tha thứ cho hai bạn, mà Ngài luôn tha thứ mỗi khi điều đó xảy ra! Bởi vì HeDt 10:17 nói rằng "Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi cùng những hành động sai trái của họ nữa". Không những Ngài tha thứ cho các bạn nhưng Ngài muốn không nhớ đến điều đó nữa. Bởi sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá, tội lỗi ấy đã được che phủ. Bây giờ, bởi vì Ngài đã quên hết mọi điều đó rồi thì hai bạn cũng hãy quên chuyện đó đi. Đồng ý chứ?
"Ôi, xin cảm ơn ông" Cô ta nói "Đây là điều kỳ diệu nhất mà tôi từng được nghe".
Cô ta vụt đi mau như tên bắn, phóng qua phòng nhóm và ghì chặt chồng cô đến nỗi anh ta muốn ngã khỏi ghế. Không cần nói, cuộc hôn nhân ấy từ lúc đó trở đi đã đổi khác bởi vì tất cả điều mà sự không tha thứ có thể mang lại bao giờ cũng là một cảm giác xa lánh.
SỰ CỨU CHUỘC LÀ NỀN TẢNG CỦA SỰ THA THỨ
Bây giờ, trước khi có người nào toan phản đối rằng lời khuyên của tôi dành cho cô ta là quá nhẹ nhàng đối với một tội lỗi nghiêm trọng, chúng ta hãy nhìn cho đúng xem sự tha thứ của Đức Chúa Trời dành cho tội lỗi thật sự rộng lớn như thế nào.
Như bạn có thể xem thấy từ biểu đồ nằm ở phần đầu chương, tha thứ là một trong những kết quả do công lao cứu chuộc của Đấng Christ tại trên thập tự giá. Cũng như chúng ta sẽ thấy trong chương tiếp theo, sự tự do cũng là một kết quả khác. Món nợ tội của con người, đã được hủy bỏ bởi sự cứu chuộc của Đấng Christ, điều đó làm cho Đức Chúa Trời có quyền tha thứ hoàn toàn mọi tội lỗi của chúng ta.
Trong chương này chúng ta sẽ tập trung vào điều mang ý nghĩa: được tha thứ bởi Đức Chúa Trời.
Trong CoCl 2:13, Phaolô nêu lên mức độ tha thứ của Đức Chúa Trời theo cách rõ ràng nhất có thể được. Đây ông đang nói với những tín hữu trẻ tuổi ở tại Hội Thánh Côlôse "Còn khi anh em đã chết trong tội lỗi mình và sự xác thịt mình không chịu cắt bì, thì Đức Chúa Trời đã khiến anh em sống lại với Đấng Christ, vì đã tha thứ hết mọi tội chúng ta".
Có ba điều được nhấn mạnh ở đây. Thứ nhất, Đức Chúa Trời phán rằng hết thảy chúng ta trước kia đều đã chết mất trong tội lỗi mình. Đây là tình trạng của tất cả chúng ta trước khi đến với Đấng Christ. Chúng ta đã biết điều này trong chương nói về sự chết thuộc linh.
Thứ hai, Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta được sống với Ngài. Đây là một lẽ thật lạ lùng, chúng ta sẽ xem xét điều đó kỹ càng trong chương mười bảy về sự tái sanh.
Thứ ba, và cũng là khía cạnh của câu Kinh Thánh mà chúng ta sẽ tập trung vào ở đây "Đức Chúa Trời đã tha thứ hết mọi tội chúng ta". Động từ "đã tha thứ" trong 2:13 ở thì quá khứ không xác định trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là điều đó đã xảy ra ở một thời điểm trong quá khứ. Nói cách khác Đức Chúa Trời đã một lần giải quyết tội lỗi ở tại thập tự giá, đó là một sự kiện đã kết thúc.
Tôi muốn chúng ta giữ chặt vào một cụm từ đặc biệt trong câu này "tha thứ hết tất cả tội lỗi chúng ta".
Có bao giờ bạn dừng lại để xét xem "mọi" thật sự là bao nhiêu không? Một người bạn luật sư nói với tôi rằng trong một quyết định của pháp luật nhằm ngăn chận một vụ việc ở tại Pennsylvania, chữ "tất cả" đã được định nghĩa như sau "Tất cả là bao gồm mọi sự và không miễn trừ gì cả".
TẤT CẢ KHÔNG PHẢI LUÔN LUÔN LÀ TẤT CẢ CHO TẤT CẢ
Nhưng, bạn biết không, trong tâm trí của một người Cơ Đốc bình thường, khi người ấy đọc hàng chữ "tha thứ hết tất cả tội lỗi chúng ta", là người ấy nghĩ rằng đó là tất cả những tội người ấy đã phạm trước khi tiếp nhận Chúa Giêxu. Trước đây, tôi cũng đã nghĩ như thế.
Ở đầu bên trái đây là sự kiện Đấng Christ đã chịu chết vì tội lỗi tôi vào năm 33 sau Công Nguyên. Tiếp theo, trong lịch sử có một người tên là Hal Lindsey được sinh ra vào năm 1929. Sau đó vào năm 1956, anh ta tiếp nhận Chúa Giêxu Christ. Phải - được sinh ra năm 1929, tiếp nhận Chúa: 1956. Tôi vẫn nghĩ rằng khi tôi tin Chúa Giêxu Christ là Cứu Chúa của riêng mình, thì Ngài đã tha thứ tất cả mọi tội lỗi của tôi từ ngày tôi được sinh ra cho đến năm 1956, đó là bởi sự chết của Ngài vào năm 33 sau Công Nguyên. Tôi không biết sự cung ứng của Ngài là dành cho cả cuộc đời còn lại của tôi nữa! Tôi tưởng mình phải làm thế nào đó để được sự tha thứ dành cho tất cả tội lỗi của tôi trong tương lai bằng cách xưng ra mỗi tội sau khi phạm.
Nhưng có bao nhiêu tội lỗi của tôi trong tương lai khi Đấng Christ chịu chết? TĐT CẢ! Bạn có biết rằng những tội tôi phạm từ năm 1956 cho đến ngày tôi bước đi với Đấng Christ cũng đã được trả như những tội phạm trước không? Tất cả những tội lỗi đó đều làm tổn thương đến một Đức Chúa Trời thánh khiết, đến nỗi vào năm 33, Ngài đã xử lý mọi điều mà tôi hẳn sẽ phạm. Để tha thứ tôi vào năm 1956, Đức Chúa Trời đã phải tha thứ tôi tất cả những tội lỗi trong tương lai hoặc là Ngài không thể chấp nhận tôi trong chỗ đầu tiên! Bạn thấy đấy, những tội lỗi của tôi trong tương lai đều là thật và đáng ghê tởm đối với Đức Chúa Trời cũng như những tội lỗi trong quá khứ (của tôi).
MỘT NỬA THẬP TỰ GIÁ KHÔNG ĐỦ CHO SỰ CỨU RỖI
Nhiều người quan niệm rằng thập tự giá chỉ hướng về phía sau của cuộc đời họ mà thôi, chứ không hề hướng đến phía trước. Đó chỉ mới là thập tự giá một nửa, và như vậy thì chưa thật sự là thập tự giá. Khi Đức Chúa Trời phán rằng Ngài đã tha thứ hết mọi tội lỗi của chúng ta, thì đó là một thập tự giá với hai cánh tay, một vươn ra quá khứ của chúng ta và một hướng đến toàn bộ tương lai chúng ta. Bất cứ điều gì kém hơn một sự tha thứ hoàn toàn nằm trên vạch thời gian của lịch sử đều hụt mất sự cung ứng trọn vẹn của Đức Chúa Trời dành cho tội lỗi một cách đáng thương.
HAI LẼ THẬT QUAN TRỌNG HƠN HẾT VỀ SỰ THA THỨ
Trước hết, chúng ta đã thấy trong chương nói về sự cứu chuộc rằng, khi Đấng Christ bước lên thập tự giá, Ngài đã mang theo những tờ giấy nợ, liệt kê tất cả tội lỗi của cả nhân loại, và đã giải quyết một lần đủ cả mọi tội lỗi bằng cách dời bỏ chúng khỏi đường để chúng không còn là những vật cản đối với Đức Chúa Trời nữa (CoCl 2:14).
Sau đó trong HeDt 10:14, 17 một khía cạnh khác của lẽ thật vĩ đại này được bổ sung. Bởi sự hy sinh của chính mình Đấng Christ như là một của lễ chuộc tội chúng ta, Ngài đã cung ứng cho chúng ta một sự tha thứ đời đời và không thể thay đổi được. Câu 17 nói rằng "Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi cùng những hành động vô đạo của chúng nữa".
Tiên tri Êsai đã trích lời của Chúa khi nói về điều giống như vậy "Đy chính ta, là Đấng vì mình ta mà xóa sự phạm tội ngươi, ta sẽ không nhớ đến tội lỗi ngươi nữa" (EsIs 13:25).
Hai lẽ thật này đã hợp thành nền tảng vững chắc mà bạn phải dựa vào đó để kinh nghiệm sự tha thứ thực hữu của Đức Chúa Trời trong đời sống hàng ngày của bạn. Thứ nhất, tất cả tội lỗi của bạn - trong quá khứ, hiện tại, và tương lai đều đã được tha thứ khi bạn đặt niềm tin nơi Chúa Giêxu. Không có điều gì mà Ngài chưa tha thứ cho bạn.
Thứ hai, không những Ngài đã tha thứ tất cả tội lỗi của bạn, mà Ngài còn xóa sạch chúng khỏi tâm trí Ngài mãi mãi. Những điều đó sẽ không bao giờ bị đưa ra để nghịch lại bạn nữa.
CHÚNG TA CÓ THỂ THA THỨ NHƯ CHÚA ĐÃ THA THỨ KHÔNG?
Nếu Đức Chúa Trời đã tha thứ hết mọi tội lỗi của chúng ta và hiện nay Ngài không còn để chúng ảnh hưởng đến chúng ta nữa, thì thái độ của chúng ta đối với tội lỗi của chính mình và những người khác phải như thế nào? Hàng ngàn giường bệnh ở tại bệnh viện, những viện tâm thần và nhà tù đều đầy ắp những con người không bao giờ chịu tha thứ cho chính họ hoặc cho những người khác vì những việc làm sai trái. Loại chất độc này đã ăn dần ăn mòn con người ta cho đến khi tình trạng bệnh tật thật sự hoặc sự thù hằn tai hại xảy đến.
Một trong những yếu tố chính của các cuộc hôn nhân thiếu hạnh phúc đó là việc hai người chung sống trong sự thân quen gần gũi với nhau, và thấy được những điều xấu có trong người kia. Kiểu quan hệ có những sự buộc tội về mặt tình cảm này, trong khi sự gay gắt làm thương tổn lẫn nhau, thường kèm theo những lời nói, hành động xấu và độc ác. Nếu những điều này cứ day dứt kéo dài mà không được tha thứ, thì sự cay đắng và oán giận có thể gia tăng dần dần trong hai người cho đến một lúc sự ghê tởm hoàn toàn đối với nhau sẽ xảy ra.
Càng ngày người ta càng chọn lựa điều mà họ cho là sự "ra đi" dễ dàng khi loại chán ghét ấy xảy ra họ ly dị. Nhưng điều đó không thật sự giải quyết được vấn đề không tha thứ trong tấm lòng của người ta. Tất cả điều họ làm được đó là mang nó theo với họ đi vào những cuộc hôn nhân kế tiếp, và vị phối ngẫu mới phải nhận sự trừng phạt vì sự thù địch nằm sâu bên trong.
Trong nhiều trường hợp, các cuộc hôn nhân dường như cũng khá bình thường ở bề ngoài thì cũng có đau đớn bởi vì có sự không tha thứ phần nào về phía một trong hai người hoặc cả hai bên. Họ trừng phạt lẫn nhau bằng cách hời hợt về mặt tình dục cẩu thả trong việc quản gia và việc gọn gàng sạch sẽ của cá nhân, không thành công trong việc làm, lưu ý đến những người khác phái khác, tranh chiến, lạnh nhạt, chỉ trích và cằn rằn liên tục, và vân vân. Cả họ lẫn con cái họ đều bị đau đớn vì không tha thứ.
Cũng có rất nhiều người không bao giờ có thể tha thứ cho chính họ vì những tội lỗi trong quá khứ. Có thể họ đã có một thói quen kín giấu mà họ cảm thấy là có tội, và bởi vì không thể tha thứ cho chính mình, họ có một sự tự hình dung thật khủng khiếp. Họ cảm thấy mình không tốt và họ phát triển một sự tự hổ thẹn và một mặc cảm tự ti.
Hoặc là, một sự hiểu biết về đời sống tội lỗi sâu kín bên trong của họ gây cho có một số người phát huy một sự phòng thủ, điều đó khiến họ thù địch và thích tranh cãi. Dường như họ có cái thái độ là bất cứ một việc nhỏ nhặt gì họ thật sự nghĩ về chính mình, thì họ sẽ rất quả quyết rằng không một ai khác thấy được sự dâm dục ở bên trong.
TẤT CẢ SỰ CAY ĐẮNG NÀY CÓ CẦN THIẾT KHÔNG?
Chỉ có một điều căn bản mà dựa vào đó chúng ta có thể tha thứ trọn vẹn cho chính mình và những người khác về tội lỗi và những thiếu sót của họ. Chúng ta phải nhận biết và liên tục kể tính có thật của sự tha thứ hoàn toàn bởi Đức Chúa Trời dành cho chính những tội lỗi tương tự mà chúng ta đã để cho nó phát triển và cứ cay đắng mãi. Nếu Đức Chúa Trời không còn để những điều đó ảnh hưởng xấu đến chúng ta mà Ngài đã tha thứ và quên chúng đi, thì chúng ta cũng có thể làm như Ngài vậy!
Bây giờ có lẽ bạn sẽ tự nghĩ "Phải, nhưng nếu như bạn biết được điều người ấy đã làm cho tôi, bạn sẽ hiểu vì sao tôi không thể tha thứ cho người ấy được".
Nhưng bạn biết không, Đức Chúa Trời cũng đã có thể nói như vậy với chúng ta về những điều tội lỗi chúng ta đã làm cho Con Một Yêu Dấu của Ngài, là Chúa Giêxu. Chúng đã nộp Ngài tại thập tự giá để chịu đau đớn theo cách mà không ai trong chúng ta tưởng tượng nỗi. Vậy mà Đức Chúa Trời đã tha thứ cho chúng ta, nhờ Đức Chúa Giêxu Christ.
Đối với tôi, khi chúng ta không tha thứ được cho chính mình hoặc cho bất cứ người nào khác đã làm xúc phạm mình là cho rằng mình có một tiêu chuẩn tha thứ cao hơn Đức Chúa Trời, bởi vì điều đã làm tổn thương tôi đến nỗi tôi không thể tha thứ được, thì Đức Chúa Trời lại đã tha thứ rồi.
HỘI CHỨNG TỘI LỖI: TỘI LỖI, MẶC CẢM PHẠM TỘI, SỰ XA LẠ.
Không hiểu đúng mức độ trọn vẹn sự tha thứ của Đức Chúa Trời thì luôn luôn sẽ cản trở đời sống tâm linh của chúng ta. Bởi vì có một chu trình không thể tránh được liên can đến sự phạm tội, ngay cả sau khi chúng ta đã trở thành con cái Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta phạm tội, Đức Thánh Linh cáo trách chúng ta và chúng ta kinh nghiệm một sự cáo trách gây dựng là điều được nhắc đến trong IICo 2Cr 7:8-11 như là "sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời". Tuy nhiên, nếu sự buồn rầu đó không được liên hệ một cách phải lẽ với sự tha thứ Đức Chúa Trời đã giành được ở tại thập tự giá, thì điều đó sẽ dẫn đến mặc cảm phạm tội và mặc cảm phạm tội sẽ dẫn đến sự xa lánh Đức Chúa Trời.
Sự xa lánh này không có nghĩa là chúng ta không còn thuộc về Đức Chúa Trời chút nào nữa. Mà là nó sẽ khiến chúng ta sống trong nỗi sợ hãi bị Đức Chúa Trời hình phạt hoặc từ bỏ chúng ta, và điều đó dẫn đến một mặc cảm thấp hèn ở trước mặt Đức Chúa Trời.
Vậy thì, làm thế nào để phá đổ "hội chứng tội lỗi" của tội, mặc cảm phạm tội và sự xa lánh? Chúng ta đều biết mình không thể chấm dứt phạm tội mặc dầu đã là những Cơ Đốc nhân. Vậy làm thế nào để đừng làm phát triển mặc cảm tội lỗi là điểu sẽ dẫn đến sự xa lánh Đức Chúa Trời?
Đây là giải pháp. Khi tôi cố ý phạm tội, tôi phải xưng tội với Đức Chúa Trời (IGi1Ga 1:9). Chữ "xưng" là một chữ kết hợp bởi hai chữ Hy Lạp homo và legeo. Hai chữ này hợp lại có nghĩa là "nói về một điều gì giống như người khác nói về điều đó". Trong trường hợp này, khi tôi phạm tội tôi phải nói về tội của tôi giống như Đức Chúa Trời phán về tội lỗi đó.
Vậy, Đức Chúa Trời phán thế nào về tội lỗi của tôi?
Trước hết, Ngài phán đó là tội. Vì vậy tôi phải đồng ý với Ngài rằng điều tôi vừa làm là tội. Tôi không cố gắng để bào chữa cho chính mình hoặc che đậy nó. Tôi sẵn sàng chấp nhận rằng mình đã phạm tội. Và nếu tôi biết rằng tôi đã được tha thứ thì tôi sẽ không sợ hãi để đến với Chúa và thành thật với Ngài về tội lỗi tôi.
Thứ hai, Đức Chúa Trời phán Ngài đã tha thứ hết mọi tội lỗi tôi, kể cả điều tôi vừa mới phạm. Vì vậy tôi nhìn lên thập tự giá của Chúa Giêxu và tại đó nhắc nhở chính mình về sự kiện lớn lao Ngài đã phải để tôi được tha thứ mãi mãi. Sau đó tôi cảm tạ ngài vì trong cái nhìn của Ngài tội lỗi tôi đã được tha rồi. Chúa Giêxu đã chịu đau đớn và chịu chết vì có hình phạt dành cho tội lỗi đó.
Và thứ ba, vì cảm kích trước sự tha thứ lớn lao đó tôi công nhận điều đó với lòng biết ơn, xây khỏi tội lỗi và bắt đầu tập trung cách có ý thức vào Chúa Giêxu trở lại, nhờ cậy Đức Thánh Linh là đấng cư trú trong tôi và một mình Ngài là Đấng có thể ban quyền năng cho tôi để không phạm tội.
NHỮNG HẬU QUẢ CỦA VIỆC KHÔNG LIÊN HỆ TỘI LỖI VỚI THẬP TỰ GIÁ
Khi một người tin Chúa phạm tội, người ấy lập tức bị Thánh Linh cáo trách. Ngày cả nếu người ấy bị cứng lòng bởi nhiều lần đã bỏ qua sự cáo trách của Đức Thánh Linh, Đức Thánh Linh vẫn luôn luôn được tin cậy để làm cho người ấy hiểu bằng tiếng êm dịu, nhỏ nhẹ này. Nếu kẻ tin không lập tức liên hệ tội lỗi ấy với thập tự giá và sự tha thứ đã sẵn cho mình vì cớ tội lỗi, thì cuối cùng nó sẽ đem lại một cảm biết phạm tội là điều không phải đến từ Đức Chúa Trời. Và mặc cảm phạm tội đó sẽ dẫn đến một sự xa lạ với Đức Chúa Trời.
Bây giờ, khi chúng ta phạm tội, một hiện tượng lạ lùng bắt đầu. Theo bản năng, chúng ta biết rằng có người phải chịu trả giá. Ngay cả nếu chúng ta không nhận ra điều này trong mức độ có ý thức nó cũng xảy ra trong tiềm thức của chúng ta.
Bởi vì chúng ta không thể chịu nỗi sự cáo trách chưa được giải quyết ở bên trong ấy, chúng ta sẽ xử lý nó theo một trong ba cách. Hoặc chúng ta sẽ trừng phạt chính mình bằng cách nào đó nhằm cố gắng đền bù lại tội lỗi đã phạm, hoặc chúng ta sẽ trừng phạt một người nào khác. Hoặc chúng ta sẽ nhìn lên thập tự giá của Chúa Giêxu và tin rằng Ngài đã mang lấy án phạt cách vĩnh viễn như vậy để chúng ta không cần phải tố cáo trả lại chính mình hoặc đổ nó lên bất cứ người nào khác.

TỘI LỖI KHÔNG CÒN LÀ VẤN ĐỀ NỮA
Từ này đến giờ điều tôi đang cố gắng để nói qua suốt cả chương này đó là không còn có bất cứ lý do nào để tập trung vào tội lỗi trong đời sống mình. Công lao của Đấng Christ trong sự cứu chuộc đã giải quyết hoàn toàn vấn đề tội lỗi của chúng ta đến nỗi chúng không bao giờ còn được đem ra để chống lại chúng ta lần nữa sau khi chúng ta đến chỗ nhận biết Chúa Giêxu là Cứu Chúa của riêng mình.
Bây giờ, có lẽ bạn thắc mắc: nếu tội lỗi không còn là một vấn đề với Đức Chúa Trời nữa, thì tôi phải có thái độ gì đối với tội lỗi khi tôi khám phá được nó đang đến với đời sống tôi?
Trước hết, như tôi đã thảo luận, nó phải được xưng ra và phải được sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Nhưng nếu chúng ta vẫn lờ đi trước những lời cáo trách của Thánh Linh, và không đồng ý với Chúa rằng điều mình đã làm là tội, thì Ngài sẽ cứ tra tay Ngài trên tội lỗi và khiến nó trở thành một vấn đề cho đến khi nào chúng ta chịu nhìn nhận điều đó là tội lỗi và cầu xin sự tha thứ của Ngài. Còn nếu chúng ta không sẵn sàng đồng ý với Chúa rằng mình đã phạm tội, Ngài sẽ cáo trách chúng ta về tội lỗi đó, và Ngài có thể buộc phải thi hành kỷ luật với chúng ta. Nhưng, dẫu đến vậy, Ngài cũng luôn luôn kỷ luật chúng ta trong sự yêu thương chứ không phải trong sự giận dữ (HeDt 12:5-13).
Chữ "kỷ luật" và "huấn luyện" có thể thay thế cho nhau thi hành kỷ luật của Chúa luôn luôn có liên quan đến ích lợi của tương lai và đó là lý do khiến nó có thể được so sánh với việc huấn luyện.
Khi Đức Chúa Trời thấy một con cái Ngài tiếp tục từ chối không chịu lệ thuộc vào Đức Thánh Linh để giải cứu người ấy khỏi những cám dỗ của mình, vì cớ lòng quan tâm sâu xa đối với tình trạng khang kiện và hạnh phúc của đứa con, Đức Chúa Trời sẽ bắt đầu huấn luyện và kỷ luật người ấy để người ấy sẽ đi đến chỗ lệ thuộc vào Ngài trong tương lai. Đức Chúa Trời biết rằng chúng ta chỉ được vui sướng khi sống cuộc đời thánh khiết mà thôi.
Nhưng ngay cả khi Đức Chúa Trời kỷ luật chúng ta thì sức mạnh của Ngài cũng không nhiều lắm trên tội lỗi chúng ta như là trong những bài học Ngài đang dạy dỗ chúng ta về việc bước đi trong sự lệ thuộc vào Thánh Linh Ngài, là Đấng đang cư trú trong chúng ta.
Tôi biết một số người sẽ băn khoăn khi nghe rằng tội lỗi của chúng ta không còn là một vấn đề với Chúa nữa, bởi vì họ thắc mắc điều gì sẽ thúc đẩy người ta giữ đúng đường nếu họ không lo lắng gì về việc bị Chúa giáng hình phạt trên họ vì cớ tội lỗi?
Được, nhưng tôi không thể tìm được một câu Kinh Thánh nào cho phép một con cái Chúa được "lo lắng về tội lỗi của mình" bao giờ, mà xem nó như là một động cơ thích đáng để hầu việc và yêu thương Chúa. Song có rất nhiều câu dạy chúng ta rằng Đức Chúa Trời không còn xa lạ với chúng ta nữa, khi hiện nay chúng ta đã là con cái Ngài và tất cả mọi điều mà Ngài đòi hỏi chúng ta đó là bước đi bởi đức tin để không còn làm trọn những ưa muốn xác thịt của bản chất tội lỗi của chúng ta nữa (GaGl 5:16).
Khi bạn biết mình đã được tha thứ thì dễ dàng để bước đi bởi đức tin. Bạn không sợ phải thành thật với Chúa nếu bạn biết Ngài không mang theo một cái dùi cui, chỉ chực bạn phạm tội để đánh đòn bạn. Bạn không thể còn chờ đợi để yêu thương và phục vụ một Đức Chúa Trời mà thái độ của Ngài đối cùng bạn lúc nào cũng chỉ là yêu thương và chấp nhận hoàn toàn.
Biết mình đã được tha thứ há không phải là một điều lớn lao sao?
Bây giờ, hãy để cho sự nhận biết đó làm cho bạn tha thứ chính mình điều bạn từng giữ trong lương tâm mình và cũng hãy để sự nhận biết đó dẫn dắt bạn đến chỗ tha thứ cho những người mà bấy lâu nay đối cùng họ bạn đã chất chứa sự cay đắng và không tha thứ.
Đó là con đường dẫn đến sự tự do thật sự!


SỰ TỰ DO
Nếu có một từ diễn tả được lời kêu gọi chiến đấu vào những năm trong thập kỷ 1960, thì đó là chữ TỰ DO.
Mười năm đó đã làm chứng về những nỗ lực điên cuồng thường xuyên của hàng triệu người nhằm loại bỏ khỏi họ cái cảm giác bị ngăn cản không được hành động hoặc ăn nói một cách tự do. Các sinh viên muốn được tự do trong việc quyết định những bài học mà họ bị bắt buộc phải chọn, và ai phải là các giáo sư của họ. Tộc người thiểu số thì muốn được tự do khỏi sự bóc lột và sự phân biệt chủng tộc mà họ đã cảm biết từ nhiều thế kỷ. Con cái thì muốn được tự do khỏi sự giám sát và quyền hành của cha mẹ. Các công nhân thì muốn được tự do hơn trong các quyết định về những điều kiện làm việc của họ. Những người đi nhà thờ đều đặn thì muốn được tự do khỏi hình thức ngột ngạt và cứng nhắc thuộc về thể chế của các nhà thờ. Hàng triệu người dân Hoa Kỳ thì muốn lực lượng quân sự của chúng ta được tự do không phải liên lụy vào Việt Nam và bất cứ những cuộc chiến nào khác.
Nói vắn tắt những năm trong thập niên 1960 đã chứng kiến sự kiện nổi bật của hàng triệu những người "hâm mộ tự do".
Nhưng tôi biết rằng đã từ lâu, từ trước những năm trong thập niên 60, thì chữ "tự do" đã là một chữ được trìu mến hơn hết trong mọi ngôn ngữ được con người biết đến. Bởi vì nếu một người bị mất tự do, thì dẫu anh ta có thể có được những quyền sở hữu khác, cũng chẳng thay đổi được bao nhiêu.
Tuy nhiên, chắc chắn là bởi vì phần lớn lịch sử thế giới, phần lớn cư dân của thế giới, đã từng trải tình tình trạng nô lệ hoặc cách này hoặc cách khác, hoặc về thân thể, hoặc về tâm trí hay về tâm linh.
SỰ NÔ LỆ CÓ NHIỀU MẶT
Bạn không phải có những xích sắt quanh cổ chân thì mới là một nô lệ. Đoàn dân mà Chúa Giêxu đã phán cùng họ rằng "Nếu Con buông tha các ngươi, thì các ngươi sẽ thật được tự do" (GiGa 8:36) là một đoàn dân đang đứng tại đó không hề mang xiềng. Mà thật sự họ là thành phần tinh hoa đang cai trị quốc gia Ysơraên. Sự đáp ứng của họ trước lời quở trách thẳng thắn này cho thấy sự hiểu biết của họ về tình trạng bên trong của tấm lòng thật sự kém cõi như thế nào: "Chúng tôi là dòng dõi Ápraham, chưa hề làm nô lệ ai, vậy sao thầy nói rằng "Các ngươi sẽ trở nên tự do?" (8:33).
Chúa Giêxu đã giải thích tiếp cho họ rằng tình trạng nô lệ của họ là điều nằm ở bên trong. Họ đã thuộc về Satan.
Trong chương năm chúng ta đã thấy rằng một trong những vật cản phân cách Đức Chúa Trời với loài người đó là tình trạng con người làm nô lệ cho Satan. Song con người cũng làm nô lệ cho hai thế lực khác, đó là bản tánh tội lỗi cũ và luật pháp, và con người cực kỳ cần thiết phải được giải phóng khỏi hai điều đó cũng như khỏi chính mình Satan vậy.
Chương này sẽ cho thấy thế nào công lao cứu chuộc của Đấng Christ tại trên thập tự giá đã tháo xiềng cho nhân loại và để cho Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự tự do khỏi (1) quyền hành chuyên chế của bản tánh tội lỗi bẩm sinh của chúng ta (2) nguyên tắc luật pháp với sự đòi hỏi của nó: vâng lời hoặc là chết, và (3) tên chủ nô (thích trò) tàn ác của loài người: Satan.
NGỤ NGÔN CỦA THẾ KỎ HAI MƯƠI
Có một câu chuyện mà Sứ Đồ Phaolô thuật lại trong bốn câu đầu của Rôma đoạn 7, câu chuyện đó, hơn bất cứ điều gì khác đã giúp tôi hiểu được thế nào tôi đã được giải phóng khỏi tình trạng nô lệ cho bản tánh tội lỗi, cho luật pháp và cho Satan. Mặc dầu câu chuyện, như tôi sắp kể đây, sẽ là một bản phóng tác "được khuếch đại" về điều Phaolô đã viết, dầu vậy, tôi tin rằng, đây là điều ông thật sự tìm cách để nói lên. Và đây là một lời giải thích vào thế kỷ hai mươi.
Ngày xưa có một thiếu phụ đáng yêu, rất dịu dàng, đã kết hôn với một nhà cầu toàn chuyên chế, khắt khe. Từ ngày họ lấy nhau, tất cả những gì ông đã làm, đó là đặt một luật lệ cho cô về cách ông ta muốn cô phải cư xử. Không có điều gì được xem là tốt đủ đối với ông dầu cho cô ta có cố gắng thế nào đi nữa để làm vừa lòng ông. Ông ta cũng không bao giờ, dầu chỉ một lần, đề nghị giúp đỡ cô ta trở thành kiểu phụ nữ mà ông ta đã đòi hỏi.
Năm tháng trôi qua, và tôi không cần phải nói với bạn rằng họ đã chẳng có được gì ngoài một mối liên hệ không tưởng. Cô ta đã để hầu hết thời gian của mình để lo lắng vì không biết cô có làm phật lòng ông ta không, rồi những cảm giác phạm tội liên tiếp ám ảnh cô, kế đến là sự thù địch và phẫn nộ.
Nay, tôi không có ý gây một ấn tượng để bảo rằng ông chồng ấy là một người không tốt, trong ý nghĩa thật nhất của chữ ấy. Ông ta không những là một người tốt, mà còn là toàn hảo. Nhưng đó, như bạn thấy, chính là vấn đề trong mối quan hệ của họ, vì cô ta thì không toàn hảo.
Ôi, không thể sống với ý thức thất bại mà bây giờ đã là một phần trong suy nghĩ hàng ngày của cô. Cô bắt đầu ao ước một cách thầm kín rằng bằng cách nào đó ông ta lìa bỏ cô, thậm chí như vậy có nghĩa là ông ta sẽ phải chết. Nhưng, chao ôi, ông ta khỏe nhanh hoàn toàn và rất là đạo đức đến nỗi ly dị là việc hoàn toàn nằm ngoài vấn đề dành cho ông ta.
Dường như sự việc đã chưa tồi tệ đủ, đến lúc này cô ta lại gặp một người đàn ông khác. Và thật là một con người kỳ diệu! Ông ta có tất cả mọi điều mà người chồng cô ta có về phương diện toàn hảo, nhưng ông ta lại có một sự dịu dàng và một tình yêu thương mà chắc chắn là không có trong người chồng của cô.
Và rồi anh ta bắt đầu chinh phục cô ta! Hứa hẹn về những gì anh ta sẽ trở thành, giống như một người chồng - đã quyến rũ cô ta đến nỗi mặc dầu tình trạng hiện tại của mình, cô ta vẫn có thể cảm thấy chính mình đã phải lòng người đàn ông tuyệt vời này cách sâu xa.
Thế rồi ngày đến khi anh ta đặt vấn đề với cô "Em có bằng lòng thuộc về tôi không?"
Dĩ nhiên anh ta đã biết tình trạng hôn nhân hiện tại của cô và vì vậy anh đã có một hoạch định khi đến với cô ấy. Bởi vì chồng cô ta không lìa bỏ cô, cũng không chết được. Như vậy, muốn cắt đứt mối quan hệ của cô với người chồng cũ, chỉ có một giải pháp duy nhất dành cho cô đó là cô ta phải chết. Để cắt đứt mối liên hệ một cách hợp pháp rồi cô ta được tự do để cưới người chồng mới.
Thật là một kế hoạch tài tình!
Nhưng xin bạn hãy đợi một phút!
Nếu bây giờ cô ta đã chết, làm thế nào cô ta kết hôn với một người nào được? để lại người cầu hôn tuyệt vời này một mình sao?
Bạn đã đi trước tôi rồi đấy! Thôi được! Cô ta sẽ phải được sống lại từ kẻ chết VÀ ĐÓ CHÍNH LÀ ĐIỀU ĐÃ XẢY RA CHO BẠN! "Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau... Vả nếu chúng ta cùng chết với Đấng Christ, thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài... Vậy anh em cũng hãy coi mình như chết về tội lỗi và như sống cho Đức Chúa Trời trong Đức chúa Giêxu Christ" (RoRm 6:5, 8, 11).
CÁC NHÂN VẬT TRONG NGỤ NGÔN
Tôi bảo đảm đến bây giờ bạn đã đoán được khá rõ nhân vật trong chuyện ngụ ngôn là những ai rồi. Bạn, tức kẻ tin Chúa, là người vợ, được mô tả trong một mối quan hệ trước và sau với Người Cầu Hôn Tuyệt Vời, là Chúa Giêxu. Người chồng cầu toàn, độc tài là Luật Pháp của Đức Chúa Trời. Trong một sự nhận biết rộng lớn hơn, người ấy cũng đại diện cho bản chất tội lỗi và chính Satan.
Ba ông chủ thù địch này sẽ không bao giờ chết nếu nói về mối quan hệ của chúng với chúng ta. Vì vậy giải pháp đơn giản mà Đức Chúa Trời đã thỏa thuận được đó là đóng đinh chúng ta vào thập tự giá với Chúa Giêxu, nhờ đó cắt đứt mối quan hệ của chúng ta với những nhà chuyên chế một cách hợp pháp. Nhưng sau đó, Đức Chúa Giêxu đã sống lại từ kẻ chết - và bởi vì trong tâm trí của Đức Chúa Trời, chúng ta cũng đã ở đó, trong mồ mả với Ngài - cho nên chúng ta cũng đã được sống lại vào trong một đời sống mới mẻ, và chúng ta được liên kết trong sự hiệp một với Đấng Cầu Hôn yêu dấu và là Cứu Chúa của chúng ta, là Chúa Giêxu.
Trên cơ sở của việc giao dịch hợp pháp này, uy quyền của bản tánh tội lỗi cũ, của luật pháp và của Satan đã bị bẻ gãy mãi mãi trên chúng ta, người vợ sắp cưới của Đấng Christ. Trong chừng mực có liên quan đến chúng, thì kể như chúng ta đã chết đối với chúng. Chúng không có quyền hợp pháp để chạm đến chúng ta dù chỉ một giây trừ phi chúng ta không nhận biết và không đòi quyền tự do của chúng ta trong Đấng Christ.
SỰ CHẾT ĐÍCH THỰC LÀ GÌ? (CÁI GÌ THẬT SỰ ĐÃ CHẾT)
Thật hết sức quan trọng để hiểu cách mạch lạc trong tâm trí chúng ta cho đúng điều gì hoặc ai đã chết. Từ trước đến nay tôi đã từng thấy người ta loanh quanh tìm cách để đóng đinh chính họ và bởi đó cũng tự tìm cách để loại bỏ quyền lực của tội lỗi và Satan. Nhưng Phaolô, trong 6:6 nói rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Chúa Giêxu, hầu cho thân thể của tội lỗi (bản tánh tội lỗi) bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa (là điều bản tánh tội lỗi mang lại)" (Bản Diễn Ý)
Con người cũ của bạn là tất cả những gì thuộc về bạn - những sự thèm muốn vật chất, sự ham muốn, những khao khát, tội lỗi, sự xem mình là trung tâm, và sự nổi loạn với Đức Chúa Trời - trước khi bạn đặt lòng tin nơi Chúa Giêxu và được ban cho một "con người mới". Ngay giây phút bạn tiếp nhận Đấng Christ, "con người cũ" của bạn, đôi khi được gọi là "bản thể cũ" đã bị tuyên bố là đã chết về mặt pháp lý.
Nhưng chỉ chết đi thì chẳng có gì là lớn lao. Mà được "sống lại" mới chính là điều quan trọng! Và đó là lý do Chúa Giêxu đã khiến chúng ta sống lại với Ngài từ kẻ chết bước vào một lãnh vực hoàn toàn mới mẻ. "Con người mới" này là người xa từ phần mộ không còn bị cai trị một cách hợp pháp bởi bất cứ quyền lực nào của những quyền lực đã từng thống trị dễ dàng "con người cũ".
Nay, khi chúng ta đã được sống lại với Đấng Christ để bước vào lãnh vực mới của sự sống, "con người cũ" của chúng ta đã bị bỏ lại phía sau phần mộ, ba lần nó được nhắc đến trong Kinh Thánh, là nói về nó như một bản thể chết. Trong 6:6, đặc biệt rằng: "Con người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh với Đấng Christ. Trong hai đoạn khác thì nói về "con người cũ" (Eph Ep 4:22-24, CoCl 3:9, 10). Việc con người cũ đã bị lột bỏ mãi mãi là cơ sở của việc kêu gọi một cách sống thánh khiết.
Vì vậy trong khả năng có thể thấy được, thì kẻ thù duy nhất của những Cơ Đốc nhân đã thật sự chết rồi đó là "con người cũ" hay là "bản tánh cũ". Tất cả những kẻ thù khác có mục đích tiêu diệt các con cái Đức Chúa Trời thì đều vẫn còn sống cả. Nhưng toàn bộ cơ sở của sự tự do chúng ta để thắng hơn chúng đó là chúng ta đã chết trong mối quan hệ với chúng. Quyền hành của những kẻ thù nghịch ấy - bản tánh tội lỗi - Luật pháp và Satan đã bị đập tan đời đời trong liên quan đến những kẻ tin Ngài.
TỰ DO KHỎI QUYỀN LỰC LẪN HÌNH PHẠT
Có hai phương diện về sự tự do mà công lao cứu chuộc của Đấng Christ ở tại thập tự giá đã dành sẵn cho loài người. Trước nhất, chúng ta được giải phóng khỏi hình phạt của tội lỗi bởi sự chết của Đấng Christ dành cho chúng ta (ICo1Cr 15:3). Điều đó đảm bảo cho việc dời bỏ những vật cản đã phân cách chúng ta khỏi Đức Chúa Trời thánh khiết và công bình.
Nhưng thứ hai, sự chết của Ngài cũng đã đem lại sự giải cứu hàng ngày cho những kẻ tin khỏi quyền lực của tội lỗi. Để làm được điều này, Đấng Christ đã chịu chết, chẳng những cho tội lỗi, mà còn là đối với tội lỗi (RoRm 6:10). Đầu này có nghĩa là Ngài đã mãi mãi bỏ khỏi chính mình những kẻ thù của linh hồn loài người, và vì vậy, Phaolô cho chúng ta biết trên cơ sở đó chúng ta phải "coi mình như chết đối với tội lỗi, và như sống cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giêxu Christ" (6:11)
CÁI NHÌN GẦN HƠN VỀ SỰ TỰ DO CỦA CHÚNG TA
Điều mà bây giờ tôi muốn làm đó là xem xét bề sâu phạm vi của sự tự do được thoát khỏi bản tánh tội lỗi, khỏi những nguyên tắc của Luật pháp và quyền lực của Satan, là điều mà sự cứu chuộc của Đấng Christ đã làm thành khả dĩ. Để hiểu trọn vẹn những hàm ý có ảnh hưởng sâu rộng của sự tự do mới mẻ này, tuy nhiên, phải luôn nhớ rằng ngay lúc chúng ta tin nhận Đấng Christ, quyền lực thực tại và hợp pháp của ba kẻ thù tự do lớn đối với Cơ Đốc nhân đó đã chấm dứt về mặt pháp lý. Nhưng quyền kiểm soát và năng lực của chúng, thật sự có chấm dứt trên chúng ta hay không thì tùy thuộc hoàn toàn vào việc chúng ta có kêu đòi quyền đắc thắng của mình và nương nhờ vào Đức Thánh Linh cư trú để xử lý những cố gắng của chúng khi sử dụng quyền một cách bất hợp pháp mà đến với chúng ta một lần nữa.
Vì vậy chúng ta phải nhận biết rằng chúng là những kẻ thù xấu xa và ngoan cố, là những kẻ không ngừng nổ lực để giành lại quyền cai trị mà chúng đã từng có trên chúng ta. Bao lâu mà chúng ta vẫn còn sống, thì chúng sẽ còn kiên quyết nghịch cùng chúng ta, vì vậy chúng ta không bao giờ nghỉ ngơi quanh chúng và thả lỏng sự cảnh giác.
Nhưng Đức Chúa Trời có một sự dự bị cho tất cả những nhu cầu của chúng ta, trong trường hợp này cũng vậy. Đức Chúa Trời không bao giờ định cho chúng ta phải liên lụy đến sự lôi kéo và sự quyến rũ của những cám dỗ này. Vì vậy trong "con người mới" mà Ngài đã tạo dựng chúng ta trong sự sống lại với Ngài, Ngài đã đặt một thân vị thứ ba trong ba ngôi Đức Chúa Trời, là Đức Thánh Linh. Vì vậy, chính công việc của Đức Thánh Linh cư trú trong chúng ta là giải quyết những cám dỗ của bản tánh con người cũ, Luật pháp và Satan. Chúng ta sẽ xem xét công tác của Đức Thánh Linh cách chi tiết hơn trong chương tiếp theo.
Trong chương bốn tôi đã bàn sâu về bản tánh tội lỗi là gì và làm thế nào nó đã điều khiển con người ta, vì vậy tôi chỉ muốn ôn lại điều đó cách vắn tắt ở đây, để sau đó xét đến phạm vi sự tự do của chúng ta khỏi tội lỗi.
BẢN TÁNH TỘI LỖI CŨ
Bản tánh tội lỗi của là một khuynh hướng nổi loạn nghịch cùng Đức Chúa Trời, là điều mọi người trong chúng ta đã có từ khi sinh ra. Nó là bản tánh tội lỗi cũ của Ađam mà chúng ta đã được kế thừa từ Ađam. Đó là điều Phaolô muôn nói trong 5:12 "Bởi một người (Ađam) mà tội lỗi (bản tánh tội lỗi và sản phẩm của nó, là tội lỗi) đã vào trong thế gian".
Bản tánh này đôi khi được nhắc đến như là "tội" ở số ít. Đó là cách Phaolô thường sử dụng nó trong những khúc Kinh Thánh căn bản dạy dỗ về bản tánh tội lỗi. Rôma đoạn 6, 7 và 8. Nó cũng được nói đến như là chữ "xác thịt" trong một vài chỗ mặc dầu chữ "xác thịt" không phải luôn luôn có ý nghĩa liên hệ đến "sự sa ngã" đó trong chúng ta là điều thường được hàm ý do việc sử dụng chữ "xác thịt". Nó thỉnh thoảng cũng mang một ý nghĩa trung tính hoặc ngay cả ý nghĩa thánh khiết, song hầu như luôn luôn được làm rõ nghĩa do đoạn Kinh Thánh gần nhất.
Trong chương bốn tôi đã có kể lại bộ phim khoa học giả tưởng nói về chuyện người ngoài hành tinh đã gắn những bộ máy thu nhận tí hon vào đàng sau đầu của các nạn nhân của chúng trên trái đất. Sau đó, chúng trở về vũ trụ, và truyền đạt các chỉ thị cho những nạn nhân giống như người máy của chúng, là những người bị chúng lập chương trình để phải phục tùng.
Điều đó cũng giống như cách mà bản tánh tội lỗi cũ hoạt động trong chúng ta. Nó là "tác nhân của kẻ thù" nằm bên trong chúng ta thường được tiếp sức bởi mưu mẹo của Satan hòng giữ chúng ta khỏi sống cuộc đời thánh khiết và đắc thắng. Dầu vậy, đó không phải là một tình trạng vô vọng, trong chương này và chương kế tiếp chúng ta sẽ thấy rõ điều Đức Chúa Trời đã làm để giải phóng chúng ta khỏi những kẻ thù thuộc linh của mình.
SATAN NẮM CHÚNG TA QUA LUẬT PHÁP
Một trong những mưu kế được Satan ưa thích nhất để tìm cách bắt giữ những người tin Chúa trong tình trạng làm nô lệ đó là đưa họ vào công việc nặng nề buồn chán do cố gắng sống cho Chúa bằng cách giữ tất cả những luật lệ của Ngài. Trong chương thứ mười một của quyển Satan vẫn sống và mạnh giỏi của tôi, tôi đã bày tỏ cho thấy luật pháp là gì, cách nó hoạt động trong con người, và vì sao nó là một công cụ hoàn toàn bất lực nhằm giúp đỡ chúng ta sống đời sống thánh khiết. Tôi sắp sửa nhấn mạnh lại một số điều quan trọng đó ở đây và cho thấy rằng Luật pháp không còn quyền pháp lý hợp lệ trên chúng ta nữa. Chúng ta đã được giải phóng khỏi luật pháp.
Trước hết, tôi cần phải giải quyết vấn đề điều gì đã khiến chúng ta, là những người tin Chúa phạm tội trong đời sống hàng ngày. Nhiều người phạm tội rồi nói rằng "Ma quỷ đã cám dỗ tôi làm điều đó", và thường có một tia nhấp nháy xuyên trong mắt bạn khi nói điều đó! Có lẽ điều đó giúp bạn qua khỏi sự phiền muộn trong tâm trí mình, nhưng chúng ta không thể đổ tất cả lỗi lầm của mình cho Satan.
Có hai thành phần thiết yếu khiến cho một người phạm tội. Trong 7:5 Phaolô nói: "Vì khi chúng ta còn sống trong xác thịt (trước khi trở thành người tin Chúa), thì các tình dục xấu xa bị luật pháp xui khiến, hành động trong chi thể chúng ta và kết quả cho sự chết.
Ở đây Phaolô cho biết có hai điều hoạt động trong một người chưa tin Chúa để khiến người ấy phạm tội: Các tình dục xấu xa của người ấy, hoặc là bản tánh tội lỗi - như chúng ta thường gọi - và Luật pháp. Khi Luật pháp kích động các tình dục xấu xa thì sự nổi loạn nghịch cùng Luật pháp xảy ra và đó là điều Kinh Thánh gọi là "tội lỗi".
Nguyên tắc ấy của luật pháp hành động đúng cùng một cách ấy trong chúng ta sau khi chúng ta đã trở thành một con cái Đức Chúa Trời, bởi vì Phaolô nói: "Nhưng tôi chỉ bởi luật pháp mà biết tội lỗi, vì nếu luật pháp không nói: "Ngươi chớ tham lam", thì tôi đã không biết sự tham lam. Đy là tội lỗi đã nhơn dịp, bởi điều răn mà sanh ra mọi thứ ham muốn trong lòng tôi vì không có luật pháp thì tội lỗi chết đi" (1:7, 8).
Khoa tâm lý học đã lưu ý khuynh hướng tương tự ấy trong con người để chỉ làm điều nghịch lại với điều người ấy bị buộc phải làm. Chúng ta gọi đó là "Luật đảo ngược tâm lý". Nếu bạn muốn ai làm một điều gì đó, thì hãy bảo anh ta làm điều ngược lại. Phần lớn các bậc cha mẹ đã hiểu ra điều này trước khi con cái họ đã trở nên quá lớn.
LUẬT PHÁP KHÔNG PHẢI LÀ THỦ PHẠM
Tôi biết tất cả những khuynh hướng đó nhằm đặt luật pháp vào chỗ bị hiểu một cách tồi tệ. Dầu là luật pháp của Đức Chúa Trời hay luật pháp của loài người. Song vấn đề thật sự không phải là luật pháp - Mà chính những ham muốn xấu xa hay là bản tánh tội lỗi đó đã bị khích động bởi Luật pháp mới chính là vấn đề.
Bây giờ có lẽ bạn tự hỏi vì sao Đức Chúa Trời lại ban Luật pháp cho chúng ta nếu Ngài biết nó có hại cho chúng ta hơn là ích lợi cho chúng ta. Được rồi, trước hết, Đức Chúa Trời biết rằng cuối cùng Luật pháp sẽ làm ích cho chúng ta khi nó đưa chúng ta đến chỗ Đức Chúa Trời dự định cho nó. Rồi chúng ta sẽ xem xét điều đó trong giây lát, nhưng trước hết chúng ta hãy xem vì sao Đức Chúa Trời ban luật pháp.
Lý do thứ nhất là để tỏ cho con người biết tội lỗi là gì. Luật pháp là một nguyên tắc để chỉ dẫn cách cư xử của chúng ta bằng cách đặt để các tiêu chuẩn phẩm hạnh và những hậu quả tất yếu được cảnh cáo trước nếu chúng ta không đạt đến các tiêu chuẩn.
Có rất nhiều loại luật lệ được nêu lên trong Kinh Thánh: Luật của lương tâm được nhắc đến trong 2:14, 15 "Vả dân ngoại vốn không có luật pháp (của Môise) khi họ tự nhiên làm những việc luật pháp dạy biểu, thì những người ấy dầu không có luật pháp, cũng tự nên luật cho mình. Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ, chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình, khi thì cáo giác mình, khi thì bênh vực mình" (2:14, 15).
Luật lương tâm đó có nghĩa là ngay cả những người chưa bao giờ được nghe đến Luật pháp Môise, tức là Luật pháp của Đức Chúa Trời thì họ vẫn có một thứ luật tự nhiên về điều thiện điều ác và phải chịu trách nhiệm để sống theo sự hiểu biết đó.
Đức Chúa Trời từ chối việc dùng luật của lương tâm như là một phương tiện để con người nhận biết Ngài bởi vì lương tâm rất dễ bị chai lì. Vào thời Môise, con người có quá ít sự ý thức về tội lỗi là gì, vì vậy Đức Chúa Trời đã nhìn thấy nhu cầu của họ về một tiêu chuẩn khách quan hoặc luật pháp để mãi mãi xác định điều Ngài đã kể là tội lỗi.
Đó là luật mà chúng ta thường gọi là "Luật pháp của Môise" khi nhắc đến. Nó không phải chỉ có Mười Điều Răn, mà còn có hàng trăm các luật lệ khác quy định cách sống hàng ngày dân sự phải sống.
Sau đó khi Chúa Giêxu đến, Ngài giảng dạy Bài Giảng Trên Núi và ban cho mọi người những lời khuyên dạy khác của Ngài, trong lúc dạy dỗ, về sau các Sứ đồ đã mở rộng những lời khuyên dạy ấy và bổ sung thêm các luật lệ và các quy định, đó cũng là một thứ luật lệ khác được gọi là "Luật của Tân Ước".
Tất cả những thứ luật lệ đã được bạn đều nhằm mục đích định rõ và cho con người thấy tội lỗi là gì. Đó là lý do thứ nhất khiến Đức Chúa Trời ban Luật pháp.
Lý do thứ hai khiến những luật lệ này được ban ra đó là để xui giục bản tánh tội lỗi của con người phạm tội thêm. Phaolô nói trong 5:20 "Vả, luật pháp đã xen vào, hầu cho tội lỗi gia thêm" Đức Chúa Trời muốn cho kẻ chưa tin bị gánh quá nặng của tội lỗi đến nỗi người ấy không còn cách nào mà không nhìn thấy con người hoàn toàn xấu xa của mình là thế nào và người ấy cần một Đấng Cứu Thế là dường nào. Câu chuyện đáng thương của Phaolô kể về tình trạng rối rắm của ông với luật pháp trong Rôma đoạn 7 cho thấy rằng luật pháp xúi giục đến cả những người tin Chúa để phạm tội nữa. Ông nói trong câu 7-9 rằng luật pháp bảo ông không được tham lam nhưng bản tánh tội lỗi của ông, bị xúi giục bởi chính luật pháp ấy, đem lại mọi sự ham muốn hơn nữa. Ông nói xưa kia ông đã từng là một Cơ Đốc nhân kết quả, sống động, xu hướng tham lam được kiểm soát tốt. Rồi thật hết sức bất ngờ ông nghĩ ngợi mãi về việc Luật pháp bảo không được tham lam, thế rồi, mạng lệnh ấy, xui giục bản chất tội lỗi dấy loạn khiến ông phải chết. Ông không hàm ý nói đến phải chết về phần thuộc thể hay chết về phần tâm linh. Chữ "chết" ở đây có nghĩa là thôi bước đi trong sự lệ thuộc vào Đức Thánh Linh và vì vậy sự tương giao với Đức Chúa Trời chết mất, không có sự liên lạc.
Lý do thứ ba Đức Chúa Trời ban Luật pháp là để dẫn chúng ta đến chỗ tuyệt vọng về những nỗ lực riêng. Vậy thì dường như Đức Chúa Trời đang làm công việc nghịch với chính Ngài để khiến chúng ta phạm tội nữa, nhưng đó là phương cách của Ngài để đem chúng ta đến chỗ hoàn toàn tuyệt vọng về sự tự nỗ lực để tìm cách sống cho Ngài. Bạn thấy đấy, càng tìm cách sống cho Ngài bởi cố gắng giữ các luật pháp của Ngài, thì chúng ta lại càng thất bại và đó là ý định của Ngài. Và càng thất bại, chúng ta càng lại phải nhìn nhận sự bất lực của mình và sự bất toàn của loài người. Cuối cùng khi chúng ta đã đi đến chỗ thất bại rồi, chúng ta mới sẵn sàng cho lý do thứ tư mà Đức Chúa Trời đã ban luật pháp.
Lý do thứ tư Đức Chúa Trời ban luật pháp là để đem những kẻ chưa tin đến Đấng Christ, hầu cho được cứu rỗi và để đưa kẻ tin Ngài đến với Đức Thánh linh là Đấng ban quyền phép cho họ. Phao lô đã dùng một sự giải bày đúng về sự việc này trong Galati 3: 24,25 khi ông nói: "Đy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình. Song đức tin đã đến, chúng ta không còn phục dưới thầy giáo ấy nữa"
Thầy giáo ở đây là một người nô lệ được chọn đặc biệt để làm một công việc đó là nắm tay một đứa trẻ người La mã, mỗi buổi sáng dắt nó đến trường. Ông ta sẽ đợi ở đấy cho đến khi các bài học đã xong thì dắt đứa trẻ trở về nhà. Một khi những ngày đi học ở tại trường chấm dứt, thì ông ta không còn cần phải làm "thầy giáo" nữa.
Đó đúng là công tác của Luật pháp, và là mục đích tối hậu của Đức Chúa Trời khi ban luật pháp. Luật pháp đã nắm tay những người chưa tin và đưa họ đến Đấng Christ để họ được cứu. Song Luật pháp cũng đã nắm tay những kẻ tin và dắt họ đến với Đức Thánh linh, Ngài là nguồn cội duy nhất của quyền năng hiện hành và thực hiện điều Luật pháp yêu cầu.
LUẬT PHÁP ĐÃ LÀM CÔNG VIỆC CỦA NÓ
Công việc của luật pháp là cho chúng ta biết tội lỗi là gì và thật sự nó đã khiến chúng ta phạm tội thêm. Kế đó, nó nhằm đưa chúng ta đến chỗ tuyệt vọng về những nổ lực riêng của mình trong việc cố gắng sống cho Đức Chúa Trời, và cuối cùng đem chúng ta đến với Đấng Christ để được cứu và được quyền phép, để từng giây phút sống một đời sống thánh khiết và đắc thắng. Khi diễn tiến này đã hoàn tất, thì luật pháp cuối cùng đã kết thúc với người tin Chúa. Mục đích của nó đã hoàn tất và chúng ta không còn cần đến nó nữa, bởi vì nó đã được thay thế bởi việc ban Thánh linh để cư ngụ trong chúng ta và Ngài thật sự là Đấng mang lại những kết quả luật pháp đòi hỏi trong chúng ta và qua chúng ta.
Nhưng mặc dầu luật pháp đã kết thúc với chúng ta, chúng ta cũng sẽ không để cho nó đi. Trong chỗ của Luật pháp Đức Chúa Trời chúng ta đã thay thế vào đó những lề luật và những điều cấm kỵ của con người đặt ra cho việc làm thế nào để sống một đời sống Cơ đốc. Thay vì dạy cho người ta cách bước đi trong Thánh linh thì việc thông qua một ít những luật lệ cấm cản thói quen này, cách cư xử kia là việc dễ dàng hơn. Tất cả những gì mà công việc đó đã làm được là khuấy động bản tánh tội lỗi của những người tin Chúa. Nó không hề đem lại được sự sống thánh khiết và sẽ không bao giờ đem lại được
TÌNH TRẠNG VÔ CHÍNH PHỦ KHÔNG PHẢI LÀ SỰ TỰ DO
Dầu vậy, sẽ là một việc thiếu khôn ngoan nếu chúng ta đi đây đó mà nói với các Cơ đốc nhân rằng họ không phải chịu trách nhiệm để giử Luật pháp của Đức Chúa Trời nữa trừ phi bạn cũng phải nói cho họ biết những nền tảng về việc họ được giải phóng khỏi luật pháp. Những nền tảng đó có hai mặt
Thứ nhất, nếu bạn nhắc lại câu chuyện ngụ ngôn mà tôi đã kể ở đầu chương, bạn hãy nhớ rằng người chồng trong câu chuyện đó là luật pháp. Khi người đàn bà đã không thể nào còn chịu nỗi sự lên án mà bà ta đã phải chịu đựng vì không thi hành đúng theo sự thỏa mãn của ông ta, bà ta đã cho phép mình phải chịu chết và rồi được sống lại trong một sự mới mẻ hoàn toàn, được tự do và chấm dứt khỏi quyền hành của người chồng cũ một cách hợp pháp.
Hiện nay, đó là điều đã xảy ra cho mỗi một người trong chúng ta trong mối liên hệ của chúng ta với Luật pháp. Luật pháp sẽ không bao giờ chết, nhưng nó không còn được phép quấy rầy chúng ta một mảy may nào nữa bởi vì chúng ta đã chết đối với nó. Biết được sự thật này là điều tối quan trọng để chúng ta thật sự kinh nghiệm sự tự do khỏi Luật pháp. Nếu bạn không chịu tiếp tục "kể" sự chết ấy, như Phao lô đã nói trong Rô ma đoạn 6, thì bạn sẽ nhận thấy mình bị luật pháp đe dọa về mọi mặt. Nếu có một người kể câu chuyện về việc người ấy đã làm chứng cho năm người nữ hầu bàn như thế nào, và tất cả đều đã tiếp nhận Chúa, và thế là bạn sẽ cảm thấy có tội về việc đi ăn tiệm mà không làm chứng cho những người bưng bàn đến nổi bạn có thể sẽ không bao giờ đi ăn tiệm nữa.
Tôi thường nghe người ta buộc tội những người khác vì việc đặt họ dưới luật pháp, và thật sự có một số người đã sai lầm khi nhấn mạnh Luật pháp như là một phương tiện để sống đời sống một Cơ đốc. Nhưng nếu bạn để cho chính mình bị đặt dưới Luật pháp, thì đó là lỗi của bạn bởi vì Đức Chúa Trời đã đem lại cho bạn sự giải phóng khỏi luật pháp và nhiệm vụ của bạn là phải nhờ cậy vào sự giải thoát đó.
THÁNH LINH ĐÃ THAY THẾ LUẬT PHÁP
Lúc nãy, tôi đã nói có hai lý do vì sao chúng ta có thể nói cho những người tin Chúa biết rằng họ không còn phải chịu trách nhiệm để sống dưới Luật pháp nữa. Tôi vừa mới giải bày lý do thứ nhất, và lý do thứ hai, đó là Nhưng, ví bằng anh em nhờ Thánh linh chỉ dẫn, thì chẳng hể ở dưới Luật pháp (Galati 5: 18) Thánh linh là sự thay thế cho Luật pháp và Ngài hoàn toàn có khả năng để giử luật pháp cho chúng ta khi chúng ta bước đi bởi Đức Tin, nhờ cậy Ngài làm điều đó.
Trong cùng đoạn đó, Phao lô nói rằng "Hãy bước đi bởi Thánh linh, anh em sẽ không hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt (bản tính tội lỗi) (GaGl 5:16)
Vì vậy bạn có thể thấy rằng được giải phóng khỏi luật pháp và bản tánh tội lỗi không có nghĩa là bạn không còn ai cai trị trên mình cả. Đó là tình trạng vô chính phủ và đó không phải là sự tự do. Sự tự do thật đến khi chúng ta đầu phục chính mình cho Đức Thánh linh là Đấng cư trú trong chúng ta, để Ngài kiểm soát từng giây và ban quyền năng để chúng ta sống với Đức Chúa trời
TỰ DO KHỎI SỰ THỐNG TRỊ CỦA SATAN
Cho đến nay chúng ta đã chú ý đến hai kẻ thù bởi công lao cứu chuộc của Đấng Christ trên thập giá. Chúng ta đã được giải phóng khỏi chúng, đó là bản tánh tội lỗi của chúng ta và nguyên tắc sống bởi luật pháp thay vì ân điển - Bấy giờ chúng ta sẽ lưu ý đến lãnh vục thứ ba mà chúng ta đã được ban cho sự tự do: Đó là lãnh vực thống trị và quyền lực của Satan
Một trong những kết quả vĩ đại của sự chết Đấng Christ, và sự chết của bạn với Ngài, đó là trong điều đó, bạn được thoát khỏi quyền lực kiểm soát của Satan và ma quỉ chúng có thể không còn xử dụng sự lừa dối bất hợp pháp đó với bạn nữa "Mi phải chịu thua trong sự cám dỗ này, bởi vì ta vẫn là Ông chủ của đời ngươi."
Đoạn Kinh thánh mấu chốt làm đầy đủ lẽ thật này là Cong Cv 26:18 trong đó Đức Chúa trời đã phán rằng sẽ mở mắt loài người "Hầu cho họ từ tối tăm qua sáng láng từ quyền lực của quỷ Satan mà đến với Đức Chúa Trời" Chữ "quyền lực" ở đây có nghĩa là "sự thống trị". Satan không giữ bất cứ quyền hạn nào hoặc quyền hợp pháp nào để bảo bạn phải làm gì nữa. Món nợ tội của bạn đã được trả bởi Chúa Giêsu tại nơi thập tự. Và khi Ngài sống lại từ kẻ chết "Đức Chúa Trời đã khiến anh em sống lại với Đấng Christ, vì đã tha thứ hết mọi tội chúng ta "(CoCl 2:13)
Sự sống lại của Đấng Christ đã chứng tỏ được nguyên nhân sự sụp đổ cuối cùng của Satan - Phao lô cho chúng ta biết rằng khi Chúa Giêxu sống lại từ kẻ chết Ngài đã tước vũ khí khỏi kẻ cầm quyền và thống trị - ý nói Satan và ma quỷ và đã thực hiện một quang cảnh tỏ tường giữa thiên hạ về chúng trong việc bày tỏ chiến thắng của Ngài trên chúng nó. Hiện nay Ngài là đầu của mọi quyền cai trị và mọi thế lực đó. (xem 2:15, 10)
Song ở đây còn có một lẽ thật quan trọng mà nhìn chung, những người tin Chúa chưa hiểu được - Đó là bởi vì chúng ta đã được đóng đinh với Đấng Christ đã được sống lại với Ngài, cho nên sự đắc thắng của Ngài trên Satan và ma quỷ cũng là chiến thắng của chúng ta. Quyền hợp pháp của chúng để đụng đến chúng ta mãi mãi không còn nữa.
Một sự giải bày rõ ràng về lẽ thật này là câu chuyện sau đây. Đó là một trường hợp được ghi lại từ nhiều năm trước đây.
TRƯỜNG HỢP "VỊ CHỈ HUY BỊ HẠ BỆ".
Một chiếc tàu đi biển có một tay thuyền trưởng thật độc ác và dã man với người dưới quyền mình đến nỗi họ trở nên thất vọng và lo sợ cho sự an toàn của cá nhân mình.
Theo luật đi biển, thuyền trưởng một chiếc tàu à người nắm quyền hoàn toàn cho đến khi nào được chính thức giải quyền chỉ huy do xứ sở mà chiếc tàu đã đăng ký .
Vị phó thuyền thứ nhất ở trên tầu là một con người hiểu biết có lòng nhân đạo và dễ thương, được mọi người kính mến. Sau nhiều sự cân nhắc cá nhân và sự đồng tình của phần đông thủy thủ đoàn, anh ta đánh điện bằng radio cho hải cảng nhà, tường thuật về những sự tàn bạo của vị thuyền trưởng đối cùng người của mình, và yêu cầu sự cho phép để thừa nhận quyền chỉ huy lập tức.
Một mệnh lệnh được gởi đến uỷ nhiệm cho anh ta chính thức nhận quyền chỉ huy. Vị thuyền trưởng bị chấm dứt tất cả mọi quyền hành và sẽ được đưa về quê nhà để xét xử.Trong thời gian chờ đợi, ông ta được tự do đi lại trên tàu nhưng mọi người đều được thông báo về việc cách chức của người thuyền trưởng.
Không lâu sau đó, vị thuyền trưởng cũ quyết định thử nghiệm quyền lực của mình. Một thủy thủ nọ đang bận rộn với công việc dưới sự điều động của người chỉ huy mới. Vị thuyền trưởng cũ bước đến, đẩy mạnh người thủy thủ sang một bên và bắt đầu tuôn ra những mệnh lệnh lạnh lùng. Người thủy thủ đã từng quá quen thuộc với những mệnh lệnh nầy đến nỗi anh ta tự nhiên co rúm người lại,ngay lập tức anh ta bắt đầu tuân lệnh. Vị thuyền trưởng cũ tiếp tục ban ra những mệnh lệnh khác nữa.
Giữa hàng loạt lời lẽ hắn nói ra, người thủy thủ bình tĩnh lại và nhận ra rằng anh ta không còn quyền hành trên mình nữa để quát tháo bằng những lời lẽ thô lỗ như vậy. Anh ta bắt đầu kháng cự và đã nhận được những cú đánh. Bị thương tích và bầm giập, anh ta kể cho vị chỉ huy hợp pháp của mình về việc xảy ra.
Anh ra đi, được nhắc nhở bởi vị thuyền trưởng hợp pháp rằng nếu lại có đụng độ, tay thuyền trưởng cũ hoàn toàn không có quyền hành gì trên anh hay trên bất cứ ai trong thủy thủ đoàn cả. Không có lý do gì, ngay cả để lắng nghe con người cũ đó - và nếu có một sự việc khác nỗi lên, những người thủy thủ phải dùng vũ lực khống chế hắn, theo mệnh lệnh trực tiếp của người chỉ huy mới, và hắn sẽ bị nhốt vào khoang tạm giam trên tàu.
ĐƯỢC TỰ DO ĐỂ PHỤC VỤ
Chúng ta hãy đối diện với điều nầy - Chúng ta đang ở trong trận chiến nhưng Đức Chúa Trời muốn chúng ta biết rằng chúng ta không còn tuân theo những mệnh lệnh của bản tánh cũ nữa. Chúng ta không còn ở dưới luật pháp nữa, và đã được giải phóng khỏi quyền lực Satan. Giá chuộc đã được trả bởi Chúa Jesus, và chúng ta được tự do không còn ở trong chợ nô lệ của tội lỗi. Sự ràng buộc duy nhất dành cho chúng ta bây giờ là sẵn sàng làm nô lệ cho Chúa Jesus vì cớ tình yêu thương và lòng biết ơn Ngài.
Một câu chuyện tuyệt vời sẽ mô tả điều nầy
Trong thời buôn bán nô lệ tại thành phố cổ Rôma, một tay buôn bán nô lệ khét tiếng độc ác ngụ lại chợ nô lệ Rôma để mua thêm các nô lệ. Vào một ngày đặc biệt nọ,cũng có một người lạ mặt ở tại đó, đây là một người nhân hậu mới xuất hiện tại chợ nô lệ. Ông ta mua các nô lệ để trả tự do cho họ.
Có một tên nô lệ được đặt trên bục, và cuộc đấu giá bắt đầu, tay buôn nô lệ độc ác đó trả giá trước, và người đàn ông nhân hậu đưa ra một giá cao hơn. Những giá được đề xuất bắt đầu tăng vọt đến mức chóng mặt trong khi những người đấu thầu đi đi lại lại.
Cuối cùng, người đàn ông nhân hậu đặt một giá thật cao đến nỗi tay buôn gian ác kia không thể theo nỗi.
Khi người chủ mới bước đến chỗ độc quyền dành cho người được cuộc tại chợ nô lệ để trả số tiền mua chuộc, theo lệ, người nô lệ bước đến sau lưng người chủ mới để sẵn sàng đi theo ông ta.
Người đàn ông nhân hậu quay lại và bảo: " Anh được tự do ra đi. Tôi đã mua một giá thật cao để trả tự do cho anh!" Nói đoạn, ông toan bước đi.
" Xin Ngài hãy đợi một chút!" tên nô lệ trả lời. "Nếu tôi làm người tự do, thì tôi chỉ muốn được đi theo Ngài, vì chỉ có phục vụ Ngài mới bày tỏ được phần nào lòng biết ơn của tôi đối với Ngài mà thôi".
Điều mà tên nô lệ kinh nghiệm cũng chính là điều Đấng Christ đã làm cho chúng ta. Ngài giải thoát chúng ta khỏi những mệnh lệnh bất khả thi của Luật pháp, Ngài đem chúng ta ra khỏi chợ nô lệ của Satan bằng cách tước đoạt quyền hành của Satan trên chúng ta; Ngài giải phóng chúng ta khỏi chế độ chuyên chế của bản tánh tội lỗi bằng cách ban cho chúng ta một bản tánh mới và ban Đức Thánh linh ngự trị để ban quyền năng cho con người mới.
Nhưng không những Ngài chỉ giải phóng tâm linh chúng ta cho được tự do qua sự cứu chuộc của Ngài, mà Ngài còn cung ứng cho sự cứu chuộc tối hậu cho thân thể chúng ta nữa (RoRm 8:23)
Bởi vì Ngài đã trả giá mua chuộc cho sự cứu rỗi thân thể chúng ta nên điều đó có liên hệ đến sự sống lại của thân thể hữu hình của chúng ta là điều chưa xảy ra và tôi tin rằng điều đó sẽ xảy ra chỉ trong một tương lai rất gần.
Khi một người tin Chúa qua đời, linh hồn và tâm hồn người ấy liền được ở với Chúa tại trên trời, song thân thể người ấy được đưa vào phần mộ và trở thành cát bụi (IICo 2Cr 5:8) Nhưng rồi ngày đến khi tất cả các con cái của Đức Chúa Trời đang ở trong mồ mả sẽ nghe tiếng kèn và tiếng kêu lớn của Ngài thì họ sẽ ra khỏi mồ mả với một thân thể như lúc họ đã bước vào - Chỉ lúc ấy họ mới sẽ được làm nên hoàn toàn và bất diệt. Kế đó những người tin Chúa còn đang sống lập tức được biến hóa trở nên những thân thể bất tử và họ cũng sẽ ở với Chúa Giêxu mà không phải trải qua sự chết thuộc thể.
Sự cứu chuộc về thuộc thể nầy - cũng như sự tự do của chúng ta khỏi Satan, Luật pháp và tội lỗi - là điều phaolô đã nhắc đến như là "Ơn thương xót" của Đức Chúa Trời đến cùng chúng ta là những kẻ tin. Trên cơ sở nầy, ông thúc dục chúng ta là những người tin Chúa "hãy dâng thân thể mình, như một của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời , đó là sự thờ phượng phải lẽ của anh em." (RoRm 12:1)
Đức Chúa Trời không đòi hỏi chúng ta phải trở thành những người phục vụ Ngài, nhưng Phaolô nói đó chỉ là những điều hợp lý nhất để làm trong sự hiểu biết về tất cả những gì Ngài đã làm cho chúng ta.


SỰ TÁI SANH
Mỗi mùa xuân đến, toàn cả trái đất đều làm chứng cho lẽ thật tái sanh khi các loài thảo mộc xanh non, tươi tắn lú lên khỏi giấc ngủ mùa đông và đâm chồi nẩy lộc từ lớp đất mềm. Đời sống thực vật vì vậy được sanh sôi trở lại hoặc là được ban cho sự sống mới. Những điều đã từng chết đi một thời gian nay có sự sống trở lại.
Nhưng thật là một sự kiện lạ lùng khi bỏ một hạt bắp xuống đất rồi theo dõi sự sống mới xuất hiện từ một hạt giống khô queo, phép lạ lớn lao hơn trong sự lớn lao của tâm linh loài người đã xảy ra được là bởi vì sự chết thay của Đấng Christ ở tại thập tự giá. Giây phút chúng ta đặt lòng tin cậy của mình vào sự chết thay cho mình đó, thì Thánh Linh của Đức Chúa Trời liền đầy dẫy tâm linh chết của chúng ta với sự sống đời đời của Đức Chúa Trời và chúng ta được sanh lại về mặt tâm linh.
Một trong những lời tuyên bố rõ ràng nhất về nhu cầu cần phải được sanh lại của con người, hoặc sanh ra "từ trên" đó là cuộc trò chuyện của Chúa Giêxu với vị giáo sư thuộc giới lãnh đạo tôn giáo người Ysơraên, ông NiCôĐem. Đây là một con người ngay thật và có lòng nhân đạo, việc ông tìm kiếm Chúa Giêxu để tìm hiểu xem Ngài thật sự là ai, cho thấy ông là một người thật lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời và Nước Ngài.
Trong cuộc nói chuyện nầy, Chúa Giêxu đã tiết lộ một trong những lẽ thật quan trọng nhất mà Ngài từng dạy dỗ: Con người phải có một sự sanh lại về mặt tâm linh để hiểu thấu đáo Đức Chúa Trời và Vương quốc của Ngài.
"Trong vòng người Pharisi,có một người tên là Nicôđem, là một người trong những kẻ cai trị dân Giuđa. Ban đêm, người nầy đến cùng Đức Chúa Jesus mà nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được. Đức Chúa Jesus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời. Nicôđem thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? Đức Chúa Jesus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời. Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là Thần. Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại. Gió muốn thổi đi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy."(GiGa 3:1-8)
Hoặc "Ngươi nhìn thấy kết quả trong đời sống mình, dẫu người không thể thấy được nguyên nhân gây ra".
SỰ CẢI TẠO CỦA ÔNG NICÔĐEM
Câu trả lời của ông Nicôđem đối với điều Chúa Giêxu vừa phán thật là đơn sơ và trung thực "Điều đó làm thể nào được?"
Chúa Giêxu trả lời và phán cùng ông "Ngươi là giáo sư của dân Ysơraên mà không hiểu biết những điều đó sao? (3:9, 10) "Hỡi Nicôđem, ngươi nói rằng ngươi là giáo sư, lãnh đạo việc tôn giáo của Ysơraên, mà ngươi không hề nhận biết rằng có một chiều kích về tâm linh của con người đã và đang bị bỏ sót sao?"
Bạn thấy đó, Nicôđem đã tự hào về việc ông được sinh ra trong dòng dõi của dân tộc được Đức Chúa Trời lựa chọn. Ông cũng đang trông cậy sự cứu rỗi của mình, lệ thuộc nhiều vào những di sản thuộc thể của mình. Đó là lý do vì sao Chúa Giêxu đã đi thẳng vào vấn đề thật và lấy đi mất chỗ trông cậy của ông. Thực chất điều Ngài nói với Nicôđem đó là "ông không hoàn toàn ở đó".
NHÂN LOẠI "KHÔNG HOÀN TOÀN Ở ĐÓ"
Tôi chắc chắn là bạn đã lưu ý rằng điều gì đó đang sai lầm nghiêm trọng đối với con người trên thế giới nầy. Chỉ cần liếc sơ qua tờ tin tức buổi sáng là cũng đủ để bạn cảm thấy cả một bầu trời u ám suốt ngày. Chẳng có gì ngoài những vụ giết người, những vụ tai tiếng, chiến tranh, những nhà chính trị không ngay thẳng, những vụ li dị và vân vân.
Điều đang sai trật với loài người đó là không phải hoàn toàn chỉ có chừng đó. Phương diện quan trọng hơn hết của sự tồn tại của họ thì không hoạt động, đó là tâm linh - không có nó thì dường như không có điều gì khác vận hành đúng đắn lâu dài trong một cuộc đời.
Trong Chương sáu nói về Sự Chết Thuộc linh, chúng ta đã xem một sơ đồ gồm ba phần của con người - tâm hồn, linh hồn và thân thể. Chúng ta đã xem xét qua những điều đó là gì, song bây giờ trong chương nầy, tôi muốn bày tỏ cách chúng hoạt động trong một người tin Chúa. Hiểu biết rõ về chức năng của ba phần đó trong sự tồn tại của chúng ta là điều tuyệt đối cấp bách, nếu không chúng ta sẽ không thể nào xác định được nguồn gốc của vấn đề khi sự việc trở nên rối loạn và không hoạt động đúng.
HAI LOẠI SỰ SỐNG TRONG VIỆC TẠO DỰNG CON NGƯỜI
Khi Đức Chúa Trời quyết định tạo dựng loài người. Ngài đã lấy một nắm đất và nắn lên hình người. Sau đó Ngài hà vào mũi tạo vật ấy các hơi sống và con người trở thành một loài sanh linh (SaSt 2:7)
Hai loại sự sống được sinh ra trong ngày đó, sự sống phần tâm hồn (tinh thần) làm cho tim bắt đầu đập, máu bắt đầu lưu thông và tạo nên hồn và thân vị của một con người. Và sự sống thuộc linh (zoe) là điều đã trở thành tâm linh của loài người nằm trong một con người và làm cho người đó có khả năng để thông công, liên lạc với Đức Chúa Trời , là Đấng thần linh. Hai loại sự sống đó đều cư trú trong một nhà là phần thuộc thể của loài người và có một sự hòa hợp trong các công tác hổ tương của chúng.
Kinh Thánh nói rằng con người đã trở thành một loài "sanh linh" (hồn sống). Tâm hồn đứng ở giữa, một bên là phần thuộc linh và một bên là thân thể, và nó trở thành chỗ sáp nhập của hai phần đó. Đó chính là một phần của con người mà qua đó tâm linh và thuộc thể biểu lộ chính chúng nó. Nó đứng ở giữa hai thế giới, tuy nhiên nó lệ thuộc vào cả hai một cách không thể thiếu được. Bởi vì tâm hồn có một ý chí tự do, cho nên nó phải quyết định điều gì sẽ cai trị đời sống, hoặc tâm linh hoặc thân thể.
Trước khi Ađam phạm tội, tâm linh cai trị cả tâm hồn và thân thể của ông, nhưng với ý chí tự do mà ông ta đã được ban cho như là một phần trong tâm hồn mình, Ađam đã quyết định không vâng lời Đức Chúa Trời , và khi ông đã không vâng lời thì tâm linh của con người đã chịu một sự thay đổi mãnh liệt. Khả năng của nó để liên lạc với Đức Chúa Trời đã bị chấm dứt, và một sự chết hình thành trong mối liên hệ giữa con người với Đức Chúa Trời . Hậu quả bi thảm của điều đó là tâm hồn và thân thể của loài người bấy giờ đã rời ra vì không có một hiệu thính viên tâm linh và toàn bộ sự phát triển của chủng loại trừ năng lực khai sáng và năng lực kiềm chế của Đức Chúa Trời. Thay vì được "Đức Chúa Trời " làm trung tâm, con người đã trở thành bản ngã trung tâm. Thay vì là một "bông hoa" ra từ bàn tay của Đấng Tạo Hóa, con người đã trở thành một thứ "cỏ dại" mọc hoang không được vun trồng hay chăm chút.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào từng chức năng riêng biệt trong các chức năng của con người, sử dụng sơ đồ phía dưới để giúp chúng ta thấy rõ những lẽ thật cấp bách nầy.
(TÂM) LINH
Bước rõ ràng đầu tiên trong sự tăng trưởng thuộc linh là sự tái sanh. Đây là chỗ mà linh của con người giữ vai trò quan trọng nhất. Khi Ađam và Êva được dựng nên, họ được ban cho tâm linh để giúp họ liên lạc với Đức Chúa Trời . Tuy nhiên (Tâm) linh của họ không bao gồm sự sống tự hữu đời đời của Đức Chúa Trời . Bao lâu mà họ còn ở trong vườn, thì họ có Chính Mình Đức Chúa Trời ở đó, và đó là tất cả những gì họ cần trong lúc đó.
Ngay giữa vườn, là nơi không thể trông thấy được, có cây sự sống. Đây là cây sẵn dành cho con người để ăn bất cứ lúc nào ông ta muốn, và tôi tin rằng cây ấy hẳn sẽ ban cho ông sự sống đời đời của Đức Chúa Trời nếu như ông ta đã ăn.
Nhưng cũng có một cây khác ở đó là Cây Biết Điều Thiện và Điều Ác. Chúng ta đã thấy trong những chương vừa qua, đấy là cây "thử nghiệm". Con người đã bị cấm ăn trái của cây ấy. Làm điều cấm đó có nghĩa là ông ta muốn phô bày ý chí của mình vượt trên ý muốn của Đức Chúa Trời , và hậu quả của việc làm đó là bị mất sự sống tâm linh và sự thông công liên lạc với Đức Chúa Trời (2:17)
Dầu vậy, khi con người đã ăn trái Đức Chúa Trời phán rằng
"Nầy về sự phân biệt điều thiện cùng điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta, vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người dơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng! "Giê hô va Đức Chúa Trời bèn đuổi loài người ra khỏi vườn Êđen, và ngăn cấm khỏi con đường đi đến Cây Sự Sống" (3:22-24) Đức Chúa Trời không thể để cho loài người nay đã bị chết mất phần linh, lại được ban cho sự sống đời đời mà không phải hồi phục lại tất cả những gì cần thiết ở bên trong họ để có thể được thích hiệp với sự sống đời đời của Đức Chúa Trời . Và những sự hồi phục đó sẽ là cái giá đắt hơn hết mà Đức Chúa Trời từng phải chịu. Giá đó không phải là rẻ.
SỰ PHỤC HỒI TÂM LINH
Sự phục hồi tâm linh của bạn bắt đầu vào ngày mà bạn tin Chúa Giê xu đã chịu chết thay cho bạn và cảm tạ Ngài vì đã chết thế chỗ cho bạn. Một số người thích sử dụng khái niệm mời Chúa Giê xu vào trong lòng họ. Điều đó đặt cơ sở trên lời phán của Ngài trong KhKh 3:20 "Nầy ta đứng ngoài cửa mà gõ, nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa cho, Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối (tương giao) với người, và người với Ta" cái cửa được nhắc đến trong câu nầy được ví sánh với cánh cửa của ý chí con người.
Nhưng bất cứ hình ảnh gì mà tâm trí bạn mang, vào giây phút mà bạn tiếp nhận Đấng Christ là Chúa Cứu Thế của riêng mình thì điều quan trọng đó là phần linh chưa hoạt động, còn nằm im của bạn đó cuối cùng đã được phục hồi và được ban cho một nguồn lực mới của sự sống thuộc linh, là Đức Thánh Linh.
Đôi khi, chúng ta có suy nghĩ sai lầm rằng linh của con người không tồn tại trong chúng ta cho đến khi chúng ta được sanh lại, nhưng có rất nhiều câu Kinh Thánh nhắc đến linh trong những con người chưa tái sanh để cho chúng ta có thể võ đoán về điều đó. Tôi tin rằng linh đã tiếp tục tồn tại trong loài người ngay từ ngày Ađam phạm tội, nhưng điều chúng ta thừa hưởng từ nơi Ađam đó là một linh thiếu mất khả năng để thông công với Đức Chúa Trời hay là thiếu mất khả năng nhận những thông tin của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Vi vậy trong mọi ý thức thực sự, nó đã chết bởi vì nó đã không còn hoạt động theo cách đã được định. Một triết gia vĩ đại người Pháp, và cũng là một nhà thần học, Pascal đã gọi chỗ trống tâm linh nầy trong một con người là một "chỗ trống mang hình ảnh Đức Chúa Trời mà chỉ có Đấng Christ mới có thể lấp đầy".
Thật sự điều nầy rất giống với một chiếc đèn đã bị ngắt mất dòng điện. Đèn chẳng có ích lợi gì ngoài việc làm đồ trang trí cho đến khi nào nó được nối với nguồn năng lượng và cháy sáng. Nhưng nó không chấm dứt tình trạng là một chiếc đèn chỉ bởi vì nó chưa thực hiện chức năng theo cách đáng phải thực hiện.
LINH CHẾT PHỤC VỤ MỘT NHIỆM VỤ
Mặc dầu linh loài người bị thiếu mất sự sống thuộc linh trong con người chưa được sanh lại, song chính sự hiện diện chết của nó trong đời sống của người chưa tin Chúa lại giữ một vai trò quan trọng. Nó phục vụ như là một sự nhắc nhở kiên trì về một điều rất căn bản nào đó đang bị thiếu mất từ sâu trong con người của chúng ta. Đó là điều Augustine đã nói "Ngài đã dựng nên chúng con cho chính Ngài, Lạy Chúa, và tấm lòng của chúng con không yên nghỉ được cho đến chừng nào chúng tìm được sự yên nghỉ trong Ngài".
Chừng nào Đấng đã tạo dựng chúng ta chưa đến và ngự trong chỗ phải lẽ dành cho Ngài ở trong tâm linh chúng ta, thì chúng ta sẽ chưa thể nào cảm thấy trọn vẹn được. Luôn luôn có một cảm giác thiếu vắng về một điều gì đó. Điều nầy đã giải thích cho rất nhiều việc mà con người đã phó mình cho chủ nghĩa khoái lạc trong một nổ lực nhằm tìm kiếm sự hoàn thiện và sự bình an bên trong. Việc nhấn mạnh quá đáng đến việc sử dụng tình dục, tiền bạc, danh vọng, quyền lực, sắc đẹp, giải trí, tôn giáo và những việc lành, thường là triệu chứng của một nổ lực nhằm lắp đầy chỗ trống sâu thẳm trong tâm linh, là nơi mà chỉ có Đấng Christ mới có thể lấp đầy.
SỰ SÁNG TRONG CON NGƯỜI TRỞ LẠI
Kinh Thánh mô tả người chưa được tái sanh là "bước đi trong tối tăm". Đó là lý do vì sao người ấy không thể nhìn thấy rằng tất cả những điều mình đang cố gắng để thay thế Chúa Giêxu trong đời sống mình chỉ là những sự lừa đối hảo huyền khi Ađam phạm tội, linh của ông đã trở nên tối tăm không có sự chiếu sáng bên trong của Đức Chúa Trời, sự sáng tâm linh của ông đã tắt đi.
Nhưng trọng tâm của kế hoạch của Đức Chúa Trời nhằm tái sanh loài người là ý định của Ngài để khôi phục lại sự sáng đối với những tâm linh đã bị làm cho tối tăm. Bạn hãy lắng nghe cách sứ đồ Giăng mô tả Chúa Giêxu là Đấng đem lại sự sáng cho loài người: "Trong Ngài (Chúa Giêxu) có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người... (Ngài) là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi người" (GiGa 1:4, 9)
Phierơ cũng nói giống như vậy về Chúa Giêxu khi ông viết về Ngài là Đấng "đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài" (IPhi 1Pr 2:9b)
Nhưng uy quyền lớn lao nhất của vấn đề "Sự sáng" là chính mình Đức Chúa Giêxu. Ngài đã gọi mình là "Sự sáng của thế gian" "Người nào theo ta sẽ chẳng đi trong nơi tối tăm", Ngài phán:"nhưng sẽ có ánh sáng của sự sống" (GiGa 8:12)
Vì vậy khi một người được sanh lại, sự sáng thật sự chiếu rọi trong người ấy. Vì lần đầu tiên người ấy có khả năng để hiểu được những sự thuộc về Đức Chúa Trời và thuộc về lãnh vực tâm linh. Người ấy Cầu nguyện và biết chắc chắn rằng được Ngài nghe thấu bởi vì bây giờ người ấy dã có sự sống và ánh sáng của Đức Chúa Trời trong mình. Đức Chúa Trời bắt đầu chiếu rọi sự sáng mới mẻ trên con đường và tỏ cho người ấy biết ý muốn của Ngài dành cho đời sống là gì.
HÃY BƯỚC ĐI NHƯ "CÁC CON SÁNG LÁNG"
Bởi vì chúng ta đã được ban cho sự sáng bên trong như vậy nên sứ đồ Phaolô đã khiển trách chúng ta theo cách ông đã nói trong Eph Ep 5:1-8. Ở đấy ông nói về một số những tội lỗi mà những người chưa tái sanh tự do phạm: Tham lam, ô uế, ngu muội và nói lời tục tỉu, ham muốn và vân vân. Kế đó ông nói: "Vậy, chớ có thông đồng đều chi với họ hết, vả lúc trước anh em đang còn tối tăm nhưng bây giờ đã nên người sáng láng trong Chúa, hãy bước đi như các con sáng láng" (câu 7,8)
Tôi nghĩ đó là một sự mô tả tuyệt vời về những kẻ tin đã được sanh lại. "Con cái của sự sáng". nếu có bất cứ điều gì mà thế gian tối tăm cũ kỉ nầy cần đến, thì đó là sự sáng, bạn có thể thấy điều đó bởi sự gia tăng lạ lùng trong dân chúng về những việc huyền bí, các Chiêm tinh gia, các Tiên tri và những người khác nhằm cố gắng tìm xem điều gì đang diễn tiến. Nhưng nguồn sáng thật duy nhất về việc thế giới đang đi về đâu và làm thế nào được chuẩn bị để sống bình an trong thế gian chính là "Con Cái của Sự Sáng". Đó là lý do vì sao Chúa Giêxu phán "Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy đặng họ thấy những việc lành của các ngươi và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời" (Mat Mt 5:16)
Bây giờ chúng ta hãy xem chức năng chính yếu của linh đã được tái sinh.
GIÁC QUAN THỨ SÁU: ĐỨC TIN
Khi một người được sanh lại, sự sống được phục hồi cho tâm linh mình và tại đó, trong "con người bề trong" người ấy có năng lực để hiểu biết, yêu thương, và thờ phượng Đức Chúa Trời theo một phương cách sâu nhiệm mà con người mới khao khát. Và những điều thuộc về lãnh vực tâm linh không còn trừu tượng và xa lạ nữa. Đức Thánh Linh đến ngự trị trong linh được tái sanh của người đó và bắt đầu tiết lộ về Đức Chúa Trời cho tâm trí và tấm lòng của họ.
Sự khôi phục sự sống thuộc linh đã trả lại cho con người điều mà Ađam đã đánh mất. Điều đó được gọi là "giác quan thứ sáu", đức tin. Đức tin là thị lực của linh. Nó khiến chúng ta vươn đến Đức Chúa Trời để hiểu biết Ngài. Đức Tin giúp chúng ta tin rằng khi Đức Chúa Trời phán Ngài sẽ làm điều gì đó cho chúng ta thì Ngài sẽ làm! Thân thể có ngũ quan khiến nhận biết thế giới vật chất thực hữu, và sự hiểu biết con người thu nhận được qua ngũ quan được gọi là "quan điểm của loài người"(nhân sinh quan) về cuộc sống (viết tắt là QĐN). Nhưng sự hiểu biết thân mật về Đức Chúa Trời chỉ có thể biết được qua giác quan thứ sáu: Đức Tin, và nó được gọi là "Quan điểm thiêng liêng về cuộc sống (viết tắt là QĐT).
Chỉ có người được sinh lại mới có giác quan thứ sáu và vì vậy cả hai quan điểm ấy đều có trong người đó. Còn người chưa tái sanh chỉ có cái nhìn của loài người. Hai quan điểm đó về cuộc sống thường xung đột với nhau. Ngũ quan tiếp tục đổ vào trong tâm trí quan niệm của thế gian trên mọi sự việc và đây là một quan điểm cho rằng con người quyết định lấy số phận của mình và Đức Chúa Trời không phải là một nguồn sức mạnh đáng nói rằng: "nếu bạn muốn thực hiện điều đó, này bé con anh đã nhận được điều đó. Hãy đến đấy và dựng trại!"
Mặt khác, giác quan thứ sáu thì bảo rằng "Hãy nhìn xem Đức Chúa Trời đã dựng nên bạn, Ngài kết hợp bạn bởi những nguyên tử và sau đó bạn đã quay lưng lại với Ngài, Ngài đem lại sự cứu chuộc cho bạn. Nay bạn không nghĩ rằng bạn có thể tin cậy một Đức Chúa Trời như vậy có thể giải quyết bất cứ điều gì của vấn đề nầy hay bạn đang cố gắng xử lý bằng sức riêng? và vì vậy cả linh được tái tạo (Giác quan thứ sáu) lẫn xác thịt (ngũ quan) đều oanh tạc tâm hồn (Tâm trí) bằng những quan điểm của chúng, và hai điều nầy luôn luôn chống nghịch nhau.
Ví dụ Phaolô hứa cùng những kẻ tin: "Đức Chúa Trời khiến mọi sự hiệp lại làm ích cho những kẻ yêu mến Đức Chúa Trời (RoRm 8:28.) Bây giờ, giả sử sáng nay khi bạn vào làm việc, ông chủ gặp bạn và bảo rằng bạn bị sa thải. Qua thị giác và thính giác, điều (lời nói của con người) thông tin tồi tệ nầy đã đến với tâm trí bạn. Cùng lúc ấy, qua giác quan thứ sáu, đức tin, Đức Chúa Trời nhắc nhở bạn lời hứa rằng điều ấy hết thảy sẽ hiệp lại làm ích cho bạn.
Vào thời điểm đó, bạn phải quyết định xem quan điểm nào của cuộc sống sẽ cai trị bạn. Nếu QĐN cai trị, bạn có lẽ sẽ cảm thấy hoang mang và hụt hẫng! Nhưng nếu bạn chọn để trân trọng đóng lại ngũ quan và chỉ lắng nghe giác quan thứ sáu, bạn sẽ kinh nghiệm sự yên tịnh và bình an của Đức Chúa Trời, bởi vì bạn sẽ được bảo đảm rằng vấn đề đang nằm trong bàn tay đầy khả năng của Ngài.
ĐỨC TIN NƯƠNG DỰA TRÊN SỰ THÀNH TÍN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Bây giờ, Đức Tin thật sự là tất cả những gì đây. Đó là sự đáp ứng của chúng ta đối với năng lực của Đức Chúa Trời để điều khiển cuộc đời của chúng ta. Nếu tôi thật sự tin Ngài có khả năng, thì tự động tôi sẽ có đức tin. Nếu tôi không biết Ngài đáng tin cậy như thế nào, thì có nói suông những việc về thuộc linh đến mấy đi nữa cũng không làm tôi tin cậy Ngài vào lúc tôi cần đức tin.
Đức tin là một khái niệm bị hiểu lầm như vậy. Tôi thường nghe người ta cầu nguyện xin thêm đức tin, nhưng khắt khe mà nói, đó là một lời cầu nguyện sai lầm. Một khi bạn đã được sanh lại và được khôi phục lại giác quan thứ sáu trong linh của bạn thì nay bạn đã có tất cả đức tin điều khiển trong linh được tái sinh của bạn cũng giống như ngũ quan điều khiển thân thể bạn. Hãy lấy thị giác làm ví dụ. Bạn có thể có thị lực 20/20, tuy nhiên khi nhìn xem một dãy núi cách xa 50 dặm thì bạn không trông thấy rõ lắm. Trong trường hợp đó bạn không cần có thị lực tốt hơn, mà bạn cần đến gần dãy núi để nhìn thấy nó rõ ràng hơn.
Đó là cách đức tin hành động. Chúng ta đều được ban cho một lượng đức tin 20/20 khi chúng ta được sinh lại. Nhưng đức tin cần có một đối tượng để nó thực hiện chức năng, và Chúa Giêxu chính là đối tượng đó, được bày tỏ cho chúng ta qua Lời Ngài.
Nếu Chúa Giêxu dường như không thực tại đối với bạn như là bạn muốn và bạn cần thấy bạn cần thêm đức tin để mang Ngài lại gần hơn, thì tôi hy vọng bạn có thể thấy được từ điều nầy: điều mà bạn thật sự cần là một cái nhìn gần hơn về Đối tượng kỳ diệu này. Bạn thực hiện điều đó bằng cách vào trong Lời của Ngài và bắt đầu nhìn xem Ngài đúng là ai, Ngài đã làm gì cho bạn, và Ngài vẫn còn hứa ban gì cho bạn. Đức tin của bạn sẽ không lớn lên, nhưng quan niệm của bạn về Chúa Jesus sẽ lớn lên và kết quả cuối cùng sẽ giống như vậy trong đời sống bạn. Bạn sẽ bắt đầu tin cậy Ngài nhiều hơn, và bạn sẽ chợt khám phá ra rằng chính bạn yêu thương và đáp ứng với Ngài theo một cách mà trước đây bạn không hề có.
LINH HỒN
Trong khi linh là phần khiến con người nhìn biết Đức Chúa Trời và liên hệ con người với Đức Chúa Trời (tâm) hồn là phần để chúng ta liên hệ với chính mình và ban cho chúng ta sự tự ý thức. Sau đó qua các chức năng khác nhau của hồn như là tâm trí, tình cảm và ý chí chúng ta có khả năng để diễn tả những gì ở bên trong chính mình.
Hồn cho phép chúng ta bày tỏ những cá tính như của chúng ta, nó xếp đặt cả ý thức lẫn tiềm thức là các phần của hồn. Đó là nơi mà linh và thân được biểu lộ ra bên ngoài con người.
Trong Kinh Thánh người ta thỉnh thoảng được nhắc đến như là "những hồn". Bởi vì Đức Chúa Trời nhìn thấy tâm hồn cũng chính là con người đó. Một người không có hồn là một người chết bởi vì hồn là sự sống thật sự trong chúng ta. Tiếng Hêbơrơ là Nephesh, nghĩa là hồn, thường được dịch là "sự sống" trong Cựu ước. Tân ước dùng chữ Hy lạp psyche cho cả chữ "hồn" và "sự sống phần hồn" và nó thường được dịch là "sanh mạng".
"Sanh mạng (hồn) của xác thịt ở trong huyết" (LeLv 17:11)
"Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình (hồn) làm quý" (Cong Cv 20:24)
"Người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống (hồn) mình (GiGa 10:11)
AĐAM "THỔI MẤT" NHƯNG ÔNG KHÔNG PHẢI ĐẦN ĐỘN!
Khi chúng ta được sinh vào thế gian nầy, loại sự sống chung nhất mà chúng ta có là sự sống phần hồn (psyche) Đó là điều chúng ta giáo dục, huấn luyện, kỷ luật, nuông chiều và thiết tha bảo vệ, năng lực trong hồn con người không phải là vô hạn, nhưng nhất định là rất lớn.
Khi chúng ta ngừng lại để suy nghĩ về sự lạ lùng trong mức độ thông hiểu mà Ađam đã có được trong phần tâm hồn, điều đó khiến bạn càng tin hơn một chút nữa, đường xoáy trôn ốc trong tâm trí loài người đã đi xuống chứ không phải đi lên.
Ađam đã được ban quyền cai trị trên khắp đất và mọi vật trong đó (SaSt 1:27, 28) Phải có một kỹ năng lớn lao về tổ chức và biết cách thực hiện công việc đó. Song đó không phải là tất cả mọi điều ông phải làm, ông được giao cho việc đặt tên cho tất cả các loài thú. Bạn và tôi có thể lấy một quyển tự điển và viết ra tên của hết thảy hàng trăm loài thú vật và chim trời, nhưng cố gắng để ghi nhớ những tên ấy thì lại là một chuyện khác. Vậy mà Ađam đã nghĩ ra cả những tên ấy.
Ađam cũng là một người làm vườn khéo léo bởi vì ông được giao cho công việc giữ Vườn Êđen theo một hình thức đẹp đẽ. Tôi biết thế nào là công việc giữ vườn, vì tôi chỉ mới cố gắng để giữ cho khu vườn nhỏ của tôi được mầu mỡ, tỉa xén và chăm chút. Huống chi tầm cỡ của Vườn Eđen phải rất là khủng khiếp. Song, bằng chứng cho thấy đã không có vấn đề gì với Ađam cả bởi vì ông ta chưa bao giờ biết đổ mồ hôi là gì cho đến khi ông bị đuổi ra khỏi vườn và (tâm) hồn của ông đã bắt đầu trở nên kém cõi đi từ chỗ có năng lực lớn lao (xem SaSt 3:19)
BẢN NGÃ LOÀI NGƯỜI BẮT ĐẦU LÀM TRUNG TÂM
Từ kiểu mẫu tâm hồn của Ađam và những năng lực mà ông đã được ban cho, chúng ta có thể thấy điều Đức Chúa Trời từ ban đầu đã có ý định cho loài người. Bất hạnh thay, khi Ađam phạm tội hồn không còn ở dưới sự kiểm soát của linh và vì vậy tất cả mọi điều mà nó có thể làm là ngày càng tự ý thức và tự cho mình là trung tâm. Con người bắt đầu chỉ suy nghĩ về chính mình, về việc giải quyết các nhu cầu của riêng mình và làm trọn những ham muốn của xác thịt chính mình. Hồn - đã được Đức Chúa Trời định ý để trở nên chỗ bày tỏ sự cân đối của con người hoàn toàn, Thân, Hồn, và Linh - bây giờ đã trở nên Trung tâm của "cái Tôi" hoặc "bản ngã" sa ngã. Linh của con người đã chết trong chừng mực ảnh hưởng của nó có trên hồn.
Sứ đồ Phaolô đã đặt ra một cái tên dành cho con người ở trong tình trạng nầy. Ông ta đã gọi người đó là "người có tánh xác thịt" (ICo1Cr 2:14) bởi vì hồn cùng với tâm trí, tình cảm, ý chí và sự đầu hàng của nó đối với những ham muốn của xác thịt là điều đã cai trị con người. Trong cùng câu Kinh Thánh đó Phaolô nói về những giới hạn của con người xác thịt "vả người thiên nhiên (người xác thịt) không nhận được những sự thuộc về Thánh linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự rồ dại, và không thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng". Vấn đề ở đây là nếu một người đã chết về tâm linh người ấy có thể rèn luyện tâm trí mình đến mức độ của nhà Bác học nhưng không thể có sự sáng suốt thuộc linh.
THÂN (XÁC THỊT)
Cho đến nay chúng ta đã nhìn thấy một cách vắn tắt về bản chất của linh và hồn trong con người. Nhưng trước khi chúng ta có thể xem xét cách Đức Chúa Trời đã thay đổi chúng bởi sự sanh lại như thế nào, chúng ta hãy nhìn vào thân thể hay là xác thịt của con người và xem xét vai trò của nó trong toàn thể con người.
Thân thể là phần có ý thức về thế giới. Đó là căn nhà của hồn và linh nhưng nó được kết hợp thân mật với phần hồn bởi vì sự sống của hồn (tinh thần) và là điều giữ cho thân thể vật lý sống động. Sau khi con người sa ngã, hồn và thân có khuynh hướng nhập lại thành một, và ở dưới sự cai trị của cái nầy hoặc cái kia. Nếu là hồn, thì người đó là một con người có nghệ thuật hoặc có lý trí. Nếu phần xác cai trị thì người ấy sẽ là người thiên về những khoái cảm hay là thể chất.
Ngũ quan được đặt trong thân thể vật lý là do những cơ chế đưa sự thực hữu của thế giới vật chất vào trong ý thức của con người. Chúng giống như những cửa sổ của hồn. Tuy nhiên để cho các giác quan hoạt động, phải có một tác nhân kích thích bên ngoài nào đó. Ví dụ phải có một đối tượng để thị giác hoạt động. Cũng vậy, phải có một âm thanh để thính giác làm việc, và vân vân.
Một trong những nguyên tắc cơ bản mà nhiều nhà tâm lý đã dạy dỗ đó là con người là một sản phẩm của môi trường mình sống. Điều đó có nghĩa là đơn giản, chúng ta là tất cả toàn bộ những gì có đụng chạm đến cuộc sống của mình. Tất cả những kinh nghiệm và những thế lực đã hình thành kiểu mẫu đời sống chúng ta đều vào trong chúng ta qua môi giới của ngũ quan. Dĩ nhiên, cách chúng ta vận dụng thông tin một khi nó đến với tâm trí chúng ta bị ảnh hưởng lớn lao bởi những tánh khí và đặc điểm mà chúng ta đã thừa hưởng. Và một khi chúng ta đã trở thành Cơ Đốc Nhân, Đức Thánh Linh ngự trị trong chúng ta sẽ tác động trên những phản ứng đối với những sự việc xảy đến cho chúng ta.
XÁC THỊT KHÔNG LÀM BẠN VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI
Bản chất thật của xác thịt không phải là điều thường được hàm ý khi nhắc đến nó trong Kinh Thánh. Thông thường nó ám chỉ đến một nguyên tắc loạn nghịch cùng Đức Chúa Trời mà đã hoàn toàn thấm vào Con Người Cũ của chúng ta. Nó là bản chất không thể cải tạo được đến nỗi Đức Chúa Trời cũng đã không tìm cách để dùng lại nó trong con người mới. Ngài chỉ tuyên bố nó là một bản tánh bất trị, vô phương cứu chữa và rồi xúc tiến đặt các nguyên tắc cho phương cách chúng ta có thể sống làm sao để đắc thắng nó.
Bất cứ điều gì được gói ghém trong xác thịt, thì mọi người đều có. Song đó là lãnh vực duy nhất mà người chưa tái sanh có thể điều khiển, bởi vì sự sống phần hồn là loại sự sống duy nhất mà họ có. Người đã được sanh lại vẫn còn trong xác thịt, song không phải chỉ sống và hoạt động cho xác thịt bởi vì người ấy đã được sanh lại về phần tâm linh để sống cho Đức Chúa Trời.
Chúng ta hãy nghe sứ đồ Phaolô xem xét vấn đề xác thịt ra sao khi ông viết thư cho các tín hữu ở tại Êphêsô "Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung, tức là thần hiện đương hành động trong các con không vâng phục.
Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng của chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ cũng như mọi người khác (Eph Ep 2:1-3)
Cũng như có một số người có lẽ không thích suy nghĩ về điều nầy, Đức Chúa Trời cũng có một cái nhìn không tốt về xác thịt hoặc ở trong người đã tin Chúa hoặc trong người chưa tin. Bởi vì xác thịt có một cái nhìn không tốt về Đức Chúa Trời, và người nào kiên trì hoạt động trong lãnh vực của xác thịt thì không thể nào đẹp lòng Đức Chúa Trời (RoRm 8:7, 8). Ông cũng nói rằng tâm trí thường xuyên bị xác thịt kiểm soát là bằng chứng cho thấy người ấy vẫn còn bị chết về tâm linh (8:6). Trong 7:18 Phaolô nói về vấn đề mà chính ông, một người đã tin Chúa, vẫn có đối với xác thịt, ông nói "Vì tôi biết rằng điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi".
Rõ ràng từ những câu Kinh Thánh trên và nhiều câu khác nữa cho thấy có một "sự sa ngã" vốn có sẵn trong xác thịt chúng ta. Cái tính nết bất trị nầy đôi khi cũng được nói đến như là "tội lỗi" như trong IGi1Ga 1:8 "Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình và lẽ thật không ở trong chúng ta". Xác thịt cũng đồng nghĩa với Bản Tánh Tội Lỗi Cũ mà chúng ta đã thấy, đó là sức mạnh trong chúng ta nhằm mục đích chống lại Đức Chúa Trời. Hết thảy mọi người đều sinh ra với sự nguyền rủa ấy, và nó không được bỏ khỏi chúng ta khi chúng ta đã được sinh lại, dầu vậy việc đắc thắng nó đã được dành sẵn sàng cho chúng ta.
HAI MẶT CỦA XÁC THỊT
Vào lúc con người sa ngã, thân và hồn đã hòa nhập với nhau để hợp thành kẻ thù của linh, mà chúng ta gọi là xác thịt. Gồm cả "những thái độ của xác thịt" cũng như "những công việc của xác thịt" Hai mặt nầy của xác thịt sẽ tiếp tục biểu lộ rõ chính chúng qua đời sống của người tin Chúa tùy theo mức độ người ấy để cho (tâm) hồn cai trị mình nhiều hơn là (tâm) linh.
"Những thái độ của xác thịt" là tất cả những ý tưởng, những hoạch định, những ý đồ, những sự tưởng tượng và những việc lành được tiến hành bởi tâm trí của con người mà Đức Thánh Linh không phải là nguồn gốc. Chúng có thể hoặc tốt hoặc xấu theo những quan niệm của thế gian đối với những việc như vậy, nhưng trong sự đánh giá của Đức Chúa Trời, chúng hoàn toàn không thể chấp nhận được bởi vì nó bắt nguồn từ xác thịt chứ không phải từ linh. Những "thái độ của xác thịt" đó nhiều khi khó mà phân biệt bởi vì nó tản mạn trong lãnh vực của các ý tưởng và suy nghĩ và dường như quá cao thượng. Dầu vậy những hoạt động thuộc về hồn nầy luôn luôn có bản ngã ở nơi nào đó trong trung tâm.
Tự tin và tự lực là hai đặc điểm đáng chú ý của hồn. Thế gian nhiệt liệt tán dương những điều nầy và chúng dường như là những phẩm tính đáng khâm phục, nhưng Đức Chúa Trời phán chúng bày tỏ một sự nhờ cậy dựa trên xác thịt hơn là dựa vào Đức Thánh Linh ngự trị.
"Những công việc của xác thịt" thường được nhắc đến như là "những ham muốn của xác thịt" và những điều đó ám chỉ tội lỗi bị xúi giục bởi những sự thúc đẩy và bởi những ham muốn của xác thịt. Những điều nầy cũng dễ nhận ra trong đời sống bởi vì nó thường khá rõ ràng và công khai. Phaolô đã liệt kê một số những điều đó trong GaGl 5:19-21. Vả các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm, ấy là gian dâm, ô uế, luôn tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gỗ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy"
XÁC THỊT RẤT XẢO QUYỆT
Chỗ mà Cơ Đốc Nhân vấp ngã là vì đã không nhận ra rằng xác thịt không những là khuynh hướng tội lỗi, mà còn là khuynh hướng của bản ngã. Những tội lỗi rõ ràng, bắt nguồn từ những ham muốn và những đòi hỏi của xác thịt thì dễ dàng để nhận ra. Nhưng "thái độ" tội lỗi của xác thịt thì tinh vi hơn nhiều và dễ được chấp nhận hơn trong cộng đồng Cơ đốc. Chính vì thế, mà Lady Clairol nói rằng "Chỉ có Chúa mới biết chắc" nguồn gốc của thái độ đó là gì.
Ví dụ như, khi còn là một đứa trẻ đang lớn lên, thì luôn luôn được các mục sư và các giáo viên trường Chúa nhật dạy rằng uống rượu hút thuốc và đi xem phim là có tội. Nhưng tôi không hề nghe một bài giảng nào bảo rằng thật là gian ác nếu bạn dạy trường Chúa nhật mà không được đổ đầy Thánh Linh hoặc là rao giảng một sứ điệp khi người giảng dạy và vợ mình có những vấn đề cần phải được giải hòa.
Bạn thấy đấy, đó là những công việc của xác thịt mà chỉ có Chúa và bạn biết rõ có phải điều đó bắt nguồn từ nơi Ngài không. nếu không phải từ Chúa, thì ở trước mặt Chúa những việc lành đó không thể được chấp nhận dầu một chút gì, nó cũng như những tội lỗi rõ ràng của xác thịt.
SỰ ĐỔI MỚI CỦA SỰ TÁI SANH
Một trong những bài hát mà tôi ưa thích nhất có dòng đầu như vầy "Tôi tin nơi những phép lạ, tôi đã từng thấy một linh hồn được giải cứu".
Đối với tôi, trong thời đại của phép lạ nầy, thì phép lạ lớn hơn hết là phép lạ Đức Chúa Trời đã làm để phá bỏ những thiệt hại ở bên trong con người về linh hồn và thân để đem lại sự hòa hợp và cân đối mà Ngài đã định sẵn cho chúng ta từ lúc ban đầu. Phaolô đã làm rõ điều nầy khi ông nói trong IICo 2Cr 5:17 "Vì vậy, hễ ai ở trong Đấng Christ thì nấy là người dựng nên mới, những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới"
Những sự cũ đã qua đi là những gì
Về căn bản, "Con Người Cũ" của bạn đã qua đi (Có lẽ nó đang nghĩ yên trong hòa bình) Đó là một điều mà bạn đã có trong Ađam: sự chết thuộc linh, sự thù địch cùng Đức Chúa Trời, phục dưới Luật pháp, hướng đến sự chết đời đời trong hỏa ngục, bắt buộc phải phục vụ Satan, bị sự sống phần hồn và xác thịt mình cai trị, không được Đức Thánh Linh ngự trị, không công bình, bị đoán phạt và bản ngã làm trung tâm đời sống.
Sứ đố Phaolô đã xác định việc "Con Người Cũ" đã bị đóng đinh là nền tảng để cho mọi sự mà chúng ta đã có trong Ađam đều bị mất hết quyền lực của nó trên chúng ta. "Biết rõ người cũ chúng ta đã bị đóng đinh trên cậy thập tự với Chúa Cứu Thế hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, nên chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Vì ai cũng chết thì được thoát khỏi tội lỗi (RoRm 6:6, 7)
Như tôi đã nói trong chương rồi, không có quyền lực đặc biệt gì trong việc chỉ chịu chết đi. Chúng ta đã bước vào mồ mả là "Con Người Cũ", song đã bước ra trong sự sống lại với Chúa Cứu Thế, như là một "Con Người Mới" Phaolô đã nhấn mạnh điều đó trong CoCl 3:2-10. Ở đây ông nói với các tín hữu hãy đặt tâm trí mình vào những sự ở trên trời, chớ không phải những sự ở dưới đất, bởi vì họ đã chết đối với những sự đó và đơn sơ coi đó là một sự thật. Sau đó ông khuyên giục họ hãy bỏ khỏi mình những sự như nóng giận, thạnh nộ, nói hành, ác ý, lời tục tĩu, nói dối, bởi vì họ đã bỏ qua một bên Con Người Cũ (bản ngã) cùng với những sự tập tành xấu xa của nó và đã sẵn sàng mặc lấy Người Mới, là người đang được đổi ra mới theo hình ảnh của Đức Chúa Trời.
CỞI BỎ CON NGƯỜI CŨ - MẶC LẤY CON NGƯỜI MỚI
Không những là mọi sự cũ đã qua đi khi bạn được sanh lại mà mọi sự đều trở nên mới trong mối quan hệ của bạn với Đức Chúa Trời và mối quan hệ ở bên trong bạn. Hiện nay, mọi sự thật về bạn đó là bạn đang ở trong Đấng Christ. Dầu cho bạn có đang kinh nghiệm điều đó hay không - đó là bạn đã trở thành Con Người Mới. Đó là con người thật sự của bạn mà Chúa đang nhìn vào.
Hiện nay, trong phẩm hạnh thật sự, mọi điều chưa trở nên mới. Chúng ta vẫn còn nhiều tánh khó chịu và những sai lệch trong tâm hồn cũ tương tự như chúng ta đã có trước khi được sinh lại. Nhưng lý do khiến Đức Chúa Trời gọi chúng ta là Những Người Mới là bởi vì Ngài luôn luôn nhìn xem chúng ta trong ánh sáng của một sản phẩm đã hoàn tất mà Ngài đang thay đổi chúng ta theo đó. Thái độ đó của Chúa đối cùng con người có một năng lực sáng tạo khiến thật sự đưa tâm tánh chúng ta đi theo cách Đức Chúa Trời nhìn thấy chúng ta.
Phaolô nói về con người mới nầy trong Rôma đoạn 7 ông gọi nó là "tôi" theo bản dịch của chữ Hy lạp là cái tôi. Khoa tâm lý học theo trường phái của Freud đã làm cho chữ "cái tôi" trở nên gần gũi hơn với chúng ta và có ý nói đến sự "tự do mình làm trung tâm". Trong người chưa được tái sanh chữ "cái tôi" hoàn toàn là tự cho mình là trung tâm bởi vì bản ngã là điều đầu tiên mà người ấy quan tâm đến.
Nhưng Phaolô dùng chữ cái tôi trong Rôma đoạn 7 để liên hệ đến con người mà Đức Chúa Trời phán người ấy nay là Con Người Mới trong Chúa Cứu Thế. Ông nói Con Người Mới nầy ghét phạm tội, nhưng bất hạnh thay anh ta khám phá ra rằng mình đang phạm tội. Ông than thở rằng Con Người Mới nầy muốn làm điều lành nhưng vì sao đó dường như đã không thấy có năng lực để thực hiện điều tốt mà người ấy muốn làm.
Cuối cùng, người ấy kết luận rằng mặc dầu mình là một Con Người Mới trong Chúa Cứu Thế và Đức Chúa Trời luôn luôn nhìn xem mình theo cách đó, song người ấy vẫn luôn có con người xác thịt cũ bất trị và cứ thường làm như vậy. Nó biểu lộ chính nó qua thái độ cũng như hành động của Phaolô, những tội lỗi của xác thịt cũng như của tâm hồn (bản ngã).
Nhưng nỗi tuyệt vọng của Phaolô trong Rôma đoạn 7 dẫn đến sự khám phá lớn nhất của ông, một điều mà chỉ có thể đến bởi kinh nghiệm cá nhân. Đó là, Con người Mới không có năng lực trong chính nó để đắc thắng tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời, nó mong muốn, nhưng không có năng lực để thực hiện điều nó mong mỏi.
Sau đó ông viết toàn bộ Rôma đoạn 8 để cho thấy điều mà tất cả sự thất bại của mình đã dạy ông. Và đó chính là: quyền năng của Con người Mới nằm ở trong Đức Thánh Linh cư trú Người tin Chúa phải nương dựa vào Ngài để chiến thắng tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời.
NGÀI ĐÃ CHIẾN THẮNG CHO CHÚNG TA - BÂY GIỜ CHÚNG TA PHẢI KÊU ĐÒI ĐIỀU ĐÓ.
Sự tái sinh diễn ra trong phần linh của con người bởi vì đó là phần chúng ta cần có sự sống mới. Như những ảnh hưởng thì xảy ra khắp toàn bản thể của chúng ta, hồn và linh của chúng ta đều đi đến chỗ phục dưới quyền cai trị phải lẽ của linh trở lại. Đây là toàn bộ mục đích của sự tái sanh, để đem sự hiệp nhất và hòa hợp lúc ban đầu trở lại trong mối tương quan giữa tâm hồn và linh của con người.
Kể từ giây phút chúng ta được sanh lại, linh của chúng ta được Thánh linh của Đức Chúa Trời ngự trị, bởi vì Ngài là tác nhân thật sự trong đời sống mới của chúng ta - Thật vậy, Phaolô nói rằng nếu ai không có Đức Thánh Linh ở trong mình, thì người ấy không thuộc về Đấng Christ (Rôma 8,9). Nhưng Đức Thánh Linh có được cho phép để đầy dẫy (kiểm soát) linh và xác thịt của chúng ta hay không thì đó là vấn đề của sự quyết định cá nhân chúng ta. Linh vẫn có ý chí tự do, và nó phải quyết định từng giây phút điều gì sẽ cai trị đời sống - Hoặc Đức Thánh Linh sống qua linh đã được sanh lại của chúng ta, hoặc là xác thịt (tội lỗi).
Phaolô đã khẩn khoản nói với ý chí tự do trong linh của con người rằng: "Hãy coi mình như chết về tội lỗi... Đừng để tội lỗi cai trị trong thân thể hay chết của anh em... Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác".
Đó là những mạng lệnh mà bạn có thể bỏ qua hoặc làm theo tùy theo quyết định của tâm trí. Sự đáp ứng của chúng ta là quyết định để vâng lời, và sau đó Đức Thánh linh sẽ đi vào hành động trong chúng ta và ban quyền năng trong chúng ta để làm được điều mình đã quyết định. Chúng ta không bao giờ được thôi khỏi trách nhiệm quyết định đi theo ý muốn của Cha, nhưng quyền năng thực sự để thực hiện điều đó thì đến từ Đức Thánh linh . Đó là điều Phaolô muốn nói khi ông bảo "Vì ấy chính Đức Chúa Trời làm việc trong anh em, khiến anh em vừa muốn vừa làm theo ý chỉ Ngài" (Phi Pl 2:13) Phần của ý chí đến từ sự hiện diện của Bản Tánh Mới ở trong chúng ta, và phần thực hiện đến từ quyền năng của Đức Thánh Linh ngự trị trong chúng ta.
SỰ VÂNG LỜI VÀ QUYỀN NĂNG CỦA THÁNH LINH
Có nhiều tín hữu muốn quyền năng đến trước khi họ chịu đi ra đáp ứng với những mạng lệnh của Lời ngài. Họ muốn nhìn thấy, cảm nhận và kinh nghiệm sự đắc thắng trước khi vâng theo mạng lệnh để bước vào trận chiến. Như vậy thật sự là rốt cuộc họ đã bước đi bởi mắt thấy chứ không phải bởi đức tin bởi vì đức tin chỉ cần lời hứa rắng Đức Chúa Trời đã đi trước chúng ta rồi và ngài đang kiểm soát tình huống xác thịt đòi phải có những bằng chứng thấy được thì nó mới có thể tin được.
Lẽ thật nầy thường làm bối rối những tín hữu vừa mới bắt đầu học biết để bước đi bởi đức tin. Họ không muốn chạy trước Chúa. Vì vậy, khi họ đọc được những mạng lệnh nhất định trong lời Ngài rằng lời Đức Chúa Trời phán sẽ trở thành sự thật trong đời sống những kẻ tin cậy ngài, thì họ chờ đợi một sự thúc đẩy mạnh mẽ nào đó gần như là sự "xô đẩy" về thuộc thể từ nơi Thánh linh bước vào hành động.
Theo như tôi thấy, bạn không thể lái một chiếc xe trừ phi nó di chuyển. Đức Thánh Linh cũng không thể ép chúng ta hành động trừ khi chúng ta đã sẵn sàng quyết định bước vào bất cứ điều gì chúng ta được tỏ cho biết đó là ý muốn của Đức Chúa Trời - Ví dụ như tôi biết ý muốn của Đức Chúa Trời là chúng ta phải yêu thương lẫn nhau bởi vì Lời Ngài đã dạy như thế (GiGa 13:34) Ngài không bảo chúng ta phải có cảm xúc yêu thương nhau, Ngài bảo chúng ta "hãy yêu thương" lẫn nhau, và đó là một động từ, điều mà chúng ta phải làm, không phải là điều chúng ta cần thiết phải cảm thấy.
Vậy làm thế nào chúng ta hành xử được trong trường hợp chúng ta thấy mình không ưa một ai đó? Chúng ta có xin Thánh linh ban cho chúng ta cảm xúc của tình yêu để dành cho anh ấy hay cô ấy để rồi sau đó cứ tiếp tục ghét người cho đến khi bất thình lình có một tình yêu thiêng liêng nào đó bộc phác và đến với chúng ta chăng? Không! tôi tin chúng ta đều đã biết chính Đức Chúa Trời sẽ chứng mình về tình yêu cho người đó, mà không cần thiết phải cảm thấy điều đó. Và tôi biết nếu Đức Chúa Trời muốn điều gì đó thì Ngài cũng hứa để hỗ trợ cho điều đó bằng quyền năng của Ngài. Vì vậy, chúng ta hãy tin cậy Ngài ban quyền năng cho chúng ta để bày tỏ tình yêu thương cho người ấy, dầu cho chúng ta có "cảm thấy" yêu thương họ hay không, chúng ta bắt đầu chứng minh tình yêu đối với người ấy theo những cách giống như chúng ta đã làm với những người mình thật sự yêu thương. Chúng ta dành thì giờ để bày tỏ lòng nhân ái với người đó, và chúng ta đơn sơ chấp nhận người ấy giống như cách Đức Chúa Trời đã chấp nhận chúng ta, trước kia là những kẻ thù nghịch Ngài.
Bây giờ, khi chúng ta đã làm những điều đó, thì thái độ của chúng ta là vì chúng ta đang làm điều Chúa Giêxu truyền bảo mình, cho nên chính Ngài phải chăm lo cho những kết quả của việc làm của chúng ta và chuyển sự chứng minh về tình yêu của chúng ta sang một "cảm giác" thật của tình yêu.
Có một tiến trình gồm ba bước có liên quan đến ví dụ này và trong cách chúng ta liên hệ đến hàng trăm mạng lệnh khác trong đời thường, đó là: cậy tin, vâng lời, chờ đợi.
Thứ nhất, chúng ta đơn sơ tin cậy rằng điều mà Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta thực hiện, hoặc đừng thực hiện, là vì cớ chương trình tốt đẹp và cao cả nhất của Ngài dành cho chúng ta, bởi vì Ngài quá yêu thương chúng ta.
Thứ hai, trong ánh sánh của sự hiểu biết đó, và với lời hứa rằng điều mà Ngài đã kêu gọi chúng ta làm đó, Ngài sẽ ban cho chúng ta quyền năng để làm.
Thứ ba, chúng ta trông đợi Ngài giữ sự thỏa thuận của Ngài cho đến kết cuộc và ban quyền năng cho chúng ta để làm điều chúng ta đã được cảm động bước vào bởi đức tin.
HAI HẠNG TÍN ĐỒ
Bây giờ, hẳn bạn sẽ nghĩ rằng một khi người ta đã được sinh lại, chắc người ấy sẽ đầy sự cảm tạ vì mối liên hệ giữa mình với Đức Chúa Trời đã được hồi phục, đến nỗi người ấy sẽ vui mừng và kiên trì để cho Đức Thánh Linh cai trị toàn thể con người của mình và sẽ bước đi từng giây phút bởi đức tin.
Nhưng trường hợp đó không xảy ra với phần lớn các tín đồ, phần hồn (Bản ngã) đã nắm quyền thống trị trên chúng ta quá nhiều năm đến nỗi có nhiều điều chưa được học và phải học đi học lại.
Tâm trí chúng ta phải được làm mới lại như Phaolô nói trong RoRm 12:2 hầu cho chúng ta được thay đổi trong tâm tánh mình, chúng ta đã được thay đổi về phần bên trong nhờ sự sanh lại. Vậy bây giờ chúng ta cần phải làm là đem tâm tánh mình làm theo điều Đức Chúa Trời phán Ngài đã biến đổi chúng ta. Và đó là nơi mà nhu cầu dành cho quyền năng của Đức Thánh linh bước vào. Chúng ta không thể thay đổi chính mình, nhưng Đức Thánh Linh có thể làm được khi Ngài áp dụng quyền năng thanh tẩy và quyền năng làm mới lại của lời Chúa trong đời sống chúng ta.
Điều này dĩ nhiên đòi hỏi chúng ta phải để thì giờ đọc và học kinh thánh. Như tác giả Thi Thiên đã cầu nguyện "Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa" (Thi Tv 119:11)
Một tín đồ kiên trì để cho chính mình được làm mới lại trong tâm trí vì để linh giữ vai trò cai trị trong đời sống mình, để cho Thánh linh làm việc cho mình, thì được Phaolô gọi là "người thiêng liêng" (ICo1Cr 3:1) Điều đó không có nghĩa là người ấy là một người trọn vẹn, không phạm tội, mà có nghĩa là tánh chất của người ấy được mô tả nói chung là luôn bận tâm với những điều thuộc về Đức Chúa Trời và về tâm linh. Khi phạm tội, người ấy xưng tội với Đức Chúa Trời và nhanh chóng liên hệ tội đó với sự tha thứ của Ngài ở tại thập tự giá. Sau đó người ấy quay trở lại để bước đi bởi đức tin và sẵn sàng cho Chúa vì bất cứ điều gì mà Ngài có ý dành cho người ấy.
Nhưng trong 3:1-22, Phaolô mô tả một hạng tín đồ khác. hạng tín đồ nầy vẫn còn là con đỏ trong Christ, mặc dầu người ấy có thể đã là một tín đồ thật nhiều năm trong Chúa. Người ấy hoàn toàn bị cuốn hút bởi những điều thuộc về thế gian nầy, và vẫn đang sống như con người thuộc hồn cũ kỹ trước kia của mình. Xác thịt là nhân tố thống trị trong đời sống người ấy, vì vậy Phaolô gọi người nầy là người thuộc "thể xác" có nghĩa là "xác thịt".
Suốt trong các thư tín của Tân ước. Một bức tranh kết hợp những điều mô tả tích cách của một tín đồ xác thịt. Hoàn toàn ích lợi cho chúng ta để kiểm tra bảng liệt kê nầy và xem xét xem có phải có quá nhiều trong số những điều nầy đã ứng dụng cho chúng ta một cách quá kiên trì hay không. tất cả các tín hữu thỉnh thoảng đều sẽ có một vài điều trong số những điều liệt kê nầy, tuy nhiên họ không thực sự bị xem là tín đồ "xác thịt". Nhưng nếu có nhiều trong số những điều nầy là thực tại của bạn, thì tôi thành thực khuyên bạn hãy cân nhắc khả năng bạn có thể là một tín đồ xác thịt và cần phải xưng tội lỗi mình và kêu đòi quyền năng của Đức Thánh Linh để tẩy sạch và làm mới bạn.
NHỮNG TÍN ĐỒ XÁC THỊT.
... cãi lẫy và lý luận về tất cả mọi điều.
... tự cho mình là đúng và bảo vệ cho những hành động của mình.
... không thể tập trung vào những việc thuộc linh lâu dài.
... xúc cảm lên xuống thất thường.
... nhạy cảm quá mức.
... không cảm tạ trong mọi sự.
...... lo lắng.
...... hay nói, luôn luôn thích ở vị trí trung tâm mỗi cuộc chuyện trò và thường chi phối buổi nói chuyện.
...... chịu thua trước những ham muốn của mắt và luôn luôn mua các thứ.
...... có một sự chú trọng không cân đối về tình dục.
...... đời sống còn nghèo nàn.
...... không có kỷ luật.
...... dễ bị nản lòng.
...... khi phải giảng truyền, thì không thể nương dựa hoàn toàn vào Chúa, mà bài giảng của họ chứa đầy những sự minh họa những câu chuyện và những lời nói đùa.
...... kiêu ngạo, bởi vì bản ngã là trung tâm đời sống họ.
...... phát triển việc gây ra một sự xúc động mạnh mẽ, bởi vì họ không chắc rằng người ta sẽ được gây ấn tượng đúng đắn bởi họ nếu không làm như vậy.
......hay chỉ trích các anh em tín hữu.
...... có đời sống gia đình kém cõi.
...... hay khoe khoang.
...... tham dự vào những lời nói đùa hư không và có ý khêu gợi xấu.
...... không tiết độ trong việc ăn và uống.
...... tự cho phép mình thỏa thích trong việc chửi rủa và nói lời nhơ bẩn.
...... không có lòng khao khát Lời Chúa.
...... để cho sự ganh tị và sự giận dữ thắng hơn mình.
Phaolô tóm tắt vấn đề của các tín đồ xác thịt bằng câu nói "anh em há chẳng phải là tánh xác thịt ăn ở như người thế gian sao?" (3:3b)
Và đó là thảm kịch, bởi vì các tín đồ không giống như "người thế gian". "Người thế gian" thì không hoàn toàn ở chỗ đó. Họ chỉ có thân và hồn, còn linh của họ thì không hoạt động - nó đã chết. Nó không phải là những con người bình thường, nhưng họ không biết điều đó bởi vì tất cả những người khác mà họ biết thì cũng chỉ giống như họ mà thôi. Ngoại trừ những tín đồ thật là những người bước đi bởi đức tin, để cho tâm linh có một vai trò chính đáng trong việc cai trị đời sống mình. Đây là những con người "bình thường của thế gian" bởi vì đó là cách của Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người trong chỗ trước tiên, và cả con người lẫn Đức Chúa Trời đều không thực sự hạnh phúc cho đến khi người ấy được hồi phục.
TỔNG LƯỢC
Khi vấn đề tái sinh được dạy dỗ, thì nó cũng thường được liên hệ đến công việc của Đức Chúa Trời để ban sự sống mới cho những linh chết của loài người chúng ta và ban truyền Đức Thánh Linh để ngự trị trong chúng ta. Tôi mong rằng kể từ chương nầy bạn đã thấy được có nhiêu điều hơn là chỉ có điều nầy có liên can vào công việc hoàn toàn của sự tái sanh. Đó thật sự là công việc của Đức Chúa Trời để ban sự cân bằng và hài hòa cho toàn bộ con người một lần nữa. Linh của con người được đặt lại đúng chỗ cầm quyền trong đời sống chúng ta, và hồn với xác thịt mà đã từng không kiểm soát được bởi sự kềm chế bên trong nay dần dần được đưa trở lại dưới quyền tể trị của Đức Thánh Linh, là Đấng ngự trong tâm linh chúng ta.
Vì vậy, tái sanh có nghĩa là Đức Chúa Trời đã tạo dựng toàn bộ con người chúng ta trở lại và bởi sự kiện đó, đã trang bị cho chúng ta để sống đắc thắng trong đời nầy và sống vinh hiển với Ngài trong cõi đời đời.


ĐỊA VỊ MỚI
Bây giờ chúng ta đã đi đến chương cuối của sách. Dường như đúng là chúng ta nên kết thúc việc nghiên cứu về điều Chúa Giêxu đã làm cho con người bằng cách xem xét ĐỊA VỊ MỚI khó tin được mà sự hòa giải của Ngài đã ban cho chúng ta. Tôi tin rằng vấn đề nầy có rất ít tín hữu hiểu được và đó là lý do vì sao toàn thể Hội thánh ngày nay không có được sức sống và quyền năng của Hội thánh trong thế kỷ đầu tiên.
Trong vòng một trăm năm vừa qua một số sách đã xuất hiện và đã đề cập đến ý niệm nầy theo cách nầy hoặc cách khác. Địa vị mới của người tín đồ trong Đấng Christ đã tạo ra mối liên hệ khả dĩ và thân mật với Ngài, được gọi bằng nhiều tên như: Đời Sống Sâu Nhiệm Hơn, Một Đời Sống Lâu dài, Đời Sống Cao thượng, Đời sống đã bị Đóng Đinh, Đời Sống Trao đổi, Đời sống Đổ Đầy Thánh Linh, Đời Sống Đắc Thắng, Đời Sống Đức Tin Yên Nghỉ, Báp têm bằng Đức Thánh Linh, Làm một với Đấng Christ, và Hiệp Một với Christ.
Những tác giả như Jesse Penn Lewis, Ruth Paxson, Fritx Huegel, Charles Trumpull, E.W.Kenyon, Watchman Nee, Major I an Thomas, L.S.Chafer, Miles Stanford và Andrew Murray thuộc trong dòng những người mà ngòi bút của họ đã đem lại sự rõ ràng lớn lao và sự hiểu biết thấu đáo về những kết quả của những việc được giải phóng dành cho địa vị mới trong Đấng Christ của người tín đồ.
Tuy nhiên, dầu chúng ta có chọn để gọi điều đó bằng cái tên nào đi nữa, thì cũng có một sự ngờ vực nhỏ rằng có một đời sống sâu nhiệm lớn lao về thuộc linh, về quyền năng, về sự đắc thắng sẵn dành cho mọi kẻ tin, song thật sự chỉ có một số ít người kinh nghiệm được điều đó. Trong chương cuối cùng nầy chúng ta muốn xem xét đúng điều mà địa vị mới trong Christ của chúng ta là gì và vì sao đó là nền tảng dành cho đời sống Cơ đốc kiên trì và đắc thắng.
TÌM KIẾM SỰ SỐNG "SÂU NHIỆM" HƠN
Bạn không phải làm một người tin Chúa lâu năm trước khi khám phá được bằng kinh nghiệm cá nhân rằng việc làm một Cơ đốc nhân và sống như một Cơ đốc nhân thường là hai điều khác nhau. Như Phaolô trong Rôma đoạn 7 chúng ta khám phá thấy rằng mình muốn làm điều phải song cứ thường xuyên cuối cùng lại làm chính điều mình ghét.
Khi sự nhận biết về mối xung đột nầy trong bản tánh hai mặt của chúng ta đánh vào nhiều Cơ đốc nhân, họ đơn sơ chỉ không thích chống lại nó và chịu thua trước đời sống Cơ đốc trồi sụt và ở yên trong mức độ thuộc linh bình thường. Những người khác vốn tính là các chiến binh bắt đầu ra sức để tìm kiếm giải pháp ngõ hầu sống vượt lên trên sự lôi kéo của thế gian, xác thịt và ma quỷ.
Nhiều người trong số những linh hồn thật thà nầy đã bị dẫn dắt vào những cuộc hành hương kỳ lạ bởi những người có thiện chí, mong tìm kiếm sự sống "sâu nhiệm hơn" đó, chỉ ra đi với những câu trả lời không bền vững, và càng thêm thất vọng. Đó là bởi vì điều họ đang trông đợi không nằm ở một nơi chốn cao hơn hoặc sâu hơn hoặc ở một kinh nghiệm nào đó. Mà nằm trong một con người, đó là Chúa Giêxu Christ.
Sự sống sâu nhiệm hơn, cao trọng hơn, đắc thắng, lâu bền, trao đổi và đầy dẫy Thánh Linh không phải là một khát vọng của sự ước ao khó có thể hiểu được. Song đơn giản, đó là một vấn đề của việc sống từng giây phút trong sự nhận biết rằng bởi vì tôi đã hoàn toàn làm một với Chúa Jesus trong cái nhìn của Đức Chúa Trời, cho nên tất cả mọi sự Ngài Có, thì tôi Có. Sự đắc thắng của Ngài vượt qua tội lỗi là đắc thắng của tôi. Sự thánh khiết và không chỗ trách được của Ngài ở trước mặt Đức Chúa Cha thì cũng là của tôi vậy. Satan không còn quyền hành gì trên Ngài và hắn cũng không có quyền gì trên tôi. Ngài còn lớn hơn người đi chinh phục, và Phaolô cho tôi biết rằng tôi cũng vậy. Đấng Christ đã bị đóng đinh, bị chôn và được sống lại từ kẻ chết, và hiện nay đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Trong suy nghĩ của Đức Chúa Trời, mỗi một Cơ đốc nhân đã trãi qua những kinh nghiệm giống như vậy với Đấng Christ và hiện nay được ngồi ở trên trời trong Đấng Christ, bất kể việc thân thể vật chất của người đó hiện nay đang được đặt ở đâu trên đất nầy.
Nói cách khác, đơn vị mới của tôi trong Đấng Christ ban cho tôi một sự làm một hoàn toàn với Đấng Christ trong cái nhìn của Đức Chúa Trời. Đang khi Ngài nhìn xem Con Ngài thì Ngài cũng nhìn xem tôi trong cùng một cách ấy bởi vì Ngài thấy tôi trong Con Ngài và Con Ngài ở trong tôi. Nếu tôi lấy một mảnh giấy báo đầy bụi bậm và đặt vào giữa các trang giấy trong một quyển sách rồi đóng sách lại, thì tờ báo sẽ hoàn toàn được làm một với quyển sách và chúng ta không thể nào còn thấy nó nữa, chỉ thấy quyển sách mà thôi. Bởi vì Đấng Christ đã dời bỏ những vật cản phân cách Đức Chúa Trời với con người, cho nên kẻ nào đặt đức tin vào đó kể như điều đó đã được thực hiện cho riêng mình thì người ấy sẽ được "lồng vào" trong Đấng Christ và Đấng Christ ở trong người ấy. Điều trở thành sự thật cho Đấng Đy cũng trở thành sự thật cho người kia.
TẠI SAO TÔI KHÔNG THỂ SỐNG NHƯ TÔI VỐN LÀ TÔI?
Nếu bạn là một tín đồ thành thật thì có lẽ bây giờ bạn sẽ nói về mình như vầy "Phải, Đức Chúa Trời có thể bảo rằng tôi là thánh sạch, không chỗ trách được, đắc thắng tội lỗi và Satan bởi vì tôi được hiệp một với Đấng Christ, nhưng sao trong kinh nghiệm hằng ngày của tôi lại không thể hiện ra theo cách ấy. Phải có gì trục trặc ở đâu đó!"
Còn hơn cả khả năng có một điều trục trặc nào đó, mà phải là do một sự không hiểu biết về sự khác nhau giữa địa vị mới mẽ đời đời của bạn trong Đấng Christ và kinh nghiệm hằng ngày của bạn trong việc sống cuộc đời Cơ đốc. Một là bạn là gì trong sự đánh giá của Đức Chúa Trời, và điều kia bạn là gì trong sự thực hành.
Một sự phân biệt rõ ràng phải được làm ra giữa hai mối quan hệ đó, mà mỗi một người tin Chúa đều có được với Đấng Christ. Địa vị mới hoặc sự hiệp một của chúng ta với Đấng Christ là một tình trạng hợp pháp mà chúng ta có với Đức Chúa Trời, và nó trở thành sự thật hoàn toàn cho chúng ta ngay lúc chúng ta đặt đức tin cứu rỗi trong Đấng Christ và không bao giờ thay đổi. Nhưng việc sống đời sống Cơ đốc hàng ngày của chúng ta ở tại đây trong thế gian nầy là mặt kinh nghiệm của sự cứu chuộc, và nó đa dạng từng giây phút, lệ thuộc vào việc hoặc chúng ta có bước đi trong sự kiểm soát của Thánh Linh trên đời sống mình, hoặc để cho xác thịt cai trị mình.
NHỮNG ĐIỀU SỞ HỮU VÀ NHỮNG PHƯỚC HẠNH MỚI CỦA CHÚNG TA
Những kẻ tin Chúa là những người giầu nhất trong thành phố! Họ là những nhà tỉ phú thuộc linh, nếu như họ biết được điều đó. Phaolô cho chúng ta biết điều đó trong Êphêsô 1:3; rằng Đức Chúa Trời "đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời" Bây giờ, đó là điều để gây phấn khích, nhưng có nhiều tín hữu không biết điều đó. Họ thích có "những thứ phước thuộc thể ở tại đây trong những nơi thuộc về đất" hơn. Họ cảm thấy những điều đó hẳn sẽ thực tế và thiết thực hơn. Nhưng thái độ ấy biểu thị sự thật, đó là họ không hề thật sự được nhìn thấy "những kho tàng của chúng ta được chất chứa ở trên trời", bởi vì đó chính là chỗ chúng ta thật sự đang ở trong suy nghĩ của Đức Chúa Trời. Những gì chúng ta hiện có dưới trần thế nầy chỉ là tạm bợ và sẽ chỉ ích lợi cho chúng ta trong chốc lát rồi sau đó có người khác sẽ nhận lấy.
Một khi chúng ta đã được sanh lại, thì chúng ta hiện đang là những công dân trên trời và tồn tại đời đời. Chúng ta chỉ đang vượt qua ngang đây trên đất nầy và Đức Chúa Trời không muốn chúng ta ổn định và trở nên quá thoải mái và thỏa mãn.
Tiến sĩ Lewis Chafer, người thành lập Thần học Viện Dallas đã nghiên cứu xuyên suốt Kinh Thánh và đếm được ba mươi ba phước hạnh thuộc linh khác nhau đã trở thành sự thực hợp pháp thuộc về chúng ta ngay giây phút chúng ta tin Chúa. Những điều sở hữu và những đơn vị mới mẽ nầy được kể ngay tức khắc và đồng thời được kể là của chúng ta vào ngay giây phút ấy.
Trong các chương trước chúng ta đã xem xét một số những ơn phước thuộc linh ấy, đó là sự xưng nghĩa, sự tha thứ, sự tự do, sự tái sanh, bản tánh mới, được Đức Chúa Trời tiếp nhận, sự công bình mới, sự giải hòa, không còn bị đoán phạt, hòa thuận với Đức Chúa Trời, một chỗ đứng trong ân điển, và sự cứu chuộc. Có ít nhất là hơn hai mươi mốt những điều sở hữu đời đời đã được ban cho chúng ta gói ghém trong một mình sự cứu chuộc, và sự vui sướng rộn ràng của đời sống Cơ đốc nhân đó là khám phá ra đó là những gì và bắt đầu vui hưởng chúng tại đây và ngay bây giờ chứ không phải chẳng bao lâu nữa mới được hưởng.
HAI MỐI LIÊN HỆ CỦA CHÚNG TA VỚI ĐẤNG CHRIST
Tôi nghĩ rằng biểu đồ ở trang 264 sẽ giúp cho chúng ta có một cái nhìn rõ ràng hơn về hai mối liên hệ mà một tín đồ có được với Đấng Christ: mối liên hệ về địa vị và mối liên hệ về thực nghiệm của người ấy. Nói một cách khác đó là mối liên hệ đời đời và trần tục (liên quan đến đời sống trên đất của người tin Chúa) Tôi muốn bạn lưu ý cách đặc biệt đến những đặc điểm khác nhau giữa hai mối liên hệ nầy. Địa vị đời đời của chúng ta đã được kể cho chúng ta ngay giây phút cứu rỗi, không thể tiếp tục được sửa đổi, thêm bớt gì nữa và cũng không thể suy giảm theo bất cứ phương cách nào. Đó là sự đời đời.
Trong trường hợp điều đó chưa được rõ ràng hoàn toàn đối với bạn, thì điều Kinh Thánh đang phán đó là một khi bạn đã được sanh lại, bạn không bao giờ có thể đánh mất sự cứu rỗi của mình bởi vì địa vị đời đời nầy sẽ không bao giờ thôi là hiện thực của bạn. Kinh nghiệm cuộc sống trần tục có thể thay đổi từ ngày nầy sang ngày khác khi tội lỗi đến cùng đời sống bạn, song địa vị đời đời của bạn là một sự thật còn mãi mãi. Điều xảy đến với bạn hoặc trong bạn trong bước đi của bạn mỗi ngày với Đấng Christ không bao giờ có thể thay đổi một mảy may nào mối liên hệ đời đời của bạn với Đấng Christ.
Khi bạn được sinh ra trong một gia đình trên thế gian nầy bạn có thể là một người thành công hay thất bại trong phẩm hạnh của bạn, song bạn vẫn là một thành viên của gia đình ấy. Không thể kể rằng bạn không được sinh ra chỉ vì bạn chưa đạt đến những tiêu chuẩn của gia đình. Điều đó cũng giống như khi bạn được sinh ra trong gia đình của Đức Chúa Trời. bạn có thể bị kỷ luật vì phẩm hạnh, song bạn không thể bị từ bỏ.
Bạn hãy xem xét biểu đồ cách cẩn thận. Thập tự giá tượng trưng cho giây phút bạn tin vào sự chết thay của Đấng Christ cho bạn và được sanh lại. Vào ngay giây phút ấy, Đức Thánh Linh đặt bạn vào trong một mối liên hệ gia đình với Đấng Christ gồm có hai khía cạnh, cõi đời đời là khía cạnh không thấy được ở các nơi trên trời (nơi Đấng Christ ngự) và trần thế (thuộc về đất) đang khi bạn vẫn đang sống tại đây trên đất nầy.
Hành động đặt bạn vào trong Đấng Christ được gọi là "báp têm trong Thánh Linh" trong 12:13 "Vì chưng chúng ta hoặc người Giu đa hoặc người Gờ réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa". Phaolô cũng đã nói rằng khi chúng ta đặt lòng tin nơi Đấng Christ là chúng ta được làm nên "bởi thịt Ngài và bởi xương Ngài" (Eph Ep 5:30 Bản King James) Đây là sự hiệp một của chúng ta với Đấng Christ, và Phaolô ví sánh điều đó với sự làm một mà một người đàn ông và một người đàn bà bước vào trong hôn nhân. Trong cái nhìn của Đức Chúa Trời, điều đó là một sự thực mặc dầu phải tốn kém nhiều nước mắt và sự cầu nguyện để đem lại một sự làm một thực sự trong kinh nghiệm.
MỐI TƯƠNG GIAO TRẦN TỤC
Bởi mối tương giao trần tục của chúng ta với Đức Chúa Trời theo bất cứ cách nào tôi không có ý nói là "tạm thời". Trần tục đây chỉ có nghĩa là mối tương giao ấy có liên quan đến thời gian, không gian và như vậy liên hệ đến mối tương giao hàng ngày chúng ta kinh nghiệm với Đấng Christ. Ngay lúc chúng ta được sanh lại, không những chúng ta được đặt vào trong Đấng Christ, mà Ngài cũng được đặt vào trong chúng ta nữa, vào trong tâm linh được khôi phục của chúng ta, và chúng ta trở nên sống động về mặt tâm linh. Sự ngự trị của Ngài trong chúng là để trang bị cho chúng ta để sống tại đây trong đời nầy cho đến khi Ngài đến đem chúng ta đi hoặc là khi chúng ta trở về nhà qua sự chết. Ngài đặt Đức Thánh Linh trong chúng ta để ban quyền năng cho chúng ta hầu sống loại đời sống mà Ngài muốn dành cho chúng ta.
Địa vị và những Quyền Sở Hữu Đời Đời
Những Đặc Điểm:
1) Không kinh nghiệm theo cảm xúc
2) Không được ban cho theo mức độ tăng dần
3) Không được ban cho trên cơ sở công lao xứng đáng của con người
4) Được ban cho trong lúc nầy và cả đời đời ngay lúc cứu rỗi
5) Chỉ được nhận biết bởi sự bày tỏ thiên thượng
6) Chỉ có một mình Đức Chúa Trời mới đem lại những điều đó, mà không cần sự giúp đỡ của con người
7) Mối liên hệ nầy là hoàn toàn có thật của kẻ tin nhưng chỉ thấy được đối với Đức Chúa Trời.
NHỮNG KINH NGHIỆM TRẦN TỤC (Thuộc về Đất)
Điểm Cứu rỗi
Những Đặc Điểm:
1) Liên hệ đến bước đi của kẻ tin đang khi vẫn còn ở trên đất
2) Các nan hoa tượng trưng cho điều sẽ trở thành sự thực trong đời sống của kẻ tin khi người ấy lệ thuộc vào Đức Thánh Linh
3) Mối liên hệ nầy ảnh hưởng đến tâm trí, tình cảm và thân thể của chúng ta
4) Những kinh nghiệm nầy tằng trưởng khi kẻ tin Chúa trưởng thành trong Lời Chúa và trong đức tin
5) Tội lỗi không được xưng ra sẽ che khuất sự biểu lộ của các đặc điểm tin kính nầy
6) Sự xưng tội và một bước đi được làm mới lại trong Thánh Linh sẽ phục hồi lại những điều đó.
7) Mối liên hệ nầy cả Đức Chúa Trời lẫn con người đều có thể nhìn thấy được
Trong vòng tròn trên dưới của biểu đồ tôi đã bày tỏ chỉ một số những đặc điểm mới mẽ có thể được trông mong trong đời sống của một người tin Chúa là người đầu phục việc ban năng quyền của Đấng Christ qua Đức Thánh Linh. Khi chúng ta chịu thua trước sự cám dỗ, và sau đó, phạm tội, thì Đấng Christ không lìa bỏ chúng ta nhưng xác thịt hay là con người cũ thế chỗ Đấng Christ như là thế lực kiểm soát trong đời sống. Nếu chúng ta cứ ở trong tình trạng ấy một thời gian kéo dài bao lâu mà không xử lý điều đó như là tội lỗi và xây bỏ nó, thì chúng ta sẽ trở thành những tín đồ xác thịt. Nhưng nếu bằng lòng xưng tội mình và một lần nữa uỷ quyền cho Đấng Christ kiểm soát thì sẽ khôi phục lại mối tương giao của chúng ta với Ngài.
Với những điều ấy trong tâm trí, bây giờ bạn hãy để thì giờ để xem xét biểu đồ. hãy lưu ý đặc biệt tánh chất đời đời và vững bền của địa vị chúng ta trong Đấng Christ. Bạn cũng sẽ thấy rằng đang khi chúng ta vẫn còn ở trên đất nầy, thì Đấng Christ hiện đang là trung tâm đời sống chúng ta, nhưng chính Đức Thánh Linh Đấng đưa Ngài vào đó khi chúng ta bước đi trong sự lệ thuộc hoàn toàn vào Ngài để làm điều đó.
TÔI LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHIẾN "ĐỊA VỊ" CỦA MÌNH TRỞ THÀNH "KINH NGHIỆM"?
Khi Đức Chúa Trời hoạch định sự hòa giải cho con người, thì rõ ràng là Ngài không định cho chúng ta được nên thánh và đắc thắng trong "địa vị" của chúng ta, mà lại yếu đuối và thất bại trong "kinh nghiệm" của mình. Kế hoạch của Ngài luôn luôn là để cho địa vị và kinh nghiệm của chúng ta đều được đưa đến chỗ phụ họa lẫn nhau. Nhưng điều nầy chỉ có thể xảy ra bởi việc chúng ta khám phá ra Cha thiên thượng của chúng ta tuyệt vời như thế nào và điều mà Ngài đã tạo thành chúng ta là gì bởi cớ sự hiệp một của chúng ta với Đấng Christ trong sự chết, sự chôn, sự sống lại và sự thăng thiên của Ngài đến bên hữu Đức Chúa Cha.
Trong liên hệ nầy, tôi luôn luôn nghĩ đến một câu chuyện mà tôi đã một lần được nghe, tương tự như câu chuyện Hoàng Tử và Người Nghèo Khó của Mark Twain, là câu chuyện mô tả cách đẹp đẽ vấn đề nầy.
Một ngày kia Nhà Vua và Hoàng Hậu của một xứ sở xa xôi nọ đang đưa vị Hoàng Tử bé nhỏ mới sinh của họ từ bệnh viện hoàng gia trở về nhà thì cỗ xe của họ đã đâm phải chiếc xe kéo của một người nghèo khó. Trong chiếc xe khiêm nhường nầy, người đàn ông nghèo khổ đang đưa vợ mình và đứa bé mới sinh từ nhà mụ đỡ trở về nhà, trong giây phút bối rối, hai cặp vợ chồng đã nhặt lầm hai đứa bé bởi sự nhầm lẫn đó, vị Hoàng Tử bé nhỏ đã được đưa về nhà và được vợ chồng người đàn ông nghèo khó nuôi nấng.
Khi đứa bé ấy lớn lên đến tuổi thiếu nhi, nó bị buộc phải đi ăn xin trên các đường phố. Dĩ nhiên, nó không hề biết rằng chính những con đường mà nó đang hành khất đều thuộc về nó bởi vì chúng là tài sản của người cha thật sự của nó. Ngày nầy sang ngày kia, rồi nó sẽ đi đến cung điện và nhìn qua hàng rào sắt để thấy một cậu bé đang chơi đùa ở đấy và nó hẳn sẽ tự nhủ "Ôi, ước gì ta được làm một Hoàng Tử thôi" Dĩ nhiên, cậu đang có được điều đó, nhưng cậu ta đã không biết sự thật.
Suốt đời mình, cậu ta đã sống trong nghèo khổ và thiếu thốn bởi vì cậu không biết mình thật sự là ai, bởi vì cậu đã không biết "ai" đã là cha mình.
CÁC TÍN ĐỒ SỐNG GIỐNG NHƯ NHỮNG NGƯỜI NGHÈO THUỘC LINH
Nhưng bạn có biết rằng hằng triệu tín đồ thật đang làm một điều giống như vậy không? Họ không bao giờ để thì giờ để tìm xem "ai" thật sự là Cha của họ, Ngài là Vua của muôn Vua và Chúa của các chúa. Họ không nhận biết mình là người thừa kế ngai vàng của hoàng cung. Họ đang sống trong sự nghèo nàn thuộc linh do họ tự áp đặt cho mình và đang lừa dối chính mình về kinh nghiệm của những sự giàu có trong ân điển Đức Chúa Trời. Tôi nói "kinh nghiệm" của họ là bởi vì sự giàu có là của họ dầu họ có hưởng lấy hay không.
Cách đây không lâu tôi được đọc câu chuyện về một người đàn ông sống như một kẻ ăn xin lang thang suốt nhiều năm. Ông ta được để lại một số tiền khổng lồ, nhưng các nhà cầm quyền đã không thể tìm được ông. Họ lần theo dấu vết ông từ quán trọ nầy sang quán trọ kia và cuối cùng đã tìm thấy ông ta nằm ngủ trên một cái chõng năm mười xu một đêm trong một hội cứu trợ. Sau đó ông đã được cho biết quyền thừa kế của mình. Ông đã giầu có trong suốt nhiều năm nhưng đã không hề hay biết điều đó. Ông đã sống như một kẻ lang thang cực khổ một cách vô ích.
Khi đọc điều đó tôi đã thầm nghĩ "Thật là những năm tháng phí uổng" Và đó cũng chính là cảm giác của tôi khi tôi suy nghĩ về tất cả những năm tháng phước hạnh và hầu việc Chúa đã bị bỏ phí, đều đã bị đổ sông đổ biển bởi vì "những kẻ tin Chúa" đều là "những kẻ không tin" khi đến lúc phải nắm lấy Chúa ở nơi Lời Ngài khi Ngài bảo họ là ai bởi vì họ thuộc về ai.
Khi chúng ta không sống được như theo thực tế của địa vị mới của mình, hàng ngày kinh nghiệm sự tha thứ, sự tự do, sự tiếp nhận và được ban quyền năng của Thánh Linh (chỉ nêu tên một vài sự giàu có về thuộc linh của chúng ta) là chúng ta đã lừa dối không chỉ một mình Đức Chúa Trời, nhưng cả đến chính chúng ta và những người mà chúng ta đã đụng đến cuộc sống họ, là những người hết sức cần được nhìn thấy sự thực hữu của Đức Chúa Trời trong đời sống một con người.
"ĐỊA VỊ" CỦA CHÚNG TA LÀ CƠ SỞ CỦA MỌI CHIẾN THẮNG
Tôi đã nói ở phần đầu chương nầy rằng sự hiểu biết và tin cậy vào địa vị mới của chúng ta trong Đấng Christ là cơ sở của tất cả nếp sống Cơ đốc đắc thắng và kiên trì. Vì sao tôi nói như vậy?
Bởi vì không có cách nào khác để được giải phóng khỏi quyền lực của Luật pháp, bản tánh tội lỗi và quỷ Satan. Trong Rôma đoạn 1-5 Phaolô đã phô bày công lao cứu chuộc của Đấng Christ và tỏ cho chúng ta thấy rằng đó là giải pháp của chúng ta cho hình phạt của tội lỗi. Nhưng trong các đoạn 6-8 chúng ta thấy việc chúng ta làm một hoàn toàn với Đấng Christ trong sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài và khám phá ra rằng đó là phương cách để đắc thắng quyền lực của tội lỗi.
Nếu quyền lực của tội lỗi không được xử lý trong đời sống chúng ta, thì chúng ta sẽ trở thành những nạn nhân tuyệt vọng trước những mưu kế của quỷ Satan và của những ham muốn của xác thịt mình, mặc dầu chúng ta đã được sanh lại. Sẽ không có hy vọng được giải phóng khỏi sự chán nản, thất bại, ngã lòng, tuyệt vọng và nghi ngờ.
Nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời, kế hoạch của Ngài dành cho sự cứu rỗi hoàn toàn của chúng ta gồm cả phương cách để chiến thắng quyền lực của tội lỗi và đó là việc chúng ta đồng chịu đóng đinh và đồng sống lại với Đức Chúa Giê xu Christ
NGƯỜI CŨ ĐÃ CHẾT! THẬT LÀ THOÁT NỢ
Trong chương thứ mười sáu, là chương nói về sự Tự do, tôi đã kể một câu chuyện ngụ ngôn được phóng đại theo điều Phao lô đã dùng trong Rô ma 7: 1-4. Chuyện kể về một người thiếu phụ, đã kết hôn với một nhà chuyên chế cầu toàn, là người không bao giờ thỏa mãn những đòi hỏi của ông ta nhằm đạt tới sự hoàn hảo. Vì vậy, cô ta đã phải sống dưới sự đoán phạt không ngừng. Cuối cùng cô ta đã gặp một người có mọi sự chồng mình có trong sự toàn hảo, nhưng người này đầy lòng yêu thương và quan tâm đến cô. Cô ta muốn được kết hợp với ông ta, nhưng luật pháp bảo rằng cô ta sẽ trở thành một người phạm tội ngoại tình nếu từ bỏ chồng mình. Cô ta có thể được giải phóng khòi ông chồng độc đoán nếu như ông ta chết đi, nhưng ông ta vẫn còn mạnh khỏe hoàn toàn, vì vậy một giải pháp khác duy nhất đó là cô ta phải chết, nhờ đó thực hiện được một sự phân rẽ hợp pháp khỏi ông chồng mình. Sau đó, cô sẽ được tự do để kết hôn với bất cứ ai mà cô ta chọn. Vì vậy mà cô đã cho phép người yêu mới của mình làm cho cô ta chết và sau đó khiến cô sống lại và kết hợp với ông ta trong hôn nhân.
Câu chuyện ngụ ngôn ấy là một sự ứng dụng tuyệt vời về các lẽ thật được dạy trong Roma đoạn 6,7 và đoạn 8. Khi bạn hiểu được điều tượng trưng cho các nhân vật trong ngụ ngôn, thì hình ảnh về việc bạn được liên hiệp với Ngài trong sự chết, sự chôn và sự sống lại của Ngài sẽ bắt đầu được mở ra, và bạn sẽ hiểu được thập tự giá đã giải phóng bạn như thế nào.
Người chồng độc tài đại diện cho luật pháp song cũng được ứng dụng cả cho bản tánh tội lỗi và Satan - Người thiếu phụ là bạn, kẻ tin Chúa - Còn người "Đàn ông kia" là Chúa Giê xu.
Luật pháp, tội lỗi và Satan sẽ không bao giờ chết theo cách mối liên hệ của chúng với chúng ta ở tại đây trong cuộc đời này. Vì vậy giải pháp mà Đức Chúa Trời đã đem đến đó là phải chịu đóng đinh với Chúa Giê xu, nhờ đó bẻ gãy mối quan hệ của chúng ta với những nhà độc tài ấy một cách hợp pháp. Sau đó khi Chúa Giê xu đã sống lại từ kẻ chết, bởi vì trong tâm trí của Đức Chúa Trời, chúng ta cũng đã ở đó tại trong phần mộ với Ngài, nên chúng ta cũng được sống lại trong một sự sống mới, giống như sự sống Chúa Giê xu hiện đang sống, một sự sống chiến thắng hoàn toàn những kẻ thù của linh hồn chúng ta.
Trên cơ sở việc cắt đứt mối liên hệ hợp pháp ấy, quyền hành của bản tánh cũ, của luật pháp và của Satan sẽ mãi mãi bị bẻ gãy đối với chúng ta. Trong chừng mực những điều này có ảnh hưởng đến với chúng ta, thì chúng ta kể như đã chết đối với chúng. Chúng không thể đụng đến chúng ta cách hợp pháp dù chỉ một giây, trừ phi chúng ta không nhận biết và đòi hỏi quyền tự do của chúng ta trong Đấng Christ.
RA KHỎI ADAM, VÀO TRONG ĐẤNG CHRIST.
Được ở trong sự hiệp nhất hoàn toàn với Đấng Christ là được đem ra khỏi mối liên hệ hợp pháp của chúng ta với Adam thứ nhất và sự phá sản của ông ta và được đặt vào trong mối liên hệ với Adam sau cùng, tức là Chúa Giê xu và vì vậy trở nên kẻ dự phần mọi điều Ngài có. Cả Adam và Đấng Christ đều bày tỏ một nguyên tắc cho thấy nhiều người có thể bị ảnh hưởng tốt hoặc xấu do hành động của một người.
Trong Roma 5: 12-21 bày tỏ sự tương tự ấy giữa Adam và Đấng Christ - Sự hỗn loạn mà Adam đã đưa con người vào và phương cách mà bởi đó Đấng Christ đã đưa chúng ta ra khỏi đó. Ông nói tội lỗi đã vào trong dòng dõi loài người qua Adam, nhưng chúng ta đã được tha thứ tội lỗi nhờ Đấng Christ. Sự chết đến bởi sự quá phạm của Adam, nhưng sự sống đã đến với chúng ta bởi sự vâng phục của Đấng Christ. Mối quan hệ của chúng ta với Adam thứ nhất khiến chúng ta chết mất trong tội lỗi, nhưng sự đóng đinh của chúng ta với Đấng Christ làm cho chúng ta chết đối với tội lỗi - Sự nên một của chúng ta với Đấng Christ hoàn toàn dời bỏ hậu quả của việc chúng ta làm một với Adam.
Khi chúng ta sanh lại, phép báp têm của Đức Thánh Linh chính là chức vụ của Đức Thánh linh để đem chúng ta ra khỏi Adam và đưa chúng ta vào trong sự hiệp một với Đấng Christ. Thật ra, chữ báp tem có nghĩa là đồng nhất hóa một điều này với một điều kia. Đó là chữ của người Hy lạp baptizo, và nó chưa hề ngay cả được dịch sang tiếng Anh từ nguyên ngữ Hy lạp, nó chỉ được chuyển ngữ (có nghĩa là xử dụng ngữ âm của một từ ngoại quốc và làm thành một chữ trong tiếng Anh) nếu chúng ta phải phiên dịch chữ baptizo sang nghĩa tương đương của nó trong tiếng Anh, thì phải dịch là chữ "Sự nên một". Vì vậy, mỗi khi bạn đọc thấy chữ được báp tem trong Kinh Thánh, thì bạn có thề thay thế trong trí mình bằng chữ được nên một với... và bạn sẽ hiểu được rõ hơn ý nghĩa thực sự của chữ này là chữ mà đôi khi đã bị hiểu lầm
NGÀI ĐÃ CHẾT VÌ TÔI LÀ "AI", VÀ TÔI ĐÃ "LÀM GÌ"
Trong những chương đầu của sách này, chúng ta đã học biết rằng Đấng Christ đã mang tội lỗi chúng ta đang khi Ngài chịu treo trên thập giá. Trong khi làm điều đó Ngài đã xử đoán những việc làm tội lỗi của chúng ta và đã loại bỏ chúng như là một vật cản đối với Đức Chúa Trời. Nhưng bây giờ chúng ta hiểu rằng không những chỉ có những tội lỗi của chúng ta chất trên Đấng Christ đang khi Ngài chịu treo trên thập giá, song vì chúng ta cũng đã hoàn toàn hiệp làm một (được báp tem) với Đấng Christ trong tâm trí của Đức Chúa Trời, cho nên chính mình chúng ta cũng đang chịu treo ở đó trên thập tự giá với Ngài.
Bởi việc đưa chúng ta lên thập tự giá với Ngài và rồi đưa vào phần mộ, Ngài đã mãi mãi làm chết chẳng những các việc làm tội lỗi của chúng ta, mà còn cả đến những bản ngã phạm tội của chúng ta, vì vậy không những loại bỏ điều chúng ta đã làm, mà còn loại bỏ bản chất quá khứ của chúng ta (thù địch cùng Đức Chúa Trời, không công bình vv...) như là một vật cản giữa chính chúng ta với Đức Chúa Trời. Ngài đã cung ứng sự tha thứ cho điều chúng ta đã làm và sự giải phóng khỏi bản tánh mà con người chúng ta có.
Bây giờ, không những các tội lỗi của tôi đã không còn chống nghịch Đức Chúa Trời, mà cả con người của chính tôi cũng không còn chống nghịch Ngài nữa. Tôi dư sức được Đức Chúa Cha tiếp nhận vì cớ sự hiệp nhất của tôi với Đấng Christ, trong tâm trí của Ngài, Ngài nhìn thấy tôi thật sự ngồi được trên Thiên Đàng ở trong đấng Christ Phao lô đã nhân mạnh điều này khi ông viết "Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Giê xu Christ" (Ê-phê-sô 2: 4-6)
ĐỒNG NHẤT HÓA VỚI ĐẤNG CHRIST TỪ THẬP TỰ GIÁ ĐẾN NGAI VUA
Chìa khóa mở lẽ thật ẩn giấu về việc giải phóng chúng ta khỏi quyền lực của Satan và bản tánh tội lỗi chính là một giới từ nhỏ: "với". Chúng ta đã chết với Đấng Christ, đã được chôn với Ngài, được sống lại với Ngài, được ngồi với Ngài, và cuối cùng đồng trị với Ngài (RoRm 6:13 CoCl 3:13, KhKh 20:6). Và một người tin Chúa, toàn bộ nền tảng của chúng ta để đắc thắng đó là luôn chuyên chú vào sự kiện sự chết, sự chôn, sự sống lại và sự thăng thiên của Chúa Giê xu đã giáng một đòn chí tử vào sự thống trị của Satan và tội lỗi. Nếu bạn không hiểu được những lẽ thật nào trong Kinh Thánh ngoài những lẽ thật này và hiểu thấu trọn vẹn sự đồng nhất hóa hoàn toàn của bạn với đấng Christ trong sự đắc thắng này, bạn đã được trang bị để sống đắc thắng quỷ Satan đắc thắng những cám dỗ và những lôi cuốn không ngừng của xác thịt
KHÔNG CẦN PHẢI BỊ ĐÓNG ĐINH HẰNG NGÀY: MỘT LẦN LÀ ĐỦ CẢ
Trong một câu đẹp đẽ, bao gồm trọn vẹn ở trong GaGl 2:20, Phao lô đã tóm tắt tính cuối cùng và mục đích của việc chúng ta bị đóng đinh với Đấng Christ mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi, nay tôi còn sống trong xác thịt mình ấy là tôi sống trong Đức Tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi".
Bạn hãy lưu ý rằng Phao lô thận trọng chỉ cho thấy rằng việc chúng ta bị đóng đinh với Đấng Christ là một sự kiện đã xảy ra rồi, chứ không phải là điều mà tôi phải tự mình thực hiện mỗi ngày hay là phải cố gắng để được Đấng Christ thực hiện ở một điểm nào đó trong đời sống Cơ Đốc nhân của tôi Trong Rôma đoạn 6, mỗi lần Phao lô nói đến việc đồng nhất hóa của chúng ta với Đấng Christ trong sự chết của Ngài, ông đã dùng động từ quá khứ như: "chúng ta đã được chôn với Ngài" (câu 4) "chúng ta đã làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài" (câu 5) "Người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh" (câu 6) "chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ". (câu 8)
Sau đó Phao lô thực hiện một lời tuyên bố mạnh mẽ trong Rô ma 6: 9-11 rằng trên cơ sở của việc chúng ta đã bị đóng đinh với Đấng Christ, chính mình chúng ta cũng đã thật sự chết đối với quyền lực của tội lỗi cũng như Chúa Giêxu vậy, bởi vì chiến thắng của Ngài trên tội lỗi cũng là chiến thắng của chúng ta. Rõ ràng là diễn tiến không cần phải nói ra, đó là nếu chúng ta không để cho việc mình được đồng nhất hóa với Đấng Christ trong sự chết và sự sống lại của Ngài trở thành một sự thực đối với chúng ta, thì chúng ta cũng sẽ không thấy rằng chiến thắng của Đấng Christ là chiến thắng của chúng ta và kết quả dẫn đến là chúng ta cũng sẽ không nhận ra chính sự chết của mình đối với quyền lực của tội lỗi trong đời sống hằng ngày. Chúng ta sẽ dũng cảm chống lại sự cám dỗ vì cớ lòng mong muốn thật sự không thích phạm tội, nhưng đã không biết rằng chúng ta có những nền tảng hợp pháp để đòi hỏi sự bất khả xâm phạm hoàn toàn đối với quyền lực của tội lỗi, cuối cùng chúng ta sẽ kiệt quệ trong sự chống đỡ rồi chịu thua và phạm tội.
CHÚNG TA ĐÃ CHỊU CHẾT ĐỂ ĐƯỢC SỐNG!
Biết được rằng chúng ta đã được làm cho chết đối với tội lỗi chỉ mới là một nữa thông tin cần thiết để dẫn chúng ta đến đời sống. Cơ Đốc đắc thắng hàng ngày. Nữa còn lại của việc đồng chịu đóng đinh đó là chúng ta đã được làm cho sống với Đấng Christ ngõ hầu kinh nghiệm được sự mới mẽ giống nhau của sự sống vốn là của ngài. Điều nầy được gọi là "sự sống lại" và nó hoàn toàn thoát khỏi bất cứ sự thống trị nào của Satan, tội lỗi, bản ngã, xác thịt hoặc Luật pháp của Đức Chúa Trời.
Trong RoRm 6:11 khuyên giục các tín đồ "hãy coi mình như chết đối với tội lỗi và như sống cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giêxu Christ". Nói câu đó với lời tuyên bố của ông trong GaGl 2:20 rằng ông đã bị "đóng đinh với Đấng Christ" mà vẫn sống, chúng ta thấy như nó là một sự mâu thuẫn. Làm thế nào bạn có thể vừa chết lại vừa sống trong cùng một lúc? Câu trả lời được tìm thấy trong cùng câu Kinh Thánh ấy: "Mà tôi sống không phải là tôi sống nữa nhưng Đấng Christ sống trong tôi, nay tôi còn sống trong xác thịt ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời" Chúng ta được coi là chết với quyền lực của tội lỗi một cách hợp lý song điều đó chỉ trở thành một thực tại trong đời sống chúng ta khi chúng ta coi đó là một việc có thật và bởi đức tin nhờ cậy Đấng Christ để sống cuộc đời của Ngài trong chúng ta và qua chúng ta.
TẠI SAO NHỮNG LẼ THẬT "ĐỒNG ĐÓNG ĐINH" LẠI KHÓ NẮM BẮT?
Tôi không hề có ảo tưởng rằng mọi người khi đã đọc đến những chữ trong chương cuối cùng quan trọng nầy đều hiểu được sự sâu nhiệm của những lẽ thật đó. Từ trước đến nay gần 2000 năm qua, những lẽ thật về sự giải phóng nầy đã được làm nổi bật trong những sự dạy dỗ của Phaolô, đặc biệt trong Rôma đoạn 6, 7, 8, trong Galati và Côlôse; tuy nhiên có rất ít tín đồ lĩnh hội được sự thực hữu của chúng trong kinh nghiệm hàng ngày để xử lý với những cám dỗ và những tham muốn của xác thịt.
Vì sao vậy?
Tôi tin rằng có nhiều lý do - Trước hết, như phần đông các tín đồ đều ưa thích điều đó, không có những con đường tắt cho việc trưởng thành về mặt tình cảm và về mặt thuộc thể. Thời gian và sự từng trãi trong những thử rèn và những thất bại sẽ chuẩn bị chúng ta tiếp nhận những lẽ thật sâu nhiệm nầy. Nếu chúng ta có bất cứ một ý tưởng nào đó cho rằng chúng ta cũng có thể ít ra tự mình làm được một điều nhỏ nhoi nào đó để cải thiện tình trạng của mình trước mặt Đức Chúa Trời và tự mình làm cho mình được mạnh mẽ để chống lại quyền lực của tội lỗi, thì chúng ta sẽ bỏ mất giải pháp của Đức Chúa Trời. Tôi không thể nào bắt đầu để mà kể cho bạn vô số những tín đồ mà tôi đã biết, trong đó có cả chính tôi, là những người không biết mình đã đồng được đóng đinh với Đấng Christ, sắp đặt ra những chương trình thật khắt khe về việc học Kinh Thánh, cầu nguyện, tìm cách để bước đi trong Thánh Linh, làm chứng, học thuộc Kinh Thánh và đủ thứ việc lành khác, đủ thứ các hoạt động tôn giáo nhằm tự mình tăng cường nổ lực chống lại quyền lực của tội lỗi và quỷ Satan.
Hầu như trong mỗi một trường hợp, các kết quả đều giống nhau. Thoạt đầu, nó xem ra dường như cũng có ích nhưng dần dần đều được thực hiện với một ý thức vui mừng và nhiệt tình đã bắt đầu trở thành một nghi thức miễn cưỡng và thuộc về luật pháp. Khi tất cả những việc làm thuộc linh tốt đẹp ấy thất bại để giữ chúng ta khỏi đầu hàng quyền lực của tội lỗi, thì chúng ta bị dẫn đến chỗ thất vọng. Và đó là chỗ mà rất nhiều tín đồ đã trãi qua hầu hết cuộc đời Cơ Đốc Nhân của họ, với một sự thất vọng và nản lòng ý thức được hoặc không ý thức bởi vì họ biết họ đã cố gắng làm theo những nguyên tắc mà những mục sư và những người bạn thành thật đã đề nghị song chúng ta đã chẳng kết quả.
Nếu bạn đã đi đến chỗ hiểu được rằng bạn không còn một kế hoạch nào nữa để thực hiện hầu sống đời sống đắc thắng tội lỗi và con người cũ của mình nữa, thì có một trong ba điều bạn có thể làm:(1) buông mình vào sự thất bại và sống thoải mái trong xác thịt mà không cần làm ra vẻ tin kính hay thuộc linh (2) hoặc là miễn cưỡng đi đến kết luận rằng không hề có một sự đắc thắng thật sự nào cả sẵn dành cho chúng ta ngoài việc cố gắng duy trì bề ngoài thuộc linh sao cho không trở thành một bằng chứng tồi tệ cho ngững người khác, (3) hoặc là cảm tạ Đức Chúa Trời vì sau cùng Ngài đã mặc khải con đường dẫn đến đời sống Cơ đốc đắc thắng cho bạn, là con đường cùng chịu đóng đinh với Đấng Christ trước quyền lực của tội lỗi, và bắt đầu hàng ngày kể đó là một sự kiện có thật trong đời sống bạn - Chỉ lúc đó, sự sống phục sinh của Đấng Christ - tức sự sống đổ đầy Thánh Linh - mới được phát lộ một cách kiên trì qua bạn. và chỉ lúc ấy bạn mới có thể nói không đối với sự cám dỗ và đầu phục con người mới của bạn cho Đức Chúa Trời và hoàn toàn trông chờ được giải phóng khỏi quyền lực của tội lỗi.
CÁC TÍN HỮU CẦN Ý THỨC VỀ "CON"
Một lý do khác khiến cho vì sao các tín hữu không nắm bắt được thật tế họ đã được giải phóng khỏi quyền lực tội lỗi là bởi vì có quá nhiều sự rao giảng và dạy dỗ ngày nay tập trung quanh sự phạm tội của chúng ta mà không xoay quanh sự tha thứ của Đấng Christ. Nếu chúng ta không ngừng ý thức về tội, thì chúng ta không thể ý thức về Con Người. Sự ý thức về tội lỗi chỉ dẫn chúng ta đến chỗ tự định tội mình và tự nổ lực để đắc thắng tội lỗi. Nhưng tiếp tục ý thức về Con nhắc nhở chúng ta về tình yêu thương và sự tiếp nhận của Đức Chúa Trời đối với chúng ta và sự tha thứ khiến Ngài đã hy sinh tại thập tự giá.
Chúng ta hãy nhìn một cách thực tế vào khái niệm nầy. Hầu như mỗi một tín hữu đều có một lãnh vực nào đó trong đời sống mình là chỗ mà người ấy cảm biết Chúa muốn mình phải thay đổi. Nó có thể là một thói quen không phù hợp với lời chứng của một Cơ Đốc Nhân hoặc đó có thể là một thái độ cay đắng, ghen ghét hoặc tham muốn ở bên trong. Chúng ta đã mất nhiều thì giờ để tự tố cáo lại mình và tức giận vì bất lực để từ bỏ tội lỗi ấy. Thật ra, chúng ta đã bị thu hút quá đáng vào vấn đề của mình đến nổi còn ít ỏi thì giờ để mà tập trung vào Đấng Giải quyết vấn đề, là Chúa Giêxu. Và bởi vì chúng ta đã bị tiêu hao bởi ý thức về việc chúng ta đã phạm tội và thất tín như thế nào nên chúng ta không biết cảm thụ được sự tha thứ và sự thành tín Đức Chúa Trời đến cùng chúng ta. Sự ý thức về tội lỗi của mình sẽ luôn luôn dẫn chúng ta đến một thứ nổ lực nào đó của con người nhằm thay đổi cách cư xử của chúng ta và con đường đó bắt buộc phải thất bại bởi vì đó chẳng qua là xác thịt tìm cách để thay đổi chính nó.
Vậy thì cách giải quyết là gì để áp dụng công lao của thập tự giá vào đời sống hàng ngày của mình? Làm thế nào để chúng ta có thể không ngừng được nhắc nhở mình đã chết đối với tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời? Và những kết quả thực tế mà chúng ta có thể trông đợi trong đời sống mình là gì khi chúng ta bước đi bởi đức tin, cùng với sự sống phục sinh của Đấng Christ bày tỏ chính sự sống ấy qua những tình cảm và tâm tánh của chúng ta?
CHỈ CÓ TÂM TRÍ ĐƯỢC ĐỔI MỚI MỚI CÓ THỂ HIỂU THẤU NHỮNG LẼ THẬT VỀ SỰ ĐỒNG ĐÓNG ĐINH NẦY
Khi bạn đến trong gia đình Đức Chúa Trời bởi sự sanh lại, thì bạn cũng mang theo với mình sự tích lũy về những thái độ, tâm tánh, quan điểm, những mặc cảm, và những kinh nghiệm có lẽ của những năm bạn sống không có Đấng Christ và ảnh hưởng của Ngài. Tất cả những thể ấy đã kết hợp lại để khiến bạn trở thành con người hiện tại của bạn. Bây giờ đột nhiên, Kinh Thánh bảo bạn rằng bạn nay là một "tạo vật mới" trong Đấng Christ. "Con người cũ đã qua đi, nầy, người mới đã đến". Đức Chúa Trời không phán rằng nay Ngài xem bạn là "thánh sạch và không chỗ tránh được" dưới mắt Ngài bởi vì bạn đã được dấu ở trong Đấng Christ" và mọi điều Ngài nhìn thấy đều là Chúa Giêxu (IICo 2Cr 5:17, CoCl 1:22, 3:3)
Câu hỏi hiện nay là, làm thế nào để bạn khiến cho điều Đức Chúa Trời phán về bạn trở nên thực hữu trong tâm trí mình, hơn là điều bạn biết về chính mình trên cơ sở của những thành tích trong quá khứ. Nếu bạn biết trong mình chẳng có gì thánh khiết và thậm chí có một số lầm lỗi mà bạn không thể tha thứ cho chính mình, thì hãy tiếp nhận sự tha thứ của Đức Chúa Trời dành cho bạn.
Chỉ có một câu trả lời mà thôi. Bạn phải có một tâm trí được dội sạch khỏi một sự cảm biết còn mơ hồ về đời sống của con người cũ và một cái nhìn mới hoàn toàn về chính mình khi được đặt trong chỗ của nó. Bạn phải có một tâm trí được làm mới lại trước khi tâm tánh của bạn có thể thay đổi.
Điều nầy diễn ra như thế nào?
Phaolô nói trong RoRm 12:2 rằng cách duy nhất để được chuyển đổi và không hóa theo con đường cũ mà trước kia đã từng cư xử là phải có một tâm trí được đổi mới. Rồi tác giả Thi Thiên cũng cho chúng ta biết làm thế nào điều nầy được thực hiện: "Người trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo Lời Chúa... Tôi đã giấu Lời Chúa trong lòng tôi để tôi không phạm tội cùng Chúa". (Thi Tv 119:9, 11)
Không có cách nào để làm mới lại tâm trí mình mà tách rời khỏi năng quyền thanh tẩy và nuôi dưỡng của Lời Đức Chúa Trời. Tác giả sách Hêbơrơ gọi Lời Chúa là "sữa" và "thịt" bởi vì đó là điều đem lại cho chúng ta sự tăng trưởng và sự hiểu biết (HeDt 5:12-14). Vô số các tín hữu hiện đang đấu tranh cùng với việc cố gắng giữ sao cho họ khỏi gặp phải khó khăn về mặt thuộc linh, và trong hầu hết mọi trường hợp mà tôi phải khuyên bảo, là họ đã không đều đặn nhận Lời Chúa cho mình qua Kinh Thánh hay là những sách vở Cơ Đốc. Đúng là không có cách nào khác để khám phá về con người mới, khó tin rằng bạn được tạo dựng mà tách khỏi sự mặc khải của Lời Đức Chúa Trời. Bạn không thể luôn luôn được nhắc nhở để kể mình đã chết đối với những cám dỗ của xác thịt và của ma quỷ trừ phi bạn làm đầy trong tâm trí mình những quan điểm của Đức Chúa Trời.
BẢN THỂ MỚI CÓ NGHĨA LÀ BẠN CÓ THỂ CÓ MỘT SỰ TỰ HÌNH DUNG VỀ BẢN THỂ MỚI.
Thế gian, xác thịt và ma quỷ không hề giảm bớt sự tấn công của chúng ở trên bạn chỉ vì bạn đã được sanh lại. Thật ra, đó chính là lúc chúng thật sự ra tay nhằm cố gắng ngăn cản bạn không khám phá ra được quyền lực mới của bạn ở trên chúng để bạn sẽ không gây cho chúng một thời kỳ khó khăn. Chúng sẽ đặc biệt âm mưu với nhau để tiếp tục nhớ mãi tất cả những lỗi lầm và những thất bại của bạn để bạn sẽ không bao giờ đến chỗ thấy được tạo vật mới hoàn toàn mà Đức Chúa Trời đã tái tạo bạn. Nếu bạn đầy dẫy mặc cảm thấp kém ở trước mặt Đức Chúa Trời, thì bạn sẽ không bao giờ được Ngài dùng vào những việc lớn bởi vì bạn sẽ không tin Ngài có thể sử dụng một người như bạn quan niệm về chính bạn như vậy.
Trong ngành khoa học mới về điều khiển học - tâm lý, là khoa nghiên cứu về sự tự hình dung, đã chứng tỏ kết luận rằng bạn không thể hành động kiên trì trái ngược với chính mình là gì. Mỗi một con người đều triển khai một sự hình dung về chính mình qua năm tháng lớn lên, và trừ phi có một sự can thiệp triệt để ở một điểm nào đó thay đổi người ấy theo một cách nào đó, về thuộc thể, về tình cảm hoặc về thuộc linh, thì người ấy mới có thể hành động phù hợp với điều người ấy tin là mình có.
Bác sĩ Maxwell Malt", nhà phẫu thuật tạo hình, người đã từng nhiều năm kinh nghiệm việc quan sát sự tự hình dung của người ta trước và sau khi giải phẫu, đã nói trong quyển sách của ông, quyển Điều khiển học - tâm lý rằng ngay cả sau cuộc giải phẫu gây ấn tượng mạnh đã xóa được những nét biến dạng xấu xí, một số người vẫn cứ cư xử như là họ vẫn trông giống như trước. Giản dị là vì họ không thể thôi tin rằng họ không còn là con người xấu xí giống như trước kia nữa. Sự tự hình dung của họ sâu đậm đến nỗi họ đã xây dựng toàn bộ cuộc đời của mình từ điều đó, và dường như họ không thể quan niệm chính mình về bản chất hoặc về cái nhìn có gì khác hơn được.
Tuy nhiên ông cũng đã quan sát một hiện tượng dứt khoát trong những bệnh nhân khác. Chỉ trong vòng vài tuần lễ sau khi việc giải phẫu chỉnh hình đã loại bỏ một vết sẹo xấu xí, một cái mũi tẹt, hoặc là những nét không hấp dẫn tương tự thì một số bệnh nhân đã bắt đầu kinh nghiệm được một sự thay đổi trong toàn bộ nhân cách và tâm tính của họ. Những người đó, trước kia đã để cho những điểm dị dạng của họ tạo cho họ một mặc cảm tự ti nay đã bắt đầu trở nên rất tự tin và cởi mở. Những người khác mà đã từng thất bại trong điều nầy hoặc điều khác bắt đầu coi chính mình là những kẻ thành công, và khi làm như vậy, họ đã thật sự trở nên thành công hơn trong những nỗ lực của họ.
Từ việc quan sát điều đó trong suốt hai mươi năm. Bác sĩ Malt" đã kết luật một cách hợp lý rằng không thể không ngừng cư xử khác với điều mà bạn tự hình dung về mình.
Nhưng thật đáng ngạc nhiên khi khám phá nầy đã nằm trong lãnh vực khoa học, nó cũng là một nguyên tắc cổ xưa như quyển Kinh thánh vậy. Đây là trọng tâm của điều mang ý nghĩa là một "tạo vật mới" trong Đấng Christ. Khi tôi đã bắt đầu sống với sự nhận biết sâu sắc về địa vị mới của tôi trong Đấng Christ, được ngồi tận trên cao bên hữu ngai Đức Chúa Trời xa khỏi thế giới hư nát cũ kỹ nầy được coi là thánh sạch và không chỗ tránh được dưới mắt Đức Chúa Trời, thì tôi sẽ bắt đầu cư xử như một người thừa kế đối với ngai vua mà Đức Chúa Trời đã phán cho tôi khi tôi để cho Đức Thánh Linh làm mới lại tâm trí của mình qua lời Chúa để thật sự thấy được sự hiệp một của tôi với Đấng Christ trong cuộc chiến của Ngài đánh bại Satan, ma quỷ tội lỗi, thế gian và con người hư nát của tôi, thì sau đó và chỉ sau đó, tôi mới có thể được thay đổi vào trong ảnh tượng và sự giống nhau như của Ngài trong khi tôi vẫn còn ở tại đây trên đất nầy.
Sự tự hình dung của tôi chỉ có thể được hoàn thiện lâu dài khi tôi nhận biết rằng tôi đã nhận được một bản thể mới hoàn toàn bên trong tôi. Bản thể mới ấy thật là đẹp đẽ hoàn toàn đối với Đức Chúa Trời bởi vì chính Ngài đã dựng nên nó. Tôi không cần phải sợ loài người hoặc Đức Chúa Trời nhìn sâu xa vào bên trong tôi bởi vì tôi biết điều họ sẽ nhìn thấy. Họ sẽ nhìn thấy sự công bình do tay Đức Chúa Trời làm ra, không phải dưới dạng đã hoàn tất, nhưng dầu vậy vẫn toàn vẹn theo mắt Ngài. Thật là một cảm xúc lớn lao, được ưa thích "bản thể" của bạn mà không sợ bị thấy rõ.
LỜI KẾT THEO SỰ LÀM CHỨNG CỦA BẢN THÂN
Tôi đã bắt đầu quyển sách nầy với câu chuyện về bản thân mình và về phép lạ của Đức Chúa Trời trong việc tìm kiếm tôi và đưa tôi vào trong gia đình đời đời của Ngài. Một trong những mục đích chính yếu của tôi khi viết sách nầy là để bày tỏ tấm lòng người Cha cao cả của Đức Chúa Trời trong việc cung ứng một phương cách để hòa giải với hết thảy nhân loại hầu cho họ trở lại với chính Ngài.
Nhưng tôi muốn bày tỏ Đấng Christ không những là người giải hòa của chúng ta mà còn là Đấng Chữa lành những tấm lòng tan vỡ và những cuộc đời bị tàn phá. Không ai có thể từng có cuộc đời nhơ bẩn hơn tôi. Sự tự hình dung của tôi tồi tệ đến nỗi tôi thường nghiền ngẫm ý định tự tử bởi vì tôi cảm thấy thế giới sẽ khá hơn nếu loại bớt một con người như tôi. Ngay cả sau khi đã trở thành một tín đồ thật trong Chúa Cứu Thế tôi vẫn thường bị ngăn trở khỏi việc sẵn sàng để cho Đức Chúa Trời sử dụng mình bởi vì tôi cảm thấy mình quá vô giá trị. Tôi cũng thường xuyên cảm thấy rằng mình không xứng đáng với tình yêu thương và sự tiếp nhận của Đức Chúa Trời như thế là thuộc linh.
Điều đó đã không xảy ra mãi cho đến khi tôi được học biết về địa vị cao trọng mới mẻ của tôi trong Đấng Christ và ba mươi ba điều sở hữu mới và những sự ban cho đời đời mà Ngài đã ban cho tôi khiến tôi bắt đầu cảm thấy mình giống như một con người khác. Không một người nào khác từng nghĩ về tôi cách cao trọng như vậy. Khi tôi bắt đầu khám phá ra ngày càng nhiều về Đức Chúa Trời cao cả ấy, Đấng đã yêu tôi đến nỗi đã đặt tôi vào trong sự hiệp một với Con Ngài. Tôi đã có được một sự tiếp nhận ngày càng lớn lao về việc tôi là ai bởi vì tôi được thuộc về Đấng nào. Cha tôi là một vị Vua, vì vậy Ngài đã khiến tôi là một hoàng tử của hoàng cung.
Đang khi bạn đọc quyển sách nầy, niềm mong mỏi thành thật của tôi đó là bạn sẽ nhìn thấy Chúa Giêxu và chính bạn trong một ánh sáng hoàn toàn mới. Nếu bạn cần được giải hòa với Đức Chúa Trời, tôi cầu nguyện để bạn có được điều đó. Nếu bạn cần được giải phóng khỏi vũng lầy của đời sống bản ngã và đắc thắng, tôi tin rằng bạn đã nhìn thấy sự cung ứng Đức Chúa Trời đã thực hiện cho việc giải phóng bạn ở tại thập tự giá.
Bạn đã được tạo dựng để bay vút lên cao, chứ không phải để bò. Trong Đấng Christ bạn được nhấc lên cao khỏi sự nhơ nhớp và những gông cùm của tội lỗi trên "những đôi cánh của chim đại bàng. Bây giờ bạn hãy yên nghỉ và bắt đầu vui hưởng "ơn cứu rỗi vĩ đại" ấy


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 21-2-2018 05:25 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách