† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2746|Trả lời: 0

Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 16-7-2011 07:58:47 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích
Tác giả: DrRick Warren

Lời Nói Đầu
Đức Chúa Trời đã ban cho tôi một “đứa con trai” thật đáng yêu và thành công “trong chức vụ,” Rick Warren. Tôi gặp Rick lần đầu năm 1974, là một anh chàng sinh viên đại học kỳ lạ, đã lái xe suốt 350 dặm đường để đến dự hội nghị Baptist California tại San Francisco. Qua sứ điệp tại kỳ hội đồng đó, Đức Chúa Trời đã kêu gọi Rick Warren vào chức vụ mục sư-diễn giả. Tôi thật vinh dự khi được gọi là “cha đẻ trong chức vụ” của Rick.
Năm 1980, Rick tốt nghiệp Chủng Viện Thần Học Báp-tít Tây Nam tại Fort Worth, Texas, và cùng vợ mình sang miền nam California thành lập Hội Thánh Saddleback ngay trong phòng khách căn nhà của họ. Ông đã bắt đầu chỉ với một gia đình. Bây giờ, 15 năm sau, Hội Thánh Cộng Đồng Thung Lũng Saddleback được công nhận là Hội Thánh Báp-tít phát triển nhanh nhất trong lịch sử của nước Mỹ. Trung bình có trên 10,000 người tham dự thờ phượng hằng tuần tại một khu có sân bãi đẹp, rộng bảy mươi bốn mẫu. Đây là bằng chứng đủ để khẳng định điều Rick Warren muốn nói. Năm 1995, Saddleback được Ủy Ban Truyền Giáo Gia Đình của Hội Đồng Báp-tít Miền Nam bầu là Hội Thánh Đứng Đầu trong năm.
Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích là một câu chuyện thú vị về Saddleback. Quyển sách này giải thích sự quy đạo, các nguyên tắc và ứng dụng những điều Đức Chúa Trời đã dùng một cách đầy quyền năng để gây dựng một trong những Hội Thánh hiệu quả nhất ở lục địa Bắc Mỹ.
Chức vụ của Rick Warren bắt nguồn và lập nền tảng trên Lời của Đức Chúa Trời, sự lãnh đạo với tinh thần tôi tớ được Thánh Linh xức dầu, và một tấm lòng yêu thương chân thật dành cho dân tộc của mình. Một số người hay gọi Saddleback là “siêu Hội Thánh,” nhưng Hội Thánh này đã tăng trưởng mà vẫn không làm phương hại đến sứ mệnh hay giáo lý của Hội Thánh Tân Ước. Điều Đức Chúa Trời đã làm tại Saddleback thật đáng ngạc nhiên.
Trong suốt hai đến ba thập kỷ vừa qua, nhiều Hội Thánh phần lớn đã dựa vào sự tăng trưởng sinh học và chuyển đổi, nhưng Saddleback thì không như vậy. Hội Thánh này có một lý tưởng, đó là những Hội Thánh mạnh mẽ trong thế kỷ hai mươi mốt phải hết lòng và tận lực cho sự tăng trưởng qua quy đạo. Rick Warren hiểu rõ suy nghĩ của những người ở ngoài Hội Thánh trên thế gian này. Nếu Hội Thánh phải thành công trong việc truyền giáo cho xã hội của chúng ta, vốn đang ngày càng xa rời chân lý, thì phải học cách suy nghĩ như một người chưa tin.
Đối với Rick, ông không khích lệ những Hội Thánh khác trong việc cố gắng trở thành những “bản sao” của Saddleback. Ngược lại, ông khích lệ các Hội Thánh địa phương thâm nhập vào xã hội duy vật và nhân bản của chúng ta với sứ điệp biến đổi của Đức Chúa Trời bằng cách áp dụng những phương pháp hiện tại và thích hợp mà không hề làm tổn hại lẽ thật của Phúc Âm. Đó là điều cuốn sách này muốn nói đến.
Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích sẽ giúp ích cho mỗi Hội Thánh địa phương, bất luận lớn nhỏ, để trở lại sứ mệnh của Hội Thánh Tân Ước. Tôi cầu nguyện xin Đức Chúa Trời cho hàng ngàn mục sư, chấp sự, giáo viên Trường Chúa Nhật, và các nhà lãnh đạo thuộc linh sẽ đọc quyển sách này. Tôi từng nghe một đồng sự nói rằng, “Tâm trí giống như cái dù; chúng có ích lợi nhất khi được bung ra.” Đó là cách để đọc sách này!
Nguyện xin Đức Chúa Trời ban phước cho bạn dù bạn đang ở trong chức vụ nào. Hãy trung tín với Đấng Christ và Hội Thánh của Ngài cho tới khi Chúa trở lại.
W. A. Criswell, Mục Sư Quản Nhiệm
Hội Thánh First Baptist
Dallas, Texas
Lướt Sóng Thuộc Linh
“Vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi , tức là Đấng làm cho biển động ,
sóng bổ ầm ầm . Đức Giê-hô-va vạn quân là danh Ngài .”
EsIs 51:15
Nam California vốn nổi tiếng với các bãi biển đẹp. Đây cũng là nơi phổ biến âm nhạc Beach Boys, phim ảnh và dĩ nhiên là môn lướt sóng. Dù rằng môn lướt sóng đã biến thành môn trượt ván mà đa số các trẻ em Mỹ thường chơi (ở những nơi xa biển), môn lướt sóng thật vẫn phổ biến tại nam California. Nhiều trường học đã chọn lướt sóng làm môn thể dục.
Nếu bạn đến học một lớp dạy lướt sóng, bạn sẽ được học mọi thứ cần biết về lướt sóng: làm sao để chọn đúng loại dụng cụ; làm sao để sử dụng nó cách hoàn hảo; làm sao để xác định làn sóng nào là “có thể lướt được”; làm sao để bắt một làn sóng và lướt trên nó thật lâu; và điều quan trọng hơn hết là làm thế nào để lướt khỏi một làn sóng mà không bị ngã. Nhưng bạn sẽ không bao giờ tìm được một chương trình dạy “Làm Thế Nào Để Tạo Nên Một Làn Sóng.”
Lướt sóng là nghệ thuật cưỡi trên những làn sóng Đức Chúa Trời tạo nên. Đức Chúa Trời tạo nên các làn sóng; những người lướt sóng chỉ việc cưỡi trên chúng. Không có một tay lướt sóng nào lại cố tạo ra một làn sóng. Nếu hôm đó không có sóng, bạn không thể lướt sóng được! Mặt khác, khi những người lướt sóng nhìn thấy một làn sóng tốt, họ tận dụng nó ngay, ngay cả khi tựa như lướt sóng giữa một cơn bão.
Rất nhiều sách vở và hội nghị về sự tăng trưởng Hội Thánh rơi vào phạm trù “Làm Thế Nào Để Tạo Nên Một Làn sóng.” Họ cố gắng tạo ra làn sóng của Thánh Linh Đức Chúa Trời, dùng các mánh lới quảng cáo, các chương trình, hay kỹ thuật tiếp thị để tạo nên sự tăng trưởng. Nhưng con người không thể tạo nên sự tăng trưởng ! Chỉ có Đức Chúa Trời mới làm cho Hội Thánh tăng trưởng. Chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể thở hơi sống mới vào thung lũng đầy xương khô. Chỉ Đức Chúa Trời có thể tạo nên những làn sóng-những làn sóng phấn hưng, những làn sóng tăng trưởng, và những làn sóng tiếp nhận thuộc linh.
Như Phao-lô đã nói về Hội Thánh Cô-rinh-tô, “Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên ” (ICo1Cr 3:6, có nhấn mạnh). Hãy lưu ý tới sự cộng tác: Phao-lô và A-bô-lô thực hiện phần của họ, nhưng Đức Chúa Trời lại khiến cho tăng trưởng. Quyền tể trị của Đức Chúa Trời là nhân tố thường bị xem nhẹ trong hầu hết các văn phẩm về sự phát triển Hội Thánh hiện nay.
Công việc của chúng ta, trong cương vị những nhà lãnh đạo Hội Thánh, cũng giống như những người lướt sóng đầy kinh nghiệm, là phải nhận biết được làn sóng Thánh Linh Đức Chúa Trời và cưỡi lên đó. Trách nhiệm của chúng ta không phải là tạo nên những làn sóng mà là nhìn thấy cách Đức Chúa Trời vận hành trên thế gian này rồi đồng công với Ngài.
Chỉ ngồi ở bãi biển nhìn xem những người lướt sóng biểu diễn thì thấy rằng việc bắt được những làn sóng hẳn rất dễ dàng. Thật ra, việc đó hết sức khó khăn và đòi hỏi cả kỹ năng lẫn thăng bằng. Bắt được một làn sóng tăng trưởng thuộc linh cũng không phải dễ dàng đâu. Nó đòi hỏi không chỉ sự khao khát hay thậm chí sự tận hiến; mà còn đòi hỏi cái nhìn nhạy bén, nhẫn nại, đức tin, năng khiếu, và quan trọng hơn hết là sự thăng bằng . Lãnh đạo một Hội Thánh đang phát triển, giống như môn lướt sóng, nhìn có vẻ dễ dàng đối với người ngoài cuộc, nhưng thật ra không phải như vậy. Nó đòi hỏi phải nắm vững một số năng khiếu.
Ngày nay, Đức Chúa Trời đang tạo nên hết làn sóng này đến làn sóng khác của những người sẵn sàng tiếp nhận Phúc Âm. Vì tình trạng có quá nhiều nan đề trên thế giới, nhiều người đã mở lòng ra trước Tin Lành của Đấng Christ, nhiều hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử. Thật không may là vì các Hội Thánh của chúng ta chưa được học đủ về các kỹ năng cần thiết, nên chúng ta đang bỏ lỡ những làn sóng thuộc linh có thể đem tới phấn hưng, vững mạnh và sự tăng trưởng bùng nổ của Hội Thánh.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi không hề kiếm cách để tạo nên một làn sóng. Đó là công việc của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng tôi đã thử nhận diện những làn sóng Đức Chúa Trời đang gởi đến cho chúng tôi, và chúng tôi học biết cách tận dụng chúng. Chúng tôi học biết cách sử dụng những dụng cụ phù hợp để lướt trên những làn sóng đó, và chúng tôi cũng học biết tầm quan trọng của sự cân bằng. Chúng tôi cũng học cách rời khỏi những làn sóng đang yếu dần bất cứ khi nào chúng tôi cảm nhận rằng Đức Chúa Trời muốn làm một điều gì đó mới mẻ. Điều đáng ngạc nhiên chính là: Chúng ta càng thành thạo trong việc lướt trên những làn sóng tăng trưởng bao nhiêu , thì Đức Chúa Trời càng gởi sóng đến nhiều bấy nhiêu !
Trong suy nghĩ của tôi, chúng ta đang sống trong thời điểm lịch sử kỳ thú nhất cho Hội Thánh. Những cơ hội chưa từng có và những kỹ thuật đầy hiệu năng đang trong tầm tay của các Hội Thánh. Điều quan trọng hơn, chúng ta đang ở trong sự vận hành chưa từng có của Thánh Linh Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi trên thế giới. Càng có nhiều người đến với Đấng Christ, nhiều hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử.
Tôi tin rằng Đức Chúa Trời đang gởi những làn sóng tăng trưởng Hội Thánh đến bất cứ nơi nào con dân của Ngài đã sẵn sàng để lướt trên chúng. Những Hội Thánh lớn nhất trong lịch sử Cơ-đốc đang hiện hữu ngay lúc này đây. Đa số không phải tại Mỹ. Dù câu chuyện về các Hội Thánh này nghe thật hấp dẫn, nhưng tôi tin rằng những Hội Thánh vĩ đại nhất vẫn chưa được xây dựng. Có thể chính bạn là người được Đức Chúa Trời chọn sử dụng để làm điều đó.
Thánh Linh Đức Chúa Trời đang tạo nên những làn sóng đầy quyền năng ở khắp nơi trên thế giới. Mỗi ngày tôi đều bắt đầu cầu nguyện như thế này: “Lạy Cha, con biết rằng hôm nay Ngài sẽ làm một điều phi thường nào đó trên thế giới của Ngài. Xin ban cho con một đặc ân được dự phần vào điều Ngài đang làm.” Nói cách khác, những nhà lãnh đạo Hội Thánh đừng nên cầu nguyện, “Chúa ôi, xin ban phước cho những điều con đang làm” nhưng bắt đầu cầu nguyện, “Chúa ôi, xin giúp con làm điều Ngài đang ban phước.”
Trong quyển sách này, tôi sẽ nêu ra một số nguyên tắc và phương pháp Đức Chúa Trời đang dùng để đem cả thế hệ này trở lại với Đấng Christ. Tôi không hề có ý dạy bạn làm cách nào để tạo nên một làn sóng của Thánh Linh. Điều đó không thể thực hiện được. Nhưng tôi có thể giúp bạn làm thế nào để nhận biết điều Đức Chúa Trời đang làm, để dự phần vào công tác đó, và trở nên thành thạo hơn trong việc lướt trên một làn sóng trong phước hạnh của Đức Chúa Trời.
Vấn đề của nhiều Hội Thánh ngày nay là ở chỗ họ bắt đầu bằng một câu hỏi sai. Họ hỏi, “Điều gì khiến Hội Thánh chúng ta tăng trưởng?” Đây là cách nhìn sai vấn đề. Điều này cũng giống như nói rằng, “Làm sao chúng ta có thể tạo nên một làn sóng?” Thay vào đó, câu chúng ta cần hỏi là, “Điều gì ngăn trở Hội Thánh chúng ta tăng trưởng?” Những rào cản nào đang ngăn chận các làn sóng Đức Chúa Trời muốn gởi đến cho chúng ta? Những chướng ngại vật và trở lực nào ngăn trở sự tăng trưởng diễn ra?
Mọi vật sống đều tăng trưởng-bạn không cần phải làm cho chúng tăng trưởng. Đó là điều hết sức tự nhiên đối với các tổ chức sống nếu chúng khỏe mạnh. Chẳng hạn, tôi không cần phải ra lệnh cho ba đứa con của tôi tăng trưởng. Tự nhiên rồi chúng cũng lớn lên. Khi tôi loại bỏ hết mọi cản trở, chẳng hạn như thiếu dinh dưỡng hay một môi trường không an toàn, thì chúng sẽ tự động lớn lên. Nếu những đứa con của tôi không lớn lên, thì một chuyện gì đó hết sức khủng khiếp đã xảy ra. Sự thiếu tăng trưởng cho thấy tình trạng không khỏe mạnh, có thể là một chứng bệnh.
Khi cơ thể con người bị mất cân bằng, chúng ta gọi đó là bệnh, nó biểu hiện sự khó chịu của cơ thể. Cũng vậy, khi thân thể của Đấng Christ trở nên mất cân đối, bệnh tật xuất hiện. Nhiều tật bệnh đã được minh họa và xác nhận qua bảy Hội Thánh trong Khải Huyền. Sức khỏe sẽ hồi phục khi mọi sự được đưa trở lại tình trạng cân bằng.
Nhiệm vụ của hàng ngũ lãnh đạo Hội Thánh là phát hiện và điều trị những căn bệnh cũng như những rào cản ngăn trở sự tăng trưởng để cho sự tăng trưởng bình thường và tự nhiên được tiếp tục. Bảy mươi năm trước, Roland Allen, trong một bài viết về truyền giáo, đã gọi sự tăng trưởng này là “sự bành trướng tự phát của Hội Thánh.” Đó cũng chính là sự tăng trưởng được ghi lại trong sách Công Vụ. Hội Thánh của bạn có tăng trưởng cách tự phát không? Nếu một Hội Thánh không tăng trưởng như thế, chúng ta cần phải hỏi, “Tại sao lại không?”
Tôi tin rằng vấn đề then chốt của các Hội Thánh trong thế kỷ hai mươi mốt sẽ là sự vững mạnh của Hội Thánh, chứ không phải sự tăng trưởng Hội Thánh. Đó là điều mà cả cuốn sách này sẽ đề cập đến. Chỉ tập trung vào sự tăng trưởng thôi thì sẽ trật mục tiêu. Khi được vững mạnh, Hội Thánh sẽ lớn lên theo cách Đức Chúa Trời đã định. Những Hội Thánh vững mạnh chẳng cần tới các mánh lới quảng cáo để tăng trưởng sẽ tăng trưởng cách tự nhiên.
Phao-lô giải thích như thế này: “Nhờ đầu đó mà cả thân thể xếp đặt kết hiệp bởi các lắt léo, và được sự sanh trưởng từ Đức Chúa Trời đến” (CoCl 2:19). Lưu ý rằng Đức Chúa Trời muốn Hội Thánh của Ngài tăng trưởng. Nếu Hội Thánh của bạn thực sự vững mạnh, bạn không cần phải lo về chuyện tăng trưởng Hội Thánh nữa.
Hai Mươi Năm Nghiên Cứu
Trong hai mươi năm qua, tôi là một sinh viên nghiên cứu về sự tăng trưởng Hội Thánh, bất kể lớn cỡ nào. Trong những cuộc hành trình của tôi dưới cương vị một giáo viên Kinh Thánh, nhà truyền giáo, và sau này là người huấn luyện các mục sư, tôi đã ghé thăm hàng trăm Hội Thánh ở khắp nơi trên thế giới. Ở mỗi nơi, tôi đều ghi nhận lý do tại sao một số Hội Thánh thì vững mạnh và đang tăng trưởng, còn những Hội Thánh khác lại yếu đuối, lình bình thậm chí đang chết dần. Tôi đã nói chuyện với hàng ngàn mục sư, giáo sư và các nhà lãnh đạo hệ phái về những điều họ nhìn thấy trong các Hội Thánh. Nhiều năm trước, tôi đã viết cho một trăm Hội Thánh lớn nhất tại Mỹ và dành một năm nghiên cứu các chức vụ của họ. Tôi đã đọc hầu như mọi cuốn sách về đề tài tăng trưởng Hội Thánh.
Tôi còn dành nhiều thời gian hơn nữa để đọc qua Thánh Kinh Tân Ước. Tôi cứ đọc đi đọc lại, nghiên cứu Lời Chúa với “con mắt tăng trưởng Hội Thánh,” tìm kiếm những nguyên tắc, những khuôn mẫu, và các phương pháp. Tân Ước là quyển sách tuyệt vời nhất viết về đề tài tăng trưởng Hội Thánh. Đối với những điều thật sự quan trọng, bạn không thể vượt qua hơn Tân Ước được. Đó là quyển cẩm nang cho Hội Thánh.
Tôi cũng rất thích đọc lịch sử Hội Thánh. Tôi thật ngạc nhiên khi các khái niệm hiện thời như “đổi mới” hay “hiện đại” không phải là những ý tưởng mới. Mọi thứ dường như mới mẻ nếu như bạn không biết đến lịch sử. Nhiều phương pháp được hô hào cổ vũ ngày nay dưới biểu ngữ “thay đổi” đã từng được dùng trong quá khứ với hình thức đơn giản hơn. Một số thì có hiệu quả, một số thì không. Chúng ta nên biết rõ một điều, nếu chúng ta thờ ơ trước các bài học của quá khứ, chúng ta thường kết thúc trong những sai lầm người khác đã vấp phải trước chúng ta.
Tuy nhiên, nguồn học hỏi lớn nhất của tôi là nhìn xem điều Đức Chúa Trời đã làm cho Hội Thánh mà tôi quản nhiệm. Nó dạy tôi điều mà không một cuốn sách nào, một chủng viện hay giáo sư nào có thể dạy tôi. Tôi thành lập Hội Thánh Cộng Đồng Thung Lũng Saddleback tại Quận Cam, California, năm 1980, và dành 15 năm tiếp theo để thử nghiệm, áp dụng, và tái xác định những nguyên tắc, phương pháp và cách thực hành trong quyển sách này. Giống như một trung tâm nghiên cứu và phát triển, chúng tôi thử nghiệm mọi hình thức tiếp cận, giảng dạy, huấn luyện và sai phái con dân Chúa. Saddleback được xem là thí điểm cho mọi điều được viết ra trong sách này. Những kết quả thật thỏa lòng và tôi tin rằng đã đem lại sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Tôi luôn hạ mình trước quyền năng của Đức Chúa Trời trong việc Ngài sử dụng những người bình thường theo những cách phi thường.
Tôi đã chờ đợi 20 năm để viết quyển sách này vì tôi không muốn viết nó khi chưa chín muồi, nhưng muốn để các khái niệm dần dần được thấm nhuần, phát triển và chín muồi. Không có điều gì trong sách này là thuần lý thuyết. Điều sau cùng chúng ta cần là một lý thuyết khác về sự tăng trưởng Hội Thánh. Điều có cần là những câu trả lời cho các vấn đề thực đã chứng tỏ hiệu quả trong những hoàn cảnh thực của Hội Thánh.
Những nguyên tắc trong sách này đã được kiểm chứng nhiều lần, không chỉ tại Hội Thánh Saddleback, mà còn ở nhiều Hội Thánh được thúc đẩy bởi mục đích thuộc mọi tầm cỡ, hình thức, địa điểm, và hệ phái khác. Đa số các minh họa được lấy từ Saddleback là vì tôi quen thuộc với Hội Thánh mình nhiều nhất. Dường như mỗi ngày tôi đều nhận một bức thư từ một Hội Thánh khác nói rằng họ theo mô hình Hội Thánh theo đúng mục đích và đã có thể lướt trên những làn sóng tăng trưởng mà Đức Chúa Trời đã đem đến cho họ.
Gởi Các Mục Sư Thân Yêu
Quyển sách này được viết cho bất kỳ ai muốn giúp Hội Thánh mình tăng trưởng, nhưng vì tôi là một mục sư, nên phong cách viết của tôi dựa trên cái nhìn của một mục sư gởi cho các mục sư khác. Tôi xuất thân từ một gia đình mục sư nhiều thế hệ. Ông cố tôi tin Chúa trong chức vụ lịch sử của Charles Spurgeon ở London, và đã đến Mỹ làm một mục sư lưu hành.
Cả thân phụ lẫn nhạc phụ tôi đều là những mục sư. Cả hai vừa kỷ niệm năm mươi năm chức vụ. Em gái tôi lập gia đình với một mục sư, và có một khoảng thời gian tôi lớn lên trong một chủng viện, là nơi ba tôi hầu việc Chúa. Thế nên tôi có một tình cảm rất sâu sắc với các vị mục sư. Tôi thích được ở gần họ. Tôi đau với nỗi đau của họ. Tôi tin rằng họ là những nhà lãnh đạo bị xem thường nhất trong xã hội chúng ta.
Tôi rất ngưỡng mộ hàng ngàn mục sư lưỡng nghiệp , vừa làm mục sư, vừa sống tự túc bằng một nghề tay trái nhằm chăn dắt bầy chiên quá nhỏ bé chưa thể cung lương đầy đủ. Theo tôi, họ là những anh hùng của đức tin. Họ sẽ nhận được sự vinh hiển lớn trên thiên đàng. Do tôi may mắn có được những kinh nghiệm và sự huấn luyện mà họ không có, tôi thấy mình có trách nhiệm phải chia sẻ lại điều mình đã học cho họ trong cuốn sách này.
Tôi cũng tin rằng các mục sư là những nhân tố thay đổi chiến lược nhất để đương đầu với những vấn đề mà xã hội đang đối diện. Ngay cả nhiều chính trị gia cũng phải kết luận rằng sự phấn hưng thuộc linh là giải pháp duy nhất của chúng ta. Gần đây, tôi đọc được một lời tuyên bố của một cựu thành viên nội các chính phủ, ông William Bennett, trên tạp chí American Enterprise , như sau: “Những vấn đề nghiêm trọng nhất ảnh hưởng đến xã hội của chúng ta ngày nay rõ ràng mang tính cách đạo đức, hành vi và thuộc linh; và vì vậy đối đầu với những biện pháp của chính phủ.” Thật buồn cười trong khi những chính trị gia nói rằng chúng ta cần một giải pháp thuộc linh thì nhiều Cơ-đốc nhân lại đang hành động như thể chính trị là giải pháp! Chắc chắn sự thoái hóa đạo đức trong xã hội của chúng ta đã tạo nên một chiến trường, nhưng đồng thời cũng mở ra cho chúng ta một cánh đồng truyền giáo tuyệt diệu! Chúng ta phải nhớ rằng Đấng Christ cũng đã chết cho những người ở phe bên kia trong cuộc chiến văn hóa.
Làm mục sư ở một Hội Thánh địa phương vừa là đặc ân lớn, vừa là một trách nhiệm nặng nề. Nếu tôi không tin rằng các mục sư có cơ hội tốt nhất để thay đổi thế giới, tôi sẽ làm một việc khác vì tôi không muốn lãng phí cuộc đời mình. Ngày nay, chức vụ chăn bầy phức tạp gấp trăm lần so với chỉ một thế hệ trước đây thôi. Ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất, chức vụ cũng hết sức khó khăn. Nhưng cũng có rất nhiều nguồn giúp đỡ bạn nếu bạn sắn sàng đón nhận. Chìa khóa chính là: Đừng bao giờ ngừng học hỏi!
Nếu bạn là một mục sư, tôi mong quyển sách này sẽ khích lệ bạn. Tôi hy vọng rằng nó vừa mang tính hướng dẫn, vừa gợi ý. Những quyển sách giúp tôi nhiều nhất là những quyển sách không chỉ nói đến sự việc mà còn bày tỏ lòng nhiệt thành. Tôi mong rằng bạn không chỉ nắm bắt được những nguyên tắc tôi chia sẻ nhưng cũng thấy được nỗi đam mê của tôi về các mục đích của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh Ngài.
Tôi yêu thích Hội Thánh của Đức Chúa Giê-xu Christ với trọn cả tấm lòng mình. Cho dầu đầy những thiếu sót (vì cớ tội lỗi của chúng ta ), Hội Thánh vẫn là khái niệm cao quý nhất từng được hình thành. Hội Thánh vẫn là công cụ ơn phước Đức Chúa Trời lựa chọn suốt hai ngàn năm qua. Hội Thánh đã đứng vững qua bao nhiêu ngược đãi, bắt bớ và thờ ơ ở khắp nơi. Những tổ chức của Hội Thánh và các nhóm Cơ-đốc khác nhau đến rồi đi, nhưng Hội Thánh sẽ vẫn đứng vững đời đời. Thật đáng cho chúng ta tận hiến cả cuộc đời và sức lực của mình.
“Tôi Đã Nghe Chuyện Này Rồi!”
Khi đọc qua quyển sách này, tôi chắc rằng bạn sẽ bắt gặp các khái niệm quen thuộc và nghĩ rằng, Tôi đã nghe chuyện này rồi . Tôi hy vọng là vậy! Cuốn sách này có rất nhiều nguyên tắc được chia sẻ trong Hội Thảo Chuyên Đề Về Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích mà tôi đã dạy cho hơn 22,000 mục sư trong suốt mười lăm năm qua. Thêm vào đó, các nhà lãnh đạo Hội Thánh thuộc bốn mươi hai nước và sáu mươi hệ phái khác nhau đã đăng ký mua băng ghi âm kỳ hội thảo, do đó, có một số khái niệm bạn đã biết rất rõ rồi.
Kệ sách của tôi có hơn một tá sách do những người từng được tôi huấn luyện viết về những ý tưởng của tôi trước khi tôi làm việc này. Điều đó không thành vấn đề đối với tôi. Chúng ta thảy đều ở cùng một đội ngũ mà. Tôi vẫn thỏa lòng miễn là các mục sư được giúp đỡ. Chân thành mà nói, một trong những lý do tôi phải chờ đợi hai mươi năm mới viết sách này là vì tôi đã quá bận rộn để viết nó!
Có hơn một trăm luận án tiến sĩ đã viết về sự tăng trưởng của Hội Thánh Saddleback. Chúng tôi từng bị mổ xẻ, nghiên cứu cẩn thận, phân tích và tóm tắt bởi những bộ óc giàu năng lực hơn tôi nhiều. Bạn có thể hỏi, “Vẫn viết chưa đủ sao? Sao lại phải viết một cuốn sách khác ?” Điều tôi ước ao mang đến trong cuốn sách này là cái nhìn của người trong cuộc. Những gì người ngoài cuộc chú ý về một Hội Thánh đang phát triển hiếm khi giải thích được những nguyên nhân thật sự của sự tăng trưởng.
Bạn từng nghe rằng, “Học từ kinh nghiệm là khôn ngoan.” Nhưng học từ kinh nghiệm của những người khác lại còn khôn ngoan hơn nữa. Nó cũng ít đau đớn hơn! Cuộc sống quá ngắn ngủi để học biết mọi thứ qua kinh nghiệm cá nhân. Bạn có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian của mình bằng cách học từ người khác những bài học họ đã khó nhọc học được. Đó là mục đích của cuốn sách này. Nếu tôi có thể giúp bạn tránh được những đau đớn khi chúng tôi học biết những nguyên tắc này bằng phép thử và sai, tôi sẽ rất thỏa lòng.
Khi một người lướt sóng bị ngã vì đã lướt sóng không đúng cách, người đó sẽ không từ bỏ môn lướt sóng. Anh ta lại lội ra biển để chờ đợi làn sóng lớn khác mà Đức Chúa Trời đem đến. Điều tôi quan sát được ở những người lướt sóng thành công, đó là họ rất kiên tâm .
Có thể bạn đã vài lần “trượt ngã” trong chức vụ. Tôi cũng vậy. Có thể bạn đã bỏ lỡ một vài ngọn sóng. Điều đó không có nghĩa là bạn nên từ bỏ mọi sự. Đại dương vẫn chưa cạn. Trái lại, ngay chính thời điểm này, Đức Chúa Trời đang tạo nên trên thế gian những lượn sóng tốt nhất mà tôi từng thấy. Tôi hy vọng chia sẻ được một vài lời khuyên về cách lướt trên những gì Đức Chúa Trời đang làm trên thế giới của Ngài. Chúng ta hãy đi nắm bắt một làn sóng!

NHÌN NGẮM BỨC TRANH LỚN
Chương 1: Câu Chuyện Saddleback
“Dòng dõi nầy sẽ ca tụng công việc Chúa cho dòng dõi kia ,
Và rao truyền việc quyền năng của Chúa .”
Thi Tv 145:4
“Còn ai binh duyên cớ công bình tôi ,
Nguyện họ đều reo mừng ;
Nguyện họ thường nói không ngớt : Đáng tôn trọng Đức Giê-hô-va thay !
Là Đấng vui cho tôi tớ Ngài được may mắn .”
35:27
Tháng 11 năm 1973, tôi và một người bạn thân bỏ lớp học và lái xe 350 dặm để nghe tiến sĩ W. A. Criswell thuyết trình tại khách sạn Jack Tar ở San Francisco. Criswell là một mục sư nổi tiếng của Hội Thánh Báp-tít lớn nhất trên thế giới, Hội Thánh First Baptist ở Dallas, Texas. Đối với tôi, một thanh niên Báp-tít Miền Nam trẻ trung, có cơ hội lắng nghe Criswell cũng giống như một giáo dân công giáo được nghe giáo hoàng nói chuyện vậy. Tôi đã quyết định phải nghe bằng được huyền thoại sống này.
Tôi đã cảm nhận được sự kêu gọi vào chức vụ của Đức Chúa Trời ba năm trước đó, và đã khởi sự như một nhà truyền giảng cho thanh niên khi còn ở trường trung học. Dù lúc đó tôi chỉ mới mười chín tuổi, nhưng đã được giảng trong những buổi nhóm phấn hưng với hơn năm mươi Hội Thánh. Tôi không còn nghi ngờ gì việc Đức Chúa Trời đã kêu gọi tôi vào chức vụ, nhưng tôi không chắc Đức Chúa Trời có muốn tôi làm mục sư không.
Tôi tin rằng W. A. Criswell là một mục sư người Mỹ vĩ đại nhất trong thế kỷ hai mươi. Ông phục vụ tại Hội Thánh First Baptist trong năm mươi năm, đã viết năm mươi ba cuốn sách, và đã phát triển mô hình Hội Thánh được áp dụng nhiều nhất trong thế kỷ này. Ông không chỉ là một diễn giả và nhà lãnh đạo mạnh mẽ, mà còn là một thiên tài về tổ chức. Đa số người nghĩ về truyền thống thì nghĩ tới Criswell, nhưng thực ra, chức vụ của ông hết sức sáng tạo. Nó chỉ trở nên truyền thống khi mà mọi người đã sao chép ông!
Ngày nay chúng ta thường được nghe về những mục sư nổi tiếng thắp sáng ngọn đuốc trong vài năm và rồi thất bại nhanh chóng. Tạo một khởi đầu ấn tượng rất dễ dàng. Nhưng chức vụ của Criswell kéo dài nửa thế kỷ tại một Hội Thánh! Đó không phải là ngọn lửa bùng cháy trên chảo. Nó đứng vững trước thử thách của thời gian. Đối với tôi, đó là sự thành công thật: yêu thương , dẫn dắt luôn luôn , và kết thúc tốt đẹp . Chức vụ là một cuộc đua ma-ra-tông. Vấn đề không phải bạn khởi sự ra sao, mà là kết thúc thế nào. Vậy bạn kết thúc thế nào? Kinh Thánh chép rằng, “Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ” (ICo1Cr 13:8). Nếu bạn chăn bầy bằng tình yêu thương, bạn không bao giờ bị coi là thất bại.
Khi tôi lắng nghe con người vĩ đại này giảng, Đức Chúa Trời phán với tôi và nói rõ rằng Ngài kêu gọi tôi làm một mục sư. Ngay khi đó, tôi hứa với Đức Chúa Trời rằng tôi sẽ phó thác cuộc đời mình để chăn dắt chỉ một Hội Thánh mà thôi, nếu đó là ý chỉ của Ngài cho tôi.
Sau buổi giảng, bạn tôi và tôi đứng vào hàng để bắt tay tiến sĩ Criswell. Khi đến lượt tôi, một điều gì đó kỳ lạ đã xảy ra. Criswell nhìn tôi với đôi mắt nhơn từ và yêu thương, ông nói rất mạnh mẽ, “Chàng trai trẻ, ta thấy phải đặt tay cầu nguyện cho con!” Không chờ đợi gì cả, ông đặt hai tay lên đầu tôi và cầu nguyện những lời mà tôi không thể nào quên: “Lạy Cha, con cầu xin Ngài ban cho người diễn giả trẻ tuổi này gấp đôi sự đầy dẫy của Thánh Linh Ngài. Nguyện Hội Thánh cậu chủ tọa sẽ tăng trưởng gấp đôi Hội Thánh Dallas. Chúa ôi, xin ban phước cho cậu thật nhiều.”
Khi tôi bước đi với hai hàng nước mắt, tôi nói với Danny, bạn tôi, “Ông ấy cầu nguyện điều mà tôi đã nghĩ phải không?” “Đúng vậy,” Danny nói, và cũng đã khóc. Tôi thậm chí không thể tưởng tượng được rằng Đức Chúa Trời có thể dùng tôi như điều tiến sĩ Criswell đã cầu nguyện, nhưng kinh nghiệm thiêng liêng đó đã xác định trong lòng tôi rằng Đức Chúa Trời đã kêu gọi tôi làm mục sư của một Hội Thánh địa phương.
Câu Chuyện Đằng Sau Các Phương Pháp
Mỗi nền thần học đều có một bối cảnh. Bạn không thể hiểu thần học của Luther nếu không hiểu đời sống của ông và cách Đức Chúa Trời đã vận hành trên cả thế giới này vào thời điểm đó. Cũng vậy, bạn không thể đánh giá trọn vẹn thần học của Calvin nếu không hiểu được những hoàn cảnh tôi luyện các niềm tin của ông.
Cũng tương tự như vậy, mỗi hệ phương pháp đều có một câu chuyện đằng sau nó. Nhiều người nhìn vào cái gọi là “siêu Hội Thánh” và cho rằng những Hội Thánh đó lúc nào cũng lớn. Họ quên rằng mỗi Hội Thánh lớn đều khởi sự là một Hội Thánh nhỏ. Và không một Hội Thánh nào lớn lên mà không trải qua những năm tháng tranh đấu với vô số nan đề, bước lùi, và thất bại. Chẳng hạn Saddleback đã nhóm lại thờ phượng Chúa trong mười lăm năm trước khi có thể xây ngôi nhà thờ đầu tiên. Chỉ một nhân tố này thôi đã giúp định hình chiến lược tiếp cận, duy trì và tăng trưởng các tín nhân trong Đấng Christ. Nó giúp chúng tôi tập trung vào con người và tạo nên một nền văn hóa nhà thờ linh động.
Để hiểu những phương pháp trong sách này, bạn cần phải hiểu bối cảnh chúng được phát triển. Nếu không, bạn có thể bị cám dỗ sao chép những điều chúng tôi đã làm mà không kể đến bối cảnh. Xin đừng làm như vậy ! Thay vào đó, hãy nhìn xuống bên dưới các phương pháp để thấy những nguyên tắc chuyển đổi làm nền tảng của chúng. Tôi sẽ xác định các nguyên tắc, nhưng trước hết bạn phải biết một ít về lịch sử Saddleback.
Chức vụ tại Saddleback được chuẩn bị trước rất ít. Tôi đã không có bất cứ một chiến lược lâu dài nào trước khi tôi thành lập Hội Thánh. Tôi chỉ đơn giản biết rằng Đức Chúa Trời kêu gọi mình mở một Hội Thánh mới trên năm mục đích trong Thánh Kinh Tân Ước, và tôi có hàng tá ý tưởng muốn đem ra thử. Mỗi một cải tiến chúng tôi đưa ra chỉ là một phản ứng trước các hoàn cảnh. Tôi đã không hoạch định chúng trước. Đa số người nghĩ rằng “khải tượng” là khả năng nhìn thấy được tương lai. Nhưng trong thế giới thay đổi quá nhanh chóng ngày nay, khải tượng cũng là khả năng nắm bắt chính xác những thay đổi hiện tại và tận dụng chúng. Khải tượng là sự sẵn sàng cho mọi cơ hội.
Vì Saddleback là một Hội Thánh trẻ và tôi là mục sư thành lập, chúng tôi có thể thử nghiệm nhiều ý tưởng hơn so với những Hội Thánh bình thường-phần lớn là vì chúng tôi không phải đối diện với nhiều thập kỷ truyền thống. (Tuy nhiên, chúng tôi gặp nhiều nan đề khác mà các Hội Thánh lớn tuổi hơn không gặp!) Trong những năm đầu tiên, chúng tôi không có gì để mất, vì thế chúng tôi thử hết mọi loại ý tưởng. Một số những ý tưởng của chúng tôi thất bại thảm hại. Và tôi ước gì có thể công bố rằng mọi thành công của chúng tôi xảy đến đúng theo cách chúng tôi lập kế hoạch cho chúng-nhưng điều đó không đúng sự thật. Tôi không khôn ngoan đến như vậy. Hầu hết những thành công của chúng tôi là kết quả của thử và sai, còn một số khám phá của chúng tôi thì hoàn toàn ngẫu nhiên.
Một trong những bộ phim tôi thích nhất là Raiders of the Lost Ark . Bên rìa một vách núi thẳng đứng, một người hỏi Indiana Jones, “Chúng ta làm gì bây giờ?” Jones đáp, “Làm sao tôi biết được? Ta vừa đi vừa tính vậy!” Tôi cũng cảm thấy như vậy rất nhiều lần trong cương vị chủ tọa tại Saddleback. Chúng tôi quyết định một điều gì đó, và nếu nó có hiệu quả, chúng tôi làm như thể đã lập kế hoạch cho chúng rồi!
Có một lần Mark Twain đã nói cộc lốc, “Tôi biết một người nắm đuôi con mèo còn biết nhiều hơn những người không làm việc đó đến bốn mươi phần trăm về loài mèo.” Chúng tôi đã bắt mèo bằng đuôi kể từ khi thành lập Hội Thánh Saddleback-và chúng tôi cũng bị đứt tay, nhiều sẹo đã chứng tỏ điều đó.
Sự thật là chúng tôi đã thử nhiều điều không có tác dụng hơn là có tác dụng tại Saddleback. Chúng tôi không bao giờ sợ thất bại; chúng tôi gọi mọi thứ là “thử nghiệm.” Tôi có thể viết đầy cả một cuốn sách khác về những thất bại của chúng tôi và gọi nó là 1000 Phương Cách Để Hội Thánh KHÔNG Tăng Trưởng !
Cuộc Tìm Kiếm Những Nguyên Tắc
Năm 1974, tôi làm một sinh viên truyền giáo tại Nhật Bản. Tôi sống chung với một đôi giáo sĩ Báp-tít Miền Nam tại nhà của họ ở Nagasaki. Một ngày nọ, khi đang tìm sách trong thư viện của giáo sĩ, tôi nhặt được một bản photo cũ của tờ HIS , một tạp chí sinh viên Cơ-đốc do Intervarsity Christian Fellowship ấn hành.
Khi tôi lật xem từng trang, một bức hình đầy ấn tượng của một cụ già với chòm râu dài và cặp mắt sáng đã lôi kéo sự chú ý của tôi. Tiêu đề bài báo viết “Tại Sao Người Này Lại Nguy Hiểm?” Khi tôi ngồi đó và đọc bài báo về Donald McGavran, tôi đã không biết rằng nó ảnh hưởng và định hướng chức vụ của tôi một cách hết sức sâu sắc, cũng như lần gặp gỡ Criswell vậy.
Bài báo mô tả cách McGavran, một giáo sĩ ra đời ở Ấn Độ, đã dùng chức vụ của mình để nghiên cứu những điều khiến các Hội Thánh tăng trưởng. Những năm nghiên cứu của ông cuối cùng đã cho ra đời quyển Bridges of God năm 1955 và một tá sách khác về đề tài tăng trưởng Hội Thánh vốn được kể là kinh điển hôm nay.
Cũng như cách Đức Chúa Trời đã dùng W. A. Criswell để hướng tôi đến sứ mệnh cuộc đời mình, từ một chức vụ tổng quát trở thành một mục sư, Đức Chúa Trời đã dùng các tác phẩm của Donald McGavran để hướng tôi từ chỗ chăn bầy tại một Hội Thánh đã được thành lập đến chỗ thành lập một Hội Thánh mới mà tôi sẽ chăn bầy. Cũng như Phao-lô đã công bố trong RoRm 15:20, “Nhưng tôi lấy làm vinh mà rao Tin lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra, để cho khỏi lập lên trên nền người khác.”
McGavran đã khôn ngoan thách thức những người trong thời của ông về điều khiến cho các Hội Thánh tăng trưởng. Với một nền tảng Kinh Thánh và lập luận đơn giản nhưng tha thiết, McGavran chỉ ra rằng Đức Chúa Trời muốn Hội Thánh của Ngài tăng trưởng; Ngài muốn những con chiên bị lạc của Ngài được tìm thấy!
Những vấn đề McGavran đưa ra dường như đặc biệt thích hợp với tôi khi tôi nhìn thấy sự tăng trưởng chậm chạp và đau đớn của các Hội Thánh tại Nhật Bản. Tôi lập ra một danh sách tám câu hỏi mà tôi muốn tìm câu trả lời:
Bao nhiêu trong số những gì các Hội Thánh làm là dựa trên nền tảng Kinh Thánh?
Bao nhiêu trong số những gì chúng ta làm chỉ vì nền văn hóa?
Tại sao một số Hội Thánh tăng trưởng, còn những Hội khác thì chết đi trên cây nho?
Điều gì khiến cho một Hội Thánh đang tăng trưởng ngừng tăng trưởng, trở nên lình bình và sau đó tuột dốc?
Những Hội Thánh tăng trưởng có các đặc điểm chung nào?
Những rào cản của sự tăng trưởng là gì?
Những phương pháp truyền thống về sự tăng trưởng Hội Thánh không còn phù hợp (hoặc chưa từng có hiệu quả) là gì?
Ngày tôi đọc bài báo về McGavran, tôi cảm nhận rằng Đức Chúa Trời đang hướng dẫn tôi đầu tư phần còn lại của cuộc đời mình vào việc khám phá những nguyên tắc-Kinh Thánh, văn hóa, và những nguyên tắc lãnh đạo-dẫn đến một Hội Thánh vững mạnh và tăng trưởng. Đó là khởi đầu của một cuộc nghiên cứu cả đời.
Năm 1979, khi đang hoàn thành năm cuối tại Chủng Viện Thần Học Báp-tít Tây Nam tại Fort Worth, Texas, tôi quyết định thực hiện một nghiên cứu độc lập về một trăm Hội Thánh lớn nhất tại Mỹ. Trước hết, tôi phải xác định những Hội Thánh này, một việc khá dễ dàng. Tôi đang làm việc cho tiến sĩ Roy Fish, giáo sư truyền giáo tại Chủng Viện Tây Nam. Roy, vừa là giáo sư, vừa là bạn tôi, đã giúp tôi xác định đa số các Hội Thánh này. Còn những Hội Thánh khác thì tôi tìm thông qua các tạp chí hệ phái hoặc Cơ-đốc hằng năm.
Sau đó tôi viết thư cho từng Hội Thánh và hỏi một loạt các câu hỏi tôi đã chuẩn bị. Dù tôi khám phá ra rằng các Hội Thánh lớn và đang tăng trưởng khác nhau rất nhiều về chiến lược, cơ cấu, và phong cách, nhưng vẫn có những mẫu số chung. Phần nghiên cứu của tôi khẳng định điều tôi đã biết qua chức vụ của Criswell: Những Hội Thánh lớn và vững mạnh là những Hội Thánh có các mục sư gắn bó lâu năm. Tôi tìm được rất nhiều ví dụ. Một quá trình chăn bầy lâu dài không bảo đảm Hội Thánh sẽ tăng trưởng, nhưng sự thay đổi mục sư mỗi vài năm bảo đảm rằng Hội Thánh sẽ không tăng trưởng.
Bạn có thể tưởng tượng tình trạng của những đứa con trong một gia đình mà cứ mỗi hai hay ba năm lại có một người cha mới không? Chắc chắn chúng sẽ gặp những vấn đề tình cảm nghiêm trọng. Cũng vậy, quá trình lãnh đạo lâu năm là một nhân tố quan trọng cho sức khỏe và sự tăng trưởng của gia đình Hội Thánh. Nó khiến tạo nên những mối quan hệ sâu sắc, tin cậy, và chăm sóc lẫn nhau. Nếu không có những mối quan hệ như vậy, vị mục sư không tận dụng được quá trình lãnh đạo lâu năm đó.
Những Hội Thánh thay đổi mục sư mỗi vài năm sẽ không bao giờ kinh nghiệm sự tăng trưởng không ngừng đó. Tôi tin rằng đây là một lý do khiến một số hệ phái tuột dốc. Bằng cách cố tình giới hạn nhiệm kỳ chức vụ của các mục sư tại một hội chúng địa phương, họ tạo nên những mục sư “sắp mãn nhiệm kỳ.” Có rất ít người muốn đi theo người lãnh đạo không còn ở đây trong năm tới. Vị mục sư muốn bắt đầu một loạt các dự án mới, nhưng những thành viên sẽ dè dặt vì họ sẽ là những người phải sống với những hậu quả lâu dài sau khi vị mục sư đó đã được thuyên chuyển đi nơi khác.
Hiểu được tầm quan trọng của một quá trình chăn bầy lâu dài trong một Hội Thánh vững mạnh và tăng trưởng, tôi cầu nguyện, “Lạy Cha, con sẵn lòng đi bất cứ nơi đâu trên thế giới này mà Ngài sai con đi. Nhưng con cầu xin một đặc ân, đó là được đầu tư cả cuộc đời của con cho chỉ một địa điểm đó mà thôi. Con không quan tâm tới việc Ngài đặt con ở đâu, nhưng con muốn ở đó cho đến cuối cuộc đời mình.
Ở Đâu Trên Thế Giới Này?
Sau khi cầu nguyện, tôi nhìn lên tấm bản đồ thế giới treo trong phòng khách nhà tôi và bắt đầu cầu nguyện chung với Kay, vợ tôi, để Đức Chúa Trời dẫn dắt chúng tôi vào nơi Ngài chỉ định sau khi chúng tôi tốt nghiệp. Đây là bước đầu tiên mọi người cần phải thực hiện trong việc mở một Hội Thánh mới: Cầu xin sự hướng dẫn. ChCn 28:26 chép rằng, “Kẻ nào tin cậy nơi lòng mình là kẻ ngu muội; còn ai ăn ở cách khôn ngoan sẽ được cứu rỗi.” Trước khi thực hiện bất cứ việc gì khác, bạn cần phải có cái nhìn của Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh của bạn.
Vợ tôi và tôi lúc đầu nghĩ rằng Đức Chúa Trời kêu gọi chúng tôi làm giáo sĩ hải ngoại. Vì tôi đã từng phục vụ trong vai trò giáo sĩ tại Nhật Bản, chúng tôi đặc biệt lưu ý tới những đất nước ở Châu Á. Nhưng khi chúng tôi cầu xin sự hướng dẫn trong sáu tháng, Đức Chúa Trời khẳng định với chúng tôi rằng chúng tôi sẽ không hầu việc Ngài ở hải ngoại. Thay vào đó, chúng tôi phải mở một Hội Thánh mới trong một vùng trung tâm của nước Mỹ.
Thay vì trở thành những giáo sĩ, Kay và tôi cảm nhận sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong việc thành lập một Hội Thánh sai phái đi truyền giáo . Đức Chúa Trời sẽ dùng chúng tôi để tìm kiếm và huấn luyện những người khác tại Mỹ để trở thành những giáo sĩ hải ngoại. Đó quả là điều đã khiến tôi thất vọng, nhưng khi nhìn lại, bây giờ tôi thấy sự khôn ngoan trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Hội Thánh Saddleback đã tạo nên một ảnh hưởng lớn hơn thông qua các giáo sĩ chúng tôi sai phái đi hơn là chính chúng tôi ra đi.
Tôi tin rằng bạn đo lường sự khỏe mạnh hay sức mạnh của một Hội Thánh bằng chính năng lực sai phái của Hội hơn là năng lực ngồi nghe . Các Hội Thánh phải thực hiện công việc sai phái. Một trong những vấn đề cần phải đặt ra khi đánh giá sức khỏe của Hội Thánh là, “Đã có bao nhiêu người được sai đi vì Đại Mạng Lệnh?”
Nhận thức này, điều tôi đã có được từ lúc khởi đầu Hội Thánh Saddleback, đã giúp tôi phác thảo một tiến trình, được mô tả trong sách này, để biến những thành viên thành các mục sư và giáo sĩ.
Tập Trung Vào Nước Mỹ
Một khi chúng tôi nhận ra rằng mình sẽ không hầu việc ở hải ngoại, Kay và tôi bắt đầu cầu nguyện về nơi nào chúng tôi sẽ mở một Hội Thánh mới trên đất Mỹ. Vì không có người tài trợ, nên đó có thể là bất cứ nơi nào. Thế là tôi lại nhìn lên bản đồ trong phòng khách (lần này là bản đồ nước Mỹ) và khoanh tròn những khu vực trung tâm bên ngoài Miền Nam.
Tôi xuất thân từ một Hội Thánh Báp-tít Miền Nam, đã bốn thế hệ, và tôi có bà con ở khắp Miền Nam. Nhưng tôi nghĩ rằng tôi sẽ tới một nơi nào đó mà đa số những người bạn trong chủng viện của tôi không muốn tới. Tôi cầu nguyện cho việc mở một Hội Thánh mới tại Detroit, New York, Philadelphia, Chicago, Albuquerque, Phoenix, và Denver. Sau đó tôi khám phá ra rằng những tiểu bang có ít nhà thờ nhất ở nước Mỹ là Washington, Oregon, và California. Thế là tôi thu hẹp hồng tâm của mình lại trên bốn khu vực ở bờ biển phía Tây: Seatle, San Francisco, San Diego, và Quận Cam. Bốn vùng đất trung tâm đều đang phát triển từ sau thập kỷ 70, và đã thu hút sự chú ý của tôi.
Suốt mùa hè năm 1979, tôi thực sự sống trong các thư viện của trường đại học để nghiên cứu về dữ liệu dân số nước Mỹ và những nghiên cứu về nhân khẩu học ở cả bốn vùng này. 13:16 chép rằng, “Phàm người khôn khéo làm việc cứ theo sự hiểu biết.” Đối với tôi, điều đó có nghĩa là tôi phải tìm thấy bất cứ điều gì có thể về một khu vực trước khi tôi quyết định đầu tư trọn phần đời còn lại của mình ở đó. Trước khi đề ra một quyết định lớn, câu hỏi quan trọng cần hỏi là, “Tôi cần phải biết điều gì trước tiên?”
18:13 chép, “Trả lời trước khi nghe, ấy là sự điên dại và hổ thẹn cho ai làm vậy.” Lý do nhiều Hội Thánh thất bại là vì họ bắt đầu với một sự nhiệt tình không được trang bị. Mở một Hội Thánh mới không chỉ đòi hỏi sự nhiệt tình; nó đòi hỏi sự khôn ngoan. Có đức tin không có nghĩa là phớt lờ những dữ kiện về cộng đồng bạn đã lựa chọn.
Lúc đó tôi 25 tuổi, được 5 tháng sau khi tốt nghiệp chủng viện, và Kay thì có thai chín tháng. Tôi cứ phải gọi điện từ thư viện về nhà vài lần một ngày để xem cô ấy có chuyển dạ chưa.
Một chiều nọ, tôi khám phá ra rằng thung lũng Saddleback, Quận Cam, California, là nơi tăng trưởng nhanh nhất trên toàn nước Mỹ trong suốt thập kỷ 70. Sự thật này khiến tim tôi đập loạn xạ. Tôi biết rằng bất cứ nơi nào có những cộng động mới vừa ra đời, nơi đó cũng cần phải có những Hội Thánh mới.
Khi tôi ngồi trong căn hầm mờ tối, đầy bụi bặm của thư viện trường đại học, tôi nghe Chúa phán rõ ràng với tôi: “Đó là nơi ta muốn con mở một Hội Thánh mới!” Cả thân thể tôi rộn lên sự vui sướng, và nước mắt chảy dài trên khuôn mặt tôi. Tôi được nghe chính Chúa phán. Chuyện tôi không có tiền, không có một thành viên, và cũng chẳng có nhà ở không phải là vấn đề. Từ giờ phút đó, đích đến của chúng tôi là một điều đã được sắp đặt sẵn. Đức Chúa Trời đã chỉ cho tôi thấy nơi Ngài sẽ tạo nên một vài làn sóng, và tôi sẽ phải lướt trên chúng suốt đời.
Điều tiếp theo tôi làm là tìm tên của vị mục sư giám đốc về phát triển Hội Thánh khu vực Quận Cam của Hội Thánh Báp-tít Miền Nam. Tên ông là Herman Wooten. Tôi viết cho ông một bức thư như sau: “Tôi tên là Rick Warren, sinh viên chủng viện thần học tại Texas. Tôi dự định dọn đến phía nam Quận Cam và mở một Hội Thánh mới trong vùng của ông. Tôi không viết thư để xin tiền hay xin ông tài trợ điều gì; tôi chỉ muốn xin ý kiến mục sư về việc này. Nơi đó có cần những Hội Thánh mới không?”
Trong sự chu cấp của Đức Chúa Trời, một điều kỳ diệu đã xảy ra. Dù chúng tôi chưa một lần gặp nhau, Herman Wooten bằng cách nào đó cũng đã nghe về tôi và khát khao mở một Hội Thánh mới sau khi tốt nghiệp. Cùng lúc tôi viết thư cho ông, thì ông cũng đang viết bức thư này cho tôi: “Ông Warren thân mến, tôi có nghe rằng ông muốn mở một Hội Thánh mới tại California sau khi tốt nghiệp. Ông có dự định đến thung lũng Saddleback ở phía nam Quận Cam không?” Những bức thư của chúng tôi chéo nhau! Khi tôi mở hộp thư hai ngày sau đó và bắt gặp lá thư của chính người mà tôi vừa viết cho, tôi bật khóc. Kay và tôi đều biết rằng Đức Chúa Trời đã lo liệu mọi sự.
Hai tháng sau, vào tháng Mười, tôi bay tới Quận Cam và dành 10 ngày để đi thăm thú cả vùng lần đầu tiên. Suốt cả ngày, tôi đến nói chuyện với bất cứ ai có thể. Tôi hỏi ý kiến những người kinh doanh bất động sản, những người làm ở phòng thương mại, các chủ ngân hàng, những viên chức quy hoạch dân cư trong quận, các cư dân và những mục sư khác trong vùng. Tôi rút ra được rất nhiều điều từ những gì mình ghi chép được. Tôi đang công bố lời hứa trong 20:18, “Nhờ bàn luận, các mưu kế được định vững vàng.”
Đến tối, tôi tranh thủ xem qua các bản đồ địa phương, những tờ bướm quảng cáo, trải chúng đầy trên sàn phòng khách của tiến sĩ Fred Fisher, một giáo sư tại chủng viện Golden Gate đã về hưu, người mời tôi tạm trú tại nhà ông ở vùng phía bắc Quận Cam. Khi tôi nghiên cứu các tư liệu thu thập được, tôi ghi nhớ tên của những con đường chính trong thung lũng Saddleback.
Sau một tuần, tôi đưa Kay đi thăm vùng đó lần đầu tiên. Tôi luôn luôn tin cậy vào sự nhạy bén thuộc linh của vợ tôi để xác định sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời trong cuộc đời tôi. Nếu Kay cảm thấy miễn cưỡng khi đi đâu đó, tôi sẽ xem đó như là sự cảnh báo của Đức Chúa Trời. Thật vui vì phản ứng của Kay là, “Em sợ chết lắm, nhưng em tin nơi ý muốn của Đức Chúa Trời, và em tin anh. Chúng ta đi tới đó đi.” Như Phao-lô đã nói trong RoRm 8:31, “Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?” Chúng tôi leo lên ngọn đồi cao nhất và nhìn xuống toàn cảnh thung lũng Saddleback với hàng ngàn ngôi nhà, tuyên hứa rằng sẽ đầu tư cả cuộc đời của mình để xây dựng Hội Thánh Cộng Đồng Thung Lũng Saddleback.
California, Chúng Tôi Đến Đây
Tôi tốt nghiệp chủng viện vào tháng Mười Hai năm đó. Vào những ngày cuối năm 1979, Kay và tôi gói ghém những gì ít ỏi chúng tôi có, chất lên một chiếc xe tải nhỏ và rời Texas để đến nam California. Đồ đạc của chúng tôi được truyền lại từ cặp vợ chồng này đến cặp vợ chồng khác. Chúng tôi là cặp thứ năm nhận chúng. Nhìn chúng có vẻ đáng thương thật, nhưng đó là tất cả những gì chúng tôi có. Khi chúng tôi đóng gói mọi thứ, dường như thật phi lý khi cặp vợ chồng nghèo này đang chuyển đến một trong những cộng đồng giàu nhất nước Mỹ.
Chúng tôi đến nam California tràn trề hy vọng. Chúng tôi có cả một thập kỷ trước mắt, một chức vụ mới, một đứa trẻ sơ sinh bốn tháng tuổi, và lời hứa ban phước của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng tôi cũng đến với cái túi rỗng, không có nhà thờ, không có thành viên, và không có nhà ở. Chúng tôi chẳng quen biết một ai đang sống tại thung lũng Saddleback. Đó là một bước đi lớn của đức tin mà chúng tôi từng bước cho tới thời điểm đó.
Chúng tôi đến Quận Cam vào chiều thứ Sáu, vừa kịp lúc bị kẹt xe trong giờ cao điểm ở miền nam California. Tôi không thể nào hiểu được tại sao người ta gọi cái lúc xe cộ chạy chậm nhất là giờ cao điểm! Chúng tôi nhích từng chút một trên xa lộ, chậm như sên, đói và mệt, đứa nhỏ lại khóc.
Vì tôi lớn lên ở một vùng ngoại ô có không tới năm trăm cư dân, tôi hoàn toàn không được chuẩn bị cho tình huống này. Khi nhìn thấy hàng dặm xe hơi bất động trên xa lộ, tôi nghĩ, Tôi đưa mình vào chỗ nào vậy cà ? Chúa ôi , Ngài chọn lầm người cho sứ mệnh này rồi ! Tôi nghĩ tôi đã phạm sai lầm lớn .
Cuối cùng, đến 5 giờ chiều, chúng tôi tới thung lũng Saddleback. Tôi ra khỏi đường cao tốc và dừng ngay tại phòng kinh doanh bất động sản đầu tiên tôi tìm gặp. Tôi bước vào, giới thiệu mình và nói chuyện với nhà kinh doanh đầu tiên tôi gặp. Tên anh ta là Don Dale. Tôi nói với một nụ cười lớn, “Tôi là Rick Warren. Tôi đến đây để mở một Hội Thánh mới. Tôi cần một chỗ để ở, nhưng tôi không có tiền.” Don nhăn mặt cười lớn. Tôi cũng cười. Tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Don nói, “Xem chúng ta có thể làm gì nào.” Trong vòng 2 giờ đồng hồ, Don tìm cho chúng tôi một căn hộ cho thuê, và tháng đầu thì chúng tôi được ở miễn phí, đồng thời anh cũng đồng ý trở thành thành viên đầu tiên của Hội Thánh Saddleback! Đức Chúa Trời thật chu cấp vẹn toàn.
Trong lúc lái xe đến chỗ nhà thuê, tôi hỏi Don xem anh có sinh hoạt tại một Hội Thánh nào không. Anh trả lời là không. Tôi đáp, “Tuyệt! Anh sẽ là thành viên đầu tiên của tôi!” Và quả đúng như vậy. Tôi bắt đầu Hội Thánh Saddleback với gia đình của người kinh doanh bất động sản đó và gia đình của tôi. Hai tuần lễ sau, chúng tôi tổ chức lớp học Kinh Thánh đầu tiên tại nhà tôi với bảy người hiện diện.
Khi chúng tôi bước đi bằng đức tin, thật thú vị khi nhìn thấy sự chu cấp tài chánh chúng tôi cần để bắt đầu thực hiện. Mục sư John Jackson đã hướng Hội Thánh Crescent Baptist tại Anaheim, California, trở thành Hội Thánh tài trợ chính thức của chúng tôi, và họ tài trợ sáu trăm đô-la một tháng. Sau đó Hội Thánh First Baptist ở Lufkin, Texas, và Hội Thánh First Baptist ở Norwalk, California, cả hai cung ứng hai trăm đô-la một tháng cho bầy chiên non nớt của tôi.
Một buổi sáng nọ, tôi nhận cú điện thoại của một người đàn ông tôi chưa hề gặp, ông đề nghị trả tiền thuê nhà cho tôi trong hai tháng. Ông nói ông có nghe về việc mở Hội Thánh mới, và ông muốn giúp đỡ. Một lần khác, với một tài khoản gần như trống rỗng, Kay và tôi đi tìm những trang thiết bị cần thiết, đang bán hạ giá, để chuẩn bị cho buổi nhóm đầu tiên. Chúng tôi tìm được những thứ cần tìm và viết tấm séc, biết rằng mình đang dùng những đồng tiền cuối cùng để mua thức ăn. Khi tôi về nhà, mở hộp thư ra, tôi nhận được một tờ séc của một quý bà ở Texas, người đã từng nghe tôi giảng một lần và bằng cách nào đó đã theo dấu chúng tôi tới California. Tấm séc vừa đúng số tiền chúng tôi đã chi để mua các thiết bị: $37.50.
Tôi thích Hội Thánh mới được bảo đảm về tài chánh trước khi chúng tôi đến California, nhưng mọi chuyện không diễn tiến theo cách đó. Ngược lại, chúng tôi bước đi bởi đức tin. Cảm nhận về sự kêu gọi mạnh mẽ đến độ tôi hết sức nóng lòng bắt đầu. Tôi rất thích câu Kinh Thánh Truyền Đạo 11:4;: “Ai xem gió sẽ không gieo; ai xem mây sẽ không gặt.” Nếu bạn cứ khăng khăng là phải giải quyết hết mọi vấn đề trước khi quyết định, bạn sẽ không bao giờ biết được câu chuyện ly kỳ của đức tin. Đức Chúa Trời luôn dùng những người bất toàn trong những hoàn cảnh bất tiện để hoàn thành ý muốn Ngài.
Vào những ngày đầu tiên, khi chúng tôi thấy Đức Chúa Trời xác quyết quyết định của chúng tôi trong việc mở một Hội Thánh mới bằng nhiều cách, chúng tôi đã học một bài học rất quan trọng: Chúa dẫn đi tới đâu , Ngài chu cấp tới đó . Nếu bạn là một người mở mang Hội Thánh, hãy gạch dưới câu trên. Nó sẽ trở thành nguồn yên ủi và sức mạnh lớn trong những ngày tháng khó khăn của bạn. Dù Ngài kêu gọi chúng ta làm điều gì đi nữa, thì Ngài cũng sẽ trang bị để chúng ta làm thành điều đó. Đức Chúa Trời là thành tín! Ngài luôn giữ những lời hứa của mình.
Chúng Tôi Thành Lập Loại Hội Thánh Gì?
Tôi ở nam California không lâu thì nhận biết rằng khu vực này đã có rất nhiều Hội Thánh mạnh mẽ và tin Kinh Thánh. Một số mục sư nổi tiếng tại Mỹ sống trong tầm lái xe của Hội Thánh mới của chúng tôi. Vào Chúa Nhật, bạn có thể đến nghe Chuck Swindoll, Chuck Smith, Robert Schuller, John MacArthur, E. V. Hill, John Wimber, Jack Hayford, Lloyd Ogilvie, Charles Blake, Greg Laurie, Ray Ortlund, hay John Huffman giảng. Nếu bạn sắp xếp thời gian hợp lý, bạn có thể đến nghe hai hay ba vị trong số này giảng vào cùng một buổi sáng Chúa Nhật. Và chúng ta cũng có thể nghe đa số họ giảng trên đài phát thanh hay truyền hình.
Thêm vào đó, có ít nhất hơn hai mươi Hội Thánh dạy Kinh Thánh tại thung lũng Saddleback lúc tôi tới. Tôi nhanh chóng kết luận rằng mọi Cơ-đốc nhân trong khu vực đã rất vui vẻ trong một Hội Thánh tốt, hay ít nhất cũng có nhiều lựa chọn khác nhau.
Tôi quyết định rằng chúng tôi sẽ không nỗ lực để thu hút các Cơ-đốc nhân từ những Hội Thánh khác đến với Saddleback. Thậm chí chúng tôi cũng không mượn nhân sự từ các Hội Thánh trong vùng để mở mang Saddleback. Vì tôi được kêu gọi để đến với những người chưa tin, tôi quyết định bắt đầu với những người chưa tin, hơn là với cốt lõi là những Cơ-đốc nhân tận hiến. Đây không phải là cách mà mọi sách khác về đề tài mở Hội Thánh mới đề cập tới, nhưng tôi cảm nhận chắc chắn rằng đó là điều Đức Chúa Trời kêu gọi chúng tôi làm. Trọng tâm của chúng tôi giới hạn ở chỗ hướng tới những người không đi nhà thờ, những người vì lý do nào đó không tham dự bất cứ một Hội Thánh nào.
Chúng tôi không bao giờ khích lệ các tín hữu khác gia nhập Hội Thánh chúng tôi; trên thực tế, chúng tôi công khai phản đối việc đó. Chúng tôi không muốn sự tăng trưởng do chuyển đổi. Trong mỗi lớp thành viên, chúng tôi nói, “Nếu bạn đến với Saddleback từ một Hội Thánh khác, bạn cần phải hiểu ngay rằng Hội Thánh này không dành cho bạn. Hội Thánh này hướng tới những người không đi nhà thờ, là những người không dự nhóm ở đâu cả. Nếu bạn chuyển từ một Hội Thánh khác đến, bạn sẽ được chào mừng nếu như bạn sẵn sàng hầu việc và chăn bầy. Nếu tất cả những gì bạn dự định là tham dự các chương trình thờ phượng, chúng tôi thà dành chỗ của bạn cho một ai đó chưa tin Chúa. Có rất nhiều Hội Thánh dạy Kinh Thánh trong vùng này, và chúng tôi có thể giới thiệu cho bạn.”
Điều này trông có vẻ khắc nghiệt, nhưng tôi tin rằng chúng tôi đang làm theo gương của Chúa Giê-xu. Ngài xác định mục tiêu chức vụ của Ngài khi nói rằng, “Chẳng phải kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; ta chẳng phải đến gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội” (Mac Mc 2:17). Tại Saddleback, chúng tôi liên tục nhắc nhở chính mình về điều này. Nó giúp chúng tôi giữ vững được trọng tâm đầu tiên của Hội Thánh chúng tôi: đem những người không đi nhà thờ, những người không tín ngưỡng trong cộng đồng trở lại với Đấng Christ.
Để hiểu được lối suy nghĩ của những người không chịu đi nhà thờ ở miền nam California, tôi dành mười hai tuần đầu tiên sau khi đến thung lũng Saddleback để đi gõ cửa từng nhà và nói chuyện với mọi người. Dù biết rằng điều mà những người này thật sự cần là một mối tương giao với Đức Chúa Trời, tôi vẫn muốn lắng nghe họ nói về điều họ nghĩ là nhu cầu cấp thiết nhất của họ. Đó không phải là tiếp thị; chỉ là lịch sự thôi.
Tôi học biết một điều, hầu hết mọi người không thể lắng nghe cho tới khi họ được lắng nghe trước. Người ta sẽ không quan tâm chúng ta bao nhiêu cho tới khi họ biết chúng ta quan tâm nhiều đến họ. Những cuộc trò chuyện thông minh, quan tâm mở rộng cánh cửa truyền giáo cho những người không tin nhanh hơn bất cứ điều gì khác tôi từng dùng. Nhiệm vụ của Hội Thánh không phải là ban cho con người điều họ muốn hay thậm chí cần. Nhưng cách nhanh nhất để xây một cây cầu đến với thân hữu là thể hiện mối quan tâm đến họ và chứng tỏ rằng bạn hiểu những vấn đề họ đang đối diện. Những nhu cầu được cảm nhận, dù là thực hay ảo, chính là điểm khởi đầu để bày tỏ tình yêu thương cho người khác.
Tôi biết không đủ để gọi cuộc nghiên cứu cộng đồng của tôi là nghiên cứu “thị trường.” Đối với tôi, đó chỉ là vấn đề gặp gỡ những người tôi dự tính tiếp cận. Những người đến với lớp học Kinh Thánh nhỏ bé của tôi đã giúp tôi nghiên cứu cộng đồng. Điều trớ trêu chính là phần đông những người đến với lớp học Kinh Thánh của tôi và đã giúp tôi nghiên cứu về những người không đi nhà thờ trong cộng đồng lại chính là những người chưa tin Chúa!
Chọn Ngày!
Tiếp theo, chúng tôi quyết định bắt đầu giờ thờ phượng chung đầu tiên ngay vào dịp Chúa Nhật Phục Sinh, chỉ mới mười hai tuần từ ngày Kay và tôi tới Quận Cam. Tôi không có dự định chỉ học Kinh Thánh tại nhà lâu hơn ba tháng; tôi muốn bắt đầu những buổi thờ phượng chung càng sớm càng tốt. Tôi cũng không muốn bỏ lỡ cơ hội bắt đầu một Hội Thánh vào Chúa Nhật Phục Sinh.
Tôi lập luận rằng nếu một gia đình không đi nhà thờ quyết định đi dự thờ phượng chỉ một lần một năm, thì đó hẳn sẽ là Chúa Nhật Phục sinh. Đó là một ngày lý tưởng để bắt đầu buổi thờ phượng để thu hút những người không đi nhà thờ. Tôi nhận biết rằng có thể lắm tuần sau họ không tới, nhưng ít nhất tôi cũng có một đám đông cho buổi thờ phượng đầu tiên-và tôi ghi một vài cái tên để gởi thư.
Trong suốt những tuần lễ trước Phục Sinh, buổi học Kinh Thánh tại gia hằng tối thứ Sáu của tôi tăng lên mười lăm người. Mỗi tuần tôi dạy Kinh Thánh cho họ, và sau đó chúng tôi làm việc để chuẩn bị cho buổi thờ phượng chung đầu tiên. Chúng tôi cũng thảo luận về những khám phá trong cuộc nghiên cứu cộng đồng hằng tuần. Sau khoảng tám tuần, tôi tóm tắt những điều mình đã biết được về những người không chịu đi nhà thờ và những điều khó chịu của họ về Hội Thánh trong một bản triết lý chức vụ. Nó trở thành kế hoạch cho chiến lược truyền giáo của chúng tôi.
Kế đến, tôi viết một bức thư gợi mở cho các thân hữu trong cộng đồng, dựa vào những gì chúng tôi đã học được. Tôi chẳng biết gì về việc gởi thư trực tiếp, tiếp thị hay quảng cáo. Tôi chỉ thấy rằng một bức thư gợi mở cho cộng đồng có thể là cách tốt nhất để nói về Hội Thánh mới của chúng tôi. Tôi cũng biết rằng phần đông dân chúng tại thung lũng Saddleback sống trong những cộng đồng “bị khép cửa” và không có cách nào để đến thăm những gia đình đó được.
Tôi viết đi viết lại bức thư hàng chục lần. Tôi cứ nghĩ, Tôi sẽ nói gì nếu tôi có cơ hội nói trước hết thảy mọi người không đi nhà thờ trong cộng đồng này ? Tôi phải làm cách nào để tránh đi những thành kiến và phản đối của họ trong việc đi nhà thờ ?
Câu đầu tiên của bức thư đó khẳng định rõ ràng trọng tâm và vị trí của chúng tôi. Câu đó như sau: “Cuối cùng cũng có một Hội Thánh mới cho những người đã chán các buổi thờ phượng tại các Hội Thánh truyền thống.” Nó tiếp tục giải thích loại Hội Thánh chúng tôi đang mở. Chúng tôi ghi địa chỉ và dán tem bằng tay trên 15,000 bức thư và gởi chúng đi mười ngày trước Phục Sinh. Tôi ước chừng nếu chỉ một phần trăm số người nhận thư có mặt, thì sẽ có 150 người trong Lễ Phục Sinh.
Buổi Thờ Phượng Đầu Tiên Của Chúng Tôi
Tôi biết rằng nếu Hội Thánh của tôi phải thu hút và chinh phục các thân hữu, thì phải thực hiện một chương trình thờ phượng khác với những chương trình thông thường. Loại hình thờ phượng nào là lời chứng tốt nhất cho những người không tin? Chúng tôi dành rất nhiều thời gian suy nghĩ về mọi khía cạnh của sự thờ phượng. Thậm chí chúng tôi còn thực hiện một buổi thờ phượng Phục Sinh “thử nghiệm” nữa.
Tôi nói với mười lăm người có mặt trong nhóm học Kinh Thánh tại nhà tôi: “Chúa Nhật tới chúng ta sẽ gặp nhau tại trường trung học và thực tập buổi thờ phượng của mình. Chúng ta sẽ tập các bài hát, tôi sẽ giảng như thể ở đó có một đám đông 150 người, và chúng ta dùng hết số tiền mình có để chuẩn bị cho buổi thờ phượng. Điều này bảo đảm rằng khi khách đến vào Chúa Nhật Phục Sinh, ít nhất cũng có vẻ là chúng ta biết rõ điều mình đang làm.”
Đến Chúa Nhật trước lễ Phục Sinh, chúng tôi chỉ mong rằng mười lăm thành viên của lớp học Kinh Thánh sẽ xuất hiện trong buổi thờ phượng “thử.” Nhưng Đức Chúa Trời có những kế hoạch khác. Bức thư chúng tôi gởi cho 15,000 gia đình đã tới sớm với một số người. Chúng tôi đã không nghĩ rằng những bức thư sẽ tới trước năm ngày trước lễ Phục Sinh. Nhờ hệ thống bưu chính hiệu quả, sáu mươi người đã có mặt ở buổi thờ phượng “thử” và năm trong số họ tin Chúa vào ngày đó!
Trong buổi thờ phượng đó, tôi phác thảo một khải tượng mà tôi tin rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Hội Thánh Saddleback. Nhiệm vụ đầu tiên của hàng lãnh đạo là xác định nhiệm vụ, thế là tôi cố gắng tô vẽ bức tranh cách rõ ràng như tôi nhìn thấy. Nhiều năm qua, chúng tôi liên tục nhắc lại khải tượng đó trong những buổi họp rút kinh nghiệm. Khải tượng của chúng tôi không hề tập trung vào các tòa nhà lớn; thay vào đó, khải tượng của chúng tôi là sản sinh những môn đồ của Chúa Giê-xu Christ.
Tôi còn nhớ cảm giác sợ hãi sau khi chia sẻ khải tượng trong buổi thờ phượng thử đó. Tôi tràn ngập với nỗi lo sợ thất bại. Nếu nó không hiệu quả thì sao ? Khải tượng này có thực sự đến từ Đức Chúa Trời không , hay chỉ là một giấc mơ hoang dại của một chàng trai duy tâm hai mươi sáu tuổi ? Mơ ước điều mình mong đợi Đức Chúa Trời làm một cách riêng tư là một chuyện; công bố nó cho mọi người là một chuyện khác. Trong tâm trí tôi, bấy giờ tôi đã bước tới chỗ không thể trở lui được nữa. Dù có sợ hãi, nhưng tôi biết mình phải chạy hết tốc lực về phía trước. Tin chắc rằng mơ ước của tôi sẽ đem vinh hiển cho Đức Chúa Trời, tôi quyết định không nhìn lại đằng sau.
Hội Thánh Saddleback tổ chức buổi thờ phượng chung vào Chúa Nhật Phục Sinh, 6 tháng 4 năm 1980. Hai trăm lẻ năm người tham dự. Chúng tôi đã bắt được một làn sóng . Tôi sẽ không bao giờ quên được cảm giác khi nhìn những người tôi chưa từng gặp bước lên vỉa hè để vào hội trường trường trung học Laguna Hills. Vừa thích thú, vừa lo sợ, tôi nói với Kay, “Mọi sự hoạt động rồi!”
Một người mẹ ôm đứa con mới chào đời của mình lần đầu tiên cũng không thể vui hơn được. Một Hội Thánh đang được sinh ra. Nhưng tôi cũng thấy mình hèn mọn trước trách nhiệm lớn lao mà tôi biết rằng Đức Chúa Trời đã giao cho tôi ngày hôm đó.
Đó là khởi đầu của một Hội Thánh mới. Trong buổi thờ phượng đầu tiên, có không hơn mười người tin Chúa. Ngược lại, nơi đó đầy những người Cali không đi nhà thờ. Chúng tôi đã bắn trúng tiêu điểm của mình.
Có quá nhiều người không hề đi nhà thờ trong một buổi thờ phượng trông thật tức cười. Khi tôi mời mọi người mở Kinh Thánh ra, không ai có Kinh Thánh cả. Khi chúng tôi hát một số bài hát, không có ai hát, vì họ không biết giai điệu bài hát. Khi tôi nói, “Chúng ta hãy cầu nguyện,” một số người chỉ nhìn loanh quanh. Tôi có cảm tưởng như mình đang đứng trước một buổi họp Kiwanis hay Rotary!
Nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên là người ta cứ trở lại vào tuần sau. Mỗi lần như vậy lại có thêm vài người cầu nguyện tin Chúa. Sau mười tuần lễ tổ chức thờ phượng, tám mươi hai người không hề đi nhà thờ có mặt vào dịp Lễ Phục Sinh đã trở lại tin nhận Chúa. Chúng tôi đang lướt trên làn sóng của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Sự chuẩn bị của chúng tôi đã có kết quả. Một hội chúng đang dần được hình thành.
Lớp học dành cho các thành viên đầu tiên của chúng tôi có hai mươi người. Mười tám trong số họ là những người chưa tin Chúa, vì thế tôi đã phải bắt đầu dạy họ những lẽ thật cơ bản nhất về đời sống Cơ-đốc. Đến cuối khóa học kéo dài sáu tuần lễ, hết thảy mười tám người chưa tin đã tiếp nhận Chúa, được báp-tem, và trở thành thành viên chính thức.
Báp-tem ở Saddleback cũng đặc biệt. Chúng tôi đã dùng những hồ bơi, bờ biển Thái Bình Dương, và những hồ báp-tem ở các Hội Thánh khác, nhưng thường thì chúng tôi tới suối nước khoáng và dùng những bồn tắm nước nóng vốn sẵn có trong mỗi gia đình ở Quận Cam. Hàng ngàn người đã được báp-tem theo cách mà chúng tôi gọi là “Tắm Nước Ngầm Vì Chúa Giê-xu.”
Những người chuẩn bị chịu báp-tem được khích lệ để mời càng nhiều bạn bè, người thân chưa tin của mình đến chứng kiến sự báp-tem của họ càng tốt. Một số người thậm chí còn gởi thiệp mời in chữ nổi nữa. Lễ Báp-tem hằng tháng của chúng tôi luôn là những biến cố lớn. Một lần nọ, chúng tôi làm báp-tem cho 367 người chỉ trong một buổi sáng. Da của tôi nhăn lại lúc tôi và các mục sư khác leo ra khỏi hồ bơi được khử trùng mạnh bằng clo tại một trường trung học. Tôi còn nhớ một câu nói đùa, nếu chúng tôi không phải là những người Báp-tít, có lẽ tôi đã dùng vòi rồng mà xịt cho mỗi người!
Những Khó Khăn Gia Tăng
Saddleback đã từng trải những khó khăn liên tục trong suốt lịch sử ngắn ngủi của mình. Để có chỗ ngồi cho các thành viên mới, chúng tôi phải thuê đến bảy mươi chín chỗ khác nhau trong suốt mười lăm năm đầu của lịch sử Hội Thánh Saddleback. Mỗi lần tòa nhà chúng tôi thuê không còn đủ chỗ ngồi, chúng tôi lại dời chương trình hoặc giờ thờ phượng đi một chỗ khác. Chúng tôi thường nói rằng bạn có thể đến nhóm với Hội Thánh Saddleback nếu bạn tìm được chúng tôi. Chúng tôi thường nói đùa rằng đây là cách duy nhất chúng tôi dùng để chỉ thu hút những người thực sự lanh lợi.
Chúng tôi thuê bốn trường trung học khác nhau, các trường mẫu giáo, tòa nhà ngân hàng, các trung tâm giải trí, rạp hát, các trung tâm cộng đồng, nhà hàng, những căn hộ lớn, các tòa nhà văn phòng chuyên nghiệp, và các sân vận động, đến cuối cùng thì chúng tôi dựng một căn lều kỹ thuật cao với 2,300 chỗ ngồi. Chúng tôi đến nhóm chật cả lều suốt bốn buổi thờ phượng mỗi dịp cuối tuần trước khi chúng tôi cất ngôi nhà thờ đầu tiên của mình. Tôi cảm thấy rằng phần nhiều các Hội Thánh xây quá sớm và quá nhỏ. Chiếc giày không thể nói với bàn chân giới hạn kích cỡ nó có thể lớn lên được.
Tôi thường hỏi, “Một Hội Thánh không có nhà thờ có thể lớn chừng nào?” Câu trả lời là, “Tôi không biết!” Saddleback nhóm họp trong mười lăm năm và có đến 10,000 người dự nhóm mà không có lấy một ngôi nhà thờ, cho nên, tôi biết rằng ít nhất một Hội Thánh có thể tăng trưởng đến 10,000 (mà không có nhà thờ)! Một tòa nhà, hay không có một tòa nhà: đừng để cho điều đó trở thành rào cản làn sóng tăng trưởng Hội Thánh. Con người quan trọng hơn nhiều so với tài sản.
Trong suốt mười lăm năm đầu của Saddleback, có hơn 7,000 người đến với Đấng Christ thông qua các nỗ lực truyền giáo. Nếu bạn thấy mình chìm ngập đến tận cổ trong biển con đỏ Cơ-đốc nhân, bạn sẽ làm gì? Sự tỉnh táo và sống sót của chúng tôi dựa vào việc phát triển một phương pháp khả thi để biến những người tìm kiếm thành các thánh nhân, biến những người tiêu thụ thành những người đóng góp, biến các thành viên thành các mục sư, và biến những người nghe thành một đạo quân. Hãy tin tôi, dẫn dắt dân sự từ chỗ tự cho mình là trung tâm đến chỗ trở thành những Cơ-đốc nhân có tấm lòng hầu việc là một nhiệm vụ khó khăn vô cùng. Đó không phải là nhiệm vụ dành cho những mục sư nhát gan, hoặc những người không thích làm tấm áo choàng tôn giáo của mình bị nhăn nheo. Nhưng đó chính là ý nghĩa của Đại Mạng Lệnh và cũng là nguồn động lực lèo lái đằng sao mọi sự đã đang diễn ra tại Saddleback cho tới bây giờ.
Chương 2: Các Quan Niệm Sai Lầm Về Sự Phát Triển Hội Thánh
“Hãy mua chân lý ,
Sự khôn ngoan , sự khuyên dạy , và sự thông sáng ; chớ hề bán đi ”
ChCn 23:23
Trẻ con lớn lên tại Mỹ biết khá nhiều huyền thuyết: Ông già Noel mang quà đến bằng hai con tuần lộc; nàng tiên răng đổi tiền lấy những chiếc răng; chú thỏ Phục Sinh Bunny giấu kẹo và trứng; khi con chuột chũi nhìn thấy bóng của nó, chúng ta sẽ gặp thời tiết xấu; mặt trăng làm bằng phô mai Thụy Sĩ. Một số những huyền thuyết này vô hại, nhưng những cái khác có thể gây tác hại lớn.
Tôi rất thích những phân đoạn trong các sách Phúc Âm kể về việc Chúa Giê-xu thách thức những quan niệm phổ thông, hay “kinh nghiệm cổ truyền,” trong thời của Ngài. Thánh Kinh Tân Ước ghi lại đến hai mươi lần Chúa Giê-xu dùng cụm từ “Các ngươi có nghe lời nói rằng … Song ta phán cùng các ngươi…” Có lần tôi giảng một loạt các sứ điệp dựa vào những phân đoạn này với tiêu đề “Những Quan Niệm Khiến Chúng Ta Khổ Sở.” Chỉ khi nào chúng ta đặt đời sống của mình trên đá tảng là Lời Đức Chúa Trời, thì chúng ta mới biết “lẽ thật giải phóng chúng ta.”
Có rất nhiều Quan niệm về các Hội Thánh lớn và đang phát triển được lưu truyền giữa các mục sư và những nhà lãnh đạo Hội Thánh. Dù nhiều người đã từng nghe cái gọi là siêu Hội Thánh (megachurch - một tên gọi tôi không thích chút nào), nhưng rất ít người ngoài cuộc biết được điều gì đang thực sự diễn ra bên trong các Hội Thánh đó. Người ta đưa ra những suy đoán không chính xác, đôi lúc xuất phát từ lòng ghen tị, đôi lúc từ sự sợ hãi, và đôi lúc do sự thờ ơ.
Nếu bạn nghiêm túc trong việc mở mang Hội Thánh của mình, bạn phải sẵn sàng thách thức những kinh nghiệm cổ truyền liên quan tới các Hội Thánh lớn và đang phát triển mà bạn nghe được ngày nay.
Quan Niệm 1:
Điều Duy Nhất Các Hội Thánh Lớn Quan Tâm Là Sự Hiện Diện
Sự thật là bạn sẽ không tăng trưởng nếu đó là tất cả những gì bạn quan tâm. Trong toàn bộ lịch sử phát triển của Saddleback, chúng tôi chỉ có hai mục tiêu về sự hiện diện-và cả hai đều được nêu ra vào năm đầu tiên. Chúng tôi không tập trung vào sự hiện diện; chúng tôi tập trung vào việc nâng đỡ mọi người Đức Chúa Trời đem đến cho chúng tôi.
Những chiến dịch và việc quảng cáo cho sự hiện diện có thể kéo người ta đến với Hội Thánh bạn một lần. Nhưng họ sẽ không trở lại trừ phi Hội Thánh bạn cung cấp những điều hay nào đó. Để duy trì sự tăng trưởng liên tục, bạn phải mang đến cho các con cái Chúa một điều gì đó mà họ không thể kiếm được ở bất kỳ nơi nào khác.
Nếu bạn đang rao giảng Tin Lành tích cực biến đổi đời sống của Đấng Christ, nếu các thành viên của bạn thích thú trước những gì Đức Chúa Trời đang làm trong Hội Thánh, nếu bạn tổ chức một buổi thờ phượng mà nếu các thành viên có đưa những người bạn chưa được cứu của mình đến thì những người đó cũng không thấy ngỡ ngàng, và nếu bạn có một kế hoạch xây dựng, huấn luyện và sai phái những người bạn đã chinh phục cho Đấng Christ, sự hiện diện sẽ là vấn đề hết sức nhỏ nhoi. Người ta đổ xô đến với loại Hội Thánh đó. Điều đó xảy ra ở khắp nơi trên thế giới.
Sự tăng trưởng Hội Thánh khỏe mạnh và bền lâu có rất nhiều khía cạnh. Định nghĩa của tôi về sự tăng trưởng Hội Thánh thật có năm khía cạnh. Mỗi Hội Thánh cần phải ấm cúng hơn thông qua mối thông công, sâu nhiệm hơn thông qua môn đồ hóa, mạnh mẽ hơn thông qua sự thờ phượng, rộng hơn thông qua chức vụ, và lớn hơn thông qua truyền giáo.
Trong Cong Cv 2:42-47, những khía cạnh này được mô tả trong Hội Thánh đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem. Những Cơ-đốc nhân đầu tiên đã thông công, gây dựng lẫn nhau, thờ phượng, phục vụ và truyền giáo. Và kết quả được ghi trong câu 47, “Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.” Xin lưu ý một đôi điều trong câu Kinh Thánh này. Trước hết, Đức Chúa Trời thêm sự tăng trưởng (phần của Ngài) khi Hội Thánh đã hoàn thành phần của Hội Thánh (làm tròn năm mục đích). Thứ hai, tăng trưởng mỗi ngày, tức là, ở mức tối thiểu, một Hội Thánh khỏe mạnh phải có 365 người tin Chúa mỗi năm! Chuyện gì xảy ra nếu đây là tiêu chuẩn truyền giáo mà mỗi Hội Thánh phải thỏa mãn để được gọi là một Hội Thánh “Tân Ước” khỏe mạnh? Bạn thử nghĩ xem có bao nhiêu Hội Thánh đủ tiêu chuẩn?
Sự tăng trưởng là một hệ quả tự nhiên từ sự khỏe mạnh của Hội Thánh. Hội Thánh chỉ có thể khỏe mạnh khi sứ điệp của chúng ta đặt trên nền tảng Kinh Thánh và sứ mệnh của chúng ta được cân bằng . Mỗi mục đích trong số năm mục đích của Hội Thánh Tân Ước cần phải cân bằng với các mục đích khác mới duy trì sức khỏe được. Sự cân bằng trong Hội Thánh không tự nhiên mà có; trên thực tế, chúng ta phải liên tục sửa chữa những chỗ không cân bằng. Bản chất tự nhiên của con người là quá nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của Hội Thánh mà chúng ta cảm thấy “có cảm tình” nhất. Việc chủ tâm vạch ra một chiến lược và một cơ cấu để buộc chúng ta phải lưu ý đồng đều tới mỗi mục đích chính là ý nghĩa của động lực thúc đẩy Hội Thánh.
Quan Niệm 2:
Tất Cả Các Hội Thánh Lớn Đều Tăng Trưởng Từ Sự Tiếp Nhận Tín Hữu Thuộc Các Hội Thánh Nhỏ Hơn
Một số Hội Thánh lớn tăng trưởng theo cách đó, nhưng trong trường hợp của Saddleback thì không. Theo thống kê của Hội Thánh Saddleback, tôi lấy làm thỏa lòng vì có 80 phần trăm các thành viên gặp Chúa và được báp-tem tại Saddleback. Chúng tôi không tăng trưởng bằng cách tiếp nhận tín hữu từ các Hội Thánh khác. Vào thời điểm viết sách này, chúng tôi có khoảng 5,000 thành viên là người lớn, 4,000 trong số đó tin Chúa và báp-tem tại Saddleback. Chúng tôi tăng trưởng từ sự quy đạo, chứ không phải chuyển đổi Cơ-đốc nhân giữa các Hội Thánh.
Việc thuyên chuyển các Cơ-đốc nhân từ Hội Thánh này sang Hội Thánh khác không phải là điều Chúa Giê-xu nghĩ đến khi Ngài ban Đại Mạng Lệnh. Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta trở thành những tay đánh lưới người, không phải tráo đổi cá trong những bể nuôi. Hội Thánh nào lớn lên mà chỉ dựa vào sự thuyên chuyển Cơ-đốc nhân từ các Hội Thánh khác, thì Hội Thánh đó không kinh nghiệm sự tăng trưởng thật-đó chỉ là xào lại chồng bài mà thôi.
Quan Niệm 3:
Bạn Phải Lựa Chọn Giữa Chất Lượng Và Số Lượng Trong Hội Thánh Bạn.
Thật không may, đây lại là điều được lưu truyền khá nhiều dù nó không đúng. Một phần của vấn đề là vì không có ai từng định nghĩa các khái niệm chất lượng và số lượng mà họ dùng. Tôi sẽ nêu định nghĩa của tôi.
Chất lượng đề cập tới loại môn đồ mà một Hội Thánh đang sản sinh ra. Các con cái Chúa có thực sự được biến đổi trở nên giống như Đấng Christ không? Các tín hữu có vững vàng trên Lời Đức Chúa Trời không? Họ có đang trưởng thành trong Đấng Christ không? Họ có sử dụng những tài năng của mình trong sự hầu việc và chức vụ không? Họ có thường chia sẻ đức tin với những người khác không? Đây chỉ mới là một vài cách để thẩm định chất lượng của một Hội Thánh.
Số lượng đề cập tới số môn đồ mà một Hội Thánh đang tạo ra. Có bao nhiêu người được đem về cho Đấng Christ, được gây dựng đến trưởng thành, được thúc đẩy vào chức vụ và sứ mệnh?
Khi đã định nghĩa được rồi, thì rõ ràng chất lượng và số lượng không tỉ lệ nghịch với nhau. Chúng không loại trừ lẫn nhau. Bạn không cần phải lựa chọn một trong hai. Mỗi Hội Thánh nên có cả hai. Trên thực tế, sự tập trung vào chỉ một vấn đề, hoặc chất lượng, hoặc số lượng, sẽ dẫn Hội Thánh tới chỗ không khỏe mạnh. Đừng để bị lừa dối với ý tưởng đó.
Khi đi câu cá, bạn muốn chất lượng hay số lượng? Tôi muốn cả hai! Tôi muốn câu được con cá lớn nhất, và tôi cũng muốn câu được càng nhiều càng tốt. Mỗi Hội Thánh phải khao khát tiếp cận được càng nhiều người càng tốt, vì cớ Đấng Christ, cũng như giúp đỡ những người này trưởng thành thuộc linh.
Một sự thật mà nhiều mục sư muốn phớt lờ đi chính là: Chất lượng tạo ra số lượng . Một Hội Thánh đầy những người thật sự được thay đổi sẽ thu hút nhiều người khác. Nếu bạn nghiên cứu những Hội Thánh khỏe mạnh, bạn sẽ khám phá ra rằng khi Đức Chúa Trời thấy một Hội Thánh đang làm công việc nghiêng về chất lượng, chinh phục, nuôi dưỡng, trang bị và sai phái các tín hữu, Ngài sẽ đem đến cho Hội Thánh đó nhiều nguyên liệu. Nói cách khác, tại sao Đức Chúa Trời phải ban nhiều thứ cho một Hội Thánh không biết cách sử dụng chúng?
Trong bất kỳ Hội Thánh nào có những đời sống được biến đổi, các cuộc hôn nhân sẽ được cứu, và tình yêu thương sẽ tuôn tràn cách tự do, bạn sẽ phải khóa cửa lại để ngăn người ta đến nhóm. Người ta bị thu hút tới những Hội Thánh có sự thờ phượng, rao giảng, chức vụ và thông công có chất lượng. Chất lượng thu hút số lượng. Mỗi mục sư cần phải hỏi câu hỏi rất chua này: Nếu đa số các thành viên của chúng ta không bao giờ mời một ai đến với Hội Thánh, thì họ đang nói gì (bằng hành động) về chất lượng của những điều mà Hội Thánh chúng ta mang tới cho họ?
Cũng đúng khi nói rằng số lượng tạo ra chất lượng trong một số lĩnh vực của đời sống Hội Thánh. Chẳng hạn, Hội Thánh bạn lớn ra bao nhiêu, thì âm nhạc sẽ tốt hơn bấy nhiêu. Bạn thích hát với mười một người, hay với một ngàn một trăm người? Bạn muốn tham dự chương trình dành cho người lớn độc thân chỉ có hai người hay chương trình có hai trăm người hiện diện?
Một số Hội Thánh bào chữa cho sự thiếu tăng trưởng của họ bằng cách khăng khăng cho rằng Hội Thánh càng nhỏ, thì chất lượng càng cao. Lập luận này hoàn toàn sai lầm. Nếu chất lượng bắt nguồn từ số lượng ít, vậy thì những Hội Thánh có chất lượng cao nhất sẽ chỉ có một người! Trái lại, sau khi dành nhiều thời gian với các Hội Thánh nhỏ trước khi khai sinh Hội Thánh Saddleback, tôi quan sát thấy một lý do khiến nhiều Hội Thánh vẫn cứ nhỏ bé mãi là vì chất lượng trong đời sống và chức vụ của những Hội Thánh đó kém cỏi quá. Không hề có sự liên quan nào giữa kích cỡ và chất lượng của một chức vụ.
Nếu ba mẹ của bạn áp dụng Quan niệm chất lượng và số lượng trong việc sinh con đẻ cái thì sao? Chuyện gì xảy ra nếu sau khi sinh đứa con đầu lòng, họ nói rằng, “Một đứa đủ rồi. Chúng ta hãy tập trung biến nó thành đứa bé có chất lượng. Đừng quan tâm tới số lượng.” Nhiều người trong chúng ta sẽ không có mặt ở đây nếu ba mẹ chúng ta suy nghĩ như thế!
Một Hội Thánh không mấy hứng thú trong việc làm gia tăng số người tin Chúa, về phương diện ý nghĩa, Hội Thánh đó đang nói với cả thế giới rằng, “Tất cả các người có thể đi địa ngục rồi đấy.” Nếu ba đứa con của tôi lạc mất trong một chuyến đi ngang qua sa mạc, tôi và vợ tôi sẽ đổ xô đi tìm chúng. Chúng tôi sẽ không tiếc thứ gì để đi tìm và cứu cho được những đứa con của mình. Và khi chúng tôi tìm thấy một đứa, chúng tôi sẽ không nghĩ tới chuyện dừng cuộc tìm kiếm và chỉ tập trung vào một đứa con “chất lượng cao” này. Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm chừng nào tìm được hết mới thôi.
Trong trường hợp của Hội Thánh, chừng nào còn người hư mất trên thế gian, chừng đó chúng ta còn phải quan tâm về số lượng cũng như chất lượng. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi đếm người vì người đếm được. Những con số đó đại diện cho những người mà Chúa Giê-xu đã chết thay cho. Bất cứ khi nào có ai đó nói rằng, “Anh không thể đo lường thành công bằng các con số,” tôi sẽ trả lời, “Điều đó lệ thuộc vào việc anh đang đếm cái gì!” Nếu bạn đang đếm những cuộc hôn nhân được cứu, những cuộc đời được biến đổi, những người tan vỡ được chữa lành, những người không tin trở thành những người thờ phượng Chúa Giê-xu, và những thành viên được thúc đẩy vào chức vụ và sứ mệnh, thì những con số đó là cực kỳ quan trọng. Chúng có ý nghĩa đời đời.
Quan Niệm 4:
Bạn Phải Thỏa Hiệp Sứ Điệp Và Sứ Mệnh Của Hội Thánh Để Tăng Trưởng
Quan niệm phổ biến này ngụ ý rằng những nhà lãnh đạo của các Hội Thánh đang tăng trưởng bằng cách nào đó đang “phản” lại Phúc Âm vì mục đích tăng trưởng. Điều nói ở đây là nếu một Hội Thánh đang thu hút nhiều người, thì nó phải nông cạn và thiếu sự tận hiến, tức là cho rằng sự hiện diện của một đám đông lớn đánh dấu một sứ điệp “bị giảm nhẹ.”
Dĩ nhiên, cũng có nhiều bằng chứng về các Hội Thánh lớn lên với nền thần học sai lầm, nông cạn và những mánh khóe trần tục. Nhưng sự hiện diện của một đám đông lớn không tự động chứng minh vấn đề này. Một số ít Hội Thánh lớn quả thật có sự thỏa hiệp giữa sứ điệp và sứ mệnh, nhưng nhiều Hội Thánh khác, như Saddleback, lại bị xếp cách không đúng vào cùng một loại đó vì kích cỡ của chúng tôi. Sự đồng hóa này thật là đáng tiếc.
Chức vụ của Chúa Giê-xu thu hút những đám đông lớn khủng khiếp. Tại sao? Vì Phúc Âm là tin mừng! Nó có một năng lực thu hút khi được trình bày rõ ràng. Chúa Giê-xu phán, “Còn ta, khi ta đã được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta” (GiGa 12:32). Không chỉ đám đông những người trưởng thành muốn ở bên cạnh Chúa Giê-xu, cả những em nhỏ cũng vậy. Một Hội Thánh giống Đấng Christ cũng phải có một năng lực thu hút người khác giống như vậy.
Đức Chúa Giê-xu thu hút những đám đông lớn, nhưng Ngài không bao giờ thỏa hiệp lẽ thật với thế gian. Không một ai buộc tội Ngài làm giảm giá trị của sứ điệp ngoại trừ những thầy tế lễ cả đầy lòng ghen tị (Mac Mc 15:12). Nói thẳng ra, tôi nghi ngờ chính sự ghen tuông trong chức vụ đó làm động cơ cho những người ngày nay phê bình các Hội Thánh đang thu hút những đám đông lớn.
Đừng nhầm lẫn những điều mong đợi
Một nguyên nhân khác khiến nhiều người cho rằng các Hội Thánh thường nông cạn là vì họ nhầm lẫn giữa những điều mình mong đợi nơi những người chưa tin, nhưng chịu đến tham dự nhóm, và những điều mình mong đợi nơi những thành viên thật của Hội Thánh. Đây là hai nhóm hoàn toàn khác nhau. Tại Saddleback, chúng tôi dùng khái niệm “Đám đông” và “Hội chúng” để phân biệt giữa hai nhóm.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi không mong đợi những người chưa tin phải làm giống như những người đã tin cho tới khi họ chịu tin. Chúng tôi không mong đợi những vị khách trong đám đông hành động như thể họ là các thành viên của hội chúng. Chúng tôi mong đợi rất ít từ những người đang tìm kiếm, và đang xem xét những lời công bố của Đấng Christ. Chúng tôi chỉ đơn giản nói rằng, cũng như Chúa Giê-xu đã nói trong lần đầu tiên gặp các môn đồ, “Hãy đến xem!” Chúng tôi mời gọi những người chưa tin đến kiểm tra chúng tôi, để nhìn thấy ý nghĩa Hội Thánh cho chính bản thân họ.
Mặt khác, chúng tôi đòi hỏi sự dấn thân lớn nơi những người muốn gia nhập Hội Thánh. Tôi sẽ chia sẻ những chi tiết này trong chương 17. Mọi thành viên tương lai phải học xong lớp thành viên và phải ký vào một giao ước thành viên. Khi ký vào giao ước này, các thành viên đồng ý ủng hộ tài chánh, phục vụ trong chức vụ, chia sẻ đức tin, đi theo sự lãnh đạo, tránh nói hành, và duy trì một lối sống tin kính, bên cạnh nhiều điều khác nữa. Saddleback thực hiện việc kỷ luật Hội Thánh-một điều hiếm khi nghe nói tới ngày nay. Nếu bạn không hoàn thành giao ước thành viên, bạn sẽ bị loại khỏi tư cách hội viên ngay. Mỗi năm chúng tôi xóa hàng trăm tên ra khỏi danh sách thuộc viên.
Các thành viên mới cũng đồng ý tham dự các lớp học thêm, và qua đó họ sẽ ký những giao ước trưởng thành bao gồm việc dâng phần mười, dành thời gian tĩnh nguyện hằng ngày, và tham dự nhóm nhỏ hằng tuần. Một trong những lý do Saddleback không nhận nhiều người chuyển từ Hội Thánh khác tới là vì chúng tôi đòi hỏi ở các thành viên nhiều hơn so với hầu hết các Hội Thánh khác.
Tôi khám phá ra rằng việc thách thức người ta bước vào một sự tận hiến nghiêm túc thật sự thu hút họ hơn là khiến họ nản lòng. Mức độ tận hiến chúng tôi đòi hỏi càng cao bao nhiêu, chúng tôi càng nhận được sự đồng tình bấy nhiêu. Rất nhiều những người chưa tin đã chán ngấy với những gì thế gian đem đến cho họ. Họ đang tìm kiếm một điều gì đó vĩ đại hơn chính bản thân họ, một điều gì đó đáng để họ từ bỏ cả cuộc đời của mình.
Đòi hỏi sự tận hiến không đuổi người ta đi; đó là phương cách mà nhiều Hội Thánh đang tìm kiếm. Các Hội Thánh thường xuyên thất bại trong việc giải thích mục đích, giá trị và những lợi ích của sự tận hiến, và họ cũng không có phương pháp nào để giúp dân sự thực hiện từng bước một trong sự tận hiến của họ.
Vẫn hợp thời mà không thỏa hiệp
Bất cứ ai nghiêm túc trong việc thực hiện chức vụ, không chỉ trên lý thuyết, phải sẵn sàng để sống với sự căng thẳng của cái mà Bruce và Marshall Shelley gọi là “sự kêu gọi lưỡng cực của chúng ta.” Một mặt chúng ta có nghĩa vụ phải trung tín với Lời không dời đổi của Đức Chúa Trời. Mặt khác chúng ta phải chăn bầy trong một thế giới luôn luôn thay đổi. Đáng buồn thay, nhiều Cơ-đốc nhân không sẵn lòng sống với sự căng thẳng đó đã rút lui về một trong số hai thái cực.
Một số Hội Thánh, vì sợ ảnh hưởng trần tục, đã rơi vào tình trạng tự cô lập mình khỏi văn hóa đương đại. Dù đa số khác thì không rút lui quá xa như những người A-mi-sô (Amish), nhưng nhiều Hội Thánh dường như vẫn nghĩ rằng những năm 50 là thời hoàng kim, và họ quyết định bảo tồn thời đại đó cho Hội Thánh của mình. Điều tôi ngưỡng mộ nơi những tín hữu A-mi-sô là ít nhất họ cũng thành thật về việc này. Họ tự do thừa nhận rằng họ lựa chọn bảo tồn lối sống của những năm 1800. Trái lại, những Hội Thánh cố gắng bắt chước nền văn hóa của những năm 50 lại thường phủ nhận mục đích của mình hoặc cố gắng chứng minh bằng văn tự những gì họ đang làm cũng là cách làm của thời Tân Ước.
Kế đến, lại có những người, vì sợ không được hợp thời, đã dại dột bắt chước những sở thích hay mốt mới nhất. Trong nỗ lực của họ để gắn kết với nền văn hóa hiện đại, họ đã thỏa hiệp sứ điệp và đánh mất mọi ý nghĩa của sự biệt riêng. Những Hội Thánh này quá thường xuyên công bố một sứ điệp nhấn mạnh những lợi ích của Phúc Âm mà phớt lờ đi những trách nhiệm và cái giá phải trả khi đi theo Đấng Christ.
Có cách nào để chăn bầy trong nền văn hóa của chúng ta mà lại không cần thỏa hiệp sự quy đạo không? Tôi tin là có và tôi sẽ thảo luận vấn đề này nhiều hơn trong chương 12. Giải pháp chính là làm theo gương chăn bầy của Đấng Christ. Chúa Giê-xu không hề hạ thấp những tiêu chuẩn của Ngài, nhưng Ngài luôn bắt đầu từ chỗ đứng của dân sự. Ngài rất hợp thời mà không thỏa hiệp điều gì với lẽ thật.
Quan Niệm 5:
Nếu Bạn Tận Tâm Đủ, Hội Thánh Bạn Sẽ Tăng Trưởng
Đây là một Quan niệm phổ thông nhất được đưa ra trong các hội đồng mục sư, nơi mà các diễn giả sùng đạo ngụ ý rằng nếu Hội Thánh của bạn đang không tăng trưởng, thì vấn đề là do bạn thiếu tận tâm. Họ nói rằng, “Nếu bạn giữ đúng giáo lý, rao giảng Kinh Thánh, cầu nguyện nhiều hơn, và tận tâm hơn, thì Hội Thánh của bạn sẽ tăng trưởng bùng nổ.” Điều đó nghe có vẻ quá đơn giản và thiêng liêng, nhưng không đúng. Thay vì được khích lệ qua những kỳ hội đồng này, nhiều mục sư trở về và cảm thấy mắc tội, không thích hợp, và chán nản nhiều hơn.
Tôi biết có hàng trăm mục sư rất tận tâm, nhưng Hội Thánh của họ vẫn không tăng trưởng. Họ trung tín với Lời của Đức Chúa Trời, họ cầu nguyện rất khẩn thiết, họ rao giảng những sứ điệp vững chắc, và tấm lòng tận tụy của họ thì khỏi phải chê-nhưng Hội Thánh của họ vẫn từ chối tăng trưởng. Quả là một lời sỉ nhục khi nói rằng vấn đề của họ là thiếu sự tận tâm. Không có điều gì làm tôi tức giận nhanh hơn thế. Họ là những mục sư tốt, tin kính, và hầu việc Đức Chúa Trời với trọn tấm lòng của mình.
Để một Hội Thánh tăng trưởng, cần phải có nhiều hơn sự tận tụy; nó đòi hỏi kỹ năng (sự khôn ngoan ). Một trong những câu Kinh Thánh tôi thích nhất là Truyền Đạo 10:10;: “Cái rìu lụt mà không mài lưỡi nó lại, ắt phải ráng sức càng nhiều; nhưng sự khôn ngoan có ích đặng dẫn dắt.” Hãy lưu ý là Đức Chúa Trời nói sự khôn ngoan , không chỉ sự tận tâm, sẽ đem lại thành công. Nếu tôi phải chặt một cái cây, tôi sẽ làm tốt hơn nếu mài cây búa của mình trước. Vấn đề là ở chỗ, hãy làm việc khôn ngoan hơn, chứ không phải nặng nhọc hơn.
Hãy dành thời gian học biết những kỹ năng cần thiết trong chức vụ của bạn. Bạn sẽ tiết kiệm được thời gian trong cuộc chạy đường dài và điều đạt được sẽ còn lớn hơn cả thành công. Hãy mài cho bén cây búa chức vụ của bạn bằng cách đọc sách, tham dự các hội đồng, nghe băng, và quan sát các phương cách làm việc. Bạn sẽ không bao giờ lãng phí thời gian khi bạn mài búa đâu. Kỹ năng đem lại thành công.
Tại Hội Thánh của chúng tôi có một số phi công chuyên nghiệp thường bay cho các hãng hàng không lớn. Họ nói với tôi rằng bất luận họ làm phi công bao lâu đi nữa, thì các hãng hàng không luôn đòi hỏi họ phải trải qua một tuần huấn luyện lại và tập rèn các kỹ năng của họ đều đặn mỗi hai năm. Khi tôi hỏi họ tại sao lại phải huấn luyện lại thường xuyên như vậy, họ đáp, “Vì sinh mạng nhiều người tùy thuộc vào sự thành thạo của chúng tôi.” Điều đó cũng đúng trong chức vụ nữa. Chúng ta có còn dám thờ ơ trước việc cập nhật hóa các kỹ năng của mình không?
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi tổ chức một khóa hội thảo huấn luyện cơ bản cho những nhà lãnh đạo Hội Thánh và các mục sư, ít nhất một lần mỗi năm. Dù rằng đội ngũ của chúng tôi đã thông suốt khải tượng, chiến lược, và cơ cấu của Saddleback, nhưng tôi vẫn đòi hỏi mỗi một người phải tham dự hội thảo. Hết thảy chúng tôi cần phải nạp lại năng lượng cho khải tượng và mài dũa những kỹ năng của mình cách thường xuyên.
Lý do khiến sứ đồ Phao-lô hoạt động rất hiệu quả trong việc thành lập và phát triển các Hội Thánh là vì ông rất thành thạo công việc đó. Ông thừa nhận điều này trong ICo1Cr 3:10: “Theo ơn Đức Chúa Trời ban cho tôi, tôi đã lập nền như một tay thợ khéo ” (có nhấn mạnh). Phao-lô là một chuyên gia xây dựng Hội Thánh. Ông không phải là một nhà xây dựng bừa bãi, thiếu chất lượng. Ông không chỉ tận tụy với nhiệm vụ của mình, ông còn rất thành thạo trong việc sử dụng đúng các công cụ. Chúng ta cũng cần phải học biết cách sử dụng đúng loại công cụ trong việc xây dựng một Hội Thánh. Nếu tất cả những gì bạn có chỉ là một cây búa trong hộp đồ nghề chức vụ, bạn sẽ có khuynh hướng xem mọi thứ là đinh!
Kinh Thánh cũng so sánh chức vụ với việc trồng trọt, một nghề nghiệp khác vốn cũng đòi hỏi kỹ năng. Một nông dân có thể là một người làm việc rất tận tụy và chăm chỉ, nhưng anh ta cũng cần phải thành thạo trong việc sử dụng đúng loại dụng cụ. Nếu anh ta cố thu hoạch bắp bằng một máy gặt đập lúa mì, chắc chắn anh ta sẽ thất bại. Nếu anh ta cố thu hoạch cà bằng máy nhặt bông vải, cái anh ta thu được là một mớ bầy nhầy! Chức vụ thành công, cũng giống như trồng trọt, đòi hỏi không chỉ sự tận tụy và làm việc chăm chỉ; nó đòi hỏi kỹ năng, thời gian và những công cụ thích hợp.
Những giải pháp giản dị thái quá cho sự tăng trưởng Hội Thánh được che đậy trong những khái niệm giả tạo khéo đến độ khó có ai đối đầu với chúng mà không bị gán cho là không (kém) thuộc linh. Có ai đó cần phải can đảm khẳng định rằng: Chỉ cầu nguyện thôi sẽ không giúp tăng trưởng Hội Thánh. Một số những chiến sĩ cầu nguyện vĩ đại nhất tôi biết là các mục sư và những thành viên của các Hội Thánh đang chết.
Dĩ nhiên, cầu nguyện là tuyệt đối có ý nghĩa. Mỗi bước phát triển của Hội Thánh Saddleback đều tắm mình trong sự cầu nguyện. Thật, tôi có một đội cầu nguyện chuyên cầu nguyện cho tôi lúc tôi đang nói trong mỗi buổi thờ phượng. Một chức vụ không có cầu nguyện là một chức vụ không có quyền năng. Nhưng để Hội Thánh tăng trưởng thì cần phải có không chỉ sự cầu nguyện. Nó đòi hỏi hành động thành thạo. Có một lần Đức Chúa Trời bảo Giô-suê thôi cầu nguyện về thất bại của ông và đứng dậy giải quyết nguyên nhân gây nên thất bại (Giô-suê 7). Có lúc để cầu nguyện, và cũng có lúc để hành động một cách đầy trách nhiệm.
Chúng ta phải cẩn thận tránh cả hai thái cực trong chức vụ. Một thái cực là tập trung mọi trách nhiệm cho sự tăng trưởng Hội Thánh. Thái cực còn lại thoái thác trách nhiệm trong việc đó. Tôi thật mắc nợ Joe Ellis vì đã xác định hai thái cực này và giúp tôi thoát khỏi những vấn đề trách nhiệm và sự trung tín trong chức vụ. Joe xác định sai lầm thứ nhất là “chủ nghĩa nhân văn thực tiễn” và cái thứ hai là “sự vô trách nhiệm giả hình.” Cả hai đều có hại vô cùng đối với Hội Thánh.
Trước hết, chúng ta phải tránh sai lầm cho rằng mọi sự cần thiết để Hội Thánh tăng trưởng là tổ chức, điều hành, và tiếp thị. Hội Thánh không phải là một doanh nghiệp! Tôi đã nói chuyện với một số mục sư, những người làm như thể Hội Thánh chỉ là một công ty của con người với một vài lời cầu nguyện bỏ ra để thu lại kết quả tốt. Sau khi lắng nghe họ, tôi tự hỏi, Thánh Linh ở đâu trong tất cả mọi sự này ?
Không may một điều, nhiều Hội Thánh có thể được thanh minh bằng những khái niệm của một Trường Chúa Nhật tiêu chuẩn, một sự tổ chức hiệu quả, và một ngân quỹ cân bằng. Chẳng có điều gì siêu nhiên từng xảy ra trong những Hội Thánh này, và có rất ít đời sống thực sự thay đổi.
Mọi kế hoạch, mọi chương trình, và thủ tục của chúng ta đều vô giá trị nếu thiếu sự xức dầu của Đức Chúa Trời. Thi Tv 127:1 chép, “Nếu Đức Giê-hô-va không cất nhà, thì những thợ xây cất làm uổng công.” Một Hội Thánh không thể được dựng nên chỉ bởi nỗ lực của con người. Chúng ta không được quên Hội Thánh thuộc về ai. Chúa Giê-xu phán, “Ta sẽ lập Hội Thánh ta ” (Mat Mt 16:18, có nhấn mạnh).
Mặt khác, chúng ta phải tránh sai lầm cho rằng chúng ta không thể làm được gì để giúp Hội Thánh tăng trưởng. Quan niệm sai lầm này lại khá phổ biến ngày nay. Một số mục sư và các nhà thần học tin rằng việc lập kế hoạch, tổ chức, quảng cáo hay nỗ lực là tự phụ, không thuộc linh hay thậm chí tội lỗi, và rằng vai trò duy nhất của chúng ta là ngồi nhìn xem Đức Chúa Trời làm việc của Ngài. Bạn sẽ thấy lời dạy này xuất hiện khá nhiều trong các văn phẩm về phấn hưng. Trong một khát khao chân thành là đề cao công việc của Đức Chúa Trời trong cơn phấn hưng, mọi nỗ lực của con người lại bị coi rẻ. Cách nghĩ này tạo ra những tín hữu thụ động và thường dùng những lời bào chữa có vẻ thiêng liêng để biện hộ cho sự không tăng trưởng của một Hội Thánh.
Kinh Thánh dạy rõ rằng Đức Chúa Trời đặt để chúng ta vào một vai trò quan trọng trong việc hoàn thành ý chỉ của Ngài trên đất. Tăng trưởng Hội Thánh là sự cộng tác giữa Đức Chúa Trời và con người. Các Hội Thánh tăng trưởng bởi quyền năng của Đức Chúa Trời thông qua những nỗ lực thành thục của con người. Cần phải có cả hai yếu tố: quyền năng của Đức Chúa Trời và nỗ lực thành thục của con người. Chúng ta không thể làm được nếu không có Đức Chúa Trời nhưng Ngài cũng đã quyết định không làm Hội Thánh tăng trưởng nếu không có chúng ta! Đức Chúa Trời dùng con người để hoàn thành những mục đích của Ngài. Phao-lô minh họa sự cộng tác giữa Đức Chúa Trời và con người như sau, “Tôi đã trồng, A-bô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên… Vả, chúng tôi là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời” (ICo1Cr 3:6, 9, có nhấn mạnh). Đức Chúa Trời đã làm phần của Ngài sau khi Phao-lô và A-bô-lô làm xong phần của họ.
Kinh Thánh Tân Ước có rất nhiều hình ảnh so sánh sự tăng trưởng Hội Thánh, và chúng dạy chúng ta nguyên tắc này: trồng và tưới vườn của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 3:5-9); xây dựng nhà của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 3:10-13); thu hoạch trên những cánh đồng của Đức Chúa Trời (Mat Mt 9:37-38); gây dựng thân thể Đấng Christ (RoRm 12:4-8;; Eph Ep 4:16).
Để tìm một ví dụ trong Cựu Ước, chúng ta có thể mở ra sách Giô-suê. Đức Chúa Trời bảo dân Y-sơ-ra-ên đến chiếm vùng đất; Ngài không làm việc đó cho họ. Ngài đồng công với họ và giao cho họ một vai trò để làm. Nhưng vì sự sợ hãi và tính thụ động của mình, dân Y-sơ-ra-ên đã chết trong đồng vắng. Lúc chúng ta chờ đợi Đức Chúa Trời làm việc cho chúng ta, thì Ngài lại đang chờ đợi để làm việc qua chúng ta.
Quan Niệm 6:
Chỉ Có Một Chìa Khóa Bí Mật Để Mở Cánh Cửa Tăng Trưởng Hội Thánh
Sự tăng trưởng Hội Thánh là một vấn đề phức tạp. Nó hiếm khi xảy ra chỉ bởi tác động của một nhân tố nào đó. Bất cứ khi nào bạn nghe một mục sư cho rằng sự tăng trưởng của Hội Thánh ông chỉ chịu tác động bởi một nhân tố mà thôi, thì hãy biết rằng hoặc ông đã quá đơn giản hóa những gì xảy ra, hoặc ông không nhận thức được lý do thật khiến Hội Thánh ông tăng trưởng.
Qua sự trao đổi của tôi với những nhà lãnh đạo Hội Thánh khác trong khóa huấn luyện tại Hội Thánh Saddleback, tôi xác định được một vài yếu tố cơ bản về Hội Thánh mà cộng sự của tôi gọi là “Những Quy Luật Tăng Trưởng Của Rick.”
Trước tiên, có nhiều cách để tăng trưởng Hội Thánh . Tôi có thể chỉ cho bạn nhiều Hội Thánh đang sử dụng các chiến lược hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng cả hai đều đang tăng trưởng. Một số Hội Thánh tăng trưởng thông qua Trường Chúa Nhật; những Hội khác thì thông qua nhóm nhỏ tại gia đình. Một số Hội Thánh tăng trưởng bởi sử dụng âm nhạc hiện đại; những Hội khác lại tăng trưởng bởi âm nhạc truyền thống. Một số Hội Thánh đang tăng trưởng có tổ chức chương trình thăm viếng; những Hội Thánh khác thì lại không.
Thứ hai, có đủ loại Hội Thánh để tiếp cận đủ hạng người . Tạ ơn Đức Chúa Trời vì hết thảy chúng ta không giống nhau! Đức Chúa Trời yêu thích sự khác nhau. Nếu mỗi Hội Thánh đều giống những Hội Thánh khác, thì chúng ta chỉ tiếp cận được với một phần nhỏ của thế gian này. Chỉ trong lĩnh vực âm nhạc thôi, hãy tưởng tượng tới mọi loại âm nhạc cần có để tiếp tận mọi nền văn hóa khác nhau của thế giới chúng ta. Thỉnh thoảng tôi nghe một ai đó nói rằng mọi Hội Thánh cần phải hiệp nhau lại dưới một hệ phái, nơi mà hết thảy chúng ta đều giống nhau. Tôi không thể đồng ý được. Tôi nghĩ rằng sự phong phú về phong cách là một sức mạnh, không phải sự yếu đuối. Đức Chúa Trời dùng nhiều cách khác nhau để tiếp cận các nhóm người khác nhau.
Tôi không nói đến những Hội Thánh đang đi chệch khỏi lẽ thật Kinh Thánh. Sứ điệp của Đấng Christ không hề thay đổi. Nó là, như Giu-đe nói, “chân lý bất di dịch mà Thượng Đế ban cho dân Ngài một lần là đủ” (Giu-đe 1:3;, BDY, nhấn mạnh). Đừng nhầm lẫn giữa phương pháp với sứ điệp. Sứ điệp không hề thay đổi, nhưng phương pháp phải đổi thay thích ứng với mỗi thế hệ mới.
Thứ ba, đừng bao giờ chỉ trích điều Đức Chúa Trời đang ban phước , ngay cả khi đó là một phong cách chức vụ khiến bạn cảm thấy khó chịu. Tôi thường thấy ngạc nhiên về cách Đức Chúa Trời ban phước cho những người tôi không đồng ý hoặc không hiểu. Vậy nên, tôi chấp nhận thái độ này: Nếu đời sống đang được thay đổi bởi quyền năng của Đức Chúa Giê-xu Christ-thì tôi thích phương cách bạn đang làm điều đó! Chúng ta đều là những chiến lợi phẩm của ân điển Đức Chúa Trời.
Quan Niệm 7:
Mọi Điều Đức Chúa Trời Mong Đợi Nơi Chúng Ta Là Sự Thành Tín
Câu này chỉ đúng một nửa. Đức Chúa Trời mong muốn cả sự thành tín lẫn sự kết quả. Sự kết quả là chủ đề chính của Thánh Kinh Tân Ước. Hãy suy gẫm những điều sau:
Chúng ta được Đấng Christ kêu gọi để sanh ra bông trái . “Không phải các con đã chọn Ta nhưng Ta đã chọn, bổ nhiệm và sai phái các con đi để đem lại thành quả lâu dài” (GiGa 15:16, BDY). Đức Chúa Trời muốn thấy những bông trái lâu dài ra từ chức vụ của chúng ta.
Sanh bông trái là cách để chúng ta dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời . “Các con kết nhiều quả, tỏ ra xứng đáng làm môn đệ Ta, là các con đem vinh quang về cho Cha Ta” (GiGa 15:8, BDY). Một chức vụ không kết quả chẳng đem lại vinh quang cho Đức Chúa Trời, nhưng một chức vụ kết nhiều quả là bằng chứng cho thấy chúng ta thật là những môn đệ của Đấng Christ.
Kết quả là điều làm Đức Chúa Trời hài lòng . “Chúng tôi… cầu nguyện… hầu cho anh em ăn ở cách xứng đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường, nẩy ra đủ các việc lành, càng thêm lên trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời” (CoCl 1:10).
Chúa Giê-xu dành sự đoán phạt nặng nhất cho những cây không kết quả . Ngài rủa sả nó vì nó không kết quả. “Thấy một cây vả ở bên đường, Ngài bèn lại gần, song chỉ thấy những lá mà thôi, thì Ngài phán cùng cây vả rằng: Mầy chẳng khi nào sanh ra trái nữa! Cây vả tức thì khô đi” (Mat Mt 21:19). Chúa Giê-xu không làm việc này để phô trương, nhưng để làm rõ một điều: Ngài mong đợi sự kết quả!
Dân Y-sơ-ra-ên đánh mất đặc ân của mình vì cớ không kết quả . “Bởi vậy, ta phán cùng các ngươi, nước Đức Chúa Trời sẽ cất khỏi các ngươi, và cho một dân khác là dân sẽ có kết quả của nước đó” (Mat Mt 21:43). Nguyên tắc này có thể được áp dụng cho từng Hội Thánh. Tôi đã nhìn thấy Đức Chúa Trời cất bàn tay ơn phước của Ngài khỏi nhiều Hội Thánh-những Hội Thánh đã từng được phước lớn trong quá khứ-vì họ trở nên tự thỏa mãn, chỉ quan tâm đến mình và ngừng kết quả.
Sự kết quả là gì? Từ bông trái , hay một cách viết khác của nó, được dùng năm mươi lăm lần trong Thánh Kinh Tân Ước và đề cập tới một loạt kết quả khác nhau. Mỗi điều sau đây được Đức Chúa Trời kể là bông trái: sự ăn năn (Mat Mt 3:8; LuLc 13:5-9;), thực hành lẽ thật (Mat Mt 7:16-21; CoCl 1:10), lời cầu nguyện được nhậm (GiGa 15:7-8;), của dâng bằng tiền của các tín hữu (RoRm 15:28), đặc tính giống Đấng Christ, và chinh phục những người chưa tin cho Đấng Christ (RoRm 1:13). Phao-lô nói rằng ông muốn rao giảng tại Rô-ma “đặng hái trái trong anh em cũng như trong dân ngoại khác” (RoRm 1:13). Bông trái của một tín nhân là một tín nhân khác (do người đó dẫn dắt đến với Chúa - ND).
Hãy để ý Đại Mạng Lệnh Đức Chúa Giê-xu ban cho Hội Thánh, tôi tin rằng định nghĩa sự kết quả của một Hội Thánh địa phương phải bao gồm sự tăng trưởng bằng sự quy đạo của những người chưa tin. Phao-lô gọi những người quy đạo đầu tiên ở A-chai là “trái đầu mùa của xứ A-chai” (ICo1Cr 16:15).
Kinh Thánh xác định sự gia tăng về số lượng của Hội Thánh là bông trái. Rất nhiều ví dụ về vương quốc của Đức Chúa Giê-xu nhấn mạnh lẽ thật tất yếu là Đức Chúa Trời mong muốn Hội Thánh của Ngài tăng trưởng. Thêm vào đó, Phao-lô liên hệ việc sinh ra bông trái với sự tăng trưởng Hội Thánh. CoCl 1:6 chép rằng, “Phúc âm đã truyền đến anh em, cũng được quảng bá khắp thế giới, kết quả và phát triển mọi nơi cũng như đổi mới đời sống anh em ngay từ ngày anh em nghe…” (BDY, có nhấn mạnh). Hội Thánh của bạn có đang kết quả và tăng trưởng không? Bạn có nhìn thấy bông trái là những người mới quy đạo đang được thêm vào hội chúng của mình không?
Đức Chúa Trời muốn Hội Thánh của bạn vừa trung tín vừa kết quả. Có cái này mà thiếu cái kia thì chỉ mới được một nửa phương trình. Những con số kết quả không phải là bằng chứng cho sự không trung thành với sứ điệp, nhưng chúng ta cũng không thể dùng sự thành tín làm một lời bào chữa cho việc không kết quả! Những Hội Thánh có ít hoặc không có người đến tin Chúa thường cố bào chữa cho sự thất bại của mình như vầy: “Đức Chúa Trời không kêu gọi chúng tôi để thành công. Ngài chỉ kêu gọi chúng tôi trung tín.” Tôi cực lực phản đối vì Kinh Thánh dạy rõ rằng Đức Chúa Trời mong muốn cả hai điều đó.
Vấn đề ở đây là cách bạn định nghĩa những khái niệm thành công và thành tín . Tôi định nghĩa thành công là sự hoàn thành Đại Mạng Lệnh. Chúa Giê-xu đã giao cho Hội Thánh một công tác để thực hiện. Chúng ta hoặc thành công, hoặc thất bại trong công tác đó. Theo định nghĩa này, mỗi Hội Thánh phải mong muốn thành công! Còn cái kia? Trái nghĩa với sự thành công không phải là sự trung tín, mà là thất bại . Bất cứ Hội Thánh nào không vâng theo Đại Mạng Lệnh thì cũng đánh mất mục đích của mình, dù họ đã làm gì đi chăng nữa.
Còn sự trung tín là gì? Thường chúng ta định nghĩa từ này bằng những khái niệm về niềm tin. Chúng ta nghĩ rằng việc giữ gìn những niềm tin chính thống là làm tròn mạng lệnh trung tín của Đấng Christ. Chúng ta tự gọi mình là “những người bảo vệ đức tin.” Nhưng khi Chúa Giê-xu dùng từ này, Ngài không chỉ ngụ ý sự trung thành với niềm tin. Ngài định nghĩa sự trung tín bằng những khái niệm hành vi-sự sẵn sàng mạo hiểm (điều đòi hỏi đức tin) để được kết quả.
Ví dụ rõ ràng nhất minh họa cho điều này là ví dụ về các ta-lâng trong Mat Mt 25:14-30;. Hai người tôi tớ làm tăng gấp đôi số ta-lâng chủ giao được gọi là những “đầy tớ ngay lành trung tín.” Nói cách khác, họ chứng tỏ sự trung tín của mình bằng cách mạo hiểm sản sinh ra bông trái. Họ đã thành công trong công việc được giao, và được chủ thưởng vì điều đó.
Người đầy tớ thụ động, lo sợ và không làm gì với đồng ta-lâng được giao, nên không nhận được kết quả gì vì người này đã không mạo hiểm. Anh ta được gọi là “đầy tớ dữ và biếng nhác” trái ngược với hai người được gọi là “trung tín” vì làm việc kết quả. Trọng tâm câu chuyện rất rõ: Đức Chúa Trời mong muốn nhìn thấy những kết quả. Sự trung tín của chúng ta được thể hiện bằng bông trái chúng ta tạo ra.
Trung tín là cố gắng tận dụng hết sức những gì Đức Chúa Trời ban cho để làm lợi cho Ngài. Đó là lý do tại sao so sánh các Hội Thánh là một phương cách không chính đáng để đo lường sự thành công. Thành công không có nghĩa là lớn hơn một Hội Thánh nào đó; mà là sanh ra càng nhiều bông trái càng tốt, tùy theo các ân tứ, cơ hội và tiềm năng của bạn.
Đấng Christ không mong muốn chúng ta sản sinh nhiều hơn mức chúng ta có thể, nhưng Ngài mong muốn chúng ta sản sinh tất cả những gì chúng ta có thể bởi quyền năng của Ngài trong chúng ta. Điều đó nhiều hơn cả những gì chúng ta nghĩ rằng mình có thể. Chúng ta mong chờ quá ít từ nơi Đức Chúa Trời, và chúng ta cũng nỗ lực quá ít ỏi cho Ngài. Nếu bạn không mạo hiểm trong chức vụ, thì cũng không đòi hỏi bạn phải có đức tin. Và nếu chức vụ của bạn không đòi hỏi phải có đức tin, thì rõ ràng bạn đang không trung tín.
Bạn định nghĩa sự trung tín như thế nào? Bạn có trung tín với Lời Đức Chúa Trời nếu bạn cứ truyền thông bằng một phương pháp lỗi thời không? Bạn có trung tín không nếu chỉ thực hiện chức vụ theo cách bạn cảm thấy dễ chịu cho mình, ngay cả khi nó không sản sinh ra bông trái nào? Bạn có trung tín với Đấng Christ không nếu như bạn đề cao những truyền thống con người lập ra hơn là chinh phục mọi người cho Ngài? Tôi cho rằng Hội Thánh nào cứ tiếp tục dùng những phương pháp không còn hiệu quả nữa thì Hội Thánh đó đang thất tín với Đấng Christ!
Đáng buồn thay, ngày nay có nhiều Hội Thánh hoàn toàn chính thống trong niềm tin, nhưng vẫn không trung tín với Đấng Christ vì họ không chịu thay đổi các chương trình, phương pháp, phong cách thờ phượng, nhà thờ, hay ngay cả địa điểm để tiếp cận thế giới hư mất vì Đấng Christ. Vance Havner thường nói, “Một Hội Thánh có thể thẳng như một nòng súng về phương diện giáo lý và cũng rỗng như vậy về phương diện thuộc linh.” Chúng ta phải sẵn sàng nói, với sự dấn thân không dè dặt, rằng: “Chúng ta sẽ làm bất cứ điều gì có cần để đem mọi người trở lại với Đấng Christ.”
Quan Niệm 8:
Bạn Không Học Được Điều Gì Từ Những Hội Thánh Lớn
Câu chuyện về sự tăng trưởng của Hội Thánh Saddleback là việc làm tể trị của Đức Chúa Trời, vốn không thể sao chép được. Tuy nhiên, chúng ta nên rút ra những bài học và nguyên tắc chung. Bỏ qua những gì Đức Chúa Trời đã dạy Hội Thánh chúng tôi là không khôn ngoan. “Ngày nay, các ngươi hãy nhìn biết… những lời răn dạy của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi” (Phục Truyền 11:2;). Mỗi Hội Thánh không cần phải phát minh lại cỗ máy.
Bất cứ khi nào tôi thấy có một chương trình kết quả trong một Hội Thánh khác, tôi luôn cố rút ra những nguyên tắc đằng sau nó và áp dụng cho Hội Thánh chúng tôi. Chính vì vậy, Hội Thánh chúng tôi đã tận dụng rất nhiều phương pháp khác nhau mà chúng tôi học hỏi được, cả những phương pháp hiện đại lẫn lịch sử. Tôi rất biết ơn những tấm gương đã giúp đỡ tôi. Từ lâu tôi đã học biết rằng mình không cần làm việc bằng cách khởi sự mọi điều. Đức Chúa Trời không kêu gọi chúng ta để khởi sự tất cả. Ngài kêu gọi chúng ta kết quả.
Để tránh nguy cơ bắt chước những điều sai, tôi muốn xác định những nguyên tắc chung của Hội Thánh Saddleback, và những nguyên tắc riêng.
Điều bạn không thể bắt chước
Trước hết , bạn không ở vào hoàn cảnh của chúng tôi . Mỗi Hội Thánh hoạt động trong một cộng đồng văn hóa độc nhất. Saddleback tọa lạc ở trung tâm một khu vực ngoại ô phía nam California bận rộn, đầy những cặp vợ chồng trẻ học thức cao. Đây không phải là Peoria, Illinois; Muleshoe, Texas; hay ngay cả Los Angeles, California. Mỗi cộng đồng là độc nhất. Mở một Hội Thánh giống hệt Saddleback ở một môi trường khác chắc chắn sẽ thất bại. Bất chấp lời cảnh báo của tôi, một số người đã thử rồi, và sau đó tự hỏi tại sao mọi việc không có tác dụng gì cả.
Thứ hai , bạn không thể sao chép đội ngũ của tôi . Đức Chúa Trời dùng nhiều người để làm công việc Ngài. Hàng lãnh đạo của bất kỳ chương trình nào luôn luôn quan trọng hơn chính bản thân chương trình. Tôi đã dành mười lăm năm xây dựng một đội ngũ làm việc cùng với nhau tốt hơn bất cứ ai trong chúng tôi nếu làm việc riêng lẻ. Về phương diện cá nhân, hết thảy chúng tôi là những người bình thường trong vùng. Nhưng khi tập hợp lại, bằng cách nào đó, hỗn hợp những ân tứ, cá tính và học vấn của chúng tôi tạo nên một sự hiệp lực mạnh mẽ và cho phép chúng tôi hoàn thành những nhiệm vụ đáng ngạc nhiên.
Thứ ba , bạn không thể là tôi . (Không một ai muốn những sự yếu đuối của tôi.) Chỉ có tôi là tôi, và chỉ có bạn là bạn. Đó là cách Đức Chúa Trời dựng nên chúng ta. Khi bạn lên thiên đàng, Đức Chúa Trời sẽ không nói rằng, “Tại sao con không giống Rick Warren (hay Jerry Falwell, Bill Hybels, John McAuthur hoặc bất kỳ ai khác) hơn một chút?” Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ hỏi, “Tại sao con không giống chính con hơn một chút?”
Đức Chúa Trời đã tạo nên bạn để là chính bạn. Ngài muốn dùng những ân tứ, tình cảm, những năng lực tự nhiên, cá tính và những kinh nghiệm của bạn để ảnh hưởng phần của bạn trên thế giới. Hết thảy chúng ta ra đời là những khởi đầu. Không may một điều, nhiều người kết thúc như những bản sao cacbon của một người khác. Bạn không thể giúp tăng trưởng một Hội Thánh bằng cách trở thành một người khác.
Điều bạn có thể học
Trước tiên , bạn có thể học những nguyên tắc . Có một câu nói cổ như sau, “Có rất nhiều phương pháp, nhưng chỉ có một số ít nguyên tắc; phương pháp thường thay đổi, nhưng nguyên tắc thì không.” Nếu một nguyên tắc có nền tảng Thánh Kinh, tôi tin chắc rằng nó cũng thích hợp với mọi nền văn hóa. Nó sẽ có tác dụng dù bạn ở đâu. Khôn ngoan là học hỏi và áp dụng những nguyên tắc từ việc nhìn xem cách Đức Chúa Trời vận hành khắp nơi trên thế giới. Bạn không thể giúp tăng trưởng một Hội Thánh bằng cách trở thành một người khác, nhưng bạn có thể giúp tăng trưởng một Hội Thánh bằng cách áp dụng những nguyên tắc mà người khác đã khám phá thông qua nhân cách và bối cảnh của bạn.
Tôi không hề thích thú chuyện tạo ra những bản sao của Hội Thánh Saddleback. Đó là một lý do tại sao tôi chọn một cái tên địa phương cho Hội Thánh mình hơn là một tên gọi có thể sao chép được. Trừ phi bạn sống trong cộng đồng của chúng tôi, nếu không thì cái tên “Saddleback” chẳng có ích lợi gì cho bạn. Không có một Hội Thánh nào trong số hai mươi lăm Hội Thánh nhánh chúng tôi lập ra cùng thực hiện một chức vụ giống như tại Saddleback. Tôi khích lệ họ thanh lọc những điều họ học được từ chỗ chúng tôi cho bối cảnh và nhân cách của họ.
Đức Chúa Trời có một chức vụ riêng biệt cho mỗi Hội Thánh. Hội Thánh của bạn có một dấu ấn độc nhất Ngài ban cho. Nhưng bạn có thể học hỏi từ nhiều tấm gương xung quanh mà không cần phải trở thành một bản sao! Chúng ta học nhanh và tốt nhất khi quan sát những tấm gương. Sau hết, đa số những gì chúng ta học được trong đời là học bằng cách nhìn xem người khác làm gương. Đừng bao giờ ngại ngùng khi noi gương; đó là dấu hiệu của sự thông minh! ChCn 18:15 chép rằng, “Lòng người khôn khéo được sự tri thức; và tai người khôn ngoan tìm kiếm sự hiểu biết.”
Phao-lô rõ ràng không ngại dùng những tấm gương nơi các Hội Thánh ông khai sinh. Ông nói với Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca, “Anh em cũng đã bắt chước tôi và bắt chước Chúa… đến nỗi anh em trở nên gương tốt cho hết thảy tín đồ ở xứ Ma-xê-đoan và xứ A-chai” (I Tê-sa-lô-ni-ca 1:6-7;). Đây là điều tôi cầu nguyện cho Hội Thánh bạn. Tôi hy vọng bạn sẽ học được từ gương Hội Thánh Saddleback, và đến lượt bạn sẽ trở thành tấm gương cho các Hội Thánh khác.
Saddleback không phải là một Hội Thánh hoàn hảo, nhưng đây là một Hội Thánh khỏe mạnh (cũng như những đứa con không bao giờ hoàn hảo, nhưng chúng mạnh khỏe). Một Hội Thánh không cần phải hoàn hảo mới làm gương được. Nếu hoàn hảo là một tiêu chuẩn để làm gương, bạn hãy quên chuyện có thể học được điều gì đó từ bất kỳ Hội Thánh nào. Không có Hội Thánh nào là hoàn hảo.
Tôi muốn cảnh báo bạn một điều: Nếu bạn áp dụng chiến lược và những ý tưởng trong sách này cho Hội Thánh của bạn, một người nào đó sẽ nói, “Anh lấy nó từ Hội Thánh Saddleback.” Bạn nên trả lời, “Đúng vậy! Họ có được những gì họ biết từ hàng trăm Hội Thánh khác.” Hãy nhớ rằng hết thảy chúng ta đều ở trong cùng một đội.
Tôi tin rằng những người không thể học được gì từ các tấm gương vấp phải vấn đề bản ngã. Kinh Thánh nói rằng, “Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (Gia-cơ 4:6;). Tại sao Đức Chúa Trời lại làm như vậy? Một trong những lý do đó là khi người ta đầy lòng kiêu ngạo, không ai có thể dạy họ được: Họ nghĩ rằng họ biết tất cả. Tôi khám phá ra rằng khi người ta cho rằng họ biết mọi câu trả lời, thì điều đó thường có nghĩa là họ thậm chí cũng không biết hết mọi câu hỏi. Mục đích của tôi là học hết sức mình, học từ những người nào tôi có thể học, thường xuyên học. Tôi cố gắng học từ những lời phê bình, từ những người bất đồng quan điểm với tôi, và ngay cả từ kẻ thù của tôi.
Thứ hai , bạn có thể học một tiến trình . Quyển sách này viết về một tiến trình, không phải những chương trình. Nó trình bày một hệ thống phát triển con người trong Hội Thánh bạn và cân bằng các mục đích của Hội Thánh. Khi quan sát chiến lược thúc đẩy dân sự của Hội Thánh Saddleback để họ làm việc dưới những đòi hỏi cao của một Hội Thánh tăng trưởng nhanh chóng, tôi tin rằng một tiến trình có mục đích lèo lái sẽ có tác dụng tại các Hội Thánh khác với tốc độ tăng trưởng phù hợp hơn. Chúng tôi đã thấy nó sản sinh ra những tín hữu mạnh mẽ, kết quả trong hàng ngàn Hội Thánh vừa và nhỏ. Đó không chỉ là chiến lược cho một siêu Hội Thánh.
Người ta quên rằng Saddleback từng là một Hội Thánh rất nhỏ. Hội Thánh lớn dần nhờ việc áp dụng một tiến trình có mục đích lèo lái. Tôi đã khiến cho nhiều vị lãnh đạo Hội Thánh phải thốt lên khi giải thích cả tiến trình cho họ, “Thế à, ai cũng làm được cả!” Tôi nói, “Đó chính là vấn đề!” Những Hội Thánh khỏe mạnh được xây dựng trên một tiến trình, không phải những cá nhân.
Cuối cùng , bạn có thể học một vài phương pháp . Không một phương pháp nào có hiệu quả mãi mãi hay có tác dụng ở mọi nơi, nhưng điều đó không khiến cho nó trở nên vô ích. Gần đây, những phương pháp tăng trưởng Hội Thánh đã bị mang tiếng xấu. Trong một số hệ phái, chúng bị coi là không thuộc linh, ngay cả bị xem là xác thịt. Vì một số người nhiệt tình trong vấn đề tăng trưởng Hội Thánh đã quá nhấn mạnh phương pháp đến độ bỏ qua giáo lý nền tảng cũng như công việc siêu nhiên của Thánh Linh, khiến những người khác đã lùi quá xa về thái cực bên kia và sẵn sàng tuôn đổ những lời chỉ trích phương pháp.
Mỗi Hội Thánh sử dụng một hệ phương pháp nào đó, dù cố tình hay vô ý, nên vấn đề không phải là có nên áp dụng phương pháp không. Vấn đề là ở chỗ bạn dùng loại phương pháp nào, chúng có dựa trên nền tảng Kinh Thánh và đem lại kết quả không.
Những phương pháp chẳng qua chỉ là sự thể hiện của những nguyên tắc. Có rất nhiều cách khác nhau để thể hiện những nguyên tắc Kinh Thánh trong các môi trường văn hóa khác nhau. Sách Công Vụ nêu rất nhiều ví dụ về cách những Cơ-đốc nhân đầu tiên áp dụng các phương pháp khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau.
Nếu bạn nghiên cứu Hội Thánh ngày nay, thì rõ ràng Đức Chúa Trời sử dụng mọi loại phương pháp, và Ngài ban phước cho một số phương pháp này nhiều hơn các phương pháp khác. Chúng ta cũng thấy rằng một số phương pháp có tác dụng trong quá khứ thì đến nay không còn hiệu quả nữa. May mắn thay, một trong những sức mạnh lớn của Cơ-đốc giáo là tính dễ thay đổi phương pháp khi đối diện với những nền văn hóa mới và thời đại mới. Lịch sử minh họa rất ngoạn mục sự sáng tạo không ngừng của Hội Thánh trong việc tạo ra “bình mới.” Đức Chúa Trời ban cho Hội Thánh những phương pháp mới để tiếp cận mỗi thế hệ mới. Truyền Đạo 3:6; chép rằng, “Có kỳ giữ lấy, và có kỳ ném bỏ.” Câu này có thể áp dụng cho hệ phương pháp. Mỗi thế hệ Hội Thánh phải quyết định tiếp tục dùng những phương pháp nào và loại bỏ phương pháp nào vì chúng không còn hiệu quả nữa.
Có lẽ bạn sẽ không thích những phương pháp chúng tôi sử dụng tại Saddleback. Cũng không sao. Tôi không mong như vậy vì chính tôi cũng không phải ưa thích hết thảy mọi điều chúng tôi đang làm đâu! Hãy đọc cuốn sách này như bạn ăn cá: Gắp thịt và bỏ xương. Hãy tiếp nhận và chấp nhận những gì bạn có thể dùng. Một trong những kỹ năng quan trọng của nghệ thuật lãnh đạo là học biết phân biệt điều gì quan trọng và điều gì không. Phương pháp phải luôn luôn phụ thuộc vào sứ điệp. Bất cứ khi nào bạn đọc một cuốn sách về sức khỏe và sự tăng trưởng Hội Thánh, đừng nhầm lẫn những vấn đề chính và những vấn đề thứ yếu.
Những vấn đề chính của sự vững mạnh và tăng trưởng Hội Thánh là:
Chủ của chúng ta là ai?
Sứ điệp của chúng ta là gì?
Động cơ của chúng ta là gì?
Những vấn đề thứ yếu của sự vững mạnh và tăng trưởng Hội Thánh là:
Đối tượng của chúng ta là ai?
Những tấm gương của chúng ta là gì?
Những phương pháp của chúng ta là gì?
Albert Einstein đã từng than thở rằng một trong những sự yếu đuối lớn nhất của thế kỷ hai mươi là chúng ta thường xuyên nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích. Đối với Hội Thánh, điều này đặc biệt nguy hiểm. Chúng ta không được quá say mê với các phương pháp mà đánh mất sứ mệnh và lãng quên sứ điệp.
Thật không may là nhiều Hội Thánh hoạt động trên những quan niệm sai lầm và các Quan niệm tôi đã nêu ra trong chương này. Điều này khiến họ không thể khỏe mạnh và tăng trưởng tùy theo năng lực tiềm ẩn của mình. Các Hội Thánh cần có lẽ thật để tăng trưởng. Các tà giáo có thể tăng trưởng mà không có lẽ thật, còn Hội Thánh thì không. I Ti-mô-thê 3:15; có nói về “trụ và nền của lẽ thật.” Trong phần tiếp theo của quyển sách này, chúng ta sẽ xem xét cách lập nền tảng lẽ thật để Đức Chúa Trời có thể xây dựng Hội Thánh Ngài trên đó.

TRỞ THÀNH MỘT HỘI THÁNH THEO ĐÚNG MỤC ĐÍCH
Chương 3: Điều Gì Lèo Lái Hội Thánh Của Bạn?
“Trong lòng loài người có nhiều mưu kế ; song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được .”
ChCn 19:21
Steve Johnson triệu tập cuộc họp ban điều hành Hội Thánh Westside vào đúng 7 giờ tối. Ông tuyên bố: “Tối nay chúng ta có nhiều việc để bàn, vậy nên chúng ta bắt đầu thôi. Như các anh chị em biết đó, hôm nay chúng ta phải bàn thảo một chương trình cho Hội Thánh trong năm mới. Chúng ta phải trình cho Hội Thánh trong hai tuần nữa.”
Là chủ tọa phiên họp, Steve cảm thấy lo lắng trước những gì đã xảy ra. Chỉ có cuộc họp báo cáo ngân quỹ hàng năm gây nên nhiều bất đồng và tranh cãi hơn là cuộc họp bàn chương trình này. “Anh chị nào có ý kiến trước?” Steve hỏi.
“Chuyện này dễ thôi,” Ben Faithful, một chấp sự cũng là thành viên Hội Thánh được hai mươi sáu năm, lên tiếng. “Năm ngoái là năm tốt. Chúng ta chỉ việc lập lại những điều tốt mình đã đạt được năm rồi. Tôi luôn tin rằng làm lại những gì mình đã làm vẫn tốt hơn rất nhiều so với những ý tưởng mới lạ.”
“Tôi thì không nghĩ như vậy đâu,” Bob Newman nói. “Thời thế đã đổi thay, và tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải đánh giá lại mọi việc chúng ta đang làm. Đơn giản là vì một chương trình có kết quả vào năm ngoái không tự động tiếp tục có kết quả trong năm nay. Tôi đặc biệt thích việc bắt đầu một chương trình thờ phượng khác theo một phong cách khác. Hết thảy chúng ta đều nhìn thấy sự tăng trưởng tại Hội Thánh Calvary kể từ khi họ bắt đầu thay đổi chương trình thờ phượng cho phù hợp với thời đại để tiếp cận những người không đi nhà thờ.”
Ben đáp lời: “Đúng vậy, nhưng một số Hội Thánh sẵn sàng làm bất cứ gì để thu hút đám đông. Họ quên việc Hội Thánh dành cho ai: Hội Thánh dành cho Cơ-đốc nhân chúng ta! Chúng ta phải khác và tách biệt với thế gian. Chúng ta không cần phải thỏa mãn những điều thế gian muốn. Tôi thật sự không muốn thấy điều đó xảy ra tại Westside!”
Suốt hơn hai tiếng đồng hồ sau đó, một danh sách sáng giá gồm đầy những chương trình và đường lối để đưa vào lịch Hội Thánh. Karen Doer nhiệt tình khẳng định rằng Hội Thánh Westside phải có một vai trò tích cực hơn trong Chiến Dịch Giải Cứu và phong trào ủng hộ đời sống. John Manly làm chứng thật cảm động về việc Đấng Giữ Lời Hứa đã thay đổi đời sống của anh và gợi ý tăng cường các hoạt động cho quý ông. Linda Loving nói về nhu cầu cần phải gia tăng sự hỗ trợ cho các nhóm. Bob Learner, với giọng điệu bình thường của mình, đề nghị Hội Thánh mở trường Cơ-đốc. Và dĩ nhiên, Jery Tightwad vẫn cứ hỏi, “Tốn bao nhiêu tiền?” khi mỗi ý kiến được nêu ra. Hết thảy đều là những gợi ý thích đáng. Vấn đề là ở chỗ dường như không có một tiêu chuẩn nào để cuộc họp đánh giá và quyết định nên thực hiện chương trình nào.
Cuối cùng Clark Reasoner lên tiếng. Clark là tiếng nói mà mọi người đều đang chờ đợi. Bất cứ khi nào các vấn đề trở nên lộn xộn trong các buổi họp công việc Hội Thánh, anh đều lên tiếng phát biểu ngắn, và đa số người sẽ ủng hộ cách của anh. Không phải do ý kiến của anh tốt hơn; trên thực tế, nhiều người thường bất đồng với anh. Nhưng sức hút trong cá tính của anh lúc đó khiến cho những gì anh nói dường như rất có ý nghĩa.
Trong tình huống này thì vấn đề là gì? Những động lực lèo lái trong Hội Thánh này đang tranh giành sự chú ý. Điều đó tạo nên mâu thuẫn và sản sinh một Hội Thánh đang cố gắng cùng một lúc đi theo nhiều hướng khác nhau.
Nếu bạn tra chữ lèo lái (drive ) trong từ điển, nó có nghĩa là: “hướng dẫn, kiểm soát, hay là định hướng.” Khi bạn lái xe, tức là bạn hướng dẫn, điều khiển và định hướng cho chiếc xe đi trên đường. Khi bạn đóng cây đinh vào gỗ là bạn điều khiển, kiểm soát, định hướng cho cây đinh đi vào miếng gỗ. Khi đánh một quả bóng, bạn hy vọng có thể hướng dẫn, điều khiển và định hướng nó đúng vào lỗ gôn!
Mỗi Hội Thánh đều được điều khiển hay lèo lái bởi một điều gì đó. Có một nguồn động lực hướng dẫn, một sự điều khiển, định hướng nào đó đằng sau mọi sự đang xảy ra. Có thể không ai nói tới nó. Thậm chí có nhiều người cũng chẳng biết đến nó. Hầu như nó chưa bao giờ được chính thức ủng hộ. Nhưng nó ở đó, ảnh hưởng mọi khía cạnh của đời sống Hội Thánh. Động lực đang lèo lái (driving) đằng sau Hội Thánh bạn là gì?
Hội Thánh Được Lèo Lái Bởi Truyền Thống
Trong Hội Thánh được truyền thống lèo lái, điều khiển, câu nói phổ biến nhất là, “Đây là cách chúng ta vẫn thường làm.” Mục đích của một Hội Thánh được truyền thống lèo lái chỉ đơn giản là lập lại quá khứ. Sự thay đổi hầu như lúc nào cũng bị cho là tiêu cực, và sự trì trệ thường được hiểu là “sự ổn định.”
Những Hội Thánh già hơn có khuynh hướng bị ràng buộc bởi những luật lệ, quy tắc và các nghi lễ, trong khi đó, những Hội Thánh trẻ lại có khuynh hướng bị ràng buộc bởi định hướng mục đích và sứ mệnh. Trong một số Hội Thánh, truyền thống có thể trở thành động lực lèo lái mạnh đến nỗi mọi điều khác, ngay cả ý chỉ của Đức Chúa Trời, trở thành thứ yếu. Ralph Neighbour đã nói bảy lời cuối cùng về Hội Thánh như sau: “Chúng ta chưa bao giờ làm thế.”
Hội Thánh Được Lèo Lái Bởi Cá Nhân
Trong Hội Thánh này, câu hỏi quan trọng nhất là, “Người lãnh đạo muốn gì?” Nếu vị mục sư hầu việc tại Hội Thánh trong một thời gian dài, thì gần như ông là cá nhân lèo lái chính. Nhưng nếu Hội Thánh có một lịch sử thay đổi các mục sư mỗi vài năm, thì dường như động lực lèo lái chính là một người nòng cốt nào đó. Một nan đề hiển nhiên của Hội Thánh do cá nhân lèo lái là lịch hoạt động của Hội phần nhiều được quyết định bởi trình độ học vấn, nhu cầu và những hoàn cảnh của người lãnh đạo hơn là ý chỉ của Đức Chúa Trời hay nhu cầu của các con cái Chúa. Một vấn đề khác trong Hội Thánh do cá nhân lèo lái chính là Hội Thánh này đi tới chỗ bế tắc khi cá nhân lèo lái đó dời đi nơi khác hoặc qua đời.
Hội Thánh Được Lèo Lái Bởi Ngân Sách
Câu hỏi hàng đầu trong tâm trí mỗi thành viên tại một Hội Thánh do ngân sách lèo lái, chính là: “Tốn bao nhiêu tiền?” Hầu như không có chuyện gì khác quan trọng hơn ngân sách. Vấn đề nóng bỏng nhất trong loại Hội Thánh này luôn luôn là ngân quỹ. Dù việc quản lý và vòng quay tiền mặt là cần thiết cho một Hội Thánh khỏe mạnh đi nữa cũng không được đặt ngân sách lên hàng đầu. Vấn đề cần quan tâm hơn chính là Đức Chúa Trời muốn Hội Thánh làm gì. Hội Thánh không tồn tại để kiếm lợi. Điểm mấu chốt trong bất kỳ Hội Thánh nào không phải là “Chúng ta tiết kiệm được bao nhiêu?” mà là “Ai đã được cứu?” Tôi đã quan sát thấy có nhiều Hội Thánh tồn tại bởi đức tin trong những năm đầu, và những năm sau đó thì ngân sách chiếm vị trí độc tôn.
Hội Thánh Được Lèo Lái Bởi Các Chương Trình
Trường Chúa Nhật, chương trình phụ nữ, ban nhạc, nhóm các bạn trẻ là các chương trình thường ở vị trí lèo lái trong nhiều Hội Thánh. Trong những Hội Thánh được các chương trình lèo lái, mọi năng lực được tập trung vào việc duy trì và chống đỡ những chương trình của Hội Thánh. Thường thì mục tiêu của loại Hội Thánh này thay đổi một cách tinh tế từ chỗ phát triển con người sang lấp đầy các vị trí, và đội ngũ thực hiện chương trình trở thành lực lượng quan trọng nhất trong Hội Thánh. Nếu một chương trình không đem lại kết quả, người ta sẽ đổ lỗi cho nhau là đã không làm việc tận tâm đủ. Không hề có ai đặt vấn đề là liệu chương trình có còn hiệu quả không.
Hội Thánh Được Lèo Lái Bởi Các Tòa Nhà
Winston Churchill đã từng nói, “Chúng ta định hình cho các tòa nhà, và rồi chúng định hình chúng ta.” Thường thì một hội chúng hay nóng lòng muốn có một tòa nhà tốt đẹp để các thành viên chi nhiều hơn mức họ có thể. Chi trả và duy trì tòa nhà đó trở thành vấn đề lớn nhất của ngân quỹ. Phần tiền cần có để điều hành các chức vụ bị lấy đi trả tiền thế chấp, và chức vụ thực sự của Hội Thánh phải chịu mọi thiệt thòi. Cái đuôi lại làm hại con chó. Trong những trường hợp khác, nhiều Hội Thánh cứ giữ tòa nhà nhỏ nhất để giới hạn sự phát triển tương lai. Không được để cho việc duy trì một tòa nhà lịch sử, nhưng không phù hợp, trở nên quan trọng hơn việc tiếp cận và đi vào cộng đồng.
Hội Thánh Được Lèo Lái Bởi Các Hoạt Động
Nếu bạn nhìn vào lịch sinh hoạt của những Hội Thánh loại này, bạn sẽ thật ấn tượng trước mục tiêu của Hội Thánh là giữ cho các con cái Chúa luôn bận rộn. Luôn có một điều gì đó diễn ra mỗi tối suốt cả tuần. Vừa khi một giờ lễ lớn qua đi, công việc mới lại bắt đầu. Có rất nhiều hoạt động trong Hội Thánh này, nhưng không nhất thiết đem lại thành quả. Một Hội Thánh có thể bận rộn thật sự mà không có một mục đích rõ ràng cho những việc mình làm. Một ai đó cần phải đặt câu hỏi, “Mục đích đằng sau mỗi hoạt động của chúng ta là gì?” Trong Hội Thánh được các hoạt động lèo lái, sự hiện diện của tín hữu trở thành tiêu chuẩn duy nhất đo lường sự trung tín và trưởng thành. Chúng ta cần phải đề phòng khuynh hướng thay thế chức vụ bằng những buổi họp mặt như một hoạt động chính của các tín hữu.
Hội Thánh Được Lèo Lái Bởi Các Thân Hữu
Trong một nỗ lực chân thật nhằm tiếp cận những người chưa tin cho Đấng Christ và giữ cho mình được hợp thời đại, một số Hội Thánh đã để cho các nhu cầu của những người chưa tin trở thành động lực thúc đẩy mình. Vấn đề chính được đặt ra là, “Những người không đi nhà thờ, không tin Chúa muốn gì?” Dù rằng chúng ta phải nhạy cảm với những nhu cầu, nỗi đau và sở thích của những người chưa tin, và việc vạch ra những dịch vụ truyền giáo nhắm vào các nhu cầu của họ là điều khôn ngoan, nhưng chúng ta không được để cho những người chưa tin lèo lái toàn bộ lịch sinh hoạt của Hội Thánh.
Các mục đích của Đức Chúa Trời dành cho Hội Thánh của Ngài bao gồm công tác truyền giáo-nhưng không tới mức độ loại trừ các mục đích khác. Thu hút các thân hữu là bước đầu tiên trong tiến trình môn đồ hóa, nhưng không được biến nó thành động lực thúc đẩy Hội Thánh. Đối với công việc làm ăn thì chạy theo thị trường là điều tốt (đem tới cho khách hàng điều họ muốn), nhưng Hội Thánh có một sự kêu gọi cao hơn. Hội Thánh cần phải nhạy cảm với những người chưa tin , nhưng không được để cho họ lèo lái Hội Thánh. Chúng ta phải điều chỉnh phong cách truyền thông của mình cho phù hợp với nền văn hóa mà không chấp nhận những yếu tố tội lỗi của nó hoặc phủ nhận nó.
Một Mô Hình Kinh Thánh: Hội Thánh Được Lèo Lái Bởi Mục Đích
Điều có cần ngày nay là những Hội Thánh được lèo lái bởi mục đích thay vì các động lực khác. Cuốn sách này trình bày một mô hình mới, Hội Thánh theo đúng mục đích như Kinh Thánh dạy, và là một sự lựa chọn vững mạnh cho những phương pháp truyền thống mà các Hội Thánh đã duy trì bao nhiêu năm qua.
Có hai yếu tố quan trọng trong mô hình này. Trước hết, nó đòi hỏi một cách nhìn mới. Bạn phải bắt đầu nhìn lại mọi điều Hội Thánh mình làm qua lăng kính năm mục đích của Tân Ước và xem xét cách Đức Chúa Trời hoạch định để Hội Thánh cân bằng cả năm mục đích đó.
Thứ hai, mô hình này đòi hỏi một tiến trình để thành đạt các mục đích của Hội Thánh. Trong sách này, tôi sẽ giải thích tiến trình chúng tôi đã thực thi tại Hội Thánh Saddleback và nó đã giúp hội chúng của chúng tôi kinh nghiệm mười lăm năm tăng trưởng liên tục và khỏe mạnh như thế nào.
Đây không phải là một dạng lý thuyết “tháp ngà” nào đó; mà nó đã được kiểm chứng thực tế tại một Hội Thánh thật trong suốt mười lăm năm và đã tạo nên một trong những Hội Thánh lớn nhất cũng như tăng trưởng nhanh nhất lịch sử nước Mỹ. Nó cũng đã đem lại những kết quả đầy khích lệ tại hàng ngàn Hội Thánh khác ở Châu Mỹ, Châu Úc, Châu Âu và Châu Á. Bất luận Hội Thánh của bạn lớn nhỏ ra sao hay tọa lạc tại đâu cũng sẽ trở nên khỏe mạnh hơn, mạnh mẽ hơn và kết quả nhiều hơn khi trở thành một Hội Thánh được lèo lái bởi mục đích.
Sứ đồ Phao-lô đã nói rằng Đức Chúa Trời sẽ đoán xét những gì chúng ta xây dựng trên nền đã lập tùy vào việc chúng tồn tại hay không: “Công việc của mỗi người sẽ bày tỏ ra. Ngày đến sẽ tỏ tường công việc đó; nó sẽ trình ra trong lửa, và công việc của mỗi người đáng giá nào, lửa sẽ chỉ ra” (ICo1Cr 3:13-14). Phao-lô cũng nói với chúng ta rằng chìa khóa để xây dựng những điều bền vững là xây chúng trên nền tảng đúng: “Nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó. Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Jêsus Christ” (ICo1Cr 3:10-11).
Những Hội Thánh mạnh mẽ được xây dựng trên mục đích! Bằng cách tập trung đồng đều vào năm mục đích Tân Ước của Hội Thánh, Hội Thánh bạn sẽ phát triển mạnh khỏe, cân bằng và tăng trưởng lâu dài. ChCn 19:21 chép rằng, “Trong lòng loài người có nhiều mưu kế; song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được.” Những kế hoạch, các chương trình và các cá nhân sẽ không tồn tại, nhưng những mục đích của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại.
Tầm quan trọng của việc được mục đích lèo lái
Không có điều gì đến trước mục đích. Điểm khởi đầu của mỗi Hội Thánh nên là, “Tại sao chúng ta hiện hữu?” Chừng nào bạn chưa biết rằng Hội Thánh của bạn tồn tại vì điều gì, chừng đó bạn vẫn chưa có một nền tảng, một động lực, và một phương hướng cho chức vụ. Nếu bạn đang giúp mở một Hội Thánh mới, nhiệm vụ đầu tiên của bạn là xác định mục đích của bạn. Lập một nền tảng đúng ngay lúc mở một Hội Thánh mới dễ dàng hơn nhiều so với việc tái lập lại nó khi Hội Thánh đã tồn tại nhiều năm.
Tuy nhiên, nếu bạn hầu việc tại một Hội Thánh đang hiện hữu trong tình trạng bình bình, đang tuột dốc hay chỉ đơn giản là thối chí, nhiệm vụ quan trọng nhất của bạn là tái xác định mục đích của mình. Hãy quên mọi chuyện khác đi cho đến khi bạn đã định hình mục đích trong trí của các thành viên. Hãy nắm bắt lại một khải tượng rõ ràng về điều Đức Chúa Trời muốn làm trong và qua Hội Thánh của bạn. Tuyệt đối không có điều gì có thể tái sinh một Hội Thánh đã thối chí nhanh hơn là việc tái khám phá mục đích của mình.
Khi tôi chuẩn bị thành lập Hội Thánh Saddleback, một trong những nhân tố quan trọng nhất tôi khám phá trong quá trình nghiên cứu của mình đó là những Hội Thánh mạnh khỏe, đang tăng trưởng đều có một đặc điểm rõ ràng. Họ hiểu lý do mình tồn tại; họ nhắm đúng vào mục đích của mình. Họ biết chính xác điều Đức Chúa Trời đã kêu gọi họ làm. Họ biết công việc của họ là gì, và cũng biết điều gì không phải là việc của họ! Hội Thánh của bạn có một đặc điểm rõ ràng như vậy không?
Nếu bạn hỏi những thành viên tiêu biểu trong các Hội Thánh lý do tại sao Hội Thánh của họ hiện hữu, bạn sẽ nhận được rất nhiều câu trả lời khác nhau. Đa số Hội Thánh không có sự nhất trí rõ ràng về vấn đề này. Win Arn, một nhà tư vấn cho các Hội Thánh, đã từng nói với tôi về cuộc nghiên cứu của ông. Ông đã hỏi các thành viên của hơn một ngàn Hội Thánh như sau, “Tại sao Hội Thánh bạn hiện hữu?” Kết quả thế nào? 89 phần trăm trong tổng số những người được hỏi nói rằng, “Mục đích của Hội Thánh là quan tâm chăm sóc gia đình và những nhu cầu của tôi.” Đối với nhiều người, vai trò của vị mục sư chỉ đơn giản là gìn giữ đàn chiên đang sống hạnh phúc trong “chuồng” và không để xổng quá nhiều con chiên. Chỉ có 11 phần trăm nói rằng, “Mục đích của Hội Thánh là chinh phục thế gian cho Đấng Christ.”
Kế đến, những vị mục sư tại các Hội Thánh đó cũng được hỏi cùng câu hỏi này. Thật ngạc nhiên khi kết quả lại hoàn toàn trái ngược. Trong tổng số các mục sư được hỏi, 90 phần trăm nói rằng mục đích của Hội Thánh là chinh phục thế gian và 10 phần trăm nói rằng mục đích của Hội Thánh là quan tâm tới các nhu cầu của những thành viên. Thế thì có gì lạ khi chúng ta phải đối đầu với những xung đột, bối rối, và tình trạng trì trệ trong nhiều Hội Thánh ngày nay? Nếu vị mục sư và hội chúng của mình thậm chí không thể nhất trí với nhau về lý do Hội Thánh hiện hữu, thì sự xung đột và bất đồng ý kiến về mọi việc khác là điều không thể tránh khỏi.
Các Hội Thánh được ra đời với nhiều lý do khác nhau. Đôi lúc những lý do đó hoàn toàn không phù hợp: sự cạnh tranh, sự tự hào hệ phái, tranh thủ sự ưu ái của một người lãnh đạo, hay một động cơ vô giá trị nào đó. Trừ phi động lực lèo lái đằng sau một Hội Thánh đặt trên nền tảng Thánh Kinh, nếu không, sức khỏe và sự tăng trưởng của một Hội Thánh sẽ không ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời. Những Hội Thánh mạnh mẽ không đặt nền tảng trên những chương trình, những cá nhân hay các mẹo kinh doanh, mà được lập nên trên những mục đích đời đời của Đức Chúa Trời.
Chương 4: Nền Tảng Của Một Hội Thánh Vững Mạnh
Chúa Giê-xu phán : “Ta sẽ lập Hội Thánh ta .”
Mat Mt 16:18
Phao-lô nói : “Theo ơn Đức Chúa Trời ban cho tôi , tôi đã lập nền như một tay thợ khéo .”
ICo1Cr 3:10
Vài năm trước, tôi mua vật liệu trên núi đằng sau Công Viên Quốc Gia Yosemite và xây một căn nhà bằng gỗ ghép. Dù có ba tôi và một số người bạn giúp đỡ nhưng cũng phải mất hai năm mới xong, vì tôi đã không thể dành trọn cả ngày để dựng nó. Khi bắt đầu xây nhà, tôi mất trọn mùa hè chỉ để làm nền nhà. Trước hết, tôi phải dọn sạch mặt bằng trong rừng, đốn và nhổ rễ của ba mươi bảy cây thông cao chót vót. Kế đến tôi phải đào một đường thoát nước dài hơn sáu mươi feet, sâu năm feet và cho sỏi vào đó vì nền đất ẩm ướt do ở gần một con suối ngầm.
Sau mười tuần làm việc cật lực, mọi nỗ lực của tôi chỉ tạo nên một nền nhà bê tông vuông và bằng phẳng. Tôi rất thất vọng. Nhưng ba tôi, người đã xây hơn 110 nhà thờ trong đời mình, nói rằng, “Vui lên đi con trai! Khi con làm nền xong, thì con cũng đã hoàn tất công việc quan trọng nhất rồi.”
Phần nền quyết định cả kích thước lẫn sức bền của một tòa nhà. Bạn không thể xây rộng hơn sức chịu đựng của phần nền. Đối với Hội Thánh cũng vậy. Một Hội Thánh xây dựng trên một nền tảng không phù hợp hoặc sai lầm sẽ không bao giờ đạt tới tầm cao Đức Chúa Trời muốn. Hội Thánh sẽ sụp đổ một khi tăng trưởng quá sức chịu đựng của phần nền.
Nếu bạn muốn xây dựng một Hội Thánh khỏe mạnh, vững vàng, và tăng trưởng, bạn phải dành thời gian lập một nền tảng vững chắc. Việc này được thực hiện bằng cách dạy dỗ để mọi người có liên quan biết chính xác lý do Hội Thánh hiện hữu và phải làm gì. Một tuyên ngôn cụ thể, rõ ràng về mục đích sẽ tạo ra một sức mạnh phi thường. Nếu nó đủ ngắn để mọi người có thể nhớ, thì tuyên ngôn về mục đích của bạn sẽ đem lại năm lợi ích tuyệt vời cho Hội Thánh.
Một Mục Đích Rõ Ràng Tạo Nên Nhuệ Khí
Nhuệ khí và sứ mệnh luôn đi cùng với nhau. ICo1Cr 1:10 chép rằng, “Hỡi anh em, tôi nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau.” Hãy lưu ý Phao-lô nói rằng chìa khóa dẫn tới sự đồng một tiếng nói trong Hội Thánh là sự thống nhất trong mục đích. Nếu sứ mệnh của bạn không rõ ràng, nhuệ khí của bạn sẽ rất ít.
Hội Thánh Saddleback có một nhuệ khí và một hòa khí cao khác thường. Mọi người cùng làm việc với nhau vì một mục đích lớn sẽ không còn thời gian tranh cãi với nhau vì những chuyện nhỏ nhặt. Khi bạn đang chèo thuyền, bạn không có thời gian để lắc nó! Chúng tôi có thể duy trì được một mối thông công ấm cúng bất chấp sự tăng trưởng rất nhanh là vì các thành viên của chúng tôi tập trung vào một mục đích chung.
ChCn 29:18 chép rằng, “Đâu thiếu sự mặc thị, dân sự bèn phóng tứ.” Tôi tin rằng nơi nào không có khải tượng, dân sự chạy đến nơi khác ! Nhiều Hội Thánh chỉ đang sống sót vì họ không có khải tượng. Họ bước đi khập khiễng từ Chúa Nhật này sang Chúa Nhật khác vì họ đã đánh mất mục đích. Một Hội Thánh không có mục đích và sứ mệnh cuối cùng sẽ trở thành một món đồ cỗ trong bảo tàng viện truyền thống của quá khứ.
Không có điều gì làm thối chí một Hội Thánh nhiều hơn là việc Hội Thánh không biết lý do tại sao mình hiện hữu. Trái lại, cách nhanh nhất để tiếp thêm sinh lực cho một Hội Thánh bình bình hoặc đang sa sút là tái công bố mục đích của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh và giúp các thành viên hiểu được những nhiệm vụ lớn mà Đấng Christ đã giao phó cho Hội Thánh.
Một Mục Đích Rõ Ràng Làm Giảm Thất Vọng
Một tuyên ngôn về mục đích làm giảm thất vọng vì nó giúp chúng ta quên đi những điều không thật sự quan trọng. EsIs 26:3 chép rằng: “Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài , thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài” (có nhấn mạnh). Một mục đích rõ ràng không chỉ xác định điều chúng ta làm, nó xác định điều chúng ta không làm. Tôi tin chắc bạn đồng ý với tôi rằng Hội Thánh của bạn không có đủ thì giờ để làm hết mọi việc. Tin vui là Đức Chúa Trời không mong Hội Thánh bạn làm hết mọi việc. Thật ra, chỉ có một số việc thực sự đáng làm mà thôi! Bí mật của tính hiệu quả là biết rõ điều gì là quan trọng, điều gì không và không lo lắng chi về mọi điều còn lại.
Là một mục sư, tôi biết rằng mỗi người có một lịch sinh hoạt riêng cho Hội Thánh. Hãy lập lại định luật thuộc linh thứ nhất: Đức Chúa Trời yêu thương tôi và mọi người khác, Ngài có một chương trình tuyệt vời cho đời sống tôi! Người ta luôn nói rằng “Hội Thánh phải làm điều này” hay “Hội Thánh phải làm điều kia.” Đa số những gợi ý này là các hoạt động tốt, nhưng đó không phải là vấn đề thật sự. Cần phải thanh lọc như thế này: Hoạt động này có hoàn thành một trong những mục đích Đức Chúa Trời thành lập Hội Thánh này không? Nếu hoạt động đáp ứng tiêu chuẩn đó, bạn phải lưu tâm tới nó. Nếu nó không qua được bài kiểm tra này, bạn không được để cho nó làm bạn xao lãng khỏi lịch sinh hoạt của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh.
Không có một tuyên ngôn về mục đích thì dễ nản lòng bởi mọi điều xao lãng chung quanh chúng ta. Có lẽ bạn đã cảm nhận được suy nghĩ của Ê-sai: “Ta đã làm việc luống công, đã hao sức vô ích và không kết quả” (EsIs 49:4). Cố gắng lãnh đạo Hội Thánh mà không có một mục đích xác định rõ ràng cũng giống như lái một chiếc xe trong sương mù. Nếu bạn không thể thấy rõ nơi mình đang đi tới, bạn sẽ đụng mà thôi.
Gia-cơ 1:8; chép rằng, “Một người phân tâm, phàm làm việc gì đều không định.” Khi một Hội Thánh quên mục đích của mình, thì rất khó khăn trong việc quyết định điều gì là quan trọng. Một Hội Thánh không dứt khoát là một Hội Thánh không ổn định. Hầu như chuyện gì cũng có thể khiến Hội đó đi chệch hướng. Hội Thánh sẽ bị dao động giữa các ưu tiên, các mục đích và các chương trình. Hội Thánh sẽ đi theo hướng này, rồi quẹo sang hướng khác, tùy thuộc vào việc ai là người lãnh đạo vào thời điểm đó. Đôi lúc nhiều Hội Thánh chỉ đi theo vòng tròn.
Trong một Hội Thánh theo đúng mục đích, một khi hướng đi đã được xác định rồi, việc quyết định trở nên dễ dàng hơn và ít gây thất vọng hơn. Hãy xác định những vai trò của bạn, rồi sau đó đặt ra các mục tiêu. Một khi đã làm rõ những mục đích của Hội Thánh bạn, bất cứ mục tiêu nào giúp hoàn thành mục đích sẽ tự động được ủng hộ ngay. Bất cứ khi nào một ai đó đề nghị một hoạt động hay một giờ lễ hoặc một chương trình mới, bạn chỉ việc hỏi, “Việc này có giúp hoàn thành một trong những mục đích của chúng ta không?” Nếu có, thì làm, nếu không thì thôi.
Một Mục Đích Rõ Ràng Giúp Tập Trung
Ánh sáng được tập trung lại có một năng lượng phi thường. Ánh sáng khuếch tán không có chút năng lượng nào cả. Chẳng hạn, khi tập trung năng lượng từ mặt trời qua một thấu kính hội tụ, bạn có thể đốt cháy chiếc lá. Nhưng bạn không thể nào đốt cháy chiếc lá nếu không hội tụ cùng một nguồn sáng đó. Khi ánh sáng được tập trung ở một mức độ cao hơn, như một tia laser, nó có thể cắt đứt cả khối thép.
Nguyên tắc tập trung cũng có tác dụng trong các lĩnh vực khác nữa. Một đời sống tập trung và một Hội Thánh tập trung sẽ tạo nên một tác động lớn hơn những đời sống và những Hội Thánh không tập trung. Giống như tia laser, Hội Thánh bạn càng tập trung chừng nào, thì càng có tác động lớn tới xã hội.
Nguyên nhân chính là một mục đích rõ ràng giúp bạn tập trung nỗ lực của mình. Phao-lô biết rõ điều này. Ông nói, “Hỡi anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đã đạt đến mục đích, nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi Pl 3:13-14).
Một trong những cám dỗ mà ngày nay tôi thấy nhiều Hội Thánh sa vào chính là cái bẫy tập trung vào những điều kém quan trọng. Họ bị chệch hướng bởi chính những chương trình, chiến dịch, mục đích tốt nhưng kém quan trọng. Năng lực của Hội Thánh bị phân tán và hao mòn; sức mạnh mất đi.
Nếu bạn muốn Hội Thánh mình tác động vào thế gian, bạn phải tập trung vào những việc chính yếu. Tôi thật ngạc nhiên khi có rất nhiều Cơ-đốc nhân không hình dung được mục tiêu chính của Hội Thánh họ. Có một câu cách ngôn như sau: “Vấn đề chính là nhìn nhận vấn đề chính là vấn đề chính!”
Theo tôi, đa số các Hội Thánh đã cố gắng làm quá nhiều. Đây là một trong những rào cản bị xem nhẹ nhất làm ngăn trở việc xây dựng một Hội Thánh khỏe mạnh: Chúng ta làm dân sự kiệt sức. Thường thì những Hội Thánh nhỏ đưa mình vào mọi loại hoạt động, giờ lễ và chương trình. Thay vì tập trung như Phao-lô, họ lại học đòi bốn mươi việc khác nhau và chẳng thành thục một việc nào cả.
Hội Thánh càng lâu năm bao nhiêu, điều này càng đúng bấy nhiêu. Các chương trình và các giờ lễ liên tục thêm vào lịch sinh hoạt của Hội Thánh mà không bỏ bớt mục nào. Xin nhớ rằng không có một chương trình nào tồn tại mãi mãi. Khi giải quyết vấn đề chương trình trong Hội Thánh bạn, hãy luôn ghi nhớ câu hỏi rất tốt này, “Liệu chúng ta sẽ bắt đầu việc này hôm nay không nếu như chúng ta chưa sẵn sàng thực hiện?” Một lịch sinh hoạt Hội Thánh đầy ắp các chương trình sẽ phân tán năng lực của Hội Thánh bạn. Để giữ cho Hội Thánh bạn được khỏe mạnh, bạn cần phải “dọn dẹp” định kỳ-bỏ bớt các chương trình không còn giữ được mục đích của chúng nữa. Khi con ngựa đã chết-hãy leo xuống!
Khi tôi mở Hội Thánh Saddleback, tất cả những gì chúng tôi làm trong năm đầu là chương trình thờ phượng và một chương trình rất giới hạn cho các em nhỏ. Chúng tôi không cố gắng làm một Hội Thánh có đầy đủ các chương trình. Chẳng hạn chúng tôi không có chương trình thanh niên cho tới khi chúng tôi có trung bình hơn 500 người hiện diện trong buổi thờ phượng, và chúng tôi không có chương trình cho những người độc thân khi số người dự nhóm chưa gia tăng tới gần 1,000.
Chúng tôi quyết định rằng sẽ không bắt đầu một chức vụ mới khi chưa có một ai lãnh đạo nó. Nếu chưa có người lãnh đạo nào xuất hiện, chúng tôi thà chờ đợi thời điểm của Đức Chúa Trời trước khi bắt đầu một chức vụ. Khi người lãnh đạo xuất hiện, chúng tôi bắt đầu chức vụ đó ngay. Kế hoạch này giúp chúng tôi tập trung thực hiện thật tốt một số ít công việc nào đó. Chỉ khi nào chúng tôi thấy rằng một chức vụ được thực hiện tốt ở mức độ chấp nhận được, chúng tôi mới nghĩ tới chuyện thêm một việc khác vào thực đơn của mình. Chúng tôi không cố gắng làm hết mọi việc cùng một lúc.
Có hiệu năng không giống như có hiệu quả . Peter Drucker nói, “Hiệu năng là làm tốt công việc . Hiệu quả là làm đúng việc cần làm .” Nhiều Hội Thánh có năng lực để tổ chức và duy trì một loạt các chương trình. Nhưng vì họ đưa ra nhiều hoạt động , nên có rất ít bông trái . Năng lực bị lãng phí vào những vấn đề thứ yếu. Điều đó giống như sắp xếp lại những chiếc ghế trên tàu Titanic; mọi thứ có vẻ đẹp mắt và có trật tự, nhưng không thành vấn đề, vì con tàu vẫn đang chìm! Một Hội Thánh được tổ chức tốt vẫn chưa đủ; Hội Thánh phải được tổ chức tốt để làm đúng việc cần làm.
Đức Chúa Trời muốn Hội Thánh có hiệu quả. Một số ít Hội Thánh thật sự có hiệu quả là vì họ tập trung vào mục đích của mình. Bằng cách liên tục nhắc lại mục đích của mình, bạn có thể giữ đúng các ưu tiên và giúp Hội Thánh bạn tập trung.
Một Mục Đích Rõ Ràng Thu Hút Sự Hợp Tác
Người ta muốn gia nhập một Hội Thánh biết rõ mình đang đi đâu. Khi một Hội Thánh truyền đạt rõ ràng đích đến của mình, các con cái Chúa sẽ sốt sắng lên tàu. Lý do là mọi người đều tìm kiếm một cái gì đó đem lại ý nghĩa, mục đích và phương hướng cho cuộc sống. Khi E-xơ-ra nói với dân sự chính xác điều Đức Chúa Trời mong muốn họ làm thì dân sự trả lời, “Ông hãy đứng dậy, vì việc này can hệ đến ông, và chúng tôi sẽ giúp đỡ; khá can đảm mà làm” (E-xơ-ra 10:4;).
Sứ đồ Phao-lô luôn nhận thức rõ mục đích của mình. Kết quả là nhiều người muốn dự phần vào điều ông đang làm. Điều này đặc biệt đúng đối với Hội Thánh tại Phi-líp. Những người Phi-líp say mê sứ mệnh của Phao-lô đến độ họ liên tục hỗ trợ tài chánh cho ông (xem Phao-lô 4:15;). Nếu bạn muốn các thành viên Hội Thánh mình hứng thú với Hội Thánh, hỗ trợ cách năng động và dâng hiến rời rộng, bạn phải giải thích cách sống động chính xác nơi Hội Thánh đang hướng tới.
Bạn có bao giờ lên nhầm máy bay chưa? Có một lần nọ tôi lên một chiếc máy bay mà tôi nghĩ là sẽ đi tới St. Louis nhưng thực ra nó đang bay tới Kansas City. Tôi học được một bài học quan trọng: Hãy kiểm tra nơi đến trước khi máy bay cất cánh. Nhảy dù khỏi máy bay là một điều đau đớn! Bạn sẽ không dám bước lên chiếc xe đò mà không biết nó đang chạy đi đâu, và bạn cũng đừng mong đợi người ta gia nhập Hội Thánh mình nếu họ không biết Hội Thánh bạn đang đi về đâu.
Tôi muốn những thành viên tương lai biết chắc chắn Hội Thánh Saddleback đang hướng tới điều gì, cho nên bản tuyên ngôn về mục đích của chúng tôi có giải thích chi tiết cho mọi người nào muốn gia nhập gia đình Hội Thánh-trước khi họ gia nhập. Không một ai có thể gia nhập Hội Thánh Saddleback mà không tham dự lớp thành viên và ký giao ước thành viên, trong đó có lời cam kết ủng hộ các mục đích của Saddleback.
ChCn 11:27 chép, “Ai tìm cầu sự thiện, tìm kiếm ân điển; nhưng ai tìm cầu điều ác, tất ác sẽ xảy đến cho nó.” Hãy nói trước cho người ta biết Hội Thánh bạn đang đi về đâu, và điều đó sẽ thu hút sự hợp tác. Hãy giải thích rõ ràng về các mục đích và ưu tiên của Hội Thánh bạn trong lớp thành viên. Hãy giải thích rõ ràng chiến lược và cơ cấu của bạn. Điều này sẽ giúp người ta tránh được việc gia nhập với nhiều suy nghĩ lệch lạc.
Nếu bạn cho phép nhiều người gia nhập Hội Thánh mà họ không hiểu những mục đích của bạn thì bạn đang chuốc lấy phiền toái . Các thành viên mới, đặc biệt những người vừa chuyển đến từ các Hội Thánh khác, thường có những lịch sinh hoạt cá nhân và những định kiến về Hội Thánh. Trừ phi bạn thẳng thắn trao đổi với họ, nếu không thì những vấn đề này cuối cùng sẽ gây nên nhiều nan đề và xung đột.
Những người chuyển từ Hội Thánh khác đến thường mang theo hành trang văn hóa từ Hội Thánh cũ của họ, và có thể lắm họ mong đợi một số điều mà Hội Thánh của bạn không hề có ý định đáp ứng. Tôi đã gặp phải vấn đề này trong những ngày đầu tại Saddleback, ngay cả trước khi chúng tôi bắt đầu những buổi thờ phượng chung. Một thành viên trong nhóm học Kinh Thánh của tôi là thành viên của một Hội Thánh lớn nổi tiếng trong vùng được mười hai năm. Mỗi khi chúng tôi bắt đầu lập kế hoạch cho việc gì đó, anh ta lại nói, “Tại Hội Thánh cũ của tôi, người ta làm như thế này.” Đây là điệp khúc muôn thuở của anh ta.
Sau tám tuần lễ như vậy, cuối cùng tôi phải nói, “Anh biết đấy, nếu anh muốn một Hội Thánh giống như Hội Thánh cũ của anh, tại sao anh không trở lại đó? Chỉ cách có mười ba dặm đường thôi.” Anh ta nghe lời khuyên của tôi và ra đi với gia đình năm người của mình. Mất ba mươi phần trăm mối thông công của chúng tôi vào thời điểm đó-và anh ta là một người tài trợ!
Ngay lúc đó, hành động của anh ta gây sốc cho tôi, nhưng bây giờ tôi nhìn lại tình huống đó và tin rằng đây là một trong những quyết định quan trọng liên quan tới số phận của Hội Thánh Saddleback. Nếu tôi nghe theo người anh em đó, Hội Thánh Saddleback sẽ chấm dứt trong một bản sao của một Hội Thánh khác. Tương lai của chúng tôi đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.
Tôi cũng học hai bài học quan trọng về nghệ thuật lãnh đạo: Trước hết, bạn không thể để những người hay than thở lập lịch sinh hoạt Hội Thánh. Đó là sự từ bỏ chức lãnh đạo. Thật không may là Hội Thánh càng nhỏ bao nhiêu càng dễ bị những thành viên tiêu cực nhất ảnh hưởng bấy nhiêu. Kinh nghiệm đó cũng dạy tôi rằng thời điểm tốt nhất khám phá ra sự xung đột của bất kỳ ai với triết lý chức vụ của Hội Thánh bạn là trước khi họ gia nhập. Giải thích những mục đích của Hội Thánh bạn trước khi người ta gia nhập không chỉ làm giảm xung đột và thất vọng trong Hội Thánh, mà còn giúp một số người nhận ra rằng họ nên gia nhập một Hội Thánh khác vì cớ triết lý hoặc sở thích cá nhân.
Một Mục Đích Rõ Ràng Giúp Cho Việc Lượng Giá
II Cô-rinh-tô 13:15; chép, “Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng. Hãy tự thử mình.” Một Hội Thánh tự lượng giá chính mình bằng cách nào? Không phải so sánh mình với các Hội Thánh khác, mà là hỏi rằng, “Chúng ta có đang làm điều Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm hay không?” và “Chúng ta làm việc đó tốt như thế nào?” Như Peter Drucker nói, “Công việc của chúng ta là gì?” và “Nó như thế nào?” Đây là hai câu hỏi quan trọng nhất để lượng giá Hội Thánh bạn. Tôn chỉ của Hội Thánh bạn phải trở thành tiêu chuẩn qua đó bạn đo lường sức khỏe và sự tăng trưởng của hội chúng.
Hoàn toàn không có mối liên hệ nào giữa kích cỡ và sức mạnh của một Hội Thánh. Một Hội Thánh có thể lớn và mạnh, hay lớn mà yếu đuối. Cũng vậy, một Hội Thánh có thể nhỏ và mạnh, hay nhỏ và yếu ớt. Lớn không nhất thiết là tốt hơn, hay nhỏ cũng không nhất thiết là tốt hơn. Tốt hơn là tốt hơn !
Mục đích của sách này không phải giúp Hội Thánh bạn lớn như Hội Thánh Saddleback. Kích cỡ không phải là vấn đề. Vấn đề quan trọng là đây: Hội Thánh của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ và khỏe khoắn hơn khi được lèo lái bởi mục đích.
Để trở thành một Hội Thánh theo đúng mục đích cần phải có thời gian-nó không xảy ra ngay tức thì đâu, hay thậm chí trong sáu tháng. Có thể Hội Thánh bạn phải tốn vài năm để thay đổi. Nếu bạn muốn Hội Thánh của bạn đi theo một mục đích, bạn phải dẫn dắt Hội Thánh qua bốn giai đoạn quan trọng: Trước hết, bạn phải xác định những mục đích của mình. Kế đến, bạn phải truyền đạt những mục đích đó cho từng người trong Hội Thánh cách thường xuyên. Thứ ba, bạn phải tổ chức Hội Thánh của bạn xoay quanh các mục đích. Cuối cùng, bạn phải áp dụng những mục đích của mình vào mỗi khía cạnh của Hội Thánh. Tôi sẽ mô tả từng nhiệm vụ này trong các chương sau.
Chương 5: Xác Định Các Mục Đích Của Bạn
“Hỡi anh em , tôi nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta , khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau , chớ phân rẽ nhau ra , nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau .”
ICo1Cr 1:10
Khi còn là một sinh viên thần học tại Texas, tôi có đồng ý giúp một số nhà lãnh đạo của một Hội Thánh lớn nọ đánh giá chương trình tổng thể của Hội Thánh họ. Hội Thánh này là một chứng nhân mạnh mẽ và sáng chói của Đấng Christ trong quá khứ, và đã vang danh lịch sử. Tôi cảm thấy hơi lo khi đối diện với kinh nghiệm tư vấn Hội Thánh đầu tiên của mình. Hành lang dẫn vào phòng họp treo nhiều bức chân dung của những người đã chăn dắt Hội Thánh trong suốt một trăm năm qua. Đây là một Hội Thánh có bề dày lịch sử!
Khi chúng tôi đã an vị trong buổi họp đầu tiên, tôi hỏi các nhà lãnh đạo, “Quý vị cảm thấy như thế nào về Hội Thánh của mình?” Đa số câu trả lời đều thể hiện sự thỏa lòng. Một người nói ngắn gọn rằng, “Chúng tôi có một Hội Thánh vững vàng .” Nhưng khi tôi hỏi sâu hơn, tôi khám phá ra rằng đây là một Hội Thánh đang ngủ say ! Dù rằng về lý thuyết thì Hội Thánh này rất vững vàng, nhưng không có một biến cố thuộc linh nào đáng kể đang diễn ra. Các tòa nhà được chi trả đầy đủ, và các vị lãnh đạo Hội Thánh đã trở nên lười biếng và ngủ mê. Họ đang, như nhà tiên tri A-mốt nói, “ăn ở nể trong Si-ôn”-và căn bệnh “ăn ở nể” của họ đang từ từ giết chết Hội Thánh. Vì họ thuê tôi làm bác sĩ cho họ, tôi đã cho họ một đơn thuốc đơn giản: Hãy tái khám phá mục đích của quý vị.
Hướng Dẫn Hội Thánh Của Bạn Xác Định Các Mục Đích
Dẫn dắt hội chúng của bạn trong cuộc khám phá các mục đích của Hội Thánh theo điều Thánh Kinh Tân Ước dạy là một cuộc phiêu lưu đầy thú vị. Đừng cố đốt giai đoạn trong tiến trình này. Và cũng đừng đánh mất niềm vui khám phá bằng cách nói thẳng với mọi người về các mục đích đó trong một bài giảng. Những người lãnh đạo khôn ngoan hiểu rằng dân sự đồng tình trong lòng và trong lời nói về những gì họ được nghe, nhưng họ sẽ tin chắc điều mà họ tự khám phá. Bạn đang xây dựng một nền tảng cho sự tăng trưởng và khỏe mạnh dài lâu.
Thật thú vị khi nhìn thấy những thành viên thụ động trở nên năng động khi họ khám phá cách Đức Chúa Trời muốn dùng họ và Hội Thánh của họ. Dưới đây tôi sẽ giải thích bốn bước để dẫn dắt Hội Thánh bạn xác định hoặc tái xác định các mục đích của mình.
Học những điều Kinh Thánh dạy
Hãy bắt đầu bằng cách lôi kéo hội chúng của bạn vào việc học các phân đoạn Kinh Thánh về Hội Thánh. Trước khi thành lập Hội Thánh Saddleback, tôi dành sáu tháng để nghiên cứu tổng quát về các phân đoạn Kinh Thánh nói về Hội Thánh, dùng các phương pháp mô tả trong cuốn Dynamic Bible Study Methods (Victor Books, 1980) của tôi. Trong suốt những tháng đầu tiên của Hội Thánh mới, tôi dẫn dắt hội chúng của mình vào cuộc nghiên cứu giống như vậy. Chúng tôi cùng học với nhau mọi phân đoạn Kinh Thánh có liên quan tới Hội Thánh.
Một vài phân đoạn Kinh Thánh bạn cần nghiên cứu là: Mat Mt 5:13-16; 9:35; 11:28-30; 16:15-19; 18:19-20; 22:36-40; 24:14; 25:34-40; 28:18-20;; Mac Mc Mac10:43-45; LuLc 4:18-19; 4:43-45; GiGa 4:23; 10:14-18; 13:34-35; 20:21; Cong Cv 1:8; 2:41-47; 4:32-35; 5:42; 6:1-7; RoRm 12:1-8; 15:1-7;; ICo1Cr 12:12-31;; IICo 2Cr 5:17-6:1; GaGl 5:13-15; 6:1-2; Eph Ep 2:11-13; 2:19-22; 3:6, 14-21; 4:11-16; 5:23-24; CoCl 1:24-28; 3:15-16; ITe1Tx 1:3; 5:11; HeDt 10:24-25; 13:7, 17 IPhi 1Pr 2:9-10; IGi1Ga 1:5-7; 4:7-21
Gene Mims đã viết một cuốn sách hay có tựa là Kingdom Principles for Church Growth (Convention Press) và có thể dùng làm chương trình nghiên cứu trong toàn Hội Thánh về các mục đích của Hội Thánh. Khi bạn dẫn dắt hội chúng của mình nghiên cứu, hãy lưu ý một số vấn đề sau:
Hãy nhìn vào chức vụ của Chúa Giê-xu trên đất . Hãy hỏi, “Chúa Giê-xu đã làm gì khi Ngài còn ở trần gian? Ngài sẽ làm gì nếu ngày nay Ngài có mặt ở đây?” Những gì Đức Chúa Giê-xu đã làm trên đất là điều chúng ta phải tiếp tục ngày nay. Những yếu tố khác biệt trong chức vụ của Đấng Christ phải được thể hiện trong Hội Thánh ngày nay. Bất cứ điều gì Ngài đã làm trong thân thể vật lý, Ngài muốn tiếp tục thực hiện trong Hội Thánh, là thân thể thuộc linh của Ngài.
Hãy nhìn vào những hình ảnh và tên gọi của Hội Thánh . Thánh Kinh Tân Ước đưa ra nhiều hình ảnh ẩn dụ về Hội Thánh: một thân thể, cô dâu, gia đình, bầy nhỏ, cộng đồng, đạo quân. Mỗi hình ảnh đều thể hiện những đặc điểm sâu sắc mà mỗi Hội Thánh phải có, và điều Hội Thánh phải làm.
Hãy nhìn xem những tấm gương của các Hội Thánh Tân Ước . Hãy hỏi, “Những Hội Thánh đầu tiên đã làm gì?” Có rất nhiều tấm gương khác nhau được nêu ra trong Kinh Thánh. Hội Thánh Giê-ru-sa-lem rất khác so với Hội Thánh Cô-rinh-tô. Hội Thánh Phi-líp khác với Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca. Hãy nghiên cứu từng hội chúng địa phương trong Tân Ước, kể cả bảy Hội Thánh trong Khải Huyền.
Hãy nhìn xem những mạng lệnh của Đấng Christ . Hãy hỏi, “Đức Chúa Giê-xu bảo chúng ta phải làm gì?” Trong Mat Mt 16:18, Chúa Giê-xu phán, “Ta sẽ lập Hội Thánh ta.” Hiển nhiên Ngài đã xác định rõ ràng mục đích của mình. Công việc của chúng ta không phải là tạo ra các mục đích của Hội Thánh bèn là khám phá chúng.
Hãy nhớ rằng đây là Hội Thánh của Đấng Christ chứ không phải của chúng ta. Đức Chúa Giê-xu đã thiết lập Hội Thánh, đã chết cho Hội Thánh, đã ban Thánh Linh của Ngài cho Hội Thánh và một ngày nào đó Ngài sẽ trở lại vì Hội Thánh Ngài. Là Chủ của Hội Thánh, Ngài đã thiết lập các mục đích rồi, và không thể thay đổi chúng được.
Nhiệm vụ của chúng ta là hiểu biết các mục đích Đấng Christ đã định ra cho Hội Thánh và thực hiện chúng. Các chương trình cần phải thay đổi theo mỗi thế hệ, nhưng những mục đích thì không hề thay đổi. Chúng ta có thể đổi mới phong cách của chức vụ, nhưng chúng ta không được phép thay đổi bản chất của nó.
Tìm lời đáp cho bốn vấn đề
Khi bạn ôn lại những điều Kinh Thánh nói về Hội Thánh, hãy tìm các câu trả lời cho bốn vấn đề dưới đây. Khi bạn trình bày câu trả lời của mình, hãy tập trung vào cả bản chất lẫn nhiệm vụ của Hội Thánh.
Tại sao Hội Thánh hiện hữu?
Hội Thánh là như thế nào ? (Chúng ta là ai và là gì?)
Hội Thánh phải làm gì ? (Đức Chúa Trời muốn làm gì trên trần gian?)
Chúng ta làm việc đó như thế nào?
Hãy viết ra những khám phá của bạn
Hãy viết ra mọi điều bạn khám phá được trong quá trình nghiên cứu của mình. Đừng lo chuyện phải viết cho ngắn gọn. Hãy nói mọi điều bạn nghĩ là cần phải nói về bản chất và các mục đích của Hội Thánh. Khi chúng tôi thực hiện việc này trong năm đầu tiên của Hội Thánh Saddleback, tôi dùng một tấm bảng nhỏ và một cây bút lông để ghi lại mọi khám phá của nhóm nghiên cứu chúng tôi. Sau đó chúng tôi phân loại mọi điều đã được viết lên bảng. Kết quả là chúng tôi có được một tập tài liệu dài mười trang đầy những ý tưởng tình cờ về Hội Thánh.
Vào lúc này đừng nên cố gắng cô đọng thành một câu tôn chỉ: Chỉ hãy thu nhặt thông tin. Viết cho gọn lại và biên tập luôn dễ hơn là sáng tạo. Hãy tập trung xác định rõ các mục đích. Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa điều này với các mục sư: Đừng đốt cháy giai đoạn! Bạn đang xây dựng nền tảng nâng đỡ mọi việc bạn sẽ làm trong những năm sắp tới. Ngay cả khi bạn biết rõ những mục đích Tân Ước, thì việc giúp hội chúng của bạn ôn lại mọi điều Kinh Thánh nói về Hội Thánh và viết ra những kết luận của họ vẫn là một điều quan trọng.
Hãy tóm tắt những kết luận của bạn trong một câu
Khi tập hợp xong các ý tưởng đã được phân loại từ việc nghiên cứu Kinh Thánh, chúng tôi chắt lọc lại để viết nên một câu đơn giản tóm tắt điều chúng tôi tin rằng đó là những mục đích Kinh Thánh của Hội Thánh. Đó cũng là điều bạn cần phải làm. Trước hết, hãy cô đọng những gì bạn khám phá được về Hội Thánh bằng cách nhóm những ý niệm tương tự thành một nhóm có các tiêu đề lớn, chẳng hạn truyền giáo, thờ phượng, thông công, sự trưởng thành thuộc linh, và phục vụ. Kế đến, hãy cố gắng thể hiện toàn bộ các đề mục chính này trong một đoạn văn đơn giản. Sau đó hãy bắt đầu bỏ những từ và cụm từ không cần thiết để rút đoạn văn đó lại thành một câu.
Cô đọng tôn chỉ của bạn thành một câu đơn giản là điều hết sức quan trọng. Tại sao? Vì nó sẽ chỉ có rất ít giá trị nếu người ta không thể ghi nhớ nó! Dawson Trotman đã từng nói, “Những ý tưởng tự gỡ rối cho mình khi chúng đi qua đôi môi và các đầu ngón tay.” Nói cách khác, nếu bạn có thể nói nó ra và viết nó xuống thì bạn đã suy nghĩ nó tường tận. Nếu bạn không thể viết các mục đích của mình ra giấy, thì bạn chưa thực sự nghĩ tới chúng đâu.
Francis Bacon, một nhà văn người Anh, đã từng nói, “Đọc sách tạo nên con người uyên bác, còn viết sách tạo nên con người xác thực .” Khi phải truyền đạt những mục đích của Hội Thánh, chúng ta cần phải nắm chắc chúng và phải chính xác.
Điều Gì Khiến Một Câu Tôn Chỉ Có Hiệu Quả?
Nó phải đặt nền tảng trên Kinh Thánh
Một câu tôn chỉ hiệu quả thể hiện giáo lý Tân Ước của Hội Thánh. Xin nhớ rằng chúng ta không quyết định các mục đích của Hội Thánh-chúng ta khám phá chúng. Đấng Christ là Đầu Hội Thánh. Ngài thiết lập các mục đích từ lâu rồi. Bây giờ mỗi thế hệ phải tái xác định chúng.
Nó phải cụ thể
Những câu tôn chỉ cần phải đơn giản mà rõ ràng. Sai lầm lớn nhất mà một Hội Thánh có thể vấp phải là cố gắng nhồi nhét quá nhiều điều vào một câu tôn chỉ. Chúng ta thường bị cám dỗ thêm vào đủ mọi cụm từ hay nhưng không cần thiết vì lo sợ rằng sẽ bỏ lỡ một điều gì đó quan trọng. Nhưng bạn càng thêm vào nhiều chừng nào, thì câu tôn chỉ càng trở nên lộn xộn chừng nấy, và dĩ nhiên, càng thêm khó khăn hơn để hoàn thành.
Một sứ mệnh thu hẹp là một sứ mệnh rõ ràng. Câu tôn chỉ của Disneyland là “Làm bạn vui.” Sứ mệnh nguyên thủy của hội Cứu Thế Quân là “Biến phế nhân thành công dân.” Có nhiều câu tôn chỉ rất mơ hồ, chúng không có một tác động nào cả. Không có điều gì trở nên hiệu quả nếu không có một mục đích cụ thể. Một số Hội Thánh có câu tôn chỉ như sau: “Mục đích của Hội Thánh tôi là làm sáng danh Chúa.” Tất nhiên Hội Thánh phải làm sáng danh Chúa! Nhưng chính xác hơn là bạn làm vinh hiển danh Chúa bằng cách nào ?
Một câu tôn chỉ cụ thể giúp bạn tập trung năng lực của mình. Đừng đi lòng vòng với những vấn đề ngoài lề. Hãy hỏi những câu sau: “Những điều gì tạo nên sự khác biệt lớn nhất vì cớ danh Chúa Giê-xu trong thế giới của chúng ta? Làm thế nào để chúng ta có thể làm những điều mà chỉ Hội Thánh mới có thể làm được?”
Nó phải dễ truyền đạt
Một câu tôn chỉ dễ truyền đạt phải đủ ngắn để ghi nhớ và truyền khẩu trong Hội Thánh. Càng ngắn càng tốt. Dù rằng câu tôn chỉ của mỗi Hội Thánh lấy Kinh Thánh làm nền tảng đều có những yếu tố chung, nhưng bạn vẫn có thể nói nó theo cách sáng tạo, tươi mới. Hãy cố làm cho nó dễ ghi nhớ.
Là mục sư, tôi ghét thừa nhận điều này, nhưng các con cái Chúa không nhớ những bài giảng hay các bài thuyết trình-thậm chí họ cũng chẳng nhớ nổi những đoạn văn. Những gì họ nhớ là những câu nói đơn giản, những câu khẩu hiệu và những cụm từ. Tôi không hề nhớ bất kỳ bài thuyết trình nào của tổng thống Kennedy, nhưng tôi luôn nhớ những câu nói của ông, “Đừng hỏi đất nước có thể làm gì cho bạn, hãy hỏi bạn có thể làm gì cho đất nước” và “Tôi là người Berlin!” Tôi cũng chẳng nhớ nổi bài giảng nào của tiến sĩ Martin Luther King Jr., nhưng tôi nhớ câu nói nổi tiếng của ông, “Tôi có một ước mơ!”
Nó phải đo lường được
Bạn cần phải nhìn lại câu tôn chỉ của mình và đánh giá xem Hội Thánh của bạn có đang thực hiện nó không. Bạn có thể chứng minh rằng bạn đã hoàn thành nó vào mỗi cuối năm không? Bạn không thể đánh giá tính hiệu quả của Hội Thánh bạn trừ phi sứ mệnh của bạn có thể đo lường được.
Một câu tôn chỉ tốt sẽ đề ra một tiêu chuẩn đặc biệt mà dựa vào đó bạn có thể ôn lại, đính chính, và cải thiện mọi việc Hội Thánh bạn làm. Nếu bạn không thể đánh giá Hội Thánh thông qua tôn chỉ, hãy trở lại với tấm bảng vẽ. Hãy làm cho nó có thể đo lường được. Nếu không, câu tôn chỉ của bạn sẽ chỉ là một điều vô ích mà thôi.
Hai Phân Đoạn Kinh Thánh Vĩ Đại
Trong những tháng đầu tiên của Hội Thánh Saddleback, tôi đã dẫn dắt Hội Thánh mới của mình bước vào tiến trình tôi vừa giải thích với bạn. Cuối cùng, chúng tôi kết luận rằng dù có nhiều phân đoạn Kinh Thánh nói về bản chất và sứ mệnh của Hội Thánh, nhưng có hai điều Chúa Giê-xu công bố đã tóm tắt tất cả: Điều Răn Lớn (Mat Mt 22:37-40;) và Sứ Mạng Lớn (Mat Mt 28:19-20;).
Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi… Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra.
Mat Mt 22:37-40;
Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.
Mat Mt 28:19-20;
Chúa Giê-xu ban Điều Răn Lớn trong lúc trả lời một câu hỏi. Một ngày nọ, người ta hỏi Chúa Giê-xu điều răn quan trọng nhất là gì. Ngài trả lời, “Đây là bảng tóm tắt cả Cựu Ước. Ta sẽ nói với các ngươi lời tóm tắt toàn bộ Kinh Thánh. Toàn bộ Luật Pháp và Lời Tiên Tri có thể tóm gọn trong hai nhiệm vụ: Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi, và hãy yêu kẻ lân cận như mình.”
Sau đó, trong những lời cuối cùng cho các môn đồ, Chúa Giê-xu đã ban Đại Mạng Lệnh và thêm cho họ ba nhiệm vụ phải làm: Môn đồ hóa muôn dân, làm báp-tem cho họ và dạy họ vâng giữ mọi điều Ngài đã dạy.
Tôi tin rằng mỗi Hội Thánh định hình bởi điều Hội Thánh đó cam kết, cho nên tôi đưa ra một câu khẩu hiệu: “Sự Tận Hiến Lớn cho Điều Răn Lớn và Đại Mạng Lệnh sẽ tăng trưởng một Hội Thánh Vĩ Đại.” Đó là khẩu hiệu của Saddleback.
Hai phân đoạn Kinh Thánh này tóm tắt mọi việc chúng tôi làm tại Hội Thánh Saddleback. Nếu một hoạt động hay chương trình nào đó làm hoàn thành một trong những mạng lệnh này, chúng tôi sẽ thực hiện ngay. Nếu không, thì chúng tôi không làm. Chúng tôi được lèo lái bởi Điều Răn Lớn và Đại mạng Lệnh. Cả hai điều đó gợi cho chúng tôi những nhiệm vụ mà Hội Thánh phải tập trung thực hiện cho tới khi Đấng Christ trở lại.
Năm Mục Đích Của Hội Thánh
Một Hội Thánh được lèo lái bởi mục đích tập trung hoàn thành năm nhiệm vụ Đấng Christ giao phó cho Hội Thánh Ngài.
Mục đích 1: Hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời
Từ ngữ mô tả mục đích này là từ thờ phượng . Hội Thánh tồn tại để thờ phượng Đức Chúa Trời. Làm sao chúng ta yêu Đức Chúa Trời hết lòng? Hãy thờ phượng Ngài! Việc chúng ta thờ phượng một mình, trong một nhóm nhỏ hay với 100,000 người không thành vấn đề. Khi chúng ta thể hiện tình yêu thương của mình đối với Đức Chúa Trời, chúng ta đang thờ phượng.
Kinh Thánh chép rằng, “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (Mat Mt 4:10). Hãy lưu ý rằng sự thờ phượng đi trước sự phục vụ. Thờ phượng Đức Chúa Trời là mục đích đầu tiên của Hội Thánh. Đôi lúc chúng ta quá bận rộn làm việc cho Đức Chúa Trời đến nỗi không còn thời gian thể hiện tình yêu thương của mình cho Ngài thông qua sự thờ phượng.
Xuyên suốt Kinh Thánh, chúng ta được lệnh phải kỷ niệm sự hiện diện của Đức Chúa Trời bằng cách tôn cao Chúa và tán dương danh Ngài. Thi Tv 34:3 chép rằng, “Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giê-hô-va, chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh của Ngài.” Chúng ta không được thờ phượng như thể đó là một nhiệm vụ, mà chúng ta phải thờ phượng vì cớ chúng ta muốn như vậy. Chúng ta phải yêu thích thể hiện tình yêu thương của mình đối với Đức Chúa Trời.
Mục đích 2: Yêu kẻ lân cận như mình
Từ ngữ được dùng để mô tả mục đích này là phục vụ . Hội Thánh tồn tại để phục vụ dân sự. Phục vụ là thể hiện tình yêu thương của Đức Chúa Trời cho những người khác bằng cách đáp ứng những nhu cầu và chữa lành những đau đớn của họ trong danh Đức Chúa Giê-xu. Mỗi khi bạn đến với ai đó trong tình yêu thương là bạn đang phục vụ họ. Hội Thánh phải đáp ứng mọi nhu cầu: thuộc linh, tình cảm, quan hệ và thuộc thể. Chúa Giê-xu phán rằng ngay cả một chén nước lạnh được ban cho trong danh của Ngài cũng được coi là phục vụ và sẽ được thưởng. Hội Thánh phải trang bị để các “thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch” (Eph Ep 4:12).
Thật không may là nhiều Hội Thánh có rất ít sự phục vụ thật. Thay vào đó, đa số thời gian được dành cho các buổi hội họp. Sự trung tín thường được định nghĩa chệch hướng sang sự hiện diện hơn là phục vụ, và các thành viên thì chỉ ngồi, nghe, và… lên men!
Mục đích 3: Môn đồ hóa muôn dân
Chúng ta gọi mục đích này là truyền giáo . Hội Thánh hiện hữu để truyền đạt Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta là những đại sứ của Đấng Christ, và sứ mệnh của chúng ta là truyền giáo cho toàn thế giới. Từ hãy đi trong Đại Mạng Lệnh ở thì hiện tại tiếp diễn trong tiếng Hy Lạp. Nên hiểu nó là “lúc các ngươi đang đi ra.” Trách nhiệm của mỗi Cơ-đốc nhân là phải chia sẻ Tin Lành bất cứ nơi nào chúng ta đặt chân tới. Chúng ta phải nói với toàn thế giới về sự giáng thế, sự chết trên thánh giá, sự phục sinh và lời hứa tái lâm của Đấng Christ. Một ngày nào đó mỗi chúng ta sẽ phải giải trình trước mặt Đức Chúa Trời về việc chúng ta có nghiêm túc thực hiện trách nhiệm này hay không.
Nhiệm vụ truyền giáo hết sức quan trọng. Thực ra, Đấng Christ đã ban cho chúng ta năm Đại Mạng Lệnh, bốn trong các sách Phúc Âm, và một trong sách Công Vụ. Trong Mat Mt 28:19-20;, Mac Mc 16:15, LuLc 24:47-49;, GiGa 20:21 và Cong Cv 1:8, Chúa Giê-xu truyền lệnh cho chúng ta phải đi và nói với thế giới về sứ điệp cứu rỗi.
Truyền giáo không chỉ là trách nhiệm của chúng ta; nó còn là một đặc ân lớn nữa. Chúng ta được mời dự phần vào việc đưa mọi người trở về gia đình đời đời của Đức Chúa Trời. Tôi không biết điều gì khác có ý nghĩa hơn để tận hiến cả cuộc đời mình. Nếu bạn biết cách chữa căn bệnh ung thư, tôi chắc chắn rằng bạn sẽ làm mọi chuyện mình có thể làm để loan báo tin đó. Nó cứu được hàng triệu sinh mạng. Nhưng bạn đã biết một điều gì đó còn tốt hơn nữa: Bạn đã nhận lãnh Phúc Âm về sự sống đời đời để chia sẻ lại, và đây là tin mừng vĩ đại nhất của mọi tin mừng!
Dẫu rằng chỉ còn một người trên trần gian chưa biết Đấng Christ, thì Hội Thánh vẫn phải giữ sự tăng trưởng. Sự tăng trưởng không phải là một lựa chọn; nó là một mạng lệnh của Chúa Giê-xu. Chúng ta không được tìm kiếm sự tăng trưởng Hội Thánh vì ích lợi cá nhân, nhưng vì Đức Chúa Trời muốn mọi người được cứu.
Mục đích 4: Làm báp-tem cho họ
Từ Đại Mạng Lệnh trong tiếng Hy Lạp có ba động từ ở thì hiện tại tiếp diễn: đi , báp-tem , và dạy . Mỗi việc là một phần trong mạng lệnh “môn đồ hóa.” Đi, báp-tem, và dạy là những yếu tố cần thiết của quá trình môn đồ hóa. Thoạt nhìn, bạn tự hỏi tại sao Đại Mạng Lệnh lại đặt báp-tem ở một vị trí quan trọng tương đương với truyền giáo và dạy dỗ. Dĩ nhiên, Chúa Giê-xu không đề cập tới báp-tem một cách tình cờ. Tại sao báp-tem lại quan trọng đến mức phải đưa vào Đại Mạng Lệnh của Đấng Christ? Tôi tin rằng nó tượng trưng cho một trong năm mục đích của Hội Thánh: sự thông công -sự hiệp nhất với thân thể Đấng Christ.
Cơ-đốc nhân chúng ta được kêu gọi để thuộc về , không chỉ để tin . Chúng ta không được kêu gọi để sống những đời sống cô độc; nhưng chúng ta thuộc về gia đình của Đấng Christ, là các thành viên trong thân thể Ngài. Báp-tem không chỉ là một biểu tượng của sự cứu rỗi, nó còn là biểu tượng của mối thông công. Nó không chỉ tượng trưng cho đời sống mới của chúng ta trong Đấng Christ mà còn thể hiện sự liên hiệp của một người vào trong thân thể Đấng Christ. Nó công bố với thế giới rằng: “Bây giờ người này thuộc về chúng tôi!” Khi các tân tín nhân được báp-tem, chúng ta chào mừng họ vào trong mối thông công của đại gia đình Đức Chúa Trời. Chúng ta không cô đơn. Chúng ta nương dựa lẫn nhau. Tôi rất thích câu Kinh Thánh Eph Ep 2:19: “Dường ấy, anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời.” Hội Thánh hiện hữu để tạo mối thông công cho các tín nhân.
Mục đích 5: Dạy họ vâng giữ
Từ chúng ta thường dùng để chỉ mục đích này là môn đồ hóa . Hội Thánh hiện hữu để truyền đạt hay dạy dỗ dân sự của Đức Chúa Trời. Môn đồ hóa là một quá trình giúp các con cái Chúa trở nên giống Đấng Christ hơn trong ý tưởng, cảm xúc và việc làm. Quá trình này bắt đầu khi một người được tái sanh và tiếp tục cho đến hết phần còn lại của cuộc đời người đó. CoCl 1:28 chép, “Ấy là Ngài mà chúng tôi rao giảng, lấy mọi sự khôn ngoan răn bảo mọi người, dạy dỗ mọi người, hầu cho bày tỏ mọi người trở nên trọn vẹn trong Đấng Christ ra trước mặt Đức Chúa Trời” (có nhấn mạnh).
Là Hội Thánh, chúng ta được kêu gọi không chỉ để tiếp cận mọi người mà còn dạy dỗ họ nữa. Sau khi một người quyết định chọn Đấng Christ, người đó phải được môn đồ hóa. Trách nhiệm của Hội Thánh là giúp các cá nhân trưởng thành thuộc linh. Đây là ý muốn của Đức Chúa Trời cho mỗi tín nhân. Phao-lô viết: “…để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ, cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ” (Eph Ep 4:12-13).
Nếu bạn nghiên cứu chức vụ tại thế của Chúa Giê-xu, bạn sẽ thấy năm yếu tố này thể hiện rất rõ ràng trong công việc Ngài làm (xem phần tóm tắt trong GiGa 17:1-26). Sứ đồ Phao-lô không chỉ hoàn thành năm mục đích này trong chức vụ của mình, ông cũng đã giải thích chúng trong Eph Ep 4:1-16. nhưng ví dụ rõ nhất về năm mục đích của Hội Thánh đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem được ghi lại trong Cong Cv 2:1-47. Họ đã dạy dỗ lẫn nhau, thông công, thờ phượng, phục vụ nhau và cùng nhau truyền giáo. Ngày nay, các mục đích của chúng ta không hề thay đổi: Hội Thánh hiện hữu để dạy dỗ , khích lệ , tôn cao , trang bị và truyền giáo . Cho dù mỗi Hội Thánh có một cách khác nhau để hoàn thành các nhiệm vụ này, thì cũng không được bất đồng với nhau về điều mà chúng ta được kêu gọi thực hiện.
Tôn Chỉ Của Hội Thánh Saddleback
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi dùng năm từ khóa để tóm tắt năm mục đích của Hội Thánh.
Tôn vinh: Chúng ta kỷ niệm sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng.
Truyền giáo: Chúng ta truyền đạt Lời của Đức Chúa Trời thông qua truyền giáo.
Thành viên: Chúng ta kết hợp gia đình của Đức Chúa Trời trong mối thông công.
Trưởng thành: Chúng ta dạy dỗ dân sự của Đức Chúa Trời qua việc môn đồ hóa.
Phục vụ: Chúng ta thể hiện tình yêu thương của Đức Chúa Trời qua việc phục vụ.
Những từ khóa này, đại diện cho năm mục đích của chúng tôi, được cô đọng lại trong câu tôn chỉ như sau:
Tôn Chỉ Của Hội Thánh Saddleback
Đưa mọi người đến với Chúa Giê-xu và làm thành viên trong gia đình Ngài, giúp họ trưởng thành giống Đấng Christ, trang bị họ cho sự phục vụ trong Hội Thánh cũng như đời sống truyền giáo trong thế gian, để tôn vinh danh Chúa.
Có ba điểm khác biệt quan trọng trong câu tôn chỉ của Hội Thánh Saddleback mà tôi muốn lưu ý sau đây. Trước hết, nó được bắt đầu bằng những khái niệm kết quả chứ không phải những khái niệm sinh hoạt. Năm kết quả có thể đo lường được đã được đưa vào. Hầu hết các Hội Thánh, nếu có câu tôn chỉ, thường dùng các khái niệm chỉ những sinh hoạt (chúng ta dạy dỗ, truyền giáo, thờ phượng, v.v…). Điều này khiến cho việc đánh giá và xác định số lượng trở nên khó khăn hơn.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi khẳng định năm kết quả chúng tôi mong đợi từ việc hoàn thành mỗi mục đích của Hội Thánh. Đối với mỗi kết quả, chúng tôi có thể hỏi một câu hỏi đại loại như: Bao nhiêu? Nhiều hơn năm ngoái bao nhiêu? Bao nhiêu người trở lại với Chúa? Có bao nhiêu thành viên? Bao nhiêu người có dấu hiệu trưởng thành thuộc linh? Chúng ta tìm kiếm những dấu hiệu trưởng thành gì? Bao nhiêu người đã được trang bị và động viên vào chức vụ? Bao nhiêu người đang làm trọn đời sống truyền giáo của họ trong thế gian? Những câu hỏi này đo lường sự thành công của chúng tôi và buộc chúng tôi phải đánh giá xem mình có đang thực sự hoàn thành Điều Răn Lớn và Đại Mạng Lệnh không.
Thứ hai, tôi muốn lưu ý rằng câu tôn chỉ của Hội Thánh Saddleback được viết theo lối khích lệ các thành viên dự phần . Dân sự phải thấy cách họ có thể dự phần vào các mục tiêu của Hội Thánh bạn. Sứ mệnh phải được thể hiện theo cách mà mọi người không chỉ tin vào nó, mà còn có thể dự phần nữa. Nếu tôn chỉ của bạn không gợi lên sự dự phần của cá nhân thì nó sẽ có rất ít hiệu quả.
Thứ ba, và quan trọng nhất, hãy lưu ý rằng chúng tôi đã sắp xếp năm mục đích theo trình tự diễn tiến . Điều này tuyệt đối quan trọng. Là một Hội Thánh được lèo lái bởi mục đích, các mục đích của bạn phải đặt vào một trình tự. Như vậy, chúng có thể được thực hiện mỗi ngày. Mỗi câu tôn chỉ cần phải có một quá trình để hoàn thành; nếu không, bạn chỉ có một câu nói thần học nghe thì hay nhưng không sản sinh điều gì cả.
Thay vì cố gắng làm Hội Thánh tăng trưởng bằng các chương trình, hãy tập trung làm tăng trưởng con người bằng một tiến trình. Đây là quan niệm trung tâm của một Hội Thánh được lèo lái bởi mục đích. Nếu bạn lập ra một quá trình phát triển các môn đồ và đeo bám nó , Hội Thánh bạn sẽ tăng trưởng khỏe mạnh, cân bằng và lâu dài. Benjamin Disraeli đã từng nói rằng: “Kiên trì với mục đích là bí mật của thành công.”
Tiến trình thực hiện các mục đích của chúng tôi có bốn bước: Chúng tôi đưa người vào, gây dựng họ, huấn luyện họ, và sai họ đi. Chúng tôi đưa họ vào làm thành viên , chúng tôi gây dựng họ trưởng thành , chúng tôi huấn luyện họ cho sự phục vụ , và chúng tôi sai họ đi truyền giáo , tôn vinh Đức Chúa Trời qua cả tiến trình. Thật vậy! Đó là tâm điểm của chúng tôi tại Saddleback. Chúng tôi không làm việc gì khác.
Nếu tôi phải dùng các khái niệm trong kinh doanh, tôi sẽ nói rằng Hội Thánh chúng tôi đang thực hiện việc “phát triển môn đồ,” và sản phẩm của chúng tôi là những đời sống được biến đổi-những con người giống Đấng Christ. Nếu mục tiêu của Hội Thánh là phát triển các môn đồ, thì chúng ta phải suy nghĩ về tiến trình làm thành mục đích đó. Hội Thánh của bạn phải xác định các mục đích lẫn tiến trình hoàn thành những mục đích đó. Nếu không làm được những việc đó tức là bỏ mặc trách nhiệm trọng đại Đấng Christ đã giao phó cho chúng ta.
Mỗi Hội Thánh lớn đều đã xác định những mục đích của mình và bằng cách nào đó vạch ra một tiến trình hay một hệ thống để làm thành các mục đích này. Hội Thánh Trung Tâm Seoul, Hàn Quốc, được xây dựng trên hệ thống nhóm tế bào. Hội Thánh First Bapstist, Dallas, được xây dựng trên hệ thống Trường Chúa Nhật quy củ hẳn hoi. Hội Thánh Trưởng Lão Coral Ridge tại Fort Lauderdale, Florida, tăng trưởng thông qua hệ thống truyền giáo cá nhân. Vào những năm đầu của thập kỷ 70, nhiều Hội Thánh được xây dựng trên hệ thống đưa đón các tín hữu đến nhà thờ bằng xe buýt. Trong mỗi trường hợp trên, các nhà lãnh đạo Hội Thánh đã xác định rõ ràng những mục đích của họ và sau đó phát triển một tiến trình để hoàn thành những mục đích đó.
Tôi không thể nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định những mục đích của Hội Thánh nhiều hơn nữa. Đó không chỉ là cái đích bạn nhắm tới, mà còn là lý do hội chúng của bạn tồn tại. Một câu tôn chỉ rõ ràng sẽ giúp định hướng, tạo sức mạnh, xác định các ranh giới, và làm nguồn động lực cho mọi việc bạn làm. Những Hội Thánh được lèo lái bởi mục đích sẽ là những Hội Thánh được trang bị tốt nhất để phục vụ trước mọi thay đổi mà chúng ta sẽ phải đối diện trong thế kỷ hai mươi mốt.
Chương 6: Truyền Đạt Những Mục Đích Của Bạn
“Sứ giả gian ác sa vào tai họa ;
Còn khâm sai trung tín khác nào thuốc hay .”
ChCn 13:17
Trong câu chuyện Nê-hê-mi xây lại đền thờ bao quanh thành Giê-ru-sa-lem, chúng ta biết rằng khi làm được nửa chừng thì dân sự nản lòng và muốn bỏ cuộc. Giống như nhiều Hội Thánh, họ đánh mất ý nghĩa của mục đích, do đó bị bao trùm bởi sự mệt nhọc, thất bại và sợ hãi. Nê-hê-mi kéo dân sự trở lại công việc bằng cách sắp xếp lại dự án và truyền đạt lại khải tượng. Ông nhắc họ nhớ về tầm quan trọng của công việc họ làm và bảo đảm với họ rằng Đức Chúa Trời sẽ giúp họ làm thành mục đích của Ngài (Nê-hê-mi 4:6-15;). Tường thành đã được xây xong trong năm mươi hai ngày.
Dù rằng bức tường chỉ tốn năm mươi hai ngày để xây xong, nhưng dân sự đã nản lòng ngay giữa đoạn đường: đúng ngày thứ hai mươi sáu của dự án! Nê-hê-mi phải làm mới lại khải tượng của họ. Từ câu chuyện này, chúng tôi rút ra được một bài học mà tôi gọi là “Nguyên Tắc Nê-hê-mi”: Khải tượng và mục đích phải được tái xác quyết mỗi hai mươi sáu ngày để giữ Hội Thánh đi đúng hướng . Nói cách khác, phải chắc rằng bạn truyền đạt mục đích của mình ít nhất một tháng một lần. Thật đáng ngạc nhiên khi con người-và các Hội Thánh-lại dễ dàng đánh mất ý nghĩa mục đích của họ như vậy.
Một khi bạn đã xác định các mục đích của Hội Thánh, bạn phải thường xuyên làm rõ và truyền đạt chúng cho từng người trong hội chúng của bạn. Đó không phải là nhiệm vụ mà bạn chỉ cần thực hiện một lần rồi quên đi. Đây là trách nhiệm hàng đầu của người lãnh đạo. Nếu bạn không thể truyền đạt tôn chỉ của mình cho các thành viên, thì cũng giống như bạn không hề có một thành viên nào cả.
Những Cách Truyền Đạt Khải Tượng Và Mục Đích
Có vài cách để truyền đạt khải tượng và mục đích cho Hội Thánh của bạn.
Kinh Thánh
Hãy dạy lẽ thật Kinh Thánh về Hội Thánh. Tôi đã từng nói rằng cuốn sách giáo khoa vĩ đại nhất về đề tài tăng trưởng Hội Thánh chính là Kinh Thánh. Hãy dạy giáo lý của Hội Thánh cách nhiệt tình và thường xuyên. Hãy trình bày khải tượng của bạn đặt nền tảng trên Kinh Thánh như thế nào bằng cách trưng dẫn các câu Kinh Thánh giải thích và minh họa lập luận của bạn.
Các biểu tượng
Những nhà lãnh đạo vĩ đại luôn luôn hiểu và khai thác sức mạnh phi thường của các biểu tượng. Dân sự thường cần đến những hình ảnh tượng trưng của các khái niệm để nắm bắt chúng. Các biểu tượng có thể là những công cụ truyền thông mạnh mẽ vì chúng gợi lên những cảm xúc và tình cảm mạnh mẽ. Chẳng hạn như bạn sẽ cảm thấy bị xúc phạm nếu thấy trên tường nhà thờ có hình chữ vạn, còn lá cờ Mỹ lại gợi lên trong chúng ta tình cảm trân trọng và kiêu hãnh.
Các lục địa đã bị chinh phục dưới ngọn cờ có dấu hiệu thập tự Cơ-đốc giáo, búa và liềm của Chủ Nghĩa Cộng Sản, và trăng lưỡi liềm của Hồi giáo. Ở Hội Thánh Saddleback, chúng tôi dùng hai biểu tượng-năm vòng tròn đồng tâm và một hình thoi kiểu sân bóng chày-để minh họa các mục đích của chúng tôi. Tôi sẽ giải thích thêm về điều này trong hai chương sau.
Các khẩu hiệu
Các khẩu hiệu, cách ngôn, phương châm, và những cụm từ súc tích thường được ghi nhớ rất lâu sau khi những bài giảng bị quên đi. Nhiều biến cố lớn trong lịch sử gắn liền với một câu khẩu hiệu: “Hãy nhớ Alamo!” “Đánh chìm Bismark!” “Tự do hoặc chết!” Lịch sử đã chứng minh rằng một câu khẩu hiệu đơn giản, được lập lại thường xuyên với lòng tin quyết, có thể thúc giục người ta làm những thứ mà thường thì họ không bao giờ làm-ngay cả hy sinh mạng sống trên chiến trường.
Tại Saddleback, chúng tôi đã dùng hàng tá câu khẩu hiệu để củng cố khải tượng của Hội Thánh: “Mỗi thành viên là một người phục vụ,” “Mọi lãnh đạo đều là những người học hỏi,” “Chúng ta được cứu để hầu việc,” “Đánh giá để được hoàn hảo,” “Chinh phục người hư mất bằng mọi giá,” và nhiều câu khác nữa. Tôi thường dành thời gian để suy nghĩ những cách mới nhằm truyền đạt những ý tưởng cũ một cách mới mẻ và súc tích.
Các câu chuyện
Chúa Giê-xu đã dùng những câu chuyện đơn giản để giúp dân sự hiểu và liên hệ tới khải tượng của Ngài. Mat Mt 13:34 chép rằng, “Đức Chúa Jêsus lấy lời ví dụ mà phán… cùng đoàn dân, Ngài chẳng phán điều gì cùng họ mà không dùng lời ví dụ.”
Hãy dùng các câu chuyện để minh họa các mục đích của Hội Thánh bạn. Chẳng hạn như khi tôi nói về tầm quan trọng của việc truyền giáo, tôi kể những câu chuyện về các thành viên Hội Thánh Saddleback đã chia sẻ niềm tin cho bạn bè và dẫn họ trở lại với Đấng Christ. Khi tôi nói về tầm quan trọng của mối thông công, tôi đọc những bức thư của những người thoát khỏi cảnh cô đơn khi gia nhập gia đình Hội Thánh chúng tôi. Khi nói đến tầm quan trọng của việc môn đồ hóa, tôi có thể dùng bài làm chứng về sự tăng trưởng thuộc linh của một đôi vợ chồng đã cứu lấy hôn nhân của họ, hoặc cách một người nào đó dùng để giải quyết những vấn đề cá nhân dựa trên nguyên tắc Kinh Thánh.
Tại Saddleback, chúng tôi cũng có một số “truyền thuyết,” những câu chuyện tôi cứ kể đi kể lại mãi, minh họa rõ rệt một mục đích của Hội Thánh chúng tôi. Một trong những câu chuyện tôi thích nhất là chuyện năm vị mục sư đã thắng tôi trong một lần thăm bệnh, và khi tôi đến đó, cô y tá không cho tôi thăm bệnh nhân nữa vì “có quá nhiều mục sư đến thăm rồi!” Kể từ đó tôi cứ hay kể về năm vị mục sư này. Người ta có khuynh hướng làm bất cứ điều gì có thưởng, cho nên, hãy tạo nên những người anh hùng trong Hội Thánh bạn khi họ làm việc cho Hội Thánh. Hãy kể những câu chuyện của họ.
Các chi tiết đặc thù
Hãy luôn nêu ra những bước hành động thực tiễn, rõ ràng, cụ thể để Hội Thánh bạn đạt được những mục đích của mình. Hãy đưa ra một kế hoạch chi tiết để thực hiện các mục đích đó. Hãy lập kế hoạch cho các chương trình, sắp xếp các sinh hoạt, lựa chọn địa điểm, và phân bố nhân sự cho mỗi mục đích. Đây là những chi tiết mà các con cái Chúa quan tâm đến.
Hãy nhớ rằng không có điều gì có hiệu quả cho tới khi có mục đích rõ ràng. Khi một khải tượng còn lờ mờ, nó sẽ không thu hút được ai. Khải tượng của Hội Thánh bạn càng rõ ràng, cụ thể bao nhiêu, thì nó càng thu hút sự chú ý và nhiệt tâm bấy nhiêu. Cách cụ thể nhất để truyền đạt những mục đích là áp dụng chúng một cách cá nhân trong đời sống mỗi thành viên.
Cá Nhân Hóa Các Mục Đích
Trong việc truyền đạt các mục đích của Hội Thánh bạn, cá nhân hóa chúng là điều quan trọng. Cá nhân hóa các mục đích là chỉ cho dân sự thấy các mục đích đó vừa là đặc ân, vừa là trách nhiệm của họ. CoCl 3:15 chép, “Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em, là bình an mà anh em đã được gọi đến đặng hiệp nên một thể; lại phải biết ơn.” Làm thành viên trong gia đình Hội Thánh là một đặc ân bao gồm cả trách nhiệm. Tôi cố gắng cá nhân hóa các mục đích của Hội Thánh chúng tôi bằng cách truyền đạt rằng trách nhiệm của chúng tôi là phải hoàn thành chúng và đặc quyền của chúng tôi là vui thỏa với chúng .
Các mục đích của Hội Thánh có thể được cá nhân hóa thành năm mục tiêu của Đức Chúa Trời cho đời sống mỗi tín nhân. Những mục tiêu này thể hiện điều Đức Chúa Trời muốn mỗi chúng ta làm trong cuộc đời mình trên trần gian này.
Những trách nhiệm của tôi trong tư cách một tín nhân
Đức Chúa Trời muốn tôi làm một thành viên trong gia đình của Ngài . Đây là mục đích thông công được thể hiện trên bình diện cá nhân. Kinh Thánh khẳng định rõ rằng theo Đấng Christ không phải chỉ là vấn đề tin-nó bao gồm cả sự thuộc về. Đời sống Cơ-đốc không hề cô độc. Chúng ta được định là phải sống trong mối thông công lẫn nhau. I Phi-e-rơ 1:3; chép rằng, “Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta lại sanh, đặng chúng ta nhờ sự Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết mà có sự trông cậy sống.” Đức Chúa Trời đã ban Hội Thánh như một gia đình thuộc linh vì ích lợi của chính chúng ta. Eph Ep 2:19 chép rằng, “Dường ấy, anh em… là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời.”
Đức Chúa Trời muốn tôi noi theo các đặc tính của Ngài . Đây là mục tiêu môn đồ hóa đã được cá nhân hóa. Đức Chúa Trời muốn mọi tín nhân tăng trưởng càng giống Đấng Christ về bản chất. Trở nên giống Đấng Christ là định nghĩa Kinh Thánh về “sự trưởng thành thuộc linh.” Đức Chúa Giê-xu đã làm gương để chúng ta noi theo. “Anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài” (I Phi-e-rơ 2:21;).
Trong I Ti-mô-thê 4:12;, Phao-lô nêu ra cho chúng ta một vài lĩnh vực cụ thể mà chúng ta cần phải noi theo đức tính của Đấng Christ: “Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ.” Hãy lưu ý rằng ta không đo lường sự trưởng thành bằng trình độ học thức mà bằng lối sống. Thuộc làu Kinh Thánh mà vẫn còn con đỏ thuộc linh là điều thường xảy ra.
Đức Chúa Trời muốn tôi làm người phục vụ trong ân điển của Ngài . Trách nhiệm thứ ba của mỗi Cơ-đốc nhân chính là mục đích phục vụ, hay chức vụ được cá nhân hóa. Đức Chúa Trời mong muốn chúng ta sử dụng các ân tứ, tài năng và cơ hội Ngài ban cho để đem lại ích lợi cho những người khác. I Phi-e-rơ 4:10; chép, “Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời.”
Đức Chúa Trời muốn mỗi tín nhân có một chức vụ phục vụ. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi rất thẳng thắn nói về sự mong muốn này khi làm chứng cho những người chưa tin. Chúng tôi không “thả mồi và giật dây.” Tôi nói với những người chưa tin Chúa, “Khi anh chị em dâng đời sống mình cho Đấng Christ, là anh chị em đồng ý phục vụ trong danh của Ngài cho đến trọn cuộc đời. Đó là mục đích Đức Chúa Trời tạo dựng anh chị em.” Eph Ep 2:10 chép, “Chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.”
Đức Chúa Trời muốn tôi làm một sứ giả bày tỏ tình yêu thương của Ngài . Đây là mục đích truyền giáo của Hội Thánh được thể hiện cách cá nhân hóa. Một phần công việc của mỗi tín nhân đó là một khi chúng ta được tái sanh, chúng ta trở thành những sứ giả của Tin Lành để loan báo cho những người khác. Phao-lô nói, “Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình làm quí, miễn chạy cho xong việc đua tôi và chức vụ tôi đã lãnh nơi Đức Chúa Jêsus, để mà làm chứng về Tin lành của ơn Đức Chúa Trời” (Cong Cv 20:24). Đây là trách nhiệm quan trọng của mỗi Cơ-đốc nhân. II Cô-rinh-tô 5:19-20; có chép, “Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi. Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo.” Chúng ta phải hết lòng khuyên nhủ những người chưa tin Chúa tiếp nhận tình yêu thương Ngài ban cho để được hòa giải với Đức Chúa Trời.
Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao Đức Chúa Trời lại để chúng ta trên trần gian với bao nỗi đau đớn, buồn khổ và cả tội lỗi nữa sau khi chúng ta tiếp nhận Đấng Christ không? Tại sao Ngài lại không cất chúng ta lên thiên đàng ngay và đưa chúng ta thoát khỏi mọi điều này? Sau hết, chúng ta có thể thờ phượng, thông công, cầu nguyện, hát, lắng nghe Lời của Đức Chúa Trời, và vui đùa trên thiên đàng. Trên thực tế, có hai điều bạn không thể làm trên thiên đàng, mà chỉ có thể làm tại trần gian này, đó là: phạm tội và làm chứng cho những người chưa tin. Tôi hỏi các thành viên của Hội Thánh mình rằng Đấng Christ đã để chúng ta ở tại trần gian để làm điều nào trong hai điều này. Mỗi người chúng ta đều có một sứ mệnh phải thực hiện trên trần gian này, và một phần của sứ mệnh đó là nói với những người khác về Đấng Christ.
Đức Chúa Trời muốn tôi tôn vinh danh Ngài . Thi Tv 34:3 chép, “Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giê-hô-va, chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh của Ngài” (có nhấn mạnh). Mỗi người chúng ta có trách nhiệm phải thờ phượng Đức Chúa Trời. Điều răn đầu tiên nói rằng: “Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác” (Xuất 20:3;). Trong mỗi con người có một sự thúc giục thờ phượng bẩm sinh. Nếu chúng ta không thờ phượng Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ tìm một cái khác nào đó để thờ phượng, có thể đó là công việc, gia đình, tiền bạc, một môn thể thao, hay ngay cả chính chúng ta.
Những đặc ân của tôi trong tư cách một tín nhân
Việc làm trọn năm mục đích của Hội Thánh là trách nhiệm cá nhân của mỗi Cơ-đốc nhân, nhưng chúng cũng đem lại những lợi ích thuộc linh, tình cảm và các mối quan hệ nữa. Trên thực tế, Hội Thánh đem tới cho con người những điều mà họ không thể tìm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới: Sự thờ phượng giúp con người tập trung vào Đức Chúa Trời; sự thông công giúp họ đối diện với những vấn đề của cuộc sống; môn đồ hóa giúp củng cố đức tin họ; sự phục vụ giúp họ khám phá những tài năng của mình; và truyền giáo giúp họ hoàn thành sứ mệnh.
Hãy Khẳng Định Đi Khẳng Định Lại
Đừng cho rằng chỉ một bài giảng về các mục đích của Hội Thánh sẽ đặt ra định hướng lâu dài cho Hội Thánh bạn. Đừng cho rằng nếu in các mục đích đó trên tập san thì mỗi người đã học thuộc nó, hay thậm chí đọc nó! Một quy luật quảng cáo nổi tiếng đó là thông điệp phải được truyền đạt bảy lần trước khi nó thực sự đi sâu vào đầu óc.
Tại Saddleback, chúng tôi dùng nhiều cách khác nhau để nhắc đi nhắc lại các mục đích trước Hội Thánh. Tôi đã có nói rằng các mục đích và khải tượng của chúng tôi được truyền đạt hằng tháng trong lớp thành viên. Một năm một lần, thường vào tháng Giêng, tôi giảng bài giảng thường niên về “địa vị của Hội Thánh.” Bài giảng đó ôn lại năm mục đích của chúng tôi. Năm nào cũng vậy, chỉ có các ví dụ minh họa là thay đổi.
Nhiều vị mục sư không hiểu biết sức mạnh của tòa giảng. Giống như bánh lái của một con tàu, nó sẽ quyết định hướng đi của Hội Thánh dù cố ý hay vô tình. Nếu bạn là một mục sư, hãy dùng tòa giảng của mình cách có mục đích! Trong suốt cả tuần, bạn có thể tìm đâu ra sự chú ý trọn vẹn của mỗi người? Bất cứ khi nào bạn nói, hãy tìm kiếm cơ hội để nói một điều như, “Và đó là lý do tại sao Hội Thánh hiện hữu.” Đừng sợ khi phải lập lại nhiều lần, vì không ai nhớ nổi điều đó khi chỉ nghe một lần. Tôi gọi việc lập lại hết lần này đến lần khác bằng những cách mới mẻ là “sự lập lại có sáng tạo.”
Ở trang kế bên, bạn sẽ thấy một biểu bảng cho thấy cách tôi giới thiệu những mục đích của Hội Thánh bằng vài góc độ khác nhau. Cứ tự do sử dụng bảng này. Chúng chỉ là những cách khác nhau để nói về cùng một điều.
Thêm vào việc truyền đạt các mục đích của chúng tôi thông qua việc giảng và dạy, chúng tôi còn dùng các tờ bướm, các biểu ngữ, các bài báo, bản tin, bảng thông báo, phim ảnh và băng cassette, thậm chí chúng tôi còn sáng tác nhạc nữa. Tại cổng vào trung tâm thờ phượng của chúng tôi, các mục đích và những câu Kinh Thánh tương ứng được khắc trên khung thủy tinh để ai nấy cũng đọc được khi đi vào. Chúng tôi tin rằng nếu chúng tôi cứ nói về cùng một việc bằng nhiều cách khác nhau, thì một trong những cách đó sẽ thu hút sự chú ý của mỗi thành viên. Thường thì sau khi giới thiệu các mục đích theo cách mới, sẽ có một ai đó nói rằng họ vừa hiểu lần đầu tiên. Mục tiêu của chúng tôi là mọi thành viên đều có thể giải thích về các mục đích đó cho những người khác.
Khải tượng của bất kỳ Hội Thánh nào đều lu mờ với thời gian nếu nó không được củng cố. Đó là do con người thường bị phân tâm bởi những điều khác. Hãy tái khẳng định các mục đích của bạn cách thường xuyên. Hãy dạy đi dạy lại cho họ. Cố gắng tận dụng mọi phương tiện truyền thông khác nhau để khiến dân sự luôn nhớ đến chúng. Bằng cách thổi lửa liên tục vào các mục đích của bạn, bạn có thể vượt qua khuynh hướng Hội Thánh trở nên chán nản hoặc tự mãn. Hãy nhớ Nguyên Tắc Nê-hê-mi!
Giải Thích Các Mục Đích Của Hội Thánh
Môn Đồ Hóa Gây Dựng “…Những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ.” Sự Trưởng Thành Nhóm Cam Kết Đời Sống Của Tôi Các Nguyên Tắc Sống Nền Tảng Của Cuộc Sống Sự Ổn Định
Chương 7: Tổ Chức Xoay Quanh Các Mục Đích Của Bạn “Rượu mới phải đổ vào bầu mới .”
LuLc 5:38
Hai diễn giả có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ mười tám là George Whitefield và John Wesley. Dù là những người cùng thời, và được Đức Chúa Trời đại dụng, họ khác nhau rất xa về thần học, cá tính và cách họ tổ chức các chức vụ của mình.
Whitefield nổi tiếng với việc giảng dạy. Suốt cả cuộc đời mình, ông đã giảng hơn 18,000 bài giảng, trung bình mười bài giảng một tuần! Ông đã từng nói trước gần 100,000 người ở gần Glasgow, Scotland, và những chuyến đi giảng tại Mỹ của ông đã thúc đẩy cơn phấn hưng nổi tiếng, Sự Thức Tỉnh Lớn. Tuy nhiên, các nhà viết tiểu sử lưu ý rằng vì Whitefield rời khỏi những người ông dẫn về Chúa mà không tổ chức gì cả nên kết quả của công việc ông làm chỉ có tác dụng ngắn. Ngày nay, có rất ít các Cơ-đốc nhân nhận ra cái tên George Whitefield.
Trái lại, cái tên John Wesley vẫn được hàng triệu Cơ-đốc nhân nhắc tới. Tại sao vậy? Wesley là một diễn giả lưu động giống như Whitefield, tổ chức các buổi giảng truyền giảng lớn ngoài trời. Nhưng Wesley cũng là một nhà tổ chức. Ông tạo ra cả một cơ cấu tổ chức để hoàn thành mục đích của mình và nó tồn tại lâu hơn cả cuộc đời ông. Tổ chức đó là Hội Thánh Giám Lý!
Để cho bất kỳ sự đổi mới nào đó tồn tại lâu dài trong Hội Thánh thì cần phải có một cơ cấu để duy trì và hỗ trợ nó. Xác định một câu tôn chỉ và truyền đạt nó vẫn chưa đủ, bạn phải tổ chức Hội Thánh của bạn xoay quanh các mục đích. Trong chương này, tôi sẽ bàn tới vấn đề lập ra một cơ cấu tổ chức bảo đảm nhấn mạnh đồng đều cả năm mục đích. Xin nhớ rằng sự quân bình là chìa khóa dẫn đến một Hội Thánh khỏe mạnh.
Đa số các Hội Thánh Tin Lành đã thực hiện năm mục đích của Hội Thánh-được một phần nào đó . Nhưng họ không thực hiện tất cả cách cân bằng. Một Hội Thánh có thể mạnh về thông công, nhưng yếu về truyền giáo. Một Hội Thánh khác lại mạnh về thờ phượng, mà yếu về môn đồ hóa. Lại có Hội Thánh mạnh về truyền giáo mà yếu về phục vụ. Tại sao như vậy?
Khuynh hướng tự nhiên của những nhà lãnh đạo là nhấn mạnh điều họ nhiệt tình nhất và phớt lờ điều họ ít tha thiết hơn. Bạn có thể tìm thấy trên khắp thế giới những Hội Thánh trở thành sự mở rộng ân tứ của vị mục sư quản nhiệm. Nếu bạn không lập ra một hệ thống và một cơ cấu tổ chức để cân bằng có chủ ý năm mục đích, Hội Thánh của bạn sẽ có khuynh hướng quá nhấn mạnh mục đích nào phù hợp với ân tứ và tình cảm của vị quản nhiệm nhiều nhất.
Trên phương diện lịch sử, nhiều Hội Thánh đã mặc lấy năm hình dạng cơ bản, tùy thuộc vào việc họ nhấn mạnh mục đích nào nhiều nhất.
Năm Loại Hội Thánh
Hội Thánh Chinh Phục Tội Nhân . Nếu vị mục sư cho rằng vai trò chủ yếu của mình là một nhà truyền giáo, thì Hội Thánh đó sẽ trở thành Hội Thánh “chinh phục tội nhân.” Chính vì mục tiêu chính của Hội Thánh là chinh phục linh hồn, nên Hội Thánh luôn luôn đi ra tìm kiếm người hư mất. Những từ bạn thường được nghe nhất trong các Hội Thánh này là chứng đạo , truyền giáo , cứu rỗi , quyết định chọn Đấng Christ , báp-tem , thăm viếng , kêu gọi dâng mình , và các chiến dịch . Trong một Hội Thánh chinh phục linh hồn, mọi việc khác, ngoại trừ truyền giáo, được xem là thứ yếu.
Hội Thánh Kinh Nghiệm Đức Chúa Trời . Nếu tình cảm và ân tứ của vị mục sư thiên về thờ phượng, ông ta sẽ theo bản năng mà dẫn dắt Hội Thánh trở thành một Hội Thánh “kinh nghiệm Đức Chúa Trời.” Tâm điểm của Hội Thánh này là kinh nghiệm sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng. Những từ bạn thường được nghe trong Hội Thánh này là ngợi khen , cầu nguyện , thờ phượng , âm nhạc , ân tức thuộc linh , Thánh Linh , quyền năng và phấn hưng . Trong Hội Thánh loại này, chương trình thờ phượng được chú ý nhiều nhất. Tôi đã từng thấy những Hội Thánh loại này trong cả hai nhóm ân tứ và phi ân tứ.
Hội Thánh Là Gia Đình Họp Mặt Thân Mật . Tôi gọi một Hội Thánh tập trung chủ yếu vào mối thông công là Hội Thánh “gia đình họp mặt thân mật.” Hội Thánh này được định hình bởi vị mục sư có mối quan hệ thân mật và yêu thương dân sự, cũng dành nhiều thời gian của mình quan tâm tới các thành viên. Ông phục vụ giống như một cha tuyên úy hơn là các vai trò khác. Những từ khóa trong Hội Thánh này là tình yêu thương , sự phụ thuộc , thông công , quan tâm , các mối quan hệ , những bữa ăn , các nhóm nhỏ và thú vui . Trong Hội Thánh gia đình sum họp, sự tập trung quan trọng hơn các mục tiêu.
Đa số những Hội Thánh loại này có ít hơn 200 thành viên, vì đó là con số tối đa một mục sư có thể quan tâm một cách cá nhân. Tôi ước tính có khoảng 80 phần trăm các Hội Thánh tại Mỹ rơi vào trường hợp này. Một Hội Thánh gia đình sum họp không làm được gì nhiều, nhưng hầu như rất bền vững. Hội Thánh có thể chịu đựng những bài giảng nghèo nàn ý tưởng, nguồn tài chánh hạn hẹp, thiếu tăng trưởng, và ngay cả sự chia rẽ trong Hội Thánh. Các mối quan hệ là chất keo gìn giữ đức tin.
Hội Thánh Là Lớp Học Kinh Thánh . Một Hội Thánh “lớp học” tồn tại khi vị mục sư xem vai trò chính của mình là một thầy giáo. Nếu dạy dỗ là ân tứ chính của ông, ông sẽ nhấn mạnh việc rao giảng và dạy dỗ đồng thời bỏ qua những nhiệm vụ khác của Hội Thánh. Vị mục sư phục vụ như một chuyên gia giảng dạy, và các thành viên mang tập sách đến nhà thờ, ghi chú và đi về. Những từ thường gặp trong Hội Thánh lớp học là giảng theo lối giải kinh , nghiên cứu Kinh Thánh , tiếng Hy Lạp và tiếng Hê-bơ-rơ , giáo lý , tri thức , lẽ thật và môn đồ hóa . Hội Thánh phòng học được biết tới với từ Kinh Thánh bởi chính tên gọi của nó.
Hội Thánh Là Lương Tâm Của Xã Hội . Vị mục sư của Hội Thánh “lương tâm của xã hội” xem vai trò của mình là một nhà tiên tri và một người cải chánh. Loại Hội Thánh này muốn thay đổi xã hội. Hội Thánh này đầy dẫy những người hoạt động xã hội, là những người “làm theo Lời,” với cả quan điểm canh tân, lẫn thủ cựu. Quan điểm canh tân có khuynh hướng tập trung vào những bất công trong xã hội, trong khi quan điểm thủ cựu lại chú tâm vào sự suy đồi đạo đức. Cả hai quan điểm canh tân và thủ cựu đều cho rằng Hội Thánh phải là nhân vật chính trong tiến trình chính trị, và các thành viên luôn tham dự vào các chiến dịch hiện thời. Những khái niệm quan trọng trong Hội Thánh này là các nhu cầu , phục vụ , chia sẻ , chăn bầy , tìm chỗ đứng và làm một điều gì đó .
Tôi thấy rằng mình đã vẽ những bức tranh này bằng nhiều nét tổng quát. Sự tổng quát hóa không bao giờ nói lên toàn bộ câu chuyện. Một số Hội Thánh là hỗn hợp của hai hoặc ba loại này. Trọng tâm của vấn đề là ở chỗ nếu không có một kế hoạch hẳn hoi để cân bằng cả năm mục đích, đa số các Hội Thánh sẽ tập trung vào một mục đích và bỏ mặc mọi mục đích còn lại.
Có vài điều thú vị chúng ta có thể quan sát được từ năm loại Hội Thánh này. Các thành viên của những Hội Thánh loại này thường cho rằng Hội Thánh của họ là thuộc linh nhất . Sở dĩ như vậy là vì người ta được thu hút gia nhập vào loại Hội Thánh phù hợp với tình cảm và ân tứ của mình nhất. Hết thảy chúng ta đều muốn trở thành thành viên của Hội Thánh nào khẳng định rằng điều chúng ta cảm nhận là quan trọng nhất. Sự thật là cả năm điểm nhấn mạnh này đều là các mục đích quan trọng của Hội Thánh và cần phải được cân bằng nếu muốn có một Hội Thánh khỏe mạnh.
Phần lớn xung đột trong các hội chúng xảy ra khi Hội Thánh mời một mục sư có các ân tứ và tình cảm không phù hợp với Hội Thánh trong quá khứ. Chẳng hạn nếu Hội Thánh gia đình sum họp nghĩ rằng họ đang mời một mục sư về làm cha tuyên úy của họ mà lại mời phải một người truyền giảng hay một nhà cải chánh, xung đột sẽ xảy ra thôi. Đó là cách dẫn đến thảm họa!
Đa Số Hội Thánh Chỉ Tập Trung Vào Một Mục Đích
Hội Thánh Là Lớp Học Kinh Thánh Gây Dựng Người Dạy Dỗ Học Viên Nhóm Cam Kết Hiểu Biết Kiến Thức Kinh Thánh Sách & Máy Chiếu Dạy Từng Câu Một
Năm Phong Trào Cải Cách Hội Thánh Chủ Yếu Tôi thấy rất thú vị khi quan sát các phong trào cải cách Hội Thánh trong suốt bốn mươi năm qua, chúng có khuynh hướng chuyên về một trong những mục đích của Hội Thánh. Hết lần này sang lần khác, Đức Chúa Trời đã dấy lên một phong trào cải cách để nhấn mạnh lại một mục đích của Hội Thánh. Tôi tin rằng điều đó là đúng đắn, và ích lợi cho Hội Thánh, cho các tổ chức cải cách Hội Thánh tập trung vào một mục đích đơn lẻ. Điều đó giúp tạo ấn tượng mạnh mẽ trên Hội Thánh.
Phong Trào Phục Hồi Tín Hữu . Phong trào này giúp Hội Thánh tập trung vào chức vụ cho mọi Cơ-đốc nhân. Những tổ chức như Faith at Work, Laity Lodge, và Hội Thánh Của Chúa Cứu Thế, và những người khởi xướng như Elton Trueblood, Findley Edge, và David Haney đã được Đức Chúa Trời sử dụng để nhấn mạnh lại rằng Ngài đã kêu gọi và ban ân tứ cho mọi tín nhân để phục vụ.
Phong Trào Môn Đồ Hóa /Thuộc Linh . Việc tập trung phát triển các tín nhân đến mức độ trưởng thành là tâm điểm của phong trào này. Các tổ chức như Navigators, Worldwide Discipleship, Campus Crusade for Christ và những người khởi xướng như Waylon Moore, Gary Kuhne, Gene Getz, Richard Foster, và Dallas Willard đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gây dựng các Cơ-đốc nhân và áp dụng những kỷ luật thuộc linh cá nhân.
Phong Trào Thờ Phượng /Canh Tân . Phong trào này tập trung nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thờ phượng trong Hội Thánh. Nó bắt đầu với Phong Trào Giê-xu vào đầu những năm 70 và tiếp theo đó là những cuộc đổi mới trong lĩnh vực ân tứ và nghi thức. Gần đây nhất, sự nhấn mạnh về việc thờ phượng hiện thời đã đem đến cho chúng ta một dòng âm nhạc mới, các hình thức thờ phượng mới và nhấn mạnh đến sự thờ phượng liên hiệp. Các tổ chức như Maranatha! Music và Hosanna/Integrity đóng vai trò chủ đạo trong việc quyết định các phong cách thờ phượng thay đổi và nhân rộng như thế nào..
Phong Trào Hội Thánh Tăng Trưởng . Phong trào này hướng Hội Thánh về truyền giáo, các sứ mệnh và sự tăng trưởng chung. Bắt đầu với những cuốn sách của Donald McGavran, Peter Wagner, Elmer Towns, Win Arn, và vô số các giáo sư thần học khác, phong trào lớn dần vào những năm 80 thông qua sự gia tăng của các nhà tư vấn, các chủng viện thần học và các mục sư nổi tiếng.
Phong Trào Nhóm Nhỏ /Chăm Sóc Mục Vụ (Pastoral Care ). Nhiệm vụ của phong trào nhóm nhỏ/chăm sóc mục vụ là hướng Hội Thánh đến mối thông công và những mối quan hệ chăm sóc lẫn nhau trong thân thể. Khuôn mẫu Hội Thánh tế bào Hàn Quốc và các tổ chức như Touch Ministries, Serendipity, Care Givers, và Stephen’s Ministry đã cho chúng ta thấy giá trị của việc dùng các nhóm nhỏ và tầm quan trọng của việc quan tâm đến các cá nhân.
Chúng ta cần phải tạ ơn Chúa vì những phong trào, các tổ chức và các tác giả này. Mỗi phong trào đều có một sứ điệp giá trị cho Hội Thánh. Mỗi phong trào là một tiếng gọi thức tỉnh cho thân thể của Đấng Christ. Mỗi phong trào nhấn mạnh một mục đích khác nhau của Hội Thánh.
Giữ Cho Hội Thánh Bạn Được Quân Bình
Về bản chất, các phong trào chuyên về một khía cạnh nào đó để tạo ấn tượng. Điều đó không có gì sai cả. Khi tôi cần phẫu thuật, tôi muốn có một bác sĩ chuyên khoa chữa trị căn bệnh của tôi. Nhưng không một chuyên gia nào có thể giải thích đầy đủ về mọi điều đang diễn ra trong thân thể tôi.
Cũng vậy, không một phong trào cải cách Hội Thánh nào có thể đem lại mọi điều mà thân thể của Đấng Christ cần có để được khỏe mạnh. Mỗi phong trào nhấn mạnh chỉ một phần của bức tranh lớn. Cần có một tầm nhìn lớn hơn về toàn bộ Hội Thánh qua đó nhìn nhận tầm quan trọng của việc quân bình cả năm mục đích là một điều quan trọng.

Ví dụ như tôi có một ông bạn mục sư, vị này đến một hội nghị chuyên đề và được dạy rằng các nhóm nhỏ là chiếc chìa khóa dẫn đến sự tăng trưởng Hội Thánh. Cho nên, khi về nhà, ông tiến hành lập kế hoạch để thay đổi hoàn toàn cơ cấu tổ chức Hội Thánh mình và thiết lập một mạng lưới nhóm nhỏ tế bào. Nhưng khoảng sáu tháng sau, ông đến một hội nghị nổi tiếng khác và người ta nói rằng các chương trình giúp đỡ cho những người chưa tin Chúa là chiếc chìa khóa dẫn đến sự tăng trưởng. Thế là ông lại về nhà và sắp xếp lại trật tự cũng như phong cách buổi thờ phượng của mình. Sau đó ông thực sự bối rối khi nhận ba tờ bướm của ba hội nghị khác nhau trong cùng một tuần lễ. Một tờ công bố mạnh mẽ rằng: “Trường Chúa Nhật là nhân tố tăng trưởng Hội Thánh quan trọng.” Một tờ khác lại nói: “Môn đồ hóa từng người: bí mật của sự tăng trưởng.” Tờ bướm thứ ba giới thiệu về một hội nghị “Giảng theo phương pháp giải kinh để tăng trưởng Hội Thánh.” Cuối cùng, ông thật sự nản lòng về chiếc chìa khóa tăng trưởng, ông không tham dự các hội nghị chuyên đề nữa. Tôi không trách gì ông! Tôi cũng thường cảm thấy như vậy. Mỗi lần ông đến dự một hội nghị, ông nhận được một phần bức tranh về điều Hội Thánh phải thực hiện. Cho rằng chỉ một nhân tố nào đó là bí mật của sự tăng trưởng là không chính xác và giản dị thái quá.
Không có một phương pháp đơn giản nào đưa đến sức khỏe và sự tăng trưởng Hội Thánh; có rất nhiều phương pháp. Hội Thánh không được kêu gọi để chỉ làm một việc; Hội Thánh được kêu gọi để làm nhiều việc. Đó là lý do tại sao sự quân bình lại quan trọng. Tôi nói với các cộng sự của mình phước lành thứ chín là “Phước cho người nào quân bình; vì họ sẽ sống lâu hơn mọi người khác.”
Phao-lô đã chỉ rõ trong ICo1Cr 12:1-31 rằng thân thể của Đấng Christ có nhiều chi thể. Thân thể đó không chỉ có bàn tay, cái miệng, con mắt thôi; mà đó là cả một hệ thống các chi thể cùng làm việc với nhau. Quả thật, thân thể của bạn được tạo nên có nhiều hệ thống khác nhau: hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, bộ xương và v.v… Khi tất cả các hệ thống này hoạt động quân bình với nhau, ta gọi là “sức khỏe.” Sự mất cân bằng là bệnh tật. Cũng vậy, làm cân bằng năm mục đích của Thánh Kinh Tân Ước cho Hội Thánh sẽ đem lại sức khỏe cho thân thể Đấng Christ, Hội Thánh.
Hội Thánh Saddleback được tổ chức xoay quanh hai khái niệm đơn giản để duy trì sự quân bình. Chúng tôi gọi chúng là “Vòng Tròn Cam Kết” và “Tiến Trình Phát Triển Đời Sống.” Hai khái niệm này tượng trưng cho cách chúng tôi thực hiện năm mục đích tại Hội Thánh Saddleback. Tiến Trình Phát Triển Đời Sống (hình thoi) minh họa điều chúng tôi làm tại Hội Thánh Saddleback. Các Vòng Tròn Cam Kết (năm vòng tròn đồng tâm) minh họa đối tượng của chúng tôi .
Tôi đã phát triển những khái niệm này năm 1974 khi còn là một mục sư thanh niên, trước khi thành lập Hội Thánh Saddleback. Ngày nay, với hơn 10,000 người dự nhóm, chúng tôi vẫn xây dựng mọi thứ xung quanh hai biểu đồ này. Chúng đã giúp ích cho chúng tôi rất nhiều.
Các vòng tròn đồng tâm tượng trưng cho một cách hiểu về các mức độ cam kết và trưởng thành khác nhau trong Hội Thánh bạn. Hình thoi tượng trưng cho tiến trình đưa người từ chỗ có ít hoặc chưa có cam kết bước vào những mức độ cam kết và trưởng thành sâu hơn. Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét các vòng tròn đồng tâm. Tôi sẽ giải thích hình thoi trong chương 8.
Hãy nhìn về Hội Thánh bạn từ một góc nhìn khác. Có phải mọi người trong Hội Thánh của bạn đều có cùng một mức độ cam kết với Đấng Christ không? Có phải mọi người trong Hội Thánh bạn có cùng trình độ thuộc linh không? Dĩ nhiên là không. Một số thành viên của bạn có mức độ cam kết cao và rất trưởng thành. Những người khác thì chưa cam kết và chưa trưởng thành thuộc linh. Giữa hai nhóm người này là những người ở các mức độ khác nhau của sự tăng trưởng tâm linh. Trong một Hội Thánh được mục đích lèo lái, chúng tôi xác định năm mức độ cam kết khác nhau. Năm mức độ này tương ứng với năm mục đích của Hội Thánh.
Trong hình vẽ năm vòng tròn đồng tâm ở trang sau, mỗi vòng tròn tượng trưng cho một mức độ cam kết được xếp theo thứ tự từ chỗ có rất ít cam kết (chẳng hạn chỉ đồng ý lâu lâu mới dự nhóm thờ phượng) cho tới một cam kết rất trưởng thành (chẳng hạn cam kết sử dụng các ân tứ thuộc linh của bạn để phục vụ những người khác). Khi tôi mô tả năm nhóm người khác nhau này tại Hội Thánh Saddleback, bạn sẽ nhận ra rằng họ cũng có trong Hội Thánh của bạn.
Các Vòng Tròn Cam Kết
Mục tiêu của Hội Thánh bạn là đưa người từ vòng ngoài (mức độ cam kết/trưởng thành thấp) vào vòng trong (mức độ cam kết/trưởng thành cao). Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi gọi đó là “đưa người từ cộng đồng vào trong nòng cốt.”
Cộng đồng
Cộng đồng là khởi điểm của bạn. Đó là cái hồ đầy những người hư mất sống trong phạm vi ảnh hưởng của Hội Thánh của bạn, và những người này chưa cam kết điều gì với Đấng Christ cũng như với Hội Thánh của bạn. Họ là các thân hữu mà bạn muốn tiếp cận. Cộng đồng của bạn là nơi mục đích truyền giáo được thực hiện. Đó là vòng tròn lớn nhất vì nó có nhiều người nhất.
Khi Hội Thánh Saddleback tăng trưởng, chúng tôi thu hẹp định nghĩa về cộng đồng lại để ám chỉ những người chúng tôi gọi là “những người không hoặc thỉnh thoảng có đi nhà thờ.” Nếu bạn tham dự chương trình thờ phượng của Hội Thánh Saddleback ít nhất bốn lần một năm (và được xác định bằng thẻ đăng ký hoặc thư mời), thì tên của bạn được đưa vào mảng “Cộng Đồng” trong máy tính của chúng tôi. Đây là những người có triển vọng truyền giáo được ưu tiên nhất. Khi tôi đang viết sách này, chúng tôi có hơn 31,000 cái tên của những người thỉnh thoảng đến nhóm với Hội Thánh Saddleback. Con số này chiếm khoảng 10% trong vùng của chúng tôi. Dĩ nhiên, mục tiêu cuối cùng của chúng tôi là thâm nhập vào toàn bộ cộng đồng, đem đến cho mỗi người một cơ hội được nghe về Đấng Christ.
Đám Đông
Vòng tròn tiếp theo tượng trưng cho nhóm người mà chúng tôi gọi là “Đám Đông.” Đám đông bao gồm mọi người hiện diện trong các buổi thờ phượng ngày Chúa Nhật. Họ là những người đi nhóm thường xuyên. Đám đông bao gồm cả tín hữu lẫn những người chưa tin Chúa-tất cả họ có một điểm chung là họ cam kết tham dự chương trình thờ phượng hằng tuần. Cam kết đó cũng không lớn gì, nhưng ít nhất bạn cũng có thể gây dựng lần. Khi một người nào đó chuyển từ cộng đồng vào trong đám đông của bạn, bạn đã tạo nên một tiến trình chủ yếu trong đời sống người đó. Hiện tại chúng tôi có khoảng 10,000 người thuộc “đám đông” và mỗi tuần họ tham dự các chương trình thờ phượng của chúng tôi tại Hội Thánh Saddleback.
Dù rằng người chưa tin Chúa không thể thờ phượng thật được, nhưng họ có thể quan sát những người khác thờ phượng. Tôi tin rằng sự thờ phượng thật là một lời chứng quyền năng cho những người chưa tin nếu nó được tổ chức theo phong cách tạo ý nghĩa cho họ. Tôi sẽ thảo luận chi tiết vấn đề này trong chương 13. Nếu một người chưa tin Chúa cam kết dự nhóm hằng tuần tại Saddleback, tôi tin rằng việc người đó tiếp nhận Chúa chỉ là vấn đề thời gian. Một khi có người tin Chúa, mục tiêu của chúng tôi là đưa người đó vào trong mức độ cam kết kế tiếp: “Hội Chúng.”
Hội Chúng
Hội chúng là một nhóm thành viên chính thức trong Hội Thánh của bạn. Họ đã được báp-tem và cam kết trở thành thuộc viên trong gia đình Hội Thánh của bạn. Bây giờ họ không chỉ là những người đến dự nhóm, họ cam kết với mục đích thông công . Đây là một cam kết quan trọng. Đời sống Cơ-đốc không chỉ có vấn đề tin; nó bao hàm cả sự thuộc về. Một khi người ta đã có một cam kết với Đấng Christ, họ cần được khích lệ để thực hiện bước tiếp theo và cam kết chính họ với thân thể của Đấng Christ, Hội Thánh. Tại Saddleback, chỉ có những người đã tin Chúa, đã chịu báp-tem, đã tham dự lớp thành viên (Lớp 101: “Lớp Căn Bản.”), và ký tên vào giao ước thành viên mới được xem là một phần của hội chúng (thuộc viên).
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi thấy để lại những người không phải là cư dân trong vùng hoặc những thành viên thụ động cũng chẳng có ích lợi gì. Chính vì lẽ đó, hằng năm chúng tôi xóa hàng trăm tên ra khỏi danh sách thuộc viên. Chúng tôi không thích có quá nhiều thành viên, mà chỉ muốn có những thành viên xứng đáng, là những người thực sự năng động và có trách nhiệm. Hiện tại, hội chúng của chúng tôi có khoảng năm ngàn thành viên năng động.
Có lần tôi đã giảng tại một Hội Thánh có hơn một ngàn thành viên trong danh sách mà hiện diện trong các buổi thờ phượng chỉ khoảng 200! Có một sổ hội viên như thế thì ích lợi gì chứ? Nếu bạn có số thành viên trên danh sách nhiều hơn số lượng người trung tín nhóm lại thì bạn cần phải nghiêm túc xác định lại ý nghĩa của tư cách thành viên trong hội chúng của bạn.
Có nhiều người dự nhóm hơn là số thành viên cũng có nghĩa là Hội Thánh đang hiệu quả trong việc thu hút các thân hữu và đang xây dựng lực lượng dự bị cho công cuộc truyền giáo. Một dấu hiệu tốt của tính hiệu quả trong việc truyền giáo đó là khi bạn có số người thuộc nhóm đám đông đến dự nhóm nhiều hơn số thành viên trong hội chúng của bạn ít nhất là 25 phần trăm. Chẳng hạn, nếu bạn có 200 thành viên, bạn phải có ít nhất 250 nhóm trung bình hằng tuần. Nếu không, điều đó có nghĩa là hầu như không có ai trong Hội Thánh bạn mời những người chưa tin Chúa đi với họ. Hiện nay, tại Hội Thánh Saddleback, đám đông nhiều hơn hội chúng đến 100 phần trăm. 5,000 thành viên của chúng tôi đang đưa dắt những người bạn chưa được cứu của họ về với Chúa, nên chúng tôi có trung bình 10,000 người dự nhóm.
Nhóm Cam Kết
Trong Hội Thánh bạn có những người tin kính và đang lớn lên-những người nghiêm túc trong đức tin của mình-nhưng vì lý do nào đó chưa tích cực phục vụ trong Hội Thánh của bạn không? Chúng tôi gọi những người này là “Nhóm Cam Kết.” Họ cầu nguyện, dâng hiến, và họ liên tục tăng trưởng trong sự môn đồ hóa . Họ là những người tốt, nhưng họ chưa dự phần vào chức vụ.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi kể những người tham dự lớp 201: “Khám Phá Sự Trưởng Thành Thuộc Linh” và đã ký giao ước trưởng thành là ở trong nhóm này. Giao ước trưởng thành xác định một cam kết với ba thói quen thuộc linh: (1) có thì giờ tĩnh nguyện hằng ngày, (2) dâng phần mười trung tín, và (3) tích cực trong một nhóm nhỏ. Chúng tôi xem ba thói quen này là cần thiết cho sự tăng trưởng thuộc linh. Trong lúc viết sách này, có khoảng 3,500 người tại Hội Thánh Saddleback đã ký giao ước trưởng thành và được xem là một phần của nhóm “cam kết.”
Nhóm Nòng Cốt
“Nòng Cốt” là nhóm nhỏ nhất vì nó tượng trưng cho mức độ cam kết sâu nhất. Họ là thiểu số những nhân sự và lãnh đạo tận tâm, tận lực, là những người cam kết phục vụ người khác. Họ là những người hướng dẫn và phục vụ trong các chức vụ khác nhau của Hội Thánh như: các giáo viên Trường Chúa Nhật, các chấp sự, các nhạc sĩ, các đặc trách thanh niên, và v.v… Nếu không có những người này, Hội Thánh của bạn sẽ giậm chân tại chỗ. Các nhân sự cốt lõi chính là trái tim của Hội Thánh của bạn.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi có một chương trình hẳn hoi để giúp các con cái Chúa xác định chức vụ thích hợp với họ nhất. Việc này bao gồm tham dự lớp 301: “Phát Hiện Mục Vụ Của Tôi,” ghi tiểu sử, tham dự kỳ phỏng vấn chức vụ, được bổ nhiệm làm nhân sự nòng cốt trong Hội Thánh, và tham dự lớp huấn luyện hằng tháng chỉ dành cho nhóm nòng cốt. Hiện tại chúng tôi có 1,500 người trong nhóm nòng cốt của Hội Thánh Saddleback. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì cho những người này. Họ là bí mật sức mạnh của chúng tôi. Nếu tôi bất ngờ qua đời, Hội Thánh Saddleback sẽ tiếp tục tăng trưởng bởi nền tảng 1,500 nhân sự nòng cốt này.
Điều gì xảy ra khi cuối cùng các con cái Chúa vào tới nhóm nòng cốt? Chúng tôi đưa họ trở ra cộng đồng để phục vụ!
Chúa Giê-xu Thừa Nhận Năm Mức Độ Cam Kết Khác Nhau
Chúa Giê-xu biết rằng mỗi người đều ở một mức độ cam kết thuộc linh khác nhau. Tôi rất thích thú với cuộc nói chuyện của Chúa Giê-xu với những người tìm kiếm thuộc linh. Ngài phán như vầy: “Ngươi chẳng cách xa nước Đức Chúa Trời đâu” (Mac Mc 12:34, có nhấn mạnh). Không cách xa? Tôi cho rằng Chúa Giê-xu đã thừa nhận các mức độ hiểu biết và cam kết thuộc linh khác nhau, ngay cả giữa vòng những người chưa tin Chúa.
Chức vụ của Chúa Giê-xu bao gồm cả việc phục vụ Cộng Đồng , cho Đám Đông ăn, tập hợp một Hội Chúng , thách thức Nhóm Cam Kết , và môn đồ hóa Nhóm Nòng Cốt . Cả năm công việc được ghi lại rõ ràng trong các sách Phúc Âm. Chúng ta cần phải noi gương Ngài! Chúa Giê-xu bắt đầu ngay ở mức độ cam kết mà mỗi người Ngài tiếp xúc có được. Thường thì Ngài chỉ thu hút sự thích thú của họ và tạo nên một khao khát muốn biết nhiều hơn. Sau đó, khi dân sự tiếp tục theo Ngài, Chúa Giê-xu mới từ từ và nhẹ nhàng nói rõ hơn về nước của Đức Chúa Trời đồng thời kêu gọi sự cam kết sâu sắc hơn với Nước đó. Nhưng Ngài chỉ làm việc này khi những người theo Ngài đã đạt tới mức độ trước đó.
Lần đầu tiên Chúa Giê-xu gặp Giăng và Anh-rê, Ngài chỉ nói đơn giản, “Hãy đến xem! (GiGa 1:39). Ngài không đặt ra bất kỳ đòi hỏi nặng nề nào cho những người mới theo Ngài; Ngài chỉ mời gọi họ quan sát Ngài. Ngài cho phép họ xem xét chức vụ của Ngài mà không đòi hỏi quá nhiều cam kết. Điều này không có nghĩa là làm giảm nhẹ Phúc Âm. Ngài chỉ đang tạo nên lòng thích thú.
Khi nhóm các môn đồ đầu tiên gia tăng thành một đám đông, Chúa Giê-xu bắt đầu hâm nóng lên. Cuối cùng, sau ba năm phục vụ công khai giữa họ, chỉ sáu ngày trước khi Biến Hình, Chúa Giê-xu có lời thách thức đám đông: “Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta” (Mac Mc 8:34).
Chúa Giê-xu chỉ có thể đòi hỏi sự cam kết đó từ đám đông sau khi thể hiện tình yêu thương của Ngài cho họ, và giành được lòng tin nơi họ. Đối với một người lạ hoặc một người mới đến Hội Thánh lần đầu tiên, tôi tin rằng Chúa Giê-xu sẽ nói: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ” (Mat Mt 11:28-29).
Chúa Giê-xu cũng lưu tâm tới việc người ta có những bối cảnh văn hóa, sự hiểu biết, và các mức độ cam kết thuộc linh khác nhau. Ngài biết rằng nếu chỉ dùng một cách tiếp cận cho tất cả mọi người thì sẽ không có hiệu quả. Cũng chính ý tưởng đó hình thành Các Vòng Tròn Cam Kết. Đó là một chiến lược đơn giản, nhận biết rằng chúng tôi phục vụ dân sự ở nhiều mức độ cam kết khác nhau. Con người không ai giống ai: Họ có những nhu cầu, sở thích và các vấn đề thuộc linh khác nhau, tùy thuộc vào chỗ đứng của họ trên hành trình tâm linh. Chúng ta không được nhầm lẫn những gì chúng ta làm cho cộng đồng và đám đông với những gì chúng ta làm cho nhóm nòng cốt. Mỗi nhóm đòi hỏi một cách tiếp cận khác nhau. Một đám đông không phải là một Hội Thánh-nhưng một đám đông có thể biến thành một Hội Thánh.
Bằng cách tổ chức Hội Thánh bạn xoay quanh năm mục đích và đồng hóa con người trong Hội Thánh bạn với những khái niệm tùy theo mức độ cam kết của họ ứng với từng mục đích, bạn sẽ cân bằng được chức vụ của mình và giúp tạo ra một Hội Thánh khỏe mạnh. Bây giờ bạn đã sẵn sàng cho bước cuối cùng trong tiến trình trở thành một Hội Thánh được mục đích lèo lái-áp dụng những mục đích của bạn trong mọi lĩnh vực của Hội Thánh. Đó là tâm điểm của chương tiếp theo.
Chương 8: Áp Dụng Các Mục Đích Của Bạn
“Chúng tôi có lòng tin cậy trong Chúa rằng anh em đương làm và sẽ làm những việc chúng tôi dặn biểu .”
IITe 2Tx 3:4
Bây giờ chúng ta sang phần khó nhất trong quá trình trở thành một Hội Thánh được mục đích lèo lái. Nhiều Hội Thánh đã làm hết mọi điều tôi nói đến trong các chương trước: Họ đã xác định các mục đích của mình và phát triển một câu tôn chỉ; họ thường xuyên truyền đạt các mục đích đó cho những thành viên; một số thậm chí cũng đã tổ chức lại cơ cấu Hội Thánh của mình xoay quanh các mục đích. Tuy nhiên, một Hội Thánh được mục đích lèo lái phải đi thêm một bước nữa và nghiêm chỉnh áp dụng các mục đích của mình trong từng công việc của Hội Thánh: lên chương trình, sắp lịch, ngân quỹ, nhân sự, giảng dạy và v.v…
Áp dụng các mục đích đó vào trong mọi lĩnh vực và khía cạnh của đời sống Hội Thánh của bạn là điều khó khăn nhất để trở thành một Hội Thánh được mục đích lèo lái. Thực hiện bước nhảy vọt từ câu tôn chỉ sang các việc làm do mục đích thúc đẩy đòi hỏi người lãnh đạo phải hoàn toàn tận tâm tận lực vào cả tiến trình. Việc áp dụng các mục đích của bạn sẽ đòi hỏi nhiều tháng trời, thậm chí nhiều năm, trong sự cầu nguyện, lập kế hoạch, chuẩn bị và thử nghiệm. Hãy từ từ. Hãy tập trung vào cả tiến trình, chứ không phải sự hoàn hảo. Kết quả cuối cùng tại Hội Thánh của bạn sẽ khác so với Hội Thánh Saddleback, và cũng khác so với mọi Hội Thánh khác cũng được mục đích lèo lái.
Có mười lĩnh vực bạn cần phải lưu tâm tới khi bắt đầu tái định hình Hội Thánh của bạn thành một Hội Thánh được mục đích lèo lái.
Mười Cách Để Trở Thành Một Hội Thánh Theo Đúng Mục Đích
1. Bắt đầu với các thành viên mới
Hãy dùng Các Vòng Tròn Cam Kết như chiến lược của bạn để đồng nhất hóa con người vào trong đời sống của Hội Thánh. Hãy bắt đầu bằng cách đưa các thân hữu trong cộng đồng vào trong đám đông của bạn (để thờ phượng). Sau đó đưa họ từ đám đông vào trong hội chúng (để thông công). Kế đến, đưa họ từ hội chúng vào trong nhóm cam kết (để môn đồ hóa) và từ nhóm cam kết vào nhóm nòng cốt (cho chức vụ). Cuối cùng, hãy đưa nhóm nòng cốt trở lại cộng đồng (để truyền giáo). Quá trình này làm thành cả năm mục đích của Hội Thánh.
Xin lưu ý rằng tôi gợi ý với bạn là hãy phát triển Hội Thánh từ bên ngoài vào, chứ không phải từ bên trong ra. Hãy bắt đầu với cộng đồng của bạn chứ không phải nhóm nòng cốt! Điều này trái ngược với những lời khuyên mà đa số các sách viết về đề tài mở Hội Thánh mới đưa ra. Phương pháp truyền thống để bắt đầu một Hội Thánh mới là xây dựng một nhóm nòng cốt tận tâm gồm toàn các tín hữu trưởng thành trước, sau đó mới đi vào cộng đồng.
Tôi khám phá ra một vấn đề của lối phát triển “từ trong ra ngoài,” đó là khi người thành lập Hội Thánh mới đã “môn đồ hóa” nhóm nòng cốt của mình xong, thì họ thường mất sự liên hệ với cộng đồng và thực sự e ngại khi phải tiếp xúc với các thân hữu. Thật dễ khi có được cái mà Peter Wagner gọi là “koinonitis”-phát triển một mối thông công chặt chẽ đến mức những người mới tới e ngại hoặc không giám gia nhập vào. Thường thì khi một nhóm nòng cốt lập kế hoạch mở Hội Thánh mới, họ đã có quá nhiều thời gian sinh hoạt với nhau trong một nhóm nhỏ đến nỗi họ cảm thấy thỏa lòng với nó, và đánh mất ý nghĩa của sứ mệnh. Ngọn lửa truyền giáo bị dập tắt.
Vấn đề của đa số các Hội Thánh nhỏ là hết thảy họ là nhóm nòng cốt và không có cái gì khác cả. Cũng năm mươi người đó thực hiện cũng chừng ấy công việc trong Hội Thánh. Tất cả họ đã là các Cơ-đốc nhân lâu năm đến độ họ có ít, nếu có, những người bạn chưa tin Chúa để mà làm chứng. Hội Thánh lâm vào tình trạng này cần phải học biết cách phát triển bốn vòng tròn còn lại.
Khi tôi bắt đầu Hội Thánh Saddleback, tôi khởi sự bằng cách tập trung hoàn toàn vào cộng đồng, đặc biệt là những người không đi nhà thờ trong cộng đồng của tôi. Cá nhân tôi đã gặp gỡ hàng trăm người không đi nhà thờ bằng cách dành mười hai tuần lễ đi gõ cửa từng nhà và lắng nghe lý do tại sao họ không đi nhà thờ cũng như ghi nhận các nhu cầu của họ. Tôi đã phát triển các mối quan hệ và xây những chiếc cầu tình bạn với bất cứ người chưa tin Chúa nào tôi gặp và có thể làm quen.
Sau đó tôi tập hợp một đám đông từ cộng đồng đó bằng cách viết thư thông báo thành lập Hội Thánh của chúng tôi và gởi cho 15,000 hộ gia đình. Tôi viết bức thư đó dựa trên những gì tôi thu nhặt được từ cộng đồng qua cuộc khảo sát của mình. Chúng tôi cũng quảng cáo khá nhiều trong năm đầu tiên đó vì chúng tôi không có đủ các mối quan hệ để chỉ dựa vào lời truyền miệng mà thu hút một đám đông. Điều này cũng đúng đối với đa số các Hội Thánh nhỏ. Ngày nay, với hàng ngàn thành viên liên tục mời gọi bạn bè của mình đến Hội Thánh chúng tôi, quảng cáo không còn cần thiết nữa.
Trong năm đầu tiên đó, hầu như mọi điều chúng tôi làm là cố gắng xây dựng một đám đông và giới thiệu Đấng Christ cho họ. Giống như việc phóng một tên lửa đòi hỏi phải có một khối lượng nhiên liệu khổng lồ, thì việc tập trung một đám đông từ chỗ không có gì cũng đòi hỏi nỗ lực không thể tả xiết. Tâm điểm của chúng tôi lúc đó rất hẹp. Tôi giảng một loạt bài giảng truyền giảng rất đơn giản, thẳng thắn như “Tin Mừng Cho Các Nan Đề Chung” và “Kế Hoạch Của Đức Chúa Trời Cho Cuộc Đời Bạn.” Vào cuối năm, chúng tôi có khoảng 200 người nhóm trung bình hằng tuần, và đa số họ là những tân tín hữu.
Đến năm thứ hai, tôi bắt đầu làm việc để đưa các tín hữu từ đám đông vào trong hội chúng. Chúng tôi tiếp tục đi vào cộng đồng và gia tăng kích thước của đám đông, nhưng chúng tôi thêm phần nhấn mạnh vào việc xây dựng các mối quan hệ trong mối thông công của chúng tôi. Chúng tôi tập trung biến những người dự nhóm thành các thành viên. Tôi bắt đầu nói nhiều hơn về giá trị của tư cách thuộc viên một Hội Thánh, những ích lợi của việc được thuộc về một Hội Thánh và cả những trách nhiệm đi kèm với tư cách thuộc viên đó. Tôi giảng các sứ điệp với các đề mục như “Chúng Ta Cùng Nhau Ở Đây,” “Hết Thảy Ở Trong Nhà Của Đức Chúa Trời,” và “Tại Sao Chúng Ta Lại Có Hội Thánh?” Tôi vẫn còn nhớ sự thích thú khi nhìn xem cách Đức Chúa Trời bắt đầu biến đổi đám đông những người đi nhóm mà chỉ coi mình là trung tâm thành những thành viên trong một hội chúng yêu thương.
Sang năm thứ ba, tôi bắt đầu kế hoạch gia tăng mức độ cam kết của các thành viên. Tôi thường xuyên thách thức hội chúng của mình tiến sâu hơn trong sự tận hiến cho Đấng Christ. Tôi dạy họ cách để thực hành kỷ luật và các thói quen thuộc linh giúp họ trưởng thành về mặt tâm linh. Tôi giảng một loạt bài giảng về sự cam kết, gọi là “Chúng Ta Cùng Nhau Tăng Trưởng” và một loạt bài giảng về giáo lý căn bản gọi là “Những Câu Tôi Muốn Hỏi Chúa.” Dĩ nhiên, tôi đã dạy những điều này cho các tân tín hữu trong năm thứ nhất và thứ hai rồi, nhưng đến năm thứ ba thì nó trở thành điểm nhất mạnh chính.
Khi các con cái Chúa trở nên vững vàng trong đức tin, tôi bắt đầu nhấn mạnh việc dấn thân vào chức vụ qua các sứ điệp như “Mỗi Thành Viên Là Một Người Phục Vụ” và một loạt bài giảng với tên gọi “Tận Dụng Mọi Điều Chúa Ban Cho Bạn.” Tôi nhấn mạnh rằng một Cơ-đốc nhân không phục vụ là trái ngược với chính danh xưng đó và phá hỏng huyền nhiệm của sự trưởng thành thuộc linh. Tôi nhấn mạnh rằng sự trưởng thành là dành cho sự phục vụ.
Dù chúng tôi có các nhân sự nòng cốt ngay từ lúc đầu, nhưng bấy giờ chúng tôi mới tổ chức họ tốt hơn trong nhóm nòng cốt nổi bật. Tôi tuyển dụng nhân sự để giúp tôi hướng dẫn các buổi gặp gỡ định kỳ để huấn luyện, khuyến khích, và quản lý những người lãnh đạo trong các nhân sự nòng cốt của chúng tôi.
Bạn có thấy đó là một tiến trình tự nhiên không? Bạn hãy xây dựng một chức vụ đa phương bằng cách bắt đầu với các tân tín hữu theo một hướng có mục đích, tập trung vào từng mức độ cam kết một. Đừng có cảm giác rằng bạn phải làm mọi việc ngay lập tức. Ngay chính Chúa Giê-xu cũng không làm như vậy! Hãy xây dựng từ ngoài vào trong. Và một khi bạn đã có cả năm nhóm đang chạy đều, thì bạn có thể tiếp tục tập trung một cách đồng đều vào từng nhóm.
Một số người có thể phê phán tốc độ chậm chạp trong việc chúng ta đưa dân sự vào trong các mức độ cam kết sâu nhiệm hơn. Nhưng bạn cần phải nhớ rằng chúng ta bắt đầu với các thân hữu và cùng lúc đó đang hình thành toàn bộ triết lý chức vụ từ những vết trầy xước!
Tôi luôn luôn xem việc xây dựng Hội Thánh Saddleback là một nhiệm vụ trọn đời. Khát vọng của tôi, như Phao-lô, là “lập nền như một tay thợ khéo” (ICo1Cr 3:10). Cần phải có thời gian để gây dựng sự cam kết, phát triển chất lượng và đưa dân sự đi qua Các Vòng Tròn Cam Kết. Tôi có thể giúp bạn biết cách xây dựng một Hội Thánh quân bình, khỏe mạnh, nhưng tôi không thể giúp bạn cách nhanh nhất để đạt được điều đó.
Những Hội Thánh vững vàng, ổn định không được xây dựng trong chỉ một ngày. Khi Đức Chúa Trời muốn làm một cây nấm, Ngài mất sáu giờ đồng hồ. Khi Đức Chúa Trời muốn tạo một cây đại thụ, Ngài mất sáu mươi năm. Bạn muốn Hội Thánh của bạn là một cây nấm hay là một cây đại thụ?
2. Lập Chương Trình Cho Từng Mục Đích
Bạn phải lựa chọn hoặc lập ra một chương trình để hoàn thành từng mục đích của bạn. Xin nhớ rằng mỗi Vòng Tròn Cam Kết tương ứng với một mục đích của Hội Thánh. Nếu bạn dùng năm vòng tròn này làm chiến lược cho việc lập chương trình, bạn cũng phải xác định cả đối tượng (cộng đồng, đám đông, hội chúng, nhóm cam kết, nhóm nòng cốt) lẫn mục tiêu (truyền giáo, thờ phượng, thông công, môn đồ hóa và phục vụ) cho từng đối tượng của bạn nữa.
Hãy luôn làm rõ mục đích của từng chương trình trong Hội Thánh của bạn. Hãy gạt bỏ bất kỳ chương trình nào không giúp hoàn thành mục đích. Hãy thay thế một chương trình nào đó mà bạn thấy rằng nó đem lại kết quả tốt hơn chương tình bạn đang dùng. Các chương trình phải luôn luôn là những người đầy tớ cho các mục đích của bạn.
Nối một nhịp cầu . Tại Hội Thánh Saddleback, chương trình chủ yếu chúng tôi dùng để thu hút cộng đồng là một loạt các sự kiện hằng năm được tổ chức rộng rãi trong cả cộng đồng. Chúng tôi gọi là “nối một nhịp cầu” vì chúng được tổ chức để bắc một chiếc cầu giữa Hội Thánh chúng tôi và cộng đồng. Chúng thường được tổ chức quy mô để thu hút toàn cộng đồng. Các chương trình này gồm có: Ngày Hội Mùa Gặt thay cho ngày lễ Halloween của trẻ em, các buổi thờ phượng trước Giáng Sinh được tổ chức cho toàn cộng đồng, các buổi thờ phượng Phục Sinh toàn cộng đồng, và Ngày Phương Tây, gần ngày Bốn tháng Bảy cùng với các bữa tiệc theo mùa, các buổi hòa nhạc, và các buổi giao lưu. Một số nhịp cầu của chúng tôi có tính chất truyền giáo công khai trong khi một số khác thì được xem là “truyền giáo ngầm” (pre-evangelism)-chúng chỉ đơn giản khiến các thân hữu trong cộng đồng của chúng tôi biết về Hội Thánh mà thôi.
Các buổi nhóm cho người chưa tin Chúa . Chương trình chính cho đám đông là các buổi nhóm cho những người chưa tin Chúa vào mỗi cuối tuần. Chúng được tổ chức thành các buổi thờ phượng mà các thành viên của chúng tôi có thể tự do dẫn dắt những người bạn chưa tin của mình đến dự. Mục đích của các buổi nhóm này là hỗ trợ cho việc chứng đạo cá nhân, chứ không phải thay thế nó. Các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng người ta quyết định tin Chúa sớm hơn khi có sự giúp đỡ của một nhóm.
Chương trình chính cho hội chúng là mạng lưới nhóm nhỏ. Sự thông công, sự quan tâm cá nhân và cảm nhận thuộc về nhau là những lợi ích mà nhóm nhỏ đem lại. Chúng tôi bảo, “Các ông bà anh chị em sẽ không cảm thấy không khí gia đình trong Hội Thánh nếu không gia nhập một nhóm nhỏ.”
Viện Phát Triển Đời Sống . Chương trình chính dành cho nhóm cam kết do Viện Phát Triển Đời Sống cung cấp. Viện Phát Triển Đời Sống mở ra nhiều cơ hội khác nhau cho sự tăng trưởng thuộc linh: Nghiên cứu Kinh Thánh, các kỳ hội nghị chuyên đề, các khóa hội thảo, các kinh nghiệm tư vấn, và các chương trình học tập độc lập. Một người có thể nhận được các tín chỉ cho các lớp mình tham dự và sẽ được nhận bằng nếu theo hết chương trình. Thì giờ thờ phượng giữa tuần của chúng tôi là một phần quan trọng của Viện Phát Triển Đời Sống.
SALT (MUỐI ). Chương trình chính cho nhóm nòng cốt là cuộc họp mặt SALT hằng tháng, đây là từ viết gọn của chương trình Saddleback Advanced Leadership Training (Chương Trình Huấn Luyện Lãnh Đạo Cao Cấp Thuộc Hội Thánh Saddleback). Cuộc họp mặt hai tiếng đồng hồ này được tổ chức vào tối Chúa Nhật đầu tháng, gồm có các báo cáo, bài làm chứng của mọi nhân sự nòng cốt, có thì giờ chia sẻ khải tượng do mục sư phụ trách, thì giờ rèn luyện kỹ năng, huấn luyện lãnh đạo, cầu nguyện và bổ nhiệm các nhân sự nòng cốt mới. Là một mục sư, tôi xem cuộc họp hằng tháng với nhóm nhân sự nòng cốt của mình là thì giờ quan trọng nhất tôi phải chuẩn bị kỹ càng. Đó là một cơ hội vô giá để hướng dẫn, truyền đạt, và đánh giá từng con người duy trì các hoạt động của Hội Thánh Saddleback.
Điều cần ghi nhớ về việc lên chương trình đó là không có một chương trình đơn lẻ nào, dù lớn đến đâu hay đã đem lại hiệu quả cao bao nhiêu trong quá khứ, lại có thể hoàn thành một cách thỏa đáng tất cả các mục đích của Hội Thánh bạn. Cũng vậy, không phải một chương trình nào cũng có thể đáp ứng mọi đối tượng ở mỗi vòng tròn trong Hội Thánh bạn. Cần phải có các chương trình khác nhau để đáp ứng nhu cầu của cả năm mức độ cam kết khác nhau và làm thành năm mục đích của Hội Thánh.
3. Tổ Chức Lớp Học Cho Mỗi Mục Đích
Chương trình giáo dục Cơ-đốc tại Hội Thánh Saddleback cũng phụ thuộc vào mục đích. Mục tiêu của chúng tôi là giúp các con cái Chúa phát triển một đời sống truyền giáo, thờ phượng, thông công, môn đồ hóa và phục vụ. Chúng tôi muốn sản sinh ra những con người thực hành Lời Chúa, không chỉ là những người nghe-để biến đổi họ, chứ không chỉ thông tin cho họ. Một trong những câu khẩu hiệu của chúng tôi là “Bạn chỉ tin phần Kinh Thánh nào bạn ÁP DỤNG.”
Sự biến đổi không diễn ra tình cờ. Chúng ta phải tổ chức chương trình môn đồ hóa, hay giáo dục để khích lệ các con cái Chúa thực thi điều họ đã học và khen thưởng họ khi họ làm điều đó. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi gọi đây là “Tiến Trình Phát Triển Đời Sống.”

Chúng tôi sử dụng biểu đồ đơn giản này với kiểu hình thoi của sân bóng chày để giải thích tiến trình giáo dục và đồng nhất hóa các thành viên của chúng tôi. Mỗi trạm tượng trưng cho một lớp học đã hoàn tất và một mức độ cam kết sâu hơn.
Bạn đến trạm đầu tiên bằng cách hoàn thành Lớp 101 và cam kết bằng giao ước thành viên của Hội Thánh Saddleback. Bạn đến trạm thứ hai sau khi hoàn tất Lớp 201 và ký vào giao ước trưởng thành thuộc linh. Bạn sẽ tới trạm thứ ba sau khi hoàn tất Lớp 301 và cam kết phục vụ bằng một công việc nào đó trong Hội Thánh. Và cuối cùng bạn trở về trạm gốc khi hoàn thành Lớp 401 và cam kết chia sẻ niềm tin của mình cả ở nhà lẫn trong các chuyến truyền giáo. Các bước này sẽ được giải thích chi tiết hơn.
Cũng như trong môn bóng chày, người nào chạy bỏ trạm sẽ không được điểm. Chúng tôi nói với các thành viên mới rằng mục tiêu của chúng tôi là họ trở thành “Các Môn Đồ Thắng Cuộc.” Chúng tôi muốn họ hoàn tất mười sáu giờ huấn luyện cơ bản và ký các giao ước tại mỗi trạm. Đó là một giao ước được viết ra giấy và chúng tôi mong muốn các con cái Chúa ký vào rồi cam kết thực hiện trước khi họ đi tiếp. Không một thành viên nào được tiếp tục đi tới trạm kế tiếp nếu không cam kết đáp ứng các đòi hỏi trong mỗi giao ước tại mỗi trạm.
Đa số các Hội Thánh làm khá tốt khi đưa các con cái Chúa vượt qua trạm thứ nhất hay có lẽ đến cả trạm thứ hai. Người ta sẽ tiếp nhận Đấng Christ, chịu báp-tem và gia nhập Hội Thánh (điều đó đưa họ tới trạm đầu tiên). Một số Hội Thánh thực hiện rất tốt việc giúp đỡ các tín hữu phát triển các thói quen dẫn họ tới sự trưởng thành thuộc linh (điều này đưa họ tới trạm thứ hai). Nhưng có ít Hội Thánh có kế hoạch để bảo đảm rằng mỗi tín hữu có thể tìm được một chức vụ thích hợp cho mình (trạm thứ ba), và có ít Hội Thánh hơn nữa thực hiện việc trang bị cho các thành viên của mình để họ đi ra chinh phục người khác cho Đấng Christ và hoàn thành sứ mệnh của cuộc đời họ (trạm gốc).
Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi tại Hội Thánh Saddleback là biến quý thính giả thành một đạo binh. Bạn không đánh giá sức mạnh của một đạo binh bằng cách đếm xem có bao nhiêu người lính ngồi và ăn trong một hội trường lộn xộn nhưng đánh giá bằng sức chiến đấu của họ tại chiến tuyến. Cũng vậy, sức mạnh của một Hội Thánh không phải ở chỗ có bao nhiêu người có mặt trong các buổi thờ phượng (đám đông) mà là có bao nhiêu người phục vụ trong nhóm nòng cốt.
Vào đầu những năm 1980, tôi thường nói đùa rằng mục tiêu của tôi là biến những “Yuppie” (Young Urban Professionals - Những Tay Chuyên Nghiệp Trẻ Tuổi) thành những Yummy” (Young Urban Missionaries - Những Giáo Sĩ Trẻ)! Như tôi đã nói ở trên, tôi tin rằng Hội Thánh là một trung tâm sai phái các giáo sĩ ra đi. Chỉ khi nào chúng ta đưa các thành viên hoàn toàn vượt qua các trạm để tới trạm gốc thì chúng ta mới có thể hoàn thành Đại Mạng Lệnh.
4. Hình Thành Những Nhóm Nhỏ Có Mục Đích
Chúng tôi không muốn mỗi nhóm nhỏ đều cùng làm những việc như nhau; chúng tôi để cho họ tự chọn công việc của mình.
Các nhóm tìm kiếm . Các nhóm tìm kiếm của chúng tôi được lập ra với mục đích truyền giáo. Chúng mang lại một môi trường hiền hòa cho những người chưa tin Chúa đặt câu hỏi, nêu các vấn đề nghi ngờ và nghiên cứu những lời tuyên bố của Đấng Christ.
Các nhóm hỗ trợ . Chúng tôi có các nhóm hỗ trợ với mục đích chăm sóc hội chúng, thông công và thờ phượng. Nhiều nhóm hỗ trợ của chúng tôi giúp nâng đỡ và tạo mối thông công trong một giai đoạn đặc biệt nào đó của cuộc sống, chẳng hạn những người mới có con, các sinh viên đại học, những người neo đơn. Các nhóm khác lo việc yên ủi và hàn gắn các vết thương đặc biệt như trường hợp người thân qua đời hay ly dị. Chúng tôi cũng có các nhóm phục hồi.
Các nhóm phục vụ . Những nhóm này được thành lập xoay quanh một chức vụ đặc biệt như trại mồ côi của chúng tôi tại Mexico, chức vụ cho các phạm nhân, hoặc chức vụ phục hồi sau ly dị. Những nhóm như thế này tự nhiên tìm thấy mối thông công với nhau thông qua một công việc, một dự án, hay một chức vụ chung.
Các nhóm tăng trưởng . Các nhóm tăng trưởng của chúng tôi tập trung phát triển, huấn luyện môn đồ hóa và nghiên cứu Kinh Thánh chuyên sâu. Chúng tôi đưa ra khoảng năm mươi chương trình học khác nhau để lựa chọn, và một trong những nhóm này sẽ nghiên cứu chuyên sâu về đề tài bài giảng tuần trước.
Thay vì ép buộc mọi người tuân theo một nếp nghĩ, một cách làm chung, chúng tôi để cho dân sự lựa chọn loại nhóm nhỏ phù hợp với nhu cầu, sở thích, tình trạng cuộc sống hoặc sự trưởng thành thuộc linh của họ nhất. Chúng tôi không mong đợi mỗi nhóm nhỏ sẽ hoàn thành mọi mục đích của Hội Thánh, nhưng chúng tôi đòi hỏi mỗi nhóm phải được tổ chức xoay quanh ít nhất một trong những mục đích đó.
5. Tổ Chức Người Làm Việc Tình Nguyện Theo Từng Mục Đích
Mỗi người chúng tôi mời vào hàng ngũ nhân sự của Hội Thánh mình đều được nhận một công việc có mục đích hẳn hoi. Trong lúc phỏng vấn, chúng tôi dùng các câu hỏi tiêu chuẩn để khám phá xem ứng cử viên của mình cảm thấy phù hợp hay thích thú với mục đích nào nhất, và chúng tôi dựa vào đó mà phân bổ công việc cho họ. Chúng tôi không chỉ nhìn vào cá tính và năng lực khi phỏng vấn một nhân sự tương lai; chúng tôi tìm kiếm cảm tình của họ đối với một trong những mục đích của Hội Thánh. Một khi người ta đã có thiện cảm với công việc mình đang làm thì họ rất năng nổ.
Nếu hiện nay tôi đang mở một Hội Thánh mới, tôi sẽ bắt đầu tuyển năm tình nguyện viên cho năm vị trí nhân sự không ăn lương: một nhân sự điều hành âm nhạc/ngợi khen để giúp chuẩn bị các buổi thờ phượng cho đám đông, một nhân sự thông công để dạy Lớp 101 và giám sát mức độ quan tâm của các thành viên trong hội chúng; một nhân sự tăng trưởng để dạy Lớp 201 và theo dõi các chương trình nghiên cứu Kinh Thánh cho nhóm cam kết; một nhân sự phục vụ để dạy Lớp 301, phỏng vấn những người chuẩn bị vào các vị trí chức vụ, và quản lý các nhân sự nòng cốt của nhóm nòng cốt; và một nhân sự truyền giảng để dạy Lớp 401 đồng thời giám sát các chương trình truyền giáo của chúng tôi trong cộng đồng. Khi Hội Thánh tăng trưởng, tôi sẽ từ từ đưa những người này vào chế độ nhân sự hưởng lương bán thời gian và cuối cùng là trọn thời gian. Với kế hoạch này, bạn có thể đi theo mục đích mà bất chấp Hội Thánh của bạn lớn tới mức độ nào.
6. Xây Dựng Cơ Cấu Theo Từng Mục Đích
Thay vì tổ chức theo các ban ngành truyền thống, hãy tổ chức Hội Thánh bạn xoay quanh các đội làm việc của từng mục đích. Tại Hội Thánh Saddleback, mỗi nhân sự nòng cốt và mỗi cộng tác viên đều ở trong một trong năm đội làm việc theo từng mục đích của chúng tôi. Mỗi đội có một mục sư đứng đầu, có một điều phối viên phụ tá, và đội viên là những cộng tác viên có lương, và các nhân sự nòng cốt tình nguyện. Họ cùng nhau thực hiện các chương trình, các Công Vụ và các hoạt động hoàn thành một mục đích đặc biệt của đội đó.
Đội Truyền Giáo . Đội truyền giáo được bổ nhiệm thực hiện mục đích truyền giáo. Đối tượng của họ là cộng đồng. Công việc của họ là lên kế hoạch, đầu tư, và giám sát mọi chương trình nối một nhịp cầu của Hội Thánh, quản lý các nhóm tìm kiếm, tổ chức huấn luyện truyền giáo (bao gồm cả Lớp 401), tổ chức các hoạt động, các chương trình và các chiến dịch truyền giáo. Họ phải tổ chức như thế nào đó để tiếp cận cộng đồng và đi vào thế gian vì cớ Đấng Christ.
Hội Thánh thực hiện công việc sai phái. Mục tiêu của chúng tôi là mỗi năm có 25 phần trăm tổng số thành viên trong Hội Thánh chúng tôi dự phần vào một chiến dịch truyền giáo nào đó. Tôi rất vui khi thấy số người dự nhóm với chúng tôi cứ mỗi mùa hè lại giảm đi không phải vì họ đi nghỉ hè mà là vì họ đang phục vụ tại các cánh đồng truyền giáo. Một mục tiêu khác là Hội Thánh Saddleback sẽ gởi 200 giáo sĩ chuyên nghiệp đi khắp các nơi trong vòng hai mươi năm tới. Năm vừa rồi chúng tôi đã gởi các thành viên người lớn của mình tham dự các chiến dịch truyền giáo ở cả năm châu lục, và thanh niên chúng tôi thì thực hiện các chiến dịch truyền giáo tại trại mồ côi ở Mexico và sứ mệnh giải cứu ở nội thành Los Angeles.
Đội Ngợi Khen /Âm Nhạc . Đội này được thành lập để thực hiện mục đích thờ phượng. Đối tượng của họ là đám đông. Công việc của họ là lên kế hoạch và giám sát các chương trình thờ phượng cho những người chưa tin Chúa mỗi cuối tuần, thực hiện các chương trình thờ phượng đặc biệt, cũng như lo cung cấp các tài nguyên âm nhạc thờ phượng cho toàn Hội Thánh.
Đội Thông Công . Đội này có nhiệm vụ thực hiện mục đích thông công. Đối tượng của họ là hội chúng. Công việc của họ là chăm sóc cả bầy. Họ tổ chức các lớp thành viên hằng tháng cho các tân tín hữu (Lớp 101). Họ giám sát tất cả các nhóm hỗ trợ, các hôn lễ, tang lễ, chăm sóc mục vụ, thăm hỏi bệnh nhân, và các công việc từ thiện trong hội chúng, đồng thời họ cũng điều hành trung tâm tư vấn. Cuối cùng, đội này chịu trách nhiệm về mọi hoạt động thông công lớn trong Hội Thánh chúng tôi.
Đội Trưởng Thành . Đội trưởng thành có nhiệm vụ môn đồ hóa. Đối tượng của họ là nhóm cam kết. Mục tiêu của họ là dẫn dắt các thành viên đi đến sự cam kết thuộc linh sâu nhiệm hơn và giúp đỡ họ tăng trưởng đến độ trưởng thành thuộc linh. Đội này điều hành lớp 201 hằng tháng và kiêm luôn Viện Phát Triển Đời Sống, chương trình thờ phượng giữa tuần, tất cả các lớp nghiên cứu Kinh Thánh, các nhóm tăng trưởng tại tư gia, và các chiến dịch tăng trưởng thuộc linh đặc biệt trong toàn Hội Thánh. Họ cũng giúp hướng dẫn các gia đình dâng mình, đề ra các chương trình nghiên cứu Kinh Thánh, và các nguồn tài nguyên khác nhằm giúp các tín hữu lớn lên.
Đội Phục Vụ . Đội này có nhiệm vụ thực hiện mục đích phục vụ. Đối tượng của họ là nhóm nòng cốt. Công việc của họ là biến các thành viên thành những người phục vụ bằng cách giúp các thành viên khám phá chức vụ phù hợp với mình và hướng dẫn họ dự phần vào chức vụ đó hoặc thành lập hẳn một chức vụ mới. Đội này điều hành Trung Tâm Phát Triển Mục Vụ, và cũng chịu trách nhiệm về mọi nhóm phục vụ cũng như Lớp 301 và các cuộc họp Huấn Luyện Lãnh Đạo Cao Cấp Thuộc Hội Thánh Saddleback hằng tháng. Họ cũng hỗ trợ, huấn luyện và giám sát các nhân sự nòng cốt của Hội Thánh. Mục tiêu của đội này là giúp mỗi thành viên của Hội Thánh tìm được một vị trí phục vụ có ý nghĩa, phù hợp với các ân tứ và khả năng của mình.
7. Giảng Có Mục Đích
Để sản sinh những tín hữu khỏe mạnh, quân bình, bạn cần phải lên kế hoạch giảng dạy gồm một loạt các bài giảng về mỗi mục đích suốt cả một năm. Nếu dành bốn tuần lễ cho mỗi mục đích, thì chỉ cần hai mươi tuần lễ là đi hết năm mục đích của Hội Thánh. Vẫn còn lại hơn nữa năm để giảng về các đề tài khác.
Lập kế hoạch giảng dạy xoay quanh năm mục đích của Hội Thánh không có nghĩa là bạn cứ phải giảng dạy về chính Hội Thánh. Hãy cá nhân hóa các mục đích đó! Hãy nói rằng chúng là năm mục đích của Đức Chúa Trời cho mỗi Cơ-đốc nhân. Chẳng hạn, đây là một số đề tài tôi đã giảng và áp dụng các mục đích cho từng cá nhân: “Bạn Ra Đời Với Một Mục Đích” là loạt bài giảng thúc đẩy dân sự phục vụ, “Sáu Bước Đức Tin” là loạt bài giảng về các hoàn cảnh Đức Chúa Trời đưa tín nhân vào để giúp họ trưởng thành; “Học Lắng Nghe Tiếng Chúa” là loạt bài giảng về thờ phượng; “Trả Lời Những Câu Hỏi Khó Nhất Của Cuộc Sống” là loạt bài giảng dựa trên sách Truyền Đạo để chuẩn bị dân sự cho công tác truyền giáo; “Tạo Các Mối Quan Hệ Lớn” là loạt bài giảng dựa trên ICo1Cr 13:1-13 nhằm giúp phát triển mối thông công trong Hội Thánh chúng tôi. Khi bạn dùng các mục đích của Hội Thánh như kim chỉ nam cho việc lên kế hoạch giảng dạy, là bạn đang giảng dạy có mục đích.
8. Chi Tiền Đúng Mục Đích
Chúng tôi phân loại các khoản chi của ngân quỹ Hội Thánh chúng tôi dựa trên các mục đích của Hội Thánh, xem nó có hỗ trợ hay liên hệ gì tới các mục đích không. Cách nhanh nhất để đánh giá những ưu tiên của Hội Thánh là nhìn vào kế hoạch thu chi và lịch sinh hoạt. Cách chúng ta hao tốn thời gian và chi tiền cho thấy điều gì thực sự quan trọng đối với chúng ta, bất chấp chúng ta công bố mình tin điều gì. Nếu Hội Thánh của bạn công bố rằng truyền giáo là một ưu tiên, bạn cần phải xem lại số tiền trong ngân quỹ dành cho việc này. Nếu không thì bạn chỉ có lời nói mà thôi.
9. Hoạch Định Thời Khóa Biểu Theo Mục Đích
Mỗi năm hãy dành ra hai tháng để nhấn mạnh đặc biệt mỗi mục đích. Sau đó giao cho mỗi đội mục đích (gồm các nhân sự và những người tình nguyện) nhiệm vụ phải nhấn mạnh mục đích đó trong vòng Hội Thánh trong suốt hai tháng này.
Chẳng hạn như tháng Giêng và tháng Sáu có thể là các tháng Trưởng Thành. Trong suốt đợt nhấn mạnh dài một tháng này về vấn đề trưởng thành thuộc linh, bạn có thể khích lệ Hội Thánh đọc toàn bộ Tân Ước, cùng nhau học thuộc lòng một câu Kinh Thánh hằng tuần, hoặc tổ chức một buổi hội thảo Kinh Thánh hay một buổi học Kinh Thánh cho toàn Hội Thánh.
Tháng Hai và tháng Bảy có thể là các tháng Phục Vụ. Trong suốt hai tháng này, bạn có thể tổ chức một chương trình phục vụ nhằm kêu gọi mọi người tham gia. Mục sư có thể giảng một loạt bài về sự phục vụ. Các con cái Chúa được khích lệ để gia nhập vào một nhóm phục vụ.
Tháng Ba và tháng Tám có thể là các tháng Sứ Mệnh với những hoạt động như huấn luyện chứng đạo cá nhân, hội nghị về truyền giáo, và các dự án truyền giáo thực hành đặc biệt.
Tháng Tư và tháng Chín có thể là các tháng Thành Viên. Đây là những tháng thích hợp để nhấn mạnh việc kêu gọi những người đi nhà thờ gia nhập Hội Thánh. Bạn có thể lên kế hoạch tổ chức các chương trình thông công toàn Hội Thánh như picnic, hòa nhạc và các lễ hội.
Tháng Năm và tháng Mười có thể là tháng Ngợi Khen-hai tháng này nhấn mạnh sự thờ phượng chung và riêng. Mỗi năm dành hai tháng cho từng mục đích như vậy bạn vẫn còn dôi ra hai tháng rảnh rỗi-trong ví dụ này là tháng Mười Một và Mười Hai, hai tháng này luôn bận rộn với Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh.
Đừng tự gạt mình. Nếu bạn không lên kế hoạch sắp đặt các mục đích của bạn vào chương trình, thì chúng sẽ không được nhấn mạnh đâu.
10. Lượng Giá Bằng Mục Đích
Để giữ được tính hiệu quả của Hội Thánh trong một thế giới luôn thay đổi, bạn cần phải liên tục lượng giá những việc mình làm. Hãy dành thì giờ xem lại và đánh giá trong tiến trình của bạn. Hãy đánh giá để được hoàn hảo. Trong một Hội Thánh theo đúng mục đích, các mục đích của bạn là tiêu chuẩn để bạn đánh giá tính hiệu quả của Hội Thánh.
Có một mục đích mà không có một phương pháp thực tiễn để kiểm định lại kết quả cũng giống như NASA (Cơ Quan Hàng Không Và Không Gian Hoa Kỳ) lên kế hoạch đưa phi thuyền lên mặt trăng mà không có hệ thống định vị: Bạn sẽ không thể điều chỉnh hướng đi và có lẽ sẽ không bao giờ đánh trúng mục tiêu được. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi phát triển một công cụ lượng giá gọi là “Ghi Nhanh Saddleback.” Các mục sư phụ tá của chúng tôi xem lại nó hằng tháng. Tập Ghi Nhanh có sáu trang tóm lược tiến trình phát triển môn đồ của chúng tôi. Nó cho biết ai đang ở trạm nào trong Tiến Trình Phát Triển Đời Sống (hình thoi sân bóng chày). Cũng như Abbott và Costello, chúng tôi muốn biết “Ai tới trước?” Tập Ghi Nhanh cũng cho biết có bao nhiêu người hiện đang ở tại mỗi Vòng Tròn Cam Kết, và dùng một số tiêu chí khác để đánh giá sức khỏe của Hội Thánh.
Tập Ghi Nhanh buộc chúng tôi phải nhìn một cách trực tiếp vào việc Hội Thánh của chúng tôi đang hoàn thành các mục đích của mình như thế nào mỗi tháng. Những chỗ trì trệ trong toàn hệ thống sẽ dễ dàng phát hiện. Ví dụ như nếu số người đến thờ phượng tăng 35 phần trăm một năm nhưng số thành viên và số hiện diện tại nhóm nhỏ chỉ tăng 20 phần trăm, chúng tôi biết rằng mình phải điều chỉnh một lỗ hổng nào đó trong cả tiến trình. Các bảng thống kê như thế này giúp chúng tôi đánh giá quá trình đồng hóa của mình và quyết định xem có cần phải nhấn mạnh mặt nào không. Như tôi đã nói ở chương trước, chúng tôi phải luôn hỏi mình, “Công việc của chúng ta là gì?” và “Nó tiến triển ra sao?”
Tăng Trưởng Mạnh Hơn
Khi bạn tìm cách áp dụng các mục đích của mình vào từng lĩnh vực của Hội Thánh, bạn sẽ thấy rằng Hội Thánh tăng trưởng mạnh mẽ hơn và trở nên vững vàng hơn. Thay vì liên tục tìm kiếm những chương trình mới hằng năm để tạo hứng thú và khích lệ dân sự, bạn sẽ có thể tập trung vào những điều có ý nghĩa. Bạn sẽ có thể học được nhiều điều từ mỗi sai lầm và cũng xây dựng những thành công. Nếu những mục đích không hề thay đổi lèo lái Hội Thánh của bạn, bạn sẽ có thể hoàn thành chúng tốt hơn từng năm một. Những công việc có mục đích thúc đẩy sẽ có hiệu quả lớn. Các thành viên của bạn càng hiểu rõ và cam kết với các mục đích của bạn bao nhiêu, thì Hội Thánh của bạn sẽ càng mạnh mẽ bấy nhiêu.

NHẮM VÀO CỘNG ĐỒNG CỦA BẠN
Chương 9: Đối Tượng Của Bạn Là Ai?
Chúa Giê-xu phán : “Ta chịu sai đến đây , chỉ vì các con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên đó thôi .”
Mat Mt 15:24
Phao-lô nói : “Trái lại , họ thấy sự giảng Tin lành cho kẻ không chịu phép cắt bì đã giao cho tôi , cũng như sự giảng Tin lành cho người chịu phép cắt bì đã giao cho Phi-e-rơ vậy .”
GaGl 2:7
Có lần tôi xem bộ phim hoạt hình Peanuts mô tả chiến dịch truyền giáo của nhiều Hội Thánh. Charlie Brown đang tập bắn cung ở sân sau của nhà mình. Thay vì nhắm vào hồng tâm, cậu ta bắn một mũi tên vào hàng rào, rồi đi đến đó vẽ một hồng tâm ngay chỗ mũi tên cắm vào. Lucy đi ngang và nói, “Ê, Charlie Brown, sao cậu lại làm thế?” Cậu ta đáp tỉnh bơ, “Làm như vầy tớ không bắn trật bao giờ!”
Không may một điều, lối ngụy biện đó lại ẩn mình đằng sau các nỗ lực truyền giáo của nhiều Hội Thánh. Chúng ta bắn những mũi tên tin mừng vào trong cộng đồng và nếu nó tình cờ trúng được ai đó, chúng ta nói rằng: “Đó là mục tiêu của chúng tôi!” Có rất ít hoặc không có một kế hoạch nào đằng sau những nỗ lực đó-chúng ta không nhắm vào bất kỳ mục tiêu đặc biệt nào. Chúng ta chỉ vẽ một cái hồng tâm vào những người nào chúng ta vô tình bắn trúng. Đây là một lối truyền giáo hết sức vô tâm. Đưa dắt mọi người về với Chúa là một nhiệm vụ hết sức quan trọng nên chúng ta không được có thái độ tùy tiện đối với nó.
Rất nhiều hội chúng suy nghĩ hết sức ngây ngô về công việc truyền giáo của mình. Nếu bạn hỏi các thành viên, “Hội Thánh của bạn đang nhắm tới đối tượng nào để chinh phục cho Đấng Christ?” thì câu trả lời hầu như là, “Mọi người! Chúng tôi cố gắng chinh phục toàn thế gian cho Chúa Giê-xu.” Dĩ nhiên đây là mục tiêu của Đại Mạng Lệnh, và cũng là điều mà mọi Hội Thánh nên cầu nguyện, nhưng trong thực tế, không có một Hội Thánh địa phương nào có thể tiếp cận mọi người.
Vì con người rất khác biệt nhau, cho nên không có một Hội Thánh đơn lẻ nào có thể tiếp cận mọi người. Đó là lý do tại sao chúng ta cần đủ loại Hội Thánh. Cùng với nhau chúng ta mới có thể hoàn thành điều mà không một hội chúng, một chiến dịch hay một phong cách đơn lẻ nào có thể thực hiện được.
Hãy ngồi trong nhà ga sân bay độ nửa ngày thì bạn sẽ thấy rõ rằng Đức Chúa Trời yêu thích sự đa dạng. Ngài tạo nên vô số những con người khác nhau về sở thích, hình dạng, học vấn và cá tính. Để chinh phục tất cả những người này cho Đấng Christ cần phải có một loạt các phong cách truyền giáo khác nhau. Sứ điệp vẫn giữ nguyên, nhưng phương pháp và phong cách truyền thông cần phải thay đổi nhiều.
Tôi luôn từ chối tranh luận về vấn đề phương pháp truyền giáo nào là tốt nhất. Điều đó phụ thuộc vào việc đối tượng bạn muốn chinh phục là ai! Các loại mồi câu khác nhau sẽ câu được các loại cá khác nhau. Tôi thích bất cứ phương pháp nào chinh phục được ít nhất một người cho Đấng Christ-miễn là nó hợp với luân thường đạo lý. Tôi nghĩ rằng sẽ rất thú vị nếu một ngày nọ những người phê bình một phương pháp truyền giáo nào đó lên thiên đàng và khám phá ra rằng có rất nhiều người được cứu bởi chính phương pháp đó! Chúng ta không được phê phán bất cứ phương pháp nào Đức Chúa Trời đang ban phước.
Để Hội Thánh bạn truyền giáo có hiệu quả nhất, bạn phải quyết định chọn cho mình một đối tượng hay mục tiêu. Hãy tìm hiểu xem những người sống trong khu vực của bạn thuộc loại nào, và quyết định xem Hội Thánh của bạn được trang bị tốt nhất để chinh phục nhóm nào, và sau đó hãy nghĩ tới chuyện phong cách truyền giáo nào thích hợp nhất cho đối tượng của bạn. Cho dù Hội Thánh của bạn chưa từng chinh phục được một người nào đi nữa, thì Hội Thánh của bạn vẫn đặc biệt thích hợp cho việc chinh phục một loại đối tượng nào đó. Biết rõ đối tượng bạn đang muốn chinh phục là ai sẽ khiến cho việc truyền giáo dễ dàng hơn nhiều.
Hãy tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra cho một đài truyền thanh thương mại nếu như nó cố gắng đáp ứng sở thích âm nhạc của mọi người. Một đài truyền thanh mà cứ thay đổi phong cách âm nhạc từ cổ điển sang heavy metal (rock nặng), sang nhạc đồng quê, rap, nhạc Ấn v.v… sẽ sớm dẹp tiệm. Không một ai nghe đài đó đâu!
Những đài phát thanh thành công luôn lựa chọn nhóm thính giả mục tiêu của mình. Họ nghiên cứu khắp vùng phủ sóng của mình, tìm xem bộ phận dân cư nào chưa có nghe một đài phát thanh nào hết, và sau đó lựa chọn cách tốt nhất để chinh phục nhóm thính giả mục tiêu của họ.
Xác định các mục tiêu truyền giáo của chúng tôi là nhân tố quan trọng thứ hai đằng sau sự tăng trưởng của Hội Thánh Saddleback. Sau khi xác định đối tượng mà Hội Thánh chúng tôi có thể tiếp cận cho Đấng Christ, chúng tôi bắt đầu tìm hiểu những người đó. Khi chúng tôi lập kế hoạch cho một đợt truyền giáo, chúng tôi luôn nhắm tới một mục tiêu đặc biệt. Kinh Thánh quyết định sứ điệp của chúng ta, nhưng mục tiêu của chúng ta sẽ quyết định ở đâu, khi nào và làm thế nào để chúng ta truyền đạt sứ điệp đó.
Có một điều quan trọng, bạn thậm chí không nghĩ tới đối tượng của mình chừng nào bạn còn chưa xác định được các mục đích của Hội Thánh. Nền tảng Kinh Thánh phải được đặt ra trước. Tôi đã thấy một số Hội Thánh phát triển chiến dịch truyền giáo của họ nhắm vào mục tiêu họ lựa chọn mà không đặt nền tảng trên các mục đích đời đời của Đức Chúa Trời. Kết quả là Hội Thánh đó trở nên không ổn định, không có nền tảng Kinh Thánh mà chứ chạy theo những tác động của đối tượng hơn là Lời của Đức Chúa Trời. Không bao giờ được thỏa hiệp sứ điệp với bất cứ điều gì.
Nhắm Vào Đối Tượng Trong Việc Truyền Giáo Là Điều Kinh Thánh Dạy
Thực hành nhắm vào một số hạng người đặc biệt trong việc truyền giáo là nguyên tắc Thánh Kinh cho chức vụ. Nó xưa như Tân Ước. Chúa Giê-xu đã nhắm mục tiêu cho chức vụ của mình. Khi người đàn bà Ca-na-an xin Chúa Giê-xu giúp đứa con gái bị quỷ ám của bà, Ngài đã công khai tuyên bố rằng Đức Chúa Cha muốn Ngài tập trung vào “các con chiên lạc mất của Y-sơ-ra-ên” (xem trong Mat Mt 15:22-38). Dù rằng Chúa Giê-xu đã chữa lành cho con gái của người đàn bà Ca-na-an bởi đức tin của bà, nhưng Ngài đã tuyên bố công khai mục tiêu chức vụ của Ngài là người Do Thái. Chúa Giê-xu có bất công hay có định kiến gì không? Dĩ nhiên là không! Chúa Giê-xu nhắm vào mục tiêu chức vụ của mình là để nó có hiệu quả, chứ không phải để loại trừ.
Trước đó, Chúa Giê-xu cũng đã dạy các môn đồ nhắm vào mục tiêu chức vụ. Mat Mt 10:5-6 chép rằng, “Ấy đó là mười hai sứ đồ Đức Chúa Jêsus sai đi, và có truyền rằng: Đừng đi đến dân ngoại, cũng đừng vào một thành nào của dân Sa-ma-ri cả; song thà đi đến cùng những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.” Phao-lô đã nhắm mục tiêu chức vụ của mình là các dân ngoại, và Phi-e-rơ thì nhắm mục tiêu chức vụ của mình vào người Do Thái (GaGl 2:7). Cả hai chức vụ đều cần thiết. Cả hai đều quan trọng. Cả hai đều hiệu quả.
Chính các sách Phúc Âm cũng được viết cho một đối tượng độc giả đặc biệt. Bạn có bao giờ nghĩ tới việc tại sao Đức Chúa Trời lại dùng tới bốn trước giả để viết bốn sách và chỉ để ghi lại một đời sống của Đấng Christ? Sau hết, hầu như mọi câu chuyện và lời dạy dỗ trong Phúc Âm Mác đều được ghi nhận trong Phúc Âm Ma-thi-ơ. Tại sao chúng ta cần cả hai sách? Chính là vì Phúc Âm Ma-thi-ơ nhắm vào độc giả người Hê-bơ-rơ còn Phúc Âm Mác nhắm vào độc giả là dân ngoại. Chúng có cùng sứ điệp, nhưng vì được viết cho các đối tượng khác nhau, nên phong cách truyền đạt cũng khác nhau. Nhắm vào đối tượng truyền giáo của bạn là phương pháp Đức Chúa Trời đã phát minh! Ngài mong muốn chúng ta làm chứng cho người khác bằng chính ngôn ngữ của họ.
Ý niệm truyền giáo có mục tiêu cũng được đính kèm trong Đại Mạng Lệnh. Chúng ta phải môn đồ hóa “muôn dân.” Danh Hy Lạp ở đây là ta ethne , nguyên từ của ethnic (dân tộc ), có nghĩa là “mọi nhóm người.” Mỗi nhóm người độc nhất này cần phải có một chiến dịch truyền giáo thích hợp truyền đạt Phúc Âm bằng những khái niệm trong chính nền văn hóa của họ để họ có thể hiểu được.
Vào tháng Ba năm 1995, chiến dịch truyền giáo Puerto Rico của Billy Graham đã được phát thanh trực tiếp bằng 116 thứ tiếng cho các thính giả ở khắp thế giới. Sứ điệp cũng như vậy, nhưng nó được dịch sang ngôn ngữ của từng quốc gia, và các bài làm chứng cũng như âm nhạc phù hợp với mỗi nền văn hóa đã được thêm vào trong chương trình phát thanh đó. Có hơn một triệu người đã nghe Phúc Âm bằng các ngôn ngữ, âm nhạc và các bài làm chứng phù hợp với nhóm đặc biệt của họ. Đó là một ví dụ vĩ đại nhất trong lịch sử truyền giáo có mục tiêu.
Việc nhắm vào mục tiêu truyền giáo là điều đặc biệt quan trọng đối với các Hội Thánh nhỏ. Tại các Hội Thánh nhỏ, với nguồn tài nguyên giới hạn, thì việc tận dụng mọi điều bạn có là điều mang tính chất sống còn. Hãy tập trung nguồn tài nguyên của bạn vào việc tiếp cận nhóm người nào đó mà Hội Thánh của bạn có thể tiếp cận dễ dàng nhất.
Các Hội Thánh nhỏ phải lựa chọn giữa các vấn đề quan trọng. Chẳng hạn, đáp ứng sở thích âm nhạc của mọi người trong một buổi thờ phượng là một điều bất khả thi, và các Hội Thánh nhỏ thì không thể tổ chức nhiều chương trình thờ phượng, vậy họ phải lựa chọn một đối tượng. Thay đổi các phong cách hằng tuần sẽ dẫn đến kết quả giống như đài phát thanh nọ mà thôi. Chẳng có ai vui vẻ gì đâu.
Một trong những ích lợi của một Hội Thánh lớn là bạn có nhiều nguồn tài nguyên để theo đuổi nhiều mục tiêu. Hội Thánh bạn càng lớn chừng nào, bạn càng phải lựa chọn nhiều chương trình, hoạt động và các phong cách thờ phượng khác nhau nhiều chừng nấy. Khi thành lập Hội Thánh Saddleback, chúng tôi nhắm vào một đối tượng: những đôi vợ chồng viên chức trẻ tuổi, không đi nhà thờ. Chúng tôi tập trung vào họ vì họ là nhóm đông nhất tại thung lũng Saddleback, và bởi vì đó là những người tôi có mối quan hệ tốt nhất. Nhưng khi Hội Thánh chúng tôi phát triển, chúng tôi đã có thể thêm vào các chức vụ cộng thêm cũng như các chương trình giao lưu để tiếp cận những người trưởng thành, những người độc thân, các tù nhân, người già cả, các cặp cha mẹ có con nuôi, rồi cộng đồng những người nói tiếng Tây Ban Nha, tiếng Việt, và tiếng Hàn, cùng với nhiều đối tượng khác nữa.
Làm Thế Nào Để Xác Định Đối Tượng Của Bạn?
Xác định đối tượng để truyền giáo bắt đầu bằng việc tìm hiểu mọi điều bạn có thể tìm hiểu về cộng đồng của mình. Hội Thánh của bạn cần phải xác định đối tượng của mình theo bốn hướng đặc biệt: địa lý, nhân khẩu, văn hóa và tâm linh.
Khi tôi học các lớp giải kinh học và phương pháp giảng dạy tại thần học viện, tôi học được một điều là để hiểu sứ điệp của Tân Ước, trước hết tôi phải hiểu về địa lý, văn hóa, và tôn giáo của những người sống vào thời điểm đó. Sau đó tôi có thể rút ra lẽ thật đời đời của Đức Chúa Trời từ trong văn cảnh đó. Quá trình này gọi là “chú giải Thánh Kinh.” Diễn giả Kinh Thánh nào cũng dùng nó.
Thật không may là không có lớp học nào dạy tôi rằng trước khi truyền đạt lẽ thật đời đời đó cho con người thời nay, tôi cần phải “tìm hiểu và phân tích” chính cộng đồng của mình! Tôi phải chú ý tới nền triết học, phong tục, văn hóa, và nền tảng tôn giáo trong cộng đồng của tôi như là cách tôi đã chú ý tới những vấn đề đó khi nghiên cứu Kinh Thánh thì tôi mới là người trung tín truyền đạt lời của Đức Chúa Trời.
Xác định đối tượng của bạn về phương diện địa lý
Chúa Giê-xu đã có kế hoạch truyền giáo cho toàn thế giới. Trong Cong Cv 1:8, Ngài xác định bốn đối tượng theo phương diện địa lý cho các môn đồ của Ngài: “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất.” Nhiều học giả Kinh Thánh chứng minh rằng đây là khuôn mẫu tăng trưởng được mô tả trong trọn phần còn lại của sách Công Vụ. Trước hết, sứ điệp được rao ra cho người Do Thái tại Giê-ru-sa-lem, sau đó đến xứ Giu-đê, rồi xứ Sa-ma-ri và cuối cùng là lan rộng cả Châu Âu.
Trong chức vụ của bạn, việc xác định đối tượng theo phương diện địa lý chỉ đơn giản là bạn xác định nơi mà những người bạn muốn tiếp cận sinh sống. Hãy lấy một bản đồ thành phố hay khu vực của bạn ra và đánh dấu vị trí Hội Thánh của bạn. Hãy tính toán một quãng đường độ chừng mười lăm hay hai mươi phút lái xe (khoảng 20 - 30 km - ND) để làm bán kính vẽ một vòng tròn với tâm là Hội Thánh của bạn rồi đánh dấu đây là khu vực đối tượng chức vụ chính cho bạn. Đây chính là “cánh đồng truyền giáo” của bạn. Hãy gọi điện hỏi các dịch vụ thông tin trong vùng và bạn sẽ biết chính xác có bao nhiêu người đang sống trong khoảng cách lái xe hợp lý của Hội Thánh của bạn.
Khi đã xác định mục tiêu địa lý của mình rồi, có vài điều bạn cần phải ghi nhớ. Trước hết, “khoảng cách lái xe hợp lý” là một khái niệm chủ quan cao độ. Thời gian lái xe trung bình được một cộng đồng chấp nhận tùy thuộc rất nhiều vào khu vực bạn đang ở. Những người dân ngoại ô sẵn sàng lái xe đi xa hơn những người dân nội thành. Người ta có khuynh hướng đi xa hơn khi chạy trên xa lộ hơn là chạy lòng vòng trong thành phố. Tôi đoán rằng đa số người có thể chấp nhận dừng lại nhiều nhất là khoảng mười hai lần tại các chốt đèn giao thông trong khi lái xe tới nhà thờ.
Thứ hai, ngày nay người ta lựa chọn các Hội Thánh chủ yếu dựa vào nền tảng các mối quan hệ và các chương trình chứ không phải vị trí. Hội Thánh của bạn ở gần một người nào nhất không có nghĩa là bạn có thể tiếp cận được họ. Hội Thánh của bạn có thể không thích hợp với họ. Nói cách khác, có những người có thể lái xe chạy ngang mười lăm cái nhà thờ để đến dự nhóm với bạn nếu Hội Thánh của bạn đáp ứng được các nhu cầu của họ.
Thứ ba, Hội Thánh của bạn càng tăng trưởng bao nhiêu, thì ranh giới khu vực tiếp cận sẽ nới rộng bấy nhiêu. Chúng tôi có những người phải lái xe hơn một giờ đồng hồ để tới nhóm với Hội Thánh Saddleback vì chúng tôi có một chương trình hoặc một nhóm hỗ trợ mà họ không tìm thấy ở gần chỗ của họ. Như một quy luật, người ta sẵn sàng lái xe xa hơn để dự nhóm tại một Hội Thánh lớn với chức vụ đa phương diện hơn là dự nhóm tại một Hội Thánh nhỏ hơn với chức vụ giới hạn.
Một cách khác để xác định khu vực đối tượng chức vụ là vẽ một vòng tròn xung quanh Hội Thánh của bạn với bán kính khoảng năm dặm. Sau đó tìm hiểu xem có bao nhiêu người sống trong khu vực này. Đây là khu vực chức vụ đầu tiên của bạn. Có khoảng 65 phần trăm người Mỹ không đi nhà thờ, và tỉ lệ phần trăm đó ở nhiều khu vực còn cao hơn nữa, đặc biệt ở miền Tây, Đông Bắc và các khu đô thị. Nếu bạn tính toán số dân trong khu vực chức vụ của mình và thấy rằng có 65 phần trăm số người trong khu vực đó không đi nhà thờ, thì đây sẽ thực sự là “những cánh đồng đã sẵn sàng cho mùa gặt.”
Một khi bạn đã xác định đối tượng địa lý của mình rồi, bạn sẽ biết được có bao nhiêu người trong vùng mục tiêu. Điều này rất quan trọng vì dân số trong vùng của bạn sẽ là nhân tố chính xác định chiến lược bạn dùng để đưa họ về với Chúa. Trong một trung tâm đông dân cư, có khi chỉ cần tập trung vào một phần nào đó thôi mà vẫn phát triển được một Hội Thánh lớn. Trong một vùng có ít dân cư hơn, bạn cần phải mở rộng ra nhiều khu vực khác nhau để phát triển một Hội Thánh lớn.
Thật là khờ dại nếu phớt lờ vai trò của dân số trong việc tiên đoán một Hội Thánh sẽ tăng trưởng tới mức nào. Dù Hội Thánh có tận tâm tới đâu, nếu khu vực chức vụ chỉ có một ngàn người, thì Hội Thánh không bao giờ lớn được. Đó không phải là lỗi của mục sư, cũng không phải thiếu sự tận tâm của hội chúng. Đó chỉ đơn giản là vấn đề số học.
Tôi có viếng thăm một số Hội Thánh lớn tại các thủ đô, họ đã chọn một chiến lược tập trung cao độ để có thể tiếp cận được 0.5 phần trăm dân số trong vùng. Nhưng vì có 200,000 người sống trong vùng đó, nên Hội Thánh chỉ có 1,000 người dự nhóm. Bạn sẽ mắc sai lầm và chán nản nếu nghĩ rằng làm theo chiến lược của họ thì Hội Thánh nhà quê nhỏ bé của bạn sẽ tăng trưởng bằng họ. Nói một cách thực tế, bạn cần phải tập trung vào số phần trăm dân số đã được tiếp cận, chứ không phải tập trung vào số dân thật. Một chiến lược tiếp cận 1,000 người trong một thành phố có 200,000 dân cũng giống như tiếp cận 50 người trong một thị trấn có 1,000 dân mà thôi.
Đem so sánh số người dự nhóm giữa các Hội Thánh là điều không khôn ngoan và cũng chẳng giúp ích gì. Mỗi Hội Thánh có một vùng mục tiêu độc nhất, và mỗi vùng mục tiêu lại có số lượng cũng như nhiều chủng loại đối tượng khác nhau. Sự so sánh như thế cũng giống như so sánh những trái quýt với những chuông lặn: Hai Hội Thánh có thể giống nhau bề ngoài, nhưng nếu nhìn kỹ sẽ có nhiều điều khác nhau lắm.
Hãy xác định đối tượng của bạn về phương diện nhân khẩu
Bạn không những cần phải biết có bao nhiêu người sống trong khu vực của mình, mà cũng cần phải biết họ thuộc hạng người nào nữa. Trước tiên, tôi muốn cảnh báo bạn: Đừng nghiên cứu vấn đề nhân khẩu quá mức! Bạn có thể tiêu tốn rất nhiều thời gian thu thập các sự kiện và thông tin về cộng đồng của mình mà không tạo được một chuyển biến nào trong Hội Thánh. Tôi có biết một số người mở Hội Thánh mới đã dành nhiều tháng trời chuẩn bị các thông tin về nhân khẩu học trong vùng của họ. Chúng rất thú vị, nhưng phần lớn không hữu ích gì cho các mục đích của Hội Thánh.
Chỉ có một số dữ kiện nhân khẩu học là cần thiết cho bạn tìm hiểu. Tôi cho rằng những yếu tố quan trọng nhất trong việc xác định đối tượng truyền giáo trong cộng đồng là:
Tuổi tác: Có bao nhiêu người trong mỗi nhóm tuổi?
Tình trạng gia đình: Có bao nhiêu người lớn độc thân? Có bao nhiêu cặp vợ chồng?
Thu nhập: Thu nhập của cả những gia đình khá giả và trung bình là bao nhiêu?
Trình độ: Trình độ học vấn trong cộng đồng của bạn ở mức nào?
Nghề nghiệp: Các ngành nghề nào chiếm ưu thế hơn?
Mỗi yếu tố trên đây sẽ ảnh hưởng cách bạn phục vụ cũng như cách bạn rao truyền Tin Lành.
Chẳng hạn, những người trẻ trưởng thành thường có các hy vọng và sự lo sợ khác nhau chứ không lo nghĩ về việc hưu trí. Sự chia sẻ Phúc Âm nào nhấn mạnh đến việc bảo đảm được lên thiên đàng khi được cứu rỗi có lẽ sẽ không có tác động gì tới những người nghĩ rằng cả cuộc đời của họ vẫn còn đang ở phía trước. Người đó không hứng thú gì với chuyện đời sau. Anh ta chìm ngập trong ước muốn tìm kiếm ý nghĩa hay mục đích của cuộc đời này . Một cuộc điều tra toàn quốc đã cho thấy rằng có ít hơn 1 phần trăm người Mỹ có hứng thú trả lời câu hỏi, “Làm sao để được lên thiên đàng?”
Một phương cách hữu hiệu hơn để làm chứng cho những người trẻ trưởng thành là chỉ cho họ thấy cách họ đã được tạo dựng để có mối thông công với Đức Chúa Trời ngay bây giờ thông qua Đấng Christ. Trái lại, nhiều người lớn tuổi rất hứng thú chuẩn bị cho đời sau vì họ biết rằng thì giờ họ còn trên đất có thể chấm dứt bất cứ lúc nào.
Nhiều cặp vợ chồng có các sở thích khác hẳn những người trưởng thành độc thân. Những người nghèo đối diện với các nan đề khác hơn hẳn những người ở tầng lớp trung lưu. Người giàu thì lại có những mối ưu tư riêng. Những sinh viên tốt nghiệp đại học lại có khuynh hướng nhìn thế giới cách khác hẳn so với những học sinh tốt nghiệp trung học. Biết rõ quan niệm của những người bạn đang tìm cách chinh phục cho Đấng Christ là điều quan trọng.
Nếu bạn muốn Hội Thánh của mình tạo một ấn tượng, hãy trở thành một chuyên gia về cộng đồng của bạn. Các mục sư nên biết nhiều hơn về cộng đồng của mình so với bất cứ ai khác. Như tôi đã giải thích trong chương 1, trước khi dọn đến Saddleback, tôi đã dành ba tháng trời nghiên cứu các thống kê dân số và tìm hiểu về nhân khẩu để có thể quyết định xem những người sống tại thung lũng này thuộc loại nào. Trước khi đi, tôi đã biết có bao nhiêu người sống tại đó, họ làm việc ở đâu, kiếm được bao nhiêu tiền, trình độ học vấn của họ và nhiều thứ khác nữa.
Bạn có thể tìm những thông tin này ở đâu? Có nhiều tài liệu trong Thư Viện Dân Số Hoa Kỳ, phòng quy hoạch phát triển thành phố, các văn phòng báo chí, phòng thương mại địa phương, các nhà thầu địa phương, những người môi giới nhà cửa và các công ty công trình công cộng. Hầu hết các hệ phái lớn cũng có các dữ liệu nhân khẩu học mà bạn có thể xin được.
Hãy xác định đối tượng của bạn về phương diện văn hóa
Hiểu biết tình hình nhân khẩu trong cộng đồng của bạn là điều quan trọng, nhưng hiểu biết về nền văn hóa của cộng đồng đó còn quan trọng hơn nữa. Đây là điều bạn không thể tìm thấy trong các bảng thống kê dân số. Tôi dùng từ văn hóa ở đây để nói tới lối sống và hệ tư tưởng của những người sống xung quanh nhà thờ của bạn. Giới doanh nghiệp dùng từ bức tranh tâm lý (psychographics ), cũng là một cách để ám chỉ những tiêu chuẩn, sở thích, đau khổ và sợ hãi của con người. Từ trước khi các doanh nghiệp chú ý tới vấn đề này, các giáo sĩ Cơ-đốc đã xác định những khác biệt giữa các nền văn hóa.
Không một giáo sĩ ngoại quốc nào cố gắng truyền giáo và phục vụ một dân tộc mà trước hết không chịu tìm hiểu về nền văn hóa của họ. Làm như vậy thật là dại dột. Trong môi trường thế tục ngày nay, việc chúng ta hiểu hết nền văn hóa chúng ta đang phục vụ cũng quan trọng không kém. Chúng ta không cần phải đồng tình với văn hóa của mình, nhưng chúng ta phải hiểu nó.
Ngay trong cộng đồng của bạn cũng có thể có nhiều nhóm nhỏ, hoặc những tiểu văn hóa. Để tiếp cận mỗi nhóm này bạn cần phải khám phá cách họ suy nghĩ. Những sở thích của họ là gì? Điều gì họ cho là có giá trị? Họ thương tổn ở điểm nào? Họ sợ điều gì? Những đặc trưng nổi bật trong lối sống của họ là gì? Những đài phát thanh họ thường nghe nhất là gì? Bạn càng biết nhiều về những người này bao nhiêu thì bạn càng dễ tiếp cận họ bấy nhiêu.
Một trong những rào cản lớn ngăn trở sự tăng trưởng Hội Thánh là “sự không biết về con người”-sự không nhận biết về những khác biệt văn hóa và xã hội giữa người với người. Có phải mọi người da trắng đều giống nhau không? Dĩ nhiên không. Vậy mọi người da đen chắc giống nhau hết? Không. Mọi người Tây Ban Nha và Châu Á giống nhau chứ? Không. Một đôi mắt được rèn luyện sẽ nhận thấy những nét khác biệt giữa người này với người kia sống trong cộng đồng của bạn.
Cách tốt nhất để khám phá nền văn hóa, hệ tư tưởng và lối sống của cư dân trong vùng là nói chuyện riêng tư với họ. Bạn không cần phải thuê một công ty tiếp thị, chỉ cần đi ra, gặp gỡ, chào hỏi những người khác trong cộng đồng của bạn. Hãy tự mình thực hiện công việc đó. Hãy hỏi họ điều họ cảm nhận là những nhu cầu lớn nhất của họ. Hãy lắng nghe những nỗi khổ, những sở thích và những điều họ sợ hãi. Không một tài liệu nào hay một bản báo cáo nhân khẩu nào có thể thay thế việc trực tiếp trò chuyện với người dân trong cộng đồng của bạn. Các bảng thống kê chỉ vẽ một phần bức tranh mà thôi. Cá nhân bạn cần phải dành thời gian với mọi người, tìm kiếm một cảm nhận về chính cộng đồng của bạn thông qua trao đổi cá nhân. Tôi tin rằng không điều gì có thể thay thế cho việc này.
Hãy xác định đối tượng của bạn về phương diện tâm linh
Sau khi bạn xác định khu vực đối tượng của mình về phương diện văn hóa, bạn cần phải khám phá nền tảng tâm linh của những người sống trong cộng đồng của bạn. Hãy xác định xem những ai trong khu vực đối tượng của bạn đã biết về Phúc Âm. Chẳng hạn, khi tôi nghiên cứu thung lũng Saddleback, tôi khám phá ra rằng 94 phần trăm cư dân tại Quận Cam tin rằng có Đức Chúa Trời hay một thần linh phổ quát nào đó, 75 phần trăm tin vào định nghĩa Đức Chúa Trời của Kinh Thánh, 70 phần trăm tin rằng có sự sống sau cái chết, và 52 phần trăm tin rằng họ hiện có mặt trên đất vì một mục đích thuộc linh nào đó. Điều này rất ích lợi, nó giúp cho chúng ta biết phải bắt đầu làm chứng cho mọi người từ chỗ nào.
Để xác định nền tảng tâm linh của cộng đồng, bạn có thể phỏng vấn những mục sư khác trong vùng. Những mục sư đã hầu việc độ chục năm trong một cộng đồng biết rất nhiều về những vấn đề chung và các khuynh hướng thuộc linh trong cộng đồng đó.
Trước khi tôi tới California để mở Hội Thánh, tôi liên hệ với các mục sư Tin Lành tại thung lũng Saddleback để nghe sự đánh giá của họ về các nhu cầu thuộc linh tại thung lũng. Công việc đó dễ dàng đến ngạc nhiên. Tôi đến thư viện thành phố, tìm một danh mục điện thoại với các Trang Vàng của Quận Cam, California, tra chữ “Hội Thánh,” và viết tên, địa chỉ của tất cả các Hội Thánh tại thung lũng Saddleback. Sau đó tôi viết thư cho từng mục sư, giải thích việc tôi đang làm, và yêu cầu họ trả lời sáu câu hỏi tôi đặt ra, đồng thời đính kèm một bao thư có dán tem. Tôi nhận được khoảng ba mươi thư trả lời. Tôi đã nhận được một số gợi ý rất hay và bắt đầu những quan hệ tuyệt vời với nhiều mục sư khác.
Vài năm trước đây, tôi đọc được một bài nghiên cứu của đại học New York về đời sống tôn giáo của những người Mỹ. Bài nghiên cứu cho biết 90 phần trăm người Mỹ tuyên bố họ có theo một tôn giáo nào đó. Dù rằng điều đó không có nghĩa là họ đang trung tín thể hiện niềm tin của mình, nhưng ít nữa nó cũng cho biết rằng mỗi người Mỹ đã từng có liên hệ tới một tổ chức tôn giáo nào đó trong quá khứ.
Khái niệm những người không đi nhà thờ không chỉ nói đến những người chưa từng một lần bước chân vào nhà thờ, nó cũng ám chỉ những người có đi nhà thờ nhưng không có một mối tương giao cá nhân với Đấng Christ, và cả những người không đi nhà thờ trong một khoảng thời gian nào đó, thường là nhiều năm.
Hai mươi sáu phần trăm người Mỹ công bố họ thuộc về Công Giáo. Nếu bạn sống ở Bờ Biển Phía Tây, thì có khả năng trước đây bạn là một người Công Giáo. Nếu bạn sống ở miền Nam, thì có lẽ bạn là một người Báp-tít (30 phần trăm). Ở phía Bắc Dakota, những người không đi nhà thờ từng thuộc về hệ phái Lutheran (28 phần trăm), và ở tại Kansas hay Iowa, người đó có thể là một người Giám Lý (13 phần trăm). Những người tại Idaho, Wyoming, và Utah lại có xuất thân từ Mormon. Bạn cần phải biết khu vực của mình!
Bất cứ khi nào tôi làm chứng cho người nào không có mối tương giao với Đấng Christ, tôi cố gắng khám phá xem tôi có điểm chung gì với nền tảng tôn giáo của họ. Chẳng hạn khi tôi nói với người Công Giáo, tôi biết họ chấp nhận Kinh Thánh, nhưng có lẽ không bao giờ đọc nó, và họ chấp nhận Giáo Lý Ba Ngôi, Trinh Nữ Ma-ri, và Chúa Giê-xu là Con của Đức Chúa Trời. Chúng tôi đã có những điểm chung cơ bản về các vấn đề quan trọng. Kế đó, công việc của tôi là chia sẻ sự khác biệt giữa việc có một tôn giáo dựa trên việc làm và có một mối tương giao với Đấng Christ dựa trên ân điển.
Khi tôi nói chuyện tại các cuộc hội thảo của các vị mục sư, tôi thường nghe họ nói rằng Hội Thánh của họ “giống như Hội Thánh Saddleback.” Khi tôi hỏi họ nói vậy có ý gì, họ đáp, “À, chúng tôi tập trung tiếp cận những người không đi nhà thờ.” Tôi nói, “Điều đó thật tuyệt! Vậy Hội Thánh của ông đang tiếp cận hạng người không đi nhà thờ nào?” Nói tóm lại, những người không đi nhà thờ hoàn toàn khác nhau! Nói rằng đối tượng của chúng ta là “những người không đi nhà thờ” thì chưa đủ. Những người trí thức không đi nhà thờ tại Berkeley rất khác so với những nông dân tại Fresno hay những người di cư không tin Chúa tại Los Angeles.
Xác định đối tượng truyền giáo cho Hội Thánh của bạn đòi hỏi phải có thời gian và nghiên cứu nghiêm túc. Nhưng một khi bạn đã hoàn tất việc nghiên cứu, bạn sẽ hiểu lý do tại sao một số phương pháp truyền giáo lại có hiệu quả trong khu vực của bạn, còn số khác thì không. Điều đó có thể giúp bạn tránh được sự lãng phí thời gian, tiền bạc và những nỗ lực quý giá vào các phương pháp truyền giáo không hiệu quả.
Vào đầu thập kỷ 80, một số Hội Thánh thử dùng hình thức truyền giáo qua điện thoại để làm công cụ truyền giáo. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi không bao giờ giẫm lên vết xe đổ đó. Tại sao? Bởi vì qua các cuộc nghiên cứu đối tượng của mình, chúng tôi đã khám phá ra hai điều: Trước hết, chúng tôi biết rằng điều gây phiền toái nhất cho những cư dân Quận Cam là “những người lạ cứ gọi điện thoại tới để chào bán hàng cho chúng tôi.” Thứ hai, chúng tôi biết rằng hơn phân nửa cộng đồng của chúng tôi không công khai số điện thoại! Như vậy đấy. Tôi thấy thật ngạc nhiên khi nhiều Hội Thánh thường chi hàng ngàn đô-la cho các dự án truyền giáo mà không chịu hỏi trước những người họ muốn tiếp cận xem chương trình có thể có hiệu quả không.
Hãy Cá Nhân Hóa Đối Tượng Của Bạn
Khi bạn đã thu thập mọi thông tin về cộng đồng của mình rồi, tôi khuyến khích bạn tổng hợp lại để hình thành một kiểu người chưa tin Chúa mà Hội Thánh bạn muốn tiếp cận. Tổng hợp các đặc điểm cư dân trong vùng của bạn vào một con người tưởng tượng sẽ giúp các thành viên trong Hội Thánh nắm bắt dễ dàng đối tượng của bạn là ai. Nếu bạn làm tốt việc thu thập thông tin, các thành viên của bạn sẽ thấy rằng con người ảo này chính là hàng xóm của họ.

Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi gọi anh chàng người ảo này là “Saddleback Sam.” Hầu hết các thành viên của chúng tôi không gặp khó khăn gì khi mô tả Sam. Chúng tôi thảo luận chi tiết về anh ta trong mỗi lớp thành viên.
Saddleback Sam là một người điển hình sống trong khu vực của chúng tôi. Anh ta đang ở độ tuổi cuối ba mươi, đầu bốn mươi. Anh ta có bằng đại học và có thể có bằng cao học. (Thung lũng Saddleback là nơi có trình độ giáo dục cao nhất tại Mỹ.) Anh đã có vợ, tên là Saddleback Samantha, và họ có hai đứa con, Steve và Sally.
Các cuộc điều tra cho biết Sam yêu thích công việc của mình, anh ta thích nơi mình sống, và nghĩ rằng anh đang hưởng thụ cuộc sống nhiều hơn năm năm trước đây. Anh ta tự thỏa lòng, thậm chí tự mãn, về địa vị của mình trong cuộc sống. Anh là một nhà chuyên môn, một người quản lý hay một nhà thầu khoán. Sam là một trong những người Mỹ giàu có nhất, nhưng anh lại mắc nhiều nợ, đặc biệt là do chi phí trong gia đình.
Sức khỏe và thể trạng là những ưu tiên hàng đầu đối với Sam và gia đình. Bạn có thể thấy Sam chạy bộ mỗi sáng, còn Samantha thì đến các lớp thể dục nhịp điệu tại trung tâm Thể Hình Gia Đình ba lần một tuần. Cả hai thích nghe nhạc pop hiện đại và nhạc đồng quê, đặc biệt là khi họ làm việc ngoài trời.
Đối với các vấn đề xã hội: Sam và vợ mình thích ở trong một nhóm lớn hơn là một nhóm nhỏ. Tại sao? Trong một đám đông, Sam có thể lẩn trốn và bảo vệ sự riêng tư của mình. Sam có một sổ điện thoại riêng và có thể sống trong một cộng đồng khép kín cửa. (Đây là lý do tại sao chúng tôi dùng phương pháp gởi thư trực tiếp tới từng địa chỉ trong những năm đầu của Hội Thánh Saddleback. Đó là cách duy nhất để liên lạc với nhiều gia đình trong khu vực của chúng tôi.)
Một đặc tính quan trọng khác của Sam là anh ta hoài nghi về cái mà anh ta gọi là tôn giáo “được tổ chức.” Anh hay nói, “Tôi tin Chúa Giê-xu. Tôi chỉ không thích tôn giáo được tổ chức.” Chúng tôi thường nói đùa như vầy, “Vậy thì anh sẽ thích Hội Thánh Saddleback. Chúng tôi thuộc về tôn giáo phi tổ chức !”
Vì là người nam California, nên Sam thích những cuộc gặp gỡ tự nhiên, thân mật hơn là những cuộc gặp gỡ trang trọng. Anh thích ăn mặc đơn giản do khí hậu mát mẻ tại California. Chúng tôi đưa những vấn đề này vào khi lên kế hoạch tổ chức các buổi thờ phượng thu hút Sam. Chẳng hạn như tôi không bao giờ mặc áo vest và thắt cà vạt khi giảng tại Hội Thánh Saddleback. Thỉnh thoảng tôi ăn mặc đơn giản để thích hợp với lối suy nghĩ của những người tôi đang cố gắng tiếp cận. Tôi làm theo chiến lược của Phao-lô trong ICo1Cr 9:20 “Với người Giu-đa, tôi ở như một người Giu-đa, hầu được những người Giu-đa.” Trong trường hợp của tôi, tôi chắc rằng Phao-lô sẽ nói, “Lúc ở tại nam California, tôi sống như một người miền nam California để chinh phục những người miền nam California!” Tôi không nghĩ rằng cách ăn mặc của con người có ảnh hưởng nhiều tới Chúa Giê-xu. Chúng tôi thích gặp những người không tin Chúa mặc quần sọt mang giày thể thao bước vào nhà thờ hơn là những người không tới vì cớ không mặc áo lớn.
Saddleback Sam cũng rất rộng rãi về thời gian và tiền bạc. Thẻ tín dụng của anh được tận dụng hết mức. Anh sống rất vật chất, nhưng cũng chân thành thừa nhận rằng sự giàu có không đem lại cho anh hạnh phúc dài lâu.
Tại sao chúng ta lại phải trải qua đủ thứ vấn đề này chỉ để xác định mẫu người mà chúng ta cố gắng tiếp cận? Vì bạn càng hiểu họ chừng nào, thì càng dễ nói chuyện với họ chừng nấy.
Nếu bạn phải hình dung một mẫu người trong khu vực của mình, thì người đó sẽ có những đặc điểm gì? Bạn sẽ gọi tên người đó là gì? Đáng để suy nghĩ đấy. Một khi bạn đã xác định và đặt tên cho đối tượng truyền giáo của mình, xin hãy làm ơn gởi cho tôi một bản sao. Tôi có thói quen sưu tầm các đối tượng truyền giáo. Tôi có một tập tài liệu đầy những nhân vật như Dallas Doug , Memphis Mike , và Atlanta Al .
Bạn có tưởng tượng một người thợ chụp ảnh cứ bấm máy mà không nhắm trước không? Người săn hươu nào lại chỉ đứng trên đỉnh đồi và bắn đại vào trong thung lũng mà không nhắm vào một cái gì cả? Không có một mục tiêu, những nỗ lực truyền giáo của chúng ta thường chỉ là những ý tưởng mơ ước. Dĩ nhiên cần phải có thời gian để tập trung và nhắm, nhưng nó rất đáng đồng tiền. Bạn càng nhắm kỹ mục tiêu bao nhiêu, càng có cơ hội bắn trúng nó bấy nhiêu.
Chương 10: Biết Rõ Người Bạn Có Thể Tiếp Cận
“Trước hết người gặp anh mình là Si-môn , thì nói rằng : Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si .”
GiGa 1:41
“Vả , đương khi Đức Chúa Jêsus ngồi ăn tại nhà Ma-thi-ơ, có nhiều người thâu thuế cùng kẻ xấu nết đến ngồi ăn với Ngài và môn đồ Ngài .”
Mat Mt 9:10
Chỉ cần đọc sơ qua Thánh Kinh Tân Ước cũng thấy được rằng Phúc Âm chủ yếu được lan truyền qua các mối quan hệ. Vừa khi Anh-rê nghe tin về Đấng Christ, ông đến nói với anh mình là Si-môn Phi-e-rơ. Phi-líp lập tức liên hệ với một người bạn, Na-tha-na-ên. Ma-thi-ơ, người thâu thuế, tổ chức một bữa ăn tối để truyền giáo cho những người thâu thuế khác. Người đàn bà ở giếng nước chạy nói với mọi người trong làng về Đấng Christ. Câu chuyện cứ thế tiếp diễn.
Tôi tin rằng chiến lược truyền giáo hữu hiệu nhất là tiếp cận những người đã có một điểm chung nào đó với bạn từ trước. Sau khi bạn đã khám phá mọi nhóm đối tượng tiềm năng trong cộng đồng của mình, bạn nên tập trung vào nhóm nào trước? Câu trả lời chính là hãy tiếp cận nhóm nào thích hợp với bạn nhất.
Như chúng ta đã thảo luận với nhau, mỗi Hội Thánh thích hợp cho một hạng người nào đó. Hội Thánh của bạn sẽ dễ dàng tiếp cận một hạng người nào đó, và gặp khó khăn hơn với các hạng người khác. Và cũng có một số hạng người mà Hội Thánh của bạn chẳng bao giờ tiếp cận được, vì những gì họ đòi hỏi hoàn toàn khác với phong cách chức vụ mà bạn có thể đem lại.
Có nhiều điều khiến người ta không chịu gia nhập Hội Thánh của bạn: những rào cản thần học, những rào cản trong quan hệ, những rào cản về phương diện tình cảm, lối sống và văn hóa. Cả bốn rào cản đầu tiên rất rõ ràng, và trong chương này tôi chỉ tập trung vào rào cản văn hóa. Nhóm người thích hợp nhất cho Hội Thánh của bạn tiếp cận chính là nhóm người phù hợp với nền văn hóa hiện hữu trong Hội Thánh của bạn.
Ai Sẵn Sàng Gia Nhập Hội Thánh Chúng Ta?
Làm thế nào xác định được văn hóa trong Hội Thánh của bạn? Hãy tự hỏi chính bạn, “Hạng người nào sẵn sàng gia nhập Hội Thánh chúng ta?” Điều này có thể làm thất vọng một số mục sư, nhưng đây là sự thật: Hạng người nào đang có trong hội chúng của bạn cũng chính là hạng người thích hợp nhất để bạn thu hút nhiều hơn. Không thể có chuyện Hội Thánh của bạn sẽ thu hút và giữ được những người rất khác biệt so với những người đã gia nhập.
Khi những người khách bước vào nhà thờ của bạn, câu đầu tiên họ hỏi không phải là một vấn đề tôn giáo, mà là một vấn đề văn hóa. Khi mắt họ lướt nhìn qua cả căn phòng đầy những gương mặt lạ, họ vô thức hỏi rằng, “Những người này có giống tôi không?” Một cặp vợ chồng về hưu khi ghé thăm sẽ tìm xem có người nào lớn tuổi hiện diện trong hội chúng không. Một người lính sẽ tìm xem có ai đang mặc đồng phục hay có kiểu tóc quân nhân không. Những cặp vợ chồng trẻ có con nhỏ ngay lập tức nhìn khắp đám đông xem có cặp nào khác cũng có con nhỏ như họ không. Nếu những vị khách tìm thấy những người giống với họ trong Hội Thánh của bạn, thì phần đông họ sẽ quay trở lại.
Có khi nào một Hội Thánh đầy những người về hưu lại có thể tiếp cận các thiếu niên được không? Không khi nào. Còn những Hội Thánh đầy các quân nhân lại tìm cách tiếp cận những người hoạt động vì hòa bình thì sao? Càng không thể có! Hay có khi nào một Hội Thánh đầy những công nhân nhà máy lại có thể tiếp cận toàn các ủy viên ban quản trị không? Không thể nào, nhưng đừng cá cược trong chuyện này.
Dĩ nhiên, là những tín nhân, chúng ta cần phải thích thú và chào mừng mọi người gia nhập Hội Thánh của mình. Xét cho cùng, hết thảy chúng ta đều như nhau trong con mắt của Đức Chúa Trời. Nhưng xin nhớ rằng, việc một Hội Thánh không thành công trong việc tiếp cận một số hạng người nào đó không phải là vấn đề đúng hay sai, mà là vấn đề đơn giản tôn trọng những con người khác nhau đến tuyệt vời mà Đức Chúa Trời đã đặt để trong thế gian.
Những Người Lãnh Đạo Của Chúng Ta Thuộc Loại Nào?
Vấn đề thứ hai cần phải đặt ra khi xác định ai là người Hội Thánh của bạn có thể tiếp cận tốt nhất chính là, “Hàng ngũ lãnh đạo của Hội Thánh chúng ta có nền tảng văn hóa và cá tính gì?” Những cá tính của nhóm lãnh đạo, bao gồm cả nhân sự ăn lương và những nhà lãnh đạo nòng cốt, có một tác động rất lớn tới chức vụ Hội Thánh của bạn. Những người lãnh đạo luôn để lại một cái bóng thật dài. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy rằng lý do hàng đầu khiến cho người ta chọn một Hội Thánh chính là vì họ giống với vị mục sư. Xin đừng hiểu lầm ở đây: Mục sư không thu hút những vị khách đến thăm lần đầu tiên, nhưng ông ta là nguyên nhân chính khiến họ quay lại (hay không). Khi những vị khách thấy mình giống với vị mục sư, họ sẽ quay lại.
Nếu bạn là một mục sư, bạn cần phải chân thành hỏi mình rằng, “Tôi thuộc hạng người nào? Nền tảng văn hóa của tôi là gì? Hạng người nào tôi có thể tự nhiên quan hệ và hạng người nào tôi thấy khó hiểu?” Bạn cần phải phân tích rõ ràng bạn là ai và bạn có thể tiếp cận hạng người nào tốt nhất.
Khi còn là một sinh viên đại học, tôi phục vụ như một mục sư tạm thời tại một Hội Thánh nhỏ mà các thành viên hầu hết là những tài xế xe tải và các thợ máy. Vì tôi hoàn toàn không có chút kiến thức hay khả năng gì trong chuyện máy móc, tôi đã gặp nhiều khó khăn trong việc trò chuyện cách thoải mái với các thành viên. Dù rằng tôi thật sự rất yêu thương những người này, tôi cũng chỉ là một con cá ở trên bờ và họ biết điều đó. Họ rất lịch sự với diễn giả trẻ tuổi này, nhưng tôi không phải là cái mà Hội Thánh đó cần. Họ cần một người lãnh đạo phù hợp với chính con người họ.
Trái lại, tôi cảm thấy rất thoải mái với những nhà thầu xây dựng, những nhà quản lý và các chuyên gia. Trên thực tế, tôi để ý thấy rằng họ bị thu hút vào chức vụ của tôi. Đó không phải là điều tôi đã hoạch định, đó là cách Đức Chúa Trời buộc chặt tôi.
Tôi tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã kêu gọi cách đặc biệt và chuẩn bị mỗi chúng ta một cách hoàn toàn khác nhau để có thể tiếp cận nhiều hạng người khác nhau. Bạn có thể tiếp cận những người mà tôi không bao giờ có thể chinh phục cho Đấng Christ, và có lẽ tôi có thể tiếp cận những người mà bạn không thể quan hệ được. Đó là lý do tại sao tất cả chúng ta đều có cần trong thân thể Đấng Christ.
Nếu Đức Chúa Trời đã kêu gọi bạn vào chức vụ, thì việc bạn là ai và như thế nào cũng là một phần của chương trình đó. Bạn không phục vụ bất chấp chính mình, nhưng thông qua cá tính mà Đức Chúa Trời đã ban cho bạn. Bạn đã được Đức Chúa Trời định hình với một mục đích. Nếu Ngài đã kêu gọi bạn làm một mục sư, điều đó có nghĩa là phải có một hạng người nào đó, ở một nơi nào đó trên thế giới, là đối tượng thích hợp nhất mà bạn có thể tiếp cận được.
Có hai nguyên tắc cần phải nhớ khi xác định hướng đi của Đức Chúa Trời cho chức vụ của bạn.
Bạn tiếp cận tốt nhất với những người bạn quan hệ . Những người dễ nhất bạn có thể tiếp cận và chinh phục cho Đấng Christ chính là những người giống bạn nhất. Điều này không có nghĩa là bạn không thể tiếp cận những người không giống bạn. Dĩ nhiên là bạn có thể. Nó khó hơn thôi. Một số mục sư quan hệ rất tốt với những người có học thức cao, và các mục sư khác thì quan hệ tốt với những thường dân giản dị, bình thường. Cả hai nhóm người đều cần đến Đấng Christ, và cả hai đều cần một mục sư hiểu họ, và yêu thích được ở với họ. Khi bạn phù hợp với đối tượng của mình là khi bạn đóng góp nhiều nhất. Sau đó bạn có thể tạo một ấn tượng bởi việc bạn là chính bạn.
Thứ hai, là một người lãnh đạo , bạn sẽ thu hút những người giống như bạn , chứ không phải những người bạn muốn . Khi tôi mở Hội Thánh Saddleback, tôi mới có hai mươi sáu tuổi. Dù cố gắng bao nhiêu, tôi cũng không thể mời được người nào trên bốn mươi lăm tuổi gia nhập Hội Thánh; hội chúng phần lớn phù hợp với lứa tuổi của tôi. Chỉ sau khi tôi có các nhân sự lớn tuổi hơn tôi thì chúng tôi mới bắt đầu tiếp cận những người trung niên. Bây giờ, khi tôi ở độ tuổi trung niên, tôi lại phải thêm các nhân sự trẻ để quan hệ với những người trẻ tuổi hơn tôi.
Đôi lúc vì muốn tiếp cận một nhóm mục tiêu nào đó, nhiều mục sư tỏ ra không thực tế với chính bản thân mình. Tôi có biết một mục sư độ năm mươi tuổi, với kinh nghiệm làm nông trước đó, đã quyết định mở một Hội Thánh mới để tiếp cận “những người đông con mọn” vì ông thấy một Hội Thánh làm việc này và nó rất thú vị. Hội Thánh đã thất bại nặng nề. Sau đó ông tâm sự, “Tôi không thể dò được tần số của họ.”
Có một ngoại lệ cho hai nguyên tắc này, đó là khi bạn được nhận cái mà tôi gọi là “ơn giáo sĩ.” Khả năng phục vụ xuyên văn hóa đòi hỏi một ơn đặc biệt, một ân tứ từ chính Đức Thánh Linh để có thể giao tiếp với nhiều người có nhiều nguồn gốc khác nhau và khác với cả chính bạn nữa.
Rõ ràng sứ đồ Phao-lô đã có ơn giáo sĩ. Nền giáo dục của ông đã giúp ông làm một “người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ” (xem Phi Pl 3:5), và Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông thành lập các Hội Thánh của dân ngoại. Tôi biết một số mục sư sinh trưởng tại một khu vực ngoại thành, nhưng lại phục vụ rất hiệu quả trong nội thành. Tôi cũng thấy một số mục sư sinh ra tại miền nam, nhưng lại được Đức Chúa Trời đại dụng trong các thành phố ở vùng đông bắc. Nhưng những mục sư có ơn này là ngoại lệ của quy luật.
Sự tăng trưởng bùng nổ chỉ diễn ra khi hạng người trong cộng đồng phù hợp với hạng người đã có sẵn trong Hội Thánh của bạn, và cả hai cũng phù hợp với hạng người của mục sư. Nhưng nếu các thành viên và vị mục sư không phù hợp với nhau, có lẽ sẽ chỉ có một vụ bùng nổ mà không có sự tăng trưởng! Nhiều xung đột Hội Thánh xảy ra là do những vị lãnh đạo không phù hợp. Đặt để một nhà lãnh đạo không phù hợp trong một Hội Thánh cũng giống như nối lộn cực của cục pin trong một chiếc xe đồ chơi-những tia lửa điện sẽ xuất hiện.
Có nhiều lần tôi chứng kiến những vị mục sư gặp rất nhiều khó khăn trong việc chăn dắt dân sự trong cồng đồng của họ vì họ không phù hợp về phương diện văn hóa. Vấn đề không phải là sự tận tâm, mà là nguồn gốc! Một người tin kính được đặt sai chỗ sẽ chỉ đem lại những kết quả tầm thường.
Nói cách riêng, có nhiều khu vực trên đất nước Mỹ mà nếu tôi đến đó làm mục sư thì tôi sẽ hoàn toàn thất bại vì không phù hợp về văn hóa. Đức Chúa Trời đã tạo nên tôi để tôi phục vụ đúng ngay nơi tôi đang ở. Những đời sống được biến đổi trong Hội Thánh của tôi chứng minh điều đó.
Đôi lúc, điều khôn ngoan nhất một mục sư có thể làm là thừa nhận rằng mình không phù hợp với Hội Thánh hay cộng đồng nào đó và di dời đi nơi khác. Nhiều năm trước đây, Hội Thánh Saddleback mở một Hội Thánh nhánh gần Irvine, California. Một người bạn của tôi đi từ Atlanta đến để quản nhiệm. Ông đã mở một Hội Thánh tại Atlanta và đã tăng trưởng được hơn 200 thành viên dự nhóm, cho nên tôi biết rằng ông có các ân tứ cần thiết để làm một người mở Hội Thánh mới. Sau khoảng tám tháng, Hội Thánh mới tại Irvine vẫn chưa đứng lên được.
Tôi hỏi John xem có vấn đề gì. Ông nói, “Nơi này rõ ràng không hợp với tôi. Khu vực này toàn những đôi vợ chồng trung niên giàu có và các em thiếu niên.”
Rồi tôi hỏi ông, “Ông nghĩ ông có thể tiếp cận ai tốt nhất?”
John đáp, “Tôi cảm thấy mình có thể tiếp cận những đôi vợ chồng trẻ có con trong độ tuổi mẫu giáo, và những người trưởng thành còn độc thân vừa ra đời tự lập. Tôi hiểu những nan đề của họ.”
“Vậy thì chúng tôi cần chuyển ông sang khu vực Bãi Biển Huntington!” Chúng tôi đưa John đến đó, mở một Hội Thánh mới, và trong vòng một năm, Hội Thánh của ông đã có hơn 200 người dự nhóm.
Tôi có một người bạn khác phục vụ tại một hội chúng người Mỹ gốc Phi tại Long Beach, California. Một ngày nọ ông đến với tôi, rất chán nản vì thiếu sự tăng trưởng trong Hội Thánh. Tôi sớm khám phá ra rằng ông không thích hợp với trình độ học vấn của hội chúng tại đó. Ông đã có vài bằng cao học và vốn từ rất phức tạp, nhưng đa số những người trong Hội Thánh và cộng đồng của ông chỉ mới tốt nghiệp trung học. Lối giảng của ông khiến người ta chán nản. Sau khi phát hiện một cộng đồng toàn những người Mỹ gốc Phi có học thức cao sống trong vùng cách đó bốn dặm, tôi đề nghị ông từ chức và đến mở một Hội Thánh mới tại khu vực đó của Long Beach. Ông đã làm đúng như vậy và hai năm sau, ông vui vẻ báo tin rằng Hội Thánh mới đã có hơn 300 người nhóm lại mỗi Chúa Nhật.
Nếu bạn là một mục sư đang phải tranh đấu với vấn đề “nhầm chỗ” như vậy, và bạn không phù hợp với khu vực của mình, bạn biết rất rõ điều tôi đang nói. Có lẽ bạn đã cảm thấy rất mệt mỏi và buồn nản. Đừng cảm thấy khó chịu nữa. Việc bạn không phù hợp với một khu vực nào đó không phải là một tội. Chỉ cần dời đi thôi! Nếu Đức Chúa Trời đã ban ơn và kêu gọi bạn vào chức vụ, Ngài đã sắm sẵn một chỗ phù hợp nhất cho bạn.
Cần Phải Làm Gì Nếu Hội Thánh Chúng Ta Không Phù Hợp Với Cộng Đồng Của Mình?
Các cộng đồng thường thay đổi, nhưng thành phần của Hội Thánh thì không. Bạn sẽ làm gì nếu đang phục vụ tại một Hội Thánh không phù hợp với cộng đồng?
Hãy xây dựng những điểm mạnh của bạn
Đừng cố trở thành một cái gì đó không phải là chính bạn. Nếu Hội Thánh của bạn gồm chủ yếu là những người dân lớn tuổi, hãy quyết định thực hiện một chức vụ hiệu quả nhất cho những cư dân lớn tuổi. Đừng cố gắng trở thành một hội chúng lo cho những người trong thế hệ baby boom (). Hãy củng cố điều bạn đã đang làm và đừng lo lắng về chuyện bạn không thể làm. Hãy cứ làm điều mà bạn làm tốt, chỉ cần làm tốt hơn thôi. Xin nhớ rằng có một hạng người trong cộng đồng của bạn mà chỉ có Hội Thánh của bạn có thể tiếp cận mà thôi.
Tái sắp đặt lại hội chúng của bạn
Tái sắp đặt lại hội chúng của bạn là bạn cố tình thay đổi thành phần của Hội Thánh để phù hợp với một đối tượng mới. Bạn hoàn toàn thay đổi mọi chương trình, cơ cấu, và phong cách thờ phượng cũ và thực hiện những điều mới mẻ.
Tôi muốn nói rõ như vầy: Tôi không khuyên bạn làm việc này ! Đây là một quá trình đầy đau đớn và có thể mất nhiều năm. Dân sự sẽ rời bỏ Hội Thánh vì những xung đột lớn và không thể tránh khỏi. Nếu bạn thực hiện tiến trình này, có lẽ bạn sẽ bị nói xấu vì Sa-tan sẽ xúi giục những thành viên lớn tuổi làm điều đó, trừ phi bạn ở đó lâu hơn mọi người khác. Tôi đã thấy việc này được thực hiện thành công, nhưng không phải là không có sự chịu đựng bền bỉ và lòng sẵn sàng tiếp thu phê bình. Cần phải có một mục sư rất yêu thương, nhẫn nại và đầy ơn để lãnh đạo Hội Thánh thay đổi chính mình.
Cũng đừng nghĩ tới chuyện này khi bạn ở trong một Hội Thánh có hơn một trăm người tham dự trừ phi Đức Chúa Trời bảo bạn làm. Đó là con đường dẫn tới sự đau đớn. Tuy nhiên, nếu bạn ở trong một Hội Thánh có năm mươi người hay ít hơn, đây là một lựa chọn bạn có thể thực hiện được. Một lợi điểm của Hội Thánh nhỏ là bạn có thể thay đổi hoàn toàn Hội Thánh đó mà chỉ cần một số gia đình ra đi và một số mới gia nhập. Nhưng càng lớn hơn bao nhiêu, thì cơ hội bạn có thể thực hiện thành công việc này càng nhỏ bấy nhiêu.
Hãy bắt đầu những hội chúng mới
Lựa chọn thứ ba là điều tôi rất thích gợi ý. Có nhiều cách để mở một hội chúng mới nhằm tiếp cận một đối tượng mới trong cộng đồng của bạn. Trước tiên, bạn có thể tổ chức thêm một chương trình thờ phượng mới với một phong cách thờ phượng khác để tiếp cận những người không thích phong cách thờ phượng hiện tại trong Hội Thánh của bạn. Trên khắp nước Mỹ, nhiều Hội Thánh đang tổ chức hai, ba chương trình thờ phượng để dân sự có thể lựa chọn và gia tăng phạm vi tiếp cận của mình.
Cách thứ hai là thực sự bắt đầu một chức vụ mới mà bạn dự định đó sẽ là một hội chúng tự trị tự lập. Mở các Hội Thánh mới là cách nhanh nhất để hoàn thành Đại Mạng Lệnh.
Có lẽ bạn còn nhớ điều mình đã được học trong giờ sinh vật tại trường trung học, một đặc điểm chính của sự trưởng thành sinh học là khả năng sinh sản. Tôi tin rằng Hội Thánh cũng vậy, Hội Thánh là một “thân thể” trong Kinh Thánh. Dấu hiệu của một Hội Thánh thực sự trưởng thành là Hội Thánh đó có nhiều con: Hội Thánh đó mở ra nhiều Hội Thánh mới.
Bạn không cần phải có một Hội Thánh lớn rồi mới có thể mở các Hội Thánh mới. Hội Thánh Saddleback bắt đầu mở Hội Thánh con đầu tiên khi chỉ mới được một tuổi. Kể từ đó, cứ mỗi năm chúng tôi lại thành lập ít nhất một Hội Thánh mới nữa. Như tôi đã có nói, vào dịp kỷ niệm mười lăm năm thành lập Hội Thánh của chúng tôi, chúng tôi đã mở được hai mươi lăm Hội Thánh mới.
Nhận Biết Tính Dễ Tiếp Thu Thuộc Linh Trong Cộng Đồng Của Bạn
Chúa Giê-xu đã dạy qua ví dụ về Người Gieo Giống và Các Loại Đất (xem Mat Mt 13:3-23) rằng tính dễ tiếp thu thuộc linh rất khác nhau. Cũng giống như các loại đất, người ta phản ứng khác nhau đối với Tin Lành. Một số người rất cởi mở lắng nghe Phúc Âm, và những người khác thì không. Trong ví dụ về người gieo giống, Chúa Giê-xu giải thích rằng có những tấm lòng cứng cỏi, nông cạn, bối rối và dễ tiếp thu.
Để việc truyền giáo có kết quả tốt nhất, chúng ta cần phải gieo hạt giống của mình nơi đất tốt-loại đất cho ra vụ mùa bội thu. Không một người nông dân nào muốn lãng phí hột giống, một thứ quý giá, trên những khu đất khô cằn không kết quả. Cũng vậy, việc rao giảng Phúc Âm một cách bất cẩn, không có kế hoạch là sự quản lý tồi. Sứ điệp của Đấng Christ quan trọng đến mức chúng ta không được phép lãng phí thời gian, tiền bạc và sức lực vào những phương pháp không hiệu quả cũng như những vùng đất kém phì nhiêu. Chúng ta cần phải có chiến lược tiếp cận thế gian, tập trung những nỗ lực của mình vào đúng nơi chúng có thể tạo nên ảnh hưởng lớn nhất.
Ngay cả trong nhóm đối tượng của Hội Thánh của bạn cũng có những mức độ tiếp thu thuộc linh khác nhau. Sự tiếp thu thuộc linh là một điều gì đó đến rồi đi trong đời sống của con người như một đợt thủy triều đại dương. Có những thời điểm trong cuộc đời người ta có khuynh hướng chào đón lẽ thật thuộc linh nhiều hơn là những thời điểm khác. Đức Chúa Trời sử dụng nhiều công cụ khác nhau để làm mềm lòng và chuẩn bị con người để họ được cứu.
Ai là những người dễ tiếp nhận nhất? Tôi tin rằng có hai nhóm lớn: những người đang thay đổi và những người ở dưới áp lực. Đức Chúa Trời sử dụng cả sự thay đổi lẫn đau đớn để lôi kéo sự chú ý của con người và khiến họ mở lòng ra đối với Phúc Âm.
Những người đang thay đổi
Bất cứ khi nào một ai đó đang gặp sự thay đổi lớn, dù là tiêu cực hay tích cực, thì dường như điều đó tạo nên một khao khát ổn định tâm linh trong lòng họ. Ngày nay có một xu hướng lớn thiên về những vấn đề thuộc linh vì những thay đổi hàng loạt trong thế giới của chúng ta đã khiến cho con người sợ hãi và không ổn định. Alvin Toffler nói rằng người ta đi tìm “những hòn đảo bình yên” khi mà sự thay đổi đang bao trùm họ. Đây là một làn sóng Hội Thánh cần phải lướt trên.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi khám phá ra rằng người ta dễ tiếp nhận Chúa hơn khi họ đối diện với những thay đổi như một hôn nhân mới, một đứa con mới ra đời, một gia đình mới, một công việc mới, hay một ngôi trường mới. Đây là lý do tại sao nhiều Hội Thánh nhìn chung tăng trưởng nhanh hơn trong các cộng đồng mới, nơi mà các cư dân liên tục di chuyển thay vì ở ổn định, so với các cộng đồng già hơn, là nơi mà người ta đã sinh sống bốn mươi năm.
Những người ở dưới áp lực
Đức Chúa Trời sử dụng mọi loại tổn thương tình cảm để thu hút sự chú ý của con người: nỗi đau ly dị, sự mất người thân, thất nghiệp, các nan đề tài chánh, những khó khăn trong hôn nhân và gia đình, sự cô đơn, sự oán giận, sự phạm tội và những căng thẳng khác. Những người đang sợ hãi hay lo âu thường bắt đầu tìm kiếm một điều gì đó lớn hơn chính bản thân họ để xoa dịu các cơn đau và lấp đầy khoảng trống họ cảm nhận.
Tôi không nói đây là những điều chính xác nhất, nhưng dựa vào mười lăm năm chăn bầy, tôi có một danh sách mà tôi tin rằng đây là mười nhóm người dễ tiếp nhận nhất, và chúng tôi đã từng tiếp cận họ tại Hội Thánh Saddleback:
Những người đến thăm Hội Thánh lần thứ hai
Những người bạn thân và bà con họ hàng của các tân tín hữu
Những người đang trải qua việc ly dị
Những người cảm thấy cần một chương trình hồi phục (rượu, ma túy, tình dục và v.v…)
Những người cha người mẹ mới có con lần đầu tiên
Những người bệnh ở giai đoạn cuối và gia đình của họ
Các cặp vợ chồng gặp những nan đề lớn trong hôn nhân
Những người cha người mẹ gặp vấn đề con cái
Những người vừa thất nghiệp hay gặp nan đề tài chánh lớn
Những cư dân mới trong cộng đồng
Một mục tiêu khả thi cho Hội Thánh của bạn có thể là phát triển một chương trình đặc biệt để tiếp cận những nhóm người có tiềm năng nhất trong cộng đồng. Dĩ nhiên, nếu bạn làm việc này, sẽ có người nói rằng, “Mục sư à, tôi nghĩ rằng trước khi mình cố gắng tiếp cận những người mới này, chúng ta hãy chăm lo cho những thành viên cũ đã bỏ nhóm lâu ngày.” Đây là một chiến dịch bảo đảm Hội Thánh của bạn sẽ tuột dốc! Nó không có hiệu quả gì. Thường thường, để tái kích hoạt một thành viên bất bình hay xác thịt phải tốn sức lực gấp năm lần hơn việc chinh phục một người chưa tin Chúa mà có tấm lòng cởi mở với Phúc Âm.
Tôi tin rằng Đức Chúa Trời đã kêu gọi các vị mục sư để đánh lưới người và chăn chiên, không phải để bắt dê! Những thành viên thụ động của bạn có lẽ cần phải chuyển hội vì một vài lý do nào đó. Nếu bạn muốn tăng trưởng, hãy tập trung vào việc tiếp cận những người dễ tiếp thu.
Một khi bạn đã biết đối tượng của mình là ai, bạn thích hợp nhất với ai, và những người dễ tiếp nhận Phúc Âm nhất trong nhóm mục tiêu của bạn là ai, thì bạn đã sẵn sàng cho chương kế tiếp: xây dựng một chiến lược truyền giáo cho Hội Thánh của bạn.
Chương 11: Triển Khai Chiến Lược Của Bạn
“Tôi ở yếu đuối với những người yếu đuối , hầu được những người yếu đuối ; tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người , để cứu chuộc được một vài người không cứ cách nào .”
ICo1Cr 9:22
“Ngài phán cùng hai người rằng : Các ngươi hãy theo ta , ta sẽ cho các ngươi nên tay đánh lưới người .”
Mat Mt 4:19
Ba tôi là người câu cá giỏi nhất tôi từng gặp. Cho dù nếu chỉ có một con cá trong hồ hay dưới suối, ông cũng sẽ bắt nó. Điều đó luôn khiến tôi ngạc nhiên trong suốt thời niên thiếu của tôi. Mười người chúng tôi câu cá trong cùng một cái hồ, mà ba tôi thì cứ câu hết mọi con cá. Ông đã làm như thế nào? Đó là một phép màu? Có phải Chúa thích ông hơn không?
Lúc trưởng thành hơn, tôi nhận ra bí mật của ông: Ba của tôi hiểu cá. Ông có thể “đọc” một cái hồ và xác định chính xác những con cá đang ở đâu; ông biết thời điểm nào trong ngày là lúc chúng thích ăn; ông biết loại mồi nào thích hợp cho thứ cá nào; ông biết lúc nào phải đổi mồi khi nhiệt độ thay đổi; dường như ông cũng biết chính xác phải thả dây sâu bao nhiêu vào trong nước. Ông làm việc đó rất dễ dàng và thu hút những con cá đến nuốt lưỡi câu của ông-và chúng đã nuốt thật! Ông đã bắt cá đúng cách.
Trái lại, tôi lại chẳng có chiến lược nào khi đi câu cá. Tôi cứ thả đại mồi xuống hồ và hy vọng rằng một con nào đó sẽ cắn câu. Cá hiếm khi nào cắn câu vì tôi câu chúng với thái độ có cũng được không có cũng được. Tôi luôn thích việc hóng gió ngoài trời hơn là bắt cá. Ba tôi thì chui qua các bụi cây hay lội nước tới tận thắt lưng để tới nơi cá ở, còn chỗ câu cá của tôi thường là chỗ thoải mái nhất tôi có thể ngồi. Tôi không có một chiến lược nào cả, và kết quả chứng minh điều đó.
Không may là nhiều Hội Thánh lại có cùng một thái độ này trong việc đánh lưới người. Họ không dành thời gian để hiểu những người họ muốn tiếp cận, và họ không có một chiến lược. Họ muốn chinh phục nhiều người cho Đấng Christ miễn là họ có thể làm việc đó cách thoải mái.
Bí mật của việc truyền giáo có hiệu quả không chỉ là chia sẻ sứ điệp của Đấng Christ mà còn làm theo phương pháp của Ngài nữa. Tôi tin rằng Chúa Giê-xu đã ban cho chúng ta một Phúc Âm không chỉ để chúng ta công bố mà còn chỉ chúng ta cách để chia sẻ nữa. Ngài có một chiến lược. Ngài đã đưa ra những nguyên tắc vượt thời gian để truyền giáo, và chúng vẫn có tác dụng vào thời nay nếu chúng ta chịu áp dụng chúng.
Mat Mt 10:1-42 và LuLc 10:1-42 là hai phân đoạn bày tỏ chiến lược của Chúa Giê-xu trong việc truyền giáo có mục tiêu. Trước khi Chúa Giê-xu sai các môn đồ Ngài đi ra giảng đạo, Ngài đặc biệt hướng dẫn họ cách dành thời gian cho người này, không bận tâm tới những người kia, điều họ phải nói và cách họ chia sẻ điều đó. Chương này không bàn chi tiết tới mọi điều Chúa Giê-xu đã dạy dỗ các môn đồ. Thay vào đó, tôi muốn xác định năm nguyên tắc chỉ đạo trong việc truyền giáo thông qua những gì Chúa Giê-xu dạy các môn đồ. Chúng tôi đã xây dựng chiến lược truyền giáo của Hội Thánh Saddleback xoay quanh năm nguyên tắc này.
Biết Rõ Mình Cần Đánh Bắt Cái Gì
Loại cá mà bạn muốn bắt sẽ quyết định mọi phần trong chiến lược của bạn. Muốn câu cá vược, cá trê hay cá hồi cần phải có các dụng cụ, mồi câu và thời gian khác nhau. Bạn cũng không bắt cá maclin theo cách bạn bắt cá hồi. Không có chuyện một phương pháp bắt cá “thích hợp cho mọi loại” cá. Mỗi loại đòi hỏi một chiến lược độc nhất. Đối với việc đánh lưới người cũng vậy-biết rõ mình cần đánh cái gì có lợi rất nhiều!
Khi Chúa Giê-xu sai các môn đồ đi ra trong chiến dịch truyền giáo đầu tiên, Ngài xác định đối tượng rất cụ thể: Họ phải tập trung vào những người đồng hương của mình. “Ấy đó là mười hai sứ đồ Đức Chúa Jêsus sai đi, và có truyền rằng: Đừng đi đến dân ngoại, cũng đừng vào một thành nào của dân Sa-ma-ri cả; song thà đi đến cùng những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên” (Mat Mt 10:5-6).
Có nhiều lý do khiến Chúa Giê-xu thu hẹp đối tượng lại, nhưng có một điều chắc chắn là: Ngài nhắm vào hạng người thích hợp nhất với các môn đồ-những người giống như họ. Chúa Giê-xu không hề có thành kiến gì, Ngài đang dùng một chiến lược. Như tôi đã đề cập trong chương 9, Chúa Giê-xu đã xác định đối tượng cho các môn đồ để họ đi ra và kết quả, chứ không phải để loại trừ một ai.
Đi Tới Nơi Cá Đang Ăn
Thật lãng phí thời gian khi câu ở ngay chỗ cá không ăn. Những người câu cá khôn ngoan sẽ đi tìm chỗ khác. Họ hiểu rằng cá ăn ở nhiều nơi khác nhau vào những thời điểm khác nhau trong ngày. Không phải lúc nào chúng cũng đói.
Đây là nguyên tắc của tính dễ tiếp thu mà tôi đã giải thích trong chương trước. Vào những thời điểm nào đó, những người chưa tin Chúa có khuynh hướng đáp ứng tính cực với lẽ thật thuộc linh hơn là những thời điểm khác. Thời gian dễ tiếp thu này thường ngắn, cũng là lý do tại sao Chúa Giê-xu bảo hãy đi tới nơi mà người ta muốn nghe. Hãy tận dụng những tấm lòng lắng nghe mà Thánh Linh đã chuẩn bị.
Xin lưu ý lời dạy của Chúa Giê-xu trong 10:14 “Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó , hay là thành đó , hãy phủi bụi đã dính chân các ngươi” (có nhấn mạnh). Đây là một câu nói rất ý nghĩa mà chúng ta không được bỏ qua. Chúa Giê-xu dạy các môn đồ rằng họ không cần phải ở lại với những người không chịu nghe. Chúng ta không cần phải nhặt những trái cây còn xanh, mà hãy đi tìm và thu hoạch những trái đã chín mọng.
Trước khi thành lập Hội Thánh Saddleback, tôi đã lãnh đạo nhiều chiến dịch truyền giáo và những cơn phấn hưng tại nhiều Hội Thánh. Thường thì vị mục sư quản nhiệm và tôi dùng những buổi chiều để kêu gọi tin Chúa. Có nhiều lần vị mục sư đó đã đưa tôi vào những tình huống mà các nhà truyền giảng trước đây đã thất bại. Thật là lãng phí thời gian.
Có khôn ngoan không khi cứ liên tục quấy rầy người đã hàng tá lần chối bỏ Đấng Christ trong khi cả một cộng đồng cởi mở đang chờ nghe Phúc Âm lần đầu tiên? Tôi tin rằng Thánh Linh muốn dẫn dắt chúng ta đến với những người Ngài đã dọn lòng để tiếp nhận. Chúa Giê-xu bảo chúng ta không cần phải bận tâm tới những người không chịu nghe. Hãy phủi bụi khỏi chân bạn và đi tiếp.
Chiến lược của sứ đồ Phao-lô là đi qua những cánh cửa đã mở và không lãng phí thời gian gõ mãi vào những cánh cửa đóng chặt. Cũng vậy, chúng ta không cần phải tập trung nỗ lực của mình vào những người không chịu lắng nghe Phúc Âm. Có vô số người trên thế gian này sẵn sàng tiếp nhận Đấng Christ, số đó nhiều hơn số tín nhân sẵn sàng làm chứng về Chúa cho họ.
Tập Suy Nghĩ Như Con Cá
Để bắt được cá thì cần phải hiểu những thói quen, sở thích và cách ăn mồi của chúng. Một số loại cá thích vùng nước yên tĩnh, phẳng lặng, và những loại khác lại thích bơi trong dòng nước chảy. Một số loài cá thích ở tận dưới đáy, và những loại khác lại thích nấp dưới đá. Muốn câu cá thành công đòi hỏi phải suy nghĩ như con cá.
Chúa Giê-xu biết những người không tin Chúa đang nghĩ gì (xem Mat Mt 9:4; 12:25; Mac Mc 2:8; LuLc 5:22; 9:47; 11:17). Ngài tiếp xúc thành công với mọi người vì Ngài hiểu và có thể xóa bỏ những rào cản tinh thần của họ.
CoCl 4:5 chép rằng, “Hãy lấy sự khôn ngoan ăn ở với những người ngoại, và lợi dụng thì giờ.” Chúng ta phải học biết cách suy nghĩ như những người chưa tin Chúa để chinh phục họ.
Vấn đề là ở chỗ, càng tin Chúa lâu năm, bạn càng ít suy nghĩ giống như một người ngoại. Những sở thích và giá trị của bạn đã thay đổi. Vì tôi là một Cơ-đốc nhân gần trọn cuộc đời, tôi suy nghĩ như một người Cơ-đốc. Bình thường tôi không suy nghĩ như một người ngoại. Tệ hơn nữa, tôi có khuynh hướng suy nghĩ như một mục sư , và điều đó càng lôi kéo tôi xa khỏi hệ tư tưởng của người ngoại đạo. Tôi phải cố tình thay đổi cách suy nghĩ của mình khi tìm cách tiếp cận những người chưa tin Chúa.
Nếu bạn xem hầu hết các mẫu quảng cáo Hội Thánh, bạn sẽ thấy rằng nó được viết theo cách nhìn của một tín nhân, chứ không phải theo hệ tư tưởng của một người chưa tin Chúa. Hãy xem tờ bướm của một Hội Thánh lại ghi như vầy, “Giảng Lời Chân Thật Của Đức Chúa Trời!” Một câu như thế chắc chắn không có ý nghĩa gì với những người chưa tin Chúa. Về phương diện cá nhân, tôi cho rằng sự không thể sai lầm của Kinh Thánh là một niềm tin không thể thay thế được, nhưng các thân hữu thậm chí chẳng hiểu nổi từ đó. Những thuật ngữ thuộc linh quen thuộc với các Cơ-đốc nhân chỉ là lời vô nghĩa đối với những người chưa tin Chúa. Nếu bạn muốn quảng bá về Hội Thánh của bạn cho các thân hữu, bạn phải học cách suy nghĩ và nói giống như họ.
Tôi thường nghe những vị mục sư phàn nàn rằng ngày nay những người không tin Chúa, so với quá khứ, phản ứng mạnh mẽ hơn đối với Phúc Âm. Tôi không nghĩ điều đó là đúng. Sự chống đối luôn luôn là do sự truyền thông không hiệu quả. Sứ điệp không được truyền đạt cách thông suốt. Các Hội Thánh cần phải chấm dứt việc nói rằng nhiều người đang đóng cửa với Phúc Âm mà hãy bắt đầu tìm cách truyền đạt sứ điệp bằng chính tần số của những người chưa tin Chúa. Bất luận sứ điệp của chúng ta có thể biến đổi đời sống ra sao, nó cũng sẽ chẳng có tác dụng gì nếu chúng ta phát đi bằng một tần số mà những người chưa tin Chúa không bắt được.
Bạn tập suy nghĩ như những người chưa tin Chúa bằng cách nào? Hãy nói chuyện với họ! Một trong những rào cản lớn nhất ngăn trở việc truyền giáo chính là đa số các tín nhân dành mọi thời gian của mình cho các tín hữu khác. Họ không có một người bạn chưa tin Chúa nào cả. Nếu bạn không dành chút thời gian nào cho những người chưa tin Chúa, bạn sẽ không hiểu điều họ đang nghĩ.
Như tôi đã chia sẻ trong chương 1, tôi thành lập Hội Thánh Saddleback bằng cách đi gõ cửa từng nhà trong suốt mười hai tuần đầu tiên và tìm hiểu những người không đi nhà thờ trong khu vực của tôi. Sáu năm trước đây tôi có đọc một cuốn sách của Robert Schuller, nhan đề Your Church Has Real Possibilities , nói về cách ông đã đi gõ cửa từng nhà vào năm 1955 và hỏi hàng trăm người, “Tại sao anh không đi nhà thờ?” và “Anh muốn điều gì trong một Hội Thánh?” Tôi nghĩ rằng đây là một ý tưởng lớn nhưng cũng cảm thấy rằng câu hỏi cần phải sửa lại chút ít trong thập niên 80 đầy hoài nghi. Tôi đã viết năm câu hỏi mà tôi đã dùng để mở Hội Thánh Saddleback vào sổ tay của mình.
Theo bạn , nhu cầu lớn nhất trong vùng này là gì ? Câu hỏi này chỉ đơn giản thu hút mọi người nói chuyện với tôi.
Bạn có đang tích cực tham gia một Hội Thánh nào không ? Nếu họ trả lời có, tôi cảm ơn họ và đi sang nhà kế bên. Tôi không hỏi thêm ba câu còn lại vì tôi không muốn sổ ghi chép của mình đầy các quan niệm của những tín hữu. Xin lưu ý, tôi không hỏi rằng, “Bạn có phải là một thành viên không?” Nhiều người đã bỏ nhóm hai mươi năm ròng mà vẫn tuyên bố mình là thành viên của một Hội Thánh nào đó.
Theo bạn , tại sao có nhiều người không chịu đi nhà thờ ? Câu này có vẻ ít gây mích lòng hơn là “Tại sao bạn không đi nhà thờ?” Ngày nay, có nhiều người sẽ trả lời rằng, “Đó không phải là việc của anh, sao anh không đi đi!” Nhưng khi tôi hỏi lý do họ cho rằng những người khác không đi nhà thờ, thì họ thường trả lời tôi bằng những lý do của chính họ.
Nếu bạn phải tìm để gia nhập vào một Hội Thánh nào đó , bạn sẽ tìm một Hội Thánh như thế nào ? Câu hỏi đơn giản này dạy tôi về cách suy nghĩ như một người ngoại nhiều hơn toàn bộ chương trình huấn luyện thần học của tôi. Tôi khám phá ra rằng đa số các Hội Thánh không có những chương trình mà các thân hữu thích.
Tôi có thể làm gì cho bạn ? Bạn có lời khuyên nào cho người mục sư muốn thực sự giúp đỡ dân sự của mình ? Đây là câu hỏi căn bản nhất Hội Thánh cần phải hỏi cộng đồng của mình. Hãy nghiên cứu các sách Phúc Âm và lưu ý xem có bao nhiêu lần Chúa Giê-xu hỏi một ai đó, “Ngươi muốn ta làm gì cho ngươi?” Ngài bắt đầu với những nhu cầu của dân sự.
Khi tôi nghiên cứu, tôi giới thiệu mình, nói rằng: “Xin chào, tôi là Rick Warren. Tôi đang thực hiện thăm dò ý kiến của cộng đồng mình. Tôi đến đây không phải để bán cho bạn một món hàng nào, hay để bạn đăng ký vào chương trình gì. Tôi chỉ muốn hỏi bạn năm câu hỏi. Không có một câu hỏi đúng hay sai nào, và chỉ mất khoảng hai phút.”
Vài ngàn Hội Thánh hiện đang dùng năm câu hỏi nghiên cứu này trong các cộng đồng của họ. Có một hệ phái tôi tư vấn đã dùng những câu hỏi này để mở 102 Hội Thánh mới trong vòng một ngày! Nếu bạn chưa từng nghiên cứu gì về các thân hữu trong khu vực của bạn, tôi mạnh mẽ đề nghị bạn làm việc này.
Bốn điều than phiền cơ bản
Chúng tôi đã khám phá ra bốn điều phàn nàn cơ bản về các Hội Thánh từ cuộc nghiên cứu thung lũng Saddleback.
“Hội Thánh thật nhàm chán , đặc biệt là các bài giảng . Những sứ điệp đó không liên hệ gì tới cuộc đời của tôi .” Đây là lời than phiền tôi được nghe nhiều nhất. Thật là ngạc nhiên khi nhiều Hội Thánh lại có thể biến cuốn sách kỳ diệu nhất thế giới trở thành một điều nhàm chán cho dân sự. Kỳ lạ là họ có thể biến bánh thành đá!
Nan đề của những diễn giả nhàm chán là chính sự nhàm chán họ gây ra đó khiến cho dân sự nghĩ rằng Đức Chúa Trời rất tẻ nhạt. Từ lời than phiền này, tôi quyết định học cách truyền đạt lời Đức Chúa Trời một cách thực tế và thú vị. Một bài giảng không cần phải nhàm chán mới đúng Kinh Thánh, và nó cũng chẳng cần phải khô khan mới giữ được tín lý. Những người không đi nhà thờ không đòi hỏi những sứ điệp bị làm giảm nhẹ đi, họ chỉ cần những sứ điệp thực tế. Họ muốn nghe một điều gì đó vào Chúa Nhật và sau đó có thể áp dụng vào thứ Hai.
“Các thành viên trong Hội Thánh không thân thiện với người mới . Nếu tôi đi nhà thờ , tôi muốn thấy mình được hoan nghênh và không bị ngỡ ngàng .” Nhiều người không đi nhà thờ nói với rồi rằng họ cảm thấy Hội Thánh giống như một đảng phái vậy. Khi họ không biết những thuật ngữ “trong cuộc,” những bài hát hay các nghi lễ, họ cảm thấy mình khờ khạo và cảm thấy các thành viên đanh nhìn mình cách đoán xét. Cảm giác lớn nhất một người không đi nhà thờ gặp phải khi họ ghé thăm một buổi thờ phượng là sự sợ hãi . Do đó, tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi quyết định làm mọi điều có thể để khiến cho những vị khách của chúng tôi thấy mình được hoan nghênh mà không cảm thấy đang bị theo dõi.
“Hội Thánh dường như thích tiền của tôi hơn là bản thân tôi .” Do những nỗ lực lạc quyên quá lộ liễu của những người chứng đạo qua điện thoại và các tổ chức Cơ-đốc khác, các thân hữu hết sức nhạy cảm với vấn đề tiền bạc. Bill Hybels thấy đây là lời than phiền lớn nhất trong vùng của ông khi ông cũng thực hiện một cuộc nghiên cứu tương tự. Nhiền người tin rằng các vị mục sư “ở đó chỉ vì tiền,” và những ngôi nhà thờ sang trọng chỉ thêm dầu vào lửa mà thôi. Chúng tôi đã quyết định trung hòa lời than phiền này bằng cách dùng lời giải thích mỗi khi nhận tiền dâng. Chúng tôi giải thích rằng việc dâng hiến chỉ dành cho những người ở trong Hội Thánh. Những người khách không cần phải dâng hiến.
“Chúng tôi lo lắng về chất lượng giữ trẻ của Hội Thánh .” Thung Lũng Saddleback đầy những cặp vợ chồng trẻ, thế nên chúng tôi không ngạc nhiên gì khi nghe lời than phiền này. Hội Thánh phải chiếm được lòng tin của những người làm cha làm mẹ. Hội Thánh Saddleback đã chấp nhận và công khai một loạt các nguyên tắc nghiêm ngặt trong chức vụ trẻ em để bảo đảm an toàn và chất lượng. Nếu bạn muốn tiếp cận những cặp vợ chồng trẻ, bạn phải có một chương trình hay cho các con của họ.
Chúa Giê-xu dạy các môn đồ phải có chiến lược trong việc truyền giáo. “Kìa, ta sai các ngươi đi khác nào như chiên vào giữa bầy muông sói. Vậy, hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bồ câu” (Mat Mt 10:16). Trong bóng đá, những đội thành công luôn biết cách “phá vỡ hàng phòng ngự.” Khi một đội ra thi đấu, thì tiền đạo luôn nhìn xem đối thủ của mình có đội hình như thế nào. Anh ta cố gắng hình dung trước hoạt động của hàng phòng ngự đối phương và điều gì có thể ngăn anh đưa bóng xuống. Nếu không làm việc này, anh ta thường bị thất bại!
Trong truyền giáo, “phá vỡ hàng phòng ngự” có nghĩa là hiểu và đoán trước những phản đối từ phía những người không tin Chúa trước khi nói chuyện với họ. Nó có nghĩa là tập suy nghĩ như một người chưa tin Chúa.
Điều thú vị nhất trong chuyến khảo sát tại khu vực của tôi là không có một lời than phiền nào liên quan tới thần học. Tôi không gặp một người nào nói rằng, “Tôi không đi nhà thờ vì không tin Chúa.” Tuy nhiên tôi có gặp nhiều người nói rằng, “Tôi tin Chúa, nhưng tôi không thấy Hội Thánh có điều gì tôi cần.” Hầu hết những người không đi nhà thờ không phải là những người vô thần: Họ bị thông tin nhầm, chán nản hay quá bận rộn.
Dựa vào những thông tin tôi thu thập được, chúng tôi viết một bức thư ngỏ cho cộng đồng, gởi thẳng đến những người không đi nhà thờ và thông báo rằng có một chương trình thờ phượng mới đang được tổ chức để giải tỏa những than phiền chung của họ.
Tôi viết bức thư này hoàn toàn bằng đức tin. Khi chúng tôi gởi thư đi, chúng tôi thậm chí chưa tổ chức một buổi thờ phượng nào cả. Bởi đức tin, chúng tôi thông báo trước về loại Hội Thánh chúng tôi đã lựa chọn để thành lập.
Tôi đã xác định đối tượng của chúng tôi trong câu đầu tiên của bức thư bằng cách khẳng định rằng Saddleback là “một Hội Thánh cho những người không đi nhà thờ.” Phần còn lại của bức thư được viết nhằm giới thiệu điều mà những người không đi nhà thờ đang tìm kiếm, không phải để thu hút các Cơ-đốc nhân từ những Hội Thánh khác. Thật ra, mọi bức thư phê phán và nổi giận tôi nhận được từ bức thư đầu tiên đều từ những Cơ-đốc nhân đặt vấn đề tại sao tôi không đề cập tới Chúa Giê-xu hay Kinh Thánh. Một số người thậm chí còn thể hiện sự nghi ngờ về sự cứu rỗi của chính tôi! Họ không hiểu điều chúng tôi đang cố gắng làm.
Nhờ lá thư đó, 205 người đã tham dự buổi thờ phượng đầu tiên của Hội Thánh Saddleback, và trong vòng mười tuần tiếp theo, tám mươi hai người trong số họ đã dâng đời sống mình cho Chúa. Với kết quả đó cũng đáng để bị một vài Cơ-đốc nhân hiểu lầm. Bạn phải quyết định bạn muốn gây ấn tượng cho ai.
Bắt Cá Đúng Cách
Đây là tâm điểm của chiến lược truyền giáo tại Hội Thánh Saddleback: Chúng tôi phải sẵn sàng bắt cá đúng cách. Như tôi đã nói trong minh họa về ba tôi, câu cá thành công thường đòi hỏi phải làm những điều không thoải mái chút nào. Bạn có biết rằng những người câu cá chơi chơi thường không đi xa hơn nữa dặm đường để câu không? Tuy nhiên, những người câu cá nghiêm túc sẽ đi bất kỳ đâu để bắt cá. Đối với Đại Mạng Lệnh, bạn nghiêm túc tới mức độ nào? Hội Thánh của bạn thì sao? Bạn có sẵn lòng đi đến bất kỳ đâu và chịu đủ mọi khó nhọc để chinh phục nhiều người cho Đấng Christ không?
Hiểu và chấp nhận văn hóa của họ
Chúa Giê-xu dạy các môn đồ, “Hễ các ngươi vào thành nào, mà người ta tiếp rước, hãy ăn đồ họ sẽ dọn cho ” (LuLc 10:8, có nhấn mạnh). Khi nói như vầy, Chúa Giê-xu không chỉ khuyên về vấn đề ăn uống, Ngài đang dạy họ phải nhạy cảm với văn hóa địa phương. Ngài phán với họ rằng họ phải thích ứng với những người họ muốn tiếp cận. Họ phải chấp nhận những tập quán và văn hóa địa phương khi nó không vi phạm nguyên tắc Kinh Thánh.
Khi tôi làm giáo sĩ ngắn hạn tại Nhật Bản, tôi đã phải học ăn các món họ dọn ra cho tôi. Tôi không thích mọi thứ tôi đã nếm, nhưng vì yêu thương những người Nhật tôi muốn chinh phục cho Đấng Christ, nên tôi đã chấp nhận cách của họ.
Quá nhiều lần chúng ta để cho những khác biệt văn hóa giữa các tín hữu và những người chưa tin Chúa trở thành rào cản trong việc loan báo sứ điệp. Đối với một số Cơ-đốc nhân, nói về vấn đề “chấp nhận văn hóa” nghe có vẻ giống như thần học tự do (theological liberalism). Đây không phải là một mối lo sợ mới mẻ gì. Thực ra, đây là lý do khiến các sứ đồ tổ chức giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem trong Cong Cv 15:1-41. Vào thời đó, vấn đề chính là, “Các tín nhân ngoại quốc có cần phải tuân theo các phong tục và văn hóa Do Thái mới được xem là Cơ-đốc nhân thật không?” Các sứ đồ và các trưởng lão đã trả lời rõ ràng, “Không!” Từ đó, Cơ-đốc giáo bắt đầu tiếp nhận mọi nền văn hóa mới khi nó được rao truyền khắp thế giới.
Phúc Âm luôn được truyền đạt bằng ngôn ngữ của một nền văn hóa nào đó. Vấn đề duy nhất là cái nào? Không một Hội Thánh nào có thể trung lập về văn hóa. Một Hội Thánh sẽ thể hiện một nền văn hóa nào đó vì đây là một tập hợp những con người với nhau.
Trong 2,000 năm, Cơ-đốc giáo đã hòa mình vào hết nền văn hóa này đến nền văn hóa khác. Nếu chưa hòa nhập được, chúng ta vẫn là một hệ phái của Do Thái giáo! Chúng ta phủ nhận 2,000 năm lịch sử Hội Thánh nếu chúng ta cứ khăng khăng rằng cách thể hiện đức tin theo nền văn hóa của mình là tốt hơn hay đúng Kinh Thánh hơn mọi cách khác.
Tôi đã để ý thấy rằng bất cứ nơi nào tôi đến câu cá, những con cá không tự động nhảy vào thuyền của tôi, hay lao lên bờ nằm chờ tôi đến. Môi trường của chúng (dưới nước) rất khác so với của tôi (không khí). Về phần mình, tôi cần phải nỗ lực để liên hệ với con cá. Bằng cách nào đó, tôi phải biết làm sao để đưa mồi đến ngay trước miệng “con cá” trong môi trường của nó.
Những Hội Thánh nào chờ các thân hữu xuất hiện bằng cách xây một ngôi nhà thờ và treo một tấm bảng “Xin Mời Vào” là những Hội Thánh đang tự lừa dối mình. Người ta không tình nguyện nhảy vào thuyền của bạn đâu. Bạn phải thâm nhập vào môi trường của họ.
Để thâm nhập vào bất kỳ nền văn hóa nào, bạn cần phải sẵn sàng nhượng bộ một ít trong vấn đề phong cách hầu cho được lắng nghe. Chẳng hạn, Hội Thánh chúng tôi đã chấp nhận phong cách tự nhiên, gần gũi và lối ăn mặc của cộng đồng miền Nam California. Vì ở cách bờ biển có vài dặm và thời tiết thì nắng ấm, ôn hòa quanh năm, nên người dân cũng không ăn mặc cầu kỳ như các vùng khác. Cho nên chúng tôi đã thiết kế những chương trình thờ phượng của mình sao cho thể hiện được phong cách thoải mái đó. Nếu bạn gặp những người mặc áo vest, thắt cà vạt tại Hội Thánh Saddleback, thì hầu như họ là những người khách từ nơi khác tới.
Hãy để đối tượng của bạn quyết định phương pháp tiếp cận
Bắt cá đúng cách có nghĩa là để cho đối tượng của bạn quyết định phương pháp tiếp cận. Khi bạn đi câu cá, bạn có dùng cùng một loại mồi để câu mọi loại cá không? Dĩ nhiên là không. Bạn có dùng cùng một lưỡi câu cho mọi loại cá không? Cũng không. Bạn phải dùng mồi và lưỡi câu nào thích hợp nhất với loại cá bạn muốn bắt.
Phao-lô luôn để cho đối tượng của ông quyết định phương pháp tiếp cận ông sẽ dùng. Ông mô tả chiến lược của mình trong ICo1Cr 9:19-22
“Vả, tôi đối với ai vẫn cũng là được tự do, mà tôi đành phục mọi người, hầu cho tôi được nhiều người hơn. Với người Giu-đa, tôi ở như một người Giu-đa, hầu được những người Giu-đa; với những người dưới quyền luật pháp, (dầu chính tôi chẳng ở dưới quyền luật pháp), tôi cũng ở như kẻ dưới quyền luật pháp, hầu được những người dưới quyền luật pháp; với những người không luật pháp, (dầu đối với Đức Chúa Trời tôi không phải là không luật pháp, vì tôi ở dưới luật pháp của Đấng Christ), song tôi cũng ở như người không luật pháp, hầu được những người không luật pháp. Tôi ở yếu đuối với những người yếu đuối, hầu được những người yếu đuối; tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người, để cứu chuộc được một vài người không cứ cách nào.”
Một số người phê bình cho rằng Phao-lô giống như con tắc kè, rằng ông thể hiện khác nhau đối với từng nhóm khác nhau như vậy là giả hình trong chức vụ. Không đúng đâu. Phao-lô là người có chiến lược. Động cơ của ông là khao khát được nhìn thấy mọi người được cứu rỗi. Tôi rất thích câu Kinh Thánh ICo1Cr 9:22-23 trong bản dịch Living Bible (Diễn Ý-ND): “Phải, dù người đó như thế nào, tôi cũng cố gắng tìm một điểm chung với họ để người đó cho tôi cơ hội nói về Đấng Christ và rồi Đấng Christ sẽ cứu người đó. Tôi làm vậy là để đem Phúc Âm đến cho họ và cũng vì phước hạnh chính tôi nhận được khi thấy họ đến với Đấng Christ” (ND).
Tôi đã từng đọc suốt các sách Phúc Âm để khám phá tiêu chuẩn tiếp cận mà Chúa Giê-xu dùng trong việc truyền giáo. Điều mà tôi học được đó là Ngài không có một tiêu chuẩn nào hết! Ngài không có một phương pháp chuẩn mực nào trong việc làm chứng. Ngài chỉ đơn giản bắt đầu từ chỗ riêng của mỗi người. Khi Ngài gặp người đàn bà bên giếng nước, Ngài nói về nguồn nước sống; khi Ngài ở với những ngư phủ, Ngài nói về việc đánh cá; khi Ngài ở chung với các nông dân, Ngài lại nói về việc gieo hạt.
Bắt đầu với những nhu cầu của những người không đi nhà thờ
Khi Chúa Giê-xu gặp một người, Ngài bắt đầu với những nỗi đau, những nhu cầu và sở thích của họ . Khi Ngài sai các môn đồ đi ra, Ngài cũng dạy họ như vậy: “Hãy chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ. Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không” (Mat Mt 10:8).
Xin lưu ý sự tập trung vào những nhu cầu và những nỗi đau. Khi bạn đang gặp đau đớn, cả về phương diện thuộc thể lẫn tình cảm, bạn không có hứng thú gì về ý nghĩa của những từ Hy Lạp và Hê-bơ-rơ. Bạn muốn được khỏe lại. Chúa Giê-xu luôn luôn đến với dân sự, giải tỏa những nhu cầu và nỗi đau của họ. Khi một người phung đến gần Chúa Giê-xu, Ngài không bắt đầu một bài giảng dài về luật tinh sạch trong Lê-vi ký. Ngài chỉ chữa lành cho người đó! Khi Ngài gặp người bị bệnh, bị quỷ ám, Ngài gặp họ ngay chỗ đau đớn của họ. Ngài không nói, “Ồ, Ta xin lỗi, điều đó không thích hợp cho lịch rao giảng của Ta. Hôm nay chúng ta tiếp tục loạt bài giảng về sách Phục Truyền.”
Nếu Hội Thánh của bạn nghiêm túc trong việc tiếp cận các thân hữu, bạn phải sẵn sàng đối diện với những người có nhiều nan đề. Việc câu cá thường hay dơ bẩn và nặng mùi. Nhiều Hội Thánh muốn những con cá họ bắt phải được đánh vảy, mổ bụng, rửa sạch và nấu xong. Đó là lý do tại sao họ không câu được con nào.
Hãy hiểu và thông cảm với những khó chịu của những người không đi nhà thờ
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi rất nghiêm túc đối diện với những khó chịu của những người không đi nhà thờ, ngay cả khi chúng xuất phát từ sự không biết. Những người không đi nhà thờ thường khó chịu về các Hội Thánh cứ hỏi họ về vấn đề tiền bạc, những Hội Thánh cứ dùng mặc cảm tội lỗi hay sự sợ hãi để thúc giục, những Hội Thánh muốn họ phải tham dự mọi chương trình Hội Thánh tổ chức, và các Hội Thánh mời những người khách đứng lên tự giới thiệu.
Chiến lược của chúng tôi là giải quyết những khó chịu đó càng nhanh càng tốt. Chẳng hạn trong cuộc nghiên cứu về những người không đi nhà thờ của chúng tôi, chúng tôi khám phá rằng những cái mác hệ phái đã mang tới nhiều suy nghĩ tiêu cực cho những người không đi nhà thờ ở miền Nam California. Điều này khiến chúng tôi quyết định chọn một cái tên trung lập “Hội Thánh Saddleback.”
Tôi không hề xấu hổ gì về di sản Báp-tít Miền Nam của tôi, và chúng tôi giải thích rất rõ ràng trong lớp thành viên của mình rằng Hội Thánh Saddleback chấp nhận giáo lý và tài chánh của Hội Đồng Báp-tít Miền Nam. Nhưng khi chúng tôi hỏi những người không đi nhà thờ tại miền Nam California rằng, “Cái tên Báp-tít Miền Nam có ý nghĩa gì đối với bạn không?” Tôi thật ngạc nhiên trước những quan niệm sai lầm trong cả khu vực. Nhiều người không tin Chúa, đặc biệt những người gốc Công Giáo, nói với tôi rằng họ sẽ không bao giờ nghĩ tới chuyện ghé thăm một hội chúng Báp-tít Miền Nam.
Điều này đưa đến cho tôi hai lựa chọn: Tôi có thể dành nhiều năm dạy lại cho cả cộng đồng của mình rằng Hội Đồng Báp-tít Miền Nam đại diện cho điều gì trước khi tôi mời họ đến thăm Hội Thánh của chúng tôi, hoặc tôi có thể xóa bỏ những quan niệm sai lầm đó sau khi họ tiếp nhận Đấng Christ. Chúng tôi đã chọn giải pháp thứ hai.
Tôi có bị phê bình vì giải pháp của mình không? Bạn nghĩ sao? Một số người dân có thiện chí đã cáo buộc tôi đủ mọi loại dị giáo thần học và hoàn toàn sai lầm, nhưng dù sao đi nữa họ cũng không phải là đối tượng của tôi. Tôi không cố gắng thu hút các Cơ-đốc nhân hay nhắm mục tiêu vào những người Báp-tít khác. Một số những người này đã trở thành bạn tôi khi họ hiểu được chúng tôi đang cố gắng tiếp cận ai. Lựa chọn một cái tên trung lập là một chiến lược truyền giáo, không phải là sự thỏa hiệp thần học.
Năm 1988, một cuộc thăm dò dư luận của viện Gallup đã cho biết rằng 33 phần trăm những người Tin Lành có chuyển hệ phái trong suốt cuộc đời mình. Tôi tin chắc rằng ngày nay con số đó lớn hơn nhiều. Rõ ràng thế hệ này có rất ít lòng trung thành với “nhãn mác” bên ngoài. Đối với hầu hết mọi người, giá trị có sức lôi kéo mạnh hơn. Có rất ít người lựa chọn một Hội Thánh trên nền tảng danh xưng của một hệ phái. Người ta lựa chọn Hội Thánh nào đáp ứng tốt nhất những nhu cầu của họ.
Hãy thay đổi các phương pháp bất cứ khi nào cần thiết
Nếu bạn đã từng đi câu cá cả ngày, bạn biết rằng đôi lúc bạn phải thay con mồi. Dường như đến chiều thì những con cá không còn quan tâm tới loại mồi mà chúng đã ăn hồi sáng nữa. Vấn đề của nhiều Hội Thánh ngày nay là họ vẫn cố dùng con mồi và những lưỡi câu của những năm 50 trong thập kỷ 90 này-và những con cá không thèm ăn nữa. Kẻ thù lớn nhất ngăn trở sự thành công tương lai của chúng ta thường là sự thành công trong quá khứ.
Hãy Dùng Nhiều Lưỡi Câu
Khi tôi lớn lên, việc dùng nhiều lưỡi câu được gọi là “câu nhiều lưỡi.” Tức là gắn nhiều lưỡi câu vào một sợi dây câu mà thôi. Quan niệm ở đây là bạn càng bỏ nhiều lưỡi câu xuống nước, thì bạn càng có cơ hội bắt được nhiều cá.
Nhờ vào những tiến bộ kỹ thuật, người dân tại Mỹ ngày nay có nhiều lựa chọn hơn trước. Trước đây chỉ có khoảng ba mạng lưới truyền hình, thì đến nay tôi có thể bắt hơn năm mươi đài, và nếu dùng cáp quang thì còn bắt được nhiều gấp ba lần như thế. Trước đây thì chỉ có một loại nước Coke®; bây giờ có nước Coke® cho người ăn kiêng, nước Coke® hương dâu, nước Classic Coke®, nước Coke® hương dâu cho người ăn kiêng, nước Coke® không cà phê cho người ăn kiêng v.v…
Năm ngoái, tôi được xem trên tivi một tài liệu về những lựa chọn sẵn có cho người tiêu dùng. Tài liệu đó tính rằng mỗi tuần có khoảng 200 món hàng tạp hóa mới xuất hiện ở chợ, và mỗi năm có 300 tạp chí mới được xuất bản. Riêng tập đoàn Levi thôi đã có 70,000 loại sản phẩm đủ các kích cỡ, hình dạng, chủng loại và chất liệu. Chúng ta sống trong một thế giới nhiều lựa chọn.
Những thay đổi này đã làm sản sinh một thế hệ luôn muốn có nhiều lựa chọn trong mỗi khu vực. Không may là khi đụng tới vấn đề các buổi thờ phượng, đa số Hội Thánh chỉ có hai lựa chọn: Dự nhóm hoặc bỏ về! Nếu bạn không thể dự nhóm lúc 11 giờ sáng, bạn đã mất cơ hội.
Cung cấp nhiều hình thức thờ phượng khác nhau không phải là thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng. Nó thuộc về chiến lược và vô kỷ đồng thời nó nói rằng chúng ta sẽ làm mọi điều cần thiết để tiếp cận nhiều người hơn nữa cho Đấng Christ. Mục tiêu là phải làm sao cho các thân hữu càng dễ dàng trong việc nghe về Chúa bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.
Những Hội Thánh đang tăng trưởng thường có nhiều chương trình khác nhau, nhiều buổi thờ phượng, và thậm chí có nhiều điểm nhóm nữa. Họ nhận thức được rằng cần phải có đủ loại phương pháp để tiếp cận đủ mọi hạng người. Jerry Falwell gọi nó là “truyền giáo tập trung”: dùng mọi phương tiện sẵn có để tiếp cận mọi người có thể được vào bất cứ thời điểm nào.
Tại sao chúng ta thường chỉ câu bằng một lưỡi câu? Tại sao đa số Hội Thánh có ít hoặc không có một chương trình tiếp cận nào? Tôi tin rằng đó là do chúng ta đã hỏi sai câu hỏi. Thường thì câu hỏi đầu tiên được đặt ra là, “Tốn bao nhiêu tiền?” Câu hỏi đúng phải là, “Chúng ta sẽ đến với ai?” Một linh hồn đáng giá bao nhiêu? Chẳng đáng để chúng ta bỏ ra năm trăm đô-la cho một mẫu quảng cáo trên báo dù chỉ để chinh phục được một người chưa tin Chúa sao?
Tiếp Cận Cộng Đồng Cũng Có Cái Giá Của Nó
Nếu Hội Thánh của bạn nghiêm túc trong chuyện phát triển một chiến lược truyền giáo sâu rộng, thì cần phải có tiền. Tôi muốn kết thúc chương này với một số ý tưởng về vấn đề tài chính cho chiến lược của bạn.
Trước hết, tiền bạn dành cho vấn đề truyền giáo không phải là chi tiêu mà luôn là đầu tư. Những người bạn chinh phục được đáng giá hơn mọi số tiền bạn đầu tư để tiếp cận họ. Trước khi chúng tôi tổ chức buổi thờ phượng đầu tiên của Hội Thánh Saddleback, mọi người trong nhóm học Kinh Thánh nhỏ bé của chúng tôi phải nợ $6,500 trong việc chuẩn bị cho buổi thờ phượng. Chúng tôi lấy số tiền đó ở đâu? Chúng tôi đã sử dụng những thẻ tín dụng cá nhân của mình! Chúng tôi tin rằng phần dâng hiến của những người chúng tôi đã tiếp cận vì cớ Đấng Christ cuối cùng cũng sẽ trả lại cho chúng tôi hết thảy.
Một trong những phép lạ trong buổi thờ phượng thử của chúng tôi là có một người đàn ông không tham dự nhóm học Kinh Thánh của chúng tôi, nhưng đã có mặt tại buổi thờ phượng đó, và đã trao tấm séc một ngàn đô-la khi chúng tôi lấy tiền dâng. Sau buổi thờ phượng, quý bà chịu trách nhiệm kiểm tiền dâng đã đến, đưa cho tôi tấm séc và nói, “Bắt đầu có kết quả rồi!” Chắc chắn vậy, chúng tôi đã trả đủ tiền cho mọi người trong vòng bốn tháng. Xin lưu ý: tôi không cổ vũ Hội Thánh của bạn dùng thẻ tín dụng để trang trải các vấn đề tài chánh. Tôi chỉ đang minh họa cách chúng tôi sẵn sàng trả giá để chinh phục nhiều người cho Đấng Christ.
Khi một Hội Thánh gặp vấn đề tài chánh eo hẹp, ngân quỹ đầu tiên bị cắt đi thường là truyền giáo và quảng bá. Đó là khoản cuối cùng bạn nên cắt. Đó là nguồn gốc sự sống mới trong Hội Thánh bạn.
Điều thứ hai khi nghĩ về vấn đề tài chánh của Hội Thánh, chúng ta phải nhận thức rằng dân sự dâng hiến cho khải tượng chứ không phải nhu cần. Nếu nhu cầu thúc đẩy dân sự dâng hiến, chắc mỗi Hội Thánh sẽ có nhiều tiền lắm. Những nhu cầu có cần nhất không thu hút sự dâng hiến, mà chính là khải tượng lớn nhất. Những Hội Thánh nào đang tận dụng mọi điều họ có là những Hội Thánh thu hút nguồn dâng hiến nhiều nhất. Đó là lý do tại sao Chúa Giê-xu phán, “Ta nói cùng các ngươi, ai có, thì sẽ cho thêm; song ai không có, thì sẽ cất luôn của họ đã có nữa” (LuLc 19:26).
Nếu Hội Thánh của bạn liên tục thiếu tiền mặt, hãy kiểm tra lại khải tượng của bạn. Nó có rõ ràng không? Nó có được truyền đạt cách hiệu quả không? Tiền sẽ đến cùng với những ý tưởng Chúa ban, và được Thánh Linh hà hơi. Các Hội Thánh gặp phải vấn đề tiền bạc thường là các Hội Thánh thực sự gặp vấn đề khải tượng.
Thứ ba, khi bạn dùng một xu, một cắc cho việc truyền giáo, bạn sẽ nhận lại cũng một xu và một cắc. Trong Mat Mt 17:1-27, Chúa Giê-xu bảo Phi-e-rơ đi kiếm tiền trong miệng một con cá để đóng thuế cho người La-mã. Câu 27 chép rằng Chúa Giê-xu phán với Phi-e-rơ, “Ngươi hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá nào dính câu trước hết, banh miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc ở trong. Hãy lấy đồng bạc đó, và đem nộp thuế cho ta với ngươi.” Tôi tin rằng có một bài học quan trọng trong câu chuyện này: Những đồng tiền luôn ở trong miệng các con cá. Nếu bạn tập trung vào việc đánh cá (truyền giáo), Đức Chúa Trời sẽ thanh toán các hóa đơn cho bạn.
Cuối cùng, xin hãy nhớ câu khẩu hiệu nổi tiếng của một chiến lược gia truyền giáo, Hudson Taylor: “Công việc Chúa được làm theo cách của Chúa sẽ không thiếu sự giúp đỡ của Chúa.”
Câu Cá Là Một Công Việc Nghiêm Túc
Tôi rất thích hình ảnh ẩn dụ của Chúa Giê-xu về việc truyền giáo, đó là “câu cá,” nhưng tôi có một điều lo lắng như vầy: Câu cá chỉ là một thú vui của đa số người, là một điều gì đó họ chỉ làm trong lúc rỗi rãi. Không ai xem việc câu cá là trách nhiệm. Nhưng câu cá người là một công việc nghiêm túc. Đó không chỉ là thú vui của các Cơ-đốc nhân; nó là lối sống của chúng ta!

THU HÚT MỘT ĐÁM ĐÔNG
Chương 12: Chúa Giê-xu Đã Thu Hút Những Đám Đông Như Thế Nào
“Thiên hạ kéo nhau rất đông mà theo Ngài .”
Mat Mt 4:25
“Đoàn dân đông vui lòng mà nghe Ngài .”
Mac Mc 12:37
Một trong những đặc điểm nổi bật trong chức vụ của Chúa Giê-xu là Ngài thu hút nhiều đám đông, những đám đông lớn, những đám đông khổng lồ . Bản Dịch Cũ dùng từ “đoàn dân đông.” Chúa Giê-xu đã thu hút những đám đông lớn đến độ Ngài bị họ lấn ép tứ phía (LuLc 8:42). Những người tìm kiếm thích được nghe Ngài nói và đi tới nơi nào Ngài tới ngay cả khi phải đi xa. Khi Chúa Giê-xu cho 5,000 người ăn, con số đó chỉ tính đàn ông thôi (Mat Mt 14:21). Khi bạn cộng thêm cả những người phụ nữ và con nít có mặt ở đó, thì hẳn số người sẽ là khoảng 15,000! Chức vụ của Chúa Giê-xu thật sự thu hút người ta.
Một chức vụ giống Đấng Christ cũng thu hút các đám đông. Bạn không cần phải quảng cáo hay thỏa hiệp với niềm tin của mình để tập hợp một đám đông. Bạn không cần phải làm giảm sứ điệp của mình. Tôi thậm chí khám phá ra rằng bạn không cần phải có nhà thờ mới thu hút được một đám đông! Nhưng bạn phải phục vụ theo cách Đức Chúa Giê-xu đã phục vụ dân sự.
Điều gì thu hút những đám đông lớn trong chức vụ của Chúa Giê-xu? Chúa Giê-xu đã làm ba điều với đám đông: Ngài yêu họ (9:36, và các phân đoạn khác), Ngài đáp ứng các nhu cầu của họ (15:30; LuLc 6:17-18; GiGa 6:2, và các phân đoạn khác), và Ngài dạy dỗ họ cách thực tế, thú vị (Mat Mt 13:34; Mac Mc 10:1; 12:37, và các phân đoạn khác). Ba yếu tố này cũng khiến thu hút các đám đông thời nay.
Chúa Giê-xu Đã Thu Hút Các Đám Đông Bằng Cách Yêu Thương Tội Nhân
Chúa Giê-xu yêu thương những người hư mất và Ngài rất thích giành thời gian ở với họ. Qua các sách Phúc Âm, chúng ta biết rõ rằng Chúa Giê-xu thích ở với những người tìm kiếm hơn là ở với những nhà lãnh đạo tôn giáo. Ngài đến các bữa tiệc của họ và được gọi là “bạn với… kẻ có tội” (LuLc 7:34). Có bao nhiêu người sẽ gọi bạn như vậy?
Dân sự có thể nhận thấy rằng Ngài thích ở với họ. Ngay cả những đứa trẻ cũng muốn ở cạnh Ngài, điều đó cho thấy Ngài là người như thế nào. Trẻ con theo bản năng thường hướng về những người yêu thương, dễ gần gũi.
Yêu những người chưa tin như Chúa đã yêu
Yêu thương những người chưa tin Chúa theo cách Chúa đã yêu là chiếc chìa khóa tăng trưởng Hội Thánh hay bị xem thường nhất. Không có lòng thương xót của Ngài đối với tội nhân, chúng ta không sẵn sàng hy sinh những điều cần thiết để tiếp cận họ.
Mạng lệnh yêu là mạng lệnh được lập lại nhiều nhất trong Thánh Kinh Tân Ước, nó xuất hiện ít nhất năm mươi lăm lần. Nếu chúng ta không yêu thương người khác, thì mọi việc khác chẳng có ý nghĩa gì cả. “Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương” (IGi1Ga 4:8). Khi tôi hỏi một tân tín hữu tôi làm báp-tem rằng điều gì thu hút họ đến với Hội Thánh chúng tôi, tôi chưa từng nghe có ai trả lời rằng, “Đó là do ông tin vào nền thần học Cải Chánh (Reformation theology)” hay “Vì ngôi nhà thờ của ông đẹp quá” hoặc “Vì ông tổ chức nhiều hoạt động trong Hội Thánh.” Trái lại, câu trả lời thông thường là, “Vì tôi cảm nhận một tinh thần yêu thương lẫn nhau trong Hội Thánh, chính đó là điều lôi kéo tôi vào.”
Xin lưu ý trọng tâm của câu nói đó. Tình yêu thương của các thành viên chúng tôi hướng về những người mới đến, chứ không chỉ hướng về nhau. Tôi biết có nhiều Hội Thánh mà các thành viên yêu thương lẫn nhau ; và họ có một mối thông công bền chặt, nhưng Hội Thánh vẫn đang chết dần vì mọi sự yêu thương đều hướng vào trong. Mối thông công trong những Hội Thánh này trở nên quá bền chặt đến độ những người mới không thể gia nhập vào. Họ không thu hút những người chưa tin Chúa vì họ không yêu thương những người này.
Dĩ nhiên, mỗi hội chúng đều nghĩ rằng Hội Thánh của họ đầy sự yêu thương. Đó là vì những người nghĩ rằng Hội Thánh này không có sự yêu thương lại không có mặt tại đó! Hãy hỏi các thành viên tiêu biểu, và họ sẽ nói, “Hội Thánh chúng tôi rất thân thiện và đầy tình yêu thương.” Ý của họ thường là, “Chúng tôi yêu thương lẫn nhau. Chúng tôi thân thiện và yêu thương những người đã gia nhập rồi .” Họ yêu người nào họ thấy dễ chịu, nhưng mối thông công ấm áp đó không tự động biến thành tình yêu thương dành cho những người chưa tin Chúa và những vị khách.
Một số Hội Thánh cho rằng sự thiếu một đám đông của họ là bằng chứng chứng tỏ họ đúng Kinh Thánh, chính thống hay đầy dẫy Thánh Linh. Họ biện hộ rằng kích thước nhỏ bé của họ chứng tỏ rằng họ là một Hội Thánh thuần khiết, rằng họ không thỏa hiệp những niềm tin của mình. Điều đó cũng có thể có nghĩa là họ không yêu thương những người hư mất đủ để tiếp cận họ. Lý do thật khiến nhiều Hội Thánh không có một đám đông là vì họ không muốn! Họ không thích quan hệ với những người chưa tin Chúa và cảm thấy rằng thu hút một đám đông sẽ phá rối lối mòn thoải mái của họ. Sự ích kỷ này đã ngăn trở nhiều Hội Thánh tăng trưởng.
Nhiều năm trước, Dean Kelly công bố một cuộc nghiên cứu cho thấy rằng các Hội Thánh tăng trưởng vì họ giữ gìn giáo lý; họ biết điều họ tin và không hề xấu hổ vì nó. Tôi tin rằng Kelly chỉ đúng phân nửa. Có rất nhiều Hội Thánh tin Kinh Thánh đang chết dần chết mòn. Các Hội Thánh đang tăng trưởng là những Hội Thánh giữ vững niềm tin đồng thời yêu thương những người ở ngoài. Win Arn đã thực hiện một cuộc nghiên cứu toàn diện xác nhận sự thật này: Những Hội Thánh vĩ đại đều được xây dựng trên tình yêu thương-yêu Chúa, yêu nhau, và yêu những người chưa tin Chúa.
Một trong những lý do chính thúc đẩy sự tăng trưởng của Hội Thánh Saddleback là chúng tôi yêu thương những người mới. Chúng tôi yêu những vị khách của mình. Chúng tôi yêu thương những người hư mất. Trong mười lăm năm, tôi đã quan sát các thành viên của mình thể hiện tình yêu thương đó bằng những cách thực tế: chuẩn bị ghế trống và các trang thiết bị cho lớp Trường Chúa Nhật, duy trì bảy mươi chín địa điểm khác nhau để giữ Hội Thánh tăng trưởng và tiếp cận nhiều người hơn, đậu xe ở chỗ khác để dành sân đậu xe của nhà thờ cho những người khách, đứng ở phía sau để các vị khách có chỗ ngồi, và thậm chí cho họ mượn áo khoác vào những ngày trời lạnh khi đang nhóm trong lều.
Quan niệm cho rằng những Hội Thánh lớn thường lạnh lẽo và không gần gũi còn những Hội Thánh nhỏ thường ấm cúng và nhiều tình yêu thương hơn là một quan niệm sai lầm. Kích cỡ chẳng có liên hệ gì tới tình yêu thương hay sự thân thiện. Nguyên nhân khiến các Hội Thánh cứ nhỏ hoài là vì họ không yêu thương. Tình yêu thương lôi kéo người ta đến giống như lực hút nam châm. Sự thiếu tình yêu thương sẽ xua đuổi người ta đi.
Tạo một bầu không khí chấp nhận
Cây trồng cần một khí hậu thuận lợi để lớn lên và các Hội Thánh cũng vậy. Môi trường thích hợp cho sự tăng trưởng Hội Thánh là một bầu không khí chấp nhận và yêu thương. Những Hội Thánh đang tăng trưởng luôn có lòng yêu thương; những Hội Thánh yêu thương thì luôn tăng trưởng. Mọi sự dường như quá rõ ràng, vậy mà nó cứ hay bị xem thường: Để Hội Thánh của bạn tăng trưởng, bạn cần phải tử tế với mọi người khi họ đến!
Trong cuộc nghiên cứu những người không đi nhà thờ mà tôi thực hiện trước khi tới Saddleback, lời than phiền phổ biến hàng thứ hai là “Các thành viên trong Hội Thánh không thân thiện với những người khách. Chúng tôi thấy mình không thích hợp.” Trước khi mục sư lên giảng, các vị khách đã quyết định họ sẽ quay trở lại hay không. Họ tự hỏi mình, “Tôi có được chào mừng ở đây không?”
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi nỗ lực hết mình để giải tỏa sự than phiền này. Chúng tôi đã thông qua một chiến lược tạo bầu không khí yêu thương và chấp nhận để những vị khách có thể cảm nhận được. Chúng tôi đánh giá sự hiệu quả của nó hằng tuần bằng cách hỏi những vị khách lần đầu tiên đến dự những ý kiến thẳng thắn, khách quan của họ về Hội Thánh chúng tôi.
Khi chúng tôi gởi cho từng vị khách đến với chúng tôi lần đầu tiên một bức thư “Cám ơn vì anh/chị đã đến với chúng tôi,” chúng tôi cũng gởi kèm một cấm card dán tem sẵn: “Ấn Tượng Đầu Tiên Của Tôi.” Tấm card đó viết: “Hội Thánh chúng tôi muốn phục vụ bạn tốt hơn, vậy bạn vui lòng cho chúng tôi xin ý kiến của bạn chứ?” Chỉ có ba câu hỏi trên cấm card này: “Điều đầu tiên bạn chú ý là gì?” “Bạn thích điều gì nhất?” “Bạn không thích điều gì nhất?” Bây giờ chúng tôi đã nhận được hàng ngàn tấm card này, gần 90 phần trăm trả lời câu hỏi thứ nhất, nói cách này hay cách khác, nhưng đại ý là: “Tôi chú ý tới sự ấm cúng và thân thiện của mọi người.” Câu trả lời đó không phải là tình cờ. Đó là kết quả của một chiến lược có chủ ý hẳn hoi nhằm thể hiện tình yêu thương cho các vị khách theo cách mà họ có thể hiểu được.
Để tạo ấn tượng cho một vị khách, tình yêu thương phải được thể hiện một cách thực tế. Ngay cả khi Hội Thánh thực sự có tình cảm với các thân hữu, thì tình cảm đó không phải lúc nào cũng được thể hiện theo cách mà họ có thể hiểu được. Chúng ta phải chủ tâm hành động theo cách thể hiện cụ thể tình yêu thương của mình dành cho các vị khách và cho những người chưa biết Chúa. Tình yêu thương không chỉ là một cảm xúc; nó là một hành vi. Nó có nghĩa là nhạy cảm với những nhu cầu của người khác và đặt họ lên trước mình. Trong chương kế tiếp, tôi sẽ gợi ý một số phương cách thực tế chúng tôi đã thực hiện tại Hội Thánh Saddleback.
Mục sư phải yêu thương
Mục sư của một Hội Thánh phải tạo nên bầu không khí yêu thương trong hội chúng. Nếu bạn là một mục sư và muốn biết mức độ ấm cúng trong Hội Thánh, hãy đặt một nhiệt kế trong miệng của bạn. Tôi có tới thăm một vài Hội Thánh mà tại đó, sự thiếu yêu thương của mục sư chính là nguyên nhân khiến Hội Thánh không tăng trưởng. Một số mục sư, với thái độ lạnh lùng và thiếu nhiệt tình của họ, đã khiến cho các vị khách không quay trở lại nữa. Và trong một số Hội Thánh lớn, tôi có cảm giác như vị mục sư yêu quý cử tọa mà lại không thích người ngoài.
Tôi thường nghe nhiều mục sư hồ hởi thừa nhận rằng, “Tôi thích giảng lắm!” Điều đó chẳng gây cho tôi chút ấn tượng nào. Điều đó dường như chỉ có nghĩa là họ thích cảm giác được người khác chú ý khi đứng trước đám đông. Điều tôi muốn hỏi những mục sư này là: Ông có yêu thương những người nghe ông giảng không? Đó là vấn đề rất quan trọng. Kinh Thánh chép, “Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng” (ICo1Cr 13:1). Trong quan điểm của Đức Chúa Trời, rao giảng thật hay mà không có tình yêu thương cũng chỉ là những tiếng ồn ào mà thôi.
Mỗi lần tôi giảng trong buổi thờ phượng chung tại Hội Thánh Saddleback, tôi liên tục nhắc nhở chính mình. Tôi không bao giờ giảng hay dạy mà không nghĩ rằng:
Lạy Cha, con yêu Ngài và Ngài yêu con. Con yêu các anh chị em con, và Ngài cũng vậy. Xin hãy yêu thương họ qua con.
Đây không phải là những khán giả để mình phải lo sợ, mà là một gia đình để mình yêu thương.
Không có sự sợ hãi trong tình yêu; tình yêu trọn vẹn xua tan mọi sợ hãi.
Roger Ailes, cố vấn truyền thông của tổng thống Reagan và tổng thống Bush, tin rằng nhân tố tác động quan trọng nhất khi nói chuyện trước công chúng là “sự đáng yêu.” Nếu mọi người thích bạn, họ sẽ lắng nghe. Nếu họ không thích bạn, họ sẽ bỏ ngoài tai hay coi rẻ sứ điệp của bạn. Làm thế nào để trở nên đáng yêu? Rất đơn giản: Hãy yêu người . Khi người ta biết rằng bạn yêu thương họ, họ sẽ lắng nghe bạn.
Tôi xin gợi ý vài cách thực tế mà các mục sư có thể dùng để thể hiện tình yêu của mình cho đám đông.
Nhớ tên . Việc nhớ tên cho thấy rằng bạn lưu tâm tới đồng bào. Không có gì ngọt ngào đối với một người khách đến thăm lần thứ hai hơn là được nghe bạn gọi bằng chính tên của họ. Vì tôi không có một trí nhớ đặc biệt tốt, tôi phải cố gắng rất nhiều để nhớ tên. Trong những năm đầu của Hội Thánh Saddleback, tôi lấy ảnh của nhiều người làm thẻ ghi chú để giúp tôi nhớ tên của họ. Tôi nhớ tên từng người trong Hội Thánh khi số dự nhóm gia tăng đến 3,000. Sau đó thì tôi hết nhớ nổi nữa! Tôi yêu cầu các thành viên mới trong lớp thành viên nhắc tên của họ vào ba dịp khác nhau để tôi có thể nhớ. Khi bạn cố gắng ghi nhớ tên mọi người, bạn sẽ được lợi rất nhiều trong các mối quan hệ.
Đích thân chào hỏi mọi người trước và sau các giờ thờ phượng . Hãy trở nên dễ tiếp xúc. Đừng trốn đằng sau việc nghiên cứu của bạn. Trong ba năm đầu của Hội Thánh Saddleback, chúng tôi nhóm lại trong một trường trung học có hàng rào xung quanh nên mọi người đều phải ra vào bằng một cổng. Mỗi tuần, đích thân tôi đứng đó chào hỏi mọi người đến nhóm với chúng tôi. Họ không thể đi ra mà không gặp tôi!
Một trong những cách tốt nhất để làm sôi động một đám đông là gặp gỡ càng nhiều người càng tốt trước khi bạn nói chuyện với họ. Hãy đi vào giữa đám đông và nói chuyện với họ. Điều đó chứng tỏ rằng bạn chú ý tới mọi người.
Nhiều mục sư thích tập trung các nhân sự hay những người lãnh đạo nòng cốt trong Hội Thánh của mình vào một phòng riêng để cầu nguyện trước giờ thờ phượng trong lúc mọi người đang đi vào. Tôi tin rằng bạn phải cầu nguyện cho buổi thờ phượng của mình vào một thì giờ khác. Đừng bỏ lỡ một cơ hội nào để ở với dân chúng.
Tôi có một đội cầu nguyện luôn cầu nguyện cho tôi suốt mỗi bốn chương trình thờ phượng của chúng tôi, và tôi cũng dành thêm thời gian để cầu nguyện cho các chương trình thờ phượng hằng tuần. Các nhân sự của chúng tôi cũng cầu nguyện với nhau. Nhưng chúng tôi không có những “Cuộc Họp Thánh” trước các buổi thờ phượng. Mỗi tuần chúng tôi chỉ có một lần để gặp gỡ nhiều người trong đám đông của mình, nên khi họ đến, tôi muốn mỗi nhân sự và mỗi lãnh đạo nòng cốt của chúng tôi ra chào đón dân chúng.
Hãy chạm đến dân sự . Hãy nghiên cứu chức vụ của Chúa Giê-xu và bạn sẽ thấy tác dụng đầy quyền năng của việc dành cho dân sự một cái nhìn, một lời nói, và chạm vào người họ. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi tin vào một chức vụ “đụng chạm.” Chúng tôi hay ôm nhau, bắt tay và vỗ vai nhau. Thế giới của chúng ta đầy những người cô đơn, đang đói khát một sự rờ chạm yêu thương. Nhiều người sống một mình đã nói với tôi rằng sự đụng chạm yêu thương duy nhất mà họ nhận được là tại Hội Thánh. Khi tôi ôm một ai đó trong buổi sáng Chúa Nhật, tôi thường tự hỏi cái ôm đó sẽ ở trong lòng người ấy bao lâu.
Gần đây tôi có nhận được một ghi chú này trên tấm card đăng ký: “Mục sư Rick, tôi không thể tả xiết cảm nhận của mình khi ông choàng tay ôm tôi một cách rất tự nhiên. Tôi cảm thấy như thể Chúa Giê-xu đang ôm tôi với sự dịu dàng và chan chứa tình thương. Bây giờ tôi biết rằng mình sẽ vượt qua thời điểm đáng sợ này, và tôi biết Ngài đã đem ông đến để giúp đỡ tôi. Thật là tuyệt vời khi tôi nhìn thấy sự quan tâm và tình yêu thương trong Hội Thánh này. Xin cám ơn ông.” Tôi không hề nghĩ gì khi tôi ôm người phụ nữ này, bà sẽ phải phẫu thuật ung thư vú vào ngày hôm sau.
Cũng trong tuần đó, tôi nhận được một ghi chú khác, “Tôi đã cầu xin Đức Chúa Trời cho tôi một dấu hiệu tích cực rằng Ngài ở với tôi. Trước buổi thờ phượng, mục sư Glen, người tôi chưa từng gặp bao giờ, đã bước đến chỗ tôi ngồi, ông không nói lời nào, chỉ đặt bàn tay của ông lên vai tôi thôi. Bây giờ tôi biết rằng Đức Chúa Trời không hề quên tôi.” Vợ của người đàn ông này đã bỏ anh ngay trong tuần lễ đó.
Vào các kỳ cuối tuần, khi một ai khác trong nhóm giảng dạy của chúng tôi đang giảng, tôi thường dành trọn thời gian đó để thăm hỏi, nhìn ngắm và chạm đến hàng trăm người. Bạn sẽ không bao giờ biết được một lời nói dịu dàng, một sự rờ chạm quan tâm sẽ tạo nên cả một khác biệt lớn cho người khác như thế nào. Đằng sau mỗi nụ cười là một niềm đau kín giấu mà chỉ cần một sự thể hiện tình yêu thương đơn giản thôi cũng có thể chữa lành.
Hãy dùng phong cách ấm áp , thân mật khi viết thư cho những người khách . Chúng tôi có một loạt các bức thư tôi đã viết cho những người khách đến với chúng tôi lần thứ nhất, thứ hai và thứ ba, nói với họ rằng chúng tôi đã vui như thế nào khi gặp họ. Tôi không hề ký “Tiến sĩ Warren” hay thậm chí “Mục sư Warren,” tôi chỉ ký “Rick.” Tôi muốn các vị khách cảm thấy rằng họ có thể trò chuyện với tôi bằng tên riêng.
Nếu bạn gởi một bức thư cho các vị khách, hãy viết như thể bạn nói chuyện với dân sự, không cần phải dùng ngôn từ trang trọng, cứng nhắc. Tôi từng nhận một bức thư cho những người khách mà được viết như sau: “Hội Thánh chúng tôi tỏ lòng biết ơn bạn đã hiện diện với chúng tôi vào Chúa Nhật tuần rồi và chúng tôi xin trân trọng mời bạn tiếp tục đến với chúng tôi vào Chúa Nhật này.” Có ai lại nói như vậy không? Thay vào đó, hãy nói như sau: “Thật vui khi được đón tiếp bạn. Hy vọng bạn có thể trở lại với chúng tôi.” Đừng viết như thể bạn đang gởi cho Hoàng Gia Anh.
Một điều quan trọng nhất mỗi mục sư phải lựa chọn đó là quyết định xem mình muốn gây ấn tượng cho dân sự hay ảnh hưởng họ. Bạn có thể tạo ấn tượng cho dân sự từ xa, nhưng bạn phải lại gần họ mới yêu thương và ảnh hưởng họ được. Sự gần gũi tạo nên ấn tượng. Tôi nghĩ rằng lý do khiến một số mục sư giữ khoảng cách với dân sự là vì họ không tạo được một ấn tượng nào về sự gần gũi.
Nếu một Hội Thánh muốn thu hút một đám đông, cả vị mục sư lẫn các thành viên phải thể hiện tình yêu thương đối với những người ngoài. Bạn cần phải có thái độ, “Nếu bạn đến đây, chúng tôi sẽ yêu thương bạn. Dù bạn là ai, bạn như thế nào, hay bạn đã làm gì, bạn vẫn sẽ được yêu thương ngay trong nơi này.”
Chấp nhận chứ không phải chấp thuận
Để yêu thương những người chưa tin Chúa một cách vô điều kiện, dân sự phải hiểu sự khác biệt giữa chấp nhận và chấp thuận. Là các Cơ-đốc nhân, chúng ta được kêu gọi để chấp nhận và yêu thương những người chưa tin Chúa mà không chấp thuận những lối sống tội lỗi của họ. Chúa Giê-xu đã làm như vậy khi Ngài thể hiện sự chấp nhận và yêu thương đối với người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng nước mà không hề chấp thuận lối sống phóng túng của bà. Ngài cũng đã ngồi ăn với Xa-chê mà không chấp thuận sự giả dối của ông. Và Ngài công khai bảo vệ chân giá trị của người đàn bà phạm tội tà dâm mà không hề xem nhẹ tội lỗi của bà.
Bất kỳ người câu cá nào cũng biết rằng có đôi lúc để kéo cá lên, đặc biệt là một con cá khỏe, bạn phải thả lỏng dây một chút. Nếu bạn cứ kéo căng dây, con cá có thể giãy, làm đứt dây của bạn, thậm chí gãy cả cần câu. Bạn phải làm việc với con cá, phải để cho nó bơi theo đường của nó một lúc. Đối với việc chinh phục tội nhân cũng vậy: Đôi lúc bạn phải thả lỏng những người chưa tin Chúa một ít để kéo họ trở về. Đừng dập vào đầu họ mọi điều sai trái họ đã làm. Nhiều tội lỗi của họ sẽ được giải quyết khi họ đến với Đấng Christ.
Chúng ta không thể mong đợi những người chưa tin Chúa hành động như các tín nhân cho tới khi nào họ tin Chúa. Sách Rô-ma dạy rằng những người chưa tin Chúa không thể hành động như các tín nhân được vì họ không có quyền năng Thánh Linh trong lòng họ.
Những đám đông mà Chúa Giê-xu đã thu hút là hỗn hợp của những người tin Chúa và chưa tin Chúa. Một số trong số họ là những người rất tận tâm theo Chúa, một số khác chỉ là những người tìm kiếm chân thành, và một số khác là những người hoài nghi giả dối. Điều này chẳng phiền hà gì Chúa Giê-xu cả. Ngài yêu thương hết thảy.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi biết rằng nhiều người trong các buổi thờ phượng đông đúc của chúng tôi có những lối sống đáng ngờ, những thói quen tội lỗi, và có cả tiếng xấu nữa. Điều đó chẳng phiền gì chúng tôi cả. Chúng tôi phân biệt giữa thân hữu (những người tham dự chưa cam kết) và hội chúng (các thành viên). Hội chúng chính là Hội Thánh chứ không phải đám đông. Buổi thờ phượng dành cho thân hữu chỉ là một nơi mà các thành viên có thể đưa những người bạn chưa tin của mình đến, là những người họ đã làm chứng cá nhân rồi.
Chúng tôi áp dụng các tiêu chuẩn hành vi khác nhau cho các thành viên và những người đến dự. Các thành viên của chúng tôi phải tuân thủ lối sống đã được ghi trong giao ước thành viên. Những người nào có các hành vi trái đạo đức là đối tượng kỷ luật của Hội Thánh. Những người chưa tin trong Hội Thánh không phải là đối tượng kỷ luật của Hội Thánh vì họ chưa thực sự là một thành phần của Hội Thánh chúng tôi. Phao-lô cũng phân biệt điều này rõ ràng trong ICo1Cr 5:9-12 (có nhấn mạnh):
“Trong thơ tôi viết cho anh em, có dặn đừng làm bạn với kẻ gian dâm, đó tôi chẳng có ý nói chung về kẻ gian dâm đời nầy , hay là kẻ tham lam, kẻ chắt bóp, kẻ thờ hình tượng, vì nếu vậy thì anh em phải lìa khỏi thế gian. Nhưng tôi viết khuyên anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em , mà là gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ hình tượng, hoặc chửi rủa, hoặc say sưa, hoặc chắt bóp, cũng không nên ăn chung với người thể ấy. Vì chưng có phải tôi nên đoán xét kẻ ở ngoài sao ? Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao?”
Chúng tôi không mong đợi những người tham dự chưa tin Chúa của mình từ bỏ các thói quen tội lỗi hay thay đổi lối sống của họ rồi mới dự các buổi thờ phượng. Thay vào đó, họ được khích lệ đến “với chính con người của họ.” Hội Thánh là bệnh viện của tội nhân. Chúng tôi thích một người ngoại đạo miền nam California tham dự buổi thờ phượng đám đông với quần sọt và áo thun Budweiser® hơn là họ ở nhà hay đi tắm biển. Nếu chúng tôi mời họ đến nghe Tin Lành và làm chứng về một số đời sống được biến đổi, chúng tôi tin rằng tới khi họ mở lòng mình cho Đấng Christ chỉ là vấn đề thời gian.
Chúa Giê-xu đã không nói, “Hãy từ bỏ hành vi của ngươi và ta sẽ cứu ngươi.” Ngài yêu bạn trước khi bạn được biến đổi. Và Ngài mong muốn bạn đối đãi với người khác cũng vậy. Tôi không thể đếm được có bao nhiêu cặp khi bắt đầu đến với Hội Thánh Saddleback đã sống chung với nhau, và khi họ được cứu rồi mới đám cưới. Cách đây không lâu, tôi làm đám cưới cho một cặp tân tín hữu đã sống với nhau mười bảy năm. Ngay khi tin Chúa, họ nói, “Tôi nghĩ rằng chúng tôi phải cưới nhau.” Và tôi nói, “Dĩ nhiên rồi!” Sự thánh hóa đến sau sự cứu rỗi.
Không có phương pháp, chương trình và kỹ thuật nào có thể thay thế tình yêu thương dành cho những người chưa tin Chúa. Tình yêu thương chúng tôi dành cho Đức Chúa Trời và cho những người hư mất là động lực thúc đẩy Hội Thánh Saddleback tiếp tục tăng trưởng. Đó cũng là điều thúc đẩy tôi giảng trong bốn buổi thờ phượng mỗi cuối tuần suốt nhiều năm ròng dù rằng giảng như vậy hết sức mệt mỏi. Xin hãy tin tôi, một khi bạn ban phát sứ điệp cho một đám đông chừng vài ngàn người, thì chẳng có ích lợi cá nhân nào trong việc lập lại đến ba lần. Bạn làm vậy là vì con người cần Chúa. Tình yêu thương là nhân tố thúc đẩy. Tình yêu thương không cho chúng ta một lựa chọn nào khác.
Bất cứ khi nào lòng tôi thấy nguội lạnh đối với những người chưa biết Chúa, tôi nhắc chính mình về thập giá. Đó là sự thể hiện tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với những người hư mất. Chính tình yêu thương, chứ không phải những cây đinh, đã treo Chúa Giê-xu trên thánh giá. Ngài dang tay của mình ra và nói, “Ta yêu những người hư mất nhiều như thế này!” Khi các Cơ-đốc nhân cũng yêu người như vậy, Hội Thánh của họ sẽ thu hút nhiều đám đông.
Chúa Giê-xu Thu Hút Những Đám Đông Bằng Cách Đáp Ứng Nhu Cầu Của Họ
Người ta bao quanh Chúa Giê-xu vì Ngài đáp ứng những nhu cầu của họ-về phương diện thể chất, tình cảm, thuộc linh, quan hệ và tài chánh. Ngài không hề đoán xét xem những nhu cầu nào là “chính đáng hơn” và chắc chắn Ngài cũng không làm cho người ta cảm thấy mắc lỗi về những nhu cần của mình. Ngài cư xử với mỗi người bằng lòng tôn trọng và chân giá trị của họ.
Chúa Giê-xu thường đáp ứng một nhu cầu cấp bách để bắt nhịp cầu truyền giáo vào trong đời sống của một người. Ở phần trên tôi có nói rằng Chúa Giê-xu thường hay hỏi, “Ngươi muốn ta làm gì cho ngươi?” Đức Chúa Trời dùng đủ mọi loại nhu cầu của con người để thu hút sự chú ý của họ. Chúng ta là ai mà dám đoán xét động cơ theo Chúa của một người là đúng hay sai? Vấn đề không phải ở chỗ tại sao người ta đến với Chúa Giê-xu, mà là họ đã đến. Ngài có thể làm việc trên những động cơ, giá trị và những ưu tiên của họ một khi họ bước vào sự hiện diện của Ngài.
Tôi ngờ rằng bất cứ ai trong chúng ta cũng có những động cơ ích kỷ, bất chính khi chúng ta xin Chúa cứu mình. Chúng ta đến với Chúa khi chúng ta cảm thấy rằng mình có một nhu cầu mà chỉ có Ngài mới đáp ứng được. Chúng ta không thể mong đợi những người chưa tin Chúa có những động cơ và giá trị Cơ-đốc.
Tôi tin chắc rằng bất kỳ ai cũng có thể được chinh phục cho Đấng Christ nếu bạn khám phá được chiếc chìa khóa mở cửa lòng họ. Chiếc chìa khóa lòng đó là độc nhất vô nhị, nên nhiều khi rất khó phát hiện. Có thể cần phải có thời gian mới tìm được nó. Nhưng nơi bắt đầu thích hợp nhất chính là những nhu cầu cấp bách của họ. Như tôi có nói, đây là phương pháp Chúa Giê-xu dùng.
Lôi kéo sự chú ý của mọi người
Trước khi bạn chia sẻ Tin Lành cứu rỗi với một ai đó, bạn cần phải thu hút sự chú ý của người đó. Khi lái xe trên các xa lộ ở miền nam California, tôi thường cầu nguyện, Lạy Chúa , làm sao để những người này chạy chậm lại đủ lâu để nghe về Tin Lành ? Làm sao con thu hút sự chú ý của họ được ? Trong phần đầu của thế kỷ này, thu hút sự chú ý không phải là một vấn đề lớn lắm cho các Hội Thánh. Nhà thờ thường là tòa nhà lớn nhất trong thị trấn, mục sư thường là người có học thức cao nhất cũng như là người rất nổi bật, và chương trình Hội Thánh là lịch sinh hoạt xã hội của cộng đồng.
Hiện nay, những điều này không còn tồn tại nữa. Một nhà thờ có thể tọa lạc ngay bên cạnh xa lộ với 100,000 chiếc xe chạy qua mỗi ngày mà cũng chẳng ai để ý gì. Các mục sư thường xuất hiện trong các chương trình truyền hình như những người lạm dụng tín ngưỡng, hay những người không bình thường. Và các chương trình Hội Thánh phải cạnh tranh với mọi thứ khác trong nền văn hóa giải trí của chúng ta. Cách duy nhất một Hội Thánh có thể thu hút sự chú ý của các thân hữu ngày nay chính là đem tới cho họ một điều gì đó họ không thể tìm thấy được ở nơi nào khác.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi rất nghiêm túc đáp ứng các nhu cầu trong danh Chúa Giê-xu. Đó là toàn bộ ý nghĩa của “mục vụ”: đáp ứng các nhu cầu trong danh Chúa Giê-xu. Hàng đầu tiên trong Khải Tượng Saddleback viết như sau: “Đó là mơ ước về một nơi mà những người đau khổ, chán nản, và bối rối có thể tìm thấy tình yêu thương, sự chấp nhận, giúp đỡ, hy vọng, tha thứ, dẫn dắt, và khích lệ.”
Nội quy của Hội Thánh Saddleback có một dòng như sau: “Hội Thánh này hiện hữu nhằm đem lại ích lợi cho cư dân của Thung Lũng Saddleback bằng cách đáp ứng những nhu cầu thuộc linh, thuộc thể, tình cảm, tri thức và xã hội của họ.” Mục tiêu của chúng tôi là phục vụ con người trên mọi khía cạnh. Chúng tôi không giới hạn mục vụ của mình trong cái gọi là các nhu cầu “thuộc linh.” Chúng tôi tin rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến mọi lĩnh vực của đời sống con người. Con người không thể bị phân chia. Các nhu cầu của họ thuộc mọi lĩnh vực khác nhau.
Gia-cơ quở trách nặng nề những Cơ-đốc nhân nào nghĩ rằng lời đáp cho mọi nhu cầu là một bài giảng hay một câu Kinh Thánh: “Ví thử có anh em hoặc chị em nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày, mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng ?” (Gia Gc 2:15-16, có nhấn mạnh). Đáp ứng các nhu cầu của con người, dù họ là ai, tức là một “người làm theo Lời.”
Hãy nhìn đằng sau mọi Hội Thánh đang tăng trưởng và bạn sẽ khám phá ra một điểm chung: Họ đã xác định được một phương cách để đáp ứng những nhu cầu của dân sự. Hội Thánh sẽ không bao giờ tăng trưởng vượt quá khả năng đáp ứng các nhu cầu của mình. Nếu Hội Thánh của bạn thực sự đáp ứng các nhu cầu, thì việc dự nhóm sẽ là vấn đề nhỏ nhất bạn cần lưu tâm tới-bạn sẽ phải khóa cửa lại để ngăn người ta đến nhóm.
Nhu cầu của các thân hữu trong cộng đồng của bạn là gì? Tôi không thể trả lời câu hỏi này cho bạn. Bạn cần phải nghiên cứu chính cộng đồng của mình vì mỗi khu vực đều có những nhu cầu đặc biệt của riêng mình. Tôi biết có một Hội Thánh nhờ nghiên cứu cộng đồng mà khám phá ra rằng nhu cầu hàng đầu trong cộng đồng của họ là việc chăm lo cho các bé trước tuổi đến trường! Khu vực này có đông các cặp vợ chồng muốn được giúp đỡ trong việc dạy con nhỏ. Thay vì xem đây là một nhu cầu “không thuộc linh,” Hội Thánh này đã tận dụng nó làm cơ hội để truyền giáo. Hội Thánh đã tổ chức một cuộc hội nghị “Chăm Sóc Trẻ Trước Tuổi Đến Trường” mà qua đó cung cấp những kỹ năng cần thiết nhất cùng với nhiều kiến thức khác. Sau đó, vị mục sư nói đùa rằng nền tảng Kinh Thánh của họ là ChCn 22:6 “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo !” Ý tưởng đó thật buồn cười, nhưng những kết quả rất nghiêm túc. Hàng chục cặp vợ chồng đã trở lại tin Chúa bởi bước đi đầu tiên đó.
Việc dùng những nhu cầu cấp bách để mở cánh cửa truyền giáo là vô tận. Hội Thánh Saddleback có hơn bảy mươi chức vụ mục tiêu hướng về đám đông và cộng đồng, mỗi chức vụ xoay quanh một nhu cầu đặc biệt. Chúng tôi có một nhóm hỗ trợ gọi là “Bàn Tay Trắng” cho các cặp vợ chồng bị sẩy thai hoặc con chết khi sinh. “Người Hòa Giải” là một nỗ lực đáp ứng nhu cầu của những người đang bị pháp luật trừng phạt. “Hy Vọng Cho Người Ly Thân” phục vụ những người đang cố gắng cứu vãn hôn nhân của họ khi một trong hai người đã bỏ đi. “Đai An Toàn” đáp ứng các nhu cầu của những em thiếu niên rắc rối. “Sự Phục Hồi” chăm lo cho hơn 500 người đang chiến đấu với tật nghiện rượu, nghiện ma túy và các chất gây nghiện khác. Danh sách cứ thế tiếp tục.
Các thân hữu có những nhu cầu chung nào không? Tôi tin là có. Dù đi đâu, tôi cũng thấy rằng con người có cùng những nhu cầu tình cảm và quan hệ như nhau. Bao gồm nhu cầu về sự yêu thương, chấp nhận, tha thứ, ý nghĩa, tự thể hiện và mục đích sống. Con người cũng đang tìm kiếm sự giải thoát khỏi sợ hãi, tội lỗi, lo âu, thù hận, chán nản và cô đơn. Nếu Hội Thánh của bạn đang đáp ứng những loại nhu cầu này, bạn không cần phải lo lắng quảng bá các chương trình của mình. Những đời sống được biến đổi là lời chứng vĩ đại nhất của một Hội Thánh.
Nơi nào những nhu cầu đang được đáp ứng và những đời sống đang được biến đổi, thì nơi đó tin tốt lành sẽ nhanh chóng đi vào cộng đồng. Ngay hôm nay tôi có nghe nói một người nọ đến thăm Hội Thánh Saddleback hồi tuần rồi vì “một người thợ hớt tóc nói với một khách hàng, người đó nói lại với ông chủ của tôi và ông chủ tôi nói lại với tôi rằng đây là nơi tôi cần đến khi thực sự cần sự giúp đỡ.”
Mỗi lần Hội Thánh của bạn đáp ứng nhu cầu của một ai đó, một tin đồn tốt về Hội Thánh sẽ bắt đầu lan ra trong cộng đồng của bạn. Khi những lời đồn tốt đó lan rộng khắp, Hội Thánh của bạn sẽ bắt đầu thu hút nhiều người mà không một chương trình thăm viếng nào có thể tiếp cận được.
Chúa Giê-xu Thu Hút Các Đám Đông Bằng Sự Dạy Dỗ Thực Tế Và Thú Vị
Kinh Thánh chép rằng thói quen của Chúa Giê-xu là dạy dỗ các đám đông (Mac Mc 10:1). Kinh Thánh cũng chép lại những phản ứng của đám đông trước sự dạy dỗ của Ngài. Chúng ta biết rằng
“đoàn dân lấy đạo Ngài làm lạ ” (Mat Mt 7:28)
“đám đông rất kinh ngạc về những điều Ngài dạy dỗ” (22:33, BDM)
“cả đoàn dân cảm động sự dạy dỗ của Ngài lắm” (Mac Mc 11:18)
“Nghe Chúa giảng dạy, dân chúng thích thú vô cùng” (12:37, BDM)
Các đám đông chưa hề nghe có ai nói chuyện với họ như Chúa Giê-xu. Họ “hết sức hâm mộ lời Ngài giảng dạy” (11:18, BDM, có nhấn mạnh). Chưa từng có một nhà truyền thông nào vĩ đại như Chúa Giê-xu.
Để thu hút sự chú ý của những người chưa tin giống như cách Chúa Giê-xu đã làm, chúng ta cần phải truyền đạt lẽ thật thuộc linh theo cách Chúa Giê-xu đã truyền đạt. Ngài phải là tấm gương giảng dạy cho chúng ta, chứ không phải ai khác. Không may là một số sách viết về nghệ thuật truyền giáo lại chú ý tới các phương pháp của Aristotle và thuật hùng biện Hy Lạp nhiều hơn là cách Chúa Giê-xu đã dùng.
Trong GiGa 12:49, Chúa Giê-xu thừa nhận rằng: “Bởi ta chẳng nói theo ý riêng ta; nhưng Cha sai ta đến, đã truyền lịnh cho ta phải nói điều chi và phải nói thể nào ” (có nhấn mạnh). Xin lưu ý rằng cả nội dung lẫn phương pháp truyền đạt sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu đều được Đức Chúa Cha hướng dẫn.
Có quá nhiều điều chúng ta có thể học được từ phong cách truyền đạt của Chúa Giê-xu. Tuy nhiên, trong chương này tôi chỉ muốn xác định ngắn gọn ba đặc trưng phong cách giảng dạy dân sự của Chúa Giê-xu.
Chúa Giê-xu bắt đầu bằng các nhu cầu, nỗi đau và sở thích của dân sự
Chúa Giê-xu thường dạy dỗ thông qua việc trả lời một câu hỏi hay một nan đề đặc biệt của ai đó trong đám đông. Ngài gãi ngay chỗ ngứa của dân sự. Sự giảng dạy của Ngài rất trực tiếp. Ngài luôn luôn liên hệ và nhắm tới đối tượng ngay trong thời điểm đó.
Khi Chúa Giê-xu giảng bài giảng đầu tiên tại Na-xa-rét, Ngài đọc sách Ê-sai để thông báo về chức vụ giảng dạy của Ngài: “Thần của Chúa ngự trên ta; vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, kẻ mù được sáng, kẻ bị hà hiếp được tự do; và để đồn ra năm lành của Chúa” (xem LuLc 4:18-19).
Xin lưu ý rằng thông qua việc tập trung đáp ứng các nhu cầu và chữa lành những nỗi đau, Chúa Giê-xu đã chia sẻ Tin Lành cho những người muốn nghe. Sứ điệp của Ngài đem tới những ích lợi thực tế cho những người nào nghe Ngài. Lẽ thật của Ngài sẽ “giải phóng dân sự” và đem vào đời sống họ đủ mọi phước hạnh.
Chúng ta không cần phải làm cho Kinh Thánh trở nên thích hợp-Kinh Thánh vốn đã thích hợp rồi! Nhưng, như Chúa Giê-xu đã làm, chúng ta có thể bày tỏ sự phù hợp của Kinh Thánh bằng cách áp dụng những sứ điệp Thánh Kinh một cách cá nhân vào đời sống của dân sự.
Chúng ta phải học chia sẻ Phúc Âm theo cách cho thấy nó vừa là “tin tốt” vừa là “tin mừng.” Nếu đó không phải là tin mừng, thì không phải là Phúc Âm. Phúc Âm nói về điều Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta và chúng ta có thể trở thành người như thế nào trong Đấng Christ; Phúc Âm nói về một mối tương giao cá nhân với Đấng Christ, và đó là lời đáp cho mọi nhu cầu sâu thẳm nhất của chúng ta. Tin Lành đem đến cho những người hư mất điều mà họ đang cuống cuồng tìm kiếm: sự tha thứ, tự do, an ninh, mục đích, yêu thương, chấp nhận và sức mạnh. Nó giải quyết quá khứ, bảo hiểm tương lai của chúng ta, và đem lại ý nghĩa cuộc sống cho mỗi chúng ta trong hiện tại. Đó là tin tốt lành nhất trên trần gian.
Các đám đông luôn tụ họp lại để nghe tin mừng. Có quá nhiều tin xấu trên thế giới đến nỗi điều người ta cần không phải là nghe thêm những tin xấu khác khi họ đến nhà thờ. Họ đang tìm kiếm một ai đó có thể đem tới cho họ niềm hy vọng và sự khích lệ. Chúa Giê-xu hiểu điều này và đồng cảm với các đám đông. Ngài biết rằng họ “cùng khốn, và tan lạc như chiên không có kẻ chăn” (Mat Mt 9:36).
Khi bạn bắt đầu với những nhu cầu của dân sự trong lúc giảng hay dạy dỗ, bạn sẽ thu hút được sự chú ý của thính giả ngay. Nhà truyền thông giỏi nào cũng hiểu và áp dụng nguyên tắc này. Một thầy giáo giỏi biết phải bắt đầu bằng sự hứng thú của học sinh và dẫn chúng vào bài học mình sẽ dạy. Một người bán hàng giỏi biết cách phải bắt đầu với những nhu cầu của khách hàng, chứ không phải sản phẩm mình có. Một nhà quản lý giỏi biết phải bắt đầu với lời than phiền của nhân công, chứ không phải kế hoạch của mình. Bạn bắt đầu ngay từ chỗ đứng của dân sự và đưa họ đến nơi nào bạn muốn.
Hãy giở bất kỳ một cuốn sách giáo khoa nào về não bộ ra xem và bạn sẽ thấy rằng ở dưới đáy của bộ não là một bộ lọc được gọi là “hệ thống hoạt hóa dạng lưới” (reticular activating system). Đức Chúa Trời đã đặt để bộ lọc này trong đầu của bạn để bạn không phải liên tục phản ứng trước hàng triệu kích thích đến với bạn hằng ngày. Nếu bạn phải chủ động phản ứng trước mọi điều các giác quan của bạn cảm nhận được, bạn chắc sẽ bị điên mất. Nhưng hệ thống hoạt hóa dạng lưới của bạn liên tục sàng lọc và phân loại mọi điều bạn thấy, nghe, và ngửi được, và chỉ để cho bạn nhận biết một số ít những kích thích đó. Như vậy, bạn sẽ không bị quá tải và cũng không bị tác động dồn dập.
Điều gì thu hút sự chú ý của bạn? Có ba điều luôn luôn tác động vào hệ thống hoạt hóa dạng lưới của bạn: những điều bạn coi trọng ; những điều độc đáo ; và những điều đe dọa bạn. Sự thật này nếu được áp dụng sẽ rất hữu ích cho những ai giảng và dạy. Nếu bạn muốn thu hút sự chú ý của một đám đông thờ ơ, bạn cần phải buộc chặt sứ điệp của mình vào một trong ba điều gây chú ý kia.
Dù rằng chia sẻ Tin Lành bằng một cách độc đáo hay đe dọa sẽ thu hút sự chú ý của các thân hữu, nhưng tôi tin rằng trình bày giá trị của nó cho mọi người là cách giống với cách giảng dạy của Chúa Giê-xu nhất. Ngài đã dạy dỗ theo cách khiến cho dân sự hiểu được giá trị và lợi ích của điều Ngài đang nói. Ngài không cố đe dọa những người không tin để kéo họ vào nước Đức Chúa Trời. Trên thực tế, những điều Ngài ngăm đe chỉ dành cho những người sùng tín! Ngài yên ủi những người đau đớn và làm đau đớn những người đang tự thỏa mãn.
Vì các diễn giả được kêu gọi để truyền đạt lẽ thật, nên chúng ta thường sai lầm khi cho rằng những người không tin luôn nóng lòng muốn nghe. Ngày nay thì những người chưa tin Chúa không hứng thú với lẽ thật như vậy đâu. Trên thực tế, các cuộc nghiên cứu cho thấy rằng phần đông người Mỹ không chấp nhận ý niệm lẽ thật tuyệt đối.
Chủ nghĩa đạo đức tương đối là cội rễ của mọi điều sai trái trong xã hội chúng ta. Người ta lo lắng và than phiền về tỉ lệ tội phạm đang gia tăng, về sự tan vỡ của gia đình, và sự suy đồi chung của nền văn hóa, nhưng họ không nhận ra nguyên nhân của mọi sự đó là vì người ta không chịu coi trọng lẽ thật. Ngày nay, sự khoan dung được đánh giá cao hơn lẽ thật nên sẽ là một sai lầm lớn nếu chúng ta nghĩ rằng những người không tin Chúa sẽ đổ xô vào Hội Thánh nếu chúng ta chỉ công bố, “Chúng tôi có lẽ thật!” Phản ứng của họ sẽ là, “Ừ, mọi người cũng có vậy.” Những người công bố về lẽ thật không được chú ý nhiều trong một xã hội đánh giá thấp lẽ thật. Để vượt qua điều này, một số diễn giả cố gắng “gào thét lớn hơn.” Nhưng giảng lớn tiếng hơn không phải là giải pháp.
Dù hầu hết những người chưa tin Chúa không tìm kiếm lẽ thật, nhưng họ đang tìm kiếm sự giải thoát. Điều này tạo cho chúng ta một cơ hội để thu hút họ vào lẽ thật. Tôi khám phá ra rằng khi tôi dạy một lẽ thật giải phóng những nỗi đau hay giải quyết những nan đề của họ, thì những người chưa tin nói rằng, “Cám ơn! Còn điều gì thật trong cuốn sách này không?” Chia sẻ những nguyên tắc Kinh Thánh đáp ứng được một nhu cầu nào đó sẽ tạo nên sự khao khát lẽ thật nhiều hơn.
Có rất ít người đến với Chúa Giê-xu đang khi đi tìm lẽ thật; họ đang tìm kiếm sự giải thoát. Cho nên Chúa Giê-xu đã đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của họ, dù đó là bệnh phung, sự mù lòa hay gù lưng. Sau khi các nhu cầu cấp thiết của họ được đáp ứng, họ luôn luôn hăm hở tìm biết sự thật về người đã giúp họ giải quyết những nan đề mà họ bó tay.
Eph Ep 4:29 chép rằng, “Hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến.” Xin lưu ý rằng điều chúng ta nói phải được quyết định bởi các nhu cầu của những người nghe chúng ta. Chúng ta chỉ được phép nói điều gì đem lại lợi ích cho họ. Có thể lập luận như vầy: Nếu đây là ý muốn Đức Chúa Trời trong các cuộc nói chuyện của chúng ta, thì cũng là ý muốn của Ngài cho các bài giảng. Không may là có nhiều mục sư quyết định nội dung các sứ điệp của họ theo điều họ cảm thấy cần thiết phải nói hơn là điều mà dân sự cần nghe.
Một lý do khiến việc nghiên cứu bài giảng trở nên khó khăn đối với nhiều mục sư đó là họ hỏi sai câu hỏi. Thay vì hỏi rằng, “Tôi phải giảng điều gì vào Chúa Nhật này?” họ nên hỏi, “Tôi sẽ giảng cho ai?” Chỉ cần suy nghĩ thông suốt về các nhu cầu của hội chúng cũng sẽ giúp xác định sứ điệp trong ý muốn của Đức Chúa Trời.
Vì Đức Chúa Trời, trong sự toàn tri của Ngài, đã biết ai sẽ là người xuất hiện trong các buổi thờ phượng của bạn vào Chúa Nhật tuần sau, làm sao Ngài lại có thể ban cho bạn một sứ điệp hoàn toàn không liên quan gì tới nhu cầu của những người Ngài đem tới? Làm sao Ngài lại khiến bạn giảng về một điều nào đó chẳng ích lợi gì cho những người Ngài đã lập kế hoạch để họ được nghe? Những nhu cầu cấp thời của dân sự là chiếc chìa khóa mở ra điều Đức Chúa Trời muốn bạn giảng trong dịp đó.
Đám đông không quyết định việc bạn có nói về lẽ thật hay không: Lẽ thật không phải là một lựa chọn. Nhưng cử tọa của bạn thực sự quyết định lẽ thật nào bạn chọn để giảng. Và có một số lẽ thật phù hợp với những người chưa tin Chúa hơn là những lẽ thật khác.
Có điều nào có thể vừa đúng lại vừa không phù hợp không? Có đấy! Nếu bạn gặp tai nạn xe cộ và đang chảy máu rất nhiều trong phòng cấp cứu, bạn cảm thấy thế nào nếu một bác sĩ bước vào và nói về từ Hy Lạp của hai chữ bệnh viện hay lịch sử của chiếc ống nghe? Thông tin của ông có thể đúng đó, nhưng nó không phù hợp, vì nó không chấm dứt cơn đau của bạn. Bạn muốn rằng vị bác sĩ phải bắt đầu với vết thương của bạn.
Cử tọa của bạn cũng quyết định cách bạn bắt đầu sứ điệp của mình. Nếu bạn đang nói chuyện với các thân hữu và dành phần đầu của sứ điệp để nói về bối cảnh lịch sử của phân đoạn Kinh Thánh nền tảng, thì đến lúc bạn sang phần áp dụng cá nhân, họ đã bỏ về hết. Khi nói chuyện với các thân hữu, bạn cần phải bắt đầu ngay tại phần cuối của những bài giảng thường lệ.
Chúa Giê-xu liên hệ lẽ thật vào đời sống
Tôi rất thích tính thực tiễn và đơn giản trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu. Nó thật rõ ràng, phù hợp và dễ áp dụng. Ngài nhắm vào sự áp dụng vì mục đích của Ngài là biến đổi con người, chứ không chỉ thông tin cho họ. Hãy xem Bài Giảng Trên Núi, một bài giảng vĩ đại nhất từng được giảng.
Chúa Giê-xu bắt đầu Bài Giảng Trên Núi bằng cách chia sẻ tám bí mật của sự hạnh phước thật. Sau đó Ngài nói về một lối sống mẫu mực, sự kềm chế cơn giận dữ, sự phục hồi các mối quan hệ, và tránh tà dâm cũng như ly dị. Kế đến, Ngài nói về việc giữ lời hứa và báo trả điều thiện cho điều ác. Sau đó, Ngài chuyển sang các vấn đề thực tế cuộc sống khác như làm thế nào để có một thái độ đúng đắn, làm thế nào để cầu nguyện, để tích trữ của cải trên trời, và làm thế nào để thắng hơn sự lo lắng. Ngài tóm tắt sứ điệp của mình bằng cách dạy chúng ta không được đoán xét người khác, phải trung tín cầu xin Đức Chúa Trời đáp ứng các nhu cầu của mình, và cảnh giác với các giáo sư giả. Rồi Ngài kết luận bằng một câu chuyện đơn giản nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng điều Ngài giảng.
Đây là loại rao giảng chúng ta cần có trong các Hội Thánh ngày nay-sự rao giảng không chỉ thu hút các đám đông-nó thay đổi đời sống! Chỉ đơn giản công bố rằng “Đấng Christ là lời giải đáp” thì chưa đủ; chúng ta cần phải chứng tỏ cho các thân hữu thấy Đấng Christ là lời giải đáp như thế nào . Các bài giảng khuyến khích dân sự thay đổi mà không chia sẻ những bước thực tiễn để thay đổi chỉ kết thúc và tạo thêm mặc cảm tội lỗi, sự hoang mang trong lòng dân sự.
Có nhiều bài giảng thuộc loại mà tôi gọi là bài giảng “thật tệ.” Nó chỉ than phiền về xã hội và đoán xét dân sự cách chung chung. Nó chẩn đoán lê thê mà thiếu phương thuốc chữa bệnh. Loại rao giảng này khiến cho các Cơ-đốc nhân cảm thấy họ tốt hơn “những người ngoài kia,” nhưng nó hiếm khi thay đổi được điều gì. Thay vì thắp sáng một ngọn nến, nó chỉ nguyền rủa bóng tối.
Khi tôi đi khám bệnh, tôi không chỉ muốn nghe mình bệnh gì; tôi muốn bác sĩ chỉ tôi những cách cụ thể để khỏi bệnh. Điều ngày nay dân sự cần là bớt đi những bài giảng “phải” và thêm những bài giảng “làm thế nào.”
Một số mục sư phê bình rằng những bài giảng “áp dụng vào đời sống” là nông cạn, đơn giản thái quá và thấp kém. Đối với họ, sự rao giảng đúng nhất là rao giảng mô phạm, giáo điều. Thái độ này ngụ ý rằng Phao-lô sâu sắc hơn Chúa Giê-xu, rằng thư Rô-ma “sâu sắc” hơn Bài Giảng Trên Núi và Các Ví Dụ. Tôi gọi đó là dị giáo! Sự giảng dạy sâu sắc nhất là sự giảng dạy tạo nên những thay đổi trong đời sống hằng ngày của dân sự. Như D. L. Moody đã từng nói, “Kinh Thánh không phải để gia tăng kiến thức của chúng ta mà là để biến đổi đời sống chúng ta.” Mục đích của chúng ta là trở nên giống Đấng Christ.
Chúa Giê-xu phán, “Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống, và được sự sống dư dật” (GiGa 10:10). Ngài không nói, “Ta đến để các ngươi có một tôn giáo .” Cơ-đốc giáo là một sự sống, không phải một tôn giáo, và Chúa Giê-xu là một diễn giả áp dụng vào đời sống. Khi Ngài kết thúc sự dạy dỗ đám đông, Ngài luôn muốn họ “đi và làm theo như vậy.”
Sự rao giảng giống Đấng Christ luôn liên hệ đến đời sống và làm sản sinh những đời sống được biến đổi. Nó không chỉ cung cấp thông tin mà còn biến đổi nữa. Nó biến đổi con người vì Lời Đức Chúa Trời được áp dụng vào ngay trong đời sống của họ. Những bài giảng dạy người ta phải sống như thế nào sẽ không bao giờ thiếu người nghe.
Xin hãy hiểu rằng: Các thân hữu không đòi hỏi chúng ta phải làm giảm hay pha loãng sứ điệp, họ chỉ cần chúng ta trình bày sự liên quan của nó tới đời sống của họ. Vấn đề lớn của họ là, “Vậy thì sao?” Họ muốn biết sứ điệp của chúng ta có thể biến đổi họ như thế nào. Tôi đã khám phá ra rằng những người không đi nhà thờ tại Mỹ rất thích giáo lý Kinh Thánh khi nó được áp dụng một cách thực tiễn và phù hợp với đời sống của họ.
Đối với tôi, giảng về thần học cho các thân hữu mà không hề nói rằng đó là thần học, và cũng chẳng dùng những khái niệm thần học là cả một thách thức và thú vị lớn. Tôi đã giảng một loạt bài giảng về sự nhập thể, sự xưng công chính, và sự thánh hóa cho đám đông mà không hề dùng đến những từ này. Tôi cũng giảng một loạt bài giảng cho đám đông những người không đi nhà thờ về sự vận hành của Thánh Linh, những đặc tính đạo đức của Đức Chúa Trời, sự quản gia, và ngay cả bảy tội lỗi nghiêm trọng nhất.
Quan niệm cho rằng bạn phải pha loãng sứ điệp mới có thể thu hút một đám đông là quan niệm hết sức sai lầm. Chúa Giê-xu chắc chắn không làm như vậy. Bạn không cần phải biến đổi sứ điệp của Kinh Thánh, nhưng bạn cần phải biên dịch nó sang những ngôn ngữ mà các thân hữu có thể hiểu được.
Chúa Giê-xu nói với đám đông bằng một phong cách thu hút
Đám đông rất thích lắng nghe Chúa Giê-xu. Mac Mc 12:37 chép, “Đoàn dân đông vui lòng mà nghe Ngài” (có nhấn mạnh). Bản Diễn Ý chép rằng họ “thích thú” nghe Ngài. Dân sự có “thích thú” với các sứ điệp của bạn không?
Một số mục sư thực sự nghĩ rằng họ đã thất bại khi có một bài giảng nào khiến cho dân sự thấy thích thú. Tôi đã từng nghe nhiều mục sư mạnh mẽ tuyên bố rằng, “Chúng tôi không đến đây để giải trí.” Hiển nhiên là họ cũng đang làm một công việc tốt. Cuộc thăm dò dư luận của viện Gallup vài năm trước đây nói rằng theo những người không đi nhà thờ, thì nhà thờ là nơi nhàm chán nhất.
Nếu bạn tra chữ giải trí trong tự điển, bạn sẽ gặp định nghĩa này: “tập trung và duy trì sự chú ý trong một khoảng thời gian nào đó.” Tôi không biết có diễn giả nào lại không muốn điều đó. Chúng ta không cần phải lo sợ khi bài giảng của mình tỏ ra thu hút. Một bài giảng không cần phải khô khan thì mới thuộc linh.
Đối với những người không đi nhà thờ, sự giảng dạy buồn tẻ là không thể tha thứ được. Lẽ thật được trình bày cách nhàm chán sẽ bị phớt lờ đi. Mặt khác, thân hữu sẽ sẵn sàng lắng nghe những điều thực sự điên rồ nếu chúng được trình bày cách đầy sức hút. Để minh chứng cho điều này, bạn chỉ cần mở tivi vào đêm khuya và bạn sẽ thấy hàng loạt những nhà tâm lý, những nhà tư vấn, và những con người lập dị xuất hiện đầy dẫy trên màn ảnh.
Tôi có nói trong chương trước rằng tôi hết sức ngạc nhiên khi có những giáo sư Kinh Thánh lại có thể biến quyển sách thú vị nhất trên thế giới thành cuốn sách nhàm chán nhất. Tôi tin rằng khiến cho dân sự chán Kinh Thánh là một tội . Khi Lời của Đức Chúa Trời được giảng rao một cách tẻ nhạt, người ta không chỉ chán vị mục sư, họ còn nghĩ rằng Đức Chúa Trời cũng rất tẻ nhạt! Chúng ta phỉ báng đặc tính của Đức Chúa Trời nếu chúng ta rao giảng bằng một giọng điệu và phong cách tẻ ngắt. Sứ điệp cứu rỗi là quá quan trọng để chúng ta chia sẻ với thái độ “tiếp nhận cũng được, không tiếp nhận cũng không sao.”
Chúa Giê-xu thu hút sự thích thú của những đám đông lớn bằng những cách mà bạn và tôi đều có thể sử dụng. Trước hết, Ngài kể những câu chuyện để nêu vấn đề. Chúa Giê-xu là một bậc thầy kể chuyện. Ngài thường nói, “Các ngươi có nghe chuyện về…” và sau đó Ngài kể một ví dụ để dạy một lẽ thật nào đó. Trên thực tế, Kinh Thánh chứng tỏ rằng kể chuyện là phương pháp Chúa Giê-xu thích dùng nhất khi Ngài nói chuyện với đám đông. “Đức Chúa Jêsus lấy lời ví dụ mà phán những điều đó cùng đoàn dân, Ngài chẳng phán điều gì cùng họ mà không dùng lời ví dụ” (Mat Mt 13:34). Bằng cách nào đó, nhiều diễn giả quên rằng về cơ bản, Kinh Thánh là một cuốn sách đầy những câu chuyện kể. Đó là cách Đức Chúa Trời đã lựa chọn để truyền đạt Lời Ngài cho con người.
Kể chuyện để qua đó truyền đạt lẽ thật thuộc linh có rất nhiều lợi ích:
Các câu chuyện thu hút sự chú ý của chúng ta . Lý do khiến truyền hình phổ biến là vì về cơ bản, nó là một công cụ kể chuyện. Các hài kịch, bi kịch, tin tức, các sô trình diễn-ngay cả những chương trình quảng cáo-đều là các câu chuyện.
Các câu chuyện khuấy động tình cảm của chúng ta . Chúng tạo nên những ấn tượng mà những lời giáo huấn và những lời tuyên bố không tạo ra được. Nếu bạn muốn thay đổi nhiều đời sống, bạn phải truyền đạt sứ điệp một cách đầy ấn tượng, chứ không chỉ cung cấp thông tin.

Các câu chuyện giúp chúng ta ghi nhớ . Sau khi dân sự quên hẳn bài giảng tinh tế của vị mục sư, họ vẫn còn nhớ được các câu chuyện trong bài giảng đó. Thật là thú vị, và đôi khi buồn cười, khi nhìn thấy một đám đông nhanh chóng tập trung lại nghe một người kể chuyện, rồi sau đó nhanh chóng tản ra khi câu chuyện chấm dứt.
Thứ hai, Chúa Giê-xu đã dùng ngôn ngữ đơn giản, chứ không dùng biệt ngữ thần học hay chuyên môn. Ngài nói bằng thứ ngôn ngữ mà những người bình thường có thể hiểu được. Chúng ta cần phải nhớ rằng Chúa Giê-xu đã không dùng ngôn ngữ Hy Lạp của giới học giả thời bấy giờ. Ngài nói bằng tiếng A-ram, là ngôn ngữ đường phố thời đó. Ngài nói về những con chim, những đóa hoa, những đồng xu bị mất và những vấn đề hằng ngày khác mà bất kỳ ai cũng có thể gặp phải.
Trong khi Chúa Giê-xu giảng dạy những lẽ thật phức tạp bằng những phương pháp đơn giản, thì nhiều mục sư lại làm ngược lại; họ dạy những lẽ thật đơn giản bằng những phương pháp thật phức tạp. Họ biến những phân đoạn Kinh Thánh dễ hiểu thành ra phức tạp. Họ nghĩ rằng họ đang giảng dạy cách “sâu sắc” trong khi thực ra thì họ đang “làm rối trí” dân sự! Giảng dạy rõ ràng vẫn quan trọng hơn là giảng dạy khéo léo.
Một số mục sư thích khoe khoang kiến thức của mình bằng cách dùng những từ Hy Lạp và những khái niệm hàn lâm. Mỗi Chúa Nhật, họ nói bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ mà không hề được ơn! Các mục sư cần phải nhận biết rằng không có ai quan tâm tới tiếng Hy Lạp như họ quan tâm. Chuck Swindoll từng nói với tôi là ông tin rằng việc lạm dụng từ Hy Lạp và Hê-bơ-rơ trong giảng dạy sẽ làm mất niềm tin nơi bản văn tiếng Anh. Tôi đồng ý.
Jack Hayford, Chuck Smith, Chuck Swindoll, và tôi đã từng dạy trong một chương trình đào tạo tiến sĩ thần học, môn soạn bài giảng. Vào cuối khóa học, các sinh viên nhận thấy rằng cả bốn chúng tôi, dù không gặp gỡ hay trao đổi gì với nhau, đã nhấn mạnh cùng một điều: Hãy giảng cách đơn giản !
Phức tạp hóa Phúc Âm là một việc rất dễ làm, và dĩ nhiên, Sa-tan rất thích chúng ta làm điều đó. Sứ đồ Phao-lô lo lắng rằng “tâm trí anh chị em cũng bị quyến rũ từ bỏ tấm lòng đơn sơ , trong trắng đối với Đức Cơ Đốc” (II Cô-rinh-tô 11:3;, BDM, có nhấn mạnh). Cần phải suy nghĩ và chuẩn bị rất nhiều mới có thể truyền đạt những lẽ thật phức tạp bằng những phương cách đơn giản. Einstein đã từng nói, “Bạn không thực sự hiểu được điều gì đó trừ phi bạn có thể truyền đạt nó một cách đơn giản.” Bạn có thể rất tài giỏi, nhưng nếu bạn không thể chia sẻ những ý tưởng của mình một cách đơn giản, thì những ý tưởng của bạn cũng không có nhiều giá trị.
Thung Lũng Saddleback là một trong những cộng đồng có mức dân trí cao nhất nước Mỹ. Nhưng tôi khám phá ra rằng tôi càng rao giảng sứ điệp cách đơn giản bao nhiêu, thì Đức Chúa Trời càng ban phước bấy nhiêu. Đơn giản không có nghĩa là nông cạn hay giản dị thái quá ; nó có nghĩa là rõ ràng và có thể hiểu được. Chẳng hạn như, “Đây là một ngày Đức Chúa Trời đã tạo nên” là câu nói đơn giản, trong khi “Chúc một ngày tốt lành!” lại là giản dị thái quá.
Những dàn ý bài giảng đơn giản luôn là những dàn ý mạnh mẽ nhất. Tôi kể đây là một lời khen khi được gọi là một diễn giả “đơn giản.” Tôi rất thích nhìn thấy những đời sống được biến đổi, chứ không thích tạo ấn tượng với dân sự bằng vốn từ của mình.
Đa số người nói chuyện với vốn từ chỉ khoảng 2,000 từ, và chỉ dùng khoảng 900 từ trong các cuộc đàm thoại hằng ngày. Nếu bạn muốn giao thiệp với nhiều người, bạn cần phải nói năng đơn giản. Đừng bao giờ lo sợ những người nghĩ rằng họ là những người trí thức. Tôi từng quan sát thấy rằng những người nào dùng nhiều lời đao to búa lớn thường che giấu đằng sau đó sự bất an còn lớn hơn nữa.
Mục Vụ Cho Các Đám Đông Có Thể Gây Tranh Luận
Tôi biết rằng có một số Cơ-đốc nhân sẽ không đồng tình với chủ đề chương này. Điều gây ra tranh cãi trong việc thu hút một đám đông tóm gọn lại trong hai vấn đề. Vấn đề thứ nhất liên quan tới tính chính thống của cái gọi là “truyền giáo thu hút” (attraction evangelism), còn vấn đề thứ hai liên quan tới việc Hội Thánh nên có quan hệ như thế nào với nền văn hóa mà mình đang tìm cách truyền giáo cho.
“Hãy đi nói” hay “Hãy đến xem”?
Một số lãnh đạo Hội Thánh phủ nhận rằng thu hút là một phương pháp chính thống trong việc truyền giáo. Tôi có nghe nhiều diễn giả nói rằng, “Kinh Thánh không bảo thế gian hãy đến với Hội Thánh. Kinh Thánh bảo rằng Hội Thánh phải đi vào thế gian.” Đây là một lời tuyên bố không chính xác vì chỉ đúng mới có phân nửa mà thôi.
Dĩ nhiên, Kinh Thánh ra lệnh cho các Cơ-đốc nhân phải “đi và nói.” Đó là toàn bộ Đại Mạng Lệnh! Các Cơ-đốc nhân không được chờ người thế gian đến và hỏi chúng ta về Đấng Christ. Chúng ta phải đi trước trong việc chia sẻ Tin Lành. Đối với các tín nhân, Chúa Giê-xu phán, “Hãy đi!”
Nhưng đối với thế giới hư mất, Chúa Giê-xu phán, “Hãy đến!” Khi có vài người người đến hỏi Chúa Giê-xu, Ngài phán, “Hãy đến xem” (GiGa 1:39). Trong Mat Mt 11:28, Chúa Giê-xu nói với những người tìm kiếm, “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.” Và vào ngày cuối cùng của Kỳ Lễ Lớn, “Đức Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống” (GiGa 7:37).
Cả hai câu “Hãy đi nói” và “Hãy đến xem” đều được ghi lại trong Thánh Kinh Tân Ước. Trong LuLc 14:1-35, lúc Chúa Giê-xu so sánh vương quốc của Đức Chúa Trời với bữa đại tiệc, những người đầy tớ của Chủ đã đi ra và mời những người đói đi vào và ăn, “cho được đầy nhà ta.”
Chúng ta không cần phải lựa chọn giữa việc “đi” và “đến”; cả hai đều là những hình thức phù hợp cho việc truyền giáo. Có thể tiếp cận một số người bằng sự thu hút, nhưng cũng có thể tiếp cận một số người khác bằng cách đến với họ. Một Hội Thánh khỏe mạnh, quân bình sẽ tạo nên những cơ hội và các chương trình cho cả hai nhóm. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi dùng cả hai phương pháp tiếp cận. Chúng tôi nói với cộng đồng của mình rằng, “Hãy đến xem!”, còn với nhóm nòng cốt, chúng tôi nói rằng, “Hãy đi và nói!”
Đối với nền văn hóa: bắt chước, cách ly hay hòa nhập?
Một vấn đề tranh cãi không ngừng khác làm ảnh hưởng tới việc truyền giáo đó là Hội Thánh nên có quan hệ thế nào đối với nền văn hóa. Có hai thái cực: bắt chước và cách ly. Những người ở thái cực “bắt chước” tranh biện rằng Hội Thánh phải giống với nền văn hóa của chúng ta thì mới phục vụ được. Các Hội Thánh trong nhóm này hy sinh sứ điệp và sứ mệnh của Hội Thánh trong Kinh Thánh để uốn theo nền văn hóa. Dường như họ tán đồng các quan niệm văn hóa đương thời chẳng hạn như việc tôn thờ sự thành công, sự giàu có, chủ nghĩa cá nhân, nam nữ bình quyền, tình dục tự do, và ngay cả đồng tính luyến ái. Trong nỗ lực để trở nên phù hợp của họ, những Hội Thánh này hy sinh thần học Kinh Thánh, những sự khác biệt về giáo lý, và cả Phúc Âm của Đấng Christ. Lời kêu gọi ăn năn và tận hiến đã bị pha loãng nhằm để thu hút một đám đông. Thuyết hổ lốn (syncretism) phá hủy loại Hội Thánh này.
Thái cực còn lại là thái cực “cách ly.” Nhóm này nhấn mạnh rằng chúng ta phải tránh tiếp nhận bất cứ điều gì của nền văn hóa nhằm bảo tồn sự thuần khiết của Hội Thánh. Họ không phân biệt được sự khác nhau giữa những tiêu chuẩn tội lỗi của nền văn hóa và những phong tục, phong cách cũng như sở thích vô tội mà mỗi thế hệ tạo ra. Họ không chấp nhận những bản dịch mới của Kinh Thánh, các phong cách âm nhạc hiện đại, và bất cứ nỗ lực nào nhằm thay đổi những truyền thống con người tạo ra, chẳng hạn như vấn đề thời gian và trật tự của buổi thờ phượng mà họ đã quen dùng. Những người chủ trương cách ly đôi khi có cả một cuốn luật và một danh sách những điều gì được phép thực hiện, những điều gì bị cấm vì Kinh Thánh không nói tới. (Bản chất con người là hay dùng những bức tường thần học thẳng đứng để bảo vệ các sở thích cá nhân.)
Các Hội Thánh trong nhóm này nhầm lẫn giữa các truyền thống văn hóa của họ với tính chính thống. Họ không nhận ra rằng những phong tục, phong cách, và các phương pháp mà họ đang dùng đã từng bị thế hệ tín nhân trước họ cho là “hiện đại, trần tục và dị giáo.”
Chúng ta có cần phải lựa chọn giữa chủ nghĩa tự do và sự câu nệ luật pháp không? Có một lựa chọn thứ ba nào để tránh hai thái cực bắt chước và cách ly không? Tôi tin là có. Chiến lược của Chúa Giê-xu là liều thuốc giải cho cả hai thái cực đó: sự hòa nhập !
Cũng giống như những loài cá nước mặn đã sống cả đời chúng ngoài biển mà thịt của chúng không hề mặn vì muối, Chúa Giê-xu phục vụ trong thế gian mà không hề thuộc về thế gian. Ngài “ở giữa chúng ta” (GiGa 1:14), và cho dù đã bị cám dỗ theo đủ mọi cách chúng ta bị, Ngài vẫn “chẳng phạm tội” (HeDt 4:15). Ngài đi lại giữa vòng dân sự, nói thứ ngôn ngữ của họ , thực hiện các phong tục của họ , hát những bài hát của họ , tham dự các bữa tiệc của họ và dùng những biến cố đương thời của họ (xem LuLc 13:1-5) để thu hút sự chú ý khi Ngài dạy dỗ. Nhưng Ngài làm mọi sự này mà không hề thỏa hiệp hay pha loãng sứ mệnh của mình.
Chức vụ nhạy cảm với tội nhân của Chúa Giê-xu khiến cho hệ thống tôn giáo bối rối, và họ phê phán Ngài không ngừng. Họ thậm chí cho là chức vụ của Ngài thuộc về Sa-tan (Mac Mc 3:22)! Những người Pha-ri-si đặc biệt ghét cách Chúa Giê-xu làm cho những người chưa tin cảm thấy thoải mái trong sự hiện diện của Ngài cũng như cách Ngài đặt những nhu cầu của các tội nhân lên trên truyền thống tôn giáo. Họ khinh miệt danh tiếng của Chúa Giê-xu và gọi Ngài là “bạn bè với người thâu thuế cùng kẻ xấu nết”-đối với họ, cách gọi như thế là sự lăng mạ cùng cực, nhưng Chúa Giê-xu xem đó là một vinh dự lớn. Ngài đáp rằng, “Chẳng phải kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; ta chẳng phải đến gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội” (2:17).
Trong thời của Chúa Giê-xu, những người Pha-ri-si hay dùng “sự thánh khiết” để bào chữa cho việc họ tránh mọi tiếp xúc với những người không tin. Ngày nay, Hội Thánh vẫn có những người Pha-ri-si, là những người lo lắng về sự thánh khiết hơn là con người. Nếu Hội Thánh của bạn nghiêm túc thực hiện Đại Mạng Lệnh, bạn không bao giờ có một Hội Thánh hoàn toàn thuần khiết vì bạn luôn luôn thu hút những người chưa tin cùng với lối sống trần tục của họ vào trong các buổi thờ phượng dành cho đám đông. Truyền giáo đôi khi lộn xộn lắm. Ngay cả sau khi người ta trở thành tín hữu, thì cũng không bao giờ có một Hội Thánh hoàn toàn thuần khiết.
Có những người ngoại giáo không ăn năn nào trà trộn vào đám đông 10,000 người của Hội Thánh Saddleback không? Dĩ nhiên là có! Khi bạn đánh cá bằng một tấm lưới lớn, bạn sẽ bắt được đủ mọi loại cá. Điều đó không sao cả. Chúa Giê-xu có nói trong một ví dụ rằng, “Đừng lo chuyện cỏ lùng lẫn trong đám lúa mì. Một ngày nào đó ta sẽ tách chúng ra.” (Xem Mat Mt 13:29-30 - ND.) Chúng ta phải để việc nhổ cỏ cho Chúa Giê-xu vì Ngài biết ai thực sự là cỏ lùng.
Chúa Giê-xu dùng những lời nghiêm khắc nhất để nói với những người câu nệ truyền thống tôn giáo cứng nhắc. Khi người Pha-ri-si hỏi, “Sao môn đồ thầy phạm lời truyền khẩu của người xưa? Vì họ không rửa tay trước khi ăn.” Chúa Giê-xu đáp, “Còn các ngươi sao cũng vì cớ lời truyền khẩu mình mà phạm điều răn của Đức Chúa Trời?” (15:2-3). Hoàn thành mục đích của Đức Chúa Trời phải luôn luôn là ưu tiên cao hơn việc giữ truyền thống.
Nếu bạn chuyên tâm phục vụ dân sự theo cách Chúa Giê-xu đã làm, thì đừng ngạc nhiên nếu một ngày nào đó cả hệ thống tôn giáo buộc tội bạn là bán rẻ văn hóa và phá vỡ truyền thống. Bạn sẽ bị chỉ trích! Đáng buồn thay, một số người câu nệ truyền thống đã hết sức phê phán các Hội Thánh nhạy cảm với những người tìm kiếm qua các sách vở và các bài báo. Hầu hết những lời chỉ trích này đều là những nhận định không công bằng xuất phát từ sự thờ ơ và cũng không đúng với thực tế những gì đang diễn ra trong các Hội Thánh nhạy cảm với những người tìm kiếm.
Những người tiên phong luôn bị trúng tên. Trình bày lẽ thật bằng các khái niệm đương thời là một công việc nguy hiểm. Xin hãy nhớ rằng họ đã thiêu cháy Wycliffe vì ông đã làm việc này. Nhưng đừng bao giờ để cho lời chỉ trích của các Cơ-đốc nhân khác ngăn trở bạn phục vụ theo cách của Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu phải là tấm gương vĩ đại nhất cho mục vụ, chứ không phải là một ai khác.
Chương 13: Thờ Phượng Có Thể Là Một Lời Chứng
“Đức Chúa Trời là Thần , nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy .”
GiGa 4:24
Vào cuối tuần này, hàng triệu người sẽ tham dự một chương trình thờ phượng Tin Lành. Điều đáng ngạc nhiên là hầu hết trong số họ không thể nêu được mục đích của buổi thờ phượng khi được hỏi. Có lẽ họ có một ý tưởng lờ mờ nào đó, nhưng thật khó để họ nói lên thành lời.
Trong các chương từ 14 đến 16, tôi sẽ giải thích chúng tôi đã thiết kế một buổi thờ phượng để tiếp cận hàng ngàn người chưa tin Chúa như thế nào. Nhưng trước hết, tôi thấy cần phải làm rõ những lý do cả về thần học lẫn thực tiễn đã thúc đẩy chúng tôi tổ chức chương trình thờ phượng cho các thân hữu tại Hội Thánh Saddleback. Mọi điều chúng tôi làm trong các buổi thờ phượng mỗi cuối tuần được dựa trên mười hai niềm tin sâu sắc.
Mười Hai Niềm Tin Về Sự Thờ Phượng
Chỉ có các tín nhân mới thực sự thờ phượng Đức Chúa Trời . Sự thờ phượng bắt nguồn từ các tín nhân và hướng về Đức Chúa Trời. Chúng ta tôn vinh danh Chúa trong sự thờ phượng bằng cách thể hiện tình yêu thương và sự tận hiến của mình cho Ngài. Những người chưa tin Chúa không thể làm điều này được. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi có một định nghĩa về sự thờ phượng như sau: “Thờ phượng là thể hiện tình yêu thương của chúng ta đối với Đức Chúa Trời vì Ngài là Chúa, vì điều Ngài đã phán, và vì những gì Ngài đang làm.”
Chúng tôi tin rằng có rất nhiều cách thích đáng để thể hiện tình yêu thương của mình đối với Đức Chúa Trời. Chúng gồm có cầu nguyện, hát, tạ ơn, lắng nghe, dâng hiến, làm chứng, trông cậy, vâng Lời Chúa, cùng với nhiều điều khác. Đức Chúa Trời, chứ không phải con người, là trung tâm của sự thờ phượng của chúng tôi.
Bạn không cần phải có một nhà thờ mới thờ phượng Đức Chúa Trời được . Cong Cv 17:24 chép, “Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó, là Chúa của trời đất, chẳng ngự tại đền thờ bởi tay người ta dựng nên đâu.” Có lẽ bạn cần một bằng chứng từ một Hội Thánh tồn tại mười lăm năm và gia tăng đến hơn 10,000 người dự nhóm hằng tuần mà không hề có một tòa nhà nào. Tôi nghĩ chúng tôi đã làm rõ quan điểm của mình rồi.
Không may là nhiều Hội Thánh lại gặp rắc rối với vấn đề nhà thờ. Không nên để cho việc không có nhà thờ (hay thiếu nhà thờ) làm ngăn trở, giới hạn dân sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Những ngôi nhà thờ không có gì là sai cả, trừ phi bạn thờ phượng chúng thay vì Đấng Tạo Hóa. Chúa Giê-xu phán, “Vì nơi nào có hai ba người nhân danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ” (Mat Mt 18:20).
Không phải chỉ có một “kiểu ” thờ phượng nào đó mới là đúng . Chúa Giê-xu chỉ có hai đòi hỏi đối với việc thờ phượng phải lẽ: “Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy” (GiGa 4:24). Tôi không nghĩ Đức Chúa Trời phản đối hay phiền hà gì về các phong cách thờ phượng khác nhau miễn là chúng phải ở trong “tâm thần” và phải ở trong “lẽ thật.” Trên thực tế, tôi tin chắc rằng Đức Chúa Trời rất thích sự đa dạng! Xin nhớ rằng chính Ngài có chủ ý tạo nên chúng ta hết thảy đều khác nhau.
Phong cách thờ phượng mà bạn cảm thấy thích nhất nói lên nền tảng văn hóa của bạn nhiều hơn là tri thức thần học bạn có. Những cuộc tranh cãi về phong cách thờ phượng hầu hết đều là những tranh cãi về xã hội và cá tính được khoác bên ngoài bằng các khái niệm thần học.
Mỗi Hội Thánh có khuynh hướng tin rằng phong cách thờ phượng của mình là phù hợp với Kinh Thánh nhất. Sự thật là không hề có một phong cách thờ phượng chuẩn mực nào trong Kinh Thánh cả. Mỗi Chúa Nhật, những tín nhân thật trên khắp thế giới tôn vinh Chúa Giê-xu Christ bằng hàng ngàn cách thể hiện và phong cách khác nhau.
Dù là phong cách gì đi nữa, thì sự thờ phượng thật vẫn chiếm hữu cả hai bán cầu não của bạn. Nó liên quan tới cả tình cảm và sự khôn ngoan, tấm lòng và tâm trí. Chúng ta phải thờ phượng bằng tâm thần và lẽ thật.
Những người chưa tin Chúa có thể xem các tín đồ thờ phượng . Những người chưa tin Chúa có thể quan sát niềm vui mà chúng ta cảm nhận. Họ có thể thấy cách chúng ta đề cao Lời của Đức Chúa Trời, cách chúng ta đáp ứng với Lời đó, và cách Kinh Thánh trả lời những nan đề, những nghi vấn của cuộc sống. Họ có thể lưu ý cách thức mà sự thờ phượng khích lệ, thêm sức, và thay đổi chúng ta. Thậm chí họ còn có thể cảm nhận được sự vận hành siêu nhiên của Đức Chúa Trời trong một buổi thờ phượng, dù rằng họ sẽ không thể giải thích được điều đó.
Sự thờ phượng là một lời chứng quyền năng đối với những người chưa tin nếu như họ cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời và sứ điệp dễ hiểu . Trong Cong Cv 2:1-47, vào ngày Lễ Ngũ Tuần, sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong buổi thờ phượng của các sứ đồ rõ ràng đến độ nó đã thu hút sự chú ý của những người ngoại trong khắp thành phố đó. 2:6 chép “…dân chúng chạy đến.” Chúng ta biết rằng đó hẳn là một đám đông lớn lắm vì có đến 3,000 người được cứu nội ngày này.
Tại sao 3,000 người này lại tin Chúa? Vì họ cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và họ hiểu được sứ điệp. Cả hai nhân tố này đều hết sức cần thiết trong một lời chứng thờ phượng. Trước hết, người ta phải cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong buổi thờ phượng. Số người tin Chúa do cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời nhiều hơn toàn bộ những người tin Chúa do lập luận của chúng ta. Có rất ít người, nếu có, tin Chúa trong những môi trường thuần lý trí. Chính cảm nhận về sự hiện diện của Đức Chúa Trời mới làm tan chảy những tấm lòng và làm nổ tung những rào cản tâm trí.
Cùng lúc đó, sự thờ phượng và sứ điệp cũng cần phải dễ hiểu. Trong Lễ Ngũ Tuần, Thánh Linh đã dịch sứ điệp sang các ngôn ngữ mà mỗi người đều có thể hiểu được. Đám đông những người chưa tin nói, “Chúng ta đều nghe họ lấy tiếng chúng ta mà nói những sự cao trọng của Đức Chúa Trời” (2:11, có nhấn mạnh). Chính sự hiểu này đã khiến họ tin. Ngay cả khi có sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong buổi thờ phượng đó, họ cũng sẽ không biết phải làm gì nếu không thể hiểu sứ điệp.
Có một sự liên kết chặt chẽ giữa thờ phượng và truyền giáo. Mục tiêu của truyền giáo là làm sản sinh những người thờ phượng Đức Chúa Trời. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng “Chúa Cha vẫn tìm kiếm (những người thờ phượng)” (GiGa 4:23, BDM) cho nên truyền giáo là sứ mệnh tìm kiếm những người thờ phượng cho Đức Chúa Trời.
Cùng lúc đó, chính sự thờ phượng lại là động cơ của việc truyền giáo. Chính nó làm nảy sinh trong lòng chúng ta khao khát được nói với người khác về Đấng Christ. Kết quả kinh nghiệm thờ phượng đầy quyền năng của Ê-sai (EsIs 6:1-8) đã khiến ông thốt lên, “Có tôi đây, xin hãy sai tôi!” Sự thờ phượng thật khiến chúng ta làm chứng.
Trong sự thờ phượng thật, người ta cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời, nhận lãnh được sự tha thứ của Ngài, những mục đích của Ngài được bày tỏ và quyền năng của Ngài được thể hiện. Đối với tôi, đó là một môi trường lý tưởng để truyền giáo! Tôi chú ý thấy rằng khi những người chưa tin nhìn các tín nhân tương giao với Đức Chúa Trời một cách chân thành, thông biết, điều đó cũng tạo nên trong họ một khao khát được biết Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời muốn chúng ta để ý đến những nỗi lo sợ , những thắc mắc , và các nhu cầu của những người chưa tin Chúa khi họ đến dự các buổi thờ phượng của chúng ta . Đây là nguyên tắc Phao-lô dạy trong ICo1Cr 14:1-40. Ở câu 23, Phao-lô ra lệnh phải giới hạn việc nói tiếng lạ trong buổi thờ phượng chung. Lập luận của ông là gì? Đối với những người chưa tin Chúa, nói tiếng lạ chẳng khác gì một trò nhảm nhí. Phao-lô không nói rằng nói tiếng lạ là nhảm nhí, ông chỉ nói rằng tiếng lạ có vẻ nhảm nhí đối với những người ngoại. “Vậy, khi cả Hội thánh nhóm lại một nơi, nếu ai nấy đều nói tiếng lạ, mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe, họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao?” (14:23).
Tôi tin rằng đằng sau lời khuyên cho Hội Thánh Cô-rinh-tô này còn có một nguyên tắc lớn hơn. Vấn đề Phao-lô muốn nói ở đây là chúng ta phải sẵn sàng điều chỉnh các nghi thức thờ phượng của mình khi những người chưa tin có mặt. Đức Chúa Trời bảo chúng ta phải để ý tới những bức xúc của những người chưa tin trong các buổi thờ phượng của chúng ta. Nhạy cảm với các thân hữu có mặt trong các buổi thờ phượng của chúng ta là một mạng lệnh trong Kinh Thánh.
Dù rằng Phao-lô không hề dùng từ “nhạy cảm với các thân hữu,” nhưng ông rõ ràng đã đề cao ý tưởng đó. Ông rất nhấn mạnh việc tránh đặt những hòn đá vấp chân trước mặt những người chưa tin Chúa. Ông nói với Hội Thánh Cô-rinh-tô, “Đừng làm gương xấu cho người Giu-đa, người Gờ-réc, hay là Hội thánh của Đức Chúa Trời” (10:32). Ông cũng khuyên Hội Thánh Cô-lô-se, “Hãy lấy sự khôn ngoan ăn ở với những người ngoại , và lợi dụng thì giờ” (CoCl 4:5, có nhấn mạnh).
Khi có khách đến nhà ăn tối với gia đình, gia đình của bạn có cư xử khác hơn thường lệ không? Dĩ nhiên là như vậy rồi! Bạn chú ý tới các nhu cầu của những người khách, phục vụ họ hết mình. Thức ăn có lẽ vẫn như vậy, nhưng bạn dùng một bộ chén dĩa khác, hoặc trình bày món ăn trông hấp dẫn hơn. Cuộc nói chuyện tại bàn ăn cũng nhã nhặn hơn. Đó có phải là giả hình không? Không. Làm như vậy tức là bạn quan tâm và bày tỏ lòng kính trọng của mình đối với những người khách. Cũng như vậy, món ăn thuộc linh trong một buổi thờ phượng dành cho các thân hữu thì không thay đổi, nhưng cách trình bày nó cần được đầu tư suy nghĩ nhiều hơn và cũng quan tâm hơn tới những vị khách có mặt nữa.
Một chương trình thờ phượng không nhất thiết phải cạn cợt mới làm cho thân hữu cảm thấy dễ chịu . Không cần phải làm cho sứ điệp yếu đi , chỉ cần làm cho nó dễ hiểu . Thực hiện một chương trình thờ phượng “thoải mái” cho các thân hữu không có nghĩa là thay đổi thần học của bạn, mà nó có nghĩa là thay đổi môi trường thờ phượng. Thay đổi môi trường có thể thực hiện qua cách bạn chào đón các vị khách, phong cách âm nhạc bạn dùng, bản dịch Kinh Thánh bạn chọn làm nền tảng, và các loại thông báo trong chương trình.
Sứ điệp không phải lúc nào cũng thoải mái đâu; trên thực tế, có đôi lúc lẽ thật của Đức Chúa Trời rất khó chịu! Dẫu vậy, chúng ta cần phải dạy “toàn bộ ý muốn của Đức Chúa Trời.” Nhạy cảm với các thân hữu không giới hạn điều bạn nói, nhưng nó ảnh hưởng cách bạn nói điều đó .
Như tôi đã đề cập trong chương trước, những người chưa tin không đòi hỏi phải làm yếu sứ điệp đi-họ muốn nghe Kinh Thánh khi họ đến nhà thờ. Điều họ thực sự muốn là lắng nghe xem Kinh Thánh liên hệ như thế nào tới đời sống của họ bằng một ngôn ngữ họ có thể hiểu được trong một lối diễn đạt thể hiện cách bạn tôn trọng cũng như quan tâm đến họ. Họ đang tìm kiếm những giải pháp chứ không phải những lời quở trách.
Những người chưa tin cũng tranh đấu với cùng những vấn đề sâu sắc mà những người tin Chúa phải đối diện: Tôi là ai? Tôi từ đâu tới? Tôi đang đi về đâu? Cuộc sống có ý nghĩa gì không? Tại sao có sự đau khổ và tội lỗi trên thế gian? Mục đích của cuộc đời tôi là gì? Làm thế nào để hòa thuận với mọi người? Đây rõ ràng không phải là những vấn đề nông cạn.
Nhu cầu của những người tin Chúa và những người chưa tin là rất khác nhau . Nhưng trong một vài lĩnh vực thì lại giống nhau . Các chương trình thờ phượng nhạy cảm với người tìm kiếm tập trung vào những nhu cầu chung của cả những người tin Chúa lẫn những người chưa tin. Chẳng hạn, cả hai nhóm người đều cần biết Đức Chúa Trời là như thế nào; họ cần hiểu mục đích của cuộc sống; họ cần biết phải làm thế nào để tha thứ cho những người khác; họ cần biết cách để củng cố hôn nhân và gia đình của họ; họ cần biết cách đối diện với sự đau đớn, buồn bã, khó nhọc; họ cần biết chủ nghĩa duy vật tai hại ra sao. Các Cơ-đốc nhân không ngừng có các nhu cầu dù họ đã được cứu rồi.
Tốt nhất là soạn chương trình thờ phượng theo mục đích . Đa số các Hội Thánh cố gắng truyền giảng cho người hư mất và gây dựng niềm tin cho các tín hữu trong cùng một buổi thờ phượng. Nếu bạn gởi tín hiệu lẫn lộn, thì bạn sẽ nhận được kết quả lẫn lộn. Cố gắng nhắm vào hai mục tiêu từ một khẩu súng sẽ chỉ đem lại sự thất bại mà thôi.
Hãy xây dựng một chương trình thờ phượng để gây dựng các tín hữu và một chương trình thờ phượng khác để truyền giảng cho những người bạn chưa tin của các thành viên trong Hội Thánh của bạn. Tại Hội Thánh Saddleback, chương trình thờ phượng dành cho các tín hữu được tổ chức vào tối thứ Tư, còn chương trình thờ phượng cho những thân hữu được tổ chức vào tối thứ Bảy và sáng Chúa Nhật. Bằng cách này bạn có thể dùng nhiều phong cách giảng dạy, nhiều bài hát, nhiều lối cầu nguyện khác nhau cùng với những yếu tố khác nữa thích hợp với đối tượng của bạn.
Khi tôi thành lập Hội Thánh Saddleback, tôi đã hỏi những người không đi nhà thờ rằng họ muốn đến thăm một Hội Thánh vào lúc nào nhất. Mọi người đều nói, “Nếu tôi có đi, tôi sẽ đi vào sáng Chúa Nhật.” Tôi cũng hỏi các thành viên của mình rằng khi nào thì họ thích mời những người bạn chưa tin của mình đến nhà thờ nhất. Một lần nữa, họ lại nói sáng Chúa Nhật. Ngay trong văn hóa thời nay, người ta vẫn còn nghĩ rằng sáng Chúa Nhật là “lúc để đi nhà thờ.” Cho nên đó là lý do chúng tôi quyết định chọn sáng Chúa Nhật để truyền giảng, còn tối thứ Tư thì gây dựng.
Các buổi thờ phượng truyền giảng không phải mới mẻ gì; chỉ có ý tưởng dùng buổi sáng Chúa Nhật để tổ chức buổi thờ phượng truyền giảng là mới mà thôi. Hồi đầu thế kỷ này, nhìn chung, những buổi tối Chúa Nhật được xem là “chương trình thờ phượng truyền giảng” của các Hội Thánh. Còn một số ít Hội Thánh vẫn thông báo tổ chức chương trình thờ phượng truyền giảng vào các tối Chúa Nhật, dẫu rằng số người chưa tin đến dự không có là bao nhiêu. Ngay cả các tín hữu còn không thích dự nhóm vào các buổi tối Chúa Nhật! Họ đã phải bắt thăm cho vấn đề này hàng thập kỷ qua rồi.
Giờ thờ phượng truyền giảng chỉ phụ thêm vào cá nhân chứng đạo chứ không thay thế việc làm chứng cá nhân . Nhìn chung người ta có vẻ dễ quyết định tin Chúa khi có đông người hơn, khi có những người chung quanh ủng hộ. Các
chương trình thờ phượng dành cho thân hữu là một cơ hội làm chứng nhóm để tăng thêm sức mạnh và xác nhận lời chứng cá nhân của các thành viên. Khi một thân hữu đến dự chương trình thờ phượng này cùng với người bạn đã làm chứng cho mình, anh ta nhìn thấy đám đông và nghĩ, Cũng có nhiều người khác tin chuyện này đấy chứ . Vậy nó phải đúng chứ .
Có một quyền năng thuyết phục mạnh mẽ trong lời chứng của một đám đông tín hữu thờ phượng chung với nhau. Vì lý do đó, chương trình thờ phượng cho các thân hữu của bạn càng lớn chừng nào, thì càng trở thành một công cụ truyền giáo hữu dụng chừng nấy.
Không có một cách thức nào là chuẩn mực để tổ chức một chương trình thờ phượng dành cho thân hữu . Lý do là vì các thân hữu không phải ai cũng giống ai! Một số người muốn dự phần vào chương trình thờ phượng; những người khác lại thích thụ động ngồi nghe và quan sát. Một số người thích các chương trình thờ phượng yên lặng, trầm tư; trong khi những người khác lại thích các chương trình thờ phượng năng động. Phong cách thờ phượng phù hợp với miền nam California nhất có lẽ sẽ không có tác dụng tại New England và ngược lại. Cần phải có đủ loại chương trình thờ phượng để tiếp cận đủ mọi loại người tìm kiếm.
Chỉ có ba yếu tố là không thể bỏ qua trong một chương trình thờ phượng dành cho thân hữu: (1) cư xử với những người chưa tin bằng tình yêu thương và sự kính trọng, (2) liên hệ buổi thờ phượng với những nhu cầu của họ, và (3) chia sẻ sứ điệp một cách thực tế, dễ hiểu. Mọi yếu tố khác đều là những vấn đề thứ yếu mà các Hội Thánh không cần bận tâm tới nhiều.
Cách đây gần hai mươi năm, tôi đã bắt đầu đề nghị các Hội Thánh tổ chức các chương trình thờ phượng cho thân hữu. Đến bây giờ, chương trình thờ phượng này đã thu hút sự chú ý của các phương tiện truyền thông đại chúng, đôi lúc tôi thấy người ta quá nhấn mạnh những yếu tố kém quan trọng. Họ lo lắng về chuyện không sử dụng tòa giảng, không mặc áo vest, nên hay không nên diễn kịch, như thể những điều này sẽ tự động lôi kéo thân hữu đến nhà thờ của họ. Họ sai rồi. Nếu mọi người tìm kiếm đều đang tìm một sản phẩm chất lượng cao, họ sẽ ở nhà xem tivi.
Điều thực sự thu hút số đông những thân hữu đến với một Hội Thánh chính là những đời sống được biến đổi. Người ta muốn đến những nơi nào họ thấy nhiều đời sống đang được biến đổi, những niềm đau được chữa lành, và niềm hy vọng được phục hồi.
Tại Saddleback, bạn sẽ thấy những đời sống biến đổi ở khắp nơi. Hầu như trong mỗi chương trình thờ phượng cho thân hữu, chúng tôi đều có phần làm chứng của một người hay một cặp vợ chồng nào đó đã được quyền năng và tình yêu thương của Chúa Giê-xu Christ biến đổi một cách kỳ diệu. Chiến lược “hài lòng khách hàng” này khiến cho những người hoài nghi không còn lý lẽ mà tranh biện.
Hội Thánh Saddleback đã làm gương cho những Hội Thánh nhạy cảm với thân hữu bằng cách chinh phục hàng ngàn người cho Đấng Christ bất chấp những hoàn cảnh không thuận lợi và khó khăn. Hãy tưởng tượng một Hội Thánh mà cứ phải đổi địa điểm hoài; một Hội Thánh mà các thân hữu đến ngồi trong một căn lều lạnh cóng vào mùa đông, ẩm ướt và dột nước vào mùa xuân, hết sức nóng nực vào mùa hè, và gió thổi ào ào vào mùa thu. Hãy tưởng tượng một Hội Thánh mà người ta phải đậu xe cách đó ba dặm khi cần thiết và sẵn sàng che dù đứng trong mưa để dự nhóm. Khi đời sống được biến đổi, những nan đề dường như quá tải đối với Hội Thánh sẽ được giải quyết cách nhanh chóng, dễ dàng.
Trong mỗi chương trình thờ phượng của Hội Thánh Saddleback, chúng tôi mời hội chúng điền một tấm thẻ đăng ký và hát những bài hát thờ phượng. Chúng tôi lấy tiền dâng và chia sẻ một sứ điệp trong Kinh Thánh và kêu gọi cam kết. Dù tôi có nghe một số người tuyên bố rằng làm như vậy thì bạn không thể tiếp cận những người chưa tin được, nhưng tại Hội Thánh Saddleback, có hơn 7,000 người chưa tin đã ghi cam kết cá nhân với Đấng Christ, và hàng ngàn người khác đang suy nghĩ quyết định xem có trở lại vào những tuần sau không. Đó là cách bạn làm những việc này để tạo nên sự khác biệt.
Những phương pháp tiếp cận và những kỹ thuật mới chẳng qua chỉ là công cụ. Bạn không cần phải dùng những vở kịch và truyền thông đa phương tiện hay phải có một ngôi nhà thờ đẹp và một bãi đậu xe rộng rãi để tiếp cận những người chưa tin. Những thứ này chỉ khiến cho việc đó dễ hơn mà thôi. Xin hiểu rằng những gợi ý tôi đưa ra trong hai chương tiếp theo chỉ là những nguyên tắc chung, là những gì đã đem lại kết quả tại Hội Thánh Saddleback. Xin đừng xem chúng là Mười Điều Răn. Chính tôi cũng sẽ không làm mọi điều chúng tôi đã làm tại Hội Thánh Saddleback nếu tôi đang ở một khu vực khác. Bạn cần phải xác định điều nào phù hợp nhất với hoàn cảnh địa phương của bạn nhằm tiếp cận những người chưa tin Chúa.
Cần phải có những tín nhân trưởng thành , không ích kỷ để thực hiện một chương trình thờ phượng cho thân hữu . Trong ICo1Cr 14:19-20, Phao-lô nói rằng khi chúng ta chỉ nghĩ đến những nhu cầu của mình trong sự thờ phượng thì chúng ta thật là trẻ con và chưa trưởng thành. Các thành viên thể hiện sự trưởng thành thuộc linh khi họ quan tâm tới những nhu cầu, những lo sợ và thắc mắc của những người chưa tin và sẵn sàng đặt những nhu cầu đó lên trước nhu cầu của họ trong một buổi thờ phượng.
Trong mỗi Hội Thánh thường có sự mâu thuẫn dai dẳng giữa hai khái niệm “phục vụ” và “được phục vụ.” Đa số các Hội Thánh thiên về việc đáp ứng những nhu cầu của các thành viên vì họ thanh toán các hóa đơn. Tổ chức chương trình thờ phượng cho thân hữu có nghĩa là cố ý đổi hướng ngược lại, hướng về những người chưa tin. Cần phải có những thành viên sẵn sàng tạo nên một môi trường an toàn cho những người chưa tin thỏa mãn những sở thích, truyền thống và tiện nghi của họ. Cần phải có sự trưởng thành thuộc linh thật mới có thể tình nguyện bước ra khỏi vùng an toàn.
Chúa Giê-xu phán, “Các con nên bắt chước Ta, vì Ta đến trần gian không phải để cho người phục vụ, nhưng để phục vụ người, và hy sinh tính mạng cứu chuộc nhiều người” (Mat Mt 20:28, BDY). Cho đến khi nào thái độ phục vụ không ích kỷ thâm nhập vào tâm trí và tấm lòng của các thành viên trong Hội Thánh của bạn, thì Hội Thánh của bạn mới sẵn sàng để bắt đầu chương trình thờ phượng cho thân hữu.
Chương 14: Thiết Kế Một Chương Trình Thờ Phượng Cho Thân Hữu
“Vậy , khi cả Hội thánh nhóm lại một nơi , nếu ai nấy đều nói tiếng lạ , mà có kẻ tầm thường hoặc người chẳng tin vào nghe , họ há chẳng nói anh em là điên cuồng sao ?”
ICo1Cr 14:23
“Hãy lấy sự khôn ngoan ăn ở với những người ngoại , và lợi dụng thì giờ .”
CoCl 4:5
Lớn lên trong một gia đình Cơ-đốc, tôi thường rất bối rối khi dắt những người bạn chưa tin của mình đến nhà thờ. Hầu như mỗi lần tôi dắt bạn mình đi nhà thờ thì buổi sáng Chúa Nhật đó ba tôi lại giảng về việc dâng phần mười, một giáo sĩ nào đó lên chia sẻ ơn phước hoặc là chúng tôi có một buổi thờ phượng bình thường-không có điều gì những người bạn chưa tin của tôi cần nghe hay kinh nghiệm.
Nhưng thường thì vào những ngày nghỉ cuối tuần, lúc tôi không dẫn những người bạn của tôi đến, thì sứ điệp lại tập trung vào sự cứu rỗi. Tôi nghĩ, “Tiếc thật, giá như có mấy đứa bạn của mình ở đây hôm nay!” Hết tuần này sang tuần khác, tôi không biết có buổi thờ phượng nào “an toàn” để tôi đưa những người chưa tin đến hay không. Trọng tâm của sứ điệp là điều không thể đoán trước được, luôn luôn thay đổi giữa truyền giảng và gây dựng. Tôi cũng thấy điều này tại Hội Thánh mà tôi sinh hoạt lúc còn đi học đại học. Cuối cùng, tôi không mời những người chưa tin đến nhà thờ nữa. Đó không phải là một quyết định tỉnh táo-tôi chỉ quá mệt mỏi thôi.
Hầu hết các Hội Thánh hiếm khi thu hút những người chưa tin đến với các chương trình thờ phượng của họ vì những thành viên không sẵn lòng đưa dắt họ tới nhà thờ. Bất luận vị mục sư khích lệ các thành viên dắt bạn bè tới bao nhiêu, hay có bao nhiêu chương trình thăm viếng được tổ chức, kết quả vẫn như vậy: Hầu hết các thành viên chẳng bao giờ dắt bất cứ người bạn chưa tin nào đến nhà thờ.
Tại sao lại như vậy? Có ba nguyên do quan trọng. Trước hết, như tôi đã nói, không thể đoán trước đối tượng của các sứ điệp. Hết tuần này sang tuần khác, các thành viên không biết được lúc nào mục sư mình sẽ giảng sứ điệp truyền giảng hay sứ điệp gây dựng. Thứ hai, các chương trình thờ phượng không được thiết kế dành riêng cho các thân hữu; phần lớn những gì được thực hiện trong các chương trình thờ phượng đều không thể hiểu được đối với một người chưa tin. Thứ ba, các thành viên có thể hổ thẹn về chất lượng của buổi thờ phượng.
Nếu bạn có thể yêu cầu một thành viên tiêu biểu trong Hội Thánh của bạn nói cách chân thật về Hội Thánh mình, thì có lẽ anh ta sẽ nói như sau: “Tôi rất yêu Hội Thánh của mình. Tôi thương mục sư của tôi lắm. Tôi thật nhận được phước hạnh từ các tiết mục trong chương trình thờ phượng. Nó đáp ứng những nhu cầu của tôi. Nhưng… tôi không nghĩ tới chuyện mời bạn của mình tới vì chương trình thờ phượng sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với họ. Các sứ điệp, bài hát, lời cầu nguyện đều dành cho tôi, và được thể hiện bằng thứ ngôn ngữ tôi hiểu, ngay cả các thông báo cũng dành cho tôi nốt. Những người bạn của tôi sẽ không thể hiểu được chương trình thờ phượng.” Thẳng thắn mà nói, ngay lúc đó, anh ta sẽ cảm thấy mắc tội vì không mời những người bạn của mình tới.
Gia tăng kích cỡ của Hội Thánh không đòi hỏi tri thức của một khoa học gia về tên lửa: Bạn chỉ cần khiến cho nhiều người ghé thăm! Không một ai trở thành thành viên Hội Thánh mà chưa từng một lần làm khách tại Hội Thánh đó. Nếu mỗi năm bạn chỉ có vài người khách ghé thăm, thì số thành viên mới của bạn còn ít hơn nữa. Một đám đông không phải là một Hội Thánh, nhưng để phát triển một Hội Thánh, trước tiên bạn phải thu hút một đám đông.
Phương cách tự nhiên nhất để làm tăng số người ghé thăm Hội Thánh của bạn là gì? Làm cho các thành viên thấy mắc tội vì không mời bạn bè tới ư? Không. Treo một tấm bảng lớn đề rằng: “Chào Mừng Các Vị Khách” chăng? Không. Gọi điện tới từng gia đình trong cộng đồng của bạn? Có lẽ là không. Tổ chức các cuộc thi cho những người đến dự? Không thể nào. Đăng quảng cáo hay quảng cáo qua điện thoại? Lại sai.
Câu trả lời rất đơn giản: Hãy tổ chức một chương trình thờ phượng được thiết kế sao cho các thành viên của bạn có thể dắt đưa bạn bè của họ tới. Hãy khiến cho buổi thờ phượng thu hút, gần gũi, và phù hợp với những thân hữu để các thành viên của bạn có thể sốt sắng nói về nó cho những người chưa tin.
Hội Thánh Saddleback đã có chương trình thờ phượng này ngay từ đầu. Khi các Hội Thánh khác bắt đầu phát triển những phương pháp tiếp cận tương tự, khái niệm “chương trình thờ phượng nhạy cảm với thân hữu” bắt đầu được dùng để mô tả chương trình thờ phượng này. Khi có chương trình thờ phượng mà các Cơ-đốc nhân muốn đưa những người bạn chưa tin của mình tới tham dự, bạn không cần phải dùng những cuộc thi, các chiến dịch hay mặc cảm tội lỗi để gia tăng số người đến. Các thành viên sẽ mời bạn bè của họ đến mỗi tuần, và Hội Thánh của bạn sẽ kinh nghiệm một dòng người chưa tin cứ liên tục kéo tới Hội Thánh. Trong chương này và chương tiếp theo, tôi muốn đưa ra một vài gợi ý thực tiễn để thiết kế một chương trình thờ phượng cho thân hữu.
Lập Chương Trình Thờ Phượng Nhắm Vào Đối Tượng Của Bạn
Mỗi tuần, tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi đều nhắc nhở nhau cố gắng tiếp cận: Anh Saddleback Sam và vợ anh ta là Samantha. Một khi bạn biết rõ đối tượng của mình, điều đó sẽ giúp bạn xác định các tiết mục trong chương trình thờ phượng: phong cách âm nhạc, các đề tài sứ điệp, các bài làm chứng, những hình vẽ sáng tạo và nhiều điều khác nữa.
Hầu hết các Hội Thánh Tin Lành kết thúc chương trình thờ phượng của họ bằng lời kêu gọi dâng mình. Điều này cho thấy rằng chúng ta kết hợp thờ phượng và truyền giáo. Nhưng nhiều người không nhận thấy rằng đây là một chiến lược tự đánh bại mình khi dành năm mươi tám phút đầu của giờ thờ phượng cho các tín hữu và thình lình chuyển trọng tâm sang những người chưa tin trong hai phút cuối. Những người chưa tin sẽ không chịu ngồi suốt năm mươi tám phút đầu của chương trình thờ phượng khi mà chẳng có gì liên hệ tới đời sống của họ cả. Toàn bộ chương trình thờ phượng, không chỉ thư mời, cần phải được lên kế hoạch dành cho các thân hữu.
Càng Dễ Tham Dự Càng Tốt
Người Mỹ luôn muốn mọi sự tiện lợi cho họ. Mục tiêu của bạn là phải gỡ bỏ mọi rào cản để những thân hữu không có lý do nào mà không đến dự.
Tổ chức nhiều thì giờ thờ phượng . Điều này khiến cho người ta có nhiều cơ hội để tham dự. Đã nhiều năm qua Hội Thánh Saddleback có bốn chương trình thờ phượng giống nhau vào những thì giờ khác nhau trong tuần: 6:00 giờ chiều thứ bảy, 8:00, 9:30 và 11:15 sáng Chúa Nhật. Chúng tôi thường để cho những người chưa tin Chúa tham dự một chương trình thờ phượng, rồi về nhà và mời một người bạn, sau đó lại trở lại buổi thờ phượng để nghe giảng.
Có chỗ đậu xe rộng rãi . Tại Mỹ, cần phải có chỗ đậu xe để tiếp cận nhiều người. Một trong những điều đầu tiên các vị khách lưu ý chính là chỗ đậu xe và điều khiển giao thông. Có lần tôi hỏi vài mục sư của các Hội Thánh lớn nhất tại California rằng nhà thờ của họ gặp vấn đề lớn nhất gì. Ai trong số họ cũng trả lời: không đủ chỗ đậu xe. Khi người ta đi nhà thờ, họ thích mang xe hơi của họ theo! Nếu bạn không có chỗ cho xe của họ, thì bạn cũng không có chỗ cho họ. Dù nhà thờ của bạn có lớn đến đâu, bạn vẫn không thể lấp đầy từng chiếc ghế nếu không có đủ chỗ đậu xe.
Tổ chức chương trình Trường Chúa Nhật cho thiếu nhi cùng thời điểm nhóm thờ phượng . Những thân hữu không muốn phải đối phó với những đứa trẻ mè nheo, dù đó là con của họ hay con của người khác. Hội Thánh Saddleback có bốn chương trình Trường Chúa Nhật tổ chức cùng thời điểm với các chương trình thờ phượng cho thân hữu.
Vẽ bản đồ chỉ đường đến nhà thờ của bạn trên mọi phương tiện quảng bá . Không có gì gây nản lòng cho bằng cố tìm ra một nơi nào đó mà không có bản đồ. Nhà thờ Saddleback có cả một đoạn đường vào rộng bốn lane, dài nửa dặm. Nó được gọi là Đại Lộ Saddleback, và nhà thờ là địa chỉ duy nhất trên con đường này. Dẫu vậy, người ta cứ hay đi lạc khi cố tìm chỗ chúng tôi.
Hãy Cải Thiện Tốc Độ Và Diễn Tiến Của Buổi Thờ Phượng
Hầu hết các Hội Thánh đều cần phải tăng tốc các chương trình thờ phượng. Truyền hình đã thu ngắn thời gian chú ý của những người Mỹ. Trong thời gian nghỉ của một trận đấu bóng trên truyền hình vào tối thứ Hai, bạn sẽ được xem các pha chiếu chậm, ba quảng cáo và một bản tin ngắn-người ta không muốn bạn chán! MTV còn rút ngắn thời gian chú ý của những cặp đang sinh con nhiều hơn nữa. Chỉ trong ba phút video thôi, bạn có thể nhận được hàng ngàn hình ảnh khác nhau.
Trái lại, hầu hết các chương trình thờ phượng của các Hội Thánh diễn ra chậm như sên. Có rất nhiều “giờ chết” giữa các tiết mục khác nhau. Khi người phụ trách âm nhạc kết thúc một bài hát, anh ta bước qua rồi ngồi xuống. Mười lăm giây sau, vị mục sư mới nghĩ tới chuyện đứng dậy. Cuối cùng, ông chậm chạp bước về phía tòa giảng và chào mừng mọi người. Cùng lúc này, những người chưa tin đã ngủ hết rồi. Hãy cố gắng rút ngắn thời gian chuyển tiếp. Ngay khi một tiết mục chấm dứt, thì nên bắt đầu ngay tiết mục tiếp theo.
Hãy tìm đủ cách để tiết kiệm thời gian trong buổi thờ phượng của bạn. Chúng tôi thường có thời gian quy định cho mỗi tiết mục: thì giờ cầu nguyện, các bài hát, các thông báo, sứ điệp, kết thúc và cả thời gian chuyển tiếp giữa các tiết mục. Sau đó chúng tôi tự hỏi mình, “Cái gì chiếm quá nhiều thời gian và cái gì cần thêm thời gian?”
Các chương trình thờ phượng của chúng tôi thường kéo dài khoảng bảy mươi phút. Bạn có thể thực hiện được nhiều điều trong khoảng thời gian đó nếu bạn lên kế hoạch cách khôn ngoan. Chẳng hạn thì giờ dâng hiến có thể giảm phân nửa bằng cách tăng gấp đôi số người đi lấy tiền dâng.
Hãy rút ngắn giờ cầu nguyện mục vụ của bạn trong các chương trình thờ phượng cho thân hữu. Đó không phải là lúc để cầu thay cho chị Bertha bị móng chân mọc vào trong! Các thân hữu không chịu được những bài cầu nguyện dài; tâm trí của họ không tập trung hoặc họ sẽ thấy buồn ngủ. Các mục sư cần phải thận trọng khi sử dụng thì giờ cầu nguyện mục vụ yên tĩnh đó!
Để thêm vào việc tăng tốc chương trình thờ phượng của bạn, hãy tìm cách cải thiện dòng chảy của nó. Sự khác biệt giữa một chương trình thờ phượng trung bình và một chương trình nổi bật chính là tiến độ.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi dùng từ IMPACT (ẤN TƯỢNG) như một từ viết gọn để nhắc chúng tôi về tiến độ chúng tôi muốn tạo nên bằng âm nhạc của mình.
Inspire Movement (Khởi Động): Đây là điều chúng tôi muốn làm qua bài hát mở đầu. Chúng tôi dùng một bài hát sinh động, nhịp nhanh, vui tươi khiến cho bạn phải nhịp chân, vỗ tay hay ít nhất là mỉm cười. Chúng tôi muốn thả lỏng những cơ bắp của các vị khách căng thẳng. Khi thân thể của bạn được thả lỏng, thái độ của bạn sẽ ít phòng thủ hơn.
Để bắt đầu chương trình thờ phượng của mình, chúng tôi đánh thức thân thể Đấng Christ bằng cách đánh thức thân thể của chính chúng tôi. Khi người ta bước vào một chương trình thờ phượng buổi sáng, họ thường cảm thấy nặng nề, buồn ngủ, và dè dặt. Sau bài hát “Khởi Động” của chúng tôi, không khí luôn thay đổi sang chỗ vui tươi, gần gũi hơn. Sự khác biệt bài hát này có thể tạo nên thật đáng ngạc nhiên.
Praise (Ngợi Khen): Sau đó chúng tôi chuyển sang những bài hát vui tươi về Đức Chúa Trời.
Adoration (Thờ Phượng): Chúng tôi chuyển sang những bài hát chậm hơn, trầm và tha thiết hơn dâng lên Chúa. Tốc độ lúc này khá chậm.
Commitment (Cam Kết): Bài hát này tạo cơ hội xác nhận hay tái xác nhận sự cam kết với Đức Chúa Trời. Nó thường là bài đơn ca, chẳng hạn như “Con Muốn Giống Ngài Càng Hơn.”
Tie it all together (Kết Thúc): Điều cuối cùng chúng tôi làm là kết thúc buổi thờ phượng bằng một bài hát ngắn, sinh động
Hãy Khiến Các Vị Khách Cảm Thấy Thoải Mái
Các vị khách đã có ý kiến riêng về Hội Thánh của bạn trong vòng mười phút đầu tiên kể từ khi họ đến. Như tôi đã đề cập trong chương 12, các vị khách đã quyết định họ sẽ tới lần nữa hay không từ trước khi mục sư lên giảng. Những ấn tượng đầu tiên rất khó thay đổi, cho nên bạn cần phải suy nghĩ xem bạn muốn những vị khách của mình có được những ấn tượng đầu tiên gì. Như một câu ngạn ngữ cổ có nói, bạn không bao giờ có cơ hội thứ hai để tạo ấn tượng đầu tiên.
Trong việc tiếp khách, điều quan trọng cần hiểu là phản ứng tình cảm đầu tiên của họ là sự lo sợ. Nếu họ thực sự là những người chưa từng đến nhà thờ, họ sẽ hỏi, “Điều gì sẽ xảy đến cho tôi?” Họ có cùng một cảm giác và sợ hãi giống như khi bạn lần đầu tiên bước chân vào một đền thờ Hồi giáo: “Họ có khóa cửa lại không?” “Tôi có phải nói gì không?” “Tôi có bị xấu hổ vì làm điều gì sai không?”
Vì các vị khách đầy sự e ngại và lo sợ, lần đầu tiên bạn gặp gỡ họ phải làm sao để họ cảm thấy thoải mái. Truyền thông sẽ bị chặn lại khi một người lo sợ. Nếu bạn có thể làm giảm sự lo sợ của các vị khách; họ sẽ dễ dàng tiếp nhận Phúc Âm hơn. Có rất nhiều cách thực tế để làm việc này.
Dành những chỗ đậu xe tốt nhất cho các quan khách . Có một tấm bảng ngay lối vào khuôn viên Hội Thánh Saddleback yêu cầu các vị khách lần đầu tiên đến với Hội Thánh hãy bật đèn pha lên nếu họ muốn tới khu đậu xe dành riêng cho họ ở gần nơi thờ phượng nhất. Nếu bạn có chỗ đậu xe dành riêng cho các quan khách, bạn có thể sắp đặt các tiếp tân viên để chào mừng các vị khách và chỉ đường ngay khi họ vừa ra khỏi xe. Tại Hội Thánh Saddleback, tất cả các mục sư và các nhân sự đều đậu xe trên đất. Chỉ có những quan khách mới đậu xe vào bãi dành riêng cho họ.
Sắp đặt các tiếp tân viên bên ngoài nhà thờ . Chúng tôi tin rằng việc chào mừng các vị khách là điều quan trọng đến nỗi chúng tôi có đến bốn loại tiếp tân viên: những người hướng dẫn đậu xe, những người chào mừng, những người đón tiếp và những người dẫn chỗ ngồi. Những người hướng dẫn đậu xe sẽ lo việc đậu xe. Đây là những nụ cười đầu tiên mà các quan khách sẽ gặp. Những người chào mừng thì đứng ở chỗ đậu xe và trên sân nhà thờ, chào mừng mọi người khi họ tiến đến gần nhà thờ. Những người đón tiếp sẽ ngồi tại bàn tiếp tân. Thay vì chỉ đường cho những người mới tới, họ sẽ dẫn đường cho các vị khách tới nơi mà họ cần tới. Những người dẫn chỗ ngồi sẽ chào mừng các vị khách trong chương trình thờ phượng, phân phát các tờ chương trình, giúp đỡ những trường hợp đặc biệt, và lãnh tiền dâng.
Thành phần quan trọng nhất trong bất kỳ tổ chức nào chính là những người trực tiếp quan hệ với khách hàng. Tại hãng hàng không Delta, những người quan trọng nhất đối với tôi là nhân viên bán vé và tiếp viên hàng không. Chủ tịch hãng chẳng quan trọng đối với tôi đâu. Tại sao? Tôi chẳng bao giờ liên hệ gì tới ông ta. Trong Hội Thánh của bạn, các tiếp tân viên là những người quan trọng nhất đối với các vị khách vì họ gặp gỡ các vị khách trong mười phút quyết định đầu tiên đó. Hãy lựa chọn những người dễ gần gũi và dễ mỉm cười với người lạ.
Việc lựa chọn những người chào mừng và người dẫn chỗ phù hợp với đối tượng của bạn cũng quan trọng. Nếu bạn muốn tiếp cận những cặp vợ chồng trẻ, hãy dùng những cặp vợ chồng trẻ; nếu bạn muốn tiếp cận thanh thiếu niên, hãy dùng các thanh thiếu niên; nếu bạn muốn tiếp cận những người đã về hưu, hãy dùng những người đã về hưu. Trong nhiều Hội Thánh, những người chào mừng thường là các thành viên lớn tuổi nhất. Nếu mọi người mà một vị khách gặp gỡ trong mười phút đầu tiên là những người lớn hơn họ đến bốn mươi tuổi, thì người ta sẽ tự hỏi liệu mình có thích hợp với Hội Thánh của bạn hay không.
Một điểm cuối cùng: Đừng phân biệt những người chào mừng bên ngoài bằng các bảng tên. Những người chào mừng có đeo các bảng tên khiến cho các vị khách cảm thấy như là họ đang được các “viên chức” trong Hội Thánh chào mừng. (Một mục sư của chúng tôi đã nói nhầm với một nhóm rằng, “Chúng tôi đặt những người chào mừng ở đó mà không mặc gì cho họ cả!”) Hãy bảo những người chào mừng rằng họ chỉ cần là chính họ-những thành viên thân thiện.
Treo các bảng thông báo bên ngoài nhà thờ . Những người đứng tại các bảng thông báo nên đeo bảng tên vì bạn muốn các vị khách biết chỗ nào cần tới để hỏi thăm.
Treo bảng chỉ đường trực tiếp ở khắp nơi . Hãy xác định rõ cổng vào nhà thờ của bạn, khu nhà trẻ, và đặc biệt là nhà vệ sinh. Đừng để các vị khách phải hỏi nhà vệ sinh ở đâu.
Cho phát nhạc khi mọi người bước vào nhà thờ . Hầu hết các nơi công cộng đều có phát nhạc nền. Bạn có thể nghe nhạc tại các cửa hàng bán lẻ, các cửa hàng tạp hóa, phòng mạch bác sĩ, các tòa nhà văn phòng, và một số thang máy. Thậm chí người ta còn mở nhạc trên máy bay khi đang ra đường băng. Tại sao? Vì âm nhạc giúp người ta thư giãn.
Sự im lặng đối với những vị khách là điều đáng sợ. Nếu bạn phải nói trong một căn phòng lớn với hơn 200 người và không có một ai nói lời nào, liệu bạn không tự hỏi có điều gì đang xảy ra sao? Bạn sẽ nghĩ, “Họ biết điều gì mà mình chưa biết?” Nhưng nếu bạn bước vào một căn phòng mà mọi người đều đang nói chuyện với nhau, bạn sẽ không cảm thấy e dè chút nào.
Cần có thời gian yên lặng trong thì giờ thờ phượng, nhưng đó không phải là trước lúc bắt đầu chương trình thờ phượng cho thân hữu. Bạn có bao giờ nhìn thấy một tấm bảng treo trước cửa nhà thờ nào ghi rằng “Xin Giữ Im Lặng” không? Đó là điều cuối cùng bạn muốn trong một chương trình thờ phượng cho các thân hữu. Bạn muốn bầu không khí trước buổi thờ phượng sống động và vui vẻ.
Chúng tôi đã để ý một hiện tượng rất thú vị: Nhạc nền của bạn càng lớn bao nhiêu, người ta càng nói nhiều bấy nhiêu. Nếu bạn chơi nhạc nhẹ, người ta nói ít. Khi các vị khách bước vào một tòa nhà mà mọi người đều đang nói chuyện thoải mái với nhau, cùng với tiếng nhạc rộn ràng, những lo sợ của họ sẽ mất đi. Họ sẽ thấy rằng người ta đang vui vẻ với nhau và thích được ở tại đây. Họ sẽ thấy rằng có sự sống trong Hội Thánh.
Đừng giới thiệu các vị khách trong chương trình thờ phượng . Một khi họ đã ngồi xuống rồi, chúng tôi không làm phiền họ hay phân biệt họ ra. Chúng tôi cứ để cho họ quan sát thì giờ thờ phượng mà không phải công khai giới thiệu mình với đám đông. Chúng tôi muốn họ cảm thấy được chào mừng mà không cảm thấy bị theo dõi.
Trớ trêu thay, cách nhiều Hội Thánh chào mừng các vị khách lại càng khiến cho họ cảm thấy khó chịu hơn là cứ để họ ngồi yên đó. Các vị khách ghét bị nêu ra giữa đám đông. (Trừ trường hợp đó là những nhân viên trong hệ phái đến thăm!) Một lý do khiến những Hội Thánh lớn có thể thu hút nhiều thân hữu như vậy là vì những người mới đến thích ẩn mình trong đám đông. Trong một Hội Thánh nhỏ, mọi người đều biết ai là khách-và người khách lại biết họ biết chuyện đó!
Tại Mỹ, nỗi sợ lớn nhất người ta phải đối diện khi đến dự tiệc là họ bị bao vây bởi những người lạ. Nỗi lo sợ thứ hai là phải nói trước đám đông, và thứ ba là bị hỏi những câu hỏi riêng tư giữa đám đông.
Cách nhiều Hội Thánh chào mừng các vị khách khiến họ rơi vào cả ba nỗi lo sợ lớn nhất đó cùng một lúc! Vị mục sư, vì nghĩ rằng mình thân thiện, nói rằng, “Xin mời anh/chị đứng lên, cho chúng tôi biết tên và một chút gì đó về anh/chị.” Chúng ta không nhận thức được điều gì xảy khi chúng ta làm như vậy, nhưng trong suy nghĩ của người khách, họ cảm thấy như mình đã chết một ngàn lần rồi vậy.
Khi đang sống ở Fort Worth, Kay và tôi sinh hoạt tại một Hội Thánh đã làm việc này ngược lại hoàn toàn. Thay vì mời các vị khách đứng dậy giới thiệu chính họ, thì tất cả các thành viên được yêu cầu lần lượt đứng lên để giới thiệu mình cho các vị khách, trong khi họ vẫn ngồi yên. Sau đó, các thành viên phải quay sang những người đang ngồi và hát một bài hát chào mừng tặng họ! Bạn tưởng tượng được không? Lần đầu tiên chúng tôi ghé thăm, các thành viên đứng xung quanh chúng tôi, và điều duy nhất chúng tôi nhìn thấy là những cái mông to béo. Sau đó họ bắt đầu hát tặng chúng tôi, “Chúng tôi vui vì bạn đến đây. Thật là tuyệt khi ở gần bạn…” Tôi muốn độn thổ cho rồi! Bạn có bao giờ được một người lạ hát tặng chưa? Tôi còn ngỡ ngàng nếu vợ tôi hát tặng tôi nữa là! Vấn đề của câu chuyện là gì? Hãy suy nghĩ về mọi điều bạn làm từ cái nhìn của một vị khách.
Dầu rằng tôi gọi những người mới đến là “các vị khách” chúng tôi cũng không gọi họ như thế tại Hội Thánh Saddleback. Chúng tôi gọi họ là những “khách mời.” Từ “du khách” ngụ ý họ sẽ không ở lại lâu. Từ “khách mời” ngụ ý rằng đây là người bạn sẽ làm mọi chuyện để người đó được thoải mái.
Nếu bạn dùng thẻ đăng ký , hãy phát cho mọi người cùng điền . Khi mọi người cùng đăng ký, những vị khách sẽ không bị phát hiện. Họ thấy rằng đây là điều mọi người cùng làm.
Tấm Thiệp Chào Mừng của Hội Thánh Saddleback là một công cụ giao tiếp quan trọng. Chúng tôi dùng chúng vào nhiều việc khác nhau: đăng ký dự nhóm, ghi nhận những quyết định thuộc linh, thu thập các nan đề cầu nguyện, thực hiện nghiên cứu, đăng ký vào các chương trình, tuyển thêm người lãnh đạo, đánh giá các chương trình thờ phượng, cập nhật các thông tin của các thành viên, thu nhận ý kiến về bài giảng, và mở các mục vụ mới, cũng như nhiều việc khác. Đó là một sợi dây liên kết quan trọng cho phép tôi bắt kịp tốc độ phát triển của Hội Thánh. Những tấm card này đáng giá ngàn vàng.
Tôi thường đọc từng tấm card hằng tuần. Điều đó giúp tôi nhớ từng cái tên của mỗi người cho tới khi chúng tôi có được 3,000 người dự nhóm. Bây giờ tôi chỉ đọc những tấm nào có các ghi chú đặc biệt ấn tượng đối với tôi. Nhưng đó vẫn là sợi dây liên kết trực tiếp của tôi. Mọi người biết rằng ai cũng có thể nhắn nhủ tôi điều gì đó qua tấm Thiệp Chào Mừng. Tôi khám phá ra rằng người ta sẽ viết cho bạn nhiều điều mà họ sẽ không bao giờ nói ra được.
Trên tấm card cũng có chỗ để các vị khách xác định đó là lần đầu, lần thứ hai, hay lần thứ ba họ đến với Hội Thánh chúng tôi. Để đáp lại, tôi đều gởi cho họ những thư cám ơn khác nhau.
Tôi khuyên bạn không nên dùng những cuốn sổ đăng ký, được chuyền từ người này sang người kia ký tên. Chúng làm hỏng tình trạng vô danh. Mọi người ngồi chung một băng đều có thể thấy những gì một người khách đã viết. Và những người chịu trách nhiệm tìm tên từ các sổ đăng ký sẽ gặp nhiều khó khăn hơn là tìm trên những tấm card. Chúng tôi thu lại các tấm card cùng lúc với thu tiền dâng. Nó khiến cho ai cũng có cái gì đó để bỏ vào giỏ dâng tiền. Ngay khi nhận tiền dâng xong, một đội thu thập dữ liệu bắt đầu sắp xếp và nhập tất cả các thông tin từ những tấm card vào máy tính cho các nhân sự dùng.
Chào mừng chung làm mọi người thoải mái . Những lời đầu tiên từ bục hướng dẫn sẽ bắt giọng cho cả chương trình thờ phượng. Mỗi tuần, một trong những mục sư của chúng tôi sẽ nói đại khái như, “Xin chào mừng quý vị đã đến với Hội Thánh Saddleback vào sáng Chúa Nhật này! Chúng tôi rất vui vì quý vị đã đến đây. Nếu quý vị lần đầu tiên tới đây, chúng tôi muốn bạn ngồi dựa lưng ra sau, thư giãn, và thưởng thức chương trình thờ phượng chúng tôi đã chuẩn bị cho bạn.”
Hãy để cho mọi người biết họ có thể thưởng thức chương trình thờ phượng. Hãy nói với họ rằng họ sẽ không phải nói điều gì và cũng sẽ chẳng có ai làm họ bỡ ngỡ. Cũng nên có một lời từ chối về việc dâng tiền: “Nếu bạn đang đến thăm chúng tôi, xin hiểu rằng bạn không nhất thiết phải dự phần vào việc dâng hiến. Điều này chỉ dành cho những ai là thành viên trong Hội Thánh chúng tôi. Là khách mời của chúng tôi, chúng tôi muốn bạn nhận được một điều gì đó từ chương trình thờ phượng này. Chúng tôi không mong bạn dâng tiền.”
Hãy bắt đầu và kết thúc mỗi chương trình thờ phượng bằng thì giờ chào hỏi lẫn nhau . Trong Thánh Kinh Tân Ước chúng ta thấy có năm lần Kinh Thánh bảo chúng ta phải chào thăm nhau và bày tỏ lòng yêu thương nhau. Vì vậy, lúc bắt đầu và lúc kết thúc mỗi buổi thờ phượng, chúng tôi bảo mọi người quay sang bên cạnh và bắt tay với ba (hay mười hoặc hai mươi) người khác.
Trải qua nhiều năm, truyền thống đơn giản này đã tạo nên một cảm nhận ấm áp về tình bạn và gia đình giữa những người không quen biết lẫn nhau. Đôi lúc, tôi bảo mọi người nói với nhau vào cuối buổi thờ phượng như vầy, “Hôm nay được ngồi gần anh thật vui quá!” Đối với một số người, hành động thân thiện nhỏ bé này là sự yên ủi duy nhất họ có trong tuần.
Vào những năm đầu của Hội Thánh Saddleback, các thành viên thực hành cái chúng tôi gọi là “quy tắc ba phút.” Chúng tôi đồng ý với nhau rằng trong ba phút đầu tiên sau khi kết thúc giờ thờ phượng, chúng tôi sẽ đến và chỉ nói chuyện với những người mình chưa gặp bao giờ. Điều này dựa trên một sự thật là những người ra về đầu tiên sau buổi thờ phượng luôn là những vị khách. Cho nên chúng tôi cứ đợi cho đến khi mọi người khách ra về mới thông công với nhau.
Nếu bạn dùng thẻ ghi tên , thì hãy phát cho mỗi người một tấm . Đừng tách biệt những vị khách bằng cách đeo cho họ trong khi không một ai khác đeo, hay không phát cho họ khi mọi người đã có một tấm thẻ rồi.
Cần có một bàn nước vào mỗi giờ thờ phượng . Những vị khách đi lòng vòng tham quan nhiều hơn sau giờ thờ phượng, bạn nên cho họ một tách cà phê và một ít bánh rán trên tay. Điều này cũng tạo cơ hội cho các thành viên gặp gỡ họ. Ăn uống thường có khuynh hướng giải tỏa căng thẳng cho mọi người trong các môi trường xã hội. Tôi không biết tại sao nó lại có tác dụng, nhưng bằng cách nào đó, một người nặng 300 pound sẽ cảm thấy an toàn hơn trong một đám đông xa lạ nếu anh ta có một tách cà phê trên tay để ẩn mình đi.
Tôi rất thích cách Chúa Giê-xu dạy dỗ dân sự khi họ đang đi theo hay đang ăn với Ngài. Tôi tin chắc điều này là có chủ ý. Cả hai hoạt động này làm cho dân sự thư giãn và rút ngắn những rào cản quan hệ. Khi dân sự thư giãn, họ lắng nghe tốt hơn và cởi mở hơn để thay đổi.
Hãy Làm Cho Không Gian Sáng Hơn
Các tòa nhà và môi trường vật lý tác động rất nhiều tới những gì diễn ra trong một buổi thờ phượng. Hình dạng của nhà thờ sẽ định dạng giờ thờ phượng của bạn. Bước vào một số nhà thờ và tâm trạng của bạn như tươi sáng hẳn lên; cũng có khi bước vào những nhà thờ khác, bạn sẽ cảm thấy buồn nản. Hình dạng của căn phòng có thể thay đổi tâm trạng ngay tức thì, nhiệt độ và ánh sáng bên trong nó cũng vậy. Hãy để ý tới những yếu tố này và sử dụng chúng. Hãy xác định bạn muốn buổi thờ phượng của bạn có tâm trạng như thế nào và hãy tạo ra nó.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi mô tả tâm trạng chúng tôi muốn có trong các chương trình thờ phượng cho thân hữu bằng từ kỷ niệm . Mỗi Chúa Nhật là một Lễ Phục Sinh tại Hội Thánh Saddleback, nên chúng tôi chuẩn bị các thứ đèn, ánh sáng để tạo nên môi trường vui nhộn. Các vị khách có thể cảm nhận được điều này ngay khi họ bước vào nhà thờ.
Hãy nhìn vào các phương tiện bạn có từ cái nhìn của một vị khách và cố gắng xác định xem ngôi nhà thờ của bạn đang truyền tải một sứ điệp gì. Nó đang nói gì? Một cánh cửa bằng gỗ màu tối có một thông điệp khác với thông điệp của cửa kính có phải không? Dĩ nhiên rồi.
Trước khi buổi thờ phượng bắt đầu, các vị khách đã có những đánh giá về Hội Thánh của bạn. Ngay lúc họ bước ra khỏi xe, họ đã bắt đầu để ý nhìn xuống đất, và nhìn xung quanh để chuẩn bị đánh giá về những phương tiện của bạn. Khuôn viên nhà thờ có được giữ sạch sẽ không? Cỏ có được cắt chưa và hàng rào cây có được tỉa sửa không? Có thùng rác nào ở quanh đó không? Tấm bảng tên Hội Thánh có cần phải sơn lại không? Sự sạch sẽ rất thu hút. Các phương tiện và các bãi đất dơ bẩn, nhếch nhác sẽ khiến người ta tránh xa.
Đôi lúc thông điệp của các tòa nhà trái ngược với thông điệp Hội Thánh bạn muốn truyền đi. Có thể bạn đang nói, “Chúng tôi rất thân thiện!” nhưng các tòa nhà của bạn thì lại nói, “Chúng tôi thì lạnh lùng và không quan tâm tới ai.” Bạn có thể tuyên bố, “Chúng tôi rất hợp thời,” còn nhà thờ của bạn thì gào thét rằng, “Chúng tôi đã lỗi thời năm mươi năm rồi.” Thật khó tạo dựng một hình ảnh “Chúng tôi hiệp một với nhau” trong khi nhà thờ của bạn thì đang mục rệu ra.
Một trong những vấn đề phải đối diện trong việc duy trì môi trường nhà thờ là bạn có khuynh hướng xem nhẹ những nhược điểm sau khoảng bốn tuần. Một khi bạn trở nên quen thuộc với ngôi nhà thờ, bạn không còn để ý xem nó sai sót chỗ nào nữa. Bạn quên mất những chỗ sơn hư, tấm thảm sờn cũ, tòa giảng bị mẻ một góc, những nét vẽ lỗi thời ngoài tiền sảnh, những tờ bướm cũ trong những cuốn thánh ca, những âm thanh không còn chính xác của cây đàn piano, bóng đèn bị cháy. Không may là những điều đó xuất hiện ngay trước mắt những ai chú ý chi li.
Một cách để thắng hơn khuynh hướng này là làm một bản báo cáo về tình trạng nhà thờ. Hãy cho một người thợ chụp ảnh đi khắp khuôn viên nhà thờ và chụp các bức ảnh theo cái nhìn của một người khách. Sau đó cho những người lãnh đạo của bạn xem các tấm hình này và quyết định xem cần phải làm điều gì. Hầu hết các mục sư không hề nhìn khán phòng của họ từ băng ghế phía sau. Các yếu tố môi trường bạn cần chú ý thật kỹ là ánh sáng, âm thanh, chỗ ngồi, không gian, nhiệt độ, cây cảnh, nhà trẻ và nhà vệ sinh.
Ánh sáng . Ánh sáng có một tác động mạnh mẽ đến tâm trạng của con người. Ánh sáng không đủ làm giảm tinh thần của buổi thờ phượng. Những bóng tối che khuất gương mặt người nói sẽ làm giảm tác dụng của sứ điệp.
Đa số các nhà thờ quá tối. Có lẽ điều đó bắt nguồn từ việc các Cơ-đốc nhân phải thờ phượng trong những căn hầm tối trong nhiều năm liền. Ngay cả các nhà thờ có nhiều cửa sổ cũng hay che cửa lại. Bằng cách nào đó, nhiều Hội Thánh đã có ý nghĩ rằng ánh sáng lờ mờ tạo nên tâm trạng “thuộc linh” hơn. Tôi hoàn toàn không đồng ý.
Tôi tin rằng các nhà thờ phải sáng và đầy ánh sáng. Đặc tính của Đức Chúa Trời được thể hiện trong sự sáng. IGi1Ga 1:5 chép, “Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm đâu.” Ánh sáng là điều đầu tiên hết Đức Chúa Trời tạo dựng (SaSt 1:3). Ngày nay, tôi nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ nói với hàng ngàn nhà thờ rằng, “Hãy có sự sáng.”
Nếu bạn muốn đánh thức các chương trình thờ phượng của bạn, hãy thắp sáng ngôi nhà thờ lên. Hãy cuốn màn cửa sổ lại. Hãy mở toang những cánh cửa sổ và cửa lớn. Mở hết mọi bóng đèn lên. Trong tuần này, hãy bí mật thay thế toàn bộ bóng đèn trong nhà thờ của bạn bằng những bóng đèn có công suất gấp đôi, rồi tuần tới bạn sẽ thấy tâm trạng buổi thờ phượng thay đổi như thế nào. Bạn có thể có cả một cuộc phấn hưng trong tầm tay mình!
Âm thanh . Hãy đầu tư cho hệ thống âm thanh tốt nhất bạn có đủ khả năng. Nếu bạn phải cắt bớt chi phí, hãy cắt ở một lĩnh vực nào đó-đừng cắt ở đây. Hội Thánh Saddleback tăng trưởng trong mười lăm năm mà không có một nhà thờ, nhưng chúng tôi luôn có một hệ thống âm thanh hiện đại, chất lượng cao.
Cho dù sứ điệp của bạn thuyết phục bao nhiêu đi nữa thì cũng không ăn thua gì nếu người ta không thể nghe nó một cách thoải mái nhất. Một hệ thống âm thanh nhỏ xíu, cũ kỹ sẽ làm hỏng tiếng hát của một ca sĩ được ơn nhất cũng như vô hiệu hóa những diễn giả giàu năng lực nhất. Và không có gì phá hỏng những giây phút thiêng liêng cho bằng tiếng hú chói tai của những chiếc loa. Nếu bạn là một mục sư, hãy nói Hội Thánh mua một bộ micro tốt để bạn không bị trói tay trên tòa giảng.
Chỗ ngồi . Cả sự thoải mái lẫn cách sắp xếp chỗ ngồi đều ảnh hưởng rất nhiều đến tâm trạng của bất kỳ buổi thờ phượng nào. Tâm trí chỉ có thể hấp thu những gì mà chỗ ngồi có thể chịu được. Thật không may, chuyện đứng ngồi lại là điều ma quỷ hay dùng nhất để khiến người ta phân tâm.
Nếu bạn có thể thay thế toàn bộ băng ghế, tôi khuyên bạn nên làm vậy. Trong bối cảnh văn hóa ngày nay, hai nơi duy nhất mà người ta bị buộc phải ngồi trên những băng ghế dài là trong nhà thờ và ngoài sân vận động, chỗ khán đài có vé rẻ tiền. Người ta muốn có cái ghế của riêng mình. Một không gian cá biệt được đánh giá cao trong xã hội chúng ta. Đây là lý do tại sao những chiếc ghế hộp tại các rạp hát luôn có giá cao hơn. Nếu người ta bị buộc phải ngồi quá gần nhau, họ sẽ cảm thấy rất không thoải mái. Mỗi người nên ngồi cách nhau ít nhất là mười tám inch nếu bạn dùng ghế rời và hai mươi mốt inch nếu bạn dùng ghế dài.
Nếu bạn dùng ghế ngồi có thể di chuyển được, hãy sắp đặt sao cho mọi người đều có thể nhìn thấy mặt nhau. Điều đó sẽ cải thiện đáng kể cách người ta đáp ứng trong buổi thờ phượng. Nếu bạn đang mở một Hội Thánh mới, hãy luôn luôn sắp ghế ít hơn số người bạn biết là sẽ có mặt. Người ta luôn được khích lệ khi phải nhắc thêm ghế ngồi. Và thật là chán nản khi tham dự một buổi thờ phượng đầy những chiếc ghế trống.
Không gian . Quy luật về không gian là: Đừng để quá rộng cũng đừng để quá chật! Cả hai thái cực này đều giới hạn sự tăng trưởng của bạn. Khi nơi thờ phượng của bạn đã đầy đến 80 phần trăm chỗ ngồi, bạn cần phải bắt đầu một chương trình thờ phượng mới. Một lý do khiến nhiều Hội Thánh cứ ở mãi tình trạng lình bình là vì họ nghĩ rằng họ không cần phải có thêm một thì giờ thờ phượng khác vì vẫn còn những chỗ trống trong nhà thờ. Khi bạn hết không gian, bạn sẽ rơi vào tình trạng mà Peter Wagner gọi là “sự bóp nghẹt xã hội” (sociological strangulation). Một ngôi nhà thờ nhỏ có thể bóp nghẹt sự tăng trưởng của một Hội Thánh.
Bạn cũng có thể có quá nhiều không gian. Nhiều Hội Thánh có những nhà thờ quá rộng lớn để họ có thể ngồi đầy mọi chỗ. Ngay cả khi bạn có 200 người dự nhóm, mà phòng nhóm lại có sức chứa 750 người, thì người ta vẫn có cảm giác là “chẳng có ai ở đây cả!” Hầu như không thể tạo một cảm giác ấm cúng và thân mật khi có quá nhiều ghế trống. Một động lực tăng trưởng quan trọng đã bị đánh mất khi nhà thờ quá lớn so với Hội Thánh của bạn.
Đám đông càng nhỏ chừng nào, diễn giả càng phải đứng gần họ bấy nhiêu. Khi đám đông tăng trưởng lớn hơn, thì bục giảng cần phải dời ra xa hơn về phía sau và đưa lên cao hơn một chút. Nếu bạn chỉ có năm mươi người trong buổi thờ phượng, thì chỉ cần đặt tòa giảng cách hàng ghế đầu chừng vài feet. Hãy quên chuyện sân khấu đi.
Nhiệt độ . Là một mục sư đã giảng nhiều năm trong những phòng tập thể dụng không có điều hòa và những nhà lều không có hệ thống sưởi, tôi nói điều này với lòng tin rất mạnh mẽ: Nhiệt độ có thể phá hỏng cả một chương trình thờ phượng được lên kế hoạch tốt nhất chỉ trong vài phút! Khi người ta thấy quá nóng hay quá lạnh, họ không chịu tham dự nữa. Tâm trí họ bắt đầu không tập trung và lại mong muốn cho mọi sự sớm kết thúc.
Một trong những lỗi phổ biến mà các Hội Thánh hay mắc phải trong việc điều hòa nhiệt độ là để cho nhà thờ trở nên quá ấm. Người chuyên trách đặt máy điều nhiệt ở một nhiệt độ hợp lý trước buổi thờ phượng mà không nhận ra rằng khi mọi người đã ngồi đầy cả nhà thờ rồi, thì nhiệt độ thân thể sẽ làm tăng nhiệt độ không khí lên. Đến lúc máy điều hòa đã làm cho không khí mát dịu hơn thì buổi thờ phượng cũng sắp kết thúc.
Trước khi buổi thờ phượng bắt đầu, hãy đặt máy điều nhiệt thấp hơn vài độ so với mức làm cho người ta thấy thoải mái. Hãy làm lạnh không khí trước khi đám đông bước vào. Nhiệt độ sẽ gia tăng nhanh chóng một khi buổi thờ phượng bắt đầu. Giữ cho nhiệt độ mát mẻ sẽ giúp mọi người tỉnh táo.
Cây cảnh . Tôi khích lệ bạn dùng các loại cây cảnh và bông hoa để trang trí cho nhà thờ. Trong nhiều năm liền, chúng tôi phải mang cây cảnh, dương xỉ, và những cây trang trí nhỏ vào trong phòng nhóm mỗi tuần, rồi lại mang ra. Cây cảnh nói rằng, “Ít nhất cũng có một cái gì đó đang sống trong nơi này!”
Tôi chắc rằng bạn từng nghe nhiều người nói, “Tôi thấy gần Chúa hơn khi hòa mình vào thiên nhiên.” Điều đó cũng dễ hiểu thôi. Khi Đức Chúa Trời tạo dựng A-đam và Ê-va, Ngài không đặt họ trong một tòa cao ốc bằng bê tông và trải nhựa đường khắp xung quanh họ; Ngài đặt họ trong một khu vườn. Vẻ đẹp thiên nhiên của sự sáng tạo đem lại nguồn cảm hứng, giúp thư giãn, và hồi phục con người. Không phải tình cờ mà Thi Tv 23:1-6 là Thi Thiên được nhiều người yêu thích nhất. Người ta có thể dễ dàng tưởng tượng một phong cảnh tươi đẹp với dòng nước yên tĩnh và những đồng cỏ xanh mượt.
Tiện đây, cũng hãy cẩn thận, đừng quá lạm dụng những biểu tượng tôn giáo huyền bí trong nhà thờ của bạn. Mọi người điều biết thập giá là gì, nhưng những thân hữu không hiểu những cái ly, vương miện và hình chim bồ câu có lửa ở trên đuôi.
Nhà trẻ sạch sẽ và an toàn . Nếu bạn muốn chinh phục những cặp vợ chồng trẻ, bạn cần phải có một nhà trẻ hợp vệ sinh và an toàn. Không được để giẻ lau nhà ở góc phòng, và đồ chơi thì phải được làm sạch mỗi tuần.
Nhà vệ sinh sạch sẽ . Các vị khách có thể quên bài giảng, nhưng ký ức về một nhà vệ sinh nặng mùi sẽ cứ đeo bám họ mãi! Bạn có thể nói nhiều về nhuệ khí của một Hội Thánh bằng cách kiểm tra chất lượng của các nhà vệ sinh.
Sự thật đáng buồn là nhiều Hội Thánh cần một ngôi nhà thờ hoàn toàn mới. Họ sẽ không thể tiếp cận cộng đồng trong ngôi nhà thờ họ đang dùng được. Một mục sư đã nói với tôi trong tâm trạng hết sức chán nản rằng ông đã cầu nguyện, “Chúa ôi, xin giáng lửa của Ngài xuống!”
Khi Larry DeWitt, một người bạn của tôi, được gọi sang miền nam California để quản nhiệm một Hội Thánh, ông thấy đó là một ngôi nhà thờ làm bằng ván tọa lạc giữa một khu ngoại ô kỹ thuật cao. Larry nhận ra rằng kiểu dáng và tuổi tác của ngôi nhà thờ là một rào cản ngăn trở việc tiếp cận cộng đồng. Ông nói với các nhà lãnh đạo Hội Thánh rằng ông sẽ đồng ý chăn dắt Hội Thánh nếu họ sẵn sàng rời khỏi ngôi nhà thờ và bắt đầu tổ chức thờ phượng trong nhà hàng Hungry Tiger. Các thành viên đã đồng ý.
Đến nay, sau nhiều lần đổi địa điểm nhóm, Hội Thánh đó đã tăng trưởng đến vài ngàn người dự nhóm. Họ đã chẳng thể tăng trưởng được nếu cứ ở mãi trong ngôi nhà thờ cũ của mình. Như tôi nói trong chương 1, chiếc giày không thể nói với bàn chân giới hạn kích cỡ nó có thể lớn lên được. Hội Thánh Saddleback đã dùng các sân trường trung học làm nơi tổ chức những chương trình thờ phượng cho các thân hữu trong mười ba năm. Để tận dụng tốt nhất những gì chúng tôi có, chúng tôi tổ chức hai nhóm, nhóm bố trí và nhóm dọn dẹp. Nhóm thứ nhất sẽ đến trước 6 giờ sáng và chuẩn bị bốn mươi hai phòng học cùng với một phòng tập thể dục. Nhóm bố trí sẽ vẽ sơ đồ mọi thứ trong phòng học lên bảng đen trước khi di chuyển bất cứ món đồ gì. Làm vậy để bảo đảm rằng mọi thứ có thể được trả về chỗ cũ khi nhóm dọn dẹp đến sắp xếp lại mọi thứ vào 1 giờ chiều, sau khi kết thúc mọi chương trình thờ phượng. Mỗi phòng học đều được dọn dẹp hai lần vào Chúa Nhật-một lần vào lúc sáng sớm và một lần vào lúc chúng tôi không còn dùng chúng nữa. Đó là một công việc nặng nhọc, nhưng xứng đáng với sự tăng trưởng.
Mục tiêu chúng tôi làm mọi việc đó là để làm cho không gian tươi sáng hơn như điều Phao-lô đã nói trong Tit Tt 2:10, “…để trong mọi lãnh vực, lời giáo huấn của Đức Chúa Trời, Đấng cứu rỗi chúng ta, được rạng rỡ thêm ” (có nhấn mạnh).
Tạo Một Bầu Không Khí Thu Hút
Bầu không khí là điều khó định nghĩa nhưng không thể nhầm lẫn vào đâu được khi bạn bước vào một buổi thờ phượng. Nó thường được gọi là “tinh thần,” “tâm trạng,” hay “giọng điệu” của buổi thờ phượng. Dù bạn gọi nó bằng gì đi nữa, bầu không khí nhất định ảnh hưởng lớn đến những điều diễn ra trong chương trình thờ phượng của bạn. Nó có thể phục vụ cho mục đích của bạn hoặc chống lại điều bạn đang cố hoàn thành.
Nếu bạn không chủ tâm xác định bầu không khí bạn muốn tạo nên trong một buổi thờ phượng, thì bạn đang phó mặc Hội Thánh cho số mệnh. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi dùng năm từ để mô tả bầu không khí chúng tôi muốn tạo nên mỗi tuần.
Không Khí Mong đợi . Một trong những ý kiến gần đây nhất mà các vị khách nói với chúng tôi là họ cảm nhận được một bầu không khí mong đợi giữa vòng dân sự. Có một tinh thần hăng hái mạnh mẽ trước mỗi buổi thờ phượng. Người ta cảm thấy phấn khích, tràn đầy năng lực và tinh thần mong đợi gặp gỡ lẫn nhau. Các thành viên cảm nhận rằng Đức Chúa Trời ở với chúng tôi và nhiều đời sống đang được biến đổi. Các vị khách thường mô tả bầu không khí đó giống như “điện.”
Điều gì tạo nên tinh thần mong đợi? Nó được tạo ra bởi một số yếu tố: các thành viên cầu nguyện suốt cả tuần cho các chương trình thờ phượng, họ cầu nguyện trong suốt các buổi thờ phượng, các thành viên nhiệt tình dẫn đưa những người bạn chưa tin của mình đến nhà thờ, một lịch sử những chương trình thờ phượng biến đổi đời sống, đám đông lớn, phong cách lễ hội trong âm nhạc, và đức tin của nhóm hướng dẫn thờ phượng.
Lời cầu nguyện mở đầu của bạn phải luôn luôn thể hiện được sự mong đợi Đức Chúa Trời sẽ ngự giữa chương trình thờ phượng và các nhu cầu của dân sự sẽ được đáp ứng. Sự mong đợi là một từ khác nói lên đức tin. Chúa Giê-xu phán, “Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy” (Mat Mt 9:29).
Thái độ vui mừng . Thi Tv 100:2 chép, “Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài.” Vì Đức Chúa Trời muốn sự thờ phượng của chúng ta là sự vui mừng lớn, nên chúng ta cần phải khai thác bầu không khí của sự vui mừng, hoan hỉ. Có quá nhiều chương trình thờ phượng giống với một đám tang hơn là một lễ hội. Nguyên nhân chính thường là do thái độ của người hướng dẫn chương trình thờ phượng. Tôi có tham dự một số chương trình thờ phượng mà tôi thấy rất muốn hỏi người hướng dẫn chương trình, “Anh có bao giờ mỉm cười không?”
Thờ phượng là một niềm vui, không phải là một nhiệm vụ. Chúng ta kinh nghiệm niềm vui trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời (21:6). Trong 42:4, Đa-vít nhớ lại, “Xưa tôi đi cùng đoàn chúng, dẫn họ đến nhà Đức Chúa Trời, có tiếng reo mừng và khen ngợi một đoàn đông giữ lễ.” Câu Kinh Thánh này có mô tả bầu không khí trong các buổi thờ phượng của bạn không?
Không khí khích lệ . HeDt 10:25 chép, “Chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy.” Đã có quá nhiều tin xấu trên thế giới rồi, nên con người cần một nơi để nghe tin tốt.
Chúng tôi muốn các chương trình thờ phượng của mình đem lại sự khích lệ, chứ không khiến cho dân sự nản lòng. Ngay cả khi sứ điệp có thể đụng chạm đến nhiều người, chúng tôi vẫn bắt đầu và kết thúc cách tích cực. Bạn có thể thay đổi hành vi của một người nhanh hơn nhiều thông qua sự khích lệ chứ không phải chỉ trích. Hãy nghiên cứu chức vụ của Chúa Giê-xu và tìm xem Ngài đã dùng sự khích lệ khéo léo như thế nào để khơi dậy những điều tích cực nhất trong lòng dân sự.
Không khí gia đình . Chúng tôi phải làm việc cật lực để tạo nên một bầu không khí gia đình trong các buổi thờ phượng dù có đông người như thế nào. Cách chúng tôi chào hỏi nhau vào đầu và cuối buổi nhóm, cách những người đứng trên bục nói chuyện với những người bên dưới và cách mục sư nói chuyện với đám đông đều chứng tỏ rằng, “Chúng ta là một gia đình. Chúng ta đã cùng nhau đến đây. Bạn thuộc về nơi này.”
Tôi rất thích câu Kinh Thánh trong IPhi 1Pr 3:8 của bản Living Bible: “Anh em phải nên như một đại gia đình hạnh phúc, đầy sự cảm thông với nhau, yêu thương lẫn nhau bằng tấm lòng mềm mại và tâm tình khiêm nhường” (ND). Trong một thế giới đang biến đổi theo chiều hướng không quan tâm đến ai, con người đang tìm kiếm một nơi họ cảm thấy rằng họ thuộc về nơi đó.
Không khí phục hồi . Cuộc sống rất khó khăn. Mỗi cuối tuần, tôi đều nhìn vào khuôn mặt hàng ngàn người đã bị thế gian bao vây suốt cả tuần. Họ đến với những nguồn năng lực thuộc linh và tình cảm đã cạn khô. Công việc của tôi là kết nối họ vào nguồn năng lực phục hồi thuộc linh của Đấng Christ. Chúa Giê-xu phán, “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ” (Mat Mt 11:28-29).
Một trong những mục đích của chương trình thờ phượng hằng tuần là phục hồi thuộc linh và tình cảm của dân sự cho một tuần lễ mới. Chúa Giê-xu khẳng định, “Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người” (2:27). Trong khi chuẩn bị sứ điệp, tôi luôn cầu nguyện, “Cha ơi, xin giúp con nói một điều gì đó vào sáng Chúa Nhật này để giúp dân sự của Ngài chuẩn bị cho ngày thứ Hai.”
Tôi mường tượng Hội Thánh như một ốc đảo thuộc linh ngay giữa một sa mạc khô cằn. Chúng ta được kêu gọi để đem lại nguồn nước sự sống tươi mới cho dân sự đang chết khát chung quanh chúng ta.
Đặc biệt ở miền nam California, người dân cần được giải thoát khỏi cuộc đấu tranh quyết liệt với công việc. Vì lý do này, chúng tôi hay dùng những lời nói hóm hỉnh trong các chương trình thờ phượng. “Lòng vui mừng vốn một phương thuốc hay” (ChCn 17:22). Làm cho người ta cảm thấy khỏe khoắn hơn không phải là một tội. Khi dạy cho dân sự cười đùa với chính họ và những nan đề của họ, chúng ta không chỉ làm giảm nhẹ gánh nặng của họ mà còn giúp họ thay đổi nữa.
Tôi tin rằng một trong những vấn đề lớn nhất của những người Tin Lành là chúng ta đã đảo lộn phương thuốc: Chúng ta xem mình quá quan trọng còn Đức Chúa Trời thì không quan trọng đủ! Ngài là Đấng toàn hảo-còn chúng ta thì không. Không phải ngẫu nhiên mà từ sự hài hước (humour) và từ sự khiêm nhường (humility) lại có cùng một nguyên từ. Trong trường hợp nào đi nữa, nếu bạn học được cách cười chính mình bạn sẽ luôn có nhiều lý do để vui thú.
Không khí tự do . Kinh Thánh chép, “Thánh Linh của Chúa ở đâu, thì sự tự do cũng ở đó” (IICo 2Cr 3:17). Chúng tôi luôn tránh sự bảo thủ, các lề thói trang trọng và mọi hình thức phô trương trong các chương trình thờ phượng của mình. Thay vào đó, chúng tôi khai thác bầu không khí thân mật, thư giãn, và gần gũi. Chúng tôi khám phá ra rằng một chương trình thờ phượng thân mật, không phô trương luôn phá tan những nỗi lo sợ và dè dặt của những người chưa tin Chúa.
Người ta luôn cảm thấy lo lắng khi ở trong khung cảnh trang trọng nhiều hơn là lúc ở trong khung cảnh thân mật. Điều này cực kỳ quan trọng, nếu như bạn quan tâm tới những đời sống đang biến đổi. Các chương trình thờ phượng quá trang trọng và nặng hình thức nghi lễ sẽ khiến những vị khách chưa tin Chúa lo sợ rằng họ có thể “làm chuyện gì sai.” Nó khiến cho họ cảm thấy không tự nhiên. Tôi tin chắc bạn cũng cảm thấy như vậy khi bạn không biết phải làm gì trong một đám đông xa lạ.
Khi người ta cảm thấy không tự nhiên, họ càng giương cao “hàng rào phòng thủ” tình cảm của mình. Vì chúng tôi muốn tiếp cận những người không đi nhà thờ, nhiệm vụ đầu tiên của chúng tôi là làm giảm sự lo lắng của họ để họ hạ “hàng rào phòng thủ” xuống. Khi họ cảm thấy thoải mái rồi, họ sẽ không nghĩ về chính họ nữa và có thể hòa mình vào sứ điệp.
Đối với nhiều người chưa tin tại Mỹ, từ thân mật đồng nghĩa với đáng tin , trong khi sự trang trọng lại gợi lên sự không chân tình và giả dối . Đặc biệt những người đang trong thế hệ baby boom thường tránh sự tráng lệ và nghi thức. Vì lý do này, chúng tôi không dùng các chức danh mục sư để gọi các mục sư trong Hội Thánh. Không ai gọi tôi là “Tiến sĩ Warren”; mọi người gọi tôi là “Rick.”
Chúng tôi cũng không có những quy tắc về ăn mặc tại Hội Thánh Saddleback. Các vị mục sư ăn mặc rất bình thường, giống như mọi người đến dự nhóm. Một cuộc điều tra gần đây cho tạp chí GQ thực hiện cho biết rằng chỉ có khoảng 25 phần trăm nam giới ở Mỹ có một bộ đồ vest. Đã nhiều năm qua tôi không hề giảng dạy tại Hội Thánh Saddleback khi mặc đồ vest. (Dĩ nhiên, đứng giảng trong một căn lều và một phòng tập thể dục nóng bức cũng có liên quan đôi chút!)
Những gì người ta mặc đi nhà thờ là một vấn đề văn hóa, chứ không phải vấn đề thần học, nên chúng tôi không cần phải quan tâm nhiều tới nó. Có một điều chúng ta biết rất rõ: Chúa Giê-xu không hề mặc áo vest và thắt cà vạt, nên cũng không cần phải ăn vận như vậy thì mới giống Đấng Christ.
Hãy In Một Tờ Chương Trình Thờ Phượng Đơn Giản
Các thân hữu không biết tiết mục tiếp theo trong giờ thờ phượng là gì. Điều này khiến họ thấy lo lắng. Một tờ chương trình sẽ nói rằng, “Không có gì đáng ngạc nhiên ở đây cả.” Nói trước cho các thân hữu biết điều bạn sẽ làm giúp họ thư giãn và làm giảm sự đề kháng của họ.
Mô tả chương trình thờ phượng bằng thứ ngôn ngữ bình thường . Nếu các vị khách không thể hiểu tờ chương trình của bạn, thì không có lý do gì để bạn in nó ra cả. Trong một tờ chương trình tiêu biểu, bạn sẽ gặp những từ như khẩn cầu , Thánh Ca dâng hiến , Thánh Ca kêu gọi , chúc phước , và bài đàn kết thúc . Đối với một người chưa tin, điều đó giống như bạn đang nói tiếng La-tin.
Tại Hội Thánh Saddleback, thay vì nói “Khẩn Cầu” và “Chúc Phước,” tờ chương trình của chúng tôi chỉ nói là “Lời Cầu Nguyện Mở Đầu” và “Lời Cầu Nguyện Kết Thúc.” Thay vì “Lời Mời Thờ Phượng,” nó ghi, “Bài Hát”; thay vì “Dâng Hiến,” nó ghi, “Dâng Tiền Cho Chúa.” Bạn hiểu rồi đấy. Chúng tôi dựa theo bản Kinh Thánh Living Bible để đặt tên cho các tiết mục trong tờ chương trình. Chúng tôi thích làm rõ các khái niệm cho những người chưa tin hiểu được hơn là gây ấn tượng với họ bằng những từ ngữ trang trọng.
Đính kèm các ghi chú giải thích . Khi bạn đi xem opera hay xem kịch, đôi lúc rất khó hiểu, nên người ta phát cho bạn một tờ ghi chú chương trình. Hãy nói với mọi người lý do tại sao bạn làm điều bạn đang làm trong chương trình thờ phượng. Tờ bướm của chúng tôi cũng có lời giải thích về tấm Thiệp Chào Mừng, việc dâng hiến, thì giờ kêu gọi và các tiết mục khác trong chương trình.
Giảm Thiểu Những Thông Báo Nội Bộ Của Hội Thánh
Hội Thánh của bạn càng lớn chừng nào, thì các thông báo càng nhiều chừng nấy. Nếu bạn không có một phương cách để xác định xem điều nào nên thông báo công khai giữa đám đông và điều nào thì không, bạn sẽ mất rất nhiều thời gian cho phần thông báo trong chương trình thờ phượng. Làm sao giải quyết vấn đề này?
Tập cho các thành viên của bạn xem bảng thông báo . Hãy nói đại loại như vầy, “Tuần này có vài chương trình đặc biệt cho quý ông, cho những người lớn độc thân và cho các em học sinh cấp trung học cơ sở. Xin quý Hội Thánh hãy xem thông báo cụ thể tại bảng thông báo.” Đó là những gì bạn cần phải nói.
Chỉ thông báo những gì có liên quan tới mọi người . Mỗi lần bạn thông báo một việc gì đó chỉ liên quan tới một nhóm người, thì mọi người khác sẽ lờ đi. Chẳng lâu sau đó, không còn ai chịu nghe nữa. Đừng lãng phí thời gian của mọi người khi thông báo những vấn đề chỉ liên quan tới một số ít người trong hội chúng.
Tránh kêu gọi giúp đỡ từ trên bục giảng . Cần phải giới hạn việc kêu gọi giúp đỡ tình nguyện trong các buổi nhóm cho thân hữu. Sự kêu gọi cá nhân vẫn có tác dụng tốt hơn.
Đừng làm những công việc nội bộ Hội Thánh trong thì giờ thờ phượng cho thân hữu . Hãy để dành việc đó cho chương trình thờ phượng của các tín hữu. Tôi biết có một Hội Thánh đã mời mọi vị khách của mình ra về, còn các thành viên thì ở lại để làm một việc riêng. Đó chính là không thân thiện với khách mời!
Liên Tục Đánh Giá Và Cải Thiện
Mỗi sáng thứ Hai, sau trận đấu, các cầu thủ đội bóng NFL đều xem lại băng ghi hình trận đấu của họ vào Chúa Nhật vừa qua để quyết định xem họ cần phải làm gì để chơi tốt hơn vào tuần sau. Chúng ta càng cần phải quan tâm nhiều hơn tới những gì đang diễn ra trong các chương trình thờ phượng mỗi Chúa Nhật. Đội NFL chỉ đang chơi bóng thôi; còn chúng ta thì hơn như vậy nữa.
Các Hội Thánh tăng trưởng luôn luôn hỏi rằng, “Làm sao chúng ta có thể thực hiện tốt hơn?” Họ liên tục đánh giá các chương trình thờ phượng và mục vụ của mình. Sự đánh giá là chìa khóa dẫn tới sự tuyệt diệu. Bạn phải liên tục kiểm tra từng phần trong chương trình thờ phượng và đánh giá tính hiệu quả của nó.
Tại Hội Thánh Saddleback, ba công cụ giúp chúng tôi đánh giá là các tấm card Ấn Tượng Đầu Tiên, Thiệp Chào Mừng và một bảng Đánh Giá Chương Trình Thờ Phượng. Cả ba công cụ này cung cấp cho chúng tôi những phản hồi vô giá, cũng chính là bí mật của sự cải thiện liên tục.
Tấm card Ấn Tượng Đầu Tiên cung cấp cho chúng tôi những phản hồi của các vị khách mới đến lần đầu, giúp chúng tôi xem xét chương trình thờ phượng từ góc nhìn của họ. Thiệp Chào Mừng cung cấp cho chúng tôi phản hồi từ phía những người đi nhóm thường xuyên và các thành viên. Chúng tôi liên tục nhận được những gợi ý và lời khuyên của mọi người trong đám đông. Và bảng Đánh Giá Chương Trình Thờ Phượng là phản hồi từ chính các nhân sự của chúng tôi. Nó bao gồm một khung đánh giá mọi thứ, từ chuyện đậu xe cho tới bàn nước uống, từ âm nhạc tới sứ điệp.
Trong ICo1Cr 14:40, Phao-lô kết thúc phần dạy dỗ của ông về các chương trình thờ phượng nhạy cảm với những người tìm kiếm, nói rằng, “Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự.” Câu này ngụ ý rằng việc lên kế hoạch, đánh giá và cải thiện các chương trình thờ phượng của chúng ta là một việc đáng phải làm. Cả sự thờ phượng Đức Chúa Trời lẫn việc truyền giáo cho mọi người đều xứng đáng với những nỗ lực cao nhất của chúng ta.
Hãy Nhớ Bạn Đang Phục Vụ Ai
Bạn có thể thấy bối rối trước mọi đề nghị tôi vừa nêu ra cho bạn trong việc thiết kế một chương trình thờ phượng nhạy cảm với những người tìm kiếm. Xin nhớ rằng đây là những ý tưởng quan trọng, nhưng không phải tất cả chúng đều cần thiết trong việc xây dựng một chương trình thờ phượng cho thân hữu. Như tôi đã nói ở trên, yếu tố duy nhất không thể bỏ qua trong chương trình thờ phượng dành cho thân hữu chính là hãy đối xứ với những người chưa tin bằng tình yêu thương và lòng tôn trọng, liên hệ buổi thờ phượng với những nhu cầu của họ, và chia sẻ sứ điệp một cách thực tế, dễ hiểu.
Những chương trình thờ phượng dành cho các thân hữu là một công việc nặng nhọc! Cần phải có một lượng năng lực, sự sáng tạo, lòng tận tâm, thời gian, tiền bạc, và cả sự chuẩn bị lớn để kéo họ đến hết tuần này sang tuần khác. Sao lại phiền như vậy? Tại sao lại phải trải qua đủ mọi phiền toái như vầy chỉ để bắc cầu qua lỗ hổng văn hóa giữa Hội Thánh và những người ngoại? Bởi vì, như Phao-lô nói, chúng ta làm mọi điều này “vì cớ Giê-xu” (IICo 2Cr 4:5, BNC).
Bạn cần phải biết lý do tại sao bạn làm việc bạn đang làm, nếu không thì bạn sẽ chán nản mà bỏ cuộc. Tôi nhớ lại một Chúa Nhật đặc biệt nhiều năm về trước. Chúng tôi đang dọn dẹp một trường trung học để chuẩn bị cho các buổi thờ phượng cuối tuần sắp tới và có gần phân nửa số người trong nhóm bố trí không có mặt vì lý do này hay lý do khác. Lúc tôi đang khiêng các dụng cụ cho nhà trẻ từ chiếc xe tải băng qua sân trường để vào một phòng học, tôi cảm thấy chán nản vô cùng.
Sa-tan bắt đầu phóng những mũi tên tự thán vào tôi: Tại sao mi phải làm đủ mọi thứ sắp đặt này và mệt nhoài đi trong khi việc duy nhất các mục sư phải làm là có mặt mà thôi? Họ chỉ bước vào trong nhà thờ của họ mà thôi. Hầu hết các mục sư đâu phải làm chuyện này, tại sao mi phải làm hết năm này sang năm khác chứ!
Khi tôi bắt đầu thấm với những suy nghĩ tự thán, Thánh Linh vỗ vai tôi và nói, “Này Rick, con đang làm việc này cho ai?” Tôi đứng chết trân giữa sân đậu xe của trường, bắt đầu khóc, và tôi nhắc mình nhớ rằng tôi đang làm điều tôi phải làm vì cớ Chúa Giê-xu. Và những gì tôi làm không bao giờ sánh được với điều Ngài đã làm cho tôi.
“Hễ làm việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chớ không phải làm cho người ta, vì biết rằng anh em sẽ nhận lãnh từ nơi Chúa cơ nghiệp làm phần thưởng, bởi chưng anh em đang hầu việc Chúa Christ đó” (CoCl 3:23-24).
Chương 15: Lựa Chọn Âm Nhạc
“Ngài để nơi miệng tôi một bài hát mới … lắm người sẽ thấy điều đó , bắt sợ , và nhờ cậy nơi Đức Giê-hô-va .”
Thi Tv 40:3
Tôi thường tự hỏi tôi sẽ làm gì khác hơn nếu tôi có thể bắt đầu lại Hội Thánh Saddleback. Câu trả lời của tôi như vầy: Từ ngày đầu tiên của Hội Thánh mới, tôi sẽ dành nhiều tiền và sức lực hơn để đầu tư vào mục vụ âm nhạc cho phù hợp với đối tượng của chúng tôi. Trong những năm đầu của Hội Thánh Saddleback, tôi đã nhầm lẫn khi đánh giá thấp sức mạnh của âm nhạc, nên tôi đã giới hạn việc sử dụng âm nhạc trong các chương trình thờ phượng của mình. Bây giờ không còn như vậy nữa.
Âm nhạc là một phần quan trọng trong đời sống chúng ta. Chúng ta ăn với nó, lái xe với nó, mua hàng với nó, thư giãn với nó, và một số những người không thuộc hệ phái Báp-tít còn nhảy múa với nó nữa! Trò giải trí lớn ở Mỹ không phải là bóng chày-đó là âm nhạc và sự chia sẻ các quan điểm của chúng ta về nó.
Một bài hát có thể đụng chạm đến nhiều người theo cách mà một bài giảng không thể làm được. Âm nhạc có thể vượt qua những rào cản lý trí và đem sứ điệp gieo thẳng vào tấm lòng. Nó là một công cụ sắc bén để truyền giáo. Trong Thi Tv 40:3 (BDY), Đa-vít đã nói, “Ngài cho tôi một bài hát mới … nhiều người sẽ thấy, và kinh sợ, rồi tin cậy Chúa Hằng Hữu” (có nhấn mạnh). Xin lưu ý sự liên hệ rõ ràng giữa âm nhạc và truyền giáo: “Nhiều người sẽ thấy, và kinh sợ, rồi tin cậy Chúa Hằng Hữu.”
Aristotle đã nói, “Âm nhạc có sức mạnh định hình nhân cách.” Rõ ràng ngày nay Sa-tan đang dùng âm nhạc để làm việc này. Dòng nhạc rock của những năm 60 và 70 đã định hình các tiêu chuẩn của hầu hết những người Mỹ đang ở độ tuổi ba mươi, bốn mươi hay năm mươi. Ngày nay, kênh truyền hình MTV đang định hình các tiêu chuẩn của hầu hết những người đang trong độ tuổi thiếu niên và đôi mươi. Âm nhạc là phương tiện chủ yếu để truyền đạt những tiêu chuẩn cho thế hệ trẻ. Nếu chúng ta không dùng dòng âm nhạc hiện đại để truyền đạt những tiêu chuẩn tin kính, thì Sa-tan sẽ có thể tiếp cận cả một thế hệ mà không gặp trở ngại nào. Âm nhạc là một nguồn lực không thể xem thường.
Tôi không chỉ đánh giá thấp âm nhạc khi thành lập Hội Thánh Saddleback, tôi còn mắc sai lầm khi cố gắng đáp ứng sở thích của mọi người. Trong một chương trình thờ phượng, chúng tôi chơi đủ các phong cách, “từ Bach (cổ điển - ND) tới Rock.” Chúng tôi đã thay đổi từ các bài Thánh Ca truyền thống sang những bài đồng ca ngợi khen, rồi tới các bài hát Cơ-đốc hiện đại. Chúng tôi dùng nhạc cổ điển, nhạc đồng quê, nhạc jazz, nhạc rock, nhạc Ấn, nhạc nhẹ, thậm chí cả rap. Đám đông không hề biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Kết quả là: Chúng tôi chẳng làm hài lòng ai cả, và chúng tôi làm mọi người chán nản! Chúng tôi đã giống như đài phát thanh mà tôi đã nói tới trong chương 9, cố gắng thỏa mãn sở thích của mọi người bằng cách chơi đủ mọi loại nhạc.
Một lần nữa, tôi muốn nói rằng chúng ta không thể thỏa mãn sở thích âm nhạc của mọi người. Âm nhạc là một vấn đề gây chia rẽ, là cái đã phân cách các thế hệ, các tôn giáo trong cùng một nước, các loại cá tính, và ngay cả các thành viên trong cùng một gia đình. Vậy nên, chúng ta không cần phải ngạc nhiên khi có nhiều quan điểm âm nhạc trái ngược nhau trong Hội Thánh. Bạn cần phải xác định những người bạn muốn tiếp cận là ai, hãy xác định phong cách âm nhạc họ ưa thích, và sử dụng nó. Bạn chỉ lãng phí thời gian mà thôi nếu cố tìm một phong cách âm nhạc nào đó có thể làm thỏa mãn mọi người trong Hội Thánh.
Lựa Chọn Phong Cách Âm Nhạc Của Bạn
Phong cách âm nhạc bạn chọn dùng trong các buổi thờ phượng sẽ là một trong những quyết định quan trọng (và gây tranh cãi) nhất trong sinh hoạt Hội Thánh của bạn. Nó cũng có thể là một nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất tới đối tượng mà Hội Thánh của bạn quyết định chinh phục cho Đấng Christ cũng như việc Hội Thánh của bạn sẽ tăng trưởng hay không. Bạn phải gắn liền âm nhạc của mình với loại người mà Đức Chúa Trời muốn Hội Thánh của bạn tiếp cận.
Loại âm nhạc bạn dùng “xác định vị trí” của Hội Thánh của bạn trong cộng đồng. Nó cho biết bạn là ai. Một khi bạn đã quyết định vấn đề phong cách âm nhạc dùng để thờ phượng rồi, tức là bạn đã xác định hướng đi của Hội Thánh của bạn xa hơn cả điều bạn đã nhận ra. Nó sẽ quyết định bạn sẽ thu hút loại người nào, bạn sẽ giữ được loại người nào, và sẽ mất loại người nào.
Nếu bạn nói cho tôi biết loại âm nhạc bạn đang dùng trong các chương trình thờ phượng, tôi có thể mô tả loại người bạn đang tiếp cận ngay cả khi tôi chưa tới thăm Hội Thánh của bạn lần nào. Tôi cũng có thể nói loại người mà Hội Thánh của bạn sẽ không bao giờ có thể tiếp cận được.
Tôi phản đối ý kiến cho rằng các phong cách âm nhạc có thể được xem là “tốt” hay “xấu.” Ai quyết định chuyện này? Loại âm nhạc bạn thích do chính học vấn và văn hóa của bạn quyết định. Một số quãng và âm giai có vẻ thích hợp với người châu Á; những quãng và âm giai khác lại thích hợp với người Trung Đông. Người châu Phi lại thích nhịp điệu hơn là những người Nam Mỹ.
Cho rằng nền âm nhạc “tốt” đã được sáng tác tại châu Âu hơn hai trăm năm trước chỉ là sự đề cao văn hóa mà thôi. Rõ ràng không có một nền tảng Kinh Thánh nào ủng hộ quan điểm đó. Tùy vào khu vực bạn lớn lên mà bạn có thể thích nhạc bluegrass Kentucky, nhạc jazz Dixieland, blues Chicago, polka Milwaukee, hay country và western Nashville. Không có phong cách nào trong số này là loại âm nhạc “tốt hơn” những loại khác.
Các Hội Thánh cũng cần phải thừa nhận rằng không có một phong cách âm nhạc đặc biệt nào là “thiêng liêng.” Điều khiến một bài hát trở nên thiêng liêng chính là sứ điệp của nó. Âm nhạc không là gì khác hơn một sự sắp xếp của các nốt nhạc và nhịp điệu; chính lời hát mới khiến một bài hát trở nên thuộc linh. Chẳng có cái gì gọi là “giai điệu Cơ-đốc,” chỉ có lời hát Cơ-đốc mà thôi. Nếu tôi đàn cho bạn nghe giai điệu của một bài hát nào đó mà không có lời, bạn sẽ không biết đó có phải là một bài nhạc Cơ-đốc hay không.
Sứ điệp thiêng liêng của một bài hát có thể được truyền đạt bằng nhiều phong cách âm nhạc khác nhau. Trong 2,000 năm qua, Thánh Linh đã dùng đủ mọi loại âm nhạc khác nhau để dâng vinh hiển lên cho Đức Chúa Trời. Cần phải có mọi loại Hội Thánh, sử dụng đủ mọi loại âm nhạc, để tiếp cận đủ mọi loại người. Cứ khăng khăng rằng một phong cách âm nhạc nào đó mới là thiêng liêng thì chẳng khác gì thờ hình tượng.
Tôi thấy buồn cười khi nghe nhiều Cơ-đốc nhân phản đối dòng âm nhạc Cơ-đốc hiện đại nói rằng, “Chúng ta phải trở về với cội nguồn âm nhạc của mình.” Tôi tự hỏi không biết họ muốn đi trở lại bao xa. Trở lại thời giáo hoàng Gregory? Trở lại những giai điệu Do Thái của Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem? Thường thì họ chỉ muốn đi trở lại chừng năm mươi
hay một trăm năm mà thôi.
Một số người cho rằng từ “bài hát thiêng liêng” trong CoCl 3:16 ngụ ý cùng một phong cách âm nhạc mà ngày nay chúng ta gọi là “thánh ca.” Sự thật là chúng ta không biết những bài thánh ca của họ hát như thế nào. Nhưng chúng ta biết rằng các Hội Thánh Tân Ước đã dùng phong cách âm nhạc phù hợp với các dụng cụ âm nhạc và nền văn hóa phổ thông thời bấy giờ. Vì rõ ràng họ không có đàn piano hay đàn organ thời đó, nên âm nhạc của họ không thể giống hoàn toàn âm nhạc trong các Hội Thánh của chúng ta thời nay được.
Trong Thi Thiên, chúng ta đọc rằng khi thờ phượng, họ đã dùng trống, chập chỏa, kèn lớn, trống cơm và các dụng cụ nhạc bằng dây. Đối với tôi, điều đó thật giống với âm nhạc hiện đại!
Hát Một Bài Hát Mới
Xuyên suốt lịch sử Hội Thánh, những nhà thần học vĩ đại đã đưa lẽ thật của Đức Chúa Trời vào trong phong cách âm nhạc trong thời đại của họ. Giai điệu trong bài “Chúa, Bức Thành Kiên Cố Ta” của Martin Luther được mượn từ một bài hát phổ thông thời bấy giờ. (Ngày nay có lẽ Luther cũng sẽ mượn giai điệu từ quán karaoke gần nhà.) Charles Wesley đã dùng vài giai điệu phổ thông trong các quán rượu và những nhà hát opera tại Anh. John Calvin đã thuê hai người viết nhạc ngoại đạo để đưa thần học của ông vào âm nhạc. Nữ hoàng nước Anh đã nổi giận với “những giai điệu thô tục” này đến độ bà đã nhạo báng gọi chúng là “điệu jig say khướt” của Calvin.
Những bài hát mà ngày nay chúng ta xem là những bài hát kinh điển thiêng liêng đã từng bị phê bình cũng giống như dòng nhạc Cơ-đốc hiện đại vậy. Khi bài “Đêm Yên Lặng” lần đầu tiên phát hành, George Weber, nhạc trưởng của thánh đường Mainz, đã gọi nó là “một mối nguy hại và không hề có những cảm xúc Cơ-đốc và tôn giáo nào.” Và Charles Spurgeon, một mục sư người Anh vĩ đại, đã coi khinh những bài hát thờ phượng đương thời của ông-chính là những bài hát mà ngày nay chúng ta đang coi trọng.
Có lẽ điều khó tin nhất đó là bài Messiah của Handel đã bị chính những người trong giáo hội thời đó lên án công khai là “một bản nhạc thô tục.” Giống như lời chỉ trích các dàn đồng ca hiện đại ngày nay, bài Messiah bị chỉ trích vì cho lập lại quá nhiều và không truyền đạt đủ sứ điệp-nó có gần một trăm lần lập lại từ “Ha-lê-lu-gia!”
Ngay cả truyền thống thiêng liêng của việc hát Thánh Ca cũng đã từng bị nhiều Hội Thánh Báp-tít xem là “thế tục.” Benjamin Keach, một mục sư Báp-tít vào thế kỷ mười bảy, được cho là người đã đem việc hát Thánh Ca vào trong các Hội Thánh Báp-tít ở Anh. Trước tiên, ông bắt đầu bằng việc dạy các đứa trẻ hát, vì chúng thích hát. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ thì lại không thích hát Thánh Ca. Họ tin rằng việc hát là “điều xa lạ đối với sự thờ phượng Tin Lành.”
Một cuộc tranh cãi lớn đã nổ ra khi mục sư Keach cố gắng giới thiệu việc hát Thánh Ca cho toàn thể hội chúng trong Hội Thánh của ông tại Horsley Down. Cuối cùng, vào năm 1673, ông đã thuyết phục họ đồng ý ít nhất là hát một bài Thánh Ca sau Lễ Tiệc Thánh bằng cách dùng câu Kinh Thánh Mac Mc 14:26. Tuy nhiên, Keach đã cho phép những ai không tán đồng việc này ra về trước khi hát. Sáu năm sau, năm 1679, Hội Thánh đã đồng ý hát một bài Thánh Ca vào những ngày “tạ ơn chung.”
Thêm mười bốn năm nữa Hội Thánh mới đồng ý rằng việc hát Thánh Ca là phù hợp trong sự thờ phượng. Cuộc tranh cãi đó thật đắt giá, đã khiến cho hai mươi hai thành viên của Keach rời khỏi và gia nhập vào một “Hội Thánh không hát.” Tuy nhiên, phong trào hát Thánh Ca đã lan rộng sang nhiều Hội Thánh khác, và chẳng bao lâu sau, khi “Hội Thánh không hát” mời mục sư, các mục sư đặt điều kiện là nếu Hội Thánh chịu hát thì họ mới đến. Mọi sự thay đổi thật ngoạn mục. Bạn có thể làm chậm cả tiến trình, nhưng không ngăn nó lại được.
Điều khiến tôi ngạc nhiên trong sự kiện này chính là lòng kiên nhẫn kỳ lạ của mục sư Keach. Ông phải mất những hai mươi năm mới thay đổi được phong cách thờ phượng trong hội chúng của mình. Trong một Hội Thánh, nhiều khi thay đổi thần học còn dễ hơn cả thay đổi trật tự thờ phượng.
Là những người Tin Lành, một trong những yếu đuối của chúng ta là không biết về lịch sử Hội Thánh. Chính vì vậy, chúng ta bắt đầu nhầm lẫn những truyền thống hiện đại với tính chính thống. Có nhiều phương pháp và phương tiện chúng ta sử dụng trong các Hội Thánh ngày nay, chẳng hạn như hát Thánh Ca, đàn piano, đàn ống, kêu gọi dâng mình, và Trường Chúa Nhật, đã từng bị xem là thế tục và ngay cả dị giáo. Ngày nay, dù những điều này đã được chấp nhận rộng rãi như các ân tứ Chúa ban để nâng cao sự thờ phượng, nhưng chúng ta lại đưa ra những điều cấm kỵ mới. Sự chống đối ngày nay lại nhắm vào những cải tiến chẳng hạn như cách dùng nhạc cụ điện tử, trống, kịch, và phim ảnh trong sự thờ phượng.
Sự tranh cãi về vấn đề phong cách âm nhạc nào nên được dùng trong sự thờ phượng sẽ vẫn là một trong những điểm xung đột chính giữa các Hội Thánh địa phương trong nhiều năm tới. Cuối cùng rồi thì mỗi Hội Thánh đều phải đối diện với vấn đề này. Hãy sẵn sàng trước sự bất đồng gay gắt. James Dobson đã từng thừa nhận trong chương trình “Nhắm Vào Gia đình” của ông rằng, “Trong mọi đề tài chúng tôi đã từng nêu ra trên làn sóng rađiô này, từ chuyện phá thai, sách báo khiêu dâm đến các vấn đề khác, thì đề tài gây tranh cãi nhiều nhất chúng tôi đã từng đề cập tới chính là âm nhạc. Bạn có thể dùng âm nhạc để khiến cho người ta điên lên nhanh hơn bất cứ điều gì khác.” Cuộc tranh cãi về các phong cách âm nhạc (thờ phượng-ND) đã gây chia rẽ và phân cực nhiều Hội Thánh. Tôi đoán rằng đó là lý do tại sao Spurgeon đã gọi mục vụ âm nhạc của ông là “Bộ Chiến Tranh”!
Tại sao người ta lại bất đồng về vấn đề các phong cách thờ phượng tới mức như vậy? Vì cách bạn thờ phượng có liên hệ mật thiết tới cách Đức Chúa Trời đã tạo nên bạn. Thờ phượng là cách riêng tư bạn dùng để thể hiện tình yêu dành cho Đức Chúa Trời của mình. Khi một ai đó phê phán cách bạn thờ phượng, thì tự nhiên bạn xem đó là một sự xúc phạm cá nhân.
Không cần phải tranh luận gì, Hội Thánh Saddleback là một Hội Thánh sử dụng âm nhạc hiện đại. Chúng tôi thường được báo chí gọi là “bầy chiên thích nhảy nhạc rock.” Chúng tôi dùng phong cách âm nhạc mà phần đông những người trong Hội Thánh của chúng tôi thường nghe trên đài. Nhiều năm trước, sau khi thất bại trong việc cố gắng làm vừa lòng mọi người, tôi quyết định nghiên cứu về Hội Thánh của mình. Tôi phát những tấm card 3x5 cho mọi người và yêu cầu họ điều vào đó tên các đài truyền thanh họ thường nghe.
Chúng tôi đã khám phá ra rằng 96 phần trăm số người trong Hội Thánh chúng tôi nghe loại nhạc hiện đại. Hầu hết những người dưới bốn mươi đều không thích nền nhạc trước 1965. Đối với họ, nhạc cổ điển là nhạc của Elvis! Họ thích âm nhạc trong sáng, vui tươi, sinh động và nhịp mạnh. Tai của họ đã quen với âm bass mạnh và nhịp nhanh.
Lần đầu tiên trong lịch sử, một phong cách nhạc toàn cầu đã ra đời và được mọi nơi trên thế giới tiếp nhận. Đó là nhạc pop/rock hiện đại. Các bài hát phát trên sóng rađiô của Nairobi, Tokyo và Moscow đều dùng một phong cách đó. Hầu hết các chương trình quảng cáo trên tivi đều dùng nền nhạc rock hay nhạc hiện đại. Ngay cả những khu đồng quê và vùng viễn tây cũng đã tiếp nhận nó. Đây là phong cách âm nhạc chủ yếu chúng tôi chọn dùng tại Hội Thánh Saddleback.
Sau khi điều tra đối tượng chúng tôi đang tiếp cận, chúng tôi có một quyết định chiến lược là sẽ không hát những bài Thánh Ca trong các chương trình thờ phượng cho thân hữu. Trong vòng một năm sau khi quyết định “tiếng nói của chúng tôi,” Hội Thánh Saddleback đã tăng trưởng bùng nổ . Tôi phải thừa nhận rằng chúng tôi đã mất hàng trăm thành viên đầy tiềm năng vì cớ phong cách âm nhạc được dùng tại Hội Thánh Saddleback. Nhưng trái lại, chúng tôi đã thu hút hàng ngàn người khác cũng bởi chính nền âm nhạc đó.
Các Nguyên Tắc Lựa Chọn Một Phong Cách Âm Nhạc
Nhận thức được rằng tôi đang bước vào một lĩnh vực đầy mìn bẫy, tôi muốn nêu ra một vài gợi ý liên quan tới âm nhạc. Cho dù phong cách Hội Thánh của bạn lựa chọn là gì, tôi tin rằng vẫn có một số nguyên tắc bạn cần tuân theo.
Hãy duyệt trước toàn bộ phần âm nhạc bạn dùng
Đừng để có điều gì bất ngờ xảy ra trong chương trình thờ phượng của bạn. Tôi đã khó nhọc lắm mới học được nguyên tắc này. Tôi có thể kể cho bạn nghe nhiều chuyện đã khiến tôi phải đổ nước mắt, chẳng hạn có lần một ca sĩ được mời tới đã quyết định hát một bài hát dài hai mươi phút về vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân! Nếu bạn không quản lý âm nhạc của mình, thì nó sẽ quản lý chương trình thờ phượng của bạn. Hãy đặt ra một số giới hạn để âm nhạc hỗ trợ cho mục đích của buổi thờ phượng nếu không thì nó sẽ phản tác dụng.
Khi bạn duyệt trước phần âm nhạc bạn định dùng, hãy xem xét cả những ca từ lẫn giai điệu. Hãy hỏi chính mình xem các lời bài hát có hợp với giáo lý không, chúng có dễ hiểu đối với những thân hữu không, và bài hát có dùng những khái niệm hay những hình ảnh ẩn dụ mà thân hữu không hiểu không. Hãy luôn xác định mục đích của một bài hát. Nó là một bài hát gây dựng, thờ phượng, thông công hay truyền giảng?
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi phân loại các bài hát tùy theo đối tượng. Những bài hát cho đám đông sẽ luôn phù hợp khi thân hữu hiện diện (trong các buổi thờ phượng cho thân hữu). Những bài hát cho hội chúng là những bài hát đầy ý nghĩa đối với các tín nhân nhưng sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với thân hữu (chúng tôi hát chúng vào giờ thờ phượng giữa tuần). Những bài hát cho nhóm nòng cốt lại nói về sự phục vụ và mục vụ (chúng tôi hát trong các cuộc họp SALT).
Hãy hỏi, “Giai điệu này khiến tôi cảm thấy như thế nào?” Âm nhạc tạo nên một ảnh hưởng lớn trên tình cảm của con người. Chọn sai loại âm nhạc có thể phá tan tinh thần và tâm trạng của một buổi thờ phượng. Mỗi mục sư đã từng khốn đốn khi phải cố gắng hồi sinh một chương trình thờ phượng sau khi một bài hát nào đó đã khiến cho người ta thấy chán nản và muốn tự tử. Hãy xác định tâm trạng bạn muốn có trong buổi thờ phượng, và dùng phong cách âm nhạc phù hợp để tạo nên nó. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi tin rằng thờ phượng là phải vui mừng nên chúng tôi dùng phong cách vui vẻ, trong sáng và sinh động. Chúng tôi hiếm khi nào hát một bài hát có tông thứ.
Ngay cả khi chúng tôi mời các nghệ sĩ Cơ-đốc nổi tiếng đến hát tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi cũng duyệt qua từng bài hát họ dự định hát. Bầu không khí chúng tôi cố gắng duy trì trong một chương trình thờ phượng dành cho thân hữu còn quan trọng hơn cái tôi của người ca sĩ rất nhiều.
Hãy tăng tốc độ lên
Như tôi đã nói trong chương 14, Kinh Thánh chép, “Tôn thờ Chúa với lòng vui sướng , đến trước mặt Ngài với tiếng hoan ca ” (Thi Tv 100:2, BDY, có nhấn mạnh), nhưng nhiều chương trình thờ phượng lại có vẻ giống một đám tang hơn là một ngày lễ. John Bisagno, mục sư của Hội Thánh First Baptist có 15,000 thành viên tại Houston, Texas, nói, “Những bài Thánh Ca truy điệu dùng trong các tang lễ và những người hướng dẫn chương trình hát cứng nhắc sẽ giết chết một Hội Thánh nhanh hơn mọi điều khác trên thế giới.”
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi hay đùa về việc hát theo kiểu thể dục nhịp điệu của mình. Nó rất sống động! Gần đây tôi có nhận một tấm card Ấn Tượng Đầu Tiên của một vị khách tám mươi mốt tuổi và vợ mình, họ nói, “Cám ơn ông đã khuấy động máu già của chúng tôi!” Thật không thể nào ngủ được khi Hội Thánh Saddleback hát. Chúng tôi muốn âm nhạc của mình tạo được cả ấn tượng thuộc linh lẫn tình cảm trên dân sự. Chữ I, M, P, và T của từ viết gọn IMPACT (ẤN TƯỢNG) mà tôi đã chia sẻ trong chương vừa rồi là những bài hát có nhịp mạnh và tốc độ nhanh. A và C là những bài hát chậm hơn và nhiều tư duy hơn. Những người chưa tin Chúa thích loại nhạc vui vẻ hơn là loại nhạc trầm mặc vì họ chưa có một mối quan hệ nào với Đấng Christ.
Cập nhật lời hát
Có rất nhiều bài hát hay có thể đem dùng trong các chương trình thờ phượng cho thân hữu sau khi thay đổi một hoặc hai từ để khiến cho họ dễ hiểu hơn. Những hình ảnh ẩn dụ trong Kinh Thánh và các khái niệm thần học trong một bài hát nên được dịch lại hay soạn lại. Nếu cần phải dịch lại bản Kinh Thánh từ thế kỷ thứ mười bảy cho các thân hữu, thì những ca từ tối nghĩa trong các bài hát xưa cũng cần phải như vậy.
Nếu sử dụng Thánh Ca, nhiều khi bạn cần phải chỉnh sửa nhiều đấy. “Nguyện xây cất Ê-bên-ê-se,” “đất Beulah,” “chê-ru-bim và sê-ra-phim,” “những thiên thần sa ngã,” và “rửa sạch trong huyết Chiên Con” đều là những cụm từ khó hiểu đối với thân hữu. Họ chẳng biết gì về điều chúng ta đang hát.
Một số thành viên sẽ nói rằng nền thần học trong các bài Thánh Ca xưa là rất tốt. Tôi đồng ý. Tại sao lại không thay đổi những khái niệm xưa cổ bằng những ca từ hiện đại? Xin nhớ rằng, âm nhạc chẳng có gì thiêng liêng cả. Hãy mặc đồ mới cho những người bạn cũ đó. Nếu bạn in các bài hát vào tờ chương trình, bạn có quyền sửa lại ca từ nếu đó là bài hát chung.
Tiện đây, một số bài đồng ca ngợi khen hiện đại hay bị nhầm lẫn với những bài Thánh Ca khi nói tới vấn đề thuật ngữ. Những thân hữu không hề biết “Giê-hô-va Di-rê” có nghĩa là gì. Bạn cũng có thể hát là “Mumbo Magumbo” vậy!
Khích lệ các thành viên sáng tác bài hát mới
Mỗi hội chúng nên khích lệ sáng tác những bài hát thờ phượng mới. Nếu bạn nghiên cứu lịch sử Hội Thánh, bạn sẽ khám phá ra rằng mọi cuộc phấn hưng thật đều luôn đi kèm với nền âm nhạc mới. Những bài hát mới nói rằng, “Đức Chúa Trời đang làm một điều gì đó ngay đây và ngay bây giờ , không chỉ vào một trăm năm trước.” Mỗi thế hệ cần những bài hát mới để thể hiện niềm tin của mình.
96:1 chép rằng, “Hãy hát mừng Chúa một bài ca mới ” (có nhấn mạnh). Đáng buồn thay, trong nhiều Hội Thánh, người ta vẫn đang hát những bài hát cũ . Công Ty Đĩa Nhạc Columbia đã từng làm một cuộc nghiên cứu và khám phá ra rằng sau khi hát một bài hát được năm mươi lần, người ta không còn nghĩ đến ý nghĩa của ca từ nữa-họ chỉ hát như vẹt.
Chúng ta yêu thích những bài hát cũ vì những ký ức tình cảm chúng đã khuấy động trong lòng chúng ta. Có một số bài hát như “Chiến Thắng Trong Chúa,” “Hiến Cả Thảy Cho Ngài,” và “Ta Sai Con Đi,” có thể khiến tôi khóc ròng vì chúng nhắc tôi nhớ tới những bước ngoặt thuộc linh trong cuộc đời mình. Nhưng những bài hát này không tạo nên cùng một ấn tượng đó trên các thân hữu, hay thậm chí là các tín hữu, vì họ không có cùng một kỷ niệm.
Nhiều Hội Thánh lạm dụng một số bài hát nào đó vì những sở thích cá nhân của vị mục sư hoặc của người điều hành âm nhạc. Vốn âm nhạc bị người hướng dẫn bắt làm con tin. Không nên để cho sở thích của người điều hành âm nhạc hay của vị mục sư làm nhân tố quyết định trong việc lựa chọn phong cách âm nhạc bạn dùng. Thay vào đó, hãy để đối tượng của bạn làm tiêu chí xác định phong cách.
Nếu bạn thực sự muốn biết xem liệu mình có đang dùng những bài hát cũ rích trong các chương trình thờ phượng của bạn hay không, tôi đề nghị bạn thử làm một thí nghiệm vào Chúa Nhật tới: Hãy quay phim những gương mặt trong hội chúng của bạn khi họ hát những bài hát trong suốt chương trình thờ phượng. Khi người ta cứ hát mãi những bài hát cũ, sự thờ ơ và chán nản lộ rõ trên khuôn mặt của họ. Khả năng có thể dự đoán trước đã làm hỏng nhiều chương trình thờ phượng hơn bất kỳ yếu tố nào khác.
Một bài hát đánh mất quyền năng làm chứng của mình nếu dân sự không nghĩ gì về những điều họ đang hát. Nhưng những bài hát có thể là lời chứng hùng hồn cho các thân hữu khi dân sự hát những bài hát họ cảm nhận sâu sắc nhất.
Nhiều bài hát Tin Lành trong nửa đầu thế kỷ này có khuynh hướng đề cao kinh nghiệm Cơ-đốc hơn là Đấng Christ. Trái lại, những bài hát thờ phượng có hiệu quả nhất lại là những bài hát yêu thương dâng lên cho Đức Chúa Trời. Đây là sự thờ phượng đúng theo Kinh Thánh. Kinh Thánh có ít nhất mười bảy lần bảo rằng chúng ta phải hát cho Chúa . Vậy mà, đa số những bài Thánh Ca là hát về Chúa. Sức mạnh của những bài hát hiện đại nằm ở chỗ chúng tập trung vào Đức Chúa Trời, chứ không tập trung vào con người.
Thay Cây Đàn Ống Của Bạn Bằng Đàn Điện Tử Đa Năng
Với kỹ thuật ngày nay, Hội Thánh nào cũng có thể có một nền âm nhạc có chất lượng và âm thanh ngang bằng các album chuyên nghiệp. Tất cả những gì bạn cần là một cây đàn điện tử đa năng và một số đĩa MIDI. Cái hay của đàn điện tử là bạn có thể dùng nó để “lấp đầy những khoảng trống” bất cứ lúc nào bạn thiếu nhạc công. Chẳng hạn nếu bạn có một tay keyboard, một tay kèn trumpet, và một tay guitar, mà thiếu người đánh bass và đánh trống, bạn có thể dùng đàn điện tử thêm phần đệm bass và trống vào. Nếu không có ai trong Hội Thánh của bạn quen dùng kỹ thuật điện tử này, hãy nhờ người ở các cửa hàng nhạc cụ giúp đỡ.
Ở kích cỡ như chúng tôi, Hội Thánh Saddleback có hẳn một ban nhạc pop/rock, nhưng hầu hết các Hội Thánh không đủ lớn để tổ chức việc này. Nếu ngày nay tôi phải mở một Hội Thánh mới, tôi sẽ tìm người biết sử dụng đàn điện tử và trao cho người đó một cây keyboard. Lúc tôi mở Hội Thánh Saddleback, đàn điện tử chưa phổ biến lắm, và đôi lúc tôi tự hỏi sẽ có thêm bao nhiêu người nữa chúng tôi có thể tiếp cận được trong những năm đầu tiên đó nếu như chúng tôi có phần nhạc điện tử trong các mục vụ của mình.
Khi tôi nghiên cứu về thị hiếu âm nhạc trong Hội Thánh, tôi không gặp ai nói rằng, “Tôi nghe nhạc đàn ống trên đài.” Hầu như nơi duy nhất bạn vẫn còn nghe được tiếng đàn ống là trong nhà thờ. Điều đó nói gì với bạn? Hãy suy nghĩ điều này cho kỹ: Chúng ta mời những thân hữu đến ngồi trên những băng ghế của thế kỷ mười bảy (chúng ta gọi là ghế dài), hát những bài hát của thế kỷ mười tám (chúng ta gọi là Thánh Ca), và nghe một thứ nhạc cụ của thế kỷ mười chín (đàn ống), và chúng ta tự hỏi tại sao họ lại cho rằng chúng ta lỗi thời! Tôi e rằng khi chúng ta đã bước sang thế kỷ hai mươi mốt rồi thì một số Hội Thánh mới bắt đầu sử dụng các nhạc cụ của thế kỷ hai mươi.
Bạn cần phải quyết định xem Hội Thánh của bạn sẽ là nơi bảo tồn âm nhạc vì lợi ích của âm nhạc hay Hội Thánh của bạn sẽ là nơi mà mọi người bình thường có thể dắt đưa những người bạn chưa được cứu của mình đến và nghe loại nhạc mà họ có thể hiểu và thưởng thức được. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi dùng âm nhạc vì tấm lòng , chứ không phải vì nghệ thuật .
Đừng buộc những thân hữu hát
Hãy cho trình bày nhiều bài hát (đơn ca, song ca, v.v… - ND) hơn là bắt hội chúng hát trong những chương trình thờ phượng dành cho thân hữu. Các vị khách không hề thoải mái khi hát những giai điệu họ không biết và ca những từ họ không hiểu. Cũng thật là phi lý khi mong đợi những thân hữu hát các bài hát ngợi khen và dâng hiến cho Chúa Giê-xu trước khi họ trở thành tín hữu. Điều đó chẳng khác gì cái cày đi trước con trâu.
Các thân hữu thường cảm thấy rất lúng túng trong tiết mục hội chúng hát. Vì họ không biết các bài hát đó, cũng không biết những bài hát ngợi khen Chúa, họ bị buộc phải đứng đó trong lúc mọi người khác đang hát. Điều này đặc biệt gây bối rối trong một Hội Thánh nhỏ, vì mọi người sẽ chú ý nếu bạn không hát. Mặt khác, các thân hữu sẽ thấy rất thoải mái khi lắng nghe người khác trình bày bài hát, nếu nó được thể hiện bằng phong cách quen thuộc với họ. Cho nên, hãy tập trung vào âm nhạc trình diễn trong các buổi thờ phượng dành cho thân hữu và dành thì giờ hội chúng hát cho chương trình thờ phượng dành cho các tín hữu. (Trong các chương trình thờ phượng của tín hữu chúng tôi, chúng tôi hát ngợi khen và thờ phượng liên tục trong ba mươi tới bốn mươi phút.)
Xin hiểu rằng Hội Thánh của bạn càng lớn bao nhiêu, thì càng thích hợp để dùng tiết mục hội chúng hát trong chương trình thờ phượng dành cho thân hữu bấy nhiêu. Như vậy là vì khi một thân hữu ở giữa đám đông hàng ngàn người, không có ai quan tâm tới việc anh ta có hát hay không. Người đó có thể ẩn mình trong đám đông và lắng nghe mà không cảm thấy mình đang bị theo dõi.
Cho dù tốt hơn hết là nên giới hạn thì giờ hội chúng hát trong một chương trình thờ phượng cho thân hữu, tôi vẫn tin rằng nếu cắt bỏ tiết mục này là cả một sai lầm lớn vì đây là một yếu tố tình cảm mạnh mẽ. Khi các tín hữu đồng thanh cùng nhau hát, điều đó tạo nên một cảm giác thân mật ngay cả trong những nhóm lớn. Sự thân mật này sẽ gây ấn tượng lên thân hữu, là những người có thể cảm nhận được một điều tốt lành gì đó đang diễn ra, dù rằng họ không thể giải thích được.
“Hòa điệu” có nghĩa là “đồng một ý.” Khi các tín hữu đồng thanh hát với nhau, thì đó là một cách thể hiện sự hiệp nhất và mối thông công của thân thể. Mọi người đều đang hát phần của mình trong lúc đang lắng nghe những người khác để hát cho đồng điệu. Khi các tín hữu đồng thanh hát một cách chân thành, cảm động, sẽ tạo nên một sức hút mãnh liệt. Đó là một lời chứng nói rằng những người nhìn có vẻ bình thường này thực sự có một mối quan hệ nào đó với Đấng Christ và với nhau.
Hãy Đánh Giá Cao Âm Nhạc Của Bạn
Dù rằng âm nhạc thường là vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong một chương trình thờ phượng dành cho thân hữu, nó vẫn là yếu tố quan trọng không thể bỏ qua. Chúng ta cần phải hiểu sức mạnh lạ thường của âm nhạc và khai thác sức mạnh đó bằng cách sẵn sàng dẹp sang một bên những sở thích cá nhân của bạn và dùng loại âm nhạc thích hợp nhất với đối tượng mà bạn muốn tiếp cận cho Đấng Christ.
Chương 16: Giảng Cho Các Thân Hữu
“Hãy lấy sự khôn ngoan ăn ở với những người ngoại , và lợi dụng thì giờ . Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn , và nêm thêm muối , hầu cho anh em biết nên đối đáp mỗi người là thể nào .”
CoCl 4:5-6
“Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em ; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến .”
Eph Ep 4:29
Khi tôi thành lập Hội Thánh Saddleback, tôi đã có mười năm bài giảng dự trữ từ chức vụ giáo sĩ của tôi trước đó. Tôi có thể thư thả trong những năm đầu, không cần phải soạn bài giảng nhiều, chỉ việc dùng những sứ điệp mình đã viết sẵn. Nhưng khi tôi nghiên cứu những người không đi nhà thờ trong cộng đồng của mình, tôi nhanh chóng bỏ ngay ý tưởng đó.
Khi tôi khám phá ra rằng lời than phiền lớn nhất của những người không đi nhà thờ trong vùng chính là “các bài giảng rất nhàm chán, và chẳng có liên hệ gì,” tôi quyết định nghiêm túc xem xét lại việc giảng của mình. Tôi ôn lại mười năm bài giảng của mình và hỏi một câu hỏi: Sứ điệp này có ý nghĩa gì đối với một người không đi nhà thờ?
Chuyện tôi thích sứ điệp hay không không thành vấn đề. Việc một bài giảng có đủ giáo lý và có vẻ thuyết phục hay không cũng không thành vấn đề. Nếu tôi đang bắt đầu một Hội Thánh bằng cách thu hút những người ngoại chính cống, thì cần phải có một sứ điệp liên hệ tới họ. Cuối cùng tôi bỏ hết mọi bài giảng mình đã viết trong mười năm trước, ngoại trừ hai bài.
Khởi đầu với những gian nan, tôi đã phải phát triển một loạt các kỹ năng giảng dạy hoàn toàn mới. Tôi đã nói đến một số niềm tin trong việc giảng dạy của mình ở chương 12, chương viết về cách Chúa Giê-xu thu hút các đám đông. Nếu bạn có hứng thú biết thêm các chi tiết về phong cách chuẩn bị và giảng của tôi, bạn có thể đặt bộ băng cassette “Giảng Để Biến Đổi Đời Sống” tại ban The Encouraging Word thộc Hội Thánh chúng tôi. Số fax và điện thoại có ở cuối sách này.
Làm Cho Phong Cách Của Bạn Thích Ứng Với Cử Tọa
Phong cách giảng dạy tôi dùng trong chương trình thờ phượng cho các thân hữu rất khác với phong cách tôi dùng để dạy các tín hữu. Phong cách truyền thông quen thuộc với hầu hết các thành viên Hội Thánh lại phản tác dụng trong việc tiếp cận các thân hữu.
Khi giảng cho các tín hữu, tôi thích dạy qua các sách của Kinh Thánh, từng câu một. Trên thực tế, trong một thời điểm tăng trưởng của Hội Thánh Saddleback, tôi đã dành hai năm rưỡi để giảng dạy từng câu một của cả sách Rô-ma trong các chương trình thờ phượng dành cho tín hữu. Sự giải nghĩa từng câu, từng sách một sẽ giúp gây dựng thân thể Đấng Christ. Nó có tác dụng rất lớn khi bạn giảng cho các tín hữu, là những người chấp nhận thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời và có động cơ học hỏi Kinh Thánh. Nhưng còn những thân hữu chưa có động cơ nghiên cứu Kinh Thánh thì sao? Tôi không tin rằng giảng dạy từng câu một qua từng sách một của Kinh Thánh là cách hiệu quả nhất để truyền giảng cho thân hữu. Thay vào đó, bạn phải bắt đầu từ những điểm chung, cũng như Phao-lô đã làm với những người ngoại đạo tại A-rê-ô-ba, thành A-tên. Thay vì bắt đầu bằng Kinh Thánh Cựu Ước, ông nói đến một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của họ để gây sự chú ý và tìm điểm chung.
Từ communication (truyền thông ) trong tiếng Anh bắt nguồn từ tiếng La-tin, từ communis , có nghĩa là “chung.” Bạn không thể giao tiếp với một ai trừ phi bạn tìm được điểm chung với họ. Đối với các thân hữu, bạn không thể tìm được điểm chung khi nói rằng, “Chúng ta hãy mở ra Kinh Thánh sách Ê-sai, đoạn 14, chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu sách tiên tri tuyệt vời này.”
Điểm chung chúng ta có với những người ngoại không phải là Kinh Thánh, mà là những nhu cầu, những nỗi đau và sở thích chung của con người. Bạn không thể bắt đầu bằng một đoạn Kinh Thánh, mong rằng mọi thân hữu sẽ thích thú nó. Trước hết bạn phải thu hút sự chú ý của họ, và sau đó đưa họ đến với lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời. Bằng cách bắt đầu với một chủ đề gây thích thú cho thân hữu và sau đó chỉ cho họ thấy Kinh Thánh nói gì về vấn đề đó, bạn sẽ thu hút được sự chú ý của họ, vô hiệu hóa những thành kiến, và tạo nên một niềm hứng thú với Kinh Thánh, điều mà trước đó không có.
Mỗi tuần tôi đều bắt đầu bằng một nhu cầu, một nỗi đau, hay một sở thích và sau đó chuyển sang những gì Đức Chúa Trời nói về vấn đề đó trong Lời của Ngài. Thay vì tập trung vào một phân đoạn, tôi sẽ dùng nhiều câu Kinh Thánh từ nhiều phân đoạn khác nhau nói về cùng một chủ đề đó. Tôi gọi cách giảng này là giải nghĩa “câu với câu,” hay giải nghĩa chủ đề. (Trong trường thần học, lối giải nghĩa chủ đề câu với câu được gọi là thần học hệ thống!)
Tôi chân thành tin rằng Đức Chúa Trời không quan tâm tới chuyện bạn giảng Kinh Thánh từ sách này sang sách khác hay từ chủ đề này sang chủ đề khác, miễn là bạn giảng Kinh Thánh mà thôi. Ngài không quan tâm tới chuyện bạn sẽ bắt đầu bằng một phân đoạn Kinh Thánh rồi áp dụng vào những nhu cầu của con người, hay bắt đầu với những nhu cầu của con người và sau đó trưng dẫn Kinh Thánh.
Ngày nay, “giảng theo nhu cầu” bị một số hệ phái coi rẻ và chỉ trích là làm giảm giá trị Phúc Âm và chạy theo quyền lợi người tiêu dùng. Tôi muốn khẳng định điều này một cách rõ ràng nhất rằng: Bắt đầu một sứ điệp bằng các nhu cầu cấp thiết của dân sự còn hơn cả một phương tiện tiếp thị! Nó được dựa trên một sự thật thần học là Đức Chúa Trời tự bày tỏ chính Ngài cho con người tùy theo những nhu cầu của chúng ta ! Cả Thánh Kinh Tân và Cựu Ước có rất nhiều ví dụ minh chứng điều này.
Chính các danh xưng của Đức Chúa Trời cũng là sự khải thị về cách Đức Chúa Trời đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của chúng ta mà! Xuyên suốt lịch sử, khi dân sự hỏi Đức Chúa Trời, “Danh Ngài là gì?” Câu trả lời của Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài tùy theo điều họ đã cần vào lúc đó: Đối với những người cần một phép lạ, Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài là Giê-hô-va Di-rê (Ta là Đấng Chu Cấp cho con); đối với những người cần sự yên ủi, Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài là Giê-hô-va Sha-lam (Ta là sự bình an của con); đối với những người cần sự cứu rỗi, Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài là Giê-hô-va Xít-ki-nu (Ta là sự công bình của con). Còn nhiều ví dụ khác nữa. Đức Chúa Trời gặp chúng ta ngay chỗ đứng của chúng ta, ngay trong nhu cầu của chúng ta. Rao giảng theo nhu cầu là một phương pháp thần học vững chắc để giới thiệu người ta đến với Đức Chúa Trời.
Sự giảng dạy biến đổi đời sống đem lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời và nhu cầu thực tế của dân sự đến với nhau tại điểm áp dụng. Việc bạn bắt đầu từ bên nào tùy thuộc vào thính giả của bạn. Nhưng điều thậm chí còn quan trọng hơn đó là cuối cùng bạn đã đưa lẽ thật của Đức Chúa Trời và nhu cầu của dân sự gặp nhau tại điểm áp dụng, bất luận sứ điệp bắt đầu từ bên nào.
Lời của Đức Chúa Trời Các nhu cầu của dân sự
Sự áp dụng
Cả lối giải nghĩa từng câu (từng sách) và lối giải nghĩa câu với câu (chủ đề) đều cần thiết để tăng trưởng một Hội Thánh khỏe mạnh. Giải nghĩa các sách dùng để gây dựng là tốt nhất. Giải nghĩa chủ đề dùng để truyền giáo là hiệu quả nhất.
Hãy Tạo Điều Kiện Cho Các Thân Hữu Tiếp Cận Kinh Thánh
Các thân hữu thường cảm thấy sợ Kinh Thánh. Nó có nhiều tên và danh xưng lạ lẫm, và có vẻ như nó chẳng giống với bất cứ điều gì họ đã đọc trước đây. Bản Dịch Cũ đặc biệt khó hiểu cho thân hữu. Thêm vào đó, Kinh Thánh là cuốn sách duy nhất họ thấy có số trước mỗi câu và được đóng bìa da. Điều này thường khiến cho nhiều thân hữu có một nỗi sợ mê tín khi đọc hay thậm chí chỉ cầm quyển Kinh Thánh mà thôi.
Vì Lời Đức Chúa Trời là “Lời sự sống,” nên chúng ta cần phải làm mọi điều có thể để các thân hữu tiếp cận Kinh Thánh và giúp họ cảm thấy thoải mái khi dùng nó. Có vài điều bạn có thể làm để xoa dịu nỗi lo lắng và kích thích sự thích thú Kinh Thánh trong vòng các thân hữu.
Hãy đọc Kinh Thánh từ một bản dịch mới hơn . Với rất nhiều bản dịch hay và các sách giải nghĩa Kinh Thánh ngày nay, không có lý do gì để phải phức tạp hóa Phúc Âm bằng lối tiếng Anh cổ bốn trăm năm trước. Việc dùng bản King James (Bản Dịch Cũ) sẽ tạo nên một rào cản văn hóa không cần thiết. Xin nhớ rằng Vua James dịch ra bản dịch này là vì ông muốn có một bản dịch hợp thời đại . Tôi đã từng thấy một mẫu quảng cáo ghi rằng nếu ngày nay Vua James còn sống, ông sẽ đọc bản dịch New International! Có lẽ đúng như vậy đấy. Sự rõ ràng quan trọng hơn là văn chương.
Dùng những quyển Kinh Thánh tại chỗ . Trong những năm đầu tiên của Hội Thánh Saddleback, chúng tôi đã mua những quyển Kinh Thánh rẻ tiền, có bìa cứng và đặt chúng trên mỗi cái ghế. Vì các thân hữu không biết các sách của Kinh Thánh nằm ở đâu, nên bạn chỉ cần đọc số trang là xong. Điều này giúp các vị khách khỏi bối rối khi phải tìm một đoạn Kinh Thánh. Thật là ngại ngùng khi bạn ngồi kế một người có thể lật ra đoạn Kinh Thánh cần dùng trước khi bạn kịp lật tới mục lục!
Hãy luôn nghĩ tới các thân hữu khi lựa chọn các phần Kinh Thánh để đọc . Dù rằng toàn bộ Kinh Thánh đã được Đức Chúa Trời hà hơi, nhưng không phải phần nào cũng có thể áp dụng được cho các thân hữu. Một số phân đoạn rõ ràng phù hợp cho các chương trình thờ phượng dành cho thân hữu hơn là các phân đoạn khác. Chẳng hạn, có lẽ bạn sẽ không muốn đọc lời cầu nguyện của Đa-vít trong Thi Tv 58:1-11 “Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy bẻ răng trong miệng chúng nó… Nguyện chúng nó tan ra như nước chảy… Nguyện chúng nó như con ốc tiêu mòn và mất đi, như thể một con sảo của người đàn bà không thấy mặt trời… Người công bình sẽ vui vẻ khi thấy sự báo thù; người sẽ rửa chân mình trong huyết kẻ ác.” Hãy dành phân đoạn Kinh Thánh này cho thì giờ tĩnh nguyện cá nhân của bạn hay các kỳ hội họp các vị mục sư trong vùng!
Có một số phân đoạn đòi hỏi phải giải thích nhiều hơn các phân đoạn khác. Chính vì vậy, nên tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi thích dùng những phân đoạn Kinh Thánh đọc là hiểu ngay, không cần phải có sự giải thích trước nào. Chúng tôi cũng thích dùng các phân đoạn chứng tỏ những ích lợi của việc biết Đấng Christ.
In Các Phân Đoạn Kinh Thánh Và Dàn Ý Bài Giảng Ra Giấy
Tôi in dàn ý của sứ điệp và mọi phân đoạn Kinh Thánh có liên quan lên một tờ giấy. Có nhiều lý do để làm như vậy:
Các thân hữu không có Kinh Thánh.
Nó giúp tránh được sự bối rối khi tìm các phân đoạn Kinh Thánh.
Bạn có thể nói nhiều hơn trong khoảng thời gian ngắn hơn. Tôi đã đếm số lần một vị mục sư nổi tiếng nói, “Bây giờ xin hãy mở ra” trong sứ điệp của ông, và tôi canh giờ xem ông mất bao nhiêu thời gian để tìm các phân đoạn. Ông mất hết bảy phút để lật các trang Kinh Thánh.
Mọi người có thể cùng đọc một câu Kinh Thánh vì ai cũng có cùng một bản dịch.
Bạn có thể sử dụng và so sánh nhiều bản dịch khác nhau.
Thính giả có thế đánh dấu và gạch dưới nhiều từ để nhấn mạnh và viết ghi chú bên lề.
Nó giúp người nghe ghi nhớ sứ điệp. Chúng ta quên hết 90-95 phần trăm những gì mình đã nghe trong vòng bảy mươi hai giờ. Tức là đến thứ Tư, nếu họ không ghi chú, thì hội chúng của bạn đã quên hết tất cả, chỉ 5 phần trăm những gì bạn đã nói vào Chúa Nhật là còn lại.
Dân sự có thể ôn lại các câu Kinh Thánh khi dán ghi chú của họ lên tủ lạnh.
Nó có thể làm nền tảng cho thảo luận nhóm nhỏ.
Các thành viên có thể dạy dàn ý đó lại cho những người khác. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi có một số doanh nhân hướng dẫn các thì giờ nghiên cứu Kinh Thánh trong công sở bằng cách dùng dàn ý bài giảng vào Chúa Nhật.
Giá trị dài lâu của một dàn ý sứ điệp có trích dẫn Kinh Thánh được in trên giấy cứ tiếp tục làm tôi phải ngạc nhiên. Gần đây, một giáo viên sinh học tại một trường trung học đã nói với tôi cách Đức Chúa Trời đã dùng một dàn ý trong cuộc đời ông. Ông nhận được cú điện thoại của đứa con gái, đang ở độ tuổi thiếu niên, báo rằng cô bị tai nạn xe hơi. Cô thì không sao, nhưng chiếc xe đã bị hỏng nặng và phần lỗi thuộc về cô. Ông đến đón con gái mình và khi họ đang chờ xe tải đến kéo chiếc xe hư về, ông ngồi bên lề đường và bắt đầu cáu giận con gái mình vì tội bất cẩn.
Lúc cơn giận đang phừng lên dữ dội, ông nhìn thấy một mảnh giấy trước miệng cống thoát nước. Nhận ra đó là một trong những dàn ý bài giảng của tôi, ông nhặt nó lên. Sứ điệp và các câu Kinh Thánh trên đó có đề tài “Xoa Dịu Cơn Giận Của Bạn.” Đến bây giờ ông vẫn giữ tờ dàn ý đó trong ví của mình.
Phương pháp này đem lại nhiều lợi ích tích cực đến độ tôi không hề giảng mà không dùng tờ dàn ý. Vài ngàn mục sư đã áp dụng kiểu dàn ý chúng tôi dùng tại Hội Thánh Saddleback. Nếu bạn muốn có một mẫu, xin cứ viết thư cho tôi.
Hãy Lên Kế Hoạch Các Đề Mục Của Bạn Để Thu Hút Thân Hữu
Nếu bạn xem sơ qua trang nói về Hội Thánh trên tờ báo tin tức thứ Bảy của mình, bạn sẽ thấy rằng hầu hết các mục sư không cố gắng thu hút các thân hữu bằng những đề mục bài giảng của họ. Một loạt các chủ đề bài giảng hấp dẫn được đăng trên tờ Los Angeles Times gồm có: “Cơn Bão Đang Đến,” “Trên Đường Đến Giê-ri-cô,” Phi-e-rơ Đi Đánh Cá,” “Bức Thành Kiên Cố,” “Soi Dẫn Bước Đi,” “Làm Một Người Giống Tít,” “Không Có Gì Giống Như Đồng Hồ Cao Su,” “Dòng Sông Máu,” và “Công Tác Của Những Cái Bình Vỡ.”
Có đề tài nào trong số này khiến bạn muốn nhảy ra khỏi giường mà chạy đến nhà thờ không? Có đề tài nào thu hút một thân hữu khi họ xem qua tờ báo không? Các diễn giả đang nghĩ gì? Tại sao họ lại lãng phí tiền bạc quảng cáo những đề mục như vậy?
Tôi đã từng bị phê bình vì dùng các tiêu đề bài giảng trong các chương trình thờ phượng cho thân hữu mà giống như các bài báo của tờ Reader’s Digest. Đây là tờ tạp chí quốc tế. Reader’s Digest vẫn là một trong những tạp chí được đọc nhiều nhất tại Mỹ vì các bài báo của nó gắn liền với những nhu cầu, những nỗi đau và sở thích của con người.
Chúa Giê-xu phán, “Người thế gian vẫn xử sự khôn lanh hơn con cái sự sáng” (LuLc 16:8, BDY). Họ hiểu điều gì thu hút sự chú ý. Chúa Giê-xu muốn chúng ta phải mẫn cảm và có chiến lược trong việc truyền giáo: “Kìa, ta sai các ngươi đi khác nào như chiên vào giữa bầy muông sói. Vậy, hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bồ câu” (Mat Mt 10:16).
Các tiêu đề bài giảng của tôi không nhằm để gây ấn tượng trên các thành viên thuộc các Hội Thánh khác. Trên thực tế, nếu bạn chỉ dùng các tiêu đề bài giảng làm nền tảng đánh giá Hội Thánh Saddleback, bạn có thể kết luận rằng chúng tôi khá nông cạn. Nhưng vì đối tượng của chúng tôi không phải là các Cơ-đốc nhân, nên không phải là chúng tôi nông cạn mà là chúng tôi có chiến lược. Đằng sau các tiêu đề bài giảng “theo nhu cầu” là cả một sứ điệp Kinh Thánh vững chắc. Sự hiểu lầm của các Cơ-đốc nhân khác là một cái giá thấp phải trả để chinh phục hàng ngàn người cho Đấng Christ.
Giảng Theo Loạt Bài
Có ít mục sư hiểu được sức mạnh của quán tính. Giảng một loạt bài giảng là ví dụ của việc dùng sức mạnh của quán tính. Mỗi sứ điệp được xây dựng trên nền tảng của một sứ điệp trước đó tạo nên một sự thúc đẩy. Một loạt bài giảng cũng tận dụng được việc quảng bá bằng miệng. Người ta biết chính xác loạt bài giảng của bạn đang đi về đâu, và nếu bạn thông báo các tiêu đề bài giảng của mình trước, họ có thể chuẩn bị đưa những người bạn của họ tới vào những tuần lễ phù hợp với nhu cầu của những người đó nhất.
Tôi luôn thông báo trước một loạt bài giảng vào những ngày mà chúng tôi mong rằng sẽ có nhiều vị khách đến, chẳng hạn như lễ Phục Sinh. Nó tạo nên một cái móc lôi kéo nhiều vị khách quay trở lại vào tuần sau. Độ dài của một loạt bài giảng tốt nhất là khoảng bốn đến tám tuần. Bất cứ cái gì dài hơn tám tuần đều khiến cho hội chúng của bạn mất hứng thú. Họ bắt đầu tự hỏi không biết bạn có còn biết chuyện gì khác nữa không. Tôi từng nghe một quý bà than phiền rằng, “Mục sư của tôi đã giảng về bảy mươi tuần lễ của Đa-ni-ên còn lâu hơn cả Đa-ni-ên nữa!”
Phải Kiên Định Với Phong Cách Giảng Của Bạn
Bạn không thể cứ nhắm qua nhắm lại các đối tượng thân hữu và tín hữu của mình trong cùng một buổi thờ phượng. Chẳng hạn, đừng theo đuổi một loạt bài giảng về “Dàn Xếp Căng Thẳng” với “Ý Nghĩa Những Viên Đá Quý Trong Lê-vi ký” hay chạy theo một loạt bài giảng về “Đức Chúa Trời Nghĩ Gì Về Tình Dục” với “Giải Mã Yến Tiệc Trong Khải Huyền.” Bạn sẽ tạo nên những thành viên bị tâm thần phân liệt, và không một ai biết được khi nào là an toàn để đưa những người bạn chưa tin của mình tới.
Tôi không nói rằng bạn không thể giảng dạy về các đề tài tăng trưởng Cơ-đốc trong chương trình dành cho thân hữu. Tôi tin là bạn có thể giảng, và tôi cũng có giảng nữa. Như tôi đã nói trong chương trước, tôi thích giảng thần học và giáo lý cho các thân hữu mà không hề nói với họ nó là gì cũng như không dùng các thuật ngữ tôn giáo. Nhưng khi bạn giảng một loạt bài giảng về một khía cạnh nào đó của sự trưởng thành thuộc linh, bạn phải truyền đạt cách nào đó cho thấy nó có liên hệ tới những nhu cầu của các thân hữu.
Hãy Lựa Chọn Diễn Giả Cẩn Thận
Chúng tôi không mời nhiều diễn giả nữa, vì chúng tôi đã có hẳn một đội ngũ giảng dạy trong nhóm nhân sự mục vụ để chia sẻ gánh nặng với tôi. Tiện ích của việc dùng chính nhân sự của bạn là họ biết rõ người của bạn, yêu thương người của bạn, và điều quan trọng nhất, họ sẽ dùng phong cách giảng dạy gần gũi với triết lý chức vụ của bạn nhất.
Chuyện tệ hại nhất là khi một diễn giả khác lạ có thể làm hỏng những người mà bạn đã tốn hàng tháng ròng vun xới. Khi thân hữu đã có một ấn tượng xấu, đưa họ trở lại là một điều cực kỳ khó khăn. Nếu như lúc họ vừa cảm thấy thoải mái và không còn tự vệ nữa, mà một diễn giả xa lạ nào đó lại đến và hất họ ra khỏi nước, những nghi ngờ tệ hại nhất của họ về Hội Thánh sẽ được khẳng định ngay.
Chúng tôi chấm dứt ngay việc mời những diễn giả nào mà sau giờ thờ phượng đầu tiên, chúng tôi thấy họ giảng không phù hợp với những niềm tin hay phong cách của chúng tôi. Một lần nọ, khi tôi đi nghỉ hè, một diễn giả Cơ-đốc đã thế chỗ của tôi. Không may một điều, sứ điệp ông giảng là Đức Chúa Trời muốn mỗi Cơ-đốc nhân được giàu có. Sau buổi thờ phượng đầu tiên, các mục sư phụ tá của tôi đến gặp ông và nói, “Cám ơn ông, nhưng chúng tôi sẽ không mời ông tiếp tục giảng trong ba chương trình thờ phượng còn lại đâu!” Mục sư thanh niên của tôi lấy một sứ điệp cũ ra và thế chỗ của ông. Các mục sư cần phải bảo vệ bầy chiên của mình khỏi dị giáo.
Hãy Giảng Và Luôn Tạo Cơ Hội Tiếp Nhận Chúa
Chúng ta cần phải tạo cho thân hữu một cơ hội để đến với Đấng Christ trong chương trình thờ phượng dành cho các thân hữu. Có thể họ quyết định không đáp ứng lời kêu gọi, bạn cần phải tôn trọng họ và không được tạo áp lực, nhưng phải luôn có cơ hội cho họ quyết định. Có quá nhiều mục sư đi đánh cá mà không kéo dây hay kéo lưới lên.
Có rất nhiều cách khác nhau để kéo lưới. Trong lúc lên kế hoạch cho chương trình thờ phượng đầu tiên của Hội Thánh Saddleback, tôi đã cố tình mở rộng thì giờ kêu gọi “tiến lên” truyền thống vào cuối buổi thờ phượng. Là một nhà truyền giảng Báp-tít Miền Nam, tôi đã luôn làm như vậy.
Nhưng khi tôi kết thúc sứ điệp đầu tiên của mình tại Nhà Hát Trường Trung Học Laguna Hills, tôi chợt nhận ra có hai vấn đề. Thứ nhất, không có lối đi giữa trong tòa nhà đó. Những chiếc ghế được hàn lại với nhau, và tòa nhà được thiết kế để đi ra ở hai bên hông. Thứ hai, tôi nhận ra rằng cho dù họ có thể tiến được lên phía trước đi nữa thì cũng không còn chỗ trống vì cả ban nhạc đang ngồi trước sân khấu, chỉ còn một chỗ trống nhỏ ở cửa bên phải. Tôi phát hoảng khi nghĩ tới chuyện phải nói rằng, “Mời quý vị bước ra và nhảy vào chỗ trống này vì Chúa Giê-xu!” Thật tình tôi không biết phải làm gì nữa cả. Làm sao tôi có thể mời người ta khẳng định sự cam kết của mình với Đấng Christ nếu như họ không thể tiến lên phía trước?
Suốt vài tuần sau đó, chúng tôi thử nghiệm nhiều cách khác nhau để giúp người ta khẳng định sự cam kết của mình. Chúng tôi cố gắng tổ chức một phòng tư vấn, nơi mọi người có thể đến đó sau giờ thờ phượng. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng một khi người ta bước ra khỏi buổi thờ phượng, thì họ cứ tiến thẳng tới xe của mình. Nếu bạn quyết định dùng một phòng riêng biệt, đừng gọi đó là phòng “tư vấn.” Đối với các thân hữu, nó chẳng khác gì phòng tư vấn tâm lý. Thay vào đó, hãy dùng một tên gọi nhẹ nhàng hơn, chẳng hạn “Trung Tâm Khách Mời” hay “Khu Vực Tiếp Tân.”
Sau một số thử nghiệm, chúng tôi nảy sinh ý tưởng dùng những tấm card đăng ký/cam kết. Chúng tôi biến mặt sau của tấm Thiệp Chào Mừng thành phần để quyết định. Vào đầu giờ thờ phượng, tôi khích lệ mọi người điều vào mặt trước. Vào cuối buổi thờ phượng, tôi mời mọi người cúi đầu và tôi cầu nguyện kết thúc, trong thời gian đó, tôi dành một cơ hội cho các thân hữu quyết định cam kết với Đấng Christ. Sau đó, tôi sẽ có bài cầu nguyện mẫu và yêu cầu họ cho tôi biết quyết định của họ trong tấm card cam kết. Việc cuối cùng chúng tôi làm trong buổi thờ phượng là có một bài đàn đặc biệt để nhận tiền dâng và cả những tấm card cùng một lúc. Các tấm card sẽ được chuyển cho bộ phận thông tin. Trong lúc chương trình thờ phượng tiếp theo đang diễn ra, thông tin trên những tấm card của giờ thờ phượng trước đó sẽ được nhập vào máy tính.
Phương cách này có hiệu quả cao đến độ chúng tôi vẫn tiếp tục dùng nó ngay cả khi chúng tôi đã dời đến những khu nhà rộng hơn và có đủ chỗ để kêu gọi thân hữu lên cầu nguyện tin Chúa. Chúng tôi có những buổi thờ phượng có 100, 200, 300 và thậm chí 400 thân hữu lên cầu nguyện tin Chúa và điền vào tấm card.
Một ai đó có thể hỏi, “Vậy người ta sẽ công khai tuyên bố đức tin ở đâu?” Đó là mục đích của báp-tem-một sự tuyên bố công khai niềm tin của mình nơi Đấng Christ. Trong một số Hội Thánh, chúng ta đã quá nhấn mạnh việc cầu nguyện tin Chúa đến độ báp-tem hầu như bị xem thường.
Dành thời gian cho thân hữu quyết định tin Chúa là một yếu tố quan trọng của chương trình thờ phượng. Sau đây là một số gợi ý cho việc hướng dẫn thân hữu quyết định tin Chúa.
Hãy giải thích rõ ràng cách đến với Chúa . Có quá nhiều lời kêu gọi tin Chúa bị hiểu lầm. Thân hữu thường chẳng biết chuyện gì đang xảy ra.
Lên kế hoạch thời điểm để kêu gọi . Hãy suy nghĩ thận trọng và kỹ lưỡng về điều bạn muốn thực hiện. Tạo cơ hội để đến với Chúa là điều quá quan trọng để chỉ dồn nó vào cuối sứ điệp mà không vạch kế hoạch trước. Số phận đời đời của nhiều người nằm trong sự cân nhắc của chúng ta.
Hãy sáng tạo trong việc mời gọi người ta tiếp nhận Chúa . Nếu tuần nào bạn cũng kêu gọi giống hệt nhau thì thính giả sẽ chán mà bỏ về. Cách tốt nhất để tránh đi vào lối mòn là buộc chính bạn phải viết lời kêu gọi tin Chúa kèm theo mỗi sứ điệp.
Hãy hướng dẫn thân hữu bài cầu nguyện mẫu . Thân hữu không biết phải nói gì với Đức Chúa Trời, do đó, hãy làm mẫu cho họ: “Anh/chị có thể cầu nguyện như thế này…” Yêu cầu họ lập lại từng lời một bằng cả tấm lòng. Điều này giúp thân hữu tuyên xưng đức tin của họ bằng lời.
Đừng bao giờ tạo áp lực để các thân hữu quyết định . Hãy tin cậy Thánh Linh sẽ làm công việc của Ngài. Như tôi đã nói trong chương 10, nếu trái đã chín, bạn chẳng cần phải giật mạnh để hái nó đâu. Lời kêu gọi thúc ép sẽ phản tác dụng. Nó làm cho những tấm lòng thêm cứng cỏi chứ không mềm mại ra. Chúng ta nói với mọi người rằng họ cần phải dành thời gian suy nghĩ cẩn thận quyết định của mình. Tôi tin rằng nếu họ thành thật với chính mình, họ sẽ có quyết định đúng.
Xin luôn nhớ rằng bạn đang kêu gọi thân hữu có một quyết định quan trọng nhất trong cuộc đời họ. Truyền giáo thường là một quá trình chia sẻ Tin Lành được lập đi lập lại. Thật là không thực tế nếu mong muốn một người bốn mươi tuổi hoàn toàn thay đổi hướng đi của cuộc đời mình trên nền tảng một sứ điệp chỉ có ba mươi phút. Bạn có trở lại một cửa hàng tạp hóa nào đó không khi mà mỗi lần bạn đến để mua sữa thì người bán hàng lại cố thuyết phục bạn mua thịt bò? Hãy tưởng tượng người bán hàng nói rằng, “Hôm nay là ngày của thịt bò! Đây là lúc ăn thịt bò! Bạn phải mua thịt bò hôm nay nếu không ngày mai có thể chẳng còn thịt bò nữa!” Người ta thường không khép kín như điều chúng ta nghĩ đâu. Họ chỉ cần thời gian để suy nghĩ về quyết định mà chúng ta muốn họ chọn lựa.
Hãy chuẩn bị nhiều cách để thân hữu bày tỏ sự cam kết của mình với Đấng Christ . Nếu bạn đang dùng phương pháp kêu gọi lên trước tòa giảng, thay vì thay thế nó, hãy thử dùng thêm những tấm card. Hãy thả một lưỡi câu khác xuống nước. Tấm card có thể là lựa chọn cho những người e ngại chuyện bước lên phía trước. Xin nhớ rằng Chúa Giê-xu không hề bảo rằng bạn phải bước từ điểm A tới điểm B trong nhà thờ để tuyên xưng đức tin của mình.
Sự kêu gọi lên tin Chúa thực ra là một phát kiến hiện đại. Asahael Nettleton đã bắt đầu dùng hình thức này năm 1817, và Charles Finney đã quảng bá nó. Trong các Hội Thánh Tân Ước, không hề có chuyện kêu gọi lên trước tòa giảng vì thời đó họ không có nhà thờ trong khoảng 300 năm đầu tiên, tức là không có đường đi ở giữa hai hàng ghế và cũng không có tòa giảng để mà bước lên!
Một trong những phương pháp kêu gọi hiệu quả nhất tôi đã dùng là thực hiện một “cuộc điều tra thuộc linh” ngay sau buổi thờ phượng. Sau khi giới thiệu kế hoạch cứu rỗi và hướng dẫn cầu nguyện tiếp nhận Chúa, tôi nói như vầy: “Quý vị biết đấy, tôi không thích gì khác hơn là được ngồi trò chuyện cùng từng người trong số quý vị về hành trình tâm linh của chính quý vị. Tôi ước gì mình có thể mời hết thảy quý vị đến ăn bánh, uống cà phê và tâm tình với tôi về mọi điều quý vị đang suy nghĩ. Đáng tiếc là Hội Thánh chúng ta đông như vầy, nên không thể thực hiện việc đó được. Do vậy, tôi mong quý vị giúp tôi một việc và dự phần vào một cuộc khảo sát cá nhân. Tôi muốn quý vị lấy tấm thiệp chào mừng mà hồi đầu giờ quý vị đã điền ở mặt trước ra, lật sang mặt phía sau và ghi A, B, C hay D dựa vào những gì tôi sẽ giải thích.
“Nếu bạn đã tin Chúa Giê-xu trước khi đến với chương trình thờ phượng này, xin hãy ghi ‘A.’ Nếu đây là lần đầu tiên bạn tin Chúa, xin ghi chữ ‘B.’ Nếu bạn nói rằng, ‘Rick này, tôi chưa quyết định được, nhưng tôi sẽ suy nghĩ về việc này, và tôi muốn ông biết rằng tôi đang suy nghĩ tới nó đấy,’ thì xin viết chữ ‘C.’ Nếu quý vị cảm thấy là mình không có ý định dâng cuộc đời mình cho Chúa, tôi mong quý vị hãy chân thành ghi xuống chữ ‘D.’”
Kết quả luôn luôn làm cho tôi ngạc nhiên. Một Chúa Nhật nọ, chúng tôi có gần 400 chữ “B”-đó là những lời tuyên xưng đức tin nơi Đấng Christ. Chúng tôi có khoảng 800 chữ “C”-vậy là chúng tôi có hẳn một danh sách để cầu thay. Chúng tôi chưa bao giờ có nhiều hơn mười bảy chữ “D.”
Hãy mong đợi người ta sẽ đáp ứng . Tôi không biết chính xác đức tin của mình ảnh hưởng tới cuộc chiến thuộc linh đang diễn ra vì linh hồn của những thân hữu như thế nào, nhưng tôi biết điều này: Khi tôi mong đợi các thân hữu đáp ứng tích cực với Đấng Christ, thì có nhiều người đáp ứng tích cực hơn là lúc tôi không mong đợi người ta được cứu.
Một sinh viên thần học trẻ tuổi đã từng than phiền với Charles Spurgeon rằng: “Tôi không hiểu nổi-khi nào tôi giảng thì chẳng có ai tin Chúa cả. Nhưng khi ông giảng, thì người ta luôn chạy đến với Ngài!” Spurgeon đáp lại, “Anh có mong muốn người ta sẽ chạy đến với Chúa mỗi khi anh giảng không?” Chàng thanh niên đáp, “Ồ không.” “Đó chính là vấn đề của anh,” Spurgeon nói.
Tôi thường cầu nguyện, “Lạy Cha, Ngài đã phán, ‘Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy.’ Con biết rằng con chỉ lãng phí thời gian nếu giảng mà không mong đợi Ngài dùng lời giảng đó, vì vậy, con tạ ơn Ngài trước bởi sẽ có nhiều đời sống được biến đổi.”
Địa Vị Hàng Đầu Của Việc Rao Giảng
Chương này không có ý định giải thích toàn bộ triết lý rao giảng của tôi. Chỉ nói chuyện đó thôi chắc phải cần cả một cuốn sách. Mục đích của tôi là nêu ra một số gợi ý thực tế có thể tạo nên sự biến chuyển lớn trong cách rao giảng cho thân hữu, bất luận bạn có phong cách giảng như thế nào.
Trong nhiều hệ phái, việc rao giảng dường như cứ đi vào trào lưu rồi lại đi ra. Trong thế giới kỹ thuật cao của chúng ta, nó thường bị chỉ trích là một kiểu truyền thông lỗi thời và vô vị. Tôi đồng ý rằng có nhiều phong cách giảng dạy trước đây rất có hiệu quả đối với thân hữu, nhưng ngày nay chẳng còn chút tác động nào cả. Tuy nhiên, khi nhìn từ sự biến đổi đời sống cách ngoạn mục trong từng cá nhân, không có điều gì có thể thay thế được sự rao giảng được Thánh Linh xức dầu. Sứ điệp vẫn là yếu tố quan trọng nhất của một chương trình thờ phượng dành cho thân hữu. Mười lăm năm tăng trưởng của Hội Thánh Saddleback, bất chấp những phòng tập thể dục oi bức, những khu nhà lều ẩm dột, và những khu đậu xe chật cứng, đã chứng tỏ rằng người ta sẽ chịu được nhiều sự bất tiện và giới hạn nếu các sứ điệp thực sự đáp ứng được những nhu cầu của họ.

GÂY DỰNG HỘI THÁNH
Chương 17: Biến Những Người Tham Dự Thành Các Thành Viên
“Dường ấy , anh em chẳng phải là người ngoại , cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa , nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ , và là người nhà của Đức Chúa Trời .”
Eph Ep 2:19
“Cũng vậy , chúng ta là nhiều người mà hiệp nên một thân trong Đấng Christ , và hết thảy chúng ta đều là các phần chi thể của nhau .”
RoRm 12:5
Một khi bạn đã tập hợp được một đám đông những người đến nhóm, bạn phải bắt đầu nhiệm vụ quan trọng nhất: đưa họ vào hội chúng và trở thành các thành viên. Đám đông phải trở thành một Hội Thánh. Trong biểu đồ Tiến Trình Phát Triển Đời Sống, chúng tôi gọi đó là “đưa người tới trạm thứ nhất,” và chúng tôi thực hiện tiến trình này bằng cách sáp nhập hay đồng hóa. Đồng hóa (assimilation) là nhiệm vụ đưa người từ chỗ biết về Hội Thánh của bạn đến chỗ tham dự với Hội Thánh rồi trở thành một thành viên năng động trong Hội Thánh. Cộng đồng thường nói tới “Hội Thánh đó ,” đám đông thì nói về “Hội Thánh này ,” nhưng hội chúng sẽ nói về “Hội Thánh của chúng ta .” Các thành viên cảm nhận quyền sở hữu. Họ là những người đóng góp chứ không phải chỉ là những người thụ hưởng.
Nhiều Cơ-đốc nhân Mỹ giống như điều mà tôi gọi là “những tín nhân trôi nổi.” Dù ở nơi nào khác trên thế giới, thì việc làm một tín nhân đều đồng nghĩa với việc có một mối liên hệ nào đó tới một hội chúng địa phương-bạn hiếm khi tìm được một Cơ-đốc nhân đơn độc trong các quốc gia khác. Tuy nhiên, nhiều Cơ-đốc nhân Mỹ cứ nhảy từ Hội Thánh này sang Hội Thánh khác mà không có đăng ký, trách nhiệm, hay cam kết với một Hội Thánh nào. Đây là bằng chứng trực tiếp cho thấy chủ nghĩa cá nhân đang lan tràn khắp nơi. Họ không được dạy rằng đời sống Cơ-đốc không chỉ có tin mà thôi-nó cũng gồm cả sự thuộc về nữa. Chúng ta tăng trưởng trong Đấng Christ vì chúng ta ở trong mối liên hệ với các Cơ-đốc nhân khác. RoRm 12:10 chép, “Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau như anh em; hãy lấy lẽ kính nhường nhau.”
C. S. Lewis đã viết một bài luận về tư cách hội viên của một Hội Thánh, đã nhắc chúng ta rằng từ tư cách hội viên (membership ) là một từ có nguồn gốc Cơ-đốc, nhưng nó đã bị thế gian chiếm dụng và xóa đi mọi ý nghĩa nguyên thủy của nó. Ngày nay, đa số người liên tưởng khái niệm tư cách hội viên với việc nộp phí, các nghi lễ vô nghĩa, những cái bắt tay và các quy tắc ngớ ngẩn, còn tên của bạn được ghi trong một bảng danh sách bám đầy bụi. Tuy nhiên, Phao-lô lại có một cái nhìn hoàn toàn khác về tư cách hội viên. Đối với ông, là thành viên của một Hội Thánh không có nghĩa là gia nhập vào một tổ chức nào đó, mà là trở thành một bộ phận quan trọng trong một thân thể sống (12:4-5; ICo1Cr 6:15; 12:12-27). Chúng ta cần phải khôi phục quan niệm này. Bấy kỳ bộ phận nào bị tách khỏi thân thể không chỉ đánh mất hình ảnh nguyên thủy của nó khi được tạo nên, mà còn teo lại và chết đi nhanh chóng. Các Cơ-đốc nhân không cam kết gắn bó với một hội chúng nào đó cũng giống như vậy.
Việc sáp nhập các thành viên mới vào mối thông công trong Hội Thánh của bạn không tự động diễn ra đâu. Nếu bạn không có một hệ thống và cơ cấu để sáp nhập và giữ những người bạn đã tiếp cận được, họ sẽ không ở lâu với Hội Thánh của bạn. Bạn sẽ thấy số người đi cửa sau để ra khỏi Hội Thánh cũng bằng với số người vừa đi vào ở cửa trước.
Nhiều Hội Thánh mắc sai lầm khi cho rằng một khi người ta tiếp nhận Chúa rồi, thì việc giao dịch đã chấm dứt, và lúc bấy giờ người tín hữu mới sẽ tự động tiến tới cùng với sự cam kết của mình mà gia nhập Hội Thánh. Điều này thật vô lý. Những tín nhân trong tình trạng con đỏ không biết họ cần gì! Trách nhiệm của Hội Thánh là phải đi bước đầu tiên để hội nhập những người mới vào trong hội chúng.
Tôi tin rằng khi Đức Chúa Trời muốn sinh ra các con đỏ mới, Ngài sẽ nhìn xung quanh và tìm một cái lồng nuôi trẻ ấm áp nhất. Các Hội Thánh nào đặt vấn đề sáp nhập thành viên mới lên hàng ưu tiên và có kế hoạch để thực hiện nó thường được ban phước bằng sự tăng trưởng. Trái lại, những Hội Thánh nào không quan tâm tới các thành viên mới, hoặc cẩu thả trong việc hội nhập, họ sẽ không tăng trưởng . Trong chương này, tôi muốn chia sẻ chiến lược chúng tôi dùng tại Hội Thánh Saddleback để hội nhập và gìn giữ các thành viên trong hội chúng của mình.
Phát Triển Kế Hoạch Hội Nhập Những Tín Hữu Mới
Vì hội chúng của bạn có một lịch sử, nền văn hóa và tốc độ phát triển độc nhất, nên bạn cần phải hỏi một vài câu hỏi quan trọng. Các câu trả lời sẽ xác định kế hoạch hội nhập nào là phù hợp nhất cho hoàn cảnh của bạn. ChCn 20:18 chép, “Nhờ bàn luận, các mưu kế được định vững vàng.” Sau đây là mười hai câu hỏi chúng tôi đã hỏi tại Hội Thánh Saddleback:
Đức Chúa Trời mong đợi điều gì nơi các thành viên trong Hội Thánh của Ngài?
Chúng ta mong đợi điều gì nơi các thành viên của mình ngay lúc này đây?
Hội chúng của chúng ta phần đông thuộc loại người nào?
Điều này sẽ thay đổi như thế nào trong năm tới mười năm tới?
Các thành viên của chúng ta đề cao điều gì?
Những nhu cầu lớn nhất của các thành viên mới là gì?
Những nhu cầu lớn nhất của các thành viên lâu năm là gì?
Làm thế nào để chúng ta khiến cho tư cách hội viên trở nên có ý nghĩa hơn?
Làm thế nào chúng ta có thể bảo đảm rằng các thành viên cảm thấy được yêu thương và quan tâm tới?
Chúng ta nợ các thành viên của mình điều gì?
Chúng ta có thể đem lại cho các thành viên của mình những nguồn lực hay mục vụ gì?
Làm thế nào chúng ta có thể thêm giá trị cho điều chúng ta đã cung ứng?
Kế đến, bạn cũng cần phải biết rằng những thành viên tương lai có những vấn đề thắc mắc của riêng họ. Những vấn đề này cũng sẽ ảnh hưởng cách bạn lập kế hoạch hội nhập họ. Trước khi người ta quyết định gia nhập Hội Thánh của bạn, họ muốn có lời đáp cho năm câu hỏi không nói ra.
Tôi có thích hợp với nơi này không ? Đây là vấn đề chấp nhận . Tốt nhất nên giải quyết vấn đề này bằng cách thành lập các nhóm có những điểm chung trong Hội Thánh của bạn để những người có cùng lứa tuổi, sở thích, nan đề, hay trình độ có thể gặp nhau và quan hệ với nhau. Mọi người cần một chỗ thích hợp, và các nhóm nhỏ đóng vai trò quyết định trong việc đáp ứng nhu cầu này. Bạn phải chứng tỏ cho mọi người thấy rằng bạn có chỗ cho họ.
Có ai muốn quen tôi không ? Đây là vấn đề tình bạn . Bạn có thể trả lời câu hỏi này bằng cách tạo nhiều cơ hội để dân sự phát triển các mối quan hệ trong hội chúng. Có vô số cách để bạn làm việc này, nhưng cần phải có kế hoạch. Xin nhớ rằng dân sự không tìm một Hội Thánh thân thiện nhiều như tìm kiếm bạn . Dân sự xứng đáng được sự chú ý cá nhân.
Người khác có cần tôi không ? Đây là vấn đề về giá trị . Người ta muốn đóng góp một cái gì đó. Họ muốn cảm thấy rằng mình có ý nghĩa. Khi bạn chứng tỏ cho người ta thấy rằng họ có thể tạo nên một sự thay đổi bằng ân tứ và tài năng của mình khi gia nhập Hội Thánh, họ sẽ sẵn sàng gia nhập ngay. Hãy khẳng định Hội Thánh của bạn là một nơi đầy sáng tạo, cần đủ mọi loại tài năng và năng lực, không chỉ có các ca sĩ, những tiếp tân viên, và các giáo viên Trường Chúa Nhật.
Ích lợi của việc gia nhập là gì ? Đây là vấn đề lợi ích . Bạn cần phải giải thích rõ ràng và chính xác những lý do cũng như những lợi ích khi làm thành viên trong Hội Thánh của bạn. Hãy giải thích những lý do theo Kinh Thánh dạy cách thực tế và cá nhân của việc gia nhập.
Những đòi hỏi nơi các thành viên là gì ? Đây là vấn đề mong muốn . Bạn cần phải giải thích những trách nhiệm của một thành viên một cách rõ ràng như khi bạn khẳng định những ích lợi của việc gia nhập. Người ta có quyền được biết họ phải đáp ứng điều gì trước khi họ gia nhập.
Truyền Đạt Giá Trị Của Tư Cách Hội Viên
Gia nhập một Hội Thánh thường là một hành động tuân theo quy ước trong xã hội của chúng ta. Bạn gia nhập một Hội Thánh vì mọi người khác đều đã gia nhập. Bây giờ thì các quy luật đã khác và sự tuân theo quy ước không còn là nhân tố thúc đẩy nữa. Trên thực tế, George Gallup đã khám phá ra rằng đại đa số người Mỹ tin rằng có thể làm một “Cơ-đốc nhân tốt” mà không cần phải gia nhập (thậm chí đi tới) một hội chúng địa phương nào.
Thay vào đó, tư cách hội viên bây giờ là một sự cam kết. Ngày nay, cách bạn động viên người ta gia nhập là chỉ cho họ thấy những lợi ích giá trị họ sẽ nhận được khi đồng ý gia nhập. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi khám phá ra rằng khi người ta hiểu ý nghĩa và giá trị của tư cách hội viên, họ sẽ rất thích nó.
Có vô số lợi ích khi trở thành một thành viên:
Nó xác nhận một người là tín nhân thật (Eph Ep 2:19; RoRm 12:5).
Nó đem đến một gia đình thuộc linh để hỗ trợ và khích lệ họ trên bước đường theo Chúa (GaGl 6:1-2; HeDt 10:24-25).
Nó cung cấp một nơi để khám phá và sử dụng các ân tứ của họ trong chức vụ (ICo1Cr 12:4-27).
Nó đặt họ dưới sự bảo vệ thuộc linh của những người lãnh đạo tin kính (HeDt 13:17; Cong Cv 20:28-29).
Nó đặt ra cho họ một trách nhiệm họ cần có để tăng trưởng (Eph Ep 5:21).
Trong chương 6, tôi đã gợi ý rằng bạn nên cá nhân hóa các mục đích của Hội Thánh. Điều này đặc biệt quan trọng khi thuyết phục những người tham dự trong đám đông gia nhập Hội Thánh của bạn. Bạn cần phải nhấn mạnh sự thật là Hội Thánh đem đến cho họ những ích lợi mà họ không thể tìm thấy ở một nơi nào khác trên thế giới:
Sự thờ phượng giúp bạn tập trung vào Đức Chúa Trời. Nó chuẩn bị bạn về phương diện thuộc linh và tình cảm cho một tuần lễ mới.
Mối thông công giúp bạn đối diện những nan đề của cuộc sống bằng cách đem đến sự hỗ trợ và khích lệ từ các Cơ-đốc nhân khác.
Môn đồ hóa giúp bạn củng cố niềm tin bằng cách học biết lẽ thật trong Lời của Đức Chúa Trời và áp dụng những nguyên tắc Thánh Kinh vào đời sống của bạn.
Mục vụ giúp bạn khám phá và phát triển các tài năng của mình rồi dùng chúng để phục vụ người khác.
Truyền giáo giúp bạn hoàn thành sứ mệnh chinh phục những người thân của bạn và gia đình họ cho Đấng Christ.
Có rất nhiều hình ảnh minh họa Cơ-đốc nhân khi tách khỏi một Hội Thánh: cầu thủ không có đội bóng; một người lính không ở trong đội ngũ; một nhạc sĩ kèn tuba không ở trong dàn nhạc; một con chiên không ở trong bầy. Nhưng hình ảnh dễ hiểu (và hợp Kinh Thánh) nhất là đứa con không có gia đình.
ITi1Tm 3:15 đã gọi Hội Thánh là “nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy.” Đức Chúa Trời không muốn con cái của Ngài lớn lên mà sống chia cách nhau, nên Ngài đã tạo nên một gia đình thuộc linh trên đất này cho chúng ta. Phao-lô nhắc nhở chúng ta trong Eph Ep 2:19 rằng, “Dường ấy, anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời.” Một Cơ-đốc nhân không có một gia đình Hội Thánh là một đứa trẻ mồ côi.
Xác định Hội Thánh là một gia đình còn quan trọng hơn bất kỳ một tổ chức nào khác. Từ những năm 1960, người Mỹ càng ngày càng chống tổ chức nhiều hơn. Cụm từ “tôn giáo được tổ chức” chỉ mới được dùng gần đây thôi. Người ta cũng đang khao khát cảm nhận của một gia đình và cộng đồng.
Có nhiều yếu tố làm tan rã những gia đình hạt nhân trong nền văn hóa ngày nay: tỉ lệ ly dị cao, những cuộc hôn nhân bị trì hoãn, sự nhấn mạnh tình trạng độc thân, những lối sống “lập dị,” và phụ nữ ra ngoài làm việc v.v… Một yếu tố khác là mức độ di chuyển cao. Trong xã hội năng động của chúng ta, người ta ít bén rễ hơn. Ngày nay người ta không còn bị bao vây bởi những đại gia đình gồm cô dì, cậu mợ, ông bà, và các anh chị em, là mô hình mạng lưới an toàn của các thế hệ trước.
Ngày nay, chúng ta có một con số kỷ lục những người Mỹ độc thân. Vance Packard gọi nước Mỹ là “nước của những người xa lạ.” Vì vậy, chúng ta đang trải qua cơn đại dịch cô đơn trong xã hội. Một cuộc điều tra của viện Gallup đã cho biết rằng bốn trong số mười người Mỹ thừa nhận rằng họ thường xuyên cảm thấy “cô đơn cùng cực.” Trên thực tế, người Mỹ là những người cô đơn nhất trên thế giới.
Bạn cứ nhìn ở khắp mọi nơi và sẽ thấy những tấm bảng nói rằng người ta đang đói khát sự thông công, tìm kiếm một cộng đồng và một cảm nhận gia đình. Chẳng hạn, các mẫu quảng cáo bia không hề bán bia, mà bán mối quan hệ. Quảng cáo đó không chiếu cảnh chỉ có một người ngồi uống bia; nhưng là cảnh nhiều người ngồi chung thưởng thức với nhau. Các khẩu hiệu đi kèm với mẫu quảng cáo này nói rằng: “Không còn gì tuyệt hơn thế này!” Các nhà quảng cáo khám phá ra rằng những cặp đang trong độ tuổi có con mà sống độc lập sẽ đột ngột khao khát được quan hệ với ai đó khi bước sang tuổi trung niên.
“Nỗi khao khát được thuộc về” này là một cơ hội đúng lúc cho Hội Thánh. Việc khẳng định Hội Thánh là một đại gia đình, “nơi bạn được chăm sóc,” sẽ đánh mạnh vào sợi dây tình cảm trong nhiều tấm lòng cô đơn.
Tổ Chức Một Lớp Thành Viên Bắt Buộc
Một số nghiên cứu cho biết rằng cách người ta gia nhập một tổ chức nào đó sẽ tác động lớn tới công việc họ sẽ làm trong tổ chức đó sau khi gia nhập. Đối với việc gia nhập Hội Thánh cũng vậy. Cách người ta gia nhập Hội Thánh của bạn sẽ quyết định năng suất của họ khi họ làm một thành viên trong những năm sắp tới.
Tôi tin rằng lớp quan trọng nhất trong một Hội Thánh là lớp thành viên vì nó đặt ra những tiêu chuẩn và những đòi hỏi của mọi điều đến sau nó. Thời điểm tốt nhất để khơi dậy một cam kết vững chắc nơi các thành viên của bạn chính là lúc họ gia nhập. Nếu khi gia nhập mà đòi hỏi ít quá, thì sau này không thể mong đợi gì nhiều từ các thành viên của bạn.
Một lớp thành viên yếu như thế nào sẽ xây dựng một hội chúng yếu như thế ấy; ngược lại, một lớp thành viên mạnh như thế nào sẽ xây dựng một hội chúng mạnh như thế ấy. Xin lưu ý rằng một lớp mạnh không nhất thiết phải là một lớp dài . Lớp thành viên của Hội Thánh Saddleback (Lớp 101) chỉ kéo dài bốn giờ đồng hồ và chỉ học trong một ngày, nhưng nó cho ra một mức độ cam kết cao nơi các thành viên của chúng tôi vì những người nào tham dự lớp này sẽ biết chính xác chúng tôi mong đợi điều gì nơi họ khi họ trở thành những thành viên. Sức mạnh của một lớp thành viên được quyết định bởi chính nội dung và sự kêu gọi cam kết của nó chứ không phải do học lâu hay mau.
Vì một số lý do, tôi tin rằng người dạy lớp này, hoặc ít nhất một phần của lớp, phải là mục sư quản nhiệm. Cơ hội được nghe về khải tượng của mục sư cho Hội Thánh, được cảm nhận tình yêu thương ông dành cho các thành viên, và được nghe cá nhân ông cam kết quan tâm, nuôi dưỡng và dẫn dắt họ là điều rất quan trọng đối với các thành viên mới. Những lời dưới đây do một thành viên mới viết, và nó cũng đủ thể hiện những gì nhiều người đã nói về lớp thành viên của Hội Thánh Saddleback.
Mục sư Rick thân mến,
Cám ơn ông vì ông đã dành thời gian dạy lớp thành viên (101). Thật cảm động khi được nghe ông thể hiện tình yêu thương và sự cam kết của mình với bầy chiên và khải tượng của ông cho tương lai của chúng tôi. Ước gì chúng tôi được học lớp này sớm hơn. Những đề nghị và ý kiến của chúng tôi sau lần đầu tiên chúng tôi tới Hội Thánh Saddleback bây giờ trở nên hết sức tầm thường khi chúng tôi hiểu triết lý, chiến lược, và khải tượng của Hội Thánh này. Thật là một phước hạnh lớn khi được ông dẫn dắt và chăm nom. Bây giờ chúng tôi thực sự vui sướng khi tìm được chỗ của mình để phục vụ tại Hội Thánh Saddleback này.
Có nhiều lớp thành viên của một số Hội Thánh chọn không đúng nội dung. Nội dung của chúng thường xoay quanh vấn đề tăng trưởng tâm linh hay giáo lý căn bản. Những điều này hết sức quan trọng, nhưng chúng thích hợp hơn trong các lớp dành cho các thành viên mới hay lớp giáo lý Cơ-đốc; cả hai lớp học cần thiết này phải được tách hẳn khỏi lớp thành viên. Lớp thành viên của bạn phải trả lời được các câu hỏi sau:
Hội Thánh là gì?
Các mục đích của Hội Thánh là gì?
Những ích lợi khi trở thành một thành viên là gì?
Những đòi hỏi nơi các thành viên là gì?
Những trách nhiệm của các thành viên là gì?
Khải tượng và chiến lược của Hội Thánh này là gì?
Hội Thánh được tổ chức như thế nào?
Tôi có thể dự phần hầu việc Chúa như thế nào?
Nếu bây giờ tôi là một thành viên, tôi phải làm gì?
Nếu Hội Thánh của bạn nhắm vào những người không đi nhà thờ, bạn cần giải thích rõ ràng về sự cứu rỗi trong lớp thành viên vì bạn sẽ gặp nhiều người muốn gia nhập Hội Thánh khi chưa tin Chúa! Chúng tôi luôn giải thích rằng tin cậy Đấng Christ là đòi hỏi đầu tiên nơi một thành viên, và mỗi lớp thành viên của chúng tôi đều có người cầu nguyện tin Chúa.
Có nhiều điều bạn có thể áp dụng trong lớp thành viên để khiến nó thu hút và thú vị: các đoạn phim video, một cuốn tập với các khoảng trống để điền vào, tương tác nhóm nhỏ, và một bữa ăn ngon. Nhớ kể nhiều câu chuyện để cá nhân hóa lịch sử, các tiêu chuẩn và định hướng của Hội Thánh của bạn. Tại Hội Thánh Saddleback, thậm chí chúng tôi còn tổ chức đố vui vào cuối giờ học của lớp để kiểm tra xem các thành viên tương lai có thể nêu được các mục đích của Hội Thánh cùng với những khái niệm quan trọng khác hay không.
Để trở thành thành viên chính thức thì phải học xong lớp thành viên. Những người nào không thích hoặc không sẵn lòng học những mục đích, chiến lược của Hội Thánh của bạn, cũng như ý nghĩa của tư cách thuộc viên, thì những người đó không phù hợp với mức độ cam kết thành viên. Thậm chí nếu như họ không chú ý đủ để hiểu những trách nhiệm của một thành viên, thì họ sẽ không thể hoàn thành các trách nhiệm đó sau khi gia nhập, và cũng không nên cho phép họ gia nhập Hội Thánh. Có rất nhiều hội chúng khác để những người như vậy gia nhập với một tư cách hội viên vô nghĩa.
Đặt vấn đề các lứa tuổi khác nhau khi dạy một lớp thành viên cũng là điều khá quan trọng. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi có ba dạng lớp thành viên khác nhau: lớp cho trẻ em (ở độ tuổi thiếu nhi - do một mục sư đặc trách thiếu nhi dạy), lớp cho thanh niên (các học sinh trung học cơ sở và phổ thông trung học - do các mục sư đặc tránh thanh niên dạy), và lớp cho người lớn.
Phát Triển Một Giao Ước Thành Viên
Tại sao nhiều Hội Thánh lại có quá nhiều thành viên trên danh sách mà lại có ít hoặc không có bằng chứng nào cho thấy sự cam kết Cơ-đốc hay thậm chí niềm tin của họ? Tại sao nhiều Hội Thánh lại thấy khó cổ động các thành viên dâng hiến, phục vụ, cầu nguyện và chia sẻ niềm tin? Câu trả lời chính là các thành viên được phép gia nhập mà không có một đòi hỏi nào nơi họ cả. Bạn có câu trả lời rồi đấy.
Phao-lô đề cập tới hai loại cam kết trong IICo 2Cr 8:5: “Họ… trước hết đã dâng chính mình cho Chúa, và sau lại cho chúng tôi, theo ý muốn Đức Chúa Trời.” Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi gọi đây là những cam kết trạm một . Bạn đầu phục Chúa để được sự cứu rỗi và sau đó bạn hòa mình với chúng tôi trong đại gia đình Hội Thánh thông qua tư cách hội viên. Trong Hội Thánh chúng tôi, chúng tôi định nghĩa từ koinonia (sự thông công) là “dâng mình phục vụ nhau như đã dâng mình cho Chúa Giê-xu.”
Chúa Giê-xu đã nói rằng tình yêu thương chúng ta dành cho nhau chính là dấu hiệu chứng tỏ chúng ta là môn đồ của Ngài (xem GiGa 13:34-35). Tôi tin rằng đây là một bảng cáo trạng của Cơ-đốc giáo: Hầu hết các tín nhân có thể trưng dẫn GiGa 3:16 mà không thể trưng dẫn IGi1Ga 3:16 “Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống; chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy.” Lần cuối cùng bạn được nghe sứ điệp trong câu Kinh Thánh này là khi nào? Hầu hết các Hội Thánh đều im lặng trước việc phát triển mức độ cam kết đó.
Cụm từ “lẫn nhau” hay “với nhau” được dùng hơn năm mươi lần trong Thánh Kinh Tân Ước. Chúng ta được lệnh phải yêu thương lẫn nhau, cầu nguyện cho nhau, phục vụ lẫn nhau, dạy dỗ nhau, chấp nhận nhau, tôn trọng lẫn nhau, chia sẻ những gánh nặng của anh em, tha thứ nhau, hát với nhau, đầu phục nhau, và tận tâm với nhau. Tất cả những mạng lệnh này chính là ý nghĩa của tư cách hội viên trong một hội chúng địa phương. Đó là những trách nhiệm của mỗi thành viên. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi chỉ mong đợi nơi các thành viên của mình điều mà Kinh Thánh mong đợi nơi toàn bộ tín nhân. Chúng tôi tóm tắt những mong đợi này vào trong giao ước thành viên.
Phần quan trọng nhất của một hôn lễ là khi người nam và người nữ đọc lời thề ước cho nhau, hứa với nhau trước những nhân chứng và trước mặt Đức Chúa Trời. Giao ước giữa họ chính là ý nghĩa của hôn nhân. Cũng như vậy, ý nghĩa của tư cách hội viên chính là sự đồng ý cam kết thông qua giao ước thành viên. Đó là phần quan trọng nhất của lớp thành viên chúng tôi.
Xuyên suốt Kinh Thánh và lịch sử Hội Thánh, các giao ước thuộc linh đã được lập ra giữa vòng dân sự để gây dựng và chịu trách nhiệm lẫn nhau. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi có bốn đòi hỏi nơi một thành viên: (1) một lời tuyên xưng cá nhân, tuyên bố tiếp nhận Đấng Christ là Chúa, là Chủ, và là Cứu Chúa của mình, (2) báp-tem bằng cách dìm mình xuống nước, là một biểu tượng công khai tuyên xưng đức tin của một người, (3) hoàn thành lớp thành viên, và (4) ký giao ước thành viên Saddleback.
Tôi khích lệ bạn cầu nguyện chuẩn bị và thực hiện một giao ước thành viên cho hội chúng của mình nếu bạn chưa có. Điều đó có thể cách mạng hóa cả Hội Thánh của bạn. Bạn có thể lo rằng: “Nếu chúng tôi đưa ra một giao ước thành viên, sẽ có một số người rời khỏi Hội Thánh.” Bạn nói đúng. Sẽ có một số người. Nhưng đó là những người cũng sẽ rời khỏi Hội Thánh của bạn dù bạn làm gì đi nữa . Đừng lo chuyện dân sự bỏ bạn mà đi. Ngày xưa người ta còn tránh khỏi Chúa Giê-xu cơ mà. Khi hội chúng của bạn chấp nhận một giao ước thành viên, thì ít nhất bạn cũng chọn được loại người ở lại.
Làm Cho Các Thành Viên Của Bạn Cảm Thấy Đặc Biệt
Hoàn tất một lớp thành viên không tự động khiến cho người ta thấy rằng họ đã thuộc về Hội Thánh của bạn. Họ cần cảm thấy rằng họ được hoan nghênh và mong đợi một khi họ đã gia nhập Hội Thánh của bạn. Họ cần phải được chính hội chúng của bạn nhìn nhận, chấp nhận và chúc mừng. Họ cần phải thấy mình đặc biệt . Khi còn là một Hội Thánh nhỏ, bạn có thể làm việc này một cách thân tình, nhưng khi Hội Thánh của bạn tăng trưởng, bạn cần phải có những nghi thức chào mừng công khai tuyên bố rằng, “Bây giờ anh là một phần của chúng tôi!”
Dĩ nhiên, báp-tem đối với một tân tín hữu là một biến cố hoàn toàn phù hợp trong trường hợp này. Các lễ Báp-tem hằng tháng của chúng tôi luôn được tổ chức trọng thể, có nhiều tiếng cười, tiếng vỗ tay, và cả những tiếng thét vui mừng nữa. Chúng tôi có một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp để chụp hình cho mỗi người ngay trước khi anh/chị ta bị dìm xuống nước. Sau đó chúng tôi giới thiệu những người đã được báp-tem cùng với hình của họ và một chứng chỉ báp-tem được làm bằng da giả rất đẹp, và đáng tự hào.
Khi Hội Thánh Saddleback còn nhỏ, chúng tôi thường thuê khu Câu Lạc Bộ Sứ Mệnh Miền Quê Viejo ba tháng một lần để tổ chức một bữa tiệc cho các thành viên mới. Các thành viên cũ sẽ trả tiền ăn cho các thành viên mới. Từng thành viên mới sẽ được giới thiệu và sẽ có bài làm chứng cá nhân độ hai phút trước toàn thể những người có mặt. Tôi chưa bao giờ nghe những câu chuyện cảm động về những cuộc đời được biến đổi đó mà lại không khóc.
Trong nhiều năm liền, Kay và tôi tổ chức một bữa ăn nhẹ có cà phê tại nhà vào tối Chúa Nhật thứ tư hằng tháng. Được gọi là “Trà Đàm Với Mục Sư,” nó chỉ đơn giản là một dịp để các thành viên mới và những vị khách đã đến trong tháng gặp gỡ chúng tôi trực tiếp và đặt các câu hỏi. Chúng tôi treo một bảng đăng ký trong hành lang nhà thờ trước các giờ thờ phượng, và ba mươi người đầu tiên đăng ký sẽ có mặt. Cuộc trà đàm kéo dài từ 7 giờ tới 10 giờ tối. Việc làm hiếu khách đơn giản này đã thu hút hàng trăm thành viên mới và tạo được những mối quan hệ vẫn còn cho tới bây giờ. Sự hiếu khách giúp một Hội Thánh khỏe mạnh tăng trưởng.
Bạn có thể dùng nhiều cách khác để làm cho các thành viên cảm thấy mình đặc biệt, chẳng hạn như gởi thiệp sinh nhật, chúc mừng họ trở thành thành viên được một năm, và hãy ghi các ngày đặc biệt khác (sinh nhật, đám cưới, kỷ niệm, tốt nghiệp, thành công) trong bản tin của bạn, sắp xếp để có người làm chứng trong mỗi buổi thờ phượng, tổ chức tiếp nhận các nhân sự, và gởi một tấm card “Chúng tôi đã cầu nguyện cho bạn” để đáp lại nan đề cầu thay được nêu ra. Vấn đề là ở chỗ: Để thực sự cảm thấy họ thuộc về Hội Thánh, những thành viên mới không chỉ cần những cái bắt tay nồng nhiệt, họ cần nhiều hơn thế.
Tạo Cơ Hội Xây Dựng Các Mối Quan Hệ
Việc giúp các thành viên phát triển các mối quan hệ trong Hội Thánh của bạn là điều hết sức quan trọng. Các mối quan hệ là chất keo gắn chặt Hội Thánh lại với nhau. Tình bạn là chìa khóa giữ các thành viên ở lại với bạn.
Một người bạn nói với tôi về cuộc điều tra ông thực hiện tại Hội Thánh của mình. Khi ông hỏi, “Tại sao anh gia nhập Hội Thánh này?” 93 phần trăm các thành viên nói rằng, “Tôi gia nhập vì cớ mục sư.” Rồi ông hỏi, “Vậy nếu mục sư dời đi thì sao? Anh sẽ đi luôn chứ?” Chín mươi ba phần trăm nói rằng, “Không.” Khi ông hỏi lý do tại sao họ không đi, thì họ đáp, “Vì tôi còn có bạn ở đây!” Chúng ta thấy sự chuyển hướng từ mục sư sang những người bạn. Điều này là bình thường.
Lyle Schaller đã thực hiện một cuộc nghiên cứu cho thấy rằng một người càng có nhiều bạn trong một hội chúng bao nhiêu, thì người đó lại càng ít thụ động hay sẽ bỏ đi bấy nhiêu. Ngược lại, tôi đã từng đọc một bảng báo cáo về 400 người được hỏi là tại sao họ bỏ Hội Thánh. Hơn 75 phần trăm trả lời rằng, “Tôi chẳng thấy có ai bận tâm tới chuyện tôi có mặt ở đó hay không.”
Quan niệm cho rằng bạn cần phải biết hết mọi người trong Hội Thánh thì mới cảm thấy mình là một phần của Hội Thánh là một quan niệm hết sức sai lầm. Một thành viên trung bình biết được sáu mươi bảy người trong hội chúng dù là có 200 hay 2,000 người dự nhóm. Một thành viên không cần phải biết hết mọi người trong Hội Thánh thì mới cảm thấy rằng đây là Hội Thánh của họ, nhưng người đó phải biết ít nhất là một số người.
Có một số quan hệ tự nhiên phát triển, nhưng yếu tố tình bạn trong việc gắn kết mọi người với nhau lại hết sức quan trọng, nên không thể để nó phát triển ngẫu nhiên được. Bạn không thể chỉ hy vọng các thành viên của mình sẽ kết nhiều bạn trong Hội Thánh. Bạn phải khích lệ chuyện đó, lập kế hoạch cho nó, tổ chức, và tạo điều kiện cho nó.
Hãy nghĩ tới các mối quan hệ. Hãy tạo càng nhiều cơ hội càng tốt để dân sự gặp gỡ và quen biết lẫn nhau. Do có quá nhiều cuộc họp mặt của Hội Thánh chỉ toàn những bài thuyết trình (“Ngồi yên nghe tôi giảng”), nên có thể lắm các thành viên cứ đi ra đi vào cửa nhà thờ suốt một năm ròng mà chẳng quen biết được ai. Hãy cố gắng tạo một hoạt động làm quen nào đó trong mỗi buổi nhóm. Có thể chỉ đơn giản là, “Hãy quay sang bên và tự giới thiệu về bạn cho một người nào đó rồi tìm xem người đó có điều gì thú vị.”
Dù chúng tôi đã dùng đủ mọi loại hoạt động để tạo dựng các mối quan hệ trong Hội Thánh (các câu lạc bộ, thể thao, trò chơi, picnic, và v.v…), các kỳ nghỉ cuối tuần vẫn là công cụ hữu hiệu nhất để gây dựng những mối quan hệ mới. Hãy suy nghĩ điều này: Lượng thời gian một người ở với các thành viên khác trong một kỳ nghỉ bốn mươi tám tiếng đồng hồ còn nhiều hơn cả tổng lượng thời gian họ ở với nhau vào các Chúa Nhật trong suốt một năm. Nếu bạn là một người mở Hội Thánh mới, và bạn muốn phát triển các mối quan hệ cách nhanh chóng, hãy đưa mọi người đi nghỉ chung với nhau.
Vì đa số người gặp nhiều khó khăn trong việc ghi nhớ tên, đặc biệt là trong các Hội Thánh lớn, hãy dùng các bảng tên. Không có điều gì gây bối rối cho bằng không biết tên của một ai đó mà bạn đã gặp tại nhà thờ suốt nhiều năm liền.
Khích Lệ Mỗi Thành Viên Tham Gia Nhóm Nhỏ
Một trong những vấn đề các thành viên lo lắng nhất là làm sao duy trì mối thông công của một “Hội Thánh nhỏ” khi Hội Thánh của họ tăng trưởng. Giải pháp cho sự lo lắng này chính là các nhóm nhỏ trong Hội Thánh. Các nhóm nhỏ có thể chăm sóc, quan tâm tới từng cá nhân, là điều mà mọi thành viên đều cần, cho dù Hội Thánh có tăng trưởng như thế nào.
Hãy phát triển một mạng lưới nhóm nhỏ xoay quanh các mục đích, sở thích, lứa tuổi, nơi ở v.v… Chân thành mà nói, lý do căn bản để bạn bắt đầu các nhóm nhỏ là gì thì không quan trọng-chỉ hãy bắt đầu chúng. Không chắc rằng nhiều thành viên mới sẽ gia nhập các nhóm nhỏ hiện có . Các thành viên mới tốt nhất nên gia nhập vào các nhóm mới. Thậm chí bạn có thể lập một nhóm mới ngay sau khi kết thúc lớp thành viên. Các thành viên mới có một điểm chung đó là họ “mới.”
Một trong những câu tôi thường lập đi lập lại với các nhân sự nòng cốt là, “Hội Thánh chúng ta phải ngày càng lớn hơn, mà cũng phải ngày càng nhỏ hơn.” Nói như vậy có nghĩa là cần phải có sự quân bình giữa các hoạt động của nhóm lớn và các nhóm nhỏ tế bào. Cả hai đều quan trọng đối với sức khỏe của một Hội Thánh.
Các hoạt động của nhóm lớn đem lại cho người ta cảm giác họ là một thành phần của một nhóm có ý nghĩa. Chúng tạo ấn tượng đối với những người chưa tin và khích lệ các thành viên của bạn. Nhưng bạn không thể chia sẻ những nan đề cầu nguyện cá nhân trong một đám đông. Trái lại, các nhóm nhỏ là một môi trường tuyệt vời tạo nên cảm giác thân mật và gần gũi. Chính tại nơi đó mà mọi người biết tên lẫn nhau. Khi bạn vắng mặt, mọi người khác sẽ lưu ý ngay.
Vì Hội Thánh Saddleback đã ra đời nhiều năm liền mà không có một ngôi nhà thờ, chúng tôi đã phải dựa vào các nhóm nhỏ để đào tạo và thông công. Thậm chí bây giờ, khi chúng tôi đã có một khuôn viên rộng bảy mươi bốn mẫu, chúng tôi vẫn tiếp tục dùng các tư gia để duy trì các nhóm nhỏ.
Có bốn lợi ích trong việc dùng nhà riêng:
Có thể mở rộng dễ dàng (nhà thì ở đâu cũng có)
Không giới hạn về phương diện địa lý (bạn có thể lo cho một khu vực rộng hơn)
Là những biểu hiện của sự quản lý tốt (bạn dùng các địa điểm mà người khác trả tiền, tiết kiệm được nhiều tiền cho chức vụ)
Tạo nên những mối quan hệ gần gũi hơn (người ta dễ thư giãn hơn khi ở trong một căn nhà)
Hội Thánh của bạn tăng trưởng bao nhiêu, thì các nhóm nhỏ càng trở nên quan trọng bấy nhiêu vì chúng giúp thực hiện các chức năng chăm sóc mục vụ. Chúng tạo cơ hội cho sự tiếp xúc cá nhân, là cái mà ai cũng cần, đặc biệt trong những lúc khủng hoảng. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi thích nói rằng toàn bộ Hội Thánh là một chiếc tàu lớn, và các nhóm nhỏ là những thuyền cứu hộ.
Tôi không thể giải thích chi tiết chiến lược và cơ cấu nhóm nhỏ của chúng tôi, nên tôi chỉ nói thế này: Các nhóm nhỏ là cách hiệu quả nhất để đóng cánh cửa sau của Hội Thánh của bạn . Chúng tôi không bao giờ lo chuyện mất những người đã gia nhập một nhóm nhỏ. Chúng tôi biết rằng những người này đã được kết nạp một cách có hiệu quả.
Giữ Các Phương Tiện Liên Lạc Luôn Sẵn Sàng
Thiết lập các phương tiện liên lạc trong Hội Thánh là điều hết sức quan trọng. Người ta có khuynh hướng chán những gì họ không biết. Các thành viên giữ mối liên lạc là những thành viên hiệu quả, trong khi đó, các thành viên không được liên lạc, dù tài năng thế nào đi nữa cũng không thể làm gì nhiều. Hãy xây dựng hệ thống liên lạc của bạn bằng cách phát triển nhiều kênh để phổ biến các tin tức của Hội Thánh.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi dùng bất cứ phương tiện nào có thể dùng được để truyền những tin quan trọng cho hội chúng: các máy fax, thư thoại, băng video, các bản tin, băng cassette, những người gọi điện CARE, dây chuyền cầu nguyện, các bài báo, bưu thiếp-ngay cả Internet! (Nếu bạn có lên mạng, thì đây là địa chỉ trang chủ của chúng tôi: http://www.saddleback.com)
Việc thông tin giữa các nhân sự và hội chúng cũng quan trọng như giữa hội chúng với các nhân sự. Nó phải chảy cả hai chiều. ChCn 27:23 chép rằng: “Hãy ráng biết cảnh trạng bầy chiên con, và lo săn sóc các đàn bò của con.” Bầy quan trọng nhất là bầy của Đức Chúa Trời, nên chúng ta phải chú ý đặc biệt tới những gì đang xảy ra với bầy đó. Chúng tôi dùng những tấm Thiệp Chào Mừng, những người gọi điện CARE, và các bảng tường trình của các mục sư nòng cốt để giám sát nhịp đập trái tim của Hội Thánh.
Thiệp Chào Mừng . Tôi đã thảo luận về cách dùng chúng trong các buổi thờ phượng cho thân hữu. Nó là một công cụ thông tin kỳ diệu, dù rằng hết sức đơn giản. Ai cũng có thể viết cho tôi một lời nhắn vào bất cứ lúc nào. Vì các thành viên biết rằng chúng tôi đọc những tấm card này và giữ chúng cẩn thận, nên chúng tôi có được một dòng chảy thông tin liên tục. Cần phải có hai thư ký trọn thời gian và một nhóm nhân sự gồm mười hai tình nguyện viên để xử lý những tấm card chúng tôi nhận được, nhưng nó cho phép các mục sư cùng với các nhân sự của chúng tôi “gần gũi với khách hàng.”
Những người gọi điện CARE . CARE có nghĩa là “Liên Hệ, Hỗ Trợ, Hiểu Biết và Khích Lệ.” Mục vụ nền tảng này gọi điện thoại theo thư mục của Hội Thánh một cách có hệ thống để biết điều gì đang xảy ra trong đời sống của các thành viên. Họ gọi điện vào ban đêm và hỏi ba câu hỏi: (1) Lúc này công việc của anh ra sao? (2) Anh có nan đề cầu nguyện nào không? (3) Có điều gì anh muốn chúng tôi nói lại với mục sư Rick hay một nhân sự nào đó không? Mỗi người gọi điện CARE đều ghi chú vào một mẫu có sẵn để bảo đảm thông tin được chính xác. Sau đó họ thông báo cho những người họ gọi tới các tin mới trong Hội Thánh. Đó cũng chỉ là một cách khác để giữ liên lạc với các thành viên và nói rằng “chúng tôi quan tâm tới bạn.”
Các bảng tường trình của các mục sư nòng cốt . Đây là những bảng báo cáo chúng tôi lấy từ các mục sư nòng cốt, những người hướng dẫn các nhóm nhỏ. Các bảng báo cáo giúp chúng tôi đánh giá tình trạng sức khỏe của nhóm và những gì đang xảy ra trong đời sống cá nhân.
Chúng Ta Đã Vào Cuộc Rồi
Để kết thúc chương này, nói về vấn đề tư cách hội viên, tôi muốn lưu ý tầm quan trọng của việc liên tục nhấn mạnh bản chất hiệp thông của đời sống Cơ-đốc với các thành viên của bạn. Hãy giảng, dạy và nói điều đó với các cá nhân. Chúng ta thuộc về nhau. Chúng ta cần có nhau. Chúng ta liên kết, hòa nhập vào nhau như những phần của một thân thể. Chúng ta là một gia đình!
Hầu như ngày nào tôi cũng có nhận thư của những người vừa gia nhập Hội Thánh và từng trải quyền năng chữa lành của koinonia (sự thông công). Tôi muốn kết thúc bằng một ví dụ sau:
Mục sư Rick thân mến,
Tôi đã mang nỗi đau bị ngược đãi nhiều năm liền trong câm lặng. Một năm trước đây, sau một mất mát lớn, tôi dọn đến miền nam California này. Cắt đứt mọi mối quan hệ, tôi đã rất cô đơn. Tôi khóc liên tục trong ba tuần lễ.
Cuối cùng tôi quyết định thử đến một nhà thờ nào đó. Kể từ khi tôi bước vào buổi thờ phượng đầu tiên tại Hội Thánh Saddleback, tôi cảm thấy rằng mình đã thuộc về nơi này rồi.
Nói một cách ngắn gọn, Đấng Christ đã trở nên thực hữu đối với tôi, tôi đã gia nhập Hội Thánh của chúng ta, và tôi hiện đang dự phần vào một công việc rất phù hợp với mình. Tôi thích được làm một thành viên ở đây quá!
Tôi biết rằng nỗi đau của mỗi người đều khác nhau, nhưng hết thảy chúng ta đều cần Chúa. Nỗi đau của tôi hầu như không thể chịu đựng nỗi nếu không có một gia đình Hội Thánh. Khi tôi tham dự lớp thành viên, tôi phải cố kềm giữ những giọt nước mắt của niềm vui khi ông trình bày Hội Thánh Saddleback là một gia đình như thế nào. Quả thật đây là một gia đình! Tôi vô cùng biết ơn các anh chị em ở đây và cám ơn một Hội Thánh mà tôi có thể gọi là nhà !
Chương 18: Phát Triển Các Thành Viên Trưởng Thành
“Ngài phân phối công tác như thế để chúng ta phục vụ đắc lực cho Ngài , cùng nhau xây dựng Hội thánh , là Thân thể Ngài .”
Eph Ep 4:12 (BDY)
“Dầu chúng tôi yếu đuối , miễn là anh em được mạnh mẽ thì chúng tôi cũng vui mừng ; và điều chúng tôi cầu xin , ấy là cho anh em được nên trọn vẹn .”
IICo 2Cr 13:9
Thánh Kinh Tân Ước khẳng định rằng ý muốn của Đức Chúa Trời cho mỗi tín nhân là họ trưởng thành thuộc linh. Ngài muốn chúng ta lớn lên. Phao-lô nói trong thư Eph Ep 4:14 rằng, “Ngài muốn chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà lay động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc.”
Mục tiêu cuối cùng của sự trưởng thành thuộc linh là trở nên giống như Đấng Christ. Kế hoạch của Đức Chúa Trời cho mỗi chúng ta từ lúc ban đầu là để chúng ta được trở nên giống như Con Ngài. “Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em” (RoRm 8:29). Đức Chúa Trời muốn mỗi tín nhân phát triển đặc tính của Đấng Christ.
Vậy thì vấn đề to lớn ở đây là: Sự tăng trưởng tâm linh diễn ra như thế nào? Làm sao để chúng ta trưởng thành trong Đấng Christ?
Các Suy Nghĩ Sai Lầm Về Sự Trưởng Thành Thuộc Linh
Trước khi tôi chia sẻ chiến lược phát triển tín hữu tới mức trưởng thành của Hội Thánh Saddleback, tôi muốn xóa bỏ những suy nghĩ sai lầm về sự tăng trưởng và trưởng thành thuộc linh. Việc đặt nền tảng một chiến lược trên nguồn thông tin chính xác là điều quan trọng.
Suy Nghĩ Sai Lầm 1: Đời sống thuộc linh tự động phát triển, miễn là được tái sanh
Nhiều Hội Thánh không có một kế hoạch tổ chức nào để gây dựng các tân tín hữu và cũng không có chiến lược toàn diện để phát triển các thành viên tới mức trưởng thành. Họ phó mặc điều đó cho số mệnh, họ cho rằng các Cơ-đốc nhân sẽ tự động lớn lên tới mức trưởng thành nếu họ tham dự các chương trình thờ phượng của Hội Thánh. Họ nghĩ rằng tất cả những gì họ cần làm là khích lệ dân sự đến với các cuộc nhóm họp và công việc thế là hoàn tất.
Rõ ràng điều này không đúng. Sự tăng trưởng tâm linh không xuất hiện một khi bạn được cứu, thậm chí khi bạn đi nhà thờ thường xuyên. Nhiều Hội Thánh chứa đầy những người đi nhóm trọn cả đời họ rồi, mà vẫn còn là những con đỏ thuộc linh. Một thành viên đã được kết nạp không giống với một thành viên trưởng thành. Trong biểu đồ Tiến Trình Phát Triển Đời Sống của chúng tôi, nhiệm vụ trang bị cho dân sự những thói quen cần thiết cho sự trưởng thành thuộc linh được gọi là “đưa người tới trạm hai.”
Sự tăng trưởng tâm linh cũng không tự nhiên mà đến theo thời gian. Tác giả thư Hê-bơ-rơ đã buồn bã ghi nhận rằng, “Đáng lẽ anh em đã làm thầy từ lâu rồi, nay còn cần người ta lấy những điều sơ học của lời Đức Chúa Trời mà dạy anh em; anh em cần ăn sữa thay vì đồ ăn đặc” (HeDt 5:12).
Chân lý là đây : Sự tăng trưởng tâm linh là điều phải chủ tâm . Cần phải có sự cam kết và nỗ lực để tăng trưởng. Một người phải muốn tăng trưởng, quyết định tăng trưởng, và thực hiện mọi nỗ lực để tăng trưởng. Sự môn đồ hóa bắt đầu bằng một quyết định-nó không cần phải là một quyết định phức tạp, nhưng phải chân thành. Các môn đồ rõ ràng đã không hiểu hết mọi khía cạnh trong quyết định theo Chúa của họ; họ chỉ đơn giản thể hiện khao khát được theo Ngài. Chúa Giê-xu đã đón nhận quyết định đơn sơ mà chân thành đó, và gây dựng nó.
Phi Pl 2:12-13 (BDY) chép, “Vì thế, thưa anh em thân yêu, anh em luôn luôn vâng lời khi tôi có mặt, nay cần vâng lời hơn khi vắng mặt tôi: anh em hãy tiếp tục hoạt động với tấm lòng kính sợ, run rẩy để hoàn thành sự cứu rỗi mình. Vì Thượng Đế luôn luôn tác động trong anh em, khiến anh em vừa muốn vừa làm theo ý chỉ Ngài.” Xin lưu ý, ở đây nói là “hoàn thành” chứ không phải “tiếp tục” sự cứu rỗi mình. Bạn không thể thêm thắt chút gì vào điều mà Đấng Christ đã làm vì sự cứu rỗi của bạn. Điều Phao-lô đang nói trong những câu này chính là sự tăng trưởng tâm linh của những người đã được cứu. Điều quan trọng chính là Đức Chúa Trời dự phần vào sự tăng trưởng của chúng ta, và chúng ta cũng vậy.
Trở nên giống Đấng Christ là kết quả của những cam kết của chúng ta. Chúng ta trở thành chính những gì mình đã cam kết! Sự cam kết với Điều Răn Lớn và Đại Mạng Lệnh sẽ làm tăng trưởng một Hội Thánh, thì đó cũng là cách để làm tăng trưởng một Cơ-đốc nhân. Không có một cam kết để tăng trưởng, thì bất kỳ sự tăng trưởng nào xảy ra cũng chỉ là do hoàn cảnh chứ không do chủ tâm. Sự tăng trưởng tâm linh là điều quá quan trọng, chúng ta không thể phó mặc cho hoàn cảnh.
Suy Nghĩ Sai Lầm 2: Sự tăng trưởng tâm linh là một điều huyền bí, và chỉ có một số ít người mới có thể nhận được
Ngày nay, khi đề cập tới khái niệm “tính thuộc linh” (spirituality), nhiều người sẽ liên tưởng tới hình ảnh một ai đó mặc áo choàng trắng, ngồi xếp bằng kiểu yoga, thắp nhang, và lẩm bẩm “ommmmmm ” với cặp mắt hoặc nhắm hoặc mở. Những người khác thì nghĩ tới các nhà thần bí và tu sĩ Cơ-đốc sống trong tu viện, tách biệt khỏi thế giới thực, ép mình vào những giới răn như nghèo khổ, trinh tiết, độc thân.
Không may là nhiều Cơ-đốc nhân lại cảm thấy rằng sự trưởng thành thuộc linh ở quá xa tầm tay với của họ, họ thậm chí cũng chẳng thử với tới nó làm gì. Họ đã có một hình ảnh huyền bí, lý tưởng này về một Cơ-đốc nhân trưởng thành trong đầu. Họ tin rằng sự trưởng thành chỉ dành cho những “thánh nhân cao siêu.” Một số tiểu sử các Cơ-đốc nhân cũng có phần trách nhiệm trong việc tạo nên suy nghĩ sai lầm này vì chúng che đậy những đức tính của một người tin kính và còn ám chỉ rằng nếu bạn không cầu nguyện mười tiếng đồng hồ một ngày, đi vào trong rừng sâu, và có kế hoạch chết như một người tuận đạo thì bạn hãy quên chuyện trưởng thành thuộc linh đi. Điều này khiến cho nhiều tín nhân chán nản, họ cảm thấy rằng họ cần phải thỏa lòng với danh hiệu Cơ-đốc nhân “hạng hai.”
Sự thật là : Sự tăng trưởng tâm linh rất là thực tế . Bất kỳ tín nhân nào cũng có thể trưởng thành nếu người đó phát triển các thói quen cần thiết cho sự tăng trưởng tâm linh. Chúng ta phải gạt bỏ những gì huyền bí ra khỏi sự tăng trưởng tâm linh bằng cách hình thành những thói quen thực tế hằng ngày.
Phao-lô thường so sánh việc rèn luyện đời sống Cơ-đốc với cách một vận động viên giữ thể lực. Tôi rất thích câu Kinh Thánh I Ti-mô-thê 4:7; trong bản dịch Phillips: “Hãy dành nhiều thời gian và sức lực để duy trì sức khỏe thuộc linh của anh em” (ND). Con đường dẫn tới sức khỏe thuộc linh cũng thực tế như con đường đem lại sức khỏe thuộc thể.
Bất kỳ ai cũng có một thân thể khỏe mạnh nếu người đó tập thể dục thường xuyên, và tập tành các thói quen tốt cho sức khỏe. Cũng vậy, sức khỏe thuộc linh chỉ đơn giản là tập các bài tập thể dục thuộc linh và khép mình vào kỷ luật để khiến chúng trở thành những thói quen. Cá tính được hình thành qua những thói quen của chúng ta.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi rất nhấn mạnh sự phát triển các thói quen thuộc linh. Chúng tôi đã chứng kiến sự tăng trưởng lạ thường trong dân sự khi họ đem áp dụng ý tưởng tăng trưởng tâm linh vào trong các bước hành động thực tế và các thói quen hằng ngày.
Suy Nghĩ Sai Lầm 3: Sự trưởng thành thuộc linh có thể xảy ra ngay lập tức, nếu biết được bí quyết
Đây là một suy nghĩ sai lầm phổ biến. Nó xuất hiện trên các tiêu đề của những quyển sách Cơ-đốc bán chạy nhất rõ ràng đến độ có nhiều Cơ-đốc nhân ít nhất cũng hy vọng rằng nó đúng. Những cuốn sách nói về “bốn bước đơn giản để trưởng thành” hay “bí quyết để trở thành thánh nhân” đã củng cố suy nghĩ sai lầm cho rằng có thể lĩnh hội được một nhân cách Cơ-đốc chỉ sau một đêm.
Nhiều Cơ-đốc nhân chân thật đã dành cả đời họ thiết tha tìm kiếm một kinh nghiệm, một hội nghị, một cơn phấn hưng, một cuốn sách, một cuồn băng, hay một lẽ thật đơn giản nào đó có thể giúp họ ngay lập tức biến thành một tín nhân trưởng thành. Cuộc tìm kiếm của họ chỉ hoài công vô ích mà thôi. Dù chúng ta có cà phê uống liền, khoai tây ăn liền, và ngay cả các phương pháp làm giảm cân tức thời, nhưng không hề có cái gì gọi là sự trưởng thành thuộc linh cấp tốc.
Sự thật là : Sự tăng trưởng tâm linh là một tiến trình cần thời gian . Cũng giống như Đức Chúa Trời đã để cho Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên “lần lần” chiếm vùng đất (PhuDnl 7:22), Ngài sử dụng một tiến trình thay đổi từ từ để khiến chúng ta trở nên tầm thước vóc giạc như Đấng Christ. Không hề có con đường tắt nào dẫn tới sự trưởng thành. Nó là cả một tiến trình chậm chạp. Eph Ep 4:13 (BDY) chép, “…mỗi người đều đạt đến bậc trưởng thành trong Chúa, có Chúa Cứu Thế đầy dẫy trong tâm hồn” (có nhấn mạnh). Nói rằng sự trưởng thành là một cái đích để chúng ta đạt đến tức là phải có cả một hành trình. Cho dù bạn có muốn tăng nhanh tiến trình đi nữa, thì sự tăng trưởng tâm linh vẫn là một cuộc hành trình dài cả đời.
Tôi đã dành rất nhiều thời gian cố gắng hiểu hết những diễn biến của tiến trình này và tìm cách truyền đạt nó một cách đơn giản để các thành viên có thể nắm bắt và ghi nhớ. Tôi tin rằng các tín nhân sẽ tăng trưởng nhanh hơn nếu bạn mở đường cho họ. Kết quả chính là triết lý gây dựng của Hội Thánh Saddleback, cái mà chúng tôi gọi là Tiến Trình Phát Triển Đời Sống.
Tiến Trình Phát Triển Đời Sống dùng hình thoi theo dạng sân bóng chày để minh họa sự tăng trưởng vì nó rất phổ thông tại Mỹ. Nó giúp người ta hiểu cách chúng tôi muốn họ trưởng thành khi họ nhìn thấy những cột mốc của sự tăng trưởng tâm linh tại mỗi trạm. Chúng tôi giải thích với các thành viên của mình rằng mục tiêu của chúng tôi là giúp họ đi qua các trạm đó trong cuộc đời họ. Chúng tôi muốn anh bạn Saddleback Sam ghi điểm !
Như tôi đã khẳng định trong chương 8, bạn sẽ không thưởng điểm cho người nào bỏ trạm! Vì lý do đó, chúng tôi cắt đặt mỗi mục sư phụ trách một trạm: tư cách hội viên, trưởng thành, phục vụ và sứ mệnh. Mỗi mục sư đóng vai trò như là “trọng tài trạm,”-ông giúp người chạy chạy an toàn sang các trạm khác.
Nếu bạn thuyết phục người chơi về tầm quan trọng của việc ghi điểm và đặt một trọng tài ở mỗi trạm, thì người ta sẽ chạy về trạm gốc cách dễ dàng hơn nhiều. Cũng vậy, nếu bạn lãnh đạo dân sự cam kết tăng trưởng tâm linh, hãy dạy họ một vài thói quen cơ bản, và hướng dẫn họ khi họ đi qua các trạm, rồi bạn cứ chờ và sẽ thấy họ tăng trưởng.
Suy Nghĩ Sai Lầm 4: Sự trưởng thành thuộc linh được đo lường bằng những gì bạn biết
Nhiều Hội Thánh đánh giá sự trưởng thành thuộc linh mà chỉ dựa vào nền tảng những gì bạn biết về Kinh Thánh: cách bạn nhanh chóng nhận ra các nhân vật Kinh Thánh, giải nghĩa các phân đoạn Kinh Thánh, trưng dẫn các câu Kinh Thánh, và giải thích thần học Kinh Thánh. Một số người còn cho rằng khả năng tranh luận về giáo lý là bằng chứng cơ bản của tính thuộc linh. Tuy nhiên, cho dù kiến thức về Kinh Thánh là nền tảng của sự trưởng thành thuộc linh đi nữa, thì nó cũng không phải là toàn bộ biểu hiện của sự trưởng thành thuộc linh.
Sự thật là : Sự trưởng thành thuộc linh được bày tỏ qua thái độ hành vi hơn là qua niềm tin . Đời sống Cơ-đốc không chỉ có những giáo lý, và những tín điều; nó còn bao gồm cả hành vi và nhân cách. Các niềm tin phải đứng sau mọi hành vi. Các việc làm của chúng ta phải phù hợp với niềm tin.
Thánh Kinh Tân Ước dạy đi dạy lại rằng các hành vi và thái độ của chúng ta bày tỏ sự trưởng thành cách rõ ràng, cụ thể hơn những lời tuyên bố. Gia Gc 2:18 nói rất thẳng thắn: “Hoặc có kẻ nói: Ngươi có đức tin, còn ta có việc làm. Hãy chỉ cho ta đức tin của ngươi không có việc làm, rồi ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta.” Nếu đức tin không làm biến đổi đời sống của bạn, thì đức tin đó không có giá trị mấy.
Phao-lô khẳng định có sự liên hệ giữa đức tin và việc làm. Trong mỗi bức thư của ông, ông đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hành điều chúng ta tin. Eph Ep 5:8 (BDY) chép, “Trước kia lòng anh em tối tăm, nhưng ngày nay đã được Chúa soi sáng, vậy phải sống như người thuộc về ánh sáng ” (có nhấn mạnh).
Chúa Giê-xu còn thẳng thắn hơn: “Cứ nhìn vào hành động mà nhận ra chúng nó” (Mat Mt 7:16). Chính hành động, chứ không phải kiến thức, thể hiện sự trưởng thành của một người. Nếu chúng ta không thực hành điều chúng ta biết, thì chúng ta đang dại dột “xây nhà trên bãi cát” (7:24-27).
Như tôi có đề cập trước đây, kiến thức Kinh Thánh chỉ là một trong những biểu hiện của sự trưởng thành thuộc linh. Hơn nữa, chúng ta cũng có thể đo lường sự trưởng thành thông qua cách nhìn, sự tin quyết, các kỹ năng, và nhân cách. “Năm Cấp Học” này là những nấc thang gây dựng sự trưởng thành tâm linh chúng tôi dùng tại Hội Thánh Saddleback. Trong phần tiếp theo, tôi sẽ chia sẻ cách chúng tôi phát triển các môn đồ để họ mạnh mẽ trên cả năm lĩnh vực này.
Một hiểm họa thật sự của việc có tri thức mà không có bốn yếu tố còn lại là nó làm sản sinh lòng kiêu ngạo. ICo1Cr 8:1 chép, “Sự hay biết sanh kiêu căng, còn sự yêu thương làm gương tốt.” Tri thức cần phải được nhân cách kềm chế. Một số Cơ-đốc nhân xác thịt nhất mà tôi từng biết vốn thật sự là một kho kiến thức Kinh Thánh. Họ có thể giải thích bất kỳ phân đoạn Kinh Thánh nào, và bảo vệ được mọi giáo lý, nhưng vẫn không yêu thương, lại còn tỏ ra công bình riêng và hay đoán xét. Không thể vừa có sự trưởng thành thuộc linh, vừa có lòng kiêu ngạo cùng một lúc.
Mối nguy hiểm thứ hai là tri thức làm gia tăng trách nhiệm. “Kẻ biết làm điều lành mà chẳng làm, thì phạm tội” (Gia Gc 4:17). Hiểu biết nhiều dẫn đến phán xét nghiêm minh. Đó là lý do tại sao chúng ta cần phải có sự tin quyết và nhân cách để thực hành điều chúng ta biết. Cho dù chiến lược Hội Thánh của bạn phát triển để gây dựng các tín nhân có là gì đi nữa thì cũng phải giúp cho dân sự không chỉ học biết Kinh Thánh mà còn yêu mến Lời đó, và sống theo nó nữa.
Suy Nghĩ Sai Lầm 5: Sự tăng trưởng tâm linh là một chuyện riêng tư cá nhân
Sự tôn thờ chủ nghĩa cá nhân trong nền văn hóa Mỹ đã ảnh hưởng ngay cả cách chúng ta nghĩ về sự tăng trưởng tâm linh. Hầu hết sự dạy dỗ về tăng trưởng tâm linh có khuynh hướng tự cho mình là trung tâm, tự chú ý về mình mà không đề cập gì tới mối quan hệ với các Cơ-đốc nhân khác. Điều này hoàn toàn phi Kinh Thánh, và bỏ qua phần lớn Thánh Kinh Tân Ước.
Sự thật là : Cơ-đốc nhân cần các mối quan hệ để tăng trưởng . Chúng ta không tăng trưởng khi tách mình khỏi mọi người khác; chúng ta tăng trưởng trong mối thông công với nhau. Chúng ta thấy Kinh Thánh Tân Ước cứ lập đi lập lại điều này mãi. HeDt 10:24-25 chép, “Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành; chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì càng phải làm như vậy chừng nấy.” Đức Chúa Trời muốn chúng ta lớn lên trong một gia đình.
Trong chương vừa rồi, tôi có nói rằng các mối quan hệ là “chất keo” gắn kết giữa mọi người trong Hội Thánh của bạn. Nhưng nó thậm chí còn đóng một vai trò quan trọng hơn trong việc đưa dân sự tới bậc trưởng thành; các mối quan hệ tuyệt đối cần thiết cho sự tăng trưởng tâm linh. Kinh Thánh dạy rằng các mối thông công không phải là một tùy chọn của Cơ-đốc nhân; nó có tính chất bắt buộc. Các Cơ-đốc nhân nào không được gắn liền trong các mối quan hệ yêu thương với các tín nhân khác là những người không vâng theo các mạng lệnh “lẫn nhau” trong Lời của Đức Chúa Trời.
Giăng nói với chúng ta rằng bằng cớ chứng tỏ chúng ta đi trong sự sáng chính là “chúng ta giao thông cùng nhau” (IGi1Ga 1:7). Nếu bạn không có một mối quan hệ bình thường với các tín nhân khác, bạn cần phải nghiêm túc đặt vấn đề là bạn có đang thực sự bước đi trong sự sáng hay không.
Giăng còn gợi ý xa hơn nữa là chúng ta phải đặt vấn đề xem mình có thực sự được cứu không nếu mình không yêu thương các tín nhân khác. “Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong
sự chết” (IGi1Ga 3:14). Nếu mối quan hệ với các Cơ-đốc nhân khác lại quan trọng như vậy, tại sao các Hội Thánh lại không nhấn mạnh chúng thêm nữa?
Chất lượng mối tương giao của bạn với Đấng Christ có thể được nhìn thấy thông qua chất lượng mối quan hệ của bạn với các tín nhân khác. “Ví có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được” (4:20). Hãy lưu ý rằng Giăng đã nói là “không thể.” Thật không thể yêu Đức Chúa Trời nếu bạn không yêu các con cái của Ngài.
Chúa Giê-xu cũng đã dạy rằng nếu bạn bất hòa với một người anh em nào đó, thì sự thờ phượng của bạn cũng không có giá trị gì (xem Mat Mt 5:23-24). Một Cơ-đốc nhân không thể vừa ở trong mối tương giao với Đức Chúa Trời mà lại vừa ở ngoài mối thông công với các tín nhân.
Một lý do khiến nhiều Cơ-đốc nhân không bao giờ làm chứng là vì họ không biết cách quan hệ với những người khác. Do họ chưa bao giờ ở trong một nhóm nhỏ hay phát triển các tình bạn, nên họ có rất ít kỹ năng giao tiếp. Họ không thể quan hệ với những người chưa tin vì họ thậm chí không thể quan hệ được với các tín nhân . Dân sự cần phải học biết làm thế nào để phát triển các mối quan hệ. Điều này hết sức rõ ràng, vậy mà có rất ít Hội Thánh dành thời gian để dạy các thành viên của mình cách quan hệ với nhau.
Suy Nghĩ Sai Lầm 6: Bạn chỉ cần học Kinh Thánh thôi thì cũng đủ để tăng trưởng thuộc linh
Nhiều Hội Thánh Tin Lành được xây dựng trên quan niệm sai lầm này. Tôi gọi họ là “những Hội Thánh phòng học.” Những Hội Thánh phòng học có khuynh hướng sử dụng bán cầu não trái nhiều hơn và hay dựa vào sự hiểu biết. Họ nhấn mạnh việc học nội dung và giáo lý Kinh Thánh, nhưng ít nhấn mạnh, nếu có, đến sự phát triển tình cảm, kinh nghiệm và các quan hệ của những tín nhân. Một Hội Thánh phòng học nổi tiếng nói rằng tất cả những gì bạn cần để tăng trưởng tâm linh là “chứa đầy giáo lý trong đầu của bạn.”
Sự thật là : Cần phải từng trải nhiều loại kinh nghiệm thuộc linh với Đức Chúa Trời thì mới trưởng thành tâm linh được . Sự trưởng thành thuộc linh thật bao gồm một tấm lòng thờ phượng và ngợi khen Đức Chúa Trời, một tinh thần gây dựng và yêu thích các mối quan hệ yêu thương, sự sẵn sàng dùng các ân tứ và tài năng để phục vụ những người khác, và chia sẻ niềm tin cho những người hư mất. Bất cứ chiến lược nào nhằm trưởng thành hóa dân sự cần phải có tất cả các kinh nghiệm sau: thờ phượng, thông công, nghiên cứu Kinh Thánh, chứng đạo và phục vụ. Nói cách khác, sự trưởng thành thuộc linh diễn ra bằng cách dự phần vào cả năm mục đích của Hội Thánh. Các Cơ-đốc nhân trưởng thành không chỉ nghiên cứu đời sống Cơ-đốc-họ còn kinh nghiệm nó nữa.
Do một số Cơ-đốc nhân mắc sai lầm khi quá nhấn mạnh các kinh nghiệm tình cảm dẫn đến bỏ qua giáo lý vững chắc trong Kinh Thánh, nên nhiều Hội Thánh Tin Lành đã đánh giá thấp vai trò của kinh nghiệm trong sự trưởng thành thuộc linh. Họ đã phản ứng quá mạnh mẽ trước sự đề cao kinh nghiệm của các nhóm khác bằng cách phủ nhận mọi sự nhấn mạnh về kinh nghiệm và nhìn mọi kinh nghiệm với con mắt nghi ngờ, đặc biệt là nếu kinh nghiệm đó lay động các tình cảm của con người.
Đáng buồn thay, điều này đã phủ nhận sự thật là Đức Chúa Trời tạo nên con người với những tình cảm khác nhau kèm theo tâm trí. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những cảm xúc cũng là có mục đích. Khi gỡ bỏ mọi kinh nghiệm ra khỏi tiến trình tăng trưởng Cơ-đốc, bạn không còn gì ngoại trừ một tín điều lý trí, khô cằn có thể học được dễ dàng, nhưng không thể áp dụng hay vui thỏa với nó.
PhuDnl 11:2 (bản TEV) chép, “Ngày nay, các ngươi hãy ghi nhớ điều các ngươi đã học biết về Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi thông qua các kinh nghiệm với Ngài ” (ND - có nhấn mạnh). Kinh nghiệm là một giáo sư vĩ đại. Trên thực tế, có những bài học mà chúng ta chỉ có thể học thông qua kinh nghiệm. Tôi rất thích câu Kinh Thánh ChCn 20:30 (bản TEV): “Đôi khi chỉ có một kinh nghiệm đau đớn mới có thể khiến chúng ta thay đổi đường lối mình” (ND).
Tôi từng nghe vị giáo sư Kinh Thánh nổi tiếng Gene Getz nói rằng, “Học Kinh Thánh vị Kinh Thánh sẽ không sản sinh điều thuộc linh. Ngược lại, nó sẽ sản sinh tính xác thịt nếu không được áp dụng và thực hành.” Tôi đã khám phá được lẽ thật lớn này. Học tập mà không phục vụ sẽ tạo ra những Cơ-đốc nhân có thái độ đoán xét người khác và kiêu ngạo thuộc linh.
Nếu Cơ-đốc giáo là một triết lý, thì hoạt động chủ yếu của chúng ta có lẽ là học hỏi. Nhưng Cơ-đốc giáo là một mối quan hệ và là một sự sống. Những từ thường được dùng nhất để mô tả đời sống Cơ-đốc là yêu thương , ban cho , tin cậy và phục vụ . Chúa Giê-xu đã không nói, “Ta đã đến để các ngươi được học hỏi .” Trên thực tế, từ “học hỏi” chỉ xuất hiện vài lần trong Thánh Kinh Tân Ước. Nhưng nếu bạn nhìn vào lịch sinh hoạt hằng tuần của nhiều Hội Thánh, bạn sẽ có một ấn tượng là việc tham dự các lớp học là nhiệm vụ duy nhất của một Cơ-đốc nhân.
Điều cuối cùng nhiều tín nhân cần là tham dự một lớp học Kinh Thánh khác. Bây giờ thì điều họ đã biết nhiều hơn cả những gì họ đã thực hành. Cái họ cần là các kinh nghiệm phục vụ và chứng đạo, mà qua đó họ có thể áp dụng điều họ đã học hỏi; các kinh nghiệm quan hệ (như ở trong một nhóm nhỏ), mà qua đó họ có trách nhiệm với những gì họ biết; và các kinh nghiệm thờ phượng đầy ý nghĩa, mà qua đó họ có thể thể hiện sự tôn kính Đức Chúa Trời vì những gì họ biết.
Gia-cơ đã phải cảnh báo các Cơ-đốc nhân đầu tiên rằng: “Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình” (Gia Gc 1:22). Một hình ảnh cổ xưa minh họa cho việc này là một cái hồ ngày càng trở nên dơ bẩn vì nó chỉ nhận nước chảy vào, mà không thoát nước ra. Khi thời khóa biểu của bất kỳ Cơ-đốc nhân nào hoàn toàn nhấn mạnh sự tiếp thu kiến thức Kinh Thánh mà không có đầu ra là sự phục vụ hay chứng đạo, sự trưởng thành tâm linh của người đó sẽ bị đình trệ. Nhận vào mà không cho ra sẽ dẫn tới suy yếu.
Nhiều Hội Thánh đang làm hại các thành viên của mình khi cứ khiến họ bận rộn với việc học Kinh Thánh, hết lớp này đến lớp khác, mà không dành thời gian cho họ áp dụng điều đã học. Dân sự cứ ngồi nghe, ghi và rồi sẽ quên các bài học trước khi họ có thể tiếp thu và áp dụng vào thực tế, cùng lúc đó họ lại nghĩ rằng mình đang tăng trưởng vì cuốn tập của mình ngày càng dày thêm. Điều này thật xuẩn ngốc.
Xin đừng nghĩ rằng tôi không đánh giá cao việc học Kinh Thánh. Ngược lại mới đúng. Tôi đã viết cả một cuốn sách giáo khoa về việc nghiên cứu Kinh Thánh, quyển Dynamic Bible Study Methods . Chúng ta phải “tiếp tục trong Lời Chúa” để trở thành các môn đồ của Đấng Christ. Tất cả những gì tôi đang nói ở đây là: Thật là sai lầm khi cho rằng chỉ cần học Kinh Thánh thôi cũng đủ tăng trưởng tâm linh. Nó chỉ là một yếu tố của tiến trình trưởng thành tâm linh. Người ta cần có các kinh nghiệm cộng thêm những điều đã học để tăng trưởng. Các Hội Thánh cần phải có một chiến lược quân bình để phát triển các môn đồ.
Thiết Kế Chiến Lược Của Bạn
Chiến lược phát triển môn đồ của Hội Thánh Saddleback dựa trên sáu lẽ thật trái ngược với các quan niệm sai lầm. Chúng tôi tin rằng sự tăng trưởng thuộc linh bắt đầu bằng sự cam kết là một tiến trình từng bước một, bao gồm cả việc phát triển các thói quen, được đo lường bởi năm yếu tố, được khuyến khích bởi các mối quan hệ, và đòi hỏi phải có sự dự phần vào cả năm mục đích của Hội Thánh.
Nâng cao mức cam kết
Tôi rất thích cái tên Elron Trueblood đặt cho Hội Thánh: “Công Ty Của Những Người Cam Kết.” Thật tuyệt nếu mỗi Hội Thánh đều được biết tới bởi sự cam kết của các thành viên. Không may là nhiều Hội Thánh thường được hình thành bằng các ủy ban chứ không phải sự cam kết.
Một trong những cách đánh giá xem Hội Thánh của bạn có đang trưởng thành thuộc linh không đó là: các tiêu chuẩn cho hàng lãnh đạo ngày càng cao hơn theo thời gian, đòi hỏi một mức độ cam kết sâu hơn với Đấng Christ và sự tăng trưởng thuộc linh. Chẳng hạn, khi Hội Thánh Saddleback vừa thành lập, đòi hỏi duy nhất của chúng tôi đối với các giáo viên dạy Trường Chúa Nhật cho thiếu nhi là họ phải có một biểu hiện ấm áp, dễ gần gũi. Sau nhiều năm, chúng tôi đòi hỏi cao hơn đáng kể! Chúng tôi cũng đặt ra các đòi hỏi tương tự đối với các phục vụ viên không chuyên, các nhạc sĩ và những người đặc trách các mục vụ khác.
Mỗi lần bạn nâng cao tiêu chuẩn cho hàng lãnh đạo, bạn cũng nâng mọi người trong Hội Thánh lên một chút. Có một câu cách ngôn như sau: “Một con nước đang lên sẽ nâng cao mọi chiếc tàu trên bến cảng.” Hãy tập trung nâng cao mức độ cam kết của nhóm lãnh đạo chứ không phải của những người có ít cam kết nhất trong đám đông, hay thậm chí những người mới cam kết một nửa trong hội chúng của bạn. Bạn sẽ thấy rằng bất cứ khi nào bạn nâng cao tiêu chuẩn cam kết của những người ở các vị trí lãnh đạo nổi bật nhất, thì cũng nâng cao những mong đợi nơi mọi người khác.
Làm thế nào để dân sự cam kết với tiến trình tăng trưởng tâm linh?
Bạn phải kêu gọi các tín đồ cam kết . Nếu bạn không kêu gọi dân sự cam kết, bạn sẽ chẳng được gì. Và nếu bạn không yêu cầu các thành viên của mình cam kết, thì bạn có thể chắc chắn rằng các nhóm khác sẽ đòi họ cam kết: các nhóm công dân, các nhóm phục vụ, các đảng chính trị. Vấn đề không phải là người ta có chịu cam kết không, mà là họ sẽ cam kết với ai . Nếu Hội Thánh của bạn không yêu cầu và mong đợi dân sự cam kết, thì những người này sẽ kết luận rằng điều Hội Thánh đang làm không quan trọng bằng các hoạt động khác của họ.
Tôi thấy thật ngạc nhiên khi nhiều tổ chức cộng đồng lại đòi hỏi từ những người tham dự nhiều hơn là các Hội Thánh địa phương. Nếu bạn là một người cha, người mẹ trong tổ chức Little League, bạn biết rằng khi con bạn đăng ký chơi, bạn phải ký một cam kết bảo đảm cho con bạn nghỉ ngơi, đưa đón nó, v.v… và phải có mặt khi nó chơi. Không hề có chuyện tình nguyện ở đây!
Một trong những điều hữu ích nhất một Hội Thánh có thể làm cho dân sự là giúp họ gạn lọc điều gì cần cam kết, và điều gì cần từ chối. Lý do khiến chúng ta có quá nhiều Cơ-đốc nhân yếu đuối là vì họ chỉ cam kết một nửa đối với nhiều công việc thay vì cam kết hoàn toàn với những việc quan trọng nhất. Một rào cản ngăn trở sự tăng trưởng tâm linh của nhiều người không phải là sự thiếu cam kết, mà là cam kết quá nhiều vào những điều sai. Dân sự phải học được cách cam kết những điều khôn ngoan.
Hãy tự tin kêu gọi một cam kết lớn . Chúa Giê-xu luôn kêu gọi cam kết cách rõ ràng và tự tin. Ngài không hề miễn cưỡng khi yêu cầu những người nam và nữ lìa bỏ mọi sự mà theo Ngài. Có một điều thật thú vị, thường thì sự cam kết bạn đòi hỏi càng lớn bao nhiêu, thì người ta lại đáp ứng càng nhiều bấy nhiêu.
Mọi người đều muốn cam kết với một điều gì đó đem lại ý nghĩa cho đời sống họ. Họ sẵn sàng làm những công việc đem lại ý nghĩa cho đời sống của họ, và họ cũng bị thu hút bởi một khải tượng thách thức. Trái lại, người ta thường thờ ơ trước những lời kêu gọi yếu ớt, và những đề nghị không đáng kể. Chúa Giê-xu biết điều này khi Ngài nói trong LuLc 14:33 rằng, “Nếu ai trong các ngươi không bỏ mọi sự mình có, thì không được làm môn đồ ta.” Ngài đòi hỏi sự cam kết trọn vẹn.
Một Chúa Nhật nọ, khi kết thúc sứ điệp, tôi phát cho mỗi người một tấm card Cam Kết Đời Sống và yêu cầu mọi người cam kết trọn cuộc đời họ với Chúa Giê-xu Christ: thời gian, tiền bạc, khát vọng, thói quen, các mối quan hệ, nghề nghiệp, gia đình và năng lực. Điều khiến tôi ngạc nhiên không phải là chúng tôi nhận lại hàng ngàn tấm card, mà là có 177 tấm trong số là của những người chưa bao giờ điền vào tấm thẻ đăng ký thường lệ, dù họ khẳng định rằng họ đã lui tới nhiều năm rồi! Họ chỉ không cảm thấy rằng điền vào tấm thẻ đăng ký hằng tuần là một việc có giá trị. Đôi lúc gợi lên một cam kết lớn còn dễ hơn là nêu ra một cam kết nhỏ.
Một số mục sư lo sợ khi phải đòi hỏi một cam kết lớn, sợ rằng họ sẽ xua đuổi dân sự đi. Nhưng người ta không hề bực bội khi được kêu gọi vào các cam kết lớn nếu như có một mục đích lớn đằng sau nó. Một điểm khác biệt quan trọng cần nhớ là dân sự đáp ứng tích cực với một khải tượng có đầy nhiệt huyết chứ không phải với nhu cầu. Đó là lý do tại sao nhiều chiến dịch giúp đỡ không có hiệu quả: Họ tập trung vào các nhu cầu của Hội Thánh hơn là khải tượng của Hội Thánh.
Hãy đòi hỏi một cam kết cụ thể . Một bí quyết khác để nâng cao mức độ cam kết là phải cụ thể. Hãy nói với dân sự chính xác bạn mong đợi điều gì nơi họ. Tại Hội Thánh Saddleback, thay vì nói, “Hãy cam kết với Đấng Christ,” chúng tôi giải thích cụ thể những gì có liên quan. Chúng tôi kêu gọi mọi người cam kết với Đấng Christ, rồi với báp-tem, rồi với tư cách hội viên, rồi với những thói quen cho sự trưởng thành, rồi với sự phục vụ và cuối cùng là làm trọn sứ mệnh cuộc đời họ. Như tôi đã giải thích trước đây, chúng tôi đã phát triển bốn giao ước nêu rõ mỗi mức cam kết này bao gồm những điều gì.
Hãy giải thích những ích lợi của việc cam kết . Một bí quyết khác nữa để nâng cao mức độ cam kết là khẳng định những ích lợi của nó. Đức Chúa Trời cứ làm đi làm lại việc này trong Hội Thánh. Rất nhiều mạng lệnh trong Hội Thánh có kèm theo những lời hứa. Chúng ta luôn nhận được phước hạnh khi chúng ta vâng lời.
Hãy giải thích những lợi ích cá nhân, những lợi ích cho gia đình, những lợi ích cho thân thể của Đấng Christ và của xã hội nói chung. Con người có một khao khát học hỏi, tăng trưởng, và cải thiện bẩm sinh, nhưng đôi lúc bạn phải đánh thức khao khát đó bằng cách khẳng định các mục tiêu học tập, và các mục đích tăng trưởng trong chính giá trị và ích lợi của họ.
Đôi lúc tôi cảm thấy rất thú vị với cách mà các nhà quảng cáo làm cho những sản phẩm bình thường, chẳng hạn như chất khử mùi, bột giặt, nước rửa chén, trông có vẻ như sẽ mang lại cho cuộc sống của bạn một ý nghĩa, một sinh lực, và niềm vui mới. Các nhà quảng cáo là bậc thầy trong việc đóng bao bì sản phẩm. Hội Thánh là nguồn bí mật thực sự của một đời sống ý nghĩa, và thỏa lòng, nhưng tiếc thay, chúng ta thường giới thiệu Hội Thánh một cách nhạt nhẽo và không thu hút. Hãy so sánh chất lượng của một Hội Thánh với một mẫu quảng cáo nào đó và bạn sẽ thấy ngay sự khác biệt.
Ngay lúc bắt đầu các lớp 101, 201, 301, và 401, chúng tôi khẳng định những giá trị và ích lợi của các học viên bằng cách nói như vầy: “Đây là điều lớp học này sẽ làm cho bạn.” Chúng tôi cũng giải thích rõ ràng những lợi ích của việc cam kết vào từng giao ước.
Xây dựng trên sự cam kết hơn là hướng về sự cam kết . Ngay cả khi bạn nói với dân sự nơi mà bạn đang dẫn họ tới (bằng cách thách thức họ với một cam kết lớn), thì điều quan trọng vẫn là bắt đầu từ bất cứ cam kết nào họ có thể cam kết, bất chấp họ có vẻ yếu đuối ra sao.
Chúng tôi thách thức các tín đồ cam kết và rồi tăng trưởng trong sự cam kết. Điều đó cũng giống như là quyết định trở thành một người cha, người mẹ. Có rất ít cặp vợ chồng cảm thấy có đủ khả năng để trở thành cha, thành mẹ trước khi họ có đứa con đầu lòng. Nhưng bằng cách nào đó, sau khi đã quyết định có con và đứa bé chào đời, đôi vợ chồng đó bước vào vai trò làm cha mẹ của mình.
Tách những cam kết lớn thành các bước nhỏ và dẫn dắt dân sự từng bước đi theo cũng là một điều tốt. Như bạn đã thấy rồi đó, đấy là ý tưởng đằng sau Tiến Trình Phát Triển Đời Sống (hình thoi). Chúng tôi không mong đợi các tín nhân tăng trưởng từ chỗ là các tân tín hữu tới mức cam kết của Billy Graham hay Mẹ Teresa trong một đêm-chúng tôi để cho họ chập chững những bước đi đầu tiên. Khi dùng hình thoi làm minh họa cho tiến trình tâm linh, các tín hữu có thể thấy họ đã đi được bao xa và còn bao xa nữa để đi.
Điều quan trọng là nên tổ chức lễ kỷ niệm mỗi lần có một ai đó cam kết đi sang trạm tiếp theo. Khả năng lựa chọn và gìn giữ các cam kết là một dấu hiệu của sự trưởng thành xứng đáng được ghi nhận và ban thưởng. Hãy tạo nên các biến cố kỷ niệm qua đó bạn có thể công khai thừa nhận sự tăng trưởng. Chúng tôi tổ chức một bữa tiệc thường niên vào dịp cuối năm để chúc mừng những người đã ký cam kết trưởng thành và làm mới lại các cam kết của họ cho một năm sắp tới.
Các biến cố kỷ niệm đem tới cho người ta cảm giác hoàn thành công việc và thúc đẩy họ đi tới trên con đường của mình. Có một người đã từng nói với tôi, “Tôi đã học lớp Trường Chúa Nhật trên ba mươi năm rồi. Vậy tôi tốt nghiệp chưa?” Trong các buổi lễ kỷ niệm, hãy dành thì giờ cho các tín hữu chia sẻ về sự cam kết càng cao hơn của họ và đời sống họ được phước như thế nào.
Tôi có đọc một số bài báo và sách khẳng định rằng những thế hệ ra đời trong thời kỳ bùng nổ dân số sẽ không cam kết vào bất kỳ điều gì. Điều này không đúng! Điều họ thực sự mong đợi là nhận được giá trị tương xứng với sự cam kết của họ. Họ chi tiết hơn trong các cam kết của mình vì ngày nay có quá nhiều lựa chọn cho họ. Những người sống trong giai đoạn này đang tuyệt vọng tìm kiếm một điều gì đó xứng đáng cho họ cam kết cả cuộc đời mình.
Giúp dân sự phát triển các thói quen tăng trưởng thuộc linh
Cách thực tiễn và hữu hiệu nhất để khiến các tín nhân hướng về sự trưởng thành tâm linh là giúp họ hình thành những thói quen thúc đẩy sự trưởng thành thuộc linh. Thay vì gọi là những kỷ luật thuộc linh , chúng tôi dùng khái niệm các thói quen vì nó ít có vẻ ngăm dọa đối với các tân tín nhân. Dù chúng tôi dạy rằng làm một môn đồ thì chắc chắn phải có kỷ luật, chúng tôi vẫn tin rằng các thói quen này có thể được khiến cho các tín đồ vui thỏa hơn là phải chịu đựng. Chúng ta không muốn dân sự phải sợ các bài tập thể dục thuộc linh mà chúng có thể làm cho họ mạnh mẽ và vững vàng hơn.
Dostoyevski đã từng nói, “Phần sau cuộc đời của một con người là do các thói quen của phần trước quyết định.” Và Pascal đã nói, “Sức mạnh đạo đức của một người… được đo lường bởi chính các thói quen của anh ta.” Con người là tạo vật của thói quen. Nếu chúng ta không phát triển những thói quen tốt, chúng ta sẽ phát triển những thói quen xấu.
Có hàng tá thói quen tốt chúng ta cần phải phát triển để đạt mức trưởng thành thuộc linh. Khi thiết kết Lớp 201, tôi dành nhiều thời gian suy nghĩ về những thói quen nền tảng cần phải học trước mới trưởng thành được. Những đòi hỏi tối thiểu là gì? Những thói quen cốt lõi khai sinh mọi người khác là gì? Khi tôi nghiên cứu, tôi cứ quay trở lại với các thói quen làm ảnh hưởng thời gian, tiền bạc và các mối quan hệ của chúng ta. Nếu Chúa Giê-xu thực sự cai trị cả ba lĩnh vực này của đời sống chúng ta, thì Ngài thực sự đang điều khiển.
Lớp 201, “Khám Phá Sự Trưởng Thành Thuộc Linh,” tập trung vào cách để hình thành bốn thói quen cơ bản của một môn đồ: thói quen dành thời gian đọc Lời của Đức Chúa Trời, thói quen cầu nguyện, thói quen dâng phần mười, và thói quen thông công. Những điều này dựa vào điều Chúa Giê-xu đã khẳng định ý nghĩa môn đồ: một môn đồ làm theo Lời của Đức Chúa Trời (xem GiGa 8:31-32) một môn đồ cầu nguyện và sanh bông trái (xem 15:2-7) một môn đồ không bị của cải vật chất chiếm hữu (xem LuLc 14:33) và một môn đồ thể hiện tình yêu thương đối với các tín nhân khác (xem GiGa 13:34-35).
Sau khi dạy rằng bốn thói quen này là gì, tại sao cần chúng, khi nào cần chúng và chúng như thế nào, lớp học bắt đầu sang phần các bước thực tiễn để bắt đầu duy trì các thói quen. Trong NeNe 9:38, cả nước đang có một giao ước thuộc linh với nhau, được viết ra giấy, và sau đó những người lãnh đạo ký tên làm chứng. Cuối Lớp 201, chúng tôi kết thúc bằng thì giờ mọi người ký một giao ước trưởng thành. Những tờ giao ước đã ký sẽ được thu lại, tôi ký vào đó làm chứng, chúng tôi đem đi ép nhựa, và sau đó trả lại cho các tín hữu để họ có thể bỏ vào ví. Mỗi năm, chúng tôi lại làm mới lại những cam kết của mình, và phát những tấm card mới. Chúng tôi khám phá ra rằng sự tái cam kết hằng năm giúp các tín hữu chán nản hay đã bỏ các thói quen đó có cơ hội làm lại từ đầu.
Những người học xong Lớp 201 có phải là những Cơ-đốc nhân trưởng thành chưa? Dĩ nhiên là chưa. Đó là lý do tại sao nó được gọi là “Khám Phá Sự Trưởng Thành Thuộc Linh.” Mục đích của nó là giúp dân sự bắt đầu cuộc hành trình. Họ rời lớp học với một cam kết vào cả tiến trình và các thói quen cơ bản cần thiết cho sự tăng trưởng. Dù họ phải tranh chiến trên đường đi, nhưng những ai đã học xong lớp này đều được biến đổi rất nhiều. Khi các tín hữu trong lớp cam kết dâng thời gian, tiền bạc, và các mối quan hệ của mình cho Đấng Christ, thì đó luôn luôn là những giây phút thật cảm động. Gương mặt của họ tràn trề hy vọng và mong đợi rằng họ sẽ tăng trưởng-và họ có tăng trưởng thật!
Xây dựng một Chương Trình Giáo Dục Cơ-đốc quân bình
Tôi đã đề cập ở trên rằng tôi tin là có năm điều để đo lường sự tăng trưởng tâm linh: tri thức, cách nhìn (tầm nhìn), sự tin quyết, các kỹ năng và nhân cách. Năm mức độ học hỏi này là những vật liệu xây dựng sự trưởng thành thuộc linh.
Tại Hội Thánh Saddleback, chương trình giáo dục Cơ-đốc của chúng tôi được xây dựng xung quanh những cấp độ học hỏi này. Không có đủ chỗ để tôi nói về tất cả những chương trình huấn luyện khác nhau tại Viện Phát Triển Đời Sống, nhưng tôi muốn giải thích cách chúng tôi đã phát triển một chương trình chính để hỗ trợ các cấp học đó.
Tri thức về Lời Chúa . Để bắt đầu xây dựng một chương trình tăng trưởng tâm linh, bạn cần phải đặt hai câu hỏi: “Dân sự đã biết điều gì rồi?” và “Họ cần biết điều gì?” Một Hội Thánh chủ yếu tăng trưởng sinh học (sự quy đạo của các con cái của những thành viên) hay tăng trưởng do chuyển đổi có thể có những thành viên đã biết nhiều về Kinh Thánh. Nhưng đó không phải là đặc điểm của một Hội Thánh được xây dựng để tiếp cận những người không đi nhà thờ. Bạn không thể cho rằng các thành viên mới biết bất cứ điều gì về Kinh Thánh. Bạn phải bắt đầu từ con số không.
Trong chương trình báp-tem hằng tháng gần đây, chúng tôi đã làm báp-tem cho sáu mươi ba tân tín hữu gồm có một người trước đây là phật tử, một người theo Mormon, một người gốc Do Thái giáo, và một tu sĩ Công giáo. Khi bạn kết nạp những người thuộc thế hệ hậu Thời Đại Mới và những người ngoại đạo, thì bạn phải đối diện với cả một hỗn hợp khó chịu. Hầu hết những người chưa tin Chúa không biết gì về Kinh Thánh. Thậm chí họ cũng không nhận biết được những câu chuyện nổi tiếng, hay các nhân vật xuất chúng trong Kinh Thánh.
Tom Holladay, mục sư hướng dẫn đội Trưởng Thành của chúng tôi, gần đây có kể về cuộc nói chuyện của ông với một tân tín hữu đang tranh chiến với những thử thách trong cuộc sống. Tom mở Kinh Thánh sách Gia-cơ 1 ra và giải thích mục đích của những thử thách. Người đàn ông có vẻ thỏa lòng. Khi chuẩn bị ra về, anh nói, “Tôi nghĩ có lẽ những thử thách của tôi là hậu quả của của một tội lỗi nào đó tôi phạm ở kiếp trước.” Tom nhận ra rằng người đàn ông này cần sự giải thích nhiều hơn về thử thách, anh ta cần phải hiểu quan điểm của Kinh Thánh về sự sống.
Ở cấp kiến thức, Hội Thánh của bạn cần phải thường xuyên tạo điều kiện cho các “tân tín hữu” học Kinh Thánh và nghiên cứu xuyên suốt Cựu Ước lẫn Tân Ước. Chúng tôi đã từng dành hai mươi bảy tối thứ Tư để giảng qua hai mươi bảy sách của Thánh Kinh Tân Ước. Có một vài chương trình khảo cứu Kinh Thánh rất hay, gồm cả chương trình nổi tiếng Walk Thru the Bible (Bộ Hành Qua Kinh Thánh).
Chương trình lớn nhất của Hội Thánh Saddleback nhằm trang bị kiến thức Kinh Thánh cho tín hữu là chương trình nghiên cứu Kinh Thánh theo lối quy nạp kéo dài chín tháng, được các giáo sư nòng cốt của chúng tôi soạn ra và dạy. Nó được gọi là nghiên cứu WORD (LỜI CHÚA). WORD là từ viết gọn đại diện cho bốn hoạt động trong việc nghiên cứu Kinh Thánh: Đặt câu hỏi (Wonder - đặt các câu hỏi về văn cảnh), Quan sát , Phản hồi (Reflect ), và Áp dụng (Do )! Nó dựa trên các nguyên tắc được mô tả trong quyển Dynamic Bible Study Methods . Mỗi buổi học đều có bài tập về nhà để tự khám phá, viết thuyết trình, và chia ra các nhóm nhỏ để thảo luận về bài tập. Chương trình bắt đầu vào tháng Chín hằng năm, và kết thúc vào tháng Sáu năm sau. Chương trình WORD cho quý bà được tổ chức hai lần một tuần, và cho quý ông thì một lần mỗi tuần.
Do sách nào của Kinh Thánh cũng quan trọng, nên tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi muốn các thành viên của mình nghiên cứu năm sách “nòng cốt” trước khi họ học các sách khác. Năm sách này là Sáng-thế ký, Giăng, Rô-ma, Ê-phê-sô và Gia-cơ.
Thấu thị . Thấu thị là sự hiểu về một điều gì đó vì bạn đang nhìn nó từ một góc độ rộng hơn. Nó là khả năng nắm bắt được cách các sự vật quan hệ hỗ tương và sau đó đoán định tầm quan trọng tương đối của chúng. Về ý nghĩa thuộc linh, nó có nghĩa là nhìn sự sống từ quan điểm của Đức Chúa Trời. Trong Kinh Thánh, các từ thông hiểu , khôn ngoan và nhìn biết đều có liên quan tới tầm nhìn. Trái nghĩa với tầm nhìn là sự cứng lòng , mù lòa và ngu dại .
Thi Tv 103:7 chép, “Ngài bày tỏ cho Môi-se đường lối Ngài . Và cho Y-sơ-ra-ên biết các công việc Ngài ” (có nhấn mạnh). Dân Y-sơ-ra-ên phải nhìn thấy điều Đức Chúa Trời đã làm, nhưng Môi-se thì phải hiểu tại sao Đức Chúa Trời lại làm điều đó. Đây là sự khác biệt giữa tri thức (sự hiểu biết) và tầm nhìn (cách nhìn). Tri thức là biết điều Đức Chúa Trời đã phán và làm. Tầm nhìn là hiểu tại sao Đức Chúa Trời đã phán hay làm điều đó. Nó trả lời các câu hỏi “tại sao” của cuộc sống.
Kinh Thánh dạy rằng những người chưa tin không có tầm nhìn thuộc linh, và thiếu tầm nhìn là bằng chứng của sự chưa trưởng thành thuộc linh. Điều Đức Chúa Trời hay quở trách dân Y-sơ-ra-ên là họ thiếu tầm nhìn, và nhiều nhà tiên tri cũng đã quở trách dân sự vì sự yếu đuối này. Trái lại, có tầm nhìn là một đặc tính của sự trưởng thành thuộc linh. HeDt 5:14 chép, “Nhưng đồ ăn đặc là để cho kẻ thành nhân, cho kẻ hay dụng tâm tư luyện tập mà phân biệt điều lành và dữ ” (có nhấn mạnh). Có rất nhiều lợi ích khi học nhìn mọi sự từ cái nhìn của Đức Chúa Trời, nhưng tôi sẽ chỉ đề cập tới bốn lợi ích mà thôi.
Thứ nhất, tầm nhìn khiến chúng ta yêu Chúa hơn . Chúng ta càng hiểu bản chất và đường lối của Đức Chúa Trời bao nhiêu, chúng ta càng yêu Ngài bấy nhiêu. Phao-lô cầu nguyện, “Để anh em khi đã đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, được hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào” (Eph Ep 3:18).
Thứ hai, tầm nhìn giúp chúng ta chống lại cám dỗ . Khi chúng ta nhìn hoàn cảnh từ cái nhìn của Đức Chúa Trời, chúng ta nhận thấy rằng những hậu quả của tội lỗi còn lâu dài hơn cả những khoái lạc chúng có thể mang lại. Không có một tầm nhìn, chúng ta chỉ đi theo những xui khiến của bản năng mà thôi. “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết” (ChCn 14:12, có nhấn mạnh).
Thứ ba, tầm nhìn giúp chúng ta vượt qua các thử thách . Khi có được tầm nhìn của Đức Chúa Trời trong đời sống, chúng ta nhận thức rằng “…mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” (RoRm 8:28) và “sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục” (Gia Gc 1:3). Tầm nhìn là một trong những lý do khiến Chúa Giê-xu có thể chịu đựng trên thánh giá (xem HeDt 12:2). Ngài nhìn xa hơn cơn đau và niềm vui đang đặt trước mặt Ngài.
Thứ tư, tầm nhìn bảo vệ chúng ta khỏi sai lầm . Nếu có thời điểm nào mà các Cơ-đốc nhân cần phải vững vàng trong lẽ thật, thì đó là ngay bây giờ. Chúng ta đang sống trong một xã hội phủ nhận lẽ thật tuyệt đối và chấp nhận mọi sự đều ngang bằng như nhau. Thuyết đa nguyên đã tạo nên một nền văn hóa hết sức rối rắm. Vấn đề không phải ở chỗ nền văn hóa chúng ta không tin điều gì cả, mà là nó tin mọi chuyện . Thuyết hổ lốn, không phải thuyết hoài nghi, là kẻ thù lớn nhất của chúng ta.
Điều hết sức có cần ngày nay chính là những mục sư và giáo sư dạy dỗ rõ ràng về cái nhìn của Đức Chúa Trời-về công việc, tiền bạc, lạc thú, đau khổ, điều thiện, điều ác, các mối quan hệ, và tất cả những vấn đề lớn khác trong cuộc sống. Khi chúng ta có tầm nhìn, “chúng ta không như trẻ con nữa, bị người ta lừa đảo, bị mưu chước dỗ dành làm cho lầm lạc, mà day động và dời đổi theo chiều gió của đạo lạc” (Eph Ep 4:14). Tầm nhìn là cái đem lại sự ổn định trong đời sống của con người.

Chương trình dạy về tầm nhìn của Hội Thánh Saddleback được gọi là “Nhân Sinh Quan” do vợ tôi, Kay, và mục sư của đội Trưởng Thành Thuộc Linh, Tom Holladay, soạn ra. “Nhân Sinh Quan” bao gồm mười hai giáo lý Cơ-đốc quan trọng và được Kay cùng các giáo sư nòng cốt khác dạy hai lần một tuần trong suốt hai mươi bảy tuần. Hình thức dạy là sự kết hợp giữa thuyết trình và thảo luận nhóm.
Sự tin quyết . Các tự điển thường định nghĩa sự tin quyết là “một niềm tin cố định hay mạnh mẽ,” nhưng thực ra nó còn hơn như vậy nữa. Sự tin quyết của bạn bao gồm các giá trị, các cam kết, và các động cơ nữa. Tôi rất thích định nghĩa mà tôi có lần nghe Howard Hendricks nói: “Một niềm tin là điều bạn sẽ tranh cãi để bảo vệ. Sự tin quyết là điều bạn sẽ sống chết với nó.” Biết điều cần phải làm (kiến thức), lý do phải làm (tầm nhìn), và cách để làm (kỹ năng) cũng trở nên vô giá trị nếu bạn không có sự tin quyết để thúc đẩy bạn làm điều đó!
Khi bạn mới tin Chúa, bạn thường làm nhiều việc một cách đơn giản vì các Cơ-đốc nhân khác xung quanh bạn gợi ý hay đã làm mẫu trước. Bạn có thể cầu nguyện, đọc Kinh Thánh và tham dự các chương trình thờ phượng vì bạn đang học theo tấm gương của những người khác. Điều này tốt cho một Cơ-đốc nhân mới-những đứa trẻ cũng học hỏi cách đó. Tuy nhiên, khi bạn lớn lên, cuối cùng bạn cũng phải phát triển những lý lẽ của riêng mình về điều bạn đang làm. Những lý do này gọi là sự tin quyết . Sự tin quyết dựa trên nền tảng Kinh Thánh là hết sức cần thiết cho sự tăng trưởng và trưởng thành thuộc linh.
Một trong những bài hát nổi tiếng nhất vào thập kỷ 80 là bài “Karma Chameleon” của Boy George. Một hàng thôi cũng đủ nói lên mọi chuyện: “Tôi là người không có sự tin quyết.” Đáng buồn thay, nhiều người lại có những giá trị mờ nhạt, những ưu tiên bị đảo lộn, và những cam kết tràn lan. James Gordon đã từng nói, “Một người không có sự tin quyết cũng yếu như cánh cửa chỉ còn một bản lề.”
Một người không có sự tin quyết chỉ biết phó mặc cho hoàn cảnh. Nếu bạn không quyết định điều gì quan trọng và bạn sẽ sống như thế nào, những người khác sẽ quyết định thay cho bạn. Người không có lòng tin thường mù quáng chạy theo đám đông. Tôi tin là Phao-lô đang nói về sự tin quyết khi ông nói trong RoRm 12:2 “Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào.”
Hội Thánh cần phải dạy những niềm tin vững chắc trên lời Kinh Thánh để đối đầu với các giá trị thế tục, là cái mà các tín nhân phải liên tục vạch trần. Có một câu ngạn ngữ cổ nói rằng, “Nếu bạn không đứng lên bảo vệ một điều gì đó, bạn sẽ thất bại trong tất cả mọi việc.” Điều đáng mỉa mai là dân sự thường đặt sự tin quyết mạnh mẽ của mình vào những vấn đề thứ yếu (bóng đá, thời trang v.v…) trong khi lại đặt niềm tin yếu ớt vào những vấn đề chính yếu (điều gì là đúng và sai).
Lòng tin quyết giúp chúng ta siêng năng trong việc tăng trưởng thuộc linh. Sự tăng trưởng đòi hỏi phải có thời gian và nỗ lực. Không có lòng tin quyết về sự tăng trưởng, dân sự sẽ chán nản và bỏ cuộc. Không một ai tiếp tục giữ một nhiệm vụ khó khăn trừ phi họ tin rằng có một lý do quan trọng nào đó để phải tiếp tục. Hội Thánh có thể dạy dân sự cách cầu nguyện, cách nghiên cứu Kinh Thánh, và cách làm chứng, nhưng cho tới khi nào dân sự có được sự tin quyết tương ứng, thì họ mới gắn bó với nó được.
Những người tạo ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới, dù là tốt hay xấu, không phải là những người giỏi nhất, giàu nhất, có học thức nhiều nhất; họ là những người có quyết tâm mạnh nhất. Marx, Ghandi, Buddha, Columbus, và Luther mới chỉ là một số ít người đã biến đổi bộ mặt của thế giới vì lòng tin quyết của họ.
Năm 1943, 100,000 thanh niên đã mặc áo sơ mi màu nâu đứng đầy trong sân vận động Olympic tại Munich, Đức, sân vận động lớn nhất thế giới thời bấy giờ. Họ dùng thân thể mình làm thành biểu tượng của một người cuồng tín đang đứng phía sau bậc đài vòng. Thông điệp được đọc là, “Hitler, chúng tôi thuộc về ông.” Sự cam kết của họ đã cho phép họ chinh phạt châu Âu. Nhiều năm sau, một nhóm sinh viên Trung Hoa đã cam kết ghi nhớ và sống theo triết lý của một cuốn sách nhỏ màu đỏ, The Sayings of Chairman Mao (Những Câu Nói Của Chủ Tịch Mao ). Kết quả là Cuộc Cách Mạng Văn Hóa nổ ra và cho tới ngày nay nó vẫn còn kềm kẹp một tỉ người, trên một đất nước lớn nhất thế giới, dưới sự nô lệ của chủ nghĩa cộng sản. Đó là sức mạnh của lòng tin quyết!
Cuộc đời của Chúa Giê-xu bị chi phối bởi lòng tin quyết rằng Ngài đã được sai đến để làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha. Sự tin quyết này sản sinh một nhận thức sâu sắc về mục đích cuộc sống của Ngài, và điều đó giữ Ngài khỏi phân tâm trước công việc của những người khác. Để thấy được tận bên trong những điều Ngài tin quyết, hãy nghiên cứu mọi thời điểm Chúa Giê-xu dùng từ “Ta phải…” Khi dân sự phát triển những sự tin quyết giống Đấng Christ, họ cũng sẽ phát triển một cảm nhận về mục đích của cuộc sống.
Sự tin quyết có một phẩm chất thu hút, điều đó lý giải sự phổ biến của nhiều tà giáo. Các niềm tin của một tà giáo có thể sai lầm và thường là phi lý vô cùng, nhưng người ta tin chúng với lòng tin quyết cao độ. Các Hội Thánh không có những sự tin quyết mạnh mẽ và rõ ràng sẽ không bao giờ thu hút được dân sự dấn thân vào mức độ cam kết mà Đấng Christ muốn. Chúng ta phải bùng cháy với sự tin quyết rằng vương quốc của Đức Chúa Trời là căn nguyên lớn nhất trên thế giới. Vance Havner thường nói, “Chúa Giê-xu đòi hỏi lòng trung thành nhiều hơn bất kỳ kẻ độc tài nào từng sống trên đất. Sự khác biệt chính là Chúa Giê-xu có quyền để đòi hỏi nó!”
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi dạy những sự tin quyết trên nền tảng Kinh Thánh trong mỗi chương trình, lớp học, khóa hội thảo, và sứ điệp; sự tin quyết càng được hấp thu nhiều khi được dạy nhiều. Nó lan truyền tốt nhất thông qua các mối quan hệ. Sự tin quyết có tính truyền nhiễm: Người ta hấp thu được nó khi ở gần những người nào có nó. Đây là lý do chính chúng tôi nhấn mạnh các nhóm nhỏ là một phần trong Tiến Trình Phát Triển Đời Sống. Một nhóm gắn bó với những người có lòng tin quyết thường tạo nên một ảnh hưởng lớn hơn là việc ngồi nghe một sứ điệp được ban phát với lòng tin quyết.
Các kỹ năng . Kỹ năng là khả năng làm một việc gì đó dễ dàng và chính xác. Bạn phát triển một kỹ năng không phải bằng cách lắng nghe một bài thuyết trình, nhưng bằng cách thực hành và kinh nghiệm. Trong đời sống Cơ-đốc nhân, có một số kỹ năng mà bạn cần phải phát triển để trưởng thành: Các kỹ năng nghiên cứu Kinh Thánh, kỹ năng phục vụ, kỹ năng chứng đạo, kỹ năng quan hệ, kỹ năng quản trị thời gian, và nhiều điều khác.
Các kỹ năng là “những bước làm thế nào” của sự tăng trưởng tâm linh. Kiến thức và tầm nhìn liên quan tới việc hiểu biết . Sự tin quyết và cá tính liên quan tới bản chất . Các kỹ năng liên quan tới việc làm . Chúng ta là những người “làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ” (Gia Gc 1:22). Các việc làm của chúng ta chứng tỏ chúng ta thuộc về gia đình của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu phán, “Mẹ ta và anh em ta là kẻ nghe đạo Đức Chúa Trời và làm theo đạo ấy ” (LuLc 8:21, có nhấn mạnh).
Ngày nay, nhiều tín nhân đang bối rối vì họ biết điều mình cần làm nhưng họ chẳng bao giờ được học cách để làm điều đó. Họ đã nghe vô số sứ điệp về tầm quan trọng của việc nghiên cứu Kinh Thánh, nhưng không có ai dạy họ cách nghiên cứu Kinh Thánh. Họ cảm thấy tội lỗi vì có một đời sống cầu nguyện yếu đuối, nhưng không có ai dành thời gian giải thích cho họ cách làm thế nào để chuẩn bị một danh sách cầu nguyện, làm thế nào để ngợi khen đức tính của Đức Chúa Trời bằng cách sử dụng các danh xưng của Ngài, hoặc làm thế nào để cầu thay cho những người khác. Sự thúc đẩy mà không có hướng dẫn sẽ đưa tới thất vọng. Bất cứ khi nào chúng ta thúc đẩy ai làm điều gì đó, thì chúng ta chịu trách nhiệm giải thích chính xác cách làm việc đó.
Nếu bạn muốn Hội Thánh của mình sản sinh ra những Cơ-đốc nhân hiệu quả, bạn phải dạy họ những kỹ năng cần thiết cho đời sống Cơ-đốc và sự phục vụ. Kỹ năng là chìa khóa của tính hiệu quả. Hãy nhớ lại câu Kinh Thánh mà tôi đã chia sẻ trong chương 2: “Cái rìu lụt mà không mài lưỡi nó lại, ắt phải ráng sức càng nhiều; nhưng sự khôn ngoan có ích đặng dẫn dắt ” (có nhấn mạnh).
Chương trình phát triển các kỹ năng của Hội Thánh Saddleback được gọi là Khóa Hội Thảo Chuyên Đề Về Những Kỹ Năng Đời Sống. Các khóa hội thảo này thường kéo dài bốn tới tám tiếng đồng hồ và thường được dạy trong một ngày. Chúng tôi đã khám phá ra rằng đối với dân sự, bỏ hẳn một ngày để học vẫn dễ hơn là theo học mỗi tuần một giờ trong sáu tuần. Tuy nhiên, đôi khi chúng tôi phải kéo dài khóa hội thảo của mình ra vài tuần vì có quá nhiều vấn đề để có thể trình bày đầy đủ chỉ trong một ngày.
Mỗi Khóa Hội Thảo như vậy tập trung vào một kỹ năng cụ thể, chẳng hạn làm thế nào để nghiên cứu Kinh Thánh, làm thế nào để cầu nguyện hiệu quả hơn, làm thế nào để vượt qua sự cám dỗ, làm thế nào để dành thời gian cho sự phục vụ, và làm thế nào để sống hòa thuận với mọi người. Chúng tôi đã xác định chín kỹ năng cơ bản mà chúng tôi tin rằng mọi Cơ-đốc nhân đều cần, nhưng chúng tôi cũng có tổ chức các khóa hội thảo về những kỹ năng khác bất cứ khi nào chúng tôi thấy có một nhu cầu đặc biệt trong Hội Thánh.
Nhân cách (cá tính ). Nhân cách giống Đấng Christ là mục đích cuối cùng của mọi sự giáo dục Cơ-đốc. Nhắm vào bất kỳ điều gì thấp kém hơn điều đó cũng có nghĩa là đã nhắm trật mục tiêu tăng trưởng thuộc linh. Chúng ta phải “…nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ” (Eph Ep 4:13).
Phát triển nhân cách của Đấng Christ là nhiệm vụ quan trọng nhất trong đời sống vì nó là điều duy nhất chúng ta có thể mang theo khi vào cõi đời đời. Chúa Giê-xu khẳng định rõ ràng trong Bài Giảng Trên Núi rằng những phần thưởng đời đời trên thiên đàng sẽ tùy thuộc vào nhân cách mà chúng ta đã phát triển và thể hiện trên trần gian.
Điều này có nghĩa là mục tiêu của mọi sự giảng dạy phải nhắm vào chỗ biến đổi đời sống, chứ không chỉ cung cấp thông tin. Phao-lô dạy Ti-mô-thê rằng mục đích sự dạy dỗ của ông là phát triển cá tính trong những người ông dạy dỗ: “Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra” (ITi1Tm 1:5). Phao-lô đã bảo Tít cũng hãy làm như vậy: “Nhưng con hãy dạy điều hiệp với đạo lành” (Tit Tt 2:1).
Nhân cách không bao giờ được xây dựng trong một phòng học; nó được xây dựng trong các hoàn cảnh của đời sống. Phòng học Kinh Thánh chỉ là nơi để xác định các phẩm chất nhân cách và học biết nhân cách phát triển như thế nào. Khi chúng ta hiểu cách Đức Chúa Trời dùng hoàn cảnh để phát triển nhân cách của mình, chúng ta có thể đáp ứng cách đúng đắn khi Đức Chúa Trời đặt để chúng ta vào trong những hoàn cảnh Ngài dùng để xây dựng nhân cách chúng ta. Sự phát triển nhân cách luôn gắn liền với một lựa chọn. Khi chúng ta có một lựa chọn đúng, nhân cách chúng ta tăng trưởng giống Đấng Christ hơn.
Bất cứ khi nào chúng ta đáp ứng lại một hoàn cảnh theo cách của Đức Chúa Trời thay vì theo bản năng tự nhiên, đó là lúc chúng ta xây dựng nhân cách của mình. Tôi đã từng viết một cuốn sách về bông trái Thánh Linh, có nhan đề The Power to Change Your Life có giải thích khái niệm này đầy đủ hơn.
Nếu bạn muốn biết nhân cách giống Đấng Christ trông như thế nào, thì nơi tốt nhất để bắt đầu là danh sách chín phẩm chất đạo đức Phao-lô đã liệt kê trong GaGl 5:22-23 “Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ: Không có luật pháp nào cấm các sự đó.” Bông trái của Thánh Linh là hình ảnh trọn vẹn của Đấng Christ; Ngài thể hiện cả chín phẩm chất đó. Nếu bạn đang phát triển nhân cách giống Đấng Christ, thì bạn cũng phải có những phẩm chất này trong đời sống của mình.
Đức Chúa Trời sản sinh những bông trái của Thánh Linh trong đời sống chúng ta bằng cách nào? Bằng cách đặt chúng ta vào những hoàn cảnh hoàn toàn đối nghịch để chúng ta lựa chọn! Đức Chúa Trời dạy chúng ta cách yêu thương thật sự bằng cách đặt chúng ta trong vòng vây của những người khó ưa. (Không cần phải có một chút cố gắng nào để yêu những người trọn vẹn.) Ngài dạy chúng ta vui mừng trong những lúc buồn khổ. (Niềm vui thì ở bên trong. Hạnh phúc tùy thuộc vào điều đang xảy ra, nhưng niềm vui không lệ thuộc vào hoàn cảnh.) Ngài xây dựng sự bình an bên trong chúng ta bằng cách đặt chúng ta trong sự hỗn độn để chúng ta học biết trông cậy Ngài. (Không cần phải có chút nỗ lực nào để được bình an khi mà mọi sự đều đúng như ý bạn muốn.)
Đức Chúa Trời quan tâm tới nhân cách của chúng ta còn nhiều hơn là quan tâm tới sự thoải mái của chúng ta. Kế hoạch của Ngài là làm cho chúng ta trở nên trọn vẹn, chứ không phải làm hỏng chúng ta. Vì lý do này, Ngài cho phép đủ mọi hoàn cảnh để xây dựng nhân cách xảy ra: mâu thuẫn, chán nản, khó khăn, cám dỗ, những lúc khô cằn, và những khi chậm trễ. Một trách nhiệm lớn của chương trình giáo dục Cơ-đốc trong Hội Thánh của bạn là trang bị cho dân sự phần kiến thức, tầm nhìn thấu suốt, lòng tin quyết, và các kỹ năng cần thiết để đối diện với những hoàn cảnh này. Nếu bạn làm vậy, dân sự sẽ phát triển nhân cách.
Một thế kỷ trước, Samuel Smiles đã nhận định như sau:
Gieo một ý tưởng , bạn gặt một hành vi ;
Gieo một hành vi , bạn gặt một thói quen ;
Gieo một thói quen , bạn gặt một nhân cách ;
Gieo một nhân cách , bạn gặt một số phận .
Có một trật tự logic để xây dựng tri thức, tầm nhìn thấu suốt, lòng tin, các kỹ năng và nhân cách. Bạn cần phải bắt đầu với nền tảng kiến thức. Vì sự tăng trưởng tâm linh đặt nền tảng trên Lời của Đức Chúa Trời, nên cấp học đầu tiên là một kiến thức thức Kinh Thánh năng động. Tầm nhìn thấu suốt và sự tin quyết cũng phải thiết đặt nền tảng trên Kinh Thánh.
Trên đỉnh của kiến thức về Lời Chúa, bạn thêm vào tầm nhìn thấu suốt. Bạn biết Lời Chúa càng nhiều chừng nào, bạn sẽ càng nhìn đời sống theo quan điểm của Đức Chúa Trời chừng nấy. Niềm tin vốn xuất phát từ tầm nhìn. Một khi bạn bắt đầu nhìn thấy sự việc từ góc nhìn của Đức Chúa Trời, bạn bắt đầu phát triển những sự tin quyết trên nền tảng Kinh Thánh. Một sự hiểu biết về mục đích và kế hoạch của Đức Chúa Trời sẽ làm thay đổi các động cơ của bạn.
Sự tin quyết sẽ đem lại cho bạn một động cơ để duy trì các thói quen thuộc linh. Cuối cùng, thông qua sự lập lại, những thói quen này trở thành các kỹ năng. Bạn không cần phải tập trung có ý thức khi thực hiện chúng nữa.
Khi bạn kết hợp kiến thức về Lời Chúa, tầm nhìn thấu suốt, sự tin quyết và các kỹ năng tương ứng lại với nhau chúng sẽ tạo ra một nhân cách! Trước tiên bạn biết nó; sau đó bạn hiểu nó; rồi thì bạn tin nó bằng cả tấm lòng mình; và bạn sẽ làm nó. Kết quả của bốn điều này chính là nhân cách.
Sau đây là năm câu hỏi bạn cần phải hỏi về chương trình giáo dục Cơ-đốc tại Hội Thánh của mình:
Dân sự có đang học về nội dung và ý nghĩa của Kinh Thánh không?
Dân sự có nhìn về chính họ, về cuộc sống và về những người khác rõ ràng hơn trong tầm nhìn thấu suốt của Chúa không?
Những giá trị của dân sự có đang trở nên giống với những giá trị của Đức Chúa Trời không?
Dân sự có trở nên thành thạo hơn trong sự phục vụ Đức Chúa Trời không?
Dân sự có trở nên giống như Đấng Christ không?
Tại Hội Thánh Saddleback, đây là những mục tiêu chúng tôi luôn hướng tới. Như Phao-lô đã nói trong CoCl 1:28 “Ấy là Ngài mà chúng tôi rao giảng, lấy mọi sự khôn ngoan răn bảo mọi người, dạy dỗ mọi người, hầu cho bày tỏ mọi người trở nên trọn vẹn trong Đấng Christ ra trước mặt Đức Chúa Trời.”
Khải tượng của chúng tôi cho sự trưởng thành tâm linh là mang vinh hiển đến cho Đức Chúa Trời qua việc giới thiệu Chúa Giê-xu bằng càng nhiều môn đồ giống Đấng Christ chừng nào càng tốt chừng nấy, cho tới khi Ngài trở lại.
Chương 19: Biến Các Thành Viên Thành Những Người Phục Vụ
“Chúng ta là việc Ngài làm ra , đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo .”
Eph Ep 2:10
“…Để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ .”
4:12
Napoleon đã từng chỉ vào bản đồ Trung Hoa và nói, “Đây là một người khổng lồ đang ngủ. Nếu hắn thức dậy thì không ai có thể ngăn lại được.” Tôi tin rằng Hội Thánh cũng là một người khổng lồ đang ngủ. Mỗi sáng Chúa Nhật, băng ghế nhà thờ chứa đầy các thành viên chẳng làm gì với đức tin của mình ngoại trừ “giữ” nó.
Tên gọi những thành viên “năng động” trong hầu hết các Hội Thánh có nghĩa là những người dự nhóm thường xuyên và hay hỗ trợ tài chánh cho Hội Thánh. Không còn gì hơn nữa. Nhưng Đức Chúa Trời còn mong đợi ở Cơ-đốc nhân nhiều điều hơn thế. Ngài mong muốn mỗi Cơ-đốc nhân dùng các ân tứ và tài năng của mình để phục vụ. Nếu chúng ta có thể đánh thức và giải thoát những tài năng, các tài nguyên, sự sáng tạo và năng lực lớn vốn đang ngủ yên trong một Hội Thánh địa phương điển hình, thì Cơ-đốc giáo sẽ tăng trưởng bùng nổ với một tốc độ không thể tiên đoán nổi.
Nhu cầu lớn nhất trong các Hội Thánh Tin Lành là giải thoát các thành viên cho công tác. Một cuộc điều tra của viện Gallup đã khám phá rằng chỉ có 10 phần trăm những thành viên của các Hội Thánh tại Mỹ đang hoạt động trong các mục vụ cá nhân và có đến 50 phần trăm các thành viên của tất cả các Hội Thánh không có chút hứng thú nào trong việc phục vụ. Hãy suy nghĩ về điều đó! Cho dù một Hội Thánh đẩy mạnh mục vụ nền tảng, thì phân nửa các thành viên vẫn là khán giả. Đây là những người nói rằng, “Tôi thấy mình không được kêu gọi để tham dự.” (Thật ra là có một sự “kêu gọi” khác-chỗ ngồi của chính họ!)
Tin đáng khích lệ mà viện Gallup đã loan báo là: 40 phần trăm số thành viên đã bày tỏ sự thích thú của mình khi có một mục vụ, nhưng họ không được mời vào hay không biết phải làm sao để dự phần. Nhóm này là một mỏ vàng chưa khai thác! Nếu chúng ta có thể huy động con số 40 phần trăm này và thêm vào số 10 phần trăm đang phục vụ, Hội Thánh của bạn có thể có 50 phần trăm các thành viên tích cực trong mục vụ. Không vui khi phân nửa Hội Thánh của bạn đang là những người phục vụ sao? Hầu hết các mục sư nghĩ rằng khi họ đã chết và về thiên đàng rồi thì chuyện đó mới xảy ra.
Dẫu rằng những Hội Thánh lớn có nhiều lợi thế hơn các Hội Thánh nhỏ, nhưng có một điều tôi thật sự không thích nơi những Hội Thánh lớn đó là những người có tài thường hay lẫn trốn trong đám đông. Nếu họ không đi bước đầu tiên để thể hiện ân tứ hoặc chuyên môn của mình, thì các thành viên đầy tài năng này có thể ngồi trong đám đông hằng tuần và bạn thì không hề biết họ có khả năng làm chuyện gì. Điều này khiến tôi lo lắng và thật sự làm tôi bực bội, vì những người có tài đang chất trên kệ và rồi sẽ mục nát nếu không được dùng đến. Giống như một cơ bắp, nếu bạn không sử dụng nó, nó sẽ tan biến đi.
Có một lần tôi đứng nói chuyện với một số người tại hành lang nhà thờ sau giờ thờ phượng, và tôi nói rằng chúng tôi thực sự cần một ai đó để thực hiện một cuồn băng video cho một sự kiện nọ. Người đàn ông đang nói chuyện với tôi chợt hỏi, “Sao ông không nhờ cô kia?” và chỉ về phía một người phụ nữ đang đứng cách đó vài feet. Tôi bước tới gần người phụ nữ, hỏi tên, và hỏi xem cô đang làm gì. Cô đáp, “Tôi là tổng giám đốc phát hành video của hãng Walt Disney.” Cô ta đã đi nhóm được một năm.
Một lần khác, tôi gợi ý rằng chúng tôi cần một nhà thiết kế hoa tươi để trang trí căn lều của chúng tôi trong ngày Lễ Mẫu Thân. Một người đã chỉ vào một người khác trong đám đông và nói với tôi, “Anh ta đã thiết kế rất nhiều sân khấu đoạt giải trong chương trình Trình Diễn Hoa Hồng.” Tôi thật sự sợ hãi khi nhận ra rằng có nhiều người tài không được sử dụng đến chỉ vì sự thờ ơ của tôi.
Hội Thánh của bạn sẽ không bao giờ mạnh hơn nhóm những người phục vụ nòng cốt, là những người thực hiện các mục vụ khác nhau trong Hội Thánh. Mỗi Hội Thánh cần có một hệ thống có chủ tâm, được lên kế hoạch tốt để khám phá, động viên và hỗ trợ ân tứ của các thành viên. Bạn cần phải lập ra một tiến trình để dẫn dắt dân sự tới chỗ cam kết sâu sắc hơn và phục vụ Chúa nhiều hơn-một tiến trình sẽ đưa các thành viên của bạn từ vòng tròn cam kết vào trong nhóm những người phục vụ nòng cốt. Trong biểu đồ Tiến Trình Phát Triển Đời Sống của chúng tôi, chúng tôi gọi đó là “đưa người tới trạm thứ ba.”
Hầu hết các Hội Thánh Tin Lành tin vào quan niệm mỗi thành viên là một người phục vụ. Thậm chí có nhiều Hội Thánh còn nhấn mạnh việc đó trong khi giảng dạy. Dẫu vậy, hầu hết các thành viên chẳng làm gì khác ngoại trừ đi nhóm và dâng hiến. Cần phải làm gì để biến nhóm thính giả thành một đạo binh? Làm thế nào để bạn có thể biến những khán giả thành những người tham dự? Trong chương này tôi muốn giải thích hệ thống mà chúng tôi đã lập ra để trang bị, thêm sức và giải phóng các thành viên cho sự phục vụ.
Dạy Nền Tảng Kinh Thánh Cho Mục Vụ Từng Thành Viên
Tôi đã có nhấn mạnh trong sách này tầm quan trọng của việc thiết lập một nền tảng Kinh Thánh cho mọi việc bạn làm. Dân sự luôn cần biết “tại sao” trước khi bạn dạy họ “làm thế nào.” Hãy đầu tư thời gian dạy dỗ các thành viên của bạn nền tảng Kinh Thánh cho mục vụ nền tảng. Sau đó hãy dạy nó trong các lớp học, các bài giảng, các khóa hội thảo, các giờ học Kinh Thánh tại tư gia, và bằng bất kỳ cách nào khác để bạn có thể nhấn mạnh nó. Trên thực tế, bạn không nên ngừng việc giảng dạy về tầm quan trọng của việc mỗi Cơ-đốc nhân đều có một công việc để phục vụ.
Chúng tôi đã tóm tắt những gì chúng tôi tin về mục vụ trong Bảng Tuyên Ngôn Sứ Mệnh Phục Vụ. Dựa vào RoRm 12:1-8, chúng tôi tin rằng Hội Thánh được xây dựng trên bốn cột trụ của mục vụ nền tảng. Chúng tôi dạy đi dạy lại bốn lẽ thật cột trụ này để chúng đi sâu vào tấm lòng của các thành viên.
Cột Trụ 1: Mỗi tín nhân là một người phục vụ
Mỗi tín nhân không phải là một mục sư, nhưng mọi tín nhân đều được kêu gọi vào sự phục vụ. Đức Chúa Trời kêu gọi tất cả các tín nhân phục vụ thế gian và phục vụ Hội Thánh. Sự phục vụ trong thân thể không phải là một lựa chọn của các Cơ-đốc nhân. Trong đạo quân của Đức Chúa Trời, không hề có những người lính tùy hứng-Ngài đã chuẩn bị tất cả chúng ta để phục vụ.
Làm một Cơ-đốc nhân thì phải giống Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu phán, “Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người” (Mac Mc 10:45, có nhấn mạnh). Phục vụ và ban cho là những đặc điểm rõ ràng của lối sống giống Đấng Christ mà mỗi tín nhân phải có.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi dạy rằng mỗi Cơ-đốc nhân được tạo dựng để phục vụ (xem Eph Ep 2:10), được cứu để phục vụ (xem IITi 2Tm 1:9), được kêu gọi để phục vụ (xem IPhi 1Pr 2:9-10), được ban ơn để phục vụ (xem 4:10), được ban thẩm quyền để phục vụ (xem Mat Mt 28:18-20), được lệnh phải phục vụ (xem 20:26-28), được chuẩn bị cho chức vụ (xem Eph Ep 4:11-12), có cần cho sự phục vụ (xem ICo1Cr 12:27), có trách nhiệm phục vụ, và sẽ được thưởng tùy theo sự phục vụ của mình (xem CoCl 3:23-24).
Cột Trụ 2: Mọi mục vụ đều quan trọng
Không hề có “những người nhỏ” trong thân thể của Đấng Christ, và cũng không có những mục vụ “vô nghĩa.” Mọi mục vụ đều quan trọng.
“Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các chi thể của thân chúng ta, ban cho mỗi một chi thể cái địa vị theo ý Ngài lấy làm tốt mà chỉ định… Mắt không được nói với bàn tay rằng: ‘Ta chẳng cần đến mầy’; đầu cũng chẳng được nói với chân rằng: ‘Ta chẳng cần đến bay.’ Trái lại, các chi thể của thân xem ra rất yếu đuối lại là cần dùng.”
(ICo1Cr 12:18-22)
Một số mục vụ thì thấy được, và một số thì ẩn kín, nhưng tất cả đều có giá trị như nhau. Trong cuộc họp SALT, chương trình huấn luyện mục vụ hằng tháng của chúng tôi, chúng tôi nhấn mạnh và thừa nhận rằng mọi mục vụ của chúng tôi đều ngang nhau.
Các mục vụ nhỏ thường tạo nên sự khác biệt lớn. Bóng đèn quan trọng nhất trong nhà của tôi không phải là ngọn đèn chùm trong phòng ăn mà là bóng đèn ngủ nhỏ bé giúp tôi không vấp chân khi phải đi tới nhà tắm trong đêm. Nó nhỏ nhắn, nhưng hữu ích cho tôi hơn là ngọn đèn tỏa nhiều ánh sáng. (Vợ tôi nói rằng thứ ánh sáng tôi thích nhất là ánh đèn tỏa ra khi tôi mở tủ lạnh!)
Cột Trụ 3: Chúng ta phụ thuộc lẫn nhau
Mỗi mục vụ không chỉ quan trọng không thôi, mà chúng cũng quyện chặt vào nhau. Không một mục vụ nào lại độc lập với các mục vụ khác. Do không có một mục vụ đơn lẻ nào có thể hoàn tất mọi điều một Hội Thánh được kêu gọi thực hiện, nên chúng ta phải nương dựa và cộng tác với nhau. Giống như trò xếp hình, mỗi mảnh đều cần thiết để hoàn thành bức tranh. Bạn luôn luôn để ý tới chỗ mảnh ghép bị mất trước.
Khi một bộ phận trong cơ thể của bạn gặp trục trặc, thì các các bộ phận khác cũng không làm việc. Một trong những yếu tố thiếu hụt trong Hội Thánh ngày nay chính là sự hiểu biết về sự lệ thuộc lẫn nhau này. Chúng ta cần phải làm việc cùng với nhau. Sự quan tâm của nền văn hóa của chúng ta tới chủ nghĩa cá nhân và sự độc lập cần phải được thay thế bằng các quan niệm Kinh Thánh về sự hỗ tương và lệ thuộc lẫn nhau.
Cột Trụ 4: Mục vụ là sự thể hiện HÌNH DẠNG (SHAPE) của tôi
Đây là một điểm khác biệt trong sự dạy dỗ về mục vụ tại Hội Thánh Saddleback. SHAPE là một từ viết gọn tôi đã nghĩ ra nhiều năm trước để giải thích năm yếu tố (ân tứ thuộc linh-spiritual gifts, tấm lòng-heart, các khả năng-abilities, cá tính-personality, và các kinh nghiệm-experiences) quyết định mục vụ của một người nên là gì.
Khi Đức Chúa Trời tạo dựng các loài động vật, Ngài ban cho chúng một khả năng đặc biệt. Một số loài động vật thì chạy, một số biết nhảy, một số bơi lội giỏi, một số đào hang tốt, và một số biết bay. Mỗi loài động vật có một vai trò đặc biệt dựa vào cách Đức Chúa Trời định hình chúng. Đối với con người cũng vậy, mỗi chúng ta được Đức Chúa Trời thiết kế hay định dạng một cách độc nhất để làm một số việc nào đó.
Sự quản trị đời sống của bạn cách khôn ngoan bắt đầu từ chỗ bạn hiểu định dạng của mình. Bạn là độc nhất, phức tạp một cách kỳ diệu, là một sự kết hợp nhiều nhân tố khác nhau. Việc Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên bạn ra sao quyết định chủ ý của Ngài về điều bạn sẽ làm . Mục vụ của bạn được quyết định bởi chính bản chất của bạn.
Nếu bạn không hiểu về định dạng của chính mình, bạn sẽ làm nhiều điều Đức Chúa Trời không muốn, hoặc không định cho bạn làm. Khi các ân tứ không phù hợp với vai trò của bạn trong cuộc sống, bạn cảm thấy như một khối vuông mắc kẹt trong cái lỗ tròn vậy. Điều đó khiến bạn và cả những người khác thất vọng. Nó không chỉ làm giới hạn các kết quả, nó còn là một sự lãng phí thật nhiều các tài năng, thời gian và năng lực của bạn.
Đức Chúa Trời luôn kiên định trong kế hoạch của Ngài cho đời sống chúng ta. Ngài sẽ không ban cho mỗi chúng ta các khả năng bẩm sinh, các khí chất, tài năng, các ân tứ thuộc linh và các kinh nghiệm cuộc sống để rồi sau này không dùng tới chúng! Bằng cách xác định và tìm hiểu năm nhân tố ĐỊNH HÌNH này, chúng ta có thể khám phá ý muốn của Đức Chúa Trời cho đời sống của mình-khám phá cách độc nhất Ngài muốn mỗi chúng ta phục vụ Ngài. Nói tới vấn đề phục vụ, công việc của bạn phát xuất từ cách Đức Chúa Trời đã tạo nên bạn.
Đức Chúa Trời đã khuôn đúc và định hình bạn cho sự phục vụ kể từ khi bạn ra đời. Trên thực tế, Ngài bắt đầu định hình bạn trước khi bạn chào đời:
“Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi. Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng. Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm. Khi tôi được dựng nên trong nơi kín, chịu nắn nên cách xảo tại nơi thấp của đất, thì các xương cốt tôi không giấu được Chúa. Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của tôi; số các ngày định cho tôi, đã biên vào sổ Chúa trước khi chưa có một ngày trong các ngày ấy.”
(Thi Tv 139:13-16)
Các ân tứ thuộc linh . Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng Đức Chúa Trời ban cho mỗi tín nhân các ân tứ thuộc linh nào đó dùng để phục vụ (xem ICo1Cr 12:1-31; RoRm 8:1-39; Eph Ep 4:1-32). Tuy nhiên, các ân tứ thuộc linh chỉ là một phần của bức tranh. Các ân tứ thuộc linh thường được nhấn mạnh quá mức đến độ bỏ qua các yếu tố khác cũng quan trọng tương đương. Những khả năng tự nhiên từ khi bạn ra đời cũng đến từ nơi Đức Chúa Trời. Cả những kinh nghiệm lẫn các đặc điểm nhân cách bẩm sinh của bạn cũng vậy. Các ân tứ thuộc linh bày tỏ một phần ý muốn của Đức Chúa Trời cho mục vụ của bạn, chứ không phải là tất cả.
Đa số các Hội Thánh nói rằng, “Hãy khám phá ân tứ thuộc linh của bạn và sau đó bạn sẽ biết mục vụ bạn cần làm là gì.” Như vậy là nói ngược. Tôi tin rằng chúng ta cần phải: Bắt đầu thực nghiệm các mục vụ khác nhau và sau đó bạn sẽ khám phá các ân tứ của mình! Chừng nào bạn còn chưa phục vụ, thì chừng đó bạn còn không biết bạn giỏi ở lĩnh vực nào. Bạn có thể đọc tất cả các sách được in ra mà vẫn lơ mơ về việc bạn có ơn gì.
Tôi không mấy ủng hộ những “tài liệu khám phá ân tứ thuộc linh” hay những bài kiểm tra sẵn có ngày nay. Trước hết, những tài liệu và các bài kiểm tra đó đòi hỏi phải có sự tiêu chuẩn hóa, như vậy đã phủ nhận phương cách độc nhất Đức Chúa Trời dùng để vận hành trong mỗi đời sống. Những người có ân tứ truyền giáo trong Hội Thánh của bạn có thể thể hiện ân tứ đó một cách hoàn toàn khác với cách Billy Graham thể hiện ân tứ truyền giáo của mình. Thứ hai, hầu hết các ân tứ thuộc linh được liệt kê trong Tân Ước lại không có định nghĩa, do đó, những định nghĩa ngày nay mang tính tùy tiện, tự biện, và thường đi theo khuynh hướng của hệ phái.
Vấn đề thứ ba là một tín nhân càng trưởng thành bao nhiêu, thì càng có khuynh hướng thể hiện những nét đặc trưng của một số ân tứ nào đó. Anh ta có thể thể hiện một tấm lòng phục vụ, hay cô ấy dâng hiến rời rộng, và điều đó xuất phát từ sự trưởng thành hơn là sự ban ơn.
Khi tôi còn là một thiếu niên, tôi làm theo một tài liệu khám phá ân tứ thuộc linh và khám phá ra rằng ân tứ duy nhất mà tôi có là tuận đạo! Tôi nghĩ, “Ồ, tuyệt thật. Đó là ân tứ mình chỉ có thể dùng được một lần.” Tôi đã làm cỡ một trăm bài kiểm tra ân tứ và không bao giờ thấy rằng tôi được ơn giảng dạy. Có lẽ nó sẽ không bao giờ đến với tôi nếu tôi không thử thực hiện nó. Chỉ sau khi tôi bắt đầu tận dụng các cơ hội để nói và tôi đã thấy các kết quả, được nhiều người khác khẳng định, và nhận ra rằng, “Đức Chúa Trời đã ban ơn cho mình để làm việc này!”
Tấm lòng . Kinh Thánh dùng khái niệm tấm lòng để ám chỉ trung tâm động cơ, khát vọng, sở thích, và những khuynh hướng tự nhiên của bạn. Tấm lòng của bạn quyết định tại sao bạn nói những điều bạn làm (xem Mat Mt 12:34), tại sao bạn cảm nhận cách bạn làm (xem Thi Tv 37:4), tại sao bạn hành động theo cách bạn hành động (xem ChCn 4:23).
Về phương diện sinh lý học, mỗi người chúng ta có một nhịp tim khác nhau. Trái tim của mỗi người đập theo một cách hơi khác nhau. Cũng vậy, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một “nhịp tim” tình cảm độc nhất, là cái sẽ tác động khi chúng ta đối diện với các hoạt động, các đối tượng, hay các hoàn cảnh khiến chúng ta thích thú. Theo bản năng, có một số điều chúng ta cảm nhận rất sâu sắc, và một số điều khác thì không. Một từ khác để mô tả tâm hồn là cảm xúc (passion ). Có một số điều khiến bạn cảm thấy rất thiết tha, và cả những điều bạn không thể không quan tâm tới. Đó là một biểu hiện tâm hồn của bạn.
Khuynh hướng thúc đẩy mà Đức Chúa Trời đã ban cho bạn đóng vai trò của một hệ thống hướng dẫn nội tâm trong cuộc đời bạn. Nó quyết định điều gì khiến bạn thích và điều gì đem lại cho bạn sự thỏa mãn và ý nghĩa nhất. Nó cũng thúc giục bạn theo đuổi một số hoạt động, đối tượng và môi trường nào đó. Đừng phớt lờ những sở thích tự nhiên của bạn. Người ta hiếm khi vượt trội hơn trong những nhiệm vụ mà họ không thích làm. Người đạt được những thành tựu lớn thường là những người thích điều họ làm.
Đức Chúa Trời có một mục đích khi ban cho bạn những sở thích bẩm sinh. Nhịp tim tình cảm của bạn là một chìa khóa rất quan trọng để hiểu được ý muốn của Ngài trong đời sống bạn. Đức Chúa Trời ban cho bạn một tấm lòng, nhưng bạn phải lựa chọn dùng nó vào việc tốt hay xấu, dùng vào những lý do ích kỷ hay để phục vụ Đức Chúa Trời và người khác. ISa1Sm 12:20 chép, “…Chớ xây bỏ Đức Giê-hô-va, phải hết lòng phục sự Ngài.”
Các khả năng . Các khả năng là những tài năng tự nhiên bẩm sinh của bạn. Một số người có khiếu về ngôn ngữ: Họ nói hay viết đều hay! Những người khác lại có khả năng thể thao tự nhiên: Họ chơi thể thao rất tốt. (Tất cả các huấn luyện viên bóng rổ đều không dám để cho bạn thách đấu Micheal Jordan đâu.) Một số người lại có khả năng tính toán giỏi: Họ suy nghĩ rất toán học và không thể hiểu tại sao bạn lại không hiểu các phép tính!
XuXh 31:3 cho chúng ta một ví dụ về cách Đức Chúa Trời ban cho dân sự “sự khôn ngoan, sự thông sáng, và sự hiểu biết để làm mọi thứ nghề thợ” nhằm hoàn thành các mục đích của Ngài. Trong trường hợp này, khả năng nghệ thuật sẽ được dùng để cất đền tạm. Tôi thấy thật thú vị khi tài năng âm nhạc lại không được kể là “ân tứ thuộc linh,” nhưng rõ ràng nó là khả năng tự nhiên Đức Chúa Trời ban để thờ phượng Ngài. Cũng thật thú vị khi thấy Đức Chúa Trời ban cho dân sự khả năng làm ra tiền: “Hãy nhớ lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vì ấy là Ngài ban cho ngươi sức lực đoạt được những sản nghiệp, để làm trọn sự giao ước Ngài đã thề cùng tổ phụ ngươi, y như Ngài đã làm ngày nay” (PhuDnl 8:18).
Một trong những lời bào chữa phổ biến nhất người ta hay đưa ra khi không chịu dự phần vào sự phục vụ là họ không có một khả năng nào để phục vụ hết. Sự thật là: Nhiều cuộc nghiên cứu trên toàn quốc đã chứng minh rằng một người trung bình có từ năm trăm cho tới bảy trăm kỹ năng! Vấn đề thực sự có hai mặt. Trước hết, tín đồ cần một quá trình xác định kỹ năng. Hầu hết mọi người đang dùng những khả năng mà họ không nhận thức được là họ có. Thứ hai, họ cần một quá trình giúp họ phối hợp những khả năng của mình vào đúng loại mục vụ.
Trong Hội Thánh của bạn có nhiều người có đủ mọi loại khả năng mà không được sử dụng: nghiên cứu, viết lách, làm đẹp phong cảnh, phỏng vấn, quảng cáo, trang trí, lập kế hoạch, giải trí, sửa chữa, vẽ, thậm chí nấu ăn. Những khả năng này không nên lãng phí. “Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa” (ICo1Cr 12:5).
Cá tính . Rõ ràng Đức Chúa Trời đã không dùng một cái máy cắt bánh để tạo nên con người. Ngài yêu thích sự đa dạng. Ngài tạo nên những người hướng nội lẫn những người hướng ngoại. Ngài tạo nên những người thích thông lệ, và cả những người thích thay đổi. Ngài tạo nên một số người là “các nhà tư tưởng” và những người khác là “những người nhạy cảm.” Ngài tạo nên những người làm việc tốt nhất khi được giao một trách nhiệm cá nhân, và một số người khác làm việc tốt hơn khi ở trong một đội.
Kinh Thánh cho chúng ta vô số bằng chứng chứng tỏ Đức Chúa Trời sử dụng mọi loại cá tính. Phi-e-rơ có cá tính lạc quan. Phao-lô có cá tính nóng nảy. Và Giê-rê-mi thì lại có cá tính sầu muộn. Khi bạn nhìn vào sự khác biệt về cá tính của mười hai môn đồ mà Chúa Giê-xu đã lựa chọn, thì bạn sẽ thấy dễ hiểu tại sao thỉnh thoảng họ lại có những xung đột với nhau!
Không có chuyện tính khí “đúng” hay “sai” trong sự phục vụ. Chúng ta cần đủ mọi loại cá tính để làm cân bằng Hội Thánh và đem lại một hương vị nào đó cho Hội Thánh. Thế giới sẽ chán biết bao nếu chúng ta chỉ có mùi vani. May mắn làm sao, con người có hơn ba mươi mốt mùi vị khác nhau.
Cá tính của bạn sẽ ảnh hưởng cách thức và nơi chốn bạn dùng các ân tứ cũng như khả năng thuộc linh của mình. Chẳng hạn, hai người có cùng một ân tứ truyền giáo, nhưng nếu một người có tâm tình hướng nội và người kia có tâm tình hướng ngoại, thì ân tứ đó sẽ được thể hiện theo những cách khác nhau.
Những người thợ cưa biết rằng cưa dọc thớ gỗ thì dễ hơn là cưa ngang thớ gỗ. Cũng vậy, khi bạn bị buộc phải phục vụ trong một môi trường không phù hợp với đặc điểm cá tính của bạn, thì bạn sẽ bị căng thẳng và bực dọc, bạn cần phải nỗ lực nhiều hơn và tốn nhiều năng lượng hơn, mà không thể cho ra những kết quả tốt nhất. Đây là lý do tại sao bắt chước chức vụ của người khác sẽ không bao giờ thành công-bạn không có cá tính của họ. Đức Chúa Trời tạo nên bạn để là chính bạn! Bạn có thể học được nhiều điều từ những tấm gương của người khác, nhưng bạn phải chọn lọc các bài học của mình sao cho nó phù hợp với định dạng của bạn.
Khi bạn phục vụ trong một môi trường phù hợp với cá tính mà Đức Chúa Trời đã ban cho bạn, bạn sẽ kinh nghiệm sự đầy trọn, sự thỏa lòng và sự kết quả. Thật là tuyệt khi bạn làm đúng điều mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên bạn để làm.
Các kinh nghiệm . Đức Chúa Trời không bao giờ lãng phí một kinh nghiệm nào. RoRm 8:28 nhắc chúng ta rằng, “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định.”
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi giúp dân sự xem xét năm lĩnh vực kinh nghiệm sẽ tác động đến loại mục vụ phù hợp với họ nhất: (1) Những kinh nghiệm học vấn: Các môn học bạn thích nhất ở trường là gì? (2) Các kinh nghiệm nghề nghiệp: Bạn thích những công việc nào và đã đạt được những kết quả khi đang làm việc gì? (3) Các kinh nghiệm thuộc linh: Những thời điểm đầy ý nghĩa hay mang tính quyết định trong cuộc đời bạn khi bạn ở với Chúa là gì? (4) Các kinh nghiệm phục vụ: Trong quá khứ, bạn đã phục vụ Chúa như thế nào? Và (5) Các kinh nghiệm đau buồn: Những nan đề, những nỗi đau và thử thách mà bạn đã rút ra được bài học cho mình là gì?
Vì bạn đã được Đức Chúa Trời định hình một cách thần hiệu cho mục đích của Ngài, bạn không nên bực tức hay từ chối nó. “Nhưng, hỡi người, ngươi là ai, mà dám cãi lại cùng Đức Chúa Trời? Có lẽ nào cái bình bằng đất sét lại nói với kẻ nắn nên mình rằng: ‘Sao ngươi đã làm nên ta như vậy?’ Người thợ gốm há chẳng có quyền trên đất sét, cùng trong một đống mà làm ra hạng bình để dùng việc sang trọng, lại hạng khác để dùng việc hèn hạ sao?” (9:20-21). Thay vì cố gắng tái định hình chính mình để trở nên giống như một người khác, bạn hãy vui mừng với hình dạng mà Đức Chúa Trời đã ban cho bạn.
Bạn sẽ đạt hiệu quả cao nhất và trọn vẹn nhất trong chức vụ khi bạn dùng những ân tứ thuộc linh và các khả năng của mình trong lĩnh vực mà tâm hồn bạn yêu thích theo cách thể hiện tốt nhất cá tính và các kinh nghiệm của bạn. Sự thành công là kết quả của một chức vụ tốt và phù hợp. (Nếu bạn muốn được giải thích rõ hơn về SHAPE, hãy tìm nghe loạt băng “You Are Shaped for Significance” của tôi.)
Sắp Xếp Hợp Lý Cơ Cấu Tổ Chức Của Bạn
Bước tiếp theo trong việc xây dựng mục vụ nền tảng là sắp xếp hợp lý cơ cấu tổ chức của bạn sau khi đã dạy về nền tảng Kinh Thánh. Một lý do chính khiến nhiều thành viên Hội Thánh không tích cực phục vụ là vì họ quá bận rộn tham dự các buổi nhóm đến độ họ không còn thời gian để phục vụ. Nhiều lúc tôi tự hỏi Cơ-đốc giáo chúng ta không biết còn lại được gì nếu chúng ta cắt bỏ mọi buổi nhóm họp. Sau hết, Chúa Giê-xu đã không nói, “Ta đến để các ngươi có các buổi nhóm.” Nhưng nếu bạn hỏi một thân hữu nào đó xem họ để ý điều gì trong lối sống của những người hàng xóm Cơ-đốc của họ nhất, thì chắc họ sẽ nói, “Họ đi nhóm nhiều quá.” Chúng ta có muốn nổi tiếng vì điều này không?
Tôi đoán rằng một Hội Thánh trung bình sẽ trở nên mạnh khỏe hơn nếu bỏ hẳn phân nửa số buổi nhóm và dành thời gian nhiều hơn cho mục vụ và truyền giáo thông qua các mối quan hệ. Một trong những lý do khiến nhiều thành viên Hội Thánh không làm chứng cho những người hàng xóm là vì họ không biết về những người hàng xóm của mình! Lúc nào họ cũng ở nhà thờ tham dự các buổi nhóm.
Vài năm trước đây, tổ chức Roper đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về thời gian rảnh rỗi tại Mỹ. Họ khám phá ra rằng những người Mỹ vào thập kỷ 90 có ít thời gian rảnh rỗi hơn vào thập kỷ 70. Một người Mỹ trung bình có 26.2 giờ rảnh rỗi một tuần vào năm 1973. Đến năm 1987, nó đã giảm xuống còn 16.6 giờ một tuần, mất đi 10 giờ rảnh rỗi hằng tuần. Ngày nay thì còn ít hơn nữa.
Tài sản quý giá nhất tín đồ có thể dâng cho Hội Thánh chính là thời gian của họ. Do các tín đồ có ít thời gian rỗi hơn, nên tốt hơn hết chúng ta phải tận dụng thời gian của họ cách tốt nhất khi họ dâng hiến điều đó. Nếu một người tín đồ bình thường đến với tôi và nói rằng, “Thưa mục sư, tôi có bốn tiếng đồng hồ một tuần để dâng cho Hội Thánh,” điều cuối cùng tôi làm sẽ là giới thiệu người đó với một ủy ban nào đó. Tôi muốn người này dự phần phục vụ, chứ không để duy trì.
Hãy dạy bầy chiên của bạn sự khác biệt giữa sự duy trì và mục vụ. Duy trì là “công việc Hội Thánh”: các ngân quỹ, các nhà thờ, các vấn đề tổ chức, và v.v… Phục vụ là “công việc của Hội Thánh.” Càng có nhiều người quyết định dự phần vào việc duy trì Hội Thánh, thì bạn càng lãng phí thời gian của họ, ngăn trở họ phục vụ, và tạo nhiều cơ hội cho xung đột. Công việc duy trì cũng khiến cho người ta nghĩ rằng trách nhiệm của họ đã được làm trọn khi chỉ tập trung vào công việc Hội Thánh.
Một sai lầm phổ biến mà nhiều Hội Thánh mắc phải là biến những người sáng dạ nhất, giỏi nhất của họ thành những người quan liêu bằng cách tổ chức thêm các buổi nhóm họp cho họ tham dự. Bạn có thể làm tiêu hao hết sức sống của dân sự bằng cách lập thời khóa biểu một chuỗi dài những buổi nhóm họp các ban ngành. Tại Hội Thánh Saddleback chúng tôi không có một ủy ban nào cả. Tuy nhiên, chúng tôi lại có bảy mươi chín mục vụ không chuyên khác nhau.
Sự khác biệt giữa một ủy ban và một mục vụ không chuyên là gì? Các ủy ban thảo luận vấn đề, nhưng các mục vụ lại thực hiện chúng. Các ủy ban tranh luận, còn các mục vụ thì hành động. Các ủy ban duy trì, còn các mục vụ thì phục vụ. Các ủy ban nói và xem xét, còn các mục vụ phục vụ và chăm sóc. Các ủy ban thảo luận các nhu cầu, còn các mục vụ đáp ứng các nhu cầu đó.
Các ủy ban cũng quyết định xem họ có dự bị những người khác phòng sau này cần dùng không. Tại Hội Thánh Saddleback, những người dự bị là những người quyết định. Những người tham gia một mục vụ tự quyết định về mục vụ đó. Chúng tôi không tách thẩm quyền khỏi trách nhiệm, nhưng tin cậy dân sự ở cả hai điểm đó. Điều này khiến cho các ủy ban không còn cần thiết nữa. Chúng tôi không trao thẩm quyền quyết định cho những người không phục vụ.
Vậy thì ai sẽ thực hiện công tác duy trì Hội Thánh tại Saddleback? Các nhân sự ăn lương làm việc đó. Bằng cách này, chúng tôi không lãng phí chút thời gian quý báu nào của các thành viên. Dân sự thấy rõ rằng thời gian họ tình nguyện dâng hiến sẽ được dùng vào mục đích phục vụ.
Tôi chắc rằng bạn sẽ thấy phương pháp này là cấp tiến. Hội Thánh Saddleback có cơ cấu hoàn toàn trái ngược với hầu hết các Hội Thánh khác. Trong một Hội Thánh bình thường, các thành viên thực hiện công việc duy trì (việc quản lý) Hội Thánh và vị mục sư thì phải làm hết mọi mục vụ. Chẳng ngạc nhiên gì khi Hội Thánh không thể tăng trưởng! Vị mục sư trở thành cái cổ chai. Không có cách nào để một người có thể phục vụ mọi nhu cầu trong một Hội Thánh. Cuối cùng thì người đó cũng phải kiệt sức hay phải dời sang một Hội Thánh khác để xả hơi.
Trong phạm vi cuốn sách này tôi không thể chia sẻ tất cả những niềm tin của mình về cơ cấu Hội Thánh trên nền tảng Kinh Thánh. (Các chi tiết được thu trong băng “Simple Structure.”) Nhưng tôi muốn bạn suy nghĩ câu hỏi này: Những từ như các ủy ban , cuộc bầu cử , vai trò chủ đạo , các ban ngành , thành viên của ban , các thủ tục , việc bỏ phiếu và lá phiếu có điểm gì chung? Không có một từ nào trong số này xuất hiện trong Thánh Kinh Tân Ước! Chúng ta đã sử dụng mô hình chính phủ nước Mỹ để tổ chức Hội Thánh và hậu quả là hầu hết các Hội Thánh sa lầy vào chỗ quan liêu cũng giống như chính phủ của chúng ta vậy. Muốn làm xong một chuyện gì chắc phải chờ đến dài cổ. Những cơ cấu tổ chức con người lập ra đã ngăn trở nhiều Hội Thánh tăng trưởng khỏe mạnh nhiều hơn bất cứ ai trong chúng ta có thể tưởng tượng.
Dù loại cơ cấu của một Hội Thánh không khiến cho Hội Thánh tăng trưởng, nhưng nó thực sự điều khiển tốc độ và kích cỡ của sự tăng trưởng. Và mỗi Hội Thánh cuối cùng phải quyết định xem mình sẽ có một cơ cấu để nắm quyền hay là một cơ cấu để tăng trưởng . Đây là một trong những quyết định quan trọng nhất mà Hội Thánh của bạn sẽ phải đối diện. Để Hội Thánh của bạn được phát triển, cả vị mục sư lẫn dân sự cần phải từ bỏ sự điều khiển: Dân sự phải thôi điều khiển hàng lãnh đạo , và vị mục sư phải thôi nắm quyền mục vụ . Nếu không, cả hai bên đều sẽ trở thành cái cổ chai ngăn trở sự tăng trưởng.
Khi một Hội Thánh tăng trưởng hơn 500 người, thì không có một người nào hay một ban ngành nào có thể biết mọi điều đang diễn ra trong Hội Thánh. Tôi đã không biết mọi chuyện diễn ra trong Hội Thánh Saddleback từ nhiều năm rồi. Và tôi cũng không cần phải biết tất cả những chuyện đó! Bạn có thể hỏi, “Vậy làm sao ông điều khiển được?” Câu trả lời của tôi là: “Tôi không điều khiển. Điều khiển Hội Thánh không phải là công việc của tôi. Công việc của tôi là lãnh đạo Hội Thánh.” Có một sự khác biệt rất lớn giữa lãnh đạo và điều khiển. Các mục sư của chúng tôi và nhóm nhân sự chịu trách nhiệm giữ cho Hội Thánh vững vàng về giáo lý, và đi đúng hướng, nhưng những quyết định hằng ngày là do những người đang thực sự thực hiện các mục vụ của Hội Thánh lựa chọn.
Nếu bạn nghiêm túc thúc đẩy các thành viên của mình phục vụ, bạn phải sắp xếp cơ cấu của mình để tối đa hóa mục vụ và giảm thiểu hóa duy trì. Bạn càng lắp đặt cỗ máy tổ chức Hội Thánh của bạn rườm rà bao nhiêu, bạn càng phải tốn nhiều thời gian, năng lực và tiền của để duy trì nó bấy nhiêu-thời gian, năng lực và tiền bạc quý giá đó có thể được đầu tư vào mục vụ hữu ích cho dân sự.
Nếu bạn giải phóng dân sự cho mục vụ và làm giảm gánh nặng duy trì nơi họ, bạn sẽ tạo nên một Hội Thánh vui vẻ hơn, hài hòa hơn, với một nhuệ khí lớn hơn nhiều. Sự đầy trọn đến từ mục vụ chứ không phải duy trì. Để cho Đức Chúa Trời dùng bạn mà biến đổi nhiều đời sống sẽ làm thay đổi toàn bộ thái độ của bạn.
Trong một cuộc chiến, bạn luôn thấy được nhuệ khí cao nhất và cảm giác tình bạn ấm áp nhất giữa vòng những người đang chiến đấu ở tiền tuyến. Bạn không có thời gian để tranh cãi và phàn nàn khi đang cố gắng tránh đạn. Tuy nhiên, ở mười dặm đằng sau, những người lính hậu phương lại càu nhàu về thức ăn, nhà tắm, và sự thiếu phương tiện giải trí. Những điều kiện nơi đó còn tốt hơn ở tiền tuyến nữa, nhưng người ta cứ hay phê phán vì họ không bận rộn chiến đấu. Khi tôi gặp những Cơ-đốc nhân khó tính và hay phê phán, tôi thường thấy rằng họ không có dự phần vào mục vụ nào cả. Những người phàn nàn nhiều nhất trong bất kỳ Hội Thánh nào thường là các thành viên ủy ban không có chuyện để làm.
Trong những dịp hiếm hoi khi bạn thực sự cần một ủy ban để giúp dân sự học hỏi một điều gì đó, hãy tạo nên một ủy ban đặc biệt chỉ có trách nhiệm trong công việc đó thôi, khi xong việc thì giải tán ủy ban này. Hãy đặt một giới hạn thời gian để sau đó ủy ban giải tán. Hầu hết những ủy ban đang tồn tại chỉ lãng phí một số lượng lớn chất xám vào những buổi họp có kế hoạch nhưng không cần thiết.
Đừng tổ chức bầu cử các vị trí mục vụ
Có nhiều lý do khiến Hội Thánh Saddleback không bao giờ tổ chức bầu cử người vào những vị trí mục vụ không chuyên.
Bạn hãy tránh một cuộc thi đua cá tính . Nếu bạn bầu cử để đề cử một ai đó phục vụ trong một mục vụ nào đó, bạn sẽ loại trừ tất cả những ai sợ bị loại. Những người nhút nhát và thiếu tự tin sẽ không bao giờ tình nguyện phục vụ, vì lo sợ rằng họ có thể bị hội chúng hay một ban ngành nào đó gạt ra.
Các mục vụ mới cần phải phát triển chậm . Nếu bạn công khai hóa một mục vụ mới ngay trong những ngày đầu thành lập, nó có thể chết đi. Chỉ cần một tiếng nói tiêu cực có ảnh hưởng lớn là có thể nhổ tận gốc ý tưởng mục vụ đó trước khi nó có cơ hội nảy mầm.
Các thành viên mới có thể tham gia nhanh hơn . Việc bầu cử sẽ rất bất lợi cho các thành viên mới. Một thành viên mới có thể là người phục vụ tốt nhất, nhưng người đó có thể không được ủy ban chấp thuận. Tôi đã từng thấy nhiều người được ơn bị loại ra khỏi mục vụ trong nhiều năm liền vì họ không phải là một thành viên trong nhóm những người kỳ cựu của Hội Thánh.
Bạn nên tránh thu hút những người chỉ thích một địa vị vì quyền lực hay đặc quyền nào đó của nó . Bằng cách loại bỏ việc bầu cử, bạn thu hút được những người thực sự muốn phục vụ thay vì những người chỉ muốn một chức danh. Có một người đã từng than phiền với tôi rằng, “Tôi sẽ đi khỏi Hội Thánh vì tôi muốn làm trưởng một ban ngành nào đó mà Hội Thánh Saddleback thì lại không có ban nào cả!” Ít nữa thì người này cũng đã thành thật. Anh ta đã tìm được một Hội Thánh nhỏ, đã có một chức danh ấn tượng và là một con cá lớn trong một vũng nước nhỏ. Anh ta chẳng hứng thú gì chuyện phục vụ; anh ta chỉ thích quyền lực.
Nếu người ta thất bại , thì việc hủy bỏ cũng dễ dàng hơn . Nếu bạn công khai đề cử một người nào đó, thì bạn phải công khai cách chức họ nếu họ thiếu khả năng hay đã thất bại về phương diện đạo đức. Trong thế giới ngày nay, sự công khai cách chức như vậy có thể trở thành một vấn đề chính trị, quan hệ và pháp luật có thể gây nhiều tranh cãi lớn. Một số tín đồ xác thịt thà phá hoại một Hội Thánh hơn là từ bỏ một chức vị. Họ có thể sẽ chiến đấu tới cùng. Nếu bạn không bầu cử các vị trí mục vụ, sự thất bại có thể giải quyết êm đẹp cách riêng tư.
Bạn có thể đáp ứng sự dẫn dắt của Thánh Linh cách nhanh chóng hơn . Khi một thành viên nào có một ý kiến mục vụ lớn, Hội Thánh không nên chờ đợi cho tới buổi họp công việc tháng tới mới bắt đầu. Trong Hội Thánh chúng tôi, đôi lúc một mục vụ có thể được thành lập ngay sau buổi thờ phượng dựa vào sứ điệp tôi chia sẻ. Những người nào có hứng thú sẽ tập họp ngoài hành lang và công việc được tiến hành ngay.
Một lần nọ có một chị em đến với tôi và nói, “Chúng ta cần một mục vụ cầu nguyện.” Tôi nói, “Ồ, tôi đồng ý! Chị làm đi!” Cô ta nói, “Vậy không cần phải bầu cử hay tiến hành thông qua gì sao?” Cô tưởng rằng mình sẽ phải trải qua đủ mọi ràng buộc về thủ tục trước. Tôi nói, “Dĩ nhiên là không! Chỉ cần thông báo về buổi cầu nguyện trên bảng thông báo và bắt đầu thôi.” Cô ta đã làm như vậy.
Một lần khác có một người đến với tôi và nói, “Chúng ta cần một nhóm chăm sóc những người bị bệnh ung thư.” Tôi nói, “Ý kiến hay tuyệt! Vậy anh bắt đầu nhé!” Và anh ta đã làm như vậy. Có một người khác đến nói với tôi, “Tôi không thể dạy, không thể hát, nhưng tôi có thể sửa chữa nhà và làm đồ mộc. Tôi muốn tổ chức một mục vụ Sửa Chữa để giúp sửa chữa nhà cửa miễn phí cho các góa phụ trong Hội Thánh.” Vấn đề là ở chỗ bạn không nên công khai việc một người có thể hay không thể sử dụng các ân tứ Chúa ban cho trong thân thể Đấng Christ. Khi có ai đó thể hiện khao khát phục vụ, chúng tôi lập tức cho họ bắt đầu ngay thông qua tiến trình thiết lập của chúng tôi.
Tổ Chức Một Tiến Trình Thiết Lập Mục Vụ
Đưa các thành viên vào trong sự phục vụ phải là một tiến trình liên tục, chứ không nên là một điểm nhấn mạnh đặc biệt nào đó. Có ba bộ phận quan trọng trong Trung Tâm Phát Triển Mục Vụ của Hội Thánh Saddleback.
Lớp học hằng tháng . Mỗi tháng, chúng tôi mở Lớp 301: “Phát Hiện Mục Vụ Của Tôi,” một lớp học kéo dài bốn giờ giúp trang bị nền tảng Kinh Thánh cho dân sự trong việc phục vụ, khái niệm SHAPE và nhiều cơ hội mục vụ khác nhau tại Hội Thánh Saddleback. Nó được tổ chức vào chiều Chúa Nhật thứ hai mỗi tháng, từ 4 tới 8 giờ 30 tối, thêm một bữa ăn ba mươi phút miễn phí cho các học viên. Nó được dạy cùng lúc với Lớp 101 (lớp thành viên) và Lớp 201 (trưởng thành). Chúng tôi trình bày rất nhiều điều cụ thể và gợi ý trong các lớp này.
Một tiến trình thiết lập . Tiến trình thiết lập của chúng tôi bao gồm sáu bước: (1) tham dự Lớp 301, (2) cam kết phục vụ trong mục vụ đó và ký Giao Ước Phục Vụ của Hội Thánh Saddleback, (3) hoàn thành bộ hồ sơ cá nhân SHAPE, (4) có một cuộc phỏng vấn riêng có cả tư vấn mục vụ để xác định ba hay bốn lĩnh vực khả dĩ của mục vụ, (5) gặp gỡ các nhân sự hay người lãnh đạo nòng cốt nào giám sát mục vụ mà bạn yêu thích, và (6) được công khai bổ nhiệm trong cuộc họp SALT.
Tiến trình thiết lập của bạn phải tập trung thêm năng lực cho dân sự chứ không phải lấp đầy những chỗ trống. Bạn sẽ đạt được tỉ lệ thành công cao hơn nhiều với những người bạn đặt vào mục vụ nếu bạn tập trung vào cá nhân con người chứ không phải các nhu cầu của việc thành lập mục vụ. Xin nhớ rằng mục vụ liên quan tới con người chứ không phải là các chương trình.
Nhân sự hỗ trợ tiến trình . Dân sự cần được sự quan tâm và hướng dẫn cá nhân khi họ cố gắng khám phá mục vụ thích hợp với họ. Chỉ đơn giản đưa họ vào một lớp học sẽ không làm trọn được việc này đâu. Mỗi thành viên cần phải được tư vấn cá nhân.
Trung Tâm Phát Triển Mục Vụ của Hội Thánh Saddleback do Mục Sư Mục Vụ và các tình nguyện viên trong đội của ông lãnh đạo. Họ phỏng vấn các thành viên đã hoàn tất hồ sơ cá nhân SHAPE, giúp họ tìm được chỗ thích hợp nhất để phục vụ. Họ cũng hỗ trợ các thành viên nào muốn bắt đầu các mục vụ mới. Nếu ngày nay tôi đang mở một Hội Thánh mới, một trong những điều đầu tiên tôi sẽ làm là tìm một tình nguyện viên định hướng để phỏng vấn các tín đồ và huấn luyện anh ta hay chị ta để giúp đỡ trong nhiệm vụ quan trọng này. Đây không cần phải là một vị trí trả lương, nhưng bạn cần phải tìm một người có nhân cách và các kỹ năng thích hợp cho nhiệm vụ này.
Huấn Luyện Kinh Nghiệm Làm Việc
Một khi các tín đồ bắt đầu phục vụ trong một mục vụ nào đó, họ cần được huấn luyện thêm. Huấn luyện kinh nghiệm làm việc còn quan trọng và có hiệu quả hơn là rèn luyện tầm nhìn. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi chỉ đòi hỏi huấn luyện tầm nhìn tối thiểu vì chúng tôi biết rằng người ta sẽ không biết đặt đúng những câu hỏi cần thiết cho tới khi họ thực sự bước vào công việc.
Một lý do khác chúng tôi không dùng huấn luyện tầm nhìn là vì chúng tôi muốn đưa các tín đồ vào trong phục vụ thực tế càng nhanh càng tốt. Một chương trình huấn luyện tầm nhìn kéo dài sẽ khiến cho hầu hết mọi người đánh mất nhiệt huyết ban đầu của họ: Nó làm họ mất hết tinh thần trước khi bắt đầu! Tôi thấy rằng loại người nào sẵn sàng chịu huấn luyện suốt năm mươi hai tuần trước khi bắt đầu phục vụ thường là người không mấy hiệu quả khi họ bắt đầu phục vụ. Họ có khuynh hướng trở thành những học sinh chuyên nghiệp, thích học về mục vụ hơn là thực hiện nó. Chúng tôi muốn dân sự nhảy ngay xuống nước và bị ướt, vì chỉ khi đó thì họ mới được thúc đẩy mạnh mẽ mà học bơi. Cách tốt nhất để bắt đầu là hãy bắt bầu.
Trung tâm điểm của chương trình huấn luyện mục vụ của chúng tôi là SALT. Đây là chương trình huấn luyện hai tiếng đồng hồ tổ chức vào tối Chúa Nhật đầu tháng cho nhóm nòng cốt của Hội Thánh. Lịch của SALT bao gồm một thì giờ thờ phượng mở rộng, thì giờ ghi nhận mọi mục vụ hiện có, các bài làm chứng từ thực tế, bổ nhiệm các phục vụ viên không chuyên mới, cầu nguyện theo nhóm, các tin tức “nội bộ” Hội Thánh, huấn luyện mục vụ và một sứ điệp “khải tượng” tôi chia sẻ về các giá trị, khải tượng và đặc trưng chất lượng cũng như các kỹ năng có cần cho mục vụ. Những sứ điệp hằng tháng cho những người lãnh đạo nòng cốt của chúng tôi được gọi là “Nâng Đỡ Hàng Lãnh Đạo” và được ghi âm lại để những ai không đến dự buổi họp SALT được sẽ có cơ hội nghe lại sau. Chúng tôi cũng sẵn sàng cung cấp các sứ điệp này cho các Hội Thánh khác thông qua mục vụ băng The Encouraging Word. Trong kỳ họp SALT, chúng tôi cũng có phần thưởng “Giết Người Khổng Lồ” cho mục vụ không chuyên nào giải quyết được một nan đề lớn nhất trong tháng.
Thêm vào cuộc họp SALT, chúng tôi cũng mở các lớp huấn luyện khác nhau cho các mục vụ đặc biệt tại Viện Phát Triển Đời Sống. Các lớp cấp 300 dạy các kỹ năng mục vụ khác nhau và trang bị cho dân sự phục vụ trong những mục vụ khác nhau của Hội Thánh chúng tôi. Chẳng hạn, Lớp 302 được gọi là “Bạn Muốn Làm Một Trưởng Nhóm Tế Bào.” Có những chương trình huấn luyện khác cho mục vụ thanh niên, mục vụ thiếu nhi, mục vụ âm nhạc, mục vụ tư vấn, và mục vụ chăn bầy, đây chỉ mới là một số những mục vụ tiêu biểu.
Đừng Bao Giờ Bắt Đầu Một Mục Vụ Mà Không Có Một Đặc Trách Mục Vụ
Chúng tôi không bao giờ tạo ra một vị trí mục vụ rồi tìm cách lấp đầy chỗ trống. Nó chẳng có tác dụng gì cả. Yếu tố quan trọng nhất của một mục vụ không phải là ý tưởng , mà là việc lãnh đạo . Mỗi mục vụ thành công hay thất bại là do người lãnh đạo. Không có một người lãnh đạo tốt, một mục vụ chỉ giẫm chân tại chỗ, có thể gây hại nhiều hơn là đem lại lợi ích.
Hãy tin cậy nơi thời điểm của Đức Chúa Trời. Ban chấp sự của Hội Thánh Saddleback không bao giờ bắt đầu các mục vụ mới. Chúng tôi có thể gợi ý, nhưng chúng tôi để ý tưởng đó chín muồi cho tới khi Đức Chúa Trời đem đến một người để lãnh đạo nó. Tôi đã có chia sẻ rằng chúng tôi đã không tổ chức mục vụ thanh niên cho tới khi Hội Thánh có gần 500 người dự nhóm, và chúng tôi không có mục vụ cho những người độc thân cho tới khi Hội Thánh được gần 1,000. Tại sao? Cho tới thời điểm đó thì Đức Chúa Trời chưa đem người lãnh đạo đến cho chúng tôi.
Điều quan trọng là đừng bao giờ đẩy người ta vào trong một mục vụ nào đó. Nếu làm vậy, bạn sẽ mắc phải vấn đề động cơ của chính mục vụ đó. Hầu hết các Hội Thánh nhỏ hay vội vã và cố gắng làm quá nhiều việc. Thay vào đó, hãy cầu nguyện và chờ đợi Đức Chúa Trời đem đến cho bạn người phù hợp nhất để lãnh đạo một mục vụ cụ thể. Sau đó, hãy để họ bắt đầu nó. Đừng lo lắng nếu dân sự không thích thú một mục vụ đặc biệt nào đó. Điều quan trọng là những người lãnh đạo Hội Thánh phải có một tầm nhìn dài hạn liên quan tới sự phát triển của Hội Thánh. Sự tăng trưởng vững vàng cần có thời gian.
Hãy nghiên cứu sách Công Vụ và bạn sẽ khám phá ra rằng việc tổ chức một công việc nào đó luôn theo sau những gì Thánh Linh đang làm. Không có lần nào sách Công Vụ ghi nhận rằng dân sự tổ chức một mục vụ nào đó rồi mới cầu nguyện, “Chúa ôi, bây giờ xin hãy ban phước cho ý tưởng của chúng con.” Thay vào đó, Đức Chúa Trời bắt đầu cảm động lòng của dân sự, một mục vụ tự động phát sinh từ chỗ ít người tham gia, rồi dần dần có nhiều người hơn đến độ họ đã phải thêm cho nó một cơ cấu tổ chức.
Đây là cách mà mỗi mục vụ của Hội Thánh Saddleback được phát triển. Chẳng hạn, mục vụ cho quý bà được bắt đầu vào một buổi học Kinh Thánh tại nhà do Kay dạy. Nó cứ lớn dần lên và mở rộng ra cho đến khi có một cơ cấu nào đó, và cuối cùng là đội ngũ nhân sự được thêm vào. Khuôn mẫu này cứ được lập đi lập lại hoài.
Thiết Lập Các Tiêu Chuẩn Và Các Nguyên Tắc Chỉ Đạo Tối Thiểu
Việc quyết định một số tiêu chuẩn tối thiểu nào đó cho mục vụ là điều quan trọng vì làm việc với con người mà chỉ có những ý định tốt nhất thì vẫn chưa đủ. Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi có một tập tài liệu mô tả công việc cho mỗi vị trí mục vụ, trong đó làm rõ những vấn đề như thời gian cam kết bắt buộc, các nguồn tài nguyên được cung cấp, các giới hạn, quyền hạn, và các mối liên hệ, và những kết quả được mong đợi là gì.
Hãy giữ những tiêu chuẩn rõ ràng và ngắn gọn; đừng chôn dân sự trong đống thủ tục và các ủy ban. Hãy để cho dân sự được tự do càng nhiều càng tốt. Tại Hội Thánh chúng tôi, bất cứ thành viên nào học xong Lớp 301 và cuộc phỏng vấn SHAPE có thể bắt đầu một mục vụ mới miễn là họ đồng ý làm theo ba nguyên tắc chủ đạo cơ bản.
Nguyên tắc 1: Đừng mong đội ngũ nhân viên sẽ điều hành mục vụ của bạn . Người ta thường nói, “Tôi có một ý tưởng lớn cho Hội Thánh của chúng ta” hay là “Chúng ta nên làm một điều gì đó về…” Tôi luôn yêu cầu họ làm rõ từ “chúng ta.” Khi người ta nói, “Hội Thánh nên…” thì thường là họ ngụ ý rằng “Mục sư hay ban chấp sự nên…”
Có người đã từng nói với tôi, “Tôi cảm thấy lòng mình mang gánh nặng về những người ở trong tù và tôi đã đến đó để hướng dẫn một lớp học Kinh Thánh. Tôi nghĩ Hội Thánh nên làm một điều gì đó cho những người này!” Tôi nói với anh ta, “Tôi thấy hình như là Hội Thánh đã làm một điều gì đó rồi. Anh chính là Hội Thánh!” Tuần lễ sau đó tôi nói với cả hội chúng, “Tôi muốn nói rằng tất cả quý vị được tự do để đến thăm những người ở tù, cho người đói ăn, cho người nghèo mặc, và chăm sóc những người vô gia cư-và quý vị thậm chí không cần phải nói với tôi chuyện đó. Cứ làm đi thôi! Hãy đại hiện Hội Thánh trong danh Chúa Giê-xu.” Mục vụ này không cần sự giám sát của bất kỳ nhân viên nào. Hãy giúp dân sự hiểu rằng họ chính là Hội Thánh.
Nguyên tắc 2: Mục vụ phải phù hợp với các tín lý , các giá trị và triết lý chức vụ của Hội Thánh . Nếu bạn cho phép thành lập những mục vụ không đi cùng hướng với Hội Thánh, thì bạn đang chuốc lấy phiền phức. Thay vì giúp đỡ Hội Thánh, những mục vụ đó sẽ ngăn trở điều bạn đang cố làm và thậm chí làm hỏng cả lời chứng của Hội Thánh của bạn.
Tại Hội Thánh Saddleback, chúng tôi đặc biệt cẩn thận với những mục vụ được đồng tài trợ bởi các tổ chức bên ngoài Hội Thánh địa phương. Những tổ chức này thường có các sinh hoạt khác hẳn các sinh hoạt của Hội Thánh chúng tôi, và đó là điều có khuynh hướng gây chia rẽ.
Nguyên tắc 3: Không được gây quỹ . Nếu bạn cho phép mỗi mục vụ được tự do gây quỹ, thì hành lang nhà thờ của bạn sẽ biến thành khu bán hàng phúc thiện. Sẽ có dịch vụ rửa xe và bán bánh hạ giá ở khắp nơi. Cuộc cạnh tranh vì đồng đô-la sẽ trở nên căng thẳng, và các thành viên của bạn sẽ bực tức trước những lá thư cổ động và những mánh khóe bán hàng. Một ngân quỹ chung là cần thiết để có một Hội Thánh hiệp nhất. Các nhà lãnh đạo mỗi mục vụ phải trình các nhu cầu tài chánh của mình lên cho Hội Thánh biết và hỗ trợ bằng ngân quỹ của Hội Thánh.
Hãy Rộng Lượng Cho Phép Dân Sự Chấm Dứt Hay Thay Đổi Các Mục Vụ
Trong một số Hội Thánh, rút khỏi một mục vụ có nghĩa là bạn đã chết, đã rời khỏi Hội Thánh, hay sẵn sàng sống với mặc cảm tội lỗi nặng nề. Chúng ta cần phải để cho dân sự nghỉ ngơi hay thay đổi các mục vụ mà không khiến họ cảm thấy mắc tội. Đôi lúc người ta trở nên chán nản với một mục vụ nào đó, hoặc là họ cần phải thay đổi một chút. Cũng có thể họ cần thời gian nghỉ ngơi. Dù là gì đi nữa, bạn cũng cần phải có người thay thế sẵn sàng lấp vào chỗ trống.
Chúng tôi không bao giờ cột chặt dân sự vào một mục vụ nào đó. Quyết định dự phần vào một mục vụ nào đó không phải là quyết định được khắc trên đá. Nếu có một ai đó không thích hay không phù hợp với một mục vụ nào đó nữa, họ cần được khích lệ để thay đổi mà không cảm thấy xấu hổ hay ngại ngùng gì.
Hãy cho dân sự sự tự do để thử nghiệm. Hãy để họ phục vụ trong nhiều vị trí khác nhau. Như tôi đã nói ở trên, chúng tôi tin rằng việc thử nghiệm với các mục vụ khác nhau là cách tốt nhất để khám phá các ân tứ của bạn. Dù rằng chúng tôi thường đòi hỏi cam kết một năm trong các mục vụ, nhưng chúng tôi không bao giờ bắt buộc điều đó. Nếu có người thấy rằng họ ở nhầm chỗ, chúng tôi không làm cho họ cảm thấy mặc cảm tội lỗi vì cớ rút lui. Khi gọi đó là “thử nghiệm,” chúng tôi có thể khuyến khích họ thử một việc khác. Mỗi năm, trong suốt Tháng Mục Vụ Không Chuyên của chúng tôi, mọi người đều được khích lệ để thử một mục vụ mới nếu họ thấy không thỏa lòng với những gì họ đang làm.
Hãy Tin Cậy Dân Sự: Trao Quyền Cùng Với Trách Nhiệm
Bí mật của việc thúc đẩy dân sự vào sự phục vụ thêm một khoảng thời gian nào đó là tạo cho họ cảm giác được làm chủ. Tôi muốn nhấn mạnh điều đó càng nhiều càng tốt, bạn cần phải để cho dân sự điều hành mỗi mục vụ để họ có quyết định của riêng mình mà không bị ngăn trở từ ban điều hành hay ủy ban. Chẳng hạn, hãy cho phép những người trong mục vụ nhà trẻ quyết định các căn phòng phải như thế nào, loại giường phải dùng, phải mua bao nhiêu và cả hệ thống kiểm tra trẻ em ra vào. Những người nào thực sự đảm nhiệm mục vụ này sẽ trực tiếp tự quyết định vẫn tốt hơn là một ban nào đó cố gắng điều khiển mọi việc từ xa.
Dân sự đáp ứng trách nhiệm. Họ sống khỏe mạnh và lớn lên khi chúng ta tin tưởng họ. Nhưng nếu bạn cư xử với mọi người như những đứa bé thiếu khả năng, bạn sẽ phải quấn tã lót và cho họ ăn suốt cả cuộc đời. Khi bạn trao quyền với trách nhiệm, bạn sẽ phải ngạc nhiên trước sự sáng tạo của dân sự. Con người luôn sáng tạo hết giới hạn cho phép của cơ cấu tổ chức. Tại Hội Thánh Saddleback, mỗi mục vụ không chuyên gắn liền với một nhân viên liên lạc, nhưng chúng tôi tránh xa đường của họ càng nhiều càng tốt.
Hãy mong đợi những điều tốt nhất nơi dân sự của bạn và tin cậy họ trong mục vụ. Nhiều Hội Thánh rất sợ lửa cháy to , nên họ dành trọn thời gian dập tắt mọi đống lửa nhỏ giúp sưởi ấm Hội Thánh! Nếu bạn là một mục sư, hãy để cho những người khác phạm một vài sai lầm nào đó! Đừng cố gắng biến họ trở nên giống như bạn. Bạn khơi dậy những điều tốt nhất trong dân sự khi cho họ một thách thức , trao họ quyền điều khiển , và tin tưởng họ.
Lúc khai sinh Hội Thánh Saddleback, Kay và tôi đã làm mọi công việc trong Hội Thánh: Sắp đặt các phương tiện, khiêng chúng xuống, in thông báo, lau chùi nhà vệ sinh, pha cà phê, làm bảng tên, và v.v… Tôi cất giữ mọi thiết bị-những chiếc nôi, hệ thống âm thanh, và v.v…-trong ga-ra của tôi. Mỗi sáng Chúa Nhật, tôi mượn một chiếc xe tải để chở các phương tiện đó tới ngôi trường chúng tôi thuê. Trong năm đầu tiên, tôi từng làm việc mười lăm tiếng một ngày-và tôi yêu thích từng phút giây đó.
Nhưng khi Hội Thánh Saddleback vừa được vài tuổi thôi, tôi thấy mình không còn sức lực nữa. Hội Thánh đã tăng trưởng đến vài trăm người và tôi vẫn còn ráng lo mọi việc, chăm chút từng li từng tí mục vụ của mình. Tôi kiệt sức, cả về thể chất lẫn tình cảm.
Trong một buổi thờ phượng giữa tuần, tôi thừa nhận với hội chúng của mình rằng tôi đã kiệt sức và tôi không thể tiếp tục lãnh đạo Hội Thánh mà làm hết thảy mọi chuyện trong cùng một lúc. Tôi tiếp tục nói rằng Đức Chúa Trời không muốn tôi làm hết mọi việc mục vụ. Kinh Thánh nói rất rõ rằng trách nhiệm của mục sư là trang bị cho các thành viên để họ thực hiện mục vụ của họ . Tôi nói, “Tôi muốn thỏa thuận với quý vị. Nếu quý vị đồng ý thực hiện mục vụ của Hội Thánh này, tôi bảo đảm quý vị sẽ ăn no!” Dân sự thích thỏa thuận đó, và ngay đêm đó, chúng tôi ký một giao ước, và kể từ ngày đó trở đi, họ lo mục vụ, còn tôi thì nuôi nấng và dẫn dắt họ. Sau khi quyết định như vậy, Hội Thánh Saddleback tăng trưởng đáng kể.
Từ ngày đầu tiên của Hội Thánh Saddleback, kế hoạch của tôi là mở rộng mục vụ. Bất cứ khi nào một Hội Thánh mới ra đời, vị mục sư thường lo hết mọi việc trong những ngày đầu tiên. Nhưng mục tiêu cần nhắm đến phải là làm sao để cai sữa cho Hội Thánh, chấm dứt sự lệ thuộc vào mục sư trong vấn đề mục vụ càng nhanh càng tốt. Khi Hội Thánh chúng tôi tăng trưởng, tôi trao phó hết trách nhiệm này đến trách nhiệm khác cho những phục vụ viên không chuyên và các nhân viên. Ngày nay, tôi chỉ có hai trách nhiệm chính: Dẫn dắt và cho ăn -và ngay cả chính những trách nhiệm này bây giờ cũng được sáu mục sư khác chia sẻ. Đội quản lý của mục sư giúp tôi dẫn dắt Hội Thánh và đội giảng dạy của chúng tôi chia sẻ những trách nhiệm giảng dạy. Tại sao? Vì tôi tin quyết rằng Hội Thánh không phải là nơi cho một siêu sao trình diễn!
Tất cả chúng ta đã nhìn thấy điều gì xảy ra khi một mục vụ nổi bật được xây dựng quanh một cá nhân nào đó. Nếu người đó chết đi, dời khỏi hay gặp một thất bại về đạo đức, thì mục vụ đó sụp đổ. Nếu ngày nay tôi chết, thì Hội Thánh Saddleback vẫn tiếp tục tăng trưởng vì đây là một Hội Thánh được mục đích lèo lái , không phải cá nhân nào. Có lẽ chúng tôi đã đánh mất cả ngàn người mà tôi gọi là “cổ động viên Phúc Âm”-những người chỉ đến dự vì thích nghe tôi giảng. Nhưng như vậy vẫn còn lại hàng ngàn thành viên tận tụy trong hội chúng, nhóm cam kết và nhóm nòng cốt.
Cung Cấp Sự Hỗ Trợ Cần Thiết
Đừng mong đợi dân sự thành công mà không có hỗ trợ. Mọi chức vụ không chuyên đều đòi hỏi sự đầu tư ở một mức độ nào đó.
Hỗ trợ phương tiện . Các mục vụ không chuyên cần dùng các máy phôtô, giấy, các tài liệu và tài nguyên khác, điện thoại và chắc chắn là phải có một nơi để họp mặt. Trong một trong những nhà thờ tương lai của chúng tôi, chúng tôi dự định sẽ xây một phòng lớn để chứa những “máy ấp mục vụ”-những khu vực nhỏ, riêng tư cho điều phối viên mục vụ nền tảng có trang bị bàn ghế, điện thoại, máy tính, và cả máy fax cho mục vụ của họ. Archimedes đã nói, “Hãy cho tôi một điểm tựa và tôi sẽ nâng trái đất lên.” Chúng tôi kể những phục vụ viên không chuyên cũng quan trọng như các nhân viên trả lương vậy. Dành cho người ta một chỗ tức là nói rằng, “Điều quý vị đang làm là quan trọng.”
Hỗ trợ liên lạc . Hãy nghĩ ra nhiều cách để giữ liên lạc với các phục vụ viên không chuyên của bạn. Các công cụ được dùng để giữ liên lạc với các thành viên (Thiệp Chào Mừng, Những Người Gọi Điện CARE, Bảng Báo Cáo Của Các Mục Sư Nòng Cốt) cũng hữu dụng trong trường hợp này nữa.
Hỗ trợ việc quảng bá giữa Hội Thánh . Giúp cho hội chúng nhìn thấy các mục vụ của bạn là điều quan trọng. Có vô số cách để bạn giới thiệu các mục vụ này với Hội Thánh. Sau đây là một số gợi ý:
Cho mỗi mục vụ đặt một cái bàn ở bên ngoài khán phòng hay trong phòng giải lao mỗi Chúa Nhật để các tín đồ có cơ hội biết qua điều gì có thể giúp họ. Nếu khuôn viên Hội Thánh chật hẹp, hãy luân phiên các mục vụ nổi bật.
Phát cho mỗi phục vụ viên không chuyên một bảng tên để các thành viên có thể thấy ai đang thực hiện mục vụ nào.
Tổ chức một cuộc triển lãm mục vụ. Ít nhất hai lần một năm, chúng tôi có một cuộc triển lãm mục vụ nơi đó các mục vụ quảng cáo về tâm điểm, các chương trình, và các hoạch định của mình.
In một tờ bướm cho mỗi mục vụ và viết những bài báo về các mục vụ khác nhau nếu bạn có một bản tin nội bộ.
Hãy đề cập tới nhiều mục vụ khác nhau trong các sứ điệp của bạn. Dùng những bài làm chứng nói rõ cách một mục vụ cụ thể nào đó đã biến đổi như thế nào.
Hỗ trợ tinh thần . Liên tục thể hiện sự cảm kích, cả ở nơi công cộng lẫn chốn riêng tư, với những người phục vụ trong Hội Thánh của bạn. Hãy lập kế hoạch tổ chức những biến cố đặc biệt như các bữa tiệc cảm ơn hay những thì giờ nghỉ ngơi để thưởng cho nhóm phục vụ viên không chuyên của bạn. Hãy treo giải thưởng “Giết Người Khổng Lồ” hằng tháng cho mục vụ nào nổi bật.
Xuyên suốt chương này, tôi đã lập đi lập lại khái niệm “mục vụ không chuyên” để các bạn hiểu rằng tôi không nói đến nhân sự có lương. Tôi thật sự không thích từ “phục vụ viên không chuyên” vì nó hàm ý một cấp bực hay năng lực thấp kém hơn. Bạn có muốn một “bác sĩ không chuyên giải phẫu cho bạn, hoặc một “luật sư không chuyện” biện hộ cho bạn không?
Không hề có những thường dân trong một Hội Thánh Kinh Thánh mô tả; chỉ có những người phục vụ. Ý tưởng về hai tầng lớp Cơ-đốc nhân khác nhau, hàng giáo phẩm và những người tín hữu, có nguồn gốc từ truyền thống của Công Giáo La-mã. Trong cái nhìn của Đức Chúa Trời, không có sự khác biệt nào giữa những phục vụ viên tình nguyện và những phục vụ viên ăn lương. Chúng ta cần phải đối xử với những người phục vụ không ăn lương ngang bằng với những người phục vụ ăn lương.
Thường Xuyên Làm Mới Khải Tượng
Hãy luôn giữ khải tượng trước mặt dân sự. Hãy truyền đạt tầm quan trọng của các mục vụ của họ. Khi bạn thành lập một mục vụ mới, phải luôn nhấn mạnh ý nghĩa đời đời của việc phục vụ trong danh Chúa Giê-xu. Đừng bao giờ dùng mặc cảm tội lỗi hay áp lực để thúc đẩy dân sự phục vụ. Chính khải tượng thúc đẩy; mặc cảm tội lỗi và áp lực chỉ làm người ta nản lòng mà thôi. Hãy giúp dân sự thấy được rằng không có nguyên nhân nào lớn hơn vương quốc của Đức Chúa Trời.
Bạn có còn nhớ Nguyên Tắc Nê-hê-mi tôi nói tới trong chương 6 không? Nó khẳng định rằng khải tượng phải được làm mới mỗi hai mươi sáu ngày, tức là một lần mỗi tháng. Đây là lý do tại sao cuộc họp SALT hằng tháng của nhóm nòng cốt chúng tôi lại quan trọng như vậy. Đây chính là nơi mà các phục vụ viên không chuyên cần được nghe mục sư liên tục tái khẳng định lại khải tượng và các giá trị. Nếu tôi bị bệnh, tôi không lưỡng lự ngưng giảng cho 10,000 người trong đám đông, nhưng nếu bỏ một buổi họp SALT với nhóm nòng cốt, chắc tôi sẽ chết. Đây là cơ hội để tôi tái nhấn mạnh đặc ân hầu việc Đấng Christ.
Tôi thường nói với các thành viên trong hội chúng của mình rằng, “Hãy tưởng tượng mình đã qua đời, và năm mươi năm sau, có một ai đó trên thiên đàng đến nói với bạn rằng, ‘Tôi muốn cảm ơn anh.’ Bạn đáp, ‘Xin lỗi, tôi không nghĩ là tôi biết anh.’ Rồi họ giải thích: ‘Anh là một phục vụ viên không chuyên tại Hội Thánh Saddleback. Anh đã phục vụ, hy sinh và xây dựng một Hội Thánh đã chinh phục tôi về cho Đấng Christ sau khi anh qua đời. Tôi được lên thiên đàng là nhờ anh.’ Quý vị có nghĩ rằng nỗ lực của mình xứng đáng được như vậy không?”
Nếu tôi biết một điều nào khác có ý nghĩa hơn việc phục vụ Đức Chúa Giê-xu Christ để đầu tư cả cuộc đời mình, thì tôi sẽ làm việc đó. Nhưng không có điều gì quan trọng hơn đâu. Thế nên, tôi không cần tạ lỗi ai khi nói với mọi người rằng điều quan trọng nhất họ có thể làm với cuộc đời mình là gia nhập Hội Thánh Saddleback, tham gia vào một mục vụ và phục vụ Đấng Christ bằng cách phục vụ những người khác. Kết quả mục vụ của họ cho Đấng Christ sẽ tồn tại lâu dài hơn cả công việc của họ, sở thích riêng hay bất cứ điều gì khác họ làm.
Bí mật được giấu kín nhất của Hội Thánh là mọi người đang nóng lòng dự phần bằng chính cuộc đời của họ. Chúng ta được tạo dựng để phục vụ! Hội Thánh nào hiểu điều này và tạo điều kiện cho mỗi thành viên thể hiện chính mình trong sự phục vụ sẽ kinh nghiệm sinh lực, sức khỏe và sự tăng trưởng kỳ diệu. Người khổng lồ đang nằm ngủ sẽ được đánh thức, và tất nhiên, sẽ trở nên bất khả chiến bại.
Chương 20: Mục Đích Của Đức Chúa Trời Cho Hội Thánh Của Bạn
“Nguyền Ngài được vinh hiển trong Hội thánh , và trong Đức Chúa Jêsus Christ , trải các thời đại , đời đời vô cùng ! A-men .”
Eph Ep 3:21
“Vả , vua Đa-vít lúc còn sống , làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời , đoạn qua đời .”
Cong Cv 13:36
Một trong những sở thích riêng của tôi là làm vườn. Tôi nghĩ một lý do khiến tôi thích nó là vì nó phù hợp với cách Đức Chúa Trời rèn luyện nhân cách của tôi: Tôi thích nhìn các loài cây phát triển. Tôi luôn thích thú trước những cách phát triển khác nhau của nhiều loại cây. Không có hai loài cây nào lại tăng trưởng giống nhau, có cùng tốc độ, hay có cùng kích thước như nhau. Mỗi hình thức tăng trưởng của một loại cây là độc nhất vô nhị. Đối với các Hội Thánh cũng vậy. Không có hai Hội Thánh nào tăng trưởng bằng những cách giống nhau. Đức Chúa Trời muốn Hội Thánh bạn là một nơi độc nhất vô nhị
Nói về mọi hình thức tăng trưởng mà tôi quan sát được khi làm vườn, tôi thấy sự tăng trưởng của cây tre Tàu là đáng ngạc nhiên nhất. Trồng một chồi tre vào đất, và trong bốn hay năm năm liền (đôi lúc còn lâu hơn nữa) chẳng có chuyện gì xảy ra cả! Bạn cứ tưới nước, bón phân, rồi lại tưới nước, bón phân, tưới nước, rồi bón phân-nhưng bạn chẳng thấy dấu hiệu rõ rệt nào của sự tăng trưởng. Không hề! Nhưng đến khoảng năm thứ năm thì mọi sự thay đổi thật ngoạn mục. Chỉ trong vòng sáu tuần lễ, cây tre Tàu đã đạt chiều cao đáng ngạc nhiên là chín mươi feet! Tự Điển Bách Khoa Thế Giới ghi nhận rằng một cây tre có thể cao lên ba feet chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ. Thật kỳ lạ khi một loại cây nằm ngủ yên trong nhiều năm liền lại có thể thình lình tăng trưởng bùng nổ như vậy, nhưng giống tre là như vậy đó.
Để kết thúc cuốn sách này, tôi muốn cho bạn một lời khuyên cuối cùng: Đừng lo lắng về sự tăng trưởng của Hội Thánh của bạn. Hãy tập trung hoàn thành các mục đích của Hội Thánh. Hãy cứ tưới nước và bón phân, xới đất và nhổ cỏ, rồi tỉa sửa. Đức Chúa Trời sẽ làm tăng trưởng Hội Thánh của Ngài tới mức độ mà Ngài muốn, theo tốc độ phù hợp nhất với hoàn cảnh của bạn.
Đức Chúa Trời có thể để cho bạn phải lao lực trong nhiều năm mà không hề có một kết quả cụ thể nào. Đừng chán nản! Bên dưới bề mặt, có nhiều điều xảy ra mà bạn không thể nhìn thấy. Các sợi rễ đang mọc xuống đất, chuẩn bị cho những gì sẽ xảy ra. Ngay cả khi bạn không thể thấy sự khôn ngoan của những điều Đức Chúa Trời đang làm, thì bạn cũng phải trông cậy nơi Chúa. Hãy học cách sống với sự tin chắc rằng Chúa biết chuyện Ngài đang làm.
Xin nhớ câu Kinh Thánh ChCn 19:21 “Trong lòng loài người có nhiều mưu kế; song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được.” Nếu bạn đang xây dựng một chức vụ vì cớ mục đích đời đời của Đức Chúa Trời, bạn sẽ không thể thất bại. Nó sẽ chiến thắng. Hãy cứ làm điều mà bạn biết là đúng, ngay cả khi bạn cảm thấy chán nản. “Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ, chúng ta sẽ gặt” (GaGl 6:9). Cũng giống như cây tre, tới đúng thời điểm, Đức Chúa Trời có thể thay đổi mọi thứ chỉ trong một đêm. Điều quan trọng nhất là bạn vẫn trung thành với các mục đích của Ngài.
Hãy Làm Một Người Theo Đúng Mục Đích
Những Hội Thánh được mục đích lèo lái là những Hội Thánh được các nhà lãnh đạo có mục đích dẫn dắt. Cong Cv 13:36, một trong những kim chỉ nam của cuộc đời tôi, nói với chúng ta rằng Đa-vít là người có mục đích: “Vả, vua Đa-vít lúc còn sống, làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời, đoạn qua đời.” Tôi không thể nghĩ tới một văn bia nào tuyệt hơn. Hãy tưởng tượng rằng có một câu được khắc trên tấm bia mộ của bạn như vầy: “Người này đã phục vụ cho mục đích của Đức Chúa Trời lúc còn sống.” Tôi hằng cầu nguyện rằng Đức Chúa Trời sẽ có thể nói như vậy khi tôi qua đời. Và động cơ tôi viết sách này là để Đức Chúa Trời có thể nói như vậy về chính bạn khi bạn qua đời. Bí mật của một chức vụ hiệu quả là làm trọn cả hai phần của lời nói này.
Người này đã phục vụ cho mục đích của Đức Chúa Trời
Động lực chính của cuốn sách này là xác định các mục đích của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh Ngài và làm rõ cách áp dụng vào thực tế những mục đích đó. Các mục đích của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh cũng là các mục đích của Ngài cho mỗi Cơ-đốc nhân. Là những người theo Đấng Christ, chúng ta phải dùng cả cuộc đời của mình để thờ phượng, phục vụ, truyền giáo, môn đồ hóa, và thông công. Có một Hội Thánh sẽ giúp chúng ta cùng nhau làm việc này; chúng ta không hề cô đơn.
Tôi hy vọng bạn cảm nhận được những tình cảm tôi dành cho Hội Thánh khi bạn đọc qua những trang này. Tôi yêu Hội Thánh bằng trọn cả tấm lòng mình. Hội Thánh là một khái niệm sáng chói nhất từng ra đời. Nếu chúng ta muốn trở nên giống như Chúa Giê-xu, chúng ta phải yêu Hội Thánh như Ngài yêu, và chúng ta cũng phải dạy những người khác yêu Hội Thánh nữa. “Đấng Christ đã yêu Hội thánh, phó chính mình vì Hội thánh… Vì chẳng hề có người nào ghét chính thân mình, nhưng nuôi nấng săn sóc nó như Đấng Christ đối với Hội thánh, vì chúng ta là các chi thể của thân Ngài” (Eph Ep 5:25, 29-30). Có quá nhiều Cơ-đốc nhân nhờ vả Hội Thánh mà không yêu thương Hội Thánh.
Theo những gì tôi có thể nhận biết về ý muốn của Đức Chúa Trời, tôi chỉ có hai khát vọng cho chức vụ của mình: làm mục sư tại một Hội Thánh địa phương cho đến trọn cuộc đời, và khích lệ các mục sư khác. Chăn dắt một hội chúng những người theo Đấng Christ là trách nhiệm lớn lao nhất, đặc ân cao trọng nhất, và là nguồn vinh dự cao quý nhất mà tôi có thể tưởng tượng được. Tôi đã có nói rằng nếu tôi khám phá được một cách nào khác mang tính chiến lược hơn thì tôi sẽ đầu tư cả cuộc đời mình, vì tôi không muốn lãng phí nó. Nhiệm vụ đưa dắt con người trở về với Đấng Christ và bước vào tư cách thành viên trong gia đình của Ngài, phát triển họ thành các môn đồ trưởng thành, thêm sức lực cùng trang bị họ cho chức vụ, và sai phái họ đi ra làm trọn sứ mệnh cuộc đời họ chính là mục đích vĩ đại nhất trên trần gian này. Tôi tin rằng nó xứng đáng để chúng ta sống chết với nó.
Lúc còn sống
Phân nửa sau văn bia của Đa-vít cũng quan trọng như phần đầu. Ông đã phục vụ cho mục đích của Đức Chúa Trời “lúc còn sống.” Sự thật là chúng ta không thể phục vụ Đức Chúa Trời trong bất kỳ thế hệ nào khác hơn thế hệ của chính chúng ta. Chức vụ phải được hoàn thành trong bối cảnh thế hệ và văn hóa cùng thời. Chúng ta phải phục vụ con người bằng phương pháp của nền văn hóa hiện có-chứ không phải bằng một hình thức nào đó của quá khứ mà chúng ta đã lý tưởng hóa trong đầu của mình. Chúng ta có thể học hỏi từ sự khôn ngoan và các kinh nghiệm của những nhà lãnh đạo Cơ-đốc vĩ đại trong quá khứ, nhưng chúng ta không thể giảng và phục vụ theo cách của họ vì chúng ta không sống trong cùng một nền văn hóa mà họ đã sống.
Chức vụ của Đa-vít vừa phù hợp, vừa đúng lúc. Ông đã phục vụ cho mục đích của Đức Chúa Trời (là mục đích đời đời và không thay đổi) ngay trong thế hệ của ông (là điều mang tính tạm thời và luôn thay đổi). Ông đã phục vụ những điều vô hạn theo cách hữu hạn. Ông vừa chính thống, vừa hiện đại, vừa đặt nền tảng trên Kinh Thánh, vừa hợp thời.
Hợp thời đại mà không thỏa hiệp lẽ thật chính là mục tiêu của Hội Thánh Saddleback chúng tôi ngay khi thành lập. Ứng với mỗi thế hệ mới, các quy tắc thay đổi một ít. Nếu chúng ta luôn luôn làm điều chúng ta đã làm, thì chúng ta sẽ cứ đứng mãi chỗ mình đã đứng. Quá khứ ở phía sau chúng ta. Chúng ta chỉ có thể sống vào hôm nay để chuẩn bị cho ngày mai. Chúng ta phải sống theo lời bài thơ của Charles Wesley, và Lowell Mason đã phổ nhạc hơn một trăm năm trước:
Tôi có một trách nhiệm để gánh vác, một Đức Chúa Trời để tôn vinh
Tôi có một linh hồn bất tử để cứu, và đưa linh hồn đó về trời
Tôi có một sự kêu gọi để phục vụ, ngay trong thời của mình
Nguyện mọi năng lực của tôi được đầy trọn, để thực hiện ý muốn của Cha!
Đo Lường Thành Công
Làm thế nào để đo lường thành công trong chức vụ? Một trong những định nghĩa nổi tiếng về việc truyền giáo thành công nói rằng: “Chia sẻ Phúc Âm trong quyền năng của Đức Thánh Linh và để kết quả cho Đức Chúa Trời lo liệu.” Tôi thích mượn định nghĩa đó và nêu lên một định nghĩa về chức vụ thành công: Chức vụ thành công là “xây dựng Hội Thánh trên các mục đích của Đức Chúa Trời trong quyền năng của Thánh Linh và mong đợi các kết quả từ nơi Đức Chúa Trời.”
Tôi không biết những chương cuối cùng trong lịch sử Hội Thánh Saddleback sẽ được viết như thế nào, nhưng tôi tin rằng: “Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi Pl 1:6). Đức Chúa Trời sẽ kết thúc điều Ngài bắt đầu. Ngài là Alpha và Ômêga, là đầu tiên và cũng là cuối cùng. Ngài sẽ tiếp tục làm trọn các mục đích của Ngài tại Hội Thánh Saddleback và trong mọi Hội Thánh khác, những Hội Thánh được lèo lái bởi mục đích.
Chúa Giê-xu phán, “Theo như đức tin các ngươi, phải được thành vậy” (Mat Mt 9:29). Tôi gọi đây là “nhân tố đức tin.” Có nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đến chức vụ của bạn mà bạn không thể điều khiển được: nguồn gốc, quốc tịch, tuổi tác, và ân tứ. Những điều này do chính sự tể trị của Đức Chúa Trời quyết định. Nhưng có một nhân tố quan trọng mà bạn có thể điều khiển: bạn lựa chọn tin cậy nơi Đức Chúa Trời nhiều bao nhiêu!
Khi tôi nghiên cứu các Hội Thánh đang tăng trưởng trong nhiều năm liền, tôi đã khám phá ra một điểm chung lớn trong mọi Hội Thánh đang tăng trưởng, bất chấp hệ phái và vị trí địa lý: những người lãnh đạo không lo sợ khi phải tin cậy Đức Chúa Trời . Các Hội Thánh đang tăng trưởng được dẫn dắt bởi những nhà lãnh đạo luôn mong muốn hội chúng của họ tăng trưởng. Họ là những con người của đức tin, những người tin vào các lời hứa của Đức Chúa Trời, ngay cả trong những lúc chán nản nhất. Đây là bí mật đằng sau mọi điều đã diễn ra tại Hội Thánh Saddleback. Chúng tôi đã tin cậy nơi Đức Chúa Trời để Ngài làm những phép lạ lớn lao, và chúng tôi mong đợi Ngài sử dụng chúng tôi-bởi ân điển, qua đức tin. Đó là lựa chọn của chúng tôi. Đó cũng là lựa chọn của bạn.
Đôi lúc tình trạng của một Hội Thánh có vẻ như vô vọng từ cái nhìn của con người. Nhưng tôi tin chắc rằng, như kinh nghiệm của Ê-xê-chi-ên đã chứng minh (Ê-xê-chi-ên 37), cho dù những bộ xương có khô như thế nào đi nữa, Đức Chúa Trời vẫn có thể thổi hơi sống mới vào chúng. Bất kỳ Hội Thánh nào cũng sẽ có thể trở nên sống động nếu chúng ta cho phép Thánh Linh truyền vào trong chúng ta một cảm nhận mới mẻ về mục đích của Ngài. Đó là toàn bộ nội dung của một Hội Thánh được lèo lái bởi mục đích.
Tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ thêm sức mạnh cho đức tin của bạn, mở rộng khải tượng của bạn, và làm sâu nhiệm hơn tình yêu thương bạn dành cho Đấng Christ và Hội Thánh Ngài. Tôi hy vọng rằng bạn sẽ chia sẻ nó với những người nào quan tâm tới hội chúng của bạn. Hãy chấp nhận thách thức để trở thành một Hội Thánh theo đúng mục đích! Những Hội Thánh vĩ đại nhất trong lịch sử vẫn chưa ra đời. Bạn có sẵn sàng cho nhiệm vụ đó không? Tôi cầu xin Đức Chúa Trời sử dụng bạn để làm thành các mục đích của Ngài ngay trong thế hệ của bạn. Không còn cách nào khác lớn hơn thế để sử dụng cuộc đời của bạn.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-7-2018 08:43 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách