nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3736|Trả lời: 0

Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích (Giản Lược )

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 16-7-2011 07:57:38 | Xem tất |Chế độ đọc

Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích (Giản Lược )
Bài dẫn nhập: LƯỚT SÓNG THUỘC LINH
Câu gốc : “Vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đấng làm cho biển động, sóng bổ ầm ầm. Đức Giê-hô-va vạn quân là danh Ngài. ” EsIs 51: 15
I. ĐỪNG CỐ TẠO MỘT LÀN SÓNG
1. Tạo làn sóng là việc của Đức Chúa Trời: Đến với một lớp dạy lướt sóng, chúng ta sẽ được học cách sử dụng ván lướt sóng, cách xác định loại sóng có thể lướt và nhất là cách giữ thăng bằng. Tuy nhiên, không bao giờ có lớp dạy tạo nên một làn sóng ! Chính Đức Chúa Trời đã tạo nên chúng.
2. Tăng trưởng là việc của Đức Chúa Trời: Không ai có thể tạo được làn sóng của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Chỉ có Đức Chúa Trời mới tạo nên sự tăng trưởng (I. Cô 3: 6), thở hơi sống của Ngài vào thung lũng xương khô để tạo những làn sóng phấn hưng, tăng trưởng.
3. Việc của chúng ta: Trong cương vị lãnh đạo Hội Thánh, chúng ta phải nhận ra làn sóng Thánh Linh của Đức Chúa Trời và tận dụng nó. Đây là một việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi không chỉ sự khao khát hay tận hiến, mà còn cần sự nhạy bén, nhẫn nại, đức tin, năng khiếu và quân bình.
4. Cơ hội hôm nay: Ngày nay, Đức Chúa Trời đang tạo ra hết làn sóng nầy đến làn sóng khác của những người sẵn sàng tiếp nhận Phúc Âm, bắt nguồn từ quá nhiều nan đề trên thế giới.
. Đây là thời điểm lịch sử kỳ thú nhất cho Hội Thánh với những cơ hội chưa từng có bởi sự vận hành của Đức Thánh Linh, khiến càng lúc càng có nhiều người đến với Đấng Christ hơn bất cứ thời điểm nào khác.
. Hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta đặc ân được dự phần vào điều phi thường Đức Chúa Trời đang làm mỗi ngày trong cuộc sống.
5. Bài học từ Hội Thánh Saddleback: Hội Thánh đã học nhận diện những làn sóng của Đức Chúa Trời gửi đến, học cách tận dụng, học biết tầm quan trọng của sự quân bình cũng như học cách rời khỏi những làn sóng đang yếu dần. Khi chúng ta càng thành thạo bao nhiêu, Chúa càng gửi đến nhiều làn sóng bấy nhiêu !
II. HỘI THÁNH SỐNG MẠNH
1. Một câu hỏi sai: Nhiều Hội Thánh ngày nay đã bắt đầu với một câu hỏi sai: “Điều gì khiến Hội Thánh tăng trưởng?”. Câu hỏi đúng phải là: “Điều gì ngăn trở Hội Thánh chúng ta tăng trưởng?”. Hãy tìm xem những rào cản nào đang ngăn chận các làn sóng Đức Chúa Trời đang gửi đến. . .
2. Lý do: Mọi vật sống đều tăng trưởng mà không cần sự can thiệp của chúng ta. Việc của chúng ta là loại bỏ những điều cản trở sự tăng trưởng bình thường đó, bởi vì không tăng trưởng là một điều khủng khiếp !
. Mất quân bình là một trong những lý do cản trở sự tăng trưởng.
3. Nhiệm vụ người lãnh đạo: Người lãnh đạo phải phát hiện và điều trị những căn bệnh cũng như những rào cản ngăn trở sự “bành trướng tự phát” của Hội Thánh.
. Vì thế vấn đề then chốt của Hội Thánh không phải là sự tăng trưởng mà là sự sống mạnh. Khi Hội Thánh sống mạnh, Hội Thánh sẽ phát triển theo cách Đức Chúa Trời đã hoạch định.
4. Nghiên cứu sự phát triển Hội Thánh: Tân ước là quyển sách tuyệt vời nhất viết về đề tài tăng trưởng Hội Thánh. Nghiên cứu lịch sử Hội Thánh sẽ giúp chúng ta thoát khỏi những sai lầm của quá khứ.
. Quyển sách nầy là kết quả của 20 năm nghiên cứu và thực tập Hội Thánh theo đúng mục đích tại Saddleback với những nguyên tắc được kiểm chứng nhiều lần, đã đem phước hạnh đến nhiều quốc gia. . .
IV. VAI TRÒ CÁC MỤC SƯ
1. Nhà lãnh đạo bị xem thường: Theo kinh nghiệm lịch sử Hội Thánh và gia đình, Rick Warren tin rằng Mục sư là những nhà lãnh đạo bị xem thường nhất trong xã hội và ông rất ngưỡng mộ những Mục sư “lưỡng nghiệp”!
2. Một nhân tố chiến lược nhất: Tuy nhiên, Mục sư là những nhân tố thay đổi chiến lược nhất để đương đầu với những vấn đề mà xã hội đang đối diện. Ngay cả nhiều nhà chính trị cũng phải kết luận rằng sự phấn hưng thuộc linh là giải pháp duy nhất của xã hội.
. Tuy nhiên, điều đáng buồn là nhiều Cơ Đốc nhân lại nghĩ rằng chính trị mới là giải pháp !
3. Đặc ân và trách nhiệm: Mục sư là một đặc ân Chúa ban để thay đổi thế giới, kèm theo một trách nhiệm nặng nề, phức tạp, nhất là trong thế hệ hiện nay. Ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất thì chức vụ cũng hết sức khó khăn bên cạnh rất nhiều nguồn giúp đỡ. Chìa khóa để hoàn thành chức vụ là đừng bao giờ ngừng học hỏi !
4. Yêu mến Hội Thánh của Đức Chúa Trời: Cho dù với đầy những thiếu sót (vì cớ tội lỗi của chúng ta), Hội Thánh vẫn là khái niệm cao quý nhất từng được hình thành. Hội Thánh vẫn là công cụ ơn phước, được Đức Chúa Trời lựa chọn, được đứng vững qua bao nhiêu ngược đãi, bắt bớ và thờ ơ. Vì thế hãy yêu mến Hội Thánh Đức Chúa Trời hết lòng.

Bài 1: CÂU CHUYỆN SADDLEBACK
Câu gốc : “Dòng dõi nầy sẽ ca tụng công việc Chúa cho dòng dõi kia, Và rao truyền việc quyền năng của Chúa. ” Thi Tv 145: 4
I. ĐƯỢC KÊU GỌI
1. Được kêu gọi vào chức vụ: Năm 1970, Rick Warren được Chúa kêu gọi vào chức vụ ở tuổi 16 để bắt đầu truyền giảng cho các bạn Trung học. Đến 19 tuổi ông đã được mời giảng cho các buổi nhóm 50 Hội Thánh. . .
2. Được kêu gọi làm Mục sư: Năm 1973, ông dự buổi giảng của Tấn sĩ W. A. Criswell một Mục sư nổi tiếng của Hội Thánh Báptít lớn nhất thế giới, được xem là một “huyền thoại sống” đối với ông, đã hầu việc Chúa tại một Hội Thánh suốt 50 năm với tình yêu, đã đem lại kết quả thật tốt đẹp.
. Khi bắt tay Rick Warren, Tấn sĩ Criswell đã bất ngờ đặt tay lên đầu chàng trai trẻ và cầu nguyện Chúa ban gấp đôi sự đầy dẫy Đức Thánh Linh để chăn bầy tại một Hội Thánh tăng trưởng gấp đôi Hội Thánh Dallas !
3. Được kêu gọi để mở Hội Thánh mới: Năm 1974, trong khi thực tập truyền giáo tại Nagasaki, ông đọc được trong tờ HIS, tạp chí của Đoàn Sinh viên Tin Lành về Donald Mc Gavran với chủ đề “Tại sao người nầy lại nguy hiểm?”. Sứ điệp của Mc Gavran đã hướng ông đến chỗ phải thành lập một Hội Thánh mới: “Đức Chúa Trời muốn tìm kiếm những chiên lạc và Ngài muốn thấy Hội Thánh của Ngài tăng trưởng”.
II. CÂU CHUYỆN ĐẰNG SAU CÁC PHƯƠNG PHÁP
1. Cần tìm hiểu bối cảnh: Mỗi nền thần học đều có một bối cảnh. Muốn hiểu nền thần học, chúng ta phải nghiên cứu bối cảnh đó. Cũng vậy, mỗi hệ thống phương pháp đều có một câu chuyện đằng sau nó.
. Không có một Hội Thánh lớn nào lại không bắt đầu là một Hội Thánh nhỏ và không trải qua những năm tháng tranh đấu với vô số nan đề và thất bại. Chẳng hạn Hội Thánh Saddleback đã sinh hoạt thờ phượng Chúa trong 15 năm rồi mới xây được ngôi nhà thờ đầu tiên !
2. Khải tượng: Khải tượng là khả năng nhìn thấy tương lai, nhưng trong thế giới thay đổi quá nhanh ngày nay, khải tượng cũng là khả năng nắm bắt chính xác những thay đổi hiện tại và tận dụng chúng.
3. Thử nghiệm và cải tiến: Saddleback là một Hội Thánh trẻ, mới được thành lập nên dễ thực hiện những thử nghiệm hơn các Hội Thánh truyền thống. Mỗi một cải tiến là phản ứng trước một hoàn cảnh, một thất bại. Ngoài ra, có một số khám phá hoàn toàn ngẫu nhiên khi bắt tay vào việc.
III. MỞ HỘI THÁNH MỚI Ở ĐÂU?
1. Tìm kiếm các nguyên tắc: Từ bài báo về Mc Gavran, ông quyết định đầu tư tìm kiếm những nguyên tắc Kinh Thánh, văn hóa và lãnh đạo dẫn đến một Hội Thánh vững mạnh và tăng trưởng. Năm 1979, ông nghiên cứu sự phát triển của 100 Hội Thánh lớn tại Mỹ và khám phá rằng dù khác nhau về chiến lược, cơ cấu, phong cách nhưng vẫn có những mẫu số chung:
. Những Hội Thánh lớn mạnh là những HT có Mục sư gắn bó lâu năm với HT. Mục sư “sắp mãn nhiệm” sẽ không hết lòng xây dựng một chương trình tăng trưởng lâu dài và các tín hữu cũng sẽ dè dặt khi hiệp tác !
2. Tim kiếm một Hội Thánh truyền giáo: Lúc đầu ông bà muốn trở thành giáo sĩ, nhưng sau thời gian cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn, họ cảm nhận rằng Chúa không muốn họ làm giáo sĩ, nhưng thành lập một Hội Thánh sai phái những giáo sĩ. Thật ra, sức mạnh của Hội Thánh được đo lường bằng năng lực sai phái chứ không phải số đông ngồi nghe !
3. Tìm kiếm một địa điểm: Sau thời gian tìm hiểu 4 tiểu bang có ít nhà thờ nhất, ông bà quyết định đến California, và khi biết thung lũng Saddleback là nơi tăng trưởng nhanh nhất thời bấy giờ, họ nghe rõ tiếng Chúa bảo họ phải đến đó. Khi họ viết thư cho vị Mục sư chịu trách nhiệm trong vùng thì cũng chính là lúc vị Mục sư ấy gửi thư mời họ đến Saddleback !!!
IV. ĐẾN MỞ HỘI THÁNH MỚI
1. Tìm nhà trọ: Cuối năm 1979, ông bà và đứa con nhỏ 4 tháng đến quận Cam, tìm được một căn hộ cho thuê và một thành viên đầu tiên là người kinh doanh nhà đất. Chúa tiếp trợ từng bước một vì Ngài dẫn tới đâu, Ngài chu cấp tới đó !
2. Khẳng định mục đích: Trọng tâm của Hội Thánh Saddleback là đem những người không đi nhà thờ và những người không tín ngưỡng trong cộng đồng đến với Chúa Jê-sus (không mượn nhân sự Hội Thánh khác).
. 12 tuần đầu ông tổ chức học Kinh Thánh tại nhà và đi gõ cửa từng nhà trong vùng, vì cách nhanh nhất để xây một cây cầu đến thân hữu là quan tâm đến họ và những vấn đề họ đối diện. Số tín hữu lúc ấy là 15.
3. Buổi thờ phượng Chúa đầu tiên: Ngày thờ phượng Chúa đầu tiên, khai sinh Hội Thánh là Chúa nhật Phục sinh 6. 4. 1980. Sau khi gửi 15. 000 bức thư và thực tập buổi thờ phượng Chúa (có 60 người tham dự), có 205 người tham dự. Mười tuần sau có 82 người tin Chúa. Mười lăm năm sau có 7. 000 người tin Chúa, số tín hữu là 10. 000, vì Hội Thánh đã biến người tiêu thụ thành người đóng góp, biến người nghe thành một đạo quân !

Bài 2: NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM
Câu gốc: “Hãy mua chân lý, sự khôn ngoan, sự khuyên dạy, và sự thông sáng; chớ hề bán đi. ” ChCn 23: 23
I. ĐIỀU HỘI THÁNH LỚN QUAN TÂM LÀ SỰ HIỆN DIỆN ?
1. Năm mục đích của Hội Thánh: Nếu chỉ quan tâm đến sự hiện diện, Hội Thánh sẽ không tăng trưởng. Hội Thánh phải làm trọn năm mục đích mà Hội Thánh đầu tiên đã thực hiện. Đó là: a. Ấm cúng hơn qua mối thông công. b. Sâu nhiệm hơn qua môn đồ hóa. c. Mạnh mẽ hơn qua sự thờ phượng Chúa. d. Rộng hơn qua chức vụ. e. Lớn hơn qua truyền giáo.
2. Khỏe mạnh và tăng trưởng: Hội Thánh khỏe mạnh là Hội Thánh tăng trưởng. Hội Thánh khỏe mạnh khi sứ điệp đặt nền tảng trên Kinh Thánh và sứ mạng được quân bình giữa năm mục đích. Hội Thánh khỏe mạnh khi “mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội Thánh” (tối thiểu là 365 người mỗi năm !).
II. HỘI THÁNH LỚN TIẾP NHẬN TÍN HỮU TỪ HỘI THÁNH KHÁC ?
1. Hội Thánh Saddleback: Hội Thánh Saddleback có 80% là người tin Chúa và làm báptêm tại Hội Thánh, bên cạnh những tín hữu không đi nhà thờ.
2. Đánh lưới chứ không phải trao đổi: Chúa Jê-sus kêu gọi chúng ta đánh lưới người chứ không phải trao đổi cá trong các bể nuôi !
III. CẦN PHẢI LỰA CHỌN GIỮA SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG ?
1. Cần định nghĩa đúng: Chất lượng là phẩm chất tín hữu, là loại tín hữu mà Hội Thánh sản sinh ra, và số lượng là số tín hữu mà Hội Thánh tạo ra.
2. Bổ túc cho nhau: Nếu thế thì chất lượng và số lượng không đối kháng nhau. Trái lại, chất lượng sẽ tạo ra số lượng, thu hút nhiều người đến với Chúa, và số lượng cũng tạo ra chất lượng, Hội Thánh sẽ phong phú hơn.
IV. PHẢI THỎA HIỆP SỨ ĐIỆP VỚI SỨ MẠNG ?
1. Đừng nhầm lẫn điều mong đợi: Đừng mong đợi “đám đông” làm giống như “hội chúng” cho đến khi họ chịu tin nhận Chúa. Tuy nhiên, khi tin Chúa, họ phải học lớp thành viên và ký giao ước thành viên (dâng hiến tài chánh, phục vụ, chia sẻ đức tin, vâng phục lãnh đạo, tránh nói hành, phải sống tin kính. . . ). Sau đó, cần học thêm để ký giao ước trưởng thành . . . Càng thách thức tận hiến bao nhiêu, tín hữu càng phấn khởi bấy nhiêu !
2. Vẫn hợp thời mà không thỏa hiệp: Đừng rơi vào trong hai thái cực: Cô lập khỏi xã hội hoặc đồng hóa với xã hội. Hãy như Chúa Jê-sus bắt đầu từ chỗ đứng của dân sự, không hạ thấp tiêu chuẩn mà không thỏa hiệp.
V. CHỈ CẦN TẬN TÂM LÀ ĐỦ ?
1. Tận tụy lẫn kỹ năng: Nhiều mục sư rất tận tâm nhưng Hội Thánh vẫn không tăng trưởng vì Hội Thánh tăng trưởng đòi hỏi cả sự tận tụy lẫn kỹ năng (TrGv 10: 10). Vì thế, phải thường xuyên mài dũa kỹ năng.
2. Sự cần thiết của kỹ năng: Công tác phục vụ Chúa được so sánh với việc xây dựng (ICo1Cr 3: 10), trồng trọt (3: 6), gặt hái (Mat Mt 9: 37). . . cần trau dồi kỹ năng và sử dụng đúng dụng cụ. Dĩ nhiên chức vụ thiếu cầu nguyện là chức vụ thiếu quyền năng, nhưng trong khi chúng ta chờ đợi Chúa làm việc cho chúng ta thì Ngài lại chờ đợi để làm việc qua chúng ta ICo1Cr 3: 6-10
VI. CHỈ CÓ MỘT CHÌA KHÓA TĂNG TRƯỞNG ?
1. Có nhiều cách để tăng trưởng: Đức Chúa Trời có thể dùng nhiều cách để Hội Thánh tăng trưởng, ngay cả những cách trái ngược nhau (Trường Chúa nhật, nhóm nhỏ, âm nhạc hiện đại, âm nhạc truyền thống. . . ).
2. Có đủ loại Hội Thánh để tiếp cận đủ hạng người: Đức Chúa Trời yêu thích sự đa dạng nên Ngài tạo dựng mỗi người khác nhau. Cần lưu ý sứ điệp không hề thay đổi nhưng phương pháp có thể thay đổi theo thế hệ. . .
3. Đừng chỉ trích điều Đức Chúa Trời đang ban phước: Dù phong cách có thể làm chúng ta khó chịu, nhưng hãy tạ ơn Chúa rút ra những bài học.
VII. CHỈ CẦN TRUNG TÍN ?
1. Trung tín là gì? Trung tín là cố gắng tận dụng những gì Đức Chúa Trời ban để làm lợi cho Ngài (Mat Mt 25: 14-30), chứ không phải chỉ giữ đức tin.
2. Chúa muốn chúng ta trung tín lẫn kết quả: Ngài kêu gọi chúng ta để kết quả (GiGa 15: 16), để dâng vinh hiển cho Ngài (15: 8), làm vui lòng Ngài (CoCl 1: 10), và Ngài đoán phạt kẻ không kết quả (Mat Mt 21: 19, 43; 25: 30;).
VIII. KHÔNG THỂ HỌC GÌ TỪ HỘI THÁNH LỚN ?
1. Những điều không thể học: Dĩ nhiên chúng ta không thể sao chép sự phát triển của một Hội Thánh lớn vì không thể sao chép bối cảnh của họ, đội ngũ của họ và cá nhân người lãnh đạo, vì Đức Chúa Trời dựng nên chúng ta là chúng ta với những định dạng đặc thù để phục vụ Ngài tốt nhất.
2. Những điều có thể học: Tuy nhiên, chúng ta có thể học được:
a. Những nguyên tắc: Nguyên tắc chỉ ít thôi, và nguyên tắc có nền tảng Thánh Kinh sẽ luôn thích hợp với mọi nền văn hóa. Đừng mặc cảm khi noi gương người khác (ChCn 18: 15) vì Chúa ban ơn cho kẻ khiêm nhường.
b. Những tiến trình: Hãy nghiên cứu những tiến trình để có thể áp dụng.
c. Một vài phương pháp: Cần lựa lọc những phương pháp dựa trên nền tảng Kinh Thánh và có thể đem lại kết quả nhất trong bối cảnh chúng ta.
Bài 3: ĐIỀU GÌ LÈO LÁI HỘI THÁNH BẠN ?
Câu gốc: “Trong lòng loài người có nhiều mưu kế; Song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được. ” 19: 21
“Lèo lái” là hướng dẫn, kiểm soát hay định hướng. Mỗi Hội Thánh đều được lèo lái bởi một điều gì đó dù được người ta nhận ra hay không.
I. NHỮNG ĐỘNG LỰC ĐANG LÈO LÁI CÁC HỘI THÁNH
1. Truyền thống: Hội Thánh truyền thống được lèo lái bởi quá khứ, tại đó những sự đổi mới thường bị xem là tiêu cực và sự trì trệ được xem là “ổn định”. Truyền thống mạnh đến nỗi ngay cả ý muốn của Chúa cũng trở thành thứ yếu. Các Hội Thánh “già” thường có khuynh hướng nầy.
2. Cá nhân: Hội Thánh được lèo lái bởi một người lãnh đạo, có thể là một mục sư ở lâu năm hay một chức viên Ban trị sự có nhiều thế lực. Nan đề ở đây là sự phát triển của Hội Thánh sẽ tùy thuộc vào trình độ cá nhân người lãnh đạo hơn là ý chỉ của Đức Chúa Trời hay nhu cầu của các tín hữu. Hơn nữa Hội Thánh sẽ bế tắc khi không còn cá nhân đó.
3. Ngân sách: Ngân quỹ luôn là vấn đề nóng bỏng của loại Hội Thánh nầy và câu hỏi đầu tiên được đặt ra là “tốn bao nhiêu?”. Tuy nhiên vấn đề quan trọng phải là Đức Chúa Trời muốn Hội Thánh làm gì?
4. Các chương trình: Tại đây, mọi năng lực được tập trung vào việc duy trì và chống đỡ những chương trình của Hội Thánh: Trường Chúa nhật, phụ nữ, âm nhạc. . . và đội ngũ thực hiện chương trình là lực lượng quan trọng nhất. Hơn nữa, không ai dám đặt vấn đề về sự hiệu quả của các chương trình đang được thực hiện.
5. Các tòa nhà: Winston Churchill đã từng nói: “Chúng ta định hình cho các tòa nhà, và rồi chúng định hình chúng ta !”. Tòa nhà lớn sẽ có thể chiếm ngân sách của các chức vụ cần thiết, trong khi tòa nhà nhỏ sẽ giới hạn sự phát triển ! Hãy nhớ việc tiếp cận và đi vào cộng đồng mới quan trọng.
6. Các hoạt động: Mục tiêu của Hội Thánh nầy là giữ cho các tín hữu luôn bận rộn suốt tuần ! Tuy nhiên vấn đề quan trọng không phải là số lượng hoạt động mà là tính hiệu quả. Hơn nữa, một Hội Thánh có thể bận rộn nhưng lại không có một mục đích rõ ràng cho những việc mình làm.
. Trong loại Hội Thánh nầy, sự hiện diện của tín hữu trở thành tiêu chuẩn duy nhất đo lường sự trung tín và trưởng thành. Vì thế, cần đề phòng khuynh hướng thay thế chức vụ bằng những buổi họp mặt ban ngành. . .
7. Các thân hữu: Nhằm tiếp cận với người chưa tin Chúa và giữ mình cho hợp thời, một số Hội Thánh đã để cho nhu cầu của thân hữu trở thành động lực thúc đẩy mình. Đây là loại “Chạy theo thị trường thuộc linh” !
. Dù phải nhạy bén với nhu cầu thân hữu, chúng ta không được để họ lèo lái Hội Thánh mà phải hỏi “Chúa muốn Hội Thánh làm gì cho họ?”.
II. MỘT MÔ HÌNH KINH THÁNH
1. Hai yếu tố quan trọng: Hội Thánh cần phải theo đúng những mục đích Chúa dạy trong Kinh Thánh. Tuy nhiên, cần lưu ý đến hai yếu tố:
a. Cách nhìn mới: Chúng ta phải nhìn mọi điều Hội Thánh mình làm theo lăng kính năm mục đích Chúa dành cho Hội Thánh để quân bình.
b. Một tiến trình: Cần phải có một tiến trình để đạt được các mục đích ấy, chứ không thể bỏ mặc cho sự phát triển tự động. Ngày nay, những Hội Thánh được lèo lái bởi mục đích của Đức Chúa Trời đã trở nên khỏe mạnh và kết quả nhiều hơn trên khắp thế giới.
2. Lời dạy của sứ đồ Phao-lô: Sứ đồ Phao-lô đã dạy chúng ta hai điều ở đây:
a. Đức Chúa Trời sẽ đoán xét theo sự tồn tại của những gì chúng ta xây dựng qua lửa thử nghiệm của Ngài (ICo1Cr 3: 13-14).
b. Chìa khóa để xây dựng những điều bền vững được còn lại là phải xây trên nền tảng đúng (3: 11). Khi tập trung quân bình vào năm mục đích của Chúa, Hội Thánh sẽ phát triển manh khỏe, cân bằng và tăng trưởng lâu dài vì những mục đích của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại (ChCn 19: 21).
3. Câu hỏi đầu tiên: Điểm khởi đầu của mỗi Hội Thánh phải là: “Tại sao chúng ta hiện hữu?”. Biết rõ lý do Hội Thánh tồn tại là điều quan trọng nhất. Có hai trường hợp về Hội Thánh bạn:
a. Mở Hội Thánh mới: Trước khi mở Hội Thánh mới, cần xác định mục đích của Hội Thánh. Đó là một khởi đầu vô cùng quan trọng.
b. Một Hội Thánh lâu năm: Vấn đề trước tiên là hãy tái xác định mục đích của mình. Hãy quên mọi điều cho đến khi chúng ta định hình mục đích Hội Thánh trong trí của các thành viên. Điều nầy sẽ tái sanh Hội Thánh !
4. Một cuộc phỏng vấn: Nhà tư vấn Win Arn đã phỏng vấn các thành viên tiêu biểu trong Hội Thánh về lý do tại sao Hội Thánh hiện hữu:
a. Đối với các tín hữu: 89% cho rằng mục đích Hội Thánh là chăm sóc gia đình và nhu cầu tín hữu. 11% cho rằng để chinh phục thế gian cho Chúa.
b. Đối với các mục sư: 90 % cho rằng để chinh phục thế gian cho Chúa. 10% cho rằng để quan tâm đến nhu cầu tín hữu !!!
. Hãy lập Hội Thánh trên những mục đích đời đời của Đức Chúa Trời.

Bài 4: ÍCH LỢI CỦA MỘT HỘI THÁNH ĐÚNG MỤC ĐÍCH
Câu gốc: “Theo ơn Đức Chúa Trời ban cho tôi, tôi đã lập nền như một tay thợ khéo, mà có kẻ khác cất lên trên; nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó. ” ICo1Cr 3: 10
I. NỀN TẢNG CỦA MỘT HỘI THÁNH VỮNG MẠNH
1. Tầm quan trọng của cái nền: Phần nền quyết định cả kích thước lẫn sức bền của một tòa nhà. Chúng ta không thể xây rộng hơn phần nền và cũng không thể xây dựng nhiều hơn sức chịu đựng của phần nền.
2. Phải lập nền vững chắc: Trên nền tảng của Chúa Jê-sus và Lời Ngài, chúng ta phải lập một nền tảng vững chắc cho Hội Thánh, bằng cách dạy mọi tín hữu biết chính xác lý do Hội Thánh hiện hữu và phải làm gì.
. Tuyên ngôn mục đích Hội Thánh sẽ đem lại năm lợi ích.
II. ÍCH LỢI CỦA HỘI THÁNH THEO ĐÚNG MỤC ĐÍCH
1. Mục đích rõ ràng tạo nên nhuệ khí: ChCn 29: 18 dạy: “Đâu thiếu sự mặc thị, dân sự bèn phóng tứ”. Thiếu khải tượng, Hội Thánh đánh mất mục đích sẽ trở nên một món đồ cổ trong “bảo tàng viện truyền thống”.
. Cách nhanh nhất để thêm sinh lực cho Hội Thánh là tái công bố mục đích của Hội Thánh và giúp tín hữu hiểu những nhiệm vụ Chúa giao.
. Nhuệ khí và sứ mạng luôn đi đôi với nhau. Phao-lô dạy tín hữu phải hiệp một với nhau nhờ thống nhất trong mục đích (ICo1Cr 1: 10).
. Khi làm việc vì một mục đích lớn, tín hữu sẽ không còn thì giờ để tranh cãi về những chuyện nhỏ nhặt: Nhuệ khí và hòa khí sẽ tăng cao.
2. Mục đích rõ ràng làm giảm thất vọng: Chúng ta thường bối rối vì không thể làm hết mọi việc, nhưng thật ra, chỉ có một số việc thực sự đáng phải làm mà thôi. Mục đích rõ ràng sẽ khiến chúng ta quên đi những điều không quan trọng, xác định điều phải làm và điều không cần làm.
. Chúng ta cần thanh lọc những điều không cần thiết bằng cách đặt câu hỏi: “Điều nầy có hoàn thành một trong những mục đích Đức Chúa Trời ấn định cho Hội Thánh không?”.
. Hội Thánh không mục đích rõ ràng sẽ phí sức vô ích (EsIs 49: 4), như người phân tâm (Gia Gc 1: 8): Không thể quyết định điều gì là quan trọng - không ổn định - dễ bị chệch hướng . . . chỉ tạo ra thất vọng, nản lòng.
3. Mục đích rõ ràng giúp tập trung: Sốt sắng tập trung có một sức mạnh phi thường: Ánh sáng hội tụ của mặt trời có thể đốt cháy, ánh sáng laser có thể cắt đứt cả khối thép.
. Hội Thánh tập trung sẽ tác động lớn đến xã hội và chính mục đích rõ ràng khiến chúng ta mới có thể tập trung mọi nỗ lực (Phi Pl 3: 13-14).
a. Nhiều Hội Thánh bị chệnh hướng khi tập trung vào những điều tốt nhưng kém quan trọng, khiến sức lực bị phân tán và hao mòn. Vì thế “vấn đề chính là nhìn nhận vấn đề chính là vấn đề chính” ! Nhiều Hội Thánh cố gắng làm quá nhiều việc, khiến tín hữu bị kiệt sức. Vì thế, hãy dọn dẹp định kỳ, bỏ bớt các chương trình không cần thiết.
b. Hiệu năng không giống hiệu quả: Hiệu năng chỉ là làm tốt công việc, nhưng hiệu quả là làm đúng việc cần phải làm. Nhiều Hội Thánh có hiệu năng trong việc tổ chức và duy trì nhiều hoạt động, nhưng lại có ít kết quả vì chưa tập trung vào đúng mục đích Chúa muốn.
4. Mục đích rõ ràng thu hút sự hợp tác: Không ai dám bước lên xe nếu không biết nó sẽ đi đâu. Vì thế, khi Hội Thánh truyền đạt rõ ràng đích đến của mình, các tín hữu sẽ sốt sắng tham gia (Exo Er 10: 4). Nhiều người muốn hợp tác với Phao-lô vì ông luôn xác định rõ mục đích của mình (Phi Pl 4: 15). Hãy giải thích rõ ràng mục đích cho tân thành viên.
. Một người chuyển từ một Hội Thánh khác sẽ mang theo hành trang văn hóa từ Hội Thánh cũ và mong đợi điều mà có lẽ chúng ta không có ý định đáp ứng. Vì thế, nên khuyên họ trở về Hội Thánh cũ là hơn !
. Đừng để những thành viên tiêu cực, những người hay than thở lập lịch sinh hoạt của Hội Thánh và hãy từ chối họ trước khi họ gia nhập !
5. Mục đích rõ ràng giúp cho việc lượng giá: IICo 2Cr 13: 5 chép: “Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng”.
. Chúng ta tự lượng giá bằng cách nào? Không phải so sánh với các Hội Thánh khác, mà phải tự hỏi: “Chúng ta có đang làm điều Chúa muốn chúng ta làm hay không và chúng ta làm việc đó tốt như thế nào?”.
. Tôn chỉ của Hội Thánh sẽ là thước đo sức khỏe và sự tăng trưởng của Hội Thánh. . Cần lưu ý không có một mối liên hệ nào giữa kích cỡ và sức mạnh của một Hội Thánh: Một Hội Thánh nhỏ vẫn có thể là Hội Thánh mạnh mẽ trong khi một Hội Thánh lớn vẫn có thể là Hội Thánh yếu !
. Để có thể trở thành một Hội Thánh mạnh mẽ, theo đúng mục đích, chúng ta cần phải có thời gian, nhiều khi phải tốn vài năm để thay đổi ! Muốn Hội Thánh theo đúng mục đích, chúng ta phải dẫn Hội Thánh qua 4 bước: a. Phải xác định mục đích của mình. b. Phải truyền đạt mục đích cho từng thành viên. c. Phải tổ chức Hội Thánh theo đúng mục đích. d. Phải áp dụng mục đích vào mỗi khía cạnh của Hội Thánh.

Bài 5: XÁC ĐỊNH CÁC MỤC ĐÍCH CỦA HỘI THÁNH
Câu gốc: “Hỡi anh em, tôi nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau. ” ICo1Cr 1: 10
I. HƯỚNG DẪN HỘI THÁNH XÁC ĐỊNH MỤC ĐÍCH
1. Hãy giúp tín hữu tự khám phá: Đừng cố đốt giai đoạn, làm đánh mất niềm vui khám phá của tín hữu khi cho hết đáp án trong một bài giảng. Hãy nhớ rằng tín hữu sẽ chấp nhận điều họ nghe, nhưng sẽ tin chắc điều họ khám phá, khiến họ đáp ứng ngay bằng hành động.
2. Hãy giúp họ học Kinh Thánh: Hãy bắt đầu bằng cách kêu gọi tín hữu học các phân đoạn Kinh Thánh nói về Hội Thánh và khuyên họ:
a. Hãy nhìn vào chức vụ của Chúa Jê-sus trên đất: Tìm hiểu việc Chúa đã làm khi còn ở trần gian và tự hỏi Chúa sẽ làm gì nếu Ngài có mặt ở đây!
b. Hãy nhìn vào những hình ảnh biểu tượng và tên gọi của Hội Thánh để tìm xem những đặc tính Hội Thánh phải có (Thân thể, cô Dâu,. . . ).
c. Hãy rút tỉa kinh nghiệm từ các Hội Thánh trong Tân Ước, từ Hội Thánh đầu tiên đến các Hội Thánh trong Khải huyền.
d. Hãy tìm hiểu các mạng lệnh của Chúa Jê-sus về Hội Thánh. Việc của chúng ta không phải tạo ra các mục đích mà là khám phá chúng. Hãy nhớ rằng Chúa Jê-sus là Chủ của Hội Thánh (Mat Mt 16: 18). Chúng ta có thể thay đổi phong cách của chức vụ nhưng không thể thay đổi bản chất của nó.
3. Tìm lời giải đáp cho bốn vấn đề: Khi học Kinh Thánh cần trả lời 4 câu:
a. Tại sao Hội Thánh hiện hữu?
b. Hội Thánh phải như thế nào? (Chúng ta là ai và là gì?).
c. Hội Thánh phải làm gì? (Chúa muốn ta làm gì trên trần gian nầy?).
d. Chúng ta phải làm việc đó như thế nào?
4. Hãy viết ra khám phá của chúng ta: Hãy viết xuống tất cả câu trả lời, xếp loại và đúc kết thành một câu tôn chỉ ngắn gọn, dễ nhớ. Francis Bacon cho biết: “Đọc sách tạo nên con người uyên bác, còn viết sách tạo nên con người xác thực”.
5. Câu tôn chỉ có hiệu quả: Câu tôn chỉ có hiệu quả phải đặt nền tảng trên Kinh Thánh vì chúng ta chỉ là người khám phá - Tôn chỉ cũng phải cụ thể, không mơ hồ tổng quát (Td: Sáng Danh Chúa) - Tôn chỉ phải dễ truyền đạt vì ngắn gọn, dễ nhớ - Tôn chỉ phải đo lường được, qua đó chúng ta có thể đánh giá sự tăng trưởng của Hội Thánh.
. Dựa vào Điều răn lớn (Mat Mt 22: 37-40) và Mạng lệnh lớn (28: 18-20), chúng ta có thể đưa ra một câu khẩu hiệu: Sự tận hiến lớn cho Điều răn lớn và Đại Mạng lệnh sẽ tăng trưởng một Hội Thánh vĩ đại.
II. NĂM MỤC ĐÍCH CỦA HỘI THÁNH
1. Mục đích 1: Hết lòng, hết ý, hết sức yêu mến Chúa: Mục đích thứ nhất là thờ phượng Chúa. Bất kể hội chúng lớn hay nhỏ, khi chúng ta thể hiện tình yêu đối với Chúa, chúng ta đang thờ phượng Ngài.
. Cần lưu ý thờ phượng Chúa phải đi trước phục vụ (4: 10). Trước hết phải tôn trọng, tôn cao Danh Chúa (Thi Tv 34: 3) do lòng yêu thương.
2. Mục đích 2: Yêu kẻ lân cận như mình: Mục đích thứ nhì là phục vụ. Phục vụ là thể hiện tình yêu của Chúa cho người khác, đáp ứng những nhu cầu thực tiễn và chữa lành những đau đớn của họ trong Danh Chúa Jê-sus.
. Chúa đã ban những ân tứ Thánh Linh là để chúng ta phục vụ (Eph Ep 4: 12). Đừng thay thế sự phục vụ bằng các buổi họp: Ngồi, nghe và. . . lên men !
3. Mục đích 3: Chinh phục muôn dân: Mục đích thứ ba là truyền giáo, được lặp lại đến năm lần. Sứ mạng của chúng ta là truyền giáo cho toàn thế giới. Từ “hãy đi” trong tiếng Hylạp ở trong thì hiện tại tiếp diễn. Chúng ta phải chia sẻ Tin Lành ở bất cứ nơi nào chúng ta bước chân đến.
. Truyền giáo không chỉ là trách nhiệm mà còn là đặc ân lớn để đưa con người vào Gia đình đời đời của Đức Chúa Trời. Phúc Âm là tin mừng vĩ đại nhất trong mọi tin mừng nên không thể không được công bố cho mọi người vì Đức Chúa Trời muốn mọi người đều được cứu (ITi1Tm 2: 4).
4. Mục đích 4: Làm báptêm cho họ: Mục đích thứ tư là thông công. Báptêm được đặt ngang hàng với truyền giáo và dạy dỗ vì nó đưa con người vào sự dứt khoát gia nhập Gia đình của Đức Chúa Trời để thông công, hiệp nhất trong Thân thể Đấng Christ. Chúng ta được kêu gọi, không chỉ để tin, mà còn để thuộc về Gia đình của Ngài. Chúng ta không cô đơn, nhưng nương dựa lẫn nhau trong sự thông công trong Nhà Đức Chúa Trời (Eph Ep 2: 19).
5. Mục đích 5: Dạy họ vâng giữ: Mục đích thứ năm là môn đồ hóa. Hội Thánh hiện hữu để truyền đạt hay dạy dỗ dân sự của Đức Chúa Trời. Môn đồ hóa là một quá trình trang bị con cái Chúa trở nên giống như Ngài càng hơn trong ý tưởng, cảm xúc và việc làm. Phao-lô khẳng định mục đích cuối cùng của ông là trình diện mọi người trở nên trọn vẹn trong Đấng Christ trước mặt Đức Chúa Trời (CoCl 1: 28). Hội Thánh được kêu gọi, không chỉ để tiếp cận mọi người, mà còn để huấn luyện họ nữa.
Năm mục đích nầy là điều Chúa Jê-sus đã thực hiện khi còn tại thế.

Bài 6: TRUYỀN ĐẠT CÁC MỤC ĐÍCH CỦA HỘI THÁNH
Câu gốc: “Sứ giả gian ác sa vào tai họa; Còn khâm sai trung tín khác nào thuốc hay. ” ChCn 13: 17
I. NHU CẦU TRUYỀN ĐẠT
1. Câu chuyện Nê-hê-mi: Khi xây tường thành được nửa bề cao, kẻ thù tấn công làm cho dân sự nản lòng. Nê-hê-mi phải kéo dân sự trở lại công việc bằng cách sắp xếp lại dự án và truyền đạt lại khải tượng (NeNe 4: 6-15).
2. Nguyên tắc Nê-hêmi: Thật đáng ngạc nhiên khi con người và các Hội Thánh lại dễ dàng đánh mất khải tượng. Vì thế cần phải tái xác quyết khải tượng và mục đích ít nhất một tháng một lần (Nê-hê-mi 26 ngày).
3. Trách nhiệm hàng đầu: Đây là trách nhiệm hàng đầu của người lãnh đạo, nếu không chúng ta sẽ không còn thành viên nào cả !
II. NHỮNG CÁCH TRUYỀN ĐẠT KHẢI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH
1. Kinh Thánh: Cuốn sách giáo khoa vĩ đại nhất về đề tài tăng trưởng Hội Thánh chính là Kinh Thánh. Hãy truyền đạt khải tượng đặt nền tảng trên Kinh Thánh. Hãy trưng dẫn Kinh Thánh và minh họa lập luận của bạn.
2. Các biểu tượng: Các biểu tượng là những công cụ truyền thông mạnh mẽ vì chúng gợi lên những cảm xúc mạnh mẽ. Biểu tượng mục đích của Hội Thánh Saddleback gồm có năm vòng tròn đồng tâm và một hình thoi. . .
3. Các khẩu hiệu: Các khẩu hiệu, cách ngôn, phương châm và những cụm từ xúc tích thường được ghi nhớ rất lâu sau khi các bài giảng bị quên đi. Nhiều biến cố lịch sử được gắn liền với một câu khẩu hiệu có sức thuyết phục người ta làm điều mà họ chưa bao giờ dám làm. . .
. Hội Thánh có thể có nhiều khẩu hiệu như: “Mỗi thành viên là một người phục vụ”, “lãnh đạo là một người học hỏi”, “tất cả cho người hư mất”. . .
4. Các câu chuyện: Chúa Jê-sus đã dùng những câu chuyện đơn giản để giúp dân sự hiểu khải tượng của Ngài (Mat Mt 13: 34). Hãy dùng các câu chuyện để minh họa các mục đích của Hội Thánh, nhất là những câu chuyện kể lại kinh nghiệm gặp Chúa của các tín hữu trong Hội Thánh.
5. Các chi tiết đặc thù: Hãy luôn nêu ra những bước hành động thực tiễn, rõ ràng, cụ thể để Hội Thánh đạt được những mục đích đã được khám phá. Hãy đưa ra một kế hoạch chi tiết để thực hiện các mục đích.
. Khải tượng của Hội Thánh càng rõ ràng, cụ thể bao nhiêu sẽ càng thu hút sự chú ý và nhiệt tâm bấy nhiêu ! Hãy áp dụng một cách cá nhân trong đời sống !
III. CÁ NHÂN HÓA CÁC MỤC ĐÍCH
1. Tầm quan trọng: Cá nhân hóa các mục đích sẽ khiến tín hữu thấy các mục đích vừa là đặc ân, vừa là trách nhiệm của chính họ: Trách nhiệm của chúng ta là phải hoàn thành chúng và đặc quyền của chúng ta là phải vui thỏa với chúng.
2. Những trách nhiệm trong tư cách một tín hữu: Đức Chúa Trời muốn tôi:
a. Làm một thành viên trong Gia đình của Ngài. Đây là mục đích thông công: Thông công với các anh chị em đồng đức tin (Eph Ep 2: 19).
b. Noi theo các đặc tính của Ngài. Đây là mục tiêu môn đồ hóa đã được cá nhân hóa: Chúa muốn mỗi chúng ta tăng trưởng giống Đấng Christ là gương mẫu của chúng ta (IPhi 1Pr 2: 21). Chúng ta cần giống Đấng Christ trong lời nói, nết làm, tình yêu, đức tin, sự tinh sạch. . . ( ITi1Tm 4: 12).
c. Làm người phục vụ trong ân điển Ngài. Chúa muốn mỗi chúng ta sử dụng các ân tứ, tài năng và cơ hội Ngài ban để phục vụ người khác (IPhi 1Pr 4: 10). Cần nói trước điều nầy cho các thân hữu (Eph Ep 2: 10).
d. Làm một sứ giả bày tỏ tình yêu của Ngài. Đây là mục đích truyền giáo, là lẽ sống của Cơ Đốc nhân (Cong Cv 20: 24), là sứ mạng Chúa giao phó cho mỗi chúng ta (IICo 2Cr 5: 19), là điều chỉ được thực hiện tại trần gian.
e. Tôn vinh Danh Ngài (Thi Tv 34: 3). Đây là trách nhiệm thờ phượng Chúa, là một nhu cầu bẩm sinh: Nếu không thờ phượng Chúa (XuXh 20: 1), con người sẽ tìm một đối tượng khác để thờ phượng !
3. Những đặc ân trong tư cách một tín hữu: Việc làm trọn năm mục đích của Hội Thánh sẽ đem lại những lợi ích thuộc linh, tình cảm và các mối quan hệ, là điều mà chúng ta không thể tìm được ở bất cứ một nơi nào khác trên thế giới.
. Sự thờ phượng khiến chúng ta tập trung vào Đức Chúa Trời, sự thông công giúp chúng ta đối diện với cuộc sống, môn đồ hóa giúp chúng ta củng cố đức tin, sự phục vụ khiến chúng ta khám phá tài năng của mình và truyền giáo giúp chúng ta hoàn thành sứ mạng.
IV. HÃY LUÔN TÁI KHẲNG ĐỊNH
1. Quy luật quảng bá: Muốn đi sâu vào tim óc, thông điệp phải được truyền đạt bảy lần. Vì thế, đừng chỉ giảng một lần hay in một lần vào tập san. . .
2. Cách tái khẳng định: Cần phải truyền đạt các mục đích và khải tượng mỗi tháng một lần cho lớp thành viên - Cần ôn lại năm mục đích của Hội Thánh trong bài giảng đầu năm, tuy nhiên cần trình bày theo nhiều góc độ khác nhau - Cần sử dụng các tờ bướm, biểu ngữ, bản tin, bảng thông báo, phim ảnh, cassette hoặc sáng tác nhạc để truyền đạt năm mục đích.

Bài 7: TỔ CHỨC HỘI THÁNH THEO CÁC MỤC ĐÍCH
Câu gốc: “Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, nếu vậy, rượu mới làm nứt bầu ra; rượu chảy mất và bầu cũng phải hư đi. Song rượu mới phải đổ vào bầu mới. ” LuLc 5: 37-38
I. TẦM QUAN TRỌNG
1. Whitefield và Wesley: Hai diễn giả có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 18 là George Whitefield và John Wesley. Tuy nhiên ngày nay, trong khi rất ít người biết Whitefield trong khi hàng triệu người luôn nhắc đến Wesley chỉ vì Wesley là một nhà tổ chức tạo ra một cơ cấu hoàn tất mục đích.
2. Nhu cầu: Muốn sự đổi mới tồn tại lâu dài, Hội Thánh phải có một cơ cấu để duy trì và hỗ trợ nó.
3. Thực trạng: Đa số các Hội Thánh đều có thực hiện năm mục đích, nhưng thường nhấn mạnh vào một mục đích và yếu kém về mục đích khác.
4. Lý do: Khuynh hướng của các lãnh đạo là nhấn mạnh đến mục đích nào phù hợp với ân tứ và tình cảm của họ. Kết quả là có 5 loại Hội Thánh.
II. NĂM LOẠI HỘI THÁNH
1. Hội Thánh chinh phục tội nhân: Lãnh đạo xem mình là một nhà truyền giáo, nên mục tiêu chính của Hội Thánh là chinh phục linh hồn tội nhân.
2. Hội Thánh kinh nghiệm Đức Chúa Trời: Lãnh đạo thiên về sự thờ phượng Chúa, nên mục tiêu của Hội Thánh là kinh nghiệm sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng.
3. Hội Thánh Gia đình: Lãnh đạo xem mình như một “tuyên úy”, có một mối quan hệ thân mật yêu thương đối với dân sự, nên mục tiêu là xây dựng một gia đình thân mật. Tuy nhiên số hội viên phải dưới 200.
4. Hội Thánh Học Kinh Thánh: Lãnh đạo xem mình là một thầy giáo, nên mục tiêu của Hội Thánh là nghiên cứu Kinh Thánh theo lối giải kinh.
5. Hội Thánh phục vụ xã hội: Lãnh đạo xem mình là nhà tiên tri của xã hội, nên mục tiêu của Hội Thánh là thay đổi xã hội, xem Hội Thánh là lương tâm của xã hội. Quan điểm canh tân tập trung vào bất công xã hội, trong khi quan điểm thủ cựu tập trung vào sự suy đồi đạo đức.
6. Ghi chú: Một số Hội Thánh là hỗn hợp của vài loại trên. Điều cần lưu ý là các thành viên của các Hội Thánh kể trên thường tự cho mình là thiêng liêng nhất, vì mục đích Hội Thánh phù hợp với tình cảm và ân tứ của họ. Vì thế xung đột có thể xảy ra khi Hội Thánh mời một người lãnh đạo có ân tứ và tình cảm không phù hợp với mục đích của Hội Thánh.
III. NĂM PHONG TRÀO CẢI CÁCH HỘI THÁNH
1. Phong trào phục hồi tín hữu: Phong trào nầy nhấn mạnh rằng Chúa kêu gọi và ban ân tứ cho tín hữu là để phục vụ.
2. Phong trào môn đồ hóa: Phong trào tập trung vào việc phát triển các tín hữu đến mức trưởng thành, nhấn mạnh sự gây dựng và kỷ luật thuộc linh.
3. Phong trào thờ phượng canh tân: Phong trào nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thờ phượng, với những âm nhạc, cách thờ phượng mới. . .
4. Phong trào Hội Thánh tăng trưởng: Phong trào hướng Hội Thánh về truyền giáo, các sứ mạng và sự tăng trưởng chung.
5. Phong trào nhóm nhỏ: Phong trào nhóm nhỏ hay chăm sóc mục vụ hướng Hội Thánh đến mối thông công và các quan hệ chăm sóc lẫn nhau.
. Mỗi phong trào đều có một thông điệp giá trị cho Hội Thánh.
IV. GIỮ CHO HỘI THÁNH QUÂN BÌNH
1. Sự giới hạn của các phong trào: Tuy nhiên, không có một phong trào nào có thể đem lại mọi điều mà Hội Thánh cần.
2. Tầm quan trọng của sự quân bình: Quân bình cả năm mục đích của Hội Thánh là điều vô cùng cần thiết, vì Hội Thánh được kêu gọi để làm nhiều việc, giống như thân thể có nhiều hệ thống cần phải có sự quân bình.
V. NĂM VÒNG TRÒN CAM KẾT
1. Cộng đồng: Cộng đồng là những người hư mất sống trong phạm vi ảnh hưởng của Hội Thánh, chưa có một cam kết nào với Chúa cả. Cộng đồng là vòng tròn lớn nhất, là nơi mục đích truyền giáo được thực hiện.
2. Đám đông: Đám đông là những người cam kết tham dự chương trình thờ phượng Chúa hằng tuần. Dù người chưa tin Chúa không thể thờ phượng thật, nhưng họ có thể quan sát chúng ta thờ phượng Chúa.
3. Hội chúng: Hội chúng là nhóm thành viên chính thức trong Hội Thánh, đã nhận báptêm, đã học lớp thành viên 101 và ký giao ước thành viên.
4. Nhóm cam kết: Nhóm cam kết là những tín hữu đang tăng trưởng nhưng chưa tích cực phục vụ trong Hội Thánh. Họ đã học lớp thành viên 201 và ký giao ước trưởng thành, cam kết ba thói quen: Tĩnh nguyện - Dâng phần mười - Tích cực trong nhóm nhỏ.
5. Nhóm nòng cốt: Nòng cốt là nhóm nhỏ nhất, có mức độ cam kết sâu nhất. Họ đã học lớp 301: “Phát hiện mục vụ của tôi” và được bổ làm nhân sự hay lãnh đạo để tận tâm, tận lực phục vụ người khác. Họ cần tham dự lớp huấn luyện hằng tháng.
. Mục tiêu Hội Thánh là đưa người từ vòng ngoài vào vòng trong.

Bài 8: ÁP DỤNG CÁC MỤC ĐÍCH CỦA HỘI THÁNH
Câu gốc: “Về phần anh em, chúng tôi có lòng tin cậy trong Chúa rằng anh em đang làm và sẽ làm những việc chúng tôi dặn biểu. ” IITe 2Tx 3: 4
I. TỔNG QUÁT
1. Phần quan trọng nhất: Nhiều Hội Thánh đã xác định mục đích, truyền đạt cho hội chúng, thậm chí cũng đã tổ chức lại cơ cấu Hội Thánh, tuy nhiên phần quan trọng nhất là nghiêm chỉnh áp dụng các mục đích vào từng công việc của Hội Thánh: Lên chương trình, ngân quỹ, giảng dạy. . .
2. Phần khó nhất: Người lãnh đạo phải hoàn toàn tận tâm, tận lực vào cả tiến trình, đòi hỏi nhiều tháng, thậm chí nhiều năm trong sự cầu nguyện, lập kế hoạch, chuẩn bị và thử nghiệm. Có 10 lãnh vực phải lưu tâm khi tái định hình Hội Thánh thành một Hội Thánh theo đúng mục đích.
II. MƯỜI CÁCH TRỞ THÀNH HỘI THÁNH THEO ĐÚNG MỤC ĐÍCH
1. Từ ngoài vào trong: Hãy bắt đầu với các thành viên mới, từ vòng tròn cộng đồng vào đám đông, đến hội chúng, vào nhóm cam kết, đến nhóm nòng cốt, và cuối cùng, đưa nhóm nòng cốt trở lại cộng đồng.
a. Lý do: Phải phát triển Hội Thánh từ ngoài vào, vì bất lợi của lối phát triển từ trong ra là tín hữu sẽ mất liên hệ với cộng đồng, e ngại tiếp xúc với thân hữu, hơn nữa, thân hữu cũng không dám gia nhập vào nhóm những người “thánh” tách biệt với họ !
b. Tiến trình thành lập Hội Thánh Saddleback: Năm đầu tiên là xây dựng một đám đông từ cộng đồng bằng cách xây những chiếc cầu tình bạn, gửi thư cho 15. 000 hộ, quảng cáo (khi Hội Thánh đông, không cần quảng cáo) . . . và giới thiệu Đấng Christ cho họ - Năm thứ hai đưa đám đông vào hội chúng trong khi vẫn tiếp tục đi vào cộng đồng để gia tăng kích thước đám đông, và xây dựng các mối quan hệ trong mối thông công - Năm thứ ba làm tăng mức độ cam kết của các thành viên, khích lệ họ tận hiến cho Chúa và tiến lên mức trưởng thành. Sau đó nhấn mạnh sự dấn thân vào chức vụ, tuyển dụng nhân sự.
c. Một chức vụ đa phương: Hãy xây dựng một chức vụ đa phương bằng cách bắt đầu với các tân tín hữu, tập trung vào từng mức độ cam kết. Khi đã có 5 nhóm chạy đều, hãy tập trung đồng đều vào mỗi nhóm.
d. Chậm nhưng chắc: Có lẽ người ta sẽ phê phán chúng ta về tốc độ chậm chạp khi đưa dân sự vào các mức độ cam kết sâu nhiệm hơn. Tuy nhiên, hãy xây dựng một cây đại thụ, chứ đừng bằng lòng với một cây nấm !
2. Lập chương trình cho từng mục đích: Phải lập chương trình cho từng mục đích và hãy dạn dĩ cắt bỏ bất cứ chương trình nào không cần thiết và hãy nhớ chương trình chỉ là đầy tớ cho các mục đích.
a. Nối một nhịp cầu: Hãy thu hút cộng đồng bằng những buổi họp mặt quan trọng hằng năm: Ngày hội mùa gặt, lễ Phục sinh, lễ Giáng sinh, lễ quốc khánh, cùng với các buổi hòa nhạc, các buổi giao lưu.
b. Buổi nhóm cho người chưa tin: Buổi nhóm truyền giảng hằng tuần, hỗ trợ cho việc cá nhân chứng đạo bên cạnh mạng lưới nhóm nhỏ.
c. Viện phát triển đời sống: Mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng thuộc linh qua nghiên cứu Kinh Thánh, hội nghị chuyên đề, học hàm thụ. . . nhất là buổi huấn luyện hằng tháng cho nhóm nòng cốt để làm chứng, chia sẻ khải tượng, rèn luyện kỹ năng, bổ nhiệm nhân sự.
. Cần phải có các chương trình khác nhau để đáp ứng nhu cầu của cả năm mức độ cam kết khác nhau.
3. Tổ chức lớp học cho từng mục đích: Chương trình giáo dục Cơ Đốc cũng phải phụ thuộc vào mục đích của Hội Thánh.
a. Mục tiêu: Mục tiêu phải là giúp con cái Chúa phát triển một đời sống truyền giáo, thờ phượng, thông công, môn đồ hóa và phục vụ, nghĩa là phải sản sinh những con người thực hành Lời Chúa.
b. Tiến trình phát triển đời sống: Sự biến đổi không diễn ra tình cờ, mà phải thông qua chương trình môn đồ hóa, giáo dục để khích lệ con cái Chúa thực hành điều họ đã học và tin điều họ đang làm.
c. Lớp 101: Trong mô hình sân bóng chày, muốn đến trạm đầu tiên, tân tín hữu phải hoàn thành lớp 101: “Lớp giáo lý căn bản” và cam kết bằng giao ước thành viên, trở nên thuộc viên chính thức của Hội Thánh.
d. Lớp 201: Tín hữu phải hoàn thành lớp 201: “Khám phá sự trưởng thành thuộc linh” và ký vào giao ước trưởng thành thuộc linh.
e. Lớp 301: Tín hữu phải hoàn thành lớp 301: “Phát hiện mục vụ của tôi” và ký cam kết phục vụ.
f. Lớp 401: Tín hữu phải hoàn thành lớp 401: “Phát hiện sứ mạng của tôi” và ký cam kết sứ mạng, cam kết chia sẻ niềm tin của mình cả ở nhà lẫn trong các chuyến truyền giáo.
g. Không bỏ trạm: Mỗi tín hữu phải hoàn tất 16 giờ huấn luyện căn bản và ký giao ước cam kết tại mỗi trạm trước khi tiến lên trạm kế tiếp, để cuối cùng sẽ “biến thính giả thành đạo quân” cho Chúa.
4. Hình thành những nhóm nhỏ có mục đích: Mỗi nhóm một công việc:
a. Các nhóm tìm kiếm: Với mục đích truyền giáo, nhóm tìm kiếm tạo một môi trường hiền hòa cho người chưa tin Chúa tìm hiểu chính Chúa.
b. Các nhóm hỗ trợ: Với mục đích chăm sóc, thông công và thờ phượng, các nhóm hỗ trợ tạo mối thông công, lo việc yên ủi, hàn gắn, phục hồi. . .
c. Các nhóm phục vụ: Hướng về xã hội với đến với trại mồ côi, nhà tù, những nan đề xã hội . . . và tạo mối thông công trong chức vụ chung.
d. Các nhóm tăng trưởng: Tập trung phát triển, huấn luyện môn đồ hóa và nghiên cứu Kinh Thánh chuyên sâu với hơn 50 chương trình khác nhau.
. Mỗi tín hữu sẽ lựa chọn nhóm phù hợp với nhu cầu, sở thích, tình trạng cuộc sống hay mức độ trưởng thành thuộc linh của họ.
5. Tổ chức người tình nguyện theo từng mục đích: Mỗi nhân sự được mời phải nhận một việc có mục đích rõ ràng, được khám phá qua phỏng vấn. Chức vụ của họ không chỉ lệ thuộc vào cá tính, năng lực mà còn thiện cảm của họ đối với một trong những mục đích của Hội Thánh.
. Thí dụ: Nếu muốn mở một Hội Thánh mới, chúng ta cần 5 nhân sự cho 5 mục đích của Hội Thánh: Thờ phượng, thông công (dạy lớp 101), môn đồ hóa (dạy lớp 201), phục vụ (dạy lớp 301), và truyền giảng (dạy lớp 401). Lúc đầu các nhân sự là tình nguyện, sau đó bán thời gian và cuối cùng là trọn thời gian: Hội Thánh theo đúng mục đích không lệ thuộc lớn nhỏ.
6. Xây dựng cơ cấu theo từng mục đích: Thay vì tổ chức theo ban ngành truyền thống, hãy tổ chức các đội làm việc theo từng mục đích:
a. Đội truyền giáo: Đối tượng là cộng đồng, họ phải lên kế hoạch, đầu tư, và giám sát mọi chương trình nối nhịp cầu của Hội Thánh, quản lý các nhóm tìm kiếm, tổ chức huấn luyện truyền giáo kể cả lớp 401, tổ chức các chương trình, chiến dịch truyền giáo (kêu gọi ¼ tín hữu tham dự).
b. Đội ngợi khen-Âm nhạc: Với mục đích thờ phượng Chúa, đối tượng của họ là đám đông. Họ phải lên kế hoạch, tổ chức và giám sát các chương trình thờ phượng Chúa cho đám đông chưa tin và đã tin Chúa.
c. Đội thông công: Để thực hiện mục đích thông công, đối tượng của họ là hội chúng. Họ phải chăm sóc cả bầy: Tổ chức lớp thành viên 101, giám sát các nhóm hỗ trợ, các hôn lễ, tang lễ, khải đạo, thăm hỏi bệnh nhân. . .
d. Đội trưởng thành: Có nhiệm vụ môn đồ hóa, đối tượng của họ là nhóm cam kết. Họ phải điều hành lớp 201, kiêm luôn việc phát triển đời sống, các chương trình thờ phượng Chúa giữa tuần, lớp nghiên cứu Kinh Thánh.
e. Đội phục vụ: Với nhiệm vụ phục vụ, đối tượng của họ là nhóm nòng cốt. Họ phải biến tín hữu thành người phục vụ với chức vụ phù hợp.
7. Giảng có mục đích: Muốn tín hữu quân bình, khỏe mạnh, mục sư cần lên kế hoạch giảng về năm mục đích (có thể mỗi mục đích 4 tuần) và phải cá nhân hóa các mục đích để tín hữu thấy kế hoạch của Chúa cho chính họ.
8. Chi tiền đúng mục đích: Cần phân loại các khoản chi của ngân quỹ dựa trên các mục đích của Hội Thánh, xem nó có hỗ trợ hay liên hệ gì với các mục đích không.
. Chúng ta có thể đánh giá những ưu tiên của Hội Thánh dựa vào kế hoạch thu chi và lịch sinh hoạt của Hội Thánh. Cách chúng ta đầu tư thời gian và tiền bạc cho thấy điều gì thực sự quan trọng đối với chúng ta. Nếu chúng ta xem truyền giáo là một ưu tiên, hãy dành ngân sách cho truyền giáo.
9. Hoạch định thời khóa biểu theo mục đích: Mỗi năm có thể dành hai tháng để nhấn mạnh một mục đích. Thí dụ: Tháng giêng và tháng sáu là tháng dành cho mục đích trưởng thành. Hãy nhấn mạnh về sự trưởng thành thuộc linh, khích lệ tín hữu đọc toàn bộ Tân ước, học thuộc lòng một số câu Kinh Thánh, tổ chức một ngày học Kinh Thánh hay hội thảo về Kinh Thánh . . .
. Nếu không lên kế hoạch sắp đặt các mục đích vào chương trình, thì chúng sẽ không được nhấn mạnh và tín hữu sẽ không được phát động để làm những điều cần phải làm.
10. Lượng giá bằng mục đích: Để giữ tính hiệu quả của Hội Thánh trong một thế giới luôn thay đổi, chúng ta phải liên tục lượng giá những việc mình làm. Trong Hội Thánh theo đúng mục đích, mục đích của chúng ta chính là tiêu chuẩn để đánh giá tính hiệu quả của Hội Thánh.
. Cần có một bảng thống kê lượng giá mỗi tháng để xem tiến trình phát triển môn đồ đã đến đâu: Nó cho biết ai đang ở trạm nào trong tiến trình phát triển đời sống, hay ai đang ở trong vòng nào thuộc năm vòng tròn cam kết. Từ đó chúng ta có thể biết những chỗ nào đang bị trì trệ.
. Nhờ các bảng thống kê nầy, chúng ta có thể quyết định xem cần nhấn mạnh ở mục đích nào, mục tiêu nào, đối tượng nào. . . Chúng ta cần luôn tự hỏi: “Công việc chúng ta là gì?” và “Nó đang tiến triển ra sao?”.
*. Tăng trưởng mạnh hơn: Khi tìm cách áp dụng các mục đích của Hội Thánh vào từng lãnh vực, Hội Thánh sẽ tăng trưởng mạnh mẽ hơn và vững vàng hơn. Thay vì tìm kiếm những chương trình mới, chúng ta sẽ tập trung vào những điều thực sự có ích. Cần rút tỉa kinh nghiệm từ những sai lầm và cam kết với mục đích để khiến Hội Thánh hiệu quả hơn.
Bài 9: ĐỐI TƯỢNG CỦA BẠN LÀ AI ?
Câu gốc: “Trái lại, họ thấy sự giảng Tin Lành cho kẻ không chịu phép cắt bì đã giao cho tôi, cũng như sự giảng Tin Lành cho người chịu phép cắt bì đã giao cho Phi-e-rơ vậy. ” GaGl 2: 7
I. TỔNG QUÁT
1. Không bao giờ trật mục tiêu: Một cậu bé tập bắn cung thay vì nhắm vào hồng tâm, đã bắn vào một nơi khác, rồi chạy đến vẽ một hồng tâm mới nơi đó, để bảo đảm cậu không bao giờ trật mục tiêu ! Nhiều khi chúng ta bắn những mũi tên tin mừng vào cộng đồng, và nếu nó tình cờ trúng ai đó, chúng ta sẽ nói rằng: Đó là mục tiêu của chúng ta !
2. Mục tiêu là mọi người ? Dù mục tiêu của Đại Mạng lệnh là mọi người, nhưng con người rất khác biệt nhau, nên không một Hội Thánh đơn lẻ nào có thể tiếp cận mọi người. Vì thế, chúng ta cần nhiều loại Hội Thánh.
. Sứ điệp vẫn giữ nguyên, nhưng phương pháp và phong cách truyền thông cần phải thay đổi với những đối tượng khác nhau.
. Để truyền giáo hiệu quả, chúng ta phải tìm xem những người sống trong khu vực thuộc loại nào và quyết định Hội Thánh cần được trang bị tốt nhất để chinh phục nhóm nào trước khi nói đến phong cách truyền giáo.
. Tuy nhiên, trước tiên phải xác định các mục đích của Hội Thánh.
II. ĐIỀU KINH THÁNH DẠY
1. Gương Chúa Jê-sus: Dù muốn đem sự cứu rỗi cho mọi người, Chúa Jê-sus đã tập trung chức vụ vào “các con chiên lạc mất của nhà Ysơraên” (Mat Mt 15: 24) và Ngài cũng đã từng truyền dạy các sứ đồ như thế (10: 5-6).
2. Gương các môn đồ: Phao-lô đã tập trung chức vụ vào dân ngoại trong khi Phierơ nhắm mục tiêu là dân Do Thái và cả hai đều kết quả phước hạnh. Chúa cũng đã dùng tới bốn sách Phúc Âm để nhắm vào các đối tượng khác nhau.
3. Đại mạng lệnh: Thật ra ý niệm truyền giáo có mục tiêu cũng đã được hàm ý trong Đại Mạng lệnh với từ “muôn dân” có nghĩa là mọi nhóm người. Mỗi nhóm cần có những chiến dịch truyền giáo thích hợp với những bối cảnh văn hóa, xã hội. . . của họ. Vì thế, Hội Thánh cần nhắm vào các mục tiêu truyền giáo rõ ràng, nhất là các Hội Thánh nhỏ.
. Td: Năm 1995 chiến dịch của Mục sư Billy Graham đã được phát thanh bằng 116 thứ tiếng với các bài làm chứng và âm nhạc thích hợp.

III. XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG CỦA BẠN
Để hiểu Lời Chúa, chúng ta cần nghiên cứu văn cảnh, và để truyền đạt Lời Chúa cho người thời nay, chúng ta cần tìm hiểu cộng đồng của mình.
1. Xác định đối tượng về phương diện địa lý: Trong Cong Cv 1: 8, Chúa Jê-sus đã xác định 4 đối tượng theo phương diện địa lý. Trong chức vụ chúng ta, xác định đối tượng theo phương diện địa lý chỉ là xác định nơi mà những người chúng ta muốn tiếp cận sinh sống: Hãy đánh dấu vị trí HT trên bản đồ và lấy đó làm tâm để vẽ một vòng tròn bán kính 10-30km (ở thành phố khoảng 5-10 km). Lưu ý khoảng cách lái xe hợp lý tối đa là 12 chốt đèn giao thông. Tuy nhiên, vị trí không quan trọng bằng sự đáp ứng nhu cầu tín hữu, và HT càng tăng trưởng thì khu vực tiếp cận sẽ nới rộng bấy nhiêu.
2. Xác định đối tượng về phương diện nhân khẩu: Biết rõ đối tượng chinh phục sẽ khiến sứ điệp trở nên hữu hiệu hơn. Cần nắm các dữ kiện sau:
a. Tuổi tác: Có bao nhiêu người trong các nhóm tuổi?
b. Tình trạng gia đình: Bao nhiêu người độc thân, bao nhiêu cặp vợ chồng?
c. Thu nhập: Thu nhập của những gia đình khá giả và trung bình?
d. Trình độ: Trình độ học vấn trong cộng đồng ở mức nào?
e. Nghề nghiệp: Các ngành nghề nào chiếm ưu thế trong cộng đồng?
3. Xác định đối tượng về phương diện văn hóa: Cần tìm hiểu nền văn hóa, lối sống và cách suy nghĩ của những người trong cộng đồng: Sở thích, cách đánh giá, nỗi lo sợ. . .
. Cách tốt nhất để khám phá nền văn hóa, hệ tư tưởng và lối sống của cư dân trong vùng là đi ra chào hỏi, lắng nghe và nói chuyện với họ.
4. Xác định đối tượng về phương diện tâm linh: Sau hết, cần phải khám phá nền tảng tâm linh của những người sống trong cộng đồng: Họ tin có Đức Chúa Trời hay một vị thần phổ quát nào không? Họ có tin Kinh Thánh không? Họ có tin sự sống sau khi chết không? . . .
. Điều nầy giúp chúng ta biết phải bắt đầu làm chứng từ chỗ nào, cũng như giúp chúng ta tránh khỏi sự lãng phí thì giờ, sức lực, tiền của vào các phương pháp truyền giáo không hiệu quả đối với cộng đồng chúng ta.
IV. CÁ NHÂN HÓA ĐỐI TƯỢNG CỦA BẠN
1. Hình thành một mẫu người cần tiếp cận: Cần tổng hợp mọi thông tin để hình thành một mẫu người chưa tin Chúa mà Hội Thánh muốn tiếp cận: Tuổi tác, trình độ văn hóa, gia đình, sở thích, mối ưu tư, cách ăn mặc. . .
2. Ích lợi: Càng hiểu đối tượng chinh phục chừng nào, chúng ta càng dễ tiếp cận với họ chừng nấy, tránh được những hàng rào có thể ngăn cản họ.

Bài 10: BIẾT RÕ NGƯỜI BẠN TIẾP CẬN
Câu gốc: “Vả, đang khi Đức Chúa Jêsus ngồi ăn tại nhà Ma-thi-ơ, có nhiều người thâu thuế cùng kẻ xấu nết đến ngồi ăn với Ngài và môn đồ Ngài. ” Mat Mt 9: 10
I. TỔNG QUÁT
1. Qua các mối quan hệ: Thánh Kinh Tân ước cho thấy Phúc Âm được lan truyền chủ yếu qua các mối quan hệ: Anhrê-Simôn, Philíp-Nathaniên. . .
2. Chiến lược hữu hiệu nhất: Chiến lược truyền giáo hữu hiệu nhất là tiếp cận những người đã có một điểm chung với chúng ta từ trước.
3. Những rào cản: Có nhiều điều khiến người ta không gia nhập Hội Thánh: Rào cản thần học, quan hệ, tình cảm, lối sống và văn hóa. . .
II. RÀO CẢN VĂN HÓA
1. Ai sẵn sàng gia nhập Hội Thánh chúng ta? Dĩ nhiên chúng ta phải vui mừng chào đón mọi người gia nhập, nhưng hạng người có trong Hội Thánh chúng ta chính là hạng người thích hợp nhất. Khi những người khách bước vào nhà thờ, câu hỏi đầu tiên không phải là vấn đề tôn giáo, mà là vấn đề văn hóa: Họ sẽ vô thức hỏi rằng: “Có ai giống tôi không?”.
2. Người lãnh đạo thuộc loại nào? Cá tính và nền tảng văn hóa của nhóm lãnh đạo và nhân sự có tác động rất lớn đến chức vụ của Hội Thánh. Họ là nguyên nhân chính khiến các người khách có trở lại hay không. Chúa chuẩn bị mỗi chúng ta khác nhau để có thể tiếp cận nhiều hạng người khác nhau. Đó là lý do Thân Thể Đấng Christ cần có nhiều chi thể.
a. Hai nguyên tắc cần nhớ: Chúng ta sẽ tiếp cận tốt nhất với những người chúng ta quan hệ và người lãnh đạo sẽ thu hút những người giống mình.
. Sự tăng trưởng bùng nổ chỉ diễn ra khi hạng người trong cộng đồng phù hợp với hạng người có sẵn trong Hội Thánh chúng ta.
. Nếu thành viên và lãnh đạo không phù hợp nhau thì sẽ có bùng nổ nhưng không phải để tăng trưởng ! Vì thế, lãnh đạo phải có nơi thích hợp !
b. Ơn giáo sĩ: Ơn giáo sĩ là ngoại lệ cho các nguyên tắc trên. Đây là khả năng phục vụ xuyên văn hóa, một ân tứ từ chính Đức Thánh Linh để có thể giao tiếp với nhiều người từ nhiều nguồn gốc khác nhau và khác với chính người đó nữa !
. Rõ ràng sứ đồ Phao-lô đã có ơn giáo sĩ: Ông là một người Hêbơrơ, con của một người Hêbơrơ, nhưng lại được Chúa kêu gọi để thành lập các Hội Thánh dân ngoại.
III. KHI HỘI THÁNH KHÔNG PHÙ HỢP VỚI CỘNG ĐỒNG
1. Hãy xây dựng những điểm mạnh: Đừng cố trở thành một cái gì đó không phải là chính mình, nhưng hãy củng cố điều chúng ta đang làm và đừng lo lắng về điều chúng ta không thể làm.
. Td: Nếu Hội Thánh chúng ta chủ yếu là người lớn tuổi, hãy quyết định thực hiện một chức vụ hiệu quả cho những cư dân lớn tuổi. . .
2. Tái sắp đặt lại hội chúng: Tái sắp đặt lại hội chúng là chủ động thay đổi thành phần của Hội Thánh cho phù hợp với một đối tượng mới: Thay đổi hoàn toàn mọi chương trình, cơ cấu, phong cách thờ phượng cũ và thực hiện những điều mới. Điều nầy chỉ được thực hiện trong một Hội Thánh nhỏ (dưới 100 người) và nên nhớ sẽ gây ra nhiều xung đột. Người lãnh đạo cần phải có tình yêu, nhẫn nại và ân tứ.
3. Hãy bắt đầu những hội chúng mới: Có lẽ đây là cách tốt nhất: Hãy tổ chức thêm một chương trình thờ phượng mới với một phong cách thờ phượng khác để tiếp cận với những người không thích hợp với cách cũ.
. Có thể mở thêm một Hội Thánh mới để góp phần hoàn thành Đại Mạng lệnh và đây là dấu hiệu của một Hội Thánh trưởng thành. Cần lưu ý không cần phải là Hội Thánh lớn mới mở Hội Thánh mới: Saddleback khi 1 tuổi đã mở Hội Thánh mới và cứ mỗi năm đều mở Hội Thánh mới, nên sau 15 năm đã mở được 25 Hội Thánh mới.
IV. NHẬN BIẾT TÍNH TIẾP THU THUỘC LINH
*. Nền tảng: Qua câu chuyện người gieo giống, Chúa Jê-sus dạy rằng tính tiếp thu thuộc linh mỗi người rất khác nhau như bốn loại đất.
. Ngay cả trong nhóm đối tượng cũng có những mức độ tiếp nhận thuộc linh khác nhau, vào những thời điểm khác nhau.
. Để truyền giáo kết quả tốt, chúng ta phải gieo hạt giống nơi đất tốt vì sứ điệp Phúc Âm không thể bị lãng phí, mà phải được gieo vào đúng nơi.
. Có hai nhóm lớn dễ tiếp cận nhất. Đó là:
1. Nhóm những người đang thay đổi: Bất cứ ai đang gặp sự thay đổi lớn, dù tiêu cực hay tích cực, đều khao khát một sự ổn định tâm linh: Hôn nhân mới, đứa con mới, công việc mới, ngôi trường mới. . . . Những thay đổi hàng loạt trên thế giới đang khiến con người sợ hãi và không ổn định. Đây chính là “làn sóng” mà Hội Thánh cần lướt trên.
2. Nhóm những người ở dưới áp lực: Mọi loại tổn thương tình cảm đều có thể đưa con người hướng về tâm linh: Nỗi đau ly dị, mất người thân, thất nghiệp, nan đề tài chánh, rắc rối gia đình, nỗi cô đơn. . .

Bài 11: TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC CỦA BẠN
Câu gốc: “Ngài phán cùng hai người rằng: Các ngươi hãy theo ta, ta sẽ cho các ngươi nên tay đánh lưới người. ” Mat Mt 4: 19
Mathiơ 10 và Luca 10 là hai đoạn bày tỏ chiến lược của Chúa Jê-sus trong việc “đánh lưới người”. Có 5 nguyên tắc chỉ đạo:
I. BIẾT RÕ MÌNH CẦN ĐÁNH BẮT ĐIỀU GÌ
1. Xác định loại “cá”: Xác định loại “cá” sẽ quyết định mọi phần trong chiến lược của chúng ta. Không có một phương pháp nào có thể thích hợp cho mọi loại “cá”.
2. Gương Chúa Jê-sus: Trong chiến dịch truyền giáo đầu tiên, Chúa Jê-sus đã dạy môn đồ Ngài tập trung vào những người đồng hương (10: 5-6).
. Lý do không phải để loại trừ thành phần khác, mà chỉ vì Ngài muốn họ kết quả: Ngài nhắm vào hạng người thích hợp nhất với các môn đồ - những người giống như họ.
II. ĐI ĐẾN NƠI CÁ ĐANG ĂN
1. Nguyên tắc “dễ tiếp thu”: Người câu cá khôn ngoan hiểu rằng cá ăn ở nhiều nơi khác nhau vào những thời điểm khác nhau trong ngày. Vì thế, vào những thời điểm thích hợp, hãy tận dụng cơ hội đến với những tấm lòng lắng nghe mà Đức Thánh Linh đã chuẩn bị.
2. Không lãng phí thời gian: Trong 10: 14 Chúa Jê-sus dạy hãy ra khỏi và phủi bụi dính nơi chân đối với nhà nào không tiếp rước. Vì thế, đừng quấy rầy những người liên tục từ chối, mà hãy đến với cả một cộng đồng đang chờ nghe Phúc Âm lần đầu tiên. Chiến lược của sứ đồ Phao-lô là đi vào những cánh cửa đã mở chứ không phí thời gian gõ cửa đóng chặt.
3. Đừng biếng nhác: Đừng ngồi đợi cá nhảy vào trong nhà, nhưng hãy ra đi, vì số người sẵn sàng tiếp nhận Đấng Christ đông hơn số tín hữu sẵn sàng làm chứng về Chúa cho họ !
III. TẬP SUY NGHĨ NHƯ CÁ
1. Biết suy nghĩ của cá: Để bắt được cá, phải hiểu những thói quen, sở thích và cách ăn mồi của chúng. Chúa Jê-sus đã biết những suy nghĩ của dân chúng nên có thể xóa bỏ những rào cản của họ (Mat Mt 9: 4; 12: 25). Phao-lô cũng dạy “hãy lấy sự khôn ngoan ăn ở với những người ngoại và lợi dụng thì giờ” (CoCl 4: 5): Phải biết cách suy nghĩ của họ để chinh phục họ.
2. Nan đề của tín hữu: Càng tin Chúa lâu năm, chúng ta càng ít suy nghĩ như người ngoại, và cũng có ít bạn hữu ngoại đạo, nên khó tiếp cận họ.
3. Năm câu hỏi cho cộng đồng: Phải truyền đạt sứ điệp bằng “tần số” của người chưa tin. Hãy gõ cửa từng nhà và hỏi họ năm câu hỏi gợi ý sau:
a. Theo bạn, nhu cầu lớn nhất trong vùng nầy là gì? (Tạo thu hút).
b. Bạn có đang tích cực tham gia một Hội Thánh nào không?
c. Theo bạn, tại sao nhiều người không chịu đi nhà thờ?
d. Nếu gia nhập một Hội Thánh, bạn sẽ tìm một Hội Thánh như thế nào?
e. Bạn có lời khuyên nào cho mục sư thực sự muốn giúp đỡ dân sự?
4. Bốn điều than phiền cơ bản: Có bốn điều phàn nàn chính về Hội Thánh:
a. Hội Thánh thật nhàm chán, sứ điệp không liên hệ đến đời sống thực tế!
b. Thành viên Hội Thánh không thân thiện với người mới khiến họ sợ hãi!
c. Hội Thánh thích tiền của tôi hơn là bản thân tôi !
d. Chúng tôi lo lắng về chất lượng giữ trẻ của Hội Thánh !
IV. BẮT CÁ ĐÚNG CÁCH
1. Hiểu và chấp nhận văn hóa của họ: Chúa Jê-sus dạy: “Hãy ăn đồ họ sẽ dọn cho” (LuLc 10: 8) nghĩa là phải nhạy cảm với văn hóa địa phương, hãy chấp nhận khi nó không vi phạm nguyên tắc Kinh Thánh. Các sứ đồ đã tiếp nhận mọi nền văn hóa mới khi Phúc Âm được lan truyền (Cong Cv 15: 1-41).
2. Để đối tượng quyết định phương pháp tiếp cận: Phải dùng mồi và lưỡi câu thích hợp nhất cho loại cá chúng ta muốn câu. Vì thế Phao-lô đã trở nên mọi cách cho mọi người (ICo1Cr 9: 19-22) để cứu nhiều người.
3. Bắt đầu với nhu cầu của họ: Chúa Jê-sus dạy phải đáp ứng các nhu cầu thiết thực của cộng đồng (Mat Mt 10: 8) để bày tỏ tình yêu Cơ Đốc thật.
4. Hiểu và thông cảm những khó chịu của họ: Cần tìm hiểu và giải quyết các khó chịu đó càng nhanh càng tốt: Tiền bạc, cách tiếp tân, hệ phái. . .
5. Hãy thay đổi phương pháp khi cần thiết: Đừng cố dùng truyền thống vì nhiều khi kẻ thù của thành công tương lai là các thành công quá khứ.
V. HÃY DÙNG NHIỀU LƯỠI CÂU
1. Nhiều sự lựa chọn: Ngày nay, nhờ vào những tiến bộ kỹ thuật, con người có nhiều sự lựa chọn về thực phẩm, hàng hóa. . . Hội Thánh cần có nhiều chương trình thờ phượng Chúa khác nhau, điểm nhóm khác nhau. . .
2. Cái giá của tiếp cận cộng đồng: Dĩ nhiên phải có tiền, nhưng hãy nhớ:
a. Tiền cho truyền giáo không phải là chi tiêu, mà là đầu tư. Linh hồn được chinh phục đáng giá vô cùng hơn số tiền đầu tư cho họ. b. Tiền cho truyền giáo là dâng hiến cho khải tượng chứ không phải cho nhu cầu. HT nào biết tận dụng mọi điều mình có sẽ có nguồn dâng hiến nhiều nhất. c. Đồng tiền luôn ở trong miệng cá (Mat Mt 17: 27). Chúa sẽ lo liệu mọi sự.
Bài 12: CHÚA JÊ-SUS THU HÚT ĐÁM ĐÔNG
Câu gốc: “Vả lại, từ xứ Ga-li-lê, xứ Đê-ca-bô-lơ, thành Giê-ru-sa-lem, xứ Giu-đê, cho đến xứ bên kia sông Giô-đanh, thiên hạ kéo nhau rất đông mà theo Ngài. ” 4: 25
Không cần phải quảng cáo hay thỏa hiệp, Chúa Jê-sus đã thu hút đám đông vì Ngài đã làm cho họ ba điều:
I. THU HÚT TỘI NHÂN BẰNG TÌNH YÊU
1. Yêu tội nhân như Chúa Jê-sus yêu: Mạng lệnh yêu thương được Tân ước nhắc đến hơn 55 lần, nhưng tình yêu đối với tội nhân lại là chiếc chìa khóa tăng trưởng Hội Thánh hay bị xem thường nhất !
a. Không phải chỉ hướng nội: Nhiều Hội Thánh có tín hữu yêu thương nhau nhưng vẫn chết dần vì thiếu tình yêu đối với người mới đến. Họ không thích quan hệ với người chưa tin vì sợ phá hỏng lối mòn thoải mái cũ !
b. Không chỉ sùng kính: Nhiều Hội Thánh sùng kính, tin Kinh Thánh, đang chết mòn vì thiếu tình yêu đối với người chưa được cứu.
. Hội Thánh vĩ đại là Hội Thánh xây dựng trên tình yêu thật: Yêu Chúa - yêu nhau - yêu những người chưa tin Chúa.
. Kích cỡ Hội Thánh không liên hệ gì với tình yêu thương hay sự thân thiện: Hội Thánh lớn vẫn có thể ấm cúng hơn một Hội Thánh nhỏ thiếu tình yêu.
2. Tạo một bầu không khí yêu thương: Môi trường thích hợp cho sự tăng trưởng Hội Thánh là một bầu không khí chấp nhận và yêu thương. Để Hội Thánh tăng trưởng, chúng ta phải tử tế với mọi người.
a. Nhớ tên: Việc nhớ tên cho thấy chúng ta lưu tâm đến họ và thật ấn tượng cho người đến lần thứ hai khi được chào hỏi bằng tên của họ. Hãy cố gắng ghi nhớ tên của mọi người !
b. Đích thân chào hỏi trước và sau các giờ thờ phượng Chúa: Đừng kêu gọi một “cuộc họp thánh” của các nhân sự ngay trước giờ thờ phượng Chúa, mà hãy dành thì giờ nầy cho sự tiếp đón đám đông đến dự thờ phượng Chúa. Giờ cầu nguyện phải được thực hiện, nhưng trong lúc khác.
c. Hãy chạm đến dân sự: Nhiều người đang cô đơn và đói khát một sự rờ chạm yêu thương: Siết tay, vỗ vai. . .
d. Hãy viết thư cho những người khách, nhưng với phong cách ấm áp, thân mật (“Thật vui khi được tiếp đón bạn. Hy vọng bạn sẽ trở lại với chúng tôi”) , chứ không phải như cách viết thư cho hoàng gia !
3. Chấp nhận chứ không phải chấp thuận: Cơ Đốc nhân chúng ta được kêu gọi để chấp nhận và yêu thương tội nhân mà không chấp thuận lối sống tội lỗi của họ.
. Như người đi câu thả lỏng dây đối với con cá khỏe, chúng ta cũng cần chấp nhận tội nhân với nguyên trạng của họ và để Chúa Jê-sus giải quyết tội lỗi của họ khi họ đến với chính Ngài: Hội Thánh là bệnh viện cho mọi tội nhân.
. Tuy nhiên, đối với các thành viên, chúng ta cần phải có những tiêu chuẩn rõ ràng theo Lời Chúa (ICo1Cr 5: 9-12).
II. THU HÚT BẰNG CÁCH ĐÁP ỨNG NHU CẦU ĐÁM ĐÔNG
1. Gương Chúa Jê-sus: Chúa Jê-sus đã đáp ứng các nhu cầu về thể chất, tình cảm, thuộc linh, quan hệ và tài chánh cho người đến với Ngài.
. Chúa Jê-sus thường đáp ứng một nhu cầu cấp bách để bắt nhịp cầu truyền giáo vào đời sống con người.
. Thật ra, bất cứ ai cũng có thể có những động cơ không đúng, nhưng Chúa Jê-sus sẵn sàng tiếp nhận, sửa chữa (GiGa 6: 27) và đưa họ vào sự xác định nhu cầu thật của mình (Mac Mc 10: 51).
2. Lôi kéo sự chú ý của mọi người: Trước khi chia sẻ Phúc Âm cho người khác, chúng ta cần phải thu hút sự chú ý của họ. Cách duy nhất một Hội Thánh có thể thu hút sự chú ý của cộng đồng là đem tới cho họ một điều gì đó họ không thể tìm được ở một nơi khác.
. Hội Thánh phải là nơi những người đau khổ, chán nản, và bối rối có thể tìm thấy tình yêu thương, sự chấp nhận, giúp đỡ, hy vọng, khích lệ. . . Hội Thánh phải xác định một phương cách phục vụ cộng đồng trong mọi khía cạnh theo lời dạy của Chúa (Gia Gc 2: 15-16).
3. Tìm hiểu nhu cầu của cộng đồng: Muốn đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, chúng ta phải nghiên cứu chính cộng đồng của chúng ta:
a. Nhu cầu cấp bách: Mỗi cộng đồng đều có những nhu cầu cấp bách chúng ta có thể đáp ứng ngay để mở một cánh cửa truyền giáo. Saddleback có hơn 70 chức vụ hướng về cộng đồng. . .
b. Nhu cầu chung: Con người ở đâu cũng có cùng những nhu cầu tình cảm và quan hệ như nhau: Nhu cầu được yêu thương, tha thứ, chấp nhận. . .
4. Ảnh hưởng của sự đáp ứng nhu cầu: Những đời sống, những gia đình được biến đổi là những lời chứng vĩ đại nhất. Mỗi lần Hội Thánh đáp ứng nhu cầu của một ai đó, tin đồn tốt sẽ lan ra trong cộng đồng và Hội Thánh sẽ bắt đầu thu hút nhiều người cho Chúa Jê-sus.
III. THU HÚT ĐÁM ĐÔNG BẰNG SỰ DẠY DỖ THỰC TẾ
1. Phản ứng của đám đông: Chúa Jê-sus thường dạy dỗ các đám đông và họ vô cùng thích thú (Mac Mc 12: 37), kinh ngạc (Mat Mt 7: 28; 22: 33), và cảm động trước sự dạy dỗ của Ngài (Mac Mc 1: 22; 11: 18).
2. Chúa Jesus bắt đầu với các nhu cầu, nỗi đau và sở thích của họ: Chúa Jê-sus thường dạy dỗ thông qua việc trả lời một câu hỏi hay nan đề đặc biệt của đám đông. Ngài giảng rất trực tiếp, nhắm tới đối tượng ngay trong thời điểm đó.
a. Thực tế: Sứ điệp Chúa Jê-sus đem lại những ích lợi thực tế cho người muốn nghe, giải phóng họ, đem họ vào đời sống phước hạnh.
b. Thích hợp: Chúng ta không cần phải làm cho Kinh Thánh thích hợp vì Kinh Thánh vốn đã thích hợp rồi. Chúng ta phải thể hiện sự thích hợp đó bằng cách áp dụng sứ điệp Thánh Kinh vào đời sống dân sự.
c. Tin tốt lành: Mối tương giao với Đấng Christ là giải pháp cho mọi nhu cầu sâu thẳm nhất của con người.
d. Tin Mừng: Đám đông không cần nghe thêm những tin xấu (Mat Mt 9: 36). Họ cần Tin Mừng của niềm hy vọng và sự khích lệ.
. Hãy bắt đầu ngay từ chỗ đứng của dân sự và đưa họ vào nơi bạn muốn.
e. Điều thu hút sự chú ý: Có ba điều luôn tác động vào hệ thống hoạt hóa mạng lưới (ở đáy não bộ) của con người. Đó là: những điều họ coi trọng - những điều độc đáo - những điều đe dọa họ.
. Chúa Jê-sus dạy dỗ dân sự hiểu được giá trị và lợi ích của điều Ngài đang nói. Ngài không đe dọa những người không tin, nhưng chỉ cảnh cáo những người có vẻ sùng kính. Ngài yên ủi những người đau đớn, nhưng chỉ làm đau đớn những kẻ tự mãn. Chủ nghĩa đạo đức tương đối là cội rễ mọi điều rắc rối của xã hội.
. Dù hầu hết người chưa tin Chúa đều không tìm kiếm lẽ thật, nhưng họ lại đang khao khát sự giải thoát. Sau khi nhu cầu cấp thiết được giải quyết, họ sẽ hăm hở tìm kiếm sự thật về Người đã giúp họ giải quyết những nan đề mà họ đã bó tay.
. Những nhu cầu cấp thời của cộng đồng chính là chiếc chìa khóa mở ra điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta chia sẻ cho họ (Eph Ep 4: 29). Nghĩa là nhu cầu cộng đồng sẽ giúp chúng ta quyết định sẽ chia sẻ lẽ thật nào và chia sẻ như thế nào.
. Hãy lưu ý rằng có một số lẽ thật là đúng, nhưng lại không phù hợp (một bệnh nhân cần chữa trị ngay chứ không cần giải thích từ ngữ).
3. Chúa Jesus liên hệ lẽ thật vào đời sống:
a. Bài giảng trên núi: Chúa Jê-sus chia sẻ 8 bí quyết của hạnh phước thật. Sau đó Ngài nói về lối sống mẫu mực, các vấn đề thực tế của cuộc sống. . . và kết luận bằng một câu chuyện đơn giản nhấn mạnh đến việc áp dụng.
b. Mục đích: Mục đích của Chúa Jê-sus là biến đổi đời sống con người, chứ không chỉ thông tin cho họ. Ngài đưa ra một phương thuốc chứ không chỉ chẩn đoán bệnh tật. Sự giảng dạy sâu sắc nhất là giảng dạy tạo nên thay đổi trong đời sống hằng ngày của dân sự, vì KT không để gia tăng kiến thức mà để biến đổi đời sống, khiến chúng ta trở nên giống Đấng Christ.
c. Phiên dịch chứ không pha loảng: Sự dạy dỗ của Chúa rất thực tiễn, đơn giản, rõ ràng, phù hợp và dễ áp dụng. Ngài không hề pha loảng sứ điệp nhưng chỉ phiên dịch nó sang những ngôn ngữ dân sự có thể hiểu được.
4. Chúa Jesus nói bằng một phong cách thu hút: Đoàn dân rất thích thú nghe Chúa Jê-sus giảng. Ngài sử dụng các phương pháp:
a. Kể chuyện: Kể chuyện là phương pháp Chúa Jê-sus thích dùng nhất (Mat Mt 13: 34). Ngài kể những câu chuyện để nêu vấn đề. Kể chuyện để truyền đạt lẽ thật thuộc linh đem lại nhiều lợi ích:
. Câu chuyện sẽ dễ dàng thu hút sự chú ý của người nghe.
. Câu chuyện khuấy động tình cảm của người nghe, tạo ra ấn tượng.
. Câu chuyện dễ nhớ dù khi người nghe quên hẳn bài giảng thuyết.
b. Dùng ngôn ngữ đơn giản: Chúa Jê-sus dạy những lẽ thật phức tạp bằng những phương pháp đơn giản với những từ ngữ đơn giản. Vì thế, lời khuyên cho các tiến sĩ thần học là: Hãy giảng cách đơn giản. Đơn giản không có nghĩa là nông cạn, mà chỉ là rõ ràng, dễ hiểu.
IV. NHỮNG LƯU Ý CHO MỤC VỤ
1. Hãy ra đi hay hãy đến xem? Đối với Cơ Đốc nhân, Chúa Jê-sus truyền hãy ra đi môn đồ hóa muôn dân, nhưng đối với người hư mất, Chúa Jê-sus kêu gọi “Hãy đến, hãy đến xem”. Một số người chúng ta có thể tiếp cận bằng sự thu hút, nhưng chúng ta cũng phải vâng lời Chúa ra đi.
2. Bắt chước, cách ly hay hòa nhập với văn hóa dân tộc? Một số người đã hy sinh sứ điệp để uốn nắn Kinh Thánh theo văn hóa dân tộc ! Một số khác hoàn toàn cách ly để bảo tồn sinh hoạt giáo hội, một sinh hoạt mà ông cha họ đã từng cách ly ! Chiến lược Chúa Jê-sus hoàn toàn nhạy cảm đối với tội nhân, Ngài bị xem là “Bạn của người thâu thuế và kẻ có tội” dù Ngài không pha loảng sứ điệp. Hãy nhớ rằng giữ truyền thống không quan trọng bằng thực hiện mục đích của Chúa đúng theo ý muốn Ngài.

Bài 13: THỜ PHƯỢNG CHÚA
Câu gốc: “Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy. ” GiGa 4: 24
I. CHỈ CÓ CƠ ĐỐC NHÂN MỚI THỰC SỰ THỜ PHƯỢNG CHÚA
1. Một định nghĩa: Thờ phượng Chúa là thể hiện tình yêu đối với Đức Chúa Trời vì Ngài là Chúa, vì điều Ngài đã phán, và vì những gì Ngài đang làm. Vì thế người chưa tin Chúa không thể thờ phượng Ngài.
2. Ý nghĩa sự thờ phượng Chúa: Trong sự thờ phượng Chúa, chúng ta tôn vinh Danh Chúa, thể hiện tình yêu và sự tận hiến của mình cho Ngài vì Đức Chúa Trời chính là trung tâm của sự thờ phượng của chúng ta.
II. KHÔNG CẦN PHẢI CÓ MỘT NHÀ THỜ
1. Không nơi nào có thể chứa nỗi Chúa: Cong Cv 17: 24 cho biết Đức Chúa Trời đã dựng nên cả thế giới và Ngài không bị bắt buộc phải ngự trong đền thờ bởi tay người làm ra.
2. Chúa ở mọi nơi: Chúa Jê-sus hứa rằng nơi nào có hai, ba người nhơn Danh Chúa nhóm nhau lại thì Chúa sẽ ở giữa họ (Mat Mt 18: 20).
III. KHÔNG PHẢI CHỈ CÓ MỘT KIỂU THỜ PHƯỢNG
1. Điều Chúa đòi hỏi: Chúa Jê-sus chỉ đòi hỏi ở người thờ phượng Ngài hai điều là phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Ngài (GiGa 4: 24).
2. Tính đa dạng: Đức Chúa Trời rất thích sự đa dạng và Ngài tạo nên con người hoàn toàn khác nhau. Mỗi ngày, Chúa Jê-sus vẫn đang được thờ phượng bằng hàng ngàn cách thể hiện và phong cách khác nhau dựa vào các nền tảng văn hóa trên cả thế giới.
IV. THÂN HỮU CÓ THỂ XEM TÍN HỮU THỜ PHƯỢNG CHÚA
1. Họ có thể thấy: Thân hữu có thể quan sát niềm vui của chúng ta, cách chúng ta đề cao Lời Chúa, đáp ứng Lời Chúa. . .
2. Họ có thể cảm nhận: Thậm chí họ có thể cảm nhận sự vận hành siêu nhiên của Đức Chúa Trời dù họ không thể giải thích được điều đó.
V. MỘT LỜI CHỨNG QUYỀN NĂNG
1. Cảm nhận sự hiện diện của Chúa: Trong ngày lễ Ngũ Tuần, 3. 000 người tin Chúa vì họ cảm nhận sự hiện diện quyền năng của Đức Chúa Trời.
2. Sứ điệp dễ hiểu: Đức Thánh Linh đã phiên dịch sứ điệp sang các thứ tiếng mà mỗi người đều có thể hiểu được. Mục tiêu truyền giáo là sản sinh những người thờ phượng Chúa nhưng thờ phượng Chúa cũng là động cơ của việc truyền giáo.
VI. NHẠY CẢM VỚI THÂN HỮU
1. Nhu cầu người chưa tin: Đức Chúa Trời muốn chúng ta quan tâm đến những nỗi lo sợ, những thắc mắc, và những nhu cầu của người chưa tin Chúa khi họ đến tham dự các buổi thờ phượng Chúa (ICo1Cr 14: 23).
2. Quan tâm đến khách: Khi có khách đến nhà, chúng ta thường có cách cư xử khác hơn thường lệ. Vì thế, cần nhạy cảm với nhu cầu của thân hữu.
VII. CHỈ CẦN LÀM CHO DỄ HIỂU
1. Không thay đổi sứ điệp: Chúng ta không có quyền làm cho sứ điệp yếu đi, nhưng phải làm cho nó dễ hiểu trong một môi trường thích hợp.
2. Cách truyền đạt: Sứ điệp nhiều lúc thật rất khó chịu. Dầu vậy, chúng ta phải dạy toàn bộ ý muốn của Đức Chúa Trời. Nhạy cảm với nhu cầu thân hữu không giới hạn sứ điệp nhưng ảnh hưởng đến cách truyền đạt sứ điệp.
VIII. TẬP TRUNG VÀO NHU CẦU CHUNG
1. Nhu cầu khác nhau: Nhu cầu của tín hữu và thân hữu rất khác nhau, nhưng trong một vài lãnh vực rất giống nhau.
2. Tập trung vào điểm giống nhau: Nhạy cảm với nhu cầu thân hữu là tìm cách tập trung vào nhu cầu chung của cả tín hữu lẫn thân hữu. Thí dụ: Nhận biết Đức Chúa Trời, mục đích của cuộc sống, sống tha thứ. . .
IX. SOẠN CHƯƠNG TRÌNH THEO MỤC ĐÍCH
1. Chương trình cho tín hữu: Cần có chương trình riêng cho tín hữu để gây dựng đời sống đức tin của họ. Ở Saddleback đó là chương trình tối thứ tư.
2. Chương trình cho thân hữu: Các thân hữu thường thích đi nhà thờ vào ngày Chúa nhật, vì thế, Hội Thánh Saddleback dành buổi sáng Chúa nhật cho chương trình truyền giảng.
X. THỜ PHƯỢNG TRUYỀN GIẢNG CHỈ LÀ PHỤ
1. Cá nhân chứng đạo là chính: Thờ phượng truyền giảng không thể thay thế cá nhân chứng đạo. Mỗi người cần làm trọn Đại Mạng lệnh Chúa ban qua công tác cá nhân chứng đạo.
2. Thờ phượng truyền giảng là buổi gặt: Thân hữu dễ quyết định tin Chúa hơn khi có đông người dự nhóm. Có một quyền năng thuyết phục trong lời chứng của đám đông thờ phượng Chúa.
XI. BA YẾU TỐ KHÔNG THỂ BỎ QUA
1. Không có chương trình mẫu: Không có một cách thức thờ phượng truyền giảng nào là mẫu mực vì các thân hữu không phải ai cũng giống nhau.
2. Ba yếu tố cần lưu ý: a. Cần cư xử với thân hữu bằng tình yêu và sự kính trọng. b. Cần nhạy cảm với nhu cầu thân hữu. c. Cần chia sẻ sứ điệp cách thực tế và dễ hiểu.

Bài 14: CHƯƠNG TRÌNH CHO THÂN HỮU
Câu gốc: “Hãy lấy sự khôn ngoan ăn ở với những người ngoại, và lợi dụng thì giờ. ” CoCl 4: 5
Các tín hữu ít khi đưa thân hữu đến với buổi thờ phượng Chúa ngày Chúa nhật vì ba lý do: 1. Họ không biết sứ điệp của mục sư là truyền giảng hay gây dựng tín hữu. 2. Chương trình không nhằm hướng vào thân hữu. 3. Họ có thể hổ thẹn về chất lượng của buổi thờ phượng ! Vì thế, hãy tổ chức một chương trình thờ phượng Chúa sao cho tín hữu có thể đưa thân hữu đến cùng tham dự.
I. HÃY NHẮM VÀO ĐỐI TƯỢNG
1. Cần xác định đối tượng: Cần tìm hiểu cộng đồng để xác định đối tượng. Điều nầy sẽ giúp chúng ta xác định các tiết mục trong chương trình, phong cách âm nhạc, các đề tài, các bài làm chứng . . . Đừng bao giờ biến buổi thờ phượng Chúa cho tín hữu trở nên buổi truyền giảng trong 5 phút cuối.
2. Càng dễ tham dự càng tốt: Cần phải gỡ bỏ những rào cản càng nhiều càng tốt: Có thể tổ chức nhiều thì giờ thờ phượng Chúa khác nhau - Cần có chỗ để xe rộng rãi - Cần có chương trình thờ phượng Chúa cho thiếu nhi cùng thời điểm với buổi thờ phượng Chúa chung. . .
3. Cải thiện tốc độ và diễn tiến buổi thờ phượng: Hầu hết các Hội Thánh đều cần phải tăng tốc các chương trình thờ phượng, loại trừ các giờ “chết” giữa các tiết mục. Hãy tìm đủ cách để tiết kiệm thời gian trong buổi thờ phượng và quy định thì giờ cho từng tiết mục. . .
4. Tiến độ: Hội Thánh Saddleback có một tiến độ rất ấn tượng: Khởi động với một bài hát sinh động - Ngợi khen Chúa với vài bài hát vui - Thờ phượng Chúa với bài hát chậm hơn, tha thiết hơn - Cam kết với Chúa bằng một bài đơn ca và - Kết thúc bằng một bài hát ngắn, sinh động.
II. HÃY KHIẾN KHÁCH CẢM THẤY THOẢI MÁI
1. Ấn tượng đầu tiên: Mười phút đầu tiên sẽ khiến thính giả có quyết định sẽ trở lại hay không. Những ấn tượng đầu tiên rất khó thay đổi và chúng ta không có cơ hội để tạo lại ấn tượng đầu tiên.
2. Tạo sự thoải mái: Phản ứng tình cảm đầu tiên của các vị khách là lo sợ, vì thế, cần làm sao cho họ cảm thấy thoải mái: Hãy dành chỗ đậu xe tốt nhất cho họ - Hãy sắp đặt các tiếp tân viên ngay từ bên ngoài nhà thờ vì việc chào mừng các vị khách là điều vô cùng quan trọng - Cho phát nhạc khi mọi người bước vào nhà thờ và đừng phân biệt họ với người khác. . .
3. Lựa chọn người tiếp cận: Tiếp tân viên là người quan trọng nhất đối với các vị khách nên phải chọn những người phù hợp với đối tượng. Cũng cần có một bàn nước vào mỗi giờ thờ phượng: Ăn uống làm thư giản hơn. . .
III. HÃY LÀM CHO KHÔNG GIAN SÁNG HƠN
Đôi lúc thông điệp của ngôi nhà thờ trái ngược với thông điệp Hội Thánh muốn truyền đi, nhưng chúng ta lại có khuynh hướng xem nhẹ các nhược điểm sau khoảng 4 tuần ! Vì thế, cần chú ý thật kỹ các điểm sau:
1. Ánh sáng: Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài không có sự tối tăm đâu (IGi1Ga 1: 5) nhưng đa số nhà thờ lại hơi tối để có vẻ thuộc linh hơn ! Thiếu ánh sáng sẽ làm giảm tinh thần buổi thờ phượng lẫn tác dụng của sứ điệp.
2. Âm thanh: Hãy đầu tư cho hệ thống âm thanh tốt nhất theo ngân sách Hội Thánh. Một hệ thống âm thanh quá nhỏ hoặc những tiếng hú chói tai sẽ phá hỏng sứ điệp của diễn giả cũng như bầu không khí thờ phượng. . .
3. Chỗ ngồi: Sự thoải mái lẫn cách sắp xếp chỗ ngồi đều ảnh hưởng rất nhiều đến tâm trạng người tham dự chương trình thờ phượng vì ma quỷ thường hay dùng chuyện đứng ngồi để khiến người ta phân tâm ! Hai nơi duy nhất người ta bị buộc phải ngồi trên băng ghế dài là nhà thờ và khán đài rẻ tiền sân vận động, trong khi ai cũng muốn có ghế cho riêng mình !
4. Không gian: Quy luật về không gian là: Đừng để quá rộng hay quá chật. Khi nơi thờ phượng đã có hơn 80% người tham dự, hãy tổ chức thêm một lễ thờ phượng mới, và ngôi nhà thờ nhỏ có thể bóp nghẹt sự tăng trưởng.
. Tuy nhiên ngôi nhà thờ quá lớn mà ít người tham dự sẽ cho người ta có cảm giác là “chẳng có ai ở đây cả” ! Không thể tạo một bầu không khí ấm cúng khi hơn một nửa là ghế trống !
5. Nhiệt độ: Nhiệt độ có thể phá hỏng cả một chương trình được chuẩn bị chu đáo: Nóng nực quá hoặc lạnh quá sẽ khiến tâm trí không còn tập trung và người tham dự chỉ mong cho chương trình sớm kết thúc !
6. Cây cảnh: Vẻ đẹp thiên nhiên của sự sáng tạo đem lại nguồn cảm hứng, giúp thư giản và hồi phục. Hãy cho người ta có cảm giác rằng: “Ít ra cũng có một cái gì đó đang sống trong nơi nầy” bằng cách cắm hoa và sử dụng các cây cảnh tươi đẹp. . . và đừng quá lạm dụng những biểu tượng tôn giáo.
7. Nhà trẻ sạch sẽ, an toàn: Muốn chinh phục những cặp vợ chồng trẻ, chúng ta phải có một nhà trẻ hợp vệ sinh và an toàn. Đồ chơi phải rửa sạch mỗi tuần và không được để giẻ lau ở một góc phòng. . .
8. Nhà vệ sinh sạch sẽ: Các vị khách có thể quên bài giảng, nhưng ký ức về một nhà vệ sinh thiếu vệ sinh sẽ cứ đeo bám họ mãi !
IV. HÃY TẠO MỘT BẦU KHÔNG KHÍ THU HÚT
1. Bầu không khí mong đợi: Người tham dự cảm thấy phấn khích, tràn đầy năng lực và tinh thần mong đợi gặp gỡ lẫn nhau. Sự mong đợi là một từ khác của đức tin (Mat Mt 9: 29) xuất phát từ tinh thần cầu nguyện liên tục.
2. Thái độ vui mừng: Thi Tv 100: 2 kêu gọi chúng ta thờ phượng Chúa cách vui mừng trong tiếng hát. Chương trình thờ phượng Chúa phải là một lễ hội vui vẻ chứ không phải một đám tang ! Thờ phượng là một niềm vui, chứ không phải một nhiệm vụ, niềm vui vì sự hiện diện của Chúa (21: 6).
. Lòng vui mừng vốn một phương thuốc hay” (ChCn 17: 22). Khi dạy dân sự cười vui với chính họ và những nan đề của họ, chúng ta không chỉ làm giảm nhẹ gánh nặng của họ, mà còn giúp họ thay đổi nữa.
3. Bầu không khí khích lệ: HeDt 10: 25 kêu gọi chúng ta khuyên bảo nhau. Con người cần một nơi để nghe tin tốt lành. Chương trình phải đem lại sự khích lệ chứ không phải sự nản lòng. Chúng ta có thể thay đổi người khác bằng sự khích lệ hơn là lời chỉ trích.
4. Bầu không khí gia đình: Phải hết lòng tạo nên bầu không khí gia đình trong các buổi thờ phượng Chúa dù có đông người như thế nào đi nữa. Cách chúng ta chào hỏi nhau, cách người hướng dẫn và các mục sư nói chuyện với đám đông phải chứng tỏ rằng: “Chúng ta là một đại gia đình hạnh phúc (I. Phi 3: 8), bạn thuộc về nơi nầy”.
5. Không khí phục hồi: Cuộc sống thật khó khăn, căng thẳng khiến cho nguồn năng lực thuộc linh và tình cảm bị cạn khô. Chúng ta cần nối kết họ với nguồn năng lực phục hồi của Đấng Christ (Mat Mt 11: 28-29).
. Chúa Jesus dạy rằng “Vì con người mà lập ngày Sa-bát”( Mac Mc 2: 27). Hội Thánh phải là một ốc đảo thuộc linh giữa một sa mạc khô cằn, đem nguồn nước sống tươi mát cho dân sự đang chết khát chung quanh chúng ta.
6. Bầu không khí tự do: Thánh Linh ở đâu thì sự tự do cũng ở đó (IICo 2Cr 3: 17). Cần khai thác bầu không khí thân mật, thư giãn, gần gũi và tránh các lễ nghi quá trang trọng, nặng phần hình thức khiến thân hữu cảm thấy lo lắng, thiếu tự nhiên, tạo nên một “hàng rào phòng thủ” không cần thiết.
V. GHI CHÚ
1. Hãy in tờ chương trình thờ phượng đơn giản bằng ngôn ngữ bình thường, đính kèm các ghi chú giải thích về thiệp chào mừng, sự dâng hiến. . .
2. Hãy giảm thiểu những thông báo nội bộ và khích lệ các thành viên xem bảng thông báo. Chỉ thông báo điều liên quan đến mọi người.
3. Hãy liên tục đánh giá và cải thiện nhờ các phiếu góp ý. . .
4. Hãy luôn nhớ mình đang phục vụ Ai (CoCl 3: 23).

Bài 15: LỰA CHỌN ÂM NHẠC
Câu gốc: “Ngài để nơi miệng tôi một bài hát mới, Tức là sự ngợi khen Đức Chúa Trời chúng tôi. Lắm người sẽ thấy điều đó, bắt sợ, Và nhờ cậy nơi Đức Giê-hô-va. ” Thi Tv 40: 3
I. TỔNG QUÁT
1. Tình cần yếu: Âm nhạc là một phần quan yếu trong đời sống chúng ta. Chúng ta có thể nghe âm nhạc khi đang ăn, khi ở trên xe, khi đi mua sắm, khi thư giãn . . .
2. Tầm quan trọng: Một bài hát có thể chạm đến lòng người theo cách mà một bài giảng không thể làm được: Âm nhạc có thể vượt qua những rào cản lý trí để đem sứ điệp gieo thẳng vào lòng. Nó là một công cụ sắc bén để truyền giáo.
. Aristotle đã nói: “Âm nhạc có sức mạnh định hình nhân cách”. Âm nhạc là phương tiện chủ yếu để truyền đạt những tiêu chuẩn cho thế hệ trẻ. Rõ ràng Satan đang dùng âm nhạc để làm việc nầy. Nếu chúng ta không dùng âm nhạc hiện đại để truyền đạt những tiêu chuẩn tin kính thì Satan sẽ nuốt chửng cả thế hệ trẻ hiện nay.
3. Phải lựa chọn: Chúng ta không thể thỏa mãn sở thích âm nhạc của mọi người, vì rốt cuộc, chúng ta chẳng làm hài lòng ai cả. Vì thế, cần xác định đối tượng cần tiếp cận, phong cách âm nhạc họ ưa thích và sử dụng nó.
II. LỰA CHỌN PHONG CÁCH ÂM NHẠC
1. Một yếu tố quyết định: Phong cách âm nhạc trong các buổi thờ phượng Chúa là một trong những yếu tố quyết định sự tăng trưởng của Hội Thánh. Nó sẽ xác định vị trí của Hội Thánh trong cộng đồng.
2. Tốt hay xấu? Loại âm nhạc chúng ta yêu thích là do chính học vấn và nền văn hóa của chúng ta quyết định. Không có một nền tảng Kinh Thánh nào xác định âm nhạc Âu châu 200 năm trước mới là tốt, là thiêng liêng. Điều khiến bài hát trở thành thiêng liêng là chính sứ điệp của nó.
. Sứ điệp thiêng liêng của bài hát có thể được truyền đạt bằng nhiều phong cách âm nhạc khác nhau để dâng vinh hiển lên cho Đức Chúa Trời suốt hai ngàn năm qua.
. Nhiều người cổ súy cho việc trở về “cội nguồn âm nhạc Cơ Đốc” với những “bài hát thiêng liêng”( CoCl 3: 16), nhưng không biết họ muốn trở lại bao xa, vì nếu trở lại thời vua Đa-vít, họ sẽ phải dùng trống, chập chỏa, kèn lớn, trống cơm và các nhạc cụ bằng dây, giống với âm nhạc hiện đại.
III. HÁT MỘT BÀI HÁT MỚI
1. Chỉ trích những bài hát mới: Các nhà thần học vĩ đại đã đưa lẽ thật của Đức Chúa Trời vào phong cách âm nhạc của thời họ. Martin Luther đã đặt lời mới cho một bài hát phổ thông bấy giờ để trở thành TC 41. John Calvin đã thuê hai nhạc sĩ ngoại đạo để đưa thần học của ông vào âm nhạc. . Nhưng những chống đối, chỉ trích đã xảy ra đối với bài hát mới: Nữ hoàng Anh đã nhạo báng giai điệu “thô tục” của Calvin, nhạc trưởng thánh đường Mainz đã gọi “Đêm yên lặng” là một mối nguy hại, Charles Spurgeon đã khinh thường các bài hát mà ngày nay chúng ta xem là “âm nhạc Cơ Đốc”, nhất là trường ca “Messiah” của Handel bị xem là một bản nhạc thô tục !
2. Đem âm nhạc vào sự thờ phượng Chúa: Một cuộc tranh cãi lớn đã nổ ra khi mục sư Benjanmin Keach cố gắng giới thiệu việc hát thánh ca cho hội chúng. Cuối cùng vào năm 1673 ông mới được họ đồng ý hát một bài thánh ca sau lễ tiệc thánh (Mac Mc 14: 26). Hai mươi năm sau, việc hát thánh ca mới được chấp nhận: Nhiều khi thay đổi thần học còn dễ hơn !!!
3. Tranh cãi về phong cách âm nhạc: Phong cách âm nhạc cũng là một đề tài gây tranh cãi trong hội chúng vì tín hữu thường nhầm lẫn giữa truyền thống và chính thống. Thật ra, sự thờ phượng có liên hệ mật thiết đến cách Đức Chúa Trời tạo dựng nên con người, vì thế, nhiều phong cách âm nhạc đã được đặt ra do cách thể hiện tình yêu Chúa của mỗi người khác nhau.
IV. CÁC NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN PHONG CÁCH ÂM NHẠC
1. Hãy duyệt trước toàn bộ phần âm nhạc: Đừng để có điều gì bất ngờ trong chương trình thờ phượng Chúa. Hãy đặt ra một số tiêu chuẩn để âm nhạc sẽ hỗ trợ cho mục đích buổi thờ phượng. Hãy xem xét cả ca từ lẫn giai điệu.
2. Hãy tăng tốc độ lên: Thờ phượng Chúa là hoan ca, tôn thờ Chúa với lòng vui sướng (Thi Tv 100: 2) chứ không phải tham dự một đám tang
3. Cập nhật lời hát: Nhiều bài hát hay có thể được sử dụng nếu thay đổi vài từ tối nghĩa, cổ xưa hoặc quá chuyên biệt: Ê-bên-ê-xe, nghi vệ, đòi cơn. .
4. Khích lệ sáng tác bài hát mới: Đức Chúa Trời đang làm một điều gì đó ngay bây giờ chứ không phải chỉ vài trăm năm trước (96: 1).
5. Cần thay cây đàn: Cây đàn điện tử đa năng với các đĩa MIDI có thể đưa chúng ta vào một nền âm nhạc có chất lượng. Thật là không xứng hợp khi chúng ta mời thân hữu ngồi trên băng ghế của thế kỷ 17, hát bài hát thế kỷ 18, và nghe nhạc cụ của thế kỷ 19 !
6. Đừng buộc thân hữu hát: Hãy trình bày nhiều bài hát (đơn ca, hợp ca. . ) hơn là là bắt hội chúng hát trong những chương trình cho thân hữu. Họ không thể ngợi khen Chúa trước khi trở nên con cái Ngài.

Bài 16: GIẢNG CHO THÂN HỮU
Câu gốc: “Hãy lấy sự khôn ngoan ăn ở với những người ngoại, và lợi dụng thì giờ. Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn, và nêm thêm muối, hầu cho anh em biết nên đối đáp mỗi người là thể nào. ” CoCl 4: 5-6
Vấn đề không phải là bài giảng có đủ giáo lý, có vẻ thuyết phục hay không, nhưng là có liên hệ đến thân hữu hay không.
I. PHONG CÁCH GIẢNG DẠY THÍCH ỨNG
1. Một phong cách mới: Phong cách giảng dạy cho thân hữu phải khác với phong cách giảng dạy cho tín hữu, nếu không sẽ phản tác dụng. Lối giảng giải kinh từng câu, từng sách rất ích lợi cho việc gây dựng tín hữu nhưng không thích hợp với các thân hữu.
2. Lý do: Từ truyền thông bắt nguồn từ tiếng La-tinh (communis) có nghĩa là “chung”: Chúng ta không thể giao tiếp với một ai trừ phi chúng ta tìm được một điểm chung với họ.
. Điểm chung với các thân hữu không phải là Kinh Thánh vì họ chưa chấp nhận thẩm quyền Kinh Thánh, nhưng là những nhu cầu, những nỗi đau và những sở thích chung của con người.
3. Giảng theo chủ đề: Trước hết hãy thu hút sự chú ý của thân hữu bằng một nhu cầu, một nỗi đau hay sở thích của họ và sau đó đưa họ đến với lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên chúng ta không để thân hữu xoay chúng ta, nhưng bắt đầu sứ điệp bằng một nhu cầu cấp thiết là điều cần thiết. Chính Đức Chúa Trời đã từng tự bày tỏ chính Ngài tùy theo nhu cầu của con người qua nhiều Danh xưng: Giêhôva Dirê, Giêhôva salam. . . Rao giảng theo nhu cầu là một phương pháp thần học vững chắc để giới thiệu thân hữu đến với Đức Chúa Trời.
4. Giải nghĩa chủ đề: Thay vì giải nghĩa một phân đoạn, chúng ta nên giải nghĩa chủ đề, dùng nhiều câu Kinh Thánh từ nhiều phân đoạn khác nhau (đây là lối giải nghĩa theo thần học hệ thống).
. Sự giảng dạy biến đổi đời sống đem lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời và nhu cầu thực tế của dân sự đến với nhau tại điểm áp dụng.
( Lời của Đức Chúa Trời è sự áp dụng ç Các nhu cầu của dân sự )
. Việc chúng ta bắt đầu từ bên nào tùy thuộc vào thính giả của chúng ta: Đối với tín hữu, chúng ta bắt đầu với Lời của Đức Chúa Trời qua lối giải kinh từng câu từng sách. Nhưng đối với thân hữu, chúng ta bắt đầu với nhu cầu cấp thiết qua lối giải nghĩa chủ đề (câu với câu).
II. TẠO ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN KINH THÁNH
Các thân hữu thường cảm thấy sợ Kinh Thánh, một nỗi sợ mê tín khi đọc hay cầm quyển Kinh Thánh, vì Kinh Thánh cổ đặc biệt khó hiểu . . . Hãy làm cho họ cảm thấy thoải mái khi đến với Kinh Thánh:
1. Hãy đọc bản dịch mới: Ngày nay có nhiều bản dịch Kinh Thánh mới rất dễ hiểu nên không có lý do gì phải phức tạp hóa Phúc Âm bằng ngôn ngữ của gần một thế kỷ trước (1926) đối với các thân hữu: Sự rõ ràng quan trọng hơn cả văn chương hay truyền thống.
2. Dùng quyển Kinh Thánh tại chỗ: Chúng ta có thể mua và đặt Kinh Thánh ngay tại chỗ thân hữu ngồi. Vì thân hữu không thuộc mục lục Kinh Thánh nên chúng ta chỉ cần đọc số trang trước khi nói đến đoạn và câu.
3. Chỉ dùng các phân đoạn Kinh Thánh thích hợp: Dù toàn bộ Kinh Thánh đã được linh cảm, nhưng không phải phần nào cũng thích hợp cho thân hữu. Chẳng hạn, thân hữu sẽ khó chấp nhận Thi thiên 58. Vì thế, nên tìm những phân đoạn Kinh Thánh vừa thích hợp vừa dễ hiểu đối với thân hữu.
4. In Kinh Thánh và bố cục bài giảng: Nên in bố cục của bài giảng và mọi phần Kinh Thánh trưng dẫn vào tờ chương trình. Điều nầy sẽ giúp các thân hữu khỏi bối rối khi lật tìm và khỏi mất thời gian của hội chúng (7 phút cho một bài giảng). Họ cũng có thể sử dụng để chia sẻ lại cho người khác. Hơn nữa, người nghe có thể ghi chú để nhớ sứ điệp hơn, vì 90-95 % sẽ được quên đi sau 72 giờ.
III. LÊN KẾ HOẠCH CÁC ĐỀ MỤC
1. Thu hút bằng các đề mục: Hầu hết các mục sư không cố gắng thu hút thân hữu bằng các đề mục. Các tạp chí quốc tế bán rất chạy vì các bài báo của họ gắn liền với những nhu cầu, nỗi đau và sở thích của con người.
. Chúa Jesus dạy chúng ta hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bồ câu. Vì thế, hãy chọn các đề mục “theo nhu cầu”.
2. Giảng theo loạt bài: Mỗi sứ điệp được xây dựng trên nền tảng của sứ điệp trước đó sẽ tạo nên một sự thúc đẩy. Đây là sức mạnh của quán tính. Việc quảng bá các đề mục theo loạt bài sẽ khiến tín hữu dễ lựa chọn tuần lễ phù hợp để đưa thân hữu của mình đến. Nó cũng tạo nên cái móc lôi kéo các vị khách trở lại vào tuần sau. Tuy nhiên tốt nhất chỉ nên kéo dài 4-8 tuần.
3. Kiên định với phong cách giảng: Chúng ta không thể nhắm qua nhắm lại các đối tượng thân hữu và tín hữu trong cùng một buổi thờ phượng. Dĩ nhiên, có thể giảng giáo lý cho các thân hữu, nhưng đừng dùng các thuật ngữ tôn giáo và phải tìm mối liên hệ đến nhu cầu của họ.
IV. LUÔN TẠO CƠ HỘI TIẾP NHẬN CHÚA
1. Tạo cơ hội: Chúng ta cần tạo cơ hội cho thân hữu tiếp nhận Chúa trong chương trình dành cho thân hữu. Tuy nhiên cần phải tôn trọng họ, không được tạo áp lực trên họ. Sự thúc ép sẽ phản tác dụng: Nó sẽ làm cho tấm lòng cứng cỏi thêm.
2. Nhiều cách kéo lưới: Có rất nhiều cách cho thân hữu tiếp nhận Chúa:
a. Kêu gọi tiến lên: Đây là phương pháp được Asahael Nettleton khởi xướng vào năm 1817 và Charles Finney đã quảng bá. Có thể thay đổi bằng việc mời đứng lên tại chỗ.
b. Tấm thiệp cam kết: Hãy biến mặt sau của thiệp chào mừng bằng thiệp cam kết. Vào đầu giờ hãy khích lệ họ điền vào mặt trước và cuối giờ hãy mời họ ghi vào mặt sau. Có thể thay đổi bằng cách để một chỗ trống để họ điền các chữ A, B, C, hoặc D vào cuối giờ. A: Nếu đã tin Chúa rồi - B: Nếu đây là lần đầu tiên tin Chúa - C: Nếu đang suy nghĩ về quyết định tin Chúa - D: Nếu không muốn dâng cuộc đời cho Chúa. Thường rất ít chữ D.
3. Những hướng dẫn quan trọng: Dành thời gian cho thân hữu quyết định tin Chúa là một yếu tố vô cùng quan trọng:
a. Hãy giải thích rõ ràng cách đến với Chúa. Đừng để họ hiểu lầm.
b. Hãy lên kế hoạch thời điểm để kêu gọi vì số phận đời đời của nhiều người đang nằm trong sự cân nhắc của chúng ta.
c. Hãy sáng tạo trong việc mời gọi người ta tiếp nhận Chúa và hãy viết lời kêu gọi tin Chúa kèm theo mỗi sứ điệp.
d. Hãy hướng dẫn thân hữu bài cầu nguyện mẫu để họ có thể tuyên xưng đức tin của mình nơi Chúa.
e. Đừng bao giờ tạo áp lực để các thân hữu quyết định mà hãy tin cậy Đức Thánh Linh làm trọn công việc của Ngài. Thật không thực tế nếu đòi hỏi người ta phải thay đổi hướng đi của cả cuộc đời chỉ bằng một bài giảng (đừng ép người ta phải mua thịt bò khi người ta chỉ muốn mua sữa!).
f. Hãy chuẩn bị nhiều cách để thân hữu bày tỏ sự cam kết của mình với Đấng Christ: Bước lên, đứng lên, ghi tấm thiệp, giờ tiếp tân. . .
g. Hãy mong đợi thân hữu đáp ứng: Đức tin của chúng ta có thể sẽ ảnh hưởng trên cuộc chiến tâm linh đang diễn ra trong linh hồn của các thân hữu. Dù không thúc ép thân hữu nhưng chúng ta phải hết lòng mong đợi họ sẽ đáp ứng tích cực.
h. Không điều gì có thể thay thế được sự rao giảng được Đức Thánh Linh xức dầu. Sứ điệp đáp ứng nhu cầu sẽ được tiếp nhận cách tích cực.
Bài 17: BIẾN NGƯỜI THAM DỰ NÊN THÀNH VIÊN
Câu gốc: “Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời. ” Eph Ep 2: 19
I. ĐỒNG HÓA
1. Nhiệm vụ đồng hóa: Đồng hóa (assimilation) là nhiệm vụ đưa người từ cộng đồng (biết về Hội Thánh đó) vào đám đông (tham dự Hội Thánh nầy) rồi trở nên một thành viên năng động trong Hội chúng (Hội Thánh của chúng tôi).
2. Quyền sở hữu: Các thành viên thật sẽ cảm nhận quyền sở hữu: Họ là những người đóng góp, chứ không phải chỉ là những người thụ hưởng. Làm một tín hữu đồng nghĩa với việc có một mối liên hệ nào đó với một Hội Thánh địa phương.
3. Sự thuộc về: Chủ nghĩa cá nhân khiến một số tín hữu “nhảy” từ Hội Thánh nầy sang Hội Thánh khác mà không có đăng ký, trách nhiệm hay cam kết với một Hội Thánh nào cả.
. Tuy nhiên, nếp sống Cơ Đốc không chỉ tin mà thôi, nhưng cũng gồm cả sự thuộc về nữa. Chúng ta tăng trưởng trong Đấng Christ vì chúng ta ở trong mối liên hệ với các Cơ Đốc nhân khác (RoRm 12: 10).
4. Tư cách hội viên: Tư cách hội viên là một từ có nguồn gốc Cơ Đốc, nhưng thế gian đã xóa ý nghĩa nguyên thủy của nó với việc nộp phí, nghi lễ và nội quy. . .
. Phao Lô dạy rằng thành viên của Hội Thánh không có nghĩa là gia nhập một tổ chức mà trở thành một bộ phận quan trọng trong một thân thể sống (12: 4-5; ICo1Cr 6: 15; 12: 12-27). Bất cứ một bộ phận nào tách khỏi thân thể đều sẽ nhanh chóng chết đi.
5. Không hề tự động: Việc sáp nhập thành viên mới vào mối thông công trong Hội Thánh không tự động diễn ra mà cần một hệ thống và cơ cấu tốt. Khi Chúa Jesus muốn ban những con đỏ vào Hội Thánh, Ngài luôn tìm xem ở đó có những lồng ấp nuôi trẻ ấm áp không!
II. PHÁT TRIỂN KẾ HOẠCH HỘI NHẬP
1. Mười hai câu hỏi: Mỗi Hội Thánh đều có một lịch sử, nền văn hóa và tốc độ phát triển khác nhau. Vì thế, cần xác định kế hoạch hội nhập nào là phù hợp nhất qua việc thăm dò 12 câu hỏi về yêu cầu cho thành viên. . .
2. Năm câu hỏi cần được giải đáp: Trước khi gia nhập Hội Thánh, người ta cần lời giải đáp cho năm câu hỏi sau: Tôi có thích hợp với nơi nầy không? (vấn đề chấp nhận) - Có ai muốn làm quen với tôi không? (vấn đề tình bạn) - Người khác có cần tôi không? (vấn đề giá trị) - Ích lợi của việc gia nhập Hội Thánh là gì? (vấn đề lợi ích) - Những đòi hỏi nơi các thành viên là gì? (vấn đề trách nhiệm).
III. TRUYỀN ĐẠT GIÁ TRỊ CỦA TƯ CÁCH THÀNH VIÊN
1. Những lợi ích khi trở nên thành viên: Có vô số lợi ích khi trở thành một thành viên trong Hội Thánh:
a. Điều nầy xác nhận một người là tín hữu thật (Eph Ep 2: 19; RoRm 12: 5).
b. Điều nầy đem đến một gia đình thuộc linh hỗ trợ và khích lệ họ trên bước đường theo Chúa (GaGl 6: 1-2; HeDt 10: 24-25).
c. Đều nầy cung cấp một nơi để khám phá và sử dụng các ân tứ của họ trong chức vụ (ICo1Cr 12: 4-27).
d. Điều nầy đặt họ dưới sự bảo vệ thuộc linh của những người lãnh đạo tin kính Chúa (HeDt 13: 17;. Cong Cv 20: 28-29).
e. Điều nầy đặt ra cho họ trách nhiệm cần có để tăng trưởng (Eph Ep 5: 21).
2. Những lợi ích đặc biệt: Việc cá nhân hóa các mục đích của Hội Thánh sẽ cho các thành viên thấy rằng Hội Thánh có thể đem đến cho họ những lợi ích mà họ không thể tìm thấy ở một nơi nào khác trên thế giới:
a. Sự thờ phượng Chúa giúp họ tập trung vào Đức Chúa Trời. Nó chuẩn bị họ về phương diện thuộc linh và tình cảm cho một tuần lễ mới.
b. Mối thông công giúp họ đối diện những nan đề của cuộc sống bằng cách đem đến sự hỗ trợ và khích lệ từ các Cơ Đốc nhân khác.
c. Môn đồ hóa giúp họ củng cố niềm tin bằng cách học biết lẽ thật trong Lời Chúa và áp dụng các nguyên tắc Thánh Kinh vào đời sống của họ.
d. Mục vụ giúp họ khám phá và phát triển các tài năng của mình, rồi dùng chúng để phục vụ người khác.
e. Truyền giáo giúp họ hoàn thành sứ mạng chinh phục những người thân của họ và gia đình họ cho Đấng Christ.
3. Khốn khổ của một tín hữu không có Hội Thánh: Có nhiều hình ảnh minh họa, nhưng dễ hiểu nhất là hình ảnh đứa con không có gia đình ! ITi1Tm 3: 15 gọi Hội Thánh là Nhà của Đức Chúa Trời. Eph Ep 2: 19 gọi chúng ta là người Nhà của Đức Chúa Trời. Có nhiều yếu tố góp phần làm tan rã gia đình: Ly dị, hôn nhân bị trì hoãn, nhấn mạnh độc thân, phụ nữ ra ngoài làm việc. . . Hội Thánh là một Đại gia đình sẽ đánh mạnh vào tình cảm của nhiều tấm lòng cô đơn.
IV. TỔ CHỨC LỚP THÀNH VIÊN BẮT BUỘC
1. Tầm quan trọng: Cách người ta gia nhập Hội Thánh sẽ quyết định năng suất của họ khi làm một thành viên trong những năm tới: Nếu đòi hỏi ít quá khi gia nhập thì không thể mong đợi gì nhiều nơi các thành viên.
. Lớp quan trọng nhất trong Hội Thánh là lớp thành viên vì nó đặt ra những tiêu chuẩn và đòi hỏi của mọi điều sau đó. Thời điểm tốt nhất để khơi dậy một cam kết vững chắc nơi các thành viên là lúc họ gia nhập.
. Mục sư quản nhiệm phải là người chịu trách nhiệm chính của lớp nầy.
2. Nội dung: Một lớp thành viên mạnh sẽ xây dựng một Hội Thánh mạnh. Lớp mạnh không nhất thiết là lớp dài. Lớp 101 chỉ kéo dài 4 giờ và chỉ học trong một ngày, nhưng sẽ tạo ra một mức độ cam kết cao nhờ nội dung và sự kêu gọi cam kết khi họ thấy tâm tình mục sư và Hội Thánh. . Lớp thành viên không phải là lớp giáo lý hay tăng trưởng tâm linh: Cần dạy về Hội Thánh với những mục đích, chiến lược, khải tượng, và về đòi hỏi nơi thành viên. Nội dung phải gồm: a. Sự cứu rỗi : Sự biết chắc- Biểu tượng: Báptem, thông công. b. Tuyên ngôn của chúng ta: Mục đích-Khải tượng- Đức tin- Tiêu chuẩn. c. Chiến lược của chúng ta: Lịch sử - Tiến trình phát triển - Chiến lược. . . d. Cơ cấu : Tổ chức Hội Thánh - Ý nghĩa sự gia nhập. .
3. Đòi hỏi: Học viên phải sẵn lòng học, phải hết sức chú ý để hiểu trách nhiệm của một thành viên và cam kết thực hiện. Cần có nhiều lớp khác nhau theo từng lứa tuổi: Thiếu nhi - Thanh Thiếu niên - Người lớn.
V. PHÁT TRIỂN MỘT GIAO ƯỚC THÀNH VIÊN
1. Tầm quan trọng: Được gia nhập mà không có một cam kết sẽ tạo nên một hội chúng biếng nhác, thiếu quan tâm đến sự dâng hiến, phục vụ . . .
. IICo 2Cr 8: 5 đề cập đến hai loại cam kết với Chúa và với các lãnh đạo.
. Thông công (koinonia) là dâng mình phục vụ nhau như phục vụ Chúa.
. Nhiều tín hữu biết GiGa 3: 16 mà không biết gì đến IGi1Ga 3: 16.
. Chúa muốn chúng ta yêu nhau như Ngài đã yêu (GiGa 13: 34-35).
. Tân ước đề cập đến cụm từ “lẫn nhau”, “với nhau” hơn 50 lần.
2. Bốn đòi hỏi nơi thành viên: 1. Lời tuyên xưng đức tin. 2. Nhận báptêm dìm mình. 3. Hoàn thành lớp thành viên. 4. Ký giao ước thành viên.
3. Giao ước thành viên: Thành viên cần cam kết: 1. Bảo vệ sự hiệp nhất của Hội Thánh bằng cách yêu thương, không nói hành, vâng phục lãnh đạo. 2. Chia sẻ trách nhiệm trong Hội Thánh bằng cách cầu nguyện, mời thân hữu. . . 3. Thực hiện mục vụ trong Hội Thánh. 4. Bày tỏ về Hội Thánh mình bằng cách trung tín nhóm lại, sống tin kính và dâng hiến đều đặn.

Bài 18: PHÁT TRIỂN CÁC THÀNH VIÊN TRƯỞNG THÀNH
Câu gốc: “Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc. ” Eph Ep 4: 14
Đức Chúa Trời muốn mỗi tín hữu phải trưởng thành thuộc linh và mục tiêu cuối cùng của sự trưởng thành là trở nên giống Đấng Christ (RoRm 8: 29).
I. NHỮNG SUY NGHĨ SAI LẦM VỀ TRƯỞNG THÀNH
1. Sai lầm 1: Đời sống thuộc linh tự động phát triển: Nhiều Hội Thánh không có một kế hoạch gây dựng tân tín hữu hay chiến lược phát triển các thành viên trở nên trưởng thành, vì cho rằng Cơ Đốc nhân sẽ tự động lớn lên. Điều duy nhất họ cần làm là khích lệ tín hữu đi nhà thờ, nhưng kết quả là Hội Thánh chứa đầy những người đi nhà thờ trọn cả đời, nhưng vẫn là những con đỏ thuộc linh ! . Chân lý là đây: Sự tăng trưởng tâm linh cần phải có cam kết và nỗ lực. Sự môn đồ hóa phải đến từ một quyết định và nhờ Chúa, họ sẽ vừa muốn, vừa làm theo ý chỉ Ngài (Phi Pl 2: 12-13).
. Chúng ta sẽ trở thành chính những gì mình đã cam kết: Sự cam kết với Điều răn lớn và Đại mạng lệnh sẽ khiến Cơ Đốc nhân tăng trưởng.
2. Sai lầm 2: Tăng trưởng tâm linh là điều huyền bí: Nhiều người xem trưởng thành thuộc linh chỉ dành cho những người đặc biệt có mối tương giao huyền bí với Chúa và họ phải tự thỏa lòng với loại Cơ Đốc nhân hạng hai !
. Chân lý là đây: Sự tăng trưởng tâm linh rất thực tế, bất cứ tín hữu nào cũng có thể trưởng thành nếu biết phát triển các thói quen thuộc linh cần thiết (I. Tim 4: 7), giống như thân thể khỏe mạnh cần tập thể dục và các thói quen tốt. Hãy nhớ rằng cá tính được hình thành qua thói quen của chúng ta.
3. Sai lầm 3: Trưởng thành tâm linh xảy ra ngay lập tức: Đây là một sai lầm khá phổ biến được cổ súy bằng những tác phẩm “bốn bước đơn giản để trưởng thành” hay “bí quyết trở thành thánh nhân”. . . sau một đêm !
. Chân lý là đây: Tăng trưởng tâm linh là một tiến trình cần thời gian. Chúng ta có cà phê uống liền, mì ăn liền. . . nhưng không thể trưởng thành thuộc linh cấp tốc. Đó phải là tiến trình cả đời, cũng như Giô-suê phải “lần lần” chiếm xứ (PhuDnl 7: 22). Tiến trình phát triển đời sống thuộc linh tại HT Saddle back được mô tả theo một hình thoi theo dạng sân bóng chày với 4 trạm. Không ai được miễn trừ một trạm nào: Tư cách thành viên - Trưởng thành Phục vụ-Sứ mạng. Các mục sư sẽ giúp họ từ trạm nầy sang trạm khác.
4. Sai lầm 4: Trưởng thành được đo lường bằng kiến thức: Nhiều Hội Thánh đánh giá sự trưởng thành thuộc linh dựa vào tri thức Kinh Thánh và thần học hay khả năng tranh luận vể giáo lý. . Chân lý là đây: Sự trưởng thành thuộc linh được bày tỏ qua thái độ, hành vi hơn là qua niềm tin và tri thức. Đời sống Cơ Đốc bao gồm cả hình vi và nhân cách. Chúng ta phải “bước đi” như những con cái sáng láng (Eph Ep 5: 8). Chính hành động, chứ không phải kiến thức, thể hiện sự trưởng thành của chúng ta (Mat Mt 7: 16, 24-27). . Tri thức Kinh Thánh chỉ là một trong 5 yếu tố trưởng thành (tri thức - cách nhìn - sự tin quyết - các kỹ năng - nhân cách). Tri thức mà không có 4 điều kia sẽ trở nên kiêu ngạo (ICo1Cr 8: 1). Hơn nữa, tri thức sẽ làm gia tăng trách nhiệm dẫn đến sự phán xét nghiêm minh hơn (Gia Gc 4: 17).
5. Sai lầm 5: Tăng trưởng tâm linh là việc riêng tư: Chủ nghĩa cá nhân đã khiến con người tự cho mình là trung tâm mà không quan tâm gì đến người khác. Điều nầy cũng đã ảnh hưởng đến Cơ Đốc nhân !
. Chân lý là đây: Cơ Đốc nhân cần các mối quan hệ để tăng trưởng (HeDt 10: 24;-25;). Các mối quan hệ vừa là chất keo gắn kết mọi người trong Hội Thánh, vừa đóng vai trò quan trọng trong việc đưa mỗi người vào sự trưởng thành. Mối thông công thật với những mạng lệnh “lẫn nhau” mang tính bắt buộc, là bằng cớ chứng tỏ chúng ta đi trong sự sáng (IGi1Ga 1: 7), vượt khỏi sự chết (3: 14), xác định tình yêu đối với Chúa (4: 20). . .
. Một lý do khiến nhiều người không làm chứng là vì họ không biết cách quan hệ với người khác, thậm chí với các anh chị em tín hữu !
6. Sai lầm 6: Chỉ cần học Kinh Thánh là trưởng thành: Nhiều Hội Thánh được gọi là “Hội Thánh phòng học”. Họ chỉ sử dụng bán cầu não trái và hay dựa vào sự hiểu biết, ít nhấn mạnh đến sự phát triển tình cảm, kinh nghiệm và các mối quan hệ giữa các tín hữu.
. Chân lý là đây: Cần phải từng trải nhiều kinh nghiệm thuộc linh mới có thể trưởng thành. Bất cứ một chiến lược trưởng thành hóa nào cũng cần phải có tất cả các kinh nghiệm sau: Thờ phượng - thông công - nghiên cứu Kinh Thánh - chứng đạo - phục vụ.
. Kinh nghiệm là một giáo sư vĩ đại và trên thực tế, có những bài học mà chúng ta chỉ có thể học qua kinh nghiệm. Đôi khi kinh nghiệm đau đớn mới có thể khiến chúng ta thay đổi đường lối mình (ChCn 20: 30).
. Học tập mà không phục vụ sẽ tạo nên những Cơ Đốc nhân kiêu ngạo thuộc linh, thích đoán xét người khác (Gia Gc 1: 22). Nhưng hãy nhớ rằng Cơ Đốc giáo là một mối quan hệ và là một sự sống.
II. NÂNG CAO MỨC CAM KẾT
Hãy tập trung nâng cao mức độ cam kết của nhóm lãnh đạo, mức độ cam kết của hội chúng sẽ được nâng cao. Làm thế nào để dân sự cam kết?
1. Phải kêu gọi tín hữu cam kết: Vấn đề không phải là tín hữu có chịu cam kết hay không, mà họ sẽ cam kết với Ai. Nếu Hội Thánh không yêu cầu họ cam kết, họ sẽ kết luận rằng Hội Thánh không quan trọng bằng các hoạt động khác của họ là nơi họ phải có cam kết mới được gia nhập.
. Hãy giúp tín hữu gạn lọc điều gì cần cam kết vì có quá nhiều Cơ Đốc nhân yếu đuối chỉ vì họ cam kết nửa vời với nhiều việc thay vì cam kết hoàn toàn với việc quan trọng nhất.
2. Hãy tự tin kêu gọi cam kết lớn: Chúa Jesus luôn kêu gọi cam kết cách rõ ràng và tự tin (LuLc 14: 33). Thường thì sự đòi hỏi cam kết càng lớn sẽ được đáp ứng càng nhiều và mọi người đều muốn cam kết với điều gì có thể đem lại ý nghĩa cho đời sống họ. Họ không bao giờ bực bội khi được kêu gọi vào sự cam kết lớn nếu chúng ta có một mục đích lớn, nghĩa là họ sẽ đáp ứng tích cực với một khải tượng đầy nhiệt huyết, chứ không phải với nhu cầu.
3. Hãy đòi hỏi một cam kết cụ thể: Một bí quyết để nâng cao mức độ cam kết là phải cụ thể. Thay vì nói “hãy cam kết với Đấng Christ”, hãy cho họ biết họ phải cam kết những gì với Chúa (học KinhThánh, dâng phần mười).
4. Hãy giải thích những ích lợi của việc cam kết: Rất nhiều mạng lệnh trong KThánh có kèm theo lời hứa. Hãy giải thích những lợi ích cá nhân, gia đình, Hội Thánh và xã hội khi tín hữu cam kết vâng theo Lời Chúa.
5. Kêu gọi tăng trưởng trong sự cam kết: Tách những cam kết lớn thành các bước nhỏ và dẫn dắt tín hữu đi lên là một điều tốt. Hãy thách thức họ cam kết và rồi tăng trưởng trong sự cam kết. Hãy tổ chức lễ kỷ niệm đánh dấu sự tăng trưởng của họ để thúc đẩy họ tiếp tục đi tới.
III. GIÚP PHÁT TRIỂN THÓI QUEN TĂNG TRƯỞNG
1. Thói quen hay kỷ luật: Dù đời sống thuộc linh cần những kỷ luật nhưng hãy gọi chúng là những thói quen thuộc linh thúc đẩy sự trưởng thành để họ sẽ cảm thấy vui thỏa hơn là phải chịu đựng. Pascal đã nói: “Sức mạnh đạo đức của một người được đo lường bởi chính những thói quen của người ấy”. Hãy giúp tín hữu thói quen về thời gian, tiền bạc và các mối quan hệ.
2. Giao ước trưởng thành: Lớp 201 “khám phá sự trưởng thành thuộc linh” tập trung vào cách hình thành bốn thói quen cơ bản: Học Lời Chúa (GiGa 8: 31-32)-Cầu nguyện (Mac Mc 1: 35)-Dâng phần mười (LuLc 14: 33;. ICo1Cr 16: 2) - Thông công (GiGa 13: 34-35). Cuối khóa hãy cho họ ký giao ước trưởng thành và tái cam kết hằng năm (ép nhựa thẻ giao ước và trả lại cho họ giữ).
IV. XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC QUÂN BÌNH
1. Tri thức về Lời Chúa: Đối với tân tín hữu, chúng ta cần thường xuyên giúp họ nghiên cứu xuyên suốt Cựu ước và Tân ước. Tài liệu “Bộ hành qua Kinh Thánh” có thể giúp ích cho việc nầy. Chúng ta cũng cần giúp dân sự tự nghiên cứu Lời Chúa bằng bốn bước: Đặt câu hỏi (W) - Quan sát (O) - Phản hồi (R) - Áp dụng (D). Năm sách nòng cốt cần nghiên cứu trước là Sáng thế ký, Giăng, Rô-ma, Ê-phê-sô và Gia-cơ.
2. Thấu thị: Thấu thị là hiểu biết rõ một điều nhờ nhìn nó từ một góc độ rộng hơn. Điều nầy chỉ có được khi chúng ta nhìn sự sống từ quan điểm của Đức Chúa Trời. Theo Thi Tv 103: 7, dân sự phải thấy điều Chúa làm, nhưng Môi-se phải hiểu tại sao Chúa làm điều đó. Đây chính là điểm khác biệt giữa tri thức và tầm nhìn. Thiếu tầm nhìn là bằng chứng của sự chưa trưởng thành thuộc linh (HeDt 5: 14). Tầm nhìn đúng đem lại nhiều lợi ích:
. Khiến ta yêu Chúa hơn khi hiểu được bản chất và đường lối Ngài.
. Giúp ta chống lại cám dỗ khi hiểu được hậu quả lâu dài của tội lỗi.
. Giúp ta vượt qua thử thách khi biết mọi sự hiệp lại sẽ ích lợi (RoRm 8: 28).
. Bảo vệ ta khỏi sai lầm trong một xã hội phủ nhận lẽ thật tuyệt đối.
Vì thế, chúng ta cần giúp dân sự có tầm nhìn đúng đắn về Đức Chúa Trời, Chúa Jesus, Đức Thánh Linh, sự mặc khải, sự sáng tạo, sự cứu rỗi . . .
3. Sự tin quyết: “Một niềm tin là điều bạn sẽ tranh cãi để bảo vệ, nhưng sự tin quyết là điều bạn sẽ sống chết với nó”. Sự tin quyết là điều vô cùng quan trọng thúc đẩy chúng ta hành động. Người có quyết tâm mạnh nhất sẽ tạo được ảnh hưởng lớn nhất. Sự tin quyết có tính chất thu hút và dễ lan truyền. Đáng buồn là dân sự thường tin quyết vào những điều thứ yếu và đặt lòng tin yếu ớt vào điều chính yếu! Không có sự tin quyết đúng, chúng ta sẽ phó mặc cho hoàn cảnh, rồi mù quáng chạy theo đám đông.
4. Kỹ năng: Kỹ năng là khả năng làm một điều gì đó dễ dàng và chính xác. Kỹ năng được phát triển thông qua thực hành và kinh nghiệm (Gia Gc 1: 22). Muốn Hội Thánh có nhiều Cơ Đốc nhân hiệu quả, chúng ta phải dạy họ những kỹ năng cần thiết của đời sống Cơ Đốc và phục vụ (TrGv 10: 10): Nghiên cứu Kinh Thánh, cầu nguyện, vượt cám dỗ, sống hòa thuận. . .
5. Nhân cách: Nhân cách giống Đấng Christ là mục đích cuối cùng của giáo dục Cơ Đốc (Eph Ep 4: 13). Vì thế mục tiêu mọi sự giảng dạy phải nhắm vào biến đổi đời sống, chứ không chỉ cung cấp thông tin. Tuy nhiên, nhân cách không được xây dựng trong phòng họp mà trong các hoàn cảnh. Sự phát triển nhân cách luôn gắn liền với sự chọn lựa. Khi chọn lựa đúng, nhân cách của chúng ta sẽ phát triển giống Đấng Christ hơn.

Bài 19: BIẾN THÀNH VIÊN THÀNH NGƯỜI PHỤC VỤ
Câu gốc: “Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo. ” 2: 10
I. NGƯỜI KHỔNG LỒ ĐANG NGỦ
1. Thành viên năng động: Hội Thánh đúng là một người khổng lồ đang ngủ (giống như Napoleon nói về Trung Hoa), với những thành viên chẳng làm gì với đức tin mình ngoại trừ giữ nó !
. Người ta thường gọi thành viên năng động là người dự nhóm thường xuyên và biết dâng hiến. Nhưng Chúa mong đợi ở họ nhiều hơn thế: Họ còn phải dùng các ân tứ và tài năng của mình để phục vụ.
2. Được kêu gọi để phục vụ: Dù Hội Thánh có đẩy mạnh mục vụ thì phân nửa thành viên vẫn là khán giả ! (Chỉ có 10% đang phục vụ và 40% sẵn sàng khi được mời). Họ cảm thấy mình không được kêu gọi để phục vụ. Vì họ đang có một sự kêu gọi khác: Đó là chỗ ngồi của họ !
II. DẠY NỀN TẢNG KINH THÁNH VỀ MỤC VỤ
Hội chúng cần được biết tại sao trước khi được dạy phải làm thế nào. Dựa vào RoRm 12: 1-8; chúng ta thấy Hội Thánh được xây dựng trên 4 cột trụ:
1. Cột trụ 1: Mỗi tín hữu là một người phục vụ: Mỗi tín hữu đều được kêu gọi vào sự phục vụ: phục vụ thế gian và phục vụ Hội Thánh. Đây là một sự phục vụ bắt buộc chứ không phải tùy hứng, vì Cơ Đốc nhân phải giống Đấng Cơ Đốc: Phục vụ và ban cho (Mat Mt 20: 28).
. Mỗi Cơ Đốc nhân được tạo dựng để phục vụ (Eph Ep 2: 10), được cứu để phục vụ (IITi 2Tm 1: 9), được ban ơn để phục vụ (IPhi 1Pr 4: 10), có trách nhiệm và sẽ được ban thưởng khi phục vụ (CoCl 3: 23-24).
2. Cột trụ 2: Mọi mục vụ đều quan trọng: Một số mục vụ ai cũng thấy, một số khác thì ẩn khuất, nhưng tất cả đều giá trị như nhau, không có mục vụ nào là vô nghĩa cả. Hơn nữa, các mục vụ “nhỏ” thường tạo nên sự khác biệt lớn (bóng đèn ngủ nhỏ bé nhưng rất ích lợi một cách duy nhất. . . ).
3. Cột trụ 3: Chúng ta phụ thuộc lẫn nhau: Không mục vụ nào độc lập với các mục vụ khác mà có thể hoàn tất mọi điều Hội Thánh được kêu gọi để thực hiện. Vì thế, chúng ta cần nương dựa và cộng tác với nhau.
. Xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân và sự độc lập, nhưng về phương diện thuộc linh, chúng ta cần sự hỗ tương và lệ thuộc lẫn nhau, vì một người trưởng thành là người biết lệ thuộc hoàn toàn vào Chúa.
4. Cột trụ 4: Mục vụ là thể hiện định dạng: Định dạng quyết định mục vụ của mỗi người. Định dạng của mỗi người khác nhau để mỗi người là chính mình chứ không phải một ai khác. Bằng cách xác định năm yếu tố định dạng của mình, chúng ta có thể phám phá ý muốn của Chúa cho mình.
a. Các ân tứ thuộc linh: Đức Chúa Trời luôn ban cho mỗi tín hữu các ân tứ thuộc linh để dùng vào việc phục vụ. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta còn được Ngài ban cho những khả năng bẩm sinh, nhân cách và kinh nghiệm. Vì thế, ân tứ thuộc linh chỉ bày tỏ một phần ý muốn Đức Chúa Trời cho mục vụ của chúng ta, chứ không phải tất cả.
. Chúng ta cần phải bắt đầu thực nghiệm các mục vụ khác nhau và sau đó mới có thể khám phá các ân tứ của mình. Cần lưu ý hầu hết các ân tứ thuộc linh trong Tân ước lại không có định nghĩa và càng trưởng thành, chúng ta lại có những nét đặc trưng của vài ân tứ.
b. Tấm lòng: Kinh Thánh dùng khái niệm tấm lòng để ám chỉ trung tâm động cơ, khát vọng, sở thích và những khuynh hướng tự nhiên của chúng ta. Tấm lòng quyết định lời nói, sự cảm nhận và hành động của chúng ta.
. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta nhịp tim tình cảm độc nhất, là điều sẽ tác động khi chúng ta đối diện với những điều khiến chúng ta thích thú. Đừng phớt lờ sở thích tự nhiên vì người đạt thành tựu lớn thường là người thích điều họ đang làm. Nhịp tim tình cảm là một chìa khóa rất quan trọng để hiểu được ý muốn Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta.
c. Các khả năng: Khả năng là những tài năng tự nhiên bẩm sinh: Năng khiếu ngôn ngữ, năng khiếu thể thao, âm nhạc, kiến trúc (XuXh 31: 3). . .
. Mỗi người trung bình có từ năm trăm tới bảy trăm kỹ năng. Tuy nhiên, Cơ Đốc nhân cần có một quá trình xác định kỹ năng và một quá trình phối hợp những kỹ năng vào đúng mục vụ.
d. Cá tính: Đức Chúa Trời yêu thích sự đa dạng. Vì thế, Ngài tạo dựng con người với những cá tính khác nhau và Ngài sẵn sàng sử dụng mọi cá tính: Lạc quan của Phierơ, nóng nảy của Phao-lô, đa sầu của Giêrêmi. . .
. Chúng ta cần đủ loại cá tính để làm cân bằng Hội Thánh và đem lại hương vị cho Hội Thánh. Bắt chước người khác sẽ không bao giờ thành công, vì chúng ta không có cá tính của họ. . .
e. Các kinh nghiệm: Đức Chúa Trời không hề lãng phí một kinh nghiệm nào (RoRm 8: 28). Chúng ta cần xem xét năm lãnh vực kinh nghiệm: Học vấn - nghề nghiệp - thuộc linh - phục vụ - kinh nghiệm đau buồn.
Thay vì cố gắng tái định hình chính mình trở nên giống người khác, hãy vui mừng với định dạng Chúa ban để bước vào mục vụ Chúa định sẵn.
III. TẦM QUAN TRỌNG CỦA MỤC VỤ
1. Phục vụ hay tham dự? Một lý do chính khiến nhiều thành viên trong Hội Thánh không tích cực phục vụ là vì họ quá bận rộn tham dự các buổi nhóm: Hội Thánh “nổi tiếng” với quá nhiều buổi nhóm !
2. Tận dụng thời gian của tín hữu: Càng ngày, con người càng có ít thời gian rảnh rỗi hơn. Tài sản quý giá nhất tín hữu có thể dâng hiến chính là thời gian của họ. Vì thế phải tận dụng thời gian họ dâng cho Chúa một cách tốt nhất: Đừng làm tiêu hao sự sống của họ bằng các buổi nhóm ban ngành.
3. Sự khác biệt giữa ủy ban và mục vụ: Các ủy ban thảo luận, nhưng mục vụ thực hiện - Các ủy ban tranh luận, nhưng mục vụ thì hành động - Các ủy ban chỉ duy trì, còn mục vụ thì phục vụ - Các ủy ban xem xét, tìm hiểu nhu cầu, còn mục vụ lo chăm sóc và đáp ứng nhu cầu.
. Mỗi Hội Thánh cần quyết định xem mình cần có một cơ cấu để nắm quyền hay một cơ cấu để tăng trưởng: Dân sự phải thôi nắm quyền điều khiển hàng lãnh đạo và mục sư cũng thôi nắm quyền mục vụ. Nếu không, cả hai sẽ trở thành cái cổ chai ngăn trở Hội Thánh tăng trưởng.
4. Lãnh đạo hay điều khiển? Công việc của mục sư là lãnh đạo Hội Thánh chứ không phải điều khiển Hội Thánh. Trong trách nhiệm lãnh đạo, các mục sư giữ cho Hội Thánh vững vàng về giáo lý và hướng dẫn Hội Thánh đi đúng hướng. Nhưng những quyết định hằng ngày là do những người đang thực hiện mục vụ lựa chọn.
5. Ích lợi của sự phục vụ: Người lãnh đạo phải sắp xếp cơ cấu của mình để tối đa hóa mục vụ và giảm thiểu hóa duy trì. Kết quả Hội Thánh sẽ được vui vẻ, hài hòa và nhuệ khí sẽ gia tăng.
. Chúng ta có thể thấy được nhuệ khí và tình bạn ấm áp giữa vòng những người cùng chiến đấu nơi tiền tuyến. Trong khi đó, những người lính hậu phương thường càu nhàu và đầy nan đề. Cũng vậy, những tín hữu khó tính và hay phê phán là những người không dự phần vào một mục vụ nào cả !
IV. SẮP XẾP HỢP LÝ CƠ CẤU TỔ CHỨC
1. Đừng tổ chức bầu cử các vị trí mục vụ: Đây là những lý do tại sao:
a. Chúng ta sẽ tránh được một cuộc thi đua cá tính: Việc bầu cử vào mục vụ sẽ loại trừ những người nhút nhát, thiếu tự tin, sợ bị loại ra. Tuy nhiên, một mục vụ mới cần phải có thời gian chuẩn bị.
b. Không bỏ sót những người có năng lực: Các thành viên mới có thể là người phục vụ tốt nhất, nhưng sẽ hiếm khi được cử vào đúng công việc.
c. Loại bỏ được những người thích quyền lực: Bỏ việc bầu cử, chúng ta sẽ thu hút được những người thực sự muốn phục vụ chứ không phải háo danh.
d. Nếu họ thất bại thì sự hủy bỏ cũng dễ dàng hơn. Cần nhớ một số tín đổ xác thịt sẽ thà phá hoại Hội Thánh hơn là phải từ bỏ một chức vị !
e. Con dân Chúa có thể đáp ứng sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh nhanh chóng hơn với các loại mục vụ: cầu nguyện, chăm sóc bệnh nhân ung thư. . .
2. Hãy tổ chức một tiến trình thiết lập mục vụ: Đưa các thành viên vào sự phục vụ phải là một tiến trình liên tục. Có ba bộ phận quan trọng:
a. Lớp học hằng tháng: Mỗi tháng Hội Thánh cần mở lớp 301 “Phát hiện mục vụ của tôi”, một lớp học kéo dài 4 giờ, giúp trang bị nền tảng Kinh Thánh trong việc phục vụ, khái niệm định dạng, và giới thiệu các mục vụ khác nhau trong Hội Thánh. Có thể tổ chức vào chiều Chúa nhật và tổ chức cùng lúc với các lớp thành viên (101) và lớp trưởng thành (201).
b. Một tiến trình thiết lập: Tiến trình thiết lập gồm 6 bước: Tham dự lớp 301 - Cam kết và ký giao ước phục vụ - hoàn thành hồ sơ định dạng - phỏng vấn và tư vấn mục vụ để xác định mục vụ - gặp gỡ lãnh đạo - công khai bổ nhiệm. Tiến trình phải tập trung vào cá nhân chứ không phải nhu cầu.
c. Nhân sự hỗ trợ tiến trình: Dân sự cần được quan tâm và hướng dẫn cá nhân khi họ cố gắng khám phá mục vụ thích hợp với họ. Họ không chỉ tham dự một lớp học, mà còn phải được tư vấn cá nhân.
V. HUẤN LUYỆN KINH NGHIỆM LÀM VIỆC
1. Tầm quan trọng: Huấn luyện kinh nghiệm làm việc còn quan trọng và hiệu quả hơn là rèn luyện tầm nhìn. Một chương trình huấn luyện tầm nhìn kéo dài sẽ khiến hầu hết mọi người đánh mất nhiệt huyết: họ sẽ có khuynh hướng trở thành học sinh chuyên nghiệp, thích học về mục vụ hơn là thực hiện nó ! Một người cần được ném xuống nước và bị ướt mới được thôi thúc học bơi. Vì thế, cách tốt nhất để bắt đầu là hãy bắt đầu phục vụ.
2. Chương trình: Chương trình huấn luyện kinh nghiệm mục vụ được tổ chức hai giờ trong một tối Chúa nhật mỗi tháng, bao gồm thì giờ thờ phượng, thì giờ ghi nhận mọi mục vụ hiện có, các bài làm chứng từ thực tế, bổ nhiệm các mục vụ, thông báo tin tức Hội Thánh, cầu nguyện theo nhóm. Sau đó là phần huấn luyện mục vụ và bài giảng về khải tượng để khích lệ, nâng đỡ hàng lãnh đạo.
. Ngoài ra, cần có các lớp huấn luyện khác nhau cho các mục vụ đặc biệt như mục vụ nhóm trưởng nhóm tế bào, mục vụ thanh niên, mục vụ thiếu nhi, mục vụ âm nhạc, mục vụ chăn bầy. . .
. Đừng bao giờ bắt đầu một mục vụ mà không có người đặc trách mục vụ. Không có người lãnh đạo tốt, mục vụ chỉ giậm chân tại chỗ, có thể gây hại nhiều hơn là đem lại ích lợi.
3. Những lưu ý: Hãy rộng lượng cho phép dân sự chấm dứt hoặc thay đổi mục vụ. Đừng cột chặt họ vào một mục vụ nhất định nào đó. Hãy để họ tự do thử nghiệm phục vụ trong nhiều mục vụ khác nhau.
. Hãy tin cậy dân sự, trao quyền cùng trách nhiệm cho họ. Hãy tạo cho họ cảm giác được làm chủ, tự do hành động mà không bị ngăn trở bởi ban điều hành hay ủy ban. . .
VI. CUNG CẤP SỰ HỖ TRỢ CẦN THIẾT
1. Hỗ trợ phương tiện: Archimedes đã nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng trái đất lên”. Các mục vụ không chuyên cũng quan trọng như những nhân viên trả lương. Họ cần các phương tiện như văn phòng, bàn ghế, máy tính, điện thoại. . . Hãy cho họ thấy rằng điều họ làm là quan trọng !
2. Hỗ trợ liên lạc: Hãy nghĩ ra nhiều cách để giữ liên lạc với các phục vụ viên không chuyên như: Thiệp chào mừng, người chăm sóc, bản báo cáo. . .
3. Hỗ trợ việc quảng bá giữa Hội Thánh: Hãy giúp cho Hội Thánh thấy các mục vụ nầy là quan trọng, bằng cách: Mỗi mục vụ có một bàn ở phòng khách hay phòng giải lao để giúp các tín hữu biết về các mục vụ - Phát bảng tên cho các thành viên mục vụ - Tổ chức các buổi triển lãm mục vụ - In tờ bướm cho mỗi mục vụ - Đề cập đến các mục vụ trong bài giảng. . .
4. Hỗ trợ tinh thần: Hãy liên tục thể hiện sự cảm kích đối với những thành viên mục vụ, cả ở nơi công cộng lẫn chốn riêng tư. Hãy tổ chức những buổi tiệc cám ơn hay phần thưởng khích lệ, tạo tinh thần thi đua phục vụ. . .
. Ý tưởng về hai tầng lớp tín hữu trong Hội Thánh (hàng giáo phẩm và hàng tín hữu) xuất phát từ truyền thống Công giáo La mã, nhưng trong cái nhìn của Đức Chúa Trời, không có sự khác biệt nào giữa những phục vụ viên tình nguyện và phục vụ viên ăn lương. Chúng ta cần tôn trọng cả hai.
VII. THƯỜNG XUYÊN LÀM MỚI KHẢI TƯỢNG
1. Truyền đạt khải tượng: Hãy giữ và truyền đạt khải tượng cho dân sự. Hãy cho họ thấy tầm quan trọng của các mục vụ của họ. Khi thành lập một mục vụ mới, hãy nhấn mạnh ý nghĩa đời đời của việc phục vụ.
2. Ích lợi: Mặc cảm và áp lực chỉ làm cho người ta nản lòng, nhưng chính khải tượng mới có thể thúc đẩy họ phục vụ. Hãy giúp họ thấy được rằng không có điều gì lớn hơn vương quốc của Đức Chúa Trời.
3. Nguyên tắc Nêhêmi: Trong Nêhêmi đoạn 6, chúng ta thấy rằng khải tượng phải được làm mới lại mỗi 26 ngày, tức là mỗi tháng một lần. Đó là lý do mỗi tháng một lần, Hội Thánh cần có buổi họp làm mới khải tượng cho các thành viên mục vụ.

Bài 20: MỤC ĐÍCH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI CHO HỘI THÁNH
Câu gốc: “Vả, vua Đa-vít lúc còn sống, làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời, đoạn qua đời; người đã được trở về cùng các tổ phụ mình” Cong Cv 13: 36
I. SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA HỘI THÁNH
1. Bài học cây tre Tàu: Mỗi hình thức tăng trưởng của một loại cây là độc nhất vô nhị. Đối với Hội Thánh cũng vậy: Không có hai Hội Thánh nào tăng trưởng giống y như nhau.
. Sự tăng trưởng của cây tre Tàu thật đáng ngạc nhiên: Trồng một chồi tre vào đất, chúng ta sẽ chẳng thấy việc gì xảy ra cả dù chúng ta vẫn tưới nước, bón phân. Nhưng đến năm thứ năm, mọi sự sẽ thay đổi thật ngoạn mục: Chỉ trong vòng 6 tuần, cây tre sẽ đạt đến chiều cao trưởng thành. Một ngày nó có thể mọc lên 1 mét !
2. Hãy tập trung hoàn thành các mục đích: Đừng lo lắng về sự tăng trưởng của Hội Thánh mà hãy tập trung hoàn thành các mục đích của Hội Thánh. Đức Chúa Trời sẽ làm cho Hội Thánh lớn lên theo cách của Ngài.
. Hãy tiếp tục trông cậy nơi Chúa dù sự lao lực của chúng ta dường như không đạt được một kết quả cụ thể nào. Đừng chán nản vì bên dưới bề mặt có nhiều điều đang xảy ra mà mắt chúng ta không thể thấy. Điều quan trọng là chúng ta phải luôn trung thành với các mục đích của Chúa.
3. Vào đúng thời điểm: Ý chỉ của Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ được thành tựu (ChCn 19: 21). Nếu chúng ta đang xây dựng một chức vụ vì cớ mục đích đời đời của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không bao giờ thất bại. Phao-lô khuyên đừng mệt nhọc về sự làm lành, vì nếy chúng ta không trễ nãi thì đến kỳ, chúng ta sẽ gặt (GaGl 6: 9).
II. HÃY LÀM MỘT NGƯỜI THEO ĐÚNG MỤC ĐÍCH
Những Hội Thánh theo đúng mục đích là do các nhà lãnh đạo có mục đích dẫn dắt. Cong Cv 13: 36 là kim chỉ nam cho những nhà lãnh đạo : “. . . lúc còn sống, làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời . . . ”.
1. Phục vụ cho mục đích của Đức Chúa Trời: Các mục đích của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh cũng chính là các mục đích của Ngài cho mỗi một Cơ Đốc nhân. Là người theo Chúa, chúng ta phải dùng cả cuộc đời mình để thờ phượng Chúa, phục vụ lẫn nhau, truyền giáo, môn đồ hóa và thông công. Hội Thánh là nơi giúp chúng ta cùng nhau hoàn thành các mục đích của Đức Chúa Trời cho đời sống mình.
. Nếu chúng ta muốn trở nên giống như Chúa Jesus, chúng ta phải yêu Hội Thánh như Ngài đã yêu, và phải dạy người khác yêu Hội Thánh nữa. Hãy nhớ rằng Đấng Christ đã yêu Hội Thánh, phó chính mình vì Hội Thánh, săn sóc Hội Thánh . . . (Eph Ep 5: 25, 29-30). Tuy nhiên, ngày nay có quá nhiều tín hữu nhờ vả Hội Thánh mà không yêu Hội Thánh như Chúa đã yêu !
. Chăn dắt Hội Thánh của những người theo Chúa Jesus là một trách nhiệm lớn lao nhất, một đặc ân cao quý nhất, và là nguồn vinh dự đẹp đẽ nhất Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta không những có trách nhiệm đưa dắt tội nhân trở về cùng Đấng Christ, bước vào tư cách thành viên trong gia đình Đức Chúa Trời, mà còn phải phát triển họ trở nên các môn đồ trưởng thành, được trang bị cho chức vụ và được sai phái ra đi làm trọn sứ mạng của cuộc đời họ trên đất.
2. Lúc còn sống: Chúng ta không thể phục vụ Đức Chúa Trời trong bất kỳ một thế hệ nào khác hơn thế hệ chúng ta đang sống. Nghĩa là chức vụ chúng ta phải được hoàn thành trong bối cảnh xã hội và văn hóa của thế hệ chúng ta. Chúng ta phải phục vụ bằng phương pháp thích hợp với thế hệ hiện nay, chứ không bằng phương pháp nào của quá khứ mà chúng ta đã lý tưởng hóa theo truyền thống.
. Chúng ta có thể học hỏi từ sự khôn ngoan và kinh nghiệm của những nhà lãnh đạo Cơ Đốc vĩ đại trong quá khứ hay trong các nơi trong thế giới hiện nay, nhưng chúng ta không thể giảng và phục vụ theo cách của họ.
. Chức vụ của Đavít vừa phù hợp, vừa đúng lúc. Ông đã phục vụ cho mục đích của Đức Chúa Trời (là mục đích đời đời và không thay đổi) ngay trong thế hệ của mình (là điều mang tính tạm thời và luôn thay đổi). Ông đã phục vụ những điều vô hạn theo cách hữu hạn của thời đại mình.
. Tuy nhiên điều quan trọng là “hợp thời nhưng không thỏa hiệp”. Chúng ta cần thay đổi phương pháp để thích ứng với thế hệ của mình, nhưng chúng ta không có quyền thay đổi chân lý đời đời của Đức Chúa Trời.
III. ĐO LƯỜNG THÀNH CÔNG
1. Truyền giáo thành công: Truyền giáo thành công là chia sẻ Phúc Âm trong quyền năng của Thánh Linh và để kết quả cho Đức Chúa Trời lo liệu.
2. Xây dựng Hội Thánh thành công: Xây dựng Hội Thánh thành công là xây dựng Hội Thánh trên các mục đích của Đức Chúa Trời trong quyền năng của Đức Thánh Linh và mong đợi các kết quả từ nơi Đức Chúa Trời.
. Hãy nhớ rằng “Đấng đã khởi đầu làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jesus Christ” (Phi Pl 1: 6). Chúa Jesus là Alpha và Omega sẽ làm trọn các mục đích của Ngài cho Hội Thánh.


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 21-2-2018 07:37 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách