† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2668|Trả lời: 0

Gỉảng Đạo và Dạy Đạo

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 15-7-2011 13:04:09 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Gỉảng Đạo và Dạy Đạo
Tác giả: W. Ernest Pettry

GIỚI THIỆU MÔN HỌC .
ĐƠN VỊ 1: CHỨC VỤ GIẢNG VÀ CHỨC VỤ DẠY .
Bạn và chức vụ.
Bạn hãy tự chuẩn bị chính mình.
Bạn hãy chuẩn bị tài liệu.
ĐƠN VỊ 2: CHỨC VỤ GIẢNG ĐẠO .
Ý nghiã của sự giảng đạo.
Sứ điệp của sự giảng đạo.
Phương pháp của sự giảng đạo.
ĐƠN VỊ 3: CHỨC VỤ DẠY ĐẠO .
Ý nghĩa của sự dạy đạo.
Trọng tâm của sự dạy đạo.
Phương pháp của sự dạy đạo.
Hướng tới một chức vụ quân bình.
NHỮNG CÂU TRẢ LỜI BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM CÁ NHÂN .

Giới Thiệu Môn Học
Bạn sắp sửa học một đề tài rất quan trọng. Đó là làm thế nào để truyền thông Lời của Đức Chúa Trời cách có hiệu quả bằng việc giảng đạo và dạy đạo. Hai phương pháp Thánh Kinh này nhằm truyền thông Lời của Đức Chúa Trời ở nhiều khía cạnh rất giống nhau. Tuy nhiên trong lịch sử của Hội Thánh Cơ đốc, mỗi phương pháp đều đã phát huy môt số các đặc tính khác nhau đưa đến sự tương phản khác nhau. Cả hai phương pháp này nếu biết kết hợp với nhau thì nó sẽ đem lại cho bạn một phương pháp truyền giảng cho người chưa được cứu và gây dựng đời sống thuộc linh của những người mà bạn đang phục vụ một cách có hiệu quả.
Môn học này được chia làm ba đơn vị. Đơn vị thứ nhất giới thiệu với bạn bản chất của chức vụ, các phẩm chất của chức vụ theo lời dạy của Kinh Thánh và các định nghĩa về giảng đạo và dạy đạo. Bạn sẽ xem xét sự chuẩn bị cá nhân cho chức vụ nhằm đáp ứng thật sự các nhu cầu của quần chúng. Đồng thời bạn sẽ nghiên cứu những cách chuẩn bị kỹ thuật một cách thực tế, trong sự giảng đạo và dạy đạo để bạn có thể phân phát đúng đắn Lời của Lẽ thật.
Đơn vị thứ hai đề cập đến chức vụ đặc biệt của sự giảng đạo. Ở đây bạn sẽ xem xét đến ý nghĩa rộng rãi hơn của sự giảng đạo, những lý do và những thí vụ của sự giảng đạo. Bạn sẽ xem xét nội dung của sự giảng đạo - sứ điệp bạn giảng - bạn sẽ học biết làm thế nào để thu thập và sắp đặt tài liệu bài giảng đồng thời truyền thông điệp đó một cách hiệu quả nhất.
Đơn vị ba đề cập đến ý nghĩa của sự dạy đạo và lý do căn bản của sự dạy đạo cũng như các thí dụ trong Kinh Thánh về sự dạy đạo. Bạn sẽ xem xét đến sự dạy dỗ như một mạng lệnh, theo đó gợi ý tính chất chung của chức vụ giáo sư, và những lời chỉ dẫn giúp bạn đem lại sự lớn lên và sự trưởng thành về phương diện thuộc linh trong đời sống của những người mà bạn phục vụ. Bạn sẽ học biết giá trị của những đối tượng được dạy dỗ, tầm quan trọng của sự thu thập, sắp xếp và truyền thông các tài liệu bài học một cách có hiệu quả. Bạn sẽ xem xét ý nghĩa của các mục tiêu được thành đạt. Cuối cùng, bạn sẽ xem xét nhu cầu của sự quân bình giữa chức vụ giảng đạo và dạy đạo của bạn.
Mong rằng những bài học này sẽ hướng dẫn, và gây hứng thú cho bạn phát triển các kỹ thuật giảng và dạy để giúp bạn truyền đạt cách có hiệu quả ý muốn tốt lành mà Chúa dành cho chức vụ bạn.
MÔ TẢ BÀI HỌC.
Giảng đạo và dạy đạo là môn học căn bản của hai phương pháp truyền thông Lời của Đức Chúa Trời . Học viên được hướng dẫn để thấu triệt các phương pháp thực tế để chuẩn bị và trình bày các bài học cũng như các bài giảng từ Kinh Thánh.
CÁC MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC:
Khi kết thúc bài học này bạn phải có thể:
1. Phân tích và giải thích nhu cầu giảng đạo và dạy đạo của Cơ đốc nhân.
2. Thừa nhận các phẩm chất của những giảng sư và giáo sư có hiệu quả như đã được mô tả trong Kinh Thánh.
3. Phát triển cách cá nhân những phẩm chất vốn là đặc tính của các giảng sư và giáo sư có hiệu quả được ghi nhớ trong Kinh Thánh.
4. Bày tỏ sự hiểu biết và sự sử dụng các kỹ thuật cần thiết trong việc học Kinh Thánh và sửa soạn các bài giảng cùng bài học.
5. Sửa soạn một bài giảng và một bài học từ Kinh Thánh, mỗi bài thích hợp với một hoàn cảnh.
SÁCH GIÁO KHOA.
Bạn sẽ sử dụng quyển sách giáo khoa tự học này “ Giảng đạo và dạy đạo “ của W. Ernest Pettry làm sách học chính của khóa học này. Ngoài ra Kinh Thánh là sách giáo khoa khác cần có. Hầu hết các câu Kinh Thánh trưng dẫn đều rút ra từ bản Kinh Thánh: bản dịch Anh ngữ ngày nay (Today’s English Version - TEV ). Trong một vài trường hợp chúng tôi trích dẫn từ bản King James (KJV) hoặc bản Tân Quốc tế (New International Version - NIV) là những bản dịch rõ hơn và sát nguyên bản Hy Bá Lai hay Hy Lạp hơn được dùng để viết Kinh Thánh.
THỜI GIAN HỌC TẬP:
Thời gian thực sự bạn dùng để nghiên cứu mỗi bài học một phần tùy thuộc vào sự hiểu biết của bạn về đề tài và khả năng học tập của bạn trước khi bạn bắt đầu môn học. Thời gian học
cũng tùy thuộc vào mức độ bạn theo dõi phần hướng dẫn và kỹ năng phát triển cần thiết trong vấn đề tự học. Hãy lập thời khóa biểu học tập của bạn để bạn có đủ thì giờ đạt mục tiêu do tác giả loạt bài học đã đề ra cũng như những mục tiêu cá nhân của bạn đã đề ra.
ĐỀ CƯƠNG BÀI HỌC VÀ CÁCH HỌC:
Mỗi bài gồm có (1) đề bài, (2) nhập đề, (3) dàn ý, (4) các mục tiêu của bài học, (5) các hoạt động học tập, (6) những chữ căn bản, (7) triển khai bài học bao gồm các câu hỏi nghiên cứu bài học, (8) bài tự trắc nghiệm, (9) các câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu.
Dàn ý và mục tiêu bài học sẽ giúp bạn tổng lượt đề tài, tập trung sự chú ý vào những điểm chính khi bạn học tập và cho bạn biết nội dung bạn sẽ học.
Hầu hết các câu hỏi nghiên cứu trong phần triển khai bài học có thể trả lời trong những chỗ trống có chừa sẵn trong sách. Những câu trả lời dài hơn phải được ghi vào tập. Khi bạn viết những câu trả lời trong tập, phải nhớ ghi số của câu hỏi và đề tài của bài học. Việc này giúp bạn việc ôn bài để làm bản tường trình học tập.
Đừng xem trước câu trả lời cho sẵn cho đến khi bạn đã tự trả lời. Nếu bạn tự trả lời, bạn sẽ nhớ kỹ những gì bạn đã học sau khi đã trả lời những câu hỏi nghiên cứu, hãy kiểm tra lại câu trả lời của mình với phần giải đáp được đưa ra ở cuối bài học. Sau đó hãy sửa lại những câu bạn đã trả lời sai.
Những câu trả lời không theo thứ tự bình thường nên bạn không thấy trước câu trả lời của câu hỏi tiếp theo.
Những câu hỏi nghiên cứu này vô cùng quan trọng. Chúng sẽ giúp bạn nhớ lại những ý chính đã được trình bày trong bài học và áp dụng những nguyên tắc bạn đã học được.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI:
Có nhiều loại câu hỏi nghiên cứu và những câu hỏi trắc nghiệm trong bài học này. Dưới đây là vài loại câu hỏi và cách trả lời. Nếu có các loại câu hỏi khác sẽ được chỉ dẫn cụ thể.
Câu hỏi LỰA CHỌN : Bạn chọn câu trả lời trong những câu đã được cho sẵn.
Chẳng hạn:
Kinh Thánh gồm có:
100 sách.
66 sách.
27 sách.
Câu trả lời đúng là b) 66 sách. Trong phần bài làm của bạn hãy khoanh tròn chữ b) giống như sau đây:
1. Kinh Thánh gồm:
a) 100 sách.
66 sách.
27 sách.
( Có vài câu hỏi lựa chọn có thể có nhiều hơn một câu trả lời đúng. Trong trường hợp đó, bạn có thể khoanh tròn mẫu tự ở mỗi câu trả lời đúng).
Câu hỏi ĐÚNG- SAI : Bạn chọn một hoặc vài câu trả lời đúng .
Chẳng hạn:
Câu nào dưới đây là ĐÚNG ?
Kinh Thánh gồm 120 có sách.
Kinh Thánh là một sứ điệp cho các tín hữu ngày nay.
Tất cả các tác giả Kinh Thánh đều viết bằng tiếng Hêbơrơ.
Đức Thánh Linh đã hà hơi trên các người viết Kinh Thánh.
Các câu b) và d). Bạn có thể khoanh tròn cả hai mẫu tự để chứng tỏ sự lựa chọn của bạn, như trong thí dụ.
Câu hỏi TƯƠNG HỢP : Yêu cầu bạn chọn những câu trả lời phù hợp với câu hỏi. Chẳng hạn nhân vật với đặc tính nhân vật, hay các sách của Kinh Thánh với trước giả của sách ấy.
Chẳng hạn:
Hãy viết số của tên người lãnh tụ ở phía trước câu mô tả việc họ đã làm.
….1…a. Nhận lãnh Luật pháp ở núi Sinai.
….2…b. Lãnh đạo dân Ysơraên đi ngang qua sông Giôđanh.
….2…c. Đã đi vòng quanh Giêricô.
….1…d. Đã sống trong cung điện của Pharaôn.
1) Môise
2) Giôsuê
Câu a. và d. chỉ về Môise còn câu b. và c. chỉ về Giôsuê. Bạn hãy viết 1 trước a. và d., còn viết 2 trước b. và c. như bạn đã thấy trong thí dụ.
PHƯƠNG PHÁP HỌC LOẠT BÀI NÀY:
Nếu bạn tự học loạt bài Hàm thụ Quốc Tế (ICI) này bạn hãy gởi phần bài làm bằng thư đến Văn phòng chúng tôi. Mặc dù bài Hàm thụ này giúp bạn tự học nhưng bạn vẫn có thể học trong một nhóm hay một lớp học; Nếu thế người hướng dẫn có thể triển khai thêm những điều hiểu biết khác ngoài bài học. Vì vậy, bạn hãy vâng theo lời chỉ dẫn của người hướng dẫn.
Có lẽ bạn thích sử dụng môn học này trong nhóm học Kinh Thánh tại gia, tại lớp học ở Nhà thờ hoặc trong trường Kinh Thánh. Bạn sẽ thấy nội dung của đề tài và các phương pháp học đều giúp ích rất nhiều cho mục đích này.
BẢN TƯỜNG TRÌNH HỌC TẬP
Nếu bạn đang tự học với Viện Hàm Thụ Quốc Tế, với một nhóm người hay trong một lớp học, bạn đều phải làm bài báo cáo theo từng đơn vị học. Đây là những câu bạn phải trả lời theo sự hướng dẫn trong bài học và trong các báo cáo của học sinh. Bạn phải hoàn tất và gửi bản trả lời về cho người hướng dẫn của bạn để sửa chữa và ghi nhận xét về bài làm của bạn.
CHỨNG CHỈ:
Sau khi hoàn tất loạt bài và phần tường trình học tập, nếu người hướng dẫn học tập nhận xét bạn đạt thành tích tốt, bạn sẽ nhận được cấp chứng chỉ (Certificate of Award)
TÁC GIẢ CỦA MÔN HỌC NÀY:
Ernest Pettry là một Mục sư ở miền Đông Nam Hoa Kỳ. Ông đã làm Mục sư 20 năm và từng làm giáo sư Trường Công lập trong 9 năm. Do kinh nghiệm phong phú trong sự giảng và dạy, ông đã thành công khi làm diễn giả ở các Trại thanh niên, Viện Dưỡng Lão của các Mục sư và người Hưu trí cũng như trong các khóa Huấn Luyện Nhân Sự bên ngoài Hoa Kỳ.
Sau khi tốt nghiệp hạng ưu tại Viện Thần Học Miền Đông Nam ở Laklland, Florida, ông Pettry tiếp tục học và tốt nghiệp cử nhân văn chương tại Đại Học Nam Florida ở Lakland, Florida.
Ông đã thành lập gia đình với bà Idell Eades ở Birmingham, Alabama, ông bà có bốn người con.
HƯỚNG NGƯỜI DẪN BẠN HỌC HÀM THỤ:
Người hướng dẫn bạn học chương trình Hàm Thụ Quốc Tế này sẽ rất vui lòng giúp bạn. Nếu bạn có bất cứ thắc mắc nào về môn học hay bản tường trình học tập, xin hãy cứ tự nhiên nêu câu hỏi. Nếu một số người muốn học môn này với nhau. Xin hãy yêu cầu vị ấy sắp xếp thì giờ thuận tiện cho cả nhóm.
Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho bạn khi bắt đầu nghiên cứu môn học GIẢNG ĐẠO và DẠY ĐẠO . Mong rằng những bài học này sẽ làm phong phú đời sống và sự hầu việc Chúa của bạn, đồng thời giúp bạn hoàn thành cách hiệu quả vai trò của bạn trong thân thể Đấng Christ.

BẠN VÀ CHỨC VỤ .
BẠN HÃY TỰ CHUẨN BỊ CHÍNH MÌNH .
BẠN HÃY CHUẨN BỊ TÀI LIỆU .
Bạn và Chức Vụ
“Tôi vẫn còn cảm thấy xấu hổ và thất vọng. Tôi đã giảng hết sức mình, nhưng không ai cảm động. Khi các tín đồ cầu nguyện, tôi đã quì gối xuống trong một góc phòng và khóc lóc thảm thương: bài giảng… cách giảng đạo… tất cả hoàn toàn thất bại… tệ hại hơn cả, không có ai lên tòa giảng xin tiếp nhận sự cứu rỗi”. Phải chăng Đức Chúa Trời đã phạm sai lầm? Không, chính tôi đã phạm sai lầm. Đó là lý do… Đức Chúa Trời đã không kêu gọi tôi. Tôi không được Chúa kêu gọi… tôi sẽ không bao giờ giảng đạo nữa.
“Khi tôi đang cầu nguyện thổn thức, thì một bàn tay đã chạm đến vai tôi. “Thầy ơi, xin Thầy giúp đỡ chúng tôi cầu nguyện cho những người đã lên tòa giảng xin tin Chúa?” Tôi đã không tin nổi ở mắt mình! Có đến mười một người xin tiếp nhận sự cứu rỗi! Có đến mười một người tin nhận Chúa!”
Tác giả những dòng chữ này đã trở thành một Mục sư thành công và một giảng sư xuất sắc, nhưng ông đã viết những dòng này khi ông mới bắt đầu giảng dạy. Kinh nghiệm của ông chứng tỏ rằng một người yêu mến linh hồn người ta có thể rao giảng Tin Lành và chinh phục họ về cho Đấng Christ.
Bạn là một người trong một đoàn người to lớn của các tín hữu đã đáp lời kêu gọi của Chúa. Giảng đạo và dạy đạo là những phương pháp bạn có thể dùng để cứu vớt những người hư mất và giúp đỡ các tín hữu trở thành những Cơ đốc nhân mạnh mẽ. Môn học này sẽ giúp bạn đạt những kỹ năng cần thiết để chuẩn bị và trình bày các bài học cùng các bài giảng một cách thành công và tự tin.
Bài học này sẽ giúp bạn biết hạng người mà Chúa muốn bạn trở thành và loại công việc mà Ngài muốn bạn làm.
Bố Cục bài Học :
Khái niệm về chức vụ.
Các phẩm chất của chức vụ.
Hai chức vụ đặc biệt.
Mục tiêu Của bài Học :
Khi học xong bài học này bạn sẽ có khả năng:
Mô tả các phẩm chất của người hầu việc Chúa thời Tân ước.
Thảo luận về chức vụ của người hầu việc Chúa thời Tân ước.
Trau dồi đời sống của bạn về phẩm chất mà Tân ước đòi hỏi ở một người hầu việc Chúa.
Các sinh Hoạt Học Tập
Đọc cẩn thận phần đầu trong sách tự học này bạn sẽ biết cách sử dụng sách giáo khoa này cùng cách trả lời cho mỗi câu hỏi.
Hãy nghiên cứu bố cục và các mục tiêu của bài học. Việc này sẽ giúp bạn xác định rõ những điều bạn phải đạt được khi nghiên cứu bài học này.
Hãy đối chiếu phần chú giải thuật ngữ ở cuối sách để xem các định nghĩa của những chữ căn bản mà bạn chưa hiểu.
4. Hãy đọc bài học và làm bài tập trong phần triển khai bài học.
Hầu hết những câu trả lời của bạn đều nằm trong phần hướng dẫn học tập này. Tuy nhiên có một số câu hỏi buộc phải trả lời dài, thì bạn nên viết vào sổ tay. Kiểm tra phần trả lời của mình với phần giải đáp ở cuối bài học.
5. Cuối mỗi bài bạn hãy làm bài trắc nghiệm cá nhân và hãy kiểm tra cẩn thận những câu trả lời của bạn so với những phần mà bạn trả lời không đúng.
những chữ căn bản :
Tìm hiểu những chữ căn bản chúng tôi đã liệt kê ở phần đầu của mỗi bài học sẽ giúp bạn trong quá trình học tập. Bạn sẽ tìm thấy những chữ này được định nghĩa theo thứ tự ABC trong phần giải nghĩa thuật ngữ ở cuối sách. Nếu bạn không hiểu nghĩa của bất cứ chữ nào trong sách thì hãy xem xét lại những chữ này khi bạn gặp phải trong khi đọc bài.
khai triển bài học : khái niệm về chức vụ : Mục tiêu 1: Chọn những câu có khái niệm về chức vụ đã đươc trình bày trong các thư tín Giám mục . KIỂU MẪU THUỘC VỀ KINH THÁNH: Chức vụ là gì? Làm thế nào tôi biết cách phục vụ có hiệu quả hơn? Tôi phải làm gì? Tôi phải trở thành một người như thế nào? Tôi phải giảng như thế nào? Tôi phải dạy như thế nào? Đây là những câu hỏi có thể có trong tâm trí của Timôthê khi ông mới bước vào chức vụ. Ông Tít, một người hầu việc của Chúa thời Tân ước, cũng đã từng đối diện với những câu hỏi tương tự. Việc bạn quan tâm đến môn học này liên hệ đến các chức vụ trong Hội Thánh hoặc là trong các chức vụ bạn muốn phục vụ sau này. Có lẽ bạn cũng có những câu hỏi như thế. Nếu vậy Kinh Thánh có thể giúp bạn. Hãy học các thư tín Giám mục (I Timôthê, II Timôthê và Tít) là những Thư tín do Sứ đồ Phaolô viết ra. Đây là những chỉ dẫn đặc biệt dành cho những người có liên hệ đến công tác hầu việc Chúa. Bạn phải đọc kỹ những thư tín này vì bạn sẽ phải trưng dẫn khi bạn hầu việc Chúa và có lẽ bạn sẽ dự phần trong chức vụ giảng đạo và dạy đạo. Những thư tín này không phải bao gồm hết tất cả những điều Tân ước dạy về chức vụ, nhưng đây là những sự dạy dỗ căn bản.
1. Hãy liệt kê sau đây ba thư tín Giám mục.


2. Hãy đọc qua các thư tín Giám mục và nắm vững quan điểm tổng quát về những lời chỉ dạy dành cho những người liên quan đến chức vụ. Hãy ghi dấu kiểm tra đã đọc trước các câu Kinh Thánh để tỏ ra bạn đã hoàn thành công tác được giao…
3. Hãy khoanh tròn mẫu tự đầu các câu mà bạn tin là đúng.
Các thư tín Giám mục được viết do 1 sứ đồ kỳ cựu gởi cho hai thanh niên đã dâng mình phục vụ Hội Thánh. Những thư tín này đã đem lại những lời chỉ dẫn hữu ích cho những người đang thiết tha với những chức vụ của Hội Thánh.
Các thư tín Giám mục khi đưa ra những phẩm chất của các chức vụ Cơ đốc và mô tả thái độ của những người hầu việc Chúa, nhằm mục đích làm nản lòng những tín đồ muốn dự phần trong chức vụ.
Những lời chỉ dẫn của sứ đồ Phaolô trong thư tín Giám mục không bao gồm mọi khía cạnh của các phẩm chất người hầu việc Chúa, nhưng bao gồm những điểm chính theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự lãnh đạo Cơ đốc.
Phaolô đã xem chức vụ như là một đặc ân. Ông ân hận những ngày tháng xa xưa khi ông bắt bớ Hội Thánh và chống nghịch Chúa Giê Xu (ITi1Tm 1:12-14). Khi ông liệt kê những thành đạt của mình ông kể như rơm rác phải ném bỏ đi. Đối với ông mọi sự điều là sự lỗ ngoại trừ sự nhận biết Đấng Christ (Phi Pl 3:8-11). Ngay cả những sự đau khổ và những sự bách hại ông chịu vì cớ Tin Lành đều được ông xem như là một vinh dự vì được chia sẻ sự thương khó với Đấng Christ. Ông đã xem sự yếu đuối về thể xác của ông như là một cơ hội để Đấng Christ bày tỏ quyền phép của Ngài. Những lời nói của ông là, “Tôi hài lòng những sự yếu đuối, những sự sỉ nhục, những gian lao những sự bách hại và những khó khăn vì cớ Đấng Christ. Vì khi tôi yếu đuối, đó là lúc tôi mạnh mẽ” (IICo 2Cr 12:10).
Trong các thư tín Giám mục, Phaolô đã viết về sự lãnh đạo Hội Thánh cho những người trong đức tin của ông. Trong phần kế tiếp chúng ta sẽ thấy ông nói với Timôthê và Tít về tư cách người phục vụ Tin Lành và loại công việc mà ông được kêu gọi để làm.
4. Hãy khoanh tròn mẫu tự chỉ câu mô tả quan niệm của Phaolô về chức vụ đã được trình bày trong các thư tín Giám mục. Ông đã coi chức vụ như là:
Một công việc phải làm giống như mọi công việc khác.
Một sự tín nhiệm ủy thác thiêng liêng
Một đặc ân
Một cơ hội để kiếm địa vị và để được kính trọng.
Một sự chia sẻ sự thương khó của Đấng Christ với nhiều gian khổ.
Một công việc để hưởng lương cao.
CÁC CHỨC VỤ CHUNG VÀ CÁC CHỨC VỤ ĐẶC BIỆT:
CHỨC VỤ CHUNG:
Mục tiêu 2: Nhận diện về quan niệm của chức vụ chung như Hội Thánh đầu tiên mô tả .
Chức vụ là gì? Chúng ta đã hỏi câu hỏi này trong phần đầu của bài học. Chúng ta hãy để Kinh Thánh trả lời. Trong cơ cấu của Hội Thánh, có nhiều người được kêu gọi nhưng không phải tất cả được kêu gọi để giảng và dạy. Điều này được thấy trong ITi1Tm 3:8-13. Những người giúp việc này (đôi khi chỉ về các chấp sự) không phục vụ những người được mô tả ở câu 1 đến câu 7, những danh sách khác về những người hầu việc Chúa còn được thấy ở sách ICo1Cr 12:28 và RoRm 12:4-8. Bạn thấy rằng mọi thành viên của thân thể Đấng Christ đều có một chỗ đứng nào đó để phục vụ. Tất cả những sự phục vụ này đều quan trọng mặc dù có một vài vị trí nổi bật hơn. Mỗi chức vụ là một công tác khác nhau để cho thân thể Hội Thánh được trưởng thành. Phaolô giải thích điều này trong Eph Ep 4:12, “Ngài đã lập các sứ đồ, các tiên tri, các thầy giảng Tin Lành, các và các giáo sư để chuẩn bị mọi công dân của Đức Chúa Trời tham gia vào công tác phục vụ nhằm mục đích xây dựng thân thể của Đấng Christ”. Sách Công vụ các sứ đồ cũng cho ta nhiều thí dụ.
Khi Hội Thánh đầu tiên đối diện với vấn đề khó khăn trong việc phân phối thực phẩm cho những góa phụ, các sứ đồ đã lựa chọn bảy người và giao cho họ công tác này do đó các sứ đồ có thể dâng mình hoàn toàn vào chức vụ giảng đạo và cầu nguyện (Cong Cv 6:1-4) Bà Đôca bằng cách may áo ngắn, áo dài cho họ (9:36-41). Tên Giô sép đã đổi thành tên Banaba vì cớ ông đã thành người yên ủi người khác (4:36). Ông này đã kết hợp với Phaolô và tiến cử Phaolô cho các sứ đồ và Hội Thánh tại Giêrusalem (9:26-27).
Về sau ông đã đi tìm Phaolô tại Tạtsơ và đưa Phaolô về Antiốt để phục vụ cho Hội Thánh đó (11:56-26). Banaba cũng phục vụ như là Giáo sư và Tiên tri (13:1) và sau đó Hội Thánh đã sai ông cùng với Phaolô để làm công tác truyền giáo (13:2). Các Cơ đốc nhân thời Tân ước đã tìm thấy nhiều cách để hầu việc Chúa. Cũng có những người được kêu gọi nhiều chức vụ đặc biệt.
5. Khoanh tròn mẫu tự đầu tiên tả đúng quan niệm về chức vụ chung như Hội Thánh đầu tiên đã đề cập về tài liệu này.
Chức vụ đã được coi như địa vị lãnh đạo quan trọng có uy thế và giá trị mà một người có được do địa vị của người đó trong Hội Thánh.
Chữ chức vụ nói về một nhóm nhỏ những cá nhân hướng dẫn đời sống thuộc linh của Hội Thánh thông qua các hoạt động giảng và dạy của họ.
Chức vụ đã được hiểu như là sự phục vụ Chúa vì cớ thân thể của Ngài trên mặt đất này.
CHỨC VỤ ĐẶC BIỆT:
Mục tiêu 3: Chọn một câu đề cập đến mục đích của các chức vụ đặc biệt trong thân thể của Đấng Christ .
Giữa nhiều chức vụ khác nhau của Hội Thánh Chúa đã đạt một số người vào một chức vụ đặc biệt. Phaolô dùng thân thể con người để minh họa chức vụ này.
Đấng Christ là đầu của thân thể Ngài tức là Hội Thánh (Eph Ep 1:22-23). Mỗi tín đồ là một chi thể của thân Ngài. Có một công dụng khác nhau (ICo1Cr 12:4-6). Mặc dầu tất cả các tín đồ đều được kêu gọi vào chức vụ một cách tổng quát, nhưng có một số người được ban cho một chức vụ đặc biệt trong Hội Thánh: (Ấy chính Ngài đã cho người này làm sứ đồ kẻ kia làm tên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ nữa làm và giáo sư (Eph Ep 4:11). Sự giảng đạo và dạy đạo là hai chức vụ đặc biệt được ban cho Hội Thánh để cho con dân của Chúa phương cách hầu việc Chúa cũng như đưa cả Hội Thánh đến sự hiệp nhất và trưởng thành (4:12-13). Đây là những chức vụ đặc biệt được đề cập trong môn học này.
6. Khoanh tròn mẫu tự của câu đề cập đến mục đích các chức vụ đặc biệt trong Hội Thánh để:
Đề bạt người có tài năng nhất lên địa vị lãnh đạo.
Phát triển một hệ thống hành chánh để Hội Thánh có thể hoạt động cách hữu hiệu theo phương cách của ngành thương mại.
Phát triển sự trưởng thành thuộc linh và sự hiệp một của thân thể cùng sự đi ra làm chứng đạo.
Nững phẩm chất của chức vụ:
Các phẩm chất theo Kinh Thánh dạy:
Mục tiêu 4: Phân biệt các phẩm chất được Kinh Thánh dạy rõ và những điều Kinh Thánh không dành cho những người ở trong các chức vụ .
Khi chúng ta xem xét các vấn đề trước mắt, hãy đọc Kinh Thánh trong tinh thần cầu nguyện. Hãy tự hỏi. Kinh Thánh dạy tôi điều gì ? Đức Thánh Linh sẽ giúp bạn hiểu ý nghĩa và áp dụng Kinh Thánh như thế nào.
Một số những phẩm chất của người lãnh đạo thời Tân ước được nêu ra trong ITi1Tm 3:1-7. Những câu này mô tả phẩm chất người giữ chức vụ trong Hội Thánh. Hãy đọc cẩn thận khúc Kinh Thánh này trước khi tiếp tục. Hãy lưu ý rằng Phaolô bắt đầu khen ngợi những người muốn bước vào chức vụ hầu việc Chúa. Ước vọng muốn bước vào chức vụ là một bằng chứng về sự kêu gọi của Chúa dành cho đời sống bạn. Nhưng ước muốn và ngay cả sự kêu gọi cũng chưa đủ. Đức Chúa Trời đưa ra những đòi hỏi căn bản mà bạn phải đáp ứng. Trước hết bạn phải là người Đức Chúa Trời muốn bạn trở thành rồi bạn mới có thể làm được điều Đức Chúa Trời muốn bạn phải làm.
Ở đây bạn cần phải dò xét tấm lòng của bạn. Mỗi một người muốn hầu việc Chúa phải tự hỏi tại sao mình muốn hầu việc Chúa. Tại sao bạn muốn dạy dỗ? giảng đạo? phục vụ? Chỉ có một mình bạn mới có thể trả lời những câu hỏi này đúng với lương tâm bạn và với Đức Chúa Trời.
7. Hãy đọc lại 3:1 cẩn thận rồi lưu ý điều kiện người hầu việc Chúa phải có, rồi khoanh tròn câu trả lời nói về các phẩm chất của chức vụ theo Kinh Thánh đã dạy.
George là một tân tín hữu có nhiều tài năng thiên nhiên. Anh tự thấy mình là “một người quan trọng”. Đối với anh dường như chức vụ được mọi người nhận biết quan trọng hơn hầu việc âm thầm, vì thế anh đã quyết định tham gia vào chức vụ.
Alfred đã là Cơ đốc nhân được 3 năm rồi. Anh trung tín trong sự nhóm lại với Hội Thánh, thường xuyên đọc Kinh Thánh và hay làm chứng đạo cho người chưa biết Chúa. Anh cảm biết rằng Chúa muốn anh tham gia tích cực hơn trong chức vụ của Hội Thánh. Anh đang học Kinh Thánh cách nghiêm túc và cầu xin Chúa mở cửa ban cơ hội cho anh. Anh đã thưa với các nhà lãnh đạo của Hội Thánh rằng anh sẵn sàng phục vụ bất cứ khi nào và bất cứ ở đâu anh được yêu cầu.
Phaolô bắt đầu liệt kê các phẩm chất của người hầu việc Chúa bằng cách nói rằng họ phải không chỗ tránh được. Điều này không có nghĩa rằng họ phải là người trọn vẹn mà họ phải là người có tiếng tốt, họ không bị tố cáo là vô luân hoặc theo tà giáo. Một người hầu việc Chúa phải là người chân thật, thánh sạch và ngay thẳng. Đây là nhân cách tốt đẹp của người Cơ đốc. Sự đòi hỏi này đã được nhắc lại hai lần trong Tit Tt 1:6-7.
Trong thư thứ nhất gởi cho Timôthê, Phaolô đã đưa ra những mẫu mực gia đình của người hầu việc Chúa trong Hội Thánh. Để đạt được yêu cầu này, người ấy phải là chồng của một vợ và biết cai trị gia đình mình cách tốt đẹp. Người hầu việc Chúa phải luôn luôn làm gương mẫu cho nếp sống đạo đức Cơ đốc trong một gia đình mình. Ông phải biết cai trị gia đình riêng bằng sự ngay thẳng và tình yêu thương đến nỗi các người trong gia đình đều kính trọng ông khiến họ tôn trọng quyền lãnh đạo của ông. Vị sứ đồ tỏ ra tương đồng giữa đời sống gia đình và Hội Thánh. Nếu một người không thể quản trị gia đình mình thì ông ta cũng không thể chăm lo cho Hội Thánh được. Chúa Jêsus đã dạy nguyên tắc này trong câu: “Ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi chăm sóc nhiều” (Mat Mt 25:21).
Một người hầu việc Chúa phải là người bén nhạy tự chế, tiết độ và có trật tự. Đây là những đặc tính của một người lịch sự, trang nghiêm. Không nên có lời nói hay thái độ sỗ sàng, lỗ mãng, mất lịch sự. Tất cả cách cư xử và bề ngoài của ông phải tiêu biểu tốt cho Tin Lành mà ông rao giảng.
8. Khoanh tròn mỗi câu đúng sau đây, người lãnh đạo Cơ đốc phải:
Là một gương mẫu và trọn lành
Có được tiếng tốt giữa các tín đồ lẫn người chưa tin Chúa.
Phải làm gương chân thật và thánh khiết cũng như biết cai trị nhà riêng mình.
Phải lịch sự với mọi người đồng thời trong cách ăn mặc cũng như trong cử chỉ phải là một người tiêu biểu vẻ đẹp của Tin Lành.
Đối với chính chức vụ, Phaolô đã đề cập ba điều trong bức thư gởi cho Timôthê. Trước hết, người hầu việc Chúa phải ân cần tiếp khách, vì trong thời Timôthê những người đi hầu việc Chúa cần nơi ở trong chuyến lưu hành của họ. Điều này cũng tăng cường, ý nghĩa của phong tục hiếu khách rất phổ biến giữa vòng những người Đông Phương. Đón tiếp một người nào đó vào nhà mình để họ nghỉ ngơi qua đêm và dùng bữa đều là những dấu hiệu của sự hiếu khách.
Thứ hai, Phaolô nói rằng người hầu việc Chúa phải có tài dạy dỗ. Vì trách nhiệm chính của người hầu việc Chúa là dạy Kinh Thánh cho những người khác. Nên phải là một người dạy có tài năng. Một người tự thấy mình không có khả năng dạy dỗ phải cố gắng học tập để trở thành người thầy giáo giỏi.
Cuối cùng, Phaolô không khuyến khích người mới tin Chúa bước vào chức vụ. Một người mới tin Chúa giống như một hạt giống mới nẩy mầm. Người đó cần có thời gian để lớn, để phát triển và để mang quả. Cần có thời gian để trau giồi các phẩm chất lãnh đạo mà chức vụ đòi hỏi, vì quá trình làm tín đồ giúp họ lớn lên và trở thành một người hầu việc Chúa có hiệu quả và tài năng. Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là (một người mới tin Chúa không thể có) một vị trí có ý nghĩa trong chức vụ chung hoặc sự phục vụ như đã mô tả ở phần trước.
9. Những phẩm chất nào sau đây do Kinh Thánh dạy cho những người có chức vụ trong Hội Thánh? Những người hầu việc Chúa.
Phải hiếu khách
Phải phát triển khả năng dạy dỗ
Phải có ý chí mạnh mẽ
Cần một nền học vấn cao cấp
Phải trưởng thành phần thuộc linh
Phải thực thi sự kiểm soát đầy uy quyền.
Những người phục vụ Chúa được cảnh cáo về nguy cơ yêu mến tiền bạc. Không ai bị khinh bỉ cho bằng người bước vào chức vụ chỉ vì lợi lộc vật chất cá nhân. Đức Chúa Trời đã đáp ứng các nhu cầu của bạn, bạn phải trông cậy Ngài tiếp trợ cho bạn. Sự rủa sả và sự định tội sẽ đến thật nhanh chóng cho ai hầu việc Chúa vì tham lam tiền bạc, tài sản.
Người hầu việc Chúa phải kiên nhẫn, không nghiền rượu, không phải là những kẻ ưa đình công, những người hay cãi nhau. Thay vì say sưa, tàn bạo và tranh giành, họ phải nổi tiếng là người tử tế, nhân hậu và hiền hòa.
Điều rất quan trọng là người hầu việc Chúa phải được những người ngoài Hội Thánh kính trọng, người đi dạy dỗ người khác thì chính mình phải là người xứng đáng. Nếu có sự thiếu thành thật, bất trung hoặc không trung định trong đời sống của người lãnh đạo, thì ông đánh mất ảnh hưởng trên những người mà ông đang cố gắng dẫn dắt họ đến cùng Chúa. Dù cho chúng ta có sùng đạo, kỉnh kiền, đúng đắn hay thành thật trong sự rao giảng và cầu nguyện đến bao nhiêu, nếu đời sống chúng ta làm gương xấu thì mọi nỗ lực của chúng ta đều vô ích.
10. Hãy chọn câu trả lời đúng nhất trong các câu sau. Sự tử tế, nhân hậu và kiên nhẫn của người hầu việc Chúa phải là bằng chứng cho.
Những người nhóm lại trong Hội Thánh
Những người trong cộng đồng không phải là Cơ đốc nhân
Mọi người: Anh em Cơ đốc nhân, những người chưa tin Chúa và các thành viên trong gia đình.
Những đòi hỏi của Đức Chúa Trời từ trong Kinh Thánh dành cho những người hầu việc Chúa dường như là nghiêm khắc và nặng nề quá? Tuy nhiên, cũng do yêu cầu đó mà một người được kêu gọi vào thánh chức được mọi người dành cho sự tôn kính xứng đáng. Một người hầu việc Chúa phải luôn luôn ý thức rằng ông đang lãnh đạo những người khác bằng những gì ông có chứ không phải những gì ông nói. Trách nhiệm càng lớn thì vinh dự càng cao. Chúa Jêsus phán: “Vì ai đã được ban cho nhiều, thì sẽ bị đòi lại nhiều” (LuLc 12:48).
11. Một bản liệt kê phẩm chất khác của người hầu việc Chúa đã được ra trong Tit Tt 1:6-9. Hãy đọc và so sánh với phẩm chất ở ITi1Tm 3:1-7. Rồi làm bài tập sau đây.
Hãy liệt kê năm phẩm chất có trong cả hai khúc Kinh Thánh trên.


Có hai phẩm chất tương tự nhau trong cả hai sách. Đó là những phẩm chất gì?


Một lời khích lệ cổ vũ trong Tít liên quan đặc biệt đến chức vụ và không được liệt kê trong danh sách ở Timôthê.


Trong thư Tít có nói gì về các con của người lãnh đạo Hội Thánh mà thư Timôthê đã không nói đến?


Hãy liệt kê những phẩm chất còn lại trong thư Tít mà không được liệt kê trong danh sách Timôthê.


12. Để làm sáng tỏ những phẩm chất theo Kinh Thánh dạy cho những người hầu việc Chúa. Bạn hãy ghi số 1 ở trước mỗi câu trên cách đặc biệt trong Kinh Thánh và số 2 ở trước những câu KHÔNG có trong Kinh Thánh.
Không chỗ trách được (không có lỗi)
Chỉ có một vợ
Phải được sự chấp thuận của Tổng Giáo Hội của Hội Thánh.
Phải hiếu khách
Hoàn tất chương trình huấn luyện theo như cấp lãnh đạo Hội Thánh đòi hỏi.
Phải tự chế, mềm mại, yêu hòa bình.
Phải có khả năng cai trị nhà riêng mình, thực hành sự lãnh đạo thuộc linh xứng đáng trong gia đình.
NHỮNG PHẨM CHẤT CHUNG:
Nghiên cứu:
Mục tiêu 5: Tầm quan trọng của việc nghiên cứu Kinh Thánh của những người hầu việc Chúa .
Mục tiêu 6: Nhận diện ra sự mô tả về chức vụ của Đức Thánh Linh trong tiến trình nghiên cứu Kinh Thánh .
Mỗi người có trách nhiệm hầu việc Chúa phải là người học trò của Kinh Thánh. Nếu bạn giảng đạo hay dạy đạo phải rất quen thuộc, thông thạo với quyển Kinh Thánh mà bạn đang sử dụng. Bất cứ ai được kêu gọi phục vụ Lời Chúa cũng được kêu gọi để nghiên cứu Lời Chúa, vì chức vụ này đòi hỏi công việc kia. Nếu bạn dạy người ta đọc thì trước hết bạn phải biết đọc. Bạn nghĩ gì nếu một giáo sư âm nhạc mà không biết gì về nhạc lý không? Bạn có nghĩ như vậy nếu một giáo sư Kinh Thánh mà không biết gì về Kinh Thánh không? Nghiên cứu, học tập là cái giá bạn phải trả để đạt nếu bạn muốn làm người truyền đạo có hiệu quả và làm thầy dạy Lời Chúa thành công. Chúng ta hãy xem xét một số gợi ý về nghiên cứu. Bạn cần phát huy thói quen nghiên cứu hằng ngày và trung tín dữ thói quen đó. Phải hết sức tránh xa những gì ngăn trở hoặc những gì làm xao lãng nghiên cứu học hỏi. Hãy giữ cuốn Kinh Thánh và cuốn sổ tay bên cạnh. Bất cứ điều gì bạn đọc được hãy sẵn sàng dùng đến khi bạn cần.
Cũng như bạn cần có thì giờ đều đặn để học tập, thì bạn cũng cần một nợi để học tập đều đặn. Dù nơi bạn học được dùng làm gì vào thì giờ khác nhau nhưng khi đến giờ Kinh Thánh bạn cứ dùng nơi đó để học. Như vậy bạn đánh giá đúng đắn về tầm quan trọng của công việc hầu việc Chúa của bạn.
13. Hãy đọc IPhi 1Pr 3:15 và so sánh với IITi 2Tm 2:15. Theo những câu Kinh Thánh này, giải thích tầm quan trọng của việc học Kinh Thánh đối với các Cơ đốc nhân nói chung và đặc biệt là cho những người hầu việc Chúa. Hãy sử dụng cuốn sổ tay của bạn để trả lời câu hỏi này.
14. Hãy đọc những câu sau đây vốn giải thích tầm quan trọng của việc dành một thì giờ đặc biệt và một chỗ đặc biệt để học Kinh Thánh.
Hãy suy nghĩ đến hoàn cảnh của bạn và kiểm soát xem nơi nào thích hợp cho việc học dù nơi đó bạn đã hài lòng (H) hay cần cải thiện thêm (C)
….. …. Tạo được một thái độ thích đáng cho việc học.
….. …. Làm cho tôi dễ đi vào kỷ luật học tập.
….. …. Tất cả các tài liệu tôi cần đến có sẵn để giúp tôi trong việc học
…. …. Tạo cho tôi sự riêng tư cần thiết để tôi tập trung vào việc học.
…. …. Hãy để người khác biết rằng tôi đang bận vào giờ đó.
…. …. Hãy để người khác biết rằng tôi đang dùng chỗ ấy vào giờ đó.
…. …. Giúp tôi lập kế hoạch các hoạt động của tôi quanh việc học Kinh Thánh của tôi.
…. …. Có đủ ánh sáng và bàn ghế cho việc học tập có hiệu quả.
Hãy viết vào trong sổ tay của bạn về điều bạn có thể làm để cải thiện chỗ học tập của bạn và làm thế nào bạn có thể sắp xếp thì giờ hầu cho bạn có được một thì giờ đều đặn và đặc biệt cho việc học tập
Hãy nhớ rằng việc học Kinh Thánh khác với các sách thông thường. Mục tiêu chính của bạn là biết Kinh Thánh nói gì và hiểu Kinh Thánh có nghĩa gì. Nguồn giúp đỡ chính yếu của bạn là Đức Thánh Linh. Chúa Jêsus đã phán : “Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật” (GiGa 16:13).
Kinh Thánh là sự khải thị thiên thượng. Vì lý do đó chúng ta phải tùy thuộc vào chức vụ dạy dỗ của Đức Thánh Linh để đưa dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật. Có hai lý do tại sao chúng ta phải được Đức Thánh Linh dạy dỗ. Trước hết, chỉ có Đức Thánh Linh mới biết được mọi sự thuộc về Đức Chúa Trời. Thứ hai, chỉ có Đức Thánh Linh mới có thể bày tỏ những sự thuộc về Đức Chúa Trời.
15. Đọc ICo1Cr 2:9-15 và giải thích tại sao chúng ta rất cần được Đức Thánh Linh dạy dỗ trong hai lãnh vực này. Hãy viết câu trả lời của bạn trong sổ tay.
Làm thế nào Đức Thánh Linh biết các mục đích của Đức Chúa Trời
Làm thế nào để chân lý của lời Chúa được soi sáng cho chúng ta?
Có nhiều phương tiện hỗ trợ chúng ta đọc Kinh Thánh nhưng quan trọng hơn hết là chúng ta phải nhận được sự giúp đỡ đặc biệt từ Đức Thánh Linh bên trong. Hãy mở sách Mat Mt 16:13-17 và đọc biết thể nào Phierơ để hiểu biết Chúa Jêsus chính là Đấng Christ bạn sẽ để ý rằng chân lý này đã được đến với ông do sự khải thị của Đức Chúa Cha chứ không phải do sự hiểu biết hay kinh nghiệm của loài người.
16. Chức vụ của Đức Thánh Linh trong sinh hoạt nghiên cứu Kinh Thánh có thể được miêu tả tốt nhất như là.
Sự hướng dẫn cung cấp cho mọi người bên ngoài Kinh Thánh.
Ban sự nhận thức vào trong Lời Chúa và bày tỏ làm thế nào Lời đó áp dụng vào đời sống và chức vụ của một người.
Cung cấp sự linh cảm mà một người thỉnh thoảng cần đến khi nghiên cứu Lời Chúa.
Yêu thương
Mục tiêu 7: Hãy giải thích tại sao tình yêu thương phải là động cơ tiềm ẩn của chức vụ hầu việc việc Chúa .
Tình yêu thương của Đấng Christ phải là sức mạnh tể trị trong đời sống mọi người hầu việc Chúa. Phaolô đã nói: “Vì yêu thương của Đấng Christ cảm chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người chết, lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình”. (IICo 2Cr 5:14-15)
Không có động cơ nào thúc đẩy chức vụ tiến mạnh và thành công nếu không có tình yêu của Đấng Christ. Một luật sư hay một bác sĩ hoặc một thương gia có thể phục vụ người ta vì những động cơ nhỏ bé hơn nhưng mọi người hầu việc Chúa phải được tình yêu của Đấng Christ thúc đẩy, cảm động. Một lần kia, một trẻ đã nói: “Tôi thích giảng đạo!” Một Mục già đã trả lời: “Vâng nhưng ông yêu thích người ta không? “ “Vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng của chúng ta bởi Đức Thánh Linh đã được ban cho chúng ta.” (RoRm 5:5) giống như Phaolô, bạn cũng có thể được tình yêu thương của Chúa chiếm hữu.
17. Hãy đọc ICo1Cr 13:1-13. Hãy đặc biệt lưu ý các câu 1 và 2 và giải thích bằng ngôn ngữ của bạn tại sao tình yêu thương phải là động cơ tiềm ẩn của người hầu việc Chúa.


Thái độ:
Mục tiêu 8: Hãy nhận diện những phẩm chất quen thuộc với một người chăn bầy tốt và một tốt. Căn cứ trên bốn khúc Kinh Thánh nói về người chăn chiên .
Hãy mở ra IPhi 1Pr 5:1-7 và đọc những lời chỉ dẫn của Phierơ về thái độ đúng đắn một người phải có đối với chức vụ. Ông so sánh vai trò của người hầu việc Chúa với một người chăn bầy. Ông đã nghe đến hình ảnh mà Chúa Jêsus đã dùng sau khi Ngài Phục sinh (GiGa 21:15-19). Chỉ một vài ngày trước đó, Phierơ đã chối mình không phải là môn đệ của Chúa Jêsus. Để đưa ông trở lại mối thông công của Ngài. Chúa Jêsus đã hỏi ông ba lần về việc xác nhận tình yêu thương và ý nghĩa của mỗi lần Ngài hỏi Phierơ và giao trách nhiệm chăn chiên của Ngài. Trách nhiệm đó bao gồm cả việc nuôi chiên và chăm sóc tất cả mọi nhu cầu của cả những chiên con và chiên đã lớn. Đây là một hình thức rất đẹp về sự chăm sóc của Ngài chăn chiên tốt đối với bầy chiên.
18. Hãy đọc HeDt 5:11; 6:3; IPhi 1Pr 2:2; ICo1Cr 3:1-3 và trả lời những câu hỏi sau đây: Hãy khoanh tròn chữ đầu của mỗi câu ĐÚNG.
Chiên con cần khẩn phần sữa thường ngày để giúp cho đời sống thuộc linh của chúng được lớn lên trong những kinh nghiệm đầu tiên của sự cứu rỗi.
Sữa không dành cho con chiên đã lớn chúng cần đồ ăn cứng để giúp chúng tạo ra sự trưởng thành thuộc linh.
Người chăn bầy chiên phải rất nhạy bén với những nhu cầu của những em bé thuộc linh lẫn những người đã trưởng thành để chuẩn bị chức vụ mình trên cơ sở này cũng như theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh.
Những con trẻ thuộc linh thường bơ vơ, không tự lực được và hay xa lánh người chăn. Cần giúp đỡ cho họ vượt qua khỏi tình trạng con trẻ thuộc linh là trách nhiệm chính của người hầu việc Chúa.
19. Căn cứ trên bản liệt kê về phẩm chất của trang bên cạnh rồi trả lời những câu hỏi sau đây trong sổ tay của bạn.
CÁC PHẨM CHẤT CỦA NGƯỜI CHĂN BẦY THUỘC LINH
Thi Tv 23:1-6
Người chăn chiên cung cấp:
Mọi sự con chiên cần: Thức ăn, nước uống, nghỉ ngơi để chúng lớn lên và phát triển
Hướng dẫn: Người chăn dẫn chiên vào những con đường ông lựa chọn.
Bảo vệ và sửa dạy: Cây trượng và cây gậy của người chăn lo việc bảo vệ cho nên con chiên không hề sợ hãi.
Đáp ứng mọi nhu cầu -ngay cả khi kẻ thù đe dọa.
GiGa 10:16
Người chăn chiên hiền lành
Cung cấp sự cứu rỗi cho chiên Ngài.
Biết chiên Ngài, chiên biết và tin cậy Ngài
Dẫn chiên vào lối đường đúng, nuôi chiên, bảo vệ chiên và chăm sóc chiên các nhu cầu của chiên.
Là một gương tốt và bầy chiên tin cậy đi theo Ngài.
Quan tâm đến bầy chiên Ngài và sẵn sàng chết vì chiên.
Quan tâm đến mọi chiên vì Ngài có tấm lòng và tầm nhìn của một người chăn chiên.
LuLc 15:4-7
Người chăn chiên :
Để bầy chiên ở nơi an toàn khi người đi tìm con chiên lạc mất.
Cố tìm cho được con chiên bị mất.
Đưa con chiên lạc trở về chuồng chiên.
Vui mừng vì sự trở về của con chiên lạc.
IPhi 1Pr 5:1-7
Người chăn bầy
Chăm sóc chiên cách vui lòng
Phục vụ vì cớ yêu chiên chứ không phải đó chỉ là công tác.
Biết lòng phục vụ và khiêm nhường.
Lãnh đạo một cách nhẹ nhàng chứ không kiểm soát khắt khe.
Làm gương tốt cho bầy chiên
Sẵn sàng thuận phục những người chăn lớn tuổi.
Không lo lắng gì khi phục vụ vì người tin cậy nơi Đấng chăn chiên trưởng.
Một người chăn bầy chăm sóc bầy chiên của mình trong ít nhất ba cách: Ông cung cấp, ông dẫn dắt, vì ông tìm kiếm. Hãy dùng những chữ này làm tiêu đề và lập ra danh sách trong sổ tay của bạn. Dưới mỗi đầu đề tương ứng hãy viết những chữ tronh Kinh Thánh mô tả việc chăm sóc của người chăn chiên dành cho bầy chiên.
Danh sách nào trong câu a là dài nhất? Điều này gợi ý gì về chức vụ bạn với tư cách là người chăn giữ dân sự của Đức Chúa Trời?
Là một người chăn bầy của Đức Chúa Trời, bạn có phải quan tâm đến những con chiên lạc hay không? Hãy chứng minh bằng một trong những câu Kinh Thánh này.
Bạn có nghĩ rằng một người giữ chức vụ chăn bầy mà không phải là một của một Hội Thánh không?
Một người không quan tâm đến bầy chiên đã được so sánh với một người chăn thuê trong GiGa 10:12-13. Một như thế có thật sự cung cấp được cho những nhu câu thuộc linh của người tín đồ không?
Năng lực thuộc linh:
Mục tiêu 9: Hãy liệt kê hai phẩm chất thuộc linh cần thiết phục vụ những người khác .
Để làm một người hầu việc Chúa có hiệu quả, bạn phải có cả năng lực thuộc linh lẫn sự hiểu biết thuộc linh. Sự sống thuộc linh bạn đã nhận được cần phải được chăm sóc như một cây non. Sự đọc Kinh Thánh và cầu nguyện hằng ngày rất cần để nuôi dưỡng cho sự sống đó mới lớn lên. Khi bạn nhận lãnh chức vụ, thì công việc chủ yếu là bạn phải đáp ứng các nhu cầu thuộc linh cho các tín hữu. Phaolô nói rằng Đức Chúa Trời đã ban Đức Thánh Linh để chúng ta có thể biết tất cả những gì Ngài đã cung cấp cho Hội Thánh (ICo1Cr 2:9-12). Khi biết Đức Chúa Trời đã cung cấp cho mọi nhu cầu, họ có thể phục vụ trong quyền năng của Đức Thánh Linh. Các môn đồ biết về sự Giáng sinh, cuộc đời, sự chết và sự Phục sinh của Chúa Jêsus, nhưng Ngài bảo họ chờ đợi để được đầy dẫy Đức Thánh Linh rồi mới làm chứng cho những người khác. Ngài đã hứa ban quyền phép cho những ai chờ đợi sự hiện đến của Đức Thánh Linh (Cong Cv 1:4-8) liệu chúng ta có dám làm ít hơn họ để chuẩn bị chính mình hầu phục vụ người khác hay không?
Bạn thấy rằng nhiều phẩm chất cần cho chức vụ. Một số phẩm chất do Kinh Thánh dạy, một số thuộc về truyền thống, văn hóa thuộc về dân tộc. Tất cả đều phải được đáp ứng đầy đủ như yêu cầu trong các luật lệ khác phải được vâng phục, nhưng phải không chống lại nguyên tắc của Kinh Thánh mức độ làm theo truyền thống hay văn hóa bạn phải thận trọng quyết định. Sự cầu nguyện, học Kinh Thánh và sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh sẽ giúp bạn có khôn ngoan giải quyết những vấn đề này. Bạn sẽ trưởng thành khi bạn tiếp tục hầu việc Chúa.
20. Hãy liệt kê hai phẩm chất thuộc linh để phục vụ người khác có hiệu quả.


HAI CHỨC VỤ ĐẶC BIỆT:
Chức vụ giảng đạo:
Mục tiêu 10: Nhận diện rõ những định nghĩa về sự giảng như đã được mô tả trong phần này .
Chúng ta hãy ôn lại những gì nói về chức vụ. Chức vụ nghĩa là phục vụ, và vì có cách để phục vụ nên cũng có nhiều cách để hầu việc Chúa. Nhưng cũng có những chức vụ đặc biệt cho thân thể của Đấng Christ như là chức vụ người truyền giảng Tin Lành, các và Giáo sư . Bây giờ chúng ta sẽ xét các chức vụ giảng và dạy như là một phương pháp của Kinh Thánh để truyền thông Lời Chúa.
Giảng là gì?
Tự điển nói rằng giảng là “Công bố cách công khai, thúc giục người ta giao tiếp nhận hay từ bỏ một ý tưởng hoặc một hành động. Trình bày một bài giảng” (Định nghĩa theo quan niệm của Kinh Thánh mà chúng ta sẽ đề cập đến sau). Từ định nghĩa này chúng ta thấy rằng giảng là sự trình bày một bài giảng của một hay thầy giảng với một hội chúng một cách công khai và có nghi thức. Thông thường trong khi giảng một bài giảng thì không có ai ngắt lời. Sứ điệp của sự giảng đạo là Chúa Jêsus Christ được trình bày như là Chúa. Sự kêu gọi chủ yếu của bài giảng Tin Lành cứu rỗi người hư mất là sự ăn năn, đức tin qua sự phó thác. Giảng cũng là phương tiện qua đó các Cơ đốc nhân nhận được chất bổ dưỡng thuộc linh và có thể lớn lên trong đức tin.
Mạng lệnh giảng đạo đã được Chúa truyền khi Ngài phán “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người” (Mac Mc 16:15). Phaolô đã hai lần trao trách nhiệm giảng đạo cho Timôthê: “Ta… răn bảo con rằng: Hãy giảng đạo, cố khuyên…” (IITi 2Tm 4:2) trong một chỗ khác ông đã nói “Hãy chịu cực khổ làm việc của người giảng Tin Lành, mọi phận sự về chức vụ con phải làm cho đầy đủ” (4:5). Giảng đạo là phương pháp quan trọng mà Đức Chúa Trời đã chọn để đem Tin Lành đến cho mọi người.
21. Đặt số 1 ở trước những câu định nghĩa chức vụ giảng đạo và số 2 trước những câu không định nghĩa sự giảng đạo.
Một trình bày công khai trước một hội chúng mà không bị sự ngắt lời và có sự đáp ứng của thính giả.
Một bài diễn thuyết được đánh dấu bằng vài lời thuyết trình cộng thêm vài câu hỏi và vài câu trả lời.
Một sứ điệp dài, cấp bách và không bị ngắt lời được một diễn giả trình bày với một nhóm người, để thúc giục họ tiếp nhận một hành động hoặc một quan điểm.
Một buổi họp thân mật trong đó một người trình bày cho những người tham dự biết sử dụng lời giáo huấn thí dụ hay kinh nghiệm, có thể bị các thính giả ngắt lời.
CHỨC VỤ DẠY ĐẠO:
Mục tiêu 11: Định nghĩa chức vụ dạy đạo
Mạng lệnh dạy đạo đã được Chúa truyền khi Ngài phán “Hãy đi dạy dỗ muôn dân và dạy cho họ giữ hết thảy mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi” (Mat Mt 28:19-20) Phaolô đã dạy Timôthê “Hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (IITi 2Tm 4:2). Trong phần mô tả người đầy tớ tốt của Chúa Jêsus Christ (ITi1Tm 4:4-16) Phaolô đã truyền lệnh rằng “Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ” (C. 11). Dạy dỗ là một phương pháp chính yếu khác mà Chúa đã chọn để đem Tin Lành đến cho mọi người khắp mọi nơi.
Dạy là gì?
Dạy là làm cho người ta hiểu biết hoặc giúp đỡ người khác đạt được kiến thức hoặc kỹ năng giải thích cách chi tiết về những điều đã được công bố và đã được tiếp nhận bằng đức tin. Một giáo sư là một người hướng dẫn các học sinh đi vào những kinh nghiệm học tập. Trong khi dạy, mặt này có thể bao gồm sự nghi thức, trật tự, và thường thường có mở rộng quan điểm về một đề tài, thì mặt khác cũng bao gồm cả sự thảo luận các ý tưởng khi các học sinh có sự tác động qua lại về đề tài với nhau và với giáo sư. Dạy liên quan đến sự sắp xếp và quản lý các tài liệu hướng dẫn và sự cung cấp một môi trường học hỏi tốt đẹp. Một số kinh nghiệm học tập trong những lớp học và một số được ngoài lớp học.
Mạng lệnh của Chúa Jêsus bao gồm việc khiến người ta theo Ngài và làm lời dạy của Ngài trở thành qui luật trong đời sống họ (Mat Mt 28:19-20). Phaolô tạ ơn Đức Chúa Trời về các Cơ đốc nhân La Mã đã vâng theo lời dạy của ông (RoRm 6:17). Sau sứ điệp của Phierơ, những người nghe ông ở Thành Giêrusalem muốn biết họ phải làm gì và cần được chỉ dẫn (Cong Cv 2:36-42). Nội dung của sự dạy dỗ Cơ đốc là Kinh Thánh. Là để hiểu biết và thực hành và làm theo đời sống Cơ đốc nhân được trưởng thành.
22. Khoanh tròn chữ đầu của câu định nghĩa đúng chức vụ dạy.
Dạy là sự công bố rộng rãi hoạc rao báo Tin Lành do một truyền cho hội chúng. Trong đó về phần thính giả không có phản ứng gì với sứ điệp đó cả.
Dạy là chức vụ khiến cho người ta học được kiến thức hay kỹ năng bằng lời giáo huấn, bằng thí dụ hoặc bằng kinh nghiệm do một phương cách trình bày và trong đó thường có sự thảo luận giữa các giáo sư và các học sinh.
Dạy là một diễn thuyết một đề tài định sẵn trong một lớp học. Các học sinh lắng nghe và mong muốn hiểu biết bằng cách nghe những gì giáo sư nói ra.
KẾT LUẬN:
Sự giảng đạo và dạy đạo của Tân ước thực sự là hai khía cạnh diễn tả một chức vụ. Vậy thật là sai lầm khi giới hạn ý nghĩa của các chữ Giảng và Dạy bằng cách nói rằng các truyền đạo Tân ước hoặc chỉ giảng đạo cho người hư mất hoặc chỉ dạy giáo lý cho Hội Thánh. Kinh Thánh chứng tỏ rằng có một mức độ dạy dỗ trong sự giảng đạo của Chúa Jêsus và các sứ đồ, cũng như có một mức độ giảng đạo trong sự dạy dỗ của họ. Hãy lưu ý rằng có một sự phân biệt giữa chức vụ giảng và dạy của Chúa Jêsus trong các Hội Thánh (Mat Mt 4:23 LuLc 4:44) Mac Mc 1:21, 22, 27, 38). Cũng một thể ấy, Phaolô đã giảng và dạy trong nhà hội tại Côrinhtô thuyết phục cả người Do Thái lẫn người ngoại bang rằng Chúa Jêsus là Đấng Messiah. (Cong Cv 18:4, 5, 11) người hư mất đã được cứu rỗi (19:8, 18-19). Sau khi người đề lao ở thành PhiLíp trở lại đạo, Phaolô đã giảng về phép báp têm bằng nước và sự phục vụ thực tế của Cơ đốc nhân (16:30-34). Nói chung, ta có thể suy ra từ các sách trong Tân ước rằng giảng liên quan hơn nhiều đến nền tảng của kinh nghiệm Cơ đốc nhân và dạy liên quan hơn nhiều đến thượng tầng kiến trúc. Một kiến trúc cần cả hai công tác được hoàn thành. Mạng lệnh toàn diện của Đại mạng lệnh là Hội Thánh phải đi đến với mọi quốc gia (1:18), mọi nền văn hóa (Mat Mt 28:19-20) và mọi con người (Mac Mc 16:15) bằng cách làm chứng, bằng cách dạy dỗ và bằng cách giảng đạo.
Đây là những sự suy nghĩ đầu tiên về sự giảng đạo và dạy đạo. Chúng ta sẽ nghiên cứu mỗi phần đầy đủ hơn trong các đơn vị học tiếp theo.
Bài tập trắc nghiệm cá nhân
Sau khi bạn đã ôn lại bài học này, bạn hãy làm bài trắc nghiệm. Rồi sau đó bạn hãy xem lại câu trả lời của mình so với những câu trả lời có sẵn ở phần cuối cuốn sách hướng dẫn này. Hãy học ôn lại bất cứ câu nào bạn trả lời không đúng.
Một trong những phẩm chất chủ yếu cần cho sự lãnh đạo là
Ước vọng một Cơ đốc nhân muốn thực hành là kiểm soát các Cơ đốc nhân khác
Thừa nhận rằng nhu cầu của các nhà lãnh đạo là thật sự trong thân thể của Đấng Christ.
Thừa nhận rằng mọi Cơ đốc nhân đều được kêu gọi để phục vụ.
2. Khoanh tròn ở mẫu tự đầu những câu sau đây? Không phải là phẩm chất của người hầu việc Chúa. Người hầu việc Chúa phải?
Có tiếng tốt như là kết quả của thái độ và giáo lý của Ông.
Là người trọn vẹn nếu ông được phục vụ.
Chân thật, lương thiện, thanh sạch và ngay thẳng.
3. Trong gia đình và trong đời sống riêng, chúng ta học biết rằng một người lãnh đạo phải.
Là người chồng của một vợ
Biết cai trị nhà riêng mình
Phải biết tự chế, cư xử đúng đắn, làm gương trong lời nói, việc làm và cách ăn mặc.
Có tất cả những điều trên.
4. Khoanh tròn những chữ đầu của tất cả lời tuyên bố dưới đây mô tả những phẩm chất của người muốn hầu việc Chúa trong Hội Thánh người đó phải.
Là một người hiếu khách.
b) Phục vụ vì cớ yêu mến Đức Chúa Trời và người khác.
c) Thể hiện sự kiên nhẫn, tử tế và tự chế.
Thu vén những thất bại cá nhân bằng cách làm ra vẻ mạnh mẽ trong chức vụ.
5. Những phẩm chất Kinh Thánh đòi hỏi ở người hầu việc Chúa rất cao bởi vì:
Người ta tin cậy nhiều hơn ở người lãnh đạo hơn là người không lãnh đạo.
Những ai thấy sự đòi hỏi nhiều hơn cấp lãnh đạo sẽ nản lòng không muốn làm người lãnh đạo.
Người ta luôn luôn được thúc đẩy làm việc hướng về các mục đích cao cho dù họ không thể đạt đến được.
6. Hãy nhận diện các phẩm chất mô tả đặc tính chức vụ giảng và dạy trong Tân ước dưới đây bằng cách đặt chữ số 1 ở trước các đặt tính của sự giảng và chữ số 2 ở trước các đặt tính của sự dạy:
Do một công bố lời Chúa cho một nhóm người.
Hướng dẫn người khác trong tiến trình học hỏi, thảo luận và đặt các câu hỏi.
“Gieo giống” trên các cánh đồng.
Những cây riêng được trồng trong vườn.
7. Chức vụ giảng đạo và dạy đạo giống như công việc của một người chăn chiên là vì

8. Mạng lệnh hãy ân cần tiếp khách rất quan trọng bởi vì

9. Người hầu việc Chúa phải là một người học trò của Lời Chúa là vì

10. Chức vụ của Đức Thánh Linh là tối cần trong đời sống những người hầu việc Chúa, vì Ngài cung cấp

Trả Lời Những câu Hỏi trong bài Học
Những câu trả lời trong bài tập của bạn được trình bày không theo thứ tự, nhằm giúp cho bạn khỏi lười biếng. Hãy tìm số câu hỏi mà bạn cần và đừng có xem trước câu trả lời khác.
12. a (1) Hợp Kinh Thánh
b (1) Hợp Kinh Thánh
c (2) Không hợp Kinh Thánh
d (1) Hợp Kinh Thánh
1. I Timôthê, II Timôthê, và Tít
e (2) Không hợp Kinh Thánh
f (1) Hợp Kinh Thánh
g (1) Hợp Kinh Thánh
13. Người hầu việc Chúa phải luôn nghiên cứu lời Chúa để phát triển phần thuộc linh. Như vậy chúng ta mới có thể trả lời thích đáng cho những ai hỏi lẽ về đức tin và hy vọng Cơ đốc.
2. Hãy làm bài trắc nghiệm để chứng tỏ rằng bạn đã hoàn tất công tác được giao.
14. a) Câu trả lời riêng của bạn
b) Điều quan trọng là sự cải thiện nơi học tập và quyết tâm để riêng một thì giờ đều đặn hằng ngày để học tập.
a) Đúng
b) Sai
c) Đúng
15. a) Đức Thánh Linh dò xét mọi sự, ngay cả những câu Kinh Thánh của các mục đích của Đức Chúa Trời. Ngài biết rõ ý muốn của Đức Chúa Trời và những nhu cầu của tất cả chúng ta nữa. Khi chúng ta cầu nguyện trong Thánh Linh, Đức Thánh Linh đáp ứng những nhu cầu của chúng ta theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
b) Khi chúng ta trông đợi trước mặt Chúa trong sự cầu nguyện, nghiên cứu lời Chúa và suy gẫm, chúng ta được Đức - Thánh Linh ngự trị trong lòng. Lẽ thật thuộc linh và sự áp dụng lẽ thật ấy trong đời sống riêng của chúng ta và những người nghe chúng ta chỉ có hiệu quả khi chúng ta thực sự sống và bước đi trong Thánh Linh.
4. b) Một sự tin cậy thiêng liêng.
c) Một đặc ân
e) Một sự chia sẻ và sự thương khó của Đấng Christ có thể gồm cả sự gian khổ.
16. b) Ban sự hiều biết Lời Chúa và bày tỏ cách làm thế nào để áp dụng Lời Chúa vào đời sống và chức vụ của một người.
5. c) Chức vụ đã được hiểu như là phục vụ Chúa vì cớ thân thể của Ngài trên mặt đất.
17. Câu trả lời riêng của bạn. Nếu chúng ta phát huy mọi khả năng trong việc soạn và trình bày bài giảng đồng thời thi hành một chức vụ xức dầu, nhưng nếu không có tình yêu thương làm chất liệu cho lời nói của chúng ta, chúng ta sẽ thất bại hoàn toàn.
6. c) Thăng tiến sự tăng trưởng thuộc linh và sự hiệp một bên trong thân thể và sự ra đi đến với thế gian.
18. Tất cả những đều này là đúng. Bằng cách nhạy cảm với những nhu cầu của tất cả các con chiên, người chăn chiên có thể dành cho bày chiên sự chăm sóc và hỗ trợ cần thiết để giúp cho bầy chiên phát triển có kết quả và khỏe mạnh, trưởng thành phần thuộc linh.
7. b) Alfred là một Cơ đốc nhân được ba năm.
19. a) Ông cung cấp Thi Tv 23:1-6
- Mọi nhu cầu cho đời sống, sự lớn lên và sự phát triển
- Sự hướng dẫn
- Những bữa tiệc, sự vui vẻ và sự xức dầu
- Làm bạn đồng hành trong những lúc thử thách
- Thức ăn khi kẻ thù chống nghịch
GiGa 10:1-42
- Mọi nhu cầu cho sự lớn lên và phát triển của bầy chiên
- Chăm sóc chiên bằng tình yêu thương
- Bảo vệ chiên sẵn sàng binh vực hoặc chết vì chiên.
LuLc 15:1-32
- Tìm kiếm những người bị mất một ví dụ vui mừng đối với việc cứu được người hư mất.
IPhi 1Pr 5:1-14
- Chăm sóc toàn diện cho bầy chiên
- Một thí dụ về sự tin cậy
Ông dẫn dắt:
- Vào những con đường đúng
- Chiên mình đến đồng cỏ trên con đường đúng
- Lãnh đạo cách nhẹ nhàng
Ông tìm kiếm:
- Khôi phục linh hồn lầm lạc
- Những chiên khác
- Cố tìm chiên bị mất
b) Danh sách đầu tiên là dài nhất. Điều này gợi ý rằng việc cung cấp cho chiên là trách nhiệm chính.
Vâng. Trong Giăng 10:16; chúng ta thấy người chăn chiên quan tâm đến những chiên khác chưa thuộc về chuồng.
Vâng, tôi xin chức vụ chăm sóc cho các nhu cầu là trách nhiệm của hết thảy phần tử trong gia đình của Đức Chúa Trời. Là “ những chiên” chúng ta có sự phân biệt sâu xa về nhu cầu của những con chiên khác và chúng ta biết rằng trong mọi nan đề Đấng chăn chiên trưởng đều có giải pháp cả.
Câu trả lời của bạn. Tôi nói rằng “Không!” Một người như thế có những tư lợi trong lòng, không phải vì sự an ninh thuộc linh của cả bầy chiên. Đây là lý do chúng tôi đã nói trước rằng bạn phải tự hỏi lòng mình và Đức Chúa Trời tại sao bạn lại muốn tham gia vào chức vụ.
8. b) Có được tiếng tốt
c) Là gương mẫu của sự trung thực và thanh sạch.
d) Tự trình diện mình như một người lịch sự biết cư xử tốt đẹp…
20. Chúng ta phải có sự hiểu biết thuộc linh nhờ đọc và suy gẫm lời Chúa cùng sự cầu nguyện. Rồi chúng ta cần quyền phép và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh để chiến thắng sự sợ sệt trong lòng và những trở lực bên ngoài. Quyền phép của Đức Thánh Linh giúp chúng ta tiến hành công việc Chúa.
9. a) Là ân cần tiếp khách
b) Phải phát huy khả năng dạy dỗ
e) Phải trưởng thành thuộc linh
21. a) 1) Thí dụ đúng
b) 2) Không phải thí dụ
c) 1) Thí dụ đúng
d) 2) Không phải thí dụ
10. c) Mọi người: Những Cơ đốc nhân khác, người chưa tin Chúa và các thành viên trong gia đình.
22. b) Dạy là chức vụ khiến người khác học tập.
11. a) Không chỗ trách, chỉ một vợ, tự chế, không say sưa, không tàn bạo.
b) 1) Phải không ham tiền - Không tham tiền
2) Phải tiếp khách lạ - Phải hiếu khách
c) Phải nắm vững sứ điệp
d) Con cái phải là tín đồ và không mang tiếng là hư hỏng và không vâng lời.
e) Không khoe khoang, không nhạy giận, phải yêu mến điều lành, đều phải ngay thẳng, phải thanh khiết, phải có kỷ luật.
Bạn hãy chuẩn bị chính mình
Có bao giờ bạn đứng xem một họa sĩ đang vẽ tranh chưa? Việc đầu tiên là ông phát họa toàn cảnh của bức tranh: Một cái ao, một hàng rào, và một nhà kho cũ. Cũng bức tranh đó một vài ngày sau ông vẽ thêm vào đó một mặt trời xế chiều, môt vài đám mây, một hàng rào có lan can bao quanh và một cành cây vắt ngang. Sau đó, ông tô màu lần cuối. Việc học Kinh Thánh có nhiều nét tương tự như vậy. Ta không nghiên cứu một đề tài hay soạn một bài giảng mà có thể làm xong chỉ trong một lần ngồi xuống. Học tập là một quá trình tích lũy, chồng chất mãi lên, mọi đều bạn học được cộng thêm những đều bạn đã biết. Chân lý Kinh Thánh giống như một bức tranh chưa bao giờ hoàn tất hẳn. Là một sinh viên của lời Chúa. Bạn sẽ cứ nghiền ngẫm Kinh Thánh luôn luôn. Khi bạn học tập và mỗi lần bạn học, bạn đều nhận được một đều gì đó để làm cho bức tranh chân lý được thêm phần hoàn tất thêm một chút.
Trong bài này chúng ta sẽ thảo luận phương pháp học Kinh Thánh và hiểu biết Kinh Thánh tốt hơn. Khi bạn chuẩn bị chính mình để phục vụ cho nhu cầu người khác qua việc giảng đạo và dạy đạo.
Bố cục bài học :
Đọc để bồi linh cho cá nhân.
Đọc để hiểu biết.
Tiếp tục phát triển cá nhân.
Mỗi lần thêm vào một ít thì bức tranh chân lý càng lúc càng hoàn tất hơn.
Những mục tiêu của bài học :
Khi học xong bài học này bạn phải:
Giải thích được việc học Kinh Thánh là đáp ứng cho nhu cầu bồi linh cá nhân.
Đọc Kinh Thánh nhằm những mục đích đặc biệt.
Mô tả nhu cầu tiếp tục phát triển cá nhân.
Những sinh hoạt học tập :
1- Nghiên cứu sự phát triển của bài học và trả lời những câu hỏi trong bài như thường lệ.
2- Học hiểu ý nghĩa những chữ chìa khóa quan hệ mới mẽ đối với bạn.
3- Làm trắc nghiệm cá nhân ở cuối phần bài học rồi so sánh những câu trả lời của bạn với những câu trả lời có sẵn ở sách hướng dẫn này. Hãy học ôn lại những mục mà bạn trả lời không đúng.
4- Hãy thực tập thường xuyên việc đánh giá chính mình, sử dụng hình thức đánh giá cá nhân trong bài học này. Sẽ giúp bạn trở thành một Cơ đốc nhân sâu sắc hơn.
Những từ căn bản :
Analogy: Tương Trợ
Anlytical Method: Phương pháp phân tích, phân chia ra thành nhiều phần nhằm mục đích nghiên cứu kỹ từng chi tiết.
Crises: những biến cố đầy cảm xúc ý nghĩa, hoặc những thay đổi căn bản trong đời sống của một người
Devotional: Thuộc về sự bồi linh
Devotions: Thờ phượng, cầu nguyện, lời cầu xin
Prayer: Cầu thay, cầu xin ân huệ cho người khác
Involved: Dính dáng, liên hệ
Involvement: Hành động có dính dáng đến
Perspective: Phối cảnh tầm nhìn
Practical: Thực tế, có liên hệ đến hành động hơn là lý thuyết
Method: Phương pháp tổng hợp nhìn nhiều phần như là toàn bộ nhằm mục đích nghiên cứu
Systematic:Có hệ thống
Khai triển bài học
ĐỌC ĐỂ BỒI LINH CHO CÁ NHÂN
Mục tiêu 1: Giải thích tại sao sự bồi linh cá nhân (sự tĩnh nguyện ) là quan trọng trong đời sống người hầu việc Chúa
Bill Balse làm việc cho một Công ty lớn trong thành phố và đang dạy một lớp Kinh Thánh cho người lớn hằng tuần tại Hội Thánh địa phương của anh. Công việc của anh bắt đầu lúc 8 giờ, nhưng Bill đến văn phòng lúc 7 giờ 15 để dành thì giờ tĩnh nguyện. Anh nói, “Tôi bắt đầu bằng sự ngợi khen và cầu nguyện khi tôi đọc xong phần Kinh Thánh, tôi ngồi yên lặng và suy gẫm về những lời tôi đã đọc. Đôi khi tôi viết một điều gì đó vào cuốn sổ tay của tôi. Việc dành thì giờ bồi linh những buổi sáng giúp tôi khởi đầu một ngày rất tốt đẹp”.
Giờ tĩnh nguyện rất quan trọng đối với một Cơ đốc nhân và nhất là với bạn là người hầu việc Chúa giữa những người khác, Ngài muốn bạn gần gũi với sự hiện diện của Đức Chúa Trời để bạn phản ánh vẻ đẹp của Ngài, ân điển của Ngài và bản tính của Ngài. Khi bạn phát huy mối quan hệ này với Ngài thì những nhận thức của bạn về chức vụ và nhu cầu của người sẽ càng tăng trưởng và khi sự phát triển thuộc linh của bạn về mối quan hệ giữa sự tình nguyện cá nhân và sự phục vụ có thể được tăng cường. Hãy suy nghĩ đến một hình ảnh một con bò cái đi ra ăn cỏ vào lúc sáng tinh mơ trong ngày. Rồi nó tìm nước uống và nghỉ ngơi trong bóng mát. Cuối cùng, trời về chiều, nó trên đường trở về chuồng nhai những gì nó đã ăn. Sữa không hề đến với tâm trí con bò. Nó không đi vào đồng cỏ để tạo ra sữa. Nó ra đồng để ăn cỏ, uống nước và nằm nghỉ dưới bóng râm. Đối với bạn và sự tĩnh nguyện riêng của bạn cũng vậy: bạn không bước vào góc phòng để cầu nguyện để tạo ra những bài giảng và những bài học. Bạn tĩnh nguyện là nhằm ích lợi và hạnh phước cá nhân bạn. Tuy nhiên, chỉ khi bạn nuôi dưỡng được đời sống tinh thần của bạn thì bạn mới có thể nâng đỡ người khác, thêm sức mạnh cho người khác khi bạn phục vụ họ.
Là một người hầu việc Chúa, bạn chỉ có thể chia sẻ với những người khác những điều thuộc linh vốn thực sự là của bạn. Khi bạn phục vụ người khác. Lời giảng hoặc dạy phải là lời sống và có thực đối với bạn. Khi lời ấy dầm thấm cả lòng và tâm trí bạn, thì nó mới đem lại phước hạnh cho những người nghe, chỉ khi nào bạn tìm thấy được mối quan hệ thực sự có nghĩa với Đức Chúa Trời thì bạn mới có thể dẫn dắt những người khác đến với Ngài. Khi Đức Thánh Linh hướng dẫn bạn và ban quyền năng cho bạn, thì bạn mới có thể giúp đỡ người khác bước vào kinh nghiệm như bạn chỉ khi nào bạn có được kinh nghiệm cá nhân bạn mới chia sẻ cho người khác.
Người chăn chiên thuộc linh phải đi tìm cho đồng cỏ xanh tươi, mé nước bình tịnh của Lời Chúa cho chính mình và rồi hướng dẫn cho người khác vào những nơi phước hạnh đó. Điều gì bạn có thì bạn mới có thể ban cho người khác (Cong Cv 3:6) và người ta cũng sẽ biết khi bạn đã từng ở trong mối thông công với Ngài.
CHỈ KHI NÀO BẠN NUÔI DƯỠNG ĐƯỢC ĐỜI SỐNG THUỘC LINH CỦA RIÊNG MÌNH THÌ MỚI CÓ THỂ NÂNG ĐỠ NGƯỜI KHÁC KHI BẠN PHỤC VỤ HỌ
1. Khoanh tròn mẫu tự đầu của mỗi câu ĐÚNG sau đây.
Sự tĩnh nguyện cá nhân chủ yếu dùng để phát triển những kỹ năng và sự hiểu biết có cần cho chức vụ.
Một người hầu việc Chúa có thể dẫn dắt người khác bước vào những kinh nghiệm thuộc linh sâu sắc hơn khi ông chỉ ra được những gương mẫu trong Kinh Thánh và trong lịch sử những người đã trở thành những người “Khổng lồ thuộc linh” mặc dầu chính mình ông thì không tăng trưởng phần thuộc linh chút nào.
Một người không thể dẫn dắt người khác bước vào những Kinh nghiệm mà mình không từng trải gì cả.
Để hướng dẫn có hiệu quả, một người phải nuôi dưỡng đời sống thuộc linh riêng của mình và mối quan hệ với Đấng Christ.
Những đề nghị trong giờ tĩnh nguyện riêng của bạn. Hãy thành hình một thói quen cầu nguyện và suy gẫm Lời Chúa hằng ngày. Hãy để thì giờ ở riêng với Chúa. Đaniên đã lập thói quen cầu nguyện hằng ngày và tiếp tục như vậy ngay cả khi ông đối diện với sự chết trong hang sư tử (DaDn 6:10). Khi Đức Chúa Trời lập Giôsuê lên làm lãnh tụ của dân Ysơraên. Ngài hứa ban cho ông sự thành công và thịnh vượng nếu ông đọc và làm theo toàn bộ luật pháp của Đức Chúa Trời (Gios Gs 1:6-9). Bí quyết thành công chức vụ mà Đức Chúa Trời kêu gọi bạn sẽ tùy thuộc phần lớn trên mối quan hệ của Ngài và sự chuyên cần vâng phục Lời Chúa của bạn. Bạn có thể thức khuya và dậy sớm, nhưng bạn cần phải dành thì giờ để thông công riêng hằng ngày với Đức Chúa Trời.
2. Hãy đọc Mat Mt 26:36-46, Mac Mc 14:32-42, LuLc 22:39-46. Kinh nghiệm này dạy chúng ta điều gì về.
Sự cầu nguyện:
………………………………………………………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………………………………………...
Sự đáp ứng của con người với những thay đổi căn bản thuộc linh:
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….
Thánh Linh và xác thịt:
…………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Hãy bắt đầu giờ tĩnh nguyện bằng việc ngợi khen và thờ phượng. Hãy nuôi dưỡng trong lòng bạn một tinh thần cảm tạ và ngợi khen Đức Chúa Trời. Hãy suy nghĩ đến sự thương xót của Ngài, sự tốt lành nhân hậu của Ngài, và tình yêu thương của Ngài trong khi bạn dâng lời cảm tạ lên Ngài. Hãy cầu nguyện cùng cha Thiên Thượng thân mật như con nói chuyện với cha nói ra cách tự do những cảm nghĩ sâu kín nhất của bạn trong giờ cầu nguyện riêng. Qua những Thi Thiên của mình Đavít đã diễn tả những cảm xúc của ông, dù đó là lời phàn nàn về kẻ thù của ông (Thi Tv 28:1-5) hoặc đó là lời ngợi khen Đức Chúa Trời của ông (30:1-12). Hãy để lòng bạn trống không, không còn cay đắng, giận dữ và thất vọng bằng sự cầu nguyện, rồi hãy chờ đợi sự hiện diện của Ngài. Khi nào những tư tưởng của Ngài đúng đắn và ngay thẳng, thì đời sống bạn sẽ được đúng đắn và ngay thẳng (ChCn 4:23)
3. Sự cầu nguyện và ngợi khen Chúa trong giờ tĩnh nguyện cá nhân bao gồm các đặc điểm sau.
Đều đặn, kiên trì cầu xin những nhu cầu cá nhân và Hội Thánh
Bày tỏ tình yêu thương, lòng biết ơn, và chờ đợi sự hiện diện của Đức Chúa Trời để Ngài làm tươi mới tâm linh bạn bằng ân điển và sự nhân từ của Ngài.
Đem mọi nan đề và những nhu cầu đến trước mặt Chúa với một lòng tin quyết mạnh mẽ.
Một kế hoạch đọc Kinh Thánh có hệ thống là đặt Kinh Thánh ở vị trí trung tâm của giờ tĩnh nguyện. Nếu bạn đọc ba đoạn mỗi ngày trong tuần và năm đoạn mỗi ngày Chúa Nhật, thì bạn có thể đọc hết Kinh Thánh trong một năm. Một kế hoạch khác đề nghị buổi sáng bạn đọc ba đoạn trong Cựu ước và buổi tối hai đoạn trong Tân ước. Hãy chọn một trong hai kế hoạch và thực hành liên tục. Thức ăn có giá trị thế nào đối với thân thể thì Lời Chúa đối với tâm linh bạn cũng vậy. Bạn có thể bỏ ăn một bữa, bạn vẫn sống, nhưng nếu bạn liên tục không ăn gì cả thì bạn sẽ chết. Đối với đời sống thuộc linh bạn cũng thế ấy, bạn phải nhờ Lời Chúa để sống. Đừng chán nản nếu bạn không hiểu hoặc không nhớ tất cả những gì bạn đọc. Có lần một người đã nói, “Thưa Mục sư, tôi đọc Kinh Thánh nhưng không nhớ gì cả. Đầu óc của tôi không ghi nhận được những gì tôi đã học”. Vị Mục sư nói với người đó, “Anh hãy cứ tiếp tục đọc đi, một cái rổ không giữ được nước nhưng khi nước chảy qua cái rổ đó sẽ được rửa sạch”.
Khi bạn đọc Kinh Thánh, hãy để Lời Chúa phán với bạn. Đừng vội vã. Phải có đủ thời gian để Đức Chúa Trời phán điều gì đó với bạn. Hãy dành thì giờ với Đức Chúa Trời và đừng vội vàng bỏ qua cơ hội để cho Đức Chúa Trời phán với bạn bằng Lời Chúa.
Bạn có thể dùng Lời của Đức Chúa Trời để cầu nguyện và ngợi khen. Khi bạn tìm thấy một câu, một khúc Kinh Thánh diễn tả được lời cầu nguyện và ngợi khen của lòng bạn, hãy dâng lời ấy lên cho Đức Chúa Trời. Chẳng hạn, Thi Tv 51:1-19 là lời cầu xin sự tha thứ. Eph Ep 1:15-23 là lời cầu nguyện của Phaolô cho các tín hữu ở Êphêsô. Bạn có thể thờ phượng Chúa với Thi Thiên 66, một trong số rất nhiều bài hát ngợi khen. Bạn sẽ tìm thấy nhiều khúc Kinh Thánh khác để tùy lúc sử dụng. Những Lời Kinh Thánh đó sẽ ban phước và phục vụ bạn khi bạn dùng để cầu nguyện và ngợi khen Chúa.
MỘT KẾ HOẠCH ĐỌC KINH THÁNH CÓ HỆ THỐNG SẼ GIỮ KINH THÁNH Ở VỊ TRÍ TRUNG TÂM TRONG GIỜ TĨNH NGUYỆN CỦA BẠN
Hãy đọc thuộc lòng một số câu Kinh Thánh bạn ưa thích. Hãy viết câu Kinh Thánh đó lên tấm cạt và ghi địa chỉ câu Kinh Thánh đó ở mặt sau tấm cạt. Hãy mang tấm cạt theo với bạn, để trong ngày bạn xem đi xem lại cho đến khi thuộc lòng câu Kinh Thánh lẫn địa chỉ của nó. Nếu có cơ hội, hãy sử dụng và chia sẻ câu Kinh Thánh đó với một người nào đó. Khi trí óc và tấm lòng của bạn đầy dẫy Lời của Đức Chúa Trời thì Lời ấy sẽ đem lại phẩm chất tốt đẹp cho đời sống bạn bao gồm cả tư tưởng lẫn hành vi của bạn. Thái độ tốt đẹp sẽ giống như không khí trong lành tươi mới cho mọi người bạn tiếp xúc. Một người trung tín học Kinh Thánh và cầu nguyện và lấy Lời Chúa làm qui tắc cho cuộc sống thì người ấy đã thực hiện một bước quan trọng trong công việc chuẩn bị phục vụ cho người khác.
4. Có lẽ điều này sẽ đem lại ích lợi cho bạn để xem thử bạn có thường xuyên lợi dụng cơ hội để cầu nguyện và học Kinh Thánh. (Hằng ngày, Đều đặn, Thường xuyên, Đôi khi, Ít khi, Không bao giờ)
- Tĩnh nguyện riêng
- Gia đình lễ bái
- Cảm ơn Chúa trước khi ăn
- Duy trì thái độ cầu nguyện lúc làm việc
- Cầu nguyện hoặc suy gẫm khi đi từ nơi này qua nơi khác.
- Cầu nguyện trên giường ngủ
- Cầu nguyện khi bạn mất ngủ
- Cầu nguyện khi bạn thức dậy buổi sáng sớm
- Cầu nguyện với một người đang có nhu cầu
- Cầu nguyện với những người đến thăm nhà bạn
- Cầu nguyện khi đi thăm người khác
- Cầu nguyện với một nhóm cầu nguyện hay CN luân phiên
- Đọc Kinh Thánh có hệ thống
- Học thuộc lòng Kinh Thánh
- Dự các khóa học Kinh Thánh
- Suy gẫm theo Kinh Thánh
- Quyết định hành động theo các tiêu chuẩn của Kinh Thánh
- Noi gương trong Kinh Thánh
- Dùng Kinh Thánh đang khi phục vụ
5. Hãy giải thích tại sao sự tĩnh nguyện cá nhân là quan trọng trong đời sống hầu việc Chúa. Hãy trả lời và ghi vào sổ tay.
Đọc Để Hiểu Biết:
Đọc để có cái nhìn toàn diện:
Mục tiêu 2: Mô tả phương pháp tổng hợp của sự nghiên cứu Kinh Thánh .
Thật khó nói đến sự chuẩn bị cá nhân kết thúc tại đâu và sự chuẩn bị để hầu việc Chúa khởi sự tại đâu. Có lẽ không có sự kết thúc cho điều này và sự bắt đầu cho điều kia, nhưng theo sự suy nghĩ của chúng ta, chúng ta hãy xem việc đọc Kinh Thánh làm khởi đầu cho sự chuẩn bị hầu việc Chúa.
Môt người cung phụng Lời Chúa trong chức vụ giảng và dạy cần múc từ nguồn hiểu biết vô tận của Kinh Thánh. Để có cái nhìn toàn diện về Kinh Thánh ta cần đọc từ Sáng thế ký đến Khải huyền để biết được nội dung và sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Đọc để hiểu biết bối cảnh bài giảng hay bài học. Phục vụ bằng cả tâm trí và tấm lòng đầy dẫy Lời Chúa sẽ mang lại phước hạnh cho các thính giả của bạn và làm phần thưởng cho bạn.
Để thưởng thức môt bức tranh ta phải nhìn hai lần, một lần nhìn xa và một lần nữa nhìn gần. Hoặc, nếu bạn thích bạn có thể nhìn gần rồi sau đó lùi ra xa để nhìn lần thứ hai. Dù nhìn cách nào bạn đều thưởng thức tốt hơn khi bạn xem xét bức tranh vừa toàn diện, vừa chi tiết. Cũng vậy có hai cách để nhìn Kinh Thánh, một là tổng hợp phương pháp này cho ta cái nhìn toàn diện bức tranh Kinh Thánh. theo phương pháp nghiên cứu này ta thấy nhiều phần của Kinh Thánh được sắp xếp với nhau để tạo thành một quyển sách và các chi tiết được nhìn như là một phần nhỏ của cả sự khải thị. Toàn bộ bức tranh này trình bày sự hiệp nhất của nhiều phần Kinh Thánh và mối liên hệ của chúng với nhau.
6. Khoanh tròn mẫu tự ở mỗi câu ĐÚNG sau đây:
Khi chúng ta đọc Kinh Thánh để hiểu biết về bối cảnh, chúng ta có thể đọc đều đặn để chúng ta có thể cung cấp sự hiểu biết Kinh Thánh một cách phong phú.
Để thấu triệt Kinh Thánh chúng ta cần có cách nhìn xa (để thấy cả bức tranh) và cái nhìn gần (để thấy những chi tiết).
Áp dụng phương pháp tổng hợp để nghiên cứu Kinh Thánh người ta nhận thấy được sự hiệp nhứt của Kinh Thánh đó là cách đọc suốt qua toàn bộ quyển Kinh Thánh
7. Hãy mô tả phương pháp tổng hợp của việc nghiên cứu Kinh Thánh. Hãy dùng sổ tay của bạn nếu bạn cần thêm chỗ trống để viết.
……………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………….
Đọc để biết qua
Mục tiêu 3: Chọn câu diễn tả giá trị của phương pháp tổng hợp áp dụng vào việc nghiên cứu Kinh Thánh .
Cậu bé đứng cạnh cửa sổ và lắng nghe tiếng sấm sét đang nổ tung ở bên ngoài. Mưa rơi hàng giờ và điện thì tắt cả bên trong lẫn bên ngoài đều tối tăm. Thình lình một tia chớp lóe lên, và một tiếng sấm sét làm nổ tung cửa sổ. Trong giây phút ngắn ngủi, mắt cậu nhìn thấy toàn bộ khung cảnh: Mưa như thác đổ, nước mưa trắng xóa, cây quằn xuống trước gió, một dòng nước trào lên - Toàn cảnh là màu đen và trắng bức tranh được ghi lại trong đầu óc cậu bé.
Cũng vậy, lần đầu đọc trọn quyển Kinh Thánh, bạn đã thấy được toàn bộ bức tranh (đây là phương pháp tổng hợp đã nói trước khi áp dụng để nghiên cứu một cách hay một đoạn); Chỉ cần nhớ các chi tiết quan trọng để có ấn tượng chung và bố cục chính. Hãy đọc nhanh để tránh sự vẩn vơ của đầu óc và chỉ nhận thấy những gì bạn nhận được mà không cần cố gắng lắm. Việc đọc nhanh lần này rất quan trọng cho sự đọc lần kế tiếp.
8. Hãy đọc nhanh Mat Mt 14:23-32 để biết qua và ấn tượng chung. Rồi xếp Kinh Thánh lại và tóm lượt cảm tưởng chung của bạn về khúc Kinh Thánh này trong một hoặc hai câu.
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………
9. Câu nào giải thích đúng tại sao dùng phương pháp tổng hợp để nghiên cứu Kinh Thánh có giá trị? Phương pháp tổng hợp có giá trị vì:
Cho những chi tiết quan trọng cần thiết để hiểu toàn bộ Kinh Thánh hoặc một sách đọc lần đầu tiên.
Cho ấn tượng chung và bố cục chính của toàn bộ bức tranh.
Mang lại tinh thần, giọng điệu và toàn bộ mục đích của Kinh Thanh hay một cách ngay lập tức.
Đọc để hiểu nghĩa:
Mục tiêu 4: Mô tả phương pháp phân tích của việc nghiên cứu Kinh Thánh .
Sáng hôm sau cậu bé đứng cạnh bên cửa sổ đó và nhìn thấy mặt trời xuất hiện trên bầu trời trong vắt. Ngoại trừ việc mưa rơi và gió thổi đêm qua, cảnh vật đều y nguyên - và nhiều hơn nữa. Cái nhìn thứ hai đã thêm chi tiết và màu sắc cho mọi vật chung quanh.
Tương tự như vậy khi bạn đọc một khúc Kinh Thánh lần thứ hai hoặc lần thứ ba, bạn sẽ thấy thêm nhiều chi tiết hơn ở lần đọc thứ hai. Màu sắc được thêm vào trong ấn tượng chung. Bạn có thể cần phải đọc đi đọc lại cùng một khúc Kinh Thánh nhiều lần trước khi các chi tiết hiện ra, nhưng khi bạn làm như thế khúc Kinh Thánh sẽ cung cấp nhiều điều cho tâm trí và trong lòng của bạn. Chính ở điểm này bạn sẽ bắt đầu đạt được một cảm nghĩ không chỉ về sự kiện nhưng cả ý nghĩa của Kinh Thánh nữa.
10. Khoanh tròn mẫu tự đầu của các câu ĐÚNG sau đây:
Trong khi đọc để hiểu nghĩa chúng ta còn mong đạt được thêm tin tức bằng cách tiếp tục đọc Kinh Thánh cách nhanh chóng để lập lại việc đọc qua để viết.
Đọc để hiểu nghĩa là đọc chậm hơn, trong đó chúng ta cố gắng tập trung chú ý vào những chi tiết qua trọng, thêm ý nghĩa vào cảm tưởng chung chúng ta đã đạt được trong việc đọc để hiểu qua.
Đọc để hiểu nghĩa chỉ có nghĩa là chúng ta đọc đi đọc lại cùng các tài liệu để gắn chặt điều đó trong tâm trí chúng ta, để cho chúng ta có một cảm nghĩ về khúc Kinh Thánh đó nói gì và giúp chúng ta hiểu được nó có ý nghĩa gì.
Vậy phương áp dụng trong việc nghiên cứu Kinh Thánh đòi hỏi chúng ta đọc cẩn thận các khúc Kinh Thánh nhiều lần. Việc này giúp bạn phân tích toàn phần ra thành những phần nhỏ để bạn dễ tìm thêm ý nghĩa khác. Bạn cũng có thể khám phá các phần liên hệ với nhau và liên hệ với toàn phần như thế nào. Việc đọc Kinh Thánh theo phương pháp phân tích được áp dụng cho từng sách, từng đoạn, từng câu, từng chữ. Sẽ giúp bạn thấu triệt Kinh Thánh. rõ ràng, đây là một hình thức học mở rộng trải qua nhiều năm, thậm trí cả đời người, nhưng đây là phương pháp có giá trị giúp chúng ta hiểu biết thông suốt Lời Chúa. Đọc Kinh Thánh cách có hệ thống, cẩn thận và suy nghĩ chuẩn bị việc phục vụ Chúa trong công tác giảng và dạy.
11. Hãy đọc Mat Mt 14:23-32 kỹ nhất hai lần. Sau đó hãy viết lại những cảm nghĩ bạn nhận được vào sổ tay của bạn.
12. Mô tả phương pháp học Kinh Thánh bằng cách phân tích. Hãy trả lời ghi vào sổ tay của bạn.
Tiếp tục pháp triển cá nhân:
Mục tiêu 5: Giải thích tại sao đời sống cá nhân của người hầu việc Chúa cần tăng trưởng một cách liên tục .
Mọi sinh vật đều tăng trưởng! Chúng phát triển và mang kết quả. Mối quan hệ của bạn với Đức chúa Trời là mối quan hệ thuộc linh. Theo đó, bạn cần tăng trưởng, phát triển và kết quả. Phierơ thách thức chúng ta, hãy tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Chúa Jêsus Christ (IIPhi 2Pr 3:18). Không nghi ngờ gì nữa. Lý do thách thức để chúng ta tiếp tục lớn lên là khuynh hướng tự nhiên để “Tiến bộ”.
Đôi khi có những người hầu việc Chúa “Tiến bộ” rất nhanh trong chức vụ của họ. Đối với một số người khuynh hướng này xuất hiện khi họ mới bắt đầu chức vụ. Một người khác tiến bộ do họ có cơ hội để giảng hoặc dạy cách đều đặn. Một số nữa hầu việc Chúa lớn lên và phát triển trong những năm đầu chức vụ của họ và rồi những năm về sau lại không còn tiến bộ nữa. Có lẽ họ “Tiến bộ” khi họ thấy mình đạt đến mục đích hoặc đạt được một mức độ thừa nhận nào đó. Hoặc họ không thể tiến lên những thách thức to lớ hơn.
Là Cơ đốc nhân, chúng ta phải trưởng thành và tiến bộ liên tục. Là người hầu việc Chúa càng phải lớn lên và tiến bộ nhanh hơn để phục vụ những người khác. Mỗi mức độ phát triển đều có phần thưởng riêng của nó, nhưng không có sự thành đạt nào đem lại sự thỏa lòng hoàn toàn được. Có những đỉnh cao khác cần phải đạt đến, vì ân điển và sự hiểu biết của Chúa Jêsus Christ không thể nào bị khô cạn hết được.
Một vài lãnh vực trong đời sống của bạn cần được sự chú ý thường xuyên vì bạn cần đạt được đến sự trưởng thành cân đối. Lời Chúa và Đức Thánh Linh cung cấp một khuôn mẫu trong đó bạn học tập để trở thành người quân bình, trưởng thành và kết quả. Chúng ta hãy suy nghĩ về những lãnh vực phát triển về trí năng thuộc linh xã hội và có thể trong đời sống của Chúa Jêsus qua đó Ngài đã nêu lên một kiểu mẫu cho sự tăng trưởng và phát triển (LuLc 2:40).
13. Giải thích tại sao cần có sự phát triển cá nhân liên tục trong đời sống những người hầu việc Chúa.


Về phương diện trí năng:
Mục tiêu 6: Hãy lựa chọn những câu mô tả thật đúng nhu cầu phát triển trí năng liên tục trong đời sống người hầu việc Chúa .
Bạn không thể nào cho rằng mình đã hiểu đầy đủ hết Kinh Thánh Lời Chúa của Đức chúa Trời là một nguồn chân lý vô tận đầy cảm hứng và lời giáo huấn. Cùng một đoạn Kinh Thánh và cùng bài học cũ nếu chuyên cần nghiên cứu sẽ đem lại cho bạn những nhận thức tươi mới. Điều này sẽ gia tăng sự thỏa lòng cho bạn và khiến cho kinh nghiệm Cơ đốc nhân của bạn được tươi mới hơn, khi bạn phát triển sự hiểu biết lớn lao hơn về Đấng Christ.
Có thể so sánh và phát triển trí năng của bạn với những kinh nghiệm ở nhà trường. Chẳng hạn, lần đầu tiên con của bạn đến trường và học được nhiều điều trong trình độ sơ cấp thì bạn rất thích thú. Nhưng nếu sự hiểu biết của nó, khả năng lý luận của nó và các kỹ năng của nó không hề thăng tiến, thì bạn có lo nghĩ không? Dĩ nhiên là bạn sẽ lo nghĩ lắm! Và nếu sự hiểu biết thuộc linh của bạn không tăng trưởng, thì những người bạn phục vụ có những lý do để lo âu. Chắc chắn một người muốn ban phát cho người khác thì người đó phải có lương thực.
Khi bạn bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh, hãy sử dụng sách Kinh Thánh Phù Dẫn và một cuốn Kinh Thánh Từ Điển. Và bạn cũng cần có bản Kinh Thánh nhuận chánh quốc tế mới nhất “New International Version” Hãy nhờ những người có kinh nghiệm và có kiến thức về Kinh Thánh chỉ dẫn thêm những sách nào thích hợp nhất giúp bạn tham khảo trong khi học.
Khi bạn tiếp tục trau dồi trí năng, bạn nên ghi tên học thêm những môn học hàm thụ khác sẽ có lợi cho bạn như khoa học Kinh Thánh ngắn hạn hoặc ngay cả một khóa học dài hạn của trường Kinh Thánh. Dù thế nào, điều quan trọng là bạn cũng phải được tiếp tục lớn lên và phát triển sự hiểu biết và sự thông thạo Kinh Thánh bạn cũng thường nên đọc các tiểu sử của những danh nhân Cơ đốc để mở rộng kiến thức về những người dâng mình hầu việc Chúa như bạn và đã trưởng thành trong đức tin. Lời làm chứng của họ về ân điển của Đức Chúa Trời sẽ cảm thúc bạn và cung cấp những thí dụ tốt cho các bài học và bài giảng của bạn trong tương lai.
14. Hãy khoanh những mẫu tự đầu của câu dưới đây mô tả đúng nhu cầu tiếp tục phát triển trí năng trong đời sống người hầu việc Chúa.
Sự phát triển trí năng đem lại sự thỏa mãn, cảm hứng cá nhân và tăng cường khả năng phục vụ lẽ thật của Lời Chúa.
Ưu tiên tối cao theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh về việc chuẩn bị người hầu việc Chúa là tăng trưởng trong lãnh vực trí năng.
Sự tăng trưởng hiểu biết là một trong những đặt tính của một đời sống thuộc linh khỏe mạnh.
Sự phát triển trí năng phải tiến tới nếu một người muốn tiếp tục phục vụ cách hiệu quả trong sự ban phát Lời Chúa. Nghĩa là, một người phải nhận lãnh cũng tốt y như ban phát ra các chân lý thuộc linh.
VỀ PHƯƠNG DIỆN THUỘC LINH:
Mục tiêu 7: Giải thích nhu cầu tiếp tục phát triển phương diện thuộc linh trong đời sống người hầu việc Chúa .
Sự tăng trưởng thuộc linh là một tiến trình liên tục. Khi bạn phục vụ người khác bạn có trách nhiệm hướng dẫn và dìu dắt họ. Khi phần thuộc linh tăng trưởng mạnh mẽ thì bạn chăm sóc họ tốt hơn. Mục đích của đời sống thuộc linh của chúng ta là trở nên giống như Đấng Christ. Ý chỉ của Chúa đối với mỗi người chúng ta là chúng ta được biến đổi trở nên giống như hình ảnh của Ngài (RoRm 8:29). Khi chúng ta tương giao với Chúa và lớn lên trong sự hiểu biết Lời Chúa, chúng ta trở nên giống như Ngài. Luôn luôn có một điều gì đó về ân điển về sự hiểu biết của Chúa Jêsus cần phải được học hỏi và từng trải (IIPhi 2Pr 3:18) Phaolô không bao giờ mơ ước đánh mất niềm mơ ước nóng cháy này. Sau nhiều năm hầu việc Chúa, Ông đã bộc lộ điều này khi ông nói “Mọi điều tôi mơ ước là được biết Đấng Christ, và kinh nghiệm quyền phép sự sống lại của Ngài, chia sẻ thương khó của Ngài và trở nên giống như Ngài” (Phi Pl 3:10). Kinh nghiệm riêng của bạn trong Đấng Christ làm cho bạn hiểu biết về Ngài, và điều này sẽ phát triển đặt tính thuộc linh trong đời sống bạn. Bạn sẽ dần dần phát lộ ra lòng thương xót , sự cảm thông, sự kiên nhẫn đối với những sự yếu đuối của người khác và bạn có đầy dẫy tình yêu của Ngài. Đây là tiến trình Đức Chúa Trời phát triển tấm lòng của người chăn chiên trong chúng ta.
Kinh nghiệm của sứ đồ Phaolô cho chúng ta một thí dụ đặc biệt về phát triển thuộc linh. Ngay từ đầu trong chức vụ truyền giáo, Phaolô có một lập trường rất nghiêm khắc, cứng rắn trong đời sống và chức vụ của người Cơ Đốc. Khi Giăng Mác từ giã Phaolô và Banaba trong cuộc hành trình truyền giáo lần thứ nhất. Phaolô đã phải giải thích hành động này như là một sự đào ngũ và đã không chịu để cho Giăng Mác có một cơ hội khác để tự chứng tỏ con người của mình (Cong Cv 15:36-41). Tuy nhiên, khi Phaolô đã học tập sống theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh (RoRm 8:4-11). Ông đã mềm mỏng hơn và dịu dàng hơn trong thái độ đối với những người khác. Qua ảnh hưởng mềm dịu của Đức Thánh Linh nhân tính của ông đã được Đức Thánh Linh kiểm soát vốn mang lại sự sống và bình an. Chúng ta thấy sự thay đổi rõ ràng đã xảy ra trong đời sống ông và do kết quả của sự phát triển thuộc linh. Trong đời sống ông nhắn nhủ với Timôthê “Hãy đem Mác đến với con, vì người thật có ích cho ta trong việc hầu việc lắm” (IITi 2Tm 4:11).
Khi chúng ta thấy những thái độ cũ những thành kiến cũ và những giá trị cũ của ta thay đổi do công việc của Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta, chúng ta phải thừa nhận rằng những thay đổi mà Đức Thánh Linh muốn mỗi chúng ta đạt được sự phát triển thuộc linh đích thực của chúng ta.
Ngay khi đã trưởng thành và là một sứ đồ đã được thử thách, và hầu việc Chúa trung tín, Phaolô vẫn cảm thấy nhu cầu tiến tới hướng về mục đích cuối cùng (Phi Pl 3:12-14). Và ông luôn luôn cảnh giác mọi người hầu việc Chúa và chính bản thân ông về sự thối lui hay không sống đúng như những gì mình dạy dỗ. (ICo1Cr 9:24-27) nên ông đã nói, “Tôi đãi thân thể tôi cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi giảng dạy kẻ khác mà chính mình phải bị bỏ chăng” (câu 27). Đức Chúa Trời không hài lòng và khiển trách những người thối lui khi Ngài đã sẵn sàng cung ứng mọi sự để cho đời sống thuộc linh của họ được trưởng thành (HeDt 10:38-39).
Sự khó khăn chính là cơ hội giúp ta trưởng thành thuộc linh. Những thử thách xảy ra cho bạn có thể giúp bạn có kinh nghiệm phục vụ người khác, khi bạn đã nhận biết Đức Chúa Trời là nguồn giúp đỡ riêng của bạn mạnh thêm, những giờ phút khó khăn sẽ dạy cho bạn nhiều bài học tốt lành.
Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi chi thể của thân thể Đấng Christ một chức vụ hay công việc để làm. Khi bạn sử dụng chức vụ, thì chức vụ của bạn sẽ phát triển, nếu bạn từ chối, chức vụ đó sẽ mất đi khi bạn trưởng thành thuộc linh bạn sẽ gây ảnh hưởng rộng lớn, chức vụ hầu việc Chúa của bạn sẽ có kết quả.
15. Hãy giải thích nhu cầu tiếp tục phát triển thuộc linh.


VỀ PHƯƠNG DIỆN XÃ HỘI:
Mục tiêu 8: Nhận diện ích lợi do mối liên hệ với xã hội đem lại .
Chúa Jêsus là người hòa mình vào xã hội. Ngài đã tham dự tiệc cưới, những bữa ăn tối và những cuộc họp xã hội khác. Ngài thăm viếng những ngư phủ ở bờ biển, Ngài đi lại trong các thành phố, Ngài giảng trong các nhà Hội và Ngài dạy dỗ ngoài bờ biển. Nhiều người trong đám đông đã theo Chúa đến những ngọn đồi và các làng mạc để nghe Lời Chúa và những phước lành của Ngài. Ở nơi nào có người thì nơi đó có Chúa Jêsus. Nơi nào có Chúa Jêsus thì nơi đó có người. Chúa Jêsus đã phán, “Cánh đồng là thế giới” (Mat Mt 13:38) và John Wesley, một trong những đại lãnh tụ phục hưng ở nước Anh nói “Thế giới là giáo khu của tôi” điều này cho chúng ta một số chỉ dẫn về nhu cầu cần liên hệ vào đời sống sinh hoạt của cộng đồng chúng ta.
Khi bạn giao tiếp với quần chúng, bạn mới có thể phục vụ họ. những bài học và những bài giảng phát xuất từ tiếp xúc cá nhân sẽ giúp bạn đáp ứng những nhu cầu của quần chúng. Chúa Jêsus đã phục vụ những cá nhân. Đôi khi người ta cởi mở những tấm lòng của họ và bày tỏ các nhu cầu vào những giây phút tiếp xúc riêng tư, khắp nơi ta đều cần gíúp đỡ và cần được yêu thương. Hãy gây ấn tượng tốt đẹp về bạn. Mỗi lần tiếp xúc với một cá nhân đều có thể là 1 cơ hội để bạn phục vụ.
Chức vụ thành công đòi hỏi bạn phải thông suốt với mọi người khác, quan hệ tốt đẹp với mọi người khác. Mỗi người là một phần thân thể của Đấng Christ, là Hội Thánh là chúng ta phải học cách hiệp tác với họ. Mỗi người đều cần người khác, không một ai trong chúng ta là sống độc lập cả.
Một số cơ hội phục vụ sẽ đến khi bạn liên hệ cộng đồng. Bạn sẽ tỏ ra sự quan tâm của bạn đối với điều kiện đạo đức và thuộc linh ở nơi bạn đang sống khi bạn tiếp xúc liên hệ.
Người ta có thể phê bình bạn vì đã liên hệ nhiều với xã hội như người ta đã làm như vậy đối với Chúa Jêsus (Mat Mt 11:19). Nhưng Ngài phục vụ họ theo cách đó và bạn cũng có thể làm như vậy. Hãy nhớ rằng Cơ đốc nhân là muối của đất và để có hiệu quả họ phải liên kết với thế gian và đem phước hạnh đến cho thế gian qua sự tiếp xúc với họ. Nhưng sự tiếp xúc này có một mục đích là phục vụ nhu cầu quần chúng, để họ có thể biết Chúa và vui hưởng sự cứu rỗi của Ngài.
16. Khoanh tròn trước mẫu tự câu nào nhận diện đúng những ích lợi cho sự tiếp xúc với xã hội đem lại. Sự liên hệ với xã hội.
Đưa một người đến trung tâm hoạt động của cộng đồng, ở đó người ấy có thể tiếp xúc cá nhân dẫn đến các cơ hội phục vụ.
Là quả tim của sự phục vụ, vì các hoạt động xã hội là mục đích của Hội Thánh.
Đem lại ảnh hưởng của đời sống Cơ đốc nhân làm tăng gia vị vào trong đời sống đạo đức và thuộc linh của cộng đồng.
Về phương diện thể chất:
Mục tiêu 9: Giải thích tại sao người hầu việc Chúa phải lo chăm sóc thân thể của mình .
Phaolô đã ám chỉ sự lo lắng thân thể trong những lời dạy Timôthê: “Vì sự tập tành thân thể chẳng bao lâu, còn như sự tin kính là ích lợi cho mọi việc, vì nó có lời hứa về đời này và về đời sau nữa” (ITi1Tm 4:8). Kinh Thánh dạy rõ ràng đời sống thuộc thể không cao quí bằng đời sống thuộc linh. Tuy nhiên, Kinh Thánh cũng dạy cách rõ ràng không kém rằng thân thể là đền thờ của Đức Thánh Linh . (ICo1Cr 3:16). Rõ ràng là mỗi chúng ta có trách nhiệm chăm sóc thân thể riêng của mình. Sự chăm sóc đúng đắn, sẽ đem lại sức khỏe tốt. Tập thể dục cũng cần thiết cho đời sống của mỗi chúng ta . Nếu bạn chăm sóc thân thể của bạn là bạn coi trọng đền thờ của Chúa. Nếu bạn không chăm sóc hoặc làm thiệt hại cho thân thể của bạn phạm luật bảo tồn sự sống và bạn phải trả giá về việc đó, việc gì cũng cần phải cân đối, không nên lạm dụng thân thể của mình bằng cách bắt hoạt động nhiều, hoặc không hoạt động gì cả. Bạn sẽ cảm thấy khỏe mạnh hơn, suy nghĩ tốt hơn và cả thái độ của bạn đối với cuộc sống cùng sự phục vụ sẽ tốt đẹp hơn.
17. Hãy mô tả bằng ngôn ngữ của bạn tại sao bạn cần sự phát triển thể chất và sự tập luyện thân thể. Hãy viết ra sổ tay của bạn, sự tăng trưởng trong các lãnh vực trên đây đều quan trọng cho đời sống quân bình của chức vụ người hầu việc Chúa. Tuy nhiên, bạn không cần phải chú ý vào chính sự lớn lên, thì sự lớn lên sẽ xảy ra một cách tự nhiên. Một em bé có thể đào hạt giống lên để xem nó có đang lớn không. Nhưng một nông dân trồng tỉa hạt giống, và thực sự những việc cần thiết cho hạt giống đó nẩy mầm, tăng trưởng, thì đến mùa ông sẽ gặt hái là điều tự nhiên.

Bài tập trắc nghiệm cá nhân
Nhu cầu tình nguyện cá nhân trong đời sống người hầu việc Chúa được giải thích tốt nhất là:
Phát triển mối quan hệ thuộc linh căn bản giữa một người và Chúa
Giúp một người nhận được các bài học và các bài giảng khi người đó tĩnh nguyện.
Thiết lập một khuôn mẫu tốt đẹp của trách nhiệm về công việc.
2. Nhu cầu đọc Kinh Thánh và tĩnh nguyện cá nhân (trong đời sống người hầu việc Chúa) được so sánh tốt nhất trong bài học này với nhu cầu của:
Linh hồn vì sự thông công với những người cùng khác cùng đức tin.
Tâm linh vì sự tươi mới đến được từ sự hiện diện của Chúa.
Thân thể vì lương thực hằng ngày của nó.
3. Khi tâm trí một người đầy dẫy Lời Đức Chúa Trời và duy trì một đời sống thuộc linh bền đổ, thì người đó sẽ bày tỏ ra một.
Tâm trí nhạy bén, câu trả lời nhanh chóng và nắm vững những vấn đề thuộc linh.
Tâm linh ngọt ngào, một thái độ đẹp đẽ và những tư tưởng cùng hành động tốt giống như thở hít không khí trong lành.
Rút lui khỏi xã hội để cuối cùng dẫn đến chỗ xa lánh mọi người và mọi vật của thế gian.
4. Khi một người đọc Kinh Thánh để nhận được bức tranh toàn diện của Kinh Thánh thì người đó dùng phương pháp gì?
Phân tích
Tổng hợp
Phản đề (phép đối chiếu)
5. Phương pháp đọc Kinh Thánh cẩn thận giúp phân chia toàn bộ thành từng phần để bạn có thể hiểu cách chi tiết tốt hơn, đó là phương pháp nào?
Tổng hợp
Phản đề
Phân tích
6. Kinh Thánh dạy rằng Chúa Jêsus khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta (LuLc 2:40). Phierơ nói rằng Chúa Jêsus để lại chúng ta một gương hầu cho chúng ta noi dấu chơn Ngài (IPhi 1Pr 2:21). Từ những câu này chúng ta thấy rằng ý muốn của Chúa đối với chúng ta là:
Tiếp nhận sự cứu rỗi như là kinh nghiệm cuối cùng và không bao giờ mong muốn lớn lên và phát triển, vì Chúa Jêsus đã làm hết cả mọi việc rồi.
Phát triển phần trí năng, thể chất, thuộc linh và phần quan hệ xã hội.
Mong rằng đời sống thuộc linh một khi đã bắt đầu có thể dẫn đến sự lớn lên và phát triển.
7. Một trong những lý do tại sao Phierơ thách thức các Cơ đốc nhân lớn lên trong ân điển và trong sự thông biết Chúa là người có khuynh hướng.
Cảm thấy rằng mình đã nhận được tất cả mọi sự có cần vào lúc mới ăn năn tin Chúa (quy đạo).
Thỏa lòng với kinh nghiệm cứu rỗi và sự hiểu biết rằng mình là một người Cơ đốc nhân rồi.
Nghỉ ngơi không chịu nỗ lực để lớn lên và trở thành trong sự phát triển cá nhân.
8. Người hầu việc Chúa cần lớn lên trong sự hiểu biết Lời Chúa vì:
Khi người không bao giờ làm cạn hết được sự phong phú của Kinh Thánh, vì mỗi lần đọc là người ta nhận được những nhận thức mới mẻ và các chân lý sâu xa.
Đây là mạng lệnh của Chúa và là lời chứng của kinh nghiệm của chúng ta càng lớn lên phong phú chừng nấy.
Cả hai lý do trên a) và b).
9. Trong điều kiện phát triển đời sống thuộc linh cá nhân, nếu một người không thực tập và phát triển chức vụ mình thì chức vụ đó sẽ:
Không thể có hiệu quả trong việc tiến hành mạng lệnh của Chúa.
Sẽ bị hư mất.
Cuối cùng sẽ vô hiệu quả trong những năm sau đó.
10. Lãnh vực phát triển quan hệ xã hội là cần thiết vì:
Chúng ta được kêu gọi để cứu rỗi thế gian qua các hoạt động xã hội.
Các Cơ đốc nhân được kêu gọi để làm việc bước đi và làm chứng cho những người dựng nên xã hội.
Khi chúng ta có mối liên hệ với xã hội, chúng ta trở nên quen thuộc với những người của cộng đồng.
Trả lời những câu hỏi trong bài học
a) Sai
b) Sai
c) Đúng
d) Đúng
2. a) Sự cầu nguyện vô cùng quan trọng, sự cầu nguyện chuẩn bị năng lực cho chúng ta đương đầu với những thử thách. Đây cũng là mạng lệnh thực tế. Chúa Jêsus là gương mẫu cho tất cả chúng ta, nếu chúng ta thực sự cảm thấy gánh nặng của một thế giới hư mất, chúng ta phải nắm bắt khải tượng bằng sự quì gối cầu nguyện của chúng ta.
b) Hầu hết chúng ta, giống như các môn đồ, đều chậm hiểu về sự cấp bách của việc bền đổ cầu thay. Thực ra một số đã cầu nguyện vì bắt buộc. Hãy nhớ rằng: Các môn đồ không thưa với Chúa Jêsus “Hãy dạy chúng con phương pháp cầu nguyện” nhưng “Hãy dạy chúng con cầu nguyện”.
c) Tâm linh loài người vội vã nói rằng: ”Vâng, tôi sẽ cầu nguyện”. Nhưng khi đến giờ cầu nguyện chúng ta phải áp dụng mọi cố gắng để lập thì giờ cầu nguyện và cố gắng để bền đỗ trong sự cầu nguyện.
3. b) Sự diễn tả tình yêu thương và lòng biết ơn, cộng với việc chờ đợi sự hiện diện của Đức Chúa Trời khi Ngài làm tươi mới tâm linh của một người bằng ân điển và sự nhơn từ của Ngài.
4. Tôi hết sức hy vọng bạn có thể đánh dấu vào nhiều mục sinh hoạt hằng ngày. Nếu không, tôi cầu nguyện để bạn sẽ nhắm mục đích sinh hoạt hướng về sự cải thiện trong những lĩnh vực quan trọng của sự sống thuộc linh.
5. Sự tĩnh nguyện cá nhân phát triển mối quan hệ thuộc linh căn bản giữa Chúa và người hầu việc Chúa. Khi mối quan hệ này phát triển, ta nhận được những sự phong phú của ân điển Đức Chúa Trời và theo phương cách đó chúng ta có thể đáp ứng cho nhu cầu loài người. Một người không thể nào dẫn dắt người khác đến một đời sống sâu nhiệm hơn nếu chính người đó chưa kinh nghiệm. Trong khi cầu nguyện ta giao phó hết mọi lo âu cho Chúa và nhận đầy dẫy ân điển của Đức Chúa Trời. Và khi nghiên cứu Kinh Thánh ta được soi sáng và biết rõ ý muốn của Chúa và được thanh tẩy, để cho thích hợp với chức vụ của mình.
6.Tất cả những câu này đều đúng.
7. Phương pháp tổng hợp là liên kết những phần khác nhau của Kinh Thánh lại với toàn bộ sự khải thị của Lời Đức Chúa Trời. Phương pháp này cho chúng ta thấy được sự hiệp nhất của nhiều phần Kinh Thánh với nhau và với toàn bộ sự khải thị khi chúng ta đứng nhìn từ xa.
8. Câu trả lời của bạn. Mười hai môn đồ chiến đấu với trận bão trên biển Galilê. Khi Chúa Jêsus hiện ra trên mặt nước, Phierơ cố gắng đi đến với Ngài.
9. b) Cung cấp một ấn tượng chung và một bố cục chính của toàn bộ bức tranh.
10. a) Sai
b) Đúng
c) Đúng.
11. Câu trả lời của bạn ở đây, có lẽ nhiều chi tiết hơn câu trả lời của bạn trong câu số 8. Nó bao gồm cả sự kiện Chúa Jêsus sai các môn đồ qua bên kia bờ sông trong khi Ngài cho dân chúng giải tán, để Ngài lên núi cầu nguyện một mình. Trong lúc đó, các môn đồ gặp cơn sóng to, gió ngược. Và lúc sáng sớm Chúa Jêsus xuất hiện trên mặt nước. Trước hết các môn đồ hoảng sợ, rồi Ngài tự tỏ mình. Phierơ nhìn biết đó là Chúa Jêsus liền đi bộ trên mặt nước đến với Ngài, nhưng khi ông không nhìn xem Chúa Jêsus nữa mà lại nhìn vào sóng to gió lớn thì ông bắt đầu chìm. Chúa Jêsus cứu ông và ông bị quở trách là ít đức tin.
12. Đây là phương pháp học Kinh Thánh nhờ đó chúng ta xem xét mỗi một lần để biết ý của phần đó là gì. Nhờ sự nghiên cứu cẩn thận, sâu nhiệm từ phần một chúng ta có sự hiểu biết chung về Kinh Thánh cách tốt hơn.
13. Câu trả lời của bạn. tôi xin lưu ý rằng không có một ai trong chúng ta đã từng đạt đến nơi mà không còn sự phát triển được nữa. Chúng ta được thách thức phải tiếp tục lớn lên trong Lời Chúa. Chỉ khi nào chúng ta lớn lên phần thuộc linh thì chúng ta mới được hóa nên một ảnh tượng đối với Đấng Christ.
14. Bạn khoanh tròn các câu a), c) và d).
15. Nhu cầu lớn nhất của chúng ta là biết Chúa Jêsus, trở nên giống như Ngài hơn, chúng làm được việc này bằng sự tương giao với Ngài trong sự cầu nguyện, hoàn toàn gần gũi bên Ngài.
16. Hãy khoanh tròn các mẫu tự câu a) và c).
17. Câu trả lời của bạn. vì thân thể là đền thờ Đức Thánh Linh, nên phải được chăm sóc cách cẩn thận. Thân thể chúng ta đủ sức hoàn thành công việc tốt đẹp khi được ăn uống nghỉ ngơi đầy đủ, và sự tập luyện thường xuyên, thể xác mang dấu ấn rất quan trọng đối với thái độ tâm trí và tâm linh của bạn.

Bạn hãy chuẩn bị tài liệu
Trong bài học đầu tiên chúng ta đã mô tả những nguyên tắc chung của chức vụ và định nghĩa chức vụ giảng và dạy theo nghĩa đặc biệt. Bài học vừa qua chúng ta đã đề cập đến sự chuẩn bị cá nhân cho chức vụ. Trong bài này chúng ta nói về sự chuẩn bị tài liệu giảng và dạy.
Kinh Thánh là sứ điệp của Đức Chúa Trời cho chúng ta. Vì thế, đây là nguồn tài liệu chính cho sự giảng đạo và dạy đạo. Khi bạn giảng và dạy điều quan trọng là phải theo lời Phaolô dạy Timôthê về lẽ thật hầu việc Chúa, “Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật. (II Tim 2 :15). Trong bài học này bạn sẽ học về hai khía cạnh quan trọng của việc giải nghĩa Kinh Thánh; 1) Việc sử dụng văn mạch và 2) Tầm quan trọng của ngôn ngữ nghĩa đen và nghĩa bóng. Những điều này sẽ giúp bạn chuẩn bị cách thích đáng các bài học, các bài giảng và truyền đạt chân lý của Đức Chúa Trời cho người khác cách hiệu quả.
Phần cuối của bài học này giúp bạn tổ chức và thu thập tài liệu theo phương pháp có hệ thống.
Bố cục bài học .
Sử dụng khúc Kinh Thánh liên hệ.
Những câu hỏi kích động tư tưởng.
Ngôn ngữ nghĩa đen và nghĩa bóng.
Thâu thập và tổ chức tài liệu.
Các mục tiêu của bài học
Khi bạn học xong bài này bạn phải có khả năng để:
Sử dụng đoạn Kinh Thánh liên hệ để giải nghĩa chính xác Lời Chúa.
Sử dụng những câu hỏi có ý nghĩa để kích thích tư tưởng về đoạn Kinh Thánh liên hệ.
Phân biệt nghĩa đen và nghĩa bóng của Kinh Thánh.
Thâu thập và tổ chức tài liệu giảng và dạy.
Những sinh hoạt học tập :
Nghiên cứu sự phát triển bài học và trả lời các câu hỏi học tập như thường lệ.
Học nghĩa các chữ căn bản mới mẻ đối với bạn
Làm bài tập kiểm tra ở cuối phần bài học và xem xét lại cẩn thận những câu trả lời của bạn so với những câu trả lời có sẵn ở cuối sách hướng dẫn này. Hãy đọc ôn lại những mục mà bạn trả lời không đúng.
Hãy ôn lại cách cẩn thận đơn vị 1(Bài học 1 - 3) rồi làm bài tường trình tổng kết đơn vị 1 và gởi về cho người hướng dẫn Viện Hàm thụ Quốc tế của bạn.
Những chữ căn bản
Context: Những phần của bài văn bao quanh một chữ hay một câu và chiếu sáng ý nghĩa cho chữ hoặc câu đó, mạch văn, văn cảnh.
Figurative: Diễn tả điều này bằng cách sử dụng điều khác, nghĩa bóng.
Literal: Dùng những chữ theo nghĩa thông dụng của nó, không khoa trương hay tưởng tượng, nghĩa đen.
Simile: Một lối so sánh hai điều không giống nhau và thường giới thiệu bằng chữ giống như, (Ví dụ: Má em giống như hoa hồng) lối so sánh sự so sánh.
Khai triển bài học
SỬ DỤNG MẠCH VĂN (Đoạn Kinh Thánh liên hệ)
Định nghĩa về mạch văn:
Mục tiêu 1: Chọn được nghĩa thích đáng về chữ “Mạch văn ”
Mạch văn của một khúc Kinh Thánh bao gồm tất cả những phần xung quanh khúc Kinh Thánh đó. Những câu, những phân đoạn và những đoạn trước và sau một câu tạo nên mạch văn trực tiếp của câu đó. Mạch văn mở rộng bao gồm khúc Kinh Thánh liên hệ với đoạn văn và có thể gồm các phân đoạn, một đoạn, hay cả toàn bộ một sách trong Kinh Thánh. Sử dụng mạch văn để giải thích Kinh Thánh sẽ giúp bạn giảng dạy phù hợp với chân lý của Kinh Thánh. Những sai lầm về giáo lý và thực hành là do lấy một câu ra khỏi mạch văn và giải nghĩa sai. Không được lấy một câu ra khỏi bối cảnh của nó và sử dụng để “chứng minh” một điều nào đó mà một người nào đó muốn tin. Kinh Thánh cảnh giác rằng người ngu dốt và bất định có thể giải nghĩa sai Kinh Thánh (IIPhi 2Pr 3:16) và Kinh Thánh khích lệ những người hầu việc Chúa phải tìm hiểu ý chỉ của Đức Chúa Trời một cách ngay thẳng, đúng đắn giảng dạy lẽ thật của Đức Chúa Trời (IITi 2Tm 2:15).
Mạch văn Kinh Thánh có thể định nghĩa tốt nhất như là.
Nỗ lực gắn một ý nghĩa nào đó một khúc Kinh Thánh căn cứ trên ý kiến riêng của một người về Kinh Thánh.
Ý nghĩa rõ ràng của một câu nào đó đứng một mình.
Bối cảnh của đoạn văn Kinh Thánh, bao gồm những câu, những phân đoạn và những đoạn trước và sau đoạn văn đó.
Thí dụ về mạch văn:
Mục tiêu 2: Mô tả sử dụng mạch văn đúng đắn để quyết định ý nghĩa của một khúc Kinh Thánh .
Một sợi chỉ không bày tỏ hết cả kiểu mẫu của một tấm thảm, cũng vậy một khúc Kinh Thánh không bao gồm đầy đủ ý nghia của lẽ thật. Cũng như trường hợp tấm thảm, sự toàn vẹn của chân lý đươc nhìn thấy khi tất cả những sợi dây chỉ của Kinh Thánh được dệt lại với nhau cách thích đáng. Khi bạn sử dụng mạch văn hãy dùng Kinh Thánh để giải nghĩa Kinh Thánh.
Chúng ta hãy xem mạch văn có thể được dùng để giải nghĩa Kinh Thánh như thế nào.
Hãy đọc Mat Mt 13:24-30. Thí dụ về cỏ lùn. Hãy lưu ý khi đám đông đã giải tán. Chúa Jêsus giải nghĩa thí dụ này cho các môn đồ. Bây giờ hãy đọc mạch văn, Mat Mt 13:36-43, để xem chính lời giải nghĩa trên của Chúa Jêsus. Hầu hết các thí dụ đều được giải thích nếu bạn để ý cẩn thận đến mạch văn.
Hãy đọc LuLc 11:5-10 và trả lời các câu hỏi sau đây:
a) Chủ đề chính của đoạn văn này
……………………………………………………………………………………………………………………………………
b) Qua thí dụ này Chúa Jêsus dạy chúng ta.
…………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………………………………………………….
Kể chi tiết về chuyến viếng thăm Giêrusalem của Chúa Jêsus nhân lễ Lều Tạm được chép ở GiGa 7:10-39. Vào ngày cuối của kỳ lễ Chúa Jêsus đã đứng lên và kêu lớn tiếng “kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy trong lònh mình” (câu 38). Những lời này được giải thích trong mạch văn: “Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy, bởi bấy giờ Đức Thánh Linh chưa ban xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được vinh hiển” (câu 39). Lời giải thích được nêu ra trong mạch văn là sự giải nghĩa đúng đắn bởi vì tác giả đã viết trực tiếp trong Kinh Thánh.
3. Hãy đọc 2:13-20 và trả lời câu hỏi sau đây để chứng tỏ bạn hiểu cách dùng mạch văn cách thích đáng. Khi Chúa Jêsus phán rằng người Do Thái hãy “phá đền thờ này đi và trong ba ngày ta sẽ dựng lại”, là Ngài đang chỉ về.
Một phép lạ mà Ngài làm ra để chứng tỏ quyền năng của Ngài.
Sự sụp đỗ đền thờ do người La Mã tàn phá ba ngàn năm lịch sử trước khi Ngài sẽ xây dựng lại.
Thân thể của Ngài, mà các môn đồ chỉ hiểu được sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại.
Những từ ngữ được định nghĩa do mạch văn
Mục tiêu 3: Chứng tỏ cách dùng mạch văn để định nghĩa các từ ngữ .
Mạch văn có thể giúp ích cho việc tìm hiểu ý nghĩa các từ ngữ. Chúng ta phải cẩn thận để cho mạch văn của một từ ngữ quyết định ý nghĩa và tầm quan trọng của nó bởi vì mạch văn giới hạn rõ ý nghĩa của nó và giữ cho nó khỏi bị giải thích bằng nghĩa khác. Mac Mc 12:18 kể lại chút ít ý về niềm tin của Phe Sađusê: “Các người Sađusê, là những kẻ nói rằng không có sự sống lại, đến gần mà hỏi Ngài…” và Cong Cv 23:8 diễn ý đức tin này và kết luận một câu về niềm tin của người Pharisi.
Sử dụng văn mạch
Những từ ngữ được định nghĩa bởi văn mạch
Thí dụ văn mạch
Định nghĩa văn mạch
4. Về việc sử dụng văn mạch để quyết định ý nghĩa của các từ ngữ, hãy đọc những câu Kinh Thánh sau đây và ghi ra mạch văn cung cấp cho mỗi chữ in nghiêng.
Trong Mat Mt 1:23 chữ EMMANUEN có nghĩa
…………………………………………………………………………………………………………………………………………
b) Trong 1:21 chữ JESUS có nghĩa
…………………………………………………………………………………………………………………………………………
c) Trong 27:33 chữ GOGOTHA có nghĩa
…………………………………………………………………………………………………………………………………………
d) Trong Mac Mc 3:17 chữ BÔ-A-NẸT có nghĩa
………………………………………………………………………………………………………………………………………….
Những câu kích thích tư tưởng:
Bối cảnh là gì?
Mục tiêu 4: Mô tả cách dùng bối cảnh của Kinh Thánh để giải nghĩa cách phân đoạn của Kinh Thánh .
Bạn sẽ hiểu ý nghĩa của khúc Kinh Thánh tốt hơn nếu bạn biết được bối cảnh lời nói hay câu văn. Mọi lời của Chúa Jêsus nói ra đều nhằm đáp ứng cho từng hoàn cảnh. Dạy dỗ của Ngài về sự tái sanh là câu trả lời cho nhu cầu nội tâm của một người mộ đạo (GiGa 3:1-21). Bài giảng về “Nước sự sống” của Ngài được giảng ra trong bối cảnh của Giếng GiaCốp (GiGa 4:1-30). Khi các môn đồ từ làng Samari trở lại, Ngài được thúc dục dạy dỗ họ về thức ăn và ý muốn của Đức Chúa Trời (GiGa 4:31-35) và nhu cầu của con gặt trong mùa gặt (GiGa 4:36-38). Trong mỗi trường hợp bối cảnh là rất quan trọng để hiểu đầy đủ về sự dạy dỗ của Kinh Thánh.
5. Hãy đọc mỗi khúc Kinh Thánh sau đây và viết vào sổ tay của bạn bối cảnh của mỗi trường hợp.
GiGa 5:35-40…
Mat Mt 19:27…
Để hiểu chính xác sự dạy dổ của Chúa Jêsus về những thí dụ (con chiên, đồng bạc, đứa con bị mất) trong LuLc 15:4-32 bạn cần biết bối cảnh câu chuyện Chúa kể. Luca đã giới thiệu một ngày kia hết thảy các người thâu thuế và người có tội đến gần Đức Chúa Jêsus đặng nghe Ngài giảng. Các người Pharisi và các thầy thông giáo lằm bằm mà nói rằng: Người tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ăn với họ! Vì vậy, Ngài bèn phán cho họ lời thí dụ này. (LuLc 15:1-3). Thái độ của người chăn chiên, người đàn bà và người cha đối với những vật bị mất trái ngược hẳn với thái độ của người Pharisi và các thầy Thông giáo. Tuy nhiên người anh cả tức giận đối với đứa em được cha tha thức là một thí dụ rất đúng khi so sánh với thái độ của người Pharisi đối với những tội nhân mà Chúa Jêsus đã tha thứ.
6. Thí dụ về người Samari nhân lành (10:30-37) được đưa ra.
Để trả lời câu hỏi của thầy dạy luật: “ai là kẻ lân cận tôi?”
Vì câu hỏi “làm sao để thành người lân cận tốt” do mười hai sứ đồ đặt ra.
Cho một thầy dạy luật không hiểu biết trách nhiệm với cộng đồng.
Điều quan trọng là hiểu được các bối cảnh trong Kinh Thánh. chẳng hạn, sách Rôma được Phaolô viết ra do gánh nặng trong lòng ông muốn đi thăm viếng Hội Thánh Rôma (RoRm 1:8-15) “Các thư tín Côrinhtô (ICo1Cr 1:11, 7:1, 8:1, 12:1).
Những từ hay những cụm từ trong bản văn đôi khi gợi ý về sự phân chia quan trọng hoặc sự chuyển mục các biến cố trong cuốn sách. Chẳng hạn, ở Sêsarê, Philíp, Chúa Jêsus đã bắt đầu một giai đoạn mới trong chức vụ của Ngài với môn đồ (Mat Mt 16:21). Điều gì thay đổi quan trọng trong sự dạy dỗ của Ngài? Câu trả lời được tìm thấy trong mạch văn (16:13-20), khi Phierơ nói “Ngài là Đấng Christ (Messiah), Con Đức Chúa Trời hằng sống”. Bạn có thể nhớ lại rằng Chúa Jêsus đã thành một nữa phần chức vụ của Ngài để dạy dỗ họ rằng. Đấng Massiah phải chịa khổ, chịu chết và được sống lại khi thấy khúc quanh quan trọng của các biến cố này chúng ta sẽ dễ hiểu hơn về sự nhấn mạnh về cái chết của Ngài vốn được chia ra trong các đoạn kế tiếp của sách Mathiơ.
Đôi khi sự phân chia cuốn sách do sự lập lại các cụm từ hoặc các từ. Ví dụ: ICo1Cr 7:1, 7:25, 8:1, 12:1. Hai trong số những sự thay đổi chính yếu trong chức vụ ở sách Công vụ sứ đồ được chép trong Cong Cv 8:1 và 13:46.
Một vài từ hay cụm từ được lặp lại gợi ý nghĩa của các phân đoạn Kinh Thánh mà bạn đang đọc. Một trong những cụm từ được lặp đi lặp lại trong sách Tin Lành Mathiơ là “mọi việc đã xảy ra như vậy, để cho ứng nghiệm Lời Chúa đã dùng Đấng tiên tri mà phán rằng “Câu này được lặp lại trong Mat Mt 1:22, 2:15, 2:17, 2:23 v.v…
Hãy tự đặt những câu hỏi về bối cảnh của Kinh Thánh mà bạn đang nghiên cứu. Một số các câu hỏi đó có nên bao gồm là. Hoàn cảnh ở đây là gì? Điều đã tạo nên việc này? Lời nói này? Tại sao những lời này đã được lặp lại? Lời này được nói với ai? Viết cho ai? Và tại sao? Hãy trở lại với mạch văn để tìm câu trả lời. Điều đó sẽ làm phong phú sự hiểu biết của bạn về đoạn văn đồng thời giúp cho những thí dụ, những lời minh họa để dùng trong sự giảng và dạy.
7. Hãy mô tả thế nào bối cảnh của Kinh Thánh giúp chúng ta giải nghĩa các phân đoạn Kinh Thánh.
Ai đang nói đây?
Mục tiêu 5: Hãy lựa chọn một câu Kinh Thánh nói và giải thích tại sao biết người đang nói trong khúc Kinh Thánh đó là điều rất quan trọng .
“Tại sao ông không rủa sả Đức Chúa Trời và chết đi?” (Giop G 2:9). Nếu những chữ này nghe có lạ đến từ Kinh Thánh đó là vì bạn không hiểu biết ai nói câu đó và nói trong trường hợp nào. Bà vợ ông Gióp đã phát biểu như thế khi bà thấy chồng bà gặp hoàn cảnh khủng khiếp sau khi mất hết mọi sự ngoại trừ mạng sống ông. Mạch văn cho thấy ông Gióp đã từ khước lời nói của bà và vẫn kiên định đức tin nơi Đức Chúa Trời. Nếu bạn biết ai đang nói và nói trong trường hợp nào thì bạn sẽ được nhiều ích lợi hơn khi giải nghĩa câu nói đó. Hãy nắm cho rõ người nói câu nói đó là người lành hay người dữ, vì cả hai đều được ghi chép trong Kinh Thánh. Những lời của ma quỉ (SaSt 3:1-5, Mat Mt 4:1-11v.v… cùng với những lời của những người ác như Vua Nêbucátnétsa. (DaDn 4:28-30) và Ha-man (EtEt 3:8-9) đều có chép trong Kinh Thánh. Rõ ràng, bạn sẽ suy nghĩ đến những lời của người lành. Cả Kinh Thánh đều là lời bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, nhưng tất cả mọi người trong Kinh Thánh không nhằm mục đích để làm gương cho chúng ta noi theo đâu. Vì lý do này là điều quan trọng là cần thiết ai đang nói đây.
8. Hãy so sánh TrGv 1:1-2 với NeNe 13:26 và trả lời các câu hỏi sau đây:
Ai đang nói trong TrGv 1:1- 2?
………………………………………………………………………………………………………………………………………….
Các hoàn cảnh bao quanh quan điểm của ông trong sách Truyền đạo là gì?
…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..
Nêhêmi dùng gương sai ngã của Salômôn nhằm lý do gì?
…………………………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………….
Lời nói sẽ có thêm ý nghĩa khi bạn thấy được hoàn cảnh và người đang nói đó. chẳng hạn, việc Phierơ biện hộ về việc giảng Tin Lành cho người ngoại bang (Cong Cv 11:1-18) càng có ý nghĩa thêm nhiều khi bạn biết ông đã chống lại khải tượng Chúa ban cho ông (10:8 - 21) trước khi ông đi giảng cho người ngoại bang ở nhà Cọtnây. Những lời của Phaolô nói về sự chung thành của ông với khải tượng Chúa ban cho ông (26:19) càng cảm động hơn khi bạn biết được ông đã chịu biết bao nhiêu khổ sở khi vâng theo khải tượng đó (IICo 2Cr 11:22-30). Khi ông viết thư cho Hội Thánh Philíp ông nói mình đã tập thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ (Phi Pl 4:12 -13) là ông đang viết từ trong mọi cảnh ngộ (4:12-13) là ông đang viết từ trong nhà ngục (1:12-14). Điều quan trọng là biết được tính chất của người đang nói khi bạn đọc người đó nói gì. Mạch văn sẽ làm sáng tỏ điều này.
9. Hãy lựa chọn câu nói dưới đây giải thích tốt nhất tại sao bạn phải biết người đang nói khi bạn suy xét ý nghĩa của một khúc Kinh Thánh .
Nếu bạn biết được người đang nói đó là ai, sẽ giúp ích cho ta rất nhiều khi giải nghĩa Kinh Thánh và bởi vì điều này chúng ta biết câu nói đó là đúng không
Điều rất quan trọng để biết ai nói gì và ở trong trường hợp nào bởi vì việc này giúp chúng ta biết đây có phải là mạng lệnh chỉ vâng theo hay chỉ là câu nói không liên quan gì đến mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời.
Biết ai đang nói một điều và trong trường hợp nào chỉ quan trọng để có được bức tranh toàn diện, chứ không phải để đánh giá câu nói đó.
Ngôn ngữ nghĩa đen và nghĩa bóng
Giải thích:
Mục tiêu 6: Nhận diện những thí dụ về ngôn ngữ nghĩa đen và nghĩa bóng trong Kinh Thánh ,
Ngôn ngữ nghĩa đen là cách dùng chữ và câu cách bình thường và tự nhiên. Theo qui luật chung. Thông thường bạn có thể hiểu các từ trong Kinh Thánh theo nghĩa đen. Chỉ khi nào ngôn ngữ rõ ràng không phải là nghĩa đen thì bạn mới tìm nghĩa bóng. Không có lý do để nghi ngờ Êđen, Ađam và Êva, Nôê, Giôna nước Ysơraên, Hội Thánh hay Giêrusalem mới là những người thật, nhân vật thật và địa điểm thật. Ngôn ngữ theo nghĩa đen của Kinh Thánh không có gì khó hiểu cả.
Ngôn ngữ theo nghĩa bóng thường được dùng để ngụ ý về một điều khác. Thí dụ trong Kinh Thánh từ liệu một vầng đá, một đồn lũy và một cái khiên được dùng để chỉ Đức Chúa Trời. Ysơraên được xem như một vườn nho, và ma quỉ thì như sư tử rống đi rình mò xung quanh để bắt mồi. Ngôn ngữ dùng nghĩa bóng rất phổ thông trong mọi nền văn hóa như một phương tiện truyền thông để thêm sự hiểu biết. Kinh Thánh thường dùng các từ cuộc sống hằng ngày trong nhà và ngoài đồng ruộng. Điều đó giúp cho mọi người bình dân thích thú và để hiểu Lời Chúa Jêsus khi đọc. Nhờ đó dễ gây ấn tượng vào tâm trí và để cho người ta ghi nhớ Kinh Thánh .
Cách nói bóng được dùng rất nhiều trong Kinh Thánh và không phải lúc nào cũng dễ dàng hiểu được nghĩa của nó. Làm thế nào để bạn nói rằng đoạn văn này thuộc nghĩa đen hay nghĩa bóng? Đây là qui luật đơn giản: “Kinh Thánh phải được hiểu theo nghĩa đen bất cứ khi nào có thể và chỉ theo nghĩa hình bóng nếu không chấp nhận nó theo nghĩa đen.
Mạch văn có nghĩa thông thường sẽ giúp bạn hiểu rõ phần Kinh Thánh này theo nghĩa đen hay nghĩa bóng và ngay cả ngôn ngữ dùng nghĩa bóng cũng chứa đựng một chân lý hay giãi bày một chân lý theo nghĩa đen. Để hiểu ngôn ngữ theo nghĩa bóng chúng ta phải xem xét cách dùng của nó trong Kinh Thánh và chúng ta cần học hỏi bối cảnh của cả Tân lẫn Cựu ước. Chỉ có cách này chúng ta mới thật sự hiểu được nghĩa bóng của một câu đã dùng.
Một trong những câu nói hình bóng thông dụng nhất là lối so sánh. Lối so sánh được diễn tả để so sánh hai điều hay hai ý tưởng khác nhau trong đó điều này được gọi là: “giống” hoặc “như” điều kia. Hãy đọc Thi Tv 103:13-16 và ChCn 26:14 chẳng hạn.
KINH THÁNH PHẢI ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA ĐEN
BẤT CỨ KHI NÀO CHỈ CÓ THỂ HIỂU THEO NGHĨA BÓNG
NẾU KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN NÓ THEO NGHĨA ĐEN
10. Trong thí dụ ở dưới đây hãy chỉ ra mỗi câu dùng nghĩa hình bóng hay nghĩa đen bằng cách đặt số 1 cho nghĩa đen và 2 cho nghĩa hình bóng.
Giacốp từ đó đi lên và sống ở Bêtên .
Giống như chiên con sắp bị làm thịt …….. Ngài chẳng hề mở miệng
Tất cả các cửa lụt ở trên trời đều mở ra
Lâu năm về trước, trong những ngày trước khi dân Ysơraên có một vị vua đã có một nạn đói xảy ra trong xứ.
Minh họa:
Mục tiêu 7: Giải thích đúng các thí dụ về ngôn ngữ hình bóng trong Kinh Thánh .
Nicôđem đã bối rối khi Chúa Jêsus phán rằng một người phải được tái sanh mới thấy được nước Đức Chúa Trời (GiGa 3:1-8). Câu hỏi của ông là “Làm thế nào để một người tái sanh được?…
Người đó chắc chắn không thể vào lòng mẹ và sanh ra lần thứ hai! (câu 4). Chúa Jêsus dùng ngôn ngữ hình bóng, còn Nicôđem thì hiểu theo nghĩa đen. Việc tương tự đã xảy ra với người đàn bà Samari: bà suy nghĩ rằng Chúa Jêsus đang chỉ về nước từ giếng Giacốp khi Ngài nói về nước ban sự sống (4:7-15).
Chúng ta sẽ gặp khó khăn khi hiểu nghĩa bóng thành nghĩa đen. Khi Chúa Jêsus nói về thân thể của Ngài như là bánh thì dân chúng bắt đầu bàn cãi (6:48-52). Làm thế nào người này cho thịt mình để chúng ta ăn được? (câu 52). Rồi Chúa Jêsus nói về thịt Ngài thật là đồ ăn, huyết Ngài thật là đồ uống. Lúc này vì nhiều môn đồ của Ngài không đi theo Ngài nữa vì những lời đó khó hiểu đối với họ (6:60-66). Mặc dầu mạch văn diễn tả điều đó, nhưng nghĩa thông thường cho họ thấy rằng Chúa Jêsus không cho họ ăn thịt Ngài và uống huyết Ngài theo nghĩa đen. Chính Phierơ đã hiểu điều này. Khi đám đông đã đi rồi ông bày tỏ lòng tin rằng những Lời của Chúa Jêsus ban sự sống đời đời (6:66-69) Ngay đến cả ngày hôm nay một số các tín đồ vẫn còn hiểu lầm về vấn đề này. Một số lại tin rằng thịt và rượu của Lễ Tiệc Thánh đã trở thành huyết thật và thịt của Chúa Jêsus.
11. Hãy đọc Mat Mt 26:26-28 và ICo1Cr 11:23-29 và hãy điền vào cho đủ ý các câu sau đây.
Khi Chúa Jêsus phán về bánh, “này là thân thể ta” Ngài ngụ ý rằng bánh bể ra là.
………………………………………………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………………………………………………..
Khi Chúa Jêsus tuyên bố về chén rằng “này là huyết ta đóng ấn giao ước của Đức Chúa Trời” là Ngài ngụ ý rằng.
………………………………………………………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………………………………………………………..
Sử dụng ngôn ngữ hình bóng, Chúa Jêsus đã ứng dụng các biến cố thật để dạy các chân lý thuộc linh trong một số trường hợp: ngày lễ và nước sống (GiGa 7:37-39), sự chữa lành người mù (9:1-41), sự chết của Laxarơ (11:1-27). Và sự rửa chân cho các môn đồ (13:1-17). Khi bạn đọc những khúc Kinh Thánh này bạn có phân biệt dễ dàng những biến cố xảy ra thực sự với ngôn ngữ hình bóng hay không?
Sự giải nghĩa theo nghĩa đen
Sự tiêu biểu theo nghĩa hình bóng.
12. Đôi khi thật khó để nói rằng phân đoạn Kinh Thánh này theo nghĩa đen hay nghĩa bóng. Hãy mở Mat Mt 19:16-26, Mac Mc 10:17-27, và LuLc 18:18-27 và đọc Lời Chúa Jêsus về con lạc đà chui qua lỗ kim.
Đây là nghĩa đen hay nghĩa bóng?
…………………………………………………………………………………………………………………………………………
Bạn có thể quyết định điều này trên cơ sở của mạch văn, của nghĩa thông dụng hay cả hai?
Bài học gì đã được dạy trong thí dụ này, ngôn ngữ ở đây theo nghĩa đen hay nghĩa bóng?
………………………………………………………………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………………………………………………………….
Thâu thập và tổ chức tài liệu:
Làm thế nào để băt đầu “Khu vườn bài giảng”
Mục tiêu 8: Giảng làm thế nào và tại sao bạn xây dựng một khu vườn bài giảng .
Tài liệu giảng và dạy phải được thu thập, sắp đặt có thứ tự và lưu trữ để dùng khi cần. Giống như phải gom thức ăn để chuẩn bị một bữa ăn, cũng vậy phải thâu thập tài liệu để chuẩn bị bài giảng và bài dạy. Điều quan trọng không kém là làm thế nào để tìm được tài liệu cách nhanh chóng khi bạn cần đến. Vì đó bạn cần một hệ thống sưu tập tài liệu.
Bạn có thể thiết lập một hệ thống đơn giản với độ 25 kẹp hồ sơ và một thùng cạt hay một hộp gỗ. Nếu được, nên làm kẹp hồ sơ mang đi theo được hoặc một tủ hồ sơ nhỏ là tốt nhất.
Hầu hết những bài giảng “lớn lên” từ hạt giống tư tưởng hoặc những câu Kinh Thánh đầy ý nghĩa trong một giây phút nào đó. những ý tưởng này, dù thâu thập được từ việc đọc sách, quan sát, kinh nghiệm, nhu cầu v.v… đều phải được gìn giữ và phát triển thành các bài giảng. Những bước tiếp theo sẽ giúp bạn tổ chức một “khu vườn bài giảng” để dùng vào việc phát triển các bài giảng từ giai đoạn tư tưởng cho đến sự trưởng thành đầy trọn.
13. Lý do chúng ta xem hệ thống thâu thập, lưu trữ và phát triển các tài liệu bài giảng như một “khu vườn bài giảng” là
Sự giảng và dạy rất giống với việc làm vườn
Sự khác nhau trong các đề tài bài giảng rất giống như việc làm vườn.
c) Hầu hết các bài giảng “lớn lên” và “trưởng thành” rất giống như tiến trình trồng một cây trong vườn.
Bước 1: Đặt tên nhãn hiệu một kẹp hồ sơ là “Các Hạt giống”.
Kẹp hồ sơ này sẽ chứa đựng tất cả các ý tưởng cho những bài giảng giữ một tập giấy nhỏ trong túi của bạn và bên cạnh giường ngủ để ghi lại tóm tắt những ý tưởng chợt đến. Chuyển những ghi chú đó vào tấm giấy đúng cỡ và đặt vào tập hồ sơ “Các hột giống”. Đây là những sự khởi đầu cho những bài giảng. Một số tài liệu bạn sẽ sử dụng, một số khác bạn sẽ bỏ qua. Nhưng mỗi tài liệu cần được giữ gìn và xem xét đến.
Bước 2: Đặt tên hồ sơ thứ hai là “Thân cây”.
Khi một ý tưởng bắt đầu trưởng thành bạn sẽ di chuyển nó từ hồ sơ “Các hạt giống sang hồ sơ “Thân cây”. Khi tài liệu được thêm vào những ý tưởng được gia tăng kích thước và sức mạnh thì nó trở thành thân bài giảng. Khi bạn làm nhiều bài giảng thì bạn chuẩn bị thêm nhều hồ sơ sưu tập.
Bước 3: Viết tên tập tin hồ sơ thứ ba là “Kết quả” hoặc “Trái cây”.
Hồ sơ này gồm chứa bài giảng đã xong hoặc gần xong. Đây là kết quả công khó của bạn. Ý tưởng đã phát triển, hạt giống đã trưởng thành đầy trọn.
Bạn có thể sử dụng cùng một tập hồ sơ sưu tập đó để thu thập và lập hồ sơ tin tức thí dụ để dùng trong việc soạn các bài giảng. Bạn sẽ cần đến bốn tập hồ sơ, mỗi tập hồ sơ dùng cho mỗi đề tài sau đây: “Sự cứu rỗi” “Sự giảng hòa” “Sự nên thánh” “Sự hy vọng”. Mỗi đề tài nên dùng một tập hồ sơ lưu trữ. Đây là bốn đề tài chính mà chúng ta sẽ đề cập đến trong bài học số năm. Các thí dụ và tin tức có thể thu thập và lưu trữ bằng một trong bốn tập hồ sơ này. Một số các tài liệu soạn bài giảng sẽ được sử dụng từ những nguồn này.
Bạn cần có môt tập hồ sơ khác để giữ những bài giảng đã giảng rồi. Hãy đặt tên tập hồ sơ này là “Các bài giảng”. Hãy lập danh sách bài giảng để trong các tập hồ sơ lưu trữ này với các tiêu đề sau đây: Số bài giảng, đề tài bài giảng, nội dung kinh văn. Ngày giảng. Nơi giảng. Khi lập hồ sơ này nên ghi đầy đủ các nhận xét về mỗi bài giảng. Hãy gìn giữ các bài giảng theo thứ tự con số để tìm kiếm sắp xếp nhanh chóng. Sau khi có 50 cho tới 100 bài giảng hoặc một năm giảng, hãy bắt đầu một tập hồ sơ lưu trữ khác.
Đây là hệ thống đơn giản có thể bổ sung và mở rộng khi cần. Bạn có thể sử dụng nó, thay đổi nó, hoặc lập một hồ sơ khác, nhưng bạn hãy bắt đầu thu thập tài liệu và lưu trữ các ý tưởng và tài liệu một cách có hệ thống. Điều này sẽ giúp bạn chuẩn bị bài giảng và bài dạy dễ dàng và thuận tiện hơn.
14. Giải thích và làm thế nào và tại sao bạn phải xây dựng một vườn bài giảng.
Bài giảng không tự nhiên có nhưng do sự tích lũy qua việc đọc Kinh Thánh nên cần phải xây dựng một vườn bài giảng qua những ý tưởng chúng ta được Chúa mang đến.
Hạt giống: Ý tưởng đầu tiên
Thân cây: Bắt đầu phát triển những ý tưởng phụ xung quanh
Trái cây: Bài giảng đang hình thành về cơ bản
Bài tập trắc nghiệm
ĐÚNG - SAI: Đặt chữ Đ trước những câu nói đúng, chữ S trước những câu nói sai.
Mạch văn của câu Kinh Thánh bao gồm tất cả những câu bao xung quanh câu đó.
Những sai lầm về giáo lý và thực hành đều do trích dẫn 1 câu Kinh Thánh đơn độc tách ra khỏi mạch văn và gán cho nó một nghĩa sai.
Khuôn mẫu đầy đủ của chân lý được thấy khi một vài sợi chỉ của câu Kinh Thánh được dệt lại với nhau.
Hầu hết thí dụ đều được giải thích nếu một người cẩn thận chú ý về mạch văn.
Mạch văn hữu ích trong việc quyết định ý nghĩa của các phân đoạn Kinh Thánh, nhưng mạch văn không giúp đỡ nhiều trong việc tìm ra ý nghĩa của các chữ riêng.
Chúng ta dễ tìm hiểu câu Kinh Thánh có nghĩa gì nếu chúng ta biết bối cảnh của câu nói, câu viết, các biến cố v.v…
Kinh Thánh đề cập đến các đề tài phổ quát nếu chúng ta không biết được các bối cảnh của sách ấy được viết ra thì chúng ta chẳng được ích lợi gì.
Việc sử dụng những câu hay những chữ được lập lại thường báo hiệu sự thay đổi đề tài hay sự nhấn mạnh.
Bao lâu các chữ đã xuất hiện trong Kinh Thánh rồi thì được thực sự chúng ta không cần quan tâm đến ai nói câu đó và hoàn cảnh ở đó làm chi.
10- Trong việc quyết định chọn câu Kinh Thánh nào làm qui luật của đức tin và thực hành thì điều cần thiết cho chúng ta là phải biết những gì Đức Chúa Trời đã truyền thông trực tiếp cho chúng ta.
11 -Một sự hướng dẫn chung để dùng trong việc quyết định một câu Kinh Thánh phải được giải nghĩa theo nghĩa đen hay nghĩa bóng là: Kinh Thánh phải được hiểu theo nghĩa đen trừ khi nó không thể được chấp nhận theo nghĩa bóng được.
12- Khi Kinh Thánh nói, “Vì vậy ta sẽ tấn công ngươi như một sư tử rống”, chúng ta hiểu đây là theo nghĩa đen.
13- Ngôn ngữ hình bóng có thể được mô tả cách tượng trưng.
Một trong những lý do chủ yếu tại sao chúng ta cần một “Khu vườn bài giảng” là những tư tưởng và các ý nghĩ thường đến với chúng ta khi chúng ta không có thì giờ để phát triển chúng cách đầy đủ.
Tạo một “Khu vườn bài giảng” là một loại kỹ thuật giúp bạn phát huy các tài liệu bạn cần cho chức vụ của bạn trước khi bạn cần đến chúng
Trước khi bạn nghiên cứu bài học 4, hãy chắc là bạn đã làm xong bài tập tường trình đơn vị 1 rồi gởi bài tập cho giáo viện hướng dẫn Viện Hàm Thụ Quốc tế của bạn.
TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1. c) Bối cảnh của một câu Kinh Thánh bao gồm các câu, các phân đoạn, các đoạn trước và sau câu Kinh Thánh đó.
2. a) Cầu nguyện
b) Khi một người cầu nguyện người ấy phải bền đổ (xem Gia Gc 5:17, Êli sốt sắng cầu nguyện)
3. c) Thân thể của Ngài, một sự kiện mà các môn đồ chỉ hiểu được sau khi Ngài từ kẻ chết sống lại (chúng ta thu thập các câu chân lý này từ các câu 21 và 22)
4. a) Đức Chúa Trời ở với chúng ta
b) Ngài sẽ cứu dân Ngài ra khỏi tội của họ
c) Nơi Đồi sọ
d) Con trai của Sấm sét
5. a) Chúa Jêsus đã dạy dỗ điều này khi đám đông đã theo Ngài vì họ muốn thấy phép lạ hóa bánh cho 5000 người được tái diễn.
b) Các môn đồ mới vừa nghe Chúa Jêsus bảo một người nhà giàu hãy bán hết của cải mà đi theo Ngài. khi người đó bỏ đi, Chúa Jêsus bảo rằng người giàu vào nước Trời còn khó là dường nào. Rồi Phierơ nói, “Chúng tôi sẽ được gì khi chúng tôi bỏ hết mọi sự để theo Thầy?”
6. a) Để đáp lại câu hỏi của Thầy dạy luật “Ai là kẻ lân cận tôi?”
7. Câu trả lời của bạn. bối cảnh của câu Kinh Thánh giúp chúng ta hiểu hoàn cảnh nó được viết, vấn đề cần sửa chữa, viết cho ai và nhằm mục đích gì?
8. a) Salômôn
b) Dầu ông đã từng là một vị vua lớn và đạo đức, ông đã rơi vào tội lỗi và tỏ thái độ rất bi quan đối với cuộc sống.
c) Ông dùng thí dụ này để cảnh cáo dân sự bị lưu đầy trở về kẻo họ tái phạm lỗi lầm bi thảm của Salômon.
9. b) Điều quan trọng là biết ai đã nói một điều gì đó…
10. a. 1) Nghĩa đen
b. 2) Nghĩa bóng
c. 2) Nghĩa bóng
d. 1) nghĩa đen
11. a) Tượng trưng cho thân thể Ngài sẽ bị bể ra vì cớ chúng ta, Êsai nói, “Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an , bởi lằn roi Ngài chúng ta được lành bệnh” (EsIs 53:5)
b) Cái chén được tượng trưng cho huyết Ngài đã hy sinh để xóa sạch tội lỗi nhân loại.
12. a) Nghĩa bóng
b) Mạch văn
c) Rằng những ai yêu mến sự giàu có rất khó đầu phục Đấng Christ và dâng đời sống và của cải mình cho Ngài.
13. c) Hầu hết các bài giảng đều “lớn lên” “phát triển” và “trưởng thành” rất giống tiến trình trồng một cây xanh.
14. Khi dùng một túi đựng bài (bì thơ lớn) bạn có thể phân loại “Những hạt giống bài giảng” để bạn triển khai sau này là giữ chúng an toàn cũng như có thứ tự. Khi những hạt giống này đã được triển khai, chúng được đặt trong kẹp “Thân cây”, với những ý tưởng bài giảng đang soạn. Cuối cùng, khi bài giảng được soạn xong, bạn đặt vào kẹp “Trái cây” để dùng trong tương lai. Thực hành công việc này một cách liên tục và nề nếp sẽ giúp chúng ta có các tài liệu bài giảng để sử dụng trong những trường hợp có cần.
Ý NGHĨA CỦA SỰ TRUYỀN GIẢNG
SỨ ĐIỆP CỦA SỰ TRUYỀN GIẢNG
PHƯƠNG PHÁP CỦA SỰ TRUYỀN GIẢNG
Ý nghĩa của sự Truyền Giảng
Trong đơn vị 1, chúng ta đã xem xét đến chức vụ là gì và người hầu việc Chúa phải như thế nào. Chúng ta đã đề cập đến sự chuẩn bị cá nhân và thực tế cần thiết cho chức vụ. Bây giờ chúng ta lưu ý nhiều hơn về chức vụ truyền giảng, nói một số lý do tại sao giảng là một phương tiện của chức vụ và đưa ra một số thí dụ trong Kinh Thánh về sự giảng đạo.
Định nghĩa về sự giảng đạo đã được đưa ra trong bài 1, sẽ được mở rộng để bao gồm các tư liệu của Tân ước giúp chúng ta hiểu trọn vẹn hơn chữ giảng. Chúng ta sẽ xem xét chữ này trong nguyên văn vốn giúp chúng ta hiểu ý nghĩa đầy đủ của chữ giảng như các Cơ đốc nhân đầu tiên đã hiểu chữ này. Chúng ta thấy rằng truyền giảng là một phương pháp vững chắc của sự truyền thông Lời của Chúa, là một phương tiện hữu hiệu để truyền bá Tin Lành ngày hôm nay.
Khi bạn tập trung vào ý nghĩa của chữ giảng, tôi cầu xin Chúa thách thức và ban quyền năng chinh phục linh hồn hư mất và khả năng củng cố sức mạnh cho những tín hữu để chuẩn bị Hội Thánh cho ngày Chúa trở lại qua chức vụ giảng đạo của bạn.
BỐ CỤC BÀI HỌC :
Định nghĩa của sự giảng đạo.
Các lý do của sự giảng đạo.
Các thí dụ của sự giảng đạo.
CÁC MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC :
Khi học xong bài học này bạn sẽ có thể:
Giải thích ý nghĩa của Kinh Thánh về sự giảng đạo.
Bênh vực sự giảng đạo như là phương tiện theo Kinh Thánh dạy về sự truyền bá Tin Lành.
Chứng minh từ cách dùng chữ và thí dụ trong Kinh Thánh rằng sự giảng đạo bao gồm những phương pháp khác nhau trong sự truyền thông chân lý Thiên Thượng.
CÁC SINH HOẠT HỌC TẬP :
Nghiên cứu sự phát triển của bài học và trả lời các câu hỏi học tập theo thường lệ.
2. Học ý nghĩa bất cứ chữ then chốt mới mẻ đối với bạn.
Làm bài tập trắc nghiệm ở phần cuối bài học và kiểm soát lại các câu trả lời có sẵn ở cuối sách. Học ôn lại câu nào bạn trả lời không đúng.
NHỮNG CHỮ THEN CHỐT :
Ambassador: Đại sứ toàn quyền hay sứ giả.
Ambassadorial: Của đại sứ hay thuộc về đại sứ.
Authoritative: Có thẩm quyền.
Dialegomai: Mở cuộc đàm thoại.
Dialogue: Đàm thoại giữa hai hoặc nhiều người
Disputation: Tranh luận , tranh cãi về một vấn đề.
Euangellizo: Nói ra tin mừng
Formal discourse: Bài thuyết trình theo đúng hình thức, qui luật.
Herald: Sứ giả.
Katangello: Nói cách thông suốt và có uy quyền.
Kerruso: Công bố như một sứ giả.
Laleo: Nói chuyện, kể lại, đối thoại.
Martureo: Làm một chứng nhân, làm chứng.
Parresiazomai: Nói công khai, dạn dĩ.
Plero: Nói công khai, dạn dĩ.
Structural: Của cơ cấu, liên quan hay ảnh hưởng đến cơ cấu.
KHAI TRIỂN BÀI HỌC
ĐỊNH NGHĨA SỰ GIẢNG ĐẠO
Theo truyền thông:
Mục tiêu 1: Nhận biết những yếu tố trong định nghĩa truyền thông về sự giảng đạo .
Giảng là truyền thông chân lý từ một người sang nhiều người khác. Trong đó có hai yếu tố chính. Chân lý và nhân cách. Không đủ hai yếu tố này không phải là giảng đạo nữa. Chúng ta thấy đây là một trong những định nghĩa rõ ràng và cô đọng nhất về sự giảng đạo. Phillips Brooks, một nhà truyền đạo nổi danh người Mỹ ở thế kỷ thứ 19 đã định nghĩa giảng đạo được mô tả như là việc tuôn trào ra sự sống, gieo rắc chân lý Thiên Thượng qua nhân cách con người.
Giảng là một phương tiện chính được Đức Chúa Trời lựa chọn và sử dụng trong Hội Thánh đầu tiên để truyền đạt Tin Lành cho dân chúng. Và mặc dù trải qua nhiều thế kỷ sự giảng đạo đã đổi thay, nó vẫn còn giữ lại những yếu tố nguyên thủy của sự công bố, sự truyền Tin Lành được hướng dẫn trong thời Tân ước.
Theo định nghĩa truyền thông thì sự giảng đạo có chứa các yếu tố của
Chú giải, giải nghĩa và chất vấn.
Chân lý và nhân cách.
Uy quyền, hợp lý và thực tế.
Theo Kinh Thánh
Mục tiêu 2: Thảo luận hai định nghĩa chính về sự giảng đạo rút ra từ Tân ước .
Một trong những định nghĩa chính về sự giảng đạo trong Tân ước là “Công bố như một sứ giả”. Sứ điệp của sự giảng đạo trong Tân ước là Tin Lành. Sự kêu gọi là phải ăn năn và phải tin, còn mục đích là truyền Tin Lành cho người hư mất. Tin Lành cần được công bố công khai vì lần đầu tiên người ta được nghe và hiểu ý nghĩa của sự chết, sự chôn và sự sống lại của Chúa Jêsus Christ.
Mặc dầu sự giảng đạo được nhắc đến nhiều lần trong Tân ước, ít khi Kinh Thánh đề cập đến sự giảng đạo như là một bài thuyết trình theo đúng hình thức. Thường thường nó chỉ về việc công bố sứ điệp Tin Lành. Ngày nay nhiều nơi trên thế giới, sứ điệp Tin Lành mới được công bố cho dân chúng lần đầu tiên. Theo Tân ước thì sự giảng này mang ý nghĩa công bố ra như một sứ giả.
Hãy xem thử định nghĩa này có phù hợp với tầm cỡ và thực tế của sự giảng đạo ngày nay không ? Vâng, có. Chẳng hạn các nhà truyền giảng Tân ước đã có cơ hội đặc biệt để công bố Tin Lành ngay lập tức sau khi Chúa sống, chết, sống lại và thăng thiên. Tin Lành là tin tức mới mẻ cho cả người Do Thái lẫn người ngoại bang, vì thế mục tiêu rõ rệt của sự giảng đạo là sự cứu rỗi người hư mất. Đây là lý do rõ rệt tại sao các thí dụ trong Tân ước về sự giảng đạo nhấn mạnh đến sự chinh phục người hư mất. Tân ước tuy nhiên, sau khi Hội Thánh đã trưởng thành hơn một phần Tân ước được ghi lại nên Phaolô đã khích lệ Timôthê, như một mục sư “ Hãy giảng đạo, cố khuyên. . . bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (IITi 2Tm 4: 2). Đây là mạng lệnh trong thời Tân ước được chúng ta khai triển ngày nay. Vì sự giảng đạo ngày nay không chỉ bao gồm sự công bố Tin Lành cho người hư mất, mà bao gồm sự giảng Lời Chúa cho tín đồ để khích lệ và gây dựng họ trong đức tin. Vì vậy, theo mạng lệnh và thí dụ trong Tân ước, cả hai mục đích này của sự giảng đạo đã được đề cập trong Tân ước.
Khoanh tròn mẫu tự của câu ĐÚNG sau đây:
a) Nói chung sự giảng đạo trong Tân ước chỉ về sự tuyên bố hay công bố công khai về Tin Lành cho người chưa được cứu.
b) Khi chúng ta nói về sự giảng đạo trong Tân ước, chúng ta hiểu rằng điều này chỉ về một bài thuyết trình đúng hình thức mà ông Mục sư truyền ra qua một bài giảng, rồi người ta đặt các câu hỏi và đưa ra các nhận thức thuộc linh của chính họ về đề tài đang được thảo luận.
c) Trong những năm đầu của Hội Thánh sự nhấn mạnh trong khi giảng là đến với người hư mất, trong khi về sau, sự giảng đạo còn nhấn mạnh đến sự lớn lên và trưởng thành thuộc linh của người tin đồ.
d) Sứ điệp Tin Lành được truyền thông bằng lời nói cũng như bằng gương sáng của người Cơ đốc.
Một định nghĩa quan trọng khác của Tân ước về chữ giảng đạo là nói ra tin tức tốt lành. Chúng ta thấy hình thức giảng đạo này được ghi lại trong sách Công vụ sứ đồ. Trong đó các tín đồ đã nói về Chúa Jêsus, mọi nơi họ đi đến. Họ đã giảng sứ điệp của họ bằng cách trò chuyện tại nhà riêng, trên đường cái, nơi chợ búa hoặc bất cứ nơi nào họ có cơ hội. Họ đã là chứng cách dạn dĩ về quyền phép của Tin Lành đã biến đổi đời sống của họ, khi nói chuyện với những người chưa tin Chúa, kể lại thông suốt và thuyết phục họ về Tin Lành của sự cứu rỗi. Những người tín đồ này, được đầy dãy Đức Thánh Linh, đã làm chứng đạo cách dạn dĩ và đầy quyền năng trong các nhà hội lẫn nhà tù. Họ đã tranh luận với những người trí thức, tức là những người đã ảnh hưởng thái độ và nếp suy nghĩ của quần chúng thời bấy giờ, họ đã làm chứng trước những nhà lãnh đạo chính trị, và họ đã biện hộ với những nhà lãnh đạo tôn giáo, vốn là những người chống đối chân lý Tin Lành. Họ đã thường sử dụng cùng một cách bắt đầu giải quyết như lý luận, làm chứng và biện hộ với những người đang sống giữa vòng họ, thuyết phục những người đó tiếp nhận sứ điệp Tin Lành. Thực ra, khi Chúa Jêsus sai các môn đồ đi ra hoàn thành sứ mạng “giảng Tin Lành cho mọi người” thì Ngài đã chỉ dạy họ hãy sử dụng tất cả phương tiện truyền thông như giảng dạy, làm chứng và biện hộ. Sứ mạng của họ là đưa người ta đến chỗ thấy, hiểu và kinh nghiệm về quyền phép của Tin Lành.
Khi giảng đạo được định nghĩa như là kể về tin mừng thì định nghĩa này chủ yếu có nghĩa.
Sự trình bày Tin Lành cách hình thức trong những buổi thờ phượng thường kỳ nghiêm túc.
Sự chia sẻ Tin Lành không theo hình thức, thân mật, bởi các nhà truyền đạo không chuyên.
Sự truyền bá Tin Lành bằng mọi phương tiện ở khắp mọi nơi.
Như vậy, Tin Lành được lan tràn do cá nhân chứng đạo và sự công bố công khai. Vô số tín đồ đã dâng mình chia sẻ sứ điệp với một mục đích: đến với những người chưa được cứu, đem hy vọng duy nhất đến với những người tuyệt vọng và những người bị giam hãm trong bóng tối của cuộc đời, và mặc dầu những chứng nhân này giống như chiên ở giữa bày muông sói trong một thế giới ngoại đạo thù nghịch, sứ điệp Tin Lành đã lan tràn nhanh chóng cả trong và ngoài đế quốc La Mã nữa. Điều đó đã chứng minh rằng ngay cả các cửa Âm phủ cũng không thể thắng được Hội Thánh của Chúa Jêsus Christ (Mat Mt 16:18). Như vậy Tin Lành đã tác động rất mạnh mẽ và lâu dài trên thế giới do kết quả trực tiếp của sứ điệp Tin Lành. Và từ những ngày đầu tiên đó, sự sống thuộc linh và quyền phép của Hội Thánh đã tiến hay thoái là do Hội Thánh đặt tầm quan trọng cho sự rao giảng Lời Chúa. Mỗi cuộc phục hưng lớn lao của đời sống thuộc linh trong Hội Thánh đều do việc trở về đúng với đường lối của Thánh Kinh về sự rao giảng Lời Chúa.
Hãy viết trong sổ tay của bạn một phần thảo ngắn gọn về một trong hai định nghĩa chính của Kinh Thánh Tân ước về sự giảng đạo nêu lên trong phần này. Ngoài phần định nghĩa, hãy đưa ra những khía cạnh quan trrọng của mỗi định nghĩa đó.
NHỮNG CHỮ GIẢNG ĐẠO TRONG TÂN ƯỚC:
Mục tiêu 3: Nhận định các khía cạnh của sự giảng đạo qua các từ ngữ khác nhau liên hệ đến chữ này .
Chúng ta đã xem một số các định nghĩa của Tân ước về sự giảng đạo và đã thấy ngôn ngữ Kinh Thánh gợi ý về một số các phương pháp mà
Hội Thánh đầu tiên đã dùng để trình bày Tin Lành cho những người chưa được cứu. Khi chúng ta nghiên cứu đề tài giảng đạo thông suốt hơn, chúng ta để ý thấy vẫn còn những phương pháp khác của sự truyền thông đã được gợi ý bởi nguyên văn của Kinh Thánh. Một số những từ ngữ Hy Lạp gợi ý đến sự giảng đạo cá nhân, thân mật trong khi những chữ khác nói đến sự rao truyền một sứ điệp có hình thức, không bị ngắt lời trên toà giảng (giống như sự giảng đạo ngày nay). Hãy để ý những phương pháp truyền Tin Lành khác nhau đã được gợi ý qua những từ ngữ của Tân ước như sau đây.
Kerruso có nghĩa là “ Công bố như một sứ giả”. Chữ này chỉ về sự công bố công khai. Chữ này bao gồm hình ảnh của một sứ giả thực hiện một lời rao báo và hình ảnh của một vị đại sứ đại diện cho một nước. Giảng Tin Lành bao gồm cả hai ý tưởng này, vì người giảng đạo có hai nhiệm vụ như một người rao báo và như một đại sứ của Đấng Christ (IICo 2Cr 5:20). Chữ này đã được dùng độ 60 lần trong Tân ước. Bao gồm những câu sau đây: Mat Mt 3:1; Cong Cv 8:5; RoRm 10:8, 14-15; IITi 2Tm 4:2.
Euangellizo nghĩa là “ kể lại tin mừng, rao giảng Tin Lành”. Cũng do từ này chúng ta có các chữ Evangelize , Evangelist và Evangel . Vì cớ nội dung của sứ điệp rất gần gũi với chính việc giảng đạo, nên chữ này mô tả cả phương pháp lẫn sứ điệp: giảng (kể lại) là phương pháp, “Tin Lành” là sứ điệp. Chữ này được dùng độ 70 lần trong Tân ước, bao gồm Mat Mt 11:5; LuLc 3:18 và Cong Cv 5:42.
Từ hai chữ trong Tân ước đã nói ở trên liên quan đến sự giảng đạo của Hội Thánh đầu tiên, chúng ta có thể kết luận rằng sự giảng đạo là:
Trách nhiệm chủ yếu của chương trình lễ ngày sabát hoặc các hoạt động của ngày thánh.
Được xem như trách nhiệm của mọi tín đồ ở khắp mọi nơi trong mọi thời đại.
Bạn sẽ thấy rằng hai chữ đã nói ở trên cho thấy trong hầu hết các trường hợp, một bài diễn thuyết có hình thức như chúng ta thường thấy ngày nay. Ngược lại thì những chữ sau đây lại mô tả những phương pháp thân mật hơn, không có hình thức nghiêm túc như là diễn thuyết, để chia sẻ sứ điệp cứu rỗi cho người hư mất. Hãy lưu ý Kinh Thánh Tân ước nói rất ít về giảng các bài giảng hoặc diễn thuyết, trong khi đó hầu hết đều ghi lại sự kể chuyện Tin Lành, và sự trò chuyện với người khác về Chúa Cứu thế Jêsus.
Laleo nghĩa là” nói chuyện” “đàm thoại” “kể chuyện”. Trong nguyên văn nghĩa là “nói chuyện”. Nó cho chúng ta gợi ý về cuộc nói chuyện có tính cách cá nhân. Chữ này thường được dịch là“nói”hay“nói chuyện”trong Kinh Thánh. Chữ này được dùng hơn 250 lần trong Tân ước. 11:19 minh hoạ phương pháp này rất tốt.
Martureo có nghĩa là “làm một nhân chứng” hay “làm chứng”. Chữ này cho chúng ta ý niệm về lời làm chứng có sức thuyết phục căn cứ trên sự tin tưởng thật và bằng cớ rõ ràng. Giăng Báptít là một chứng nhân như thế, được Đức Chúa Trời sai phái để làm chứng về sự sáng của sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Phương pháp truyền thông Tin Lành này đã được dùng hơn 70 lần trong Tân ước. GiGa 1:7, 8, 15; Cong Cv 1:8; 5:32, và 14:3 là những thí dụ của phương pháp này.
Dialegomai có nghĩa là “mở cuộc đối thoại”. Chữ này gợi ý về sự trao đổi quan điểm, một cơ hội để thắc mắc và trả lời về sứ điệp đã trình bày. Đây là sự phản nghĩa của sự độc thoại, trong đó chỉ có một người nói, ở đây còn có nghĩa là dạy và học. Chữ này liên hệ đến sự giảng đạo là vì nó liên hệ vớ sự thuyết phục người khác tiếp nhận sứ điệp Tin Lành và được cứu rỗi. Chữ này chỉ xuất hiện vài lần trong tu, sau đây là các thí dụ của phương pháp này: Mac Mc 9:34; Cong Cv 17:2, 17; 18:4.
Katangello có nghĩa là “kể chuyện cách thông suốt và có uy quyền. Hai chữ khác: Plero và Parresiazomai , cộng thêm vào ý niệm về sự thông suốt và uy quyền ở trên, các khía cạnh ý nghĩa về sự “làm cho đầy” và “ nói cách công khai, dạn dĩ”. Các chữ này được tìm thấy trong 13:38; 15:36 và 17:3.
6. Bốn chữ sau trên đây được Tân ước dùng có liên quan đến sự giảng đạo cho thấy tất cả những điều sau đây ngoại trừ .
Lời làm chứng, tức là bao gồm sự giải thích có uy quyền và hợp lý về công tác cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong đời sống một cá nhân.
Sự đối thoại, gợi ý sự ảnh hưởng lẫn nhau và sự trao đổi các quan điểm.
Sự đàm thoại nói về sự nói chuyện thân mật, cá nhân với nhau.
Sự diễn thuyết vốn liên quan đền một người như là một diễn giả và không có sự trao đổi quan điểm với nhau.
Làm rõ ý nghĩa sự giảng đạo như đã được hiểu trong Hội Thánh đầu tiên bằng cách ghi số 1 ở trước câu mô tả chữ Tân ước dùng chỉ về sự giảng đạo và số 2 ở rước những ý tưởng được phát triển về sau.
. . . a) Giảng đạo được nhìn thấy chủ yếu như là những phương tiện để phát triển và làm cho đời sống thuộc linh người tín đồ được trưởng thành.
. . . b) Trong một thế giới hoàn toàn không biết gì về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời,sự giảng đạo là phương tiện để rao báo sứ điệp và truyền Tin Lành cho người hư mất.
.. . . c) Giảng đạo là chia sẻ tin mừng trong cuộc nói chuyện với tư cách một người tín đồ làm chứng rõ ràng và có uy quyền về cách Đức Chúa Trời đã thay đổi họ.
. . . d) Giảng đạo bao gồm sự trao đổi các quan điểm, sự tác động lẫn nhau và sự đối thoại về những lời kêu gọi của Tin Lành.
. . . e) Giảng đạo bao gồm việc truyền rao một sứ điệp cho một nhóm người hay một hội chúng để chinh phục ngưới hư mất và phát huy đời sống thuộc linh trong những người tín đồ.
NHỮNG ĐIỀU KIỆN CỦA SỰ GIẢNG ĐẠO
ĐƯỢC ĐỨC CHÚA TRỜI LỰA CHỌN:
Mục tiêu 4: Hãy chọn một câu nói cho thấy cơ sở Kinh Thánh dạy về việc Đức Chúa Trời chọn sự giảng đạo như là một phương pháp chủ yếu để rao truyền sứ điệp cứu rỗi .
Đức Chúa Trời đã chọn việc giảng đạo để truyền bá sứ điệp cứu rỗi của Ngài. Giăng Báp tít đến trong đồng vắng xứ Giuđê và khởi sự giảng đạo ! Ông nói :” Hãy quay bỏ khỏi tội lỗi vì nước Thiên đàng đã gần “(Mat Mt 3:1-2) Nhiều dấu hiệu chứng tỏ ông là một sứ giả, là một đại sứ, đi công bố sứ điệp cho người khác, dọn đường cho đấng đến sau ông và làm đại diện cho một nước (xem câu 3).
Khi Đức Chúa Jêsus công bố sứ mạng của Ngài, trong sự truyền thông Tin Lành của Ngài cho nhân loại thì sự giảng đạo đóng vị trí hàng đầu, Ngài đọc lời tiên tri của Êsai, “Thần của Chúa ngự trên ta, vì Ngài đã xức cho ta đặng truyền Tin Lành (euangellizo) cho kẻ nghèo. Ngài đã sai ta để rao (Kerusso) cho kẻ bị cầm được tha, kẻ mù được sáng, kẻ bị hà hiếp được tự do và để đồn ra (Kerusso) năm lành của Chúa” (LuLc 4:18-19). Một lần khác, Chúa Jêsus cũng đã mô tả tầm quan trọng của chức vụ giảng đạo của Ngài: “Ta cũng phải rao Tin Lành (euangellzo) của nước Đức Chúa Trời nơi các thành khác vì cốt tại việc đó mà ta được sai đến” (4:43) Phạm vi của chức vụ giảng đạo được thấy ở câu kế đó” Vậy Ngài giảng dạy (Kerusso) trong các nhà hội xứ Galilê (4:44). Khi truyền các môn đồ đại sứ mạng, Ngài phán cùng họ rằng” Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người “ (Mac Mc 16:15) “ Về phần các môn đồ, đi thì ra giảng đạo (Kerusso) khắp mọi nơi, Chúa cùng làm với môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo “ (16:20). Khi họ vâng theo mạng lệnh giảng đạo thì các phép lạ xảy ra xác nhận cho sứ điệp của họ, nhiều người đã tin Chúa và Hội Thánh đã trở nên một đạo quân hùng mạnh, tiến lên.
Hãy điền các tên bên phải vào cho hợp với các câu bên trái chứng tỏ Đức Chúa Trời dùng sự giảng đạo vào sự truyền bá, truyền thông sứ điệp cứu rỗi.
- Chúa Jêsus.
- Giăng Báp tít
- Êsai
- Các môn đồ
. . . a) Công bố nước trời đã đến gần:
. . . b) Đi khắp nơi rao giảng sứ điệp về Chúa Jêsus:
. . . c) Đã đến giảng Tin Lành.
. . . d) Nói tiên tri rằng Chúa Jêsus sẽ giảng đạo cho người nghèo và người bị áp bức.
Hãy lưu ý rằng khi Phaolô viết thư cho Hội Thánh Côrinhtô. Ông mô tả sự giảng đạo như phương pháp Đức Chúa Trời chọn để cứu những người tin, từ chối sự khôn ngoan cuả người Hy Lạp và các dấu lạ mà người Do Thái tìm kiếm (ICo1Cr 1:21-25).
Chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giuđa lấy làm gương xấu, dân ngoại đạo cho là rồ dại, song le, về những người được gọi, bất luận người Giuđa hay người Gờréc, thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (1:23-24).
Phaolô cũng bênh vực mạnh mẽ sự giảng đạo trong bức thư của ông gởi đến Hội Thánh Rôma. Ông tuyên bố rằng sự cứu rỗi là dành cho mọi người (RoRm 1:5-12), rồi ông tiếp tục “ Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu (10:13). Rồi ông phát huy cách có hệ thống dòng lý luận sau đây:
Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được ? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thế nào mà tin ? Nếu chẳng ai rao giảng thì nghe làm sao ? Lại nếu chẳng ai được sai đi thì rao giảng (Kerusso) thế nào ?
Như vậy đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe là khi Lời của Đấng Christ được rao giảng (RoRm 10:14-18).
Nhu cầu giảng đạo rất rõ ràng: người ta tin nơi Đấng Christ để được cứu rỗi do việc được nghe giảng Tin Lành. Đây cũng là phương pháp truyền thông đã được Tân ước đề cập đến sự giảng đạo.
Vì vậy, ta không cần phương pháp mới nào để mở rộng nước trời trong đời sống nhân loại. Chúa đã chọn sự giảng đạo như là phương tiện chủ yếu để truyền bá Tin Lành. Bạn sẽ để ý thấy rằng Ngài không dùng các phương tiện chính trị để xây dựng Vương quốc thuộc linh. Ngài cũng không dùng các hoạt động xã hội hay văn hóa. Vì chỉ có Tin Lành mới thực sự thay đổi đời sống con người.
Hãy đọc lại 10:14-15. Hãy liệt kê theo thứ tự trong đó xảy ra năm bước được Phaolô gợi ý trong việc đem sứ điệp đến cho người chưa được cứu.
a) …………………………………………………………………………………………………………………………………………….
b) …………………………………………………………………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………………………………………
KIỂU MẪU CỦA TÂN ƯỚC:
Mục tiêu 5: Nhận biết những câu nói nêu lên tính chất về các kiểu mẫu giảng Tin Lành của Tân ước .
Sự giảng đạo của Tân ước trong bước đầu tiên là sự rao báo về sự cứu rỗi được Đức Chúa Trời cung cấp sẵn cho tất cả mọi người. Mục đích của sự giảng đạo là truyền ra sứ điệp của Tin Lành. Không có ai “ giảng “ chỉ vì cớ giảng. Các sứ đồ đã rao giảng “ Tin Lành của Đấng Christ “, “ sự ăn năn và sự tha tội “. “ Đấng Christ đã chịu đóng đinh “ và những đề tài tương tự. Hành động giảng đạo ở giai đoạn này không bao giờ được phân rẽ khỏi sứ điệp của sự cứu rỗi.
Các tín đồ của Hội Thánh đã lập tức bắt đầu công bố Tin Lành tại Giêrusalem, như Chúa đã truyền dạy (Cong Cv 1:8). Phierơ cùng với những môn đồ khác, đã công bố Tin Lành đó lần đầu tiên vào lễ Ngũ Tuần (2:14-42). Được thúc giục bởi Chúa Thánh Linh, Phierơ đã chứng minh như những lời tiên tri trong quá khứ đang ứng nghiệm qua những biến cố trong hiện tại. Rồi ông kêu gọi đám đông tiếp nhận lấy sự cứu rỗi Đức Chúa Trời đã cung hiến, đám đông người chưa tin Chúa đã cảm động do nghe sứ điệp này. Khi người ta hỏi họ phải làm gì, thì Phierơ dạy họ phải ăn năn tội và chịu phép báp têm. Kết quả cuả sứ điệp này, có ba ngàn người được cứu thêm vào Hội Thánh. Khuôn mẫu này được thành lập lại, Hội Thánh đã được lớn lên và các tín đồ đã đi khắp mọi nơi rao giảng Tin Lành.
10. Bắt đầu với ngày lễ Ngũ Tuần và thời gian tiếp ngay sau đó, các sứ đồ và các lãnh tụ Hội Thánh đã thiết lập gương mẫu đầu tiên của sự giảng đạo bằng cách
Công bố sứ điệp Tin Lành khắp mọi nơi họ đã đi đến.
Thành lập những nhóm nhỏ, có tổ chức để gieo rắc Tin Lành.
Hướng dẫn những buổi nhóm truyền giảng vốn được tổ chức vào một thời gian nào đó tại một địa điểm nào đó.
Như chúng ta đã thấy, giảng đạo công khai của một đám đông, không phải là một phương pháp duy nhất để truyền bá Tin Lành mà Hội Thánh đầu tiên đã dùng. Do sự bách hại các tín đồ phải dùng những phương tiện khác để rao giảng. “ trừ các tín đồ, còn hết thảy tín đồ đều phải chạy tan lạc trong các miền Giuđê và xứ Samari “(8:1). “Vậy, những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin Lành” (8:4). Đây là sự chứng đạo cá nhân, sự nói chuyện và kể chuyện về Tin Lành trên một quy mô lớn. Phương pháp này rất có hiệu quả và lan ra một cách nhanh chóng” Những kẻ bị tản lạc bởi sự bắt bớ xảy đến về dịp Êtiên, bèn đi đến xứ Phênixi, đảo Chíprơ và thành Antiốt, chỉ giảng đạo cho người Giuđa thôi. Nhưng trong đám đông nhưng người ấy có một vài người quê ở Chíprơ và Syren đến thành Antiốt cũng giảng đạo cho người Gơréc nữa, truyền Tin Lành của Đức Chúa Jêsus cho ho. Tay Chúa ở cùng mấy người đó, nên số người tin và trở lại cùng Chúa rất nhiều” (11:19-21).
Không có chi tiết nào cho thấy những tín đồ này, vốn rất trung tín giảng Tin Lành, được chính thức thừa nhận như là những chức viên Hội Thánh do các trưởng lão ở Giêrusalem bổ nhiệm. Họ cũng không giảng trên tòa giảng hay thuyết trình ở các buổi họp công cộng, mà họ chỉ đi ra” nói về Tin Lành” bất cư nơi nào mà họ có thể đến được. Sự tản lạc của Hội Thánh do cơn bách hại xảy ra trong sách Công vụ đã trở thành một khúc quanh mới khi họ ra khỏi Giêrusalem, xứ Giuđê và Samari cho đến tận cùng trái đất để truyền bá Tin Lành ( xem 1:8)
11. Chẳng bao lâu, số lớn tín đồ tập trung ở Giêrusalem đã tản lạc bởi cuộc bắt bớ và kết quả của sự giảng đạo.
a) Đã chỉ được tiến hành khi các sứ đồ đi du lịch đến những nhóm Cơ đốc nhân tản lạc để thờ phượng Chúa với họ.
Đã không áp dụng phương pháp giảng đạo công khai mà phần lớn áp dụng phương pháp truyền đạo cá nhân.
Đã bị rơi vào chỗ không còn sử dụng nữa và không còn là sức mạnh chính của sự truyền Tin Lành.
Cá nhân chứng đạo là phương pháp khác của Tân ước dùng để truyền bá Tin Lành. Người đàn ông bị mù đã làm chứng lại việc mình được chữa lành cho những người hỏi đến anh (GiGa 9:25). Phaolô đã làm chứng về sự qui đạo của mình ba lần trong sách Công vụ các sứ đồ. Trong mỗi trường hợp ông đã kể lại một cách ngắn gọn những việc gì đả xảy ra khi ông được tái sanh và việc đó đã có ý nghĩa gì cho đời sống của ông (22:1-22; 24:10-21; 2:1-29).
Phaolô cũng thường sử dụng sự đối thoại để truyền giảng Tin Lành. Do thói quen và do lương tâm ông đã vào các nhà hội địa phương và thảo luận hoặc tranh luận với người Do Thái cùng những người khác về Chúa Jêsus là Đấng Mêsi (17:1-3). Một số người được thuyết phục, những người khác thì không ( 17:4-5). Những cuộc thảo luận này thường đưa đến sự bàn cãi, tranh luận và trả lời những câu hỏi của những người nghe. Mục đích của sự đối thoại là thuyết phục các thính giả tin nơi sứ điệp Tin Lành để được cứu rỗi ( Hãy xem những thí dụ khác Phaolô dùng phương pháp này được chép trong 18:1-4, 19; 19:8-10).
Hội Thánh Tân ước đã dùng các phương pháp khác nhau để truyền bá Tin Lành. Tân ước tuy nhiên, có hai điều luôn luôn giống nhau: sứ điệp và mục tiêu. Họ giảng Tin Lành trong giai đoạn này chủ yếu là cứu người hư mất.
12. Hãy khoanh tròn mẫu tự của mỗi câu ĐÚNG
Khuôn mẫu của Tân ước về sự giảng đạo là sự giảng Tin Lành có một mục đích đặc biệt: sự cứ rỗi cho các tội nhân.
Lúc đầu Hội Thánh đầu tiên đã lớn lên như là một kết qủa của sự giảng Tin Lành công khai của các sứ đồ nhằm mục đích truyền Tin Lành cho người hư mất.
Sự bách hại đã làm cho các tín đồ tản lạc khắp nơi xa xôi do đó sự giảng đạo đã chấm dứt.
Các tín đồ đã đi xa nhau khi Êtiên chết là do các trưởng lão chính thức sai phái họ đi như là những thầy “truyền đạo”.
Tin Lành đã được truyền bá do sự làm chứng cá nhân, sự trò chuyện riêng tư và qua sự đối thoại.
SỰ HIỆU QUẢ SỰ GIẢNG ĐẠO TRONG LỊCH SỬ VÀ TRONG HIỆN TẠI
Mục tiêu 6: Thảo luận sự hiệu quả của việc giảng đạo trong kinh nghiệm của Hội Thánh .
Chúa Jêsus đã chứng tỏ rằng Ngài đã xây dựng Hội Thánh và ngay cả các cửa âm phủ vẫn không thắng được Hội Thánh của Ngài (Mat Mt 16:18) và từ ngày lễ Ngũ Tuần trở đi vai trò của sự giảng đạo và quyền năng của sự giảng đạo đã được thiết lập. Các kẻ thù của Phaolô đã công nhận về quyền năng giảng đạo của ông khi họ tố cáo rằng ông đã lật đổ thế giới (nghĩa đen là làm lung lay trật tự của xã hội) (Cong Cv 17:6). Và trong quá trình đó, ông đã ảnh hưởng mạnh mẽ trên các thành phố lớn và thậm chí cả các tỉnh nữa.(19:26).
Phaolô đã nhắc nhở các tín đồ ở Côrinhtô rằng những thành quả to lớn đạt được giữa vòng họ là do kết quả của sự giảng đạo được Thánh Linh xức dầu (ICo1Cr 2:1-5). Như vậy, Tin Lành đã lan tràn một cách quyền phép có sức thuyết phục và không gì cưỡng lại được. Và đến đầu thế kỷ thứ 4, Tin Lành đã chiến thắng cả sự bách hại, sự chống đối của chính quyền, chống lại các sai lầm về một số giáo lý và về sự ấu trĩ của giáo hội thời đó. Tin Lành cũng được chấp nhận trong cả Đế quốc La mã và có một khải tượng tươi mới đã vượt qua những biên giới của Đế quốc La mã cho đến tận cùng trái đất.
Lịch sử Hội Thánh đã ghi lại những giai đoạn phát triển rộng lớn, cũng như những giai đoạn suy đồi. Nhưng bất cứ khi nào Hội Thánh kinh nghiệm sự phục hưng trong đời sống thuộc linh của mình, thì luôn luôn có kèm theo việc công bố Lời Đức Chúa Trời cách đầy quyền năng.
Trong các thế kỷ từ lúc Hội Thánh được khai sanh, phương cách giảng đạo có nhiều thay đổi. Nhưng vẫn là phương pháp hữu hiệu nhất để truyền bá chân lý mà Đức Chúa Trời đã lựa chọn và đã được Hội Thánh đầu tiên sử dụng hữu hiệu. Ngày nay sự giảng đạo càng tỏ ra hữu hiệu đối với quần chúng đang sống trong những đô thị đông đúc trên thế giới. Ngày nay các nhà truyền giảng đang công bố Tin Lành để cứu người hư mất, và rất đông người đang tìm kiếm Chúa Jêsus Christ làm Chúa Và Cứu Chúa.
Ngoài ra, hàng triệu khán thính giả đang nghe truyền giảng Tin Lành hằng tuần qua đài phát thanh và chương trình truyền hình. Ngoài ra các băng Cassette ghi âm sứ điệp Tin Lành cũng được giảng ra cho vùng xa xôi hẻo lánh đáp ứng cho những tấm lòng khao khát. Các truyền đạo đơn Tin Lành mang cùng một sứ điệp Tin Lành trên bình diện cá nhân đến với hàng triệu người khác, trong khi lời chứng hữu hiệu và sự chứng đạo trung thành hướng dẫn nhiều người về với Đấng Chrrist. Và trong vô số các nhà thờ, sự giảng đạo hằng tuần đã đưa Lời Chúa đến người đang hư mất và làm tăng trưởng đời sống thuộc linh của người tín đồ. Sự giảng đạo ngày nay vẫn còn quan trọng như ngày xưa. Đặc biệt điều này là đúng khi Đức Thánh Linh đang sửa soạn Hội Thánh Cho ngày Chúa tái lâm.
13. Hãy viết vào sổ tay của bạn một phần thảo luận ngắn về vị trí của sự giảng đạo trong kinh nghiệm của Hội Thánh.
CÁC THÍ DỤ CỦA SỰ GIẢNG ĐẠO:
Mục tiêu 7: Hãy lựa chọn một câu nói mô tả chính xác những nét đặc biệt chung trong các thí dụ về sự giảng đạo ở Cựu ước và Tân ước .
Thời Cựu ước:
Trong Cựu ước, chúng ta thấy các tiên tri là những phát ngôn viên của Đức Giêhôva và phục vụ như những đại sứ cho Ngài. Chẳng hạn, Giêrêmi cứ lập đi lập lại rằng: “ Đức Giêhôva phán cùng tôi….”(Gie Gr 1:4; 2:1, 5) Ông và những tiên tri khác đã ban bố sứ điệp cho dân chúng để bày tỏ ý muốn của Đức Chúa Trời đối với tình hình hiện hữu, cũng như Êli, Êsai, Ôsê và những sứ giả khác đã rao báo sứ điệp của Đức Chúa Trời trong bối cảnh Cựu ước và họ đã trung tín làm đại diện của Đức Chúa Trời cho dân sự Ngài là Ysơraên. Chức vu của họ là kêu gọi dân tộc hãy ăn năn và trung tín phục vụ, khuyến khích họ tin cậy Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi.
Thời Tân ước:
Trong thời Tân ước, phần lớn các sứ điệp giảng đạo là những lời kêu gọi mọi người chú ý tới Kinh Thánh Cựu ước đồng thời công bố rõ ràng và có uy quyền về sự sống, sự chết, sự phục sinh và sự thăng thiên của Chúa Jêsus Christ và lời kêu gọi các thính giả hãy tin Chúa để được sự cứu rỗi. Sứ điệp của Phierơ tại Giêrusalem (2:1-47) và tại đền thờ (3:1-26) cũng như Êtiên đã giảng cho Quốc hội Do Thái (6:1-15) và sứ điệp của Phierơ tại nhà Cọtnây (10:1-48) cùng các sự công bố thời Tân ước đều nhằm mục đích truyền Tin Lành cho người hư mất. Sứ điệp của Phaolô trên đồi Mars (17:1-34) là một thí dụ về sự thảo luận và đối thoại nhằm mục đích chỉ dẫn cho người hư mất đến sự cứu rỗi.
14. Khi chúng ta khảo sát các thí dụ của sự giảng đạo thời Cựu ước và Tân ước chúng ta thấy rằng sự giảng đạo đó bao gồm những nét nổi bật của
Sự giảng dạy hình thức trong buổi thờ phượng dùng trong ngày Sabát.
Sự công bố, phục vụ như là vị đại sứ của Đức Chúa Trời và giảng đạo vì những kết quả.
Những buổi thờ phượng không có qui củ, thiếu sự lãnh đạo hữu hiệu và các kết quả lâu dài.
BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM :
Quan niệm của Kinh Thánh về sự giảng đạo có thể được mô tả cách tốt nhất như là:
Một phương tiện Đức Chúa Trời đã chọn nhằm đem Tin Lành đến cho dân chúng trong một thời điểm đặc biệt tại một địa điểm đặc biệt.
Phương tiện Đức Chúa Trời đã và đang dùng để giảng cho ngưi hư mất đồng thời gây dựng cho tín đồ mau trưởng thành chuẩn bị họ cho sự chờ đón Chúa Jêsus tái lâm.
Một phương pháp truyền thông Đức Chúa Trời đã dùng khi Hội Thánh đầu tiên đem Tin Lành đến cho mọi người, nhưng không còn thích hợp nữa.
Khi nói đến quan điểm của Kinh Thánh về sự giảng đạo, chúng ta nói:
Về một chức vụ có hình thức, có tòa giảng do một người hướng dẫn mà không có sự tác động qua lại của thính giả.
Về một lớp học trong đó một người thuyết trình và thỉnh thoảng nêu lên các câu hỏi và khuyến khích các thính giả đáp ứng đối với đề tài.
Về các phương pháp truyền thông chân lý khác nhau bao gồm sự công bố, sự đàm thoại cá nhân, lời chứng, làm chứng, đối thoại và làm gương.
Chúng ta có thể bênh vực cho giảng đạo như là phương tiện truyền thông Tin Lành tốt nhất theo Kinh Thánh bằng cách chỉ ra.
Sự hợp lý của sự giảng đạo, vì đây là phương tiện duy nhất nhờ đó Hội Thánh có thể thi hành đại Mạng lệnh của Chúa.
Truyền thông của Hội Thánh đã dùng sự giảng đạo như một trong những phương tiện chủ yếu để truyền thông các quan điểm của Hội Thánh.
Gương của Giăng Báptít, các mạng lệnh của Chúa Jêsus về sự giảng đạo và phương cách Hội Thánh Tân ước đã dùng rất có hiệu quả.
4. Trong Tân ước, tiếng Hylạp Kerusso và Euangellizo diễn tả sự giảng đạo nói về một người:
Hành động như một sứ giả và một đại sứ cho Đấng Christ nhằm mục đích truyền Tin Lành cho người hư mất.
Góp một phần trong cuộc đàm thoại hay thảo luận nhằm chinh phục những người cứng lòng với Tin Lành.
Làm chứng và hành động như một chứng nhân trước các giới chức chính quyền chống đối Tin Lành.
5. Nhìn lại lịch sử Hội Thánh, ta thấy sự giảng đạo là.
Một lực lượng mạnh mẽ lúc đầu bây giờ vô dụng và không còn hiệu quả nữa.
Không có hiệu quả trong những năm đầu không được dân chúng và chính phủ tiếp nhận.
Phương tiện lúc đầu để chinh phục người hư mất và về sau là một phương tiện để phát huy và làm cho các tín đồ trưởng thành.
Hãy điền cho hợp các mục sau đây( bên trái) với câu mô tả thích đáng (bên phải).
…..a) Công bố như một sứ giả và đại diện cho người khác như là đại sứ nhằm mục đích chinh phục người hư mất.
…..b) Giảng Tin Lành, kể lại tin mừng.
…..c) Giảng đạo được xem là phương tiện phát huy sự sống thuộc linh và sự trưởng thành của người Cơ đốc.
…..d) Là người làm chứng hay tuận đạo, tiếng Hylạp là Martureo.
…..e) Mở cuộc đối thoại, vì mục đích là thuyết phục dân chúng tiếp nhận Tin Lành.
Quạn niệm về sau của sự giảng đạo.
Giăng Báptít là một thí dụ của phương pháp giảng đạo này.
Phaolô đã dùng phương pháp này cách rất hiệu quả.
Chữ Hylạp Euangellizo cho ta định nghĩa này về sự giảng đạo.
Quan niệm ban đầu về sự giảng đạo.
PHẦN TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI TRONG BÀI HỌC
b) Chân lý và nhân cách
2. a) Đúng
b) Sai
c) Đúng
d) Đúng
3.c) Truyền bá Tin Lành bằng mọi phương tiện ở bất cứ mọi nơi.
So sánh câu trả lời của bạn với phần thảo luận trong bài học.
b) Là trách nhiệm của mỗi tín hữu ở mọi thời đại và mọi nơi.
13. Câu trả lời của bạn : Tôi nhận thấy rằng sự truyền giảng có nhiều kết quả. Khi Hội Thánh nỗ lực truyền bá Tin Lành. Lịch sử Hội Thánh tiến bộ hay suy thoái là do công tác truyền giảng mạnh mẽ hay yếu đuối. Ngày nay sự giảng đạo vẫn là phương tiện có hiệu quả trong việc truyền bá Tin Lành cho người hư mất.
d) Diễn thuyết, liên hệ đến một người là diễn giả và không có sự tác động qua lại của người khác.
a 2) Kinh nghiệm sau này.
b 1) Kinh nghiệm tiên khởi
c 1) Kinh nghiệm tiên khởi
d 1) Kinh nghiệm tiên khởi
e 2) Kinh nghiệm sau này.
8. a 2) Giăng Báptít
b 4) Các môn đồ
c 1) Chúa Jêsus
d 3) Êsai
9. a) Gởi đi một sứ điệp
b) Giảng hay công bố một sứ điệp
c) Nghe sứ điệp
d) Tin sứ điệp
e) Kêu gọi giúp đỡ
10. a) Công bố sứ điệp Tin Lành bất cứ nơi nào họ đi đến
11. b) Ít giảng công khai, thực hành phương pháp cá nhân nhiều hơn để truyền bá Tin Lành.
12. a) Đúng
b) Đúng
c) Sai
d) Sai
e) Đúng
14. b) Công bố, phục vụ Đức Chúa Trời như một đại sứ và giảng đạo nhằm các kết quả.

Sứ Điệp Truyền Giảng
Chúng ta đã học biết rằng sự giảng đạo thời Tân ước, bao gồm các phương pháp truyền bá Tin Lành khác nhau. Các tín đồ đã đi khắp mọi nơi giảng sứ điệp cứu rỗi, nói chuyện và kể về Tin Lành. Qua các bài làm chứng cá nhân và sự làm chứng đầy quyền năng, họ đã gây ấn tượng mạnh mẽ trên thế giới của họ. sự giảng đạo thời Tân ước cũng chỉ về một phương pháp có hình thức hơn và về nghi thức hơn trong đó người hầu việc Chúa giảng một vài tương tự như sự giảng đạo ngày nay. Dầu họ nói chuyện với một người hay giảng đạo cho nhiều người, thì sứ điệp của họ vẫn y như nhau. Đó là Tin Lành của Chúa Jêsus Christ. về sau Phalô khuyên dạy Timôthê hãy giảng Lời Chúa cho các tín đồ “để bể trách, nài khuyên, sửa trị” và “đem lòng rất nhịn nhục dạy dỗ chẳng thôi” (IITi 2Tm 4:2). Chức vụ sau này phục vụ để đem những người tín đồ đến sự trưởng thành và giúp đỡ họ tránh được tà giáo.
Trong bài học này chúng ta xem xét về bốn lĩnh vực về các đề tài chính của sự giảng đạo thời Tân ước áp dụng trong những tình huống giảng đạo có hình thức và nghi lễ. Hai đề tài đầu tiên liên quan đến sự cứu rỗi và sự giảng hòa, chủ yếu cho người chưa được cứu trong khi sự nên thánh và sự hy vọng chủ yếu dành cho Hội Thánh. tài liệu dành cho mỗi đề tài không phải sắp xếp thành một bài giảng, trái lại đây là hình thức thu gọn nội dung quan trọng để bạn triển khai thêm khi bạn muốn rao giảng đầy đủ ý muốn của Đức Chúa Trời trong bạn sẽ tìm thấy ở đây sự giúp ích cụ thể.
Bối cục bài giảng:
Sứ điệp của sự cứu rỗi
Sứ điệp của sự giảng hòa
Sứ điệp của sự nên thánh
Sứ điệp của sự hy vọng
Các mục tiêu của bài học:
Khi học xong bài này bạn phải có khả năng để:
Tóm lược nội dung của bốn đề tài giảng đạo quan trọng.
Giải thích tại sao nội dung của sự giảng đạo bao gồm nhiều hơn một đề tài.
Nhận biết vài trò của niềm hy vọng phước hạnh trong sự động viên người tín đồ hầu việc Chúa.
Các sinh hoạt học tập:
Đọc phần mở đầu, bố cục và các mục tiêu.
Đọc ý nghĩa của những chữ quan hệ mà bạn chưa biết.
Nghiên cứu qua sự phát triển của bài học theo thường lệ. Khi học xong hãy làm bài tự kiểm tra và xem lại các câu trả lời.
Những chữ quan hệ:
Accountability: Trách nhiệm
Antagonist: Người hay chống nghịch, đấu tranh, hoặc tranh cạnh người khác, địch thủ, người đối lập.
Bema: Tòa phán xét cuối cùng
Reconciliation: Giảng hòa, đem lại sự thông công, dàn xếp các bất đồng.
Santification: Sự nên thánh, tình trạng lớn lên trong ân điển, thiên thượng như là kết quả của đời sống phó thác sau khi tin chúa.
Khai triển bài học :
Sứ điệp của sự cứu rỗi:
Trong tất cả các đề tài truyền giảng Kinh Thánh, không có đề tài nào quan trọng hơn là truyền bá Tin Lành cứu rỗi. Đây là đề tài căn bản, nếu được áp dụng thì nó sẽ làm đối tượng cho những sứ điệp khác. Chúa Jêsus đã ra lệnh các môn đồ của Ngài, “Hãy đi, khiến muôn dân trở nên môn đồ của ta (Mat Mt 28:19; 24:14). Hơn nữa Chúa Jêsus đã nói rõ: “Ai tin và chịu phép báp têm sẽ được cứu, ai không tin sẽ bị đoán phạt” (Mac Mc 16:16; GiGa 3:15-21, 36). Khi sứ điệp cứu rỗi được rao giảng nếu họ tin nhận thì sẽ được sự sống đời đời nếu không chắc chắn là họ sẽ bị chết đời đời.
Trong khi trình bày sứ điệp cứu rỗi, có hai điều ta phải nhấn mạnh: 1) rằng mọi người đều là tội nhân và 2) rằng Đấng Christ là Chúa Cứu Thế của họ. Nếu họ nghe và tiếp nhận thì sẽ được cứu rỗi. tuy vậy, nhiều người không hiểu tình trạng hư mất của họ và cũng không biết làm cách nào để thay đổi tình trạng của họ. Chúng ta hãy chứng minh cho họ thấy rằng nan đề chính là mọi người đều là tội nhân.
Mọi người đều là tội nhân:
Mục tiêu 1: Hãy chứng minh mọi người đều là tội nhân và hậu quả tội lỗi cùng cho biết phương cách giải quyết nan đề này .
Hãy quan sát chung quanh. Bạn sẽ thấy một thế giới bệnh tật, đau khổ, tham lam, ghen ghét, tàn bạo, chiến tranh và chết chóc. Nếu bạn đọc các nhựt báo và tập chí, bạn sẽ thấy rằng những nan đề đó ở khắp mọi nơi trên thế giới. Nhiều người tự hỏi: Nguồn gốc của những nan đề này là gì? Đâu phải là những giải pháp của những nan đề? Vâng, Kinh Thánh cho chúng ta biết nguồn gốc của nan đề của nhân loại là tội lỗi. Nhưng tội lỗi là gì? Tội lỗi là sự thất bại, không sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời hoặc là công khai vi phạm luật pháp ấy. Đây là sự bất tuân, sự không chịu vâng lời; Tội còn là sự tự nâng mình lên và tự hạ Đức Chúa Trời xuống. Tự nâng mình lên là sự không quan tâm đến phần thiêng liêng của đời sống mình, từ khước và loại bỏ Đức Chúa Trời ra khỏi tư tưởng kế hoạch, lời nói và những hành động của mình. Đây là điều không đẹp lòng Chúa.
1. Mọi người trở thành tội nhân theo hai cách. Hãy đọc những câu Kinh Thánh sau đây và đặt tên hai cách đó.
a) RoRm 5:12-19
b) 3:10-18, 23
Tội lỗi của Ađam đã bị lụy cho toàn thể nhân loại, bởi vì Ađam là cái đầu đại diện của dòng giống loài người. Và ông sa ngã dòng giống loài người sa ngã và thừa hưởng bản tính tội lỗi. Con người biểu lộ sự cứng lòng, chống nghịch lại và bất tuân luật pháp của Đức Chúa Trời (GaGl 5:19-21). Vì đó, bản tính tội lỗi gây cho người ta phạm phải những hành vi tội lỗi.
Hậu quả của tội lỗi của loài người là sự phân cách khỏi Đức Chúa Trời và sự phân rẽ lẫn nhau. Hậu quả của tội lỗi khiến cho mọi người bại hoại, bản tính của con người như cảm tình, trí tuệ và ý chí - đều đã bị ảnh hưởng. Mọi người đều hoàn toàn tuyệt vọng không phương tự cứu mình. Tâm trí bại hoạn cho tội lỗi đến nỗi họ không thể hiểu và đánh giá đúng những sự việc thuộc linh (ICo1Cr 2:14). Đối với họ những việc thuộc linh là điên rồ và vô ý. Không có sự hiểu biết thuộc linh họ không thể hiểu những sự thuộc về Đức Chúa Trời.
2. Hãy đọc các câu Kinh Thánh sau đây và trả lời.
RoRm 6:15-20 nói rằng người chưa tin Chúa là của tội lỗi.
8:6 cho chúng ta biết rằng ai đã bị bản tính nhân loại của họ kiểm soát chỉ có thể trông đợi sự thuộc linh
8:7 nói rõ rằng khi một người đã bị bản tính nhân loại kiểm soát thì người đó trở nên không phục và cũng không thể
8:8 tuyên bố rằng kẻ vâng theo bản tính nhân loại của mình thì không thể
8:1-17 và IICo 2Cr 5:17 cho chúng ta biết rằng nếu một người ở trong Đấng Christ, người ấy trở nên …………….. và đời sống người đó được kiểm soát bởi
Sau khi phân tích các vấn đề trên đây chúng ta có thể kết luận rằng:
Mọi người đều bị ảnh hưởng bởi sự sa ngã của Ađam cho nên họ không thể suy nghĩ và làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Có một ít trường hợp, nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, người ta có thể làm việc lành và xem là tương đối tốt. Nhưng đời sống của họ không thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời khi họ còn bị bản ngã kiểm soát
Khả năng con người lựa chọn và hành động bị hạn chế do sự nô lệ cho sự tội lỗi của họ (RoRm 6:17, 20).
Sự giải phóng duy nhất ra khỏi ách nô lệ cho tội lỗi của loài người là sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Khi đời sống được Đức Thánh Linh kiểm soát con người mới có thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
3. Hãy phân tích Cong Cv 17:16-31. Về sứ điệp của Phaolô cho Hội Đồng Thành Phố tại Athên. Và trả lời những câu hỏi sau:
Phaolô nói rằng trước đây Đức Chúa Trời tội lỗi, bởi vì người ta không cần thiết về Chúa và luật pháp của Ngài
Tuy nhiên, trong bài giảng của mình, Phaolô tuyên bố rằng khi Tin Lành được rao giảng Đức Chúa Trời ra lệnh ở khắp mọi nơi hãy
Mọi người phải quay đầu từ bỏ khỏi tội lỗi của mình, bởi vì ngày sắp đến khi Đức Chúa Trời sẽ
Sự đáp ứng với sứ điệp cứu rỗi của Phaolô là một người………………………..
trong khi những người khác…………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………………………..
4. Hãy so sánh lời kêu gọi của Phierơ với dân chứng khi ông kết luận sứ điệp của mình tại đền thờ (Cong Cv 3:17-26) với lời kêu gọi của Phaolô cho Hội Đồng Thành Phố Athên (17:29-31). Hãy dùng sổ tay bạn trả lời câu này.
Như vậy chúng ta nhận thấy tội lỗi là nguồn gốc mọi nan đề của nhân loại, nên trong những bài giảng chúng ta phải đề cập nguyên nhân, hậu quả của tội lỗi, và phương pháp giải thoát. Bạn có thể bắt đầu nghiên cứu về sự sa ngã, hậu quả nó trên nhân loại và sự cung ứng con đường giải cứu cho những tội nhân ngay trong câu chuyện ở Sáng thế ký (đoạn 1-3). Hoặc bạn có thể giảng về thư Rôma của Phaolô, đặc biệt là các đoạn 3-8. Hoặc bạn là người phân tích lá thư tuyệt vời của Giacơ nói về tội lỗi đã lừa gạt loài người (Gia Gc 1:12-15). Việc Chúa Jêsus bị cám dỗ trong câu chuyện ở sách Phúc âm cho ta thấy các loại hoạt động của Satan là kẻ tìm cách tiêu diệt loài người qua sự cám dỗ (cũng xem Eph Ep 6:10-18 và IGi1Ga 2:15-17). Tuy nhiên, trong đề tài này điều quan trọng là sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại và phương pháp chiến thắng cuộc tranh chấp thuộc linh mà họ phải đương đầu.
5. Những hậu quả của tội lỗi là gì và phương pháp giải quyết nan đề này? Hãy viết vào sổ tay của bạn câu trả lời.
Đấng Christ là Chúa Cứu Thế:
Mục tiêu 2: Hãy chọn lựa một câu chứng minh Đấng Christ, Chúa Jêsus Cứu Thế là giải pháp cho tội lỗi và sự chết thuộc linh của nhân loại .
Phần thứ hai của chủ đề sự cứu rỗi: Chúa Jêsus chính là giải pháp cho vấn đề tội lỗi. Vì tội lỗi đem lại sự chết phần thuộc linh, cho nên con người phải sanh lại phần thuộc linh. Phải luôn luôn nhớ rằng khi rao giảng về vấn đề tội lỗi, bạn phải kèm theo sứ điệp về sự hy vọng mà Chúa Cứu Thế đã ban cho. Giống như một người được sanh ra về phần thân thể, họ phải được sanh ra về phần thuôc linh trong gia đình của Đức Chúa Trời. Sự sanh lại thuộc linh đòi hỏi một người phải ăn năn (Cong Cv 2:37-39) và hoàn toàn từ bỏ tội lỗi và đặt lòng tin cậy nơi Chúa Jêsus là Đấng tha thứ tội lỗi cho mình (16:30-31) đồng thời xưng nhận rằng Ngài là Chúa của đời sống họ (RoRm 10:9-10). Khi tiếp nhận sự cúu rỗi được Chúa cung ứng cho thì họ được Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời tái sanh (IICo 2Cr 5:17). Khi được Đức Thánh Linh kiểm soát, thì họ được sống lại sự sống thuộc linh (RoRm 8:10) và họ ý thức được mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời như những con cái của Ngài (RoRm 8:14-16).
Thật phước hạnh biết bao khi chúng ta được tự do quay về với Đức Chúa Trời, để ăn năn và tin nhận Chúa. Điều này được Kinh Thánh bảo đảm.
6. Hãy đọc Mat Mt 3:2; 18:3; LuLc 13:3, 5; GiGa 6:29; Cong Cv 2:38; 3:19. Và cho biết Kinh Thánh dạy chúng ta điều gì về sự tự do của loài người? Hãy dùng sổ tay của bạn để trả lời câu này.
Kinh Thánh truyền lệnh mọi người phải ăn năn tội lỗi và quay về cùng Chúa Cứu Thế. Nếu mạng lệnh này không được đáp ứng thì chẳng khác gì trò giễu cợt đối với những kẻ nô lệ cho tội lỗi và không có tác dụng gì cả. Tuy nhiên, nhờ giúp đỡ của Đức Thánh Linh cảm động người ta sẽ vừa muốn vừa làm được theo mục đích tốt lành của Đức Chúa Trời: ăn năn tội, tin Chúa Cứu thế và tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài (Phi Pl 2:12-13).
Sứ điệp Tân ước về Đấng cứu rỗi là Chúa Jêsus (Cong Cv 8:5; Phi Pl 1:15) sứ điệp Tin Lành của Chúa Jêsus bao gồm sự giáng sanh bởi nữ đồng trinh, đời sống vô tội, sự chết, sự phục sinh của Ngài và việc Ngài thăng thiên ngồi hữu Đức Chúa Trời. Hội Thánh đầu tiên đã rao giảng sứ điệp duy nhất này. Sứ đồ Phaolô chỉ giảng về sứ điệp Đấng Christ đóng đinh trên Thập Tự Giá (ICo1Cr 2:2) và Phierơ cũng rao giảng bằng danh Chúa Jêsus Christ là phương tiện cứu rỗi duy nhất (Cong Cv 4:12).
7. Hãy phân tích các bài giảng của Phierơ (2:14-41; 3:12-26; 10:34-43) và của Phaolô (13:16-41) về nội dung các bài giảng đó. Viết ra một câu hay các câu nói rõ hay ngụ ý trong bài giảng về các mục đã nêu dưới đây:
* Của Chúa Jêsus 2:14-41 3:12-26 10:34-43 13:16-41
- Thuộc dòng Vua Đa Vít
- Đời sống vô tội
- Chức vụ đã được Đức Chúa Trời công nhận
- Sự đóng đinh đã được định trước
- Sự phục sinh
- Sự tôn cao
- Sự kêu gọi hãy đáp ứng
Nói tóm lại, sứ điệp của Tân ước về sự truyền giảng gồm có hai đề tài chính: 1) Những lời tiên tri của Cựu ước về Christ, Jêsus là Chúa và Cứu Chúa đã được ứng nghiệm. 2) kêu gọi thính giả ăn năn, tin và xưng nhận Chúa Jêsus là Chúa. Phương cách này được ghi lại trong Tân ước. Thí dụ như : Buổi đại tiệc” (Trong LuLc 14:16-24).
Trong thời Tân ước sứ điệp của các đầy tớ Chúa căn cứ trên Kinh Thánh Cựu ước và lời dạy của Chúa Jêsus để kêu gọi các thính giả hãy lấy đức tin tiếp nhận sứ điệp họ đã nghe. Những ai tin đều được cứu qua đó quyền phép của Tin Lành đều được ban bố khắp mọi nơi (RoRm 1:16-17).
8. Khoanh tròn mẫu tự của câu mô tả Đấng Christ là giải pháp cho tội lỗi và sự chết thuộc linh.
Nếu họ hiểu biết nhiều hơn về Đấng Christ thì họ sẽ gia nhập một nhà thờ.
Vì khi họ ăn năn tội lỗi của mình, tin cậy Đấng Christ và tiếp nhận Ngài làm Chúa, thì họ được tái sanh phần thuộc linh.
Nếu họ tin quyết về khả năng cứu rỗi Đấng Christ, họ có thể được cứu do đức tin của họ.
Sứ điệp giảng hoà:
Con người với Đức Chúa Trời:
[gr9 Mục tiêu 3: Hãy lựa chọn một câu nói cho thấy ý nghĩa của sự giảng hòa như Kinh Thánh đã dùng .
Một khía cạnh khác của sứ điệp cứu rỗi là sự giảng hòa. Giảng hòa là làm cho hai người hòa thuận khôi phục lại sự thông công đã bị đổ vỡ. Mọi người đều là tội nhân vì thế họ chống nghịch lại Đức Chúa Trời (RoRm 5:10-11). Như chúng ta đã thấy, mối liên hệ giữa loài người đã gây nên. SaSt 3:8-10, EsIs 59:2). Nhưng Đấng Christ đã chết vì tội lỗi của họ, là nguyên nhân gây nên sự thù nghịch và sự phân rẽ với Đức Chúa Trời. Để khôi phục lại mối thông công này, Đức Chúa Jêsus đã chịu chết “Trong khi chúng ta còn là kẻ có tội… Đấng Christ đã vì chúng ta chịu chết” (RoRm 5:8). Hơn nữa “Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian hòa lại với Ngài” (IICo 2Cr 5:19). Vì thế sứ điệp giảng hòa dùng để điều chỉnh sự khác biệt giữa Đức Chúa Trời và loài người. Khiến mọi sự trở nên ngay thẳng tốt đẹp. Qua Chúa Jêsus Christ những người đã được cứu chuộc lại có thể đồng bước với Đức Chúa Trời.
Vì vậy, Hội Thánh có một chức vụ và một sứ điệp giảng hòa. Là một tín đồ, bạn đã lập lại hòa bình với Đức Chúa Trời. Bây giờ, bạn hãy giúp những người đang xa cách Chúa và đang gặp khó khăn, có cơ hội phục hòa với Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 5:18-21).
9. Có bao giờ bạn làm mích lòng một người bạn tốt sau đó bạn làm hòa lại với người bạn đó không? Người bạn tốt của bạn nghĩ gì? và bạn cảm thấy ra sao? Hãy đọc Luca 15. Bạn học được gì từ đoạn này và hãy thử viết lên cảm nghĩ của Đức Chúa Trời? Hãy viết vào sổ tay của bạn.
Con người với con người:
Sau khi chúng ta được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời, chúng ta có trách nhiệm phải làm cho các tội nhân được phục hòa với Đức Chúa Trời (5:18). Giống như Đức Chúa Trời làm hòa với thế gian qua Đấng Christ, tất cả chúng ta là người tín đồ được thách thức để làm những đại sứ cho Đấng Christ. Và Đức Chúa Trời đang kêu gọi nhân loại thông qua chúng ta. Hành động này là điều cấp bách trong giai đoạn hiện nay? Chúng ta hãy giục giã các tín hữu của chúng ta tích cực trong công tác chinh phục linh hồn hoặc giải quyết nhanh chóng những ngăn trở trong nhóm của mình để phục vụ Đấng Christ, vì nhân loại đang đi vào sự chết đời đời mà không có Đức Chúa Trời, những Cơ đốc nhân không hoạt động chẳng bao lâu sẽ trở thành bất lực, không có khải tuợng, hay chỉ trích và chia rẽ. Công tác của bạn chứng tỏ rằng đây là một vinh dự cho những ai thuyết phục người ta làm hòa với Đức Chúa Trời bằng cách tiếp nhận Chúa Jêsus Christ là Cứu Chúa. Đối tượng bạn phục vụ có thể là người chinh phục linh hồn một cách quyền năng và có phước hạnh của Đức Chúa Trời. Hoặc họ có thể là những người vị kỷ, không có khải tượng, cứ thực hành các động tác thờ phượng mà không hề làm tròn trách nhiệm Đức Chúa Trời giao.
Hai đường tròn ốc trên đây có thể minh họa về hiệu quả kinh nghiệm Cơ đốc nhân của bạn. hãy bắt đầu vẽ từ ngoài chu vi và dần dần đi lần vào trung tâm. Phương pháp này giới hạn kích thước của tròn ốc. Một hình vẽ khác bắt đầu ở trung tâm và mở rộng vòng tròn ra. Phương pháp sau này không giới hạn kích của vòng tròn. Nhưng nó không đứng yên một chỗ, nó cần phải tiến tới, không có giới hạn, đến với những người khác đang ở ngoài sự bình yên của Đức Chúa Trời.
10. Chữ “Giảng hòa” trong Kinh Thánh diễn tả ý niệm rằng:
Khi một người đã bị bán cho ách nô lệ của tội lỗi, thì người đó phải được mua chuộc lại.
Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trên tội lỗi của dân chúng phải được nguôi ngoai.
Sự thông công giữa Đức Chúa Trời với loài người, vốn bị đứt đoạn bởi tội lỗi, đã được phục hồi.
Sứ điệp của sự nên thánh
Chủ đề thứ ba của sự giảng đạo của thời Tân ước là sự nên thánh. trong khi các đề tài trước đề cập chủ yếu đến kinh nghiệm cứu rỗi của một người thì sự nên thánh liên hệ đến sự lớn lên và sự trưởng thành của kinh nghiệm này. Nếu những người mà bạn phục vụ không được nghe về sứ điệp liên quan đến sự nên thánh, thì họ sẽ cứ ở mãi trong tình trạng con trẻ (ICo1Cr 3:1-3), và không đạt đến sự sống như Đấng Christ vốn là mục đích của đời sống Cơ đốc nhân (RoRm 8:29). Vì vậy, đề này rất quan trọng cho chức vụ giảng dạy của bạn.
Đời sống Cơ đốc nhân:
Mục tiêu 4: Nhận định rõ những câu giải thích ý nghĩa ý của từ ngữ “nên thánh” Như đã được Kinh Thánh dùng .
“nên thánh” là phân rẽ khỏi thế tục, để biệt riêng cho sự phục vụ thánh. Con người, nơi chốn hoặc đồ vật đều có thể biệt riêng ra cho Chúa. Chẳng hạn, một cái quán hay một cái tiệm trước đây là nơi mua bán bây giờ dùng làm nhà thờ. Tại vì nó được biệt riêng hoặc dâng hiến cho công việc Chúa. Các Cơ đốc nhân là những người đã được biệt riêng ra khỏi cách sống xưa cũ và dâng hiến cho một nếp sống mới.
Đời sống thuộc linh bắt đầu khi một người từng trải sự tái sanh (GiGa 3:1-8), và sự sống mới này phải lớn lên, phát triển và cuối cùng trưởng thành trong Đức Thánh Linh (15:1-17). Là những tân tạo vật trong Đấng Christ, chúng ta cần được trở nên giống như Ngài trong những tư tuởng, lời nói và việc làm (Eph Ep 4:20-24). Niềm mơ ước trở nên giống như Ngài là sự đáp ứng bước đầu của chúng ta đối với kinh nghiệm tái sanh, tuy nhiên, những thói quen cũ vẫn để lại dấu vết trên chúng ta và ngăn cản sự phát triển này. Cuộc đời quá khứ chúng ta được đánh dấu bằng sự vị kỷ, lấy cái tôi làm trung tâm, vì chúng ta còn ở dưới sự kiểm soát của bản tính tội lỗi của nhân loại (GaGl 5:19-21 RoRm 8:5-9). Nhưng bây giờ chúng ta bằng lòng để Đức Thánh Linh kiểm soát thì Ngài sẽ tạo ra bông trái trong chúng ta (GaGl 5:22-26).
Thí dụ một em bé. Em đã có tiềm năng trở thành người lớn ngay sau khi mới sinh ra, nhưng em chỉ trưởng thành người lớn sau một quá trình phát triển. Cũng vậy, là những trẻ em thuộc linh, chúng ta đã có tiềm năng trở thành người lớn thuộc linh, nhưng chúng ta chỉ trưởng thành đời sống thuộc linh khi chúng ta tiếp tục bước đi với Thánh Linh (5:25) và khi chúng ta lớn lên trong ân điển và trong sự thông biết Chúa Jêsus (IIPhi 2Pr 3:18). Khi chúng ta bước đi theo Thánh linh thì những ham muốn trong con người cũ của chúng ta sẽ bị tê liệt, vậy mỗi ngày chúng ta hãy quyết định sống cho Chúa bằng cách vâng theo sự dẫn dắt của Thánh Linh (RoRm 8:5-9)
Các Cơ đốc nhân ở Côrinhtô đã kinh nghiệm sự thay đổi thuộc linh rất lớn đó là kết quả kinh nghiệm tái sanh của họ (ICo1Cr 6:9-11), nhưng khi họ tiếp tục bước đi trong đức tin họ sẽ phải trải qua tình trạng từ con đỏ thuộc linh đến người trưởng thành thuộc linh (so sánh ICo1Cr 3:1-4 với 6:1-11). Họ và chúng ta sẽ được phước khi những tôi tớ của Ngài cung cấp lời chỉ dẫn đúng đắn để gây dựng đức tin của chúng ta trưởng thành thì chúng ta càng ngày càng trở nên giống Đấng Christ hơn (Eph Ep 4:10-16).
11. Bài tập sau đây, giải thích ý nghĩa của từ “nên thánh” bạn hãy khoanh tròn câu đúng:
Sự nên thánh chỉ về đời sống tuyệt đối hoàn hảo trong đó người Cơ đốc không còn phạm tội hay lầm lỡ nữa.
Sự nên thánh liên hệ đến việc biệt riêng một người, một nơi hay một vật khỏi sự sử dụng thế tục và dâng hiến điều ấy cho sự phục vụ thánh.
Đời sống thuộc linh vốn mang đặc tính của sự lớn lên, phát triển và trưởng thành giống như Đấng Christ, là yếu tố của nên thánh .
Sự nên thánh chỉ dành định cho những người có chức vụ hầu việc Chúa là người cần ơn và sự hiểu biết đặc biệt. Tất cả những Cơ đốc nhân khác là một phần của hệ thống thế gian và không được dâng mình cho Đấng Christ.
LỜI CHÚA HƯỚNG DẪN CUỘC SỐNG CỦA CHÚNG TA:
Mục tiêu 5: Mô tả vai trò của Lời Đức Chúa Trời trong quá trình nên thánh
Cơ đốc nhân mới tái sinh cần khuyến khích để theo đuổi sự nên thánh. Chúng ta được cảnh cáo cách nghiêm trang rằng chúng ta phải “cố sống đời sống thánh khiết vì nếu không nên thánh thì không ai thấy được Đức Chúa Trời” (HeDt 12:14, ICo1Cr 7:1). Sự theo đuổi sự thánh khiết sẽ dẫn đến với Lời của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus đã phán trong lời cầu nguyện của Ngài với Đức Chúa Cha, “Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh, lời Cha tức là tức là lẽ thật (GiGa 17:17). Và Phaolô lại tuyên bố rằng: “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (IITi 2Tm 3:16).
Lời Chúa phô bày tội lỗi, khuấy động lương tâm của chúng ta, bày tỏ bản tính của Đức Chúa Trời và gương mẫu của Đấng Christ, đem lại ảnh hưởng và quyền phép của Đức Thánh Linh giành cho chúng ta, và lời Chúa là uy quyền tối hậu cho mọi vấn đề liên hệ đến sự dạy dỗ và thực hành trong đời sống Cơ đốc nhân. Vì thế, Lời Chúa là tối cần cho đời sống Cơ đốc nhân.
Khi chúng ta lắng nghe và để ý đến Lời Chúa, chúng ta xây dựng đời sống Cơ đốc nhân trên một nền tảng vững chắc, không giống như người dại xây dựng nhà mình trên cát (Mat Mt 7:24-26). Và qua Lời Chúa chúng ta được tẩy sạch (GiGa 15:3; Eph Ep 5:26), được biệt riêng cho Đức Chúa Trời đã phán với Giôsuê về Lời Chúa trong cuộc sống chúng ta, “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong. Vì như vậy người mới được may mắn trong con đường mình và mới được phước” (Gios Gs 1:8).
“Cả khi Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành (IITi 2Tm 3:16).
12. Hãy mô tả vai trò của Lời Đức Chúa Trời trong tiến trình nên thánh. Hãy viết câu trả lời trong sổ tay của bạn.
ĐỨC THÁNH LINH LÀ SỰ GIÚP ĐỠ CỦA CHÚNG TA:
Mục tiêu 6: Hãy chọn lựa những câu nói về Đức Thánh Linh giúp đỡ chúng ta sống một sống Cơ đốc nhân đẹp lòng Chúa .
Chúng ta thấy rằng sự tái sanh đem lại sự sống mới và Lời Chúa hướng dẫn chúng ta trong cuộc sống mới. Bây giờ chúng ta xem xét vai trò của Đức Thánh Linh là Đấng ban cho chúng ta sự khao khát sống đời sống Cơ đốc nhân thánh khiết.
Tín đồ thời Cựu ước khi có luật pháp của Môise hướng dẫn, nhưng họ vẫn không khoát khỏi tội lỗi được bởi vì bản tính con người là yếu đuối (RoRm 8:3). Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta Đức Thánh Linh của Ngài để giúp chúng ta làm theo điều Ngài muốn chúng ta làm và cứu chúng ta khỏi sự kiểm soát của bản ngã (8:5-6, 9) Đức Thánh Linh ở bên trong chúng ta không chỉ bày tỏ lẽ thật và bày tỏ điều Đức Chúa Trời đòi hỏi mà còn ban quyền năng để chúng ta vâng theo các mạng lệnh của Ngài khi chúng ta đầu phục Ngài thì Đức Thánh Linh sẽ giúp chúng ta thoát ly tội lỗi (8:12-13) và tạo ra trái Thánh Linh (GaGl 5:22-25). Đức Thánh Linh ban cho chúng ta ước muốn nội tâm để làm theo điều hay lẽ phải.
Chúng ta có thể so sánh vai trò của Đức Thánh Linh trong sự nên thánh với vai trò của người lính trên chiến trường. Trước khi tái sanh, người cũ ở dưới sự kiểm soát của bản tính tội lỗi, thì tội lỗi cai trị và không có sự thuôc linh. Tuy nhiên, vào lúc được tái sanh, Đức Thánh Linh là Đấng đã đến ngự trong lòng của chúng ta và Ngài bước vào cuộc tranh chấp và nắm thế chủ động. Khi một người được Đức Thánh Linh kiểm soát, thì miền đất đã bị con người cũ chiếm lĩnh dần dần được chinh phục và biến đổi nhờ Đức Thánh Linh ngự trị bên trong và chúng ta được “hóa nên cùng một ảnh tượng với Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển” (IICo 2Cr 3:18).
Sứ điệp nên thánh rất cần thiết cho sự duy trì và phát triển đời sống thuộc linh khi bạn giảng về đề tài này với nhiều ánh sáng mới sẽ giúp ích rất nhiều cho người nghe bạn.
13. Hãy ghi số 1 trước các câu chỉ về Đức Thánh Linh giúp chúng ta sống đời sống Cơ đốc nhân đẹp lòng Chúa và số 2 ở trước những câu KHÔNG nói như thế.
Đức Thánh Linh tạo ra sự ước muốn nội tâm để ta sống đời sống lấy Chúa làm trung tâm.
Vì bản chất chống nghịch của bản ngã, mà Đức Thánh Linh khiến chúng ta hầu việc Đấng Christ cách đẹp lòng.
Công tác của Đức Thánh Linh bên trong đời sống con người liên hệ đến mức độ mà người ấy đều phục sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh
Đức Thánh Linh bày tỏ lẽ thật cho chúng ta, để chúng ta biết điều Đức Chúa Trời đòi hỏi và giúp chúng ta khả năng để làm điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm.
SỨ ĐIỆP CỦA SỰ HY VỌNG:
Mục tiêu 7: Nhận định câu giải thích niềm hy vọng về sự tái lâm của Đấng Christ, và sự phán xét cuối cùng về công tác của người tín đồ có ảnh hưởng đến đời sống Cơ đốc nhân .
Hội Thánh Tân ước là một Hội Thánh hy vọng. Vì Chúa Jêsus đã phán: “Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở…Ta sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi và đã sắm sẵn cho các người một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các người cũng ở đó”. (GiGa 14:2-3).
Các tín đồ Hội Thánh đầu tiên rất sốt sắng trông đợi sự tái lâm của Chúa. Họ tin rằng thế hệ của họ sẽ không qua đi truớc khi Chúa trở lại. Niềm hy vọng phước hạnh này giữ cho đời sống của họ trong sạch. Thúc giục họ trong mọi công tác phục vụ và mang đến sự can đảm sốt sắng cho họ ở giữa cơn bách hại nặng nề. Các tín đồ nhận thức được rằng bên kia cuộc sống hiện tại là nơi họ phải khai trình và có trách nhiệm về mọi sinh hoạt mà họ đã làm sự phán xét sắp đến dạy cho họ sống điều độ, điềm tĩnh và nhắm mục đích sống làm sao cho ban thưởng và tránh sự hình phạt. Hy vọng này đã giúp ích cho Hội Thánh suốt 2000 năm qua và vẫn còn giúp ích cho Hội Thánh ngày nay. Khi bạn rao giảng sứ điệp này, bạn sẽ làm dấy lên niềm hy vọng cho một thế giới tuyệt vọng ngoài Đấng Christ. Đồng thời sẽ khích lệ những đời sống Cơ đốc nhân có trách nhiệm.
CHIẾM CHỖ TRONG CÔNG TÁC VÀ SỰ PHỤC VỤ:
Hội Thánh Tân ước sống và làm việc trong niềm hy vọng về sự tái lâm của Chúa. Chính niềm hy vọng này đã giúp cho nhiều người chịu đựng nổi cơn bách hại khủng khiếp (ITe1Tx 1:3; IITe 2Tx 1:4). Sứ đồ Phaolô thấy trước các nhu cầu của những tín đồ này và ông khuyến khích họ bằng những lời chỉ dẫn đặc biệt về sự tái lâm của Chúa (ITe1Tx 4:13-18). Bạn thấyrằng ông không muốn các Cơ đốc nhân không biết gì về sự tái lâm của Chúa, cũng như không biết về những trách nhiệm của họ trong khi họ chờ đợi biến cố này. Và dĩ nhiên Chúa Jêsus đã từng thúc giục về nhu cầu trung tín hầu việc Chúa trong chức vụ Chúa giao.
14. Hãy đọc Mat Mt 24:45-51, 25:14-30, LuLc 12:35-40 và Cong Cv 1:6-8 rồi trả lời những câu hỏi sau đây.
Chủ đề quen thuộc với những khúc Kinh Thánh này là nhu cầu
Những câu này chứng tỏ rằng chúng ta không chỉ quan tâm đến chính mình với củ sự tái lâm của Chúa nhưng cũng với
Ở đây chứng tỏ rằng thật là tốt cho một đầy tớ nếu Chủ thấy anh và thật là tệ hại cho nếu anh không
Chúa không muốn các môn đồ của Ngài cứ biếng nhát trong khi chờ đợi sự tái lâm của Ngài. Đó là lý do Ngài thách thức họ hãy giảng Tin Lành khắp mọi nơi (1:8) Phaolô lặp lại mối quan tâm này khi ông nói, “Hãy cầu nguyện cho chúng tôi hầu cho đạo Chúa được dồn ra và được sáng danh” (IITe 2Tx 3:1). Tuy nhiên, khi thời gian trôi qua và Chúa chưa trở lại, thì Phaolô cũng đã khuyến khích các tín đồ ở Têsalônica hãy can đảm trong niềm hy vọng và sự cứu rỗi cuối cùng dầu họ sống hay chết (xem ITe1Tx 5:1-11). Ông đặc biệt chống lại sự biếng nhát (ITe1Tx 5:14, IITe 2Tx 3:6-12) Ông và những người cùng làm việc với ông đã làm gương tốt cho người Têsalônica bằng cách tự túc để hầu việc Chúa.
Người ta thường thất vọng và mệt mỏi khi thấy lời hứa chưa được thực hiện. Nó có thể biến người ta thơ ơ lãnh đạm đối với sự tái lâm của Đấng Christ. Là người hầu việc Chúa Jêsus, bạn hãy chứng tỏ biết rằng không chỉ Chúa Jêsus hứa sẽ trở lại, nhưng các thiên sứ cũng làm chứng cho biến cố này, khi nói rằng “Giêxu này… sẽ trở lại” (Cong Cv 1:11). Phierơ cũng lưu ý rằng trong những ngày sau rốt người ta coi nhẹ lời hứa này (IIPhi 2Pr 3:3-9), vì họ không hiểu lý do của sự trễ nãi này. Trong hiện tại, chúng ta phải lưu ý đến lời của sứ đồ Phaolô “Hãy hầu việc Chúa cách dư dật luôn vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (ICo1Cr 15:58).
15. Sứ điệp về sự tái lâm của Chúa phải tác dụng đến đời sống Cơ đốc nhân bằng cách.
Khuyến khích các Cơ đốc nhân chịu đựng sự gian khổ và sự bách hại vì nó có niềm hy vọng này.
Kích thích các Cơ đốc nhân phải thi hành mạng lệnh của Chúa để rao giảng Tin Lành cho hết thảy mọi người.
Nhắc nhở chúng ta về sự phán xét sắp đến mà chúng ta sẽ khai trình về mọi công tác hầu việc Chúa của chúng ta.
Tất cả các điều được nhắc đến trong các câu a), b) và c) ở trên.
Chỉ những điều nhắc đến ở câu a) và b) ở trên.
ĐỜI SỐNG THÁNH KHIẾT:
Trông đợi sự tái lâm của Đấng Christ nhắc nhở mỗi Cơ đốc nhân sống đời sống kỉnh kiền trong thế gian tội ác hiện nay. Chúa Jêsus thường cảnh báo các môn đồ khi họ có thái độ hờ hững với sự tái lâm của Ngài. Trong Mac Mc 13:32-37, Chúa dùng thí dụ sự tái lâm của Ngài để dạy dỗ họ.
“Về ngày và giờ đó, chẳng ai biết chi hết, các thiên sứ trên trời, hay là Con cũng chẳng biết nữa, song chỉ Cha mà thôi. Hãy giữ mình, tỉnh thức, vì các ngươi chẳng biết kỳ đó đến khi nào. Ấy cũng như người kia đi đường xa bỏ nhà, giao cho đầy tớ đứa cai quản một việc, và cũng biểu đứa canh cửa thức canh vì không biết chủ nhà về lúc nào, hoặc chiều tối, nửa đêm, lúc gà gáy hay la sớm mai, e cho người về thình lình gặp các ngươi ngủ chăng. Điều mà ta nói cùng các ngươi, ta cũng nói cho mọi nguời: Hãy tỉnh thức”.
Chúng ta được Chúa giao công tác: truyền Tin Lành cho cả thế gian. Chúng ta cũng được thách thức sống đời sống thánh khiết, lớn lên và yêu thương lẫn nhau, trong khi chúng ta chờ đợi sự tái lâm của Ngài (ITe1Tx 3:12-13) và như đã thấy, chúng ta đã được khuyến khích hãy tỉnh thức trông mong sự tái lâm của Ngài.
Những trách nhiệm này nhắc nhở chúng ta tiết độ và giữ mình khỏi rơi vào các thú vui tiệc tùng, rượu chè và những lo lắng đời này, nhờ đó ngày Chúa sẽ không đến thình lình trên chúng ta như luới bủa (LuLc 21:34).
16. Hãy đọc mỗi câu Kinh Thánh sau đây và trả lời các câu hỏi liên quan đến trách nhiệm chúng ta đối với ngày Chúa tái lâm.
Trong LuLc 22:35-40 chủ đề của phân đoạn này là:

b) 21:34-36 lưu ý chúng ta

c) Mat Mt 24:42-51 nhắc nhở chúng ta hãy tỉnh thức để chúng ta khỏi trở nên

ITe1Tx 5:6 thúc giục chúng ta

Khi chúng ta chờ đợi ngày Chúa tái lâm.
Trong IPhi 1Pr 4:7. Phierơ thách thức chúng ta

Cơ sở niềm hy vọng của Cơ đốc nhân là sự tái lâm của Chúa. Hướng về sự kiện này, trách nhiệm của chúng ta là phải hầu việc Chúa Jêsus, sống đời sống thánh khiết và trưởng thành nên giống như Đấng Christ như thế khi Ngài tái lâm chúng ta sẽ không sợ hãi, xấu hổ hay tuyệt vọng.
Ngày kia có một cậu bé được giao nhiệm vụ coi sóc nông trại nhỏ của gia đình. Hôm nọ cha mẹ cậu phải đi lên thành phố có việc cần. Cha cậu giao cho cậu một số việc phải và cảnh báo cậu không được rời khỏi nông trại. Cậu nhanh chóng hoàn thành tất cả mọi việc được giao nhưng bất chấp lời cảnh cáo của Cha mình, cậu đã rời khỏi nông trại để thăm một người bạn ở một nông trại gần đó. Trong khi đang chơi với bạn, thình lình một trận giông tố sấm sét nổi lên. Cậu vội vã chạy về nhà và hoảng hồn khi thấy cả nhà đều ước đẫm nước mưa vì các cửa sổ mở toang, một cuốn Kinh Thánh qúi báu của gia đình đã bị hư hại vì nước mưa. Khi câu nhìn thấy cuốn Kinh Thánh lòng cậu rất bất an và khốn khổ vì sợ sệt khi cậu suy nghĩ đến vẻ mặt của Cha khi ông trở về. Vì đã không trung tín trong trách nhiệm của mình, nên cậu rất xấu hổ sợ sệt khi đối diện với cha mẹ cậu khi họ trở về nhà. Đây cũng là tâm trạng cho những ai không vâng theo mạng lệnh của Chúa, chúng ta sẽ hổ thẹn khi gặp Ngài lúc Ngài tái lâm. Giăng đã ngụ ý đến diều này khi ông viết: “Vậy bậy giờ, hỡi các con cái bé mọn ta, hãy ở trong Ngài, hầu cho nếu Ngài hiện đến, chúng ta cũng đầy sự vững lòng, không bị hổ thẹn và quăng xa khỏi Ngài kỳ Ngài ngự đến” (IGi1Ga 2:28).
Niềm hy vọng phước hạnh về sự tái lâm của Chúa là một trong những động cơ lớn nhất để người tín đồ sống đời sống trong sạch và có kết quả (3:3l).
17. Khoanh tròn các mẫu tự của mỗi câu giải thích niềm hy vọng về sự tái lâm của Đấng Christ ảnh hưởng đời sống của Cơ đốc nhân.
Biết rằng Đấng Christ có thể trở lại bất cứ lúc nào, các Cơ đốc nhân phải cố gắng tuyên đoán khi nào Ngài đến ngõ hầu họ có thể ngưng công việc của họ và chờ đợi Ngài hiện đến.
Sự hiểu biết và sự tái lâm của Chúa giúp cho mỗi Cơ đốc nhân thánh hóa đời sống của mình để chuẩn bị sẵn cho sự sống đời đời trong sự hiện diện thánh của Chúa.
Sự Kiện Ngài sắp tái lâm phải kích thích mỗi người chúng ta trung tín trong sự làm trọn mạng lệnh của Chúa giảng Tin Lành cho thế gian và phản ảnh bản tính của Ngài.
Sự hiểu biết và sự tái lâm của Đấng Christ giúp chúng ta tránh khỏi điều ác và khỏi những điều gì giữa Ngài xen vào giữa chúng ta, khiến cho chúng ta bất xứng với Thiên đàng.
SỰ PHÁN XÉT VÀ PHẦN THƯỞNG:
Phaolô đã dùng hình ảnh của thế vận hội để mô tả đời sống Cơ đốc nhân (ICo1Cr 9:24-27) Ông đưa ra các phần thưởng trong các cuộc thi đua để so sánh với các phần thưởng của Chúa ban tại tòa phán xét của Đấng Christ. chữ tòa phán xét do tiếng Hy Lạp là chữ BEMA nghĩa đen, trong mạch văn ở đây là “chỗ hồi tưởng: hoặc “nơi nhớ lại”. Chữ Bema là một cái bục cao nơi các giám khảo ngồi xem các cuộc thi và ban các phần thưởng. Phaolô ngụ ý đến điều này khi ông viết cho người Côrinhtô.
“Cho nên chúng ta dầu ở trong thân thế này, dầu ra khỏi, cũng làm hết sức để đẹp lòng Chúa. Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước Tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt” (IICo 2Cr 5:9-10).
Sự phán xét các Cơ đốc nhân sẽ xảy ra chẳng bao lâu sau khi họ đã được cất lên và trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Ở đó chỉ có các Cơ đốc nhân hiện diện mà thôi. Mục đích của sự phán xét này là để đánh giá sự phục vụ của mỗi Cơ đốc nhân để ban thưởng chứ không phải để cứu rỗi (RoRm 14:10-12). Phaolô cũng đã kể chính bản thân ông vào trong sự đánh giá này. Mọi công việc chúng ta đã làm trong khi còn ở đời này sẽ thử nghiệm một cách cẩn thận. Những việc đã làm cho những động cơ bất khiết (xem ICo1Cr 3:1-3) sẽ được tiêu biểu như gỗ, cỏ khô hay rơm rạ sẽ bị lửa thiêu hủy. Đối với những công việc như vậy đều không được ban phần thưởng. Trong sự hiện diện của Chúa việc làm của họ “chỉ dành cho lửa”. Tuy nhiên, những công tác hay những phục vụ do tình yêu của Đức Chúa Trời và sự quan tâm đến công việc của Ngài sẽ được tiêu biểu như vàng, bạc và bửu thạch không thể bị cháy thiêu hủy. Ngài kể họ là người được xứng đáng nhận phần thưởng (3:14). Một lần nữa, điều cần nhấn mạnh ở đây là sự phán xét dành cho tín đồ không phải là để định cho họ được cứu hay hư mất, mà là để định phần thưởng cho các công việc họ đã làm trong thế gian này.
Chúa Jêsus đã nói về phần thưởng của sự trung tín. Thí dụ về những nén bạc (LuLc 19:11-27). Khi chúng ta càng quan tâm đến việc chúng ta gặp Chúa và khai trình về việc hầu việc Chúa của chúng ta, chúng ta sẽ làm hết sức mình để có thể hầu việc Chúa bằng tấm lòng thành thật và những hành động trong sáng.
18. Hãy đọc ICo1Cr 3:10-15 cẩn thận và chọn một câu tóm lược nhất điều mà khúc Kinh Thánh dạy về lúc người Cơ đốc và sự phán xét cũng như phần thưởng cho sự phục vụ.
Các Cơ đốc nhân xây dựng đời sống thuộc linh trên một nền tảng là Đấng Christ. Vâng theo các mạng lệnh của Chúa, trung tín hầu việc Ngài bằng những động cơ xứng đáng sẽ được phần thưởng, làm khác đi có nghĩa là mất phần thưởng.
Chất lượng phục vụ của một người sẽ đem lại phần thưởng cho người đó, ai làm nhiều sẽ được phần thưởng nhiều. Vậy tùy theo công việc mà được phần thưởng.
Một người không nên quan tâm đến số lượng việc đã làm, những gánh nặng chia sẻ cho Chúa hay ngay cả những động cơ phục vụ nữa. Chất lượng là điều quan trọng hơn số lượng lớn các công việc một người làm.
Các công việc của các tín đồ đều được ban thưởng tại Tòa Phán xét của Đấng Christ. Những người không tin Chúa ở tất cả các thời đại sẽ phán xét ở Tòa Phán xét cuối cùng, tất cả những người không tiếp nhận Đấng Christ không được ghi tên trong sách sự sống, sẽ bị hình phạt đời đời (KhKh 20:11-15). Vì tình yêu của Đấng Christ thúc giục hãy rao giảng Tin Lành cho những người hư mất trước khi quá trễ.
Tại một thành phố lớn ở Hoa Kỳ, một nhóm thợ đang đào một hố sâu để chôn dây cáp điện thoại. Thình lình đất sập và chôn sống ba người công nhân. Lập tức người ta tiến hành cấp cứu những người công nhân sắp chết này. Một đám đông kéo đến xem. Một người đàn ông đứng bên cạnh nhìn, chẳng quan tâm bao nhiêu đến việc cấp cứu những người khác đang làm hết sức để cứu người bị chôn dưới đất. Lúc đó một người chạy vội tới nói với người đàn ông kia rằng, “Anh Jim em ruột của anh bị chôn dưới hố sâu đó!” Khi nghe tin ấy, người đàn ông liền vội vàng cởi áo khoác, nhảy vào cuộc, phụ làm hết sức để cứu em mình.
Khi chúng ta nhận thức rằng mọi người đều là anh em, chị em của chúng ta, mà Chúa Jêsus đã chết thay họ, thì chúng ta sẽ làm hết sức cho họ được cứu. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời đổ vào lòng chúng ta bơi Đức Thánh Linh sẽ giúp chúng ta yêu thương họ như Đấng Christ đã yêu thương họ. Và chúng ta sẽ giải cứu họ khỏi hố tội lỗi và đưa họ về cùng Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta rao giảng chân lý liên quan đến phước hạnh tương lai và sự khai trình trong tương lai, bạn sẽ làm gương cho những đời sống Cơ đốc nhân yếu đuối, không kết quả, có dịp tiện noi gương bạn. Đồng thời, bạn cũng có thể khuyến khích những ai đang chịu khổ vì Chúa để họ thắng được nghịch cảnh nhờ ân điển Chúa Jêsus. Các tài liệu dùng để rao giảng “Sứ điệp hy vọng” thật phong phú, đầy dẫy trong Kinh Thánh Bạn sẽ học hỏi được nhiều lợi ích nếu bạn nghiên cứu đề tài này.
19. Hãy giải thích về sự phán xét và sự ban thưởng cho các tín đồ là động cơ khuyến khích ta sống đời sống Cơ đốc nhân có hiệu quả. Hãy dùng sổ tay của bạn để trả lời câu này.
Bài trắc nghiệm cá nhân
ĐÚNG - SAI. Hãy viết chữ Đ ở trước câu Đúng và chữ S trước câu sai.
- “Sứ điệp cứu rỗi” là sứ điệp căn bản vì nếu không có sự đáp ứng tích cực với sứ điệp này thì không cần sứ điệp nào khác.
- Tội lỗi đã phân rẽ loài người với Đức Chúa Trời và loài người với nhau, chính là nguồn gốc của mọi nan đề của loài người.
- Giải pháp cho vấn đề tội lỗi là sự giáo dục, làm nhiều sự lành và hiểu biết khả năng riêng của mình.
- Sự chết thuộc linh do tội lỗi gây nên chỉ có thể được giải cứu nhờ sự tái sanh, là việc xảy ra khi chúng ta đặt đức tin mình nơi Đấng Christ là Chúa Cứu Thế.
- Lý do chúng ta có nhiều đề tài giảng đạo vì có các đòi hỏi khác nhau của dân chúng và chúng cần sự ủng hộ của họ.
- Đời sống thuộc linh phải được nuôi dưỡng bằng lời của Đức Chúa Trời, được tăng cường sức mạnh bởi sự thông công với Chúa và hoạt động bằng cách chia sẻ Tin Lành cho những người chúng ta gặp.
- Sự giảng hòa là một đề tài điều chỉnh những sự khác biệt giữa Đức Chúa Trời và loài người.
- Mặc dầu những tín đồ đã được giảng hòa với Đức Chúa Trời, họ không có trách nhiệm trực tiếp trong việc giảng hòa người khác với Đức Chúa Trời, vì nơi đây chỉ là trách nhiệm của những nhà lãnh đạo Hội Thánh mà thôi.
- “Sứ điệp nên thánh” đề cập đến đề tài lớn lên và phát triển trong kinh nghiệm Cơ đốc nhân.
- “Sứ điệp nên thánh” cho rằng Cơ đốc nhân dần dần trở nên vô tội và trọn vẹn ở một thời điểm nào đó sau khi họ tái sanh.
- “Sứ điệp hy vọng” có giá trị lớn khuyến khích ta cấp bách hầu việc Chúa, sống thánh khiết, can đảm vững vàng trong những thời điểm khó khăn và có trách nhiệm trong việc thi hành những công tác được giao cho.
- Sự tái lâm của Chúa sẽ xảy ra vào một thời điểm do Đức Chúa Trời định trước từ rất lâu rồi và không liên hệ gì đến bất cứ công tác nào của người Cơ đốc .
- Lời khuyên bảo “Hãy thức canh” được ban cho các mọi tín đồ vì khuynh hướng hay lơ là bất cẩn - khi chờ đợi quá lâu một biến cố dường như chưa xảy đến.
- Sẵn sàng, chờ đợi sự tái lâm của Đấng Christ có liên hệ trực tiếp đến trách nhiệm của người Cơ đốc.
- Các Cơ đốc nhân sẽ được phán xét để đánh giá đời sống của họ căn cứ trên sự hầu việc Chúa, động cơ hầu việc Chúa và các kết quả đạt được của họ.
Trả lời những câu hỏi trong bài:
1. a) Vì tội lỗi của Ađam, mọi người đều gánh chịu hậu quả của nó.
b) Mọi người đều phạm những hành vi tội lỗi.
2. a) Những nô lệ
b) Sự chết
c) Một kẻ thù của Đức Chúa Trời…
Vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời.
d) Làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
e) Một tân tạo, Đức Thánh Linh.
3. a) Bỏ qua
b) Mọi người… ăn năn
c) Phán xét thề gian cách công bình
d) Giễu cợt ông, theo ông và tin Chúa.
4. Câu trả lời của bạn. Tôi đã lưu ý rằng cả hai ông đều nhắc đến thiếu hiểu biết về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời và cả hai đều kêu gọi mọi người ăn năn để được tha tội. Phierơ nói về sự tha thứ và sự tiếp nhận các phước hạnh của Chúa, tuy nhiên, ông cũng cho biết muốn hưởng các phước hạnh cần phải vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời. Phaolô thì đề cặp về sự phán xét sắp đến và khuyên mọi người ta phải quay khỏi tội lỗi để phục sự Đức Chúa Trời hằng sống Ông đã ra lệnh cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi hãy từ bỏ tội lỗi của mình.
5. Câu trả lời của bạn. tôi đã lưu ý rằng tội lỗi đã ảnh hưởng mọi phần của bản tính loài người. Bản chất tội lỗi là chống nghịch với Đức Chúa Trời và không thể nào làm hài lòng Ngài. Như vậy người ta làm nô lệ cho tội lỗi và bị phân rẽ khỏi Đức Chúa Trời. Họ đối diện sự hình phạt đời đời vì tội lỗi của mình. Giải pháp duy nhất là sự tái sanh thuộc linh bằng cách tin cậy Chúa Jêsus Christ, là sự cung cấp của Đức Chúa Trời cho cứu rỗi.
6. Câu trả lời của bạn. Những khúc Kinh Thánh này đều hướng dẫn người ta, thúc giục họ phải làm một cái gì đó. Nếu không được tự do để đáp ứng, thì những mạng lệnh này trở nên vô nghĩa.
7. Cứu Chúa Jêsus Cong Cv 2:14-41 3:12-26 10:34-43 13:16-41
a)Thuộc dòng Vua Đa vít: 2:30 3:22 13:23-25
b) Đời sống vô tội: 2:22 3:14 10:39 13:28
c) Chức vụ đã đựơc Đức Chúa Trời công nhận: 2:22 3:25 10:38 13:30-31
d) Sự đóng đinh được định trước: 2:23 3:15, 18 13:28-29
e) Sự phục sanh: 2:24-30 3:15 10:40-41 13:33-37
f) Sự tôn cao vinh hiển: 2:33-36 3:13, 21 10:36 13:34
g) Sự kêu gọi hãy đáp ứng: 2:38-39 3:19-20, 22-23 10:43 13:38-40
8. b) Vì khi họ ăn năn tội của họ…
9. Câu trả lời của bạn. Chúng biết rằng có niềm tin vui thỏa lớn lao trong sự kiện của Đức Chúa Trời khi chúng ta trở về với Ngài.
10. c) Sự thông công giữa Đức Chúa Trời và loài người vốn bị tội lỗi là hư hỏng, đã đựơc phục hồi.
11. a) Sai
Đúng
Đúng
Sai
12. Câu trả lời của bạn. Lời Đức Chúa Trời là phương tiện để chúng ta có thể biết ý chỉ Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta, thái độ nào Đúng, thái độ nào Sai, làm thế nào chúng ta trở nên lớn lên và giống Đấng Christ, quyền năng nào sẵn sàng giúp chúng ta sống cho Đấng Christ cho một thế giới gian ác, làm thế nào để phân biệt giữa linh lầm lạc và Thánh Linh của lẽ thật cũng như Đức Chúa Trời phán gì về những vấn đề đức tin và thực tế.
13. a. 1) Cách Đức Thánh Linh giúp đỡ
b. 2) Không đúng với Thánh Linh
c. 1) Cách Đức Thánh Linh giúp đỡ
d. 1) Cách Đức Thánh Linh giúp đỡ.
14. a) Hầu việc trung tín.
b) Thời gian, việc làm công việc của Ngài
c) Trung tín trong các trách nhiệm của mình thi hành các mạng lệnh của mình.
15. e) Chỉ những điều nhắc đến trong a) và b) ở trên.
16. a) Phải sẵn sàng
b) Phải cẩn thận và thức canh
c) Bất cẩn thờ ơ.
d) Tỉnh thức và dè giữ
e) Tự chế và tỉnh táo.
17. b) Sự hiểu biết về sự tái lâm của Ngài sẽ giúp mỗi Cơ đốc nhân…
c) Sự kiện Chúa sắp tái lâm phải kích thích mỗi người chúng ta hãy…
d) Sự hiểu biết Đấng Christ tái lâm giữ chúng ta khỏi…
18. a) Các Cơ đốc nhân bắt đầu đời sống thuộc linh của họ bằng cách xây dựng trên nền tảng của Đấng Christ .
19. Câu trả lời của bạn. Tôi đã nhấn mạnh các Cơ đốc nhân đang sửa soạn khai trình đời sống của mình, cho nên họ phải hết lòng thi hành, sống thanh sạch và phục vụ bằng những động cơ đúng đắn. Vì những người không tin Chúa sẽ bị hư mất đời đời phải là động lực thúc đẩy các Cơ đốc nhân làm mọi đều có thể làm để nhiều người hư mất có thể được cứu trong số đó có những người thuộc trong gia đình, bà con và bè bạn của chúng ta.
Phương pháp giảng đạo
Trong bài học thứ năm, chúng ta đã thảo luận bốn chủ đề hay sứ điệp chính và tầm quan trọng của những chủ đề đó. Chúng ta biết rằng nguồn tài liệu phong phú đang có sẵn để những người chuyên tâm hầu việc Chúa tham khảo và sử dụng. Bây giờ chúng ta bàn về phương pháp của sự giảng đạo.
Bạn nghiên cứu chuẩn bị và trình bày, những bài giảng cách đặt mục đích cho mỗi bài giảng, sự thu nhập và sắp xếp tài liệu dựa trên Kinh Thánh, và truyền đạt sứ điệp cách hiệu quả, ngoài kỹ thuật xây dựng bài giảng, bạn sẽ học cách phê phán bài giảng của mình xem thử có đạt được mục đích yêu cầu không và xem bạn có cung cấp khẩu phần thuộc linh cân đối cho những người bạn phục vụ được lớn lên và phát triển trong đức tin hay không.
Khi bạn đọc cách soạn và trình bày bài giảng, nên nhớ rằng quyền phép của sự cứu rỗi không ở nơi người giảng hay phương pháp người ấy giảng mà do Tin Lành của Chúa Jêsus Christ. Sứ Phaolô đã diễn tả chân lý ấy cho chúng ta: “Tôi hoàn toàn tin tưởng ở Tin Lành, vì đây là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Do Thái sau là ngoại bang” (RoRm 1:16). Bạn không bao giờ hổ thẹn về Tin Lành! Đây là sứ điệp của Đức Chúa Trời, được hỗ trợ bởi chính quyền phép của Ngài và chắc chắn có kết quả. Hãy rao giảng với lòng tin quyết như thế và xem những gì có thể Đức Chúa Trời đã làm!
Bố cục bài giảng
Quyết định mục đích
Thâu thập tài liệu
Sắp đặt tài liệu
Truyền thông sứ điệp
Phierơ, một gương mẫu
Các mục tiêu của bài học
Khi học xong bài này bạn phải có khả năng để:
Giải thích tại sao “nhằm mục đích” để giảng đạo làm bước căn bản để chức vụ giảng đạo có hiệu quả.
Thảo luận nhiệm vụ để thu thập tài liệu bài giảng.
Giải thích rõ được nhu cầu sắp xếp tài liệu bài giảng.
Lập kế hoạch, chuẩn bị và truyền thông sứ điệp để đạt cho được mục đích đặc biệt.
Các sinh hoạt học tập
Đọc phần mở đầu, bố cục và các mục tiêu.
Học biết ý nghĩa của những từ ngữ quan hệ và mới đối với bạn.
Làm bài trắc nghiệm ở phần cuối bài học và xem lại câu trả lời của bạn.
Ôn cẩn thận đơn vị 2 (bài 4 - 6), rồi làm bài báo cáo cho đơn vị 2 và gởi về các thầy hướng dẫn Viện Hàm Thụ Quốc tế của bạn.
Những chữ quan hệ
Homilly : Một bài giảng không nghi ngờ hay bài giảng nghĩa một khúc Kinh Thánh .
Khai triển bài học
Quyết định mục đích
Mục tiêu 1: Nhận diện những câu giải thích tại sao chúng ta phải chọn điều gì là mục đích sự giảng đạo của chúng ta .
Bạn không thể lập hành trình cho bạn cho đến khi bạn biết mình sắp đi đâu. Lúc đó bạn mới lập kế hoạch để đến tại đó được. Cũng vậy, bạn hãy nêu mục đích cho mỗi một bài giảng, rồi tập trung mọi việc hướng về mục đích đó. Nếu bạn muốn thành công khi giảng đạo bạn phải nêu ra mục đích rõ ràng và bạn phải cần xem xét đến hai điều sau đây:
Trước hết, bạn phải tìm hiểu nhu cầu của người nghe. Chúa Jêsus đã biết nhu cầu chung của tất cả mọi người (Mat Mt 6:31-32) cũng như nhu cầu của mỗi người (GiGa 1:43-50). Nhu cầu cần được yêu thương, cần được cứu rỗi, cần được người ta để ý đến mình, cần được giúp ích cho những thí dụ về các nhu cầu chung của mọi người. Nhu cầu cá nhân cũng được áp dụng nữa! Và Chúa Jêsus đã làm được việc đó. Ngài đã phục vụ trực tiếp cho mỗi người với những nhu cầu riêng của họ (Mat Mt 9:27-31, 12:9-14, Mac Mc 1:40-45, GiGa 3:1-14, 4:1-26)
1. Mục đích của bài giảng là giúp chúng ta trả lời câu nào trong những câu hỏi sau đây:
Tôi muốn sứ điệp này hoàn tất điều này.
Bản văn nói cái gì?
Tôi phải áp dụng những lẽ thật này cho những thính giả của tôi như thế nào?
Thứ hai, phải đáp ứng nhu cầu của người nghe.
Chúa Jêsus đáp ứng các nhu cầu của con người khi Ngài phán về người bệnh cần thầy thuốc (Mac Mc 2:17). Truyền giảng là để đáp ứng một nhu cầu đặc biệt, thì nhiều người cũng cần được đáp ứng nhu cầu như thế. Khi mọi người thợ đi săn vịt trời, ông ta chỉ nhắm một con vât đặc biệt, chứ không phải vào cả bầy, sự giảng đạo cũng vậy. Bạn sẽ giúp cho nhiều người hơn nếu bạn có một mục đích cho mỗi sứ điệp và đạt cho được mục đích đó.
Khi bạn đã quyết định được nhu cầu, câu hỏi kế đó là, tôi phải giảng gì để đáp ứng nhu cầu đó? Hãy nhớ rằng Đức Thánh Linh sẽ hướng dẫn bạn khi bạn tìm cách đáp ứng các nhu cầu của dân chúng. Khi bạn tìm kiếm, tin cậy, và đi theo sự lãnh đạo của Ngài, Ngài sẽ ban cho bạn một sứ điệp sẽ phục vụ được các nhu cầu của họ (ICo1Cr 2:10-12).
Những người hầu việc Chúa thường tìm một câu Kinh Thánh gây ấn tượng trong lòng họ, khi họ đang cầu nguyện về nhu cầu của người nghe thì Đức Thánh Linh ban cho họ câu Kinh Thánh (lời Rhéma) để làm đề tài bài giảng, nhưng chúng ta sẽ thấy sau trong bài học, bài giảng là lời giải thích đúng đắn và áp dụng câu Kinh Thánh đó, và khi câu Kinh Thánh đó đến với bạn, nó sẽ giúp bạn tìm được nội dung và mục đích bài giảng.
Đôi khi các nhu cầu hiện ra và bạn tìm một câu Kinh Thánh để trả lời cho những nhu cầu đang thắc mắc, dù trường hợp nào, bạn cũng phải chọn một mục đích cho những sứ điệp, và chuẩn bị để đáp ứng nhu cầu được nêu ra . Nếu đã thấy rõ nhu cầu cần được áp dụng thì ta phải nhắm vào mục đích mà giảng. Câu nói của Alexander về việc viết văn có thể áp dụng được cho sự giảng đạo:
Trong mọi việc liên quan đến mục đích của nhà văn. Không có việc gì vượt quá sự viết văn của họ.
2. Khoanh tròn các mẫu tự đầu của các câu giải thích ĐÚNG, tại sao chúng ta phải chọn mục đích rõ rệt của bài giảng.
Không có một mục đích rõ rệt cho bài giảng của mình, làm sao người hầu việc Chúa có thể đáp ứng cho bài giảng của mình được.
Những người nghe giảng những bài giảng không có mục đích có thể bối rối không biết ông Mục sư đang giảng gì, mục đích ông ra sao.
Những bài giảng không có mục đích người giảng thường hay nhảy từ chủ đề này sang chủ đề khác và không tập trung được điều gì cho thính giả nắm lấy.
Sự kiện một người không có mục đích cho bài giảng của mình là dấu hiệu cho thấy người ấy hoàn toàn nương dựa vào Đức Chúa Trời.
Thu thập tài liệu Kinh Thánh nói điều gì?
Mục tiêu 2: Giải thích tại sao bước đầu tiên trong việc soạn 1 bài giảng là quyết định Kinh Thánh nói gì về đề tài .
Khi đã thấy được nhu cầu và mục tiêu đã được xác định thì câu hỏi kế tiếp là: Kinh Thánh nói điều gì ? Trong khi bạn tìm hiểu Kinh Thánh nói gì về một vấn đề nào đó, hãy tránh việc xuyên tạc văn bản hay thêm điều gì mà Kinh Thánh không nói đến. Chẳng hạn sứ đồ Phaolô bảo đảm rằng “chẳng ai trong vòng các ngươi sẽ mất một sợi tóc trên đầu mình” (Cong Cv 27:34) thì đó không có ý đây là giải pháp cho người bị hói đầu. Tuy nhiên, đây là câu nói mô tả rõ rệt về mức độ bảo vệ vô hình của Đức Chúa Trời. Trong bài ba chúng ta thấy rằng mạch văn sẽ quyết định ý nghĩa của một câu Kinh Thánh và ý nghĩa một khúc Kinh Thánh phải được hiểu rõ trừ khi không hiểu theo nghĩa đen được. Vì vậy, nếu bạn trích một câu Kinh Thánh và tìm hiểu câu đó, bạn sẽ tránh được việc bẻ cong Kinh Thánh. Và nếu sứ điệp của bạn căn cứ trên những lời truyên bố ngay thẳng và đơn giản của Kinh Thánh, bạn sẽ giảng được với uy quyền và sứ điệp của bạn sẽ được tiếp nhận như “Lời của Đức Chúa Trời”. Khi bạn tìm kiếm Kinh Thánh, mục đích phải là Kinh Thánh nói gì. Rồi bạn công bố sứ điệp của Đức Chúa Trời với sự tin tưởng trông mong Đức Chúa Trời đáp ứng các nhu cầu của những người bạn đang phục vụ.
3. Hãy viết vào sổ tay của bạn hai hoặc ba câu giải thích lời này, khi soạn một bài giảng, một người phải hiểu Kinh Thánh nói gì về đề tài đó.
Tôi đã Kinh nghiệm và đã nhìn thấy gì?
Mục tiêu 3: Hãy chọn những câu giải thích về kinh nghiệm và về quan sát cần thiết cho việc thâu thập tài liệu bài giảng .
Các bài giảng được hình thành không giống nhau như trái cây được lớn lên. Chúng tôi cũng không giống như xây dựng những ngôi nhà, vì các bài giảng là những sứ điệp. Thế nhưng về khía cạnh ý nghĩa, các bài giảng được làm ra và xây dựng lên theo tiến trình của tư duy, suy gẫm và nghiên cứu. Bạn hãy tự hỏi “Tôi đã quan sát thế nào hay đã do kinh nghiệm nào giúp cho tôi tìm hiểu câu Kinh Thánh này có ý nghĩa hơn? Chân lý nào của khúc Kinh Thánh tôi đã kinh nghiệm hoặc nhìn thấy ở kinh nghiệm của một người khác? Tuy vậy, bạn phải có chắc chắn rằng khi bạn rao giảng, dù dùng Kinh Thánh cá nhân hay của người khác nên tránh việc gây thương tổn hoặc bực mình cho người nghe. Hãy cẩn thận điều bạn sẽ nói để người nghe dễ tiếp nhận, không cần phải đề cao kinh nghiệm cá nhân dầu bạn có thể dùng những kinh nghiệm này cách ích lợi. Những câu và các thí dụ được dẫn chứng tăng thêm ý nghĩa và sức mạnh cho một câu Kinh Thánh nếu bạn có kinh nghiệm trình bày. Thường thường những kinh nghiệm như thế giúp chúng ta thấy được cách áp dụng chân lý vào trong đời sống hằng ngày.
4. Hãy khoanh tròn mẫu tự câu ĐÚNG dưới đây giải thích một cách đầy đủ về kinh nghiệm và sự quan sát là cần thiết trong việc thu thập tài liệu bài giảng.
Những sự quan sát được và những kinh nghiệm cá nhân rất quan trọng bài giảng vì chúng có khả năng giải trí cho người nghe.
b) Tài liệu minh họa rất cần thiết cho bài giảng vì nó khiến cho khúc Kinh Thánh có ý nghĩa hơn và chứng tỏ chân lý của Kinh Thánh là thực tế.
c) Kinh nghiệm của dân chúng và sự quan sát của họ giúp chúng ta áp dụng các chân lý của Lời Chúa vào hoàn cảnh riêng của chúng ta. Như thế, việc Đức Chúa Trời làm cho những người khác, Ngài cũng sẽ làm cho tôi nữa.

Tôi biết điều gì?
Mục tiêu 4: Hãy nêu ra tầm quan trọng của sự hiểu biết cá nhân trong việc thu thập tài liệu cho bài giảng .
Bạn hãy tự hỏi, tôi đã từng đọc, nghe, thấy, hay nghĩ gì về đều này chưa? Yếu tố thời gian, sự cầu nguyện và sự suy gẫm đều cần thiết. Hãy gợi lại trong trí óc của bạn mọi điều gì có ý nghĩa liên quan đến đề tài. Hãy để cho lời Kinh Thánh hành động giống như một cục nam chăm thu hút mọi tin tức đề tài của mình. Khi bạn sử dụng tài liệu, bạn hãy bắt đầu liên tưởng ra những gì hiện ra trên đường đi của bạn. Hãy nhớ Chúa Jêsus đã sử dụng rất nhiều thí dụ trong thế giới thiên nhiên để minh họa các chân lý thuộc linh. Vì thế hãy sử dụng những gì bạn có, giữ nó lại và từ đó rút ra nguồn tài liệu cần cho bài giảng.
Thêm vào những điều bạn đã kinh nghiệm, nghiên cứu và quan sát, bạn hãy dùng bất cứ tài liệu nào bạn thu thập được và lưu trữ được về đề tài. Và như chúng ta đã thấy trong bài 3, sự thu thập đức tin để gia tăng cho tài liệu giảng hữu dụng của bạn rất cần thiết.
5. Hãy nêu ra tầm quan trọng của sự hiểu biết cá nhân trong sự thu thập tài liệu cho bài giảng, hãy dùng sổ tay của bạn để trả lời câu hỏi này.
Sắp xếp tài liệu: lập kế hạch giảng đạo
Mục tiêu 5: Lựa những câu nói thảo luận cách đúng đắn tầm quan trọng của việc lập kế hoạch trong sự chuẩn bị bài giảng .
Lập kế hoạch rất cần thiết cho sự giảng đạo cách tốt đẹp. Mỗi năm bạn nên nhìn trở lại đôi lần để biết bạn đang ở nơi nào và đang huớng về nơi nào bạn sắp đi đến trong sự giảng đạo. Hãy tránh việc giảng hoài cùng một câu, cùng một chủ đề hay cùng một sứ điệp. Giống như Phaolô, ta hãy giảng toàn bộ ý muốn của Đức Chúa Trời(Cong Cv 20:26-27). Hãy nghiên cứu những khuôn mẫu giảng đạo cách cẩn thận để xem bạn có bỏ qua những chân lý quan trọng và những câu Kinh Thánh quan hệ với Kinh Thánh chăng?
Chẳng hạn bạn có thể lập kế hoạch giảng một loạt các sứ điệp về mười điều răn, các cuộc hành trình của Dân Ysơraên, các thí dụ của sách Mathiơ, các phép lạ của sách Tin Lành Giăng, hoặc các bài giảng “Ta là” trong sách Giăng? Và những loạt bài giảng khác khi bạn tiếp tục chức vụ giảng đạo. Trên hết, phải tránh việc chọn đề tài một cách tùy hứng. Như thế bạn và những người nghe sẽ được ích lợi nhiều do chương trình giảng đạo có kế hoạch chu đáo của bạn.
Không chỉ việc lập kế hoạch là quan trọng cho tổng thể chức vụ giảng dạo của bạn nhưng điều cũng quan trọng đối việc sửa soạn và trình bày mỗi bài giảng nữa. Người ta không thể trồng tưới và thu hoạch một bài giảng tốt trong vòng một tuần lễ vì vậy sự xây dựng một bài giảng có tiến trình có liên hệ đến một khía cạnh của đời sống “người giảng đạo” đó là một tiến trình phát triển suốt đời.
Một bài giảng là một nhịp cầu giúp bạn đưa người nghe từ chỗ họ đang đứng đến chỗ họ cần phải đứng. Một kế hoạch tốt và đầy đủ tài liệu sẽ giúp bạn xây dựng được chiếc cầu đó. Một kế hoạch có thứ tự và hướng về phía trước sẽ giúp đỡ được người ta lớn lên và phát triển đời sống thuộc linh. Ngoài ra, khi giảng những chủ đề lớn của Kinh Thánh, sẽ thách thức họ về sứ điệp bạn giảng, mỗi một bài giảng phải có sự sống mới mẻ và xin Đức Thánh Linh áp dụng chân lý của Lời Chúa vào trong đời sống chúng ta. Một kế hoạch giảng đạo có thứ tự và hướng về phía trước sẽ giúp cho sứ điệp hấp dẫn, dễ hiểu và dễ nhớ. Thính giả có thể suy gẫm về những chân lý như thế khá lâu dù giọng nói bạn đã phai nhòa.
6. Hãy khoanh tròn mẫu tự câu ĐÚNG giải thích tầm quan trọng của việc lập kế hoạch chuẩn bị các bài giảng.
Khi có kế hoạch giảng đạo ông ta có thể tránh được việc giảng trùng lập một câu Kinh Thánh và cùng một đề tài luôn bởi vì ông biết những gì ông đã làm và vì thế ông trù hoạch một cách thông minh hơn những điều ông cần phải làm.
Sự lập kế hoạch giảng đạo của một người giúp người đó có thể giảng tất cả những sự dạy dỗ của Kinh Thánh và như vậy tránh được việc bỏ sót những câu chân lý lớn lao và những câu Kinh Thánh quan trọng.
Bằng cách dự trù cẩn thận kế hoạch giảng đạo của mình, bạn có thể đưa người tín đồ ấu trĩ thuộc linh tiến lên sự trưởng thành trong Chúa và càng giống Đấng Christ hơn.
Khi bạn lập kế hoạch giảng đạo, bạn chứng tỏ rằng mình tự tin và không còn lệ thuộc vào Chúa nữa.
Một kế hoạch theo thứ tự và hướng về phía trước sẽ giúp đỡ cho các thính giả sẽ giúp bạn hiểu được điều bạn giảng và những chủ đề khác nhau để giúp đỡ họ trưởng thành đời sống thuộc linh.
Quyết định lẽ thật trung tâm:
Mục tiêu 6: Hãy chọn một câu định nghĩa lẽ thật trọng tâm của một bài giảng và giải thích tầm quan trọng của nó .
Một bài giảng có một lẽ thật trọng tâm phát triển từ câu Kinh Thánh làm nền tảng. Trọng tâm lẽ thật là quả tim của bài giảng. Điều quan trọng là biết được lẽ thật trọng tâm đó xuống trong một câu. Việc này tuy rất khó khăn nhưng rất ích lợi bạn soạn một bài giảng.
Một khi bạn đã chọn lựa được lẽ thật trọng tâm rồi, hãy vận dụng mọi lý luận, mọi thí dụ về tài liệu tập trung chứng minh một cách hòa hợp để hỗ trợ cho lẽ thật đó. Đừng để các ý tưởng phụ làm chi phối ý tưởng của bạn. Hãy tập trung vào lẽ thật trọng tâm này. Hãy cầu nguyện và suy gẫm cho tới khi lẽ thật này thành sự sống của bạn và khi bạn sẵn sàng để viết bố cục bài giảng thì bạn hiểu mình sẽ giảng gì. Mục đích của bạn sẽ trong suốt như pha lê.
7. Sự lựa chọn lẽ thật trọng tâm cho một bài giảng rất quan trọng cho sự chuẩn bị bài giảng và giúp ta trình bày rõ ràng lẽ thật trọng tâm.
Phục vụ để hắp dẫn trí tưởng tượng của thính giả và chủ yếu là phương tiện gây chú ý.
Là sứ điệp toàn bộ được cô đọng lại và gây sự tập trung chú ý cho cả người giảng lẫn người nghe.
Chỉ ra hạng thính giả nào người giảng đang cố đạt tới và nhận dạng được nhu cầu đặc biệt gì ông đang cố gắng đáp ứng.
SẮP XẾP CÁCH THỨ TỰ:
Mục tiêu 7: Nhận rõ năm phần của một bài giảng và giải thích các phần đó phải được sắp xếp như thế nào để giảng .
Đến đây bạn cần kết quả tài liệu trong một trật tự hợp lý và hữu dụng, bố cục bài giảng được hình thành là do kết quả của việc sắp và tổ chức tài liệu. Bố cục đối với bài giảng cũng như bộ xương đối với thân thể, sườn nhà đối với ngôi nhà, và khung thép với một toàn nhà trọc trời. Điều này rõ ràng, không thể thiếu được! Bây giờ chúng ta hãy suy nghĩ đến việc tổ chức bài giảng và phương pháp triển khai bài giảng.
Một bài giảng không nghi thức (homily) là sự chia sẻ đơn sơ, thân mật, không nặng nghi thức. Bài giảng này thường giải nghĩa từng câu trong một khúc Kinh Thánh. Có ba hình thức của loại bài giảng nghi thức này. Giải nghĩa từng câu một khúc Kinh Thánh, giảng chủ đề, hoặc phối hợp cả hai gồm bài giảng, theo từng câu của bài giảng theo chủ đề. Một hình thức giảng cao hơn gồm có thêm một lời giới thiệu và một lời kết luận và phần giải luận. Đâu là hình thức cao hơn của bài giảng và chúng ta sẽ đề cập đến. Bài giảng này gồm có (sau phần Kinh văn và lẽ thật trọng tâm) lời giới thiệu, thân bài và lời kết luận.
1- Lời giới thiệu : cửa chính vào nhà như thế nào thì lời giới thiệu bài giảng cũng như vậy. Mục đích lời giới thiệu là để lôi cuốn sự chú và tạo ra sự thích thú đối với thính giả. Lời giới thiệu có thể phát xuất từ mạch văn, bối cảnh Kinh Thánh, trường hợp các biến cố hiện thời v.v... hãy chuẩn bị lời giới thiệu cách cẩn thận và nên viết ra để bảo đảm sự thành công cho buổi truyền giảng. Nên giới thiệu ngắn gọn, khoảng chừng hai hoặc ba phút. Lời giới thiệu phải liên hệ đến toàn thể bài giảng. Khi xong phần giới thiệu bạn nên có một câu chuyển mạch để đưa tư tưởng từ phần giới thiệu sang phần thân bài giảng.
2- Thân bài : thân bài giảng gồm có việc giải nghĩa từng câu Kinh Thánh. Hãy nghiên cứu các câu Kinh Thánh cẩn thận khi nhắm được thứ tự của nhóm câu xuất hiện, nhất là trong những đoạn Kinh Thánh dài hơn. Hãy giới thiệu thân bài vào ba hay bốn phần chính. Việc này sẽ giúp bạn dễ nắm bài giảng. Sau đây là phương pháp chia phần thân bài khúc Kinh Thánh: 1) Dùng vài câu nói lên nội dung khúc Kinh Thánh.2) Ứng dụng sự dạy dỗ vào đời sống các thính giả v.v... 3) Minh họa chân lý rút ra ví dụ từ thiên nhiên, từ Kinh Thánh, từ sự quan sát hoặc kinh nghiện cá nhân. 4) Tóm lược toàn bộ vấn đề trong một câu. Rồi chuyển qua các câu khác như là đã làm ở phần trên.
8. Dựa vào bố cục gợi ý sau đây của sách....ICo1Cr 13:1-13, hãy điền phần nội dung của các câu đã được phân chia.
Kinh văn : 3:13 “nhưng lớn lên trong ba điều đó là tình yêu thương”.
Lẽ thật trọng tâm : Điều lớn nhất thế gian là tình yêu thương.
a. I (câu 1-3)
b. II (câu 4-7)
c. III (câu 8-13)
9. Trong phần bố cục sau đây bạn hãy liệt kê bốn điều ích lợi của sự hoạn nạn được rút ra từ Kinh Thánh (Thi Tv 119:17) và do kinh nghiệm sống của chúng ta.
Kinh văn : 119:71 (tôi đã bị hoạn nạn thật lấy làm phải, hầu cho học theo luật lệ của Chúa).
Lẽ thật trọng tâm : Sự hoạn nạn thường là điều cần thiết của cuộc sống.
I Sự hoạn nạn
II Sự hoạn nạn
III Sự hoạn nạn
IV Sự hoạn nạn
10. Căn cứ trên câu trả lời của Chúa Jêsus về ba khía cạnh câu hỏi của Giăng Báp Tít (Mat Mt 11:4-6), hãy đặt ra câu hỏi làm thành những điểm chính cho thân bố cục bải giảng này.
Kinh văn : Mathiơ 11: 3 “Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng ta còn phải đợi Đấng khác chăng?
Lẽ thật trọng tâm : Có phải Đấng Christ là Đấng mà thế gian cần đến không?
a. I Chúa Jêsus phán (C, 4)
b. II Chúa Jêsus phán (C, 5)
c. III Chúa Jêsus phán (C, 6)
11. Một người giảng Kinh Thánh “Đối với tôi sống là Christ chết là lợi” (Phi Pl 1:21). Bốn điểm chính của ông là 1) Ông có thể chạy trốn khỏi cuộc sống. 2) Ông có thể chạy theo cuộc sống. 3) Ông có thể giữ được sự sống cách chắc chắn. 4) Ông có thể đặt chính mình vào tay của một Đấng lớn hơn ông và để Ngài sống thay ông. Căn cứ trên những điểm này “lẽ thật trọng tâm” của ông ta là.
Sự bất trắc của cuộc sống.
Sự có thể có của đời sống tốt lành.
Phải làm gì với cuộc sống hiện nay.
Khi bạn chuẩn bị giảng một sứ điệp, hãy nhớ rằng lẽ thật trọng tâm giống như trục bánh xe. Sự chia phần khác nhau của thân bài giảng giống như những nan hoa của bánh xe đó. Những nan hoa chạy đi từ trục bánh xe thế nào thì uy quyền lẽ thật của bài giảng cũng đến từ lẽ thật trung tâm bài giảng đó. Và lẽ thật của mỗi phần làm bằng chứng cho lẽ thật trọng tâm. Mỗi phần của thân bài giảng phải phát xuất và mở rộng từ trong khúc Kinh Thánh mà bạn trích giảng.
3- Lời kết luận : lời kết luận là thời điểm cuối cùng và tốt nhất để đem chân lý của sứ điệp đến lòng của những người nghe. Câu hỏi quan trọng của chúng ta phải đáp ứng như thế nào? (Cong Cv 2:37) Tùy theo từng đối tượng buổi nhóm mà đặt câu hỏi và phần kết luận phải đưa ra câu trả lời. Đây là lời kêu gọi cuối cùng gíup cho thính giả quyết định. Phải viết lời kết luận và không nên dài hơn phần mở đầu. Những chữ cuối cùng phải đầy sức thuyết phục, kể một câu chuyện cảm động ngắn gọn hay tóm tắt những điều quan trọng, một câu thánh ca liên hệ tới bài giảng tất cả đều có thể sử dụng để tạo thành sức mạnh toàn diện cho sứ địệp. Lời kết luận phải như mũi tên nhắm vào quả tim của những người nghe. Hãy để cho thính giả ra về và suy nghĩ rằng họ không chỉ là kẻ nghe nhưng sẽ là kẻ làm theo lẽ thật (Mat Mt 7:24-27)
12. Hãy nhận dạng các phần của bài giảng được mô tả bằng cách đặt con số vào phần thích hợp phía trước các câu.
1./ Kinh văn
2./ Lẽ thật trung tâm
3./ Lời giới thiệu
4./ Thân bài
5./ Lời kết luận
...... a) Khúc Kinh Thánh mà bài giảng lập căn cứ để xây dựng.
...... b) Phương cách thu hút sự chú ý của mọi người ta và dẫn họ vào bài giảng.
...... c) Giải nghĩa nội dung nói gì, đưa ra thí dụ và áp dụng nội dung đó.
...... d) Mục đích của bài giảng trong hình thức cô đọng.
...... e) Giai đoạn hành động của bài giảng khi các thính giả được thách thức để đáp ứng.
13. Dùng sổ tay của bạn và giải thích năm phần bài giảng phải được sắp xếp theo thứ tự.
TRUYỀN THÔNG SỨ ĐIỆP
Mục tiêu 8: Liệt kê thuộc lòng bốn lời chỉ dẫn về phương pháp truyền thông có hiệu quả .
Truyền thông là thông tin bằng cách nói, viết v.v… tiến ttrình của sự truyền thông chỉ được hoàn tất khi sứ điệp được ban ra và được nhận lãnh, khi các thính giả của bạn hiểu được bạn, được vấn đề bạn đã trình bày… bạn đã hoàn tất truyền thông. Có lời chỉ dẫn sau đây sẽ giúp bạn kiểm tra và đánh giá được truyền thông của bạn có hoàn thành không.
Đi theo kế hoạch:
Một số người viết ra đầy đủ bài giảng rồi đọc cho Hội Thánh chúng nghe, người khác lại giảng tự do theo bố cục viết sẵn gợi ý. Dù chọn phương pháp nào nếu bạn chuẩn bị bài giảng rồi mà không đi theo kế hoạch đã định thì bạn thành đạt được rất ít. Tuy nhiên, nếu bạn chuẩn bị tài liệu tốt và rồi làm theo kế hoạch bạn đã lập, thì bạn sẽ truyền thông sứ điệp của bạn một cách tốt đẹp.
14. Hãy chọn câu trả lời hoàn toàn nhất cho câu nói sau đây. Một kế hoạch soạn giảng tốt là phải được giữ theo các bước đã vạch ra cẩn thận.
Bởi vì nó là ông chủ của bài giảng, ông là nô lệ của nó.
Để người nghe sẽ cảm biết người giảng biết ông đang làm gì và ông sắp đi đâu.
Để biết chắc rằng mình đang nhắm vào mục đích đã định trước và giảng ra đúng kế hoạch đã chuẩn bị.
Ngắn gọn, cụ thể:
Mọi người cần diễn đạt điều mình cần muốn nói một cách rõ ràng và chính xác. Mỗi người giảng cũng phải chuẩn bị sứ điệp truyền giảng Tin Lành một cách rõ ràng và chính xác như vậy! Hãy tránh những câu vô nghĩa và lập đi lập lại. Hãy nhắm mục đích. Hãy nói sao cho dễ hiểu, nhưng không dông dài. Những lời không cần thiết trong bài giảng giống như những rong biển hay những con hàu cuốn theo làm dơ dòng nước trong sạch, chạy theo con tàu, nên chấm dứt trước khi người ta muốn bạn ngưng đi.
Hãy dùng ngôn ngữ rõ ràng và đơn giản, hãy dùng những chữ mô tả hành động. Hãy minh họa bài bằng những con người, những nơi chốn và những sự vật thật hãy dùng ngôn ngữ cụ thể, tránh dùng những từ ngữ gợi hình, những điều có thể rờ mó được, nghe được, ngửi được và thấy được, những thí dụ soi sáng chân lý bạn đang truyền giảng, giống như những cửa sổ chiếu ánh sáng vào trong căn nhà. Tuy nhiên, ngôi nhà không phải toàn là cửa sổ! Và bài giảng của bạn không thể là một loạt các thí dụ, dù nó làm vui tai, hấp dẫn, nhưng không làm no đủ sự đói khát và trống rỗng cho những thính giả của bạn.
15. Khoanh tròn các mẫu tự đầu của câu ĐÚNG. Căn cứ vào nội dung bài giảng phải “ngắn gọn cụ thể”, chúng ta kết luận rằng:
Một số các Mục sư truyền đạo có khuynh hướng nói dong dài những điều không liên quan gì đến mục đích chung của bài giảng.
Một người thật sự nhạy cảm với các nhu cầu và cảm giác của dân chúng, được Đức Thánh Linh dẫn dắt và khôn ngoan sẽ không phí thời giờ để nói những điều vô nghĩa không cần thiết hoặc công kích vu vơ mà lại không tấn công tội lỗi vàsatan.
Một người giảng đạo thì phải cố giữ sự cân đối cho bài giảng mình, nên không dùng các câu chuyện, các thí dụ và các kinh nghiệm bản thân, vì lợi ích riêng nhưng chủ yếu là để minh họa chân lý đã được truyền giảng.
Giảng theo mục đích đã đặt ra:
Mọi chi tiết trong bài giảng đều phục vụ cho việc hoàn tất tốt mục đích đã đặt ra của bài giảng. Vậy khi giảng, bạn lưu ý đến mục đích của sứ điệp. Hãy đến với thính giả, thông cảm với họ, tỏ ra thân thiện với họ ngay khi bạn bắt đầu để đưa họ đến nới mà bạn muốn họ đến khi bạn kết thúc, trong một ý nghĩa rộng hơn mỗi phần trong bài giảng phải là sứ điệp của bạn cần truyền đến cho người nghe. Mục đích của sứ điệp là một phần của mục đích sứ điệp của bạn: công bố toàn bộ mục đích cho Đức Chúa Trời (Cong Cv 20:27) để những người hư mất tìm được Đấng Christ và những tín đồ sẽ trưởng thành trong đức tin.
16. Hãy đọc các câu Kinh Thánh và trả lời các câu hỏi cho mỗi câu:
Trong 20:24 sứ đồ Phaolô đã nói với các trưởng lão của Hội Thánh Êphêsô rằng mục đích chức vụ của ông là


b) Trong 20:20-21, 26-27 Phaolô nói rằng sự giảng đạo của ông bao gồm

c) Trong khi so sánh ICo1Cr 9:24-27 với Phi Pl 3:14-15, Phaolô khuyến khích các thính của ông hãy


d) Trong ITi1Tm 4:6-8, Phaolô đã tuyên bố rằng ông đã hoàn tất xong chạy thi, đã đạt được mục đích và đang chờ đợi

Hãy lưu ý để thấy Phaolô có một mục đích rõ ràng trong chức vụ của ông, dù đó là công khai hay riêng tư (Cong Cv 20:20) ông đều đưa các tôị nhân đến cùng Đức Chúa Trời và tuyên bố trọn vẹn sứ điệp và ân điển của Ngài. Ông tự cảnh giác mình phải nghiêm khắc với bản thân e rằng trong lúc ông đã cố chinh phục người khác về cho Đấng Christ mà chính mình bị bỏ chăng (ICo1Cr 9:24-27), (Phi Pl 3:7-16). Chúng ta hãy tự nhắc nhở mình nếu lưu tâm đến lời khuyên răn và gương mẫu của ông Phaolô.
THÂU GẶT KẾT QUẢ:
Khi giảng Lời Chúa, Đức Chúa Trời sẽ ban cho bạn các kết quả. Ngài bảo đảm điều ấy (EsIs 55:11, Thi Tv 126:6) các kết quả bạn đang tìm kiếm - cứu vớt người hư mất và gây dựng người tin Chúa, do chức vụ ban lời được Đưc Thánh Linh xức dầu.
Sau khi đã rao giảng, bạn hãy:
1. Để cho Đức Thánh Linh có cơ hội làm việc trong lòng người nghe. Ngài sẽ thuyết phục ho nhận biết các nhu cầu của họ và cho họ thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ cung ứng các nhu cầu đó cho họ (GiGa 16:8)
2. Hãy đưa ra những lời chỉ dẫn ngắn gọn, đơn sơ. Phierơ đã chỉ dẫn đám đông cách rõ ràng điều họ phải làm để đáp ứng sứ điệp của ông (Cong Cv 2:38-39).
3. Hãy để cho hội chúng có cơ hội để đáp ứng. Nếu lời kết luận của sứ điệp là một lời kêu gọi thì bạn có thể trông đợi sự đáp ứng.
Có một vị truyền đạo đến với ông H. Spurgeon là nhà truyền đạo lừng danh và hỏi “Làm thế nào ông giảng luôn cùng một sứ điệpTin Lành mà có hiệu quả, còn tôi thì không? “ ông Spurgeon trả lời “ mỗi lần bạn giảng bạn có trông đợi kết quả không ?” “không”, người đó trả lời. Ông Spurgeon la lên, “vậy đó chính là lý do tại sao bạn không có kết quả” Khi bạn giảng, hãy trông đợi Đức Chúa Trời thực hiện việc gì đó xảy ra.
17. Hãy liệt kê thuộc lòng bốn sự chỉ dẫn truyền thông sứ điệp có hiệu quả.


18. Bốn lời chỉ dẫn liên quan đến sứ điệp họ giảng dạy đã được hoạch định là:
Trở thành diễn giả bậc thầy cách dùng trau chuốt ngôn từ cho đẹp đẽ, những câu đố thách thức và mẫu chuyện hay nhằm mục đích lôi cuốn sự chú ý của dân chúng.
Đạt được mục đích họ đặt ra cho bài giảng bằng sự truyền thông cách có hiệu quả cho người nghe.
Thức hành một cách máy móc phương pháp giảng đạo để người nghe sẽ nhận ra tài khéo vào sự huấn luyện chính qui của họ.
PHIERƠ, MỘT THÍ DỤ ĐIỂN HÌNH:
Mục tiêu 9: Hãy chọn những câu chứng tỏ Phierơ tiêu biểu cho một nhà truyền đạo thời Tân ước .
Simôn Phierơ là một thí dụ điển hình về một người bình dân đã trở thành một nhà truyền đạo có hiệu quả. Sau khi ông chối Chúa trước mặt đầy tớ gái (Mat Mt 26:72). Ông đã giảng đạo tại Giêrusalem trước hàng ngàn người (2:1-42). Quyền phép của Đức Thánh Linh đã giáng xuống trên ông trong ngày lễ Ngũ Tuần khiến cho ông dạn dĩ (1:8).
Phương pháp giảng đạo của Phierơ, như đã chép trong công vụ sứ đồ, không sắp xếp theo phương pháp soạn bài giảng của chúng ta. Tuy nhiên, ông đã bắt đầu từ nhu cầu của con người đã đáp ứng trong các nhu cầu đó. Trước hết ông nói về những điều của thính giả đã biết để liên hệ và giải thích chương trình cứu rỗi nhân loại được thực hiện trọn vẹn trong Đấng Christ. Ngoài ra, ông còn chứng minh sự giáng sinh, sự sống lại, sự chết, sự phục sinh và sự thăng thiên của Chúa Jêsus là Đấng Christ ứng nghiệm các lời tiên tri Cựu ước. Cuối cùng trong phần kết luận, ông kêu gọi các thính giả hãy ăn năn và tin Chúa Jêsus để được phục hòa với Đức Chúa Trời: sự tha tội, bình an, thời gian tươi mới và sự bảo đảm an toàn khỏi sự phán xét trong tương lai.
Nếu chú ý bạn sẽ thấy rằng Phierơ không thấu triệt về phương pháp giảng đạo cho dân chúng trong một thời gian ngắn đâu. Ta nhận thấy ông càng trưởng thành trong chức vụ qua các đoạn sách trong Công vụ sứ đồ đoạn 2, 3, 4, 5, và 8 đến 10 là bài giảng tại nhà Cọt nây. Sự phát triển chúng ta nhận thấy không phải là phương pháp của Phierơ, mà là sự ông vâng theo lời chỉ dẫn của Đức Thánh Linh về sự truyền giảng Tin Lành cho dân ngoại.
Trước khi ông rao giảng Tin Lành tại nhà Cọt nây Chúa đã hành động lạ lùng và Ngài đã thúc giục Phierơ bằng các khải tượng (10:9-17), phán bảo ông hãy đi qua xứ Sêsarê (10:19-20) và bày tỏ cho ông rằng Ngài đã chuẩn bị đầy đủ cho sự truyền giảng Tin Lành khắp thế giới.
Sau những kinh nghiệm thuộc linh kỳ diệu này, chức vụ Phierơ dễ dàng hơn, vì ông nhận biết rằng vì ông chỉ la một ống dẫn qua đó Lời Chúa tuôn chảy ra cho những người khác.
Trọng tâm sứ điệp của Phierơ là công bố Tin Lành. Kinh nghiệm của ông chứng tỏ rằng quyền năng không nằm nơi con người hay phương pháp, nhưng là nơi Tin Lành (RoRm 1:16). Đức Chúa Trời có đào tạo dùng những người tài năng, nhưng họ vẫn thừa nhận rằng Tin Lành đã rao giảng không phải do sự khôn ngoan của loài người bèn do là quyền phép của Đức Thánh Linh (ICo1Cr 2:3-5).
Tôi khuyến khích các bạn hãy cố gắng chuyên cần học tập các kỹ năng cần thiết để rao giảng Tin Lành. Nhưng tôi cũng kêu gọi các bạn phải luôn luôn ý thức rằng quyền năng của sự cứu rỗi không nằm nơi các kỹ năng, tài khéo bạn học được hay nơi tài sức riêng của bạn, nhưng là trong sứ điệp bạn giảng: Đó là Tin Lành của Chúa Jêsus Christ.
19. Khoanh tròn trước câu Đúng giải thích bằng những cách nào Phierơ đã làm tiêu biểu điển hình cho một nhà truyền đạo thời Tân ước.
Phierơ là một thí dụ điển hình vì ông có một chủ đề chính yếu: Tin Lành Chúa Jêsus Christ.
Phierơ đã làm như thế nào để tiến hành bài giảng trong việc truyền rao Tin Lành cho dân ngoại.
Khi đánh giá chức vụ của Phierơ, chúng ta nhận thấy sự thuyết phục của Tin Lành là do quyền phép của Đức Thánh Linh .
Sách công vụ chứng tỏ rằng Phierơ luôn luôn có một mục đích rõ ràng trong trí, Ông bắt đầu nói về những nhu cầu của thính giả và đưa ra lời giải đáp cho những câu của họ.
Có phải chức vụ của Phierơ chứng tỏ rằng giáo dục, học vấn, không cần thiết cho chức vụ giảng dạy Tin Lành và người hầu việc Chúa không cần tăng trưởng thuộc linh, vì Đức Chúa Trời dùng “những cái bình trống không”
Kỹ thuật về chức vụ Phierơ trong công vụ từ đoạn 1-10 cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã dùng sự hiểu biết của Phierơ về: Lịch sử của Ysơranê, đời sống và lời dạy của Chúa Jêsus, mối quan hệ của ông đối với dân chúng về Kinh Thánh Cứu ước, và sự lệ thuộc hoàn toàn của ông vào Đức Thánh Linh - tất cả những điều này được làm phong phú khả năng truyền giảng có hiệu quả của ông không?

Trắc nghiệm cá nhân :
Chọn câu đúng nhất :
Trong mỗi câu hỏi bạn hãy chọn một câu trả lời đúng nhất.
1. Trong những lời diễn đạt sau lời nào không nêu lý do rằng quyết định mục tiêu là điều căn bản.
Không có một mục đích rõ rệt, người giảng không hy vọng được thính giả đáp ứng nồng nhiệt.
Thính giả sẽ khó nắm được điểm chính của bài giảng nếu họ không thấy mục đích rõ rệt.
Người nghe sẽ cảm thấy “không có mục đích” thì tương đương với sự nhờ cậy Đức Thánh Linh nhiều hơn.
Diễn giả mà không có mục đích rõ rệt thường có thói quen khi từ chủ đề này sang chủ đề khác cho nên không tập trung những yếu tố chứng minh giúp thính giả hiểu vấn đề để họ quyết định.
2. Có một mục đích rõ ràng giúp cho người giảng đạo Chúa.
Biết được những sở thích của thính giả.
Tập trung vào hình thức giảng mà ông thấy hấp dẫn.
Tuân theo cách giảng mà hầu hết các người giảng đều tuân theo.
Đáp ứng các nhu cầu của quần chúng.
3. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của sự thâu thập tài liệu, theo bài học này là để.
Tìm ra Kinh Thánh nói gì về đề tài bạn đã chọn.
Phát triển một hệ thống lưu trữ và sử dụng tài liệu cách chính qui, giống như những nhà văn lớn hay diễn giả thượng thặng thường làm.
Gây ấn tượng cho quần chúng rằng ông có tài năng, có tổ chức, và có tri thức đối với đề tài Kinh Thánh nào.
Phát huy kỷ luật tự giác trong việc nghiên cứu với hy vọng sẽ giúp đỡ được trong sự hầu việc Chúa.
4. Những điều do quan sát và từng trải là một phần quan trọng của nguồn tài liệu cần thiết mà một người thu thập được.
Có giá trị hấp dẫn để giải trí cho quần chúng.
Được coi như những phương tiện để chuyển giao và ứng dụng lẽ thật Lời Chúa vào đời sống hằng ngày.
Giúp cho bài giảng có nội dung phong phú, đa dạng và hấp dẫn người nghe.
Chứng tỏ sự hiểu biết rộng rãi của người giảng đạo.
5. Tôi biết được nhiệm vụ quan trọng của việc thu thập tài liệu bởi vì nó giúp cho.
Sự hiểu biết của tôi lớn lên và phát triển nhờ những kinh nghiệm, sự quan sát, sự nghiên cứu, sự suy gẫm và sự cầu nguyện và tất cả những lời này giúp tôi áp dụng lẽ thật cách hiệu quả hơn.
Toàn bộ những gì tôi biết tôi sẽ chia sẻ cho thính giả của tôi để cuối cùng họ cũng nhận được như tôi vì vậy tôi phải liên tục nghiên cứu học hỏi nếu muốn là người truyền thông có hiệu quả.
Kiến thức của tôi là điều rất quan trọng cho hoạt động giảng đạo và đây là động cơ khuấy động lòng để tôi học tập suốt đời.
6. Sắp xếp tài liệu lập kế họach giảng đạo là những cần yếu để.
Giúp một người có một chức vụ giảng đạo đầy trọn .
Phát triển sự hiểu biết sâu nhiệm về những đề tài lớn của Kinh Thánh.
Xây dựng mỗi bài giảng là một công cụ truyền thông có hiệu quả đáp ứng được nhu cầu quần chúng.
Bao gồm tất cả các ý kiến a, b và,c.
Chỉ bao gồm ý kiến a và b ở trên.
7. Trọng tâm lẽ thật của bài rất quan trọng là vì nó.
Là phần gây chú ý.
Giúp cho ông biết ông đang giảng cho ai và ông mong đợi kết quả gì nơi họ.
Là một sứ điệp có hình thức thu gọn.
Đòi hỏi một sự đáp ứng từ thính giả.
8. Sắp xếp thứ tự bài giảng đáp ứng tất cả các mục đích sau đây NGOẠI TRỪ.
Sự chú ý của các thính giả.
Việc giải thích, minh họa và áp dụng nội dung của khúc Kinh Thánh.
Bảo đảm sự áp dụng thuộc linh.
Chỉ ra cho các thính giả một loạt các hành động rõ rệt như là kết quả của sứ điệp.
9. Có ý kiến cho rằng diễn giả là người luôn luôn có câu trả lời cho những thính giả chưa hề hỏi- vâng ông có thể có những nan đề nào sau đây không?
Có lẽ ông đã không hiểu bản chất của sự truyền thông.
Có lẽ ông không nhạy cảm với các nhu cầu của người nghe và trách nhiệm của ông là giúp đỡ các nhu cầu đó.
Có lẽ ông không có các mục đích liên hệ đến người nghe.
Dường như ông chỉ có một nan đề nêu ra trong câu a) và b) ở trên.
Ông đã chịu trách nhiệm tất cả vấn đề đã mô tả trong các câu a) b) và c).
ĐÚNG - SAI. Hãy viết Đ ở trước các câu đúng và chữ S trước các câu sai.
….. Để truyền thông có hiệu quả một người chỉ cần lập một kế hoạch.
….. Người giảng đạo Chúa phải dùng ngôn ngữ trực tiếp, rõ ràng, tránh những chữ không cần thiết, dùng ngôn ngữ gợi hình và nhạy cảm với Đức Thánh Linh cùng những người ông phục vụ.
…. Người giảng đạo Chúa hữu hiệu nhằm đạt đến mục đích mà ông đã đặt ra cho sứ điệp.
….. Người giảng đạo Chúa trông đợi đạt được các kết quả mỗi lần ông giảng là điều không thực tế.
Trả lời các câu hỏi trong bài
a. Tôi muốn sứ điệp này thành đạt điều gì ?
a. Đúng
b. Đúng
c. Đúng
d. Sai (Đây thường là dấu hiệu của sự lười biếng. Chúa Jêsus phán rằng Đức Thánh Linh sẽ nhắc lại những lời của Ngài cho chúng ta (GiGa 14:26), nhưng trách nhiệm của chúng ta là trước hết phải chứa đầy lời Ngài vào trí óc của chúng ta.
Lời khuyến khích của Phaolô trong IITi 2Tm 2:15 là một sự thách thức cho mọi người được kêu gọi vào chức vụ hầu việc Chúa.
3. Câu trả lời của bạn. Điều thiết yếu tuyệt đối cho chúng ta là hãy xem Kinh Thánh nói gì về một đề tài và dựa trên nền tảng cơ bản đó chúng ta tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời về vấn đề đó và thái độ chúng ta phải có đối với vấn đề đó.
4. a) Sai
Đúng
Đúng
6. a) Đúng
b) Đúng
c) Đúng
d) Sai
e) Đúng
7. b) Là toàn bộ sứ điệp trong hình thức cô đọng.
8. a) Tầm quan trọng của tình yêu thương.
b) Các phẩm chất của tình yêu thương.
c ) Sự vĩnh cữu của tình yêu thương.
9. a) Giúp cho một người nhớ lại cuộc đời quá khứ của họ.
b) Khích lệ một người biết sử dụng các cơ hội tương lai cách khôn ngoan hơn.
c) Mở rộng kiến thức một người về sự đau khổ và mục đích của nó hoặc áp dụng ý nghĩa của đau khổ trong đời sống con người.
d) Có thể khiến cho mối quan hệ của một người với Chúa có ý nghĩa hơn.
10. a. Hãy hỏi những người đã gặp ta.
b. Hãy quan sát những người đã đến cùng ta.
c. Hãy tự thử nghiệm ta.
11. c. Phải làm gì với đời sống hiện nay.
12. a 1) Bảng văn Kinh Thánh
b 3) Lời giới thiệu
c 4) Thân bài
d 2) Lẽ thật trọng tâm
e 5) Lời kết luận
13. Câu trả lời của bạn. Năm phần của một bài giảng phải được sắp xếp giống như cấu trúc của một tòa nhà. khúc Kinh Thánh dùng để làm bài giảng là nền nhà. Rồi lẽ thật trọng tâm được xây trên nền tảng đó, phải đưa ra câu nói cô đọng về nội dung bài giảng. Lời giới thiệu cần hấp dẫn sự chú ý của thính giả là một khối đá xây dựng. Thân bài phải thêm những khối đá xây dựng cần thiết vào khi nó minh họa, áp dụng và tóm lược phần Kinh Thánh. Lời kết luận, tảng đá cột trụ của bài giảng, phải đưa các thính giả đến một quyết định.
14. c) Để biết chắc rằng mục đích đã định trước sẽ đạt được và các nhu cầu đáp ứng được. 5. Câu trả lời của bạn. sự hiểu biết cá nhân của bạn rất quan trọng. Đấy là vốn sống của bạn khi bạn suy gẫm bản văn Kinh Thánh, Đức Thánh Linh sẽ giúp bạn rút ra từ vốn sống cá nhân này để áp dụng chân lý thuộc linh. Những thí dụ bài giảng có giá trị hầu hết đều do vốn hiểu biết cá nhân của một người.
15. a) Đúng
b) Đúng
c) Đúng
16. a) Hoàn thành sứ mạng và làm xong công việc Chúa Jêsus đã giao cho các ông làm: công bố Tin Lành
b) Các sứ điệp đều cần thiết cho sự sanh lại thuộc linh, sự lớn lên và sự tăng trưởng.
c) Tập trung vào một mục đích làm cho họ hiểu được điều Đức Chúa Trời mong muốn trong đời sống họ trong Thánh Linh.
d) Phần thưởng thuộc về những ai đạt mục đích cách thành công.
17. Kiểm tra lại câu trả lời của bạn với bốn điểm đã cho.
18. b) Đạt được mục đích họ đặt ra cho bài giảng bằng sự truyền thông cách có hiệu quả của người nghe.
19. a) Đúng
b) Sai
c) Đúng
d) Đúng
e) Sai
f) Đúng.
BẠN VÀ CHỨC VỤ
BẠN HÃY CHUẨN BỊ CHÍNH MÌNH
BẠN HÃY CHUẨN BỊ TÀI LIỆU
Ý NGHĨA CỦA SỰ GIẢNG ĐẠO
SỨ ĐIỆP CỦA SỰ GIẢNG ĐẠO
PHƯƠNG PHÁP CỦA SỰ GIẢNG ĐẠO
Ý NGHĨA CỦA SỰ DẠY ĐẠO
TRỌNG TÂM CỦA SỰ DẠY ĐẠO
PHƯƠNG PHÁP CỦA SỰ DẠY ĐẠO
HƯỚNG TỚI MỘT CHỨC VỤ QUÂN BÌNH
Ý NGHĨA CỦA SỰ DẠY ĐẠO
TRỌNG TÂM CỦA SỰ DẠY ĐẠO
PHƯƠNG PHÁP CỦA SỰ DẠY ĐẠO
HƯỚNG TỚI MỘT CHỨC VỤ QUÂN BÌNH

Ý nghĩa của sự dạy học
Sau khi đã chinh phục được linh hồn tội nhân rồi người truyền giảng phải lo gây dựng đời sống thuộc linh của họ. Phải dạy dỗ họ biết sống như thế nào trong thế gian này. Họ phải kinh nghiệm sự tha tội và bước đi trong ánh sáng Lời Chúa mỗi này. Hội Thánh đầu tiên cũng đã dạy cho tín hữu biết sống đời sống cá nhân cũng như nếp sống cộng đồng.
Vì vậy việc dạy dỗ rất cần thiết để bảo tồn các thành quả truyền giáo, qua sự dạy đạo những tân tín hữu được Chúa muốn họ làm gì và điều gì Chúa sẽ cung ứng cho họ trong đời sống Cơ đốc nhân. Nhờ đó họ lớn lên và trưởng thành đời sống thuộc linh .
Khi chúng ta vâng theo sự dạy dỗ của Lời Đức Chúa Trời, chúng ta trở nên những người đàn ông, đàn bà trưởng thành, có đức tin và can đảm vượt qua những thử thách trong đời sống thuộc linh và thắng hơn sự lừa dối của ma quỉ (Eph Ep 4:14). Và chúng ta dần dần trở nên giống như hình ảnh của Chúa Jêsus. Khi chúng ta ngắm xem sự vinh hiển của Ngài (IICo 2Cr 3:18). Mong rằng mục đích của chúng ta mãi mãi được đáp ứng với công việc của Ngài trong đời sống chúng ta (Eph Ep 3:20).
Bố cục bài giảng :
Định nghĩa sự dạy đạo.
Các lý do của sự dạy đạo.
Các thí dụ củasự dạy đạo.
Các mục tiêu của bài học :
Khi học xong bài học này bạn có thể:
Nhận thức và giải thích ba ý nghĩa đặc biệt của sự dạy đạo.
Thảo luận lý do Kinh Thánh đã nêu ra về chức vụ dạy đạo.
Chứng minh chức vụ dạy đạo bằng các thí dụ trong Cựu ước và Tân ước.
Các hoạt động học tập :
1- Ôn lại phần chức vụ dạy đạo trong bài học 1. Phần này sẽ cung cấp một bối cảnh thật đẹp cho sự nghiên cứu mở rộng về chức vụ dạy đạo.
2- Hãy đọc phần mở đầu, bố cục và các mục tiêu của bài học này và làm bài như thường lệ.
3- Học nghĩa của những chữ then chốt mới mẻ đối với bạn.
Các chữ then chốt :
Convert: Quy đạo, một người thay đổi từ sự vô tín đến đức tin.
Disciple: Môn đồ, người tiếp nhận và hỗ trợ trong việc truyền bá giáo huấn của người khác.
Discipleship: Tình trạng làm một môn đồ.
Indoctrinate: Dạy giáo lý, miền tin, nguyên tắc cho người khác.
Maturity: Phẩm chất hay tình trạng của sự phát triển đầy đủ, thành nhân.
Moral: Tha thiết khuyên bảo hay cảnh cáo bằng.
Exhortation: Lời nói hay lời giảng, để sống cách đạo đức theo tiêu chuẩn văn minh của điều đúng và điều sai.
Khai triển bài học
ĐỊNH NGHĨA DẠY ĐẠO:
Trong bài học chúng ta đã định nghĩa chung về giảng đạo và dạy đạo là những phương tiện truyền thông cùng diễn tả một chức vụ. Dù cũng có khác nhau một ít về phương cách truyền thông. Tuy nhiên, sau bài nghiên cứu Kinh Thánh một cách cẩn thận, chúng ta có thể kết luận rằng theo sự dạy dỗ chung của Tân ước thì chức vụ giảng đạo là nền móng của thuộc linh. Nói một cách khác, theo Tân ước thì mục đích của sự giảng đạo là đưa tội nhân đến tin nhận Chúa trong mục đích của sự dạy đạo là làm cho tân tín hữu được trưởng thành.
Dầu vậy, không phải sự giảng đạo là hoàn toàn để cứu người hư mất (xem bài 4), và sự dạy đạo không phải là hoàn toàn để các tín đồ được trưởng thành. Có những chỗ trong Tân ước nói về sự dạy đạo mang bản tính của sự truyền giảng Tin Lành. Thí dụ trong trường hợp Phaolô dạy đạo ở các nhà hội (Cong Cv 18:4; 19:8) và các trường triết học (19:9) sứ điệp ở Đồi Mars và tiếp theo là những cuộc thảo luận mở rộng trong nhà hội và quảng trường công cộng (17:16-31).
Tại Têsalônica, Phaolô đã vào một nhà hội của người Do Thái và mở các cuộc thảo luận tranh cãi đến ba tuần lễ, ông giải thích rằng chứng minh Chúa Jêsus. Đấng Christ mà ông rao giảng chính là Đấng Christ, chức vụ dạy đạo của ông đã có kết quả vì một số người lớn nghe đã chịu thuyết phục và gia nhập vào Hội Thánh ông (17:1-4). Mục tiêu truyền giáo chính là quá trình dạy đạo này.
Dạy sứ điệp Tin Lành cho người chưa được cứu là thực hành theo Kinh Thánh dạy. Đây cũng là một phương tiện có ích cho công cuộc truyền giáo ngày nay, đã được nhiều người thực hành rất thành công. Tuy nhiên, khuôn mẫu chung của Hội Thánh Tân ước thì sự giảng đạo nhằm khiến những người mới tin Chúa trở nên những môn đồ của Chúa.
Chữ dạy có một ý nghĩa. Một số ý nghĩa đó là: “hướng dẫn học tập”, “tiếp thu sự hiểu hoặc các kỹ năng”, “tạo ra sự học tập” và “tạo ra sự thay đổi”. Đặc biệt lưu ý rằng sự dạy đạo tạo ra nhiều điều. Đây là một hoạt động có năng lực mạnh mẽ tạo ra những kết quả. Chúng ta hãy xem xét một số ý nghĩa của sự dạy đạo.
ĐEM LẠI KIẾN THỨC:
Mục tiêu 1: Nêu hai lý do tại sao các tín đồ sở hữu kiến thức Kinh Thánh là quan trọng .
Một yếu tố quan trọng của sự dạy đạo là “truyền thụ kiến thức, thông tin”. Sự dạy đạo Tân ước đã căn cứ trên Kinh Thánh Cựu ước. Chẳng hạn, dạy về sự sáng tạo, sự sa ngã, Đức Chúa Trời đã chọn lựa và đối xử với một số nước và một dân tộc là Ysơraên, sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, bản tính tội lỗi của loài người và nhu cầu về Đấng Cứu Thế Những sự hiểu biết này và hiểu điều khác do Kinh Thánh Cựu ước cung cấp. Ngoài ra, Kinh Thánh Tân ước còn cho biết về sự Nhập Thể. Ngôi Lời trở nên xác thịt, đã được ghi lại trong các sách Tin Lành; Lời tiên tri về chương trình của Đức Chúa Trời, để có cái nhìn chung về giáo lý và sự hiểu biết để áp dụng vào thực tế các mạng lệnh của Đức Chúa Trời. Tất cả những sự kiện này về sự khải thị của Đức Chúa Trời cho loài người cả hai giao ước đều quan trọng đối với chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta hiểu rõ về bản chất và kế hoạch của Ngài cho chúng ta thì chúng ta mới phục vụ cách đẹp lòng Chúa và mới trưởng thành đời sống thuộc linh. Vì thế: một phần quan trọng của sự dạy đạo là truyền thụ tri thức và Kinh Thánh, sự khải thị thành văn của Đức Chúa Trời là nội dung sự dạy đạo của chúng ta.
Khi Luca đã giới thiệu sách Tin Lành của ông cho Thêôphilơ. Ông đưa ra lý do viết sách. “Tôi cũng theo thứ tự những điều mà tôi đã viết mà tỏ cho ông để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn” (LuLc 1:4). Luca cho Thêôphilơ biết các sự kiện của Tin Lành bao gồm sự giáng sinh, đời sống, sự chết, sự phục sinh và sự thăng thiên của Chúa Jêsus. Trước khi dạy về những vấn đề này thì phải dạy những sự kiện căn bản. Như thế, thông qua nội dung Kinh Thánh là bước đầu tiên của môn Cơ đốc giáo dục. Đây là viên đá căn bản trong việc học tập Kinh Thánh.
1. Hãy kể ra hai lý do tại sao các tín đồ cần có tri thức Kinh Thánh.
a)
b)
ĐEM LẠI SỰ HIỂU BIẾT:
Mục tiêu 2: Nhận dạng các thí dụ về sự dạy đạo bao gồm sự giải thích và giải nghĩa .
Dạy là giải thích, thông giải và dẫn giải. Sự dạy đạo của Chúa Jêsus liên quan đến sự thông giải nghĩa Kinh Thánh. Ngài cho một nghĩa mới thay cho ý nghĩa cũ của luật pháp (Mat Mt 5:17-20). Thí dụ nói về sự nóng giận (Mat Mt 5:21-25) sự tà dâm (5:27-30), sự ly dị (5:31-32), những lời thề (5:33-37), sự trả thù và tình yêu thương (5:38-48). Ngài đã giải thích những nguyên tắc sống với một phương cách mới mẻ và trong sáng. Chúa cũng dạy về tình thương người, sự cầu nguyện và kiêng ăn, cũng như đánh giá tài sản của một người trong (6:1-34). Quần chúng rất ngạc nhiên về sự dạy dỗ của Ngài. Vì Ngài đã đem đến cho họ sự hiểu biết về Kinh Thánh một cách thực tế, áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Và Ngài dạy một cách xác quyết và có uy quyền -Gây ấn tượng mạnh mẽ đối với các thính giả của Ngài (7:28-29).
Bạn có để ý thấy rằng đôi khi người ta dạy đạo theo quan điểm cũ vì hiểu sai Lời Chúa hay không? Chẳng hạn trường hợp Chúa Jêsus dạy cho các thính giả của Ngài biết rằng luật pháp chống lại hành động tà dâm, nhưng nếu một người nhìn một người khác phái với lòng ham muốn cũng vi phạm luật pháp như là một người hành động tà dâm vậy, vì người đó đã phạm tội tà dâm trong lòng (Mat Mt 5:27-28). Sự dạy dỗ này đã kết án những ai phục vụ Đức Chúa Trời bằng đầu môi chót lưỡi, chỉ khắt khe kiêng kỵ, hành vi tội lỗi nhưng lòng thì xa cách Chúa thì đã vi phạm tinh thần của luật pháp rồi (15:1-9). Đôi khi người ta thường rơi vào thói quen thờ phượng Chúa một cách máy móc và chuộng hình thức, trong khi lòng của họ thì lại chống nghịch và xa cách Ngài. Một thái độ như thế không thể nào đẹp lòng Chúa và phải được thay đổi. Êsai đã dạy dân chúng thời đại ông những chân lý này (Êsai 1). Sự dạy dỗ thực tế này giúp chúng ta thấy được mục đích của Đức Chúa Trời muốn chúng ta thờ phượng Ngài. Và nó còn chỉ cho chúng ta phương hướng để sống theo tiêu chuẩn mà Ngài đề ra trong Lời Ngài.
2. Hãy đọc LuLc 10:25-37 và trả lời câu hỏi sau:
Câu 26 là lời giải đáp của Chúa Jêsus cho thầy dạy luật hỏi Ngài trong câu 25 bằng một câu hỏi của chính Ngài: “Trong luật pháp có phép điều gì ? Ngươi đọc gì trong đó?”
Thầy dạy luật đã học được gì từ câu trả lời của Chúa đối với câu hỏi của ông về cách nhận lãnh sự sống đời đời?
………………………………………………………………………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………………………………………………………………….
b) Khi thầy dạy luật ( câu 29) đã hỏi ai là kẻ lân cận ông, Chúa Jêsus đã kể thí dụ người Samari nhân lành. Qua thí dụ này Chúa Jêsus đã thực sự giải thích rằng kẻ lân cận của chúng ta …………………………………………………...
………………………………………………………………………………………………………………………………………………
Trong thí dụ trên, các thính giả của Chúa Jêsus hiểu rằng tình yêu thương không giới hạn ở những người ta yêu hay những người yêu ta. Trái lại mạng lệnh của Chúa còn là”Hãy yêu mến Đức Chúa Trời và yêu người lân cận như mình” để cho các thính giả của Ngài có thể thấy những kẻ lân cận của mình, thí dụ này nêu ra các sự kiện mà họ đã biết để ứng dụng một cách hữu hiệu về sự dạy dỗ của Ngài có liên quan đến các điều răn (sự hiểu biết về các sự kiện). Khi đã giải thích, và chứng minh rằng nếu một người thực sự muốn làm điều thiện và nếu họ thực sự yêu mến Đức Chúa Trời thì họ cũng yêu mến người lân cận của mình và sẵn sàng giúp họ bất kể người đó là ai.
Hãy quan sát cách Chúa Jêsus dạy dỗ khi Ngài đi với hai môn đồ đang thất vọng trên đường về làng Emmaút. Khi Ngài đã đóng đinh, họ mất hy vọng về Ngài là Đấng Cứu Thế. Dù rằng Ngài đã cùng đi với họ và giải nghĩa Kinh Thánh cho họ. Ngài bắt đầu từ các tác phẩm của Môisê và tiếp tục qua các tiên tri, và giải thích cho họ thế nào là Đấng Cứu Thế phải chịu khổ và phải sống lại (24:13-35). Ở đây Ngài đã giải thích các biến cố vừa xảy ra trong ánh sáng của Kinh Thánh. Ngài đặt những biến cố này vào chính bối cảnh của nó, và chiếu rọi ánh sáng mới trên ý nghĩa của những biến cố đó. Hãy lưu ý sự đáp ứng của hai môn đồ này (câu 32) Khi Chúa Jêssus dạy họ: lòng họ trở nên nóng cháy trong khi Ngài nói chuyện với họ trên đường và khai mở Kinh Thánh cho họ (khiến họ hiểu).
Chữ “Môn đồ” ngụ ý của bản văn Tân ước xác nhận. Một môn đồ là một người tin nơi Đấng Christ (Cong Cv 11:26), một người học trò, học về những điều thuộc về Đấng Christ, một người tận hiến cuộc đời cho Chúa (LuLc 14:26-27, 33.), trách nhiệm cao cả của một môn đồ: là đào tạo người tín hữu mới phải được giải thích đầy đủ ý nghĩa và kinh nghiệm cứu rỗi của mình. Người đó phải được chỉ dạy công việc phải làm.
Ta hãy xem trường hợp của Philíp. Khi ông giảng về Chúa Jêsus cho hoạn quan Êthiôphi và ông này đã tin Chúa (Cong Cv 8:35), thì Philíp đã giải thích sự báp têm bằng nước cho ông ta. Khi họ thấy có nước người Êthiôpi đã xin được làm báp têm (8:36-38). Điều này hoàn toàn phù hợp với mạng lệnh của Chúa .
Chúa Jêsus : Khiến người ta trở nên môn đồ, làm báp têm bằng nước cho họ và dạy họ giữ các mạng lệnh của Đấng Christ (Mat Mt 28:19-20). Kiểu mẫu này đã được Philíp thực hiện ở Samari (Cong Cv 8:5-17). Anania với Saulơ (9:5, 17-19) và Phaolô tại Philíp (16:30-34).
3. Qua bài học này chúng ta thấy ngoài mục tiêu của sự dạy đạo là đem lại kiến thức, chúng ta có thể nói rằng:
Người thầy giáo còn làm nhiều việc hơn là chỉ trao kiến thức về sự kiện cho các học viên.
Để áp dụng kiến thức về sự kiện, một người phải hiểu sự kiện có nghĩa gì đối với cá nhân mình.
Với sự hiểu biết ý nghĩa về tri thức sự kiện, chúng ta phải biết áp dụng vào hoàn cảnh riêng của chúng ta.
Tất cả những câu trên a) b) c) đều đúng.
Chỉ có a) và b) ở trên là đúng.
Khi nhiều người được cứu và thêm vào Hội Thánh tại An-ti-ốt, Banaba được phái từ Giêrusalem đến đó để gây dựng đức tin của họ. Kết quả đã có nhiều người tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa của họ. Để bảo vệ kết quả thuộc linh này. Banaba đã mời Saulơ từ Tạtsơ đến và trong suốt một năm họ đã dạy dỗ rất nhiều người (11:19-26). Thật là có ý nghĩa. Do biết phối hợp việc truyền đạo và dạy đạo với nhau mà tại Antiốt người ta đã gọi những môn đồ đầu tiên là Christian, những người đi theo Đấng Christ không những tiếp nhận Lời Ngài mà còn hiểu mối quan hệ mật thiết của họ với Chúa, khuôn mẫu Tân ước thật rõ ràng: Khi Tin Lành đã được rao giảng và nhiều người được cứu thì họ được dạy để sống đời sống Cơ đốc nhân như những môn đồ của Chúa Jêsus.
4. Hãy đọc NeNe 8:1-12 và trả lời những câu hỏi sau:
a) Khi Êxơra đọc luật pháp cho những người trưởng thành (câu 2 - 3), Ông đã phô diễn khía cạnh nào của sự dạy đạo?
………………………………………………………………………………………………………………………………………
b) Khi những người Lêvi đứng lên tiếp tục phần việc của họ trong chức vụ dạy đạo (câu 7 - 8) họ đã minh họa khía cạnh gì của sự dạy đạo?
…………
…………
c) Khi dân chúng nắm vững ý nghĩa của những điều luật pháp đòi hỏi, sự đáp ứng của họ là gì?
…………
…………
………………………………………………………………………………………………………………………………………….
5. Khoanh tròn mẫu tự các câu ĐÚNG và các thí dụ dạy dỗ vốn bao gồm cả sự giải nghĩa và thông giải.
Hai môn đệ đã biết Kinh Thánh Cựu ước, được dạy dỗ về ý nghĩa của sự chết và sự sống lại của Đấng Christ.
Thầy giáo của John quan tâm đến các sự kiện, nên ông diễn thuyết nhanh chóng và đưa ra số lượng lớn các thông tin về sự kiện của các học sinh.
Tác giả sách Hêbơrơ đã lý luận tại sao điều quan trọng là các độc giả không nên từ khước sự cứu rỗi lớn chừng ấy (HeDt 2:1-4).
Phaolô, trong thư tín Giám mục ITi1Tm 3:1-7, đã dạy về các đòi hỏi của chức vụ lãnh đạo làm sáng tỏ những đòi hỏi này.
ĐEM LẠI SỰ BIẾN ĐỐI:
Mục tiêu 3: Giải thích tạo sao một sự thay đổi thái độ và cách sống là mục đích của sự dạy đạo .
Dạy là đem lại sự biến đổi, cả tâm trí lẫn hành động, vì đây là mục đích của sự dạy Kinh Thánh. Bất cứ ai làm theo mạng lệnh của Chúa Jêsus, thì cuộc sống sẽ được thay đổi. Họ sẽ lớn lên và trưởng thành. Các môn đồ thời Tân ước là những người học trò và là những người theo Chúa. Họ học những sứ điệp của thầy và noi gương thầy. Đây là mục tiêu mà Chúa Jêsus đã đặt ra cho các môn đồ Ngài truyền lệnh cho họ dạy đạo (Mat Mt 28:19-20). Dạy Kinh Thánh không những chỉ là cung cấp các sự kiện và giải thích Kinh Thánh mà còn phải áp dụng những điều học hằng ngày. Chân lý phải đem ra thực hành. Chúa Jêsus phán rằng “Nếu các người hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta, các người sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ buôn tha các người (GiGa 8:31-32). Biết lẽ thật và thực hành lẽ thật, thì lẽ thật đem lại sự tự do cho chúng ta.
“Dạy là tạo ra sự biến đổi ”
Nếu chúng ta chỉ giữ bề ngoài hoặc làm theo luật pháp thì chưa đủ. Điều Chúa Jêsus quở trách người Pharisi nhiều nhất là họ chỉ giữ các lễ nghi và truyền thống tôn giáo, nhưng không quan tâm đến phần tâm linh. Ngài dạy chúng ta phải vâng giữ những điều làm đẹp lòng Chúa chứ không để cho người khác thấy. Trước hết Ngài quan tâm đến bản chất, sau đó tới việc làm của chúng ta (thái độ của chúng ta có kết quả của sự biến đổi thuộc linh nội tâm).
Khi kết thúc dạy dỗ, Ngài thường lưu ý đến việc người ta có làm theo những gì họ đã nghe được không?. Ngài phán rằng những nghe mà không làm theo thì giống như xây nhà trên cát. Nhưng đối với những người nghe Lời Chúa và làm theo được ví sách với những người xây nhà trên vầng đá. Chúa Jêsus phán, chỉ những kẻ nghe và làm theo (do sự biến đổi nội tâm) mới là những người tồn tại (Mat Mt 7:24-27).
6. Ghép cho đúng các câu sau đây bằng cách đặt con số của mỗi sự mô tả ở trước câu mô tả thái độ.
1) Người quan sát bên ngoài:
2) Người nghe mà không hành động
3) Môn đồ kiểu mẫu
a) 23:25-28
b) 7:26-27
c) 7:24-25
e) Gia Gc 1:25-26
f) Người này suy xét các điều kiện thuộc linh của mình bằng tất cả những điều người ấy không làm.
g) Người này, dù không liên hệ với những người khác, cứ nói liên tục về đức tin của mình và luôn học về đức tin.
h) Người này không nói về các ân tứ hay đức tin của mình, nhưng các việc lành của người đó chứng tỏ người đó có đức tin.
Phaolô đã khuyến khích Timôthê dạy Lời Chúa, sống theo Lời Chúa và bày tỏ cho những người khác sự tăng trưởng thuộc linh của mình. Phaolô đã cảnh cáo ông đã sống theo những điều ông được dạy để dỗ để chính mình và những nghe ông được cứu (ITi1Tm 4:11-16). Phaolô tin tưởng cách giải quyết rằng kết quả cuối cùng của sự dạy đạo phải là những đời sống được thay đổi. Hãy để ý sự trưng dẫn của ông về sự hiểu biết Kinh Thánh của người Do Thái trong RoRm 2:18 và noi theo. Nếu họ biết luật pháp là điều Đức Chúa Trời muốn họ làm, mà họ không sống theo tiêu chuẩn của luật pháp thì sẽ bị kết án. Biết Kinh Thánh và giải nghĩa Kinh Thánh đúng đắn thì chưa đủ. Chúng ta phải được biến đổi nhờ Lời Chúa. Chúng ta mới có thể dạy dỗ người khác làm môn đồ của Đấng Christ bằng gương sáng và lời nói của chúng ta.
7. Giả sử có một người đến thăm cộng đồng bạn đang phục vụ. Người đó tỏ ra rất có khả năng trong việc dạy dỗ người khác. Nhưng khi sống chung với người đó trong một thời gian, bạn để ý thấy rằng người đó không làm theo những điều mà anh ta dạy dỗ người khác phải làm. Khi khám phá ra điều này bạn suy nghĩ gì về người thầy dạy ấy? Hãy dùng sổ tay của bạn để trả lời. Khi hầu việc Chúa, chúng ta hãy làm theo những gì Ngài dạy (LuLc 6:46). Mỗi thầy giáo phải đạt được những tiêu chuẩn đòi hỏi ở những người lãnh đạo (ITi1Tm 3:1-13; 6:11-12; Tit Tt 1:5-9) Những hành động của chúng ta nói to hơn những lời của chúng ta. Và nếu thái độ của chúng ta không phù hợp với những gì chúng ta giảng và dạy, thì người ta sẽ không bao giờ có thể nghe được sứ điệp của chúng ta.
8. Giải thích tại sao sự đổi mới nếp sống và thái độ cư xử hằng ngày là mục đích của sự dạy đạo. Cũng hãy dùng sổ tay của bạn để trả lời.
CÁC LÝ DO CỦA SỰ DẠY ĐẠO: ĐỂ LÀM THÀNH MẠNG LỆNH CỦA KINH THÁNH:
Mục tiêu 4: Chọn một câu gốc làm nền tảng cho chức vụ dạy đạo trong Tân ước .
Mạng lệnh dạy đạo của Chúa Jêsus là cơ sở căn bản cho chức vụ dạy đạo. Ngài truyền lệnh các môn đồ: “Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân… làm phép báp têm cho họ và dạy họ giữ hết cả mọi điều ta đã truyền cho các ngươi” (Mat Mt 28:19-20).
Phaolô đã ra lệnh cho Timôthê hãy cứ dạy chẳng thôi (IITi 2Tm 4:2). Ông cũng nói “những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hãy giao phó cho người trung thành có tài dạy dỗ kẻ khác” (2:2). Lại nữa, ông đã ra lệnh cho người Côlôse hãy dạy và khuyên nhau (CoCl 3:16) và khuyên giục người Galati hãy cung cấp sự cần dùng cho những người dạy đạo (GaGl 6:6).
Trong bản liệt kê các chức vụ của Tân ước đều có chức vụ dạy hay giáo sư. Phaolô viết cho người Rôma “Ai dạy dỗ… hãy chăm sóc và dạy dỗ” (RoRm 12:6-7) Nhắc đến các giáo sư trong thư Êphêsô, ông viết “Ấy chính Ngài đã cho… kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư” (Eph Ep 4:11). Dạy đạo còn giữ một địa vị quan trọng trong một danh sách khác: “Đức Chúa Trời đã lập trong Hội Thánh, thứ nhất là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo” (ICo1Cr 12:28).
9. Chức vụ của Tân ước được căn cứ trên:
Các phương pháp giáo dục hiện hành và các kỹ thuật truyền thông
Phương tiện dạy được thử thách bởi thời gian đã được thiết lập từ thời Cựu ước.
Mạng lệnh và gương mẫu của Đấng Christ và các sứ đồ.
LÀM CHO TÍN ĐỒ TRƯỞNG THÀNH:
Mục tiêu 5: Nhận dạng những câu nói giải thích làm thế nào những tân tín hữu trở thành những Cơ đốc nhân trưởng thành .
Những người mới tin Chúa bước vào trong gia đình của Đức Chúa Trời như những em bé. Họ rất trẻ con trong kinh nhgiệm Cơ đốc nhân và giống như trẻ con cần lớn lên. Sự trưởng thành thuộc linh phải là mục đích của mỗi người tín đồ (IPhi 1Pr 2:2). Với những tín đồ đã trưởng thành Đức Chúa Trời có mục đích phát triển một thân thể Hội Thánh có khả năng phục vụ người khác (Eph Ep 4:13-16). Là người hầu việc Chúa bạn biết rằng các Cơ đốc nhân được tăng trưởng không phải là do tình cờ mà là do mối quan hệ thuộc linh sống động của người ấy đối với Chúa Jêsus. Như vậy đời sống Cơ đốc nhân được trưởng thành là do áp dụng những bài học thuộc linh đã học, được thử thách và được chứng minh trong cuộc đời và qua đó đời sống thuộc linh được tăng trưởng .
Tiến trình phát triển thuộc linh này giống như việc xây cất một ngôi thánh đường với các loại đá quý khác nhau đã được ghép lại với nhau để xây thành nơi ngự của Đức Chúa Trời (Eph Ep 2:19-22, IPhi 1Pr 2:5). Dạy đạo là một phương tiện quan trọng để giúp đỡ các tín hữu, vốn là những viên đá với chương trình của Đức Chúa Trời khi họ trưởng thành đời sống thuộc linh.
Phaolô xem sự trưởng thành đời sống Cơ đốc nhân là mục đích của người tín đồ nên ông đã cố gắng hết sức giúp đỡ họ lớn lên (CoCl 1:28-29). Ông đã khuyến khích những người tin Chúa hãy đứng vững như những Cơ đốc nhân trưởng thành hoàn toàn vâng theo ý Chúa (4:12). Phierơ cũng thách thức các tín đồ trưởng thành trong ân điển và trong sự thông biết Chúa chúng ta (IIPhi 2Pr 3:18) Cơ đốc nhân Hêbơrơ cũng phải vượt qua các giáo lý sơ bộ về Đấng Christ và tiến tới sự trưởng thành thuộc linh (HeDt 6:1).
Sự dạy dỗ Kinh Thánh đóng vai trò quan trọng đối với sự trưởng thành đời sống Cơ đốc nhân, mục đích của các ân tứ chức vụ, trong đó có chức vụ dạy đạo, là nhằm mục đích chuẩn bị các tín đồ cho công tác phục vụ để họ xây dựng đức tin và càng trở nên giống Đấng Christ hơn (Eph Ep 4:11-13, IICo 2Cr 3:18, RoRm 8:29). Trở nên giống Đấng Christ là một phước hạnh dịu dàng biết bao! Nhưng chỉ những ai nghe và làm theo Lời Chúa mới đạt đến được. Tuy nhiên, đây không phải là tiến trình tự động mà có được đâu. Sự trưởng thành và phát triển thuộc linh sẽ đòi hỏi sự dâng mình và phó thác của mỗi một người trong chúng ta, giống như từng trải của Phaolô vậy (Phi Pl 3:10-17).
Sự trưởng thành của người Cơ đốc rất giống với sự trưởng thành và phát triển trẻ em. Lúc sinh ra, trẻ em hoàn toàn lệ thuộc. Sự sống của các em lệ thuộc vào sự chăm sóc của người khác. Đến khi trưởng thành trọn vẹn, các em có khả năng nhận lãnh trách nhiệm lo gia đình cho chính mình. Cũng một thể ấy, trong Hội Thánh các em trẻ mới sinh trong Đấng Christ cần sự yêu thương chăm sóc và chức vụ của Lời Chúa. Lúc đầu thức ăn của họ rất đơn sơ (IPhi 1Pr 2:2). Sau đó, họ áp dụng Lời Đức Chúa Trời và sinh hoạt hằng ngày, họ phát triển và càng lớn mạnh (HeDt 5:14). Là những người trưởng thành thuộc linh, họ tự lo cho chính mình. Và là những Cơ đốc nhân trưởng thành, có thể ăn đồ ăn cứng (so sánh ICo1Cr 3:2 với HeDt 5:14) sự phục vụ người khác của họ là bằng chứng trưởng thành của họ. Sự dạy đạo là một phương tiện quan trọng Đức Chúa Trời đã ban cho Hội Thánh để giúp đỡ trẻ em trong Đấng Christ được trưởng thành đời sống thuộc linh.
10. (Hãy chọn một câu chính xác) đề cập về việc dạy đạo cho người mới tin Chúa để họ trưởng thành, so sánh sự tương đồng giữa đời sống thuộc linh và đời sống 1 em bé.
Vì sự sống của cả hai trường hợp, nếu muốn trưởng thành thì phải được nuôi sống và phát triển.
Vì có sự tương tự trong qui trình đời sống sinh ra, lớn lên, trưởng thành và chết.
Vì cả hai chủ yếu liên hệ đến giá trị vĩnh cửu.
Chức vụ dạy đạo có hai mục tiêu chính. 1) dạy dỗ những tân tín hữu trở thành những Cơ đốc nhân trưởng thành và 2) Dạy các tín hữu trưởng thành và trang bị cho sự hầu việc Chúa hữu hiệu. Một điều cần chú ý ở đây là cần có sự quân bình. Bản chất chưa đủ. Một người trưởng thành sẽ làm điều tốt vì người ấy là người tốt. Lời của Đức Chúa Trời giúp đem lại sự quân bình cần thiết.
Lời của Đức Chúa Trời trang bị đầy đủ cho thầy giáo để dạy dỗ, quở trách, sửa sai và hướng dẫn thầy giáo sử dụng Lời Chúa trang bị cho người tín đồ để họ phục vụ mọi lãnh vực. Đức Chúa Trời người thầy giáo trong Hội Thánh để hoàn thành công tác này (IITi 2Tm 3:6-17).
11. Khoanh tròn mẫu tự đầu của câu ĐÚNG giải thích làm thế nào để có các tân tín hữu trở thành những Cơ đốc nhân trưởng thành.
Tân tín hữu trở thành Cơ đốc nhân trưởng thành một cách tự động, tức là không cần phải cố gắng, đạt mục đích hay hướng dẫn họ trưởng thành gì cả.
Khi những trẻ em thuộc linh tiếp nhận chất dinh dưỡng thuộc linh và thực hành các khả năng thuộc linh, thì chúng phát triển và từ từ thành nhân.
Tiến trình trưởng thành được đánh dấu bằng thức ăn thuộc linh Cơ đốc và khả năng của người đó tự lo cho mình và phục vụ nhu cầu của những người khác.
CÁC GƯƠNG MẪU VỀ SỰ DẠY ĐẠO:
Các gương mẫu thời Cựu ước:
Mục tiêu 6: Nhận biết các nhu cầu nói về sự kiện thực sự liên quan đến sự dạy trong thời Cựu ước .
Môise là một giáo sư xuất sắc đầu tiên của Cựu ước. Đức Chúa Trời ban cho ông luật pháp để dạy dỗ dân Ysơraên (PhuDnl 4:14). Ông khuyên dạy các bậc cha mẹ hãy dạy dỗ luật pháp cho con cái họ hằng ngày và trong mọi tình huống (6:7). Thực ra, toàn bộ đời sống cá nhân, đời sống tôn giáo và đời sống quốc gia của Ysơraên đều dựa trên luật pháp của Môise. Luật pháp là uy quyền tối thượng trong mọi sinh hoạt về lễ nghi tôn giáo, đạo đức, công bằng xã hội, hành chánh dân sự và các hoạt động ngoại giao. Trong quá trình thời gian, các thầy tế lễ và người Lêvi hỗ trợ cho việc dạy dỗ các pháp luật này (Nêhêmi 8).
Bằng sự kiên nhẫn vượt bực và tài khéo léo của mình. Môise đã dạy dỗ dân Ysơraên các mạng lệnh của Đức Chúa Trời. Ngoài giai đoạn dạy dỗ trí thức và luật pháp. Ông còn giải thích các ý nghĩa luật lệ cho đời sống cá nhân, xã hội và quốc gia. Ông đã trình bày cho người ta hiểu được các phước hạnh của sự vâng lời (7:12-26; 28:1-14) và hậu quả của sự không vâng lời (28:15-68), cũng như các điều kiện cho sự phục hồi thuộc linh (30:1-30). Những năm dạy đạo của ông đã được ban thưởng phong phú, vì dân Ysơraên đã phục vụ Đức Chúa Trời cách trung tín trong nhiều năm trời sau khi ông chết (Gios Gs 24:31). Đây là kết quả thực tế trong sự dạy đạo của ông: nó tạo những sự thay đổi to lớn trong các thái độ và cử chỉ của dân tộc Ysơraên.
12. Hãy đọc Cac Tl 2:6-15 và trả lời các câu hỏi sau đây. Điều gì giải thích cho sự kiện toàn thế hệ (câu 10) nổi lên đã không biết Chúa cũng như không biết những việc Ngài đã làm cho dân Ysơraên?
………….
Các cuộc phục hưng to lớn trong lịch sử của dân tộc Ysơraên đều xuất phát từ việc trở về với công tác dạy dỗ luật pháp. Chẳng hạn Samuên. Vua Giêhôsaphát, Exơra và Nêhêmi, đã giúp dân chúng trở về cùng Đức Chúa Trời bằng cách dạy luật pháp cho họ (ISa1Sm 12:1-5, IISu 2Sb 17:7, Exo Er 7:10, NeNe 8:1-8).
13. Khoanh tròn mẫu tự đầu mỗi câu ĐÚNG nói về gương mẫu của sự dạy đạo thời Cựu ước.
Sự dạy trong thời Cựu ước đơn giản là sự phát xuất từ nhu cầu căn bản của loài người.
Cùng với việc ban Luật pháp, Đức Chúa Trời truyền những lời chỉ dẫn rõ ràng về việc dạy dỗ liên tục về chuyên cần các mạng lệnh của luật lệ của Ngài.
Các giai đoạn phục hưng thuộc linh của dân Ysơraên trong thời Cựu ước đều do kết quả trực tiếp của việc dạy luật pháp của Đức Chúa Trời.
Các thầy tế lễ và người Lêvi để giúp đỡ tiến hành sự dạy dỗ và các hoạt động huấn luyện dân Ysơraên trong thời Cựu ước.
CÁC GƯƠNG MẪU CỦA THỜI TÂN ƯỚC:
Mục tiêu 7: Liệt kê hai gương mẫu của sự dạy đạo thời Tân ước .
Chúa Jêsus là giáo sư bậc thầy. Ngoài việc Ngài được xức dầu để giảng đạo Chúa Jêsus được mọi người nhìn nhận là một giáo sư. Các lời dạy dỗ của Ngài đã được các sứ đồ ghi lại trong rất nhiều chi tiết trong các sách Tin Lành. Chúng ta thấy một thí dụ xuất sắc của chức vụ này trong Mathiơ 5 - 7. Sau khi đưa ra gương mẫu của sự dạy đạo. Chúa ra lệnh các môn đồ Ngài “hãy đi dạy đạo, muôn dân” và dạy đạo cho các tín hữu (Mat Mt 28:13-20).
Hội Thánh Tân ước đã noi theo gương và vâng theo mạng lệnh “hãy dạy đạo” của Ngài. Các lãnh tụ Hội Thánh đã dạy những tân tín hữu và môn đồ hóa các tín đồ. Cùng với sự giảng đạo, họ đã đi khắp nơi dạy dỗ Lời Chúa, hầu hết các sách Tân ước là sự dạy đạo của Hội Thánh đầu tiên trong hình thức hàm thụ cho các Hội Thánh và các cá nhân.
14. Hãy liệt kê hai gương mẫu về sự dạy đạo thời Tân ước
…………
SỰ TRAO ĐỔI THƯ TÍN THỜI TÂN ƯỚC:
Mục tiêu 8: Chọn một câu nói về sự trao đổi thư tín thời Tân ước đã hoàn thành được chức vụ đạo .
Trước khi về trời, Chúa Jêsus đã chuẩn bị cho các môn đồ nhận lãnh thêm các sự dạy dỗ mà Ngài truyền đạt cho họ qua Đức Thánh Linh (GiGa 16:12-15). Vì lúc ấy họ không thể nhận lãnh hết mọi điều Ngài đã phán nên Đức Thánh Linh đã dạy dỗ, hướng dẫn và đưa họ vào mọi lẽ thật (14:26). Căn cứ trên lời dạy của Chúa Jêsus, sự dạy dỗ khác đã được các sứ đồ truyền lại. Các giáo lý thí dụ như sự xưng nghĩa, vốn chỉ được Chúa Jêsus nhắc đến (LuLc 18:14) thì đã được các sứ đồ mở rộng và giải thích (RoRm 3:21, 5:2). Phaolô cứ nhắc đi nhắc lại “Lời của Chúa” trong các tác phẩm của ông, chỉ về sự dạy dỗ của Chúa Jêsus mà ông đã nhận được do Ngài khải thị (ICo1Cr 11:23, ITe1Tx 4:15, GaGl 1:11-12). Giáo lý đã được che dấu nhiều thế kỷ đã được bày tỏ và được bảo tồn trong các tác phẩm thư tín (CoCl 1:26, ICo1Cr 4:1, Eph Ep 3:3-5).
15. Hãy đọc GiGa 16:12 và trả lời mỗi câu hỏi sau đây, bạn hãy dùng sổ ta tay để trả lời những câu hỏi này.
Giải thích tại sao các môn đồ không thể nhận thêm sự dạy dỗ nữa vaò lúc bấy giờ.
Chúng ta có thể học được gì về chức vụ dạy đạo từ thí dụ này?
Các thư tín Tân ước giải tại sao Đấng Christ phải chết, và sự chết của Ngài đem lại hiệu quả gì, và ý nghĩa của nó đối với cả vũ trụ (IICo 2Cr 5:18, IITi 2Tm 1:10, Tit Tt 1:2-3. HeDt 2:14). Nội dung rõ ràng theo sát các lời dạy dỗ của các sứ đồ trong các Hội Thánh.
Toàn bộ hệ thống giáo lý Cơ đốc nhân được chứa đựng trong các thư tín Tân ước. Có 21 bức thư gởi đến cho các cá nhân và các Hội Thánh, bắt đầu là thư Rôma và cuối cùng là thư Giuđe. Sách Khải huyền, được giăng viết cho các Hội Thánh xứ A-si, có tính chất tiên tri, những thư tín này tạo nên toàn bộ nền giáo lý Tân ước cho Hội Thánh đầu tiên và các tín hữu ngày nay. Kinh Thánh linh cảm được ban cho để hướng dẫn Hội Thánh (IIPhi 2Pr 1:20-21). Các sách này cũng ban cho để dạy các tín đồ làm thế nào sống đời sống Cơ đốc nhân và trở thành các thánh đồ được trưởng thành (IITi 2Tm 3:16-17).
16. Các thư tín Tân ước đã hoàn thành chức vụ dạy đạo trong việc.
Đưa ra các giáo lý mới khi các sứ đồ nhận lãnh mỗi giáo lý tại các hội nghị của Hội Thánh được triệu tập đều đặn.
Giải thích ý nghĩa của sự nhập thể, đời sống, sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ cho mọi người nhằm cứu rỗi các tội nhân và giúp các tín đồ trưởng thành.
Bảo tồn các ý kiến của các lãnh tụ Hội Thánh vốn có thể giúp ích như một lời chỉ đạo cho các Hội Thánh địa phương trong các thời điểm khó khăn, căng thẳng.
Bài trắc nghiệm cá nhân
1. Các giáo lý của Phúc âm phải được chúng ta truyền thông qua công tác dạy đạo. Đây là những điều cần yếu khiến cho người ta.
Hiểu
Thay đổi (biến đổi)
Biết
2. Khía cạnh dạy đạo liên quan đến sự giải nghĩa thông giải và bày tỏ chân lý có thể áp dụng vào đời sống hằng ngày đã được đề cập đến như là điều khiến người ta.
Hiểu
Biết
Thay đổi
3. Sự dạy đạo ảnh hưởng đến sự khác nhau trong các hành động và thái độ của một người là điều khiến người đó.
a) Hiểu
b) Thay đổi (biến đổi)
c) Biết
4. Một trong các lý do Kinh Thánh truyền cho Hội Thánh tiến hành chức vụ dạy đạo được căn cứ và ý tưởng .
Một khi một người trở thành tín đồ trong Đấng Christ, thì người ấy cũng cần trở thành một môn đồ nữa.
Mọi người phải có mối liên hệ với sự dạy dỗ trong thân thể của Đấng Christ.
Sự giảng đạo chỉ đưa một người đến chỗ cứu nhưng không thể tạo ra thêm sự tăng trưởng thuộc linh trong một người tín đồ.
5. Sự dạy đạo chứng minh cho Lời của Chúa như là một phương tiện đưa người tín đồ đến sự trưởng thành thuộc linh bởi vì:
Đây là một phương pháp truyền thông được đem lại áp dụng cho các nhóm nhỏ hay trong các nhóm hội đông người.
Sự giảng đạo chỉ đề cập đến vấn đề sơ bộ của đời sống thuộc linh và vì thế không cung cấp chất dinh dưỡng cho sự trưởng thành thuộc linh.
Tất cả các tân tín hữu bắt đầu đời sống thuộc linh như những em bé, vì thế họ phải được nuôi lớn lên bằng một thức ăn thích đáng, những kinh nhgiệm thích hợp và những cơ hội thử nghiệm.
6. Điều nào sau đây các gương mẫu về dạy đạo thời Cựu ước? Hãy khoanh tròn mẫu câu ĐÚNG.
Trong khi Môise truyền luật pháp cho dân Ysơraên. Ông chưa dạy dỗ dân chúng theo ý nghĩa trung thực nhất của từ ngữ dạy đạo.
Cựu ước ghi lại kết quả chức vụ dạy đạo của Môise đã khiến cho dân Ysơraên vẫn trung tín với Đức Chúa Trời trong nhiều năm sau cái chết của Môise.
Khi dân tộc Ysơraên thất bạn trong công tác dạy đạo. Thì họ cũng thất bại thuộc linh và đem đến sự suy đồi của cả dân tộc.
Sự khôi phục và sự phục hưng đã được hứa trên dân Ysơraên nếu người ta chỉ giữ các hình thức lễ nghi mà họ đã từ khước.
Chúng ta học biết rằng trong khi dân chúng nghe đọc luật pháp, họ vẫn cần được giải nghĩa và thông giải luật pháp cho họ nghe ngõ hầu họ có thể đáp ứng cách thích đáng.
7. Các thí dụ trong Tân ước về sự dạy đạo bày tỏ một số chân lý. Khoanh tròn mẫu tự đầu câu ĐÚNG.
Chúa Jêsus cho phép mỗi môn đồ của Ngài lựa chọn hoặc là giảng đạo hoặc là dạy đạo cho các tín hữu.
Chúa Jêsus đã dạy nhiều trong các chức vụ của Ngài còn ở trên đất và đã nêu gương sáng cho những kẻ theo Ngài. Ngoài ra, Ngài còn truyền lệnh cho họ hãy khiến người ta trở nên môn đồ và truyền dạy giáo lý cho họ, như Ngài thiết lập tầm quan trọng của sự dạy đạo.
Ngoài gương mẫu của Chúa Jêsus có nhiều gương mẫu khác về sự dạy đạo rõ ràng trong Tân ước với hình thức trao đổi thư tín gởi cho các Hội Thánh hay các cá nhân.
8. Sự trao đổi thư tín thời Tân ước đã hình thành một chức vụ dạy đạo có giá trị. Khoanh tròn mẫu tự đầu câu ĐÚNG.
Hầu hết sự thay đổi thư tín thơi Tân ước là thuộc giáo lý và bắt nguồn từ các lãnh tụ Hội Thánh là người hình thành các niềm tin của họ theo phong tục địa phương.
Phaolô và các sứ đồ khác đã lập lại nhiều lần Lời của Chúa mà họ đã trực tiếp hoặc nhận được sự khải thị của Chúa khi họ mở rộng và giải thích các sự dạy dỗ của Chúa Jêsus.
Sự trao đổi thư tínTân ước bao gồm sự khải thị thêm về chân lý của Đức Chúa Trời vốn chưa có trong những sự giáo huấn của Chúa Jêsus.
Trả lời các câu hỏi trong bài
1. Bất cứ thứ tự nào.
Để họ ý thức về điều Đức Chúa Trời mong muốn ở họ.
Bởi vì sự hiểu biết nằm trên nền tảng của trí thức căn bản.
2. a) Ông đã học biết rằng tất cả các điều răn đã được tóm lại trong sự yêu Chúa và yêu kẻ lân cận của mình.
b) Bất cứ người nào đang cần sự giúp đỡ của người lân cận.
3. d) Tất cả các câu a) b) c) ở trên đều đúng.
4. a) Ông đang khiến cho họ biết. Ông đang truyền đạt ý thức.
b) Họ đã minh chứng rằng sư dạy dỗ tạo ra sự thông hiểu, và họ đã giải thích luật pháp để cho dân chúng có thể hiểu được ý nghĩa của luật pháp.
c) Họ đã cảm động sâu xa vì nhận biết mình đã không còn giữ theo luật pháp để được Chúa tiếp nhận. Nhưng khi những lãnh tụ của họ thách thức họ hãy có hành động tích cực, thì họ đáp ứng một cách vị tha và họ đã chia sẻ cho người khác và lòng đầy dẫy sự vui mừng.
5. a) Đúng
b) Sai
c) Đúng
d) Đúng
6. a. 1) Người quan sát bên ngoài
b. 2) Người nghe mà không hành động
c. 2) Người nghe mà không hành động
c. 3) Môn đồ kiểu mẫu
c. 3) Môn đồ kiểu mẫu
f. 1) Người quan sát bên ngoài
g. 2) Người nghe mà không hành động
h. 3) Môn đồ kiểu mẫu
7. Câu trả lời của bạn. Hầu hết chúng ta đều không tin tưởng nơi chức vụ dạy đạo của người này.
8. Câu trả lời của bạn.
Sự thay đổi thái độ vào lối sống ai là cần thiết, chứng tỏ rằng sự dạy đạo của chúng ta có hiệu quả, sự thay đổi này là bằng cớ cho chúng ta thấy rằng do nhận lãnh và áp dụng sự dạy dỗ trong Lời Chúa mà đời sống thuộc linh của một người được lớn lên.
9. c) Mạng lệnh và gương mẫu của Đấng Christ và các sứ đồ.
10. a) Vì sự sống của hai trường hợp, nếu muốn trở thành thì phải được nuôi dưỡng và phát triển.
11. a) Sai
b) Đúng
c) Đúng
12. Câu trả lời của bạn. rõ ràng những lời cảnh cáo của Môise về sự dạy đạo (PhuDnl 6:7 và các chỗ khác) đã bị quên lãng. Việc dạy đạo trên bình diện quốc gia và cộng đồng cũng như tại gia đã bị từ bỏ và hậu quả là sự thất bại thuộc linh lan tràn ở mọi bình diện.
13. a) Sai
b) Đúng
c) Đúng
d) Đúng
14. Câu trả lời của bạn. Sự dạy đạo của Chúa Jêsus là một trong gương mẫu chính của Tân ước. Ngoài ra các môn đồ của Chúa cũng đã dạy và viết các thư tín để dạy các tín hữu, họ giải thích những chân lý khác đã được Chúa Jêsus ban cho.
Vì thế, sự dạy đạo của Chúa Jêsus và các thư tín của các sứ đồ là gương mẫu về sự dạy đạo thời Tân ước.
15. a) Câu trả lời của bạn. Tôi đã nêu câu Kinh Thánh nói về sự bất khả của các môn đồ trong việc hiểu và tiếp thu các chân lý vì họ vẫn còn ở tình trạng chưa trưởng thành. Họ cần nhận lãnh sự soi sáng và ơn ban của Đức Thánh Linh để hiểu đầy đủ và có kinh nghiệm về vai trò của người môn đồ của Chúa.
b) Chúng ta học biết rằng trong công tác dạy đạo chúng ta nên bắt đầu với những chân lý đơn sơ trước rồi mới đưa vào những chân lý phức tạp sau để các thính giả của chúng ta dễ tiếp thu các sự dạy dỗ trong đời sống thuộc linh hơn.
16. b) Giải thích ý nghĩa của sự nhập thể, đời sống, sự chết và sự phục sinh của Đấng Christ cho mọi người nhằm cứu rỗi các tội nhân và giúp các tín đồ trưởng thành.
Trọng tâm của sự dạy đạo
Trong bài học vừa qua chúng ta đã khảo sát hai lý do của chức vụ dạy đạo. Chúng ta thấy rằng sự dạy đạo thời Tân ước đã làm ứng nghiệm mạng lệnh của Kinh Thánh và chủ yếu là hướng dẫn người tín đồ đến sự trưởng thành. Bây giờ chúng ta xem xét đến một mạng lệnh rõ ràng của Tân ước về chức vụ dạy đạo toàn diện trong Cong Cv 20:28-30, mà tôi gọi là sự dạy đạo bắt buộc. Chúng ta sẽ xem xét phương cách thi hành chức vụ dạy đạo này để tiến hành các mục đích Kinh Thánh đã yêu cầu chúng ta.
Có một người đã so sánh, Kinh Thánh của chúng ta với cuốn sổ tay chỉ nam của người thợ máy sử dụng để bảo quản và sửa chữa chiếc xe tải to lớn của chúng ta. Cuốn sổ tay chỉ nam ấy giúp họ khám phá ra nan đề và giải pháp giải quyết nan đề và như vậy tránh được sự hư hỏng không cần thiềt. Tương tự như thế. Quyển Kinh Thánh cũng cho chúng ta những lời chỉ dẫn để ta sống đẹp lòng Chúa và cảnh cáo về những nguy hiểm có thể phá hỏng mối quan hệ của chúng ta với Ngài và cung cấp những điều cần yếu có thể giúp mỗi chúng ta phát triển và trưởng thành đời sống thuộc linh và có kết quả cho Chúa. Vì vậy. Chúng ta phải xây dựng chức vụ giảng đạo và dạy đạo của chúng ta trên Lời của Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta xem xét những điều quý báu trong kho tàng Lời của Đức Chúa Trời, tôi cầu xin Chúa thách thức bạn bước vào chức vụ dạy đạo trong tinh thần sốt sắng, nồng nhiệt đầy hy vọng. Vì dù bạn để suốt cả đời mình học tập không bao giờ vơi cạn nguồn tài nguyên thiêng liêng đang chờ bạn khám phá, phát huy và áp dụng.
BỐ CỤC BÀI HỌC :
Mạng lệnh dạy đạo bắt buộc.
Lãnh đạo bầy chiên.
Nuôi dưỡng bầy chiên.
Bảo vệ bầy chiên.
CÁC MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC :
Khi bạn học xong bài học này bạn phải có khả năng để:
Đưa ra mạng lệnh bắt buộc của sự dạy đạo theo Lời Kinh Thánh dạy bảo.
Định nghĩa giáo lý Cơ đốc và phân tích nhiệm vụ của giáo lý.
Tìm kiếm và sắp xếp tài liệu từ Kinh Thánh để trình bày bài học theo đề tài.
Bày tỏ việc sử dụng phương pháp khảo cứu Kinh Thánh để nghiên cứu nội dung của những khúc Kinh Thánh mở rộng.
CÁC SINH HOẠT HỌC TẬP :
Hãy đọc thư I và II Timôthê cùng thư Tít qua nhanh một lần để có cái nhìn tổng quát. Rồi trở lại hết các sách này và ghi chú nhiều lãnh vực khác nhau trong sự chỉ dẫn mà Phaolô nhấn mạnh phải dạy. Những tài liệu này là một kho tàng phong phú cho chức vụ dạy đạo của bạn.
Nghiên cứu phần mở đầu, bố cục và các mục tiêu bài học. Rồi học tiếp hết cả bài theo thông lệ. Sau khi học xong bài, hãy làm bài tập trắc ngiệm cá nhân và xem lại các câu trả lời của bạn.
NHỮNG CHỮ QUAN HỆ :
Discrimination: Khả năng phân biệt sự khác nhau.
Expository preaching: Giảng giải Kinh .
Methodically: Làm theo phương pháp hoặc theo cách có trật tự.
Strategy: Kế hoạch khéo léo hay chiến lược
Survey: Khảo sát hay nghiên cứu.
Theological: Liên quan đến bản tính và ý chí của Đức Chúa Trời.
Topical: Thuộc về đề tài hay chủ đề.
Trilogy: Nhóm ba, cùng tạo ra một loạt liên hệ, tác phẩm bộ ba
Undershepherdd: Tư liệu được dùng chỉ về người phụ trách một nhóm tín hữu địa phương. Một người hầu việc Chúa nhận trách nhiệm trước Đấng chăn chiên lớn (Iphierơ 5: 4) để chăm sóc đời sống thuộc linh của những người được phục vụ.
KHAI TRIỂN BÀI HỌC :
MẠNG LỆNH DẠY ĐẠO BẮT BUỘC :
Mục tiêu 1: Liệt kê ba yếu tố chức vụ mà Phaolô đã chứng minh cho các nhà lãnh đạo ở Êphêsô và giải thích ý nghĩa của mỗi yếu tố .
Là một người hầu việc Chúa, bạn cần biết những nguồn tiềm năng phong phú trong Kinh Thánh đã dành sẵn cho bạn khai thác. Vài năm trước đây tôi có nghe về một thanh niên phải di chuyển đến một nơi hầu việc Chúa khác. Vì sau 3 năm người ấy đã chẳng còn để tài nào trong Kinh Thánh để dạy và giảng cho các tín đồ. Tôi cũng biết một người khác đã hầu việc Chúa tại một địa điểm trong hơn hai mươi năm với chức vụ đầy quyền năng và thách thức và đã thành công.
Có sự khác biệt gì giữa hai người cùng đáp ứng tiếng kêu gọi của Đức Chúa Trời tham gia vào chức vụ ?
Một người rất hiếm khi sửa soạn hay nghiên cứu cho chức vụ dạy của mình, trong khi đó, người kia đã đào sâu, nghiên cứu, cầu nguyện và phục vụ người khác do đó ông ta càng già dặn trong chức vụ. Người đầu tiên đã cạn hết tài liệu quen thuộc và không có kỷ luật hay động cơ cần thiết để nghiên cứu và chuẩn bị. Người đó chẳng bao lâu di chuyển đến một nơi khác để lặp lại những gì anh ta đã biết trong ba năm tiếp đó. Người thứ nhì rất quan tâm đến sự tăng trưởng và phàt triển bầy chiên của mình, cho nên từ buổi nhóm này qua buổi nhóm khác nuôi bầy chiên bằng những thức ăn phong phú lấy từ lời của họ. Ông biết rằng chức vụ ông cũng kích thích sự trưởng thành trong các thính giả của ông về một khả năng phân biệt thuộc linh sâu sắc. Họ phải biết chân lý khỏi sự sai lầm. Vì thế ông quyết tâm chuẩn bị cách chuyên cần để chức vụ của ông sẽ đáp ứng các nhu cầu thuộc linh của bầy chiên của ông.
Phaolô thách thức các trưởng lão Êphêsô (Cong Cv 20:18-35) ba yếu tố căn bản, sống động mà chức vụ dạy đạo và giảng giải Kinh phải có.Trong các câu 28-30 chúng ta thấy trách nhiệm đặc biệt của nhà lãnh đạo là bảo vệ bầy chiên của mình. Họ cần quan tâm đến sự lãnh đạo, nuôi dưỡng và bảo vệ bầy chiên của Đức Chúa Trời. Ba phận sự này gợi ra nguồn cung cấp tài liệu bài học vô tận.
Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê ba yếu tố chức vụ mà Phaolô đã biện hộ trước các trưởng lão Êphêsô và giải thích ý nghĩa của mỗi yếu tố.
LÃNH ĐẠO BẦY CHIÊN:
Mục tiêu 2: Nhận dạng các đặc tính người lãnh đạo phải có .
Phaolô đã thách thức những trưởng lão ở Êphêsô hãy tự giữ lấy mình và giữ lấy bầy của Đức Chúa Trời đã giao cho họ coi sóc. Là người lãnh đạo, thầy giáo phải nhạy cảm phần thuộc linh, có thể có những quyết định sửa sai và động viên người ta đi theo, có những mục tiêu rõ rệt và khả năng để nhận biết vai trò của mình trong chương trình của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy xem xét một số những phẩm chất về sự lãnh đạo mà Phaolô đã nói rõ trong các thư tín gởi cho Timôthê và Tít.
2. Đọc Tit Tt 1:7-8; 2:6-7, 11-12; IITi 2Tm 3:10 và ITi1Tm 4:16. Là giáo sư của những người khác, Phaolô cho chúng ta thấy rằng có một phương cách rất quan trọng để dạy đạo. Hãy dùng sổ tay của bạn để mô tả phương cách đó là gì.
Thứ hai là người lãnh đạo quần chúng, thầy giáo có quyền quyết định. Khi một số người trong thân thể Đấng Christ kháng cự lại sự dạy dỗ của Lời Chúa và không theo sự dạy dỗ trong Lời Kinh Thánh, thì thầy giáo phải hành động quyết định vì lợi ích của cả bầy (IITi 2Tm 4:5 Tit Tt 1:9; 2:15). Khi sửa sai hay quở trách phải có tình yêu và cần có sự khuyến khích (IITi 2Tm 4:2) khuyên lơn.
Trách nhiệm thứ ba của người dạy đạo là nhận biết mục đích của Đức Chúa Trời dành cho mình và cho những người mình đang phục vụ. Để nhận biết mục đích ngươi ấy phải thiết lập những mục đích và ra sức thực hiện mục đích ấy. Nếu mục đích của Đức Chúa Trời là các chi thể phải là những chứng nhân có hiệu quả, thì nhiệm vụ của ông là huấn luyện các tín đồ để họ lại trở nên những chứng nhân (2:2). Phải có mục tiêu chính chung cho công tác này và những mục tiêu phụ để đạt được mục tiêu chính. Nếu không thì người hầu việc Chúa sẽ làm việc một cách tùy hứng và ông sẽ không đáp ứng được các nhu cầu thuộc linh và bầy chiên của ông cũng không thể làm những chứng nhân đem lại kết quả. Phaolô nhắc Timôthê về mục đích của ông trong cuộc đời vốn được nêu rõ trong Kinh Thánh (3:14-17).
Có lẽ bạn sẽ hỏi, làm sao các tín đồ của tôi có thể chia sẻ gánh nặng mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi và hiểu được mục đích của Kinh Thánh đã nêu ra ? Để dẫn dắt họ, bạn phải biết sử dụng các bài học theo chủ đề. Các nhân vật Kinh Thánh, các địa danh quan trọng vì những sự vật có thể dùng trong việc học Kinh Thánh để dạy họ các nguyên tắc Cơ đốc nhân trưởng thành để cuối cùng thực hiện mục đích của Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy sử dụng cách hữu hiệu các đề tài để dẫn dắt bầy chiên của Đức Chúa Trời.
Các nhân vật Kinh Thánh : Bạn có thể dùng nhiều nhân vật Kinh Thánh khác nhau làm đề tài để gây cảm hứng cho bầy chiên của bạn. Có thể dùng phương pháp so sánh và đối chiếu đời sống của hai nhân vật. Thí dụ như Giacốp và Êsau (SaSt 25:19; 49:33;). Bạn có thể so sánh và đối chiếu 1) thời niên thiếu của họ 2) những năm trưởng thành của họ và 3) những bài học họ đã học được. Qua sự phân tích kỹ lượng những nhân vật này. Chúng ta có thể thấy được sự thành công hay thất bại của họ, những nguyên tắc chi phối đời sống họ là gì, và áp dụng những nguyên tắc sống này vào đời sống thuộc linh của họ. Nếu được bạn phải dùng khuôn mẫu của Tân ước đánh gía về các nhân vật trong Cựu ước. Những cặp nhân vật khác bạn có thể nghiên cứu là Ysác và Íchmaên, Đavít và Saulơ, Mari và Mathê…
3. Chúng ta có thể gây cảm hứng cho những người chúng ta đang phục vụ để họ nhận biết và tìm kiếm mục đích của Đức Chúa Trời cho đời sống của họ bằng cách học các bài học theo chủ đề các nhân vật trong Kinh Thánh, những bài học thuộc loại này được.
Tổ chức rất tốt đến nỗi chúng bao hàm những biến cố quan trọng cách nhanh chóng và dễ cho các học viên học tập.
Từ những cuộc đời của những người đã sống đẹp lòng Đức Chúa Trời bạn hãy rút ra một phước hạnh làm nguồn cảm hứng cho những người khác.
Cấu tạo để bao gồm cách dư dật mọi khía cạnh của đời sống một nhân vật Thánh Kinh.
Những bài học này không chỉ liệt kê ra những việc nên làm hay không nên làm trong đời sống Cơ đốc nhân mà còn phải trình bày trong sự yêu thương từ đó thiết lập một khuôn mẫu cho đời sống đẹp lòng Đức Chúa Trời, Phục vụ người khác, xây dựng đức tin người ta và đưa ra một tiến trình cho sự trưởng thành của người Cơ đốc.
Các địa danh : Những thành phố, làng xóm, chiến địa, những vị trí địa lý nổi bật - tất cả đều là những đề tài nghiên cứu hấp dẫn. Hãy sử dụng tài liệu trong cả Cưụ ước lẫn Tân ước, đưa ra một loạt các bài học về những cuộc hành trình của dân Ysơraên, ý nghĩa của những địa danh dân chúng đã đóng trại, những điều học tập được từ bản tính và mục đích của Đức Chúa Trời và phương pháp lãnh đạo của Ngài. Ý nghĩa của việc dân Ysơraên từ đâu mà đến, họ đã đi qua đâu và hướng về đâu. Bạn cũng có thể xem xét những địa danh Phaolô đã thành lập các Hội Thánh trong những cuộc hành trình truyền giáo của ông, những nơi này nằm trong chiến lược truyền giáo của ông, và sự thành công to lớn đã đạt được là kết quả của việc ông theo đuổi một kế hoạch đơn giản để đạt đến một mục đích thuộc linh. Chúng ta hãy áp dụng việc nghiên cứu như thế nào các thư tín ông đã gởi cho những Hội Thánh ông đã thành lập.
4. Khoanh tròn câu ĐÚNG.
Những địa danh trong Kinh Thánh có thể được dùng để dạy và áp dụng chân lý thuộc linh, vì thường khi các tên đó phản ảnh những kinh nghiệm có ý nghĩa trong sự phát triển thuộc linh của dân sự Đức Chúa Trời.
Những địa danh ở những nơi Phaolô giảng đạo không có ý nghĩa bao nhiêu, vì ông chỉ giảng hoặc dạy ở bất cứ nơi nào ông có thể mà thôi.
Việc nghiên cứu những thành phố là những nơi mà Phaolô hầu việc Chúa, chẳng hạn như thành phố Côrinhtô, có thể dạy chúng ta rất nhiều về nền văn hóa và các phong tục của dân chúng cũng như làm thế nào Đức Chúa Trời thực hiện được mục đích của Ngài và thể hiện sự lãnh đạo của Ngài trong sự phát triển Hội Thánh giữa trung tâm một xã hội rất suy đồi.
Các sự vật : khi bạn đã chỉ dẫn bầy chiên, hiểu biết chân lý của Đức Chúa Trời, Kinh Thánh có những điều giúp bạn truyền thông cách hữu hiệu. Chẳng hạn, bạn có thể dạy ý nghĩa của các dụng cụ trong đền tạm, làm hình bóng điều gì đó tốt hơn và bền vững hơn trong thời Tân ước, hoặc, dùng cách Hêbơrơ làm tài liệu hướng dẫn học tập, bạn có thể xem xét sự cao cả hơn trong chức vụ thầy tế lễ đời đời của Đấng Christ đối với chức tế lễ của người Lêvi thời Cựu ước. Những lời cầu nguyện trong Kinh Thánh, những phép lạ, hôn lễ, gia đình, những thí dụ, và những bữa tiệc là một trong số những sự vật khác mà bạn có thể nghiên cứu để bạn hướng dẫn nhân sự Chúa cách hữu hiệu hướng về một đời sống thuộc linh phong phú hơn.
Và cuối cùng, bạn phải động viên, thúc đẩy người khác tham gia hầu việc Chúa với bạn. Phierơ nói về Chúa Jêsus, vị giáo sư bậc thầy, rằng Ngài đã để lại cho chúng ta một gương hầu cho chúng ta đi theo dấu chân của Ngài (IPhi 1Pr 2:21). Và ước vọng của lòng Phaolô là trở nên giống như Ngài (Phi Pl 3:10). Khi bạn dạy đạo, phải lấy tình yêu thương của Chúa Jêsus làm động cơ đến nỗi những người khác cũng muốn dâng đời sống của họ cho Đấng mà bạn đang phục vụ ( ITi1Tm 4:15-16).
5. Hãy nhận dạng các gương mẫu Kinh Thánh về sự lãnh đạo được thầy giáo trình bày bằng cách đặt số 1 ở trước các gương đúng và số 2 trước các gương không diễn tả những nguyên tắc Kinh Thánh về sự lãnh đạo.
Thầy giáo lãnh đạo hữu hiệu bằng việc tuân giữ các luật lệ cách nghiêm khắc cứng ngắc.
Thầy giáo hữu hiệu cảm hứng người khác đi theo bởi cớ thái độ và hành động của ông.
Thầy giáo thành công hiểu rõ mục đích dạy đạo của mình.
Thầy giáo thành công là người làm cho học sinh bận rộn và để hết tâm trí vào ( theo mục đích chính của ông).
Người thầy giáo khôn ngoan là người quyết tâm, có khả năng đưa ra những quyết định ảnh hưởng đến công tác của mình như một người chăn.
Người thầy giáo khôn ngoan là một người được hướng dẫn chủ yếu bởi những ước muốn của những người mà thầy đang phục vụ để lựa chọn những điều phải dạy.
NUÔI DƯỠNG BẦY CHIÊN:
Mục tiêu 3: Giải thích việc nuôi bầy có nghĩa gì ?
Mục đích của chức vụ hầu việc Chúa là cung cấp cho các thính giả của chúng ta những cơ hội để học biết về Lời Chúa và đáp ứng chân lý để họ sẽ lớn lên và dần dần trưởng thành trong đức tin. Là những nhà lãnh đạo, chúng ta sử dụng một số các hoạt động dạy đạo và giảng đạo căn cứ trên lời thẩm quyền của Đức Chúa Trời ngõ hầu đưa các thính giả của chúng ta đến sự trưởng thành. Và điều thiết yếu là chúng ta truyền thông toàn diện Lời của Đức Chúa Trời. Không những đưa người ta đến sự biết Lời Chúa, nhưng còn đưa họ đến kinh nghiệm với Chúa Jêsus Christ có kết quả trong các việc lành, đời sống kỉnh kiền và trưởng thành thuộc linh.
Sự nuôi bầy, mà bạn đã được giao thác, chỉ về việc trình bày những chủ đề lớn của đời sống ( thực tế và thuộc linh, những mối quan hệ, thái độ….) với bầy chiên của bạn là một việc đều đặn của thức ăn thuộc linh. Đó là học về bản chất và nguồn gốc của Kinh Thánh, nhưng niềm tin liên quan đến Đức Chúa Trời, đến Đấng Christ, đến Đức Thánh Linh, đến con người, tội lỗi, thế giới thần linh, nhiệm vụ của Hội Thánh, sự phán xét và những sự việc sau cùng. Các kinh nghiệm có liên quan đến cá nhân trong đời sống Cơ đốc (chẳng hạn, thờ phượng và hầu việc), cũng như ý niệm về gia đình Cơ đốc và làm thế nào để thiết lập và duy trì sự hòa hợp trong gia đình.
Bạn cũng phải dạy về sự đáp ứng của Cơ đốc nhân với những vấn đề xã hội và trách nhiệm của Cơ đốc nhân đối với cộng đồng của mình và với thế giới. Và bạn phải tìm cách phát triển sự lãnh đạo đố nũa. Như vậy bạn thấy rằng sứ điệp dạy đạo bao gồm một khu vực to lớn và đụng chạm cách thực sự vào mọi khía cạnh của cuộc sống.
Phương tiện hữu hiệu đáp ứng những nhu cầu của bầy chiên về thực phẩm thuộc linh là khảo cứu Kinh Thánh. Đây là sự khao cứu toàn diện một phần Kinh Thánh. Sự khảo cứu Kinh Thánh có thể bao gồm sự nghiên cứu thông suốt qua một sách trong Kinh Thánh hoặc một phân đoạn mở rộng, một đoạn hay một số đoạn Kinh Thánh. Hãy lưu ý sự khảo cứu phải được tiến hành như thế nào.
Khảo cứu một đoạn Kinh Thánh : sự chia đoạn Kinh Thánh thường là thâu thập các câu lại với nhau theo cùng một đề tài. Một số đoạn gồm có một chủ đề trọn vẹn. GiGa 17:1-26 - Lời cầu nguyện của chúng ta, ICo1Cr 13:1-13- Tình yêu thương, 15:1-58- Sự sống lại của thân thể. Mỗi một đoạn như thế có đủ tài liệu tuyệt vời cho sự khảo cứu Thánh Kinh. Một danh sách những đoạn Kinh Thánh khác thích hợp với việc soạn hàng loạt các bài học như: Cựu ước- SaSt 3:1-24; 22:1-24. XuXh 12:1-50; 24:1-18. PhuDnl 32:1-52; Gios Gs 1:1-18; IIVua 2V 5:1-18; Thi Tv 51:1-19; 90:1-17 và EsIs 53:1-12; Tân ước- LuLc 15:1-32; GiGa 11:1-57; 15:1-27; Eph Ep 2:1-21; IITi 2Tm 2:1-26; IGi1Ga 1:1-10 và KhKh 22:1-21.
Một số đoạn có thể tập hợp thành từng nhóm và nghiên cứu với nhau. Thi Tv 22:1-23:6; 24:1-10 thành hình một bộ ba Thi Thiên có thể đặt tên như sau: 22:1-31- Cứu Chúa, 23:1-6- Đấng chăn chiên và 24:1-10 - Vị Vua. Mat Mt 5:1-6:34; 7:1-29 có thể được dùng như là một loạt bài học về” bài giảng trên núi”. Và KhKh 2:1-3:22 bao gồm những sứ điệp của Chúa Jêsus gởi cho bảy Hội Thánh ở Asi.
Sau đây là một số tài liệu và gợi ý để giúp bạn chuẩn bị và dạy ICo1Cr 13:1-13, đoạn Kinh Thánh về tình yêu thương. Đoạn này có sự phân chia dễ dàng thành ba phần. Một bố cục đơn giản về đoạn này có thể nhìn thấy như sau:
13:1-13- Chương sách về tình yêu thương.
Sự vĩ đại của tình yêu thương (câu 1-3).
Đặc tính của tình yêu thương ( câu 4-7).
Sự vĩnh cửu của tình yêu thương (câu 8-13).
Bạn còn có thể nghiên cứu những đoạn Kinh Thánh khác nói về tình yêu thương cũng như các thí dụ trong Kinh Thánh để minh họa cho chân lý của đoạn này. Và bạn nên khảo sát đoạn này trong vị trí thích đáng bằng cách xem xét mạch văn của nó. Bạn có thể dùng đoạn này làm một bài học hoặc mở rộng thành ba bài hoặc hơn nữa nếu tài liệu và thời gian cho phép.
Bạn phải có chủ đề trung tâm, là tình yêu thương, với những câu hỏi phát xuất từ nội dung của nó. Chẳng hạn: Tình yêu thương là gì ? Đặc tính của nó ra sao? Nó tự bày tỏ như thế nào? Mối quan hệ của nó với những ân tứ thuộc linh khác là gì ? Nó có ảnh hưởng bao lâu ? Nó tạo ra điều gì ? Nếu bạn khảo cứu bài học này như thế, thì bạn sẽ không bị lạc đề.
Bạn có thể lấy một phân đoạn rồi chia ra những phần nữa để nghiên cứu và dạy dỗ. Để dạy phân đoạn này hoặc những phân đoạn khác, bạn cần có cái nhìn tổng quát để biết có bao nhiêu phần bạn cần để trình bày bài học. Kinh nghiệm của bạn trong việc chuẩn bị và dạy các đoạn Kinh Thánh sẽ giúp bạn khi bạn hoạch định một loạt các bài học khảo cứu một sách trong Kinh Thánh.
6. Hãy đọc GiGa 17:1-26. Ở đây chúng ta có đoạn sách thường gọi là”Lời cầu thay trong tư cách Thầy Tế lễ Thượng phẩm Của Chúa Jêsus”. Hãy liệt kê chủ đề trung tâm cho mỗi phân đoạn gồm ba nhóm câu được tìm thấy trong đoạn này.
a) Câu 1-5 ………………………………………………………………………………………………
b) Câu 6-19 ………………………………………………………………………………………………
c) Câu 20-26 …………………………………………………………………………………………………
Chúng ta thấy rằng có ba phần được địng nghĩa rõ ràng trong Giaăng 17, mỗi phần cho phép ta mở rộng và phát triển đề tài. Và chúng ta có thể tìm được nhiều ý tưởng phong phú trong các phân đoạn ở mỗi phần chính trên đây. Qua suốt đoạn Kinh Thánh chúng ta nhận thấy rằng sự cầu nguyện chiếm phần quan trọng trong cuộc đời của Chúa chúng ta. Từ đó chúng ta có thể rút ra được sức mạnh và nguồn cảm hứng từ Thầy Tế lễ Thượng phẩm của chúng ta là Đấng luôn cầu thay cho chúng ta. (HeDt 7:25).
Khảo cứu một sách trong Kinh Thánh . Sự nghiên cứu có hệ thống một sách trong Kinh Thánh sẽ đem ích lợi và phước hạnh đến cho bầy chiên của bạn. Có thể bạn tốn nhiều tháng hoặc cả năm cho việc soạn một loạt các bài học, tùy theo chiều dài của sách và các chi tiết nghiên cứu của bạn. Bạn phải lập kế hoạch sơ bộ trước về qui trình khảo cứu sách. Có một số điều cần xem xét trong kế hoạch ban đầu.
Sự lựa chọn một sách trong Kinh Thánh để khảo cứu toàn diện phải liên quan đến nhu cầu của lớp học. Và các tài liệu sẵn có để tham khảo. Một cuốn sách giải Kinh và một cuốn Thánh Kinh Phù dẫn sẽ giúp ích nhiều cho sự lập kế hoạch và chuẩn bị các bài học. Tuy nhiên nếu những sách này không có sẵn thì bạn hãy dùng Kinh Thánh và sổ tay của bạn.
Hãy thu thập càng nhiều tài liệu càng tốt để dùng trong các loạt bài học, trước khi bắt đầu. Hãy quyết định mục tiêu chính của việc khảo cứu của bạn. Khi đánh gía các tài liệu bạn đã thu thập được hãy quyết định xem bạn cần bao nhiêu phần để dùng cho các tài liệu ấy. Rồi bạn đặt ra ngày tháng cho loạt bài học. Hãy cho mọi người biết trước loạt bài học sẽ học khoảng ba hay bốn tuần trước khi trình bày phần đầu. Phải tiên liệu cho các bài học sắp đến bằng cách khuyến khích các học viên của bạn đọc trước sách sẽ khảo sát (nếu được, nên công bố vài ba lần). Hãy chuẩn bị kỹ trước như vậy trong mỗi bài học để bạn có thể thu nhập và sắp xếp tài liệu các phương tiện nghe, nhìn, và hẹn trước với người nghe nếu cần.
Cách tốt nhất là chọn một trong các sách Tin Lành để nghiên cứu đầu tiên trong việc học Kinh Thánh. Nếu bạn có quyển Kinh Thánh, bản dịch Today’s English Version (TEV- Bản dịch anh ngữ ngày nay thì bạn sẽ có bố cục tổng quát cho sẵn trong mỗi sách.
Ngoài ra, bản dịch này còn cho biết các phân đoạn phụ được chia suốt cả sách, giúp đỡ cho bố cục sách rất nhiều. Tuy nhiên, đây chỉ là bố cục chung, bạn cần soạn bố cục chi tiết. Khi bạn nghiên cứu cẩn thận bố cục gợi ý và các phân đoạn phụ của bản dịch TEV và thêm chi tiết, thì bạn sẽ hình thành được một bố cục dạy hàng loạt bài học theo từng câu Kinh Thánh của bất cứ sách Tin Lành nào. Khi bạn tiến hành việc soạn bố cục, bạn sẽ có kinh nghiệm soạn các sách trong Kinh Thánh để dạy (và giảng). Đây là công tác quan trọng trong việc chuẩn bị và dạy một sách. Vì vậy, các ích lợi của sự nghiên cứu đối với bạn và với bầy chiên của bạn khiến cho việc nghiên cứu này rất đáng kể.
Bạn sẽ tìm thấy một kho tài liệu phong phú trong các bài học thư tín giám mục (lương thực thuộc linh) làm cho đời sống Cơ đốc nhân được tăng trưởng. Trong những bài tập sau, chúng ta sẽ thấy Phaolô hướng dẫn cho những người đồng sự về vấn đề trách nhiệm dạy đạo toàn diện của họ. Những chi tiết chỉ dẫn liên quan đến nội dung sự dạy đạo này tỏ ra công tác này rất vĩ đại.
7. Hãy đọc các câu Kinh Thánh và trả lời các câu hỏi liên quan đến các câu đó.
Tit Tt 1:1-3, 9 chỉ ra rằng mạng lệnh của Phaolô về sự chỉ đạo liên hệ đến…………………………………………………………………………………………………………………………của những người được lựa chọn của Đức Chúa Trời và hầu dẫn đến sự tin kính. Những điều này đặt cơ sơ trên sự hy vọng của…………………………………
Tit Tt 1:2, 3 tuyên bố rằng ………………………………………………………………………của Đức Chúa Trời và sự sống đời đời đã được cưu mang từ cõi đời đời. Và đến thời gian thích hợp Ngài ……………………………………………..Lời của Ngài vốn được giao thác cho sứ đồ Phaolô để xây dựng đức tin của những người tín đồ.
1:9 tuyên bố rằng người thầy giáo có trách nhiệm giữ vững ………….
………………………………………………………… mà ông đã được dạy bảo và khuyến khích những người khác bằng lời khuyên dỗ và cách sống tốt đẹp và cũng để bác lại những người chống trả.
d) 1:9 tỏ ra rằng sự dạy dỗ giáo lý đúng là cần thiết để phơi bày…………………………. của những người chống lại sứ điệp của những chân lý đã được bày tỏ và Tit Tt 1:10-14 bày tỏ rằng mục đích của các giáo sư giả, trong trường hợp này là…………………………………………………Vị sứ đồ tin rằng các giáo sư giả phải được quở trách để họ có thể có…………………..hoặc được phục hồi đức tin, và không có giữ…………………………………… và sự sai lầm của con người căn cứ trên sự khước từ lẽ thật.
Hãy đọc ITi1Tm 2:3-6, 4:10; Tit Tt 2:11 rồi khoanh tròn chữ đầu của câu ĐÚNG Ý. Những câu Kinh Thánh này tỏ ra rằng một chủ đề dạy đạo của vị sứ đồ là.
Sự cung cấp của Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi cho tất cả mọi người.
Sự giới hạn việc ban ơn cứu rỗi cho người được lựa chọn.
Công tác cứu rỗi của Đấng Christ có hiệu lực cho những người tin.
Trong ITi1Tm 4:1-7. Phaolô đã cảnh cáo rằng trong những ngày đến khi lẽ thật căn cứ trên Kinh Thánh, được rao giảng thì sẽ có một số người từ chối. Họ sẽ thay thế vào đó bằng những sự dạy dỗ phát xuất.
Từ những người trí thức của thế gian và người dựa trên triết lý loài người.
Trong những nơi con người bị thất học hình thức học tập không có tác dụng.
Tà linh và ma quỉ tìm cách bẻ cong lẽ thật làm cho nhiều người hướng về những sự dạy dỗ gian tà của họ.
ANH EM HÃY GIỮ LẤY MÌNH VÀ LUÔN CẢ BẦY MÀ ĐỨC THÁNH LINH ĐÃ LẬP ANH EM LÀM KẺ COI SÓC .
Cong Cv 20:28
Sắp xếp cho hợp các đề tài với những phần Kinh Thánh thích hợp.
- Vì cớ lòng thương xót ngay cả tội nhân thấp hèn nhất vẫn có thể được cứu
- Cầu nguyện là cơ sở cho sự hòa hợp xã hội
- Như thế bạn muốn lãnh đạo
- Trách nhiệm công tác xã hội của Hội Thánh.
- Hỗ trợ cho người hầu việc Chúa mạng lệnh của Kinh Thánh
- Các trách nhiệm của người nô lệ, làm tôi tớ
- Giá trả của sự theo Chúa và hầu việc Chúa
- Làm thế nào mỗi Cơ đốc nhân phải sống cách có hiệu quả trong xã hội của mình
- Trách nhiệm dân sự của các Cơ đốc nhân
…… a ITi1Tm 2:1-7
…….b IITi 2Tm 3:10-17
…… c ITi1Tm 5:3-16
…… d 6:1-2
…… e 1:15-16
…… f Tit Tt 2:1-10
…… g ITi1Tm 5:17-18
…… h 3:1-7
…… i Tit Tt 3:1-2
Giải thích sự nuôi chiên có nghĩa gì ?
……………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………
BẢO VỆ BẦY CHIÊN:
Mục đích 4: Ghép những câu Kinh Thánh mô tả những hiểm họa thuộc linh và nguyên tắc rắc rối cho đúng với mỗi trường hợp .
Cũng như người chăn chiên đối diện với những hiểm họa khi ông chăn bầy của mình trong vùng đất thù nghịch, thì những người chăn bầy thuộc linh cũng đối diện những hiểm nguy trầm trọng có thể xảy ra gây đổ vỡ sự nhất của bầy chiên. Những hiểm họa như thế rất nhiều có thể chia rẽ bầy chiên, phá hủy đức tin của một số người và dẫn dụ những người khác bằng những lời êm dịu của các giáo sư giả. Do đó là kẻ chăn chiên được giao thác nhiệm vụ bảo vệ bầy chiên, bạn phải rất cẩn thận canh bầy.
Hãy đọc Cong Cv 20:28-30 một lần nữa và khoanh tròn mẫu tự đầu câu ĐÚNG (những câu nào nói lên mối hiểm họa và bạn tìm thấy nó ở đâu).
Khi Phaolô cảnh cáo về sự tàn bạo của muông sói đến trong vòng các tín hữu tại Êphêsô, Ông đang ám chỉ về những hiểm họa đến từ bên ngoài nhóm của họ.
Sự quan tâm của Phaolô ở đây là sai lầm. Vì Hội Thánh Êphêsô đang được Đức Thánh Linh bảo vệ.
Câu 30 chỉ về những người trong nhóm ở Êphêsô sẽ bóp méo chân lý và hướng dẫn những người tín đồ theo họ. Câu này nói về những hiểm họa bên trong túc là những vấn đề nổi lên từ trong Hội Thánh Êphêsô.
Phương tiện để bạn chuẩn bị cho bầy chiên của bạn sống đời sống Cơ đốc và tránh những hiển họa họ sẽ đối diện: đó là sự dạy cho họ giáo lý đúng đắn cách có hệ thống. Mục đích của việc dạy giáo lý là hướng dẫn người tín hữu cách có phương pháp trong các bài học về lẽ thật của Tin Lành. Mục đích của môn thần học là trả lời những câu hỏi căn bản nhất mà người ta thắc mắc. Chẳng hạn, giáo lý về Đức Chúa Trời, trả lời các câu hỏi thắc mắc về sự dựng nên vũ trụ, và về ý nghĩa và mục đích của cuộc đời. Giáo lý về con người giúp cho chúng ta biết con người có thể hiểu được ý nghĩa của đời sống và mối tương giao với Đức Chúa Trời cùng hầu việc Ngài. Giáo lý về sự cứu rỗi trả lời những câu hỏi liên quan đến sự cứu chuộc con người khỏi sự sa ngã để vươn lên bình diện cao cả mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta đạt được.
Sự nhấn mạnh căn bản trong các bài học giáo lý là những chân lý đã được khải thị trong Lời Đức Chúa Trời. Đồng thời nhấn mạnh về nhu cầu áp dụng chân lý vào đời sống Cơ đốc nhân. Đối với người thầy giáo trình bày một bài học mà không đưa ra áp dụng thì cũng giống như một bác sĩ thuyết trình cho bệnh nhân về tình trạng sức khỏe của họ và lại quên cho toa.
Khi bạn dạy các bài học giáo lý, bạn có thể tập trung vào một nhóm sách Kinh Thánh. Một sách hoặc trong một đoạn Kinh Thánh. Chẳng hạn, bạn có thể nghiên cứu giáo lý về sự tái lâm của Chúa trong I và II Têsalônica, hoặc giáo lý về Đấng Christ trong Côlôse hoặc giáo lý về Đức Thánh Linh trong Rôma 8. Trong những đoạn này, các giáo lý được trình bày cách trực tiếp. Khi bạn bắt đầu nghiên cứu một giáo lý Kinh Thánh, bạn nên thu thập tất cả các câu Kinh Thánh liên quan đến giáo lý đó. Và tìm hiểu một danh từ thần học trực tiếp trong Kinh Thánh. Bạn có thể dùng Thánh Kinh phù dẫn. Khi tìm các câu Kinh Thánh liên hệ, bạn phải cẩn thận định nghĩa và so sánh câu đó với nhau. Bạn cũng nên dùng tự điển toàn thư, nếu bạn có sẵn. Những câu trưng dẫn giáo lý phải liên quan chặt chẽ với mạch văn của Kinh Thánh và trong khuôn mẫu chung của chân lý Kinh Thánh.
Vậy, một trong những công tác quan trọng nhất của bạn, là dạy giáo lý một cách chính xác. Vì giáo lý này soi sáng cho bầy chiên biết kế hoạch của Đức Chúa Trời, xây dựng đức tin và đời sống thuộc linh của họ. Thứ hai, chuẩn bị cho họ khi đối diện với những hiểm họa thuộc linh của cuộc sống cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh. Tuy nhiên, chúng ta không phải chỉ tự vệ mà còn chống lại sự tấn công của kẻ thù trong lúc chúng ta chờ đợi sự tái lâm của Chúa. Vì vậy khi ta đáp ứng lời kêu gọi của Đấng Christ để chia sẻ đức tin của chúng ta và thi hành đại mạng lệnh, chúng ta sẽ được tăng cường sức mạnh để chống lại sự tấn công của kẻ thù.
Chúng ta sẽ trải qua những sự tấn công, những sự thử thách chắc chắn xảy đến trên đường chúng ta đi, và chúng ta phải chịu sự bắt bớ và gian khổ khi chúng ta đánh trận tốt lành của đức tin (IITi 2Tm 2:3; 3:10-12; IPhi 1Pr 2:20-25). Đây là đặc ân của những người theo Chúa vì Ngài đã phán trong sự đắc thắng khải hoàn: “Hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi” (GiGa 16:33). Ở đây Chúa Jêsus nêu ra những điều tương phản. Trong thế gian các môn đồ sẽ gặp hoạn nạn, nhưng trong Ngài họ sẽ có sự bình an. Được báo trước về những hiểm họa này thì tốt hơn là chúng ta nên chuẩn bị trước để đương đầu với những sự tấn công bên ngoài, và chống lại những kẻ thù bên trong như giáo lý giả dối, sự tự tôn đang đe dọa đời sống những người chúng ta đang phục vụ.
Bạn hãy sắp xếp cho hợp với ý nghĩa các vấn đề thuộc linh được mô tả trong mỗi câu Kinh Thánh với nguồn gốc rắc rối rõ rệt.
- Tấn công bên ngoài
- Tấn công bên trong
- Sự bội đạo cá nhân
…… a ITi1Tm 1:3-7
…… b 1:19-20
…… c 4:1-7
…… d 6:3-10
…… e 6:20-21
…… f IITi 2Tm 2:14-18, 23-26
….. g 3:1-9, 10-13
…… h 4:3-5
…… i 4:10
…… j 4:14-15
…… k Tit Tt 1:10-14
…… l 3:9-10
Như vậy, chúng ta đã thấy sự dạy đạo là mạng lệnh, một mạng lệnh bắt buộc. Chúng ta cũng đã trình bày sự mô tả đầy đủ về công tác của một người lãnh đạo bầy chiên là hướng họ đến sự trưởng thành và phát triển thuộc linh. Chúng ta cũng thấy rằng nhiều tài liệu và bài học sẵn có trong Kinh Thánh và những chất liệu khác nhau để giúp chúng ta trình bày các bài học đó. Nhưng trong tất cả mọi sự chúng ta hãy quan tâm đến mục đích của chúng ta. Đó là chúng ta muốn thông tin, khích lệ, điều chỉnh và khôi phục cho bầy chiên thuộc linh của chúng ta để họ được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành (IITi 2Tm 3:17).
BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM CÁ NHÂN
ĐÚNG- SAI viết chữ Đ ở trước câu đúng và chữ S ở trước câu sai.
………1. Mạng lệnh dạy đạo được liệt kê trong các trách nhiệm thuộc linh của người lãnh đạo dùng để duy trì, phát triển và làm cho đời sống thuộc linh của bầy chiên được trưởng thành.
………2. Đôi khi giáo sư đưa ra những bài học khuyến khích người nghe để họ rập khuôn đời sống của các nhân vật nổi danh trong Kinh Thánh và những gương mẫu này là có hiệu quả vì họ sống đẹp lòng Đức Chúa Trời.
……..3. Giáo lý Cơ đốc chủ yếu dạy Hội Thánh Cơ đốc tiếp nhận niền tin của Hội Thánh từng hồi từng lúc.
……..4. Giáo lý Cơ đốc là dạy người ta các chân lý của Tin Lành một cách có phương pháp.
……..5. Các bài học giáo lý trả lời những câu hỏi căn bản, những thắc mắc về đời sống con người.
……..6. Những sự dạy dỗ, trong I và II Têsalônica là chủ đề về sự tái lâm của Chúa.
……..7. Nghiên cứu theo các đề tài về các nhân vật Thánh kinh, là so sánh và đối chiếu đời sống thời niên thiếu, những năm phát triển và những kinh nghiệm có ý nghĩa của đời sống họ, chúng ta có thể chỉ dẫn bầy chiên hướng về sự trưởng thành thuộc linh cho hợp lẽ.
……..8. Hiệu quả của việc khảo cứu Thánh Kinh bị giới hạn trong đề tài nghiên cứu.
……..9. Tài liệu chúng ta dùng để khảo cứu Thánh Kinh được trình bày trong bài học này thường đến từng nhóm lớn các đoạn hay, các sách, chứ không đến từ những đoạn riêng hay vài đoạn, vì các đề tài trong Thánh kinh thường hơi dài.
………10. Khi chúng ta khảo cứu Thánh Kinh, chúng ta phải bao quát đề tài khảo cứu bằng những câu hỏi phát xuất từ mạch văn của bài học.
……..11. Nếu bạn muốn hướng dẫn khảo cứu toàn bộ các sách Kinh Thánh, bạn chỉ cần lập kế hoạch trước thật tốt để chuẩn bị chính mình và các tài liệu mà bạn sẽ cần.
…….12. Chúng ta có khuynh hướng tìm kiếm sự dạy dỗ trong các thư tín giám mục vì sứ đồ Phaolô rất nhạy cảm về các nhu cầu thuộc linh của bầy chiên. Và trong những thư tín này, ông cẩn thận mô tả trách nhiệm làm thế nào để cung cấp cho toàn bộ cuộc chiến thuộc linh của dân sự Đức Chúa Trời.
…….13. Một trong những phương cách bảo vệ tốt bầy chiên là dạy giáo lý đúng, vì nó cho ta căn bản vững chắc về chân lý xây dựng những đời sống thuộc linh.
…….14. Các thư tín giám mục nói rằng, khi từ bỏ giáo lý đúng, thì con người sẽ đi theo sự dẫn dắt sai lạc do giáo lý phát xuất từ ma quỉ.
…….15. Sự nhấn mạnh chủ yếu của một bài giáo lý là áp dụng nó vào đời sống hơn là chỉ hiểu biết chân lý suông.
TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI TRONG BÀI
1. Bất cứ thứ tự nào cũng được. Sự lãnh đạo là một yếu tố cần thiết của một chức vụ ngụ ý đến sự hướng dẫn thuộc linh có mục đích cho những người theo Chúa. Yếu tố thứ hai là nuôi chiên. Nuôi chiên là cung cấp khẩu phần cân đối để chiên được tăng trưởng và trưởng thành. Yếu tố thứ ba là bảo vệ chiên, bao gồm việc chuẩn bị cho bầy chiên Chúa biết phân biệt giữa lẽ thật và sự giả dối.
2. Câu trả lời của bạn. Một trong những cách, có ý nghĩa nhất để dạy đạo là làm gương sáng. Điều gì thực tế trong đời sống người thầy giáo đặc biệt hấp dẫn những người nghe ông dạy. Sứ điệp dạy đạo được hỗ trợ do một đời sống Cơ đốc gương mẫu là bằng chứng hùng hồn cho những người nghe, thấy và tin.
3. b) Rút ra từ cuộc đời của những người vốn là một sự phước hạnh và là nguồn cảm hứng cho những người khác, và đời sống của họ đã đẹp lòng Chúa.
4. a) Đúng.
b) Sai (Phaolô đã được Đức Thánh Linh hướng dẫn như bạn đã thấy trong Cong Cv 16:6-10. Ông đã bắt đầu từ những địa điểm chiến lược quan trọng lan rộng ra các miền xung quanh).
c) Đúng.
5. a 2) Không đúng.
b 1) Đúng.
c 1) Đúng.
d 2) Không đúng.
e 1) Đúng.
f 2) Không đúng.
6. a) Chúa Jêsus cầu nguyện cho chính mình Ngài.
b) Chúa Jêsus cầu nguyện cho các môn đồ Ngài.
c) Chúa Jêsus cầu nguyện cho tất cả các tín đồ.
7 a. Đức tin, trí thức, sự sống đời đời.
b. Lời hứa, đã bày tỏ ra.
c. Sứ điệp Tin Lành, sự dạy đạo, chống đối.
d. Sự sai lầm, kiếm tư lợi (làm tiền), đức tin mạnh mẽ, các truyền thuyết Do Thái.
a) Sự cung cấp của Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi cho tất cả mọi người.
c) Công tác cứu rỗi của Đấng Christ có hiệu lực cho những người tin.
c) Với các tà linh và ma quỉ.
a 2) Câu chuyện là cơ sở cho sự hòa hợp xã hội.
b 7) Gía trả của sự theo Chúa và hầu việc Chúa.
c 4) Trách nhiệm công tác xã hội của Hội Thánh.
d 5) Trách nhiệm của người đầy tớ.
e 10) Vì cớ lòng thương xót ngay cả tội nhân thấp hèn nhất vẫn có thể được cứu.
f 8) Làm thế nào mỗi Cơ đốc nhân phải sống cách có hiệu quả trong xã hội của mình.
g 5) Hỗ trợ cho người hầu việc Chúa: mạng lệnh của Kinh Thánh.
h 3) Như thế bạn muốn lãnh đạo.
i 9) Trách nhiệm dân sự của Cơ đốc nhân.
Câu trả lời của bạn. Chúng ta biết rằng bầy chiên phải được nuôi bằng lương thực thuộc linh (cứng) bổ dưỡng để lớn lên và mạnh khỏe. Dạy những lẽ thật đơn sơ (sữa của đạo) là điều cần thiết đối với các tân tín hữu. Tuy nhiên họ cũng phải ăn được thức ăn cứng đó là những lẽ thật của Lời chúa vì khi áp dụng Lời chúa vào các hoàn cảnh đời sống họ sẽ lớn lên và phát triển trong những sự thuộc về Đức Chúa Trời. Cung cấp các chất dinh dưỡng thuộc linh cho cả bầy là điều chúng ta nói đến trong sự nuôi bầy.
12 a) Đúng.
b) Sai. Đức Thánh Linh xức dầu cho người lãnh đạo, nhưng nếu họ vô trách nhiệm, thì công việc luôn luôn bị thiết hại. Đức Thánh Linh cai trị những đời sống đầu phục và không trực tiếp. Đó là lý do tại sao chúng ta đòi hỏi một cách nghiêm khắc về phẩm chất của người lãnh đạo. Đức Chúa Trời tìm kiếm những người lãnh đạo cho Ngài cách hữu hiệu.
Đúng.
13 a 1) Sự tấn công bên trong.
b 3) Sự bội đạo cá nhân.
c 1) Sự tấn công bên trong.
d 1) Sự tấn công bên trong.
e 3) Sự bội đạo cá nhân.
f 1) Sự tấn công bên trong.
g 2) Sự tấn công bên trong.
h 1) Sự tấn công bên trong.
i 3) Sự bội đạo cá nhân.
j 2) Sự tấn công bên ngoài.
k 1) Sự tấn công bên trong.
l 1) Sự tấn công bên trong.
Hướng tới một chức vụ quân bình
Bạn vừa học xong chín bài học. Bạn đã biết chức vụ theo tiêu chuẩn Kinh Thánh dạy và những phẩm hạnh thuộc linh của một người lãnh đạo giỏi. Bạn đã biết các phương pháp và kỹ thuật người lãnh đạo phải dùng không chuẩn bị một cách thực tế trong lúc phục vụ người khác. Nếu bạn kiên trì và áp dụng những nguyên tắc này, bạn có thể giảng và dạy bài học một cách khéo léo tự tin. Cầu xin Chúa Trời giúp đỡ bạn trong sự truyền thông chân lý cho người khác. Bây giờ tôi muốn tha thiết nói với bạn về một số điều mà tôi tin rằng rất quan trọng cho bạn trong chức vụ hầu việc Chúa.
Bạn đã từng thấy một người cố chèo một chiếc thuyền bằng một máy chèo chưa? Tôi đã thấy rồi. Anh ta thật khó nhọc lắm mới đưa con thuyền tiến tới, và đã từng thấy một con lừa chất đầy hàng hóa chỉ một bên hông mà phải leo lên một con dốc nguy hiểm, hay là con đò có quá nhiều người ngồi hẳn qua một bên? Đó là những cảnh trạng trong cuộc sống thực tế nói lên những sự mất quân bình. Trong bài học này chúng ta sẽ thảo luận về sự quân bình.
Giảng và dạy hai phương tiện Đức Chúa Trời đã chọn để truyền thông chân lý Thiên Thượng cho những người đang cần. Dù bạn thực hiện cả hai phương tiện cách khéo léo với đầy đủ khả năng, thì đừng bao giờ quên rằng hiệu quả của công tác bạn chính là Đấng Christ. Cầu xin Chúa bạn cho bạn càng ngày nương tựa vào Ngài và học tập cách chờ đợi và hiện diện của Ngài để Ngài giúp bạn thành công trong chức vụ Chúa giao.
Bố cụ bài học :
Lời này xin cho sự quân bình.
“ Tôi nài xin Anh…
Những mục tiêu của bài học :
Khi học xong bài này bạn phải có khả năng để
Thảo luận ý nghĩa của sự quân bình trong chức vụ giảng và dạy.
Phân tích bí quyết thành công trong việc giảng và dạy.
Đánh giá đúng chức vụ toàn diện của Đức Thánh Linh trong công tác xây dựng và làm cho thân thể Đấng Christ trưởng thành.
Các sinh hoạt học tập :
1. Ôn lại cẩn thận đơn vị 3 (bàihọc 7-10), rồi làm bài tường thuật đơn vị 3 và gởi bài cho giáo viên phụ trách của bạn.
Những chữ quan hệ :
Fanaticism: Sự cuồng tín, nhiệt thành cực đoan
Formalism: Giữ theo hình thức và lễ nghi bề ngoài cách khắt khe, nhất là trong sự thờ phượng tôn giáo chủ nghĩa hình thức.
Khai triển bài học :
LỜI CẦU NGUYỆN CHO CHỨC VỤ ĐƯỢC QUÂN BÌNH.
Mục Tiêu 1: Thảo luận ý nghĩa của sự quân bình trong chức vụ giảng và dạy .
Nếu bạn muốn chức vụ giảng đạo và dạy đạo có hiệu quả, bạn phải biết quân bình. Mất quân bình là mối nguy hiểm thường xuyên. Bạn có thể mất quân bình trong sứ điệp hoặc phương pháp của bạn hoặc mất cả hai.
Ta hãy suy nghĩ đến hoàn cảnh gia đình sau đây. Một bà mẹ có đứa con trai ba tuổi. Cậu trai nhỏ ăn rất ngon miệng, nhưng cậu chỉ thích thức ăn lỏng, mềm. Người con trai lớn thích mọi thứ thức ăn - ăn càng nhiều càng tốt, và cậu cũng thích thịt, một số thịt rất khó ăn. Vì bà yêu thương cả hai đứa con, nên bà cố gắng sắm sửa những thức ăn ấy trong thực đơn hằng ngày, khi nào có thể được, để nuôi dưỡng cả hai đứa con, và cả hai đứa con này đều cần sự tăng trưởng và phát triển.
Là người hầu việc Chúa, theo một phương diện sẽ gặp hoàn cảnh như vậy. Co một số tín hữu trưởng thành, thì cũng có những tín hữu khác tái sanh và bắt đầu đời sống thuộc linh của họ, bạn phải tìm cách cung ứng ngon miệng cho những trẻ em cho Đấng Christ (IPhi 1Pr 2:2) và đồng thời cũng chia sẻ những chân lý sâu nhiệm và những nguyên tắc thuộc linh để bồi dưỡng cho những tín đồ trưởng thành hơn (HeDt 5:11-14). Đều là việc khó, nhưng khi bạn tìm kiếm để có được những tài liệu thích đáng, thì Ngài sẽ ban cho bạn điều cần thiết để đáp ứng nhu cầu của tất cả con dân Ngài.
1. Giả sử bạn đã đến thăm một Hội Thánh có độ ba trăm người nhóm lại vào buổi sáng Chúa nhật. Vị Mục sư giảng một bài giảng Tin Lành xuất sắc và nhiều linh hồn được cứu. Lần nữa vào buổi tối thứ tư trong “Lớp học Kinh Thánh”, bạn lại nghe một lời truyền giảng khác có lời kêu gọi. Bạn được biết rằng đây là tiêu chuẩn sinh họat cho một thuộc viên Hội Thánh đó về số người quyết định tin Chúa, người đó trả lời “Vâng”, chúng tôi có nhiều linh hồn được cứu, nhưng người ta dường như không muốn ở đây và coi đây như Hội Thánh nhà. Họ đi qua những nhà thờ khác và sinh hoạt ổn định tại đó? hãy viết câu trả lời của bạn trong sổ tay của bạn.
Khi tín đồ không được nuôi dưỡng phần thuộc linh đầy đủ, họ bị đói khát về đời sống thuộc linh. Họ có thể di chuyển sang một nhóm khác, hoặc dần dần bỏ nhóm, trở thành những người lưu vong thuộc linh. Vậy vị mục sư này phải thay đổi cả sứ điệp lẫn phương pháp bằng cách giảng và dạy đáp ứng được nhu cầu cho tín hữu cả mới lẫn cũ thì chắc chắn ông sẽ thành công hơn.
Vậy, khi hầu việc Chúa bạn cố gắng giữ quân bình giữa sự giảng đạo và dạy đạo. Phaolô đã căn dặn Timôthê phải thức hiện cả hai công tác “hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo (giảng) và dạy dỗ cho đến chừng ta đến” (ITi1Tm 4:13). Một phương pháp truyền thông có thể giữ sự quân bình giữa sự giảng đạo và dạy đạo là Giảng giải Kinh . Bài giảng giải Kinh được căn cứ trên một khúc Kinh Thánh mở rộng vốn được giải nghĩa trong mối liên hệ với một chủ đề hay ý tưởng trung tâm. Phần chính tài liệu bài giảng loại này được lấy trực tiếp từ Kinh Thánh. Mục đích là bày tỏ ý nghĩa của khúc Kinh Thánh và chứng tỏ làm thế nào chân lý Kinh Thánh có liên hệ đến cuộc sống của những người nghe. Nếu dùng phương pháp này 1 cách có hệ thống bạn sẽ thâu gặt được nhiều ích lợi lại có thể dùng để truyền giảng nhằm hướng dẫn và giáo dục sự tăng trưởng của Cơ đốc nhân. Nhiều người thành công nhờ phương pháp giải Kinh này.
Nội dung của sứ điệp dù là giảng hay dạy đều gây ảnh hưởng trên thính giả của bạn. Chẳng hạn, ở cấp một, bạn sẽ thấy các em có khả năng chú ý rất thấp. Để duy trì sự chú ý của các em, cô giáo giảng phải dùng ngôn ngữ sống động, với nhiều phương tiện nghe nhìn, và không kéo dài quá lâu một đề tài làm cho các em chán nản. Trẻ em là những học giả “tí hon”ngược lại ở trên đại học, các sinh viên chăm chú nghe lời thuyết trình của giáo sư hàng giờ.
Hai loại đáp ứng này là đối tượng trong những buổi nhóm của bạn. Những trẻ em trong Đấng Christ thường tỏ ra khó chịu, và không quan tâm khi bạn trình bày những giáo lý khó hiểu và sâu rộng có lẽ tài liệu này quá nặng nề đối với giai đoạn mới phát triển của họ, có thể phương cách trình bày của bạn cần được bổ sung. Bạn nên áp dụng phương pháp thính thị để giúp họ tiếp thu tốt hơn. Những đề tài giảng không đáp ứng được nhu cầu của những tín đồ trưởng thành của bạn vì họ đang khao khát thức ăn cứng, nên bạn phải giải đáp nhu cầu của họ và cố gắng giữ cho toàn bộ chức vụ của bạn được quân bình. Khi bạn ý thức được các nhu cầu khác nhau của tất cả các tín đồ và bạn nhạy cảm đối với sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh, thì bạn sẽ phục vụ được tất cả nhu cầu của tất cả mọi người.
KHI BẠN HẦU VIỆC CHÚA HÃY TÌM CÁCH GIỮ GÌN
SỰ QUÂN BÌNH GIỮA VIỆC GIẢNG ĐẠO VÀ DẠY ĐẠO
Trong công tác phục vụ Hội Thánh. Bạn hãy khai thác các nguồn tài nguyên phong phú trong Lời Chúa. Từ kho tàn này bạn có thể lấy ra những món đồ cổ xưa qúi giá cũng như những món đồ tân thời đẹp đẽ để cung cấp mọi phước hạnh dồi dào cho bày chiên của bạn. Khi đời sống thuộc linh của họ tăng trưởng bạn rất hài lòng vì họ có thể thưởng thức mọi hương vị tốt lành về Đức Chúa Trời.
2. Khoanh mẫu tự đầu của mỗi câu ĐÚNG
Chúng ta có thể suy luận sự kiện vừa nói và bài học trước rằng tất cả những học viên, nhất là những người mới bắt đầu học đạo, sẽ học tốt hơn khi chúng ta trình bày dễ hiểu và những thí dụ đồng thời có những trợ huấn cụ nghe, nhìn để tăng cường khả năng học tập.
Sự sống thuộc linh của một người cũng giống như sự sống của một sinh vật phải cung cấp thức ăn tùy theo nhu cầu tăng trưởng của nó. Điều đó có nghĩa là những trẻ em thuộc linh cần sữa, trong khi những người lớn thuộc linh cần thức ăn đặc.
Bạn nuôi tín đồ như thế nào và bằng gì cũng không phải là vấn đề cho bạn làm một điều gì đó cho họ. Vì Lời Đức Chúa Trời trong bất cứ trường hợp nào cũng không trở về cách luống nhưng mà chắc sẽ thành đạt được một điều gì đó.
Giảng và dạy là hai phương tiện truyền thông chân lý. Một số người cho rằng giảng đạo kêu gọi đến tình cảm còn dạy đạo kêu gọi đến trí năng. Tuy nhiên, sự phân biệt này hoàn toàn chủ quan, vì dù ít hay nhiều cả hai đều có ảnh hưởng đến nhau. Cả giảng và dạy đều quan trọng.
Chân lý phải được hiểu biết thấu triệt và cảm nhận sâu sắc. Phaolô nhắc đến cả hai kinh nghiệm này ở thư Rôma: “Tạ ơn Thượng Đế, anh em trước kia vốn làm nô lệ cho tội lỗi, nhưng nay đã thành tâm vâng phục của các lời giáo huấn của Chúa” (RoRm 6:17 - Bản diễn ý). Chân lý ảnh hưởng mọi khía cạnh của một con người. Lúc đầu nó đến với trí năng, rồi sau đó kích thích tình cảm và cuối cùng cảm động đến ý chí. Chân lý ảnh hưởng toàn bộ con người chứ không chỉ một phần nào đó thì sẽ tạo ra được kết quả lâu dài.
3. Chân lý tạo ra sự thay đổi thuộc linh nhứt định của một người thì:
Phải coi trọng vấn đề trí năng, chỉ một chút cảm xúc về ảnh hưởng khi ý chí được thay đổi.
Thì chủ yếu là vấn đề cảm xúc, vì lý trí (hay trí năng) nằm ở ngoài lãnh vực thuộc linh.
Thì cảm động qua trí năng, ảnh hưởng đến những tình cảm và cảm động ý chí để thay đổi.
Sự quân bình trong công tác giảng đạo và dạy đạo sẽ đem lại sự quân bình trong sự truyền giảng huấn luyện, nhu cầu truyền giảng và huấn luyện tín đồ đều cần thiết không nên từ bỏ một điều nào phải giữ quân bình. Có người cứ cho rằng mình chỉ giữ sự quân bình. Có người cứ cho rằng mình chỉ giảng đạo vì vậy không dạy đạo, có người lại quả quyết rằng chức vụ của học là huấn luyện cho tín đồ nên họ không thể chinh phục người hư mất. Chúng ta phải làm cả hai loại công tác này mạng lệnh của Chúa là “hãy giảng Tin Lành cho mọi người” (Mac Mc 16:15) nhưng Ngài cũng truyền bảo hãy khiến muôn dân trở nên môn đồ của Ngài” (Mat Mt 28:19-20). Chúng ta hãy làm những gì Chúa truyền bảo chứ không phải làm những gì tiện lợi cho chúng ta.
Sự quân bình trong giảng và dạy sẽ tạo ra sự quân bình trong thờ phượng. Chúa Jêsus nói với người đàn bà Samari về sự thờ phượng Cha ưa thích: “Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng” (GiGa 4:24). Lời Chúa đã được rao giảng và dạy dỗ mà không được Đức Thánh Linh xức dầu sẽ dẫn đến hình thức chủ nghĩa. Và khi nào người ta nhấn mạnh đến kinh nghiệm chủ quan về Đức Thánh Linh mà không có Lời Chúa thì sẽ dẫn đến tình trạng cuồng tín cực đoan. Sự thờ phượng thật là sự quân bình trọn vẹn giữa Lời Chúa và Đức Thánh Linh.
4. Khoanh tròn mẫu tự của câu ĐÚNG.
Đại mạng lệnh chủ yếu là lời kêu gọi truyền giáo.
Qua các mạng lệnh Chúa để lại chúng ta có thể kết luận rằng chức vụ phục vụ con người phải toàn diện nghĩa là đề tài bạn phải dạy bao gồm sự tái sanh, nếp sống mới, thái độ mới và sự tăng trưởng. Nói tóm lại, chức vụ này phải đáp ứng mọi nhu cầu.
Sự thờ phượng Đức Chúa Trời một cách đúng đắn phải đáp ứng quân bình giữa Lời Chúa và Đức Thánh Linh.
Cong Cv 2:42-47 cho chúng ta thấy rằng yếu tố truyền giảng trong cộng đồng Cơ đốc là rõ ràng vì nhiều người đã chịu ảnh hưởng qua sự làm chứng của những người tin Chúa Jêsus. Thứ hai, những người này đã chuyên cần học tập sự dạy dỗ của các sư đồ để trở nên môn đồ. Yếu tố thứ ba cũng rất quan trọng đó là những mối quan hệ giữa những người tín đồ với nhau. Họ ăn chung với nhau, cầu nguyện chung với nhau, ngợi khen Đức Chúa Trời và chia sẻ của cải vật chất cho nhau. Và điều này tạo ra tinh thần hiệp nhất đẹp đẽ. Nếu ba yếu tố này diễn ra nhịp nhàng trong nhóm của bạn, thì kết quả sẽ tốt đẹp, nếu không thì nhóm của ban sẽ mất mát rất nhiều.
Sự cực đoan của một số tín đồ là khuynh hướng chú tâm đến những yếu tố này. Ta hãy quan sát kết quả của nhóm người chỉ nhấn mạnh đến sự dạy Kinh Thánh và từ chối truyền giảng bỏ qua sự thành công thì chúng ta sẽ thấy họ lạnh nhạt và thuần lý. Một nhóm khác nhấn mạnh đến sự thông công và bỏ qua truyền giảng cùng sự dạy Kinh Thánh thì trở nên nông cạn và hay cảm xúc. Nếu chỉ nhấn mạnh đến truyền giảng nhưng bỏ qua sự thông công cùng sự dạy Kinh Thánh thì sẽ tạo ra những tín đồ cô đơn và nghèo đói thuộc linh.
Còn trường hợp một nhóm chỉ nhấn mạnh đến việc dạy Kinh Thánh và sự thông công nhưng lại bỏ qua truyền giảng thì nhóm đó sẽ không còn sống động. Nhóm này hay mắc bệnh tự mãn, nhưng thiếu sự sống. Còn nhóm nào chỉ nhấn mạnh đến sự thành công và truyền giảng nhưng không quan tâm đến sự dạy Kinh Thánh thì thường gặp nguy cơ tà giáo và bị chia cắt thành những nhóm nhỏ. Còn nhóm nào chỉ nhấn mạnh đến việc dạy Kinh Thánh và truyền giáo nhưng lại không phát triển mối thông công giữa những Cơ đốc nhân khác thì dù biết Lời Chúa có khả năng chia sẻ Lời Chúa, nhưng không bao giờ phát huy được mối quan hệ có ý nghĩa, với những tín hữu khác ở đâu có truyền giáo dạy đạo cho môn đồ thì ở đó có những yếu tố cần thiết để tạo ra sự trưởng thành thuộc linh. Thực hành những yếu tố này cách quân bình đầy đủ chúng ta có thể có những cộng đồng tín hữu mạnh khỏe, vui tươi phát triển.
Bạn cần thường xuyên có lòng lưu ý đến việc duy trì một chức vụ quân bình. Hãy tránh cực đoan bất cứ phương pháp hoặc sứ điệp nào. Bạn hãy nhớ rằng khi ta quá nhấn mạnh điều này thì những điều kia ít được chú ý hơn. Bạn có thể giữ được sự quân bình nếu bạn luôn luôn cảnh giác và tỉnh thức.
TRUYỀN GIÁO - DẠY ĐẠO - THÔNG CÔNG
Nếu ba yếu tố này được quân bình
bạn sẽ thấy được những kết quả tích cực
5. Khảo sát kỹ 2:42-47. Ta có thể rút ra kết luận:
Sự thực hành đầy đủ những yếu tố cần thiết trong chương trình của Hội Thánh được trưởng thành đời sống thuộc linh, đó là sự làm chứng cho người chưa tin Chúa giữ được sự thông công với các thánh đồ. Những yếu tố cần thiết này đã tạo ra sự tăng trưởng và sống động.
Chương trình phát triển xuất phát do nhu cầu của cuộc sống quân bình thường nhắm đến việc giải quyết càng nhiều vấn đề thuộc linh càng tốt.
Những gì đã thực hiện là kết quả của hoàn cảnh địa phương và chương trình không phải là khuôn mẫu bình thường của các Cơ đốc nhân trưởng thành.
Luca ghi nhận rằng “Chúa Jêsus khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta” (LuLc 2:52). Thực sự đây là một thí dụ vể sự tăng trưởng quân bình. Vì theo ngôn ngữ thực tế thì điều này có nghĩa là Ngài lớn lên cả phần trí dục, thể dục, đức dục và quan hệ xã hội. Qua một chức vụ giảng đạo và dạy đạo quân bình cũng như sự phát triển mối quan hệ sâu sắc xảy ra đồng thời, bầy chiên của chúng ta sẽ phát triển thể chất thuộc linh, sự làm chứng mạnh mẽ, sự thông công thật sự có ý nghĩa và chúng ta sẽ cảm thấy sự thành đạt trong chức vụ của chúng ta.
Kinh Thánh là nguồn trợ giúp to lớn nhất, bạn muốn phát triển một chức vụ quân bình hãy đọc Kinh Thánh có hệ thống chuyên cần. Hãy lấy Kinh Thánh làm nền tảng cho sứ điệp và phương pháp của bạn.
Hãy lập danh sách để nhớ những đề tài và những khúc Kinh Thánh bạn đã giảng và đã dạy. Hãy kiểm tra lại hồ sơ của bạn ít nhất mỗi năm một lần. Hãy chắc chắn rằng bạn đang nghiên cứu và giảng dạy toàn bộ lẽ thật của Kinh Thánh. Hãy coi chừng về những đề tài mà bạn ưa thích. Bạn muốn thay đổi món ăn, thì những người bạn đang phục vụ cũng cần cung cấp các sứ điệp khác nhau trong sự giảng và dạy đạo của bạn.
Hãy cầu nguyện xin Đức Chúa Trời giúp đỡ bạn khi bạn nỗ lực công bố toàn bộ sứ điệp của Lời Chúa. Ngài sẽ giúp bạn duy trì một chức vụ giảng đạo và dạy đạo quân bình, cân đối.
6. Thảo luận ý nghĩa của sự quân bình trong chức vụ giảng đạo và dạy đạo hãy trả lời và ghi vào sổ tay.
“tôi nài xin anh em …”
Mục tiêu 2: Hãy chọn những câu chứng tỏ những đặc tính của chức vụ thuộc linh thành công .
Lời định nghĩa của Philíp Brooks về chức vụ giảng đạo đã được chúng ta trưng dẫn ở phần đầu sách giáo khoa này. Ông là một diễn giả học rộng và có tài, ông đưa hàng ngàn người đến cùng Đấng Christ, người ta không biết lý do nào ông đưa đến sự thành công. Một người bạn của ông đã khám phá ra bí quyết đó trên một chuyến tàu cùng đi với tác giả xuyên đại dương. Bỗng nhiên người bạn này thấy vắng nhà đại diễn giả mấy tiếng đồng hồ. Sau khi đi tìm ông ở mấy nơi, người bạn trở lại phòng của ông và mở cửa ra. Tại đó, ông bạn tìm thấy ông Philíp Brooks đang qui gối. Giơ hai tay hướng lên trời và lập đi lập lại lời cầu nguyện kính lạy Đức Chúa Trời, “xin ban cho con quyền năng!”. Đây chính là biết quyết để nhận lãnh nguồn năng lực của nhà đại diễn giả từ Đức Chúa Trời và cung ứng cho loài người của ông.
7. Hãy đọc các câu Kinh Thánh sau đây và trả lời những câu học liên hệ.
Mac Mc 1:35-38 tỏ rằng trước khi Chúa Jêsus bắt đầu một ngày phục vụ các nhu cầu của dân chúng, Ngài…………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………………………………………………….
Khi các tín đồ tìm thấy Ngài, Ngài tỏ ra rằng Ngài phải tới làng xóm khác để . . . . .
bởi vì . . . . .
LuLc 5:16 và 9:18 tỏ ra rằng Chúa Jêsus lánh khỏi đám đông và đi vào nơi vắng vẻ để Ngài có thể
9:28-36 tỏ ra Chúa Jêsus đã hóa hình tron khi Ngài ………
6:12-16 tỏ ra rằng trước khi chọn mười hai sứ đồ Chúa Jêsus
………………………..
Mac Mc 9:29 chứng minh rằng một số cuộc chiến tranh thuộc linh đòi hỏi………………………………………………………………………………………………………………………………….
trước khi có thể đạt được chiến thắng.
Cong Cv 6:4 tỏ ra rằng các sứ đồ đã đặt vị trí cao cho việc ………….
Eph Ep 6:18 khuyến khích các tín đồ ………..
…………………………. . . . . .
Khi bạn hầu việc Chúa bạn cần biết không có tài năng hay sự huấn luyện nào có thể thay thế cho quyền năng thuộc linh trong đời sống của bạn được. Không có quyền năng thì sự giảng đạo chỉ là một bài giảngvà sự dạy đạo chỉ là một bài học thuyết trình. Nó không ban sự sống của Đức Thánh Linh cho người nghe mà chỉ đem lại sự chết (IICo 2Cr 3:6). Vì vậy, đừng thỏa lòng với việc giảng những bài giảng và trình bày những bài thuyết trình. Hãy chờ đợi Đức Chúa Trời trong sự cầu nguyện cho đến khi Lời Chúa giống như lửa bọc kín trong xương bạn, hãy chờ đợi cho đến khi bạn có thể nói ra như một phát ngôn viên của Đức Chúa Trời. Hãy noi gương Phaolô khi ông hầu việc Chúa.
“Hỡi anh em, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời cao xa hay lời khôn sáng mà rao giảng cho anh em biết chứng cớ của Đức Chúa Trời. Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự. Chính tôi đã ở giữa anh em, yếu đuối, sợ hãi, run rẩy lắm. Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diển thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏa ra Thánh Linh có quyền phép, hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép của Đức Chúa Trời” (ICo1Cr 2:1-5).
Khi bạn công bố Lời của Đức Chúa Trời trong quyền phép của Đức Thánh Linh là bạn đang noi theo mẫu mực chức vụ của Tân ước. Hãy chờ đợi trước mặt Đức Chúa Trời cho đến khi quyền năng của Đức Thánh Linh giáng xuống trên bạn như Ngài đã giáng xuống các tín đồ Hội Thánh đầu tiên (Cong Cv 2:1-4). Sự xức dầu của người hầu việc Chúa chỉ đến từ Đức Chúa Trời. Không có con đường tắt nào đi đến khả năng thuộc linh này cả. Và người ta sẽ không bao giờ cảm động bởi những sứ điệp không được xức dầu. Hãy nhớ rằng con người tìm kiếm những phương pháp tốt hơn, nhưng Đức Chúa trời tìm kiếm những người đàn ông, đàn bà tốt hơn. Ngài muốn những người công bố sứ điệp của Ngài hoàn toàn nương tựa nơi Ngài và những người Ngài được khuyến khích hãy có tinh thần sốt sắng hầu việc Chúa (RoRm 12:11)
8. Sự ban quyền phép cho loại chức vụ tạo ra những kết quả thuộc linh đáng kể.
Được căn cứ trên kinh nghiệm thuộc linh cá nhân của một người và vì thế không có khả năng, sức lực hay sự huấn luyện nào là cần thiết cho chức vụ.
Đến từ sự dâng hiến hoàn toàn tài năng, kỹ năng và kinh nghiệm học tập lên cho Chúa dùng khi Ngài dẫn dắt.
Tuỳ thuộc trên tài liệu mà một người dâng cho Chúa, như vậy một người càng dâng cho Chúa ngay từ đầu bao nhiêu thì Đức Chúa Trời càng hành động với người ấy bấy nhiêu.
Có một Cơ đốc nhân kia có một lần đã viết cho ban quản trị truyền giáo Hoa Kỳ rằng “Xin hãy gởi đến đất nước tôi những con người có lòng nóng cháy để nói cho chúng tôi về tình yêu của Đức Chúa Trời”. Cùng với quyền năng của Đức Thánh Linh, bạn cần có tấm lòng nóng cháy để giảng dạy Tin Lành, chức vụ của Chúa Jêsus với hai môn đồ trên đường về làng Em-ma-út gợi cho thấy lòng nhiệt thành của họ dường bao (LuLc 24:13-35). Chúa Jêsus đã tháp tùng với họ, nhưng họ không nhận biết và Ngài đã lắng nghe câu chuyện của họ về sự đóng đinh và về ngôi mộ trống, rồi giải thích cho họ đã nói về Ngài trong suốt cả Kinh Thánh từ Môise cho đến các tiên tri, nhưng cho đến khi Ngài chúc phước và bẻ bánh, họ mới nhận biết rằng Ngài, và Ngài đã biến đi khỏi họ. Họ bèn nói với nhau (câu 32) “Khi nãy đi đường người nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng sao? Lòng của bạn sẽ được bùng cháy khi được Ngài bày tỏ Lời Ngài cho bạn. Hãy tìm kiếm điều này! Khi bạn cầu nguyện hãy chờ đợi Ngài phán với bạn Lời Ngài sẽ nhen lên ngọn lửa tâm linh bạn. Và khi bạn đứng lên hầu việc, không ai nghi ngờ nguồn tài năng của bạn. Bầy chiên của bạn sẽ cảm nhận được rằng bạn đã từng ở với Chúa Jêsus, và họ sẽ đáp ứng sứ điệp mà chủ của bạn sẽ ban cho họ qua bạn.
Có một câu chuyện kể về một Mục sư khi bắt đầu thi hành chức vụ giảng Tin Lành, ông ít nhờ cậy Đức Chúa Trời nhưng tin nơi tài năng và học vấn của mình. Ông ít dành thì giờ để quỳ gối cầu nguyện nên chức vụ của ông càng ngày càng yếu đuối và hao hụt sự sống. Ý thức được tình trạng suy sụp thuộc linh này, một số trưởng lão quan tâm đến nhà Chúa đã đặt một tờ giấy nhỏ trên tòa giảng là nơi ông Mục sư chắc chắn phải thấy. Trong đó họ ghi rõ “Thưa Mục sư, chúng tôi muốn thấy Chúa Jêsus” (xem GiGa 12:21). Khi vị Mục sư đọc được mảnh giấy đó, ông bị cáo trách ăn năn và tan vỡ. Ông đã đi vào phòng riêng quyết tâm cầu nguyện cho đến khi khôi phục lại quyền phép của Đức Chúa Trời trong đời sống mình. Khi ông ra khỏi nơi kín nhiệm của sự cầu nguyện. Ông đã nhận được sự khôn ngoan. Từ đó ông không bao giờ giám bước lên tòa giảng mà lại dựa vào khả năng riêng của mình. Và như mọi người mong đợi, ông đã khôi phục lại được ngọn lửa, lòng nhiệt thành và khải tượng mà ông đã từng có trước đây. Những người tín đồ biết ông bấy giờ lại đặt một mảnh giấy khác lên tòa giảng. Lần này ông đọc thấy “Các môn đồ vào thấy Chúa thì đầy sự mừng rỡ” (20:20)
Trong sự hầu việc Chúa không có tài năng hay sự huấn luyện nào có thể thay thế cho quyền năng thuộc linh trong đời sống bạn được .
Lời cầu nguyện của bạn sẽ giảng và dạy với cả nhiệt thành và đầy quyền phép. Mong rằng bạn luôn luôn nhận biết công tác hầu việc Chúa là một ân tứ đến từ Đức Chúa Trời và bạn sẽ không bao giờ đánh mất sự tươi mới, năng lực mạnh mẽ và sự thách thức ban đầu khi bạn đáp lại tiếng kêu gọi của Chúa Cứa Thế,”Có tôi đây xin hãy sai tôi!”
9. Khoanh tròn mẫu tự đầu câu ĐÚNG nói về các đặc tính của chức vụ thuộc linh thành công.
Một người thực sự tìm cách hầu việc Chúa và dân sự của Ngài sẽ dần dần không còn tiếp xúc với dân chúng.
Một người càng liên hệ với dân chúng thì người đó càng ngày đi vào sự cầu nguyện và cầu thay cho họ.
Dấu hiệu xác nhận phẩm chất của người thuộc linh thực sự là yếu đuối và nhút nhát.
Khi một người không nương tựa nơi tài năng thiên nhiên của mình để hầu việc Chúa, khi người đó nhận biết mình chỉ là người phát ngôn của Đức Chúa Trời và được Chúa xức dầu thì người đó sẽ hầu việc Chúa với sự dạn dĩ, quyền phép và uy quyền và sẽ được dân chúng chú ý.
Vì mỗi người đều khác nhau nên người hầu việc Chúa không cần nhiệt tình và năng động, sốt sắng và mạnh mẽ trong khi làm việc với Chúa. Vì làm thế nào cho xong việc là được dù có khải tượng hay không cũng vậy.
Bài trắc nghiệm cá nhân
ĐÚNG-SAI. Hãy viết chữ Đ trước câu Đúng và chữ S trước câu Sai.
……..Nhu cầu quân bình trong chức vụ giảng và dạy của người hầu việc Chúa mới được khám phá gần đây và không tiêu biểu cho mạng lệnh Kinh Thánh hay sự thực hành trong Hội Thánh đầu tiênộF SYIRYS.
……..Giảng và dạy chỉ là hai phương thức của sự truyền thông chân lý, cho nên điều này không quan trọng hơn điều kia.
……..Thông thường người ta cho rằng sự giảng đạo tác động đến những cảm xúc, còn dạy đạo tác động đến lý trí.
……..Dù phương tiện truyền thông có tác động như thế nào, thì mục đích vẫn là ảnh hưởng đến toàn bộ con người, trí năng, tình cảm và ý chí.
……..Một số người xem sự giảng đạo là phương tiện truyền giáo còn dạy đạo là phương tiện đào tạo môn đồ của Chúa.
……..Đại mạng lệnh của Chúa liên hệ đến trực tiếp công tác truyền giáo, còn công tác đào tạo môn đệ được tìm thấy ở chỗ khác trong Kinh Thánh.
……..Điều quan trọng là nhấn mạnh đến Đức Thánh Linh trong sự thờ phượng hay nhấn mạnh đến Lời Đức Chúa Trời. Thánh linh trong sự thờ phượng.
……..Một người phải đánh giá một trong những phương pháp và sứ điệp của mình dựa trên những kết quả của chức vụ của mình hơn là bởi bất cứ tiêu chuẩn tuyệt đối nào.
……..Người hầu việc Chúa phải thay đổi khẩu phần thuộc linh khác nhau để cung ứng cho những người mà mình phục vụ.
……. Bí quyết của sự thành công trong chức vụ giảng và dạy là biết kết hợp những phương pháp một cách khéo léo và áp dụng nhân cách đáng yêu và sự thông minh trên mức bình thường.
……..Những giáo sư danh tiến và những diễn giả tài ba trong mọi thời đại điều nhận biết nguồn quyền năng của họ đến từ sự cầu nguyện họ không thể thích hợp với chức vụ thuộc linh.
……..Một trong những đặc tính của người giảng và dạy trong quyền năng của Đức Thánh Linh là sự nhiệt thành được sự cảm thúc.
……...Đức Thánh Linh phải hướng dẫn người hầu việc Chúa trong sự lựa chọn và chuẩn bị các bài học và bài giảng, xức dầu cho người đó khi hầu việc Chúa và động chạm đến tấm lòng của những thính giả khi những phước hạnh thuộc linh được thực hiện.
……..Theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh, người nào giảng đạo thì không thể dạy đạo, vì những tài năng của chức vụ này rất khác nhau. Cho nên, mỗi công việc phải đòi hỏi một người khác nhau.
……..Giảng đạo và dạy là hai phương thức khác nhau của sự truyền thông, nhưng sự khác nhau này không quá lớn đến nỗi một người không thể vừa giảng để chinh phục người hư mất và dạy đạo để huấn luyện các môn đồ.
Hãy nhớ rõ là bạn phải làm xong bài tường trình đơn vị 3 và nộp tập trả lời cho giáo viên hướng dẫn của bạn.
Trả lời những câu hỏi trong bài
1. Câu trả lời của bạn. Rõ ràng sứ điệp của Hội Thánh này hướng đến phục vụ nhu cầu tuyền giáo chứ không nhằm giữ sự quân bình giữa sự truyền giáo với sự tăng trưởng và sự trưởng thành của Hội Thánh
2. a. Đúng
b. Đúng
c. Sai (giống như người chăn chiên, chúng ta có trách nhiệm nuôi dưỡng con chiên con và lẫn những chiên lớn. Và chúng ta phải làm tất cả điều chi có thể làm để nuôi bầy chiên được mạnh khỏe về phần thuộc linh).
3. c. Thì cảm động qua trí năng, ảnh hưởng đến những tình cảm và cảm động ý chí để thay đổi.
4. a. Sai
b. Đúng
c. Đúng
5. a) Có một sự toàn diện và đầy trọn trong Hội Thánh đầu tiên.
6. Câu trả lời của bạn. Sự quân bình trong chức vụ vô cùng quan trọng, vì trách nhiệm của bạn phục vụ là truyền giáo và gây dựng Hội Thánh cũng như đào tạo môn đồ và giúp cho sự trưởng thành của đời sống Cơ đốc nhân. Những nhu cầu khác nhau này sẽ ảnh hưởng đến sứ điệp của bạn, phương pháp của bạn và sự nhấn mạnh của bạn. Sự quân bình còn giúp bạn khỏi rơi vào tình trạng suy đồi thuộc linh và tránh được tình trạng cuồng tín, cực đoan nếu bạn biết dành một vị trí thích đáng cho Lời Chúa và Đức Thánh Linh trong sự thờ phượng. Nói tóm lại sự quân bình giúp chúng ta đưa một người đến với Đấng Christ, cung cấp lương thực thuộc linh cho họ và tạo ra mối quan hệ và toàn diện dẫn người đó đến sự trưởng thành thuộc linh.
7. a. Đi vào nơi vắng vẻ vầu nguyện, giảng đạo, đó là lý do Ngài đã đến.
b. Đều đặn, thường xuyên, hoặc theo thói quen, cầu nguyện.
c. Đang cầu nguyện
d. Đã cầu nguyện suốt đêm
e. Cầu nguyện hay cầu nguyện và kiêng ăn.
g. Thường xuyên cầu nguyện trong Thánh Linh về những nhu cầu của chức vụ của thân thể Đấng Christ.
8. b. Đến từ sự dâng hiến hoàn toàn khả năng…
9. a. Sai
b. Đúng
c. Sai (xem bài khuyên của Phaolô cho Timôhê trong IITi 2Tm 1:7)
d. Đúng
e. Sai (Người nào đọc câu chuyện ký thuật về chức vụ của Chúa Jêsus không thể không cảm động trước sự phục vụ sốt sắng của Ngài. Xem GiGa 9:4 và Mat Mt 9:36-38. Chúng ta đã phục vụ một cách sốt sắng như Ngài vì Tin Lành phải được công bố cho mọi dân trước khi Chúa Jêsus đến (24:14).



† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 23-5-2018 08:47 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách