† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2767|Trả lời: 0

Hiểu Người

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 16-7-2011 07:47:08 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Hiểu Người

DẪN NHẬP
Có bao giờ bạn dừng xe trên một đỉnh núi cao để nhìn trở xuống con đường mà bạn vừa trải qua không? Bạn đã biết điều mà mỗi du khách có thể đã trông mong và những gì người lái xe đã kinh nghiệm. Bạn đang ở tại một vị trí thuận lợi để hiểu rõ cả các vấn đề lẫn những thành công trong việc lái xe trên con đường ấy.
Hiểu người là một quyển sách của người đã lên được trên đỉnh núi. Nó đặt bạn tại một vị trí thuận lợi để nhìn vào sự phát triển của con người, để bạn hiểu được dễ dàng hơn tiến trình bình thường mà một con người phải thực hiện trên con đường đời. Lãnh hội được nội dung của nó sẽ giúp bạn liên hệ dễ dàng với mọi người. Phần kiến thức này cũng giúp ích mọi người trong các mối liên hệ gia đình cũng như trong công tác chia xẻ các chân lý của Thượng Đế cho người khác.
Quyển sách được bắt đầu bằng một phần Dẫn nhập vắn tắt, đề cập sự phát triển của con người theo quan điểm Cơ Đốc giáo. Các chương sau đó lấy một hạng tuổi và mô tả những người trong hạng tuổi ấy, căn cứ vào các đặc điểm thể xác, trí tuệ, tình cảm, xã hội và thuộc linh của họ. Mỗi chương sách trình bày các lý thuyết về sự phát triển của con người trong một khuôn khổ dễ đọc với những phần ứng dụng thực tiễn đã được cập nhật hóa của từng lý thuyết.
Bạn sẽ nhận thấy mỗi chương được kết thúc bằng những câu hỏi để thảo luận và các hoạt động giúp bạn ứng dụng phần nội dung. Để giúp bạn tập trung tư tưởng khi đọc mỗi chương sách, bạn nên bắt đầu đọc các câu hỏi đó và những phần mô tả các hoạt động. Sau khi đã đọc xong rồi, bạn hãy dành thêm vài phút để viết ra các câu trả lời cho những câu hỏi ấy.
Với bạn nào muốn nghiên cứu sâu thêm về sự phát triển của con người, bạn sẽ thấy ở cuối sách có một bảng liệt kê các nguồn tài liệu để đọc thêm. Đọc và nghiên cứu một trong các nguồn tài liệu đó sẽ giúp bạn có được một công trình nghiên cứu càng bao quát hơn.

TÌM HIỂU SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CON NGƯỜI
Phải chăng tình yêu thương của Thượng Đế là ân tứ (quà tặng, tặng phẩm) quan trọng nhất? Nhiều người đã nghĩ như vậy. Tuy nhiên tình yêu thương sẽ không thể có được nếu không có việc ban cho sự sống.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỰ SỐNG
Muốn sống đầy đủ, trọn vẹn nhất một cuộc đời, phải nhận thức được điểm dị biệt lớn lao giữa việc mưu sinh với việc xây dựng một đời sống. Muốn hiểu rõ tầm quan trọng của đời sống, cần bắt đầu nhận thức phần giá trị lớn lao của nó.
ĐỊNH NGHĨA ĐỜI SỐNG
Đời sống là gì? Đời sống là cái đang được dùng để mà sống. Nó là cái phẩm chất mà con người, súc vật và cây cỏ đều có, nhưng đất đá, bụi bặm và các loài kim khí lại không có. Đời sống cũng ám chỉ cuộc đời của một cá nhân trong những giới hạn về thời gian nào đó. Các giới hạn ấy thay đổi tùy theo kế hoạch của Thượng Đế dành cho từng người (Thi Tv 31:15). Một khi đã có hiện diện của sự sống, thì có thể có sự tăng trưởng và sinh hóa.
Cũng phải phân biệt đời sống thể xác với đời sống thuộc linh. Đời sống thể xác bắt đầu lúc thai dựng và kết thúc khi chết. Tuy nhiên, loài người còn là những hữu thể thuộc linh nữa, và có thể có được sự sống vĩnh hằng sẽ tồn tại mãi mãi. Từ ngữ này không hề được ứng dụng cho bất kỳ một điều gì khác trong cái vũ trụ hữu hình này, kể cả mặt trời và các hành tinh. Chỉ có con người mới được định sẵn để cứ tiếp tục sống sau khi các mặt trời trong vũ trụ này đều bị dập tắt mọi ánh sáng.
Sự sống vĩnh hằng là một ân tứ của Thượng Đế ban cho người nào bằng lòng tin nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa để cứu mình khỏi tội lỗi, và nó sẽ tồn tại đời đời. Sau khi đời sống trên đất này của các tín hữu kết thúc, họ sẽ được vào thiên đàng để ở với Chúa Giê-xu, nếu họ nhận biết Ngài là Cứu Chúa mình (RoRm 6:23; GiGa 1:12; 3:36).
GIÁ TRỊ CỦA ĐỜI SỐNG
Giá trị của đời sống có thể được nhìn thấy cả theo cách người ta và Thượng Đế đánh giá nó như thế nào.
Cách đánh giá của con người
Chiến tranh, các tín ngưỡng tôn giáo, các động lực thúc đẩy, sự mê tín dị đoan và các ý thức hệ cho thấy nhiều cách mà con người đánh giá đời sống. Những điều khác nhau trong cách đánh giá, được nhận thấy dễ dàng bằng cách đối chiếu các giá trị ấy trong những quốc gia vẫn còn thừa nhận một phần nào các lý tưởng của Cơ Đốc giáo, với các quốc gia đã chối bỏ các lý tưởng ấy.
Tại các nước mà các nguyên tắc của Cơ Đốc giáo được thực thi, thì rõ ràng là đời sống được đánh giá cao hơn. Thế nhưng việc thiên hạ sử dụng bừa bãi súng đạn, các chất ma túy, phá thai tùy tiện, lái ô tô ẩu tả... cho thấy ngay cả trong các khu vực này, mạng sống con người cũng chẳng được xem là có giá trị bao nhiêu.
Cách đánh giá của Thượng Đế
Sau khi Thượng Đế đã trừng phạt thế gian bằng nạn lụt lớn, Ngài trao quyền phán xét vào tay các nhà cầm quyền là những con người. Lời chỉ giáo của Ngài trong SaSt 9:6 "Hễ kẻ nào làm đổ máu người, thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại" cho thấy Thượng Đế đánh giá đời sống như thế nào. Đời sống không thể được đặt ngang hàng với hàng hóa, những bản hiệp ước hay giao kèo, đất đai hoặc vàng bạc. Chỉ có một mạng sống khác mới có giá trị tương đương với một sinh mạng.
Chúa Cứu Thế phán "Nếu một người chiếm được cả thế giới nhưng mất linh hồn thì có ích gì?" (Mac Mc 8:36). Thượng Đế định giá cho đời sống căn cứ vào các định chuẩn cao nhất mà loài người chẳng bao giờ biết tới.
CÁC GIAI ĐOẠN CHÍNH CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI
Cuộc đời một người được chia thành ba phần hay ba giai đoạn chính: tuổi thơ (sơ sinh đến 11 tuổi), tuổi thanh thiếu niên (12-17 tuổi, một số các nhà nghiên cứu kể 18-24 tuổi vào giai đoạn thanh thiếu niên) và tuổi trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên). Mỗi giai đoạn đều có các đặc điểm và nhu cầu phân biệt của chúng.
Tuổi ấu thơ (sơ sinh - 11 tuổi)
Trẻ con không phải là người trưởng thành được thu nhỏ lại. Chúng là những con người sống trong giai đoạn chịu lệ thuộc và chuẩn bị. Tuổi ấu thơ là nền móng cho những năm còn lại của đời sống. Một phần của giai đoạn này là những năm tiền học đường đầy sinh động, trong đó trẻ con phát triển các cơ cấu cho nhân cách và tập thành các thói quen suốt đời của chúng.
Tuổi thơ ấu rất quan trọng. Chúa Cứu Thế từng là một ấu nhi, và Ngài từng lợi dụng trẻ con để làm thí dụ minh họa cho các chân lý thuộc linh, như sự chân chất, khiêm hạ, đức tin và lòng tin cậy (Mat Mt 18:2-6). Chúa Cứu Thế từng can thiệp khi các môn đệ Ngài không cho phép các con trẻ đến với Ngài. Ngài đã vui vẻ đón nhận chúng. Rồi Ngài còn răn bảo các môn đệ "Các con phải thận trọng, đừng bao giờ khinh thường các em bé này" (Mat Mt 18:10).
Tuổi thiếu niên (12-17)
Giai đoạn quan trọng thứ hai, giai đoạn thiếu niên, có nghĩa là 'tuổi lớn' và gồm các thanh thiếu niên giữa mười và hai mươi tuổi (teenage years). Nhiều khi các sinh viên cao đẳng và các trường học nghề cũng được kể vào đây. Trong giai đoạn này, các thanh niên tìm cách để được độc lập và bắt đầu hiểu về mình với tư cách những con người toàn diện. Có nhiều thay đổi về mặt thể xác, và chúng đạt đến những đỉnh cao mới về trí tuệ. Tình cảm của chúng đang giao động và chúng theo đuổi từng trải thực tế trong sinh hoạt làm Cơ Đốc nhân. Chúng thường nghi ngờ lời khuyên của các thầy giáo và cha mẹ mình, và muốn tự quyết định lấy mọi việc.
Giai đoạn này là thời kỳ chuyển tiếp giữa tuổi thơ ấu và tuổi trưởng thành. Các thanh thiếu niên bắt đầu khám phá họ có thể đóng góp được gì.Trong khi chiến đấu để tự khám phá bản thân, chúng thường bị nhằm lẫn. Tuy nhiên, nếu được chỉ bảo và hướng dẫn cẩn thận, chúng có thể vương lên để có được một nhân cách thật quân bình.
Tuổi trưởng thành (18 tuổi trở lên)
Có nhiều biến cố kết hợp lại với nhau để khiến một người trưởng thành. Đây là tuổi đi đầu phiếu, đi quân dịch, theo đuổi các ngành học cao đẳng và học nghề, dự định kết hôn, và trong số các trách nhiệm phải lãnh nhận, tất cả đều có ảnh hưởng đến chuyển biến để đạt đến mức trưởng thành.
Tuổi trưởng thành là một tiến trình tăng trưởng để thành nhơn liên tục. Các người thuộc giai đoạn trưởng thành thường được phân loại theo giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn trưởng thành thật sự, căn cứ theo số tuổi. Nếu tuổi trưởng thành có được một mức độ ổn định nào đó, thì những người trưởng thành có một đời sống khá phức tạp. Tuy nhiên, họ có thể sa vào vết bánh xe đi trước do các khuôn mẫu đã đúc sẵn của sinh hoạt hằng ngày, và cảm thấy khó chấp nhận những thách thức mới. Sự trưởng thành tùy thuộc vào nếp sống toàn diện và khả năng thích nghi với các vấn đề và các quyết định.
CÁC LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
Người ta có thể nhận ra các khuôn mẫu và giai đoạn trong việc tăng trưởng và phát triển của một người. Các mẫu mực phát triển này giúp làm sáng tỏ các nhu cầu và giúp các lãnh tụ phục vụ cho dân chúng. Nhiều nhà sưu tầm, nghiên cứu đã góp phần giúp chúng ta hiểu rõ sự phát triển của con người. Các lý thuyết được nhiều người chấp nhận nhất sẽ được trình bày dưới đây:
Các nhu cầu căn bản:
Có thể định nghĩa một nhu cầu là 'một yếu tố cần thiết cho đời sống khi bị thiếu đi, đòi hỏi phải được đáp ứng'. Thực phẩm, nước uống, và chỗ ở là các nhu cầu căn bản của tất cả mọi người. Muốn tồn tại, thì các nhu cầu ấy phải được đáp ứng. Một khi các nhu cầu ấy được thỏa mãn, thì nhiều nhu cầu khác lại trở nên quan trọng. Sau đó thì chồng chất lên trên các nhu cầu của thân xác, là các nhu cầu như yêu thương, chấp nhận, an toàn, quyền lực và thực hiện một công trình, một sự nghiệp...
Maslow mô tả các nhu cầu căn bản được tổ chức bên trong con người ta là tùy theo mức độ quan trọng của chúng đối với một cá nhân.
Tự lực hành động.
Tầm quan trọng của uy tín.
Được bạn bè và người trưởng thành tán thưởng.
Tự đánh giá.
Độc lập.
Yêu thương.
An toàn thể xác.
Các nhu cầu sinh lý.
Khi các nhu cầu của một người không được thỏa mãn, thì nhân cách toàn diện của người ấy có thể bị tổn thương. Có thể đáp ứng các nhu cầu theo nhiều cách khác nhau tùy theo bối cảnh, môi trường chung quanh và phạm vi, mức độ của mỗi nhu cầu.
Các giai đoạn trong đời sống
Mỗi một cá nhân đều tiến qua nhiều giai đoạn khác nhau của đời sống - tất cả đều hoàn toàn phân biệt với nhau - để đạt đế mức trưởng thành. Giai đoạn ấu thơ khác xa với giai đoạn trung học, nhưng cả hai đều góp phần vào sự phát triển toàn diện của toàn thể đời sống của một cá nhân. Vào từng giai đoạn một, có thể nêu ra ba câu hỏi căn bản: Người ấy ra sao? Người ấy cần (có nhu cầu) gì? Phải làm gì trong giai đoạn này để bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát triển bình thường?
Các giai đoạn trí thức
Jean Piaget mô tả bốn giai đoạn phát triển trí tuệ từ tuổi ấu thơ đến trưởng thành, phân biệt nhau và khác hẳn nhau về phẩm tính; từ sơ sinh đến 2 tuổi, là giai đoạn trong đó trẻ con học tập bằng kinh nghiệm sử dụng các giác quan của chúng để tự khám phá bằng hành động; từ khoảng 2 đến bảy tuổi, trong đó trẻ con phê phán sự việc theo dáng hiểu điệu bên ngoài của chúng và bắt đầu dùng biểu tượng với ngôn ngữ mà chúng thâu thập được, từ khoảng 7 đến 11 tuổi, trẻ con thấy sự việc một cách hợp lý (lô-gíc) hơn, học tập phân loại và xếp qua tư tưởng cụ thể; từ khoảng 12 cho đến trưởng thành, trong đó tư tưởng có tính cách lý thuyết và trừu tượng hơn.
Các giai đoạn tâm lý
Erik Erkson mô tả tám giai đoạn phát triển bao trùm mọi lứa tuổi của đời sống con người. Ông nhìn việc hình thành nhân cách như một tiến trình liên tục từ giai đoạn ấu thơ, thanh thiếu niên đến trưởng thành. Bốn trong các giai đoạn của ông liên hệ đến trẻ con đến 11 tuổi. Các giai đoạn ấy là tin cậy chống lại không tin cậy (từ sinh đến 1 tuổi), tự ý chống lại xấu hổ và nghi ngờ (từ 1 đến 3 tuổi), chủ động đi bước trước chống lại mặc cảm tự ti (từ 4 đến 5 tuổi) và siêng năng làm việc chống lại mặc cảm tự ti (từ 6 đến 11 tuổi).
Trong hai thời kỳ thanh thiếu niên và trưởng thành, ông gợi ý bốn giai đoạn: khẳng định bản ngã chống lại phân tán bản ngã, bày tỏ thái độ thân mật chống lại cô lập, sáng kiến sáng tạo (generativity) chống lại bị thu hút (absorption), hội nhập (integrity) chống lại chán nản thất vọng.
Erikson vạch rõ các cá nhân phải điều chỉnh nhiều điều giữa môi trường xã hội đang vây quanh mình với bản ngã (cái ta) trong từng giai đoạn của đời sống. Khi các giai đoạn trong đời sống được trình bày trong các chương tiếp sau đây, mỗi giai đoạn mà Erikson gợi ý sẽ được đưa vào thật phù hợp.
Các giai đoạn luân lý
Lawrence Kohlberg nêu ra sáu giai đoạn rõ rệt ở ba cấp bậc khác nhau từ tuổi ấu thơ đến trưởng thành căn cứ trên việc ý thức phải trái, đúng sai. Các giai đoạn này tiêu biểu cho sự phát triển các ý niệm luân lý hay phương pháp phê phán, chớ không phải là cách ăn ở ứng xử có tính cách luân lý. Các giai đoạn của ông được căn cứ trên các giai đoạn phát triển tương ứng của Piaget. Ba cấp bậc khác nhau là: Cấp bậc 1, căn cứ trên thưởng và phạt; Cấp bậc 2, căn cứ vào việc rập mẫu với xã hội; và Cấp bậc 3 căn cứ trên các nguyên tắc luân lý; khi các cá nhân phát triển trong các tiến trình tư tưởng của họ, họ có thể đưa ra những phê phán luân lý, và các thí dụ về các loại ăn ở ứng xử tiêu biểu vào mỗi cấp bậc sẽ được chỉ ra.
Các nhiệm vụ làm phát triển.
Trong từng giai đoạn, các cá nhân phải thực hiện một số tiến bộ và điều chỉnh nào đó, tiêu biểu cho giai đoạn ấy của đời sống, và phải hoàn tất nó cho xong xuôi. Không tiến bộ đúng theo mẫu mực của tuổi thông thường của nhóm mình, sẽ dẫn tới điều mà Havighurst mô tả là sự 'bất hạnh (unhappiness: không cảm thấy hạnh phúc) nơi cá nhân ấy, bị xã hội chê bai chỉ trích, và gặp khó khăn trong các nhiệm vụ về sau'.
Trong các nhiệm vụ phát triển: trẻ con từ bốn đến năm tuổi học tập tự mặc lấy quần áo; trẻ con từ sáu đến tám tuổi học đọc và viết; các thiếu niên phát triển các ý niệm thực tế về bản thân, thanh niên trưởng thành thường chọn người bạn đời hoặc nghề nghiệp của mình. Hoàn thành các nhiệm vụ kể trên đúng với từng trình độ cho thấy các mức độ trưởng thành mà người ta đã đạt tới được.
Phát triển nhân cách
Đối với Cơ Đốc nhân, có hai phương diện trong việc phát triển nhân cách. Một phương diện liên hệ với nhân cách của con người tự nhiên và phương diện kia liên hệ với nhân cách của một Cơ Đốc nhân.
Nhân cách của con người tự nhiên
Theo nghĩa tự nhiên của loài người, thì nhân cách là một từ ngữ mô tả cái toàn thể thể xác, trí tuệ, xã hội, tình cảm và thuộc linh của một người. Nó bao gồm mọi góc cạnh, mọi khu vực của đời sống. Ngay từ thuở sơ sinh, nhân cách đã bị nhiều lực lượng chính là di truyền và môi trường sống. Bên trong môi trường sống, con người chịu ảnh hưởng chủ yếu là của gia đình, học đường, Hội thánh, nhóm bạn bè cùng trang lứa, và xã hội.
Nhân cách Cơ Đốc nhân.
Nền giáo dục theo Cơ Đốc giáo cung cấp thêm một viễn ảnh trong việc phát triển nhân cách. Mục tiêu phải là một nhân cách lành mạnh và thăng bằng, nghĩa là phải có sự quân bình cả về phương diện thuộc linh lẫn các phương diện tri thức, tình cảm, xã hội và thể xác nữa.
Về nhân cách của một Cơ Đốc nhân, thì phải có từng trải ăn năn quy đạo dứt khoát (GiGa 3:3). Bản tính tội lỗi mà con người vốn được sanh ra với nó cần phải được biến đổi đi (RoRm 3:23; Mat Mt 5:12; 6:23). Chỉ một mình Chúa Cứu Thế mới có quyền ban cho sự sống mới, vì Ngài đã chịu chết trên thập tự giá thay cho con người tội lỗi (Cong Cv 4:12). Tất cả những ai tin nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa mình đều được tái sanh và được ban cho một sự sống mới (GiGa 1:12; Mat Mt 3:36).
Cả khi nhân cách tự nhiên của con người đã được phát triển tốt đẹp, sự tái sanh vẫn cần thiết cho nhân cách của một Cơ Đốc nhân trưởng thành, quân bình (Eph Ep 4:11-16). Chúa Cứu Thế cậy quyền năng ngự trong lòng người ta của Đức Thánh Linh (GaGl 5:22, 23) để cung cấp sự phát triển thuộc linh cho một người. Những bậc làm cha làm mẹ và các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo có thể chia xẻ bằng gương tốt của từng trải cá nhân của họ để giúp nhiều người khác biết được niềm vui của một Cơ Đốc nhân có nhân cách đứng đắn.
CÁC LỰC LƯỢNG CHÍNH YẾU TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Di truyền và môi trường sống tác động lẫn nhau trong việc làm phát riển các nhân cách độc nhất vô nhị. Sự trưởng thành là kết quả của các lực lượng phức tạp, tác động trên một giai đoạn dài trong thời gian đó. Thật là không thể nào xác định được có bao nhiêu phần của di truyền hay bao nhiêu phần của môi trường sống đã góp phần vào, bởi vì người ta không thể tìm hiểu được chúng một cách riêng rẻ, phân biệt nhau. Di truyền cung cấp một khả năng bẩm sinh và đặt giới hạn cho tiềm năng phát triển. Môi trường sống nuôi dưỡng hoặc cản trở sự phát triển. Cơ đấu tình cảm của một cá nhân kết hợp chúng lại thành một nhân cách độc đáo, có một không hai.
Di truyền (Di truyền học, Thiên nhiên)
Ngay từ lúc được thụ tinh, thai nhi đã là những con người và bắt đầu phát triển một cách độc đáo như những cá nhân qua giai đoạn còn rong bụng mẹ, và vẫn giữ y nguyên đời sống ấy sau khi đã ra đời. Các đặc điểm vốn được các di tử (genes) của cha mẹ truyền cho. Một đứa trẻ có thể thừa hưởng một thân thể cường tráng có nhiều tiềm năng để trở thành lực sĩ, nhưng không thừa hưởng được tài năng lực sĩ mà cha mẹ truyền lại. Kả năng học tập cũng được di truyền. Nhưng kiến thức thì không. Tuy nhiên có rất ít các đặc sắc được thường xuyên từ đời này sang đời khác.
Môi trường sống (Văn hóa, trưởng dưỡng)
Cũng như việc di truyền, môi trường sống không thể được tìm hiểu riêng rẻ, nhưng có thể được nghiên cứu dễ dàng hơn. Trẻ con vốn ít kiểm soát được môi trường sống của chúng. Nó được cha mẹ và những người cùng sống với chúng kiểm soát. Trong đời sống về sau này, môi trường sống tự nó sẽ có tính cách quyết định nhiều hơn. Các môi trường sống tạo ảnh hưởng quan trọng nhất trên trẻ con là gia đình, học đường, Hội Thánh, nhóm bạn bè cùng trang lứa, và xã hội.
Gia đình là môi trường sống chủ chốt cho những năm tạo nhiều ấn tượng nhất. Trẻ con chịu ảnh hưởng của các tình cảm, ý kiến và các định chuẩn luân lý của nơi mà chúng sinh sống. Trước hết là việc bắt chước và sau đó là sự tìm hiểu. Trong gia đình, trẻ con phải được yêu thương, thông cảm và phần giáo dục, rèn luyện mà chúng có cần.
Trong gia đình, mà nhất là từ phía những bậc cha mẹ, trẻ con cũng tiếp thu các ý niệm đầu tiên và sẽ tồn tại lâu dài nhất về Thượng Đế. Những gì chúng được nghe về sau trong nhà thờ thường được đối chiếu và đánh giá căn cứ vào những gì chúng đã được thấy nơi cha mẹ chúng trong thời thơ ấu.
Suốt những năm tạo nhiều ấn tượng này, mẫu mực làm cha mẹ theo nếp sống Cơ Đốc giáo rất quan trọng. Họ sẽ thường xuyên là giáo sư bằng những lời dạy dỗ và bằng việc làm, và chắc chắn là sẽ gây ảnh hưởng lớn trong việc đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện của nhân cách con cái mình. Những người làm cha mẹ phải nghĩ rằng gia đình là môi trường căn bản để dạy dỗ con cái, trong khi tất cả môi giới khác đều phải được xem là phụ thuộc cho gia đình và môi trường gia đình.
Học đường nhằm phát triển tâm trí và thể xác, giúp một cá nhân thâu thập các di sản quan trọng về văn hóa và khoa học của nhân loại. Ở trường học, trẻ con phải học tập giao tiếp tốt hơn, do đó, cải tiến nghệ thuật xã giao của nhân loại. Nếu được theo học tại một trường Cơ Đốc giáo, trẻ con được biết thêm các chiều kích của một nền giáo dục lấy Thượng Đế làm tâm điểm, hậu thuẫn cho phần chỉ giáo thuộc linh của gia đình.
Hội thánh chú trọng con người toàn diện, nhưng tập trung vào việc phát triển phần thuộc linh. Một chương trình toàn diện của Hội thánh với nhiều chức vụ khác nhau có thể cung ứng một động lực mạnh mẽ dẫn tới việc thỏa mãn nhu cầu thuộc linh. Những người làm việc với người trong Hội thánh trong nhiều chức vụ khác nhau, có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc làm phát triển các nhân các của một Cơ Đốc nhân. Một chương trình quân bình, sẽ giúp một cá nhân trưởng thành trong Chúa Cứu Thế.
Nhóm bạn bè cùng trang lứa cung ứng môi trường vật lý và xã hội bao quanh trẻ con. Ta không nên xem nhẹ các ảnh hưởng và sự đóng góp của nó. Tất cả mọi người đều phải lệ thuộc ít nhất là một người thuộc một nhóm bên ngoài nào đó để thỏa mãn các nhu cầu thể xác và xã hội của mình. Lãnh tụ của nhóm bạn bè cùng trang lứa thường có ảnh hưởng mạnh mẽ và có thể quyết định bộ luật về luân lý giao du hằng ngày cũng là các bạn bè trong Hội thánh, thì sự tăng trưởng và chứng đạo theo Cơ Đốc giáo sẽ càng được thực hiện dễ dàng hơn.
Xã hội có lãnh vực gây ảnh hưởng rộng lớn nhất trên sự tăng trưởng và phát triển của một cá nhân. Các chuẩn mực và tập quán xã hội được truyền sang cho trẻ con và thanh thiếu niên là một quá trình kéo dài suốt đời và chịu ảnh hưởng của nhiều môi giới xã hội khác nhau, như các thành viên trong gia ình, bạn bè cùng trang lứa, các giáo viên các ông chủ, và quần chúng sống chung quanh. Các lực lượng xã hội hóa bắt buộc các cá nhân phải đối phó với các hoàn cảnh, tình hình mới và tự thích nghi với những thay đổi quan trọng suốt cả cuộc đời.
CÁC YẾU TỐ LÀM PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Sự phát triển của một con người bao hàm con người toàn diện về đủ mọi mặt thể xác, trí thức, tình cảm, xã hội và thuộc linh. Toàn thể xã hội góp phần vào sự phát triển nầy, với gia đình, Hội thánh và học đường thủ những vai trò có ý nghĩa nhiều nhất. Có gì dự phần vào từng khu vực phát triển?
Về măt thể xác.
Thân xác là phần hữu hình trông thấy được. Nó là ngôi nhà trong đó từng nhân cách độc đáo của một cá nhân cư trú, sinh sống. Xã hội rất cú trọng việc người ta phải có một thân xác cường tráng, khỏe mạnh. Phao-lô bảo thân thể là "đền thờ của Đức Thánh Linh" và răn bảo các Cơ Đốc nhân phải "dùng thân thể mình để tôn vinh Thượng Đế" (ICo1Cr 6:19, 20).
Về mặt trí thức.
Phần trí thức ám chỉ việc hoạt động của trí, não, tư tưởng và thành phần để hiểu biết của chúng ta. Các cá nhân vốn được sinh ra với phần khả năng để tăng trưởng về kiến thức và trí tuệ. Ngay từ những giờ đầu tiên, trẻ sơ sinh đã bắt đầu phát triển về mặt trí thức. Trong tiến trình tư tưởng, chúng trải qua nhiều giai đoạn trí thức. Cha mẹ, những người hướng dẫn, và các giáo viên phải hiểu rõ từng cá nhân suy nghĩ và học tập như thế nào, để có thể giúp họ phát triển về kiến thức tri thức, sự khéo léo và các tài năng. Kích thích trí tuệ rất quan trọng ở từng giai đoạn của đời sống.
Về mặt tình cảm.
Cảm xúc liên quan đến phần tình cảm của chúng ta và bao gồm cách chúng ta bộc lộ các cảm nghĩ, những điều chúng ta tán thưởng và các thái độ của mình. Sự phát triển về tình cảm của một người có ảnh hưởng đến từng khu vực một của sự phát triển nhân cách. Mọi người cần học tập để tự bộc lộ tình cảm và cách thức kiểm soát các cảm xúc của mình.
Về mặt xã hội.
Sự phát triển về phương diện xã hội bao gồm các mối liên hệ hai chiều giữa chúng ta với tha nhân. Mọi người đều cần cảm thấy mình được chấp nhận mình 'thuộc về' một ai đó, và được người khác giao du, kết bạn với mình. Họ cần phải biết cách bắt liên lạc với tha nhân và phát triển các kỹ xảo xã giao để có thể giao lưu tiếp xúc với người khác càng hữu hiệu, thành công hơn. Trong các thư tín, có nhiều câu đề cập những mối liên hệ và giao thiệp hai chiều kiến hiệu, nhấn mạnh cả phương diện thuộc linh lẫn phương diện xã hội (Eph Ep 4:31, 32; Phi Pl 4:1-5; CoCl 3:12-17).
Về mặt thuộc linh.
Với Cơ Đốc nhân, phương diện phát triển quan trọng nhất là về mặt thuộc linh. Nó bao hàm mối liên hệ giữa chúng ta với Thượng Đế - thừa nhận nhu cầu thuộc linh của chúng ta với tư cách là những tội nhân rất cần được cứu khỏi tội lỗi mình, tin nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa, tăng trưởng trong Chúa Cứu Thế và ngày càng trở nên giống như Ngài hơn, phục vụ Ngài một cách cá nhân và tập thể với tư cách các chi thể của Thân thể Chúa Cứu Thế. Sự phát triển thuộc linh được thực hiện bằng sự dấn thân và hiến thân, đầu phục Thượng Đế xưng tội, vâng giữ Lời Thượng Đế và cầu nguyện. Đây là tiến trình của cả một đời người, sẽ đạt tột đỉnh lúc chúng ta được nhìn thấy Chúa Cứu Thế (RoRm 3:23; GiGa 1:12; IIPhi 2Pr 3:18; Eph Ep 4:13; IGi1Ga 3:2).
THÔNG SUỐT SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
Có nhiều nguồn tài liệu trong tầm tay, để chúng ta có thể thông hiểu hầu đáp ứng các nhu cầu trong việc phát triển nhân cách.
Nghiên cứu Kinh Thánh
Kinh Thánh là một nguồn tài liệu tuyệt vời để chúng ta có được cái nhìn thông tuệ (insight) vào cách ăn ở cư xử của con người. Bản tính và các nhu cầu đích thực của loài người vốn được phơi bày rõ ràng trong những khúc sách có liên hệ với đời sống trong Cựu và tân ước. Kinh Thánh là bột sách có thẩm quyền - là bộ sách giáo khoa. Một khi đã được nghiên cứu thấu đáo, sách ấy cung cấp cho chúng ta phần nền móng để phục vụ cho các nhóm người thuộc đủ mọi hạng tuổi.
Quan sát người ta.
Quan sát là một trong những phương pháp tốt nhất để nghiên cứu con người ta trong việc phát triển để nghiên cứu con người ta trong việc phát triển nhân cách toàn diện vào mọi giai đoạn của đời sống. Ta có thể quan sát thật tự nhiên các cá nhân và các nhóm người trong nhiều môi trường, bối cảnh khác nhau. Quan sát định phẩm có thể cung cấp thông tin hữu ích để thông hiểu tha nhân.
Nhớ lại các từng trải quá khứ.
Rủi thay, người ta vẫn thường quên đi các kinh nghiệm của họ. Thật vậy, rất có thể họ sẽ không tự nhận ra được chính mình, giá như có ai tái tạo lại được chính con người của họ hồi còn ấu thơ và trình bày cho họ xem. Khảo xét thật kỹ các từng trải về trước và chân thành cố gắng nhớ lại các phản ứng, có khi có thể giúp ích được rất nhiều trong việc tìm hiểu người khác.
Đọc sách báo.
Sách báo dành cho nhiều lứa tuổi khác nhau cung cấp nhiều thông tin đặc thù về các đặc điểm và nhu cầu của trẻ con, thanh thiếu niên, và người trưởng thành. Muốn có được cái nhìn thông suốt vào tư tưởng, dụng ngữ, thái độ, cách ăn ở ứng xử, các mục tiêu mà họ đang vươn tới và các giấc mơ của họ, người đang phục vụ hướng dẫn người ta cần phải đọc các sách báo viết riêng cho, cũng như viết về người thuộc các nhóm tuổi liên hệ.
Lợi dụng các phát kiến khoa học.
Các bản tường trình về các công trình nghiên cứu khoa học liên hệ đến sự phát triển của con người hiện có nhiều. Chính phủ thường cung cấp nhiều bài thơ, bài vè hữu ích, liên hệ đến các giai đoạn phát triển. Nhiều nhà xuất bản đáng tin cậy có cung cấp nhiều sách giáo khia về sự phát triển của trẻ con, thanh thiếu niên và người trưởng thành.
Những người đang công tác với một nhóm tuổi cá biệt nào đó, có thể thâu thập các phát kiến khoa học của mình qua các bảng câu hỏi và những cuộc phỏng vấn dành riêng cho một nhóm người chọn lọc nào đó. Ngay đến những cuộc đối thoại không chính thức với nhiều cá nhân cũng có thể cung cấp nhiều thông tin hữu ích để chúng ta hiểu được người khác thấu đáo hơn.
NHỮNG ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ
Thượng Đế đã giao cho gia đình và Hội thánh nhiệm vụ giúp cho con người ta phát triển. Người thuộc tất cả các giai đoạn đều đòi hỏi phải được đối xử đặc biệt bằng cáp áp dụng những phương pháp đặc biệt. Nếu Hội thánh chú trọng vào sự phát triển thuộc linh, thì cũng không thể bỏ qua con người toàn diện Chương trình toàn diện của Hội thánh có thể giúp một người thâu thập được viễn ảnh về tầm quan trọng của cuộc đời và các mối liên hệ ở đời. Trách nhiệm của Hội thánh là phải công tác với phần ân tứ kỳ diệu là việc Thượng Đế đã ban sự sống cho con người ta!
Hội thánh phải làm việc với - chớ không phải là thay thế cho - gia đình trong việc phát triển các nhân cách quân bình theo Cơ Đốc giáo. Điều này bao gồm cái trách nhiệm tối quan trọng là hướng dẫn các thành viên trong một gia đình đến với Chúa Cứu Thế. Các cá nhân phải có thể tìm được bạn tốt trong Hội thánh để ảnh hưởng của nhóm bạn bè đồng lứa tuổi có thể tạo lợi ích cho việc tăng trưởng theo Cơ Đốc giáo. Chương trình của Hội thánh phải lợi dụng bốn yếu tố chính của việc phát triển nhân cách, là kiến thức sự thờ phượng, sự thông công, và sự chia xẻ, bộc lộ. Hội thánh phải cung ứng một nền móng theo Kinh Thánh để người ta sẽ căn cứ vào đó mà biết quyết định hành động. Chương trình giáo dục của Hội thánh gồm có các lớp huấn luyện đào tạo, các nguồn tài liệu qua thư viện của Hội thánh, và những từng trải liên hệ với các nhóm tuổi khác nhau. Các bậc làm cha mẹ có thể lợi dụng các cơ hội này trong khi họ tìm cách phát triển phần tiềm năng trong đời sống con cái họ, và thiết lập vững chắc chính đời sống của họ nữa.
TÓM TẮT
Đời sống là ân tứ quan trọng nhất mà Thượng Đế ban cho chúng ta. Đời sống thuộc thể bắt đầu từ lúc được thai dựng và cứ tiếp tục cho đến ngày qua đời. Sự sống thuộc linh chỉ được ban cho những ai tin nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa mình. Thượng Đế đánh giá sự sống là có giá trị cao quý nhất trong tất cả những gì mà loài người được biết. Cuộc đời một người có rất nhiều khả năng, nhưng phần tiềm năng lệ thuộc việc người ta làm gì đối với điều mà Thượng Đế đã ban cho mình đó.
Cuộc đời được chia thành ba giai đoạn chính, là tuổi ấu thơ, tuổi thanh thiếu niên, và tuổi trưởng thành. Mỗi giai đoạn đều góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển toàn diện của một cá nhân.
Sự phát triển nhân cách bao hàm con người toàn diện. Mỗi một người tin nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa mình đều trở thành người có nhân cách của một Cơ Đốc nhân. Những con người này được đặc ân phát triển nhân cách của họ phù hợp với các nguyên tắc của Kinh Thánh và ý chỉ Thượng Đế mà mục tiêu tối hậu là trở nên càng giống với Chúa Cứu Thế hơn trong mọi góc cạnh của đời sống. Các lực lượng chính trong việc phát triển nhân cách là di truyền và môi trường sống.
Một cá nhân nhất thiết phải được phát triển về mọi lãnh vực của nhân cách, tức là về mọi phương diện thuộc thể, trí thức, xã hội, tình cảm và thuộc linh hầu trở thành một con người trưởng thành và quân bình. Chúng ta có tể hiểu biết thấu đáo hơn người khác nhờ quan sát và nghiên cứu.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Có những chứng cứ hiển nhiên nào cho thấy sự sống là quan trọng?
2. Kể ra ba giai đoạn chính trong đời sống một người và những đóng góp mà mỗi giai đoan thực hiện trong suốt cả cuộc đời?
3. Kể ra một vài nhu cầu căn bản của từng cá nhân và cho biết các nhu cầu cơ bản ấy có liên hệ gì với sự phát triển nhân cách toàn diện?
4. Kể ra và giải thích các giai đoạn trí thức (Piaget), tâm lý (Erikson) và luân lý (Kohlberg) mà người ta phải trải qua và cho biết tại sao mỗi giai đoạn đều quan trọng?
5. Các nhiệm vụ làm phát triển cho thấy gì?
6. Nhân cách được định nghĩa như thế nào, và nhân cách của một Cơ Đốc nhân có gì phân biệt?
7. Có hai lực lượng chính yếu nào có ảnh hưởng trên sự phát triển nhân cách?
8. Kể ra và mô tả các ảnh hưởng của môi trường sống trên sự phát triển của con người.
9. Kể ra các yếu tố trong việc phát triển nhân cách và mô tả mỗi khu vực đóng góp như thế nào vào việc phát triển nhân cách toàn diện?
10. Làm hế nào để chúng ta có thể hiểu thấu đáo hơn sự phát triển nhân cách?
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Dùng Kinh Thánh Phù Dẫn, vạch rõ cách Kinh Thánh sử dụng từ ngữ 'sống'. Liệt kê riêng rẽ nghĩa tạm thời và nghĩa thuộc linh. Liệt kê những câu trong đó Chúa Cứu Thế diễn tả tầm quan trọng của sự sống.
2. Sưu tập những câu chuyện gần đây, hoặc các bài đăng trên báo chí cho thấy cách người ta đánh giá các giai đoạn ấu thơ, thanh thiếu niên hay trưởng thành trong đời sống con người. Phúc trình và thảo luận các khám phá của bạn.
3. Chọn một trong các lý thuyết về sự phát triển của con người sau đây: Vạch ra và nối liền các ý niệm căn bản đã được nêu ra trong bài học với các nhu cầu căn bản trong các hoàn cảnh thực tế của đời sống (Maslow); sự phát triển về mặt trí thức (Piaget); các giai đoạn tâm lý (Erikson), sự phát triển về mặt luân lý (Kohlberg), các nhiệm vụ làm phát triển (Havighurst)
4. Viết ra những thông tin bạn có thể dùng để phân tích nhân cách toàn diện của một người trên một tờ giấy. Đối chiếu các ý kiến của bạn với các thành viên khác trong lớp học, rồi soạn thảo một bảng các thông tin tổng hợp để tất cả mọi người trong lớp đều có thể sử dụng.
5. Dùng bảng thông tin các bạn đã soạn thảo ở mục # 4 để phân tích một người mà bạn quen biết. Đối chiếu các khám phá của bạn với một người khác cũng nghiên cứu một người thuộc cùng một lứa tuổi.
6. Kể ra ít nhất hai cách thế thực tiễn theo đó gia đình, học đường, Hội thánh, bạn bè cùng trang lứa, và xã hội có thể ảnh hưởng tốt đến việc phát triển nhân cách của một người.

NHỮNG NĂM NỀN MÓNG
TRẺ SƠ SINH VÀ ĐI CHẬP CHỮNG (Từ mới sanh đến 24 tháng)
Từ ấu thơ cho đến trưởng thành, người ta trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong đó mọi người hầu như có những đặc điểm giống nhau. Các đặc điểm này được nhìn thấy rõ ràng hơn trong những nhóm người đông hơn nhưng cung ứng một cơ sở để hiểu được cả từng cá nhân nữa.
Thừa nhận những điểm tương đồng đó, các nhà nghiên cứu sự phát triển của con người, cả Cơ Đốc nhân lẫn người ngoài đời, đều tổ chức thành nhiều nhóm người khác nhau, để có thể mô tả và nghiên cứu các đặc điểm của những người thuộc cùng một lứa tuổi với nhau.
Cách phân loại dưới đây vốn được sử dụng rộng rãi, tuy chúng có thể thay đổi, để cho phép những người giống nhau giao lưu tiếp xúc với nhau trong các chương trình và chức vụ trong Hội thánh của họ.
Tuổi Phân loại
Từ sơ sinh đến 24 tháng Trẻ sơ sinh đến đi chập chững
2-3 Ấu nhi (trước khi đến trường học)
4-5 Thiếu nhi giai đoạn đầu
6,7,8 Thiếu nhi giai đoạn giữa
9,10,11 Thiếu nhi giai đoạn cuối
14,15,16,17 Thiếu niên
18-24 Trưởng thành giai đoạn đầu
25-34 Trưởng thành (thật sự)
35-64 Trung niên
65-… Lão niên
Trẻ sơ sinh và đi chập chững - Nền móng cho tương lai.
Cơ cấu sinh lý (physical: thể xác, thuộc thể, vật lý), trí thức, tình cảm xã hội và thuộc linh (spiritual) liên tiếp được xây dựng trên phần nền móng của giai đoạn ấu thơ này. Nếu phần nền móng không được thiết lập phải lẽ, hợp cách trong những năm tạo nhiều ấn tượng nhất này, thì toàn thể cơ cấu sẽ bị ảnh hưởng không tốt.
Phần tiềm năng ở từng trẻ sơ sinh đều biết sức phi thường. Cho nên rất cần thiết để các ấn tượng đầu tiên của một đứa trẻ phải là những ấn tượng tốt đẹp, đúng thực. Nhiều vấn đề rắc rối mà người ta phải đương đầu về sau trong đời sống có thể tránh được nhờ truyền đạt Phúc âm cho trẻ con thật sớm. Hội thánh và những bậc làm cha mạ cần bắt tay cùng làm việc với nhau ngay từ những ngày đầu tiên - trong tuổi thơ ấu của trẻ con. Nhìn vào cách trẻ sơ sinh cho đến tuổi biết đi chập chững phát triển, sẽ cung cấp cho chúng ta các phương pháp chỉ đạo để đáp ứng các nhu cầu căn bản.
HAI NĂM ĐẦU TIÊN
Lúc sơ sinh: Trẻ sơ sinh bình thường phải nặng trên 3 ký và dài hơn 0,4 mét. Chúng phải dành khoảng 20 giờ để ngủ mỗi ngày.
Một tháng rưởi: Chúng phải được cho bú từ 5 đến 6 lần mỗi nga2y, và ngủ thành những giấc từ hai đến năm giờ.
Sáu tháng tuổi: Trọng lượng trẻ đã tăng gấp đôi và cao hơn từ 0,1 đến 0,15 mét. Chúng có thể lật qua lật lại dễ dàng và tự ngồi dậy một thời gian ngắn. Những tiếng nói mơ hồ của chúgn là nhưng tiếng ư a và gù gù trong cổ họng.
Mười hai tháng tuổi: Bây giờ chúng đã cao được từ 0,6 đến 0,8 mét, trọng lượng khoảng 7,5 đến 10 ký. Bấy giờ, chúng bắt đầu đi chập chững và phát âm được vài tiếng. Cha mẹ chúng đã có thể 'trò chuyện' với chúng bằng ngôn ngữ đơn sơ. Chúng có thể có đến sáu chiếc răng, hoặc ít ra thì cũng là hai chiếc.
Hai mươi bốn tháng tuổi: Chúng đã có thể đi và chạy giỏi, có thể tự múc lấy các thức ăn. Mọi tiến trình về tinh thần (mental) đang phát triển rất nhanh chóng.
Về phương diện sinh lý - Lớn nhanh.
Trẻ con tăng trưởng rất nhanh trong mấy tháng đầu và cứ tiếp tục phát triển như vậy suốt năm đầu tiên. Chúng bắt đầu chỉ là một trẻ sơ sinh bé bỏng. Chẳng bao lâu, chúng đã có thể xoay trở, cuộn tròn trong nôi. Rồi chúng cũng nhanh chóng biết trườn, biết bò. Khi đôi chân chúng cứng cáp hơn, chúng bắt đầu đi chập chững. Chẳng bao lâu sau vài bước đầu tiên, hầu như chúng có thể đi khắp nơi, khắp chỗ. Các chuẩn mực phát triển khác nhau rất nhiều, nhưng bình thường thì các bé gái 'mau lớn' hơn các bé trai.
Trẻ con thích hoạt động liên tục. Chúng rướn người, chòi đạp, vung tay quơ chân, chuyển động đôi mắt, nháy mắt, kêu khóc, bấu víu. Nhờ luôn luôn chuyển động, trẻ con ở tuổi này tăng trưởng và phát triển nhanh chóng.
Hoạt động dẫn tới tăng trưởng.
Nhiệm vụ chính yếu của trẻ con là tăng trưởng. Bằng chiếc vòng ăn, ngủ và vận động liên tục, chúng sẽ tăng trọng gấp đôi trong sáu tháng đầu tiên. Trong năm đầu, chiều cao của chúng tăng năm mươi phần trăm. Trẻ con tự nhiên tự tập lấy các hoạt động khiến cho chúng tăng trưởng.
Hoạt động dẫn tới phát triển.
Tăng trưởng và phát triển không phải là hai từ ngữ đồng nghĩa. Tăng trưởng (grow: lớn lên), có nghĩa gia tăng về hình vóc, hoạt động và nhiều điều phức tạp hơn để tiến tới mức trưởng thành. Phát triển hàm ý gia tăng về cơ cấu, tư tưởng, và cách ăn ở ứng xử cho các ảnh hưởng sinh học và môi trường chung quanh. Sự phát triển tự nhiên theo như ý Thượng Đế muốn, là nhờ việc hoạt động của thân thể. Rồi thân xác cũng phải phát triển các giác quan và phần trí tuệ. Trẻ con lần lần tự nhận và thông hiểu nhờ các ấn tượng có được do rờ rẫm, nếm ngửi, nhìn và nghe thấy (cảm giác giác quan).
Về mặt trí thức - Phát giác khám phá.
Ước muốn sâu xa là dò dẫm và khám phá là do thiên phú, và được nhận thấy rõ ràng nhất là nơi trẻ sơ sinh và mới biết đi chập chững. Nhờ tìm tòi tra xét, con người ta khám phá ra các kho báu trong vũ trụ. Cho nên trẻ con đã bắt đầu một công cuộc tìm tòi tra xét lâu dài để khám phá chân lý về cả các vấn đề tạm thời lẫn vĩnh cửu.
Kiến thức vốn quen biết với người trưởng thành, là điều mà tất cả trẻ con đều không có. Tuy nhiên, sự việc sẽ thay đổi hết sức nhanh chóng, vì các hoạt động của chúng giúp chúng khám phá ra và bắt đầu thông hiểu. Ngay với khả năng tự biểu lộ rất hạn chế bằng lời nói, thật là điều kỳ diệu khi trẻ con vẫn có thể lãnh hội được rất nhiều điều trong những năm đầu đời của chúng.
Jean Piaget, nhận xét sự phát triển về mặt trí thức của trẻ sơ sinh và mới đi chập chững trong đó chúng sử dụng các kế hoạch hành động - nhìn nắm bắt, quan sát, nếm, rờ rẫm - là nhằm học biết về thế giới của chúng. Ngũ quan vốn rất mẫn cảm đối với các ảnh hưởng của môi trường sống, mà trẻ sơ sinh và ở tuổi mới biết đi chập chững thì đáp ứng các kế hoạch khác nhau. Sự phát triển nhờ hành động và hoạt động này, giúp trẻ nhỏ khám phá để phát giác ra cái thế giới đang vây quanh chúng.
Một trong những kỳ công đầu tiên và vĩ đại nhất của tuổi ấu thơ là sự thường trực khách quan. Piaget vạch rõ khi trẻ con bắt đầu tìm kiếm những vật nằm ngoài tầm mắt của chúng, chúng vẫn hiểu là các vật ấy cứ tiếp tục tồn tại, cả khi người ta không nhìn thấy chúng. Như vậy là trẻ con đã tiến được một bước hướng về cách tư duy có phần nào tiến bộ hơn. Chúng bắt đầu lợi dụng các biểu tượng để hình dung ra các vật ấy trong tâm trí, để có thể suy nghĩ về chúng.
Kỳ công lớn lao thứ hai thực hiện được trong giai đoạn đầu tiên này, là khi trẻ con phát triển các hành động hợp lý (lô-gíc), hướng về một mục tiêu. Qua sự mò mẫm (thử và sai) đứa trẻ học tập cách vận dụng các vật dụng nhằm phát triển nhiều công tác kho1 khăn hơn, mà Piaget gọi là các kế hoạch, cá ý đồ ở cấp bậc cao.
Về mặt tình cảm - Mẫn cảm.
Trẻ sơ sinh và ở tuổi mới biết đi chập chững rất nhạy cảm đối với môi trường sống và bầu không kí chugn quanh. Có thể chúng sợ người lạ, những khung cảnh không quen, tiếng ồn ào hoặc sự lộn xộn. Nếu trẻ sợ, chúng sẽ rút vào vòng tay cha, mẹ, hoặc người coi giữ chăm sóc chúng. Từ khoảng tháng thứ bảy đến thứ chín, trẻ con có thể trải qua điều mà các nhà tâm lý học gọi là sự sợ hãi điều xa lạ. Chúng có thể không muốn rời cha mẽ để đến với người lạ hoặc chỗ lạ. Làm quen với những môi trường hoặc từng trải mới, có thể phải làm đến nhiều ngày, nhiều tuần, và chỉ có thể được thực hiện tốt đẹp nhất bằng tình yêu thương chăm sóc tha thiết dịu dàng mà cha mẹ và người coi giữ chúng bộc lộ.
Nhiều khi, trẻ con không được điều chúng mong muốn, chúng có thể bày tỏ sự không hài lòng bằng vẽ giận dỗi. Các cảm xúc của chúng vốn mạnh mẽ. Chúng có thể cười ngay đấy rồi khóc ngay đấy. Tuy tình cảm của chúng vốn bất ổn định, chúng cũng bắt đầu học biết được là có một số cách ăn ở ứng xử nào đó là được chấp nhận, hoặc không được chấp nhận.
Về mặt xã hội - Môi trường sống giới hạn và cận tiếp.
Trẻ sơ sinh và mới biết đi chập chững sống trong một thế giới nhỏ hẹp, nên lý giải, đời sống căn cứ vào một quan điểm tự kỷ trung tâm (self-centered) giới hạn, trong đó chính chúng là trung tâm của cái thế giới đó. Hậu quả là chúng thích cái quen huộc và vui vẻ với môi trường sống cận tiếp và với những người trong gia đình. Chúng học tập rất nhanh cách khiến người khác chú ý đến mình bằng những tiếng động, điệu bộ và hành động. Chúng tự chơi một mình. Nhưng thích được đùa giỡn với người khác. Vì các trẻ này không thể truyền thông các nhu cầu của chúng, chúng hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào người trong gia đình và người coi giữ chăm sóc chúng.
Erik Erikson mô tả giai đoạn đầu tiên của sự phát triển về phương diện xã hội của trẻ bằng việc tin chống lại không tin. Ngay cả trước khi được sáu tháng tuổi, trẻ con đã phát triển được lòng tin cậy vào người khác. Điều này đặc biệt nghiệm đúng trong các mối liên hệ với cha mẹ chúng hoặc những người coi giữ khác. Gắn bó rất có ý nghĩa trong việc xây dựng lòng tin cậy trong những ngày và những tuần lễ đầu tiên của đời sống một đứa trẻ. Có được lòng tin cậy sẽ giúp đứa trẻ cảm thấy an toàn hơn với những ai lo lắng chăm sóc chúng khi chúng cần làm quen với những hoàn cảnh và kinh nghiệm mới mẻ. Nếu trong tuổi thơ, trẻ con không học tập được để tin cậy, thì trong các giai đoạn phát triển về sau chúng sẽ khó có thể tin cậy được người khác.
Về mặt thuộc linh - Lệ thuộc vào cha mẹ.
Trẻ con còn nhỏ tập có các mẫu mực về cách ăn ở cư xử phần lớn là nhờ bắt chước. Hành động của tha nhân đều có những hàm ý thuộc linh. Tuy trẻ con vào tuổi này chưa hiểu ý nghĩa của một hành động, chúng bắt chước những gì chúng nhìn thấy và học tập theo để rập mẫu cuộc đời chúng với điều thiện hoặc điều ác. Phần lớn các ý niệm và thái độ của cha mẹ chúng đối với Ngài.
Vì năng lực lý luận của chúng vốn rất giới hạn, trẻ con không thể đưa ra được những phán đoán có tính cách luân lý đạo đức. Chúng có thể bắt đầu học biết thế nào là một cách ăn ở cư xử tốt, được mọi người khen ngợi, hoặc xấu, bị mọi người chê bai, nhưng phần lớn những gì chúng học hỏi được, đều là do bắt chước. Lẽ dĩ nhiên là ngay cả ở lứa tuổi rất sớm này các trẻ con ấy cần các kiểm mẫu tích cực để noi theo trong những ách ăn ở ứng xử và thái độ đặc thù.
Gia đình chuẩn bị cho đứa trẻ sơ sinh và ở tuổi mới biết đi chập chững.
Chẳng ai có thể thay thế được cho các cha mẹ tin kính. Thượng Đế đã sắp xếp để cho công chúa của Pha-ra-ôn làm mẹ (nuôi) của Môi-se. Toàn thể sự giàu có và khôn ngoan của cứ Ai-cập đều không thể cung cấp được một giáo sư nào tốt hơn thế. Cả Giô-sép lẫn Đa-ni-ên đều thấy việc dạy dỗ, đào tạo của cha mẹ hai ông đã nâng đỡ hai ông giữa những cám dỗ của cảnh sống xa hoa quyền quý của ngoại đạo.
Các trẻ con hồi còn thật bé, đã được cha mẹ là Cơ Đốc nhân sẵn sàng dâng ch1ung cho Thượng Đế, được một khởi điểm từ rất sớm để hướng tới những thành quả thuộc linh. Khi các lãnh tụ Cơ Đốc giáo nhìn lui trở về thuở ấu thời của mình, nhiều vị đã nhận thức được rằng chính các thái độ tin kính, và sự cống hiến của cha mẹ mình đồng thời với sự dắt dẫn của Đức Thánh Linh, đã hướng dẫn các vị để bước vào chức vụ.
Các đòi hỏi mặc nhiên phải có ngành chức vụ lo cho trẻ sơ sinh và vào tuổi mới biết đi chập chững.
Hội thánh cần có ngành phục vụ dành cho các gia đình để lo cho các trẻ sơ sinh và trong giai đoạn mới đi chập chững, cho đến 24 tháng tuổi.
Chứa vụ này có thể gồm việc thăm viếng; một chương trình vào giờ Trường Chúa nhật có các hoạt động dành riêng cho các em bé; các lớp Trường Chúa nhật và học Kinh Thánh dành riêng cho nhưng người làm cha mẹ; một nhà giữ trẻ trong giờ thờ phượng; và một câu lạc bộ các bậc làm cha mẹ, có những buổi họp mặt định kỳ.
Chứa vụ của Hội thánh dành cho trẻ sơ sinh và ở tuổi mới đi chập chững là một công tác có ích lợi và có giá trị cho sự phát triển thuộc linh của các em bé. Ngay từ tuổi ấu thơ như thế, các em bé ấy đã có thể được sự phục vụ, dạy dỗ của Hội thánh. Chứa vụ này ít nhất cũng phục vụ được cho ba mục đích:
Để tiếp rước nhiều trẻ con mới
Nếu phải kéo trẻ con vào trong mối liên hệ với Hội thánh, thì chúng ta cần phải làm nhiều việc hơn là chỉ đơn giản cho ấn hành một bản thông tin cho biết có bao nhiêu trẻ mới được sanh ra, hoặc chỉ gởi đi những tấm thiếp chúc mừng mà thôi. Việc tiếp xúc riêng với cả gia đình và một nỗ lực nhất định gây ảnh hưởng trên các bậc làm cha mẹ và các anh chị của những em bé ấy bắt đầu lý lịch của mình trong Hội thánh thông qua gia đình chúng.
Những người làm cha mẹ cần được khuyến khích đưa con nhỏ của họ đến Trường Chúa nhật, dặt chúng vào phòng có những chiếc nôi và các lớp học dành cho trẻ con mới biết đi chập chững, trong khi họ tham dự các lớp học dành cho người trưởng thành và các buổi thờ phượng. Như thế, các em bé sẽ được từng trải tình yêu thương chăm sóc của các cán bộ của Hội thánh, còn các bậc làm cha mẹ thì được tăng trưởng trong sự hiểu biết và khả năng gây dựng những gia đình theo Cơ Đốc giáo. Với một chương trình như vậy, Hội thánh sẽ dễ thành công hơn trong việc đến với cả các thành viên của cộng đồng lẫn với chính cộng đồng nhân danh Chúa Cứu Thế.
Để thiết lập sự liên hệ tiếp xúc giữa Hội thánh với gia đình.
Có rất ít những gia đình lại dửng dưng đối với lời kêu gọi của Chúa Cứu Thế đến độ phản đối việc Hội thánh tiếp rước các em bé sơ sinh của họ vào trong cộng đồng Cơ Đốc giáo. Ngay đến những người làm cha mẹ chẳng bao giờ đến nhà thờ cũng vui vẻ nhớ lại việc một nhân viên trong Ban trị sự Hội thành hoặc một tín đồ tình nguyện đến thăm viếng họ tại nhà riêng, bày tỏ sự lưu tâm chú ý của mình đối với đứa trẻ sư sinh của họ, và hoan nghênh nó gia nhập gia đình Hội thánh mình. Ngoài các cơ hội phục vụ việc dạy dỗ trẻ sơ sinh và trẻ ở tuổi mới đi chập chững nói lên với cộng đồng mối quan tâm của Hội thánh đối với các gia đình.
Ngay cả với các gia đình vẫn thường xuyên đi nhà thờ cũng rất tán thưởng việc Hội thánh tỏ ra quant âm đến đứa trẻ sơ sinh của họ. Những người mới làm cha làm mẽ thường rất cần được thông báo về các chức vụ mà Hội thánh dành cho họ và cho đứa con trai hay con gái mới sanh của họ.
Để dạy bảo huấn luyện việc làm cha làm mẹ.
Vì chức vụ dành cho trẻ sơ sinh và ở lứa tuổi mới đi chập chững được thực thi trước nhất là thông qua cha mẹ đứa trẻ, nó cần được chú trọng để tập trung vào khu vực này. Trước hết các lớp học và nghiên cứu. Kinh Thánh dành cho những người làm cha mẹ phải nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò người làm cha làm mẹ trong việc phải dâng lại cái ân tứ đó cho Thượng Đế để trưởng dưỡng đứa bé sơ sinh này theo cách dạy dỗ và khuyên răn của Chúa. Một số người trưởng thành chọn lọc có thể được hướng dẫn để vào một lớp học tập trung vào việc làm cha làm mẽ cho các trẻ sơ sinh và mới biết đi chập chững.
Nếu chức vụ của Hội thánh dành cho trẻ sơ sinh và tuổi biết đi chập chững bao gồm việc đi thăm viếng tư gia, người đến viếng thăm cần gợi ý cho những người làm che làm mẹ về: cách bắt đầu những thi giờ cầu nguyện với em bé, các sách kể các truyện tích Kinh Thánh và những tài liệu khác nữa có thể đọc cho đứa trẻ nghe, hoặc những lời chỉ giáo hữu ích khác nữa về việc tổ chức một gia đình theo Cơ Đốc giáo. Hiểu rõ một đứa trẻ có thể học hỏi được bao nhiêu điều ngay trước khi tiếp nhận được phần giáo huấn chính thức của Hội thánh, là một việc vô cùng quan trọng.
Nếu HỘi thánh chân thành torng việc thiết lập một chức vụ hữu hiệu để phục vụ cho trẻ sơ sinh và ở lứa tuổi biết đi chập chững, Hội thánh chắc sẽ cần có nhiều cán bộ: một trưởng ban, những cán bộ thăm viếng, và nhiều cán bộ cho các hoạt động vào Chúa nhật, kể cả một nữ y tá được huấn luyện hẳn hoi, nếu cần.
Những người lo lắng chăm sóc và giới dạy dỗ trẻ sơ sinh và ở lứa tuổi m1i đi chập chững này phải là niềm vui thật sự và phải được trẻ con quan tâm chú ý. Họ phải dịu dàng, thân thiện, khả ái, sạch sẽ, dễ gần gũi tiếp xúc và hiểu biết các đặc điểm của những trẻ con sơ sinh và ở lứa tuổi mới đi chập chững, cũng như phần tiềm năng của chức vụ dành cho lứa tuổi này. Họ phải luôn luôn sẵn sàng đến viếng thăm và là những người đáng tin cậy để các bậc làm cha mẹ chia xẻ tâm sự của mình.
TÓM TẮT
Trẻ sơ sinh và mới biết đi chập chững hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào cha mẹ chúng và những người khác quan tâm đến việc làm phát triển nhân cách cho chúng. Hội thánh cũng có thể tạo ảnh hưởng trong giai đoạn này, qua một chương trình được cấu trúch hẳn hoi, gồm việc chỉ giáo cho những người làm cha mẹ, cung cấp các tiện nghi đầy đủ cho việc chăm sóc, và những chương trình giáo dục cho trẻ mới biết đi chập chững. Tầm quan trọng của những năm đầu đời không thể bị nhấn mạnh quá đáng.
Về mặt sinh lý, trẻ sơ sinh và ở lứa tuổi mới biết đi chập chững tăng trưởng rất nhanh. Về mặt trí thức, chúng đang tìm hiểu để khám phá cái thế giới chugn quanh. Về mặt tình cảm, chúng rất mẫn cảm, dễ xúc động. Về mặt xã hội, chúng thích có những người thân quen vây quanh và lệ thuộc vào cha mẹ để được phát triển về phương diện thuộc linh.
Trẻ sơ sinh và ở lứa tuổi mới chập chững biết đi là điểm quan trọng để có mối liên hệ tiếp xúc giữa Hội thánh và gia đình.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Hãy mô tả nhân cách toàn diện của trẻ sơ sinh và lứa tuổi mới biết đi chập chững về các phương diện sinh lý, trí thức, tình cảm, xã hội và thuộc linh.
2. Tại sao hoạt động rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ sơ sinh và thuộc lứa tuổi mới đi chập chững?
3. Những bậc làm cha mẹ có trách nhiệm gì trong việc chuẩn bị cho trẻ con vào đời?
4. Kể ra một vài giá trị của chứa vụ cho trẻ sơ sinh và thuộc lứa tuổi mới biết đi chập chững của Hội thánh.
5. Kể ra các mục đích chính của chức vụ của Hội thánh dành cho lứa tuổi này.
6. Muốn thiết lập một chức vụ thành công dành cho trẻ sơ sinh và ở lứa tuổi mới biết đi chập chững, Hội thánh phải xét đến các yếu tố nào?
7. Bạn mô tả con người lý tưởng để phục vụ cho trẻ sơ sinh và ở lứa tuổi mới biết đi chập chững như thế nào?
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Phỏng vấn vị trưởng ban có nhiệm vụ phục vụ trẻ sơ sinh và mới biết đi chập chững trong Hội thánh để khám phá làm thế nào đáp ứng các nhu cầu của trẻ con thông qua chức vụ ấy.
2. Lập một bảng liệt kê các đề mục có thể khai triển trong các lớp huấn luyện cho cha mẹ trẻ sơ sinh và ở lứa tuổi mới đi chập chững.
3. Đóng một vỡ kịch theo đó một nhân viên Ban trị sự hay một toán phụ trách việc viếng thăm đến thăm viếng nhà của một đôi vợ chồng sống làm cha làm mẹ để tiếp đón con của họ vào gia đình của Hội thánh, và mời họ đưa cả gia đình vào Hội thánh.

BẮT CHƯỚC VÀ KHÁM PHÁ
ẤU NHI (TRƯỚC KHI VÀO TRƯỜNG HỌC) 2 VÀ 3 TUỔI
Phục vụ chăm sóc cho trẻ hai ba tuổi phức tạp hơn công tác coi giữ trẻ. Các chương trình giáo dục trẻ con trên đài truyền hình cho thấy trẻ con trước tuổi đi học có thể được ích lợi nhờ các chương trình chú trọng việc tập nói, xây dựng các ý niệm về các con số, sẵn sàng để tập đọc và các quan niệm về vấn đề xã hội hóa.
Chỉ đến mấy lúc gần đây, Hội thánh mới là một trong số ít các môi giới cung ứng chức vụ phục vụ cho trẻ con ở tuổi trước khi vào trường học. Qua nhiều năm, Hội thánh đã được thuyết phục là các ấu nhi có thể học biết được các ý niệm các thuộc linh căn bản và phát triển các thái độ đứng đắn đối với các chân lý thuộc linh.
Trẻ con ở lứa tuổi trước khi đi học không phải chỉ đơn giản chuẩn bị vào đời mà thôi. Chúng còn đang sống cuộc đời đó ngay trong tuổi ấy nữa! Với chúng thì hiện tại cận tiếp còn quan trọng hơn cả tương lai hoặc quá khứ nữa. Trong những năm đầu đời này, cơ cấu của nhân cách của chúng đang hình thành. Bởi vì các thái độ của chúng là 'bắt ngay lấy đồng thời điều được dạy bảo', đối với trẻ ở tuổi trước khi đi học, các thái độ ấy vốn quan trọng hơn các ý niệm (trừu tượng).
Môi trường vây quanh và những người gần gũi với các ấu nhi sẽ hoặc trở giúp hoặc cản trở tiến trình đặt một nền móng tốt cho cuộc đời chúng. Những bậc làm cha mẹ được cơ hội tốt nhất để tạo ảnh hưởng trên cuộc đời của đứa trẻ, vì họ đang là những người chịu nhiều trách nhiệm nhất đối với đứa trẻ suốt phần lớn thời gian trong ngày.
Trẻ ở lứa tuổi này có thể học biết các ý niệm, các thái độ, các giá trị và các cách ăn ở cư xử đơn giản nhưng là cản bản cho sự phát triển thuộc linh. Kinh Thánh thường nhắc đi nhắc lại lời truyền dạy là các sự kiện và các ý niệm có thể được dùng để đặt nền móng cho việc học tập và phát triển về mặt thuộc linh cho tương lai. Cả gia đình lẫn Hội thánh đều phải tạo ra bầu không khó vui vẻ chấp nhận và yêu thương đang khi đứa trẻ phát triển.
CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
Lúc trẻ con tiến triển qua tuổi ấu nhi, những thành tựu sau đây cho thấy có sự phát triển bình thường.
Sự tăng thưởng thể xác đến 0,7 - 0,9 mét về chiều cao
Có khả năng tự làm lấy một số việc.
Có khảng năng giao lưu tiếp xúc bằng những từ và câu nói đơn giản.
Ý thức về người khác.
Lãnh hội được các ý niệm thuộc linh đơn giản (1)
Về mặt sinh lý - Tích cực hoạt động.
Ấu nhi tham gia nhiều hoạt động sinh lý và 'máy móc' thiết yếu cho việc tăng trưởng và phát triển bình thường. Vì chúng rất tích cực hoạt động, chúng cũng may mệt mỏi, và cần được thăng bằng giữa các hoạt động tích cực và các hoạt động trầm lặng.
Trẻ ở tuổi trước khi đi học phối hợp kém các cơ bắp lớn, còn các bắp thịt nhỏ hơn của chúng thì vẫn chưa phát triển. Chúng cần được di chuyển, vận động tự do. Chúng không thể ngồi lâu một chỗ mà không cử động. Do đó, chúng cần họt động để vươn dài các chi thể đang tăng trưởng của mình, và để vận động các cơ bắp phù hợp với các hình thức ăn ở ứng xử đứng đắn. Thật là lý tưởng nếu chúng được dành cho một căn phòng rộng rãi, thoáng đãng, có lót thảm.
Rất dễ nhiễm bệnh.
Ấu nhi trước tuổi đi học rất dễ bị cảm lạnh và những chứng benh thông thường. Chúng vốn thiếu sinh lực để đáp ứng các đòi hỏi của một thời dụng biểu thật đầy đủ. Cho nên xin đừng trông mong hoặc đòi hỏi trẻ hai ba tuổi phải đi nhóm lại đều đặn. Một trẻ có bệnh đi học Trường Chúa nhật hay nhóm lại với Hội thánh có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của các trẻ khác. Bầu không khí trong lành đầy ánh nắng mặt trời trng một môi trường sạch sẽ, vui tươi, rất cần thiết cho thân thể của những đứ atrẻ đang tích cực hoạt động để tăng trưởng.
Phát triển theo một tốc độ riêng.
Trẻ con phát triển theo tốc độ riêng của chúng. Không nên đem chúng ra so sánh với các trẻ khác cùng nhóm, nhất là với những trẻ 'to con' hơn. Cũng đừng trông mong quá nhiều nơi các trẻ lớn vóc hơn. Chương trình phải hết sức mềm dẻo uyển chuyển, để trẻ có thể lựa chọn các hoạt động cá nhân, hoặc tập thể, vì chúng vốn khác nhau rất nhiều về các tài năng thuộc thể.
Ấu nhyi ở tuổi trước khi đi học có thể gặp khó khăn trong việc tự giải thích, tự bày tỏ vì các thanh quản của chúng vẫn chưa phát triển và chỉ có được một số dụng ngữ hạn che. Những ai công tác với trẻ hai ba tuổi không nên ép chúng ca hát cho thật đúng giọng hoặc thôi thúc chúng phải hát cho to lên.
Về mặt trí thức - Phát giác, khám phá.
Ấu nhi trước tuổi đi học nhờ các giác quan để khám phá thế giới của chúng. Màu sắc, cách kết cấu, giọng điệu và âm lượng, mùi vị, ấm, lạnh, là những cảm giác cung cấp cho tẻ con các kinh nghiệm, từng trải để học hỏi. Chúng cần rờ rẫm một vật, để qua các giác quan mà 'cảm nhận' nó.
Trẻ con ở lứa tuổi này cảm nhận khá tinh tế, nhiều điều mà người trưởng thành không để ý. Những ai công tác với trẻ trước tuổi đến trường học cần chú trọng vào các giác quan và tạo cơ hội cho chúng khám phá cái thế giới chung quanh chúng bằng các kinh nghiệm trực tiếp khi nào có thể làm được.
Trẻ hai ba tuổi là giai đoạn chuyển tiếp từ sự phát triển trí thức nhờ đó chúng học biết bằng kinh nghiệm giác quan và hành động, sang giai đoạn trong đó chúng sẽ căn cứ vào bề ngoài và sử dụng các biểu tượng để phê phán các sự vật. Giai đoạn mới này bắt đầu vào khoảng thời gian chúng bắt đầu tập nói. Chúng suy nghĩ bằng cái đặc thù, cụ thể, chớ không phải bằng cách tổng quát hóa, và không thể căn cứ vào hậu quả để suy ra cả một chuỗi biến cố riêng biệt. Chúng phê phán các sự việc theo cách chúng xuất hiện, chớ không phải là căn cứ vào cách 'tính nhẫm', do đó, không thể nhìn thấy các sự việc sự vật theo viễn cảnh đúng của chúng. Chúng không nói ra được điểm khác nhau giữa biểu tượng với chính sự vật mà biểu tượng ấy thay thế cho. Đến cuối giai đoạn này, trẻ con ở lứa tuổi này học biết được rằng ngôn ngữ có tính cách độc đáo, và một tiếng có thể chỉ nhiều hơn là một vật (2)
Có phạm vi chú ý hạn chế.
Phần đông trẻ hai ba tuổi sẽ chỉ lắng nghe từ hai đến năm phút tùy theo mức độ 'dấn thân' cá nhân. Một khi đã vượt qua phạm vi chú ý tối đa của chúng rồi, thì trẻ trước tuổi đi học sẽ chuyển sang một hoạt đng khác - dầi có theo đúng kế hoạch đã định hay không. Những ai công tác với lứa tuổi này phải mẫn cảm đối với đặc điểm này và biết điều chỉnh nó cho phù hợp. Mọi hoạt động đều phải có phần nào uyển chuyển nhưng trong phạm vi do tập thề ấy gây ra. Nếu về sau, các trẻ ấy muốn quay trở lại với một hoạt động, thì nếu có thể được, nên cho phép chúng làm việc ấy - với điều kiện luôn luôn có hiện diện của tinh thần khám phá, phát giác.
Có số dụng ngữ hạn chế.
Những tiếng thông thường nhất trong số dụng ngữ của trẻ ở lứa tuổi trước khi đi học là 'không', 'tôi' và 'của tôi'. Chúng học những tiếng mới và ý nghĩa của những tiếng ấy nơi những người lớn hơn sống gần với chúng.
Trẻ hai ba tuổi có thể thường nói không tuy không phải luôn luôn chúng đều có ý muốn nói như vậy. Nhiều khi, chúng hàm ý muốn nói rằng "Tôi không làm được" hoặc "Tôi không hiểu điều ông (bà, bạn) nói" hoặc cả là "Tại sao", nữa, hay thật sự là "không". Trong lúc học tập từ diễn tả bằng lời nói; chúng sẽ tự bộc lộ điều vốn được gọi là tiêu cực tính. Nhiều trẻ vốn có khuynh hướng tiêu cực hơn một số các trẻ khác.
Khi đã khám phá ra được một tiếng mới, ấu nhi trước tuổi đi học có thể đổi nó ra thành ngôn ngữ đơn giản. Tùy theo cách chúng phản ứng đối với các đĩa hát, băng ghi âm, sách báo và vô tuyến trình hình mà chúng được cho nghe, cho xem, trong năm lên hai tuổi, trẻ chưa đến tuổi đi học có thể có được 300 tiếng trong số các dụng ngữ thường dùng của chúng - đến năm lên ba tuổi, là khoảng 900 tiếng. Những người làm cha mẹ và công tác với lứa tuổi này phải nhớ điều này trước khi tỏ ra sốt ruột, mất kiên nhẫn đối với đứa trẻ. Phải tránh việc 'nói chuyện' với trẻ con. Trẻ ở lứa tuổi trước khi đến trường, học hỏi được nhiều thông qua việc giao lưu tiếp xúc không phải là bằng lời nói, như các điệu bộ, những bộc lộ trên gương mặt, thái độ, các phản ứng do cảm xúc - hơn là thông qua những lời lẽ được nói ra. Trong mọi hoàn cảnh truyền dạy, trẻ con đều học được nhiều điều phụ trội, hơn là những gì đã được trình bày.
Có trí nhớ không thể tin cậy được.
Trẻ trước tuổi đi học có trí nhớ kém, không tin cậy được. Có một số điều chúng nhớ rất kỹ nhất là nếu gặp hoàn cảnh đáng ghê sợ, còn những việc kém quan trọng hơn thì chẳng mấy chốc sẽ bị chúng quên ngay. Trẻ hai ba tuổi rất khó nhớ lại, nhận lại, vì các tiến trình tư duy của chúng bị hạn chế. Trong giai đoạn này của đời sống ký ức, thị giác dường như là mạnh mẽ nhất. Bất kỳ những hoạt động nào gây ấn tượng mạnh trên ngũ quan, các kinh nghiệm thông thường, hay việc tự dấn thân, dường như sẽ được ghi nhớ dễ dàng hơn nhiều.
Có ý niệm hạn chế về hiểu biết.
Vì các ý niệm về không thời gian và các con số của trẻ hai ba tuổi bị giới hạn như vậy cho nên những ai phục vụ cho lứa tuổi này phải nó bằng những lời lẽ sao cho chúng có thể lãnh hội được. "Đời xưa, đời xưa" hoặc "ở một nơi xa lắm" sẽ được chúng tiếp thu và có ý nghĩa hơn là "1.000 năm trước đây" hay "cách đây 2.000 cây số". Thế giới của ấu nhi gồm có hiện tại và khung cảnh vây quanh quen thuộc. Gia đình là thế giới chính yếu của chúng. Thường thường thì vượt ra ngoài khung cảnh đó, là một lạnh thổ xa lạ. Vậy những người làm cha mẽ và các cán bộ khác công tác với trẻ con ở lứa tuổi trước khi đi học phải học tập nói theo trình độ của chúng, bằng những lời lẽ đặc thù, cụ thể, và theo nghĩa đen. Lời nói và các ý niệm cần thường được nhắc đi nhắc lại và bằng nhiều cách khác nhau, và có liên hệ với từng trải hằng ngày của chúng.
Về mặt tình cảm - Dễ lo sợ.
Trẻ hai ba tuổi vốn bất ổn định về phương diện tình cảm, và diễn tả ra bằng việc sợ hãi cái không quen thuộc và phản ứng lại với môi trường chung quanh chúng.
Sợ cái không quen.
Trẻ trước tuổi đi học sợ các đám đông người kèm theo tiếng ồn ào, lộn xộn. Chúng chỉ quen với nhà riêng của chúng mà thôi. Trog một môi trường mới lạ, như một lớp Trường Chúa nhật, một trung tâm giữ trẻ ban ngày, hoặc trong nhà thờ, chung rất sợ bị cha mẹ bỏ rơi. Tuy nhiên, những người làm cha mẹ không cần gì cứ phải ở lại với chúng.
Những người phục vụ trẻ hai ba tuổi có thể giúp ích nhiều để trẻ có thề thích nghi dễ dàng với khung cảnh mới. Nếu Hội thánh có một chương trình phục vụ cho trẻ sơ sinh và ở lứa tuổi mới biết đi chập chững, ngay đến các em bé sơ sinh cũng có thể bắt đầu nhận ra các cán bộ, và khi được đưa đến nhà thờ và được chăm sóc về y tế ở nhà trẻ dành cho chúng, chúng vẫn tiếp tuc làm quen với những gương mặt mới và khung cảnh chung quanh. Như vậy, khi trẻ ở lứa tuổi trước khi đến trường được lên các lớp cao hơn và được phục trên một cấp bậc cao hơn, chúng thường có thể tự thích nghi hóa dễ dàng hơn và ít sợ hãi các kinh nghiệm mới mẻ hơn.
Nhưng ai công tác với trẻ hai ba tuổi phải đến sớm và sẵn sàng để đối phó với bất luận tình huống có thể xảy ra nào. Rồi từng đứa trẻ có thể được cháo đón cách riêng tư lúc chúng đến phòng học, để tham gia các hoạt động đã được hoạch định.
Với bất ổn định về phương diện tình cảm.
Người ta không thể biết chắc một trẻ trước tuổi đi học sẽ phản ứng như thế nào vào một lúc này hay lúc khác. Một đứa trẻ bắt đầu khóc có thể được dỗ níu bằng cách cho nó tham gia một hoạt đng nào đó. Có lẽ sợ sệt là cảm xúc nổi bật nhất, mà phần lớn những gì chúng sợ hãi là do chúng học hỏi của người lớn. Trẻ ở tuổi trước khi đến trường học sẽ bắt cước các phản ứng mà chúng đã thấy khi lâm vào nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Phản ứng với môi trường chung quanh.
Vì cớ ngũ quan rất nhạy bén của chúng, trẻ trước tuổi đi học sẽ phản ứng hoặc thuận lợi hoặc bất thuận lợi với môi trường vây quanh. Các phòng cần sáng sủa, nhiều màu sắc ấm cúng và đẹp mắt. Bầu không khó phải thuận lợi, ít gặp chuyện bất trắc. Những ai công tác với lứa tuổi này phải gương mẫu về các thái độ và hành động tích cực khi liên hệ với đám trẻ.
Về mặt xã hội - Tự-kỷ-trung-tâm.
Thế giới của trẻ trước tuổi đi học xoay quanh chính chúng, nhà riêng của chúng và các môi trường quen thuộc khác. Trong một thế giới rộng lớn hơn, chúng sẽ bộc lộ thái độ tự kỷ trung tâm và sợ hãi cái xa lạ không quen. Trẻ trước tuổi đi học thích chơi đùa một mình, nhưng cũng vui vẻ khi được chơi chung với những trẻ khác.
Lệ thuộc vào người khác.
Erikson vào người khác.
Erikson nhận xét giai đoạn phát triển của trẻ hai ba tuổi là tự lập chống lại nghi ngờ. Nhiều khi trẻ trước tuổi đi học không muốn hoàn toàn lệ thuộc vào người khác. Chúng phấn đấu để 'tự lực cánh sinh', nghĩa là đề phát triển cái tài năng tự làm lấy mọi việc. Nhiều lúc khác, chúng lại trông cậy quá đáng nơi người lớn, và không chịu tự làm lấy mọi việc. Như thế là chúng đang lâm vào hoàn cảnh 'song đấu' giữa ước muốn 'bám giữ lấy' với 'buông xuôi tất cả'. Những người làm cha mẹ và những người khác phục vụ cho trẻ con ở lứa tuổi này nhiều khi cảm thấy chán nản vì cố gắng theo cho kịp việc đáp ứng các nhu cầu của chúng.
Nhiều khi trẻ con cần được người lớn giúp đỡ. Chúng cần được trợ giúp để thay quần áo, mang giày, cài nút áo, lau mũi và đi nhà thờ. Trẻ con cần được tự do khám phá để tự phát giác và làm lấy mọi việc, nhưng chúng cũng luôn luôn cần được sự có mặt của một bàn tay sẵn sàng hướng dẫn để khích lệ tánh tự lập của chúng. Những bậc làm cha mẹ và các cán bộ khôn ngoan công tác với lứa tuổi này sẽ để cho trẻ được tự do trong phạm vi các ranh giới đã được xác định rõ ràng (3)
Thích chơi đùa một mình.
Trẻ hai ba tuổi thích chơi đùa một mình hơn là chơi đùa với người khác. Khi được đặt chung với các trẻ khác, có thể xảy ra là chúng sẽ đòi hỏi tất cả những gì chúng nhìn thấy hoặc đụng chạm đến, mà không chịu chơi chung với các trẻ khác. Vì phạm vi chú ý bị hạn chế của chúng, chúng có thể vứt bỏ vật mà chúng tạm thời đòi hỏi, để chộp lấy một vật khác sẽ trở thành vật sở hữu của chúng.
Về mặt thuộc linh - Hay bắt chước.
Trẻ trước tuổi đi học bắt chước cha mẹ chúng và những người lớn khác đang công tác với chúng, cũng thích bắt chước các anh chị của chúng. Có thể chúng không biết ý nghĩa của một số hành động, nhưng bắt chước điều chúng thấy để cuối cùng sẽ sống rập khuôn những người mà chúng bắt chước. Điều này có thể gồm cả các cảm thức đối với Thượng Đế của chúng nữa.
Chẳng hề có lời truyền dạy nào lại có năng lực cho bằng phẩm chất tốt đẹp của đời sống các bậc làm cha mẹ. Trẻ con cảm nhận hết sức nhanh nhạy các thái độ của người lớn ngay trước khi chúng hiểu được ý nghĩa của các lời nói. Những người làm cha mẹ là Cơ Đốc nhân đang làm công tác dạy dỗ khi họ yêu thương chăm sóc con cái mình, giúp đỡ lẫn nhau, chia xẻ với tha nhân, đọc Lời Thượng Đế và cầu nguyện với cha mình ở trên trời. Tất cả các hành động đó đều vạch rõ cho con cái mình thấy thế nào là sống một nếp sống tin kính.
Những hành động sai quấy trong đời sống cũng bị bắt chước nữa. Những bậc làm cha mẹ bị căng thẳng, gặp khó khăn có những xúc cảm ấu trĩ thường phản ảnh qua các thái độ và hành động của mình, sẽ nhận thấy hậu quả nơi lũ con cái cứ bồn chồn bất an và không có hạnh phúc của mình.
Thông suốt các ý niệm thuộc linh căn bản.
Trẻ hai ba tuổi có thể hiểu được rằng Kinh Thánh là bộ sách đw5c biệt do Thượng Đế ban cho loài người, rằng Chúa Giê-xu là Con Thượng Đế, còn Hội thánh là nơi để chúng được học hỏi về Thượng Đế, và Thượng Đế vốn yêu thương chăm sóc cho chúng.
Trẻ con ở lứa tuổi trước khi đến trường học, có thể hiểu là Thượng Đế yêu thương chúng. Nhất là chúng rất thích nghe những câu chuyện kể có liên hệ đến chúng và đám trẻ ở tuổi chúng, như truyện tích Chúa Giê-xu Giáng sinh và em bé Môi-se.Chúng có thể hiểu là Chúa Giê-xu cũng là một ấu nhi từ từ lớn lên rằng Ngài là bạn thân của cúng. Lúc bắt đầu trò chuyện, chúng có thể học tập trò chuyện với Thượng Đế, nhưng trở thành táy máy không thể ngồi yên khi người lớn đòi hỏi chúng phải ngồi yên trong những bài cầu nguyện dài.
Chúng có thể hiểu rằng nhà thờ là ngôi nhà của Thượng Đế, và trong nhà thờ, chúng được nghe kể các truyện tích về Chúa Giê-xu, và tại đó, chúng còn gặp nhiều trẻ con khác mà Chúa Giê-xu cũng yêu mến.
Chúng có thể hiểu rằng Kinh Thánh là bộ sách rất đặc biệt vì đó là Sách của Thượng Đế, nhưng sẽ không thể tôn trọng Kinh Thánh nếu người lớn cứ bỏ mặc quyển sách ấy trên bàn hoặc trên giá, trên kệ sách mà chẳng bao giờ đọc tứi, hay không nâng niu coi trọng quyển sách ấ. Chúng cũng không thể học hỏi được là phải tôn trọng các chân lý trong bộ sách ấy, nếu người lớn chỉ nói sơ qua về nó, mà chẳng bao giờ trao cho chúng một quyển.
Vì có trí nhớ không tin cậy được và sử dụng ngữ hạn chế của chúng, các ý niệm phải được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, theo nhiều cách khác nhau. Trẻ trước tuổi đi hoc rất thích việc cứ lặp đi lặp lại nhiều lần như thế.
Trẻ con chưa có khả năng đánh giá các hệ quả của điều đúng điều sai. Chúng không thể phân biệt phải trái, một sự kiện có thật với chuyện tưởng tượng, nếu không có người giúp đỡ. Các truyện tích Kinh Thánh phải luôn luôn được nhấn mạnh là có thật và phải được truyền dạy từ một quyển Kinh Thánh mở rộng.
Đáp ứng với tình thương.
Về các mặt tình cảm và thuộc linh, trẻ trước tuổi đi học cần được yêu thương trìu mến. Có thể chúng muốn được quan tâm chú ý để cái nhu cầu căn bản đó được đáp ứng. Những người làm cha mẹ và người lớn khác công tác với lứa tuổi này cần nhấn mạnh về tình thương yêu của Thượng Đế đối với từng trẻ một. Sự hiểu biết thông cảm, quan tâm chăm sóc, tình bạn và tình yêu thương của họ mở đường cho các mối liên hệ tốt đẹp và các kinh nghiệm học hỏi hữu hiệu tại nhà riêng và nhà thờ.
NHỮNG ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ.
Vì trẻ hai ba tuổi rất được mọi người chung quanh và những người lo lắng chăm sóc cho chúng thương yêu trìu mến như vậy, các tiện nghi trong Hội thánh phải tươi sáng, vui vẻ, được quản lý bởi một ban nhân viên là những Cơ Đốc nhân gương mẫu cả trong thái độ lẫn hành động, đã được huấn luyện nhằm giao lưu tiếp xúc với trẻ con ở hạng tuổi ấy. Nếu các tiện nghi cho trẻ chưa đến tuổi đi học của Hội thánh cũng giống như ở nhà riêng, thì việc điều chỉnh chúng cho phù hợp với trẻ sẽ dễ dàng hơn. Hội thánh phải bổ sung cho bối cảnh của nhà riêng và phát triển các thái độ tích cực đối với Chúa và nhà Ngài.
Các cán bộ phải thiết lập một bầu không khó yên tĩnh trong đó họ có thể truyền dạy các chân lý và hành động thuộc linh, liên hệ đến từng trải của đứa trẻ. Cần phải có một người làm việc với mỗi bốn hoặc năm trẻ.
Vì trẻ hai ba tuổi hay sợ sệt và có phần nào bất ổn định về mặt xúc cảm, những ai công tác với lứa tuổi này phải làm tất cả những gì có thể làm được để tạo cho trẻ tinh thần tự tin, tự trọng. Một bầu không khí an toàn và yêu thương là thiết yếu, cộng với việc ban tặng rời rộng những lời khen ngợi, khích lệ.
Căn phòng phải rộng khoảng từ 8 đến 10 mét vuông. Những căn phòng nhỏ hoặc bị chia ngăn quá nhỏ sẽ hạn chế sự hoạt động và không phù hợp với một chương trình uyển chuyển, linh động, dành cho nhu cầu của trẻ hai ba tuổi. Khi chọn các tài liệu cho chương trình dành cho lứa tuổi này, phải tạo cơ hội cho trẻ tự khám phá lấy, cũng như có phần trình bày và ứng dụng các ý niệm thuộc linh.
TÓM TẮT
Lứa tuổi lên hai lên ba là những năm quan trọng. Cơ đấu nhân cách của trẻ đang ở trong giai đoạn hình thành, và chúng rất dễ dàng có ấn tượng, dễ dạy và dễ hướng dẫn. Tuy trẻ trước tuổi đi học rất tích cực hoạt động về mặt sinh lý, chúng rất dễ mệt mỏi. Về mặt trí thức, chúng phát giác được nhiều điều thông qua ngũ quan, nhưng bị giới hạn trong việc tự bày tỏ chính mình. Về mặt tình cảm, chúng hay sợ cái gì xa lạ không quen nếu cần một bầu không khí an toàn, yêu thương, được mọi người chú ý đến riêng chúng. Về mặt xã hội, chúng thích chơi một mình, và tánh tự-kỷ-trung-tâm có thể khiến chúng thỉnh thoảng có vẻ như tiêu cực về mặt thuộc linh, trẻ ở lứa tuổi này có thể học hỏi được nhiều qua thái độ của người khác, hơn là qua ý niệm (trừu tượng), nên cần được nhắc đi nhắc lại nhiều lần về các sự kiện căn bản liên hệ với các kinh nghiệm thông thường, quen thuộc, hằng ngày.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Tại sao ngành giáo dục cho trẻ chưa đến tuổi đi học hiện đang được chú trọng?
2. Có những từ ngữ 'chìa khóa' nào mô tả nhân cách toàn diện của trẻ lên hai ba tuổi?
3. Một trẻ trước tuổi đến trường học quan niệm về đời sống khác với chúng ta như thế nào?
4. Đâu là một số nhu cầu sinh lý (thuộc thể, thân xác) của trẻ trước tuổi đi học?
5. Tại sao lắm lúc lại rất khó giao lưu tiếp xúc với một đứa trẻ ở lứa tuổi trước khi đến trường?
6. Một người trưởng thành công tác với trẻ ở lứa tuổi này, có thể truyền đạt chân lý thuộc linh cho chúng như thế nào?
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Hội thánh của bạn đang tạo các cơ hội nào để phát triển cho trẻ con ở lứa tuổi trước khi đi học?
2. Hãy quan sát một trẻ trước tuổi đến trường một thời gian, ghi lại tất cả những gì bạn quan sát được liên hệ đến các đặc điểm sinh lý, trí thức, tình cảm, xã hội và thuộc linh của nó.
3. Bạn sẽ làm gì với một trẻ trước tuổi đi học đang giận dữ dậm chân, lắc đầu và nói 'không' khi nó đang ngồi chung với các trẻ khác, để bạn có thể kể chuyện cho chúng nghe?
4. Hãy đến thăm tiểu ban trẻ trước tuổi đi học của Hội thánh bạn. Đánh giá phòng học, phần trang thiết bị, nhân viên và chương trình hầu củng cố thêm, và các lãnh vực có thể cải thiện.
5. Hãy hỏi một đứa trẻ hai ba tuổi một số câu về chân lý thuộc linh. Chú ý xem bạn cần phải thay đổi các âu hỏi của mình như thế nào, để đứa trẻ có thể trả lời được.
6. Cắt từ các tạp chí ra những bức tranh để dành riêng cho trẻ trước tuổi đi học và dán vào một 'Tập tranh ảnh dành cho trẻ trước tuổi đi học'. Chú thích cho mỗi tranh liên hệ đến một đặc điểm của trẻ trước tuổi đi học.

NHỮNG KINH NGHIỆM MỚI
THIẾU NHI Ở GIAI ĐOẠN ĐẦU 4 VÀ 5 TUỔI
Giai đoạn từ tuổi ấu nhi đến thiếu nhi, giai đoạn đầu tuy là tuần tự nhi tiến nhưng rất dứt khoát. Chiều cao của trẻ lên 4, 5 tuổi tăng lên rất rõ ràng. Các mối quan tâm của chúng được mở rộng. Tâm trí chúng càng sâu sắc thêm.
Phải trải qua nhiều bước tiến nhỏ đển lắp đầy một bước tiến lớn lên là lên bốn tuổi hiếu động, sôi nổi, ham nói, giàu tưởng tượng và đáp ứng nhanh nhẹn đang từ từ bắt đầu để trở thành điều mà đứa trẻ lên năm tuổi sẽ trở thành. Trẻ lên năm rất dễ dạy, dễ thương vẫn còn phải tiến thêm nhiều bước nhỏ nữa trong sự tăng trưởng để bước cho xong bước tiến lý thú là lên năm tuổi. Đây là lứa tuổi tuyệt vời để vui chơi, hưởng thụ, vì trước mặt trẻ là cả một năm sôi động đang hiện lên (1)
Nhiều trẻ lên bốn, năm tuổi đã được dự phần vào các kinh nghiệm của ngành giáo dục dành cho tuổi thiếu nhi ở giai đoạn đầu, hoặc là trong các chương trình chăm sóc hằng ngày, hoặc là trong lớp mẫu giáo hay vườn trẻ. Chúng được học sự khéo léo căn bản về ngôn ngữ và xã hội. Một số trẻ đã theo học các lớp học trong Hội thánh liên hệ với khung cảnh của chúng và nhận được phần giáo huấn thuộc linh căn bản và đã có cơ hội ứng dụng những gì chúng đã học hỏi được. Các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi cũng mở rộng kiến thức và tài khéo của chúng. Do đó, nhiều trẻ 4,5 tuổi đã 'thông thái' hơn về các kinh nghiệm giáo dục trước khi chính thức đến trường học, và những ai công tác với trẻ 4,5 tuổi cần phải xây lên từ các nền móng ấy.
CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN.
Hòa tất các nhiệm vụ sau đây sẽ là dấu hiệu cho sự phát triển tăng trưởng:
Nhận ra sự khác biệt về giới tính.
Có khả năng xã hội và có liên hệ tình cảm với các trẻ khác.
Tăng thêm khả năng tự diễn tả bằng lời nói và giao lưu tiếp xúc với cá trẻ khác
Khả năng phân biệt đúng sai (2)
Về mặt sinh lý - Tuổi chơi đùa
Trẻ bốn năm tuổi thích chơi đùa và cả thế giới đều là một sân chơi. Chúng sẽ chẳng bao giờ còn có thể chơi đùa mà hoàn toàn không bị các mối bận tâm khác làm gián đoạn. Thời gian chơi đùa này vượt hẳn phương diện sinh lý. Nó cũng ảnh hưởng đến các mặt phát triển trí thức, xã hội, và thuộc linh nữa.
Tuy người lớn có thể nghĩ rằng chơi đùa là phí thì giờ, thật ra trẻ con học hỏi được rất nhiều qua các hoạt động nô đùa có tính cách xây dựng. Trò chơi cho các giác quan dạy cho trẻ nhiều sự kiện về thân xác, các giác quan, và các phẩm chất của các sự vật của môi trường xung quanh. Trẻ con chơi đùa bằng vận động qua những hoạt động như chạy nhảy. Các trò chơi mạnh bạo như nhào lộn, té ngã dạy trẻ con cách cảm nhận, kiểm soát các động lực thúc đẩy, và sàng lọc những cách ăn ở ứng xử tiêu cực, có thể là không phù hợp.
Trẻ con chơi đùa bằng ngôn ngữ để học tập nhịp điệu, tạo ra những ý nghĩa mới, và để thực hành và làm chủ văn phạm cũng như những tiếng mà chúng đang học. Diễn kịch và làm người mẫu khích lệ trẻ con thủ các vai hay làm người mẫu hầu thấu hiểu các mối liên hệ xã hội, các luật lệ và nhiều góc cạnh khác nhau của văn hóa. Các trò chơi thể thao, lễ lạc, và các trò chơi đòi hỏi sự tranh đua dạy cho trẻ con cách xoay sở, đặt ra những điều lệ chỉ đạo về những gì là thích hợp, và để làm phát triển các tài khéo léo về nhận thức (3).
Các trò chơi đòi hỏi sáng kiến kích thích tâm trí trẻ con. Nhờ đó mà chúng nhớ rõ hơn những gì đã học hỏi được. Trẻ 4,5 tuổi thường hay bắt chước người khác thú vật hay các đồ vật - bắt chước bất kỳ người nào hay vật gì gây ấn tượng trên chúng. Chúng có thể tượng tưởng mình là một đoàn tàu hỏa, là một người cha, một phi hành gia không gian, một con mèo, con ngựa, một cảnh sát viên, một quân nhân. Sự bắt chước của chúng thay đổi tùy hoàn cảnh, sự việc sự vật, hay những người mà chúng nhìn thấy, để rồi chúng có thể buồn chán, nhưng các hoạt động ấy rất cần thiết cho việc phát triển nhân cách của chúng.
Phát triển thật nhanh.
Trong giai đoạn đầu của tuổi thiếu niên, tay chân chúng nở nang tạo cho trẻ con nhu cầu phải luôn luôn chạy nhảy. Tốc độ phát triển của chúng tăng nhanh lúc lên bốn tuổi, và chậm hơn lúc lên năm. Sự phát triển khác nhau của các cơ bắp lớn hơn có thể khiến chúng khó điều hòa các hoạt động của mình, cũng như với các trẻ cùng lứa tuổi. Chỉ cần khác nhau một tháng tuổi cũng rất có ý nghĩa trong giai đoạn này, vì các cơ bắp nhỏ hơn bắt đầu phát triển khiến chúng dễ mệt mỏi ngay trong các dự án hoạt động. Các hoạt động chơi đùa có thể giúp cho cả các cơ bắp vừa lớn vừa nhỏ phát triển.
Những ai công tác với trẻ ở lứa tuổi này cần lợi dụng năng lượng dự trữ của chúng và khích lệ việc làm phát triển các cơ bắp bằng cách lựa chọn thật kỹ các hoạt động. Phải xen kẽ các hoạt động hiếu động với các hoạt động trầm lặng.
Có năng lực giới hạn.
Trẻ bốn năm tuổi thường có sức khỏe dễ tay đổi và dễ mắc phải các bệnh truyền nhiễm, nhất là lúc bắt đầu đi học mẫu giáo. Thân thể đang độ tăng trưởng của chúng cẩn được nghỉ ngơi đầy đủ và ăn uống thích hợp. Không nên ép chúng chơi đùa hay tham dự những trò chơi nặng nhọc, căng thẳng khi chúng cảm thấy không được khỏe.
Về mặt trí thức - Hay đặt câu hỏi.
Đứa trẻ thích khám phá biến thành đứa trẻ hay thắc mắc. Việc khám phá phát giác mở rộng cái thế giới của đám trẻ này đưa chúng tới chỗ không ngừng đặt câu hỏi: Hồi còn nhỏ, chúng chỉ giải quyết các vấn đề của mình bằng cách hoạt động. Bây giờ đã biết trò chuyện rồi, thì đặt câu hỏi là phương pháp hay nhất của chúng để học biết. Những bậc làm cha mẹ và nhiều người lớn khác quá thường ngắt ngang các câu hỏi như thế, và bằng cách đó, đã gây trở ngại cho việc thắc mắn tự nhiên, cả trong sự hiểu biết lẫn trong việc tư bộc lộ, tự diễn tả.
Tiến trình giáo dục trẻ ở lứa tuổi này bắt đầu với những câu hỏi và tiếp tục với các câu trả lời trực tiếp và vừa đủ của cha mẹ hoặc của các cán bộ đang công tác khác. "Trả lời quá nhiều" có thể gây rối trí cho trẻ con và là không cần thiết cho việc học hỏi.
Đang phát triển lý lịch cá nhân.
Trẻ lên 4, 5 tuổi bắt đầu tự nhận biết chúng là những con người độc nhất vô nhị. Trẻ ở lứa tuổi này cần nhận thức được rằng Thượng Đế đã tạo ra chúng là một người đặc biệt, khác hẳn với bất kỳ ai khác. những người làm cha mẹ và đang công tác với trẻ bốn năm tuổi cần giúp chúng tự chấp nhận như hiện có. Cần thận trọng đặt các nền móng cho một hình ảnh tích cực của bản thân chúng.
Đã gia tăng số dụng ngữ.
Việc trò chuyện của trẻ bốn năm tuổi gia tăng khi chúng học tập tự bộc lộ, tự diễn tả bằng số ngữ vựng ngày càng tăng. Dụng ngữ của chúng tùy thuộc bối cảnh gia đình, các chương trình truyền hình chúng được xem, và những cuộc tiếp xúc trong nhà thờ, nhưng cứ theo con số trung bình mà nói, thì dụng ngữ của chúng gồm từ 500 đến 1.500 từ.
Người lớn có thể biết chắc các giới hạn của số dụng ngữ ấy bằng cách hỏi các trẻ thuộc lứa tuổi đó một tiếng nào đó có gnhĩa gì, và khích lệ chúng sở dụng các tiếng mới trong khi trò chuyện.
Bị hạn chế trong việc thông hiểu ý niệm.
Các ý niệm giới hạn về không, thời gian và các con số có thể khơi nguồn cho nhiều thắc mắc. Các ý niệm của trẻ bốn năm tuổi rất hạn chế. Hậu quả là có thể chỉ sau vài phút nóng lòng chờ đợi, chúng có tể hỏi "Mẹ ơi, đã đến lúc phải đi chưa? Chúng ta đã phải ch2ơ đợi hằng mấy tiếng đồng hồ rồi!"
Khoảng cách có vẻ rất dài rất xa đối với chúng. Chỉ sau khi vượt qua vài dặm đường hoặc mấy dãy nhà, chúng đã có thể nói "Đi biết chừng nào mới tới đó? Mình đi gần suốt cả ngày rồi!"
Nếu muốn sử dụng ý niệm về con số, cha mẹ của bé có thể nói "Con này, cha này, và mẹ này, mọi người đều đi". Nếu có nhiều người cùng đi, cha mẹ của bé sẽ nói "Tất cả mọi người trong gia đình ta này, bé Bình với cha mẹ nó này; bé Mai với cha mẹ nó này, và còn nhiều người khác nữa".
Trò chuyện tự do.
Trẻ bốn năm tuổi gặp đâu nói đó. Chúng có thể kể cho người ngoài nghe chuyện trong nhà, lắm khi khiến cha mẹ chúng phải bực bội. Trẻ ở lứa tuổi này thường dùng một câu hỏi để bắt đầu câu chuyện. Một vài câu hỏi tiêu biểu là: Con thỏ có thể nhảy qua chiếc lưới người ta đánh vũ cầu không? Ngôi nhà có to bằng người khổng lồ không? Tại sao Chúa Giê-xu lại không chữa bệnh cho bà nội?
Có óc tưởng tượng sắc bén.
Tánh hiếu kỳ và óc tưởng tượng sắc bén của trẻ bốn năm tuổi là những đặc điểm nổi bật. Chúng chủ yếu suy nghĩ bằng những hình ảnh tưởng tượng. Trong trò chơi của chúng, các hình ảnh ấy trở thành thực tại. Điều này khiến chúng tự tin vào kinh nghiệm để sau này, sẽ có óc sáng kiến và chủ động ci bước trước. Nhiều thi sĩ, họa sĩ và nhà phát minh vốn là những trẻ có óc tưởng tượng mạnh mẽ.
Theo thuyết của Piaget, thì về mặt trí thức, trẻ bốn năm tuổi vẫn còn trong giai đoạn chưa có khả năng tư duy thông qua các hệ quả của một chuỗi các biến cố riêng biệt nào đó. Tuy trẻ ở lứa tuổi này đã tiến được những bước dài trong cách sử dụng khẩu tài, chúng vẫn còn phê phán các sự việc qua hình dáng bên ngoài, suy nghĩ những điều cụ thể, đặc thù, và chỉ thấy được một mặt của tình hình toàn diện mà thôi. Tư duy của chúng hết sức cụ thể, và chúng không hiểu các biểu tượng cũng như những cái trừu tượng. Chúng không thể suy nghĩ bằng cách 'lật ngược vấn đề'. Chúng cũng còn tự-kỷ-trung-tâm và hạn chế tài năng của mình trong việc phân loại và xếp hạng mà thôi.
Về mặt tình cảm. Đáp ứng nhanh nhẹn.
Trẻ bốn năm tuổi rất sôi nổi về mặt xúc cảm. Các phản ứng của chúng hết sức bất ngờ. Chúng có thể nói năng hết sức hao mỹ, màu mè, hoặc cả dễ ghét, đáng giận nữa vì chúng tưởng làm như vậy thì sẽ được thiên hạ chú ý.
Có thể đè nén xúc cảm.
Trẻ bốn năm tuổi có thể kiểm soát các xúc cảm của chúng nhiều hơn là trẻ hai ba tuổi, nhưng chúng vẫn đang học tập để sống với người khác, nên cần được chỉ dẫn và giúp đỡ. Chúng phải học tập tránh cách cư xử không đẹp như cắn, đánh, cấu véo, và xô đẩy - những hành động nhằm thu hút sự chú ý. Nếu tất cả trẻ con ở lứa tuổi này được lưu ý đúng mứa cần thiết một cách tích cực, chúng sẽ được giúp đỡ rất nhiều để trở thành những cá nhân biết tự chủ, tự chế.
Sợ nhiều điều.
Trẻ ở tuổi này có thể sợ cái chưa biết cái mới mẻ, bóng tối, sấm chớp, tiếng chó sủa, và những người lạ. Chúng học biết sự sợ hãi này trong gia đình và nơi các bạn bè, nhưng chúng vốn có thật nơi các trẻ này, và cần phải được nhận thấy không nên lợi dụng điều chúng sợ để hù dọa chúng. Những câu nói như "Tao sẽ nhốt mày vào phòng tối" không nên được dùng để điều khiển trẻ bốn năm tuổi.
Tỏ ra ghen tị.
Trẻ bốn năm tuổi có thể đã biết ghen tị. Nhiều khi những người làm cha mẹ đã vô tình tạo ra thói ghen tị vì thiếu chú ý, nhất là khi có thêm một đứa con nữa. Tánh ghen tị có thể bộc lộ bằng việc cắn, đánh em bắ mới sinh. Những người làm cha mẹ khôn ngoan cần chuẩn bị trẻ bốn năm tuổi thật cẩn thận trước khi em nó ra đời, và để cho nó sự phần yêu thương chăm sóc cho em bé nữa.
Về mặt xã hội - Hay bắt chước.
Về mặt xã hội, trẻ bốn năm tuổi bắt đầu phát triển ý thức tập thể, chiến thắng tánh tự kỷ-trung-tâm của mình, và có thể bộc lộ tài năng lãnh đạo.
Đang phát triển ý thức tập thể
Trẻ bốn năm tuổi hay bắt chước người khác. Giờ đây, chúng thêm nhiều người ngoài vào số người hạn chế trong gia đình mà chúng đã quen biết. Chúng cũng làm quen nhiều hơn với những người chung quanh và giao tiếp tốt hơn với họ. Chúng thích chơi chung với các trẻ cùng tuổi khác, nhưng vẫn còn tự-kỷ-trung-tâm. Điều này có thể khiến chúng rụt rè e lệ và sợ hãi các trẻ mới hoặc không muốn tham gia các hoạt đng tập thể.
Chẳng bao lâu, trẻ bốn năm tuổi sẽ học biết được rằng tự-kỷ-trung-tâm và ngoan cố có thể có nghĩa là bị cách ly với tập thể. Khi đã thôi giận dỗi và ngưng khóc, chúng sẽ cộng tác với nhóm bạn kia, và như thế là chúng đã được thừa nhận. Và như thế là chúng đã học hỏi được cách hoạt động có đội ngũ.
Tự-kỷ-trung-tâm quá đáng.
Trẻ bốn năm tuổi có thể muốn cầm đầu lớn hơn hết, làm kẻ chiến thắng. Tuy đối với chúng, phải học tập đấu tranh hữu hiệu là tốt, chúng cần được các luật chơi bảo vệ và chịu cho các trẻ khác giới hạn, kìm chế mình. Khi tăng gia việc tiếp xúc với các trẻ khác, chúng sẽ thấy được phần nào tánh tự-kỷ-trung-tâm của mình.
Có tài lãnh đạo.
Các tài năng lãnh đạo đang nảy sinh từ một cơ sở hết sức giới hạn. Hoạt động tập thể tạo cơ hội cho số trẻ này lãnh đạo bằng cách đưa chúng lên đứng trước mặt toàn nhóm để hướng dẫn một bài ca, hoặc kể một câu chuyện. Các hoạt động diễn kịch, kể chuyện và nhiều hoạt động có tính cách trình diễn khác cũng khích lệ phát triển tài lãnh đạo.
Erikson mô tả trẻ bốn năm tuổi đang ở trong giai đoạn có sáng kiến chống lại ý thức phạm lỗi. Trẻ tung ra công cuộc thám hiểm vượt ra ngoài bản thân và tài ăn nói của chúng. Chúng bắt đầu khám phá ra thế giới đang vận hành như thế nào, và mình có thể làm gì để tác động vào đó. Chúng nhận ra thế giới cả bằng những con người và các sự việc sự vật có thật, cũng như do chính chúng tưởng tượng ra:
Điều chúng ta hy vọng, là chúng sẽ đối xử với các sự việc sự vật và mọi người một cách xây dựng, và chấp nhận mà không có ý nghĩ xấu về một số điều mà chúng bị ngăn cấm. Chúng đòi hỏi người lớn phải xác quyết rằng sáng kiến của chúng đã được chấp nhận, và những đóng góp của chúng là thật sự có giá trị, cả khi chúng có vẻ như vô nghĩa. Trẻ con ở lứa tuổi này có thể bắt đầu có ý thức mạnh mẽ về sáng kiến. Tuy nhiên, nếu chúng bị chê bai hoặc trừng phạt quá nghiêm khắc, chúng có thể bắt đầu có mặc cảm phạm lỗi về nhiều hành động của chính chúng, và mang các mặc cảm phạm lỗi ấy theo vào đời sống sau này của chúng (4).
Về mặt thuộc linh - Dễ tin tưởng
Những bậc làm cha mẹ và người phục vụ cho trẻ bốn năm tuổi rất dễ ảnh hưởng đến trẻ ở lứa tuổi này. Chúng tin tất cả những gì được dạy bảo. Điều quan trọng là phải tuyệt đối trả lời sự thật cho các câu hỏi của trẻ và đừng lợi dụng tinh thần tin cậy của chúng. Chúng cần nhận biết rằng người lớn cũng chỉ hiểu biết có giới hạn, tuy họ đã lớn tuổi, đã sống lâu hơn chúng.
Lẫn lộn thực tại với tưởng tượng.
Trí nhớ không tin cậy được của trẻ bốn năm tuổi có thể khiến chúng lẫn lộn các chi tiết trong thực tại với cái thế giới mà người ta làm cho chúng tin, vì một óc tưởng tượng bị kích thích qua 1mức và việc chúng không đủ khả năng phân biệt sự kiện có thật với điều người ta tưởng tượng ra, phân biệt cái đúng với cái sai. Những ai công tác với trẻ lứa tuổi này cần nhận thức rằng một đứa trẻ mà người ta không thể tin cậy hoàn toàn có thể là do hậu quả của việc phóng đại quá đáng hoặc không chính xác.
Rất có thể các trẻ ấy đã nghe lỏm được cha mẹ chúng thường nói chuyện với nhau theo kiểu 'phóng đại' cho nên chúng đã có thói quen ấy rồi. Nhằm gây ấn tượng chúng có thể 'phóng đại' các sự việc khi kể lại một câu chuyện.
Lắm khi câu trả lời không chính xác của trẻ bốn năm tuổi một phần vốn do việc thiếu chú ý hoặc dễ quên. Vì không trả lời chính xác được, chúng đưa ngay ra câu trả lời nào dễ dàng nhất đến với chúng.
Ở tuổi này, trẻ rất ít khi cố tình nói dối, trừ phi khi chúng cảm thấy có lợi. Chúng có thể nói dối đều đặn khi nhận thấy hành động của mình không bị phát giác hoặc khi chúng bị trừng phạt quá nặng nề nếu nói ra sự thật.
Khi một đứa trẻ nói dối, người lớn phải khích lệ nó nhận tội và cảm thấy thật sự hối hận vì đã nói dối như thế. Người lớn có trách nhiệm lớn lao trng việc phải nói thật. Gương tốt của họ sẽ có ảnh hưởng trên các trẻ ở lứa tuổi này nhiều hơn bất cứ điều gì khác. Dạy trẻ các hậu quả do việc nói dối trong Kinh Thánh, và phước hạnh dành cho người nói thật, là một sách lược hay.
Khi trẻ con 'phóng đại' quá đáng, nên khuyến khích chúng quay trở về với sự thật bằng cách bảo rằng "Câu chuyện em vừa kể, là em nói chơi, phải không? Vậy hãy kể lại cho tôi nghe điều đã thật sự xảy ra".
Suy nghĩ về Thượng Đế như một Người thật.
Trẻ con bốn năm tuổi có đức tin với lòng tin cậy hết sức đơn sơ vào Thượng Đế và Chúa Giê-xu. Chúng chẳng gặp khó khăn gì khi suy nghĩ về Thượng Đế là một Người thật. Chúng không cần bị thuyết phục về sự thực hữu của Thượng Đế, mà chỉ tin rằng Thượng Đế hiện hữu một cách đơn giản, thế thôi. Chúng trò chuyện với Thượng Đế và Chúa Giê-xu như một con người có thật, cả khi chúng nói như vậy với những người lớn.
Trẻ con ở lứa tuổi này có thể yêu mến Thượng Đế như yêu mến người nhà chúng vậy. Có thể chúng chưa hiểu biết trọn vẹn về việc Thượng Đế đang cầm quyền tể trị, nhưng chúng có thể từng tra3i và bày tỏ lòng biết ơn, tình yêu thương và lòng tôn kính.
Những lời ca ngợi tán tụng và cầu nguyện của trẻ bốn năm tuổi phải bằng những lời lẻ mà chính chúng hiểu rõ và diễn tả đúng theo các cảm nghĩ của chính chúng. Sinh hoạt cầu nguyện của chúng phải dẫn chúng đến chỗ diễn tả lòng biết ơn cũng như biết cầu xin điều này điều nọ.
Có những ý niệm thuộc linh khá phát triển.
Bất cứ về phương diện nào, Hội thánh và chức vụ của Hội thánh cho trẻ bốn năm tuổi đều phải chú trọng vào việc truyền dạy Lời Thượng Đế và giúp trẻ con 3 lứa tuổi này lãnh hội các chân lý căn bản của Kinh Thánh. Các hoạt động học tập phải giúp trẻ bốn năm tuổi có được các ý niệm thuộc linh có ý nghĩa như Thượng Đế là Cha trên trời và là Đấng Tạo Hóa và Chúa Giê-xu là Con yêu dấu của Ngài. Các hoạt động học tập có thể được phối hợp với mùa tiết, cung cấp các vật liệu thích hợp với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Vào những lúc ấy, trẻ bốn năm tuổi có thể xây dựng được một kho tàng các ý niệm có ý nghĩa, chứng minh rằng thế giới là thế giới của Thượng Đế.
Đang phát triển đức tự chủ.
Kỷ luật là một trách nhiệm quan trọng của gia đình. Uy quyền của bậc làm cha mẹ vốn được Thượng Đế phó thác cho (XuXh 20:1-17). Những người làm cha mẹ phải nhận thức vai trò đại diện cho Thượng Đế của mình và hiểu rõ tính cách nghiêm trọng của việc truyền dạy đức tự chủ. Trừng phạt, với tư cách một thành phần của kỷ luật phải được thực thi vì lợi ích của con cái và vì sự vinh hiển của Thượng Đế.
"Người nào kiêng roi vọt ghét con trai mình; song ai thương con ắt cần lo sửa trị nó" (ChCn 13:24). Nếu câu này từng bị giải thích và áp dụng sai, nó hàm chứa một nỗ lực xây dựng nhằm hướng dẫn cho trẻ con đi đúng hướng, và dạy chúng đức tự chủ.
Việc sửa trị bao gồm tha thứ, yêu thương và bộc lộ sự trìu mến. Người làm cha mẹ không nên gò bó con cái mình trong những mẫu mực ăn ở cư xử hẹp hòi, mà phải trang bị cho chúng một cấu trúc toàn diện bằng các nguyên tắc theo Kinh Thánh, sẽ làm nền móng cho việc tự khép mình vào kỷ luật của Kinh Thánh.
Có ý thức rất hạn chế về cái đúng cái sai.
Trong khi phát triển các ý niệm về luân lý đạo đức (liên hệ với ý thức về cái đúng cái sai) trẻ bốn năm tuổi thuộc về cấp bậc thứ nhất như Lawrence Kohlberg đã đề cập. Cấp bậc này gồm hai giai đoạn. Ở giai đoạn đầu, trẻ con tuân theo luật lệ là để tránh bị trừng phạt. Ở giai đoạn sau, chúng vâng giữ luật lệ là muốn được khen thưởng hoặc được đặc ân.
Điều quan trọng phải nhớ là tùy Kohlberg nhấn mạnh rằng phán đoán về luân lý đạo đức là điều có thể truyền dạy được, nhưng chúng ta không thể quả quyết là một khi đã biết được đâu là đúng, đâu là sai, thì kết quả là trẻ con sẽ thay đổi cách ăn ở cư xử của chúng. Ngay đến người trưởng thành cũng biết rất nhiều điều mà họ không hề làm theo. Vì trẻ bốn năm tuổi chỉ mới bắt đầu phát triển tiến trình tư duy của chúng, dường như các phán đoán về luân lý đạo đức của chúng vốn bị giới hạn, có tính cách căn bản và cụ thể (5)
NHỮNG ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ.
Việc phát triển về mặt thuộc linh của trẻ con thường được cả gia đình lẫn Hội thánh góp phần vào. Người làm cha mẹ vẫn là những giáo sư quan trọng nhất, nên không thể giao trọn vai trò của mình cho người khác. Hội thánh phải hổ trợ gia đình trong việc phát triển về mặt thuộc linh của trẻ con, và bổ sung đồng thời củng cố, nhấn mạnh thêm những gì đã được truyền dạy trong gia đình. Nếu gia đình đứa trẻ không phải là Cơ Đốc nhân, Hội thánh cần đưa Phúc âm đến cho họ và giúp họ nhận thức được trách nhiệm đối với con cái trong việc huấn luyện chúng về phương diện thuộc linh.
Những ai công tác với trẻ con ở lứa tuổi này phải bén nhạy trong việc trả lời các câu hỏi của trẻ bốn năm tuổi một cách thật tự nhiên. Phải nuôi dưỡng nơi chúng tinh thần ham học hỏi và đặt phần nền móng thuộc linh thật thận trọng.
Trẻ con ở lứa tuổi này cần được truyền dạy về tình yêu thương chăm sóc của Thượng Đế và của Con Ngài là Chúa Giê-xu, đối với trẻ con. Các hoạt động học tập phải chú trọng các truyện tích Kinh Thánh theo trình độ và trong phạm vi chúng có thể kinh nghiệm. Hội thánh và gia đình phải cộng tác với nhau để phát triển phần tiềm năng của trẻ bốn năm tuổi.
TÓM TẮT
Trẻ con bốn năm tuổi là tuổi thích chơi đùa về mặt sinh lý. Đối với chúng, chơi đùa ngoài trời sẽ làm phát triển nhân cách toàn diện. Về mặt trí thức, chúng học hỏi rất nhanh nhờ thắc mắc, đặt câu hỏi luôn. Điều này kích thích việc tư duy của chúng, phong phú hóa các bối cảnh và mở rộng trí hiểu biết của chúng. Các cảm xúc của trẻ con ở lứa tuổi này có thể rất mãnh liệt, những đã được cải thiện và có tiến bộ nhiều hơn ở tuổi trước khi đi học. Chúng có thể sợ hãi cái mới, cái không quen thuộc và cần được giúp đỡ để biết thích nghi hóa. Về mặt xã hội, trẻ ở lứa tuổi nà dễ bắt chước làm theo điều đã được dạy bảo, có ý thức tập thể, và bắt đầu phát triển các tài năng lãnh đạo. Tự-kỷ-trung-tâm có thể bộc lộ rõ ràng. Về mặt thuộc linh, chúng tin ngay những gì được nghe nói. Điều này đặt lên vai những ai phục vụ cho trẻ ở lứa tuổi này một trách nhiệm nặng nề là phải thành thật.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Có thể dùng những chữ 'chìa khóa' nào để mô tả sự phát triển nhân cách toàn diện của trẻ con bốn năm tuổi?
2. Kể nhiều lý do cho biết tại sao vui chơi rất quan trọng cho việc phát triển của trẻ con bốn năm tuổi?
3. Khi trả lời các câu hỏi của trẻ con, cần theo đúng các chỉ dẫn nào?
4. Có những hành động nào vốn là đặc điểm của sự phát triển về mặt tình cảm của trẻ con bốn năm tuổi?
5. Trẻ con bốn năm tuổi học tập hòa mình với người khác như thế nào?
6. Cần dạy các ý niệm thuộc linh nào cho trẻ con bốn năm tuổi?
7. Phải lưu ý những chỉ dẫn đặc thù nào khi truyền dạy các ý niệm thuộc linh cho trẻ con ở lứa tuổi này?
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Soạn một bảng liệt kê các hoạt động học tập có thể góp phần vào việc phát triển toàn diện của trẻ con bốn năm tuổi. Các hoạt động nào thích hợp nhất cho gia đình? Cho Hội thánh? Cho những khung cảnh khác?
2. Lập kế hoạch để phỏng vấn một giáo viên dạy trẻ bốn, năm tuổi. Để chuẩn bị cuộc phỏng vấn này, viết ra một bảng câu hỏi cần thiết, liên hệ đến các đặc điểm và các nhu cầu then chốt của trẻ con ở lứa tuổi này. Sắp xếp các câu hỏi của bạn theo năm phương diện phát triển nhân cách. Soạn một bản tường trình tóm tắt ngắn gọn.
3. Lập một bảng liệt kê các niềm tin theo Kinh Thánh đã được nêu ra trong bài tín điều của Hội thánh dành cho người trưởng thành. Chọn ba hoặc bốn ý niệm trong đó và cố gắng giải thích chúng cho trẻ con bốn năm tuổi hiểu. Nên dùng những lời lẽ và câu nói đơn giản để chúng dễ lãnh hội. Đánh giá tiến trình thực hiện công việc này có dễ dàng không? Tại sao? Bạn đã gặp những vấn đề gì? Điều gì có thể giúp bạn cải tiến tiến trình truyền đạt chân lý thuộc linh cho chúng?

MỞ RỘNG CÁI CHÂN TRỜI
THIẾU NHI Ở GIAI ĐOẠN GIỮA Từ 6 - 8 tuổi
Không có việc chuyển tiếp rõ rệt giữa giai đoạn đầu sang giai đoạn giữa của tuổi thiếu nhi, nhưng toàn thể giai đoạn này (từ 6-8 tuổi) là một giai đoạn chuyển tiếp liên tục. Trẻ con ở lứa tuổi này tiến triển từ ở nhà đến trường học, từ chơi đến họcm và từ tưởng tượng sang suy luận. Giữa những chuyển tiếp này, chúng thêm bạn bè và đảm nhiệm nhiều trọng trách dứt khoát hơn. Những ai công tác với trẻ ở lứa tuổi này phải in trí là có sự khác biệt lớn lao về tài năng giữa các trẻ con 6,7 và 8 tuổi.
CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
Trong giai đoạn giữa của tuổi thiếu nhi, cần hoàn tất các tiến trình sau đây:
Các tài năng thể xác cần thiết cho các trò chơi phổ thông của tuổi thiếu nhi.
Thành lập các thái độ lành mạnh hướng tới bản ngã.
Hòa nhập với các bạn đồng tuổi.
Thích nghi hóa với vai trò nam nữ của xã hội
Phát triển một ngôn ngữ căn bản và phối hợp các tài năng về khéo léo
Xây dựng một nấc thang giá trị khả dĩ nhận ra được.
Thiết lập sự thăng bằng giữa sự độc lập cá nhân với việc liên hệ để thành lập các nhóm, các đoàn thể.
Về mặt sinh lý. Hay hấp tấp vội vàng
Nếu trẻ con từ sáu đến tám tuổi có thể duy trì sự quan tâm chú ý trong một thời gian từ mười đến mười lăm phút, thì bản tính không thể ngồi yên của chúng đưa chúng đến việc tăng trưởng và phát triển.
Tăng trưởng không đều đặn.
Tuy trẻ con từ sáu đến tám tuổi thích hoạt động nặng nhọc, căng thẳng, chúng rất mau mệt nỏi. Đối với chúng, sự tăng trưởng không xảy ra một cách đồng đều, và quả tim của chúng không tăng trưởng theo tỷ lệ thuận với phần còn lại của toàn thân. Trẻ con ở lứa tuổi này không sẵn sàng tự thú nhận là chúng đã mệt mỏi và cần nghỉ ngơi. Người lớn phải nhạy bén đối với các hạn chế sinh lý của chúng và tạo các giai đoạn xen kẽ giữa hoạt động và nghỉ ngơi. Chúng cũng cần một chế độ dinh dưỡng quân bình và thích hợp để phát triển một thân xác tráng kiện. Chúng có thể mắc bệnh truyền nhiễm vì cái thế giới đang được mở rộng, số bạn bè đang gia tăng và sức đề kháng thấp.
Đang phát triển việc phối hợp phần cơ bắp tinh tế hơn.
Việc tăng thêm phần ý thức của các giác quan và hành động làm chủ các bắp thịt giúp đứa trẻ có tri giác rõ rệt hơn và vận động chính xác hơn. Trong việc sử dụng các cơ bắp lớn hơn để bước đi, chạy nhảy, leo trèo, tung ném, chúng hầu như trở thành máy móc, tự động tự phát. Trẻ con ở lứa tuổi này được tự do phát triển về mặt tinh thần và thể xác. Chúng cần có những chương trình đòi hỏi phải hoạt động nhiều để phát triển việc điều khiển và phối hợp các cơ bắp. Thật ra, thiếu nhi từ sáu đến tám tuổi đang phấn đấu để làm phát triển các bắp thịt tinh tế hơn của chúng. Chúng có khả năng phối hợp kém, và thiếu sức dẻo dai để chịu đựng. Phải chọn thật kỹ các dự án để chúng khỏi chán nản thất vọng mà bỏ ngang tiến trình này.
Rụng các răng sữa
Trẻ con từ sáu đến tám tuổi sẽ bị mất đi các răng tạm thời. Có một số thiếu nhi mọc răng vĩnh viễn sớm hơn một số khác. Lúc trẻ con bị rụng răng sữa, chúng cần được trấn an rằng đấy chỉ là một tiến trình tự nhiên mà thôi.
Đang phát triển việc điều phối - Mắt với Tay
Một trong các lý do khiến thiếu nhi ở lứa tuổi này có thể bắt đầu tiến trình học đọc tập viết dễ dàng hơn, ấy là việc điều phối Mắt và Tay của chúng đang được cải thiện. Do đó mà thiếu nhi sáu tuổi sẽ thâu thập kinh nghiệm khó khăn hơn và kết quả sau cùng có thể là đáng phàn nàn. Vậy, không nên quá chú trọng vào sự toàn thiện toàn hảo ở lứa tuổi này.
Thiếu nhi tám tuổi sẽ điều phối được Mắt với Tay một cách tiến bộ hơn, và có thể đọc và viết chính xác hơn. Nếu trẻ con gặp khó khăn trong việc điều phối này, thì có thể nảy sinh các vấn đề về tập đọc.
Lọc lừa hơn trong các hoạt động
Các bé gái có khuynh hướng vượt trước các bé trai trong sự phát triển ở giai đoạn đầu và giữa lứa tuổi thiếu nhi, nhất là sự phát triển về sinh lý và trí thức. Các bé gái sẽ học hành giỏi hơn, còn các bé trau thì rất khó ngồi yên vì chúng rất cần họat động. Các bé trai, có vẻ hung hăng hơn các bé gái và thích đánh lộn. Các bé gái có vẻ biết điều phối tốt hơn trong việc phát triển các bắo thịt tinh tế hơn, và có thể làm giỏi hơn những công việc đòi hỏi phải sử dụng các bắp thịt tinh tế hơn.
Càng nhiều điểm dị biệt hơn cũng được nhận thấy trong các hoạt động vui chơi. Nhiều bé trai sẽ đưa vào cuộc chơi nhiều xô đẩy, chen lấn mạnh mẽ. Những công việc thủ công của chúng sẽ gồm có dán diều, làm thuyền, đóng tàu và các ô tô thu nhỏ, trong khi các bé gái có thể thích làm búp bê, chế tạo các vật gia dụng thu nhỏ, nghệ thuật và âm nhạc.
Nhiều điểm dị biệt về các vai trò tùy theo giới tính vốn do điều mà các nền văn hóa khác nhau trong đợi nơi hai giới nam và nữ. Những người làm cha mẹ đều trông mong cho các con trai của họ phải là 'những chàng trai thật sự', còn các con gái thì phải là 'những thiếu nữ đích thựa'. Đặc biệt là những ông cha dường như thích truyền dạy các vai trò giới tính đặc thù bằng cách chú trọng củng cố nữ tính cho các con gái và nam tính cho các con trai.
Việc học hỏi về các vai trò tùy theo giới tính bắt đầu ngay từ tuổi ấu thơ. Nhiều mẫu người đúc sẵn (Stereotypes) có thể phát triển vào giai đoạn đầu của tuổi thiếu nhi. Cho nên những bậc làm cha mẹ và người công tác với các thiếu nhi ở lứa tuổi này cần thận trọng, đừng 'đúc khuôn' chúng hoặc các hoạt động của chúng. Có thể sử dụng nhiều hoạt động để thu hoạch được thành công với cả hai giới. Điều càng quan trọng hơn là nên chú trọng vào việc làm phát triển các nhân cách cá nhân, các mối bận tâm và các tài khéo kéo, kỹ xảo trong cách ăn ở cư xử của mỗi giới(2)
Về mặt trí thức - Thích quan sát
Càng trưởng thành, trẻ sáu đến tám tuổi càng quan sát kỹ hơn, chú ý cả đến những điều mà một người trưởng thành có tinh thần chú ý quan sát không nhận thấy. Chúng chưa hiểu được những khung cảnh và những điều mới được thấy vì khả năng lý luận và biện biệt của chúng chỉ vừa thức tỉnh mà thôi. Người ta rất dễ đánh giá quá cao sự tiến bộ trí thức của chúng ở giai đoạn này, nhưng sự quan tâm sắc bén và tìm hiểu đang được 'tân trang'
Tư duy theo nghĩa đen.
Thiếu nhi sáu đến tám tuổi vẫn còn tư duy theo nghĩa đen. Việc tổng quát hóa, trừu tượng hóa và các biểu tượng rất dễ bị chúng hieu lầm. Với chúng thì ánh sáng là chiếc bóng đèn hoặc một vật gì đó giúp chúng nhìn thấy. Chúng không thể nghĩ ra việc Chúa Giê-xu là ánh sáng thuộc linh cho thế gian. Vì cứ tính cách hạn chế của việc lý giải theo nghĩa đen của chúng, chúng sẽ được giúp ích bằng phương pháp truyền dạy gồm nhiều câu hỏi nhằm mục đích làm sáng tỏ cho đến khi nào chúng đã hiểu rõ.
Sống ngay tại đây và bây giờ.
Vì các thiếu nhi ở lứa tuổi này chỉ biết liên hệ với tại đây và bây giờ chúng thường bị hạn chế trong việc thông hiểu, các ý niệm về không, thời gian và những con số. Khi chúng chuyển sang các môn học như địa lý, sử ký, và toán học, chúng có thể chỉ học bằng cách lặp đi lặp lại các sự kiện mà không hiểu phần tài liệu trong đó.
Các thiếu nhi hiểu được các ý niệm mới bằng cách liên kết một kinh nghiệm mới với điều chúng đã biết rồi, Chúa Giê-xu cũng thường đề cập các sự kiện mà ai nấy đều biết để truyền dạy các chân lý mới.
Những người hiểu rõ các kinh nghiệm của thiếu nhi mới có thể giao lưu tiếp xúc tốt hơn với chúng. Các thiếu nhi thường học hỏi nơi bạn bè cùng trang lứa, vì chúng vốn hiểu biết, thông cảm với nhau. Người lớn phải tìm hiểu đời sống của các thiếu nhi bằng việc quan tâm chú ý, yêu thương chúng thực sự, mới có thể hiểu đủ về chúng hầu sử dụng các nguyên tắc kết hợp lại với nhau để dạy dỗ chúng.
Việc liên hệ giữa những người làm cha mẹ với những người lớn khác đang công tác với các con trai con gái họ, thường giúp làm sáng tỏ các thái độ của các thiếu nhi. Việc đến thăm một trường học sẽ giúp cả những người làm cha mẹ lẫn những người lớn khác đang công tác với các thiếu nhi ở lứa tuổi này tự làm quen với các kinh nghiệm mà chúng đang kinh qua. Những cuộc tiếp xúc như vậy tạo ra sự trợ giúp tuyệt vời để trình bảy các chân lý thuộc linh khi có cơ hội.
Dễ ghi nhớ, học thuộc lòng hơn.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này có khả năng học thuộc lòng nhanh hơn và dễ dàng hơn, và sẵn sàng học thuộc nhiều câu có liên hệ với nhau. Chúng cũng thích học thuộc lòng nhiều bài ca, bài thơ và nhiều tài liệu khác. Chúng bắt đầu tư duy theo thứ tự thời gian và các sự việc nối tiếp theo nhau. Chúng nhận thức được Kinh Thánh là một toàn bộ, gồm hai phần lớn hơn trong lứa tuổi này có khả năng học thuộc tên các sách trong Kinh Thánh đúng theo thứ tự của chúng.
Thiếu nhi ở lứa tuổi này nhớ được bao nhiêu điều chúng đã học thuộc, là tùy theo chúng đã được dạy dỗ tốt đến mức độ nào, việc ứng dụng nội dung điều chúng đã học hỏi được vào sinh hoạt hằng ngày, và phần nội dung đó được ôn tập và được củng cố như thế nào. Những ai công tác với các thiếu nhi ở lứa tuổi này cần nhấn mạnh đến tầm quan trọng thực tiễn của việc học thuộc lòng Kinh điển - rằng nó giữ cho chúng ta khỏi phạm tội (Thi Tv 119:11) và có thể giúp ích trong việc khích lệ và an ủi chúng ta. Với các thiếu nhi này, thì làm chủ được nhiều câu hoặc khúc sách với ý nghĩa của chúng, thì tốt hơn là học thuộc lòng rất nhiều để rồi chẳng bao lâu lại quên hết. Các học cụ thính thị, cách giải nghĩa kỹ lưỡng, và các cơ hội thực thi cái chân lý đã học được, rất thiết yếu để ghi nhớ lâu dài.
Bắt đầu tư duy một cách cụ thể.
Theo Piaget thì về mặt tri thức, các thiếu nhi ở lứa tuổi này bắt đầu tư duy và lý luận cụ thể hơn và hợp lý (lô-gic) hơn. Chúng bắt đầu phân loại và xếp hạng các sự vật sự việc. Chúng cũng có thể xắp xếp các tiết mục nối tiếp nhau và bắt đầu đảo ngược các tiến trình. Chúng cũng có thể đưa ra giả thuyết về thế giới. Chúng biết nghĩ đến và dự đoán việc sẽ xảy ra, phỏng đoán hoặc ước lượng, đánh giá, rồi thí nghiệm để thử các hậu quả xảy ra. Chúng có khả năng nhìn thấy các sự việc sự vật trong một bối cảnh có ý nghĩa khác, và đối phó với các mối liên hệ từ-thành-phần-đến-toàn-thể.
Ở giai đoạn phát triển này, các thiếu nhi thám sát môi trường vây quanh chúng tự nêu lên nhiều câu hỏi rồi tìm câu trả lời và thỉnh thoảng cũng có được một hình thức tư duy phức tạp, thông minh hơn.
Sự hiểu biết các biểu tượng và những điều trừu tượng của các thiếu nhi ở lứa tuổi này hãy còn hạn chế, trừ phi khi các ý niệm ấy có liên hệ với các đồ vật hoặc biến cố thuộc thế giới vật lý. Về chân lý thuộc linh, chúng rất khó chuyển từ nghĩa đen và các đồ vật cụ thể sang các ý nghĩa thuộc linh. Chẳng hạn người ta không dám quả quyết là các thiếu nhi ở lứa tuổi này hiểu rõ ý nghĩa thuộc linh của câu "Chúa Giê-xu là cái cửa" hay "Chúa Giê-xu là ánh sáng của thế gian" nếu không được giải thích thật kỹ về ý nghĩa thuộc linh ấy, căn cứ vào một đồ vật cụ thể (3)
Về mặt tình cảm - Bồn chồn bất an.
Thiếu nhi từ sáu đến tám tuổi rất dễ xúc động khi bị kích thích, rất dễ 'thông cảm sâu xa' với các trẻ khác và nhanh chóng bộc lộ cảm xúc của mình. Trong việc phát triển nhân cách của mình, chúng hoàn toàn bồn chồn bất an. Những bồn chồn bất an này có thể liên quan với sự kiện thế giới quan của chúng đang được mở rộng ra, và chúng đang ở trong tiến trình phải thực hiện nhiều lần chuyển tiếp. Chúng đang phải đương đầu với nhiều kinh nghiệm trong trường hợp và nhiều hoàn cảnh khác nữa mà chúng không biết chắc cách giải quyết.
Bị đưa đi xa cha mẹ chúng trong nhiều thời gian dài liên tục, các thiếu nhi này luôn luôn phải thích nghe với điều chưa từng được biết. Vì thường bồn chồn bất an về mặt tình cảm, chúng có thể tự bộc lộ bằng cách ăn ở cư xử rất trẻ con. Việc này vốn nằm trong tiến trình trưởng thành của chúng. Kiên trì nhẫn nhục và thông cảm với chúng có thể giúp chúng thấy được những bồn chồn bất an dẫn tới sự bùng nổ xúc cảm khiến chúng tự bộc lộ theo những cách thế khó chấp nhận được đối với những người lớn.
Muốn được người lớn tán thưởng.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này có khi còn được gọi là 'trẻ thích làm đẹp lòng người khác'. Chúng sẽ làm bất cứ việc gì có thể làm được để được người lớn khen ngợi, tán thưởng. Chúng thích làm nhiều việc để được nghe lời khen ngợi chân thành, và nhận biết ngay khi được tán thưởng thật sự.
Quan tâm đến người khác.
Thiếu nhi ở lứa tuổi này đặc biệt quan tâm đếnc ác trẻ khác cùng tuổi, nhưng cũng tỏ ra ưu ái và quan tâm đến người thuộc mọi hạng tuổi. Lối thoát tình cảm này có thể được dẫn vào các dự án phục vụ cho người già cả, thiếu thốn và con cái của các giáo sĩ.
Về mặt xã hội - Thân thiện.
Thiếu nh từ sáu đến tám tuổi kết bạn và bắt chuyện khá dễ dàng, nhất là với những người quan tâm đến chúng.Trong nỗ lực làm đẹp lòng những người phục vụ của một cuộc thăm viếng thì niềm vui của một cuộc thăm viếng thân tình như vậy là nhiều phần thưởng cho một sự trợ giúp như thế. Những cơ hội như vậy sẽ khích lệ chúng trong việc thiết lập những mối liên hệ tốt giữa nhiều người với nhau.
Tham gia các đoàn nhóm.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này muốn được các đoàn thể, các nhóm bạn bè thâu nhận mìh và đối xử ngang hàng với nhau. Nếu được hướng dẫn để đạt các tiêu chuẩn tốt về các ăn ở cư xử, chúng sẽ được thừa nhận làm thành viên của nhóm. Tham gia một đoàn thể, một nhóm bạn giúp cá nhân đứa trẻ vượt qua những chán nản thất vọng do thấy mình thua kém về các tài khéo léo khi chỉ có một mình.
Thích cộng tác thay vì các hoạt động cần đua tranh.
Thiếu nhi sáu đến tám tuổi thường không ưa đua tranh, mà trái lại, muốn cộng tác với các trẻ khác cùng trình độ phát triển với chúng. Các bé trai bé gái thường chơi chung tốt đẹp với nhau, tuy sự xung khắc về giới tính có thể bắt đầu phát triển trong giai đoạn này. Có một số tổ chức tách rời các bé trai với các bé gái. Khi có đàn ông và phụ nữ, hoặc những đôi vợ chồng công tác với các thiếu nhi ở lứa tuổi này, họ sẽ cung ứng một hình ảnh lành mạnh về cả hai giới nam nữ đều cùng quan tâm đến các vấn đề thuộc linh, cũng như giới thiệu về nhiều phương diện lãnh đạo khác nhau.
Đang ở trong giai đoạn cần cù chịu khó chống lại mặc cảm tự ti.
Theo Erikson, trẻ con từ sáu đến tám tuổi bước vào giai đoạn cần cù chịu khó chống lại mặc cảm tự ti trong sự phát triển về mặt xã hội. Giai đoạn này có đặc điểm là niềm tin quyết rằng "Tôi sẽ trở thành như người mà tôi đang học hỏi... Sự thành công tạo ra ý thức cần cù chịu khó, một cảm nghĩ tốt về bản thân và các sở trường của một người. Mặt khác, thất bại tạo ra một hình ảnh tiêu cực về bản thân, một ý thức thua kém, có thể gây trở ngại cho việc học hỏi trong tương lai" (4)
Trẻ con ở lứa tuổi này có thể khám phá ra niềm vui trong sự kiên trì nhẫn nhục và nhờ cần cù chịu khó, sẽ thu gặt được nhiều thành quả tốt, hoặc chúng có thể cảm thấy mình không đạt được các tiêu chuẩn mà chính mình, hoặc các giáo viên, cha mẹ, hay anh chị em mình nêu ra. Sự can thiệp của hàng xóm láng giềng, học đường, và bạn bè cùng trang lứa ngày càng trở thành quan trọng hơn, trong khi ảnh hưởng của cha mẹ có thể giảm sút vì thiếu nhi ở tuổi này đang tự đánh giá mình. Vai trò của các Cơ Đốc nhân là người lớn trở thành có ý nghĩa khi giúp các thiếu nhi ở lứa tuổi này trong giai đoạn chuyển tiếp gia đình ra thế giới bên ngoài.
Về mặt thuộc linh - Biết biện biệt.
Ở lứa tuổi này, các thiếu nhi có khuynh hướng thiên về phía Thượng Đế, với một ý thức thiết tha, một động lực thúc đẩy mạnh mẽ là vâng lời Ngài, và một đức tin mặc nhiên. Chúng vẫn còn tin những gì được dạy bảo, nhưng đã bắt đầu tìm chứng cứ để tin chắc.
Phân biệt những chỗ khác nhau.
Thiếu nhi ở lứa tuổi này vẫn còn say mê các truyện tích. Nhưng vì đời sống ngày càng trở thành thực tế hơn, giờ đây, các truyện tích luôn luôn được kèm theo thắc mắc bất biến này "Có thật như thế hay không?" Những câu chuyện kể về cụ Nô-en và truyện thần tiên đều bị thắc mắc đặt vấn đề và loại bỏ. Nếu các truyện tích Kinh Thánh mà được trình bày bằng cách thêm thắt nhiều cách tô điểm bên ngoài, thì cũng sẽ bị xem thường. Tuy nhiên, các truyện tích trung thực với Lời Thượng Đế là nền móng cho việc học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh theo đúng thứ tự thời gian sau này, và có thể được xem là 'đúng'.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này cung khám phá được rằng có những điều tốt và điều xấu có thể bám víu để ảnh hưởng đến cá tính của chúng. Chúng từng trải được sự thất bại về mặt luân lý đạo đức để nhận ra các nhược điểm của chính mình. Các hành động phải và trái của chúng có ảnh hưởng đến chính sự bình an và hạnh phúc của chúng. Những người làm cha mẹ và công tác với thiếu nhi ở lứa tuổi này cần chú trọng vào nhu cầu phải chọn điều phải và từ bỏ điều sai trái.
Đang phát triển việc lý luận về mặt luân lý đạo đức.
Một số thiếu nhi ở lứa tuổi này có thể đang bước vào giai đoạn đầu tiên của Cấp bậc 1 của Kohlberg vế sự phát triển về mặt luân lý đạo đức - định hướng về trừng phạt và vâng lờu. Việc phê phán được căn cứ vào các nhu cầu cá nhân và các luật lệ khác. Các luật lệ được tuân thủ là nhằm tránh bị trừng phạt. Nhiều thiếu nhi khác có thể đã chuyển sang cấp bậc thứ hai, là định hướng tự ban thưởng, điều phải, đúng, là bất kỳ việc gì thỏa mãn được các nhu cầu cá nhân và thỉnh thoảng là các nhu cầu của người khác nữa.
Nhiều thiếu nhi khác nữa ở lứa tuổi này có thể bước vào giai đoạn phát triển về mặt luân lý đạo đức ở Cấp bậc 2, khi việc phán đoán đươc căn cứ trên việc được người khác khen ngợi tán thưởng, được gia đình mong muốn, các giá trị cổ truyền là luật lệ xã hội. Giai đoạn 3 chú trọng vào định hướng trai hiền - gái ngoan - tức là cách ăn ở cư xử tốt nào bất kỳ, có thể làm đẹp lòng người khác, và được họ khen ngợi tán thưởng. Người ta được hen ngợi tán thưởng là nhờ ngoan ngoãn, hiền hậu (5).
Đang hình thành nấc thang các giá trị.
Tài năng thu hút trẻ con của một người lớn là một công cụ giảng dạy năng động của người ấy, vì trẻ con bắt chước người làm chớ không phải là việc làm của người ấy. Một người có nhân cách chinh phục được người khác thường là người chinh phục được trẻ con để đưa chúng đến với Chúa Cứu Thế. Các nấc thang giá trị của cha mẹ chúng và của những người lớn khác trở thành các định chuẩn về giá trị, là thước đo cách ăn ở ứng xử của chúng, và là phạm vị của lương tâm chúng. Người ta thường tìm gặp các trẻ con có lương tâm trong một bầu không khí mà "những điều chân thật, cao thượng" (Phi Pl 4:8), được truyền đạt cho chúng một nhân cách hồn nhiên. Có thể các trẻ này không thể định nghĩa bằng lời nói hệ thống giá trị của chúng, nhưng các thái độ của chúng sẽ ảnh hưởng đến cách ăn ở cư xử của chúng trong những năm về sau.
Các thiếu nhi này phân biệt được điều được dạy bảo bằng lời khyên răn, với điều được dạy bảo bằng việc làm thực tế. Chúng sẽ chán nản thất vọng khi hai phần này mâu thuẫn nhau, và không tài nào hiểu nổi tại sao lại phải lừa dối người soát vé tàu xe về tuổi tác để được giảm giá vé.
Những người làm cha mẹ và công tác với các thiếu nhi ở lưa tuổi này có thể phạm tội vì vô ý cũng như vì chính những gì họ làm. Thật là khó dạy được cho các thiếu nhi cầu nguyện, nếu những người lớn có ảnh hưởng đến chúng không cầu nguyện. Nếu trong giờ nhóm gia đình lễ bái, các thiếu nhi thấy và nghe cha mẹ chúng cầu nguyện như chúng đã được dạy phải làm, thì chúng sẽ nhanh chóng học tập cũng làm như vậy.
Trong các buổi nhóm lại tại nhà thờ và Trường Chúa nhật cũng vậy, các hành động vốn có tiếng nói rất to. Các bậc làm cha mẹ khuyến giục con cái đi nhóm lại mà bản thân họ lại không đến nhà thờ, thì cuối cùng có thể giết chết việc quan tâm đi nhóm nhà thờ của chúng, chớ không phải là tạo ra được sự thích thú ấy đâu.
Có thể hiểu được sự cứu rỗi để tin nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa.
Sự sẵn sàng của các thiếu nhi sáu đến tám tuổi đối với việc quyết định có tính cách thuộc linh tùy thuộc vào các từng trải trước đó trong gia đình, việc đi nhóm nhà thờ, cách tuyền dạy có ý nghĩa, và việc tự chúng ứng dụng Lời Thượng Đế.
Chúng có thể hiểu được bức thông điệp cứu rỗi nếu bài giảng được trình bày thật đơn sơ và cụ thể. RoRm 3:10 và 3:23 có thể giúp chúng nhận thức được mình là tội nhân. Rồi GiGa 1:12 và 3:16 sẽ vạch rõ cho chúng thấy mình có thể gia nhập gia đình Thượng Đế bằng cách tin nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa mình. Trong ước muốn tin nhận đó, các thiếu niên này có thể được hướng dẫn để quyết định một cách sai lầm, cho nên không nên thúc ép chúng phải có những hành động quá sớm.
Những người làm cha mẹ và công tác với các thiếu nhi ở lứa tuổi này cần cộng tác với nhau trong một chương trình theo dõi chăm sóc để trưởng dưỡng chúng về mặt thuộc linh, là công tác phải được bắt đầu ngay sau khi các thiếu nhi ấy tin nhận Chúa Cứu Thế.
Thờ phượng thật đơn sơ và chân thành.
Khả năng nhận biết Thượng Đế của các thiếu nhi này tăng lên khi thế giới và kinh nghiệm của chúng được mở rộng. Cả khi chúng không thể lãnh hội được về Thượng Đế như người lớn, việc chúng thờ phượng Ngài với tư cách một đồng bạn vô hình và một bạn thân trung tín, rất cần được khích lệ. Chúng phải được tự do trò chuyện và tạ ơn Ngài về nhiều thứ phước hạnh Ngài ban, như sức khỏe, gia đình, và bè bạn.
Một buổi nhóm thờ phượng có thể rất có ý nghĩa cho các thiếu nhi ở lưa tuổi này, nếu nó được trù hoạch đúng với trình độ của chúng. Nhiều trẻ ở lứa tuổi này có thể yêu thích và hiểu rõ đặc quyền gặp gỡ Thượng Đế qua việc nhóm lại thờ phượng Ngài. Những ngày lễ tôn giáo chẳng những phải được kết hợp với bạn bè, bà con thân thích, mà còn được kết hợp cả với chính Chúa Cứu Thế - nữa.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này được hưởng các lợi ích của việc thờ phương theo đúng trình độ của chúng, nhờ những giờ nhóm lại thờ phượng của Trường Chúa nhật, của chương trình cho thiếu nhi của Hội thánh, và các lớp học hè dạy Kinh Thánh. Thêm vào đó, gia đình lễ bái trong đó trẻ con cũng tham dự và giúp việc lập chương trình. Các thiếu nhi từ sáu đến tám tuổi tốt nhất là nên học tập để biết tạ ơn Chúa, ca hát, chia xẻ sự hiểu biết về Lời Chúa của chúng.
Muốn cho các thiếu nhi ở lứa tuổi này có được một thái độ đúng đắn trong các vấn đề thuộc linh, thì các ấn tượng đầu tiên rất quant rọng. Những từng trải về nhóm lại thờ phượng theo từng nhóm, từng lớp học có thể giúp ích cho chúng nhờ có một chương trình, một bầu không khí có trật tự, và cách sắp xếp các trang thiết bị tạo ra được một cảm thức tôn kính sâu xa.
NHỮNG ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ
Chương trình của Hội thánh phải tạo cơ hội cho các thiếu nhi từ sáu đến tám tuổi nhận lãnh các trách nhiệm, giup1 chúng thắng vượt nỗi bồn chồn bất an, và thích nghi với những hoàn cảnh mới. Chúng cần được yêu thương, chú ý và kiên trì nhẫn nhục đặc biệt.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này cần được khích lệ học thuộc lòng Kinh điển, các bài hát, và tham dự các hoạt động tập thể. Chúng cũng cần đựơc cơ hội giúp đỡ, phục vụ người khác qua các hoạt động nhằm mục đích học tập, hoặc các chương trình đến với người ngoài của Hội thánh.
Kế hoạch cứu rỗi cần được trình bày rõ ràng và thống nhất, kèm theo lời khuyên bảo và theo dõi chăn sóc cho từng cá nhân. Các thiếu nhi ở lứa tuổi này có thể hiểu các chân lý thuộc linh căn bản và có thể ứng dụng nội dung của Kinh Thánh cho các kinh nghiệm hằng ngày của chúng, nếu nội dung ấy được trình bày đúng với trình độ của chúng. Sau khi đã tin nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa, chúng cần được khích lệ làm chứng đạo cho nhiều người khác nữa.
TÓM TẮT
Các thiếu nhi từ sáu đến tám tuổi rất ít có lúc nào được ngồi yên! Đây là giai đoạn chuyển tiếp để chúng thích nghi hóa, từ đời sống rong gia đình, chuyển sang đời sống ở học đường. Chúng phải xa nhà nhiều hơn, cảm thấy mình lờn lên, và tìm cách được những người lớn hướng dẫn, lãnh đạo chúng khen ngợi, tán thưởng. về mặt thể xác, chúng hoạt động hết mình, nhưng dễ mệt mỏi, vì đang tăng trưởng không ngừng. Về mặt trí thức, chúng rất nhanh nhạy và đang tăng thêm số dụng ngữ. Chúng hiểu được nhiều hơn các ý niệm về không thời gian và các con số, và có trí nhớ đáng tin cậy hơn. Nếu được thách thức, chúng có thể học thuộc lòng rất giỏi. Chúng thường bồn chồn bất an về mặt tình cảm, và cần được người lớn trìu mến và chỉ dẫn đặc biệt. Về mặt xã hội, các thiếu nhi này rất thân thiện và thích được ở chung với cả các bạn trai lẫn bạn gái cùng tuổi. Chúng hoan nghênh các hoạt động tập thể không có việc tranh đua cá nhân. Chúng phân biệt được các vấn đề thuộc linh, phân biệt được sự kiện với điều tưởng tượng, ghi nhận được chỗ khác nhau giữa cái đúng với cái sai, và nhận ra những điểm tiền hậu bất nhất. Chúng có thể sẵn sàng tin nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa. Chúng học hỏi được nhiều ý niệm thuộc linh căn bản qua những truyện tích được kể lại. Chúng có thể thật tâm thờ phượng và cần được dạy bảo nên tôn kính Chúa. Lời Ngài và Nhà Ngài.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Tại sao các thiếu nhi ở giai đoạn giữa được xem là giai đoạn chuyển tiếp?
2. Mô tả đứa trẻ ở lứa tuổi này về các phương diện sinh lý, trí thức, tình cảm, xã hội, thuộc linh dùng một 'chữ chìa khóa' cho mỗi phương diện.
3. Các hoạt động vui chơi của các thiếu nhi này khác với các thiếu nhi lớn và năm tuổi như thế nào?
4. Bạn có thể giúp một thiếu nhi ở lứa tuổi này thắng vượt sự bồn chồn bất an như thế nào?
5. Ở lứa tuổi này, cần chú trọng truyền dạy các chân lý thuộc linh nào?
6. Bạn giải thích kế hoạch cứu rỗi như thế nào cho các thiếu nhi từ sáu đến tám tuổi?
7. Bạn giải nghĩa câu "Hãy để cho Chúa Giê-xu ngự vào lòng em" như thế nào cho một thiếu nhi ở lứa tuổi này?
8. Bạn có thể giúp gì cho các thiếu nhi ở lứa tuổi này sau khi các em ấy đã tin nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa và bắt đầu tăng trưởng trong đời sống Cơ Đốc nhân?
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Khai triển một bảng liệt kê các đặc điểm của thiếu nhi từ sáu đến tám tuổi. Sau đó, đến thăm ngành phục vụ trong Hội thánh của bạn đang dạy dỗ cho các thiếu nhi ấy, và quan sát xem chúng chứng minh rõ ràng cho các đặc điểm tương tư với các đặc điểm đã có trong bảng liệt kê của bạn như thế nào. Bạn giải thích như thế nào những chỗ khác nhau về đặc điểm giữa các thiếu nhi cùng tuổi?
2. Phỏng vấn các giáo viên trong tiển ban phụ trách các thiếu nhi ở giai đoạn giữa. Hỏi ít nhất là ba giáo viên, họ xem các đặc điểm về nhân cách nào là quan trọng mà giáo viên dạy cho các thiếu nhi ở lứa tuổi này cần phải có. Bạn còn thêm những đặc điểm nào nữa?
3. Viết ra một phương thức theo từng bước một mà bạn có thể dùng để hướng dẫn cho một thiếu nhi từ sáu đến tám tuồi đến với Chúa Cứu Thế để tin nhận Ngài làm Cứu Chúa mình. Trong mỗi bước, hãy đưa ra và giải thích một câu Kinh Thánh thích hợp.


TUỔI NHÂN CÁCH HÓA QUÁ ĐÁNG
THIẾU NHI Ở GIAI ĐOẠN SAU Từ 9 - 11 tuổi
Có ít giai đoạn phát triển nào lại thách thức trẻ con hay số người công tác với chúng cho bằng tuổi thiếu niên ở giai đoạn sau cùng Các trẻ này thường là đã hoàn chỉnh và tích cực hoạt động, và dường như chẳng bao giờ bị mất đi sự yêu đời. Thiếu niên ở lứa tuổi trước khi thành người lớn một cách thái quá này cần được liên hệ chặt chẽ với Chúa Giê-xu và sự hướng dẫn thuộc linh khôn ngoan để thích ứng với những năm trước mắt.
CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
Trong giai đoạn sau của tuổi thiếu nhi, trẻ con phải kinh qua những điều sau đây:
Tăng trưởng sinh lý vững chắc.
Kiên toàn các tài khéo léo đã bắt đầu ở Giai đoạn giữa của tuổi thiếu nhi, như hòa đồng với các bạn đồng tuổi, nhận biết các giá trị luân lý đạo đức và thuộc linh, có được phần ngôn ngữ căn bản và các tài năng điều phối. Các thái độ lành mạnh đối với các đoàn thể và định chế xã hội. Các thái đo lành mạnh đối với bản thân.
Về mặt sinh lý - Năng lực dồi dào.
Thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi thường có sức khỏe sung mãn và tăng trưởng chậ, mà chắc. Chúng sẵn sàng đạt tới ranh giới của bất kỳ một hoạt động nào. Chúng thích thách thức tranh đua nhau, hăng say lao vào các 'kỳ công' đòi hỏi nhiều năng lực về phương diện sinh lý. Chúng tự động dấn thân để tự mình tìm cách thực hiện sự phát triển về thể xác.
Tràn đầy năng lực.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này có vẻ như chẳng bao giờ biết mệt mỏi, nhưng tràn đầy năng kực. Chúng chạy khắp nơi, ngồi không yên trên ghế, đóng cửa rầm rầm. Chúng ủng hộ các lãnh tụ cuồng nhiệt, thích hưởng thụ đời sống đến mứa tối đa. Sức lực gia tăng giúp các thiếu nhi nầy tương đối miễn nhiễm bệnh tật. Chúng cần những bữa ăn quân bình khi tánh háu đói của chúng gia tăng, mà cũng cần không khí trong lành, ánh nắng mặt trời và nghỉ ngơi.
Chúng cần nhiều loại hoạt động và kinh nghiệm thay đổi luôn, nhất là ở ngoài trời. Các chương trình cắm trại mùa hè, mùa đông, cũng tạo cơ hội cho các chân lý liên hệ về Thượng Đế. Qua các hoạt động lộ thiên chúng khám phá ra các địn luật của Thượng Đế và phát triển chấp nhận Thượng Đế là Đấng Tạo Hóa. Điều này có thể đưa các thiếu nhi ở lứa tuổi này đến chỗ hiến thân cho Chúa Cứu Thế.
Đang phát triển việc điều phối về sinh lý.
Các thiếu nhi từ chín đến mười một tuổi tăng trưởng vững chắc hơn và cải thiện việc điều phối về mặt thân xác của chúng. Chúng chấp nhận nhiều nhiệm vụ thách thức thân ác của chúng hơn và có thể hoàn tất nhiều dự án phức tạp. Các mục tiêu phải có tính cách thách đố chúng, nhưng phải khả dĩ đạt tới được. Chúng cần được khích lệ để hoàn tất điều chúng đã bắt đầu và thực hiện bất kỳ một công tác vừa sức nào. Điều này sẽ giúp chúng phát triển đức tự chủ cần thiết cho việc tiến tới những nhiệm vụ khó khăn hơn.
Chểnh mảng việc chăm sóc bản thân.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này có thể dấn thân vào cuộc sống đến độ chểnh mảng việc chăm sóc chính thân xác chúng. Chúng cần học tập để biết tự chăm sóc hình hài, biết cách giữ gìn các tài sản riêng và các phòng của chúng. Điển hình là chúng cứ vứt bừa bãi quần áo và các vật dụng khác khắp phòng và bảo là chúng dọn dẹp nó. Đối với chúng dường như học tập giữ sạch sẽ là điều không tài nào làm nổi, nhưng chúng có khả năng và sẽ học được những bài học quan trọng về việc phải tự mình giữ kỷ luật và nghĩ đến người khác đó.
Năng lực dồi dào và sức khỏe tuyệt vờa của chúng có thể được dẫm vào các hoạt động có giá trị cân xứng. Cần giúp ích cho chúng bằng cách tiếp xúc với chúng bên ngoài khung cảnh nhà thờ và góp ý với chúng về sự phát triển toàn diện, để chúng sẽ không trở thành kẻ chủ nghe suông Đạo Chúa, nhưng là nghe để thực hành (Gia Gc 1:22).
Về mặt trí thức - Hay chất vấn.
Các thiếu nhi chín đến mười một tuổi quan sát chính xác hơn các trẻ con nhỏ hơn chúng, và suy luận hợp lý hơn. Chúng tự tin nhiều hơn và trở thành những nhà thám hiểm luôn luôn tìm tòi tra xét. Chúng đang tìm các câu trả lời cho rất nhiều thắc mắc của chúng. Chúng rất nhanh nhạy và hăng say học hỏi bất cứ điều gì có tính cách mới lạ. Nếu chúng vốn thích tranh đua, chúng lại không chịu lệ thuộc vào loại động lực thúc đẩy để học hỏi đó.
Theo thuyết xủa Piaget, các thiếu nhi ở lứa tuổi này đã tiến bộ trong các khả năng lý luận và có thể tư duy theo chiều sâu nhiều hơn các trẻ nhỏ hơn chúng. Chúng phân loại, xếp hạng và điều động các dữ kiện trong tâm trí dễ dàng hơn và tài tình hơn. Chúng có thể đánh giá, đặt giả thuyết, và suy luận nhuần nhuyễn, nhưng chúng còn tư duy theo nghĩa đen và cụ thể.
Có thể truyền dạy các biểu tượng và những điều trừu tượng bằng các thí dụ quen thuộc, những mệnh đề cụ thể và cácthị cụ. Những ai phục vụ cho các thiếu nhi ở lứa tuổi này đừng bao giờ nên võ đoán là chúng đã hiểu các ý niệm ấy nếu chưa giải nghĩa cho chúng. Đặt câu hỏi khéo léo, chăm chú lắng nghe, và cẩn thận lưu ý đến cách các thiếu nhi ở lứa tuổi này giải quyết các vấn đề của chúng sẽ dạy dỗ cho chúng ta rất nhiều điều về cách tư duy và học hỏi của chúng (1).
Thích thu thập, sưu tập.
Tinh thần tìm tòi tra hỏi của các thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi đưa chúng đến với nhiều 'công trình' quan trọng, mà một là việc thu thập sưu tập các đồ vật. Công cuộc sưu tập có thể gồm sách báo, các tấm thiếp về thể thao, tem thơ, các tấm thiếp về thể thao, tem thơ, tiền xưa, đất đá, các kiểu thời trang, các đồ vật được thu nhỏ, bướm, vỏ sò vỏ ốc. Nếu được hướng dẫn, công việc sưu tập có thể nhằm vào những mục đích hữu ích. Óc quan sát và phê phán được kích thích, các nền móng được thiết đặt cho việc học hỏi nghiên cứu có tổ chức hẳn hoi, và các thói quen cho cả đời người có thể thành hình. Thảo luận về các bộ sưu tập, việc mua bán trao đổi các bộ sưu tập ấy cũng làm phát triển các mối liên hệ giữa nhiều người với nhau và truyền đạt cho nhau các tài năng.
Học hỏi bằng cách khám phá.
Các thiếu nhi này thường hay chất vấn tra hỏi. Chúng quan tâm đến việc các sự vật đã được xếp chung lại với nhau và hoạt động như thế nào. Chúng đặt rất nhều câu hỏi khiêu khích tư tưởng của người ta. Chúng thắc mắc cả đối với uy quyền của người lớn. Những câu trả lời đúng, rõ ràng căn cứ trên các sự kiện là thiết yếu, tuy lắm khi người lớn cần phải trả lời là "Tôi cũng không biết" thay vì đưa ra một câu trả lời mơ hồ và sai lầm.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này có thể nghiên cứu Kinh Thánh theo phương pháp quy nạp đơn giản, căn cứ trên những câu hỏi về văn bản. Nhờ sự hướng dẫn của người lớn, chúng có thể khám phá ra Kinh Thánh dạy gì, và làm thế nào để ứng dụng nó cho đời sống của chúng.
Đang kiện toàn tài năng đọc chữ.
Các thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi đọc chữ dễ hơn và bước vào một thế giới sách vở mới mẻ và rộng lớn hơn. Các thiếu nhi này khám phá được các chân trời mới mẻ ấy đến mức độ nào, thường là tùy thuộc vào gia đình, bạn bè, học đường và Hội thánh của chúng. Rủi thay, nhiều trẻ đã không phát triển được tốt tài đọc sách của chúng. Các vấn đề về tập đọc thường bắt đầu nổi lên bề mặt ở các lớp ba, lớp bốn. Nhiều trẻ vào tuổi này dành ra quá nhiều thì giờ để xem truyền hình mỗi tuần, đến độ trở thành thụ động trong việc làm chủ các tài năng đọc chữ. Các người làm cha mẹ và công tác với các thiếu nhi ở lứa tuổi này cần làm bất cứ việc gì có thể làm được để khích lệ chúng phát triển các thói quen đọc chữ cho thông thạo.
Cung cấp nhiều sách tốt thông qua thư viện lưu động của Hội thánh, có thể tạo cho các thiếu nhi này nghĩ nhiều đến sự tăng trưởng thuộc linh. Thỉnh thoảng thư việc của Hội thánh có thể đem sách trực tiếp đến cho người đọc và cho các hiệp hội có thể chọn lựa dễ dàng.
Ở nhà riêng, phải dành thì giờ để phát triển các tập quán đọc sách tốt. Điều cũng cần thiết là phải cung ứng các tài liệu phù hợp cho trẻ con đọc. Thường thường thì một cuộc thăm viếng có kế hoạch một thư viện của những người làm cha mẹ lẫn các con cái của họ sẽ kích thích mối quan tâm chú ý đến việc đọc sách của chúng. Những bậc cha mẹ và những người lớn khác phục vụ cho các thiếu nhi ở lứa tuổi này mà yêu mến sách, có thể tạo ra lòng yêu mến sách nơi trẻ con và có ảnh hưởng đến loại sách mà chúng đọc. Sách báo Cơ Đốc giáo mà gia đình và Hội thánh cung cấp là một lực lượng thuộc linh hùng mạnh để tác tạo nên những cuộc đời biết sống cho Thượng Đế. Hội thánh và gia đình cũng có thể hợp tác để giúp các thiếu nhi tự khám phá lấy bộ sách đứng đầu của tất cả các quyển sách, tức là bộ Kinh Thánh.
Tư duy hợp lý
Các thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi đang bắt đầu nhận thức được các sự việc, sự vật và các biến cố tập họp lại với nhau như thế nào. Chúng hiểu được các định luật về sự liên tục và hậu quả và có ý thức về ý nghĩa lịch sử và có thứ tự trước sau của không gian, thời gian, vị trí và khoảng cách.
Các thiếu nhi lớn hơn, có thể tò mò về địa dư của sử ký của Kinh Thánh, và sẵn sàng khảo xét 'tại sao' người ta lại hành động như thế, và Thượng Đế lại đối xử với họ như thế.
Có một trí nhớ tuyệt vời.
Giai đoạn cuối của tuổi thiếu nhi thường được gọi là thời hoàng kim của ký ức. Nếu việc cần học thuộc lòng mà lý thú, thì các thiếu nhi này sẽ được thôi thúc học thuộc lòng theo đúng ý nghĩa của nó và hểu rõ những gì chúng học thuộc. Nếu quả như vậy, chúng cũng thường ứng dụng ý nghĩa của câu Kinh Thánh ấy cho đời sống mình.
Vì các thiếu nhi ở tuổi này có tài năng và khéo léo hơn cũng có thể tranh đua với các trẻ khác, những cuộc ganh đua đó và sự thôi thúc của nhiều ý đồ khác có thể được sử dụng để đẩy mạnh thêm việc học hỏi. Tuy nhiên những người công tác với các thiếu nhi ở lứa tuổi này phải thận trọng lưu ý là các thiếu nhi này không phải chỉ tranh đua là để tranh đua, để chiếm được một phần thưởng chỉ có mặt ngoài mà thôi. Một vài thiếu nhi có thể cảm thấy chúng bị bỏ rơi vì không đủ các tài năng tri thức hoặc tài khéo léo để ganh đua. Hậu quả có thể gây tai hại cho việc tự đánh giá và gây tổn hại trầm trọng cho sự phát triển toàn diện của chúng. Loại động cơ thúc đẩy tốt nhất là nó có thể đem đến sự hài lòng, tiến bộ, và hoàn tất sự phát triển cá nhân.
Ở lứa tuổi này điều quan trọng là các chương trình học thuộc lòng phải được phối hợp chặt chẽ với nhau. Việc rất thường xả ra là những người điều khiển các chức vụ khác nhau đều muốn khích lệ các thiếu nhi ở lứa tuổi này học thuộc lòng Kinh Thánh và nhiều tài liệu khác nữa thuộc các phạm vi đặc thù của chức vụ mà họ phục vụ. Số thiếu nhi tích cực tham gia sẽ bị chồng chất quá mức tất cả những gì chúng có thể học thuộc, mà hậu quả là chúng sẽ chẳng học được gì đến nơi đến chốn cả, hoặc có thái độchủ bại để rồi bỏ cuộc.
Về mặt tình cảm - Dễ bộc lộ.
Thiếu nhi ở lứa tuổi này bộc lộ cảm xúc một cách dễ dàng, tự do, Chúng hò hét, chạy nhảy, rồi cũng nhanh chóng tham gia những hoạt động tình cảm sôi động, ồn ào. Cả khi chúng kìm chế được cảm xúc, chúng cũng bộc lộ ra vì cớ tình trạng dễ phơi bày, biểu lộ của chúng. Chúng cần học tập để biết lúc nào thì phải tỏ ra nghiêm nghị, trầm lặng, và khi nào thì có thể xởi lởi, vui tính.
Dễ sốt ruột, nóng nảy.
Tuy biết tự chủ, chúng rất dễ bị kích thích và sẵn sàng tự vệ ngay khi bị khiêu khích, tố cáo dầu hết sức nhẹ nhàng, chắc có gì đáng quan tâm. Chúng sẽ lập tức cãi lại nhưng rồi cũng dịu xuống ngay. Nếu các nguyện vọng của chúng không được đáp ứng đầy đủ, chúng có thể quấy rối và làm những điều khiếm nhã mà chúng không cố ý. Các thiếu nhi ở lứa tuổi này cần biết kiên nhẫn và tôn trọng các quyền lợi và cảm nghĩ của người khác, còn những người hướng dẫn thì cũng phải tôn trọng các quyền lợi và cảm nghĩ của chúng.
Vì thiếu hiểu biết thiếu từng trải và tự chủ, các thiếu nhi ở lứa tuổi này có thể tiến đến những kết luận vô căn cứ, vơ đũa cả nắm, và tố cáo người khác mà không kịp suy nghĩ. Chúng cần được trợ giúp để biết phán đoán hợp lý căn cứ trên những thông tin chính xác. Chúng sẽ được giúp ích nhiều bằng cách được chỉ vẽ phải thu thập các sự kiện như thế nào trước khi phê phán.
Có hành động dũng cảm
Thiếu nhi ở lứa tuổi này cần thuyết phục người khác rằng chúng chẳng sợ hãi gì cả. Tuy nhiên, chúng có thể sợ bóng tối, sợ ở một mình ban đêm hoặc tham gia một đám đánh lộn. Chúng cần được học biết là những người khác cũng có thể sợ hãi một điều gì đó, và Chúa có thể giúp chúng khi chúng cần can đảm. Chúng cần được học biết là những người khác cũng có thể sợ hãi một điều gì đó, và Chúa có thể giúp chúng khi chúng cần can đảm. Chúng cũng cần nhận thức được rằng sợ hãi một việc, một vật có thể gây tai hại cho mình, thì chẳng có gì là sai trái cả. Ma túy và rượu là hai thí dụ đầu tiên.
Không thích bộc lộ các xúc cảm mặt ngoài.
Chúng không thích bộc lộ tình cảm hoặc thấy người khác tỏ ra thương hại khi chúng gặp khó khăn, rắc rối. Ngay đến các thiếu niên lớn hơn dường như cũng ghét bộc lộ ra ngoài thái độ yêu thương trìu mến.
Câu nói đơn giản "Chúc cha mẹ ngủ ngon" hoặc "Tạm biệt" cũng có thể tàng ẩn nhiều tình yêu thương trìu mến kín giấu, tuy điều đó không hề được chứng minh rõ ràng. Khi các thiếu nhi này tự bộc lộ các ước muốn của chúng, chúng cũng nhận thức được rằng người ta vẫn tự bộc lộ tình cảm bằng nhiều cách khác nhau. Như thế, chúng học hỏi được cách bộc lộ tình cảm ở nhiều trình độ, cấp bậc khác nhau nơi tha nhân.
Thích trào lộng (humor)
Thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi đang phát triển một ý thức trào lộng, va2 hiểu được các bức hí họa và những câu nói đùa. Chúng có thể kể lại một câu chuyện để rồi cười phá lên, to hơn bất kỳ ai khác. Lắm khi chúng cũng không hiểu những chỗ nói đùa ẩn tàng trong những câu chuyện chúng kể lại. Chúng cần nhận thức được rằng không phải mọi sự đều có thể đùa cả, và không nên nói đùa để làm mất mặt người khác. Những người làm cha mẹ và người lớn khác công tác với thiếu nhi ở lứa tuổi này cùng chia xẻ óc trào lộng và cùng cười với chúng, có thể giúp chúng học tập óc trào lộng lành mạnh và đánh giá một câu chuyện trào lộng dưới ánh sáng của các nguyên tắc theo Kinh Thánh.
Về mặt xã hội - Thích nghi hóa.
Thiếu nhi ở lứa tuổi này có nhiều khả năng về thể xác hơn, và có thể tư duy độc lập, nên bắt đầu tìm cách sống độc lập đối với việc hướng dẫn, chỉ đạo của người lớn. Với những giới hạn cần thiết, quyền tự do hành động độc lập có thể giúp chúng chuẩn bị cho tuổi thành nhơn.
Theo thuyết của Erikson, các thiếu nhi này vốn thuộc cùng một trình độ phát triển về mặt xã hội với các trẻ khác ở lứa từ sáu đến tám tuổi - tức là cần cù chịu khó chống lại tự ti mặc cảm. Chúng ý thức nhiều hơn về chỗ mạnh chỗ yếu của mình và có thể phát triển việc tự đánh giá quá thấp nếu không cảm thấy mình được thành công. Những người làm cha mẹ và công tác với thiếu nhi ở lứa tuổi này cần giúp chúng phát triển một hình ảnh tích cực về bản thân bằng cách làm gia tăng mặt tích cực, khích lệ và khen ngợi chúng, và dạy chúng phương pháp để bù trừ các nhược điểm bằng cách thực hiện những gì chúng có thể hoàn tất tốt đẹp. Chúng cần được dạy bảo phải biết cần cù chịu khó như thế nào và làm việc như thế nào cho có hiệu quả, mà không cần phải tự đo mình các chuẩn mực của người lớn.
Tham gia các đoàn thể xã hội cùng giới.
Thiếu nhi ở lứa tuổi này đã tiến bộ trong các mối liên hệ với người khác, nhất là với các trẻ cùng giới tính. Nhóm bạn cùng trang lứa đã bắt đầu ảnh hưởng đến chúng cũng ngang bằng hoặc nhiều hơn cả chính gia đình chúng nữa. Tinh thần phiêu lưu mạo hiểm của chúng đưa chúng đến chỗ tìm cách được tự do đối với các ràng buộc của gia đình. Chúng thích gia nhập một nhóm, một 'băng', hoặc một câu lạc bộ thường go8m có lũ trẻ hàng xóm, trong trường học, hay các thiếu nhi cùng trang lứa trong Hội thánh. Chúng thích những mật hiệu và mật khẩu.
Thỉnh thoảng có thể chúng tin cậy vào nhóm bạn cùng trang lứa còn hơn cả tin cậy cha mẹ chúng và những người lớn khác. Nếu chúng nhập một 'băng' xấu nhiều vấn đề, có thể nảy sinh. Ảnh hưởng này có thể tránh được nếu Hội thánh cung cấp các mối liên hệ tiếp xúc lành mạnh cho các nhóm bạn cùng trang lứa thông qua các tổ chức câu lạc bộ.
Có xung đột với các thiếu nhi khác giới
Các thiếu nhi trai và gái ở lứa tuổi này thường có khuynh hướng sung khác nhau và không liên hệ tốt đẹp với nhau. Chúng tự xa rời nhau trong các hoạt động. Các vấn đề về giao tiếp ứng xử có thể đặt nặng trong các nhóm hỗn hợp, và người phụ trách phải dành nhiều thì giờ để sửa trị hầu khép các thiếu nhi ở lứa tuổi này vào kỷ luật nhiều hơn là để lãnh đạo chúng. Phải sắp xếp người hướng dẫn là đàn ông cho các em trai, và là phụ nữ cho các em gái. Các hướng dẫn viên là những đôi vợ chồng rất lý tưởng cho việc giáo dục các nhóm thếu nhi hỗn hợp này. Các thiếu nhi này phải được trù liệu cho các hoạt động xã hội, để cùng học hỏi cách tôn trọng lẫn nhau và những cung cách giao tiếp ứng xử căn bản ngoài xã hội.
Ý thức về bình đẳng và công bằng.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này cần được đối xử như những con người. Khi chúng tự đặt luật lệ cho mình, thì chúng thường tỏ ra nghiêm khắc hơn với bản thân, và áp đặt những trừng phạt nghiêm khắc cho những vi phạm. Chúng có thể khai trừ cá nhân nào không tuân thủ các chuẩn mực của nhóm.
Thích tranh đua.
Thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi có thể ganh đua tốt hơn vì tài khéo léo của chúng đang phát triển và có thể kiểm soát được các cơ bắp tinh tế hơn. Chúng có thể hăng hái tham gia các hoạt động tranh đua như thi Kinh Thánh, thi tài với nhau, và tranh tài về thể thao. Tuy nhiên, không nên quá lạm dụng việc ganh đua. Các thiếu nhi này cần được dạy về các phương pháp cộng tác và phát triển tinh thần đồng đội thuộc linh. Từng cá nhân cần được khích lệ để tự ganh đua với bản thân cũng như với người khác. Nếu có trẻ nào cảm thấy bồn chồn bất an trong các hoạt động ganh đua cần thận trọng rèn luyện chúng để chúng cảm thấy mình vốn là một thành phần của cả nhóm.
Về mặt thuộc linh - Liên hệ giao tiếp.
Thiếu nhi 9 đến 11 tuổi dễ hòa mình vào đám người mà chúng thích và ngưỡng mộ. Chúng cần những tấm gương xứng đáng, biết tuân thủ các chuẩn mực cao và được dạy dỗ để biết thuận phục các uy quyền thích ứng. Hành động trước sau như một và sự rung cảm thuộc linh là các đặc điểm quan trọng của những người lớn công tác với lứa tuổi này.
Thiếu nhi ở lứa tuổi này ái mộ những người mà chúng muốn trở thành giống như thế. Chúng ngưỡng mộ mọi việc làm của những người mà chúng không ần nghĩ xem họ là ai. Chúng chọn anh hùng của chúng từ những người mà chúng nhìn thấy, đọc thấy trong sách báo, hoặc theo dõi trên truyền hình, và chúng hình thành các mẫu mực của đời sống mình trong khi quan sát cuộc đời của những người khác. Chúng thích ra bộ tịc, múa may, nháy nhó, và bộc lộ các lý tưởng của mình nhờ số người mà chúng bắt chước (2).
Tôn sùng anh hùng.
Vì các thiếu nhi này tôn sùng anh hùng, cần phải cho chúng gần gũi tiếp xúc, được trình bày, giới thiệu với các bậc anh hùng xứng đáng. Tất cả các anh hùng được dùng làm thí dụ để học tập đều phải chỉ cho chúng đến với Chúa Cứu Thế, là Đấng mà họ đều đặt làm nhân vật lý tưởng cho mình. Các nhân vật vĩ đại trong Kinh Thánh, các giáo sĩ trong lịch sử, các giáo sĩ của HỘi thánh, và các hệ phái có thể được đưa ra giới thiệu - nghĩa là phải luôn luôn chỉ cho chúng việc phải liên hệ tiếp xúc với Chúa Cứu Thế.
Đây là thời kỳ dành ưu tiên cho sự cứu rỗi.
Các thiếu nhi ở lứa tuổi này đã có thể tin nhận Chúa Cứu Thế rồi - đây là điều không nên đoan quyết, cả khi chúng đã được trưởng dưỡng trong Hội thánh. Thiếu nhi ở lứa tuổi này cần được trình bày thật đơn sơ và hợp lý về kế hoạch cứu rỗi của Thượng Đế. Chúng phải tự đồng nhất hóa (hiệp làm một) với Chúa Cứu Thế và được vững lập trên Lời Thượng Đế trước những năm thành nhơn.
Đáp ứng với lời chỉ giáo trong sự tăng trưởng để trở thành Cơ Đốc nhân.
Sau khi được cứu rỗi, các thiếu nhi này cần tăng trưởng trong Chúa Cứu Thế. Chúng có thể lãnh hội được một cách nghiêm túc các vấn đề liên hệ đến đời sống. Tăng trưởng trong sự thông biết Lời Thượng Đế và tp2ng trải Cơ Đốc nhân sẽ chuẩn bị chúng cho tuổi thanh thiếu niên.
Thiếu nhi từ chín đến mười một tuổi có thể hiểu được các ý riêng thuộc linh giáo lý, sử ký Kinh Thánh, và đời sống làm Cơ Đốc nhân, khi các vấn đề trên được trình bày đúng theo trình độ của chúng. Chúng cần được dạy dỗ một cách có hệ thống cùng với nhiều ứng dụng cá nhân. Chúng rất quan tâm sống theo chân lý, nhưng cần có những tấm gương, những mẫu mực tốt. Chúng có thể hiểu chức vụ của Đức Thánh Linh và phải được dạy dỗ để phó thác đời sống mình cho Ngài cai trị.
Biện biệt chân lý thuộc linh.
Các trẻ lớn hơn đã có thể biện biệt đúng, sai, phải, trái không mấy khó khăn. Có thể cúng gặp khó khăn trong việc vâng theo chân lý cả khi chúng đã hiểu biết các ý niệm Kinh Thánh. Tuy nhiên, khi làm sai quấy chúng phải học tập xưng tội, xin tha thứ, rồi cùng tiến bước với Thượng Đế. Chúng phải học tập tìm cầu sưc lực từ Thượng Đế, nhìn nhận sai lầm của mình, và làm điều phải, việc tốt. Chúng cần chân lý được dạy dỗ thật rõ ràng và nhận thức rằng Thượng Đế vốn có một kế hoạch cho đời sống mình.
Bắt đầu suy luận về mặt luân lý đạo đức.
Thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi dường như đang thực hiện việc lý luận về mặt luân lý đạo đức theo nhiều cấp bậc trong các giai đoạn của Kohlberg. Một số trẻ có thể vẫn còn ở cấp bậc trong đó việc phán đoán được căn cứ vào các nhu cầu cá nhân và các luật lệ khác. Nhiều trẻ khác đang phán đoán căn cứ trên việc được người khác khen ngỡi tán thưởng, theo những điều mong ước của gia đình, theo các giá trị truyền thống, theo các luật lệ xã hội và lòng trung thành với tổ quốc. Lẽ tự nhiên là chúng quan tâm đến việc tán đồng của người khác mà cũng nhận thức được nhu cầu phải tôn trọng uy quyền. Điều chắc chắn là các thiếu nhi ở lứa tuổi này có thể được dạy bảo phương pháp để đưa ra những phán đoán về mặt luân lý đạo đức như Kohlberg đã vạch rõ, nhưng cách ăn ở cư xử của chúng có thể không phù hợp với những gì chúng biết và đã được chỉ dạy (3)
CÁC ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ
Các thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi cần các người mẫu đang tích cự chành động theo Lời Thượng Đế. Những ai công tác với trẻ ở lứa tuổi này phải bén nhạy và sáng tạo về mặt tinh thần, năng nổ trong việc thách thức các tiềm năng của chúng.
Việc học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh phải chú trọng vào phần khám phá, phát giác chân lý của Thượng Đế. Các thiếu nhi ở lứa tuổi này phải được thách thức để thiết lập một đời sống bồi linh cá nhân thật vững chắc, trong đó có việc đọc Lời Chúa hằng ngày, dành riêng thì giờ để cầu nguyện, và cảm thấy được tự do trò chuyện về Ngài. Chúng cũng cần được thách thức để dâng đời sống mình cho Chúa Cứu Thế.
Hội thánh phải cung cấp các hoạt động cho những thiếu nhi này để tham gia một nhóm công tác xã hội mà chúng có thể được hoan nghênh không hạn chế.
TÓM TẮT
Các thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi là lứa tuổi được nhân cách hóa, có thể nói là 'một cách thái quá'. Về mặt thể xác, chúng tăng trưởng chậm hơn nhưng chắc chắn hơn trước đó, và không bị mệt mỏi quá dễ dàng. Chúng đang phối hợp tốt để phát triển các tài năng về khéo léo của mình. Về mặt trí thức, chúng rất bén nhạy và lý luận khá giỏi. Chúng muốn được trả lời rõ ràng cho những câu hỏi chúng đặt ra. Chúng đọc dễ dàng hơn và có trí nhớ tuyệt vời. Về mặt tình cảm, chúng dễ bộc lộ cảm xúc, nhưng có thể hơi nóng tính dễ sốt ruột, mất kiên nhẫn. Chú ý ít sợ hãi và thích trào lộng. Về mặt xã hội, có khi dường như chúng tỏ ra không ưa các thiếu nhi khác phái, nhưng vẫn học chung với nhau dưới sự hướng dẫn của người trưởng thành. Chúng thích gia nhập các nhóm, các câu lạc bộ mà thành viên là các bạn cùng phái. Tài năng khéo léo của chúng khích lệ việc tranh đua. Về mặt thuộc linh, chúng đang sống vào giai đoạn đầu tiên để có thể được cứu rỗi và đáp ứng tốt với sự tăng trưởng của một Cơ Đốc nhân. Chúng có thể tự khám phá và biện biệt chân lý. Phần tiềm năng trong đời sống chúng là vô hạn, cho nên cần tận dụng mọi cơ hội để đưa chúng đến với Chúa Cứu Thế.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Bạn mô tả các thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi như thế nào về mặt thể xác?
2. Thiếu nhi ở lứa tuổi từ 9 đến 11 tuổi có năng lực ấy vào những lãnh vực có giá trị quan trọng nào?
3. So với các thiếu nhi từ 6 đến 8 tuổi thì các thiếu nhi này (9-11 tuổi) bộc lộ cảm xúc như thế nào?
4. Trong sinh hoạt xã hội của các thiếu nhi này, có những đặc điểm nổi bật nào?
5. Đâu là một vài nhu cầu thuộc linh mà những người lớn công tác với các thiếu nhi ở lứa tuổi này cần phải có, mới đáo ứng được đời sống của chúng.
6. Bạn làm thế nào để dắt dẫn một thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi đến với Chúa Cứu thế?
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Hãy đến thăm một lớp học của các thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi. Quan sát các hoạt động của các em và các phương pháp truyền thông của giáo viên. Soạn một bài tường trình về những gì bạn tìm thấy được.
2. Chọn một thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi. Cầu nguyện cho em ấy. Tìm hiểu các mối bận tâm và các trò tiêu khiển (hobbies) của em ấy. Làm một việc đặc biệt gì đó đối với em ấy. Giúp em ấy thông hiểu chân lý thuộc linh nhờ sách báo, người khác và các từng trải. Đối chiếu và thảo luận những khám phá của các bạn với nhau.
3. Trù liệu một chương trình học thuộc lòng cho các thiếu nhi từ 9 đến 11 tuổi trong một năm. Chọn những câu và đoạn Kinh Thánh bạn muốn cho chúng học mỗi tháng. Nếu có thể được, hãy ứng dụng kế hoạch của bạn vào tình hình thực tế.

TÍNH TỰ LẬP ĐANG TĂNG TRƯỞNG
THIẾU NIÊN 12,13 TUỔI
Trong lịch sử, có một thời kỳ trẻ con ở tuổi ấu thơ đi thẳng vào tuổi thành nhơn (adultbood). Nền văn hóa thời bấy giờ buộc trẻ con phải đảm nhận ngay các vai trò của người lớn sau khi chúng đến tuổi dậy thì.
David Bakan đã lý luận rằng việc phát kiến hay khám phá ra tuổi thành niên (a dolescence) ở Hoa-kỳ một phần lớn là nhằm đáp ứng các biến chuyển xã hội tiếp sau việc phát triển của Hoa-kỳ hồi cuối thế kỷ thứ mười chín và đầu thế kỷ thứ hai mươi. Bakan đưa ra ba điều mà xã hội Mỹ đã không kể tuổi thành niên như một giai đoạn trong chu kỳ của đời sống một trẻ giữa mười và hai mươi tuổi.
Ba điều đó là: các đạo luật cưỡng bách giáo dục công lập, các đạo luật về sử dụng nhân công là trẻ con, và hệ thống pháp lý dành cho thiếu nhi. Việc ban hành các đạo luật ấy là hậu quả của việc tuổi thành niên đã được pháp luật công nhận là giai đoạn trưởng thành của đời sống con người (1).
Trái với điều mà một số người vẫn tin, tuổi thành niên không phải bao giờ cũng là một giai đoạn chuyển tiếp đầy khó khăn. Đối với nhiều người thì đây là một kinh nghiệm tích cưc. Các hoạt động của tuổi ấu thơ nhường bước cho công trình của tuổi thành nhơn, đã trở thành một thành tựu của người lớn. Người thành nhơn tự thấy mình đứng diữa hai thế giới, thế giới của trẻ con và thế giới của người lớn. Chúng cố gắng hành động như người lớn, thế nhưng lại muốn được kinh nghiệm sự an toàn như trẻ con vậy.
Tuổi thành niên gồm ba giai đoạn: thiếu niên (12,13 tuổi), thanh niên (14-17 tuổi) và thành nhơn (18-24 tuổi), cũng được xem là bắt đầu thành 'người lớn'. Tuổi thành niên kết thúc khi sự trưởng thành để trở thành người lớn đã rộ rệt về mọi phương diện thể xác, trí thức, tình cảm và xã hội.
Sự căng thẳng cao độ của lối sống hiện đại thường tăng tốc vài góc cạnh của sự trưởng thành và nhiều khi tạo hậu quả là một tuổi thành niên bất bình thường. ngheò khổ, bất hạnh, và buồn phiền cũng có thể ảnh hưởng đến giai đoạn phát triển. Mười hai, mười ba tuổi thường đư]5c xem là khởi điểm cho tuổi thành niên. Con gái bước vào tuổi thiếu nữ sớm hơn con trai lắm khi tạo ra nhiều vấn đề về liên hệ nam nữ và giữa hai nhóm.
CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
Các thiếu niên 12-13 tuổi phải hoàn thành bốn nhiệm vụ phát triển - tất cả đều thiết yếu cho sự tiến triển thành công qua tuổi thành niên.
Thích ứng hóa với những biến chuyển nhanh chóng của thân xác.
Thiết lập một nền móng cho sự tự lập lành mạnh của tuổi thành nhơn.
Hoàn tất ý thức về lai lịch bản thân.
Tự chấp nhận - tán thành và phát triển các nét mạnh của mình, tự khẳng định và cải tiến các lãnh vực yếu kém.
Tuổi thiếu niên - Sự thay đổi phức tạp.
Trẻ lên 12, 13 tuổi được gọi là thiếu niên tuổi lên trung học, trên mười tuổi. Cũng như ở tuổi ấu thơ, sự tăng trưởng và phát triển tie7p tục. Hai lứa tuổi thanh niên và trưởng thành giai đoạn đều cũng giống với giai đoạn vừa thích ứng hóa vừa củng cố. Các vấn đề về thể xác của tuổi thiếu niên còn trở nên phức tạp thêm do việc thay đổi các chức năng của giới tính. Chúng thấy có những năng lực mới nảy sinh trong mình để bươn tới thành người lớn. Điều này tạo ra một sự pha lẫn nhiều khuynh hướng và khuynh hướng tương phản. Rắc rối, phức tạp và nhiều nét mâu thuẫn nhau, là trật tự tự nhiên suốt những năm này.
Các thiếu niên đang sống trong thế giới của thay đổi và chuyển tiếp. Cả khi chúng không tự hiểu rõ bản thân, người khác không nên hiểu lầm hoặc bỏ bê chúng.
Các thiếu niên 12, 13 tuổi cần loại người lớn đặc biệt để trông cậy vào. Những người lớn gần gũi với chúng phải yêu thương nhẫn nại và thông cảm với chúng. Những ai công tác với các thiếu niên phải biết lợi dụng cơ hội có một không hai này để khiến chúng trở thành môn đệ của Chúa Cứu Thế. người lớn có thể làm được việc ấy nếu họ:
Luôn luôn mở rộng các mối giao hữu tiếp xúc.
Nhân bội mối quan tâm đối với các thiếu niên.
Hướng dẫn chúng bằng lời khuyên bảo, chỉ dẫn kết bạn với chúng.
Thường thường thì những người công tác với các thiếu niên có thể là chiếc chìa khóa để mở cửa Phúc âm và tạo thêm môn đệ cho Chúa Cứu Thế khi họ giao thiệp tiếp xúc với chúng trong những năm mà ý thức về tôn giáo của chúng vừa mới thức tỉnh này.
Về mặt thể xác - Thay đổi.
Nhiều thay đổi về mặt sinh lý xảy ra trong tuổi thiếu niên ảnh hưởng rất nhiều đến nhiều khu vực phát triển quan trọng khác nữa trong tuổi thành niên. Tốc độ và mức độ thay đổi đều quan trọng.
Tăng trưởng nhanh chóng và không ngừng.
Các thiếu niên 'lớn như thổi', nhưng cũng không ngừng nghỉ. Trẻ cở tuổi này tăng trọng hằng năm đến 5, 6 ký và cao lên đến cả tấc tây. Việc này khiến chúng phải chú ý ngay đến bản thân - tự ý thức về mình. Trong giai đoạn 12, 13 tuổi các thiếu nữ lớn nhanh hơn các thiếu niên, và nói chung thì cao và nặng cân hơn các em trai trong giai đoạn này.
Các cơ bắp của chúng đòi hỏi được hoạt động ráo riết. Sự xuất hiện đột ngột và rõ ràng các đặc điểm của một giới tính thứ hai nữa, khiến các thiếu niên ý thức rất rõ rệt vóc dáng của thân xác mình. Phần đông chúng đều tìm cách hoặc làm tăng thêm hoặc giảm bớt thêm cho gương mặt, và tìm cách cải thiện cho thể tạng của mình. Chúng thường ý thức được những nét thái quá nơi mình (2).
Tốc độ tăng trưởng không ngừng của bộ xương tạo hậu quả là vẻ lóng cóng, lúng túng. Nó câu thúc và thường khiến cho các thiếu niên bực bội, bối rối. Chúng cần nhẫn nhục và hiểu rõ là những thay đổi ấy rất cần thiết khi chúng giã từ tuổi ấu thơ ể lần lần trở thành người lớn.
Đang thay đổi cả trong nội tạng nữa.
Tuổi dậy thì (khi lần đầu tiên, một người có thể sinh con) khởi động sự phát triển của các tuyến sinh dục và có lẽ là những thay đổi quan trọng nhất ở lứa tuổi này. Các thiếu nữ phát triển về mặt giới tính khoảng một hoặc hai năm trước các thiếu niên. Do các điều kiện ấy, trẻ trên mười tuổi cần được chiều chuộng thông cảm, và được giáo dục thích hợp về giới tính.
Các cơ quan sinh dục phát triển nhanh. Quả tim hầu như to lên gấp đôi, nhưng cơ thể dễ dàng bị căng thẳng, khiến trẻ bị hồi hộp. Hai lá phổi cũng tăng trưởng và các tuyến nội tiết hoạt động tích cực hơn. Thanh quản hầu như dài thêm ra gấp hai lần, khiến các thiếu niên bị 'bể tiếng', nghĩa là không kiểm soát được giọng nói của mình.
Sức phát triển có khác nhau.
Chẳng những các cơ quan sinh dục phát triển theo một tốc độ khác nhau rất lớn. Các hiện tượng này thỉnh thoảng được gọi là 'giai đoạn phát dục' hay 'sự phát dục muộn'. Nhiều thiếu niên phát dục muộn có thể chẳng thấy có biến chuyển gì cả, trong khi các trẻ đồng tuổi khác, lại đã phát triển đến giai đoạn hoàn toàn đầy đủ cả rồi.
Nếu gặp trường hợp phát dục muộn, một thiếu niên có thể bị chối bỏ về ai phương diện - bị các bạn đồng trang lứa chối bỏ, và bị chính mình tự chối bỏ. Nhiều thiếu niên có thể bị mặc cảm thu asút hoặc cả bị đối xử như một kẻ vô tích sự nữa. Do đó, khi các trẻ trên mười tuổi lên cấp trung học, một căn phòng khóa chặt có thể là một kinh nghiệm đáng sợ.
Các thiếu nữ phát dục sớm có thể có dáng vẳ nặng nề để bù trừ cho sự tăng trưởng như của chúng. Còn các thiếu niên thì cần được giao phó trách nhiệm tùy theo sức vóc, chớ không phải là tùy theo tài năng của chúng.
Từng trải thay đổi về năng lực và mệt mỏi.
Năng lực tăng lên của các thiếu niên không phải là đến cuối cùng thì bao giờ cũng được phân phối đều đặc cho toàn cơ thể chúng. Có những đợt năng lực vượt lên được thay thế bằng sự mệt mỏi. Điều này bảo vệ cho thân thể khỏi bị căng thẳng thái quá, chớ không phải là sự lười biếng suông.
Cả những bậc cha mẹ lẫn người công tác với các thiếu niên ở lứa tuổi này phải in trí rằng các thiếu niên này cần được nghỉ ngơi đầy đủ. Do đó mà các hoạt động thâu đêm suốt sáng trong các trại an dưỡng hoặc các trại hè đều có thể gây tổn hại cho sức khỏe của chúng.
Về mặt trí thức - Tăng trưởng.
Theo Piaget, các thiếu niên đang ở trong giai đoạn phát triển giúp chúng có thể tư duy nghiêm túc. Chúng đang phát triển phần tài năng nhằm lãnh hội bao quát được các mối liên hệ và giải quyết được nhiều vấn đề phức tạp hơn. Chúng tăng trưởng về khôn ngoan thực tiễn, về phán đoán và về lương tri lương thức. Sự hiểu biết của chúng tăng trưởng nhanh hơn kinh nghiệm, cho nên những ai công tác với lứa tuổi này phải trình bày các vấn đề cho chúng suy nghĩ trước, hướng dẫn chúng cách tìm những câu trả lời trong Kinh điển, sau đó mới giúp chúng truy tầm, tra cứu (3).
Các thiếu niên có một khả năng mới để đối phó với cái trừu tượng. Chúng có thể đặt nhiều ý niệm có tính cách biểu tượng song song với cái cụ thể hơn. Chúng có thể học thuộc lòng giỏi, nhưng phải có lý do cho việc làm ấy.
Những người phục vụ cho các thiếu niên ở lứa tuổi này có thể thách thức các trẻ 12,13 tuổi bằng các tài liệu bổ ích và các hoạt động có ý nghĩa. Họ cũng có thể khích lệ, những trẻ học chậm và giúp chúng cảm thấy an lòng hơn, rồi giúp chúng tiến bộ.
Các thiếu niên trên mười tuổi không chịu chấp nhận bất cứ điều gì mà không thắc mắc hỏi vặn lại. Chúng cần biết 'Tại sao?' Tại sao chúng lại không được phép ra ngoài với bạn bè vào lúc mười giờ tối? Khi nào các bậc làm cha mẹ bác bỏ những đòi hỏi của các thiếu niên trên mười tuổi mà không đưa ra được một câu trả lời thỏa đáng, thì chúng sẽ tỏ ra không phục. Vì những người hướng dẫn khác cũng là những người lớn có uy quyền như cha mẽ chúng, các thiếu niên có khuynh hướng không phục và chê trách cả họ nữa.
Thiếu nhi trên mười tuổi có thể hay chê bai. Chúng nằng nặc đòi cho mọi sự phải chịu sự thử nghiệm là lý luận của chúng, vốn đang tăng trưởng, nhưng vẫn còn hạn chế vì sự thiếu kinh nghiệm của chúng. Óc phê bình, chỉ trích trong tuổi thành niên dẫn tới lòng tin quyết và đầu óc cá nhân ở tuổi trưởng thành. Mọi tâm trí đang tăng trưởng đều cần tìm hiểu và chứng cứ. Những nghi ngờ và thắc mắc tra hỏi đều là những yếu tố tự nhiên và lành mạnh cho sự tăng trưởng trí thức.
Về mặt xã hội - Tìm đồng bọn.
Các thái độ mới hình thành sinh hoạt xã hội của tuổi thiếu niên, nhất là ước muốn mãnh liệt tìm bạn trong nhóm trẻ cùng trang lứa. Chúng muốn lớn lên và xa lánh hoặc cảm thấy mình lớn hơn các em trai, em gái mình. Tính độc lập của chúng cũng khiến chúng chống đối và xa lánh cha mẹ chúng.
Tìm độc lập
Những người làm cha mẹ phải thừa nhận sự độc lập tự nhiên ngày càng tăng của chúng. Họ phải thả lỏng dần 'dây cương' cho trẻ con trên mười tuổi. Nếu sự độc lập của chúng bị ức chế, chúng có thể tự rước lấy sự yếu nhược lâu dài hoặc thường xuyên cảm thấy bị va chạm, và cuối cùng là bị mất tự chủ. Trẻ trên mười tuổi thường cảm thấy cha mẹ trông đợi nơi chúng quá nhiều, mà không thật sự quan tâ m chăm sóc chúng.
Người lớn phải tập biết tôn trọng các ý kiến và những chống đối của các thiếu niên. Những ai phục vụ chúng và đang tìm cách đảm nhiệm vai trò người tâm phúc được chúng tin cậy, làm người khuyên bảo, cố vấn cho chúng, vốn có cơ hội hết sức quan trọng vì các thiếu niên đang tìm kiếm những người lớn có ý nghĩa đối với chúng ở bên ngoài gia đình.
Đang phát triển lai lịch bản thân.
Trước tuổi thành niên, trẻ con học tập một số nhiều vai trò khác nhau, như học sinh sinh viên hoặc bè bạn, anh lớn trong gia đình, Cơ Đốc nhân, lực sĩ, và vân vân. Suốt giai đoạn thành niên điều quan trọng là phải làm sáng tỏ và đưa số vai trò khác nhau này vào trong một lai lịch duy nhất. Người ở tuổi thành niên đi tìm các giá trị căn bản và các thái độ xuyên qua các vai trò khác nhau này. Nếu trẻ không nhập vai được vào một lai lịch trung tâm, hoặc không giải quyết được cuộc xung đột chủ yếu giữa hai vai trò chính mà khỏi đặt hai hệ thống giá trị đối chọ nhau, thì hậu quả sẽ là điều mà Erikson gọi là 'khuyếch tán bản ngã' (ego diffusion) (4)
Do đó mà hoàn thiện một ý thức về lai lịch bản thân là điều tối quan trọng cho những người thành niên. Họ bắt đầu ý thức được rằng mọi mảnh vụn của bản thân họ phải khớp đúng với một toàn thể hội nhập vào nhau. Họ cần có cơ hội bàn qua mọi việc, phản ảnh cuộc đời chung quanh họ, và chính các nét riêng đang tăng trưởng, các tiềm năng và các mối liên hệ của mình. Đây là một giai đoạn quan trọng để các thanh thiếu niên tìm gặp Chúa Cứu Thế làm yếu tố hội nhập trung tâm cho đời sống họ.
Đáp ứng lại áp lực của bạn bè cùng trang lứa.
Các thiếu niên vốn không được an lòng khi bước sang những kinh nghiệm mới ở trường học. Các tiếp xúc xã giao trở thành thiết yếu hơn. Do áp lực của các bạn đồng trang lứa, ma túy có thể trở thành một vấn đề cho lứa tuổi này.
Danh tiếng có tầm quan trọng tối cao và áp lực xã hội của nhóm đồng tuổi với chúng là trên hết. Chúng có một ước muốn ngây thơ là muốn được thiên hạ chú ý và có uy tín trước mặt các bạn đồng trang lứa, và ngày càng khao khát sự an toàn hơn (5).
Chúng muốn vui chơi, cùng làm việc với các trẻ khác và trung thành với nhóm của mình. Các hoạt động học đường gia tăng và có thể là một công việc làm với một phần thì giờ, mở rộng nhóm bạn đồng trang lứa, biến nó trở thành khủng khiếp hơn bất cứ lúc nào. Những người lớn công tác với lứa tuổi này phải thừa nhận tình yêu và tổ chức theo nhóm này, mà tìm ra trong đó nếp sống kỷ luật, các hoạt động xứng đáng, và việc chọn Chúa Cứu Thế làm người bạn đường và là lãnh tụ của chúng.
Muốn có các bạn thân đặc biệt.
Thông thường thì các thiếu nữ chú trọng đến giới đối lập hơn các thiếu niên. Tuy các thiếu niên trên mười tuổi bắt đầu nhận thấy các thiếu nữ là hấp dẫn chúng thường không đáp lại với mối quan tâm ấy, nên các thiếu nữ có thể sẽ gắn bó hơn với các thiếu niên lớn tuổi hơn. Đặc biệt là các thiếu niên trên mười tuổi cần nhiều bạn thân và người tâm phúc tin c5ay được (bạn tri kỷ, bạn tâm tình) cùng giới với mình.
Về mặt tình cảm. Nhiều thay đổi
Sự phát triển về một tình cảm song hành với mặt thể xác. Các cảm xúc của trẻ trên mười tuổi vốn định lượng nhiều hơn là định tính, với những thay đổi nhanh chóng, nhất định trong cách bộc lộ tình cảm. Với một lý do dường như không đâu, chúng bỗng reo vui hoặc âu sầu, rầu rĩ hoặc phấn khởi. Lắm lúc dường như chúng đánh mất quyền kiểm soát tình cảm. Có thể chúng cần được gần gũi với một số người, nhưng lại xa lánh một số khác.
Phần đông thiếu niên trên mười tuổi đều bất ổn định, thường đáp ứng thái giá bằng cách cười to hoặc khóc hơn. Câu nói của những thiếu niên quá nhạy cảm khi chúng rút lui vào phòng và đóng cửa đánh sầm lại, thường là câu gạt ngang '(Ông, bà...) bạn không hiểu chuyện này đâu'.
Cha mẹ các thiếu niên này thường chỉ biết lúng túng trước cảm xúc của chúng, nên cũng chỉ biết đứng nhìn mà chẳng san sẻ gì được với chúng. Những tiếng thở dài, những điều bí mật, sự im lặng, thái độ dửng dưng, và nhiều phản ảnh khác nữa của đời sống nội tâm đều rất khó cho những người lớn thông cảm và giải quyết (6)
Về mặt thuộc linh - Thách thức và ăn năn quy đạo.
Những người phục vụ cho lứa tuổi này thường đánh giá quá thấp các khả năng thuộc linh của những người thành niên. Ăn năn quy đạo quả thật là một sự thay đổi, và trong giai đoạn riêng biệt này, khi sự thay ổi cần phải trông đợi có sự thay đổi nhiều về phương diện thuộc linh cũng bằng như về mặt thể xác vậy. Đây là tuổi của những khởi điểm mới.
Tán đồng việc tự dấn thân.
Từng trải thuộc linh của những người thành nhơn rõ ràng là có tính cách cá nhân. Họ không cầu nguyện hoặc đi nhóm nhà thờ chỉ vì đó là thói quen. Niềm tin cá nhân xác định các quyết định của họ trong những vấn đề này. Các thiếu niên cần nhận thức rằng các thói quen tuy được hình thành ngay từ nhiều năm trước đó, đều thuộc về cá tính của chính chúng. Gương tốt của người lớn vốn có nhiều ý nghĩa.
Sự lệ thuộc về mặt luân lý đạo đức giảm dần. Chúng tự bộc lộ các ý kiến riêng và cần được tự do, được chọn lựa một cách cá nhân hơn.
Về vấn đề ăn năn quy đạo của các thiếu niên, Soderholm bảo các thiếu niên ở lứa tuổi này không quan tâm đến triết lý về tôn giáo hoặc việc hình thành các giáo lý. Chúng cần một tôn giáo có hiệu lực 5 một đạo có thể thay đổi cuộc đời chúng, thỏa mãn các hoài bão của chúng và cấu thành các lý tưởng của chúng (7).
Cần được hướng dẫn về mặt lý luận đạo đức.
Theo Kohlberg, thì vào lúc các thiếu niên vượt quá mười tuổi, đa số đều thuộc về trình độ sống đúng theo vai trò đã quy định. Nghĩa là chúng được thúc đẩy để tránh bị trừng phạt, được hướng vào sự vâng phục, và sẵn sàng nép mình dưới sự bảo vệ của các chuẩn mực luân lý đạo đức ước lệ.
Một phần các giá trị của tuổi thành niên là sản phẩm của chính kinh nghiệm của chúng trong việc đưa ra những phán đoán có tính cách luân lý đạo đức. Nếu các cá nhân gặp những cơ hội thử thách - nhưng an toàn vô hại - khiến họ phải tra xét các nan đề về luân lý đạo đức ở cấp bậc cao, có khi người thành niên có thể phát triển được rất nhiều về mặt luân lý đạo đức (8).
Những bậc làm cha mẹ cần chủ động đi bước trước trong việc hướng dẫn về mặt luân lý đạo đức, nhưng Hội thánh cũng không thể ở dưng, chỉ hi vọng rằng các bậc làm cha mẹ sẽ đảm trách các vai trò của họ. Những cuộc hội thảo, chiếu phim, thảo luận và các nguyên tắc của Kinh Thánh phải được san sẻ cho các thiếu niên.
Từng trải việc ăn năn quy đạo thật sự.
Các thiếu niên trên mười tuổi rất sẵn sàng tin nhận Chúa Cứu Thế nếu được các lãnh tụ mà chúng tôn trọng thúc giục. Một sự ăn năn quy đạo thật sự và công khai xưng nhận đức tin vào Chúa Cứu Thế vào giai đoạn này sẽ dọn đường cho việc tiếp tục làm môn đệ Chúa suốt tuổi thành niên. Nếu lúc này mà chưa chịu đến với Chúa Cứu Thế, thì rất có thể là sẽ chẳng bao giờ, chúng chịu tin Ngài nữa.
Phát triển đặc tính của Cơ Đốc nhân.
Các thiếu niên là Cơ Đốc nhân cần được thách đố để hoàn thiện việc dâng mình cho Chúa và sống cuộc đời lấy Chúa Cứu Thế làm trung tâm. Chúng chịu ảnh hưởng do những người lớn là Cơ Đốc nhân mà chúng kính trọng nêu gương cho. Những ngườimlớn công tác với các thiếu niên cung cấp cho chúng những vai trò gương mẫu vô cùng đắc lực.
Các thiếu niên có thể có những nghi ngờ đối với tôn giáo nhưng ước ao có được sự ổn định mà một nền móng vững chắc trong Lời Thượng Đế có thể cung cấp cho Chúng cần được bảo đảm căn cứ trên sự kiện, chớ không phải trên các cảm nghĩ. Những ai phục vụ cho các thiếu niên phải thảo luận các vấn đề bằng thái độ thông cảm ưu ái để giúp chúng tìm những lời giải đáo, kiên trì nhẫn nhục hướng dẫn chúng đi sâu vào chân lý của Lời Thượng Đế.
Đặc tính của một Cơ Đốc nhân được bộc lộ trong ước vọng phục vụ của chúng. Năng lực và lòng hăng say của chúng sẽ được thỏa mãn trong sự phục vụ đầy ý nghĩa trong Cơ Đốc giáo.
NHỮNG ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ
Trong lúc các thiếu niên bước vào giai đoạn 'giao thời' của chúng, chúng không thể được xem như một thiếu niên 'vô danh'. Chúng phải được chấp nhận là một người có đầy đủ các quyền hạn của mình. Lai lịch và tự tiếp nhận là hai vấn đề quan trọng và mối quan tâm cũng như chương trình của Hội thánh phải giúp chúng nhận thức được rằng Thượng Đế là Đấng tạo nên chúng vốn biết rõ mọi điều liên hệ đến chúng, rất thông cảm và yêu thương chúng.
Một Ban thanh niên được hướng dẫn tốt của Hội thánh sẽ giúp các thiếu niên thỏa mãn được các nhu cầu của xã hội cũng như thuộc linh. Vì chúng rất quan trọng đối với HỘi thánh, Lời Chúa phải trở thành quan trọng đối với chúng.
Vì các thiếu niên cần được các đặc quyền của người lớn, nhưng chưa phải chịu trách nhiệm như người lớn, những ai phục vụ cho lứa tuổi này phải đứng trước mặt chúng như những tấm gương tốt cho chúng - đứng bên cạnh chúng như một người bạn đồng hành và là bạn thân - đứng đằng sau chúng như người hậu thuẫn và khích lệ chúng. Loại lãnh tụ này phải giới thiệu chúng với Đấng có thể sống trong lòng chúng và khiến chúng bảo rằng "Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi, tôi sẽ hãi hùng ai?" (Thi Tv 27:1).
Các thiếu niên phải được khích lệ học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh. Sự sẵn sàng học hỏi của chúng, khả năng ngày càng tăng để có thể bám chặt và chú ý, tài năng thảo luận và sự độc lập về tư tưởng cứ tăng thêm của chúng, khiến các thiếu niên được thách thức để trở thành các học viên sẵn sàng đáp lại với Lời Thượng Đế. Hội thánh cần giúp các thiếu niên thông suốt chân lý của Gia Gc 3:17 và hướng dẫn chúng đạt cho kỳ được "sự khôn ngoan thiên thượng, trước hết là trong sạch, lại hòa nhã, nhẫn nhục, cởi mở, nhân từ, làm nhiều việc lành, không thành kiến, không giả tạo"
TÓM TẮT
Tuổi thành niên là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng, qua đó các thanh thiếu niên từ tuổi ấu thơ trở thành người lớn. Đây là một giai đoạn có phần nào uyển chuyển bắt đầu từ tuổi dậy thì vào những năm hơn mười tuổi và kết thúc khi sự trưởng thành của tuổi thành nhơn được hoàn tất. Nó được chia thành giai đoạn thiếu niên, giai đoạn thanh niên, và giai đoạn đầu của tuổi thành nhơn.
Tuổi thiếu niên trước hết là một thời kỳ thay đổi mà sự phát triển về mặt thể xác là then chốt của giai đoạn này. Các thiếu niên trên mười tuổi cần được tiếp nhận thông cảm và hướng dẫn. Chính chúng là một thách thức và cần được thách thức, vì nền móng thiết đặt 'từ tuổi ấu thơ đến tuổi thành nhơn' là tối quan trọng cho những năm thành nhơn trước mặt. Những ai phục vụ cho lứa tuổi này phải nêu gương tốt của những người lớn, phải biết yêu thương, thông cảm và kiên trì nhẫn nhục.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Kể ra vài điểm khác nhau có ý nghĩa giữa trẻ con với người lớn.
2. Kể tên và nhận diện ba giai đoạn của tuổi thành niên (adolescence).
3. Những người lớn công tác với các thiếu niên phải sử dụng các nguyên tắc nào?
4. Bạn cho là sự phát triển về mặt thể xác của tuổi thiếu niên có đặc điểm gì?
5. Kể ra các đỉnh cao của sự phát triển về mặt tình cảm và thuộc linh của tuổi thiếu niên.
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Soạn một bảng liệt kê các lý do tại sao hiểu rõ các thiếu niên là căn bản để có thể phục vụ hữu hiệu cho lứa tuổi ấy.
2. Phỏng vấn nhiều thiếu niên về ý kiến của chúng đối với những bậc làm cha mẹ và người lớn lãnh đạo chúng. Đối chiếu các câu trả lời và đúc kết lại thành một bài tường trình có nhan đề là "Lời khuyên các bậc làm cha mẹ và cán bộ công tác với thanh thiếu niên"
3. Đánh giá chương trình dành cho thiếu niên của HỘi thánh bạn căn cứ vào việc đáp ứng các nhu cầu của chúng. Liệt kê các ưu, khuyết điểm và những lời dặn dò để cải tiến.

TUỔI HÀNH ĐỘNG
THIẾU NIÊN Từ 14 ĐẾN 17 tuổi
Thiếu niên từ 14 đến 17 tuổi muốn có mặt ở bất kỳ nơi nào có hành động. Thân thể cường tráng đang trưởng thành của chúng tâm trí nhạy bén và tích cực của chúng, các tình cảm đang trưởng thành và mãnh liệt của chúng, mối bận tâm nghĩ đến người khác của chúng, cái triết lý về cuộc đời vừa mới bắt đầu của chúng, và mọi ước muốn thách đố của chúng - tất cả đều kết hợp lại để biến tuổi thanh niên thành một giai đoạn đầy phấn khởi của đời sống.
CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
Từ tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên, không có những dấu hiểệu thay đổi rõ rệt nào, nhưng chỉ có một số nét để phân biệt. Giờ đây các thanh niên đang chuẩn bị cho những trách nhiệm quan trọng nhất của đời sống.
Havighurst liệt kê các nhiệm vụ phát triển sau đây của tuổi thanh niên phải được hoàn tất từ giai đoạn thanh niên sang giai đoạn thành nhơn thật sự.
Hoàn thành nhiều mối liên hệ mới mẻ hơn với các bạn cùng lứa tuổi thuộc cả hai giới.
Hoàn thành vai trò xã hội thuộc nam hoặc nữ giới.
Chấp nhận phần thân xác của mình và sử dụng nó một cách hữu hiệu.
Hoàn tất sự độc lập về mặt tình cảm đối vứi cha mẹ và những người lớn khác.
Hoàn tất việc bảo đảm cho sự độc lập về mặt kinh tế.
Đang chọn hoặc chuẩn bị một việc làm.
Chuẩn bị cho hôn nhân và đời sống gia đình.
Phát triển các tài năng và ý niệm trí thức cần thiết để nhận lạnh trách nhiệm dân sự.
Ước ao và hoàn tất trách nhiệm ăn ở ứng xử về mặt xã hội
Thủ đắc một nấc thang giá trị và một hệ thống luân lý đạo đức để hướng dẫn cho cách ăn ở ứng xử (1)
Về mặt thể xác - Cũng cố sức lực.
Trong lúc các thanh niên mười lăm tuổi tiến gần đến tuổi trưởng thành, chúng nhận thức được về trách nhiệm cá nhân và muốn tự mình thực hiện một kỳ công nào đó. Các hướng vươn tới của chúng không chỉ giới hạn trong địa hạt điền kinh mà thôi, nhưng thường được phản ảnh trong địa hạt này.
Tăng trưởng chậm hơn.
Tuy sự tăng trưởng có chậm lại, việc điều phối cơ thể lại tăng lên. Các thanh niên thì cao lên và trăng trọng, và thông thường thì đuổi kịp các thanh nữ, vốn tăng trưởng chậm lại sau 16 tuổi. Sự tăng trưởng ít đòi hỏi năng lượng hơn. Các thanh niên có thể ăn nhiều khác thường.
Giai đoạn mười lăm tuổi khá ổn định và đang hình thành các thói quen cả tốt lẫn xấu. Chúng thường 'thí nghiệm' với thuốc lá, rượu và ma túy do hậu quả của các gương xấu, các sở thích về phương diện thuộc thể, và áp lực của các bạn bè cùng trang lứa. Chúng cần được nhắc nhở về vấn đề phải quản lý thân xác mình (ITi1Tm 5:22; IITi 2Tm 2:20; RoRm 12:1, 2)
Nghĩ về diện mạo, vóc dáng bề ngoài.
Các thanh nữ bận tâm đến cái nhìn và gương mặt, trong khi các thanh niên thì nghĩ đến vóc dáng và sự nhanh nhẹn của thân xác. Cả hai giới đều cần được nhắc nhở rằng vóc dáng diện mạo bề ngoài chỉ là một mặt của sự phát triển đời sống toàn diện. Vẻ đẹp bề trong và sức mạnh thuộc linh cũng quan trọng nữa (ISa1Sm 16:7; IPhi 1Pr 3:3, 4).
Cần các thói quen giữ vệ sinh tốt.
Để mặt sinh lý phát triển được tốt, các thanh niên nam nữ cần:
Có một thời dụng biểu đầu đặn, số giờ ngủ, các bữa ăn và tập thể dục (vận động) thích hợp.
Dứt bỏ mọi lo lắng, vốn ảnh hưởng xấu đến các chức năng sinh lý.
Biết tôn trọng phải lẽ bản thân và tha nhân.
Có kiến thức chính xác về các thay đổi và chức năng của cơ thể.
Biết một số các trách nhiệm phải lẽ về việc làm và hoạt động.
Về mặt trí thức - Nhanh nhạy
Đến đây thì óc phê bình của tuổi thành niên phát triển để có thể phê phán đứng đắn hơn. Giờ đây, chúng có được một vai trò ngày càng lớn hơn trong xã hội khi các khả năng lý luận, tự chủ, tự lập và cái nhìn hướng ngoại được mở rộng.
Đạt được những đỉnh cao mới trong việc suy luận.
Việc phán đoán của các thanh niên mười lăm tuổi vẫn chưa chín chắn, nhưng theo Piaget, các khả năng suy luận của chúng đang phát triển nhanh, và chúng có thể suy nghĩ nhiều vấn đề phức tạp. Chúng thắc mắc đặt câu hỏi 'Tại sao'. Chúng đòi các lý do và dễ dàng chối bỏ những câu trả lời độc đoán quá dễ dãi. Các thanh niên ở lứa tuổi này muốn làm việc với các vấn đề quan trọng có tính cách 'sinh tử' vên cần được hứơng dẫn vào việc truy tầm Lời Thượng Đế.
Óc tưởng tưởng của chúng có tính cách sáng tạo và thực tiễn nhiều hơn. Nó thường là tích cực đối với các khả năng trong tương lai. Nơi các thanh niên mười lăm tuổi, óc tưởng tượng đạt tới một trình độ cao và trở thành căn bản cho các giấc mơ có tính cách lý tưởng và một kỳ công hiển hách. Học tập cách sống cũng quan trọng ngang hàng với học phương pháp mưu sinh.
Biết tự lập và có trách nhiệm.
Thành công đòi hỏi người ta phải có các thói quen tốt, đồng thời với kiến thức. Các thanh niên mười lăm tuổi phải được khép vào kỷ luật trong gia đình cũng như ở học đường, nếu muốn cho chúng biết tự chủ khi sống ngoài hai môi trường ấy. Nhiều cô cậu có thể phát triển tánh tự lập nhiều hơn là tự khép mình và kỷ luật. Những cô cậu nào học tập được để tự khép mình vào kỷ luật nhanh hơn tánh tự lập, sẽ sớm biết trách nhiệm của mình hơn. Việc giáo dục các thanh niên ở lứa tuổi này vẫn chưa thành công trước khi chúng được huấn luyện đào tạo để biết chinh phục chúng cớ thể và tâm trí mình (2).
Tìm cách tự lập.
Những người hướng dẫn phải tôn trọng cá tính của các thanh niên mười lăm tuổi để các năng lực trí thức của chúng có thể phát triển. Chúng phải được khích lệ chọn nghề phù hợp với các sở thích về tài năng riêng của chúng. Việc này chỉ thành công khi nào tấm lòng cũng như bàn tay và đầu óc chúng đều thích hợp với nghề nghiệp được chọn.
Các thanh niên mười lăm tuổi thích tự hình thành lấy các ý kiến riêng. Chúng thường biết quan tâm nhiều đến một số vấn đề hơn là cha mẹ chúng, nhờ sự bùng nổ về kiến thức, các cơ hội được giáo dục của chúng, và ngành thông tin quần chúng. Hậu quả là chúng có thể phát triển thái độ 'biết nhiều biết hết'. Chúng muốn thấy cái gì cũng phải hợp lý, và thường biết sắp xếp các luận cứ lại với nhau rất có thứ tự. Chúng biết tư duy và đặt kế hoạch hợp lý hơn và thực hiện nhiều kế hoạch lâu dài. Các tài năng đặc biệt đang ngày càng già dặn, chín muồi. Việc hướng nghiệp cần được thực hiện trong một môi trường theo Cơ Đốc giáo.
Quan tâm đến tương lai.
Các chân trời của những thanh niên mười lăm tuổi đang được mở rộng để bao hàm một thế giới vượt xa bản thân chúng. Chúng càng quan tâm hơn đến tương lai và chú ý đến số người chung quanh. Chúng đang được nhiều người gợi lên ý rằng ý nọ, mà gây nhiều ảnh hưởng nhất là các bạn bè đồng trang lứa của chúng. Chúng cũng chịu ảnh hưởng của những gì chúng đọc, thấy, nghe và ngành thông tin đại chúng, cũng như của chính từng trải thật sự của mình.
Các thanh niên ở độ tuổi mười lăm vốn cầu toàn và sáng tạo. Khả năng sy luận của chúng cần một 'đầu ra' để bộc lộ. Chúng nhận trách nhiệm, nhưng cần được hướng dẫn. Chương trình dành cho thanh niên cần khai thông mối bận tâm cứ ngày càng tăng trưởng này.
Về mặt xã hội - Thân thiện.
trong lúc các thanh niên ngày càng trưởng thành thì các mối bận tâm về một xã hội sẽ ngày càng được chuyên môn hóa. Chúng cần một nhóm các bạn bè ít người hơn, chọn lọc hơn. Tuy nhiên, chúng vẫn còn tỏ ra thân thiện với tất cả mọi người nằm ngoài số bạn bè thân thiết của chúng. Các thanh niên đang trưởng thành đang hướng ngoại và quan tâm chú ý đến người khác.
Đang hình thành một lai lịch.
Erikson tin rằng vì thể xác chúng đang tăng trưởng nhanh chóng, và vì áp lực của gia đình cũng như của xã hội khiến chúng phải đưa ra nhiều quyết định về ngành giáo dục và nghề nghiệp cho tương lai, các thanh niên cần đặt lại vấn đề để tái xác định cái lai lịch mà chúng đã xây dựng qua suốt các giai đoạn về trước (3).
Do đó, tuổi thanh niên là một giai đoạn quan trọng để hình thành lai lịch. Các thanh niênthích kết thân với bạn bè hơn là với người trong nhà. Các mối dây liên hệ trong gia đình bị nới lỏng, và các mối liên hệ giữa cha mẹ với các thanh niên thường căng thẳng. Vì bạn bè cứ gnày càng trở thành quan trọng hơn đối với chúng, các thanh niên thường muốn chắc chắn rằng những gì chúng tự nghĩ về mình là đúng. Vì số ý kiến xung khắc nhau của các bạn bè ấy, chúng phải quyết định xem mình là ai khi tự quan sát lấy chính hình ảnh của mình và người khác thì nghĩ gì về hình ảnh đó. Điều này có thể gây tai hại cho bản ngã của chúng.
Tuy nhiên, theo Zuck và Benson trong quyển Giáo dục thanh niên trong Hội thánh, các thanh niên là Cơ Đốc nhân có thể tiến hai hoặc ba bước trước các bạn bè đồng trang lứa trong việc hình thành cái lai lịch đó, nếu chúng chịu tin nhận những gì Kinh Thánh dạy về chúng tức là: Theo kế hoạch của Ngài, Thượng Đế đã tạo dựng chúng như chúng hiện có, chúng có trách nhiệm với Ngài và chúng đã được Thượng Đế cứu chuộc nhờ công lao của Chúa Cứu Thế Giê-xu (4).
Muốn liên hệ giao thiệp với người khác phái.
Về mặt xã hội, thì hầu như luôn luôn có mối quan tâm sống động đến phái đối lập. Mỗi người đều tìm cách để được người khác giới ngưỡng mộ và kết bạn với mình. Trong nhiều trường hợp thì đúng hơn là các mối liên hệ ấy, chỉ có tính cách hời hợt mặt ngoài mà thôi. Nói chung thì các thanh niên nam nữ đều cảm thấy thoải mái, và thích tiếp xúc 'xã giao' với nhau, thế thôi.
Chức vụ của Hội thánh cho các thanh niên mười lăm tuổi cần gồm luôn việc giúp các thanh niên nam nữ trong các mối liên hệ và hứa hôn với nhau nữa. Cả Hội thánh lẫn gia đình đều phải giúp đỡ chúng chấp nhận các tiêu chuẩn Cơ Đốc giáo và rèn luyện sự kìm chế bản thân, rất cần thiết cho các mối liên hệ nam nữ lành mạnh.
Rất quan tâm chú ý đến người khác.
Chú ý đến tha nhân dường như là một điểm đặc biệt của các thanh niên. Chúng cần kết bạn, chớ không phải chỉ quen biết suông với nhau mà thôi, và thường có hai hoặc ba bạn thân. Chúng chịu ảnh hưởng của những người lớn đã thành công. Việc quan tâm chú ý đến người khác này cũng được bộc lộ trong việc dấn thân vào các dự án phục vụ tha nhân cách có ý nghĩa, khiến chúng có thể nhìn xa hơn chính mình.
Về mặt tình cảm - Tìm kinh nghiệm.
Đời sống tình cảm của các thanh thiếu niên đang đạt đến tuyệt đỉnh. Chúng cần có được tất cả những rung động và kinh nghiệm mới mẻ - một thái độ có thể nguy hiểm cả về mặt thuộc thể lẫn mặt luân lý đạo đức. Lắm khi, các hậu quả sẽ là việc lái xe ẩu tả, uống ruợu, dùng ma túy, liên hệ tình dục bừa bãi.
Các cảm xúc thì có phẩm chất hơn, nhưng vẫn còn mãnh liệt và rất thay đổi. Tự trọng và muốn được xem như người lớn vốn được quyền ưu tiên cao. Đây có thể là các yếu tố tự chủ rất hữu hiệu đối với tuổi thanh niên.
Chúng hay giấu các cảm xúc và có thể giữ bí mật. Chúng biết phân biệt và hưởng thụ nhiều từng trải, kinh nghiệm khác nhau. Thanh niên ở lứa tuổi này thích đọc sách và xem phim tình cảm và rất dễ đáp ứng lại tiếng gọi của cảm xúc. Điều này có ý nghĩa đặc biệt để đem tình yêu thương của Chúa Cứu Thế đến cho chúng.
Về mặt thuộc linh - Thực tế.#
Các mối bận tâm thuộc linh rất thường thay đổi trong tuổi thanh niên, thế nhưng ở giai đoạn này, nhiều thanh niên đã dâng mình cho Chúa.
Đáp ứng cách riêng tư với đạo.
Góc cạnh cá nhân riêng tư của Cơ Đốc giáo phải được chú trọng. Những ai phục vụ cho lứa tuổi này phải biết chứng minh đức tin của mình bằng một mối liên hệ cá nhân, riêng tư với Chúa Cứu Thế, chớ không phải chỉ bằng một bảng liệt kê những điều được phép và không được phép làm, hoặc một thứ tôn giáo hình thức. Các thanh niên cần cảm thấy an toàn và mục đích của việc hiến thân cho một Thượng Đế có vị phẩm (thân vị, nhân vị: personal). Các Cơ Đốc nhân cùng trang lứa có thể thách thức chúng tốt nhất là bằng lời chứng cá nhân và một nếp sống trước sau như một, nhưng người lớn cũng phải tận dụng mọi cơ hội để đưa các thanh niên chưa được cứu đến với Chúa Cứu Thế.
Các thiếu niên vốn là những chiến sĩ thập tự chinh, và sẵn sàng đáp lại sự thách thức cũng như những lời khích lệ. Chúng muốn có một Cơ Đốc giáo tích cực - một cơ hội để nên người và để hành động. Trong tác phẩm Thấu hiểu Thanh niên Ngày nay, Aleshire bảo rằng cần thách thức các thanh niên suy nghĩ chín chắn các hàm ý luân lý đạo đức của các hành động và cách ăn ở ứng xử của chúng và khích lệ chúng xét kỹ các vấn đề luân lý đạo đức liên hệ với các biến cố đang xảy ra trong cộng đồng của chúng và trên thế giới (5). Đi xa hơn nữa, trong quyển Thanh niên và Hội thánh, Irving và Zuck cũng nhấn mạnh rằng tầm quan trọng của việc thách thức thanh niên tăng trưởng về mặt thuộc linh và phục vụ sẽ được tăng cường do sự kiện sự tiến bộ thuộc linh của người lớn thường theo sau con đường đi đã được xác lập trong tuổi thanh niên (6). Không nên để cho các thanh niên trở thành tự phụ về mặt thuộc linh.
Thích từng trải thuộc linh.
Từng trải thuộc linh nội tâm của các thiếu niên từ 14 đến 17 tuổi có liên hệ chặt chẽ với những đòi hỏi mặc nhiên của các phương diện tình cảm và xã hội. Chúng cần phối hợp các từng trải thuộc linh với các quyết định trọng đời sống. Nếu nhóm bạn của chúng không có cùng những tiêu chuẩn với chúng, thì các hành động của toàn nhóm sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chúng.Cũng như Đa-ni-ên, chúng có thể tự quyết định là giữ mình để khỏi bị ô uế (DaDn 1:8). Sự tăng trưởng của chúng thừng xảy đến theo nhiều bước dài.
Các thanh niên cần những cấp lãnh đạo trung kiên và tận tụy dấn thân. Loại lãnh tụ này không khống chế mà hướng dẫn. Điều đó cho phép các thanh niên tự nhận lấy trách nhiệm về các quyết định có tính cách thuộc linh của mình.
Nghi ngờ đạo.
Các dục vọng nội tâm mãnh liệt chạy ngược chiều với sự hướng dẫn của Cơ Đốc giáo. Những người lớn không kiên định lập trường gây bối rối cho các thanh niên - nhất là nếu đó là cha mẹ chúng, các cán bộ còn trẻ, hoặc các lãnh tụ Cơ Đốc giáo khác. Các thanh niên cũng bối rối do các mục tiêu mâu thuẫn nhau của nhiều nhân viên khác nhau khi tiếp xúc với chúng. Những lời dạy dỗ ở nhà trường có thể làm nảy sinh nghi ngờ. Nhiều câu hỏi trước đó có thể đã không được trả lời đầy đủ. Hoặc đức tin cũng có thể đã được căn cứ trên các cảm thức, chớ không phải là trên Lời Thượng Đế.
Những bậc làm cha mẹ và người lớn khác phục vụ cho thanh niên phải lắng nghe khi chúng nói lên những điều chúng nghi ngờ. Từng trải của chúng khích lệ chúng thắc mắc đặt câu hỏi tìm tòi tra cứu khảo sát các chứng cứ. Lối thắc mắc này cần được tôn trọng, sao cho nó có thể được lợi dụng để truyền dạy sự thật về Chúa Cứu Thế.
Tán thưởng việc thờ phượng.
Tinh thần cởi mở thuộc linh, việc tán thưởng thái độ tôn kính, và sự thờ phượng, có thể là những bước rất thật tiến tới sự thờ phựơng bằng tâm linh và trong chân lý (với lòng chân thành và do Thánh Linh hướng dẫn, GiGa 4:24). Các thanh niên cần được dạy dỗ để 'mặc trang sức thánh mà thờ lạy Đức Giê-hô-va" (Thi Tv 96:9). Chúng cần được từng trải Thượng Đế trong vẻ oai nghiêm, vĩ đại và quyền phép Ngài.
Nếu các thanh niên đã học biết được rằng "Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan" (ChCn 9:10), và "Sự kính sợ Đức Giê-hô-va ấy là ghét đều ác" (ChCn 8:13), tức là chúng đang ở trên con đường thờ phượng có ý nghĩa vậy.
CÁC ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ
Chương trình toàn diện của Hội thánh cho các thanh niên phải là một chương trình có tính cách hoạt động, thăng bằng và nhằm mục đích đáp ứng sự đòi hỏi của chúng về ý nghĩa và mục đích của đời sống. Các thắc mắc mà giới thanh niên nêu ra, phải được giải đáp cách thành thật. Những câu hỏi nào chưa có lời đáo, thì những người phục vụ cho các thanh niên phải thú nhận như vậy, và cũng truy tìm sự thật với họ.
Các thanh niên cần được rèn luyện và giao phó trách nhiệm - tức là được dành cho cơ hội để công tácvà phục vụ. Lời kêu gào của chúng vẫn còn là "Hãy sai sử tôi, hoặc là bị mất tôi". Chúng có thể tham gia nhiều dự án quan trọng, chớ không phải chỉ được giao cho công việc chiếu lệ mà thôi. "Con phải tránh dục vọng tuổi trẻ. Hãy hợp tác với người có lòng trong sạch, tin kính Chúa để theo đòi sự công chính, đức tin, yêu thương và bình an" (IITi 2Tm 2:22), vẫn còn là lời khuyên hợp thời cho các thanh thiếu niên ngày nay.
Những ai phục vụ cho các thanh niên ở lứa tuổi 14 đến 17 phải tự chứng tỏ là mình có tình yêu thương và biết thông cảm, tán thưởng chúng. Trong lúc hướng dẫn, khuyên răn và dạy bảo, thì chính đời sống họ phải quân bình và gương mẫu.
Chương trình cho các thanh niên của Hội thánh phải thách thức chúng tin nhận Thượng Đế và trở thành môn đệ trung thành của Ngài. Các tiêu chuẩn theo Kinh điển được học hỏi tại nhà riêng và trong Hội thánh phải đem đến cho đời sống người thanh niên một ý nghĩa và sự ổn định.
TÓM TẮT
Tuổi thanh niên là giai đoạn hoạt động. Hễ nơi nào có hành động, là có mặt thanh niên! Về mặt sinh lý, các thanh niên đang tiến về tuổi trưởng thành. Chúng cần lập 'kỳ công' trong nhiều địa hạt. Chúng đang học tập ráo riết hơn bao giờ hết và rất 'thông thái'. Chúng ước ao mãnh liệt được tự lập và tự do, nhưng vẫn chưa được chuẩn bị đầy đủ cho tất cả những thực tại và trách nhiệm mà những điều đó đưa đến. Chúng xoay quanh trong chiếc vòng tròn của nhóm bạn bè cùng trang lứa và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, với mối quan tâm sống động đến phái đối lập. Chúng ước ao có được từng trải có phẩm chất và sâu sắc về mặt tình cảm, khao khát những rung động và những từng trải mới mẻ. Chúng quan tâm đến những điều thuộc linh. Các thanh niên là một thách đố và đòi hỏi được thách thức.
CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Đâu là một vài phương pháp để các thanh niên có thể đạt được sự phát triển tốt về mặt sinh lý?
2. Tại sao việc suy luận tự chủ, tự lập và mở rộng tầm nhìn là cần thiết cho các thanh niên?
3. Đâu là những địa hạt xã hội chính yếu có ý nghĩa cho các thanh niên?
4. Kể ra vắn tắt đặc điểm về mặt tình cảm của tuổi thanh niên.
5. Chứng minh kinh nghiệm, từng trải quan trọng như thế nào cho sự phát triển về mặt thuộc linh của người thanh niên.
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Quan sát một thanh niên (14-17 tuổi) mà bạn quen biết. Ghi nhận các đặc điểm trong năm địa hạt phát triển chủ yếu cũng như các nhu cầu và các mối quan tâm đặc biệt của thanh niên ấy. Viết một bài tường trình và đối chiếu những điều các bạn phát giác được.
2. Đánh giá chương trình của HỘi thánh bạn dành cho các thanh niên ở cuối bậc trung học về các mặt nhằm thách thức và đáp ứng các nhu cầu của chúng. Liệt kê các ưu, khuyết điểm và những điều dặn dò.
3. Phỏng vấn một vài thanh niên bằng các câu hỏi sau đây:
Bạn làm gì để có được một đức tin cho riêng mình?
Có bao giờ bạn nghi ngờ đạo (đức tin) của bạn không? Nếu có, điều gì đã khiến bạn nghi ngờ như vậy?
Bạn diễn tả đức tin (đạo) của mình cho người khác như thế nào?
Bạn thích loại buổi nhóm thờ phượng nào nhất? Tại sao?
Thảo luận về những gì bạn học hỏi được từ những câu trả lời cho các câu hỏi này.

GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP
TRƯỞNG THÀNH GIAI ĐOẠN ĐẦU Từ 18 ĐẾN 24 Tuổi
Tuổi trưởng thành gồm một giai đoạn nhiều năm mà một người phải sống hơn bất kỳ một giai đoạn phát triển nào khác. Giai đoạn này dài gấp ba lần tất cả các giai đoạn thuộc các lứa tuổi về trước.
Theo Craig thì từ ngữ trưởng thành (adult) thường ám chỉ một người đã lớn, có tầm thước vóc giạc đầy đủ, một 'người lớn'. "Có một loạt các đặc điểm tâm lý thường được kết hợp với tuổi trưởng thành, là sự độc lập và tự lập về tâm lý, độc lập đưa ra quyết định và một mức độ ổn định, khôn ngoan, đáng tin cậy, hội nhập và thông cảm nào đó. Nhiều nhà nghiên cứu gán cho giai đoạn pha trộn này nhiều đặc điểm khác nhau, và các nền văn hóa khác nhau cũng đòi hỏi nhiều loạt trách nhiệm khác nhau" (1)
Giai đoạn khá dài thuộc những năm trưởng thành đòi hỏi phải chia ra thành nhiều phần nhỏ. Phần đông đều đồng ý ít nhất là có ba giai đoạn chính: giai ođạn đầu của tuổi trưởng thành, giai đoạn giữa của tuổi trưởng thành (giai đoạn trưởng thành thật sự) và giai đoạn trung niên). Rất ít người đồng ý về các ranh giới phân chia, vì thật là không tài nào vạch rõ được thời gian riêng biệt nào để một người chuyển từ cấp bậc này sang cấp bậc kia của tuổi trưởng thành. Tập sách nghiên cứu này sẽ chia tuổi trưởng thành ra làm hai phần. Phần thứ nhất sẽ được gọi là 'trưởng thành giai đoạn đầu' (18-24 tuổi), và phần sau là 'giai đoạn trưởng thành thật sự' (24-34 tuổi).
TRƯỞNG THÀNH GIAI ĐOẠN ĐẦU
Moore đặt tên cho giai đoạn này là giai đoạn chuyển tiếp. Ông vạch rõ đây là những năm nằm giữa giai đoạn giữa của tuổi thành niên và tuổi trưởng thành và có thể nêu lên đặc điểm là tuổi biết quyết định. Những vấn đề như tự túc, nghề nghiệp cho cả đời sống, bạn thân, hôn nhân, phá thai, ma túy, chiến tranh phân phối dân số và cả thế giới đều là những vấn đề mà người trưởng thành ở giai đoạn đầu phải trực diện (2). Hơn nữa, các thanh niên mới lớn, vào thời kỳ này của đời sống, đang tự hỏi những câu như 'Ta là ai?' và 'Ta phải tin gì đây?' Các câu hỏi đó của họ liên quan đến lai lịch, các mối liên hệ và ý (thức) hệ của họ.
Khi khảo xét lứa tuổi này, tốt nhất là nên đinh ninh rằng nó bao gồm các sinh viên cao đẳng, những người đã có công ăn việc làm rồi, các đôi vợ chồng, và những người vẫn còn sống với cha mẹ, hoặc sống một mình hay với một bạn thân.
CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
Nhận xét về giai đoạn thành niên bắt đầu ở lứa tuổi 18, Havighurst vạch rõ rằng trong thời kỳ này, các thanh niên mới lớn đang đối diện với tám nhiệm vụ phát triển. Các nhiệm vụ này được dùng làm các ấu hiệu phát triển hay thươc đo mức độ tiến bộ qua giai đoạn này của từng trải tuổi thành niên.
Tám nhiệm vụ phát triển đó là:
Chọn một người bạn đời (hoặc thích ứng hóa với nếp sống của một người thành nhơn độc thân)
Học tập chung sống vời người bạn đời (vợ hoặc chồng)
Bắt đầu một gia đình
Nuôi dạy con cái (hay học tập liên hệ tiếp xúc với con cái người khác).
Thu xếp một tổ ấm riêng.
Bắt đầu một công việc làm ăn.
Nhận lạnh các trách nhiệm dân sự.
Tìn một đoàn thể xã hội thích hợp (3)
Thêm vào các điều trên là việc thiết lập hay tiếp tục một mối liên hệ phải lẽ, đứng đầu, với Thượng Đế.
Về mặt sinh lý - Giai đoạn sinh học tối ưu.
Trong giai đoạn từ 18 đến 24 tuổi, các thanh niên nam nữ đã đạt đến tuyệt đỉnh của sức sống, sinh lực và sự chịu đựng bền bĩ, dẽo dai. Nói chung thì các thanh niên mới lớn đang ở độ tuổi sung súc, khỏe mạnh hơn trẻ con. Họ đang ở vào giai đoạn sinh học tối ưu 'tuổi xuân phơi phới'. Tử suất ở giai đoạn này thấp nhất so với phần lớn các nhóm tuổi khác.
Các thức mà đa phần các nền văn hóa thừa nhận tuổi xuân về phương diện sinh lý này, là việc tuyển mộ các thanh niên nam nữ ra trận, là những số tiền lớn được chi cho các lực sĩ, các sinh viên thì phải trực diện với việc học hành nghiên cứu ráo riết phải ở nội trú, phải vượt các cuộc thi cử như những rào cản, phải lao động gian khổ, còn các thanh nữ thì phải trông đợi việc làm mẹ (4).
Bắt đầu thành người lớn là đang có được sinh lực sung mãn để dâng mình cho công tác phục vụ Chúa. Vì các thanh niên mới lớn có thể vẫn chưa bước vào một sự nghiệp học kết hôn, họ thường rất thích hợp với công tác truyền giáo ngắn hạn. Vì chỉ hơn các thanh thiếu niên trong Hội thánh địa phương vài tuổi, họ thường có thể hòa mình vào lứa tuổi này và công tác rất hữu hiệu với chúng trong Trường Chúa nhật, trại hè, và công tác câu lạc bộ.
Về mặt trí thưc - Các tác động hình thức
Jean Piaget gợi ý về bốn giai đoạn căn bản trong cách ăn ở ứng xử về mặt trí thức. Giai đoạn thứ tư là 'các tác động hình thức'. Đến giai đoạn này, các thanh niên mới lớn có thể nắm bắt được ý nghĩa biểu tượng và các ý niệm trừu tượng. Họ có thể khám phá ra các giải pháp hợp lý cho một vấn đề, có thể tưởng tượng ra những điều tư duy một cách thực tế về tương lai và hình thành các lý tưởng. Tuy nhiên, nếu việc tư duy có tính cách quá trừu tượng hoặc lý thuyết, các thanh niên mới lớn có thể đảo ngược cách suy luận thành ra cụ thể, vì họ cảm thấy thoải mái hơn trên bình diện này.
Phát triển khả năng suy luận.
Sự phát triển thích hợp với các thanh niên mới lớn rất quan trọng, vì chính trong giai đoạn này, phần trí thức của họ cần giải quyết nhiều vấn đề và đưa ra nhiều quyết định. Khả năng suy luận này giúp người thanh niên mới lớn theo đuổi một sự nghiệp và chọn cho mình một nếp sống thích hợp. Cho nên, đã có người gọi giai đoạn này là 'giai đoạn thành tựu (a chievign period)'.
Bắt đầu chấp nhận ý kiến của người khác.
Craig vạch rõ thêm rằng "Trực diện với nhiều ý kiến dị biệt, bấp bênh và lộn xộn người thanh niên mới lớn bắt đầu chấp nhận hoặc cả là tôn trọng, việc có nhiều ý kiến khác nhau. Họ bắt đầu chấp nhận quan điểm về nhiều người có thể nìn thấy cùng một sự vật sự việc theo hai cách khác nhau tùy theo môi trường cá biệt mà nó nằm trong đó" (5)
Có những nghi ngờ tri thức.
Nghi ngờ đức tin (đạo) của mình về phương tri thức là chuyện bình thường và hải được xem là một phần của tiến trình trưởng thành. Tuy nhiên, trong lúc trẻ con và các thanh thiếu niên trải qua các giai đoạn tri thức khác nhau trong tiến trình tư duy của chúng, những bậc làm cha mẹ và các cấp lãnh đạo HỘi thánh cần giúp chúng phát triển phần kiến thức trí thức liên hệ đến đạo (đức tin) của chúng. Có như vậy, các thanh niên mới lớn mới tìm ra được các lời đáp cho câu hỏi "Tôi phải tin gì?"
Về mặt tình cảm - Tiến tới ổn định
Các thanh niên mới lớn đã có thể kiểu sách tốt các cảm xúc của họ, do đó, có khuynh hướng tránh việc đưa ra các quyết định chỉ căn cứ vào cảm xúc mà thôi. Như vậy, họ cần được khuyên giải bằng lý luân cả khi họ đưa ra các quyết định có tính cách thuộc linh.
Sợ bị bối rối lúng túng.
Tuy họ không còn những nỗi lo sợ của trẻ con nữa, nhưng các thanh niên mới lớn lại sợ bị bối rối lúng túng. Họ có thể bối rối lúng túng trong các mối liên hệ với người khác phái, bồn chồn bất an về công việc làm, học hành, và tương lai liên hệ với ý chỉ Thượng Đế đối với cuộc đời. Có một phương pháp để họ bù trừ cho những nỗi âu lo này là cứ miệt mài đọc sách hoặc bỏ cả ăn.
Cô đơn giả tạo.
Nhiều khi các thanh niên mới lớn bị cô đơn, vì họ cảm thấy khó liên hệ tiếp xúc với các bạn bè cùng trang lứa. Họ có thể gặp cám dỗ sống bừa bãi khi chiến đấu chống lại việc thỏa mãn các nhu cầu về tình cảm. Họ muốn được tự do đối với mọi cam kết và trách nhiệm, thế nhưng lại muốn có được một mối liên hệ (bạn) thân thiết và có ý nghĩa.
Về mặt xã hội - Tự lập, độc lập
Các cảm thức xã hội có thể tăng cường phát triển và mở rộng, khi nhiều tình bạn mới mẻ và bền lâu được thiết lập trong những năm học đại học và bắt đầu gây dựng sự nghiệp. Tuy các thanh niên mới lớn luôn luôn tìm cách cắt đứt với gia đình trong khi tìm cách khẳng định lai lịch của mình họ vẫn cần đến sự an toàn của gia đình.
Tư duy độc lập.
Các thanh niên mới lớn đang học tập tư duy một cách độc lập, và không còn chấp nhận các ý kiến của số đông nữa. Họ thích những cuộc 'đấu lý' liên hệ đến các vấn đề hằng ngày. Họ chấp nhận những người cãi lý với họ và thích tranh luận với những người không chịu cãi lý. Họ thích đoạt vai trò lãnh đạo trong nhiều tổ chức khác nhau.
Đang thiết lập các mối liên hệ có ý nghĩa.
Theo Craig "Vào giai đoạn đầu của tuổi thành niên, sự phát triển củ yếu gây xung đột, tranh chấp là thân mật chống lại cô lập. Sự thân mật mà Erikson đề cập liên quan sâu xa hơn là sự thân mật về phương diện giới tính. Nó là khả năng chia xẻ chính bản ngã với một người khác thuộc bất luận giới nào mà không sợ đánh mất chính lai lịch của mình" (6)
Đương đầu với nhiều vấn đề nghiêm trọng.
Sự chuyển tiếp tuổi thanh thiếu niên sang giai đoạn thành niên thường kèm theo nhiều vấn đề nghiêm trọng. Có một nhà văn gợi ý những điểm sau đây: ly dị, tự tử, bỏ học cao đẳng, các vấn đề về tình dục, phạm tội ác và các vấn đề rối loạn tổng quát của nhiều thanh niên mới lớn - việc không đủ khả năng gắn bó hoặc thích ứng với xã hội và một khuynh hướng chẳng coi luật pháp ra gì cả. "Việc sử dụng ma túy, giữa vòng một số tanh niên mới lớn vốn có liên hệ nhiều với tình trạng tâm lý tổng quát này, hơn là với bất luận một lý do nào khác" (7)
Các thanh niên mới lớn rất dễ bị trôi lạc xa Hội thánh. Thế nhưng, không hề có thời kỳ nào khác trong đời sống một người, một mối liên hệ phải lẽ, đứng đắn với Thượng Đế lại cần thiết hơn là trong giai đoạn mà mọi người đang phát triển một triết lý cho đời sống mình, đang chọn những người bạn đồng công cộng tác với mình suốt đời.
Về mặt thuộc linh - Đang tăng trưởng.
Ngay từ đầu giai đoạn này, các thanh niên mới lớn thắc mắc đặt vấn đề về đạo và các niềm tin của mình. Các thắc mắc là bình thường, và các thanh niên m]1i lớn sẽ không bị mất đức tin chỉ vì đòi hỏi lý do để mà tin.
Đang thắc mắc về các niềm tin của mình.
'Ta phải tin gì?' là câu hỏi các thanh niên mới lớn đặt ra khi tìm cách hình thành một triết lý về đời sống. Trước khi trả lời được câu hỏi này, các thanh niên mới lớn thiếu mất phần động cơ qua đó họ có thể đưa các ấn tượng về cuộc đời của họ vượt qua sự thử nghiệm. Các trường cao đẳng và thế giới của công ăn việc làm thường trình bày các quan điểm mâu thuẫn với các quan điểm về đời sống, có thể thách thức các sinh viện không có được một nền móng vững chắc bằng Lời Thượng Đế.
Cần được hướng dẫn về các ân tứ thuộc linh và ý chỉ Thượng Đế.
Nhiều thanh niên mới lớn không ý thức được các ân tứ thuộc linh của họ, hoặc ý chỉ của Thượng Đế đối với đời sống của họ. Nhiều người cảm thấy thời dụng biểu quá bận rộn của họ không cho phép họ có thì giờ nghiên cứu học hỏi Kinh Thánh và cầu nguyện hằng ngày. Tuy nhiên, cảm thấy như vậy sẽ cắt đứt họ khỏi nguồn mạch chính yếu để khám phá ra ý chỉ Thượng Đế. Cả khi họ có thể được ân tứ truyền giảng Phúc âm, họ vẫn không thể chia xẻ đức tin của mình vì thiếu tin quyết, hoặc tài năng, hoặc có thể cảm thấy mình chẳng có người bạn nào là người không tin Chúa cả.
Có thể cho rằng Hội thánh không hợp thời nữa.
Một số thanh niên mới lớn cho rằng Hội thánh không còn hợp thời nữa, không phải vì Thượng Đế không còn hợp thời hay vì họ chống đạo, nhưng đối với một số, là bởi vì các Cơ Đốc nhân 'người lớn' chỉ 'đóng trò', 'thủ vai' tín hữu, chớ không sống thật cuộc đời làm Cơ Đốc nhân thủy chung như nhất và chiến thắng. Nhiều người khác cho rằng bức thôn điệp của Kinh Thánh đã lỗi thời rồi căn cứ vào việc Hội thánh đã không thấy các vấn đề của họ theo như quan điểm của họ.
Tìm những lời giải đáp do Hội thánh cung cấp.
Có một công trình nghiên cứu những người thuộc nhóm này bảo rằng tuy các thanh niên mới lớn có thể xao lãng các trách nhiệm mới của họ và chẳng quan tâm chú ý gì đến Hội thánh, họ vẫn đang rất cần đến những gì Chúa Cứu Thế và Hội thánh phải cung ứng cho họ. Rời khỏi các ràng buộc của gia đình có thể khiến họ rất cần có bạn mới. Những từng trải trong công việc làm mới có thể vạch rõ cho họ thấy các hạn chế của mình. Các trách nhiệm đối với gia đình có thể làm lung lay lòng tự tin trước đó của họ. Các thanh niên mới lớn thường cởi mở và biết ơn bất kỳ một sự trợ giúp nào có thể giúp họ tìm ra các câu trả lời cho những vấn đề của họ (8)
CÁC ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ
Có một mệnh lệnh của Chúa mà chúng ta bị bắt buộc phải tuân theo, là phải đưa những người không tin Chúa đến với Ngài - trong đó có những thanh niên mới lớn. Ngài là Đấng duy nhất có thể đem đến ý nghĩa và mục đích của đời sống cho người ta. Ngài ban cho người ta lòng can đảm và sự khôn ngoan.
Trong Hội thánh, các thanh niên mới lớn phải gặp được Cứu Chúa để tin nhận Ngài làm cứu Chúa mình, tìm được các bạn thân chọn được người bạn đời và được trợ giúp để xác định một nghề nghiệp cho cả đời mình. Ở đây, họ có thể tìm được các cơ hội để hoàn thành công tác phục vụ Chúa.
Một chức vụ có tầm quan trọng sinh tử cho các thanh niên mới lớn là một thách thức. Nó phải bắt đầu bằng việc đến gặp họ bất luận họ đang ở đâu - ngay giữa lúc họ đang có nhu cầu. Chìa khóa cho chức vị này thường là các cấp lãnh tụ năng động, có nhân cách, thuộc linh.
Sự sinh hóa thuộc linh rất quan trọng trong giai đoạn này. Loại di sản thuộc linh (hay thiếu mất nó) mà những thanh niên mới lớn để lại cho con cái họ sẽ ảnh hưởng lớn lao đến thế hệ sau. Những thanh niên mới lớn nhưng sống độc thân vẫn có thể có ảnh hưởng quan trọng trong việc đưa nhiều thiếu nhi và thanh thiếu niên đến với Thượng Đế. Các thành viên thuộc lứa tuổi này cần được được truyền dạy các nguyên tắc truyền giảng và làm chứng đạo để phục vụ Chúa. Họ tập tuyển chọn người làm môn đệ Chúa cũng rất quan trọng.
Hội thánh có thể đi ra để đến với các thanh niên mới lớn thông qua chức vụ cho trẻ sơ sinh và mới biết đi chập chững, truyền giảng cho bạn bè, các lớp học Kinh Thánh tư gia, cũng như qua chương trình dạy dỗ, thờ phượng, thông công và giờ nhóm lại. Cần chọn các chương trình giáo dục trong Hội thánh để đáp ứng cac nhu cầu như dạy dỗ, thờ phượng và thông công nhau trong gia đình.
Quý vị mục sư biết quan tâm cần gần luôn công tác khải đạo về hôn nhân và xây dựng gia đình vào đây, như một thành phần của chức vụ của mình. Khi Hội thánh cung ứng được một chức vụ thành công cho các thanh niên mới lớn, họ sẽ giữ lòng tôn trọng với Chúa Cứu Thế và sẽ là những cha mẹ tốt của con cái họ.
TÓM TẮT.
Tuổi trưởng thành ở giai đoạn (18-24 tuổi) là thời kỳ chuyển tiếp, khi người thanh niên mới lớn trực diện với các nhiệm vụ phát triển nhằm chuẩn bị và bắt đầu một nghề, chọn người bạn đời và sanh con cái.
Về mặt sinh lý, các thanh niên mới lớn đang vào độ thanh xuân, về mặt trí thức họ có khả năng giải quyết các vấnđ ề và đưa ra nhiều quyết định. Việc họ thắc mắc đặt vấn đề về đạo đức là bình thường và thuộc về tiến trình tăng trưởng. Tuy về mặt tình cảm, họ khá ổn định, họ vẫn lo lắng trong các mối liên hệ với người khác phái, chuyện học học và tương lai. Về mặt xã hội, họ độc lập hơn khi phải rời xa gia đình. Trong giai đoạn này, họ đang đảm nhiệm nhiều vai trò lãnh đạo trong trường cao đẳng cũng như trong Hội thánh. Vai trò quan trọng nhất của họ có lẽ là phát triển một mối liên hệ có ý nghĩa trong hôn nhân. Về mặt thuộc linh, họ đang tăng trưởng khi tự giành lấy quyền làm chủ về đạo (đức tin) của mình. Lắm khi họ thiếu hiểu biết về các ân tứ thuộc linh của mình và về ý chỉ của Thượng Đế đối với cuộc đời mình. Hội thánh và bức thông điệp của Kinh Thánh lắm khi có thể trở thành bất hợp thời. Một chức vụ quan trọng cho các thanh niên mới lớn trong Hội thánh là thiết yếu cho sinh hoạt và chức vụ của Hội thánh cứđược tiếp tục.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Bạn mô tả tuổi trưởng thành giai đoạn đầu như thế nào về mọi mặt sinh lý, trí thức, tình cảm xã hội và thuộc linh - chỉ bằng mươi chữ mà thôi.
2. Thảo luận sự thách thức của việc đáp ứng các nhu cầu về mặt xã hội cho các thanh niên mới lớn, và Hội thánh làm thế nào để đáp ứng các nhu cầu ấy.
3. Tại sao giai đoạn này thường là thời kỳ căng thẳng và khó khăn về mặt tình cảm?
4. Liệt kê và giải thích các nan đề thuộc linh mà các thanh niên mới lớn phải đương đầu.
5. Hội thánh có thể làm gì để giúp các thanh niên mới lớn cảm thấy Hội thánh vẫn còn hợp thời cho đời sống của họ?
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Thảo luận các sở đoạn thuộc linh mà các thanh niên mới lớn phải đương đầu và các định xem Hội thánh có thể đáp ứng từng điểm một như thế nào.
2. Phỏng vấn nhiều cấp lãnh đạo trong Hội thánh của bạn và các Hội thánh phải làm gì để phục vụ liên tục cho các thanh niên mới lớn.
3. Hội thánh có thể phục vụ các thanh niên mới lớn trong cộng đồng của bạn theo rất nhiều phương diện khác nhau nào?

THẬP NIÊN PHÁT TRIỂN
TRƯỞNG THÀNH THẬT SỰ Từ 25 ĐẾN 34 Tuổi
Sau khi bắt đầu giai đoạn trưởng thành qua những năm chuyển tiếp để học lên cao và hoặc bắt đầu một nghề, các thanh niên tiếp tục tiến trình trưởng thành suốt thậư niên phát triển và tăng trưởng tiếp theo đó. Theo Moore những năm đầu của giai đoạn này bao gồm "...một loạt nhiều cơn khủng hoảng cần phải giải quyết nếu người ta muốn chuyển sang giai đoạn trưởng thành một cách bình thường và đầy đủ" (1). Tuy có một vài cơn khủng hoảng trong số đó vốn không phải là khó giải quyết, điều cần thiết là người ta vẫn phải bước theo nẻo đường bình thường của cuộc sống để tiến sang giai đoạn trưởng thành.
Như đã được trình bày trong chương trước, giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành tương tự với giai đoạn "chuyển tiếp đầu tiên sang tuổi trưởng thành" của Levinson - nghĩa là giai đoạn từ 17 đến 22 tuổi. Ông này chia giai đoạn trưởng thành thành: "Bước vào thế giới trưởng thành" (23-28 tuổi); "Cuộc chuyển tiếp ở tuổi 30" (28-33 tuổi); và "Thu xếp xong xuôi" (33-40 tuổi) (2). Chương sách này quan tâm đến lứa tuổi từ 25 đến 34.
CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
Các nhiệm vụ phát triển đối với thanh niên mới lớn của Havighurst đã được đề cậư ở chương trước rồi. Ở đây, điều hữu ích cần ghi nhận là giai đoạn phát triển trung tâm của tuổi thanh niên mới lớn trong các tuổi và giai đoạn về chu kỳ của đời sống theo Erikson, là "thân mật hay cô lập". Sự thân mật liên hệ với tài năng liều lĩnh để liên hệ gần gũi thiết thân hơn với người khác. Khuynh hướng trái ngược với nó là cô lập hóa. Cái đức hạnh hay sức mạnh nảy sinh ra để tạo thế quân bình tiến tới việc liên hệ thân mật, là đức hạnh hay sức mạnh của tình yêu thương (3).
Về mặt sinh lý - Một đỉnh cao
Người thành niên hoàn tất việc hội nhậư ể phát triển lần cuối cùng cho những năm đầu của giai đoạn này, đạt được sự phát triển đầy đủ cho bộ xương và các bắp thịt, là giữa 20 và 30 tuổi. Việc điều phối, làm chủ, và trưởng thành đã trở thành hiển nhiên.
Đạt được sức lực tối hậu của thân thể.
Cao điểm của sức mạnh bắp thịt theo chiều dọc (tự ý) thường đạt được giữa những năm từ 25 đến 30 tuổi "Sức lực thuộc tể đạt mức tối đa giữa 15 và 30 tuổi; sau tuổi 30, nó giảm dần nhưng theo một cách có ý nghĩa. Bất chấp các dấu hiệu của tuổi già, phần lớn các kỹ xảo và tài năng thuộc thể vẫn tồn tại ở bình diện để có thể hoàn thành chức năng của chúng, nếu được rẻn luyện đều đặn" (4). Sức dẻo dai bền bĩ thuộc thể đạt tới tuyệt đỉnh của nó đồng thời với việc chuyên môn hóa các kỹ xảo. Tốc độ đáp ứng và tài năng học tập, các kỹ xảo mới về máy móc đạt đến tuyệt đỉnh vào khoảng giữa những năm hai mươi tuổi. Sống giữa một thế giới bận rộn và ngày càng bành trước rộng thêm, các năng lực thuộc thể đạt đến mức cao nhất trong khoảng từ 25 đến 34 tuổi. Tuy nhiên, đến gần cuối giai đoạn này khả năng thích ứng thuộc thể có thể bắt đầu suy giảm. Tốc độ suy giảm có thể được kéo chậm lại bằng những nỗ lực kiên trì để giữ gìn sức khỏe thật tốt và các điều kiện sinh lý thích hợp qua việc ăn uống, tập thể dục đều đặn và các thói quen dưỡng sinh.
Có sức khỏe tốt.
Phần đông những người trưởng thành đều có sức khỏe tốt. Họ vẫn chưa phải nếm trải các vấnđ ề về thể xác của tuổi trung niên. Đa phần các lực sĩ đều đạt phong độ sung mãn nhất trong giai đoạn này. Kỹ xảo thuộc thể để làm công việc cần thiết cho người thanh niên trưởng thành đạt được mức kiến hiệu tối đa của nó. Tuy nhiên, cần lưu ý là tuy 'có thể chẳng cảm thấy các triệu chứng, nhiều dấu hiệu bệnh tật sẽ gây rắc tối cho đời sống về sau, như các bệnh về tim, phổi thận các vấn đề của các khớp và của xương, các chứng sưng khớp, sưng gan, đang bắt đầu phát triển" (5)
Có khuynh hướng làm quá sức.
Áp lực của thói quen làm việc hằng ngày ở nhà riêng và ở sở làm vốn liên tục và hết sức nặng nhọc. Người ở lứa tuổi này rất thường vận động quá sức của thể xác mình hầu giữ vững nghề nghiệp và có đầy đủ tài chánh. Hậu quả là các vấn đề về sức khỏe cũng như về gia đình có thể nảy sinh do phí phạm quá nhiều thì giờ để sống xa nhà.
Thiết lập một gia đình và có lẽ là bắt đầu một gia đình phù hợp với phần năng lực sung mãn hiện có thường đánh thức hoặc làm mới lại mối quan tâm đối với công việc Chúa. Các nhóm thông công của các thanh niên đã trưởng thành và nhiều hoạt động cho các ấu nhi và thiếu nhi trong Hội thánh, có thể trở thành quan trọng. Các thanh niên đã trưởng thành cần tránh sự trống rỗng của một đời sống quá bận rộn. Làm việc quá nhiều, cả khi làm việc cho Chúa, đống thời với việc quá chú trọng vào sinh kế thường dẫn tới các vấn đề về căng thẳng thần kinh liên hệ.
Về mặt trí thức - Có khả năng đầy đủ.
Các thanh niên trưởng thành tiếp tục có nhiều khả năng học hỏi điều mới lạ. Họ vốn cầu toàn độc lập, thích phiêu lưu mạo hiểm. Giờ đây, đời sống có một mặt thực tại mới, tuy nhiên cũng có một số các giấc mơ lãng mạn đã phai tàn.
Phát triển khả năng lý luận
Lứa tuổi này đã phát triển đầy đủ các tài năng suy luận. Lý trí càng đi đôi nhiều hơn với các niềm tin cá nhân. Các mối quan tâm tổng quát và quan tâm học hỏi càng được chuyên môn hóa hơn - được tập trung vào một công việc nào đó của đời sống.
Thừa nhận các ý kiến của tha nhân.
Các thanh niên đã trưởng thành quan tâm đến những gì người khác nghĩ. Họ hòa mình vào với vị trí của lịch sử và các uy quyền hiện hữu. Một số có thể chú trọng vào kinh nghiệm hiện tại mà khinh thường truyền thống, thách thức các uy quyền.
Tiếp tục giải quyết các nghi ngờ
Những nghi ngờ tri thức có thể còn tồn tại do chúng vẫn chưa được giải quyết qua suốt các giai đoạn của tuổi thanh thiếu niên. Tới tuổi này thì rõ ràng là một đức tinđược chứng nghiệm qua từng lứa tuổi đã là một đức tin được củng cố chống lại nghi ngờ và hoài nghi chủ nghĩa.
Chúa Giê-xu năng học hỏi của các thanh niên đã trưởng thành. Họ cần thấy rõ đức tin (đạo) của họ là một đức tin hữu lý tự đào sâu vào trong Lời Thượng Đế, và học tập chia xẻ đức tin của mình với tha nhân.
Về mặt tình cảm - Tiến bộ trong ổn định.
Tiếp tục trưởng thành về mặt tình cảm qua giai đoạn này là điều thiết yếu cho tuổi thành nhơn thật sự. Các tình cảm sâu sắc và tế vi hơn sẽ hoặc được củng cố hoặc suy yếu đi. Những dấu hiệu cho thấy các thanh niên trưởng thành đã là những con người chín chắn, ộc lập, là thái độ ôn hòa, từ tốn.
Các thanh niên ấy có khuynh hướng bước vào tuổi thành nhơn một cách lạc quan với nhiều hoài bão. Sau đó nếp sống sẽ lần lần được tổ chức lại, khi cuộc chiến đấu giữa các giấc mơ với thực tại, phần lý tưởng với những gì kinh nghiệm. từng trải, cứ tiếp diễn. Lý tưởng chủ nghĩa sẽ được thực tại và kinh nghiệm thực tế xoa dịu.
Những biến đng bất ngờ về tình cảm có thể đột ngột chen vào những năm đầu phấn khởi và hạnh phúc này qua những chán nản, thất vọng tiếp theo là việc thích ứng hóa để điều chỉnh tình hình. Các thanh niên mới thành người lớn còn độc thân phải đương đầu với cô đơn và nhiều cám dỗ trong khi phấn đấu thỏa mãn các nhu cầu tình cảm của mình. Cả đến những thanh niên đã có gia đình cũng không phải là không gặp nhiều vấn đề khi cần phải học tập để thủ nhiều vai trò mới.
Hạnh phúc thay cho những thanh niên độc thân đã đạt được bậc thành nhơn. Sau đó, nếu có lập gia đình, các thanh niên đã thành người đầy đủ, trọn vẹn đó, cũng sẽ trở thành những người bạn đời, những bậc làm cha mẹ chín chắn, đứng đắn. Họ không mang theo vào giai đoạn này của đời họ những vấn đề tình cảm chưa giải quyết xong của thời kỳ mới lớn. Họ có thể phát riển sự trưởng hành về phương diện tình cảm có được một cái nhìn sáng suốt vào các lối sống và các từng trải của mình, nhằm cải thiện phần đức hạnh của cuộc đời họ.
Về mặt xã hội - Tập trung vào gia đình.
Những tình bạn mới mẻ và lâu bền được thiết lập trong giai đoạn ở trường cao đẳng và những năm bắt đầu sự nghiệp được củng cố và phát triển, sẽ cứ tiếp tục trong giai đoạn thành nhơn và có lẽ là cả trong đời sống gia đình của những đôi vợ chồng trẻ nữa. Nếp sống xã hội sẽ xoay quanh các vấnđ ề then chốt, là bạn bè, gia đình, các đoàn thể đang có sẵn và được tổ chức hẳn hoi.
Một số thanh niên đã thành nhơn còn trì hoãn việc lập gia đình đến tận những năm cuối hai mươi hoặc đầu những năm ba mươi tuổi. Một khi đã có gia đình rồi, họ sẽ tập trung mọi quan tâm cú ý vào gia đình và những gì có lợi ích cho gia đình. Họ phải điều chỉnh các mối liên hệ hỗ tương với người bạn đời, với cha mẹ, con cái họ, và với gia đình bên vợ, bên chồng.
Charles Sell viết "Chức vụ tuyển thêm môn đệ của Hội thánh tìm được một nền móng tự nhiên trong các tư gia và gia đình, là nơi trẻ con cũng như người lớn đều phải được trưởng dưỡng, phát triển để trưởng thành. Phải trở thành một Cơ Đốc nhân trong gia đình là một quyết lệnh cũng như một lời thách thức đối với Cơ Đốc nhân (PhuDnl 6:1-9; Eph Ep 5:22-6:4; CoCl 3:18-24). Trong những gia đình đang xào xáo ngày nay, muốn đưa lời giáo huấn của Kinh điển vào phía sau cửa chính của một tư gia, vốn không phải là luôn luôn dễ dàng. Hội thánh phải khích lệ việc trưởng thành các nhân bằng cách đẩy mạnh sự tăng trưởng của gia đình, bởi vì các giai đoạn (tăng trưởng, phát triển) của các cá nhan bao giờ cũng được đan dệt hết sức phức tạp với các giai đoạn (tăng trưởng, phát triển) của gia đình" (6).
Đây có thể là những năm cô đơn của những thanh niên trưởng thành còn độc thân đang chiến đấu để tự giải thoát khỏi gia đình và thiết lập những tình bạn có ý nghĩa trong một xã hội đang hướng vào việc lập gia đình. Những thanh niên trưởng thành còn độc thân thường tham gia nhiều hơn vào công tác đoàn thể và quan tâm đếnc ác vấn đề xã hội. Trói buộc họ vào các trách nhiệm trong gia đình, là hạn chế đời sống xã hội của họ.
Trong sinh hoạt hướng nghiệp, cũng phải có việc điều chỉnh. Nhiều vấnđ ề thường nảy sinh liên hệ đến các mối giao thiệp với những người hùn hạp làm ăn và công việc làm có thể đòi hỏi nhiều thì giờ ở nhà, và sinh hoạt xã hội bị ảnh hưởng.
Về mặt thuộc linh - Xây móng
Ngay từ đầu giai đoạn, các thanh niên đã trưởgn thành tái thẩm định các tư tưởng tôn giáo và các niềm tin. Việc làm này có mục đích tốt, vì về phương diện thuộc linh, đây là những năm nền móng, dẫn tới nếp sống thành công khi đã trưởng thành.
Thực tại của tuổi thành nhơn cùng với các áp lực của nó đòi hỏi một đức tin tăng trưởng, năng động. Nếu đức tin không được đâm rễ vững nền, và nếu lòng trung thành với Chúa Cứu Thế, và Hội thánh Ngài không được tái tạo nên mới, thì các mối bận tâm thuộc linh sẽ bị che mờ và sụp đổ.
Thanh niên đã trưởng thành ở lứa tuổi này nhiều khi có khuynh hướng duy vật. Ước muốn có tiền và tìm kiếm những cái tạm thời có thể tăng trưởng khó kiểm soát nổi. Cần phải nhớ lời dặn bảo của Chúa "Phải đề phòng, đừng để lòng tham lam lôi cuốn vì đời sống con người không cốt ở chỗ giàu có dư dật đâu" (LuLc 12:15). Các thanh niên mới lớn phải nhớ rằng Thượng Đế là Đấng cao cả và đứng hàng đầu, cho nên phải làm mọi sự vì vinh hiển Ngài (ICo1Cr 10:31).
Hoạt động và công việc làm ăn có thể cầm quyền trên những điều thuộc linh. Trong những ăm chuẩn bị hành nghề và trong lúc mưu sinh, các thanh niên mới lớn phải nhớ rằng họ cũng đang đồng thời xây dựng một đời sống nữa.
CÁC ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ.
Công tác truyền giảng Phúc âm vẫn tiếp tục là quan trọng suốt những năm thành nhơn. Đưa các thanh niên đã trưởng thành đến với Chúa Cứu Thế phải tiếp tục được dành ưu tiên.
Trong việc thiết lập mối liên hệ cá nhân với Chúa Cứu Thế, các thanh niên đã trưởng thành phải thấy được một kải tượng về những gì Chúa đòi hỏi nơi mình. Lois LeBar từng phác họa điều Chúa đòi hỏi nơi họ như sau:
Luôn luôn trưởng thành trong các sinh hoạt thuộc linh,
duy trì một gia đình Cơ Đốc giáo vui vẻ,
phát triển và tận dụng các ân tứ thuộc linh của mình
đảm trách một công việc tốt trong Hội thánh,
truyền giảng Phúc âm cho những người mà mình tiếp xúc một cách tự nhiên ngoài Hội thánh,
và dự phần vào các công việc của cộng đồng (7).
Điều này áp dụng cho mọi lứa tuổi trưởng thành, nhưng chắc chắn phải là một khải tượng cho nhưng người ở giai đoạn sau của tuổi thanh niên.
Khi người ta tự hướng vào việc đáp ứng các hoãi bão này, thì chắc chắn cũng sẽ ý thức được rõ ràng hơn các nhu cầu của mình. Chức vụ tiếp tục giáo dục và trang bị của Hội thánh phải tích cực giúp đáp ứng các nhu cầu này, do đó, sẽ trang bị các thánh đồ cho việc phục vụ và gây dựng thân thể của Chúa Cứu Thế (Eph Ep 4:12)
TÓM TẮT
Chiều dài của tuổi thành niên thách thức chức vụ của hội thánh. Từ ngữ thành nhơn (adult: thanh niên đã lớn) khẳng định sự tăng trưởng đầy đủ về mặt thể xác và tiếp tục tăng trưởng về các lãnh vực khác - là các phương diện trí thức, tình cảm, xã hội và thuộc linh.
Về mặt thể xác những người ở lứa tuổi từ 25-34 đã được trang bị để nhận lãnh sự nhọc nhằn và căng thẳng cần thiết để làm một người lớn tự lập.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Sử dụng chỉ một chữ cho từng đặc tính một, để mô tả người thanh niên đã trưởng thành về các phương diện thể xác, trí thức, tình cảm, xã hội và thuộc linh
2. Điều gì ảnh hưởng đến sự phát triển về mặt tình cảm của những thanh niên đã thật sự trưởng thành?
3. Hội thánh có thể làm gì để giúp đỡ tốt nhất cho việc chuẩn bị những người thanh niên đã trưởng thành trong việc kết hôn và thiết lập một gia đình lấy Chúa Cứu Thế làm trung tâm?
4. Hội thánh có thể làm gì để đưa các thanh niên đã trưởng thành đối với Chúa Cứu Thế?
5. Bạn sẽ mô tả sinh hoạt xã hội củ anhững thanh niên đã thật sự trưởng thành mà bạn quen biết, là có đặc điểm gì?
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG.
1. Xác định một chương trình mà một Hội thánh có thể sử dụng nhằm chuẩn bị cho các thanh niên đã trưởng thành trong việc kết hôn và xây dựng gia đình theo Cơ Đốc giáo.
2. Làm thế nào để Hội thánh có thể đến với tất cả các thanh niên đã trưởng thành trong cộng đồng hầu đưa họ đến chổ tin nhận Chúa Cứu Thế, trong khi các trình độ học vấn của họ vốn rất khác xa nhau?
3. Soạn thảo một chương trình công tác xã hội cho Hội thánh, sẽ đáp ứng được các nhu cầu của những thanh niên đã trưởng thành.

NĂNG LỰC CỦA CỘNG ĐỒNG
TRUNG NIÊN Từ 35 ĐẾN 64 Tuổi
Về nhiều phương diện, tuổi trung niên là một trạng thái tâm hồn, hơn là một hạng tuổi tính bằng năm. Các năm từ 35 đến 64 tuổi vốn được chọn là do các yếu tố xã hội và tâm lý, nhiều hơn là căn cứ vào thứ tự thời gian. Phần lớn các nhiệm vụ phát triển, của tuổi thành nhân đã hoàn tất vào những năm đầu của tuổi ba mươi. Tuổi trung niên trưởng thành và đào âu.
Sau khi đã phát hiện và mở rộng thế giới trong tuổi trưởng thành, những người ở lứa tuổi trung niên nhận thấy phần mở rộng ấy sẽ bị xét bớt đi, để chuyển sang hướng đào sâu và tăng cường cho các mối liên hệ và các kinh nghiệm. Người ở lứa tuổi trung niên cần hội nhập toàn thể các nhân cách của mình chung quanh Chúa Cứu Thế, vì Cơ Đốc nhân tìm được sức mạnh và sự sâu nhiệm trong một đời sống lấy Chúa Cứu Thế là trung tâm để Ngài cai trị, kiểm soát phần tâm linh của mình.
Các ý niệm vì 'sáng kiến chống lại sự tù đọng' theo Erikson là đặc điểm của sự thách thức chủ yếu mà những người ở lứa tuổi trung niên phải đương đầu. Con người có sáng kiến đã có được một lai lịch trưởng thành. Khi sáng kiến đã thắng được sự tù đọng (hay thế quân bình đã được thiết lập thì đời sống của những người ấy tự chính mình là có sinh lực, hoặc có đức hạnh là biết quan tâm (đến người khác) (1)
Năm đặc điểm của giai đoạn này là thành tựu, vững lập, trách nhiệm, đánh giá và điều chỉnh.
Trong tuổi trung niên, một người phải có khả năng thành tựu đến mức tối đa nghề ngiệp hay thiên hướng (vocation) của mình. Những việc điều chỉnh đi rồi điều chỉnh lại trng gia đình cũng phải được thực hiện thật nhanh chóng. Havighurst nói về tuổi trung niên rằng "Bằng sự thông hiểu ngày càng gia tăng việc quản lý cả đời sống (mình), những đàn ông và phụ nữ khám phá ra tính cách hữu ích đầy sáng tạo nơi Hội thánh, gia đình và cộng đồng - nhận ra được ngày càng sâu sắc hơn các ý nghĩa và những mãn nguyện của đời sống" (2)
CÁC NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
Trong giai đoạn trung niên, các nhiệm vụ sau đây được trông mong phải hoàn tất:
Hoàn tất về các phương diện dân sự và xã hội
Thiết lập và duy trì một tiêu chuẩn về kinh tế để mưu sinh.
Giúp đợ các thanh thiếu niên trở thành những người lớn biết trách nhiệm và có hạnh phúc.
Phát triển các hoạt động trong các thì giờ nhàn rỗi của người lớn.
Liên hệ với người bạn đời với tư cách người chồng (hoặc người vợ)
Chấp nhận và thích ứng với những biến chuyển sinh học của tuổi trung niên.
Thích ứng với những bậc làm cha mẹ đã cao tuổi (3)
Thêm vào các nhiệm vụ trên đây, là một chiều kích thuộc linh: thiết lập hoặc duy trì mối liên hệ phải lẽ với Thượng Đế.
Về mặt sinh lý - Bắt đầu suy thoái. Các người lớn đến tuổi trung niên đã vượt qua tột đỉnh của sự thành công về mặt sinh lý. Trong những năm này của đời sống, tuy họ phải từng trải một sự suy giảm từ từ khả năng của cơ thể để hoạt động hằng ngày tiêu biểu. Tuy nhiên, khi số tuổi cứ ngày càng chồng chất và tình hình cứ căn thẳng thêm, ảnh hưởng cũng ngày càng lớn hơn.
Từng trải một số hạn chế.
Sau tuổi 45, bệnh tật có thể bắt đầu phát triển và sự suy yếu của cơ thể xuất hiện. Bệnh sưng các khớp xương, huyết áp cao và rồi loạn tiêu hóa có thể gia tăng. Thính và thị giác cũng ngày càng được nhận thấy là kém nhạy bén sau tuổi 55. Tuy nhiều thay đổi quan trọng về cá nhân có thể xảy ra, khoảng 10% sức lực của bắp thịt có thể bị mất đi giữa tuổi 30 đến 60.
Thay đổi tính năng sinh dục.
Các thay đổi về sinh lý ảnh hưởng đến tính năng tình dục. Năng lực và khả năng tính dục có thể suy giảm. Trong tuổi mãn kinh - giai đoạn 40, 50 tuổi - phụ nữ bị mất chức năng sinh sản. Khả năng và sự ham muốn tình dục của đàn ông thì suy giảm chậm hơn, nhưng cũng có ảnh hưởng đền khả năng sinh sản.
Chấp nhận sự thay đổi về mặt sinh lý.
Những thay đổi sinh lý có thể khiến người ta phải quan tâm. Điều quan trọng đối với những người ở tuổi trung niên là phải biết thích ứng một cách thực tế để có thể sống một cách kiến hiệu, thành công. Nhiều người đàn ông có thể vượt quá các khả năng hoặc các điều kiện sinh lý của mình để chứng minh là mình vẫn còn có thể thi đua với những người còn trẻ hơn mình. Còn các bà ở tuổi trung niên, do quan tâm đến vóc dáng bề ngoài của mình, có thể cứ giữ cho mình luôn luôn có dáng vẻ trẻ trung, nhưng cũng cần biết các hạn chế. Tuổi mãn kinh có thể là một vấn đề cho một số phụ nữ, nhưng đối với đa số, các thay đổi về mặt sinh lý và tình cảm rất ít oi. Cái nhìn lành mạnh của Cơ Đốc giáo có thể giúp ích rất nhiều để người ta chấp nhận các biến chuyển về mặt sinh lý.
Thực hiện việc phục vụ có giá trị.
Trong lúc người ở độ tuổi trung niên có bị hạn chế về phương diện hoạt động thể xác, họ thường có nhiều cơ hội hơn trong các vai trò lãnh đạo Hội thánh, nhằm lợi dụng từng trải và sự trưởng thành của họ trong việc dạy dỗ, trù liệu kế hoạch và quản trị. Công tác quản lý thân thể như ngôi đền thờ của Đức Thánh Linh sẽ ngày càng quan trọng hơn, vì nó vẫn giữ được y nguyên tốc độ với điều mà những năm trước đó có thể có thể gây tổn hại cho sức khỏe.
Về mặt trí thức - Có năng suất và biết kiên trì.
Người ở độ tuổi trung niên cảm thấy các năng lực và kỹ xảo để tạo năng suất về phương diện tinh thần của ho5 bị thách thức. Sự phán đoán của họ là chín chắn và khả dĩ tin cậy được. Họ có được một tầm nhìn rộng rãi hơn và biết ứng dụng nó vào thực tế. Lý trí có ưu thế hơn và nhiều khi có khuynh hướng bất khuất, thâm trầm nhưng kiên trì, bảo thủ, và chú trọng vào sự kiện có thật.
Người trung niên thường kinh nghiệm một chút giảm sút ở tốc độ học tập, nhưng lại có chủ đích sắt đá hơn tự tin hơn, và một ý thức trách nhiệm khến họ thường thắng vượt được bất kỳ một sự suy yếu nào. Những người vốn có từng trải nhanh nhẹn về phương diện tinh thần, có kiến thức rộng rãi cũng như đối với một số nhiều người khác nữa, thì giai đoạn này có thể là thời kỳ để họ thực hiện được nhiều kỳ cọng quan trọng hơn trong các nhiệm vụ có tính cách tri thức, tinh thần.
Vì tuổi tác ảnh hưởng rất ít đến khả năng học tập, nên khích lệ những người đã trưởng thành cứ tếp tục học hỏi. Có nhiều chương trình giáo dục hết sức đa dạng cho người lớn, có thể tạo cơ hội tốt cho số người này.
Trong giai đoạn để hoàn thành các kỳ công và được cơ hội rộng rãi để học hỏi này, người ta vốn có khuynh hướng chuyên môn hóa. Nhưng chuyên môn hóa quá mức lắm khi lại khiến cho người ở độ tuổi trung niên mất đi cái chiều rộng trí thức mà nếu không có nó, số kinh nghiệm ngày càng tăng thêm có thể đem đến cho người ấy.
Gánh nặng chất chồng.
Các gánh nặng của đời sống có khuynh hướng chồng chất trên con người trung niên. Có một nhà văn đã vạch rõ rằng nếu người ta không hành công khi họ đến tuổi bốn mươi, thì gánh nặng của sự thất bại của họ sẽ đè nặng thêm trên họ, và các cơ may để vượt thoát khó khăn hầu chiến thắng thất bại, sẽ ngày càng trở thành xa vời hơn. Mặt khác, nếu họ đã thành công lúc bốn mươi tuổi, các trách nhiệm sẽ càng đè nặng thêm trên đôi vai họ khi gánh nặng ấy cứ gia tăng từ năm này sang nwm khác (4)
Về mặt tình cảm - Sâu và đầy.
Tuổi trung niên là giai đoạn phải gánh nặng. Thế nhưng, những người ở độ tuổi trung niên có thể nhận thấy các năm ấy là mãn nguyện nhất rong thời kỳ trưởng thành của họ. Họ có khuynh hướng thực tế và thực tiễn hơn. Đây là giai đoạn tự chủ - với phần tình cảm đã trở thành sâu sắc và hoàn thiện. Tuy nhiên, các trái chứng cá nhân có thể gây cay đắng và ảo tưởng, có thể rất khó thắng vượt.
Sự trưởng thành về mặt tình cảm thường tiếp tục, tuy tuổi gia tăng không bảo đảm cho sự tăng trưởng về mặt tình cảm. Những thái độ cố định cứng nhắc, có thể làm phát triển hoặc kéo chậm lại sự tăng trưởng đó. Sự đề kháng chống lại thay đổi có thể chen vào trong các giá trị, các mối bận tâm và các ý niệm đang trưởng thành. Những người ở độ tuổi trung nie6n thường chối từ, không chịu thích nghi với các viễn ảnh của họ về các chân trời mới mẻ của đời sống. Đối với một Cơ Đốc nhân, thì trái của Thánh Linh (GaGl 5:22, 23) là thiết yếu cho sự trưởng thành về cả hai phương diện tình cảm và thuộc linh.
Đối với một số người - nhất là các ông - thì đây là thời kỳ khủng hoảng. Craig tường trình rằng đàn ông ở độ tuổi trung niên mà lâm cơn khủng hoảng, sẽ bị lẫn lộn và rằng toàn thể cái thế giới của họ đang tan rã. Họ không còn đáp ứng được các đòi hỏi và giải quyết được các ấn đề nữa. Đối với một số người điều này có thể chỉ là một giai đoạn tạm thời nhưng đối với nhiều người khác, nó có thể là khởi điểm của một sự suy thoái liên tục. (5)
Cách cảm nghĩ của người ta đối với các thay đổi về mặt sinh lý hầu như cũng quan trọng như chính những thay đổi đó vậy. Tuy người ở tuổi trung niên có thể cố gắng che giấu các dấu hiệu của việc mình cứ ngày càng trở nên già đi, họ có thể thích nghi với các khả năng cứ ngày càng suy thoái của phần thân xác và tìm được sự thỏa nguyện và hạnh phúc ở các lãnh vực hoạt động khác. Giờ đây phẩm chất của công tác và từng trải sẽ nhận được sự chú trọng mới.
Họ được rất nhiều cơ hội để giúp cho các thanh thiếu niên trở thành những Cơ Đốc nhân trởng thành. Về mặt tình cảm, điều này có thể tạo ra một niềm vui lớn và khích lệ sự ổn định và trưởng thành về mặt tình cảm của những bậc làm cha mẹ và cấp lãnh đạo.
Về mặt xã hội - Mối bận tâm được tái tạo
Những người ở độ tuổi trung niên thường xây dựng và duy trì được các mối liên hệ của một gia đình hạnh phúc với tư cách những người làm cha mẹ, ông bà, đồng thời cũng có một số bạn thân ngoài gia đình.
Liên hệ với các đoàn thể.
Năng lực và thì giờ được dành nhiều cho việc chiếm đoạt một địa vị xã hội trong cộng đồng. Những người ở độ tuổi trung niên tham gia rất nhiều đoàn thể. Có nhiều tổ chức rất khác nhau khiến họ phải chú ý và tiêu pha tiền bạc, thì giờ vào đó. Họ thường chiếm được những địa vị có trách nhiệm, có uy quyền trong xã hội, và ném quyền quản trị, kiểm soát nhiều tổ chức.
Thích ứng một gia đình nhỏ hơn.
Cô đơn và lo lắng có thể nảy sinh khi các con lớn lìa bỏ gia đình. Có lẽ lúc con cái còn trẻ các bậc làm cha mẹ xem chúng là gánh nặng cho gia đình, nhưng một khi chúng đã trưởng thành, thì một ý thức lo âu sẽ xâm chiếm tâm trí họ, vì rồi đây chúng sẽ bỏ nhà ra đi, để lao vào cái thế giới rỗng của chúng.
Những ông chồng, bà vợ, một lần nữa, lại phải tập sống một mình, nhất là nếu họ đã có khuynh hướng chẳng ngó ngàng gì tới nhau lúc con cái hãy còn ở nhà. Họ cũng cần cả phải học tập để lại yêu thương nhau một lần nữa, theo một cung cách khác, tức là phải xem nhau như những con người.
Người trung niên có thể phải giúp đỡ cho con cái đã lập gia đình của họ, phải quan tâm nhiều hơn đến cha mẹ đã già của họ, và phấn đấu để tự lo cho việc hồi hưu của chính họ nữa - tất cả những việc này đều đồng thời với nhau. Thông thường thì họ phải đương đầu với sự qua đời của người cha hay người mẹ, hoặc cả chính người chồng (người vợ) của mình, cho nên bị bắt buộc phải thích nghi hóa với những bất trắc của cuộc đời.
Trực diện với vấn đề vợ chồng.
Đây có thể là một giai đoạn nguy hiểm cho các đôi vợ chồng. Vào những năm cuối của tuổi trung niên, nhiều gia đình từng theo mẫu mực vững chắc có thể bị tan vỡ vì ly dị để tái hôn. Ngay đến những người có vẻ rất gắn bó trong mối liên hệ vợ chồng, thỉnh thoảng cũng dá liều bỏ mọi sự để lao vào một sự đổi thay có vẻ như mới mẻ, phấn khởi hơn. Vấn đề này càng tăng lên do việc các tiêu chuẩn luân lý đạo đức trong xã hội cứ ngày càng sa sút và áp lực của việc muốn bắt chước người khác.
Cần được bầu bạn, thông công.
Các tổ chức htông công thật quân bình có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu xã hội của những người trung niên. Hội thánh cần nhấn mạnh việc phải thông công, kết bạn thâm giao với nhau - chứng tỏ có điều mà Tân ước vẫn đề cập là Koinonia chân chính. Loại thông công kết bạn này phải tăng trưởng để có thể bành trướng thật kiến hiệu. Hội thánh có thể đưa nhiều người trung niên đến với Chúa Cứu Thế nhờ các thành viên biết làm chứng đạo cả bằng lời nói lẫn việc làm cho người lân cận, cho toàn thể cộng đồng và ngoài phố chợ. Giúp một tay cho những người sắp dọn nhà hoặc mới dọn nhà đến trong cộng đồng bao giờ cũng được hoan nghênh. Nên gia tăng cũng được hoan nghênh. Nên gia tăng các cơ hội lo lắng chăm sóc và chia xẻ với người khác.
Về mặt thuộc linh. Đang có gánh nặng
Các Cơ Đốc nhân ở độ tuổi trung niên ý thức được các thực tại thuộc linh và cần tập trung toàn thể nhân cách cách của mình chung quanh Chúa Cứu Thế. Ngài là Đấng duy nhất có thể ban sức lực của một cuộc đời đầy năng lực, quân bình và hoàn tất một kỳ công.
Vì người trung niên đã có được một địa vị cao trong Hội thánh và nhà riêng, chức vị cho các thanh thiếu niên của Hội thánh có thành công hay không vốn tùy thuộc những gì đang được thực hiện cho và do những người đã trưởng thành rồi.
Những người ở độ tuổi trung niên phải nhớ rằng mức độ thành công đối ngoại mà họ đang đạt được, vốn không phải là cây thước đo chính xác sự thành công của họ trong việc làm theo ý chỉ Thượng Đế. Đồng thời với sự thành công trong công việc hằng ngày, các Cơ Đốc nhân cần nhớ luôn rằng cả cuộc đời là thiêng liêng, và người ta phải sống theo ý chỉ Thượng Đế. Các nhu cầu thuộc linh của những con người trưởng thành có thể được đáp ứng trong những năm ba mươi tuổi, nhờ một chương trình quân bình của Hội thánh. Truyền giảng Phúc âm là quan trọng. Đưa những người đã trưởng thành đến với Chúa Cứu Thế là bí quyết để đưa được nhiều gia đình đến với Chúa Cứu Thế và Hội thánh.
Phục vụ tự ý tự nguyện.
Những người ở độ tuổi trung niên quan tâm đến cách biểu lộ thực tế và các hoạt động có mục đích phục vụ. Vì họ đầu tư thì giờ, nỗ lực và tiền bạc vào nhiều công tác từ thiện, họ cần phải đầu quân trọn vẹn cho cái chính nghĩa cao quý nhất - chính nghĩa của Cứu Thế. Tuy nhiên, một sự dấn thân như vậy không nên thực hiện bất chấp sinh hoạt gia đình riêng của họ. Hội thánh phải bồi dượng cho gia đình, chớ không phải là cướp đi phần vốn thuộc về nó.
CÁC NHIỆM VỤ MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ#
Chức vụ của Hội thánh cho những người đã trưởng thành phải thực tế - tập hợp họ tại nơi họ đang ở giúp họ đáp ứng và giải quyết các vấnđ ề của độ tuổi trung niên của họ bằng các nguồn tài ngyên của Thượng Đế. Nó phải làm bộc lộ thật hiển nhiên con người trưởng thành nhận thức được cuộc đời sung mãn mà Chúa Cứu Thế đã đến để ban cho người ta (GiGa 10:10) - một đời sống đầy quyền năng, có chủ đích, thăng bằng, bình an, và một ý thức tự hoàn thiện (IITi 2Tm 1:7). Hội thánh không nên chỉ lợi dụng những người trưởng thành ở độ tuổi trung niên mà thôi - mà còn phải phục vụ thật tốt cho họ nữa.
Qua việc học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh một cách có hệ thống, chương trình giáo dục của Hội thánh phải giúp những người đã trưởng thành để họ được trang bị tốt hơn cho sinh hoạt và sự phục vụ theo Cơ Đốc giáo. Những lớp học Kinh Thánh chọn lọc có thể mở rộng thêm chiều kích học tập trong Hội thánh.
Muốn thành công, một chức vụ còn phải chú trọng vào gia đình, công ăn việc làm và các nhu cầu xã hội của những người trưởng thành nữa. Vì phần lớnc ác hoạt động trong gia đình và Hội thánh đều được những người trưởng thành hoạch định và quản lý, họ vốn có vai trò áp đảo trong việc hướng dẫn và lãnh đạo nhiều chức vụ khác nhau của Hội thánh trong giai đoạn này.
TÓM TẮT
Nhiều người tin rằng tuổi trung niên là giai đoạn tốt nhất của đời sống. Nó có thể là một thời kỳ tuyệt diệu cho một Cơ Đốc nhân. Tuy về mặt sinh lý có phần nào bị suy giảm, những người ở độ tuổi trung niên nói chung đều có sức khỏe tốt và đang ở trong tình hình thân thể rất tốt, nếu họ biết quan tâm chăm sóc thích đáng thân thể mình. Về mặt tinh thần, họ đang có năng suất cao với các tài năng và kỹ xảo ở trình độ cao nhất. Họ hỏi vẫn còn là một công cuộc phiêu lưu mạo hiểm. Về mặt xã hội, người trung niên được tái tạo về mặt quan tâm chú ý. Các tình cảm càng sâu sắc và đầy đủ hơn. Trong các lãnh vực này của đời sống, người trung niên cần chứng tỏ sự trưởng thành đích thực của mình. Một chức vụ thật quân bình dành cho người trung niên trong Hội thánh sẽ giúp họ đáp ứng thành công các nhu cầu thuộc linh của tuổi trung niên. Điều này là quan trọng vì những người ở độ tuổi trung niên đang phải gánh lấy những gánh nặng của hai tổ chức quan trọng - Hội thánh và gia đình.
NHỮNG CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Những người trưởng thành ở độ tuổi trung niên cần đạt những nhie-m vụ phát triển nào?
2. Một quan điể lành mạnh theo Cơ Đốc giáo có thể thay đổi gì trong viễn ảnh chấp nhận các thay đổi về mặt sinh lý?
3.Liệt kê một số đặc điểm của giai đoạn trung niên này.
4. Người ở độ tuổi trung niên thường kinh nghiệm phải điều chỉnh, thích nghi với những điều gì torng gia đình?
5. Loại thông công nào là cần thiết để chúng ta có thể theo kịp các tiêu chuẩn của Tân ước?
6. Người ở độ tuổi trung niên ảnh hưởng đến chức vụ của Hội thánh cho các thiếu nhi và thanh thiếu niên như thế nào?
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Ứng dụng năm đặc điểm của giai đoạn này cho chính đời sốgn của bạn.
2. Phỏng vấn nhiều người ở độ tuổi trung niên về từng trải 'cơn khủng hoảng vào giai đoạn nửa đời người' của họ. Những con người ấy đã được trợ giúp như thế nào - hoặc các trường hợp ấy đã được giải quyết như thế nào?
3. Thảo luận về các đặc điểm và nhu cầu xã hội của những người ở độ tuổi trung niên như bạn thấy được nơi các bạn bè và người bà con thân cận. Lập một bảng liệt kê các nhu cầu chính yếu và các cách thức đáp ứng các nhu cầu ấy thông qua chương trình của Hội thánh bạn.

TUỔI HỒI HƯU
GIAI ĐOẠN LÃO NIÊN Từ 65 Tuổi trở lên
Tuổi lão niên cũng là những năm cuối cùng của cuộc đời, đúng hơn là giai đoạn tàn tạ của cả hai mặt thể xác và tinh thần. Nếu được trường thọ, người ta sẽ dành gần một phần tư đời sống cho giai đoạn lão niên. Với các tiến bộ của y học, và cách sống lành mạnh hơn thêm tuổi thọ cho con người, hiện nay số người lên lão được được xem là đông đảo hơn bao giờ hơn. Giai đoạn lão niên này có thể được chia ra thành nhiều thời kỳ: thời kỳ đầu (65-74 tuổi), thời kỳ giữa (75-84), thời kỳ cao tuổi thật sự (85-94) và thời kỳ trên 95 tuổi.
Một độ tuổi xem là phần thưởng.
Ngày nay, người ta đã có những quan tâm mới mẻ đến số người già. Việc nghiên cứu những người cao tuổi và tiến trình lão niên hóa đã phát triển thàn một khoa học mới. Phần thực hành ngành lão học chăm lo sức khỏe cho những người già, đang ngày càng bành trước.
Tuổi già không hề đến cách thình lình, tuổi già không hoàn toàn là vấn đề cao niên. Một số người già ở độ tuổi 70 có thể có tinh thần trẻ hơn nhiều người chiă mới 50 tuổi. Số người này vẫn rất yêu đời. Thật là hạnh phúc cho những ai đã biết trù liệu cho tuổi già của mình, và sau ó, biết an hưởng giai đoạn không còn bị các trách nhiệm đòi hỏi nữa này.
Theo Erikson, đặc điểm của tuổi già là "ngay thật chống lại chán đời và đố kỵ" Ngay thật là sẵn sàng chấp nhận chu kỳ của đời sống mình và những người từng dự phần vào cuộc đời ấy. Trái lại thì thay vào đó sẽ là thất vọng chán đời.. và sự đố kỵ thù ghét chính mình, mà thường thường lại là trút lên đầu ngược khác" (1)
Fowler giải thích điểm này như sau "Ngay thật là kết quả của một đời sống có nền móng là tự chấp nhận và xác nhận rằng cuộc đời mình đã được sống xứng đáng. Lòng ngay thật dường như đi đôi với cái cảm thức được tra xét cẩn thận rằng mình đã thủ trọn vai trò và đã đáp ứng với mọi thách thức ở từng lãnh vực của đời sống theo từng chu kỳ một. Nó không có nghĩa là đã được trọn vẹn; không chỉ có nghĩa là người ta đã tìm ra được một nếp sống khiến cho cuộc đời mình đáng kể, đáng sống - với hy vọng là rồi đây nó vẫn tiếp tục có tràn đầy sức sống. Căn cứ vào những từng trải đã thâu thập được từ những khổ đau và vui sướng, người ta đã có được cái đức hạnh mà Erikson gọi là khôn ngoan" (2).
Vì không còn quan tâm đến bên ngoài chỉ sống với quá khứ, và không tiếp tục học hỏi nữa, là một vài điều có thể kể ra như những lý do khiến người ta không thíchứng được với các vấn đề của tuổi và đời sng ở độ tuổi này Các vấnđ ề ấy có thể ảnh hưởng đếnc ả việc phục vụ với tư cách là Cơ Đốc nhân nữa. Trong khi có một số người dường như bỏ hẳn chức vụ trong Hội thánh khi họ đã trở về già, nhiều người khác vẫn không thấy có lý do gì để rút lui khỏi việc phục vụ thượng Đế.
Tuổi già đòi hỏi người ta phải sống giản dị và hài lòng với những gì có giá trị lâu dài. "Dù người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ ngàng đổi mới" (IICo 2Cr 4:16)
CÁC NGHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
Havighurst liệt kê nhiệm vụ phát triển của tuổi già sau đây:
Thích nghi với sức lực và sức khỏe về mặt thể xác suy giảm.
Thích nghi với việc hồi hưu và lợi tức bị suy giảm.
Thích nghi với việc qua đời của người vợ ( hoặc người chồng)
Thiết lập mối hòa hợp ngoại tại với nhóm người cùng tuổi.
Đáp ứng các bó buộc xã hội và dân sự
Thu xếp thỏa đáng nếp sống thuộc thể vững vàng (3)
Thiết tưởng cần ghi thêm một điểm chú thích về phương diện thuộc linh. Phước thay cho những người trưởng thành nào đã đồng ý với Thượng Đế trong những năm trưởng thành của mình và vẫn tiếp tục làm như vậy. Còn với những ai chưa làm như thế thì vẫn chưa phải là quá muộn để có thể bắt đầu đâu.
Về mặt thể xác - Suy tàn
Điều không tránh né vào đâu được, là nguồn sinh lực, sức mạnh thể xác, và vẻ hấp dẫn thuộc thể đang suy tàn. Tuy nhiên, vẻ đẹp của tuổi già có thể nảy sinh từ bên trong - từ tâm hồn và tâm linh.
Vui hưởng sức khỏe tốt tuy có hạn chế
Người lớn tuổi thường có sức khỏe tốt trong thậư niên đầu của giai đoạn này tuy là có hạn chế. Những người cao tuổi khôn ngoan nhất, là những ai biết rèn tập để: quan tâm đến sức khỏe của mình, sống với những điều bất tiện và đau đớn cần thiết; và lắng nghe lời khuyên của bác sĩ để biết sống một cách thực tế và hoạt động thân xác có điều độ.
Trong giai đoạn này, các bệnh tật của thân thể gia tăng, thường khiến phải nằm bệnh. Tuy bệnh tật không phải là một vấn đề tự động phải có của tuổi già, nó thường là một yếu tố của đời sốgn người cao tuổi. Những người lớn tuổi có bệnh kinh niên phải thích nghi với việc bị mất đi nhiều khả năng và các hậu quả xã hội do việc phải hoạt động hạn chế. Các cơ chế về năng lực, phân bào và tốc độ bồi bổ, sửa chữa của thân thể họ bị suy kém đi. Người cao tuổi nhiều khi có thể bi gãy xương, vì xương cốt của họ đã trở thành yếu dòn hơn.
Có một số chứng cứ hiển nhiên của sự suy tàn về mặt sinh lý lại có nguồn gốc tâm lý> Họ có thể phóng đại việc bị suy kém khả năng để tự cô lập hóa đối với bạn bè và các hoạt động.
Về mặt trí thức - Lời khuyên bảo khôn ngoan.
Kiến thức đã tích lũy được, sự phán đoán theo từng trải và lời khuyên bảo khôn ngoan khiến những vị cao tuổi trở thành tài sản có giá trị cho Hội thánh, gia đình, cộng đồng và đất nước. Tất cả mọi người đều có thể được lợi ích vô hạn từ kho tàng của sự khôn ngoan và già dặn này (LeLv 19:32, ChCn 16:31; 20:29, 23:22).
Có thể thực hiện việc học tập sửa đổi.
Những người lớn tuổi vẫn còn có thể học hỏi thêm, tuy các đặc điểm cá nhân có thể thay đổi. Học tập và việc làm trí thức có thể được sửa đổi theo nhiều cách: theo điều kiện sinh lý, theo sự suy giả của các cảm quan, thì giờ phản ứng, thiếu thực tập, cái nhìn ra bên ngoài, tâm trạng, sự thay đổi về mặt xã hội, và động lực thúc đẩy.
Các năng lực tinh thần và học tập có thể được duy trì đến một mức độ nào đó tùy theo tuổi thọ của từng người. Học vấn của những người cao tuổi hấp dẫn và xứng đáng, có thể có ích lợi cho cộng đồng và Hội thánh.
Sống lại các kinh ngiệm của quá khứ.
Người lớn tuổi thường hay hồi tỉnh, có khi sống lại với quá khứ. Họ cần được khích lệ nên sống với hiện tại vừa dự tính cho tương lai. Với các Cơ Đốc nhân, thì điều này sẽ tạo kết quả là người ta cứ tiếp tục làm một môn đệ trung tín và trông đợi niềm hi vọng phước hạnh là sẽ được gặp mặt Chúa.
Những người lớn tuổi cần ý thức các mẫu mực sống tù đọng cứng nhắc và thiếu uyển chuyển. Họ cần phải trông đợi những điều tốt lành và đầy tính chất sáng tạo của cuộc đời.
Cần giữ thái độ tinh thần đứng đắn.
Những người lớn tuổi có thể trở thành trả ceon, hay nghi ngờ, dễ chán nản và bị suy sụp tinh thần trầm trọng do sự tổn hại cả về thể xác lẫn tinh thần. Biết phát triển những mối bận tâm mới đồng thời với việc cứ tiếp tục học hỏi và kích thích về mặt tinh thần, sẽ giúp họ giữ được thái độ tích cực. Những người cao tuổi phải cảm thấy là mình vẫn còn hữu dụng, cần thiết, có thể giúp ích cho tha nhân, và còn có thể lợi dụng được các từng trải của quá khứ.
Về mặt tình cảm - Làm mẫu mực.
Những người lớn tuổi sẽ có thể hăọc dịu dàng, hiền hậu, hoặc chua ngoa, cay cú. Nguyên nhân gây ra tình trạng sau thường là do sự gia tăng của tánh cứng rắn về phương diện tình cảm, việc cứ lặp đi lặp lại cùng một cách ăn ở ứng xử, thiếu khả năng tái phát giác các kinh nghiệm về mặt tình cảm.
Có một công trình nghiên cứu người lớn tuổi trong giai đoạn này bảo rằn 'vóc dáng' tình cảm của những người cao tuổi không những chỉ tùy thuộc vào những căng thẳng và khó khăn hiện tại, mà còn tuỳ thuộc vào nhân cách trước đó của họ nữa. Công trình nghiên cứu ấy kết luận rằng những người lớn tuổi vẫn y nguyên như hồi họ hãy còn trẻ, nếu không bảo là còn hơn thế nữa (4).
Có một số người cứ tiếp tục tăng trưởng, trong khi một số người khác dường như đã bỏ cuộc về mặt tình cảm. Người thân thiện, biết suy nghĩ và dễ dãi sẽ càng thân thiện, biết suy nghĩ và dễ dãi hơn, trong khi kẻ ích kỷ sẽ càng nỏ mọn và xa lánh mọi người hơn. Các nguồn tài nguyên của Cơ Đốc giáo rất cần thiết cho việc duy trì sự vui vẻ và lạc quan, bất chấp tội lỗi, buồn phiền và đau khổ.
Cần tự trọng
Công trình nghiên cứi vừa được đề cập trên đây tiếp tục vạch ra rằng có một vấn đề tình cảm thông thường của những người lớn tuổi là bị mất đi tánh tự trọng. Họ không muốn bị gạt qua một bên hay bị đối xử dường như họ không còn cần thiết hợp thời nữa, nhưng có thể không biết phải làm sao để tránh được điều đó, nên cảm thấy việc mình bị mất uy tín đối với gia đình bạn bè và những người cộng sự là điều không thể nào tránh né vào đâu được.
Họ có thể dùng một vài cơ chế tự vệ để đối phó với tình hình, tất cả đều có vẻ có thật và hợp lý đối với họ. Họ có thể tưởng tượng ra là mình bị đau ốm, quy về với quá khứ, khươc từ tất cả những gì là mới mẻ, trở thành độc đoán, độc tài để bù trừ cho sự thấp kém và thua sút của mình.
Với những người lớn tuổi đã luôn luôn nương cậu nhiều vào người khác để được nâng đỡ về mặt tinh thần, tài chánh, thì vấn đề thường trở thành nghiêm trọng hơn. Sự vắng mặt hay qua đời của con người then chốt kia đòi hỏi phải được những điều ch3nh, bổ khuyết quan trọng vì những người lớn tuổi này có thể phản đối hoặc tỏ ra khó khăn (1)
Thích nghi với những cơn khủng hoảng.
Những người lớn tuổi phải thích nghi đươc với nhiều giai đoạn khủng hoảng khác nữa kết hợp với số tuổi cao, như cái chết của người vợ (hoặc người chồng) hay bị giữ luôn trong nhà vì đã cao tuổi. Phước thay cho những ai có thể nói "Đức Giê-hô-va là Đấng Chăn giữ tôi". "Chúa luôn luôn cứu giúp tôi" (Thi Tv 23:1, HeDt 13:6) khi phải thích nghi hóa với những cơn khủng hoảng của tuổi già.
Về mặt xã hội - Thi hẹp các mối bận tâm.
Những người lớn tuổi ít tham gia các hoạt động xã hội hơn nhưng cần nhiều hơn các chương trình được tổ chức cho họ. Vì họ có nhiều thì giờ nhàn rỗi hơn, nên nhiều người sống cho có ý nghĩa hơn về mặt xã hội. Họ thích được trò chuyện và đi thăm viếng những người thuộc cùng nhóm với họ.
Thích các ràng buộc gia đình.
Gia đình thường là trung tâm của sinh hoạt xã hội của họ. Họ theo dõi việc con cái họ thành đạt và cháu chắt họ lớn lên với thái độ mãn nguyện và tự hào. Nhiều người lớn tuổi từng có liên quan tốt đẹp với con cháu họ sẽ bắt đầu có được những từng trải lý thú.
Những người không có gia đình hoặc bị gia đình bỏ bê, có thể cảm thấy vô cùng cô độc - như người đã bị mất đi người vợ (hay người chồng) của mình vậy.
Muốn được liên hệ với xã giao
Những người lớn tuổi muốn có các mối liên hệ xã hội, nhưng thừơng bị thất vọng vì thái độ cứng rắn từ bên trong và việc tự cô lập hóa, vì sự xa cách về phương diện địa dư, nhiều trở ngại giao thông khác, và vì thiếu thốn tài chánh.
Được các bạn đồng tuổi và các cấp lãnh đạo khen ngợi tán thưởng là động cư giục lòng những người lớn tuổi, còn bị chê bao sẽ khiến họ nản lòng. Các nỗ lực học hỏi và giải trí sẽ giúp ích cho họ. Du lịch tập thể cũng rất được ưa thích. Họ muốn được giải thoát khỏi đời sống bằng chiếc đồng hồ, nhưng lại muốn bận rộn.
Để thay thế cho các mối liên hệ xã hội đã phát triển trước đây trong nghề nghiệp của mình, những người lớn tuổi phải được khích lệ tiếp tục cáchoạt đng trang các đoàn thể có tổ chức, như Hội thánh, các nhóm hoạt động xã hội,các câu lạc bộ hưu trí, các tổ chức dân sự chính trị.
Về mặt thuộc linh - Thì giờ thử nghiệm
'Giai đoạn thử thách của đời sống' có thể là tuyệt đỉnh của sự phát triển thuộc linh, chứng minh cho tính cách phong phú của một Cơ Đốc nhân, hoặc nó có thể là việc hoàn toàn thiếu quan tâm đến những điều thuộc linh. Những người lớn tuổi có thể ngày càng giống với Chúa Cứu Thế hơn theo từng năm, hoặc có thể trở thành cứng cỏi đối với Phúc âm và những lời kêu gọi của Chúa Cứu Thế.
Sự kiện nhiều người lớn tuổi không chịu tin cậy và yêu thương Chúa Cứu Thế Giê-xu khiến việc truyền giảng Phúc âm cứ tiếp tục được quyền ưu tiên.
Nói chung thì những người lớn tuổi có nhiều thì giờ hơn để suy gẫm, và có thể sống với những hối tiếc và khinh bỉ những công việc mình đã làm trước kia. Không nên để cho họ tiếc rẻ quá khứ. Cũng như Phao-lô, họ cũng có thể bương tới để dấn thân vào những cuộc phiêu lưu mới, "xây lưng lại quá khứ, và nhanh chân tiến bước vào tương lai" (Phi Pl 3:13).
CÁC ĐÒI HỎI MẶC NHIÊN CỦA CHỨC VỤ
Chức vụ cho những người cao niên có thể giúp họ nhìn thấy những năm cuối cùng của họ là thời hoàng kim để phục vụ và tăng trưởng với tư cách một Cơ Đốc nhân. Cần hoạch định chương trình nhằm sắp xếp việc đáp ứng các nhu cầu căn bản, là thông công với các Cơ Đốc nhân khác, học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh, thờ phượng, suy gẫm, cầu nguyện, chứng đạo và phục vụ.
Một Hội thánh có hoạt động tích cực rất hoan nghênh sự thách thức phải phục vụ các công dân lớn tuổi. Charles Gresham đề nghị các nguyên tắc sau đây:
Lượng định các nhu cầu của Hội thánh và cộng đồng của bạn
Cung ứng cấp lãnh đạo
Giao cho những người lớn tuổi lo việc tự hoạch định lấy các chương trình dành cho họ. Sử dụng các nguyên tắc hoạt động tập thể.
Cần nhớ là người già cũng cần vui chơi giải trí nữa.
Đừng bỏ qua cá nhân con người (6)
Các chức vụ dành cho tuổi lão niên cũng cần cung cấp các hoạt động trong phòng kín tạo cho họ các lợi ích của việc học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh thờ phượng và thông công với nhau. Phương pháp đầu tiên cần áp dụng là thăm viếng tư gia cung cấp các tài liệu đặc thù để đọc và nghiên cứu. Nhiều khi chính các cụ lão niên có thể tự lo lấy việc thực hiện chức vụ này.
Cần cung cấp một vài loại câu lạc bộ hoặc trọng tâm do cộng đồng hoặc Hội thánh đảm trách. Không nên cô lập những người lớn tuổi trong các chương trình dành riêng cho họ mà thôi, mà phải tạo cho họ cái cảm thức rằng họ cũng là một thành phần quan trọng trong chương trình toàn diện của Hội thánh, nhất là trong những thì gi]2 thông công, các biến cố và các hoạt động đặc biệt. Họ có thể gây ảnh hưởng khỏe khoắn và lành mạnh trên các thiếu nhi và thanh thiếu niên của Hội thánh và ngược lại. Hội thánh có thể lợi dụng số thì giờ dư thừa của những người lớn tuổi để giúp và khuyên giúp (Thi Tv 71:18; Tit Tt 2:1-5). Ngay đến những người phải ở luôn trong nhà cũng có thể góp phần quan trọng trong các chức vụ cầu nguyện, viết thư, hoặc công tác trong việc xếp dán phong bì, hay các công việc thủ công hơn có thể chăm sóc cây cảnh, giúp việc trong câu lạc bộ trong những ngày thường trong tuần các lớp dạy Kinh Thánh mùa hè hoặc các chương trình cắm trại.
TÓM TẮT
Tuổi già có thể là một phần thưởng lớn lao nhất của một đời người. Đó là tuổi của lời khuyên dạy khôn ngoan và tiếp tục học hỏi. Các mối quan tâm xã hội thường bị thu hẹp lại - tuy không phải bao giờ cũng là do tự chọn. Sự cứng rắn về tình cảm gia tăng thường bộc lộ khá rõ rệt, nhưgn nhiều ngời vẫn tiếp tục trưởng thành về mặt này. Cần phải thích nghi nhiều mặt mới khiến được những năm này trở thành những năm thành công của cuộc đời. Vẫn chưa phải là quá muộn để đưa những người chưa được cứu đến với Chúa - nhưng thời gian đang trôi nhanh. Đây là thời kỳ để tăng trưởng thuộc linh và tiếp tục phục vụ của các thành viên quan trọng trong Hội thánh.
CÁC CÂU HỎI ĐỂ THẢO LUẬN
1. Những người lớn tuổi mà bạn quen biết bộc lộ các dấu hiệu phát triển của Havighurst như thế nào?
2. Những người lớn tuổi cần được tạo cảm hứng để đứng đầu với những thách thức hằng ngày như thế nào, thay vì cứ tiếp tục hồi tưởng các thành công của quá khứ?
3. Tại sao việc truyền giảng Phúc âm rất quan trọng trong chức vu5 phục vụ cho độ tuổi này?
4. Mô tả vắn tắt các đặc điểm thể xác của người cao tuổi.
5. Đâu là các yếu tố then chốt khi xét đến các đặc điểm và các nhu cầu xã hội của những người lớn tuổi?
6. Kể ra một số thách thức gắn liền với việc phục vụ các nhu cầu thuộc linh của người cao tuổi.
CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG
1. Lập một bảng liệt kê các cách thức những người trẻ tuổi có thể tạo niềm vui cho người già.
2. Hãy suy nghĩ xem hiện bạn có thể làm gì để sẽ trở thành một người lớn tuổi theo như ý bạn mong muốn?
3. Thảo luận về các phương pháp để có thể sử dụng hữu hiệu số thì giờ và các tài năng của những người lớn tuổi để phục vụ cho Hội thánh. Soạn một bảng liệt kê rõ ràng có thể đệ trình cho Ban Trị sự Hội thánh để bổ sung.
4. Phỏng vấn nhiều người lớn tuổi để tìm ra các đặc điểm và nhu cầu khác nhua của họ. Đối chiếu các cảm tưởng của họ đối với cuộc đời - cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai.

MỤC LỤC
Lời giới thiệu.
Hướng dẫn học viên.
ĐƠN VỊ I HÔN NHÂN LÀ GÌ?
Bài 1 Hôn nhân có liên quan đến sự vâng phục theo hoạch định của Đức Chúa Trời
Hoạch định của Đức Chúa Trời cho Hôn nhân
Kết luận
Bài 2 Hôn nhân bao hàm cả sự tách rời và gắn bó
Hôn nhân bao gồm sự tách rời cha mẹ
Hôn nhân đòi hỏi phải gắn bó với người bạn đời
Kết luận
Bài 3 Hôn nhân liên quan đến việc trở nên “Một thịt ”
SaSt 2:24 - On lại hoạch định của Đức Chúa Trời
Nên Một Thịt
Phát huy sự Hiệp nhất Thể xác
Kết luận
ĐƠN VỊ II TRUYỀN THÔNG
Bài 4 Tạo một bầu không khí cho sự truyền thông
Ý nghĩa và tầm quan trọng của sự đối thoại
Sự truyền thông một chiều đối với sự truyền thông hai chiều
Sáu yếu tố khuyến khích đối thoại
Kết luận
Bài 5 Cách tiến hành sự truyền thông
Truyền thông là gì?
Đẩy mạnh việc truyền thông
Kết luận
Bài 6 Cách giải quyết xung đột
Cách xử lý những cảm xúc giận dữ
Năm cách xử lý xung đột
Cách giải quyết xung đột của Phao lô
Kết luận

ĐƠN VỊ III CÁC LOẠI HÌNH QUAN HỆ TRONG HÔN NHÂN
Bài 7 Những đặc tính của một người chồng tin kính
Khuôn khổ khảo sát mối quan hệ vợ - chồng
Khái niệm về “ Cương vị làm đầu” trong Tân ước
Trách nhiệm cơ bản của người chồng đối với vợ
Kết luận
Bài 8 Những đặc tính của một người vợ tin kính
Vai trò của người phụ nữ trong Tân ước
Trách nhiệm cơ bản của người vợ dối với chồng
Kết luận

ĐƠN VỊ IV TÌNH YÊU THƯƠNG
Bài 9 Hiểu được tình yêu trong Thánh Kinh
Khái niệm về tình yêu trong Thánh Kinh
Kết luận
Bài 10 Vai trò của tình dục trong sự bày tỏ tình yêu trong hôn nhân
Sự bày tỏ tình yêu trong hôn nhân qua tình dục
Điều kiện để có một mối quan hệ tình dục lành mạnh
Kết luận
Phụ lục --- Đạo đức tình dục cho những người độc thân
Bài 11 Duy trì một cuộc hôn nhân bền vững
Giữ vững tình yêu
Càng sâu nhiệm hơn
Những viên gạch giúp hôn nhân tăng trưởng
Kết luận


LỜI GIỚI THIỆU
Con đường dẫn đến sự trưởng thành thuộc linh đầy dẫy những thách thức. Trên suốt chặng đường đó, chúng ta sẽ đối đầu với tất cả những khó khăn và những ngăn trở thách thức đức tin của chúng ta. Cách đối phó với những thách thức này là thước đo sự trưởng thành thuộc linh của chúng ta. Một trong thách thức lớn lao này là cách chúng ta liên hệ với những người khác. Việc học tập sống đức tin trong mối quan hệ với những người khác chứng tỏ rằng không có gì có thể đem lại năng lực cho chúng ta như khi bước đi với Đức Chúa Trời. Trong IGi1Ga 1:7 chúng ta biết rằng, nếu chúng ta bước đi trong sự sáng, trong sự tương giao với Đức Chúa Trời, thì chúng ta được rửa sạch bởi huyết của Đức Chúa Jêsus Christ và chúng ta đang sống trong mối thông công với nhau.
Chúng ta càng có một mối quan hệ thân mật chừng nào thì việc sống một cuộc đời tin kính càng gặp nhiều thách thức chừng nấy. Khi chúng ta gần gũi với người ta hơn thì sự yếu đuối của chúng ta bị phơi bày, và sự ích kỷ của chúng ta lộ ra. Nhưng khi chúng ta đối đầu với thách thức học tập để sống như Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải sống trong mối quan hệ với những người khác, chúng ta sẽ thấy được sự phong phú khi chúng ta chia xẻ và học hỏi từ những người khác.
Không có một mối quan hệ nào của con người lại phóng đại nguyên tắc này như mối quan hệ Hôn nhân. Hoạch định của Đức Chúa Trời dành cho con người là giữa người chồng và người vợ phải có được mối quan hệ thân mật nhất. Vì vậy hôn nhân có thể là kinh nghiệm phong phú nhất trong cuộc sống. Nhưng Hôn nhân cũng có thể là một niềm thất vọng hay sự thất bại nặng nề nhất của bạn. Trên tất cả những mối quan hệ cá nhân khác trong Hôn nhân, con người chúng ta được thấy rõ ràng và sinh động nhất. Khả năng đem lại ơn phước lớn lao hay những nan đề phức tạp đã được nhấn mạnh lặp đi lặp lại trong sách Châm ngôn. Trong quyển sách vĩ đại nói về sự khôn ngoan này, chúng ta tìm thấy những ám chỉ đến điều tuyệt vời khi có một mối quan hệ Hôn nhân tốt đẹp, nhưng chúng ta cũng thấy cả nỗi đau và nỗi thống khổ trong một cuộc Hôn nhân thất bại. Một tác giả nhận định như thế này: “Nói cách khác, sách Châm ngôn nói chung có một cái nhìn về Hôn nhân hãy còn ứng dụng đến ngày nay: rằng trong thế gian này không có gì tồi tệ hơn một cuộc Hôn nhân bất hạnh và đồng thời không có gì tốt đẹp hơn một cuộc Hôn nhân hạnh phúc.“ Nếu các bạn giống như hầu hết các Cơ đốc nhân, bạn sẽ mong muốn có một cuộc Hôn nhân bền vững, tăng trưởng và đầy mãn nguyện. Tuy nhiên có lẽ các bạn cũng như nhiều người không biết cách phát huy mối quan hệ đáng ước ao này. Trong môn học này, chúng tôi hy vọng bạn sẽ tìm thấy sự giúp đỡ để đạt được mục tiêu ấy.
Sách này được chia thành 4 phần. Mỗi phần gồm hai câu hỏi, những bài tập và các dự án để giúp bạn có được một cuộc Hôn nhân tốt đẹp. Một số những khái niệm này sẽ có vẻ mới mẻ đối với bạn - Có lẽ những quan niệm khác sẽ khiến bạn cho rằng không phù hợp với tình huống của chinh mình. Ít có điều gì lại có vẻ văn hóa hơn sự hiểu biết của chúng tôi về một cuộc Hôn nhân hạnh phúc. Tuy nhiên, hãy để suy nghĩ của bạn bị thách thức bởi lời Chúa và sự khôn ngoan của người khác là những người đã tranh đấu để làm cho Hôn nhân của mình trở nên hiệu quả. Nói cách đơn giản, mục tiêu của môn này là để giúp bạn hiểu được khuôn mẫu của Thánh kinh dành cho Hôn nhân là gì, để tìm hiểu một số những hàm ý thực tiễn của khuôn mẫu đó, và để giải quyết những biện pháp và những dự án nhằm giúp bạn hình thành những thái độ, những kỹ năng và những thói quen trong cuộc sống dẫn đến niềm hạnh phúc cho Hôn nhân của bạn.
Mong ước của chúng tôi là, khi bạn chuyên cần nghiên cần nghiên cứu kỹ môn học này, bạn sẽ thấy tăng trưởng trong 3 lãnh vực của cuộc sống bạn:
1. Kiến thức. Bạn sẽ học được một số sự dạy dỗ cơ bản của Thánh kinh về Hôn nhân. Bạn sẽ nghiên cứu những phân đoạn Kinh thánh chìa khoá, cố tìm hiểu những phân đoạn Kinh thánh đó có ý nghĩa gì và chúng có ý nghĩa gì đối với bạn. Hiểu được những gì Kinh thánh hoạch định trên Hôn nhân sẽ giúp chúng ta có được nền tảng để xây dựng gia đình.
2. Sự phát triển kỹ năng. Thông thường những cuộc Hôn nhân của chúng ta không mạnh mẽ hơn như chúng đáng phải có bởi vì chúng ta đã không phát huy những kỹ năng cá nhân để đạt được sự phát triển này. Bằng cách học và rèn luyện những kỹ năng này, bạn sẽ được trang bị tốt hơn để phát triển mối quan hệ Hôn nhân của bạn.
3. Sự hình thành nhân cách. Khi bạn tiếp xúc với lời Chúa, nhớ phát triển mối quan hệ gần gũi hơn với người bạn đời của mình. Tự bạn sẽ thấy mình đang tăng trưởng tâm linh. Không gì thách thức sự phát huy nhân cách của chúng ta như việc học tập sống trong một mối quan hệ gần gũi với tha nhân.
Nếu bạn đang theo học môn này lúc đang độc thân, có quá nhiều điều bạn có thể học hỏi. Sự hiểu biết của bạn về sự dạy dỗ của Thánh kinh đối với Hôn nhân và sự phát triển những kỹ năng cá nhân sẽ giúp bạn trở nên một tín hữu chín chắn. Điều này sẽ làm cho tất cả các mối quan hệ cá nhân của bạn trở nên mạnh mẽ hơn và là nền tảng cho một cuộc Hôn nhân bền vững và tốt đẹp nếu Đức Chúa Trời đưa bạn vào. Trong suốt sách bài tập, những dự án ứng dụng song song đã được soạn riêng cho những người độc thân đang theo học môn này. Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho bạn và làm cho bạn mạnh mẽ thêm qua việc học.


HƯỚNG DẪN CHO HỌC VIÊN
Khi đọc xong phần mục lục, bạn sẽ thấy rằng mỗi phần gồm những lãnh vực khác nhau của mối quan hệ Hôn nhân. Phần thứ nhất sẽ bắt đầu với sự khái quát về nền tảng của Thánh kinh dành cho Hôn nhân - Phần này chủ yếu bao gồm sự nghiên cứu chi tiết về những khái niệm được ghi trong SaSt 2:24. Phần thứ hai sẽ tiếp tục bàn luận đến một trong những khả năng quan trọng nhất liên hệ đến việc hình thành sự thân mật trong Hôn nhân, đó là sự truyền thông - Phần ba sẽ bàn luận đến những vai trò cụ thể mà Đức Chúa Trời đã hoạch định cho người nam và người nữ trong Hôn nhân - Phần cuối sẽ nghiên cứu kỹ về tình yêu và sự bày tỏ tình yêu qua tình dục. Bài học cuối cùng sẽ cung cấp cho chúng ta một bảng tóm tắt và một số viên gạch để tiếp tục hướng dẫn đến một cuộc Hôn nhân tốt đẹp hơn.
Dù môn học được sắp xếp theo chủ đề và hầu hết những bài học có thể được học cách riêng rẽ nhưng tốt nhất là bạn nên tiến hành theo thứ tự của nó. Xin học môn học cách hệ thống và cẩn thận để đạt được lợi ích lớn nhất.
Bạn nên dành cho mình ít nhất là 6 giờ nghiên cứu để học hoàn tất mỗi bài học. Một số bài học có thể mất ít thời gian hơn và một số thì nhiều hơn. Trọng tâm của các bài học là những dự án sau cùng. Chúng ta phải tránh cám dỗ nghiên cứu về Hôn nhân và nói về Hôn nhân mà không thực hành những điều đó vào thực tế để làm cho Hôn nhân của bạn trở nên mạnh mẽ hơn. Vì thế, những dự án thiết thực là yếu tố quan trọng duy nhất của môn học. Do đó bạn phải dự kiến cách khôn khéo để mình có đủ thời gian hoàn thành những dự án.
Nếu sau đó bạn sẽ dạy môn học này cho ai nữa hoặc bạn là người thường được yêu cầu khải đạo cho ai đó, có thể bạn muốn suy nghĩ đến cách dạy môn học này cho những người khác. Sau khi học môn học này, bạn hãy dành thời gian để ghi nhanh những nhận xét, ý tưởng và dàn bài để bạn có thể truyền tải những nguyên tắc này cách tốt nhất cho những người xung quanh.
I. HOẠCH ĐỊNH CHO ĐƠN VỊ BÀI
Gần chỗ mở đầu của từng phần, bạn sẽ thấy những mục tiêu của bài học, tóm tắt những điều quan trọng nhất bạn sẽ học trong bài học theo sau đó. Bạn sẽ muốn chú tâm nghiên cứu những mục tiêu này và tra cứu định kỳ để đánh giá sự sử dụng thành thạo tài liệu của môn học. Những mục tiêu đó cũng là những hướng dẫn cho phần bài thi ở cuối mỗi phần bài học.
Vì hầu hết những cá nhân học môn này là những người cực kỳ bận rộn nên chúng tôi hoạch định mỗi phần bài và mỗi bài học có những bước xác định rõ ràng để dễ tra cứu. Ngoài ra, vì bạn biết được những gì bạn sẽ học nhờ xem mục tiêu của bài học nên bạn sẽ biết chính xác từ lúc đầu những chủ đề nào cần nhiều thời gian nhất. Nếu một chủ đề được gói gọn trong một mục tiêu của bài học, hãy tin chắc rằng sự sử dụng thành thạo mục tiêu đó của bạn sẽ được đánh giá bằng việc thực hành một bài tập hay một dự án cụ thể hoặc bằng một câu hỏi ở bài kiểm tra học phần.
Người hướng dẫn nhóm bạn sẽ cho bạn biết liệu những bài thi học phần mỗi học viên phải làm ở nhà hay cùng làm tại lớp.
II. HOẠCH ĐỊNH CHO BÀI HỌC.
Có vài thành phần tiêu chuẩn được lồng vào trong từng bài học để làm cho sự nghiên cứu của bạn trở nên dễ dàng hơn.
Những thành phần đó được giải thích dưới đây để bạn có thể hiểu được và sử dụng chúng cách ích lợi nhất:
1. Dàn Bài cung cấp một cái nhìn tổng quát từng phần trong mỗi bài học. Theo cách này bạn có thể đoán trước diễn tiến và trình tự của những chủ đề khác nhau trước khi bạn bắt đầu nghiên cứu.
2. Mục Tiêu Của Bài Học được đưa ra để giúp bạn xác định những phần quan trọng nhất của từng bài học và qua đó hướng dẫn bạn sử dụng thời gian nghiên cứu tốt nhất - Một khi bạn đã hoàn tất một bài học, bạn có thể đánh giá bạn đã sử dụng thông thạo tài liệu như thế nào qua việc kiểm tra xem liệu bạn có thể thực hiện mục tiêu của bài học chưa. Người hướng dẫn nhóm của bạn sẽ chọn những tiết mục từ những mục tiêu này cho cuộc thảo luận ở trong lớp, vì vậy hãy chuẩn bị!
3. Câu Hỏi thỉnh thoảng được đưa ra để giúp bạn tiếp xúc với phần từ liệu. Câu hỏi đòi hỏi trả lời ngay. Bất cứ khi nào bạn thấy tiêu đề “Câu hỏi” hãy dừng lại và viết câu trả lời vào vở của bạn. Sau đó bạn sẽ có thể kiểm tra câu trả lời của bạn trong phần “Trả lời câu hỏi” ở cuối bài bạn đang học. Câu hỏi và câu trả lời được đánh số thứ tự trong từng bài học để bạn kiểm tra dễ dàng hơn.
Ghi chú: Có nhiều quan điểm khác nhau về một số những vấn đề này. Khi nào bạn không đồng ý với câu trả lời đã được ghi sẵn trong phần “Trả lời câu hỏi” của sách Bài tập và chuyện đó không là vấn đề quan trọng đối với sự dạy dỗ rõ ràng của Thánh kinh, hãy tự do phát biểu ý kiến của chính mình cho giáo sư hướng dẫn. Ông ấy sẽ nêu lên quan điểm của mình và nếu có thì giờ bạn có thể trao đổi với ông ấy về vấn đề đó.
4. Bài Tập được giới hạn trong phần đọc và nghiên cứu. Những bài tập đó chỉ ra những điều cụ thể bạn phải làm để liên hệ chính mình vào sự nghiên cứu tư liệu của bài học. Khi có một câu trả lời thích hợp, nó sẽ được trình bày trong phần “Trả lời bài tập” ở cuối bài học . Bạn nên chuẩn bị để thảo luận và đánh giá những bài tập đó khi bạn gặp nhóm của mình.
5. Các Dự Án là những bài nghiên cứu hay những hoạt động ứng dụng mở rộng để giúp bạn tiếp thu những khái niệm của bài học. Trong môn học này, có 12 dự án cho học viên đã có gia đình và 8 dự án cho học viên độc thân. Những dự án đó là phần quan trọng nhất của môn học. Trong các dự án bạn có cơ hội nhìn thấy những khái niệm được nghiên cứu trong bài học có thể được áp dụng vào cuộc sống của bạn như thế nào. Trước khi bắt đầu từng bài học, hãy nhìn vào dự án (những dự án) của bài học để bạn có thể sắp xếp thời gian dành cho công việc này. Không có câu trả lời cho những dự án, nhưng mỗi dự án sẽ được xem xét cẩn thận và thảo luận trong suốt thời gian của khoá học.
Mô tả dự án
Viết tắt: G: Học viên có gia đình
Đ: Học viên độc thân
1 G: Hãy dành thời gian thảo luận với người bạn đời những gì bạn đã học trong bài 1, xem xét hoạch định Đức Chúa Trời cho Hôn nhân và nhấn mạnh mục đích của Hôn nhân. Hai vợ chồng sẽ nghiên cứu những lãnh vực cuộc Hôn nhân của họ phù hợp với hoặc khác với hoạch định của Đức Chúa Trời và cả hai vợ chồng sẽ thảo luận cách xử lý những lãnh vực khác với kế hoạch của Đức Chúa Trời.
Đ: Hãy dành thời gian với người bạn Cơ đốc thân nhất để làm cho mối quan hệ của mình nên sâu sắc hơn. Thời gian thảo luận thân mật này được ấn định để gia tăng sự thân mật trong mối quan hệ bằng hữu Cơ đốc.
2 G: Hãy thảo luận với người bạn đời về vấn đề tách rời. Mục tiêu để bảo đảm rằng người bạn đời biết rõ anh ấy hoặc cô ấy có vị trí ưu tiên trong tình yêu thương của bạn. Một loạt các câu hỏi sẽ giúp học viên thảo luận những phương diện cụ thể của việc tách rời. Nếu có thể học viên cũng sẽ thảo luận vấn đề này với cha mẹ.
Đ: Hãy trả lời câu hỏi, “Làm sao một người độc thân có thể chuẩn bị để tách rời?”. Thật ra đây là một thời gian lý tưởng để thảo luận vấn đề này với cha mẹ mình. Học viên độc thân cũng sẽ thảo luận những phương cách thực tiễn để cha mẹ có thể giúp đỡ họ trở nên độc lập hơn nữa.
3 G: Hãy thảo luận với người bạn đời về vấn đề gắn bó. Điều này sẽ bao gồm việc nhìn vào những xung đột trong mối quan hệ và mức độ người này chăm sóc hay sử dụng người kia. Một vài câu hỏi sẽ giúp học viên thảo luận những phương diện cụ thể của việc gắn bó.
Đ: Hãy nghiên cứu vấn đề gồm những phương cách thích hợp và không thích hợp để đáp ứng những nhu cầu cá nhân, nêu ví dụ từ kinh nghiệm bản thân trong một đoạn ngắn.Tiếp theo xin viết nửa trang giấy giải thích cách trông đợi vào Đức Chúa Trời đáp ứng những nhu cầu cá nhân của một người ảnh hưởng đến cuộc sống của người đó.
4 G: Dành thời gian thảo luận khái niệm mối quan hệ một thịt của Kinh thánh và đánh giá mối quan hệ thể xác của bạn dựa trên những gì bạn đã học trong bài.
5 G: Thảo luận với người bạn đời 6 yếu tố khuyến khích sự đối thoại trong một mối quan hệ. Dùng những câu hỏi hướng dẫn, nhờ anh ấy/ hoặc cô ấy đánh giá phần truyền thông của bạn trong Hôn nhân. Sau đó viết hai trang giấy giải thích cách bạn sẽ góp phần vào sự truyền thông hai chiều ở nhà mình.
Đ: Thảo luận (trên giấy) từng điều trong 6 yếu tố của truyền thông hai chiều liên hệ đến cuộc sống của bạn, vì sự truyền thông đúng đắn quan trọng đối với tất cả mọi người, người đã lập gia đình hay người độc thân. Bạn sẽ đưa ra những ví dụ cụ thể về cách bạn có thể bắt đầu áp dụng những yếu tố này trong những mối quan hệ của bạn với các thành viên trong gia đình, với bạn hữu hoặc với người hàng xóm.
6 G: Thảo luận với người bạn đời về 6 chiến lược và kỹ năng truyền thông để đảm bảo rằng mỗi người đều hiểu được những khái niệm. Bạn sẽ phải liệt kê những kỹ năng truyền thông đặc biệt mà bạn sẽ tìm cách triển khai.
Đ: Sử dụng mỗi kỹ năng và chiến lược truyền thông với kỳ học tiếp theo . Việc tiếp xúc với nhiều người hằng ngày sẽ tạo nhiều cơ hội tốt để học truyền thông.
7 G: Hãy hoàn thành”Bài tập truyền thông” trong sách bài tập của bạn. Sau đó bạn sẽ bắt đầu những phương cách thực tiễn để chấp nhận những cảm xúc khi nói chuyện với người bạn đời suốt tuần lễ. Dự án được hoạch định để giúp bạn cách chấp nhận những cảm xúc do người bạn đời bày tỏ.
Đ: Xin viết ra từng điều trong 8 nguyên tắc giải quyết xung đột dựa trên Eph Ep 4:25-32, và nêu ra hai ứng dụng của từng nguyên tắc. Để nhận được ích lợi từ dự án này, bạn phải nêu ra tối thiểu hai ứng dụng và thực hiện ít nhất là một đối với mỗi nguyên tắc.
8 G: Bạn hãy cùng người bạn đời, mỗi người điền vào bảng kiểm tra liên quan đến thái độ của mình đối với vai trò của người chồng trong Hôn nhân. Bạn nên đối chiếu câu trả lời của mì nh và chú ý đến những lãnh vực có khả năng gây ra xung đột hay bất đồng ý kiến.
9 G: Bạn hãy cùng người bạn đời, mỗi người điền vào bảng kiểm tra liên quan đến thái độ của mình đối với vai trò của người vợ trong Hôn nhân. Bạn nên đối chiếu câu trả lời của mình và chú ý đến những lĩnh vực có khả năng gây ra xung đột hay bất đồng ý kiến.
10 G: Dành thời gian nói chuyện với người bạn đời về 5 phương diện của tình yêu được thảo luận trong bài học và những nguyên tắc giúp làm phong phú thêm cho cuộc sống tình yêu trong Hôn nhân. Vợ chồng sẽ bày tỏ những phương cách có thể bày tỏ tình yêu đối với nhau cách tốt nhất. Vợ chồng sẽ cùng nhau khám phá một số phương cách để bày tỏ tình yêu đối với nhau cách tốt đẹp hơn.
Đ: Xin đọc kỹ những đặc điểm của tình yêu thương trong I Côrinhtô 13. Với mỗi đặc điểm bạn sẽ nêu lên một ví dụ về cách bạn sẽ bày tỏ phẩm chất đặc biệt này đối với những người bạn hay gia đình của mình.
11 G: Dành riêng một thời gian nào đó để thảo luận với người bạn đời về mối quan hệ tình dục của bạn. Thảo luận những lĩnh vực nào bạn mạnh mẽ cũng như những lãnh vực mối quan hệ tỏ ra yếu ớt. Cũng thảo luận về 3 điều được đề cập trong phần kết luận của bài học: nhu cầu thời gian, sự riêng tư và hứa nguyện. Hãy tìm kiếm những phương cách sáng tạo để vượt qua cản trở về cả thời gian lẫn sự riêng tư trong tình huống của bạn.
Đ: Xử lý một tình huống khải đạo giả định với một đôi bạn đã đính hôn liên hệ đến vấn đề quan hệ thể xác. Câu hỏi phải được giải quyết là: “Đó là một món quà từ Đức Chúa Trời ban cho vợ chồng, nhưng có phải món quà này cũng dành cho người độc thân không?”
12 G: Hãy dành cả ngày với người bạn đời của mình - Dự án cuối cùng này phải là một dự án thú vị cho cả bạn và người phối ngẫu khi bạn dùng thời gian này để thảo luận về những mục tiêu cụ thể cho mối quan hệ Hôn nhân của hai bạn. Các bạn sẽ dành thời gian trong ngày để cầu nguyện cho mục tiêu này, và thời gian còn lại sẽ dùng để hai vợ chồng vui hưởng bên nhau.
6. Phụ Lục bao gồm cả tài liệu cần thiết cho sự hoàn tất bài học và những tài liệu tham khảo bổ ích có thể giúp đỡ cho bạn ngoài phạm vi những yêu cầu nghiên cứu của khoá học này. Phần này được đặt ở cuối bài học tương ứng. Xin đọc phần này theo sự hướng dẫn trong bài học.
7. Bài Tự Kiểm Tra được kèm với một số bài học để bạn tự đánh giá sự tiếp thu khái niệm trong bài học đó. Khi học xong bài, hãy làm bài tự kiểm tra và sau đó đối chiếu câu trả lời của bạn với những câu trả lời đã có sẵn.
8. Bài Thi cũng là những phần quan trọng của khoá học này. Có tất cả là bốn bài, mỗi bài ở cuối mỗi phần học. Mỗi bài thi bao gồm những điểm chính của phần bài đặc trưng đó. Kết quả của những bài thi sẽ được tính vào điểm cuối khoá của bạn.
Những tài liệu cần thiết.
Để hiểu thấu khoá học này, bạn sẽ cần một quyển Kinh thánh, một bản sao tài liệu hướng dẫn này, những bản sao của những sách giáo khoa của khoá học, và một quyển vở riêng để viết bài làm của tất cả những bài tập. Sách giáo khoa đầu tiên là “Người xây dựng hôn nhân “ (The Marriage Builder ) của Lawrence J. Crabb. Jr, một nhà khải đạo Cơ đốc có tiếng, một tác giả và là một giáo sư chủng viện . “Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa” của Ed. Wheat là một sách giáo khoa khác. Ong Wheat là một bác sĩ Cơ đốc ở Mỹ, là người hầu việc Chúa qua sự khải đạo trong hôn nhân.
Khi nào bạn thấy tiêu đề “Câu hỏi”, bạn sẽ biết nên viết câu trả lời vào vở bạn. Trong một số phần ghi “Bài tập” và “Dự án” bạn cũng sẽ được hướng dẫn viết những điều gì đó vào vở.
Điểm
Bảng điểm ghi dưới đây:
1. Chỉ cách quyết định điểm tổng kết của khoá học.
2. Tìm ra những tiêu chuẩn chính xác cho việc hoàn thành khoá học.
3. Phản ánh sự liên lạc quân bình đối với sự triển khai trong các lĩnh vực học tập, trung tín tham dự lớp và góp phần thực tế.
Như một công cụ lượng giá trong việc khám phá ra những lãnh vực của nhu cầu và sự tăng trưởng trong cuộc sống bạn.

1 4 trên 4 Trung bình 90 11 trên 11 80% 12 trên 12 8 trên 8
5 Tham dự lớp dưới 70% giờ học
1. Điểm. Điểm tổng kết được xác định trên nền tảng những tiêu chuẩn tối thiểu được hoàn thành đối với mọi phần của khóa học.
2. Bài thi. Nếu không làm một bài thi nào, thì tự động điểm sẽ là điểm 6. Bốn bài thi, mỗi bài cho mỗi phần, được dự kiến để đánh giá xem liệu bạn có hiểu được những khái niệm cơ bản không.
3. Bài học. Sự hoàn thành bài học bao gồm tất cả bài tập đọc và viết. Công việc phải được tường trình trong “vở bài làm” và đem theo mỗi khóa học.
4. Hiện diện. Hiện diện là nhiệm vụ và không thể vắng mặt được.Tuy nhiên, nếu lý do vắng mặt là chính đáng, có thể được chấp nhận nhưng chỉ dưới những tình huống bất thường. Để đạt điểm tham dự, học viên phải mang vở bài làm đến lớp học.
5. Dự án. Được kể là hoàn thành dựa trên những chỉ dẫn được ấn định trong sách bài tập. (Xem phần liệt kê bên dưới tiêu đề DỰ ÁN).
6. Không đạt yêu cầu sẽ được dành cơ hội tốt để hoàn thành những công việc chưa đạt yêu cầu.
HÔN NHÂN LÀ GÌ ?

Có rất nhiều ý kiến khác biệt đôi lúc mâu thuẫn với nhau liên quan đến vấn đề: hôn nhân là gì và nó hoạt động ra sao? Về đề tài hôn nhân, không chỉ mỗi nền văn hóa có mỗi quan điểm riêng cho mình mà còn có nhiều ý kiến khác nhau của từng cá nhân bên trong mỗi nền văn hóa đó. Một nguyên nhân gây thắc mắc về đề tài này là: dù có nhiều người bước vào hôn nhân song lại có quá ít người học về nền tảng của hôn nhân đó.
Trong bài số 1, chúng ta sẽ học điều Kinh thánh dạy về hôn nhân để hiểu được nền tảng mà Đấng thiết lập hôn nhân đã hoạch định .

DÀN BÀI
Bài 1 : Hôn nhân bao hàm sự vâng phục theo hoạch định của Đức Chúa Trời.
Bài 2 : Hôn nhân bao hàm cả “tách rời” lẫn “gắn bó”.
Bài 3 : Hôn nhân bao hàm việc trở nên “một thịt”.

NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Khi hoàn tất loạt bài này bạn sẽ có thể:
Giải thích những hoạch định của Đức Chúa Trời trên hôn nhân theo như Kinh thánh đã dạy
Trình bày sự cam kết vâng theo hoạch định về hôn nhân của Đức Chúa Trời.
Giải thích ý nghĩa của “tách rời” và “gắn bó” trong bối cảnh xã hội của bạn.
Mô tả những khía cạnh khác nhau của việc trở nên “một thịt”.

Bài 1: HÔN NHÂN BAO HÀM SỰ VÂNG PHỤC THEO
HOẠCH ĐỊNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Một kiến trúc sư thiết kế một toà nhà như thế nào? Sau khi phác thảo ý tưởng và lập kế hoạch tỉ mỉ, ông ta vẽ một bản thiết kế cho những người xây dựng làm theo. Miễn là những người công nhân chịu làm theo bản thiết kế của người kiến trúc sư thì toà nhà hoàn thành sẽ hoạt động đúng theo thiết kế ban đầu. Bạn có thể tưởng tượng được điều gì sẽ xảy ra khi một văn phòng, một căn nhà, một nhà máy nơi mỗi người xây dựng theo cách của họ mà không chú ý đến bản thiết kế chính không? Công trình đó sẽ là một thảm họa!
Rất tiếc, đây là hình ảnh của rất nhiều người tiến đến hôn nhân ngày nay. Chúng ta có những mẫu thiết kế nguyên bản do vị Kiến trúc sư hoàn hảo duy nhất phác họa. Tuy nhiên, hầu hết các đôi vợ chồng thường làm theo ý mình. Ngay cả những cặp vợ chồng Cơ đốc cũng rơi vào trong kiểu bi kịch này khi họ không biết rõ hoạch định của Đức Chúa Trời cho hôn nhân.
Trong buổi đầu sáng thế, những công việc sáng tạo lạ lùng của Đức Chúa Trời bao gồm cả việc thiết lập hôn nhân. Trong bài số 1 chúng ta sẽ nghiên cứu 2 đoạn trong Sáng thế ký một cách chi tiết để khám phá được kế hoạch của Đức Chúa Trời trên hôn nhân và trách nhiệm vâng lời Ngài của chúng ta. Bài học này sẽ tập trung đề cập đến nền tảng của hôn nhân mà Kinh thánh đã dạy.
TÓM TẮT BÀI HỌC
Hoạch định của Đức Chúa Trời trên hôn nhân
Sự thiết lập hôn nhân
Mục đích của hôn nhân
Kết luận
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Sau khi học xong bài này bạn sẽ có thể:
Nhận dạng được mục đích của hôn nhân dựa trên SaSt 1:1-2:25 với phần tham khảo để yểm
trợ cho mỗi mục đích.
Viết thuộc lòng 2:24 và giải thích ý nghĩa của mỗi một trong ba nhóm từ trong 1 hay
2 dòng.
Liệt kê ba tham khảo trong Tân ước liên quan đến 2:24 và giải thích trong 1 dòng
cho biết mỗi câu gia thêm điều gì cho sự hiểu biết của chúng ta về chương trình của Đức
Chúa Trời cho hôn nhân.
Chứng tỏ sự cam kết của bạn bằng cách thực hành môn học thông qua việc hoàn thành dự
án 1.
Hoạch định của Đức Chúa Trời cho Hôn nhân.
Sự thiết lập hôn nhân
Môise được cảm thúc bởi Thánh Linh, đã ký thuật những công việc sáng tạo vĩ đại của Đức Chúa Trời trong những đoạn đầu của sách Sáng thế ký. Và trong những đoạn đầu tiên này của Kinh thánh, chúng ta tìm thấy sự thiết lập hôn nhân. Vì thế học Sáng 1-2 theo phương pháp quy nạp là cần thiết cho việc hiểu một cách đúng đắn về chương trình của Đức Chúa Trời cho hôn nhân. Những câu hỏi và bài tập sau đây sẽ giúp bạn trong việc học. Xin cứ tự nhiên thêm phần quan sát của bạn trong khi học.
Bài tập 1:
Đọc 1:1-2:25. Sau đó viết hai bảng tóm tắt cho 1:1-2:3 và đoạn 2:4-25.
Câu hỏi 1
Trong đoạn 1 Môise đã ký thuật đầy đủ tất cả những biến cố của sự sáng tạo. Ông
chú ý đến điều nào nhất? Tại sao?
Chỉ có con người được dựng nên theo ảnh tượng của Chúa. Vậy theo bạn việc con người được dựng nên theo hình ảnh của Chúa có ý nghĩa gì? Một khía cạnh của hình ảnh Đức Chúa Trời trong con người là nhân cách và có một hệ quả tất yếu rất quan trọng là khả năng liên hệ và truyền đạt giữa các cá nhân với nhau giúp phân biệt con người với các loài thọ tạo khác. Con người có thể liên hệ với Đức Chúa Trời bằng một phương cách đặc biệt và cũng có thể liên hệ với những người khác, đặc biệt là mối liên hệ trong tình yêu và sự dấn thân trong hôn nhân. Đức Chúa Trời lại dùng sự phân tích về hôn nhân trong Kinh thánh để giúp chúng ta hiểu về mối liên hệ giữa dân sự Ngài với Ngài. Ví dụ trong Ôsê: dân Ysơraên được nhắc đến như là vợ của Ngài và Hội thánh được gọi là “Tân phụ” của Đấng Christ trong Khải huyền.
Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là chỉ những người đã lập gia đình mới có thể kinh nghiệm được ý nghĩa của mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau. Dự án áp dụng xen kẽ dành cho những người độc thân ở cuối bài học này sẽ tạo cơ hội cho họ áp dụng tài liệu này vào mối quan hệ của chính họ.
Câu hỏi 2
1:28 ghi lại những trách nhiệm được Đức Chúa Trời giao phó cho người nam và người nữ. Liệt kê 5 mạng lịnh, sau đó tóm tắt những điều Đức Chúa Trời bảo người nam làm.
Câu hỏi 3
2:7 mô tả việc dựng nên con người. Trong đoạn 1 cao điểm là việc tạo ra con người
theo hình aûnh Đức Chúa Trời, vậy trong đoạn 2 cao điểm giới thiệu về đề tài gì?
Ađam, được sống ở một môi trường lý tưởng, lao động có ý nghĩa và quản trị cả trái đất, ông lại còn có cả mối liên hệ mật thiết với Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời mô tả tình trạng của con người là “không tốt” (2:18), nhất là sống một mình thì không tốt.
Câu hỏi 4
Về vấn đề của Ađam, Đức Chúa Trời đã làm gì? Hãy nghĩ về từ “giúp đỡ ” được dùng trong
2:18 2:20. Theo bạn từ này nhấn mạnh điều gì?
Ađam đã kết thúc việc đăt tên cho các loài vật, khi làm việc đó, có lẽ ông đã nhận ra rằng mỗi loài vật đều có một bạn tình thích hợp một cách chính xác để bổ sung cho nó. Khi Ađam thấy người nữ lần đầu tiên, ông đã nhận ra rằng bây giờ ông có một người làm trọn vẹn sự hiện hữu của mình, người được tạo ra chỉ dành riêng cho ông. Đáp ứng của Ađam đối với người nữ được ghi lại trong 2:24. Điều nhấn mạnh là sự thích thú và hài lòng của Ađam đối với người nữ. Cách giải quyết của Đức Chúa Trời đã đáp ứng chính xác điều Ađam cần.
Chú ý trong 2:24 văn chương thay đổi. Phần tường thuật những biến cố kết thúc ở câu 23 và trong câu tiếp theo chúng ta có phần dẫn giải được cảm thúc của Môise cho câu truyện: “Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa (tách rời) cha mẹ mà dính díu (gắn bó) cùng vợ và cả hai sẽ nên một thịt”.
Câu hỏi 5
Theo bạn mục đích của Môise là gì trong những lời dẫn giải này? Viết 1 đến 2 dòng trình
bày mục đích có liên hệ đến từng nhóm từ trong số 3 nhóm từ . Sau đó, học thuộc 2:24 để
chuẩn bị kiểm tra viết.
“Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình,
và cả hai sẽ nên một thịt”
2:24.

Mục Đích Của Hôn Nhân
Tại sao Đức Chúa Trời thiết lập hôn nhân? Nhằm mục đích gì? Trong hai đoạn đầu của sách Sáng thế ký chúng ta tìm thấy vài nguyên nhân để Đức Chúa Trời thiết lập mối quan hệ đặc biệt này giữa người nam và người nữ.
Mục đích đầu tiên của hôn nhân được chép trong 1:26-27, ở đây Kinh thánh chép rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên con người giống như hình Ngài. Một khía cạnh của “hình ảnh Đức Chúa Trời” là nguyện vọng và khả năng được liên hệ với người khác. Trong câu 26 chúng ta thấy được mối liên hệ giữa 3 ngôi Đức Chúa Trời, thông qua việc sử dụng đại từ số nhiều: “chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta”- như các thân vị trong 3 ngôi Đức Chúa Trời có mối quan hệ với nhau thì loài người được dựng nên theo hình Ngài cũng được thiết kế để mong muốn có được mối quan hệ với người khác, dù đó là người bạn đời, bạn hữu hay người thân. Hơn nữa, dựa theo 2:18 nhu cầu của con người về mối quan hệ với người khác có liên quan trực tiếp đến hôn nhân. Đức Chúa Trời đã nhận thức điều đó bởi cách thức Ngài dựng nên người nam, vì vậy thật là không tốt cho người nam sống một mình. Đức Chúa Trời đã đáp ứng nhu cầu này bằng cách tạo ra một người giúp đỡ thích hợp cho người nam được gọi là người nữ.
Mục đích thứ hai của cuộc hôn nhân được tìm thấy trong mạng lịnh “làm cho đầy dẫy đất” (1:28). Sinh sôi nảy nở là một khía cạnh của mối quan hệ “một thịt” mở rộng giữa hai vợ chồng (2:24). Đề tài quan trọng này sẽ được trình bày rõ hơn trong bài 3.
Chúng ta tìm thấy mục đích thứ 3 của cuộc hôn nhân trong đoạn 2:18, 21, 24 được thuật lại trong việc sáng tạo người nữ. Người nữ được dựng nên để đáp ứng nhu cầu đặc biệt trong cuộc sống của người nam, bởi vì người nam sống một mình không tốt. Nhưng người nữ thì không chỉ là một người bạn, người giúp đỡ, nàng là người giúp đỡ duy nhất thích hợp với anh ta. Ađam vui sướng nhận ra ngay rằng cô ấy là “xương bởi xương ông, thịt bởi thịt ông”. Đức Chúa Trời dự định cho người nam và người nữ bổ sung cho nhau, hoàn thiện lẫn nhau trong mối quan hệ hôn nhân. Mục đích của hôn nhân được tóm tắt ngắn gọn trong Sáng thế ký 1-2.

MỤC ĐÍCH CỦA HÔN NHÂN
1. Loài người cần có các mối quan hệ
2. Loài người được lịnh: làm đầy dẫy đất.
3. Đức Chúa Trời dựng nên người nam và người nữ để bổ sung cho nhau.
Tân ước trích dẫn 2:24 ba lần để nhấn mạnh những điểm khác biệt mà trước giả Kinh thánh muốn nêu lên về hôn nhân, những phân đoạn này cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc về nền tảng cơ bản của hôn nhân.
Câu hỏi 6
Những khúc Kinh thánh Tân ước sau đây củng cố hoặc triển khai mục đích của hôn nhân
đã được chép trong SaSt 1:1-2:25 như thế nào? Giải thích trong 1 dòng cho biết mỗi khúc Kinh
thánh này đã gia thêm sự hiểu biết của bạn về hoạch định của Đức Chúa Trời cho hôn
nhân như thế nào?
Mat Mt 19:5-6
ICo1Cr 6:12-7:7;
Eph Ep 5:22-33
Dự án 1
Dành Cho Những Học Viên Đã Có Gia Đình
Để giúp bạn thông suốt ứng dụng của bài học này trong cuộc sống, hãy làm dự án sau
với vợ / chồng của bạn. Các bạn dành ra hai giờ để hoàn thành dự án.
1/ Dành ít thời gian để chia xẻ với chồng/ vợ những điều bạn đã học được từ bài học này. Mô tả hoạch định của Đức Chúa Trời trên hôn nhân, đặc biệt nhấn mạnh mục đích của hôn nhân. Nếu vợ bạn cũng cùng học môn này, hãy lắng nghe những điều gì cô ấy đã nhận được (giới hạn cuộc thảo luận trong những điều bạn đã học).
2/ Trong lúc nói chuyện với người phối ngẫu, hãy hỏi anh/ cô ấy xem phương cách nào anh/ cô ấy tin rằng cuộc hôn nhân của bạn phù hợp với hoạch định của Đức Chúa Trời và những phương cách nào không? Nếu bạn không đồng ý với chồng/ vợ cũng không nên để bị lạc hướng khiến cuộc thảo luận trở thành gay gắt - Đây là dịp rất tốt để bạn thực tập làm một người biết lắng nghe.
3/ Trên một tờ giấy viết 1 dòng “Để hướng cuộc hôn nhân của tôi ngày một phù hợp hơn với hoạch định của Đức Chúa Trời, tôi sẽ làm …”. Bên dưới liệt kê từ 3 đến 4 lãnh vực mà bạn và người phối ngẫu có thể hướng đến- Bảng liệt kê này hoàn toàn bí mật giữa bạn và người bạn đời. Hai bạn có thể chọn một người phù hợp để thảo luận hay một bạn đồng khóa khác nhưng cuộc thảo luận này nhằm dành riêng cho vợ chồng.
Đối với những sinh viên độc thân.
Chúng ta thấy rằng mục đích của hôn nhân là “để đáp ứng nhu cầu quan hệ của loài người”. Trong khi có một mức độ riêng tư trong hôn nhân không thể áp dụng cho người độc thân, bạn có thể và nên mở rộng mối “quan hệ” với những người bạn đồng đức tin trước khi kết hôn. Những mối quan hệ này có thể khuyến khích bạn trên con đường theo Chúa và chuẩn bị bạn cho cuộc sống hôn nhân sau này.
Bài tập của bạn trước khóa học tới là dành ít nhất 1 giờ với người bạn Cơ đốc thân nhất để củng cố thêm mối liên hệ giữa hai người. Chọn một bạn cùng phái và thảo luận những câu hỏi sau (hãy làm cho cuộc thảo luận được bình thường và tự nhiên. Đừng đem theo bảng câu hỏi).
Giờ phút hạnh phúc nhất của cuộc đời bạn là gì ?
Mong muốn lớn nhất của bạn là gì ?
Điều khích lệ bạn nhất trong thời điểm này là gì ?
Bạn có thể thảo luận thêm vài câu hỏi của bạn nếu chúng giúp bạn thêm thân thiết trong mối quan hệ với người này.
Sau đó viết 1 trang tựa đề: “Để mối liên hệ của tôi với anh - chị này ngày một sâu sắc hơn tôi sẽ ….”. Mối tương giao thân mật và tốt đẹp trong hôn nhân không thể tự động hay một sớm một chiều mà có được. Bắt đầu thực hành từ bây giờ thì bạn sẽ nhận được phần thưởng cả trong hiện tại lẫn tương lai.
Kết Luận
Hoạch định của Đức Chúa Trời cho hôn nhân là hôn nhân là mối liên hệ mật thiết nhất của một con người, cung cấp phương tiện cho việc duy trì nòi giống, và nó làm cho mỗi cá nhân được trọn vẹn bằng cách cung cấp một người bạn đời bổ sung cho nhau - Đức Chúa Trời đã thiết kế cho người nam và người nữ với một mối liên hệ đặc biệt trong tư tưởng, và vì vậy cách họ liên hệ không là vấn đề lựa chọn giữa họ như là hai con người. Đó là vấn đề giữa họ và Đức Chúa Trời, chúng ta không thể tự do định rõ mối liên hệ hôn nhân theo cách chúng ta muốn mà nên đặt mục tiêu vâng theo hoạch định tốt đẹp của Đức Chúa Trời dành sẵn cho chúng ta.
Bạn đã học một số bài học Kinh thánh cơ bản về đề tài hôn nhân, dĩ nhiên có nhiều khía cạnh quan trọng về hôn nhân Cơ đốc sẽ được học trong những bài sau. Một lời khích lệ cuối cùng. Cuộc hôn nhân của bạn càng giống với hoạch định của Đức Chúa Trời chừng nào thì sự thành đạt đem lại cho bạn càng lớn chừng đó. Hãy tận dụng cơ hội này để gần gũi hơn với người bạn đời của bạn, chắc chắn bạn sẽ vui vẻ hơn vì đã làm như thế.
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Câu hỏi 1
Môise đã tập trung miêu tả sự sáng tạo ra loài người trong công cuộc sáng tạo thế giới của Đức Chúa Trời. Vì phần còn lại của Kinh thánh tập trung đến mối liên hệ giữa Chúa và con người nên chẳng có gì ngạc nhiên khi Sáng thế ký nhấn mạnh sự khởi đầu của mối liên hệ này.
Câu hỏi 2
Năm mạng lịnh trong SaSt 1:28
Hãy sanh sản
Tăng thêm nhiều
Làm cho đầy dẫy đất
Chinh phục đất đai
Quản trị tất cả mọi loài
Loài người phải sinh sôi nảy nở cho đến khi đầy dẫy đất và người phải quản trị đất và tất cả mọi sinh vật.
Câu hỏi 3
Đọan 2 kết thúc với việc giới thiệu về hôn nhân và phương cách 2 con người giống nhau nhưng khác nhau lại có liên hệ với nhau.
Câu hỏi 4
Đức Chúa Trời đã sáng tạo hay đã làm ra người nữ từ người nam và mang nàng đến cho anh ta. “Thích hợp với người nam” trong 2:18 theo nghĩa đen là “tương ứng thích hợp với người nam” - Điều nhấn mạnh là Đức Chúa Trời dựng nên người nữ là người duy nhất bổ sung cho người nam về thể xác, tri thức và cảm xúc (chú ý: chúng ta sẽ nhận ra rằng sau cùng chỉ có Đức Chúa Trời mới làm thỏa mãn những nhu cầu của con người và con người không bao giờ có thể được thỏa mãn cho đến khi tìm kiếm Đức Chúa Trời để Ngài đáp ứng mọi nhu cầu của mình - nhưng thực ra Đức Chúa Trời thường dùng người chồng hay người vợ như một công cụ của Ngài để thỏa mãn đa số những nhu cầu ấy)
Câu hỏi 5
Sau khi mô tả những biến cố sáng tạo nên người nam và người nữ, giải thích những trách nhiệm của họ là gì và nhất là vì sao người nữ được dựng nên như thế. Môise giải thích những yêu cầu cơ bản để tạo cho mối liên hệ của họ được tăng trưởng và kết quả.
Những điều kiện để mối liên hệ hôn nhân được đầm ấm, có liên quan đến quan điểm thích đáng trong mối liên hệ với cha mẹ (tách rời) và sự cam kết dành cho người bạn đời (gắn bó), dẫn tới mục tiêu trở nên hiệp nhất (cả hai sẽ trở nên một thịt).
Câu hỏi 6
Ba khúc Kinh thánh Tân ước củng cố hoặc triển khai mục đích của hôn nhân trong những phương cách sau đây:
a/ Mat Mt 19:5-6 - Sự liên quan của Đức Chúa Trời trong mối liên hệ hôn nhân được nhấn mạnh: “Điều gì Đức Chúa Trời đã phối hiệp”. Câu 6 cũng nhấn mạnh đến tính vĩnh cửu của hôn nhân: “Loài người không nên phân rẽ”.
b/ ICo1Cr 6:12-7:7 Điều nhấn mạnh chủ yếu của Phaolô là tính thiêng liêng của tình dục trong hôn nhân và khả năng mạnh mẽ của nó trong việc nối kết 2 người lại với nhau (Điều này được thảo luận đầy đủ hơn trong bài 3 và 11).
c/ Eph Ep 5:22-33 Phaolô mô tả cách người chồng phải yêu vợ mình như chính bản thân và câu 31 cũng yểm trợ cho ý kiến này. Phaolô cũng liên hệ hôn nhân với mối tương quan giữa Đấng Christ và Hội thánh .

TỰ KIỂM TRA
Nêu 3 mục đích của hôn nhân được tìm thấy trong SaSt 1:1-2:25. Nhớ trưng dẫn.
Định nghĩa cụm từ “thích hợp cho người nam” được dùng trong 2:18 liên hệ đến người nữ.
Đặc tính nào của Đức Chúa Trời mà cả người nam lẫn người nữ cũng có bởi vì họ được dựng nên theo hình ảnh của Ngài. 1:26 gợi ý về khía cạnh này của Đức Chúa Trời như thế nào? Mục đích của Hôn nhân đáp ứng lòng mong muốn này của người nam và người nữ?
Viết thuộc lòng 2:24
2:24 liệt kê 3 khía cạnh quan trọng của hôn nhân - Xin cho biết đó là gì?
Liệt kê 3 phân đoạn Kinh thánh trong Tân ước liên quan đến 2:24, miêu tả vắn tắt mỗi phần và thêm sự hiểu biết chung của bạn về hôn nhân.

TRẢ LỜI PHẦN TỰ KIỂM
Mục đích của hôn nhân trong 1:1-2:25:
Đáp ứng nhu cầu của con người về mối liên hệ (1:26; 2:18)
Làm đầy dẫy đất (1:28)
Để người nam và người nữ bổ sung và hoàn thiện lẫn nhau trong mối quan hệ này
(2:18, 21-24)
“Thích hợp cho người nam” trong 2:18 nghĩa đen là “tương ứng, thích hợp với anh ta”. Người nữ được sáng tạo cách đặc biệt để hoàn thiện người nam và dành riêng cho anh ta.
Mong muốn và khả năng liên hệ với người khác là 1 khía cạnh của Đức Chúa Trời mà con người được thừa hưởng. Sự chia sẻ giữa các cá nhân với nhau được nêu lên trong 1:26. Bằng cách sử dụng đại từ số nhiều (“chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta) …” Đức Chúa Trời đã dự định cho người nam và người nữ có thể đáp ứng những mong muốn của họ trong mối liên hệ cá nhân đầy ý nghĩa thông qua hôn nhân (mặc dù sự đáp ứng chủ yếu của mong muốn này nằm trong mối quan hệ riêng tư với Chúa Jêsus).
2:24 “Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt”.
2:24 dạy rằng hôn nhân liên quan đến việc lìa cha mẹ, dính diu với người phối ngẫu và trở nên 1 thịt với người phối ngẫu.
19:5-6 nhấn mạnh đến sự vĩnh cửu của mối quan hệ hôn nhân cũng như sự tham dự của Đức Chúa Trời vì chính Ngài là Đấng đã nối kết người nam và người nữ với nhau trong hiệp nhất này.
ICo1Cr 6:12-7:7 dạy về tính thiêng liêng của tình dục trong hôn nhân và chức năng liên kết hai
người trong mối liên hệ mới.
Eph Ep 5:31 Phaolô mô tả cách thức một người chồng phải yêu vợ mình như chính bản thân
và bây giờ Phaolô liên hệ SaSt 2:24 để yểm trợ cho ý kiến này. Ông cũng so sánh hôn nhân
với mối liên hệ giữa Đấng Christ và Hội thánh.
Bài 2: HÔN NHÂN BAO HÀM CẢ SỰ TÁCH RỜI VÀ GẮN BÓ
Theo SaSt 1:1-2:25, Đức Chúa Trời có một chương trình theo cách mà trong đó hôn nhân nên vận hành. Từ bài học trước, bạn đã khám phá được 3 mục đích của hôn nhân. Như bạn biết, mục đích thứ nhất dành cho hôn nhân là đáp ứng nhu cầu của con người về mối liên hệ (2:18), mục đích thứ hai là làm đầy dẫy đất (1:28) và lý do là Đức Chúa Trời dựng nên người nam và người nữ để bổ sung và hoàn thiện lẫn nhau trong mối liên hệ này (2:18, 21-24).
Bài học này sẽ bao gồm những khái niệm về “sự tách rời” và “sự gắn bó”, những thuật ngữ mà Môise đã dùng trong 2:24. Thế nào là người tách rời cha mẹ mình nhưng vẫn còn tôn trọng họ? Có phải một người nam đã gắn bó với vợ mình đơn giản chỉ qua việc anh ta kết hôn với người nữ đó không? Chúng ta hãy nghiên cứu những đoạn Kinh thánh trích dẫn nói về những đề tài này.
TÓM TẮT BÀI HỌC.
Hôn nhân bao gồm sự lìa cha mẹ.
Ý nghĩa và tầm quan trọng của sự tách rời.
Một minh họa
Thảo luận về những nan đề tiềm ẩn.
Hôn nhân bao gồm gắn bó với người bạn đời mình.
Tầm quan trọng của sự gắn bó
Ý nghĩa của sự gắn bó.
Quá trình gắn bó.
Kết luận
MỤC TIÊU BÀI HỌC.
Khi học xong bài này bạn sẽ có thể:
Giải thích ý nghĩa của cụm từ “người nam sẽ lìa (tách rời) cha mẹ”, cân nhắc với sự dạy dỗ của Thánh Kinh là phải kính trọng cha mẹ mình.
Nhận định được chữ “tách rời” có nghĩa gì và liên quan đến những gì cả về phương diện một người trưởng thành “tách rời” cha mẹ mình và như cha mẹ khuyến khích con mình “tách rời” khi bước vào hôn nhân.
Giải thích ý nghĩa của nhóm từ “và gắn bó cùng vợ mình”.
Chứng minh 1 ứng dụng thú vị những chân lý này trong hôn nhân bằng cách hoàn tất dự án 2 và 3.
Hôn nhân bao gồm sự tách rời cha mẹ mình.
Phân đoạn đầu tiên chúng ta sẽ học trong 2:24 “người nam sẽ lìa cha mẹ” câu này dường như là đơn giản và vì vậy nó chỉ là mặt nổi khi một người lập gia đình, người ấy thường rời gia đình và bắt đầu gây dựng một gia đình mới với người bạn đời. Nhưng trong nền văn hoá và giai đoạn câu này được viết thì người nam thường không rời xa nhà của cha mẹ để bắt đầu quản lý gia đình mình như nhiều gia đình mới ngày nay thường làm. Môise đã viết câu này trong thời kỳ các tổ phụ, lúc đó người con trai sau khi cưới dựng lều của mình gần bên lều của bố mẹ và cuộc sống cứ thế tiếp tục. Người ấy vẫn tiếp tục làm việc cho cha mình và cư ngụ trên đất của người cha ấy.
Ý nghĩa và tầm quan trọng của sự tách rời.
Nhóm từ “tách rời cha mẹ” không có liên quan gì đến sự thay đổi về địa lý, mặc dầu nó cũng ám chỉ đến điều này. Dựng một cái trại ở gần bên cha mẹ thì vẫn là thiết lập một gia đình khác. Tuy nhiên, có nhiều cặp đã sống riêng với cha mẹ nhưng vẫn không “rời” cha mẹ theo nghĩa mà Môise đã dạy. Những người khác thì không thể, vì lý do tài chính hay là những lý do khác, rời khỏi gia đình. Vậy những người đó vâng theo mạng lịnh này như thế nào? Điều chúng ta cần khám phá và vâng theo là cụm từ này có ý nghĩa gì về phương diện chức năng.
Khi một người lập gia đình, anh/ cô ta đang bước vào mối liên hệ mật thiết giữa hai người. Bạn sẽ khám phá trong những bài học sau sự thiết thân của mối quan hệ này nếu nó thành công. Vai trò của người vợ được trình bày chi tiết trong Eph Ep 5:22-24 và IPhi 1Pr 3:1-6 là thuận phục. Vai trò của người chồng được chép trong Eph Ep 5:25-30 và IPhi 1Pr 3:7 là phó chính mình cho tình yêu và thấu hiểu. Đức Chúa Trời mong muốn một mối liên hệ không có gì ngăn trở giữa hai vợ chồng (Hình vẽ).
Mối liên hệ gần gũi nhất mà hầu hết mọi người đều kinh nghiệm qua trước khi đi đến hôn nhân là mối quan hệ với cha mẹ, một mối quan hệ cũng có nền tảng dựa trên tình yêu và sự thuận phục. “Lìa” đòi hỏi chúng ta thay đổi trọng tâm của tình cảm sâu sắc từ cha mẹ sang người bạn đời như là đối tượng hàng đầu của tình yêu và lòng chung thủy. Thất bại trong ý thức “tách rời” cha mẹ mình kết quả là không có khả năng gắn bó với người bạn đời.
Những nhà xã hội học từ lâu đã chấp nhận vai trò quan trọng của những nghi thức công khai đó để đánh dấu những giai đoạn đầy ý nghĩa của đời sống chúng ta. Mỗi nền văn hóa có những nghi thức của họ để thừa nhận những sự kiện như bắt đầu trưởng thành, kết thúc việc học, hôn nhân, ngày sinh của con hay ngày qua đời của người thân. Hội thánh thêm vào Lễ Tiệc Thánh, Lễ Báp Têm, Lễ Tấn phong Mục sư v..v….Vấn đề là sự thừa nhận công khai giúp chúng ta nhìn nhận tính xác thực của một biến cố trong đời sống. Trong mối liên hệ hôn nhân cần tách rời cha mẹ cho nên cần phải có những nghi thức cưới hỏi công khai để công nhận sự kết hợp mới này trước Chúa. Cả những người tham dự và những người làm chứng như cha mẹ đều ý thức rằng người nam và người nữ bây giờ đã là một gia đình mới- Đôi vợ chồng mới hứa: sự tận hiến của họ trước là cho Chúa và sau đó là cho nhau. Đây mới là giai đoạn đầu tiên của quá trình lìa cha mẹ theo như Kinh thánh.
Minh họa :
Những đôi vợ chồng không thật sự “tách rời” cha mẹ của họ sẽ gặp nhiều căng thẳng trong hôn nhân. Sau đây là một minh họa cho vấn đề này:Mục sư đến thăm một đôi vợ chồng trẻ. Cuộc hôn nhân của họ quá căng thẳng ngay cả những người ở ngoài Hội thánh cũng nhận thấy vấn đề giữa họ. Tình huống này đem lại những khó khăn đặc biệt cho Hội thánh, bởi vì người chồng là một thành viên tích cực đang giữ một vai trò nhất định trong công việc Hội thánh. Sau vài buổi tiếp xúc, vị Mục sư đã có thể làm sáng tỏ nguyên nhân chính gây nên vấn đề căng thẳng trong mối liên hệ giữa hai người. Họ đã không tuân theo mạng lịnh lìa cha mẹ.
Người chồng lớn lên trong một gia đình Cơ đốc. Cha mẹ anh nghèo vì vậy họ đã lao động cực nhọc suốt cả đời. Đã thế, cha anh lại là một thành viên tích cực và thường phục vụ như một Truyền đạo tự nguyện trong Hội thánh. Vô tình cậu con trai đã theo gương của cha và lấy đó làm kiểu mẫu cho cuộc sống hôn nhân của mình sau này.
Anh luôn luôn bận rộn. Anh hy vọng vợ mình sẽ quản lý nhà cửa, đi chợ nấu ăn và chăm sóc con cái trong lúc anh túi bụi vào mỗi buổi tối ở nhà thờ. Anh thường trở về với căn nhà trống. Bởi vì ông bà nhạc của anh sống gần nơi vợ anh làm việc. Cô ta gởi con vào buổi sáng và trở về nhà cha mẹ vào buổi tối. Cô nghĩ cuộc sống dễ chịu hơn khi cô ngủ lại nhà cha mẹ. Không phải vì ngôi nhà vắng vẻ làm anh phát cáu, mặc dù nó cũng dễ gây bực mình, nhưng vấn đề càng trở nên tệ hại hơn khi cả nhà ở cùng với nhau. Những đứa con của anh thiếu ý thức tự kỷ luật - khi chúng đói, chúng nhặng xị với mẹ cho tới khi cô cho chúng ăn. Khi chúng mệt, chúng càng bướng bỉnh, không có gì có thể làm cho chúng thay đổi cách xử sự. Những lời đề nghị của anh với vợ đã gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ với những lời phê bình chỉ trích, nó chỉ chấm dứt khi anh rút lui. Khoảng thời gian họ sống chung với nhau hoặc được lấp đầy bằng những cuộc tranh luận gay gắt hoặc im lặng lạnh lùng. Phần nhiều lời khuyên của vị Mục sư tập trung chung quanh sự không thoải mái, bực bội với cha mẹ hai bên mà cả hai vợ chồng đều đã kinh nghiệm. Thói quen mà người chồng thừa hưởng kết hợp với ảnh hưởng trực tiếp của cha mẹ vợ đã dần dần xói mòn sợi dây liên kết giữa hai người lại với nhau. Thông qua sự khải đạo đã được cầu nguyện họ nhận biết những vấn đề của chính mình và bắt đầu vâng theo mạng lịnh Kinh thánh để tách rời cha mẹ mình và gắn bó với nhau.
Minh họa này giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của việc tách rời. Nó có thể được kể lại nhiều lần với những chi tiết khác nhau, nhưng thường là những kết quả giống nhau. Sự kiện đôi vợ chồng này rời khỏi nhà cha mẹ đã được chứng minh. Họ sống chung trong nhà của mình không phải nhà của cha mẹ: chỉ thay đổi chỗ ở thì chưa đủ. Chúng ta hãy xem xét một vấn đề liên quan đến vấn đề tách rời.
Thảo luận những vấn đề tiềm tàng.
Có những câu hỏi cần được trả lời liên hệ đến vấn đề làm thế nào để rời cha mẹ: đây là những vấn đề quan trọng và chúng có thể là vật chướng ngại tiềm ẩn đối với những người thật sự mong muốn vâng theo mạng lịnh của Chúa để lìa cha mẹ. Chúng ta hãy trả lời từng câu hỏi.
Vấn Đề A. Lìa bỏ có vi phạm nội dung của câu ChCn 6:20: “Hỡi con, hãy giữ lời răn bảo của cha, chớ lìa bỏ các phép tắc của mẹ con” không?
Trước tiên chúng ta phải dung hòa giữa câu “người nam sẽ lìa cha mẹ” với các câu khác trong Kinh thánh dường như mâu thuẫn với câu này, và phải chắc rằng chúng ta đã hiểu rõ nghĩa của chúng - chỉ có như thế sau đó chúng ta mới có thể xác định những câu này liên hệ với SaSt 2:24 như thế nào.
ChCn 6:20 nhấn mạnh sự vâng lời cha mẹ, trong khi “lìa” nhấn mạnh đến sự độc lập. Xin mở 6:20 và học câu này theo phương pháp qui nạp.
Câu hỏi 1:
Viết ra những động từ mô tả mối liên hệ của con cái với sự dạy dỗ của cha mẹ. Trong mỗi động từ, xác định điều người con phải làm hay thái độ anh ta có.
Câu hỏi 2 :
Chú ý và viết xuống những đối tượng quan tâm của người con trai. Điều đặc biệt nào mà anh ta “phải giữ ” và “chớ lìa bỏ ”? có sự giả định quan trọng nào về hai đối tượng này?
Trong văn cảnh của câu này, hiệu quả của lời khuyên bảo dường như vượt quá trong cuộc sống khi mà một đứa trẻ hoàn toàn lệ thuộc vào sự kiểm soát của cha mẹ 22:6 cũng đem lại một kết quả tương tự như vậy.
Câu hỏi 3 :
Viết một đoạn ngắn, cho biết cách mà 22:6 gia tăng sự hiểu biết của bạn về 6:20.

Ghi chú :
Chúng tôi đưa ra đây vài thông tin ngôn ngữ và Thánh Kinh phù dẫn có thể bạn không tìm thấy được trong Kinh thánh. Động từ “giữ” còn có nghĩa là “bảo vệ, gìn giữ, trông nom …”, Lý do tiềm ẩn để trung thành với đối tượng trong câu hỏi là vì nó có giá trị. Những đối tượng được dùng với động từ này là tấm lòng (4:23 cái miệng (13:3). Sự khôn ngoan thật và sự dẽ dặt (3:21) và trong 3:1, 4:13 là mạng lịnh hay khuyên dạy.
Động từ thứ hai là “lìa bỏ” nghĩa là “từ bỏ, rời bỏ , từ khước …” Nó được dùng trong trường hợp: Đức Chúa Trời lìa bỏ dân sự Ngài (Cac Tl 6:13), dân sự lìa bỏ Ngài (PhuDnl 32:15, Gie Gr 15:6) và lìa bỏ đất (XuXh 23:11) hay hoa màu (NeNe 10:31) và ở đây liên hệ tới sự khuyên dạy (Xem thêm ChCn 1:8).
Câu hỏi 4 :
Suy nghĩ vài giây hai chân lý này một người phải rời khỏi cha mẹ trong khi không lìa bỏ những chân lý mà anh đã được dạy. Viết:một đoạn tóm tắt suy nghĩ của bạn. Nhớ so sánh câu trả lời của bạn với phần trả lời của bài học này và thêm bất cứ ý tưởng mới nào bạn tìm được trong bài học vào bài viết của mình.
Vấn Đề B. Làm thế nào để dung hòa “lìa” với câu trong XuXh 20:12 “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất”. Mạng lịnh của câu này là hiếu kính cha mẹ trong khi “lìa” nhấn mạnh sự độc lập với cha mẹ. Có thể nào cả hai đều đúng? Cũng như lần trước nghiên cứu 20:12 theo từng bước sau đây và so sánh câu trả lời của bạn với phần trả lời của bài học.
Câu hỏi 5
Suy nghĩ kỹ về ý nghĩa của từ “hiếu kính ”. Tìm trong từ điển sau đó viết một đoạn ngắn về những gì bạn hiểu về từ này như cách mà Môise dùng trong 20:12.
Câu hỏi 6
Đức Chúa Trời có tha thứ cho trách nhiệm cá nhân của một người nếu người ấy quyết định hay hành động bởi vì cha mẹ bảo anh làm hay không? Cho biết lý do câu trả lời của bạn.
Câu hỏi 7
Viết một đoạn văn, giải thích làm thế nào bạn có thể ứng dụng cùng một lúc cả SaSt 2:24 XuXh 20:12 (bao gồm cả câu Kinh thánh Tân ước tương ứng Eph Ep 6:1).
Vấn Đề C. Có phải “tách rời” giải thoát một người khỏi những mạng lịnh sau không? “Nhưng nếu bà góa có con hoặc cháu, thì con cháu trước phải học làm điều thảo đối với nhà riêng mình và báo đáp cha mẹ, vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời”. (ITi1Tm 5:4).
“Ví bằng có ai không săn sóc đến bà con mình, nhất là không săn sóc đến người nhà mình, ấy là người chối bỏ đức tin, lại xấu hơn người không tin nữa” (5:8).
Câu hỏi cần được xác định là, nếu một người kết hôn và tách rời cha mẹ thì anh ta hay cô ta có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ nếu họ cần chăm sóc bề ngoài hay không?
Chú ý trong 5:1-25, Phaolô đã dạy cho những tín hữu rằng: họ có trách nhiệm đối với gia đình của mình (c.8 ). Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng: cha mẹ có nhu cầu, nhất là người mẹ chỉ còn một mình (góa ) sẽ trông chờ ở những đứa con cung cấp nhu cầu cần thiết cho họ. Thực tế là có thể dễ dàng hơn để “lìa ” nếu cha mẹ đoan chắc là họ sẽ được chăm sóc tử tế ở những năm cuối đời mình. Sự lìa bỏ thường gặp khó khăn bởi vì cha mẹ không chắc chắn mình được bảo đảm chăm sóc. Làm yên lòng họ về bản chất của mối liên hệ mới rằng “lìa ” ở đây không có nghĩa là “bỏ rơi ” có thể làm họ yên tâm hơn về việc ra đi của đứa con mình.
Vấn Đề D. Một câu hỏi khác nảy sinh: nếu ba mẹ tôi không an tâm và có tính chiếm hữu, vậy làm thế nào tôi có thể đối phó với thực tế là tự giải thoát chính mình mà không làm họ đau lòng? Nếu cha mẹ chống lại sự cố gắng “lìa” của con cái họ, làm thế nào người ta vừa vâng theo mạng lịnh lại vẫn hiếu kính cha mẹ mình? Một trong những lý do chính mà các bạn trẻ thất bại trong việc “lìa” là lo sợ làm đau lòng cha mẹ mình. Khi cha mẹ cố gắng để duy trì uy quyền của họ trên đứa con bây giờ đã lập gia đình, một vài bạn trẻ sẽ bằng lòng với tình huống này hơn là thiết lập mối quan hệ chặt chẽ mới với người bạn đời và qua đó làm đau lòng cha mẹ họ (hình vẽ).
Tuy nhiên trong trường hợp tất cả muốn giữ mối quan hệ và giải pháp đơn giản nhất là đối thoại. Hãy xem những ví dụ sau :
Người mẹ, người đã sống trong một gia đình tan vỡ, ba mẹ của bà không yêu nhau và bà lớn lên trong sự thiếu thốn tình cảm và luôn luôn chịu đựng những trận đánh nhau giữa ba và mẹ. Sau đó bà lập gia đình với người trong mộng. Họ có một đứa con và đứa con duy nhất trở nên thần tượng của bà và nó là lý do duy nhất khiến bà muốn sống. Khi đứa con một này lớn lên, sẽ có nhiều trở ngại rất lớn để có thể độc lập. Từ lúc thành niên tới giai đoạn hứa hôn rồi thành hôn, người mẹ có thể đã cảm thấy nỗi tuyệt vọng mãnh liệt đang xâm chiếm mình. Người mẹ rất tha thiết cần đứa con và đã chiếm hữu đứa con đó trong vô thức trọn cuộc đời mình. Điều đó đòi hỏi người mẹ phải có nghị lực để lựa chọn cảm thấy khốn khổ và thật lòng để con mình ra đi. Thông thường thì phản ứng của người mẹ lúc đó là tiêu cực, đi từ vận động tinh tế đến cắt đứt mối quan hệ hoặc cả đến khuynh hướng tự tử.
Đối với đứa con, hiểu và cảm nhận phản ứng này của người mẹ, người đã cho mình tất cả là vô cùng khó khăn để xử lý. Đứa trẻ lớn lên đã cảm nhận trong vô thức một cách sâu sắc rằng “mục đích của đời sống tôi là làm cho mẹ vui”. Hôn nhân chắc chắn taọ ra một cuộc xung đột mạnh mẽ ở trường hợp này. Phản ứng của người mẹ càng tiêu cực, tình huống càng khó khăn. Tuy nhiên, đứa con cần phải thật sự “lìa” để có thể cống hiến hết mình cho người bạn đời những điều người ấy cần.
Chỉ có tình yêu và sự cảm thông sâu sắc mới có thể làm cho cả hai mẹ con nhận thấy được kiểu liên hệ vô thức này phải được thay đổi. Tuy nhiên, thực tế cuộc sống cho chúng ta thấy những tình huống mà cha mẹ hay con cái hy sinh mối quan hệ rồi ẩn mình đằng sau niềm kiêu hãnh hay đau khổ.
Những bài tập sau đây sẽ giúp bạn trong lĩnh vực truyền đạt cả trong gia đình và trong chức vụ của bạn. Bài tập còn giúp bạn tổ chức và làm sáng tỏ những suy nghĩ về đề tài này nếu bạn viết xuống.
Bài tập 1.
Ôn lại những gì đã học liên quan đến tách rời được chép trong SaSt 2:24 ChCn 6:20; XuXh 20:12 ITi1Tm 5:4, 8. Sau đó chuẩn bị một lá thư hay giải thích miệng (viết toàn bộ ) trong một tờ giấy hay ít hơn để giải thích với ba mẹ của bạn:
a) Bạn sẽ “tách rời ”.
b) Tại sao bạn phải “tách rời ”?
c) “Tách rời ” có ý nghĩa đặc biệt gì về mặt chức năng ?
Bây giờ đọc lại những gì đã viết và tự hỏi mình xem thử:
Bài viết có trình bày đúng với những gì được dạy đầy đủ trong Kinh Thánh về mối quan hệ của bạn với người bạn đời và ba mẹ bạn.
Bài viết có làm cho ba mẹ bạn tin tưởng bạn rằng mặc dù bạn “tách rời” nhưng mối quan hệ giữa bạn
với họ vẫn an toàn và chu cấp.
c) Bài viết có làm cho người bạn đời cảm thấy an tâm trong mối quan hệ của họ với bạn.
Vấn đề E. Một câu hỏi khác liên quan đến “tách rời” có thể được đề cập đến là: làm sao tôi vâng theo mạng lệnh này nếu tôi và người bạn đời phải sống với ba mẹ chúng tôi? Bởi vì một cuộc hôn nhân chỉ có thể lớn lên trong một môi trường mà sự thân mật ngày càng gia tăng, cần phải làm mọi thứ để bảo đảm không ở chung nhà với người khác. Tuy nhiên, thỉnh thoảng điều này không thể thực hiện được. Khi điều này xảy ra, bạn phải chú ý nhiều để biết chắc bạn đã rời khỏi ba mẹ mình ít nhất là trong giờ tĩnh nguyện.
Bài tập 2
Miêu tả ngắn gọn bạn sẽ khuyên như thế nào để một cặp vợ chồng có thể áp dụng nguyên tắc “tách rời ” khi họ phải sống chung với ba mẹ trong một ngôi nhà.
Vấn đề F. Làm sao tôi có thể xác định tôi đã tách rời hay chưa? Thế quân bình giữa độc lập kiêu hãnh và phụ thuộc âm ỉ là cái gì? Một lần nữa truyền thông có thể là phương cách để trả lời câu hỏi này.

Dự án 2:
Dành cho những sinh viên có gia đình.
Nói chuyện với người bạn đời về đề tài này bằng cách thảo luận những câu hỏi sau:
Em có chắc chắn rằng em có vị trí cao nhất trong tình yêu và tình cảm trong cuộc đời của anh không? Tại sao có hoặc tại sao không ?
Em có chắc chắn rằng nếu có sự va chạm với ba mẹ anh, em sẽ nhận được sự ủng hộ của anh không? Tại sao có hoặc tại sao không ?
Nếu Ba hay mẹ anh khuyến khích anh làm điều trái với những gì em nguyện vọng nơi anh, em có cảm
thấy chắc chắn là anh sẽ đáp ứng sự mong muốn của em không? (điều này không có nghĩa là những
lời khuyên tầm thường từ người bạn đời sẽ tự động được đề cao hơn những lời khuyên tốt từ cha
mẹ.)
Em có chắc chắn rằng nếu có bi kịch xảy ra, anh bị bắt buộc lựa chọn giữa em và ba mẹ anh, anh sẽ
chọn đứng về phía em không?(Một lần nữa giả sử rằng, mâu thuẫn thuộc về tính cách chứ không
phải thuộc về đạo đức.)
Nếu có thể được hãy thảo luận những câu sau đây với ba mẹ bạn:
a. Ba mẹ có nhận thấy rằng con rất kính trọng ba mẹ không?
b. Ba mẹ có cảm thấy chắc chắn rằng con sẽ không bao giờ bỏ rơi ba mẹ khi ba mẹ cần sự giúp đỡ không?
c. Ba mẹ có hiểu và đồng ý với con khi con nói rằng Kinh thánh dạy con “ lìa cha mẹ” không?
Bây giờ, hãy cân nhắc những câu trả lời của từng câu hỏi và những gì bạn đã học trong bài học, cũng như từ người bạn đời và ba mẹ. Sau đó trong phần thảo luận với người bạn đời, xác định bạn đã “ tách rời ” hay chưa.
Dành cho những sinh viên độc thân.
Một người độc thân chuẩn bị cho việc “tách rời” như thế nào? Đây là thời gian lý tưởng để thảo luận những vấn đề này với ba mẹ bạn. Qúi phụ huynh cũng nên khuyến khích các con của mình độc lập hơn khi chúng càng lớn.
Nếu có thể được thảo luận những câu sau đây với ba mẹ bạn:
a. Ba mẹ có nhận thấy rằng con rất kính trọng ba mẹ không?
b. Ba mẹ có cảm thấy chắc chắn rằng con sẽ không bao giờ bỏ rơi ba mẹ khi ba mẹ cần sự giúp đỡ không?
c. Câu hỏi không bắt buộc: thảo luận hai phương cách thực tế đặc biệt mà ba mẹ bạn có thể giúp bạn trở nên độc lập và có trách nhiệm hơn.
Sau đó hãy viết một câu cam kết liên hệ đến sự “tách rời”. Trên một tờ giấy đơn viết từng điều trong số bốn điều đã thảo luận trong dự án ở trên (dành cho học viên đã có gia đình) để nó trở thành một lời tuyên hứa. Điều này sẽ giúp chuẩn bị bạn có thái độ đúng đắn trước khi lập gia đình. Ví dụ:
Tôi hứa, bởi ơn Đức Chúa Trời, người bạn đời tương lai của tôi sẽ có vị trí cao nhất trong tình yêu và tình cảm trong cuộc đời của tôi.
Kết quả của dự án này được giữ bí mật, tuy nhiên tất cả học viên nên chuẩn bị để chia xẻ một phần kết quả của dự án vào buổi thảo luận tới. Buổi thảo luận này sẽ có lợi cho cả nhóm.
Vấn Đề G. Mặt khác của vấn đề là quan điểm của cha mẹ, thay đổi cái nhìn của bạn sẽ soi sáng thêm cho việc “tách rời”. “Nếu tôi là một phụ huynh làm thế nào tôi có thể truyền đạt cho con tôi sự quan trọng của việc tách rời mà không làm cho chúng cảm thấy rằng tôi đang hất hủi chúng?” Câu hỏi cần được đặt ra là việc dạy dỗ con bạn có hay không hướng chúng đến chỗ tự lập? Một lần nữa, điểm chính yếu là sự truyền thông đúng đắn. Nếu con vẫn còn phụ thuộc mạnh mẽ, cha mẹ sẽ rút ra được kết luận từ việc xác định xem mình đã làm được gì và thiếu những gì. Xem xét tình huống sau:
Sự phụ thuộc trong mối quan hệ cha con thì thường thuộc về tiềm thức, người cha đã luôn luôn muốn mình trở thành một bác sĩ. Ông bà nội đã không đủ sức để ông đi học bác sĩ, ông đã phải ra đời kiếm sống rất sớm. Sau đó ông có một đứa con trai và ông đã làm mọi thứ có thể được để khuyến khích đứa con học hành, có lẽ ông tạo cơ hội để con trở thành bác sĩ.
Tiền bạc đã được đặt qua một bên trong nhiều năm. Mỗi điểm tốt ở trường đều được chào đón nồng nhiệt. Người con bước vào môi trường đại học. Một hôm người con bước về nhà với hai điều cần chia xẻ: anh ta ghét không khí của trường y mà anh ta đang theo học và anh đã gặp một cô gái tuyệt vời. Anh muốn nghỉ học, chấp nhận một công việc duy nhất mà người ta cho là lái taxi (“nghề mà anh luôn mong muốn”) và cưới vợ.
Những câu truyện tương tự, kể về những người mẹ muốn những đứa con gái của họ đến và sống chung với họ (quan hệ giữa các bà mẹ này với con mình vốn xa cách). Những người cha muốn rằng những giấc mơ không tới được của họ sẽ trở thành hiện thực nơi con mình. Hay ngay cả những bậc cha mẹ Cơ đốc chú ý quá mức đến đứa con có thể trở thành mục sư. Mọi sự càng thêm phần phức tạp nếu đứa trẻ Cơ đốc được chờ đợi (và mong muốn) để “hiếu kính cha mẹ”, những đứa trẻ đã biết được những mong muốn mà cha mẹ dành cho chúng và có thể bắt đầu cố gắng để được tình yêu của cha mẹ bằng cách sống đúng như ý cha mẹ mong. Thời thiếu niên, trưởng thành, kết hôn có thể làm rõ nguyện vọng của đứa trẻ.
Trong những trường hợp như thế người bạn đời có thể là người giúp đỡ, khám phá những nguyện vọng này. Nhưng cũng có thể là người bạn đời được lựa chọn, phần nào trong vô thức phản đối lại những ảnh hưởng muốn sở hữu của cha mẹ. Mọi sự sẽ phức tạp biết bao khi các phụ huynh chỉ biết nói những lời tốt đẹp về những mong muốn và ước mơ của mình, những sự lựa chọn của con thì dường như theo họ chỉ được xem là yếu kém cả về kinh tế, xã hội hay ngay cả tâm linh (tùy theo những tiêu chuẩn của gia đình). Điều này cũng có thể gây khó khăn cho người bạn đời và mối quan hệ của chàng hay nàng với ông bà gia. Khi những tình huống này xảy ra, thì những cha mẹ Cơ đốc về bản chất cũng không khác gì những người chưa được cứu.
Ngoài sự phát triển tiêu cực có thể phát sinh từ những mong muốn và những ước ao khác nhau của cha mẹ và con cái còn có những khó khăn chung trong mới quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Nỗi vui mừng của cha mẹ khi con cái lập gia đình với cảm giác mất mát luôn đi đôi với nhau. Sau 20 năm hay hơn nữa hy sinh trong yêu thương thì rất khó mà để đứa con yêu dấu ra đi.
Giúp đỡ con của mình trong tình yêu thương để chúng lìa gia đình là một trong những đóng góp chính của cha mẹ cho hôn nhân của các con.
Bài tập 3:
Viết một bức thơ cho con của bạn, hay một bức cho con trai và một cho con gái. Nếu bạn chưa có con, hãy viết một bức thơ cho con trai và con gái như một bức thơ mẫu dùng cho những người bạn hướng dẫn. Nếu những đứa con bạn đã lập gia đình, gởi lá thơ đến chúng và gợi mở về đề tài sự tách rời của các con hay thất bại của chúng trong việc tách rời. Nội dung lá thơ phải gồm:
Việc nhận thức của bạn về việc con bạn cần “tách rời ” khi nó lập gia đình.
Ý nghĩa của “tách rời ”.
Sự cảm thông của bạn trong mối quan hệ mới đã có hay sẽ có giữa bạn với đứa con và giữa đứa con với người bạn đời.
Mong muốn của bạn ủng hộ và khuyến khích sự tự lập nơi đứa con và sự lệ thuộc nhau giữa hai vợ chồng con bạn và lệ thuộc Chúa.
HÔN NHÂN ĐÒI HỎI PHẢI GẮN BÓ VỚI NGƯỜI BẠN ĐỜI.
Ý nghĩa của việc gắn bó.
Bây giờ chúng ta xem xét đến khía cạnh thứ hai mà Môise đã nhấn mạnh và mối quan hệ hôn nhân: người nam “sẽ dính díu (gắn bó) cùng vợ mình” (SaSt 2:24). Khi bạn suy nghĩ về 3 mục đích của hôn nhân, bạn sẽ nhớ lại rằng mục đích đầu tiên là: con người cần có mối quan hệ. Thật vậy nhu cầu rất con người là chúng ta cảm thấy mình không cô đơn. Để nhu cầu đó được thỏa đáp, thì phải tồn tại một mối quan hệ đặc biệt và mối quan hệ này không thể có nếu không “gắn bó”. Nhiều thảm họa trong hôn nhân, hoặc dưới dạng ly dị chính thức hoặc ly dị về mặt tình cảm đều phát xuất từ sự thất bại trong việc “gắn bó”. “Gắn bó” là gì và một số thái độ và hành động nào phải có trong mỗi cá nhân nếu việc gắn bó xảy ra?
Ý nghĩa của gắn bó.
Dabaq trong tiếng Hibálai nghĩa là “bám vào, giữ chặt vào”. Từ này được dùng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Theo nghĩa đen, có nghĩa là ràng buộc hay kết chặt thực thể này với một thực thể khác (IISa 2Sm 23:10; Giop G 19:20; Thi Tv 137:6). Từ này được dùng theo nghĩa bóng là chung thủy tình cảm và dấn thân cho người và cho Đức Chúa Trời. (Ru R 1:14; IISa 2Sm 20:2; PhuDnl 10:20; Gios Gs 23:8) Ghi chú: Earl S. Kalland, “dabaq” trong quyển Theological Wordbook of Old Testament, ed. R. Laird Harris, Gleason L.Archer, Jr, và Bruce K. Waltke, 2 tập, (Chicago:Moody Press, 1980), 1:177-78.
Phần bài tập sau đây sẽ giúp bạn hiểu một cách thấu đáo từ này.
Bài tập 4
Tìm trong những đoạn sau chỗ nào mà từ Hibálai “Dabaq” được dùng và mô tả mối quan hệ cá nhân. Đọc mỗi đoạn theo văn cảnh của nó và viết một hay hai câu tóm tắt nghĩa của từ này trong văn cảnh đó (Bản dịch của bạn có thể đã sử dụng những từ khác để diễn tả khái niệm trong ngôn ngữ của bạn theo ngữ cảnh khác nhau).
SaSt 34:3
PhuDnl 10:20
IISa 2Sm 20:2
IVua 1V 11:2
Câu hỏi 8
Giữ nguyên dòng suy nghĩ đã sử dụng trong đoạn văn trước, tóm tắt trong một đoạn ý nghĩa của từ “dabaq ” khi được dùng trong SaSt 2:24 để mô tả cách thức mà người nam và người nữ phải kết hợp nhau.
Quá trình của gắn bó.
Chắc chắn rằng có nhiều người đã không gắn bó với người bạn đời của họ bởi vì họ chưa bao giờ đối diện với khái niệm này và chưa bao giờ biết rằng đó là một mạng lịnh của Chúa liên hệ đến hôn nhân. Tuy nhiên, có một sự thật là có nhiều người không thể gắn bó mặc dù họ có hiểu tường tận ý nghĩa của từ gắn bó. Họ có thể chưa bao giờ đủ thành thật đối với chính mình để giao phó mình cho một người khác theo cách “gắn bó” đòi hỏi.
Đọc từ chương 1 đến 3 của quyển “Người xây dựng hôn nhân “ (The Marriage Builder ) những phần này có liên hệ trực tiếp đến vấn đề bạn có thể học: làm thế nào để gắn bó với người bạn đời như ý muốn của Đức Chúa Trời. Sau khi bạn đã cẩn thận đọc sách bài tập, ôn lại nội dung bằng cách trả lời những câu hỏi sau:
Câu hỏi 9
Hai yếu tố cần thiết để sống theo ý muốn của Chúa được Ngài ban cho thông quan mối quan hệ là gì?
Câu hỏi 10
Tại sao việc cung cấp những yếu tố này là điều rất quan trọng?
Câu hỏi 11
Tựa đề của một phần trong chương này là “Nan đề về cảm xúc ”. Theo ông Crabb, nan đề về cảm xúc là gì?
Câu hỏi 12
Ai đã cung cấp những yếu tố cần thiết (được đề cập đến trong câu 9) cho những Cơ đốc nhân? Bằng cách nào?
Câu hỏi 13
Mối nguy hiểm khi nói: “Chúa sẽ chu cấp mọi nhu cầu cần dùng cho tôi ” là gì?
Câu hỏi 14
Crabb viết rằng: những nhu cầu cơ bản của con người phát xuất từ việc được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời đó là: an toàn và có ý nghĩa. Ông Crabb đã định nghĩa những nhóm từ này như thế nào? Diễn tả định nghĩa này bằng ngôn từ của bạn.
Câu hỏi 15
Bốn sự lựa chọn được đưa ra như những phương cách để đáp ứng những nhu cầu này. Ba sự chọn lựa đầu không thỏa đáng. Liệt kê và giải thích tại sao mỗi điều ấy không thỏa đáng? Cho biết sự lựa chọn thứ tư và giải thích tại sao chỉ có mỗi sự lựa chọn này là thoả đáng?
Câu hỏi 16
Crabb đề nghị 3 bước để đảm bảo chỗ đứng vững chắc trong “nền tảng của chân lý ” bước thứ 3 là: dấn thân. Hãy giải thích điều Crabb nói qua chữ dấn thân.
Câu hỏi 17
Trong chương 3, Crabb định nghĩa theo ý của ông về hiệp nhất tâm hồn. Hãy giải thích khái niệm này bằng lời của bạn. Có mối liên hệ nào giữa hiệp nhất tâm hồn và gắn bó.
Câu hỏi 18
Giúp đỡ và sử dụng là hai phương pháp tiếp cận một mối quan hệ. Hãy định nghĩa những khái niệm bằng ngôn từ của bạn dựa trên những gì bạn đã đọc.
Câu hỏi 19
Crabb đề nghị chúng ta nên thay đổi mục tiêu của mối quan hệ của chúng ta. Vậy mục tiêu cũ là gì? Cái gì sẽ làm mục tiêu mới của chúng ta?
Câu hỏi 20
Tóm tắt 3 yếu tố để đạt được mục tiêu mới của chúng ta. Mỗi yếu tố viết một đoạn (khoảng 5 câu ).
Dự án 3
Dành cho những học viên đã lập gia đình.
Dành riêng ít nhất một giờ đồng hồ với người bạn đời để thảo luận về khái niệm của việc “gắn bó” trong bài học. Hãy cùng nhau liệt kê những điều đã chia rẽ các bạn hoặc gây ra xung đột.
Có bao nhiêu điều trong số đó có liên quan đến những nhu cầu mà chỉ có Chúa mới đáp ứng được?
Có bao nhiêu điều phát xuất từ sự truyền thông yếu kém?
Sau khi đã liệt kê dành ít thời gian để thảo luận về những điều mà các bạn có thể làm để loại bỏ những điều này. Đánh giá mối liên hệ của các bạn.
Các bạn đang sử dụng hay giúp đỡ lẫn nhau?
Nếu mối quan hệ của bạn chỉ có sử dụng, những bước nào bạn có thể/ sẽ làm để thay đổi nó?
Chúng ta không thể thay thế mọi thứ ngay lập tức.
Xác định điều bạn sẽ làm để khai triển nội tâm với sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh.
Lập kế hoạch để đánh giá những gì xảy ra trong một tháng và sau đó bắt đầu triển khai những lĩnh vực xa hơn.
Kết thúc buổi thảo luận của bạn bằng sự cầu nguyện, tái giao phó chính bạn cho người bạn đời.
Dành cho những học viên độc thân
Viết trên một tờ giấy nhỏ (1 trang hay ½ trang) giải thích một vài vấn đề bằng ngôn từ của bạn về những cách thức sau đây để tiếp cận những nhu cầu cá nhân theo cách của bạn. (Bao gồm ví dụ cho mỗi phương cách lấy từ kinh nghiệm thực tế của bạn nếu có thể được ).
Lựa chọn 1: phớt lờ những nhu cầu của bạn.
Lựa chọn 2: tìm cách thỏa mãn trong sự thành đạt
Lựa chọn 3: cố gắng đáp ứng nhu cầu trong nhau.
Sau đó hãy giải thích khoảng ½ trang cách bạn dựa vào Đức Chúa Trời để đáp ứng những nhu cầu cá nhân, ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn như thế nào, hãy thật cụ thể!
Kết luận
Tóm lại, những vấn đề cơ bản nào đã cản trở chúng ta gắn bó với người bạn đời? Đó là vị kỷ. Như ông Crabb đã giải thích cách khéo léo rằng, trừ phi mỗi thành viên sẵn sàng xử lý bản ngã, anh ta hay cô ta không thể gắn bó với người bạn đời của mình. Vậy việc xử lý bản ngã có dễ làm không? Dĩ nhiên là không? Nó xung đột trực tiếp với bản ngã tội lỗi của chúng ta. Tuy nhiên, phần thưởng không chỉ là làm tăng sự thân mật với người bạn đời nhưng cũng làm thỏa mãn sự hiểu biết rằng chúng ta đang vâng theo lời Chúa và sự hoạch định của Ngài cho hôn nhân.
TRẢ LỜI CÂU HỎI.
Câu 1
Người con được khuyên “phải giữ” và “chớ lìa bỏ”. Châm ngôn dạy rằng người con nên gìn giữ những mạng lịnh của người cha. Anh nên chống lại những cám dỗ của tuổi trẻ là phớt lờ sự khôn ngoan của tuổi trưởng thành và giữ lấy luật cuộc sống mà cha anh truyền lại.
Cũng thế, anh cũng không nên từ bỏ những điều mẹ mình đã dạy. Có một khuynh hướng nơi một số bạn trẻ là khi đã tự do, thì bỏ qua một bên sự dạy dỗ của mẹ vì cho rằng mẹ là hiện thân cho uy quyền của thời thơ ấu, tuổi trẻ thường sai lầm khi cho rằng: để thiết lập nhân thân của chính họ, thì phải khước từ uy quyền của quá khứ và những luật lệ của nó.
Câu 2
Mục tiêu sự chú ý của người con là những lời dạy bảo của cha mẹ. Lẽ dĩ nhiên, những trước giả Kinh thánh đã thừa nhận rằng, những lời răn bảo của cha mẹ luôn phù hợp với những mạng lịnh trong Kinh thánh.
Câu 3
Câu trả lời của bạn. Phần B của câu ChCn 22:6 nhấn mạnh rằng, ngay cả khi đứa con đã già, nó vẫn không lìa khỏi điều “phải giữ” và vâng theo những điều đã được dạy đó, nếu những điều này được kiên định theo cách người ấy phải theo. Cha mẹ khôn ngoan sẽ tạo cho con của họ một nền tảng Kinh thánh vững chắc và dạy nó điều quan trọng trong việc tạo quyết định của mình theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ sẽ dạy chúng hiểu rõ cuộc sống với những khả năng, những mối liên hệ, và những vấn đề thực tế của nó như cách Đức Chúa Trời thấy. Như thế sự dạy dỗ sẽ ăn sâu vào đứa trẻ cho dù những khiá cạnh khác (chính hay phụ) của sự dạy dỗ được đặt sang một bên. Cha mẹ sẽ giúp đỡ đứa con khi nó đưa ra những quyết định của chính nó. Cũng có trường hợp những đứa con lớn cần phải chịu trách nhiệm trước Chúa và học để vâng theo những ý muốn của Ngài, mặc dù điều đó mâu thuẫn với những ý muốn của cha mẹ.
Câu hỏi 4
Câu trả lời của bạn. Hành động rời bỏ sự điều khiển (sai khiến) của cha mẹ không nhấn mạnh đến việc thay đổi cách sống hay giá trị cuộc sống. Có một lúc trong đời người ta trở thành người lớn và phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình. Cha mẹ đã chuẩn bị cho con giây phút ấy, những quyết định của con sẽ đúng đắn bởi vì đã được dạy dỗ chu đáo. Một người tự do cho chính mình. Người nào xem sự nổi loạn chống lại việc dạy dỗ của cha mẹ như là: khẳng định sự độc lập của mình là người dại. Châm ngôn này không có chỗ nào nhấn mạnh rằng con người luôn luôn bị trói buộc bởi uy quyền của cha mẹ, mà chỉ đề cập rằng anh nên khôn ngoan làm theo những sự dạy dỗ tốt đẹp của cha mẹ, khi anh có thể chọn làm như thế.
Câu hỏi 5
Câu trả lời của bạn. Trong từ điển tiếng anh, danh từ “tôn kính” nghĩa là “tôn trọng, và bày tỏ sự quí trọng đối với người khác”. Vậy động từ “tôn kính” nghĩa là “bày tỏ sự tôn trọng, quí trọng đánh giá cao người khác”. Từ này nhấn mạnh rằng: mọi người nên thừa nhận người ở địa vị quan trọng hay có thẩm quyền và phải cư xử với người đó một cách kính trọng. Phải thừa nhận rằng những người ở vị trí quan trọng và có thẩm quyền thì đáng được tôn kính và khi chúng ta bày tỏ sự tôn trọng và vinh dự đối với ai, chúng ta đang thừa nhận quyền của họ đối với sự tôn trọng, chú ý và được vâng lời.

Câu hỏi 6
Đức Chúa Trời kể là con người phải chịu trách nhiệm về những quyết định hành động và trách nhiệm của mình. Không ai có thể trở thành một Cơ đốc nhân vì bị cha mẹ bắt buộc mà mỗi người phải tự quyết định tiếp nhận Đấng Christ. Mỗi người phải chiu trách nhiệm về tội lỗi của mình, ngay cả khi cha mẹ “bảo” phạm tội.
Câu hỏi 7
Câu trả lời của bạn. Mạng lịnh phải tôn kính cha mẹ rất thường bị lãng quên trong những nền văn hóa nơi mà tuổi trẻ là trọng tâm của sự chú ý. Khái niệm tách rời về mặt thể chất khi một người kết hôn, không nên xem như một sự dạy dỗ rằng những đứa con sẽ không phải còn lắng nghe, tôn kính và đáp ứng với cha mẹ. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa là uy quyền vốn có trong mối quan hệ cha mẹ con cái đã kết thúc. Sự tôn kính liên hệ nhiều đến sự tôn trọng, quan tâm và sự thẳng thắn theo hướng khuyên lơn hơn là phụ thuộc. Vì vậy khi một người kết hôn người đó đã lập một gia đình riêng và người đó bắt đầu chịu trách nhiệm cho những quyết định ở gia đình mình, nhưng mạng lịnh tôn trọng, lắng nghe và hiếu kính cha mẹ sẽ tiếp tục theo người ấy suốt đời. Bày tỏ sự tôn trọng qua việc lắng nghe, cân nhắc những điều cha mẹ nói và cả việc nghe theo hay lễ phép từ chối những lời khuyên của cha mẹ, làm cho mối quan hệ mới dễ đau lòng và gây sốc cho cha mẹ. Khi một người trẻ tuổi bày tỏ sự độc lập bằng việc từ chối lắng nghe lời khuyên hay xem thường nó, anh ta đã làm cho cha mẹ lo lắng khiến họ nỗ lực hơn để kiểm soát con mình.
Câu hỏi 8
Câu trả lời của bạn. Cẩn thận xem xét ngữ cảnh của SaSt 2:24 rất quan trọng. Thông qua việc dựng nên người giúp đỡ toàn diện và bổ sung để dành cho Ađam và từ Ađam mà ra, Đức Chúa Trời đã tạo nên một mối quan hệ rất thân mật, mối quan hệ thân mật nhất mà con người có thể có. Trong ngữ cảnh này, dường như từ dabaq mang nghĩa chung thủy hay dấn thân đối với sự tạo dựng và phát triển mối quan hệ thân mật này.
Câu hỏi 9
“Mối quan hệ đề cập đến hai yếu tố hoàn toàn cơ bản nếu chúng ta phải sống như Chúa đã định
Sự an toàn vì được yêu và được chấp nhận thật sự, và
Ý nghĩa của việc gây ảnh hưởng tích cực, lâu dài, đáng kể trên người khác”.
Câu hỏi 10
Bởi vì những nhu cầu này rất cần thiết cho sức khoẻ của con người, người đang tranh chiến với những nhu cầu này không thể nỗ lực hết mình đúng đắn với những bổn phận khác trong cuộc sống. Những yêu cầu khắt khe của việc tách rời trong một mối quan hệ tốt đẹp đòi hỏi tài năng của người đó. Làm như thế trong mối quan hệ không được tốt đòi hỏi nhiều điều hơn là người ta phải đưa ra. Vì vậy, điều cơ bản là phải an lòng với những nhu cầu của chính mình nếu không sẽ không thể đáp ứng những nhu cầu của người khác.
Câu hỏi 11
Cảm xúc là mục tiêu của nhiều tác nhân kích thích. Một người có thể cảm thấy cảm xúc trào dâng vào hôm nay nhưng ngày khác lại cảm thấy buồn tẻ. Nếu một người để cho cảm xúc đóng vai trò cơ bản trong việc tạo quyết định, thì quyết định đó sẽ không nhất quán. Vấn đề chính là họ đã để cho cảm xúc đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo quyết định, việc lẽ ra phải là của niềm tin vốn là nền tảng của việc tạo quyết định.
Câu hỏi 12
Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ, cung cấp cho chúng ta những nhu cầu thiết yếu. “Lời Ngài đảm bảo với tôi rằng trong Chúa tôi được an toàn trong tình yêu của Ngài và có ý nghĩa trong chương trình của Ngài”.
Câu hỏi 13
Điều nguy hiểm là hầu hết mọi người trong chúng ta chưa trưởng thành đủ trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời để kinh nghiệm quyền năng của Ngài đáp ứng những nhu cầu này cho chúng ta. Cũng vậy Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên chúng ta theo cách mà những người khác có thể phục vụ như công cụ của Ngài để đáp ứng những nhu cầu của chúng ta. (Sự thật là Đức Chúa Trời thường đến tương giao với Ađam trong vườn, khi con người chưa sa ngã, chưa bị ngăn trở bởi tội lỗi. Tuy nhiên, như Chúa đã nói về Ađam “Loài người ở một mình thì không tốt” và Đức Chúa Trời đã tạo nên người nữ để đáp ứng nhu cầu này) (Câu trả lời trong dấu ngoặt đơn không phải của Crabb).
Câu hỏi 14
Câu trả lời của bạn. “An toàn” là được thuyết phục rằng tôi được yêu hoàn toàn và vô điều kiện dù trong thất bại hay thành công, được yêu với tình yêu không thể tự kiếm được và vì vậy tình yêu này không thể bị mất (kiểm lại định nghĩa của Crabb lần nữa).
“Có ý nghĩa” nghĩa là nhận thức được rằng tôi dự phần vào công việc quan trọng và vĩnh cửu trên đời sống của người khác và tôi được trang bị để thành công trong công việc này.
Câu hỏi 15
Sau đây là 3 phương pháp không phù hợp khi tìm cách đáp ứng nhu cầu an toàn và có ý nghĩa của chúng ta.
a/ Lờ đi những nhu cầu. Những nhu cầu là có thật và không thể làm ngơ hoặc chúng sẽ dẫn đến những vấn đề khác, tóm tắt là “tiến đến cái chết cá nhân”.
b/ Tìm sự thỏa mãn trong thành đạt. Chúng ta tin theo sự lừa dối của Satan rằng những nhu cầu của chúng ta được đáp ứng thông qua việc tìm kiếm địa vị theo tiêu chuẩn của thế gian. Để làm dịu nổi đau của việc không được đáp ứng những nhu cầu bằng những hành động và những cảm giác thỏa mãn thay thế chúng ta chỉ che giấu những nhu cầu. Kết quả là mối quan hệ hời hợt với những người mà đáng lẽ chúng ta phải liên kết để đáp ứng nhu cầu của nhau như những công cụ của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta.
c/ Cố gắng đáp ứng nhu cầu của chúng ta nơi người khác thay vì mỗi người phải chú ý đến việc đáp ứng nhu cầu của người kia thì lại chỉ chú ý đến việc người kia đáp ứng nhu cầu “của mình”.
Điều thứ tư và sự lựa chọn thích hợp duy nhất là tùy thuộc vào Chúa để đáp ứng nhu cầu của chúng ta. “Những nhu cầu cá nhân của chúng ta về an toàn và có ý nghĩa chỉ có thể được đáp ứng một cách xác thực và đầy đủ trong mối quan hệ với Đức Chúa Jêsus Christ. Nói cách khác, tất cả những điều chúng ta cần để làm trọn chức năng một cách hữu hiệu như một con người (không cần thiết phải cảm thấy hạnh phúc hoặc đầy trọn) là ở bất cứ thời điểm nào cũng được chu cấp trọn vẹn trong mối tương quan với Đấng Christ và trong bất cứ điều nào Ngài chọn để chu cấp”.
Câu hỏi 16
Dấn thân nghĩa là thực hiện một “cú nhảy bằng đức tin” (sự phân tích của Crabb về vách đá) để phục vụ những nhu cầu của người bạn đời cho dù chúng ta có sợ hãi đến mức độ nào đi nữa khi làm việc đó. Chúng ta có thể thực hiện việc dấn thân này bởi vì, cho dù người bạn đời có phản ứng thế nào đi nữa điều đó cũng không thể tước khỏi chúng ta giá trị như con người. Giá trị của chúng ta đến từ Đấng Christ, chứ không phải từ người bạn đời.
Câu hỏi 17
Câu trả lời của bạn. Khi dùng chữ “hiệp nhất tâm hồn”, Crabb muốn đề cập đến một kiểu quan hệ vợ chồng, đặc biệt “một sự dấn thân hỗ tương để phục vụ cho nhu cầu cá nhân của nhau”. Khi một người phát triển sự dấn thân của mình để phục vụ cho người bạn đời, người đó sẽ củng cố được những mối dây của sự chung thủy và yêu thương vốn là bản chất của sự gắn bó.

Câu hỏi 18
Câu trả lời của bạn. Mục tiêu của sự giúp đỡ là trở thành một công cụ của Đức Chúa Trời để ứng dụng cho những nhu cầu sâu kín nhất của người bạn đời. Mục tiêu của sự sử dụng đề cập tới hành vi muốn chiếm hữu hoặc thay đổi người nào đó để thích hợp với điều mình muốn. Điều này thường vô thức trong ý nghĩa là người ta thường không lựa chọn sử dụng người bạn đời của mình. Nhưng hành vi có thể là sử dụng, chỉ có thừa nhận yếu tố này hay không.
Câu hỏi 19
Chúng ta phải lựa chọn một cách có ý thức cân nhắc để thay đổi phương cách mà chúng ta liên hệ với người bạn đời từ sử dụng (đáp ứng nhu cầu của chính mình) sang giúp đỡ (cho người bạn đời).
Câu hỏi 20
Câu trả lời của bạn. Ba yếu tố cần thiết để đạt được mục tiêu giúp đỡ là:
a/ Một quyết định dứt khoát và quyết tâm tiếp tục dấn thân để phục vụ.
b/ Một ý thức rõ ràng về những nhu cầu của người bạn đời.
c/ Nhận thức rằng bạn là công cụ mà Đức Chúa Trời đã lựa chọn để đáp ứng những nhu cầu
đó.
Câu trả lời của bạn nên bao gồm một bảng tóm tắt của mỗi phần trên trong ngôn từ của bạn.
TỰ KIỂM TRA
SaSt 2:24 dạy rằng một người nên lìa cha mẹ khi kết hôn.
Vậy người ta phải vâng theo điều này như thế nào theo ý của XuXh 20:12 “Hãy hiếu kính
cha mẹ”.
Châm ngôn đã dạy con người phải giữ và chớ lìa bỏ điều gì ?
Một người có thể vâng theo mạng lịnh lìa cha mẹ nếu vẫn tiếp tục sống với hoặc là cha mẹ mình hoặc là cha mẹ vợ sau khi cưới không?
Từ Hêbơrơ (dabaq ) nghĩa là gì? (đưa ra định nghĩa về chính từ đó chớ không phải là quan niệm chung).
Hai yếu tố thiết yếu do đời sống mà Đức Chúa Trời đã cung cấp thông qua mối quan hệ là gì? Định nghĩa mỗi yếu tố trong một câu .
Mục tiêu của sự gắn bó là để phát triển sự hiệp nhất tâm hồn. Vậy sự hiệp nhất tâm hồn là gì?
Crabb đề nghị con người có một trong hai mục tiêu trong mối quan hệ. Vậy hai mục tiêu đó là gì? Và điều nào là mục tiêu chính đáng cho hôn nhân?
Ba yếu tố cần thiết để đạt được mục tiêu chính đáng cho hôn nhân là gì?.
Vần đề cơ bản nào ngăn cản chúng ta gắn bó một cách đúng nghĩa với người bạn đời của chúng ta?

TRẢ LỜI PHẦN TỰ KIỂM TRA
Con người nên luôn luôn hiếu kính cha mẹ bằng sự kính trọng, bao gồm việc lắng nghe lời khuyên dạy của họ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là người đó bị buộc phải tuân theo lời khuyên của cha mẹ mọi lúc, bởi vì uy quyền trong mối quan hệ cha mẹ con cái đã chấm dứt. Khi một người lìa cha mẹ và lập gia đình , một gia đình mới toanh được thiết lập trước mặt Chúa, nơi đòi hỏi phải có một lòng chung thủy cơ bản của mỗi người.
Trong ChCn 6:20 chúng ta đã được học là phải giữ và chớ lìa bỏ sự hướng dẫn cơ bản của cha mẹ. Một lần nữa, sau khi lập gia đình hai vợ chồng nên cung kính nghe theo những lời khuyên của cha mẹ suốt cuộc đời, nhưng họ cũng phải có những quyết định cho chính gia đình mới của mình như một đơn vị riêng biệt.
Mạng lịnh lìa cha mẹ nhấn mạnh việc tách rời về thể chất theo một cách thức nào đó, nhưng điều này không phải khi nào cũng được. Một cặp vợ chồng phải sống với cha mẹ bên này hay bên kia thì phải nỗ lực đặc biệt để khéo léo thiết lập một sự thật là lòng trung thành trước nhất của họ bây giờ dành cho người bạn đời chớ không phải cho cha mẹ.
Dabaq nghĩa là “bám vào, giữ chặt vào …” Theo nghĩa đen, có nghĩa là ràng buộc hay kết chặt thực thể này với một thực thể khác. Còn theo nghĩa bóng là chung thủy thương yêu và dấn thân.
Đức Chúa Trời đã thiết lập nên nhiều mối quan hệ - đặc biệt là mối quan hệ hôn nhân để cung cấp cho chúng ta sự an toàn và cuộc sống có ý nghĩa. Sự an toàn và có ý nghĩa nhất của chúng ta đến từ sự hiệp nhất tâm linh với Đấng Christ.
Hiệp nhất tâm linh là kết quả của sự hòa hợp khi hai vợ chồng dấn thân trọn vẹn cho mục tiêu phục vụ trong cuộc hôn nhân của họ.
Hai mục tiêu có thể trong bất cứ mối quan hệ nào là: phục vụ hay sử dụng. Cơ đốc nhân nên dấn thân cho mục tiêu phục vụ, cho nhu cầu của người bạn đời.
Để hoàn thành mục tiêu phục vụ bắt đầu với nhận thức cân nhắc lựa chọn để phục vụ cho chồng hay vợ. Thứ nhì là một người phải nhận thức đầy đủ về nhu cầu của người bạn đời. Ba là những người chồng và vợ cần phải biết rằng họ là công cụ được Đức Chúa Trời lựa chọn để phục vụ cho những nhu cầu của người đặc biệt này.
Vần đề cơ bản đã ngăn cản người nam và vợ hoàn thành việc hiệp nhất tâm hồn chính là quá coi trọng mình hơn người khác, cách cư xử của người vị ngã là đáp ứng nhu cầu của chính mình, điều được xem như là mục tiêu sử dụng.
Bài 3: HÔN NHÂN BAO HÀM VIỆC TRỞ NÊN “MỘT THỊT”
Mạng lịnh của Môise và mối quan hệ hôn nhân đề cập đến một khía cạnh sâu xa hơn “cả hai sẽ nên một thịt” (SaSt 2:24). Chúng ta sẽ bắt đầu với phần tóm tắt của cụm từ trước đó và kế tiếp là phần thú vị nhất cũng như là những rắc rối có thể có trong cuộc sống hôn nhân. Mục tiêu của chúng ta trong bài học số 3 là giúp cho học viên nên tự trang bị để “nên một thịt” với người bạn đời của mình.
DÀN BÀI
2:24 Ôn lại hoạch định của Đức Chúa Trời.
Nên Một Thịt.
Phát huy sự Hiệp nhất Thể xác.
Kết luận
MỤC TIÊU CỦA BÀI.
Khi kết thúc bài học này, bạn có thể:
Viết một đoạn văn giải thích ý nghĩa của sự “nên một thịt”.
Viết từ 1 đến 3 câu định nghĩa từng khái niệm về sự Hiệp nhất Tâm linh, Hiệp nhất
tâm hồn và Hiệp nhất Thể xác và tìm sự liên hệ của những khái niệm đó.
Viết một đoạn văn giải thích sự khác biệt giữa khái niệm của Kinh thánh về sự hiệp
nhất Thể xác (“nên một thịt”) và Thú vui Nhục dục.
Liệt kê và định nghĩa vắn tắt 3 trở ngại đối với sự Hiệp nhất Thể xác và giải pháp
chung cho từng trở ngại.
Bày tỏ sự hứa nguyện để áp dụng những lẽ thật này bằng cách hoàn thành dự án 4.
Để bắt đầu bài học này, hãy đọc chương 4 có tựa đề “Sự Hiệp nhất Tâm hồn” trong sách “Người xây dựng hôn nhân” . Điều này sẽ làm cơ sở cho việc học chương 5 trong phần tiếp theo.
Câu hỏi 1
Trong chương 4, ông Crabb đã đề cập đến mục tiêu và nguyện vọng. Định nghĩa mỗi từ và giải thích câu trả lời đúng đối với từng từ. Bạn sẽ nghiên cứu kỹ hơn nội dung của chương 4 trong đơn vị tiếp theo.
2:24 - Ôn lại hoạch định của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời đã có một kế hoạch hoàn hảo dành cho hôn nhân, kế hoạch cơ bản ấy được chép trong 2:24. Chúng ta đã nghiên cứu hai trong số ba cụm từ đủ để chúng ta có thể tìm hiểu bản chất của mối quan hệ hôn nhân. Phần thứ nhất của câu “người nam sẽ lìa cha mẹ” là một phản ứng đối với cha mẹ và đó là cụm từ nói về sự độc lập. Phần thứ 2 “mà dính díu cùng vợ mình” là mạng lịnh đòi hỏi có một sự kết hợp với người bạn đời. Tuy nhiên, không ai có thể “gắn bó” với người khác cho đến khi họ từ bỏ được tính ích kỷ của chính mình. Là một đồng minh, người đó phải thật sự quan tâm đến hạnh phúc của người liên kết với mình.
Nên một thịt
Phần cuối của câu “Cả hai sẽ nên một thịt” là mục tiêu của bài học. Trong Eph Ep 5:32 Phaolô phân tích SaSt 2:24 và viết rằng “Sự mầu nhiệm ấy là lớn”. Và đúng như vậy. Mối quan hệ này giữa người nam và người nữ khiến họ trở nên một thịt tự nó đã là một huyền nhiệm vĩ đại. Hơn nữa, đây là hình ảnh về mối tương quan giữa Đấng Christ và vợ của Ngài.
Để hiểu thêm về ý tưởng này, chúng ta quay trở lại 2:24 và văn cảnh của câu Kinh thánh này. Hãy đọc lại các câu 18-25 và trả lời những câu hỏi sau:
Câu hỏi 2
Đức Chúa Trời dựng nên người nữ bởi xương thịt của người nam (câu 21) , còn người nam nhận biết người nữ do nơi mình mà có (Câu 23). Điều này giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về “một thịt ” trong câu 24 như thế nào?
Câu hỏi 3
Sự việc những đứa trẻ được sinh ra do sự trở nên một thịt của người nam và vợ mình cũng chỉ ra điều gì đó về ý nghĩa của “một thịt ”. Liệt kê một số hàm ý .
Câu hỏi 4
Viết một đoạn văn ngắn tóm tắt sự hiểu biết của bạn về ý nghĩa của “nên một thịt ”.

Phát huy sự hiệp nhất thể xác
Ý nghĩa của việc trở “nên một thịt” hàm ý sự kết hợp trọn vẹn của 2 người về tinh thần, tâm hồn và thể xác. Chúng ta đã xem xét ý nghĩa của Hiệp nhất Tâm linh và Hiệp nhất Tâm hồn trong các bài học trước. Bây giờ chúng ta sẽ chuyển thái độ của chúng ta đến cách mối quan hệ tình dục đã được Đức Chúa Trời thiết lập để cải tiến và hoàn thiện sự hiệp nhất hoàn toàn này.
Sự Hiệp nhất Tâm linh Sự hiệp nhất tâm hồn Sự hiệp nhất thể xác
Ngửa trông Chúa đáp ứng Lựa chọn để đáp ứng nhu Trở nên một thịt trong
nhu cầu của chính mình cầu của người bạn đời qua sự kết hợp cá nhân cách
sự giúp đỡ thay vì sử dụng phong phú.
Đọc chương 5 trong “Người xây dựng hôn nhân”. Sau khi đã đọc xong bạn hãy trả lời đầy đủ những câu hỏi của chương đã học (Bạn có thể sử dụng sách bài học cho phần trả lời).

Câu hỏi 5
Crabb đã đề cập rất nhiều về Hiệp nhất Tâm linh và Hiệp nhất Tâm hồn trong các bài trước. Trong chương 5 Crabb định nghĩa về những thuật ngữ này. Hãy phát biểu lại những định nghĩa đó bằng lời của bạn.

Câu hỏi 6
Viết từ 2 đến 3 dòng giải thích Crabb ngụ ý gì qua từ “Thú vui Nhục dục ”.
Câu hỏi 7
Theo quan điểm của con người thì Thú vui Nhục dục liên hệ đến điều gì? Có gì sai trong quan điểm đó? Bạn liên tưởng đến những phân đoạn Kinh thánh nào khi đánh giá quan điểm đó của con người?
Câu hỏi 8
Thú vui Nhục dục có thể trở thành vật thay thế cho điều gì?
Câu hỏi 9
Điều nguy hiểm chủ yếu của Thú vui Nhục dục là gì?
Câu hỏi 10
Hiệp nhất Thể xác có lợi cho cả thể xác lẫn con người. Nêu tên 2 điều có lợi mà Crabb đề cập?
Trong bài học này Crabb đưa ra một vài phát biểu đầy ý nghĩa về hôn nhân, điều mà không nhất thiết phải dễ hiểu. Những trích dẫn được ghi lại sau đây rất quan trọng. Bạn sẽ được yêu cầu phân tích một số trong những phát biểu ấy.
“Một cuộc hôn nhân có ý nghĩa đối với cá nhân tùy thuộc vào sự phát huy của việc Hiệp nhất Tâm hồn. Mà Hiệp nhất Tâm hồn không thể tăng trưởng được nếu không có Hiệp nhất Tâm linh”.
Câu hỏi 11
Tại sao Hiệp nhất Tâm hồn không thể tăng trưởng được nếu không có sự Hiệp nhất Tâm linh? Nếu cần hãy xem lại bài học chỗ Crabb giải thích mối quan hệ của chúng, rồi viết ra bằng lời của bạn.
“Khi cả hai mức độ hiệp nhất đều hiện diện thì mối quan hệ sẽ sống động và mật thiết. Những phần trung tâm của nhân cách được chạm đến và ăn khớp với nhau.
Câu hỏi 12
Bạn có suy nghĩ gì về điều mà Crabb gọi là “Phần trung tâm ” của nhân cách? Những điều nào có thể là phần trung tâm của nhân cách của bạn?
“Một ý thức về sự thân mật bất thường triển khai , không phải theo một nhịp điệu vững vàng mà là sự bộc phát thất thường dần dà giảm bớt cường độ và gia tăng tầng số để hướng đến một kiểu mẫu hiệp nhất ngày càng phát triển”.
Câu hỏi 13
Viết xuống bằng lời của bạn, bạn hiểu gì về những điều Crabb mô tả. Bạn có thể nếu cần đọc lại để hiểu ý nghĩa mà đoạn này đề cập đến.
“Khi đó đôi lứa, trong sinh hoạt tình dục của mình, tận hưởng thân xác nhau trong sự kết hợp riêng tư cách sung mãn như vốn có”.
Câu hỏi 14
Hãy đọc nội dung của đoạn này rồi giải thích ý nghĩa của sự kết hợp “cá nhân ” mà Crabb đề cập đến. Từ “con người ” được Crabb dùng như thế nào?
“Hai thân xác quyện lấy nhau chứa đựng hai con người vốn đã thuộc về nhau”.
Câu hỏi 15
Bạn giải thích như thế nào về mối liên hệ giữa câu trên và câu Kinh thánh “cả hai sẽ nên một thịt ”?
Crabb kết luận phần này bằng một cuộc thảo luận về một vài chướng ngại đã cản trở sự Hiệp nhất Thể xác. Những câu hỏi sau sẽ giúp bạn hiểu thông suốt những vấn đề này.
Câu hỏi 16
Ba trở ngại khiến không đạt được Hiệp nhất Thể xác đã được thảo luận trong bài học. Trở ngại đầu tiên là gì? Định nghĩa trở ngại này bằng lời của bạn. Giải pháp chung của Crabb cho trở ngại này là gì?
Câu hỏi 17
Trở ngại thứ hai là những vấn đề giữa hai người trong cuộc. Vậy nguyên nhân tiềm ẩn của vấn đề này là gì? Ba cảm xúc tiêu cực nào là hậu quả của những vấn đề trong những lãnh vực này? Giải pháp chung của Crabb cho những vấn đề giữa những người trong cuộc là gì?
Câu hỏi 18
Trở ngại nào được Crabb xem là dễ sửa sai nhất?
Về những vấn đề kỹ thuật, Crabb viết “nhưng không biết cách gợi tình và thỏa mãn bạn tình cũng chẳng đem lại vinh hiển gì cho Đấng tạo dựng tình dục.”
Dự án 4
Dành cho sinh viên đã lập gia đình.
Để ra hai giờ để hoàn thành dự án này theo các bước sau:
Ôn lại nội dung của bài học.
Đánh giá mối quan hệ tình dục của bạn dựa trên những điều đã học.
Hãy liệt kê những thái độ/ việc làm bạn cần thay đổi để có được sự Hiệp nhất Thể xác giống như Kinh thánh đã phác thảo.

Kết luận
Hiệp nhất Thể xác là một khia cạnh quan trọng và không thể thiếu trong hoạch định của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, sự Hiệp nhất Thể xác không chỉ là “thú vui nhục dục” mà thôi. Sự Hiệp nhất Thể xác là kết quả tất yếu của sự gần gũi được hình thành và phát triển nhờ vào sự Hiệp nhất Tâm linh và Hiệp nhất Tâm hồn. Nếu thiếu sự thân mật cơ bản này thì tình dục sẽ mất đi tính sâu sắc và thỏa nguyện mà Đức Chúa Trời đã hoạch định. Hiệp nhất Thể xác có thể làm cho hôn nhân của bạn trở nên sâu sắc và hạnh phúc hơn khi nó được phát huy cách đúng đắn trong mối quan hệ với sự Hiệp nhất Tâm linh và Hiệp nhất Tâm hồn.
Bài tập 1
Để ôn lại những gì chúng ta đã học trong đơn vị 1. Hãy làm bài tập sau :
Giả sử có một đôi bạn trẻ đến với bạn để xin khải đạo tiền hôn nhân. Bạn muốn chia xẻ với họ những gì bạn đã học về hoạch định của Đức Chúa Trời trên hôn nhân dựa trên SaSt 2:24. Bạn giải thích cho đôi bạn trẻ này như thế nào về từng cụm từ trong 3 cụm từ mà bạn đã học? Hãy viết câu trả lời của bạn dưới dạng dàn bài trong 1 trang hay ít hơn.
TRẢ LỜI CÂU HỎI.
Câu hỏi 1
Chúng ta có những đích nhắm (hay những gì chúng ta muốn). Đích nhắm đó là “mục tiêu” là những gì nằm trong tầm kiểm soát của tôi và có thể đạt được bằng sự nỗ lực. Đích nhắm là những “nguyện vọng” là những gì tôi rất muốn, nhưng tôi không thể đạt được bằng nỗ lực cá nhân. Vì vậy, phản ứng của tôi sẽ khác nhau tùy theo điều tôi muốn đó là mục tiêu hay là nguyện vọng. Nếu đích nhắm của tôi là mục tiêu, tôi sẽ làm mọi điều để có thể đạt được nó. Ngược lại, nếu đích nhắm của tôi là nguyện vọng, tôi sẽ cầu nguyện cho điều này.
Câu hỏi 2
Đức Chúa Trời đã dựng nên người nữ từ “thịt” của người nam (2:21) biến cô ấy thành ra “thịt bởi thịt tôi” (2:23). Vì thế Đức Chúa Trời dự định làm cho phần thịt đã bị chia cách kết hợp lại thành ra “một thịt” (2:24). Điều này ngụ ý rằng có một hiệp nhất hoàn toàn giữa hai người trong tinh thần, tâm hồn và thể xác. Hình ảnh một thịt tiêu biểu cho sự kết hợp thể xác là một minh họa cho sự hiêp nhất trọn vẹn này.
Câu hỏi 3
Câu trả lời của bạn. Sự son sẻ - không giới hạn việc trở nên một thịt. Điều này ngụ ý nhiều về sự kiện hai người có thể tự họ tạo ra một con người mới: cả hai vợ chồng đều góp phần cả về thể xác, tinh thần, tình cảm cho từng đứa trẻ như một con người mới.
Câu hỏi 4
Câu trả lời của bạn. Bạn nên bao gồm luôn ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho vợ chồng là ngày một gia tăng sự thân mật trên một mức độ của mối quan hệ giữa hai người. Thông qua sự kết hợp này hai vợ chồng thành lập một đơn vị bổ túc và hoàn thiện cho nhau,
Câu hỏi 5
Câu trả lời của bạn. Hiệp nhất Tâm linh bao hàm việc cả hai vợ chồng đều đến với Chúa để được đáp ứng những nhu cầu về an toàn và ý nghĩa, chứ không trông chờ người bạn đời của mình đáp ứng. Hiệp nhất tâm hồn bao hàm việc dấn thân từ cả hai vợ chồng để đáp ứng nhu cầu của người kia hơn là dùng người bạn đời để đáp ứng nhu cầu của mình.
Câu hỏi 6
Câu trả lời của bạn. Theo Crabb Thú vui Nhục dục là “lạc thú thể xác {nhận được từ tình dục} mà không có ý nghĩa cá nhân chính đáng”. Không cần có mối quan hệ tình cảm hay hứa nguyện gì giữa hai người.
Câu hỏi 7
Thú vui nhục dục liên hệ đến quan điểm của con người là giảm giá trị anh ta thành một con người thuần xác thịt. Tâm hồn và tinh thần của con người bị chối bỏ, thu nhỏ hay bị bỏ mặc. Những lỗi chính yếu rõ rệt trong quan điểm này là nó trái ngược với quan điểm của Kinh thánh và bỏ mặc những khía cạnh quan trọng nhất của bản thể con người. Về vấn đề bản năng tình dục, sự nguy hiểm đặc biệt rõ ràng bởi vì nó khuyến khích một trong những vấn đề nổi cộm nhất của bản năng tình dục con người đó là biến đổi tình dục thành những hoạt động thân xác mà không hề có mối quan hệ tình cảm và tâm linh. Sáng thế ký đoạn 1 đề cập đến sự kiện con người được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Điều này tách biệt con người với những loài thọ tạo khác. Những đoạn Kinh thánh khác gồm có PhuDnl 6:5 (Xem thêm Mat Mt 22:3). ICo1Cr 2:11 6:12-20, 15:45-50 IICo 2Cr 4:16 và Eph Ep 3:16-17.
Câu hỏi 8
Thú vui Nhục dục cũng có thể trở thành một phương tiện tránh né đối diện với thực tế là sự không hòa hợp cá nhân, một trống vắng trong tâm hồn. Thay vì tìm kiếm sự thỏa mãn thông qua việc tăng trưởng của bản thân thì có người lại đi tìm sự thỏa mãn qua lạc thú xác thịt. Thú vui Nhục dục cũng có thể là một cố gắng để tránh né sự hứa nguyện cần có để phát huy sự hiệp nhất Thể xác.
Câu hỏi 9
Điều nguy hiểm chủ yếu của Thú vui Nhục dục là: “Nó thỏa mãn thân xác nhưng để lại cho con người nỗi trống vắng và thất vọng”.
Câu hỏi 10
“Hiệp nhất Thể xác bao gồm việc thỏa mãn thân xác và ý nghĩa sung mãn cho con người”. Nghĩa là Hiệp nhất Thể xác tốt hơn là thú vui nhục dục vì nó mang lại nhiều điều hơn là lạc thú nhục dục tự nó có thể cung hiến.
Câu hỏi 11
Câu trả lời của bạn. Hiệp nhất Tâm hồn liên quan đến sự giúp đỡ của một người cho người khác bằng cách khuyến khích sự phát triển về an toàn và ý nghĩa. Trong bài 2, khi chúng ta đề cập đến vấn đề gắn bó, chúng ta đã thảo luận tới những khó khăn của việc dâng hiến chính mình vì người khác ở mức độ ấy. Đó là lý do tại sao Hiệp nhất Tâm linh lại cần thiết đối với Hiệp nhất Tâm hồn. Trừ phi tôi có sự bình an trong mối quan hệ giữa tôi với Đức Chúa Trời và tìm kiếm ở Ngài sự đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của tôi, tôi sẽ cố sử dụng người bạn đời nhằm đáp ứng những nhu cầu ấy đến nỗi tôi không còn năng lực chăm sóc cho nhu cầu của anh ấy hay cô ấy. Vì cớ nguyện vọng riêng của mình, trọng tâm của tôi trong hôn nhân là nhận chứ không phải là cho.
Câu hỏi 12
Câu trả lời của bạn. Chắc chắn chúng ta sẽ gộp vào phần trung tâm của nhân cách quan niệm về ý nghĩa và an toàn. Phần trung tâm của nhân cách sẽ bao gồm: tinh thần, tâm hồn, giá trị, cảm xúc, sợ hãi, ý kiến, ý nghĩa của từ và những quan niệm, hình ảnh của chính mình và những thực thể mơ hồ khác làm nên con người của bạn.
Câu hỏi 13
Câu trả lời của bạn. Chủ đề của câu là “nhận thức” của sự thân mật bất thường. Crabb đang đề cập đến sự an toàn của một người khi anh ta được người khác xem là quan trọng, xứng đáng với sự đầu tư thì giờ và năng lực. Tác giả nói rằng: kiểu nhận thức này thoạt đầu xuất hiện bất ngờ, chúng mạnh mẽ hơn và ít xảy ra hơn lúc bắt đầu của một mối quan hệ và chúng dần dần trở nên ít thay đổi và ít đột biến hơn. Chỉ khi đó, người đó mới trưởng thành trong sự Hiệp nhất Tâm hồn và sẵn sàng để kinh nghiệm sự Hiệp nhất Thể xác. Vấn đề là đừng mong sẽ kinh nghiệm hoàn toàn được sự Hiệp nhất Tâm hồn chỉ trong một đêm. Hãy dành thì giờ để vun trồng và phát triển nó.
Câu hỏi 14
Sự kết hợp hai thân xác trong sự gần gũi tình dục là kết quả, trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, của sự kiện là những phần không thuộc về thân xác của con người - những khía cạnh rất thiết yếu đối với bản thân con người - cũng đã được nối kết. Như thế, tình dục trở nên hoa tình yêu chứ không phải hạt giống; là hậu quả của tình yêu chứ không phải nguyên nhân (mà Đức Chúa Trời không khi nào hoạch định).
Câu hỏi 15
Câu trả lời của bạn. Trong chuỗi phát biểu trong SaSt 2:24 người nam được bảo “lìa cha mẹ” sau đó là “dính díu cùng vợ mình” và cuối cùng Môise nói “cả hai sẽ nên một thịt”. Chỉ khi nào hai người tình nguyện dấn thân để làm theo hoạch định của Đức Chúa Trời đối với hôn nhân và dâng hiến chính mình cho người kia như những con người khi đó họ mới nghĩ đến việc đáp ứng nhu cầu của nhau. Chỉ khi nào mỗi người nhận thức được người kia thật sự dấn thân đáp ứng nhu cầu của mình khi đó mối dây ràng buộc về sự Hiệp nhất Tâm hồn mới có thể tồn tại, và chỉ khi đó mối quan hệ tình dục mới không chỉ là hành động của thân xác. Những khái niệm này được hàm ý trong phần “trở nên một thịt”. Crabb đã khai triển những ý kiến này trong phần đề cập của ông về sự Hiệp nhất Thể xác.
Câu hỏi 16
Câu trả lời của bạn. Trợ lực đầu tiên đối với Hiệp nhất Thể xác là những vấn đề nội tâm của con người. Đó là những đặc tính riêng của cá nhân hay “sự ức chế tâm lý thường xuất phát từ những kinh nghiệm đau thương trong quá khứ về mặt tình cảm có dính líu đến tình dục”. Những vấn đề này, Crabb cho rằng, là bằng chứng của những nhu cầu cá nhân không được đáp ứng. Cho nên giải pháp chung cho vấn đề này là phát triển sự Hiệp nhất Tâm linh.
Câu hỏi 17
Nguyên nhân cơ bản của những vấn đề thường xảy ra giữa hai vợ chồng là 1 hoặc 2 người không đặt niềm tin hoàn toàn vào Chúa để Ngài đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của mình. Họ quay sang tìm đến nhau để tìm sự đáp ứng và mục tiêu của họ trở thành sử dụng. Ba cảm xúc gây rắc rối được phát sinh từ những vấn đề giữa hai vợ chồng là: sự bực bội, lo lắng và tội lỗi. Phương pháp chữa trị chung là thay đổi mục tiêu của chúng ta từ sử dụng người bạn đời sang giúp đỡ. “Mọi người cần phải xem xét lại mục tiêu từng hồi từng lúc của mình khi quan hệ với người bạn đời, thú nhận những mục tiêu sử dụng sai trái và thiết lập những mục tiêu giúp đỡ đúng đắn”.
Câu hỏi 18
Vấn đề về kỹ thuật chữa trị dễ nhất, vì điều này thường chỉ liên quan đến kiến thức không đủ hay không chính xác về nghệ thuật yêu đương.

TỰ KIỂM TRA
Câu trả lời ngắn. Trả lời mỗi câu sau đây trong khoảng từ 3 đến 4 dòng bằng ngôn từ của bạn:
Giải thích cụm từ “trở nên một thịt” (2:24).
Hiệp nhất Tâm linh là gì?
Hiệp nhất Tâm hồn là gì?
Hiệp nhất Thể xác là gì?
Điểm dị biệt cơ bản giữa Hiệp nhất Thể xác và Thú vuị Nhục dục là gì?
Tại sao Hiệp nhất Thể xác lại tốt hơn Thú vui Nhục dục?
Điều nào trong số 3 trở ngại ảnh hưởng đến Hiệp nhất Thể xác dễ giải quyết nhất?

TRẢ LỜI PHẦN TỰ KIỂM TRA.
“Trở nên một thịt” liên quan đến quá trình mà qua đó hai vợ chồng trở nên hiệp nhất trong tâm linh, tâm hồn và thể xác. Ý muốn của Đức Chúa Trời cho hai vợ chồng là phát triển sự thân mật trong tất cả mọi lãnh vực, bằng cách đó hình thành nên một đơn vị gia đình mới bổ sung cho nhau.
Hiệp nhất Tâm linh liên hệ đến mối tương quan giữa tín hữu và Đấng Christ khi Ngài được xem là Đấng tối thượng và cuối cùng để đáp ứng những nhu cầu của chúng ta về an toàn và ý nghĩa.
Hiệp nhất Tâm hồn miêu tả mối quan hệ giữa hai vợ chồng cùng có mục tiêu là giúp đỡ lẫn nhau để cả hai ngày càng nhận thức được giá trị của mình trong Đấng Christ. Mục tiêu giúp đỡ này đòi hỏi ở cả hai người, bất chấp 1 trong 2 người chịu hợp tác hay không.
Hiệp nhất Thể xác là sự thỏa mãn lạc thú tình dục dựa trên mối quan hệ cá nhân sâu sắc giữa hai vợ chồng.
Không giống như Hiệp nhất Thể xác, Thú vui Nhục dục không đòi hỏi hay không cần mối quan hệ cá nhân giữa hai đối tượng. Nó chỉ thỏa mãn thể xác mà không cần ý nghĩa riêng tư.
Hiệp nhất Thể xác thì tốt hơn Thú vui Nhục dục vì nó cung ứng cả thỏa mãn thể xác lẫn ý nghĩa riêng tư cho tâm hồn.
Trở ngại dễ vượt qua nhất để đạt được sự Hiệp nhất Thể xác là vấn đề kỹ thuật. Kỹ thuật ai cũng có thể học với những thông tin đúng đắn.

BÀI THI ĐƠN VỊ 1.
I. Thuộc lòng:Viết thuộc lòng 2:24.
II. Bài luận (tối đa hai trang)
Dưạ trên những gì bạn đã học trong đơn vị 1, bạn hiểu gì về hoạch định của Đức Chúa Trời cho hôn nhân? Câu trả lời của bạn nên bao gồm phần thảo luận về:
Mục đích của hôn nhân.
Cụm từ căn bản của 2:24.
Khái niệm về Hiệp nhất Tâm linh, Tâm hồn và Thể xác.
Những mục tiêu chính đáng đối kháng với những mục tiêu không chính đáng trong hôn nhân, kể cả định nghĩa mục tiêu là gì? Trưng dẫn Kinh thánh nếu cần.
Giáo sư hướng dẫn sẽ tìm từng mục rõ ràng dưới mỗi vấn đề khi chấm bài thi. Nếu muốn bạn có thể ghi lại toàn bộ phần trả lời của bạn dưới dạng dàn bài.
TRUYỀN THÔNG
Dựa vào những gì chúng ta đã học về hoạch định của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân, điều rõ ràng là Đức Chúa Trời đã định cho hôn nhân phải là một mối quan hệ mật thiết trong các mối quan hệ của con người. Tuy vậy chúng ta cũng thấy thường xảy ra những chuyện người đã kết hôn với nhau nhiều năm nhưng hầu như không hiểu gì về nhau cả. Họ không thể liên hệ với nhau như Kinh thánh bảo phải nên như vậy, cũng như không thể phát triển sự Hiệp nhất Tâm hồn giữa họ.
Có thể nhiều nguyên nhân gây ra tình huống này nhưng một trong những vấn đề chủ yếu thường xảy ra trong lĩnh vực truyền thông. Đó là lý do tại sao ba bài học kế tiếp có liên hệ với chủ đề này. Trong bài số 4 chúng ta sẽ nghiên cứu về những sự kiện sơ bộ cần thiết, đó là cách thiết lập nên bầu không khí thích hợp cho sự truyền thông. Bài số 5 sẽ nghiên cứu những qui trình Truyền thông là gì? Truyền thông được tiến hành như thế nào? Cuối cùng, trong bài số 6 chúng ta sẽ khảo sát lãnh vực phức tạp là cách giải quyết xung đột. Mục tiêu của chúng ta trong phần bài học này là mỗi học viên phải học những kỹ năng truyền thông cơ bản và sau đó thực hành những kỹ năng đó trong hôn nhân, mối quan hệ quan trọng hơn hết của con người.
DÀN BÀI
Bài 4 - Tạo một không khí thuận lợi cho sự truyền thông.
Bài 5 - Cách tiến hành sự truyền thông.
Bài 5 - Cách giải quyết xung đột.
MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Khi học xong phần này, bạn sẽ có thể:
Định nghĩa sự truyền thông và miêu tả cách tiến hành truyền thông.
Phát huy những mẫu liên lạc ở nhà giúp tăng cường sự đối thoại và thái độ thích hợp với
việc truyền thông.
Học biết khi nào nên bày tỏ những cảm xúc của bạn đối với người bạn đời của mình và
cách chấp nhận những cảm xúc đó khi người bạn đời của mình bày tỏ.
Xử lý xung đột theo cách khuyến khích sự hình thành một mối quan hệ hôn nhân tốt
đẹp.
Bài 4: TẠO MỘT KHÔNG KHÍ THUẬN LỢI CHO SỰ TRUYỀN THÔNG
Bài học này tập trung vào câu hỏi là làm sao hai người trong hôn nhân, hay trong bất cứ một mối quan hệ nào khác có thể tiến hành tạo nên một quá trình truyền thông tốt đẹp hơn. Một người phải học biết cách tạo nên không khí dễ dàng cho việc truyền thông thân mật. Chúng ta gọi điều này là một không khí đối thoại
DÀN BÀI
Ý nghĩa và tầm quan trọng của sự đối thoại
Truyền thông một chiều đối với sự truyền thông hai chiều.
Sáu nhân tố khuyến khích sự đối thoại.
Sự chân thật
Sự đồng cảm
Tình yêu vô điều kiện.
Sự ân cần.
Tinh thần tôn trọng lẫn nhau.
Sự khích lệ.
Kết luận
MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC.
Khi học xong bài này bạn sẽ có thể:
Giải thích sự khác nhau giữa truyền thông một chiều và truyền thông hai chiều.
Nói rõ và viết 2 hoặc 3 câu văn định nghĩa về 4 nhân tố phải có trong một mối quan hệ
để khuyến khích sự đối thoại.
Viết 1 hoặc 2 câu văn giải thích mức độ mà những phân đoạn Kinh thánh trích dẫn liên
hệ với 6 nhân tố khuyến khích sự đối thoại.
Bày tỏ nguyện vọng tiến hành sửa đổi thái độ truyền thông trong mối quan hệ hôn
nhân của bạn bằng cách hoàn thành dự án 5.
Ý nghĩa và Tầm quan trọng của Sự đối thoại
Kinh thánh Tân ước thôi thúc chúng ta phát triển những mối quan hệ đúng đắn trong mọi lãnh vực của cuộc sống, không những với người bạn đời của bạn mà còn giữa anh em tín hữu với nhau nữa.
Bài tập 1
Hãy đọc những phân đoạn Kinh thánh sau đây và viết một câu ghi chú những gì mà mỗi phân đoạn Kinh thánh khuyên cách những người thuôc về Đức Chúa Trời phải liên hệ với nhau.
GiGa 13:34-35
RoRm 12:10, 15
Eph Ep 4:15, 25, 32
Phi Pl 2:3-4
HeDt 10:24.
Trên đây chỉ là một số trong nhiều phân đoạn đưa ra những lời khuyên liên quan đến những mối liên hệ. Một trong những phương pháp rõ ràng nhất mà theo đó chúng ta thiết lập nên những mối quan hệ là đối thoại. Để có thể đối thoại thì vợ chồng phải nên có một thái độ thuận lợi cho việc truyền thông. Nghĩ đến đối thoại theo kiểu “làm thế nào” là đã sai mục tiêu rồi. Điều đó chắc chắn phải có, nhưng cách người ta cảm nhận về phía người đối thoại mới là quan trọng hơn nhiều. Có lẽ chúng ta sẽ chính xác hơn khi nói về một tinh thần đối thoại hơn là về một chiến lược đối thoại. Quan tâm của chúng ta trong bài này nhắm đến khuynh hướng tạo nên đối thoại hơn là chiến lược đối thoại.
Sự truyền thông Một chiều đối với Sự truyền thông Hai chiều.
Để giúp bạn hiểu được những gì chúng ta muốn nói về một thái độ khuyến khích sự truyền thông hai chiều, chúng ta phải mượn cách diễn đạt trong bài viết của Martin Buber. Ông ta chia thái độ và mối quan hệ của con người thành 2 loại: “Tôi - bạn” và “Tôi - nó”. Trong mối quan hệ “Tôi - bạn”, cả 2 đều nói rằng: “Tôi là một con người; bạn là một con người. Tôi quan trọng; Bạn quan trọng. Tôi có những cảm xúc; Bạn có những cảm xúc. Tôi muốn được lắng nghe; Bạn cần được lắng nghe. Tôi muốn được thông cảm; Bạn muốn được thông cảm”. Trái lại, thái độ truyền thông trong mối quan hệ “Tôi - nó”: “Tôi là một con người; Bạn là một đồ vật. Tôi quan trọng; Bạn không quan trọng. Tôi cần được lắng nghe; Bạn có thể bị xem thường. Những cảm xúc của tôi thì quan trọng, những cảm xúc của bạn không quan trọng”. Một người có thể biết hoặc không biết được thái độ thứ hai này, nhưng qua lời nói và hành động thì người kia sẽ cảm nhận được điều ấy qua mối quan hệ.
Thái độ “Tôi - bạn” có thể được coi là sự truyền thông hai chiều bởi vì điều này tạo nên không khí - đối thoại và truyền thông thật sự. Một cuộc đối thoại là một cuộc nói chuyện giữa hai người đang cố gắng để hiểu nhau và cố gắng để được thông cảm; họ làm như vậy bởi vì mỗi người xem người khác cũng là một con người quan trọng.
Nếu một hoặc hai người trong cuộc nói chuyện có tinh thần “Tôi - nó” thì không có đối thoại. Mà sự đối thoại được thay thế bằng một hoặc nhiều sự độc thoại, và vì thế cuộc nói chuyện này sự truyền thông một chiều.
SỰ TRUYỀN THÔNG HAI CHIỀU SỰ TRUYỀN THÔNG MỘT CHIỀU
TÔI BẠN TÔI NÓ
Câu hỏi 1
Theo bạn thì sự khác biệt giữa truyền thông hai chiều và truyền thông một chiều là gì? Có ví dụ nào trong cuộc sống thực tế bạn nghĩ rằng có thể minh họa cho từng loại truyền thông này?
Sáu Nhân Tố Khuyến Khích Đối Thoại
Chúng ta đề cập trong phần trước về tầm quan trọng của thái độ trong việc đẩy mạnh truyền thông. Để cụ thể hơn, có 6 nhân tố trong thái độ phải có trong một mối quan hệ trước khi có sự truyền thông hai chiều. Sự thiếu vắng 1 trong 6 nhân tố này sẽ làm xói mòn mối quan hệ, và sự truyền thông giữa hai người sẽ có khả năng biến thành một chiều. Sự truyền thông một chiều không góp phần vào sự hiểu biết và sự tăng trưởng trong những mối quan hệ. Mối quan hệ hôn nhân nếu do Đức Chúa Trời định sẵn phải có đặc điểm là truyền thông hai chiều. Sáu nhân tố khuyến khích sự đối thoại được miêu tả ngắn gọn dưới đây:
R Sự chân thật
Đặc tính “chân thật” mà chúng ta đề cập đến có nghĩa là mỗi người phải cố gắng cởi mở và thành thật về chính mình. Người đó phải tránh không nên tạo ra một hình ảnh giả dối và giấu mình đằng sau một chiếc mặt nạ. Người đó sẵn sàng tiếp thu tất cả những thông tin và những cảm xúc có liên quan đến tình huống.
Nền tảng của sự chân thật là người đó phải thành thật với chính mình. Trong RoRm 12:3 sứ đồ Phaolô khuyên các tín hữu đừng nên có tư tưởng cao quá lẽ nhưng “phải có tâm tình bình thường”.
Phaolô bày tỏ sự chân thật trong cuộc sống của chính mình - Ông thành thật với những khuyết điểm của chính mình (7:18-19) về những thành công của mình nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời (IITi 2Tm 4:7) và về những cảm xúc của mình (IICo 2Cr 7:4; GaGl 1:6).
R Sự đồng cảm
Sự đồng cảm là khả năng đồng cảm về mặt tinh thần với một người và hiểu những cảm xúc của người đó - người có sự đồng cảm sẽ nhìn sự kiện theo quan điểm của người kia, cũng như của chính mình. Người đó có khả năng phản ánh những cảm xúc của người khác và lập lại cảm xúc đó cách chính xác - Khi làm điều này, người đó không phải xác định những cảm xúc của người khác như thể chính anh ta là người trong cuộc, nhưng đúng hơn là như thể người đó là người kia trong tình huống đó.
Mỗi người phản ứng khác nhau với những tình huống, và đánh giá kinh nghiệm của người khác bằng kinh nghiệm của chính mình chẳng thể giúp ích gì cho người đó. Trong RoRm 12:15 Phaolô khuyên các Cơ đốc nhân “hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc”. Nếu tôi không hiểu được sự than khóc và niềm vui của người khác, tôi sẽ không thể nào khóc và vui với họ một cách sâu sắc được.
R Tình yêu vô điều kiện
Bày tỏ tình yêu vô điều kiện đối với người khác có nghĩa là một người coi trọng người khác vì giá trị và đạo đức con người của anh ta mà không đặt vào mối quan hệ bất cứ điều kiện nào đòi hỏi người kia phải thực hiện mới được yêu thương. Một người xác nhận người kia là duy nhất mặc dù người đó có thể không cần tán thành niềm tin hay cách cư xử của người kia.
Trong GiGa 13:34 chúng ta thấy Đấng Christ phán với các môn đồ của mình rằng: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau, như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy ” (nhấn mạnh đến chúng ta). Đấng Christ yêu họ như thế nào? Sứ đồ Giăng cho biết “Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng” (13:1). Trong số các môn đồ được kể đến trong câu này có Phierơ : kẻ chối Đấng Christ, Thôma : người nghi ngờ Ngài, và thật ra tất cả các sứ đồ đều ruồng bỏ Ngài khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Thế mà sứ đồ Giăng bảo chúng ta rằng Ngài vẫn yêu họ cho đến cuối cùng. Đây là kiểu mẫu cho tình yêu vô điều kiện.
R Sự ân cần
Những gì chúng ta muốn nhấn mạnh ở đây là cá nhân mỗi người đem theo toàn bộ bản ngã đến cuộc gặp. Người đó lắng nghe cách chăm chú và ân cần, và sẵn sàng trả lời.
ChCn 18:13 nói rằng “Trả lời trước khi nghe, ấy là sự điên dại và hổ thẹn cho ai làm vậy”. Hai người có thể đang trò chuyện với nhau nhưng không lắng nghe và không xử lý dữ kiện. Vì thế không ai có thể đối đáp cách thông minh đối với những gì người đó đã nghe. Nếu họ coi trọng nhau thì họ lắng nghe lẫn nhau.
R Tinh thần tôn trọng lẫn nhau
Người này xem người kia bình đẳng với mình, hoàn toàn không bởi sự khác biệt thật sự hoặc trước mắt về địa vị xã hội, những thành tựu và vân vân. Người này xem người kia như một con người chứ không phải như là một đồ vật để lợi dụng hoặc để bóc lột. Người đó không “nói chuyện kiểu chiếu cố” với người khác, cũng không bắt người khác phục tùng những quan điểm hoặc ý muốn của mình.
R Sự khích lệ
Điều này đơn giản có nghĩa là một người bày tỏ thái độ khiến cho người khác được khuyến khích để truyền thông. Người đó cho phép sự tự do bày tỏ, tìm kiếm sự thông cảm, và tránh những nhận xét làm cản trở sự đối thoại. Người đó cảm thấy yên tâm như mình. Người đó bày tỏ mong ước và năng lực để lắng nghe và không đoán trước, không xen vào, không ganh đua, không từ chối hay diễn ý thành những sự giải thoát mà mình đã đoán trước.
Giacơ đã khuyên rằng:
“Hỡi anh em, chớ nói hành nhau. Ai nói hành anh em mình hoặc xét đoán anh em mình, tức là nói xấu luật pháp, và xét đoán luật pháp. Vả, nếu ngươi xét đoán luật pháp, thì ngươi chẳng phải là kẻ vâng giữ luật pháp, bèn là người xét đoán luật pháp vậy. Chỉ có một Đấng lập ra luật pháp và một Đấng xét đoán, tức là Đấng cứu được và diệt được. Nhưng ngươi là ai, mà dám xét đoán kẻ lân cận mình?” (Gia Gc 4:11-12).
Nếu một người tin rằng mình sẽ bị xét đoán, bị từ chối hay bị chế giễu vì đã thành thật chia xẻ quan điểm của mình hay vì đã hỏi một câu hỏi thành thật thì sự đối thoại không thể tồn tại được, và những rào chắn được dựng lên giữa những người trong mối quan hệ.

SÁU YẾU TỐ KHUYẾN KHÍCH SỰ ĐỐI THOẠI
Sự chân thật
Sự đồng cảm
Tình yêu vô điều kiện
Sự ân cần
Tinh thần tôn trọng lẫn nhau
Sự khích lệ

Câu hỏi 2
Sáu yếu tố được miêu tả ở trên liên quan đến những phẩm chất đạo đức mà Đức Chúa Trời muốn các tín hữu phải có. Mỗi phân đoạn Kinh thánh sau đây liên hệ như thế nào đến yếu tố mà phân đoạn Kinh thánh đó được kết hợp với? (Giới hạn câu trả lời của bạn chỉ trong 3 câu hoặc ít hơn đối với mỗi phân đoạn Kinh thánh).
a. RoRm 7:18-19 Sự chân thật
b. 12:3 Sự chân thật
c. RoRm 12:15 Sự đồng cảm
d. GiGa 13:1, 34, 35 Tình yêu vô điều kiện
e. ChCn 18:13 Sự ân cần
f. RoRm 12:10 Tinh thần tôn trọng lẫn nhau.
G Phi Pl 2:3-4 Tinh thần tôn trọng lẫn nhau.
h. CoCl 3:12-14 Sự khích lệ.
Câu hỏi 3
Mỗi nhân tố của sự đối thoại giúp cho sự truyền thông của bạn ở nhà tốt hơn như thế nào? Viết một câu cho từng nhân tố.
Dự án 5
Dành cho những học viên đã có gia đình:
Để hoàn thành dự án này, bạn cần phải dành riêng một khoảng thời gian trong một giờ đồng hồ hay một khoảng thời gian gồm hai lần mỗi lần 30 phút với chồng hoặc vợ của bạn. Bạn cần phải đọc xong và làm hết các bài tập từ đầu cho đến phần này trước khi bắt đầu dự án này. Nếu người bạn đời của bạn không tham dự khóa học này, hãy dành thêm 30 phút nữa để giải thích những gì các bạn đã học được. Hãy đặc biệt chú ý đến 6 nhân tố khuyến khích sự đối thoại. Bạn nên dành khoảng 10 phút cho từng vấn đề sau:
1/ Hãy mời người bạn đời của bạn trả lời khi bạn hỏi họ bạn có thể làm gì để cải thiện
Sự chân thật của bạn
Sự đồng cảm của bạn
Tình yêu vô điều kiện
Sự ân cần
2/ Hãy hỏi : “Làm sao anh có thể bày tỏ rằng anh tôn trọng em?”
3/ Hãy hỏi : “Làm sao anh có thể khích lệ em hơn nữa khi anh lắng nghe em?”
Khi người bạn đời của bạn nói chuyện, hãy nhớ thực hành sự ân cần và bày tỏ một thái độ khích lệ. Hãy ghi chú để bạn có thể sử dụng những câu trả lời của người bạn đời để hoàn thành phần còn lại của dự án.
Sau cuộc đối thoại với người bạn đời của bạn, hãy viết bài làm hai trang tối đa tựa đề là: “Tôi sẽ góp phần vào sự truyền thông hai chiều ở nhà tôi bằng cách …”. Để đạt yêu cầu, bài làm đó phải liên quan đến tối thiểu là 2 trong 6 nhân tố của sự đối thoại.
Đối với những học viên độc thân
Sự truyền thông tốt quan trọng đối với tất cả mọi người, kể cả người đã có gia đình lẫn người độc thân. Khi bạn liên hệ đến cuộc sống của những người khác xung quanh bạn thì sáu nhân tố để có sự truyền thông sẽ giúp bạn cư xử và giúp đỡ cho họ.
Trước tiên hãy trình bày trên giấy (tối đa là 2 trang) mỗi một trong 6 nhân tố về truyền thông hai chiều có liên quan đến cuộc sống của bạn. Nêu những ví dụ cụ thể về cách bạn bắt đầu áp dụng những nhân tố này trong các mối quan hệ của bạn (có thể là gia đình của bạn hoặc giữa những người bạn hoặc người láng giềng của bạn). Nếu có thể hãy chọn ra một mối quan hệ cụ thể.
Tiếp theo hãy chọn ra 3 nhân tố mà bạn thiếu sót nhất. Hãy thực hành những điều cần phải áp dụng mà bạn đã ghi trên giấy của bạn.
Viết nửa trang giấy mô tả kết qủa của việc áp dụng những nhân tố này.
Kết Luận
Sự tăng trưởng trong một mối quan hệ đòi hỏi sự truyền thông thân mật và chân thật. Cách truyền thông đó sẽ không xuất hiện nếu không có sự đối thoại, và sự đối thoại cũng không có nếu không có thái độ dẫn đến sự đối thoại.
Phi Pl 2:3-4 à Tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta phải khiêm nhường xem người khác tôn trọng hơn chính mình, một thái độ dẫn đến sự quan tâm chân thật đối với những nhu cầu của người khác khi chúng ta phục vụ họ.
CoCl 3:12-14 à Sự khích lệ. Bày tỏ những phẩm chất trong các câu Kinh thánh này trong mối quan hệ của chúng ta với những người khác sẽ cho thấy sự khích lệ cách rõ ràng. Sự thương xót, nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, nhường nhịn và tha thứ nhau sẽ là cách khích lệ người khác trở nên trọn vẹn như người ấy có thể.
Câu hỏi 3
Câu trả lời của bạn. Đây là một bài tập rất bổ ích để chẩn đoán sự truyền thông của bạn - Đừng nên phê bình những nhược điểm của người bạn đời của bạn. Hãy tập trung (lập mục tiêu) vào sự giúp đỡ chăm sóc, chớ không sử dụng.
TỰ KIỂM TRA
Sự khác nhau giữa truyền thông một chiều và truyền thông hai chiều là gì?
Hãy định nghĩa ngắn gọn từng nhân tố trong 6 nhân tố để đạt được sự truyền thông hai chiều.
Hãy khoanh tròn câu trả lời đúng nhất với câu nói “một thái độ khuyến khích sự truyền thông hai chiều khi” :
Hai hoặc nhiều người nói chuyện vào những thời điểm khác nhau.
Chỉ hai người đang nói chuyện với nhau.
Có một thái độ tôn trọng lẫn nhau.
Cả hai người trong cuộc đối thoại đều lắng nghe khi người kia nói.
Dưới đây là một số phân đoạn Kinh thánh. Bên cạnh từng phân đoạn Kinh thánh hãy viết ra nhân tố đối thoại tương ứng với phân đoạn Kinh thánh đó. Bạn có thể dùng Kinh thánh.
ChCn 18:13
GiGa 13:34-35
RoRm 7: 18-19
12:3
12:10
12:15
Phi Pl 2:3-4
Gia Gc 4:11-12
5. Mỗi câu nói dưới đây ngăn trở hoặc khuyến khích một trong những nhân tố của truyền thông hai chiều. Qua mỗi ví dụ hãy nêu ra nhân tố nào được khuyến khích hay bị ngăn trở và nói rõ đó là sự khuyến khích hay ngăn trở?
Khi nào em học nhiều như anh thì anh sẽ lắng nghe em.
Tất nhiên là anh vẫn còn yêu em.
Anh hiểu tại sao em lại cảm thấy như vậy.
Làm sao mà em dám nói một câu như thế trong nhà này.
Anh chiến đấu khủng khiếp với việc kỷ luật bản thân.
Anh có thể vừa lắng nghe em đồng thời vừa đọc báo.
Vì thế hãy lưu ý đến 6 nhân tố của việc truyền thông tốt. Lưu ý thái độ của bạn đối với người bạn đã kết hôn và hãy tự hỏi chính mình xem bạn đã đối xứ với anh ấy hoặc cô ấy với một thái độ “Tôi - bạn” hay với một thái độ “Tôi - nó”. Nếu bạn cần phải thay đổi, hãy cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ban cho bạn sự khôn ngoan, ân điển và năng lực để bắt đầu thực hiện sự điều chỉnh đó. Hãy cầu nguyện và lên kế hoạch thực hành cụ thể và điều này sẽ giúp bạn dần dần nhưng kiên định trong sự thay đổi.

TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI
Câu hỏi 1
Câu trả lời của bạn. Truyền thông một chiều xảy ra khi một hay nhiều người trong cuộc đối thoại bày tỏ một thái độ “Tôi - nó” đối với người khác. Thái độ này bày tỏ rằng người đó xem chính mình là quan trọng chứ không phải là người khác. Trong cuộc truyền thông đối thoại, thì những người trong cuộc phải bày tỏ một thái độ nói lên rằng cả hai đều quan trọng, từ đó hình thành nên sự truyền thông thân mật giữa họ. Đây là một ví dụ.
“Món quà này dở quá, giống như mẹ của em …”chồng lại lằm bằm về bữa ăn tối. Bạn cố nuốt lượng thức ăn gấp đôi một cách buồn tẻ, giận dỗi lặng lẽ rời khỏi bàn ăn (Theo thường lệ : anh ta cắt. Bạn rút lui để liếm vết thương).
Bạn thấy trong mắt chàng rằng chàng biết tiếp theo bạn sẽ làm gì-Trở về giường, một buổi tối và một đêm lạnh lẽo cố nuốt giận. Khi bạn cảm thấy bị hất hủi, thì bạn cự tuyệt.
Truyền thông một chiều xảy ra rất thường và rất tinh vi.
Câu hỏi 2
Những phân đoạn Kinh thánh sau có liên hệ đến 6 nhân tố của sự đối thoại như sau:
RoRm 7:19-10 - Sự chân thật. Phaolô vị sứ đồ vĩ đại đã thừa nhận cuộc chiến nội tâm chống lại tội lỗi của ông. Mặc dầu ông là nhà truyền giáo vĩ đại của dân ngoại, nhưng ông không e ngại khi phải thành thật.
12:3- Sự chân thật. Chúng ta được khuyên bảo chớ có tư tưởng cao quá lẽ. Chúng ta phải có tâm tình tầm thường trong quá trình tự đánh giá mình như người được ơn Chúa cho. Chúng ta cần phải thành thật với bản thân về chính mình.
12:15 - Sự đồng cảm. Phaolô khuyến khích các tín hữu phải cảm nhận được những cảm xúc sâu sắc với những người đang trong hoàn cảnh đó.
GiGa 13:1, 34-35 - Tình yêu vô điều kiện. Chúng ta thấy rằng Đấng Christ yêu những người thuộc về Ngài cho đến cuối cùng. Sau lời tuyên báo rằng Ngài sẽ bị phản bội và chối bỏ, Ngài bảo các môn đồ phải yêu nhau như Ngài đã yêu họ.
ChCn 18:13 - Sự ân cần. Trả lời mà không lắng nghe là dấu hiệu của một kẻ ngu dại.
RoRm 12:10 - Tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Nhường sự ưu tiên cho người khác có nghĩa là chúng ta bày tỏ một thái độ nói lên rằng: “Bạn xứng đáng được ưu tiên hơn tôi, bởi vì tôi trân trọng (tôn trọng) bạn”.
TRẢ LỜI PHẦN TỰ KIỂM TRA
1/ Truyền thông một chiều xảy ra khi một hay nhiều người trong cuộc đối thoại bày tỏ một thái độ “Tôi - nó” đối với người khác. Thái độ của người này bày tỏ rằng cô ấy/ anh ấy xem mình là quan trọng, chứ không phải là người khác. Trong truyền thông hai chiều thì những người đó bày tỏ một thái độ nói lên rằng mỗi người đều quan trọng, từ đó hình thành không khí thuận lợi cho sự đối thoại giữa họ.
2/ Sáu nhân tố của sự truyền thông hai chiều là:
Sự chân thật. Mỗi người đều cố gắng bày tỏ chính mình mà không màu mè, giả bộ thành thật và cởi mở với người bạn đời.
Sự đồng cảm. Mỗi người phải cố gắng đặt mình trong địa vị người khác để xem xét những vấn đề của họ. Đây là sự chia xẻ những cảm xúc.
Tình yêu vô điều kiện. Người chồng và người vợ bày tỏ cho nhau lòng nhiệt thành không chiếm hữu.
Sự ân cần. Người này chăm chú lắng nghe người kia hơn là cố gắng nghe và làm một việc gì đó nữa.
Tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Bất chấp vai trò và địa vị xã hội thế nào thì mỗi người cũng xem người khác đều có giá trị như mình trước mặt Đức Chúa Trời.
Sự khích lệ. Mỗi người đều cảm thấy an toàn khi thành thật và cố gắng làm cho người khác cũng cảm thấy an toàn trong mối quan hệ nhân tố này là kết quả có được từ việc tránh phê phán lẫn nhau.
3/ Trả lời “c” không phải yếu tố lắng nghe làm cho cuộc đối thoại thành 2 chiều, mà đúng hơn là sự kiện cả hai người cùng bày tỏ một thái độ tôn trọng lẫn nhau. Họ xem người kia cũng là người quan trọng.
4/ Những yếu tố để đạt được sự truyền thông hai chiều trong những câu sau là:
ChCn 18:13 - Sự ân cần. Trả lời mà không lắng nghe là dấu hiệu của một kẻ ngu dại.
GiGa 13:34-35 - Tình yêu vô điều kiện. Đấng Christ đã yêu những kẻ thuộc về Ngài
cho đến cuối cùng. Rồi, sau lời tiên báo về kẻ phản bội và chối bỏ, Ngài bảo các môn đồ
phải yêu nhau như Ngài đã yêu họ.
RoRm 7:18-19 - Sự chân thật. Phaolô, vị sứ đồ vĩ đại nhất thừa nhận cuộc chiến nội tâm
chống lại tội chểnh mảng và vi phạm của ông. Mặc dầu ông là nhà truyền giáo vĩ đại
của dân ngoại nhưng ông ta không e ngại khi phải thành thật.
12:3 - Sự chân thật. Chúng ta được khuyên bảo chớ có tư tưởng cao quá lẽ. Chúng
ta phải có tâm tình bình thường trong quá trình tự đánh giá mình như người được ơn
Chúa cho. Chúng ta cần phải thành thật với bản thân về chính mình.
12:10 - Tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Nhường sự ưu tiên cho người khác có nghĩa
là không đòi hỏi phải theo cách của mình.
12:15 - Sự đồng cảm. Phaolô khuyến khích các tín hữu phải từng trải những cảm
xúc sâu sắc với những người đang trong hoàn cảnh đó.
Phi Pl 2:3-4 - Tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta phải khiêm nhường xem người khác
như tôn trọng hơn mình, thái độ này dẫn đến sự quan tâm chân thật đối với những nhu
cầu của người khác khi chúng ta phục vụ họ.
Gia Gc 4:11-12 - Sự khích lệ. Chúng ta không nên xét đoán những người khác và từ đó
nói hoặc đối xử với họ như thấp kém hơn hoặc là tội lỗi. Chúng ta đến với những người
khác bằng những câu hỏi quan tâm hơn là những lời chỉ trích.
5/ Mỗi câu sau đây vi phạm hoặc khuyến khích một trong những nhân tố để đạt được bầu không khí đối thoại như đã liệt kê:
Khi nào em học nhiều như anh thì anh sẽ lắng nghe em. (Tinh thần tôn trọng lẫn nhau - Vi
phạm).
b. Tất nhiên là anh vẫn yêu em. (Tình yêu vô điều kiện - Khuyến khích).
c. Anh hiểu tại sao em lại cảm thấy như vậy. (Sự đồng cảm - Khuyến khích).
d. Làm sao mà em dám nói một câu như thế trong cái nhà này. (Sự khích lệ - Vi phạm)
e. Anh chiến đấu khủng khiếp với việc kỷ luật bản thân. (Sự chân thật - Khuyến khích).
f. Anh có thể lắng nghe em đồng thời vừa đọc báo. (Sự ân cần - Vi phạm).
Bài 5: CÁCH TIẾN HÀNH SỰ TRUYỀN THÔNG.
Truyền thông có dễ dàng không? Có phải truyền thông chỉ là sự trao đổi những lời nói không? Hãy suy nghĩ một lát về sự hiểu lầm gần đây nhất mà bạn đã có với một ai đó. Mọi chuyện bắt đầu thế nào? Chắc chắn là phải có sự trao đổi những lời nói vậy mà vẫn còn có sự hiểu lầm. Sự truyền thông thật sự đã không xảy ra.
Truyền thông là một kỹ năng có thể học tập và thực hành được. Là những tín hữu, chúng ta nên nhờ Chúa cố gắng phát triển kỹ năng này theo cách tốt nhất. Chúng ta được gọi làm những người rao truyền Tin lành cho thế gian này. Hơn nữa để vâng phục theo hoạch định của Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân và để triển khai sự Hiệp nhất Tâm hồn với người bạn đời của mình, truyền thông vừa cơ bản, vừa cấp bách. Trong bài học này chúng ta sẽ theo cách chuyên môn, xem xét vấn đề thực tiễn của kỹ thuật truyền thông bằng cách nghiên cứu toàn bộ quá trình. Trong bài số 6, chúng ta sẽ nghiên cứu những phương diện cảm xúc đặc biệt trong truyền thông.
DÀN BÀI
Truyền thông là gì?
Tiến trình của sự truyền thông.
Tính phức tạp của sự truyền thông.
Đẩy mạnh sự truyền thông.
Các chiến lược.
Các kỹ năng.
Kết luận.
MỤC TIÊU BÀI HỌC.
Khi học xong bài này bạn sẽ có thể.
Định nghĩa trong một câu về sự truyền thông.
Viết ra 6 bước của sự truyền thông trên một sơ đồ vẽ sẵn.
Viết 2 hoặc 3 câu văn giải thích về cả tầm quan trọng của “Sự phản hồi” trong truyền
thông và 2 chức năng cụ thể của nó.
Nêu và định nghĩa 3 kỹ năng và 3 chiến lược chủ yếu để khuyến khích truyền thông.
Viết 1 hoặc 2 câu liên hệ những chiến lược và những kỹ năng này với 6 nhân tố của sự
đối thoại được đề cập đến trong bài số 4.
Bày tỏ sự hứa nguyện triển khai sự truyền thông trong hôn nhân của bạn bằng cách
hoàn thành dự án 6.
Truyền thông là gì?
Trong bài 4 chúng ta đã thảo luận về tầm quan trọng của sự bày tỏ một thái độ đúng đắn để giúp cho việc truyền thông xảy ra qua việc thực hành sự chân thật, sự đồng cảm, tình yêu vô điều kiện và sự ân cần, cũng như bày tỏ sự tôn trọng lẫn nhau và tạo sự khích lệ tinh thần trong một mối quan hệ.
Bài tập 1
Để giúp bạn sắp xếp các thông tin trong bài học này một cách ý nghĩa đối với bạn, hãy làm một dàn bài hay những sơ đồ của chính bạn để giải thích những nhân tố sau của bài học. Định nghĩa truyền thông, các bước truyền thông, và các kỹ năng với những chiến lược liên quan đến việc khuyến khích truyền thông. Điều chủ yếu là để làm cho điều này trở nên có ý nghĩa đối với bạn, để bạn có thể áp dụng được với người khác nữa, như khi bạn thực hiện dự án vậy.
Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu sâu hơn về ý nghĩa và tiến trình của sự truyền thông. Theo mục đích của chúng ta thì chúng ta sẽ dùng một định nghĩa ngắn gọn, dễ nhớ.
Truyền thông là làm cho người khác hiểu được những gì bạn nói.

Truyền thông là làm cho người khác
hiểu được những gì bạn muốn nói
Theo định nghĩa này thì truyền thông sẽ không xảy ra cho đến khi nào ý nghĩa của người nói là ý nghĩa mà người nghe đã hiểu được. Nghe những lời nói, ngay cả hiểu được những lời nói không bảo đảm rằng những ý nghĩa của những người trong cuộc đối thoại đã được hiểu cách chính xác. Hai sơ đồ sẽ giúp làm sáng tỏ những điều ám chỉ đến sự hiểu biết ý nghĩa.
Bài tập 2
Khi bạn học tài liệu này hãy cố gắng lấp đi khoảng trống giữa sự phân tích kỹ thuật này và kinh nghiệm của chính bạn bằng cách nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả các cuộc truyền thông mà bạn đã tham dự chứng kiến mấy ngày nay. Khi kết thúc mỗi ngày bạn hãy dành thời gian để viết ra những kinh nghiệm của bạn.

Tiến trình của sự truyền thông
Ba bước tiến trình và sơ đồ dưới đây sẽ chỉ ra những bước bắt đầu trong quá trình truyền thông.
1/ Ý nghĩa khởi đầu - Jack có một ý tưởng mà anh muốn Ann hiểu- Anh có một ý nghĩa đặc biệt là muốn cô hiểu về một bóng đèn. Trong trường hợp này, chúng ta sẽ nói rằng anh muốn cô mua một bóng đèn ở cửa tiệm.
2/ Sự bày tỏ khởi đầu bằng lời nói và diễn tả để nói với Ann rằng anh cần một cái bóng đèn và bảo cô ghé cửa tiệm mua cho anh một cái.
3/ Sự thông hiểu của người nghe: Ann nghe lời anh nói và một tín hiệu đi vào trong tâm trí của cô giống như những gì cô nghe Jack nói, Jack có một tín hiệu trong đầu và khi anh nói, một tín hiệu đi vào trong tâm trí của Ann. Tuy nhiên theo sơ đồ 1 thì những tín hiệu giống nhau (bóng đèn điện) nhưng ý nghĩa của chúng thì không giống nhau. (Jack muốn nói đến một bóng đèn tròn, Ann lại nghĩ đến bóng đèn néon). Vì thế, Ann đến cửa tiệm và mua một bóng đèn, nhưng Jack lại không vừa ý.
Sơ đồ 1

Sơ đồ 1 và sự miêu tả ở trên chứng tỏ cách hiểu lầm có thể phát sinh chỉ khi nào 3 bước này xảy ra:1 ý nghĩ xuất hiện, lời nói được trao đổi, nhưng không có truyền thông, bởi vì Ann không hiểu rõ ý nghĩ Jack. Ý nghĩ của họ không gặp nhau.
Ba bước bổ sung sau rất quan trọng để truyền thông được chính xác.
4/ Sự phản hồi .- Khi chúng ta kiến tạo tình huống trong sơ đồ 2 dưới đây, chúng ta thêm vào bước 4, đó là sự phản hồi. Điều này rất quan trọng, bởi vì chúng ta có thể dễ dàng hiểu sai ý nghĩa ngay cả một điều đơn giản như là một bóng đèn. Chúng ta không được kết luận rằng những gì chúng ta hiểu được là những gì mà người nói đã định trước. Có khả năng là những ý nghĩa của chúng ta sẽ được hiểu đúng nếu người nghe phản hồi lại với người nói những gì người ấy đã hiểu được phải là ý nghĩa của những lời mà người nói đã sử dụng. Ann sẽ nói đại loại như “Anh muốn một bóng đèn điện néon” hay “Ý của anh là loại bóng đèn nào?” Trong trường hợp đầu, cô đã kết luận rằng mình đúng và nói với Jack những gì mình hiểu. Trong trường hợp thứ 2, cô dự đoán khả năng hiểu sai muốn biết rõ ràng hơn. Thế thì sự phản hồi là một câu nói hay một câu hỏi được đặt ra để giúp làm sáng tỏ cho người nói những gì người nghe đang hiểu.
Sơ đồ 2
5/ Nhận biết sự hiểu lầm trong truyền thông. Nhờ được phản hồi, bây giờ Jack biết được Ann đã hiểu lầm anh hoặc có thể hiểu lầm anh.
6/ Giải thích qua sự bày tỏ bằng lời nói: Jack nói lại một lần nữa, lần này anh chọn những từ cụ thể để làm rõ ý của anh. Lần này ý nghĩa của anh đã được thông hiểu.
Sơ đồ này làm rõ tiến trình của truyền thông hoặc làm rõ cách thức những ý nghĩa của chúng ta được thông hiểu. Dùng một thí dụ đơn giản chúng ta đã chứng tỏ được rằng một người có thể dễ dàng hiểu lầm người khác về một điều quen thuộc như cái bóng đèn như thế nào. Thế mà tất cả chúng ta đều nhận thấy rằng trong hôn nhân chúng ta rất thường nỗ lực truyền thông với nhau về những vấn đề phức tạp mà thậm chí không nghĩ đến việc làm rõ những thông tin. Nên phần còn lại của bài học này sẽ được dùng để giải thích về cách tiến hành truyền thông và cung cấp một số đề nghị khi học truyền thông chính xác hơn và xây dựng hơn.
Tính phức tạp của việc truyền thông
Sơ đồ sau đây giúp mô tả tính phức tạp của sự thông hiểu và được thông hiểu.
NGƯỜI GỞI NGƯỜI NHẬN
Lời nói
Ngôn ngữ tín hiệu
Phản hồi
Ngôn ngữ hành động
Ngôn ngữ đồ vật
1. Nội tâm 4a. Nội tâm
2. Ý nghĩa 4b. Những ý nghĩa
3. Giá trị 4c. Giá trị SƠ ĐỒ 3

1/ Trong sơ đồ trên, những vòng tròn nhỏ tượng trưng cho “nội tâm” của con người. Đó chính là nơi đưa ra những quyết định, cảm nhận những cảm xúc và ý thức nhu cầu. Cựu ước đề cập đến phần đó là “tấm lòng” của con người (Châm 4:23; “Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra”). Những nhu cầu và những yêu cầu của chúng ta thường hay thay đổi. Những điều đó không phải cố định và không thay đổi nhưng bị ảnh hưởng bởi nhiều thứ, trong đó có cả tiến trình truyền thông về những điều đó nữa. Thế thì truyền thông thường bắt đầu với một sự thôi thúc từ bên trong tâm hồn.
2/ Những vòng tròn đứt khúc tượng trưng cho màng lọc mà qua đó tất cả những thông tin đều đi qua khi xuất phát từ tâm hồn đến bề mặt của con người chúng ta dưới những hình thức, những lời nói, sự bày tỏ và cử chỉ. Những màng lọc này được hình thành từ những quan điểm và những tiêu chuẩn về cuộc sống trong con người chúng ta. Ví dụ như, một số người được dạy dỗ rằng việc chúng ta cảm thấy lo sợ, khóc lóc, tỏ tình hay bất cứ cảm xúc nào khác mà chúng ta cảm nhận sâu thẳm bên trong chúng ta là điều tất nhiên. Những người khác đã được dạy dỗ rằng chúng ta không bao giờ nên bày tỏ những cảm xúc của chúng ta, bởi vì đó là sự yếu đuối. Một số người coi trọng những mối quan hệ thân mật, một số người lại cho rằng không cần thiết. Vấn đề đó là mỗi người coi trọng, sợ hãi, cần, yêu cầu nhiều điều khác nhau, và vì vậy, có người khó có thể bày tỏ cảm xúc hay mong ước của mình trong khi người khác có thể bày tỏ không chút do dự.
3/ Những vòng tròn ở bên ngoài, vòng tròn liên tục tượng trưng cho vẻ bề ngoài của con người, mà những người khác có thể nhận thấy rõ ràng. Không ai có thể thấy nội tâm hay những màng lọc của ý nghĩa và giá trị. Điều mà những người khác kinh nghiệm được là những lời nói, giọng nói, sự bày tỏ và những cử chỉ của chúng ta. Thật ra có 3 cách truyền thông được dùng ngoài lời nói của chúng ta (chúng ta gọi đó là những hình thức truyền thông “không lời”).
Ngôn ngữ tín hiệu: được hình thành từ sự bày tỏ nét mặt, sự liên hệ bằng mắt (hoặc không liên hệ bằng mắt), điệu bộ của chúng ta và vân vân.
Ngôn ngữ hành động: bao gồm cách chúng ta thực hiện công việc: cách chúng ta bước đi, những hoạt động chúng ta dự phần, những hành động ấy nói lên một điều gì đó về con người chúng ta.
Ngôn ngữ đồ vật: là sự truyền thông chúng ta thực hiện qua những vật sở hữu của mình: chiếc xe chúng ta lái, quần áo chúng ta mặc, ngôi nhà chúng ta ở. Đó là những phương cách chúng ta nói lên giá trị, nhu cầu và mong ước của chúng ta.
4/ Truyền thông là sự trao đổi ít nhất là giữa hai người. Truyền thông phức tạp bởi vì mỗi cá nhân trong mối quan hệ đều có một tâm hồn, một số những tiêu chuẩn mà qua đó người ấy gạn lọc những ý tưởng và cảm xúc của mình và một dáng vẻ bề ngoài của người đó đối với những người khác. Nhân cách của người gởi được thể hiện bằng các mức độ 1, 2 và 3 trên sơ đồ 3, trong khi của người nhận là các mức độ 4a, 4b và 4c trên sơ đồ.
Ở vẻ bề ngoài (4a trên sơ đồ 3) mắt và tai của người nhận cố nhận thông tin mà người gởi phát đi. Trong khi làm như thế, những biến cố khác xuất hiện có thể làm cho người nhận bị xao lãng không tập trung vào sứ điệp đang được gởi đi.
Người nhận cũng có một loạt những màng lọc được hình thành bởi những ý nghĩa và những tiêu chuẩn của chính người đó (4b trên sơ đồ 3). Những màng lọc này hiếm khi nào giống màng lọc của người gởi. Điều người gởi bày tỏ cách dễ dàng có thể làm cho người nhận cảm thấy không thoải mái vì không đúng với tiêu chuẩn của người đó.
Ví dụ như người gởi có thể bày tỏ sự bất an bởi vì ai đó đã không mời anh ta/ cô ta đi dự tiệc. Người nhận có thể sẽ cảm thấy thật là kỳ cục khi người kia thấy buồn vì không được mời đi dự tiệc bởi vì bản thân người nhận không thích tiệc tùng và cũng không muốn đi. Khi ấy, người gởi phát đi một thông điệp về sự bất an. Người nhận không hiểu được cảm xúc của người gởi cho nên đã bày tỏ rằng người gởi thật là vô lý khi cảm thấy bất an như vậy.
Điều đó ảnh hưởng thế nào đến nhu cầu của người gởi là cần được thông cảm, an ủi và giúp cho cảm thấy mình có ý nghĩa? Người ấy đã bày tỏ những cảm xúc, đã bị hiểu lầm, và bây giờ những cảm giác bất an lại càng tăng thêm.
Giống như người gởi, người nhận cũng có nội tâm được cấu thành bởi những nhu cầu và những yêu cầu (4c trên sơ đồ 3). Trong khi đang cố gắng nhận sứ điệp từ nội tâm của người khác, có thể người nhận đang tranh chiến với nội tâm của mình đến mức độ mà người ấy không thể hiểu những gì mình đang nhận một cách khách quan được. Lắng nghe người khác bày tỏ một nhu cầu chỉ nhắc cho anh ta nhớ lại những nhu cầu của chính mình, và lúc đó khả năng xử lý thông tin bị giảm thiểu cách bi thảm.
5/ Mũi tên đứt quảng nối giữa hai người trong sơ đồ tượng trưng cho “sự phản hồi”. Bất cứ khi nào hai người nỗ lực liên lạc với nhau thì có một mức độ phản hồi. Nếu người này nhìn thẳng vào người kia và hỏi những câu hỏi tế nhị về những gì người kia đang nói, đó là phản hồi tích cực. Trái lại, nếu người nhận coi thường hoặc thách thức người gởi cách không cần thiết đó là phản hồi tiêu cực. Không có sự lựa chọn liệu có nên đưa ra sự phản hồi hay không. Sự lựa chọn duy nhất là cách phản hồi nào sẽ được đưa ra.
Chúng tôi hy vọng rằng sơ đồ này có thể giúp bạn hiểu được mức độ phức tạp của việc truyền thông. Khi nói về một đồ vật nào đó (như trong cái ví dụ về cái bóng đèn ở trên), chúng ta có thể đề cập đến chiều dài, cân lượng, màu sắc, hình dạng, âm thanh và những đặc tính khác.
Không phải ai ai cũng cảm thấy như vậy hay với cùng một mức độ như chúng ta . Nếu nói về cái bóng đèn có thể gây ra sự hiểu lầm thì có biết bao nhiêu khả năng gây ra hiểu lầm khi nói về sự sợ hãi hay tình yêu hay những cảm xúc yếu đuối?
Để một người có thể trả lời chính xác và đưa ra sự phản hồi tốt đẹp thì người đó phải biết rằng “nội tâm” và “những màng lọc” của bản thân ảnh hưởng đến cách trả lời của mình. Hãy đọc Luca 6: 41-42 và trả lời những câu hỏi sau đây:
Câu hỏi 1
Đấng Christ nói gì về khả năng của một người để hiểu và giúp đỡ người khác đang có nhu cầu?
Câu hỏi 2
Điều đó gợi lên trong bạn điều gì về nội tâm và khả năng giúp đỡ người phối ngẫu của bạn?
Đẩy Mạnh Việc Truyền Thông
Ai cũng có lúc nào đó sử dụng ngôn ngữ chính xác để có thể truyền thông ở một trình độ nhất định. Ngay cả trong những năm đầu đời của bạn, bạn cũng phải học cách bày tỏ nhu cầu: bị đau thì khóc, vui thì cười. Dần dần bạn cũng có thể truyền thông bằng lời nói và thậm chí bắt đầu thấy được những nhu cầu của những người khác xung quanh bạn. Nhưng truyền thông giống như bất cứ một công cụ nào khác, chỉ có ích khi nào người ta hiểu được và sử dụng một cách hiệu quả.
Khi nào chiếc xe hơi còn chạy thì nó còn rất có ích, nhưng người biết cơ cấu máy móc của xe sẽ có thể sử dụng chiếc xe hiệu quả hơn và có năng xuất hơn người không biết gì khác hơn là rồ máy và cầm tay lái. Thật ra, sẽ đến lúc người thứ nhì không thể dùng chiếc xe của mình được bởi vì nó đã hư rồi. Nó “không hoạt động” nữa. Truyền thông cũng vậy, chúng ta có thể tiến hành sự truyền thông với những gì chúng ta biết, nhưng nếu chúng ta hiểu nhiều hơn thì truyền thông sẽ giúp chúng ta hiệu qủa hơn và có năng xuất hơn.
Phần bài học này giới thiệu cho bạn 3 chiến lược và 3 khả năng liên quan, nếu bạn nắm vững được sẽ cải tiến khả năng truyền thông của bạn rất nhiều. Trong khi học, hãy tiếp tục nghiên cứu xem qua sự có mặt hay vắng mặt của những kỹ năng và những chiến lược này, việc truyền thông được hỗ trợ đến mức độ nào. Dưới đây là phần tóm tắt chiến lược và kỹ năng để truyền thông được hiệu quả.
Những người muốn duy trì một mối quan hệ tăng trưởng trong hôn nhân của họ như Kinh thánh đã chỉ dạy phải cố gắng hiểu thấu và tiến hành cải thiện việc truyền thông của họ. Hơn nữa, bạn càng hiểu được tất cả những điều này, bạn càng có thể giúp đỡ người khác tốt hơn.

Các chiến lược Các kỹ năng
Tâm tư của người khác Tỷ lệ Nghe / Nói
Xử lý thông tin Tỷ lệ Hỏi / Trả lời
Ý thức thực tế Tỷ lệ Lời nói / Ý nghĩa.

Chúng ta hãy giải thích ngắn gọn từng chiến lược và từng kỹ năng cách tóm lược.
Chiến lược. -
Tâm tư của người khác. Đây là chiến lược truyền thông liên quan đến việc cố gắng hiểu được nội tâm của người khác. Ý tưởng sự đồng cảm (xem bài số 4) đóng vai trò chính yếu trong chiến lược này. Nếu chúng ta đang thực hiện một cuộc đối thoại khôn ngoan, chưa nói gì đến mối quan hệ chúng ta phải hiểu được người khác và hoàn cảnh của người đó càng chính xác càng tốt. Nếu tôi không biết được bạn sợ cái gì, bạn yêu cái gì, bạn coi trọng cái gì và bạn đang đương đầu với những khó khăn hay có được sự ủng hộ nào, tôi sẽ không thể giữ vững một mối quan hệ lâu dài mà qua đó tôi có thể giúp đỡ bạn tăng trưởng.
Theo bản chất tự nhiên nhiều người trong chúng ta không theo đuổi chiến lược Tâm tư của Người Khác, bởi vì chúng ta đang bận tâm bởi chiến lược Tâm tư của Tôi. Chúng ta quan tâm rất nhiều đến việc người khác sẽ hiểu được chúng ta đang cảm thấy như thế nào, hơn là chúng ta hiểu được người đó đang cảm thấy thế nào. Điểm chính của chiến lược này là: nếu tôi đang thực hiện một cuộc đối thoại khôn ngoan với người khác tôi phải đánh giá cao tầm quan trọng của người ấy, với những ý nghĩa và những cảm xúc của họ. Trừ phi tôi hiểu được điều ấy, nếu không tôi không thể tiến đến mức độ dấn thân sâu sắc hơn đối với người đó.
Xử Lý Thông Tin. Nguyên tắc của chiến lược này là “những gì tôi làm với những thông tin tôi đang có sẽ quyết định số lượng tôi có thêm”. Nói cách khác, nếu một người nào đó chia xẻ một điều quan trọng đối với anh ta mà tôi nhạo báng, khinh dễ hay kể lại cho người khác, anh ta sẽ có thể không cho tôi những thông tin quan trọng hơn. Paul Tournier, nhà tư vấn và bác sĩ Cơ đốc người Thụy sĩ nổi tiếng, đã viết rằng:
Sự chia xẻ sâu sắc thì quá đỗi lớn lao và rất là hiếm hoi. Một ngàn nỗi sợ hãi làm ngăn trở chúng ta. Trước tiên là nỗi sợ tuyệt vọng, sợ khóc lóc. Đặc biệt có nỗi sợ hãi rằng người kia sẽ không nhận thức được tầm quan trọng lớn lao mà ký ức hay cảm xúc này đem lại. Thật đau đớn làm sao khi một sự chia xẻ khó khăn như thế lại không tạo được sự chú ý khi rơi vào đôi tai hoặc lơ đãng hoặc coi thường, đôi tai mà trong bất cứ trường hợp nào cũng nhận thức được ý nghĩa của những gì chúng ta đang nói.
Điều đó có thể xảy ra giữa vợ chồng. Vì vậy người đã nói chuyện theo một cách rất riêng lại không được thông cảm sẽ thu mình lại trong tình trạng cô đơn khủng khiếp.
Thay vì làm lơ hay nhạo báng người bạn đời, chúng ta phải khẳng định, nâng đỡ và bày tỏ sự thích thú chân thật vào những cảm xúc và những quan điểm của anh ấy hoặc cô ấy. Tôi càng biết nhiều về ý nghĩa của người khác thì tôi sẽ càng ít cơ hội hiểu lầm hay xử lý tồi những thông tin khi mà người ta bày tỏ điều gì đó quan trọng đối với họ.
Ý Thức Thực Tế. Để khuyến khích người khác thành thật với chúng ta, cho chúng ta thấy thực tế, dù chúng ta có thấy thoải mái hay không là mục tiêu của chiến lược này. Một số người trong chúng ta thuyết phục người khác rằng chúng ta chỉ muốn nghe những tin tức tốt lành. Khi ai đó chia xẻ một điều về chính họ hay chúng ta khiến chúng ta khó chịu, thì chúng ta bằng cách nào đó sẽ hình phạt người nói. Từ chối, tranh luận, lời nói đe dọa, hay sự lạm dụng thân thể là những cách khác nhau để hình phạt người đưa ra những tin tức không hay. Dần dần người ta sẽ sợ không dám nói sự thật chúng ta cần nghe. Khi chúng ta nhận ra rằng những điều đó không tốt lành như chúng ta tưởng hay mong đợi thì mọi sự đã quá muộn.
Ý thức thực tế bảo rằng chúng ta phải chào đón những tin tức không hay cũng như những tin tức tốt lành, rằng chúng ta yêu cầu người khác nói thật với chúng ta và sau đó cảm ơn họ hay ban thưởng cho họ theo cách nào đó vì đã giúp chúng ta nhìn thấy sự thật. Khi bị áp lực chúng ta rất cần những người xung quanh giúp chúng ta hiểu được sự việc đang xảy ra như thế nào. Chúng ta thường chủ quan thái quá, với một khuynh hướng cường điệu hóa để bóp méo những tình huống không hay nhằm làm cho những tình huống đó hoặc ít bất hạnh hơn hoặc tồi tệ hơn thực trạng nữa. Thế thì ý thức thực tế là khả năng nhận thức khi ai đó kém trung thực với chúng ta về chính họ hay về chính chúng ta. Đó là khả năng khuyến khích những người chung quanh giúp chúng ta nhìn thấy sự thật.
Tóm lại, để truyền thông với tha nhân cách hiệu quả, tôi nên :
Cố gắng hiểu được những cảm xúc và ý nghĩa trong nội tâm của người ta.
Xử lý tốt những thông tin mà người đó chia xẻ với tôi.
Khuyến khích người khác cởi mở và thành thật với tôi.
Bài tập 3
Nhớ lại lần cuối cùng bị người bạn đời hay bạn đồng lao phê bình. Hãy so sánh phản ứng của bạn với 3 chiến lựơc đã được trình bày.
Các kỹ năng.-
Tỷ lệ Nghe / Nói. Kỹ năng được kết hợp với chiến lược “Tâm tư của người khác” liên hệ đến mức độ liên quan giữa những điều chúng ta nói với những điều chúng ta nghe. Nếu ai đó muốn hiểu được nội tâm của tha nhân người đó phải sẵn sàng lắng nghe những gì người kia đang nói. Điều này có vẻ như quá đơn giản nên nhiều người trong chúng ta hoàn toàn bỏ lỡ. Lắng nghe là điều khó và phải được chăm chú thực hiện. Không ai có thể tự nhiên lắng nghe được. Ba câu hỏi sẽ giúp chúng ta cố gắng lắng nghe.
Người đó đang nói gì?
Tại sao người ấy lại nói về điều này?
Điều gì đang xảy ra cho tôi khi người ấy nói về điều này?
Mỗi người đều có khả năng tự nhiên lắng nghe trong một lúc nào đó. Tỷ lệ Nói/ Nghe động viên chúng ta lượng giá mức độ chúng ta lắng nghe cũng như mức độ chúng ta nói trong một mẫu đối thoại cho sẵn. Minh họa sau đây sẽ làm sáng tỏ ngụ ý của tỷ lệ Nói/ Nghe.
Giả sử có hai người đang đi dọc đường và gặp nhau. Họ dừng lại để hỏi thăm nhau trong 5 phút. Fred nói suốt cả 5 phút và Peter lắng nghe. Từ cuộc nói chuyện 5 phút đó, ai là người thông minh hơn, Fred hay Peter? Tất nhiên là Peter. Anh ta vẫn còn biết được mọi điều anh ta biết trước khi gặp Fred, nhưng bây giờ anh ta cũng biết thêm mọi điều Fred kể cho anh ta nghe trong 5 phút. Anh cũng biết được điều gì đó về Fred, đó là một con người hay nói. Khi Peter có vấn đề cần thảo luận, nhu cầu cần chia xẻ, bày tỏ một niềm vui. Nói cách khác, một mong ước hay một nhu cầu bộc lộ nội tâm của anh ta - có thể anh sẽ không xem Fred là người anh ta có thể tâm sự được. Fred đã cho Peter ấn tượng rằng anh ta không quan tâm đến tâm sự của người khác nhưng chỉ quan tâm đến việc người khác biết được tâm sự của chính mình.
Trong thực tế tất cả những gì chúng ta đã mô tả không cần thiết phải bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ trên đường phố, nhưng nếu Peter và Fred là người cùng làm việc hay cùng sống chung với nhau thì sự việc Fred là một người nói nhiều sẽ lộ rõ theo cách tương tự như ví dụ đã miêu tả.
Tương tự như thế đôi vợ chồng đã hình thành nên một lịch sử trong mối quan hệ và người nói nhiều sẽ khó gần. Việc lắng nghe người khác là cực kỳ quan trọng. Người lắng nghe sẽ biết nhiều về người nói hơn là người nói biết nhiều về người nghe. Nếu bạn luôn mong mỏi hiểu được nội tâm của người khác, bạn phải lắng nghe họ nhiều hơn là nói chuyện. Trước hết qua việc lắng nghe bạn có thể bước vào tâm tư của người đó. Thứ hai, qua việc chứng tỏ bạn thật sự lắng nghe, bạn bày tỏ sự thích thú và sự quan tâm khi khích lệ người đó bộc bạch tâm sự của mình một cách đầy đủ hơn.
Tỷ lệ Hỏi / Trả lời. Kỹ năng này được kết hợp với chiến lược xử lý thông tin. Kỹ năng này liên quan đến khuynh hướng trả lời. Để thực hiện một mối quan hệ khôn khéo với người khác, nhằm khuyến khích sự tăng trưởng và an toàn, chúng ta cần phải biết càng nhiều về người kia càng tốt. Chúng ta cần phải tiến sâu vào bề trong, vượt trên mức độ sáo rỗng của cuộc đối thoại lúc chúng ta nói chuyện chút ít để khỏa lấp thời gian. Chúng ta cần phải biết về những cảm xúc, nhu cầu cùng với ước muốn. Chúng ta cần phải hiểu được những giá trị, tình yêu, nỗi buồn và niềm vui. Loại quan hệ đó không có được từ những cuộc đối thoại hời hợt. Đó là kết quả của việc xử lý thông tin tốt đủ cho người cung cấp thông tin cảm thấy yên tâm trong việc cung cấp nhiều thông tin nữa. Điều này cực kỳ quan trọng trong sự phản hồi của việc truyền thông. Chúng ta không thể đạt được những thông tin sâu sắc hơn bởi vì chúng ta không quan tâm đủ để hỏi được, hoặc chúng ta không nhận thấy tầm quan trọng để hỏi. Ví dụ như người chồng về nhà và bày tỏ sự thất vọng với vợ vì anh ta vừa nghe rằng anh không được thăng chức. Với mong ước của người vợ là giải tỏa những nỗi lo lắng và an ủi chồng, người vợ đưa ra một câu “trả lời” mà cô ta tin rằng sẽ làm người chồng vui lên. Cô ta có thể nói: “Điều đó không làm cho em thay đổi, dù sao em vẫn yêu anh” sẽ tốt hơn nếu cô ta phải hỏi một câu khơi gợi những cảm xúc của anh ta về sự thăng chức. Dường như sự thăng chức rất là quan trọng. Điều gì đã làm cho sự thăng chức trở nên quá quan trọng với anh thế? Bằng câu hỏi này người vợ đã cho chồng một cơ hội để bày tỏ tại sao anh ấy cảm thấy thất vọng và để bộc lộ những giá trị, những nhu cầu hay những ao ước liên quan đến sự thăng chức của mình. Cô cũng bày tỏ với chồng rằng mình quan tâm nhiều hơn về sự tác động của sự thăng chức đối với chồng (“Anh cảm thấy như thế nào?”) hơn là sự thăng chức ảnh hưởng đến cô (“dù sao em cũng yêu anh”). Trong một cuộc hôn nhân hạnh phúc, có một sự quan tâm chân thành và liên tục đến nội tâm của người khác. Sử dụng những câu hỏi sẽ giúp khám phá được cảm xúc của người chồng và làm cho người vợ có thể giúp đỡ cho nhu cầu cụ thể của người chồng ngay lúc đó.
Tỷ lệ Hỏi/ Trả lời liên quan đến kỹ năng hỏi những câu hỏi hơn là đưa ra những câu trả lời. Khi ai đó cung cấp một ít thông tin hãy ngăn chặn sự thôi thúc để “ổn định” mọi chuyện bằng một câu trả lời đúng lúc và nhìn nhận rằng có thể bạn chỉ thấy bề mặt của vấn đề. Sau đó hỏi những câu hỏi giúp bạn bước vào nội tâm của người đó.
Khi chúng ta muốn kiểm tra nhiệt độ của nước để bơi thì chúng ta nhúng ngón chân vào trước. Cũng vậy, khi ai đó tiếp cận một chủ đề, một vấn đề tế nhị hay một điều gì đó mà mình cảm nhận sâu sắc thì người ta thường sẽ “kiểm tra nước” trước. Người ấy sẽ trình bày một mẫu thông tin nhỏ tương đối an toàn. Chúng ta ngụ ý thông tin “an toàn” có nghĩa là không gây ra những phản ứng mạnh mẽ. Nếu phản ứng không tích cực hay không khuyến khích thì anh ta sẽ không chia xẻ thêm nữa. Nếu phản ứng là tích cực hay phản ứng khuyến khích thì anh ta sẽ tiếp tục bộc bạch miễn là anh ta cảm thấy an tâm. Nỗi đau gắn liền với sự hiểu lầm sẽ khiến cho hầu hết chúng ta đều rất thận trọng. Chúng ta cần phải phát huy khả năng hỏi những câu hỏi khuyến khích người khác chia xẻ hay giải thích những cảm xúc của họ cho chúng ta.
Tỷ lệ Lời nói / Ý nghĩa. Kỹ năng cuối cùng và có liên quan đến Ý thức Thực tế liên hệ đến bề rộng của nguồn thông tin. Chúng ta thường tập trung quá nhiều vào lời nói mà người kia sử dụng đến nỗi chúng ta không thể nhận ra tất cả những điều họ muốn nói. Chúng ta đã đánh mất ngôn ngữ không lời mà điều này rất quan trọng để hiểu được một người đang cảm thấy như thế nào. Ở phần trước của bài học này, có 3 cách giao tiếp không lời đã được đề cập đến: ngôn ngữ tín hiệu, ngôn ngữ hành động và ngôn ngữ đồ vật. Hãy đọc lại phần đó để đảm bảo rằng bạn đã hiểu được những khái niệm này.
Một số bài nghiên cứu đã khảo sát mức độ mà một thông điệp trong một cuộc trao đổi được bày tỏ qua mỗi lượng thông tin khác nhau. Có nhiều điều thay đổi trong tình huống, làm cho khó có thể đạt được những kết quả liên tục. Nhưng kết luận chung của các bài nghiên cứu là khoảng chừng 7% ý nghĩa được lồng vào lời nói - Phần còn lại của ý nghĩa được chứa đựng trong giọng nói (38%) và trong sự truyền thông không lời (55%). Người ta có thể nhanh chóng thấy được hiểm họa của việc chỉ tập trung vào những gì một người nói và không thể ghi nhớ hết tất cả những cách chuyển tải thông tin khác. Một điều cũng có thật nữa đó là một người càng muốn phớt lờ những ẩn ý của sứ điệp - nghĩa là người đó càng muốn gieo một ý nghĩa vào trong sứ điệp thay vì khám phá ra sứ điệp đó có ý nghĩa gì - thì người đó sẽ càng tập trung vào phần thông tin đóng góp vào phần kết luận đã được tìm ra.
Chẳng hạn như bạn đang vội, nhưng đối với bạn việc một người quen có được hanh thông hay không rất quan trọng. Vì thế khi bạn hỏi người ấy cảm thấy như thế nào thì bạn có thể không nhận ra thông điệp khi anh ta nhìn xuống, nín lặng, kéo lê bước chân và nói ngập ngừng “cũng được”. Sau đó bạn sẽ khám phá ra rằng anh ta không hanh thông, mạnh khỏe chút nào cả. Bạn có cố trốn tránh trách nhiệm bằng cách nói rằng “Tôi hỏi anh ấy có mạnh khỏe, bình an không, anh ấy nói cũng được”. Sự thật của vấn đề đó là anh ta nói “cũng được” nhưng thật ra anh ta đã bày tỏ rằng có một cái gì đó không ổn. Bạn không chộp được ám hiệu. Anh ta muốn xem bạn có thật sự muốn nghe nữa không; bạn đã nhận được sứ điệp bằng lời mình muốn vì thế bạn phớt lờ những yếu tố khác và tiếp tục với một điều gì đó.
Điểm chính ở đây là chúng ta khám phá sự thật bằng cách nhận thức được toàn bộ tình huống. Chúng ta phải nhìn nét mặt của người đó, ngắm nhìn vào mắt của anh ta, những cử chỉ điệu bộ của thân thể, lắng nghe giọng nói, nhịp độ nói và vân vân.
Có một hiểm họa vốn có của kỹ năng này mà chúng ta nên đề phòng khi chúng ta phát huy kỹ năng truyền thông này, chúng ta có thể rơi vào tình huống khiến chúng ta nghĩ rằng chúng ta là những người có thể đọc được ý nghĩ của người khác. Khi bạn phát huy kỹ thuật truyền thông này- hiểu được ý nghĩa hơn là từ những lời nói mà người nói sử dụng - hãy nhớ sử dụng tỷ lệ Hỏi/ Trả lời và sự phản hồi. Chúng ta hiểu được ý nghĩa bằng cách yêu cầu giải thích, không phải bằng cách thừa nhận rằng kết luận mà chúng ta nhận được từ sự quan sát của chúng ta là đúng và vì thế kết luận rằng người nói đang không thành thật.
Những câu hỏi sau đây sẽ đòi hỏi một suy nghĩ mang tính sáng tạo nào đó của bạn và kết quả sẽ rất phong phú nếu bạn chịu khó trả lời. Ba chiến lược và 3 kỹ năng truyền thông hiệu quả được liệt kê dưới đây. Bên cạnh mỗi điều là một trong các nhân tố của không khí đối thoại của bài số 4. Hãy dành vài phút ôn lại sự hiểu biết của bạn về các nhân tố đối thoại và hãy cố gắng làm bài tập này. Có thể bạn sẽ thấy rằng bài tập này sẽ đem lại bài nói chuyện xuất sắc về sự truyền thông hiệu quả trong gia đình.
Câu hỏi 3
Bạn nhận thấy những kỹ năng nào trong những câu sau?
ChCn 10:19
13:3
14:15
16:30
17:27-28
18:4, 13
TrGv 3:7.
Câu hỏi 4
Theo bạn thì mỗi kỹ năng hoặc mỗi chiến lược liên hệ đến nhân tố đối thoại được ghi bên cạnh như thế nào. Hãy giải thích mối quan hệ trong khoảng tối đa 2 câu :
a. Tâm tư của người khác Sự đồng cảm
b. Xử lý thông tin Sự khích lệ
c. Ý thức thực tế Sự chân thật
d. Tỷ lệ Nghe/ Nói Tình yêu vô điều kiện
e. Tỷ lệ Hỏi/ Trả lời Tinh thần tôn trọng lẫn nhau.
f. Tỷ lệ Lời nói/ Ý nghĩa Sự ân cần.

Dự án 6
Dành cho những học viên đã có gia đình
Lên chương trình nói chuyện với người bạn đời hai lần mỗi lần một giờ đồng hồ.
Nếu người bạn đời của bạn chưa đọc phần lý thuyết trong bài học này, thì hãy bảo anh ấy
hoặc cô ấy xem phần đó trước khi hai bạn cùng bắt đầu nói chuyện với nhau.
Khi hai bạn cùng bắt đầu nói chuyện với nhau:
Cùng nhau cầu nguyện xin Đức Chúa Trời khiến cho thì giờ đó trở nên có ích lợi và nâng cao lẫn nhau.
Hãy hỏi xem liệu có những câu hỏi nào về những chiến lược hay những kỹ năng bất kỳ. Nếu có, hãy trả lời những câu hỏi đó.
Đi qua từng chiến lược từng kỹ năng và hỏi người bạn đời xem bạn đã thực hiện từng cái như thế nào. Ví dụ như: “Khi em hiểu được khái niệm ‘Tâm tư của người khác’ theo em thì chúng ta có thể cải tiến việc truyền thông của chúng ta như thế nào?”
Hãy lập lại tiến trình tương tự trong cuộc nói chuyện kế tiếp, nhưng chuyển đổi vai trò.
Viết trên một tờ giấy đơn (tối đa) tựa đề là: “Điều tôi quan sát về những kỹ năng truyền thông của tôi trong khi tôi trao đổi với người bạn đời về sự truyền thông”. Liệt kê các bước tiến hành truyền thông cùng với các chiến lược, kỹ năng đẩy mạnh sự truyền thông. Qua mỗi điều hãy đánh giá những kỹ năng truyền thông của bạn hoặc bạn thiếu những điều ấy khi liên hệ với người bạn đời. Bạn truyền thông có hiệu quả hay những lãnh vực nào bạn cần phát huy không? Mục đích là để lựa chọn những nguyên tắc truyền thông mà bạn cần phải áp dụng và phát huy trong cuộc hôn nhân của bạn.
Hãy liệt kê những điều bạn sẽ làm để cải tiến những kỹ năng truyền thông của bạn.
Dành cho học viên độc thân
Hãy sử dụng từng chiến lược và từng kỹ năng trước khóa học kế tiếp. Vì chúng ta phải giao tiếp với mọi người hằng ngày nên đây là những cơ hội tốt để học truyền thông.
Tiếp xúc với một người nào mà bạn lựa chọn để áp dụng một trong sáu chiến lược và kỹ năng. Ví dụ như, khi bạn nói chuyện với một người bạn hay một thành viên trong gia đình, hãy cố gắng hiểu cho được nội tâm của người đó. Bạn không nên nói cho người đó biết điều bạn đang làm. Công việc này có thể được thực hiện như là sự tiếp xúc bình thường hằng ngày với những người khác.
Dành thời gian tiếp xúc riêng cho tất cả 6 kỹ năng và chiến lược. Nói cách khác là hãy thực hành cả 6 điều nhưng mỗi lần một điều. Bạn không bị bắt buộc phải trải qua một khoảng thời gian cố định cho bất cứ cuộc tiếp xúc nào. Hãy tự quyết định thời gian luyện tập trong bất cứ tình huống nào.
Viết một bản báo cáo ngắn gọn về những cuộc tiếp xúc của bạn, nói rõ chiến lược hay kỹ năng nào là khó nhất đối với bạn và bạn dự định cải thiện điều ấy trong những mối quan hệ của bạn như thế nào?
Kết luận.
Tóm lại, bài học này dạy chúng ta rằng truyền thông giúp cho người khác hiểu được ý nghĩ của chúng ta trước tiên và quan trọng nhất. Nếu ý nghĩ của chúng ta được hiểu rõ, chúng ta phải sử dụng sự phản hồi để vừa trao đổi sự hiểu biết của chúng ta về những gì đã được nói, vừa tạo cơ hội cho người nói làm sáng tỏ ý của người ấy. Sự truyền thông quá quan trọng trong mối quan hệ hôn nhân đến nỗi chúng ta phải học để có thể hiểu được nội tâm của người bạn đời nơi ẩn giấu nhu cầu và những yêu cầu sâu kín nhất. Trình độ truyền thông này đòi hỏi sự luyện tập sử dụng những kỹ năng và những chiến lược truyền thông.
Khi bạn hình thành những kỹ năng này với người bạn đời của bạn, tôi cầu xin Chúa cho bạn khám phá được niềm vui của việc truyền thông cá nhân sâu sắc với người bạn đời mà Đức Chúa Trời đã ban cho bạn.

TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI.
Câu hỏi 1
Trong LuLc 6:41-42 Chúa Jêsus nói rằng nếu một người không giải quyết sự yếu đuối và những tội lỗi trong đời sống của chính người đó thì người đó không thể hiểu được, càng không hiểu đúng đắn người khác đang tranh chiến với tội lỗi. Nếu chúng ta cố “sửa sai” người bạn đời của chúng ta mà trước tiên không sửa chữa chính mình, thì Chúa Jêsus nói rằng chúng ta là kẻ giả hình.
Câu hỏi 2
Câu trả lời của bạn. Nếu tôi thật lòng muốn phát huy sự Hiệp Nhất tâm hồn với người bạn đời của tôi để có thể thực sự chăm sóc anh ấy hoặc cô ấy thì tôi phải quan tâm đến sự tăng trưởng Cơ đốc của chính mình. Điều này bao gồm việc thừa nhận trước Đức Chúa Trời về những tội lỗi của chính tôi và xin Đức Chúa Trời giúp tôi chiến thắng được tội lỗi đó.
Câu hỏi 3
Ba kỹ năng truyền thông xuất hiện trong những câu sau:
Tỷ nệ Nói/ Nghe - ChCn 10:19, 13:3, 17:27-28; TrGv 3:7.
Hỏi/ Trả lời - ChCn 18:13.
Lời Nói/ Ý nghĩa - 14:15, 16:30, 18:4.
Câu hỏi 4
Tầm quan trọng của những mối quan hệ giữa những kỹ năng cùng những chiến lược đối thoại và các nhân tố đối thoại là như sau:
Tâm tư của người khác liên hệ đến sự đồng cảm mà một người không thể có sự đồng cảm
thật sự nếu người đó không hiểu được những cảm xúc của người khác và điều gì đang ẩn giấu đằng sau những cảm xúc đó. Chúng ta càng hiểu được tâm tư của người khác nhiều
hơn thì chúng ta càng có thể có sự đồng cảm sâu sắc hơn.
b) Nếu một người đang rèn luyện xử lý thông tin chính xác, thì bằng cách ấy người đó đang hình thành một thái độ khích lệ tinh thần. Trái lại, xử lý thông tin không đúng cách sẽ phá hủy sự khích lệ. Mặc dù rõ ràng là có những điều hay thay đổi khi hình thành hay phá hủy không khí khích lệ, nhưng không điều gì quan trọng hơn sự xử lý thông tin chính xác.
c) Mối quan hệ giữa ý thức thực tế và sự chân thật là chúng ta càng chân thật bao nhiêu thì người khác càng có thể chia xẻ tâm sự của họ cho chúng ta bấy nhiêu. Nếu người A khó gần gũi và không chân thật thì người B cũng sẽ phản ứng tương tự. Chúng ta phải đưa ra sự chân thật để nhận lại thực tế. Chú ý : sự chân thật không thể nào tương tự như “sự ăn nói thẳng thừng” được.
d) Tỷ lệ Nghe/ Nói liên hệ đến Tình yêu vô điều kiện mà trong đó mối quan hệ mang tính chất hỗ tương. Tôi bày tỏ tình yêu vô điều kiện bằng việc lắng nghe. Bằng sự bày tỏ tình yêu vô điều kiện thì tôi để người khác biết rằng tôi trân trọng những gì anh ấy đang nói và có thể anh ấy sẽ nói cho tôi nghe nhiều hơn nữa.
Tỷ lệ Hỏi/ Trả lời và tinh thần tôn trọng lẫn nhau tác động qua lại như trên.
f) Tỷ lệ Lời nói/ Ý nghĩa liên hệ đến sự ân cần mà trong đó sự ân cần là điều cần thiết để có thể hiểu được những điều gì đang ẩn sau lời nói. Nếu tôi chỉ lắng nghe cách thụ động, thì tôi thích hợp hơn với việc chỉ cố hiểu được những lời nói của người đó mà không xem xét những ngụ ý không lời khác.
BÀI TỰ KIỂM TRA
Sáu bước truyền thông hiệu quả là gì? Hãy điền vào sơ đồ đã đánh số sẵn dưới đây (vẽ sơ đồ).
Hãy giải thích ngắn gọn mỗi 1 trong 6 bước đó.
Hãy định nghĩa ngắn gọn từng chiến lược và từng kỹ năng được sử dụng trong việc truyền thông hiệu quả (Theo danh sách dưới đây).
Lắp ghép. Hãy ghép mỗi kỹ năng và chiến lược dưới đây với yếu tố liên hệ tương ứng:
- Tâm tư của người khác a) Sự chân thật.
- Xử lý thông tin b) Sự đồng cảm.
- Ý thức thực tế c) Tình yêu vô điều kiện.
- Tỷ lệ Nói/ Nghe d) Sự ân cần.
- Tỷ lệ Hỏi/ Trả lời. e) Tinh thần tôn trọng lẫn nhau.
- Tỷ lệ Lời nói/ Ýnghĩa f) Sự khích lệ.

TRẢ LỜI PHẦN TỰ KIỂM TRA
1-2. Sáu bước và ý nghĩa của chúng là:
Ý nghĩa khởi đầu - Ý nghĩa đầu tiên người ta muốn truyền thông.
Sự bày tỏ khởi đầu bằng lời nói -- những lời nói và những sự bày tỏ đầu tiên được dùng để bày tỏ ý nghĩa ban đầu.
Sự thông hiểu của người nghe - những gì người thứ hai hiểu người thứ nhất muốn nói.
Sự phản hồi: câu nói hoặc câu trả lời của người thứ hai đặt ra để giải thích cho người thứ nhất biết mình hiểu như thế nào . Điều này cho thấy người nói có được hiểu ý hay không.
Nhận biết sự hiểu lầm trong truyền thông - nhờ sự phản hồi mà người nói có thể lập tức biết được sự hiểu lầm.
Giải thích qua sự bày tỏ bằng lời nói: bây giờ người thứ nhất trình bày ý nghĩa ban đầu của mình để giải thích cho sự hiểu lầm.
3. Các chiến lược và các kỹ năng được dùng trong việc truyền thông hiệu quả là:
Tâm tư của người khác là chiến lược đề nghị chúng ta phải làm hết sức để hiểu được nội tâm của người khác.
Xứ lý thông tin và chiến lược đề nghị nhu cầu xử lý thông tin với tinh thần trách nhiệm và khích lệ. (Như là những cảm xúc, những mơ ước hay những nhu cầu) mà ai đó đã chia xẻ với chúng ta.
Ý thức thực tế là chiến lược mà ở đó chúng ta khuyến khích người khác hoàn toàn thành thật với chúng ta, cho dù điều đó có làm cho chúng ta dễ chịu hay không. Đây là khả năng khuyến khích những người xung quanh giúp cho chúng ta thấy được sự thật về họ hay về chính chúng ta.
Tỷ lệ Nghe/ Nói là một kỹ năng qua đó một người sẽ kiểm tra xem điều mình nói liên hệ bao nhiêu đến điều mình đã lắng nghe và quyết định sẽ lắng nghe nhiều hơn nói.
Tỷ lệ Hỏi/ Trả lời là một kỹ năng qua đó một người sẽ kiểm tra xem có bao nhiêu câu hỏi đúng mà người đó hỏi so với có bao nhiêu câu trả lời không ăn khớp mà người đó đã trả lời. người đó sẽ cố hỏi nhiều câu hỏi hơn là đưa ra những cách xử lý tạm bợ.
Tỷ lệ Lời nói/ Ý nghĩa là một kỹ năng qua đó chúng ta cố gắng hiểu được những khía cạnh truyền thông kể cả bằng lời nói lẫn không lời (như cử chỉ và những biểu lộ).
Lắp ghép.
b/ Tâm tư của người khác a) Sự chân thật
f/ Xử lý thông tin b) Sự đồng cảm
a/ Ý thức thực tế c) Tình yêu vô điều kiện
c/ Tỷ lệ Nghe/ Nói d) Sự ân cần.
e/ Tỷ lệ Hỏi/ Trả lời e) Tinh thần tôn trọng lẫn nhau.
d/ Tỷ lệ Lời nói/ Ý nghĩa f) Sự khích lệ.
Bài 6: CÁCH GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT.
Chúng ta đã học được về nhu cầu cần phải bày tỏ một không khí cởi mở để truyền thông và những gì liên quan trong quá trình truyền thông. Thật là không thực tế chút nào nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã đủ kiến thức để đáp ứng mọi nhu cầu truyền thông của mình. Tuy nhiên cho dù những kỹ thuật thông tin của chúng ta tốt đến mức độ nào chúng ta vẫn gặp sự xung đột với người bạn đời của mình. Dù xung đột lớn hay nhỏ, thì hai con người khác nhau và bất toàn được kết hợp với nhau bởi hôn nhân sẽ gặp những xung đột là điều không tránh khỏi. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng những cuộc xung đột không nhất thiết phá hủy mối liên hệ. Nhưng chúng cũng có thể xây dựng mối quan hệ nữa đấy. Tất cả đều phụ thuộc vào cách chúng ta giải quyết sự xung đột đó. Trong bài số 6 này, chúng ta sẽ nghiên cứu một khía cạnh khác của việc phát huy sự Hòa Hợp Tâm Hồn. Chúng ta phải làm gì khi nóng giận. Chúng ta sẽ xem xét nhiều quan điểm khác nhau về xung đột, những cách khác nhau để giải quyết xung đột, Kinh thánh nói gì về những mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau.
DÀN BÀI
Cách kiềm chế những cảm xúc giận dữ.
Năm phương cách giải quyết xung đột.
Cách giải quyết xung đột của Phaolô.
Kết luận.
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Khi học xong bài này bạn sẽ có thể:
Mô tả hai phản ứng thích hợp đối với những cảm xúc của chúng ta. Mỗi phản ứng một dòng.
Xác định mục đích và nguyện vọng, diễn đạt sự khác nhau về chức năng giữa mục đích và nguyện vọng và bày tỏ phản ứng thích hợp với mỗi ý niệm.
Nhận dạng 5 bước tiến hành để xác định khi nào nên đối phó với người bạn đời của chúng ta bằng cảm xúc tiêu cực và liên hệ những điều này với những phương cách mà Augsburger đề nghị để giải quyết xung đột.
Viết một đoạn văn mô tả sự dạy dỗ trong Eph Ep 4:25-32 về vấn đề liên hệ với nhau.
Liệt kê các loại phản ứng đối với những cảm xúc được chia xẻ mô tả sự phản bác hay chấp nhận và nhận dạng những ví dụ có liên quan.
Bày tỏ sự chấp nhận đối với những cảm xúc người bạn đời mình chia xẻ nhờ sự trợ giúp của dự án 7.
Cách xử lý những cảm xúc giận dữ.
Bài tập đọc cho trong bài học này là chương 4 trong sách của Crabb “Sự hòa hợp tâm hồn -Sự truyền thông” hay “Tôi làm gì khi tức giận?” Cách bạn xử lý sự xung đột hay những cảm xúc tiêu cực đối với người bạn đời có thể là một phong vũ biểu chỉ sức khỏe của mối quan hệ vợ chồng như thế nào. Vài ví dụ về những cách xử lý khác nhau đối với sự xung đột trong hôn nhân có thể chứng tỏ quan điểm này.
Ví dụ, nếu bạn nghĩ rằng hai vợ chồng bạn không thể hòa hợp nhau, bạn có thể trốn tránh không giải quyết những xung đột của bạn để tiếp tục trên con đường tuy an toàn nhưng không thỏa lòng của mình.
Nếu bạn xem xung đột như dễ gây đổ vỡ và dẫn đến sự cự tuyệt cá nhân, bạn có thể bị cám dỗ để trở thành “nhân vật dễ thương” trong mối quan hệ vợ chồng luôn nhường nhịn để “cơm lành canh ngọt’.
Nếu bạn thấy cách rõ ràng rằng sự xung đột chỉ là vấn đề đúng sai, thì bạn sẽ có xu hướng cứng nhắc và xét đoán người kia.
Sau cùng, nếu bạn tin rằng mình phải luôn tìm sự thỏa hiệp thì bạn có thể thấy chính mình thỉnh thoảng bỏ cách giải quyết tốt nhất để đạt được sự thỏa thuận giữa hai bên.
Vấn đề đặt ra là không có quan điểm nào cho rằng xung đột dẫn đến một mối quan hệ Hoà Hợp Tâm Hồn. Không có ai, từ người luôn tránh xung đột cho đến người luôn nhường nhịn, người luôn luôn khăng khăng là đúng lẫn người tìm sự thỏa thuận, được học về phản ứng chín chắn khi gặp sự xung đột. Mỗi quan điểm và phương cách để ứng phó với sự xung đột này có thể đúng trong một thời gian và địa điểm nào đó mà chúng ta sẽ phải thảo luận sau này.
Còn bây giờ, hãy nhận biết rằng sự xung đột là một trở ngại - một điều gì đó mà bạn chắc chắn không thể nào tránh khỏi trên con đường tiến đến sự Hòa Hợp Tâm Hồn. Điều quan trọng là phải học biết cách giải quyết xung đột theo cách làm cho bạn và người bạn đời ngày càng hòa hợp với nhau hơn.
Sự giải quyết xung đột có quan hệ với hôn nhân của bạn như thế nào? Crabb bắt đầu chương 4 với 5 ví dụ về những nan đề truyền thông mà những đôi vợ chồng đã tâm sự với ông. Xin đọc kỹ những câu hỏi dưới đây trước khi đọc tài liệu trong sách của Crabb. Chỉ đọc phần tóm tắt của chương 4, đừng đọc phần bài tập truyền thông cho đến khi học thêm trong bài học này. Sau khi đọc xong, hãy trả lời những câu hỏi trong vở bài tập của bạn.
Câu hỏi 1
Bạn có thể cho 3 hoặc 4 ví dụ về những nan đề truyền thông đã xuất hiện trong hôn nhân của bạn không? Lúc đó bạn và người bạn đời của mình đã giải quyết những xung đột đó như thế nào?
Trong những bài trước chúng ta đã học vài chân lý nền tảng về hôn nhân rất quan trọng cần phải nhớ khi suy nghĩ đến cách xử lý những cảm xúc giận dữ. Hãy kiểm tra trí nhớ của bạn trong 2 câu hỏi kế tiếp, xem liệu bạn có thể nhớ các câu hỏi trước khi bạn xem lại trong sách.
Câu hỏi 2
Theo Crabb thì điều gì là nền tảng chính yếu cho mối quan hệ hôn nhân theo Thánh Kinh?
Câu hỏi 3
Mục đích cao nhất của chúng ta những người chồng, những người vợ là gì?
Dĩ nhiên là vì tất cả chúng ta là những con người dễ vấp ngã, ngay cả với những dự tính cao đẹp nhất thì thỉnh thoảng chúng ta vẫn thất bại trong sự cam kết với người bạn đời của mình. Dầu vậy sự cam kết lo lắng cho nhau không phải là một sự lựa chọn. Những nan đề trong sự truyền thông thường gia tăng bởi vì có một lỗ hổng trong sự hứa nguyện của chúng ta. Như Crabb nói, những nan đề trong truyền thông “có thể thường từ sự thất bại trong sự hứa nguyện chăm sóc nhau, hay đơn giản hơn là từ những mục tiêu sai trật”, đó là những mục tiêu vị kỷ.
Câu hỏi 4
Nếu bạn nổi giận khi người bạn đời của mình không tỏ vẻ cảm kích về một điều đặc biệt nào đó mà bạn vừa làm xong, điều này cho tháy mục tiêu của bạn sai trật và vị kỷ như thế nào?
Câu hỏi 5
Đọc Gia Gc 4:1-3 Hãy diễn đạt bằng lời của mình những điều Giacơ dạy về nguyên nhân dẫn đến sự xung đột của chúng ta.
Crabb khẳng định rằng một trong những điều tin quyết nhất trong mối quan hệ Hôn nhân Gia đình là những người bạn đời phải đối xử với chúng ta theo một cách thức nào đó. Ông nói rằng “nhưng thật là khó để nhận biết rằng không bao giờ tôi nên đòi hỏi bất cứ điều gì ở người bạn đời của mình, hay thừa nhận rằng sự hứa nguyện chăm sóc người bạn đời của tôi không phụ thuộc vào những thái độ hay cách cư xử của người ấy”.
Câu hỏi 6
Bạn có đồng tình với những câu nói trên không? Tại sao có và tại sao không?
Giả định rằng vợ của bạn không vâng phục sự lãnh đạo của bạn trong nhà. Điều này tác động thế nào đến sự chăm sóc của bạn dành cho cô ấy? Hoặc là, giả sử rằng chồng bạn không muốn lãnh trách nhiệm giải quyết những nan đề khác nhau mà cả hai vợ chồng đang đối diện. Điều này ảnh hưởng như thế nào đến sự chăm sóc của bạn dành cho anh ấy?
Chúng ta đề cập đến sự dấn thân cho mục tiêu chăm sóc là nền tảng để thiết lập một mối quan hệ Hôn nhân theo đúng với Thánh Kinh. Nhưng xa hơn nữa, chúng ta vẫn cần một chiến lược để xử lý những cảm xúc tiêu cực của chúng ta. Chiến lược này phải phù hợp mục tiêu của chăm sóc và tránh tạo ra khoảng cách giữa hai vợ chồng.
Thật không dễ dàng để biết khi nào chúng ta nên hoặc không nên bày tỏ những cảm xúc tiêu cực với người bạn đời của mình. Vài Cơ đốc nhân cảm thấy rằng việc chia xẻ những cảm xúc tiêu cực luôn luôn là điều không tốt và không thiêng liêng trong khi thế gian bảo rằng chúng ta có quyền làm điều đó. Crabb gọi hai khả năng này là “dồn nén” và “chất lên”.
Câu hỏi 7
Bạn hãy tự định nghĩa phương cách “dồn nén” và “chất lên” để điều khiển những cảm xúc, kèm theo ví dụ của mỗi phương cách. Bạn điều khiển cảm xúc mình theo xu hướng nào? Và người bạn đời của bạn theo xu hướng nào?
Cả hai phương cách này đều sẽ dẫn đến nhiều nan đề hơn. Crabb tin rằng việc luôn giữ vững cảm xúc của chúng ta sẽ sinh ra sự giả vờ thuộc linh. Mặt khác người tuôn đổ mọi thứ ra để khẳng định “quyền” của mình thì không thể nào giúp người bạn đời của mình phân biệt được phải trái hay phản ánh (hình vẽ) được tính khiêm nhường kính sợ Chúa.
Câu hỏi 8
Theo Crabb thì có cả những cảm xúc tội lỗi lẫn vô tội. Hãy nêu ra 6 ví dụ đã cho. Bạn có nghĩ ra những cảm xúc khác cũng thuộc hai loại cảm xúc này không? Tiêu chuẩn nào để phân biệt được cảm xúc tội lỗi với cảm xúc vô tội?
Một nghiên cứu tiểu sử thú vị về cuộc đời của tiên tri Êxêchiên sau khi vợ ông qua đời bày tỏ hai điều mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải làm khi một cảm xúc dâng lên trong chúng ta. Nghiên cứu về tiên tri Êxêchiên sẽ là một minh họa tốt cho quan điểm của Crabb.
Câu hỏi 9
Bạn hãy tự trình bày lại hai điều chúng ta phải làm khi đối diện với cảm xúc. Bằng chứng nào trong Thánh Kinh về đời sống của Êxêchiên chứng minh cho quan điểm này? Đức Chúa Trời bảo Êxêchiên phải xử lý như thế nào với những cảm xúc của ông?
Chúng ta thấy rằng việc nhận biết rõ những cảm xúc của chúng ta là điều đúng đắn, nhưng việc biểu lộ những cảm xúc đó thì phụ thuộc vào yếu tố khác: có phải việc biểu lộ cảm xúc nầy mâu thuẫn với việc tôi thực hiện những mục tiêu của Đức Chúa Trời chăng? Trong hôn nhân vấn đề là: Tâm niệm rằng mục tiêu của tôi là để chăm sóc hay lo lắng cho người bạn đời của mình, như vậy sự bày tỏ cảm xúc của tôi sẽ giúp đỡ hay cản trở tôi trong việc thực hiện mục tiêu này?

PHẢI LÀM GÌ KHI ĐỐI DIỆN VỚI CẢM XÚC
1. Nhận biết cảm xúc
2a. Bày tỏ cảm xúc nếu cảm xúc đó đem lại sự chăm sóc cho người bạn đời
2b. Không bày tỏ cảm xúc nếu cảm xúc đó không đem lại sự chăm sóc cho người bạn đời.
Nhưng việc trả lời câu hỏi này càng khó khăn hơn ta tưởng lúc đầu, bởi vì bản ngã tội lỗi của chúng ta sẽ bảo rằng điều chúng ta khao khát là một mục tiêu chính đáng. Khao khát mãnh liệt muốn được người bạn đời mình yêu thương là điều tự nhiên và tốt lành. Nó phản ánh sự thật rằng chúng ta không phải chỉ là những con vật, nhưng là những con người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, những con người thật sự có khả năng tác động lên người khác cách sâu sắc. Mong ước cảm nhận sự gần gũi mãn nguyện trong mối quan hệ của chúng ta là điều chính đáng.
Ngoài ra, mỗi chúng ta đều có một nhu cầu thật sự là ý nghĩa và an toàn. Những nhu cầu này được đáp ứng cách đầy đủ trong Đấng Christ, mặc dù chúng ta cũng ước ao cảm nhận được điều này trong mối quan hệ của chúng ta. Nhưng nguyện vọng của chúng ta là được người bạn đời mình chăm sóc, không bao giờ được can thiệp vào mục tiêu chăm sóc của chúng ta dành cho người bạn đời mình. Điều này khiến chúng ta phải hỏi: làm thế nào phân biệt được mục tiêu và nguyện vọng?
Câu hỏi 10
Crabb định nghĩa mục tiêu là gì? Nguyện vọng là gì? Sự khác biệt chủ yếu giữa mục tiêu và nguyện vọng là gì?
Câu hỏi 11
Có một câu trả lời chính xác cho mục tiêu và nguyện vọng. Câu trả lời chính xác cho mỗi ý niệm là gì?
Crabb đưa ra hai câu hỏi mà chúng ta phải tự hỏi chính mình để giúp chúng ta xác định liệu mục đích của chúng ta là mục tiêu hay là nguyện vọng?
Câu hỏi 12
Hai câu hỏi nào giúp chúng ta phân biệt mục tiêu với nguyện vọng?
Bài tập 1.
Hãy nghĩ ra nhiều ví dụ về những điều mà bạn mong ước trong hôn nhân của mình. Hãy viết ra ít nhất là 4 hoặc 5 ví dụ. Chúng là mục tiêu hay nguyện vọng? Bạn có thể viết lại từng nguyện vọng (xem ví dụ của Crabb) để nó trở thành một mục tiêu không?
Hãy nhớ rằng nếu bạn không thể điều khiển việc thực hiện mục tiêu của bạn bằng chính sự nỗ lực của riêng mình, thì đó là nguyện vọng chứ không phải là mục tiêu. Nhưng xin chú ý những gì thường xảy ra khi chúng ta áp dụng cách thức tiếp cận việc đặt ra và tác động lên những mục tiêu có liên quan đến nguyện vọng của chúng ta. “Thành tựu của mục tiêu làm tăng khả năng hiện thực những gì chúng ta khao khát ”.
Bài tập 2
Tất cả cuộc thảo luận quan trọng trước đây đều hướng đến một câu hỏi chính của chương 4: khi nào chúng ta nên nói với người bạn đời về những cảm xúc của chúng ta. Có lẽ bạn chưa bao giờ suy nghĩ qua câu hỏi này. Trước khi đọc phần này trong bài học, hãy tự hỏi xem trước kia bạn đã áp dụng những bước nào đế quyết định nên hay không nên chia xẻ những cảm xúc giận dữ với người bạn đời của mình.
Việc chia xẻ những cảm xúc của chúng ta phải luôn luôn phù hợp với những mục tiêu chăm sóc người bạn đời của mình. Chúng ta không bao giờ nên đặt thành mục tiêu của mình (cách rõ ràng hoặc không ) là mong muốn báo thù, hay mong muốn thay đổi người bạn đời của mình. Ân điển vô hạn của Đức Chúa Trời đủ để giúp chúng ta duy trì sự hứa nguyện này.
Năm cách xử lý xung đột
Hãy luôn nhớ rằng điều ưu tiên hơn hết là mục tiêu chăm sóc, chúng ta hãy trở lại phần những phương cách xử lý sự xung đột đã được đề cập ở đầu bài này. Cuộc thảo luận này dựa trên quyển sách của David Augsburger “Thận trọng khi đối đầu”, ông ta cho thấy có 5 phương cách tiêu biểu để xử lý những xung đột.
NHỮNG PHƯƠNG CÁCH ĐỂ XỬ LÝ NHỮNG XUNG ĐỘT
Giả định rằng chúng ta đang đúng và bên kia sai.
Rút khỏi sự xung đột.
Phục tùng bên kia, bất kể vấn đề gì.
Cùng thỏa thuận với nhau.
Trân trọng khi đối đầu.
Mỗi phương cách có thể đúng ở những thời điểm nào đó trong những bối cảnh nào đó. Có thể có sự xung đột mà trong đó chúng ta đúng còn người kia thì sai. Có thể lúc đó điều thích hợp là nên rút lui khỏi một sự xung đột đặc biệt hoặc nên phục tùng hay thoả thuận hoặc đối đầu. Chúa Jêsus tự do sử dụng 1 trong 5 cách này trong tình huống thích hợp, như Augsburger đã minh họa trong phần trích từ sách của ông.
Khi những đồng hương lạnh nhạt của Chúa Jêsus tại Naxarét từ chối sứ điệp tình yêu của Ngài, Chúa Jêsus đã lựa chọn phương cách rút lui (Xem LuLc 4:14-30). Ngài cắt ngang cuộc đối thoại và tranh cãi với những người Pharisi khi họ hoàn toàn từ chối Ngài cách rõ ràng (Xem GiGa 11:45-57).
Chúa Jêsus cũng sẵn lòng hành động theo cách “Tôi đúng - anh sai” khi điều này là cách dễ hiểu nhất - Ngài đương đầu với các người buôn bán và kẻ đổi bạc trong đền thờ với những điều lệ được - mất (Xem Mac Mc 11:11-19). Hãy đọc những lời phán rõ ràng của Ngài với những nhà lãnh đạo tôn giáo trong Mat Mt 23:1-39, ….
Khi bị bắt giữ, bị chất vấn tra hỏi, trong suốt phiên xử, bị đánh đập bất công và ngay cả khi bị hành hình Chúa đã lựa chọn phương pháp phục tùng cho sự giận dữ của người khác, tiếp thu sự nóng giận đó và đáp trả bằng lời tha thứ, thương xót và chấp nhận.
Nhưng không có ai quan tâm và đối đầu hiệu quả hơn hoặc đơn giản rõ ràng hơn chính Chúa Jêsus cả.
Đối với những người kết án người phụ nữ phạm tội tà dâm, Chúa Jêsus đã lắng nghe, chờ nghe xong những câu hỏi chất vấn, ghi lại những lời buộc tội trên đất. Sự quan tâm. Rồi Ngài phán: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào chị ấy”. Đối đầu
Đối với người đàn bà, Ngài phán rằng “Họ đâu cả rồi - không ai định tội chị sao?….” Lạy Chúa không ai hết”. “Ta cũng không định tội chị”. Sự quan tâm dễ hiểu, nhiệt tình. “Hãy đi đừng phạm tội nữa”. (Sự đối đầu rõ ràng và không thể lầm lẫn GiGa 8:7, 10-11).
Đối với chàng trai trẻ giàu có, Chúa Jêsus lắng nghe, trả lời cách rõ ràng, sau đó nhìn chàng trai và yêu mến chàng. Rồi Chúa Jêsus thách thức: “Hãy đi, bán hết gia tài mình, đem bố thí cho kẻ nghèo khổ, rồi hãy đến mà theo ta”. (Xem Mac Mc 10:1-53).
Đối với Nicôđem (Xem Giăng 3), đối với người đàn bà Samari, một người thuộc nhóm bị khinh rẻ tại giếng múc nước. Đối với quan thị vệ thành Cabênaum có con trai mắc bệnh gần chết (Xem GiGa 4:1-54) Chúa Jêsus quan tâm và đối đầu. Ngài đã nói lên chân lý trong tình yêu thương.
Câu hỏi 13
Phương cách xử lý xung đột của Augsburger khác hoặc giống với những gì Crabb đã dạy như thế nào?
Các bước tiến hành trước khi chúng ta đánh giá sự đối đầu được diễn tả cách chính xác như là “sự quan tâm khả dĩ”. Các bước trong tiến trình chăm sóc, như đã được nêu trong Bài tập số 2 đó là:
NHỮNG BƯỚC ĐỐI ĐẦU.
Chậm nóng giận.
Nhận thức được sự nóng giận của mình.
Nghĩ đến những mục tiêu.
Thừa nhận trách nhiệm đối với mục tiêu chính đáng.
Bày tỏ những cảm xúc tiêu cực nếu có lý do chính đáng.

Trong thuật ngữ của Crabb, chúng ta được tự do đối đầu với người bạn đời của mình cách yêu thương - khi người ấy chận đứng một nguyện vọng chỉ khi nào mục tiêu chăm sóc được “bền vững và hoạt động đúng chỗ”. Điều đó có nghĩa là chúng ta đang thực hành mục tiêu chăm sóc một cách năng động trong mối quan hệ hôn nhân của chúng ta. Trước khi đối đầu với người bạn đời của mình, hãy tự hỏi xem mục đích của mình là gì. Có phải bạn đang chăm sóc quan tâm đến người bạn đời của mình và giúp người bạn đời của mình cũng biết quan tâm chăm sóc bạn không! Hay là bạn đang sử dụng người bạn đời của mình để được cái gì đó từ cô ấy hoặc anh ấy?
Cách Giải quyết xung đột của Phaolô.
Chúng ta sẽ nghiên cứu Eph Ep 4:25-32. Xin đọc kỹ thơ Êphêsô 2 lần để hiểu được toàn bộ nội dung của đoạn. Hãy dùng dàn bài dưới đây để đọc thơ Êphêsô:
Chương 1: Cách thiết lập sự hòa thuận giữa 2 thực thể hoàn toàn khác biệt, Đức Chúa Trời thánh khiết và loài người tội lỗi.
Chương 2: Cách thiết lập sự hòa thuận giữa 2 nền văn hoá hoàn toàn trái ngược nhau cùng hiện diện thời bấy giờ, người Do thái và người Ngoại bang.
Chương 3: Bài làm chứng của Phaolô về cách can thiệp của cá nhân ông trong việc công bố tin tức tuyệt vời được nêu ra trong chương 1 và 2.
Chương 4: Cách Hội thánh thực hiện điều Đức Chúa Trời làm cho khả thi: một Hội thánh duy nhất gồm nhiều tín hữu từ các nền văn hóa Do thái và Dân ngoại.
Chương 5: Cách Hội thánh liên hệ với những thực tế xã hội.
Chương 6: Cách Hội thánh liên hệ với những thực tế xã hội và cuộc chiến tâm linh.
Nếu bạn đọc kỹ chương hai một lần nữa, bạn sẽ nhận thấy trong câu 1-10 có liên quan đến phép lạ mà Đức Chúa Trời thực hiện trong đời sống chúng ta vốn là những con người từng chết để làm cho chúng ta sống lại trong Đấng Christ. Trong câu 11-12 sự tương phản giữa địa vị trước kia của những người ngoại, không có phần trong phước hạnh của Đức Chúa Trời, và địa vị mới trong Đấng Christ, nhờ Ngài dân ngoại mới có thể đến hưởng được tất cả những phước lành của Đức Chúa Trời. Hãy xem xét sự thù địch trước kia có thể xuất hiện trong Hội thánh giữa những Cơ đốc nhân người Giuđa và những Cơ đốc nhân ngoại bang, câu gốc là 2:12 “Vì ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta, Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức tường ngăn cách”.
Bây giờ hãy đọc 4:1-6. Mặc dù việc giải kinh tỏ ra không chính xác khi giới hạn sự khuyên nhủ của Phaolô: “phải ăn ở cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em” là chỉ nhằm đề cập đến việc sống hòa thuận với nhau, việc bỏ qua không xem đó như một trong những điều cơ bản của ông thì cũng là thiếu sót trong việc giải kinh. Câu thứ 3 đưa ra kết luận của sự khuyên nhủ của Phaolô trong câu thứ nhất.
Câu hỏi 14
Phaolô bảo những tín hữu phải làm gì trong câu 3?
Câu hỏi 15
Liệt kê 5 đặc tính mà Phaolô đề cập đến trong câu 2. Những đặc tính đó góp phần vào việc gìn giữ sự hiệp nhất được dạy trong câu 3 như thế nào?
Như bạn đã đọc, các tín hữu phải thực hành sự khiêm nhường mềm mại, kiên nhẫn nhịn nhục và yêu mến lẫn nhau. Bây giờ đọc tiếp và chú ý rằng Phaolô đề cập đến sự hiệp nhất bảy lần từ câu 4 đến câu 6. Từ câu 7 đến câu 16, Phaolô nhấn mạnh rằng sự hiệp nhất này sẽ không thể đạt được nếu có sự khác nhau. Tất cả chúng ta không thể trở nên một bằng cách suy nghĩ và hành động giống nhau. Thật ra sức mạnh của Hội thánh là chúng ta đều là những cá nhân và rất khác biệt nhau. Câu 16 nói rằng chính sự chăm sóc đặc biệt dành cho nhau đem lại sự gây dựng và hiệp nhất trọn vẹn.
Trong các câu từ 14-27 Phaolô giúp chúng ta hiểu rằng chúng ta sẽ không bao giờ đạt được những gì Phaolô khuyên nếu chúng ta không bước đi trong đời sống mới và chớ nên có cách ăn nết ở như ngày trước. Tuy nhiên việc phát sinh xung đột giữa những người từ những bối cảnh khác nhau như người Do thái và người Ngoại bang khi cố gắng bước đi với nhau trong “cùng một thân thể” theo cách mà Phaolô miêu tả trong câu 1-16. Không cần phải sử dụng trí tưởng tượng quá đáng (hoặc kinh nghiệm trong Hội thánh) mới tin rằng sẽ có mối xung đột nào đó trong những tình huống như thế , do đó câu 25 đã đưa ra vài nguyên tác để giải quyết mối xung đột này.
Xin đọc 4:25-32 một lần nữa, tìm ra 8 nguyên tắc của Phaolô (mỗi nguyên tắc này nằm trong 1 câu Kinh thánh) để giải quyết sự xung đột theo cách đẹp lòng Chúa và đem lại sự hòa giải giữa những người liên quan - Nói cách khác những nguyên tắc mà các Cơ đốc nhân đề cập đến phải thúc đẩy sự hiệp nhất giữa bản thân họ với nhau.
Nguyên tắc 1: Sự hiệp nhất giữa các Cơ đốc nhân được phát huy bởi sự trung thực với những anh em Cơ đốc nhân khác (câu 25). Nếu chúng ta không sẵn sàng nói cách chân thật (câu 15) thì không thể có hy vọng gì giải quyết bất cứ mối xung đột nào.
Nguyên tắc 2: Sự hiệp nhất giữa các Cơ đốc nhân được phát huy khi chúng ta thừa nhận sự giận dữ của mình (câu 26). Không ai có thể giải quyết xung đột nếu người đó không sẵn lòng thừa nhận rằng mình nóng giận - “Nóng giận” như là điều trước tiên trong hai yêu cầu kế tiếp, không phải là điều cần khuyến khích nhưng là sự thừa nhận một trạng thái cảm xúc mà không chối bỏ hoặc dung túng cơn giận đó. Tuy nhiên, nếu chúng ta tin rằng giận dữ là điều không thiêng liêng hoặc là tội lỗi, thì chúng ta sẽ không thừa nhận với chính mình rằng chúng ta đang giận dữ, lại càng ít công nhận nguyên nhân sự giận dữ của chúng ta.
Nhưng thật ra có phải giận dữ không có tội không? Có hai lý do để biện minh cho giả thuyết rằng trong từng tình huống sự nóng giận không nhất thiết phải là tội lỗi. .
Lý do thứ nhất, Đức Chúa Trời thường được mô tả trong Thánh kinh là có nổi giận. Nếu Đức Chúa Trời là Đấng vô tội mà vẫn kinh nghiệm sự nóng giận thì sự nóng giận bản thân nó không thể là một cảm xúc tội lỗi.
Lý do thứ hai, Phaolô nói trong câu thứ 26 rằng anh em được giận nhưng chớ phạm tội. Hai lý do này không thể tồn tại nếu sự nóng giận là tội lỗi. Phaolô là người rất thực tế biết rõ rằng sự nóng giận đã và đang là một sản phẩm của mối quan hệ của con người. Tất nhiên là đôi khi chúng ta đã phản ứng khi nóng giận tội lỗi, nhưng câu nói của Phaolô gợi ý rằng có một cách nóng giận mà không trở thành tội lỗi. Thế thì nóng giận trở thành tội lỗi như thế nào?
Câu 16
Phaolô viết “chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn ”. Câu thứ 27 có nghĩa gì trong ánh sáng của mạng lịnh nầy?
Nguyên tắc 3: Sự hiệp nhất giữa các Cơ đốc nhân được phát huy bằng cách nhanh chóng xử lý cơn giận của anh em để kẻ thù không có cơ hội tiếp tục làm hỏng những mối quan hệ của chúng ta. (Từ câu 26 đến câu 28). Nếu chúng ta đã phản ứng giận dữ với điều ai đó đã làm đối với chúng ta, chúng ta phải làm tất cả những gì có thể để phục hồi mối quan hệ đó càng nhanh càng tốt. Nếu không cơn giận sẽ nhanh chóng phát triển thành sự cay đắng và nguyện vọng trả thù.
Theo câu 27, cơn giận cho Satan có “cơ hội” trong cuộc đời người tín hữu - Đó là loại cơ hội nào? Trong đoạn trước Phaolô khuyến khích những tín hữu Hội thánh Êphêsô phải gạt bỏ bản ngã của con người cũ và cách ăn nết ở ngày trước (câu 22). Nuôi dưỡng cơn giận sẽ giúp cho ma quỉ nhơn dịp xui cho người tín hữu trở về “cách ăn nết ở ngày trước”, bao gồm những mối quan hệ bị tội lỗi phá hỏng.
Nguyên tắc 4: Sự hiệp nhất giữa các Cơ đốc nhân được phát huy bằng cách vượt lên chính mình để đáp ứng những nhu cầu của người khác hơn là tìm kiếm bất cứ hoặc tất cả phương tiện nào để thỏa mãn nhu cầu của chính chúng ta (c. 28 ). Phaolô nói rằng một tên trộm trở thành một Cơ đốc nhân sẽ không chỉ ngừng ở việc chấm dứt trộm cắp anh ta phải làm việc để chu cấp những nhu cầu của chính mình, thay vì ăn trộm những gì người khác nỗ lực tạo ra. Nhưng ngoài việc ấy anh ta cần làm hơn thế ( đi thêm một dặm) nữa để cung cấp cho những người khác đang thiếu thốn. Ý tưởng nầy tương tự như nguyên tắc của Crabb là chúng ta cần một “sự quên mình để chăm sóc” trong những mối quan hệ.
Câu hỏi 17
Việc “đi thêm một dặm” áp dụng vào sự giải quyết những xung đột cá nhân trong Hôn nhân của bạn như thế nào? Hãy cho ví dụ cụ thể?
Nguyên tắc 5: Sự hiệp nhất giữa các Cơ đốc nhân được phát huy bằng cách tránh nói những lời làm tổn thương hay làm cho người khác nổi giận, và theo chiều hướng tích cực, bằmg cách nói lời lành gây dựng và khuyến khích những người khác (câu 29). Phaolô nói rằng “chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em” từ “dữ” được dịch ở đây có nghĩa là “thối rửa, không dùng được”. Trong thời Tân ước từ này được dùng để mô tả một con cá ươn trong một cái thùng gây ô nhiễm con cá khác. Trong một đoạn Kinh thánh khác, từ này dùng cho những hòn đá bị thợ xây loại ra bởi vì chúng nó sẽ bị vỡ vụn dưới sức nặng của những hòn đá khác khiến tòa nhà không vững chắc.
Câu hỏi 18
Phaolô nói gì về loại ngôn từ chúng ta nên tránh trong tình huống xung đột?
Câu hỏi 19
Phaolô viết rằng các tín hữu phải dùng những “lời lành giúp ơn cho những người khác ” (câu 29). Giúp ơn có nghĩa là “gây dựng ”. Từ ngữ đó gợi ý gì về cách giải quyết xung đột?
Câu 29 nhấn mạnh rằng từ này phải “tùy theo nhu cầu lúc ấy”. Một ứng dụng quan trọng của cụm từ này liên hệ đặc biệt đến cuộc thảo luận của chúng ta. Thời gian rất quan trọng trong việc giải quyết sự xung đột. Những cặp vợ chồng nên thỏa thuận trước với nhau rằng nếu một người đề nghị hoãn lại việc giải quyết xung đột thì người kia nên đồng ý và cả hai nên ấn định thời gian thảo luận vấn đề đó. Một phần trong việc thành thật là khả năng thừa nhận mình quá nóng giận hoặc bực bội nên không thể nói gì ngay lúc đó (câu 29). Từ “ ích lợi” trong câu Kinh thánh này có nghĩa là lợi thuộc linh. Giúp ơn cho người khác là tạo điều kiện khuyến khích sự tăng trưởng thuộc linh của chính người đó.
Câu hỏi 20
Bạn liên hệ việc sử dụng lời nói “có ích lợi ” đối với sự giải quyết xung đột như thế nào?
Nguyên tắc 6: Cách chúng ta nói và liên hệ với những người khác ảnh hưởng đến mối tương giao của chúng ta với Chúa Thánh Linh (câu 30). Giữa cuộc thảo luận này về những mối quan hệ cá nhân Phaolô đã nói rằng chúng ta không nên “làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời”. Trước khi trả lời câu hỏi kế tiếp, xin đọc GaGl 5:16-24 và Eph Ep 5:18-19.

Câu hỏi 21
Theo những phân đoạn Kinh thánh trên, có mối liên hệ nào giữa việc được đầy dẫy Thánh Linh, bước đi bởi Đức Thánh Linh, làm buồn Đức Thánh Linh và thực hiện những mối quan hệ cá nhân.
Nguyên tắc 7: Sự hiệp nhất giữa các Cơ đốc nhân được phát huy bằng cách từ chối chất chứa những cảm xúc tiêu cực đối với nhau (câu 31). Phaolô bảo các tín hữu phải “bỏ” sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu, mắng nhiếc cùng mọi đều hung ác. Chúng ta có thể thấy cách rõ ràng những điều này có thể gây ra xung đột và hậu quả như thế nào?
Câu hỏi 22
Bạn có thể nghĩ ra sự dạy dỗ nào của Thánh kinh chỉ cho chúng ta cách bỏ khỏi chúng ta những điều Phaolô liệt kê trong câu 31?
Nguyên tắc 8: Sự hiệp nhất giữa các Cơ đốc nhân được phát huy khi Cơ đốc nhân đối xử với nhau cách nhân từ và tha thứ cho nhau (câu 32).
Câu 31 bảo các tín hữu cách mà họ không nên đối xử với nhau trong khi đó câu 32 nói lên những khía cạnh tích cực của các mối quan hệ Cơ đốc.
Câu hỏi 23
Việc cố gắng thực hiện mạng lịnh đó ảnh hưởng đến người ta trong việc giải quyết những mối xung đột như thế nào?
Chúng ta phải đầy dẫy lòng thương xót nhau (câu 32). Đầy dẫy lòng thương xót cũng giống như nhạy cảm. Chúng ta phải nhạy bén với những cảm xúc của người khác, đặc biệt là những người đã cùng hứa nguyện yêu thương và chăm sóc nhau hơn tất cả những người khác. Đây là phần sáng tạo “không khí tâm lý đầy khích lệ” (Xem bài số 4). Phaolô kết luận bằng cách xin các tín hữu hãy “tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy” (câu 32). Hãy chú ý rằng đây là một tiến trình đang xảy ra, các tín hữu phải bày tỏ sự tha thứ như là một phần trong cách sống của họ.
Câu hỏi 24
Câu trả lời của Phaolô cho bất kỳ người nào nói rằng họ không thể tha thứ được là gì? (câu 32)
Câu hỏi 25
Hãy tóm lược trong một đoạn văn những gì Eph Ep 4:25-32 dạy về việc giải quyết những xung đột.
Dự án 7:
Đối với những học viên đã có gia đình.
Cuối cùng chúng ta đã thực hành những gì mình đã học. Lần này, hãy quay trở lại chương 4 của sách nầy và đọc phần cuối “Bài tập truyền thông ”. Hoàn tất bài tập này như Crabb đã chỉ dẫn. Tuần này bắt đầu thực hành 4 cách chấp nhận những cảm xúc trong cuộc đối thoại với người bạn đời. Cuối tuần này, hãy viết ra cách bạn sử dụng từng phương cách đó, dùng 2 hoặc 3 câu cho mỗi phương cách.
Đối với những học viên độc thân.
Xin viết ra mỗi nguyên tắc trong 8 nguyên tắc giải quyết những xung đột dựa trên 4:25-32. Để nhận được tín chỉ cho dự án này bạn cần liệt kê ít nhất hai ứng dụng cho mỗi nguyên tắc. Nguyên tắc nào bạn ứng dụng dễ nhất? Nguyên tắc nào khó nhất? Tại sao?
KẾT LUẬN
Xin chúc mừng! Việc hoàn thành 3 bài học về truyền thông lại cho bạn những thách thức mới cũng như khả năng thấu hiểu và sự thích thú mới mẻ trong cuộc đời bạn. Lời cầu nguyện của chúng tôi là bạn sẽ cam kết với bản thân rằng sẽ tiếp tục thực hành những kỹ năng truyền thông trong suốt cuộc đời của bạn. Đối với những học viên đã có gia đình, chúng tôi cũng tin rằng mối dây Hòa hợp Tâm hồn của bạn sẽ ngày càng sâu sắc hơn và thỏa lòng hơn như Đấng Tạo Hóa yêu thương của chúng ta đã thiết lập và mong muốn.
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Câu hỏi 1
Câu trả lời của bạn. Việc tiếp nhận thông tin mới và áp dụng bổ sung thông tin đó vào cuộc đời của bạn luôn là điều không dễ chút nào. Tuy nhiên, đó là sự ứng dụng giúp bạn thật sự hiểu được những gì Crabb đang đề cập. Hãy cố suy nghĩ đến 3 hoặc 4 nan đề trong truyền thông mới xảy ra và tiêu biểu (thường xuất hiện),
Câu hỏi 2
Nền tảng cơ bản cho mối quan hệ Hôn nhân theo đúng Kinh thánh là sự dấn thân trọn vẹn để đạt được mục tiêu chăm sóc.
Câu hỏi 3
Mục đích cao nhất của chúng ta trong vai trò những người vợ hoặc người chồng là trở nên một công cụ để phát huy hạnh phúc cá nhân cũng như thuộc linh của người bạn đời.
Câu hỏi 4
Nóng giận vì sự coi thường của người bạn đời dù có thật hay do chúng ta tưởng tượng nói lên rằng chúng ta đang làm một điều gì đó để đạt được sự đáp ứng thích hợp từ cô ấy hay anh ấy chứ không phải để chăm sóc anh ấy hoặc cô ấy. Mục tiêu của chúng ta là sử dụng.
Câu hỏi 5
Câu trả lời của bạn. Giacơ dạy rằng những tư dục của chính chúng ta sẽ gây ra những cuộc cãi lộn. Trong một gia đình cả hai người đều tập trung vào những tư dục của mình sẽ sử dụng lẫn nhau (dù có ý thức về điều đó hay không) để thỏa mãn những tư dục đó. Điều này chắc chắn sẽ gây nên xung đột.
Câu hỏi 6
Câu trả lời của bạn. Khi bạn xem xét những câu hỏi ứng dụng cá nhân, bạn sẽ thấy quan niệm về sự sử dụng của Crabb mô tả sự tình. Khi thái độ của người bạn đời kích động những cảm xúc tiêu cực của chúng ta thì dễ khiến mục tiêu chăm sóc trở thành sử dụng.
Câu hỏi 7
Câu trả lời của bạn. Dồn nén có nghĩa là làm ngơ với những cảm xúc thật sự của chúng ta và chôn giấu những cảm xúc đó trong lòng. Chất lên có nghĩa là bày tỏ những cảm xúc như để khẳng định “quyền của tôi” bất chấp gây nên hậu quả gì cho người khác .
Hãy nhớ đến những ví dụ về điều này trong cuộc đời của bạn - Sau đó thành thật đánh giá xem liệu bạn hay người bạn đời của bạn có áp dụng một trong những phương pháp này để giải quyết những cảm xúc hay không.
Câu hỏi 8
Các ví dụ về cảm xúc mang tính chất tội là ghen ghét, căm giận, khinh bỉ, lãnh đạm, tham lam và nhục dục. Những cảm xúc không có tính chất tội lỗi là buồn bã, tiếc nuối, yêu thương, dịu dàng, vui vẻ, bình an và hối hận. Crabb đưa ra tiêu chuẩn này để phân biệt những cảm xúc tiêu cực có tội và vô tội; Những cảm xúc nào giới hạn lòng thương xót hoặc không phù hợp với lòng thương xót là những cảm xúc tiêu cực có tính chất tội lỗi.
Câu hỏi 9
Câu trả lời của bạn. Khi một cảm xúc dâng lên trong lòng chúng ta, chúng ta phải chấp nhận điều đó với chính mình và với Đức Chúa Trời, đừng đè nén cảm xúc đó - chúng ta phải hạn chế sự biểu lộ công khai những cảm xúc của mình theo những mục đích mà Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Trong Exe Ed 24:17, tiên tri Êxêchiên được Đức Chúa Trời bảo rằng “Hãy than thầm” trước cái chết của vợ ông. Vì vậy Đức Chúa Trời khuyến khích ông thừa nhận nỗi đau bằng cách khác : “một cách thầm lặng”.
Câu hỏi 10
Crabb định nghĩa mục tiêu như là “một mục đích dưới quyền điều khiển của tôi”. Một nguyện vọng là “một mục đích mà tôi có thể muốn một cách chính đáng hoặc không chính đáng, nhưng không thể đạt được nếu chỉ với những nỗ lực của tôi”.
Sự khác biệt chính yếu giữa hai từ này nằm trong sự kiện là liệu chúng ta có thể đạt được mục tiêu của mình hay không nếu không có sự cộng tác của một người khác. Nếu không, nó chỉ là một nguyện vọng chứ không phải là mục tiêu.
Dưới quyền điều khiển của tôi = Mục tiêu
MỤC ĐÍCH
Không dưới quyền điều khiển của tôi = Nguyện vọng
Câu hỏi 11
Sự đáp ứng thích hợp đối với một mục tiêu là phải chịu trách nhiệm về những hành động của chúng ta và làm điều gì đó.
Sự đáp ứng thích hợp đối với một nguyện vọng là cầu nguyện.
Câu hỏi 12
Để xác định xem liệu một mục đích là mục tiêu hay nguyện vọng Crabb đề nghị bạn hãy tự hỏi những câu hỏi sau.
Mục đích của tôi là gì? Và (2) Tôi có thể đạt được mục đích đó bởi những nỗ lực và cố gắng của chỉ một mình tôi mà không cần sự giúp đỡ của người nào khác không?
Câu hỏi 13
Phương cách “Quan tâm đủ để đối đầu” của Augsburger có thể được dùng kết hợp với bước năm trong phương pháp của Crabb “Bày tỏ những cảm xúc tiêu cực nếu làm như vậy vì mục đích tốt lành”. Nhưng chúng ta phải cẩn thận với những ý tưởng của Augsburger để chắc rằng trước tiên chúng ta phải nhắm mục tiêu chăm sóc chính đáng.
Câu hỏi 14
Các tín hữu phải chăm chỉ dùng dây hòa bình mà gìn giữ sự hiệp một của Thánh Linh.
Câu hỏi 15
Nếu chúng ta thực hành 5 mỹ đức Phaolô đề cập đến trong câu 2 - khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, chịu đựng và yêu thương thì trước tiên chúng ta sẽ nghĩ đến người khác hơn là chính mình. Điều này sẽ dẫn đến sự hiệp một và hòa thuận bền chặt hơn trong Hội thánh.
Câu hỏi 16
Khi chúng ta để cơn giận phát triển trong cuộc sống của chúng ta Satan sẽ có cơ hội gây ra cay đắng, hiểm độc, cộc cằn, cùng những nan đề khác bắt nguồn từ cơn giận. Chúng ta cần phải giải quyết bất cứ nan đề nào làm cho chúng ta giận một người nào đó (Kể cả người bạn đời của bạn). Theo đề nghị của Phaolô, chúng ta phải làm điều này ngay trong ngày mà chúng ta nổi giận với ai đó. Crabb diễn đạt điều đó theo cách nầy: đừng dồn nén hay tuôn đổ cơn giận của mình rồi lên giường đi ngủ trong tình trạng đó.
Câu hỏi 17
Câu trả lời của bạn. Bất cứ một ví dụ thực tiễn nào về việc chăm sóc cách thông cảm và thương xót hơn, bất chấp những cảm xúc thương tổn, đều bày tỏ “việc đi thêm một dặm đường nữa”.
Câu hỏi 18
Câu trả lời của bạn. Nếu các tín hữu nói chung không nên để miệng mình thốt ra những lời nói không lành mạnh thì điều này càng phải được thực hành nhiều hơn nữa trong mối quan hệ hôn nhân - “những lời nói không lành mạnh” sẽ là những từ làm cho người bạn đời của mình bị tổn thương hay giận dữ hơn là gây dựng người ấy.
Câu hỏi 19
Gây dựng hay khen ngợi người bạn đời của mình bằng lời nói là một cách khác để thực hành mục tiêu chăm sóc.
Câu hỏi 20
Những lời nói của chúng ta phải đem đến sự ích lợi thuộc linh cho những người xung quanh mình. Luôn cưu mang điều này trong tâm trí chúng ta, thì khi gặp những tình huống có xung đột sẽ giúp chúng ta luôn chú tâm nói những điều có ích lợi cho những người khác hơn là gây thêm xung đột.
Câu hỏi 21
Phaolô nói rằng sự xung đột, bùng nổ cơn giận, mối bất hòa và kết bè phái - nhiều khía cạnh của sự xung đột - đơn giản chỉ là “những việc làm của xác thịt” (GaGl 5:19-20). Trái lại nếu một người bước đi bởi Thánh Linh, sẽ học biết càng ngày nhiều hơn để trở thành người hòa giải khi người đó phô bày những bông trái Thánh Linh trong các mối quan hệ của mình.
Câu hỏi 22
Chúng ta “gạt bỏ” những điều mà Phaolô liệt kê trong Eph Ep 4:31 bằng cách “mặc lấy lốt người mới” (4:22). Trong RoRm 13:14 chúng ta được bảo phải “măc lấy Đức Chúa Jêsus Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó”.
Bước thực tiễn đầu tiên là công khai nhận biết mỗi tác động của phản ứng tội lỗi. Trong IGi1Ga 1:9 điều này được gọi là “xưng tội” và trong mạch văn thì mô tả là “bước đi trong sự sáng”. Trong 2:1 Ông Giăng vạch ra kết quả của thái độ trách nhiệm và thực tế này: bạn sẽ không phạm tội nữa!
Câu hỏi 23
Trong cuộc tranh luận sôi nổi thì rất dễ để chúng ta đưa ra những lời nhận xét không mấy tốt đẹp,đặc biệt đối với người bạn đời của mình. Hơn nữa nguyên tắc nhân từ giữa những người tín hữu với nhau cũng phải được bày tỏ với người mà chúng ta đang cố gắng Hòa hợp Tâm hồn.
Câu hỏi 24
Chúng ta phải tha thứ cho những người khác như Đức Chúa Trời đã tha thứ chúng ta (Eph Ep 4:32). Đức Chúa Trời sẽ ban ân điển Ngài để chúng ta làm được điều này nếu chúng ta cầu xin Ngài: nếu đó là một tín hữu thì anh ta có khả năng tha thứ (và là một mệnh lệnh ).
Làm sao chúng ta có thể không tha thứ khi chúng ta nhận biết là mình đã được tha thứ nhiều biết bao nhiêu!

Câu hỏi 25
Câu trả lời của bạn. 4:25-32 là lời khuyên thực tế của Phaolô để phát triển và duy trì những mối quan hệ yêu thương (sự hiệp nhất) giữa các tín hữu. Về vấn đề xung đột, chúng ta phải nói thật với nhau - luôn nhớ rằng những lời nói nầy phải là những lời nói gây dựng cho người khác. Chúng ta phải xử lý cơn giận của mình một cách đúng đắn, có nghĩa là chúng ta không được kết thúc một ngày trong trạng thái căm giận một người nào đó. Cực điểm của sự khuyến khích của Phaolô là phải tha thứ cho những người khác như Đức Chúa Trời đã tha thứ cho chúng ta. Điều này bao gồm cả chồng hoặc vợ của bạn nữa đấy !

TỰ KIỂM TRA
Định nghĩa một mục tiêu và một nguyện vọng, nêu sự khác biệt chủ yếu giữa 2 khái niệm này.
Câu trả lời chính xác cho một mục tiêu là gì? Cho một nguyện vọng là gì?
Có hai phương cách nào thích hợp để giải quyết những cảm xúc tiêu cực vô tội của một người?
Hãy liệt kê ra 5 bước tiến hành trước khi đối đầu với người bạn đời của mình bằng những cảm xúc tiêu cực.
Năm từ then chốt nào biểu lộ sự khước từ những cảm xúc của người bạn đời mình?
Cho một ví dụ về cách xử sự có thể là sự khước từ những cảm xúc của người bạn đời mình?
Bốn từ then chốt nào miêu tả sự chấp nhận những cảm xúc của người bạn đời mình?
Giả định rằng người bạn đời của bạn nói là công việc của anh ta chỉ quá khó đối với anh. Cho một ví dụ giải bày những gì anh ta đã nói nhằm bày tỏ sự chấp nhận những cảm xúc của anh ta.

TRẢ LỜI PHẦN TỰ KIỂM TRA
1/ Một mục tiêu là mục đích dưới quyền điều khiển của chúng ta và nó không phụ thuộc vào hành vi của người khác. Một nguyện vọng là cái gì đó mà chúng ta có thể muốn cách chính đáng nhưng không thể đạt được chỉ bởi những nỗ lực của riêng chúng ta mà thôi. Sự khác biệt chủ yếu ở đây là sự điều khiển: tôi có thể đạt được mục tiêu của tôi nếu không có sự cộng tác của bất kỳ một người nào khác không?
2/ Sự đáp ứng chính xác đối với một mục tiêu là chịu trách nhiệm về mục tiêu đó và vì thế phải hành động để đạt được. Sự đáp ứng đúng đắn đối với một nguyện vọng là cầu nguyện.
3/ Khi một tín hữu phải đối diện với một cảm cảm xúc tiêu cực vô tội, anh ấy hoặc cô ấy nên:
Thừa nhận điều đó với chính bản thân và với Đức Chúa Trời.
Hạn chế bày tỏ những cảm xúc cách công khai tùy theo những mục đích của Đức Chúa
Trời dành cho mình.
4/ Năm bước tiến hành giúp tôi biết khi nào tôi nên đối đầu với người bạn đời của mình đó là:
Chậm nóng giận.
Thừa nhận cơn giận.
Nghĩ đến những mục tiêu.
Thừa nhận trách nhiệm đối với mục tiêu chính đáng.
Bày tỏ những cảm xúc tiêu cực nếu là lý do chính đáng.
5/ Năm từ then chốt biểu lộ sự từ chối những cảm xúc của người bạn đời mình đó là:
Biện hộ/ Giải thích.
Xin lỗi.
Tấn công.
Khuyên nhủ.
Khinh bỉ.
6/ Ví dụ: một người chồng nói với vợ mình rằng khi cô ta nói đùa với anh về khoảng chi phí cuộc họp mặt bạn bè gần đây của anh làm anh ngượng ngùng. Lập tức cô vợ xin lỗi và lảng sang đề tài khác. Điều này bày tỏ sự từ chối những cảm xúc của người chồng bởi vì cô không dành thời gian để hiểu thấu suốt xem chồng mình cảm xúc như thế nào và cô ta đã làm tổn thương chồng ra sao (Bất kỳ ví dụ nào thuộc dạng nầy cũng chấp nhận được).
7/ Chúng ta bày tỏ sự chấp nhận những cảm xúc của người bạn đời mình khi chúng ta:
Suy xét
Làm rõ ràng
Tìm hiểu cặn kẽ
Mở rộng
8/ Một người có thể chấp thuận những gì mà chồng mình có thể chia xẻ bằng cách nói điều gì đó như: “Em có thể thấy anh đang bị lấn áp bởi những trách nhiệm mới của anh. Nếu em ở vị trí của anh, em cũng sẽ cảm thấy bị áp lực khi gặp người chủ mới. Anh cũng cảm thấy như thế chứ?”
Một phản ứng không chấp nhận sẽ là như thế này “công việc của anh không quá khó đối với anh. Anh là một trong những người đàn ông có khả năng nhất mà em biết. Anh chỉ cần nhiều thời gian thôi”. Đây là một ví dụ về sự coi thường những cảm xúc của anh ta và khuyên dạy anh ta.

BÀI THI ĐƠN VỊ 2
Định nghĩa sự truyền thông (như đã được định nghĩa trong sách bài tập)
Liệt kê 6 nhân tố cần thiết để phát huy sự truyền thông hai chiều. Định nghĩa mỗi nhân tố trong một hoặc hai câu.
Mỗi câu nói dưới đây xúc phạm hoặc nâng đỡ một trong những nhân tố của cuộc đối thoại. Hãy liệt kê nhân tố bị xúc phạm hoặc được nâng đỡ qua ví dụ và nhận xét xem ví dụ đó là một sự xúc phạm hay một sự nâng đỡ.
À, tôi sẽ không suy nghĩ về việc ấy theo cách đó đâu.
Việc anh lớn tuổi hơn em không gây nên sự khác biệt gì cả, anh vẫn muốn nghe ý kiến của em.
Anh còn có thể mong đợi em yêu sau những gì anh đã làm cho em ư?
Tất nhiên là em có thể nói cho biết tại sao em nóng giận.
Để anh tắt radio đã. Anh không thể tập trung vào những gì em nói trong khi đang ồn ào thế này.
Anh ít khi chiến đấu với sự cám dỗ. Chắc đó là do anh cầu nguyện mỗi ngày.
Liệt kê 6 bước trong qúa trình truyền thông , như chúng đã được đánh dấu trong biểu đồ sau đây:
Giải thích những chức năng và tầm quan trọng của bước đi “d” (Trên biểu đồ) để đạt được sự truyền thông đầy hiệu quả.
Đúng hay Sai. Kỹ năng được biết như là Ngôn ngữ/ Ý nghĩa hàm ý rằng chúng ta có thể xác định những gì mà một người đang truyền thông bằng cách quan sát các cử chỉ của anh ta.
Mục tiêu là gì ?
Nguyện vọng là gì ?
Đối với mỗi ví dụ giao tiếp dưới đây, hãy nhận xét xem người này đang biểu lộ sự chấp thuận hay từ chối những cảm xúc của người bạn đời của mình. Sau đó nhận xét xem người bạn đời đã biểu thị phương pháp đúng hay sai.
Ví dụ
Chồng: “Tuần trước, trong giờ học Kinh thánh, khi anh nói những gì anh suy nghĩ về nghĩa của câu Kinh thánh đó, em cau mày và nói với anh rằng ‘Ồ, em không nghĩ như thế’ anh cảm thấy muốn bỏ đi không bao giờ quay lại. Bây giờ anh vẫn còn bực mình về chuyện đó!”
Vợ: “Ôi anh yêu, cho em xin lỗi. Em thật sự cảm thấy mình tệ hại khi làm như thế với anh”.
Chấp nhận hay từ chối? Người vợ đã sử dụng phương pháp nào? Trả lời:từ chối. Người vợ đã xin lỗi quá chóng vánh, trước khi khám phá ra chồng mình đã cảm xúc như thế nào và mình đã làm thương tổn chồng ra sao.
Vợ: “Em mong rằng anh sẽ không mời bố mẹ anh đến quá thường như thế. Dường như hai chúng ta chẳng
có chút thời gian riêng nào dành cho nhau cả”.
Chồng: “Dường như em chưa bao giờ khó chịu khi gia đình của em đến thăm chúng ta cả”.
Chấp nhận hay từ chối? Phương pháp được sử dụng?
Vợ: “Tối qua em thật sự cảm thấy bị thương tổn vì dường như anh muốn chăn gối với em mà không cần biết là em có thích hay không - Em cảm thấy mình không quan trọng gì đối với anh cả”
Chồng: “Anh cho rằng dường như anh thật ích kỷ đối với em , như thể tất cả những gì anh quan tâm đều
chỉ là những điều anh muốn”.
Chấp nhận hay từ chối? Phương pháp được sử dụng?
Chồng: “Anh thật sự bị áp lực từ cơ quan. Ông chủ luôn quấy rối anh bởi vì anh là một Cơ đốc nhân”.
Vợ : “Anh yêu, đó là một vinh dự khi chịu khổ vì cớ Chúa. Anh chỉ cần vững đức tin là được”.
Chấp nhận hay từ chối? Phương pháp được sử dụng?
Chồng: “Khi anh cố thảo luận những vấn đề với ông chủ, ông ta luôn luôn bảo anh rằng ông ta “quá bận” không thể nói chuyện với anh được”.
Vợ: “Em biết điều đó rất khó, và em nhớ rằng anh chưa hề thích công việc này. Có phải đó cũng là một
phần làm cho anh thất vọng không?”
Chấp nhận hay từ chối? Phương pháp được sử dụng?

K K K K K
CÁC LOẠI HÌNH QUAN HỆ TRONG HÔN NHÂN.
Trong phần này chúng ta sẽ cùng thảo luận với nhau về vai trò của người vợ và người chồng theo Thánh kinh. Những vai trò này, hay những loại hình quan hệ trong Hôn nhân được bao trùm bởi sự đa dạng của những quan điểm khác biệt trong Hội thánh ngày nay. Chúng ta sẽ tập trung vào những gì mà Kinh thánh đề cập đến.
Hãy tưởng tượng một tình huống mà trong đó một nhóm trẻ đang được các huấn luyện viên, những người biết nhiều hơn các đứa trẻ đó về chiến lược trong bóng đá, giới thiệu trò chơi bóng đá cho chúng. Bọn trẻ đang rất vui, nhưng trò chơi đá banh mà chúng đang chơi thì rất là kém cỏi.
Chúng chưa học biết trách nhiệm phải tôn trọng vị trí, thay vào đó tất cả 20 đứa trẻ trên sân chơi đầu tập trung quanh quả bóng đá lung tung vào quả bóng và vào lẫn nhau. Các thủ môn được đặt vào khung thành của đội đó, nhưng chúng hoàn toàn lơ là với trò chơi. Chỉ khi nào mỗi cậu bé học biết được giá trị vị trí chơi của chính mình và biết tin tưởng các đồng đội của mình đang chịu trách nhiệm về những vai trò của chính họ thì các cậu bé sẽ kết hợp với nhau như một đội bóng và thưởng thức thành công trong trò chơi.
Tình huống tưởng tượng này tất cả là để minh họa cho những cuộc Hôn Nhân có nhiều nan đề. Kinh thánh dạy rằng Đức Chúa Trời đã ban cho những người chồng và những người vợ những cách cư xử chuyên biệt để liên hệ vào trong Hôn Nhân. Cho đến khi nào người nam và người nữ hiểu và thực hiện những cách cư xử mà Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi người, thì Hôn Nhân của họ sẽ giống như trò chơi bóng đá được mô tả ở trên theo ý nghĩa là nó sẽ bị thiếu hụt tất cả những gì tốt đẹp mà nó có thể có được.
DÀN BÀI
Bài 7 - Những đặc tính của một người chồng tin kính.
Bài 8 - Những đặc tính của một người vợ tin kính.
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Khi học xong phần nầy, bạn sẽ có thể:
Giới thiệu được sự dạy dỗ của Kinh thánh về vai trò của người chồng và người vợ.
Thực hành các bước cụ thểđể hoàn tất vai trò của mình trong Hôn Nhân theo đúng kế hoạch Đức Chúa Trời đã thiết lập.
Giới thiệu sự dạy dỗ của Kinh Thánh về vai trò và cách cư xử trong Hôn Nhân trong các mối quan hệ vợ chồng cho tín hữu hoặc cho các nhóm khác.
Bài 7: NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA MỘT NGƯỜI CHỒNG TIN KÍNH.
Hãy suy nghĩ về câu chuyện minh họa về các cậu bé đang học cách chơi đá banh được giới thiệu trong phần này. Các cậu bé đó sẽ làm gì nếu mỗi người cố gắng đảm nhận trò chơi? Hoặc là các cậu bé đó sẽ làm gì nếu mỗi người đều chờ đợi người khác gọi mình vào cuộc chơi? Dù theo cách nào bạn đều không có một trận đá banh hay !
Cũng tương tự như thế, một cuộc Hôn Nhân hạnh phúc không thể có hai người lãnh đạo hoặc hai người đi theo được - Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn cho chúng ta rằng người chồng là người chủ gia đình, cương vị làm chủ gia đình không phải là do sự lựa chọn cá nhân. Và Đức Chúa Trời đã chỉ định cho người chồng một trách nhiệm quan trọng hơn hết đối với người vợ của mình: chồng phải yêu vợ như chính Đấng Christ đã yêu Hội thánh. Đây là một trách nhiệm đáng sợ xứng đáng để cả vợ lẫn chồng học hỏi và hiểu biết cẩn thận.
Trong bài học này, chúng ta sẽ nhận dạng một từ gốc mô tả trách nhiệm cơ bản của người chồng đối với vợ. Trong bài học sau chúng ta sẽ nhận dạng một từ gốc mô tả quan hệ của người vợ đối với chồng.
DÀN BÀI.
Khuôn khổ khảo sát mối quan hệ vợ chồng.
Khái niệm “làm đầu” trong Tân ước.
Đấng Christ là đầu Hội thánh.
Chồng là đầu của vợ.
Trách nhiệm cơ bản của người chồng đối với vợ.
Đấng Christ, khuôn mẫu của người chồng Êphêsô 5: 25-33.
Những chỉ dẫn thêm cho người chồng.
Kết luận.
MỤC TIÊU BÀI HỌC.
Khi học xong bài này, bạn sẽ có thể:
Xác định thuật ngữ “làm đầu” theo như khái niệm được khai triển trong Tân ước.
Nhận dạng những đoạn Kinh thánh chìa khóa về những kiểu mẫu liên hệ vợ chồng, nhận định khuôn khổ của những kiểu mẫu đó và đặc biệt là trình bày ngắn gọn vai trò và phẩm chất của người chồng.
Viết 2 hoặc 3 đoạn văn giải thích trách nhiệm cơ bản của người chồng là phải yêu vợ mình.
Bày tỏ sự hứa nguyện thực hành môn học này bằng cách hoàn thành dự án 8.
Bài tập 1
Việc hiểu những khái niệm được đưa ra ở đây rất quan trọng. Để giúp bạn sắp xếp các khái niệm đó xin khai triển dàn bài tóm tắt để có thể sử dụng như là sự chỉ dẫn cơ bản.
Hãy dùng những tiêu đề và những tựa đề của bài học làm những điểm chính của mình. Sau đó chứng minh những quan điểm đó bằng cách tham khảo hoặc bằng những cụm từ và câu chứa đựng ý chính của bài học. Có thể bạn sẽ được đề nghị trình bày sự học biết của mình trong khóa học

Khuôn khổ khảo sát mối quan hệ vợ chồng.
Để hiểu được sự dạy dỗ của Tân ước về những mối quan hệ vợ chồng và vai trò mà mỗi người phải có trong Hôn Nhân, chúng ta cũng phải xem xét những phân đoạn Kinh thánh có liên quan trong Cựu ước nữa. Điều này là căn bản cho bài học về những người chồng và bài kế tiếp cho những người vợ.
SaSt 2:26-28 dạy rằng người nam và người nữ được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời và mục đích của Ngài làHọ phải quản trị trái đất và muôn loài thọ tạo khác và phải sinh sản thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất. 2:18-22, đoạn Kinh thánh mà chúng ta đã nghiên cứu chi tiết trong bài 1, nói rằng người nữ được tạo dựng “thích hợp” với người nam (Từ câu 18 đến câu 20).
Nhiều người đã cố gắng trình bày chính xác về những cụm từ ngắn gọn trình bày sự miêu tả này về người nữ được Đức Chúa Trời dựng nên một cách độc nhất vô nhị để đáp ứng những nhu cầu thể xác, tâm hồn và cảm xúc của người nam - Nhưng từ Hibálai “thích hợp với người nam” theo nghĩa đen có nghĩa là “tương xứng với người nam, phù hợp với người nam”. Điều không thể nghi ngờ là Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên người nam và người nữ để bổ sung cho nhau. Câu Kinh thánh 1:28 nói về sự kiện họ CÙNG được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời cho thấy là mối quan hệ của họ trước khi sa ngã trong mọi khía cạnh đều phản ánh tình yêu và hạnh phúc trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
Trong lịch sử, nhiều người đã đáp ứng lẽ thật này ở hai thái cực. Gần đây nhất là sự kiện nhiều người ở phương Tây đã viện cớ nhạo báng rằng Kinh thánh đã làm cho người nữ thấp hèn hơn người nam. Họ cho là có một câu Kinh thánh chứng minh cho thái độ này đó là 2:18 với ý nghĩa là “kẻ giúp đỡ”. Người ta nói rằng nhiều phân đoạn Kinh thánh Tân ước có trích dẫn câu Kinh thánh này cũng xem người nữ thấp kém hơn người nam.
Câu 1
Bằng cách nào chúng ta có thể phủ nhận quan điểm này qua Thi Tv 33:20, 63:7 146:5 ?
Trong Tân ước, danh từ “kẻ giúp đỡ” chỉ được sử dụng trong Hêbơrơ 13: 6 trích từ Thi thiên 118 : 6. Tuy nhiên, thể động từ được sử dụng nhiều lần và truyền đạt ý nghĩa là đến giúp đỡ một người nào đó đang thiếu thốn - (Ví dụ Mac Mc 9:22, 24; Cong Cv 16:9), thường là giúp đỡ cho người không có khả năng chu cấp cho chính mình. Khái niệm này có tính cách quyết định đến nhận định về sự mô tả cơ bản về người nữ.
Mặc dù chúng ta có thể kết luận rằng người nữ và người nam bổ sung cho nhau. Chính Kinh thánh đã chỉ rõ rằng người nữ là người được dựng nên để bổ sung cho người nam, chớ không phải điều ngược lại. (Ví dụ: ITi1Tm 2:13 và đặc biệt trong ICo1Cr 11:9). Mặc dù tội lỗi đã làm thoái hoá lẽ thật này, nhưng vẫn có những sự khác biệt rõ ràng giữa người nam và người nữ tập trung vào sự kiện sáng tạo trước khi sa ngã. Người nam và người nữ khác nhau trên cả lãnh vực sinh học. Người nam thường có xu hướng lãnh đạo và thật sự cảm thấy thỏa mãn với những điều mang tính trừu tượng. Người nữ có “kỹ xảo cá nhân” trong những chừng mực nào đó làm cho họ trở nên độc đáo. Sự minh họa cho những khác biệt này sẽ là: cho người nam ở vị trí Tổng Giám Đốc và người nữ ở vị trí Giám Đốc nhân sự.
Sáng thế ký cũng giới thiệu một thực tế thảm thương trong câu chuyện Đức Chúa Trời và loài người: tường thuật về sự bất tuân và sự sa ngã của loài người. Sự sa ngã này không chỉ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và loài người, mà còn thâm nhập vào mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và với nhau. SaSt 3:16-19 công bố sự trừng phạt của Đức Chúa Trời trên người nữ và người nam vì sự bất tuân của họ.
Sự trừng phạt người nữ (câu 16) bao gồm hai khía cạnh:
1. Sẽ có thêm điều khổ cực bội phần trong cơn thai nghén.
2. Người nữ sẽ gặp những mối xung đột về quyền hạn trong mối quan hệ của mình với chồng.
Chúng ta xem đoạn văn trên kỹ hơn một chút. Từ được dịch là “sự sanh nở” sẽ dễ hiểu hơn nếu dịch là: “sự thai nghén”. Tuy nhiên, ai cũng đều biết rằng sự thai nghén hoàn toàn không đau đớn. Đó chỉ là một cách nói khác để đặt vấn đề khi liên hệ đến cả quá trình của thời kỳ mang thai. Cụm từ tương đương trong câu này chỉ về sự đau đớn khi sanh nở. Do đó phần đầu của lời rủa sả nói đến sự khó khăn mà người nữ sẽ phải trải qua trong quá trình sinh sản.
Phần thứ hai của lời rủa sả người nữ bắt đầu với cụm từ “sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng”. Cụm từ này thường được giải thích (và chúng ta tin , không chính xác) như là thuộc về cảm xúc và tình dục. Nếu cách giải thích đó đúng thì ý nghĩa phù hợp hơn là: tham muốn tranh quyền lực với một người. Những từ tương tự được dùng trong 4:7 chỉ rõ ý nghĩa tiêu cực của “ước mơ chỉ đạo người khác”. Mong ước này của người nữ sẽ chỉ được đáp ứng bởi sự cai trị của người nam.(“Và chồng sẽ cai trị ngươi”). Từ khi con người phạm tội, cương vị chính của người nam là làm đầu đã tìm cách đi vào và xuyên suốt lịch sử như là sự cai trị của người nam. Điều phổ biến, ngay cả trong xứ Do thái, là cách đối xử với phụ nữ bằng thái độ ít hoặc không tôn trọng chút nào và xem vợ chỉ là những vật sở hữu mà thôi.
Mạng lịnh của Đức Chúa Trời khi tạo dựng nên người nam và người nữ là bổ sung cho nhau trong khi tình yêu thương đã gặp tai họa đầu tiên ngay khi chuyển giao quyền hạn giữa người nam và người nữ (3:7, 12) mà theo đó là sự cám dỗ của con người và tội lỗi. Sự rủa sả của Đức Chúa Trời công bố chiến tranh giữa hai giới tính bây giờ đã thật sự bắt đầu. Người nam sẽ tìm kiếm sự cai trị và người nữ sẽ luôn tranh giành vị trí ấy của người nam một cách bất thành.
Sự trừng phạt người nam (từ câu 17 đến câu 19) là phải làm việc nặng nhọc và vất vả mới có thể đáp ứng được những nhu cầu thể xác của mình. Đây là một sự thay đổi rất nghiêm trọng so với cuộc sống trong vườn Êđen.
Trong Đấng Christ, hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người đã được phục hồi. Đối với các Cơ đốc nhân thì nọc độc của sự rủa sả không còn nữa. Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Linh, con người sẽ lại kinh nghiệm được sự hoà thuận. Sự cai trị sẽ được thế bằng sự phục vụ lẫn nhau (Eph Ep 5:18). Đây chính là vai trò của vợ và chồng: phục hồi lại những gì mà Đức Chúa Trời đã đặt để trong sự sáng tạo nên loài người.
Câu 2
Tại sao lại cho rằng điều rất quan trọng là phải phân biệt rõ ràng giữa mạng lịnh khi sáng tạo vũ trụ của Thượng đế và thực tế rủa sả?
Khái niệm về “Cương vị Làm đầu” trong Tân ước.
Chúng ta hãy bắt đầu nhìn vào sự dạy dỗ của Kinh thánh Tân ước về vị trí của người chồng trong mối quan hệ Hôn Nhân. Từ “đầu” trong tiếng Hylạp (Kephale ) được sử dụng 75 lần trong Thánh Kinh Tân ước, thường với nghĩa đen là cái đầu (Ví dụ như Mat Mt 14:8). Tuy nhiên, trong bài học này, từ “đầu” được dùng ở nghĩa bóng liên quan đến chúng ta. Ông Phaolô sử dụng từ “đầu” cách ẩn dụ trong thư tín đầu tiên gởi đến Hội thánh Côrinhtô.
“Dầu vậy, tôi muốn anh em biết Đấng Christ là đầu mọi người, người đàn ông là đầu người đàn bà, và Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Christ”. (ICo1Cr 11:3).
Phaolô đang dạy những nguyên tắc về mạng lịnh và sự phụ thuộc chi phối những mối quan hệ giữa ba ngôi Đức Chúa Trời và giữa con người với nhau. Câu Kinh thánh này chỉ ra phạm vi quyền hạn trong những mối quan hệ giữa con người và Đức Chúa Trời.
Việc người nữ bị cai trị bởi người nam là một phương diện phổ biến trong xã hội chỉ là hậu quả của sự sa ngã của loài người. Một khái niệm cơ bản vốn là tốt lành, như cương vị làm đầu, đã bị tội lỗi làm suy đồi đi. Thay vì người nam dẫn dắt người nữ trong mối quan hệ Hôn Nhân thật sự như Đức Chúa Trời đã thiết lập, con người thường lạm dụng vai trò của mình bằng cách khuất phục không những chỉ vợ mình mà là những phụ nữ nói chung, để quản lý cách độc đoán.
Sự hiểu lầm trầm trọng khác về “cương vị làm đầu” là nhằm kết luận rằng điều này có nghĩa là người nữ theo truyền thống là thấp kém hơn người nam. Điều cần nhấn mạnh là kiểu “làm đầu” này có liên quan đến sự khác biệt về chức năng trong những mối quan hệ này và không có ý đề cập đến vị trí thấp hơn. Điều này đã được bày tỏ rõ ràng khi Đấng Christ hoàn toàn thuận phục Chúa Cha. (Tất nhiên, Đức Chúa Trời thì vĩ đại hơn con người, nhưng ICo1Cr 11:3 đang nói về cương vị làm đầu và quyền hạn).
Câu 3
Có nan đề gì khi khẳng định rằng Đức Chúa Cha lớn hơn Đấng Christ? Điều này ảnh hưởng như thế nào đến sự hiểu biết của chúng ta về mối quan hệ giữa người vợ và người chồng?

Đấng Christ là đầu Hội thánh
Vượt trên khuôn mẫu chung về cương vị làm đầu, Kinh thánh đã đưa ra những ví dụ chuyên biệt hơn về cương vị làm đầu. Đấng Christ được mô tả như là “đầu của mọi quyền cai trị và mọi thế lực” (CoCl 2:10), có nghĩa là Ngài là Đấng cai trị tối cao nhất - Ngài cũng là “đầu của thân thể, tức là đầu Hội thánh” (1:18 cũng tìm thấy trong Eph Ep 1:22-23, 4:15-16, 5:23).
Hiểu được vai trò của Đấng Christ như là đầu Hội thánh là rất quan trọng bởi vì vai trò của người chồng được mô tả tương tự như vai trò của Đấng Christ. Vì là đầu Hội thánh Đấng Christ không chỉ là Đấng cai trị và có quyền trên cả Hội thánh nhưng cũng là nguồn dinh dưỡng và tăng trưởng thuộc linh cho cả chi thể (đặc biệt xem Eph Ep 4:15, 16; 5:26-27, 29)
Người chồng là đầu người vợ
Cuối cùng, chúng ta thấy rằng Tân ước đặc biệt mô tả người chồng như là “đầu vợ mình” (5:23). Qua bao thế kỷ, tội lỗi đã gây nên nhiều sự xuyên tạc và lạm dụng nói rằng đó là do hậu quả sự hình phạt của Đức Chúa Trời trên người nam và người nữ.
Tuy nhiên chúng ta phải nhớ rằng thật ra Đức Chúa Trời đã ban cho người chồng một trách nhiệm và một thách thức lớn lao (mà không một ai có thể thực hiện được nếu không nhờ ân điển của Đức Chúa Trời), không phải chỉ là một địa vị đặc quyền.
Đây là điểm mà sự phân tích được mở ra với Đấng Christ là đầu Hội thánh cho chúng ta viễn cảnh đúng đắn. Tất nhiên Hôn Nhân thì không thể so sánh được y như là mối quan hệ của Đấng Christ với Hội thánh, vì Đấng Christ là đầu hoàn hảo và vô tội của Hội thánh - đó là điều mà không một người chồng nào có thể có được! Nhưng vẫn còn một chân lý đầy hiệu lực trong sự so sánh đó. Đấng Christ cung cấp sự lãnh đạo thuộc linh cho cả Hội thánh, người chồng là đầu thuộc linh của cả gia đình mình và chịu trách nhiệm phát triển sự tăng trưởng thuộc linh (một khía cạnh trong cương vị làm đầu rất thường bị lãng quên). Đấng Christ, qua sự hiện hữu trung gian của Chúa Thánh Linh thực hiện sự chăm sóc trong việc dạy dỗ, thôi thúc, nâng đỡ và bênh vực nài xin cho các tín đồ; người chồng cũng nên chăm sóc vợ và con của mình như vậy. (4:16; 5:26-27, 29).
Bài tập 2
Dùng thí dụ về vai trò của Đấng Christ là đầu Hội thánh hãy viết một định nghĩa về “cương vị làm đầu ” của một người chồng. Liệt kê phần tham khảo để hỗ trợ.
Một lần nữa xin nhấn mạnh (để tránh có thể gây hiểu lầm) rằng việc làm đầu của người chồng là trách nhiệm do Chúa ban cho liên quan đến vai trò của người chồng trong mối quan hệ với vợ mình. Không thể đánh giá người vợ như một người kém giá trị. (Thật ra, sự bám chắc vào khuôn mẫu của Chúa bảo đảm rằng cả hai vợ chồng đều có thể thực hiện với hiệu quả tối đa). Vì thế người vợ không được miễn trừ trách nhiệm trước Chúa trong những lãnh vực như qui đạo, vâng phục và phục vụ chồng mình.
Trách nhiệm cơ bản của người chồng đối với vợ mình
Kinh thánh Tân ước sử dụng từ “yêu” để tóm tắt trách nhiệm cơ bản trong việc thực hiện vai trò mà Đức Chúa Trời ban cho người chồng trong cương vị làm đầu vợ mình.
Đấng Christ gương mẫu của người chồng.
Eph Ep 5:25-33.
Ông Phaolô lập lại 3 lần mệnh lệnh chồng phải yêu vợ mình (5:25, 33; CoCl 3:19). Trong chương 5 của thơ tín Êphêsô Phaolô đã triển khai ý tưởng này cách bao quát nhất.
Từ “yêu” (agapao, là động từ của agape ) được sử dụng để mô tả thái độ của người chồng phải có.
Cần phải nhớ rằng trong Kinh thánh “tình yêu” nhất định phải đề cập đến việc tìm kiếm đều tốt đẹp cho người khác một cách năng động và nhiệt thành. Tình yêu trong Thánh Kinh không phải chỉ là một cảm xúc yêu thương hay say đắm như tình yêu của thế giới ngày nay.
Câu 4
Hãy chú ý phân đoạn nói về sự chỉ dẫn của Phaolô dành cho vợ và chồng. Hai điểm quan trọng nào được đề cập đến trong phân đoạn trước trong Eph Ep 5:18 5:21?
Câu 5
6:10-20 sau phần này bàn luận về những mối quan hệ cá nhân. Hãy tóm tắt quan điểm của Phaolô trong đoạn Kinh thánh này.
Câu 6
Tại sao bạn lại tin rằng Phaolô đã đặt những sự chỉ dẫn này cho những mối quan hệ của chúng ta trong đoạn Kinh thánh này?
Như vậy, khuôn mẫu của Đức Chúa Trời đối với người chồng cũng có thể được gồm tóm trong một từ đơn “yêu”, nhưng tiêu chuẩn của tình yêu nầy là sự cao thượng cách lạ lùng. Những người chồng được lệnh phải yêu vợ mình “như Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh” (5:25). Hình ảnh này đã đề xuất những ngụ ý cho người chồng và nó chỉ ra sự trang trọng và nặng nề của trách nhiệm người chồng. Đấng Christ là khuôn mẫu của người chồng không những chỉ trong cương vị làm đầu, nhưng cũng là gương mẫu cho tình yêu của người chồng dành cho vợ mình. (Vì thế ví dụ hai mặt của Đấng Christ tương phản với hai thái cực có thể có: yêu thương mà không làm đầu có thể dẫn đến sự hỗn loạn; và làm đầu mà không yêu thương có thể dẫn đến sự chuyên chế độc tài).
Câu 7
Có phải những thái độ hay hành động của người vợ có thể khiến người chồng rũ bỏ trách nhiệm phải thực hiện mạng lịnh mà Đức Chúa Trời dành cho người chồng trong Eph Ep 5:25 không? Hãy giải thích ngắn gọn.
Câu 8
Người chồng nên liên hệ những hành động của Đấng Christ trong vai trò của mình là một người chồng. Hãy viết một câu định nghia cho mỗi câu nói sau đây vì nó liên hệ đến vai trò của người chồng.
Phó chính Ngài cho Hội thánh
Chúa khiến hội nên thánh.
Chính Chúa sẽ trình diện Hội thánh trước Ngài trong tất cả sự vinh hiển của Hội thánh.
Hình ảnh thứ hai mà Phaolô sử dụng đó là “chồng phải yêu vợ mình như chính thân mình … vì chẳng có người nào ghét chính thân mình, nhưng muốn săn sóc nó”.
Câu 9
Hãy định nghĩa thuật ngữ “nuôi nấng ” và “săn sóc ” trong một câu cho mỗi từ, liên hệ mỗi từ vào vai trò của người chồng.
Bài tập 3
Để cung cấp những tư tưởng bổ sung về chủ đề này, hãy sử dụng sơ đồ sau để kích thích và sắp xếp những ý tưởng của bạn. Hãy liệt kê những ứng dụng đặc biệt và thực tế.

Chồng phải yêu vợ như chính thân mình.

Tôi bày tỏ tình yêu đối với bản thân mình Tôi có thể bày tỏ tình yêu đối với vợ bằng cách:
bằng cách:
Bảo vệ cô ấy về phương diện thể chất.
Giữ mình khỏi bị đau Bảo vệ lòng tự trọng của cô ấy.
(thêm điều nào bạn muốn) Là người bênh vực cô ấy.
(thêm điều nào bạn muốn)
Câu 10
Trong câu 28, chúng ta thấy cụm từ “Ai yêu vợ mình thì yêu chính mình vậy ”. Theo ý của phần đầu câu này và câu 29-33 theo sau, theo bạn Phaolô có ý nuốn nói gì?
Câu 11
Cương vị làm đầu không có nghĩa người chồng là một kẻ độc tài. Có phải điều đó nghĩa là người vợ không được có ý kiến trong những quyết định không?
Câu 12
Hãy đọc Giăng 13. Theo bạn đoạn Kinh thánh này Chúa Jêsus dạy một người phải lãnh đạo những người khác như thế nào? Hãy liên hệ điều này trong mối quan hệ Hôn Nhân.
Câu 13
Hãy liệt kê 5 phương pháp người chồng có thể hướng dẫn vợ theo cách Đấng Christ hướng dẫn các môn đồ (Hãy nêu ra những đều cụ thể và thực tế ).
Một cách phản ứng khi nóng giận thì hoàn toàn tương phản với “sự bùng nổ”. Mặc dù có nhiều người phản ứng giận dữ cách thụ động khi gặp xung đột, nhưng có ít người nhận biết rằng điều đó cũng có thể làm tổn hại đến mối quan hệ như một cơn giận nổ ra. Một cách người nam thường có xu hướng tỏ ra khi gặp cảnh càu nhàu của giới nữ là rút lui. La hét hay đánh đập, cũng như im lặng hay tránh mặt, giả lơ hay vờ làm việc nói chung có thể là tất cả những phản ứng tiêu biểu của phái nam đối với sự căng thẳng trong Hôn Nhân.
Dường như Phaolô đang đặc biệt giải quyết những khuynh hướng này của nam giới khi ông kêu gọi những người chồng phải “yêu như Đấng Christ đã yêu” và “yêu vợ như chính thân mình”.
Câu 14
Tại sao cả hai thái độ của người nam là bùng nổ cơn giận và rút lui đều có thể bị đòn chí tử nếu như người chồng cố yêu vợ như Phaolô đã quy định?
Những chỉ dẫn thêm cho người chồng
Hai đoạn Kinh thánh khác cung cấp những chỉ dẫn đặc biệt dành cho người chồng. Hiểu và vâng theo những gì mà câu Kinh thánh này dạy dỗ là một phần của việc học cách yêu vợ mình như Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn.
CoCl 3:19. Trong 3:18-21 Phaolô đã đưa ra những chỉ dẫn với bổn phận của Cơ đốc nhân ở trong nhà. Đoạn Kinh thánh này tương tự như Eph Ep 5:22; 6:4 Phaolô nhắm vào những người vợ, người chồng, con cái, người làm cha. Có những mạng lịnh quen thuộc ở đây: vợ phải vâng phục chồng mình, chồng phải yêu vợ mình.
Phaolô gởi đến những người chồng một mạng lịnh đặc biệt quan trọng trong 3:19 “Hỡi kẻ làm chồng, hãy yêu vợ mình, chớ hề ở cay nghiệt với người” (nhấn mạnh đến trường hợp của chúng ta). Cụm từ này cũng có thể được dịch là “chớ hề đối xử với người cách khắc nghiệt” và là sự đối chiếu tiêu cực so với mạng lịnh tích cực là phải yêu vợ mình. Mạng lịnh này phải là một biện pháp (hoặc là một sự điều chỉnh) đối với việc lạm dụng cương vị làm đầu của người chồng; tình yêu có được phải năng động, không phải chỉ là một cảm xúc. Những người chồng nên thực hành những đặc tính của một Cơ đốc nhân nói chung mà Phaolô đã liệt kê trong trong phân đoạn Kinh thánh trước (3:12-17) trong mối quan hệ của họ với vợ mình, cũng như đối với những Cơ đốc nhân khác.
Bài tập 4
Phaolô nói với Cơ đốc nhân phải bày tỏ những đức tính nào đối với tha nhân trong CoCl 3:12-17 Xin liệt kê những đức tính này trong vở theo cột dọc. Bên cạnh mỗi đức tính hãy viết một ứng dụng đặc biệt mà tất cả các bạn là những người chồng có thể thực hành đối với vợ mình.
IPhi 1Pr 3:7. Trong 3:1-7, Phierơ đã nhắm câu hỏi vào những mối quan hệ thích đáng trong gia đình Cơ đốc nhân. Câu 7 tập trung vào trách nhiệm của chồng đối với vợ. Phierơ đề xuất hai lời kêu gọi chính: hiểu và tôn trọng. Người chồng phải hiểu vợ trong vị trí ngang bằng thuộc linh.
Trước tiên, Phierơ bảo người chồng phải “tỏ điều khôn ngoan ra trong sự ăn ở với vợ mình”, hoặc theo nghĩa đen là “phù hợp với sự hiểu biết”. Ý tưởng của sự kêu gọi này là người chồng phải hiểu rõ bản chất của phụ nữ nói chung và vợ mình nói riêng - điểm mạnh, điểm yếu, những nhu cầu, những cá tính, và những mơ ước của vợ mình - Tiếp theo, điều đó có ý nói đến một sự hiểu biết bản chất của mối quan hệ của họ trong Hôn Nhân. Đặc biệt, người chồng phải hiểu rằng vợ mình là giống yếu đuối hơn. Những gì mà Phierơ có ý muốn nói qua từ “giống yếu đuối hơn” đã được các học giả nghiên cứu Thánh Kinh thảo luận rất nhiều. Những gì không có trong ngụ ý đó là phụ nữ vốn thấp kém hơn nam giới chắc chắn những gì cụm từ đó đề cập là phụ nữ nói chung thể chất yếu đuối hơn và nhạy cảm hơn.
Vì thế, người chồng phải bảo vệ, chăm sóc và tế nhị với vợ mình, chớ biến sự phục tùng của vợ thành dịp tiện cho chủ nghĩa độc tài không yêu thương. Vị trí của người chồng như là đầu liên quan đến trách nhiệm nhiều hơn là quyền lực. Do người vợ dễ bị tổn thương, người chồng phải thấy trách nhiệm lớn hơn đó là không nên để vợ mình bị tổn thương do chính mình hay những người khác trong bất cứ trường hợp nào. Người chồng phải khuyến khích và giúp vợ để vợ trở nên một người phụ nữ đúng nghĩa trong Đấng Christ (Eph Ep 5:23-29).
Sự kêu gọi thứ hai có quan hệ đến địa vị của người vợ như là một người cùng hưởng phước sự sống với chồng. Người chồng phải tôn trọng vợ mình như một người bình đẳng về phương diện thuộc linh. Chồng có thể là đầu vợ theo chức năng của mình (5:23), nhưng vợ bình đẳng với chồng trong phần thuộc linh (GaGl 3:28). Điều này đề xuất sự bình đẳng không những chỉ qua sự qui đạo nhưng còn qua sự sáng tạo nữa. Người chồng phải đối xử với vợ mình với tất cả lòng qúi trọng và kính nể vì người vợ cũng là người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời.
Câu 15
Người chồng phải “kính nể họ vì họ sẽ cùng anh em hưởng phước sự sống ”. Điều đó có ý nghĩa gì đối với bạn? Làm thế nào người chồng có thể kính nể vợ mình trên cương vị người cùng hưởng phước sự sống với mình?
Tất cả những mạng lịnh này phải được tuân theo, Phierơ nói “hầu cho không điều gì làm rối loạn sự cầu nguyện của anh em”.
Quan điểm của Phierơ có thể được bày tỏ như sau: trong bối cảnh của nguyên tắc là một mối quan hệ sống động với Chúa phụ thuộc vào sự liên hệ đúng đắn với những người khác. (Ví dụ Mat Mt 5:23 18:19-35; ICo1Cr 11:17-34; Gia Gc 4:3).
Câu 16
Xin viết lại IPhi 1Pr 3:7 bằng lời của bạn trong một đoạn văn. Sau đó ghi nhớ các ý tưởng chính.
Câu 17
Có một số lãnh vực nào người chồng thường thiếu tế nhị đối với vợ mình? Xin liệt kê 5 lãnh vực. (Nếu bạn đã có gia đình, xin nêu ví dụ cụ thể của chính mình ).
Câu 18
Người chồng nên thực hiện những bước nào để tế nhị đối với vợ (Nếu thích hợp xin cá nhân hóa ).
Bài tập 5
Là một người chồng, hãy đánh giá tình yêu của bạn dành cho vợ mình theo gương của Đấng Christ. Bạn có thấy một số lãnh vực nào đó mà bạn ích kỷ và không thực hiện trách nhiệm của mình không? Xin liệt kê những lãnh vực này và với mỗi lãnh vực hãy liệt kê một hoạt động đặc biệt bạn có thể thể hiện để bắt đầu thực hiện trách nhiệm của mình một cách trọn vẹn hơn.
Hãy cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ cho những thất bại của bạn trong khi thực hiện mạng lịnh Ngài (IGi1Ga 1:9) đã ban cho bạn trong Eph Ep 5:25-33; CoCl 3:19 và IPhi 1Pr 3:7. Cũng hãy xin vợ tha thứ cho mình. Hứa nguyện một lần nữa trước Chúa là sẽ yêu vợ mình như Đấng Christ đã yêu Hội thánh (ITe1Tx 5:24). Hãy chia xẻ hứa nguyện này với vợ.
(Việc viết ra lời xưng tội và hứa nguyện của mình trên từng trang giấy sẽ giúp bạn có thể nói chính xác những gì bạn muốn nói).
Bài tập 6
Chúng ta thấy người chồng được kêu gọi phải yêu vợ mình. Để tóm tắt những phẩm chất của tình yêu này, hãy viết vài đoạn văn giải thích điều đó. Hãy viết bài dựa trên Eph Ep 5:18-33; CoCl 3:12-21 IPhi 1Pr 3:1-7.
Kết Luận
Kinh thánh đã nói rất rõ ràng về vai trò và trách nhiệm của người chồng đối với vợ. Người chồng là đầu của cả gia đình, vì thế anh ta phải dẫn dắt, nuôi dưỡng, bảo vệ và hướng dẫn vợ mình. Cương vị làm đầu này được bày tỏ qua trách nhiệm cơ bản là phải yêu vợ mình như Đấng Christ đã yêu Hội thánh. Nhờ Chúa Thánh Linh, người chồng có thể dẫn dắt vợ mình trong mối quan hệ làm mãn nguyện lẫn nhau.
Hôn Nhân của bạn được sánh như thế nào với Mẫu Hôn Nhân của Chúa? Sau khi làm xong tất cả các bài tập, hãy hoàn thành phương án áp dụng được tìm thấy ở cuối bài học này với vợ của bạn.
Dự án 8
Đánh giá những phẩm chất của người chồng.
Đối với học viên đã lập gia đình
Chồng: Hãy làm bảng kiểm tra sau đây, hãy tự kiểm tra chính mình trong mỗi câu. Vợ của bạn sẽ tự kiểm tra trên tờ giấy khác giống như của bạn và đánh dấu những gì mà cô ấy nghĩ là bạn sẽ trả lời. Trong suốt khoảng thời gian đặc biệt bên nhau đó, hãy đối chiếu hai bảng kiểm tra và ghi nhớ những lãnh vực có khả năng xuất hiện sự xung đột hay bất đồng ý kiến. Hãy cùng chọn ra một lãnh vực cả hai đều đồng ý nghiên cứu và phát huy lãnh vực đó.

Bảng kiểm tra của người chồng
Những câu sau đây được đặt ra để giúp bạn đánh giá thái độ và hành động đối với vợ mình.
Thường (T)
Đôi khi (Đ)
Ít khi (I)
Không bao giờ (K)
Tôi sẵn lòng từ bỏ đều tôi muốn làm để làm điều vợ tôi muốn làm.
Tôi lập thời gian biểu để tôi có thì giờ dành riêng cho cô ấy.
Tôi rất lịch sự và luôn đối xử với cô ấy như một qúi bà.
Tôi làm những điều trong khả năng để cô ấy biết rằng tôi thường nghĩ đến cô ấy.
Tôi thường lắng nghe những lời than phiền của cô ấy không chút chống đối.
Tôi thường tâm sự về những gì tôi đang làm, những nơi tôi sắp đi, công việc hằng ngày của mình.
Tôi trở nên quan tâm đến các con của tôi.
Tôi giúp vợ làm công việc nhà.
Tôi tìm dịp tiện cho cô ấy rời khỏi nhà hoặc tách khỏi nhịp sống thường nhật - một mình hoặc với các bạn cô ấy.
Tôi cương quyết dành ra thời gian cho chỉ hai chúng tôi với nhau mà thôi.
Tôi bày tỏ sự ghen tỵ đối với các bạn của cô ấy.
Tôi hét vào mặt, khuấy rối, hay ra lệnh cho cô ấy cách vô lý.
Tôi dẫn dắt vợ và gia đình tôi trong vấn đề thuộc linh.
Tôi để cho điều khác làm cản trở mối quan hệ của tôi đối với vợ và gia đình.
Hãy nêu ngắn gọn những lĩnh vực có khả năng gây xung đột hay bất đồng ý kiến:
1.
2.
3.
4.
5.
Bảng kiểm tra của người chồng (dành cho người vợ )
Những câu sau đây nhằm giúp chồng bạn đánh giá thái độ và hành động của anh ấy. Theo bạn , anh ấy sẽ cho điểm mình như thế nào ?
Thường
(Đ) Đôi khi
Ít khi
Không bao giờ
Tôi sẵn lòng từ bỏ điều tôi muốn làm để làm điều vợ tôi muốn làm.
Tôi lập thời gian biểu để tôi có thì giờ dành cho cô ấy.
Tôi rất lịch sự và luôn đối xử với cô ấy như một qúi bà.
Tôi làm những điều trong khả năng để cô ấy biết rằng tôi thường nghĩ đến cô ấy.
Tôi thường lắng nghe những lời than phiền của cô ấy không chút chống đối.
Tôi thường tâm sự về những gì tôi đang làm, những nơi tôi sắp đi, công việc hằng ngày của mình.
Tôi trở nên quan tâm đến các con của tôi.
Tôi giúp vợ làm công việc nhà.
Tôi tìm dịp tiện cho cô ấy rời khỏi nhà hoặc tách khỏi nhịp sống thường nhật - một mình hoặc với các bạn cô ấy.
Tôi cương quyết dành ra thời gian cho chỉ hai chúng tôi với nhau mà thôi.
Tôi bày tỏ sự ghen tỵ đối với các bạn của cô ấy.
Tôi hét vào mặt, khuấy rối, hay ra lệnh cho cô ấy các vô lý.
Tôi dẫn dắt vợ và gia đình tôi trong vấn đề thuộc linh.
Tôi để cho điều khác làm cản trở mối quan hệ của tôi đối với vợ và gia đình.
Hãy nêu ngắn gọn những lĩnh vực có khả năng gây xung đột hay bất đồng.
1.
2
3.
4.
5.

TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI
Câu 1
Trong Thi Tv 33:20 Đức Chúa Trời được xem như “sự tiếp trợ” của chúng tôi. Vì thế “người giúp đỡ” không có nghĩa là một người thấp kém hơn.
Hơn nữa trong 63:7, Đức Chúa Trời là “sự giúp đỡ của tôi”. Trong 146:5 Đức Chúa Trời là “sự giúp đỡ” của một người. Khi một người đánh giá tất cả những kết quả của việc Đức Chúa Trời trở nên “một người giúp đỡ”, người đó có thể thấy ngay rằng làm một “người giúp đỡ” không đồng nghĩa với việc làm một người thấp kém hơn.
Câu 2
Câu trả lời của bạn. Thật là sai khi tranh cãi giành quyền cai trị cho nam giới như một ơn phước và như cách mà Đức Chúa Trời tạo dựng người nam và người nữ. Có một thế giới khác biệt giữa lãnh đạo và thống trị.
Câu 3
Sẽ là tà giáo nếu cho rằng Đấng Christ thấp hơn Đức Chúa Cha trong mối quan hệ của Ngài đối với cha. Sự khác biệt về chức năng không có ý nói là người cao hơn/ người thấp hơn. Tương tự như thế, người chồng với cương vị làm đầu vợ mình không có nghĩa là người chồng là người cao hơn (những khúc Kinh thánh khác phủ nhận sự bất bình đẳng ấy) nhưng là chức năng của họ trong mối quan hệ khác nhau.
Câu 4
Trong Eph Ep 5:18 chúng ta được bảo phải “đầy dẫy Đức Thánh Linh” và trong 5:21 phải “Kính sợ Đấng Christ mà vâng phục nhau”.
Câu 5
Trong đoạn Kinh thánh tiếp theo việc Phaolô dạy về các mối quan hệ, Phaolô dạy cách làm mạnh dạn trong Chúa - bằng cách mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời.
Câu 6
Theo văn cảnh, thì hai suy nghĩ của Phaolô trong 5:22-33 đã được khởi xướng khi ông đề cập đến sự vâng phục của chúng ta với nhau (câu 21). Vâng phục lẫn nhau được đề cập trong bối cảnh được đầy dẫy Thánh Linh, nghĩa là bước đi trong Thánh Linh, tập chú về những điều thuộc về Đức Thánh Linh và nương cậy vào quyền năng và bông trái của Đức Thánh Linh. Một người chồng thật sự yêu, và một người vợ sẵn lòng vâng phục phải được đầy dẫy những điều thuộc về Đức Thánh Linh.
Tương tự như thế, Phaolô nói tiếp trong chương 6:10-20 về cuộc chiến tâm linh, và Satan chắc chắn sẽ tấn công vào gia đình. Do đó, chúng ta cần phải mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời để làm cho mình mạnh mẽ và tự bảo vệ khỏi sự tấn công của ma qủi nếu chúng ta muốn đạt được thành công trong Hôn Nhân. Rồi 5:18-21 mô tả tội lỗi thuộc linh và 6:10-20 mô tả sự phòng thủ thuộc linh trong quá trình thực hiện khuôn mẫu của Đức Chúa Trời dành cho Hôn Nhân - thành công chỉ có thể đến khi nào chúng ta biết sử dụng nguồn lực của Chúa Thánh Linh.
Câu 7
Không. Người chồng được yêu cầu phải thực hiện những trách nhiệm của mình bất chấp thái độ của vợ mình như thế nào. Đấng Christ đã phó chính mình Ngài cho những người khác, là những người đã chết trong tội lỗi mình, có khuynh hướng chống đối với Ngài, và sống theo thói đời. 5:25 khuyến khích chồng phải yêu vợ mình và phó chính mình vì vợ như Đấng Christ đối với Hội thánh vậy. Nếu những việc làm của Đấng Christ dựa trên những gì xứng đáng thì Ngài chắc sẽ không phó mạng sống của chính Ngài.
Câu 8
Câu trả lời của bạn. Sau đây là những câu trả lời đề nghị:
Phó chính mình vì những nhu cầu của vợ, nếu cần thiết thì người chồng có thể chết vì vợ mình.
Dẫn dắt vợ trong quá trình tăng trưởng thuộc linh.
Giúp vợ gặp Chúa như một người trưởng thành và trọn vẹn.
Câu 9
Câu trả lời của bạn. Chúng ta phải định nghĩa từ “nuôi nấng” và “săn sóc” khi liên hệ với vai trò của người chồng như sau:
Nuôi nấng: tôi sẽ làm tất cả những gì tôi có thể để đóng góp vào sự tăng trưởng và sức khoẻ toàn diện của cô ấy.
Săn sóc: tôi sẽ tôn trọng cô ấy, bày tỏ sự quan tâm và yêu thương, làm tất cả những gì tôi có thể để tránh làm tổn thương hoặc làm cho cuộc sống cô ấy khó khăn.
Câu 10
Câu trả lời của bạn. Một câu trả lời đề nghị là: bởi vì tôi trở nên một thịt với vợ của tôi, tôi nên xem cô ấy như là một phần của chính tôi và tôi đối xử với cô ấy như tôi muốn mình cũng được đối xử như vậy.
Câu 11
Không. Nếu người chồng theo gương của Đấng Christ là nuôi nấng và chăm sóc thân thể, người chồng sẽ quan tâm đến vợ và trân trọng những ý kiến của vợ mình - khi thực hiện một quyết định cuối cùng, người chồng sẽ thực hiện quyết định đó, trong đó có sự đánh giá góp ý của vợ mình.
Câu 12
Chúa Jêsus đã lãnh đạo bằng sự phục vụ. Trong ví dụ này Ngài rửa chơn cho các môn đồ và giải thích rằng Ngài làm điều này để làm gương cho họ. Là một người chồng lãnh đạo vợ mình, hay “làm đầu vợ mình”, người chồng cũng nên theo gương phục vụ của Đấng Christ.
Câu 13
Câu trả lời của bạn phải nêu được những phương cách đặc biệt, trong đó người chồng có thể phục vụ, như là giúp đỡ công việc nhà, nhận trách nhiệm dạy dỗ con cái, làm điều gì đó có ý nghĩa dù không phải bổn phận của mình.
Câu 14
Một người chồng yêu vợ như Đấng Christ yêu Hội thánh và yêu vợ như chính thân mình sẽ quan tâm đến những nhu cầu của vợ mình nhiều hơn là áp dụng quyền hạn của mình hay làm theo đường lối của mình - Cả hai hình thức phản ứng này đều phản ánh với phần thiệt thòi về phía vợ và mâu thuẫn với sự dạy dỗ của Phaolô.
Câu 15
Câu trả lời của bạn. Một người chồng có thể tôn trọng vợ mình theo những cách sau đây:
Quan tâm đến sự tăng trưởng thuộc linh của cô ấy.
Tôn trọng ý kiến và quan điểm của cô ấy.
Học hỏi kinh nghiệm của cô ấy với Đấng Christ.
Đối xử bình đẳng với cô ấy.
Câu 16
Câu trả lời của bạn phải bao gồm những ý chính sau đây:
Người chồng phải hiểu vợ và đáp ứng những nhu cầu của vợ mình.
Chồng phải xem vợ là người bình đẳng về phương diện thuộc linh.
Nếu thất bại không thể làm được điều này sẽ làm cản trở sự hiệp nhất và sự tăng trưởng thuộc linh.
Câu 17
Câu trả lời của bạn, chỉ ra những lãnh vực trong đó người chồng thường thiếu sự tế nhị, sẽ bao gồm:
Nhu cầu của người vợ cần nghỉ ngơi và yên tĩnh không muốn sự quấy phá của con trẻ và những việc lặt vặt.
Nhu cầu của người vợ muốn là một phần trong cuộc đời và công việc của người chồng.
Sự mệt mỏi phát sinh khi làm việc nhà, giữ con, nấu nướng, lau nhà.
Nhu cầu tăng trưởng tâm linh.
Nhu cầu thể hiện chính mình trong công tác phục vụ Chúa.
Câu 18
Vài đề nghị để bạn trong vai trò người chồng có thể trở nên tế nhị hơn với vợ là:
Dành nhiều thời gian hơn để cầu nguyện với vợ.
Chia xẻ những hy vọng, ước mơ và những nhu cầu của mình với vợ.
Giữ con dùm vợ để vợ nghỉ ngơi.
Giúp vợ làm những công việc lặt vặt trong nhà.
Dành thời gian để vui hưởng sự có mặt của nhau.
Giúp vợ tìm được sức mạnh trong công tác phục vụ Chúa và sắp xếp thời gian cũng như dịp tiện để vợ làm được điều đó.

Bài 8: NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA MỘT NGƯỜI VỢ TIN KÍNH
Trong bài học này chúng ta sẽ nghiên cứu sự dạy dỗ của Thánh Kinh về vai trò của người vợ. Mục tiêu của chúng ta là cung cấp không những chỉ sự hiểu biết cách một người vợ phải quan hệ với chồng mình như thế nào , nhưng phải thúc đẩy tất cả các bạn là những người vợ phải vâng phục theo như cách Đức Chúa Trời đã thiết lập cho Hôn Nhân. Người chồng cũng cần phải hiểu vai trò của người vợ và cần phải quan tâm khuyến khích vợ mình thực hiện vai trò đó hay cách quan hệ trong Hôn Nhân. Điều này đòi hỏi sự trưởng thành của cả hai bên.
DÀN BÀI
Vai trò của người phụ nữ trong Tân ước
Thái độ của Chúa Jêsus đối với phụ nữ.
Sự dạy dỗ của các thơ tín về phụ nữ.
Tóm tắt
Trách nhiệm cơ bản của người vợ đối với người chồng của mình.
Cách vâng phục: Eph Ep 5:22-33.
Những chỉ dẫn cho sự vâng phục: IPhi 1Pr 3:1-6
Kết luận
MỤC TIÊU BÀI HỌC
Khi học xong bài này, bạn sẽ có thể:
Viết một đoạn văn giải thích địa vị của người phụ nữ trước Đức Chúa Trời.
Định nghĩa thuật ngữ “sự vâng phục” được dùng trong Kinh thánh Tân ước.
Xác định những đoạn Kinh thánh và chìa khóa đề cập đến vai trò, hoặc cách quan hệ và phẩm chất của người vợ, cho biết nguyên tắc chủ yếu và những tài liệu tham khảo phụ.
Bày tỏ sự hứa nguyện sẽ ứng dụng bài học này bằng cách hoàn thành sự án 9.
Trong bài học trước chúng ta đã thảo luận với nhau sự tạo dựng nên người nam và người nữ và hậu quả tội lỗi của họ trong vườn Êđen. Xin đọc lại phần “khuôn khổ khảo sát mối quan hệ vợ chồng” trước khi tiếp tục với bài học này.
Trong sự trừng phạt của Đức Chúa Trời đối với người nữ, sự đấu tranh giành quyền lực giữa người nam và người nữ đã được giới thiệu. Chính nhân tố này hầu như đã trở thành điểm tập trung của hầu hết các cuộc thảo luận, bởi vì nó liên quan đến sự hiểu lầm hay sự tranh đấu cho những người vợ.
Bài tập 1
Khi nghiên cứu xong bài học này, hãy triển khai một dàn bài cơ bản cho việc dạy về những đặc tính của một người vợ tin kính. Hãy sử dụng những tiêu đề và những tựa đề của bài học làm những điểm chính trong dàn bài của mình. Dùng những cụm từ hoặc những câu chứa đựng những ý chính và chứng minh những ý chính đó bằng những đoạn Kinh thánh tham khảo. Chuẩn bị chia xẻ những tài liệu tham khảo của bạn trong suốt khóa học.
Sự kiện Đức Chúa Trời đã phong cho người chồng làm đầu vợ mình thường bị lu mờ vì có quá nhiều sự lạm dụng nguyên tắc này trong quá khứ (và ngày nay vẫn còn tiếp tục xảy ra). Những người đàn ông tội lỗi đã áp dụng nguyên tắc này cách sai lầm để phục vụ cho những mục đích của chính mình. Thông thường, ngay cả trong xứ Do thái, người ta đối xử với phụ nữ bằng thái độ ít hoặc không tôn trọng chút nào và xem những người vợ chỉ là vật sở hữu mà thôi.
Trước tiên, chúng ta phải nhận biết rằng nguyên tắc của Đức Chúa Trời không có gì sai lầm khi đề cập đến cương vị làm đầu vợ mình của người chồng cả. Ngài đã định sẵn điều này để đem lại sự tốt lành cho cả người nam và người nữ. Đức Chúa Trời không bao giờ nói rằng giá trị của người nữ thấp hơn người nam (Thật ra họ phải cùng nhau quản trị tất cả các tạo vật khác - SaSt 1:28). Hơn nữa, có sự khác biệt về vai trò của họ trong mối quan hệ với nhau. Người nam phải rèn luyện sự lãnh đạo người nữ và người nữ phải ủng hộ và thông cảm với người nam.
Vai Trò Của Người Phụ Nữ Trong Tân Ước
Thái độ của Chúa Jêsus đối với người phụ nữ.-
Một trong những thực tế gây ấn tượng trong cuộc đời của Đấng Christ là Ngài đã đối xử với phụ nữ cách tôn trọng. Luca kể lại cho chúng ta rằng có nhiều phụ nữ đã cùng đi với Chúa Jêsus và 12 môn đồ. (LuLc 8:1-3). Theo lệ thường của các rabi Do thái thời ấy thì điều nầy là một sự lệch lạc cơ bản. Các rabi không bao giờ nhận phụ nữ làm môn đồ của mình, vì họ đánh giá rằng phụ nữ không thể hiểu và không xứng đáng nghe họ giảng dạy. Cuộc nói chuyện giữa Chúa Jêsus và người đàn bà Samari đã làm các môn đồ rất đỗi ngạc nhiên (GiGa 4:27) bởi vì người nam không thường xem phụ nữ là ngang hàng. Thật là ý nghĩa khi Giăng chọn đề cập đến sự kiện mấy người đàn ông Samari cảm thấy bị thôi thúc, sau khi nghe giảng về sự giảng dạy của Chúa Jêsus, phải nói với người đàn bà rằng: “Bây giờ không phải vì nghe chị nói mà chúng tôi tin đâu” (4:42).
Từ những đoạn Kinh thánh này hay những đoạn Kinh thánh khác, chúng ta có thể thấy rằng những người phụ nữ có thể tiếp cận Chúa Jêsus. Họ cảm thấy rất thỏa mái khi ở trong sự hiện diện của Ngài, khi trò chuyện với Ngài, mặc dù Ngài là một người nam và là một rabi.
Câu 1
Hãy đọc hai đoạn Kinh thánh sau đây. Theo bạn thì những người phụ nữ này cảm thấy như thế nào sau cuộc gặp gỡ tình cờ giữa họ với Chúa Jêsus?
Mat Mt 15:22-28
LuLc 7:36-50
Khi chúng ta nhìn vào Tân ước, chúng ta có thể học hỏi nhiều qua sự đối xử của Chúa Jêsus đối với những người phụ nữ. Đấng Christ rất ưu ái phụ nữ trong các câu chuyện ngụ ngôn của Ngài (LuLc 15:8-10), dạy dỗ họ (10:39), tìm họ để trò chuyện và xem họ như những người bạn của Ngài (ví dụ như Mari và Mathê, 10:38-42 GiGa 11:1-44) và nhận sự trợ giúp tài chánh của họ để lo cho công tác của Ngài (8:1-3). Phụ nữ cũng như những người nam đã phụ Chúa Jêsus trong chức vụ của Ngài được kể là những người bạn thân và là những môn đồ thân cận nhất - Đặc biệt hãy chú ý những người theo Chúa Jêsus bao gồm cả những người nữ độc thân và những người đã có gia đình. Chúa Jêsus không đối xử với những người độc thân (ví dụ như Mari và Mathê) như thấp kém hơn những người phụ nữ đã có chồng. Ngài đã đối xử với những người phụ nữ với một sự tôn trọng chưa từng nghe nói trong thời kỳ Cựu ước hay trong thời bấy giờ. Chẳng ngạc nhiên gì khi Phaolô sau đó bình luận rằng:
“Tại đây không còn chia ra người Giuđa hoặc người Gờréc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đờn ông hoặc đờn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một. Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Ápraham tức là kẻ kế tự theo lời hứa ” (GaGl 3:28-29) (Nhấn mạnh đến trường hợp của chúng ta )
Thật khó để mô tả đầy đủ sự tương phản hoàn toàn giữa thái độ của Chúa Jêsus đối với phụ nữ và thái độ của các rabi thời ấy. Chúa Jêsus công nhận tư cách của những người phụ nữ đã bị che giấu qua hàng bao thế kỷ do sự lạm dụng của tội lỗi trên kế hoạch mà Đức Chúa Trời dành cho họ.
Sự dạy dỗ của các thư tín về phụ nữ
Giá trị và tư cách của phụ nữ cũng rất rõ ràng trong các thư tín Tân ước, trong đó có những nguyên tắc chỉ đạo trong cuộc sống trong Hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ.
Xin trả lời những câu hỏi sau về vai trò của phụ nữ trong các thư tín
Câu 2
Qua những câu Kinh thánh sau đây bạn có ấn tượng gì về vai trò của người phụ nữ đã đóng góp để xây dựng nước Đức Chúa Trời qua công việc trong Hội thánh? Dưạ trên những câu Kinh thánh ấy cho biết thái độ đáng phải có của nam giới trong Hội thánh đối với phụ nữ.
GaGl 3:28
Eph Ep 4:1-7 (Thừa nhận rằng những phụ nữ cũng bao gồm trong thân thể)
ICo1Cr 12:12-31
RoRm 16:1-27 cũng là một đoạn Kinh thánh đặc biệt về vai trò của người phụ nữ. Xin lưu ý rằng trong chương này 8 trong số 26 người Phaolô đã lựa chọn để khen ngợi đều là phụ nữ. Rõ ràng là Phaolô xem họ như là những người bạn và chăm sóc giúp đỡ họ như chăm sóc giúp đỡ những người đàn ông.
Charles Ryrie phát biểu rằng:
Số lần mà những người phụ nữ xuất sắc được nhắc đến khi tường thuật về sự thành lập nhiều Hội thánh khác nhau tự nó đã gây ấn tượng. Trong nhiều trường hợp nhà của một phụ nữ là nơi nhóm họp cho Hội thánh.
Tóm tắt
Chúng ta hãy ôn lại những gì chúng ta đã học cho tới bây giờ.
Người phụ nữ không nên bị xem như là thấp hèn hơn người đàn ông theo sự mô tả của Kinh thánh.
Chúa Jêsus Christ đối xử với phụ nữ với một sự tôn trọng hoàn toàn khác biệt nền văn hóa của thời đại Ngài đang sống.
Chúa Jêsus và sứ đồ Phaolô không phân biệt giữa người nam và người nữ mà xem họ là những người có giá trị như nhau trước mặt Đức Chúa Trời.
Phụ nữ đóng góp vào sự hoạt động thân thể Đấng Christ qua những ân tứ thuộc linh của họ.
Một số phụ nữ vì có những ân tứ thuộc linh và có đời sống thánh khiết đã được kính trọng trong các Hội thánh thời Tân ước.
Bài tập 2
Hãy viết một đọan văn có tựa đề “Địa vị của người phụ nữ trước mặt Đức Chúa Trời ” để xác nhận địa vị của người phụ nữ. Dùng Kinh thánh để chứng minh cho quan điểm của bạn.
Trách nhiệm cơ bản của người vợ đối với chồng.
Dựa trên những gì chúng ta đã học, thật là sai lầm khi kết luận bất cứ điều gì khác hơn là Đức Chúa Trời dựng nên người nữ theo hình ảnh của Ngài, và hoàn toàn có giá trị ngang hàng với người nam. Tuy nhiên một điều cũng đúng khi Đức Chúa Trời dành cho người nam một người bình đẳng nhưng khác với mình - dù không thấp kém hơn - trong chức năng. Phương cách để một nữ Cơ đốc nhân hay một nam Cơ đốc nhân đạt được giá trị trọn vẹn tiềm tàng của mình như một cá thể là phải thực hiện chức năng trong mối quan hệ Hôn Nhân như lời Chúa đã chỉ dẫn.
Phaolô phác họa vị trí của người nam và người nữ trong ICo1Cr 11:3 Ông viết rằng “Đấng Christ là đầu mọi người, người đàn ông là đầu người đàn bà, và Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Christ”. Ở đây ông xác định phạm vi quyền hạn trong những mối quan hệ thiêng liêng và quan hệ của con người.
Tuy nhiên hãy chú ý rằng sự khác biệt trong địa vị không nhất thiết phải có nghĩa là sự khác biệt về phẩm chất. Sự khác biệt về chức năng không nhất thiết phải có nghĩa là giống thấp kém hơn (mặc dù tất nhiên là người đờn ông phải thấp hơn Đức Chúa Trời). Nếu một người khẳng định rằng Đấng Christ thấp hơn Đức Chúa Cha thì anh ta chắc chắn bị buộc tội tà giáo, tuy thế, trong ba ngôi Đấng Christ có chức năng khác với Đức Chúa Cha, và Ngài vâng phục ý muốn của Đức Chúa Cha khi nhập thế làm người (Phi Pl 2:3-11). Vì vậy, vị trí quyền hạn của người nam trong mối quan hệ với người nữ chắc chắn không có ngụ ý rằng người nữ thì thấp kém hơn người nam.

QUYỀN LỰC ĐỊA VỊ
Đức Chúa Trời
Đức Chúa Trời = Đấng Christ
Đấng Christ

Người nam Người nam = Người nữ


Người nữ
Trong phần tiếp theo của bài học nầy, bạn sẽ làm bài tập hướng dẫn từ hai phân đoạn Kinh thánh mô tả chi tiết những kiểu mẫu trong Thánh kinh hướng dẫn người vợ trong mối quan hệ Hôn Nhân. Những phân đoạn Kinh thánh đó là Eph Ep 5:22-33 và IPhi 1Pr 2:13-3:6;. Thơ Ephêsô tập trung vào khuôn mẫu của Đức Chúa Trời dành cho người nữ, hay những gì người vợ phải làm và I Phierơ tập trung vào cách họ phải làm điều đó như thế nào và tại sao họ phải làm như vậy.
Trước khi xem chi tiết của các câu Kinh thánh này, điều quan trọng là phải hiểu được ý nghĩa của từ chìa khoá trong cả hai phân đoạn Kinh thánh. Phierơ và Phaolô cùng sử dụng từ tương tự để mô tả người vợ trong mối quan hệ với chồng mình. Từ đó là “hypotasso ” trong Hi văn thường được dịch là “vâng phục”.
Bài tập 3
Hiện bạn đang hiểu về sự vâng phục như thế nào? Hãy viết một đoạn văn để tóm tắt những gì bạn tin rằng đó là điều Đức Chúa Trời đòi hỏi người vợ phải làm khi Ngài bảo người vợ phải vâng phục chồng mình. Xin làm bài tập này trước khi qua phần khác của bài học.
Bài tập 4
Hãy đọc những đoạn Kinh thánh sau. Trong mỗi câu từ “vâng phục ” đề cập đến điều gì? Ai vâng phục ai? Có lý do nào được đưa ra không? Người phải vâng phục có địa vị gì khi so sánh với người mà anh ta / cô ta phải vâng phục?
ICo1Cr 15:27-28
Eph Ep 5:21
HeDt 12:9
IPhi 1Pr 2:13
Cách vâng phục: Eph Ep 5:22-33
Bây giờ chúng ta hãy trở lại 5:1-33 để nghiên cứu kỹ hơn những gì Kinh thánh đã dạy về vai trò của phụ nữ có gia đình. 5:22-44, trong ngữ cảnh của 5:18-6:20 đưa ra một quan điểm đơn giản về định nghĩa và phạm vi của người vợ.
Câu 3
Để cho bạn có một sườn bài tham khảo chính xác, hãy đọc lại 5:18-6:20 và các câu trả lời trong bài học trước có liên quan đến những nội dung trong phần chỉ dẫn này. Hãy trình bày lại những điều ngụ ý trong phân đoạn Kinh thánh dạy về sự vâng phục.
Câu 4
Những lý do nào được nêu lên để người vợ phải vâng phục trong 5:23
Trong bài học trước chúng ta đã khám phá khái niệm “cương vị làm đầu” trong Hôn Nhân.
Câu 5
Gương mẫu nào được đưa ra cho “cương vị làm đầu ” trong ICo1Cr 11:3
Câu 6
Trong Hôn Nhân, Eph Ep 5:25 đặc tính nào là cơ bản để người chồng thực hiện cương vị làm đầu của mình?
Bài tập 5
Dựa trên những gì bạn đã được học cho đến bây giờ, hãy trả lời những câu hỏi sau liên quan đến sự vâng phục:
5:22, 24 thì người vợ phải vâng phục đến mức độ nào?
Phaolô đã dùng ví dụ minh họa nào để chỉ về phạm vi của sự vâng phục?
Điều đó gợi cho bạn ý gì?
Bạn có thấy nguy cơ hay nan đề có thể xảy ra khi thực hành nguyên tắc này không?
Những nguy cơ và nan đề đó là gì?
Nếu một người chồng cứ khăng khăng bảo vợ mình phải làm một điều tội lỗi nào đó thì sao?
Phaolô đã nhắm vào người chồng trong những câu tiếp theo và rồi kết luận trong câu 33 tất cả những gì mà ông đã nói cho cả người vợ lẫn người chồng. Bạnsẽ nhận thấy rằng Phaolô không sử dụng từ “vâng phục” khi kết luận. Ông nói rằng “còn vợ thì phải kính chồng” (5:33)
Câu 7
Sự kính trọng có quan hệ thế nào với sự vâng phục? Xin giải thích điều này trong 2 hoặc 3 câu.
Câu 8
Hãy xem lại Eph Ep 5:18-33 và phần định nghĩa về sự vâng phục mà lúc nãy bạn đã viết ra trong bài này (Bài tập 3). Nếu cần xem lại để thích ứng với Kinh thánh thì hãy viết lại định nghĩa đó ngay bây giờ.
Trong Êphêsô 5, những chỉ dẫn của Phaolô dành cho người vợ là phải vâng phục chồng mình bằng hành động lẫn thái độ trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Điều này phải được thực hiện như là một hành động vâng lời Đức Chúa Trời, Đấng đã ban những nhiệm vụ trong Hôn Nhân. Ghi nhớ điều này, chúng ta sẽ xem sự dạy dỗ khác của Kinh thánh Tân ước về vai trò của người vợ.
Những chỉ dẫn cho sự vâng phục: IPhi 1Pr 3:1-6
Phierơ dạy cho người vợ làm thế nào và tại sao họ phải vâng phục chồng. Hãy đọc 2:11-3:12 để xem văn cảnh sự chỉ dẫn của Phierơ cho người vợ và người chồng. Sau đó hãy hoàn thành phần nghiên cứu đề nghị sau đây trong 3:1-6
Khi bắt đầu nghiên cứu, hãy chú ý rằng theo văn cảnh cụm từ “cùng một cách ấy” (3:1) có liên quan đến 2:13 và 2:18, động từ “vâng phục” được sử dụng trong cả 3 câu này.
Câu 9
Hãy xem lại các mạng lịnh trong 2:13 2:18 , Phierơ có ý muốn nói gì khi ông nói “cùng một cách ấy ”? Ở đây có những ngụ ý nào về vai trò của người vợ (cụm từ “cùng một cách ấy ” không có trong bản dịch tiếng Việt )
Câu 10
Trong 2:21-25 ai được nêu lên như một tấm gương về sự chịu đựng nhẫn nhục (trong ngữ cảnh của mạng lịnh cho những đầy tớ trong 2:18 là phải vâng phục cả những người chủ vô lý khó chịu nữa )? Tấm gương của con người này liên hệ như thế nào với 3:1?
Câu 11
Trong 3:1 Phierơ cho biết tại sao một người vợ phải vâng phục chồng mình, ông đã nêu lên lý do gì?
Xin xem xét cẩn thận những gì Phierơ nói: “Hầu cho nếu có người chồng nào không vâng phục theo Đạo, dẫu chẳng lấy lời khuyên bảo chỉ bởi cách ăn ở của người vợ, cũng đủ hóa theo” (nhấn mạnh đến nhiệm vụ của chúng ta). “Lời khuyên bảo” hầu như chỉ đến lời của Đức Chúa Trời và “lời” chỉ đến lời nói của người vợ. Dường như Phierơ nói rằng, ngay cả trong tình huống khó khăn là người chồng vô tín và không vâng theo Lời Chúa thì người vợ cũng có thể giúp chồng tin Đạo. Cách mà người vợ phải làm không phải bằng lời nói của mình nhưng bằng những hành động kính trọng và vâng phục chồng. Người chồng không tin đạo có thể sẽ chống đối hoặc có thái độ tiêu cực với Kinh thánh và thấy không cần phải đặt mình dưới quyền lực của Thánh Kinh. Phierơ nói rằng cách dắt dẫn người này đến với Đấng Christ là người vợ phải vâng theo sự dạy dỗ của Thánh kinh trong mối quan hệ vợ chồng. Quan trọng là người vợ phải vâng theo mạng lịnh của Thánh kinh để vâng phục chồng mình.
Trong phân đoạn Kinh thánh này Phierơ tận dụng một tấm gương vĩ đại có thể áp dụng được trong nhiều tình huống. Ông ngụ ý rằng sự vâng phục đối với người vợ không phải là một gánh nặng nhưng là một phương tiện để đạt được những điều rất tốt lành trong Hôn Nhân. Nếu sự vâng phục có thể đem lại hiệu quả trong tình huống khắc nghiệt đã nêu trên thì chẳng lẽ nó không kết quả trong tình huống ít nghiêm trọng hơn sao? Chẳng lẽ cũng không kết quả để làm cho cuộc Hôn Nhân mà trong đó người nam là một tín đồ và mềm mại với lời của Đức Chúa Trời thêm tốt đẹp hơn sao?
Một “kỹ thuật” mà người vợ thường hay dùng để đạt được điều mình muốn là “càm ràm”. Đây là một cách sử dụng có thể đem lại hiệu quả nhưng cũng là một phương cách tinh vi để làm suy yếu trách nhiệm của người chồng.
Thỉnh thoảng người vợ giành quyền lãnh đạo như là một điều duy nhất có thể được dùng để vượt qua nỗi trống vắng và những nan đề mà người vợ gặp phải do sự thiếu sót trong sự lãnh đạo của người chồng. Đặc biệt là khi con cái bị ảnh hưởng, người vợ sẽ cảm thấy rối trí nếu không có sự lãnh đạo của người chồng. Đôi khi những tình huống bất thường đã đặt người chồng ơ vị trí không biết xử trí thế nào.
Nếu điều này xảy ra, thì đôi khi người vợ có thể tạm thời đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo. Tuy nhiên người vợ phải cẩn thận chớ để điều này làm mất đi thái độ vâng phục của mình - Sự lãnh đạo tạm thời rất dễ là một sự nới rộng của một động lực huỷ hoại và biến thành nguyên nhân khiến người chồng tiếp tục mất quyền lãnh đạo.
Câu 12
Có những tình huống nào trong đó người phụ nữ phải có xu hướng tạm thời lãnh đạo?
Nhiều người chồng không biết cách đảm nhận trách nhiệm. Người vợ có thể làm nhiều điều để giúp đỡ chồng mình. Thái độ không ngừng chỉ trích chắc chắn sẽ làm cho người chồng chán nản không muốn xử sự như người làm đầu gia đình nữa.
Câu 13
Hãy kể ra vài điều người vợ có thể làm để giúp đỡ chồng mình biết và muốn đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo gia đình.
Đới với nhiều người phụ nữ ngày nay, sự vâng phục có liên quan đến cuộc chiến của ý chí. Có lẽ có bà nghĩ rằng: “Tôi không thể vâng phục chồng mình bởi vì anh ta thật sự không quan tâm đến phúc lợi của tôi chút nào cả”. Hay có lẽ bà nào đó nghĩ rằng: “Tôi không thể tin tưởng vào sự phán đoán của anh ấy được”. Vấn đề là: “Tôi có sẵn sàng vâng phục Đức Chúa Trời bằng cách vâng phục chồng mình không? Cho dù tôi không tin tưởng chồng mình, tôi có thể tin rằng Chúa sử dụng sự lãnh đạo của chồng tôi không, bởi vì Ngài đã ra lịnh cho tôi phải vâng phục sự lãnh đạo đó mà?” Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ người phụ nữ nào thật lòng mong muốn vâng phục trong lãnh vực này.
Bởi vì sự vâng phục có thể là một nhiệm vụ thật đáng ngại, Phierơ giải thích cách người phụ nữ phải thực hiện nhiệm vụ vâng phục của mình. Các câu 2-4 mô tả hai phần trong tiến trình vâng phục : cách ăn ở của người phụ nữ (câu 2) và tính cách của người phụ nữ (từ 3-4)
Những chỉ dẫn cho sự vâng phục

Cách cư xử Tính cách
- Thánh sạch Chú trọng tìm kiếm những phẩm chất
- Cung kính bề trong hơn là bề ngoài
Câu 2 đề cập đến cách ăn ở hay cách cư xử của người vợ biết vâng phục có hai từ được dùng: thánh sạch và cung kính. Từ được dịch là “thánh sạch” bắt nguồn từ chữ có nghĩa là: “trong sạch, thánh khiết”. Cách ăn ở của người vợ phải được kiểm soát bằng một thái độ trong sạch. Người vợ phải phấn đấu để luôn giữ cho những động cơ và hành động của mình hoàn toàn trong sạch. Trang phục không nên khêu gợi quyến rũ, người vợ cũng không lả lơi, tán tỉnh ai, phải chứng tỏ cho mọi người thấy lòng chung thủy đối với chồng. Người vợ phải là gương mẫu tinh sạch. Mong ước của người vợ phải hướng về chồng mình. Khi người vợ thực thi vai trò nầy thì người chồng sẽ biết được, những người khác cũng biết rõ điều đó và chính vì điều đó mà người chồng sẽ trở nên tốt hơn. (Phi Pl 4:8 Tit Tt 2:4-5 Gia Gc 3:17)
Từ được dịch là “cung kính” trong câu 2 xuất phát từ chữ thường được dịch là “kính sợ” như trong “kính sợ Chúa” (Cong Cv 9:31 RoRm 13:7 Eph Ep 6:5). Phierơ cũng dạy những người đầy tớ phải kính trọng cũng như vâng phục chủ mình (IPhi 1Pr 2:18). Một trong những điều quan trọng nhất mà người chồng mong muốn ở vợ mình là sự kính trọng. Chúng ta đã thấy trong cả hai phân đoạn Kinh thánh chính đều đề cập đến vai trò của người vợ. Nói đơn giản hơn là sự vâng phục mà không kính trọng thì không phải là sự vâng phục Thánh kinh dạy dỗ. Có nhiều cách để một người tỏ ra chấp nhận những gì mà người chồng muốn, trong khi vẫn bày tỏ rõ ràng sự cay đắng và bất phục.
Ngay cả ngoài thái độ vâng phục, điều quan trọng là người vợ phải bày tỏ sự kính trọng chồng mình. Một người đàn ông có thể có được sự tuyên dương của các đồng nghiệp mình, bà con mình, hàng xóm mình hay Hội thánh mình, nhưng dường như điều này không có ý nghĩa gì đối với ông ta nếu biết rằng vợ ông không kính trọng ông. Nếu người vợ luôn nghi ngờ sự khôn ngoan trong những quyết định của ông, nói xấu ông với những người khác, so sánh ông với chồng của người hàng xóm và vân vân, ông ta sẽ nhận thấy một thông điệp rõ ràng là: vợ ông không kính trọng ông.
Sự kính trọng là một phần chính yếu trong sự chăm sóc của người vợ đối với chồng mình.
Câu 14
Hãy viết 2 hoặc 3 đoạn văn tóm tắt những gì bạn đã học được từ IPhi 1Pr 3:2. Xin trả lời câu hỏi: người vợ nên có cách ăn ở như thế nào theo 3:2?
Câu 15
Những cách cư xử tốt đẹp này - thánh sạch và cung kính - có liên hệ đến sự vâng phục như thế nào?
Đặc tính vâng phục của người vợ là chủ đề thảo luận tiếp theo của Phierơ trong câu 3 và câu 4. Ở đây ông so sánh những điều người vợ nên ưu tiên và những điều không nên ưu tiên. Người vợ phải tìm kiếm những phẩm chất bề trong, không phải tìm kiếm trang sức bề ngoài cho hình dáng của mình. Xin đừng bỏ qua sự kiện Phierơ đang bàn đến là sự chú trọng ; nếu không chúng ta sẽ kết luận rằng phụ nữ không thể mặc áo quần.
Câu 16
Viết lại câu 3 bằng lời của mình. Taị sao bạn lại nghĩ rằng Phierơ bảo phụ nữ không nên quá chú trọng đến sự trang sức bên ngoài? Có phải câu Kinh thánh này dạy rằng trở nên hấp dẫn là điều sai trái không? Tại sao có và tại sao không?
Câu 4 giới thiệu phương diện tích cực - “con người bên trong giấu ở trong lòng” phải là sự trang sức quan trọng nhất của người phụ nữ. Con người bề trong này là bản chất nội tại với giá trị thuộc linh và tính cách tin kính. Việc phát huy những bản chất nội tại nầy là những gì mà một phụ nữ tin kính cần phải tìm kiếm.
Câu 17
Quan điểm của Phierơ là gì khi sử dụng từ “chẳng hư nát” trong câu 4? Bạn hiểu thêm được điều gì về mối liên hệ giữa sự tìm kiếm tiêu cực trong câu 3 và sự tìm kiếm tích cực trong câu 4?
Trong câu 4 chúng ta được dạy dỗ rằng tâm thần của người vợ phải “dịu dàng” và “im lặng”. Vì Đấng Christ đã mô tả chính mình là dịu dàng, nên thật là sai lầm khi coi sự dịu dàng ngang với yếu ớt. Dịu dàng (đôi khi được dịch là nhu mì ) nghĩa là “không tìm kiếm ý muốn hay phương pháp của chính mình” - Phierơ đang kêu gọi một thái độ ân cần, hay sự dịu dàng của một người nào đó đủ nghị lực để có thể chịu nhường mà không cần lúc nào cũng cố chứng minh một điều gì cả.
Một “tâm thần im lặng” nói lên một cuộc sống hòa thuận, ít ồn ào. Điều đó gợi lên một cuộc sống hòa thuận và tĩnh lặng (ChCn 21:9, 19). Phierơ nói về một người phụ nữ luôn tin quyết trong mối tương giao của mình với Đức Chúa Trời. Tâm thần tĩnh lặng của bà ấy xuất phát từ sự tin cậy nơi Ngài.
“Sự dịu dàng” có liên quan nhiều với cách một người liên hệ với người khác trong môi trường của mình, trong khi đó “một tâm thần tĩnh lặng” liên hệ nhiều hơn đến cách một người đối phó với bản thân trong điều kiện sống của mình.
Câu 18
Mỗi một phẩm chất này đóng góp trong việc làm cho người phụ nữ trở nên hấp dẫn hơn với những người khác và với Đức Chúa Trời như thế nào?
Như chúng ta đã phản ánh trong phần “cách vâng phục” và “những chỉ dẫn cho sự vâng phục” thật quan trọng khi tự đánh giá bản thân dựa trên phần Thánh Kinh chúng ta vừa nghiên cứu. Khi trả lời tiếp những câu hỏi sau, hãy trả lời theo quan điểm của bạn như là một người chồng hoặc một người vợ.
Câu 19
Hãy liệt kê những tình huống mà người vợ rất khó có thái độ vâng phục và kính trọng chồng.
Câu 20
Khi người vợ trung tín vâng phục chồng mình, điều này có đảm bảo rằng người chồng sẽ thay đổi không? Người vợ phải tìm cách thể hiện nguyên tắc này trong cuộc đời mình bao lâu? Làm sao người vợ có thể làm được điều này (IPhi 1Pr 2:23)?
Bài tập 6
Đối với người vợ: xin đánh giá sự đáp ứng của bạn đối với tình yêu của chồng theo gương và mạng lịnh của Đấng Christ. Bạn có nhận thấy có những lãnh vực ích kỷ nào khiến bạn chưa thực hiện trách nhiệm của mình không? Hãy liệt kê những lãnh vực này ra. Đối với mỗi lãnh vực xin ghi ra một hành động đặc biệt bạn có thể thực hiện để hoàn thành trách nhiệm của bạn cách tương xứng hơn.
Đối với người chồng: hãy đánh giá sự lãnh đạo trong Hôn Nhân của bạn. Có phải bạn đã lãnh đạo dựa nền tảng trên tình yêu thương như tình yêu thương của Đấng Christ không? Sự lãnh đạo của bạn có ích kỷ hoặc vô tâm không? Bạn có cảm thấy hay ý thức được rằng vợ của bạn gặp khó khăn khi vâng phục sự lãnh đạo của bạn không? Xin nêu ra những lãnh vực khiến sự vâng phục của cô ấy trở thành một nan đề. Đối với mỗi lãnh vực cho biết thái độ và cách “lãnh đạo”của bạn. Đối với mỗi lãnh vực xin ghi ra một hành động khác và/ hoặc một thái độ khác mà bạn có thể bày tỏ để sự vâng phục của vợ bạn có thể trở nên một sự đáp ứng đối với sự lãnh đạo đầy tình yêu thương của bạn.
Đối với vợ và chồng: Hãy cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ cho bạn về thất baị trong khi thực hiện mạng lịnh của Ngài trong Eph Ep 5:21-33. Cũng xin người bạn đời của bạn tha thứ cho bạn. Hãy hứa nguyện trước Chúa rằng sẽ thực hiện những khuôn mẫu của Ngài cho những mối quan hệ Hôn Nhân. Hãy chia xẻ sự hứa nguyện này với người bạn đời của mình. (Viết ra sự xưng tội và sự hứa nguyện này với người bạn đời của mình trước sẽ giúp cho bạn cẩn thận nghĩ ra điều bạn muốn nói cách chính xác).
Có điều cuối cùng cần lưu ý. Làm thế nào để một người chồng có thể khuyến khích vợ thực hiện nhiệm vụ vâng phục theo sự dạy dỗ của Thánh kinh? Để sự vâng phục đúng theo sự dạy dỗ của Thánh kinh phải do lòng tự nguyện. Diễn thuyết cho vợ về nhiệm vụ của cô ấy sẽ không đem lại ích lợi gì. Một người không thể đòi hỏi sự vâng phục.
Tuy nhiên, là một người chồng bạn có thể gợi ý sự vâng phục theo những cách sau đây:
Khuyến khích vợ mình hoàn thành vị trí Đức Chúa Trời đã ban cho cô ấy qua tấm gương của chính bạn, đó là trở nên một người chồng tốt như Đức Chúa Trời muốn bạn phải làm vậy.
Mời vợ cùng học chung với bạn những bài học về những đặc tính của một người chồng (và một người vợ) tin kính. Ví dụ bạn sẽ cùng thảo luận về những bổn phận của cả vợ lẫn chồng, nên điều đó sẽ chẳng làm cho cô ấy e ngại là chỉ học bổn phận của người vợ mà thôi.
Đừng quên năng lực đặc biệt của sự khen ngợi. Ví dụ như, khi vợ bạn vâng phục quyết định của bạn, mặc dù bạn biết là cô ấy không đồng ý, hãy nhớ nói với cô ấy rằng bạn rất cảm kích sự tôn trọng của cô ấy đối với quyết định của bạn.
Hãy nhớ cầu nguyện. Hãy cầu xin Ân điển của Đức Chúa Trời cho cả hai vợ chồng cùng mong muốn vâng theo kế hoạch của Đức Chúa Trời về vai trò của các bạn trong Hôn Nhân.
Kết luận
Đặc điểm cơ bản trong bổn phận của người vợ theo Thánh kinh là vâng phục chồng mình. Trong hầu hết các nước phát triển trên thế giới quan niệm này ngày nay bị nhạo báng là lỗi thời hay là đàn áp. Tuy vậy chân lý của Kinh thánh vẫn đang thật sự giải phóng! Phụ nữ có địa vị bình đẳng với nam giới trước mặt Đức Chúa Trời và không thể được xem là người thấp kém hơn trong bất cứ lãnh vực nào. Đức Chúa Trời đang đòi hỏi một con người hoàn toàn bình đẳng, người nữ mà Ngài tạo nên theo hình ảnh của Ngài và là người chia xẻ với người nam trong việc quản trị trái đất, vâng phục “đầu” mình, tức là chồng của mình. Như Đấng Christ, vua trên muôn vua và Chúa trên muôn Chúa, Đấng sáng tạo nên cả vũ trụ, vâng phục nhưng không thấp kém hơn đầu mình (Đức Chúa Cha), vì thế người vợ phải vâng phục trong vai trò của mình, mặc dù không thấp kém hơn.
Trong thế kỷ đầu tiên, người vợ phải có bổn phận với chồng mình là điều bình thường. Tuy nhiên sự dạy dỗ của Kinh thánh Tân ước về những bổn phận của người chồng có thể xem như triệt để. Chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng vì người vợ phải vâng phục chồng mà người chồng có một địa vị đặc quyền thoải mái hơn. Không những người chồng phải có bổn phận với vợ, mà nó còn được xem như tiêu chuẩn cao nhất: chính Đấng Christ là khuôn mẫu của người chồng trong cương vị làm đầu đầy tình yêu thương. Còn có ý tưởng nào cao quý hơn trong Hôn Nhân không?
Tóm lại, chúng ta cần vài lời để mô tả chân lý cơ bản của Thánh kinh về vai trò của người vợ và vai trò của người chồng. Trong khi có rất nhiều khía cạnh khác liên quan đến Hôn Nhân (đặc biệt trong vấn đề nuôi dạy con cái), Kinh thánh tập trung vào một trách nhiệm chủ yếu cho người phối ngẫu đối với người khác trong gia đình. Chồng phải yêu vợ mình như Đấng Christ đã yêu Hội thánh. Vợ phải vâng phục và kính trọng chồng. Thế gian nầy sẽ không thể làm gì khác hơn là chú ý đến cuộc Hôn Nhân thể hiện những nguyên tắc này.
HỠI NGƯỜI LÀM CHỒNG, PHẢI YÊU VỢ MÌNH
NHƯ ĐẤNG CHRIST ĐÃ YÊU HỘI THÁNH
HỠI NGƯỜI LÀM VỢ, PHẢI VÂNG PHỤC
VÀ KÍNH TRỌNG CHỒNG

Khi chúng ta tìm kiếm sự tăng trưởng trong sự thánh khiết và tin kính chúng ta hãy nhớ những lời nói của sứ đồ Phaolô:
“Đừng để thế gian nhào nặn các bạn theo khuôn mẫu của nó, nhưng hãy để cho Đức Chúa Trời uốn nắn tâm trí các bạn từ bên trong, để các bạn có thể chứng tỏ cách cụ thể rằng chưong trình của Đức Chúa Trời dành cho bạn là tốt đẹp, đáp ứng tất cả những yêu cầu của Ngài và tiến đến mục đích là trưởng thành và chín chắn ” (RoRm 12:2, bản Philips ).
Cuộc Hôn Nhân của bạn so với những nguyên tắc Thánh kinh này về vai trò, các cách liên hệ của người vợ như thế nào? Sau khi làm xong tất cả các bài tập được chỉ định, hãy thực hành dự án 9 với người bạn đời của mình.
Dự án 9
Đánh giá những phẩm chất của người vợ.
Đối với những học viên đã lập gia đình
Vợ: Đọc qua bảng kiểm tra sau đây, hãy tự kiểm tra chính mình trong mỗi câu. Chồng của bạn sẽ kiểm tra trên một tờ giấy khác như của bạn và đánh dấu những gì những gì anh ấy nghĩ là bạn sẽ trả lời. Trong suốt khoảng thời gian đặc biệt bên nhau đó, hãy đối chiếu hai bảng kiểm tra và ghi nhớ những lãnh vực nào có khả năng gây nên sự xung đột hay bất đồng ý kiến. Hãy cùng chọn ra một lãnh vực cả hai đều đồng ý phát huy.
Bảng kiểm tra của người vợ.
Những câu sau đây được chọn ra để giúp bạn đánh giá những thái độ và hành động của bạn đối với chồng mình.
(T) Thường
(Đ) Đôi khi
(I) Ít khi
(K) không bao giờ
Tôi thấy khó tuân theo sự lãnh đạo của chồng tôi.
Tôi bày tỏ sự ghen tị đối với các bạn của anh ấy hay với nghề nghiệp của anh ấy.
Tôi phàn nàn về thời gian biểu của anh ấy.
Tôi bày tỏ sự thiếu tin tưởng nơi chồng mình.
Tôi thường làm những gì chồng tôi bảo tôi làm.
Tôi làm cho anh ấy bối rối trước mặt nhiều người.
Tôi trả lời chồng tôi với giọng đầy cay đắng.
Tôi thét hay gào vào mặt anh ấy.
Tôi tranh luận với anh ta
Tôi càu nhàu chồng tôi.
Tôi cố làm cho anh ấy cảm thấy rằng nhà là nơi thoải mái nhất để anh ấy sống.
Tôi luôn sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu tình dục của anh ấy.
Tôi xem thường anh ấy trước mặt mọi người hay những lúc một mình.
Tôi để cho những người khác can thiệp vào mối quan hệ của tôi với chồng và gia đình tôi.
Hãy nêu ngắn gọn những lãnh vực có khả năng gây nên sự xung đột hay bất đồng ý kiến.
1.
2.
3.
4.
5.
Bảng kiểm tra của người vợ. (để người chồng điền vào)
Những câu sau đây được chọn ra để giúp vợ của bạn đánh giá những thái độ và hành động của cô. Bạn nghĩ cô ấy sẽ tự đánh giá mình như thế nào?
(T) Thường
(Đ) Đôi khi
(I) Ít khi
(K) không bao giờ
Tôi thấy khó tuân theo sự lãnh đạo của chồng tôi.
Tôi bày tỏ sự ghen tị đối với các bạn của anh ấy hay với nghề nghiệp của anh ấy.
Tôi phàn nàn về thời gian biểu của anh ấy.
Tôi bày tỏ sự thiếu tin tưởng nơi chồng mình.
Tôi thường làm những gì chồng tôi bảo tôi làm.
Tôi làm cho anh ấy bối rối trước mặt nhiều người.
Tôi trả lời chồng tôi với giọng đầy cay đắng.
Tôi thét hay gào vào mặt anh ấy.
Tôi tranh luận với anh ta
Tôi càu nhàu chồng tôi.
Tôi cố làm cho anh ấy cảm thấy rằng nhà là nơi thoải mái nhất để anh ấy sống.
Tôi luôn sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu tình dục của anh ấy.
Tôi xem thường anh ấy trước mặt mọi người hay những lúc một mình.
Tôi để cho những người khác can thiệp vào mối quan hệ của tôi với chồng và gia đình tôi.
Hãy nêu ngắn gọn những lãnh vực có khả năng gây nên sự xung đột hay bất đồng ý kiến.
1.
2.
3.
4.
5.
TRẢ LỜI NHỮNG CÂU HỎI
Câu 1
Trong khi còn có những vấn đề khác trong 2 phân đoạn Kinh thánh nầy (ví dụ: người thứ nhất là người đàn bà Canaan và người đàn bà thứ hai là một “tội nhân”), chúng ta lại học về sự sẵn lòng tiếp chuyện những người phụ nữ của Chúa Jêsus.
Mat Mt 15:22-28. Người đàn bà Canaan không những thảo luận một vấn đề với Chúa Jêsus, một người đàn ông và cũng là một người thầy, bà ta còn cảm thấy thoải mái khi tỏ ý bất đồng và tranh luận với Ngài. Ngài đã dùng nguyên nhân và lý lẽ để thuyết phục bà ta và nhận thấy bà có đức tin lớn. Ngài đã chấp nhận suy nghĩ của bà như là của một con người. Các môn đồ của Chúa Jêsus muốn đem bà đi chỗ khác, vì họ xem bà như một điều phiền toái (câu 23).
LuLc 7:36-50. Người đàn bà nầy, mặc dù là một người có tội, nhưng bà lại cảm thấy tự do bày tỏ một loạt những hành động biểu lộ sự yêu mến và kính trọng Ngài. Ngài rất dễ gần gũi và không phản kháng nhưng sẵn sàng tiếp chuyện với phụ nữ, ngay cả đó là những người đàn bà “không thể chấp nhận được”. Ông Phierơ nghĩ rằng Đấng Christ đáng lẽ không nên để cho người phụ nữ này rờ đến mình (câu 39). Nhưng trái lại Chúa Jêsus tôn trọng bà trước các môn đồ, Ngài còn quở trách họ đã không đối xử với Ngài như bà ta đã làm.
Câu 2
GaGl 3:28 . Người nam và người nữ không còn bị chia ra khi liên hệ đến giá trị của họ trong nước Đức Chúa Trời. Do đó cả hai đều ngang nhau trong nước Đức Chúa Trời và đều có thể gây dựng nước Đức Chúa Trời. Thế thì người nam phải chào đón vợ mình như một thành viên của phúc âm.
Eph Ep 4:1-7. Phaolô đặc biệt nhấn mạnh sự hòa hợp và sự hiệp nhất của thân thể - Hay nói cách khác, tất cả những gì ngụ ý trong đó là cả người nam lẫn người nữ đều hiệp một trong nước Đức Chúa Trời và công việc của vương quốc ấy.
ICo1Cr 12:12-31. Mỗi chi thể trong thân được Chúa Thánh Linh ban ân tứ và vì thế mỗi người đều cần thiết đối với sức khỏe và sự tăng trưởng của thân thể. Nếu phụ nữ bị đối xử như những người thấp kém hơn và người nam từ chối không cho họ tham gia chăm sóc cơ thể thì cả thân thể sẽ bị suy yếu và Đấng Christ sẽ không hài lòng. Mỗi người đều có những vai trò và chức năng khác nhau trong thân thể, nhưng mỗi người, nam hoặc nữ đều quan trọng.
Câu 3
Trong phân đoạn Kinh thánh Eph Ep 5:18-6:20 chúng ta biết rằng việc chú tâm vào những điều thuộc về Đức Thánh Linh có thể làm cho chúng ta vâng phục người khác và sử dụng tất cả mọi khí giới của Đức Chúa Trời đề đẩy lùi sự tấn công của Satan vào mối quan hệ của chúng ta.
Câu 4
Vợ phải vâng phục bởi vì chồng là đầu vợ, theo khuôn mẫu của Đấng Christ với Hội thánh của Ngài.
Câu 5
Trong ICo1Cr 11:3 cương vị chồng làm đầu vợ bắt chước theo cương vị làm đầu của Đấng Christ đối với người chồng và cương vị làm đầu của Đức Chúa Cha đối với Đấng Christ.
Câu 6
Theo Eph Ep 5:23 nền tảng cho cương vị làm đầu của người chồng là tình yêu thương, giống như tình yêu thương mà Đấng Christ dành cho Hội thánh bằng cách phó chính mình cho Hội thánh.
Câu 7
Sự kính trọng là một phần rất quan trọng trong sự vâng phục. Một người có thể bề ngoài xử sự như đúng đắn mà vẫn truyền đạt một thái độ nổi loạn hoặc khinh bỉ. Sự vâng phục trong Thánh kinh bao gồm thái độ cũng như hành động, và thái độ đó là kính trọng.
Câu 8
Định nghĩa về sự vâng phục của bạn cần bao gồm những điểm sau:
Người vợ phải phục tùng chồng của mình (Eph Ep 5:22).
Sự vâng phục của người vợ dưạ trên lòng kính trọng Đức Chúa Trời của người vợ (5:21, 22).
Kính trọng là một phần của sự vâng phục (5:33).
Vâng phục phải bao gồm sự chấp nhận “cương vị làm đầu” của người chồng (5:33).
Câu 9
Trong 2:13 Phierơ nói rằng à “Vì cớ Chúa, hãy phục theo mọi phép tắc mọi người lập nên …” Ông đã trình bày chi tiết mạng lịnh chung nầy bằng cách nói về 3 ví dụ đặc biệt về sự vâng phục (thần dân với các bậc cầm quyền 2:13-14 đầy tớ với chủ mình 2:18-20 vợ với chồng 3:1-6). Rồi “cũng một thể ấy” trong đoạn 3 lại có liên hệ với 2:18 và 3:1 cũng như với 2:13-14. Lần đầu tiên ông dùng một động từ mệnh lệnh còn trong những trường hợp khác ông sử dụng thì phân từ của chính động từ đó).
Câu 10
Đấng Christ được nêu lên như một tấm gương, như một người hoàn toàn phó thác mình cho Đức Chúa Trời, ngay cả khi đang chịu những thử thách đau đớn nhất. Trong 3:1 phần ứng dụng là cho Hôn Nhân: vợ phải vâng phục chồng chẳng những khi chồng là người biết điều mà cũng phải vâng phục khi anh ta “không vâng theo Đạo nữa”.
Vợ phải phó thác mình cho Đức Chúa Trời để làm điều đó, như chính Đấng Christ đã phó thác mình nơi Đức Chúa Cha. Như đã nêu trong đoạn văn trên, điều nầy không phải nhằm ngụ ý rằng người vợ phải ở với chồng mình nếu người chồng hành hạ thể xác của vợ. Chúng ta không khuyến khích ly dị, nhưng chúng ta nói rằng xa cách tạm thời trong một khoảng thời gian có thể cần thiết. Trái lại, thái độ vâng phục của người vợ, khi đang bị người chồng hành hạ, có thể làm cho người chồng thay đổi.
Câu 11
Phierơ nói rằng người vợ phải vâng phục bởi vì điều nầy sẽ là một tấm gương tốt và là sự khuyến khích, ngay cả đối với những người chồng “không vâng theo đạo” cũng sẽ tích cực quay trở lại với Đức Chúa Trời.
Câu 12
Câu hỏi này có thể có nhiều câu trả lời.
Ví dụ như người vợ tạm thời giữ vai trò lãnh đạo khi người chồng bị bịnh nặng hoặc bị tật nguyền về thể xác hay khi người chồng phải đi xa trong một khoảng thời gian.
Ví dụ như trong trường hợp người chồng thiếu sót trong vai trò lãnh đạo thì người vợ có xu hướng đảm nhận vai trò lãnh đạo, bởi vì người chồng quá quan tâm đến công việc ngoài xã hội nên không thật sự quan tâm đến những chuyện trong gia đình, không thể kỷ luật được các con, hay thiếu sót trong sự quản lý tiền bạc trong nhà.
Câu 13
Câu trả lời của bạn có thể bao gồm:
Trong những vấn đề thuộc linh, người vợ có thể hỏi chồng hay nhờ chồng chỉ dạy cho mình những lẽ thật thuộc linh nào đó.
Khen ngợi chồng khi chồng thật sự lãnh đạo.
Hãy trực tiếp đưa ra những lời đề nghị như là cách người vợ muốn chồng lãnh đạo mình như thế nào, làm điều đó trong tình yêu thương.
Thỉnh thoảng hãy để cho anh ta thất bại. ĐỪNG luôn can thiệp vào và xung phong giải quyết một nan đề hay làm một công việc thuộc về trách nhiệm của anh ta.
Câu 14
Câu trả lời của bạn phải phản ánh những gì được xem là “tinhsạch” và “cung kính” tương ứng với những nguyên tắc Thánh Kinh và tương ứng với nền văn hoá của bạn liên hệ với những nguyên tắc thánh kinh đó. Cách sống của một người vợ phải truyền đạt cho người khác biết được sự hứa nguyện và tình yêu thương của mình đối với người chồng hầu cho không có thắc mắc nào đối với sự chung thủy trong Hôn Nhân của cô ấy. Trong việc phục tùng sự lãnh đạo của người chồng, người vợ phải có thái độ kính trọng, không phải là sự sử dụng hay là sự cay đắng.
Câu 15
Trong IPhi 1Pr 3:2 người vợ phải tinh sạch (tiết hạnh) và cung kính. “Tinh sạch, tiết hạnh” liên hệ đến sự vâng phục bằng cách khẳng định vị trí lãnh đạo của người chồng trong tình yêu thương của người vợ. Như đã được giải thích tường tận trong ICo1Cr 7:1-7, một người đã lập gia đình phải hết sức làm cho người phối ngẫu được thoả mãn, và chỉ một mình người ấy mà thôi.
“Cung kính” liên hệ với sự vâng phục bằng cách xác định thái độ cư xử và động lực để biểu thị thái độ đó. Phẩn uất “đầu hàng” trong nhiều việc bởi vì Đức Chúa Trời bảo phải làm thì sẽ không thực hiện được chương trình của Đức Chúa Trời dành cho Hôn nhân. Người phụ nữ vâng phục vì kính trọng chồng sẽ ngày càng tiến xa hơn trong việc hoàn thành ý muốn của Đức Chúa Trời trên người nữ và Hôn Nhân của mình.
Câu 16
Câu trả lời của bạn. Phierơ khuyên bảo phụ nữ không nên chú trọng quá nhiều vào vẻ đẹp và trang phục bên ngoài. Một phụ nữ quá chú trọng đến dáng vẻ bề ngoài mà xao lãng những phẩm chất bề trong sẽ kinh nghiệm nỗi sợ hãi bị bỏ rơi khi bị va chạm những thực tế về tuổi già không tránh khỏi. Câu Kinh thánh này không dạy chúng ta rằng việc một người làm cho mình hấp dẫn là điều sai lầm. Lối cảnh cáo này nhắm đến việc chú trọng tìm kiếm điều này và loại bỏ những phẩm chất vĩnh cữu và quan trọng hơn nhiều mà Phierơ sẽ nhấn mạnh trong ý tiếp theo.
Câu 17
Thân thể sẽ được biến hoá trước khi vào Thiên đàng (ICo1Cr 15:1-58) nhưng bây giờ khiá cạnh không hay hư nát đã được chuẩn bị sẵn cho cõi vĩnh hằng. Phần này của chúng ta chỉ có thể được nhìn thấy bởi phẩm chất của hành động của chúng ta, không phải bởi bề ngoài của chúng ta. Vì thế thật là dại dột nếu một người chỉ đầu tư vào điều hay hư nát mà bỏ qua những điều chẳng hư nát.
Câu 18
Một tâm thần dịu dàng rất quyến rũ bởi vì nó bày tỏ sự quan tâm: đó là “không tìm kiếm lợi riêng cho chính mình” - người như thế không dùng chiến thuật và làm điệu bộ để đạt được mục đích ích kỷ nhưng quan tâm đến nhu cầu của người khác. Một tâm thần tĩnh lặng nói lên sức mạnh và sự bình an, một người phụ nữ thoả lòng với con người thật của mình trước mặt Đức Chúa Trời.
Câu 19
Câu trả lời của bạn - Ví dụ như là:
Người chồng không quan tâm đến vợ lẫn ý kiến của vợ.
Quyết định của anh ta ích kỷ và không quan tâm đến nhu cầu của gia đình.
Anh ta là người vô tín và tình huống dường như bị hạn chế hoặc nặng nề đối với người vợ khi bày tỏ đức tin của mình.
Câu 20
Không có gì bảo đảm là người chồng sẽ thay đổi. Những nguyên tắc này là những cách sống như gương của Đấng Christ đã bày tỏ cho chúng ta. Cách duy nhất để làm được điều này là phó thác chính mình cho Đức Chúa Trời, như Đấng Christ đã làm khi Ngài chịu khổ vì chúng ta.
ĐÁP ÁN CHO BÀI TẬP
Bài tập 1
Dàn bài sau đây là một ví dụ gồm những điểm có thể có trong dàn bài của bạn:
Những đặc tính của một người vợ tin kính
Dàn bài dạy
Vai trò của người phụ nữ trong Tân ước:
1/ Thái độ của Chúa Jêsus đối với người phụ nữ.
Đối xử với họ cách tôn trọng
Mấy người phụ nữ cùng đi với Ngài và các môn đồ (LuLc 8:1-3).
Ngài nói chuyện bình đẳng với họ (GiGa 4:1-42).
Chúa Jêsus đã dùng họ làm những thí dụ ưu ái trong các câu chuyện ngụ ngôn của Ngài (LuLc 15: 8-10).
Ngài dạy dỗ họ (10:39-42).
Ngài kết bạn với họ (10:38-42 GiGa 11:1-44).
Ngài được họ trợ giúp tài chính (LuLc 8:1-3).
Sự đối xử của Ngài đối với phụ nữ hoàn toàn tương phản với nền văn hóa thời Ngài đang sống.
2/ Sự dạy dỗ của các thư tín về phụ nữ.
“Không còn đờn ông hoặc đờn bà, vì trong Đức Chúa Jêsus Christ anh em thảy đều làm một” (GaGl 3:28).
“Sự hoà hợp” và “Sự hiệp nhất” trong t hân (Eph Ep 4:1-7).
Được ban ân tứ để chăm sóc thân thể. (ICo1Cr 12:12-31)
Trách nhiệm cơ bản của người vợ đối với người chồng:
1/ Chức năng:
Khác nhau, không phải thấp kém hơn.
Phạm vi quyền lực Đức Chúa Trời > Chúa Jêsus > người nam > người nữ.
Cách vâng phục.
Con người đối với Đấng Christ, Đấng Christ đối với Đức Chúa Cha (15:27-28)
Đối với nhau (Eph Ep 5:21).
Đối với người cha về phần xác của chúng ta: đối với Cha Thiên Thượng (HeDt 12:9).
Đối với những quyền lực mà Đức Chúa Trời đặt để trên chúng ta, công dân, nghề nghiệp, trong nhà (IPhi 1Pr 2:13).
2/ Hoạch định cho sự vâng phục (Eph Ep 5:22-33).
Người vợ phải vâng phục chồng mình.
Lý do: chồng là đầu theo khuôn mẫu của Đấng Christ là đầu Hội thánh (5:23).
Đối với chính chồng mình (5:22).
“Như vâng phục Chúa” (5:29).
Chấp nhận cương vị làm đầu của chồng mình (5:23-24).
“trong mọi sự” (5:29).
Sự kính trọng là một phần của sự vâng phục (5:33).
3/ Những chỉ dẫn cho sự vâng phục (IPhi 1Pr 3:1-6).
Vì cớ Chúa (2:13-14, 18-20 3:1-6).
Chịu khổ như Đấng Christ đã chịu khổ (2:21-25).
Lý do: bởi cách sống của người vợ, có thể đem chồng đến với Đấng Christ (3:1).
“cách thức”.
Cách ăn ở: tinh sạch và cung kính (3:1-2).
Phát huy những phẩm chất bề trong: tâm thần dịu dàng và im lặng (3:3-6).
Kết luận:
Chồng phải yêu vợ như Đấng Christ đã yêu Hội thánh.
Vợ phải vâng phục và kính trọng chồng mình.
Bài tập 2
Đoạn văn của bạn có thể bao gồm những điểm sau:
Người nữ và người nam thảy đều hiệp một trong Đấng Christ (GaGl 3:27-29).
Đấng Christ có mối quan hệ tích cực đối với phụ nữ.
Đối xử cách tôn trọng với phụ nữ. Họ đi theo Ngài và các môn đồ. (LuLc 8:1-3).
Nói chuyện bình đẳng với họ (GiGa 4:1-42).
Trân trọng đem họ ra làm gương. (LuLc 15: 8-10).
Dạy dỗ họ (10:39).
Là bạn của họ (10:38-42 GiGa 11:1-44).
Được họ trợ giúp tài chính (LuLc 8:1-3).
Được họ phụ giúp, kể cả phụ nữ độc thân và đã lập gia đình rồi (10:38-42).
Phụ nữ là một phần của “một thân thể … một sự trông cậy … một Chúa … một đức tin …một phép báp têm … một Đức Chúa Trời và một cha của mọi người” (Eph Ep 4:1-7).
Phụ nữ là các chi thể của cùng “một thân thể” (ICo1Cr 12:12-31)
Phụ nữ có nhiều ân tứ để phục vụ thân thể đó.
Điạ vị của người phụ nữ dựa trên mối quan hệ với Đức Chúa Trời - không phải mối quan hệ giữa cô ta với những người khác.
Bài tập 3
Câu trả lời của bạn.
Bài tập 4
Sự vâng phục được bày tỏ cách khác nhau trong những đoạn văn sau:
ICo1Cr 15:27-28 à Tất cả loài thọ tạo sẽ phải “phục tùng” Đấng Christ và Đấng Christ sẽ phải phục tùng Đức Chúa Cha. Đấng Christ dù đồng đẳng với Đức Chúa Trời, đã lựa chọn đặt chính mình dưới thẩm quyền của Đức Chúa Cha.
Eph Ep 5:21 Phaolô dạy dỗ Hội thánh, tức thân thể Đấng Christ phải “kínhsợ Chúa mà vâng phục nhau”. Hội thánh là thân thể mà Đấng Christ làm đầu thân thể đó.
HeDt 12:9 vì chúng ta kính trọng thẩm quyền của cha mình về phần xác, chúng ta cũng nên phục tùng Đức Chúa Trời, Cha Thiên Thượng của chúng ta nhiều hơn nữa. Chúng ta là con cái của cha phần xác và Cha Thiên Thượng.
IPhi 1Pr 2:13 chúng ta là công dân phải vâng phục những bậc cầm quyền mà Chúa đã đặt trên chúng ta. Sự vâng phục như thế có đủ uy lực khiến làm câm lặng sự ngu dốt của con người dại dột. Trọng tâm dường như để những người không tin kính không thể kết tội các tín hữu về những điều sai trái, đặc biệt là việc chống lại chính quyền.
Xin nhớ các câu này dạy rằng mức độ quyền hành khác nhau xuất hiện trong những lãnh vực khác nhau nhưng không dạy rằng có một số người cao hơn và những người khác thì thấp kém hơn.
Bài tập 5
Người vợ phải vâng phục chồng mình “như vâng phục Chúa” (câu 22) một cách hoàn toàn và trong “mọi sự” (câu 24).
Minh họa mà Phaolô dùng là sự vâng phục của Hội thánh đối với Đấng Christ. Sự vâng phục này phải hoàn toàn, có nghĩa là không có một lãnh vực nào của cuộc đời mình mà người vợ không sẵn sàng vâng lời Chúa bằng cách vâng phục chồng mình.
Câu trả lời của bạn. Người vợ nên tin tưởng chồng mình khi người chồng chỉ dẫn và khuyến khích người vợ trong mọi lãnh vực của cuộc đời, sẵn sàng vui lòng và nâng đỡ chồng trong mọi quyết định. Người vợ đừng bao giờ quyết định một điều hệ trọng nào mà trước tiên không hỏi ý kiến của chồng mình.
d-e. Có những nguy cơ trong sự vâng phục khi mà, không giống như Đấng Christ và Hội
thánh, người vợ được gả cho người chồng không muốn vợ mình tăng trưởng và hạnh phúc, hoặc
người chồng quá tự tôn đến nỗi lợi dụng sự vâng phục của vợ mình như là một công cụ đem lại ích lợi
cho mình và tổn hại cho vợ.
Nếu người chồng cứ khăng khăng bảo vợ phạm tội thì người vợ phải nhớ rằng trách nhiệm của mình chủ yếu là vâng phục Chúa hơn là chồng. Người vợ không thể bào chữa tội lỗi của mình bằng cách đổ thừa rằng tại chồng khiến mình làm như vậy. Nhưng một lời cảnh cáo là: đừng nhầm lẫn giữa việc không thích và không muốn làm đối với tội lỗi. Người vợ nên hỏi rằng “có phải chồng tôi đang bảo tôi làm điều mà Kinh thánh cấm không?”. Điều này có thể là một tình huống khó xử, và người vợ tốt hơn là nên tìm những trưởng lão đáng kính trong Hội thánh để được khuyên bảo.
Một nan đề khác sẽ phát sinh nếu người chồng là người hay xúc phạm vợ. Kinh thánh không bảo rằng người vợ và các con phải phục tùng đối với sự nhục mạ về cảm xúc hay thể xác. Điều cần thiết là nên xa cách chồng trong những trường hợp như thế. Nhưng tốt hơn vẫn là nên tìm những trưởng lão đáng kính trong Hội thánh để được khuyên bảo.
Bài tập 6
Câu trả lời của bạn.
GIẢI BÀI TẬP.
Bài tập 1
Dàn bài sau đây là một ví dụ về những điểm có thể có trong dàn bài của bạn.
Những đặc tính của một người chồng tin kính.
Dàn bài dạy.
Khuôn khổ khảo sát mối quan hệ vợ chồng
1/ Người nam và người nữ được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời vì những mục đích của Ngài (SaSt 1:26-28)
Quản trị trái đất.
Sanh sản thêm nhiều và làm cho đầy dẫy đất.
2/ Người nữ được dựng nên để “thích hợp” với người nam (2:18-22).
Tương xứng, phù hợp.
Được dựng nên để bổ sung cho người nam.
Liên hệ với mối quan hệ Hôn Nhân.
3/ Sự trừng phạt của Đức Chúa Trời vì loài người đã phạm tội - Sự rủa sả.
a. Người nữ:
(1) Thêm sự đau đớn khi sanh con.
(2) Những xung đột tranh giành quyền hạn với chồng
b. Người nam:
(1) Lao động
(2) Công việc nặng nhọc và vất vả.
Cương vị làm đầu trong Thánh kinh Tân ước.
1/ “Đầu” (ICo1Cr 11:3)
Sử dụng từ tượng hình:
(1) Đấng Christ làm đầu mọi người.
(2) Người nam là đầu người nữ.
(3) Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Christ.
b) Những nguyên tắc về quyền hạn và sự vâng phục (phạm vi ảnh hưởng).
(1) Quyền hạn dựa trên mối quan hệ.
(2) Sự khác biệt về chức năng, không phải là lớn hơn hay nhỏ hơn.
2/ Đấng Christ là đầu Hội thánh:Ngài là tấm gương.
Đấng Christ là đầu của mọi quyền cai trị và mọi thế lực (CoCl 2:10).
Đầu của thân thể, tức là Hội thánh (CoCl 1:18 Eph Ep 1:22-23, 4:15-16, 5:23).
Nguồn dinh dưỡng và tăng trưởng tâm linh (4:15-16; 5:26 -27, 29).
3/ Chồng là đầu vợ
“chồng là đầu vợ” (5:23).
“chồng sẽ cai trị ngươi” (SaSt 3:16).
Phân tích: Đấng Christ là đầu Hội thánh.
(1) Lãnh đạo thuộc linh
(2) Qua sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh: dạy dỗ, cổ vũ, nâng đỡ, bênh vực.
Trách nhiệm cơ bản của người chồng đối với vợ.
1/ Đấng Christ khuôn mẫu của người chồng (Eph Ep 5:25-33)
a) “Yêu” vợ mình như Đấng Christ đã yêu Hội thánh và phó chính mình vì Hội thánh.
(1) Hy sinh cho Hội thánh
(2) Ngài làm cho Hội nên thánh.
(3) Trình diện Hội thánh trong tất cả sự vinh hiển của Hội thánh.
b) Yêu vợ mình như chính bản thân
2/ Những chỉ dẫn thêm cho người chồng:
Yêu vợ và không được cay đắng (tình yêu phải được thể hiện bằng hành động, không phải bởi cảm xúc CoCl 3:19).
Cuộc sống đời thường:
(1) Tỏ điều khôn ngoan khi ăn ở với vợ như là với giống yếu đuối hơn.
(2) Vì vợ sẽ cùng người chồng hưởng phước sự sống, nên phải tôn trọng vợ, hầu cho không có điều gì làm cho rối loạn sự cầu nguyện của người chồng.
Bài tập 2
Câu trả lời của bạn. Với Đấng Christ là khuôn mẫu, cương vị làm đầu của người chồng có nghĩa là người chồng là người lãnh đạo (không phải là ông chủ) gia đình (Eph Ep 1:22-23; CoCl 1:18) mà những trách nhiệm cơ bản của người chồng là lãnh đạo trong tình yêu thương, đẩy mạnh sự tăng trưởng và nuôi nấng thuộc linh qua việc gây dựng, nâng đỡ khuyến khích lẫn nhau. (Eph Ep 4:15-16; 5:23, 25-29).
Bài tập 3
Câu trả lời của bạn. Có thể những điều sau đây là quan điểm của bạn:
Tôi bày tỏ tình yêu đối với Tôi bày tỏ tình yêu đối với vợ của tôi bằng cách:
thân thể mình bằng cách:
Giữ gìn và rèn luyện thân thể Yêu thích thể thao, cùng rèn luyện thân thể với
vợ, khuyến khích vợ phát triển kỹ năng và tài
năng của mình.
Nuôi dưỡng Cung cấp cho vợ những nhu cầu thể chất, tình cảm
và tinh thần.
Làm cho nó sạch sẽ Khuyến khích sự thánh khiết, bước gần Chúa
Thánh Linh, loại bỏ sự cám dỗ, những cơ hội gây
nên sự phạnm tội, tha thứ và cầu xin sự tha thứ.
Không khuấy rối nó Bảo vệ vợ mình, không khuấy rối vợ bằng lời nói hay
việc làm cách công khai hay riêng tư.
Lập tức chăm sóc vết thương Tế nhị và chăm sóc những vết thương về thể xác, cảm xúc
và vết bằm và tinh thần, lập tức giải quyết những nan đề cách cởi mở.
Cho nó nghỉ ngơi Phải đoan chắc là thân thể cô ấy cần phải nghỉ ngơi , ủng
hộ và là chỗ dựa cho vợ về phương diện tình cảm và
thuộc linh.
Mặc áo quần Chu cấp nhu cần cho thể chất của vợ; trân trọng việc
cô ấy tự chăm sóc thân thể .
Giữ nó ở một nhiệt Giữ cân bằng trong mối quan hệ của bạn, ví dụ như yêu mà không độ thích hợp làm cho cô ấy bị mất tự do hay khuyến khích quyền tự do của vợ
mà không quên che chở và hướng dẫn.
Bài tập 4
Phaolô đã nêu lên lòng thương xót, sự nhơn từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, nhường nhịn nhau, tha thứ nhau, yêu thương, phải biết ơn, để lời của Chúa cai trị trong tấm lòng của chúng ta, dạy và khuyên nhau, làm mọi điều trong danh Chúa Jêsus. Câu trả lời của bạn phải kèm theo một ví dụ về cách người chồng thực hành những đức tính này trong mối quan hệ của mình với vợ.
Bài tập 5
Câu trả lời của bạn.
Bài tập 6
Câu trả lời của bạn.

BÀI THI ĐƠN VỊ 3
Trong ICo1Cr 11:3 Phaolô viết rằng: “Đấng Christ là đầu mọi người, người đàn ông là đầu người đàn bà; và Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Christ”. Hãy thảo luận ngắn gọn về mối quan hệ giữa các vị trí trong những phạm vi quyền lực này và phẩm chất hay giá trị của từng người.
Hãy giải thích ngắn gọn bằng lời văn của bạn về vai trò của người phụ nữ trong Tân ước.
Hãy mô tả ngắn gọn sự hiểu biết của bạn về khái niệm “cương vị làm đầu”.
Trách nhiệm cơ bản của người chồng đối với vợ của mình là gì? Xin nêu hai ví dụ về cách thức ứng dụng điều này trong Hôn Nhân.
Hãy viết một cụm từ trình bày khuôn mẫu của Thánh Kinh cho người chồng và người vợ.
Phaolô và Phierơ đã nêu ra những nguyên nhân nào để một người vợ phải vâng phục chồng mình?
Theo Phierơ, người phụ nữ nên phát huy phương diện nào? Và tại sao?
Đúng/ sai. Đúng viết Đ, sai viết S. Hãy viết Đ hoặc S cho những câu sau:
____ 8. Trật tự về cương vị làm đầu được nêu trong Tân ước (Đức Chúa Trời > Đấng Christ > người nam >
người nữ) chứng tỏ rằng người nam có vị thế cao hơn người nữ.
____ 9. Sự vâng phục trong Thánh kinh là sự tự nguyện phục tùng của một con người hoàn toàn bình đẳng (người vợ) đối với người khác (người chồng).
____ 10. Người vợ không thể không vâng lời chồng mình, vì người vợ phải vâng phục chồng mình.
____ 11. Việc phục tùng chồng đã hoàn thành được những đòi hỏi của sự vâng phục trong Thánh kinh.
____ 12. Phierơ dạy rằng chồng phải tôn trọng vợ mình.
____ 13. Vai trò làm đầu của người chồng có nghĩa là tăng trưởng thuộc linh của cả gia đình là trách nhiệm của người chồng.
____ 14. Bổn phận quan trọng nhất của người chồng đối với vợ là phải thực thi sự lãnh đạo của mình một cách mềm mại và có trách nhiệm.
____ 15. Tình yêu trong Kinh thánh là cảm xúc yêu thương hoặc say đắm đối với người bạn đời của mình.
____ 16. Chúa Jêsus đối xử với người nam và người nữ theo tập quán của nền văn hóa thời Ngài đang sống.
____ 17. Từ sự khuyên nhủ của Phierơ đối với người vợ là phải có “tâm thần dịu dàng im lặng” điều đó có thể quả quyết rằng người vợ không nên trình bày những ý kiến hay ước mơ của mình.

J J J J J J
TÌNH YÊU THƯƠNG
Trong 3 bài đầu của môn học này, bạn đã học về những viên gạch đem lại thành công cho Hôn Nhân. Nhưng hiểu được chương trình dành cho Hôn Nhân, học cách truyền thông chính xác với người bạn đời của mình và ngay cả nhận biết và chấp nhận vai trò của mình trong Thánh kinh cũng chưa đủ để đạt được một cuộc Hôn Nhân bền vững. Phải có cái gì đó để kết chặt những viên gạch này lại với nhau.
Trong phần cuối của khoá học này bạn sẽ lưu ý đến chất xi măng kết chặt những viên gạch đem lại thành công cho Hôn Nhân: tình yêu thương. Bạn sẽ nghiên cứu định nghĩa về tình yêu thương của Thánh Kinh, cách tình yêu đó ảnh hưởng đến những thái độ và hành động của một người đối với người bạn đời của mình, cách tình yêu đó được thể hiện trong sự hòa hợp về tình dục, và nó đã trở thành một nhân tố làm động lực thúc đẩy để giải quyết những nan đề phát sinh trong Hôn Nhân - Dàn bài và những mục tiêu của phần này được trình bày dưới đây là cái nhìn khái quát về nội dung của phần này.
DÀN BÀI CỦA ĐƠN VỊ
Bài 9: Hiểu được tình yêu trong Thánh kinh.
Bài 10: Vai trò của tình dục trong sự bày tỏ tình yêu trong Hôn Nhân.
Bài 11: Duy trì một cuộc Hôn Nhân bền vững.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA ĐƠN VỊ
Khi học xong phần này, bạn sẽ có thể:
Mô tả được ý nghĩa của tình yêu trong Thánh kinh, bao gồm những phương diện khác của tình yêu.
Bắt đầu phát triển tình yêu và sự ân ái trong suốt Hôn Nhân của bạn.
Giải thích sự dạy dỗ của Thánh kinh về tình dục.
Hứa nguyện với chính mình sẽ áp dụng những nguyên tắc cơ bản chính yếu trong tình huống Hôn Nhân của bạn.

Bài 9: HIỂU ĐƯỢC TÌNH YÊU THEO THÁNH KINH.

Trong tất cả lịch sử nhân loại, không có chủ đề nào phát sinh nhiều hứng thú cho bằng chủ đề tình yêu. Con người đã viết về tình yêu, đã ca hát về tình yêu và nghiên cứu tình yêu, cố khám phá được chiều sâu của những huyền nhiệm trong tình yêu. Các nhà tâm lý học cho chúng ta biết rằng khả năng để yêu và được yêu là trọng tâm của sức khoẻ tinh thần của chúng ta. Nhưng dù cho điều này có tầm quan trọng và được nghiên cứu nhiều như thế nào đi chăng nữa, thì trên hết vẫn còn sự lúng túng khi giải thích về tình yêu là gì và tình yêu biểu lộ như thế nào.
Bài học này cố làm rõ vài câu hỏi trắc nghiệm xung quanh chủ đề tình yêu, bằng cách trở về với Thánh kinh để xem Chúa nói gì về đề tài này. Kinh thánh dạy rằng chính Đức Chúa Trời là tình yêu thương. Vì thế, để hiểu được tình yêu thì người đó phải nhìn tình yêu qua đôi mắt của Đức Chúa Trời. Hiểu được khái niệm về tình yêu trong Thánh kinh sẽ đặt nền tảng tìm kiếm cách tình yêu phải được bày tỏ như thế nào và ứng dụng vào trong Hôn Nhân. Bây giờ dành thời gian đọc kỹ dàn bài và những mục tiêu của bài học để làm quen với nội dung cơ bản của bài học này.
DÀN BÀI
Hiểu được tình yêu.
Khái niệm về tình yêu trong Thánh kinh.
Kết luận.
NHỮNG MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC.
Khi học xong bài này, bạn sẽ có thể:
Nói rõ 3 nguồn tư tưởng sai lầm về tình yêu và liên hệ những điều này với kinh nghiệm của chính bạn.
Nêu và giải thích theo cách của bạn về bốn nguyên tắc cơ bản để phục hồi tình yêu trong Hôn Nhân hay để làm tăng giá trị tình yêu đối với người bạn đời của mình.
Xác định 5 phương diện của tình yêu như đã được dạy dỗ trong Thánh kinh và cùng với người bạn đời của mình đánh giá về Hôn Nhân của bạn dựa trên những phương diện đó.
Bày tỏ sự hứa nguyện sẽ ứng dụng bài học này bằng cách hoàn thành dự án 10.
Hầu như mọi người đều bước vào Hôn nhân với nhiều kỳ vọng lớn lao. Họ tràn ngập những cảm xúc mãnh liệt khi hứa nguyện yêu thương người bạn đời của mình. Nhưng có một lúc nào đó, nhiều cảm hứng, sức sống và sự đam mê thiết tha mà một thời gian đã có trong Hôn nhân giờ đây bắt đầu tắt lịm. Vất vả trong cuộc sống và căng thẳng trong công việc hằng ngày, nuôi dạy con cái và cung cấp cho những nhu cầu của cuộc sống góp phần làm phai mờ đi những cảm xúc mãnh liệt mà một thời đã tồn tại trong Hôn nhân.
Người ta phản ứng với tình huống này theo những cách khác nhau. Vài người quay lại với những hoạt động bên ngoài hay với những người khác để tự tìm sự mãn nguyện trong cuộc sống. Những người khác kết luận rằng cuộc đời là như thế và họ không thể làm được điều gì khi gặp tình huống đó ngoại trừ phải chấp nhận nó. Cho dù người vợ hay người chồng thừa nhận hay đè nén những cảm xúc trong mối quan hệ của họ, thì họ vẫn khao khát một mối quan hệ Hôn Nhân đầy mãn nguyện.
Khi xem xét về chủ đề tình yêu của Thánh kinh trong chương nầy, hướng dẫn viên của bạn sẽ là quyển sách “Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa ” của Dr. Ed Wheat. Tác giả đã viết sách ấy với sự hiểu biết sâu xa về lẽ thật của Thánh kinh và sự phong phú trong kinh nghiệm nhờ khuyên giải những đôi vợ chồng người Mỹ có những nan đề trong Hôn nhân.
Hãy đọc phần giới thiệu và các chương từ chương 1 đến chương 4. Chương 2 và chương 3 đề cập đến vài nguyên tắc của Thánh kinh về Hôn nhân được tìm thấy trong Sáng 1 và 2. Hãy tập trung chú ý chương 3, trong đó ông Wheat đã khai triển ý niệm bền vững trong mối quan hệ Hôn nhân.
Hiểu và đánh giá những cảm xúc thật đối với Hôn nhân của bạn sẽ giúp bạn có được một sườn bài chính xác để nghiên cứu khái niệm tình yêu trong Thánh kinh.

Hiểu được tình yêu
Xuyên suốt lịch sử, tình yêu đã là chủ đề trong sự khảo sát tường tận của con người. Tuy nhiên mãi đến bây giờ người ta cũng không thể đưa ra một định nghĩa chính xác về tình yêu. Sách “Đời sống tình yêu ” sẽ giúp bạn hiểu được khái niệm về tình yêu trong Thánh kinh.
Bài tập 1
Ông Wheat đã nêu ra 3 nguồn tư tưởng sai lầm về tình yêu trong chương 4. Hãy nêu ra các nguồn tư tưởng đó và đối với từng loại hãy cho các ví dụ từ kinh nghiệm riêng của bạn đã ảnh hưởng sai lầm đến suy nghĩ của bạn về tình yêu.
Nếu là một người thành thật, thì người đó phải thừa nhận rằng suy nghĩ của mình về tình yêu đã bị tác động bởi những ảnh hưởng xấu. Để vượt qua được ảnh hưởng này, người đó phải cố tìm hiểu thật ra tình yêu là gì. Ông Wheat đã phát họa ra 4 nguyên tắc để làm tăng giá trị cho cuộc sống tình yêu trong Hôn nhân của chúng ta.
Bài tập 2.
Hãy viết ra từng nguyên tắc làm tăng giá trị cuộc sống tình yêu trong Hôn nhân của một người bằng lời văn của bạn. Sau đó hãy liệt kê những phương cách cụ thể mà bạn có thể áp dụng theo kinh nghiệm của bạn. Hãy cố phân tích xem trong 4 nguyên tắc đó thì nguyên tắc nào đã là thế mạnh của bạn, rồi cảm tạ Đức Chúa Trời về những gì Ngài đã ban cho bạn. Cũng cảm tạ Chúa đã chỉ ra cho bạn những lĩnh vực cần cải thiện, và cầu xin ân điển của Ngài giúp bạn ứng dụng được những gì đang học.
Một người thực hiện bước đầu tiên đối với việc làm tăng giá trị cho Hôn nhân của mình bằng sự lựa chọn để học biết tình yêu thật là gì,. Nhưng dấn thân để hiểu được ý nghĩa của tình yêu thì chưa đủ. Người đó phải tiến xa hơn và tìm hiểu chính xác những gì Kinh thánh dạy về tình yêu. Phần tiếp theo của cuốn sách sẽ giúp bạn nghiên cứu điều này.
Khái Niệm Về Tình Yêu Trong Thánh Kinh
Chương 5 của sách khái niệm Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa giới thiệu một cái nhìn tổng quát về 5 từ được dùng để mô tả tình yêu. Bây giờ bạn hãy đọc chương này.
Để tóm tắt , 5 phương diện của tình yêu được mô tả bằng 5 từ theo tiếng Hy lạp là:
Ham muốn thể xác mạnh mẽ dẫn đến sự làm tình đầy khoái cảm.
Tình yêu ủy mị, say đắm và lãng mạn.
Sự yêu thương bẩm sinh và ý thức thuộc về nhau.
Tình yêu ủ ấp và có sự yêu thương dịu dàng đối với người yêu dấu nhưng mong chờ sự đáp ứng.
Tình yêu không vị kỷ luôn ban cho mà không trông đợi người khác đáp lại bằng bất cứ điều gì.

Bài tập 3
Xem lại danh sách trên với người bạn đời của mình. Sau đó mỗi người hãy nhận định xem phương diện nào là một phần trong mối quan hệ của các bạn va phương diện nào thì không. Rồi đối chiếu với những đánh giá của hai bạn. Hãy thảo luận về những phương diện mà các bạn đánh giá khác nhau. Thảo luận về những phương diện không nằm trong mối quan hệ Hôn nhân của hai bạn. Hãy cùng nhau cầu nguyện về những điều này. Xác định một hành động sẽ triển khai phương diện mà bạn chưa kinh nghiệm hay phương diện mà bạn nghĩ khác với người bạn đời của mình.
Cả một chương trong Kinh thánh dành để mô tả bản chất của tình yêu vô điều kiện. Bài làm dưới đây sẽ giúp bạn áp dụng tình yêu này vào trong Hôn nhân của bạn.
Dự án 10
Đối với những học viên đã có gia đình.
Hãy đọc kỹ ICo1Cr 13:1-13. Trong đoạn 13:4-8 tình yêu được miêu tả bằng những hành động đặc trưng nào đó. Đối với mỗi hành động hãy xác định xem đặc tính đó quan trọng như thế nào đối với một mối quan hệ Hôn nhân mãn nguyện. Sau đó với mỗi đặc tính hãy nêu 1 ví dụ cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc không bày tỏ được phẩm chất tình yêu này trên Hôn nhân của bạn.
Hãy dành riêng một giờ đồng hồ để nói chuyện với người bạn đời của bạn về những điều bạn học được trong bài học này. Nếu người bạn đời của bạn không theo học khoá này, hãy dành chút thời gian giải thích với anh ấy hoặc cô ấy những gì bạn đã học về 5 phương diện của tình yêu, những nguồn tư tưởng sai lầm về tình yêu trong Hôn nhân của một người. Sau đó yêu cầu người bạn đời của mình miêu tả những hành động của bạn bày tỏ tình yêu đối với cô ấy anh ấy theo cách tốt đẹp nhất. Mỗi người vợ hoặc người chồng đều nên làm điều này. Sau khi bạn đã thảo luận xong vấn đề này, hãy cùng nhau tìm ra những phương cách nào đó mà cả hai đều có thể bày tỏ tình yêu cách tốt đẹp hơn bằng những hành động của các bạn trong tương lai.
Đối với những học viên chưa có gia đình.
Hãy đọc kỹ 13:1-13. Trong đoạn 13:4-8 tình yêu được miêu tả bằng những hành động đặc trưng nào đó. Những đặc tính của tình yêu được nêu trong I Côrinhtô 13 phải là tất cả những gì mối quan hệ của chúng ta như những anh chị em trong Đấng Christ. Đối với mỗi đặc tính, hãy nêu ra một ví dụ về mức độ mà bạn sẽ bày tỏ phẩm chất đặc biệt này đối với những người bạn và gia đình của bạn. Hãy nêu những ứng dụng cụ thể với những người cụ thể.
Kết luận
Thật ra, tình yêu có nhiều khía cạnh. Trong bài học nầy bạn đã thấy được một số trong nhiều phương diện của tình yêu. Tình yêu bao gồm ham muốn thể xác mạnh mẽ, sự say đắm lãng mạn, sự yêu thương bẩm sinh và ý thức thuộc về nhau, tình bạn và sự ban cho không vị kỷ vì người yêu dấu của mình mà không trông đợi được đáp lại bất cứ điều gì. Khi một người hiểu rằng cốt lõi của tình yêu trong Hôn nhân là sự lựa chọn tự hiến của lý trí thì người đó mới có thể hiểu được cách phục hồi tình yêu trong Hôn nhân. Bằng cách tập chú vào phương diện đó của tình yêu mà qua đó chúng ta có thể thực hành sự kìm chế, chúng ta sẽ bắt đầu tiến tới việc biểu lộ tình yêu trong Hôn nhân sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn. Đó là trách nhiệm của người vợ hoặc người chồng phải chọn lựa để cư xử cách yêu thương và bày tỏ tình yêu đối với người bạn đời của mình.
Trong bài học kế tiếp chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn về cách mà tình yêu trong Hôn nhân phải được bày tỏ trong sự kết hợp thể xác.
v v v v v v
Bài 10: VAI TRÒ CỦA TÌNH DỤC TRONG SỰ BÀY TỎ TÌNH YÊU TRONG HÔN NHÂN
Trong bài 9 bạn đã nghiên cứu khái niệm về tình yêu trong Thánh kinh. Trong phần nghiên cứu đó, bạn đã khám phá được nhiều đặc tính khác nhau của tình yêu. Bài học này sẽ khai triển những ý tưởng đó, tìm hiểu cách tình yêu được bày tỏ trong mối quan hệ Hôn nhân.
Mặc dù tình yêu có thể được bày tỏ bằng vô số cách, nhưng Đức Chúa Trời đã lập nên một phương cách đặc biệt có một không hai đối với sự kết hợp trong Hôn nhân: mối quan hệ tình dục đã được Đức Chúa Trời tạo nên và ban cho nhân loại để đem sự khoái lạc và sự mãn nguyện cho con người và như là một phương cách để bày tỏ tình yêu đối với người bạn đời của một người. Bất hạnh thay, sự kết hợp tình dục đã bị phá hỏng và làm cho đồi bại bởi những tấm lòng đầy tội lỗi của người nam và người nữ. Vì thế, điều cực kỳ quan trọng là phải đạt được quan điểm của Thánh kinh về mối quan hệ tình dục. Trong phần bài học chúng ta sẽ tập trung vào đề tài này.
DÀN BÀI
Sự bày tỏ tình yêu Hôn nhân qua tình dục.
Nền tảng của Thánh kinh về tình dục.
Thái độ đúng đắn đối với tình dục.
Sức mạnh của sự ân ái tình dục.
Điều kiện để đạt được một mối quan hệ tình dục lành mạnh.
Kết luận.
MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Khi học xong bài này, bạn sẽ có thể:
Tóm tắt trong một trang giấy sự dạy dỗ của Thánh kinh về tình dục, tham khảo trong HeDt 13:4 ICo1Cr 7: 3-5 ChCn 5:15-19 và Nhã ca của Salômôn.
Đánh giá thái độ của bạn đối với mối quan hệ thể xác với người bạn đời của bạn.
Nêu một vài ngăn trở trong việc thực hiện sự ân ái và đánh giá mối quan hệ thể xác của bạn với người bạn đời của bạn khi xét đến những ngăn trở này.
Nêu ra những bước cụ thể mà bạn sẽ tiến hành để thiết lập tình thân ái vào trong Hôn nhân của bạn.
Bày tỏ sự hứa nguyện sẽ ứng dụng bài học này bằng cách hoàn thành dự án 11.
Mặc dù tình yêu là một chủ đề rất phổ biến trong thế giới của chúng ta, nhưng điều ngạc nhiên là có quá nhiều người đã gặp rắc rối trong đời sống tình yêu của họ. Càng ngày càng có nhiều người xem ly dị như cách duy nhất để thoát khỏi một mối quan hệ tình yêu hoàn toàn không hạnh phúc chút nào. Thêm vào đó, một số người không tìm cách ly dị nhưng lại tự mình cam chịu một mối quan hệ Hôn nhân vô nghĩa và hoàn toàn không hạnh phúc, và rõ ràng là vấn đề đó xảy ra rất nhiều trong những mối quan hệ tình yêu.
Quả là không may chút nào khi những nan đề này không phải là hiếm hoi đối với thế g iới phi Cơ đốc này. Trong những con số luôn gia tăng nhanh này, các gia đình Cơ đốc cũng đang đối diện với những sự căng thẳng tương tự như thế này.
Tất cả điều này đã chứng thực mức độ con người phá hỏng định chế Hôn nhân tuyệt vời mà Đức Chúa Trời đã thiết lập. Đức Chúa Trời định rằng Hôn nhân sẽ là mối quan hệ đem đến nhiều hạnh phúc tuyệt vời nhất trong tất cả các mối quan hệ của con người. Hôn nhân phải là một hình ảnh về mối quan hệ của Đức Chúa Trời đối với dân sự của Ngài. Tuy nhiên vì nhân loại đeo đuổi những mục tiêu tội lỗi của chính mình nên đã phá hỏng ý tưởng tốt đẹp này. Không có lãnh vực nào trong Hôn nhân mà việc này lại hiển nhiên hơn là trong mối quan hệ tình dục.
Được Đức Chúa Trời thiết lập nên để trở thành sự biểu lộ cơ bản của tình yêu và sự ân ái giữa hai con người, sự kết hợp tình dục đã bị đem dùng như là một công cụ để sử dụng và như là một phương tiện để thỏa mãn sự dâm dục tội lỗi của chính người đó.
Trong bài học này, bạn sẽ nhìn vào sự hòa hợp tình dục như là được tạo dựng nên bởi Đức Chúa Trời và đánh giá mức độ cao nhất mà sự kết hợp tình dục có thể được bày tỏ trong mối quan hệ Hôn nhân.
Phần hướng dẫn cho bài học này sẽ từ chương 6 đến chương 10 trong sách. “Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa ” và chương 9 trong sách của ông Wheat “Dành cho sự khoái cảm ” (Intended for pleasure). Hãy luôn cầu nguyện để hiểu thấu được những dữ liệu của bài học và các sách hướng dẫn. Bắt đầu đọc chương 6 “Cách bày tỏ tình yêu với người bạn đời qua tình dục “ trong sách “Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa ”.
Trong chương 6 ông Wheat nêu ra 3 điều cần thiết để có một mối quan hệ tình dục tích cực với người bạn đời của bạn - Đó là: (1) Thông tin y khoa chính xác. (2) Sự hiểu biết về tình dục trong Thánh kinh xua tan những nỗi sợ hãi và những ức chế sai lầm; và (3) Sự tiếp cận cá nhân cách đúng đắn đối với hành động yêu đương trong Hôn nhân của bạn. Trong bài học này chúng ta sẽ đề cập đến hai điều : nền tảng của Thánh kinh đối với tình dục và phát huy thái độ tiếp cận đúng đắn đối với tình dục.
Bày tỏ tình yêu trong Hôn nhân qua tình dục.
Nỗ lực của Cơ đốc nhân để đạt được sự hiểu biết đúng đắn về vai trò của tình dục trong Hôn nhân phải tránh hai thái cực. Một thái cực là sự tuyên bố của thế gian rằng không nên ức chế hay giới hạn đối với sự biểu lộ tình dục. Bất cứ việc gì cũng có thể chấp nhận được. Theo thế gian thì hạn chế tình dục trong phạm vi Hôn nhân là điều lỗi thời và bóp chẹt. Thái cực khác là: một số Cơ đốc nhân đã phản ứng bằng cách nhìn tình dục như là một điều gì đó bất khiết và dơ dáy.
Người ta có thể tìm thấy câu trả lời ở đâu cho tình trạng khó xử này? Cách duy nhất có thể đạt được một quan điểm chính xác là phải trở về với Lời của Đấng tạo nên tình dục.
1/. Nền tảng củaThánh kinh đối với tình dục.
Trong Kinh thánh Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự mặc khải của chính Ngài và dạy cho chúng ta cách liên hệ đúng đắn với Ngài và với những anh em Cơ đốc nhân khác. Điều này bao gồm những tranh luận đặc biệt về mối quan hệ Hôn nhân. Không ngạc nhiên gì khi Kinh thánh đã nói cách công khai và thẳng thắn về mối quan hệ tình dục. Dù sao Đức Chúa Trời cũng là Đấng dựng nên người nam và người nữ. Hoạt động tình dục là một phần trong thiết kế nguyên thủy của Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo. Từ những chương mở đầu trong sách Sáng thế ký đến hết Tân ước, Kinh thánh đã nói về vẻ đẹp của sự kết hợp tình dục giữa hai vợ chồng. Chúng ta không thể khảo sát tất cả sự dạy dỗ của Thánh kinh về tình dục trong một bài ngắn như thế này, vì thế chúng ta sẽ nêu bật lên phân đoạn Kinh thánh giúp chúng ta hiểu về sự dạy dỗ của Thánh kinh.
Trong chương 6 của “Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa ” tác giả đề cập đến hai phân đoạn Kinh thánh đặc biệt cung cấp một dàn bài về sự dạy dỗ của Thánh kinh đối với tình dục. Hãy đọc HeDt 13:4 và ICo1Cr 7:3-5.
HeDt 13:4 dạy rằng chốn khuê phòng trong Hôn nhân ví dụ như việc ân ái phải được tôn trọng và không được làm ô uế. Không hề nói rằng sự làm tình là một điều gì đó như là một phần trong bản chất suy đồi hay phương diện tội lỗi của con người, Kinh thánh khẳng định rằng sự làm tình là sự bày tỏ tích cực của tình yêu chân thật trong Hôn nhân. Nhưng phải chú ý rằng sự nhấn mạnh nầy là ở nơi chốn khuê phòng trong Hôn nhân. Tác giả của thơ Hêbơrơ nhấn mạnh rằng, khi được bày tỏ đúng đắn trong những giới hạn của tình yêu được hứa nguyện chung với nhau trong Hôn nhân, thì tình dục là điều tuyệt vời và đáng được trân trọng.
Không có ức chế Tình dục là điều dơ dáy
hay giới hạn về tình dục và bất khiết

HeDt 13:4 “ Mọi người phải kính trọng
sự Hôn nhân, chốn khuê phòng chớ có ô uế …”
Phân đoạn Kinh thánh kế tiếp mà ông Wheat đề cập đến là ICo1Cr 7:3-5. Trong phần giải thích về đoạn Kinh thánh này ông chỉ ra 3 nguyên tắc liên quan đến sự thưởng thức tình dục. Đó là (1) Nguyên tắc nhu cầu. (2). Nguyên tắc quyền hạn. (3).Nguyên tắc thói quen. Nói đơn giản thì nguyên tắc nhu cầu là Đức Chúa Trời đã ra lịnh cho chúng ta phải đáp ứng những nhu cầu của người bạn đời. Nguyên tắc quyền hạn là trong hôn nhân thì người này giao quyền đối với thể xác của mình cho người kia. Nguyên tắc thói quen là việc chăn gối thường xuyên phải là một phần trong hôn nhân của chúng ta. Tại sao vậy? Bởi vì khi mạng lịnh này bị phá vỡ thì người phối ngẫu bị lừa dối và hôn nhân sẽ mở rộng cửa cho những cám dỗ của Satan.
Bài tập 1
Ngoài những phân đoạn Kinh thánh ông Wheat đã đề cập đến, ChCn 5:15-19 đưa ra những chân lý sâu xa hơn vào sự dạy dỗ của Thánh kinh về tình dục. Hãy đọc phân đoạn Kinh thánh đó và viết ra một bài giải thích ngắn gọn về cách thức những câu Kinh thánh nầy giúp cho chúng ta hiểu được vai trò của tình dục. Trong câu trả lời của bạn, hãy cố giải đáp câu hỏi thỉnh thoảng được hỏi là: “Tại sao Kinh thánh lại thường lên án tình dục đến thế? ”
Bổ sung cho những phân đoạn Kinh thánh này, một phần Kinh thánh quan trọng hơn cũng có thể được thêm vào: sách Nhã ca của Salômôn. Trong sách này, Salômôn miêu tả vẻ đẹp của mối quan hệ hôn nhân, đặc biệt chú ý đến mối quan hệ tình dục. Nhiều nhà giải kinh và các tôi tớ Chúa đã ngại giải thích sách này như là một sự biểu lộ tình yêu trong hôn nhân bởi lầm tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ nói về tình dục cách công khai như thế. Một tác giả trong phần mở đầu của phần giải kinh về Nhã ca của Salômôn, đã giải thích tình trạng khó xử đó theo cách này:
Một số tác giả dường như rất phân vân khi cho rằng Đức Chúa Trời có ý định dành tình dục cho bất cứ một mục đích nào khác hơn là cho sự sinh sản. Vì thế họ đã từ chối không chấp nhận bản giải kinh thông thường của Nhã ca. Họ nói rằng Đức Chúa Trời không bao giờ cho phép một quyển sách viết về tình dục (ngay cả trong Hôn nhân) trong kinh điển của Thánh kinh. Vì thế ý nghĩa thông thường của Nhã ca bị che giấu đi. (“Đó là phép ẩn dụ”), nói phớt qua (”Ồ, điều đó thật ra không có nghĩa như thế ) và được ngụ ngôn hoá (“Đó là hình ảnh của Đức Chúa Trời và dân sự Ngài”). Nhã ca có rất nhiều ẩn dụ và những biểu tượng, nhưng không bao giờ được xem như truyện ngụ ngôn. Thay vào đó, Nhã ca chỉ đơn giản là hình ảnh về tình yêu lý tưởng trong Hôn nhân như Đức Chúa Trời đã hoạch định.
(2)Từ “Chốn khuê phòng” theo tiếng Hy lạp là “Koite”. Mặc dù nghĩa đen của nó có nghĩa là “cái giường ngủ” (LuLc 11:7), trong HeDt 13:3 từ này được dùng theo cách uyển ngữ để ngụ ý là “sự ân ái”.

Để đạt được sự am hiểu sâu sắc về sách này, hãy hoàn thành bài tập dưới đây.
Bài tập 2
Ngồi đọc suốt sách Nhã ca của Salômôn một lần. Sau đó hãy đọc chương 12 sách “Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa ”. Khi đọc xong, hãy viết một trang giấy tóm tắt sự hiểu biết của bạn về sự dạy dỗ của Thánh kinh về tình dục - Có thể nêu ra những tài liệu tham khảo để hỗ trợ. Hãy hoàn thành bài tập này trước khi qua phần khác.
2/ Thái độ đúng đắn đối với tình dục.
Một khi chúng ta có được một quan niệm Thánh kinh vững vàng đối với tình dục, thì chúng ta mới có thể chuyển sang học về phương pháp đúng đắn để yêu người bạn đời của mình trong quan hệ tình dục. Một trong những điều phàn nàn thông thường nhất của phụ nữ là chồng của họ không chú ý đến họ chút nào trừ khi các ông ấy muốn ân ái. Ngược lại, các ông lại than phiền rằng vợ của họ thường không đáp ứng với họ. Việc triển khai những thái độ đúng đắn có thể giúp bạn và người bạn đời giải quyết được những nan đề này.
Trước tiên người chồng phải hiểu rằng phụ nữ xem tình dục như là một phần trong cả mối quan hệ vợ chồng. Khi một người phụ nữ bị đòi hỏi đáp ứng tình dục trong khi chưa nhận được bất kỳ những biểu lộ của tình yêu và sự trìu mến nào thì người phụ nữ sẽ cảm thấy là mình bị lạm dụng. Điều này thường gây ra sự oán giận và chắc chắn là không tạo nên một cảm giác muốn đáp ứng ở người phụ nữ. Một người chồng khôn ngoan sẽ hiểu được nhu cầu về tình yêu và sự trìu mến của người vợ và người chồng sẽ tạo cho vợ mình một mối quan hệ trìu mến, yêu thương và bền vững mà điều này cũng có thể hình thành nền tảng để thành công trong sự ân ái.
Nếu việc tạo nên một cảm giác được an toàn và trìu mến quan trọng đối với người phụ nữ trong quan hệ tình dục như thế thì điều quan trọng đối với người nam là cảm nhận rằng vợ của anh ta đang đáp ứng. Hầu hết phụ nữ không hiểu được rằng đối với người nam, quan hệ tình dục rất quan trọng cả về tâm sinh lý. Rất ít phụ nữ nhận ra được rằng sự tránh né tình dục hay sự thiếu đáp ứng tình dục của họ sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc hôn nhân theo cách tiêu cực. Sự từ chối hay sự không đáp ứng này có thể làm hao mòn cảm giác sung mãn của người đàn ông. Điều này thường dẫn đến sự phai lạt trong những phương diện khác của mối quan hệ hoặc là phương diện tinh thần hoặc là cảm xúc.
Người vợ khôn ngoan phải hiểu được nhu cầu này của người chồng và phải học cách đáp ứng những nhu cầu của chồng.
Câu 1
Hãy diễn tả bằng lời của bạn những đặc điểm quan trọng nhất trong thái độ của người nữ và người nam đối với tình dục.
Để bạn có thể suy nghĩ thông suốt những đề tài này, hãy hoàn thành bài tập dưới đây.
Bài tập 3
Đọc lại phần chương 6 trong “Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa” có tiêu đề là “Sự tiếp cận đúng đắn”. Trong suốt phần này ông Wheat cung cấp sự hướng dẫn và những câu hỏi để giúp bạn đánh giá được thái độ của mình trong mối quan hệ tình dục với người bạn đời. Khi đọc lại phần này, hãy xem xét từng câu hỏi mà ông Wheat đã trình bày và thành thật trả lời những câu hỏi đó. Viết vào vở của bạn những ý tưởng hay những cảm xúc bất kỳ chợt đến trong trí khi bạn trả lời những câu hỏi này.
3/. Sức mạnh của sự gần gũi thể xác.
Quá nhiều người đã đánh giá quá thấp sức mạnh của sự hòa hợp tình dục để tạo nên sự thân mật trong
hôn nhân. Như ông Wheat đã bày tỏ điều này trong “Dành cho sự khoái cảm ” (Intended for pleasure ).
Sự gần gũi thể xác thật sự sẽ giúp vợ chồng khắng khít với nhau hơn qua những mối quan tâm sâu sắc về tinh thần, cảm xúc-- ngay cả tâm linh nữa - và còn mạnh mẽ về thể xác; vì vậy sự gần gũi không chỉ xuất hiện vào lúc ái ân. Vì Đức Chúa Trời đã thiết lập nên mối quan hệ một thịt, nên sự gần gũi thật sự giữa người chồng và người vợ luôn bao gồm phương diện tình dục, có thể họ làm tình với nhau hay chỉ nói chuyện với nhau, ôm chặt nhau trong giấc ngủ, thay quần áo để đi làm hay cùng nhau chăm sóc cây cối trong vườn hoặc cùng cầu nguyện với nhau. Tất cả đều là sự yêu đương.
Bởi vì việc phát triển sự thân mật rất là quan trọng trong một cuộc hôn nhân, chúng ta hãy xem kỹ hơn cách thức sự thân mật bị giới hạn hoặc được phát triển. Chúng ta sẽ làm điều này bằng cách hoàn thành bài tập dưới đây:
Bài tập 4
Hãy đọc “Sức mạnh của sự gần gũi thể xác”, đây là một chương của sách “Dành cho sự khoái cảm”. Trong chương này ông Wheat đã nêu ra 11 trở ngại đối với sự thân mật. Với mỗi trở ngại, hãy đánh giá bằng cách viết một hoặc hai câu về mức độ thích ứng của yếu tố này đối với cuộc hôn nhân của bạn.
Ông kết thúc chương này bằng cách đề nghị 3 lĩnh vực có thể giúp tạo nên sự thân mật trong hôn nhân. Hãy viết giải thích về mỗi khái niệm, bạn hãy nêu ra một điều bạn có thể làm để khuyến khích sự phát triển của lĩnh vực này trong hôn nhân của bạn.

Sức mạnh của sự gần gũi thể xác.
Khi Đấng Tạo hoá của chúng ta thiết lập mối quan hệ một thịt, Ngài đã đặt trong nó tiềm năng về sự gần gũi thể xác nhằm đem hạnh phúc đến cho hôn nhân đến mức hầu như khó tin. Tiềm năng này không phải luôn được am hiểu, nhưng ngày nay các bác sĩ và các nhà nghiên cứu khám phá được rằng sự gần gũi thể xác thật sự đem lại một sức mạnh đặc biệt để chữa lành, để tân trang, để làm mới lại, để phục hồi và để giữ vững quan hệ Hôn nhân.
Nhưng người ta có thể hỏi rằng “Há không phải mọi quan hệ tình dục đều biểu lộ sự thân mật sao?” (Dù sao, còn gì thân mật hơn là việc ân ái?).
Người Lamã cổ đại có một châm ngôn ảm đạm gợi lên câu trả lời: Post coitum omnis animal triste. Mọi sinh vật đều buồn bã sau khi làm tình. Nói cách khác, trong sự bao la của vũ trụ, một nỗ lực nhỏ nhoi để có được sự gần gũi đã được thực hiện. Hai người đã cố gắng tạm thời khỏa lấp nỗi cô đơn của mình bằng sự kết hợp thân xác lại với nhau. Nhưng chỉ trong một khoảnh khắc mà thôi thì sự cố gắng cũng kết thúc và con người lại cô đơn. Đối với những người nam và người nữ đang cố khoả lấp nỗi cô đơn và sự khắc khoải của họ bằng mối quan hệ tình dục trong những cuộc gặp gỡ tình cờ thì nỗi buồn và cảm giác trống vắng day dứt là những hậu quả không thể tránh khỏi. Sự làm tình như thế sẽ không có được mối thâm tình bền vững thật sự chỉ có thể có được giữa hai vợ chồng gắn bó với nhau.
Tình dục vô cảm cũng rất thường xuất hiện trong Hôn nhân. Và rồi nỗi cô đơn lại trở nên trầm trọng hơn đối với những người đã cưới nhau mà vẫn chưa thỏa mãn trong ước mơ có được sự gần gũi sâu sắc với nhau, mà trong đó mỗi hành động ái ân đều tái khẳng định và phục hồi sự thân mật vốn có của nó.
Sự gần gũi thể xác thật sự sẽ giúp vợ chồng khắng khít với nhau hơn qua những mối quan tâm sâu sắc về tinh thần, cảm xúc - ngay cả về tâm linh nữa - và còn mạnh mẽ về thể xác; vì vậy, sự gần gũi không chỉ xuất hiện vào lúc ái ân. Vì Đức Chúa Trời đã thiết lập nên mối quan hệ một thịt, nên sự gần gũi thật sự giữa vợ chồng bao gồm những phương diện tình dục, có thể họ làm tình với nhau, hay chỉ nói chuyện với nhau, ôm chặt nhau trong giấc ngủ hay cùng nhau thay quần áo để đi làm, cùng nhau chăm sóc cây cối trong vườn hoặc cùng cầu nguyện với nhau. Tất cả đều là sự yêu đương.
Thực hành tính diụ dàng, những cử chỉ yêu thương, chia sẻ tâm tình, thường xuyên lo lắng quan tâm, đụng chạm thể xác của nhau, chia xẻ tâm tình, trao đổi cảm xúc, hỗ trợ và tin tưởng lẫn nhau, quí trọng thân thể nhau xem như là thân thể của chính mình, chia xẻ tiếng cười, một sự gần gũi có giá trị thật sự và dài lâu mà không ai có thể xen vào - tất cả điều này gia thêm vào sự gần gũi tình dục liên tục trong trạng thái thỏa mãn sâu sắc. Đó là khuôn mẫu đúng với sự gần gũi thể xác.
Sự gần gũi này có nguồn gốc là ý thức thuộc về nhau mà hai người phải nuôi dưỡng và phát huy trong một khoảng thời gian. Trong sách “Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa ”, chúng ta đã chia sẻ những gì mà cặp vợ chồng kia, sống với nhau đã hơn 25 năm, kể cho chúng ta nghe về sự phát triển mối quan hệ của họ, khi họ tăng cường ý thức thuộc về nhau trong hôn nhân của mình.
Họ đã nói rằng :
bằng một mối quan hệ tình dục đang tiến triển, đó là cảm xúc và thỏa lòng, được nổi bật là nhờ sự rung động và nhờ cảm xúc được yêu mà cả hai người nhận được cho chính bản thân. Khi tình dục được cảm nhận theo cách này, một số ích lợi trong cảm xúc xuất hiện: dịu bớt nỗi đau, tràn ngập niềm vui và sự lạc quan, một cảm giác an toàn và sự bình an.
Khi cách thân mật này được duy trì, người chồng và người vợ trở nên quá gần gũi về cảm xúc đến nỗi cả hai đều nhạy bén và đáp ứng đối với những giao động về cảm xúc của người kia, luôn quan tâm đến hạnh phúc của người kia, khéo léo điều hòa với những nhu cầu của người phối ngẫu.
Vợ chồng cũng có thể nổi giận với nhau - điều này thường xảy ra trong bất cứ mối quan hệ nào giữa con người với con người. Nhưng tình huống được giải quyết nhanh chóng , bởi vì họ không thể nào để cho tình trạng thân mật của họ bị phá hỏng. Sau đó, tình dục trở thành một phương tiện giúp cho sự tái hợp vui vẻ.
Phát triển sự gần gũi thể xác thật sự giúp cho vợ chồng được an toàn qua những thời khắc nguy hiểm truyền thống trong những năm đầu của cuộc hôn nhân; năm thứ bảy là năm mà những cuộc cám dỗ ở bên ngoài được xem là dữ dội nhất. Những năm trung niên, khi mà con cái rời gia đình và hai vợ chồng chỉ còn lại với chính mối quan hệ của mình; những giai đoạn khó khăn, khi mà những áp lực và những nan đề ở bên ngoài trở nên nghiêm trọng hơn; giai đoạn bịnh tật về thể xác, khi mà sự gần gũi thể xác có thể làm cho vợ chồng th“Khi gần đến đám cưới vào tháng 6 của chúng tôi, chúng tôi nghĩ rằng mọi thứ đều tốt đẹp. Tình cảm của chúng tôi rất thắm thiết, ngay cả những cảm xúc lãng mạn của chúng tôi càng thắm thiết hơn và ngay cả - lửa tình say đắm, chúng chỉ đợi vào cuộc ! Sau khi cuộc sống hôn nhân ổn định, mối quan hệ đồng hành và sự khát khao tình dục cùng những cảm xúc lãng mạn vẫn còn đó. Nhưng tất cả đều ít hoàn hảo hơn chúng tôi đã mong đợi bởi vì chúng tôi là những con người không hoàn toàn. Ánh hồng lãng mạn đã không chuẩn bị chúng tôi cho tình trạng ấy! Lúc đó chúng tôi chưa phải là những Cơ đốc nhân cho nên không biết rằng tình yêu agape có thể kết gắn chúng tôi lại với nhau. May thay, có điều gì đó đã giúp chúng tôi vượt qua những năm đầu dễ giao động đó khi niềm hạnh phúc của ngày cưới gần như bị chôn sâu dưới nỗi bất hạnh. Bạn có thể gọi những gì được phát triển giữa chúng tôi là ý thức thuộc về nhau. Chúng tôi đã quyết định đúng đắn ngay từ lúc đầu là chính chúng tôi sẽ đương đầu với thế gian này -- hai người sẽ hiệp thành một. Vì thế cho dù bất cứ điều gì xảy ra hay chúng tôi có mâu thuẫn với nhau đến mức nào, thì chúng tôi vẫn gắn bó với nhau. Chúng tôi giống như một người anh trai và đứa em gái trên sân chơi. Chúng tôi có thể ẩu đả với nhau nhưng thử để một anh nào đó ở bên ngoài chỏ mũi vào, thì hắn sẽ lãnh đủ với cả hai chúng tôi. Nếu một trong hai chúng tôi bị tổn thương, thì người kia sẽ lau nước mắt. Chúng tôi tạo thói quen tin nhau khi nghề nghiệp của chúng tôi không thuận lợi. Chúng tôi bày tỏ cho nhau sự thân ái mà hai người trẻ tuổi nôn nóng cần phải bày tỏ - và còn hơn nữa. Điều đó thật sự không bao lâu cho đến khi chúng tôi khám phá được điều gì đó kỳ diệu về mối quan hệ của chúng tôi. Chúng tôi nhận thấy chúng tôi thuộc về nhau. Chúng tôi đến với nhau trước tiên và sẽ luôn luôn là như vậy. Bởi vì chúng tôi thuộc về nhau, nên không một ai ở bên ngoài có thể phá hoại tình yêu và sự hoà hợp của chúng tôi . Chỉ chúng tôi mới có thể làm điều đó và chúng tôi không muốn làm thế! Điều đó quá tốt lành đến nỗi chúng tôi không thể nào để mất được. Nhiều người dường như dành cả cuộc đời mình để tìm kiếm một cảm giác lệ thuộc. Có lẽ họ không biết rằng hôn nhân là nơi tốt nhất để tìm thấy cảm giác đó ”.
Sự thân mật bắt nguồn từ sự yên tâm phụ thuộc, nhưng phải được nuôi dưỡng ích hợp với những điều kiện mới trong đời sống tình dục của ho; và qua tuổi già, khi mà sự gần gũi thể xác tiếp tục trở nên mạnh mẽ hơn, thú vị hơn và rất là chắc chắn.
Nhưng mặt trái của vấn đề cũng rất thật. Bởi vì sự gần gũi thể xác hết sức quan trọng là sức mạnh hợp nhất hữu ích nên khi sự gần gũi thể xác không làm vợ chồng thỏa mãn hay sự gần gũi hoàn toàn bị xao lãng, thì cuộc hôn nhân có nhiều khả năng bị phá vỡ.
Những dấu hiệu cảnh báo sự thất bại trong việc phát triển sự gần gũi thể xác thỏa nguyện là: buồn chán với cuộc hôn nhân, sự hờ hững trong tình dục, một cảm giác hụt hẫng bởi vì “tuần trăng mật đã qua” và cám dỗ đến với một hoặc hai người khiến họ muốn tìm một nơi khác để có được sự thân mật mà họ mơ ước.
Sau đây là những yếu tố ngăn trở việc phát triển sự gần gũi thể xác trong bất kỳ cuộc Hôn nhân nào:
Những chướng ngại cản trở sự thân mật
Thói quen hay chi trích
Nhiều cặp vợ chồng không những chỉ tự nhiên chỉ trích nhau với hy vọng là đem lại sự thay đổi trong thái độ hay dáng vẻ bề ngoài của người kia, mà họ còn lún sâu vào thói quen phê bình vô ý thức - liên tục soi mói bắt bẻ từ một chuyện nhỏ bình thường thêu dệt câu chuyện vào trong các cuộc nói chuyện hằng ngày của họ. Đây không phải là môi trường mà sự thân mật có thể nở hoa.
Vì thế hãy lắng nghe chính mình. Nếu có thói quen hay chỉ trích thì bạn có thể làm một việc gì đó để giải quyết vấn đề này ngay cả trước khi người bạn đời của bạn quyết định rằng cần phải có thay đổi. Về phía bạn, hãy luôn cố tránh thái độ chỉ trích, cho dù bạn muốn trả đũa lại đến thế nào đi chăng nữa. Thay vào đó, hãy thay thế những lời chỉ trích kia bằng những lời nói tích cực để khen ngợi và khích lệ người khác. Điều đó có thể thay đổi toàn bộ chiều hướng trong mối quan hệ của bạn, và bạn sẽ bắt đầu thấy rằng hai vợ chồng của bạn trước kia đã khốn khổ ngặt nghèo như thế nào, khi mà các bạn không thể ngồi xuống và trò chuyện với nhau trong một bầu không khí cởi mở.
Đè nén cơn giận hay sự cay đắng
Cơn giận và thù địch, cho dù được che đậy và kìm hãm như thế nào, cũng sẽ giết chết bất kỳ sự tăng trưởng nào của mối quan hệ yêu thương mật thiết. Sự buồn chán trong hôn nhân thường là mặt nạ che giấu một cõi thịnh nộ và cay đắng chưa bao giờ được biểu lộ ra cách công khai. Điều này xảy ra khi hai vợ chồng không thể giải quyết được những vấn đề tranh cãi lúc chúng phát sinh. Đôi khi họ sẽ lựa chọn phép lịch sự gượng ép, từ chối không giải quyết nguyên nhân căng thẳng. Đôi khi họ lại tiếp tục giả vờ như là sự xung đột đó chưa từng xảy ra, nhưng những cảm xúc tồi tệ vẫn còn đó. Và cuộc chiến tranh lạnh này cũng có thể vẫn còn đang rình rập để quấy rầy họ vào một ngày khác.
Một cuộc tranh cãi lúc đó có thể gây khó chịu nhưng vẫn tốt hơn là sự im lặng hờ hững, bởi vì một cuộc tranh cãi là sự vươn tới đụng chạm đến người khác. Mong ước tiềm tàng của hai người đang tranh cãi với nhau là người này sẽ hiểu và chấp nhận vị trí của người kia. Tranh luận đôi khi đem lại một sự hiểu biết mới mạnh mẽ giữa người chồng và người vợ.
Một “cuộc chiến” gây kích động có thể tốt hơn là sự dồn nén những quan điểm và cảm xúc chất chứa sự cay đắng, dẫn đến sự thờ ơ lãnh đạm. Sự thờ ơ lãnh đạm là kẻ thù thật sự của tình yêu. Ít ra là hai vợ chồng vẫn còn hướng đến nhau khi đang tranh cãi! Nên lưu ý đến hai thông lệ nền tảng để đạt được sự tranh cãi xây dựng: (a) một thỏa ước đó là cả hai sẽ cứ tiếp tục nói cho đến khi nào giải quyết được vấn đề và cả hai hiểu nhau thì thôi. (b) một thỏa ước để hạn chế sự tranh cãi về những xung đột hiện thời, không kể lể ra những thất bại trong quá khứ của một trong hai bên.
3. Không thể trao đổi với nhau
Thật sự không thể có được sự thân mật nếu không có sự giao tiếp - sự chia xẻ trên cả phương diện lời nói hay cử chỉ. Thật ra một người cố giữ cho mối quan hệ giả tạo bởi vì người ấy e sợ sự thân mật, e sợ việc hình thành sự gần gũi. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều có thể biết truyền thông bằng cách thực hành, nếu họ thật sự muốn. Sự truyền thông đòi hỏi phải yêu thương khi lắng nghe, cũng như sẵn sàng chấp nhận có thể bị tổn thương - cố diễn đạt cảm xúc thành lời nói, và giao phó những lời này cho sự thông cảm của người bạn đời.
4. Thiếu tin cậy vào người bạn đời hay vào chính mình.
Tin cậy lẫn nhau là một trong những điều chính yếu của sự thân mật. Cần phải dành thời gian và sự quan tâm để tạo nên sự tin cậy này. Nhưng một vấn đề khác phát sinh khi một người không cảm thấy tin tưởng ở chính mình. Điều này có thể gây ra nỗi sợ hãi sự thân mật, bởi vì sự thân mật là giúp đỡ lẫn nhau. Gần gũi là phải trao đổi, có nghĩa là một người phải có cái gì đó để ban cho. Những người có nhận thức thấp về chính mình có thể cảm thấy rằng họ không có gì để ban cho và có thể họ cố giấu đi “điều” này bằng cách giữ khoảng cách giữa họ với những người thân thiết nhất của họ. Đôi khi người ta chùn bước trước sự liên hệ cảm xúc cách sâu sắc bởi vì những mối quan hệ thân mật đã làm cho họ bị tổn thương - thường khi họ còn là trẻ con, quá nhỏ không thể giải quyết được vấn đề. Nỗi đau kéo dài từ những từng trải này có thể được chữa lành bằng cách thay thế nỗi đau hiện tại bằng tất cả niềm vui thích trong sự gần gũi cảm xúc. Điều này lại đòi hỏi nhiều thời gian và tính nhẫn nại yêu thương của người phải theo đuổi và chiếm được lòng tin của người khác. Nhưng việc này có thể được thực hiện (và phải được thực hiện) nếu hai người muốn luôn có được một mối quan hệ thân mật.
5. Nỗi lo âu về dáng vẻ bên ngoài của một người.
Có một sự liên hệ trực tiếp giữa nhận thức tiêu cực về thân thể của một người và sự gần gũi thể xác gượng gạo. Sự tiếp xúc tình dục tự do, hoặc ngay cả sự thân mật khi cùng chăn gối với nhau không thể vui thích được nếu khi đó có một người lại mắc cở về thân thể của mình, lúc nào cũng cố che đậy thân thể mình lại. Sự đáp ứng tình dục tự nhiên của thân thể cũng bị hạn chế khi một người luôn nghĩ về những nhược điểm của thân thể mình nhiều hơn là có ý tưởng gợi cảm và thích thú. Điều này thật kỳ lạ nhưng lại có thật, đó là nhiều người cảm thấy mình không dễ thương chỉ vì một lĩnh vực nào đó trong thân thể họ, và họ cho rằng người bạn đời của mình cũng có những cảm xúc tiêu cực đối với dáng vẻ bên ngoài của họ.
Một điều duy nhất người bạn đời của người đó có thể làm là phải bày tỏ bằng lời nói sự ưa thích của mình với mỗi bộ phận trong thân thể của người đó, luôn luôn khen ngợi, đừng bao giờ chê bai chỉ trích.
Cá nhân có sự lo âu về dáng vẻ bên ngoài của mình nên xem điều đó như là một nan đề thuộc linh. Tất nhiên nếu có thể sửa đổi thì nên sửa. Nhưng người đó cần phải suy gẫm hai nguyên tắc Thánh kinh sau: (1) Đức Chúa Trời ban cho tôi thuộc tính này. “Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng, công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm” (Thi Tv 139:14 NIV). Vì thế, tôi cần phải hết mình chăm sóc thân thể của tôi; sau đó hình thành một cảm xúc tích cực đối với những gì mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi và cách Ngài đã dựng nên tôi. (2) Đức Chúa Trời định rằng người chồng và người vợ phải “trần truồng mà chẳng hổ thẹn” trước mặt nhau như là một phần của mối quan hệ một thịt (Xem SaSt 2:24-25). Vì thế che giấu thân thể của tôi trước người bạn đời là không đúng với Thánh kinh.
“Quan sát” trong suốt thời gian làm tình.
“Quan sát ” là một thành ngữ của các nhà điều trị để miêu tả sự lo lắng nhìn xem thái độ của một người trong suốt thời gian ân ái, bởi vì người ta quá đỗi lo lắng về việc biểu diễn thuật yêu đương.
Điều này có thể chữa được khi người bạn đời thông cảm giúp người đó chuyển sự chú ý của mình sang việc làm cho người bạn đời được vui thỏa và thích thú với việc vuốt ve âu yếm.
Bởi vì sự thân mật là một kinh nghiệm cần cùng nhau chia xẻ, nên thật khó thích thú khi bạn quá chú ý đến chính mình. Chuyển sự chú ý đến việc làm cho người bạn đời vui thích và thưởng thức sự thỏa mãn do bạn tình tạo ra cho mình sẽ tạo nên sự gần gũi và gạt bỏ đi sự ngượng ngùng.
7. Sự coi thường giá trị của tình dục
Mối quan hệ tình dục trong hôn nhân là một trong những từng trải sâu sắc, toại nguyện và huyền nhiệm nhất. Nhưng lạ thay có nhiều người cho rằng tình dục là thái độ chưa chín chắn cần phải bị loại bỏ. Trong một số cuộc hôn nhân, một hoặc hai người có thể cố ý coi thường giá trị của tình dục và chuyển sự quan tâm của mình vào việc khác. Tất nhiên điều này phá hủy sự gần gũi thể xác phong phú vô hạn mà Đức Chúa Trời đã định cho hai vợ chồng.
8. Tình dục định kỳ và biết trước.
Sự gần gũi phong phú về cảm xúc luôn là dấu hiệu của sự sống. Tình dục mà đều đặn như việc đánh răng của một người và máy móc như việc gửi thơ, thì đó là dấu hiệu của một mối quan hệ đang tàn lụi. Điều đó có thể được tu sửa lại bằng cách chuẩn bị cảm xúc cho giây phút yêu đương, bằng cách thay đổi thời gian, nơi chốn và cách tiếp cận trong tình dục, và bằng cách chú trọng vào sự nhạy cảm và sự tác động đến cảm xúc hơn là kỷ xảo hướng tới mục tiêu cực khoái nhanh chóng. Một người đàn ông có thể nếm trải cuộc giao hoan kéo dài hai phút, nhưng người đó đang tự lừa dối cả chính mình lẫn vợ của mình.
9. Thiếu sự nhạy cảm.
Sự gần gũi được hình thành khi chúng ta bày tỏ sự nhạy cảm của mình đối với những nhu cầu của người bạn đời. Không nhạy cảm với những nhu cầu và những ham muốn, đặc biệt trong quan hệ tình dục, có thể sẽ gây hại đến việc hình thành sự gần gũi. Một ví dụ rất thường được trích dẫn là người chồng thường đòi hỏi sự làm tình ngay sau cuộc tranh cãi chưa thể giải quyết được, lúc đó các con đang chơi ở phòng bên cạnh và một người hành xóm đang đứng trước cửa! Hoặc là người vợ sẽ làm gián đoạn sự yêu đương hăng say của người chồng để đi lấy thịt ở tủ lạnh ra hoặc đi canh chừng một đứa bé đang ngủ! Các nhà điều trị gọi thái độ ngăn trở mối quan hệ tình dục đem đến sự thỏa mãn là “sự phá hoại ngầm trong tình dục”. Nếu bạn muốn hình thành sự gần gũi, bạn phải hoà nhập chính mình để hiểu được những nhu cầu của người bạn đời và đáp ứng những nhu cầu đó bằng phương cách yêu thương và tế nhị.
10. Thiếu vắng sự vuốt ve thể xác không dục tính.
Để có được sự thân mật với người bạn đời của bạn thì bạn phải “tiếp xúc” với người ấy. Sự tiếp xúc này có nghĩa là sự vuốt ve thể xác, cũng như theo cách mà bạn tiếp xúc với tình cảm , tâm trí và tâm linh vậy.
Tôi đã quan sát và nhận thấy rằng những người đã kết hôn cần sự vuốt ve thể xác với sự yêu thương trìu mến mà không đòi hỏi quan hệ tình dục, để giữ cho cảm xúc đang yêu còn mãi. Sự gần gũi cảm xúc/ thể xác không thể hình thành nếu bạn không thường xuyên vuốt ve cách nhẹ nhàng, gợi cảm, thoải mái mà không sợ bị cự tuyệt hay hiểu lầm. Sự thân mật đòi hỏi sự ôm ấp, ôm chặt nhau, ngồi bên nhau, nắm tay nhau, hôn nhau, như là một phần trong cuộc sống hằng ngày của bạn.
Sau khi kết hôn với nhau, các cặp vợ chồng rất thường hay sử dụng sự vuốt ve chỉ là một dấu hiệu của sự quan hệ tình dục, nhưng không nên như vậy. Tình dục không thể đáp ứng được tất cả các nhu cầu cần được trìu mến và vuốt ve thể xác của bạn. Để hình thànhsự thân mật, bạn phải “luôn vuốt ve” hằng ngày.
11. Xem tivi quá nhiều.
Điều này dường như ít quan trọng hơn các yếu tố khác mà chúng ta đã đề cập đến. Tuy nhiên, tivi làm cho con người trở nên thụ động; những người lúc nào cũng xem tivi không thể có động cơ thúc đẩy lẫn năng lực để phát triển một mối quan hệ thân mật. Tivi có thể trở nên quá thu hút đến nỗi người ta không thể nhận biết mình đã mất bao nhiêu thời gian để xem tivi.
Việc đó chuyển thành nguyên nhân của sự ngăn trở thật sự, khi người đó thức khuya để xem truyền hình, rồi mong đợi người kia vẫn còn tỉnh táo và sẵn sàng để yêu đương khi anh ta lên giường. Đôi khi việc xem truyền hình được dùng như một phương tiện tránh quan hệ tình dục.
Vì thế hãy cân nhắc những điều ưu tiên của bạn và quyết định cái nào bạn thích có hơn: một cuộc sống thụ động luôn chăm chú vào màng hình tivi hoặc là một mối quan hệ thân mật với người bạn đời của mình. Cho đến lúc này bạn và người bạn đời của mình có lẽ đã hình thành không quá một phần của sự thân mật mà cả hai có thể. Hãy sử dụng sự trông cậy mạnh mẽ của phần thuộc linh và tìm kiếm để xây dựng sự thân mật lâu dài. Kiểu tăng trưởng này không xảy ra cách nhanh chóng, nhưng dần dần, theo cách con người lớn lên. Khi bạn có tiến bộ, bạn sẽ thấy rằng việc biểu hiện để gần gũi người yêu dấu thì không bao giờ nhàm chán cả! Những kết quả tự nó nói lên nhiều điều rồi.
Quy tắc của sự gần gũi
Tôi có thể đưa ra cho bạn danh sách bất tận về những lời đề nghị cho việc hình thành sự gần gũi thể xác trong hôn nhân của bạn, nhưng tôi chỉ qui định 3 điều mà thôi. Những điều này là những hướng dẫn khái quát phản ánh những điều mà các nhà điều trị gọi là 3 phương diện chức năng của sự gần gũi của con người:tình yêu, sự gợi cảm, tình dục. Điều hướng dẫn đầu tiên phải được thực hiện bằng tình yêu thương vì đó là cách duy nhất để thiết lập sự tin cậy.
Thiết lập sự tin cậy lẫn nhau.
Bạn không thể thiết lập sự gần gũi khi bạn đang cố bảo vệ hay biện hộ cho chính mình. Bạn không thể thiết lập sự gần gũi khi lo sợ không dám trưng bày ra những nhu cầu và những nhược điểm của mình. Bạn không thể thiết lập sự gần gũi nếu bạn không cảm thấy được an toàn cả về cảm xúc lẫn thể xác với người bạn đời của bạn hơn là bất cứ người nào khác trên thế gian này.
Sự gần gũi chỉ tăng trưởng trong một nơi an toàn. Bởi vì cách cư xử của con người nhắm vào việc tìm kiếm niềm vui và tránh đi sự đau đớn, nên bạn phải đối xử với người bạn đời của bạn thể nào để anh ấy hoặc cô ấy luôn xem bạn như là niềm vui của họ chứ không phải như nỗi đau tình cảm .
Khi chồng hoặc vợ sợ làm tổn thương, cự tuyệt, chỉ trích hay hiểu lầm nhau, họ sẽ cảm thấy khó tiếp xúc với nhau cách trìu mến hoặc thoải mái chia xẻ với nhau. Lời Đức Chúa Trời chỉ cho chúng ta cách thiết lập sự tin cậy đem lại sự gần gũi trong hai câu ngắn gọn: (1) “Tình yêu thương che đậy vô số tội lỗi” (Xem IPhi 1Pr 4:8). (2) “Tình yêu thương xây dựng” (Xem ICo1Cr 8:1). Nói cách khác: (1) Bỏ qua các lỗi lầm và không bao giờ chỉ trích phê bình. (2) Luôn luôn khuyến khích và trao tặng cho người bạn đời của mình món quà qúi giá là sự thông cảm sâu sắc.
Sự phê bình có thể là một tai họa chết người đối với tình yêu và sự gần gũi. Vì phê bình không bao giờ có thể làm cho con người thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Nó chỉ có thể thành công trong việc đặt những dặm đường xa cách về cảm xúc giữa chồng với vợ; là những người luôn luôn khao khát gần gũi nội tâm với nhau. Trái lại, sự khen ngợi có một năng lực rất hiệu nghiệm để làm cho mối quan hệ ngày càng tốt đẹp hơn, vừa làm cho mỗi người càng mạnh mẽ hơn và tạo cho mỗi người nguồn cảm hứng để đạt được những thành tựu cao hơn.
Trao cho người bạn đời của bạn tình yêu vô điều kiện(tình yêu chúng ta gọi là agape ) là cách tốt nhất để dành được sự tin cậy của anh ấy hoặc cô ấy. Nếu bạn muốn tìm hiểu làm cách nào để yêu vô điều kiện, hãy đọc chương 10 của sách “Đời sống tình yêu của mỗi đôi lứa ” có tên là “Phương pháp Agape”. Cũng hãy đọc lại chương 3 “Dành cho sự khoái cảm ” (Interded for Pleasure).
Học để thưởng thức sự gợi cảm
Các nhà điều trị định nghĩa sự khoái cảm như là nhu cầu cần được ôm chặt, âu yếm, mơn trớn và vuốt ve. Không nên lầm lẫn từ này với sự đam mê nhục dục, là mối bận tâm thể xác đối lập với tinh thần và tâm linh. Đơn giản là chúng ta chỉ đang nói về tầm quan trọng của sự vuốt ve, như một phương tiện để đáp ứng những nhu cầu sâu xa nhất của con người, và như một phương cách hữu hiệu nhất để phát huy sự thân mật trong Hôn nhân.
Trong sách “Đời sống tình yêu ” chúng tôi đã đưa ra 25 lời đề nghị đối với sự vuốt ve mà không đòi hỏi sự quan hệ tình dục, mà bất cứ người chồng và người vợ nào cũng có thể ứng dụng được. Một số cá nhân rất khao khát được vuốt ve nhiều hơn, và họ sẽ sẵn sàng làm tình, chỉ để được ôm chặt và được vuốt ve. Những người khác không hiểu được nhu cầu thật sự của họ là gì và có lẽ họ cố dùng tình dục để thay thế sự vuốt ve thể xác đầy trìu mến và gợi cảm, và sự gần gũi. Rồi có người khác cho rằng họ “chỉ không âu yếm” thôi. Những người này phải học để thưởng thức khoái cảm qua việc luôn luôn kiên nhẫn yêu thương đối với người bạn đời và thực hành sự vuốt ve thể xác mà không đòi hỏi quan hệ tình dục.
Sự khoái cảm cũng quan trọng đối với sự thưởng thức tình dục. Hầu như mỗi phân vuông trên cơ thể con người đều có khả năng trở nên kích thích và người vợ/ người chồng nên dùng đôi tay và các ngón tay của mình để sờ, để vuốt ve, để xoa bóp và để mơn trớn tất cả các bộ phận của thân thể người kia. Tìm hiểu từng bộ phận của thân thể bằng đôi tay trìu mến (bao gồm cả việc khuôn mặt của người yêu dấu trong bóng tối bằng những ngón tay gợi cảm) sẽ làm tăng xúc cảm của sự thân mật.
Khi được học về sự gợi cảm, người chồng có thể sẽ khám phá ra rằng tình dục có thể thoải mái hơn mình tưởng rất nhiều, và thụ động tình dục thường có thể rất thích thú khi người vợ vuốt ve người chồng theo cách mà người vợ biết sẽ làm cho người chồng hài lòng. Sự gợi cảm đòi hỏi khả năng tận hưởng sự âu yếm, và người đàn ông nào cho rằng những cảm xúc âu yếm có vẻ như nữ tính sẽ phải học nhiều để có được kinh nghiệm trong lĩnh vực này của sự thân mật.
Quan hệ tình dục như những tình nhân.
Sau khi yêu nhau, hầu hết những người đàn ông đều muốn bảo đảm rằng họ là những người yêu tuyệt vời, và hầu hết những người phụ nữ đều muốn bảo đảm rằng họ đã làm người chồng họ rất hài lòng, say mê họ, và được thỏa mãn. Nhưng nghiên cứu cho biết rằng rất nhiều người chỉ nghiêng qua và ngủ mà chẳng nói gì!
Nếu bạn muốn thiết lập sự thân mật, thì bạn cần phải bắt đầu liên hệ tình dục với nhau như những tình nhân, không phải như là những ông bố, những bà mẹ cáu kỉnh thỉnh thoảng quan hệ tình dục với nhau theo thói quen - hoặc là bổn phận. Một số đặc điểm của tình dục giữa vợ chồng là những người yêu nhau là gì?
Trước hết, khi họ quan hệ tình dục, họ thường nhớ lại thời gian mà họ mới bắt đầu yêu nhau - vở kịchvề sự tỏ tình của họ - và điều này phục hồi sự tươi mới của tuổi trẻ. Những cảm xúc này có thể được tái tạo trong mỗi lần họ quên đi thế giới bên ngoài để âu yếm nhau. Người chồng có thể kinh nghiệm niềm xúc động vì đã chiến thắng cuộc chinh phục bất cứ khi nào anh ta làm tình với vợ mình; người vợ có thể sẽ tự hào khi được chồng mình theo đuổi; và người chồng có thể cảm nhận được sự đáp ứng đầy cảm kích của vợ.
Bởi vì chồng là một người tình, nên người chồng bày tỏ khả năng nhạy cảm và quan tâm chăm sóc, khả năng biểu lộ những cảm xúc của mình mà không hế bối rối, cùng với những bản lĩnh đàn ông của người chồng sẽ làm hài lòng vợ như sự tự tin và sức mạnh. Đến lượt người vợ sẽ đáp ứng, người vợ thích thú bởi sự tiếp cận gợi cảm và thong thả của người chồng, bởi một bầu không khí lãng mạn và người vợ sẽ cho chồng biết điều đó.
Những tình nhân tránh sự nhàm chán trong đời sống tình dục của họ. Họ thực hành sự thay đổi về thời gian hoặc cách biểu lộ, thay đổi trong cách làm tình, thay đổi về số lần, vị trí và hình thức, đôi khi sự làm tình của họ vui nhộn, đôi khi thì say đắm mãnh liệt, đôi khi thì thong thả và âu yếm. Sự đa dạng là gia vị của việc làm tình.
Những tình nhân tận hưởng lẫn nhau như những người đàn ông và đàn bà. Họ dành thời gian cho nhau - thời gian vuốt ve kích thích trước khi làm tình, đi bộ hay có thể chỉ nói chuyện với nhau trước ánh lửa trong lò sưởi, khi họ chỉ có hai người với nhau. Họ cùng nhau đi chơi xa qua đêm hay qua một ngày nghỉ cuối tuần hoặc trong một vài ngày để làm cho họ trở nên tươi mới và phục hồi mối quan hệ của họ.
Những tình nhân học cách khéo léo hay trực tiếp đề cập đến ham muốn của mình trước đó hàng giờ đồng hồ, để cho cả hai có thời gian để chuẩn bị cảm xúc, háo hức chờ đợi sự làm tình và trong tâm trí của họ chứa đầy những ý tưởng hồi hộp về cách làm thế nào để làm cho kinh nghiệm làm tình trở nên tuyệt vời hơn và kéo dài hơn.
Sau đỉnh điểm, khi cả hai đã đều được thỏa mãn, những tình nhân còn muốn gần bên nhau để vuốt ve nhau, nói thầm với nhau, hôn nhau và ôm ấp nhau cách nhẹ nhàng. Đôi khi họ muốn duy trì cảm giác thoả mãn ấm áp đó với cách nói rất đặc trưng. Không nên nói với nhau về bất cứ điều gì tầm thường hay nhạt nhẽo cả! Không nên nói về việc sửa nhà hay những vấn đề tiền bạc hay sổ liên lạc điểm kém của Johnny. Trong lúc nghỉ xả hơi sau khi đã làm tình xong, trong khi vẫn còn ở trong vòng tay của nhau, họ muốn nói về nhau, về lịch sử cuộc tình của họ, họ hay nói chuyện thân tình với nhau hoặc đặc biệt là đề cao nhau - có lẽ họ sẽ nói chuyện huyên thuyên với nhau khi họ bày tỏ những giấc mơ hay những mục tiêu của mình. Đó là thời điểm riêng tư để họ chung nhau tiếng cười và luôn khen ngợi nhau như những người yêu nhau, người này cảm ơn người kia về kinh nghiệm tuyệt vời mà họ đã có được, và có lẽ họ sẽ cùng cầu nguyện với nhau trước khi đi ngủ với tấm lòng biết ơn về cách mà Đức Chúa Trời đã ban phước cho họ ngay cả trong việc yêu đương.
Đối với đôi vợ chồng Cơ đốc, sự gần gũi thể xác luôn luôn có cả phương diện thuộc linh, khi kinh nghiệm sự hiệp nhất với người yêu dấu, và cả hai đều có thể đạt được mức độ gần gũi cao nhất về thể xác, tinh thần và tâm linh. Đối với đôi vợ chồng này thì không có sự âu sầu sau khi yêu nhau, nhưng hai tâm hồn lại cùng nhau ca hát với cùng một niềm vui và sự khen ngợi.
Lời cầu nguyện của chúng tôi là bạn sẽ kinh nghiệm được niềm vui của sự gần gũi thể xác trong mối quan hệ của chính bạn.

Điều kiện để có một mối quan hệ tình dục lành mạnh
Bày tỏ một thái độ đúng đắn đối với tình dục và hiểu được cách tốt nhất để tiếp cận với người bạn đời của bạn chắc chắn sẽ làm cho mối quan hệ hôn nhân của bạn càng thêm tốt đẹp hơn. Nhưng để cho sự hoà hợp tình dục đạt tiêu chuẩn theo đúng như Đức Chúa Trời đã định thì sự hoà hợp này phải xảy ra trong bối cảnh là một mối quan hệ phải được diễn tả bằng những biểu hiện khác của một tình yêu và sự trìu mến - Bạn còn nhớ trong bài học trước bạn đã thấy nhiều đặc điểm khác nhau của tình yêu. Bây giờ trong bài học này bạn đã tìm hiểu biểu lộ của tình yêu trong hôn nhân về phương diện tình dục. Điều quan trọng là phải hiểu được cách biểu lộ những phương diện khác hay những bản chất khác của tình yêu trong Hôn nhân. Để giúp bạn khám phá ra cách thực hành được điều này vào trong hôn nhân của bạn, hãy hoàn thành bài tập sau đây:
Bài tập 5
Hãy đọc từ chương 7 đến chương 10 của sách “Đời sống tình yêu ”, mỗi chương đề cập đến cách bày tỏ một loại tình yêu. Với mỗi chương, hãy chia ra một trang trong vở của bạn. Khi đọc xong mỗi chương, hãy nêu ra những cách có thể nghĩ ra để phát huy nguyên tắc ấy trong hôn nhân của bạn. Đặc biệt hãy chú ý đến những cách có thể tạo ra một bầu không khí gần gũi đáng yêu.
Để có thể suy nghĩ kỹ càng ngụ ý của bài học này hãy hoàn thành dự án sau:
Dự án 11
Đối với những học viên đã có gia đình:
Hãy dành riêng ít nhất là một giờ để thảo luận điều sau đây với người bạn đời của bạn. Nếu người bạn đời của bạn không học khoá học này thì đừng quên chia xẻ cho cô ấy hoặc anh ấy những gì bạn đã học xong trong bài học này. Sau khi đã dành thời gian thảo luận về mối quan hệ tình dục của bạn. Hãy nhờ người bạn đời của bạn bày tỏ cho bạn biết trong lãnh vực nào mối quan hệ tình dục của bạn là mạnh mẽ và yếu trong lãnh vực nào. Hãy thay phiên nhau để làm điều này, và cả hai sẽ có cơ hội để bày tỏ những cảm xúc của mình.
Điều gì làm cho em thấy là lãng mạn, và điều gì khiến em muốn ân ái?
Em từng trải điều gì thú vị? Điều gì không ?
Điều nào là cảm giác của em: có phải chúng ta yêu nhau quá thường xuyên, quá ít hay vừa đủ?
Em có cảm thấy rằng chúng ta đã nói chuyện cách công khai về mối quan hệ tình dục của chúng ta không?
Em có thích anh là người khởi động thường xuyên hơn/ ít hơn không?
Cuối cùng hãy thảo luận 3 điều đã được đề cập trong kết luận của bài học này: nhu cầu về thời gian, sự riêng tư và sự dấn thân. Trong mỗi gia đình có nhiều điều khác nhau gây nên sự khó khăn trong việc hình thành sự thân mật trong hôn nhân. Hãy khám phá ra những phương cách có tính cách sáng tạo để vượt qua được những trở ngại đối với cả thời gian và sự riêng tư trong hoàn cảnh của bạn.
Mặc dù dự án dưới đây được dành cho những người chưa có gia đình, nhưng nội dung thì rất phù hợp đối với bất kỳ người nào có liên hệ đến hoặc cố vấn cho những người độc thân.

Đối với những học viên chưa có gia đình
Mối quan hệ thể xác là một món quà tốt lành mà Đức Chúa Trời ban cho hai vợ chồng. Có phải món quà này cũng dành cho những người chưa có gia đình không? Hãy bắt đầu dự án này bằng cách đọc phần phụ lục. “Đạo đức tình dục cho những người độc thân” và sau đó hãy giải quyết với bài tập tình huống dưới đây, giả sử bạn đang tư vấn cho một đôi bạn trẻ đã đính hôn với nhau. Chàng trai trẻ thú nhận với bạn :
Cả hai chúng tôi đều rất yêu nhau và muốn tiến đến hôn nhân, nhưng vì lý do tài chính nên chúng tôi phải đợi một hoặc 2 năm nữa. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng không vì cớ gì mà chúng tôi không thể thường quan hệ tình dục với nhau. Chúng tôi biết sẽ có nhiều người không đồng ý, nhưng mặc khác há không phải chính Đức Chúa Trời tạo nên mối quan hệ thể xác và những nhu cầu của chúng tôi sao? Trong chừng mực nào đó chúng tôi đã kết hôn với nhau trước mặt của Đức Chúa Trời kể từ khi chúng tôi hứa nguyện trao cuộc sống của chúng tôi cho nhau.
Bằng cách kết hợp hài hoà những gì bạn đã học trong các bài 1-3, 9 và 10 hãy viết một hoặc hai trang giấy trả lời bài tập tình huống ở trên. Đâu là những lý do (Kinh thánh, cảm xúc, xã hội và v..v…) khiến đôi bạn trẻ này nên kiêng quan hệ tình dục trước hôn nhân?
Kết luận
Trong bài học này bạn đã nghiên cứu về các phương cách biểu lộ tình yêu trong hôn nhân, đặc biệt nhấn mạnh trên phương diện hoà hợp tình dục. Bạn đã đọc rất nhiều và đã làm nhiều bảng lượng giá về hôn nhân của bạn. Để ứng dụng thành công những nguyên tắc này trong hôn nhân của bạn, sẽ có 3 điều cần thiết. Trước tiên, đó là thời gian. Để hình thành sự thân mật theo như Đức Chúa Trời đã định, vợ chồng phải dành thời gian để cùng nhau phát huy những lãnh vực này. Thứ hai, đòi hỏi sự riêng tư. Để đạt được mức độ thân mật này, đặc biệt trong sự hiệp nhất thân thể, vợ chồng phải có khoảng thời gian nào đó hoàn toàn riêng tư với nhau. Cuối cùng là sự dấn thân. Việc hình thành một mối quan hệ cá nhân thân mật đòi hỏi bạn phải dấn thân thực hành mối quan hệ đó.
Ñ Ñ Ñ Ñ Ñ Ñ

TRẢ LỜI CÂU HỎI
Câu 1
Câu trả lời của bạn. Đối với một phụ nữ, tình dục là một phần trong toàn thể mối quan hệ bao gồm tình yêu, sự an toàn và sự trìu mến. Đối với một người đàn ông, sự đáp ứng của người vợ dành cho anh ta về thể xác lẫn tâm hồn kích thích cảm giác sung mãn của anh ta.

Phụ lục: ĐẠO ĐỨC TÌNH DỤC CHO NHỮNG NGƯỜI ĐỘC THÂN

Một cuộc thảo luận mang tính chất Xã hội học, Tâm lý học và theo đúng Kinh thánh.
Phần trích sau trong chương 4 sách của John White, Eros Defiled đề cập đến phản ứng của Cơ đốc nhân đối với một môi trường đạo đức đang biến chuyển. White khẳng định rằng: “Xu hướng đạo đức chung của nơi mà chúng ta đang sống ảnh hưởng nhiều đến những tiêu chuẩn của chúng ta hơn là chúng ta thấy” và khi những tiêu chuẩn đạo đức suy đồi, Hội thánh cần phải được chuẩn bị để cung ứng sự đáp ứng của Đức Chúa Trời vốn vượt thời gian không bao giờ thay đổi đối với những bối cảnh luôn luôn biến chuyển. Đây là cuộc thảo luận của ông White về đạo đức tình dục theo Thánh kinh.
Định nghĩa các thuật ngữ:
Vuốt ve âu yếm: sự vuốt ve hay mơn trớn gợi tình nhằm kích dục bạn đời của bạn.
Những đám cưới lỡ: đám cưới không do tự chọn nhưng do bị áp lực, thường là vì người phụ nữ đã có thai.
Quyền tự do biến thành nô lệ
Những con lạc đà bị nuốt
Sự đối phó của Hội thánh đối với những nguyên tắc đạo đức thay đổi là một hỗn hợp của sự căm phẫn dữ dội (nhưng trống rỗng) ... Một số nhà truyền đạo trong vòng chúng ta đã đánh mất trọng tâm của những chân lý trong Thánh kinh. Những người khác đã nhượng bộ tiêu biểu cho sự thỏa hiệp phi Cơ đốc. Người trẻ cũng như người già đều bị lún sâu vào những khuynh hướng phức tạp không đáng tin cậy, đã mò mẫm tìm sự giúp đỡ cách đáng thương và bị cuốn đi bởi những đam mê không lắng dịu cách thích hợp khi sự rối loạn phát sinh,
Đạo đức tình dục có thể được ví sánh như một tòa nhà. Chúng ta đã thất bại khi không đặt tòa nhà đứng trên nền tảng Thánh kinh tương xứng để nó có thể đứng vững. Kết quả là khi những cơn bão đập mạnh vào nền đạo đức của chúng ta, thì các bức tường của tòa nhà bắt đầu sụp đổ. Vào lúc như thế thì điều cuối cùng chúng ta cần là sự nâng cao bề mặt đạo đức mà hầu như đó là tất cả những gì những lời thuyết giảng thủ cựu cung ứng. Chúng ta cần phải liều mình để thực hiện những gì mà Kinh thánh bày tỏ là nền tảng đạo đức. Chúng ta cần có một nền tảng chắc chắn.
Còn về phần đạo đức mới, ngay từ ban đầu chúng ta phải nắm chắc rằng đạo đức không bao giờ “mới “ cả. Đạo đức bắt nguồn từ bản chất đời đời không hề thay đổi của Đức Chúa Trời. Cũng giống như Ngài, đạo đức chân thật không thể có những tính từ như là mới hoặc cũ.
Nhiều người đã mất niềm tin nơi những tiêu chuẩn của Hội thánh bởi nhiều lý do. Sự quen thuộc với tình dục đã làm thay đổi quan điểm của họ. Cách đây 30 năm, tình dục ở các trường trung học đã đủ bất thường để trở thành chuyên đề cho các câu chuyện thày lay hay những sự khoe khoang khoác lác. Bây giờ tình dục quá phổ biến đến nỗi các học sinh trung học cho đến sinh viên cũng trở nên áy náy về điều bình thường của họ nếu họ còn trinh trắng. Dần dần, ngay giữa các Cơ đốc nhân trẻ tuổi cảm xúc không rõ ràng là làm sao đạt thỏa ước là không nên qui tội những mối quan hệ tình dục giữa những đôi bạn chân tình với nhau.
Chúng ta phải bắt đầu với quan niệm dứt khoát là không được lên án những người không phải là Cơ đốc nhân vì những tiêu chuẩn tình dục của họ. Nhưng một khi bạn đã thừa nhận quá nhiều điều như t hế thì chỉ trong một bước ngắn nữa thôi bạn sẽ thâu nhận những tiêu chuẩn đó cho mình.
Liệu tiêu chuẩn đạo đức mới của một vài năm trước có góp phần gây ra tình trạng này không, hay nền đạo đức mới tự nó là một sự bào chữa cho những gì người ta đã làm thì còn phải xét lại. Nhưng càng ngày người ta càng cảm thấy rằng những tiêu chuẩn tình dục truyền thống của các Hội thánh Tin lành là đạo đức giả và sai lầm. “Thành thật” và “trung thực” là tiêu chuẩn mới để đo lường những tiêu chuẩn về tình dục .
Tuy nhiên, tình trạng dường như lộn xộn và buồn bã của sự việc cũng có thể là tốt. Vì một điều là không ai có thể buộc tội những nhà truyền đạo đã không làm trọn bổn phận là phải nêu ra những tiêu chuẩn của Thánh kinh. Có thể chúng ta đã không xây dựng những nền tảng thích hợp, nhưng chúng ta đã chỉ ra cấu trúc thượng tầng phải ra sao. “Phàm những sự gian dâm hoặc ô uế, hoặc sự tham lam cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ” (Eph Ep 5:3). Tiêu chuẩn rất rõ ràng và các nhà truyền đạo đã công bố đúng đắn tiêu chuẩn đó.
Dầu vậy có một phương diện chúng ta đã thất bại là thiếu ý thức cân đối. Nỗi ám ảnh của chúng ta với sự trinh trắng tình dục không tương xứng với sự quan tâm của chúng ta về phẩm chất tốt đẹp khác của Cơ đốc nhân. Chúng ta đã quá câu nệ những con ruồi nhỏ và nuốt chửng con lạc đà. Mặc dù rõ ràng không phải con ruồi hay con lạc đà là để cho chúng ta nuốt, chúng ta đã không cật lực lên án những tội lỗi dễ có như là:tham lam, hiểm độc, cay đắng, kiêu ngạo và nói dối. Tất cả những lỗi đó đều được tìm thấy trong mỗi chúng ta. Điều đó đã khiến cho nỗi ám ảnh về sự trong sạch của tình dục bị hoài nghi.
Có phải chúng ta thật sự đạo đức đến thế không? Khi tôi thành thật nhìn lại cuộc sống của mình, tôi không thể tự hào về sự trinh trắng mà tôi đem vào hôn nhân. Đó là một điều nhu nhược được binh vực bằng những nỗi sợ hãi, những điều cấm kỵ và sự thiếu hiểu biết. Nó không có nền tảng rõ ràng trong sự hiểu biết của tôi về Kinh thánh và xuất phát từ sự tin quyết của tôi về những nguyên tắc Kinh thánh tiềm ẩn. Tôi e rằng tôi không phải là người duy nhất trong khiá cạnh này.
Thế hệ tội lỗi
Lời khiển trách cho sự rối loạn đạo đức phải được đặt dưới chân của các Cơ đốc nhân thuộc cả hai thế hệ. Thế hệ đi trước đã tạo nên khoảng trống luân thường đạo lý tạo nên sự đòi hỏi một đạo đức theo từng tình huống. Còn thế hệ hôm nay sử dụng một luân thường đạo lý theo từng tình huống để biện hộ cho những hành động sai trái của mình.
Qua sự nhấn mạnh trên chữ nghĩa của luật pháp, qua nỗi ám ảnh với những chi tiết về thái độ bề ngoài (phim ảnh, hút thuốc, khiêu vũ) qua sự áp đặt những con ruồi nhỏ thần học mà tôi đã đề cập đến trong khi nuốt gọn những con lạc đà hành vi như ghen ghét, tham lam và vật chất chủ nghĩa, hiển nhiên những người Tin lành thời trước đã giới thiệu cho thế gian một sự bắt chước theo Tin lành cách cạn cợt rỗng tuếch. Chúng ta đã làm cho những mạng lịnh của Đức Chúa Trời bốc mùi hôi thối bởi vì chúng ta đã chọn lọc sử dụng những mạng lịnh đó để biện hộ cho lối sống của chúng ta. Chúng ta bỏ sót những phần Kinh thánh rộng lớn còn lại mà không giải thích - chúng ta cũng là kẻ yêu sự tối tăm (GiGa 3:19) - cho đến khi mọi người chung quanh ta đều rõ rằng nếu nền đạo lý mà chúng ta bảo vệ là theo Kinh thánh thì đạo đức theo Thánh kinh là không thích ứng. Đạo đức học tình huống giới thiệu một nỗ lực thô sơ để sửa đổi lại những vùng sáng trong đạo đức tiêu cực mà chúng ta đã giảng dạy. Bởi vì chúng ta đã không hề giảng dạy đạo đức theo Thánh kinh.
Quyền tự do theo Kinh thánh và vấn đề tình dục
Chúng ta không những đã thất bại trong sự nhấn mạnh của chúng ta vốn là một nỗi ám ảnh gây loạn thần kinh chức năng hơn là một dấu hiệu của sự thánh khiết, mà còn thất bại trong sự giải kinh của chúng ta. Kinh thánh đã nêu ra những lý do của việc ngăn cấm tình dục ngoài hôn nhân và tiền hôn nhân. “Con không được!” không phải là trọng tâm và chắc chắn cũng không phải là mục tiêu của mạng lịnh Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không cần phải giải thích nền đạo đức của Ngài, tuy nhiên trong trường hợp này Ngài chọn phương cách như vậy.
Từ lâu lắm trước khi Phaolô đề cập đến phần Kinh thánh được chúng ta ưa thích trong I Côrinhtô 6 (phần mà Phaolô lấy làm tiếc mà nói về sự phi lý khi chúng ta là đền thờ của Đức Thánh linh mà lại kết hiệp với gái làng chơi), Phaolô thảo luận về quyền tự do.
“Mọi sự tôi có phép làm” bạn nói, vâng, “nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích. Mọi sự tôi có phép làm, nhưng chẳng để sự gì bắt phục được tôi”. Bạn nói “Đồ ăn vì bụng, bụng vì đồ ăn”. Đúng, và một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ hủy hoại cái nọ và cái kia Nhưng thân thể chẳng phải vì sự dâm dục đâu, bèn là vì Chúa (ICo1Cr 6:12-14, NEB)
“Mọi sự tôi có phép làm”. Hoan hô sự tự do! Thật là một sự tuyệt vời! Sự tự do là những gì chúng ta cần nhất, tự do khỏi sự đè nén giả tạo của chúng ta.
Nhưng tự do là gì?
Phaolô định nghĩa sự tự do ám chỉ đến mục đích, đến những gì mà một vật gì đó được dự kiến hay được hướng về (“Thân thể không được dùng để thông dâm”). Chúng ta đang sống trong một thế giới mà ở đó mọi thứ đều có chương trình và chức năng. Bạn không cứu con cá tự do khỏi đại dương được (tội nghiệp con cá! bị giam giữ và bị hạn chế quá!) hãy để những con chim được tự do không cần bay nhảy. Chim được tạo ra để bay và cá để bơi. Chúng được tự do nhất khi chúng thực hiện những gì dành cho chúng phải làm. Cũng một cách ấy thân thể của bạn không phải dành cho tình dục trước hôn nhân và thân thể của bạn sẽ không bao giờ được tự do khi bạn thả mình vào điều ấy.
Nhưng sự tự do cũng là một kinh nghiệm. Chúng ta không thể biết là liệu con cá co cảm thấy tự do trong đại dương hay con chim cảm thấy tự do trong không khí không. Từ cái nhìn khách quan khi chúng ta quan sát chúng, chúng ta có thể nhận định rằng chúng hoàn toàn lệ thuộc theo nghĩa chúng là nô lệ của những bản năng và môi trường chúng đang sống. Cá không thể sống trong không khí hoặc chim không thể sống trong đại dương được.
Kinh nghiệm tự do có liên hệ đến việc yêu và được yêu. Đức Chúa Trời dựng nên bạn vì Ngài yêu bạn. Những mục đích của Ngài trên bạn là sự biểu lộ tình yêu của Ngài đối với bạn. Và khi bạn đáp ứng những mạng lịnh của Ngài (về tình dục hay bất cứ điều gì khác) bằng tình yêu thương, thì bạn được tự do, tự do sống và làm những gì mà cả bạn và Đức Chúa Trời đều muốn. Bạn càng hoàn toàn lệ thuộc những ý chỉ phước hạnh của Ngài bao nhiêu thì bạn sẽ khám phá rằng mình được tự do bấy nhiêu. Không có ai đã từng nếm trải được sự tự do khi làm nô lệ của Đấng Christ mà có thể nghi ngờ ý thức tuyệt vời của việc được giải thoát vốn là đặc tính của điều ấy.
Vấn đề vô cùng nghiêm trọng của sự vuốt ve âu yếm
Tất cả những điều này có quan hệ như thế nào đến tình dục trước hôn nhân? Có quan hệ như thế nào đến đôi bạn đã vuốt ve âu yếm với nhau? Điều gì xảy ra?
Có gì đâu họ vuốt ve càng nhiều thì họ càng ít nói chuyện với nhau. Và họ càng nói chuyện ít thì họ càng vuốt ve nhiều. Bất cứ khi nào ở bên nhau họ đều mong muốn chỉ có một mình họ mà thôi. Khi họ chỉ có một mình, mắt họ sẽ đờ đẫn khi họ sờ vượt qua hàng nút áo đến phần da thịt. Tự do chăng?
Loại tiếp cận nào đối với sự hứa nguyện trong cuộc sống lại như thế? Mặc dù tình dục được dùng để làm cho sự truyền thông dễ dàng thoải mái hơn nhưng ngược lại nó có thể gây trở ngại cho sự truyền thông khi bị lạm dụng ...
Dường như chỉ mới hôm qua khi mà đề tài quan trọng nhất trong tạp chí thanh niên Cơ đốc có đề cập đến sự vuốt ve âu yếm của thiếu niên. Có thể âu yếm nhau đến mức nào? Người ta có nên nắm tay nhau trong cuộc hò hẹn không? Hôn nhau? Ôm nhau? Vuốt ve nhau? Mơn trớn nhau?
Theo ký ức thì dường như đó là điều kỳ lạ. Nỗ lực điều chỉnh những tiêu chuẩn về tình dục bằng cách hạn chế sự vuốt ve âu yếm thì có hiệu quả y như là dùng hàng rào giấy để ngăn chặn cơn lũ lụt lại. Thanh niên trên thế giới đã đánh mất sự tự do của mình trong cuộc chiến chống lại ách nô lệ cho sự dâm dục. Sự tự do tình dục thật sự đã bị xói mòn và bị phá hủy.
Tôi thừa nhận rằng hoạt động tình dục của các thanh niên Cơ đốc ít “phóng túng” hơn các thanh niên không phải là Cơ đốc nhân. Nhưng chắc chắn rằng sự vuốt ve âu yếm đã bị thay thế bằng quan hệ tình dục trước hôn nhân ngay cả trong giới thanh niên Cơ đốc .
Thật ra vấn đề cũng luôn là như thế thôi. Làm sao người ta có thể phân biệt được vuốt ve âu yếm và sự làm tình? Một khi bạn đã cố vẽ lên bản đồ đạo đức của chúng ta theo cách phân tích và theo sinh lý học, bạn sẽ kết thúc với một mê cung luân thường đạo lý không có lối ra.
Hãy lấy ví dụ về một nụ hôn. Có ai có thể tin được một nhà văn công giáo Lamã đã phân biệt những nụ hôn vô tội, những nụ hôn có thể tha thứ được và những nụ hôn gớm ghiếc tùy theo khoảng thời gian các cặp môi tiếp xúc với nhau? Đích thật là khi bạn tiến càng xa trong sự cận kề thể xác thì bạn càng đến gần sự giao hợp hơn. Nhưng việc định nghĩa sự giao hợp với ẩn ý là sự thâm nhập và sự cực khoái cũng có nhiều ý nghĩa đạo đức và cũng có nhiều khó khăn không thể nào tránh khỏi như là việc cố định nghĩa bộ râu cằm là một số sợi lông ở cằm vậy.
Tôi cho rằng các chuyên gia thường phân biệt sự mơn trớn quá mức với sự vuốt ve nhẹ nhàng, và phân biệt sự mơn trớn quá mức với sự giao hợp, nhưng có sự khác biệt về đạo đức nào giữa cảnh hai người trần truồng nằm trên giường vuốt ve âu yếm nhau để đạt đến cực điểm và hai người khác đang giao hợp không? Có phải hai người đang âu yếm với nhau ít tội hơn hai người đang giao hợp với nhau không?
Có phải sự vuốt ve mà vẫn mặc quần áo thì đứng đắn hơn không? Nếu vậy thì điều nào sai hơn: vuốt ve mà không mặc quần áo và giao hợp mà không cởi quần áo?
Bạn có thể nói rằng tôi quá thô lỗ. Không phải như vậy đâu. Nếu chúng ta theo đuổi cuộc thảo luận đúng mức thì chúng ta sẽ thấy rằng sự tiếp cận đạo đức về tình dục tiền hôn nhân dựa trên các chi tiết của hành vi (hôn nhau mặc đồ hay không mặc đồ, vuốt ve, ôm chặt, nhìn) và các bộ phận của thân thể (những ngón tay, tóc, những cánh tay, cặp vú, đôi môi, cơ quan sinh dục) chỉ có thể làm thoả mãn một người đạo đức giả mà thôi. Một cái nhìn có thể khêu gợi như sự vuốt ve, và một ngón tay chạm nhẹ lên trên gò má cũng khiêu dâm như là một sự thâm nhập vậy.
Không có một cột mốc đạo đức nào trên con đường trơn trợt dẫn đến sự (thông dâm). Nếu bạn trườn ra khỏi con đường trước khi đến đó thì có lẽ bạn đang chứng tỏ một điều gì đó (chẳng hạn như tính hèn nhát của bạn) chứ chắc chắn không phải phẩm tính tốt của bạn đâu!
Sự vuốt ve âu yếm tiền hôn nhân và sự giao hợp tiền hôn nhân không phải là hai vấn đề nhưng chỉ là một vấn đề. Thoạt nghe dường như đây là những vấn đề khác biệt. Chỉ gần 10 năm trước đây thôi hầu hết các cặp vợ chồng Cơ đốc nghĩ rằng sự giao hợp trước hôn nhân đã là điều không thành vấn đề nữa rồi. Nhưng trong những thập niên 70, những vấn đề đạo đức đã trở nên mờ nhạt qua cách suy nghĩ theo tình huống và điều cấm kỵ đã trở nên không còn hiệu lực như xưa nữa bởi vì tất cả chúng ta đều đã quá quen với tội tà dâm rồi.
Trên con đường dài từ sự vuốt ve âu yếm đến sự có thai thì một Cơ đốc nhân nên dùng lại ở chỗ nào? Một tạp chí Cơ đốc tôi tình cờ đọc cách đây vài năm khuyên nên ngừa thai, biện luận trong khi mối quan hệ tình dục có thể ”rất là ý nghĩa” thì có thai trong những trường hợp như vậy là “vô trách nhiệm”. Ngày nay, nhiều thanh niên, dù Cơ đốc nhân hay không phải Cơ đốc nhân, sẽ thật sự bác bỏ những tư tưởng đạo đức giả đó.
Trong nhiều đoạn văn trước tôi đã khẳng định rằng không có những cột mốc đạo đức nào trên suốt con đường. Nếu tôi đúng, thì sự thật là vuốt ve không khác gì sự thâm nhập và nếu quan hệ tình dục trước hôn nhân là sai lầm thì tất cả những mánh khoé cũng đều sai lầm.
Các đôi bạn nên quan niệm về giai đoạn hứa hôn như thế nào? Phải chăng họ nên dùng khoảng thời gian đó để tìm hiểu tâm trí và tấm lòng hơn là thân thể của nhau..
Họ đã thảo luận với nhau về những mục tiêu cho hôn nhân của mình rõ ràng đến mức độ nào? Họ đã thẳng thắn đến mức độ nào trong việc biểu lộ những gì mỗi người mong đợi ở người kia trong hôn nhân về việc chia xẻ trách nhiệm và sự quan tâm, về vấn đề tài chính, cách cư xử của Cơ đốc nhân trong gia đình, về vấn đề dạy dỗ con cái?
Đây không phải là vấn đề được quyết định qua việc đánh dấu kiểm tra vào những ô vuông trên đĩa vi tính. Đôi bạn có thể dễ dàng nói với nhau về những cảm xúc sâu sắc nhất không? Về những điều mình thích và những điều mình không thích?
Điều được gọi là “ôm ấp” và”âu yếm” diễn tả điều mà những nhà tình dục học gọi là sự vuốt ve kích thích khi giao hợp. Hôn nhau, sờ nhau, vuốt ve nhau kích thích cơ thể của hai người để bắt đầu giao hợp với nhau - “Ôm ấp” và “âu yếm” là một phần của sự việc. Giao hợp không bắt đầu khi dương vật thâm nhập vào âm hộ (những người chồng nào có suy nghĩ như vậy thì cần phải học hỏi thêm nhiều) mà là khi những người đang yêu để cho những ngón tay của mình đan vào nhau hay khi một bàn tay nhẹ nhàng vuốt ve mái tóc. Nếu quan hệ tình dục trước hôn nhân là điều tội lỗi, thì sự “ôm ấp” và “âu yếm” cũng là điều tội lỗi. Và một cái nhìn thèm muốn cũng là điều tội lỗi. Sự vuốt ve âu yếm là một vấn đề vô cùng nghiêm trọng.
Để chấp nhận quan điểm mà tôi đã trình bày có nghĩa là vấn đề chính yếu duy nhất chúng ta phải đối diện là sự chính đáng của mối quan hệ tình dục trước hôn nhân. Vấn đề này xưa như trái đất, xã hội trong mọi thời đại và nơi chốn khác nhau đều phải vật lộn với câu hỏi này.
Gần đây, không có Cơ đốc nhân nào thắc mắc về sự sai lầm của tình dục trước hôn nhân. Như trong những năm 70, thế hệ người lớn hơn cảm thấy hoang mang và tuyệt vọng khi nhìn thấy cuộc cách mạng tình dục xảy ra. Vài người bạn trẻ của tôi đã bảo tôi rằng “hầu hết” những đôi vợ chồng Cơ đốc bây giờ đều đã ngủ với nhau trước khi họ đến bàn thánh. Tôi nghĩ rằng những người của tôi đã thổi phồng câu chuyện. Nhưng quả thật là một số người đã sống công khai với nhau - những người khác đã sống buông thả trong những buổi cuối tuần ấm cúng - Một số người khác không rõ là bao nhiêu thì lén lút quan hệ với nhau.
Nhưng điều cũng đáng lo như hành vi của họ là sự biện hộ cách “vô thức”. “Tất nhiên điều đó là đúng thôi” là thái độ của một số người.”Điều đó thật ra không có gì đâu”. “Lành mạnh thôi mà!” “Đó là điều tự nhiên phải xảy ra thôi”. “Động cơ mới là quan trọng” . “Chúng tôi không có quan hệ tình dục bừa bãi. Chúng tôi cũng rất chung thủy với nhau như những người đã kết hôn và chúng tôi chung thủy với nhau vì chúng tôi yêu nhau, không phải bởi những gì mà người ta suy nghĩ”.
Cha mẹ luôn biết rằng điều này sẽ dẫn đến điều khác. Trong thập niên vừa qua sự lo lắng của cha mẹ về thái độ của con cái họ đối với tình dục đã lên cao. Đó là sự quan tâm thái quá đôi khi đã làm cho các đôi bạn trẻ thường tiến xa hơn về phía những mối quan hệ tình dục. Cả hai bên đều đáng bị khiển trách, đó là sự kiện mọi người trong cuộc vỡ lẽ khi sự có thai buộc mọi người phải đối diện với thực tế. Trong một gia đình đàng hoàng khi gặp hoàn cảnh như thế, cha mẹ thường gạt bỏ sự xấu hổ của họ và con cái thì tạm dẹp sự bất chấp cha mẹ qua một bên vì cả hai đều nhận thấy nhu cầu và sự phụ thuộc lẫn nhau của họ.
Thất bại của cha mẹ cũng như nỗi đau của họ đã là niềm kiêu hãnh trong lòng con cái họ. Đúng là họ rất muốn bảo vệ con cái của họ “vì hạnh phúc của chính chúng nó” thật sự họ cũng quan tâm đến những chuyện tai tiếng.
Người mẹ nào thích đối diện với nhóm cầu nguyện khi biết rằng mọi người phụ nữ khác trong nhóm đều biết con gái mình có thai? Có những người cha nào mà không xấu hổ trước những bạn bè cùng địa vị xã hội như mình khi con gái của mình lặng lẽ rời khỏi trường học và mỗi bước đi đều nói rằng cô ta không còn trinh trắng nữa? Trong một số trường hợp cha mẹ cũng nên nhận thức được lỗi lầm và sự thất bại của họ. Nhưng họ phản ứng với chuyện này theo những cách khác nhau. Một số người cho con gái của mình đi du lịch một thời gian dài, nhưng người khác thì vội vã chuẩn bị đám cưới. Còn những người khác thì tôn trọng nhu cầu và quyền tự lựa chọn của con cái mình. Về phía những đứa con, việc nhận thức được những gì chúng đã làm cho người khác có thể giúp cho chúng cảm biết trách nhiệm nặng nề mà chúng phải gánh chịu.
Xem thường sự kiên quyết và niềm kiêu hãnh của các bậc cha mẹ hoặc bảo vệ quyền tự quyết của mình là một việc. Còn người con phải nhìn xem nỗi đau và sự bẽ mặt của các bậc cha mẹ mà quan điểm đã bị con khinh thường và dự tính của mình đối với một mầm sống sắp ra đời lại là một việc khác.
Điều lạ là việc có thai sẽ khiến chúng ta rũ bỏ được tính hợm hĩnh của mình. Dường như sự có thai ngoài hôn nhân là tội ác. Với lý do chính đáng, sự có thai ngoài hôn nhân được thế hệ đi trước gọi là “lỡ dại”.
Trường hợp tình dục trước Hôn nhân
Tại sao các tín hữu lại phải thắc mắc về tình dục trước hôn nhân? Há không phải đặc điểm của chúng ta là trung thành với Kinh thánh sao? Chúng ta hãy tự nhớ lại thái độ của Thánh Phaolô: “Phàm sự gian dâm hoặc sự ô uế, hoặc sự tham lam cũng chớ nên nói đến giữa anh em, theo như cách xứng đáng cho các thánh đồ” (Eph 5:3; NEB). Điều gì có thể rõ ràng hơn nữa không?
Trong quá khứ, sự kêu gọi đến với Thánh kinh là đủ rồi. Nhưng tại sao bây giờ điều đó không còn nữa? Bởi vì chúng ta không thể tìm hiểu về vấn đề tình dục trước hôn nhân nếu không khám phá rằng nhiều người ủng hộ vấn đề tình dục trước hôn nhân không sẵn sàng chấp nhận sự dạy dỗ của Thánh kinh Tân ước, mặc dù đó là dây neo Phúc âm.
Chúng ta đã thảo luận xong những nền tảng luật lệ của Thánh kinh về tình dục. Thân thể chúng ta được dựng nên là để được tự do. Tự do chỉ có thể được tìm thấy trong tình dục hay trong bất cứ lãnh vực nào khác khi nào chúng ta hoàn thành mục đích mà chúng ta được sáng tạo.
Tuy nhiên nếu bạn nói chuyện với các thanh niên trong các Hội thánh, có lẽ bạn sẽ nghe họ nói về sự cứng rắn của các luật lệ. Từ từ các bạn sẽ nhận thấy sự xuất hiện cảm nghĩ bác bỏ những tiêu chuẩn về tình dục của Hội thánh (có hoặc không có trong Thánh kinh) bởi vì chúng đạo đức giả, thành kiến và không thích đáng. Sao lại có sự thay đổi như thế?
Những lời nhận xét mà tôi vừa nêu có tiếng chuông của cái được gọi là đạo đức mới và đạo đức tình huống. Đạo đức tình huống phủ nhận rằng đạo đức có thể hệ thống hoá. Đúng hay sai phải được xác định bởi các tình huống mà tôi can dự. Động cơ quan trọng hơn hành động, tại sao tôi làm một điều gì quan trọng hơn là tôi làm gì. Sự thông dâm dưới những tình huống như thế là điều đúng đắn. Tình yêu là nguyên tắc cơ bản trong đạo đức của một Cơ đốc nhân thật sự bởi vì tình yêu thương làm trọn luật pháp.
Có thể tôi sai, nhưng tôi không tin rằng đạo đức tình huống chịu trách nhiệm về sự bào chữa lộn xộn cho những tiêu chuẩn tình dục đương thời hay là sự bác bỏ hợp lý một số phần đặc biệt nào đó của Kinh thánh. Sự thật thì ngược lại. Trong khi sự thật là niềm tin sai lầm có thể dẫn đến những hành động sai lầm và đúng hơn nữa khi tư dục muốn làm điều sai sẽ khiến cho chúng ta tận dụng bất cứ hệ thống đạo đức nào có thể biện hộ cho chúng ta. Chúng ta xuyên tạc Kinh thánh bởi vì chúng ta không thích những gì Kinh thánh nói chứ không phải chúng ta tìm ra một đạo đức khác ưu việt hơn. “Người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng láng, vì việc làm của họ là xấu xa” (GiGa 3:19). Trong bất cứ trường hợp nào tôi cũng nghi ngại về “tình yêu” được dùng như bình phong để bất chấp nguyên tắc của Kinh thánh.
Tình yêu làm trọn luật pháp. Tình yêu thật sự gồm tóm tất cả đạo đức của Thánh kinh. Nhưng tình yêu làm trọn luật pháp không phải là sự kích thích ở bụng dưới làm mờ đi khả năng suy xét của bạn và cám dỗ ý chí của bạn khi bạn giao phối. Đó không phải là thứ tình mà bạn làm. Sự kích thích tình dục trước hôn nhân quá thường xuyên trở nên rất quan trọng, như nhiều người chưa kết hôn với nhau đã khám phá. Nó gây trở ngại cho mối liên lạc thật sự phải được phát triển.
Tình yêu không phải là sự thương hại, lớn hơn lòng thương cảm, sâu sắc hơn sự hiểu biết và tích cực hơn là hy sinh. Đó là tình yêu agape của I Côrinhtô 13, tình yêu bắt nguồn từ tấm lòng của Đức Chúa Trời, tình yêu không hề kết thúc khi đối tượng của tình yêu không còn làm vừa lòng mình nữa.
Tình yêu như thế làm rõ luật đạo đức hơn là hủy bỏ. Tận dụng lời nói sáo của kẻ thù, những mạng lịnh của Thánh kinh trở nên “đầy ý nghĩa” khi chúng được soi sáng bởi tình yêu agape. Qua ánh sáng của tình yêu chúng ta thấy không có điều nào không thích đáng trong sự cấm đoán của Thánh kinh về quan hệ tình dục trước và ngoài hôn nhân. Những mạng lịnh của Thánh kinh hoàn toàn thích hợp với thời đại ngày nay.
Tôi không biện hộ cho các mạng lịnh của Thánh kinh. Các mạng lịnh này không cần sự biện hộ nào cả. Các mạng lịnh này là các mạng lịnh sống. Điều đó đủ lắm rồi.Tôi chỉ tìm cách giải thích tại sao các mạng lịnh này dường như bắt đầu không phù hợp với một thế hệ rối loạn và hoang mang trước biến đổi của xã hội.
Tuy nhiên, chúng ta còn phải xem xét nhiều lý luận được dùng để chứng minh cho một nền đạo đức ít chặt chẽ hơn. Một tạp chí phương tây giới thiệu một phương pháp tiếp cận thản nhiên đối với khoái lạc trong tình dục, còn tệ hơn là sách khiêu dâm nữa. Những bài báo này cố dạy một phương cách sống dựa trên giả thuyết là khoái lạc không cần biện minh. Hưởng thụ là điều tốt lành nên chúng ta cần trừ khử đi những ức chế của chúng ta và chấp nhận điều đó.
Tôi không cần phải thảo luận về cách tiếp cận (này) đối với tình dục. Quan điểm của nó về phụ nữ rất ích kỷ và có lợi nhiều cho phái nam, còn khái niệm của cách tiếp cận này về khoái cảm là ảo tưởng.
Theo đuổi sự khoái cảm cũng khó như tìm biết tận cùng cầu vồng vậy. Hãy tìm kiếm khoái cảm đi và bạn sẽ chẳng bao giờ tìm thấy nó cả. Bất cứ khi nào bạn cố nắm đuôi nó thì nó sẽ lẩn tránh bạn ngay.
Nếu khoái cảm cũng dễ tìm như theo đuổi, trường phái triết học Hy lạp theo thuyết Epicurean sẽ không bao giờ thoát khỏi lý lẽ đó. Trải bao nhiêu năm qua, những người Hy lạp đã nhận thấy rằng vấn đề khoái cảm là một vấn đề quan trọng, sâu sắc và vì thế theo đuổi khoái cảm càng trở nên nghiêm trọng hơn và không thể giải quyết được.
Vì sự khoái cảm chỉ là một kết quả phụ, là một ảnh hưởng phiến diện nó sẽ khiến chúng ta rất ngạc nhiên khi chúng ta tìm kiếm một điều gì đó nữa.
Chúa ôi, con coi lại những bể nước đã bị vỡ
Ồ! nhưng mà nước đã chảy gần hết rồi.
Ngay cả khi con cúi xuống để uống
thì nước cũng tan biến đi
và nhạo báng con khi con than khóc.
Hãy tìm kiếm Chúa và bạn sẽ thấy trong những điều khác cũng có sự khoái lạc cực kỳ nữa. Hãy tìm kiếm khoái lạc đi và trong cuộc chạy đường dài đó bạn sẽ cảm thấy buồn chán, vỡ mộng, và lệ thuộc. Vì thế nếu có ai đó đúng khi nói rằng theo đuổi khoái lạc là điều tốt, thì sự theo đuổi sẽ dẫn đến buồn tẻ, thất vọng và biến thành nô lệ.
“Nhưng chuyện đó cũng đúng thôi!”
Tuy nhiên, một số người lại ném triết học khắp nơi. “Tôi thấy là chuyện đó thật ra cũng rất tốt và lành mạnh thôi”, cô gái 19 tuổi có mái tóc vàng hoe mềm mại ôm lấy đôi vai thon thả nói. “Làm sao chuyện đó có thể sai lầm cho được khi tôi rất vui cho Joe những gì anh ấy muốn khi chúng tôi thật sung sức.”
Vâng, bạn yêu qúi ạ, điều đó tự nó đã là tốt lành rồi (có lẽ bạn không muốn tôi nói như thế phải không) không phải sự giao phối là xấu, nhưng xấu là ở cách bạn dùng nó. Thức ăn ngon là tốt lành. Ăn tối với thịt bò bít tết trong khi đáng lẽ hoàn thành bài tập cũng có thể được biện minh y như vậy. Khi bạn thở phào sung sướng lúc ra khỏi nhà hàng để lên xe, bạn có thể nói với sự tin chắc sâu sắc: “Cám ơn em yêu, thật là điều tuyệt vời chúng ta cần điều đó. Anh chắc rằng việc chúng ta hoãn lại bài làm là điều đúng đắn”.
Và có thể bạn đúng hoặc sai. Nhưng một điều chắc chắn là: việc ăn bít tết tự nó là một điều hoàn toàn tốt lành. Việc đó không phải là vô đạo đức, ô uế hoặc dơ dáy. Điều làm cho việc đó đúng hoặc sai có quan hệ đến hoàn cảnh bạn ăn bít tết. Những cảm xúc tích cực của bạn không đáng tin cậy, đặc biệt lúc những bài tập của bạn chưa được hoàn thành, cũng giống y như trong trường hợp quan hệ tình dục trước hôn nhân. Một cảm xúc đúng đắn không chứng minh điều gì cả, ngoại trừ người muốn dùng nó để chứng tỏ điều gì đó.
Sự lành mạnh Tinh thần và Tình dục
Nhưng còn sự lành mạnh tinh thần và tình dục thì sao?
Vô số sách cho chúng ta biết rằng theo quan điểm về sự lành mạnh tinh thần, tình dục trước và ngoài hôn nhân cũng có thể có giá trị.
Người tán thành sự biểu lộ Tình dục và lành mạnh tinh thần ồn ào nhất là nhà phân tâm học đã quá cố Wilhelm Reich, người có những quyển sách có một thời bị cấm. Trong quyển sách nổi tiếng nhất của ông “Phân tích cá tính” ông ta biện bạch rằng tầm quan trọng chủ yếu là việc đạt đến cực khoái với số lượng đầy đủ và cảm xúc mãnh liệt thật sự nếu một người phải trở nên một người trưởng thành và tròn trịa. Có thể nói là nếu một ngày có một lần đạt được sự cực khoái thì người ta sẽ không còn cần đến bác sĩ nữa. Vì sự cực khoái là “sự liên kết tâm hồn và thể xác với nhau” và ở đó cá tính được hình thành. Nói bậy ! Nhưng lời nói bậy lại được chào đón với lòng tôn kính dành cho những lời tiên tri bởi những người ngưỡng mộ ngày càng đông đảo của Reich.
Ngày càng có nhiều lý thuyết ôn hòa tâm thần học và tâm lý học có liên hệ đến sự kìm hãm không lành mạnh đối với bản năng xác thịt. Một lần nữa tôi phải nhấn mạnh rằng sự ngăn chặn và kìm hãm không giống nhau.
Kìm hãm sự thôi thúc của tình dục là điều nguy hiểm. Điều đó nguy hiểm vì nó xuất phát từ sự sợ hãi và tội lỗi. Khi sợ hãi và tội lỗi điều khiển những thôi thúc tình dục của tôi ngấm ngầm, thì chính lúc đó tôi rất cần được giải phóng. Nỗi sợ hãi được che giấu sẽ đặt nền móng cho một đời sống tình dục không lành mạnh.
Trái lại, sự ngăn cản không những lành mạnh mà còn cần thiết cho sự phát huy cảm xúc của tôi. Những ham muốn tình dục của tôi là sự ban cho của Đức Chúa Trời dành cho tôi. Tôi không cần phải hổ thẹn, mặc cảm tội lỗi hay lo ngại về những ham muốn đó, như tôi nói với con chó của tôi: “Bây giờ mầy hãy nằm xuống! Để dịp khác nhưng không phải bây giờ!” Giống như con chó của tôi, những ham muốn đó có thể không muốn vâng lời. Nhưng chúng phải được huấn luyện và tôi là người huấn luyện.
Bạn thấy đấy, tôi không kìm hãm con chó của tôi nhưng tôi ngăn cản nó. Khi tôi nói “nằm xuống” tôi không cảm thấy xấu hổ về con chó của mình khi có khách đến . Nếu tôi cảm thấy hổ thẹn hay có tội, tôi sẽ giấu con chó trong tầng hầm, và tôi sẽ cảm thấy rất bực mình về những tiếng tru tréo và phân của nó.
Trái lại, tôi tự hào về nó. Nhưng tôi phải dạy cho nó biết vị trí của nó. Nếu không làm thế sẽ làm cho con chó, cho tôi và cho những người khách của tôi cảm thấy khốn khổ mà thôi. Tôi sẽ mất bạn bè, họ sẽ bực tức vì bị nhảy lên người, cào xé, gãi và liếm. Ngoài ra con chó của tôi sẽ bị hoang mang và tổn thương bởi một sự hất hủi mà nó không hiểu thấu được.
Những thôi thúc tình dục (giống như những con chó cưng làm cảnh sát) cần được ngăn cản và rèn luyện để có được vị trí thật sự của chúng trong đời sống của chúng ta nếu chúng ta muốn kinh nghiệm sự phát triển lành mạnh và không muốn trở thành những kẻ có đời sống tình dục thô lỗ...
Đối diện với những nan đề trong thực tế
Tôi xin bắt đầu tóm tắt sự dạy dỗ của Thánh kinh về sự sai lầm của sự tà dâm. Tôi sẽ tóm tắt mức độ sự dạy dỗ xuyên tạc đã làm xói mòn những bức tường đạo đức vốn dễ sụp đổ. Chúng ta đã xuyên tạc Kinh thánh bằng cách nhấn mạnh những vẻ bề ngoài hơn là những gì Kinh thánh làm (hút thuốc, khiêu vũ, nhậu nhẹt, quan hệ tình dục bừa bãi và v...v...) và qua đó giới thiệu sự thánh khiết trong những phạm vi tiêu cực. Chúng ta không thể nhấn mạnh bản chất và lý do của sự thánh khiết tuyệt đối trong cuộc sống. Sự thánh khiết tự nó đã trở thành hoặc một hình thức luật pháp chủ nghĩa một cách quá mức (bởi đó chúng ta góp phần vào công giá của sự cứu rỗi chúng ta) hoặc một thứ cảm xúc phấn chấn của tâm lý học giả tạo mà nhờ đó chúng ta sẽ “được sử dụng nhiều hơn” hoặc là có một “đời sống trọn vẹn hơn”. Lý do của nguyên tắc phải sống một đời sống thánh khiết như đã được ban hành trong Thánh kinh là:“Hãy nên thánh vì ta Giêhôva Đức Chúa Trời các ngươi vốn là thánh” (LeLv 19:2)
Nhận thức được sự rỗng tuếch của việc giảng dạy Kinh thánh không cân bằng của chúng ta, người già cũng như người trẻ không chuẩn bị sự tấn công từ hai phía của sự kích thích tình dục đang gia tăng và sự khôn khéo của các trường phái triết học mới về tình dục. Một cái gì đó phải lấp vào chỗ trống và một cái gì đó phải được đưa ra.
Sự thông dâm là điều sai lầm bởi vì nó làm hỏng mục đích của Đức Chúa Trời dành cho tình dục của bạn. Nó thay thế sự tự do bằng nô lệ và đóng đi những cánh cửa dẫn đến sự thân mật sâu sắc nhất. Để tôi sẽ giải thích điều này cho thật tường tận. Thân thể của bạn không thuộc về bạn nhưng thuộc về Đức Chúa Trời cho dù bạn có tự xưng mình là Cơ đốc nhân hay không đi chăng nữa.
Cũng một thế ấy tình dục của bạn không thuộc về bạn nhưng thuộc về Ngài.
Khác xa với tính tầm thường và giới hạn về tình dục, Đức Chúa Trời muốn bạn kinh nghiệm được niềm vui thích trọn vẹn có thể có của tình dục hoà hợp với hạnh phúc của bạn. Ngài muốn làm cho tình dục của bạn được tự do. Bạn chỉ có thể thụ hưởng tình dục trong sự tự do. “Thân thể chẳng phải vì sự dâm dục đâu, bèn là vì Chúa” (ICo1Cr 6:13). Nói cách khác, mục đích tình dục của bạn là để bạn biết được tình yêu thân mật (tình yêu thân mật rộng mở hơn và sâu sắc hơn tình dục của thể xác) trong khuôn mẫu vững chắc và phát triển của hôn nhân. Bất cứ tình huống sử dụng tình dục nào khác sẽ biến bạn trở thành nô lệ. Bạn chỉ có hai sự lựa chọn: tự do trong những mục đích của Đức Chúa Trời dành cho bạn hoặc làm nô lệ cho tình dục, cho bản ngã và cho những người khác ở ngoài những mục đích của Ngài (6:12). Nếu câu nói của tôi có làm cho bạn bị sa bẫy, thì bạn chưa bao giờ biết sự tự do thật sự là gì cả.
Khi bạn say mê tình dục trước hôn nhân, bạn đang làm một điều cơ bản nào đó chống lại bản chất và những bản năng mà Đức Chúa Trời đã đặt trong bạn. Bạn đã phạm tội với chính thân thể của mình, có nghĩa là bạn đã làm một điều gì đó tổn hại đến mục đích cao cả của việc tạo dựng ra nó (6:18).
Nhưng nếu bạn đã lỡ quan hệ tình dục trước hôn nhân hoặc nếu bạn đang tư vấn cho một người nào đó đã quan hệ tình dục trước hôn nhân thì sao? Bạn nên làm gì trong tình huống này?
Chấm dứt những mối quan hệ tình dục
Sẽ dễ dàng hơn khi cả hai bạn đều quyết định chấm dứt những mối quan hệ tình dục. Chỉ một người trong hai bạn quyết định thì đó là điều khó khăn nhất.
Có phải mối quan hệ của bạn là một tình yêu không? Bạn có nghiêm túc nghĩ đến hôn nhân không? Hay chỉ hy vọng? Có khả năng anh ấy hoặc cô ấy sẽ hoàn toàn chấm dứt mối quan hệ nếu bạn từ chối quan hệ tình dục không? Nếu câu trả lời hoàn toàn đúng, có thể bạn đang bán đi quyền thừa kế của mình để ăn bát canh phạn đậu đấy (Xem SaSt 25:34).
Chỉ có một cách duy nhất để biết rõ. Hãy bảo với người yêu của bạn mặt đối mặt. Nhưng không phải ở “nơi đặc biệt” ấy.
Có thể bạn sẽ cần sự cầu nguyện nâng đỡ của một người bạn ngoài cuộc mà bạn có thể tin tưởng. Bạn sẽ phải hoàn toàn tin chắc trong tâm trí mình. Có lẽ bạn cảm thấy không thể đối diện với nỗi đau của cuộc chia tay có thể xảy ra. Ồ, bạn có thể. Mặt khác, có lẽ bạn sẽ đối diện với một ngạc nhiên hân hoan khi bạn nhận thấy rằng người mà bạn nghi ngờ tình yêu lại yêu mến và kính trọng bạn hơn bạn tưởng. Điều ấy có thể diễn ra theo một trong hai hướng. Vì thế, quyết định (về việc chấm dứt những mối quan hệ tình dục dù cho kết quả có thế nào đi chăng nữa) phải được thực hiện trước khi bạn thảo luận quyết định đó. Quyết định đó phải được thực hiện một cách quả quyết và không thể ở nước đôi được. Cuộc thảo luận duy nhất không liên quan đến vấn đề có nên không hay ngay cả là khi nào nhưng là làm cách nào.
Trong tương lai bạn sẽ phản ứng với một sự ôm xiết như thế nào? Với một nụ hôn? Các bạn có thể nắm tay nhau không?
Không ai có thể quyết định những điều này dùm bạn cả. Tiêu chuẩn duy nhất hướng dẫn bạn sẽ là những gì mà những nụ hôn, sự ôm xiết và nắm tay nhau xui giục một hay cả hai bạn. Những điều đó có khiến các bạn quan hệ tình dục với nhau không? Có phải những điều đó làm cho bạn khó truyền thông với nhau ở mức độ bạn phải làm không? Những điều đó có làm giảm sức đề kháng với những kiểu tiếp xúc như trước đây không? Một sự vuốt ve đầy trìu mến sẽ trở nên sự quan hệ tình dục ngay lúc sự vuốt ve đó bắt đầu lôi kéo những ý nghĩ của bạn khỏi những gì mà bạn nên chia xẻ với những gì mà bạn không nên chia xẻ. Phần Kinh thánh chính xác cho thời điểm đó chính là “tránh sự cám dỗ” (ITi1Tm 6:9-11).
Giả sử là khi bạn liên hệ với người yêu, điều tệ hại nhất lại xảy ra. Giả sử là anh ấy hoặc cô ấy phản ứng cách giận dữ, cay đắng và kết án bạn thì sao? Giả sử điều đó có nghĩa là hoàn toàn cự tuyệt thì sao?
Tôi chỉ có thể nói rằng Đức Chúa Trời, Đấng muốn bạn được tự do, cũng có lòng thương xót nữa. “Đức Giêhôva thương xót kẻ kính sợ Ngài khác nào cha thương xót con cái mình vậy. Vì Ngài biết chúng tôi nắn nên bởi giống gì, Ngài nhớ lại rằng chúng tôi bằng bụi đất” (Thi Tv 103:13-14). Con độc sanh của Ngài, Đấng yêu thương và đã chết thay cho bạn, bảo bạn rằng “Tóc trên đầu các ngươi cũng đã đếm hết rồi” (Mat Mt 10:30).
Điều không thể nào tránh khỏi là sự chia tay sẽ để lại một vết thương sâu đậm phải cần thời gian để lành lại. Nhưng nếu bạn để Đấng chữa bệnh đặt cánh tay của Ngài trên vết thương đó thì nó sẽ lành lại một cách nhẹ nhàng hơn, nhanh chóng hơn và ngọt ngào hơn. Có lẽ bạn sẽ khóc, nhưng Đức Chúa Trời sẽ để nước mắt của bạn trong ve của Ngài (Thi Tv 56:8) vì những giọt nước mắt đó rất qúy giá đối với Ngài. Và qua toàn bộ quá trình đó bạn sẽ tìm thấy tình bạn thắm thiết hơn trong Ngài và đồng thời Ngài cũng bắt đầu đặt những nền tảng cho một tình cảm sâu sắc hơn với người chồng hoặc người vợ tương lai của bạn.
Hôn nhân theo quan điểm của Đức Chúa Trời?
Có phải tình dục trước hôn nhân là “Hôn nhân theo quan điểm của Đức Chúa Trời không?” Không, hầu như chắc chắn là không.
Hôn nhân phải là “sự phối hợp” của cả hai người. Hôn nhân đã là như vậy trải qua suốt lịch sử. Trong Sáng thế ký người “đã đem” người nữ “vào trong Hôn nhân”. Sự đính ước đã được thực hiện trong sự hiện diện của những người chứng kiến và theo phong tục tập quán của địa phương (Kinh thánh không bao giờ nói rằng hôn nhân như một nghi lễ tôn giáo để rồi hôn nhân của người ngoại, một cuộc hôn nhân phi Cơ đốc và cuộc hôn nhân giữa các Cơ đốc nhân trong Hội thánh, tất cả đều kết chặt với nhau và lâu bền trước mặt Chúa . Các Cơ đốc nhân không phải được kết hôn nhiều hơn người ngoại. Giống như mặt trời và mưa, hôn nhân đã được Đức Chúa Trời ban tặng như nhau cho tất cả mọi người)
Thông dâm là tội lỗi. Hôn nhân (trong và tự thân nó) là Thánh khiết. Như vậy từ lúc nào xuất hiện ý tưởng khi những người chưa có gia đình giao hợp với nhau (tức là phạm tội) là họ “kết hôn với nhau theo quan điểm của Đức Chúa Trời” (tức là, bước vào một tình trạng thánh khiết)? Tất nhiên những gì cụm từ trên muốn nói có ngụ ý là nếu bạn giao hợp thì bạn phải cưới người mà bạn đã giao hợp với. Tình trạng khó xử: người nào? Có phải người đầu tiên chăng? ( “Nhưng đối với anh ấy tôi không phải là người đầu tiên. Và đối với cô ấy anh ta không phải là người đầu tiên” . Sự hoang mang ...)
Đằng sau quan điểm nhầm lẫn rằng tình dục trước hôn nhân đòi hỏi những người giao hợp đó phải cưới nhau là một mạng lịnh Thánh kinh đã bị hiểu sai. Hai lần trong Cựu ước mạng lịnh truyền cho người nam đã quyến dụ một người nữ đồng trinh là phải cưới cô ta và cũng phải trả tiền sính lễ nữa (XuXh 22:16-17; PhuDnl 22:28-29). Nếu một người nam và một gái đồng trinh chưa hứa gả bị bắt gặp đang ăn nằm với nhau thì người nam bị xem là đáng bị khiển trách.
Điều thú vị là trong Phục truyền việc bị khám phá được đề cập cách rõ ràng. Không phải chuyện bị bắt gặp là tội lỗi hay sự quyến dụ một cách bí mật thì ít đồi bại hơn. Ý nghĩa bao quát (so sánh hai sự mô tả) đó là cô gái trong cả hai trường hợp đều bị tổn thương cách công khai. Những cơ hội để có được một cuộc hôn nhân đúng đắn của cô gái đã bị giới hạn và giá tiền sính lễ cũng hạ thấp. Hai người, theo phong tục tập quán của địa phương, đã bị hại - cô gái bị quyến dụ và cha cô ta. Sự mô tả trong Xuất êdíptôký cũng chỉ rõ rằng hôn nhân không hoàn toàn là điều cần thiết. Điều cần thiết là tiền sính lễ phải được tên sở khanh phạm tội nộp đủ.
Bây giờ dù có những vấn đề nào nảy sinh do sự giải thích của tôi (và sự giải thích đó thật sự nêu lên vấn đề thú vị) thì có một điều khá rõ ràng. Quan hệ tình dục không tạo nên hôn nhân theo quan điểm của Đức Chúa Trời hay bất cứ người nào khác. Những mối quan hệ đó có thể hoặc không thể là những căn cứ buộc người nam phải kết hôn (phụ thuộc vào suy nghĩ của người bố vợ tương lai về anh ta). Nhưng vì phong tục tập quán của địa phương và xét đến những phong tục tập quán này, luật pháp lập ra một cách đối xử công bằng đối với người cha và cô con gái. Và bất cứ khi nào người nam quyến dụ một cô gái chưa đính hôn thì đấy là loại rủi ro mà anh ta gặp phải.
Những phong tục tập quán như thế không còn tồn tại nữa. Nhưng nguyên tắc Kinh thánh liên quan đến điều đó vẫn còn tồn tại - Nguyên tắc đó dạy chúng ta rằng luật pháp bảo vệ quyền lợi của người bị làm hại về tình dục. Chỉ có điều này và không còn điều nào khác nữa.
Nhưng giả sử tôi cảm thấy tôi cần kết hôn với anh ấy hoặc cô ấy thì sao? Nếu việc tôi quan hệ tình dục với cô ấy là sai lầm thì chẳng lẽ tôi không nợ cô ta điều gì sao?
Có, bạn có nợ cô ta đấy. Bạn nợ cô ta một lời xin lỗi. Thế thôi à? Vâng, còn nhiều nữa chứ! Bạn nợ cô ấy sự từ bỏ bỡn cợt với cô ta và đừng gây bất kỳ khó khăn nào hơn là khó khăn mà bạn đã gây ra. Và bạn nợ một sự cân nhắc cẩn thận trước Đức Chúa Trời về mối quan hệ của bạn trong tương lai cần phải thế nào. Bạn không thể tiếp tục như tình trạng hiện tại. Thế thì bạn sẽ tiếp tục như thế nào?
Tôi sẽ nói nhiều hơn về hôn nhân trong mối liên hệ với tội lỗi trong phần kế tiếp. Hiện giờ thì bạn nên nhớ 3 điều.
Trước tiên là hai người phải tự nguyện kết hôn với nhau trước khi cuộc hôn nhân có thể xảy ra. Người kia có thể sẽ không muốn kết hôn. Bất cứ sự kết hợp nào dựa trên sự ảnh hưởng của những cảm xúc tội lỗi của ai đó là sai lầm và có thể là con đường dẫn đến một cuộc hôn nhân bị sụp đổ. Đừng ép buộc ai phải kết hôn với bạn bằng cách làm cho anh ta cảm thấy rằng anh ta có tội. (Nếu bạn là cha mẹ, đừng ép buộc con mình hay bất cứ người nào khác phải kết hôn bằng cách bảo chúng nhất định phải kết hôn). Đừng để bất kỳ ai làm cho bạn cảm thấy rằng bạn đã phạm tội và vì thế bạn buộc phải kết hôn. Những cảm xúc về tội lỗi của bạn không phải là nền tảng tốt đẹp cho hôn nhân. Những cảm xúc ấy phải được giải quyết trước hôn nhân và không nên dùng hôn nhân để chuộc lỗi. Thật ra hôn nhân chỉ góp thêm vào sự sai lầm mà bạn đang làm bằng cách ném hai con người không nên kết hôn với nhau vào một cuộc sống của địa ngục hôn nhân.
Thứ hai là, nếu bạn cảm thấy rằng mình có tội, hãy nhận biết những cảm xúc của tội lỗi bắt nguồn từ đâu. Nếu những cảm xúc đó do Chúa Thánh Linh đang cáo trách về những tội lỗi bạn đã phạm, hãy xưng tội với Ngài. Nếu bạn không thể nhớ tất cả những chi tiết tội lỗi của bạn thì không có gì quan trọng cả ... chính thái độ ăn năn và đức tin của bạn mới là quan trọng. Bạn phải bước vào nơi chí thánh một cách dứt khoát và dũng cảm bởi đức tin và ở đó bạn sẽ tìm thấy một sự chào đón thân thương và cởi mở nếu bạn được rưới huyết trên thân thể.
Nhưng cần nhận biết rằng không phải tất cả cảm xúc tội lỗi đều phát sinh từ tội lỗi thật sự. Chúa Thánh Linh có thể cáo trách nhưng Satan cũng có thể kiện cáo. Thật ra ngày và đêm bất cứ lúc nào bạn qùi gối trước sự hiện diện của Chúa để tâm giao, Satan đều làm như vậy. (KhKh 12:10). Bạn không được để Satan cản lối vào nơi chí thánh của bạn. Hãy bảo với nó rằng nó không có quyền đòi hỏi bạn phải xuất trình vé vào nơi thiêng liêng ở bên trong. Nó thuộc về nhóm tội lỗi. Đức Chúa Trời chấp nhận bạn bởi sự chết của con Ngài. Người ta suy nghĩ gì không quan trọng , ngay cả người yêu của bạn - (có phải anh ta vẫn còn bị tổn thương cho dù bạn đã làm mọi sự có thể để thay đổi vấn đề không?). Sự chấp nhận và sự tha thứ của Đức Chúa Trời không dựa trên những điều này. Sự chấp nhận và sự tha thứ của Đức Chúa Trời không dựa trên lòng thành thật và sự chân thành của những nỗ lực thuộc linh của bạn, nhưng luôn luôn, duy nhất, và bất cứ lúc nào cũng dựa trên sự thương xót của Đấng Christ. Đức Chúa Trời mời bạn đến với Ngài bởi vì con Ngài đã chết thay cho bạn. Sự chết của Đấng Christ, và chỉ điều ấy chuộc mọi tội lỗi của bạn.
Thứ ba, nếu bạn cảm thấy rằng hôn nhân trong tương lai là điều mà bạn nên cân nhắc (không dựa trên những cảm xúc tội lỗi sai lầm), hãy đến với một người có đời sống thuộc linh sâu nhiệm mà bạn có thể tin cậy. Hãy đến với một người để cho bạn nói. Và khi người đó khuyên bảo, hãy lắng nghe. Bạn không cần phải chấp nhận lời khuyên của người đó, nhưng bạn có thể cân nhắc lời khuyên đó.
“Anh yêu, em nghĩ là em đã có thai”
Ở phần trước tôi đã đề cập đến sự có thai sẽ gây chấn động khiến một vài người trong chúng ta rũ bỏ thái độ giả tạo của mình. Bất hạnh thay, sự có thai sẽ làm lộ ra điều tệ hại nhất của các tình nhân, của những người bạn của họ và cha mẹ của họ.
Angie và Tom trong khi hoang mang sợ hãi đã hỏi: “Làm sao chúng ta có thể phá thai?” Và khi họ nói với cha mẹ họ, thì cả người mẹ của Angie cũng như Angie, người mẹ tương lai đều muốn như vậy.
Đôi khi người mẹ trẻ tương lai có những cảm xúc xáo trộn và thông thường một nguyện vọng mãnh liệt muốn giữ đứa trẻ lại. Các bộ phận mỏng manh Đức Chúa Trời đặt bên trong thân thể và hệ thần kinh của cô gái đang chuẩn bị mọi phần trong thể xác và cảm xúc của cô gái để chăm sóc một đứa trẻ. Cho nên không có gì ngạc nhiên khi các cô gái 15 tuổi giận dữ phản đối sự hối thúc của người lớn là “phải đi phá thai”. Điều ngạc nhiên đó không phải tất cả những cô gái 15 tuổi đều suy nghĩ giống như vậy.
Sự phá thai có thể hợp pháp hoặc không hợp pháp. (Ở Đông Âu, sự phá thai được xem là hợp pháp ở một số quốc gia và không hợp pháp ở một số quốc gia khác). Ở Mỹ, Anh , những nước châu Âu khác, Nhật và Canada thì việc phá thai được tiến hành hợp pháp và trong một số nước chỉ cần có lời yêu cầu của người phụ nữ hoặc người con gái có thai. Bạn có thể bước vào phòng khám thai, xét nghiệm, sắp xếp một ca nạo thai đơn giản (nếu là thai nhỏ tháng và sau một vài giờ có thể về nhà).
Có ít Cơ đốc nhân thích nạo thai theo yêu cầu. Nhiều người không thích việc nạo thai một chút nào cả, thậm chí khi việc nạo thai được tiến hành bởi những người thầy thuốc có lương tâm vì những lý do về tâm thần và y khoa.
Thông thường nếu bạn muốn phá thai, bạn sẽ được bác sĩ của gia đình khám thai cho bạn. Nếu bác sĩ cảm thấy rằng có những căn cứ y khoa cho cái thai đó (nghĩa là, nếu bác sĩ cảm thấy rằng nạo thai sẽ gây nguy hiểm cho sức khỏe và tình cảm của bạn) thì bác sĩ sẽ giới thiệu cho bạn hai bác sĩ khác, thường là các bác sĩ chuyên khoa. Thường thì một người là bác sĩ phụ khoa và người kia là bác sĩ tâm thần. Cả hai người này sẽ lần lượt báo cáo về bạn với khoa phá thai của bịnh viện.
Thói quan liêu là một phương cách (không bao giờ trì hoãn việc phá thai, vì mỗi ngày sẽ làm cho sự phá thai càng ít an toàn hơn) để bảo đảm mọi thứ không được tiến hành cách lén lút. Hồ sơ được lưu lại về phần những chuyên gia sức khỏe thì thực hiện một bảng đánh giá kỹ càng để dự đoán xem liệu bào thai có hại cho người mẹ hay cho đứa con ở bất cứ phương diện nào không hoặc liệu phá thai có cần thiết cho sức khỏe của cô gái không.
Nhưng các chuyên gia có thể mách bảo được mấy lần? Đôi khi họ không thể. Có khi họ chỉ đoán thôi. Đôi khi họ bị ảnh hưởng bởi các quan điểm chính trị và tôn giáo của riêng họ một cách vô thức hoặc có ý thức. Nếu tất cả các bác sĩ là người Do thái, bạn rất có thể phá thai hơn là nếu các bác sĩ đó là những tín đồ Công giáo. Bởi vì có nhiều giá trị đạo đức thâm nhập vào khiến chúng ta cần phải lựa chọn có nên để lại hay không.
Tôi không đủ tiêu chuẩn để thảo luận về đạo đức của việc phá thai trong y khoa. Tôi tin rằng trong một số trường hợp nào đó thì sự phá thai có thể có nghĩa là một điều ít tai hại hơn trong hai điều (tai hại của việc cho phép sự sống tiềm tàng trở nên một con người thật sự chỉ để phá hoại sức khoẻ hay cả cuộc đời của người mẹ hoặc là tai hại của việc hủy diệt một sự sống tiềm tàng). Tôi muốn nói nhiều về điều đó, nhưng những người khôn ngoan hơn tôi đã nói nhiều hơn điều tôi có thể nói và đã nói hay hơn tôi.
Một điều tôi có thể nói về sự phá thai. Tôi không thấy điều gì biện minh cho sự phá thai như là một phương cách đơn giản để lẩn tránh sự hoang mang và sự hổ thẹn. Nếu tất cả sự liều lĩnh chỉ vì lòng tự trọng và danh tiếng của bạn thì có lẽ bạn đang hủy diệt không phải chỉ là một mầm sống. Bạn đang hủy diệt đạo đức của bạn dù bạn là bậc cha mẹ bảo phải làm như vậy hoặc bạn là người con gái chấp thuận.
Nếu bạn không phá thai, thì bạn để bào thai tiếp tục phát triển. Lúc ấy câu hỏi sẽ là bạn sẽ làm gì với đứa trẻ? Bố của cô gái 17 tuổi tên Cheryl đã qua đời hai năm trước khi Cheryl sanh đứa bé (con của một anh bạn trai thất nghiệp, có mái tóc dài). Cô gái ấy đang học lớp 11 nửa chừng đang mang thai 3 tháng. Mẹ của Cheryl là một người phụ nữ không có lập trường. Sự đóng góp của bà ta vào các cuộc thảo luận của gia đình về bào thai là khóc lóc và mong ước rằng giá như người cha Herry yêu dấu của cô gái chưa qua đời thì “mọi chuyện đâu có xảy ra như thế này”. Nhưng Cheryl có những bà cô không mềm yếu như mẹ đã đem cô đi khỏi Saskatoon nơi cô đang sống, đến ở với những người bà con ở Vancouver.
Cheryl có những cảm xúc mơ hồ về người bạn trai của mình nhưng lại muốn giữ đứa con (“Ít ra trong nó cũng có một phần của cha tôi, người duy nhất mà tôi đã yêu thương”). Một nhân viên làm công tác xã hội từ Welfare đã nói chuyện với Cheryl ở Vancouver. Dần dần Cheryl thấy được một một số vấn đề thực tế mà một cô gái 18 tuổi sẽ phải đối diện (khi sanh con cô mới được 18 tuổi): với việc học hành dang dở nếu cô ta muốn nuôi nấng một đứa bé trong sự chống đối kịch liệt của gia đình. (Hãy nhớ rằng mẹ của Cheryl thật ra không đếm xỉa gì đến cô ta cả) - Cheryl vẫn còn kinh ngạc khi mà, vào ngày sau khi đứa bé được sinh ra, cô đã ký nhường tất cả quyền của mình về tương lai của đứa bé trên các giấy tờ nhận làm con nuôi mà người nhân viên làm công tác xã hội đã điền giúp. Cheryl chưa bao giờ thấy đứa bé và sẽ không bao giờ thấy “Cách đó thì tốt hơn” người cô của Cheryl nói cách tự tin. Nhiều người cũng sẽ gật đầu đồng ý.
Trong suốt 18 tháng tiếp theo Cheryl đã cố tự tử 4 lần, trong đó có 2 lần nghiêm trọng. Vào lúc này thì cô rất muốn tự tử nhưng không phải cô bị bịnh tâm thần, ngoại trừ chúng ta xem sự tự tử tự bản thân nó dẫn đến bịnh tâm thần. Cô đang được chăm sóc ở trạm nghiên cứu và điều trị bịnh tâm thần để giúp cho cô có thể biết mình là ai, đã làm gì khi cho đứa bé.
Tôi có thể viết một quyển sách với nhiều câu truyện với những đứa bé ra đời bất hợp pháp mà tôi từng biết hoặc biết về tất cả những người có liên quan với cả số phận của họ nữa. Nhưng từ câu chuyện của Cheryl bạn thấy vấn đề không phải chỉ là câu chuyện riêng của Cheryl. Gia đình của cô ta có thể đưa ra quyết định sai nhưng họ phải đưa ra một quyết định nào đó - Và anh bạn trai của Cheryl cũng vậy. Nếu Cheryl giữ lại đứa bé thì chắc là một người nào đó phải chăm sóc đứa bé để cô ta (như cô ta đã mơ ước) tiếp tục việc học của mình. Các trường trung học không có ngân qũy cho các nhà trẻ chăm sóc con của học sinh mỗi ngày.
Những vấn đề của các thành viên khác trong gia đình càng trở nên nghiêm trọng hơn khi cô gái càng ít tuổi hơn, và ít nghiêm trọng hơn khi người cha tương lai chịu nuôi nấng chăm sóc đứa bé. Mẹ của cô gái Janet 14 tuổi đã đấu tranh với lương tâm của mình hàng tuần trước khi quyết định phản đối chuyện phá hủy bào thai không hợp pháp của Janet. Janet rất mừng. Cô không muốn kết hôn với người bạn trai 16 tuổi đã bỏ học (“Tôi thích anh ấy nhưng anh ta hầu như thường xuyên sử dụng ma túy”). Những gì cô ta muốn là bỏ học một năm, sinh con và nuôi con ở nhà, sau đó tiếp tục đi học. Cha của cô dọa sẽ đuổi cô ra khỏi nhà.
Mẹ của cô là tín đồ Công giáo (và rất là cởi mở) đã khóc nức nở trong văn phòng làm việc của tôi. Không phải bà buồn vì người chồng của bà giận dữ.”Janet không chịu cho đứa bé”, Bà nói “các sơ đã nói chuyện với nó và người làm công tác xã hội chuyên về những vấn đề này cũng vậy- Tôi không muốn có con thêm. Dầu rằng chúng tôi là tín đồ Công giáo nhưng chồng tôi và tôi cùng thảo luận với nhau là chỉ nên có 3 con , Janet là con út. Hai đứa kia là con trai. Tôi biết tôi không nên giải quyết chuyện đó bằng cách này, nhưng cho dù Janet có nói gì đi chăng nữa thì tôi biết rằng tôi sẽ là người mẹ thật sự của đứa bé đó, chứ không phải là Janet. Và tôi cảm thấy tội lỗi vì đã bực tức chuyện đó”.
Tôi cảm thấy rất quí trọng người phụ nữ đó. Ít ra là bà đã can đảm đối diện với những cảm xúc thật sự của mình.
Ngừng cuộc thảo luận một chút, bạn có thể nhận thấy những lựa chọn chính các gia đình phải đối diện với những bào thai không hợp pháp là khả năng sau: (1)”Những đám cưới lỡ”(đó là những đám cưới “chúng ta bắt buộc phải cưới”); (2) phá thai (“bưng bít hoặc lộ liễu”); (3) cho con (“bưng bít hoặc lộ liễu”) và (4) sự kết nạp đứa bé không hợp pháp vào đại gia đình bằng một cách nào đó.
Những sự lựa chọn này, như một số thảo luận mà tôi đã trình bày rõ ràng, không phải là những khả năng duy nhất đúng đắn. Hơn nữa, trong quyển sách này tôi không thể trình bày chi tiết. Điều tôi muốn thực hiện là đưa ra những lời nhận xét ngắn gọn về những khả năng đầu tiên và cuối cùng trước khi kết thúc chương này.
“Những đám cưới lỡ”
Để tôi nhắc cho bạn nhớ quan điểm mà tôi đã tán thành, không có phần Kinh thánh nào biện minh cho việc nói rằng sự thông dâm - ngay cả sự thông dâm dẫn đến chuyện có thai - phải được “sửa lại cho đúng” bằng hôn nhân.
Nếu Joe cảm thấy rằng anh ta nên đối xử công bằng với Mary thì chắc chắn là anh ta nên thú nhận mình là cha của đứa bé và làm hồ sơ khai sinh theo đúng luật pháp. Nhưng hãy để cho cả Joe và Mary, cũng như là cha mẹ của họ, từ từ chọn lựa chuyện hôn nhân.
Có thể đó là điều đúng đắn - hoặc cũng có thể là thảm họa - Những người trẻ tuổi cho rằng hôn nhân trong những trường hợp này thấy không thể tin được rằng sự việc có thể bị sai trật. Nhưng chúng lại sai. Chúng bị sai trật bởi nền tảng của hôn nhân. Bất kỳ một cuộc hôn nhân nào cũng có thể bị sai trật, nhưng những cuộc hôn nhân mà chúng ta đang bàn đến đã có sự bất thường chồng chất trên chúng rồi.
Không phải tôi đang nói về những cô gái đã đính hôn có thai, nhưng đặc biệt nhằm vào những cô gái đã có thai trước khi công khai hứa nguyện kết hôn. (đó là trước khi đôi bạn chính thức đính hôn). Đối với cuộc hôn nhân như thế thì sự bất thường càng nhiều hơn. Tại sao vậy?
Những năm sau này, bất kể khi nào có chuyện gì sai trật thì một trong hai người không thể nào quên sự bắt đầu cuộc hôn nhân. Khi những nghi ngờ về tình yêu của Joe dâng lên trong tâm trí Mary thì có lúc cô sẽ nghĩ rằng: “Anh ấy cưới mình vì bắt buộc mà thôi, và bây giờ anh ta nuối tiếc về chuyện đó. Có lẽ anh ấy không thật sự yêu mình, ngay cả khi hai đứa kết hôn”. Tôi đã nghe những lời như thế trong văn phòng làm việc của tôi.
Bất hạnh thay, có lẽ cô ta đúng. bởi vì khi sự căng thẳng phát sinh, có thể Joe cảm thấy mình đã bị mắc bẫy, bị kẹt trong một cuộc hôn nhân bởi ý nghĩ cưỡng ép sai lầm. Anh ta có thể nói rằng “dù sao cô ta cũng đáng trách về những gì đã xảy ra giống như tôi thôi”. Những lời này cũng đã được bày tỏ trong phòng làm việc của tôi.
Hoặc là sự phẩn uất có thể không bao giờ nhận biết cách rõ ràng nhưng day dứt, sâu lắng bên dưới vẻ bề ngoài và sôi sục ở những cách thức nào đó mà không ai trong hai người có thể hiểu thấu.
Xin hãy phân biệt rõ ràng những gì tôi đang đề cập đến. Tôi không nói rằng một cuộc hôn nhân như thế nên kết thúc. Nhưng vấn đề chủ yếu tôi đang đề cập ở đây là mọi người trong cuộc nên suy nghĩ kỹ càng trước khi kết hôn với nhau.
Ở những mức độ tinh vi và vô thức nào đó, thái độ của người cha lẫn người mẹ đối với đứa con đầu lòng khác với thái độ họ dành cho những đứa con kế tiếp. Những mặc cảm tội lỗi, những sự phẫn uất vô thức do bào thai gây ra, giống như tảng băng ở bên dưới mặt nước, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa đứa con đầu lòng với cha mẹ. Và có thể mất hàng tháng hoặc hàng năm trước khi một trong số họ nhận thức rõ ràng được điều gì đang xảy ra.
Nhưng để tôi khỏi làm cho một số người đã kết hôn theo kiểu “ bởi vì họ phải kết hôn” thất vọng, tôi cũng phải nói rằng những vấn đề như thế không phải là không thể tránh khỏi hay không thể giải quyết được. Đức Chúa Trời đã có những câu trả lời dành cho họ. Nếu cả hai đều chuẩn bị đối diện với những gì đang diễn ra trong tấm lòng của các bạn, thì hãy thảo luận với nhau về những nỗi sợ hãi và những phẫn uất đang dày vò bạn, để trình dâng lên Đức Chúa Trời những uất ức nội tâm của bạn, thì những điểm rất yếu đuối trong hôn nhân của bạn có thể trở thành những điểm mạnh nhất của cuộc hôn nhân. Nhưng bạn phải đối diện với những điều đó chứ không phải giấu nó đi.
Ba phe và một gia đình.
Ông Dan và bà Emily, một đôi vợ chồng hạnh phúc ở tuổi 45, đang là Mục sư của một Hội thánh trong một thành phố Bắc Mỹ. Họ có 4 đứa con (hai cậu con trai đã có gia đình và hai cô con gái đang học trung học). Bi kịch bất ngờ xảy ra khi cô con gái út, Nanette có thai với George, con trai của vị trưởng ban trị sự trong Hội thánh, là một thương gia giàu có và nổi tiếng.
George (19 tuổi đang học trường trung học và rất năng động trong công việc Chúa) nói rằng: ”Tôi không dám nói với ông già. Ong ấy sẽ giết tôi mất” Cả George và Nanette đều không nghĩ đến hôn nhân. Mặc dù George sẵn lòng cưới Nanette, nhưng Nanette thì không chắc lắm. Trái với sự năn nỉ đầy lo âu của George, Nanette nói với mẹ rằng: “Con tưởng rằng con yêu anh ấy và con không làm điều gì sai quấy cả,” cô khóc rưng rức “Bây giờ con không tin chắc một điều gì cả”.
Mục sư Dan và vợ lập tức gặp mẹ của George và đôi bạn trẻ để thảo luận vấn đề đó thật cặn kẽ. Những gì được nói và ai nói thì không rõ. Chỉ trong vòng một tuần thì cuộc tình đó được bí mật kể đi kể lại cả chục lần trong các câu chuyện ngồi lê đôi mách trong Hội thánh và làm cho hai gia đình trong cuộc càng thêm đau buồn hơn.
Nhiều quan điểm nổi lên giữa các phe khác nhau trong Hội thánh. Đầu tiên có những người nói rằng một người đàn ông có con gái bê bối trong vấn đề tình dục thì không xứng đáng là Mục sư. Con cái của ông ta đã làm gương. Làm sao chúng ta có thể trông đợi những thanh niên của chúng ta v...v...? (Nanette khóc suốt hai đêm không ngủ vì câu nói đó v...v...?. Rồi có phe cho rằng “chúng phải kết hôn với nhau” phe này nhìn chung dường như có ý “nói càng ít, phục hồi càng nhanh”.
Một phe khác là phe I Côrinhtô 5. Đã phạm tội thì phải công khai xưng nhận tội lỗi. Nhưng ( đây là một vấn đề lớn và nghiêm trọng) làm sao chúng ta biết được rằng đôi bạn trẻ đã ăn năn tội lỗi của mình? Giả sử rằng chúng vẫn còn lén lút quan hệ tình dục với nhau thì sao? Khi chúng thật sự ăn năn, thì cho phép chúng kết hôn, rồi dứt phép thông công trong một thời gian ngắn để kỷ luật và sau đó cho chúng trở lại thông công với Hội thánh. Một số người nói rằng cha của George buộc phải từ chức trưởng ban trị sự, nhưng cha của George dường như không có phản ứng gì. Có ít người nêu đề nghị khó xử với cha của George về bất kỳ việc gì.
Nhưng chi tiết sau đó của câu chuyện thì rất đau đớn và chúng ta không cần phải đi sâu nữa làm gì. Tình bạn giữa cha mẹ của George và Nanette chấm dứt. Không cưới hỏi gì cả. George là người duy nhất binh vực chuyện đó và ý định của Nanette không phù hợp với ý muốn của cha mình. Lúc nào Nanette cũng cảm thấy không tin chắc vào hôn nhân. “Trong hai năm nữa nếu anh ấy vẫn còn muốn cưới con và nếu lúc ấy con có thể chắc rằng con yêu anh ấy đủ để kết hôn với anh ấy thì con sẽ kết hôn, còn bây giờ thì không”
Mục sư Dan, bà Emily và hai cô con gái của họ phải rời Hội thánh (số người nhóm buổi sáng chúa nhật 1200 người, số người trong các ban ngành 760 người) và cuối cùng, sau một thời gian thất nghiệp, Mục sư Dan và gia đình được kêu gọi đến một Hội thánh Giám lý ở vùng quê (độc lập) và họ đã kể toàn bộ câu chuyện cho những người ở đó - Hiện thời Nanette đang học lớp 11 và Jonni, bé trai của cô được 7 tháng tuổi. Bà Emily và Nanette cùng chăm sóc đứa bé. Bây giờ thì bà Emily đang chịu trách nhiệm chính trong việc chăm sóc bé Jonni. Cả gia đình đồng ý là Jonni sẽ gọi nanette là “mẹ” và bà Emily là “bà ngoại”. Không có điều gì kín giấu về cha của đứa bé cả, và mọi người đều cố gắng chuẩn bị cho đứa bé sẵn sàng đương đầu với những gánh nặng của sự nhục mạ xã hội về sự ra đời bất hợp pháp của nó.
Cả gia đình hoàn toàn hiệp một với nhau về việc họ đã giải quyết. Đã có và vẫn còn những bất đồng về sự phân chia những bổn phận thiết thực (như là việc giặt tã lót) và thỉnh thoảng vẫn còn những cơn đau về sự không tin chắc và khóc lóc. Nhưng lạ lùng thay cả gia đình càng thỏa lòng hơn và vui mừng hơn là họ đã từng thỏa lòng và vui mừng trong những năm qua. Mỗi người đã đối diện với những bước ngoặt cá nhân liên quan đến những mục tiêu của cuộc đời mìn, ý hức được giá trị và mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Rõ ràng là có sự hiện diện của Chúa trong gia đình của họ và bàn tay của Ngài trên chức vụ họ.
Tôi không thể thảo luận tất cả những thắc mắc phát sinh từ câu chuyện của Nanette đã tạo ra trong chúng ta. Tôi viết về câu chuyện này vì lý do là câu chuyện rất gần gũi với tấm lòng của tôi, thúc giục tôi viết về tội lỗi tình dục. Giống như mọi tội lỗi, tội lỗi tình dục, khi được đưa ra ánh sáng cũng sẽ gây ra những nỗi đau không nói nên lời cho nhiều người. Nhưng nó cũng chứa đựng niềm vui và sự tăng trưởng ở bên trong như nỗi đau được chứa đựng ở trong nó vậy. Mọi sự tùy thuộc vào cách mỗi người trong cuộc phản ứng ra sao đối với hoàn cảnh.
Trong trường hợp của Nanette, tội lỗi của cô đã mở ra những cánh cửa của ngọn lửa hừng không chỉ cho bản thân cô mà còn cho các thành viên khác trong gia đình, những cánh cửa mà qua đó họ bước vào mối quan hệ với Đức Chúa Trời mà họ chưa từng biết trước kia. “Nhờ có một trận động đất nho nhỏ mới làm cho tôi thấy được sự hầu việc Chúa của tôi hời hợt đến mức nào”, Mục sư Dan nói. Gia đình nghèo hơn về tài chánh lẫn danh tiếng nhưng giàu hơn nhiều về tình yêu thương, niềm vui và tình thông công. Chính lúc tôi nhìn gia đình Mục sư Dan, tôi mới bắt đầu thấy thật ra thập tự giá của Đấng Christ được hiểu đúng đắn là cái cổng dẫn đến sự vinh hiển.
´ ´ ´ ´´ ´
Bài 11: DUY TRÌ MỘT CUỘC HÔN NHÂN BỀN VỮNG
Khi kết thúc khoá học này, hãy nhớ rằng chủ đề hôn nhân không phải là một điều gì đó để học rồi để sang một bên. Đúng hơn đó là điều bạn phải liên tục quan tâm đến trong suốt cả cuộc đời. Những nguyên tắc và luật lệ được dạy trong khóa học này có thể góp phần xây dựng một cuộc hôn nhân tăng trưởng và bền vững. Nhưng trong việc tìm kiếm để áp dụng nguyên tắc và luật lệ này bạn sẽ tiếp tục đối đầu với sự khó khăn trong việc áp dụng chúng vào cuộc sống hằng ngày. Bài học cuối cùng này sẽ liên hệ đến cách hình thành những thái độ và phương cách chính xác để áp dụng chân lý của Đức Chúa Trời vào trong cuộc sống hằng ngày. Cần phải có sự chịu đựng và sức mạnh nội tại mới có thể tác động trên cuộc hôn nhân của bạn năm này qua năm khác.
DÀN BÀI
Giữ vững tình yêu
Tạo xúc cảm thể chất
Tạo xúc cảm tình cảm
Tạo xúc cảm tinh thần
Tạo xúc cảm tâm linh
Càng sâu nhiệm hơn
Những viên gạch giúp Hôn nhân tăng trưởng
Ân sủng
Sự dấn thân
Sự chấp nhận.
Kết luận
MỤC TIÊU CỦA BÀI HỌC
Sau khi học xong bài này, bạn sẽ có thể:
1. Định nghĩa sự gần gũi chỉ về 4 loại “quan hệ”: tình cảm , thể xác, tinh thần, tâm linh.
2. Nêu những cách cụ thể bạn có thể phát huy sự gần gũi trong hôn nhân của bạn ở từng lãnh vực trong 4 lãnh vực này.
3. Trình bày cách bạn áp dụng sự chỉ dẫn gồm 4 tiêu điểm để đạt được một cuộc hôn nhân tuyệt vời vào Hôn nhân của bạn (khen ngợi, xây dựng, chia xẻ, tạo xúc cảm).
4. Viết một đoạn văm giải thích tại sao mỗi một khái niệm như An điển, sự dấn thân và sự chấp nhận là một phần quan trọng để tạo nên cuộc hôn nhân thành công.
5. Bày tỏ sự hứa nguyện trong phương diện này theo như khuôn mẫu Đức Chúa Trời dành cho hôn nhân của bạn bằng cách hoàn thành dự án 12.
Giữ vững tình yêu
Tỷ lệ ly dị đang gia tăng cho thấy thực tế ngày càng có nhiều người nhận thấy hôn nhân rỗng tuếch và không làm thỏa mãn gì cả. Các cặp vợ chồng đã từng bắt đầu với những hy vọng và hoài bão lớn lao nhận thấy cuộc sống gia đình trở nên buồn tẻ, nhàm chán và không thỏa mãn. Bên cạnh những người phải dùng đến sự ly dị để kết thúc hôn nhân của mình, thì có nhiều người tự mình cam chịu sống một cuộc sống chung, cùng chia xẻ một mái nhà, một cái giường, nhưng không còn gì khác nữa. Không có gì nồng ấm, không có niềm vui, không có sự gần gũi.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mất mát tình yêu, nhưng những nguyên nhân đó được tóm tắt trong một ý niệm: mất đi sự thân mật. Việc hình thành và duy trì sự thân mật trong hôn nhân là một công tác kéo dài suốt đời, là một công việc khó khăn. Công tác đó đòi hỏi sự nỗ lực, sự làm việc tập trung, hứa nguyện và thời gian.
Trong quyển “Đời sống tình yêu” Ông Wheat nhắm vào lãnh vực ngăn ngừa những khó khăn. Hãy đọc chương 11 “Bí quyết để say đắm mãi trong tình yêu”. Trong khi chương ấy đặc biệt nhắm vào những người mới lập gia đình thì những nguyên tắc ở đây có thể áp dụng cho bất kỳ cuộc hôn nhân nào. Trong chương này và chương cuối mà chúng ta sẽ đọc trong “Đời sống tình yêu ”, chúng ta sẽ hiểu được nhiều điều kiến nghị mà chúng ta muốn nhớ - Hãy nhạy bén và ghi chú mọi điều quan trọng đối với bạn khi bạn đọc.
Ông Wheat định nghĩa sự thân mật như là “một trạng thái kín đáo nhất, riêng tư nhất trong mối quan hệ”. Sự thân mật miêu tả phẩm chất đặc biệt của sự gần gũi tình cảm giữa hai người ... sự thân mật có thể có nghĩa là thông cảm và được người quan tâm sâu sắc đến chúng ta am hiểu hoàn toàn: Ông đã sử dụng từ “tạo xúc cảm” để miêu tả kinh nghiệm thân mật, phân chia việc tạo xúc cảm thành 4 loại: tạo xúc cảm tình cảm , tạo xúc cảm thể xác, tạo xúc cảm tinh thần, tạo xúc cảm tâm linh. Ông tiếp tục nói rằng 4 điều cần có để phát huy thân mật qua việc tạo xúc cảm trong những lĩnh vực này: thời gian, ý chí, sự hiểu biết và kiên nhẫn. Khi bạn tìm hiểu mỗi lãnh vực trong 4 lãnh vực này thì hãy nhớ đến các hình thức hứa nguyện để phát huy chúng.
SỰ THÂN MẬT
Đòi hỏi ... Được kinh nghiệm qua ...
Thời gian Tạo xúc cảm Tạo xúc cảm
Ý chí thể chất tinh thần
Hiểu biết Tạo xúc cảm Tạo xúc cảm
Kiên nhẫn tình cảm tâm linh
Tạo xúc cảm thể chất
Bài tập 1
Dùng định nghĩa về sự thân mật của ông Wheat làm cơ bản, hãy viết ra một định nghĩa về sự thân mật bằng lời của bạn. Sau đó chọn ra 4 lĩnh vực “tạo xúc cảm ” có liên quan đến sự thân mật và miêu tả ngắn gọn từng lĩnh vực.
Bài tập 2
Dưới đây là một số câu chìa khóa từ “Đời sống tình yêu ”. Với mỗi câu, hãy viết một hoặc hai câu đánh giá những gì bạn có thể thực hành trong tuần này trong mỗi lĩnh vực.
a) Các nhà tâm lý học tin rằng (ở phương Tây) ngày nay sự ám ảnh với tình dục thật sự là một điều mong ước rằng ảnh hưởng thể xác sẽ kích thích cảm xúc, là điều mà mọi người đều khao khát nhưng lại khan hiếm trong nền văn hóa của chúng ta.
b) Quan hệ thể xác hoàn toàn cần thiết trong việc hình thành cảm giác rộn ràng của sự thân mật và khơi dậy lửa tình lãng mạn giữa người chồng và người vợ.
c) Vợ chồng phải tránh thói quen dành riêng sự vuốt ve như là một dấu hiệu đòi hỏi tình dục (Nhấn mạnh đến bài học của chúng ta).
d) Bất kỳ người nào cũng có thể học cách biểu lộ tình yêu qua sự gần gũi thể xác. Bất cứ người nào cũng có thể trở nên trìu mến ngay cả trong một vài tháng, với một động cơ và sự thúc giục đúng đắn (nhấn mạnh đến bài học của Wheat)

Đụng chạm thân thể là một nhu cầu cơ bản của nhân loại, bắt đầu khi mới lọt lòng nhưng tiếp tục suốt cả cuộc đời. Việc phát huy dạng gần gũi thể xác này sẽ đẩy mạnh và làm tăng sự thân mật trong Hôn nhân. Điều thú vị là đôi nào khó truyền thông với nhau ở những lãnh vực khác nhưng lại chịu khó cùng nhau phát huy ý thức thân mật thể xác này qua việc tạo xúc cảm có thể giải quyết hiệu quả hơn những nan đề trong những lãnh vực khác.
Tạo xúc cảm tình cảm
Trong khi tạo xúc cảm thể xác dể hiểu thì tạo xúc cảm tình cảm phức tạp hơn. Tạo xúc cảm tình cảm liên quan đến sự hòa hợp giữa hai cá tính. Ông Wheat định nghĩa thân mật tình cảm như thế này: hai người cùng muốn chia xẻ cuộc sống chung với nhau - chia xẻ thì giờ, sở thích, cảm xúc, tư tưởng, mục tiêu và lý tưởng.
Sự triển khai thân mật tình cảm chỉ có thể xảy ra trong một không khí tin cậy lẫn nhau và an toàn. Mỗi người phải cảm thấy yên tâm rằng mình sẽ được người bạn đời thông cảm và chấp nhận trước khi người đó có thể chia sẻ những cãm xúc sâu sắc nhất. Có quá nhiều người e ngại không dám chia xẻ những cảm xúc và những vết thương lòng thầm kín nhất của mình, ngay cả với người bạn đời. Vì họ đã từng trải khi họ chia xẻ thường bị chỉ trích, nhạo báng hoặc bị coi thường.
Bài tập 3
Trong phần có tựa đề là “tạo xúc cảm tình cảm”, ông Wheat đưa ra nhiều điều chỉ dẫn ích lợi cho việc tạo nên sự thân mật tình cảm và những chướng ngại phải nên tránh. Mỗi điều chỉ dẫn này được liệt kê sau đây. Hãy diễn đạt trong một hoặc hai câu về cách đánh giá cuộc sống của chính bạn khi liên hệ với từng nguyên tắc như thế nào. Sau đó hãy nêu ra một điều cụ thể mà bạn có thể bắt đầu tích cực thực hiện trong tuần này.
Nguyên tắc 1: Bỏ qua những lỗi lầm và không bao giờ phê bình (IPhi 1Pr 4:8)
Nguyên tắc 2: Luôn nâng đỡ và ban cho bạn đời mình món quà của sự thông cảm (ICo1Cr 8:1)
Nguyên tắc 3: Không bao giờ làm cho người bạn đời của mình thất vọng về một điều gì đó thật sự quan trọng đối với anh ấy hoặc cô ấy.
Nguyên tắc 4: Mẫu đối thoại dẫn đến sự thông cảm thật sự không phải chỉ là một cuộc nói chuyện. Điều này đòi hỏi đến sự ân cần lắng nghe nhau ngay từ lúc mới bắt đầu câu chuyện về những gì người kia thật sự muốn nói và đang cảm thấy (Hãy nhớ lại những gì bạn đã học trong phần bài học về sự truyền thông).
Nguyên tắc 5: Sự phụ thuộc về vật chất, tình cảm và/ hoặc về tài chính vào cha mẹ hai bên là điều ngăn trở nghiêm trọng nhất đối với việc hình thành sự thân mật.
Nguyên tắc 6:Theo đuổi những sở thích riêng và có những người bạn riêng là điều ngăn trở đối với sự thân mật.
Tạo cảm xúc tinh thần
Lĩnh vực thứ 3 được đề cập đến là tạo cảm xúc tinh thần. Ông muốn nói đến sự thỏa hiệp với nhau về tất cả những vấn đề quan trọng, quyết định phương hướng của cuộc đời các bạn. Trong phần này, ông tập trung vào một trong những vấn đề này - vấn đề tiền bạc. Tuy nhiên, có những lãnh vực khác trong cuộc sống các bạn nên có những mục tiêu chung.
Bài tập 4
Với mỗi lĩnh vực sau, hãy viết vào vở một hoặc hai câu văn giải thích cách bạn tiếp cận với vấn đề này. Sau đó hãy viết một hoặc hai câu văn giải thích cách bạn cho rằng người bạn đời của mình quan niệm như thế nào về cùng một vấn đề đó.
Việc sử dụng tiền bạc
Công việc của bạn và công việc của người bạn đời.
Bạn đang quan tâm đến cách giúp đỡ nào.
Cách bạn kỷ luật và dạy dỗ con cái như thế nào.
Để tìm hiểu xem liệu bạn bày tỏ quan điểm của người bạn đời có chính xác không, hãy dành ra tối thiểu là một giờ chia xẻ với người bạn đời những câu trả lời của bạn và để cho người đó chia xẻ với bạn quan điểm của anh ấy hoặc cô ấy.
Tạo xúc cảm tâm linh
Lĩnh vực cuối cùng là tạo xúc cảm tâm linh. Việc phát huy một đời sống thuộc linh gần gũi là một trong những điều ưu tiên lớn nhất của bất kỳ một cuộc hôn nhân nào. Bằng cách cùng nhau chú trọng đến vấn đề tâm linh thì bạn cũng có thể thiết lập nền tảng cho sự gần gũi trong cả những lĩnh vực khác nữa.
Bài tập 5
Hãy liệt kê tất cả những điều bạn đang cùng thực hành với người bạn đời của bạn để phát huy sự gần gũi thuộc linh. Ví dụ như các bạn cùng dành bao nhiêu thời gian để cùng học Kinh thánh và cùng cầu nguyện? Sau khi đã làm xong điều này rồi, xin liệt kê tất cả những điều bạn có thể làm để phát huy sự thân mật thuộc linh sâu nhiệm hơn.
Càng sâu nhiệm hơn
Để áp dụng những điều bạn đã học trong phần bài học tạo cảm xúc, bạn nên triển khai kế hoạch hành động. Trong chương 13 “Cách đạt được một cuộc hôn nhân hạnh phúc” , ông Wheat đã trình bày những điều cụ thể bạn có thể thực hiện để tăng cường mức độ gần gũi và trở nên sâu nhiệm hơn trong hôn nhân của bạn.
Bài tập 6
Hãy đọc chương 13 cách cẩn thận- Sau khi bạn đã đọc xong, hãy liệt kê trong vở bốn điều mà ông Wheat đã gợi ý để chúng ta thực hiện, khen ngợi, gây dựng, chia xẻ và tạo xúc cảm. Với mỗi phần trong bốn phần này, hãy viết một đoạn văn miêu tả những gì ông muốn đề cập. Sau đó đối với mỗi phần hãy liệt kê hai điều bạn có thể làm để áp dụng vào hôn nhân của bạn.
Chúng ta thấy rằng bạn có thể giúp cho hôn nhân của mình trở nên sâu sắc hơn và bền vững hơn bằng cách phát huy sự gần gũi trong hôn nhân qua việc tạo xúc cảm thể chất, tình cảm, tinh thần và tâm linh và bằng cách triển khai chiến lược ca ngợi, gây dựng, chia xẻ và tạo xúc cảm. Tuy nhiên cho dù bạn cố thực hành những điều này thế nào đi chăng nữa thì vẫn không bảo đảm là người bạn đời của bạn sẽ đáp ứng. Ngay cả trong điều kiện thuận lợi nhất của các cuộc hôn nhân thì vẫn có những lúc căng thẳng , thờ ơ ghẻ lạnh và những lúc xung đột. Cách mà bạn đối phó với những giai đoạn khó khăn đó sẽ là chìa khóa để bạn sẽ thành công trong việc phát triển một cuộc hôn nhân bền vững và hạnh phúc. Chỉ cần nhớ là để trở nên sâu nhiệm hơn trong hôn nhân của bạn, hãy:
KHEN NGỢI
GÂY DỰNG
CHIA XẺ
TẠO XÚC CẢM
Viên gạch giúp Hôn nhân tăng trưởng
Trong phần cuối của bài học này bạn sẽ học về ba thái độ cơ bản để áp dụng thành công tất cả những nguyên tắc mà bạn đã học trong môn học này. Sách bài tập cho bạn trong phần bài học này sẽ là ba chương cuối sách “người xây dựng hôn nhân” của Crabb. Trong những chương này tác giả nói về ba viên gạch :Ân sủng, sự dấn thân, sự chấp nhận.
Ân sủng
Hầu hết những người đã lập gia đình ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời cảm thấy như thể không còn hy vọng gì để luôn có được một mối quan hệ hôn nhân theo ước nguyện. Bất hạnh thay đối với nhiều người cảm xúc tuyệt vọng này trở nên cố hữu. Người ta tìm đâu ra sức mạnh để tiếp tục khi dường như không còn điều gì có thể cải tiến mối quan hệ hôn nhân đã thất bại? Một người tin Chúa Jêsus có cơ hội độc đáo mà người không tin Đấng Christ không thể có được. Người đó có thể trông mong vào ân sủng vô hạn của một Đức Chúa Trời yêu thương.
Xin đọc phần giới thiệu trước phần II trong sách của Crabb và cũng đọc chương 6 “Viên gạch thứ nhất:Ân sủng”. Sau khi đã đọc chương này xong, hãy trả lời những câu hỏi sau:
Câu hỏi 1
Có khi nào bạn cảm thấy không hy vọng gì để đạt được một mối quan hệ như ước nguyện trong cuộc hôn nhân của mình không? Hãy viết vào vở lúc đó bạn cảm thấy như thế nào.
Câu hỏi 2
Theo ông Crabb thì tại sao một Cơ đốc nhân nên sống trong hy vọng mà không nên sống trong tuyệt vọng?
Một tín hữu thông thạo Kinh thánh phải hiểu được khái niệm về ân sủng. Tuy nhiên hầu hết các Cơ đốc nhân đều đã trải qua những giai đoạn khi họ không tin rằng Đức Chúa Trời sẽ tiến hành xa hơn nữa mục đích của Ngài trên đời sống họ lúc tình huống vẫn không thay đổi.
Bài tập 7
Coi như là có một lãnh vực trong mối quan hệ hôn nhân của bạn vô cùng khó khăn và chưa có vẻ gì thay đổi. Ông Crabb khuyên bạn nên trông mong vào ân sủng của Đức Chúa Trời. Ông ta miêu tả trách nhiệm cao quí của mỗi Cơ đốc nhân là phải tiếp tục trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà không nên tuyệt vọng. Khi nhìn vào cuộc đời của Phaolô trong II Côrinhtô 12: 9 có những cuộc tranh chiến nào giữa hy vọng, tuyệt vọng, đầu hàng mà bạn thấy có thể liên hệ với bản thân không?
Sự dấn thân.
Sự quả quyết rằng ân điển của Đức Chúa Trời đủ để đem lại hy vọng trong hoàn cảnh tuyệt vọng làm cho chúng ta tự nguyện dấn thân để làm bất cứ điều gì Ngài muốn chúng ta phải làm. Ý tưởng ở đây không phải là thi hành những trách nhiệm đối với hôn nhân trong tinh thần miễn cưỡng đầu hàng hoặc miễn cưỡng vâng phục; vâng phục trong tinh thần này thì không phải vâng phục chút nào. Hơn nữa, người tin vào ân điển Đức Chúa Trời và dấn thân để vâng phục Ngài xem sự vâng phục như là một cơ hội để biến đức tin của mình thành hành động. Ngay cả khi chúng ta bị cám dỗ thì sức mạnh của niềm hy vọng nơi ân điển Đức Chúa Trời sẽ cho chúng ta khả năng hành động. Xin đọc chương 7 có tựa đề là” viên gạch thứ 2: sự dấn thân” và trả lời những câu hỏi sau đây:
Câu hỏi 3
Ông Crabb nói rằng nền tảng cho sự dấn thân thật sự là sự tốt lành của Đức Chúa Trời. Hãy mô tả những điều ông muốn nói bằng lời của bạn. Hãy nghĩ ra một ví dụ cho nguyên tắc này từ kinh nghiệm của chính bạn.
Câu hỏi 4
Ông Crabb nói rằng việc trân trọng sự dấn thân vì một sự tin cậy sâu sắc vào sự tốt lành của Đức Chúa Trời sẽ cảm thấy không giống như việc thi hành những bổn phận, mà giống như theo đuổi những nguyện vọng sâu sắc nhất của một người. Hãy giải thích bằng lời của bạn làm sao điều này có thể trở thành hiện thực.
Câu hỏi 5
Hãy giải thích bằng lời của bạn sự dấn thân đối với sự vâng phục Đấng Christ trong hôn nhân giống với sự vâng phục Đấng Christ trong những lĩnh vực khác của cuộc sống.
Câu hỏi 6
Hãy lưu ý đến điều làm bạn thất vọng nhất trong hôn nhân. Bạn thường đổ lỗi cho ai hoặc cái gì về những thất vọng này? Hãy giải thích ngắn gọn bằng lời của bạn nhờ tin cậy vào sự tốt lành của Đức Chúa Trời mà thái độ của bạn đối với sự thất vọng này thay đổi.
Sự chấp nhận
Bây giờ chúng ta đến viên gạch thứ 3 để đạt được một cuộc hôn nhân thành công: sự chấp nhận. Khi chúng ta được châm rễ vững chắc trong ân sủng Đức Chúa Trời và dấn thân để vâng lời Ngài trong mọi hoàn cảnh, thì chúng ta đã được chuẩn bị để chấp nhận người bạn đời của mình cách trọn vẹn. Hàm ý của sự chấp nhận khiến chúng ta sửng sốt, vì người ta phải tình nguyện chịu khổ vì phúc lợi của người bạn đời. Hãy đọc chương 8 “ Viên gạch thứ 3: sự chấp nhận.” Chương này hơi khó hiểu, nên xin đọc thật cẩn thận, khi đọc xong chương này, hãy trả lời những câu hỏi sau đây:
Câu hỏi 7
Ông Crabb nói rằng khi một người bị người bạn đời của mình làm cho bực mình thì có thể nhận thấy hai phản ứng khác nhau: một quyết định và một cảm xúc. Hãy miêu tả bằng lời của bạn quyết định đó là gì và cảm xúc ấy là gì. Sự khác biệt cơ bản giữa 2 điều đó là gì?
Câu hỏi 8
Ông Crabb tiếp tục nói rằng sự chấp nhận không thể chỉ là một phản ứng thuộc cảm xúc và một quyết định để luôn luôn kiên định trong sự dấn thân chăm sóc người bạn đời của mình. Hãy diễn đạt điều ông Crabb nói kinh nghiệm của sự chấp nhận phải phụ thuộc vào cái gì bằng ngôn từ của bạn.
Câu hỏi 9
Hãy giải thích sự khác biệt giữa nhu cầu và nguyện vọng, và hãy miêu tả ảnh hưởng của chúng trên những phản ứng tình cảm.
Câu hỏi 10
Ông Crabb kết luận chương này bằng một cuộc thảo luận về sự tha thứ. Hãy so sánh và trình bày sự khác nhau của những khái niệm như: Sự không tha thứ, sự tha thứ không trọn vẹn và sự tha thứ thật sự.
Để có thể thật sự tha thứ, chúng ta phải có thể đánh giá sự bực dọc một cách chính xác qua người bạn đời của chúng ta. Nghĩa là, chúng ta phải biết rằng sự bực dọc này không nhằm làm cho những nhu cầu cuả chúng ta không được thỏa mãn, nhưng đơn giản là làm trở ngại một nguyện vọng - Để giữ lại những tiền đề đúng đắn về nhu cầu và nguyện vọng, ông Crabb đã gợi ý ba điều.Trước tiên, chúng ta phải nắm chắc lẽ thật là những nhu cầu của chúng ta đều được đáp ứng trong Đấng Christ, trong khi ngẫm nghĩ về sự giàu có của chúng ta ở trong Ngài. Thứ hai, chúng ta phải phản ảnh cho được mức độ mà Đấng Christ đã tha thứ cho chúng ta. Thứ ba, chúng ta phải tập trung vào sự chỉ dẫn của Phao-lô để tìm kiếm những lợi ích của người khác, xem những nguyện vọng đó quan trọng hơn những nguyện vọng của mình.
Bài tập 8
Hãy liệt kê ra tất cả những điều người bạn đời của bạn đã làm để chọc giận bạn và vì những điều này mà bạn không thể thật sự tha thứ được - sau đó hãy dành thời gian cầu nguyện cho những điều này và triển khai một kế hoạch hành động cụ thể mà bạn sẽ thực hiện để bày tỏ sự tha thứ thật sự đối với người bạn đời.
ÂN ĐIỂN
SỰ DẤN THÂN SỰ CHẤP NHẬN
Dự án 12
Đối với những học viên đã có gia đình
Hãy dành riêng ra một ngày để ở bên người bạn đời của bạn. Lúc đầu dường như bạn rất khó làm điều này, nhưng lại cực kỳ quan trọng. Nếu có thể hãy lên chương trình cùng đi chơi qua đêm ở một nơi nào đó xa nhà. Nếu không thể, hãy sắp xếp một khoảng thời gian nào đó để chỉ có hai người cùng ở nhà với nhau, và cả hai có thể cùng vui hưởng sự thân mật ân ái nữa. Hãy sử dụng thời gian này để cùng bàn bạc với người bạn đời của bạn một số mục tiêu chưa cụ thể cho mối quan hệ hôn nhân của bạn. Để làm điều này, hãy ôn lại vắn tắt những điểm chính trong từng bài học của môn học này. Hãy xác định rõ những điều nào đỏi hỏi sự quan tâm cấp bách nhất, và triển khai một kế hoạch cụ thể về cách bạn sẽ gây ảnh hưởng trên từng lĩnh vực. Dành ít nhất là một phần thời gian trong ngày để cầu nguyện cho những mục tiêu của bạn. Quan trọng nhất là, dành một khoản thời gian trong ngày để cùng nhau thư giãn và vui vẻ với người bạn đời của mình.
Kết Luận
Như một vị tướng từng nhận định:” Cách duy nhất để thắng trận là phải ngăn chận”. Mỗi nhà tư vấn hôn nhân đều nhận thấy chiều sâu của câu nói này khi áp dụng vào trong hôn nhân. Để duy trì mối quan hệ bền vững và tăng trưởng không phải là công việc dễ dàng, đòi hỏi công lao, thời gian, sự dấn thân và năng lực. Đôi lúc công việc này có thể sẽ làm cho bạn cực kỳ đau đớn khi bạn tìm cách giúp đỡ, lại phải đối đầu với sự thất vọng và bực mình. Nhưng phần thưởng cho sự trung tín vâng phục Đức Chúa Trời để cố đạt được một cuộc hôn nhân hạnh phúc lại quá lớn đến mức vượt xa nỗi đau bạn phải chịu đựng. Như chúng ta đã nói trong phần giới thiệu của môn học này, không có gì tồi tệ hơn là một cuộc hôn nhân không hạnh phúc,và cũng không có gì tốt lành hơn một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Chúng tôi hy vọng rằng môn học này sẽ giúp bạn thấy được những lĩnh vực bạn cần cải thiện trong mối quan hệ hôn nhân của bạn. Điều đó tùy thuộc vào cách bạn áp dụng những lẽ thật của môn học về cuộc sống hàng ngày.
Không có công thức dễ dàng nào cho một cuộc hôn nhân thành công và tăng trưởng. Nó đòi hỏi sự dấn thân và công sức. Những điều bạn đã học trong môn học có thể giúp bạn đạt được mục tiêu đó nhưng cơ bản vẫn tùy thuộc vào bạn. Cầu Chúa ban phước lành cho bạn trên con đường dẫn đến một cuộc hôn nhân hạnh phúc và thỏa nguyện.
JJJ
J
JJJ
TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI
Câu 1
Câu trả lời của bạn
Câu 2
Hy vọng của Cơ đốc nhân là ân sủng của Đức Chúa Trời. Trong sự hiện diện (của Đức Chúa Trời) không có điều gì làm cho tuyệt vọng. Tôi có thể chịu đựng những sự tổn thương sâu sắc mà người bạn đời của tôi đã gây ra cho tôi, nhưng Đức Chúa Trời sẽ thêm sức cho tôi. Ân sủng Đức Chúa Trời thì đầy đủ.
Câu 3
Câu trả lời của bạn. Nếu tôi biết và tin chắc rằng Đức Chúa Trời là tốt lành và mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời (RoRm 8:28), thì tôi có thể tự do quyết định vâng lời. Quyết định vâng phục một Đức Chúa Trời tốt lành và tôn trọng sự dấn thân của tôi sẽ làm cho tôi có nguyện vọng vâng phục Ngài ngay cả trong những lúc khó khăn (câu trả lời của bạn nên kèm theo một ví dụ về kinh nghiệm của bạn).
Câu 4
Câu trả lời của bạn -Khi tôi hiểu chính xác rằng hôn nhân như một sự kêu gọi đến sự giúp đỡ ở tầm mức cao hơn và tất cả những nhu cầu của tôi đều được đáp ứng đầy đủ trong Đấng Christ, thì mối thông công với Đấng Christ và chăm sóc người bạn đời của tôi trong danh Ngài trở thành nguyện vọng sâu sắc nhất của tôi. Sự dấn thân của tôi được xem như một cơ hội để đi theo con đường tốt lành này.
Câu 5
Câu trả lời của bạn. Dấn thân vâng phục Đấng Christ trong Hôn nhân cũng giống như vâng phục Đấng Christ trong những lãnh vực khác của cuộc đời tôi bởi vì “mọi hành động vâng lời vì Đấng Christ là hoàn thành mục đích đã định sẵn cho công việc đó và đem lại nụ cười trên đôi môi của Đấng Cứu Chuộc”. Hơn nữa vì Đức Chúa Trời là tốt lành, sự vâng phục trong hôn nhân cũng cũng giống như những lãnh vực khác đem lại niềm vui cho những Cơ đốc nhân thật.
Câu 6
Câu trả lời của bạn
Câu 7
Câu trả lời của bạn. Khi người bạn đời của tôi làm cho tôi bực mình, tôi có thể tỉnh táo quyết định hoặc là sẽ duy trì sự dấn thân để đạt được mục tiêu chăm sóc hoặc là sử dụng để đáp ứng cho những nhu cầu trước mắt của mình. Tôi cảm thấy một cảm xúc hoặc vui mừng hoặc bất mãn, tùy thuộc vào những gì người bạn đời của tôi làm. Quyết định của tôi thuộc quyền kiểm soát của tôi, và là một vấn đề của sự lựa chọn, phản ứng cảm xúc của tôi không phải là sự lựa chọn nhưng là một phản ứng tự nhiên khi tôi ở trong tình huống đó.
Câu 8
Câu trả lời của bạn. Ông Crabb nói rằng chấp nhận một người naò đó “có nghĩa là chúng ta chăm sóc cho người ấy mà không buồn bực hay miễn cưỡng khi chúng ta chăm sóc”. Điều này có thể thực hiện được khi chúng ta tha thứ cho người bạn đời đã chọc giận mình. Sự chấp nhận phụ thuộc vào sự tha thứ.
Câu 9
Mỗi người đều có hai nhu cầu cơ bản: sự an tâm (biết rằng mình được yêu vô điều kiện) và ý nghĩa (biết rằng mình có mục đích và ý nghĩa thật sự đối với cuộc đời). Chỉ Đấng Christ mới có thể đáp ứng những nhu cầu này. (Xem chương 3 trong sách của ông Crabb về “Hiệp nhất Tâm hồn”. Tuy nhiên, vượt xa hơn những nhu cầu này, mỗi người đều mong ước rất nhiều ở những người khác, đặc biệt là người bạn đời của mình.Tôi mong ước tình bạn, lòng tôn trọng, tình yêu, và v..v... Khi tôi không nhận được những điều tôi mong ước ở người bạn đời của mình, tôi sẽ cảm thấy bất mãn.
Khi một người đánh giá biến cố đem lại sự bất mãn, điều quan trọng là phải thấy rằng sự chọc giận này là điều ngăn trở đối với những nguyện vọng chứ không phải đối với những nhu cầu của mình. Người này sau đó sẽ cảm thấy một cảm xúc thất vọng chính đáng. Trái lại, nếu người chồng hoặc người vợ đánh giá biến cố chọc giận như là điều ngăn trở những nhu cầu của mình, thì người đó sẽ tiếp tục cay đắng, một phản ứng cảm xúc tội lỗi.
Trái lại, giả sử rằng người bạn đời của tôi làm điều gì đó khiến tôi hài lòng. Tôi sẽ vẫn đưa ra một quyết định và cảm thấy một cảm xúc. Quyết định sẽ là hoặc tiếp tục mục tiêu chăm sóc người bạn đời của mình hoặc sử dụng để cô ta sẽ tiếp tục làm những điều khiến tôi hài lòng. Cảm xúc mà tôi sẽ cảm thấy trong trường hợp này là sự vui sướng, một phản ứng cảm xúc tự nhiên, vô tội đối với điều gì đó tốt đẹp. Nếu tôi đánh giá hành động người bạn đời của tôi như là điều gì đó tôi cần hơn là tôi mong ước, thì niềm vui của tôi sẽ trở nên bị lệ thuộc, một phản ứng cảm xúc tội lỗi ngăn trở mục tiêu chăm sóc của tôi.
Tóm lại, mỗi biến cố sẽ đem lại một sự lựa chọn: chăm sóc hay sử dụng. Thứ hai là, mỗi biến cố sẽ đem lại một cảm xúc: vui sướng hay bất mãn. Những phản ứng này là những phản ứng vô tội đối với một biến cố. Trong trường hợp này, nếu một người đánh giá cách cư xử của người bạn đời như có liên quan những nhu cầu của mình thì người đó sẽ phản ứng cách tội lỗi khi trở nên cay đắng hơn hoặc bị lệ thuộc. Nếu người đó xem biến cố đó có liên quan đến những nguyện vọng của mình, thì phản ứng vô tội của người đó sẽ là thất vọng hoặc thỏa mãn và người đó sẽ duy trì mục tiêu chăm sóc của mình.
Vấn đề chủ yếu là tôi cần phải nhớ rằng những nhu cầu của tôi được đáp ứng đầy đủ trong Đấng Christ. Khi ấy tôi sẽ tự do tha thứ hay yêu thích người bạn đời của tôi và tiếp tục chăm sóc anh ấy/ cô ấy.
Câu 10
Câu trả lời của bạn. Sự không tha thứ và sự tha thứ không trọn vẹn có một điểm chung: cả hai đều xem biến cố chọc giận như là những điều ngăn trở đối với những nhu cầu hơn là những nguyện vọng của người đó.
a. Sự không tha thứ sẽ gây ra sự cay đắng, sự sử dụng để bảo vệ chính mình, và hình phạt của người bạn đời.
b. Sự tha thứ không trọn vẹn sẽ khiến cho sự cay đắng phát triển trong người bị chọc giận, mặc dầu anh ta/ cô ta quyết định tha thứ cho người kia.
c. Sự tha thứ thật sự đúng theo Kinh thánh đánh giá biến cố chọc giận y như quan điểm của Đức Chúa Trời: đó là điều không may nhưng không liên quan đến sự an tâm và ý nghĩa của người đó. Biến cố bực dọc liên quan đến những nguyện vọng của người đó và sự cay đắng dần dần sẽ được thay thế bằng sự thất vọng. Người này tha thứ cho người chọc giận mình, phục hồi sự dấn thân chăm sóc của anh ta/ cô ta và thực hiện sự tử tế đối với người bạn đời.
Để thật sự chấp nhận người bạn đời của mình, người ta phải sẵn lòng chịu tổn thương và phó mình để chấp nhận sự cự tuyệt đau đớn. Vì thế, để đạt được điều này, người ta phải rèn luyện sự tha thứ thật sự đúng với Thánh kinh bất cứ khi nào người bạn đời làm tổn thương mình. Những gì người bạn đời kia làm không liên quan đến những nhu cầu cơ bản của người đó, bởi vì những nhu cầu đó được đáp ứng đầy đủ trong Đấng Christ.
Với tiền đề này, người đó có thể tự do dấn thân chăm sóc người bạn đời của mình và hướng đến Sự Hiệp nhất hoàn toàn trong hôn nhân của mình.

BÀI THI ĐƠN VỊ 4
1. Hãy nêu bốn nguyên tắc để làm phong phú cuộc sống tình yêu trong hôn nhân mà ông Wheat đã đưa ra.
2. Hãy nêu năm phương diện của tình yêu dựa trên 5 từ tiếng Hylạp.
3. Theo ông Wheat, ba điều cần thiết cho một mối quan hệ tình dục tích cực đối với người bạn đời của bạn là gì?
4. Hãy tóm tắt ngắn gọn sự hiểu biết của bạn về nền tảng của Kinh thánh đối với tình dục.
5. Trong phần giải thích của ông Wheat trong ICo1Cr 7:3-5 ông đã chỉ ra 3 nguyên tắc liên quan đến sự thụ hưởng tình dục. Hãy nêu và giải thích ngắn gọn từng nguyên tắc này.
6. Trong việc phát huy thái độ đúng đắn đối với tình dục, điều quan trọng nhất trong thái độ của người nữ đối với tình dục là gì, và điều quan trọng nhất trong thái độ của người nam đối với tình dục là gì?
7. Ông Wheat đã tán thành việc học cách “tạo xúc cảm” tình cảm, thể xác, tinh thần, và tâm linh. Ông nói rằng cần phải có 4 điều kiện để phát huy dạng gần gũi này. Bốn điều đó là gì?
8. Viết một đoạn văn ngắn giải thích cho từng viên gạch trong 3 viên gạch để đạt được một cuộc Hôn nhân tăng trưởng (theo ông Crabb).


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-9-2018 10:44 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách