nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2549|Trả lời: 0

Huyền Nhiệm Về Đức Thánh Linh

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 16-7-2011 08:04:04 | Xem tất |Chế độ đọc

Huyền Nhiệm Về Đức Thánh Linh
Tác giả: R.C.SPROUL

TỰA
“Đức Thánh Linh không để lại các dấu chân trên cát”. Câu này ở trong tác phẩm đã được dùng làm sách giáo khoa về Đức Thánh Linh của Abraham Kuyper. Chúa Giê-xu có để lại các vết chân trên cát. Ngài vốn là Thượng Đế nhập thể, là Thượng Đế với một bản tính con người. Lúc các môn đệ Ngài cùng đi với Ngài, họ đã được nghe tiếng Ngài, chạm tay Ngài, và thấy cát tung bay dưới chân Ngài khi Ngài dẫm lên các bờ biển của hồ Ga-li-lê.
Nhưng Đức Thánh Linh giống như gió. Chúa Giê-xu phán: “Gió thổi hướng nào cũng được. Nghe tiếng gió, nhưng ông không biết gió đến từ đâu hay sẽ đi đâu”. (GiGa 3:8). Chúng ta không thể bắt gió rồi bỏ vào một cái chai. Gió tuy mơ hồ, bí mật, nhưng không kém thực hữu. Chúng ta thấy các tác dụng của gió - cây nghiêng ngã, lay động khi có một ngọn gió nhẹ thổi qua, những lá cờ lất phất bay. Chúng ta thấy sự tàn phá của một cơn lốc mạnh. Chúng ta thấy đại dương sôi động khi có gió to. Chúng ta được những cơn gió nồm mát mẻ vào một ngày hè. Chúng ta biết gió đang có đó.
Với Đức Thánh Linh cũng thế. Ngài vốn vô hình, không sờ nắm được. Nhưng công tác của Ngài còn nhiều năng lực hơn cả cơn gió dữ dội nhất. Thánh Linh biến cảnh hỗn mang thành có trật tự, biến cải xấu thành đẹp. Ngài có thể biến đổi một người bị tội lỗi dày vò thành một người đức hạnh gương mẫu. Đức Thánh Linh làm thay đổi người ta. Đấng đã tạo ra sự sống cũng là Đấng làm thay đổi đời sống.
Vì Đức Thánh Linh vốn huyền bí cho nên chúng ta rất dễ mê tín và xuyên tạc thân vị (person: con người, ngôi vị, nhân vị) và công tác của Ngài. Ở đây, chúng ta phải thận trọng lắng nghe Kinh điển khi bộ sách ấy mặc khải (tiết lộ) cho chúng ta về tính cách (character: đặc tính, cá tính) của Thượng Đế là Đức Thánh Linh.
Quyển sách này viết về Ngài, là Ngôi thứ Ba trong Ba Ngôi Thượng Đế Chí thánh. Sách này được viết cho người tín đồ thường (layperson) nghiêm túc, muốn tìm hiểu để tránh các thuật ngữ thần học không thích hợp. Một vài đoạn sẽ đòi hỏi suy nghĩ sâu xa. Vài đoạn sẽ là một cuộc thăm dò cái trừu tượng, vì nếu chúng ta muốn tăng trưởng trong sự nhận thức của mình về Đức Thánh Linh, thì đó là điều không thể nào tránh được.
Quyển sách này được viết cho những ai muốn sống một đời sống thuộc linh càng sâu nhiệm hơn, một kết quả không thể nào có được bên ngoài Đức Thánh Linh, là Đấng thánh hoá.
Orlando, Lễ Phục sinh, 1989__
ĐỨC THÁNH LINH LÀ AI?
Người không nhận biết Thượng Đế là Đức Thánh Linh, cũng không thể biết gì về Thượng Đế cả.
THOMAS ARNOLD
Các thi sĩ bảo rằng khi mùa xuân đến, thì một thanh niên mơ mộng hướng về tình yêu. Trong mùa xuân năm 1958, mộng tưởng của tôi bị “kẹt” trong một cuộc tranh chấp trí mạng. Đó là cuộc tranh chiến giữa nhân tính hay chết của tôi, với luật pháp bất tử bất diệt của Thượng Đế, một cuộc chiến mà chẳng hế có một người nào chiến thắng trọn vẹn, hay nắm được phần thắng sau cùng.
Tôi đã từng trải chính “Giờ Ngọ Cao Điểm” (High Noon) của mình. Nếu tôi còn nhớ đúng lời của bài hát làm chủ đề cho cuốn phim đã trở thành “cổ điển” của Gary Cooper, thì đại ý là như vầy:
Ôi, bị dằn xé giữa tình yêu và nhiệm vụ;
giả sử tôi bị mất đi vẻ đẹp của mái tóc
Nhìn vào bàn tay thô kệch ấy di chuyển...
vào gần đúng giờ Ngọ...
Vẻ đẹp của tôi không phải là mái tóc, nhưng tất cả những gì còn lại đều phù hợp với tình trạng của tôi. Tôi đang bị dằn xé giữa tình yêu và nhiệm vụ, mà kim đồng hồ thì đang nhích dần đến giờ Ngọ.
Năm 1952, tôi đã yêu. Đến mùa Xuân năm 1957, tôi đã tặng người bạn gái mình một chiếc nhẫn kim cương. Chúng tôi đã hứa hôn với nhau Hôn lễ đã được định là vào tháng sáu 1960.
Mọi giấc mơ và kế hoạch của chúng tôi đều bị lung lay do một làn sóng dữ bất ngờ, tấn công chúng tôi vào mùa thu năm 1957 Tôi đã đột ngộ, mạnh dạn (theo nghĩa thuộc linh) ăn năn tin nhận Chúa Cứu Thế. Tôi lao nhanh đến để báo cho vị hôn thế của tôi tin vui ấy. Tôi không thể chờ đợi để chia xẻ với nàng về đạo mới mà tôi vừa tìm đựơc, với sự trông đợi tràn đầy là nàng sẽ lập tức cùng tiếp nhận Chúa như tôi.
Tôi dốc đổ hết câu chuyện về việc ăn năn quy đạo của mình cho nàng. Bấy giờ, lòng tôi đang sôi sục vì sự hăng say thuộc linh. Tôi đã tìm được viên ngọc cao giá, và muốn tán dương những điểm kỳ diệu vô cùng phong phú của nó cho nàng.
Cô ấy đã chẳng tỏ ra xúc động chút nào. Sự việc cũng giống như có người cố mô tả một chiếc kính vạn hoa cho một kẻ mù nghe. Cô ấy lễ phép lắng nghe, nhưng vẫn giữ vẻ xa xôi cách biệt với đề tài ấy. Cô ta rút lui với hi vọng tôi đang trải qua một “cơn bốc đồng”, muốn bắt bồ “với một loại tôn giáo điên khùng tạm thời nào đó.
Cô ta hỏi: “Anh muốn nói gì khi bảo rằng mình đã trở thành một Cơ-đốc nhân? Anh vốn đã luôn luôn là một Cơ-đốc nhân rồi kia mà. Anh đã chịu phép báp-tem, phép thêm sức, và đầy đủ mọi việc khác nữa...”
Cô ấy từng chịu phép thêm sức trong cùng một Hội thánh với tôi. Chúng tôi từng hát chung trong một ban hợp xướng. Chúng tôi cùng đi nhóm Ban thanh niên. Chúng tôi cùng học khiêu vũ trong những buổi họp mặt xã hội tại nhà thờ. Bây giờ, tôi lại bảo là mình vừa được “tái sanh”. Đây là vào giai đoạn tiền - Jimmy, Carter, tiền Chuck Colson, trước khi hai tiếng “tái sanh” xâm nhập ngữ vựng của nền văn hoá bình dân. Hồi năm 1958, hai tiếng ấy nói lên cho vị hôn thê của tôi một dấu hiệu về cuồng tín chủ nghĩa tiêu biểu cho một mối đe dọa rõ ràng và nguy hiểm đối với mối liên hệ giữa chúng tôi.
Nhiều tháng trôi qua, điều mà tôi hi vọng là sẽ thắt chặt thêm mối liên hệ giữa tôi với vị hôn thê của tôi, trái lại, đã tạo ra một sự căng thẳng nghiêm trọng. Tôi khám phá ngay được rằng chẳng có mấy người chịu chia xẻ mối nhiệt tâm về việc được tái sanh của tôi. Mẹ tôi cảm thấy tôi đã khước từ bà và các giá trị của bà. Chị tôi thì oán ghét. Bạn bè tôi thì ngờ vực. Hơn ai hết, ông mục sư của tôi bảo tôi là một “tên dại dột chết tiệt”. Tôi bắt đầu học biết các mối căng thẳng tạo ra do bất đồng tín ngưỡng và am hiểu về Cơ-đốc giáo. Tôi cũng bắt đầu học biết các điều răn, không phải chỉ của Môi-se mà thôi, nhưng là của chính Chúa Cứu Thế. Cái quy luật tệ hại, cái quy luật đã hành hạ tâm hồn tôi, là cái quy luật “mang ách so le”. Tôi đã được dạy rằng một tín hữu không được phép cưới một người vô tín.
Nhưng tôi lại đang phải lòng một kẻ vô tín. Tôi đã hứa hôn với một kẻ vô tín. Tôi đang bị dằn xé giữa tình yêu và nhiệm vụ.
Tôi cố trả giá với Thượng Đế. Tôi đã hứa nguyện với Ngài. Tôi đã nguyện rằng nếu cô bạn gái của tôi không chịu trở thành một Cơ-đốc nhân sau lần nàng đến thăm tôi tại trường cao đẳng tôi đang theo học nhân dịp nghỉ cuối tuần này, tôi sẽ đoạn tuyệt với nàng.
Tôi đã không nói cho nàng biết lời nguyền của tôi. Tôi cũng chẳng nói cho ai biết cả. Đó là một thoả ước riêng giữa tôi với Đấng Toàn Năng.
Vào buổi sáng của ngày đã định là nàng sẽ đến, tôi tự nhốt mình trong phòng và thực hiện một cuộc cầu thay tha thiết. Tôi đã cố van nài Chúa và nếu đem so với nó, lời van xin của bà quả phụ trong ẩn dụ của Chúa Giê-xu có vẻ còn kém xa. Giá mà có một vị thiên sứ hiện diện để cùng tôi đánh vật, chắc chắn tôi đã đánh cho vị ấy phải trẹo xương hông. Tôi vốn chưa biết gì cả về các giáo lý tuyển chọn hay tiền định vĩnh viễn. Nếu Thượng Đế không ghi tên vị hôn thê của tôi vào Quyển Sách Sự Sống, chính tôi muốn ghi tên nàng vào đó ngay hôm nay. Một kẻ hung hăng đang muốn dùng vũ lực để chiếm đoạt Nước Trời. Hay ít ra tôi cũng đang nỗ lực làm cái công việc ấy.
Tối đó, nàng cùng dự một buổi nhóm cầu nguyện với tôi. Nàng cũng chỉ miễn cưỡng mà thôi. Nàng vốn đa nghi. Nàng rất thất vọng vì tôi cứ nằng nặc ép nàng phải theo tôi trong “cái vụ đạo giáo này”.
Đến giữa buổi nhóm cầu nguyện, nàng cũng như John Wesley khi ở Aldergate, đã cảm thấy lòng mình “nóng lên một cách lạ lùng”. Cũng giống như Augustine ở trong vườn và Martin Luther trong ngọn tháp, nàng đã thấy các cánh cửa thiên đàng mở rộng ra cho nàng bước vào.
Sau buổi họp, với lòng phấn khởi vượt xa chính sự phấn khởi của tôi, nàng đã nói đúng từng lời từng tiếng câu này: “Bây giờ thì em biết Đức Thánh Linh là ai”.
Lời giải thích trên đây không hề phản ảnh một cuộc phân tích của một thần học gia đã được huấn luyện đến nơi đến chốn. Nó là nhận xét của một người vừa mới ăn năn tin theo đạo của Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên tôi nghĩ cũng cần vài lời trình bày thêm. Nó là một sự đáp ứng hồn nhiên tự phát với một từng trải làm biến đổi đời sống, và nó mang theo cái nhìn thông tuệ (insight) của một cách đáp ứng ngay khi mới thoáng nhìn, thật trinh nguyên đối với đạo.
Thật đơn giản như điều chúng ta được nghe trong câu phát biểu ấy, nó có mang theo nhiều cái nhìn thông tuệ sâu nhiệm. Vậy, chúng ta hãy thử khảo sát nó kỹ càng hơn.
Chữ đầu tiên rất có ý nghĩa. Cô ấy nói “Bây giờ”. Bây giờ chỉ thì hiện tại. Hàm ý rõ ràng là bây giờ tương phản rõ rệt với những gì đã xảy ra trước đây. Chữ bây giờ lưu ý một điều gì mới, không có trong chữ hồi đó, bấy giờ.
Khi vị hôn thê của tôi nói ra câu này, cô muốn giải thích rằng trong quá khứ, cô từng nghe nói về Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh vốn thường được đề cập trong nhà thờ. Công thức chỉ Ba Ngôi Thượng Đế, “nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh” rất thường được nghe nhân các lễ hôn phối, khi cử hành các thánh lễ báp-tem và Tiệc thánh, khi chúc phước và trong câu kết thúc một bài cầu nguyện của vị mục sư.
Thế nhưng trong từng trải về nhà thờ của cô ấy, mấy chữ Đức Thánh Linh chỉ ám chỉ một phần mơ hồ, trừu tượng của việc tụng niệm. Đối với cô ấy, tên hay chức vị của Ngôi thứ Ba trong Ba Ngôi Thượng Đế, vốn chẳng có ý nghĩa cụ thể nào cả.
Chữ biết báo hiệu một sự thừa nhận vừa manh nha. Thình lình, đã có một ý thức đột ngột nảy sinh, một ý thức trước đó đã bị che mờ bằng cái trừu tượng. Bây giờ em biết” cô ấy đã tuyên bố như thế.
Lúc Vesta (vị hôn thê của tôi) nói thêm “em biết” là cô ấy đang thú nhận một loại kiến thức mới. Một lần nữa, đây không phải là lần đầu tiên cô ấy đựơc nghe nói về Đức Thánh Linh. Cô ấy vốn rất quen thuộc với danh từ ấy rồi. Cô ấy từng thi đậu môn “Phước âm yếu chỉ”. Cô ấy từng có ý thức một phần nào đó về Đức Thánh Linh rồi.
“Bây giờ em biết” chỉ một loại kiến thức mới, một sự hiểu biết vượt quá loại kiến thức mà bản thân cô ấy từng quen biết và từng trải.
Câu phát biểu này nhắc tôi nhớ lại lời dạy của vị sứ đồ liên hệ đến phần ý thức thuộc linh. Phao-lô tuyên bố với người Cổ-linh. “Những điều chưa mắt nào thấy, chưa tai nào nghe, và trí loài người chưa hề nghĩ đến, nhưng Thượng Đế đã dành sẵn cho người yêu mến Ngài. Thượng Đế đã nhờ Thánh Linh tiết lộ cho chúng ta. Thánh Linh dò xét mọi sự kể cả điều sâu nhiệm của Thượng Đế. Vì chẳng ai có thể biết những tư tưởng sâu kín trong lòng người, trừ ra tâm linh của chính người đó. Cũng thế, ngoài Thánh Linh Thượng Đế, không ai biết được những ý tưởng mầu nhiệm của Thượng Đế. Thượng Đế ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta không phải thần linh trần gian - nên chúng ta biết được những ân tứ của Thượng Đế. Khi truyền giảng, chúng tôi không dùng từ ngữ triết học nhưng dùng từ ngữ của Thánh Linh, giải thích điều thuộc linh bằng ngôn ngữ thuộc linh. Người không có Thánh Linh không nhận lãnh những ân tứ của Thượng Đế, chỉ coi như chuyện khừ dại, vì phải nhờ Thánh Linh mới hiểu giá trị những ân tứ đó” (ICo1Cr 2:9-14).
Khúc sách này tối quan trọng để chúng ta thấu triệt về Đức Thánh Linh mà chúng tôi sẽ quay trở lại sau này để giải bày cặn kẽ hơn. Tuy nhiên, ngay bây giờ, xin chúng ta chú ý là ở đây, Phao-lô đang đề cập một loại khả năng biện biệt thuộc linh, vốn không phải “tự nhiên mà có” nơi chúng ta. Nghĩa là trong nhân tính đã bị sa ngã của mình, chúng ta bị thiếu mất khả năng tiếp nhận những điều thuộc về Thượng Đế. Cho nên Phao-lô mới nhấn mạnh rằng “người tự nhiên cũng không biết được chúng”.
Một người không thuộc linh (không có Thánh Linh) Không tài nào biện biệt được những điều thuộc linh. Chúng ta không tự nhiên mà đã là người thuộc linh rồi. Một người không thể biện biệt được những điều thuộc linh cho đến khi lần đầu tiên, chính người ấy được Thánh Linh đánh thức, làm cho sống lại, đối với những điều thuộc linh. Đó là công tác tái sinh của Đức Thánh Linh, là sự sanh ra một lần nữa của Đức Thánh Linh, sẽ khiến chúng ta có được khả năng biện biệt thuộc linh.
Khi Vesta nói: “Bây giờ em biết”, là cô ấy đã cố ý - hay vô tình - làm chứng cho tình trạng thuộc linh mới mẻ của mình, là cô đã ăn năn quy đạo.
“Bây giờ thì em (mới) biết Đức Thánh Linh là ai”
Điều rất có ý nghĩa là Vesta đã không nói “Bây giờ em mới biế Đức Thánh Linh là gì” Cô ấy biết Ngài là ai. Ý thức đầu tiên của cô ấy về Thánh Linh của Thượng Đế trong cuộc đời mình là một ý thức về sự hiện diện của một thân vị (a personal presence).
Kinh Thánh tiết lộ Đức Thánh Linh không phải là “một cái gì đó” (một sức mạnh, một năng lực, một vật trừu tượng), nhưng là “Ngài” (nhân xưng đại danh từ chỉ một Người). Đức Thánh Linh là một thân vị (a person: một người). Nhân cách bao hàm trí khôn, ý chí, và cá tính). Một thân vị (người) hành động có ý hướng. Chẳng hề có một sức mạnh trừu tượng nào lại có thể làm một việc gì đó mà có ý hướng, ý định trước. Thiện ý hay ác ý đều chỉ giới hạn trong phạm vi các năng lực của những con người có nhân vị, nhân tính mà thôi.
KINH THÁNH DÙNG CÁC NHÂN XƯNG ĐẠI DANH TỪ ĐỂ CHỈ ĐỨC THÁNH LINH
Khi chúng ta nói về những con người, chúng ta dùng những chữ như Tôi, anh , anh ấy, chị ấy... Lẽ dĩ nhiên là thỉnh thoảng việc nhân cách hoá cũng được áp dụng cho các đồ vật trong thi ca.
Tuy nhiên, khi Kinh điển dùng các nhân xưng đại danh từ để chỉ Đức Thánh Linh, bộ sách ấy đã làm như thế torng nhiều khúc sách vốn không phải là thi ca, nhưng là những đoạn văn thuật sự và giáo huấn. Chúng ta đọc thấy trong Cong Cv 13:2
“Hội thánh đang thờ phượng Chúa và nhịn ăn, Thánh Linh bảo: Hãy dành riêng Ba-na-ba và Sau-lơ cho Ta để làm việc Ta ấn định”.
Ở đây, chúng ta thấy cách dùng hai chử Ta để chỉ Đức Thánh Linh. Chún ta cũng lưu ý là trong khúc sách này, Đức Thánh Linh đã nói và đưa ra những lời giáo huấn có thể hiểu được có ý định hẳn hoi. Chúng ta cũng nhận định là có một sự xuất hiện tương tự trong GiGa 15:26
” Ta sẽ sai Đấng An ủi đến với các con, là Thần Chân lý ra từ Cha. Ngài sẽ làm chứng cho ta”.
Ở đây, Chúa Giệxu đề cập Đức Thánh Linh bằng Đấng và Ngài. Một số học giả có thể cãi lại rằng trong văn bản này, từ ngữ Hi-văn chỉ Đấng An ủi không thuộc giống nam và theo văn phạm, thì đại danh từ phải cùng giống với danh từ. Tuy nhiên, hãy còn một vố chen vào giữa ("thần Chân lý ra từ...") được viết theo giống trung tính chỉ Đức Thánh Linh. Tiếp ngay sau đó là chữ Ngài. Nếu tác giả muốn người đọc nghĩ rằng Đức Thánh Linh là một lực lượng phi ngã, trung tính, chắc ông đã chẳng có lý do gì để dùng đại danh từ giống nam Ngài, liên hệ chặt chẽ với một danh từ trung tính như thế.
Nếu vấn đề không được rõ ràng trong Giăng 15, thì đó lại trong sáng như pha lê trong 16:13
“Khi Thần Chân lý đến, Ngài sẽ dạy cho các con biết chân lý toàn diện. Ngài không nói theo ý mình, nhưng truyền lại những điều Ngài đã nghe và bảo cho các con biết những việc tương lai”.
Ở đây, đã chẳng hề có một lý do văn phạm nào để dùng đại danh từ giống nam, Ngài trừ ra Chúa Giê-xu muốn tuyên bố trong khúc sách nhằm giáo huấn này rằng Đức Thánh Linh là một thân vị (a person).
CHÚNH TA ĐƯỢC KÊU GỌI HÃY THIẾT LẬP MỘT MỐI LIÊN HỆ RIÊNG TÂY VỚI ĐỨC THÁNH LINH.
Kinh Thánh kêu gọi chúng ta hãy “tin” Đức Thánh Linh. Chúngt a nhân danh Ngài, cũng như nhân danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con để nhận phép báp-tem. Đức Thánh Linh là một đối tượng để chúng ta nhằm vào mà cầu nguyện. Khi cầu nguyện, các tín hữu không hề ngỏ lời với những “đồ vật”. Làm như thế là một hành động thờ lạy thần tượng. Chúng chỉ phải ngỏ lời, thưa chuyện với Thượng Đế vốn là một thân vị (a person) mà thôi.
Lời chúc phước của vị sứ đồ trong Tân ước bao gồm việc ám chỉ mối giao hảo và tương thông với Đức Thánh Linh:
“Cầu chúc anh em hằng hưởng được ân phước của Chúa Cứu Thế Giê-xu, tình yêu thương của Thượng Đế, và sự tương giao của Chúa Thánh Linh” (ICo1Cr 13:14).
Tân ước khuyên răn chúng ta đừng phạm tội với Đức Thánh Linh, đừng chống lại Đức Thánh Linh, và đừng làm buồn Đức Thánh Linh. Ngài được giới thiệu là một thân vị (a person) mà chúng ta có thể hoặc là làm vui lòng hay xúc phạm, một Đấng có thể yêu thương và được yêu, và chúng ta có thể thiết lập một mối giao hảo (fellowchip: thông công ) riêng tây.
ĐỨC THÁNH LINH THỰC HIỆN NHỮNG CÔNG TÁC CỦA MỘT THÂN VỊ (PERSONAL TASKS)
Đức Thánh Linh bắt đầu liên lạc với chúng ta với tư cách một thân vị. Ngài làm việc cho chúng ta và vì chúng ta, những việc bình thường vẫn được kết hợp với hoạt động của một con người. Ngài dạy dỗ chúng ta. Ngài an ủi chúng ta. Ngài hướng dẫn chúng ta. Ngài khích lệ chúng ta.
Thỉnh thoảng các hoạt động trên đây cũng có thể do các đồ vật phi ngã thực hiện. Các thủy thủ có thể được các ngôi sao “hướng dẫn”. Chúng ta có thể nhờ chiêm ngưỡng một cảnh mặt trời lặn đẹp đẽ mà được an ủi. Nhưng sự an ủi đến từ một sự chiêm ngưỡng, như thế chỉ đặt cơ sở trên một giả thiết hoặc ý thức hoặc vô thức rằng đứng đàng sau cảnh mặt trời lặn kia là một Con Người Nghệ Sĩ vẽ ra bức tranh mặt trời lặn ấy. Chúng ta có thể nhờ quan sát nhiều đồ vật tự nhiên mà được “dạy dỗ” nhưng chỉ bằng phương pháp so sánh, loại suy mà thôi.
Phương pháp Đức Thánh Linh an ủi, hướng dẫn, dạy dỗ, v.v... chúng ta, là phương pháp của một con người (a person way). Kinh Thánh dạy rằng khi Ngài thực hiện công tác ấy, thì hoạt động của Ngài bao gồm trí tuệ, ý chí, cảm thức cảm giác và quyền năng. Đức Thánh Linh dò xét chọn lựa, tiết lộ, và răn bảo. Các tinh tú và cảnh mặt trời lặn không hề có cách “ăn ở cư xử” như thế.
Tóm lại, chúng ta đi đến kết luận rằng nếu Đức Thánh Linh có thể được yêu thương, thờ phượng, vâng lời, bị xúc phạm, làm buồn, hay phạm tội với, thì Ngài phải là một thân vị.
Nhưng vấn đề vẫn tồn tại: Đức Thánh Linh có phải là một thân vị riêng biệ thay không? Ngài có một “nhân cách” (persnality) có thể phân biệt được với nhau cách của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, hay không? Tất cả các phẩm cách riêng tây mà Kinh Thánh gán cho Ngài, thật ra có quy vào nhân cách của Đức Chúa Cha, còn Đức Thánh Linh chỉ đơn giản là một phương diện của Đức Chúa Cha mà thôi hay không?
Những câu hỏi này đặt ngay vấn đề là chúng ta phải nghĩ về Thượng Đế như thế nào. Chúng ta chỉ tin vào một Thượng Đế duy nhất, hay đến ba Thượng Đế? Các huyền nhiệm và ý niệm khó hiểu về Ba Ngôi Thượng Đế xâm chiếm ngay tư tưởng chúng ta lúc chúng ta bắt đầu suy nghĩ về Đức Thánh Linh với tư cách một thân vị phân biệt. Đạo truyền thống đã trở thành “cổ điển” trong Hội thánh tin rằng Đức Thánh Linh không chỉ là một thân vị suông; Ngài là một thân vị bình đẳng trong Ba Ngôi Thượng Đế, Ngài là Thượng Đế.__


ĐỨC THÁNH LINH LÀ THƯỢNG ĐẾ
Mỗi lần chúng ta nói rằng “Tôi tin Đức Thánh Linh”, là chúng ta ngụ ý bảo rằng chúng ta tin có một Thượng Đế hằng sống, có thể và sẵn lòng thâm nhập nhân cách con người để biến đổi nó đi.
J.B.PHILLIPS
Chúng ta đã thấy Kinh Thánh tiết lộ rằng Đức Thánh Linh là một thân vị, chớ không phải là một đồ vật. Chúng ta gọi Ngài bằng Ngài chớ không phải là nó (ít: trung tính). Đồng thời Kinh Thánh cũng mặc khải rằng Đức Thánh Linh là một ngôi (người) trong Ba Ngôi Thượng Đế, Ngài là Thượng Đế. Chương sách này - và phần còn lại của quyển sách này nữa - sẽ nhiều lần khẳng định điều ấy; nhưng trước khi có thể nhìn Đức Thánh Linh với cương vị Thượng Đế, trứơc hết, chúng ta phải nhìn Chúa Cứu Thế Giê-xu ở cương vị Thượng Đế đã.
Từ nhiều thế kỷ nay, đã có nhiều cuộc tranh cãi cay đắng liên hệ đến thần tính của Chúa Giê-xu. Qua mọi thế hệ, đều đã có nhiều nỗ lực nhằm bó hẹp Chúa Giê-xu vào cấp bậc của một nhân vật dù sao cũng chỉ là một con người mà thôi. Bài tín điều của Hội thánh đã xưng nhận Chúa Cứu Thế là Thượng Đế làm người (God-man), một người có đến hai bản tính, thần tính và nhân tính. Tại Giáo hội nghị Chalcedan năm 451 SC, Hội thánh đã tuyên bố rằng Chúa Giê-xu là người thật (vere homo) mà cũng là Thượng Đế thật (vere deus) nữa.
Bốn thế kỷ trong sử ký Hội thánh đã được đánh dấu bằng những cuộc tranh luận gay gắt về thần tính của Chúa Cứu Thế. Đó là các thế kỷ thứ tư, thứ năm, thứ mười chín và hai mươi. Sở dĩ tôi lưu ý điểm này, vì chuyện tình cờ xảy ra là chúng ta đang sống trong một những thế kỷ mà thần tính của Chúa Cứu Thế đã được tranh cãi sôi động nhất (Lẽ dĩ nhiên - quyển sách The Myth of God Iniarmate - huyền thoại về Thượng Đế nhập thể - thắc mắc đặt vấn đề một cách nghiêm túc về thần tính của Chúa Giê-xu, rất nổi tiếng mấy năm trước đây. Đáng buồn thay, nó không được những người ở ngoài Hội thánh viết ra, mà trái lại, lại là của các giáo sư thần học khả kính). Chúa Cứu Thế đến được nhiều người nhìn thấy rất khác nhau, như nhân vật vĩ đại nhất giữa nhân loại, như một nhà tiên tri có một không hai, như tấm gương tối cao về đạo đức, một người mẫu về tính cách chân thật hiện sinh, một biểu tượng của tinh thần cách mạng của con người, một thiên sứ đầy quyền năng, thậm chí một con “được thừa nhận” của Thượng Đế nữa. Tuy nhiên, tất cả các tên gọi ấy đều thường bao hàm cái ý niệm rằng Chúa Giê-xu là một vật thọ tạo, một con người (hay thiên sứ) được Thượng Đế sáng tạo ra. Tất cả các quan điểm ấy đều bao hàm cái ý niệm rằng Chúa Cứu Thế vốn có một khởi điểm trong không và thời gian. Họ phủ nhận tính cách vĩnh cửu và đồng yếu tính của Ngài với Thượng Đế.
Một số tôn giáo hiện đại đề cao con người Chúa Giê-xu đến độ đặt Ngài làm một tiêu điểm cho lòng tận tuỵ cống hiến tôn giáo, bất chấp sự kiện Ngài chỉ được xem như một tạo vật. Cả giáo phái (Sects) Mormon lẫn các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va đều xem Chúa Giê-xu như một hữu thể thọ tạo, thế nhưng lại hết lòng tận tuỵ, hiến thân cho Ngài. Nếu những tận tuỵ hiến thân như thế bao gồm cả sự thờ phượng thật sự, thì chúng ta phải buồn rầu kết luận rằng từ trong cốt lõi, các tôn giáo ấy vốn thờ lạy thần tượng. Thờ lạy thần tượng có nghĩa là thờ lạy một ai đó hay một vật gì đó khác hơn là Thương Đế vĩnh hằng. Thờ lạy thần tượng là thờ phượng các vật thọ tạo. Giáo phái Mormon có thể nhấn mạnh rằng Chúa Giê-xu là Đấng Tạo Hoá thế gian, thế nhưng hành động sáng tạo của Ngài chỉ xảy ra sau khi Thượng Đế đã sáng tạo ra chính Ngài. Ý họ muốn nói dường như đại khái như thế này: Thượng Đế tạo ra Chúa Giê-xu, rồi Chúa Giê-xu mới sáng tạo thế giới này. Ở đây, Chúa Giê-xu vừa là Đấng Tạo hoá, vừa là một tạo vật.
Nếu Chúa Giê-xu không phải là Thượng Đế, thì hệ luận là từ căn cơ, Cơ-đốc giáo chính tống chỉ là tà giáo. Nó xâm phạm đến sự hợp nhất của Thượng Đế, lại còn thờ lạy Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, vốn không phải là Thượng Đế. Mặt khác, nếu Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh quả thật là Thượng Đế, thì chúng ta phải kết luận rằng giáo phái các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va là những kẻ làm chứng dối, còn giáo phái Mormon là một tà giáo của Cơ-đốc giáo.
Tuy có nhiều, tất nhiên là quá nhiều, hệ phái denomivations Cơ-đốc giáo, phần đông đều thừa nhận rằng các hệ phái khác là những hình thức Cơ-đốc giáo chân chính, tuy bất toàn. Hệ phái Báp-tít nói chung xem hệ phái Trưởng lão là một hình thức có giá trị của Hội thánh Cơ-đốc phổ quát. Hệ phái Trưởng lão thì thừa nhận hệ phái theo Luther tất nhiên cũng là Cơ-đốc giáo.
Giữa các tổ chức (bodies) Cơ-đốc giáo khác nhau tuy có sự nhấn mạnh khác nhau với các tổ chức Cơ-đốc giáo khác về một vài điểm liên quan đến giáo lý các quan điểm cá biệt ấy đều không có tính cách thiết yếu tuyệt đối đối với Cơ-đốc giáo chân chính. Sở dĩ như thế, vì thần tính của Chúa Cứu Thế và của Đức Thánh Linh đều được xem là những khẳng định thiết yếu của Thánh Kinh Cơ-đốc giáo, cho nên phần lớn các Cơ-đốc nhân chính thống đều không thừa nhận cả giáo phái Mormon lẫn giáo phái các chứng nhân của Đức Giê-hô-va là các Hội thánh Cơ-đốc giáo. Ta cũng có thể nói như thế về giáo hội Thống nhất (Unitarianism), vốn cũng phủ nhận thần tính của Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh.
Tuy đã có tranh cãi dữ dội liên hệ đến thần tính của Chúa Cứu Thế như thế, tương đối đã có ít cãi cọ hơn về thần tính của Đức Thánh Linh. Kinh Thánh đã trình bày rõ ràng rằng Đức Thánh Linh vốn có các thuộc tính của Thượng Đế và thực thi uy quyền của Thượng Đế, cho nên ngay từ thế kỷ thứ tư thần tính của Ngài rất ít khi bị những người đã đồng ý rằng Ngài là một thân vị, phủ nhận. Nghĩa là tuy cũng có tranh luận về vấn đề chẳng hay Đức Thánh Linh là một thân vị hay chỉ là một “lực lượng” phi ngã, một khi đã thừa nhận rằng dĩ nhiên Ngài là một thân vị, thì sự kiện Ngài là một ngôi (thân vị) trong Ba Ngôi Thượng Đế đều đựơc thu xếp khá dễ dàng (Điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên; dù sao, vì Đức Thánh Linh chẳng từng mặc lấy hình hài con người như Đức Chúa Con, nên Ngài không thể “chỉ là một con người mà thôi” vốn là điều mà hiều tà giáo đã nói về Chúa Cứu Thế Giê-xu. Rõ ràng Đức Thánh Linh phải là một hữu thể thuộc linh - a Spiritual being):
Trong Kinh điển, chúng ta thường thấy nhiều câu ám chỉ thần tính của Đức Thánh Linh. Trong Cựu ước chẳng hạn, những gì đã được nói về Thượng Đế, cũng được nói về Thánh Linh Ngài. Câu “Thượng Đế phán” và “Đức Thánh Linh phán” thường được thay đổi cho nhau. Hoạt động của Đức Thánh Linh cũng được bảo là hành động của Thượng Đế.
Cũng một hiện tượng ấy, cũng xảy ra trong Tân ước. Trong Ê-sai, Thượng Đế phán: “Đi đi, nói với dân này rằng”. Phao-lô trích văn bản ấy trong Cong Cv 28:25 và đưa nó vào bằng cách bảo rằng: “Qủa đúng như lời Thánh Linh đã dùng tiên tri Ê-sa phán dạy”. Ở đây, vị sứ đồ gán lời phán của Thượng Đế cho Đức Thánh Linh.
Cũng thế, vị sứ đồ tuyên bố rằng các tín hữu là đền thờ của Thượng Đế, vì Đức Thánh Linh đang ngự trong lòng chúng ta (xem Eph Ep 2:22; ICo1Cr 6:19; RoRm 8:4-10). Nếu Đức Thánh Linh không phải là hình Thượng Đế, làm thế nào chúng ta có thể được gọi là đền thờ của Thượng Đế, chỉ vì Đức Thánh Linh đang ngự trong lòng chúng ta? Có người có thể trả lời câu hỏi này bằng cách lý luận rằng Đức Thánh Linh vốn do Thượng Đế sai phái, do đó, là đại diện của Ngài. Nói như thế thì đơn giản có nghĩa rằng nơi nào Thượng Đế được đại diện bởi một trong số các nhân viên tích cực của Ngài, thì đều có thể bảo rằng Ngài đang “có ở đó”. Tuy nhiên, đưa ra một kết luận như thế chỉ là quá thờ ơ với ý nghĩa rõ ràng của văn bản. Xuyên suốt toàn bộ Kinh điển, Đức Thánh Linh đều được đồng nhất hoá với chính Thượng Đế, chớ không phải chỉ được tả vẽ như một đại diện được Thượng Đế uỷ nhiệm mà thôi.
Chúng ta đọc thấy trong Cong Cv 5:3-4
“Phê-rơ hỏi: A-na-nia, sao anh để Sa-tan xâm chiếm tâm hồn, xui anh dối Chúa Thánh Linh, giữ lại một phần tiền bán đất?... Đây không phải anh dối người, nhưng dối Chúa (Thượng Đế)”
Ở đây chúng ta thấy một phương trình: Nói dối Đức Thánh Linh tức là nói dối với chính Thượng Đế.
Chúa Cứu Thế và các sứ đồ nhiều lần mô tả Đức Thánh Linh là Đấng có đầy đủ các thuộc tính và đức tính trọn vẹn của Thượng Đế. Nói phạm đến Đức Thánh Linh được cho là một tội không thể tha thứ. Nếu Đức Thánh Linh không phải là Thượng Đế, thì điều hoàn toàn không thể xảy ra được là nói phạm đến Ngài lại bị xem là tội không thể tha thứ.
Đức Thánh Linh vốn vô sở bất tri. Ngài thông hiểu mọi sự. Ở đây, chúng ta thấy Thánh Linh có một thuộc tính của Thượng Đế. Vô sở bất tri là một dấu hiệu của Thần tính, chớ không phải của những vật thọ tạo. Các hạn chế ấy áp đặt một giới hạn về phạm vi của kiến thức của họ. Phao-lô tuyên bố:
“Thánh Linh dò xét mọi sự, kể cả điều sâu nhiệm của Thượng Đế. Vì chẳng ai có thể biết những tư tưởng sâu kín trong lòng người, trừ ra tâm linh của chính người đó. Cũng thế, ngoài Thánh Linh Thượng Đế, không ai biết được những ý tưởng mầu nhiệm của Thượng Đế” (ICo1Cr 2:10-11).
Đức Thánh Linh vốn vô sở bất tại. Tác giả Thi thiên hỏi một cách hùng biện:
“Tôi sẽ đi đâu xa Thần Chúa?
Tôi sẽ trốn đâu khỏi mặt Chúa?
Nếu tôi lên trời, Chúa ở tại đó,
Ví tôi nằm dưới Âm phủ, kìa, Chúa cũng có ở đó” (Thi Tv 139:7-8)
Chúng ta chú ý là trong khúc sách này, hiện diện của Đức Thánh Linh được đồng nhất hoá với hiện diện của Thượng Đế. Hễ nơi nào có Thánh Linh thì ở đó cũng có Thượng Đế. Câu hỏi thật hùng hồn mà tác giả Thi thiên nêu ra hàm ý rằng một kẻ chạy trốn sẽ chẳng tìm được một chỗ nào cách xa hay nằm ngoài hiện diện của Đức Thánh Linh, Đức Thánh Linh ở cùng khắp; Ngài vốn vô sở bất tại, có mặt khắp nơi trong cùng một lúc. Một lần nữa, các thuộc tính như thế là những thuộc tính của Thượng Đế, và không được phân phát cho các loài thọ tạo. Cả đến các thiên sứ, tuy là những hữu thể thuộc linh, cũng không có khả năng hiện diện tại nhiều hơn là một cho cùng một lúc. Tuy các thiên sứ, kể cả Sa-tan là một thiên sứ đã sa ngã, đều là các thần linh, họ đều là những thần linh bị hạn chế. Họ vẫn bị không và thời gian trói buộc. Họ thuộc về phẩm trật các tạo vật. Chẳng có một hữu thể thọ tạo nào vô sở bất tại cả.
Đức Thánh Linh vô sở bất tri vô sở bất tại và là vĩnh hằng. Chẳng hề có lúc naò mà Thánh Linh của Thượng Đế không hiện hữu. Đức Thánh Linh cũng vô sở bất năng, toàn năng toàn quyền. Trong Kinh điển, chúng ta thấy Đức Thánh Linh thực hiện các công tác đặc biệt thuộc loại các công tác chỉ một mình Thượng Đế mới thực hiện nỗi mà thôi. Chúng ta thấy Ngài cả trong công tác sáng tạo vũ trụ, lẫn trong công tác cứu chuộc nhân loại.
Khi chúng ta suy nghĩ về công trình sáng tạo, thì bình thường, chúng ta nghĩ về nó trong các điều kiện của hoạt động của Đức Chúa Cha. Thế nhưng nếu xét kỹ Kinh điển, chúng ta được tiết lộ cho biết rằng công cuộc sáng tạo vũ trụ vốn được gán cho cả ba ngôi trong Ba Ngôi Thượng Đế. Khi mô tả Chúa Cứu Thế vào thời tiền nhập thể, là Ngôi Lời (bản dịch cũ), là Đạo (bản Nhận chánh), Giăng tuyên bố:
“Chúa Cứu Thế đã sáng tạo vạn vật; mọi loài trong vũ trụ đều do tay Chúa tạo nên” (GiGa 1:3)
Phao-lô cũng nhắc lại lời truyền dạy này của Giăng khi ông viết:
“Chính Chúa Cứu Thế sáng tạo vạn vật, dù trên trời hay dưới đất, hữu hình hay vô hình, ngôi vua hay Chủ tịch nhà nước, chính quyền hay các nhà lãnh đaọ, tất cả đều do Chúa Cứu Thế tạo lập và đều đầu phục Ngài. Chúa Cứu Thế có trước vạn vật. Ngài an bài và chi phối vạn vật” (CoCl 1:16, 17).
Cũng thế, Kinh Thánh gồm luôn Đức Thánh Linh trong công tác sáng tạo vụ trụ
“Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. Vả đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước” (SaSt 1:2).
Hoạt động sáng tạo vũ trụ Đức Thánh Linh thường được đề cập và ám chỉ trong Kinh điển. Tác giả Thi thiên tuyên bố:
“Chúa sai Thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên. Chúa làm cho mặt đất ra mới (Thi Tv 104:30).
Gióp cũng tuyên bố giống như thế:
“Thần của Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống” (Giop G 33:4).
Đức Thánh Linh là tác giả của sự sống và trí khôn của con người (xem Giop G 32:8; 35:11). Ngài là nguồn gốc của quyền phép trong việc Chúa Giê-xu được thai dựng trong lòng bà Ma-ri.
“Thiên sứ đáp: Thánh Linh sẽ giáng trên cô, quyền năng Thượng Đế sẽ bao phủ cô, nên Con Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con Thượng Đế” (LuLc 1:35).
Đức Thánh Linh đã xức dầu cho các nhà tiên tri, các quan xét, và các vua bàng quyền năng từ trên cao. Ngài đã xức dầu cho Chúa Giê-xu để thi hành chức vụ. Trong Tân ước, Đức Thánh Linh là nguồn quyền năng khiến Chúa Cứu Thế từ chết sống lại.
“Thượng Đế đã làm cho Chúa Giê-xu sống lại từ cõi chết, nên một khi Thánh Linh Ngài sống trong anh em, Thượng Đế sẽ khiến thi thể của anh em sống lại, do quyền năng Thánh Linh” (RoRm 8:11).
“Đức Thánh Linh bày tỏ quyền phép để thực hiện những việc mà chỉ một mình Thượng Đế mới có thể làm nổi. Khi đề cập mối liên hệ giữa Thượng Đế với Áp-ra-ham, Phao-lô viết:
“Như Thánh Kinh chép: 'Ta đã chọn con làm tổ phụ nhiều dân tộc'. Phải, trước mặt Thượng Đế mà ông tin cật, Áp-ra-ham là tổ phụ tất cả chúng ta. Ông tin Chúa có quyền khiến kẻ chết sống lại, đổi không ra có” (RoRm 4:7).
Khiến từ chết sống lại, đổi không ra có đòi hỏi phải có quyền vô sở bất năng của Thượng Đế. Chẳng hề có tạo vật nào có thể đổi không ra có, chẳng hề có ai khiến được một người chết sống lại. Chẳng hề có người nào có thể đánh thức được một kẻ đang chết thuộc linh. Tất cả các hành động ấy đều đòi hỏi phải có quyền phép Thượng Đế. Tất cả những việc làm ấy chỉ có thể có và được Đức Thánh Linh thực hiện mà thôi.
Kinh điển giới thiệu cho chúng ta một Đức Thánh Linh là đối tượng thích đáng để chúng ta thờ phượng. Tân ước đưa Đức Thánh Linh vào trong công thức của phép báp-tem, là điều rất có ý nghĩa. John Calvin đã bình luận về vấn đề này như sau:
Phao-lô đã kết hợp cả ba phần: Thượng Đế, đức tin và phép báp-tem lại và căn cứ vaò phần nầy để lý luận về phần kia, nghĩa là, vì chỉ có một đức tin, ông suy diễn ra rằng cũng chỉ có một Thượng Đế, và vì chỉ có một phép báp-tem, ông suy diễn ra rằng cũng chỉ có một đức tin. Do đó, nếu nhờ phép báp-tem chúng ta có được bước đầu tiên tiến đến đức tin và bước vào việc thờ phượng Thượng Đế duy nhất, thì điều thiết yếu là chúng ta cũng phải tin rằng Đấng mà chúng ta đã nhân danh để chịu pháp báp-tem đó chính là Thượng Đế chân thật. Và chẳng còn gì để nghi ngờ là Cứu Chúa chúng ta rất muốn chứng thực bằng một lời nhắc lại trang trọng rằng ánh sáng trọn vẹn của đức tin hiện đang được phơi bày ra khi Ngài phán: vậy, các con hãy đi dìu dắt tất cả dân tộc làm môn đệ ta, làm báp-tem cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Linh (Mat Mt 28:19), vì việc này cũng y như chịu phép báp-tem nhân danh cùng một Thượng Đế, vốn đã được biểu hiện trọn vẹn trong Cha, Con và Thánh linh... Thế thì, Cứu Chúa chúng ta đã ngụ ý gì khi truyền dạy phép báp-tem, phải được cử hành nhân danh Cha, Con và Thánh Linh, nếu không phải là chúng ta phải chỉ có một đức tin để tin danh Cha, Con và Thánh Linh? Nhưng như thế, có khác chi là tuyên bố rằng Cha, Con, và Đức Thánh Linh chỉ là một Thượng Đế duy nhất? Cho nên, vì chúng ta phải tin chắc chắn rằng chỉ có một Thượng Đế mà thôi, chứ không thể có hơn một Thượng Đế được, chúng ta phải kết luận rằng Ngôi Lời và Đức Thánh Linh đều có cùng yếu tính với Thượng Đế (Institutes I/XIII/16).
Đức Thánh Linh không những chỉ được đưa vào công thức của phép báp-tem, mà còn được vị sứ đồ đưa cả vào công thức của lời chúc phước nữa:
“Cầu chúc anh em hằng hưởng được ân phúc của Chúa Cứu Thế Giê-xu, tình yêu thương của Thượng Đế, và sự tương giao của Đức Thánh Linh”. (IICo 2Cr 13:14).
Vậy chúng tôi xin kết luận rằng Kinh Thánh rõ ràng đã gán thần tính cho Đức Thánh Linh. Thánh Linh là một thân vị; Đức Thánh Linh là Thượng Đế.
Ngay khi chúng ta đưa ra khẳng định song phương này là chúng ta chạm trán ngay với một trong những giáo lý quan trọng nhưng cũng gây hoang mang nhiều nhất trong Cơ-đốc giáo - giáo lý về Thượng Đế Ba Ngôi.
Làm thế nào để chúng ta có thể phân biệt được Ba Ngôi - Cha, Con và Thánh Linh - mà vẫn xưng nhận rằng mình chỉ tin vào một Thượng Đế duy nhất mà thôi? Trong chương sau, chúng tôi sẽ thám sát huyền nhiệm khó hiểu ấy của Cơ-đốc giáo.


HUYỀN NHIỆM VỀ THƯỢNG ĐẾ BA NGÔI
Hôm nay, tôi tự buộc chặt vào chính mình
Danh trọng đại của Thượng Đế Ba Ngôi,
Bằng cách cùng kêu cầu
Ba Ngôi Hợp Nhất và Đấng Duy Nhất gồm Ba Ngôi
ST.PATRICK
Một trong những bản tuyên ngôn của Kinh Thánh được nhiều người quen biết hơn hết, là Điều Răn Trọng Đại:
Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi (PhuDnl 6:5).
Đề cập điều răn này, Chúa Giê-xu dạy:
Đó là điều răn thứ nhất và quan trọng nhất. Điều răn thứ nhì cũng giống như thế: “Phải yêu thương người đồng loại như chính bản thân” Hai điều răn ấy làm nền tảng cho tất cả luật pháp và lời tiên tri (Mat Mt 22:38-40).
Lúc Chúa Giê-xu gọi Điều Răn Trọng Đại là điều răn “thứ nhất”, Ngài không hề ngụ ý bảo rằng nó đứng hàng “thứ nhất” theo thứ tự thời gian. Thượng Đế từng ban bố nhiều lệnh truyền khác trước khi công bố Điều Răn Trọng Đại. Khi nói “thứ nhất”, rõ ràng Chúa Giê-xu ngụ ý dạy rằng nó đứng hàng đầu theo thứ tự về tính cách quan trọng. Nó là điều luật tóm tắt tất cả các điều luật khác, và tất cả những điều khác của Luật pháp và các sách Tiên tri đều tuỳ thuộc vào nó.
Trước khi chúng ta chưa bắt đầu yêu kính Thượng Đế hết lòng, hết ý, hết sức mình, chắc chúng ta đã có một vài ý niệm nào đó về Thượng Đế mà chúng ta phải yêu kính. Phải có một môi trường, một bối cảnh, để Điều Răn Trọng Đại được ban bố lần đầu tiên. Bối cảnh đó đã được dân Do-thái gọi là Shema. Shema là tâm điểm của việc tụng niệm của dân Do-thái trong Cựu ước. Nó thường được đọc thuộc lòng khi người Do-thái thờ phượng, và rõ ràng là vốn được Chúa Giê-xu thuộc nằm lòng ngay từ thuở thiếu thời, Bài Shema mở đường và đề tựa cho Điều Răn Trọng Đại có lời lẽ như sau:
Hỡi Y-sơ-ra-ên!n hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai (PhuDnl 6:4).
Đức Giê-hô-va có một không hai! Lời xưng nhận này đánh dấu dân Y-sơ-ra-ên là một dân tộc tuyệt đối dấn thân theo độc thần giáo. Độc thần giáo có nghĩa là tin vào một vị Thần và vào một Thượng Đế duy nhất mà thôi. Nó phân biệt rõ rệt đạo giáo của Cựu ước với bất luận một hình thức đa thần giáo nào. Phần đông các lân bang đời xưa của dân Y-sơ-ra-ên đều theo đa thần giáo. Họ thờ lạy nhiều nam và nữ thần, cả khi họ tin vào một vị thần chủ. Họ có những vị thần đặc biệt của chiến tranh, sự phì nhiêu (fertility: đất đai màu mỡ, con người và súc vật thì sinh sản tăng bội), tình yêu, thiên nhiên và vân vân.
Tuy nhiên, định chuẩn của dân Y-sơ-ra-ên là phải hiến thân cho sự thống nhất của một Thượng Đế Toàn Năng duy nhất. Điều răn thứ nhất của Mười Điều Răn đã tăng cường, củng cố cho điều răn này:
Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác (XuXh 20:3).
Điều luật này loại hẳn việc thờ phượng bất luận một nam hay nữ thần nào khác bên cạnh Yahewh (Đức Giê-hô-va), là Chân Thần. Mấy chữ “trước mặt ta” trong luật pháp không có nghĩa là “được yêu thích, sùng mộ trước ta”. Nghĩa là Điều Răn Thứ Nhất không hàm ý rằng dân Do-thái được phép thờ lạy và phục vụ nhiều thần khác nữa, bao lâu họ không đặt Yaweh lên hàng đầu để yêu thích sùng mộ, hay để chiếm địa vị số một.
Trái lại, mấy chữ “trứơc mặt ta” có nghĩa là “Điều Thượng Đế ngụ ý muốn nói, là Ngài sẽ không dung dưỡng việc đưa các thần khác vào để thờ lạy tại bất cứ nơi nào, lúc nào. Thờ lạy một ai khác hay vật gì khác ngoài Yahweh, là tự thoái hoá, xuống ngang hàng với các thần tượng, do đó, khiến Thượng Đế nổi cơn thạnh nộ.
Chính vì sự hiến thân tận tuỵ, tha thiết với độc thần giáo như thế trong thời Cựu ước, cho nên ý niệm Ba Ngôi mới tạo ra nhiều sửng sốt kinh hoàng đến thế. Nếu Thượng Đế chỉ có một, làm thế nào chúng ta có thể biện minh được cho việc thờ lạy đến Ba Ngôi - là Cha, Con và Đức Thánh Linh?
Ý niệm Thượng Đế Ba Ngôi đã được đưa ra nhằm trả lời cho câu hỏi này. Công thức của Ba Ngôi Thượng Đế, là “Thượng Đế chỉ có một về yếu tính, nhưng có đến Ba Ngôi vị”.
Công thức này tìm cách bảo vệ cho Cơ-đốc giáo trong một cuộc chiến gốm hai mặt trận. Một mặt, Hội thánh muốn duy trì lập trường bám sát độc thần giáo của mình. Do đó mà phần đầu của công thức là “Thượng Đế chỉ có một về yếu tính”. Câu này chỉ có nghĩa đơn giản rằng Đấng mà chúng ta gọi là Thượng Đế, chỉ có một mà thôi.
Mặt khác, Hội thánh tìm cách giữ lòng tận tuỵ với sự mặc khải rõ ràng của Kinh Thánh về thần tính của Chúa Cứu Thế và thần tính của Đức Thánh Linh. Do đó mà Hội thánh phân biệt Ba Ngôi trong các ngôi của Thượng Đế - Cha, Con, và Thánh Linh. Điều này thuộc về phần thứ hai của công thức - “nhưng có đến Ba Ngôi”.
Trước khi chúng ta thử dò sâu hơn vào vấn đề điều vừa nói có nghĩa gì, thiết tưởng chúng ta sẽ được giúp ích bằng cách bàn về vài phản bác phổ biến đã được nêu lên để chống lại công thức về Thượng Đế Ba Ngôi.
PHẢN BÁC I: TỪ NGỮ BA NGÔI KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TỪ NGỮ CÓ TRONG KINH THÁNH VÀ TIÊU BIỂU CHO VIỆC ĐƯA TRIẾT LÝ NGOẠI LAI XÂM NHẬP LỜI MẶC KHẢI CỦA KINH THÁNH
John Calvin là người đặc biệt nhạy cảm đối với lối phê bình này. Để trả lời cho những người muốn bó hẹp và đóng khung ngôn ngữ thần học trong phạm vi các từ ngữ chỉ thấy có trong Kinh điển mà thôi, Calvin viết:
Nếu họ gọi đó là một từ ngữ ngoại lai vì không thể chỉ ra nó trong Kinh điển bằng ngần ấy vần, thì chắc chắn là họ đã áp đặt một quy luật bất công - một quy luật sẽ lên án mọi phương pháp lý giải khác của Kinh điển mà thôi (Institutes, I/XIII/3).
Điều mà Calvin và nhiều thần học gia khác chủ trương, ấy là vấn đề không phải là có một từ ngữ cá biệt nào đó đã được vay mượn của của từ ngữ của Kinh điển hay không, nhưng là chẳng hay cái ý niệm (concept) ấy có trong Kinh Thánh hay không. Chúng ta có thể dùng các từ ngữ không có trong Kinh Thánh, để diễn tả các tư tưởng thiên học của mình, bao lâu chúng có thể truyền thông các ý niệm của Kinh Thánh.
Calvin vốn ý thức sâu sắc các ưu và khuyết điểm của tất cả các ngôn ngữ của loài người. Ông viết:
Như các tư tưởng về Ngài của chúng ta là ngu dại thế nào, thì ngôn ngữ chúng ta nói về Ngài cũng phi lý y như thế. Tuy nhiên, vẫn còn phải xét đến vài trung gian khác nữa. Định chuẩn không thể sai lầm của cả tư tưởng lẫn cách nói đến phải rút ra từ Kinh điển: mọi tư tưởng của tâm trí chúng ta, và mọi lời lẽ từ môi miệng chúng ta nói ra, đều phải được thử nghiệm (I/XIII/3).
Cách thử nghiệm các ý niệm của chúng ta phải là thế này: Chúng có thật sự đựơc rút ra tự Kinh điển một cách hợp lý, có giá trị hay không?
Cơ-đốc giáo chính thống khẳng định rằng Thượng Đế là Đấng mà chẳng hề có ai thấu triệt nổi. Nói như thế, tôi không hề ngụ ý bảo rằng chúng ta chẳng hiểu được gì về Thượng Đế cả. Những gì Thượng Đế tự mặc khải (reveals: tiết lộ, tự bày tỏ, bộc bạch) có thể được thấu hiểu đầy đủ đến một chừng mực nào đó. Thế nhưng chúng ta vẫn có một khuyết điểm về tài năng bẩm sinh để lãnh hội những đều thuộc về Thượng Đế. Chẳng hề có ai thấu hiểu Ngài thật đầy đủ. Kiến thức của chúng ta về Ngài còn lâu mới đạt tới mức thấu triệt. Ngay đến lời mặc khải câu chính Ngài đến với chúng ta từ Kinh điển cũng chỉ là một cách để Thượng Đế chiều theo các khuyết nhược điểm của chúng ta. Thượng Đế đã phán dạy chúng ta bằng ngôn ngữ của con người. Một lần nữa, Calvin bình luận về vấn đề Kinh Thánh rất thường sử dụng các hình thức của loài người để mô tả Thượng Đế:
Vì có ai trong chúng ta lại thiếu trí khôn đến độ không hiểu rằng Thượng Đế phải “nói dối, nói ngọng” (có thể nói như thế) với chúng ta, chẳng khác chi các vú em phải làm như thế với trẻ con? Do đó, cảnh nơi ấy không hề diễn tả được nhiều về thượng Đế vốn như thế nào, cho bằng là Ngài chiều theo chúng ta để cho chúng ta có được một kiến thức về Ngài tuỳ theo các khuyết điểm của chúng ta. Lẽ dĩ nhiên là khi làm như thế. Ngài phải hạ thấp chiều cao phù hợp với chính Ngài xuống rất nhiều (I/XIII/1).
Cũng còn nhiều lý do thúc đẩy khác nữa giải thích tạ sao Hội thánh phải dùng ngôn ngữ ngoài Kinh Thánh để mô tả các ý niệm Kinh Thánh. Một mặt, Hội thánh bị bắt buộc phải làm như thế vì nhiều kẻ theo tà giáo vẫn vặn cong bóp mép các từ ngữ Kinh Thánh để gán cho chúng những ý nghĩa khác với ý hướng của Kinh Thánh. Bọn tà giáo vẫn giỏi tìm cách đánh tráo các giáo thuyết của chúng bằng ngôn ngữ của Kinh Thánh. Phao-lô từng cảnh cáo người Ê-phê-sô về chính việc này:
Đừng để những người ấy dùng lời rỗng tuếch lừa gạt anh em, họ sẽ bị Thượng Đế hình phạt vì không vâng phục Ngài (Eph Ep 5:6).
Những “lời rỗng tuếch” mà vị sứ đồ viết ở đây, là những ngôn từ đã bị lột mất hết ý nghĩa vắt kiệt hết nội dung đích thực. Qua nhiều thế kỷ, Hội thánh đã phải chiến đấu chống lại cách lợi dụng và lạm dụng ngôn ngữ như thế.
Chủ đích của việc sử dụng thuật ngữ thần học là nhằm đưa ra ý nghĩa chính xác, đồng thời bảo toàn cho bầy chiên của Chúa chống lại việc giáo lý có thể bị xuyên tạc bởi những kẻ ranh ma và tinh khôn. Có người đã bảo rằng chưa hề có ai viết nổi một bài tín điều hay xưng nhận đức tin chặt chẽ đến độ chẳng hề có một vài kẻ tính ma nào đó lại không có thể trau chuốt lại các ngôn từ cho phù hợp với chính chúng.
Bọn tà giáo vốn có một chin thuật sở trường là lao vào lý sự cùn về ngôn từ thần học. Calvin viết về vấn đề lời xưng nhận của Hội thánh về Ba Ngôi Thượng Đế này như sau:
Một sự cách tân (nếu có thể gọi đây là sự cách tân) như thế trở thành bắt buộc nếu muốn cho chân lý được duy trì chống lại những kẻ gièm pha muốn tránh né nó bằng cách lý sự cùn. Về việc này, chúng ta hiện có quá nhiều kinh nghiệm để phải thường xuyên cảnh giác chống lại những cuộc tấn công của kẻ thù vào giáo lý thuần khiết và chân chính. Những con rắn giỏi uốn lượn ấy vẫn cố tìm cách thoát thân bằng những lối nói trơn tuột và quanh co nếu không bị rượt đuổi kiên trì, và một khi đã bắt được, thì phản nắm giữ cho thật chắc. Như các Cơ-đốc nhân nguyên thuỷ, khi bị các tà giáo quấy rối và tìm cách tranh cãi, đã bị bắt buộc phải công bố các tình cảm của mình bằng những từ ngữ tế vi chính xác nhất, để những kẻ vô đạo chẳng còn có mưu mô gián tiếp nào trốn thoát được nữa, vì cách diễn tả mơ hồ vốn là một loại nơi trú ẩn dành cho chúng (I/XIII/4).
Đến đây, chúng ta đã đi ngay vào trung tâm của vấn đề, đứng về mặt lịch sử. Chính cuộc khủng hoảng do Arius gây ra hồi thế kỷ thứ tư đã chứng minh rõ ràng nhu cầu phải có một công thức chính xác cho giáo lý Ba Ngôi Thượng Đế “Con rắn uốn lượn” chủ yếu gây tranh luận này vốn là một thầy tế lễ. Ông ta xưng nhận Chúa Cứu Thế là “Thượng Đế, và là “con Thượng Đế”. Tuy nhiên, khi khảo xét thật kỹ người ta thấy được rằng Arius đã tái định nghĩa từ ngữ Thượng Đế đến mức từ ngữ ấy hầu như trở thành một từ ngữ rỗng ruếch. Từ ngữ Thượng Đế trong ngữ vựng của Arius rất mơ hồ, đa nghĩa. Arius nhấn mạnh rằng tuy Chúa Giê-xu là “Thượng Đế" bằng một tiến trình được Thượng Đế thừa nhận, nhưng dù sao Ngài cũng chỉ là một loài thọ tạo (nếu Thượng Đế không còn có nghĩa là Thần tính vĩnh hằng nữa, thì Thượng Đế đã trở thành một từ ngữ rỗng nghĩa rồi). Một bài xưng nhận đức tin do Arius soạn thảo đã vạch rõ điều này:
Chúng tôi thừa nhận một Thượng Đế duy nhất chỉ một mình Ngài là chẳng được sanh ra, chỉ một mình Ngài là vĩnh hằng, chỉ một mình Ngài là không có khởi điểm. (Trích trong J.N.D.Kelly, Greeds in the Making (London: Longmans, 1972), 232).
Bài xưng nhận này được tiếp tục bằng một bảng liệt kê thật dài những chữ “một mình” như thế, tất cả đều nhấn mạnh quan điểm của Arius rằng Đức Chúa Con, hay Ngôi Lời đều ở dưới quyền Đức Chúa Cha, Đấng vốn là Thượng Đế duy nhất. Thượng Đế muốn sáng tạo thế gian, nên Ngài “Sanh” Đức Chúa Con ra nhằm chủ đích ấy. Lẻ dĩ nhiên Đức Chúa Con được đề cao, nhưng vẫn chỉ là một Ktisis - một vật thọ tạo, như những kẻ theo Arius đã chẳng hề mệt mỏi vạch rõ như vậy. Thế nhưng vì Arius vẫn tiếp tục khẳng định rằng “Đức Chúa Con là Thượng Đế”, các tín hữu nhiệt thành đã rất hoang mang. Cho nên người theo tinh thần chính thống mới đi tìm một từ ngữ thật chính xác, sẽ chỉ rõ - không chút hàm hồ - rằng Đức Chúa Con là Thượng Đế và do đó, vốn cùng hiện hữu vĩnh viễn với Đức Chúa Cha, và có đồng bản chất với Đức Chúa Cha.
Từ ngữ thần học đã chận đầu Arius, khiến ông ta bị bế tắc, là một từ ngữ mượn của ngôn ngữ triết học Hi-lạp., Đó là chữ homoousios. Chưa hề có một từ ngữ thần học nào khác lại làm nảy sinh nhiều cuộc tranh luận cho bằng chữ homoousios này (Cuộc tranh luận phổ biến hiện nay về từ ngữ không thể sai lầm (inerrancy) liên quan đến Kinh Thánh; có thể được xem là cùng “kịch liệt” tương đương với những cuộc tranh luận kia về từ ngữ homoousios).
Từ ngữ homoousios có nghĩa là “đồng bản chất” (some substance) hay “đồng yều tính” (some essence). Arius đã muốn bảo rằng Chúa Giê-xu là Thượng Đế. Nhưng ông ta không muốn nói rằng Chúa Giê-xu vốn có cùng yếu tính (homo có nghĩa là “giống nhau, tương đồng”, ousios có nghĩa là “bản chất” với Đức Chúa Cha. Từ ngữ homoousios là cây chĩa thần học, ghim vào cổ tên Arius lươn lẹo để giữ chặt nó dưới nền đất.
Tuy nhiên, Arius lại sẵn sàng dùng từ ngữ homoiousios để thay cho homoousios. Xin lưu ý chỉ i theo sau chữ homo. Đến đây thì chuyện cãi nhau bắt đầu chuyển sang việc tanh luậtn không phải là về một từ nữa nhưng chỉ là về một mẫu tự duy nhất mà thôi. Chỗ tế nhị nhưng khác nhau và cùng quan trọng là giữa các từ ngữ Hi-văn homoi và hoomo là chỗ khác nhau giữa hai chữ giống nhau (like) hay tương tự, với như nhau, y nhau (same). HOmoioisios có nghĩa là “có yếu tính giống nhau hay tương tự” trong khi homoousios có nghĩa là “có cùng yếu tính như nhau, y nhau”.
Arius đã viện dẫn một bản án trước đó trong Sử ký Hội thánh, khi Sabellius, một người chủ trưởng tà giáo khác, đã bị kết án vì sử dụng từ ngữ homoosios. Sabellius và những kẻ theo ông ta đã bị buộc tội vì bảo rằng Chúa Giê-xu có cùng yếu tính (homoousios) với Đức Chúa Cha, cho nên Hội thánh đã nhấn mạnh trên từ ngữ homoiousios.
Vấn đề trở thành rắc rối. Toàn thể cuộc tranh luậnnày có thể trở thành vô cùng rắc rối khi chúng ta thấy phải soay sở chung quanh từ ngữ nào mình cấm và từ ngữ nào mình lên án.
Lý do khiến Sabellius bị kết án khi dùng chữ homoousios, là vì ông ta muốn nói một điều khác hẳn điều mà Hội thánh hồi thế kỷ thứ tư muốn dùng chữ ấy để nói lên. Lời truyền dạy của Sabullius vốn mang nặng các ý niệm Trí huệ phái. Trí huệ phái là một trong những tà giáo sớm nhất và độc hại nhất mà Hội thánh Cơ-đốc nguyên thủy bị bắt buộc phải đánh bại. Một trong những chủ thuyết của nó là quan điểm kiến thức (modalistic) về Thượng Đế.
Theo kiến thức chủ nghĩa (modalism) của Trí huệ phái, thì vũ trụ không được xem là một công trình sáng tạo mà Thượng Đế đã làm ra bên ngoài chính Ngài. Trái lại, tạo vật và mọi vật ở trong đó đều được thấy là sự bành trước của chính hiện hữu của Thượng Đế. Mọi thực tại sáng tạo chỉ là sự toát ra (emanation) lưu xuất từ trung tâm là hiện hữu của Thượng Đế (God's being). Phần toát ra do sự lưu xuất ấy cũng lan ra, hoàn thiện. Tâm thần và tâm trí vốn gần hơn với trung tâm, vật sống thì hơi xa hơn, còn vât chất bất động (những vật vô cơ như khoáng sản) thì càng xa trung tâm hơn nữa. Tuy nhiên, mọi vật vẫn là một kiểu thức hiện hữu của Thượng Đế và đều dự phần yếu tính của Ngài.
Sabellins bảo rằng Đức Chúa Con vốn là homoousios với Thượng Đế, chứ không phải là Thượng Đế. Ngài là phần toát ra gần với Thượng Đế, nhưng vẫn hơn là từ yếu tính trung tâm của Thượng Đế. Cách so sánh của ông là như thế này: So với Đức Chúa Cha, thì Chúa Giê-xu như các tia sáng mặt trời so với mặt trời vậy. Cả tia sáng mặt trời vốn có cùng yếu tính với mặt trời. Chúng từ mặt trời toả ra, nhưng không phải là chính mặt trời.
Do đó mà ý niệm của Sabellins về homoousios đã bị lên án, và Hội thánh đã dùng từ ngữ homoiousios để thay vào. Lý do khiến từ ngữ này được ưa chuộng hơn đã rõ ràng. Sabellins đã dùng homoousios để chứng minh một điểm khác nhau giữa Thượng Đế với Chúa Giê-xu. Do đó, Hội thánh đã chọn từ ngữ homoiousios “giống nhau về yếu tính” để công bố đức tin của mình vào tính cách tương tự nhau giữa Thượng Đế và Chúa Giê-xu.
Arius đã đảo ngược tình hình. Ông ta dùng chữ homoiousios để nhấn mạnh điểm khác nhau giữa Chúa Giê-xu và Thượng Đế. Ông ta ngụ ý bảo rằng tuy Chúa Giê-xu dĩ nhiên có giống với Thượng Đế, Ngài vốn không có cùng yếu tính với Thượng Đế. Hội thánh hồi thế kỷ thứ tư đã nói “Không” thật vang dội với Arius. Điểm dị biệt trong các từ ngữ cho thấy Hội thánh muốn nhấn mạnh rằng chẳng những Chúa Giê-xu chỉ giống với Thượng Đế, mà Ngài còn chính là Thượng Đế nữa. Ngài là homoousios (có cùng yếu tính, đồng yếu tính). với Thượng Đế, tuy không phải là theo nghĩa của Trí huệ phái.
Cuộc tranh luận với tà giáo Arius không phải là một trận bão trong một bình trả, cũng không phải là một trận đấu quyền Anh với một địch thủ tưởng tượng. Vấn đề quan trọng ở đây là lời xưng nhận của Hội thánh về thần tính trọn vẹn của Chúa Giê-xu và của Đức Thánh Linh. Nó là một cơn đại khủng hoảng để khiêu khích Hội thánh phải thay đổi phần ngôn ngữ thần học mà mình vẫn ưu thích, mến chuộng. Tà giáo của Sabellins đã tàn lụi, và mối đe dọa mới của tà thuyết Arius được xem là nghiêm trọng đến độ phải lợi dụng từ ngữ homoousios vốn được thừa nhận là nguy hiểm, để chống lại nó.
Tuy Hội thánh đả thay đổi cách lựa chọn từ ngữ để diễn tả thần tính của Chúa Cứu Thế và của Đức Thánh linh, Hội thánh đã không thay đổi ý niệm của chúng. Trong cả hai lần tranh luận với Sabellins và Arius, Hội thánh đã lợi dụng mọi công cụ ngữ học mình có để bảo đảm là chúng khớp đúng với ý niệm của Kinh Thánh về Thượng Đế Ba Ngôi. Thay vì tìm cách đi vòng quanh hay vượt xa hơn Kinh điển, Hội thánh đã tìm cách bảo vệ ý niệm của Kinh Thánh để chống lại những kẻ muốn phá hoại ngầm nó bằng cách sử dụng những chữ có nghĩa hàm hồ một cách ranh ma.
Kết quả của cuộc tranh luận với Arius là Bài Tín điều Nicaca, khẳng định tính cách đồng yếu tính của Ba Ngôi Thượng Đế,v à nói về Chúa Giê-xu rằng Ngài vốn là “con được sinh ra, chứ không phải được tạo nên”, nhằm bài bác mọi ám chỉ rằng Ngôi thứ Hai trong Ba Ngôi Thượng Đế chỉ là một vật thọ tạo.
Bài thánh ca Tôn vinh Ba Ngôi (Gloria Patri) cũng là kết quả của cuộc tranh luận này. Bài Tôn vinh có chức năng của một “bài ca chiến đấu” cho Thượng Đế Ba Ngôi. Đám người theo Arius đã cho lưu hành nhiều bài ca thô tục và phỉ báng như một phần của chiến dịch truyên truyền của họ chống lại giáo lý Ba Ngôi. Để đáp lại, những người theo giáo lý Thượng Đế Ba Ngôi đã đồng tâm nhất trí hát rằng
Tôn vinh Đức Chúa Cha
Đức Chúa Con,
Và Đức Thánh Linh.
Như vốn có từ ban đầu
Như đang có và mãi mãi sẽ là như thế,
Trong thế giới vô cùng vô tận.
A-men.
Ở đây, Ba Ngôi Thượng Đế được tôn xưng bằng một bài ca gán một thuộc tính - Tôn vinh - cho cả Ba Ngôi của Thượng Đế. Đồng thời, tính cách vĩnh hằng của cả ba ngôi Thượng Đế cũng được tôn xưng.
Thế thì chúng ta đã thấy từ ngữ Ba Ngôi Thượng Đế (Trinity) vốn không ra đời vì cớ Hội thánh tự dung dưỡng mình trong việc suy lý về triết học một cách vô bổ, hay đã “bắt bồ” không cần thiết với các ý niệm của người Hi-lạp. Như Calvin đã vạch rõ, Hội thánh đã bị bắt buộc phải sử dụng một ngôn ngữ như thế là vì cớ bọn tà giáo muốn đánh tráo lời mặc khải của Kinh Thánh liên hệ đến Ba Ngôi Thượng Đế.
Hiện nay, cùng một loại tranh luận như thế lại đang xảy ra sôi động liên quan đến bản tính của chính bộ Kinh điển. Những kẻ phủ nhận sự linh cảm và đặc tính mặc khải trọn vẹn của Kinh Thánh sẽ không hề ngần ngại đề cập Kinh Thánh như “Lời của Thượng Đế”, hoặc cả là “vô ngộ” của (infallable) nữa, thế nhưng họ sẽ bóp chẹt chữ “không thể sai lầm” (inerrancy) trong thần học. Nếu lẽ tất nhiên Kinh Thánh là Lời của Thượng Đế, là vô ngộ và được thần cảm, thế tại sao lại có người lùi bước trước chữ không thể sai lầm. Có thể nào Lời Thượng Đế lại có chỗ sai lầm chăng? Thượng Đế lại đi linh cảm điều sai lầm hay sao? Có thể nào một điều gì đó vốn vô ngộ, lại có thể là sai lầm trong thực tế hay sao!
J.I.Packer, người công khai lên tiếng bênh vực cho tính cách không thể sai lầm, đã gọi chữ inerrancy là một tiếng nói ngọng (a shibboleth). Như tiếng shibboleth (trong tiếng Việt là tân sơn nhất) khó nói cho “sửa” vốn được dùng làm mật khẩu để phân biệt giữa những người Y-sơ-ra-ên chân chính với bọn điệp viên (với tiếng Việt là giữa người Nam và người Bắc - xem Cac Tl 12:6) thì chữ không sai lầm cũng có chức năng giống như thế. Khi từ ngữ ấy được đưa ra để khẳng định tính cách đáng tin trọn vẹn của Kinh Thánh thì nhiều con chó bắt đầu sủa vang. Lẽ tất nhiên, chữ không thể sai lầm (inerrancy) cũng như chữ Thượng Đế Ba Ngôi (Trinity) có thể bị xuyên tạc và hiểu lầm. Nhưng các chức năng của chúng vẫn là để bảo vệ chống lại những kẻ vô tâm muốn lợi dụng những từ ngữ rỗng nghĩa.
PHẢN BÁC 2: GIÁO LÝ BA NGÔI LÀ MÂU THUẪN, DO ĐÓ LÀ BẤT HỢP LÝ.
Có lần tôi gặp một vị giáo sư triết học than phiền về tính cách bất hợp lý rõ rệt của Cơ-đốc giáo. Ông ta nói: “Toàn thể cơ cấu của Cơ-đốc giáo đã được xây trên một điều mâu thuẫn rõ rệt”. Khi tôi hỏi điều mâu thuẫn mà ông ta đang nghĩ đó là gì, thì ông ta trả lời ngay: “Thượng Đế Ba Ngôi!” Ông ta hỏi: “Làm thế nào để có được đến ba vị thần nhưng đồng thời, lại chỉ có một Thượng Đế duy nhất?”
Tôi kể lại câu chuyện trên nhằm một chủ đích: Các triết gia chuyên nghiệp vốn được đào tạo thật kỹ và thường rất có tài trong khoa học và cách sử dụng luận lý học. Công việc của họ là lao vào việc phân tích các mệnh đề thật chặt chẽ bằng phương pháp luận lý học. Cho nên một nhà chuyên nghiệp mà dám mạnh dạn công kích công thức Ba Ngôi Thượng Đế của Hội thánh như thế, đã khiến tôi phải lưu ý.
Tôi biết nhiều Cơ-đốc nhân ít nhất cũng đồng ý một phần nào với vị giáo sư triết học nọ. Họ không chối bỏ Cơ-đốc giáo như ông ta, nhưng lại đồng ý rằng Ba Ngôi Thượng Đế là mâu thuẫn. Điều này chẳng hề gây bối rối cho những Cơ-đốc nhân như thế, vì họ tin quyết rằng Cơ-đốc giáo sẵn sàng chấp nhận những mâu thuẫn như vậy, bởi vì “các đường lối của Thượng Đế không phải là đường lối của chúng ta”. Một số người còn đề cao các mâu thuẫn nữa, vì thấy chính chúng là dấu hiệu chỉ cho người ta thấy một trật tự chân lý cao hơn. Đây là một hậu quả tai hại của hình thức thần học được biết dưới cái tên là Thần học Biện chứng (Dialectical Theology) hay Tân Chính Thống (Neo-Orthodoxy), được các tư tưởng gia như Karl Barth và Emol Brunner phổ biến. Barth nhấn mạnh rằng nếu chưa chấp nhận và sống chung với các mâu thuẫn, thì người ta vẫn chưa phải là một Cơ-đốc nhân trưởng thành. Brunner còn đi xa hơn khi tuyên bố rằng mâu thuẫn chính là dấu ấn của chân lý.
Ý niệm cho rằng Cơ-đốc giáo được đặt nền trênmâu thuẫn có thể chẳng làm bận tâm các thần học gia biện chứng, nhưng nó lại quấy rối tôi hết sức sâu xa. Trong Kinh Thánh, điều mâu thuẫn không hề là dấu ấn của chân lý; nó là dấu ấn của lời dối trá. Nó là công cụ tinh vi của Sa-tan, Thượng Đế đã phán với A-đam:
“Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác, thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết” (SaSt 2:16-17).
“Ngươi... chắc sẽ chết”. Đây là lời khẳng định rõ ràng và đơn giản của Thượng Đế”. Nếu ngươi ăn... ngươi sẽ chết”. Bằng lời lẽ của luận lý học, câu ấy có thể nói như thế này: Nếu bạn làm A, thì hệ quả sẽ là B, không tài nào tránh khỏi”.
Sa-tan đã đến và nói: “Hai ngươi chẳng chết đâu. Ý nó muốn nói là: nếu bạn làm A, thì hệ quả sẽ không phải là B đâu. Nói khác đi, Sa-tan đã đến với E-va bằng một mâu thuẫn rõ ràng. Chúng ta có thể tưởng tượng là cuộc đối thoại đã diễn tiến đại khái như thế này:
Sa-tan: E-va này, hãy tiến lên và ăn đi, ngươi sẽ chẳng chết đâu.
E-va: Nhưng, thưa Ông Rắn, điều ông nói đó trực tếp mâu thuẫn với những gì Thượng Đế là Đấng Sáng tạo ra tôi, đã dặn tôi.
Sa-tan: E-va ơi! Đừng có bận tâm đấn điều đó. Các đường lối của Thượng Đế không phải là đường lối của chúng ta. Điều có thể là mâu thuẫn đối với chúng ta thì chẳng mâu thuẫn đối với Thượng Đế đâu. Ngoài ra, như người biết đó, các mâu thuẫn là dấu ấn của chân lý. Hãy tin tôi đi. Lời nói mâu thuẫn của ta chứng minh rằng ta đem đến cho ngươi một chân lý cao hơn.
E-va: Nghe ra có vẻ hấp dẫn đấy, ông Rắn à, mà trái cây ấy có lẽ ngon lành lắm, nhưng tôi vẫn không chắc mình dám làm như hế đâu.
Sa-tan: Tiến lên đi, E-va ơi. Đừng có ngây thơ như thế. Bạn đang nắm vững các phạm trù tư tưởng của Hi-lạp kia mà. Bạn có trưởng thành hay không đấy? Nếu quả thật bạn là một tín hữu trưởng thành, thì bạn có thể an tâm với những điều mâu thuẫn. Nếu bạn tin vào các mâu thuẫn của ta, bạn sẽ chẳng bị sai lầm đâu; bạn sẽ nhảy vọt một bước thật xa cho nhân loại đấy.
E-va: Ồ, tôi hiểu rồi. Một bước ngắn tiến tới gần cây biết điều thiện và điều ác, là một bước nhảy vọt dài cho nhân loại. Chúng tôi sẽ ăn!
Nếu không có Luật Mâu Thuẫn để làm một trắc nghiệm có giá trị cho chân lý của một mệnh đề, chúng ta sẽ chẳng còn có cách nào đểm phân biệt giữa đúng và sai, giữa vâng lời và không vâng lời, giữa chân lý và nguỵ lý, hoặc giữa Chúa Cứu Thế với Antichrist.
Luật Mâu Thuẫn chẳng có nội dung gì cả. Nó chẳng cung cấp thông tin gì. Nó chẳng có khả năng sinh sản, nó bất năng bất lực trong việc cung cấp kiến thức mới. Năng lực của nó là ở quyền cai trị bằng bạo lực của mình. Nó như một cảnh sát viên, mà tiếng còi sẽ vang lên khi chúng ta xâm phạm các ranh giới của lý tính. Luật Mâu Thuẫn là một ông chủ sắt đá. Nó trắc nghiệm tư tưởng của chúng ta về phương diện thuỷ chung như nhất và khớp đúng, phù hợp. Nó ghê tởm sự lộn xộn và hài lòng đối với tính cách minh bạch, rõ ràng.
Có người bảo rằng “thuỷ chung như nhất là con quỉ tinh ma của những tâm hồn nhỏ mọn”. Nếu quả đúng như thế, thì Thượng Đế vốn bị vô số những con quỉ tinh ma vây quanh. Tâm hồn Ngài chắc phải vô cùng nhỏ bé.
Thượng Đế vốn thuỷ chung như nhất. Ngài vẫn trước sao sau vậy. Tắt một lời, là Thượng Đế có lý tính. Ngài còn hơn cả chính Lý trí (Lẽ Phải) nữa, đó là lẽ tất nhiên. Nhưng nếu chúng ta bám sát Kinh Thánh, thì Ngài vốn là Đấng thủy chung như nhất. Những ai ủng hộ một Thượng Đế của những mâu thuẫn và những điều bất nhất chắc đã tạo ra một Thượng Đế cho riêng họ, vì Thượng Đế chân chính sẽ chẳng phù hợp với họ đâu.
Có một góc cạnh của Phản bác 2 mà tôi đồng ý. Cái lô-gic có giá trị tại một điểm. Nếu ý niệm Thượng Đế Ba Ngôi là mâu thuẫn, thì hệ quả không tránh được là câu kết luận: do đó, đã có bất hợp lý. Tôi còn có thể đi xa hơn thế nữa. Nếu nó là bất hợp lý, thì chẳng đáng cho chúng ta tin. Những câu phát biểu vô nghĩa không thể nào tôn vinh Thượng Đế được. Nếu công thức chỉ Thượng Đế Ba Ngôi của chúng ta là mâu thuẫn, thế thì nó là một câu khẳng định vô nghĩa và phải bị vứt bỏ đi.
Vấn đề đích thực vẫn còn đấy. Phải chăng công thức chỉ Thượng Đế Ba Ngôi là một mâu thuẫn? Tôi có thể trả lời bằng một chữ không đơn giản cho câu hỏi của chính mình. Nhưng như thế vẫn chưa đủ. Câu trả lời phải được nhấn mạnh hơn cả một phủ định suông nữa. Thay vào đó, tôi sẽ trả lời là “Tuyệt đối không!” Tôi nhấn mạnh trên tiếng tuyệt đối. Chẳng hề có chút mâu thuẫn nhỏ bé nhất nào trong công thức mà Hội thánh dùng để chỉ Thượng Đế Ba Ngôi.
Các quy luật luận lý học và các định luật suy diễn cận tiếp vốn khách quan và phi ngã. Chúng được ứng dụng vào các mệnh đề mà chẳng hề có thiên kiến tình cảm nào. Chúng không thiên vị cũng như các phương trình toán học vậy. Một khi các quy luật chặt chẽ ấy đã được đem ra áp dụng cho công thức chỉ Thượng Đế Ba Ngôi, chúng ta thấy rõ ràng tuyệt đối rằng trong đó chẳng hề có mâu thuẫn.
Xin chúng ta hãy cho công thức chỉ Thượng Đế Ba Ngôi được lợi thế tự nhìn lại một lần nữa.
Về yếu tính thì Thượng Đế là một, về thân vị )person) là ba.
Công thức này xác nhận hai điều về thượng Đế, hai điều khác hẳn (tuy không mâu thuẫn) nhau. Một mặt, nó xác nhận rằng Thượng Đế có cùng yếu tính. Mă5t khác, nó xác nhận rằng về ngôi vị, Thượng Đế có đến ba. Chúng ta có thể nói như thế này:
Trong A, Thượng Đế là một; trong B, Thượng Đế là ba.
Bây giờ, nếu A và B mâu thuẫn nhau, thì công thức ấy sẽ gần hơn với sự mâu thuẫn. Nếu B mâu thuẫn với A, chúng ta sẽ gọi B là không A. Vậy công thức sẽ là:
Trong A, Thượng Đế là một; trong không A, Thượng Đế là ba.
Thậm chí nếu quả đây là trường hợp (trong khi thật ra là không phải), công thức này vẫn không nhất thiết có mâu thuẫn. Nếu một hữu thể hay chủ thể có đến bốn chiều kích (dimensions), chúng ta có thể bảo rằng chủ thể ấy là một trong A, và cũng có đến ba không A.
Muốn làm sáng tỏ vấn đề này, chúng ta phải xét lại công thức về Luật Mâu Thuẫn (có khi còn được gọi là Luật Phi Mâu Thuẫn). Luật ấy được phát biểu như sau:
Akhông thể là A và không A đồng thời, và trong cùng một mối liên hệ.
Câu này chỉ đơn giản có nghĩa là một vật gì đó không thể là nó, mà đồng thời và trong cùng một mối liên hệ, lại không phải là nó. Tôi xin minh họa.
Tôi là một con người. Là người, tôi có nhiều điều có thể cùng một lúc xác nhận về mình. Tôi là một người cha, một người con, một người chồng. Tôi là cả ba điều khác nhau đó đồng thời với nhau. Nhưng tôi không phải là cả ba điều đó trong cùng một mối liên hệ. Tôi có thể đồng thời làm cha và làm con, nhưng rõ ràng là không phải trong cùng một lối liên hệ. Tôi không thể là cha của chính tôi. Tôi có thể là cha của con trai tôi và là con trai của cha tôi, nhưng tôi chẳng bao giờ có thể là cha của chính mình, hay là con của chính mình.
Bây giờ, chúng ta có thể quay lại với công thức chỉ Thượng Đế Ba ngôi. Nếu chúng ta nói về yếu tính, Thượng Đế vốn là một, rồi thêm rằng Thượng Đế có đến ba về yếu tính, thì có thể là chúng ta đã có một mâu thuẫn hết sức rõ ràng. Một vật gì đó không thể là một và đồng thời lại là nhiều trong cùng một mối liên hệ. Cũng vậy nếu chúng ta khẳng định rằng về ngôi vị Thượng Đế có đến ba, rồi đồng thời lại bảo rằng Thượng Đế chỉ có một ngôi trong cùng một mối liên hệ, là chúng ta đã sa vào mâu thuẫn.
Nhưng công thức (của Hội thánh) đã không khẳng định như thế. Công thức ấy bảo rằng Thượng Đế là một về phương diện này (yếu tính), và là ba về một phương diện khác (ngôi vị). Trừ phi khi có ai chứng minh được rằng yếu tính và ngôi vị chỉ là một, thì công thức này không hề mâu thuẫn.
Hội thánh đã cẩn thận chỉ ra chỗ phân biệ tgiữa yếu tính và ngôi vị nhằm tránh được việc đưa ra một câu phát biểu mâu thuẫn về Thượng Đế.
Vấn đề còn lại là: sự phân biệt giữa yếu tính và ngôi vị này có phải là một phân biệt có giá trị hay không? Phải chăng nó chỉ là một trò chơi chữ, chỉ đưa ra một cách phân biệt bằng cách nói, mà chẳng có gì thật sự khác nhau cả?
Chúng ta sẽ thăm dò câu hỏi này trong chương tiếp theo đây. Tạm thời, chúng ta kết luận rằng nếu quả thật có khác nhau giữa yếu tính và ngôi vị thì công thức chỉ Thượng Đế Ba Ngôi không mâu thuẫn mà cũng chẳng bất hợp lý. Nó rất hợp lý mà cũng hợp Kinh Thánh nữa. __


YẾU TÍNH VÀ NGÔI VỊ: THĂM DÒ HUYỀN NHIỆM VỀ THƯỢNG ĐẾ BA NGÔI
Người ta chẳng cần gì phải có một tâm hồn vĩ đại mới có thể trở thành một Cơ-đốc nhân, nhưng phải đưa vào đó tất cả tâm hồn mà một người có thể có.
RICHARD C.RAINES
Trước khi chúng ta phân tích điểm phân biệt giữa yếu tính và ngôi vị vốn vô cùng quan trọng cho sự hiểu biết về Thượng Đế Ba Ngôi của mình, trước hết, chúng ta phải thảo luận về bản tính của huyền nhiệm này.
Tôi đã bàn kỹ vấn đề Thượng Đế không hề bất hợp lý. Ngài vốn thuỷ chung như nhất, và trước sao sau vậy. Lời Ngài là điều người ta có thể hiểu được. Nhưng nói như thế không phải là bảo rằng trong Cơ-đốc giáo không có huyền nhiệm.
Nói khác đi, tôi đã phân biệt ba khái niệm gai góc thường dễ lẫn lộn vào nhau. Ba ý niệm đó là mâu thuẫn, nghịch lý, và huyền nhiệm.
Chúng ta đã có câu định nghĩa cho mâu thuẫn cho nên bây giờ xin tiếp tục với hai ý niệm kia.
NGHỊCH LÝ
Từ ngữ nghịch lý (paradox) lắm khi được dùng như đồng nghĩa với mâu thuẫn. Đây là một điều tai hại, vì thật ra, rõ ràng là có phân biệt giữa hai chữ này, một sự phân biệt có thể vạch ra bằng cách truy nguyên nguồn gốc của hai từ ấy. Từ ngữ paradox được cấu thành do một tiếp đầu ngữ và một ngữ căn. Tiếp đầu ngữ Paradox có nghĩa là “bên cạnh của”. Nhưng nét đặc trưng quan trọng của chữ paradox là ngữ căn của nó. Ngữ căn dox có nguồn gốc trong từ ngữ Hi-văn dokein, có nghĩa là “tưởng”, “dường như”, “có vẻ như”. Nghịch lý là cái mà khi đứng bên cạnh một cái khác, nó có vẻ như hay dường như, giống như cái mà nó đứng bên cạnh đó. Sở dĩ nghịch lý được gọi như thế, vì dường như nó giống với một mâu thuẫn. Trông nó có vẻ như một mâu thuẫn. Nhưng nó không phải là một mâu thuẫn.
Một nghịch lý có thể rất gần với một mâu thuẫn, đến nỗi rất dễ bị lầm tưởng là một mâu thuẫn. Công thức chỉ Thượng Đế Ba Ngôi quả thật là một nghịch lý. Thoạt nhìn, nó có vẻ như một mâu thuẫn, nhưng khi xét kỹ, thì rõ ràng là không phải.
Bạn có nhớ mấy giòng mở đầu quyển A Tale of Twolities của Charles Dickens hay không? Bằng một ý đồ làm văn trác tuyệt, Dickens đã lợi dụng một nghịch lý theo cung cách của một nghệ sĩ:
Bấy giờ là một thời thuận lợi nhất, bấy giờ cũng là một thời tệ hại nhất.
Làm thế nào để một thời kỳ nào đó, lại vừa là thuận lợi, mà cũng vừa là tệ hại nhất. Chỉ cần xét đến hai mối liên hệ khác nhau thế thôi. Điều mà Dickens sắp mô tả là một giai đoạn tranh chấp có thật trong lịch sử, mà theo một chiều hướng, một ý nghĩa, thì đó là thời kỳ thuận lợi nhất để đem đến cho người ta những kinh nghiệm tuyệt vời, trong khi theo một chiều hướng, một ý nghĩa khác, nó lại cũng là một thời kỳ tệ hại đem đến cho người ta những kinh nghiệm cay đắng nhất. Đã có sự bành trướng kỳ diệu của kỹ nghệ và với một số người, thì đó là cơ hội để tom góp làm giàu to. Với họ, đó là thời kỳ thuận lợi nhất. Với nhiều người khác, lại có sự bành trướng của nạn nghèo khó và đau khổ gia tăng. Với những người ấy, thì đó là thời kỳ tồi tệ nhất.
Sự phân biệt giữa nghịch lý và mâu thuẫn càng trở thành rắc rối hơn khi cóthêm một từ ngữ thứ ba nữa bước lên sân khấu. Đó là chữ đối nghịch (antinomy). Chữ đối nghịch chỉ có nghĩa đơn giản là một điều gì đó “chống lại luật pháp” (anti-nomos). Chữ antinomy nguyên được dùng như một chữ đúng nghĩa với “mâu thuẫn”, vì một mệnh đề đối nghịch là một hay một loạt các mệnh đề chống lại Luật Mâu thuẫn.
Vì ngôn ngữ tiến hoá và trải qua nhiều biến đổi tế nhị, đối nghịch bắt đầu được dùng như đồng nghĩa với nghịch lý. Điều này đặc biệt nghiệm đúng với cách dùng từ ấy của người Anh. Bây giờ, khi tôi nghe một ai đó dùng từ antinomy, tôi không biết chắc là người ấy ngụ ý muốn nói mâu thuẫn hay nghịch lý nữa.
Trong tư tưởng Cơ-đốc giáo, có rất nhiều điều nghịch lý. Chúa Giê-xu vừa là người mà cũng vừa là Thượng Đế. Kinh Thánh dạy chúng ta chỉ có thể được tự do bằng cách trở thành đầy tớ (nô lệ). Có nhiều nghịch lý rất khó lãnh hội, nhưng không hề có mâu thuẫn.
HUYỀN NHIỆM
Trong hình thức đơn giản nhất của nó, từ ngữ huyền nhiệm (mystery) chỉ một điều gì đó mà chúng ta không hiểu được. Sự kiện một vật gì đó là bí mật (huyền bí, bí nhiệm, huyền nhiệm, mầu nhiệm...) không có nghĩa rằng nó không có thật. Rất có thể rằng sau khi tìm hiểu kỹ hơn, chúng ta sẽ hiểu, nhưng tạm thời thì nó còn lẫn tránh chúng ta. Kinh Thánh vẫn nhắc nhở chúng ta về việc này:
Ngày nay, ta thấy sự vật phản chiếu qua một tấm gương mờ. Đến ngày ấy, ta sẽ thấy rõ ràng tận mắt. Ngày nay, tôi chỉ biết đôi phần; ngày ấy, tôi sẽ biết tường tận như Chúa biết tôi (ICo1Cr 13:12).
Kinh Thánh tiết lộ nhiều huyền nhiệm cho chúng ta. Thí dụ như Phao-lô viết:
Tôi xin tỏ cho anh em huyền nhiệm này: Chúng ta sẽ không chết hết, nhưng tất cả đều sẽ được biến hoá. Trong giây lát, trong chớp mắt, khi có tếng kèn cuối cùng, vì kèn sẽ thổi, người chết sẽ sống lại với thân thể không hư nát nữa, và chúng ta, những người còn sống, sẽ được biến hoá. (ICo1Cr 15:51-52).
Phao-lô cũng viết:
...Chương trình ấy đựơc Thượng Đế giữ kín từ muôn đời trước, nhưng hiện nay đã bày tỏ cho những người yêu mến Ngài. Vinh quang vô hạn của chương trình ấy cũng dành cho các dân tộc nước ngoài nữa. Huyền nhiệm đó là: Chúa Cứu Thế ở trong anh em là nguồn hy vọng về vinh quang. (CoCl 1:26-27).
Đã có nhiều huyền nhiệm được Thượng Đế tiết lộ rồi. Cũng còn có nhiều huyền nhiệm khác vẫn còn bị che kín đối với trí hiểu của chúng ta Khi Phao-lô đề cập sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ trong hôn nhân, ông viết thêm:
Điều này là một huyền nhiệm, chẳng khác gì huyền nhiệm giữa Chúa Cứu Thế và Hội thánh (Eph Ep 5:32).
Mới đây, có người hỏi tôi: “Thưa ông R.C. điều gì khiến cho ánh sáng vận chuyển với tốc độ 186.000 dặm một giây đồng hồ?” Tôi đã bị bàng hoàng. Có lẽ các nhà vật lý hay thiên văn học có thể trả lời được câu hỏi ấy. Riêng tôi thì chịu thua. Tôi biết là ánh sáng vận chuyển với tốc độ ấy, nhưng không biết tại sao nó lại vận chuyển nhanh đến thế! Tôi biết chíhh yếu tính của sự chuyển động đã làm bàng hoàng các triết gia và khoa học gia từ mấy ngàn năm rồi. Có nhiều chiều kích của thực tại khiến chúng ta điên đầu, nhưng sự thiếu hiểu biết của chúng ta về chúng không hề khiến chúng kém thực hữu hơn.
Huyền nhiệm thường bị lẫn lộn với mâu thuẫn. Vì một lý do thật rõ ràng. Cả hai đều không thể được hiểu ngay bây giờ. Điểm khác nhau là huyền nhiệm có thể được hiểu nhờ có thêm thông tin, nhưng một mâu thuẫn đích thực thì chẳng bao giờ có thể hiểu nổi. Sở dĩ chúng ta không tài nào hiểu nổi những điều mâu thuẫn nhau vì chúng tự thân là những điều không thể hiểu được. Chẳng hề có ai, cho dù xuất sắc đến đâu, lại có thể hiểu được một mâu thuẫn.
Bây giờ thì tôi tin chắ ckhông chút dè dặt rằng Thượng Đế Ba Ngôi là một huyền nhiệm rắc rối. Nó là huyền nhiệm đối với chúng ta, vì chúng ta không thể hiểu nổi làm thế nào một hữu thể (being) lại gồm có đến ba ngôi (thân) vị (persons). Chúng ta vốn quen nghĩ về cái tỷ lệ vẫn đánh đồng một hữu thể với một người. Mỗi một cá nhân mà tôi biết trên đời này, là một người riêng biệt. Tuy nhiên, trong ý niệm thuần tuý về một hữu thể, đã chẳng có gì đòi hỏi chúng ta phải giới hạn một hữu thể vào chỉ một nhân cách mà thôi, mà đơn giản chỉ vì chúng ta vốn quen nghĩ rằng một người chỉ là một hữu thể mà thôi. Khi chúng ta xét đến con người (person: thân vị, nhân vị, ngôi vị) của Chúa Cứu Thế, là chúng ta đi vào cùng một loại huyền nhiệm như thế. Hội thánh gán cho Chúa Cứu Thế hai bản tính trong chỉ một con người. Trong Chúa Cứu Thế, chúng ta gặp một người có cả nhân tính lẫn thần tính. Một lần nữa điều này nghe như mâu thuẫn với cách suy nghĩ quen thuộc của chúng ta. Ý niệm về một người có đến hai bản tính hay yếu tính vốn xa lạ với kinh nghiệm của chúng ta. Nhưng luận lý học đã chẳng có quy luật nào đòi hỏi một người không thể có đến hai bản tính.
Hơn nữa, chúng ta phải nhớ rằng một trong nhữnglý do thúc đẩy Hội thánh đưa ra công thức về Thượng Đế Ba Ngôi, trước hết, là để cấm các mốc giới chống lại tà giáo. Một mặt, Hội thánh phải giữ mình chống lại tam thần giáo (ý niệm về ba vị thần, vốn là một hình thức đa thần giáo), và mặt khác nhằm chống lại thuyết độc ngôi (unitarianism), muốn phủ nhận thần tính của Chúa Cứu Thế và của Đức Thánh linh.
Hội thánh đã thiết lập các ranh giới ấy tại Giáo hội nghị Chalcedon, năm 451. Bằng cách tuyên bố rằng Chúa Giê-xu là người thật (vere homo), và là Thượng Đế thật (verod deus), Hội thánh đã lèo lái một cuộc đua nằm giữa các quan điểm phủ nhận thần tính trọn vẹn của Chúa Cứu Thế, và các quan điểm phủ nhận nhân tính đích thực của Ngài.
Hồi tôi còn là một sinh viên chủng viện, một vị giáo sư thần học mà sau này đã trở thành Hiệu trưởng Trường Thần học Yale có đưa ra lời bình luận này: “Thưa các Ngài, nếu các Ngài muốn vượt ra khỏi các biên giới của (Giáo hội nghị) Chalcedon, các ngài phải quyết định xem mình muốn chọn tà giáo nào”.
YẾU TÍNH VÀ THÂN (NGÔI) VỊ.
Trong công thức chỉ Thương Đế Ba Ngôi của mình, chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại việc phân biệt giữa yếu tính (hay hữu thể: being) và con người (person: thân vị, ngôi vị). Các từ ngữ ấy từ đâu mà có? Chúng ta phải hiểu chúng nhhư thế nào, khi áp dụng chúng cho Thượng Đế?
Khi chúng ta nói về yếu tính của Thượng Đế là chúng ta đã vay mượn một ý niệm của tư tưởng Hi-lạp. Đó là ý niệm về hữu thể (being). Ở điểm này, đã có một số thần học gia phản đối. Như chúng ta đã thấy, ý niệm này bị công kích là để cho triết học ngoại đạo xâm nhập tư tưởng thuần khiết của người Hi-bá-lai.
Dường như đã có một số thần học gia lo ngại đối với ngôn ngữ Hi-lạp, hơn cả sự lo ngại của Đức Thánh Linh nữa. Đức Thánh Linh đã đẹp lòng lợi dụng Hi-văn làm chuyển ngữ, làm phương tiện để chuyên chở, để diễn tả lời mặc khải, tức là Tân ước. Trong Tân ước Hi-văn chúng ta thường gặp nhiều hình thức khác nhau của chữ ousia, là từ ngữ Hi-văn chỉ “hữu thể” (being). Nó là phân từ chủ động theo thì hiện tại của động từ “là” (to be: hiện hữu). Ý niệm về hiện hữu có tính cách căn bản trong Anh văn. Tôi tự hỏi chẳng hay chúng ta có thể nói hay viết được mấy tiếng, mấy từ, nếu không được phép sử dụng một vài hình thức nào đó của động tự “to be”. Tất cả những chữ là (am, is, are) đã là (was, were) và sẽ là (Shall), đều có ý niệm to be (hiện hữu) trong Hiện hữu chỉ một điều gì , vật gì đang có. Khi triết gia cổ đại người Hi-lạp viết câu vô cùng sâu sắc này: “Cái gì có, là có”, là ông đã phát biểu một khẳng định về sự hiện hữu.
Khi chúng ta đề cập Thượng Đế hiện hữu hay yếu tính của Thượng Đế, là chúng ta đang nói về Thượng Đế có thật, hiện hữu như thế nào. Chúng ta tin rằng Thượng Đế là các thuộc tính của Ngài. Ngài là một Đấng (hữu thể: being) đơn sơ, hợp nhất theo nghĩa là không phải gồm nhiều thành phần, nhiều chi thể kết hợp lại với nhau mà thành. Thượng Đế không phải do hai hay nhiều thành phần kết hợp lại. Ngài thiết yếu chỉ có một. Chính vì lý do ấy mà Hội thánh nhấn mạnh trên Thượng Đế ba ngôi hiệp một (triunity). Sự kiện Thượng Đế có nhiều ngôi không triệt tiêu sự hợp nhất thiết yếu của Ngài. Nghĩ về Thượng Đế Ba Ngôi trong điều kiện Thượng Đế gồm ba thành phần (khác nhau họp lại mà thành) là sa vào tam thần giáo. Theo đó thì tính cách đơn sơ và hợp nhất của Thượng Đế đã bị phá huỷ. Bằng mọi giá, Hội thánh đã tìm cách bảo đảm cho tính cách trung thực của độc thần giáo được duy trì mà không bị sứt mẻ chút gì. Khi Hội thánh đề cập có ba ngôi trong Thượng Đế, nó đã nhờ đến sức hậu thuẫn của Kinh Thánh. Có một số văn bản trong Kinh Thánh xem là tối quan trọng cho vấn đề này.
LỜI NÓI ĐẦU CỦA SÁCH PHÚC ÂM GIĂNG
Điểm để Hội thánh tập trung suy nghĩ về bản tính của Chúa Cứu Thế. Suốt ba thế kỷ đầu tiên của lịch sử Cơ-đốc giáo, là Lời Nói Đầu tiên của sách Phúc âm Giăng - GiGa 1:1-18. Giăng dùng ý niệm về Ngôi Lời (Logos) chỉ Chúa Cứu Thế để chinh phục tư tưởng của các tần học gia. Ở đây, chúng ta thấy lời truyền dạy trừu tượng nhất và có lẽ là sâu nhiệm nhất của Tân ước liên hệ đến Chúa Giê-xu. Sách Phúc âm Giăng đã bắt đầu bằng câu này:
Ban đầu có Ngôi Lời, Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời (GiGa 1:1, 2, bản dịch cũ).
Mấy câu gây ngạc nhiên ở đây đã được Giăng dùng chỉ Ngôi Lời (Hi-văn: Logos). Trước hết “Ban đầu” có Ngôi Lời. Rồi Giăng tiếp tục tuyên bố rằng Ngôi Lời đã tham gia tích cực vào việc sáng tạo vũ trụ “Ban đầu” chỉ thời gian thực hiện công trình sáng tạo, và cho thấy Ngôi Lời vốn hiện hữu trước khi thế gian này được tạo nên. Nghĩa là Ngôi Lời đã có trước khi có vũ trụ này. Khi các thần học gia đề cập sự “tiền hiện hữu” của Chúa Cứu Thế, là ngụ ý nói về điều này. Thường thường thần học Cơ-đốc giáo gắn liền sự tiền hiện hữu với cõi vĩnh hằng. Nghĩa là, khi xưng nhận thần tính trọn vẹn của Chúa Cứu Thế, Hội thánh cũng khẳng định rằng Chúa Giê-xu không những chỉ có trước cả thế gian vô cùng nữa.
Các giáo phái Mormon và các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va đồng ý rằng Chúa Giê-xu vốn có trước nhưng phủ nhận là Ngài vốn có tứ trước vô cùng. Vì Kinh Thánh gọi Chúa Cứu Thế là “con đầu lòng của cả công trình sáng tạo: và do Đức Chúa Cha “sinh ra”, các giáo phái ấy cãi rằng Chúa Giê-xu là người (creature: tạo vật, vật thọ tạo) đầu tiên được Đức Chúa Cha tạo nên. Sau đó, Chúa Giê-xu mới tiếp tục tham dự công cuộc sáng tạo thế gian.
Giăng nói nhiều hơn là Ngôi Lời vốn đã có trước thế gian. Ông bảo Ngôi Lời ở cùng (với) Thượng Đế. Câu này có hai điểm quan trọng. Một là, chúng ta ghi nhận cách dùng chữ với (with: cùng, với). Trong Hi-văn, có ba chữ có thể dịch ra Anh văn là với. Có từ sun, từ đó chúng ta có tiếp đầu ngữ syn (như trong synthesis - tổng hợp, synagogue - hội trường Do-thái, synchronize: vặn cho đúng theo). Khi chúng ta vặn đồng hồ của mình cho đúng giờ, là chúng ta vặn cho nó chạy đúng với một chiếc đồng hồ khác. Từ ngữ synagogue dùng tiếp đầu ngữ này để chỉ một nơi có nhiều người cùng nhóm lại chung với nhau.
Từ Hi-văn thứ hai là meta. Nó thường được dịch là với thoe nghĩa là cùng với. Khi tôi đi bộ ngoài đường phố bên cạnh vợ tôi, tay tôi nắm lấy tay bà, là tôi đang cùng đi với bà theo nghĩa meta.
Từ thứ ba có tính cách thân cận mật thiết hơn hết trong cả ba. Đó là từ Hi-văn pros cho một từ Hi-văn dài hơn, là prosopon có nghĩa là “trực diện”. Hàm ý của pros là được ở với một ai đó trong một mối liên hệ mặt đối mặt. Đó là từ ngữ mà Giăng dùng trong Lời Nói Đầu sách Phúc âm của ông. Khi Giăng tuyên bố rằng Ngôi Lời ở “cùng Thượng Đế” ngay từ ban đầu, ý niệm ông muốn diễn tả là Ngôi Lời vốn có một mối liên hệ thân cận, mật thiết, riêng tây với Thượng Đế.
Nét đặc trưng quan trọng thứ hai của câu này là ở đây, Giăng phân biệt rõ ràng giữa Ngôi Lời và Thượng Đế. Đây là lý do chính để chúng ta phân biệt có ba ngôi trong Thượng Đế Ba Ngôi. Kinh Thánh phân biệt Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh thật rõ ràng. Giăng chương 1 là Chứng cứ A phô bày sự phân biệt đó.
Tuy nhiên, chính lời khẳng định thứ ba của Giăng mới khiến chúng ta chú ý nhiều nhất. Ông đã không dừng lại khi chỉ mới bảo rằng Ngôi Lời vốn ở cùng Thượng Đế. Ông còn tiếp tục tuyên bố rằng “và Ngôi Lời là Thượng Đế”.
Ở đây chúng ta có lời khẳng định rõ ràng nhất khôngchút hàm hồ trong Tân ước, về thần tính của Chúa Cứu Thế. Trong khi trong mê5nh đề trước, Giăng phân biệt Ngôi Lời với Thượng Đê, thì bây giờ ông tuyên bố về sự đồng nhất giữa Ngôi Lời và Thượng Đế bằng cách dùng một hình thức của động từ to be (là). Ở đây, chúng ta thấy một sự đồng nhất giữa hiện hữu của Ngôi Lời với hiện hữu của Thượng Đế.
Đây là lý do chính khiến Hội thánh đang tìm cách sống tận trung với Kinh Thánh bị bắt buộc phải nhấn mạnh trên sự hợp nhất hiện hữu giữa các thành viên của Thượng Đế Ba Ngôi. Kinh Thánh công bố rõ ràng sự đồng nhất hiện hữu giữa Ngôi Lời và Thượng Đế. Cả hai vốn có cùng một hiện hữu hay yếu tính.
Thế nhưng chúng ta vẫn còn phải tôn trọng sự phân biệt hiện có giữa Ngôi Lời với Thượng Đế nữa. Khúc sách này cho thấy hai điều thật rõ ràng: 1. Chúng ta phải duy trì sự hợp nhất hiện hữu giữa Ngôi Lời và Thượng Đế. 2. Chúng ta phải phân biệt Ngôi Lời và Thượng Đế mà không xâm phạm gì đến sự hợp nhất về yếu tính của hai ngôi ấy. Tuy hai ngôi ấy vốn phân biệt, sự phân biệt ấy nhất thiết không phải là phân biệt hay tách rời về phương diện yếu tính (hiện hữu).
Các giáo phái Mormon và Các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va đã thực hiện nhiều cuộc nhào lộn khó tin nổi nhằm vượt thoát lời truyền dạy rõ ràng của văn bản này. Lẽ tất nhiên là họ đã “tra tấn” văn bản để có được các quan điểm đã bị “vặn cong bóp méo” của họ. Thí dụ bộ Kinh Thánh của các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va đã dịch văn bản này như sau:
Và Ngôi Lời vốn là một (vị) thần.
Cách thêm chữ của giáo phái các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va là sai về phương diện ngôn ngữ học. Trong nguyên văn, đã không có định quán từ trước chữ Thần (Đức Chúa Trời, Thượng Đế). Hi-văn vốn không có bất định quán từ (một).
Khi một danh từ xuất hiện mà không có định quán từ, người ta có thể thêm bất định quán từ một vào nếu văn mạch bảo đảm điều đó. Còn nếu văn mạch không cho phép thêm như thế, thì đó là do văn mạch của câu ấy. Nếu các giáo phái Mormon và các chứng nhân của Đức Giê-hô-va muốn thêm bất định quán từ một vào đây là họ đã rơi vào cấp bậc thấp nhất của đa thần giáo. Nếu Ngôi Lời là “một” vị thần chứ không phải là “chính” Thượng Đế, chúng ta có thể đặt câu hỏi hết sức hiển nhiên rằng: Thế có đến bao nhiêu Thượng Đế ở đây? Nếu chúng ta được biết chút gì về trước giả của sách Phúc âm Giăng, thì chúng ta biết ông là một người hoàn toàn theo độc thần giáo.
Chắc phần đông những người thuộc các giáo phái Mormon và các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va phải đồng ý như thế. Cho nên họ chuyển sang một tuyến phòng thủ tế vi hơn. Họ lưu ý đến một câu có phần tối nghĩa từ môi miệng Chúa Giê-xu thốt ra. Trong bối cảnh của một cuộc tranh luận với những người Do-thái muốn gài bẫy Ngài, người Do-thái đã nói với Chúa Giê-xu:
Không phải vì Thầy làm phép lạ mà chúng tôi ném đá, nhưng vì Thầy xúc phạm Thượng Đế. Thầy là người mà dám tự xưng là Thượng Đế, Chúa giải thích: Thánh Kinh đã ghi: Thượng Đế phán: Các ngươi là thần! Một khi Thượng Đế gọi những người nghe lời Ngài là thần - câu này trích trong Thánh Linh, mà Thánh Kinh không thể sai lầm - thì khi tôi nói: Tôi là Con Thượng Đế, vì Ngài uỷ thác cho tôi chức vụ thánh và sai tôi xuống trần gian, tại sao các ông tố cáo tôi xúc phạm Thượng Đế? Nếu tôi không làm công việc kỳ diệu của Thượng Đế, các ông đừng tin tôi. Nhưng nếu tôi làm công việc Ngài, dù không tin tôi các ông cũng phải tin công việc tôi. Nhờ đó các ông sẽ nhận thức rằng Cha ở trong tôi và tôi ở trong Cha” (GiGa 10:33-38).
Giáo phái Mormon và các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va chỉ vào văn bản này để biện minh cho cách họ dịch 1:1 “và Ngôi Lời là một (vị) thần”. ở đây Chúa Giê-xu đã viện dẫn một câu trong Thi thiên 82, ở đó chữ thần đựơc dùng chỉ loài người. Thế là hai giáo phái ấy, cãi rằng khi Giăng tuyên bố Ngôi Lời là “một” (vị) thần thì không có nghĩa rằng trong Lời Nói Đầu của mình, ông cố ý rằng Ngôi Lời quả thật là Thượng Đế.
Tuy nhiên, nếu xem kỹ văn bản trong Giăng 10, chúng ta sẽ thấy trong cuộc trao đổi với người Do-thái vẫn buộc tội Chúa Giê-xu là phạm thượng này, Ngài đã chẳng hề phủ nhận thần tính của mình. Trái hẳn lại. Thật ra là bản văn ấy vốn là một lời khẳng định quả quyết thần tính của Ngài.
Trong cuộc tranh luận này, Chúa Giê-xu đang trả lời cho lời tố cáo rằng Ngài lộng ngôn. Còn kẻ thù Ngài đã nhảy ngay vào lời Ngài tự xưng là Con Thượng Đế. Họ tố cáo Ngài phạm thượng vì “Thầy là người mà dám tự xưng là Thượng Đế”. Ở đây, ít ra người Do-thái vốn biết rõ điều mà những người thuộc loại giáo phái Mormon và các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va vẫn không lãnh hội được - ấy là quả thật Chúa Giê-xu đã tự xưng Ngài là Thượng Đế.
Tính cách tế nhị, tinh vi của câu trả lời của Chúa Giê-xu phải được hiểu ngay trong văn bản bằng phương pháp tranh luận Ngài đã dùng. Đây là một trường hợp của hình thức gậy ông đập lưng ông torng tranh luận. Trong lối tranh luận gậy ông đập lưng ông người ta lợi dụng chính luận cứ của đối phương. Nghĩa là tạm thời theo lập trường của đối phương và đẩy nó đến một kết luận hợp lý, rồi chứng minh rằng như thế là phi lý.
Những người Mormons và Chứng nhân của Đức Giê-hô-va lý giải rằng Chúa Giê-xu đã nói đại khái: “Các ông tố cáo tôi lộng ngôn vì tôi tự xưng là Con Thượng Đế phải không? Tôi đâu có ý muốn nói gì nhiều hơn là tác giả Thi thiên muốn nói. Tôi đâu có thần thánh gì hơn những người đã được Cựu ước gọi là “thần?”
Theo cách lý giải Giăng 10 như thế, Chúa Giê-xu sẽ thoát được lời tố cáo phạm thượng căn cứ vào việc tự nó, chữ thần không nhất thiết có nghĩa là Thần tính.
Nhưng đó không phải là điểm Chúa Giê-xu đã vạc rõ trong cuộc tranh luận. Trái lại ý nghĩa mà Chúa Giê-xu muốn nhấn mạnh đại khái là thế này: “Nếu tác giả Thi thiên nói: “Các ngươi là thần, hết thảy đều là con trai của Đấng Chí Cao” (Thi Tv 82:6), thì khi dùng tiếng Thần (Thượng Đế) để chỉ Con một của Đức Chúa Cha, là chẳng hề phạm thượng chút nào. Nghĩa là, nếu theo nghĩa rộng, toàn thể con cái Y-sơ-ra-ên đều được gọi là con cái Thượng Đế, mà nói như thế không hề phạm thượng, thì khi gọi Đấng vốn là Con một của Thượng Đế là Thượng Đế, thì lại càng không phải là lộng ngôn”.
Trong cùng một khúc sách ấy, Chúa Giê-xu đề cập việc Ngài đã được Đức Chúa Cha sai đến thế gian, rồi tuyên bố rằng Ngài vốn là một với Đức Chúa Cha: “Cha ở trong tôi và tôi ở trong Cha”.
Khi chúng ta quay lại với GiGa 1:1, chúng ta lại thấy một lý do thúc đẩy khác nữa để không thể dịch câu: “Và Ngôi Lời là một (vị) thần”. Nếu chúng ta theo cách lý luận của hai giáo Mormon và các Chứng nhân của Đức Giê-hô-va, chúng ta bị bắt bục phải kết luận rằng Giăng đồng thời cùng phạm vào lỗi mơ hồ về ý nghĩa. Lỗi mơ hồ về ý nghĩa xảy ra khi trong cùng một chuỗi lý luận, ý nghĩa của các từ ngữ trong tiền đề bị thay đổi đi. Giăng viết:
Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.
Cho dù có định quán từ hay không, đối với Giăng, muốn lý luận trước sau như một, chữ Đức Chúa Trời phải giữ nguyên ý nghĩa của nó xuyên suốt khúc sách ấy. Nếu trong tiền đề thứ nhất, Đức Chúa Trời có nghĩa là chính Thượng Đế, thì cùng một nghĩa ấy, cũng phải áp dụng cho vế thí hai, trừ phi khi Giăng cố ý đưa ra một ý nghĩa mơ hồ. Nếu chúng ta theo lối lý luận của hai giáo phái Mormon và cac Chứng nhân của Đức Giê-hô-va, chúng ta cũng chủ yếu gán cho từ Đức Chúa Trời hai nghĩa khác nhau trong cùng một mệnh đề.
Khi chúng ta thêm vào tất cả những gì vừa nói rằng ngay tiếp sau lời phát biểu ấy, Giăng tuyên bố rằng muôn vật đều bởi Ngôi Lời làm nên, thì chẳng còn gì để nghi ngờ việc Giăng đang đồng nhất hoá Ngôi Lời với Thượng Đế là Đấng Tạo hoá.
Vậy, chúng ta kết luận rằng Giăng 1:1; đòi hỏi chúng ta phải thấy cả chỗ phân biệt theo một cách thế nào đó giữa Ngôi Lời với Thượng Đế, lãnh sự đồng nhất giữa hai ngôi ấy, theo một cách thức khác.
CÁCH NGƯỜI HY-BÁ-LAI SỬ DỤNG CHỮ THÂN (NGÔI) VỊ
Khi công thức chỉ Thượng Đế Ba Ngôi tìm cách nêu rõ điểm dị biệt giữa các thành viên của Ba Ngôi về phương diện ngôi vị chứ không phải phương diện yếu tính, ta cần phải tìm đến thư Hy-bá-lai để thấy một phần lý do. Trước giả Thư Hy-bá viết:
Thời xưa, Thượng Đế đã dùng các nhà tiên tri dạy bảo tổ phụ chúng ta nhiều lần nhiều cách. Nhưng trong những ngày cuối cùng này, Thượng Đế sai Con Ngài là Chúa Cứu Thế dạy dỗ chúng ta. Thượng Đế đã nhờ Con Ngài sáng tạo vũ trụ, cũng cho Con Ngài thừa kế quyền chủ tể vạn vật Chúa Cứu Thế là vinh quang rực rỡ của Thượng Đế, là hiện thân của bản thể Ngài. Chúa dùng lời quyền năng bảo tồn vạn vật. Sau khi hoànt hành việc tẩy sạch tội lỗi, Chúa ngồi bên phải Thượng Đế uy nghiêm trên thiêng đàng (HeDt 1:1-3).
Ở đây trước giả thư Hy-bá mô tả Chúa Cứu thế là “vinh quang rực rỡ của Thượng Đế, là hiện thân của bản thể (bản Anh văn là image of His person) Ngài”. Chúng ta thấy có sự phân biệt giữa thân vị (person) của Đức Chúa Cha, với thân vị của Đấng vốn là hiện thân của bản thể của thân (ngôi) vị ấy. John Calvin bình luận văn bản này như sau:
Khi sứ đồ Phao-lô gọi Con Thượng Đế là “hiện thân của bản thể Ngài” (HeDt 1:3), thì chẳng có gì để nghi ngờ là ông muốn gán cho Đức Chúa Cha một bản thể naò đó, khiến Ngài được phân biệt với Đức Chúa Con (Institutes, I/XII/2).
THÂN VỊ, BẢN THỂ VÀ NGÔI (HYPOSTASIS)
Chúng ta ghi nhận torng câu trích dẫn Calvin, là ông có dùng một thuât ngữ chúng ta thường gặp trong ngôn ngữ thần học. Đó là chữ bản thể (subsistence).
Trong Anh ngữ, có ba chữ có liên hệ mật thiết với nhau, nhưng có thể có phân biệt giữa chúng với nhau. Đó là mấy chữ yếu tính (essence) hiện sinh (existence), và bản thể (sbsistence.
Câu hỏi tôi thường bị các tín đồ thường nêu ra là: Hiện sinh chủ nghĩa (existantialism là gì? Tất cả mọi người đều đựơc nghe (mấy) tiếng hiện sinh chủ nghĩa, và phần đông đều có một cảm thức mơ hồ, lờ mờ về ý nghĩa của nó. Đã có một bầu không khí hiện sinh chủ nghĩa được truyền thông rộng rãi qua văn học, kịch nghệ, phim ảnh và nhiều hình thức nghệ thuật khác.
Người phát ngôn chủ chốt cho hiện sinh chủ nghĩa torng thế kỷ hai mươi là nhà văn người Pháp Jean-Paul Sartre, đã qua đời năm 1980. Sartre đúc ra một câu đã trở thành một thứ khẩu hiệu cho hiện sinh chủ nghĩa. Câu của ông ta dịch sang Việt ngữ, là “Hiện hữu đi trước yếu tính” (Anh văn: Existece precedes essence; Pháp văn: L'existence précède l'essence). Do các chủ đích của chúng ta ở đây, chúng tôi có thể bỏ qua nội dung triết lý đầy đủ của câu này. Điều quan trọng cho mối bận tâm trực tiếp của chúng ta, là câu này chỉ ra một sự phân biệt rõ rệt giữa hiện hữu và yếu tính, hay giữa hiện sinh (existence, cũng có người dịch là tồn tại) và hiện hữu (being).
Trong cách nói thông thường của mình, chúng ta thường dùng chữ hiện sinh và hiện hữu lẫn lộn với nhau, chữ này thay cho chữ kia. Chúng ta nói con người hiện hữu (exist: có đó, sinh tồn, tồn tại) và Thượng Đế hiện hữu. Chúng ta nói con người là những hữu thể (beings), và Thượng Đế là một hữu thể. Chúng ta phân biệt sự hiện hữu của Thượng Đế với sự hiện hữu của loài người bằng cách bảo rằng chúng ta là con người (human beings) còn Thượng Đế là Hữu Thể Tối cao (Supreme being). Sở dĩ chúng ta gọi thế vì thừa nhận rằng Thượng Đế vốn thuộc một cấp bậc cao hơn chúng ta. Chúng ta là những hữu thể thọ tạo. Chúng ta là những hữu thể lệ thuộc, từ một nguồn gốc khác mà ra, hữu hạn và dễ thay đổi. Tắt một lời chúng ta là những tạo vật; Thượng Đế không phải là một vật thọ tạo. Chẳng ai sáng tạo ra Ngài cả, Ngài vốn độc lập, tự nhiên mà có, chẳng do một nguồn gốc nào mà ra cả vô hạn và bất biến. Nhưng Ngài là một hữu thể.
Khi chúng ta nói Thượng Đế “thực hữu” (hiện hữu có thât) là chúng ta ngụ ý bảo rằng Ngài có thật, quả thật là có Ngài. Nhưng theo nghĩa “kỹ thuật” thì bảo rằng Thượng Đế hiện hữu” là không sát nghĩa, không đúng.
Nói như thế có vẻ hơi “khó nghe”. Tôi không hề thắc mắc về thực tại của sự hiện hữu của Thượng Đế. Nhưng sự hiện hữu của Thượng Đê vốn cao hơn là chỉ “tồn tại” mà thôi. Từ ngữ hiện hữu (exist) do hai từ ngữ La-văn mà ra, có nghĩa đen là “có đó” (ex: từ...mà ra, cộng với sistere: đứng - từ một vật gì đó (không được biết) mà ra, nhưng quả thật là đang có đó). Nhưng vật đang hiện hữu, đang có đó, là gì? Ý niệm này nguyên có nghĩa là: Hiện hữu là đứng ra đó, có đó. Nó không có nghĩa rằng hiện hữu là hoàn toàn đứng ngoài hiện hữu. Nếu chúng ta đứng ngoài sự hiện hữu, là chúng ta không hiện hữu. Vật duy nhất đứng ngoài sự hiện hữu là không hiện hữu hay hư vô.
“Từ (hiện hữu) mà đứng ra đó” có nghĩa đại khái như là đứng một chân trong cái hiện hữu, còn chân kia thì trong cái không hiện hữu. Tất cả vấn đề của cách phân biệt tế vi này, là dành chỗ cho con người vốn được tạo dựng là giới hạn và hay biến đổi. Hiện hữu của chúng ta không phải là sự hiện hữu thuần tuý. Sự hiện hữu của chúng ta bị trộn lẫn với cái sẽ trở thành (becoming). Chúng ta vừa có thật, vừa có tiềm năng biến đổi đi. Chúng ta thay đổi luôn. Nhưng Thượng Đế không hề thay đổi. Ngài không có tiềm năng thay đổi. Ngài là hiện thực thuần tuý đang hành động (pure actuality). Ngài đời đời như Ngài vốn có. Như Ngài phán với Môi-se: “TA TỰ HỮU HẰNH HỮU”.
Tình tiết cứ ngày càng rắc rối thêm (dường như nó chưa rắc rồi đủ rồi vậy). Từ ngữ bản thể (sbsistence) lại đưa ra một sự phân biệt tế vi khác nữa. Tồn tại (to sbsist) nghĩa đen là “đứng dưới” một cái gì đó. Trong thần học nó không có nghĩa là đứng ngoài hiện hữu, nhưng là đứng dưới hiện hữu (bản thể là cái đứng dưới hiện hữu, là cái tồn tại).
Khi John Calvin và các thần học gia khác đề cập các ngôi trong Thượng Đế Ba Ngôi, họ ngụ ý bảo rằng trong Ba Ngôi Thượng Đế, chúng ta có một yếu tính (hiện hữu) và ba bản thể (subsistences). Ba Ngôi của Thượng Đế tồn tại trong yếu tính của Thượng Đế.
Từ ngữ ngôi (person) trong công thức chỉ Ba Ngôi Thượng Đế, ra từ từ ngữ La-văn persona. Nó là sự kết hợp của tiếp đầu ngữ person ("xuyên suốt") và gốc Sono. Trong kịch nghệ La-mã, một persona là một mặt nạ, xuyên qua đó các diễn viên nói ra. Mọi người chúng ta đều thấy biểu tượng chiếc mặt nạ là nhãn hiệu cầu chứng chỉ nền kịch nghệ của thế giới. Có chiếc mặt nạ của gương mặt chú hề, biểu tượng của hài kịch, và chiếc mặt nạ có gương mặt âu sầu tượng trưng cho bi kịch.
Đã có một cuộc chiếc đấu gay go về cách dùng chữ persona trong thần học, vì nguồn gốc của nó là một danh từ của kịch nghệ. Từ ngữ Hi-văn trong Tân ước, được dịhc thành persona của La-văn, và person trong Anh văn, là hypostasis. Do đó, khi đề cập Thượng Đế Ba Ngôi là chúng ta nói về “sự hiệp một của (ba) ngôi trong Thượng Đế”.
Calvin viết để bình luận thêm về thư Hy-bá 1:
Vì yếu tính của Thượng Đế vốn đơn giản và bất khả phân chia, và bao hàm trọn vẹn chính Ngài, trong sự trọn vẹn hoàn toàn, không có sự chia rẻ hay giảm bớt chút gì, thật là chẳng thích hợp, có thể nói là lố bịch nữa, để gọi nó là hiện thân của bản thể (cá tính, đặc tính) Ngài. Nhưng vì Đức Chúa Cha, tuy vốn phân biệt vì chính các đặc tính riêng biệt của Ngài, đã tự biểu hiện trọn vẹn nơi Đức Chúa Con, cho nênđã có lý do hoàn toàn chính đáng để bảo rằng Ngài đã khiến cho con người (person: hypostasis) của Ngài bộc lộ nơi Đức Chúa Con.
Đề cập câu trong thư Hỵ-bá mô tả Chúa Cứu Thế là “vinh quang rực rỡ Thượng Đế”, Calvin vạch rõ thêm:
Cách suy diễn thật đẹp từ lời lẽ của vị sứ đồ, là có một bản thể (hypostasis) của Đức Chúa Cha; đã ngời sáng chói chang nơi Đức Chúa Con. Từ đó, một lần nữa, thật là dễ suy diễn ra rằng nơi Đức Chúa Con, có một bản thể (hypostasis) phân biệt Ngài với Đức Chúa Cha. Cùng một sự việc giống như thế cùng có thể nói về Đức Thánh Linh, vì chúng ta sẽ tức khắc chứng minh được rằng Ngài là Thượng Đế, và Ngài cũng có một bản thể phân biệt với Đức Chúa Cha. Hơn nữa, đây không phải là một phân biệt về yếu tính, vốn không thể nhân bội được. Thế thì, nếu chúng ta có thể tin được lời chứng của vị sứ đồ, thì hệ quả là có đến ba ngôi (persons: hypostases) trong Thượng Đế. La-văn đã dùng từ ngữ persona để diễn tả cùng một điều với từ ngữ hypostasis của Hi-văn, cho thấy có tranh cãi về từ ngữ ấy là quá khe khắt và sai lầm. Cách dịch gần với nguyên văn nhất có thể là bản thể (Institutes I/XIII/2).
Vậy chúng ta thấy rằng khi Hội thánh Cơ-đốc xưng nhận đức tin của mình vào Thượng Đế ba ngôi hiệp một, là cố ý nói lên cái ý niệm rằng chỉ có một yếu tính hay hữu thể, không phải là ba, nhưng lại có đến ba nhân cách (bản thể) phân biệt trong Thượng Đế Ba Ngôi. Các tên Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh Linh chỉ ra những ngôi vị phân biệt trong Thượng Đế Ba Ngôi, chứ không phải là các thành phần phân biệt trong yếu tính của Thượng Đế.
Tôi mong là quý độc giả đã có thể theo dõi được cách lý luận từ trước đến gì. Điều càng quan trọng hơn là tôi mong quý vị đã thấy rõ ý nghĩa của nó để chuyển sang phần thảo luận về Đức Thánh Linh. Phần đông các tín hữu sẽ vui mừng khi được rời bỏ câu chuyện mà các thần học gia chuyên nghiệp vẫn nói với nhau, để bước sang câu chuyện về đời sống làm Cơ-đốc nhân. Nhưng nhiều thế kỷ tranh luận về thần học đã làm sáng tỏ rằng người ta không thể sống đúng đắn cuộc đời làm Cơ-đốc nhân, nếu không có những niềm tin đúng đắn làm nền móng cho nó. Không phải tất cả các tín hữu đều phải là một học giả thần học đã được huấn luyện đào tạo trong một chủng viện, nhưng mỗi một Cơ-đốc nhân đều cần phải thông hiểu bản tính của Thượng Đế mà chúng ta thờ phượng. (Chúng ta đều được cho là những người yêu mến Thượng Đế bằng tất cả trí khôn của mình). Lắm khi muốn hiểu cũng dễ dàng thôi, như khi một tội nhân thấy mình cần thấy lòng nhân từ thương xót của Thượng Đế, thì lấy hết lòng chân thành để nói rằng: “Lạy Chúa, xin thương xót con, là một tội nhân”. Nhưng lắm khi cái đầu bị đòi hỏi phải làm việc gian khổ hơn. Và giữa nhiều ý kiến và lời phát biểu xung khắc nhau về Thượng Đế và Đức Thánh Linh, thì lao động trí óc mới là thiết yếu.
Chúng ta có thể được miễn trừ khỏi phải nhọc công với thuật ngữ thần học về Thượng Đế Ba Ngôi nếu chịu nhất trí rằng Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh đều chỉ là một Thượng Đế duy nhất, thế nhưng Đức Chúa Con không phải là Đức Chúa Cha, mà Đức Thánh Linh cũng không phải là Đức Chúa Con, nhưng mỗi Ngôi đều có một bản thể độc nhất vô nhị.
Trong kế hoạch sáng tạo và cứu chuộc, chúng ta nói có một vài Ngôi nào đó trong Thượng Đế Ba Ngôi chịu đầu phục các Ngôi khác. Thí dụ, tuy Đức Chúa Con vốn đồng yếu tính với Đức Chúa Cha, nhưng trong công tác cứu chuộc, Đức Chúa Cha đã sai Đức Chúa Con đến thế gian này. Đức Chúa Con không hề sai Đức Chúa Cha. Cũng thế, Kinh điển chép Đức Chúa Con được Đức Chúa Cha sinh ra; Đức Chúa Cha không hề được Đức Chúa Con sinh ra.
Cũng vậy, chúng ta tin rằng Đức Thánh Linh đều từ cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra, và được cả hai Ngôi ấy sai phái. Đức Thánh Linh không hề chỉ được một mình Đức Chúa Cha hoặc Đức Chúa Con sai phái. Đức Chúa Con hoặc Đức Chúa Cha cũng không hề từ Đức Thánh Linh mà ra. Trong công trình cứu chuộc, như Đức Chúa Con đã đầu phục Đức Chúa Cha thể nào, thì Đức Thánh Linh cũng đầu phục cả Đức Chúa Cha lẫn Đức Chúa Con.
Tuy nhiên, chịu đầu phục trong công tác cứu chuộc không hề có nghĩa là có địa vị thấp kém hơn Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh đều bình đẳng với Đức Chúa Cha, và cả ba Ngôi đều bình đẳng với nhau về hiện hữu, vinh quang, phẩm giá, quyền phép và giá trị.


ĐỨC THÁNH LINH TRONG CÔNG TÁC SÁNG TẠO
Nhờ sự trợ giúp của Thánh Linh Tạo Hoá
Các nền móng của thế gian này đã được thiết đặt từ ban đầu.
Xin hãy đến, viếng thăm mọi tâm hồn khiêm hạ;
Xin hãy đến, để đổ các niềm vui xuống cho cả nhân loại.
THÁNH CA LA-VĂN (Veni Creator Spirites).
Hội thánh tại Cổ-linh bị nhiều vấn đề về mất trật tự trong Hội chúng tàn hại. Các ân tứ của Đức Thánh Linh, nhất là ân tứ nói các ngoại ngữ (tiếng lạ) bị lạm dụng và sử dụng sai lầm. Những việc xảy ra tại đó có thể được mô tả rất đúng là một tình hình phóng túng về ân tứ.
Phao-lô đã viết ít nhất là hai bức thư quan trọng cho Hội thánh tại Cổ-linh nhằm hướng dẫn và răn dạy cho với tư cách một mục sư. Trong thư tín thứ nhất của mình, qua ba chương, ông đã bàn thật kỹ luận điểm về tầm quan trọng của việc rèn luyện để biết sử dụng các ân tứ thuộc linh sao cho có trật tự. Ông nói: “Mọi việc phải thực hiện cách thích hợp và trong vòng trật tự” (ICo1Cr 14:40).
Tôi là một thành phần của điều được mọi người biết là truyền thống Giáo hội Trưởng lão Cải cách. Hình ảnh văn hoá của các tín đồ Trưởng lão là truyền thống của những thành viên nghiêm trang khắc khổ trong Hội thánh, chau mày ngay khi có ai nói bóng gió gì đến tính tự nhiên tự phát thuộc linh (spiritual spntaneity). Có một giai thoại minh hoạ cho điểm này:
Có một người hành tinh lạ đến địa cầu và đi thăm ba Hội thánh. Một là Hội thánh Giám lý, thứ hai là Hội thánh Báp-tít, và thứ ba là Hội thánh Trưởng lão. Khi báo cáo lại với thượng cấp, người ấy nói: “Lúc đến thăm Hội thánh Giám lý, tất cả những gì tôi được nghe là 'Lửa! Lửa!' Lúc đến thăm Hội thánh Báp-tít, tất cả những gì tôi được nghe là 'Nước! Nước!' Khi đến với Hội thánh Trưởng lão, thì tất cả những gì tôi nghe là 'Trật tự! Trật tự!'.
Lắm khi, dừơng như văn bản duy nhất trong ICổ-linh mà các tín đồ Trưởng lão đọc, là “Mọi việc phải thực hiện cách thích hợp và trong vòng trật tự”. Trong sinh hoạt của Hội thánh, phải còn nhiều điều khác hơn là trật tự. Nhưng chúng ta không thể tránh được cái sự kiện lịch sử mà Hội thánh tại Cổ-linh đã bị quấy rối, là vấn đề trật tự. Tình hình dường như vẫn chưa được điều chỉnh sau các nỗ lực của các bức thư của Phao-lô. Về sau còn một bức thư nữa của Clement giám mục Rô-ma gởi cho hội thánh Cổ-linh, nài nỉ người Cổ-linh hãy đọc và vâng theo những lời giáo huấn của Phao-lô.
Khi viết về tình hình hỗn loạn tại Cổ-lnh, Phao-lô đã đưa ra nhận xét quan trọng sau đây:
Thượng Đế không ưa (bản Anh văn dịch là: không phải là thủ phạm - tác giả - gây ra) cảnh hỗn loạn (ICo1Cr 14:33).
Lời phát biểu của vị sứ đồ mang nặng nhiều hàm ý thần học. Chúng ta tự hỏi chẳng hay Phao-lô nghĩ gì trong trí khi ông đưa ra nguyên tắc thượng tầng nầy. Ông truyền lệnh phải làm mọi việc thật thích hợp và torng vòng trật tự, rõ ràng là căn cứ trên cái nguyên tắc rằng: mất trật tự và hỗn loạn là không phù hợp với đặc tính của Thượng Đế. Lộn xộn, rối ren, không hài hoà, mất trât tự - là những yếu tố bất thích hợp với cá tính của Thượng Đế. Các đặc điểm ấy nảy sinh từ bản tính đã bị sa ngã, chứ không phải từ Đấng Tạo Hoá.
Khi Phao-lô đề cập những gì mà Thượng Đế là tác giả và những gì Thượng Đế không phải là tác giả ở đây có lẽ ông đang nghĩ về phương pháp hành động của Thượng Đế trong công trình sáng tạo hồi nguyên thủy.
Câu chuyện về công cuộc sáng tạo trong Sáng thế ký chú trọng vào chiến thắng khải hoàn của Thượng Đế trên bất kỳ một đe dọa nào của cảnh hỗn mang, hay lộn xộn. Tâm điểm của sự nhận xét này là vai trò của Đức Thánh Linh trong công trình sáng tạo.
Mấy giòng mở đầu Sáng thế ký chép:
Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. Vả, đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực; Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước (SaSt 1:1-2).
Câu đầu tiên của Sáng thế ký tiết lộ hành động đầu tiên của Thượng Đế trong việc sáng tạo vũ trụ. “Ban đầu” phải được hiểu theo nghĩa tuyệt đối của nó. Câu này công bố quyền phép của Thượng Đế trong việc đưa thế gian vào hiện hữu từ chỗ không không (La-văn ex nihilo: từ hư vô mà ra). Đây không phải là phần mô tả việc Thượng Đế nhào nặn hay khiến một vật chất nào đã có từ trước, trở thành có hình thù. Hành động của Thượng Đế là tạo ra một vật gì đó từ hư vô, một hành động mà chỉ một mình Thượng Đê mới có thể làm được mà thôi.
Khi chúng ta dùng chữ sáng tạo để mô tả các ân tứ và tài năng của các hoạ sĩ hay nhạc sĩ, là chúng ta dùng từ ngữ ấy theo nghĩa nói lên chỗ giống nhau đến mức tối đa mà thôi. Chẳng hề có người nào có quyền phép để sáng tạo theo nghĩa như Thượng Đế đã sáng tạo. Mọi ngườ thọ tạo đều dùng một vật trung gian đang có sẵn nào đó để phô bày khả năng sáng tạo của mình. Một nghệ sĩ sáng tạo có thể sắp xếp, nhào nặn, tác tạo - các từ ngữ, các nốt nhạc, các màu sắc - một cách mới mẻ khiến người khác phải chú ý, nhưng người ấy không hề làm việc, từ hư vô.
Từ ngữ Hy-bá-lai Sáng thế ký dùng chỉ “sáng tạo” là bara được Cựu ước sử dụng độc quyền ám chỉ Thượng Đế và công tác của Ngài mà thôi. Nó chẳng bao giờ được dùng cho loài người.
Trong câu thứ hai của SaSt 1:1-31, chúng ta gặp một khúc sách đã gây nhiều tranh luận:
Đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực.
Điều mà câu này gây nhiều tranh cãi, là sự hiện diện của ba từ ngữ có tính cách mô tả: vô hình, trống không, mờ tối. Hãy ngưng lại một chút để suy nghĩ về các từ này. Các ý niệm vô hình, trống không và mờ tối gợi lên điều gì trong tâm trí bạn? Mấy chữ này nói lên một cái gì rất bất thường. Các phẩm tính ấy như một cái gì đe dọa chúng ta.
Vì cớ tính c1ch bất thường của các từ ấy, nhiều thuyết đã được đưa ra để giải thích sự hiện diện của chúng.
Cá chọc giả của trường phái phê bình thấy trong mấy từ này có nhiều yếu tố thần thoại hiện diện trong thể văn thuật sự của Sáng thế ký. Nhiều người Cổ đại thấy công trình sáng tạo thế gian này là một cuộc tranh chiến giữa các lực lượng của sự tối tăm và các lực lượng của ánh sáng. Theo thần thoại Ba-by-lôn, công trình sáng tạo là hậu quả của một cuộc chiến đấu nguyên sơ với cảnh hỗn mang và các quái vật của biển.
Có một quan điểm được phổ biến rộng rãi và tương đối gầnđ ây liên hệ đến 1:2, là cái gọi là Thuyết khoảng trống (Gap Theory) hay Giả thuyết Tái tạo (Restitution Hyphothesis). Theo quan điểm này, chỉ có câu 1 của Sáng thế ký 1 đề cập hành động sáng tạo nguyên thuỷ của Thượng Đế mà thôi. Những gì tiếp sau câu 1 là phần mô tả sự tái tạo của Thượng Đế để cứu vãn một vũ trụ đã bị sa ngã, hư hoại rồi. Nghĩa là, đã có một khoảng trống thời gian rất lớn giữa câu 1 và câu 2 - có lẽ hằng nhiều tỷ năm. Sự sa ngã của Lucifer và các thiên sứ của nó đã xảy ra trong khoảng trống thời gian này, khiến cho vũ trụ nguyên thuỷ, bị phá huỷ tan tành.
Nhậ xét chủ chốt của thuyết này là động từ là trong câu 2. Phần lớn các bản Kinh Thánh đều dịch là: “Vả đất là vô hình và trống không. Những người theo thuyết Khoảng Trống nhận thấy động từ Hy-bá lai ở đây có thể được dịch sang một ngoại ngữ khác, là đã trở thành mà không có gì sai về mặt ngữ học. Do đó, họ dịch câu ấy là:
Đất đã trở thành vô hình và trống không.
Theo cách dịch này, câu 2 mô tả sự tan rã của vũ trụ để trở thành cảnh hỗn mang do hậu quả của tội lỗi.
Đối với một số đông người, thuyết Khoảng Trống sở dĩ hấp dẫn, vì nó có thể giải thích sự hiện diện của mấy chữ vô hình, trống không và mờ tối đầu đe dọa kia. Nó cũng mở một lối thoát cho những người tin rằng sách Sáng thế ký phản ảnh tình hình của sự sống có nguồn gốc tương đối gần đây, so với các thuyết và chứng cứ khoa học bảo rằng vũ trụ này đã có nhiều tỷ năm tuổi còn loài người thì ít nhất cũng được nhiều triệu năm tuổi rồi.
Sự căng thẳng giữa khoa học và tôn giáo vốn đạt đến cao độ do việc Tổng Giámmục Ussher đã cố gắng định niên đại cho công trình sáng tạo. Theo cách tính bằng toán học dựa vào các bảng gia phả được trình bày trong Kinh Thánh, Ussher một giám mục người Ái-nhĩ-lan sống vào những năm 1600, đã tính ra rằng công cuộc sáng tạo thế gian này xảy ra năm 4004 TC (Tôi được thấy các ấn bản Kinh Thánh có in niên đại này trong phan lề phía trên của trang thứ nhất Sáng thế ký).
Bất chấp sự kiện Kinh Thánh chẳng hề đưa ra một niên đại nào gần gần với công trình sáng tạo, rất đông các Cơ-đốc nhân đã được dạy rằng thế gian này đã được sáng tạo vào năm 4004 TC. Để bảo vệ đề án này chống lại những lời công kích của khoa học hiện đại, họ đã nhảy bừa lên tao xe Thuyết Khoảng Trống này.
Tôi không dám tin chân lý của Thuyết Khoảng Trống. Nó có một số nhược điểm nghiêm trọng. Trước hết, tuy rất có thể rằng động từ Hy-bá-lai đã được đề cập có thể được dịch ra là trở thành thay vì là, cách dùng chiếm ưu thế của động từ này trong Cựu ước lại có sức hậu thuẫn cao cho cách dịch là - Hai là thuyết ấy nảy sinh từ một ý đồ giả tạo do một cuộc tranh luận với khoa học, mà theo thiển ý thì chẳng có gì gần thiết, ngoài những lối suy luận như của Ussher. Cuối cùng, tôi không thể tin rằng, Sáng thế ký lại chỉ dành một câu duy nhất do hành động tối quan trọng là công trình sáng tạo nguyên thuỷ, rồi chẳng cần báo trước chi cả lại đột ngột, nhảy vượt qua nhiều triệu hoặc nhiều tỷ năm trong đó nhiều biến cố quan trọng đã xảy ra trong vũ trụ mà chẳng đề cập gì hết. Nói khác đi, ý nghĩa rõ ràng của mấy câu đầu tiên của Sáng thế ký cho thấy một sự liên tục thống nhất của các biến cố vốn được buộc chặt vào nhau.
Tôi ủng hộ cách lý giải mấy câu mơử đầu Sáng thế ký là một phần mô tả các giai đoạn trong công trình sáng tạo, nhờ đó các yếu tố của câu 2 mô tả công tình sáng tạo lúc nó hãy còn chưa có trật tự và chưa hoàn tất.
Cho dù chúng ta có hiểu phần đầu của câu 2 như thế nào, chúng ta vẫn còn phải trả lời mấy câu hỏi: Thượng Đế đã thực hiện công trình sáng tạo của Ngài như thế nào? Vai trò của Đức Thánh Linh bấy giờ là gì?
Đầu mối duy nhất chúng ta nắm được liên hệ đến mấy chữ như thế nào của công trình sáng tạo được tìm thấy trong Câu 3:
Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng.
Quyền phép của công cuộc sáng tạo được tìm thấy trong quyền phép của lệnh truyền của Thượng Đế. Từ nhiều thế kỷ trước, Augustine đã viết về công cuộc sáng tạo. Ông tuyên bố rằng nguồn gốc của quyền năng sáng tạo của Thượng Đế đựơc tìm thấy trong “Quyết lệnh của Thượng Đế”. Ông mô tả công cuộc sáng tạo là “sáng tạo bằng quyết lệnh phải có” (fiat creation). Chữ fiat là mệnh lệnh cách của động từ “to be” (là, có, hiện hữu) trong La-văn. Thượng Đế đã sáng tạo thế gian chỉ bằng sức mạnh suông của lệnh truyền Ngài ban ra mà thôi. Ngài ra lệnh: “Phải có” - thì có ngay.
Đây là đìeu phân biệt quyền phép sáng ta5o củ aThượng Đế với mọi khả năng, tài năng sáng tạo của loài thọ tạo. Chẳng hề có một hoạ sĩ nào vẽ được một tuyệt tác phẩm chỉ bằng cách đơn giản là bảo với khung vải và cây cọ, Chẳng hề có nhà soạn nhạc nào sáng tác được một giao hưởng khúc chỉ bằng cách đơn giản là réo gọi gió để tổng hợp được các âm thanh của gỗ và đồng.
Chúa Giê-xu đã khiến La-xa từ chết sống lại như thế nào? Ngài đã không đến phần mộ của ông để cho ông uống thuốc. Ngài chỉ đứng xa xa và gọi Lã-xa hãy sống lại. Chúa Giê-xu chỉ ra lệnh - một mệnh lệnh từ Thượng Đế ban ra - “Lã-xa, ra đây!” Khi nghe tiếng gọi của Chúa Giê-xu, các làn sóng điện trong não của Lã-xa được khích động trong hộp sọ của Lã-xa. Trái tim ông bắt đầu đập và máu huyết lại bắt đầu luân lưu một cách mới mẻ trong các huyết quản của ông. Thi thể đã lạnh, nằm bất động của ông bắt đầu động đậy, và Lã-xa bứt đứt các dây trói của Tử thần. Tất cả mọi việc ấy đã xảy ra chỉ bằng mệnh lệnh suông của Thượng Đế Nhập thể.
Thượng Đế đã chẳng cần đến tay chân trong công trình sáng tạo của Ngài. Cũng chẳng cần chi đến các công cụ. Ngài có thể lay chuyển cả thế gian mà chẳng cần gì đến chiếc đòn bẫy của Archimedes. Chỉ bằng tiếng phán của Ngài là đủ. Thượng Đế phán và sự việc được hoàn thành. Một cái gì đó đã biểu hiện từ hư vô.
THÁNH LINH VẬN HÀNH
Tuy nhiên, tiếp sau lệnh truyền của Thượng Đế, là sự vận hành của Thánh Linh của Thượng Đế. Sáng thế ký chép:
Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước (1:2).
Có một thắc mắc liên quan đến ý nghĩa chính xác của từ ngữ Hy-bá-lai trong 1:2, có khi được dịch là “bay lượn” (hovering), khi khác lại được dịch là “ấp ủ” (brooding). Từ này chỉ xuất hiện hai lần khác nữa trong Cựu ước mà thôi Chúng ta gặp nó trong Gie Gr 23:9
Về các tiên tri: Lòng ta tan nát trong ta; xương ta thảy đều run rẩy (được nhấn mạnh thêm).
Ở đây, từ ngữ ấy gợi ý lay động hay run rẩy. Rồi chùng ta cũng gặp từ ấy trong PhuDnl 32:11:
Như phụng hoàng phấp phới dởn ổ mình, bay chung quanh con nhỏ mình, sè cánh ra xớt nó... (được nhấn mạnh thêm).
Khi chúng ta nghĩ về hoạt động của một con chim mẹ “ấp” ổ, chúng ta có khuynh hướng nghĩ đến việc nó nằm phủ trên các trứng để giữ chúng cho ấm, cho đến khi trứng nở. Tuy nhiên, theo hình ảnh trong sách Phục truyền, thì các trứng đã nở rồi G.C.Aolders bình luận:
Chữ “ấp” không còn phù hợp nữa khi các trứng đã nở rồi, và chim mẹ đang lo huấn luyện các con nhỏ của nó. Cho nên, càng có lý hơn rằng từ ngữ ở đây chỉ về con chim mẹ đang theo dõi các chim con lúc chúng nó tập bay. Khi chúng bay mà bị sa xuống, thì nó lượn thấp xuống phía dưới chúng để cứu cho chúng khỏi bị rơi xuống. Sau khi đã tra xét mọi mặt, cách dịch “bay chung quanh” vẫn được ưa chuộng hơn.
Aolders tiếp tục giải thích về khúc sách này: Thế thì đâu là chủ đích của Thánh linh của Thượng Đế trong việc vận hành (bản Anh văn dịch là hoering: bay lượn) trên mặt nước? Rõ ràng là nó không chỉ ra sự hiện diện suông của Đức Thánh Linh mà thôi. Chủ đích rõ ràng là một quyền phép tích cực từ Thánh Linh của Thượng Đế đến trên bản chất của địa cầu vốn đã được tạo ra rồi. Hoạt động này có liên hệ trực tiếp với công trình sáng tạo của Thượng Đế. Có lẽ chúng ta có thể nói rằng Thánh Linh dành riêng vật liệu được sáng tạo này và chuẩn bị nó cho hành động sáng tạo hoàn thiện hơn nữa của Thượng Đế để cái thế giới vô trật tự hẳn hoi, như hành động sáng tạo hoàn thiện ấy đã cho thấy.
Khi chúng ta suy xét ý nghĩa đầy đủ của động từ “dựng nên” (bara: sáng tạo) trong Sáng thế ký, chúng ta nhận thức được rằng vật mà Thượng Đế sáng tạo, cũng được Ngài bảo tồn, nâng đỡ mọi sự bằng quyền phép Ngài.
Công trình sáng tạo không phải là một công tác theo nhịp điệu Staccato. Đề dùng một danh từ âm nhạc khác, nó vốn theo nhiệp điệu Sostenato nghĩa là chẫm rãi kéo dài ra. Trong âm nhạc, nhịp Staccato là những nốt nhạc ngắn gọn, co giật, nổi bật hẳn lên. Thời gian tồn tại của chúng nhanh gọn và đứt quãng. Nốt nhạc chẫm rãi (sostenato) được kéo dài. Nó khoan thai, không bao giờ là đột ngột. Theo lý thuyết, thì một nt nhạc trên chiếc đàn phong cầm sẽ ngân dài mãi, bao lâu người đánh đàn ấn vào chiếc nút để cho nó cứ kéo dài. Công trình sáng tạo cũng giống một nốt nhạc như thế.
Một phần của công tác của Thánh linh là “vận hành” (hover: bay lượn bên trên) trên công trình sáng tạo, để bảo vệ cho mọi sự mọi vật được toàn vẹn. Về phương diện này, chúng ta thấy Thánh Linh là Đấng Bảo Tồn và Bảo vệ. Thánh Linh làm việc để duy trì, bảo quản những gì Thượng Đế đã dựng nên.
Nổi bật nhất trong khúc sách Sáng thế ký này là vai trò Đấng Thiết Lập trật Tự cho công trình sáng tạo. Thánh Linh biến cái vô trật tự thành có trật tự. Hiện diện Ngài loại trừ khả năng có thể có cảnh hỗn mang, hay lộn xộn. Ở đây, chúng ta thấy Đức Thánh Linh đưa tình trạng đâu vào đấy (integrity) vào trong thế gian. Tình trạng đâu vào đấy ở đây có nghĩa là cơ cấu của cái tốt lành, thích hợp, việc các thành phần của vũ trụ kết hợp lại với nhau thành một toàn thể hoàn thiện. Chính nhờ Ngài mà chúng ta có được vũ trụ này thay vì cảnh tượng hỗn mang.
Có điều đáng lưu ý là giữa công tác của Đức Thánh Linh trong công trình sáng tạo và công tác cứu chuộc của Ngài đã có sự song hành rõ rệt. Với cương vị Đấng Thánh Hoá chúng ta, Ngài vận hành trên các con cái Ngài để tạo ra tình trạng hội nhập đâu vào đấy trong đời sống của họ Ngài sắp xếp mọi sự cho có thứ tự, và bảo tồn những gì Thượng Đế đã sáng tạo và cứu chuộc.
Nhờ Thánh Linh “vận hành” trên mặt nước mà tình trạng vô hình không còn nữa. Vũ trụ phi cấu trúc đã có được một cấu trúc kỳ diệu. Những định luật nội tại của cái cấu trúc đó đã trở thành tiêu điểm cho việc sưu tầm nghiên cứu khoa học. Chính nhờ vũ trụ có trật tự và được các định luật chặt chẽ kết hợp chúng lại với nhau cai trị, mới có thể có khoa học được. Các nhà khoa học chắc phải bó tay trước một thế giới vô thường và hỗn độn.
Trước khi Thánh Linh vận hành, rõ ràng là cái vụ trụ chưa hoàn tất vốn trống không. Trong ba từ ngữ dùng để mô tả của SaSt 1:2 có lẽ từ này là đáng ghê sợ nhất đối với tâm hồn con người. Nỗi tuyệt vọng của con người thường được diễnt ả bằng các từ ngữ nói lên một cảm thức trống rỗng đáng sợ, một ý thức rỗng tuếch, một mối đe dọa của cõi hư vô. Trong tâm trạng đen tối nhất của người theo hiện sinh chủ nghĩa bi quan, chúng ta nghe nói về vực thẳm, về bóng tối Hoả ngục của cõi hư vô tuyệt đối, về chiếc hầm sâu của khoảng trống không. Ngay trong các mối liên hệ nhân loại, chúng ta vẫn có một ý thức ghê tởm đối với sự đe dọa của cái rỗng không, mà chúng ta thường đồng nhất hoá với sự cô đơn.
Đức Thánh Linh lấp đầy khoảng trống không. Ngài chinh pục hư vô. Sau khi Ngài hoàn thành công tác cái vũ trụ trước kia cô đơn, giờ đây đã đầy dẫy cây cỏ, hoa lá và động vật. Vùng đất hoang cằn cõi đã trở thành một đấu trường rộn rịp của sự sống. Ở đây chúng ta cần Thánh Linh của Thượng Đế làm Đấng đổ đầy mọi sự. Thêm vào các vai trò của Ngài là Đấng Tạo Dựng và Bảo Tồn, Ngài còn đảm trách cả vai trò, Đấng Đổ Đầy sự sống nữa.
THÁNH LINH VỚI TƯ CÁCH ĐẤNG SOI SÁNG
Nhưng Đức Thánh Linh vẫn chưa ngừng hoạt động sau khi khiến cái vô hình trở thành có hình dáng và đổ đầy cái trống không. Khi công tác của Ngài hoàn tất, thì bóng tối ban đầu đã bị đánh bại. Trong lúc Thánh Linh vận hành, thì Thượng Đế đã truyền ra quyết lệnh đầu tiên của Ngài: “Phải có sự sáng”. Ánh sáng tức thì xuất hiện.
Hình ảnh của ánh sáng trong Kinh điển rất quan trọng. Nó tương phản rõ rệt với các hình thức tôn giáo theo quan điểm nhị nguyên. Trong một số nhiều tôn giáo, cách đối chiếu hai hình ảnh của ánh sáng và bóng tối như hai lực lượng đối lập nhau, bị giam chặt trong một cuộc chiến đấu miên viễn để giành phần thắng về mình. Chẳng hề có chút hi vọng nào cho sự cứu chuộc cuối cùng, là nơi cả hai lực lượng ấy đều trở thành bình đẳng với nhau. May lắm thì việc ấy chỉ có thể xảy ra dưới hình ảnh một sợi dây. Trong một ý đồ như thế, thì sự cứu chuộc chỉ còn là một huyễn tưởng.
Trong Kinh Thánh, quyền lực của bóng tối không tài nào sánh nổi với quyền năng của ánh sáng. Chẳng hề có ám chỉ bóng gió nào về một nan đề theo nhị nguyên thuyết. Bóng tối phải đầu hàng ánh sáng.
Tôi luôn luôn cảm thấy hoang mang trước quyền năng của ánh sáng, chiến thắng bóng tôi. Hồi còn bé, tôi rất sợ phải đi xuống các nấc thang dẫn đến nhà hầm, trừ phi khi trước đó, tôi đã vặn đèn cho thật sáng. Tôi nhớ lúc mình bước vào cái hành lang đáng sợ ấy, rồi đứng đó đầy kinh hoàng trong chiếc hầm sâu tối đen phía dưới. Tôi run rẩy khi mò mẫm để tìm chiếc công tắc đèn. Tâm hồn tôi như bay bổng và cảm thấy nhẹ nhõm khi các ngón tay tìm kiếm của mình tìm được nút bấm và vặn đèn lên. Tôi đã chẳng phải trải qua nhiều giây phút khắc khoải để chờ kết quả của cuộc chiến đấu giữa bóng tối và ánh sáng. Ngay lúc tôi bật công tắc, bóng tối đáng sợ bỗng tan biến. Chiếc cầu thang lập tức tắm mình trong ánh sáng, và tôi có thể bước xuống các nấc thang bằng lòng can đảm không chút nao núng.
Giăng viết như thế này:
“Chúa Cứu Thế là Nguồn Sống bất diệt Nguồn Sống ấy soi sáng cả nhân loại, chiếm rọi trong bóng tối dày đặc, nhưng bóng tối không bao giờ dập tắt được ánh sáng (GiGa 1:4-5).
Trong công tác sáng tạo và cứu chuộc, Đức Thánh Linh hoạt động với tư cách Thượng Đế Soi Sáng. Đấng đã thắp sáng các từng trời cũng đã linh cả Kinh điển, đang mặc khải Lời Thượng Đế, và soi sáng cho Lời ấy để chúng ta có thể thông hiểu.
ĐỨC THÁNH LINH LÀ NGUỒN QUYỀN NĂNG
Lúc Thượng Đế sáng tạo sự sống, Ngài làm việc qua trung gian Đức Thánh linh. Tại Giáo hội nghị Thống nhất Cơ-đốc giáo ở Constantinople, năm 381 TC Hội thánh đã xưng nhận và công bố rằng Đức Thánh Linh là “Đấng Ban Sự Sống” (Zoapoion). Thánh Linh là nguồn mạch trực tiếp của moọi sự sống.
Chúng ta có thói quen nghĩ rằng chỉ có những người “có” Đức Thánh Linh mới là những tín hữu đã được tái sinh. Theo nghĩa sáng tạo (phân biệt với sự cứu chuộc) mọi người đều dự phần trong Đức Thánh Linh. Vì Thánh Linh chính là nguồn mạch và là quyền năng ban sự sống, chẳng hề có ai có thể sống mà hoàn toàn ở ngoài Đức Thánh Linh. Phao-lô đã tuyên bố với dân thành A-then:
Chúa đã tạo điều kiện cho con người tìm kiếm Ngài và cố gắng vươn lên để tìm gặo Ngài. Tuy nhiên, Chúa chẳng cách xa ai cả, vì trong Chúa chúng ta được sống, hoạt động và hiện hữu, như vị thi sĩ của quý vị đã viết: “Chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài” (Cong Cv 17:27-28).
Ấy là trong Thượng Đế, qua trung gian Thánh Linh Ngài, mà chúng ta “sống, hoạt động và hiện hữu”. Không có Đức Thánh Linh, sẽ chẳng có sự sống chẳng có chuyển động, chẳng có hiện hữu. Thánh Linh là quyền năng cung cấp tất cả mọi sự đó.
Trong phần ký thuật nguyên thuỷ về việc sáng tạo sự sống con người, chúng ta đọc thấy:
Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh (SaSt 2:7).
Trong khúc sách này, chúng ta thấy con người nhận được sự sống sau khi Thượng Đế “hà sanh khí” vào cho nó. Đã có lối lộng ngữ trong cách dùng từ ngữ Hy-bá-lai ruach. Chữ này có thể dịch là “hơi thở” hay (thần, tâm) linh. Hơi thở của sự sống vốn bục chặt bất khả phân ly với Đức Thánh Linh. Chính nhờ Đức Thánh Linh mà loài người trở thành các hữu thể có sự sống.
Đức Thánh Linh cũng là nguồn sự sống cho cây cỏ và súc vật. Chính nhờ Thánh Linh mà cỏ xanh mọc lên.
Hết thảy loài vật này trông đợi Chúa,
Hầu cho Chúa ban đồ ăn cho chúng nó theo giờ.
Chúa ban cho chúng nó, chúng nó nhận lấy;
Chúa sè tay ra, chúng nó được no nê vật tốt.
Chúa giấu mặt, chúng nó bèn bối rối,
Chúa lấy hơi thở chúng nó lại, chúng nó bèn tắt chết và trở về bụi đất.
Chúa sai thần Chúa ra, chúng nó được dựng nên;
Chúa làm cho mặt ất ra mới.
(Thi Tv 104:27-30)
Xin chú ý hoạt động của Đức Thánh Linh trong sách tiên tri Ê-sai, liên hệ đến việc bông hoa nở ra trên đất:
...cho đến chừng Thần từ nơi cao được rải xuống khắp trên chúng ta, đồng vắng biến thành ruộng tốt, ruộng tốt được kể như rừng rậm (EsIs 32:15).
Gióp trông đợi vào Đức Thánh Linh như Tác giả của sự sống ông:
Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, hơi thở Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống (Giop G 33:4).
Đức Thánh Linh chính là quyền năng của sự sống. Trong Tân ước, ý niệm về quyền năng được kết chặt với Đức Thánh linh. Từ ngữ Hi-văn thường được dùng chỉ quyền năng của Đức Thánh Linh là dinamis, năng lực. Chúng ta có hai từ ngữ quan trọng trong Anh văn vốn do ngữ căn Hi-văn dunamis mà ra. Chữ thứ nhất là dynamite (cốt mìn). Từ thứ hai còn quan trọng hơn để chúng ta khảo xét ở đây. Đó là chữ dynamic. Khi chúng ta dùng chữ dynamic chúng ta thường ngụ ý muốn nói về điều gì “sống động” và “chủ động, tích cực”. Nó bao bọc chính năng lực của sự sống.
Chính Đức Thánh Linh cung cấp năng lực cho thế giới thọ tạo. Bởi quyền năng Ngài, vũ trụ có sự sống và có thể chuyển động.
Như chúng ta đã thấy trước đây, giữa công tác sáng tạo và cứu chuộc của Đức Thánh Linh đã có sự song hành. Như Ngài đã có quyền năng tạo ra sự sống sinh lý thể nào, thì Ngài cũng là nguồn năng lực để tạo ra sự sống thuộc linh y như thế. Công tác của Ngài trong sự cứu chuộc phản ảnh và bổ túc cho công tác sáng tạo của Ngài. Ngài làm việc cả trong công tác sáng tạo lẫn trong công tác tác tạo thế gian đã sa ngã.


CÔNG CUỘC SÁNG TẠO MỚI: ĐỨC THÁNH LINH VÀ SỰ TÁI SANH
Không có hiện diện của Đức Thánh Linh, thì cũng không có lòng tin, không có tái sinh, không có thánh hoá, không có sự tẩy sạch, không có các việc làm khả dĩ đẹp lòng Thượng Đế... Sự sống ở trong quyền năng khích động của Đức Thánh Linh.
W.A.CRISWELL
Sinh ra và tái sanh. Cả hai đều là kết quả của tác động của Đức Thánh Linh. Cũng như chẳng có gì sống được về phương diện sinh lý ngoài quyền năng của Đức Thánh Linh, thì cũng thế, ngoài công tác của Đức Thánh Linh sẽ chẳng hề có ai được kể là còn sống đối với Thượng Đế.
Trong bài thuyết giảng của Chúa Giê-xu cho Ni-cô-đem, Ngài đã nói về Đức Thánh Linh như thế này:
Đây là sự thật: nếu không tái sanh, không ai thấy được Nước Trời (GiGa 3:3)
Được “tái sánh” là được từng trải một công trình sáng tạo mới. Đó là một khởi điểm mới, một cuộc khởi hành mẻ trong đời sống. Khi một việc gì đó được bắt đầu, chúng ta bảo rằng nó vừa được khai sinh. Nếu nó được bắt đầu lại, là nó đựơc tài sanh. Động từ Hi-văn geniauo được dịch ra “sinh, khai sinh” có nghĩa là “có (hiện hữu: to be) “trở thành”, hay “xảy ra”. Được Thánh Linh tái sanh là một sự thay đổi. Nó là một sự thay đổi triệt để, tận gốc rễ, để trở thành một loại hữu thể (con người) mới.
Được tái sanh không có nghĩa là chúng ta được biến hoá từ một con người thành một vị thần (divine being). Nó có nghĩa rằng chúng ta được biến đổi từ những con người đã chết về phương diện thuộc linh (spiritually dead) thành những con người còn sống về phương diện thuộc linh.
Những người đã chết thuộc linh không thấy được Nước Trời. Nó vô hình đối với họ, không phải vì tự nó, Nước Trời là vô hình, nhưng vì họ đã chết thuộc linh nên cũng đui mù thuộc linh nữa.
TÁI SANH LÀ CẦN THIẾT
Khi Chúa Giê-xu dùng tiếng nếu để nói với Ni-cô-đem, là Ngài muốn vạch rõ điều mà chúng ta gọi là điều kiện cần. Một điều kiện cần là một đòi hỏi tuyệt đối đề một hệ quả mong muốn nào đó có thể xảy ra: Chúng ta không thể có lửa nếu không có sự hiện diện của dưỡng khí vì dưỡng khí là một điều kiện cần để có thể có lửa.
Trong ngôn ngữ Cơ-đốc giáo, người ta nói về các Cơ-đốc nhân “đã được tái sanh”. Đứng về mặt kỹ thuật mà nói, thì mệnh đề có vẻ rườm rà. Nếu một người không được tái sinh, nếu người ấy không được sinh ra một lần thứ hai, thì người ấy không phải là một Cơ-đốc nhân. Người ấy không được sinh ra một lần thứ hai, thì người ấy không phải là một Cơ-đốc nhân. người ấy có thể là một thành viên của một giáo hội Cơ-đốc. người ấy có thể tự xưng mình là Cơ-đốc nhân. Nhưng nếu một người không được tái sinh, thì người ấy không được ở (sống) trong Chúa Cứu Thế, và Chúa Cứu Thế không ở (sống, ngự) trong người ấy.
Chữ nếu khiến cho sự tái sinh trở thành điều không thể không có trong sự cứu rỗi. Nếu không có sự tái sinh, cũng không có sự sống vĩnh hằng. Nếu không có sự tái sinh, một người sẽ chẳng bao giờ thấy được Nước trời, cũng không thể nào vào đó được.
Lúc Ni-cô-đem cảm thấy hoang mang về lời truyền dạy đó của Chúa Giê-xu, ông đã hỏi lại:
Người đã già làm cách nào tái sinh được? Không lẽ trở vào lòng mẹ để sinh ra lần nữa sao? (GiGa 3:4).
Cách trả lời của Ni-cô-đem hầu như có vẻ là một cố gắng nhằm chế nhạo lời truyền dạy của Chúa Giê-xu. Nói trắng ra là ông bảo Chúa Giê-xu chắc ngụ ý nói rằng một người đã trưởng thành rồi phải nỗ lực thực hiện cho kỳ được cái công việc chẳng hề có ai có thể làm nổi, là trở vào lòng mẹ để được sinh ra một lần thứ hai.
Ni-cô-đem đã không phân biệt nổi sự sinh ra về mặt sinh lý, với sự sinh ra thuộc linh. Chúa Giê-xu đã đáp lại ông như thế này:
Đây là chân lý: Nếu không nhờ nước và Thánh Linh sinh ra, không ai được vào Nước Chúa. Thể xác chỉ sinh ra thể xác, Thánh Linh mới sinh ra tâm linh. Ông đừng ngạc nhiên khi nghe tôi nói: Con người phải tái sanh (GiGa 3:5-7).
Một lần nữa, Chúa Giê-xu lại mở đâu câu nói của Ngài bằng mấy tiếng. “Đây là chân lý”. Câu “đây là chân lý” - Hy-bá-lai văn là A-men xuất hiện đầy dẫy trong Tân ước - chỉ việc nhấn thật mạnh. Nghĩa là khi Chúa Giê-xu dạy rằng tái sanh là điều kiện cần để đựơc thấy và vào Nước Trời là Ngài muốn nhấn mạnh rằng đó là điều kiện cần thiết. Tìm lý lẽ để chống lại việc phải tái sanh mới có thể trở thành Cơ-đốc nhân như nhiều người đương đại thường làm thì rõ ràng là có lập trường chống lại lời truyền dạy mà Chúa Cứu Thế từng nhấn mạnh.
Từ ngữ không... được cũng tối quan trọng trong lời truyền dạy của Chúa Giê-xu. Nó là một từ phủ định đề cập điều có thể hay không thể có. Không có sự tái sanh, thì chẳng ai (phủ định phổ quát) có thể vào được Nước Trời. Chẳng hề có ngoại lệ không được tái sanh, thì không thể naò vào được Nước Trời.
Chẳng hề có ai được sanh ra đời mà đã là Cơ-đốc nhân cả. Chẳng hề có ai được sanh ra về phương diện sinh lý mà lại vào được Nước Trời. Lần sinh ra đầu tiên là sự sinh ra của thể xác. Thể xác chỉ sinh ra thể xác. Nó không thể sinh ra tâm linh (spirit).
Về sau, trong sách Phúc âm Giăng, Chúa Giê-xu còn thêm lời giải thích này:
Thánh Linh truyền sức sống mới, xác thịt chẳng làm chi được (GiGa 6:63).
Lúc Luther tranh luận về vấn đề phải chăng con người sa ngã phải hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Thánh Linh để được tái sanh, ông đã trích dẫn câu này, và thêm: “Xác thịt chẳng làm chi được. Và cái “chẳng làm chi được” này không phải là “một chút chi đó”.
Thể xác chẳng những yếu đuối bất lực đối với quyền năng tái sanh mà thôi. Nó còn là hoàn toàn bất năng bất lực nữa. Nó chẳng hề có chút năng lực nào để thực hiện việc tái sanh. Nó chẳng giúp được gì hay cải thiện được chút nào công tác của Thánh Linh cả. Tất cả những gì xác thịt có thể sinh ra, chỉ là càng nhiều xác thịt hơn mà thôi. Nó chẳng sanh được một phân, một ly Thánh Linh nào cả. Câu “chẳng làm chi được” này, không hề có “một chút chi đó” nào cả.
Cuối cùng, Chúa Giê-xu dạy: “Con người phải tái sanh”. Nếu trong cách dùng chữ nếu để đặt điều kiện còn có chút mơ hồ nào, thì sự hàm hồ đó sẽ hoàn toàn tan biến với chữ phải.
SỰ TÁI SANH TRONG THƯ Ê-PHÊ-SÔ
Trong bức thư Phao-lô viết cho người Ê-phê-sô, ông đề cập công tác tái sanh của Đức Thánh Linh như sau:
Trước kia, tâm linh anh em đã chết vì tội lỗi gian ác. Anh em the nếp sống xấu xa của người đời, vâng phục Sa-tan, bạo chúa của đế quốc không gian, hiện đang hoạt động trong lòng người chống nghịch Thượng Đế. Tất cả chúng ta một thời đã sống sa đọa như thế, chiều chuộng ham muốn xác thịt và ý tưởng gian ác của mình. Vì bản tính tội lỗi đó, chúng ta đáng bị Thượng Đế hình phạt như bao nhiêu người khác. Nhưng Thượng Đế vô cùng nhân từ, vì tình yêu thương của Ngài đối với chúng ta quá bao la; dù tâm linh chúng ta đã chết vì tội lỗi, Ngài cho chúng ta được sống lại với Chúa Cứu Thế. Vậy nhờ ân phúc Thượng Đế, anh em được cứu (Eph Ep 2:1-5).
Phao-lô đưa ra một phần mô tả như khắc hoạ sự bất lực thuộc linh của chúng ta trước khi được tái sanh. Ông đang ngỏ lời với các tín hữu người Ê-phê-sô và mô tả tình hình trước kia mà tất cả mọi người trong đám họ từng lâm vào. Ông thêm câu “như bao nhiêu người khác” (2:3), chắc ám chỉ toàn thể nhân loại.
Ông tuyên bố rằng tình hình trước kia đó là tình trạng chết chóc: “Trước kia, tâm linh anh em đã chết vì tội lỗi gian ác”. Một lần nữa rõ ràng cái chết này không phải là cái chết sinh lý, khi ông liệt kê các hoạt động mà những người chết ấy đều dấn thân vào.
Đặc điểm của cách ăn ở ứng xử của những người chết trong tội lỗi gian ác được mô tả bằng lời lẽ của một chuyến đi đặc biệt. Ông gọi đó là “theo nếp sống xấu xa của người đời” (2:1-2). Ở đây, chuyến du hành hay mẫu mực sống rõ ràng là trái ngược với con đường của thiên đàng. Hai chữ người đời không nói nhiều về một chỗ ở, cho bằng là về một điểm để đối chiếu. Nó bao hàm cả chiều hướng của thế gian này.
Các Cơ-đốc nhân cũng như người không tin Chúa đều nằm trong cùng một lãnh vực tác động. Tất cả chúng ta đều sống trong thế gian này. Tuy nhiên đường đi của những người được tái sanh được sự điều khiển từ trên cao. Người ấy có con mắt hướng về thiên đàng và lỗ tai biết lắng nghe tiếng phán của Nhà Vua thiên đàng. Người không được tái sanh bị buộc chặt vàp đất. Tại người ấy bị điếc đối với mọi tiếng nói từ trời, mắt người ấy bị mù đối với hào quang từ trên cao. Người ấy sống như một xác chết biết đi trong một phần một thuộc linh.
Đường đi của thế này là “con đường lầm lạc” trước mắt Thượng Đế (RoRm 3:12) Đúng hơn thì nó là nẻo đường” vâng phục Sa-tan, bạo chúa của đế quốc không gian, hiện đang hoạt động trong lòng người chống nghịch Thượng Đế” (Eph Ep 2:2).
Kẻ chết thuộc linh có mặt ông chủ. Chủ họ sắp sẵn cho họ một con đường mà họ tự nguyện - thậm chí rất hăng hái - noi theo. Ông chủ ấy được gọi là tên bạo chúa của đế quốc không gian. Biệt danh có tính cách đế vương này chỉ có thể ám chỉ Sa-tan, là kiến trúc sư trưởng của mọi sự mọi việc thuộc về ma quỉ. Phao-lô gọi hắn là “(thần linh) hiện đang hành động trong lòng người chống nghịch Thượng Đế”. Sa-tan và sa ngã đang cầm quyền trên các đạo quân bị nó bắt làm nô lệ cho nó.
Phao-lô vạch rõ một nguyên tắc sống. Hoặc là chúng ta bước đi theo Thánh Linh, hoặc là chúng ta bước đi theo tà linh. Có lần Augustine đã ví con người ta như một con ngựa, được hoặc là Sa-tan, hoặc là Thánh Linh của Thượng Đế cỡi.
Phao-lô tiếp tục phần mô tả sống động về nếp sống của người được tái sanh trước khi người ấy được tái sanh như sau:
Tất cả chúng ta một thời đã sống sa đọa như thế, chiều chuộng ham muốn xác thịt và ý tưởng gian ác của mình (2:3).
Bây giờ điểm chú ý được chuyển từ nếp sống và ảnh hưởng từ bên ngoài của Sa-tan sang tình trạng bên trong của người không được tái sanh. Một lần nữa, chúng ta lại thấy cái tình hình phổ quát này “Tất cả chúng ta một thời (cũng) để sống như thế...” Chữ dùng mô tả then chốt tình hình bên trong trước kia là xác thịt. Ở đây Phao-lô nhắc lại ngôn ngữ Chúa Giê-xu đã nói với Ni-cô-đem.
Chữ xác thịt ở đây không thể đựơc hiểu là đồng nghĩa với thể xác. Tự nó, thân xác chúng ta không phải là xấu xa gian ác, vì Thượng Đế đã tạo dựng chúng ta là những hữu thể có thân xác, và chính Ngài cũng từng trở thành một con người có thể xác. Xác thịt ám chỉ bản tính tội lỗi, là tính cách sa bại trọn vẹn của con người.
Trước khi được tái sanh, chúng ta hoàn toàn sống trong xác thịt và sống cho xác thịt. Cách ăn ở của chúng ta noi theo các ham muốn của xác thịt. Điều này không chỉ ám chỉ các dục vọng thể xác hay tình dục, mà chỉ một khuôn mẫu hay gồm mọi ham muốn tội lỗi.
Phao-lô bao trọn bản án phổ quát dành cho nếp sống sa ngã của chúng ta bằng cách thêm rằng “Vì bản tính tội lỗi đó, chúng ta đáng bị Thượng Đế hình phạt như bao nhiêu người khác” (2:3). Khi Phao-lô đề cập “bản tính”, ông ám chỉ tình trạng của chúng ta khi mới bước vào thế gian này. Sự sinh ra theo phưng diện sinh lý là sự sanh ra tự nhiên. Tái sanh là một sự sanh ra siêu nhiêu. Loài người vốn không được sanh ra để chịu hình phạt. Bản tính nguyên thủy của chúng ta vốn không vị sa bại. Tuy nhiên, từ sau khi A-đam và E-va sa ngã, chữ tự nhiên ám chỉ tình trạng tội lỗi bên trong, gắn liền với con người chúng ta.
Tất cả các em bé được sanh ra đời đều đi vào thế gian với một tình trạng băng hoại, sa đọa. Đa-vít từng tuyên bố: “Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi” (Thi Tv 51:4). Mọi người chúng ta đều đã chết thuộc linh trước khi được sanh ra Trong thần học, chúng ta gọi tình trạng tội lỗi có sẵn đó, là nguyên tội. Nguyên tội không ám chỉ tội phạm đầu tiên của A-đam và E-va; nó ám chỉ các hậu quả của tội phạm đầu tiên đó, là việc chuyển tiếp, lưu truyền, một bản tính sa đọa, băng hoại cho cả nhân loại.
Theo bản tính, chúng ta “đáng bị Thượng Đế hình phạt”. Điều này trái hẳn với khái niệm xã hội được mọi người chấp nhận khá phổ biến rằng theo lẽ tự nhiên, chúng ta là con cái của Thượng Đế! Ý niệm sai lầm này vừa lâu đời vừa phổ biến. Nó là một điều sai lầm sở dĩ được nhiều người tin vì cứ thường được nhắc đi nhắc lại luôn. Nếu bạn lặp lại một lời nói dối luôn, thì thiên hạ sẽ bắt đầu tin nó.
Lời dối trá bảo rằng theo lẽ tự nhiên, chúng ta là con cái Thượng Đế, là một lời dối trá từng khiến Chúa Giê-xu phải bối rối. Ngài đã bị bắt buộc phải chống lại nó, bài bác nó khi tranh luận với phái Biệt lập. Mấy thầy biệt lập từng nổi khùng khi bị Chúa Giê-xu xem chỉ trích nên nói:
Chúng tôi đâu phải con hoang! Chúng tôi chỉ có một Cha, là Thượng Đế. Chúa đáp: Nếu anh em là con cái Thượng Đế, anh em đã yêu mến tôi, vì tôi từ Thượng Đế đến đây. Thượng Đế sai tôi chứ tôi không tự ý đến. Sao anh em không chịu hiểu những điều tôi nói? Chỉ vì có ai ngăn cản anh em. Anh em là con của Quỷ vương nên chỉ thích làm những điều nó muốn. Từ ban đầu nó đã giết người và chối bỏ chân lý, vì trong nó chẳng có gì chân thật. Quỷ vương nói dối theo bản tính tự nhiên, vì nó là Kẻ nói dối và cha của mọi người nói dối... Con cái Thượng Đế luôn luôn nghe lời Thượng Đế. Anh em không chịu nghe lời Thượng Đế chỉ vì anh em không phải là con cái Ngài” (GiGa 8:41-47).
Tuy Kinh Thánh thừa nhận Thượng Đế là Cha mọi người theo nghĩa Ngài vốn là Đấng Tạo Hoá của nhân loại, thì theo một ý nghĩa đặc biệt, trong đó việc Thượng Đế làm cha chúng ta không được định nghĩa theo các điều kiện sinh lý mà thoe các điều kiện đạo đức, thì cha của chúng ta là người mà chúng ta vâng lời. Mối liên hệ này đã không được thiết lập bằng các mối dây ràng buộc sinh lý, mà bằng việc tự nguyện vâng lời.
Vì bọn Biệt phái vâng lời Sa-tan chứ không phải là vâng lời Thượng Đế, cho nên Chúa Giê-xu mới bảo với họ: “Anh em là con của Quỷ vương” (GiGa 8:44).
Trong Ê-phê-sô 2, Phao-lô đề cập cả “những kẻ đáng bị Thượng Đế hình phạt” (c.3), lẫn những người chống nghịch Thượng Đế” (c.2). Mấy câu này mô tả mọi người chúng ta theo tình trạng tự nhiên khi chưa được tái sanh.
Lúc Phao-lô hoàn tất phần mô tả tình trạng chưa được tái sanh của chúng ta, ông đột ngột chuyển sang một bài ca ngợi tán tụng quang vinh nhằm ca ngợi lòng nhân từ thương xót của Thượng Đế. Liên từ chuyển tiếp là chữ duy nhất mà số phận đời đời của chúng ta bị lệ thuộc vào. Có lẽ đó là chữ quang vinh duy nhất trong Kinh điển, kết tinh yếu tính của Phúc âm. Đó là chữ nhưng. Liên từ ngắn ngủi này làm thay đổi cả bầu không khí của khúc sách. Nó là chiếc vòng nối liền cái tự nhiên với cái siêu nhiên, nối liền sự thoái hoá với sự tái sanh.
Nhưng Thượng Đế vô cùng nhân từ, vì tình yêu thương của Ngài đối với chúng ta quá bao la dù tâm linh chúng ta đã chết vì tội lỗi, Ngài cho chúng ta được sống lại với Chúa Cứu Thế. Vậy nhờ ân phúc Thượng Đế, anh em được cứu Trong Chúa Cứu Thế, Thượng Đế cất bổng chúng ta lên cao, cho chúng ta cùng ngồi với Chúa Cứu Thế trên ngai trời. Muôn đời về sau, Ngài có thể tiếp tục bày tỏ ân phúc phong phú vô tận cho mọi người tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vậy anh em được cứu nhờ anh phúc Thượng Đế, do đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Sự cứu rỗi là tặng phẩm của Thượng Đế, chứ không do anh em tự tạo. Không phải là kết quả của công đức anh em, nên chẳng ai có thể khoe khoang. Thượng Đế sáng tạo chúng ta và turyền cho chúng ta sự sống mới trong Chúa Cứu Thế Giê-xu để chúng ta thực hiện những nơi tốt lành Ngài hoạch định từ trước (Eph Ep 2:4-10).
QUYỀN CHỦ ĐỘNG BƯỚC TRƯỚC CỦA THƯỢNG ĐẾ
Tái sanh là công tác do quyền tể trị của Thượng Đế là Thánh Linh. Chính Ngài đã chủ động đi bước trước, chứ không phải chúng ta. Xin chúng ta lưu ý điểm nhấn mạnh của Phao-lô trên công tác của Thượng Đế, chứ không phải trên nỗ lực của con người:
Nhưng Thượng Đế vô cùng nhân từ...
Chúng ta nhận thấy là sứ đồ không viết: nhưng nhờ sự tốt lành thiện hảo của mình con người đã tự mình hướng về Thượng Đế và tự nâng mình lên đến một trình độ thuộc linh mới.
Có một trong những khoảnh khắc sôi động nhất trong chính cuộc đời tôi khi muốn tự tạo lấy cho riêng mình một nền thần học, đã xảy ra trong phòng tôi hồi còn học ở chủng viện. Có một trong các giáo sư của tôi đã lên bảng đen và viết bằng chữ hoa đậm nét câu này
TÁI SANH ĐI TRƯỚC ĐỨC TIN
Mấy chữ đó gây chấn động cho hệ thống của tôi. Tôi đã vào chủng viện với niềm tin rằng công tác then chốt của một người là lấy đức tin để thực hiện sự tái sanh. Tôi đã tưởng rằng trước hết chúng ta phải tin vào Chúa Cứu Thế để rồi được tái sanh. Sở dĩ tôi dùng hai chữ để rồi ở đây, vì có một lý do. Tôi đã suy nghĩ về những bước đi liên tục phải có để tới một mức đến. Tôi đã đặt đức tin tại điểm xuất phát. Thứ tự trông có vẻ đại khái như sau:
Đức tin - tái sanh - kể là công chính
Theo lược đồ tôi đã vạch ra này, thì quyền chủ động đi bước trước là thuộc về chúng ta. Lẽ tất nhiên là Thượng Đế đã sai Chúa Giê-xu để chịu chết trên thập tự giá từ trước khi tôi chưa được nghe về Phúc âm. Nhưng khi Thượng Đế đã khiến cho những việc ấy đến với tôi từ bên ngoài, thì tôi nghĩ rằng việc chủ động đi bước trước để tiếp nhận sự cứu rỗi là công việc của tôi.
Tôi đã chưa cẩn thận suy cùng nghĩ cạn vấn đề ấy. Tôi cũng chưa lắng nghe thật kỹ lời Chúa Giê-xu phán dạy Ni-cô-đem. Tôi cho rằng tuy mình vốn là tội nhơn, một con người đựơc sanh ra trong xác thịt và sống trong xác thịt, tôi vẫn còn một hòn đảo công chính nho nhỏ, một chỗ bé xíu để cất giữ năng lực thuộc linh còn lại trong tâm hồn, có thể giúp tôi tự mình đáp ứng với Phúc âm.
Có lẽ tôi đã bị nhầm lẫn vì lời truyền dạy theo truyền thống của Giáo hội Công giáo La-mã. Giáo hội La-mã và nhiều chi nhánh Cơ-đốc giáo khác đã dạy rằng sự tái sanh được ban cho vô đều kiện; nó không thể xảy ra nếu không có sự trợ giúp của Thượng Đế. Chẳng hề có ai có đủ năng lực để tự mình sống lại khỏi sự chết thuộc linh. Sự trợ giúp của Thượng Đế là cần thiết, và cần thiết tuyệt đối. Theo giáo hội La-mã, thì ân phúc vô điều kiện ấy đến dưới hình thức được gọi là ân phúc đến trước.
Giáo hội La-mã thêm vào cho ân phúc đến trước ấy sự đòi hỏi là chúng ta phải “cộng tác với nó và nhất trí với nó” trước khi no có thể xâm chiếm lòng ta.
Có cao lắm, thì ý niệm về sự cộng tác này chỉ là một chân lý nửa vời. Nó chỉ đúng bao lâu đức tin mà chúng ta có là của chính chúng ta. Thượng Đế không thực hiện việc tin Chúa Cứu Thế thay cho chúng ta. Khi tôi đáp ứng lại với Chúa Cứu Thế, thì đó là sự đáp ứng là đức tin, là lòng tin cậy do chính tôi thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề còn sâu nhiệm hơn nhiều. Vấn đề vẫn tồn tại là: Tôi cộng tác với ân phúc Thượng Đế trước khi được tái sanh, hay sự cộng tác chỉ xảy ra sau khi tôi đã được tái sanh rồi?
Còn một cách khác nữa để đặt vấn đề này là chẳng hay sự tái sanh là tự lực (mouergetic) hay hợp lực (synergetic). Nó là một hoạt động đơn phương, hay một sự cộng tác vào người khác? Có một số các từ ngữ này là những danh từ thần học, đòi hỏi phải được giải nghĩa thêm.
TỰ LỰC VÀ HỢP LỰC
Một công tác tự lực là một công việc chỉ do một ngừi duy nhất thực hiện. Tiếp đầu ngữ mono có nghĩa là một. Từ erg chỉ một đơn vị công tác. Những chữ như energy (năng lực) vốn do ngữ căn này mà ra. Một công tác do hợp lực là một công việc do sự cộng tác giữa hai hoặc nhiều người, nhiều vật hơn. Tiếp đầu ngữ syn có nghĩa là “cùng với”.
Sở dĩ tôi phải phân biệt rõ ràng hai từ ngữ này, vì có một lý do. Có thể nói khá đúng rằng cuộc tranh luận giữa La-mã với Martin Luther là ở điểm duy nhất này. Vấn đề được đặt ra là: Tái sanh là một công tác tự lực của Thượng Đế, hay nó là công tác do hợp lực, đòi hỏi phải có sự cộng tác giữa con người và Thượng Đế?
Khi vị giáo sư của tôi viết lên bảng đen câu: Tái sanh đi trước đức tin”, là ông đã rõ ràng đứng về phía câu trả lời tự lực. Lẽ tất nhiên là sau khi một người đã được tái sanh, người ấy sẽ cộng tác bằng cách thực thi đức tin và lòng tin cậy của mình. Nhưng bước đầu tiên bước tái sanh bởi đó một người được khích động, được đánh thức đề có được sự sống thuộc linh, là công tác của Thượng Đế, và chỉ của một mình Thượng Đế mà thôi. Chủ động đi bước trước là nơi Thượng Đế, chứ không phải ở phía chúng ta.
Lý do khiến chúng ta không thể cộng tác với ân phúc tái sanh trước khi nó tác động trên chúng ta là vì chúng ta không thể làm như thế. Sở dĩ chúng ta không thể làm như thế, là vì chúng ta vốn đã chết thuộc linh. Chúng ta không còn có thể tự lực cho Đức Thánh Linh trong việc khích động, đánh thức linh hồn chúng ta để nó có được sự sống thuộc linh, chẳng khác chi Lã-xa đã chẳng giúp gì được cho Chúa Giê-xu trong việc người khiến ông từ chết sống lại.
Rất có thể rằng quả thật đa số những người tự xưng là Cơ-đốc nhân trên thế giới hiện nay tin rằng thứ tự của sự cứu rỗi là như sau: Đức tin đi trước sự tái sanh. Chúng ta được răn dạy phải chọn để được tái sanh. Nhưng bảo với một người hãy chọn việc mình được tái sanh,thì chỉ như bảo một thi thể hãy chọn sự sống lại. Lời răn bảo ấy chỉ dội vào đôi tai đã chết mà thôi.
Lúc tôi bắt đầu vật lộn với luận cứ của vị giáo sư của mình, tôi rất kinh ngạc khi học biết được rằng lời truyền dạy nghe có vẻ rất lạ tai ấy không phải là một điều mới được bày đặt ra trong thần học. Tôi thấy cũng một lời truyền dạy như thế nơi Augustine, Martin Luther, John Calvin, Jonathan Edwards, và George Whitefell. Tôi vô cùng kinh ngạc khi nhận thấy thậm chí nó còn có cả trong lời truyền dạy của thần học gia Công giáo thời Trung cổ là Thomas Aquinas nữa.
Sự kiện các nhân vật khổng lồ trong lịch sử Cơ-đốc giáo đã đạt đến cùng một kết luận như thế về vấn đề này đã có một sức thâm nhập phi thường nơi tôi. Tôi ý thức được rằng cả về phương diện cá nhân lẫn tập thể, các vị ấy không hề là vô ngộ. Mỗi một người trong các vị ấy cũng như toàn thể các vị ấy đều có thể sai lầm. Nhưng tôi đã bị xúc động mạnh. Đặc biệt là tôi được Thomas Aquinas tạo ấn tượng sâu sắc.
Thomas Aquinas vốn được xem là vị tiến sĩ thiênthần (doxtor Angelicus) của giáo hội Công giáo La-mã. Qua nhiều thế kỷ, lời giaó huấn thần học của ông đã được đa số các tín đổ Công giáo thừa nhận là giáo điều chính thức. Cho nên ông là người cuối cùng mà tôi trông mong là sẽ chủ trương một quan điểm như thế về sự tái sanh. Thế nhưng Thomas Aquinas lại nhấn mạnh rằng ân phúc tái sanh là một ân phúc tác động, chứ không phải là một ân phúc cộng tác. Aquinas nói về ân phúc có trước (prevenient grace), nhưng ông nói về một ân tứ đi trước đức tin, là ân phúc tái sanh.
Câu then chốt trong bức thư của Phao-lô gởi người Ê-phê-sô về vấn đề này là ... dù tâm linh chúng ta đã chết vì tội lỗi, Ngài cho chúng ta được sống lại với Chúa Cứu Thế. Vậy nhờ ân phúc Thượng Đế, anh em được cứu (Eph Ep 2:5)
Ở đây, Phao-lô định vị trí cho thời gian lúc sự tái sanh xảy ra. Nó xảy ra lúc chúng ta đang chết. Chỉ bằng một tiếng sấm đột ngột nổ vang, lời mặc khải của vị sứ đồ đã hoàn toàn đè bẹp mọi nỗ lực nhằm gán chủ động đi bước trước trong sự tái sanh cho con người. Loài người đã chết, thì không thể cộng tác với ân phúc Thượng Đế. Kẻ đã chết thuộc linh không thể chủ động đi bước trước. Nếu không có sự tái sanh trước rồi, thì không thể nào có đức tin.
Điều này chẳng nói lên điều gì khác với những gì Chúa Giê-xu đã nói với Ni-cô-đem: Nếu một người không tái sanh, thì không thể thấy Nước Trời. Nếu chúng ta tin rằng đức tin đi trước sự tái sanh, là chúng ta tự đặt tư tưởng của mình và do đó là bản thân chúng ta nữa, vào vị trí đối lập trực tiếp, chẳng những với Augustine, Aquinas, Luther, Calvin, Edwards và nhiều nhân vật khác, mà chúng ta còn chống lại cả với lời truyền dạy của Phao-lô và của chính Chúa chúng ta nữa.
TÁI SANH LÀ DO ÂN PHÚC THƯỢNG ĐẾ
Trong phần trình bày về sự tái sanh của Phao-lô, đã có sự nhấn mạnh trên ân phúc Thượng Đế. Điều cần thiết là toàn thể các Cơ-đốc nhân phải tin chắc về phương diện thần học hầu sẵn sàng vui vẻ nhìn nhận rằng sự cứu rỗi chúng ta vốn được đặt trên nền móng là ân phúc Thượng Đế.
Trong cuộc cải chánh, các tín đồ Kháng cách đã dùng hai câu bằng La-văn làm khẩu hiệu xung trận: Sola Scriptura (chỉ có Kinh điển mà thôi) và Sola fide (chỉ có đức tin mà thôi). Họ nhấn mạnh rằng thẩm quyền tối cao trong Hội thánh dưới Chúa Cứu Thế là Kinh Thánh mà thôi. Họ nhấn mạnh rằng người ta được kể là công chính, là chỉ nhờ đức tin mà thôi. Nhưng giáo hội La-mã vốn không phủ nhận uy quyền của Kinh Thánh; họ chỉ muốn bóp chẹt chữ Sola mà thôi. Giáo hội La-mã không phủ nhận muốn được kể là công chính, người ta phải có đức tin; chính chữ sola đã xui giục họ lên án Luther.
Trong cuộc cải chánh, hãy còn một khẩu hiệu cung trận thứ ba nữa. Nó nguyên được Augustine viết ra từ hơn một ngàn năm trước Luther. Đó là câu Sola gratia. Câu này khẳng địh rằng sự cứu rỗi chúng ta là chỉ nhờ ân phúc Thượng Đế mà thôi. Không hề có công đức của con người pha lẫn vào đó. Sự cứu rỗi không phải là công lao của con người; nó là quà tặng miễn phí của Thượng Đế. Cũng thức này đã bị quan điểm cộng lực về sự tái sanh chống lại.
Việc Phao-lô thêm vào lời truyền dạy của ông về sự tái sanh, rằng đó là công tác miễn phí, tặng không, của ân phúc Thượng Đế, vốn không phải do tình cờ, ngẫu nhiên. Xin chúng ta hãy xét lại vấn đề ấy một lần nữa:
Nhưng Thượng Đế vô cùng nhân từ, vì tình yêu thương của Ngài đối với chúng ta quá bao la; dù tâm linh chúng ta đã chết vì tội lỗi, Ngài cho chúng ta được sống lại với Chúa Cứu Thế. Vậy nhờ ân phúc Thượng Đế, anh em được cứu... Muôn đời về sau, Ngài có thể tiếp tục bày tỏ ân phúc phong phú vô tận cho mọi người tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vậy anh em được cứu nhờ ân phúc Thượng Đế, do đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Sự cứu rỗi là tặng phẩm của Thượng Đế, chứ không do anh em tự tạo. Không phải là kết quả của công đức anh em, nên chẳng ai có thể khoe khoang Thượng Đế sáng tạo chúng ta và truyền cho chúng ta sự sống mới trong Chúa Cứu Thế Giê-xu để chúng ta thực hiện những việc tốt lành Ngài hoạch định từ trước (Eph Ep 2:4-10).
Có bao giờ bạn chê trách Kinh Thánh không? Phần tôi thì chắc chắn là có, khiến tôi vô cùng xấu hổ. Tôi vẫn thường tự hỏi khi gặp những bất đồng ý kiến trong thần học, rằng tại sao Kinh Thánh lại không nói rõ ràng hơn về một số các vấn đề nào đó. Thí dụ, tại sao Tân ước lại không nói thẳng ra rằng chúng ta có nên hay không nên làm phép báp-tem cho trẻ con?
Trong nhiều vấn đề như thế, chúng ta đã bị bỏ mặc để tự quết định lấy trên cơ sở những suy diễn được rút ra từ Kinh Thánh. Khi nào tôi thắc mắc về những bất đồng ý kiến như thế, tôi thường quay trở về với điểm này: Điều rắc rối không do Kinh Thánh không rõ ràng, mà do chính tôi không chịu suy nghĩ cho thật rõ ràng về những gì Kinh Thánh dạy.
Khi gặp vấn đề về sự tái sanh và đức tin, tôi tự hỏi Phao-lô làm sao có thể làm sáng tỏ nó hơn được. Tôi giả thiết ông đã có thể thêm vào cho Ê-phê-sô 2 câu “Tái sanh đi trước đức tin”. Tuy nhiên, tôi thành thật nghĩ rằng ngay đến một câu như thế cũng không thể kết thúc được tranh luận. Đã chẳng có gì trong câu đó mà chưa được Phao-lô nói ra hết sức rõ ràng trong văn bản trên đây, hay trong những gì Chúa Giê-xu đã dạy ở Giăng 3.
Thế thì tại sao lại có tất cả những rắc rối kia? Theo thiển ý, thì sở dĩ như thế, là vì nếu chúng ta kết luận rằng sự tái sanh là do chủ động đi bước trước của Thượng Đê, rằng tái sanh là tự lực của Thượng Đế, rằng sự cứu rỗi chỉ do ân phúc Thượng Đế mà thôi, chúng ta sẽ không thể tránh được hàm ý rõ rệt sẽ nhanh chóng đưa chúng ta tới vấn đề quyền tuyển chọn tối cao, không tài nào cưỡng lại được.
Ngay khi giáo lý về tuyển chọn xuất hiện, lập tức có phản ứng điên rồ là phải tìm cách đặt đức tin lên trước sự t1i sanh. Bất chấp mọi khó khăn đang chờ đợi đó, cúng ta thấy vị sứ đồ vẫn tiếp tục truyền dạy:
Vậy anh em được cứu nhờ ân phúc Thượng Đế, do đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Sự cứu rỗi là tặng phẩm của Thượng Đế, chứ không do anh em tự tạo. Không phải là kết quả của công đức anh em nên chẳng ai có thể khoe khoang (Eph Ep 2:8-9).
Ở đây, Phao-lô dạy rằng đức tin nhờ đó chúng ta được cứu là đức tin do ân phúc Thượng Đế đem đến cho chúng ta. Đức tin của chúng ta là cái mà chúng ta tự mình vận dụng ngay trong bản thân chúng ta, nhưng nó vốn không phải là của riêng chúng ta. Nó là một tặng phẩm. Nó không phải là một công đức.
Với tặng phẩm cho không là đức tin như hậu quả của sự tái sanh, mọi khoe khoang đều bị loại trừ vĩnh viễn, ngoại trừ khoe khoang về tính cách phong phú vô cùng của lòng nhân từ thương xót của Thượng Đế. Mọi quan điểm tập trung vào con người của sự cứu rỗi đều bị loại trừ nếu chúng ta giữ lại chữ sola trong sola gratia. Do đó, chúng ta đừng bao giờ làm buồn Đức Thánh Linh bằng cách tự gán cho bản thân điều gì vốn chỉ thuộc về một mình Ngài, vốn là độc quyền của Ngài, mà thôi.
TÁI SANH LÀ VẬN DỤNG
Trong phạm vi các hình thức truyền thống của nền thần học của Armimius, nhiều người đồng ý rằng sự tái sanh đi trước đức tin, nhưng nhấn mạnh rằng nó không luôn luôn hay nhất thiết tạo ra đức tin. Quan điểm này nhất rí rằng chủ động đi bước trước là của Thượng Đế, rằng nó vốn do ân phúc Thượng Đế, rằng nó vốn do ân phúc Thượng Đế, rằng sự tái sanh là do tự lực của Thượng Đế. Quan điểm này thường được buộc chặt vào với một loại quan điểm phổ quát nào đó về sự tái sanh.
Ý niệm này được kết hợp với thập tự giá. Có người lý luận rằng một trong nhiều lợi ích phổ quát của sự chuộc tội của Chúa Cứu Thế, ấy là tất cả mọi người đều được tái sanh, đến độ giờ đây đức tin là điều có thể có được thập tự giá cứu vớt tất cả mọi người khỏi sự chết thuộc linh, đến độ giờ đây chúng ta có khả năng để cộng tác hay không cộng tác với đề nghị của ân phúc cứu rỗi. Những ai công tác bằng cách vận dụng đức tin thì được kể là công chính. Những ai không chịu vận dụng đức tin cũng được tái sanh, nhưng không chịu ăn năn quy đạo. Họ được khích động, đánh thức về phương diện thuộc linh và có sự sống thuộc linh, nhưng vẫn giữ lòng vô tín. Bây giờ, họ đều thấy đựơc Nước Trời, và có năng lực tinh thần để vào đó, nhưng họ lại chọn việc không chịu vào.
Tôi gọi quan điểm này là quan điểm khônv chịu vận dụng hay không chịu nhờ cậy vào ân phúc Thượng Đế. Nó rất gần với điều mà Thomas Aquinas chối bỏ, xem như là ân phúc do cộng tác
Khi tôi chủ trương rằng tái sanh là nhờ vận dụng (ân phúc Thượng Đế), tôi ngụ ý nói rằng nó đã hoàn tất được mục tiêu đúng, theo ý muốn. Nó đã thành công. Nó hoàn tất được công tác. Chúng ta đã được khiến sống lại trong đức tin. Tặng phẩm là đức tin đã thật sự được ban cho và cắm rễ ngay trong lòng chúng ta.
Lắm khi câu sự kêu gọi đã được thành tựu được dùng như đồng nghĩa với tái sanh. Chữ kêu gọi chỉ một điều gì đó xảy ra trong lòng chúng ta, phân biệt với điều xảy ra bên ngoài chúng ta.
Khi Phúc âm được truyền giảng và chúng ta nghe được,c ác âm thanh được truyền ra từ môi miệng nhà truyền đạo. Bấy giờ, đã có một tiếng gọi từ bên ngoài bảo chúng ta hãy có đức tin và ăn năn tội lỗi. Ai là người không bị điếc cũng có thể nghe những lời nói bằng đôi tai mình. Những lời ấy chạm vào các dây thần kinh thính giác của người đã được tái sanh cũng như không được tái sanh y nhau.
Người không được tái sanh cũng kinh nghiệm, về tiếng gọi của Phúc âm từ bên ngoài. Sự kêu gọi từ bên ngoài ấy không thực hiện, thành tựu được sự cứu rỗi, trừ phi khi tiếng gọi ấy đựơc nghe và tiếp nhận bởi đức tin. Tiếng gọi có kết quả (được thực hiện, thành tựu) chỉ công tác của Đức Thánh Linh trong sự tái sanh. Ở đây tiếng gọi là từ bên trong. Người được tái sanh được kêu gọi từ bên trong. Tất cả những ai nhận được một tiếng gọi từ bên trong của sự tái sanh đều đáp lại bằng đức tin. Phao-lô nói như thế này:
Chúa kêu gọi những người Ngài chỉ định. Khi chúng ta đáp ứng, Chúa tha thứ tội lỗi, nhìn nhận chúng ta là công chính. Người công chính được hưởng vinh quang đời đời (RoRm 8:30).
Khúc sách này torng La-mã được viết theo phép tĩnh lược (elliptical). nghĩa là nó đòi hỏi chúng ta phải đưa vào đó một chữ theo nhưc ách văn bản đã nói mà không chỉ rõ ra. Vấn đề quan trọng là chúng ta sẽ đưa ra chữ nào đây? Một vài hay tất cả? Chúng ta hãy thử chữ một vài xem sao:
Chúa kêu gọi một vài người Ngài chỉ định. Khi một vài người đó đáp ứng, Chúa tha thứ tội lỗi, nhìn nhận một vài người đó là công chính. Một vài người công chính đó được hưởng vinh quang đời đời.
Thêm từ một vài vào đây, là xuyên tạc văn bản. Nó sẽ có nghĩa rằng còn một số người (khác) mà Ngài chỉ định đã chẳng bao giờ được nghe tiếng gọi của Phúc âm. Một số người đã được gọi (khác) đã chẳng bao giờ đáp ứng (có đức tin) để được tha thứ tội, được nhìn nhận là công chính. Một số người đã được nhìn nhận là công chính, đã không được hưởng vinh quang. Trong lược đồ này, chẳng những chỉ có sự kêu gọi đã không được thực hiện, thành tựu, mà cả đến việc chỉ (tiền) định lẫn việc kể là công chính cũng không được thực hiện, thành tựu nữa.
Hàm ý của văn bản này là tất cả những người đã được chỉ (tiền) định đều được kêu gọi như nhau. Tất cả những ai đã được kêu gọi cũng đều được kể là công chính, và tất cả những ai đã được kể là công chính đều được tôn vinh.
Nếu trường hợp quả đúng là như thế, thì chúng ta phải phân biệt sự kêu gọi bên ngoài của Phúc âm, có thể được lưu ý hay không, với tiếng gọi bên trong của Đức Thánh Linh vốn nhất thiết phải thành tựu. Tại sao thế? Nếu tất cả những người được gọi đều được kể là công chính, thì tiếng gọi ấy phải tạo ra đức tin. Rõ ràng là không phải tất cả mọi người được nghe tiếng gọi bên ngoài của Phúc âm đều có đức tin để được kể là công chính. Ở đây, tiếng gọi chỉ công tác thì bên trong của Đức Thánh Linh, gắn liền với sự tái sanh.
Những người được Đưc Thánh Linh khiến sống lại, chắc chắn sẽ được sống. Họ được thấy Nước Trời; họ tiếp nhận Nước Trời; họ được vào Nước trời.
Chúng ta vốn mắc nợ Thánh Linh của Thượng Đế về ân phúc được tái sanh và đức tin Ngài là Đấng ban tặng phẩm; trong khi chúng ta đã chết, Ngài đã khiến chúng ta cùng sống lại với Chúa Cứu Thế, sống lại cho Ngài, và sống lại trong Ngài. Chính nhờ hành động nhân từ yêu thương là thức tỉnh chúng ta, khiến chúng ta sống lại mà chúng ta ca hát sola gratia và soli deogloria - chỉ tôn vinh một mình Thượng Đế mà thôi.


ĐƯỢC AN TOÀN VÀ AN LÀNH NHỜ ĐỨC THÁNH LINH
Với người nhớ đến Thánh Linh thì bao giờ cũng có một lối thoát
Ngay cả khi ở trong hoang mạc với ma quỉ
HERBERT F.BROKERING
Ngôi thứ Ba trong Ba Ngôi Thượng Đế có tên là Đức Thánh Linh. Chúng ta tự hỏi tại sao danh hiệu Thánh lại được đặc biệt dành cho Ngài. Thuộc tính thánh khiết cũng thuộc cả về Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con nữa. Thế nhưng bình thường, chúng ta không đề cập cả Ba Ngôi Thượng Đế bằng các danh hiệu Đức Thánh Cha, Đức Thánh Con, và Đức Thánh Linh.
Tuy Thánh Linh vốn chẳng thánh kém hay thánh hơn Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, chữ Thánh trong danh Ngài lưu ý chúng ta, về tiêu điểm của công tác của Ngài trong kế hoạch cứu chuộc. Đức Thánh Linh là Đấng Thánh Hoá. Ngài là Đấng ứng dụng công tác của Chúa Cứu Thế vào đời sống chúng ta bằng cách vận hành trong chúng ta và đưa chúng ta đến chỗ hoàn toàn trở nên giống với hình tượng của Chúa Cứu Thế.
Trong sự cứu rỗi, không những chúng ta chỉ được cứu khỏi tội lỗi và án chết chúng ta còn được cứu để trở nên thánh khiết nữa. Mục tiêu của sự cứu chuộc, là sự thánh khiết.
Khi Phê-rơ viết về sự cứu cuộc, ông đã đưa ra lời bình luận này.
Tôn vinh Thượng Đế, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta! Bởi lòng nhân từ vô biên, Thượng Đế đã cho chúng ta được tái sanh để làm con cái Ngài. Do đó, niềm hy vọng của chúng ta tràn trề sức sống vĩnh cửu vì Chúa Cứu Thế đã từ cõi chết sống lại (IPhi 1Pr 1:3).
Chúng ta là những người được sanh ra một cách mới mẻ, những người được ban cho một niềm hy vọng về tương lai. Dưới ánh sáng của công tác tái tạo và tái sanh đầy ân phúc ấy, Phê-rơ còn thêm lời khuyên bảo này:
Bởi vậy, anh em hãy cảnh giác, giữ tâm trí minh mẫn, tập trung hy vọng đợi chờ ân phúc Thượng Đế dành cho anh em khi Chúa Cứu Thế trở lại. Đây là con cái Thượng Đế, anh em hãy vâng phục Ngài, đừng buông mình theo những dục vọng tội lỗi như lúc chưa biết Chúa. Đấng Cứu rỗi anh em rất thánh thiện, nên anh em hãy ăn ở thánh thiện như Ngài. Chính Ngài đã dạy: Các con phải thánh, vì Ta là thánh” (IPhi 1Pr 1:13-16).
Lời khuyên baỏ của Phê-rơ bắt đầu bằng hai chữ Bởi vậ.Từ này báo hiệu một kết luận sắp được đưa ra, căn cứ trên các tiền đề đã được trình bày. Trong ánh sáng của công tác tác sanh kỳ diệu, chúng ta được thách thức, hãy chăm chỉ theo đuổi sự thánh khiết.
Theo sau hai chữ bởi vậy là một cáchv í von nghe có hơi lạ tai: “Hãy bền chí như thể thắt lưng” (bản dịch cũ). Chúng ta vốn không quen kết hợp lưng với chi. Hình ảnh của Phê-rơ nhắc chúng ta nhớ lại toàn bộ binh giáp cho người chiến sĩ của Thượng Đế của Phao-lô:
Hãy trang bị đầy đủ khí giới của Thượng Đế để có thể đối phó với mọi mưu kế của Quỷ vương. Vì chúng ta không chiến đấu với người trần gian nhưng với quyền lực vô hình đang thống trị thế giới tối tăm này và với các tà linh trên trời. Vậy hãy mặc toàn bộ áo giáp của Thượng Đế để anh em có thể chiến đấu lúc bị tiến công, và khi chiến cuộc đã qua, anh em là kẻ chiến thắng. Muốn được như thế anh em phải thắt lưng bằng Chân lý, mặc sự công chính làm giáo che ngực (Eph Ep 6:11-14).
Lúc Phao-lô thổi lên hồi kèn xung trận, phần Phê-rơ thì đề cập việc thắt lưng cho tâm chí. Trong cuộc tranh luận với Gióp, Thượng Đế đã truyền cho Gióp “Hãy thắt lưng ngươi như kẻ dõng sĩ” (Giop G 40:2).
Thắt lưng là hành động đầu tiên của người chiến sĩ đời xưa, khi tự chuẩn bị xung trận. Tiêu chuẩn quân phục thời bấy giờ gồm có chiếc áo dài (trường hợp của người La-mã là áo to-ga). Chiếc áo dài vốn dài đến mắc cá để có thể mặc bình thường hằng ngày. Khi tiếng kèn xung trận vang lên, người lính vén vạt áo dài lên phía trên đầu gối, buộc chặt nó lại ngay thắt lưng bằng một sợi dây. Đó là hành động thắt lưng lại. Nếu lưng không được thắt chặt, người lính sẽ không thể xoay trở nhanh nhẹn. Người ấy sẽ bị các vạt áo dài gây trở ngại. Một khi lưng đã được thắt chặt rồi, thì hai đầu gối và đôi chân được tự do để di chuyển thật nhanh nhẹn và nhẹ nhàng.
Khi Phê-rơ dùng hình ảnh này, ông ứng dụng nó cho tâm chí “Hãy bền chí như thể thắt lưng”. Câu này có nghĩa là sau khi một Cơ-đốc nhân đã được tái sanh người ấy phải sẵn sàng cho cuộc chiến tranh. Bước vào đời sống làm Cơ-đốc nhân là bước vào cuộc chiến tranh có tầm cỡ vũ trụ. Con đường thánh hoá là con đường của người chiến sĩ.
Khi suy nghĩ lại về chính cuộc hành hương của mình với tư cách một Cơ-đốc nhân, tôi rùng mình nhớ lại khi được nghe các nhà truyền đạo quảng cáo để rao bán Phúc âm theo giọng điệu trên Đại lộ Madison. Tôi từng được nghe những lời hứa hẹn như: “Hãy đến với Chúa Giê-xu, thì tất cả các vấn đề của bạn sẽ được giải quyết”. Chỉ cần có một đức tin thật đơn sơ, thì cuộc đời sẽ trở thành đơn giản cho bạn”. Những câu như thế có thể bay bổng trên Đại lộ Madison, nhưng sẽ chẳng phù hợp với Con Đường Đau Khổ dẫn đến thập tự giá đâu.
Theo một ý nghĩa, cuộc đời tôi không bắt đầu gặp rắc rối cho đến khi tôi trở thành một Cơ-đốc nhân. Trước khi ăn năn quy đạo, tôi được “thoải mái trong Si-ôn”. Tôi sống thật dễ chịu với các mẫu mực tội lỗi của mình. Đời sống là một cuộc chơi. Sau khi ăn năn quy đạo, tôi nhận thức được rằng bây giờ mình phải sống thật đứng đắn. Mỗi một quyết định đạo đức, giờ đây, đều mang nặng tính cách quan trọng về mặt tinh thần. Bây giờ, lương tâm tôi, đã sống lại đối với Lời Thượng Đế, và tôi biết mình đã được kêu gọi để bước đi theo một nhịp trống khác hẳn các bạn bè và xã hội của tôi.
Tuy bấy giờ tôi hãy còn là một cậ bé, tôi vẫn nhớ một số ký ức sống động về trận Đệ Nhị Thế Chiến. Tôi nhớ thời gian cha tôi bị gọi nhập ngũ. Ông đã bắt đầu là một thiếu uý, và được giải nghũ với cấp bậc thiếu tá chỉ còn thiếu một ngày nữa là được vinh thăng trung tá. Khi nào được thăng cấp, ông đều gởi về cho tôi các quân hàm, quân hiệu cũ của mình. Mẹ tôi để tôi dùng chúng trang điểm cho chiếc áo lính tay ngắn của tôi (Đó là lý do khiến tôi phải học may).
Có một quân hiệu cha tôi để lại cho tôi gồm nhiều vạch nhỏ. Các vạch đơn sơ này được trang trí trên tay áo để chỉ thâm niên quân vụ. Cha tôi vốn không bị gọi nhập ngũ. Hồi chiến tranh bùng nổ, ông đã quá già để có thể bị gọi nhập ngũ. Ông được chỉ định làm người đứng đầu tiểu ban tuyển mộ địa phương. Sau khoảng hai tuần lễ phục vụ như thế, ông đã khiến mẹ tôi vô cùng kinh ngạc bằng việc trở về nhà với một bộ quân phục hẳn hoi. Ông nói với mẹ tôi: “Tôi không thể gởi đám thanh niên ấy ra trận mà chính mình lại không đi, cho nên tôi đã đăng ký đầu quân”. Cha tôi vào quân ngũ đầu năm 1942 và xuất ngũ cuối năm 1945 sau khi người Nhật đầu hàng. Lúc đăng ký tòng quân, ông ký giấy tình nguyện phục vụ suốt đời.
Khi bước vào đời sống làm Cơ-đốc nhân, chúng ta cũng đăng ký phục vụ suốt đời. Cuộc chiến tranh này không thể kết thúc trong vòng bốn năm, trừ phi khi Chúa gọi chúng ta về với Ngài. Cuộc chiến sẽ kéo dài bao lâu chúng ta hãy còn sống. Mỗi năm, chúng ta lại may thêm một vạch nhỏ vào các tay áo của chúng ta.
Muốn tồn tại trong cuộc chiến tranh có tầm cỡ vũ trụ này, chúng ta cần đề cao cảnh giác giữ tâm trí minh mẫn. Cuộc chiến đấu với Sa-tan chủ yếu là một cuộc đấu trí. Không có điều dại dột nào, không có nguy cơ nào lại quan trọng đối với sự thánh hoá chúng ta, hơn là gục ngã trước lời dụ dỗ nhằm mê hoặc chúng ta, bảo rằng “Cơ-đốc giáo hoàn toàn chỉ là một vấn đề của tấm lòng”.
Thượng Đế đã dựng nên chúng ta, sao cho tấm lòng phải theo sát tâm chí. Ngài đã không chỉ gởi cho chúng ta một tấm thiếp tỏ tình để giáo huấn chúng ta. Thánh Linh đã ban cho chúng ta cả một bộ sách mà nội dung là lời mặc khải để chúng ta có thể được biến hoá nhờ biết đổi mới tâm trí mình. Sách Châm ngôn chép: “Vì hắn tưởng trong lòng thể nào, thì hắn quả thể ấy (ChCn 23:7).
Trước giả sách Châm ngôn vốn biết rất rõ rằng cơ năng của tư tưởng không phải là trái tim, mà là tâm trí. Khi ông nói tưởng trong lòng là ông đề cập những tư tưởng sâu xa nhất của chúng ta. Chúng ta là điều mà chúng ta nghĩ. Hay có thể sẽ chính xác hơn nếu chúng ta nói: “Chúng ta sẽ trở thành như điều chúng ta nghĩ “Nếu tư tưởng chúng ta cứ ô uế luôn, thì sự ô uế ấy sẽ sớm bắt đau bộc lộ trong chính đời sống chúng ta. Nếu tư tưởng chúng ta lộn xộn, thì cuộc đời chúng ta sẽ rắc rối, hỗn loạn.
Trong tiến trình thánh hoá. Thánh Linh là giáo sư của chúng ta. Bộ sách giáo khoa là Kinh Thánh, Thánh Linh tìm cách đem các thông tin đến cho tư tưởng chúng ta. Chính sự ăn năn, trái đầu mùa của sự tái sanh, là một sự thay đổi tâm chí. Cơ-đốc giáo vô tri, là những từ ngữ tự mâu thuẫn nhau. Cơ-đốc nhân được khuyến cáo phải suy nghĩ - chính chắn sâu sắc - dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh.
Đức Thánh Linh cũng là Thần Chân lý. Khi Phao-lô đề cập phải thắt lưng và mặc vào toàn bộ binh giáp của Thượng Đế, ông bảo rằng điều chúng ta có cần để thắt lưng là chân lý:
Muốn được như thế anh em phải thắt lưng bằng Chân lý (Eph Ep 6:14).
Chính chân lý biến người chiến sĩ thuộc linh từ chỗ bị vướng víu bận bịu thành một chiến binh lẹ làng nhanh nhẹn. Chính chân lý giải phóng cho chúng ta. Chúa Giê-xu đã nói như thế này:
Nếu các con tiếp tục vâng lời ta dạy, các con mới thật là môn đệ ta. Các con sẽ biết chân lý và chân lý sẽ giải phóng các con (GiGa 8:31-32).
Trong bài tuyết giảng của Ngài tại phòng cao, Chúa Giê-xu đã hứa sai Đức Thánh Linh đến. Ngài phán:
Ta sẽ cầu xin Cha ban cho các con Đấng An ủi khác để sống với các con mãi mãi. Đó là Thánh Linh, Thần Chân lý (GiGa 14:16-17).
Ngài còn phán:
Nhưng Đấng An ủi là Thánh Linh mà Cha nhân danh ta sai đến, sẽ dạy dỗ các con mọi điều, nhắc các con nhớ mọi lời ta đã nói”. (GiGa 14:26).
Có lẽ phần diễn tả đầy đủ nhất Chúa Giê-xu đã dành cho ý niệm này là đoạn sau đây:
Ta cho các con biết: ta đi là ích lợi cho các con, vì nếu ta không đi, Đấng An ủi sẽ không đến với các con. Khi ta đi, ta sẽ sai Ngài đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ chứng tỏ cho nhân loại biết họ lầm lạc trong tội lỗi, sẻ dìu dắt họ trở về đường công chính và sẽ giúp họ hiểu công lý của Thượng Đế. Họ lầm lạc trong tội lỗi vì không chịu tin ta. Họ trở về đường công chính vì ta dành sự công chính của ta cho họ khi ta về cùng Cha, dù lúc ấy họ không thấy mặt ta nữa. Họ hiểu được công lý của Thượng Đế khi Quỷ vương bị hình phạt, còn người tin ta được thoát khỏi. Ta còn nhiều điều muốn nói với các con, nhưng hiện giờ các con chưa hiểu nổi. Khi Thần Chân lý đến, Ngài sẽ dạy các con biết chân lý toàn diện. Ngài không nói theo ý mình, nhưng truyền lại những điều Ngài đã nghe và báo cho các con biết những việc tương lai. Thần Chân lý sẽ tôn vinh ta, vì Ngài sẽ cho các con biết sự thật về vinh quang ta (GiGa 16:7-14).
Trong bài thuyết giảng này, Chúa Giê-xu đã dạy cho các môn đệ Ngài rất nhiều điều về thân (ngôi) vị và công tác của Đức Thánh Linh Ngài được gọi là Thần Chân lý. Ngài được cả Đức Chúa Cha lẫn Đức Chúa Con sai đến với chúng ta. Sứ mạng của Ngài là hoàn tất vai trò làm giáo sư cho chúng ta.
Đức Thánh Linh là tác giả Thánh điển. Ngài là Đấng linh cảm các văn phẩm nguyên thủy, Ngài là Đấng Soi sáng cho Lời Thượng Đế, để chúng ta có thể hiểu được. Ngài là Đấng dùng Lời Thượng Đế để thuyết phục, cáo trách chúng ta, đưa chúng ta đến chỗ tin Chúa.
Đức Thánh Linh có thể khác với Lời Thượng Đế (Word: Ngôi Lời), nhưng phân rẽ Lời Thượng Đế với Thánh Linh là vô cùng tai hại về mặt thuộc linh. Đức Thánh Linh dạy dỗ, hướng dẫn và phán dạy chúng ta qua Lời Thượng Đế và bằng Lời Thượng Đế (Kinh Thánh), chứ không phải là ngoài Kinh Thánh hay trái với Kinh Thánh. Đức Thánh Linh sẽ buồn rầu biết bao khi các tà linh nhạo báng Thượng Đế bằng cách tự xưng chúng được Thánh Linh hướng dẫn, trong khi thật ra chúng đang hành động chống lại Lời Thượng Đế.
Lời của Thượng Đế là Lời của Thánh Linh. Thánh Linh chẳng bao giờ truyền dạy trái với Lời Thượng Đế. Lời Thượng Đế là Chân lý, nó là chân lý của Thánh Linh. Lời Thượng Đế kêu gọi chúng ta hãy “thử” các thần linh:
Anh em thân yêu, đừng vội tin những người tự cho mình được thần linh cảm ứng; trước hết phải thử xem có thật không. Vì hiện nay nhiều nơi đã có các giáo sư giả xuất hiện (IGi1Ga 4:1).
Khi chúng ta được kêu gọi phải thử các thần linh, việc thử nghiệm ấy liên quan đến vấn đề chân lý: Lý do Giăng đưa ra để phải thử như thế, là vì cớ các tiên tri giả. Một tiên tri giả sở dĩ giả, là vì không nói sự thật.
Có một dấu hiệu cổ điển về một tiên tri giả là nó tự xưng là mình nói thật. Nó tự xưng mình đã được Đức Thánh Linh cho phép. Những lời tự xưng ấy đều giả dối. Thật vậy, không phải tất cả những người tự xưng là được Thánh Linh của Thượng Đế hướng dẫn, đều được Linh của Thượng Đế hướng dẫn cả. Thánh Linh là Thần Chân lý. Ngài chỉ hướng dẫn người ta xa lìa chân lý hay chống lại chân lý.
Vì Kinh điển là lời mặc khải của Đức Thánh Linh, bộ sách ấy có chức năng làm quy phạm và thử nghiệm chân lý. Đức Thánh Linh không hề tự mâu thuẫn. Thánh Linh không phải là Linh của sự lộn xộn. Nếu người nào tự xưng mình được Thánh Linh hướng dẫn mà lại truyền dạy những điều trái với Kinh điển, thì rõ ràng là người ấy không hề được Thánh Linh hướng dẫn.
Thần Chân lý là Đức Thánh Linh. Ngài giáo huấn chúng ta trong chân lý để chúng ta có thể nên thánh. Học hỏi chân lý không có cứu cánh trong chính nó; nó là phương tiện nhằm vào cứu cánh là để học biết và thực thi sự thánh khiết.
Cho nên ngay tại chỗ mà Phê-rơ bắt đầu kêu gọi chúng ta phải đề cao cảnh giác giữ tâm trí minh mẫn (bền chí như thế thắt lưng - theo bản dịch cũ), ông cũng đưa ra câu kết luận ám chỉ một lệnh truyền trong Cựu ước: “Các con phải thánh, vì Ta là thánh” (IPhi 1Pr 1:16), thì không phải là việc ngẫu nhiên.
AN TOÀN VÀ AN LÀNH
Lúc Đức Thánh Linh tái sanh chúng ta, đánh thức cho chúng ta sống lại về phương diện thuộc linh, hành động ấy đã đưa đến kết quả là linh hồn chúng ta được đánh thức để sống lại, để có đức tin và được cứu rỗi. Kết quả của đức tin ấy, là việc được kể là công chính. Ngay lúc chúng ta tếp nhận Chúa Cứu Thế bằng đức tin, Thượng Đế tuyên bố rằng chúng ta là người công chính. Sở dĩ chúng ta trở thành người công chính, không phải vì chúng ta được trở thành như thế tức khắc, ngay sau khi được thánh hoá, mà chúng ta được kể là công chính nhờ các công đức mà Chúa Cứu Thế đã ban cho chúng ta. Thượng Đế kể chúng ta là công chính trong Chúa Cứu Thế, trong khi chúng ta vẫn còn bị tội lỗi làm ô uế.
Công thức lừng danh của Luther để lãnh hội ý niệm này là câu Simul justus et peccator. Nó có nghĩa là “người công chính và tội nhân đồng thời”. Chúng ta được kể là công chính trong Chúa Cứu Thế, trong khi chúng ta vẫn còn phải chiến đấu với tội lỗi mình. Được kể là công chính nhờ đức tin mà thôi, có nghĩa là chỉ nhờ Chúa Cứu Thế mới được kể là công chính mà thôi.
Thế thì chúng ta đã thấy là việc chúng ta được kể là công chính đi trước việc chúng ta được thánh hoá. Cũng như sự tái sanh đi trước đức tin và đức tin đi trước (quyền ưu tiên theo luận lý học) việc được kể là công chính, việc được kể là công chính cũng đi trước sự thánh hoá.
Tuy nhiên, điều tối quan trọng là phải thấu triệt và ghi khắc sâu vào tâm trí chúng ta rằng nếu sự tái sanh là có thật, thì nó sẽ luôn luôn làm nảy sinh đức tin. Nếu đức tin là thật, nó sẽ luôn luôn làm nảy sinh việc được kể là công chính. Nếu việc chúng ta được kể là công chính là có thật nó sẽ luôn luôn làm nảy sinh sự thánh hoá. Sẽ chẳng bao giờ có việc được kể là công chính đích thực nếu không có sự thánh hoá thật theo sau:
Đến đây, chúng ta cần chú ý vài điểm dị biệt tối quan trọng giữa sự tái sanh và sự thánh hoá. Sự tái sanh xảy ra tức khắc và tự phát. Sự hiểu biết về sự tái sanh của chúng ta có thể đến với chúng ta lần lần, nhưng chính hành động tái sanh, do Đức Thánh Linh thực hiện, là tức khắc. Chẳng hề có ai chỉ được tái sanh một phần hay đựơc tái sanh có phân nửa. Một người, hoặc là được tái sanh, hoặc là không được tái sanh, chứ không hề có lập trường trung dung.
Với việc được kể là công chính cũng thế. Chẳng hề có ai chỉ được kể là công chính một phần mà thôi. Đức tin để được cứu ngay một khi đã có mặt, thì Thượng Đế cũng lập tức tuyên bố chúng ta được kể là người công chính.
Sự thánh hoá thì có phần khác hơn. Tuy sự thánh hoá bắt đầu ngay lúc chúng ta đựơc kể là công chính nó là một diễn trình tiệm tiến. Nó tiếp tục bao lâu chúng ta còn sống. Việc được kể là công chính không làm nảy sinh tức khắc sự thánh hoá hoàn toàn. Thế nhưng, nếu không có một khởi điểm dứt khoát cho sự thánh hoá, thì đó là chứng cứ tích cực rằng đã chẳng hề có việc kể là công chính, đức tin, hay sự tái sanh xảy ra trước đó.
Một điểm dị biệt then chốt thứ hai giữa tái sanh và thánh hoá liên quan đến hai phía tham gia vào việc tạo ra chúng. Sự tái sanh là do tự lực. Đó là công việc của chỉ một mình Thượng Đế mà thôi. Nhưng thánh hoá có tính cách hợp lực. Nó là sự cộng tác giữa Đức Thánh Linh với chúng ta.
Vì thế, thưa anh em thân yêu, anh em luôn luôn vâng lời khi tôi có mặt, nay cần vâng lời hơn khi vắng mặt tôi: anh em hãy tiếp tục hoạt động với tấm lòng kính sợ, run rẩy để hoàn thành sự cứu rỗi mình. Vì Thượng Đế luôn luôn tác động trong anh em, khiến anh em vừa muốn vừa làm theo ý chỉ Ngài (2:12-13).
Văn bản này nêu ra ý niệm cổ điểm về thuyết hợp lực. Chúng ta thấy có hai phía tham gia thực hiện sự cứu rỗi. Chúng ta được kêu gọi phải làm việc, làm việc gian khổ, vừa sợ hãi run rẩy. Đồng thời chúng ta được hứa rằng Thượng Đế cũng đang làm việc trong chúng ta nữa.
Lúc Đức Thánh Linh tái sanh chúng ta, Ngài chẳng những vận hành trên và trong chúng ta nhằm thay đổi tình trạng của tâm hồn chúng ta để chúng trở thành sẵn sàng, mà Ngài còn đến để ngự vào lòng chúng ta nữa. Một khi đã ngự trong lòng người tín hữu, Thánh Linh tiếp tục tạo ảnh hưởng trên chúng ta để giúp chúng ta theo đuổi sự thánh khiết.
Ở đây có một dấu hiệu báo nguy, một ngọn đèn đỏ mà chúng ta phải cẩn thận noi theo, kẻo e chúng ta có thể sa vào một tà giáo nghiêm trọng mãi đến nay vẫn còn tác hại bên trong cộng đồng tín hữu Tin Lành.
Khi Đức Thánh Linh ngự vào lòng chúng ta, Ngài không trở thành chính chúng ta. Cả đến chúng ta cũng không hề được thần hoá bất cứ về phương diện nào. Tuy hiện nay có một Ngôi Thượng Đế đang ngự trong tôi, là Thánh Linh của Thượng Đế, bản thân tôi không hề trở thành một sự nhập thể mới của Thượng Đế. Có những người đang truyền dạy rằng ngay lúc này đây, khi một người được Đức Thánh Linh ngự vào lòng, thì cũng có sự nhập thể của Thượng Đế như trường hợp của Chúa Cứu Thế xưa kia vậy. Ý niệm này là một tài giáo hết sức trắng trợn và là một sự phạm thượng mà tôi không muốn nêu tên các giáo sư của nó ra đâu.
Thánh Linh vận hành để tạo ra những con người được thánh hoá, chứ không phải những con người đã được thần hoá, Thượng Đế vốn vĩnh cửu, tự hữu hằng hữu. Thượng Đế đã không hề tạo ra một vị thần (thượng đế) khác. Bất cứ điều gì Thượng Đế tạo ra, thì theo định nghĩa, đều là một tạo vật. Một vật thọ tạo không thể sống mãi, cũng không thể tự hữu hằng hữu mãi, cũng không thể tự hữu hằng hữu. Thương Đế có thể tạo ra một tạo vật bất tử bất diệt, nhưng không phaỉ là một tạo vật vĩnh cửu; một tạo vật (người) bất tử bất diệt có thể sống mẫu trong tương lai nhưng đã không hiện hữu vĩnh cửu trong quá khứ.
Lúc Đức Thánh Linh củ aThượng Đế đánh thức chúng ta để chúng ta có đức tin, nhờ đó chúng ta được kể là người công chính, thì chúng ta được an toàn. Việc được kể là công chính cứu chúng ta khỏi cơn thịnh nộ hầu đến. Như công thức của Martin Luther đa chỉ ra, lúc được kể là công chính, chúng ta được an toàn (safe), nhưng chưa được anlành (sound) Martin Luther còn nêu thêm cách ví von rằng ônt bác sĩ đã tuyên bố chúng ta chắc chắn sẽ sống, mặc dầu căn bệnh vẫn chưa lành. Nhưng với ân phúc thánh hoá, chúng ta được cho uống các thứ thuồc sẽ khiến chúng ta được hoàn toàn bình phục.
O.P.Gifford đưa ra thí dụ minh hoạ say đây để mô tả tiến trình thánh hoá:
Chiếc tàu chạy bằng hơi nước bị hỏng máy, có thể được đưa vào hải cảnh và trục lên vũ trụ. Nó được an toàn nhưng chưa được an lành. Việc sữa chữa có thể kéo dài lâu ngày. Chúa Cứu Thế đã hoạch định để chúng ta vừa được an toàn mà cũng được an lành nữa. Việc kể là công chính ban cho phần thứ nhất - sự an toàn; sự thánh hoá ban cho phần thứ hai - sự an lành.
Hiện nay, đang có một cuộc tranh cãi giữa vòng các Cơ-đốc nhân về khả năng có thể tiếp nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa, trong khi không chịu tiếp nhận Ngài làm Chúa tể. Cách chia cắt Cứu Chúa / Chúa tể đó vốn xa lạ với ý niệm Kinh Thánh, chẳng khác chi việc chúng ta muốn phân rẽ vịc kể là công chính với sự thánh hoá A.A.Hodge có lần đã nhận định: “Bất luận người nào tưởng rằng mình là một Cơ-đốc nhân, rằng mình đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế để được thánh hoá, là một kẻ ảo tưởng khổ sở ngay trong từng trải ấy.”
Chẳng hề có một đức tin để đựơc kể là người công chính nào chỉ tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa, đồng thời lại chẳng biết gì đến lại chối bỏ, và làm mặt lạ, không tiếp nhận Ngài làm Chúa tể. Tuy chúng ta có thể phân biệt các vai trò mà Chúa Giê-xu thực hiện với tư cách là Cứu Chúa và Chúa tể chúng ta không hề có thể tách rời chúng ra. Lấy đức tin tiếp nhận Chúa Cứu Thế, tức là tiếp nhận toàn vẹn Chúa Cứu Thế.
Rồi, như chúng ta phân biệt công tác của Đức Thánh Linh trong việc tái sanh và thánh hoá, vấn đề vẫn còn lại là mối liên hệ thiết yếu giữa cả hai. Chúng ta được tái sanh để có đức tin, được kể là người công chính, và được thánh hoá.
A.H.Strong viết:
Tác động của Thượng Đế tự biểu hiện và được nối tiếp trong và bằng hoạt động vừa thông minh vừa tự nguyện của người tín hữu trong việc khám phá ra và chế ngự các dục vọng đến chỗ vậng phục Chúa Cứu Thế và sống, theo các tiêu chuẩn của Lời Ngài. (Sđd., 871)
Sự thánh hoá gồm việc chuyển động. Chúng ta thường nói về sự tăng trưởng thuộc linh để ám chỉ sự chuyển động này. Lắm khi dường như chúng ta đang tiến tới hai bước và lùi lại một bước. Chúng ta nói là mình thối lui khi bị va vấp và thất bại trong đời sống thuộc linh của mình. Thế nhưng khuôn mẫu toàn diện của sự thánh hoá là mẫu mực của sự tăng trưởng. Sự tăng trưởng có tính cách tiệm tiến; nhiều khi nó tiến triển thật khó khăn và chậm chạp. Nhưng phải có chuyển động. Hơn nữa, chẳng hề có một Cơ-đốc nhân nào cứ đứng nguyên một chỗ về phương diện thuộc linh. Strong trích dẫn Harace Bushnell trong vấn đề này:
Nếu các ngôi sao không chuyển động, chắc chúng đã bị mục nát trên trời rồi. Người đi xe đạp phải hoặc là tiến lên, hoặc là ngã té. Một phần lớn của sự thánh hoá gốm có việc tập thành các thói quen thích hợp, như thói quen đọc Kinh điển, thầm nguyện, đi nhà thờ, các nỗ lực nhằm đưa nhiều người khác đến với Chúa và làm điều lợi ích cho tha nhân. (Sđd., 872)
Tôi thích lối so sánh với chiếc xe đạp của Bushnell. Muốn giữ thăng bằng trên chiếc xe đạp, ta phải giữ cho nó cứ chạy luôn. Ngay lúc chiếc xe đạp dừng lại, thì tốt hơn hết là chúng ta phải có đôi chân dài đủ để chống xuống đất, bằng không, chúng ta chắc chắn sẽ bị ngã. Tôi tập đi xe đạp hồi đôi chân tôi hãy còn quá ngắn để có thể chống xuống đất khi chiếc xe đạp dừng lại. Tôi đã đặt một tấm nệm trên đường đi, chỗ tôi sẽ dừng chiếc xe đạp, để bảo đảm rằng khi đến chỗ dừng lại, tôi đã có sẵn một vật êm để ngã xuống trên đó.
VAI TRÒ CỦA LƯƠNG TÂM TRONG KINH THÁNH
Những thay đổi mà sự thánh hoá đem đến cho đời sống chúng ta tác động từ trong ra ngoài. Cách ăn ở cư xử bề ngoài của chúng ta biểu lộ tình trạng nội tâm và tâm tư ý tưởng của chúng ta.
Có ba điều thay đổi quan trọng mà Đức Thánh Linh thực hiện trong chúng ta khi Ngài tác động trên tâm trí và tấm lòng chúng ta.
Có sự thay đổi trong ý thức chúng ta Thánh Linh thức tỉnh một ý thức mới torng chúng ta. Khi chúng ta chăm chú lắng nghe Lời Thượng Đế, chúng ta ý thức được những điều tuộc về Thượng Đế theo một cách mới. Khi chúng ta được tái sanh thì kìa, mọi sự đều trở nên mới. Chúng ta có được khả năng biện biệt thuộc linh:
Thượng Đế ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta - không phải thần linh trần gian - nên chúng ta biết được những ân tứ của Thượng Đế. Khi truyền giảng chúng tôi không dùng từ ngữ triết học, nhưng dùng từ ngữ của Thánh Linh, giải thích điều thuộc linh bằng ngôn ngữ thuộc linh. Người không có Thánh Linh không nhận lãnh những ân tứ của Thượng Đế, chỉ coi như chuyện khờ dại, vì phải nhờ Thánh Linh mới hiểu giá trị những ân tứ đó. Người có Thánh Linh hiểu giá trị mọi điều, nhưng người khác không hiểu họ. Ai biết được tư tưởng Chúa? Ai dám khuyên bảo Ngài? Nhưng nhờ Thánh Linh chúng ta có tư tưởng của Chúa Cứu Thế (ICo1Cr 2:12-16).
Có tư tưởng như Chúa Cứu Thế là sy nghĩ y như Ngài. Là khẳng định những gì Ngài khẳng định và phủ nhận những gì Ngài phủ nhận. Là yêu những gì Ngài yêu và ghét những gì Ngài ghét.
Sự thánh hoá của chúng ta bắt đầu có hiệu lực khi tư tưởng của chúng ta thay đổi. Chúng ta ý thức được một viễn cảnh mới, một hệ thống giá trị hoàn toàn mới mẻ.
Nhưng chỉ ý thức suông về một chân lý thì chưa đủ. Với chúng ta, muốn thực thi chân lý, thì ý thức phải đạt đến một trình độ cao mà chúng ta gọi là niềm tin quyết. Đức Thánh Linh không chỉ vận hành để ban cho chúng ta một ý thức về chân lý. Ngài còn tác động để thuyết phục chúng ta về chân lý ấy. Ngài cáo trách (thuyết phục) chúng ta về tội lỗi và sự công chính. Thí dụ, tôi có thể suy nghĩ, hay ý thức một cách thụ động rằng trộm cắp là sai trái. Thế nhưng nếu sự ý thức đó chỉ có tính cách mơ hồ hoặc yếu ớt trong tâm trí tôi, thì rất ít có hi vọng rằng cách ăn ở cư xử của tôi sẽ thay đổi.
Gắn liền với tất cả các chân lý mà Thượng Đế mặc khải đều có một lời dối trá tương ứng nhằm công kích chúng. Chúng ta có tể nhận thức được rằng gian dâm là tội. Thế nhưng nhiều tiếng nói của nền văn hoá của chúng ta vẫn tuyên bố to tiếng và dai dẳng rằng điều đó vốn bình thường và chẳng sao cả, khiến cho quyết định giữ trinh trắng của chúng ta bị suy yếu đi. Nếu muốn tránh sự quyến dụ của nền văn hoá chúng ta, chúng ta cần phải được thuyết phục mạnh mẽ và tận tường rằng phạm tội là có tội.
Thay đổi cách ăn ở cư xử sẽ trở thành rõ rệt khi chúng ta chuyển từ giai đoạn ý thức sang giai đoạn bị cáo trách (thuyết phục), và đạt đến điều khiến lương tâm chúng ta được biến đổi.
Lương tâm con người ta là một cơ chế đầy năng lực nhưng dễ thay đổi. Nó vốn được gọi là “tiếng nói của Thượng Đế cho nội tâm một quan toà ở ngay trong lòng chúng ta để hoặc là tố cáo hoặc là biện hộ cho chúng ta. Lương tâm làm người huấn luyện viên, hướng dẫn cách ăn ở ứng xử của chúng ta, Vấn đề rắc rối với lương tâm, ấy là nó có thể hết sức nhạy cảm đối với Lời Thượng Đế, hoặc cũng rất có thể trở thành vô cảm, chai lì.
Là những tội nhơn, chúng ta vốn thông thạo trong việc khiến cho lương tâm mình trở thành chai đá. Chúng ta vốn là những bậc thầy trong việc hợp lý hoá, bởi đó, chúng ta dập tắt lời tố cao của tiếng nói nội tâm.
Có nhiều người giận dữ lý luận rằng phá thai là một tội ác quái gỡ, trong khi nhiều người khác lại bảo rằng nó có thể được biện minh về mặt luân lý đạo đức. Kẻ gian lận trong trường học hay sở làm vốn quan niệm tự thâm tâm rằng mình có thể bào chữa cho việc làm ấy. Chắc chắn rằng Hitler cũng có cách bào chữa về mặt luân lý đạo đức cho việc ông ta đưa người vào lò thiêu. Có rất ít người chịu thẳng thắn nói rằng: “Việc tôi đang làm đây là xấu, là ác, nhưng dù sao tôi cũng làm, vì tôi rất thích thú muốn làm như thế.
Chúng ta có thể thừa nhận một số hành động nào đó là tội, nhưng chúng ta lại nhấn mạnh rằng tự nó, tội lỗi là nhỏ mọn và chẳng gây ra hậu quả gì. Thậm chí chúng ta còn có thể thêm lời bào chữa bao biện rằng “Ít ra, tôi cũng thành thật trong việc tôi đang làm”, dường như việc chân thành thừa nhận một tội ác có từ biện minh được cho nó vậy.
Chúng ta rất ít khi nhận ra hay thừa nhận tính cách trầm trọng của tội lỗi mình. Những lời thú tội của chúng ta vốn có khuynh hướng thiếu lòng tin quyết sâu xa.
Thượng Đế đã nhờ nhà tiên tri Giê-rê-mi quở trách dân Y-sơ-ra-ên khi họ tự nhủ:
Ngươi còn nói rằng: Tôi là vô tội, thật cơn giận của Ngài lìa khỏi tôi! Này, vì ngươi nói rằng: Tôi không có tội, ừ, ta sẽ đoán xét ngươi. (Gie Gr 2:35).
Giê-rê-mi ví người Y-sơ-ra-ên với kẻ “vênh trán lên như đờn bà dâm đãng (gái điếm) chẳng biết xấu hổ là gì” (3:3). Dân Y-sơ-ra-ên như gái điếm, tuy vẫn thường xuyên và miệt mài phạm tội, lại chẳng còn biết xấu hổ là gì nữa.
Tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên cho thấy hậu quả chết người của một lương tâm chai lì. Họ cứ ngày càng cảm thấy thoải mái với tội lỗi mình đến độ bảo rằng họ có thể phạm tội mà chẳng còn cảm thấy là mình có lỗi nữa. Họ đã thành công trong việc bắt tiếng nói của lương tâm phải im đi. Lương tâm họ lại bắt đầu bào chữa cho họ, trong khi đáng lý ra nó phải tố cáo họ.
Một lương tâm tốt, là lương tâm được Đức Thánh Linh huấn luyện bằng Lời Thượng Đế. Khi chúng ta hiểu rõ chân lý của Thượng Đế và chịu để nó thuyết phục mình, thì vị quan toà của lương tâm bắt đầu cai trị để hướng dẫn chúng ta đi vào nếp sống công chính. Một lương tâm đã trưởng thành thuộc linh rất tinh tế. Nó không hề cho phép điều mà xác thịt cho phép.
Lương tâm của Cơ-đốc nhân phải sống đối với Lời Thượng Đế. Nó không phải là tên bạo chúa làm tê liệt chúng ta bằng mặc cảm phạm lỗi bệnh hoạn. Nếu nó đã được Lời Thượng Đế huấn luyện, thì nó rất lành mạnh. Khi nào chúng ta thật sự phạm lỗi, thì sẽ ý thức ngay rằng mình phạm lỗi. Nó vốn thiết yếu cho sức khoẻ thuộc linh, như cảm giác đau đớn vốn có thật đối với sức khoẻ thuộc thể vậy. Đau đớn báo hiêụ bệnh tật. Nếu chúng ta bị mất cảm giác đau, là chúng ta chẳng có hệ thống để báo động đối với những căn bệnh nghiêm trọng.
Jiminy Cricket bảo Pinocchio: “Phải luôn luôn để cho lương tâm cậu hướng dẫn cậu”. Đây là một lời khuyên tai hại nếu lương tâm đã bị chai lì và chẳng còn hoà hợp với Lời của Thượng Đế nữa Thế nhưng, nó sẽ là lời khuyên đúng, nếu lương tâm chúng ta bị Lời Thượng Đế bắt làm nô lệ, như Luther vậy.
Từ chỗ ý thức được Lời Thượng Đế, Đức Thánh Linh cảm động để chúng ta chịu để cho Lời Thượng Đế thuyết phục (cáo trách) mình. Từ chỗ chịu thuyết phục để tin quyết conviction), Thánh Linh cứu vã, phục hồi lương tâm của chúng ta, để chúng ta trở nên giống như ảnh tượng của Chúa Cứu Thế. Đó là mục tiêu của sự thánh hoá, điểm tận cùng mà Đức Thánh Linh đang phấn đấu bên trong để dẫn chúng ta hướng tới.


PHÉP BÁP-TEM BẰNG ĐỨC THÁNH LINH
Đời sống được đổ đầy Thánh linh không phải là huyền nhiệm chỉ được tiết lộ cho một số ít người chọn lọc mà thôi, không phải là mục tiêu khó đạt tới. Tin cậy và vâng lời là bản chất của toàn thể vấn đề.
V.RAYMOND EDMAN
Một trong số những phong trào ngoạn mục nhất từng lan tràn xuyên suốt Hội thánh Cơ-đốc, là phong trào Ân tứ (Charismatic movement). Từ cơn bùng nổ nói tiếng lạ tại Hội Truyền giáo phố Azusa ở Los Angeles hồi đầu thế kỷ thứ mười chín, cho đến việc tăng trưởng của các Hội thánh Ngũ tuần và các Hiệp hội của Thượng Đế (Assemblies of God), cho đến khi nó tràn sang Giáo hội Công giáo La-mã và các giòng chính của các giáo hội Kháng Cách trong những năm 1960, cơn phục hưng ân tứ đã phát ra những tia lửa tận tuỵ nhiệt hành giữa vòng những người tham gia và khơi dậy một cuộc tranh luận thần học sâu sắc. Chẳng hề có một sử gia nào của Hội thánh lại có thể làm ngơ đối với sức thâm nhập của Phong trào Ân tứ vào Hội thánh hiện đại.
Ngành vô tuyến truyền hình Cơ-đốc giáo bị chương trình Ân tứ áp đảo, như được thấy ở “Câu lạc bộ 700” của The Trinity Broadcasting Network, và (trước kia) là màn lưới PTL. Việc Pat Robertson ứng cả chức vụ tổng thống Hoa-kỳ năm 1988 cho thấy phần nào con số khổng lồ những người đã theo Cơ-đốc giáo Ân tứ. Những chuyện tai tiếng nhằm vào Hội thánh do những hành vi sai lầm của Jim Bakker và Jimmy Swaggart đã không làm ảnh hưởng đến lòng nhiệt thành đang chờ đợi một cơn phục hưng rộng lớn hơn của Phong trào Ân tứ.
Phạm vi của quyển s1ch này không cho phép chúng tôi viết lại biên niên sử của Phong trào Ân tứ hay thẩm định chi tiết mọi chiều kích của nền thần học Ân tứ. Nhiều quyển sách đã được viết về đề tài này rồi. (Muốn có một phần tóm tắt và phân tích lịch sử tuyệt vời, xin xem A Theology of the Holy Spirit của Frederick Dale Bruner (Grand Rapids: Eardmans, 1970). Tiêu điểm của tôi trong chương sách này sẽ chú trọng vào một giáo lý trung tâm, vốn là phần cốt lõi của nền thần học Ân tứ / Tân Ngũ tuần (Charismatic / Neo - Pentecostal theology): phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh.
GIÁO LÝ VỀ PHÉP BÁP-TEM BẰNG ĐỨC THÁNH LINH
Trước khi tôi tóm tắt quan điểm Tân Ngũ tuần về phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh, xin chúng ta ghi nhận trước nhất cái lý ưng lịch sử để dùng tiếp đầu ngữ Tân (Neo) với ngữ căn Ngũ tuần (Pentecostal).
Thần học Tân ngũ tuần ám chỉ một thay đổi có ý nghĩa trong lời truyền dạy liên hệ với nền thần học Ngũ tuần cổ điển. Thần học Tân (Mới) Ngũ tuần vốn có một nền móng rộng lớn hơn là chỉ hạn hẹp trong Hội thánh Ngũ tuần như đã có. Trong các hệ phái Ngũ tuần nguyên thủy, phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh vốn được kết chặt với một ý niệm về thánh hoá, từng được xem là một phần chính thức gắn liền với phong trào được gọi là thánh khiết.
Như chúng ta đã thấy trước đây, phong trào thánh khiết nhấn mạnh trên ý niệm thánh hoá là một công việc thứ hai của ân phúc Thượng Đế (tiếp sau sự tái sanh) vốn xảy ra ngay tức khắc và tạo ra sự trọn vẹn đạo đức hoặc hoàn thiện hoặc một phần. Tuy nhóm từ sự trọn vẹn một phần (partical perfectionism) nghe có vẻ hơi lạ tai, nó bao hàm vài điểm quan trọng cần phân biệt. Lẽ dĩ nhiên trọn vẹn một phần hàm ý bất toàn một phần, là một cách nói có khuynh hường che mờ toàn thể ý niệm về sự trọn vẹn. Theo nghĩa hẹp, thì cái gì đã trọn vẹn không cho phép những hư xấu, tì vết, hoặc các loại bất toàn khác.
Một số người theo thuyết trọn vẹn lý luận rằng công tác thứ hai của ân phúc (Thượng Đế) thự chiện một sự thánh hoá trọn vẹn, thuần tuý và hoàn thiện, nhờ đó, người nhận nó được hoàn toàn tự do đối với tội lỗi. Trong phần lý giải thuyết trọn vẹn của mình, John Wesley đã đột ngột dừng lại tại đây, và giới hạn thuyết trọn vẹn vào việc tiếp nhận quyền năng thuộc linh do một tình yêu thương trọn vẹn. Bài thánh ca “Ôi, tình yêu trọn vẹn” thường được dùng một cách mỉa mai trong lễ hôn phối, vốn có nguồn gốc là nhằm diễn tả giáo lý về sự thánh hoá của John Wesley.
Nhiều nhâ vật khác bênh vực phong trào thánh khiết đã sửa đổi quan điểm về “phước hạnh thứ hai” để giới hạn nó vào đời sống chiến thắng đối với “tội cố ý”. ghĩa là khi một người đã nhận phép báp-tem của Đức Thánh Linh để đựơc thánh hoá, người ấy có thể phạm tội, nhưng chẳng bao giờ là cố ý cả. Bất cứ một tội nào còn tồn tại nơi con người đã được thánh hoá, đều là tội ngẫu nhiên, hay vi phạm là vì ngu dốt. Phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh thánh hoá một người đến độ bắt đầu từ đó, người ấy được giải phóng khỏi tội cố ý.
Tuy một số Hội thánh vẫn còn truyềnd ạy những giáo lý theo chủ tuyết trọn vẹn như thế, ý niệm về thuyết trọn vẹn, dù toàn diện dù một phần, đều không thâm nhập được sâu vào trào lưu chính của Cơ-đốc giáo. Khuynh hướng của một nền thần học như thế vốn hoặc là giảm thiểu các đòi hỏi khắt khe của luật pháp Thượng Đế, hoặc là phóng đại chính phần ý thức của cá nhân về công đức thuộc linh. Với một người vẫn tin quyết rằng mình sống không phạm tội, thì người ấy hoặc là phải tránh việc xét nét tỉ mỉ luật pháp của Thượng Đế, hoặc phải xét nét thật tỉ mỉ và thành thật chính các công đức của mình.
Việc tiếp tục phạm tội trong đời sống của các thánh đồ “vĩ đại” nhất là chứng cứ vững chắc rằng hình thức rõ ràng là không thể tránh được đó của thuyết trọn vẹn có khuynh hướng bị sửa đổi, giới hạn, và hạn chế đến một chừng mực nào đó của chủ thuyết trọn vẹn một phần mà lẽ dĩ nhiên, cũng chỉ là một từ ngữ khác để chỉ sự bất toàn mà thôi.
Trong nền thần học Tân Ngũ tuần, mối liên hệ giữa thuyết đạo đức trọn vẹn với phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh đều đã bị huỷ bỏ. Chúng ta không còn nghe các lãnh tụ Ân tứ như Pat Robertson đề cập việc hoàn toàn được thánh hoá nữa. Và Jim Bakker thì chẳng hề tự xưng là người trọn vẹn.
Trong nền thần học Tân Ngũ tuần, việc nhấn mạnh trên phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh lại rơi nhằm ý niệm được ban quyền năng hay ân tứ để thi hành chức vụ. Chính từ ngữ ân tứ (charismatic) vốn ra từ từ ngữ trong Tân ước Hi-văn chỉ “ân tứ” (gift) hay “ân tứ thuộc linh” (Spiritual grace). Từ ngữ charismatic trong Anh văn vốn được sử dụng rộng rãi đến mức đã thâm nhập được ngữ vựng của lối nói bình dân. Một người nhiệt tâm thực hiện một công trình nào đó, hoặc một lãnh tụ chính trị cũng có thể được gọi là “charismatic” mà chẳng hề có chút hậu ý tôn giáo nào gắn liền với từ ngữ ấy cả.
Vi2 phong trào Tân Ngũ tuần rõ ràng là đã len lõi vào tất cả các hệ phái Cơ-đốc giáo, nền thần học của nó đã tác tạo theo các nền thần học của nhiều giáo hội khác nhau. Thí dụ các giáo hội Ân tứ Công giáo La-mã có hương vị Công giáo La-mã trong nền thần học của họ, cũng như các Giáo hội Ân tứ theo Luther và theo tổ chức Giám mục (Episcopaliam) đều có hương vị phân biệt của họ.
Vì chủ thuyết Tân Ngũ tuần đã chạm đến nhiều truyền thống như thế, cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi không có một nền thần học Tân Ngũ tuần nguyên khối nào cả đã nảy sinh từ phong trào này. Điều này khiến chúng tôi phải đề cập bằng nhiều từ ngữ tổng quát và chỉ ra các đường hướng chung chung trong phong trào ấy.
Khuynh hướng căn bản trong nền thần học Tân Ngũ tuần là xem phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh như một công tác đặc biệt của Đức Thánh Linh, bởi đó người tín hữu được đo đầy quyền năng để sống và phục vụ Chúa. Giờ đây người ấy được ban ân tứ để thi hành chức vụ. Công tác này của Đức Thánh Linh vốn phân biệt, và thường thường là tiếp sau công tác tái sanh của Đức Thánh Linh. Lắm khi người ta phân biệt giưa việc được làm phép báp-tem “bởi” hay “của” Đức Thánh Linh (xảy ra lúc được tái sanh) với phép báp-tem “trong” hay “với” Đức Thánh Linh (thường xảy ra tiếp theo sau sự tái sanh). Theo sơ đồ này thì toàn thể các Cơ-đốc nhân đều được làm phép báp-tem “bởi” Đức Thánh Linh, nhưng không phải toàn thể các Cơ-đốc nhân đều được làm phép báp-tem “trong” hoặc “với” Đức Thánh Linh.
Tuy ngay giữa những người theo ý kiến s6u rộng tại điểm này, xu hướng chung là xem việc nói tiếng lạ (glossalia) như chứng cứ hiển nihên đầu tiên của phép báp-tem bằng (trong, với) Đức Thánh Linh).
CHỦ THUYẾT NGŨ TUẦN VỚI LỄ NGŨ TUẦN
Chủ thuyết ngũ tuần (Pentecostalism) sở dĩ có tên như thế vì nó nhấn mạnh trên cách hiểu của mình về những gì đã xảy ra cho Hội thánh vaò Ngày lễ Ngũ tuần. Phần ký thuật về hoạt động của Đức Thánh Linh trong sinh hoạt của Hội thánh nguyên thuỷ là điểm trục của phong trào Ân tứ hiện đại. Đã có ước muốn mạnh mẽ nhằm nắm bắt trở lại (recapture) quyền năng và sinh lực thuộc linh đã được biểu thị trong sách Công vụ:
Đến ngày lễ Ngũ tuần, các môn đệ Chúa đều họp mặt đông đủ. Thình lình, có tiếng động từ trời như luồng gió mạnh thổi vào đầy nhà. Các môn đệ thấy những chiếc lưỡi bằng lửa xuất hiện, đậu trên đầu mỗi người. Tất cả đều đầy dẫy Thánh Linh, mỗi người bắt đầu nói một ngoại ngữ do Thánh Linh chỉ bảo (Cong Cv 2:1-4).
Trong đoạn sau đó của phần ký thuật, Phê-rơ đã ngỏ lời với đám quan sát viên đang hoang mang về hiện tượng ấy, và đưa ra lời giải thích này cho biến cố ấy:
Những người này không say rượu như đồng bào lầm tưởng, vì bây giờ mới chín giờ sáng. Nhưng việc này đã được nhà tiên tri Giô-ên báo trước: “Chúa dạy: Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thần ta trên mọi người” (Cong Cv 2:15-17).
Đến gần cuối bài giảng của mình, Phê-rơ có đưa ra nhận định này:
Thượng Đế đã khiến Chúa Giê-xu sống lại; tất cả chúng tôi đều chứng kiến. Chúa Giê-xu được rước lên ngồi bên phải ngai Thượng Đế, đã nhận lãnh Thánh Linh theo lời hứa của Thượng Đế, và đổ Thánh Linh xuống như đồng bào đang nghe thấy” (Cong Cv 2:32-33).
Phê-rơ kết luận:
Anh em phải hối cải, mỗi người phải nhân danh Chúa Giê-xu chịu phép báp-tem để được tha tội, rồi sẽ nhận được Thánh Linh (Cong Cv 2:38).
Trong sách Công vụ còn có những ký thuật thêm về việc Đức Thánh Linh được đổ xuống. Công 8 ký thuật từng trải của những người Sa-ma-ri vừa ăn năn quy đạo:
Các sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem nghe tin xứ Sa-ma-ri đã tiếp nhận Đạo Chúa, liền sai Phê-rơ và Giăng đến thăm. Tới nơi, hai ông cầu nguyện cho tín hữu Sa-ma-ri được nhận lãnh Thánh Linh. Trong số người mới tin Chúa, Thánh Linh chưa giáng trên ai cả; họ mới chịu lễ báp-tem nhân danh Chúa Giê-xu. Phê-rơ và Giăng đặt tay, các tín hữu liền nhận lãnh Thánh Linh (Cong Cv 8:14-17).
Trong trừng hợp Sau-lơ đột ngột ăn năn quy đạo trên đường đi đến Đa-mách, đã có ba ngày trì hoãn giữa lúc ông ăn năn quy đạo và được đổ đầy Đức Thánh Linh (Xem Công 9:1-18;).
Một lần Đức Thánh Linh được đổ xuống khác nữa xảy ra tại nhà của quân nhân Cọt-nây:
Phê-rơ đang nói, Than1h Linh đã giáng trên mọi người nghe. Các tín hữu Do-thái đi theo Phê-rơ đều kinh ngạc vì người nước ngoài cũng nhận được ân tứ Thánh Linh. Họ nghe những người ấy nói ngoại ngữ và tôn vinh Thượng Đế (Cong Cv 10:44-46).
Phần ký thuật cuối cùng về một lần Đức Thánh Linh được đổ xuống tương tự, được tìm thấy trong 19:1-6
Trong khi A-bô-lô ở Cổ-linh, Phao-lô đi lên các xứ miền Bắc, rồi xuống Ê-phê-sô. Gặp một số tín hữu, ông hỏi: “Khi tin Chúa anh em đã nhận được Thánh Linh chưa?” Họ đáp: “Chúng tôi chưa bao giờ nghe nói về Thánh Linh cả!” Ông hỏi tiếp “Thế anh em đã chịu báp-tem nào?” Họ đáp: “Báp-tem của Giăng” Phao-lô giải thích: “Báp-tem của Giăng chỉ về sự ăn năn tội lỗi Giăng đã dạy nhân danh tin Đấng đến sau mình, tức là tin danh Chúa Giê-xu. Họ liền chịu báp-tem nhân danh Chúa Giê-xu. Phao-lô đặt tay trên họ, Thánh Linh liền giáng xuống ngự vào lòng mỗi người, cho họ nói ngoại ngữ và truyền giảng Phúc âm.
Các văn bản ghi lại việc Đức Thánh Linh được đổ xuống trong sách Công vụ họp thành nền móng cho giáo lý Tân Ngũ tuần về phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh. Một khuôn mẫu, nổi bật từ phần thuật sự lịch sử cho thấy những điều sau đây:
1. Nhiều người vốn là tín hữu, do đó, đã được Thánh Linh sinh ra tưrớc khi họ chịu phép báp-tem của Đức Thánh Linh. Điều này chỉ cho thấy phải có sự phân biệt giữa công tác tái sanh của Đức Thánh Linh, và công tác của Đức Thánh Linh trong phép báp-tem.
2. Đã có một khoảng cách về thời gian giữa đức tin (tái sanh) và phép báp-tem của Đức Thánh Linh. Điều này chỉ rõ ràng torng khi một số Cơ-đốc nhân có Đức Thánh Linh đến mức độ họ được tái sanh, họ vẫn còn thiếu phép báp-tem của Đức Thánh Linh, sẽ xảy ra tiếp theo đó.
3. Chứng cứ hiển nhiên bên ngoài đầu tiên của phép báp-tem trong Thánh Linh là nói các ngoại ngữ.
Khi chúng ta xét lại cuộc tranh luận đang xảy ra về phép báp-tem của Đức Thánh Linh giữa những người bênh vực cho nền thần học Tân Ngũ tuẩn và những người biện hộ cho nền thần học cổ truyền, chúng ta thấy chẳng có cãi lý có ý nghĩa về Điểm 1. Hầu như tất cả các hệ phái Cơ-đốc giáo đều đồng ý rằng có chỗ khác nhau giữa công tác của Đức Thánh Linh trong việc tái sanh (tuy tất cả không hoàn toàn nhất trí với nhau về cách hiểu sự tái sanh) và công tác của Đức Thánh linh trong phép báp-tem. Nghĩa là, tuy chỗ khác nhau là cách hiểu sự tái sanh và phép báp-tem của Đức Thánh Linh, đã có sự đồng ý rằng cho dù có gì đi chăng nữa, thì cái này cũng khác với cái kia.
Chính hai kết luận thứ hai và thứ ba từ sách Công vụ mới gây tranh cãi. Cả hai phía đều đồng ý rằng trong sách Công vụ, phép báp-tem trong Đức Thánh Linh dĩ nhiên là có sau việc ăn năn quy đạo (ít ra cũng là với một số người), và rằng nói các ngoại ngữ vốn là một dấu hiệu hay chứng cứ hiển nhiên bên ngoài của phép báp-tem của Đức Thánh Linh.
Vấn đề là thế này: Phần ký thuật trong sách sứ đồ có phải là bằng cớ chứng minh rằng công tác tiếp theo của Đức Thánh Linh giữa các Cơ-đốc nhân nguyên thuỷ, là nhằm nêu ra một mẫu mực cho Hội thánh trải mọi thời đại, hay không?
Chủ trương mà nền thần học Tân Ngũ tuần đưa ra đó là nhằm khẳng định rằng chủ đích của phần ký thuật của Kinh Thánh, ấy là dạy chúng ta rằng những gì đã xảy ra đó phải là quy phạm cho Hội thánh qua mọi thế hệ. Thoạt nhìn, thì thắc mắc đặt vấn đề đối với chủ trương ấy, dường như cũng là thắc mắc đặt vấn đề về uy quyền của chính Kinh điển. Vấn đề không phải là về uy quyền của Kinh điển, nhưng là về ý hướng của Kinh điển. Nó là một vấn đề về lý giải.
Vấn đề thực tế đang nung nấu bên trong Hội thánh là: Phải chăng có đến hai cấp bậc Cơ-đốc nhân - một loại được phép báp-tem của Đức Thánh Linh, còn loại kia thì không?
Vấn đề còn rắc rối thêm do sử ký Hội thánh. Tuy một số người quay lui để cố chứng minh rằng đã có một giòng liên tục về việc nói ngoại ngữ và chứng cứ hiển nhiên khác tiếp sau phép báp-tem của Đức Thánh Linh xuyên suốt lịch sử Hội thánh, lời chứng áp đảo của lịch sử Hội thánh lại là tính cách gián đoạn của việc nói ngoại ngữ như một chứng cứ hiển nhiên cho phép báp-tem của Thánh Linh.
Lịch sử Hội thánh dường như cho thấy cuộc đời của các thánh đồ vĩ đại nhất - Athanasius Augustine, Auselm, Thomas Aquinas, Martin Luther, John Calvin, Jonathan Edwards, Charles H. Spurgeon, và nhiều nhân vật khác nữa - đều không chứng tỏ là có những dấu hiệu nói ngoại ngữ nào rằng các vị đã nhận được phép báp-tem trong hay bởi Đức Thánh Linh (Chắc chắn rằng các đại thánh đồ vốn không phải là chẳng biết gì về vấn đề nói ngoại ngữ. Luther và Calvin đều nói tốt về ân tứ ấy, tuy dường như hai ông đã kết hợp nó với việc truyền giảng của các giáo sĩ. Wesley cũng nói tốt về nó. Nhưng đã không có chứng cứ hiển nhiên nào về bản thân các nhân vật năng động của đức tin ấy từng thực thi việc nói các ngoại ngữ). Tuy nói ngoại ngữ vẫn xảy ra từng hồi từng lúc trong lịch sử Hội thánh, nó thường được kết hợp với các phong trào tà giáo, như phong trào Montanus hồi thế kỷ thứ hai và phong trào của Irving trong thế kỷ thứ mười chín.
Nếu nói các ngoại ngữ là chứng cứ hiển nhiên bên ngoài của phép báp-tem của Đức Thánh Linh, và phép báp-tem của Đức Thánh Linh là công tác nối tiếp tối quan trọng làm mẫu mực trong đời sống các tín hữu, thì tại sao đại đa số các tín hữu trong lịch sử Hội thánh lại không hề đạt tới chiều kích có tấm quan trọng sinh tử (vital) đó của sinh hoạt Cơ-đốc nhân? Phải chăng sự thật là hệ phái Ngũ tuần nguyên thuỷ đã “thất bại” qua nhiều thời đại của lịch sử Cơ-đốc giáo, mãi cho đến hiện nay? (Nếu chủ đích của hệ phái Ngũ tuần là đổ ra một ân tứ nói các ngoại ngữ liên tục, thì sự gián đoạn trong lịch sử cho thấy là mục tiêu ấy đã không đạt được).
Một số người đã trả lời câu hỏi này bằng cách đưa ra một lời giải thích theo thế-mạt-luận (eschatological). Hiện tượng hồi thế kỷ thứ nhất chỉ ra “Những Cơn Mưa Đầu Mùa” của Đức Thánh Linh, trong khi sự đổ xuống hay phục hưng hiện tại của ngày lễ Ngũ tuần chỉ ra “Những trận mưa cuối mùa” của Đức Thánh Linh và giờ Chúa Cứu Thế tái lâm đã gần kề (Hình ảnh về “những trận mưa” được rút ra từ một lời tiên tri trong Giô-ên 2:23;).
Chắc chắn là thuyết này có thể giải thích vấn đề bất liên tục trong lịch sử. Tuy nhiên nó không tể triệt tiêu được thuyết chủ trương rằng ý hướng của phần ký thuật trong sách Công vụ là nhằm đưa ra một từng trải quy phạm cho Cơ-đốc giáo xuyên suốt mọi thời đại.
Có một cách giải thích yếu hơn cho việc gián đoạn trong lịch, là bảo rằng chỉ đơn giản vì các tín hữu trong quá khứ đã không đủ nhiệt tâm trong việc theo đuổi những điều thuộc linh để được đổ đầy Đức Thánh Linh. Đây là một khả năng, nhưng dường như rất khó chấp nhận dưới ánh sáng của nhiệt tâm sâu xa của một số các thánh đồ trong quá khứ. Sự thật là đã có, và hiện vẫn đang có, nhiều tín hữu tận hiến, mà cuộc đời họ dường như rất mẫu mực trong việc tập trung phục vụ Thượng Đế, thế nhưng nhiều người (có lẽ là phần đông) đã không hề nói các ngoại ngữ.
Rồi một lần nữa, trọng tâm của vấn đề lại trở lui lại với chủ trương của hệ phái Tân Ngũ tuần, cho rằng các khúc sách thuật sự trong sách Công vụ muốn truyền dạy cho Hội thánh rằng bao giờ cũng có một khoảng cách bình thường trong thời gian giữa việc ăn năn uy đạo và phép báp-tem của Đức Thánh Linh, và rằng nói các ngoại ngữ là dấu hiệu bên ngoài bình thường của phép báp-tem của Đức Thánh Linh.
Tôi dùng chữ chủ trương cho rằng (assumption) ở đây là có chủ ý. Đã không hề có chỗ nào torng Kinh điển công nhiên dạy rằng nói các ngoại ngữ là dấu hiệu cần thiết cho phép báp-tem của Đức Thánh Linh, hay phải có một khoảng cách về thời gian giữa việc ăn năn quy đạo và phép báp-tem của Đức Thánh Linh. Các ý niệm ấy chỉ là những suy diễn rút ra từ phần thuật sự. Những suy diễn như thế thì có thể hoặc khong thể có giá trị.
Tôi tin quyết rằng những suy diễn ấy là vô giá trị. Tôi nghĩ rằng những suy diễn ấy làm hại cho ý nghĩa trọn vẹn của ngày lễ Ngũ tuần trong lịch sử Hội thánh. Điều tôi than phiền chống lại nền thần học Tân Ngũ tuần là nó có khuynh hướng đưa ra một quan điểm thấp kém về ngày lễ Ngũ tuần. Dường như nền thần học Tân Ngũ tuần không xét xử công bằng cho ý nghĩa của sách Công vụ, và bỏ mặc chúng ta với một quan điểm về công tác ban ân tứ của Thánh Linh giống với quan điểm trong Cựu ước hơn là quan điểm trong Tân ước.
CÁC ÂN TỨ CỦA ĐỨC THÁNH LINH
Trong Cựu ước, Đức Thánh Linh vốn tích cực trong công tác cứu chuộc. Thời ấy tái sanh đòi hỏi một điều kiện tiên quyết là phải có đức tin lớn hơn bây giờ. Chúa Giê-xu đã quở trách Ni-cô-đem, một giáo sư của dân Y-sơ-ra-ên, là không hiểu rằng được Đức Thánh Linh tái sanh là cần thiết cho sự cứu rỗi.
Thêm vào với công tác tái sanh để khiến các tín hữu Cựu ứơc sống lại đối với đức tin, Đức Thánh Linh còn bán phát nhiều ân tứ đặc biệt, hay ân tứ đầy quyền năng cho nhiều nhân vật đặc thù. Những người đầu tiên được Kinh điển đề cập là được đổ đầy Đức Thánh Linh, là hai nghệ nhân Bết-sa-lê-ên và Ô-hô-li-áp. Họ được Đức Thánh Linh ban cho tài năng để thực hiện nhiều công trình nghệ thuật tinh vi:
Môi-se nói cùng dâ Y-sơ-ra-ên rằng: “Này Đức Giê-hô-va đã kêu danh Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu của Hu-rơ, trong chi phái Giu-đa. Ngài phú cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời sự khôn ngoan sự thông sáng, và sự hiểu biết để làm mọi thứ nghề thợ, đặng bày ra và làm đồ vàng, bạc, và đồng, đặng khắc và khảm các thứ ngọc, đặng chạm cây làm các đồ khéo léo. Ngài lại phú cho người tài dạy dỗ và cũng đồng ban cho ô-hô-li-áp, con của A-hi-sa-mạc, trong chi phái Đan nữa” (XuXh 35:30-34).
Trong Cựu ước, có một số người được ban tài (quyền) năng đặc biệt cho chức vụ bằng việc được Thánh Linh xức dầu. Các nhà tiên tri đã lên tiếng do thần cảm của Đức Thánh Linh Các quan xét như Sam-sôn, Ốt-ni-ên, và Sa-mu-ên cho thấy họ đã được Thánh Linh xức dầu đặc biệt. Lúc Đa-vít ăn năn tội mình đã phạm với Bát-sê-ba ông đã kêu gào “Xin.. đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa” (Thi Tv 51:11).
Điều quan trọng cần nhớ là chữ Messiah, vốn có nguồn gốc Hi-bá-lai là chữ “Đấng được xức dầu”. Chúa Giê-xu đã đóng trọn vai trò của Đấng được xức dầu trong Cựu ước. Ngài đã được xức dầu để đảm trách nhiệm vụ làm Đấng Cứu Thế chịu phép báp-tem.
Sau khi chịu pháp báp-tem, Chúa Giê-xu vừa lên khỏi nước, các tầng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Thượng Đế giáng xuống đậu trên Ngài như bò câu (Mat Mt 3:16).
Về sau, tại Na-xa-rét, Chúa Giê-xu lưu ý mọi người về lời tiên tri của Ê-sai, và tuyên bố rằng nó được ứng nghiệm cho chính Ngài:
Thánh Linh Chúa ngự trên tôi, Ngài uỷ nhiệm tôi truyền giảng Phúc âm cho người nghèo. (LuLc 4:18)
Có lẽ việc xức dầu ngoạn mục nhất cho một cá nhân trong Cựu ước là việc xức dầu cho Môi-se. Trong Cựu ước, Môi-se là người trung gian và là công cụ được chọn của Thượng Đế để ban bố Luật pháp cho dân Y-sơ-ra-ên. Ông đã cậy ân tứ quyền năng do Thánh Linh ban cho để thực thi quyền lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên. Có một câu chuyện tối quan trọng giúp chúng ta hiểu rõ về ngày lễ Ngũ tuần đã xảy ra trong đời sống Môi-se và được ghi lại trong Dan Ds 11:1-35. Lúc con cái Y-sơ-ra-ên than phiền về bánh ma-na của họ, Môi-se đã lên tiếng phản đối Thượng Đế rằng: “Tôi không thể một mình gánh hết dân sự này, vì thật là rất nặng nề cho tôi quá” (Dan Ds 11:14).
Để trả lời cho gánh nặng của Môi-se, Thượng Đế phán:
Hãy nhóm hiệp cho ta bảy mươi người trong bực trưởng lão Y-sơ-ra-ên, tức là những kẻ ngươi biết là trưởng lão và cai quản dân sự; hãy dẫn các người ấy đến hội mạc, đứng tại đó với ngươi. Đoạn ta sẽ ngự xuống, nói chuyện tại đó với ngươi; ta sẽ lấy Thần cảm ngươi mà ban cho những người đó, để họ chịu gánh nặng nề dân sự với ngươi, và ngươi không phải gánh một mình (Dan Ds 11:16, 17).
Ở đây, chúng ta thấy một sự phân bố mở rộng của Đức Thánh Linh. Thay vì ân tứ quyền năng của Thánh Linh được giới hạn cho một cá nhân lẻ lọi đơn độc, Thượng Đế đã phân bố Đức Thánh Linh cho bảy mươi người khác.
Lúc Thượng Đế thự chiện việc phân bố mở rộng đó, và những người đến để tiếp nhận được thấy quyền năng ấy thể hiện (Dan Ds 11:20-27), Giô-suê đã phản đối việc rõ ràng là thế lực và uy quyền của Môi-se đã bị phân chia đó. Ông nói: “Hỡi Môi-se Chúa tôi, hãy cấm chúng nó!” (Dan Ds 11:28).
Môi-se đáp rằng: Ngươi ganh cho ta chăng? Ôi! Chớ chi cả dân sự của Đức Giê-hô-va đều là người tiên tri, và chớ chi Đức Giê-hô-va ban Thần của Ngài cho họ! (Dan Ds 11:29).
Môi-se đã tha thiết muốn Thượng Đế ban Thần Linh Ngài trên toàn thể dân sự Ngài, thay vì chỉ ban cho một vài người trong đám họ, và lời khẩn xin đó của ông đã trở thành một lời tiên tri trong sách Giô-ên:
Sau đó, ta sẽ đổ Thần ta trê cả loài xác thịt (Gio Ge 2:28)
Đây là lời tiên tri mà Phê-rơ trích dẫn trong Ngày Lễ Ngũ tuần. Dưới làn ánh sáng của nguyên tắc trong Cựu ước về sự phân bố Đức Thánh Linh một cách hạn chế, Ngày lễ Ngũ tuần chỉ về việc đổ Đức Thánh Linh xuống không phải chỉ trên một vài người thuộc về Thượng Đế, mà là trên toàn thể dân sự Ngài.
Chỗ khác nhau giữa người đứng trung gian của Giao ước cũ - là Môi-se với người trung gian của Giao ước Mới - là Chúa Giê-xu - ấy là Chúa Giê-xu phân bố Đức Thánh Linh Ngài trên toàn thể những người thuộc về Ngài. Đây là một điểm chủ chốt đã bị nền thần học Tân Ngũ tuần che mờ đi. Thần học Tân Ngũ tuần đinh ninh rằng việc phân bố Đức Thánh Linh được dành cho toàn thể những người thuộc về Thượng Đế, nhưng không nhất thiết là toàn thể những người thuộc về Thượng Đế đều nhận lãnh được.
Đây là một cách lý giải khác nữa, rất thích hợp cho sách Công vụ. Trước khi lại nhìn trở vào những khúc sách được xem là điểm trục trong sách Công vụ, có lẽ chúng ta sẽ được giúp ích thêm khi chịu dấn thân thực hiện một phần phân tích nho nhỏ trở về nguồn.
Khoa học phê bình tận nguồn gốc Tân ước bao hàm việc phân tích có kỹ thuật nhiều sách khác nhau, nhằm cố gắng tái tạo phần tài liệu gốc đã được dùng để đúc kết thành các nguyên bản. Việc này vốn không được thực hiện hoàn toàn chỉ nhằm các chủ đích suy lý bác học vô bổ mà thôi. Một trong nhiều phần thưởng tối quan trọng cho một công trình phân tích như thế là chỉ ra các chủ đề và các mối bận tâm chủ yếu của từng cá nhân trong các trước giả của các sách Tân ước.
Nếu chúng ta có thể nhận ra được các chủ đích của các trước giả cũng như cả giới người mà các vị ấy muốn cho sách của mình sẽ được đọc cho nghe, thì đó là cả một đoạn đường dài có thể giúp ta hiểu được rất chính xác lời truyền dạy của các vị ấy.
Thí dụ, khi các học giả phân tích các sách Phúc âm Cộng quan - Mã-thi, Mác, và Lưu-ca - họ có thể để riêng ra số tài liệu độc đáo của riêng từng trứơc giả một. Nhiều trước giả tin rằng Mác là người đã viết đầu tiên, và hai sách Mã-thi và Lưu đều có sách Phúc âm Mác trước mặt, khi hai vị ấy viết sách Phúc âm của mình. Trong cả sách Mã-thi lẫn Lưu-ca đều có nhiều tài liệu trùng lắp vốn được lấy từ sách Mác ra.
Đồng thời, có nhiều tài liệu có cả trong hai sách Mã-thi và Lưu-ca mà không thấy có trong sách Mác. Rõ ràng là hai vị Lưu-ca và Mã-thi đã sử dụng một nguồn tài liệu mà Mác không có hoặc không dùng đến. Nguồn tài liệu này thường được gọi là nguồn “Q” (mẫu tự Q là từ Qeulle viết tắt, một từ ngữ Đức văn có nghĩa là “Nguồn").
Điều chúng ta quan tâm là số tài liệu chỉ thấy có torng s1ch Lưu-ca mà thôi. Chúng ta gọi nó là “L”. “L” chỉ số thông tin được Lưu-ca cung cấp, nhưng không thấy có trong các sách Phúc âm khác. Bằng cách tách riêng ra số tài liệu này, chúng ta có được một cái nhìn xuyên suốt (insight) vào các mối quan tâm chú ý đặc biệt của Lưu-ca (Trong trường hợp của Mã-thi mới có - thường được gọi là “M” cho thấy để có một mối bận tâm quan trọng là viết để được đọc cho một cử tọa là người Do-thái).
Khảo sát sách Lưu-ca cho thấy Lưu-ca viết cho một cử tọa người Ngoại quốc và một trong những mối quan tâm chính của ông là chứng minh phổ quát tính của Phúc âm.
Nhờ vào Kinh điển, chúng ta được biết rằng một trong những vụ tranh cãi sôi động nhất - có thể là duy nhất nữa - đã gây tàn hại cho Hội thánh nguyên thủy là vấn đề quy chế cho ngườui ngoại quốc trong Hội thánh. Hội thánh vốn được bắt đầu trước nhất với các tín hữu người Do-thái, rồi sau đó, như sách Công vụ ghi lại, mới tràn sang thế giới người ngoại quốc, phần lớn là nhờ các chuyến lưu hành truyền giáo của Phao-lô.
Điều quan trọng cần ghi khắc vào tâm trí, là Lưu-ca chính là trước giả sách Công vụ các sứ đồ, Ông vốn biết rõ cuộc tranh cãi tối quan trọng về vai trò của người Ngoại quốc trong Hội thánh.
Sách Công vụ đã theo đúng cơ cấu sự uỷ nhiệm của Lời Uỷ thác Trọng đại của Chúa Cứu Thế:
Nhưng khi Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng làm chứng cho ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, và khắp thế giới (Cong Cv 1:8).
Biên niên sử của sách Công vụ noi theo mẫu mực mà Cơ-đốc giáo đã lan truyền này: Giê-ru-sa-lem - xứ Giu-đê - xứ Sa-ma-ri - thế giới của người Ngoại quốc. Phần thuật sự bắt đầu với các biến cố tại Giê-ru-sa-lem rồi lan truyền ra nhờ công cuộc truyền giáo.
Ngày lễ Ngũ tuần là một biến cố Do-thái. Nó xảy ra tại Giê-ru-sa-lem. Bản thân lễ Ngũ tuần là một ngày lễ Do-thái. Những người dự lễ là “những người Do-thái và người mộ đạo từ nhiều dân tộc về dự lễ” (Cong Cv 2:5). Người Do-thái đã lên Giê-ru-sa-lem để dự lễ Ngũ tuần.
Khi sự việc này xảy ra, cần lưu ý là “Tất cả đều đầy dẫy Thánh Linh” (Cong Cv 2:4). Ở đây không có bằng chứng nào cho thấy có tín hữu người Do-thái nào lại không được tiếp nhận Đức Thánh Linh. Không có chứng cứ nào về một người nào đó nhiệt thành tìm cầu ân tứ ấy, trong khi những người khác lại không có nhiệt tâm như thế. Toàn thể tín hữu người Do-thái đều từng trải việc được đổ đầy Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ tuần.
Cùng một hiện tượng y như thế cũng thấy xảy ra trong những lần Đưc Thánh Linh được đổ xuống trong những lần ký thuật trong sách Công vụ. Đã không có phần k1 thuật nào trong sách Công vụ cho thấy có một tín hữu nào trong một nhóm các tín hữu, lại không nhận được (hay chỉ nhận được một phần) Đức Thánh Linh đã hứa khi Ngài giáng xuống Thánh Linh đã đến trên tất cả mọi người và vô điều kiện.
BỐN HẠNG “TÍN HỮU NGŨ TUẦN”
Trong Hội thánh nguyên thủy, vấn đề được tham dự trọn vẹn thân thể Chúa Cứu Thế đã không chỉ bị giới hạn cho hai nhóm người Do-thái và Ngoại quốc theo đạo đầu tiên mà thôi. Có đến bốn nhóm người khác nhau mà địa vị, quy chế của họ torng Hội thánh được thắc mắc đặt thành vấn đề. Bốn nhóm đó là người Do-thái người Sa-ma-ri, người kính sợ Thượng Đế, và người ngoại quốc. Những người kính sợ Thượng Đế là số người ngoãi quốc cải giáo Do-thái, chấp nhận các giáo lý của Do-thái giáo nhưng không hoàn toàn quy đạo vì tự chọn không nhận phép cắt bì. Theo Công 10, thì rõ ràng Cọt-nây là một người kính sợ Thượng Đế.
Tại Sê-sa-rê có một người tên Cọt-nây, làm đại đội trưởng trong trung đoàn Ý-đại-lợi. Ông và mọi người torng nhà đều có lòng một đạo, kính sợ Thượng Đế. Cọt-nây rộng rãi cứu tế dân nghèo và siêng năng cầu nguyện (Cong Cv 10:1, 2).
Điều đáng ngạc nhiên, là bốn lần Đức Thánh Linh được đổ xuống thuộc loại Ngũ tuần được chép lại trong sách Công vụ lại xảy ra đứng trên bốn nhóm người mà địa vị, quy chế của họ trong Hội thánh đã bị thắc mắc đặt thành vấn đề. người Do-thái nhận được Đức Thánh Linh nhân ngày lễ Ngũ tuần. Người Sa-ma-ri nhận được Đức Thánh Linh trong những lẩn thi hành chức vụ của Phi-líp, Phê-rơ và Giăng (8:1-40). Những người kính sợ Thượng Đế nhận được Đức Thánh Linh tại nhà Cọt-nây (10:1-48). Và cuối cùng, có một lần Đức Thánh Linh chỉ được đổ xuống riêng cho những người ngoại quốc tại Ê-phê-sô mà thôi (19:1-41). Tất cả bốn nhóm người và tất cả mọi người trong nhóm, đều đã được nhận lãnh Đức Thánh Linh.
Vấn đề vẫn còn đó: các biến cố ấy có nghĩa gì? Giáo hội Tân Ngũ tuần nhận thấy ý nghĩa trong thời gian trì hoãn giữa lúc ăn năn quy đạo và nhận lãnh Đức Thánh Linh, và trong sự biểu lộ ra bên ngoài là nói các ngoại ngữ.
Nhưng đó không phải là ý nghĩa của các biến cố ấy mà Lưu-ca muốn nhấn mạnh. Đó không phải là bức thông điệp chủ yếu mà chính các sứ đồ đã nhận được nhân các biến cố ấy.
Các vị sứ đồ đã lý giải các biến cố ấy như thế nào? Chiếc chìa khoá ở đây đã được tìm thấy trong 10:1-48
Phê-rơ đang nói, Thánh linh đã giáng trên mọi người nghe. Các tín hữu Do-thái đi theo Phê-rơ đều kinh ngạc vì người nước ngoài cũng như được ân tứ Thánh Linh. Họ nghe những người ấy nói ngoại ngữ và tôn vinh Thượng Đế. Phê-rơ hỏi: “Ai có thể từ chối làm báp-tem bằng nước cho những người này? Vì họ đã nhận lãnh Thánh Linh cũng như chúng ta”. Vậy ông làm báp-tem cho họ nhân danh Chúa Cứu Thế Giê-xu. Sau đó, họ mời ông ở lại thêm vài ngày (Cong Cv 10:44-48).
Văn bản cho thấy các tín hữu Do-thái đều ngạc nhiên khi thấy những người ngoại quốc được tiếp nhận Đức Thánh linh. Ý nghĩa rõ rằng của việc đó đối với Phê-rơ, ấy là những người đã quy đạo ấy đều được nhận lãnh quy chế là thành viên trọn vẹn của Hội thánh. Phê-rơ đã hỏi: “Ai có thể từ chối làm phép báp-tem bằng nước cho những người nà?” Rồi ông làm báp-tem cho họ. Tại đây, đại luận đề về Hội thánh Tân ước bao gồm tất cả mọi người của Lưu-ca đã bừng sáng lên rạng rỡ. Trong Nước Trời, không thể có những công dân hạng nhì. Tất cả mọi người Do-thái, Sa-ma-ri, kính sợ Thượng Đế và ngoại quốc đều được nhận lãnh pháp báp-tem của Đức Thánh Linh.
Điều có thể xem là quy phạm của ngày lễ Ngũ tuần, là Thánh Linh ban phép báp-tem cho toàn thể những người thuộc về Thượng Đế. Việc đã có trì hoãn về thời gian giữa việc ăn năn quy đạo và phép báp-tem không hề thiết lập được góc cạnh này làm một quy phạm. Đã có những lý do rõ ràng về sự cứu chuộc trong lịch sử cho “những ngày lễ Ngũ tuần” phân biệt ấy xảy ra. Chứng minh chứng rõ ràng tính cách bình đẳng giữa cả bốn nhóm người trong Hội thánh. Đã chẳng có gì trong văn bản cho thấy thời gian trì hoãn tiếp sau đó là có tính cách quy phạm. Trong 19:1-41, Phao-lô đã hỏi người Ê-phê-sô: “Khi tin Chúa, anh em đã nhận được Thánh Linh chưa?”.
Bằng câu hỏi này, rõ ràng là Phao-lô cho rằng rất có thể người Ê-phê-sô đã có được từng trải của ngày lễ Ngũ tuần rồi, lúc họ ăn năn quy đạo cho thấy, ít ra, tại điểm này, Phao-lô vốn không hề ý niệm về một sự trì hoãn có tính cách quy phạm về thời gian. Ông chấp nhận có thể có trì hoãn, nhưng không nhất thiết phải là như thế.
Còn về nói ngoại ngữ như một chứng cứ hiển nhiên cho phép báp-tem của Đức Thánh Linh, thì thế nào?
Căn cứ vào các văn bản trong sách Công vụ, thì rõ ràng ân tứ nói các ngoại ngữ đã có chức năng của một dấu hiệu bên ngoài về việc được đổ đầy Thánh Linh. Các ngoại ngữ cung cấp một dấu chỉ khả dĩ sờ nắn được rằng Thánh Linh đã giáng trên một cá nhân nào đó như việc đột nhiên buột miệng nói ra trong cơn xuất thần là dấu hiệu cho thấy Ên-đát và Mê-đát đã đựơc nhận lãnh Đức Thánh linh trong Dan Ds 11:1-35. Tuy nhiên, trong trường hợp của Chúa Giê-xu khi chọn xức dầu, đã có Thánh Linh giáng xuống như chim bồ câu như một dấu hiệu bề ngoài khả dĩ trông thấy được. (Phần ký thuật về phép báp-tem của Chúa Giê-xu là nền móng để dùng chim bồ cây làm biểu tượng cho Đức Thánh Linh. Chim bồ câu, cũng trở thành một biểu tượng cho hoà bình (căn cứ trên chim bồ câu trong phần ký thuật về chiếc tàu của Nô-ê), không phải là biểu tượng xấu cho Thánh Linh, nhưng chắc chắn là nó không nói lên được rõ ràng lắm ý niệm về quyền năng. Ngọn gió mạnh là một biểu tượng hay hơn, và chắc chắn gió và Thánh linh có nhiều lần được kết hợp với nhau trong Kinh Thánh. Như phần ký thuật về ngày lễ Ngũ tuần cho thấy, lửa cũng là một biểu tượng thích hợp, nhưng cũng như cả hai biểu tượng gió và chim bồ câu, nó không nói lên được ý niệm về nhân cách. Điều thật chẳng may là trên cấp bậc thị giác đã không có các biểu tượng thật sự thích hợp với Thánh Linh. (Mat Mt 4:16). Tại lễ Ngũ tuần đã có một dấu hiệu vừa có thể thấy được vừa có thể nghe được, tức là các lưỡi lửa đậu trên tất cả mọi người đã được đổ đầy Thánh Linh.
Tuy các dấu hiệu hữu hình này thỉnh thoảng xảy ra nơi này nơi nọ, chúng vốn không được xem là những dấu chỉ quy phạm cần thiết của việc đổ đầy Thánh Linh. Tuy nói các ngoại ngữ được tiếp tục trong sinh hoạt của Hội thánh, mà chứng cứ là cuộc thảo luận của Phao-lô về vấn đề ấy trong ICổ-linh, rõ ràng là vào thời ICổ-linh được viết ra, nói các ngoại ngữ đã không được xem là dấu hiệu cần thiết cho việc được phú cho ân tứ.
Trong ICổ-linh, Phao-lô đã chịu khó nhắc đi nhắc lại rằng tuy nói các ngoại ngữ là một ân tứ từ Thượng Đế, do đó, có ích lợi, Hội thánh không nên chấp nhận chúng như một tình trạng cần được đề cao quá đáng. Phao-lô đã nhấn mạnh ý kiến của ông như sau:
Tôi cảm tạ Thượng Đế vì tôi nói được nhiều ngoại ngữ hơn anh em. Nhưng giữa Hội thánh, thà tôi nói năm ba lời cho người khác hiểu để hướng dẫn họ còn hơn nói hàng vạn lời bằng ngôn ngữ không ai hiểu (ICo1Cr 14:10-19).
Tỷ lệ của vị sứ đồ ở đây là 5/10.000. Ở một chỗ khác, Phao-lô đã đặt câu hỏi: “Cả thành đều nói tiếng lạ sao?” (12:30, bản dịch cũ). Ở đây đã không có câu trả lời minh nhiên nào cả. Tuy nhiên, đã không có gì để nghi ngờ về câu trả lời này. Câu hỏi này bỏ ngỏ cho một câu trả lời bất kỳ nào. Chỉ có một câu trả duy nhất mà thôi. Đó là lời đáp không.
Trong Hội thánh Cổ-linh, các ân tứ của Thánh Linh được thấy rõ và có tác động mạnh mẽ. Thế nhưng Phao-lô lại chịu khó nhắc đi nhắc lại rằng Thánh linh ban cho người thuộc về Ngài nhiều ân tứ khác nhau:
Có nhiều ân tứ khác nhau nhưng chỉ có một Thánh Linh. Có nhiều cách phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều công việc khác nhau nhưng chỉ có một Thượng Đế thực hiện mọi việc trong mọi người. Ân tứ của Thánh Linh được biểu lộ nơi mỗi người mỗi khác vì lợi ích chung. Thánh Linh cho người này lời nói khôn ngoan, cũng Thánh Linh ấy cho người kia nói lời tri thức... Những ân tứ ấy đều do cùng một Thánh Linh phân phối cho mọi người theo ý Ngài (ICo1Cr 12:4-11).
Đức Thánh Linh cầm quyền tể trị trong việc ban các ân tứ cho Hội thánh Ngài. Hội thánh là một thân thể (tổ chức) gồm nhiều chi thể (thành viên) được ban cho nhiều ân tứ tùy theo chức năng bên trong một cớ cấu nội tại, để có thể có những hoạt động vừa thống nhất, vừa đa dạng. Không một chức vụ hay ân tứ nào lại có thể được đề cao đến độ trở thành một dấu hiệu độc quyền của sự biểu hiện của Đức Thánh linh.
Phao-lô nhấn mạnh thêm:
Nhờ một Thánh Linh, tất cả chúng ta đều chịu báp-tem để gia nhập vào một thân thể. Tất cả chúng ta - người Do-thái và người nước ngoài người nô lệ và tự do - đều nhận lãnh một Thánh Linh (ICo1Cr 12:13).
Dale Bruner bình giảng khúc sách này như sau:
Nếu câu này được lý giải là đề cập một phép báp-tem trong Đức Thánh Linh thứ hai, và phân biệt, ngoài phép báp-tem trong Chúa Cứu Thế, chỉ cho một số Cơ-đốc nhân mà thôi, thì đó là lượng giải chẳng những đối với các từ ngữ trong văn bản - “tất cả”... “tất cả” - mà cả đối với chủ đích của văn bản tong văn mạch là thư Cổ-linh của nó nữa... Trong 12:13 Phao-lô không dạy về một phép báp-tem phổ quát chỉ có một số ít người nhận được, mà ông đang dạy về phép báp-tem do ân phúc Thượng Đế của Cơ-đốc giáo thông qua Thánh Linh được ban cho tất cả mọi người. (Frederick Dale Bruner, A Theology of the Holy Spirit (Grand Rapids: Eerdmans, 1970), 292.
Trọng lượng của cách lý giải theo Kinh Thánh về ý nghĩa của lễ Ngũ tuần, chống lại cách hiểu của giáo hội Tân Ngũ tuần về phép báp-tem của Đức Thánh Linh. Tất cả những người đã được Thánh Linh tái sanh đều cũng được Ngài làm phép báp-tem, đổ đầy, và ban quyền năng để thi hành chức vụ.
Đó là những tin tức đầy phấn khởi của lễ Ngũ tuần. Trong kế hoạch cứu chuộc của Thượng Đế, Đức Thánh Linh đã ban ân tứ cho từng người tín hữu một để chu toàn chức vụ. Toàn thể Hội thánh đều được ban cho quyền năng từ trên cao. Không hề có đến hai cấp bậc tín hữu - những người được ban ân tứ cho và những người không được ban cho ân tứ, được phép báp-tem trong Thánh Linh và không được phép báp-tem trong Thánh Linh. (Nhiều tín đồ Ân tứ (Charismatics) và Ngũ tuần nhấn mạnh nhiều ân tứ khác nữa của Thánh Linh - chữa bệnh, nói tiên tri, lãnh đạo, tiếp khác, biện biệt, khuyên răn, lý giải, v.v... Điều chẳng may là trong tâm trí nhiều Cơ-đốc nhân, nói các ngoại ngữ (tiếng lạ) lại được xem là chứng cứ hiển nhiên của phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh).
Chúng tôi được nghe lời chứng của nhiều Cơ-đốc nhân hiện đại tuyên bố rằng từng trải về phép báp-tem trong Thánh Linh và nói ngoại ngữ của họ đã đột ngột làm thay đổi đời sống thuộc linh của họ. Họ đã hăng say, bạo dạn, nhiệt thành hơn trong việc cầu nguyện. Người ta bảo rằng một người chỉ biết về lý luận mà thôi, thì chẳng bao giờ sánh nổi với một người đã có từng trải.
Tôi không hề muốn cãi lộn với những người đã có từng trải về Đức Thánh Linh. Tôi thích được nghe về đức tin, lòng hăng say, nhiệt thành trong việc cầu nguyện, và những gì còn lại. Mối bận tâm của tôi không phải là về ý nghĩa của từng trải, nhưng là về cách thông hiểu ý nghĩa của từng trải ấy. Đó là cách lý giải từng trải có khuynh hướng chống lại Kinh điển. Uy quyền của chúng ta không phải là từng trải của riêng mình, nhưng là Lời của Thượng Đế. Mọi người trong Hội thánh không phải đều có cùng một từng trải giống nhau trong Thánh Linh, nhưng điều đó không phải là dấu chỉ cho thấy họ không có cùng một Thánh Linh. Đây chính là vấn đề đã gây nhiều rắc rối cho Hội thánh Cổ-linh.
Tôi không baỏ rằng tất cả những ai đã là thành viên của Hội thánh Cơ-đốc giáo đều có Đức Thánh Linh. Làm thành viên của Hội thánh hữu hình không hề được bảo đảm là mình đã được phép báp-tem của Đức Thánh Linh, chẳng khác chi nó không hề bảo đảm rằng người ấy đã được cứu. Chúng ta đều biết có nhiều người vô tín hiện là thành viên của Hội thánh. Chẳng hề có người vô tín nào lại được phép báp-tem của Đức Thánh Linh, nhưng mỗi một tín hữu, mỗi một người được tái sanh, đều được phép báp-tem của Đức Thánh Linh. Toàn thể Cơ-đốc nhân từ thời lễ Ngũ tuần cho đến nay, đều vừa được Đức Thánh Linh tái sanh và làm báp-tem cho. Đó là yếu tính của ý nghĩa của ngày lễ Ngũ tuần. Bất cứ một điều gì khác đều rủ bóng tối trên tầm quan trọng thiêng liêng của ngày lễ Ngũ tuần trong lịch sử của sự cứu chuộc. Người nào đã được tái sanh cũng đều được Thánh Linh ấn chứng làm báp-tem trong Thánh Linh, và có lòng nhiệt thành của Thánh Linh.

TRÁI CỦA THÁNH LINH
Thượng Đế ấn chứng cho bạn bằng cách ban cho bạn ân tứ của Thánh Linh Ngài.
Mỗi một con cái Thượng Đế đều mang cùng một dấu ấn, đều được cùng một Đức Thánh Linh ngự vào lòng.
TOM REES
Các ân tứ của Đức Thánh Linh đều vô cùng hấp dẫn và tạo phấn khởi. Là một người có ơn (được ân tứ, có khả năng thiên phú) thì được đồng bào đồng loại ghi công về các công trình và tài năng. Vì những lý do ấy và có lẽ nhiều lý do khác nữa, các ân tứ của Thánh Linh được chú ý trong nền văn hoá của chúng ta, nhiều hơn là trái của Thánh Linh. Các trái của Thánh Linh dường như bị dành cho số phận ở trong bóng tối, bị che giấu dưới bóng của những ân tứ được ưa chuộng hơn.
Thế nhưng, chính chứng cứ hiển nhiên của trái Thánh Linh mới là dấu hiệu của sự tiến bộ trong sự thánh hoá chúng ta. Lẽ dĩ nhiên, Thượng Đế rất đẹp lòng khi chúng ta thực thi bổn phận bằng các ân tứ mà Đức Thánh Linh đã ban xuống trên chúng ta. Nhưng tôi nghĩ là Thượng Đế càng đẹp lòng nhiều hơn nữa khi thấy người của Ngài thể hiện trái của Thánh Linh.
Phao-lô khuyên người Ga-la-ti:
Vậy tôi khuyên anh em đi theo sự hướng dẫn của Thánh Linh, để thoát khỏi dục vọng của bản tính cũ (GaGl 5:16).
Đời sống Cơ-đốc nhân là một cuộc hành hương. Theo hình ảnh torng Kinh điển, đó là một hành trình mà chúng ta phải đi bộ. Đi bộ là một kiểu di chuyển trong hành trình này theo tốc độ của một con ốc. Chúng ta không chạy nhanh, không nhảy vọt trong cuộc đua vượt rào cản của sự cám dỗ. Có nhiều hàng rào cản trở bước tiến của chúng ta. Khắp nơi, chúng ta đều trực diện với các chướng ngại vật của xác thịt làm suy giảm tốc độ. Phao-lô còn viết thêm:
Bản tính cũ thích làm những điều nghịch với Thánh Linh, trong khi Thánh Linh muốn anh em làm những việc trái với bản tính cũ (5:17).
Đây là một trận chiến tranh. Con người cũ vùng lên chống lại con người mới. Bản tính tội lỗi của xác thịt chiến đấu để bóp chẹt ảnh hưởng của Thánh Linh. Tuy trận chiến tranh này xảy ra trong nội tâm và vô hình, có nhiều dấu hiệu bên ngoài hết sức rõ ràng về cuộc tàn sát do trận đánh này gây ra. Khi nào Thánh Linh chiến thắng, chúng ta thấy trái của Ngài. Khi nào xác thịt thắng, chúng ta cũng thắng bằng chứng bên ngoài.
Trước khi Phao-lô dụng công trau chuốt trái của Thánh Linh, ông nêu ra các việc làm của xác thịt. Các việc làm của xác thịt nổi bật hẳn lên, tương phản rõ rệt với trái của Thánh Linh:
Để mặc cho bản tính tội lỗi lộng hành, con người bị lôi cuốn vào gian dâm, ô uế, trụy lạc, thờ thần tượng, yêu thuật hận thù, tranh chấp, ganh ghét giận dữ, khích bác, bè phái, tà giáo, ghen tỵ, say sưa, chè chén và những điều tương tự. Tôi cảnh cáo anh em như tôi đã nói rồi, người làm những việc ấy không thể nào làm con dân của Thượng Đế (5:19-21).
Bảng liệt kê các việc làm của xác thịt rất quan trọng vì hai lý do. Một là, nó đưa ra nét tương phản với trái của Thánh Linh như đã đề cập. Hai là nó nhận diện các thói xấu tội lỗi mà vị sứ đồ nhấn mạnh (bằng cách nhắc đi nhắc lại) là đặc điểm của người không được tái sanh và đang bị hư vong. Lẽ dĩ nhiên, một người đã được cứu chuộc vẫn có thể từng sa vào các tội lỗi ấy rồi. Mỗi tội như thế đều từng biểu hiện vào một lúc này, lúc khác trong đời sống các vị thánh đồ vĩ đại nhất. Nhưng chúng không phải là đặc điểm của Cơ-đốc nhân. Nếu bảng liệt kê này là đặc điểm của nếp sống của một người nào đó, thì rõ ràng người đó vẫn chưa được cứu chuộc.
Vì bảng liệt kê này dẫn đến một lời cảnh cáo đáng ghê tởm như thế, điều quan trọng là cần đưa ra một câu định nghĩa ngắn gọn cho những tội đã được đề cập.
1. Ngoại tình: Tội đầu tiên được đề cập là một điều cấm đoán của Điều Răn Thứ Bảy. Nó bao gồm việc vi phạm sự thánh khiết trong hôn nhân qua những liên hệ tình dục bất hợp pháp giữa những người đã có vợ có chồng.
2. Gian dâm: Gian dâm thường ám chỉ mối liên hệ tình dục giữa những người chưa cưới vợ lấy chồng. Nó thường được kết hợp với việc liên hệ tình dục tiền hôn nhân. Tuy nhiên, trong văn bản này, nó có nghĩa rộng hơn để bao gồm việc liên hệ tình dục bất hợp pháp theo nghĩa rộng nhất của từ ngữ ấy (đồng tính luyến ái cũng gồm luôn vào đây).
3. Ô uế: Cũng có một hàm ý về tình dục ở đây. Nó phản ảnh một cách ăn ở mà ngôn gnữ bình dân gọi là “dư dáy”.
4. Trụy lạc: Chữ này mô tả một nếp sống phóng túng, vô kỷ luật, không biết kìm chế, tự chủ.
5. Thờ thần tượng: Tội này ám chỉ việc thờ lạy của thần tượng ngoại đạo. Theo nghĩa rộng của nó, thờ thần tượng có thể gồm luôn những việc như thờ phượng của cải vật chất.
6. Yêu thuật: Tội này bao gồm việc thực thi ma thuật và những tập tục bị cấm đoán như cầu cơ, bói toán, tử vi và những việc tương tự.
7. Hận thù: Tội này phản ảnh một cá tính đố kỵ oán ghét, và không yêu thương.
8. Tranh chấp: Tội này được thấy rõ nơi người có thái độ hay gây gỗ. Người tranh chấp hay cãi lẫy và muốn tranh hơn thua. Ai gặp phải loại người này rất dễ bị tổn thương.
9. Ganh ghét: Ganh ghét phản ảnh một tinh thần tự kỷ trung tâm, chỉ biết có mình, mà khinh dễ các công lao hay chiến thắng của người khác. Nó cho thấy sự thiếu yêu thương. Những tội 7,8,9 có thể là một số tội nhỏ của các Cơ-đốc nhân, có lẽ vì chúng rất dễ giấu kín hay được giải thích bằng cách khác cho xuôi tai.
10. Giận dữ: Tội này vạch rõ một người có cá tính dễ nổi nóng.
11. Tham vọng ích kỷ (selfish ambitious). Tội này hàm ý người có lòng tham vô lý để bản thân được lợi, bất chấp người khác.
12. Khích bác bè phái: Tội này không loại trừ các hình thức bất đồng ý kiến hợp pháp. Trái lại, đặc biệt của nó là nuôi dưỡng thêm tinh thần tranh chấp, luôn luôn cãi cọ, thù địch và gây bất đồng ý kiến giữa các nhóm người với nhau.
13. Tà giáo: Nghĩa gốc của từ ngữ này bao gồm việc tự ý chọn các ý kiến chống lại chân lý đã được xác lập. Nó bao hàm nhiều hơn là những sai lầm về thần học, vì nó còn có thể ám chỉ các sai lầm về thái độ và cách ăn ở cư xử nữa.
14. Ghen tỵ: Ghen tỵ là ước muốn chiếm đoạt điều vốn thuộc về một người khác. Nó có thể bao hàm việc ấp ủ ước muốn của những người cố ý hưởng thụ một số lợi lộc nào đó.
15. Sát nhơn: Từ ngữ này tự nó đã giải nghĩa rồi. Dĩ nhiên là nhiều Cơ-đốc nhân vốn không công khai giết người, nhưng phải nhớ lời Chúa Cứu Thế dạy về việc ghen ghét một người anh em (Mat Mt 5:22).
16. Say sưa: Ám chỉ cách lạm dụng rượu vô độ, do đó, hàm ý lạm dụng ma tuý.
17. Chè chén: Bao gồm nếp sống của những người cứ tiệc tùng liên miên, thích hưởng thụ những thú vui cuồng loạn hoặc nhậu nhẹt.
Để chống lại bảng liệt kê của các công việc của xác thịt này, Phao-lô kể ra trái của Thánh Linh:
Trái lại, nếp sống do Thánh Linh dìu dắt sẽ kết quả yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lương, thành tín, hoà nhã tự chủ. Không có luật nào cấm các điều ấy (GaGl 5:22-23).
Ở đây, vị sứ đồ trình bày mẫu mực của sự công chính đích thực. Kết qủa đựơc chỉ ra là trái của Thánh Linh. Trái là một cái gì được sản sinh ra trong chúng ta. Nó vốn không phải là của riêng chúng ta. Về phương diện bản thân mà nói, chúng ta chỉ là xác thịt. Xác thịt chỉ sản sinh ra càng nhiều xác thịt hơn mà thôi. Xác thịt chẳng làm ích lợi gì cho ai cả. Martin Luther tuyên bố rằng cái “chẳng là chi cả” ấy không phải là “một chút của một điều gì đó”.
Người nào của nấy. Nhìn sản phẩm thì biết đựơc nhà sản xuất. Cha nào con nấy. Chỉ có Đức Thánh Linh mới “hoài thai” và “sản sinh” ra trái của Thánh Linh. Chúng ta có thể là một diễn giả tài ba mà không có Thành Linh. Chúng ta có thể là những thần học gia thiên tài theo xác thịt. Chúng ta có thể là những nhà hùng biện tài ba nhưng không nhận được ân phúc Thượng Đế. Nhưng nguồn duy nhất của trái Thánh Linh, là công tác của Đức Thánh Linh bên trong chúng ta.
Cho nên điều không phải là ngẫu nhiên khi trái Thánh Linh không được nâng lên ngang hàng phần trắc nghiệm cao cả của sự công chính của chúng ta. Trong chúng ta hãy còn quá nhiều xác thịt khiến chúng ta thích một định chuẩn khác. Cách trắc nghiệm trái Thánh Linh vốn quá cao; chúng ta không tài nào đạt nổi. Cho nên trong phạm vi các nền văn hoá Cơ-đốc giáo còn thiếu kém của mình, chúng ta thích dựng lên một loại trắc nghiệm thấp kém nào đó để có thể tự đo mình và thấy rằng mình thành công hơn. Chúng ta có thể tự ganh đua với nhau dễ dàng hơn nhiều, nếu pha lẫn một ít xác thịt vào với Thánh linh.
Chúng ta sẽ gặp khó khăn biết bao nếu đựơc đo bằng tình yêu thương! Và xin đừng bao giờ đánh giá tôi căn cứ vào định chuẩn là sự hoà nhã. Tôi hãy còn quá nóng vội để có thể xứng đáng đem đức tin kiên nhẫn để làm tiêu chuẩn hầu đo đạc sự tăng trưởng của mình. Với tôi thì truyền giảng còn dễ hơn là tự chủ. Viết một tác phẩm về hoà bình còn dễ hơn là thực hành hoà bình.
Trái của Thánh Linh gồm một bảng liệt kê các đức hạnh mà thoạt nhìn trên bề mặt, có vẻ hết sức tầm thường. John Calvin có đề cập những đức hạnh mà nhiều người ngoại đạo không được tái sanh vẫn có thể có được đến một mức độ nào đó. Ông mô tả sự “ngay thẳng dân sự” (civil nighteousness) mà con người tự nhiên cũng có thể có được. Nhờ ân phúc chung của Thượng Đế, loài người sa ngã vẫn có thể phô trương một hình thức ngoại tại nào đó của sự công chính.
Sự công chính ngoại tại là điều nhìn bề ngoài có vẻ phù hợp với luật pháp Thượng Đế, nhưng lại bị thiếu mất phần đông có thúc đẩy của tấm lòng để khiến nó sẵn sàng hướng tới tình yêu thương của Thượng Đế. Người không tin Chúa vẫn có thể yêu thương bằng tình thương yêu trìu mến tự nhiên. Những ông chồng không tin Chúa vẫn có lòng yêu thương trìu mến tự nhiên đối với vợ mình. Những bà mẹ không tin Chúa cũng có tình yêu thương trìu mến tự nhiên đối với con cái họ. Âm nhạc thế tục vẫn đề cao đức hạnh yêu thương.
Cũnf vậy, các đức hạnh khác đã được đềc ập như trái của Thánh Linh vẫn có thể biểu hiện nơi kẻ vô đạo bất kính. Adolph Hitler nhiều lúc cũng tỏ ra hoà nhã tử tế. Stalin lắm khi cũng tỏ ra nhân từ. Vua Pha-ra-ôn của thời Môi-se đến Ai-cập thỉnh thoảng cũng biết nhẫn nại. Ngay trong thời đại của chúng ta đây, các tín đồ Mormons vốn được ghi nhận là rất tiết độ.
Vấn đề là chính tại đấy. Nếu người vô tín cũng có thể bày tỏ các đức hạnh đã được đề cập là trái của Thánh Linh, làm thế nào để chúng ta biết được hiện diện của các đức hạnh ấy cho thấy có sự hiện diện của Đức Thánh Linh trong đời sống chúng ta? Không hề có một trái đơn độc nào của Đức Thánh Linh. Khi được phơi bày ra, lại có thể là một bằng chứng của sự tái sanh được.
Có lẽ vì quá dễ dàng lẫn lộn giữa “lòng ngay thẳng dân sự” với trái của Thánh Linh như thế, cho nên các Cơ-đốc nhân có khuynh hướng đi tìm các dấu chỉ của sự tin kính đích thực ở những chỗ khác. Nhưng Kinh Thánh không muốn cho chúng ta chịu thua sự cám dỗ này. Thánh Linh sản sinh ra trái thật. Chúng ta cần phải nuôi dưỡng công tác của Ngài trong đời sống chúng ta (Vì ngay đến người không tin Chúa cũng có thể hiền lành, tử tế, hoà nhã v.v.. các Cơ-đoc nhân thường chú trọng vào, những điều như tài truyền giảng hùng biện, viết văn, v.v.. Sống thánh thiện - chứng tỏ trái của Thánh Linh - thật tự nhiên vốn ít ngoạn mục, nhưng có lẽ còn tin kính đạo đức hơn cả một nhà truyền đạo tài ba, một nhà văn đạo đức, một ca sĩ chuyên hát thánh ca, v.v..)
Chúng ta cần học tập để iết phân biệt sự ngay thẳng dân sự, với trái của Thánh Linh. Chỗ khác nhau vốn vượt xa chỗ dị biệt về cấp bậc, trình độ mà thôi. Nó còn là một sự khác nhau về thể loại nữa.
Trái của Thánh Linh vốn hiếm có và phi thường. Chẳng hạn đó là chỗ khác nhau giữa một tình yêu thương tầm thường với một tình yêu thương bất thừơng, giữa một tình yêu thương thông thường với một tình yêu thương phi thường, giữa tình yêu thương tự nhiên với tình yêu thương siêu nhiên.
YÊU THƯƠNG
Trái yêu thương do Đức Thánh linh sinh ra là một tình yêu thương siêu việt. Nó vượt trên đức hạnh thương yêu trìu mến tự nhiên bình thường. Nó là tình yêu thương đối với kẻ không xứng đáng được thương yêu (agape), là tình yêu thương đã được viết thành bản anh hùng ca trong ICổ 13. Yêu người đáng yêu là một việc. Còn yêu thương kẻ thù lại là một việc khác. Tình yêu tự nhiên giống như vàng pha lẫn với nhiều tạp chất. Nó bị các lợi lộc vị kỷ làm hoen ố. Nó bị pha lẫn với chất chì của ghen tỵ và chất tạp nham thô tục. Nó là tình yêu thương bất nhất.
Trong ICổ 13, Phao-lô bảo với chúng ta rằng tình yêu thương không ghen tỵ, không khoe khoang, không tự cao. Nó không khiếm nhã, không vị kỷ, hay nhạy giận. Nó không chấp trách. Nó không vui mừng về việc bất công.
Tình yêu thương đã không được định nghĩa đơn giản là kiêng cữ nhậu nhẹt, khiêu vũ, ăn diện, xem phim, cờ bạc, và những việc tương tự Nó là lòng ghen tỵ đòi hỏi thập tự giá chứ không phải là son môi; nó là lòng khát khao đòi hỏi sự chuộc tội, chứ không phải là cờ bạc; nó là sự kiêu ngạo kêu gào nhu cầu phải chuộc tội, chứ không phải là phim ảnh.
Có người mô tả tình yêu chân chính là “Yêu thương vô điều kiện”. Ý niệm này có thể hoặc là ve một đồng tiền bằng vàng ròng hay một viên đá trong bao buộc ngang thắt lưng của kẻ gian manh muốn lừa đảo. Nó sẽ tức khắc là thật hay giả một cách trắng trợn tuỳ theo cách người ta hiểu về nó. Nhà truyền đạo với nụ cười dễ dãi trên toà giảng, bảo đảm với chúng ta rằng “Thượng Đế tiếp nhận bạn trong tình trạng hiện tại của bạn”, vừa thốt ra một lời nói dối tinh quái. Nước Trời có những đòi hỏi khe khắt hơn các đòi hỏi của người láng giềng của ông Rogers nhiều. Không nên ngào đường quá ngọt tình yêu thương của Phúc âm bằng chất đường hoá học của ân phúc Thượng Đế. Thượng Đế không thể tiếp nhận kẻ tự cao với tánh tự cao của người ấy. Ngài quay chiếc lưng thánh khiết của Ngài lại đối với kẻ không chịu ăn năn thống hối. Chắc chắn rằng Ngài đã chứng tỏ tình yêu thương đối với những loài thọ tạo đã sa ngã của mình nhưng tình yêu thương ấy có những đòi hỏi thánh khiết của nó. Chúng ta phải đến với Ngài bằng một đầu gối quỳ xuống, và một tấm lòng đau thương thống hối:
Jonatan Edwards đã nói ve tình yêu thương như sau:
Nếu tình yêu là phần tóm tắt cả Cơ-đốc giáo, thì chắc chắn là những gì phá đổ tình yêu đều vô cùng bất xứng hợp với các Cơ-đốc nhân. Một Cơ-đốc nhân ghen tỵ, ranh ma, lạnh lùng và cứng lòng là điều phi lý và mâu thuẫn lớn lao nhất. Nói như thế thì chẳng khác gì nói về sự sáng chói của bóng tối, hay một chân lý sai lầm, giả ngụy.
Giáo sư của tôi là Tiến sĩ John Gerstner có lần đề cập sự biểu hiện của tình yêu Cơ-đốc giáo (agape) trong đời sống sứ đồ Phao-lô. Ông đã dùng bốn mẫu tự ghép thành tên ông (PAUL) làm những mẫu tự đầu để mô tả cá tính của ông. Mẫu tự P chỉ ô uế (Polluted) vì Phao-lô mô tả mình là người nặng tội nhất, htuộc loại tội nhân đứng hàng đầu Mẫu tự A chỉ chức vụ sứ đồ (Apostolic ministry). Nhưng hai mẫu tự U và L mới hợp thời ở đây. Mẫu tự U chỉ sự hiến thân không khoan nhượng (Uncompromising Commitment) cho chân lý; mẫu tự L chỉ phẩm chất của tình yêu (Love) của Phao-lô. Tiến sĩ Gerstner đã nói như thế này: “Không phải chúng ta nói rằng Phao-lô là người không chịu khoan nhượng và có tình yêu thương. Thậm chí chúng ta cũng không bảo ông không chịu khoan nhượng nhưng có lòng yêu thương. Đúng hơn, là chúng ta nói rằng Phao-lô là một người không chịu khoan nhượng, do đó, ông có tình yêu thương”.
Tình yêu thương thuộc linh phải do Thượng Đế tác tạo ra. Sở dĩ chúng ta có thể yêu nước Ngài, vì Ngài đã yêu chúng ta trước, và vì chính tình yêu thương của Ngài đã rải khắp trong lòng chúng ta. Tình yêu ấy siêu vượt trên sự trìu mến tự nhiên. Nó lưu xuất từ một tấm lòng đã được Thánh Linh của Thượng Đế biến đổi.
VUI MỪNG
Vui mừng được đề cập là một trái của Thánh Linh. Niềm vui này không phải là niềm vui chúng ta có được vào khoảnh khắc đội bóng dài mà chúng ta ái mộ đoạt được chiếc Siêu Cúp Quốc gia. Nó không phải là niềm hạnh phúc trong phút chốc do một điều gì đó trên đời này đem đến. Cũng như tình yêu agape vốn có tính cách siêu vượt, sự vui mừng của Cơ-đốc nhân cũng là một niềm vui siêu việt, một niềm vui nảy sinh từ việc được Thượng Đế chúc phước cho. Người không tin Chúa gặp một từng trải có được những cảm xúc tích cực có thể nở một nụ cười, nhưng chẳng hề có người vô tín nào lại từng trải được sự vui mừng đầy phước hạnh của sự cứu rỗi.
Niềm vui của Thánh Linh tồn tại mãi. Những người đoạt được Siêu cúp Quốc gia năm nay qua mùa sau có thể sẽ bị loại. Những niềm hạnh púc tạm thời trên đời này có thể trở thành lạnh lẽo trong phần mộ. Niềm vui của sự cứu rỗi là vĩnh cửu. Chiến thắng mà Chúa Cứu Thế đã đem đến cho chúng ta không phải chỉ có trong một mùa mà thôi. Chẳng có năm nào là năm xui xẻo cho Chúa Cứu Thế cả.
Sự vui mừng của Thánh Linh cũng ổn định nh nó vốn tràn ngập niềm vui. Đó là sự hoan hỉ vẫn ở lại với chúng ta giữa cơn đau khổ. Nó có chiều sâu. Nó thâm nhập tâm hồn chúng ta. Nó bắt thất vọng đưa đi đày và xoá bỏ thói bi quan. Nó làm nảy sinh lòng tin cậy không tự phụ tự mãn, lòng can đảm không lên mặt ta đây. Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét đã có thể khóc. Những giọt lệ của Ngài đã không hề làm hoà tan sự vui mừng mà Ngài biết là đang có trong nhà của Cha Ngài.
Chúng ta vui mừng trong hi vọng. Niềm hi vọng của chúng ta không phải là ảo tưởng của kẻ hay mơ mộng, nhưng là sự bảo đảm cho người đã được cứu chuộc. Đó là niềm vui của những người có đôi tai nghe được lệnh truyền của Chúa Cứu Thế: “Đừng nản lòng vì ta đã chiến thắng thế gian” (GiGa 16:33).
BÌNH AN
Sự bình an của Thánh Linh cũng siêu việt y như thế. Nó là sự hoà bình (shalm) mà mỗi người Do-thái đều có. Nó vượt trên điều mà Maritn Luther gọi là sự bình an xác thịt, sự bình an do các tiên tri giả đem đến cho dân Y-sơ-ra-ên. Nó không phải là sự hoà bình hèn nhát nhờ được khuyên giải mà có. Nó là sự bình an do chiến thắng thường xuyên tạo nên.
Khi những cuộc chiến tranh trên trần gian này kết thúc và những bản hoà ước được ký kết, bao giờ cũng tồn tại một cuộc hưu chiến gây khó chịu. Một cuộc chiến tranh lạnh bao giờ cũng còn đấy, trong đó, chỉ cần một tiếng chạm nhỏ của một lưỡi gươm vào vỏ cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy những đố kỵ hằn thù mới đang bắt đầu. Đã có chỗ khác nhau lớn lao giữa việc Neville Chamberlain nghiêng mình trên một bao lơn và tuyên bố rằng: Chúng ta đã tạo được hoà bình cho thời đại mình” với việc Chúa Giê-xu đã nghiêng mình trên một chiếc bàn và dạy: “Ta để lại cho các con sự bình an trong tâm hồn. Ta ban cho các con sự bình an ta, chẳng phải thứ bình an mong manh của trần gian” (GiGa 14:27).
Di sản của Chúa Cứu Thế là sự bình an. Hoà bình là pha8n gia tài mà Chúa Bình An để lại cho chúng ta. Đó là sự hoà bình mà thế gian không thể ban được cho chúng ta. Sự hoà bình này là sự bình an còn mãi, và chẳng có ai rứt được nó khỏi chúng ta.
Đức Thánh Linh ban cho chu1ng ta một sự bình an nội tâm, một sự bình an vượt quá trí hiểu. Nhưng sự bình an Ngài ban cho vốn có giá trị vô cùng cao hơn sự bình an của tâm trí. Nó vượt xa vẻ thản nhiên lạnh lùng của người khắc kỷ và sự an nhiên tự tại của các môn đệ của Epicurus. Đó là sự bình an nảy sinh từ việc chúng ta được kể là công chính. Một khi đã được Thượng Đế kể là người công chính, chúng ta có hoà bình với Ngài. Chúng ta đã nghe và tin nhận Phúc âm. Chúng ta đã được nghe tiếng kẽn của Thượng Đế gọi ta: “Hãy yên ủi, hãy yên ủi dâ ta. Hãy nói cho thấu lòng Giê-ru-sa-lem và rao rằng sự tranh chiến của nó đã trọn, tội lỗi nó đã được tha...” (EsIs 40:1, 2). Trận chiến tranh tiêu hao tệ hại nhất lịch sử là cuộc chiến tranh giữa Thượng Đế thánh khiết với các loài thọ tạo chống lại Ngài. Với Cơ-đốc nhân, thì cuộc chiến tranh ấy đã kết thúc dứt khoát rồi. Chúng ta có thể phạm tội, khiến Thượng Đế buồn lòng. Chúng ta có thể làm buồn Đức Thánh Linh, nhưng Ngài sẽ chẳng bao giờ còn tuyên chiến với chúng ta nữa. Bản hoà ước với chúng ta đã được phê chuẩn tại thập tự giá rồi.
NHẪN NẠI
Trái của Thánh Linh là lòng kiên trì nhẫn nại. Đức hạnh này chiếu ra và phản chiếu cá tính của Thượng Đế. Đã không còn một chỗ nào cho những cơn giận dữ nỗ bùng do một ngòi nổ chỉ bằng một đường kẽ tóc của nhân cách. Nó là sự chậm giận. Nó nhẫn nhục nhận lấy sự sỉ nhục và quỉ quyệt của tha nhân. Nó chẳng còn chút tinh thần đoán xét nào nữa cả.
Đó là đại ý của câu Gióp muốn nói khi ông tuyên bố rằng: “Dẫu Chúa giết tôi, tôi vẫn còn tin cậy nơi Ngài” (Giop G 13:15) Nó có khả năng chờ đợi. Chờ đợi trong khó khăn. Chúng ta thường chờ máy bay và xe buýt. Chúng ta thường trông thư từ và khách đến thăm. Chúng ta chờ Chúa tái lâm. Chúng ta chờ lời hứa của Ngài được thực hiện thắng lợi.
Cơ-đốc nhân không chấp nhận thực dụng chủ nghĩa. Người ấy sống với các mục tiêu dài hạn. Người ấy tránh né cái hợp thời. Người ấy dự trữ của cải trong thiên đàng. Người ấy sẵn sàng chờ đợi giờ của Thượng Đế.
Đức Thánh Linh vốn nhẫn nại với mọi người. Trái mà Ngài ban cho có thể giúp chúng ta nhẫn nhục chịu lẫn nhau. Chúng ta không đòi hỏi anh em mình phải nên thánh ngay tức khắc. Kiên trì nhẫn nhục không chế nhạo hạt bụi trong con mắt anh em mình. Họ đã được kết hôn với tình yêu thương sẽ che đậy vô số tội lỗi.
NHÂN TỪ
Chúa Giê-xu vốn vừa cứng rắn vừa dịu dàng. Khi đối mặt với những kẻ có thế lực và kiêu căng, Ngài đã không hề van nài mà cũng chẳng hề nương tay. Khi gặp người yếu đuối có tấm lòng tan vỡ, Ngài lại đối xử mềm mỏng dịu dàng. Ngài không bẻ cây sậy đã giập. Lời Ngài quở trách một tội nhơn được bao bọc bằng lòng nhân từ. “Tôi cũng không lên án chị đâu. Chị về đi, từ nay đừng phạm tội nữa!” (GiGa 8:11) là câu trả lời của Ngài cho một phụ nỡ bị làm nhục. Vị Thẩm phán của cả đất đã không hề nặng lời. Ngài không hề cảm thấy vui khi phải buộc tội. Nhân từ là một đức hạnh của ân phúc. Nó là việc tự nguyện kìm giữ thế lực và uy quyền của mình lại. Nó không chà đạp kẻ yếu. Nó biết suy nghĩ và tỏ lòng tử tế. Nó biểu lộ lòng thương người khi cần phê phán, đoán xét, và lấy sự nhân từ làm dịu bớt công lý.
HIỀN LƯƠNG (DOODNESS)
Hiền lương bao hàm sự ngay thẳng cá nhân làm nền móng. Trái của Thánh linh khiến một người cứ ngày càng tiến bộ hơn trong việc không làm điều sai trái, gian xảo. Hiền lương là một từ ngữ tương đối. Một người tốt (good) hay vật gì tốt, là tốt khi đem so sánh với một định chuẩn. Định chuẩn tối hậu là sự thiện hảo trong cá tính của chính Thượng Đế. Chính vì thế mà Chúa Giê-xu đã dạy chàng thanh niên làm quan giàu có: “Tại sao ông gọi tôi là thánh thiện (good)? Chỉ có một Đấng Thánh thiện là Thượng Đế” (LuLc 18:19).
Thế nhưng đức hiền lương (good: tốt lành, thánh thiện) đã được “trồng” trong đời sống người có Thánh Linh vận hành. Ngài tạo ra sự hiền lương trong chúng ta. Tuy những việc làm tốt nhất của chúng ta vẫn còn bị tội lỗi vấy bẩn, đã có một sự biến đổi thật sự được tạo thành trong chúng ta. Trong sự cứu rỗi, chúng ta vừa được chữa lành, mà cũng vừa được tha thứ nữa. Ngài đang tác tạo cho chúng ta thành người tốt.
Chẳng những Thượng Đế tuyên bố rằng chúng ta là người ngay thẳng bằng cách gán sự công chính của Chúa Cứu Thế cho chúng ta mà Ngài còn ngự vào lòng chúng ta để khiến chúng ta trở thành người mà Ngài đã tuyên bố là chúng ta sẽ trở thành. Sự thánh hoá tiếp sau việc kể là công chính. Kết quả (trái) là sự hiền lương.
THÀNH TÍN
Thành tín là một ân tứ của Thượng Đế. Nó cũng là một kết quả (trái). Đức tin nhờ đó chúng ta được cứu không phải do chính chúng ta tạo ra. Nó đến từ Thượng Đế. Nhưng nó đến với chúng ta để chính chúng ta sẽ thực thi. Thánh Linh tạo ra đức tin trong chúng ta. Đó là đức tin sống (fides viva) của Luther, sẽ tạo ra các việc làm để chứng tỏ sự vâng lời.
Đức tin là tin cậy. Nó có nghĩa mạnh hơn là tin tưởng nơi Thượng Đế. Nó có nghĩa là tin cậy Thượng Đế. Trái của Thánh Linh bao gồm việc đặt cả mạng sống mình để tin cậy Thượng Đế.
Nhưng trái của đức tin bao gồm nhiều hơn là chỉ tin cậy mà thôi. Nó có nghĩa là chúng ta trở thành những người đáng tin cậy. Người có đức tin không phải chỉ là người có lòng tin cậy, mà còn là người có thể được tin cậy nữa. Người ấy đã nói là sẽ giữ lời. Người ấy chỉ trả sòng phẳng mọi hoá đơn của mình. Người ấy hoàn tất mọi nghĩa vụ bắt buộc. Người ấy rất thành tín. Người ấy rất trung thực. Thành tín trung thực là dấu hiệu của đặc tính của người ấy.
HOÀ NHÃ
Hoà nhã là một đức hạnh của người có lòng tin kính (godly). Người hoà nhã là một người quân tử (gntleman). người quân tử đích thực là người biết sống rập mẫu theo Chúa Cứu Thế. Những cuộc trưng cầu ý kiến trong các tạp chí dành cho phụ nữ thường nhắc đi nhắc lại rằng có một cặp đức tính song sinh nơi người đàn ông mà các bà mơ ước, là sức mạnh và sự dịu dàng.
Hoà nhã - hiền dịu - không nên bị lẫn lộn với nhu nhược. Môi-se là một con ngừi hoà nhã. nghĩa là ông có đức tính khiêm tốn. Ông cũng biết mình vốn là người như thế nào. Ông đã trở thành bạo dạn mà không tự phụ. Người hiền dịu - nhu mì - đã được hứa sẽ thừa hưởng thế gian này. Chúa Cứu Thế hứa họ sẽ hưởng được đất. Hiền dịu là mặt trái của hoà nhã. Cả hai song hành với nhau, được tinh thần khiêm tốn khiến chúng kết hôn với nhau. Thượng Đế ban ân phúc cho người khiêm tốn. Đó là ân phúc sẽ sản sinh ra càng nhiều ân phúc khác nữa.
TỰ CHỦ
Trái cuối cùng của Thánh Linh trong bảng liệt kê là tự chủ - hay tiết độ, lưu xuất từ các đức hạnh khác. Không khiêm tốn, cực đoan, nóng như lửa, đều không thích hợp với người tự chủ. Ở đây cấp bậc vừa phải của đức tự chủ được bộc lộ. Thánh Linh không hề thô lỗ hay nóng vội. Ngài cũng không hung bạo hay tục tằn.
Trên đây là các trái của Thánh Linh. Đó là các dấu hiệu đích thực của sự tốt lành thiện hảo. Đó là những đức hạnh mà chúng ta thấy nổi bật hẳn lên một cách sống động trong đời sống các Cơ-đốc nhân trưởng thành gương mẫu.
Đó là các đức hạnh mà Chúa chúng ta muốn cho chúng ta nuôi dưỡng, vun đắp. Đó là những đức tính mà đồng thời cũng là các ân tứ Chúa ban. Thượng Đế hứa ban thưởng cho những nét đặc trưng ấy nơi chúng ta, không phải vì chúng lưu xuất từ chính sự công chính nội tại của chúng ta, mà vì, như Augustine đã nói, “Thượng Đế rất đẹp lòng để ban các ân tứ ấy làm mão miện cho những người thuộc về Ngài”.

ĐẤNG AN ỦI KHÁC
Con người có thể không có lòng thương cảm, nhưng Thượng Đế thì chẳng bao giờ.
WILLIAM COOPER
Trong đêm trước ngày Ngài chịu chết, Chúa Giê-xu đã hợp với các môn đệ Ngài tại Phòng Cao. Ngài tha thiết muốn cùng dự lễ Vượt qua với các bạn mình trứơc khi bước vào cơn thương khó. Vào một thời điểm như thế, chúng ta có thể trông mong Chúa Giê-xu muốn tìm sự an ủi và nâng đỡ của các bạn thân của Ngài. Trái lại, chính Ngài lại phải làm cái công việc là an ủi họ.
Tại Phòng Cao, Chúa Giê-xu đã có bài thuyết giảng dài nhất được ghi lại về Thân vị và công tác của Đức Thánh linh. Trong bài thuyết giảng này, Chúa Giê-xu hứa Ngài sẽ sai Đức Thánh Linh đến.
Ta sẽ cầu xin Cha ban cho các con Đấng An ủi khác để sống với các con mãi mãi. Đó là Thánh Linh, Thần Chân lý. Người đời không thể tiếp nhận Ngài, vì họ chẳng thấy cũng chẳng biết Ngài. Nhưng các con biết Ngài, vì Ngài vẫn sống với các con và sẽ ở trong các con (GiGa 14:16-18).
Ở đây, Chúa Giê-xu đề cập “một Đấng Trợ Giúp khác”. Từ ngữ đã được dịch ra là “Đấng Trợ Giúp” hay “Đấng An Ủi” hay “Đấng Khuyên Giúp” là từ ngữ Hi-văn paraclete.
Điều đầu tiên chúng ta lưu ý là Chúa Giê-xu hứa ban một Đấng An Ủi khác. Điều này có nghĩa rằng rõ ràng là Đấng An ủi được hứa đây không phải chỉ mới xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu. Vì nếu có một vật gì “khác”, thì ít ra cũng đã phải có một cái gì đó trước nó rồi.
Sở dĩ tôi nói kỹ điểm này, vì cách nói theo thói quen của Hội thánh khi đề cập Đức Thánh Linh, là gọi Ngài bằng Đấng An ủi. Dĩ nhiên danh hiệu Đấng An ủi hầu như chỉ được dành riêng cho một mình Đức Thánh Linh mà thôi.
Nhưng chúng ta phải nhấn mạnh rằng Đức Thánh Linh không phải là Đấng An ủi. Đấng An ủi chính là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vai trò của Chúa Giê-xu với cương vị Đấng An ủi có tầm quan trọng sinh tử đối với chức vụ tại thế của Ngài. Chỉ khi Chúa Giê-xu đã vắng mặt rồi, Đức Thánh Linh mới nhận lấy danh vị “Đấng An ủi khác”. Thánh Linh đã được biệt phái để “thay thế” hay “giữ địa vị” trước kia của Chúa Cứu Thế Thánh Linh là vị Thừa Sai Tối Cao của Chúa Cứu Thế trên đất này.
CHÚA GIÊ-XU LÀ ĐẤNG AN ỦI CHÚNG TA
Để hiểu rõ vai trò của Chúa Giê-xu với cương vị Đấng An ủi chúng ta, xin chúng ta xem phần trần thuật về sự giáng sinh của Ngài trong sách Phúc âm Lưu-ca. trong phan ký thuật về việc Chúa Giê-xu được dâng lên trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, chúng ta đọc thấy:
Vả trong thành Giê-ru-sa-lem có một người công bình đạo đức tên là Si-mê-ôn, trông đợi sự yên ủi dân Y-sơ-ra-ên, và Đức Thánh Linh ngự trên người (LuLc 2:25 bản dịch cũ).
Trong văn bản này, câu “sự yên ủi dân Y-sơ-ra-ên” chỉ Đấng Mê-si-a sắp ra đời (bản Diễn ý dịch là Chúa Cứu Thế). Si-mê-ôn đã được Chúa hứa là ông “sẽ không chết trước khi thấy Chúa Cứu Thế” (2:26). (Cả hai chữ “Đấng Mê-si-a” và “Chúa Cứu Thế - Đấng Christ” trong Hi-bá-lai văn đều có nghĩa là “người (Đấng) được xức dầu").
Trong Cựu ước của Do-thái giáo, ý niệm “sự yên ủi dân Y-sơ-ra-ên” nói lên niềm hi vọng về sự cứu rỗi của Đấng Mê-si-a. An ủi dâ Ngài là một công tác của Thượng Đế. Thượng Đế có quyền đổi cảnh rối ren thành sự an ủi. Chúng ta được nghe lời hứa của Thượng Đế trong sách Ê-sai:
Đức Chúa Trời của các ngươi phán rằng: Hãy yên ủi, hãy yên ủi dân ta. Hãy nói cho thấu lòng Giê-ru-sa-lem, và rao rằng sự tranh chiến của nó đã trọn; tội lỗi nó đã được tha; nó đã chịu gấp hai từ tay Đức Giê-hô-va vì các tội mình. (EsIs 40:1, 2).
Hình ảnh Thượng Đế an ủi dân Ngài từng được diễn tả bằng hình ảnh người chăn chiên:
Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên thâu các con chiên con vào cánh tay mình và ẵm vào lòng; từ từ dắt các chiên cái đương cho bú (EsIs 40:11).
Sự an ủi Giê-ru-sa-lem đã được liên kết với hình ảnh của Thượng Đế như một người mẹ đang an ủi:
Các người là kẻ yêu Giê-ru-sa-lem, hãy vui với nó, hãy mừng vì nó. Các ngươi là kẻ đã khóc vì Giê-ru-sa-lem, hãy cùng nó hớn hở vui cười, hầu cho các ngươi sẽ được bú và no bởi vú của sự yên ủi nó... Ta sẽ yên ủi các người như mẹ yên ủi con, vì ấy là tại trong Giê-ru-sa-lem mà các ngươi sẽ được an ủi. (EsIs 66:10-13).
Đấng An ủi quan trọng nhất mà Thượng Đế đã sai đến để An ủi dân Ngài là Người Đầy Tớ Thống Khổ của Ngài. Trong phần mô tả vai trò của người Đầy Tớ Khốn Khổ của Thượng Đế trong sách Ê-sai, Đầy Tớ Thống Khổ của Thượng Đế trong sách Ê-sai, chúng ta đọc thấy:
Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; đặng rao năm ban ơn của Đức Giê-hô-va và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu; đặng ban mão hoa cho kẻ buồn rầu ở Si-ôn thay vì tro bụi, ban dầu vui mừng thay vì tang chế, ban áo ngợi khen thay vì lòng nặng nề” (EsIs 61:1-3).
Những lời này đã vang lên một phần trong Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giê-xu: “Phúc cho người than khóc, vì sẽ được an ủi” (Mat Mt 5:4).
Chức vụ của Đấng Mê-si-a là chức vụ an ủi. Ngài đến để chữa lành cho kẻ có tấm lòng tan vỡ và để an ủi tất cả những ai đang khóc lóc vì tang chế. Chính Đấng Mê-si-a, chính Chúa Giê-xu, là Đấng An ủi. Chỉ khi Ngài thông báo là mình sẽ lìa khỏi thế gian này, Ngài mới tuyên bố rằng Ngài sẽ sai một Đấng An ủi “khác” đến.
ĐẤNG AN ỦI LÀ GÌ?
Tuy chúng ta đã phác thảo một bức ký họa sơ nét về vai trò an ủi của chức vụ của Chúa Giê-xu, bây giờ, xin chuyển từ ý niệm căn bản về sự an ủi sang chính danh hiệu Đấng An ủi.
Từ ngữ Paraclete đã được dùng thật phong phú và đa dạng trong thế giới cổ thời. Nó ra từ một tiếp đầu ngữ (para) và ngữ căn (kalein) cùng họp lại, và có nghĩa là “người được gọi đến bên cạnh”.
Trong thế giới cổ thời, một paraclete là người đựơc gọi đến để trợ giúp trong một phiên xử án. Paraclete là vị cố vấn hợp pháp (trạng sư) biện hộ cho bị cáo. Đó là nghĩa chính mà nó đã được dùng trong IGiăng:
Các con ơi, ta bảo các con điều ấy để các con xa lánh tội lỗi. Nhưng nếu lỡ lầm phạm tội, các con đã có Luật sư biện hộ trước Toà Chúa Cha, là Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng Toàn Thiện (IGi1Ga 2:1).
Ở đây, chữ đã được dịc ra “Luật sư” là Paraclete. Chẳng có gì để nghi ngờ là trong chương sách này, chính Chúa Giê-xu chứ không phải là Đức Thánh Linh đã được gọi là Luật sư.
Trong khúc sách này, Luật sư là người Biện hộ trước toà án của Thượng Đế. Chân lý phi thường của Tân ước, ấy là khi chúng ta ứng hầu trước toà án của Thượng Đế, thì vị thẩm phán chủ tọa cuộc xét xử chúng ta sẽ là Chúa Giê-xu. Đồng thời, vị luật sư được chỉ định làm trạng sư biện hộ cho chúng ta cũng lại là chính Chúa Giê-xu. Thật chẳng có gì đáng sợ khi nghĩ rằng mình sắp phải ra toà, nhưng được bảo đảm rằng vị thẩm phán đồng thời cũng là vị trạng sư biện hộ cho chúng ta.
Chúng ta thấy một bức tranh thậ giợi hình về vai trò của Chúa Giê-xu với tư cách Trạng sư trong phần ký thuật về vụ Ê-tiên bị ném đá:
Họ sách động quần chúng, xúi giục các trưởng lão, các thầy dạy luật, rồi xông vào bắt Ê-tiên giải đến trước Hội đồng Quốc gia. Họ dùng nhân chứng khai gian: “Người này luôn luôn xúc phạm Đền thờ và luật pháp” (Cong Cv 6:12-13).
Ê-tiên đã phải chịu một vụ xét xử mà người ta dựng lên các nhân chứng để cáo gian ông. Người đời vẫn tập họp nhau lại để lập ra những toà án bất chấp mọi luật lệ. Sau khi ông giảng một bài gây rúng động để tự bào chữa, các quan toà xử ông đã phản ứng bằng thái độ giận dữ không gì kìm chế được:
Nghe đến đây, các cấp lãnh đạo Do-thái vô cùng giận dữ. Họ nghiến răng như muốn ăn tươi nuốt sống Ê-tiên (Cong Cv 7:54).
Trong cơn giận dữ và thù hận củ ahọ, toà án nguyên thủy ấy đã buộc tội Ê-tiên. Đúng lúc ấy, nhờ ơn Chúa, Ê-tiên đã có một khải tượng lừng danh vào toà án trên thiên đàng.
Nhưng Ê-tiên đầy dẫy Đức Thánh Linh, ngước mặt lên trời, thấy vinh quang Thượng Đế và Chúa Giê-xu đứng bên phải Thượng Đế. Ê-tiên nói: “Kìa, tôi thấy bầu trời mở rộng và Chúa Giê-xu đang đứng bên phải Thượng Đế” (Cong Cv 7:55-56).
Ê-tiên đã nói: “kìa”. Chắc chắn rằng nếu ông chưa ngất đi vì xuất thần trước khải tượng vinh quang mình được thấy, chắc ông phải nhận thức được rằng chẳng có gì vô nghĩa cho bằng bảo những kẻ đang tố cáo ông hãy nhìn lên mà xem. Họ chẳng thế nào thấy được điều mà Thượng Đế đã cho chính mắt ông chứng kiến.
Ngoài tiếng gọi đầy phấn khởi bảo họ nhìn lên mà xem, là điều vô cùng quan trọng mà Ê-tiên đã được thấy. Ông đã thấy Chúa Giê-xu đứng bên phải Thượng Đế.
Hội thánh có một giáo lý quan trọng gọi là Chỗ Ngồi của Chúa Cứu Thế. Chỗ ngồi của Ngài ám chỉ địa vị được tôn cao của Ngài là được ngự bên tay phải Thượng Đế. Chỗ ngồi này gồm luôn việc Chúa Cứu Thế được ban cho uy quyền cai trị cả vũ trụ này. Tại nơi ngự bên tay phải Thượng Đế, Chúa Giê-xu thực thi quyền cai trị của một nhà Vua, và có quyền phán xét. Ngài vừa là Vua mà cũng đồng thời là thẩm phán nữa.
Tuy nhiên, trong khải tượng của Ê-tiên, Chúa Giê-xu đã không ngồi. Ngài đứng. Trong phòng xử, vị thẩm phán thường ngồi trên ghế. Hai lần vị thẩm phán đứng, là khi bước vào và lúc đi ra khỏi phòng xử. Suốt thời gian xét xử, thì vị thẩm phán vẫn ngồi. Trong khi xét xử, công tố viên đứng để đặt câu hỏi cho các nhân chứng, hoặc ngỏ lời với hội đồng xét xử, hay tiến đến gần ghế quan toà. Trong sự bào chữa cũng đứng khi đến lượt mình biện hộ cho bị cáo.
Điều hết sức mỉa mai trong khải tựơng của Ê-tiên, ấy là torng khi toà án dưới đất này kết án tử hình ông về tội dạy tà giáo, thì Nhà Vua của Thần học lại đứng lên trước toà án trên thiên đàng để bào chữa cho ông trước Đức Chúa Cha. Khi Chúa Giê-xu đứng lên, là Ngài đứng dậy với tư cách Trạng sư của Ê-tiên. Ngài là Đấng An ủi (paraclete: Trạngsư) của Ê-tiên trên thiê đàng.
Việc Chúa Giê-xu đã làm cho Ê-tiên đó, không phải là một biến cố đơn độc. Ngài cũng sẽ làm như thế cho tất cả những người thuộc về Ngài. Ngài là Trạng sư của chúng ta ngay cả chính lúc này nữa.
Vai trò Trạng sư của chúng ta của Chúa Giê-xu trước Đức Chúa Cha rất quan trọng đến độ chúng tôi không dám để nó bị lu mờ trong trí hiểu của chúng ta vì cớ chức vụ Đấng An ủi (Paraclete) của Đức Thánh Linh.
Đức Thánh Linh là Đấng An ủi “khác” là Trạng sư thiêng liêng của chúng ta. Ngài thực thi nhiều hơn là một nhiệm vụ.
Trước hết, Đức Thánh Linh giúp chúng ta trong việc ngỏ lời với Đức Chúa Cha:
Cũng do niềm hi vọng đó, Thánh Linh bổ khuyết các nhược điểm của chúng ta. Chúng ta không biết phải cầu nguyện thế nào, nhưng chính Thánh Linh cầu thay cho chúng ta với những lời than thở không diễn tả được bằng tiếng nói loài người. Thượng Đế là Đấng thấu hiểu lòng người cùng biết rõ tâm trí Thánh Linh, vì Thánh Linh cầu thay cho chúng ta đúng theo ý chỉ Thượng Đế (RoRm 8:26-27).
Một trong những thành tố quan trọng nhất torng lời cầu nguyện của chúng ta, là những lời cầu nguyện của chúng ta phải đúng theo ý chỉ Thượng Đế. Bản thân sự cầu nguyện là một hành vi thờ phượng. Thượng Đế đòi hỏi chúng ta phải thờ phượng Ngài bằng tâm linh và lòng thành thật. Như chúng ta vốn có đến hai Trạng sư trước Đức Chúa Cha, chúng ta cũng có đến hai Đấng Cầu thay trước mặt Ngài. Đức Thánh Linh giúp chúng ta biết cầu nguyện thật thích hợp với Đức Chúa Cha.
Theo ngôn ngữ bình dân, nhiều khi một luật gia còn được gọi là “thầy cãi”. Chúng ta chắc còn nhớ nỗi sợ hãi đã khiến Môi-se như bị tê liệt khi Thượng Đế gọi ông lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên để đưa họ ra khỏi Ai-cập. Môi-se đã vô cùng bối rối vì cảm biết mình kém tài ăn nói. Ông đã than với Thượng Đế rằng:
Ôi! lạy Chúa từ hôm qua, hôm kia, hay là từ lúc Chúa phán dạy kẻ tôi tớ Chúa, tôi vẫn chẳng phải một tay nói giỏi, vì miệng và lưỡi tôi hay ngập ngừng. Đức Giê-hô-va bèn phán rằng: Ai tạo miệng loài người ra? Hay là ai làm câm làm điếc làm sáng, làm mờ? Có phải ta là Đức Giê-hô-va chăng? Vậy, bây giờ, hãy đi, ta sẽ ở cùng miệng ngươi và dạy ngươi những lời phải nói (XuXh 4:10-12).
Khi Môi-se tiếp tục phản đối, Thượng Đế hứa ban A-rôn làm phát ngôn nhân cho ông:
Vậy ngươi hãy nói cùng người, và sắp đặt những lời torng miệng người. Khi hai người nói, ta sẽ ở cùng miệng ngươi và miệng anh ngươi, dạy các ngươi những điều gì phải làm. Ấy là người đó sẽ nói cùng dân sự thế cho ngươi, dùng làm miệng ngươi (XuXh 4:15-16).
Ở đây, chúng ta thấy Đấng Tạo Hoá môi miệng loài người hạ cố để trợ giúp các con cái ngọng nghịu của Ngài. Đức Thánh Linh là Trạng sư của chúng ta, không những chỉ trước mặt Đức Chúa Cha mà thôi, nhưng là cả tưrớc mặt loài người nữa. Về đại thể, những gì Thượng Đế đã hứa với Môi-se trong Cựu ước, cũng được hứa với toàn thể các con cái Ngài trong Tân ước nữa.
Chúa Giê-xu từng hứa với các môn đệ Ngài rằng khi họ gặp khủng hoảng, Đức Thánh Linh sẽ có mặt để giúp đợ họ torng việc đối đáp trước mặt loài người:
Khi bị bắt đưa ra toà, các con đừng lo phải nói những gì, nhưng chỉ nói những điều Chúa cho biết vào giờ đó. Lúc ấy không phải các con nói, nhưng chính Thánh Linh sẽ nói cho các con (Mac Mc 13:11).
Thế thì, chúng ta thấy Đức Thánh linh là Trạng sư hay Đấng An ủi chúng ta trước mặt Đức Chúa Cha cũng như trước các toà án của thế gian này.
Đồng thời, Đức Thánh Linh hành động để bênh vực chúng ta. Ngài hành động để cáo trách người thế gian về tội lỗi. Ngài là trạng sư của chúng ta, đồng thời cùng thực thi vai trò công tố viên để chống lại người thế gian.
Khi Ngài đến, Ngài sẽ chứng tỏ cho nhân loại biết họ lầm lạc trong tội lỗi, sẽ dìu dắt họ trở về đường công chính, và giúp họ hiểu công lý của Thượng Đế. Họ lầm lạc torng tội lỗi vì không chịu tin ta. Họ trở về đường công chính vì ta dàh sự công chính của ta cho họ khi ta về cùng Cha, dù lúc ấy họ không thấy mặt ta nữa. Họ hiểu được công lý của Thượng Đế khi Quỷ vương bị hình phạt, còn người tin ta được thoát khỏi (GiGa 16:8-11). Vậy chúng ta thấy rằng vai trò Trạng sư của Đức Thánh Linh trước hết là một nhiệm vụ về mặt tư pháp hay pháp lý. Chiều kích này của hoạt động của Ngài vốn đống nhất với bản tính và cá tính của Ngài. Ngài là Thần Chân lý và là Thần thánh khiết. Thánh Linh làm chứng cho chân lý của Chúa Cứu Thê. Không tin Chúa Giê-xu là một tội. Người thế gian bị caó trách về tội vô tín. Trong việc tố cáo người thế gian, Đức Thánh Linh cũng đồng thời hành động để bênh vực cho chúng ta qua trung gian Chúa Cứu Thế. Đức Thánh Linh luôn luôn đứng về phúa chân lý và sự công chính.
ĐỨC THÁNH LINH VÀ SỰ AN ỦI
Khi được thấy vai trò đầu tiên của Đức Thánh Linh là một trạng sư, chúng ta tự hỏi việc ấy có liên quan gì với ý niệm về an ủi.
Như chúng ta đã thấy, đã có một mối liên hệ ngôn ngữ học giữa từ ngữ sự an ủi của dân Y-sơ-ra-ên với danh hiệu Đấng An ủi (Paraclete). Cả hai từ ngữ sự An ủi và Đấng An ủi (paraclete) đều từ cùng một ngữ căn mà ra (An ủi torng Hi văn là paraklesis).
Tuy phải phân biệt công tác an ủi và công tác trợ giúp của Đức Thánh Linh rất quan trọng, chúng ta sẽ không thể nào tách rời chúng. Một phần sự an ủi mà chúng ta được hưởng, là sự hiểu biết chắc chắn rằng Đức Thánh Linh được gọi đến bên cạnh chúng ta vào giờ chúng ta gặp thử thách. Tuy nhiên, cũng còn một phân biệt quan trọng khác nữa mà chúng ta phải ghi khắc vào tâm trí. Khi nào chúng ta nghĩ về sự an ủi, chúng ta thường nghĩ về nó trong điều kiện mình được phục vụ chẳm sóc sau khi đã bị thương. Một bà mẹ an ủi đứa con đang khóc của mình. Chúng ta được Thánh Linh an ủi khi gặp tang chế.
Chắc chắn là chính Đức Thánh Linh đang thự chiện các hành động dịu dàng là phục vụ chăm sóc cho những người thuộc về Thượng Đế. Thánh Linh là Đấng Tạo ra sự bình an vượt quá trí hiểu. Nhưng trong vai trò Đấng An ủi, Thánh Linh cũng làm một điều gì đó để giúp chúng ta trước khi chúng ta bị tổn thương, Ngài vận hành để ban cho chúng ta có đủ sức lực để chiến đấu, cũng như sẽ an ủi chúng ta sau cuộc chiến.
Danh hiệu Paraclete được dịch ra là Đấng An ủi là việc bình thường. Nó cũng có thể được dịch là Đấng Trợ giúp hay Đấng Cố vấn mà chẵng có gì sai lầm, ngoài việc lưu ý chúng ta về tính cách hay thay đổi của ngôn ngữ, Khi các tập tục thay đổi, thì ngôn ngữ cũng có khuynh hướng thay đổi theo.
Hầu như chúng ta nghĩ về sự an ủi hoàn toàn theo nghĩa là dùng sự nâng đỡ dịu dàng để xoa dịu nỗi ưu phiền, buồn bực. Từ ngữ này có nguồn gốc La-văn. Nó gồm một tiếp đầu ngữ com, có nghĩa là “với” và một ngữ căn fortis có nghĩa là “mạnh”. Do đó mà chữ comforst nguyên có nghĩa là “với sức mạnh” cho nên người (Đấng) an ủi là người (Đấng) đến để thêm sức chiến đấu, hơn là đến để uỷ lạo sau cuộc chiến.
Lẽ dĩ nhiên là Đức Thánh Linh thực hiện cả hai công việc này. Ngài là nguồn an ủi dịu dàng nhất cho kẻ bị thương bị đánh bại, hay bị âu lo buồn phiền. Nhưng điểm được nhấn mạnh về Đấng An ủi đã hứa là Ngài sẽ đến để ban sức mạnh cho chúng ta và trợ giúp chúng ta chiến đấu.
Nhiều khi chúng ta nghe câu nói: “đó không phải là điểm mạnh của tôi”. Khi có người nói như thế, là người ấy muốn bảo rằng mình vốn yếu torng một lãnh vực nào đó. Mạnh (forte) thường được dùng trong ngôn ngữ bình dâ theo nghĩa là sức mạnh năng lực.
Theo ngôn ngữ trong Kinh Thánh, Đức Thánh Linh là sứ cmạnh của chúng ta. Ngài là Đấng ban sức mạnh cho chúng ta. Chính vì Đức Thánh Linh đã hứa, đã đến ngự trong lòng chúng ta, cùng đứng chung với chúng ta, cho nên Kinh điển mới tuyên bố rằng:
Nhờ Chúa yêu thương, chúng ta thừa sức chiến thắng tất cả (RoRm 8:37).
Một trong những điều mỉa mai của lịch sử là lời chỉ trích Cơ-đốc giáo của triết gia người Đức Frederick Nietzsche. Nietzsche than phiền rằng Cơ-đốc giáo là tôn giáo của những kẻ yếu đuối, bạc nhược, một tôn giáo khiến người ta phủ nhận động lực thúc đẩu căn bản nhất của họ, là “ý chí quyền lực”.
Khi tuyên bố Thượng Đế đã chết rồi, Nietzsche bảo Thượng Đế đã chết vì thương hại. Lòng thương hại, hành động âu yếm, dịu dàng, và thái độ rụt rè quị lụy của kẻ yếu đuối bạc nhược là di sản của Cơ-đốc giáo dành cho thế gian. Nietzsche kêu gào tạo ra một nhân loại mới do siêu nhân để thay thế vào. Nét đặc trưng chính yếu của cá tính của siêu nhân là lòng can đảm. Nhưng trên hết tất cả, siêu nhân phải là một nhà chinh phục.
Đây là điều mỉa mai của thư La-mã chương 8. Phao-lô bảo rằng chúng ta “vượt xa các nhà chinh phục” (more than conquerors). Phải cần đến ba (sau) chữ để dịch chỉ một từ ngự Hi-văn duy nhất. Từ ngữ Hi-văn là Hupernikon. Tiếp đầu ngữ huper có nghĩa là vượt trên. Theo nguyên văn, Phao-lô viết rằng các Cơ-đốc nhân không những chỉ là những nhà chinh phục mà còn “vượt trên, vượt xa các nhà chinh phục nữa La-văn dịch hupernikon là supervincemus. vậy từ ngữ La-văn này thật ra có nghĩa là “Chúng ta vượt trên, vượt xa (super: siêu) cá cnhà chinh phục).
Nếu Nietzsche muốn tìm siêu nhân, đáng lẽ ông ta phải đi tìm những người đã được Đức Thánh Linh của Thượng Đế tăng cường sức lực bằng quyền năng và sự hiện diện của Ngài, là Đức Thánh Linh được gọi đến bên cạnh chúng ta với sức mạnh, quyền năng của Ngài.
Lẽ dĩ nhiên là bên trong và nói về bản thân chúng ta, thì các Cơ-đốc nhân chúng ta vốn là một khối người yếu đuối, bạc nhược. Nhưng xin chúng ta hãy lăng nghe lại một lần nữa lời hứa của Chúa Cứu Thế với Hội thánh Ngài:
Nhưng khi Thánh linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng làm chứng cho ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri và khắp thế giới (Cong Cv 1:8).



† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 21-2-2018 05:26 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách