† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2717|Trả lời: 0

Hiểu Biết Kinh Thánh

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 16-7-2011 07:45:53 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Hiểu Biết Kinh Thánh
Tác giả: Dorothy L. Johns

Giới thiệu chương trình học
ĐƠN VỊ I : HƯỚNG ĐẾN SỰ HIỂU BIẾT .
Bài 1 : Mở Kinh Thánh
Bài 2 : Phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh
Bài 3 : Nguyên tắc cơ bản để diễn giải Kinh thánh
Bài 4 : Ngôn ngữ hình bóng để diễn giải Kinh Thánh.
Đơn vị 2:Nghiên cỨu theo sách Habacúc .
Bài 5 : Sự cấu tạo Hiểu biết các bộ phận
Bài 6 : Sự tổng hợp : kết hợp các bộ phận
Bài 7 : Sự áp dụng : Nghiên cứu phương pháp học theo sách.
Đơn vị 3: Các phương pháp nghiên cỨu khác .
Bài 8 : Phương pháp học theo tiểu sử.
Bài 9 : Phương pháp học theo chủ đề
Bài 10 : Phương pháp học với tinh thần cầu nguyện.
Chú giải thuật ngữ .
Giải đáp câu hỏi trắc nghiệm


Giới Thiệu Chương Trình Học
Bạn đang bắt đầu một công việc khá quan trọng. Đó là một cuộc nghiêm cứu thận trọng và có phương pháp về Kinh thánh. Sách nầy được chia làm ba phần hoặc đơn vị học tập. Phần đầu giới thiệu về các nguyên tắc, thuật ngữ và những mối quan hệ cần thiết cho những phương pháp hữu hiệu để nghiên cứu Kinh thánh. Sau đó là một loạt bài học nhằm nhấn mạnh phần trình bày tổng quát cũng như phương pháp học hỏi toàn sách. Phần cuối cùng trình bày những phương pháp quan trọng khác trong việc nghiên cứu Kinh Thánh. Trong khi có rất nhiều chú giải về trí năng cần thiết liên quan đến phương cách nghiên cứu Kinh thánh, sự nhấn mạnh thường xuyên cho sự tăng trưởng thuộc linh của học viên là mục đích chính của bài học nầy.
Để hiểu Kinh Thánh, bạn phải làm nhiều hơn là chỉ đọc mà thôi. Đọc Kinh Thánh cũng có giá trị, nhưng thường là không đạt đến sự hiểu biết thấy đáo mối quan hệ giữa từng phần trong Kinh Thánh. Khi bạn học hỏi Kinh Thánh với một kế hoạch được hệ thống hóa trong tâm trí bạn sẽ ghi lại những phát hiện quan trọng là điều sẽ giúp bạn thấy được sự nhất quán trong suốt cả Kinh Thánh. Hơn nữa học hỏi như thế sẽ giúp bạn nhớ lời khuyên bảo của Ngài và vâng theo mạng lệnh của Ngài.
Sự thuận phục Thượng Đế là kết quả của việc học hỏi Kinh thánh của từng cá nhân, làm theo cách nầy sẽ gây dựng được niềm tin của bạn với Đấng Christ đồng thời gia thêm sức mạnh cho đời sống thuộc linh của bạn.
Có thể bạn gặp khó khăn khi học tập bằng cách nầy, nhưng kết quả đạt được sẽ vô cùng lớn lao. Đức Thánh Linh sẽ ở cùng bạn trong mọi nơi. Khi bạn kêu cầu Ngài, Ngài sẽ giúp đỡ ngay. Nguyền xin Lời của Ngài ở đầy trong lòng của bạn học tài liệu nầy.
Mô tả Bài Học
Hiểu biết Kinh Thánh là tài liệu học tập có tác dụng hổ tương trong phương pháp học hỏi Kinh thánh có chuẩn bị chu đáo. Bạn sẽ học được kỹ thuật có hiệu quả cho việc nghiên cứu tổng quát, và sẽ áp dụng chúng vào Kinh thánh qua những câu hỏi nghiên cứu. Phần nhiều các câu trả lời được đưa ra trong sách giáo khoa nầy nhằm hướng dẫn bạn đi đến những câu trả lời cá nhân của bạn. Bài học nầy nhấn mạnh đến giá trị của những tiến trình quan sát, diễn giải, là những phương tiện giúp hiểu Kinh Thánh và hoàn thiện mục đích chính của tài liệu. Mục đích nầy nhằm giúp bạn áp dụng chân lý Kinh Thánh vào đời sống của chính bạn và chia xẻ Kinh Thánh với người khác.

GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH
Mục tiêu của bài học .
Khi kết thúc khóa học nầy bạn có thể :
1. Mô tả được những nguyên tắc căn bản của việc diễn giải Kinh Thánh.
2. Mô tả được bốn phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh được dạy dỗ trong tài liệu.
3. Sử dụng những nguyên tắc căn bản của sự diễn giải và bốn phương pháp học hỏi Kinh Thánh nầy trong việc nghiên cứu lời Chúa một cách cá nhân.
4. Diễn giải những vấn đề có ý nghĩa khi học Kinh Thánh, đồng thời dìu dắt người khác trong việc học hỏi Kinh thánh.
5. Định giá được thẩm quyền của Kinh thánh đối với niềm tin và cuộc sống của mỗi Cơ đốc nhân.
6. Nhạy cảm hơn trong nhu cầu của Đức Thánh Linh để giúp bạn học hỏi và chia xẻ Lời Chúa.
7. Cảm thấy tự tin hơn khi chia xẻ Kinh Thánh với người khác.
Sách giáo khoa
Bạn sẽ sử dụng quyển sách giáo khoa tự học “ Hiểu biết Kinh Thánh” của tác giả Dorothy Johns, vừa là sách giáo khoa và là sách hướng dẫn của khóa học nầy. Ngoài ra Kinh Thánh ( Bản dịch Anh ngữ ngày nay) “ Today’s Enhlish Version) cũng là sách giáo khoa cần thiết.
Thời gian học
Thời gian thật sự cần thiết để học mỗi bài tùy thuộc vào kiến thức bạn có sẵn về đề tài đó cũng như kỹ năng học tập mà bạn có trước đây. Thời gian học cũng còn tùy thuộc vào mức độ bạn làm theo hướng dẫn để phát triển kỹ năng cần thiết cho việc tự học. Hãy lập thời gian biểu để bạn có đủ thời gian đạt được những mục tiêu do tác giả đưa ra cũng như những chỉ tiêu do bạn đề xuất.
Các đơn vị Học tập
Các bài học trong tài liệu này được bố trí thành ba đơn vị học tập, như sau :
Đơn vị
1: Hướng đến việc Hiểu Kinh Thánh
2: Học theo sách Habacúc
3: Một số phương pháp học tập khác
Đề cương bài học và cách học
Mỗi bài học gồm : 1. Tiêu đề; 2. Dàn ý; 3. Những mục tiêu của bài học; 4. Những hoạt động học tập; 5. Những chữ căn bản; 6. Triển khai bài học : bao gồm các câu hỏi nghiên cứu; 7. Bài tập trắc nghiệm ( cuối phần triển khai bài học); 8. Phần trả lời cho bài tập trắc nghiệm ở phần sau cuốn sách.

Dàn bài và những mục tiêu của bài học sẽ giúp bạn tổng lượt chủ đề, tập trung chú ý đến những điểm quan trọng nhất khi bạn học và sẽ biết nội dung mình sẽ học.
Phần triển khai bài học sẽ giúp cho việc nghiên cứu nội dung bài một cách thấu đáo. Bằng cách học từng phần, bạn có thể lợi dụng được tốt các khoảng thời gian học ngắn ngủi để học vào bất cứ lúc nào, thay vì phải chờ đến lúc có thì giờ để học xong cả toàn bài. Phần bình luận, bài tập, và phẩn giải đáp đều nhằm giúp bạn hoàn thành được mục tiêu bài học.
Một số câu hỏi nghiên cứu trong phần triển khai bài học đều có chức khoảng trống để bạn có thể trả lời. Nhưng một số câu trả lời phải được ghi vào sổ tay. Khi viết câu trả lời vào sổ tay, nhớ ghi số của câu hỏi và tựa đề bài học. Viết phần trả lời câu hỏi đúng theo số thứ tự. Điều nầy sẽ giúp bạn ôn bài để làm bản tường trình học tập.
Đừng xem phần giải đáp trước khi bạn trả lời lời các câu hỏi. Nếu bạn tự trả lời, bạn sẽ nhớ kỹ những điều mình đã học. Sau khi trả lời, hãy kiểm tra lại câu trả lời của mình với phần giải đáp được đưa ra trong sách. Sau đó hãy sửa lại những câu bạn trả lời đúng vào sổ tay.
Những câu hỏi nghiên cứu nầy rất quan trọng vì nó sẽ giúp bạn mở mang và trau giồi kiến thức của bạn để bước vào sự phục vụ Đức Chúa Trời. Những hoạt động được gợi ý trong bài đồng th ời nhằm giúp bạn đi từ lý thuyết sang thực tiễn.

Phương pháp học loạt bài nầy .
Nếu bạn tự học loạt bài Hàm Thụ Quốc Tế ( ICI) nầy, bạn hãy gởi phần bài làm bằng thư từ đến văn phòng chúng tôi. Mặc dù bài học Hàm Thụ nầy soạn nhằm tự học, bạn cũng có thể học trong lớp.
Bản Tường Trình Học Tập.
Nếu bạn đang tự học chương trình ICI nầy với một nhóm người hoặc trong một lớp học phải làm bài báo cáo theo từng đơn vị học. Đây là những câu bạn phải trả lơì theo sự hướng dẫn trong bài học và trong các báo cáo của học sinh. Bạn phải hoàn tất và gởi bài trả lời về cho người hướng dẫn để được sửa chữa và ghi nhận xét về bài làm của bạn.
Chứng chỉ
Sau khi bạn hoàn tất bài và bản tường trình học tập, nếu người hướng dẫn học tập nhận xét bạn đạt thành tích tốt đẹp, bạn sẽ nhận được giấy chứng chỉ khen thưởng ( Certificate of Award).
Tác giả của Môn học nầy.
Bà Dorothy Johns đã dạy tại một số trường tiểu học ở New York và Missouri. Hiện nay bà đang dạy tại trường công lập và trường Kinh thánh Trung Ương ở Springfield Tiểu bang Missouri, Hoa Kỳ.
Sau khi tốt nghiệp cử nhân âm nhạc tại viện âm nhạc Eastman ở Rochester, New York, bà tiếp tục học và tốt nghiệp Cao học Khoa học về giáo dục ở Đại học tiểu bang New York tại Brockport. Sau đó bà là sinh viên của trường Kinh Thánh Trung Ương và Đại học Drury. Bà đã tham gia vào công tác đào xới của các nhà khảo cổ học tại Ysơraên.
Bà Johns là vợ của cố Tiến sĩ Donald F. Johns, trước đây là giáo sư và viện trưởng trường Kinh Thánh Trung Ương. Sách nầy được viết dựa vào phần ghi chú của ông Johns.
Người Hướng dẫn bạn học Hàm Thụ.
Người hướng dẫn bạn học chương trình Hàm Thụ ICI sẽ vui lòng giúp bạn. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về bài học cũng như về bản Tường Trình Học Tập, bạn cứ hỏi ngườ hướng dẫn một cách tự nhiên. Nếu vài người cùng thích học chung với bạn hãy xin người hướng dẫn viên xếp đặt thì giờ thuận tiện cho cả nhóm.
Cầu xin Đức Chúa Trời ban phước cho bạn khi bạn bắt đầu nghiên cứu quyển “ Hiểu biết về Kinh thánh” nầy. Nguyền loạt bài nầy làm phong phú đời sống và sự phục vụ Chúa của bạn đồng thời giúp bạn hoàn thành vai trò của bạn trong thân thể của Đấng Christ cách hiệu quả hơn.
MỞ KINH THÁNH
Kinh thánh là một sự kết hợp của 66 sách được chia làm 2 phần : Cựu Ước và Tân ước. Kinh thánh được viết xuyên suốt từ nhiều thế kỷ. Hai thứ tiếng đã được sử dụng để viết : tiếng Hêbơrơ và tiếng Hy lạp. Sách do nhiều tác giả viết. Nhưng những tác giả nầy không viết bằng lời của chính mình, mà viết bởi sự cảm động của Thánh Linh.
Phierơ viết “ Chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý muốn người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà ngươì ra đã nói bởi Đức Chúa Trời (IPhi 1Pr 1:21). Mỗi Cơ đốc nhân phải dành thì giờ đọc Kinh thánh và cầu nguyện hằng ngày để được nuôi dưỡng tâm linh của mình. Nhưng chỉ đọc không thôi thì không thay thể được việc học hỏi lời của Đức Chúa Trời một cách nghiêm túc được. Tài liệu nầy nhằm hướng dẫn bạn cách đọc Kinh Thánh.

Dàn ý bài học
Nhu cầu về học Kinh Thánh
Đời sống
Đức tin
Phục vụ
Hướng đến một quyển sách được mặc khải
Phẩm chất tâm linh
Phẩm chất siêu nhiên
Phẩm chất mặc khải
Những hướng dẫn cơ bản để hiểu Kinh Thánh
Ý nghĩa thông thường của ngôn ngữ.
Sự mặc khải tiếp diễn
Kinh Thánh diễn giải Kinh Thánh
Sự hài hòa cơ bản của tổng thể.
Tổng lược của bài học
Kỷ thuật hỏi và đáp
Nguyên tắc cơ bản của diễn giải
Phương pháp Học Kinh thánh.

Mục tiêu của bài học
Khi học xong bài học nầy bạn có thể :
Giải thích được mục tiêu học tập của Kinh thánh khác với mục tiêu của các sách khác như thế nào.
Vạch rõ được sự kết hợp hài hòa của ý nghĩa, diễn giải và sự hài hòa giúp cho việc hướng dẫn hiểu biết Kinh thánh.
Tăng thêm sự tin kính qua việc hiểu biết nhiều hơn về Kinh Thánh.
Những hoạt động học tập
Đọc kỹ phần đầu tiên trong quyển sách giáo khoa tự học nầy.
Đọc kỹ phần giới thiệu bài học, dàn ý và những mục tiêu của bài học.
Xem kỹ những chữ căn bản. Nếu bạn chưa quen thuộc với những chữ ấy, tham khảo lại ở phần chú giải.
Nghiên cứu phần triển khai của bài học, đọc kỹ những phần trích dẫn của Kinh Thánh và trả lời tất cả những câu hỏi nghiên cứu. Bạn sẽ gặt hái được nhiều hơn khi thực hiện việc trả lời được những gì của chính bạn trước khi xem phần trả lời.
Làm bài tập trắc nghiệm ở cuối mỗi bài học. Kiểm tra cẩn thận câu trả lời của mình.Ôn lại những câu bạn trả lời chưa đúng.
Từ ngữ
Hiểu được những chữ căn bản chúng tôi đã liệt kê ở phần đầu của mỗi bài học sẽ giúp bạn trong quá trình học tập. Bạn sẽ được thấy những chữ nầy được giải thích theo thứ tự ABC trong phần giải nghĩa thuật ngữ ở cuối sách. Nếu bạn không hiểu nghĩa của bất cứ chữ nào trong danh sách hãy xem xét lại những chữ nầy khi bạn gặp phải trong khi đọc bài.
Tiểu sử ( biograpical)
Mạch văn ( context)
Tận tâm ( devotinal)
Nghĩa bóng ( figurative)
Giới hạn ( finite)
Vô hạn ( infinite)
Được cảm thúc ( inspired)
Nghĩađen(reincarnation) Sự mặc khải (revelation)
Nghiên cứu ( Study)
Siêu nhiên ( supernatural)
Chủ đề ( topical)
Phương pháp tổng hợp ( synthetic method)

Triển khai bài học
NHU CẦU VỀ HỌC KINH THÁNH
Mục tiêu 1 : Định nghĩa việc học tập có qui củ .
Mục tiêu 2 : Liệt kê ba phương pháp trong việc thay đổi con người bởi việc nghiên cứu Kinh thánh .
Mục đích tối hậu của Kinh Thánh là làm thay đổi đời sống. Những điều bạn học được từ Kinh Thánh sẽ làm nên thay đổi trong thái độ và hành động của bạn. Đức Thánh Linh không chỉ quan tâm đến sự truyền đạt kiến thức của bạn. Mục đích của Ngài là chuẩn bị cho con người của Đức Chúa Trời được phát triển về mặt tâm linh và tâm trí của Đức Chúa Trời để làm điều tốt lành. Mục tiêu của bạn trong việc hiểu chân lý Kinh Thánh là sau đó áp dụng được vào đời sống của chính mình. Câu Kinh thánh cổ điển nói về sự hà hơi của Kinh thánh và mục đích của Kinh thánh là IITi 2Tm 3:16-17. Hãy đọc Kinh thánh của bạn và ghi chú mục tiêu : “ Hầu cho người thuộc về Đức Chúa trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành”. Lời của Đức Chúa Trời chỉ có thể tác động trên bạn nếu bạn chịu đọc Lời đó. Học tập có qui cũ thường được định nghĩa là “ sự áp dụng chuyên cần của tâm trí, sự quan sát kỹ lưỡng các dữ kiện, sự suy nghĩ sâu xa dữ kiện ấy. Khi suy nghĩ các dữ kiện, bạn sẽ rút ra được kết luận và đi đến quyết định. Khi những quyết định đã trở thành một phần của cuộc sống bạn, đời sống bạn sẽ đặt nền tảng trên các nguyên tắc của Kinh Thánh, và bạn sẽ hoàn thành được 3:16-17. Bây giờ chúng ta hãy bàn về ba phương diện mà Kinh Thánh sẽ thay đổi thái độ và hành động của ta.
Đời sống
Chỉ có Kinh Thánh mới có thể giải đáp về những câu hỏi của bạn về đời sống. Tự bản thân một mình con người không hề biết phải sống và chết như thế nào. Cách cư xử con người luôn đầy tính ích kỷ và tham lam, và số phận sẽ là cay đắng và tuyệt vọng.
Bước vào lời của Đức Chúa Trời sẽ có tràn đầy ánh sáng. Nguyên tắc sống của Ngài hướn ta đến bình an, vui mừng và thỏa lòng. Chương trình II và III của sách Tít là những chương tốt đẹp nói về đời sống Cơ đốc.
“ Vì chưng chúng ta ngày trước cũng ngu muội, bội nghịch, bị lừa dối, bị đủ thứ tình dục dâm dật sai khiến, sống trong sự hung ác tham lam, đáng bị người ta ghét và tự chúng ta cũng ghét lẫn nhau. Nhưng từ khi lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta và tình thương yêu của Ngài đối với mọi người đã được bày ra, thì Ngài cứu chúng ta ....... Đức Thánh Linh ..... cho chúng ta được tái sinh và cuộc sống mới (Tit Tt 3:3-5)
Học tập Kinh Thánh phải thay đổi cách sống của bạn.
Đức Tin
“ Đức tin là sự biết chắc vững vàng những điều mình đương trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy. Ay là nhờ đức tin mà các đấng thuở xưa đã được lời chứng tốt (HeDt 11:1-2). Đức tin để được tha thứ, để hiểu chương trình của Đức Chúa Trời đối với thế giới, để có đời sống bất diệt trong Chúa Jêsus. Tất cả những điều nầy phải được đến từ Kinh Thánh. Chúa Jêsus phán “ Những lời ta phán cùng các ngươi đều là Thần Linh và sự sống” (GiGa 6:63). Không có sự dẫn dắt của Kinh Thánh, con người sẽ đặt niềm tin của họ vào những điều sai trái như hình tượng, thế lực của thiên nhiên, hoặc sự sở hữu của cải vật chất. Việc học Kinh thánh không chỉ bày tỏ cho bạn về Đức Chúa Trời hằng sống là Đấng xứng đáng được sự tin cậy của bạn mà thôi, nhưng Đức Thánh Linh, qua việc học, còn tạo cho ta niềm tin nơi Đức Chúa Trời được phát triển và trưởng thành trong tâm linh bạn.
Phục vụ
Sự hiểu biết Kinh Thánh, về Đức Chúa Trời và đường lối của Ngài đem đến cho chúng ta trách nhiệm chia xẻ sự hiểu biết nầy với người khác. Thế giới đang khát khao chân lý của Ngài. Chương trình của Chúa ấy là nước của Đức Chúa Trời được phát triển theo nguyên tắc chia xẻ nầy. Chúa Jêsus đã làm như vậy. Ngài dạy dỗ con người và sai phái họ đi dạy dỗ người khác. Sách LuLc 10:1 nói về việc Ngài sai 70 người đi trước Ngài đến những thành mà chính Ngài sẽ đi đến. Họ đã chia xẻ những gì họ đã học được nơi Chúa Jêsus, chúng ta cũng phải chia xẻ theo cách đó.
1. Đọc IITi 2Tm 3:16-17. Sử dụng những câu Kinh Thánh nầy để trả lời cho những câu hỏi sau :
a. Kinh Thánh được Đức Chúa Trời hà hơi, có ích lợi trong bốn mục đích nào?
...............................................................................................
b. Hai mục đích tối hậu của tác dụng của Kinh Thánh trên đời sống của Cơ đốc nhân là gì?
...............................................................................................
...............................................................................................
2. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt đúng :
a. Học và đọc Kinh Thánh là một việc như sau.
b. Học Kinh Thánh đòi hỏi nổ lực hơn là đọc đơn vị bởi vì việc học đòi hỏi bạn phải xem xét kỹ lưỡng các dữ kiện và suy gẫm sâu xa về những dữ kiện ấy.
c. Chúng ta phải học, đọc Kinh Thánh để khám phá ý muốn của Đức Chúa Trời cho cuộc sống, đức tin và cho việc hầu việc Ngài.
HƯỚNG ĐẾN CUỐN SÁCH ĐƯỢC MẶC KHẢI
Mục tiêu 3 : Giải thích ý nghĩa của sự mặc khải
Mục tiêu 4 : Liệt kê phẩm chất khiến cho sự khác biệt giữa mục tiêu của Kinh Thánh và mục tiêu của các cuốn sách khác .
Sự mặc khải là sự làm cho một chân lý thiêng liêng mà trước đây không hề được được biết và không có thể biết trở thành được biết đến và có thể được biết một khi Đức Chúa Trời bày tỏ chân lý của Ngài vào tâm trí con người khi một Cơ đốc nhân sử dụng từngữ Seripture ( Lời Chúa), người đó chỉ nói đến Kinh Thánh mà thôi. Cơ đốc nhân tin rằng Kinh thánh là thông điệp duy nhất được cảm thúc của Đức Chúa Trời cho con người. Am tường điều nầy là khởi điểm thiết yếu cho việc học Kinh Thánh. Sự mặc khải làm cho mục tiêu hướng về Kinh Thánh là độc nhất trong 3 phương diện sau:
Phẩm chất Tâm Linh.
Với phẩm chất tâm linh , chúng tôi muốn nói đến tính chất tâm linh mà bất cứ người nào muốn hiểu đúng Kinh Thánh cần phải có. Theo thường lệ, kiến thức về ngôn ngữ là điều tất yếu để hiểu một cuốn sách. Nhưng đối với Kinh thánh thì khác. Để hiểu Kinh thánh thì cần phải có thêm sự hiểu biết tâm linh nữa. Chính Đức Chúa Trời đã ban sự hiểu biết đó cho mỗi cá nhân nào tin Chúa Jêsus Christ là Cứu Chúa.
Đọc ICo1Cr 2:13-15 và trả lời những câu hỏi sau về câu 14. Mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng.
3. Tại sao người nào không có Đức Thánh Linh thì không thể hiểu được sự ban cho của Đức Chúa Trời? Bởi vì :
a) người ấy không cố gắng nhiều để hiểu.
b) người ấy không thật sự ước muốn để hiểu.
c) giá trị của sự ban cho của Đức Chúa Trời chỉ có thể phán đoán trên nền tảng tâm linh.
4. Khi người nào không có Đức Thánh Linh mà vẫn cố gắng để hiểu chân lý của Đức Chúa Trời, thì việc nầy đối với người ấy sẽ như thế nào?
a) Khó khăn nhưng vẫn đáng cho việc nghiên cứu thận trọng
b) vô lý
c) Những ý tưởng sáng chói mới mẽ
Hãy kiểm tra lại câu trả lời của bạn.
Phẩm chất siêu nhiên
Siêu nhiên nghĩa là điều gì vượt ra ngoài lãnh vực thiên nhiên, vượt khỏi sự quan sát của con người trên trái đất. Phép lạ hoặc những điều xảy ra mà không thể giải thích theo lối thông thường, được gọi là siêu nhiên. Đức Chúa Trời hằng sống trong Kinh thanh là Đức Chúa Trời của phép lạ. Là Đấng Tạo dựng nên mọi vật, Ngài là Chúa tể của muôn loài.
Các phép lạ mà bạn đọc trong Kinh Thánh không phải là những sự kiện tưởng tượng ra, giống như những chuyện dân gian hoặc thần thoại Hy lạp. Phép lạ trong Kinh thánh là những sự kiện lịch sử nghiêm túc. Đám mây dẫn đường cho người Ysơraên (XuXh 40:36) không phải là đám mây tưởng tượng. Khi Chúa Jêsus làm no lòng 5000 người với 5 cái bánh và 2 con cá, bạn có thể biết chắc chắn rằng người ta đã ăn thức ăn thật và no lòng thật như trong Kinh Thánh đã ghi chép ( Mat Mt 14:1-36).
Những phép lạ trong Kinh Thánh hoàn toàn không giống với ma lực, phép phù thủy hoặc ma thuật, không dựa trên sự tưởng tượng và luôn có một mục đích hợp lý. Những phép lạ không bao giờ được thực hiện để giải trí hoặc phô trương quyền phép. Chúa Jêsus là Chúa. Hành động của Ngài đều dựa trên sự khôn ngoan trọn vẹn. Quyền Chủ của Ngài lan rộng trên mọi vật.
“ Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được , vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp hành, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả” (CoCl 1:16).
5. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt đúng. Tại sao yếu tố siêu nhiên trong Kinh Thánh là rất quan trọng để hiểu Kinh Thánh? Bởi vì:
a) Đó là điều cần thiết để quyết định xem những phép lạ là thật hay tưởng tượng.
b) Những phép lạ trong Kinh Thánh nên được xem là sự kiện lịch sử và nghiêm túc.
c) Đức Chúa Trời là Đấng tạo ra muôn vật, mọi vật đều lệ thuộc vào quyền năng của Ngài, kể cả những vật ngoài lãnh vực thiên nhiên.
Phẩm chất mặc khải.
Chúng ta phải hướng về Kinh Thánh với nhận thức rằng khi một chân lý vô biên được mặc khải bằng những từ ngữ bình thường thì ý nghĩa của từ này trở nên phong phú hơn. Những từ ngữ bình thường lại có một ý nghĩa phong phú bởi vì Thánh Linh của Đức Chúa Trời đang sử dụng những từ nầy để đạt một chân lý thiêng liêng.
Ví dụ trong Kinh thánh Tân ước, từ ngữ sự yêu thương ( love) mang nhiều ý nghĩa hơn nghĩa bình thường dưới ánh sáng của thập tự giá. Tình yêu của Đức Chúa Trời mà khiến cho Chúa Jêsus chịu chết vì tội lỗi chúng ta, là một thứ tình yêu sâu xa hơn tình yêu theo hiểu biết thông thường. Do đó, việc nhờ cậy Đức Thánh Linh soi sáng, mỗi từ ngữ khi bạn học Kinh Thánh là điều rất quan trọng.
6. Kinh Thánh được viết bằng:
a) Những từ không thông dụng.
b) những từ bình thường với ý nghĩa phong phú
c) Những từ không theo nghĩa đen.
7. Xếp đặt cho phù hợp hai cột sau ( câu sau mang nghĩa của câu trước).
...a. Chỉ có Cơ đốc nhân tin Chúa mới có thể hiểu Kinh Thánh một cách đúng đắn.
...b. Nhưng phép lạ mà bạn đọc trong Kinh Thánh là những sự kiện có thật.
...c. Đức Thánh Linh đã làm phong phú ý nghĩa của nhiều từ trong Kinh Thánh.
1. Biện pháp siêu nhiên.
2. Biện pháp tâm linh
3. Biện pháp mặc khải.
NHỮNG HƯỚNG DẪN CĂN BẢN ĐỂ HIỂU KINH THÁNH
Ý nghĩa về mặt ngôn ngữ
Mục tiêu 5 : Định nghĩa ý nghĩa ngôn từ với ngôn ngữ . Kinh Thánh được viết theo quy luật bình thường của ngôn ngữ .
Ý nghĩa ngôn từ là cách thức được sử dụng một cách tự nhiên hoặc bình thường theo ý nghĩa tầm thường của từ ngữ. Trong Kinh thánh điều này có nghĩa là những từ đều có ý nghĩa bình thường. Kinh Thánh không được viết bằng mật mã. Ở phần trước bạn đã biết rằng Đức Thánh Linh đã ban cho ngôn ngữ Kinh Thánh có ý nghĩa phong phú. Nhưng điều này không có nghĩa là ý nghĩa cơ bản của từ bị biến đổi. Trong sách Mác 8:27; chúng ta được biết rằng Chúa Jêsus và các môn đồ của Ngài đã đi đến những ngôi làng gần thành Sê sa rê Phi líp, chúng ta biết rằng đã có những ngôi làng ở tại khu vực đó và rằng họ đã thật sự đến nơi đó. Đây là nghĩa ngôn từ của Kinh Thánh. Nghĩa là viết ra thế nào khi ngĩa như thế ấy.
Ngôn ngữ còn có thể được dùng một cách hình bóng nghĩa là dùng những từ ngữ của một vấn đề khác một vấn đề nhằm cung cấp những hình ảnh cho tâm trí để minh họa những ý tưởng khác. Điều này được minh họa trong GiGa 7:38. Trong câu này, Chúa Jêsus phán “ kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình”. Ngôn ngữ theo nghĩa bóng được sử dụng để giải thích bằng cách nêu hình ảnh mà chúng ta có thể so sánh được. Chúa Jêsus đã nêu hình ảnh một con người với những suối nước nhận thấy rằng cách sử dụng ngôn ngữ được dùng ở đây khác với cách sử dụng Giăng đã ghi thêm lời giải thích, cho nên không còn có sự nghi ngờ về ý nghĩa ấy. Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy. (7:39). Ngôn ngữ theo nghĩa đen và nghĩa bóng sẽ được thảo luận nhiều hơn ở bài 3 và 4. Nhưng nói chung Kinh Thánh được đặt vào một “ giá trị về bề mặt” ( Face value) với ý nghĩa bình thường của ngôn ngữ dể hiểu. Đức Chúa Trời đã mặc khải cho con người nhằm cung ứng sự chỉ dẫn cho họ, chứng không nhằm dấu diếm chân lý.
Ngôn ngữ của con người có hạn chế
Mỗi đồng tiên đều có hai mặt. Về mặt nầy người bình thường có thể hiểu được, Kinh Thánh vì nó được viết bằng ngôn ngữ bình thường. Nhưng về mặc khác, làm thế nào một Đức Chúa Trời vô hạn có thể giải bày được chân lý vô cùng cho con người bị giới hạn? Bởi vì con người bị giới hạn cho nên ngôn ngữ của họ cũng có hạn chế. Chúng ta nói rằng Đức Chúa Trời đã hòa nhập với con người. Nghĩa là Ngài bày tỏ lẽ thật thiêng liêng ở một hình thức đơn giản nhất để con người có thể hiểu được ở một mức độ nào đó. Bạn không thể hiểu mọi thư cần phải hiểu về Đức Chúa Trời. Nhưng bạn có thể hiểu những điều thiết yếu đối với bạn về Ngài.
Sách RoRm 1:20 cho ta thấy Đức Chúa Trời đã tạo dựng thiên nhiên với ý định giúp con người hiểu được Ngài là như thế nào ! và để giúp cho con người vượt qua những giới hạn của ngôn ngữ và sự hiểu biết của con người, Kinh Thánh sử dụng theo nghĩa bóng để minh họa thật là khó đối với chân lý.
Để hiểu được Đức Chúa Trời là như thế nào? Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời là Thần Linh (GiGa 4:24). Nhưng Ngài có quyền năng vô hạn về hành động thị giác, thính giác. Một vài bản dịch Kinh Thánh đã sử dụng từ “ đôi mắt” khi họ muốn nói đến quyền năng thấy được mọi thứ của Ngài. Họ sử dụng từ “ cánh tay phải” khi nói đến quyền năng hành động của Ngài. Những lời diễn đạt này nhằm giúp ta hiểu, chứ không nhằm hướng dẫn chúng ta vào cách suy nghĩ sai lệch rằng Đức Chúa Trời cũng như chúng ta là một thực thể bị hạn chế Đức Thánh Linh biết những hạn chế của con người Ngài đã dùng ngôn ngữ theo cách nghĩa đen và nghĩa bóng để giúp cho con người nắm được lẽ thật.
8. Trả lời những câu hỏi sau bằng những từ ngữ của phần trên.
a. Từ ngữ nào được dùng để diễn tả ngôn ngữ sử dụng thông thường?.
...............................................................................................
b. Cách nói của Chúa Jêsus rằng “ Sông nước hằng sống sẽ chảy trong lòng mình” được sử dụng bằng hình thức ngôn ngữ nào?
...............................................................................................
c. Từ nào mô tả Lẽ Thật của Đức Chúa Trời vượt xa tầm hiểu biết của chúng ta?
...............................................................................................
Sự bày tỏ liên tục
Mục tiêu 6 : Giải thích quan niệm về “Sự Bày Tỏ Liên Tục ”.
Đức Chúa Trời không chỉ hòa hiệp chính mình nếu con người không nhìn thấy được, không nếm được, không cảm thấy được, hoặc không nghe được, thì không có điều gì là thực hữu đối với họ. Tội lỗi đã cắt đứt mối quan hệ của con người với Chúa. Tình yêu thương và lòng nhân từ vô biên của Đức Thánh Linh vận hành từng bước vào lương tâm con người. Người Ysơraên phải được chọn làm một bài học sống động. Luật lệ phải đuợc ban bố. Kế hoạch của Đức Chúa Trời phải được thực hiện qua nhiều năm trong lịch sử. Ngài đã tìm ra những con người đặc biệt như Apraham và Môise là những người bén nhạy với tiếng của Ngài. Ngài đã sai phái những tiên tri rao giảng lời Ngài. Cuối cùng, “ Khi kỳ hạn đã được trọn” (GaGl 4:4) Đức Chúa Trời bèn sai con Ngài, Chúa Jêsus Christ. Bởi sự chết của Chúa Jêsus trên thập tự giá, Ngài đã bắc chiếc cầu cho con người để trở lại cùng Đức Chúa Trời.
Qua những sự việc đó, Đức Chúa Trời đã cho con người càng biết nhiều thêm về chính Ngài. Sự bày tỏ này được gọi là liên tục, bởi 2 lý do : (1) Trước khi con người chỉ có thể tiếp nhận trong một lúc một chừng mực nào đó của Lẽ Thật mà thôi và (2) Tội lỗi đã làm cho con người không đến gần với Đức Chúa Trời. Esai đã hiểu điều này khi ông nói về việc dạy dỗ “ Phải giềng mối thêm giềng mối, giềng mối thêm giềng mối, hàng thêm hàng, hàng thêm hàng, một chút chỗ này, một chút chỗ kia !” (EsIs 28:10). Nhờ sự mặc khải liên tục này Đấng Cứu Chuộc được thấy rõ nét hơn trong Tân ươc hơn là trong Cựu Ước.
9. Hãy khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt đúng.
a) Con người có thể hiểu mọi điều cần biết liên quan đến Đức Chúa Trời.
b) Tâm trí con người có kỷ năng bị hạn chế trong việc hiểu lẽ thật thiên thượng.
c) Đức Chúa Trời có đôi mắt giông như chúng ta.
d) Ngài có một nhãn quan bao quát và vô biên.
e) Trong suốt lịch sử Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính mình Ngài càng lúc càng nhiều hơn cho con người.
Kinh Thánh Diễn giải Kinh Thánh.
Mục tiêu 7 : Định nghĩa mạch văn liên quan đến diển giải Kinh Thánh .
Một giáo sư Kinh Thánh đã nói ; “ Kinh Thánh chính là lời dẫn giải hay nhất của bản thân nó”. Người ấy muốn nói rằng khi gặp một đoạn Kinh Thánh dường như khó hiểu, bạn nên tìm những câu Kinh Thánh khác để soi rọi giải thích nó. Nơi tra cứu đầu tiên chính là ngay trong mạch văn trực tiếp. Bạn đã thấy trong bản chú giả từ ngữ rằng mạch văn nghĩa là “ Tất cả những từ nằm chung quanh một đoạn”. Không cần phải nói là điều này làm nên sự quen thuộc đối với toàn bộ Kinh Thánh. Bài này đã nhấn mạnh về việc học, bởi vì hành động tập trung nghiên túc là cần thiết cho việc đào sâu lời Ngài. Càng làm quen nhiều với Kinh Thánh, càng dễ tìm ra những câu, những đoạn giải thích, soi sáng các đoạn khác.
Học giống như một viên sỏi thả vào mặc nước yên tỉnh. Nó tỏa ra những vòng tròn lan rộng. Những từ đơn độc phải được giải thích trong ánh sáng của câu, câu trong ánh sáng của tiết, tiết trong ánh sáng của phân đoạn v..v..và v..v... Ở điểm rộng nhất, toàn bộ Kinh Thánh soi rọi cho những phần của nó, Tổng thể Kinh thánh là mạch văn tổng quát và là người dẫn đường cho việc hiểu mỗi phần cá biệt của nó. Những tín lý quan trọng không có thể chỉ đưa vào vài câu Kinh Thánh mà không có sự hổ trợ khác trong Kinh Thánh. Điều này không có nghĩa là tín lý đó sai, mà đơn thuần là không đủ để hiểu.
11. Giải thích mạch văn trực tiếp và mạch văn tổng quát liên quan đến “ Kinh Thánh diển giải Kinh Thánh”.
...............................................................................................
Đây là một lời thận trọng, có người cho rằng bất cứ một lý thuyết hoặc một giáo lý nào cũng đều được Kinh Thánh chứng minh. Con người đã gắng sức “ chứng minh. Những quan điểm sai trật bằng cách xem kỷ Kinh Thánh để tìm thấy một câu tương tự nói những gì mình đang suy nghĩ.
Ví dụ một lần nọ, một phụ nữ đã nói với tôi rằng Kinh Thánh dạy về sự LUÂN HỒI. Bởi tôi biết rằng Kinh Thánh không dạy điều này, tôi có hỏi bà ấy tìm được điều này ở đâu? Bà ta trả lời bằng cách trích dẫn một số câu Kinh Thánh ( đồng thời trích dẫn sai một số câu khác) có liên quan đến cuộc sống sau khi chết. Người phụ nữ này đã đưa ý nghĩ sai của mình vào Kinh Thánh thay vì kiểm tra lại chính xác xem Kinh Thánh đã nói gì. Đọc và đối chiếu Kinh Thánh với Kinh Thánh một cách cẩn thận sẽ cho thấy rõ ràng Chúa Jêsus đã cứu mỗi cá nhân chúng ta Ngài biết rõ tên của từng con chiên một của Ngài. Chúng ta sẽ thừa kế được sự sống vĩnh hằng với Ngài sau khi chết. Điều này không giống như trong lý thuyết sai lệch về sự luân hồi.
Sự Hài Hòa Cơ Bản Của Toàn Thể.
Mục tiêu 8 : Trình bày chủ đề chính tìm thấy Được trong suốt Kinh Thánh. Sự hài hòa của Tất cả các sách trong Kinh Thánh .
Bạn có thể sử dụng mạch văn để giúp mình hiểu Kinh Thánh. Trên con đường từ một câu riêng lẽ cho đến sự tập hợp của các sách chỉ thể hiện một hệ thống chân lý mà thôi. Thật ra bạn cần phải sử dụng toàn bộ hệ thống chân lý để diễn giải từng phần đơn lẻ. Đây là một trong những chứng cớ đầy sức thuyết phục về sự mặc khải. Các sách của biết bao nhiêu người viết ra trải qua nhiều thời kỳ lịch sử vẫn hài hòa với nhau. Chìa khóa dĩ nhiên là chính Đức Thánh Linh là tác giả đích thực. Con người chỉ là công cụ viết ra mà thôi.
Nhiều chủ đề được tìm thấy trong suốt Kinh Thánh. Nhưng điều chỉnh yếu là sự Cứu chuộc qua Đấng Christ. Kinh Thánh Cựu ước nói về Ngài bằng những biểu tượng và lời tiên tri. Kinh Thánh Tân ước ghi lại đời sống, sự chết, sự phục sinh và sự thăng thiên của Ngài. Chúa Jêsus đã phán Kinh Thánh Cựu Ước đều nói với Ngài. Sau khi Chúa Jêsus đã phục sinh, Ngài đã dạy 2 môn đồ trên con đườn đến Em -ma - út “ Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môise rồi kế đến mọi Đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh” (LuLc 24:27)
Sự thống Nhất Về Ý Nghĩa .
Thống nhất về ý nghĩa nhắc chúng ta rằng Kinh Thánh không hề có sự mâu thuẫn. Chúng ta phải cẩn thận đừng áp đặt ý nghĩ chủ quan của mình vào Kinh Thánh và cố gắng tìm chứng cớ cho ý nghĩa đó. Cái hướng đúng đắn là hãy để từ ngữ tự nói lên ý nghĩa của chúng. Khi nghiên cứu kỷ một câu Kinh Thánh ý nghĩa thật sẽ tự thoát ra. Ý nghĩa đó có thể hoặc không có thể đúng theo ý nghĩa mà bạn mong muốn. Đức Chúa Trời đã cảm thúc người viết Kinh Thánh. Đức Chúa Trời không tự mâu thuẩn với chính Ngài cho nên Kinh Thánh cũng không có sự mâu thuẫn. Nếu có đoạn Kinh Thánh nào đó tưởng chừng như mâu thuẫn với đoạn khác, là do người đọc thiếu thông hiểu hoặc thiếu chỉ dẫn. Đối với trường hợp như thế, hãy luôn chừa sự suy xét cho đến khi sự sáng chân lý soi rọi trên vấn đề của bạn.
12. Hãy khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt đúng.
a) Có một hệ thống chân lý được bày tỏ trong toàn bộ Kinh thánh.
b) Chủ đề của sự Cứu Chuộc chỉ có thể tìm thấy trong Tân ước.
c) Chúa Jêsus dạy rằng Cựu Ước chứa đựng Lẽ Thật về Ngài.
d) Bạn phải rút lấy ý nghĩa từ một đoạn Kinh Thánh hơn là lấy ý nghĩa chủ quan áp đặt vào Kinh Thánh.
e) Kinh thánh dạy về thuyết Luân Hồi ( đầu thai)
f) Kinh Thánh không hề tự mâu thuẫn.
TỔNG LƯỢC CỦA BÀI HỌC
Mục tiêu 9 : Liệt Kê Ba đề tài Chính yếu được trình bày trong bài học nầy .
Sở dĩ phần này có tiêu đề là tổng lược vì các phần sau đây trình bày những chủ để chính yếu trong bài học.
Kỷ thuật hỏi và trả lời .
Khi bạn đã đọc suốt bài học này, bạn đã áp dụng một phần nào cách học Kinh Thánh bằng phương pháp đặt câu hỏi và trả lời ( trong bài 1,3 và 4).Một phương cách hữu hiệu để nhận được ý nghĩa chính xác từ một đoạn Kinh Thánh. Kinh Thánh sẽ tự chứng minh cho mình khi những câu trả lời hiện ra. Đều nằm trong việc biết cách đặt những câu hỏi đúng đắn. Kỷ thuật hỏi đáp là một công cụ cơ bản trong việc học Kinh Thánh.
Những nguyên tắc diễn giả - Kinh Thánh.
Bài 1 đã cho ta kiến thức cơ bản để diển giải Kinh Thánh. Bài 3 đề cập đến một số nguyên tắc hoặc quy luật cơ bản diển giải Kinh Thánh một cách chi tiết hơn. Những nguyên tắc cơ bản này đã được tìm tôi và sử dụng bởi nhiều học giả nghiên cứu Kinh Thánh trải qua nhiều thế kỷ. Điều họ quan tâm là chia sẻ đúng đắn hoặc là dạy dỗ sứ điệp của chân lý Đức Chúa Trời cách chính xác. Cho nên điều quan trọng là phải hiểu rõ những nguyên tắc cơ bản của diển giải Kinh thánh để có thể áp dụng cho tất cả các phương pháp học Kinh Thánh.
Những phương pháp học Kinh Thánh.
Có nhiều phương pháp học Kinh Thánh, những tài liệu này chỉ đề cập đến 4 phương pháp trọng tâm của bài học là phương pháp toàn sách, thườg gọi là phương pháp tổng hợp phương pháp này sẽ được nghiên cứu chi tiết hơn, vì dù là phương pháp học cơ bản cho việc học Kinh Thánh. Trong bài 5,6,7 bạn sẽ học sách Ha ba cúc với phương pháp toàn sách hoặc tổng hợp này.
Ba bài cuối sẽ tập trung mỗi bài vào một phương pháp khác nhau. Bài 8 sẽ dạy về phương pháp lược sử sách Amốt. Bài 9 sẽ sử dụng phương pháp đề tài trong thơ Ephêsô. Bài 10 sẽ áp dụng bằng phương pháp khẩn nguyện trong thơ tín Philíp. Kỷ thuật học và những phương pháp trình bày ở đây phải trở thành công cụ của bạn để chuyên tâm nghiên cứu Kinh Thánh suốt đời.
13. Sắp xếp phần mô tả cho phù hợp với tiêu đề.
...a. Những nguyên tắc giúp chúng ta hiểu Kinh Thánh.
...b. Tổng hợp, lược sử, đề tài và khẩn nguyện.
...c. Sự đáp ứng của việc Kinh Thánh tự nói về mình.
1. Kỷ thuật hỏi và đáp
2. Những nguyên tắc căn bản để diển giải.
3. Phương pháp học Kinh Thánh.
Mạch văn:
Từ
câu
Tiết
Chương
Sách
Toàn bộ Kinh Thánh

BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM CÁ NHÂN
Sau khi bạn đã ôn lại bài học này bạn hãy làm bài tập trắc nghiệm rồi sau đó bạn hãy xem lại câu trả lời của bạn so với những câu trả lời có sẵn ở phần cuối cuối sách nầy. Hãy học ôn lại bất cứ câu nào bạn trả lời không đúng.1. Trong lúc học, bạn áp dụng tâm trí của mình một cách cần mẫn và nghiên cứu từ thật kỹ các sự kiện đó là lúc bạn đang:a) Đọc một cách bất cẩnb) Đọc một cách có kỷ luật.c) Làm việc chỉ với với những sách thật khó mà thôi2. Nghiên cứu học hỏi Kinh Thánh là quan trọnga) Trong đời sống, đức tin và sự phục vụ Chúa.b) Chỉ khi nào bạn muốn trở thành Mục sư.c) Chỉ khi nào con người trở nên già.d) Chỉ để cải thiện tri thức.3. Theo Kinh Thánh, ý nghĩa của “ mặc khải” là gì?a) Là việc Chúa làm cho conngười biết những gì trước đây chưa được biết.b) Là sự khám phá của con người về Chúa trong thiên nhiên?c) Là việc con người biết được Chúa bằng những giá quan của mình.4. Một trong những từ nào sau đây KHÔNG diễn tả phẩm chất làm nên sự khác biệt giữa Kinh Thánh và mục tiêu của các sách khác?.a) Mặc khảib) Siêu nhiênc) Tự nhiênd) Tâm linh5. Hoàn chỉnh mỗi câu ở bên trái bằng cách đưa vào con số thích hợp của từ ngữ ở cột phải....a. Ý nghĩa theo chữ nghĩa của ngôn ngữ liên quan đến nghĩa ............... của từ ngữ đó....b. Con người có thể hiểu được Kinh Thánh vì Đức Thánh Linh vận hành ở trong.............c. Bởi vì ngôn ngữ loài người bị hạn chế trong truyền đạt Lẽ thật thiên thượng nên Đức Chúa Trời đã bị ...... chính mình Ngài cho con người qua những minh họa bằng ngôn ngữ hình bóng.
...d. Đức Chúa Trời Đấng Cứu chuộc được nhìn thấy trong Tân ước rõ hơn trong Cựu Ước.............
...e. Bản thân Kinh Thánh là ...........tốt nhất.
...f. Toàn Kinh Thánh có một .............................căn bản._1. Sự chú thích
2. Sự mặc khải tiếp diễn
3. Bình thường
4. Tín đồ
5. Hòa nhận
6. Sự hài hòa.__6. Kể ra ba đề tài chính sẽ được trình bày trong tài liệu này ........................................................................................
Câu trả lời cho những câu hỏi học tập
Ghi chú : Những câu trả lời cho phần bài tập của bạn không theo số thứ tự bình thường. Do đó bạn thấy trước câu trả lời của câu hỏi kế tiếp. Hãy dò số của câu bạn cần tìm, và cố gắng dừng xem trước khi trả lời.
1. a. Rao giảng Lẽ Thật quở trách lỗi lầm, sửa chữa khuyết điểm và dạy dỗ về một đời sống tốt lành.
b. Giúp cho con người có khả năng đồng thời được trang bị để làm việc thiện.
2. b) Học Kinh Thánh đòi hỏi nổ lực hơn là đọc đơn thuần bởi vì học đòi hỏi bạn xem xét và suy nghĩ sâu sắc về dữ liệu, sự kiện.
c) Chúng ta phải học Kinh Thánh để khám phá được ý muốn của Đức Chúa Trời trong đời sống, đức tin và trong sự phục vụ Ngài.
3. c) Giá trị của sự ban cho của Đức Chúa Trời chỉ có được phán đoán trên nền tảng tâm linh.
4. b) Là vô lý
5. b) Phép lạ trong Kinh Thánh phải được xem là những dữ liệu nghiêm túc và có tính lịch sử.
c) Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng ra mọi thứ và mọi vật đều lệ thuộc vào quyền năng của Ngài kể cả những vật ngoài lãnh vực thiên nhiên.
6. b) Những từ bình thường với ý nghĩa phong phú
7. a.2) Biện pháp tâm linh
b.1) Biện pháp siêu nhiên
c. 3) Biện pháp mặc khải.
8. a. Nghĩa đen
b. Nghĩa bóng
c. Vô tận
9. b) Tâm trí con người có kỷ năng bị hạn chế trong việc hiểu Lẽ Thật thiên thượng.
d) Đức Chúa Trời có một nhãn quan bao quát và vô biên
e) Xem suốt lịch sử Kinh Thánh Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính mình Ngài càng lúc càng nhiều hơn cho con người.
10. Tại vì sự mặc khải tiếp diễn đã làm cho Ngài dễ được nhận ra hơn trong Tân ước.
11. Mạch văn trực tiếp nói đến những từ ngữ xung quanh một đoạn Kinh Thánh mạch văn tổng quát lại liên quan đến toàn bộ Kinh Thánh.
12. a) Có một hệ thống chân lý được bày tỏ trong toàn bộ Kinh Thánh.
c) Chúa Jêsus dạy rằng Cựu ước có chứa lẽ thật về chính Ngài.
d) Bạn phải rút lấy ý nghĩa từ một đoạn Kinh Thánh, hơn là lấy ý nghĩa chủ quan của bạn áp đặt vào Kinh Thánh.
13 a. 2) Những nguyên tắc căn bản của việc diển giải.
b. 3) Phương pháp học Kinh thánh
c. 1) Kỷ thuật hỏi đáp.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH THÁNH
Trong bài 1, bạn đã được cung cấp một sách giáo khoa khái quát về nhiều đề tài sẽ được bàn đến trong sách này. Bạn đã được biết rằng Kinh Thánh là một sách được mặc khải. Là lời của Đức Chúa Trời, Kinh Thánh phải được học hỏi một cách cần mẫn khác thường. Đời sống và niềm tin Cơ đốc nhân của bạn tùy thuộc vào hiểu biết sáng suốt của Kinh Thánh.
Trong bài học nầy, bạn sẽ làm việc đặc biệt với qui trình học tập và kỹ thuật cơ bản về cách đặt câu hỏi có hiệu quả. Đây là kỹ năng bạn cần sử dụng khi có cơ hội hướng dẫn một nhóm học Kinh Thánh.
Khi học những bài nầy bạn nên ghi nhớ hai mục tiêu chính khiến bạn học Lời Đức Chúa Trời : (1) Cho sự hiểu biết và tăng trưởng tâm linh cá nhân. (2) Học để có thể chia xẻ với người khác.
Dàn ý bài học
Chuẩn bị cá nhân.
Nhu cầu học tập có phương pháp
Những bước cơ bản trong việc học Kinh Thánh.
Kỹ thuật hỏi đáp.

Những mục tiêu của bài học
Khi học xong bài nầy bạn có thể :
Có sự sửa soạn cá nhân và phương pháp học tập hữu ích hơn nhằm tăng trưởng sự hiểu biết của bạn về Kinh Thánh.
Liên kết được nhiều loại câu hỏi về sự kiện và tư tưởng vào những bước căn bản của việc học.
Những hoạt động học tập
Đọc phần mở đầu dàn ý bài học và mục tiêu bài học.
Xem kỹ những chữ căn bản. Nếu bạn chưa quen thuộc với những chữ ấy, tham khảo lại ở phần chú giải từ ngữ.
Đọc suốt phần triển khai bài học, viết câu trả lời cho câu hỏi bài, và kiểm tra lại phần trả lời của bạn.
Chuẩn bị sẵn sổ tay. Bạn sẽ phải sử dụng sổ nầy ở phần cuối của bài học và để ghi chú.
Làm bài trắc nghiệm cá nhân vào cuối bài học.

Từ ngữ .
Tra tự điển hoặc phần chú giải từ ngữ ở phần cuối của môn học nầy thường xuyên sẽ giúp bạn hiểu bài sâu rộng hơn. Có thể viết thêm và chú thích nghĩa của những từ khác trong sổ tay của bạn.
Ap dụng ( apply)
Sự tương quan ( correlation)
Định rõ ( definitive)
Tập trung ( focus)
Đánh giá ( evaluate)
Am chỉ đến ( implicational)
Diễn giải ( interpret)
Có phương pháp ( methodical)
Quan sát ( observe)
Phẩm chất ( qualification)
Biện giải ( rational)
Tóm lược ( summarize)
Kỹ thuật ( technizne)

Triển khai bài học
CHUẨN BỊ CÁ NHÂN
Mục tiêu 1 : Mô tả quan điểm tâm linh và tinh thần cần thiết để học Kinh Thánh có hiệu quả .
Mục tiêu 2 : Liệt kê những công cụ cơ bản cần thiết để học Kinh Thánh có hiệu quả .
Tiêu chuẩn đầu tiên cho việc học Kinh Thánh là suy xét thiêng liêng. Bạn đã khám phá ra điều nầy ở IICo 2Cr 2:14 trong bài 1. Lời của Đức Chúa Trời không phải là loại sách chết mà sống. Đức Chúa Trời của chúng ta hiện đang sống. Đức Thánh Linh mà nhiều thể kỷ trước đã ban thông điệp, ngày nay đã nói với chúng ta qua Lời của Ngài. Chúa Jêsus Christ ban Thánh Linh cho mỗi một ai tiếp nhận Ngài là Đấng Cứu Thế và Chúa của đời sống mình.
Tiêu chuẩn thứ hai của việc học Kinh Thánh là có một cá tính thiêng liêng. Người thuộc linh sống trong sự thuận phục Đức Chúa Trời và có mối tâm giao hoàn hảo với Đức Chúa Trời hằng sống của cách thế sống nầy được biểu lộ qua sự tôn kính và nhạy cảm với Đức Thánh Linh của Chúa,sự nhu mì, khiêm nhường, nhịn nhục và đức tin. Sự xưng nhận tội lỗi của mình ra sẽ gìn giữ được bạn trong mối tương giao với Chúa Jêsus Christ. Không tuân theo ánh sáng thiên thượng sẽ làm mất đi ánh sáng đó và thay thế điều đó bằng sự tối tăm. Chúa Jêsus đã phán rằng bạn hữu của Ngài là những người làm theo Lời Ngài (GiGa 15:14).
Nghiên cứu dữ kiện đòi hỏi một tâm trí nhanh nhẹn, một sự tự nguyện tập trung. Bạn cần phải có sự nhiệt tình, một sự ước muốn nồng nhiệt việc học hỏi Lời của Đức Chúa Trời. Việc học nói chung là buồn tẻ, tốn thời giờ, và là công việc. Nếu bạn không tập trung để suy nghĩ sâu xa về những điều trên, Đức Thánh Linh sẽ không thể bày tỏ lẽ thật của Ngài đến bạn được.
Trong bài 1 chúng ta đã bàn luận về tầm quan trọng của việc trích dẫn lẽ thật từ một đoạn của Kinh Thánh, hơn là việc đưa những định kiến của mình áp đặt vào Kinh Thánh. Nghiên cứu Kinh Thánh đòi hỏi tính chân thật và một tâm trí. Hãy để Kinh Thánh tự nói cho bạn về chính mình.
1. Hãy đọc Mac Mc 4:24, 25. Đặc biệt ghi chú câu 25. Loại người nào sẽ được Đức Chúa Trời ban cho nhiều hơn? Người đó có
a) Ít
b) Một điều gì đó
e) Chẳng gì.
2. Hãy suy nghĩ về 4:24-25 cùng với sự soi sáng của Đức Thánh Linh trên Lời Ngài. Ngài có một điều gì đó là người có:
a) Kiến thức
b) Của cải
c) Thánh Linh
3. Liệt kê ra ít nhất 5 tính chất được thảo luận ở trên mà có thể tìm thấy ở một người thuộc linh.
...............................................................................................
4. Liên quan đến việc chuẩn bị cho sự nghiên cứu Kinh Thánh, Những từ ngữ như sự nhanh nhẹn, sự tập trung, lòng ước muốn và sự chân thật nhằm nhấn mạnh :
a) Thái độ tinh thần nhiều hơn thái độ tâm linh.
b) Thái độ tâm linh nhiều hơn thái độ tinh thần.
c) Không phải thái độ tinh thần cũng không phải thái độ tâm linh.
Công cụ để nghiên cứu Kinh Thánh rất là đơn giản. Gồm giấy viết, Kinh Thánh của bạn, đôi mắt của bạn và thời gian là tất cả những điều cần thiết. Có được thời gian không bị chi phối để học Kinh Thánh là điều rất quan trọng. Nếu có thể được, khi học Kinh Thánh bạn nên ở riêng một mình với Đức Thánh Linh, và Kinh Thánh mà thôi.
5. Để nghiên cứu Kinh Thánh bạn sẽ cần :
a) Nhiều sách và sơ đồ.
b) Ở trong nhà thờ
c) Một số công cụ rất đơn sơ.
NHU CẦU VỀ NGHIÊN CỨU KINH THÁNH THEO PHƯƠNG PHÁP.
Mục tiêu 3 : Nhận diện những đặc tính của việc học Kinh Thánh theo phương pháp .
Theo thông thường một Cơ đốc nhân thường đến với Kinh Thánh bằng một thái độ hời hợt. Những điều phổ quát nhất mà người thường tin và chia xẻ với nhau chính là những điều họ được nghe giảng, những điều họ thường nghe nói, hoặc là những điều họ đọc được từ những sách nói về Kinh Thánh. Việc học đối với với hầu hết mọi người nếu đã có lần cố gắng học, chỉ có lẽ là đọc ích ỏi Lời của Chúa, họ thường đọc đi lại những đoạn Kinh Thánh quen thuộc. Người ta không dám mạo hiểm rồi bỏ những cái đã quen thuộc để đi khám phá những lãnh địa mới. Thật không may, nhiều Cơ đốc nhân đã bỏ suốt cả cuộc đời “ gắng chặt vào” ( locked in) một phần nhỏ của Kinh Thánh mà họ cho là “ dễ dàng hơn” các phần khác. Họ đã bỏ đi phần lớn những điều quí giá mà Đức Thánh Linh muốn chia xẻ với họ. Chúng ta không nên làm theo cách thức đó. Con người bình thường có thể nghiên cứu Kinh Thánh một cách có phương pháp.
Phương pháp là một phương cách có thứ tự trong công việc của nó. Nó là một chuỗi tiến trình với sự theo đuổi từng bước một được tính toán để đi đến kết thúc. Phương pháp không làm hạn chế bạn trong sự sử dụng tư tuởng của mình, những còn là một cái khung để hướng dẫn bạn học. Nghiên cứu một cách có khoa học sẽ cho bạn một chương trình hành động, hướng nổ lực của bạn để mục tiêu cuối cùng.
Đức Thánh Linh có thể sử dụng việc học có phương pháp không? Ngài chắc có thể sử dụng và đang sử dụng. Khi bước vào phần phương pháp tổng hợp bạn sẽ học được những từ ngữ và ý niệm có vẻ mới đối với bạn. Bạn sẽ học về một số tiến trình phải theo trong khi nghiên cứu. Điều là những điều hướng dẫn cách rút ra lẽ thật từ Kinh Thánh. Đức Thánh Linh soi sáng chân lý chứ không soi sáng quan điểm sai lệch. Sự soi rọi chân lý của Đức Thánh Linh cũng tương tự như tác dụng mặt trời ( nắng) và mưa làm nên mùa màng cho nông dân từ những hạt mầm sống. Và cũng giống như việc làm có phương pháp của người làm nông ( trồng trọt, cày cuốc, thu hoạch) sẽ giúp cho tác dụng của nắng và mưa đối với thu hoạch, việc học có phương pháp của chúng ta cũng giúp cho việc tiến nhận chân lý bởi Đức Thánh Linh.
6. Khoanh tròn mẫu tự nào mô tả về việc học tập có phương pháp ?
a) là một cách học theo thứ tự.
b) là việc nghiên cứu hướng nổ lực của bạn đến mục tiêu.
c) là việc chỉ nghiên cứu những đoạn quen thuộc.
d) là việc học một cách vụng về (hời hợt)
e) là một tiến tình dẫn đến kết thúc.
NHỮNG BƯỚC CĂN BẢN TRONG VIỆC HỌC KINH THÁNH.
Mục tiêu 4 : Liệt kê 6 bước căn bản trong việc học Kinh Thánh .
Mục tiêu 5 : Nhận diện những ví dụ đúng về những hoạt động đi kèm với từng bước .
Có vài bước căn bản trong việc học Kinh Thánh là nền tảng cho việc học nói chung. Những bước nầy là rất hữu ích cho mỗi phương pháp học. Đó là nhận xét, diễn giải, tóm lược, đánh giá, áp dụng và tương quan. Hãy đọc những bước nầy vài lần và viết ra để có thể ghi nhớ.
Phần nầy sẽ giúp bạn định nghĩa 6 bước căn bản nầy. Phần tiếp theo Kỹ thuật hỏi và đáp sẽ giải thích chi tiết hơn, và chỉ cách áp dụng thực tế trong việc học Kinh Thánh. Trong 6 bước, 2 bước đầu là cốt yếu, nghĩa là tầm quan trọng rất lớn. Nếu 2 bước nầy ( nhận xét và diễn giải) được hoàn thành tốt, những bước sau sẽ tự tiến hành cách dễ dàng. Bởi lý do đó cần phải xem nặng hai bước đầu tiên.
Khi bắt đầu áp dụng những bước nầy vào Kinh Thánh, hãy nhớ rằng sẽ gặp một số lầm lẫn lên nhau. Ví dụ : bước áp dụng và tương qua là rất gần nhau, có lúc cả hai lại nhập thành một. Nhưng chúng ta nên tách ra làm hai để hiểu rõ hơn.
Nhận xét đơn giản chỉ có nghĩa là tự hỏi mình : “ Kinh Thánh nói điều gì? Rudyard Kipling đã viết ra bài thơ bốn câu sau đây :
Tôi có 6 người hầu trung tín
Đã dạy tôi mọi thứ tôi cần.
Tên họ là “ cái gì”, “ ở đâu”, “ Khi nào”
“ Cách nào?”, “ Tại sao?” và “ai”
Bây giờ nếu bạn chưa đưa 6 câu hỏi trên vào Kinh Thánh thì bạn sẽ đạt được những điều mình đang tìm kiếm. Đó là những dữ kiện. Bạn cần phải trả lời những câu hỏi “ Cái gì?”, “ Ở đâu”, “ Khi nào?”, “ Cách nào?”, “ Tạ************************
***********************************************************************************************************************************************************
****************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************
*********************************************** phải đang diễn giải khi bạn ghi ra những nhận xét nầy. Diễn giải là bước thứ nhì trong việc học Kinh Thánh. Đối với một đoạn Kinh Thánh bước đầu là phải nhận xét xem Linh Thánh nói điều gì? Bạn phải hỏi Kinh Thánh những câu hỏi về dữ kiện ( sẽ được bàn thêm ở bài học nầy). Đây là công việc “ dọn nền” cho việc học Kinh Thánh. Bạn sẽ phải tìm ra những chi tiết. Công việc này có khi tẻ nhạt. Phải tuân thủ việc chỉ hoàn toàn nhận xét và nhường sự phán đoán trong việc diễn giải cho đến khi bạn đã nắm được tất cả các dữ liệu trong tay việc này hơi làm bạn chán ngắt bởi bạn thường muốn diễn giải ngay.
7. Liệt kê theo thứ tự 6 bước căn bản trong việc học theo thứ tự đã được đề cập đến.
...............................................................................................
...............................................................................................
8. Chọn những từ ở cột bên phải cho thích hợp với câu cột bên trái.
...a. ................. có nghĩa là tự hỏi mình “ Kinh Thánh nói gì?”
...b. Cái gì? Ở đâu? Ai? là những câu hỏi sẽ giúp bạn nhận được ............ từ Kinh Thánh.
...c. ................. sẽ được thực hiện ngay sau khi việc nhận xét tẻ nhạt được hoàn tất_1. Tương quan
2. diễn giải
3. Nhận xét
4. Dữ liệu
5. Ap dụng__
Một khi bạn đã ghi nhận xong một cách kỷ lưỡng bạn đã có được một thực thể dữ liệu để làm việc. Bạn nắm được tên tuổi, nơi chốn, hoàn cảnh, lý do và biết được tại sao sự việc được nói lên hoặc diễn biến. Sau khi đã làm xong việc ghi nhận, bạn sẽ hỏi. “ Điều đó nói lên ý nghĩa gì? và nếu bạn không học từ cách tự hỏi câu hỏi nầy, sẽ không thể nào đi đến việc diễn giải nêu lên câu hỏi. Điều này có ý nghĩa gì? Nghĩa là diễn giải cố gắng nhận rồi ý nghĩa của những điều mà tác giả đã nói.
Phần tiếp theo kỷ thuật hỏi và đáp, sẽ đề cập thẳng đến loại câu hỏi diễn giải. Nhưng câu hỏi “ Việc này nói lên điều gì? là câu căn bản cho các loại câu hỏi ý nghĩa ở đây rất gắn liền với sự định nghĩa. Tôi xin phép được nhắc nhở ở đây là bạn phải cố gắng hiểu nghĩa bình thường của từ ngữ trong Kinh thánh. Nếu có điều kiện tra tự điển cũng rất có ích. Nếu bạn gặp phải những từ không hiểu hãy cố gắng tìm kiếm để tìm rõ ý nghĩa.
9. Việc diễn giải quan hệ nhiều nhất với
a) Thâu thập dữ liệu
b) Tìm hiểu ý của người viết muốn nói
e) Hỏi ở đâu? Khi nào? và như thế nào?
Tóm lược có nghĩa là tổng kết. Trong việc học Kinh Thánh điều này có nghĩa là trình bày những điểm chính cùng những chi tiết kèm theo một kết luận vắn tắt. Giá trị của việc tóm lược ở chỗ nó tập trung vào những nguyên tắc chính yếu của chân lý từ trong bất cứ đoạn Kinh Thánh nào được đưa ra. Ở phần tóm lược bạn thấy được cái toàn thể ở trong hình thể cô đọng. Đó chính là bước sau cùng trong tiến trình diễn giải.
Có nhiều cách trình bày phần tóm lượng. Có khi sử dụng biểu đồ hoặc sơ đồ có khi phát hiện từ việc ghi nhận viết lại hình thể đọc hơn. Nhưng sự sắp xếp phải bộc lộ được những ý chính và những chi tiết. Bởi sách này có hạn nên phần tóm lược của bạn phải được hoàn thành trong một hình thức dàn ý đơn giản những phần tóm lược này đôi khi được trình bày ở dạng sơ đồ hoặc biểu đồ?
10. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời liên quan đến việc tóm lược.
a) Phải luôn được đặt trong một sơ đồ.
b) Phải luôn trình bày được ý chính cùng chi tiết bổ sung
c) Có thể được trình bày ở dạng sơ đồ hoặc biểu đồ
d) Đó là các toàn thể ở trong một hình thể cô động.
Sự định giá liêu theo nghĩa trong sách này KHÔNG NÓI đến điều bạn thích hay không thích. Khi định giá là bạn đang cố gắng xác định cái mình đang đọc có phải là một nguyên tắc vĩnh hằng hay là một tập quán bản xứ chỉ áp dụng trong hoàn cảnh địa phương trong thời đại viết Kinh Thánh. Bạn sẽ hỏi chính mình phải chăng điều mà tôi đang đọc là một nguyên tắc vĩnh hằng phổ quát cho tất cả mọi người? hoặc là trường hợp này chỉ dành cho trường hợp đặc biệt này mà thôi?
Giả sử bạn đang đọc I Côrinhtô đến đoạn nói về người đàn bà và mái tóc của mình đối vơi người đàn bà cắt tóc đi có sai hay không? Sai ở mọi nơi và trong mọi thời đại hay sao? Hay là điều này chỉ tùy thuộc vào văn hóa của địa phương? Nghĩa là trong nền văn hóa của các vùng đất ở thời Kinh Thánh như Kinh Thánh đã nói có phải đó là điều không cần phải đem áp dụng rộng rãi hay không? Đây là kết luận mà tự chính bạn phải định giá. Hoặc là, trong một đoạn Kinh Thánh khác nếu bạn đi đến kết luận là việc thờ hình tượng đang phổ biến khắp nơi và luôn là sai quấy là điều có giá trị toàn cầu và vĩnh cửu. Những kết luận này phải được rút ra trên nền tảng của những gì bạn phát hiện được trong quá trình nhận xét diễn giải và tóm lược. Nếu bạn có thêm tài nguyên khác, thì đây sẽ là bước tham khảo thêm ở những sách khác như tập quán thời Kinh thánh Thánh Kinh tự điển và sách giải nghĩa Kinh Thánh. Nếu không có điều kiện, bạn sẽ gặp hạn chế trong việc kết luận những vấn đề ngoài lề như trên một cách chắc chắn bởi thiếu thông tin. May mắn là, bạn có thể có những phán đoán đúng, là tất cả những điều cần thiết trên nền tảng Kinh Thánh.
Ngay cả những sự việc dự định nói về một tình huống địa phương đặc biệt vẫn dường như có một nguyên tắc vĩnh hằng ở đằng sau. Ví dụ trong việc nghiên cứu I Côrinhtô 8 bạn kết luận rằng bạn ăn hay không ăn thịt cúng tế cho các hình tượng là một vấn đề liên quan đến sự văn hóa trong một hoàn cảnh địa phương nhất định thì cũng không phải từ đó suy ra là bạn có thể ăn tất cả những thức ăn nào bạn muốn. Trong I Côrinhtô 8 thái độ của Phaolô là không nên ăn vật phẩm đã cúng hình tượng mặc dầu ông chỉ nói theo ông, vấn đề không có gì là quan trọng. Trong tình huống này, nguyên tắc trường cửu chính là sự tôn trọng đối với tha nhân. Trong mỗi nền văn hóa, có những tình huốn quan hệ đến sự tôn trọng đối với tha nhân những tình huống mà trong đó con người làm hoặc không làm gì đó không phải là một nguyên tắc vĩnh hằng, những chỉ là vi phạm đến khung cảnh văn hóa ấy. Cho nên để tuân theo nguyên tắc vĩnh hằng của kính trọng mọi người, Cơ đốc Nhân phải thay đổi tư cách đạo đức của mình hầu tránh đi những xúc phạm đến anh em đồng đạo.
11. Trong việc đánh giá những tình huống thời đại Kinh Thánh, những tập quán địa phương.
a) Ít áp dụng trực tiếp vào đời sống con người bằng những nguyên tắc vĩnh hằng.
b) Ap dụng vào đời sống con người như những nguyên tắc vĩnh hằng.
c) Ap dụng vào đời sống con người nhiều hơn những nguyên tắc vĩnh hằng.
Sự áp dụng quan hệ mật thiết với sự đánh giá. Sau khi phát hiện một nguyên tắc vĩnh hằng trong Kinh Thánh, bạn phải xem mối quan hệ giữa nó với chúng ta bằng cách đặt câu hỏi. Chúng ta áp dụng nguyên tắc như thế nào? Để trả lời bạn phải nghiên cứu vào phán đoán tốt nhất của mình và sự soi sáng của Đức Thánh Linh là Đấng sẽ dẫn đắt bạn khi bạn tìm kiếm Chúa để biết ý muốn của Ngài.
Sự tương quan chỉ đơn thuần là đặt câu hỏi “ việc này ăn khớp với toàn bộ Kinh Thánh như thế nào? Trong bài 1 bạn đã biết rằng có một sự hài hòa cơ bản trong toàn bộ Kinh thánh. Bạn phải xem xét toàn bộ hệ thống Lẽ Thật để diễn giải đúng từng phần của Kinh Thánh. Chứng cớ kỳ diệu của sự mặc khải là văn bản thì do nhiều người viết với khoảng cách về không gian và thời gian rất xa nhau nhưng lại hài hòa với nhau. Sự tương quan là bước nghiên cứu mà dữ liệu cơ bản này phải được sử dụng đến.
Đức tin nói rằng tất cả mọi điều trong Kinh Thánh đều khớp với nhau. Nếu có điều gì đó khác trong Kinh Thánh nói về một vấn đề nào đó và tư tưởng thể hiện nó dường như nói về một điều khác đối với bạn, tức là đã có chỗ không đúng. Bạn phải suy nghĩ lại nghiên cứu lại vấn đề, và cầu xin sự soi sáng đặc biệt thêm từ nơi Chúa. Bước tương quan cố gắng hài hoà mọi thứ trong một toàn cảnh về Kinh Thánh bằng cách hỏi những câu hỏi như là “ thư tín Galati quan hệ với thư tín Rôma như thế nào?
12. Chọn câu trả lời đúng ở cột bên phả. ( Bạn có thể có hơn câu trả lời).
...a. Bước nào rất gần với bước đánh giá?
...b. Bước nào cố gắng kết hợp mọi thứ trong một hoàn cảnh Kinh Thánh?
...c. Bước nào nhấn mạnh rằng một tư tưởng với toàn bộ Kinh Thánh cần phải được nghiên cứu lại/
...d. Bước nào xem xét mối quan hệ giữa một nguyên tắc chân lý vĩnh hằng được khải thị với đời sống chúng ta hiện nay?_1. Tương quan
2. Tóm lược
3. Ap dụng__
KỶ THUẬT HỎI ĐÁP
Mục tiêu 6 : Nhận diện 4 loại câu hỏi sự kiện và liên hệ chúng với những bước cơ bản trong việc học Kinh Thánh.
Mục tiêu 7 : Nhận diện 3 loại câu hỏi tư duy và liên hệ chúng với những bước cơ bản của việc học Kinh Thánh.
Chúa Jêsus đã sử dụng các câu hỏi với một tài nghệ bậc thầy. Bạn có thể tìm thấy một ví dụ trong sách Mác chương 3. Trước khi Chúa Jêsus chữa lành người đàn ông bị teo tay. Ngài đã nói chuyện với những người đứng xem? Ngài biết rằng tại đó những người rình xem. Ngài đang chờ cơ hội để tố cáo Ngài phá vỡ ngày Sa bát. ngài hỏi “ Luật pháp cho phép chúng ta làm việc gì trong ngày Sa bát? Giúp đỡ hay làm hại, cứu mạng người hay tiêu diệt mạng người?”
Những câu hỏi của Ngài đã làm được hai chuyện. Đầu tiên, chúng ta thấy luật pháp đã trở nên tồi tệ thế nào khi ngăn cấm giúp đỡ người khác trong ngày Sabát, Thứ hai là nó đưa ra một nguyên tắc vĩnh cửu : Giúp đỡ luôn luôn tốt hơn làm hại, cứu mạng tốt hơn là hủy diệt mạng người. Những người đã quá giận dữ đến nỗi không trả lời được câu hỏi của Chúa Jêsus. Ngài đã nói lên quan điểm của Ngài qua việc sử dụng những câu hỏi đó.
Những câu hỏi tốt phải đi kèm với câu trả lời thích ứng. Một câu hỏi mà có thể trả lời được lòng hoặc “ không” thường không đem lại hiệu quả rất tốt trong việc học tập. “ Luật pháp của chúng ta đã cho phép chúng ta làm gì trong ngày Sa bát?” là loại câu hỏi đưa ra suy nghĩ con người bước về hàng trăm luật lệ phù phiếm đã được tạo nên từ nhiều năm qua. Những luật lệ đó dường như là của Đức Chúa Trời, nhưng thật ra nó chỉ là những lời truyền khẩu của con người và chẳng liên quan gì đến luật pháp của Đức Chúa Trời. Một câu hỏi hay của Chúa có hiệu quả bằng một lời giảng đạo.
Bạn sẽ thâý 7 câu hỏi cơ bản ( 4 dữ kiện và 3 tư duy) xuyên suốt những bước cơ bản trong việc học Kinh Thánh tên chúng nó vẻ hơi lạ đối với bạn nhưng bạn sẽ khám phá chúng rất gần gũi với những nguyên tắc mà bạn đã học.
Khi chúng ta bắt đầu phần đặt câu hỏi này và áp dụng nó vào Kinh Thánh. Bạn hãy dành một trang sự với những cột chia ra như sau.
_Căn bản kỷ_thuật hỏi đáp___Loại câu hỏi_Tham khảo_Hỏi _Đáp_______
Trong những bài tập trong 7 bài dưới đây bạn sẽ được cung cấp một định nghĩa của từ loại câu hỏi, mẫu trưng dẫn cho từng loại câu hỏi, một hoặc những câu hỏi tham khảo và câu trả lời cho từng câu hỏi. Bạn hãy điền vào trang giấy trong sổ tay dùng những mẫu này làm hướng dẫn, và ghi vào các cột trên. Nhớ viết câu hỏi ra trước khi xem phần gợi ý trả lời.
Loại câu hỏi dữ kiện nào là : (1) nhận diện ( 2) loại câu trạng thái ( 3) Loại câu thời gian ( 4) loại câu về nơi ch chốn. Những câu này dùng để hỏi, khi nào? và ở đâu?
(1) Loại câu hỏi nhận diện : Hỏi AI và GÌ. Đây là những câu hỏi thuộc về quan sát chúng ta đã thâu thập những dữ kiện và giúp chúng ta nhớ, có thể biến thể trong mỗi câu tùy thuộc vào đoạn Kinh thánh mà bạn đang học. Ví dụ “ Ai” có thể trở thành Ai đang nói Ai” đang nghe “ Ai đang được nói đến? “ Ai sẽ chịu ảnh hưởng lời những điều đã nói” “ Cái gì đang được làm” “ Cái gì đang được hoàn thành” “ Từ ngữ nào đang được sử dụng”.
Loại câu hỏi Ai trong Kinh Thánh không luôn giống nhau và cũng tương tự như loại câu hỏi “ cái gì” câu hỏi là những công cụ để thu thập sự kiện. Khi làm việc với công cụ bạn phải chọn những loại nào thích ứng cho công việc, Ví dụ khi cắt trái cây bạn dùng dao nhỏ. Khi đốn nhánh cây bạn dùng công cụ khác. Loại câu hỏi dữ kiện là công cụ thích hợp, nhưng không cần thiết sử dụng mỗi loại cho mỗi trường hợp. Ví dụ nếu chẳng có nơi chốn nào thì không cần dùng loại câu hỏi về nơi chốn. Bạn nên dùng cái gì thích hợp thôi. Mẫu câu tham khảo cho phần này là ở sách Phi Pl 1:12-14. Đoạn Kinh Thánh này được sử dụng vì nó có khả năng cho được 1 ví dụ đối với mỗi loại câu hỏi.
13. Dưới của PHẦN LOẠI CÂU HỎI trong sổ tay của bạn hãy viết nhận diện Ai và cái gì? Ở phần THAM KHẢO viết 1:12. Ở cột CÂU HỎI viết hai câu hỏi sau. Ai đang được đề cập đến? Người viết muốn họ viết điều gì? Bây giờ hãy đọc 1:12 và ghi câu trả lời của bạn ở cột TRẢ LỜI.
(2) Loại câu hỏi trạng thái, HỎI NHƯ THẾ NÀO? “ Việc này được làm nên như thế nào? bằng cách nào?”
14. Dưới cột LOẠI CÂU HỎI trong sổ tay hãy viết Bằng cách nào? Ở cột THAM KHẢO bạn không cần phải viết Philíp từng phần sau khi đã viết nó ở trên đầu trang rồi. Từ đây cho đến đoạn khác ở sách khác, chỉ dùng đến ghi chú của chương và câu mà thôi. Cho nên chúng ta chỉ cần viết 1:12-14. Ở cột câu hỏi, hãy viết những câu hỏi nầy. Tin lành đã phát triển như thế nào? Bằng phương tiện nào? Nó rõ ràng ở mức nào? Bây giờ hãy xem xét sách 1:12-14 và viết câu của bạn vào cột TRẢ LỜI.
(3)Loại câu hỏi thời gian. HỎI KHI NÀO? Việc này được hoàn thành khi nào? Việc này xảy ra khi nào? Khi nào không phải luôn được trả lời bằng một thời điểm nhất định. Đôi khi nó chỉ nhằm cung cấp sự việc quá khứ, mới xảy ra, tương lai sắp xảy ra, hoặc sự việc này đến trước hoặc sau sự việc khác mà thôi.
15. Dưới cột LOẠI CÂU HỎI trong sổ tay của bạn, hãy viết chữ thời gian khi nào? trong cột tham khảo ghi 1:12-14. Trong cột CÂU HỎI viết : Việc này đã xảy ra lúc nào? Đọc những câu Kinh Thánh trên. Bạn sẽ thấy không nói đến ngày tháng, nhưng có một manh mối cho biết việc xảy ra đã lâu hoặc mới vừa xảy ra. Trong cột TRẢ LỜI bạn hãy viết suy nghĩ của mình, và manh mối nào chỉ ra câu trả lời.
(4) Loại câu hỏi vị trí. Hỏi Ở ĐÂU? Đây là câu hỏi về nơi chốn. Nơi chốn có thể bao gồm Quốc gia, cộng đồng, nhà cửa người nào đó, vị trí địa hình như là các ngọn núi, sa mạc v.v...
_Kỷ thuật hỏi_đáp___Loại câu hỏi_Tham khảo_câu hỏi_trả lời__Nhận diện Ai, cái gì_1:12_Nói về Ai? Tác giả muốn biết điều gì?___
16. Dưới cột LOẠI CÂU HỎI trong sổ tay của bạn, hãy viết nơi chốn ở đâu? Trong cột THAM KHẢO hãy viết 1:13-14. Ở cột CÂU HỎI ghi điều này xảy ra ở đâu? Ở cột TRẢ LỜI ghi “ Nơi chốn mà bạn nghĩ rằng đã xảy ra và lý do suy nghĩ của mình”
Những câu hỏi tư duy liên hệ đến việc diễn giải các sự kiện, khi bạn đã nâng sự kiện đó lên ở mức độ nhận thức. Có 3 loại câu hỏi tư duy cơ bản, ( 1) Định nghĩa nhằm giải thích. (2) Biện giải nhằm trả lời lý do tại sao. (3) Am chỉ nhằm áp dụng cho đời sống hiện nay và nhằm tìm kiếm ra những gì được gợi ý từng văn bản và liên hệ chi tiết với tổng thể Kinh Thánh. Bạn sẽ thấy rằng những câu hỏi này đúng là một phần của những bước căn bản trong việc học Kinh thánh đã nói lên.
(1) Câu hỏi đã để ý nhằm hỏi “ điều này có nghĩa gì”. Bạn để ý rằng một điều gì đã được đề cập đến. Câu hỏi kế tiếp “ Bây giờ tôi đã thấy điều gì đó đã được đề cập đến nhưng điều đó có nghĩa gì?”. Một câu hỏi định nghĩa yêu cầu một câu trả lời giải thích. Phần giải thích có thể rút ra bằng từ, câu nói, bằng ngữ pháp, bằng hình thức văn học bằng cách nói và bằng ngữ cảnh chung của bản văn.
17. Ở dưới cột LOẠI CÂU HỎI trong sổ tay của bạn, hãy viết định nghĩa ý nghĩa? ở phần cột THAM KHẢO viết 1:13, ở cột CÂU HỎI viết ý nghĩa của câu nhóm từ chốn công đường là gì? Bây giờ hãy đọc câu 13 và suy nghĩ xem nó có nghĩa gì? Viết phần TRẢ LỜI vào cột trả lời.
(2) Câu hỏi biện giải, hỏi TẠI SAO? “ Tại sao điều đó được nói ra?” hoặc xa hơn “ Tại sao ********************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************************
********************************************************************************************************************************** 12 -14. Ở cột CÂU HỎI bạn viết : Tại sao Phaolô lại nói với họ điều này? Hãy đọc câu 12 - - 14. Trả lời câu hỏi từ những câu Kinh Thánh này, viết vào cột TRẢ LỜI.
Bạn hãy so sánh câu trả lời của mình với những điều đã được gợi ý, câu trả lời của bạn không cần phải hoàn toàn giống như điều được gợi ý nhưng cũng cần phải có sự tương tự.
(3) Loại câu hỏi ám chi. Hỏi “ Điều này ngụ ý gì?” Ở đây có nguyên tắc nào cần phải được phát hiện không? Có một điều áp dụng nào không? Hãy lưu ý lại rằng những câu hỏi này quan hệ mật thiết với những bước cơ bản trong việc nghiên cứu Kinh Thánh; đánh giá, áp dụng và tương thông. Sự ngụ ý là những điều không được trực tiếp nói ra trong bản văn, nhưng có thể nhìn thấy được qua những điều được trực tiếp nói ra.
19. Dưới cột LOẠI CÂU HỎI trong sổ tay bạn, viết Am chỉ điều này ngụ ý gì? Trong cột THAM KHẢO viết 12 -14. Ở cột câu hỏi viết : Hai ngụ ý có thể được rút ra từ bản văn là gì? Suy nghĩ về văn bản và về những kết luận hoặc ngụ ý mà bạn có thể rút ra được.Viết chúng vào cột TRẢ LỜI.
20. Sắp xếp những câu hỏi ở cột bên trái theo loại câu hỏi ở cột bên phải.
...a. Việc này được thực hiện thế nào?
...b. Tại sao điều này được nói đến?
...c. Có một nguyên tắc nào không?
...d. Ai liên quan đến việc này?
...e. Điều này có nghĩa gì?
...f. Điều này được xảy ra lúc nào?
...g. Điều này được xảy ra ở đâu?_1. Nhận diện
2. Trạn thái
3. Thời gian
4. Vị trí
5. Định nghĩa
6. Biện giải
7. Am chỉ
__

Bài trắc nghiệm
1. Tiêu chuẩn đầu tiên để học Kinh Thánh có hiệu quả là gì?
a) Kiến thức
b) Sự hiểu biết thuộc linh
c) Sự thông minh
2. Hai yếu tố của sự sửa soạn cá nhân cần thiết để học Kinh Thánh có hiệu quả gì?
a) Tâm linh và tinh thần
b) Thể xác và tinh thần.
c) Xã hội và tâm linh.
3. Điều nào sau đây không diễn đạt tiêu chuẩn tâm linh cần thiết cho việc học Kinh Thánh có hiệu quả?
a) Sự tôn kính sâu xa Đức Chúa Trời
b) Sự tuân theo lời Chúa
c) Sự thoát khỏi hoàn toàn khỏi tội lỗi
d) Sự xưng tội.
4. Sắp xếp mỗi phẩm chất (bên trái) với thái độ ( bên phải) cho phù hợp.
...a. Sự nhu mì
...b. Sự nhanh nhẹn
...c. Lòng đức tin
...e. Sự tôn kính
5. Đôi mắt và thời gian của bạn là hai trong 5 công cụ được đề cập đến để học Kinh Thánh có hiệu quả công cụ còn lại là gì?
...............................................................................................
6. Việc học Kinh Thánh theo phương pháp bao gồm một tiến trình ngăn nắp được sắp xếp để :
a) Loại ra tất cả những phương pháp khác.
b) Dẫn đến việc hiểu Kinh Thánh.
c) Người bình thường không thể sử dụng được.
7. Điều nào sau đây bao gồm một số bước căn bản trong việc học Kinh Thánh?
a) Tinh thần, tâm linh và thể chất.
b) Tiến trình, phương pháp, điểm tập trung và mục tiêu.
c) Quan sát, diễn giải, tóm lược và đánh giá.
8. Quan sát, hỏi.
a) Điều này nói gì?
b) Ở đây có một nguyên tắc bất biến nào không?
c) Điều này nghĩa là gì?
9. Diễn giải, hỏi.
a) Điều này nói gì?
b) Ở đây có một nguyên tắc bất biến nào không?
c) Điều này nghĩa là gì?
10. Sắp xếp cột bên trái cho phù hợp với cột bên phải.
...a. Định nghĩa, biện pháp, ám chỉ.
...b. Nhận diện, trạng thái, thời gian, vị trí._1. Loại câu hỏi sự kiện.
2. Loại câu hỏi tư__
GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU.
Ghi chú : Phần trả lời này không sắp theo số thứ tự bình thường, chúng được sắp xếp để bạn nếu tình cờ nhìn vào sẽ khó phát hiện câu trả lời khi bạn hoàn tất câu hỏi đó. Hãy tìm số thứ tự trước khi bạn đọc câu trả lời.
1.b. Một điều gì đó.
2.c. Đức Thánh Linh
3. 5 Trong 8 yếu tố sau. Sự tôn kính, sự nhạy cảm, đối với Thánh Linh. Sự nhu mình, lòng khiêm tốn, nhịn nhục, thành tín, sự xưng tội, sự tuân theo Đức Chúa Trời để cho họ biết rằng.
4.a. Thái độ tinh thần nhiều hơn thái độ tâm linh.
5.c. Những công cụ rất đơn sơ.
6. a. Một cách học theo thứ tự.
b. Việc nghiên cứu hướng nổ lực của bạn vào mục tiêu.
e. Một tiến trình dẫn đến kết thúc.
7. Quan sát, diễn giải, tóm lược, đánh giá, áp dụng, tương quan.
8. a.3. Quan sát
b.4. Dữ kiện
c. 2. Diễn giải
9. b. Tìm ra ý của tác giả muốn nói.
10.b. Phải luôn trình bày được những ý chính và những chi tiết kèm bổ sung.
c. có thể được trình bày bằng biểu đồ hay sơ đồ.
b. Đó là một toàn thể ở dạng cô đọng.
11.a. Ít áp dụng trực tiếp vào đời sống chúng ta bằng những nguyên tắc vĩnh cửu.
12 a. 3. Ap dụng
b. 1. Tương quan
c.1. Tương quan
d.3. Ap dụng
13. Các anh em của Phaolô. Những điều xảy đến với ông đã thật sự tác động đến sự phát triển của Phúc âm ( từ dùng có thể thay đổi).
14. Qua việc Phaolô bị giam cấm; qua việc những người anh em đã tăng cường sự dũng cảm để rao giảng sứ điệp Phúc Am.
15. Quá khứ vừa xảy ra bởi vì một trong “ Những điều đã xảy ra” Mà Phaolô đang nói là hiển nhiên nói đến việc từ đầu và Ong đang còn bị giam cầm.
16. Ở trong nhà tù tại Rôma việc Ong Phaolô bị bỏ tù đã được tường thuật trực tiếp vị trí tại Rôma được thừa nhận vì đã ( kết luận này được xác nhận ở RoRm 4:22).
17. Phaolô tường thuật rằng Ong đang bị cầm tù. Nhà tù yêu cầu phải có lính gác. Những người lính gác này rõ ràng là thuộc lực lượng bảo vệ cho cung điện, và do đó họ biết được việc Phaolô bị giam cầm tại cung điệ.
18. Hầu cho họ sẽ được khuyến khích bởi cách phát triển của Phúc âm. Do đó họ có thể vui mừng với việc là lời làm chứng của Phaolô trong ngục đang khuyến khích tín đồ nơi Ong đang ở.
19. Phaolô đang làm chứng về Chúa Jêsus cho những người lính canh. Chúa Jêsus được tôn vinh ở bất cứ hoàn cảnh nào. Phúc âm được truyền bá ngay trong những tình huống rất khó khăn. Số phận không tốt đối với Phaolô lúc bấy giờ thật sự là theo ý muốn của Đức Chúa Trời. ( Còn có thể tìm ra những điều khác, nhưng những điều trên là có ý quan trọng nhất).
20.a. 2. Trạng thái
b.6. Diễn giải
c.7. Am chỉ
d.1. Nhận diện
e. 5. Định nghĩa
f. 3. Thời gian
g.4. Vị trí

NGÔN NGỮ HÌNH BÓNG CỦA SỰ DIỄN GIẢI
Đây là bài thứ hai về diễn giải Kinh Thánh. Bạn đã học được ngôn ngữ hình bóng nhằm giải thích một sự việc qua từ ngữ của một việc khác. Điều này đòi hỏi kỷ năng đặt biệt trong việc diễn giải! Bài 4 sẽ giúp bạn hiểu một số phương pháp chính yếu và ngôn ngữ hình bóng được sử dụng trong Kinh Thánh.
Bài này sẽ cung cấp một cái nhìn mới về ngôn ngữ hình bóng như đã được sử dụng trong những câu chuyện ngụ ngôn của Chúa Jêsus, lời tiên tri, các điều này với biểu tượng, và thi ca của Kinh Thánh. Bốn loại này tiêu biểu cho phần lớn ngôn ngữ trong Kinh Thánh.Đầy là phần rất giá trị không thể bỏ quên được. Bạn không cần phải lo lắng gì khi học những phần này nếu bạn đã nắm được tính ưu việt của từng loại.
Dàn ý bài học
Ngụ ngôn ẩn dụ
Định nghĩa
Mục đích
Những điều cần nhớ
Hiểu các ẩn dụ
Tiên tri
Định nghĩa
Những vướng mắc
Kiểu mẫu và biểu tượng
Định nghĩa
Đặc trưng các ví dụ
Ưng dụng các ví dụ
Biểu tượng
Thi ca
Được tìm thấy ở đâu
Đặc trưng của thi ca Hêbơrơ
Các mục đích của bài học
Học xong bài này bạn có thể :
Nhận diện các điều trong một tiến trình hiểu các ngụ ngôn và lời tiên tri trong Kinh Thánh.
Miêu tả được các đặc tính của ví dụ biểu tượng và Thi ca trong Kinh Thánh.

Những hoạt động học tập .
Đọc kỷ phần giới thiệu dàn bài và mục tiêu bài.
Học biết ý nghĩa các từ mới mẽ với bạn
Học tập phần triển khai bài học và trả lời các câu hỏi theo thông lệ.
Làm bài tập trắc nghiệm ở cuối bài, xem lại phần giải đáp cẩn thận, xem lại những câu hình ảnh trả lời chưa đúng.
Ôn lại đơn vị một ( bài 2-4) hoàn thành bản tường trình của đơn vị một, sau đó gửu về người hướng dẫn ICI của bạn.

Từ ngữ
Ngụ ngôn (Allegory)
Tương đồng ( Analogy)
Quyết đoán ( Dogmatíc)
An dụ ( Paraple)
Tính tương đương ( Parallelism)
Lời tiên tri ( Prophecy)
Biểu tượng ( Symbol)
Kiểu mẫu ( Type).

Triển khai bài học
NHỮNG ẨN DỤ
Mục tiêu 1 : Nhận diện 4 điều quan trọng để xem xét các ẩn dụ .
Định nghĩa
Một ẩn dụ là một câu chuyện ngắn rút ra từ thiên nhiên hay những hoàn cảnh của cuộc sống bình thường nhằm minh họa bài học luân lý hoặc tôn giáo. Các thầy thông giáo thời cổ đại sử dụng rất nhiều các ẩn dụ. Chúa Jêsus đã dùng nhiều ẩn dụ trong giảng dạy của Ngài trong ngôn ngữ của Ngài sử dụng trong rao giảng đã đạt sự dạy dỗ của vị giáo sư lớn, các ẩn dụ đã đạt đến đỉnh cao nhất của sự hoàn hảo. Hầu hết các ẩn dụ của Ngài đều nằm các sách Phúc âm. Không có một chiều dài nào được đặt ra; Nhiều ẩn dụ này có thể ngắn hoặc dài.
Mục đích
Chúa Jêsus đã dùng các ẩn dụ nhằm hai lý do : (1) Để dạy dỗ các môn đồ và những người nghe và đáp ứng theo Ngài ( với loại người này, ẩn dụ tỏa sáng chân lý). 2.2 Để che khuất chân lý đối với những người không muốn đến với Ngài. Các môn đồ hỏi Chúa Jêsus về điều này. Trong Mat Mt 13:10 “ Tại sao Ngài dùng ẩn dụ khi nói chuyện với người khác?”
1. Hãy đọc 13:11-17. Tìm câu trả lời cho những câu sau:
a. Sự hiểu biết về sự mầu nhiệm của nước Thiên đàng được ban cho ai?
...............................................................................................
b. Trong câu 13, Chúa Jêsus đã giải thích lý do Ngài sử dụng ẩn dụ trong việc hỏi chuyện với người khác như thế nào?
...............................................................................................
...............................................................................................
Những điều cần nhớ
Trước tiên ẩn dụ luôn minh họa sự việc theo một diễn biến hoặc một biến cố, việc mất một đồng bạc cắc, việc để cho ánh sáng soi sáng trong bóng đêm, một nông dân với hạt giống của mình, người giàu, nguời nghèo, việc cất một căn nhà.... tất cả đều là những chủ đề rất quen thuộc đối với đa số người. Nếu họ có tai để nghe thì việc hiểu các ẩn dụ luôn hàm chứa một bài học thuộc linh được mong muốn để dạy dỗ luôn luôn có một nét chung tương đồng giữa bài học thuộc linh với một minh họa bình thường. Sự tương đồng là “ sự giống nhau trong bài đặt điểm giữa việc này với việc khác”. Điều thứ 4 cả sự minh họa lẫn bài học hàm chứa điều phải được diễn giải một cách chính xác.
Luôn có một lẽ thật trọng tâm ở mỗi ẩn dụ. Nhân vật yếu tố và các hành động đều cần có sự nhận diện, nhưng chúng sẽ là những điều biểu hiện trong đời sống thực tế của nó hơn là những biểu hiện khó hiểu, trừu tượng thường được sử dụng trong một truyện ngụ ngôn.
2. Từ cột ( bên phải) hãy chọn lựa từ nào hoàn thành mỗi câu văn với câu ( bên trái)
Hiểu biết những ẩn dụ

Chúng ta hãy nghiên cứu 4 điều để hiểu những ẩn dụ này. Trước tiên là, những ẩn dụ trong các sách Phúc âm liên quan đến Đấng Christ và vương quốc của Ngài. Câu hỏi đầu tiên bạn nên tự đặt khi học những ẩn dụ trên là : “ An dụ này liên quan đến Đấng Christ như thế nào?” Bạn còn nhớ ẩn dụ về cỏ lùng trong Mathiơ 13 hay không? Khi Chúa Jêsus giải thích ẩn dụ này Ngài phán rằng Ngài, con người, là Đấng đi gieo hạt giống tốt ( câu 37). Bạn tự đặt những câu hỏi như sau : “ Trong ẩn dụ này, có nhân vật nào biểu tượng cho Đấng Christ hay không?” “ trong ẩn dụ này có điều dạy dỗ nào về Đấng Christ hay về sứ mạng của Ngài trong thế gian này hay không?” “ An dụ này quan hệ với Nước Đức Chúa Trời như thế nào?”
Các vương quốc của thế gian này dấy lên và sụp đổ. Về phần nhiều của các vương quốc này bạn có thể dùng từ “ đã từng” nghĩa là đã đến và đã chấm dứt. Nước của Đức Chúa Trời đã từng đến cho những người được tái sinh và đang tiếp tục tồn tại cho những người sắp sửa được tái sinh. Nước của Ngài sẽ đến theo ý nghĩa đầy trọn của nó khi Chúa Jêsus trở lại. Khi bạn học một ẩn dụ nào thì câu hỏi quan trọng phải đặt ra trước tiên là : “ An dụ này quan hệ với Đấng Christ như thế nào?” và “ Quan hệ với nước của Ngài như thế nào ?”
3. Đọc LuLc 15:1-7, đây là ẩn dụ về con chiên lạc.
a. An dụ này liên quan đến Đấng Christ như thế nào?
...............................................................................................
...............................................................................................
b. An dụ này liên quan đến nước Đức Chúa Trời như thế nào?
Điều thứ hai các ẩn dụ phải được xem xét dưới góc độ xứ sở thời đại của nó. Đương nhiên cách lý tưởng tốt nhất để làm điều này nghiên cứu các sách về phong tục và văn hóa thời Kinh Thánh. Điều này sẽ giúp hiểu biết thêm về ẩn dụ về đồng bạc lạc mất. chẳng hạn để biết rằng phụ nữ ở thời đại đó, tại xứ sở đó những tài nguyên rất là hạn chết. Họ thường mang tất cả tài sản cá nhân ( dưới dạng đồ trang sức) trên mình, điều này tương trưng cho sự an toàn, đối với những rắc rối có thể xảy ra trong tương lai.
Người phụ nữ thời ấy khi mất một đồng bạc sẽ rất lo lắng phiền muộn hơn nhiều so với thời đại hiện nay mất nhiều báu vật ít quan trọng đối với mình. Do đó bạn cần phải thật nhiêù sách tham khảo. Và dẫu có sách để tham khảo hay không, bạn cũng cần phải đọc Kinh Thánh thật thường xuyên. Ví dụ khi bạn đọc các sách Xuất Edíptô ký và Lê vi ký trong Cựu Ước, bạn sẽ có thể thêm vốn kiến thức về phong tục, các ngày lễ, các ngày Sa bát cũng như về cá phương diễn khác của đời sống thời Tân ước.
Điều thứ 3 hãy tìm kiếm sự giải thích của chính Chúa Jêsus về ẩn dụ đó. Thông thường lời giải thích của Ngài nối tiếp ẩn dụ đưa ra, ngay lập tức hoặc sau vài câu Kinh Thánh. Ví dụ Chúa Jêsus giải thích ngụ ngôn về con chiên lạc trong 15:7. Lời giải thích của Ngài theo sau câu “ Trên trời cũng vậy ......” tương tự như Ngài giải thích về đồng tiền bị mất 15:10. Chờ đến khi một mình với các môn đồ, Ngài mới giải thích ví dụ về người đi gieo hạt giống ( xem 8:4-9). Ở trường hợp này, câu nói đi trước ví dụ (8:4) giúp chúng ta hiểu thêm về lời cắt nghĩa của Chúa Jêsus.
4. Hãy đọc 15:2-3. Hoàn cảnh nào dẫn đến ví dụ về các của cải bị mất?
...............................................................................................
...............................................................................................
Điều thứ 4 so sánh những điều dạy dỗ mà bạn cảm nhận trong ẩn dụ với toàn cảnh của Kinh Thánh. Chương sách chứa đựng ví dụ sách, là bất cứ đoạn nào trong Cựu ước có thể giúp ta hiểu thêm về ẩn dụ. Các sách Mathiơ, Mác, và Luca được gọi là sách Phúc âm cộng quan vì cả ba sách này cùng tường thuật những diễn biến tương tự trong đời sống Chúa Jêsus trên trái đất. Việc làm của Chúa Jêsus lúc Ngài đang tại thế. Nhưng những sự kiện đó được nói đến bằng quan điểm khác nhau. Nếu có hơn một trước giả Phúc âm một ví dụ ở Phúc âm khác hãy so sánh các sự kiện trong ẩn dụ đó. Đôi khi bạn có thể tìm thấy thêm chi tiết ở ví dụ này hơn ví dụ ở sách khác. Bạn còn có thể tìm thấy giáo lý trong các ví dụ, nhưng phải so sánh với các sách khác trong Kinh Thánh để chắc chắn hơn.
LỜI TIÊN TRI.
Mục tiêu 2 : Định nghĩa rõ hai loại tiên tri .
Mục tiêu 3 : Giải thích tại sao lời tiên tri. Tiên liệu sự kiện về tương lai là loại tiên tri khó hiểu nhất .
Định nghĩa
Tiên tri có thể được định nghĩa là lời tuyên bố được thúc giục về một ý muốn hoặc một mục đích thiên thượng. Đôi khi các nhà tiên tri trong Kinh Thánh đoán trước về những sự kiện sắp sửa xảy ra, đôi khi họ nói ra hoặc công bố lẽ thật của Đức Chúa Trời cho hiện tại. người ta thường tò mò muốn biết điều gì sẽ xảy ra cho tương lai hơn là muốn biết ý muốn của Đức Chúa Trời, đối với họ ở hiện tại. Nhưng cả hai loại công bố của các nhà tiên tri đều cùng quan trọng cả.
Vướng mắc.
Những lời tiên tri có thể được giải thích theo ngữ nghĩa như những đoạn dạy dỗ của Kinh Thánh hay không? Bạn hiểu được Esai theo cách hiểu bài giảng trên núi ( Mat Mt 5:7) hay không? Không, sách Esai khó giải thích hơn. Chắc hẳn bạn cho rằng câu lời là “ phải” bởi nguyên tắc diễn giải Kinh Thánh là hiểu theo nghĩa đen hoặc từ vựng bình thường, những đoạn công bố lẽ thật của Đức Chúa Trời như một sự nói ra ý muốn của Ngài đối với nhân loại có thể giải thích bằng những nguyên tắc diễn giải căn bản mà bạn đã đọc. Nhưng với lời tiên tri “ đoán trước” những sự kiện trong tương lai thì lại khó hơn ngôn ngữ hình bóng được sử dụng nhiều hơn cho nên yêu cầu phải học hỏi nhiều hơn để lĩnh hội biểu tượng (phần kế của bài này sẽ nói rõ hơn về điều này). Phải đọc nhiều hơn để tìm ra thời gian, nơi chốn, hoàn cảnh xảy ra của sứ điệp tiên tri.
Dĩ nhiên là khi lời tiên tri đã biến thành sự thực và đã được Kinh thánh giải thích, thì việc hiểu lời tiên tri đó trở nên dễ dàng. Một ví dụ là trong bài giảng của Phierơ vào ngày Lễ Tuần ( Cong Cv 2:25-33) Phierơ đã trích một câu tiên tri trong Thi Tv 16:8-11 và bởi sự xức dầu Đức Thánh Linh đã chỉ ra, câu tiên tri đã được ứng nghiệm trong Chúa Jêsus Christ. Bạn sẽ tìm thấy một ví dụ sau đây.
5. Hãy đọc Cong Cv 8:26-36 và EsIs 53:7-8, trả lời các câu hỏi sau.
a. Trong Cong Cv 8:27-28, ai đang đọc sách của tiên tri Esai?
...............................................................................................
...............................................................................................
b. Trong 8:34, người Ethiôpi muốn biết điều gì?
...............................................................................................
...............................................................................................
c. Trong 7:35 Philíp giải thích câu tiên tri cho ông ta dưới sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh, Philíp đã chỉ rõ ai là nhân vật chính của lời tiên tri?
Còn về những câu tiên tri khác không được Kinh Thánh giải thích cho chúng ta thì như thế nào? Có rất nhiều câu tiên tri như vậy. Đây là loại khó giải thích nhất, và có rất nhiều ý kiến khác nhau về chúng. Về vấn đề này có nhiều nguyên nhân nhưng chúng ta chỉ sẽ khảo sát ba nguyên nhân chính:
(1) Các nhà tiên tri thường thấy được cảnh tượng bày tỏ những việc tương lai cho họ. Nghĩa họ được cung cấp những hình ảnh về những việc này. Họ chép lại điều thấy , nhưng giải thích cho ngườikhác về việc minh chứng là điều khó. Bạn hãy tưởng tượng bạn phải giải thích hình hài của con chó cho người mù như thế nào. Bạn có thể giải thích đúng đắn nhưng hình ảnh trong ý nghĩ của người mù có lẽ lại khác đi nhiều so với điều bạn đang thấy, thì cũng một lẽ đó đối với những khải tượng tiên tri. Sách Khải huyền chẳng hạn, là một ví dụ, Khải tượng đến với Giăng và ông viết ra.
(2) Toàn bộ những lời tiên tri trong Kinh đòi hỏi nhiều năm chuyên nghiên cứu mới hiểu được. Ngoài 17 cuối sách tiên tri trong Cựu Ước ( là những sách tiên tri) còn có những câu tiên tri trong Thi Thiên Khải huyền, và rải rác ở nhiều sách khác nữa.
(3) Yếu tố thời gian trong thời tiên tri thường không được rõ ràng. Kết quả của sự việc có thể được được đưa ra, nhưng thời gian ứng nghiệm và khoảng cách của các sự kiện thường bị che phủ. Một số câu tiên tri dùng cho thời gian ngắn, một số cho thời gian dài. Hai loại tiên tri này đôi khi thường thắt chặt với nhau làm cho tưởng như giống nhau nhưng thật ra không phải như vậy. Sau đây là loại ví dụ về loại tiên tri này. Chúng ta có thể biết chắc về sự diễn giải của đoạn Kinh Thánh bởi vì người giải thích là Đức Chúa Jêsus Chirst.
Khi Chúa Jêsus đọc lời Đức Chúa Trời trong nhà hội tại Naxarét (LuLc 4:16-21) Ngài bắt đầu đọc từ sách EsIs 61:1-2. Khi Ngài đọc xong phần Kinh Thánh Ngài muốn đọc, Ngài xếp sách trả lại cho người giúp việc rồi ngồi xuống mà Ngài phán rằng. “ Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó” ( câu 21). Nhưng Chúa Jêsus không đọc nguyên cả đoạn. Ngài ngừng ở giữa câu. Phần Kinh Thánh còn lại nói về sự phán xét, về việc Chúa đánh bạikẻ thù của dân sự Ngài. Phần đầu đã được ứng nghiệm vào thời điểm họ nghe phần sau của câu cuối chưa được ứng nghiệm, không một người nào lúc họ đọc sách 61:2 có thể đoán rằng sự ứng nghiệm của lời tiên tri lại được phân cách bằng khoảng thời gian đến hai ngàn năm ! Cho nên điều khôn sáng đối với chúng ta là không được quyến đoán đối với lời tiên tri. Còn rất nhiều điều kiện nay chúng ta chưa được biết.
6. Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt đúng. Lời tiên tri báo trước sự việc ở tương lai là loại tiên tri khó hiểu nhất bởi vì.
a) Nó thường là một chuyện ngụ ngôn.
b) Nó nhiều ngôn ngữ hình bóng hơn các loại tiên tri khác.
c) Lời tiên tri thường đến với nhà tiên tri bằng khải tượng khó có thể giao thông được.
d) Không có nhiều lời tiên tri trong Kinh thánh có thể so sánh với nó.
e) Yếu tố thời gian trong các tiên tri về việc tương lai thường bị che khuất.
7. Đọc IPhi 1Pr 1:10-11, lưu ý câu 11, Linh nào ở trong các nhà tiên tri và soi sáng họ?
...............................................................................................
Câu này đưa ra một viễn cảnh đúng đắn đối với lời tiên tri. Chúa Jêsus là trung tâm điểm của một lời tiên tri. Ở chương cuối của sách Khải huyền (KhKh 22:6-10), Chúa Jêsus được bày tỏ là người ở phía sau mọi lời tiên tri. Do đó mọi lời tiên tri phải được nhìn theo cách là Thánh Linh của Chúa ban cho chúng ta ( là con cái Ngài) những ẩn ý và gợi ý trên suốt con đường, giúp ta nhận thức rằng chúng ta đang ở trong một kế hoạch đang diễn tiến và dẫn đến một kết quả và một tương lai vinh hiển vượt hơn cuộc đời này. Dẫu cho những khó khăn trong việc giải thích lời tiên tri, tiên tri vẫn là nguồn động viên và đức tin cho người tin Ngài. Bạn đang ở trong một chương trình đang tiếp diễn của Chúa Jêsus Christ, tất cả mọi lờit tiên tri phải hiểu theo ánh sáng đó.
HÌNH BÓNG TIÊN TRI VÀ HÌNH BÓNG
Mục tiêu 4 : Giải thích việc sử dụng hình bóng tiên tri và hình bóng trong Kinh Thánh .
Mục tiêu 5 : Tường thuật 3 đặc tính của hình bóng tiên tri .
Định nghĩa : Trong Kinh Thánh, hình bóng tiên tri là một người hay một vật trong Cựu Ước được cho rằng để báo trước cho người hoặc vật khác trong Tân ước. Con biểu tượng chỉ đơn giản là một điều thay thế cho một điều khác và đưa ra hình ảnh về cái đó, thường không có sự xem xét về thời gian như trong hình bóng về tiên tri. Nhưng đôi khi biểu tượng cũng gắn liền với thời gian, một hình bóng tiên tri đôi khi cũng được gọi là một biểu tượng.
Hình bóng tiên tri chính là những “ bài học điển hình” của Đức Chúa Trời. Ngài đã đưa những hình bóng này trong Cựu ước dưới dạng tiên tri về những điều sẽ được ứng nghiệm trong thực tại trong thời Tân ước. Hầu hết những hình bóng tiên tri trong Cựu Ước được thấy trong đền tạm và trong những chuyến lưu lạc đồng vắng của dân Ysơraên. Một vài hình bóng tiên tri chính của Cựu Ước được giải thích trong sách Hêbơrơ. Trong chương 9 và 10 tác giả sách Hêbơrơ miêu tả về sách sắp đặt coi lễ vật trong đền tạm, và sau đó nói: “ Đức Thánh Linh lấy đó chỉ ra rằng hễ đền tạm thứ nhất đương còn, thì đường nào nơi rất thánh chưa mở. Ay là một hình bóng chỉ về đời bây giờ” ( HeDt 9:8-9). Sau đó ông tiếp tục chỉ ra rằng Đấng Christ là “ của lễ dâng toàn hảo” là hình bóng tiên tri của những lễ vật hy sinh hình bóng.
Đặt tính của hình bóng tiên tri.
Có 3 nét đặc tính trong hình bóng tiên tri trong Kinh Thánh : (1) Hình bóng này phải thật sự giống cái điều được báo trước. Ví dụ, của lễ hy sinh đã báo trước sự tuôn huyết của Chúa Jêsus. Đó là một “ hình bóng tiên tri” về sự chuộc tội của Chúa Jêsus Christ. (2) Hình bóng tiên tri phải được ngụ ý trực tiếp hoặc gián tiếp trong Kinh Thánh. Sách 3:7, 4:11 là một ví dụ về sự giải thích trực tiếp của một hình bóng nói tiên tri. Sự yên nghĩ được hứa ban cho dân Ngài trong thời Môise và Giô Suê là hình bóng tiên tri của sự yên nghỉ mà được hứa cho chúng ta trong Đức Chúa Trời. Thật ra chúng ta có thể tìm thấy được hàng loạt hình bóng về sự yêu nghỉ. Dân Ysơraên bội nghịch chẳng thể vào nơi yên nghỉ (3:10-11), cũng như một người có ác tâm và không tin kính không được vào sự yên nghỉ của Đức Chúa Trời. Trong Hê - bơ rơ chương 8 và 9 có một số ví dụ về hình bóng tiên tri được ám chỉ gián tiếp. Đền tạm thời Cựu ước được tả theo cách rất quan trọng. Nhưng tác giả sách Hê - bơ - rơ không nói ra từ điểm liên quan giữa chúng bởi vì theo cách nói của ông chúng ta tin rằng chúng ta có thể tìm thấy được các hình bóng trong các vật dụng và cách sắp đặt của đền tạm tiên tri gián tiếp. (3) Hình bóng tiên tri không thể bị bó buộc phải tương ứng trong mọi chi tiết của những điều đã được tiên đoán. Ví dụ, trong Cựu Ước có một số người được coi là hình bóng tiên tri về Đấng Christ. Môise là một trong những người đó nhưng không phải Môise hoặc bất cứ ai khác đều giống Đấng Christ về mọi phương diện.
8. Hãy đọc 3:1-6. Trả lời các câu hỏi sau:
a. Phẩm chất nào của Môise làm cho ông trở nên là một hình bóng tiên tri về Đấng Christ (3:2)
...............................................................................................
b. Giải thích hai điều trong 3:3-6 chứng tỏ rằng Môi se không giống Đấng Christ về mọi phương tiện.
...............................................................................................
9. Hoàn chỉnh các câu sau:
a. Một người hoặc vật trong Cựu ước báo trước về người hoặc vật khác trong Tân ước thường được gọi là ............
b. Một vật dùng để thay thế một vật khác không tính đến yếu tố thời gian được gọi là .......
c. .................... là một dạng lời tiên tri, được Đức Chúa Trời sử dụng như là “ những bài học điển hình” để dạy những sự kiện sắp xảy đến trong chương trình của Ngài.
10. Kể ra 3 đặt tính của hình bóng tiên tri trong sổ tay của bạn.

Sách Sử dụng Hình bóng tiên tri.
Đức Chúa Trời đã sử dụng rất nhiều chủ đề như “ những bài họa điển hình” hoặc những hình bóng tiên tri. Nếu bạn nghiên cứu kỷ chủ đề này bạn sẽ thấy dân chúng được sử dụng như một loại hình bóng. Nơi chốn như là “ Đất hứa” đôi khi được dùng như là hình bóng tiên tri. Nhiều sự kiện từ sự lập thành đến những ngày lễ của dân Y sơ ra ên thời cổ được dùng làm những ngày lễ của dân Ysơraên thời cổ được dùng làm những hình bóng tiên tri. Những phận sự cũng được dùng làm hình bóng bao gồm những phậ sự tế lễ, làm hình bóng tiên tri về Chúa Jêsus Christ, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm lớn, cách người Lê vi khiêng hòm giao ước một cách cẩn thận, vì nếu tay đụng vào hòm là đưa đến sự chết. Điều này dạy dỗ sự kính trọng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời (IISa 2Sm 6:6-7). Vật chất như là đền tạm và các vật dụng khác cũng là hình bóng tiên tri.
Các sách được lựa chọn để nghiên cứu phần này là những sách ngắn để các bạn có thể nghiên cứu và học tập các nguyên tắc nhằm áp dụng cho bất cứ sách nào trong Kinh Thánh. Khi bạn đã nắm được kỷ năng học Kinh Thánh, có lẽ bạn sẽ thấy thích thú khi áp dụng những nguyên tắc đó khi đọc các sách dài hơn. Trong Cựu Ước các sách của Môise, từ Sáng thế ký đến Phục truyền luật lệ ký, là những sách có nhiều hình bóng và hình bóng tiên tri.
Bữa tiệc trong ngày Lễ Vượt Qua được xem là hình bóng tiên tri vô cùng quan trọng được thực hiện bởi chính Chúa Jêsus (LuLc 22:14-16). Bởi cớ sự chỉ định của chúng ta có thể tìm được nhiều hình bóng tiên tri lý thú báo trước về buổi lễ quan trọng này.
11. Hãy đọc những đoạn Kinh Thánh sau để tìm ra ý nghĩa của một hình bóng tiên tri trong Lễ Vượt Qua.
a. XuXh 12:15 chất gì được truyền lệnh phải đem ra khỏi nhà loại khỏi thức ăn?
...............................................................................................
b. Mat Mt 16:5-12 Chất ở tiên tri làm hình bóng tiên tri cho điều gì?
...............................................................................................
c. Ai đang sử dụng chất đó như là một hình bóng tiên tri trong 16:5-12?
...............................................................................................
...............................................................................................
12. Hãy đọc những đoạn Kinh Thánh sau để tìm ra ý nghĩa của một hình bóng tiên tri khác trong Lễ Vượt Qua.
a. XuXh 12:22. Chất gì được ra lịnh phải bôi lên mày và hai cột cửa?
...............................................................................................
...............................................................................................
b. HeDt 11:28. Điều gì khiến cho Môise ra lệnh chất nói tiên tri phải được bôi lên cửa?
...............................................................................................
c. 9:19-22 so sánh đoạn Kinh Thánh này với XuXh 12:22. Huyết được xảy ra trong Lễ Vượt qua là hình bóng tiên tri của nghi lễ gì sắp xảy ra cho Ysơraên?
...............................................................................................
d. So sánh HeDt 9:12 với XuXh 12:22 và HeDt 9:19-22 cả hai cách sử dụng huyết trong Cựu Ước là hình bóng tiên tri của điều gì?
...............................................................................................
Những biểu tượng.
Một biểu tượng đã được định nghĩa vào phần đầu của bài học này như là điều gì được thay thế cho một điều gì khác và vẽ ra bức tranh cho điều này theo một cách nào đó. Thông thường biểu tượng khác với hình bóng tiên tri ở chỗ nó không dự báo cho điều nó đại diễn. Nó chỉ tượng trưng mà thôi. Bạn cần phải lưu ý đến cả hai, biểu tượng và hình bóng tiên tri với điều phải được chính bản thân Kinh Thánh giải thích mà thôi. Cái nguy cơ là tự để cho óc tưởng tượng của bạn ép gượng những so sánh không đúng.
Biểu tượng trong Kinh Thánh đôi khi có nhiều nghĩa. Ví dụ, Chúa Jêsus được gọi là “ Sư tử của chi phái Giu đa” (KhKh 3:5). Nhưng biểu tượng của sư tử đi rình mò chung quanh đển nuốt người lại được dù để chỉ về Ma quỷ (IPhi 1Pr 5:8) Sư tử biểu tượng cho một Chúa Jêsus mạnh mẽ quyền uy là nhìn từ góc độ khác của bản chất của Sư tử. Chúa Jêsus được xem là biểu tượng của Chiên Con của Đức Chúa Trời, bị giết hại thảm thương từ buổi sáng thế, Chiên con cũng là hình ảnh của Cơ đốc nhân mới. Cây vả và muối là hình ảnh của dân sự Đức Chúa Trời. Mùa gặt, tiệc cưới và rượu nho là hình bóng của sự cuối cùng của thời đại. Biểu tượng có thể tìm thấy được trong cả Cựu lẫn Tân ước.
13. Hãy đọc Mat Mt 26:26-29. Biểu tượng của Tiệc thánh của Chúa Jêsus là rất quen thuộc với mỗi tín đồ.
a. Bánh tượng trưng cho điều gì............................................
b. Cái chén tượng trưng cho điều gì......................................
14. Hãy đọc 9:35-38. Hãy viết trong sổ tay bạn mỗi biểu tượng và những điều chúng tượng trưng ( liệt kê theo thứ tự như trong Kinh Thánh).
THI CA
Mục tiêu 6 : Miêu tả 3 tính tương đồng trong thi ca Hêbơrơ và nhận diện một số ví dụ trong Kinh Thánh .
Được tìm thấy thi ca được rải rác trong toàn bộ Kinh Thánh từ Sáng thế ký đến Khải huyền. Xuất Edíptô ký chương 15 đã cho chúng ta những thi ca đẹp đẽ của Môise và Miriam; Luca chương 1 đem đến hát ca ngợi của Mari, lời tiên tri của Xachari ở dạng thi ca. Khi học Kinh Thánh bạn sẽ tìm thấy khối lượng lớn thi Ca Hêbơrơ. Dĩ nhiên trong sách Thi thiên bạn có được một quyển của Ysơraên : bài thơ trữ tình thánh ca được dùng cho ca ngợi.
Đặc trưng của thơ ca Hê bơ rơ
Thơ ca Hê bơ rơ không có ăn vần chiều dài của các câu không quan trọng bài thơ của thơ tín Hê bơ rơ được làm nên bởi khuôn mẫu ý tưởn. Cấu trúc của từng câu được viết ra rất tự do. Kiểu thơ ca Hê bơ rơ được cấu trúc theo lối song song, tức là chú trọng đến sự quan hệ của từng cặp câu. Có 3 cách đối được sử dụng trong thơ ca Hê bơ rơ. Chúng tôi sẽ cung cấp cho các bạn tên và ý nghĩa của từng loại. Tuy không cần phải nhớ tên chuyên môn của chúng, bạn cũng nên ghi chú chúng vào tập, để khi đọc Kinh Thánh đến những đoạn này ta có nhận thức rằng không phải ngẫu nhiên mà tác giả dùng từ đó, mà chính là do cấu trúc. Ba cách nối kết đó tên là : Lập lại tương phản và bổ sung.
Cách đổi có nghĩa là dòng sau NHẮC LẠI một LẼ THẬT của dòng trước vớinhững từ ngữ tương tự . Bạn sẽ tìm thấy ví dụ này trong Thi Tv 24:1.
Đất và muôn vật trên đất.
Thế gian và những kẻ ở trong đó thuộc về Đức Giê hô va.
Cách đối TƯƠNG PHẢN nghĩa là dòng sau mang ý ngược lại với dòng trước 1:6 là một ví dụ.
Vì Đức Giê h ô va biết đường người công bình
Song đường kẻ ác rồi bị diệt vong
Cách đối bổ sung nghĩa là XÂY ĐẮP THÊM. Dòng sau thêm ý cho dòng trước. Điều này được tìm thấy ở 19:7.
Luật pháp của Đức Giê hô va là trọn vẹn bổ linh hồn lại.
15. Hãy sắp xếp loại cách đối cột phải cho phù hợp với sự miêu tả ở cột trái.
16. Các câu trong Thi thiên sau thuộc dạng cách đối nào trong ba dạng.
17. Nét đặt trưng của thi ca Hê bơ rơ là ở: a) Mẫu vần b) Những câu với chiều dài đều đặn
c) Mẫu tư tưởng
Trong thơ ca Hê bơ rơ cảm nhận, ý nghĩa và cảm xúc là các yếu tố quan trọng nhất, thường được thể hiện nhân vật ở ngôi thứ nhất “ Tôi” và nói về kinh nghiệm cá nhân của mình. Tác giả Hêbơrơ nối kết các sự kiện cụ thể với kinh nghiệm bằng ngôn ngữ hình bóng để đem đến cho người đọc những bức tranh sinh động trong tâm trí.

Bài Tập trắc nghiệm
1. Sắp xếp những câu hỏi về các ẩn dụ trong Kinh Thánh ở bên trái phù hợp với phần trả lời bên phải.
2. Lời công bố của các Đấng tiên tri nhưng bao gồm: a) Chẳng có điều gì ngoài việc tiên đoán về những sự kiện tương lai. b) Lẽ thật liên quan đến những sự kiện tương lai và các nhu cầu hiện tại. c) Lẽ thật chỉ liên quan đến nhu cầu hiện tại.
d) Sự tiên đoán của những ngày và giữ chính xác của những sự kiện trong tương lai.
3. Các câu nào sau đây là không ĐÚNG.
a. Hình bóng tiên tri là người hoặc vật trong Cựu ước nói trước về người hoặc vật khác trong Tân ước.
b. Hình bóng trong tiên tri luôn giống với biểu tượng.
c. Thông thường biểu tượng không nhằm dự báo về một điều gì, mà chỉ là tượng trưng cho một điều khác mà thôi.
d. Hình bóng tiên tri được Đức Chúa Trời dùng làm “ bài học điển hình” để minh họa cho lẽ thật về Chúa Jêsus Christ và sự Cứu Chuộc bởi huyết của Ngài.
4. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt đúng:
a. Thi ca Hê bơ rơ theo vần.
b. Thi ca Hê bơ rơ không có một điều cố định cho các câu.
c. Thi ca Hê bơ rơ được cấu trúc theo mẫu tư tưởng.
d. Thi Ca Hê bơ rơ đặt biệt nói về các cảm nhận và cảm xúc.
Trước khi bạn tiếp tục học bài 5, hãy chắc chắn rằng bạn hoàn tất bản tường trình học tập đơn vị một và trả lời câu hỏi trắc nghiệm cho người hướng dẫn.

Giải đáp câu hỏi nghiên cứu .
1. a. Cho các môn đồ của Chúa Jêsus.
b. Họ nhìn mà không thấy, lắng nghe mà không hiểu.
2. a .2) Thế tục
b.5) Bài học thuộc linh
c.1) Chân lý
d.4) Sự tương đồng
3.a. Ngài có một trăm con chiên tượng trưng cho Đấng Christ lo sự vui mừng về việc tìm được con chiên lạc tượng trưng cho niềm vui trong nước Thiên Đàng.
4. Người lằm bằm của người Pharisi và các thầy Thông giáo về việc Chúa Jêsus tiếp đón những người xã hội ruồng bỏ.
5. a. Hoạn quan người Ethiôpi là một quan chức lớn
b. Không biết là tiên tri Esai đang nói về một người nào khác.
c. Chúa Jêsus.
6. b. Mang nhiều ngôn ngữ hình bóng hơn các loại tiên tri khác.
c. Lời tiên tri thường đến với nhà tiên tri bằng khải tượng khó có thể giao thông được.
e. Yếu tố thời gian thường được ẩn đi khi nói về sự việc tương lai.
7. Linh của Đấng Christ
8. a. Lòng trung tín với Đức Chúa Trời
b. Môi se không được vinh hiển như Đấng Christ, và ông chỉ là người tôi tớ Đức Chúa Trời trong khi Đấng Christ là con trai của Ngài.
9. a. Hình bóng tiên tri
b. Biểu tượng
c. Các hình bóng tiên tri.
10. Có nét tương đồng với điều được dự báo, được sự ngụ ý trực tiếp hoặc gián tiếp trong Kinh Thánh, và không phải là đi vào từng chi tiết điều được dự báo.
11.a. Men
b. Những điều dạy dỗ của người Pharisi, và người Sađusê được hiểu là những điều dạy dỗ sai trật.
c. Chúa Jêsus.
12. a. Huyết
b. Đức tin
c. Sự rảy huyết trên hòm giao ước và trên những vật dùng để thờ phượng.
d. Của tế lễ và huyết Chúa Jêsus là Đấng đem huyết của chính Ngài đến nơi chí Thánh.
13 a.Thân thể của Chúa
b. Huyết của Chúa
14 a. Chiên không có người chăn: Lo lắng, vô vọng con người.
b. Người chăn chiên : Người dẫn đường
c. Mùa gặt : Người cần Tin Lành
d. Con gặt : Người công bố phúc âm
e. Chủ mùa gặt : Đức Chúa Trời
f. Tập họp trong mùa gặt : Việc đem nhiều người đến với Chúa Jêsus.
15. a.3) Bổ sung
b.1) Tương phản
c.2) Lập lại
16. a.3) Lập lại
b.1) Bổ sung
c.2) Tương phản
17. c. Một mẫu ý tưởng
SỰ CẤU TẠO HIỂU BIẾT CÁC BỘ PHẬN
Ba bài của đơn vị này sẽ giải quyết khía cạnh tổng hợp hay còn gọi là phương pháp học Kinh Thánh tổng hợp. Sách Ha ba cúc được chọn để khảo cứu. Từ tổng hợp chắc hẳn không làm bạn lo sợ. Từ này được trích từ 2 từ Hy lạp nghĩa là “ với nhau” và “ kết hợp”. Như vậy tổng hợp nghĩa là “ kết hợp lại với nhau”.
Bạn sẽ thấy một số từ ngữ bất thường khác trong bài này và bài kế tiếp. Không nên nản lòng nếu bạn không thể nhớ những từ này. Ý nghĩa hàm chứa trong những từ này mới là điều quan trọng nhất. Nếu bạn đồng thời nhớ được một ít từ thì sẽ tốt hơn. Những bài này sẽ là nền tảng cho việc học Kinh Thánh của bạn, cho nên hãy chắc chắn rằng bạn nắm được từng ý một trước khi bạn tiếp tục sang ý nghĩa sau.
Dàn ý bài học
Định nghĩa phương pháp tổng thể.
Những nguyên tắc phối hợp
Những nhóm mỹ từ pháp ( biện pháp tu từ).
So sánh và tương phản
Lập lại trao đổi, liên tục, mở rộng,
Tiến dần và xác định trọng tâm
Cá biệt hóa và khái quát hóa
Nguyên nhân và hậu quả.
Những biện pháp tu từ hỗn hợp khác
Xác định phương tiện
Giải thích
Chuẩn bị
Tóm lược
Phát vấn
Hài hòa
Tư tưởng chỉ đạo
Phát xạ.

Các mục tiêu bài học .
Khi học xong, bạn có thể:
Sử dụng được phương pháp tổng hợp vào việc học Kinh thánh, nhận biết được những nguyên tắc phối hợp chính khi học.
Định nghĩa được mỗi biện pháp tu từ phối hợp được trình bày trong bài học này.
Chứng minh được cách chia xẻ Kinh thánh với người khác thế nào cho tốt hơn.

Những hoạt động học tập
Đọc phần mở đầu, dàn ý bài học và mục tiêu
Học ý nghĩa của các từ mới đối với bạn.
Học phần phát triển bài, gặp bài tập viết và làm không bỏ sót.
Luôn có sổ tay kèm theo khi học. Sẽ có nhiều điều cần ghi chép ngoài những chú thích riêng bình thường.
Bắt đầu đọc sách Ha - Ba - cúc cách cá nhân. Khi bắt đầu học bài 7, cần phải đọc hết sách Ha ba cúc trong 1 lần từ đầu chí cuối. Nếu bạn chưa quan với việc đọc như thế này thì có thể đọc từng ít một để làm quen với từ được dùng và cách thể hiện.
Làm bài trắc nghiệm vào cuối bài. Xem lại phần trả lời cẩn thận. Xem lại những câu mình trả lời chưa đúng.

Từ ngữ

Phân tích ( analyze)
Nhà khảo ( archaeologist)
Sự liên kết ( association)
Manh mối ( clue)
Việc phối hợp tạo thành một chỉnh thể
( composition)
Biện pháp tu từ ( literarydevice)
Nguyên tắc ( principle).

Triển khai bài học
ĐỊNH NGHĨA PHƯƠNG PHÁP TỔNG THỂ.
Mục tiêu 1 : Miêu tả về phương pháp tổng hợp hoặc tổng thể .
Khi một nhà khảo cổ đến đào cổ vật ở một vùng nào đó đang còn di tích của nền văn minh thời cổ người đó sẽ bắt đầu từ một cuộc khảo sát tổng thể ở diện rộng, dần tiến đến những mảnh nhỏ nhất, sàng lọc từng hạt bụi để tìm ra những đồ vật mình đang quan tâm. Đứng trước mảnh đất phải đào, anh ta trước tiên phải khảo sát, sau đó chia và xác định từng lô. Chẳng bao giờ nhà khảo cổ và đồng đội của ông bắt đầu việc “ đào xới” mà không khảo sát cẩn thận trước. Sau đó họ mới thật sự đào để tìm những chi tiết. Những gì kiếm được từ khai quật sẽ được xem xét kỷ lưỡng, được chụp hình và đưa vào hồ sơ. Nhưng nhà khảo cổ sẽ chẳng tìm ra mẫu vật tốt nếu anh ta không đo lường, khảo sát toàn đồi hoặc cách đồng mình tiến hành khai quật.
Phương pháp tổng thể trong việc nghiên cứu Kinh Thánh cũng tương ứng với việc khảo sát đầu tiên tổng quát mà nhà khảo cổ tiến hành. Người đọc Kinh Thánh sẽ tìm được kho tàng về ý nghĩa phong phú hơn của các chi tiết trong Kinh Thánh nếu đầu tiên anh nhìn Kinh Thánh hoặc đoạn Kinh Thánh phải đọc dưới dạng một chỉnh thể.
Hãy nhớ là “ tổng hợp” có nghĩa “ kết hợp với nhau”. Phương pháp tổng hợp phương pháp học từng sách, một cái nhìn tổng quát về cuốn sách. Phương pháp này có thể được áp dụng với từng phần một trong Kinh Thánh với điều kiện phần đó phải độc lập ( ví dụ bài Thi thiên hoặc bài giảng trên núi chẳng hạn).
Bước đầu tiên của phương pháp này là đọc toàn bộ Kinh Thánh. Chúng tôi chọn một sách ngắn cho bài học này là để cho bạn có thể đọc suốt một lần một. Khi đến phần áp dụng phương pháp, bạn sẽ kiếm lại những chi tiết đặc biệt khi đọc lại lần thứ hai. Khi bạn đã gom và viết lại đủ thông tin cần thiết, bạn sẽ lập ra một dàn ý. Có thể thể hiện nó dưới một sơ đồ đơn giản. Tóm lược bằng cách nào đi nữa, bạn cũng nắm được nội dung và sứ điệp tổng quát của sách. Sau đó, cũng giống như nhà khảo cổ với những của báu của ông, bạn có thể xem xét từng phần nhỏ của cuốn sách mình học. Bạn sẽ thấy rằng kho báu lời của Đức Chúa Trời không bao giờ cạn kiệt ! Bạn càng sống lâu chừng nào bạn càng có dịp đọc lại những đoạn Kinh Thánh và sẽ tìm thấy cảm hứng mới trong mọi khi.
1. Khoanh tròn mẫu tự trước những phần có thể áp dụng được đối với phương pháp tổng hợp.
a) Phương pháp đọc cả cuốn sách
b) Hình ảnh toàn thể
c) Nghiên cứu những chi tiết đặc thù
d) Cái nhìn tổng quát
e) Kết hợp lại với nhau
f) Đào sâu về các chi tiết
2. Khi áp dụng phương pháp này, chương trình hành động của bạn là phải đọc:
a) Cả cuốn sách, viết tiêu đề các chương, lựa ra câu Kinh Thánh hay nhất.
b) Một số phần, phân tích mọi chi tiết, và lập sơ đồ cho điều mình khám phá.
c) Đọc cuốn sách một lần một, thông tin đặc biệt, và tóm lược lại.
NGUYÊN TẮC TẠO THÀNH MỘT CHỈNH THỂ.
Mục tiêu 2 : Nêu lên các nguyên tắc chính để tạo thành một chỉnh thể và nhận diện chúng trong Kinh Thánh .
Mục tiêu 3 : Tường thuật lý do tại sao thông tin là một công tác quan trọng nhất để tạo thành chỉnh thể .
Một chỉnh thể nhằm sắp xếp nhiều phần nhỏ để tạo nên một toàn thể bao gồm tất cả. Đó có thể là một bức tranh, một tác phẩm âm nhạc, một bài thơ và một bài viết. Chỉnh thế nào cũng vậy, cũng nhằm diễn đạt sự thống nhất đó gồm phần mở đầu, phần giữa và phần kết thúc. Và nếu nó là tác phẩm nghệ thuật, nó sẽ bao gồm nhiều phần nhằm kết hợp thành một đơn vị duy nhất.
Một chỉnh thể của từ ngữ phải chuyển giao được ý tưởng Đức Chúa Trời đã ban ngôn ngữ cho loài người. Kèm theo ngôn ngữ là thứ tự, sự sắp xếp và những nguyên tắc để làm cho người ta hiểu nhau. Mỗi ngôn ngữ đều có thứ tự riêng của nó, dẫu cho thứ tự này có khác biệt với các ngôn ngữ khác.
Người ta thường không có ý kiến cho rằng các tác giả Kinh Thánh đã có một kế hoạch trọng thể khi họ đặt bút viết về cái mà chúng ta gọi là Kinh Thánh. Bởi vì chúng thường quá chú ý đến sự cảm thúc mà Đức Thánh Linh hành động trên các tác giả, mà chúng ta lại quên rằng chỉnh Đức Thánh Linh sử dụng khả năng riêng của mỗi tác giả. Lời của Đức Chúa Trời là nội dung và thông điệp được Đức Thánh Linh cảm thúc và Ngài cũng sử dụng người viết, ngôn ngữ của họ, vốn từ vựng của họ, và các hình thức văn chương của thời đại họ. Đây chính là sách Đức Thánh Linh truyền đạt chân lý. Còn bạn hãy giao thông với mọi người bằng hình thức ngôn ngữ họ biết được !.
Tôi phải dành thời gian để chuẩn bị cho bạn trong việc học các nguyên tắc tạo thành chỉnh thể bởi chúng quan trọng. Chắc chắn rằng bạn sẽ nhận được nhiều khái niệm qua những nguyên tắc được trình bày.
Hãy xem xét trường hợp của Phaolô. Ong biết rằng ông đang viết thư. Ong đã dùng hình thức thư thông dụng trong thời đại ông. Lời chào thăm trong thư ông được viết rất giống lời chào của thư mà các nhà khổ cổ sau này đã phát hiện từ thời đại đó. Vua Đavít biết mình đang làm thơ. Chúng tôi đã nói về một số khía cạnh của thơ ca Hê bơ rơ, và chúng tôi sẽ nói thêm ở bài 6. Môise đã viết luật pháp của Đức Chúa Trời với ý định rằng điều đó sẽ trở nên lời Kinh Thánh, là điều thiết thân cho con người như là lời chúc phước và lời răn. Xem PhuDnl 31:24-26.
“ Khi Môise chép những lời luật pháp này trong một cuốn sách xong rồi, thì ra lệnh cho người Lê vi khiêng hòm giao ước của Đức Giê Hô Va mà rằng : Hãy lấy cuốn sách luật pháp này, để trên hòm giao ước của Giê hô và Đức Chúa Trời các ngươi. Nó sẽ ở đó làm chứng nghịch cùng ngươi”
Tất cả các tác giả của các sách Tân và Cựu ước đều hoàn toàn ý thức là mình đang viết những văn bản để truyền đạt.
Vậy bây giờ khi viết một điều gì, hãy cố gắng để người khác hiểu mình. Có những nguyên tắc trình bày rất cần thiết đến vì nó làm cho toàn văn bản dễ hiểu hơn. Bạn có sử dụng chúng, hoặc giả không nhận ra đó là nguyên tắc tạo thành một chỉnh thể. Bạn có thể so sánh điều này với điều kia, dùng hình ảnh minh họa lập lại ý khi muốn người đọc nắm được ý mình muốn nói, khuyên răn, những điều muốn nói theo cách khác để giúp cho một người nào đó cũng hiểu. Bạn sẽ phải sử dụng tất cả các nguyên tắc viết này nếu bạn muốn thuyết phục ai về tầm quan trọng của lời nói bạn.
Thế đấy các tác giả Kinh Thánh cũng làm giống như vậy. Họ khuyên răn minh họa, lập lại so sánh nếu quan hệ, và tường thuật điều mình muốn nói bằng cách khác. Nếu bạn thấy được một số trong những nguyên tắc này là những manh mối dẫn đến việc nắm được điều mà tác giả Kinh Thánh muốn liên lạc, bạn có thể áp dụng lại những nguyên tắc đã học để thấy tác dụng động viên mà tác giả muốn trình bày tầm nhìn hiểu biết của bạn sẽ mở mang thêm nhiều khi bạn quan sát quyền năng của Đức Thánh Linh trên những nguyên tắc đó.
3. Hãy kể tên 4 nguyên tắc tạo thành văn bản.
...............................................................................................
CÁC NHÓM TU TỪ ( PHONG CÁCH VĂN CHƯƠNG) SO SÁNH VÀ TƯƠNG PHẢN
Mục tiêu 4 : Mô tả của so sánh và tương phản
So sánh liên quan đến sự hội nhập của hai hoặc vài sự vật có một nét giống nhau nào đó có khi các từ như : “ Như là”, “ giống như” cũng như là “ cũng cho ta dấu hiệu của 2 hoặc vài điều tương tự được so sánh. Khi thấy điều này, bạn biết tác giả muốn nhấn mạnh đến tính tương đồng ( Similarity). Khi nhận thức ra có sự so sánh của 2 hoặc vài điều tương tự được thành hình. Bạn nên tự nói đây là biện pháp so sanh một trong các biện pháp tu từ. Bạn có thể tìm thấy sự so sánh áp dụng cho người, nơi chốn sự việc hoặc ý tưởng.
So sánh là biện pháp đầu tiên trong hai mươi biện pháp tu từ mà bạn sẽ học trong bài này. Mỗi biện pháp sẽ được giải thích và minh họa bằng những ví dụ trong Kinh Thánh. Bạn sẽ viết câu trả lời cho những ví dụ này vào sổ tay. Ở phần cuối của các nhóm biện pháp tu từ sẽ có bài tập dựa vào định nghĩa của 12 biện pháp này. Sau đó cũng sẽ có loại bài tập tương tự dựa trên 8 biện pháp tu từ hỗn hợp còn lại.
4. Ví dụ : ISa1Sm 13:5 câu Kinh Thánh này nói lên sự so sánh nào? ( Hãy để ý từ ngữ “ như”).
Tương phản liên quan đến sự khác biệt giữa các sự vật. Đôi khi vật tương phản chỉ có một sự khác biệt hoàn toàn. Những từ như “ nhưng” hay là “ cái khác” và “ tuy nhiên” báo hiệu về cách dùng tương phản không nằm ở từ báo hiệu, mà nằm trong sự kiện nhấn mạnh những tính chất không giống nhau của vật. Bạn hãy tìm một số nơi tương phản trong Kinh Thánh !
5. VÍ DỤ : Thi Tv 1:1-8, toàn bộ bài Thi thiên này dựa vào sự tương phản. Hai loại người tương phản nhau trong các câu 1 và 2; 3 và 4; và 6. Đây là những loại người nào? Từ nào trong các câu 2,4 và 6 báo sự tương phản?
Lập lại, trao đổi, liên tục, Mở rộng.
Mục tiêu 5 : Phân biệt các biện pháp tu từ tương tự của lập lại, trao đổi, liên tục và chắp chép .
Lập lại là sự tái sử dụng từ, ngữ hoặc câu giống nhau cho việc nhấn mạnh. Ví dụ : Trong chương 2 của sách Ha ba cúc lời cảnh cáo “ Khốn thay cho” được nói đến năm lần. Trong Mathiơ chương chúng ta thấy các từ “ khốn cho các ngươi, những thầy thông giáo và người Pharisi là kẻ giả hình ! “ Đó là sự lập lại sinh động, đem đến sự đồng nhất của tư tưởng trong đoạn Kinh Thánh.
6. VÍ DỤ : EsIs 9:12, 17:20, 10:4 theo ( nguyên bản LND lời người dịch) cái gì được lập lại trong các câu Kinh Thánh nầy?
Trong phép trao đổi ( intricharfe) bạn sẽ thấy một sự lập lại đặc biệt trong đó có một khuôn mẫu xen kẽ được lập lại. Luca chương 1 và 2 là một ví dụ đặc sắc, ở đó bạn sẽ thấy sự trao đổi hoặc sự xen kẻ giữa đề tài về Giăng Báp Tít và Chúa Jêsus lời công bố về sự sắp ra đời của Chúa, sự ra đời của Giăng với sự ra đời của Chúa. Việc sử dụng loại từ pháp này tăng tác dụng cho sự tương phản cũng như tương đồng. Khi sử dụng đúng. Như trong Luca đã sử dụng biện pháp này rất có hiệu quả.
7. VÍ DỤ I GiGa 2:2-14. Chỉ ra mẫu xen kẽ và sự lập lại của nó trong đoạn Kinh Thánh nầy.
Phép liên tục rất dễ tìm thấy được trong những đoạn Kinh Thánh có sự lặp lại những từ ý nghĩa gần giống nhau. Thường được nhìn thấy trong thành văn lập lại ý bằng những từ giống nhau. Có thể có sự tiến triển để hướng đến một ý nào đó trong Kinh Thánh. Ví dụ : trong AmAm 1:6; 2:6 có một câu được lập lại : “ Đức Giê hô va phán như vầy. Chúng nó đã liên tục phạm tội và bởi cớ đó Ta sẽ chắc chắn trừng phạt họ...” Câu tương tự như vậy được lập lại với thành Ga xa, Ty - rơ, Ê đom, Am - môn, Mô - áp, Giu đa và cuối cùng là Ysơraên. Tội lỗi của mỗi nhóm hơi khác nhau, nhưng mẫu câu nói thì giống nhau. Sự tiến triển ở đây là lời lên án càng ngày càng gần với Ysơraên, một dân tộc mà Đức Chúa Trời đặc biệt quan tâm đến : Cho nên phép liên tục là sự sử dụng lại những từ hoặc ngữ giống nhau để diễn đạt một ý giống nhau.
8. VÍ DỤ : HeDt 4:1-11. Chủ đề chính được lập lại bằng những cách khác nhau đem đến tính liên tục cho cả đoạn là gì?
Phép mở rộng liên quan đến một nghiên cứu của một đề tài đặt biệt nào đó. Bạn triển khai khi đã giới thiệu về nó. Tính chất của phép mở rộng là phát triển thông qua triển khai vấn đề. Bạn đã nghiên cứu về đặc trưng của phép tương đồng được liên kết với thơ ca Hêbơrơ. Phép mở rộng rất gần gũi với cách tương đồng tổng hợp ý của câu trước sự xây dựng nên bởi, hoặc được tiếp tục mở rộng bởi câu sau. Khi học một đoạn Kinh Thánh, bạn nên tập thói quen tự hỏi “ Cái gì được thực hiện ở phần này?” khi thấy tác giả đang nói về một ý và đang phát triển nó lớn rộng hơn, đó là tác giả đang sử dụng nguyên tắc mở rộng. Phép mở rộng này tìm thấy đặt biệt trong những đoạn Kinh Thánh có tính chất kể chuyện. Toàn bộ sách Giô na bộc lộ rõ biện pháp tu từ này.
9. VÍ DỤ : Gion Gn 1:1-6. Tóm gọn sự tiến triển của những hành động riêng lẽ của Giôna ở câu 3.
Phép tiến dần và phép xác định trung tâm
Mục tiêu 6 : Mô tả mối quan hệ giữa phép tiến dần của một câu chuyện và phép xác định trung tâm của một đoạn giáo huấn trong Kinh Thánh .
Phép tiến dần liên quan đến việc đạt đến điểm tới hạn trong một câu chuyện. Tác giả thường viết bắt đầu từ sự kiện ít hấp dẫn và quan trọng, sau đó tiếp dẫn theo mức độ, và cuối cùng là đến điểm đỉnh. Sau đó sẽ có một giai đoạn phần hướng dẫn đến kết thúc là nơi mọi việc được nối kết lại, mối căn thẳng được dịu đi và bạn thấy sự lộ ra của mọi việc. Điểm đỉnh chính là điểm mấu chốt của phép tiến dần. Sách Xuất Ê díp tô ký được trình bày theo phép này. Điểm đỉnh của sách nằm trong chương XuXh 40:34-35. Mọi lời tường thuật về sự rời khỏi Ai cập, sự ban bố luật pháp các điều răn các chi tiết về Đền Tạm, cuối cùng đám mây và sự vinh hiển của Chúa bao phủ và đầy dẫy đền tạm. Đó là điểm đỉnh của sách !.
10. VÍ DỤ : Mac Mc 1:14-45. Đặt một tiêu đề ch mỗi phần của đoạn Kinh thánh nầy : câu 14, câu 16 - 20, 26, 28, 38- 39, 41 - 42, 45. Các tựa đề đó phải nói lên được cả đoạn Kinh Thánh được xây dựng theo phép tiểu dẫn ( Tựa đề của bạn có thể hơi khác với phần trả lời về phần từ ngữ, nhưng phải có một ý tương tự).
Phép Xác Định Trung Tâm ( Định Tâm)
Phép Định Tâm quan hệ nhiều với phép tiểu dẫn, nhưng thường sử dụng trong những đoạn dạy dỗ hơn là đoạn kể chuyện. Trong 1 đoạn Kinh Thánh về dạy dỗ, đó là điểm then chốt, là trung tâm điểm của vấn đề thảo luận. Trong sách như Galati chẳng hạn, có một số điểm chủ chốt vì có một số tranh luận nhỏ nhằm trong một tranh luận chính. Điểm chủ yếu trọng tâm của cả sách là GaGl 5:1, “ Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do”. Bốn chương đầu đã dẫn đến điểm mấu chốt đó. Tuy nhiên, trong Galati cũng còn một số điểm mấu chốt khác trong các điều dạy dỗ của Phaolô. Tiêu biểu là 3:16. Phaolô đã cho thấy rằng luật pháp của dân Ysơraên không đầy đủ cho sự cứu rỗi, thật ra liên hệ mật thiết với sự chết của Đấng Christ (3:13). Kế đó ông tiến hành việc chứng minh lời hứa của Đức Chúa Trời đối với Apraham được hướng đến Jêsus Christ. Câu mấu chốt của đoạn nầy là 3:16, vì chính câu nầy là trọng điểm của sự hoàn chỉnh hoặc đổ vỡ của đoạn Kinh Thánh. Các lời hứa đều được Đức Chúa Trời ban bố cho dòng dõi ( số ít - không phải số nhiều) Apraham. Do đó, phép định tâm tức là tìm điểm mấu chốt, cái trung tâm trong những đoạn dạy dỗ. Cũng có thể thấy biện pháp nầy được dùng trong các đoạn kể chuyện nhưng không phải nhằm thể hiện điểm đỉnh. Ví dụ như trong sách Rutơ, đã dùng phép định tâm khi Bô ô thương lượng với dân sự mình tại cửa thành. Nếu sự việc không đưa đến tại điểm đỉnh đó, thì mọi việc sẽ đổ bể. Đấy chính là điểm mấu chốt của câu chuyện.
Phép Cá Biệt Hóa Và Tổng Quát Hóa.
Mục tiêu 7 : Phân biệt giữa những chuyển biến ý tưởng trong phép cá biệt hóa và tổng quát hóa .
Phép cá biệt hóa là sự vận động của ý tưởng từ tổng quát đến chi tiết, gần tương tự với việc nghiên cứu tổng hợp đi từ khảo sát tổng quát đến khảo sát chi tiết. Trong cá biệt hóa, sự vận hành nầy xảy ra từ cái tổng quát nội tại đến các chi tiết nhỏ, từ tổng quát đến cá biệt. Nói cách khác, bạn có thể có một tổng quát như “ mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”. Nhưng “ John Doc đã phạm tội” hoặc “ tôi đã phạm tội” đem điều tổng quát đến cá biệt. Đây là cá biệt hóa đôi khi được gọi là phương pháp suy diễn.
12. VÍ DỤ : Mat Mt 6:1-8 ý của Chúa Jêsus về việc thực hiện “ những bổn phận tôn giáo” đã được cá biệt hóa như thế nào?
Phép tổng quát hóa là sự chuyển biến ý tưởng quy nạp đi từ cái ví dụ đặc biệt đến 1 nguyên tắc tổng quát. Đây là phương pháp trái ngược của phương pháp cá biệt hóa.
13. VÍ DỤ : Gia Gc 2:1-26. Giacơ bắt đầu chương 2 bằng những ví dụ cá biệt về cách xử sự của một Cơ đốc nhân chân chính đối đãi với nhau bằng tình thương yêu, không chú ý đến y phục của họ, kính trọng người nghèo, yêu thương người lân cận, tuân theo các điều răn. Ong đi từ cái đặt thù đến nguyên tắc tổng quát ở câu cuối chương sách. Hãy viết ra nguyên tắc đã được khái quát hóa đó.
Phép Nguyên Nhân Và Kết Quả.
Mục tiêu 8 : Phân biệt thứ tự diễn tiến của hai phép trên .
Nguyên tắc của phép nguyên nhân - kết quả là đi từ nguyên nhân đến hậu quả trước nhất đi từ lý do gây ra sự việc đến kết quả của sự việc đó. Điều này được thấy rõ trong HaKb 2:5. Sách nói rằng : “ Nó kiêu ngạo và chẳng ở yên chỗ mình, nó thâu góp mọi nước và hiệp hội mọi dân cho mình”. Nguyên nhân : lòng tham ! Kết quả : chiến tranh !.
14. VÍ DỤ : Sách 2:17. Bạn tìm được mẫu nguyên nhân đến kết quả nào trong phần đầu của câu nầy?
Phép kết quả là quá trình ngược lại, đi từ kết quả đến nguyên nhân. Điều xảy ra được nói trước và lý do của nó được giải thích sau. “ Bởi vì” là từ ngữ chính trong việc sử dụng phương pháp nầy. Tôi nói “ ngón tay tôi bị thương”. Người nào đó hỏi “ Tại sao?” Tôi trả lời “ tại vì nó bị bỏng”. Ví dụ đơn giản nầy cho bạn ý niệm về tiến trình của phép kết quả - nguyên nhân.
15. VÍ DỤ : 2:17. Bạn tìm thấy ví dụ nào về phép kết quả - nguyên nhân trong câu nầy?.
16. On lại 12 phương pháp tu từ mà bạn học. Hãy sắp xếp mỗi phương pháp phù hợp với câu định nghĩa hoặc mô tả hành động đó.
...a. Liên quan đến sự giống nhau của sự vật.
...b. Liên quan đến sự khác nhau của sự vật.
...c. Những từ giống nhau được lặp lại.
...d. Sự lặp lại các từ ngữ tương tự.
...e. Nghiên cứu mở rộng.
...f. Từ kết quả đến nguyên nhân
...g. Từ nguyên nhân đến kết quả.
...h. Điểm đỉnh của câu chuyện.
...I. Điểm mấu chốt trong đoạn.
...j. Một loại mẫu chuyển hóa.
...k. Tiến trình từ tổng quát đến cá biệt.
...l. Tiến trình từ cá biệt đến tổng quát.
1) Điểm chính
2) Trao đổi
3) So sanh
4) Cá biệt hóa
5) Liên tục
6) Nguyên nhân
7) Kết quả
8) Tương phản
9) Tổng quát hóa.
10) Mở rộng
11) Xác định trung tâm.
12) Lập lại.
CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ HỖN HỢP.
Mục tiêu 9 : Định nghĩa mỗi biện pháp tu từ khác trong bài .
Xác định phương tiện.
Xác định phương tiện liên quan đến phương tiện đồ dùng hoặc dụng cụ được sử dụng để sự việc tiến triển. Những từ ngữ là “ bằng, bởi...” giống như cuối trong Gia Gc 3:5 : “ Thử xem cái rừng lớn chừng nào mà có thể bị đốt cháy bởi một ngọn lửa nhó!”. Trong câu nầy, từ ngữ “ bởi” chỉ ra công cụ theo sau làm nên sự việc.
17. VÍ DỤ : 2:21 Apraham được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời bằng phương tiện nào?
Giải thích
Giải thích, làm sáng tỏ, phân tích hoặc giải nghĩa sự việc. Vì dụ trong LuLc 2:4 chúng ta được biết về việc Giôsép đi từ Naxarét đến Galilê. Việc ông dời đi do ông là dòng dõi của vua Đavít.
18. VÍ DỤ : Mat Mt 13:58. Câu nầy giải thích lý do tại sao Chúa Jêsus không làm nhiều phép lạ tại quê hương mình. Nói về lời giải thích đó bằng thuật ngữ của bạn.
Chuẩn bị.
Chuẩn bị là phần tư liệu để giới thiệu phần dự bị cho phần còn lại của đoạn hoặc sách. Ví dụ, trong LuLc 1:1-4, Luca đã cho ta một phần mở đầu giới thiệu về mục đích và phương pháp học của ông. Đây không phải là một phần câu chuyện của Phúc âm, chỉ là phần dẫn nhập mà thôi.
19. VÍ DỤ : Mac Mc 1:1, ICo1Cr 1:1, IGi1Ga 1:1. Câu nào trong các sách trên bắt đầu bằng lời chuẩn bị phù hợp với cách định nghĩa vừa nói ở trên nhất?
Tóm Lược.
Tóm lược là cô đọng thông tin thành 1 hình thể ngắn. Bạn tóm tắt những điều bạn đã từng viết hoặc nói. Bạn chọn ra chất tinh hoa của sự việc cách ngắn gọn và súc tích. Ví dụ SaSt 45:1-26 là chương tóm lược toàn câu chuyện về Giôsép và tường thuật điều gì đã dẫn đưa đến điểm nầy trong 1 hình thể ngắn gọn.
20. VÍ DỤ : Gios Gs 24:1-14. Tường thuật bằng ngôn ngữ của bạn về những điều Giôsuê đã tóm lược trong sứ điệp của ông trước khi ông nói với mọi người trong câu 14 rằng “ Hãy kính sợ Đức Giêhôva và hầu việc Ngài”.
Phát Vấn.
Phát vấn nghĩa là đặt câu hỏi. Có khi tác giả Kinh Thánh đặt câu hỏi trước sau đó tự trả lời. Phaolô thường sử dụng cách thức nầy. Ví dụ trong RoRm 3:31 “ Vậy chúng ta nhơn đức tin mà bỏ luật pháp hay sao?” Rồi trả lời ngay ở câu kế tiếp, “ Chẳng hề như vậy ! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.” Những câu hỏi khác lại thuộc dạng cường điệu, nghĩa là câu hỏi đã quá rõ rệt, đến nỗi không cần câu trả lời. Ví dụ trong sách GaGl 3:5 “ Đấng ban Đức Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ trong anh em, thì làm bởi các việc luật pháp hay là bởi đã nghe mà tin?”
21. VÍ DỤ : Sách Malachi chương I. Hãy liệt kê ra những câu sử dụng phép phát vấn.
Hài Hòa.
Hài hòa liên quan đến sự thống nhất theo sự thỏa thuận hoặc kiên định. Khi một quan điểm được phát biểu lên, những điểm khác trong đoạn phải cùng hòa hợp với nó. Ta thường gọi nó là “ quy luật” hài hòa, nhưng thật ra nó là “ chân lý”; nó đảm bảo rằng các chi tiết nhỏ trong đoạn đều nói lên chân lý. Toàn bộ Kinh Thánh đều minh họa tính hài hòa đó. Chúng ta rất dễ tìm thấy sự hài hòa nầy trong những đoạn nói lên một vấn đề đồng thời với cách giải quyết của nó : bệnh tật với cách trị bệnh lời hứa với sự thực hiện lời hứa.
22. VÍ DỤ : RoRm 3:21-31. Đoạn nầy là một phần của ví dụ về tính hài hòa. Đây là câu trả lời hoặc giải pháp cho vấn đề Phaolô mô tả trong 1:18-20. Điều gì đang được mô tả trong 1:18-3:20?
Tư tưởng Chủ Đạo.
Tư tưởng chủ đạo không phải chỉ là ý chính đứng tách riêng một mình, mà là bao gồm ý chính được hổ trợ bởi các ý phụ thuộc, nó bao gồm tính chất chỉ đạo lẫn phụ thuộc. Một dàn ý là một minh họa tốt về tư tưởng chủ đạo, trong đó tiêu biểu chính tuy đứng xa các tiêu đề phụ, nhưng vẫn có chức năng bổ sung chi tiết giữa chúng. Trong Kinh Thánh, phép ngôn từ nầy được minh họa rõ nét trong các ẩn dụ của Chúa Jêsus. Bạn đã học biết rằng mỗi ẩn dụ đều dạy một bài học chủ yếu nào đó. Điều dạy dỗ từ ẩn dụ đó được bao bọc trong bối cảnh của những chi tiết nhỏ hơn. Và tất cả các chi tiết cùng dựng nên thành tiết nhỏ hơn.Và tất cả các chi tiết cùng dựng nên thành ẩn dụ, nhưng điều dạy dỗ chính thì nổi bật lên trên hết thảy. Trong việc diễn giải Kinh Thánh, điều cần thiết ấy là luyện cặp mắt và bộ óc để tập trung về vấn đề trung tâm hoặc quan trọng nhất và phải có khả năng nhận diện những điều thứ yếu hoặc phụ thuộc vào.
23. VÍ DỤ : Mat Mt 13:47-50. Điều dạy dỗ chính rút ra từ ẩn dụ nầy là gì? Kể ra ít nhất hai điều dạy dỗ phụ?
Phát Xạ.
Trong phát xạ mọi việc đều di chuyển hoặc hướng tới hoặc xa cách một việc gì đó. Từ trung tâm điểm các cành của cây, các cây căm của bánh xe là những ví dụ sống động để minh họa về phát xạ trong Kinh Thánh. Sách Thi Tv 119:1-176 đã bày tỏ cách sử dụng phương pháp nầy một cách đẹp đẽ. Câu của chương được chia thành 22 đoạn thơ và hết thảy đều phát xạ từ điểm chính hoặc chủ đề : tính vĩ đại và toàn hảo của luật pháp Đức Chúa Trời.
24. VÍ DỤ : GiGa 15:5. Câu nầy sử dụng phương pháp phát xạ như thế nào?
25. On lại tám cách sử dụng ngôn từ vừa học, bắt đầu bằng phương pháp xác định phương tiện. Sắp xếp mỗi phương pháp cho phù hợp với câu định nghĩa hoặc mô tả hành động.
...a. Phương tiện bởi đó một sự việc được xảy ra.
...b. Làm sáng tỏ và phân tích.
...c. Tư liệu để giới thiệu
...d. Cô đọng thông tin
...e. Đặt câu hỏi
...f. Những ý ăn khớp với nhau.
...g. Ý chính.
...h. Hướng đến hoặc khỏi một ý.
1) Giải thích
2) Phát vấn
3) Chuẩn bị
4) Phát xạ.
5) Hài hòa
6) Sử dụng phương tiện.
7) Tóm lược
8) Tư tưởng chủ đạo.
Một vài lời nữa về phương pháp sử dụng ngôn từ nầy: bạn sẽ thấy rằng chúng gối lên nhau. Ví dụ : bạn sẽ thấy rằng cùng một câu hỏi được lặp lại nhiều lần. Đây là sự trùng nhau giữa phát vấn và lặp lại. Có thể phương pháp nầy hoặc phương pháp kia là chính. Bạn hãy bắt đầu lưu ý đến các biện pháp nầy khi đọc Kinh Thánh.
Cuối cùng, giữa các nguyên tắc tạo thành văn bản và các biện pháp sử dụng ngôn từ, có lúc người đọc cho là loại nầy hoặc là loại kia, giống như trường hợp của sự so sánh với sự lặp lại trong bài học nầy.

Bài Tập Trắc Nghiệm
1. Từ nào sau đây nói lên được phương pháp tổng hợp?
a) Cái nhìn tổng quát.
b) Nghiên cứu theo đoạn.
c) Cá biệt hóa
2. Bước đầu tiên của tiến trình tổng hợp là
a) Đọc vài đoạn của sách
b) Làm biểu đồ
c) Đọc toàn bộ sách.
3. Minh họa, lập lại, và lời lưu ý là những nguyên tắc chính để tạo nên văn bản là những mạch nối mà tác giả Kinh Thánh cố gắng...
a) nói một cách khác.
b) so sánh
c) che dấu
d) truyền đạt.
4. Biện pháp nào kết hợp các sự vật tương tự với nhau lại?
a) Phép xác định trung tâm.
b) Phép so sánh.
c) Phép nguyên nhân.
5. Biện pháp tạo thành văn bản nào liên quan đến việc tự liệu dẫn nhập, giới thiệu?
a) Phép liên tục
b) Phép chuẩn bị
c) Phép tóm lược.
6. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu Kinh Thánh sau : “ Ta là gốc nho thật và các ngươi là nhánh?”
a) Kết quả
b) Phát vấn
c) Phát xạ.
7. Biện pháp nào được dùng để diễn ý từ cái chung đến cái đặc thù, từ cái toàn thể đến cái chi tiết?
a) Cá biệt hóa
b) Xác định phương tiện.
c) Hài hòa
d) Khái quát hóa.
8. Biện pháp nào trình bày những sự vật khác nhau, giống như trong câu “ kẻ công bình sẽ thừa hưởng được đất, những người làm ác sẽ bị diệt vong”?
a) Tư tưởng chủ đạo.
b) Mở rộng.
c) Tương phản
9. Biện pháp nào được Giăng sử dụng khi ông viết cho trẻ con, các phụ lão, người trẻ tuổi theo thứ tự nầy và lập tức lặp lại theo mẫu thứ tự trên?
a) Giải thích
b) Khái quát hóa
c) Trao đổi
d) Tiến dần.
e) Lập lại.

Giải đáp câu hỏi nghiên cứu
1.a) Phương pháp đọc cả cuốn sách.
2 . c) Cuốn sách một lần một tìm thông tin và tóm lược lại.
3. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm tất cả 4 điều sau đây : so sánh, minh họa, lập lại, lưu ý, bày tỏ mối quan hệ, nói ra sự việc bằng cách khác.
4. Đó là sự so sánh giữa số lượng quân lính với số lượng hạt cát trên bờ biển
5. Người tốt đã được tương phản với kẻ xấu trong từng mỗi trường hợp. Các từ “ ngược lại” và “ nhưng” được sử dụng khi dùng biện pháp tương phản.
6. “ Tay” của Chúa “ giơ ra để trừng phạt”.
7. Mẫu câu từ trẻ nhỏ đến các phụ lão rồi đến kẻ trẻ tuổi ở các câu 12,13 được lặp lại điều Đức Chúa Trời đã làm cho dân sự ông kể từ thời Apraham.
8. Sự yên nghĩ.
9. Giôna xuống tàu đến trốn khỏi Đức Chúa Trời, ông đi đến Gia phổ tìm được một chiếc tàu chuẩn bị đi Tarêsi ( Tây Ban Nha); ông trả lời tiền quá giang rồi xuống tàu đó.
10. Các câu 14 : Chúa Jêsus bắt đầu rao giảng 16 - 20 : Chúa Jêsus kêu gọi các môn đồ.
26 : Chúa Jêsus bày tỏ quyền năng
28 : Danh tiếng của Chúa Jêsus được đồn ra.
38 - 39 : Chúa Jêsus rao giảng tại các làng.
41 - 42 : Người ta từ khắp nơi đến với Chúa Jêsus ( điểm đỉnh).
11. Câu 54 cho thấy rằng, chức vụ của Chúa Jêsus di chuyển cách quyết liệt, bởi Ngài không đi một cách công khai trong xứ Giuđa.
12. Bằng cách áp dụng nội dung này trong phận sự đặc biệt về bố thí, cầu nguyện và kiêng ăn.
13. Thể xác không có hồn thì chết, đức tin không có việc làm cũng chết như vậy.
b) Một hình ảnh toàn thể
d) Một cái nhìn khái quát
e) Kết hợp với nhau.
14. Các ngươi đốn rừng cây, giờ thì ngươi sẽ bị đốn ngã; các ngươi tàn hại loài thú, giờ thì loài thú sẽ làm ngươi kinh hãi.
15. Người ta sẽ bị đốn ngã và sẽ bị làm cho kinh hãi bởi sự giết chón và bạo ngược mà họ làm ra.
16.a.3
b.8
c.12
d.5
e.10
f.7
g.6
h.1
I.11
j.2
k.4
l. 9
17. Hành động dâng con mình là Ysác trên bàn thờ.
18. Chúa Jêsus không làm nhiều phép lạ ở chính quê mình vì người dân ở đó không có đức tin.
19. I Côrinhtô
21. MaMl 1:2, 6, 7, 8, 13.
22. Tội lỗi và sự lên án tội lỗi.
23. Ý chính : sự phân biệt của kẻ thiện với kẻ ác vào ngày tận thế. Ý phụ : tin tức về người đánh cá, lước cá, cá và rỗ ( là những điều không quan trọng mặc dù được dùng làm hình ảnh minh họa sự dạy dỗ trong ẩn dụ).
24. Bằng hình ảnh Đấng Christ là gốc nho hoặc thân cây chính mà người tin Ngài ( được minh họa như những nhánh nho) được dính chặt vào. Câu nầy sử dụng biện pháp phát xạ để dạy rằng tất cả Cơ đốc nhân đều phải duy trì sự gắng bó mật thiết với Ngài để sanh ra hững bông trái tâm linh.
25. a. 6
b. 1
c. 3
d. 7
e. 2
f. 5
g. 8
h. 4
TỔNG HỢP - KẾT HỢP TỪNG PHẦN VỚI NHAU
Thánh linh đã ban cho mỗi tác giả Kinh Thánh một mục đích riêng biệt để viết ra. Mục đích của bạn trong việc viết văn quyết định bốn điều : (1) Từ ngữ ( terms) của văn phẩm của bạn ( sử dụng chữ để nói lên nội dung bạn muốn ( viết); (2) Kết cấu ( Structure) của chất liệu của bạn ( bạn xếp đặt ý tưởng như thế nào); (3) Cách hành văn ( literary form) là điều tốt nhất ( cách viết văn bạn chọn), và ( 4) Văn cảnh ( atmosphere) hay tình cảm mà văn phẩm của bạn truyền đạt.
Từ ngữ, Kết cấu, Cách hành văn, và Văn cảnh sẽ được giải thích chi tiết trong bài nầy. Những nét nầy sẽ được phân tích để giải thích cách rõ ràng, nhưng trong thực tế thực hành chắc hẳn có sự trùnh hợp. Ví dụ, những phương cách về luận thuyết bạn đã học ở Bài 5 sẽ không được xem là “ Kết Cấu”.
Dàn ý Bài Học .
Từ ngữ là những chữ.
Kết cấu của văn phẩm
Văn cảnh.
Bút pháp
Diễn tiến trong Văn Phẩm
Những Mục Tiêu của Bài Học
Học xong bài nầy bạn có thể :
Định nghĩa nghĩa đen của “ từ ngữ” và “ kết cấu” và giải thích tầm quan trọng của chúng trong sự hiểu biết Kinh Thánh.
Liên hệ “ Văn cảnh” và “ Bút pháp” với nội dung tri thức và tình cảm của Kinh Thánh.
Sử dụng sự hiểu biết của bạn về “ diễn tiến trong văn phẩm” để giúp bạn kinh nghiệm sự lớn lên kỉnh kiền trong những điều thuộc linh.
Những hoạt động học tập
Trước khi học bài nầy, dành ít thời giờ để ôn lại Bài 5.
Đọc phần mở đầu, dàn ý và những mục tiêu của bài học nầy.
Xem phần chú giải để biết ý nghĩa của chữ mới ở trong Bài.
Nghiên cứu phần triển khai bài học và trả lời câu hỏi nghiên cứu như thường lệ.
Làm bài tập trắc nghiệm ở cuối bài học. Kiểm tra câu trả lời của bạn với phần giải đáp.

Từ ngữ
Phần ( category)
Biên niên sử ( chronilogical)
Chủ yếu (erucial)
Thấu đáo (exhaustive)
Ý chủ đạo (keynote)
Thủ tục ( routine)
Sinh động ( vivid)
Triển khai bài học
TỪ NGỮ LÀ NHỮNG CHỮ
Mục tiệu 1 : Định nghĩa chữ “từ ngữ” và giải thích tầm quan trọng của chúng đối với việc nghiên cứu Kinh Thánh .
Trong văn chương chữ “ từ ngữ” chỉ là những chữ được dùng trong một nội dung của đoạn văn. Tất cả mọi chữ trong Kinh Thánh đều quan trọng cả, nhưng không phải tất cả đều có ý nghĩa theo cùng lý do. Vài chữ như ( “ của”, “ và”, “ một” và những chữ thủ tục ( lệ thường) với chức năng liên kết những câu với nhau. Những chữ khác đều quan trọng vì khi biết được ý nghĩa của chúng sẽ tạo nên sự khác biệt trong sự giải thích đúng đắn Kinh Thánh. Loại chữ nầy sẽ hành động như một lá cờ ( flag) cho bạn, đưa ra hiệu lệnh để chúng ta phải chú ý đặc biệt.
Những chữ nào đóng vai trò những lá cờ? Vâng, có một số chữ mà bạn không thể nào hiểu được nếu không nghiên cứu đặc biệt. Bạn phải luôn luôn nghiên cứu Kinh Thánh bằng cây bút chì và sổ tay. Bạn đến chữ nào bạn không hiểu, thì phải viết xuống ngay. Cố tìm hiểu ý nghĩa của chữ ấy ở tự điển hay bằng cách nào khác.
Những chữ chủ yếu, tên của những vật, những hành động, những chữ mô tả đều là những phần quan trọng để hiệu được đoạn văn, vì thế chúng cần được ghi chú cẩn thân đặc biệt. Những chữ chủ yếu không phải lúc nào cũng là những chữ dài nhất ! Sau nầy bạn sẽ thấy, đôi khi những chữ quan trọng thường là những chữ ngắn vì chúng chứng tỏ sự thay đổi của hành động hay trạng thái hay một sự chuyẩn tiếp của tư tưởng.
Những chữ diễn đạt những ý niệm sâu sắc cần được nghiên cứu. Ví dụ, loại “ thay đổi” nào dường như bao phủ Chúa Jêsus trong Mac Mc 9:2? Điều đó cần phải khám phá xa hơn. Bạn cần phải phân biệt. Không phải mọi chữ đền cần sự tìm hiểu đặc biệt.
Bạn cũng cần chú ý những chữ nào đó được hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng. Nên nhớ nghĩa đen ám chỉ về cách dùng bình thường của chữ. Nghĩa bóng ám chỉ về cách dùng theo ý nghĩa tượng trưng khi chữ ấy thay thế cho điều gì đó.
1. Đọc SaSt 2:16 và RoRm 11:24. Hãy ghi nhận chữ “ cây” trong mỗi đoạn. Trong câu nào chữ “ cây” có ý nghĩa tượng trưng.
Cho dù bạn có thể không biết ngữ pháp hay những loại chữ danh từ, tính từ, động từ v.v...), thì bạn vẫn có thể học cách nhận diện những chữ cốt lõi ( keyword). Giáo lý Cơ đốc được quyết định bằng những loại chữ khác nhau được sử dụng. Những tên của con người, nơi chốn, và những đồ vật là những danh từ quan trọng. Những hành động là những động từ quan trọng. Những hành động là những động từ quan trọng. Các từ ngữ mô tả chỉ về “ nhanh như thế nào”, “ lớn bao nhiêu”, v.v... là những chữ cốt lõi ( chữ chìa khóa). Sáu con người phục vụ trung tín( AI? GÌ? KHI NÀO? Ở ĐÂU? THẾ NÀO? TẠI SAO?) mà bạn đã học trong bài trước có thể giúp bạn tìm ra những chữ chìa khóa. Hãy chú ý đến những mạng lệnh, những lời khuyên, những lời cảnh cáo, nhưng mục đích, những bằng cớ, và những kết quả. Hãy lưu ý những chữ nầy vốn diễn đạt điều gì rồi viết ra giấy. Thường thường những chữ nầy là chiếc chìa khóa để hiểu đoạn văn.
Có những phần của những chữ ít quan trọng hơn nghĩa là KHÔNG theo thói quen. Chúng ta thường gọi đó là liên từ ( connectives) vì chúng chỉ sự liên quan. Trước hết có những liên từ chỉ thời gian, chúng chỉ khi nào điều gì đó xảy ra. Sau đây là vài chữ : Sau đó, khi, trước khi, bây giờ, bấy giờ, cho đến khi, vào lúc, trong lúc. Bạn có thể nghĩa thêm những chữ khác, nhưng những chữ nầy cũng đủ để thu hút sự chú ý của bạn. Chẳng hạn, nếu bạn thấy : “ Bấy giờ .....nhưng ......bây giờ” “Then .........but..........now” thì có thể cho bạn thấy rõ ràng có một loại chuyển tiếp đã xảy ra và có thể bạn thấy rõ ràng có một loại chuyển tiếp đã xảy ra và có thể bạn tìm kiếm sự tiếp diễn ( Bạn sẽ học về những loại tiếp diễn trong bài nầy). Thứ hai, liên từ chỉ về địa phương hay quản lý chủ yếu trả lời cho chữ “ ở đâu” đều chỉ về nơi chốn.
2. Đọc bốn phần Kinh Thánh trích dẫn dưới đây, rồi điền vào chỗ trống cho chữ a,b,c và d theo cách chữ a được điền vào như là một ví dụ của một liên từ.
a Mac Mc 1:23
b 1:9
c 1:14
d 1:28
TÍN NHIỆM
Thời gian
“ Bấy giờ”

Thứ ba, bạn sẽ học cách chú ý những liên từ hợp lý, nghĩa là những chữ có liên quan với lý do của việc xảy ra, mục đích của việc xảy ra, tương phản của những điều không giống nhau, và so sánh điều nầy với điều khác. Hãy sử dụng những chữ nầy trong một lúc.
Những liên từ hợp lý chỉ về lý do cho những gì xảy ra là : vì (for) , vì (since), bởi vì (because). Nếu bạn gặp những chữ “ Ta nói điều nầy vì ....” hoặc “ tôi nói điều nầy bởi cớ...” thì tác giả đang đưa ra lý do. Bây giờ chúng ta hãy liên hệ điều nầy với những phương cách của luận thuyết mà bạn đã học. Phương cách cụ thể nào chuyển từ hậu quả đến nguyên nhân? Chứng minh ( Substantiation). Những chữ nầy là những tín hiệu cụ thể và vì vậy nó trở thành manh mối để giải thích.
Những liên từ lý luận vốn có liên quan đến kết quả là vì vậy, kế đó, vì thế, đó là lý do, và do đó. Bạn có nhận thức rằng những chữ nầy đi từ nguyên nhân đến hậu quả không? Phương cách cụ thể nào chuyển từ nguyên nhân đến hậu quả? Phương pháp nhận quả ( Causation). Khi nào bạn thấy những chữ vì thế, vậy vì vậy, đó là lý do và như vậy, bạn sẽ tìm kiếm nguyên nhân : điều nầy là nguyên nhân của điều kia.
3. Tìm và liệt kê ( theo thứ tự chúng tôig trích dẫn Kinh Thánh những liên từ tín hiệu chỉ lý do ở câu a, và những liên từ tín hiệu chỉ kết quả ở câu b.
a. RoRm 1:11, 1:16, 1:28 và 2:15.
...............................................................................................
b. GaGl 2:17, ICo1Cr 8:11, 9:26.
...............................................................................................
Những liên từ lý luận có liên quan đến mục đích là để ( in order that), ( so that), và hầy cho (so) hay những cụm từ tuơng đương.
Những liên từ lý luận chỉ về sự tương phản là mặc dù (although), nhưng (but), huống chi ( much more), nói cách khác ( otherwise), nhưng ( yet) và còn (still). Những bản liệt kê nầy không sao đầy đủ. Bạn có thể tìm những từ ngữ khác khi bạn nghiên cứu vốn phục vụ cùng mục đích nhưng khác với những gì chúng tôi đã liệt kê. Những từ ngữ nầy chỉ là những từ gợi ý để giúp bạn bắt đầu suy nghĩ về những hàng chữ trong Kinh Thánh.
Những liên từ lý luận liên quan đến sự so sánh là cũng ( also), như (as), tương tự như thế (in the same way), cũng vậy ( so then, so also). Có nhiều sự kết hợp của những liên từ nầy.
4. Tìm và liệt kê ( theo thứ tự chúng tôi trích dẫn Kinh Thánh) những liên từ tín hiệu chỉ mục đích ở phần a, tương phản ở phần b, và so sánh ở phần c.
a. RoRm 4:16 :
...............................................................................................
b. 2:10, 5:15.
...............................................................................................
c. 11:31, 1:27 .
...............................................................................................
Bản dịch Kinh Thánh bạn đang sử dụng có thể sử dụng từ ngữ khác với những chữ bạn có thể tìm. Vì thế, NHỮNG Ý TƯỞNG của lý do, kết quả, mục đích tương phản, hay so sánh sẽ quan trọng hơn chữ chính xác được sử dụng để diễn tả những ý tưởng đó. Những từ ngữ đuợc đưa ra có thể giúp bạn biết mình sắp tìm điều gì. Có nhiều hơn ba loại liên từ ngoài ba loại bạn đã có. Đến đây, bạn đã học được những liên từ “ thời gian”, những liên từ “ nơi chốn” và những liên từ “ lý luận”. Bây giờ chúng ta học tiếp ba loại liên từ chỉ về loạt sự kiện ( series of facts), điều kiện ( condition) và sự nhấn mạnh ( emphasis).
Những liên từ có dấu hiệu chỉ loạt sự kiện là những chữ như và (and), trước hết ( first of all), cuối cùng (last of all) và hoặc là (or), liên từ chỉ điều kiện là thường có chữ nếu. “ Nếu điều nầy.....thì điều kia”. Những liên từ chỉ sự nhấn mạnh là thật vậy (indeed) và chỉ ( only). Đôi khi một chữ mạnh hơn được dùng : ví dụ, công bố ( exclaim) có thể được dùng thay thế cho chữ nói ( says).
5. Hãy tìm và liệt kê ( theo thứ tự chúng tôi đưa ra trong phần Kinh Thánh trích dẫn) những liên từ chỉ về loạt sự kiện ở phần a, điều kiện ở phần b, và nhấn mạnh ở phần c.
a. ITi1Tm 2:1, ICo1Cr 15:8.
...............................................................................................
b. RoRm 2:25.
...............................................................................................
c. ICo1Cr 9:24, RoRm 9:27.
...............................................................................................
Nếu bạn nhạy bén với những từ ngữ đặc biệt nầy, chúng sẽ giúp bạn đi quá phần văn phạm và giải nghĩa ý nghĩa của Kinh Thánh. Đây là những chữ có ý nghĩa mà bản thân tôi ( tác giả) luôn luôn tìm kiếm khi tôi nghiên cứu Kinh Thánh ( hoặc đọc điều nào khác) vì chúng là manh mối để biết được cách xếp đặt của tư tưởng.
KẾT CẤU CỦA VĂN PHẨM
Mục tiêu 2 : Định nghĩa chữ “kết cấu” và giải thích tầm quan trọng của nói đối với việc nghiên cứu Kinh Thánh .
Tôi chắc rằng bạn đang muốn hiểu những sách của Kinh Thánh chứ không phải đi thâu thập cách lộn xộn về những tư tưởng không liên kết với nhau. Bạn đang thấy rằng những sách của Kinh Thánh được kết cấu theo toàn thể với từng phần được kết chắt với nhau cách hợp lý. Tác giả đã phải chọn lựa và xếp đặt. Người ấy đã phải tuyển lựa những điều quan trọng cần bao gồm, và xếp đặt chất liệu theo cách khả dĩ rõ ràng nhất. Giăng giải thích rằng trong văn phẩm Phúc âm của ông, ông đã bỏ không thuật lại hết những việc Chúa Jêsus đã làm (GiGa 21:25).
Bạn có thể bị lạc trong những chi tiết của những câu Kinh Thánh, vì tất cả đều quan trọng cả, nên không bao giờ thấy được sứ điệp đầy quyền năng của toàn thể cuốn sách. Những chân lý riêng biệt, được tìm thấy trong từng câu, đều có liên quan đến toàn thể. Toàn thể được giải thích bằng sự xếp đặt của những phần riêng. Chúng có mối quan hệ hổ tương. Kết cấu là bộ xương, và cái khung cũng như sự phác họa được nhấn mạnh để làm cho cuốn sách hiệp nhất.
Những chữ chỉ là những viên gạch để xây dựng, những đơn vị nhỏ nhất để chuyển đạt ý nghĩa. Những chữ được nối lại để hình thành những cụm từ, hay những phần chưa hoàn chỉnh của tư tưởng. Câu là một tư tưởng hoàn chỉnh.
Khi một câu với những tư tưởng liên quan được kết hợp lại với nhau, chúng tạo thành đoạn. ( Vài bản Kinh Thánh được chia thành những đoạn; điều nầy giúp cho việc học Kinh Thánh dễ dàng). Trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, “ NGHĨ ĐẾN CẢ ĐOẠN” ( Think paragraph) là một ý tưởng tốt. Nghĩa là, hãy nhìn ý tưởng chính trong đoạn văn đó và đặt cho nó một tiêu đề mô tả ngắn gọn. Bằng sự liệt kê những tiêu đề ( tựa đề - title) ( những ý tưởng chính) bạn cứ tìm như thế cho hết thảy những đoạn văn trong một đoạn Kinh Thánh, bạn sẽ liệt kê được những điểm chính làm thành một dàn ý. Bên trong những đoạn văn bạn sẽ tìm thấy những chi tiết sẽ làm thành những điểm nhỏ cho dàn ý của bạn. Bây giờ, hãy thực hành việc tìm những điểm chính trong những đoạn văn trong bài tập dưới đây.
6. Đọc mỗi đoạn văn trong RoRm 12:1-21 rồi viết đề tựa hay tiêu mục của bạn cho nó vào khoảng trống bên cạnh. Sau khi viết được những tựa đề của bạn hãy đối chiếu với những gì chúng tôi đã cho. ( Những tựa đề của bạn có thể tốt hay tốt hơn của chúng tôi đã cho).
Đoạn văn 1: (12:1-2)..................................................
...............................................................................................
Đoạn văn 2 : (12:3-8).................................................
...............................................................................................
Đoạn văn 3 : (12:9-13) ............................................
...............................................................................................
Đoạn văn 4 : (12:14-16)...........................................
...............................................................................................
Đoạn văn 5 : (12:17-21)..........................................
...............................................................................................
Chúng ta đã chứng tỏ rằng qua kết cấu những phần của bài luận thuyết có liên quan chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ nầy có thể được diễn đạt qua bất cứ phương cách cụ thể nào mà bạn đã học. Không phải tất cả mọi phương cách đều được thể hiện ở mỗi đoạn văn. Bạn nên ôn lại những phương cách nầy trong bài 5 cho đến khi bạn quen thuộc. Nếu bạn có thể bắt đầu thấy được toàn thể cuốn sách được kết hợp với nhau như thế nào, mỗi đoạn văn của cuốn Kinh Thánh liên hệ với nhau như thế nào, thì bạn sẽ đạt được sự hiểu biết mới về toàn thể. Hãy trở thành người nhạy bén nhận diện kết cấu.
7. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
a) Những sách trong Kinh Thánh là một sự thu nhập những tư tưởng rời rạc.
b) Những phương cách cụ thể như tương phản, bức xạ ( radiation) v.v... không có liên hệ đến kết cấu.
c) Những đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ truyền đạt ý nghĩa là những chữ.
VĂN CẢNH ( Literary Atmosphere)
Mục tiêu 3 : Định nghĩa “văn cảnh” và nhận diện nó trong Kinh Thánh .
Văn cảnh là trạng thái hay phong cách nhấn mạnh hiển hiện trong tác phẩm. Tác giả đang chuyển giao trạng thái hay những trạng thái nào? Trạng thái hay bầu không khí có thể tuyệt vọng, cảm tạ, nhiệt tình, kinh hoàng, khẩn cấp, vui mừng, khiêm tốn, tế nhị, giận dữ, thuyết phục, kếtg án, thắc mắc, quan tâm, động viên. Toàn thể xúc cảm của con người có thể được tìm thấy được tìm thấy để tạo nên bầu không khí của những văn phẩm.
8. Sách Giacơ khác nhau trong văn cảnh của mình. Hãy đọc những đoạn sau đây, và đặt cho mỗi đoạn văn một chữ mô tả bầu không khí của đoạn văn đó.
a. Gia Gc 5:1.........................................................................
b. 4:10 ......................................................................
c. 2:14 .......................................................................
Bút pháp liên hệ đến loại hay cách hành văn mà tác giả dùng để truyền thông chất liệu của mình. Tất cả những thể loại văn chương đều được tìm thấy trong Kinh Thánh. Nếu tác giả thấy cần phải diễn đạt tình cảm sâu xa của mình về sự ca ngợi, đau buồn, vui mừng hay ăn năn, thì người ấy dùng thơ. Nếu ngừi ấy muốn giải thích bối cảnh của thông tin đén cho dân chúng, người ấy sử dụng văn xuôi (prose). Nếu người ấy muốn dạy những lẽ thật quan trọng đời đời hay đưa ra những lý luận mà ông ta muốn trình bày, thì ông dùng văn nghị luận ( discourse). Nếu ông ta muốn chứng minh lẽ thật để người ta chấp nhận được trong khi che giấu ý nghĩa với những người khác, ông ta sử dụng văn ẩn dụ ( parables). Nếu người ấy muốn vén lên một ít về tương lai mà không loại bỏ nhiều điều bí mật thuộc linh, ông ta dùng văn sấm truyền ( hay văn khải thị - apocalypse).
Văn nghị luận là loại văn có dụng ý dựa ra lẽ thật theo cách lý luận hợp lý vốn hấp dẫn đối với người trí thức. Nhiều thơ tín sử dụng thể loại nầy. Chúa Jêsus đã sử dụng nó trong sự dạy dỗ của Ngài, cũng như một số tiên tri dùng trong vài tác phẩm của họ.
Văn xuôi kể chuyện ( Prose - narrative) là tiểu sử hay câu chuyện. Chúng ta có thể thấy thể loại nầy ở sách Sáng thế ký, các sách Phúc âm, và nơi nào mô tả những biến cố và hoàn cảnh theo trình tự thời gian ( Biên niên sử). Những câu chuyện gợi lại sự tưởng tượng và tình cảm. Chúng thường có những chi tiết thú vị. Trong loại văn chương nầy, bạn sẽ không rút rọi chi tiết để lấy ra bài học thuộc linh. Chẳng hạn, câu chuyện về khải tượng của Phierơ vào nhà ai, và thời gian vào ban ngày khi khải tượng xảy ra giúp chúng ta hiểu được câu chuyện chứ không quan trọng như chân lý được đề cập đến.
Thơ là thể loại văn chương được tìm thấy trong cả Kinh Thánh. Trong vài cuốn Kinh Thánh, mọi bài thơ được in theo thể loại thơ ( xuống hàng, và mỗi hàng mới bắt đầu với chữ đầu câu được viết hoa). Điều nầy làm chúng ta dễ nhận diện, giống như Thi thiên.
Bạn đã học một số điều về thơ của tiếng Hybálai. Bạn biết nó diễn tả tình cảm cá nhân sâu sắc. Nó không có âm vận ( vần). Mỗi hai hàng hay mỗi hai khổ thơ được liên kết bằng vài loại đối ( hay lối văn song song). Hoặc hàng thứ hai lặp lại tư tưởng từ hàng thứ nhất, hoặc nó xây dựng trên hàng thứ nhất bằng cách thêm vào điều mới hay điều tương phản với hàng thứ nhất.
Thơ sử dụng số lượng lớn ngôn ngữ tượng trưng để nói lên những điều theo cách diễn cảm. Sau đây là bốn loại ngôn ngữ tượng trưng được tìm thấy trong thể loại thơ trong Kinh Thánh.
1. So sánh ( simile). So sánh hai điều qua cách sử dụng chữ “ như” ( like or as) : Họ như cây .....(Thi Tv 1:3).
2. An dụ ( metaphor). So sánh hai điều mà không cần dùng chữ “ như” : “ Epraim là đồn lũy của đầu ta” ( Thi Tv 108:8).
3. Phép ngoa dụ hay cường điệu ( hyperbole). Phóng đại hiệu quả, phóng đại vượt quá lý luận. “ Tôi như những kẻ đã chết từ lâu rồi” (143:3).
4. Hô ngữ (Apostrope). Nói lên những điều không còn sống động nữa. “ Ớ biển, nhơn sao ngươi chạy trốn” (114:5).
Điều quan trọng đặc biệt đối với học viên Kinh Thánh là hiểu được nghĩa bóng. Trong GiGa 6:51-52, Chúa Jêsus đã phán, “ Ta là bánh hằng sống”. Những người Do Thái hiểu lời nói của Chúa Jêsus theo nghĩa đen nên đã vấp phạm. Bạn có thể phạm lỗi lầm tương tự nếu bạn không xem xét kỹ lưỡng và giải thíc đúng đắn.
9. Hoàn chỉnh những câu dưới đây, sử dụng mỗi trong những chữ nầy một lần. Văn nghị luận, văn xuôi, thơ.
a. Bài văn kêu gọi tìm cảm mạnh mẽ nhất là
...............................................................................................
b. ............... có dụng ý đưa ra lẽ thật trong các lý luận hợp lý.
c. Một câu chuyện về những biến cố hay con người được gọi là .....................................................................................
10. Xếp đặt cho phù hợp mỗi cách nói theo nghĩa bóng với những đoạn Kinh Thánh trích dẫn.
...a. “ Đức Giê hô va là Đấng chăn giữ tôi” (23:1).
...b. “ Năng lực ấy riết khích tôi lại như cổ áo tôi” (Giop G 30:18).
...e. “ Linh hồn chúng ta thoát khỏi như chim....” (124:7).
...d. “ Hỡi mặt trời, mặt trăng hãy ngợi khen Ngài” (148:3).
1) So sánh
2) An dụ
3) Ngoa dụ
4) Hô ngữ
An dụ hay ngụ ngôn ( Parables) là một loại văn chương được gọi là văn chương ẩn dụ hay câu chuyện ngụ ngôn ( parabolic prose). Bạn đã đọc về thể loại nầy rồi. Nếu cần, hãy ôn lại phần nói về những ẩn dụ trong bài 4 để bảo đảm rằng bạn biết chúng khác với văn xuôi bình thường như thế nào, hãy thảo luận sát ngay.
Kịch hay văn xuôi kịch tính ( Drama or dramticprose) có liên hệ với thơ theo ý nghĩa là nó khêu gợi xúc cảm. Nó nhân vật hóa câu chuyện theo cách là những chữ của những nhân vật trong câu chuyện thường nói ở ngôi thứ nhất. Người ta thường đối đáp với những chữ mà dường như họ thực sự sống qua suốt câu chuyện. Thường văn chương có kịch tính chứa đựng sự mô tả sống động kêu gọi sự chú ý của bạn. Sách Gióp ở thể loại nầy. Chúng ta đọc nó như đọc kịch bản. Sách Nhã ca cũng ở thế loại kịch. Vì vậy, khi bạn thấy phần nào trong Kinh Thánh trong đó những người nói với nhau cách trực tiếp theo ngôi thứ nhất, thì bạn có thể nói đây là một “ kịch bạn” hay “ văn xuôi có kịch tính”.
Sấm truyền hay văn khải thị ( apocalypse) là thể loại cuối cùng. Khải thị có nghĩa là “ sự tiết lộ” (uncovering) hay “ mặc khải” (revelation). Loại văn chương nầy có lẽ khó hiểu nhất. Bạn gặp vài khía cạnh của loại nầy khi bạn nghiên cứu về sách tiên tri và biểu tượng ở bài 4. Văn khải thị đuợc hình thành ở lời tiên tri và biểu tượng. Thể loại nầy rất phong phú về nghĩa bóng biểu tượng, hình ảnh và những lời mô tả về những sự hiện thấy. Sách khải huyền là ví dụ cổ điển về loại văn nầy.
Sau đây là biểu đồ đơn giản vốn đưa ra những ví dụ trong Kinh Thánh về những loại văn khác nhau mà bạn đã học trong phần nầy. Có vài chỗ trùng hợp về các hình thức nầy, những bạn sẹ thu đạt lợi ích khi đọc các đoạn với hình thức của thể loại văn trong trí bạn theo cách chúng tôi liệt kê.
- Hình thức:
Văn nghị luận
Văn xuôi kể chuyện
Thơ - văn vần
An dụ
Kịch
Văn khải thị
- THỂ LOẠI VĂN:
- Ví dụ
Mat Mt 5:17-48
Cong Cv 16:16-38
Gie Gr 9:21-22
LuLc 14:16-24
Giop G 32:5-14
Exe Ed 1:1-28.

DIỄN TIẾN TRONG VĂN PHẨM
Mục tiêu 5 : Nhận diện những loại “diễn tiến văn phẩm” và trình bày điểm thông thường cho mọi loại đó .
Ý tưởng sau của loại diễn tiến là THAY ĐỔI. Khi bạn đọc một đoạn văn của Kinh Thánh để nghiên cứu, bạn đang tìm kiếm sự thay đổi ! Có điều nào trong những điều ở trong đoạn văn đó có thể thay đổi? Nhấn mạnh về đời sống của một người di chuyển từ giai đoạn nầy sang giai đoạn khác, hoặc từ cuộc sống của người ấy sang cuộc sống của những hậu tự của người ấy. Đó là loại diễn tiến theo tiểu sử (biographical progression). Câu chuyện sẽ đi từ biến cố nầy sang biến cố khác - đó sẽ là loại diễn tiến theo lịch sử ( historical - progression). Nếu câu chuyện được trình bày theo thời gian xảy ra (trước hết, thứ nhì, thứ ba,...) thì bạn có loại diễn tiến theo trình tự thời gian (chronological progression). Trong một đoạn văn dạy dỗ là chữa đưa ra lẽ thật thì bạn có thể thấy sự diễn tiến giáo lý ( geographical progression). Những tư tưởng thay đổi hoặc những ý tưởng có thể là nền tảng của đoạn văn Kinh Thánh. Đó là loại diễn tiến ý tưởng (ideological progression). Đôi khi bạn có thể thấy một sự thay đổi hoàn toàn về một đề tài. Loại thay đổi nầy được gọi là diễn tiến của đề tài ( subject progression).
Thực sự diễn tiến là một khuôn mẫu mà tác giả sử dụng để triển khai chủ đề trong một đoạn Kinh Thánh được đưa ra. Khuôn mẫu nầy có thể mở rộng qua một đoạn hay nhiều đoạn, hay có thể xuyên suốt cả sách. Sự diễn tiến có thể di chuyển đến cao điểm, nhưng điều đó không cần thiết. Một điều giúp bạn trong việc nhận diện không rõ ràng, là so sánh mục đầu tiên với mục cuối cùng trong một loạt sự kiện. Nếu có mối quan hệ giữa chúng với nhau, thì đó là sự diễn tiến. Dĩ nhiên, những phươg tiện chính để tìm kiếm những loại nầy là tìm cho được sự thay đổi.
11. Trong Sáng thế kỳ - 50 loại diễn tiến nào được trình bày trong những đời sống của Ap ra ham, Y sác, Gia cốp và Giôsép?
...............................................................................................
...............................................................................................
12. Loại diễn tiến nào được tìm thấy trong sách Xuất Edíptôký vốn tập trung vào những biến cố của sự di chuyển của người Ysơraên ra khỏi Edíptô để vào Canaan?
...............................................................................................
...............................................................................................
13. Trong sách Rôma bạn tìm thấy loại diễn tiến nào mà Phaolô đưa ra sự biện luận hợp lý về lý cớ của Cơ đốc giáo.
...............................................................................................
...............................................................................................
Hiểu biết về diễn tiến trong văn phẩm sẽ giúp chúng ta hiểu biết sâu xa hơn về diễn tiến thuộc linh cần cho sự trưởng thành về phương tiện thuộc linh. Thay đổi là chủ ý chủ đạo của diễn tiến thuộc linh nữa (IICo 2Cr 3:18). Chúng ta hãy đầu phục Thánh Linh để Ngài biến đổi chúng ta giống như Christ.

Bài tập trắc nghiệm
1. Hãy liệt kê những chữ thường lệ ( routine vords) hay từ ngữ ( terms) từ những câu sau đây : “ Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh” ( Cong Cv 2:47).
...............................................................................................
...............................................................................................
2. Những liên từ ( connectives) tuy nhỏ nhưng là những chữ quan trọng cho thấy những mối quan hệ. Trong các từ dưới đây, từ nào chỉ thời gian?
a) Nếu
b) Sau khi
c) Ở đâu
d) Thật vậy
3. Từ nào trong những liên từ lý luận sau đây cho biết lý do về những gì xảy ra?
a) Đó là lý do
b) Để
c) Huống chi
d) Vì
4. Từ nào trong những liên từ lý luận dưới đây chỉ về sự tương phản?
a) Nhưng
b) Tương tự như thế
c) Vì
5. Khung hay sự phác họa nhấn mạnh vốn làm cho cuốn sách hợp nhất là
a) những từ ngữ
b) kết cấu.
c) văn cảnh
6. Từ nào trong những từ nầy diễn tả tốt nhất về văn cảnh?
a) Phát xạ
b) Tương phản
c) Trạng thái
7. Loại nào trong những câu sau đây về sự dạy dỗ theo cách lý luận hợp lý?
a) Bình luận
c) Văn xuôi thuật chuyện
c) Thơ
8. Loại nào trong những loại viết văn sau đây mô tả về sách Khải Huyền?
a) An dụ
b) Kịch
c) Văn khải thị ( sấm chuyển)
9. “ Lưỡi giống như ngọn lửa” ( Gia Gc 3:6). Đây là một ví dụ về :
a) So sánh
b) An dụ
c) Ngoa dụ hay cường điệu
d) Hô ngữ
10. Chữ nào trong những chữ nầy mô tả tốt nhất về sự diễn tiến?
a) Văn cảnh
b) Sự thay đổi
c) Kịch
11. Loại diễn tiến nào được chứng tỏ trong sách Sáng thế ký về phần ký thuật những cuộc đời của Apraham, Ysác, Giacốp và Giôsép?
a) Tiểu sử
b) Lịch sử
c) Ý tưởng

Giải đáp câu hỏi nghiên cứu
1.RoRm 11:24.
2. b) Trong những ngày đó.
c) Sau khi
d) Khắp cả
3. a) Vì, bởi vì, vì cớ
b) Rồi, vì thế, đó là lý do.
4. a. Để
b. Nhưng, huống chi
c. Cũng một thể ấy
5. a. Trước hết, rốt lại ( sau hết)
b. Nếu
c. Chỉ một, kêu lên, chỉ một
6. I. “ Dâng chính thân thể mình”
II. “ Sử dụng những ân tứ với sự khiêm tốn”
III. “ Sống bằng những thái độ Cơ đốc”
IV. “ Sống hòa thuận với mọi người”.
7. c) Những đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ để truyền đạt ý nghĩa là chữ.
8. a. Tuyệt vọng
b. Khiêm tốn
c. Quan tâm
9.a) Thơ
b) Văn nghị luận
c) Văn xuôi miêu tả
10 a. 2) An dụ
b. 3) Hô ngữ
c.1) So sánh
d. 4) Ngoa dụ
11. Thuộc tiểu sử.
12. Thuộc lịch sử.
13. Ý tưởng.
ÁP DỤNG - HỌC TẬP BẢNG PHƯƠNG PHÁP HỌC THEO SÁCH
Bây giờ bạn thật sự sẵn sàng bắt đầu áp dụng nghiên cứu tổng hợp sách Habacúc. Khi bạn áp dụng phương pháp tổng hợp, bạn có thể đi vào chi tiết trong từng câu nếu bạn có thì giờ ( phương pháp nghiên cứu sâu - intensive study), và bạn có thể liên hệ và so sánh cuốn sách nầy với những cuốn sách khác trong Kinh Thánh ( Phương pháp nghiên cứu rộng - extensive study). Như vậy phương pháp nghiên cứu tổng hợp không phải là cuối cùng của sự nghiên cứu Kinh Thánh, nhưng là sự khởi đầu. Mục đích của chúng tôi ấy là giúp bạn học tập phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh cách tổng hợp và độc lập. Bài học nầy sẽ là một khuôn mẫu để bạn noi theo, và tôi hy vọng là bạn sẽ chọn sách khác của Kinh Thánh khi bạn học xong bài nầy và áp dụng phương pháp tương tự vào sách đó.
Có lẽ bạn nên lập kế hoạch để làm bài tập nầy nhiều lần ( chi ngồi làm một lần thì chưa đủ). Nó liên quan đến việc đọc đi đọc lại nhiều lần, ghi chú, và tóm tắt chất liệu của sách. Những sự hướng dẫn có thể ngắn, nhưng phải dành nhiều thì giờ để thực hiện. Nên theo từng bước một và dành thì giờ cành nhiều càng tốt để hoàn thành mỗi bước trước khi đi sang bước khác. Phải bảo đảm trả lời những câu hỏi nghiên cứu trước khi mở phần giải đáp để biết kết quả. Có nhiều hơn một câu trả lời đúng cho vài câu hỏi. Đừng thay đổi những câu trả lời của chúng tôi trừ phi câu trả lời của bạn cần sửa lại.
Dàn ý Bài Học
Những Bước Tiến Hành trong sự Khảo sát.
Bước 1 : Khám Phá Chủ Đề Chính.
Bước 2 : Khai Triển Chủ Đề Chính.
Bước 3 : Từ Ngữ, Văn Cảnh, và Bút Pháp.
Bước 4 : Phương Cách và Diễn Tiến của Văn phẩm.
Dàn Ý cho sách Habacúc.
Ap dụng

Những mục tiêu của bài học .
Học xong bài nầy bạn có thể :
Khám phá chủ đề chính của sách Habacúc và theo dấu sự phát triển của sách qua cách nghiên cứu tổng hợp.
Thiết lập những gì bạn đã học qua phương pháp nghiên cứu tổng hợp về sách Habacúc thành một dàn ý thống nhất.
Sống hài hòa với lẽ thật mà bạn đã khám phá qua phương pháp nghiên cứu tổng hợp về sách Habacúc.
Những Hoạt Động Học Tập .
Đọc phần mở bài, dàn ý và những mục tiêu.
Nghiên cứu ý nghĩa của những chữ chính vốn còn mới đối với bạn.
Tuân theo sự hướng dẫn cách cẩn thận khi bạn nghiên cứu phần triển khai bài học, và trả lời những câu hỏi nghiên cứu. Không có đường tắt trong việc nghiên cứu Kinh Thánh. Cần phải đọc kỹ để nghiên cứu thấu đáo.
Làm Bài Tập Trắc Nghiệm ở cuối bài học. Đối chiếu phần trả lời của bạn với phần giải đáp ở cuối cuốn sách.
On cẩn thận Đơn Vị 2 ( Bài 5 - 7) rồi hoàn thành Bản tường trình học tập của Đơn vị 2, rồi gởi bài làm đến vị trợ giáo của bạn.

Từ ngữ
Ngạo mạn ( arrogant)
Nảy sinh ( emerge)
Thuộc đề tài ( thematic)
Phàn nàn ( complait)
Toàn bộ (intergrate)
Chuyển tiếp ( transition)
Triển Khai Bài Học .
NHỮNG BƯỚC TIẾN HÀNH TRONG SỰ KHẢO SÁT.
Mục tiêu 1 : Tuân theo những bước thích hợp trong việc khảo sát phương pháp tổng hợp của sách Habacúc .
Những bước tiến hành của phương pháp tổng hợp là một sự lặp lại theo khuôn mẫu : đọc, quan sát, đọc đến đâu ghi chú đến đấy. Cứ tiếp tục như thế cho đến khi bạn tìm thấy mọi thông tin mà bạn cần tìm, không chú ý đến việc đã đọc được bao nhiêu lần. Tư tưởng tổng quát ấy là làm quen với cuốn sách mà đang nghiên cứu. Mỗi lần ngồi xuống hãy đọc cả cuốn sách hết một lượt là phương cách để bạn làm quen với cuốn sách.
Phần gợi ý của chúng tôi có thể giúp bạn đọc cả cuốn sách một lần để tìm một số thông tin nào đó. Nếu bạn không tìm thấy thông tin đó ở lần đọc thứ nhất, bạn có thể tìm thấy nó ở lần khác. Tìm sự tương phản cũng đúng nữa; bạn có thể đang đọc để tìm tài liệu mình cần, đồng thời bạn cũng có thể có những sự kiện khác cũng quan trọng cho sự nghiên cứu. Bạn có thể gợi nhận những gì bạn thấy trong lúc đó và có lẽ bỏ sót một lần đọc. Bạn có thể đọc đi đọc lại vô số lần để bạn bắt đầu sống trong sách đó. Kết quả cuối cùng của việc nghiên cứu của bạn sẽ là việc sách đó trở thành một phần của bạn - cả trong đời sống Cơ đốc nhân và trong sự chia xẻ Lời Chúa với những người khác.
Bây giờ nếu bạn đọc chậm, hãy lên thời gian biểu dành nhiều thời giờ hơn những gì mình phải làm. Thực sự, nếu bạn là độc giả đọc chậm, tốt hơn cả là phải đọc nhiều, chứ đừng đọc ít hơn. Trong trường hợp đó, có thể bạn phải đọc cả sách Habacúc một hoặc hai lần trước khi bạn khởi sự tìm kiếm thông tin, phải quen với những từ ngữ và bút pháp của sách.
1. Bây giờ hãy chuẩn bị cuốn sổ tay trên đó hãy viết những gì mình tìm thấy khi đọc sách Habacúc. Hãy chia trang giấy của cuốn sổ tay của bạn thành bốn cột dọc, theo thí dụ bên dưới. Liệt kê những mục sau đây ở cột bên trái của trang ( cột 10 chừa 4 hàng sau mỗi mục : 1) Chủ đề chính của sách. 2) Khai triển ( nơi nào chủ đề chính xuất hiện) 3) Những lời công bố liên quan đến nội dung ( nơi nào tác giả nói trước về thời gian những gì sẽ xảy ra tiếp theo). 4) Những từ ngữ. 5) Kết cấu. 6) Văn cảnh. 7) Bút pháp. 8) Phương cách văn chương. 9) Diễn tiến.
Những mục nầy là những điều mà bạn sẽ tìm khi bạn đọc sách Habacúc. Khi bạn tìm thấy chúng, hãy viết trên trang giấy của sổ tay của bạn. Ba cột kế tiếp hãy ghi đoạn 1, đoạn 2 và đoạn 3. Những gì bạn tìm được ở đoạn nào hãy ghi vào cột của đoạn ấy.
Bước 1 : Khám phá chủ đề chính.
Mục tiêu 2 : Nhận diện chủ đề chính của sách Habacúc bằng việc đọc cả sách một lần .
Đọc theo tinh thần cầu nguyện sách Habacúc một lần từ đầu đến cuối để khám phá ra chủ đề chính. Chủ đề chính có thể tìm thấy như một sợi chỉ chạy xuyên suốt cả ba đoạn. Nếu cần bạn có thể đọc đi đọc lại nhiều lần để đề tài nầy xuất hiện rõ ràng trước mắt bạn. Điều quan trọng trong việc bạn đọc cả sách một lần vì chính khi ngồi chăm chú đọc một lần từ đầu đến cuối đề tài ấy mới nẩy sinh, hiện rõ trong sự nhận thức của bạn. Đôi khi nếu bạn đọc nửa chừng bạn sẽ không nhận được đầy đủ ấn tượng mạnh mẽ về cuốn sách. Như vậy, phương pháp tốt nhất là đọc một mạch từ đầu đến cuối cuốn sách để khám phá ra chủ đề chính. Bây giờ, bạn hãy để cuốn sách nghiên cứu tự học nầy sang một bên và đọc cả cuốn Habacúc. Khi bạn đọc xong hãy trở lại cuốn sách nghiên cứu nầy.
Nếu sau khi đọc xong cuốn sách Habacúc bạn không biết chắc về chủ đề chính, thì hãy trả lời những câu hỏi sau đây : Đề tài hay chủ đề nào có chung trong những câu sau đây : HaKb 1:2, 6, 8, 9, 12 2:4, 6, 7, 9, 12, 15-17, 19 3:1-15? Câu chìa khóa nào trong 2:1-4 hỗ trợ cho đề tài nầy?
2. Trước khi bạn mở phần giải đáp để xem câu trả lời thì hãy viết chủ đề chính của sách Habacúc và phần tham khảo cho câu chìa khóa ( câu gốc) trong sổ tay của bạn.
Bước 2: Khai Triển Chủ Đề Chính.
Mục tiêu 3 : Triển khai chủ đề chính trong Habacúc bằng cách đọc toàn thể cuốn sách một lần nữa .
3. Hãy triển khai chủ đề chính trong sách Habacúc khi bạn đọc phần dẫn chứng về sự phán xét và hình phạt. Hãy ghi nhận những chỗ tham khảo nầy trong sổ tay của bạn. Tóm tắt những gì bạn tìm thấy vào vài chữ cho mỗi câu bạn liệt lê.
Những lời công bố liên quan đến nội dung giúp bạn tìm được chủ đề chính. Những lời công bố như thế là những câu mà tác giả đưa ra trước hết, nói về nhưng sẽ xảy ra kế tiếp. Chẳng hạn Phúc âm Mathiơ bắt đầu với lời công bố như sau : “ Đây là danh sách của những tổ phụ của Chúa Jêsus Christ, hậu tự của ......Apraham” ( 1:1; - theo Anh ngữ). Đây là lời công bố liên quan đến nội dung và bạn ngạc nhiên khi đọc tiếp phần gia phổ.
Trong ICo1Cr 7:25 Phaolô nói, “ Về những kẻ đồng thân, tôi có lời Chúa truyền”. Đó là một lời công bố liên quan đến nội dung. Nó giúp bạn chuẩn bị cho những gì sẽ xảy đến, và cho bạn manh mối khi triển khai đề tài của sách. Bây giờ hãy đọc từ đầu cho đến cuối sách Habacúc một lần nữa, hãy xem những lời công bố liên quan đến nội dung. Kế đó làm bài tập sau đây.
4. Hãy viết, theo đúng những hàng của những cột mà bạn đã kẻ trong sổ tay mình lời công bố liên quan đến nội dung với đoạn và câu nêu rõ; sau đó, hãy so sánh bài làm của bạn với của chúng tôi. ( Nếu bạn không tìm được lời công bố liên quan đến nội dung khi bạn đọc sách Habacúc trở lại, hãy xem những câu HaKb 1:1, 2:1; 2:4; 3:1 trước khi làm bài tập nầy).
Những lời công bố nấy sẽ giúp bạn ( về sau trong bài học) để chia cuốn sách thành những phần có ý nghĩa cho dàn ý.
Bước 3 : Từ Ngữ, Văn Cảnh, và Bút Pháp.
Mục tiêu 4 : Đưa ra những từ ngữ (cần nghiên cứu thêm) văn cảnh và cách hành văn trong sách Habacúc bằng việc đọc cả sách một lần nữa .
Trả lời những câu hỏi trong phần nầy có thể giúp bạn nhấn mạnh về từ ngữ, văn cảnh và bút pháp. Hãy đọc những câu hỏi trước khi đọc sách Habacúc. Sau đó, hãy đọc cả sách Habacúc một lần nữa, hãy tìm những từ ngữ ( cần nghiên cứu thêm), văn cảnh và bút pháp. Kế đó hãy viết vào sổ tay ( đúng hàng, đúng cột) những câu trả lời cho những câu hỏi 5 ,6,7 và 8 so sánh câu trả lời của bạn với những câu gợi ý của chúng tôi.
5. Từ ngữ. Bạn có thể thấy từ ngữ nào mình không rõ ý nghĩa không? Bạn có thấy từ ngữ nào đòi hỏi bạn phải chú ý đặc biệt không? Bạn có thấy những ý niệm sâu sắc nào cần phải nghiên cứu thêm không? Hãy liệt kê và trưng dẫn trong sổ tay của bạn.
6. Văn cảnh. Bạn có nhận thấy sự khác nhau nào trong bầu không khí của hai đoạn đầu và đoạn chót không? Nếu bạn chưa tìm thấy, hãy đọc đi đọc lại và tìm kiếm cách đặc biệt về sự khác nhau nầy. Đối với bạn, hãy chọn một từ mô tả bầu không khí hay cảm giác bạn nhận được từ những đoạn 1 và 2 và rồi chữ khác cho đoạn 3.
7. Bút pháp. Thể loại văn ở đầu cuốn sách là gì?
8. Thể loại văn thay đổi ở chỗ nào? Nó thay đổi vì lý do gì?
Bước 4 : Phương Cách Diễn Đạt Và Diễn Tiến.
Mục tiêu 5 : Sử dụng kiến thức của bạn về những cách diễn đạt và diễn tiến trong văn phẩm để tăng cường sự hiểu biết của bạn về sứ điệp của sách Habacúc .
Bạn đang tìm kiếm những phương cách diễn đạt mà chúng tôi thảo luận trong bài 5. Bạn sẽ thấy có một số câu hỏi để hướng dẫn sự quan sát của bạn. Bạn đừng mong mình sẽ thấy những phương cách diễn đạt văn chương nầy, nhưng bạn sẽ thấy vài cách có thể giúp bạn hiểu toàn thể sách Habacúc. Chẳng hạn, nếu có một khuôn mẫu nào mà bạn bắt đầu chú ý khắp cả sách, thì rõ ràng chúng ta có thể thấy được mối quan hệ của nó với toàn thể cuốn sách là quan trọng.
Hãy để ít thời gian khảo sát sách Côlôse. Trong thơ tín nầy bạn có, theo cách thức đáng lưu ý, khuôn mẫu của sự trao đổi hay luân phiên thay thế. Hãy chú ý mẫu nầy trong bốn đoạn sau từ CoCl 2:20-3:10 mà tôi đánh dấu bằng chữ A,B,A,B.
A. “ Anh em đã chết với Đấng Christ” (2:20).
B. “ Anh em đã được sống lại với Christ” ( 3:1).
A. “ Hãy làm chết các chi thể anh em ở nơi hạ giới”. ( 3:5).
B. “ Anh em ...... hãy mặc lấy con người mới” (3:9-10).
Những đoạn nầy cho thấy những mối quan hệ mật thiết của sự chết với Đấng Christ và được sống lại với Đấng Christ. Bạn không thể hiểu được sách Côlôse trừ phi bạn thấy được phương cách diễn đạt của sự luân phiên thay đổi trong đó. Phương cách nầy rất sống động ! Bạn phải thấy rằng A liên quan đến A được nói trước, B có liên quan với B đã nói trước.
Khi khảo sát sự diễn tiến trong văn chương, điều cần nhớ kỹ và hãy tìm sự thay đổi. Bạn đã học về sự thay đổi theo lịch sử qua những biến cố của cuộc hành trình của dân Ysơraên từ Edíptô qua sa mạc của Sinai. Có những ví dụ về diễn tiến ý tưởng. Bạn sẽ thấy những sự thay đổi rộng và tổng thể từ đầu cho đến cuối. Bây giờ bạn đã đọc sách nầy nhiều lần rồi, bạn bắt đầu quen thuộc đôi chút về sách nầy rồi đó.
Những câu hỏi tiếp sau đây sẽ giúp bạn nhấn mạnh về phương cách diễn đạt văn chương và diễn tiến. Hãy viết câu trả lời cho mỗi câu hỏi đúng theo cột mục ở trong sổ tay của bạn (nếu bạn cần nhiều chỗ hơn, hãy tiếp tục sang trang khác). Hãy đọc những câu hỏi trước khi và trong khi bạn đọc cả sách Habacúc. Hãy xem câu trả lời sau khi bạn đi đến phần kết luận của mình.
9. Phương cách diễn đạt văn chương nào nổi bật trong phần đầu của phân đoạn HaKb 1:2-4 và phần cuối của đoạn 1:12-13?
10. Ai đặt câu hỏi trong 1:2-4 và 1:12-13?
11. Ai trả lời những câu hỏi nầy và tại đâu ( dẫn chứng)?
12. Phương cách diễn đạt văn chương nào nổi bật trong suốt quá trình hỏi đáp được tìm thấy trong 1:2-4 1:5-11 1:12-17 và 2:2-20?
13. Sách Habacúc bắt đầu bằng câu hỏi lằm bằm (1:2-4). Cố gắng viết ra một câu hỏi ngắn bằng lời riêng của bạn để tóm tắt lời phàn nàn nầy.
14. Hãy viết ra một câu trả lời ngắn gọn bằng lời riêng của bạn để tóm tắt câu trả lời trong 1:5-11 đối với câu hỏi lằm bằm nầy.
15. Câu hỏi lằm bằm thứ hai được ghi trong 1:12-17. Hãy nhớ điều ác luôn luôn hiện diện ngay cả trong vòng người Ysơraên, hãy viết một câu hỏi ngắn bằng lời riêng của bạn để tóm tắt lời phàn nàn thứ hai nầy.
16. Hãy viết ra một câu trả lời ngắn bằng lời riêng của bạn để tóm tắt câu trả lời trong 2:2-29 cho câu hỏi lằm bằm thứ hai.
17. Hãy trình bày phương pháp diễn đạt văn chương và những chữ diễn tả điều ấy trong 2:6, 9, 15, 19. Rồi trình bày những chữ diễn tả phương cách diễn đạt tương tự trong 3:17.
18. Nói tên một phương cách diễn đạt văn chương ở 2:5 và phương cách diễn đạt khác trong 2:8, giải thích những sự diễn tiến của những phương cách nầy đối lặp với nhau như thế nào.
19. Phương cách diễn đạt nào mà chữ “ nhưng” trong 2:7 gợi ý? ( Kinh Thánh được dùng theo bản Today’s English Version - Bản Việt ngữ không có chữ “ nhưng”).
20. Cả đoạn 3 có một ví dụ về phương cách diễn đạt văn chương về sự tiếp diễn ( continuation), có liên hệ đến quan điểm cá nhân của vị tiên tri. 3:1-15 có cảm giác hay giọng điệu rõ ràng. 3:16 là câu chuyển tiếp với giọng điệu khác nhau, và 3:17-19 cũng thay đổi. Hãy đọc đoạn 3 với ba sự phân chia nầy trong trí bạn. Xem thử bạn có thể nghĩ ra được ba chữ nào mô tả sự mở rộng trong sự tiếp diễn nầy.
21. Cố gắng trình bày một bài học thực tế thuộc linh mà chúng ta có thể đọc được từ sự phát triển phương cách diễn đạt về sự tiếp diễn trong đoạn 3.
22. Từ phần thứ nhất của cuốn sách đến phần cuối cùng, ít nhất có ba diễn tiến về tư tưởng có thể được nhìn thấy. Qua việc bạn đọc sách Habacúc nhiều lần, bạn có thể hoàn tất được những diễn tiến được tìm thấy trong những đoạn sau đây không?
a. 2:4, 3:8; 3:18 Từ tội lỗi đến .......................................
b. 2:2; 3:16 Từ thắc mắc đến ...........................................
c. 2:4; 2:15-17 Từ phán đoán sai lầm đến .....................
d. 2:2-4; 2:17; 3:2 Từ sự kêu gọi đổ cơn thạnh nộ đến ...............................................................................................
...............................................................................................
...............................................................................................
Dàn ý Cho sách Habacúc
Mục tiêu 6 : Làm một dàn ý phác thảo cho sách Habacúc, rồi triển khai thành một dàn ý thống nhất .
Việc làm dàn ý cho sách Habacúc sẽ liên quan đến việc đọc cả sách nhiều lần nữa. Bây giờ mục tiêu của chúng ta là triển khai một dàn ý phác thảo. Kết cấu của một cuốn sách có thể tìm thấy dễ dàng nhất bằng cách viết ra một tựa đề ngắn cho mỗi đoạn văn của sách và ghi nhận mối quan hệ trong vòng những tựa đề nầy. Vì mục đích làm dàn ý, tôi đã chia sách Habacúc thành 19 đoạn văn ( paragraph) và đã liệt kê đoạn và câu được dự kiến cho những đoạn văn nầy trong bài tập sau đây.
23. Liệt kê mỗi đoạn văn sau đây ở một hàng riêng trong sổ tay của bạn. Đọc mỗi đoạn cách cẩn thận và suy nghĩ một tựa đề ngắn chứa đựng “ bộ phận nòng cốt” ( kernel - cái nhân) của ý nghĩa cho đoạn đó. Hãy viết tựa đề bên cạnh phần Kinh Thánh trưng dẫn. Hãy viết tựa đề bên cạnh phần Kinh Thánh trưng dẫn. ( Hãy viết câu của bạn trước khi xem phần giải đáp).
1:1
1:2-4
1:5-7
1:8
1:9-11
1:12-17
2:1
2:2-4
2:5-6
2:7-8
2:9-11
2:12-14
2:15-17
2:18-19
2:20
3:1
3:2-15
3:16
3:17-19
Hãy lưu ý thế nào đời sống của người công bình ( 2:4) sự hiểu biết về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ( 2:14) và sự hiện diện của Ngài trên đất (2:20) cung cấp một sợi chỉ đức tin sáng láng vốn được dệt vào chiếc thảm ảm đạm : đức tin ban cho hy vọng phước hạnh cho mỗi tín hữu.
Để đưa dàn ý phác thảo của những tựa đề của đoạn vào hình thức dàn ý thống nhất, hãy lướt nhìn những tựa đề nầy để xem những tựa đề nào sẽ phục vụ như là những tựa đề chính, và những cái nào có thể được kết hợp vào dưới tựa đề chính với tên gọi tiểu tựa đề ( subtopic) ( Viết kết hợp những tựa đề theo diễn tiến - không cùng trên một hàng). Đây là mẫu phác họa của chúng tôi và những chữ thụt vào đầu dòng để bạn hoàn tất dàn ý :
I. Tựa đề chính.
A. Tiểu tựa đề ( tựa đề phụ).
1. Chi tiết.
Ghi chú : Ít nhất có hai tựa đề phác thảo cho mỗi loại thụt vào đầu dòng. Nếu bạn không thể tìm ra một tiểu tựa đề B đi song song với A, thì hãy cố gắng kết hợp A với tựa đề chính, nếu bạn không thể tìm ra 2, đi với 1, thì hãy cố gắng kết hợp 1, với tiểu tựa đề.
Trong trường hợp bạn tham khảo những nguồn tài liệu Kinh Thánh như tự điển Kinh Thánh hay sách giải Kinh, thì bạn hãy tham khảo và so sánh dàn ý của họ với của bạn. Nếu bản tham khảo sách khác, thì cũng đừng vì cớ có sẵn mà bỏ đi dàn ý nghiên cứu của mình. Bạn không muốn thay thế dàn ý của người khác bạn chỉ muốn của mình ! Nếu bạn so sánh dàn ý của bạn với của người khác, bạn chỉ muốn bổ túc cho bạn ở những chỗ cần được nhấn mạnh hơn. Tương tự như thế bạn hãy áp dụng sự so sánh dàn ý của bạn với dàn ý được đưa ra trong sách nghiên cứu nầy. Đừng nghĩ rằng dàn ý của bạn phải giống y hệt như ví dụ y hệt chúng tôi đưa ra ở phần giải đáp.
Chuẩn bị một trang của cuốn sổ tay của bạn để ghi dàn ý thống nhất. Bạn sẽ cần 18 dòng. Thường thường mỗi đoạn văn sẽ thích hợp với một hàng của dàn ý, một số sẽ là những tựa đề chính, số khác sẽ là những tiểu tựa đề, một số sẽ là những chi tiết. Trả lời những câu hỏi ở phần bài tập kế tiếp sẽ giúp bạn phân biệt những điểm chính và những điểm phụ. Đọc lại mỗi đoạn văn trong sách Habacúc và tựa đề theo đoạn văn mà bạn đã viết ra khi bạn trả lời câu hỏi liên quan đến nó ( viết câu trả lời vào sổ tay của bạn).
24. Khảo sát 1:1; 2:1 và 3:1.
a. Bạn thấy gì trong bài tập 4 mà những câu nầy chứa đựng?
b. Vì mỗi câu trong ba câu nầy bắt đầu một trong ba phần chính của nội dung của cuốn sách, điều nào có vị trí rõ ràng trong dàn ý thống nhất của bạn về những tựa đề của đoạn văn dành cho nó?
c. Bạn nghĩ gì về mối quan hệ của 1:8 và 1:9-11 phải có với 1:5-7?
25. Hãy xem những tựa đề của đoạn văn mà bạn đặt ra cho đoạn 1, và giữ những câu trả lời cho câu hỏi b, và c của bài tập trên trong trí mình, hãy viết dàn ý của bạn cho đoạn 1 vào sổ tay của bạn. Rồi so sánh với của chúng tôi.
26. Khảo sát những tựa đề đoạn văn cho đoạn 2.
a. Câu Kinh Thánh trưng dẫn nào cho hai đoạn văn trong đoạn 2 có liên quan đến sự tham lam?
b. Hãy đem những đoạn văn trong đoạn 2 về sự tham lam như là một hàng trong dàn ý của bạn, có bao nhiêu chi tiết bạn sẽ có dưới tiểu tựa đề “ Kẻ ác bị hủy diệt nhưng người công bình được cứu” và đó là những gì.
27. Hãy đọc lại những tựa đề bạn đặt ra cho những đoạn văn trong đoạn 2 và nhớ những câu trả lời a và b của câu hỏi vừa rồi, viết dàn ý cho đoạn 2 vào sổ tay của bạn. Rồi so sánh với dàn ý của chúng tôi.
28. Nhớ những tựa đề đặt cho đoạn 3 trong trí, hãy viết dàn ý cho đoạn 3. Rồi so sánh với dàn ý của chúng tôi.
Dàn ý bạn viết ra trên sổ tay của bạn đã hòan tất. Nếu bạn muốn mở rộng dàn ý căn bản nầy, thì đó là khởi điểm tốt đẹp. Những chi tiết sẽ được thêm vào khi bạn nghiên cứu tiếp.
ÁP DỤNG
Mục tiêu 7 : Học tập vâng lời lẽ thật Thiên thượng mà bạn đã khám phá để nhận được sự hiểu biết đầy đủ hơn về Lời của Đức Chúa Trời .
Trong bài 2 bạn đã học biết rằng những bước căn bản trong sự nghiên cứu Kinh Thánh là : quan sát, giải thích, tóm tắt, đánh giá, áp dụng và tương liên. Những bài học bạn hoàn tất phải tập trung vào sự phát triển những kỹ năng bạn cần cho những bước trước trong sự nghiên cứu. Sự áp dụng hơi khác hơn những bước khác vì nó liên quan nhiều điều khác hơn là những kỹ năng bạn sử dụng. Nó liên quan đến thái độ, ý muốn mối tương quan với Chúa và động cơ.
Bạn cũng đã học rằng bạn phải đến với Lời Đức Trời bằng thái độ kỉnh kiền và tinh thần cầu nguyện. Đó là sứ điệp của Đức Chúa Trời nói chung, nhưng cũng là sứ điệp riêng cho cá nhân bạn và tôi. Kinh Thánh khác hơn mọi sách khác. Sự thông minh và kỹ năng của bạn phải gắng liền với sự giúp đỡ của Thánh Linh để giải thích và áp dụng Kinh Thánh cách đúng đắn. Bạn phải được sanh lại qua đức tin nơi Chúa Jêsus Christ để có thể hiểu được Kinh Thánh cách đúng đắn. Sứ điệp của Đức Chúa Trời được làm sáng tỏ qua việc Thánh Linh của Đức Chúa Trời chiếu rọi sự sáng vào lòng bạn.
29. Khoanh tròn mẫu tự của phần hoàn toàn đúng.
a) Biết tiếng Hy lạp.
b) Được sinh lại qua đức tin nơi Jêsus Christ.
c) Luôn luôn dựa vào những gì người khác nói về điều đó.
30. Những chữ sau đây : quan sát, giải thích, tóm tắt, đánh giá, áp dụng, tương liên có liên quan đến điều gì?
a) Chúng là những lời nhận xét bừa bãi từ bài 1.
b) Chúng là sáu bước trong sự nghiên cứu Kinh Thánh.
c) Chúng là những từ thay đổi lẫn nhau để học tập.
Nếu bạn được tái sanh, qua những bài học vừa qua bạn học cách nghiên cứu, thì có lẽ bạn thấy có nhiều cách trong đó Kinh Thánh áp dụng cho đời sống và hoàn cảnh của bạn. Sự áp dụng nầy là một phần lớn của công tác và chức vụ của Thánh Linh đối với bạn và cho bạn. Chúa Jêsus phán, “ Đấng Yên Ui, tức là Thánh Linh mà cha sẽ nhơn danh ta sai đến, Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc cho các ngươi mọi điều ta đã phán cùng các ngươi” (GiGa 14:26). “ Lúc nào Thần Lẽ Thật sẽ đến, thì Ngài sẽ dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật... vì Ngài sẽ lấy những điều thuộc về Ta mà rao bảo cho các ngươ” (16:13-14).
Vì Đức Chúa Trời phán cách cá nhân với bạn khi bạn đọc và nghiên cứu Kinh Thánh, nên bạn không thể sử dụng hết những hoàn cảnh và vị trí mà cuốn sách hay loạt bài học nào đưa ra về đoạn Kinh Thánh nào đó để áp dụng cho đời sống bạn. Đức Chúa Trời luôn luôn cung cấp điều mới cho bạn khi bạn mở Lời của Ngài.
Có những cách trong đó bạn có thể cộng tác với Thánh Linh để hiểu được việc áp dụng Kinh Thánh vào cá nhân mình. Việc áp dụng Kinh Thánh cho cá nhân bạn phải là kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu Kinh Thánh của bạn.
31. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu diễn đạt ĐÚNG.
a) Bằng việc nghiên cứu Kinh Thánh theo loại bài học nầy chẳng hạn, bạn có thể học được cách giải quyết cho mọi nan đề về cuộc sống.
b) Bất cứ loại bài nghiên cứu tốt nào về Kinh Thánh đều sẽ bày tỏ cách giải quyết cho mọi nan đề của bạn.
c) Một loại bài nghiên cứu Kinh Thánh sẽ chỉ cho bạn cách hiểu Lời của Đức Chúa Trời để Thánh Linh có thể nói với bạn cách riêng tư qua Kinh thánh.
Chúng ta hãy xem một số cách trong đó bạn có thể cộng tác với Đức Chúa Trời trong việc tiếp nhận sứ điệp của Ngài cho cá nhân bạn. Có những cách tích cực bạn có thể và nên làm để gia tăng sự tuôn đổ ánh sáng của Đức Chúa Trời để bạn thấy được nhu cầu của mình, cả nhu cầu nhận diện được lẫn nhu cầu nhận diện được. Điều nầy phải là kết quả cuối cùng của sự nghiên cứu Kinh Thánh. Tự hỏi mình những câu hỏi sẽ thanh tẩy đời sống, những động cơ và những thái độ của bạn.
Tôi có đang sống đúng theo ánh sáng ( sự hiểu biết) mà tôi đã có chưa? Bạn có thể trả lời “ Có” cho câu hỏi nầy. Nếu Thánh Linh bày tỏ cho bạn ý muốn của Ngài trên đời sống bạn và bạn khước từ ý muốn của Ngài, thì bạn sẽ làm đen tối lòng mình. Nhưng, nếu bạn sẽ sống trong sự vâng theo lời của lẽ thật mà bạn khám phá, thì bạn sẽ luôn luôn tìm thấy nhiều lẽ thật làm tươi mới cho lòng bạn. Bạn sẽ bắt đầu hiểu lẽ thật sâu sắc hơn. Lý do Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật là vì Ngài đang tìm kiếm sự vâng theo điều ấy.
32. Đọc những đoạn Kinh Thánh sau đây : Gia Gc 1:23, 25, GiGa 15:14; Mat Mt 5:19, 23:3. Chủ đề chung của những đoạn văn nầy chỉ điều gì?
...............................................................................................
Vì thế, chính trong sự vâng lời để hiểu được Kinh Thánh thì chúng ta sẽ đạt được sự hiểu biết nhiều hơn. Sự vâng lời nầy bao gồm sự thường xuyên xưng tội với Chúa. Vâng, ngay cả những tín hữu phải liên tục đến với Đấng Christ để được tẩy sạch. IGi1Ga 1:9 bảo đảm chúng ta rằng khi chúng ta đến, Chúa Jêsus tẩy sạch chúng ta. Sự tẩy sạch nầy đẹp đi những hàng rào vốn cản trở chúng ta hiểu rõ lẽ thật của Đức Chúa Trời.
Những câu hỏi kế tiếp bạn cần phải hỏi chính mình là : khi đến với Kinh Thánh, tôi có thái độ tin cậy không? Tôi có thái độ tìm kiếm không? Tôi có thái độ chấp nhận không? Động cơ của tôi có trong sạch trong việc tìm kiếm lẽ thật cho đời sống của mình hay chỉ để dạy dỗ cho người khác phải làm những gì phải không? Đây là những câu hỏi quan trọng. Một số người nghiên cứu Lời của Đức Chúa Trời chỉ để góm mặt và chọn lựa những gì mình sẽ tin. Họ từ khước cách dại dột những lẽ thật vốn sẽ biến đổi phong cách sống của họ. Đừng làm như những người đó. Hãy chấp nhận mọi lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời, ngay cả khi điều ấy có nghĩa là bạn phải thay đổi để phù hợp với điều đó trong cách mới.
33. Sự hiểu biết đầy đủ lẽ thật thuộc linh luôn phát xuất qua :
a) sự vâng phục lẽ thật đã biết
b) Nghiên cứu tập trung về những chỗ Kinh Thánh tối nghĩa.
c) chấp nhận những phần được chọn lựa của lẽ thật thuộc linh.
Hỏi Đức Chúa Trời những câu hỏi và hỏi Kinh Thánh những câu hỏi sẽ giúp bạn tìm ra những sự áp dụng thực tế bạn cần.
Luật pháp của Đức Chúa Trời và những thái độ của Ngài không thay đổi. Vì trong Cựu Ước Đức Chúa Trời công bố rằng Ngài ghét sự li dị ( MaMl 2:16), thì bạn có thể chắc rằng Ngài ghét điều đó ngay lúc bạn đọc đến sách Malachi về Lời đó cũng như lúc Ngài nói qua Malachi. Vì vậy, khi học Kinh Thánh, hãy cầu xin Chúa chỉ cho bạn thấy những lẽ thật đời đời vốn được bày tỏ trong đoạn văn ấy. Hãy hỏi Chúa những câu hỏi đặc biệt nầy: “ Đây có phải là điều con phải tin không? Đây có phải là điều con phải tin và hành động không? Đây có phải là điều con cần áp dụng cho cuộc sống con chăng? Một giáo sư Kinh Thánh nổi tiếng sử dụng cụm từ “ những điều tương đương có thể so sánh được ( comparable equivalents)”. Ong nói rằng, “ Trong hoàn cảnh cuộc sống của tôi ngày hôm nay có điều gì phù hợp với hoàn cảnh của Kinh Thánh không?” Khi nghiên cứu Kinh Thánh, hãy luôn luôn tự hỏi “ ĐIỀU NẦY ÁP DỤNG CHO TÔI NHƯ THẾ NÀO”.
Hoàn tất những bài tập sau để thấy vài cách trong đó sự nghiên cứu để áp dụng thực tế có thể được áp dụng cho Habacúc. Hãy trả lời trong sổ tay của bạn.
34. Hãy viết phần mô tả ngắn gọn về cuộc sống của bạn ngày hôm nay trong đó bạn thấy sự tương đương ( như đã giải thích ở trên) giữa những hoàn cảnh chúng ta đương đầu với những gì được mô tả trong HaKb 1:2-4 và 2:5.
35. Đọc 1:6; 2:2-4; 2:20 và 3:19. Những điều bảo đảm nào mà con cái của Đức Chúa Trời trong thời đại chúng ta có thể nhận được từ những câu nầy?
36. Đọc 1:12; 3:16, 3:18, và 3:19. Để nhận được sự yên ủi từ Đức Chúa Trời như Habacúc đã có, những sự xác nhận nào từ lòng mình mà Habacúc đã làm khiến bạn cần làm trong tấm lòng mình? ( Hãy diễn tả bằng lời riêng của bạn).

Bài tự trắc nghiệm .
Sau khi bạn ôn bài học nầy, hãy làm bài tập trắc nghiệm. Rồi dùng phần giải đáp ở cuối sách để kiểm tra bài làm của mình. Viết điểm của bạn vào phần ghi của học viên ở túi dành cho học viên, và ôn lại những câu hỏi nào mà bạn đã trả lời không đúng.
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Khoanh tròn mẫu tự trước mục nào của mỗi câu hỏi mà bạn xem đó là câu trả lời tốt.
1. Những bước trong sự quan sát về phần nghiên cứu tổng hợp một cuốn sách bao gồm.
a) đọc nhưng không viết.
b) viết những không đọc
c) đọc và viết
d) không đọc cũng không viết.
2. Chủ đề chính của sách Habacúc là
a) bị hạn chế ở đoạn 1.
b) chỉ được tìm thấy ở đoạn 2 mà thôi.
c) bị hạn chế ở đoạn 3.
d) được tìm thấy trong tất cả ba đoạn.
3. Việc khai triển chủ đề của một cuốn sách được viết trước do sự báo trước của tác giả liên quan đến
a) bầu không khí
b) nội dụng
c) diễn tiến
d) hình thức
4. Những từ ngữ thủ tục ( thường lệ)
a) không cần chú ý nhiều như những từ ngữ khác.
b) phải chú ý nhiều hơn những từ khác.
c) cũng phải lưu tâm đến cũng như những từ ngữ khác.
d) không cần chú ý gì cả.
5. Hình thức văn chương ( bút pháp) trong Habacúc thay đổi từ.
a) từ thơ sang kịch.
b) kịch sanh thơ.
c) ngụ ngôn ( ẩn dụ) sang thơ.
d) thơ sang ngụ ngôn.
6. Văn cảnh trong sách Habacúc đổi từ
a) tích cực sang phần cuối hơn lúc bắt đầu
b) ít tích cực ở phần cuối so với lúc đầu.
c) đầu cũng như cuối đều tích cực cả.
d) không tích cực ở phần nào của cuốn sách.
7. Từ sự thắc mắc sang sự tin cậy xác quyết là loại diễn tiến văn chương được mô tả là
a) diễn tiến giáo lý
b) diễn tiến tiểu sử.
c) diễn tiến ý tưởng.
d) diễn tiến lịch sử.
8. Dàn ý phác thảo của cuốn sách gồm có những tựa đề cho.
a) mỗi đoạn
b) những đoạn thư nhất và cuối cùng.
c) những đoạn thứ nhất trong mỗi đoạn Kinh thánh.
d) tất cả những đoạn văn.
9. Bước căn bản trong sự nghiên cứu Kinh Thánh vốn có quan hệ nhiều nhất giữa mối liên hệ cá nhân với Chúa là
a) sự quan sát
b) sự đánh giá
c) sự áp dụng.
d) sự tóm tắt.

GIẢI ĐÁP BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM .
1. Câu trả lời của bạn. ( Những sự chỉ dẫn đã được nêu rõ trong phần trình ở cuối bài học).
2. Câu trả lời có thể khác nhau. Chủ đề chính gợi ý là : sự phán xét, câu gốc HaKb 2:4.
3. Câu trả lời gợi ý ( câu trả lời của bạn có thể khác nhau nhưng cũng tốt như ví dụ nầy).
1:2 “ Cứu chúng tôi”.
1:6 “ Đi khắp đất đặng chiếm lấy...”
1:8-9 “ Đến .....mạnh dạn đi thẳng tới...”
1:12 “ Vậy .....Ngài đặt nó làm sự sửa phạt”.
2:4 “ Kẻ ác sẽ không sống còn”
2:6 “ Những kẻ chinh phục .....bị khốn khổ”
2:9, 12, 15 “ Các ngươi bị khốn khổ”
2:16 “ Sỉ nhục .....say sưa......lảo đảo”.
2:17 “ Các ngươi sẽ bị chặt xuống”
3:7 “ Dân cư Cusan sợ hãi”.
4. 1:1 “ Gánh năng mà đấng tiên tri Habacúc đã xem thấy” ( Sứ điệp mà Chúa đã bày tỏ, theo bản Today’s English Version).
2:1 “ Trả lời...... cho sự đối nại của tôi”
2:4 “ Đây là sứ điệp”
3:1 “ Đây là lời cầu nguyện”.
5. Những từ ngữ gợi ý cho bạn nghiên cứu thêm ( Chắc chắn bạn sẽ nghĩ đến những chữ khác).
1:4 “ sự chánh trực .... bị xuyên tạc” ( TEV)
1:6 “ Ta mang những người Babylôn đến” ( TEV)
2:1 “ Vọng canh”
2:2 “ Những tấm bảng”
2:6 “ Bị phán quyết” ( doomed) ( TEV).
6. Văn cảnh của đoạn 1 và 2 : quan tâm, sợ hãi hay thắc mắc.
Văn cảnh của đoạn 3 : đức tin hay thái độ tích cực.
7. Thể loại văn ở đầu cuốn sách : kịch.
8. Trong 3: 1, bút pháp thay đổi sang thơ ( thơ để diễn đạt sự cầu nguyện).
10. Habacúc hay “ loài người” đang hỏi những câu nầy.
11. Đức Chúa Trời trả lời trong 1:5-11, và 2:2-20.
12. Sự trao đổi
13. Câu trả lời gợi ý : Tại sao kẻ ác không bị trừng phạt?
14 . Kẻ ác sẽ bị trừng phạt.
15. Tại sao kẻ ác “ nhiều hơn” lại được dùng để trừng phạp kẻ ác “ ít hơn”?.
16. Kẻ ác “ nhiều hơn” cũng sẽ bị hình phạt.
17. Trong 2:6, 9, 12, 14, 19 sự lặp lại là “ khốn thay”, trong 3:17 sự lặp lại “ dù”.
18. Sự tạo hậu quả trong 2:5 di chuyển từ nguyên nhân đến hậu quả trong khi phương cách chứng minh trong 2:8 di chuyển từ hậu quả đến nguyên nhân.
19. Sự tương phản.
20. 3:1-15 sợ hãi, 3:16 chịu đựng, 3:17-19 đức tin.
21. Phải chịu đựng qua đức tin nơi Đức Chúa Trời những gì mình sợ hãi.
22. a. Sự cứu rỗi.
b. sự tin quyết.
c. sự phán xét công bình.
d. lời cầu xin thương xót.
23. 1:1 Giới thiệu sứ điệp của Đức Chúa Trời.
1:2-4 Phàn nàn nghịch với kẻ ác
1:5-7 Những người Babylôn chinh phục.
1:8 Những con ngựa của Babylôn
1:9-11 Những đạo quân của Babylôn.
1:12-17 Những điều ác lớn hơn của người Babylôn.
2:1 Chờ đợi Đức Chúa Trời trả lời.
2:2-4 Kẻ ác bị hủy diệt những công bình được cứu.
2:5-6 Những kẻ tham lam
2:7-8 Những kẻ tham lam cướp bóc.
2:9-11 Những kẻ chủ mưu ngạo mạn
2:12-14 Tội giết người.
2:15-17 Hình phạt những tội ác.
2:18-19 Sự vô ích của hình tượng.
2:20 Sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
3:1 Giới thiệu lời cầu nguyện của Habacúc
3:2-15 Bày tỏ sự sợ hãi.
24. a. Lời công bố liên quan đến nội dung.
b. Những tựa đề của đoạn văn cho 1:1, 2:1, và 3:1 sẽ phục vụ như là những tựa đề chính của dàn ý.
c. 1:8, và 1:9-11 dường như là những chi tiết cho những tiểu tựa đề trong 1:5-7. Những người Babylôn chinh phục.
3:16 Sự chịu đựng thay thế sự sợ hãi
3:17-19 Đức tin phát sinh.
25. I. Giới thiệu sứ điệp của Đức Chúa Trời ( 1:1).
A. Lời phàn nàn nghịch với kẻ ác ( 1:2-4).
B. Những người Babylôn chinh phục ( 1:5-7).
1. Những con ngựa củ Babylôn ( 1:8)
2. Những đạo quân của Babylôn ( 1:9-11)
C. Điều ác lớn hơn của người Babylôn ( 1:12-17).
26 a. 5 - 6 và 7 -8.
b. Năm chữ : tham lam, những kẻ chủ mưu kiêu ngạo, tội giết người, sự hình phạt những tội các, và sự vô ích của hình tượng.
27. II. Chờ đợi sự trả lời của Đức Chúa Trời ( 2:1)
A. Kẻ ác bị hủy diệt nhưng người công bình được cứu ( 2:2-4).
1. Kẻ tham lam ( 2:5-8)
2. Kẻ chủ mưu kiêu ngạo (2:9-11).
3. Tội giết người ( 2:12-14).
4. Hình phạt những tội ác ( 2:18-20).
5. Sự vô ích của hình tượng (2:20).
B. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời ( 2:20).
28. III. Giới thiệu lời cầu nguyện của Habacúc (3:1).
A. Bày tỏ sự sợ hãi ( 3:2-15).
B. Chịu đựng thay thế sự sợ hãi ( 3:16).
C. Đức tin phát sinh (3:17-19).
9. Nghi vấn ( đặt câu hỏi).
29. b) được sinh lại qua đức tin nơi Đức Chúa Jêsus.
30. b) chúng là sáu bước trong sự nghiên cứu Kinh Thánh.
31. c) một loại bài nghiên cứu Kinh Thánh sẽ chỉ cho bạn cách hiểu Lời Đức Chúa Trời để Thánh Linh có thể nói với bạn cách riêng tư qua Kinh Thánh.
32. Điều quan trọng ấy là làm những gì Lời Đức Chúa Trời truyền bảo phải làm. ( Những câu trả lời có thể khác về cách dùng chữ nhưng ý tưởng phải giống nhau).
33. a) vâng theo lẽ thật đã biết.
34. Trong cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay cũng có sự hung bạo và khó khăn, giống như thời đó. Có sự gây gỗ và đánh nhau. Luật pháp dường như không hiệu quả. Công lý thường không được thực hiện. Những kẻ ác dường như thịnh vượng. Những con người tham lam vẫn cứ kiên ngạo và không yên nghỉ và sự giàu có vẫn còn lừa dối họ.
35. Những sự bảo đảm ấy là Đức Chúa Trời đang kiểm soát, cuối cùng Ngài sẽ đổi hoàn cảnh sai trật trở thành đúng đắn, và sẽ ban cho bạn sức lực để chịu đựng như Ngài đã ban cho Habacúc.
36. “ Lạy Chúa, Ngài không những là Đức Chúa Trời Độc Nhất nhưng Ngài còn là Đức Chúa Trời của con, là Đấng Thánh Khiết và trường cửu. Con sẽ yên lặng chờ đợi. Con sẽ vui mừng và hởn hở - không phải vì mọi sự đều êm đẹp nhưng vì Đức Chúa Trời là Cứu Chúa của con. Chúa ban cho con sức lực và gìn giữ con an toàn”.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THEO TIỂU SỬ
Những nhân vật trong Kinh thánh là những con người có thật. Nhưng dường như họ thường hơi khác với những con người bạn thấy hằng ngày. Bạn chưa bao giờ nhìn thấy họ. Bạn chỉ gặp gỡ họ qua những trang giấy của một cuốn sách. Cuộc sống của bạn có lẽ rất khác với cuộc sống của họ. Những nhà khảo cổ học đã đào bới xương của những nhà tiểu sử; họ tìm thấy những đồ tạo tác ( dụng cụ và đồ dùng của người xưa) vốn giúp chúng ta tưởng tượng ra cuộc sống của những người sống cách chúng ta hàng trăm ( hay hàng ngàn năm) như thế nào. Những điều nầy vẫn là quá khứ mơ hồ và khó chấp nhận như là sự thật được.
Làm thế nào để bạn biết được những nhân vật trong Kinh Thánh rõ ràng hơn? Bạn có thực sự muốn học tập từ những sai lầm của họ không? Làm thế nào để bạn rút ra từ đời sống tin kính của họ những phước hạnh để bạn thừa hưởng những lời hứa mà họ đã thừa hưởng? Bạn làm sao có thể đi đến chỗ đánh giá đúng nọ như thật dù họ chỉ là người bất toàn như bạn? Nghiên Cứu nhân vật Kinh Thánh sẽ là đề tài của bài học nầy.

Dàn ý Bài Học .
Giới thiệu Tiểu sử của nhân vật của Kinh Thánh
Những loại tiểu sử.
Tường Thuật đơn giản.
Giải thích Cuộc đời của Nhật vật.
Giải thích đặc tính của Nhân vật.
Bình luận
Tóm tắt Tiểu Sử.
Những Phương pháp Nghiên Cứu theo Tiểu sử.
Thu nhập dữ kiện.
Giải thích dữ kiện.
Hình thành dữ kiện.
Nghiên cứu nhân vật của sách Amốt.
Những Mục Tiêu của Bài Học .
Học xong bài nầy bạn có thể :
Giải thích mục đích của tác giả về việc sử dụng căn bản của mỗi loại tiểu sử nhân vật Kinh Thánh và định nghĩa tiến trình của việc nghiên cứu tiểu sử.
Có hy vọng lớn hơn về sự sống đời đời bằng việc noi theo gương mẫu của Amốt và những nhân vật khác.

Những Hoạt Động Học Tập.
Đọc phần mở bài, dàn ý và những mục tiêu
Nghiên cứu những từ khó để hiểu nghĩa.
Đọc kỹ phần triển khai bài học và trả lời những câu hỏi nghiên cứu.
Làm bài tập trắc nghiệm ở cuối bài học, và soát lại câu trả lời của bản ở phần giải đáp.

Từ ngữ .
Bao vỏ bọc ngoài ( capsule)
Am mưu ( conspiracy).
Những người đương thời ( contemporaries).
Thuộc về hoàn cảnh ( environmental).
Giải thích ( expostition).
Tình cờ, bất ngờ ( incidental)
Nghịch lý ( paradox)
Thích hợp, đúng lúc ( pertinent)

Triển Khai Bài Học
GIỚI THIỆU TIỂU SỬ NHÂN VẬT CỦA KINH THÁNH.
Mục tiêu : Sử dụng những phần ký thuật của Tân Ước để mô tả đời sống hiện tại của những con người ở trong Cựu Ước .
Chúng ta hãy nghe lời phán của Chúa Jêsus cùng đám đông vào một ngày nọ. “ Ta đoan chắc với các ngươi rằng có nhiều người từ Đông Phương Tây phương sẽ đến và ngồi đồng bàn với Apraham, Ysác, Giacốp trong nước Thiên đàng” ( Mat Mt 8:11). Vào dịp khác, Chúa Jêsus phán cùng những người Sađusê vô tín rằng Đức Chúa Trời phán, “ Ta là Đức Chúa Trời của Apraham, Đức Chúa Trời của Ysác và Đức Chúa Trời của Giacốp” ( Mat Mt 22:32). Ngài là Đức Chúa Trời của kẻ sống chứ không phải của kẻ chết.
Vì bài học nầy bàn về phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh theo Tiểu sử về cuộc đời của các nhân vật Kinh Thánh như họ đã sống sách đây nhiều năm. Một cách để giúp bạn nghĩ về những nhân vật của Kinh Thánh như những con người có thật là khảo sát vài sự kiện Kinh Thánh. Những người kính sợ Đức Chúa Trời mà bạn sẽ gặp trong những trang Kinh Thánh vẫn còn sống ngày hôm nay. Đây là sứ điệp đáng phấn khởi của Chúa Jêsus Christ. Vì Ngài sống, nên Ngài ban sự sống đời đời cho những người đến với Ngài ( Xem GiGa 5:24-26). Những thánh đồ Cựu ước ( nhng người kính sợ Đức Chúa Trời - godly people) cũng như tất cả những ai đặt lòng tin mình nơi Chúa Jêsus Christ đều được Ngài ban cho sự sống đời đời ( RoRm 4:1-28). Tôi thường nghĩ rằng việc nghiên cứu đời sống của những nhân vật Kinh Thánh theo cách họ sống thời xưa ( trong sự bất toàn như bạn và tôi) sẽ không tốt đẹp nếu chúng ta không hiểu rằng họ không hợp với tình trạng trong đó chúng ta đọc về họ trong Kinh Thánh. Họ đã sống hàng bao nhiêu thế kỷ, tính theo niên lịch trần gian của chúng ta, ở trong sự sống đời đời để học tập, phát triển và lớn lên trong sự trọn lành với chính Chúa.
Làm thế nào để chúng ta biết điều nầy?Vâng, những lời phán của Chúa Jêsus đực trích dẫn ở trên cho chúng ta một số manh mối. Và có những manh mối khác lấp lánh suốt Tân ước. Vào một trường hợp, nói với những người Pharisi vô tín, Chúa Jêsus cho họ biết vài sự kiện về chính Ngài. Ngài phán với họ rằng Ngài là ánh sáng của thế giới. Ngài cho họ biết Ngài từ trời xuống. Ngài nói với họ nhiều điều mà họ chẳng muốn nghe. Bạn có thể đọc những điều nầy từ GiGa 8:1-59. Trong vài đoạn kế tiếp sau đó, chúng ta sẽ nhấn mạnh đôi điều trong đoạn đó.
Những người Pharisi khoe với Chúa Jêsus rằng họ thuộc về gia tộc vốn là hậu tự của Apraham . Chúa Jêsus cho họ thấy rằng dù họ là hậu tự của Apraham về phần xác, nhưng họ không thực sự là con cái của Apraham ( câu 33 - 39). Cuối cùng Ngài phán với họ, “ Ta nói với các người sự thật : kẻ nào vâng theo sự dạy dỗ của Ta sẽ chẳng bao giờ chết” ( câu 51, TEV). ( Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời của ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ).
Đến đây, họ buộc tội Ngài bị quỉ ám ! Họ khẳng định rằng Cha của họ là Apraham đã chết ( câu 53). Mọi người đều biết việc đó. Nhưng Chúa Jêsus tiếp tục nói về Apraham, chứng minh rằng sự chết của ông ta không chấm dứt với sự chết của thân thể, Ngài phán : “ Cha các ngươi là Apraham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi và mừng rỡ” ( câu 56).
Người Pharisi hỏi, “ Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, sao thấy Apraham được?” Chúa Jêsus đáp, “ Ta nói cho các ngươi biết sự thật....trước khi Apraham ra đời, đã có ta” ( câu 57 - 58, TEV). Những sự kiện nầy khiến cho những kẻ không tin điều đó tức điên lên đến nỗi chúng tìm cách ném đá Chúa Jêsus ( câu 59).
Một lần khác, Chúa Jêsus bày tỏ một ít về những hoạt động của Apraham sau sự chết thuộc thể của ông. LuLc 15:19-31 thuật lại câu chuyện Chúa Jêsus phán vốn không giống như những ẩn dụ vì Chúa Jêsus thực sự nói tên những con người có liên quan. Trong phần ký thuật nầy, Chúa Jêsus nói về câu chuyện đối đoại giữa Apraham và một người giàu vô tín là kẻ thấy người nghèo Laxarơ được Apraham tiếp đãi trong bữa tiệc. Như vậy, khi bạn nghiêm cứu về Apraham trong Kinh Thánh, hãy suy nghĩ nhiều hơn về câu chuyện nầy.
Môise và Eli là những người sống. Hằng trăm năm sau khi họ rời quả đất, chúng ta thấy họ đang nói chuyện với Chúa Jêsus trên một ngọn đồi. Họ nói chuyện với Ngài về sự chết sắp xảy ra cho Ngài. “ Thình lình có hai người nói chuyện với Ngài, ấy là Môise và Eli, hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về cách mà Ngài sẽ sớm hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời do việc chịu chết tại Giêrusalem” (9:28-31). Khi bạn nghiên cứu về Môise và Eli trong Kinh Thánh hãy nhớ còn có điều gì khác hơn là một câu chuyện đơn thuần.
Sách HeDt 11:1-40 đưa ra nhiều “ cái vỏ” của những câu chuyện về cuộc đời của những tín hữu Cựu Ước vốn đã sống và chết trong đức tin” ( câu 13) chỉ rằng những người nầy vẫn còn đang sống.
Không cuốn sách nào có thể chứa đựng hết phần ký thuật của mọi cuộc đời vốn khỏi sự từ trần gian và tiếp diễn ở Thiên đàng. Nhưng chúng ta tìm thấy trong 12:22-24 bản tóm tắt cuộc sống tại Thiên đàng. “ Anh em đã tới gần núi Siôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, Giêrusalem trên trời với muôn vàn Thiên sứ.... sự họp hội vui vẻ của những con trai trưởng nam của Đức Chúa Trời, là quan án của mọi người... gần linh hồn của những người nghĩa được làm trọn vẹn, gần Chúa Jêsus, là Đấng thu xếp giao ước mới, và gần huyết rưới ra” ( TEV).
Là tín hữu bạn đã là một công dân của cộng đồng đó. Với những sự kiện nầy trong trí, hãy học cách nghiên cứu về những nhân vật của Kinh Thánh. Hãy học từ những kinh nghiệm trần gian của họ về những gì Đức Chúa Trời dự kiến bạn làm. Hãy noi theo những dấu chơn của họ để thừa hưởng sự sống đời đời như họ có.
1. Trong những câu sau, câu nào đúng?
a) Chúa Jêsus nói về sự sống sau cái chết thuộc thể như những gì chỉ xảy ra trong tương lai mà thôi.
b) Chúa Jêsus nói về Apraham như một con người đang sống trong hiện tại.
c) Chúa Jêsus chẳng bao giờ nói về sự sống sau sự chết thuộc thể.
2. Trong những câu sau, câu nào đúng?
a) Môise và Eli không phải là những con người có ý thức sau khi rời quả đất.
b) Những nhân vật của Kinh Thánh chỉ là những nhân vật của cuốn truyện.
c) Hêbơrơ 11 nhấn mạnh về đức tin hơn mọi điều khác.
NHỮNG LOẠI TIỂU SỬ
Mục tiêu 2 : Liệt kê bốn loại căn bản về tiểu sử nhân vật trong Kinh Thánh và giải thích lý do của tác giả trong việc sử dụng mỗi loại nầy .
Tường thuật Đơn Giản.
Phần nói về tiểu sử nhận vật trong Kinh Thánh được sử dụng vì những mục đích của tác giả đã có trong trí. IITi 2Tm 3:16 dạy rằng mọi lời trong Kinh Thánh đều có ích. Đức Chúa Trời đã cảm thúc cho những tác giả viết ra những tài liệu mà Ngài dự định sẽ sử dụng. Như vậy dường như có bốn lý do căn bản cho biết tại sao những tác giả cung cấp tài liệu về tiểu sử nhân vật trong Kinh Thánh.
Lý do thứ nhất chỉ là việc liệt kê những sự kiện như là sự tường thuật. Điều nầy được gọi là tường thuật đơn giản. Nó chỉ cho biết những sự kiện trong hình thức của câu chuyện. Đây là loại tài liệu tiểu sử nhân vật thông thường trong Kinh Thánh, và nó có thể được nghiên cứu với sự tham khảo với nhiều nhân vật khác của Kinh Thánh. Khi bạn tiếp tục, bạn sẽ nhận thấy rằng bốn mục đích mà một cá nhân có thể có về việc nghiên cứu cuộc đời của một nhân vật Kinh Thánh có liên hệ trực tiếp với cùng bốn mục đích mà tác giả đã có đối với sự gom góp tài liệu chỗ đầu tiên nầy.
Giải Thích Cuộc Đời của Nhân Vật.
Lý do thứ hai của việc tác giả thu góp tài liệu của tiểu sử nhân vật là sử dụng phần tường thuật ( câu chuyện cuộc đời của con người) làm phương tiện để dạy dỗ một bài học lịch sử. Trong trường hợp nầy những sự kiện quan trọng hơn phần tường thuật đơn giản. Chúng nằm đấy để dạy dỗ. Toàn thể quãng đời của đời sống một người được nghiên cứu, với sự chú ý đặc biệt về cách Đức Chúa Trời đối sử với người ấy có ảnh hưởng trên quốc gia người ấy như thế nào. Mục đích của tài liệu về tiểu sử khi dạy dỗ bài học lịch sử là câu chuyện của người ấy được nghiên cứu ngẫu nhiên trở thành chủ đề về sự quan tâm và sự chăm sóc của Đức Chúa Trời đối dân sự được biệt riêng cho Ngài. Có ít dụ về loại tiểu sử để nghiên cứu nầy vì con số của những con người đóng vai trò trọng yếu trong lịch sử bị hạn chế. Tuy nhiên, những người như Đaniên, Phaolô, Apraham, Ysác, Giôsép và những người khác được kể vào nhóm nầy.
Giải thích Đặc Tính của Nhân Vật.
Lý do thứ ba của việc tác giả thu gom tài liệu của tiểu sử của nhân vật có thể để dạy dỗ những tính chất hay những đặc điểm. Điều nầy hơn gần với sự tường thuật đơn giản, nhưng cách nhìn vấn đề có khác hơn. Trong trường hợp nầy tác giả trước tiên quan tâm đến tiến trình thuộc linh và đặc tính của nhân vật được nghiên cứu.
Những vị vua Giuđa và Ysơraên có thể được sử dụng thích hợp cho loại nghiên cứu nầy. Những chi tiết của cuộc đời họ được đưa ra trong cách hoàn toàn thích hợp với sự công bố của Đức Chúa Trời về họ. Trong vài trường hợp họ được Đức Chúa Trời khen ngợi, và trong những trường hợp khác họ bị Đức Chúa Trời lên án cách nghiêm khác. Nhiều người khác trong Kinh Thánh có thể được nghiên cứu theo nầy: những sứ đồ, những tiên trí, những con người kính sợ Đức Chúa Trời từ nhiều cách bước đi trong cuộc sống mà câu chuyện của họ được kể đến trong Kinh Thánh.
Bình Luận.
Lý do thứ tư ( lý do chót) để tác giả thu gom tài liệu về tiểu sử nhân vật trong Kinh Thánh là để chứng minh điều gì đó. Những sự kiện của những đời sống cá nhân được sử dụng để thuyết phục, binh vực người nào đó về việc gì. Thỉnh thoảng bạn sẽ thấy điều nầy trong việc đưa ra bằng cớ trong những sách Phúc âm liên quan đến cuộc đời của Chúa Jêsus hay trong những tác phẩm của Phaolô.
3. Kinh Thánh chứa đựng những sự kiện về những cuộc đời của những cá nhân ( tiểu sử nhân vật) vì
a) yếu tố của sự may mắn
b) những mục đích đặc biệt mà tác giả đã có trong trí.
c) những sở thích của độc giả.
4. Hãy xếp đặt mỗi loại tài liệu về tiểu sử cho phù hợp với lý do mà tác giả sử dụng nó.
...a. Chỉ đơn giả trình bày sự kiện.
...b. Dạy dỗ bài học lịch sử.
...c. Dạy dỗ đặc điểm của nhân vật.
...d. Chứng minh một điểm nào đó.
1) Giải thích
2) Tường thuật đơn giản.
3) Bình luận
4) Giải thích cuộc đời của nhân vật
Tóm Tắt Tiểu Sử.
Những bước căn bản để nghiên cứu về bất kỳ loại tiểu sử nào đều sẽ như nhau. Sự khác nhau ấy là có bao nhiêu tài liệu bạn tìm được, và loại tài liệu nào bạn có thể tìm được. Mục đích của tác giả, những điều tác giả nhìn thấy để mô tả thích hợp với điều người ấy muốn nói sẽ ảnh hưởng cách mạnh mẽ trên mục đích nghiên cứu học hỏi của bạn.
Bất kỳ loại nào trong bốn loại nghiên cứu nhân vật, bạn đều phải đọc kỹ, quan sát và ghi chú. Sau đó, bạn phải làn dàn ý sự ghi nhận của mình để giúp bạn giải thích tài liệu mình đã thu thập được. Những gì bạn tìm được, và sử dụng thích hợp để hệ thống sẽ quyết định những điểm chính trong phần dàn ý của bạn.
Nếu bạn nghiên cứu phần tường thuậ đơn giản, chỉ cần trích dẫn những sự kiện như là sự miêu tả, những điểm chủ yếu của phần dàn ý của bạn sẽ là:
I. Sự ra đời và tuổi ấu thơ.
II. Sự quy phục ( tin Chúa) và công tác phục vụ.
III. Những mối quan hệ với người khác.
IV. Đánh giá đặc điểm
V. Những kinh nghiệm cuối cuộc đời và sự qua đời.
VI. Mục đích của tác giả về bài.
viết đó.
Những tiểu tựa đề và những chi tiết có thể được dựng lên xung quanh khung nầy. Có thể bạn tìm không được những sự kiện có sẵn cho mỗi phần nầy, nhưng bạn có thể sử dụng bất cứ điều gì bạn có thể tìm được.
Dàn ý cho những loại nghiên cứu khác về tiểu sử cũng áp dụng theo cùng mẫu nầy. Sự nhấn mạnh sẽ khác hơn. Trong phần bình luận, bạn sẽ tìm hiểu biết tác giả muốn chứng minh điều gì. Ong ta cố gắng thuyết phục ai về điều gì? Ong ta muốn thuyết phục người nào? Trong phần giải thích đặc điểm nhân vật, sự sống thuộc linh và ảnh hưởng của người ấy trên những người khác sẽ là điều nhấn mạnh chính yếu, và phần còn lại của tài liệu chỉ là điều bổ túc.
Đôi khi một người có thể được đề cập ở nhiều sách khác nhau trong Kinh Thánh. Trong trường hợp đó bạn cần sử dụng cuốn Kinh Thánh phù dẫn (Bible concordance) để tìm mọi tài liệu. Cuốn Kinh Thánh Phù dẫn sẽ liệt kê những chữ trong Kinh Thánh theo thứ tự A,B,C, cùng với những phần trưng dẫn cho 1) Giải thích mỗi chữ. Nếu bạn không có cuốn Kinh Thánh phù dẫn, bạn sử dụng phương pháp nghiên cứu theo sách ( book method). Nghĩa là bạn lấy mọi tài liệu được đưa ra trong một cuốn sách và xây dựng sự nghiên cứu của bạn chung quanh sách đó.
5. Viết chữ Đúng ở khoảng trống trước những lời diễn đạt sau đây nếu lời đó đúng. Viết S, nếu sai.
....a.Dường như có bốn mục đích chính mà những tác giả Kinh Thánh đã có thể thu thập tài liệu cho tiểu sử nhân vật được ghi lại trong Kinh Thánh.
...b. Có bốn phương pháp hoàn toàn khác nhau trong việc nghiên cứu về cuộc đời của một nhân vật của Kinh Thánh.
....c. Những bước căn bản trong việc nghiên cứu tương tự như nhau cho mỗi loại nghiên cứu tiểu sử của một nhân vật Kinh Thánh.
....d. Kinh Thánh Phù dẫn hoàn toàn cần thiết cho sự nghiên cứu về tiểu sử.
...e. Nền tảng cho việc nghiên cứu bất kỳ nhân vật nào của Kinh Thánh là đọc đoạn văn cẩn thận, quan sát, viết ra sự ghi nhận về điều mình tìm.
TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU THEO TIỂU SỬ.
Mục tiêu 3 : Định nghĩa ba bước căn bản trong tiến trình nghiên cứu tiểu sử và đưa ra kết quả của chúng .
Thu thập dữ kiện.
Phần thứ nhất của bước thứ nhất trong sự nghiên cứu tiểu sử là đọc cẩn thận. Bạn đọc để thu thập tài liệu. Kỹ năng của bạn trong việc quan sát cũng sẽ rất quan trọng tại bước nầy. Phải viết ra những gì bạn tìm được.
Một tác giả đã gợi ý viết hết mọi chi tiết của những bạn thấy trên những miếng giấy nhỏ. Rồi đến lúc bạn xếp đặt tài liệu thành hệ thống, những miến giấy nhỏ nầy sẽ được lắp vào đúng chỗ trong dàn ý của bạn. Dàn ý có thể được tuyển chọn từ việc gom những mảnh giấy nầy lại. Dù bạn dùng phương pháp đó hay chỉ ghi trên sổ tay, thì những mục mà chúng ta sẽ thảo luận trong hai đoạn văn kế tiếp là những gì bạn sẽ tìm.
Hãy ghi ra hết những gì đề cập đến tên. Không chỉ tên của người bạn đang nghiên cứu, những tên của người và nơi chốn mà người ấy có liên hệ. Hãy viết xuống mọi hoạt động ( động từ) liên hệ đến cá nhân hay đến những người có liên quan đến câu chuyện. Bạn cũng ghi nhận bản chất của tình bằng hữu của người đó và thời kỳ trong đó nhận vật chính cùng những người đương thời với người đó sống.
Bạn cũng ghi ra những tài liệu về cha mẹ của nhân vật chính cùng những người bà con của người ấy. Viết những hoàn cảnh về sự ra đời, sự dạy dỗ lúc thơ ấu, đời sống gia đình, và ý nghĩa của tên của nhân vật chính đó bất luận nam nữ. Cuộc đời về sau của nhân vật chính đó cũng rất quan trọng. Hãy khảo sát những cuộc hành trình, những sự dạy dỗ thành công, thất bại, ảnh hưởng gì trên đời sống của người ấy hay những thế hệ về sau. Hãy tìm những gì bạn có thể có về tính tình cá nhân, đặc điểm, những biến cố của cuộc sống, và những hiệu quả trong công việc của người đó. Cũng hãy quan sát về những chi tiết về cuộc sống của con cái người đó.
Như bạn có thể thấy, danh sách của những điều có thể ghi rất dài. Bạn cũng sẽ không tìm thấy đầy đủ mọi tài liệu cho từng cá nhân. Trong vài trường hợp, phần tài liệu có thể phong phú đến nỗi chúng ta dùng được vài phương pháp nghiên cứu được về cuộc đơì của họ. Một số nhân vật có nêu rõ những thời kỳ trong cuộc sống họ, nhưng những phần còn lại thì thiếu tài liệu trong bản ký thuật.
6. Để nghiên cứu tiểu sử của nhân vật trong Kinh Thánh, bạn cần đọc cuốn sách và ghi chú về.
a) tất cả những gì có ảnh hưởng trên đời sống và những gì có liên quan đến người đó.
b) mọi danh từ và động từ hoặc có liên quan đến người đó hay không.
c) những gì được nói đến có liên quan đến người đó trong những cuốn sách không phải Kinh Thánh.
7. Phần thứ nhất của bước thứ nhất trong việc nghiên cứu tiểu sử Kinh Thánh là gì?
...............................................................................................
Giải thích Dữ Kiện.
Dữ kiện mà bạn đã thu thập ở bước thứ nhất về việc nghiên cứu tiểu sử phải được giải thích ở bước thứ hai. Loại tài liệu bạn có thể tìm được sẽ quyết định loại nghiên cứu mà bạn có thể hoàn tất.
Bạn có thể có một danh sách liệt kê những sự kiện vốn ở trong Kinh Thánh chỉ để ghi ra mà thôi. Trong trường hợp đó, bạn làm cho việc nghiên cứu tiểu sử trở thành câu chuyện đơn giải với những sự kiện được trình bày theo cách thông tri. Loại nghiên cứu nầy được gọi là tường thuật đơn giản.
Nếu những chi tiết của cuộc đời nhân vật bạn nghiên cứu có liên quan đến những biến cố lịch sử lớn hơn, thì bạn sẽ có kế hoạch giải thích cuộc đời của nhân vật. Đây sẽ là loại tường thuật hay câu chuyện của một phần của cuộc sống người nào đó được sử dụng để dạy một bài học lịch sử.
Nếu bạn thấy rằng tác giả đưa ra phần lớn tài liệu về đặc tính nhân vật, cả tốt lẫn xấu, hoặc tốt hoặc xấu, thì mục đích của tác giả sẽ ảnh hưởng đến mục đích của sự nghiên cứu của bạn. Mục đích của ông ta là dạy điều gì đó về đặc điểm sẽ hướng dẫn bạn trong sự học tập ( và có lẽ trong sự dạy dỗ) điều gì đó về đặc tính. Loại nghiên cứu nầy được gọi là giải thích đặc tính nhân vật.
Trong vài chỗ, bạn có thể thấy rằng tác giả thu thập tài liệu về tiểu sử để chứng minh một điểm nào đó. Nên nhớ rằng chúng gọi loại nầy là bình luận.
Hình Thành Dữ Kiện
Hình thành dữ kiện là bước thứ ba trong tiến trình nghiên cứu tiểu sử. Đối với loại tường thuật đơn giản, bạn sẽ phân loại những sự kiện theo từng phần. Bạn đã học những điểm chính để làm một dàn ý ở phần trước. Những tiểu mục ( tiểu tựa đề) và những chi tiết sẽ được xây dựng chung quanh những điểm chính nầy.
8. Hãy mở lại phần những loại tiểu sử; tìmm ví dụ về dàn ý “ điểm chính” mà chúng tôi gợi ý rồi ghi lại trong sổ tay của bạn. ( Nếu bạn muốn mở rộng nó hoặc để dành nó cho việc nghiên cứu trong tương lai, bạn sử dụng theo cách nào tùy ý bạn. Dàn ý chỉ là một sự gợi ý thôi).
Đối với loại tường thuật đơn giản, hãy xếp đặt tài liệu theo những phần trong mỗi thời kỳ chính của cuộc sống con người. Mỗi giai đoạn có thể có một tựa đề chính. Mọi điều gì xảy ra cho người ấy trong thời kỳ cho trước đó sẽ được ghi dưới tựa đề của thời kỳ đó. Chẳng hạn, trong cuộc đời của Giôsép ( Sáng thế ký 37 - 50), có thể chia cuộc đời của ông vào ba phần chính : cuộc sống thơ ấu với gian đình, cuộc sống làm tôi tớ ở Edíptô và cuộc sống làm người cai trị ở Edíptô. Điểm cuối của mỗi gian đoạn có một biến cố để mở đầu cho giai đoạn kế tiếp. Đối với Giôsép, phần về cuộc sống của ông với gia đình có thể chấm dứt với biến cố Giôsép bị bán cho đoàn lái buôn làm nô lệ đang hướng về xứ Edíptô. Thời kỳ nô lệ có thể chấm dứt với biến cố ông giải thích được chiêm bao của vua Edíptô.
9. Tường thuật đơn giản là loại nghiên cứu tiểu sử mà tài liệu được xếp đặt theo
a) những thời kỳ chính trong cuộc sống con người.
b) những người bạn và những mối quan hệ của người ấy.
c)sự ra đời và sự huấn luyện của người ấy.
Giải thích Đặc tính nhân vật được viết ra vì mục đích khám phá đặc tính của người ấy và sự phát triển thuộc linh. Vì thế, nó phải được xây dựng quanh những phần có liên hệ đến đặc tính. Những chủ để chính có thể tập trung vào những quyết định của cá nhân đó vốn là manh mối đối với đặc tính của người đó. Các tiểu tựa đề nằm trong những quyết định chính có thể là những ảnh hưởng thuộc về cá nhân hay những ảnh hưởng của hoàn cảnh có tác động đến những quyết định đó. Các tựa đề khác có thể là những tính tình cá nhân nỗi bật, những thành tựu chính, những kinh nghiệm tôn giáo của người ấy và những manh mối có thể tìm thấy trong mối quan hệ của người ấy đối với những người khác.
10. Nghiên cứu đặc tính trước tiên có liên quan với
a) những giai đoạn chính của đời sống một người
b) tính tình và đạo đức của cá nhân đó.
c) sự ra đời và sự huấn luyện ban đầu của người ấy.
Nếu bạn nghiên cứu đời sống của một người và nghĩ rằng mục đích của tác giả khi viết tiểu sử là bình luận, thì trước hết bạn phải cố gắng tìm cho ra lời giải đáp cho những câu hỏi sau : “ Tác giả muốn dẫn độc giả đi đến kết luận nào? “Ong ta cố chứng minh điều gì?” Rồi, bạn cũng phải trả lời những câu hỏi sau : “ Có phải những sự kiện tiểu sử nầy được dùng để minh họa cho phần tranh luận nầy không? Có phải chúng được dùng để nhấn mạnh sự bàn luận? Có phải chúng được dùng để làm sáng tỏ lý lẽ?” Cuối cùng hãy khảo sát hoặc diễn tiến ( thứ tự của những biến cố) của phần tường thuật, phần đạo đức của phần tường thuật hay đặc tính của nhân vật, bằng cách nào đó để tăng cường sức mạnh cho phần bình luận không.
11. Đọc Công vụ 22. Trong đoạn Kinh Thanh nầy Phaolô binh vực chính mình bằng kể lại câu chuyện về cuộc đời ông. Khi bạn đọc câu chuyện ấy, hãy trả lời những câu hỏi sau trong sổ tay của bạn.
a. Tác giả Luca cố dẫn độc giả đi đến kết luận nào? Điều nầy có khác với mục đích của Phaolô khi thuật lại cuộc đời mình không?
b. Tại thời điểm của sự ngẫu nhiên nầy, ai là người mà Phaolô cố thuyết phục?
c. Có phải những sự kiện của tiểu sử mà Phaolô đưa ra được sử dụng để chứng minh, nhấn mạnh và bày tỏ luận chứng của mình không?
d. Trật tự của những biến cố có liên quan đến luận chứng không?
e. Phần đạo đức của sự tường thuật câu chuyện có liên quan đến luận chứng không?
f. Đặc điểm của nhân vật có liên quan gì đến luận chứng không?
NGHIÊN CỨU NHÂN VẬT CỦA SÁCH AMỐT.
Mục tiêu 4 : Làm dàn ý về tiểu sử của đời sống một vị tiên tri nổi tiếng là Amốt .
Phần nầy nhấn mạnh sự áp dụng của phương pháp nghiên cứu tiểu sử. Dàn ý soạn cho sách Amốt khác với dàn ý gợi ý ở phần những loại tiểu sự. Đây sẽ là dàn ý theo nội dung đoạn văn ( textual outline) sẽ theo diễn tiến của những phần trích dẫn Kinh Thánh. Những bước tiến hành sẽ giống như phần nghiên cứu của tiểu sử.
Bước 1 : Đọc cả sách Amốt để thu thập tài liệu ( dữ liệu) vốn được bàn thảo trong phần tiến trình của phương pháp nghiên cứu. Phải bảo đảm ghi hết phần trích dẫn cho mọi mục của tài liệu bạn tìm được, cùng với tựa đề của mục đó.
Bước 2 : Sử dụng những phần ghi chú ở bước 1, cố gắng quyết định xem mục đích của Amốt trong việc bao gồm tiểu sử cá nhân mình vào cuốn sách vốn thuộc về loại sách tiên tri.
12. Viết mục đích trong sổ tay của bạn. Sau phần mục đích, hãy viết những gì bạn suy nghĩ vốn khiến cho Amốt nói một ít về cuộc đời của mình trong cuốn sách nầy.
Bước 3 : Hình thành dàn ý theo nội dung đoạn văn. Chia trang giấy của cuốn sổ tay của bạn thành bốn cột như dưới đây.
Thực sự những tên của những cột nầy tự nó đã đưa ra sự giải thích. Khi bạn thực hiện bài tập nầy, hãy trả lời vào đúng vị trí trên trang giấy trong sổ tay của bạn.
13. Viết AmAm 1:1 vào cột trưng dẫn của dàn ý theo nội dung đoạn văn. Viết sáu sự quan sát có tính cách sự kiện từ đoạn Kinh Thánh nầy vào cột các sự kiện.
14. Từ những sự quan sát nầy, bạn nghĩ rằng có những câu trả lời nào chưa được giải đáp, và bạn muốn tìm hiểu thêm không? Hãy viết vào cột câu hỏi.
Để giải đáp cho những câu hỏi của bạn, bạn hãy tìm bất cứ nguồn tài liệu nào có sẵn đối với bạn. Có thể bạn mất cả tuần lễ mới có thể tìm ra đôi lời giải đáp. Một số câu hỏi làm cho bạn phải mất nhiều năm để tìm hiểu, đặc biệt nếu bạn không có sách tham khảo hoặc bản đồ để nghiên cứu. Có phải điều nầy có nghĩa là bạn đừng đặt câu hỏi nào phải không? Không, nếu bạn muốn trở thành một người ham thích nghiên cứu Kinh Thánh, bạn phải học cách đặt câu hỏi. Điều nầy có thể khiến cho bạn thất vọng nếu bạn không có chỗ để tìm ra câu trả lời, nhưng một ngày đẹp trời nào đó bạn có thể có nhiều tài liệu hơn để sử dụng. Học giả vĩ đại nhất vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp. Vậy hãy viết câu hỏi của mình cho dù những câu trả lời không có sẵn cho bạn lúc đó. Về những câu hỏi trong những bài tập sau bạn sẽ tìm thấy những câu trả lời trong sách nghiên cứu nầy. Hãy viết câu trả lời của bạn cho những câu hỏi trên vào cột trả lời. Rồi hãy so sánh câu trả lời của bạn với những câu trả lời của chúng tôi.
- Dàn ý Tiểu sử của A-mốt
Trưng dẫn, các sự kiện, câu hổi, câu trả lời
15. Viết AmAm 3:8 vào cột trưng dẫn.
a. Viết vào cột các sự kiện phần quan sát của bạn dựa trên 3:8
b. Đọc Gio Ge 3:16 và AmAm 1:2 rồi viết câu hỏi nầy trong cột những câu hỏi. Những ảnh hưởng nào trên thiên nhiên mà Giôên và Amốt kết hợp với việc Đức Chúa Trời phán cùng con người? Vậy, bạn hãy viết vào cột trả lời câu trả lời của bạn rồi đối chiếu với câu trả lời của chúng tôi?
16. Viết 5:1 vào cột trưng dẫn.
a. Viết vào cột các sự kiện sự quan sát của bạn dựa vào 5:1.
b. Với sự trưng dẫn đến phần khảo sát chúng ta làm trong bài tập nầy, hãy viết câu hỏi nầy vào cột câu hỏi : “ Tại sao? Bây giờ, đọc 5:3 rồi phần trả lời viết câu trả lời của bạn cho câu hỏi nầy.
17. Trong 7:1, 3, 7 và 8:1 có đề cập bốn lần về điều gì đó vốn cho chúng ta tài liệu cá nhân về tiên tri nầy. Hãy dùng tài liệu nầy cho vào cột sự kiện.
18. Viết 7:10 trong cột trưng dẫn. Bây giờ hãy viết trong cột các sự kiện sụ quan sát dựa vào câu nầy.
19. Đọc 7:14 cẩn thận. Tìm ba sự kiện từ phần quan sát của bạn về câu nầy và liệt kê chúng và cột các sự kiện.
Theo 7:14 dường như tiểu sử của Amốt thuộc loại nào? Có phải là loại tường thuật đơn giản, giải thích cuộc đời nhân vật, giải thích đặc tính của nhân vật, hay bình luận không? Ban đầu, dường như nó thuộc loại bình luận.
20. Trong cột những câu hỏi kế bên những sự kiện mà bạn kiệt kê cho 7:14, hãy viết câu hỏi nầy : Amốt cố gắng chứng minh điều gì trong phần luận chứng nầy? Bạn hãy trả lời vào cột câu trả lời.
Bài Tập Trắc Nghiệm
Khoanh tròn mẫu tự trước mục nào trong mỗi câu hỏi mà bạn cho là trả lời đúng nhất.
1. Điều nào trong những lời diễn đạt sau đây mô tả chính xác những nhân vật của Kinh Thánh.
a) Họ chẳng bao giờ sống trong thực tế.
b) Ngày nay họ không còn sống nữa
c) Họ hiện còn sống ngày hôm nay.
2. Điều nào trong những mục sau đây KHÔNG PHẢI là một trong những loại căn bản của loại tiểu sử trong Kinh Thánh.
a) Thu thập dữ liệu.
b) Giải thích đặc tính nhân vật
c) Bình luận.
d) Tường thuận đơn giản.
3. Sự nhấn mạnh đầu tiên của loại giải thích cuộc đời nhân vật là.
a) chứng minh một điều gì đó.
b) dạy những bài học lịch sử.
c) dạy về đặc tính.
4. Trong tiến trình nghiên cứu tiểu sử, bạn bắt đầu đọc tài liệu khi bạn bắt đầu
a) hình thành dữ kiện.
b) thu thập dữ liện.
c) lập dàn ý theo nội dung đoạn văn.
5. Trình tự theo thời gian trong đó bạn sẽ sử dụng tài liệu trong việc nghiên cứu tiểu sử là
a) Thu thập, hình thành, giải thích.
b) hình thành, giải thích, thu thập.
c) giải thích, thu thập, hình thành.
d) thu thập, giải thích, hình thành.
6. Phần nghiên cứu của chúng ta về sách Amốt trong bài học nầy đã nhấn mạnh phần lớn
a) sự áp dụng về nghiên cứu tiểu sử.
b) giới thiệu về sự nghiên cứu tiểu sử.
c) loại tiểu sử.
7. Dàn ý mà bạn đã bắt đầu làm cho sách Amốt được gọi là
a) dàn ý tham khảo
b) dàn ý theo sự kiện
c) dàn ý theo nội dung đoạn văn.

Giải đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1.b) Chúa Jêsus nói về Apraham như một con người đang sống trong hiện tại.
2. c) Hêbơrơ 11 nhấn mạnh về đức tin hơn mọi điều khác.
3 . b) Những mục đích đặc biệt mà tác giả có trong trí.
4. a. 2) Tường thuật đơn giản.
b.4) Giải thích cuộc đời nhân vật.
c. 1)Giải thích đặc tính nhân vật.
d. 3) Bình luận.
5. a Đúng
b. Sai.
c. Đúng
d. Sai
e. Đúng
6. a) về tất cả những gì có ảnh hưởng trên đời sống và những gì có liên quan đến người đó.
7. Đọc cẩn thận.
8. I. Sự ra đời và tuổi thơ ấu.
II. Sự qui phục Chúa và công tác phục vụ.
III. Những mối quan hệ với người khác
IV. Đánh giá đặc tính nhân vật.
V. Những kinh nghiệm cuối cuộc sống và sự qua đời.
VI. Mục đích của tác giả trong bài viết đó.
9. a) những thời kỳ chính trong cuộc sống con người.
10. b) tính tình và đạo đức của cá nhân đó.
11 a. cả lời nói của Phaolô và lời tường thuật của Luca về điều đó nhằm mục đích chứng minh rằng cuộc đời và kinh nghiệm của Phaolô rằng Chúa Jêsus là sự ứng nghiệm và sự hoàn thành tôn giáo của người Do Thái.
b. Người Do Thái, “ các anh và các cha” ( câu 1).
c. Trong trường hợp của Phaolô, cả ba dường như là những yếu tố căn bản. Ong sử dụng các sự kiện từ cuộc sống ông để chứng minh lòng nhiệt thành của ông vốn là người Do Thái từ khi lọt lòng mẹ và được dạy dỗ theo Do Thái giáo. Ong sử dụng lời chứng cá nhân mình để chứng minh rằng ông biết những gì minh đang nói.
d. Có. Cuộc đời trước kia của Phaolô là một người Do Thái nhiệt thành dẫn đến những kinh nghiệm về sau.
e. Có. Đặc điểm đạo đức chứng tỏ rằng Phaolô đồng ý cho việc ném đá Etiên và ngược đãi Cơ đốc nhân mà không thấy mình phạm lỗi về trách nhiệm đạo đức.
f. Vâng, Phaolô hy vọng với việc mình được tôn trọng là người có học, người Do Thái được huấn luyện với những tiêu chuẩn đạo đức sẽ giúp ông đắc thắng được vụ kiện nầy.
12. Mục đích khả dĩ của Amốt có thể có về việc đưa những sự kiện của những cuộc đời của mình vào sách của ông như sau : có lẽ Amốt muốn chứng tỏ sự trọn thành và sự đáng tin cậy của ông như là một vị tiên tri. Bằng việc nói đôi điều về cuộc sống trước kia của ông và thế nào ông trở nên một tiên tri, Amốt nói rõ ràng ông đã không xin công việc làm một tiên tri (7:15). Sự kiện Đức Chúa Trời ra lệnh cho Amốt nói tiên tri chứng tỏ rằng ông nói tiên tri về sự thật.
13. 1. Amốt là một người chăn chiên.
2. Amốt được sanh ra tại làng Thô cô a.
3. Đức Chúa Trời bày tỏ nhiều điều cho Amốt.
4. Sự mặc khải nầy về dân Ysơraên.
5. Một trận động đất xảy ra hai năm trước khi có sự mặc khải nầy.
6. Oxia vua của Giuđa, và Giêrôbôam vua Ysơraên.
14. Những câu hỏi gợi ý để nghiên cứu thêm :
1) Thêcôa ở đâu?
2) Khi nào những vị nầy lên làm vua?
3) Trận động đất xảy ra vào nhật kỳ nào? Nó có được đề cập ở đâu trong Kinh Thánh không?
15 a. Đức Chúa Trời Tối Cao nói với con người. ( Đây không phải là câu trả lời đúng duy nhất).
b. Đất và trời run rẩy, và đồng cỏ của người chăn chiên bị khô đi.
16 a. Chúa ca một bài ai ca về Ysơraên.
b. Vì hầu như mọi lính chiến của Ysơraên đều ngã chết nơi chiến trận.
17. Amốt được Chúa ban cho khải tượng.
18. Amốt bị thầy tế lễ Amaxia ở Bêtên buộc tội là phản nghịch cùng vua.
19. 1. Amốt nói tiên tri không phải để hưởng lương.
2. Amốt là một người chăn chiên.
3. Amốt chăm sóc những cây vả.
20. Ong muốn chứng minh rằng ông không phải là một người có nghề nghiệp tôn giáo vốn đi nói tiên tri để kiếm sống.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THEO ĐỀ TÀI
Nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài là sự nghiên cứu bàn về một đề tài đặc biệt trong Kinh Thánh. Đề tài chính của Kinh Thánh là sự cứu chuộc qua Huyết của Chúa Jêsus Christ. Cựu ước giải thích thế nào Đức Chúa Trời bày tỏ mối quan tâm của Ngài với con người hư mất qua dân Ysơraên. Bằng cách nầy hay cách khác, những của lễ hy sinh, những của lễ hay sự dâng hiến của dân Ysơraên tất cả đều có hình ảnh về Đấng Christ là Cứu Chúa sẽ đến. Đến đúng kỳ hẹn, Ngài xuất hiện. Tân Ước lần phần ký thuật về sự hiện đến của Ngài. Nó nói về những biến cố sau khi Ngài đến, và những gì sẽ xảy ra khi thời gian tiếp diễn. Những đề tài khác ở trong Kinh Thánh hỗ trợ và giải thích đề tài chính nầy.
Bạn đã học trong bài 8 về những đề tài trong sự nghiên cứu tiểu sử là con người. Nhưng còn có những đề tài khác bên cạnh những con người trong Kinh Thánh. Trong Kinh Thánh bạn có thể đọc về âm nhạc, nghề nghiệp, phong tục, cây cối, súc vật, chính trị địa lý, những qui luật phải lẽ để sống còn, và nhiều rất nhiều để tài khác nữa vừa thú vị vừa có giá trị trong sự nghiên cứu. Học tập tiến trình nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài sẽ giúp bạn đi đến sự hiểu biết Kinh Thánh tốt hơn.
Dàn Ý Bài Học .
Giới thiệu Phương pháp Nghiên Cứu theo Đề Tài.
Những ví dụ về Phương pháp Nghiên cứu đề tài.
Đề tài Thiên Nhiên : Chim sẻ
Đề tài Thần học : Bản chất của Đức Chúa Trời.
Những ý tưởng để nghiên cứu thêm.
Tiến trình cho phương pháp nghiên cứu đề tài
Bước 1 : Liệt kê những sự xảy ra.
Bước 2 : Phân loại thành hạng mục.
Bước 3 : Khảo sát Nội dung.
Bước 4 : Tóm tắt mỗi hạng mục.
Bước 5 : So sánh những lời tóm tắt.
Bước 6 : Tóm tắt toàn thể dàn ý.
Nghiên cứu đề tài của sách Ephêsô.

Những Mục Tiêu của Bài Học .
Học xong bài nầy bạn có thể :
Định nghĩa phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài và giải thích thế nào những điều ấy dạy chúng ta về những phẩm chất trong sự học hỏi như thế.
Tuân theo tiến trình được dàn dựng trong bài học nầy về cách áp dụng phương pháp nghiên cứu theo đề tài vào bất kỳ đoạn văn đặc biệt nào trong Kinh Thánh.

Những Hoạt Động Học Tập .
Đọc phần mở đầu, dàn ý và những mục tiêu.
Đọc phần giải thích từ mới.
Đọc phần triển khai bài học và trả lời những câu hỏi nghiên cứu.
Trả lời những câu hỏi dài vào sổ tay của bạn.
Làm bài tập trắc nghiệm ở cuối bài học.
Từ ngữ
Có trách nhiệm giải thích (accountable)
Sai lầm, không đúng ( erroneous)
Những sự xảy ra ( occurrences)
Nhận thức trước ( preconceive)
Bừa bãi, mất trật tự ( random).

Triển khai Bài Học .
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THEO ĐỀ TÀI.
Mục tiêu 1 : Mô tả mối quan hệ giữa những điều thấy được và những phẩm chất không thấy được trong việc nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài .
Bản liệt kê của chúng tôi trong phần thứ nhất của bài học nầy bao gồm cả những điều thấy được và không thấy được. Chúng ta tìm thấy trong RoRm 1:20 một mối quan hệ giữa chúng vốn có giá trị cho việc nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài : “ Từ khi Đức Chúa Trời tạo dựng thế giới, những phẩm chất không thấy được của Ngài, cả quyền năng đời đời của Ngài và bản chất Thiên thượng của Ngài, đều được bày tỏ rõ ràng ( sờ sờ như mắt xem thấy); họ cảm nhận được trong những điều mà Đức Chúa Trời đã tạo nên” ( Today’s English Version). Câu Kinh Thánh nầy giải thích rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên mọi vật chung quanh chúng ta với ý định rằng chúng ta có thể học biết về Ngài qua sự quan sát điều đó. Đức Chúa Trời lập kế hoạch cho dân Ysơraên định cư ở Palestine ( PhuDnl 1:8). Ngài hoạch định những chất liệu xây dựng ( đá hiện hữu trải qua nhiều thế kỷ để làm chứng cho lẽ thật của Lời của Ngài). Ngài hoạch định nguồn tài nguyên thiên nhiên, những lớp đất của đất đai, và ngay cả khí hậu. Tất cả những điều nầy đã được Đức Chúa Trời sử dụng để chứng minh lẽ thật trong quyền năng và bản chất của Ngài.
Mưa đầu mùa và mưa cuối mùa tước các vụ mùa của xứ Palestine là mưa vào mùa thu ( đầu mùa và mưa vàp mùa xuân ( cuối mùa). Những cơn mưa nầy được dùng như là những hình ảnh minh họa có ý nghĩa trong Kinh Thánh ( xem ChCn 16:15, XaDr 10:1, Gia Gc 5:7). Bất cứ đề tài nào được đề cập trong Kinh Thánh là một đề tài bạn có thể nghiên cứu được. Điều nầy bao gồm không những các vật như áo quần, nhà cửa, thức ăn v....v.... nhưng còn là những chữ, nghĩa là những chìa khóa ( key words) được dùng trong Kinh Thánh. Những đề tài nghiên cứu của bạn có thể bao gồm những vấn đề như đức tin, sự cầu nguyện, sự tái lâm của Đấng Christ, và các đề tài có liên quan đến cuộc sống Cơ đốc nhân. Phần nghiên cứu bạn sẽ học ở phần cuối của bài học nầy trong sách Ephêsô là bạn cuối cùng. Đó là phần nghiên cứu một khía cạnh quan trọng của đời sống Cơ đốc : những lời nói chấp nhận được ( acceptable words).
1. Viết chữ ĐÚNG vào khoảng trống trước những lời diễn đạt đúng, và SAI trước lời diễn đạt sai.
...a. Đức Chúa Trời đã tạo dựng thiên nhiên trong sách hỗn độn và không thứ tự.
...b. Không có mối quan hệ nào giữa lẽ thật đời đời của Đức Chúa Trời với những gì được người ta nhìn thấy trong thiên nhiên.
...c. Đức Chúa Trời tạo dựng thiên nhiên theo mục đích là nó có thể chứng minh cho quyền năng của Ngài và bản chất Thiên thượng của Ngài.
...d. Quê hương của dân Ysơraên được chọn lựa cách bừa bãi.
...e. Đức Chúa Trời lập kế hoạch đặc biệt và lựa chọn xứ Palestine là quê hương của dân Ysơraên của Ngài.
...f. Gia Gc 5:7 sử dụng mưa mùa thu mà mưa mùa xuân của xứ Palestine để chứng minh giá trị của sự kiên nhẫn.
Sẽ có những sự khác nhau rất lớn trong số lượng của những tài liệu sẵn có về nhiều đề tài khác biệt trong Kinh Thánh. Đối với một số đề tài, có thể có dự dật nguồi tài liệu chỉ trong một đoạn Kinh Thánh hay đoạn văn. Đối với những đề tài khác, có thể giải góp nhặt nhiều tài liệu từ nhiều sách cả Cựu ước lẫn Tân ước để đạt được đầy đủ ý nghĩa khả dĩ từ sự nghiên cứu. Phần nghiên cứu của bạn thấu đáo chừng nào, bạn phải mất nhiều thì giờ chừng nấy. Tôi có nghe một người tự nghiên cứu về Thánh Linh,người ấy phải sử dụng cả cuốn Kinh Thánh. Loại nghiên cứu nầy có thể thực hiện được theo những bước tương tự với những gì bạn sẽ sử dụng trong bài học nầy. Việc nghiên cứu có thể đòi hỏi một người dành nhiều năm hay cả cuộc đời của mình để làm, tùy thuộc vào việc người ấy đưa ra bao nhiêu chi tiết. Như vậy, thời gian của việc nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài sẽ tùy thuộc vào số lượng tài liệu mình thâu thập được và số lượng thì giờ bạn muốn dành cho nó.
2. Khoanh tròn những mẫu tự trước những lời hoàn chỉnh đúng cho câu nầy :
Thời gian của việc nghiên cứu theo đề tài sẽ tùy thuộc vào
a) chiều dài của cuốn sách nơi đề cập đến chủ đề.
b) số lượng tài liệu kiếm được cho tài liệu.
c) số lượng thời gian học viên dùng để nghiên cứu đề tài.
Một sự nghiên cứu hoàn chỉnh lâu dài sẽ được thuận lợi hơn nếu bạn tiếp cân với Thánh Kinh Phù Dẫn hay một cuốn tự điển Thánh Kinh. Trong những sách nầy, những chữ hay những đề tài được đề cập trong Kinh Thánh sẽ được sắp xếp theo thứ ABC cùng với những phần trưng dẫn Kinh Thánh. Những điều nầy sẽ cho phép bạn tiết kiệm thì giờ trống tìm ra mọi chỗ nói về đề tài mình muốn tìm. Nếu những cuốn sách ấy có sẵn cho bạn, hãy tận dụng nó. Tuy nhiên, nghiên cứu theo đề tài vẫn có thể thực hiện được mà không cần sự giúp đỡ của những sách đó.
Thật vậy, tốt hơn là bạn nên nghiên cứu những đề tài ngắn hơn để tự mình có thể làm công tác đọc kỹ và nghiên cứu về những sự xảy ra của đề tài mà bạn muốn khám phá. Điều nầy đúng, vì khi tự tìm, không những bạn sẽ tìm thấy những phần trưng dẫn trực tiếp cho đề tài, nhưng cũng có những phần trưng dẫn gián tiếp cho đề tài, nhưng cũng có những phần trưng dẫn gián tiếp nữa. Phần trưng dẫn trực tiếp là những gì thực sự chứa đựng chữ đặc biệt hay cụm từ đặc biệt bạn đang tìm. Trưng dẫn gián tiếp là những chữ có liên quan đến đề tài hay ý tưởng chung của đề tài của bạn. Những sự tham khảo gián tiếp nầy cũng quan trọng cho sự hiểu biết trọn vẹn hơn về đề tài của bạn.
3. Hãy viết chữ trực tiếp sau định nghĩa về sự trưng dẫn trực tiếp, viết chữ gián tiếp sau định nghĩa của sự trưng dẫn gián tiếp.
a. Sự trưng dẫn ám chỉ về chủ đề hay ý tưởng chung về đề tài.
b. Sự trưng dẫn chứa đựng những chữ đặc biệt hay cụm từ đặc biệt mà bạn đang tìm kiếm.
...............................................................................................
4. Khoanh tròn mẫu tự trước câu diễn đạt đúng.
a) Bạn phải có những sách tham khảo khác để thực hiện việc nghiên cứu theo đề tài.
b) Những sách tham khảo như Thánh Kinh Phù dẫn hay Tự Điển Kinh Thánh có thể có ích khi nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài nhưng không cần thiết.
c) Trong sự nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài, bạn chỉ cần tìm những chỗ mà đề tài được đề cập cách trực tiếp.
d) Trong sự nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài, bạn sẽ tìm tất cả những chỗ mà đề tài được đề cập trực tiếp hay gián tiếp.
NHỮNG VÍ DỤ VỀ SỰ NGHIÊN CỨU THEO ĐỀ TÀI.
Mục tiêu 2 : Mô tả “những điều” và “những phẩm chất” như là những đề tài cho việc nghiên cứu Kinh Thánh và cho những ví dụ về mỗi loại của hai trạng mục nầy .
Đề Tài Thiên Nhiên : Con Chim sẻ.
Trong RoRm 1:20, bạn thấy rằng Đức Chúa Trời đã hoạch định cho thiên nhiên dạy cho nhân loại những bài học. Con chim sẻ thấp kém hoặc loài chim như chim sẻ vốn rất quen thuộc ở trong khung cảnh của chúng ta, quanh nhà, quanh vườn, ở nhiều nơi trên thế giới, đã được Kinh Thánh sử dụng vô số lần để minh họa lẽ thật.
Những học giả cho chúng ta biết rằng chữ “ chim sẻ” dịch từ chữ tzippor của tiếng Hy bá lai, dường như đó là chữ thông thường chỉ về mọi loài chim bé nhỏ hoặc giống như chim sẻ. Nếu bạn có thì giờ nghiên cứu, bạn sẽ thấy chữ nầy được sử dụng hơn bốn mươi lần trong Cựu Ước không phải luôn luôn được dịch là chim sẻ. Đôi khi có xuất hiện như là chim. Chữ Hy lạp tương đương xuất hiện hai lần trong Tân ước. Những loài chim nhỏ nầy được sử dụng trong Kinh Thánh để chứng minh rằng Đức Chúa Trời chăm sóc cho con cái Ngài nhiều biết bao. Hãy xem Mat Mt 10:29-31 ( bản TEV).
Chỉ cần một đồng xu các con có thể mua hai con chim sẻ, nhưng không có sự ưng thuận của Cha thì không con chim nào rơi xuống đất cả. Đối với các con, ngay cả tóc trên đầu các con tất cả đã được đếm rồi. Vậy đừng sợ hãi, các con đáng giá nhiều gấp bội hơn những con chim sẻ .
Đức Chúa Trời quan tâm đến những con chim sẻ. Chúng là phần của sự tạo dựng của Ngài. Mỗi con cái của Đức Chúa Trời có được sự hoàn toàn tin cậy và tin quyết nơi sự chăm sóc của Cha Thiên thượng quan trọng biết bao.
Tác giả Thi thiên sử dụng con chim nhỏ như là sự minh họa của sự buồn rầu và cô đơn. Ong viết “ Tôi giống như con chim cô đơn trên mái nhà” ( chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà) ( Thi Tv 102:7). Những con chim sẻ thường tập trung thành từng đoàn, chúng ồn ào, kêu nhau ầm ĩ. Để chứng minh sự căng thẳng của nỗi buồn của mình, tác giả đã đưa ra sự tương phản của hoàn cảnh bình thường của con chim nầy vào một con chim đơn độc trên mái nhà.
Đề tài Thần học : Bản chất của Đức Chúa Trời.
Sau đây là dàn ý cho phần nghiên cứu theo đề tài, tương tự như loại dàn ý bạn sẽ làm cho phần nghiên cứu sách Ephêsô. Tại điểm nầy, chỉ đọc dàn ý và tìm những câu Kinh Thánh được đề cập đến khi bạn đọc. Hãy ghi nhận những phần quan sát được đưa ra cho mỗi chỗ trưng dẫn. Chú ý đến lời kết luận cuối cùng ( Tất cả phần trưng dẫn đều từ sách Habacúc).
Đề tài: Bản chất của Đức Chúa Trời .
HaKb 1:2 Habacúc kêu cầu cùng Chúa, nhưng Chúa không trả lời. Vì Đức Chúa Trời là Đấng công bình, việc không trả lời ám chỉ điều gì? Đức Chúa Trời trả lời khi sẵn sàng và chỉ có lúc ấy thôi.
1:5-6 Đức Chúa Trời đang hành động, Đức Chúa Trời dấy lên người Babylôn. Điều nầy có ý nghĩa gì cho sự phàn nàn của Habacúc? Đức Chúa Trời đã hiện hữu trong tiến trình trả lời ngay cả trước khi Habacúc kêu khóc.
Đức Chúa Trời hiện hữu từ ban đầu. Đức Chúa Trời là Đấng thánh, đời đời. Ngài là Đấng bảo vệ Habacúc.
Con mắt Đức Chúa Trời quá Thánh khiết đến nỗi Ngài không thể nhìn sự dữ. Đức Chúa Trời không thể chịu đựng trước quang cảnh con người phạm điều sai lầm.
Habacúc mong đợi sự trả lời từ nơi Chúa. Điều nầy ám chỉ điều gì? Ay là Đức
Chúa Trời có trách nhiệm giải thích.
Chúa phải là mục đích tối hậu của mọi cố gắng. Sự hiểu biết về Chúa phải đầy dẫy khắp đất.
Tóm tắt : Theo bản chất, Đức Chúa Trời có thân vị, đời đời Thánh khiết và công bình. Ngài có uy quyền tối cao, phán đoán công bình, kiên nhẫn trong khi thi hành sự phán xét, và Ngài là Cứu Chúa.
Những Ý Tưởng để Nghiên Cứu thêm.
Trong hai tiểu tựa đề của bài học chúng ta chúng ta vừa mới thảo luận, bạn có những ví dụ về loại nghiên cứu đề tài. Bạn thấy chúng hoàn toàn khác nhau, nhưng cả hai đều bàn về đề tài đặc biệt. Ví dụ thứ nhất, nghiên cứu ngắn về con chim sẻ, tượng trưng cho nhiều đề tài lý thú có thể được tìm thấy trong lãnh vực thiên nhiên. Cây cối, súc vật, và khoáng sản đôi khi được sử dụng trong Kinh Thánh như là những vật minh họa, đôi khi được sử dụng làm biểu tượng. Những từ ngữ nầy có khi được dùng thay đổi lẫn nhau, nhưng chúng ta sẽ chỉ ra những sự khác nhau về cách sử dụng giữa những điều đó để giúp bạn hiểu Kinh Thánh tốt hơn.
Một sự minh họa ( illustration) về một lẽ thật là cố gắng hình dung lẽ thật đó bằng cách nào dễ hiểu hơn. Cây cải ( mustard plant) là một ví dụ của loại minh họa đó. Vì cây cải là giống cây mọc lên cách khác thường từ loại hột giống rất nhỏ, Chúa Jêsus sử dụng nó để chứng minh lẽ thật về nước Thiên đàng ( Mat Mt 13:31-32) và đức tin ( 17:20). Một biểu tượng là một cái gì thay thế cho điều gì khác. Biểu tượng có một hay nhiều phẩm chất khiến bạn nhớ về đối tượng nói thay thế. Chẳng hạn trong Đaniên đoạn 2 “ cái đầu bằng vàng” được bày tỏ là biểu tượng chỉ về bản thân vua Nêbucátnếtsa ( câu 38). Trong sách DaDn 8:1-8 con chiên đực và dê đực được dùng làm biểu tượng chỉ về những vương quốc và những vua hầu đến.
Khi nghiên cứu về những đề tài thuộc loại nầy, bạn sẽ dùng những bước tương tự với những điều được đưa ra trong phần kế tiếp của bài học nầy. Ngoài ra, bạn cần đặc biệt lưu ý đến phẩm chất của đề tài vốn thích hợp với sự sử dụng hoặc là một sự minh họa lẽ thật, một biểu tượng hay điều gì khác.
5. Khảo sát những đề tài sau đây. Đọc phần trưng dẫn dành cho mỗi đề tài. Viết nào chỗ trống hoặc đó là sự minh họa hay biểu tượng.
a. Con kiến ( ChCn 6:6-8) ........................................
b. Chiên Con ( KhKh 6:1, 3, 5, 7) ............................
c. Cào cào ( NaNk 3:15) ..................................................
d. Con gấu ( DaDn 7:5, 17)..............................................
Ngoài những loại được đề cập trong bài học nầy, vài đề tài khác trong thiên nhiên có thể bao gồm ánh sáng, nước, lúa, thảo mộc ( như rau cần, Mat Mt 23:23) và nhiều loại khác.
Ví dụ thứ hai của việc nghiên cứu theo đề tài mà bạn đã đọc, bản chất của Đức Chúa Trời, bàn về một phẩm chất hơn là sự vật. Những phẩm chất khác có thể được nghiên cứu là hy vọng, tình yêu, đức tin, tha thứ, ăn năn, sự sống đời đời, và nhiều phẩm chất khác mà bạn có thể nghĩ đến.
6. Khoanh tròn những chữ trước những lời diễn đạt đúng.
a) Những đề tài lấy từ thiên nhiên thường được dùng trong Kinh Thánh như là những ví dụ minh họa hay những biểu tượng.
b) Những đề tài vốn là những phẩm chất hơn là những sự vật thường được dùng trong Kinh Thánh như những ví dụ minh họa hay những biểu tượng.
c) Những đề tài của Kinh Thánh để nghiên cứu có thể hoàn toàn hạn chế.
d) Những đề tài của Kinh Thánh để nghiên cứu có thể rất nhiều và khác nhau.
7. Liệt kê bốn hay năm đề tài mà bạn có thể nghĩ đến hay nghiên cứu nhưng chưa được đề cập trong bài nầy.
...............................................................................................
...............................................................................................
TIẾN TRÌNH CHO PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Mục tiêu 3 : Liệt kê và giải thích sáu bước trong việc nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài .
Bước 1 : Liệt kê những sự việc xảy ra.
Trong bước nầy bạn sẽ làm một dàn ý theo nội dung đoạn văn tương tự như dàn ý bạn đã làm trong bài trước về nghiên cứu theo tiểu sử. Bạn sẽ luôn luôn làm dàn ý nầy cho loại nghiên cứu theo đề tài. Bạn phải chọn đề tài. Kế đó bạn chọn một cách hay một đoạn văn trong Kinh Thánh ( hay vài đoạn văn) trong đó bạn tìm những tài liệu quan đến đề tài bạn đã chọn. Đọc Kinh Thánh với cây bút chì và tờ giấy trong tay. Bạn có thể chia tờ giấy làm hai phần, như bạn là trong phần dàn ý về bài Bản Chất của Đức Chúa Trời. Bên trái của tờ giấy chi chữ trưng dẫn, bên phải ghi chữ Nhận xét.
Mỗi lần đọc đến chỗ nào có tài liệu gì liên quan đến đề tài của mình, bạn ghi phần trưng dẫn đọc theo tài liệu bạn tìm được ( Nhớ chừa khoảng trống giữa các mục trong bản liệt kê nầy để về sau có thể thêm vào). Bạn có thể tìm phần trưng dẫn trực tiếp cho đề tài của mình ( chữ hay cụm từ bạn đã chọn thực sự được sử dụng), hay bạn có thể tìm phần tham khảo gián tiếp cho đề tài của bạn ( chỗ nào chỉ có chủ đề hay ý tưởng được đưa ra). Dù trực tiếp hay gián tiếp, bạn cứ liệt kê theo thứ tự xuất hiện mọi điều xảy ra để sử dụng cho đề tài.
8. Ghi vào sổ tay của bạn phần gạch dưới của câu cuối cùng của đoạn văn trên ( đây là bước 1).
Nếu phần tài liệu bạn tìm được là phần tham khảo trực tiếp cho đề tài của bạn, bạn chỉ cần viết câu Kinh Thánh trưng dẫn bên cạnh. Nếu những gì bạn tìm được là phần tham khảo gián tiếp, bạn cũng viết vào giấy kèm theo câu hỏi, “ Điều nầy ám chỉ việc gì liên quan đến đề tài của mình không?” Luôn luôn nhớ rằng trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, Thánh Linh vẫn đang hiện diện với bạn để bày tỏ lẽ thật của Ngài cho tâm trí bạn. Dù nghiên cứu Kinh Thánh theo phương pháp nào, thì chúng ta phải luôn luôn tiếp cận Kinh Thánh bằng thái độ cầu nguyện và tâm trí mở ra tiếp nhận. Bạn chẳng bao giờ nghiên cứu lời của Đức Chúa Trời một mình ! Ngài đang ở với bạn.
Ghi chú : Nếu bạn không biết chắc về phần tài liệu bạn đã đọc đến bao xa, thì hãy quay lại và nghiên cứu sách tham khảo tự học nầy lần nữa.
Bước 2 : Phân Loại Thành Hạng Mục.
Trong bước 1, bạn được hướng dẫn để liệt kê tất cả những sự xảy ra theo thứ tự xuất hiện. Điều đó có nghĩa là trong bản liệt kê đầu tiên của bạn, những câu Kinh Thánh được trưng dẫn theo thứ tự trước sau. Bây giờ bạn hãy quan sát toàn bộ tài liệu bạn khám phá về đề tài, chú ý xem tài liệu nào có thể đi với nhau theo cách lý luận hay hợp lý. Tự tài liệu sẽ gợi ý cho bạn những loại hạng mục khi bạn xem xét. Chẳng hạn, nếu đề tài của bạn là đồ vật trong đền thờ, thì tài liệu của bạn có thể được xếp theo những khu vực trong đền thờ : những khu vực nầy sẽ phục vụ như những hạng mục ( catagories). Nếu bạn rút đề tài của mình từ thiên nhiên, thì những hạng mục của bạn có thể ở nhiều cách khác nhau tùy theo cách sử dụng trong Kinh Thánh. Loại tài liệu nào được đưa ra cho đề tài đó? Nó có được dùng để chứng minh cho sự thật nào đó không? Nó có được dùng làm biểu tượng để thay thế cho điều gì không? Những đề tài lịch sử có thể xếp loại theo thứ tự thời gian : bắt đầu, khoảng giữa và cuối mỗi giai đoạn. Mỗi đề tài có lẽ có hai hoặc nhiều hơn những hạng mục mà bạn có thể dùng để hình thành tài liệu bạn tìm được.
Như vậy, Bước 2 có thể được trình bày theo cách nầy : Phân loại những điều xảy ra của đề tài theo cách nó được sử dụng. Dùng các hạng mục tự nhiên từ những tài liệu bạn đã tìm được. Khi bạn học đến sách Ephêsô ở phần áp dụng, bạn sẽ tìm thấy những ví dụ của đề tài liên quan đến những chữ được Đức Chúa Trời chấn nhận. Bạn sẽ khám phá rằng phaolô dùng những chữ đối lập nhau trong cùng một câu : “ Đừng nói thế nầy... nhưng hãy nói rằng ..” Khi bạn ghi nhận vài điều trong số những sự trưng dẫn như thế, tâm trí bạn sẽ bắt đầu suy nghĩ đến hai loại chính cho đề tài đặc biệt đó. Những hạng mục của bạn có thể : “ Những Chữ sai” và “ Những Chữ Đúng” hay “ Những Chữ phải tránh xa” và “ Những Chữ đẹp lòng Đức Chúa Trời”.
Dàn ý kết thúc của bạn sẽ phân thành bốn hoặc năm phần, nhưng chúng sẽ được liên kết với hai điều lập tức đều trong trí.
9. Chép vào sổ tay của bạn hai câu được gạch dưới từ đoạn trên vốn tóm tắt cho bước 2.
10. Mục đích của bước 2 của tiến trình cho phương pháp nghiên cứu theo đề tài phải luôn luôn.
a) liệt kê mỗi điều xảy ra của đề tài của bạn khi bạn tìm thấy nói.
b) thành lập tài liệu bạn thu thập được theo những thành phần hợp lý.
c) thành lập tài liệu bạn thu được vào những hạng mục về thời gian.
Bước 3 : Khảo sát Nội dung.
Trở lại bước 1 bạn đã học rằng nội dung đoạn văn ( context) có nghĩa là “ tất cả những chữ xoay chung quanh chữ đặc biệt mà bạn đang khảo sát”. Trong loại bài học nầy bạn đã học tầm quan trọng của sự quan sát kỹ lưỡng khi nghiên cứu lời Đức Chúa Trời. Bước 3 sẽ đưa sức mạnh của sự quan sát của bạn vào cuộc thử nghiệm. Bạn sẽ liệt kê tất cả những gì xảy ra liên quan đến đề tài của bạn ( bước 1). Bạn sẽ thiết lập chúng vào vài hạng mục khác nhau, theo cách chúng được sử dụng ( Bước 2). Và bây giờ bạn không chỉ đọc câu Kinh Thánh hoặc câu mà đề tài của bạn được đề cập , nhưng bạn còn phải đọc những câu chunh quanh ( theo mạch văn) để biết chắc rằng mình hiểu được đúng ý nghĩa mà Thánh Linh có dụng ý muốn nói.
Khi bạn đọc cả mạch văn ( những câu chung quanh) bạn có thể cần phải điều chỉnh, hay thêm vào những sự quan sát trước kia của bạn. Vậy, Bước 3 là sự khảo sát cẩn thận ( phân tích) những cách dùng khác nhau của đề tài của bạn, để ý đến mạch văn. Nếu bạn thấy có những sự thay đổi hoặc thêm vào những gì bạn đã làm trong phần quan sát bước đầu của bạn thì hãy viết chúng vào phần bước 1 của bạn.
11. Nội dung đoạn văn, hay mạch văn ( context) có ý nghĩa gì?
12. Viết bước 1, bước 2 hay bước 3 sau mỗi câu dưới đây:
a. Nơi nào đề tài của bạn được đề cập, hãy đọc những câu chung quanh đó để đi đến ý nghĩa chính xác.
...............................................................................................
b. Lập một danh sách về tất cả những gì xảy ra có liên quan đến đề tài của bạn .......................................................
c. Hình thành bản liệt kê của bạn thành những nhóm có những vấn đề liên quan với nhau ........................................
Bước 4 : Tóm Tắt Mỗi Hạng Mục.
Tóm tắt có nghĩa là nói gọn những tài liệu bạn thu thập được, nói về điều đó cách chính xác hơn. Dùng ít chữ hơn những vẫn giữ điểm chủ yếu của ý nghĩa.
Trong bước 4 bạn sẽ đọc tất cả những phần đã quan sát cho mỗi nhóm ( mỗi hạng mục) và tóm tắt mỗi phần trong cách thức càng ngắn càng tốt. Chẳng hạn, chúng tôi giả sủ đề tài của bạn là con chiên. Bản liệt kê tham khảo của bạn có thể rất dài, vì chiên là con vật nổi bật trong Kinh Thánh. Sau khi lập xong bản liệt kê ở bước 1, bước thứ hai là bạn xếp thành hạng mục những gì bạn đã tìm theo cách sử dụng con chiên. Nói cách khác những phần trích dẫn của từng nhóm. Vài tựa đề bạn có thể chọn từ phần trích dẫn nói về con chiên, có lẽ bạn mô tả chúng như những con vật. “ Thú vật được nuôi”, “ thói quen và những đặc tính của chiên” là ví dụ về những tựa đề nầy. Có lẽ bạn cũng có thể tìm được các phần trưng dẫn sử dụng chiên như là” của lễ hy sinh”, “ những biểu tượng”, những sự minh họa về dân sự của Đức Chúa Trời. Chúa Jêsus tự gọi Ngài là “ Đấng Chăn Chiên tốt lành” (GiGa 10:11). Bước thứ ba có thể là việc khảo sát những mạch văn của mỗi phần trưng dẫn để đạt được đúng ý nghĩa.
Bước thứ tư là tóm tắt mỗi phần. Nếu đề tài của bạn là chiên, bạn sẽ trình bày trong hình thức cô đọng tất cả những gì bạn quan sát về con chiên như những con vật. Bạn cũng sẽ làm thế cho những phần trưng dẫn thảo luận về con chiên như của lễ hy sinh. Bạn cũng có thể tóm tắt tất cả những tài liệu liên hệ với con chiên khi chúng được dùng như những biểu tượng. Và rồi tóm tắt những cách mà chiên được dùng như những điều minh họa của lẽ thật của Kinh Thánh. Bước 4 là từ những phần quan sát bạn đã làm ở những bước trước, bạn hãy tóm tắt ý chính của mỗi hạng mục.
13. Tóm tắt có nghĩa là
a) liệt kê theo thời gian
b) giải thích ý nghĩa
c) trình bày trong hình thức cô đọng.
14. Trong bước 4 về phương pháp nghiên cứu theo đề tài, bạn sẽ.
a) liệt kê những gì xảy ra có liên quan đến đề tài.
b) khảo sát cách dùng, để ý tới mạch văn.
c) tóm tắt mỗi phần của dàn ý của đề tài.
Bước 5 : So Sánh những lời Tóm Tắt.
Điều đầu tiên của bước 5 không phải là viết, nhưng là nhìn và suy nghĩ. Đây là thì giờ xem xét lại những gì đã phát sinh từ sự nghiên cứu của bạn. Đây là lúc bạn suy gẫm về lẽ thật bạn đã nhìn thấy trong Kinh Thánh. Đây cũng là lúc bạn cầu nguyện cân nhắc những tài liệu bạn đã thu thập được, cho phép Thánh Linh giúp bạn nhìn thấy mọi chi tiết và mối quan hệ của chúng với tác động toàn bộ của những câu Kinh Thánh.
Trong việc nhìn và suy nghĩ ở bước 5, bạn sẽ quyết định chọn thứ tự tốt nhất của những hạng mục bạn đưa ra trong dàn ý chung của đề tài. Ở bước 1, bạn liệt kê những gì tìm thấy cho đề tài theo thứ tự của những đoạn văn bạn đã đọc. Bây giờ khi bạn đã tóm tắt mỗi hạng mục, thì có lẽ tốt hơn bạn nên xếp đặt chúng trước sau theo những lý do của trình tự thời gian, hoặc lý do của mức độ quan trọng. Bạn phải để phần quan trọng nhất nhằm cuối cùng.
15. Viết chữ Đ vào khoảng trống trước lời diễn đạt Đúng, và S trước câu sai.
...a. Trong bước 1 bạn liệt kê những gì tìm thấy cho đề tài của bạn khi bạn đọc đến chúng.
...b. Trong bước 4 bạn nhìn và suy nghĩ nhưng không viết.
...c. Bước 5 khởi đầu không phải là viết, nhưng là bước nhìn và suy nghĩ với sự cầu nguyện.
...d. Bước 2 liên quan đến việc liệt kê những gì tìm thấy cho đề tài theo thứ tự mà nó xuất hiện trong đoạn văn.
...e. Trong bước 2 mọi phần trưng dẫn có liên quan với nhau được gom chung lại dưới một tiêu đề gọi là hạng mục.
...f. Bước 3 là bước trong đó bạn nghiên cứu mỗi hạng mục cách cẩn thận bằng cách coi lại mạch văn của mỗi hạng mục.
...g. Trong bước 4 bạn tóm tắt mỗi hạng mục.
Bước 6 : Tóm tắt dàn ý tổng quát.
Trong bước 6 tất cả những gì được tìm kiếm đều được cột với nhau. Bạn rút ra những kết luận trong một lời diễn đạt chủ đạo vốn bao gồm những phần tóm tắt của mỗi hạng mục. Đó là lời kết luận chủ đạo phát xuất từ sự suy nghĩ và suy gầm trong bước 5. Trong bước cuối cùng nầy bạn sẽ tổng hợp, và xếp đặt với nhau thành một lời diễn đạt chính từ những định nghĩa tóm tắt của bạn.
Tuy nhiên, bạn cần chú ý hai điều. Trước hết, tránh việc tổng quát hóa quá mức (overgeneralization). Tổng quát hóa là một kết luận rộng, bao quát chi tiết nhưng được dùng để áp dụng chung. Khi tóm tắt Kinh Thánh, không dễ gì “ bỏ được” những điều hiểu biết kỳ diệu vừa khám phá và làm cho lời diễn đạt của mình đi quá xa. Hãy rút phần kết luận của bạn chỉ rộng đến mức Kinh Thánh cho phép mà thôi. Đừng làm cho phần kết luận của mình nhiều hơn hay ít hơn điều Kinh Thánh nói.
Thứ hai ( điều nầy cũng liên quan đến điều lưu ý thứ nhất), hãy ghi nhớ những giới hạn của Kinh Thánh. Có hai loại giới hạn : ngụ ý ( hiểu ngầm) ( điều gì đó được ám chỉ, được hiểu ngầm nhưng không nói thẳng ra), và nói rõ ( nói thẳng). Kinh Thánh hạn chế chúng ta cả hai điều đó. Kinh Thánh nói thẳng nhiều điều. Những lời nói trực tiếp hạn chế chúng ta vì chúng ta không thể thay đổi những điều ấy để phù hợp với chúng ta. Kinh Thánh hạn chế sự kết luận của chúng ta bằng những sự dạy dỗ hiểu ngầm, những ý tưởng ngụ ý nhưng không nói thẳng ra khi điều gì được hiểu ngầm trong Kinh Thánh, bạn có thể nói rằng điều đó ám chỉ như thế. Nhưng bạn phải hạn chế mình vào đó, trừ phi những phần tham khảo khác đưa ra sự dạy dỗ trực tiếp về đề tài.
17. Viết rất ngắn ngọn vào sổ tay mình những gì bạn phải làm ở bước 6.
18. Viết chữ ngụ ý hay nói thẳng trong chỗ trống sau mỗi vấn đề ở đây.
a. Những ý tưởng được ám chỉ chứ không trình bày
trực tiếp.................................................................................
b. Những ý tưởng trực tiếp nói ra ........................................
19. Khi viết phần tóm tắt cuối cùng của bạn về đề tài bạn cần chú ý đến hai điều nào? Hãy ghi ra trong sổ tay của bạn.

NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VỀ SÁCH ÊPHÊSÔ.
Mục tiêu 4 : Làm dàn ý theo đề tài từ Ephêsô 4, 5 và 6 sử dụng để tài “Những Lời được Chấp nhận .”
Bạn cần cuốn sổ tay và Kinh Thánh để học phần nầy. Những hoạt động học tập trình bày ở đây sẽ giúp bạn áp dụng 6 bước trong tiến trình nghiên cứu theo đề tài. Bạn sẽ nghiên cứu Ephêsô đoạn 4,5 và 6.
Chú ý : Bạn hãy làm bài tập nầy một mình trước khi xem phần giải đáp là điều rất quan trọng. Việc tìm kiếm của bạn không cần phải đúng chính xác như là những điều chúng tôi gợi ý mới được gọi là đúng. Cuối cùng khi bạn so sánh những câu trả lời của bạn với phần giải đáp, hãy tự do thêm vào tài liệu của bạn hoặc điều chỉnh các điều đó theo cách bạn thích. Cố gắng duy trì lời văn của bạn và sự hiểu biết của bạn càng nhiều càng tốt. Mục đích của chúng tôi là giúp bạn tự tin trong việc nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán với chúng ta như những cá nhân. Ngài sẽ phán với bạn đúng như cách Ngài đã phán với những người khác. Càng nghiên cứu bạn càng sẽ nhận được sự hiểu biết nhiều hơn. Chìa khóa ấy là dành thì giờ để nghiên cứu có hệ thống.
Đề tài cho phần nghiên cứu nầy là Những Lời Được Chấp Nhận ( Acceptable Words). Chủ đề nầy được rút ra từ Thi Tv 19:14, “ Nguyện những chữ của tôi ( lời nói của miệng tôi) và tư tưởng tôi được Ngài chấp nhận ( được đẹp ý Ngài), Lạy Chúa là nơi ẩn núp của tôi và Đấng Cứu Chuộc tôi ( TEV). Trong sách Ephêsô, Thánh Linh đã dùng sứ đồ Phaolô cho chúng ta nhiều chi tiết về những loại chữ ( lời nói) được Đức Chúa Trời chấp nhận ( được đẹp lòng Ngài). ( Ephêsô cũng tiết lộ vài loại không đẹp lòng Ngài). Nếu bạn thắc mắc tầm quan trọng của đề tài nầy đối với đời sống thuộc linh như thế nào, thì hãy nghĩ đến những gì Giacơ nói, “ cái lưỡi giống như lửa ... nơi đô hội các tội ác ở giữa các quan thể chúng ta.... không ai trị phục được nó” ( 3:6, 8). Muốn biết thêm về cái lưỡi hãy đọc toàn thể đoạn văn của Giacơ ( 3:1-12) về đề tài nầy. Dĩ nhiên trong đoạn nầy, lưỡi được dùng theo nghĩa tượng trưng về lời nói ( những chữ chúng ta nói ra). Rõ ràng chỉ khi nào chúng ta được tạo dựng nên mới trong Christ Jêsus ( và đi theo Ngài bằng sự vâng lời) thì lưỡi của chúng ta mới có thể nói những lời đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Sự sửa soạn đầu tiên của bạn cho bước 1 là lấy 3 tờ giấy trong sổ tay của bạn, mỗi tờ kẻ đọc thành hai cột, cột rộng hơn ở bên phải. Viết chữ TRƯNG DẪN ở đầu cột trái và chữ NHẬN XÉT ở đầu cột phải. Bây giờ đọc Ephêsô 4,5,6 cùng với cây bút chì ở trên tay. Khi bạn đọc đến câu Kinh Thánh nào liên hệ đến lời nói, hãy viết địa chỉ ở cột trái và phần nhận xét của bạn ở cột phải. Nếu phần trưng dẫn là lời nói trực tiếp, bạn chỉ viết phần nhận xét của mình rồi tiếp tục. Nếu phần trưng trưng dẫn có tính ngụ ý, gián tiếp, thì hãy viết phần nhận xét xuống, rồi viết thêm câu hỏi, “ Điều nầy ám chỉ điều gì liên quan đến lời nói?” Rồi cố gắng trả lời câu hỏi đó cách vắn tắt. Vài bước tiếp theo sẽ cho bạn cơ hội suy nghĩ và suy gẫm nên đừng để mất quá nhiều thì giờ tại điểm nầy, cố gắng rút ra mỗi phần nhỏ có ý nghĩa từ đoạn văn. Bạn có thể làm điều đó về sau.
Phải làm luôn những ví dụ về những lời nói không được chấp nhận cũng như những lời nói được chấp nhận. Chúng có thể dạy những gì có thể chấp nhận qua phương cách tương phản. Nếu một câu có cả hai tư tưởng tích cực và tiêu cực, thì hãy dùng chữ “ a”, rồi chữ “b” cùng với câu ấy để phân biệt hai ý tưởng.
20. Bước 1 : Liệt kê mọi sự kiện xảy ra liên hệ với đề tài của bạn trong Eph Ep 4:1-5:33; 6:1-24 (như chúng tôi vừa giải thích).
Khi bạn đã đọc xong và ghi dàn ý những gì cần thiết cho bài học trên, hãy so sánh dàn ý của bạn cho bước 1 với dàn ý được chúng tôi đưa ra ở phần giải đáp câu hỏi nghiên cứu.
Bây giờ, trong bước 2, bạn hãy xếp đặt những chi tiết bạn đã khám phá vào những phần có ý nghĩa dựa vào “ cách sử dụng”. Bạn sẽ xếp đặt những chi tiết có liên hệ với nhau vào từng hạng mục. Phần lớn bất cứ bộ phần tài liệu nào, cũng đều có hơn một cách xếp đặt những ý tưởng liên kết với nhau cách có lý để hình thành những hạng mục hầu người ta có thể hiểu toàn bộ cách rõ ràng. Bạn sẽ được hướng dẫn một cách gợi ý để xếp đặt tài liệu nầy. Những phương pháp khác có thể khác nhau, nhưng không nhất thiết là sai. Nếu bạn thích tiêu đề của bạn hơn, hãy dùng nó. Dùng một tờ giấy khác trong sổ tay của bạn trả lời bài tập tiếp theo của bước 2. Chừa khoảng 5 hàng trống giữa những câu trả lời.
21. Đọc Eph Ep 4:14 và 5:6 cẩn thận. Những câu nầy có ý tưởng chung nào? Hãy viết câu trả lời.
22. Hãy nghĩ đến tiêu đề ( heading) ngắn mà bạn có thể đặt ra cho hai câu trưng dẫn trên.
23. Đọc 4:11-12. Đoạn nầy nằm trong một phần đặc biệt, vì nó nói về những người nói ra những lời được Đức Chúa Trời sử dụng để gây dựng thân thể Đấng Christ. Hãy nghĩ đến hai tiêu đề mà bạn nghĩ ra cho hai câu nầy. Hãy viết hai tiều đề ấy.
24. Đọc và so sánh những phần tham khảo sau đây trong 4:24, 4:26, 2:29, 4:31, 5:3, 5:4, 6:4, 6:9. Quyết định xem câu nào dường như có quan hệ và viết một tiêu đề thích hợp với chúng.
25. Đọc 4:2, 4:15, 4:25, 4:29, 4:32, 5:3, phần thứ nhì của 5:19, 6:2, 6:4, 6:7. Quyết định và viết tiêu đề cho thấy những câu nầy liên hệ với nhau như thế nào?
26. Đọc 5:4, phần cuối của 5:9, 5:20, 6:18. Hãy chú ý loại chữ mà những câu nầy giải thích và những chữ ( lời) nầy được hướng dẫn đi đâu. Rồi viết tiêu đề thích hợp cho chúng.
Khi làm xong bài tập trắc nghiệm, bạn sẽ có một trang sổ tay có năm tiêu đề hay năm hạng mục tương tự như sau, và theo thứ tự nầy :
NHỮNG LỜI KHÔNG ĐƯỢC CHẤP NHẬN : ĐỪNG LẮNG NGHE.
NHỮNG LỜI PHẢI LẮNG NGHE.
NHỮNG LỜI KHÔNG ĐƯỢC CHẤP NHẬN : ĐỪNG NÓI.
NHỮNG LỜI ĐƯỢC CHẤP NHẬN ĐỐI VỚI NGƯỜI KHÁC.
NHỮNG LỜI ĐƯỢC CHẤP NHẬN ĐỐI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI.
Bây giờ trong bước 3, bạn sẽ trở lại phần dàn ý theo nội dung đoạn văn lập lại ở bước 1. Đọc mỗi phần trưng dẫn bạn đã liệt kê cũng như mạch văn ( trước và sau câu đó). Viết trong phần nhận xét của dàn ý nầy điều hiểu biết nào bạn muốn thêm vào khi bạn đọc mạch văn của những câu đó.
Khi bạn bắt đầu nghiên cứu đoạn văn bạn đã chọn, điều quan trọng là phải gắng chặt với những gì Kinh Thánh thực sự nói về đề tài đó. Nếu bạn đi quá những gì đoạn văn ấy nói, công tác của bạn chưa tốt đâu. Hơn nữa, bạn phải giải thích đúng những gì đoạn Kinh Thánh ấy thực sự muốn nói. Chúng ta đã nghe những người khác nói lên ý kiến vốn thực sự không dựa trên lời Đức Chúa Trời. Khi bạn bắt đầu giải thích Kinh Thánh, vấn đề tối quan trọng ấy là đừng bao giờ đem những định kiến, tư tưởng nghĩ trước vào những lời diễn đạt của mình. Nếu bạn thấy rằng Kinh Thánh không nhất trí với vài ý tưởng trong số những ý tưởng trước kia của bạn, thì bạn phải tìm kiếm Kinh Thánh và tìm cho được chỗ sai lầm của mình. Công tác của bạn là tìm điều Kinh Thánh nói và bám chặt vào điều ấy.
27. Bây giờ bạn hãy đọc 4:17-24, Phần của mạch văn cho 4:14. Hãy làm theo điều bạn học được trong những bài học trước, hỏi Kinh Thánh những câu hỏi. Ở đây có vài câu hỏi gợi ý. Hãy viết câu trả lời vào sổ tay của bạn, hay trên dàn ý của bước 1 nếu bạn còn chỗ trống.
a) Những kẻ lừa dối nầy như thế nào?
b) Tại sao lời nói của họ giống như gió đùa đi và đầy lỗi lầm?
c) Tại sao họ rất nguy hiểm đối với con cái Đức Chúa Trời?
d) Quyền năng nào sẽ giúp bạn nói lên những điều đẹp lòng Đức Chúa Trời?
Tiếp tục theo cách nầy, khảo sát từng câu trích dẫn và rút ra từ lời Đức Chúa Trời càng nhiều chi tiết và nhiều ý nghĩa càng tốt. Bạn càng dành nhiều thì giờ nghiên cứu, sự học tập của bạn càng kết thúc nhanh.
Bây giờ trong bước 4, bạn sẽ chuẩn bị lời tóm tắt cho mỗi hạng mục mà bạn đã lập ra ở bước 2. Hãy nhớ rằng phần tóm tắt cố gắng bao gồm tất cả những điểm quan trọng, trình bày trong cách càng ngắn càng tốt. Viết lời tóm tắt của bạn trước khi xem phần giải đáp.
28. Viết phần tóm tắt cho mỗi hạng mục, trên trang sổ tay của bạn tại nơi mà bạn đã liệt kê hạng mục đó để trả lời bước 2 ( nên nhớ phải kết hợp với dàn ý của bạn của bước 1 để xem lại phần trưng dẫn và nhận xét cho mỗi phần).
Bây giờ sang bước 5, bạn sẽ so sánh năm lời tóm tắt của mình. Nhớ rằng đây không phải là bước dùng để viết, dù bạn có thể ghi chú thêm vào nếu cần. Chủ yếu của bước nầy là bước cầu nguyện, nghiền ngẫm khi bạn xem xét những gì xin từ việc nghiên cứu của bạn. Hãy đọc lại dàn ý đầu tiên của bạn, và mỗi nhận xét bạn đã viết ra. Chú ý đến những hạng mục bạn đã chọn và những lời tóm tắt bạn đã làm cho mỗi hạng mục. Hãy chú ý thế nào chất liệu của Phaolô xây dựng hướng về những điều lưu ý kết thúc của ông. Xem cách ông sử dụng sự tương phản giữa những lời nói xấu và những lời nói tốt để tăng cường sức mạnh cho sự dạy dỗ của ông.
29. Quyết định thứ tư tốt nhất trong dàn ý hoàn chỉnh của bạn cho năm hạng mục, và viết chúng vào sổ tay của mình.
Đến bước 6, bạn đã sẵn sàng tổng hợp một lời nói chủ yếu từ năm phần tóm tắt bạn đã viết ra. Tránh tổng quát hóa thái quá. Hãy nhớ những hạn chế, hiểu ngầm hay nói thẳng, được nội dung đoạn văn trình bày hay ở bản thân đoạn văn. Viết lời tóm tắt chính của riêng bạn về những lời nói được chấp nhận ( được đẹp ý Đức Chúa Trời) như được dạy dỗ trong 4:1-5:33; 6:1-34. Hãy nhớ rằng lời của bạn không giống y hệt với của chúng tôi.
30. Viết một lời diễn đạt tóm tắt chủ yếu dựa vào năm lời tóm tắt của năm mục bạn đã làm, xếp đặt lời nầy theo thứ tự tái sắp xếp của bạn về phần tóm tắt. Rồi so sánh phần tóm tắt của bạn với phần giải đáp của chúng tôi.
Bài Tập Trắc Nghiệm .
Khoanh tròn trước mục nào trong mỗi câu hỏi vốn là câu trả lời tốt nhất.
1. Đức Chúa Trời tạo dựng những điều thấy được theo cách
a) bản chất thiên thượng của Ngài chứng minh chứng.
b) chúng chứng minh bản chất thiên thượng của Ngài.
c) chúng không liên quan gì đến bản chất Thiên thượng của Ngài.
2. ĐIỀU nào trong những điều sau đây KHÔNG giúp cho việc quyết định thời gian dành cho việc nghiên cứu đề tài.
a) số lượng tài liệu được tìm cho đề tài.
b) chiều dài của cuốn sách nơi mà đề tài được đề cập.
c) thời gian mà học viên nghiên cứu đề tài.
3. Những đề tài có liên quan đến phẩm chất hơn là những điều thấy được là
a) không được Kinh Thánh như là phần minh họa hơn là biểu tượng.
b) được sử dụng trong Kinh Thánh như là phần minh họa hơn là biểu tượng.
c) được sử dụng trong Kinh Thánh như là những biểu tượng hơn là phần minh họa.
4. Trong tiến trình nghiên cứu theo đề tài, khảo sát mạch văn được dùng ở
a) Bước 1
b) Bước 5
c) bước 3.
5. Thứ tự tốt nhất cho những tiêu đề hay những hạng mục trong dàn ý hoàn chỉnh của phần nghiên cứu theo đề tài được quyết định do
a) việc phân loại những nhận xét thành hạng mục.
b) sự so sánh những lời tóm tắt của những hạng mục.
c) sự liệt kê những sự xảy ra liên quan đến đề tài trong dàn ý theo nội dung đoạn văn.
6. Trong những bước sau của phần nghiên cứu đề tài, những nhận xét bạn đưa ra ở bước 1 sẽ
a) được gia tăng nhưng không tái xếp đặt.
b) được sắp xếp lại nhưng không gia tăng.
c) và được sắp xếp lại, vừa được thêm vào.

Giải đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1. a. Sai
b. Sai
c. Đúng
e. Đúng
f. Đúng.
2. b) số lượng tài liệu kiếm được cho đề tài.
c) số lượng thời gian học viên dùng để nghiên cứu đề tài.
3. a. gián tiếp
b. trực tiếp
4. b) Những sách tham khảo như Kinh Thánh Phù Dẫn hay tự điển Kinh Thánh có thể có ít khi nghiên cứu theo đề tài nhưng không cần thiết.
d) Trong sự nghiên cứu Kinh Thánh theo đề tài, bạn sẽ tìm tất cả những chỗ mà đề tài được đề cập trực tiếp hay gián tiếp.
5. a. Minh họa
b. Biểu tượng
c. Minh họa
d. Biểu tượng.
6 a) Những đề tài lấy từ thiên nhiên thường được dùng trong Kinh Thánh như là những ví dụ minh họa hay những biểu tượng.
7. Câu trả lời của bạn ( gợi ý : những trại, hoa, hình tượng, chiên, đồng bạc).
8. Liệt kê theo thứ tự những gì xảy ra liên hệ với đề tài.
9. Phân loại mỗi điều xảy ra liên quan đến đề tài theo cách nó được sử dụng. Dùng hạng mục phát xuất tự nhiên từ những gì bạn tìm được.
10. B) thành lập ( xếp loại) tài liệu bạn thu thập theo những phần hợp lý.
11. Tất cả những chữ qui tụ quanh một chữ đặc biệt mà bạn đang khảo sát ( câu trả lời có thể hơi kha1c nhưng tương tự như trên).
12. a. Bước 3.
b. Bước 1.
c. Bước 2.
13. c) trình bày trong hình thức cô đọng.
15. a. Đúng
b. Sai
c. Đúng
d. Sai
e. Đúng
f. Đúng
g. Đúng
16. 1. Liệt kê những điều xảy ra.
2. Phân loại thành hạng mục
3. Khảo sát mạch văn.
4. Tóm tắt mỗi hạng mục
5. So sánh những lời tóm tắt.
17. Rút ra những kết luận trong một lời diễn đạt tóm tắt đủ ( lời văn có thể khác nhưng câu trả lời phải tương tự như câu nầy).
18.a) hiểu ngầm.
b) nói thẳng
19. Tránh tổng quát hóa thái quá, thứ hai, nhớ kỹ những hạn chế về sự ngụ ý và sự nói thẳng của Kinh Thánh.
20. NHỮNG LỜI NÓI ĐƯỢC CHẤP NHẬN.
4:2 Khiêm nhường, nhu mì kiên nhẫn, dung thứ. Những điều nầy ám chỉ gì đến lời nói? Lời nói của tôi phải khiêm tốn, nhu mì, kiên nhẫn và khoan dung.
4:11-12 Ngài ban những ân tứ cho con người ( sứ đồ, tiên tri, nhà truyền giảng, mục sư, giáo sư) để chuẩn bị dân sự Đức Chúa Trời vào công tác phục vụ và gây dựng thân thể Đấng Christ. Điều nầy ám chỉ gì khi liên quan đến lời nói? Những lời nói dạy dỗ lẽ thật của Kinh Thánh là ân tứ của Đức Chúa Trời cho dân sự Ngài.
Không bị những gió giáo lý lạ thổi đi dồi dập, do những con người lừa dối dẫn người khác đi vào sự sai lầm. Điều nầy có liên quan gì đến lời nói? Chúng ta không nên cho phép những lời nói lừa dối của sự dạy dỗ giáo lý giả dẫn chúng ta đi sai lạc
Lấy tình yêu thương nói ra lẽ thật.Anh em phải chừa sự nói dối. Phải nói thật.
Nếu anh em nóng giận, đừng để sự giận dữ dẫn anh em đến chỗ phạm tội. Điều nầy có liên quan gì đến lời nói? Tránh những lời nói giận dữ.
Đừng sử dụng những lời gây thiệt hại
6:7 Hỡi kẻ làm đầy tớ, hãy làm công việc của mình cách vui vẻ như làm cho Chúa. Điều nầy có liên quan gì đến lời nói? Những lời nói vui vẻ trong công việc mình.
6:9 Đừng ngăm dọa họ. Làm tất cả những điều nầy trong sự cầu nguyện, xin Đức Chúa Trời giúp đỡ. Cầu nguyện trong mọi trường hợp khi Thánh Linh dẫn dắt.
6:18 Hãy cầu nguyện luôn luôn cho dân sự Đức Chúa Trời.
21. Cả hai chỉ rằng chúng ta không nên nghe những lời không chấp nhận được.
22. Tiêu đề gợi ý : NHỮNG LỜI KHÔNG CHẤP NHẬN : ĐỪNG NGHE.
23. Tiêu đề gợi ý : NHỮNG LỜI PHẢI LẮNG NGHE.
24. Tiêu đề gợi ý. NHỮNG LỜI KHÔNG ĐƯỢC CHẤP NHẬM : ĐỪNG NÓI.
25. Tiêu đề gợi ý : NHỮNG LỜI NÓI ĐƯỢC CHẤP NHẬN ĐỐI VỚI NHAU ( VỚI NGƯỜI KHÁC).
26. Tiêu đề gợi ý : NHỮNG LỜI NÓI ĐƯỢC CHẤP NHẬN ĐỐI VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI.
27.a) Họ là những người ngoại đạo ( câu 17), hoàn toàn dốt nát và ương nghạnh ( câu 18) và mất tất cả những cảm giác xấu hổ ( câu 19).
b) Vì tư tưởng của họ là hư không và tâm trí họ đen tối ( câu 17 - 18).
c) vì họ không dự phần sự sống mà Đức Chúa Trời ban cho ( câu 18), phó mình cho sự xấu xa, và làm mọi điều ghê tởm không kiềm chế ( câu 19).
d) Quyền năng của sự sống mới của bạn theo đoạn văn.
28. Những lời diễn đạt gợi ý của mỗi phần. Những lời nói không được chấp nhận : đừng nghe.
Không nghe theo những lời sai lầm của tiên tri giả. Cơ đốc nhân chẳng còn bất kỳ phần nào của tâm trí đen tối và hư không của người ngạo đạo. Nên đừng nghe những lời ngu xuẩn đó. Những lời đó không được Đức Chúa Trời chấp nhận.
Những lời phải lắng nghe : lắng nghe những người trung tín dạy dỗ Kinh Thánh. Đức Chúa Trời sử dụng những lời nầy để gây dựng thân thể của Christ và chuẩn bị dân sự Ngài cho sự phục vụ Chúa.
Những lời không được chấp nhận : Đừng nói : đừng nói dối, những lời giận dữ, những lời gây thiệt hại, những lời làm buồn Thánh Linh của Đức Chúa Trời, la mắng, chửi rủa, hoặc những lời ghen ghét bất kỳ loại nào, đừng đề cập đến vấn đề gian dâm, ô uế, tham lam, lời nói tục tĩu, lời nói tầm phào giễu cợt, lời hư không, lời nói đe dọa.
Những lời được chấp nhận đối với nhau : sử dụng những lời nói khiêm tốn, nhu mì, khoan dung, và làm lợi ích, những lời yêu thương và tha thứ, sử dụng Thi thiên, thánh ca, linh khúc; sử dụng những lời nói yêu thượng kính trọng với vợ chồng, tôn trọng cha mẹ, răn dạy và khuyên bảo con cái,bày tỏ nhng lời nói vui vẻ với mọi người.
Những lời được chấp nhận đối với Đức Chúa Trời : hát Thánh ca và Thi thiên dâng lên Đức Chúa Trời với sự ngợi khen phát xuất từ lòng, cảm tạ Đức Chúa Trời trong mọi sự, cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ, và luôn luôn cầu nguyện cho tất cả dân sự của Đức Chúa Trời.
30. Cơ đốc nhân đừng nên nghe những lời nói ngu dốt nguy hiểm vốn phát xuất từ đầu óc đen tối của những giáo sư giả, và những lời không được Đức Chúa Trời chấn nhận. Hơn nữa, Cơ đốc nhân không được sử dụng bất cứ lời nói nào gây thiệt hại người khác và hạ giá trị người khác vì những lời như thế làm buồn Thánh linh, và không được Đức Chúa Trời chấp nhận. Cơ đốc nhân phải lắng nghe những lời nói trình bày lẽ thật của Kinh Thánh vì những lời như thế sẽ chuẩn bị cho họ công tác phục vụ Chúa và những lời ấy được Đức Chúa Trời vui lòng. Cũng vậy, Cơ đốc nhân thuộc mọi hạng người - chồng vợ, cha, mẹ, con cái và tất cả những người khác - phải nói với nhau những lời có ích để gây dựng thân thể Đấng Christ. Những lời nầy phải truyền cảm cũng như yêu thương và tha thứ. Cuối cùng Cơ đo1c nhân phải liên tục nói với Đức Chúa Trời những lời ca ngợi Ngài và câù nguyện cho dân sự Ngài.
29. Thứ tự dàn ý gợi ý.
Những lời không được chấp nhận : Đừng nghe
Những lời không được chấn nhận : Đừng nói
Những lời phải lắng nghe
Những lời nói được chấp nhận đối với nhau
Những lời nói được chấp nhận đối với Đức Chúa Trời.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THEO SỰ SUY GẪM
Một lữ khách đường xa mệt nhọc,đói khát ở trong nơi hiu quạnh vừa tìm được một cây sai trái đẹp đẽ với trái ngon ngọt. Khao khác duy nhất của anh hiện giờ là ăn trái cây để đỡ đói, khát và lấy lại sức lực. Sau khi ăn, người ấy mới quan sát cây, xem nó mọc chỗ nào, cây lá xanh tương ra sao, mùi hương của hoa và vị ngọt của trái. Tuy nhiên, cho dù sự tò mò của người ấy được thỏa mãn như thế nào đi nữa, khi việc ăn trái của cây đó mới làm cho việc người ấy no bụng, đã khát và nuôi dưỡng thân thể mình. Phần của trái cây bạn ăn là phần ban cho bạn sự sống.
Đối với Kinh Thánh, Lời của Đức Chúa Trời cũng như vậy. Mọi khía cạnh của lời Kinh Thánh đều hấp dẫn. Không tâm trí hữu hạn nào của loài người có thể dò thấy chiều sâu hay chiều cao của nó, vì giống như tác giả của nó, Lời Kinh Thánh là đời đời và vô hạn. Những khía cạnh mới của những câu quen thuộc sẽ cứ tiếp tục bày tỏ khi bạn nghiên cứu Kinh Thánh. Giống như cậy đẹp cùng trái của nó, phần Kinh Thánh mà bạn ăn, là phần ban cho bạn sự sống.
Làm thế nào để tôi có thể ăn Kinh Thánh? Tôi phải bắt đầu bằng việc đọc, nhưng tôi còn phải làm hơn thế nữa. Tôi phải tiếp thu nó qua việc nghiên cứu suy gẫm. Khi làm như thế, Kinh Thánh trở thành thức ăn thuộc linh của tôi và ban cho tôi sự sống thuộc linh. Chúa Jêsus phán, “ Những lời ta đã phán cùng các con mang linh ban sự sống của Đức Chúa Trời” ( The words I have spoken to you bring God’s life - giving Spirit) (GiGa 6:63).
Dàn ý Bài Học
Giới thiệu Phương pháp Nghiên Cứu Suy Gẫm.
Nghiên cứu suy gẫm một câu.
Nghiên cứu suy gẫm một đoạn văn.
Nghiên cứu suy gẫm một khúc dài hơn.
_
Những hoạt động học tập .
Đọc phần mở đầu, dàn ý và những mục tiêu của bài học.
Đọc ý nghĩa của những chữ mới.
Đọc phần triển khai bài học và trả lời câu hỏi nghiên cứu.
Sử dụng sổ tay của bạn để trả lời câu hỏi trừ những câu ngắn.
Hãy mở lòng ra cho Thánh Linh khi bạn nghiên cứu để lời của Đức Chúa Trời thành Bánh Hằng sống cho bạn.
Làm bài tập trắc nghiệm, và xem lại phần giải đáp.

_Từ ngữ
Bàn rộng, diễn ý ( amplified)
Tiếp thu ( internalize)
Hấp dẫn ( intriguing)
Tiến trình, thủ tục ( procedure)
Khúc, phần nhỏ ( segment)
Trái ngược, ngược lại ( vice versa).
_
Triển khai bài học
GIỚI THIỆU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU SUY GẪM.
Mục tiêu 1 : Mô tả sự kết hợp và tinh thần nội dung đoạn văn của việc nghiên cứu Kinh Thánh theo sự suy gẫm .
Một tác giả đã nói về một phương pháp nghiên cứu suy gẫm : “ không cần nhiều đến kỹ thuật của một bộ óc. Nó là tinh thần nhiệt tình tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời; nó là tinh thần khiêm tốn sẵn sàng lắng nghe lời phán của Đức Chúa Trời, nó là tinh thần ngưỡng mộ vốn yên nghĩ trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời” ( H.F.Vos, Effective Bible Study - Học Kinh Thánh có hiệu quả - Zondervan, 1965).
Qua loạt bài học nầy, bạn được động viên để thực hiện sự nghiên cứu của mình hơn là những bài tập tăng cường sự hiểu biết. Bạn đã biết về thái độ suy gẫm ( devotional attitude) mỗi khi bạn bước vào sự nghiên cứu Kinh Thánh với tấm lòng mở ra, và thấy được thế nào Kinh Thánh đã phán với mình cách cá nhân. Thực sự bài học nầy không giới thiệu với bạn một kỹ thuật mới nào. Nghiên cứu suy gẫm được hình thành do sự kết hợp toàn thể những dụng cụ và những kỹ năng mà bạn đã và đang học. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây ấy là bạn phải học về mục đích.
Mục đích chính của phương pháp nghiên cứu suy gẫm là cá nhân mình ăn nuốt Lời Đức Chúa Trời, để lời ấy biến thành sự sống cho mình. Đó là sự tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời. Đó là sự lắng nghe tiếng nói của Đức Chúa Trời. Đó là sự lắng nghe tiếng nói của Đức Chúa Trời. Đó là sự theo đuổi ý chí của Đức Chúa Trời. Đó là sự yên nghỉ trong sự hiện diện Thánh của Ngài trong sự ca ngợi và thờ phượng. Điều nầy được hoàn tất do việc sử dụng những gì Kinh Thánh đang nói, và sau đó đáp ứng với Chúa bằng sự vâng lời trìu mến.
Nghiên cứu suy gẫm phải là một phần của hoạt động hằng ngày của Cơ đốc nhân. Đó là sức sống mãnh liệt của con người. Mặc dù có những lúc sự nghiên cứu suy gẫm dùng để chia sẻ với người khác, nhưng mục đích chính của nó vẫn là của cá nhân mình. Thánh Linh đang phán gì với tôi? Sự nghiên cứu suy gẫm sẽ giúp đỡ tôi trông tìm được lời giải đáp.
Vì Cơ đốc nhân có một kẻ thù vốn luôn luôn ngănt trở họ tìm biết ý muốn và làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, nên bạn có thể thấy rằng có nhiều sự ngăn trở sẽ đến với bạn khi bạn nghiên cứu theo phương pháp nầy. Phierơ nhắn nhở chúng ta:
Hãy đề phòng, hãy thức canh. Kẻ thù nghịch anh em là Ma quỉ, như sư tử rống đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được. Hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự nó, vì biết rằng anh em tín hữu ở khắp nơi trên thế giới đang trải qua cùng loại khổ nạn như anh em” ( IPhi 1Pr 5:8, 9).
1. Viết chữ Đ trong khoảng trống trước lời diễn đạt đúng, viết chữ S nếu câu đó sai.
...a. Phương pháp nghiên cứu suy gẫm sẽ được chuẩn bị khi bạn được mời đến nói với một nhóm người.
...b. Nghiên cứu suy gẫm sẽ được mọi tín hữu tin nơi Chúa Jêsus thực hiện hằng ngày.
...c. Nghiên cứu suy gẫm sẽ thỏa mãn tri thức trước tiên.
...d. Nghiên cứu suy gẫm sẽ nuôi đời sống thuộc linh trước tiên.
2. On lại đoạn văn đầu của phần triển khai bài học. Sử dụng nó để hoàn chỉnh những câu sau đây liên quan đến phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh theo sự suy gẫm.
a. Nó là tinh thần ..................................................................
b. Nó là tinh thần ..................................................................
c. Nó là tinh thần ..................................................................
Phần Kinh Thánh dùng để nghiên cứu suy gẫm có thể là một chữ, một câu Kinh Thánh, một đoạn văn ( paragraph) hoặc một khúc dài hơn ( longer segment). Trong bài nầy bạn sẽ không nghiên cứu suy gẫm dựa vào một chữ, vì sự nghiên cứu thế sẽ đòi hỏi tiếp cận nhiều tài liệu tham khảo vốn có thể đưa bạn đi xa hơn vào sự tìm hiểu những chữ đặc biệt đó được dùng trong nguyên bản Hy bá lai và Hy lạp như thế nào. Loại nghiên cứu như thế không thuận lợi trong loạt bài học nầy. Phần nghiên cứu của bạn ở đây sẽ dựa vào một câu gốc, một phần đoạn hay một khúc Kinh Thánh, tất cả từ sách Philíp.
Việc phân chia thành đoạn và câu. Trong nguyên văn Kinh Thánh tiếng Hy bá lai không có đoạn và câu theo truyền thống Kinh Thánh được chia thành đoạn và như thế là do những dịch giả muốn tách đoạn văn dài thành những phần nhỏ hơn để dễ hiểu. Có lúc bạn có thể thấy rằng câu thứ nhất của một đoạn có thể thích hợp hơn nếu nó là câu chót của đoạn trước, hoặc ngược lại. Sự chọn lựa câu nào bắt đầu của một đoạn và câu nào kết thúc cho một đoạn được thực hiện cách đây chừng vài thế kỷ. Thuận lợi lớn của việc phân chia Kinh Thánh thành từng phần để dễ hiểu có nhiều tác động xa hơn những nan đề về việc nên dùng câu nào để kết thúc một đoạn. Bạn luôn luôn được tự do trong việc khởi đầu và chấm dứt sự nghiên cứu của bạn tại nơi hợp lý. Phải bảo đảm rằng việc khởi đầu và chấm dứt của bạn không làm thay đổi ý nghĩa của đoạn văn. Nhớ bao gồm tất cả những chữ làm cho ý tưởng hoàn chỉnh.
Đoạn văn ( paragraph). Thường thường, những dịch giả hiện đại không những kể đến cách phân chia đoạn ( chapter) và câu ( verse), nhưng họ còn chia Kinh Thánh thành nhiều đoạn văn ( paragraph - phân đoạn). Phân đoạn bao gồm nhiều câu văn có liên quan cùng đề tài chính. Hàng thứ nhất của cụm từ đó có dụng ý chỉ ra sự nối tiếp từ tư tưởng nầy sang tư tưởng khác. Phân đoạn là một đơn vị thuận lợi cho việc nghiên cứu.
Những “ miếng” ( bites) nhỏ của Kinh Thánh sẽ rất quan trọng cho việc nghiên cứu suy gẫm. Khi Chúa Jêsus bị Satan cám dỗ, Ngài trích dẫn Kinh Thánh, “ Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng cần mọi lời phán ra từ miệng Đức Chúa Trời” ( Mat Mt 4:4). Chúa Jêsus dẫn chứng từ PhuDnl 8:3. Bạn sẽ nghiên cứu từng phần nhỏ của Kinh Thánh cách nhiệt tình giống như bạn xem chúng dưới ống kính hiển vi. Bạn sẽ cố gắng hiểu từng cụm từ càng thấu triệt càng tốt. Bạn sẽ đặt cho Kinh Thánh những câu hỏi giống như bạn đã học cách làm ở trong bài 2 và bài 5.
Khúc dài hơn ( longer segment). Đôi khi bạn có thể sử dụng những khúc dài hơn như vài phân đoạn hoặc nhiều hơn một đoạn. Chiều dài của nội dung đoạn văn bạn nghiên cứu không quan trọng bằng “ tấm lòng lắng nghe”.
3. Đoạn trích Kinh Thánh thích hợp cho sự nghiên cứu suy gẫm có thể là
a) một sách của Kinh Thánh.
b) Một phân đoạn của Kinh Thánh
c) một nhóm của sách như bốn sách Phúc âm chẳng hạn.
4. ( Khoanh tròn những mẫu tự trước mọi lời hoàn chỉnh). Việc phân chia đoạn và câu của Kinh Thánh.
a) thuận lợi cho việc đọc và hiểu.
b) không có giá trị cho một học viên.
c) được tìm thấy trong nguyên bản Hy bá lai và Hy lạp.
e) đã được thêm vào do những dịch giả hiện đại, trong thời gian gần đây.
f) luôn luôn đánh dấu nơi nghiên cứu phải bắt đầu hay kết thúc.
NGHIÊN CỨU SUY GẪM MỘT CÂU.
Mục tiêu 2 : Áp dụng sự quan sát và sự giải thích vào sự nghiên cứu suy gẫm về Phi Pl 2:1
Trong việc nghiên cuúu suy gẫm, thái độ của tấm lòng quan trọng hơn kỹ thuật của trí tuệ là đúng. Việc nghiên cứu có hệ thống có giá trị hơn việc học tập lộn xộn hay sự nghiên cứu may rủi cũng rất đúng nữa. Một học giả Kinh Thánh lỗi lạc sẽ kết hợp thái độ đúng đắn của tấm lòng với phương pháp nghiên cứu tốt nhất. Bạn sẽ đáp ứng với lời của Đức Chúa Trời để nuôi dưỡng tâm linh mình, và bạn sẽ áp dụng tất cả những gì mình đã học về việc nghiên cứu Kinh Thánh.
Trong phần nầy của bài học, bạn sẽ khảo sát ba bước thuận lợi trong việc nghiên cứu suy gẫm. Rồi bạn sẽ áp dụng hai bước chót trong việc nghiên cứu Philíp 2 :. Những bước đó là : Chọn Đoạn Trích Dẫn, quan sát những sự kiện, và giải thích những sự kiện.
Chọn Đoạn Trích : Bước thứ nhất trong việc quyết định nghiên cứu câu nào. Bạn phải hết sức nhờ cậy Thánh linh hướng dẫn sự chú ý của bạn vào Lời Ngài phán với bạn vào thời điểm đặc biệt đó. Sự tin cậy đó khó giải quyết vì điều nầy thuộc về cảm nhận cá nhân. Nhưng nếu bạn là một Cơ đốc nhân và dành thì giờ ở riêng với Lời Đức Chúa Trời, có lẽ bạn sẽ biết cách Thánh Linh đánh thức tâm trí mình về đoạn Kinh Thánh nào đó. Tôi đã nghe có những Cơ đốc nhân nói như sau : “ Những chữ ấy dường như nhảy ra khỏi trang giấy” hay “ dường như câu Kinh Thánh ấy được in bằng những chữ mạ vàng”. Mỗi người trong các bạn khi tìm kiếm Đức Chúa Trời dẫn dắt mình trong sự nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời sẽ biết rằng Thánh Linh có cách đặc biệt của Ngài để thu hút sự chú ý của bạn.
Vì thế một cách để chọn lựa một câu là chú ý đến một đoạn Kinh Thánh biết sẵn. Bạn có thể thu hút vào một câu khi bạn đọc. Bất cứ lúc nào bạn đọc Kinh Thánh, hãy ghi chú những câu bạn chú ý. Những câu thích hợp với sự nghiên cứu suy gẫm là những câu có hàm chứa những sự chỉ dẫn hay những lời cảnh cáo đề phòng.
Nếu bạn không có sự “ chỉ dẫn đặc biệt” thì sao? Chẳng lẽ bạn không nghiên cứu Kinh Thánh sao? Không đời nào như vậy ! “ Cả Kinh Thánh đều bởi Đức Chúa Trời soi dẫn có ích lợi cho sự bẻ trách sửa trị, dạy người ta sống hợp lẽ phải ( IITi 2Tm 3:16) vậy nến bạn không được sự thu hút đặc biệt đến câu nào, thì hãy chọn một trong những câu có chứa đựng những sự chỉ dẫn phải tuân theo hoặc những lời cảnh cáo để tránh.
Quan sát Sự Kiện. Bước thứ hai là đọc câu Kinh Thánh với sự suy nghĩ nhiều lần. Khi bạn đọc, hãy tự hỏi “ nếu tôi phải đặt cho câu nầy để tài có ba hoặc bốn chữ, thì đó là đề tài nào?”.
Bằng việc nghĩ đến một đề tài cho câu, bạn sẽ nắm được ý nghĩa chính trong câu đó. Khi bạn có được ý chính của câu, hãy đọc kỹ lại và liệt kê mọi sự kiện bạn có thể tìm trong đó. Hãy tìm những sự kiện hoặc trực tiếp hay nói bóng gió qua câu đó. Hãy tìm câu trả lời cho những câu hỏi mà bạn học trong bài 2 : AI ? GÌ THẾ NÀO? KHI NÀO? Ở ĐÂU? ( Có thể bạn sẽ không tìm đủ hết năm câu trả lời cho mỗi câu mà bạn nghiên cứu). Hãy ghi ra tên của các sự vật, những động từ chỉ hành động, những chữ mô tả sự vật. Tất cả những sự quan sát nầy cần được ghi trong sổ tay của bạn.
Giải thích Sự kiện. Bước thứ ba là giải thích câu đó bằng cách viết ra ý nghĩa của nó bằng lời riêng của bạn. Làm như thế, bạn sẽ trả lời câu hỏi vốn là chìa khóa để giải thích : “ điều nầy có ý nghĩa gì?” đối với sự nghiên cứu suy gẫm bạn sẽ hỏi câu hỏi thứ hai “ điều nầy có nghĩa gì cho tôi?”
Trong việc chuẩn bị sự nghiên cứu suy gẫm bạn sẽ quan tâm đến việc nghiên cứu lẽ thật để nuôi dưỡng đời sống thuộc linh của mình hơn là chú ý đến những vấn đề kỹ thuật. Tuy nhiên, mọi kỹ năng bạn đã học đều phải được mang vào áp dụng cho đoạn trích khi bạn nghiên cứu Kinh Thánh. Tôi sẽ minh họa điều tôi muốn nói.
Trong bài 5 bạn học biết rằng sự lặp lại ( repetion) là một nguyên tắc của luận văn ( composition). Bạn đã học biết đến cách chú ý đến sự lặp lại khi bạn nghiên cứu Kinh Thánh vì đó là cách viết văn nhấn mạnh trong tay của nhà văn tài tình. Lặp lại đem lại sự thống nhất cho một đoạn văn của Kinh Thánh. Nó chỉ về sự nhấn mạnh.
Lý do của sự nhấn mạnh ấy là làm sao cho nó quan trọng : khi bạn học tập nhìn nhận sự lặp lại, thì lập tức ý thức của bạn có thể nói, “ lẽ thật đó phải quan trọng lắm vì Thánh Linh đã nhấn mạnh nó bằng sự lặp lại”. Kiến thức về kỹ thuật sẽ giúp bạn nắm được lẽ thật chính xác hơn. Những kỹ năng bạn đã học qua những bài học nầy sẽ trở thành những dụng cụ giúp bạn công bận và hiểu được lẽ thật cho lợi ích của mình.
5. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt đúng :
a) Những câu của Kinh Thánh thích hợp cho việc nghiên cứu suy gẫm là những câu có chứa đựng những lời chỉ dẫn để tuân theo hoặc những lời cảnh cáo để tránh.
b) Bạn chỉ nên nghiên cứu những câu bạn cảm thấy bị thu hút cách đặc biệt.
c) Cả Kinh Thánh đều có ích cho sự dạy dỗ lẽ thật và ban cho sự hướng dẫn để sống đúng đắn.
d) Bước thứ hai trong việc sửa soạn sự nghiên cứu suy gẫm là giải thích.
e) Câu hỏi chìa khóa trong sự giải thích Kinh Thánh là “ câu nầy có nghĩa gì?”.
On lại bài 2 của loạt bài nầy. Đặc biệt hãy ghi nhận những gì bạn học về sự quan sát và giải thích trong việc nghiên cứu Kinh Thánh.
6. Lặp lại là điều quan trọng trước tiên vì nó.
a) Là nguyên tắc của luận văn.
b) Là kiến thức “ kỹ thuật”
c) Am chỉ sự nhấn mạnh.
7. Câu nào trong những câu sau đây nói về sự chuẩn bị của việc nghiên cứu suy gẫm là đúng?
a) Vì bạn đang tìm kiếm thức ăn thuộc linh nên bạn có thể không biết đến những kỹ năng nghiên cứu mà bạn đã học.
b) Bạn khám phá và hiểu được lẽ thật bằng sự sử dụng trong tinh thần cầu nguyệ, suy nghĩ về mọi kỹ năng bạn đã học.
c) Điều quan trọng chủ yếu để bạn có thể nói được là bạn cần nhìn nhận những nguyên tắc của luận văn.
Bây giờ bạn sẵn sàng áp dụng sự nghiên cứu suy gẫm vào một câu : Phi Pl 2:1. Qua những bài tập sau đây, điều rất quan trọng ấy là bạn tuân theo mỗi sự chỉ dẫn cho riêng mình, viết xuống tất cả những gì bạn tìm được vào sổ tay của mình trước khi bạn xem phần giải đáp ở cuối bài học. Mong rằng những câu trả lời của bạn hơi khác với của chúng tôi. Đừng cảm thấy rằng mình phải thay đổi câu trả lời của mình trừ phi những câu ấy sai quá rõ ràng. Hãy viết chữ trưng dẫn : 2:1 trên đỉnh của trang giấy trong sổ tay của bạn.
8. Đọc 2:1 nhiều lần. Bạn có thể thuộc lòng câu ấy. Viết tựa đề chừng ba hay bốn chữ cho câu nầy.
9. Hãy quan sát những sự kiện khi bạn đọc 2:1 trở lại. Viết những câu trả lời ngắn cho các câu hỏi : AI? GÌ? THẾ NÀO? và KHI NÀO?
10. Giải thích sự kiện bằng lời riêng của bạn. Hãy viết lời diễn ý cho câu nầy, sử dụng đại từ “ tôi” thay thế cho “ anh em” ( bạn”. Hãy viết trong sự suy nghĩ với tinh thần cầu nguyện, nhớ giữ trong trí mình hai câu hỏi chìa khóa : “ điều nầy có ý nghĩa gì? và điều nầy có nghĩa gì cho tôi?”
NGHIÊN CỨU SUY GẪM MỘT ĐOẠN VĂN.
Mục tiêu 3 : Áp dụng sự quan sát và giải thích vào sự nghiên cứu suy gẫm về 2:1-5
Nghiên cứu suy gẫm về một đoạn văn ( phân đoạn) của Kinh Thánh cũng tương tự như nghiên cứu suy gẫm một câu. Đoạn văn bạn sẽ nghiên cứu ở phần nầy là 2:1-5. Trước hết, bạn sẽ đọc cẩn thận mỗi câu và đặc cho nó một tựa đề hay bốn chữ như bạn làm cho 2:1.
Thứ hai, bạn hãy quan sát sự kiện. Nghĩa là đọc đi đọc lại nhiều lần nếu cần để tìm những câu trả lời cho năm câu hỏi về sự kiện : AI? GÌ? THẾ NÀO? KHI NÀO? Ở ĐÂU? Hãy chú ý những động từ hay những hành động, những lời nói về lẽ thật, những lệnh truyền, và những lời cảnh cáo. Khi bạn bắt đầu hiểu rõ sứ điệp của đoạn văn, bạn hãy viết một tựa đề ba hoặc bốn chữ cho đoạn văn.
Bước thứ ba là giải thích. Nó sẽ bao gồm bài viết bằng lời riêng của bạn về ý nghĩa của đoạn văn đó. Lời diễn đạt nầy sẽ mang tất cả những sự quan sát và những lơì giải thích của bạn lại với nhau trong một tổng thể thống nhất.
Những câu hỏi sau sẽ hướng dẫn bạn nghiên cứu 2:1-5. Viết những câu trả lời cho những câu hỏi ấy vào sổ tay của bạn trước khi bạn xem phần giải đáp. Những câu trả lời có thể khác nhau, nhưng đừng nghĩ rằng bạn phải thay đổi những câu trả lời của mình trừ phi cần phải sửa lại.
11. Đọc mỗi câu trong 2:1-5 vài lần. Đặt một tựa đề vài chữ cho mỗi câu để tóm tắt ngắn gọn ý chính của câu. Viết những tựa đề nầy vào sổ tay của bạn như là tiêu đề chính của một dàn ý. Chừa vài hàng trống giữa mỗi câu để có thể đưa phần quan sát sự kiện và dưới tựa đề của mỗi câu khi bạn lập dàn ý nầy ( ôn lại tiến trình làm dàn ý trong bài 7 ở phần “ dàn ý sách Habacúc”). Ở đầu của trang giấy hãy viết một tựa đề ngắn cho dàn ý của bạn vốn tóm tắt những ý tưởng trong đoạn văn.
12. Đọc đi đọc lại mỗi câu của 2:1-5 với năm câu hỏi sự kiện trong trí : AI? GÌ? THẾ NÀO? KHI NÀO? Ở ĐÂU? ( Dĩ nhiên, bạn sẽ không trả lời hết những câu hỏi nầy cho mỗi câu Kinh Thánh) bạn cũng sẽ tìm những lời nói về lẽ thật, lệnh truyền, cảnh cáo và những nguyên tắc của luận văn vốn là những manh mối mà Thánh Linh có dụng ý nhấn mạnh. Với tất cả những điều đó trong trí, hãy viết tiểu tựa đề dưới mỗi tựa đề của mỗi câu và những chi tiết dưới tiểu tựa đề cho ba câu.
Chú ý : khoảng cách không cho phép làm dàn ý trọn vẹn về mỗi sự quan sát trong câu trả lời của bạn đối với bài tập trên, nhưng hãy chú ý ở câu 2 về những cụm từ sau : đồng tư tưởng ....đồng tình yêu ......... hiệp một linh hồn và tâm trí. Phương cách viết văn nào được sử dụng ở đây? Lặp lại?Liên ý? Vâng, có sự tiếp diễn, vốn là sự mở rộng của một ý tưởng. Khi một đoạn văn được xây dựng theo cách nầy, thì nó rất mạnh. Nó cho chúng ta thấy rằng ý tưởng được trình bày là ý tưởng rất quan trọng đối với Đức Chúa Trời. Dàn bài gợi ý trong phần trả lời những câu hỏi nghiên cứu sẽ không hàm chứa tất cả những loại quan sát nầy, nhưng phải bảo đảm rằng phần ghi chú của bạn được hoàn tất với tất cả những điều bạn quan sát.
13. Bây giờ bạn sẵn sàng cho bước thứ ba rồi nhỉ. Đó là bước giải thích. Hãy nhớ những câu hỏi chìa khóa : “ điều nầy có ý nghĩa gì?” và “ điều nầy có ý nghĩa gì đối với tôi?” bằng lời riêng của bạn hãy viết lời diễn đạt mở rộng về ý nghĩa của 2:1-5 sử dụng chữ “ tôi” và “ của tôi” thay thế cho “ anh em” và “ của anh em”.... ( sau cùng, phần nghiên cứu suy gẫm nầy dành cho lợi ích của bạn, nên nó sẽ hiệu quả nếu bạn dùng ngôi thứ nhất). Lời diễn đạt của bạn phải hàm chứa mọi ánh sáng của đoạn văn mà bạn đã tìm được. Khi bạn viết hãy viết trong tinh thần cầu nguyện, Thánh Linh của Chúa sẽ làm cho nó thành sự sống cho bạn.
NGHIÊN CỨU SUY GẪM MỘT KHÚC DÀI HƠN.
Mục tiêu 4 : Áp dụng sự quan sát và giải thích cho sự nghiên cứu suy gẫm về 2:1-11
Tiến trình bạn sử dụng cho việc nghiên cứu những câu, và những đoạn văn có thể mở rộng sang những đoạn dài hơn. Đối với việc nghiên cứu suy gẫm bạn muốn chọn những đoạn văn trong đó tất cả đều có liên quan với nhau trong đường hướng nào đó. Điều nầy có thể gồm nhiều đoạn văn hay cả đoạn Kinh Thánh, nhưng đối với loại nghiên cứu nầy bạn sẽ có thể thấy sự liên tục của một đề tài suốt cả đoạn văn. Ở đây, đoạn văn nghiên cứu được chọn sẵn cho bạn.
2:1-11 đã được chọn để bạn có thể thấy thế nào việc nghiên cứu một câu riêng rẽ và một đoạn văn có thể liên quan đến việc nghiên cứu đoạn văn dài hơn trong đó chúng là một phần. Chúng ta có thể tiết kiệm được thì giờ và chỗ bằng sự xây dựng sự nghiên cứu của mình trên những gì bạn đã hoàn tất, đưa nó vào làm một phần của sự nghiên cứu đoạn văn dài hơn. Trong phần nầy, bạn sẽ khảo sát những câu 6 - 11. Hãy viết những gì bạn tìm được ngay vào sổ tay của bạn tiếp theo phần nghiên cứu của bạn từ câu 1 -5. Những bước tiến hành vẫn y như trước, ngoại trừ trong đoạn dài hơn bạn có thể tìm một câu chìa khóa ( câu gốc). Nhớ theo những bước sau đây:
Trước hết, đọc cẩn thận từng câu, đặt một tựa đề vắn tắt cho nó. Thứ hai, quan sát những sự kiện. Đọc đi đọc lại nếu cần để tìm những câu trả lời cho năm câu hỏi sự kiện AI? GÌ? THẾ NÀO? KHI NÀO ? Ở ĐÂU? Hãy chú ý những động từ, hay những hành động, những lời nói về lẽ thật, những lệnh truyền hay những lời cảnh cáo. Nhớ tìm hiểu ý nghĩa của những chữ bạn không biết. Trong một đoạn văn dài hơn bạn sẽ tìm thấy những nguyên tắc về luận văn và những phương cách viết văn mà bạn đã học cách tìm kiếm. Viết tất cả, những sự quan sát của bạn. Sử dụng một hình thức dàn ý như bạn đã làm cho 2:1-5. Chọn một tựa đề mới ngắn gọn cho toàn thể đoạn văn.
Thứ ba, giải thích và viết ra những điều bạn tìm được, trả lời những câu hỏi quan trọng “ Điều nầy có ý nghĩa gì?” và “ Điều nầy có ý nghĩa gì cho tôi?”
Viết những câu trả lời cho những bài tập sau đây trong sổ tay của bạn theo cách nó sẽ là phần nghiên cứu tiếp tục của những câu 1 -5.
14. Đọc toàn thể đoạn văn ( 2:1-11) vài lần. Đến bây giờ bạn đã quen thuộc với phần đầu của đoạn văn, nhưng bạn cần phải đọc lại để thấy nó liên quan đến những câu từ 6 - 11 như thế nào. Khi bạn thấy được ý nghĩa toàn thể đoạn văn, hãy chọn một câu chìa khóa ( câu gốc) cho đoạn đó, và viết địa chỉ của câu nầy. Câu gốc phải là câu tóm tắt được ý chính của hết thảy mọi câu, hay câu làm nền tảng cho mọi ý tưởng.
15. Hãy khảo sát lại tựa đề bạn cho 2:1-5. Giữ cùng tựa đề nó hay thay đổi nếu cần, vì cho cả đoạn văn từ 1 - 11. Bây giờ, hãy viết tựa đề mà bạn quyết định cho toàn cả đoạn văn.
16. Vì bạn đã hoàn tất việc nghiên cứu năm câu thứ nhất, nên bây giờ bắt đầu với câu 6 đến câu 11. Viết tựa đề ngắn ba hay bốn chữ cho mỗi câu. Khi bạn làm xong, nhớ so sánh những tựa đề của bạn với của chúng tôi được ghi ở phần giải đáp. ( Trả lời có thể khác nhau).
17. Bây giờ, hãy chọn và viết một tựa đề ( dựa vào câu chìa khóa của chúng tôi 2,5) cho những câu 6 -11.
18. Bạn sẵn sàng quan sát những sự kiện trong 2:6-11 rồi nhỉ. Hãy dùng những tựa đề của câu như là những điểm chính trong dàn ý của phần nầy, như bạn đã làm cho những câu 1 -5. On lại những phần hướng dẫn trong bài tập 12. Vì sự nghiên cứu những câu 6 -11 là phần tiếp theo của đoạn văn, nên bạn tiếp tục đánh số những điểm chính của bạn tại chỗ bạn dùng ở câu 5. Những điểm chính của bạn có thể đánh dấu IV. Bây giờ, hãy viết những tiểu tựa đề dưới mỗi tựa đề của các câu từ 6 - 11.
Trong sách nghiên cứu tự học nầy chỉ chứa đựng một dàn ý căn bản. Dàn ý của bạn có thể bao gồm mọi chi tiết của sự quan sát của bạn khi bạn nhìn cẩn thận trong tinh thần cầu nguyện để tìm kiếm ý nghĩa của những chữ.
Bây giờ bạn sẵn sàng viết lời giải thích cho 2:6-11. Phần nầy là một trong những đoạn có ý nghĩa sâu sắc nhất trong những đoạn của Kinh Thánh. Hoặc bạn hay tôi, chúng ta chẳng bao giờ có thể hiểu hết được ý nghĩa của những gì Đấng Christ làm cho chúng ta khi Ngài đến trần gian nầy như một người, đến để chết trên thập tự giá, và rồi nhận được danh xưng cao nhất và sự tôn trọng tuyệt đỉnh từ tay của Đức Chúa Cha. Nhưng chúng ta phải có “ thái độ .... mà Đấng Christ đã có” ( the attitude....that Christ Jêsus had) ( câu 5).
19. Ôn lại phần hướng dẫn cho bài tập 13. Khảo sát những câu 6 - 11 trong tinh thần cầu nguyện. Viết những câu trả lời cho các câu hỏi sau : “ Điều nầy có nghĩa gì? Điều nầy có ý nghĩa gì cho tôi?” Trả lời những câu hỏi ấy với hết khả năng của bạn khi Thánh linh ban cho bạn một mức độ hiểu biết.
20. Cuối cùng hãy viết lời tóm tắt chủ yếu cho toàn cả đoạn văn 2:1-11. ( Lời diễn đạt nầy sẽ giải thích thế nào 2:6-11 liên quan với 2:1-5.
Bài Tập Trắc Nghiệm .
1. Sự khác biệt chính giữa nghiên cứu Kinh Thánh theo sự suy gẫm và những loại nghiên cứu khác về Kinh Thánh là ở
a) kỹ năng sử dụng
b) kỹ thuật
c) mục đích
2. Mục đích chủ yếu của sự nghiên cứu Kinh Thánh theo sự suy gẫm.
a) là sự khám phá về trí tuệ và hiểu biết.
b) để nhận lấy sức lực cho cá nhân mình từ Lời Đức Chúa Trời.
c) để áp dụng những kỹ thuật nghiên cứu vào Kinh Thánh.
3. Nghiên cứu Kinh Thánh theo sự suy gẫm có thể được hoàn thành tốt bằng việc sử dụng.
a) những câu, những đoạn văn hay những đoạn Kinh Thánh.
b) toàn cả cuốn sách.
c) vài cuốn sách có liên hệ.
4. Nghiên cứu suy gẫm phải
a) là phần của hoạt động hằng ngày của mỗi Cơ đốc nhân.
b) được thực hiện khi chuẩn bị nói trước một nhóm người.
c) để dành cho những thời kỳ đặc biệt của năm.
5. Khi nghiên cứu chỉ một câu trong Kinh Thánh.
a) thì việc đọc đơn sơ câu ấy là đủ rồi.
b) thì nghiên cứu theo phương pháp tốt hơn nghiên cứu ngẫu hứng.
c) thì những kỹ năng nghiên cứu Kinh Thánh không cần thiết hoặc sử dụng.
6. Khi ngiên cứu chỉ một câu trong Kinh Thánh.
a) thì câu Kinh Thánh nào cũng tốt như nhau.
b) thì phải chọn một câu đặc biệt rất dài.
c) thì phải quyết định xem câu đó có những lời chỉ dẫn để tuân theo hay những cảnh cáo để tránh.
7. Câu hỏi chìa khóa trong việc giải thích Kinh Thánh là gì?
a) Ai là nhân vật chính?
b) Điều nầy có nghĩa gì?
c) Điều nầy xảy ra ở đâu?
8. Bước cuối cùng của việc nghiên cứu Kinh Thánh theo sự suy gẫm là gì?
a) Giải thích.
b) Đặt ra một tựa đề.
c) Quan sát
9. Những kỹ năng trong việc nghiên cứu Kinh Thánh phải
a) trở thành những dụng cụ để giúp bạn nắm được lẽ thật cách chính xác.
b) làm cho bạn thành giáo sư dạy Kinh Thánh giỏi hơn những người khác.
c) bị bỏ qua khi bạn nghiên cứu suy gẫm.
10. Mục đích của việc viết một tựa đề ngắn cho mỗi câu trong đoạn văn là để
a) làm cho phần nghiên cứu ngắn.
b) giữ cho bạn khỏi quan tâm đến nhiều chi tiết.
c) giúp bạn nắm được ý tưởng chính trong mỗi câu.
11. Bạn viết lời giải thích của mình trong một câu có ý nghĩa để
a) làm ngắn đoạn văn lại.
b) thống nhất tất cả những phần quan sát và giải thích của bạn.
c) nói lên phần quan trọng nhất trong đoạn văn.
12. Hoặc sự nghiên cứu suy gẫm đặt nền tảng trên một câu, hay một đoạn văn hoặc vài đoạn văn thì
a) phải thay đổi hoàn toàn những bước nghiên cứu.
b) thay đổi rất ít những bước nghiên cứu.
c) thay đổi phần lớn những bước nghiên cứu.
13. Trong sự nghiên cứu suy gẫm một đoạn văn dài hơn,
a) chỉ có tư tưởng chung tổng quát mới quan trọng.
b) mỗi câu đều quan trọng vì nó góp phần cho cả đoạn văn.
c) thì chỉ cần đọc một lần thường có thể thấy hết mọi vấn đề.
14. Khi bạn chọn một đoạn dài hơn để nghiên cứu suy gẫm
a) nó sẽ giúp bạn có nhiều đề tài được giới thiệu trong đó.
b) thì nên chọn một đoạn văn trong đó tất cả mọi câu đều liên quan với nhau trong cách nào đó.
c) đoạn ấy phải khởi đầu hay chấm dứt với cách chia đoạn.

Giải đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
1. a. Sai
b. Đúng
c. Sai
d. Đúng.
2. a) nhiệt tình tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời
b) khiêm tốn sẵn sàng lắng nghe lời phán của Đức Chúa Trời.
c) tôn kính, chiêm ngưỡng vốn yên nghĩ trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
3. b) một đoạn văn của Kinh Thánh.
4. a) thuận lợi cho việc đọc và hiểu.
b) được những dịch giả cách đây nhiều thế kỷ quyết định.
5.a) Những câu Kinh Thánh thích hợp cho việc nghiên cứu suy gẫm là những câu có chứa đựng những lời chỉ dẫn để tuân theo hay những lời cảnh cáo để tránh.
c) Cả Kinh thánh đều có ích lợi cho sự dạy dỗ lẽ thật và ban sự hướng dẫn để sống đúng đắn.
e) câu hỏi chìa khóa trong sự giải thích Kinh Thánh là “ câu nầy có nghĩa gì?”
6. c) ám chỉ sự nhấn mạnh.
7. b) Bạn khám phá và hiểu được lẽ thật bằng sự sử dụng trong tinh thần cầu nguyện, suy nghĩ về mọi kỹ năng bạn đã học.
8. Tất cả những gì tôi cần, hay sự toàn mãn trong Đấng Christ ( Những câu trả lời có thể khác nhau).
9. AI? Bạn, Christ, Thánh Linh và những tín hữu khác.
GÌ? Sức lực, tình yêu, sự thông công, sự nhơn từ và lòng thương xót.
THẾ NÀO? Sức lực trong Christ, tình yêu của Ngài an ủi bạn, thông công với Thánh Linh, nhơn từ và thương xót đối với những tín hữu khác.
KHI NÀO? Bây giờ ( mọi hành động của động từ đều ở thì hiện tại) ( Những câu trả lời có thể khác).
10. Là một con người trong Jêsus Christ tôi có tất cả những gì mình cần để giữ tôi vững vàng và bảo đảm, và là một tín hữu, Ngài ban cho tôi đắc thắng bội phần ( hơn là một người chinh phục). Vấn đề ấy là sự sống của tôi trong Christ là nguồn gốc của sức lực của tôi. Ngài chẳng hề thất bại. Khi tôi cần sụ an ủi, tôi tìm được đều ấy trong tình yêu của Ngài. Tôi có sự tương giao với có nghĩa là thông công chia sẻ lợi ích. Đời sống tôi càng tương hợp với Chúa Jêsus Christ, thì mối thông công của tôi càng mật thiết. Sự nhơn từ và sự thương xót sẽ mô tả những thái độ và những hành động của tôi đối với những bạn bè tín hữu và thái độ cùng hành động của họ đối với tôi.
11. NHỮNG MỐI QUAN HỆ CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
I. Câu 1 : ĐỨC CHÚA TRỜI, BẢN NGÃ, NHỮNG NGƯỜI KHÁC.
II. câu 2 : SỰ HIỆP MỘT CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
III. câu 3 : ĐỘNG CƠ CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
IV. câu 4 : SỰ QUAN TÂM CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
V. câu 5. THÁI ĐỘ CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
12. NHỮNG MỐI QUAN HỆ CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
I. ĐỨC CHÚA TRỜI, BẢN NGÃ, NHỮNG NGƯỜI KHÁC
A. Sức lực từ sự sống ở trong Christ
B. Sự an ủi từ Christ.
C. Sự thông công với Thánh Linh.
D. Nhơn từ và thương xót đối với nhau.
II. SỰ HIỆP MỘT CỦA CƠ ĐỐC NHÂN.
A. Có cùng tư tưởng
B. Chia sẻ cùng tình yêu.
C. Hiệp một trong linh hồn và tâm trí.
III. ĐỘNG CƠ CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
A. Những động cơ sai lầm.
1. Tham vọng ích kỷ.
2. Thèm muốn sự khoe khoang rẻ tiền.
B. Những động cơ đúng đắn.
1. Khiên tốn đối với nhau.
2. Luôn luôn tôn trọng người khác hơn mình.
IV. SỰ QUAN TÂM CỦA CƠ ĐỐC NHÂN
A. Không chỉ cho lợi ích của riêng mình
B. Quan tâm đến lợi ích của kẻ khác.
V. THÁI ĐỘ CỦA CƠ ĐỐC NHÂN.
A. Thái độ mà Christ đã có.
B. Tín hữu cần điều đó.
13. Phi Pl 2:1-5 cho thấy rằng nền tảng của mối quan hệ cá nhân phải lẽ ấy là sự sống của tôi ở trong Chúa Jêsus Christ. Chỉ khi nào tôi mạnh mẽ trong Chúa thì tôi mới có thể liên hệ đúng đắn với những người khác. Khi sự toàn mãn của sự sống của Christ tuôn chảy qua tôi, tôi có sức lực bề trong, sự an ủi và sự tương giao. Lúc bấy giờ tình yêu của Ngài còn chiếu sáng qua tôi có thể bày tỏ sự nhơn từ và sự thươn xót đến những người khác. Mục đích cho tôi và cho những tín hữu Cơ đốc khác còn đi xa hơn sự nhơn từ và sự thương xót, đó là tất cả chúng tôi đều phải hiệp một trong tư tưởng, tâm trí và linh hồn, cùng tình yêu đối với nhau và đối với Chúa ( Xem lời cầu nguyện của Chúa Jêsus,, GiGa 17:21-23). Điều nầy dường như thật khó, nhưng câu 3 - 5 giúp tôi thấy mình những gì có thể làm để thực hiện sự khao khát nầy của Đức Chúa Trời cho gia đình của Ngài. Tôi phải đề phòng tâm linh mình để chống lại tham vọng ích kỷ hay vì vinh hoa giả dối. Nếu tôi nhận thấy điều yếu đuối nầy trong bản thân mình, tôi phải lập tức nhìn nhận nó như là điều không đẹp lòng Chúa. Thay vì khoe khoang, tôi sẽ vun trồng sự khiêm tốn đối với những tín hữu khác. Mỗi người đều có điều tốt hơn tôi ở mặt nào đó. Tôi phải nghĩ đến điều đó và phải quan tâm đến những lợi ích của những tín hữu khác cũng như lợi ích của riêng mình. Thái độ của tôi phải giống như thái độ của Jêsus Christ đã có. Tôi sẽ nhớ rằng đây là mục đích của tôi, và tôi sẽ nghiêm khắc kỷ luật tâm linh mình để trở thành loại người nầy. Tôi có thể thành công được vì đó chính là sự sống lại của Chúa Jêsus Christ và sự liên hiệp và tương giao của tôi với Ngài ( câu 1) làm cho điều ấy khả thi.
14. Câu chìa khóa 2:5
15. ( Những câu trả lời có thể khác nhau). Tựa đề mới gợi ý của chúng tôi cho 2:1 - 11 : TÂM TRÍ CỦA ĐẤNG CHRIST TRONG TÔI.
16. câu 6. BẢN CHẤT, SỨC MẠNH VÀ SỰ BÌNH ĐẲNG.
câu 7. TỰ NGUYỆN MANG LẤY BẢN CHẤT CỦA TÔI TỚ.
câu 8 : VÂNG PHỤC CHO ĐẾN CHẾT
câu 9 : ĐƯỢC BAN CHO DANH XƯNG CAO NHẤT.
câu 10 : MỌI ĐẦU GỐI SẼ QUÌ XUỐNG.
câu 11 : JÊSUS CHRIST LÀ CHÚA.
17. THÁI ĐỘ CỦA CHÚA JÊSUS.
18. VI. BẢN CHẤT, SỨC MẠNH VÀ SỰ BÌNH ĐẲNG.
A. Luôn luôn có bản chất của Đức Chúa Trời
B. Không chấp nhận sự đoạt lấy sự bình đẳng.
VII. TỰ NGUYỆN MANG LẤY BẢN CHẤT CỦA TÔI TỚ.
A. Của ý chí tự do của Ngài.
B. Từ bỏ tất cả.
C.Trở thành như con người
D. Hiện ra trong hình thể con người.
VIII. VÂNG PHỤC CHO ĐẾN CHẾT
A. Bước đi trên con đường vâng lời.
B. Con đường dẫn đến sự chịu đóng đinh
IX. ĐƯỢC BAN CHO DANH XƯNG CAO NHẤT.
A. Đức Chúa Trời ban cho Ngài danh xưng cao nhất.
X. MỌI ĐẦU GỐI SẼ QUÌ XUỐNG
A. Tất cả hữu thể ở trên trời
B. Tất cả hữu thể trên đất.
C. Tất cả hữu thể bên dưới đất.
D. Để tôn vinh danh của Jêsus.
XI. JÊSUS CHRIST LÀ CHÚA.
A. Tất cả muôn vật công khai xưng nhận điều đó.
B. Vinh hiển thuộc về Đức Chúa Cha.
19. ( Câu trả lời gợi ý; câu trả lời của bạn có thể khác). 2:6-11 cho tôi sự hiểu biết một ít về bản chất của Chúa Jêsus Christ và ý nghĩa thật sự của việc Ngài đến trần gian nầy. Không có lúc nào mà Chúa Jêsus không có bản chất của Đức Chúa Trời. Bản chất nầy chống lại việc sử dụng sức mạnh để đoạt lấy cho mình. Chúa Jêsus tự nguyện từ bỏ tất cả, Ngài mang bản chất của một tôi tớ, trở nên giống như một người, và mang lấy mạo dạng con người. Việc Chúa Jêsus từ bỏ hết thảy mọi sự Ngài có như Đức Chúa Trời và đến sống tại quả đất nầy như một con người thật vượt quá sự hiểu biết, nhưng còn hơn thế nữa.
20. Thánh Linh cho thấy rõ ràng thái độ của Chúa Jêsus Christ ( câu 6 - 11) tương ứng với thái độ mà tôi phải có trên thế gian nầy như thế nào ( câu 1 -5). Vì Phaolô động viên những loại hành động và những thái độ trong những câu 2 -4, nên tôi hiểu rằng ý chí của tôi phải gắng liền vào đó. Tôi phải chọn việc trở nên giống Chúa Jêsus. Trong cuộc sống hàng ngày tôi phải dùng ý chí của mình để quyết định, và ý chí phải vâng phục Chúa Jêsus. Chúa Jêsus là gương mẫu của tôi trong việc Ngài tự nguyện “ dùng ý muốn tự do riêng của Ngài” ( of His own free will - câu 7), hoàn toàn vâng lời Đức Chúa Trời.
Muốn trở nên giống Chúa Jêsus, tôi phải từ bỏ tham vọng ích kỷ ( câu 3). Những ai để nó cai trị mình sẽ trở nên ngông cuồng trong sự tham dục muốn có danh, lợi, quyền. Họ thiếu nhạy bén về những lợi ích của người khác. Tôi đừng bao giờ trở thàng loại người đó. Chúa Jêsus chỉ cho tôi cách thức khi Ngài từ khước ý tưởng đạt được địa vị của mình bằng sức mạnh ( câu 6). Từ câu 3 tôi học biết rằng tôi phải loại trừ “ sự ham muốn đê hèn mà khoe khoang” ( cheap desire to boast), VÀ PHẢ ĐỐI XỬ KHIÊM TỐN VỚI NGƯỜI KHÁC. Câu 8 cho tôi thấy rằng chính Chúa Jêsus Christ tự hạ mình. Câu 3 và 4 thúc giục tôi phải quan tâm đến người khác và những lợi ích của họ, phải coi người khác như quan trọng hơn mình. Chúa Jêsus cũng chỉ cho tôi thấy làm điều nầy nhu thế nào nữa. Ngài mặc lấy bản chất của một tôi tớ ( câu 7). Chúa Jêsus đã bước đi trên con đường vâng lời, con đường đưa đến sự chết. Tôi phải vâng theo mệnh lệnh của câu 5 để có cùng thái độ mà Ngài đã có. Rõ ràng thái độ của Chúa Jêsus đã làm đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Câu 9 - 11 cho tôi thấy quyền năng của sự vinh hiển vĩ đại mà Chúa Jêsus đã nhận được từ Đức Chúa Cha với lý do rõ ràng ( câu 9) ( cũng vì cớ đó). Vì lú do nào? Vì sự hạ mình từ bỏ ý muốn tự do riêng của Ngài để vâng theo ý muốn của Đức Chúa Cha ( câu 6 -8). Khi tôi xem xét bản chất thật của Chúa Jêsus Christ, tôi hổ thẹn biết bao về những sự thất bại của mình. Nhưng sự xấu hổ đó không được đánh bại tôi. Chúa Jêsus muốn tăng cường sức lực của tôi để tôi có thể trở thành loại người Ngài muốn tôi trở thành. Sức lực để tôi sống như Chúa Jêsus đến từ sự kết hiệp sự sống của tôi với Ngài ( câu 1). Chỉ có vâng lời Ngài mới có thể mang kết quả trong sự vinh hiển tương lai.
Trở thành con người trong sự hạ mình vâng phục ý muốn của Đức Chúa Cha còn dẫn Ngài đến cái chết ở trên thập tự giá. Ngài biết con đường từ bỏ đó sẽ dẫn Ngài đi đến đâu, nhưng Ngài đã làm điều đó “ bằng ý muốn tự do riêng của Ngài” ( câu 7). Tầm quan trọng của hành động của Ngài khiến cho Đức Chúa Cha cất nhắc Ngài lên địa vị cao nhất và ban cho Ngài danh lớn hơn bất kỳ danh nào khác. Để tôn vinh danh của Chúa Jêsus, mọi hữu thể trên trời, dưới đất hoặc thế giới bên dưới đất sẽ quì gối và công khai xưng nhận Jêsus Christ là Chúa mà qui vinh hiển về Đức Chúa Cha.
Ý nghĩa của câu 10 thật rõ. Một ngày kia mọi người sẽ quì gối. Hoặc chúng ta quì xuống trước mặt Ngài khi mình còn sống để nhận được sự tha thứ và sự sống đời đời, hoặc chúng ta bị bắt buộc quì xuống và công nhận quyền chủ tể của Ngài trong tương lai khi không còn có sự cứu rỗi nữa. Cuối cùng mọi đầu gối sẽ quì xuống trước mặt Ngài. Ý nghĩa lớn lao của đoạn văn nầy đối với tôi là trong lúc tôi còn sống, tôi biết chắc rằng bây giờ tôi mời Chúa Jêsus Christ làm CHỦ của đời sống tôi. Chúa Jêsus tự nguyện cho sự bước đi trong sự hạ mình vâng phục ý muốn của Đức Chúa Cha. Cũng vậy, tôi chọn việc bước đi trong sự hạ mình vâng phục Chúa Jêsus cho dù bất cứ điều gì xảy ra cho cá nhân tôi. Cuộc đời của tôi là của Ngài nắm quyền kiểm soát, cũng như cuộc đời của Ngài thuộc quyền kiểm soát của Cha Ngài.

Giải đáp Bài Tập Trắc Nghiệm
Bài 1
1. b) nghiên cứu bằng cách có kỹ luật.
2.a) để sống, đức tin và sự phục vụ
3. a) Đức Chúa Trời làm cho hiểu rõ những gì trước kia chưa hiểu.
4.c) Thiên nhiên ( tự nhiên)
5.a. 3) bình thường
b.4) tín hữu
c.5) dồn chứa.
d.2) tiến trình mặc khải
e.1) phê bình
f.6) hài hòa
6. Kỹ thuật phát vấn ( hỏi và trả lời). Những nguyên tắc căn bản của sự giải thích, những phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh.
Bài 2.
1.b) sự hiểu biết thuộc linh
2.a) thuộc linh và trí tuệ.
3.c) tự do trọn vẹn khỏi tội lỗi
4. a.2) Thuộc linh
b.1) Trí tuệ.
c.2) Thuộc linh
d.1) Trí tuệ.
e.2) Thuộc linh
5. Cây bút chì, giấy và Thánh Kinh.
6.b) dẫn đến sự hiểu biết về Kinh Thánh
7.c) Quan sát, giải thích, tóm tắt và đánh giá.
8.a) “ Điều nầy nói gì?”
9.c) “ Điều nầy có ý nghĩa gì?”
10.a.2) Những câu hỏi về tư tưởng.
b.1) Những câu hỏi về sự kiện.

Bài 3
1.a) Giáo lý và thần học hàm chứa mọi sự dạy dỗ về đức tin Cơ đốc.
b) Thần học bàn về sự nghiên cứu về Đức Chúa Trời và mối quan hệ của Ngài đối với con người và thế giới.
2.b) tự nhiên, bình thường, cách sử dụng ngôn ngữ thường ngày.
3. a) Niềm tin phải được thử nghiệm bằng sự mặc khải của Tân ước.
c) Niềm tin phải được thử nghiệm bằng ý nghĩa của nội dung những câu Kinh Thánh chung quanh đoạn văn.
e) Niềm tin phải dựa trên nền tảng duy nhất là Kinh Thánh.
4. Sai
5. Đúng
6. Sai
7. Đúng
8. Sai.
9. Để sống và phục vụ.
10. Vì Kinh Thánh bàn về những vấn đề trường cửu về sụ sống và sự chết ( Những câu trả lời sẽ khác nhau).

BÀI 4
1. a.3) thuộc về đất
b. 1) Một ( duy nhất)
c. 2) thuộc linh
2.b) lẽ thật liên quan những biến cố tương lai và những nhu cầu hiện tại.
3 b) Một sự tượng trưng ( type) luôn luôn giống như biểu tương ( symbol).
4.b) Thơ của người Hybálai không giới hạn chiều dàu cho những dòng thơ.
c) Thơ của người Hybá lai được cấu tạo chung quanh một khuôn mẫu về tư tưởng.
d) Những thi sĩ người Hybálai nói cách đặc biệt về những cảm giác và những cảm xúc.
BÀI 5
1.a) quan điểm như con mắt con chim.
2.c) đọc qua cả cuốn sách.
3.d) truyền thông
4.b) so sánh
5.b) chuẩn bị
6.c) phát xạ
7. a) Đặc biệt hóa
8.c) tương phản
9. c) trao đổi.
BÀI 6
1. (Bản Kinh Thánh Anh Ngữ có 3 chữ and ( và) the, to ( vào).
2. b) sau khi
3. d) vì
4.a) Nhưng
5.b) Kết cấu.
6.c) trạng thái
7.a) Bình luận
8.c) văn khải thị
9 a) so sánh
10. b) sự thay đổi

BÀI 7
1.c) đọc và viết.
2.d) được tìm thấy trong tất cả ba đoạn.
4.a) không cần chú ý nhiều như những từ ngữ khác.
5.b) từ kịch sang thơ.
6.a) Tích cực ở phần cuối hơn ở phần đầu.
7.c) diễn tiến ý tưởng.
8.d) Tất cả những đoạn văn.
9.c) Ap dụng
BÀI 8
1.c) họ hiện còn sống ngày hôm nay
2.a) Thu thập dữ liệu.
3.b) dạy về những bài học lịch sử
4.b) thu thập dữ liệu.
5.d) thu thập, giải thích, hình thành.
6.a) sự áp dụng về nghiên cứu tiểu sử
7.c) dàn ý theo nội dung đoạn văn.
BÀI 9
1.b) chúng chứng minh bản chất Thiên thượng của Ngài.
2.b) chiều dài của cuốn sách nơi mà đề tài được nói đến.
3.a) không được Kinh Thánh sử dụng như là phần minh họa hay những biểu tượng.
4.c) bước 3.
5.b) sự so sánh những lời tóm tắt của những hạng mục.
6.c) vừa được sắp xếp lại,vừa được thêm vào.
BÀI 10
1.c) mục đích
2.b) để nhận sức lực cho cá nhân mình từ Lời Chúa.
3.a) những câu, những đoạn văn hay những đoạn Kinh Thánh.
4.a) là phần của hoạt động hằng ngày của tín hữu.
5.b) nghiên cứu theo phương pháp tốt hơn là nghiên cứu ngẫu hứng.
6.c) quyết định xem câu đó có lời chỉ dẫn hoặc lời cảnh cáo không?
7.b) Điều nầy có ý nghĩa gì?
8.a) giải thích
9.a) trở thành những dụng cụ để giúp bạn nắm được lẽ thật cách chính xác.
10.c) giúp bạn nắm được ý chính trong mỗi câu.
11.b) thống nhất tất cả những phần quan sát và giải thích của bạn.
12.b) thay đổi rất ít trong những bước nghiên cứu.
13.b) mỗi câu đều quan trọng vì nó góp phần cho cả đoạn văn.
14.b) chọn một đoạn văn trong đó tất cả mọi câu đều liên quan với nhau trong cách nào đó.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-7-2018 12:33 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách