† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2798|Trả lời: 0

Kế Hoạch Của Đức Chúa Trời Qua Các Lời Tiên Tri

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 16-7-2011 08:04:38 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Kế Hoạch Của Đức Chúa Trời Qua Các Lời Tiên Tri
Tác giả: Bob Shelton
Biểu đồ: Bảy Mươi Tuần Lễ Của Đaniên
Biểu đồ: Tuần Lễ Thứ Bảy Mươi Của Đaniên
Biểu đồ: Các Biến Cố Tương Lai
1. Hội Thánh Được Cất Lên
2. Thời Kỳ Dân Ngoại
3. Bảy Mươi Tuần Lễ Của Đaniên
4. Anti Christ Hiện Ra
5. Ba Ngôi Của Sa Tan
6. Liên Minh Phương Bắc Hứng Chịu Cơn Thạnh Nộ Của Đức Chúa Trời
7. Khi Kẻ Đui Được Thấy
8. Cơn Đại Nạn
9. Trận Chiến Ha-ma-ghê-đôn
10. Bình An Sau Cùng
11. Con Rắn Trườn Xuyên Suốt Lời Tiên Tri Của Kinh Thánh
12. Kẻ Chẳng Tin Trong Lời Tiên Tri
13. Thắc Mắc Và Giải Đáp


Lời Nói Đầu
Một phần khá lớn trong Kinh Thánh đề cập đến tương lai. Thực ra, đó là phần lịch sử được chép trước - và chúng ta gọi đó là lời tiên tri của Kinh Thánh .
Có rất nhiều lời tiên tri trong Cựu Ước đã được ứng nghiệm trong Cựu Ước (ví dụ như SaSt 15:13).
Có những lời tiên tri trong Cựu Ước đã được ứng nghiệm trong Tân Ước (ví dụ EsIs 7:14).
Có những lời tiên tri trong Tân Ước được ứng nghiệm trong Tân Ước (ví dụ GiGa 2:18-22).
Nhưng có những lời tiên tri trong Cựu Ước và trong Tân Ước sẽ vẫn còn phải ứng nghiệm.
Chúa Jesus đã nghĩ đến điều này khi Ngài phán “Những sự ấy phải đến” (Mat Mt 24:6).
Ước ao của tôi là được viết về “Những sự ấy” trong những trang tiếp theo đây.
Bob Shelton .


HỘI THÁNH ĐƯỢC CẤT LÊN
“SỰ MẦU NHIỆM.”
Phao-lô viết trong bức thơ đầu tiên gởi cho Hội Thánh Côrinhtô rằng: “Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa. Vả, thể hay hư nát này phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết này phải mặc lấy sự không hay chết. Khi nào thể hay hư nát này mặc lấy sự không hay hư nát, thể hay chết này mặc lấy thể không hay chết, thì được ứng nghiệm lời Hội Thánh rằng: Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng. Hỡi sự chết, sự thắng của mày ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mày ở đâu? Cái nọc sự chết là tội lỗi, sức mạnh tội lỗi là luật pháp. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jesus Christ chúng ta” (ICo1Cr 15:51-57).
Đề tài này hết sức quan trọng - đề tài Sự Cất Lên của Hội Thánh. Xin lưu ý Phao-lô mở đầu phân đoạn này rằng: “Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em."Rất nhiều lẽ thật sâu nhiệm và quý báu về việc cất Tân Nương của Đấng Christ lên đến nay vẫn là điều mầu nhiệm trong sự khải thị của Đức Chúa Trời cho loài người. Cựu Ước im lặng đầy bí ẩn về đề tài Sự Cất Lên. Các sách Tin Lành Cộng Quan cũng im lặng tương tự. Ngay cả Mat Mt 24:1-51, với câu Kinh Thánh thường được trích dẫn: “Lúc ấy, sẽ có hai người nam ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi, một người bị để lại” (24:40), cũng không nhắc gì đến sự trở lại của Đấng Christ để đón Tân Nương Ngài. Tôi tin quyết rằng phân đoạn đầu tiên trong các sách Tin Lành đề cập rõ ràng đến sự cất lên ấy là GiGa 14:2-3. Trong phân đoạn này, Đức Chúa Jesus: “Trong nhà cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu, thì các ngươi cũng ở đó.” Ngài không phán: “Ta sẽ trở lại trần gian này lần nữa,” nhưng đúng hơn, lời hứa của Ngài là: “Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta.” Dầu Đấng Christ giới thiệu lẽ thật về việc Ngài trở lại đón Tân Nương của Ngài trong 14:1-31, nhưng Ngài không nói cho chúng ta các chi tiết của sự kiện kỳ diệu này. Do đó, Phao-lô có thể giới thiệu trong ICo1Cr 15:51-58 rằng: “Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em.”
“CHÚNG TA KHÔNG NGỦ HẾT.”
Rồi Thánh Linh bắt đầu tỏ ra sự mầu nhiệm này khi Ngài viết ra qua Phao-lô: “Chúng ta không ngủ hết.” Nói cách khác, sẽ có một thế hệ tín đồ không nếm mùi sự chết thuộc thể. Có thể đó là thế hệ hiện nay. Không ai trong trần gian này biết được Đấng Christ sẽ tái lâm đón rước Tân Nương Ngài vào lúc nào cả. Có nhiều dấu hiệu cho thấy thế hệ này đang tiến đến kỳ tận thế, nhưng dầu Ngài có tái lâm trong thời kỳ này hay không thì điều đó cũng không ngăn cản tín đồ “chờ đợi sự trông cậy phước hạnh của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jesus Christ” (Tit Tt 2:13). Rồi Phao-lô viết tiếp: “nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa.”
“HẾT THẢY ĐỀU SẼ BIẾN HÓA.”
Vài năm trước, tôi đang tổ chức một loạt các buổi nhóm tại một Hội Thánh kia, và sung sướng nhìn thấy niềm vui từ tấm lòng của vị Mục sư và tín hữu của ông về tòa nhà mới xây cất cho chương trình giáo dục Cơ đốc. Vị Mục sư này sốt sắng mời tôi đi thăm cơ sở mới, nên chúng tôi bắt đầu tiến theo dãy hành lang dài. Các cửa ra vào ở hai bên hành lang đều mở toang để tôi nhìn được các lớp học Trường Chúa Nhật khác nhau, từ lớp của nhóm người lão niên cho đến lớp vườn trẻ. Khi chúng tôi dừng chân trước lối vào khu vườn trẻ, tôi thấy một sứ điệp thích hợp này được viết trên cửa: “Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa.” Hiển nhiên, trong ICo1Cr 15:1-58, Phao-lô không nói về các em bé trong lớp vườn trẻ, nhưng nói về các Cơ đốc nhân vẫn còn sống vào thời điểm Hội Thánh Được Cất Lên. “Chúng ta hết thảy đều sẽ biến hóa.” Sự biến hóa này được nói đến trong nhiều phân đoạn khác trong Lời Đức Chúa Trời. Ví dụ như Phao-lô đã viết: “Nhưng chúng ta là công dân trên trời; ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình, là Đức Chúa Jesus Christ, Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài, y theo quyền phép Ngài có để phục muôn vật” (Phi Pl 3:20-21). IGi1Ga 3:2 viết rằng: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy.” Lẽ thật này đã đem niềm an ủi đến cho vô số tín hữu suốt bao năm qua, và vẫn là nguồn khích lệ cho chúng ta ngày hôm nay.
Nhiều năm trước, khi tôi cùng nhà tôi là Nancy, đi truyền giáo tại Miền Nam Việt Nam, tôi được mời tổ chức một Hội Nghị Kinh Thánh tại một Viện Điều Trị Phung trên vùng cao nguyên trung bộ xinh đẹp. Tôi sẽ không bao giờ quên niềm sung sướng được truyền rao Lời Đức Chúa Trời cho những Cơ đốc nhân quý báu kia. Trong một buổi nhóm, tôi cảm thấy được Đức Thánh Linh dẫn dắt để nói về đề tài Sự Cất Lên của Hội Thánh. Đang lúc trình bày lẽ thật cảm động này, chúng tôi nói đến lời tuyên bố trong ICo1Cr 15:52 “Chúng ta thảy đều sẽ biến hóa.” Lúc ấy, tôi không thể không để ý đến một thiếu phụ quý mến dùng bàn tay không còn ngón nữa để huých vào người kế bên mình, dường như muốn nói rằng: “Chị có nghe điều tôi vừa nghe thấy không? Chúng ta sẽ không mang dáng vẻ này đời đời đâu!” Sự thực là mọi con cái đang sống của Đức Chúa Trời sẽ nhận lấy thân thể không hay hư nát của mình lúc Hội Thánh được cất lên. Điều này sẽ khiến cho tín đồ vượt qua mọi trở ngại có thể có trên đường họ cất lên để gặp Chúa tại chốn không trung. Nói cách khác, cấu trúc của những thân thể vinh hiển sẽ không gặp rắc rối gì khi băng qua các vật thể rắn. Hãy nhớ rằng: “Chúng ta sẽ giống như Ngài.” Giống như Chúa Jesus đã vượt qua những vách tường đá của ngôi mộ của Giô-sép người A-ri-ma-thê và đã bước vào căn phòng “nơi các môn đồ ở,” thậm chí lúc ấy “những cửa đều đương đóng lại” (GiGa 20:19), thì các tín đồ cũng vậy, họ sẽ được cất lên để gặp Đức Chúa Jesus Christ tại chốn không trung mà không hề bị cản trở bởi bất cứ chướng ngại nào của trần gian này.
TRONG GIÂY PHÚT
Phao-lô tiếp tục nói rằng sự biến hóa lúc được cất lên sẽ xảy ra “trong nháy mắt” (câu 52). Người ta phỏng tính cái nháy mắt kéo dài mười một phần trăm giây. Đại ý ấy là sự cất lên sẽ xảy ra nhanh đến nỗi không một kẻ nào chưa tin Chúa trên trần gian này có thể thấy được biến cố trọng đại này. Hãy hình dung sự lộn xộn sẽ xuất hiện lúc các Cơ đốc nhân thình lình biến mất. Xe hơi mất người lái, các phi cơ có thể mất đi phi công. Sẽ có nhiều người đang nhìn mặt nhau, đột nhiên một người biến đi đâu mất. Một người chưa tin Chúa đang trò chuyện với một người bạn Cơ đốc qua điện thoại, thình lình cuộc điện đàm dứt ngang. Sẽ có câu hỏi: “Anh còn đó không?” Dứt khoát các nhân viên tổng đài điện thoại sẽ chìm ngập trong một biển thắc mắc và lời yêu cầu. Người ta có thể hình dung ra hàng trăm viễn tượng để cố trình bày cảnh khiếp đảm không thể tin nổi này trong giờ phút ngay sau Sự Cất Lên, nhưng lẽ thật cơ bản ấy là sự cất lên sẽ xảy ra “trong giây phút, trong nháy mắt.”
CÁC ÂM THANH CHỨ KHÔNG PHẢI CÁC ĐIỀM LẠ
Phao-lô tiếp tục tuyên bố rằng sự cất lên sẽ xảy ra “lúc tiếng kèn chót” (câu 52). Có người đã nói: “Chúng ta không chờ các điềm lạ, nhưng đang dón nghe các âm thanh.” Đúng là ngày nay đang có nhiều sự phát triển quan trọng mà chúng hòa nhập vào bức tranh tiên tri này, nhưng cái gọi là “điềm lạ về thời kỳ ấy,” ngay cả các dấu hiệu trong Mat Mt 24:1-51 đi nữa, vẫn không phải là các biến cố buộc phải xảy đến trước sự cất lên của Hội Thánh. Chúng là những dấu hiệu cho người sẽ sống trong những ngày của cơn đại nạn, nhằm chỉ về sự tái lâm của Đấng Christ trong Ngày Ngài Hiện Ra. (Xem biểu đồ). Người Do-thái đã luôn luôn trông chờ các điềm lạ. “Đức Chúa Jesus phán rằng: Nếu các ngươi không thấy các phép lạ và các điềm lạ, thì các ngươi chẳng tin!” (GiGa 4:48). Sẽ đến một ngày kia có các điềm lạ tứ phía, không những để chỉ ra sự hủy diệt và sự đoán xét kẻ chẳng tin, mà còn để chỉ ra ngày đã mong đợi từ lâu, ngày Đấng Christ sẽ trở lại thế gian này và thiết lập vương quốc Ngài. Tuy nhiên, từ ngữ trong mạch văn Kinh Thánh của chúng ta ở đây không phải là “điềm lạ,” mà là “âm thanh,” và sẽ có không dưới ba loại âm thanh. Trong khúc Kinh Thánh này, Phao-lô đề cập đến một loại âm thanh là “tiếng kèn chót,” nhưng trong ITe1Tx 4:16, ông đề cập đến ba loại âm thanh: “Vì sẽ có tiếng kêu lớn, và tiếng của thiên sứ lớn, cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mính Chúa trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết.” “Tiếng kêu lớn,” “tiếng của thiên sứ lớn,” và “tiếng kèn của Đức Chúa Trời” là âm thanh lớn mà người ta sẽ nghe thấy lúc Hội Thánh được cất lên.
Loại âm thanh thứ nhất sẽ là “tiếng kêu lớn.” “Chính mình Chúa ở trên trời sẽ giáng xuống cùng với tiếng kêu lớn.” Đây là một từ ngữ quân sự, biểu thị sự khẩn cấp và uy quyền. Từ ngữ này gợi nhớ lần Chúa chúng ta gặp gỡ La-xa-rơ khi Ngài “kêu một tiếng lớn rằng: Hỡi La-xa-rơ, hãy ra” (GiGa 11:32-43), và kẻ chết bốn ngày ấy đã vâng theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Khi Ngài phán, thì liền xảy ra như lời Ngài phán! Một ngày kia, Ngài sẽ gọi Tân Nương Ngài, và mọi tín đồ đã được tái sanh đều sẽ được cất lên.
Âm thanh thứ nhì sẽ là “tiếng của thiên sứ lớn.” Không có gì đáng ngạc nhiên khi các thiên sứ sẽ có mặt trong bức tranh này. Họ đã luôn luôn ở bên cạnh Đấng Christ khi Ngài tiếp xúc với nhân loại hay chết này. Họ đã loan tin khi Ngài giáng sanh, đã chăm sóc Ngài sau khi Ngài chịu cám dỗ, đã ở bên thập tự giá Ngài, và khi Ngài thăng thiên, họ đã rao lời hứa phước hạnh cho các môn đồ đang lóa mắt ấy. Có lẽ đúng là phải nghe tiếng của thiên sứ trưởng khi Đấng Christ gọi Tân Nương Ngài về cùng Ngài.
Âm thanh thứ ba sẽ là “tiếng kèn của Đức Chúa Trời.” Các tiên tri Cựu Ước đã dùng kèn để nhóm họp hội chúng Y-sơ-ra-ên thể nào, thì đến ngày ấy cũng vậy, tiếng kèn thiên đàng vang lên và Đấng Christ sẽ gọi Hội Thánh đã được chuộc riêng ra cho Ngài về với Ngài thể ấy. Tác giả bài thánh ca sau đã nghĩ đến điều này khi sáng tác những lời sau:
Một ngày kia loa vang tin Chúa tái lâm nơi trần ,
Một ngày kia thiên thượng lòa vinh quang rạng ngần .
Ôi ngày lạ thay , tôi với kẻ yêu lên thiên đình ,
Ngợi khen Jesus tôi , Chân Chúa toàn hiển vinh !
(Thánh ca 85).
KẺ CHẾT TRONG ĐẤNG CHRIST
Hãy trở lại với “sự mầu nhiệm” trong ICo1Cr 15:1-58 “Vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát.” Trước khi xem xét chỗ ở của họ vào lúc Sự Cất Lên, chúng ta cần phải hiểu được những kẻ chết trong Christ hiện nay đang ở đâu. Trong IICo 2Cr 5:8, Phao-lô viết: “Vậy tôi nói, chúng ta đầy lòng tin cậy, muốn lìa bỏ thân thể này đặng ở cùng Chúa thì hơn. “Tại thời điểm chết thuộc thể, tín đồ lìa khỏi thể xác mình và lập tức vào thiên đàng với Đấng Christ. Chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi Phao-lô có thể viết: ”...chết là điều ích lợi” (Phi Pl 1:21). Người ta có thể hiểu được lời tác giả Thi thiên: “Sự chết của các người thánh là quý báu trước mặt Đức Giê-hô-va” (Thi Tv 116:15). Sự chết là “điều ích lợi,” và là một từng trải “quý báu” đối với con cái Đức Chúa Trời. Vì vậy ta có thể hiểu vì sao Phao-lô có thể viết trong khúc Kinh Thánh này: “Hỡi sự chết, sự thắng của mày ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mày ở đâu?” (câu 55).
Khi làm Mục sư tại Hội Thánh Báp-tít Đầu Tiên ở Pontiac, Michigan, tôi nhận được tin buồn là vị tiền nhiệm của tôi, tiến sĩ H.H. Savage, đang hấp hối. Ngoài cha tôi, tiến sĩ Savage là người có tác động lớn nhất trên đời sống tôi. Ông đã làm Mục sư của tôi từ lúc tôi còn trẻ. Thực ra, ông là vị Mục sư duy nhất của tôi. Tôi lao ra xe, lái suốt 180 dặm đến bệnh viện Muskegon, vì tôi muốn còn cơ hội để trò chuyện với Mục sư của tôi. Suốt đoạn đường đi, tôi mải miết suy nghĩ: “Chắc chắn tiến sĩ Savage sẽ cung cấp cho tôi một điểm mấu chốt dùng để làm nền tảng cho bài giảng truy điệu ông.” Cuối cùng, tôi đến được bệnh viện, đi vào phòng và tiến đến bên giường ông. Ông ngước nhìn lên và bảo: ” Chào Mục sư.” Tôi đáp lại: “Chào Mục sư.” Rồi ông nháy mắt bảo tôi (ông là người có tinh thần hài hước nhất mà tôi đã từng gặp được):“Tôi muốn nói với anh một điều rất quan trọng!” Tôi nghĩ: “Cảm ơn Chúa! Điểm mấu chốt của tôi đây rồi!” Ông nói tiếp: “Vài hôm nữa, anh sẽ dự tang lễ của tôi. Nhà thờ sẽ chật ních người, rồi nước mắt cùng với mọi thứ đi kèm theo tang lễ nữa! Nhưng lúc anh nhìn thấy thân thể này, tôi muốn anh nhớ rằng đó chỉ là cái vỏ, còn phần nhân đã đi rồi.”
Đương nhiên, tôi không thể trích lời ông khi tang lễ cử hành vài ngày sau đó, nhưng tôi đã hiểu sứ điệp của ông trong bện viện hôm ấy. Ông đang đối mặt với sự chết và đùa cợt với nó. Ông đang đồng thanh với Phao-lô: “Hỡi sự chết, sự thắng của mày ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mày ở đâu?” Sự chết của ông đã là sự đắc thắng nhờ vào sự đắc thắng của Con Đức Chúa Trời, Đấng đã tuôn huyết quý báu mình trên thập tự giá để trả xong hình phạt của tội lỗi. Phao-lô nói như vầy: “Cái nọc sự chết là tội lỗi, sức mạnh tội lỗi là luật pháp. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng nhờ Đức Chúa Jesus Christ chúng ta” (ICo1Cr 15:56, 57). Tôi muốn đưa vào sứ điệp này bài thơ tiến sĩ Savage đã sáng tác vài ngày trước khi về nước Chúa:
Không phải tôi đang đối diện với sự chết , bèn là với sự sống đời đời .
Không sắp chấm dứt , bèn là sắp bước vào cửa thiên đàng .
Con đường trước mặt tươi đẹp hơn bao giờ hết ,
Vì chính vinh hiển , vinh hiển ở ngay trước mắt .
Tôi nào còn lo sợ khi nghĩ sắp được gặp đối mặt Ngài ,
Đấng yêu tôi nên chết thay tôi .
Tôi mong mỏi tạ ơn lòng nhân từ và ân điển Ngài biết bao !
Vì chính vinh hiển , vinh hiển ở ngay trước mắt .
Không còn những đớn đau , những thất bại suốt bao năm tháng đã qua .
Không còn sự chết hay đau buồn , kinh hoàng hay sợ hãi nữa .
Vì chính Ngài hứa sẽ lau ráo hết nước mắt .
Vì chính vinh hiển , vinh hiển ở ngay trước mắt .
Ôi ! Ngày phước hạnh tôi mong ngóng bao lâu nay , xin mau đến , xin mau đến ! Ngày đức tin được nhìn tận mắt và bao lời hứa sẽ thuộc về tôi .
Và cùng muôn vàn thiên binh trước mặt Ngài ,tôi sẽ chiếu rạng .
Vì chính vinh hiển , vinh hiển ở ngay trước mắt .
Vâng, các thánh đồ qua đời rồi đã ở “ngay trước mắt” Cứu Chúa chúng ta.
Đức Thánh Linh tiếp tục giải nghĩa sự mầu nhiệm về Sự Cất Lên khi Ngài cảm thúc Phao-lô tôi tớ Ngài viết rằng: ”...Kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát...” (câu 52). Câu hỏi luận lý ở đây là: “Nếu các Cơ đốc nhân đã qua đời hiện đang ở với Cứu Chúa trên thiên đàng, vậy làm sao họ có thể sống lại và ra khỏi mồ mả mình được?” Câu Kinh Thánh tra cứu chéo tốt nhất cho khúc Kinh Thánh này ấy là ITe1Tx 4:1-18. “Hỡi anh em, tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jesus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Jesus cùng đến với Ngài” (ITe1Tx 4:13, 14). Các tín đồ đã qua đời thì ở với Đấng Christ trên Thiên Đàng, và lúc Ngài trở lại đem Hội Thánh đi, Ngài sẽ đem họ “cùng đến với Ngài. “Nếu họ muốn đến “với Ngài,” thì rõ ràng, họ phải xuất phát từ cùng một địa điểm. Chúng ta không đọc thấy Ngài sẽ đến rước họ, song đọc thấy rằng họ sẽ cùng đến với Ngài. Rồi hãy để ý câu 16: “Vì sẽ có tiếng kêu lớn, và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết.” Kết luận hợp lý luận ấy là khi Đấng Christ trở lại để cất Tân Nương của Ngài lên, Ngài sẽ dừng lại trên các đám mây và để cho những kẻ đang ở “với Ngài” trở về nơi mà thân thể họ đã được chôn cất. Rồi họ sẽ được ban cho thân thể vinh hiển, và “sẽ sống lại trước tiên.” Sau đó là hành động cuối cùng của Sự Cất Lên: ”...chúng ta là kẻ còn sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn” (ITe1Tx 4:17).
Sự Cất Lên gồm một loạt các biến cố quan trọng:
* Đấng Christ sẽ đến từ Thiên Đàng cùng với các thánh đồ Ngài.
* Ngài sẽ dừng lại tại giữa đám mây.
* Đội quân các thánh đồ trên thiên đàng sẽ tiếp tục giáng xuống trần gian, để trở về nơi thân thể họ đã được chôn cất.
* Rồi họ sẽ nhận được thân thể không hay hư nát và đi ra khỏi mồ mả.
* Chúng ta là kẻ còn sống cũng sẽ được biến hóa.
* Chúng ta sẽ cùng được cất lên gặp Chúa tại không trung.
Đây là sự cất lên của Hội Thánh, và nó có thể xảy ra ngay hôm nay. Nếu bạn biết Đấng Christ là Cứu Chúa, tôi van nài bạn ”...hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu” (ICo1Cr 15:58). Nếu bạn chưa hề tin nhận Con Đức Chúa Trời, Đấng đã bị đóng đinh và đã sống lại làm Cứu Chúa của bạn, tôi khuyên nài bạn hãy mời Ngài ngự vào lòng mình ngay đang khi còn có dịp tiện.

THỜI KỲ DÂN NGOẠI

Để nghiên cứu sâu rộng về lời tiên tri của Kinh Thánh, chúng ta càng phải hiểu được hai thành ngữ bắt nguồn từ Kinh Thánh Cựu Ước, nhưng sẽ thành tựu trong những ngày tới. Đó là “bảy mươi tuần lễ của Đa-ni-ên” và “thời kỳ Dân ngoại.”
Sau triều đại vua Sa-lô-môn, bất hòa nội bộ đã dẫn đến việc chia cắt đất nước Y-sơ-ra-ên. Con trai Salômôn là Rô-bô-am vẫn làm vua cai trị vương quốc phía nam (nước Giu-đa), trong khi đó, Giê-rô- bô- am trở thành vua mười chi phái phía bắc (là nước Y-sơ-ra-ên). Trong những năm tiếp theo đó, đã có mười chín vua cai trị phương bắc và hai mươi vua cai trị phương nam. Vương quốc phía bắc kéo dài từ năm 993 đến 721 T.C.. Rồi dân nước này đã bị Sanh-ma-na-se bắt sang A-si-ri làm phu tù. Vương quốc phương nam kéo dài từ 933 đến 605 T.C.. Vua Nê-bu-cát-nết-sa đã bắt dân Giu-đa làm phu tù tại Ba-by-lôn. Cuộc lưu đày cuối cùng và cuộc hủy phá Giê-ru-sa-lem xảy ra năm 586 T.C..
GIẤC MƠ CỦA NÊ-BU-CÁT-NẾT-SA
Về đề tài này, tôi muốn quay lại từ năm 605 T.C., là lúc bắt đầu cuộc lưu đày dân Giu-đa sang Ba-by- lôn. Niên hiệu này đánh dấu khởi điểm sự cai trị của Dân ngoại trên xứ Y-sơ-ra-ên và khởi điểm của “thời kỳ Dân ngoại.” Thời kỳ quan trọng này của lịch sử nhân loại sau đó đã được nhấn mạnh qua giấc mơ Đức Chúa Trời đã ban cho vua Nê-bu-cát-nết-sa, một giấc mơ mà vua không tài nào nhớ được. Đa-ni- ên 2 ghi lại câu chuyện này: “Trong năm thứ hai đời vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua thấy chiêm bao, thì trong lòng bối rối và mất giấc ngủ. Vậy, vua truyền đòi các đồng bóng, thuật sĩ, thầy bói, và người Canh-đê để cắt nghĩa chiêm bao cho vua. Họ bèn đến chầu trước mặt vua. Vua nói cùng họ rằng: Ta đã thấy một chiêm bao; và lòng ta bối rối, muốn biết chiêm bao đó. Những người Canh-đê nói cùng vua bằng tiếng A- ram rằng: Tâu vua, chúc vua sống đời đời! Xin thuật chiêm bao cho những kẻ tôi tớ vua, và chúng tôi sẽ giải nghĩa” (câu 1-4).
Khi các đồng bóng, thuật sĩ, thầy bói và người Canh-đê bị đòi đến trước mặt vua và nghe vua truyền: “Ta đã thấy một chiêm bao, và lòng ta bối rối, muốn biết chiêm bao đó,” họ chẳng hiểu được chút gì cả. Suy cho cùng, họ nghĩ vua chỉ muốn có lời giải nghĩa chiêm bao mà thôi. Dĩ nhiên, dựng nên một lời giải nghĩa sẽ là một việc rất dễ. Thế giới này đầy dẫy những đồng bóng, thuật sĩ, thầy bói, người Canh-đê thời hiện đại, là những người nhanh nhẩu bảo cho chúng ta biết những chuyện gì sắp xảy tới. Hãy coi chừng những kẻ tự xưng là “tiên tri,” là những kẻ mạnh dạn tuyên bố về những sự hầu đến. Tiên tri thật ngày nay của Đức Chúa Trời sẽ là một đầy tớ tầm thường, khiêm nhường của Đấng Christ, ngay thẳng chia xẻ Lời của Lẽ thật, và rao truyền bởi sự xức dầu của Thánh Linh. Đức Chúa Trời có cách để tách riêng những kẻ đại diện cho Ngài ra khỏi những kẻ không đại diện cho Ngài, và vua Nê-bu-cát-nết-sa không phải tốn nhiều thời gian để nhận ra được ai là các đầy tớ thật của Đức Chúa Trời chí cao: “Vua trả lời cho những người Canh-đê rằng: Sự ấy đã ra khỏi ta. Nếu các ngươi không nói cho ta biết chiêm bao đó thể nào và lời giải của nó làm sao, thì các ngươi sẽ bị phân thây, và nhà các ngươi sẽ trở nên đống phân” (câu 5).
Người Canh-đê trả lời: “Chẳng có người nào trên đất này có thể tỏ ra việc của vua; vì chẳng có vua nào, chúa nào, người cai trị nào đem việc như thế hỏi đồng bóng, thuật sĩ, hay người Canh-đê nào” (câu 10). Lúc nầy, “Đa-ni-ên vào, xin vua cho mình một hạn nữa, hầu cho có thể giải nghĩa điềm chiêm bao đó cho vua. Đoạn, Đa-ni-ên trở về nhà, và tỏ sự ấy cho các bạn mình là Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria. Người xin họ cầu Đức Chúa Trời ở trên trời dủ lòng thương xót họ về sự kín nhiệm nầy, hầu cho Đa-ni-ên và đồng bạn mình khỏi phải chết với những bác sĩ khác của Ba-by- lôn. Vậy sự kín nhiệm tỏ ra cho Đa-ni-ên trong sự hiện thấy ban đêm; Đa-ni-ên bèn ngợi khen Chúa trên trời” (câu 16-19).
Trước khi xem xét giấc mơ và lời giải nghĩa, xin lưu ý rằng sự kiện phi thường này là phương cách Đức Chúa Trời khải thị những thông tin đặc biệt nào đó liên quan đến tương lai. Đa-ni-ên tâu cùng vua rằng: “Nhưng có một Đức Chúa Trời ở trên trời tỏ ra những đều kín nhiệm; và đã cho vua Nê-bu-cát-nết-sa biết đều sẽ tới trong những ngày sau rốt. Vậy chiêm bao của vua và các sự hiện thấy của đầu vua đã thấy trên giường mình là như vầy: Hỡi vua, khi vua nằm trên giường, có những tư tưởng về sự xảy đến sau nầy, thì Đấng hay tỏ sự kín nhiệm đã cho vua biết sự sẽ xảy đến” (câu 28,29).
GIẤC MƠ ĐƯỢC THUẬT LẠI
Quang cảnh thay đổi khi Đa-ni-ên đứng trước mặt vua thuật lại giấc mơ vua đã quên:” Hỡi vua, vua nhìn xem, và nầy, có một pho tượng lớn. Pho tượng đó to lớn và rực rỡ lạ thường; đứng trước mặt vua và hình dạng dữ tợn. Đầu pho tượng nầy bằng vàng ròng, ngực và cánh tay bằng bạc, bụng và vế bằng đồng; ống chơn bằng sắt và bàn chơn thì một phần bằng sắt một phần bằng đất sét. Vua nhìn pho tượng cho đến khi có một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra, đến đập vào bàn chơn bằng sắt và đất sét của tượng,và làm cho tan nát. Bấy giờ sắt, đất sét, đồng bạc và vàng đều cùng nhau tan nát cả; trở nên như rơm rác bay trên sân đạp lúa mùa hạ, phải gió đùa đi, chẳng tìm nơi nào cho chúng nó; nhưng hòn đá đã đập vào pho tượng thì hóa ra một hòn núi lớn và đầy khắp đất” (câu 31-35). Hãy hình dung phản ứng của vua khi một lần nữa thấy lại giấc mơ của mình. Tôi không ngạc nhiên với lời của vua:“Quả thật Đức Chúa Trời của các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và là Chúa của các vua; chính Ngài là đấng tỏ ra sự kín nhiệm nầy” (câu 47).
GIẢI NGHĨA GIẤC MƠ
Bấy giờ Đa-ni-ên giải nghĩa giấc mơ theo như Đức Chúa Trời đã tỏ cho ông:” Đó là điềm chiêm bao. Bây giờ chúng tôi sẽ giải nghĩa ra trước mặt vua. Hỡi vua, vua là vua các vua, vì Chúa trên trời đã ban nước, quyền, sức mạnh, và sự vinh hiển cho vua. Ngài đã trao trong tay vua những con cái loài người, những thú đồng và chim trời, dầu chúng nó ở nơi nào, Ngài cũng làm cho vua được cai trị hết thảy; vậy vua là cái đầu bằng vàng. Nhưng sau vua, sẽ dấy lên một nước khác, kém nước của vua; rồi một nước thứ ba, tức là đồng, sẽ cai quản khắp đất. Lại có một nước thứ tư mạnh như sắt; vì sắt hay đập vỡ và bắt phục mọi vật, thì nước ấy cũng sẽ đập vỡ và nghiền nát như là sắt vậy” ( câu 36-40). Pho tượng lớn mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã thấy trong giấc chiêm bao có đầu bằng vàng (câu 32) đại diện cho đế quốc Ba-by-lôn (câu 38), và kết thúc dưới triều vua Bên-xát-sa. DaDn 5:31 ghi lại cuộc chinh phục của vua Đa-ri-út người Mê-đi. Chính ông đã sát nhập Mê-đi và Ba-tư, lập nên đế quốc Mê-đi Ba-tư hùng mạnh. Điều nầy được mô tả trong pho tượng là ngực và tay bằng bạc (câu 32 và 39a). Nhiều năm sau, Alexander Đại đế đã chinh phục Mê-đi Ba-tư và mở mang đế quốc Hy-lạp hùng cường này. Nước này được mô tả là bụng và vế bằng bạc (câu 32 và 39b). Đế quốc thứ tư là Rô-ma. Đế quốc này vẫn thống nhứt cho đến năm 364 S.C., rồi sau đó làm một đế quốc bị chia đôi với kinh đô phía tây là Rô-ma và kinh đô phía đông là Constantinople. Đế quốc Tây La-mã suy tàn năm 476 S.C., trong khi Đông đế quốc duy trì mãi đến 1453 S.C. Một số người cho rằng hai ống chơn (câu 33) tượng trưng cho Đông và Tây La-mã, nhưng điều chúng ta biết chắc chắn ấy là ống chơn bằng sắt đã ứng nghiệm nơi đế quốc La-mã (câu 40).
Vậy, pho tượng vua Nê-bu-cát-nết-sa đã thấy trong giấc chiêm bao đại diện cho bốn đế quốc trần gian nầy: Ba-by-lôn - đầu bằng vàng; Mê-đi Ba-tư - ngực và cánh tay bằng vàng; Hy-lạp- bụng và vế bằng đồng; và La-mã - ống chơn bằng sắt. Khi được ghép chung vào pho tượng đáng sợ nầy, chúng trình bày thoáng qua một thời kỳ trong lời tiên tri của Kinh Thánh, được gọi là “thời kỳ các dân ngoại.” Nó nói về thời kỳ mà dân Y-sơ-ra-ên sẽ ở dưới quyền dân ngoại, bắt đầu từ sự lưu đày dân Giu-đa sang làm phu tù tại Ba-by-lôn năm 605 T.C.
ĐẾ QUỐC LA MÃ HỒI SINH
Toàn bộ những đế quốc kể ra trên đây đều đã hiện ra, nhưng còn một phần của pho tượng vẫn chưa hiện ra. Nó có liên hệ với đế quốc La-mã Cổ và được xem là bàn chơn của pho tượng (câu 33) với mười ngón chơn (câu 41-42). H. A. Ironside đã viết về phần quan trọng nầy của pho tượng:” Phần nầy đưa chúng ta đến hình thức cuối của nước thứ tư; vì đế quốc La-mã, dầu hiện nay vẫn tạm treo, nhưng chưa chấm dứt. Mười ngón chơn trên bàn chơn của pho tượng tượng trưng cho mười vua cai trị đồng thời, nhưng sẽ thành lập một liên minh trên nền của đế quốc cổ nầy. Đây là nước mà thế gian này vẫn chưa hề chứng kiến.” 1 Khi tiến sĩ Ironside viết những lời nầy năm 1911, sự liên kết như thế là điều hầu như chưa ai nghĩ tới. Tuy nhiên ngày nay, tình hình đã chuẩn bị sẵn sàng cho sự thành lập một liên minh mười nước nầy mà Kinh Thánh đã tiên tri rõ ràng cách đây 2600 năm qua giấc mơ Đức Chúa Trời đã ban cho vua Nê-bu-cát-nết-sa.
Nhiều người đã thử liên kết những nước hiện đang tồn tại trên đống tro tàn của đế quốc La-mã cổ lại với nhau song không thành công. Ngưới ta đã ghi lại rằng bài hát ru Humpty Dumpty (nhân vật chính trong bài hát ru nổi tiếng này) nguyên thủy được viết ra nói về sự sụp đổ của Rô-ma và những nỗ lực vô hiệu của con người nhằm tái thiết nó."Humpty Dumpty ngồi trên tường thành.” Chắc chắn người này đã làm như thế - dưới hình thức của đế quốc La-mã ngày xưa. “Humpty Dumpty đã té nặng (suy vong).” Điều này đã diễn ra năm 476 S.C.. “Hết thảy ngựa chiến cùng lính kỵ của vua cũng không thể gom Humpty lại được.” Đã có rất nhiều người cố thử - như Charlemagne, Napoleon, Bismarck, và Hitler chẳng hạn.
Một dấu chỉ cho thấy kỳ chung kết đời này đang đến gần, ấy là lần đầu tiên kể từ khi đế quốc La-mã sụp đổ, đế quốc này hiện đang xuất hiện trở lại. Như sẽ nói trong chương sau, liên minh mười nước này phải liên kết lại, vì Anti Christ sẽ ra từ đó. Thật đáng thức tỉnh khi nhìn thấy liên minh đó bắt đầu hình thành. Dầu “mười ngón chân” (Đế quốc La Mã hồi sinh) có thể thành hình trước khi Hội Thánh được cất lên, nhưng Anti Christ không thể hiện ra trước sự cất lên. Đương nhiên, sự kiện các quốc gia Tây Âu sắp liên kết với nhau ắt hẳn là dấu hiệu chỉ về sự mới mẻ của giờ phút này. Nhiều sinh viên Kinh Thánh tin rằng Thị Trường Chung Âu Châu (European Common Market), còn gọi là Cộng Đồng Kinh Tế Âu Châu (European Economic Community), là tiền thân của đế quốc La-mã hồi sinh.
Trong kỳ xuất bản cuốn sách này lần đầu, tôi viết: “Thật thú vị khi thấy hiện đang có mười quốc gia trong cộng đồng này. Nước gia nhập cuối cùng là Hy-lạp, trở thành thành viên vào ngày 1-1-1981. Trong năm 1973, Anh, Ái-nhĩ-lan, và Đan-mạch đã gia nhập. Sáu quốc gia kia là Đức, Pháp, Ý, Bỉ, Luxembourg, và Hà-lan.
“Tại đây, cần phải lưu ý một điều. Đừng ai căn cứ vào sự kiện hiện đang có mười nước trong Thị Trường Chung Âu Châu mà kết luận đây chính là hình thức cuối cùng của đế quốc La-mã (mười ngón chân của Đa-ni-ên).”
Sự thực là hiện có mười hai quốc gia trong khối E.M.C (Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha hiện đã là thành viên), và trước đợt xuất bản kế tiếp thì có thể còn nhiều hơn thế.
Tôi nghe vị chủ tịch Cộng Đồng này nói ông nghĩ rằng cuối cùng sẽ có mười lăm nước trong E.M.C.
Thực ra, Kinh Thánh không nói cho chúng ta bao nhiêu quốc gia sẽ gia nhập Thị Trường Chung Âu Châu. Điều chúng ta biết chắc ấy là từ giữa những quốc gia ở trên lãnh thổ của đế quốc La-mã ngày xưa, mười nước sẽ liên kết thành một liên minh đặc biệt. Mười quốc gia đó đã được Nê-bu-cát-nết-sa nhìn thấy dưới dạng mười ngón chân.
KỲ KẾT THÚC CỦA THỜI KỲ DÂN NGOẠI
Phần cuối của giấc mơ được Đức Chúa Trời tái hiện qua tôi tớ Ngài là Đa-ni-ên, và được trình bày một lần nữa cho vua: “Vua nhìn pho tượng cho đến khi có một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra, đến đập vào bàn chơn bằng sắt và đất sét của tượng, và làm cho tan nát. Bấy giờ sắt, đất sét, đồng, bạc, và vàng đều cùng nhau tan nát cả; trở nên như rơm rác bay trên sân đạp lúa mùa hạ, phải gió đùa đi, chẳng tìm nơi nào cho chúng nó; nhưng hòn đã đập vào pho tượng thì hóa ra một hòn núi lớn và đầy khắp đất” (câu 34-35). “Thời kỳ dân ngoại” đã bắt đầu khi vua Nê-bu-cát-nết-sa đem tuyển dân của Đức Chúa Trời sang làm phu tù tại Ba-by-lôn gần như 2600 năm trước. Dầu người Giu-đa đã trở về đất nước mình sau đó chỉ bảy mươi năm, nhưng thực sự đó không phải là tổ quốc của họ. Họ đang sống trên vùng đất Đức Chúa Trời đã ban cho họ, nhưng họ đang ở dưới ách thống trị của dân ngoại: Ba-by-lôn, Mê-đi Ba-tư, Hy-lạp, và Rô-ma. Khi Đức Chúa Con trở nên xác thịt, dân sự Ngài đang sống dưới ách cai trị thứ tư của dân ngoại- La-mã. Họ khao khát được giải phóng để sống trong xứ của họ, dưới quyền cai trị của Đấng Mêsia mà họ đã mong đợi từ lâu. Hãy hình dung niềm phấn khởi trong lòng những người đã tin Chúa Jesus là Đấng Mêsia ấy, và tin rằng Ngài sẽ kíp phá tan ách cai trị của La mã và thiết lập nước bình an của Ngài. Tuy nhiên, các tín đồ thật phải được dạy rằng trong lần hiện đến thứ nhứt, công tác của Ngài không phải là thiết lập nước, mà để phó sự sống của Ngài làm của lễ duy nhất chuộc tội cho thế gian. Một số người, như Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, cứ muốn chấp nhận Ngài chỉ là một vị lãnh tụ chính trị của họ, người sẽ mở ra Thời Đại Vương Quốc Bình An. Họ đui mù trước những lời tiên tri của Cựu Ước về Đấng Mêsia đã báo trước rõ ràng về sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá, như là Thi Tv 22:1-31 và EsIs 53:1-12. Họ cũng giống như nhiều người ngày nay, cần phải học biết lẽ thật về sự tái lâm trần gian của Đấng Christ, khi Ngài sẽ tiêu diệt toàn bộ thế lực quân sự của trần gian trong trận đụng độ đáng sợ, gọi là “trận Ha-ma-ghê-đôn” (xem biểu đồ). Lúc ấy, và chỉ lúc ấy, Ngài mới thiết lập vương quốc Ngài trên đất này để cầm quyền tể trị loài người trong một ngàn năm.
Vua Nê-bu-cát-nết-sa đã nhìn thoáng qua điều này trong giấc mơ mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông. Đấng Christ được xem là “hòn đá chẳng phải bởi tay loài người đục ra, đến đập vào bàn chân bằng sắt và đất sét của pho tượng” (câu 34). Khi pho tượng đổ xuống, “sắt, đất sét, đồng, bạc, và vàng đều cùng nhau tan nát cả; trở nên như rơm rác bay trên sân đạp lúa mùa hạ, phải gió đùa đi chẳng tìm nơi nào cho chúng nó” (câu 35). Lời tiên tri Cựu Ước này chắc chắn sẽ ứng nghiệm, và khi ứng nghiệm, “thời kỳ dân ngoại” sẽ chấm dứt.
1 H.A. Ironside, Daniel (Neptune, New Jersey: Loizeau Brothers, Ấn bản 1911), trang 137.

BẢY MƯƠI TUẦN LỄ CỦA ĐA NI ÊN
“Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào, đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho Đấng rất thánh. Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lịnh tu bổ và xây dựng lại Giê ru sa lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn. Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh chiến cho đến cuối cùng; những sự hoang vu đã định. Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ, và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc, và sẽ có sự giận dữ đổ trên nơi bị hoang vu, cho đến kỳ sau rốt, là kỳ đã định” (DaDn 9:24-27).
BẢY MƯƠI TUẦN LỄ
Câu 24 ghi rằng: “Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi ... ” Chữ “những tuần lễ “được dịch từ chữ “shabua” trong tiếng Hê-bơ-rơ. Chữ này đúng hơn nên dịch là “những số bảy. “Cách dịch câu nầy rõ hơn sẽ là “có bảy mươi con số bảy định trên dân ngươi.” Phần chú thích trong bản Scofield gợi ý rằng: “Đây là bảy mươi 'tuần lễ', hay chính xác hơn, những lần bảy năm; bảy mươi tuần lễ mà mỗi tuần bảy năm.” Đức Chúa Trời đang phán qua Đa-ni-ên tôi tớ Ngài rằng Ngài đã định một thời kỳ cho dân sự của Đa-ni-ên (dân Giu-đa), trong thời kỳ đó, nhiều điều rất đặc biệt sẽ xảy đến. Thời gian qui định sẽ là bảy mươi lần bảy, hay 490 năm. Phần đầu của thời biểu này sẽ cần “bảy” tuần lễ” (49 năm), thời kỳ thứ nhì sẽ là sáu mươi hai “tuần lễ” (434 năm), và phần thứ ba sẽ là một “tuần lễ” (bảy năm).
THỜI KỲ THỨ NHẤT
Hãy xem phần thứ nhất: “Khá biết và hiểu rằng từ khi ra lịnh tu bổ và xây dựng lại Giê ru sa lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn” (câu 25).Phần đầu trong bảy mươi hai tuần lễ của Đa-ni-ên sẽ bắt đầu từ lúc có mạng lịnh “tu bổ và xây dựng lại Giê-ru-sa-lem.” Xin nhớ rằng Đa-ni-ên và dân ông đã làm phu tù tại Ba-by-lôn. Lòng họ mong mỏi được quay về quê hương mình. Sau bảy mươi năm, dân sót của Giu-đa bắt đầu quay về Giê-ru-sa-lem để tái thiết đền thờ. Đức Chúa Trời đã phán rằng điều ấy sẽ xảy ra (Gie Gr 29:10).
Rồi đến năm 445 T.C. Đền thờ đã được tái thiết. Nhưng tường và thành Giê-ru-sa-lem vẫn chưa được tái thiết. Một bản tường trình nghiêm túc về tình hình thành phố Giê-ru- sa-lem đã đến tay Nê-hê-mi, tôi tớ của Đức Chúa Trời: ”...những kẻ đã bị bắt làm phu tù còn sót lại ở trong tỉnh, bị tai nạn và sỉ nhục lắm; còn vách thành của Giê-ru-sa-lem thì hư nát và các cửa nó đã bị đốt cháy” (NeNe 1:3). Nê-hê-mi đã đáp lại bản tin buồn nầy trong câu tiếp theo: “Khi tôi nghe các lời ấy, bèn ngồi mà khóc, cư tang mấy ngày; tôi cữ ăn và cầu nguyện Đức Chúa Trời của các từng trời” (câu 4).
Đoạn hai của sách Nê-hê-mi trở nên phần Lời Đức Chúa Trời không thể thiếu trong khi nghiên cứu bảy mươi tuần lễ của Đa-ni-ên. Hãy nhớ rằng khởi đầu cho phần bảy tuần lễ (49 năm) sẽ là mạng lịnh “tu bổ và xây dựng lại Giê-ru-sa-lem ” (DaDn 9:25). Mạng lịnh này được tìm thấy trong NeNe 2:20 “Đương năm thứ hai đời vua Ạt-ta-xét-xe, tháng Ni-san, rượu ở sẵn trước mặt vua, tôi lấy rượu dâng cho vua; trước tôi không hề có bộ buồn rầu tại trước mặt người. Vua nói với tôi rằng: Nhơn sao ngươi mặt mày buồn, dầu mà ngươi không có bệnh? Điều đó chỉ là sự buồn bã trong lòng mà thôi. Bấy giờ tôi lấy làm sợ hãi lắm, bèn nói với vua rằng: Nguyện vua vạn tuế! Lẽ nào mặt tôi không buồn, khi cái thành, là nơi có mồ mả của tổ phụ tôi, bị phá hoang, và các cửa thành bị lửa thiêu đốt? Vua hỏi tôi rằng: Ngươi cầu xin cái gì? Tôi bèn cầu nguyện cùng Đức Chúa của các từng trời, rồi tâu với vua rằng: Nếu vua thấy điều đó là tốt lành, nếu kẻ tôi tớ vua được ơn trước mặt vua, xin vua hãy sai tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi, để xây cất thành ấy lại.- Đương khi ấy hoàng hậu cũng ngồi bên cạnh vua.- Vua bèn hỏi tôi rằng: Ngươi đi đường lâu chừng bao nhiêu, và khi nào ngươi trở về? Vậy vua đẹp lòng sai tôi đi, và tôi định nhựt kỳ cho người. Tôi cũng thưa với vua rằng: Nếu điều này được đẹp lòng vua, xin vua hãy trao cho tôi những bức thơ truyền các quan tổng trấn bên kia sông cho phép tôi đi ngang qua cho đến khi tôi đến Giu-đa; lại ban chiếu chỉ cho A-sáp, kẻ giữ rừng vua, truyền người cho gỗ làm khuôn cửa của thành điện giáp với đền, và làm vách thành, cùng nhà mà tôi phải vào ở. Vua bèn ban cho tôi các điều đó, tùy theo tay nhơn lành của Đức Chúa Trời tôi giúp đỡ tôi” (câu 1-8).
Những câu này trình bày nhiều thông tin quan trọng:
Ai đã ra lịnh? Vua Ạt-ta-xét xe.
Ra lịnh cho ai? Nê-hê-mi.
Ra lịnh lúc nào? Ngày 14-3-445 T.C.
Chúng ta có được các dữ liệu trên nhờ vào câu 1: “Đương năm thứ hai mươi đời vua Ạt-ta-xét-xe, tháng Ni-san ...” Cuốn The Encyclopedia Britannica đưa ra niên hiệu 465 T.C. khi Ạt-ta-xét-xe lên ngôi nước Mê-đi Ba-tư. Trong năm thứ hai mươi, vua ra lịnh cho Nê-hê-mi trở về Giê-ru-sa-lem và tái thiết thành. Vì không có nêu ra ngày tháng, nên chúng ta phải dựa vào phong tục của người Giu-đa là xác định ngày đầu của tháng. Ngày đầu tháng Ni-san năm 445 T.C. tương ứng với ngày 14 tháng ba năm 445 T.C. trong niên lịch của chúng ta.
Để đi sâu hơn vào sự phát triển này, Sir Robert Anderson đã viết: “Giờ đây đặc trưng lớn của năm thánh Do-thái vẫn không thay đổi kể từ cái đêm đáng ghi nhớ khi mặt trăng đêm xuân phân tỏa sáng trên những túp lều nhuộm huyết con sinh lễ Vượt Qua của dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Ê-díp-tô; và cũng không có gì nghi ngờ hay khó khăn khi ấn định những giới hạn thật hẹp trong niên lịch Julian của ngày 1 tháng Ni-san cho bất cứ năm nào. Trong năm 445 T.C., ngày đầu tháng âm lịch cử hành lễ Vượt Qua nhằm vào ngày 13 tháng Ba lúc bảy giờ chín phút sáng. Và tương ứng, ngày 1 tháng Ni-san có thể qui vào ngày mười bốn tháng Ba." 1
Trở lại với DaDn 9:25 ” Khá biết và hiểu rằng từ khi ra lịnh tu bổ và xây dựng lại Giê ru sa lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ.” Mạng lịnh được ban ra ngày mười bốn tháng ba năm 445 T.C., và như Đức Chúa Trời đã báo trước qua Gáp-ri-ên, thiên sứ Ngài, (vị thiên sứ sẽ truyền đạt lại khải tượng cho Đa-ni- ên), thì chương trình tái thiết sẽ kéo dài bảy “tuần lễ” (49 năm). Lịch sử đã chứng minh đây là lời tiên báo chính xác, vì đã cần chính xác 49 năm để hoàn thành công việc này, năm đó là 396 T.C.
THỜI KỲ THỨ NHÌ
Phần thứ nhì trong Bảy Mươi Tuần Lễ của Đa-ni-ên là thời kỳ dài 62 “tuần lễ” (434 năm). “Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi...” (9:26a). Điều này có nghĩa là 434 năm sẽ kéo dài từ lúc tường và thành được xây lại cho đến lúc Đấng Mêsia bị dân mình chối bỏ và đóng đinh trên cây thập tự. Một lần nữa, lời tiên tri đã đúng cách hoàn hảo. Chúng ta biết ơn Sir Robert Anderson đã nghiên cứu phần này trong Lời Đức Chúa Trời. Ông cho chúng ta biết Đấng Christ đã vào thành Giê-ru-sa-lem ngày Chúa Nhật trước ngày bị đóng đinh trên thập tự giá, theo lịch Julian là ngày mười tháng Ni-san, tương ứng với ngày sáu tháng Tư năm 32 S.C. Rồi Anderson viết: “Vậy, khoảng thời gian giữa việc ban hành sắc lịnh tái thiết Giê-ru-sa-lem và sự hiện đến tỏ tường của 'Đấng Mêsia,'tức là giữa khoảng thời gian từ 14 tháng Ba năm 445 T.C. và ngày 6 tháng Tư năm 32 S.C.,là bao nhiêu lâu? KHOẢNG THỜI GIAN NÀY CHỨA ĐỰNG CHÍNH XÁC CHO ĐẾN TỪNG NGÀY LÀ 173.880 NGÀY, BẢY LẦN SÁU MƯƠI CHÍN NĂM TIÊN TRI (MỘT NĂM CÓ 360 NGÀY), sáu mươi chín tuần lễ đầu tiên trong lời tiên tri của Gáp-ri-ên." 2
Do đó, khi dùng lịch Do-thái với 360 ngày một năm, chúng ta kết luận rằng đã có 69 “tuần lễ” (483 năm) từ lúc Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ ngày 14 tháng Ba năm 445 T.C. cho đến ngày Đấng Christ bước vào thành Giê-ru-sa-lem. Sau khi chấm dứt tuần lễ thứ 69 đó, Đấng Mêsia đã bị “trừ đi” (bị đóng đinh) như Đức Chúa Trời đã nói tiên tri.
THỜI KỲ SAU CÙNG
Nhưng có một “tuần lễ” (bảy năm) vẫn chưa được ứng nghiệm. Tuần lễ nầy có thể được gọi là “tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên .” Câu hỏi hợp lý ấy là: “Khi nào tuần lễ ấy bắt đầu?” Đức Chúa Trời bảo cho chúng ta qua tôi tớ Ngài: “Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ, và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc, và sẽ có sự giận dữ đổ trên nơi bị hoang vu, cho đến kỳ sau rốt, là kỳ đã định” (DaDn 9:27). Đại từ nhân xưng “người” (ngôi thứ ba số ít) chỉ rõ ràng về “vua hầu đến” trong câu 26b. Xin cẩn thận đừng lẫn lộn “Đấng chịu xức dầu, tức là vua” với “vua hầu đến.” “Đấng chịu xức dầu, tức là vua” là câu nói chỉ về Đức Chúa Jesus Christ, trong khi “vua hầu đến” nói về kẻ mạo danh Ngài, tức là Anti Christ.
Theo lời tiên tri này, khi kẻ cầm đầu thế gian này xuất hiện, nó sẽ “lập giao ước vững bền ” với dân Y-sơ-ra-ên trong bảy năm. Lúc ấy dân Giu-đa sẽ tin rằng kẻ cầm đầu vĩ đại và đầy quyền lực của đế quốc La-mã hồi sinh này không ai khác hơn là Đấng Mêsia mà họ đã mong đợi từ lâu. Họ sẽ bị dỗ dành đến nỗi tin rằng họ đang sống trong Thời Đại Nước Bình An. Thực ra, đây là lúc trời lặng trước khi cơn bão nổi lên. Trong những chương tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn về Christ giả và cơn đại nạn hầu đến; nhưng để kết luận chương này, tôi muốn nhắc bạn rằng Tuần Lễ Thứ Bảy Mươi của Đa-ni-ên bắt đầu từ lúc Anti Christ ký giao ước hòa bình với dân Y-sơ-ra-ên. Tuần Lễ Thứ Bảy Mươi không bắt đầu lúc Hội Thánh được cất lên như nhiều người giả định đâu (xem biểu đồ). Có thể có nhiều ngày, thậm chí nhiều năm, giữa Sự Cất Lên với việc ký giao ước này. Chúng ta thảy đều biết từ lời Đức Chúa Trời rằng, phần chót trong Bảy Mươi Tuần Lễ của Đa-ni-ên, tức là “tuần lễ” (bảy năm) thứ bảy mươi, sẽ bắt đầu với việc Anti Christ ký giao ước. Giao ước đó rõ ràng không thể ký trước lúc Anti Christ xuất hiện, và Anti Christ sẽ không lộ diện cho đến khi Tân Nương của Đấng Christ được cất lên. Dường như sự kiện Đấng Christ hiện ra đón rước Hội Thánh Ngài hẳn đã rất gần!
1 Robert Anderson, The Coming Prince (Grand Rapids, Mich. : Kregel Publicatuions, 1963), trang 123.
2 Như trên, trang 127-128.


ANTI-CHRIST HIỆN RA
Cần phải nêu ba câu hỏi khi nghiên cứu về thân vị và công tác của Anti Christ:
* Anti Christ sẽ đến từ đâu?
* Khi nào sẽ đến?
* Anti Christ sẽ làm gì?
Trong chương trước, chúng ta đã xem xét pho tượng đáng sợ mà Đức Chúa Trời đã cho vua Nê-bu-cát-nết-sa nhìn thấy trong giấc mơ gần hai ngàn sáu trăm năm trước. Pho tượng này với đầu bằng vàng, ngực và cánh tay bằng bạc, bụng và vế bằng đồng, ống chân bằng sắt, bàn chân bằng sắt và đất sét, cho chúng ta cái nhìn thoáng qua tầm quan trọng của “thời kỳ Dân Ngoại”. Nhiều năm sau, “Đa-ni-ên ... thấy chiêm bao và những sự hiện thấy trong đầu mình” đến từ Đức Chúa Trời (7:1). Thay vì một pho tượng với bốn thứ kim loại, Đa-ni-ên đã nhìn thấy bốn con thú lớn, nhưng lời thông giải thì giống nhau. “Con thứ nhứt giống như sư tử, và có cánh chim ưng...” (câu 4). Con thú thứ nhì ”... in như con gấu ...” (câu 5). Con thứ ba ”... giống như con beo ...” (câu 6), và con thứ tư ”... dữ tợn, rất mạnh, và có sức lắm. Con thú đó có những răng lớn bằng sắt... và có mười sừng” (câu 7).
Như đã nói trước đây, khải tượng Đức Chúa Trời ban cho Đa-ni-ên khác với khải tượng Ngài ban cho Nê-bu-cát-nết-sa, nhưng lời thông giải là giống nhau. Sư tử và đầu bằng vàng tượng trưng cho Ba-by-lôn. Con gấu cùng ngực và cánh tay bằng bạc tượng trưng cho Mê-đi Ba-tư. Con beo và bụng và vế bằng đồng tượng trưng cho Hy-lạp. Con thú thứ tư và ống chân bằng sắt tượng trưng cho La Mã. Mười sừng và mười ngón chân tượng trưng cho La Mã hồi sinh.
ANTI CHRIST SẼ ĐẾN TỪ ĐÂU?
Rồi đến phần bổ sung. Giấc mơ của Đa-ni-ên có đôi điều mà không có trong giấc mơ Đức Chúa Trời ban cho vua Nê-bu-cát-nết-sa. Xin để ý câu 7:8 “Ta suy xét những sừng đó, và, nầy, có một cái sừng nhỏ khác ở giữa những sừng ấy mọc lên, và ba cái trong những sừng trước bị nhổ đi trước mặt nó. Nầy cái sừng đó có những mắt in như mắt người, và có một cái miệng nói những lời xấc xược.” Trong giấc mơ Đa-ni-ên thấy có cái sừng thứ mười một - “một cái sừng nhỏ”. Từ lời mô tả này, rõ ràng chiếc sừng này tượng trưng cho một con người. Con người này thường được nói đến trong những đoạn và những sách kế tiếp. Người này được gọi bằng nhiều tên khác nhau, nhưng trong mỗi trường hợp, người này vẫn chính là một người được chỉ định vai trò quan trọng trong màn kịch tiên tri này. Trong số các tên gọi, người này còn được gọi là “vua hầu đến” (9:26) “vua” (11:36) “người tội ác, con của sự hư mất” (IITe 2Tx 2:3) “kẻ nghịch cùng luật pháp” (2:8) và “con thú” (KhKh 13:14). Tên mà chúng ta biết rõ nhất là “kẻ địch lại Đấng Christ ” (Anti Christ) (IGi1Ga 2:22).
Câu hỏi đầu tiên của chúng ta ấy là: “Anti Christ đến từ đâu?” Câu trả lời được tìm thấy trong khải tượng Đức Chúa Trời đã ban cho Đa-ni-ên. “Ta suy xét những sừng đó, và, nầy, có một cái sừng nhỏ khác ở giữa những sừng ấy mọc lên ...” (DaDn 7:8). Anti Christ sẽ xuất hiện từ giữa những quốc gia của đế quốc La-mã hồi sinh. Chúng ta không được rõ Anti Christ sẽ ra từ đâu trong mười nước đó, nhưng chắc chắn Lời Đức Chúa Trời đáng tin cậy thể nào, thì Anti Christ cũng chắc chắn sẽ xuất hiện đúng thời điểm thể ấy trong cẩm nang tiên tri nầy.
KHI NÀO ANTI CHRIST SẼ XUẤT HIỆN?
Câu hỏi thứ nhì ấy là: “Chừng nào Anti Christ sẽ xuất hiện?” Chìa khóa cho câu hỏi quan trọng này được tìm thấy trong thơ IITe 2Tx 2:1-17. Xin xem câu 7 và 8: “Vì đã có sự mầu nhiệm của điều bội nghịch đương hành động rồi; song Đấng còn ngăn trở cần phải cất đi. Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra ...” Đại từ nhân xưng “Đấng” trong câu 7 là chỉ về Đức Thánh Linh. Vào thời điểm Sự Cất Lên, Ngài sẽ phải bị “cất đi.” Đương nhiên điều này không có nghĩa là Ngài không còn chức vụ nào khác trên đất này sau Sự Cất Lên. Trái lại, Ngài sẽ ở đó để cáo trách con người về tội lỗi và dùng Lời Đức Chúa Trời dẫn đưa họ trở về cùng Đấng Christ. Đương nhiên, không ai có thể được cứu nếu không có chức vụ của Đức Thánh Linh, và rất nhiều người trên đất này sẽ được cứu sau Sự Cất Lên. Sự kiện Đức Thánh Linh sẽ được “cất đi” nhấn mạnh lẽ thật ấy là thân thể tín đồ là đền thờ của Đức Thánh Linh (ICo1Cr 3:16) và lúc tín đồ được cất lên khi Đấng Christ đến rước Tân Nương Ngài, người ta sẽ không còn cảm nhận được ảnh hưởng của Đức Thánh Linh qua Hội Thánh thật nữa. Hội Thánh sẽ được cất đi; sự sáng sẽ được cất đi; muối sẽ bị cất đi. Dầu Đức Thánh Linh sẽ ở trên đất này trong tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên, nhưng Ngài sẽ tạm thời rút lui khi Hội Thánh được cất lên. Vậy, câu 7 là câu chỉ về sự đón rước Tân Nương của Đấng Christ lên khỏi khung cảnh trần gian này. Câu tiếp theo tuyên bố rằng: “Bấy giờ, kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra ...” (câu 8). Sự hiện ra của Anti Christ sẽ đến tiếp theo sau Sự Cất Lên của Hội Thánh.
ANTI CHRIST SẼ LÀM GÌ?
Câu hỏi cuối của chúng ta về Anti Christ là: “Anti Christ sẽ làm gì?” Đa-ni-ên viết rằng nó sẽ có “cái miệng nói những lời xấc xược” (DaDn 7:8). Anti Christ “sẽ làm theo ý muốn mình; kiêu ngạo và lên mình cao hơn hết các thần; nói những lời lạ lùng nghịch cùng Đức Chúa Trời của các thần” ((11:36). Phao-lô tuyên bố rằng: “Kẻ đó sẽ lấy quyền của quỉ Sa tan mà hiện đến, làm đủ mọi thứ phép lạ, dấu dị và việc kỳ dối giả” (IITe 2Tx 2:9). Sách Khải-huyền có phần này: ”... Ai sánh được với con thú, ai giao chiến cùng nó được? Nó được ban cho cái miệng nói những lời kiêu ngạo phạm thượng; và nó lại được quyền làm việc trong bốn mươi hai tháng. Vậy, nó mở miệng ra nói những lời phạm đến Đức Chúa Trời, phạm đến danh Ngài, đền tạm Ngài cùng những kẻ ở trên trời” (KhKh 13:4b-6).
Cuối cùng, Sa tan sẽ có một Christ giả mà nó mong đợi từ lâu. Thế gian đang mong đợi một con người như thế trong giờ phút này, vì chúng ta thấy mình ở trong một thời kỳ lịch sử không có người lãnh đạo vĩ đại. Khi còn là một cậu bé, tôi có thể nhớ những bài diễn văn của những người như Franklin D. Roosevelt, Winston Churchill, Charles DeGaulle, Adolf Hitler, và Joseph Stalin. Những con người này đã có thể tác động đến đám đông, gây ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, và xoay dòng lịch sử hướng về điều thiện hay điều ác. Thành phần căn bản chung trong hết thảy những con người này ấy là tư cách lãnh đạo.
Nhưng các vị lãnh đạo ngày nay ở đâu? Tờ báo “U.S. News and World Report” đăng tải một bài xã luận nhan đề “Chúng Ta Ở Trong Thời Kỳ Người Lùn Pygmy Khi Nghĩ Đến Những Người Lãnh Đạo.” Người ta trích lời Eric Hoffer: “Một trong những nỗi lo lắng của tôi ấy là không còn những vị lãnh đạo vĩ đại trên hành tinh này ... Ngày xưa đã từng có những con người như Churchill hay DeGaulle sẵn sàng chờ tiếp bước nhau, nhưng ngày nay chẳng còn nữa.” Sử gia Arnold Toynbee nói rằng: “Chúng ta rất sẵn sàng tôn bất cứ một vị Caesar mới nào làm thần thánh, miễn đó là người có thể thành công trong việc đem lại hòa bình và thống nhất cho thế giới này.” Hãy suy xét những lời của Henri Spaak, một trong những nhân vật đầu tiên dự thảo về Thị Trường Chung Châu Âu: “Chúng ta không cần thêm một uỷ ban khác, điều chúng ta cần ấy là một nhân vật có tầm cỡ đủ để giữ được lòng trung thành của mọi người và để đem chúng ta lên khỏi vũng lầy kinh tế mà chúng ta đang chìm đắm. Hãy phái đến cho chúng ta một con người như thế, và dầu người đó là thần thánh hay là quỉ sứ đi nữa, chúng ta cũng đều nghênh đón cả.”
Tình trạng khan hiếm người lãnh đạo vĩ đại là một sự phát triển đầy ý nghĩa khi chúng ta tiến gần đến kỳ chung kết thời đại này, vì sau khi Hội Thánh được cất lên, thế gian lúc đó sẽ đang tìm kiếm một con người có khả năng lãnh đạo họ. Đến đúng thời điểm, từ đúng chỗ thích hợp, con người này sẽ xuất hiện.


BA NGÔI CỦA SATAN
” Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ nhứt trong bảy ấn, thì tôi thấy một con trong bốn con sanh vật nói tiếng như sấm rằng: Hãy đến! Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa bạch. Người cưỡi ngựa có một cái cung; có kẻ ban cho người cái mão triều thiên, và người đi như kẻ đã thắng lại đến đâu cũng thắng” (KhKh 6:1-2).
Người cưỡi ngựa thứ nhứt trong sách Khải-huyền là Anti Christ. Lưu ý rằng người này được mô tả là đang cưỡi một con ngựa bạch. Xin cẩn thận đừng lẫn lộn người cưỡi ngựa bạch trong Khải-huyền 6 với người cưỡi ngựa bạch trong 19:1-21. Người sau này chỉ về Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, danh của Ngài từ trước vô cùng là “Lời Đức Chúa Trời” (19:13).
Không lấy gì làm ngạc nhiên khi khám phá ra sự khôn khéo của Sa tan để cố tìm cách giả mạo Con Đức Chúa Trời. Thực ra, Sa tan cố gắng giả mạo mọi thứ thuộc về Đức Chúa Trời. Ví dụ như ngày nay có nhiều đầy tớ Đức Chúa Trời giả mạo, nhiều Hội Thánh giả, và nhiều từng trãi giả mạo. Một ngày kia Sa tan sẽ đem lại một thời kỳ hòa bình ngắn ngủi, là điều tốt nhất mà nó có thể làm để giả mạo Thời Đại Nước Bình An; nhưng dưới quyền cai trị của Sa tan, khi người ta nói rằng: “Bình hòa và an ổn, thì tai họa thình lình vụt đến, như sự đau đớn xảy đến cho người đàn bà có nghén, và người ta chắc không tránh khỏi đâu” (ITe1Tx 5:3).
Có lẽ điều lớn nhất trong tất cả những giả mạo của Sa tan sẽ là Ba Ngôi Của Sa Tan. Điều này được tiên tri rõ ràng trong Lời Đức Chúa Trời. Người ta đã suy xét nhiều về sự kiện Anti Christ sẽ là kẻ giả làm Đức Chúa Jesus Christ. Bây giờ chúng ta sẽ xem đến một Đức Thánh Linh giả: “Tôi lại thấy từ dưới đất lên một con thú khác ...” (KhKh 13:11). Con thú đầu tiên giống như người trong đoạn này (câu 4-10) là Anti Christ, nhưng trong câu 11, một người khác cũng được gọi là “con thú.” Người này là Tiên Tri Giả. Anti Christ được mô tả là xuất hiện từ giữa mười nước của đế quốc La-mã hồi sinh, trong khi Tiên Tri Giả được mô tả là xuất hiện “từ dưới đất lên.” Khi chúng ta đọc thấy chữ “đất,” hay “xứ ” trong Kinh Thánh mà không nói rõ thêm để chỉ về địa điểm, thì thường có thể đảm bảo rằng chữ này chỉ về vùng đất của Y-sơ-ra- ên. Trong trường hợp này, rõ ràng Tiên Tri Giả sẽ ra từ Y-sơ-ra-ên. Tại thời điểm này trong lời tiên tri của Kinh Thánh, kiệt tác Ba Ngôi giả mạo của Sa tan sẽ hoàn tất:
* Sa-tan sẽ đóng vai Đức Chúa Cha.
* Anti Christ sẽ là Jesus Christ giả.
* Tiên Tri Giả sẽ là kẻ đóng thay vai Đức Thánh Linh.
Điều đáng lưu ý là Sa-tan hiểu chức vụ hiện nay của Đức Thánh Linh. Rõ ràng nó đã nghe Chúa Jesus phán: ”... lúc nào Thần Lẽ Thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi. Mọi sự Cha có, đều là của ta; nên ta nói rằng Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi vậy” (GiGa 16:13-15). Sa-tan hiểu rằng bất cứ lúc nào Đức Thánh Linh hành động giữa vòng con người, Ngài đều tôn vinh Đấng Christ. Dường như hợp lý khi ngay lúc Tiên Tri Giả hiện ra, thì chúng ta đọc thấy “Nó cũng dùng mọi quyền phép của con thú trước tại trước mặt con thú ấy, và nó bắt thế gian cùng dân cư nó phải thờ lạy con thú trước ...” (KhKh 13:12). Mục đích của Thánh Linh giả này là khiến mọi người trên đất này thờ phượng Christ giả.
Vài năm trước khi tôi đang giảng tại Pennsylvania, vị Mục sư mời tôi đến đã kể cho tôi nghe về một người bạn mê say thú săn gà tây. Anh chàng “Nim-rốt” hiện đại này phải mất khá lâu để phát triển được tiếng “gù” gọi mồi của mình, nhưng với lòng kiên nhẫn, rốt cuộc anh ta cũng đã cảm thấy sẵn sàng để “xuất quân” truy tìm con mồi cẩn trọng. Sau nhiều giờ kiên nhẫn “gù” gọi mồi, anh ta nghe từ đàng xa tiếng gù đáp lại của một anh “gà tây tồ.” Anh vẫn tiếp tục “gù,” và con mồi vẫn đáp lại. Cuối cùng, tay thợ săn này chỉ cách con mồi béo bở của mình vài thước. Khi đứng dậy với ngón tay sẵn sàng siết cò, thì trước sự sửng sốt của anh, “con gà tây” của anh cũng đồng thời đứng dậy, ngón tay sẵn sàng siết cò. Bạn hãy đoán thử xem! Hai tay thợ săn cứ gù tới gù lui, chớ chẳng có chú gà tây nào cả. Họ đều là thứ giả mạo. Tôi mừng là họ chưa bắn vào nhau, và chắc hẳn họ đã cười phá lên trước tình cảnh đó. Nhưng bức tranh trước mắt chúng ta trong KhKh 13:1-18 không hề là vấn đề đáng cười, vì dưới sự chỉ đạo và ban quyền năng của Sa-tan, những kẻ giả mạo của nó sẽ tìn cách điều khiển đời sống những ai đang sống trên hành tinh này: “Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu, hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán, hầu cho người nào không có dấu ấy, nghĩa là không có danh con thú hay số của tên nó, thì không thể mua cùng bán được. Đây tỏ ra sự khôn ngoan: kẻ nào thông minh, hãy tính số con thú, vì đó là một số của người; số nó là sáu trăm sáu mươi sáu” (13:16-18).
Người ta đã viết nhiều về con số huyền bí của con thú (666), nên tôi sẽ không dành thời gian duyệt lại những lời thông giải khác nhau đã được đưa ra. Điều chúng ta biết chắc chắn ấy là chúng ta đọc được trong khúc Kinh Thánh này rằng có một dấu sẽ được đóng trên trán hoặc trên cánh tay phải của những người sống trên đất. Không có dấu này người ta sẽ “không thể mua cùng bán được” (13:17). Đây sẽ là một cách mà Anti Christ dùng để loại trừ mọi kẻ nào không chịu quỳ xuống trước mặt nó, và sẽ còn nhiều cách nữa. Những kẻ chống đối này sẽ gồm những tín đồ đầu tiên tiếp sau Sự Cất Lên, 144.000 người Do-thái từ “trong các chi phái dân Y-sơ-ra-ên” (7:4), cũng như hàng triệu tín đồ người Do-thái, cùng với người ngoại bang tin Đấng Christ làm Cứu Chúa của mình (7:9).
Có vẻ như Sa tan đang chuẩn bị thế giới hiện nay cho ngày ấy, khi Christ giả của nó sẽ “đóng ấn” của mình để cố gắng điều khiển dân chúng bằng cách kiểm soát mọi hoạt động giao dịch thương mại. Tờ “U.S. News-Letter,” một bản tường trình và dự báo riêng hàng tuần từ “U.S. News and World Report” đăng tải nhận định thú vị này: “Một xã hội “không sử dụng tiền mặt”? Xã hội ấy đang chờ bạn ở ngay phía trước , kiểu như là ... máy tính truy cập vào ngân hàng của bạn hay thanh toán tài khoản chỉ đơn giản bằng cách tra tấm phiếu vào một cái khe. Không có séc để mà viết, và rốt cuộc, ngân hàng và các cửa hàng được nối liền với nhau, thì hiếm khi cần đến tiền tệ. Một uỷ ban liên bang đã giao quỹ phúc lợi của mình cho máy chuyển ngân điện tử ... Không có chuyện hoàn lại.” Con người ngày nay có khả năng đưa những con số không nhìn thấy được nhưng tồn tại vĩnh viễn vào trong cơ thể chúng ta dưới dạng hình xăm bằng tia laser. Những con số như thế sẽ hiện lên dưới máy quét tia hồng ngoại tại những chiếc máy tính. Nhờ những thành tựu lớn lao trong kỹ nghệ điện tử, máy vi tính đã được chế tạo với khả năng xử lý việc chuyển ngân cho toàn thể dân chúng trên thế giới này. Ví dụ như một máy tính thần kỳ như thế hiện đang đặt tại Bỉ, một trong mười quốc gia của Thị Trường Chung, và có thể là một trong mười quốc gia đại diện cho mười ngón chân trong pho tượng của DaDn 2:1-49. Chắc chắn bối cảnh đang sẵn sàng cho sự xuất hiện của Anti Christ, theo chương trình tiên tri này, là kẻ sẽ tìm cách điều khiển việc mua bán của mọi người trên đất này.
Ba Ngôi của Sa-tan sẽ xuất hiện để xen vào mọi công việc của con người, nhưng như chúng ta sẽ thấy trong chương sau, Đức Chúa Trời chân thật - là Đấng đã ngồi trên ngai từ trước vô cùng - sẽ đắc thắng khải hoàn trong trận chiến với các thế lực của Sa-tan.

LIÊN MINH PHƯƠNG BẮC HỨNG CHỊU
CƠN THẠNH NỘ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
” Có lời Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hỡi con người, hãy xây mặt lại cùng Gót ở đất Ma-gốc là vua của Rô-sơ, Mê-siết và Tu-banh, mà nói tiên tri nghịch cùng người. Ngươi khá nói rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi Gót, vua của Rô-sơ, Mê-siết và Tu-banh, nầy, ta nghịch cùng ngươi. Ta sẽ quay ngươi lại, đặt những móc trong hàm ngươi, khiến ngươi ra khỏi bờ cõi mình, ngươi cùng cả đạo binh ngươi...” (Exe Ed 38:1-4a). Trong 39:2, Đức Chúa Trời tuyên bố Ngài sẽ đưa một đạo binh hùng mạnh “lên trên các núi của Y-sơ-ra-ên” và cũng sẽ “quay chúng lại.” Với những móc của Đức Chúa Trời trong hàm, đạo quân này sẽ xâm lấn xứ Y-sơ-ra-ên, và sẽ nếm mùi chiến bại thê thảm nhất. Khi nghiên cứu đến phần này trong chương trình tiên tri của Đức Chúa Trời, tôi muốn nêu ra bốn câu hỏi sau:
Ai cầm đầu cuộc xâm lăng này?
Vì sao có trận tấn công?
Khi nào sẽ diễn ra?
Kết quả là gì?
AI CẦM ĐẦU CUỘC XÂM LĂNG NÀY?
Trước hết, ai cầm đầu cuộc xâm lăng trong 38:1-23 Hầu hết những người nghiên cứu lời tiên tri trong Kinh Thánh đều tin rằng câu 2 chỉ về vùng đất của nước Nga: “Hỡi con người, hãy xây mặt lại cùng Gót ở đất Ma-gốc là vua của Rô-sơ, Mê- siết và Tu-banh, mà nói tiên tri nghịch cùng người.” SaSt 10:1-32 kể ra dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê có ba con trai, là Sem, Cham và Gia-phết (10:1). Trong số con cháu của Gia-phết, Kinh Thánh đề cập đến “Ma-gốc ... Tu-banh, và Mê-siết” (10:2). Scofield đã đúng khi nói rằng: “Từ Ma-gốc mà ra người Sy-the cổ đại hay người Tarta, mà dòng dõi của họ chiếm đa số tại nước Nga hiện nay.” Mê- siết và Tu-banh là tổ tiên của những dân di chuyển về hướng bắc và rồi, đến lượt họ lại trở thành tổ tiên của những người về sau này cư ngụ tại nơi mà ngày nay chúng ta biết là nước Nga. Người ta cho rằng thành phố Moscow có tên ra từ chữ Mê-siết và Tobolsk ra từ Tu-banh.
Chú Gấu Nga sẽ không đơn độc trong nỗ lực nuốt chửng quốc gia tí hon Y-sơ-ra-ên, vì các liên minh của nó được nêu tên ra trong câu 5 và 6: “Những lính chiến của Phe-rơ-sơ, Cút (Ethiopia), và Phút (Libya) sẽ ở cùng chúng nó, hết thảy đều mang thuẫn và đội mão trụ. Gô-me cùng hết thảy quân đội nó, nhà Tô-ga-ma ở phía cực bắc với hết thảy bè đảng nó,, tức là nhiều dân sẽ phụ về ngươi.” Thật thú vị khi thấy nước đầu tiên được kể tên là sẽ hợp quân với Nga trong nỗ lực tiêu diệt Y-sơ-ra-ên là Ba-tư (Phe-rơ-sơ). Tên gọi Ba-tư đã được đổi thành Iran năm 1932. Dwight Pentecost viết rằng: “Liên minh với Nga sẽ là Iran (Ba-tư), một liên bang A-rập nào đó (Phút hay Ethiopia), Đức, một vài dân tộc Á-châu nào đó được gọi là Tô-ga-ma, có thể bao gồm một đồng liên minh mở rộng của các thế lực thuộc châu Á. Exe Ed 38:6 không đưa ra danh sách chi tiết: '... nhiều dân sẽ phụ về ngươi.' ” Một lần nữa, lãnh đạo liên minh hùng mạnh từ phương bắc này sẽ là Nga.
Tạp chí Times, số ra ngày 8 tháng Mười năm 1979, đã đăng những lời trích từ cuốn sách của Henry Kissinger, “The White House Years,” rằng: “Ông ta (Dobrynin) đã mất điềm tĩnh chỉ một lần duy nhứt khi tôi hỏi ông rằng, nước Nga sẽ phản ứng thế nào nếu 15.000 binh lính Sô viết đóng tại Ai cập sắp lâm nguy vì bị quân Israel bắt làm tù binh. Dobrynin đã phản ứng quyết liệt một cách khác thường và đã tiết lộ nhiều hơn điều ông dự định: 'Trước hết, chúng tôi không hề đem một lực lượng không thể tự phòng vệ để đưa đi một nơi nào đó. Thứ nhì, nếu người Israel đe dọa chúng tôi, chúng tôi sẽ quét sạch họ trong vòng hai ngày. Tôi có thể cam đoan với ông rằng chúng tôi có những kế hoạch dành cho tình huống khả dĩ này.' ”
VÌ SAO CÓ CUỘC TẤN CÔNG?
Câu hỏi thứ nhì là: “Vì sao có một trận tấn công như thế?” Một phần câu trả lời ấy là sự ghen ghét của nhiều dân tộc đối với dân Do-thái. Luôn có những người như Ha-man, người hẳn đã muốn giết sạch người Do-thái nếu Đức Chúa Trời không can thiệp. Hai ngàn năm trăm năm sau thời Ha-man, một nhà cầm quyền điên cuồng tên là Hitler đã quyết định giết càng nhiều người Do-thái càng tốt trong đế quốc của ông. Không lâu sau khi trận chiến giữa Iran và Iraq mở màn, Iran đã gởi cho Iraq một thông cáo chính thức nhằm cổ vũ một cuộc chiến tranh hợp nhất chống Israel thay vì chiến đấu chống lẫn nhau. Nhưng bức tranh trước mắt chúng ta không phải chỉ do sự thù ghét người Do- thái mà thôi. Tôi xin gợi ý rằng, lòng tham lợi nhuận cũng sẽ kích thích Nga cùng các liên minh của họ nữa.
Trong Exe Ed 38:12, Kinh Thánh ghi rằng đội quân đông đảo này sẽ “ra trận đặng cướp và lấy của.” Israel là “cửa ngõ của ba đại lục.” Nó đã được gọi là “cái rốn của trái đất.” Biển Chết được gọi là “rương ngọc của vùng Đông Phương.” Không thể nào tính nổi toàn bộ của cải của biển này với những nguồn khoáng sản dồi dào của nó. Nhưng vượt lên trên giá trị thực sự này của Y-sơ-ra-ên ấy, sẽ có một ngày kia dầu lửa của Trung Đông chỉ dành cho những nước nào chịu chống lại Y-sơ-ra-ên. Tạp chí Time số ra ngày 20 tháng Tám năm 1979 đăng tải bài phỏng vấn Yasser Arafat, lãnh tụ của Tổ Chức Giải Phóng Palestine. Trong đó có một câu hỏi: “Dầu lửa của A-rập có được dành cho sự nghiệp của Palestine không?” Ông trả lời rằng: “Dứt khoát là vậy rồi! Và đừng quên rằng ... các nước xã hội chủ nghĩa sẽ cần đến dầu.” Sự thực là họ hiện đang cần đến dầu.
Cựu giám đốc CIA, Stanfield Turner, đã trình với Quốc Hội: “Nguồn cung cấp dầu hỏa của Liên Xô đang sút giảm cực kỳ trầm trọng, và sẽ nhanh chóng cạnh tranh với các khách hàng khác trên thị trường dầu hỏa vốn đã không đủ cung cấp.” Ông nói tiếp rằng ông không loại trừ khả năng người Nga cố gắng tìm thêm dầu hỏa qua “hành động bạo lực như là lật đổ ngấm ngầm hay thậm chí là hoạt động quân sự nữa.” Trong một bài xã luận của báo Readers Digest số ra tháng Sáu năm 1980, nhan đề ” Món Đặt Cược Thực Tiễn Tại Afghanistan,” của tác giả William Griffith, ban biên tập báo Digest giới thiệu bài báo với những lời sau: “Được cổ vũ bởi tính không cương quyết của người Mỹ, Chú Gấu Nga một lần nữa lại đi lảng vảng tìm cơ hội. Theo lời chuyên gia này, nếu không giữ lập trường vững chắc ngay bây giờ, thì quyền kiểm soát vòi dầu lửa sống còn ở Trung Đông sẽ rơi vào tay người Nga.” Theo lời Đức Chúa Trời, ngày ấy sẽ đến, khi người Nga tấn công Y-sơ-ra-ên để “cướp và lấy của.”
KHI NÀO SẼ DIỄN RA?
Câu hỏi thứ ba của chúng ta là: “Khi nào nước Nga tấn công Y-sơ-ra-ên?” Rõ ràng cuộc xâm lăng trong 38:1-23 đã không thể xảy ra cho đến khi một quốc gia được gọi là “Y-sơ-ra-ên” hiện hữu. Từ văn mạch, rõ ràng nước Nga không những quan tâm đến một mảnh bất động sản ở Trung Đông, mà thậm chí còn nôn nóng tiêu diệt đất nước dân tộc này. Lời tiên tri rất rõ ràng: “Vậy nên, hỡi con người, hãy nói tiên tri và bảo Gót rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: trong ngày đó, khi dân Y-sơ-ra-ên của ta ở yên ổn, ngươi há chẳng phải sẽ biết sao? Bấy giờ ngươi sẽ đến từ nơi ngươi, từ phương cực bắc, ngươi và nhiều dân ở với ngươi, hết thảy đều cưỡi ngựa, người đông nhiều hợp nên một đạo binh mạnh. Hỡi Gót! Ngươi sẽ đến đánh dân Y-sơ-ra-ên ta ... ” (38:14-16a). Trong quá khứ, các nhà thần học tự do đã chế giễu lời tiên tri nầy bằng cách viện dẫn rằng Nga hẳn sẽ rất khó khăn khi tiêu diệt một đất nước không thực hữu. Đúng là từ năm 605 T.C. dân Do-thái đã không thể tuyên bố chủ quyền vùng đất Y-sơ-ra-ên (ngoại trừ khoảng thời gian rất ngắn ngủi trong thời cuộc khởi nghĩa của Maccabee). Họ đã luôn ở dưới gót của đế quốc ngoại bang. Ngay cả khi Chúa Jesus ở tại đó, xứ cũng ở dưới quyền cai trị của người La Mã.
Trong 2600 năm, người Do-thái không hề ở trong xứ của họ, hay nếu có ở trong xứ đó, thì nó cũng không thuộc về họ. Nói cách khác, từ khi vua Nê-bu-cát-nết-sa đày dân Y-sơ-ra-ên sang Ba-by-lôn vào đầu “thời kỳ Dân ngoại,” dân Do-thái không còn khả năng tuyên bố xứ mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ là xứ của mình nữa. Rồi đến lời tiên tri công bố rằng liên minh phương bắc sẽ có ngày “đến trên núi Y-sơ-ra-ên” (38:8) để tiêu diệt hay chinh phục “dân Y-sơ-ra-ên” (38:16). Thắc mắc của những nhà thần học tự do ấy là: “Làm sao Nga có thể đi đánh một đất nước không tồn tại?” Hãy hình dung sự bối rối trong giới thần học tự do trong năm 1948, Liên Hiệp Quốc lập cho dân Do-thái một tổ quốc tại vùng đất Palestine. Ngày 14 tháng Năm năm đó, quyền kiểm soát của nước Anh tại đó chấm dứt; và lần đầu tiên trong 2600 năm, người Do-thái lại ở trong xứ của mình để quản trị quốc sự của mình.
Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời đã phán rằng điều đó sẽ xảy ra. Hãy để chút thì giờ suy xét những khúc Kinh Thánh sau trong 37:1-37 “Ngài phán cùng ta rằng, hỡi con người, những hài cốt này, ấy là cả nhà Y-sơ-ra-ên. Nầy chúng nó nói rằng: Xương chúng ta đã khô, lòng trông cậy chúng ta đã mất, chúng ta đã tuyệt diệt cả. Vậy hãy nói tiên tri, và bảo chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Hỡi dân ta, nầy, ta sẽ mở mồ mả các ngươi, làm cho các ngươi lại lên khỏi mồ mả, và ta sẽ đem các ngươi về trong đất của Y-sơ-ra-ên” (37:11-12).
Một trong những sự khai triển có ý nghĩa nhất của lời tiên tri này ở thời chúng ta ấy là sự hồi hương của dân Do-thái từ khắp thế giới về vùng đất Y-sơ-ra-ên. Họ đã trở về từ trên 120 quốc gia, sử dụng ít nhất 83 ngôn ngữ khác nhau. Tôi đồng ý với bạn rằng họ trở về hầu hết là trong lòng vô tín. Điều này có nghĩa là họ không ý thức về các lẽ thật trong 37:1-38:23, và họ cũng không sẵn lòng chấp nhận Đức Chúa Jesus Christ là Đấng Mêsia của họ, nhưng sẽ đến một ngày kia, những cái vảy rớt khỏi mắt họ. Họ sẽ thấy rằng Đức Chúa Trời đã kết họ lại với nhau (37:7) như những khúc xương khô trong khải tượng của Ê-xê-chi-ên đã kết lại với nhau vậy. Họ sẽ nhận ra quyền năng của Đức Chúa Trời trong việc “mở mồ mả” của họ (một câu chỉ về các quốc gia dân ngoại trên đất) và đem họ “về trong đất của Y-sơ-ra-ên” (37:12). Lời tiên tri sẽ được ứng nghiệm ấy tuyên bố thế nầy: “Hỡi dân ta, các ngươi sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va, khi ta đã mở mồ mả các ngươi, và làm cho các ngươi lại lên khỏi mồ mả. Ta sẽ đặt thần ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống. Ta sẽ lại lập các ngươi trong đất riêng của các ngươi; rồi các ngươi sẽ biết rằng ta, Đức Giê-hô-va, sau khi hứa lời ấy thì đã làm thành, Đức Giê-hô-va phán vậy” (37:13, 14).
Thắc mắc của chúng ta ấy là: “Khi nào thì cuộc xâm lăng này xảy ra?” Hiển nhiên, nó không thể xảy ra cho đến khi Y-sơ-ra-ên trở thành một quốc gia. Phép lạ đó giờ đây đã xảy ra và Y-sơ-ra-ên cuối cùng đã là một quốc gia độc lập, tự trị. Cũng nên lưu ý rằng cuộc xâm lăng từ phương bắc không thể xảy ra cho đến khi Y-sơ-ra-ên “yên lặng an ổn.”. “Ngươi sẽ nói rằng: Ta sẽ đi đến đất có làng không có thành quách, ta sẽ đến cùng những dân yên lặng an ổn, hết thảy ở trong những nơi không có tường, không then và không cửa” (38:12). Tôi phải phản đối những ai tin rằng cuộc xâm lăng trong 38:1-23 sắp xảy ra. Có những người tin rằng biến cố tiên tri chính kế tiếp sẽ là sự tiêu diệt các đạo quân của Nga trên các núi của Y-sơ-ra-ên. Họ tin biến cố này phải xảy ra trước khi Anti Christ xuất hiện trên thế gian này. Thực ra, biến cố tiên tri duy nhất sắp xảy ra là Đấng Christ hiện đến đón rước Tân Nương của Ngài. Biến cố này (sự cất Hội Thánh lên) có thể xảy ra trước khi bạn đọc xong chương này. Nhưng có nhiều biến cố phải xảy ra trước cuộc xâm lăng Y-sơ-ra-ên của liên minh phương bắc. Xét theo đúng diễn tiến, chúng sẽ là:
* Sự cất Hội Thánh lên.
* Sự hiện ra của Anti Christ.
* Việc Anti Christ ký giao ước với Y-sơ-ra-ên (DaDn 9:27).
* Lòng tin của dân Do-thái rằng Đấng Christ mà họ mong đợi từ lâu đang cai trị họ, rằng họ thực sự đang sống trong những ngày của vương quốc bình an.
* Sự vững lập của Y-sơ-ra-ên như là ” ... đất có làng không có thành quách ... dân yên lặng an ổn ...” (Exe Ed 38:11).
Rõ ràng Y-sơ-ra-ên ngày nay không yên lặng an ổn. Đó không phải là một xứ “không có thành quách.” Ngược lại, trong năm 1983, ngân sách quốc gia của Y-sơ-ra-ên là 31 tỷ dollar, và một phần ba ngân sách (trên mười tỷ) chi cho việc phòng thủ quốc gia. Cuộc xâm lăng Y-sơ-ra-ên không thể xảy ra ngày nay vì Y-sơ-ra-ên hiện chưa có hòa bình. Y-sơ-ra-ên chưa có hòa bình vì giao ước trong DaDn 9:27 chưa được ký kết. Giao ước đó chưa ký vì Anti Christ chưa hiện ra, và Anti Christ chưa hiện ra vì cớ Hội Thánh chưa được cất lên. Đương nhiên, sự hiện ra của Đấng Christ để đón Tân Nương Ngài đã gần đến.
KẾT QUẢ LÀ GÌ?
Câu hỏi cuối của chúng ta là: “Kết quả của cuộc xâm lăng đó là gì?” Ở đầu câu 18, chúng ta đọc thấy: “Chúa Giê-hô-va phán: Sẽ xảy đến trong ngày đó, là ngày Gót sẽ đi đánh Y-sơ-ra-ên, thì cơn giận của ta sẽ nổi trên lỗ mũi ta. Ta đương ghen tương, đương giận phừng phừng mà nói rằng: Thật, trong ngày đó sẽ có sự rúng động lớn phát ra trong đất Y-sơ-ra-ên” (Exe Ed 38:18-19). Đức Chúa Trời sẽ bắt đầu đoán xét các đạo binh phương bắc bằng cách giáng một cơn động đất. Xin lưu ý là “sự rúng động lớn.” Không còn nghi ngờ gì nữa, cơn động đất này sẽ tạo ra sự hoảng loạn trong đội ngũ đến nỗi “ai nấy sẽ xây gươm lại nghịch cùng anh em mình” (38:21b). Chúng ta đọc tiếp sẽ thấy bên cạnh sự lộn xộn và tàn diệt này là “Ta sẽ làm sự xét đoán nghịch cùng nó bởi dịch lệ và bởi máu. Ta sẽ khiến những trận mưa dầm, mưa đá, lửa và diêm sinh đổ xuống trên nó, trên đạo binh nó, và dân đông đi với nó” (38:22). Thật thú vị khi đối chiếu sự đoán phạt Đức Chúa Trời đã giáng trên Ê-díp-tô trước Cuộc Xuất Hành với sự đoán phạt của Ngài trong Exe Ed 38:1-23. “Có mưa đá sa xuống và lửa cháy rất mạnh pha lộn với ...” (XuXh 9:24). Khi lửa và mưa đá đồng thời ra từ Thiên Đàng, bạn có thể bảo đảm rằng đó là lúc Đức Chúa Trời đang hành động! Exe Ed 38:1-23 kết luận với những lời sau: “Ấy vậy, ta sẽ làm sáng danh ta, sẽ tỏ mình ra thánh, và sẽ được nhận biết trước mắt nhiều dân tộc. Chúng nó sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va” (38:23).
Năm 1960, Nikita Krushchev đã gởi lời chúc mừng Giáng Sinh cho đất nước mình. Trong chừng mực nào đó, ông nói rằng: “Tên lửa của chúng ta đã đi qua mặt trăng. Nó đang tiến đến gần mặt trời rồi, nhưng chúng ta vẫn chưa phát hiện ra Đức Chúa Trời. Giờ đây chúng ta đã dập tắt những tia sáng trên thiên đàng đến nỗi không ai có thể nhen lại được. Chúng ta góp phần bẻ gãy ách của Tin Lành, thứ thuốc phiện của quần chúng. Chúng ta hãy tiến tới, và Christ sẽ nhanh chóng biến thành thần thoại." Về cơ bản, ông đã nói rằng qua những cuộc thăm dò không gian của Nga, họ “đã không phát hiện ra Đức Chúa Trời.” Sự thực là không ai tìm thấy được Đức Chúa Trời bằng cách thăm dò không gian. Con người không thể tìm đến với Đức Chúa Trời bằng các tên lửa. Chúng ta thấy Ngài được bày tỏ trong Lời phước hạnh của Ngài, tức là Kinh Thánh, và những ai “hết lòng tìm Ngài tại đó đều sẽ chắc chắn tìm thấy Ngài (Thi Tv 119:2, 10; PhuDnl 4:29).
Chú Gấu Vĩ Đại Phương Bắc đã thừa nhận mình đã tìm Đức Chúa Trời song không thể tìm thấy. Rồi sẽ đến ngày người không tìm Ngài nữa, nhưng Ngài sẽ tỏ Ngài ra. Sự hủy diệt này khó dò thấu được. Khúc Kinh Thánh Exe Ed 38:1-39:29 không nói về Trận Ha-ma-ghê-đôn. Trong chương tới, chúng ta sẽ đi đến phần đó trong quyển sách này.

1 J.Dwight Pentecost, Things to Come (Grand Rapids, Michigan: Zondervan, 1958), trang 331.

KHI KẺ ĐUI ĐƯỢC THẤY
Trong chương trước chúng ta đã thấy được rằng tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên sẽ bắt đầu khi Anti Christ ký giao ước với nước Y-sơ-ra-ên (DaDn 9:27). Giao ước hòa bình này, ra từ kẻ mà họ tin là Đấng Mêsia mà họ mong đợi từ lâu (song thực ra là Anti Christ), sẽ khiến dân Y-sơ-ra-ên thấy thoải mái. Giao ước này sẽ cho họ tiến hành các nghi lễ thờ phượng thời Cựu Ước, kề cả việc dâng các của lễ bằng súc vật. Họ sẽ thấy chắc chắn rằng nước bình an đã bắt đầu.
Tuy nhiên, rõ ràng họ đã mắc bẫy của “người tội ác,” vì ngay sau khi họ buông lơi chuyện canh phòng và trở nên ” đất có làng không có thành quách ... dân yên lặng an ổn ... hết thảy ở trong những nơi không có tường, không then và không cửa” (Exe Ed 38:11), liên minh phương bắc, do Nga dẫn đầu, “sẽ sấn tới, sẽ đến như gió bão” nhằm cố gắng tiêu diệt Y-sơ-ra-ên. Những người Do-thái tìm kiếm lẽ thật sẽ thấy rõ được rằng người cưỡi con ngựa trắng trong KhKh 6:1-17 chính là Anti Christ (câu 2). Kỵ mã tiếp theo trên con ngựa hồng đến để “cất lấy cuộc hòa bình khỏi thế gian” (6:4). Họ sẽ lập luận: “Làm sao người cưỡi ngựa thứ nhất kia lại là Đấng Christ của chúng ta được khi mà người cưỡi ngựa thứ nhì đem chiến tranh đến, vì khi Đấng Mêsia đến, Ngài sẽ đem hòa bình đến kia mà? ”
Cũng nên lưu ý rằng trong những ngày đó, 144.000 “tôi tớ Đức Chúa Trời” sẽ đang rao giảng Thánh Linh của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta (7:3). Ngoài ra, người ta sẽ cảm nhận được chức vụ trung tín của “hai người làm chứng” (11:3). Những cái vảy sẽ rớt khỏi mắt những người Do-thái khi họ thừa nhận rằng Đấng Mêsia thực của họ đã đến “trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy” (GiGa 1:11). Họ sẽ nhớ lại đã kêu la đòi huyết Ngài thế nào và cuối cùng đã mãn nguyện khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Họ sẽ hiểu được EsIs 53:1-12 “Người đã bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì. Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (câu 3-6). Cuối cùng họ sẽ hiểu được thời khóa biểu của Đức Chúa Trời. Sự hiện ra lần thứ nhất của Đấng Mêsia là để tuôn huyết Ngài trên thập tự làm của lễ chuộc tội duy nhất cho tội lỗi của thế gian (Thi Tv 22:1-31). Lần hiện ra thứ nhì của Đấng Mêsia (Sự Hiện Ra của Đấng Christ - xem biểu đồ) là để thiết lập vương quốc Ngài trên trần gian nầy (24:1-10).
Lời của Đức Chúa Trời không bày tỏ cho chúng ta biết bao nhiêu người Do thái sẽ quay về tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa mình, nhưng ở đây nên xác nhận điều này. Khi chúng ta đọc RoRm 11:26 rằng: “Vậy thì cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu,” chúng ta đừng nên hiểu rằng mọi người Do thái đều sẽ đến với Đấng Christ. Đúng là toàn dân Y-sơ-ra-ên đều sẽ được cứu, nhưng không phải mọi người Do thái đều sẽ đáp lại lẽ thật của Tin lành. Như chúng ta sẽ thấy trong chương sau, khi Đấng Christ trở lại trần gian này lúc Sự Hiện Ra, Ngài không những tìm thấy những người Do thái đã tin Ngài (được gọi là những “người nữ đồng trinh khôn ngoan” trong Mat Mt 25:1-46), mà còn thấy những người Do thái không tin Ngài nữa (gọi là những “người nữ đồng trinh ngu dại"). Chúng ta biết những người nữ đồng trinh không có dầu trong đèn mình (25:3) là những người không tin vì cớ Đấng Christ phán cùng họ rằng: “Ta không biết các ngươi” (25:12). Dầu nhiều người Do thái sẽ không chịu tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa, song rõ ràng sẽ có hàng triệu người sẽ được cứu.
Ngoài những thánh đồ Do thái trong cơn đại nạn ra, sẽ còn có hàng triệu tín đồ người ngoại bang sẽ mở lòng ra tiếp nhận Đức Chúa Jesus Christ (KhKh 7:9). Bảo đảm rằng số người quay về với Đấng Christ trong tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên sẽ nhiều hơn so với bất cứ thời kỳ nào trong toàn bộ lịch sử của con người. Cũng nên lưu ý đến tỉ lệ phần trăm rất cao của các thánh đồ trong cơn đại nạn sẽ bị chết chém “vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jesus và vì lời Đức Chúa Trời”, những kẻ trước dó đã chẳng thờ lạy con thú cùng hình tượng nó”, cũng “chẳng nhận dấu hiệu nó, hoặc trên trán hoặc trên tay” (20:4). Sẽ có rất nhiều người quay về với Đấng Christ, là những tội nhân biết ăn năn - người Do thái cũng như người ngoại bang - sẽ mở lòng ra tiếp nhận Con của Đức Chúa Trời là Đấng đã bị đóng đinh, đã sống lại và sắp trở lại.

CƠN ĐẠI NẠN
DaDn 9:27 là chìa khóa để hiểu khởi điểm của tuần lễ thứ bảy mươi. Nó sẽ khởi sự khi “vua hầu đến” (Anti Christ) “lập giao ước vững bền” với dân Y-sơ-ra-ên (9:26b, 27). Câu 27 cũng đưa ra chìa khóa cho khởi điểm của Cơn Đại Nạn: ” ... và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi...” (9:27). Xin nhớ rằng tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên là một thời kỳ dài bảy năm, vì vậy khi đọc: “đến giữa tuần ấy,” chúng ta phải hiểu rằng tại thời điểm giữa thời kỳ đó, tức là sau ba năm rưỡi, Cơn Đại Nạn sẽ bắt đầu. Khi Anti Christ khiến “của lễ và của lễ chay dứt đi,” Anti Christ đã nuốt lời hứa với dân Y-sơ-ra-ên ba năm rưỡi trước đó.
Sự kiện không còn được phép dâng của lễ sẽ đủ để thuyết phục nhiều người Do-thái rằng họ đã bị lừa dối. Họ sẽ thấy “vị đại lãnh tụ “của mình không phải là Đấng Mêsia mà họ hằng mong đợi, mà chính là “người tội ác, Anti Christ” đã được dự báo trong lời tiên tri. Nhiều diễn tiến khác cũng sẽ giúp mở mắt cho người Do-thái, ví dụ như, Anti Christ sẽ khiến “mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán” (KhKh 13:16). Đấng Mêsia thật sẽ không bao giờ cho phép những sự thể ấy xảy ra, vì Đức Chúa Trời không bao giờ truyền dân sự Ngài làm điều gì mà trước đó Ngài đã cấm. Trong LeLv 19:28, Đức Chúa Trời phán rằng: “Chớ xăm vẽ trên mình: Ta là Đức Giê-hô-va.”
Có lẽ dấu hiệu lớn nhất cho thấy vị vua La-mã nầy là Christ giả được tìm thấy trong DaDn 9:27 ” ... và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc, và sẽ có sự giận dữ đổ trên nơi hoang vu ....” phân đoạn nầy hẳn có liên hệ với Mat Mt 24:19 “Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc thì phải để ý).” “Sự gớm ghiếc tàn nát” là câu chỉ về điều mà Anti Christ, kẻ sẽ vào đền thờ, “lập ra trong nơi thánh,” và tuyên bố với thế gian rằng mình là Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao- lô nói thêm những lời nầy về sự nhắc mình lên của Anti Christ: ”... (Kẻ ấy) tôn mình lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng mình là Đức Chúa Trời” (IITe 2Tx 2:4).
Rồi sẽ đến điều mà một số người đã gọi là “tội phạm thượng.” Anti Christ sẽ lập cho mình một hình tượng. Hình tượng này sẽ có dáng vẻ như con người, vì nó sẽ có thể nói, và những ai không thờ lạy hình tượng nầy sẽ phải bị phát hiện và bị giết chết (KhKh 13:14, 15). Có vẻ như hình tượng nầy sẽ thực sự được đặt trong Nơi Chí Thánh, vì có chép rằng: “Từ kỳ trừ bỏ của lễ thiêu hằng dâng và sự gớm ghiếc làm cho hoang vu sẽ được lập lên, thì sẽ có một ngàn hai trăm chín mươi ngày” (DaDn 12:11). Một lần nữa, những người Do-thái tìm kiếm lẽ thật sẽ nhận diện được chân tướng của Anti Christ. Họ sẽ lập luận: “Kẻ ấy không thể là Đấng Mêsia của chúng ta, vì Đấng Christ thật không bao giờ truyền một mạng lịnh mâu thuẫn với luật pháp của Ngài. Và luật pháp ấy là rõ ràng lắm: 'Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà ... ” (XuXh 20:4, 5a).
Những ngày sau đó sẽ là những ngày hoạn nạn và chết chóc kinh khủng nhất trên trần gian nầy. Đó là những ngày của Cơn Đại Nạn (xem biểu đồ). Sứ đồ Giăng đã thấy những ngày nầy trong sự khải thị của Đức Chúa Trời ban cho ông trên đảo Bát-mô (thực ra là sự khải thị của Đức Chúa Jesus Christ, KhKh 1:1). Đầu chương sáu, chúng ta được giới thiệu về những sự xét đoán “khi mở ấn,” bao gồm bốn người cưỡi ngựa trong sự mặc khải.
Những sự xét đoán “khi mở ấn” còn lại, cũng như những sự đoán xét đi với các tiếng loa và các bát thạnh nộ khiến hàng triệu người chết, đến nỗi đa số dân chúng còn sống ở đầu Cơn Đại Nạn sẽ chết trong vòng bốn mươi hai tháng (hay một ngàn hai trăm sáu mươi ngày) tiếp theo đó. Chẳng hạn chúng ta xem thử chỉ hai sự xét đoán mà Giăng đã thấy: “Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa vàng hiện ra. Người cỡi con ngựa ấy tên là Sự Chết, và Âm Phủ theo sau người. Họ được quyền trên một góc tư thế gian, đặng sát hại dân sự bằng gươm dao, bằng đói kém, bằng dịch lệ và các loài thú dữ trên đất” (6:8). Mới một sự đoán xét nầy thôi mà một phần tư dân thế giới đã bị giết rồi. Họ chết bởi chiến tranh, đói kém, và các loài thú dữ. Trong 9:15, chúng ta đọc thấy một đội quân hùng mạnh gồm hai trăm triệu binh lính sẽ từ vùng Viễn Tây tiến đến đất Y-sơ-ra-ên. Đang khi tiến quân, họ sẽ “tiêu diệt một phần ba loài người” (9:15).
Nếu chỉ tính hai cuộc đoán xét nầy thôi (ấn thứ tư và tiếng loa thứ sáu), chúng ta cũng đã tính được năm mươi phần trăm dân trên toàn thế giới sẽ chết. Nhưng chúng ta không thể ngưng số tử vong lại ở chỉ hai sự xét đoán nầy. Có bảy sự đoán xét khi mở ấn, bảy sự đoán xét khi có tiếng loa, và bảy sự đoán xét khi trút các bát thạnh nộ. Dầu chúng ta không thể biết chắc bao nhiêu người sẽ chết, nhưng dường như kể từ cuộc tàn sát của liên minh phương bắc (Exe Ed 38:1-23) cho đến trận chiến Ha-ma-ghê-đôn (KhKh 19:1-21), ít nhất hai phần ba toàn bộ dân cư trên đất sẽ chết. Lòng tôi đau đớn mỗi khi nghĩ đến người nào đó đã có dịp đọc những lời nầy song không chịu tiếp nhận Đức Chúa Jesus Christ làm Cứu Chúa của mình, để rồi trở thành một phần trong quang cảnh chúng ta vừa xem xét ở chương nầy. Tôi nài xin bạn hãy đến với Đấng Christ ngay bây giờ, là lúc bạn còn có dịp tiện.


TRẬN CHIẾN HA-MA-GHÊ-ĐÔN
“Nó lại được giao chiến cùng các thánh đồ và được thắng. Nó cũng được quyền trên mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng và mọi nước. Hết thảy những dân sự trên đất đều thờ lạy nó, là những kẻ không có tên trong danh sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế. Ai có tai, hãy nghe!” (13:7-9).
Theo phần nầy trong cẩm nang tiên tri của Đức Chúa Trời, thì có vẻ Anti Christ sẽ có quyền tiến hành mọi việc theo ý của nó. Nó sẽ có quyền “trên mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng và mọi nước,” và nó sẽ là người cầm quyền không ai bác được của hành tinh nầy. Ngoài địa vị được tôn cao của nó, nó còn được “hết thảy dân sự trên đất” thờ lạy, ngoại trừ những người đã tin cậy nơi Chiên Con đã bị giết của Đức Chúa Trời làm Cứu Chúa của mình (13:8).
Trong gần ba năm rưỡi, ba ngôi của Sa-tan có vẻ như có quyền tuyệt đối trên mọi công việc của con người. Chúng ta thấy trong lời tiên tri của Đa-ni-ên rằng: “Vua sẽ làm theo ý muốn mình; kiêu ngạo và lên mình cao hơn hết các thần; nói những lời lạ lùng nghịch cùng Đức Chúa Trời của các thần. Người sẽ được may mắn cho đến khi cơn thạnh nộ của Chúa được trọn ... ” (DaDn 11:36). Nhưng rồi một bước ngoặc kỳ lạ gồm nhiều biến cố sẽ xảy ra: “Đến kỳ sau rốt, vua phương nam sẽ tranh chiến cùng người ...” (11:40a).
Điều quan trọng là phải hiểu rằng những phương hướng trong Kinh Thánh thường liên hệ đến Y-sơ-ra-ên, nếu như không có chỉ định ngược lại - có nghĩa là, khi chúng ta đọc : “vua phương nam,” thì phải hiểu câu Kinh Thánh nầy đang nói đến nước ở phía nam của Y-sơ-ra-ên. Hầu hết những người nghiên cứu lời tiên tri của Kinh Thánh đều tin rằng đây là câu nói về nước Ai cập. Sẽ đến ngày “vua phương nam” (Ai cập) sẽ: “tranh chiến cùng người”, tức là Anti Christ. Đây là cuộc nổi loạn đang ở bước đầu. Từ những câu tiếp theo, ta thấy có vẻ như cuộc nổi loạn nầy sẽ bị dẹp tan, ít nhất cũng là tạm thời. Nhưng rồi tin xấu sẽ đến với Anti Christ từ những phương khác trong nước: “Song những tin tức từ phương đông và phương bắc sẽ đến làm cho người bối rối ...” (11:44). Đây là một cuộc nổi dậy khắp nơi. Chú Gấu Nga lúc đó đã có ít nhất ba năm để liếm láp những vết thương từ khi bị Đức Chúa Trời đánh bại cách nhục nhã (Exe Ed 38:1-23), và giờ đây sẵn sàng gia nhập lực lượng của Anti Christ. Lời tiên tri trong DaDn 11:1-45 nói về cuộc dấy loạn chống lại vua La-mã. Một bên sẽ là đế quốc La-mã hồi sinh (mười quốc gia dưới quyền cai trị của Anti Christ), cộng với phần còn lại của Châu Âu và các quốc gia được thành lập trong ảnh hưởng của Châu Âu. Các quốc gia nầy vẫn trung thành với Anti Christ. Phe bên kia là các quốc gia nổi loạn trong 12:1-13, kể cả vua phương nam (Ai cập), vua phương bắc (Nga), và các vua phương đông.
Một lần nữa các phương hẳn phải có liên hệ với Y-sơ-ra-ên. Các vua phương đông là những vị vua ở phương đông của Y-sơ-ra-ên. Có thể xác định thêm về họ từ KhKh 16:12 “Vị thiên sứ thứ sáu trút bát mình xuống sông cái Ơ-phơ-rát; sông liền cạn khô, đặng sửa soạn cho các vua đông phương đến có lối đi được.” Ta thấy rõ ràng rằng các vua đông phương ở phía đông của Y-sơ-ra-ên và cũng ở phía đông sông Ơ- phơ-rát. Họ là những vua của xứ Viễn Đông. Chúng ta đọc thêm về những vua này trong 9:1-21 “Vị thiên sứ thứ sáu thổi loa, thì tôi nghe có tiếng ra từ bốn góc bàn thờ bằng vàng đặt trước mặt Đức Chúa Trời. Tiếng ấy nói cùng vị thiên sứ thứ sáu đương cầm loa rằng: Hãy cổi cho bốn vị thiên sứ bị trói bên bờ sông cái Ơ-phơ-rát. Bốn vị thiên sứ bèn được cởi trói, đã chực sẵn đến ngày, giờ, tháng, năm ấy, hầu cho tiêu diệt một phần ba loài người. Số binh kỵ mã của đạo quân là hai trăm triệu; số đó tôi đã nghe” (câu 13-16). Hãy tưởng tượng xem, khi đạo quân hai trăm triệu lính từ vùng Viễn Tây đến hợp quân với các vua phương bắc và phương nam để đại chiến với đạo binh hùng mạnh của Anti Christ, nó sẽ tiêu diệt “một phần ba loài người,” tức là, khi đạo binh từ Viễn Tây tiến đến xứ Y-sơ-ra-ên để chuẩn bị cho cuộc đại chiến, thì cứ ba người trên thế giới nầy, nó sẽ giết chết một. Người ta thắc mắc làm sao lại có một hệ thống nào trên thế gian nầy độc ác đến như thế được. Đương nhiên, chúng ta đang nhìn thấy trong thời đại của chúng ta bước khởi động cho cuộc tàn sát hàng loạt như thế.
Nhà tôi và tôi đã hầu việc Chúa với tư cách giáo sĩ tại vùng Viễn Tây trong mười năm. Con cái của chúng tôi thảy đều ra đời tại Đông phương. Becky và Shari ra đời trong nhiệm kỳ đầu tiên của chúng tôi tại Okinawa, và Dan ra đời trong nhiệm kỳ thứ hai tại Sài Gòn. Chúng tôi đã dự định sống trọn đời tại Nam Việt Nam, nhưng kế hoạch của chúng tôi đã bị thay đổi. Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời không hề bị hụt hẫng. Tôi đã cảm nhận nỗi đau mất mát những đồng nghiệp truyền giáo của mình, sáu người trong số họ đã bị giết trong chỉ một trận tấn công vào trụ sở truyền giáo của họ tại một thành phố người sắc tộc ở Buôn Mê Thuột. Ba bạn giáo sĩ khác đã bị bắt tại một bệnh viện cùi gần đó, và đã biệt tăm tích kể từ đó. Nhiều nhà truyền giáo khác đã tuận đạo vì cớ Đấng Christ.
Năm 1952, tôi đang ở Hồng Kông khi mười ngàn người tị nạn Trung Quốc bỏ trốn khỏi lục địa nầy. Họ hy vọng đến được Hồng Kông, thuộc địa của Anh. Một số người trong bọn họ đã cố gắng bơi sang, trong khi một số người khác ra đi trên những chiếc thuyền nhỏ và những chiếc bè tự làm tại gia đình. Đa số những tay bơi đó đã bỏ mạng trong làn nước nhung nhúc cá mập. Hàng trăm chiếc thuyền và bè đã bị nhận chìm dưới Đại dương trước những cơn bão bất ngờ .
Những câu chuyện nầy, dầu chúng thật khủng khiếp, cũng không thể đem sánh với việc tàn sát hàng loạt hầu đến, theo như lời tiên tri của Kinh Thánh. Các đạo binh của các vua đông phương một ngày kia sẽ tiến về phía tây để hợp binh với các nước khác nhằm tiêu diệt các đạo binh của Anti Christ. Khi các vua đông phương tiến quân, họ sẽ “tiêu diệt một phần ba loài người” (9:15).
Câu hỏi luận lý ấy là: “Vì sao các quốc gia trên thế giới sẽ chia làm hai phe tại thời điểm nầy trong Kinh Thánh?” Trong tác phẩm Harmageddon, tác giả John Walvoord nêu cho chúng ta câu trả lời rõ ràng cũng giống như bất cứ tác giả nào mà tôi đã có dịp đọc về đề tài nầy:
Vì sao Sa-tan lại xếp đặt một cuộc chiến tranh thế giới để phá hoại vương quốc của mình? Chiến lược liều lĩnh của Sa-tan còn quan trọng hơn nhiều so với quyền cai trị thế gian qua một nhà độc tài quốc tế. Dầu trong quan điểm của họ, họ tập trung lại để giải quyết vấn đề nắm quyền thế giới, nhưng các đạo quân của thế gian nầy thực sự sẽ do Sa-tan nhóm họp lại để đề phòng sự tái lâm của Đấng Christ. Toàn bộ sức mạnh vũ trang sẽ được tập trung tại Trung Đông, sẵn sàng tranh chiến với quyền năng của Đấng Christ khi Ngài từ thiên đàng tái lâm. Như các sự kiện đúng theo diễn tiến sẽ chứng minh, chiến dịch nầy sẽ hoàn toàn vô ích và tuyệt vọng. Các đạo binh của thế gian không hề được trang bị để chống lại các đạo binh của thiên đàng. Tuy nhiên, Sa- tan sẽ nhóm họp các nước cho giờ chung kết nầy, và thực chất, các nước nầy sẽ chọn đứng về phía Sa-tan và chống lại sự hiện ra của Đấng Christ. Đó là điều tốt nhất mà Sa-tan có thể làm. Những sự kiện ấy sẽ tạo cơ hội cho các nước nầy lựa chọn, và giúp Sa-tan nỗ lực cách tuyệt vọng để chèn ép sự tái lâm của Đấng Christ. 1
Suy cho cùng, Sa-tan không thể công bố cho thế gian rằng Đấng Christ sắp trở lại trần gian nầy trong Sự Hiện Ra, vì nó đã thuyết phục những kẻ theo nó rằng Ba Ngôi Đức Chúa Trời chính là nó, Christ của nó, và vị tiên tri của nó.
Khi gần kết thúc tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên, Sa-tan hẳn phải có cách riêng để nhóm họp toàn bộ các thế lực quân sự trên trần gian đến tại Y-sơ-ra-ên, vì Sa-tan biết cẩm nang tiên tri của Đức Chúa Trời. Nó biết Đấng Christ đã hứa sẽ trở lại trần gian nầy sau Cơn Đại Nạn. Tôi chắc chắn nó đã đọc câu chuyện Chúa thăng thiên trong Công vụ 1 cùng với lời hứa Ngài sẽ trở lại:” Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, thì được cất lên trong lúc các người đó nhìn xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa. Các người đó đương ngó chăm trên trời trong lúc Ngài ngự lên, xảy có hai người nam mặc áo trắng hiện đến trước mặt, và nói rằng: Hỡi người Ga-li-lê, sao các ngươi đứng ngó lên trời làm chi? Jesus nầy đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy. Bấy giờ, những người đó từ núi gọi là Ô-li-ve trở về thành Giê-ru-sa-lem; núi ấy cách thành Giê-ru-sa-lem một quãng đường ước đi một ngày Sa-bát” (câu 9-12).
Sa-tan cũng biết lời hứa trong Xa-cha-ri rằng: “Trong ngày đó, chơn Ngài sẽ đứng trên núi Ô-li-ve” (XaDr 14:4a). Khi tuần lễ thứ bảy mươi gần trọn, Sa-tan sẽ đề ra chiến lược chính của nó, tức là, đặt tinh thần dấy loạn vào lòng vua phương nam, vua phương bắc, và các vua phương đông. Kế hoạch của nó sẽ là chia các đạo quân trên đất ra làm hai phe, rồi đem toàn bộ lực lượng quân sự trên hành tinh nầy đến Y-sơ-ra- ên, với một mục đích trong tư tưởng họ là sẽ tham dự một trận chiến tranh thế giới. Trong thực tế, đó là cách Sa-tan nhóm họp các quốc gia trên đất nầy để chống lại Đức Chúa Trời đời đời.
Từ lời tiên tri của Đức Chúa Trời, ta thấy rõ ràng Sa-tan sẽ sử dụng quyền lực ma quỉ để đưa các đạo binh trần gian nầy đến Y-sơ-ra-ên. “Tôi thấy từ miệng rồng, miệng thú, miệng tiên tri giả có ba tà thần ra, giống như ếch nhái. Đó là những thần của ma quỉ, làm phép lạ và đi đến các vua trên khắp thế gian, để nhóm hiệp về sự chiến tranh trong ngày lớn của Đức Chúa Trời toàn năng. Kìa, ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình! Chúng nhóm các vua lại một chỗ, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn ” (KhKh 16:13-16).
Bây giờ chúng ta đi đến trận đại chiến đó, khi “có một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra” sẽ ” đến đập vào bàn chơn bằng sắt và đất sét của tượng” (DaDn 2:34). Hãy xem những lời lẽ trang nghiêm trong KhKh 19:1-21 “Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cưỡi ngựa ấy gọi là ĐẤNG TRUNG TÍN VÀ CHƠN THẬT; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu. Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài không ai biết được. Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI” (câu 11-13). Người cưỡi con ngựa bạch nầy là ai? Danh người được gọi là “LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.” Chúng ta đọc trong GiGa 1:1-51 rằng: “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời” (1:1). Đây là câu chuyện về Đấng đã ở với Đức Chúa Trời, đồng thời vừa là Đức Chúa Trời, và danh Ngài là Lời của Đức Chúa Trời. Rồi Đấng đời đời nầy đã trở nên một con người, vì câu 14 tuyên bố rằng: ” Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha.” Từ câu Kinh Thánh nầy, rõ ràng Bết lê hem không phải là nơi khởi đầu của Đức Chúa Con. Khi Ngài mặc lấy một thân thể, Ngài cũng mang lấy một danh, “Đức Chúa Jesus Christ,” nhưng từ trước vô cùng, danh Ngài là: “Lời của Đức Chúa Trời.” Đây cũng sẽ là danh của Ngài khi Ngài từ Thiên Đàng giáng lâm trong Sự Hiện Ra.
“Các đạo binh trên trời đều mặc áo vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài” (KhKh 19:14). Câu nầy chỉ về những kẻ biết Đấng Christ là Cứu Chúa, vì tại lúc cất Hội Thánh lên (ít nhất bảy năm trước khi Đấng Christ tái lâm trần gian) tín đồ sẽ nhận lấy thân thể vinh hiển và áo trắng của họ. Họ sẽ cùng hưởng sự thông công với Đấng Christ và với nhau trên thiên đàng trong khi thế gian đang phải trải qua những giờ phút hoạn nạn kinh khiếp. Cuối cùng, họ sẽ nhóm nhau chung quanh Tân Lang thiên thượng của họ, và hân hoan dự “tiệc cưới Chiên Con” (KhKh 19:7-9). Sau đó, họ sẽ đi theo Đấng Christ khi Ngài từ Thiên Đàng giáng lâm để tranh chiến với toàn bộ thế lực quân sự của trần gian. Lưu ý rằng họ được gọi là “các đạo binh trên trời.” Đúng là các tín đồ sẽ có mặt trong đạo binh trên trời đó, nhưng họ không nhất thiết phải giao chiến, vì khúc Kinh Thánh nầy nói rằng: “Có một lưỡi gươm bén từ miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng” (19:15). Vũ khí Đức Chúa Trời sẽ dùng trong trận giao chiến với các thế lực của Sa-tan sẽ là vũ khí quyền năng nhất, mạnh nhất của mọi thời đại, tức là Lời Ngài. Hãy hình dung những suy nghĩ sẽ đến trong trí của “con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình” khi họ “nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài” (19:19). Kinh Thánh không ghi lại rằng họ sẽ tháo chạy hay lui quân. Trái lại, con người dưới quyền diều khiển của Sa-tan sẽ thực sự cảm thấy mình mạnh hơn, cao trọng hơn Đức Chúa Trời của Thiên Đàng. Con người sẽ giương cao vũ khí mình chống lại Đức Chúa Trời toàn năng. Lúc đó, Đấng Christ sẽ lên tiếng, và toàn bộ các thế lực quân sự của thế gian nầy đều sẽ chết cả. Trận Ha-ma-ghê-đôn sẽ chấm dứt.
Hậu quả của từng trải đáng sợ nầy được ghi lại trong những câu sau: “Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dõng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn” (19:17-18). Các loài chim ăn thịt trên đất sẽ đáp xuống xứ Y-sơ-ra-ên, nơi các đạo quân tử trận hầu như sẽ phủ kín cả đất nước nầy. Không ai có thể tả được bức tranh nầy khi máu sẽ “lên đến chỗ khớp ngựa” (14:20). Chim ó sẽ nhóm lại trên đống xác nầy (Mat Mt 24:28). Nó được gọi là “tiệc lớn của Đức Chúa Trời” (KhKh 19:17).
Đương nhiên, chiến thắng của trận Ha-ma-ghê-đôn sẽ thuộc về Đấng Christ, vì cuộc chinh phục toàn thế gian của Sa-tan qua Anti Christ và Tiên Tri Giả sẽ chấm dứt đời đời. Toàn bộ thế lực quân sự của trần gian sẽ bị đánh tan tác. Thời Đại Vương Quốc Bình An đã mong đợi từ lâu sẽ bắt đầu ngay. Vâng, trận Ha-ma-ghê-đôn sẽ đem chiến thắng về cho Đức Chúa Trời. Nhưng Sa-tan sẽ vẫn có một loại chiến thắng khó ai phát hiện ra. Suy cho cùng, mục tiêu tối hậu của Sa-tan là khiến con người xây bỏ lẽ thật, đem họ vào sự tối tăm. Mọi chiến binh ngã chết trong trận Ha-ma-ghê-đôn đều bị quăng vào địa ngục. Sa-tan không còn gì hài lòng hơn thế nữa.
Năm 1968, Lehman Strauss và tôi đã vinh dự có dịp đi khắp vùng Viễn Đông để tổ chức các hội nghị cho các giáo sĩ Hoa kỳ, các mục sư người bản xứ, và các nhân viên người Hoa kỳ. Chặng dừng cuối của chúng tôi là Việt Nam. Các cuộc hội đồng giữa vòng người Việt Nam đã được lên thời khóa biểu trước đó đều bị hủy cả, vì tuần lễ mà chúng tôi đến, tên lửa tàn phá 122 ly bắt đầu dội xuống Sài Gòn. Thành phố nầy hầu như chìm trong bóng tối, và chúng tôi dường như chẳng còn cách nào khác hơn là rời khỏi Sài Gòn.
Tôi chợt nghĩ đến một trận chiến đang diễn ra trên những chiến trường mà không ai báo cáo gì về chúng. Đó là trận chiến cho linh hồn con người. Dầu hàng ngàn Cơ đốc nhân đã từ các bãi chiến trường đi về thiên đàng, nhưng đa số những người chết trong chiến tranh chưa biết Đấng Christ là Cứu Chúa mình. Người ta có thể chết cho một mục đích tốt lành nhưng vẫn đời đời ở trong địa ngục! Sự cứu rỗi chỉ thuộc về những ai đã tin cậy Con Đức Chúa Trời đã bị đóng đinh, đã sống lại từ kẻ chết làm Chúa và Cứu Chúa của mình.
Trận chiến vĩ đại nhất của mọi thời đại sẽ đến. Nó được gọi là trận Ha-ma-ghê-đôn. Mỗi chiến binh đều sẽ là kẻ chẳng tin. Mọi chiến binh đều sẽ chết. Mọi chiến binh đều sẽ bị quăng vào Âm phủ. Tôi lập lại, dầu trận Ha-ma-ghê-đôn sẽ là một chiến thắng khải hoàn của Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, nhưng nó cũng đóng góp một kiểu chiến thắng tinh vi cho Sa-tan. Suy cho cùng, mục tiêu của nó là tác động khiến con người chối không nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa.

1 John F. Walvoord, Armageddon (Grand Rapids, Michigan: Zondervan, 1974), trang 164-165.


BÌNH AN SAU CÙNG
“Tôi lại thấy những ngai, và những người ngồi trên ngai được quyền xét đoán. Kế đó tôi thấy linh hồn những kẻ đã phải chết chém vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus và vì lời Đức Chúa Trời, linh hồn những kẻ chẳng thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, chẳng nhận dấu hiệu nó, hoặc trên trán hoặc trên tay. Các người ấy được sống và trị vì với Đấng Christ trong một ngàn năm. Còn những kẻ chết khác chẳng được sống cho đến khi đủ một ngàn năm. Ấy là sự sống lại thứ nhứt. Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhứt! Sự chết thứ nhì không có quyền gì trên những người ấy; song những người ấy sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và Đấng Christ, cùng sẽ trị vì với Ngài trong một ngàn năm” (KhKh 20:4-6).
THIÊN HY NIÊN
Sau toàn bộ những cảnh đổ máu và thương tâm đi kèm theo Cơn Đại Nạn, thật thảnh thơi, tươi tỉnh biết bao khi tiến đến phần nầy trong Lời của Đức Chúa Trời. Đây là lời tiên tri về một ngàn năm bình an dưới quyền cai trị của Đấng Mêsia. Vì trong tiếng Latin, chữ một ngàn năm là chữ “millenium”, nên những người nghiên cứu lời tiên tri Kinh Thánh đã chấp nhận dùng chữ nầy chỉ về Thời Đại Nước Đức Chúa Trời, là triều đại một ngàn năm của Đấng Christ. Trong những ngày ấy, Đức Chúa Jesus Christ sẽ ngự trên ngai của Tổ Phụ Ngài, là Đa-vít, cai trị muôn sự của con người (EsIs 9:7; LuLc 1:32). Tại thời điểm nầy trong kế hoạch được tiên tri của Đức Chúa Trời, những kẻ được chuộc của mọi thời đại sẽ sống trên đất nầy để hưởng sự cai trị của Đấng Christ trên Vương Quốc đã mong đợi từ lâu. Trong thân thể vinh hiển, những kẻ ấy sẽ gồm những thánh đồ thời Cựu Ước và thời đại Hội Thánh, cũng như những tín đồ đã chết trong thời kỳ Cơn Đại Nạn. Nhưng sẽ còn một nhóm người nam, người nữ được chuộc khác nữa cũng sẽ mặc lấy thân thể không hay chết. Những kẻ không hề chết nữa này sẽ là những kẻ đã tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa mình trong suốt Cơn Đại Nạn mà vẫn còn sống hoặc đã tuận đạo.
NHỮNG KẺ SỐNG SÓT TRONG CƠN ĐẠI NẠN
Tại thời điểm nầy các biến cố trong Mat Mt 25:1-46 bước vào lời tiên tri bí ẩn nầy. Trong đoạn Kinh Thánh đó, có bốn hạng người sẽ còn sống sau trận Ha-ma-ghê-đôn: những người nữ đồng trinh khôn, những người nữ đồng trinh dại, chiên và dê.
NHỮNG NGƯỜI DO-THÁI CÒN SỐNG SÓT
“Những người nữ đồng trinh” trong 25:1-13 chỉ về những người Do-thái vẫn còn sống sau tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên và trận Ha-ma-ghê-đôn. Dwight Pentecost nêu sáu lý do để “bác bỏ quan điểm cho rằng những người nữ đồng trinh làm hình bóng về Hội Thánh trong thời đại hiện nay.” 1 Rồi ông bày tỏ sự đồng tình với Schuyler English, người đã viết rằng: “mười người nữ đồng trinh tượng trưng cho dân sót của Y-sơ-ra-ên sau khi Hội Thánh được cất lên. Năm người nữ đồng trinh khôn là dân sót tin Đấng Christ , những người nữ đồng trinh dại là dân sót không tin, những người chỉ tuyên bố mình đang trông đợi Đấng Mêsia hiện ra trong quyền năng.” 2 Những người Do-thái tin cũng như vô tín nầy sẽ đứng trước mặt Đấng Christ khi Ngài đoán xét những kẻ sống sót trong cơn đại nạn (Exe Ed 20:33-44). Họ sẽ bị phân chia ra. Những người Do-thái tin kính (những người nữ đồng trinh khôn) sẽ bước vào Thời Đại Vương Quốc Đức Chúa Trời, nhưng vẫn trong thân thể hay chết của mình. Những người Do-thái không tin (những người nữ đồng trinh dại) sẽ bị ném vào Âm phủ.
John Walvoord viết về phân đoạn nầy rằng:
Sự hủy diệt các đạo binh chống lại sự tái lâm của Đấng Christ sẽ là sự đoán xét của Đức Chúa Trời trên các nước. Sau cuộc tàn sát chung cuộc của trận Ha-ma-ghê-đôn, những người còn sống sót trên thế gian nầy sẽ bị đoán xét từng người một. Toàn bộ những người Do-thái còn sống, tức là dân Y-sơ-ra-ên sống sót, sẽ được nhóm lại từ những nơi ẩn náu trong xứ Palestine cũng như trên toàn thế giới (39:28). Mỗi người sẽ đối mặt với Đức Chúa Trời là quan án của mình, và không ai có thể thoát khỏi sự đoán xét nầy. Những kẻ dấy nghịch, là những kẻ không chấp nhận Đấng Christ là Đấng Mêsia của mình trước khi Ngài tái lâm, sẽ bị xử án chết (20:38). Phần còn lại, là những người Do-thái đã sống sót qua cơn bắt bớ trong thời kỳ đại nạn, sẽ được cho vào Đất Hứa với tư cách những công dân đầu tiên của nước Đấng Christ trên đất. Giờ chịu bắt bớ của họ sẽ chấm dứt vĩnh viễn, và họ sẽ nhận được mọi phước hạnh đã được hứa ban cho con cái Y-sơ-ra-ên từ thời Áp-ra-ham (xem Gie Gr 31:31-34; RoRm 11:26, 27). 3
NHỮNG NGƯỜI NGOẠI BANG CÒN SỐNG SÓT
Một nhóm người còn sống sót khác nữa trong cơn đại nạn cần phải khảo sát ấy là dân ngoại bang. Cũng giống như dân Do-thái sống sót sẽ được chia làm hai nhóm gồm người tin và không tin, thì dân ngoại cũng được chia ra tương tự. Việc phân chia hai nhóm dân ngoại tin và không tin được ghi lại trong Mat Mt 25:31-46. Trước hết, hãy xem sự phân chia nầy: “Khi Con Người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra; để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả” (25:31-33). Những người ngoại bang tin Ngài, gọi là “chiên,” sẽ được nhập cùng với các tín đồ người Do-thái khi họ vào nước Ngài. Lẽ thật nầy được trình bày rõ ràng ngay đầu câu 34: “Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất. Vì ta đói, các ngươi cho ta ăn; ta khát, các ngươi cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta; ta trần truồng,các ngươi mặc cho ta; ta đau, các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi viếng ta. Lúc ấy người công bình sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; hoặc khát, mà cho uống? Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho? Hoặc khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà đi thăm viếng Chúa? Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy” (câu 34-40).
Có những người tách khúc Kinh Thánh nầy ra khỏi văn mạch của nó. Họ muốn chúng ta tin rằng những kẻ đói, khát, trần truồng, đau ốm, bị tù nầy là những người đang sống trong thời đại của chúng ta cần được giúp đỡ trong những hoàn cảnh khốn cùng hiện tại của họ. Hiển nhiên, có hàng triệu người cùng khốn ngày nay đang cần được giúp đỡ. Tác giả không có ý phá hoại ngầm các chức vụ đáng kính của Đấng Christ trong chốn lao tù, bệnh viện, viện mồ côi, và các sứ mạng giải cứu. Các tín hữu ngày nay nên cưu mang gánh nặng tìm đến với những người đang sống trong mọi cảnh đời để trình bày tin lành cho họ, nhưng lời thông giải chính yếu của 25:35, 36 liên quan đến những tình cảnh trong thời Đại Nạn.
Xin nhớ rằng Anti Christ sẽ truy lùng toàn bộ những người đã tuyên xưng đức tin nơi Đấng Christ. Những người Do-thái tin Chúa sẽ bỏ trốn để được an toàn (24:16-21). Khi ra đi, họ sẽ làm chứng về Đức Chúa Jesus Christ. Điều đó sẽ làm ứng nghiệm lời tiên tri trong 24:14: “Tin lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân.... ” Giăng ghi lại kết quả của nỗ lực truyền giáo toàn cầu nầy trong KhKh 7:9 “Sự ấy đoạn tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhánh chà là.” Các tín hữu người ngoại bang nầy là ai vậy? Câu giải đáp ở trong câu 14: “Đó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình trong huyết Chiên Con.” Rõ ràng, hầu hết những kẻ tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa mình trong cơn đại nạn sẽ tuận đạo, nhưng vẫn có nhiều người trốn thoát được.
Trở lại với Mat Mt 25:1-46, Chúa Jesus Christ sẽ phán với các tín đồ người ngoại bang rằng: ”... vì ta đói, các ngươi cho ta ăn; ta khát, các ngươi cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta; ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta; ta đau, các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi viếng ta” (câu 35,36). Các tín hữu người ngoại bang sẽ đáp lại rằng: ” ... Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; hoặc khát, mà cho uống? Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho? Hoặc khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà đi thăm viếng Chúa?” (câu 37,38). Đấng Christ sẽ làm sáng tỏ thắc mắc của họ: ”... Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy” (25:40). Khi Đấng Christ nói về “các anh em” Ngài, Ngài đang nói đến các anh em dân tộc của Ngài, tức là những tín hữu người ngoại bang. Khi những “anh em” nầy của Đấng Christ trốn đến mọi miền trên thế gian, họ sẽ rao truyền tin lành của nước Đức Chúa Trời” (24:14). Thực ra, sứ điệp của họ sẽ là tin lành của Đức Chúa Jesus Christ. Nó được gọi là “tin lành của nước Đức Chúa Trời” vì được rao giảng ngay trước khởi điểm của triều đại nước Đức Chúa Trời của Đấng Mêsia họ hằng mong đợi. Những người ngoại bang tin sứ điệp của họ và tin nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa lúc bấy giờ sẽ tiếp đón các anh em tín hữu người Do-thái cách cảm thông. Nếu họ thấy một tín hữu người Do-thái đói, họ sẽ cho ăn. Những người khát sẽ được cung cấp thức uống. Những khách lạ sẽ được tiếp đón. Người trần truồng sẽ được mặc áo cho. Kẻ bệnh và kẻ bị tù sẽ được thăm viếng. Xin cẩn thận đừng vội kết luận rằng dân ngoại sẽ được cứu vì cớ họ có lòng chăm sóc trìu mến đối với các tín hữu người Do-thái. Không một ai được cứu vì cớ đối xử trân trọng đối với người Do-thái cả. Phương cách duy nhất để được sanh lại trong gia đình của Đức Chúa Trời ấy là bởi lòng tin cậy đơn sơ nơi Chiên Con Gôgôtha đã bị đóng đinh, đã sống lại, nhưng trong thời kỳ đại nạn, một trong những cách thể hiện sự sống mới trong Đấng Christ sẽ là dịu dàng chăm sóc các anh chị em tín hữu người Do-thái.
Cũng cần lưu ý rằng những người ngoại bang không tin (được gọi là dê) sẽ bày tỏ sự chối bỏ Đấng Christ là Cứu Chúa bằng cách lãnh đạm và thù ghét các tín hữu người Do-thái. “Kế đó Ngài sẽ phán cùng những kẻ ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỷ và những quỷ sứ nó. Vì ta đã đói, các ngươi không cho ăn; ta khát, các ngươi không cho uống; ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng. Đến phiên các người nầy bèn thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư? Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa. Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời” (24:41-46).
Ngoại trừ Anti Christ và Tiên Tri Giả, hết hảy những kẻ không tin đều sẽ ở trong Âm phủ tại thời điển nầy trong cẩm nang tiên tri. Anti Christ và Tiên Tri Giả sẽ bị ném vào hồ lửa sau trận Ha-ma-ghê-đôn (KhKh 19:20). Chúng sẽ ở đó trong một ngàn năm trước khi kẻ chẳng tin ở chốn Âm phủ bị quăng vào nơi kinh khiếp nầy. Lẽ thật nầy sẽ được khảo sát trong chương tiếp theo, nhưng lẽ thật cần phải nhấn mạnh tại đây ấy là ngoại trừ Anti Christ và Tiên Tri Giả, mọi kẻ chẳng tin đều sẽ ở trong Âm phủ khi Đấng Christ thiết lập vương quốc của Ngài. Cũng cần lưu ý rằng toàn bộ những người ở trên đất khi bắt đầu Thiên Hy Niên đều là tín đồ thật. Đây sẽ là lần thứ ba trong lịch sử loài người, trái đất này sẽ hoàn toàn chứa những người có mối tương quan đúng đắn với Đức Chúa Trời. Lần đầu tiên là tại vườn Ê-đen. Lúc ấy chỉ có hai người trên hành tinh nầy (A-đam và Ê-va), và cả hai đều ở trong sự tương giao với Đức Chúa Trời. Lần thứ nhì ấy là Nô-ê cùng gia đình ông sau cơn nước lụt. Lần thứ ba mà toàn bộ dân số trần gian nầy đều được cứu chuộc sẽ là lúc khởi đầu thiên hy niên.
Robert Schuller, một Mục sư nổi tiếng trên chương trình truyền hình đã phát biểu trong tác phẩm nhan đề “Self Esteem, The New Reformation” rằng: “Khi chúng ta cầu nguyện: 'Nước Cha được đến,' thì chúng ta đang cầu nguyện cho sự phát triển thành công và mở mang thịnh vượng của số người được cứu, đang nhìn hướng đến ngày mà nhân loại sẽ được cảm thúc bởi những con người thuộc về nước trời để đối xử với nhau bằng sự cung kính và trân trọng bất luận đến chủng tộc, tôn giáo, tầng lớp kinh tế, hay giai cấp chính trị ." 4 Dầu các chủng tộc đều giữ lại đặc điểm của mình trong nước Đức Chúa Trời, nhưng phải hiểu rằng khi nói về mặt “tôn giáo, tầng lớp kinh tế, giai cấp chính trị,” thì nước Đức Chúa Trời sẽ theo chính thể thần trị. Chữ Hy-lạp “theos” nghĩa là “Đức Chúa Trời,” vì vậy, một chế độ thần trị là chế độ ở dưới quyền cai trị của Đức Chúa Trời. Đó sẽ là hình ảnh chính xác của nước thiên hy niên. Đấng Christ sẽ ngồi trên ngai tổ phụ Ngài, là ngai Đa-vít. Duy một mình Ngài sẽ cai trị, nên sẽ không còn một chính thể nào khác. Một mình Ngài sẽ được thờ phượng, nên không còn một tôn giáo nào khác của con người. Khái niệm của Robert Schuller về “những con người thuộc về nước trời đối xử với nhau bằng sự cung kính và trân trọng bất luận đến chủng tộc, tôn giáo, tầng lớp kinh tế, hay giai cấp chính trị” là xa lạ đối với Kinh Thánh. Ông nói tiếp: “Gây dựng sự tự quí trọng ở trong người khác tức là làm ứng nghiệm lời cầu nguyện: 'Nước Cha được đến, Ý Cha được nên.' “5 Trái lại, sự ứng nghiệm lời cầu nguyện nầy sẽ là việc Đấng Christ thiết lập nước Ngài khi ý chỉ của Ngài sẽ được thực hiện trên trần gian nầy cũng như khi ý chỉ Ngài được thực hiện trên thiên đàng. Tình trạng nầy chỉ tồn tại khi Đấng Christ ngồi trên ngai Đa-vít, tổ phụ Ngài.
Ngay khi bắt đầu nước Đức Chúa Trời, trên đất nầy sẽ không có ai khác ngoài ra những kẻ được chuộc bởi huyết Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Jesus Christ. Sự Vui Mừng và Bình An sẽ tràn ngập khi Đấng Christ tể trị mọi sự của con người. Đây sẽ là sự ứng nghiệm rất nhiều lời tiên tri trong Lời của Đức Chúa Trời. Ví dụ như, Ê-sai đã hằng mong đợi chế độ thần trị khi ông viết rằng: “Ngài sẽ làm sự phán xét trong các nước, đoán định về nhiều dân. Bấy giờ, họ sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, lấy giáo rèn lưỡi liềm. Nước nầy chẳng còn giá gươm lên nghịch cùng nước khác, người ta chẳng còn tập sự chiến tranh” (EsIs 2:4). Ông nói tiếp: “Bấy giờ, muông sói sẽ ở với chiên con, beo nằm với dê con; bò con, sư tử con với bò nuôi mập cùng chung một chỗ, một đứa con trẻ sẽ dắt chúng nó đi. Bò cái sẽ ăn với gấu; các con nhỏ chúng nó nằm chung, sư tử ăn cỏ khô như bò. Trẻ con đương bú sẽ chơi kề ổ rắn hổ mang, trẻ con thôi bú sẽ thò tay vào hang rắn lục. Nó chẳng làm hại, chẳng giết ai trong cả núi thánh của ta; vì thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va, như các dòng nước che lấp biển” (11:6-9).
Khi so sánh sơ lược những phân đoạn nầy với câu chuyện về sự đoán xét khi mở ấn thứ tư trong KhKh 6:7, 8, độc giả sẽ hiểu ngay những sự khác biệt đáng kinh ngạc giữa cuộc sống trên đất dưới quyền cai trị của Đấng Christ với thảm họa của đất dưới quyền cai tri của Sa-tan. Sự đoán xét khi mở ấn thứ tư sẽ khiến một phần tư dân chúng trên thế giới nầy phải chết. Sa-tan sẽ dùng chiến tranh, đói kém, thú dữ để hoàn thành mục tiêu của mình. Cuộc sống trên đất dưới quyền cai trị của Đấng Christ sẽ là một quang cảnh hoàn toàn khác. Sẽ không còn chiến tranh (EsIs 2:4). Đối với những kẻ có thân thể vinh hiển, sẽ không còn sự đói kém nữa, vì không cần đến lương thực để duy trì sự sống. Những kẻ có thân thể không hay chết chắc chắn sẽ không bao giờ bị thiếu lương thực, vì những chiến cụ đã được chuyển thành nông cụ. ” ... họ sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, lấy giáo rèn lưỡi liềm...” (2:4). Thú dữ cũng sẽ biến đổi. Rõ ràng, chính những con thú mà Sa-tan dùng để cắn nuốt con người trong thời kỳ đại nạn giờ đây được xem thấy trong tình trạng thanh bình dưới thời thiên hy niên (11:6-8).
Mục tiêu chính của tôi trong những năm làm giáo sĩ tại Việt Nam là đến với những người Việt nam hầu hết sống ở vùng bình nguyên, nhưng đôi khi tôi được mời đến giảng cho người sắc tộc ở vùng cao nguyên trung bộ. Sau chuyến đi vất vả dài ngày đến một làng của tín đồ, tôi được vị Mục sư người dân tộc thiểu số hỏi có muốn thử đi bắn một chú hổ giống Bengal lâu nay đang lẩn quất trong vùng hay không. Những con thú đẹp mã nầy hàng năm giết khoảng năm trăm người sắc tộc, và chính quyền Nam Việt Nam vẫn chưa cho phép người sắc tộc được phép trang bị súng ống. Suốt một đêm tôi cùng đồng nghiệp, là John Newman, lội khắp rừng sâu nhưng không có kết quả gì, nên chúng tôi quyết định giết một con mồi và cắm nó vào một cái cọc ở gốc cây đại thụ cách làng vài dặm. Vài ngày sau, vị Mục sư ấy bảo tôi rằng con mồi đã “chín muồi”. Hãy tin tôi đi, đúng, nó đã “chín muồi!” Tôi trèo lên cây, ngồi trên một cái bục cao khoảng gần bảy thước trên chỗ con mồi chết nầy. Đêm đó, con cọp đến. Tôi sẽ không bao giờ quên âm thanh liếm mồi của con cọp. Tôi không thể nhìn thấy nó trên nền tối đen của rừng sâu, nhưng tôi biết nó rất lớn - đương nhiên, chúa tể của rừng rậm Việt Nam kia mà. Không cần phải nói, tôi chẳng bao giờ có ý nghĩ là leo xuống khỏi cây, vỗ về dịu dàng trên đầu nó, leo lên lưng nó, rồi cưỡi dạo chơi trong rừng sâu. Tôi không hề mơ đến ý nghĩ đó vì chúng ta không sống trong thiên hy niên; nhưng trong ngày Đấng Christ cai trị trên trần gian nầy, ngay cả thế giới động vật cũng sống bình an, và kẻ được chuộc sẽ có thể vui chơi với những sinh vật mà ngày xưa vốn nằm ngoài giới hạn. Con trai của tôi là Dan được sinh ra tại Việt Nam, và tôi dự định sẽ thăm lại những khu rừng sâu ấy trong thời kỳ thiên hy niên. Chúng tôi đã đề ra nhiều kế hoạch để tìm một cặp hổ và cưỡi dạo chơi qua những đỉnh núi tuyệt đẹp ấy. Mời bạn cùng đi với chúng tôi nếu thích. Đương nhiên, bạn phải kinh nghiệm Đấng Christ là Cứu Chúa, vì chỉ những ai đã được sinh ra trong gia đình Đức Chúa Trời mới được phép bước vào những ngày bình an ấy.
CUỘC DẤY LOẠN CUỐI CÙNG
Chúng ta sẽ thấy tươi tỉnh nếu như cẩm nang tiên tri của Đức Chúa Trời không bày tỏ thêm về sự chết hay cảnh đau lòng, nhưng không phải như vậy. Bản ký thuật những sự sẽ đến bao gồm cả KhKh 20:7-9: “Khi hạn một ngàn năm đã mãn rồi, quỷ Sa-tan sẽ được thả, và nó ra khỏi ngục mình đặng dỗ dành dân ở bốn phương trên đất, dân Gót và dân Ma-gót; nó nhóm chúng lại để chiến tranh, đông như cát bờ biển .... Chúng nó lên khắp các vùng rộng trên mặt đất, vây dinh thánh đồ và thành yêu dấu. Nhưng có lửa từ trên trời rơi xuống thiêu diệt chúng nó.”
Chúng ta sẽ nghiên cứu về đề tài Sa-tan và tương lai của nó trong chương kế tiếp, nhưng trong phần nầy, xin lưu ý rằng triều đại thiên hy niên của Đấng Christ sẽ chấm dứt bằng một cuộc nổi loạn: “quỷ Sa-tan sẽ được thả, và nó ra khỏi ngục mình đặng dỗ dành dân ở bốn phương trên đất... nó nhóm chúng lại để chiến tranh ...” (20:7, 8). Đây sẽ là cú “ra đòn” cuối cùng của Sa-tan, là cơ hội cuối cùng để Sa-tan xúi giục những kẻ hay chết chống lại quyền phép của Đức Chúa Trời toàn năng. Câu hỏi xuất hiện ngay lập tức ấy là: “Những kẻ dấy loạn nầy đến từ đâu?” Trong phần đầu chương nầy, chúng ta được biết rằng mọi người trên đất đều sẽ được cứu khi nước Đức Chúa Trời bắt đầu, thế mà khi chung kết nước nầy, những kẻ chẳng tin sẽ “đông như cát bờ biển” (20:8)!
Như đã nói trước đây, Kinh Thánh ghi lại ba trường hợp mà mọi người trên đất nầy đều là tín đồ thật: A-đam và Ê-va trong vườn Ê-đen; Nô-ê và gia đình ông sau cơn nước lụt; và toàn thể gia đình những thánh đồ được chuộc ở đầu thời kỳ nước Đức Chúa Trời. Cần để ý rằng con cháu A-đam đều là những tội nhân, dòng dõi Nô-ê đã xây bỏ Đức Chúa Trời, và một ngày kia, dòng dõi sinh ra trong nước Đức Chúa Trời sẽ hoàn toàn bại hoại, và cũng giống như hết thảy con cháu A-đam, họ cũng cần đến với Đấng Christ để được cứu rỗi. Sẽ có dòng dõi của những kẻ hay chết còn sống sót trong thời kỳ đại nạn. Các thánh đồ trong thân thể không hề hư nát của họ sẽ không sinh con cháu. Về phương diện đó, họ sẽ giống như thiên sứ trên thiên đàng (Mac Mc 12:25).
Trong thiên hy niên, những con người hay chết sẽ tiếp tục sinh sản theo loài của mình và cho đến cuối thời kỳ thiên hy niên, thế gian lại sẽ đầy dẫy con người tội lỗi. Vì cớ Đấng Christ sẽ vẫn đang cai trị (KhKh 20:4-6), và Sa-tan sẽ bị xiềng trong vực không đáy (20:1-3), nên sẽ không nổ ra một trận nổi loạn công khai nào chống lại uy quyền của Đấng Christ. Nhưng bản chất của A-đam vẫn cứ còn sống trong sâu thẳm tấm lòng của những kẻ được sinh ra trong thiên hy niên. Những kẻ không chịu tin cậy Đấng Christ làm Cứu Chúa mình sẽ là những kẻ hợp thành một đạo quân lớn, mà Sa-tan sẽ tập hợp họ lại khi nó được thả ra khỏi ngục và được phép quay lại trần gian chuẩn bị hoạt động cuối cùng công khai chống lại Đức Chúa Trời. Kết quả được ghi lại trong những câu sau: “Chúng nó lên khắp các vùng rộng trên mặt đất, vây dinh thánh đồ và thành yêu dấu. Nhưng có lửa từ trên trời rơi xuống tiêu diệt chúng nó. Còn ma quỷ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có tiên tri giả và con thú rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời” (20:9-10). Trong chương tới, chúng ta sẽ nói nhiều hơn về Sa-tan và những kẻ phục quyền của nó.
1 Dwight Pentecost, Things to Come (Grand Rapids, Michigan: Zondervan, 1958), trang 283.
2 Như trên.
3 John F. Walvoord và John E. Walvoord, Armageddon (Grand Rapids, Michigan: Zondervan, 1974), trang 177.
4 Robert H. Schuller, Self Esteem, The New Reformation (Waco, Texas: Word Books, 1982), trang 72.

CON RẮN TRƯỜN XUYÊN QUA LỜI TIÊN TRI CỦA KINH THÁNH
Từ bình minh của buổi sáng thế cho đến giờ nầy, tác động của Sa-tan giữa vòng con người rất sâu đậm. Nhưng theo lời tiên tri của Kinh Thánh, sức mạnh của nó sẽ bị sụp đổ một cách còn kinh khiếp hơn nhiều trong những ngày sắp tới. Đề tài nầy chủ yếu đề cập đến những sự hầu đến, nhưng trước khi xem xét kế hoạch của Đức Chúa Trời liên quan đến Sa-tan, tốt hơn nên xem qua lịch sử, cũng như nên có cái nhìn thoáng qua thời hiện tại nầy.
SA TAN TRONG LỊCH SỬ
Trước hết chúng ta sẽ xem Sa-tan trong quá khứ. “Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào! Ngươi vẫn bụng bảo dạ rằng: Ta sẽ lên trời, nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao trên các ngôi sao Đức Chúa Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc. Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Đấng Rất Cao. Nhưng ngươi phải xuống nơi Âm phủ, sa vào nơi vực thẳm! Những kẻ thấy ngươi sẽ ngó chăm ngươi; và nhìn ngươi cách ý tứ rằng: Có phải người nầy là kẻ đã làm rung rinh đất, day động các nước, làm cho thế gian thành đồng vắng, lật đổ các thành, và chẳng hề buông tha kẻ bị tù về nhà mình đó chăng? (EsIs 14:12-17). Phân đoạn Kinh Thánh nầy ghi lại sự sụp đổ của Lucifer và lời tiên tri về số phận đời đời của nó. Nhiều điều đã xảy ra, và vẫn còn sẽ xảy ra trước khi lời tiên tri nầy được ứng nghiệm. Nhưng trong thời đại hiện nay, Sa-tan hiện ở đâu?
SA TAN NGÀY NAY
Trước hết, hãy lưu ý rằng Sa tan được quyền ra mắt Đức Chúa Trời. Giop G 2:1 tuyên bố rằng: “Xảy ra một ngày kia, các con trai của Đức Chúa Trời đến ra mắt Đức Giê-hô- va, Sa-tan cũng có đến trong vòng chúng đặng ra mắt Đức Giê-hô-va.” Thắc mắc ấy là: “Vì sao Sa-tan được phép xuất hiện trước mặt Đức Chúa Trời Toàn Năng?” Câu trả lời được ghi trong KhKh 12:10, trong đó, Sa-tan được mô tả là đang đứng trước mặt Đức Chúa Trời với tư cách “kẻ kiện cáo anh em.” Mỗi Cơ đốc nhân nên cẩn thận giữ gìn lời chứng trước sau như một, vì không phải chỉ duy nhất một mình Đức Chúa Trời đang quan sát đời sống của chúng ta. Sa-tan cũng biết về cách cư xử, ăn ở của chúng ta và nhanh chóng kiện cáo chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời.
Tiếp theo, chúng ta hiểu rằng Sa-tan được quyền đến trong thế gian nầy. Giop G 2:22 nói tiếp: “Đức Giê-hô-va bèn phán hỏi Sa-tan rằng: Ngươi ở đâu đến? Sa-tan thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Tôi trải qua đây đó trên đất và dạo chơi tại nơi nó. “Trước đây ít lâu, tôi có nghe một Mục sư theo trường phái tự do viết rằng: ” Chẳng có ma quỷ nào cả. “Một Cơ đốc nhân kia đọc được câu nầy liền đáp lại: “Tôi cảm thấy giống như một võ sĩ quyền Anh kia vừa bị đối thủ đánh trúng một đòn kinh khiếp. Khi võ sĩ mệt lử nầy dựa vào dây thừng và sắp té, ông bầu của anh ta nói rằng: 'Tiếp tục đi, đối phương thậm chí còn chưa đụng phải anh nữa mà.' Võ sĩ nầy trả lời:' Chưa à? Vậy phải coi chừng trọng tài nhé, vì phải có ai đó đang đánh tôi!” Sự suy diễn ở đây thật rõ ràng. Nếu không có ma quỷ, ai gánh trách nhiệm về những chuyện mà chỉ có Sa-tan mới làm được? Alfred Hough đã viết một bài thơ trào phúng trong tinh thần nầy:
Hiện giờ người ta không tin ma quỷ như tổ phụ họ thời xưa đâu .
Người ta đã tống khứ vẻ oai nghi của nó qua một cánh cửa tín điều rộng rãi nhất .)
Chẳng còn ai thấy dấu ấn gì về bàn chân nứt nẻ hay về mũi tên lửa ra từ cung của nó ,
dẫu trên đất hay trên trời , vì thế gian đã biểu quyết như thế .
Ai bám gót vị thánh đồ đang tiến bước miệt mài rồi đào hố bẫy bước chân người ?
Ai gieo cỏ lùng trong đồng ruộng cõi thời gian mỗi khi Đức Chúa Trời gieo lúa mì ?
Người ta biểu quyết rằng không phải do ma quỷ , và đương nhiên , quả như vậy ;
Thế nhưng ai đang làm những việc mà chỉ ma quỷ mới làm được ?
Người ta nói rằng ma quỷ hiện chẳng còn đi rảo như sư tử rống nữa ,
Nhưng ai chịu trách nhiệm trước cuộc cãi vã liên miên
tại trong gia đình , trong Hội Thánh , trong nước , đến tận ranh giới hẻo lánh nhất trên thế gian nầy ,
Nếu như người ta nhất trí biểu quyết rằng chẳng còn ai thấy ma quỷ trên thế gian nầy ?
Có ai đó bước ra ngay lập tức , cúi chào và chứng minh :
Những kẻ lừa đảo và tội phạm chỉ trong một ngày thôi ra từ đâu thế ? Chúng ta muốn biết đấy .
Ma quỷ đã được biểu quyết loại ra , nên đương nhiên , không thể là nó được ;
Nhưng những người đơn sơ đây muốn biết rõ ai đang làm những chuyện ấy?
Lời của Đức Chúa Trời nói rất rõ về đề tài nầy. “Hãy tiết độ và tỉnh thức: kẻ thù nghịch anh em là ma quỷ, như sư tử rống, đi rình mò xung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (IPhi 1Pr 5:8).
Sa-tan không những được quyền ra mắt Đức Chúa Trời để kiện cáo anh em ngày đêm, được quyền đi đến thế gian nầy - nơi nó đang đi loanh quanh như sư tử rống-, mà nó còn đang ra mặt ngoài chốn không gian. Sứ đồ Phao-lô tuyên bố rằng: “Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỷ. Vì chúng ta đánh trận chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy” (Eph Ep 6:11, 12). Trước đó trong thơ nầy, Phao-lô đã nói Sa-tan là “vua cầm quyền chốn không trung” (2:2).
Thật thú vị khi thấy người ta dường như say mê với sự sống ngoài chốn không trung. Những lời tuyên bố của những đồng bóng và những nhà chiêm tinh, như là “Sắp đến ngày những UFO (những vật thể bay không xác định được, đĩa bay, v.v...) sẽ đáp xuống thế giới nầy,” “Những đại diện từ các hành tinh khác đang tập trung lại để chuẩn bị cuộc họp mặt liên hành tinh,” “Sự liên lạc của một nền văn minh ngoài vũ trụ với trái đất ...,” “Các tàu vũ trụ tiến đến sao Hỏa sẽ tiết lộ những bằng chứng mới về nền văn minh cổ ngoài hành tinh và những chuyến hạ cánh gần đây của UFO,” đã trở nên những chuyện thường tình. Một tác giả đã viết một cuốn sách kể lại rằng những đứa trẻ đang hát một bài ca theo nhạc rock với những lời như sau: “Những cỗ máy từ các vì sao đang đáp xuống, và chúng ta sắp có một bữa tiệc.” Tác giả nói tiếp: “Dường như rất có khả năng là có một điều gì đó đang thâm nhập chốn không trung của chúng ta.” Tờ Baptist Bulletin đăng một bài điểm sách thú vị về cuốn sách “UFO's: What on Earth Is Happening?” Trong bài đó có viết: “Trên mười lăm triệu người tuyên bố đã nhìn thấy UFO. Các nhà khoa học tài năng, các phi hành gia, các phi công từ nhiều quốc gia khác nhau cũng có mặt trong nhóm nầy. Trong số những gợi ý để nhận dạng UFO, ba điều đứng đầu là: các vũ khí của một hệ thống lãnh đạo nào đó, chủng loại người liên hành tinh, và hoạt động kiểu ma quỷ. Sau khi kiểm tra qua radar, sau ba ngàn chuyến truy đuổi bằng phi cơ và hàng ngàn bức hình, UFO vẫn chưa có được một lời giải thích chắc chắn. Kết luận của cuốn sách chứa đựng đầy dữ liệu nầy ấy là UFO đại diện cho một hoạt động của ma quỷ, đặc biệt là để chuẩn bị cho Anti Christ.”
Có vẻ rõ ràng là Sa-tan không những chuẩn bị thế giới nầy cho sự xuất hiện của Anti Christ, mà còn đang chuẩn bị con người cho Sự Cất Lên của Hội Thánh nữa. Dầu Hội Thánh không ghi lại điều gì sẽ xuất hiện trên báo chí sau khi Tân Nương của Đấng Christ được cất lên, nhưng có thể người ta sẽ báo cáo rằng cuối cùng UFO đã xuất hiện, và đã thành công trong việc chộp được hàng triệu kẻ xưng mình là Cơ đốc nhân.
Trong tác phẩm 'UFO, Past, Present, and Future,' có thuật lại ý kiến của những người đứng trong danh sách những nhà tâm lý hàng đầu dưới quyền tiến sĩ Leon Testinger ở Viện Nghiên Cứu Xã Hội New York. Họ kết luận rằng: “Những người ngoài hành tinh có thể đáp xuống bãi cỏ Tòa Bạch Ốc vào ngày mai, và hầu hết người Hoa kỳ, do đã bao năm quen với với những huyền thoại và tiểu thuyết khoa học viễn tưởng về UFO, hầu như sẽ chẳng hề ngạc nhiên gì ... đa số người Hoa Kỳ sẽ thản nhiên tiếp tục công việc hằng ngày của mình và chắc chắn sẽ thờ ơ mau chóng.” Tín đồ đừng nên hốt hoảng khi nghe mọi chuyện lạ lùng ngoài hành tinh, vì phải nhớ rằng đấy là lãnh địa của Sa- tan.
SA TAN TRONG LỜI TIÊN TRI
Tuy nhiên, ngày Sa-tan bị quăng ra khỏi chốn không trung trên trời bên trên chúng ta sẽ đến. Lẽ thật nầy được trình bày rõ ràng trong KhKh 12:7-12 “Bấy giờ, có một cuộc chiến đấu trên trời: Mi-chen cùng các sứ người tranh chiến cùng con rồng, rồng cũng cùng các sứ mình tranh chiến lại; song chúng nó không thắng, và chẳng còn thấy chúng nó ở trên trời nữa. Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỷ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó. Tôi lại nghe trên trời có tiếng lớn rằng: Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, và nước Đức Chúa Trời chúng ta đã đến cùng quyền phép của Đấng Christ Ngài nữa; vì kẻ ngày đêm kiện cáo anh em chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, nay đã bị quăng xuống rồi. Chúng đã thắng nó bởi huyết Chiên Con và bởi lời làm chứng của mình; chúng chẳng tiếc sự sống mình cho đến chết. Bởi vậy, hỡi các từng trời và các đấng ở đó, hãy vui mừng đi! Khốn nạn cho (kẻ ở trên) đất và biển! Vì ma quỷ biết thì giờ mình chẳng còn bao nhiêu nên giận hoảng mà đến cùng các ngươi.”
Như chúng ta đã thấy trước đây trong EsIs 14:1-32, Lucifer đã đánh mất đẳng cấp hàng đầu của mình. Giờ đây, trong KhKh 12:1-18, một trận chiến khủng khiếp đang diễn ra giữa các thế lực của thiên đàng với các thế lực của Sa-tan (Lucifer). Mi-chen và các thiên sứ của thiên đàng sẽ chiến thắng, vì vậy những kẻ trên thiên đàng có thể vui mừng vì chiến thắng khải hoàn của Đức Chúa Trời. Nhưng ” ... Khốn nạn cho (kẻ ở trên) đất và biển! Vì ma quỷ biết thì giờ mình chẳng còn bao nhiêu nên giận hoảng mà dến cùng các ngươi” (12:12). Theo biểu đồ gợi ý trong sách nầy, trận chiến nầy sẽ diễn ra vào giữa tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên.
Tại thời điểm nầy, Sa-tan sẽ bị ném xuống đất, không còn được phép ra mắt Đức Chúa Trời hay lai vãng trong các miền trên trời. Nó sẽ bị giới hạn trong thế gian nầy. Thật thú vị khi thấy 12:7-12 ghi lại việc quăng Sa-tan xuống đất, và trong những câu tiếp theo là Cơn Đại Nạn. Trong ba năm rưỡi tiếp theo, Sa-tan sẽ làm mọi sự bằng quyền phép của mình để diệt càng nhiều dân trên đất càng tốt. Sự thù ghét đặc biệt của Sa-tan sẽ nhắm vào những kẻ tin Đấng Christ làm Cứu Chúa mình, nhưng nó cũng sẽ hân hoan một cách độc ác vì hàng triệu người chẳng tin sẽ chết vì không có Đấng Christ và vì không có hy vọng. Chúa Jesus đã tuyên bố trong Mat Mt 24:1-51 “Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu ... ” (câu 22). Có vẻ nếu như Sa-tan mà có thêm được một vài tháng nữa, thì mục tiêu trừ diệt toàn bộ dân số thế giới của nó hẳn sẽ thành công. Phải hiểu rằng có nhiều cuộc đoán xét xảy ra trong những ngày ấy là đến từ tay Đức Chúa Trời để nghịch cùng một thế hệ gian ác và bại hoại, nhưng chính Sa-tan là kẻ sẽ đặt sự hiếu chiến vào lòng của các dân, các nước. Sa-tan sẽ đem đến sự khốn khổ vô kể qua sự đói kém và thú dữ. Đây sẽ là thời kỳ hỗn loạn nhất trong lịch sử nhân loại. Nó đã được gọi một cách chính thức và thích hợp là “Cơn Đại Nạn.”
VỰC SÂU KHÔNG ĐÁY
Khi con rắn tiếp tục bò qua quang cảnh lời tiên tri, diễn tiến tiếp theo sẽ là sự giam cầm Sa-tan trong vực sâu không đáy. “Đoạn tôi thấy một vị thiên sứ trên trời xuống, tay cầm chìa khóa vực sâu và một cái xiềng lớn. Người bắt con rồng, tức là con rắn đời xưa, là Sa-tan, mà xiềng nó lại đến ngàn năm. Người quăng nó xuống vực, đóng cửa vực và niêm phong lại, hầu cho nó không đi lừa dối các dân được nữa, cho đến chừng nào hạn một ngàn năm đã mãn. Sự đó đoạn, Sa-tan cũng được thả ra trong ít lâu” (KhKh 20:1-3). Sự giam cầm nầy sẽ đến sau trận Ha-ma-ghê-đôn. Một ngàn năm mà Sa-tan bị xiềng cũng sẽ là một ngàn năm mà Đấng Christ sẽ cai trị nước Ngài. Lời cầu nguyện được dâng lên trong gần hai ngàn năm qua cuối cùng sẽ được nhậm. ” ... Lạy Cha chúng con ở trên trời; Danh Cha được thánh; Nước Cha được đến; Ý Cha được nên; ở đất như trời” (Mat Mt 6:9, 10). Ý chỉ của Đức Chúa Trời ngày nay có thể được nên trong lòng những người đã tin nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa, nhưng ý chỉ của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ được nên trên đất nầy cũng như sẽ được nên ở trên trời nếu Sa-tan chưa bị xiềng trong vực sâu không đáy và Đấng Christ chưa ngự trên ngai Đa-vít, tổ phụ Ngài.
SA TAN ĐƯỢC THẢ RA
Người ta nghĩ rằng sau thời hạn một ngàn năm bị giam cầm, Sa-tan sẽ học tập được đôi điều; nhưng Kinh Thánh ghi lại cho chúng ta rằng sau một ngàn năm bị giam trong vực sâu không đáy, Sa-tan sẽ được thả ra và sẽ đi ra lừa dối, dụ dỗ các nước. Nó sẽ nhóm hiệp hết thảy những kẻ sanh ra trong thiên hy niên và không tin Đấng Christ là Cứu Chúa thành ra một đạo quân dấy nghịch cuối cùng. Họ sẽ ở dưới quyền lãnh đạo của Sa-tan để chống lại địa vị được tôn cao của Đức Chúa Jesus Christ, nhưng họ sẽ phải hứng chịu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Còn nhiều điều để nói về đề tài nầy trong chương tới, nhưng ở đây, KhKh 20:10 là phần kết luận thích hợp nhất: “Còn ma quỷ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời.” Phải hiểu rằng Sa-tan sẽ bị quăng xuống Hồ Lửa, nơi con thú và tiên tri giả đang ở. Chữ nầy là “ở” ("are” trong Anh ngữ), chứ không phải là “đã ở” ("were"). Điều nầy có nghĩa là tại thời điểm nầy, Anti Christ và tiên tri giả đã ở trong hồ lửa suốt một ngàn năm rồi. Nên nhớ rằng chúng sẽ bị ném xuống hồ lửa sau trận Ha-ma-ghê-đôn (19:20). Cuối cùng Sa-tan sẽ bị ném vào cùng một chỗ đó ở một ngàn năm sau, chỉ để khám phá ra rằng Anti Christ và Tiên Tri Giả vẫn còn ở tại đó. Những ai tranh luận rằng hồ lửa là nơi hủy diệt chắc chắn ắt sẽ khó giải nghĩa được 20:10. Suy cho cùng, chỗ đó đã được chuẩn bị cho ma quỷ và quỷ sứ nó (Mat Mt 25:41). Đức Chúa Trời chẳng bao giờ có ý định để cho bất cứ ai đi vào địa ngục, nhưng những kẻ nào không công nhận Con Ngài là Cứu Chúa sẽ bị quăng vào nơi đời đời đó (KhKh 20:15). Lời của Đức Chúa Trời là chắc chắn thể nào, thì họ cũng sẽ phải ở với Sa-tan đời đời một cách chắc chắn thể ấy.
Phần đầu của chương nầy có giới thiệu một phân đoạn của EsIs 14:1-32. Tôi cũng muốn dùng phần đó trong sự khải thị của Đức Chúa Trời để kết thúc chương nầy: “Nhưng ngươi phải xuống nơi Âm phủ, sa vào nơi vực thẳm! Những kẻ thấy ngươi sẽ ngó chăm ngươi; và nhìn ngươi cách ý tứ rằng: Có phải người nầy là kẻ đã làm rung rinh đất, day động các nước, làm cho thế gian thành đồng vắng ... ” (14:15-17a). Thật thê thảm khi nghĩ đến một số người đã đọc những lời nầy lại có thể thực sự lập lại phân đoạn nầy vào tai Sa-tan khi họ chịu đau đớn khôn cùng trong hỏa ngục suốt cả cõi đời đời.

KẺ CHẲNG TIN TRONG LỜI TIÊN TRI
Lời Đức Chúa Trời nói rõ về số phận những kẻ chết mà không có Đấng Christ. Nói ngắn gọn, có thể nói rằng có bốn bước đang chờ đợi kẻ chưa được cứu: Âm phủ (Hades) (LuLc 16:19-24); sự sống lại để chịu đoán phạt (GiGa 5:29); sự đoán xét tại ngai trắng và lớn (KhKh 20:11-13) và Hồ Lửa (20:15).
HAI HẠNG NGƯỜI CHẲNG TIN
Vấn đề cần xem xét trong chương nầy đề cập đến lời tiên tri về kẻ chẳng tin trên đất nầy. Cần phải hiểu rằng ngay lập tức sau khi Hội Thánh được cất lên, mọi người trên đất đều sẽ là kẻ chẳng tin, nhưng cũng nên lưu ý rằng sẽ có hai hạng người chẳng tin: những người đã nghe tin lành và đã chối bỏ kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và những kẻ chưa hề nghe đến tin lành. Đối với những kẻ đã nghe song nói “Không!” với Đấng Christ, Phao-lô viết rằng: “Vì chúng nó đã không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi. Ấy vì thế mà Đức Chúa Trời cho chúng nó mắc phải sự lầm lạc, là sự khiến chúng nó tin đều dối giả, hầu cho hết thảy những người không tin lẽ thật, song chuộng sự không công bình, đều bị phục dưới sự đoán xét của Ngài ” (IITe 2Tx 2:10a-12). Người ta đã bàn cãi khá nhiều về phân đoạn nầy. Một số người mạnh mẽ tin rằng những ai nghe tin lành trước lúc Hội thánh được Cất Lên vẫn có thể được cứu sau Sự Cất Lên. Tác giả sách nầy tin quyết rằng những ai “đã không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi” chính là những người sống trước Sự Cất Lên và đã nghe câu chuyện về tình yêu của Đức Chúa Trời và hẳn đã có thể được cứu, nhưng họ đã xây bỏ ân điển của Đức Chúa Trời. Đây sẽ là những kẻ “mắc phải sự lầm lạc, là sự khiến chúng nó tin điều dối giả.” Nói cách khác, họ sẽ không muốn tin lẽ thật, là chính Đức Chúa Jesus Christ, nên họ sẽ tin điều dối giả, tức là chính Anti Christ. Khúc Kinh Thánh nầy nói tiếp rằng: “Hết thảy những người không tin lẽ thật... đều bị phục dưới sự đoán xét của Ngài.”
H.A Ironside đã nói như vầy về phân đoạn chúng ta đang đọc:
Tôi đã tình cờ bắt gặp sai lầm trong nhiều tác phẩm mới đây nói về sự hiện ra của Chúa chúng ta. Đó là người ta nói rằng sau sự kiện Hội Thánh được cất lên sẽ có một cuộc đại phục hưng, một sự thức tỉnh tâm linh không thể lường trước được trong giới Cơ đốc giáo, khi rất đông người chưa quyết định dứt khoát trong thời kỳ ân điển hiện nay sẽ quay về với Chúa; và người ta đang dạy dỗ cách rộng rãi rằng những người nầy sẽ lập thành một đoàn dân đông gồm những người ngoại bang sẽ được cứu trong Cơn Đại Nạn. Tôi xin nói rằng tôi đã tra cẩn thận Kinh Thánh để tìm xem có câu nào khẳng định cho sự dạy dỗ thể ấy chăng, nhưng tôi không tìm được câu nào. Trái lại, chúng ta được cho biết một cách khác hẳn trong IITe 2Tx 2:11 rằng Đức Chúa Trời sẽ từ bỏ những kẻ nào không tiếp nhận tình yêu của lẽ thật trong thời hiện nay để được cứu rỗi; họ sẽ bị phú cho sự cứng lòng và bại hoại tâm linh. 1
Còn một nhóm người chưa được cứu khác nữa trên thế gian nầy sau sự cất Hội Thánh lên, tức là, những người chưa hề có cơ hội hiểu biết để tiếp nhận hay chối bỏ Đức Chúa Jesus Christ làm Cứu Chúa của bản thân mình. Không còn nghi ngờ gì nữa, họ ra từ mỗi quốc gia trên đất, vì trong sự khải thị được ban cho Giăng, tôi tớ Đức Chúa Trời, ông đã thấy một đoàn tín đồ rất đông ra từ cơn đại nạn. Các tín đồ nầy sẽ ra từ “mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng” (KhKh 7:9). Số 144.000 người Do-thái sẽ được cứu, từ mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên, mỗi chi phái 12.000 người, chỉ đơn giản là “trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con” (14:4), nhưng họ hoàn toàn không phải là trái đầu mùa duy nhất. Tiếp sau sự hoán cải của họ sẽ là cứu rỗi của hàng triệu người Do-thái khác, cũng như của đoàn người ngoại bang vừa nói trên đây, và đó sẽ là một đoàn dân đông vô số đến nỗi “không ai đếm được” (KhKh 7:9).
Tuy nhiên chương nầy chủ yếu đề cập đến những kẻ chẳng tin theo cách họ xuất hiện trong bản tiên tri trên đất nầy. Cảnh kế tiếp cần xem xét là Mat Mt 24:1-51 “Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả, như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con người đến cũng như vậy. Lúc ấy sẽ có hai người nam ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi còn một người bị để lại; và có hai người nữ đang xay cối, một người được đem đi, còn một người bị để lại. Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến” (24:37-42).
Trước kia người ta cho rằng các sách Tin Lành Cộng Quan (Mathiơ, Mác, Luca, Giăng) không nói đến sự Cất Lên của Hội thánh, nhưng nhiều người trích dẫn phân đoạn nầy chỉ để nói về sự kiện Đấng Christ đến đón Tân Nương Ngài. Sự thực, câu nói “khi Con người đến” (24:37) không phải là câu nói về sự kiện Đấng Christ đến rước Tân Nương Ngài, mà nói về sự tái lâm trần gian của Đấng Christ trong Sự Hiện Ra. Khi tái lâm, Ngài sẽ tiêu diệt các đạo quân của trần gian trong trận Ha-ma-ghê-đôn (24:27, 28). Sự kiện nầy sẽ xảy ra ngay sau cơn đại nạn (24:29). Mọi mắt sẽ trông thấy Ngài khi Ngài trở lại trong đại quyền và đại vinh (2430, 31;; Cong Cv 1:11). Có nhiều người lập luận rằng vì cớ “sẽ có hai người nam ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi còn một người bị để lại” (Mat Mt 24:40), nên phân đoạn nầy hẳn phải nói về Sự Cất Lên của Hội Thánh. Suy cho cùng, nếu một kẻ tin và một kẻ chẳng tin cùng ở trong một đồng ruộng, thì kẻ tin sẽ được cất đi, còn kẻ chẳng tin sẽ bị để lại. Tuy nhiên, 24:1-51 không đề cập đến Sự Cất Lên của Hội Thánh, mà là sự hiện ra của Đấng Christ. Vậy thì có thể nói gì về những kẻ sẽ được cất đi và những kẻ sẽ bị để lại? Xin nhớ rằng, trước khi tuyên bố câu nầy, Chúa Jesus đã phán lời tiên tri rằng sẽ tái diễn cảnh của đời Nô-ê. Dòng dõi gian ác đó sẽ không chịu tin lẽ thật, và cuối cùng “nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy” (24:39). Từ khúc Kinh Thánh nầy, cũng như từ khúc Kinh Thánh trong Cựu Ước, rõ ràng hết thảy những kẻ bị đùa đi đều là kẻ chẳng tin. Những kẻ được để lại là những kẻ tin, là kẻ sẽ trở thành những người đầu tiên của một dòng dõi mới trên đất. Vì thế, đây sẽ là lúc Đấng Christ tái lâm trần gian trong Sự Hiện Ra. Những kẻ sống sót trên trần gian sẽ được gom lại để Đức Chúa Jesus Christ xét đoán họ. Những kẻ chẳng tin, là kẻ đã trải qua cơn đại nạn và không chịu tin Đấng Christ làm Cứu Chúa sẽ bị quăng vào Âm phủ, cũng như những kẻ chẳng tin trong thời Nô-ê vậy. Kẻ chẳng tin người Do-thái được gọi là “những người nữ đồng trinh dại” trong khi những người ngoại bang chẳng tin được gọi là “dê” (25:1-46). Tín đồ người Do-thái được gọi là “những người nữ đồng trinh khôn” trong khi tín đồ người ngoại bang được gọi là “chiên.” Những tín đồ nầy, cũng giống như Nôê và gia đình ông, sẽ trở thành tổ tiên của một dòng dõi mới phát triển trên đất nầy trong triều đại thiên hy niên của Đấng Christ.
John Walvoord đã viết về đề tài nầy như sau:
Theo sau thất bại vĩ đại của nỗ lực con người nhằm điều khiển lịch sử nhân loại sẽ là một thế giới không tưởng. Ba sự xét đoán đến lúc đó sẽ trừ diệt xong hết thảy những kẻ không tin Đức Chúa Jesus Christ khỏi thế giới. Các đạo quân của thế gian cũng đã bị tiêu diệt trên bãi chiến trường ở Trung Đông. Người Do-thái chẳng tin đã bị đoán xét và bị giết. Trong sự đoán xét chiên và dê, những người ngoại bang chẳng tin cũng đã bị trừ diệt khỏi đất. Toàn bộ dân số thành viên còn lại trên đất đều đã kinh nghiệm sự tái sanh bởi đức tin nơi Đấng Christ. 2
NGAI LỚN VÀ TRẮNG
Bước cuối cùng phải có trong việc nghiên cứu về kẻ chẳng tin trong lời tiên tri của Kinh Thánh ấy là ngai lớn và trắng. “Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong sách ấy” (KhKh 20:11-12). Hết thảy những kẻ không được cứu trong lịch sử nhân loại sẽ đứng trước mặt Đức Chúa Jesus Christ trong sự đoán xét nầy (GiGa 5:22; Cong Cv 17:31; IIPhi 2Pr 2:9). Tại cuộc đoán xét đáng sợ nầy, các sách đều sẽ mở ra. Các sách nầy chứa đựng công việc ác của mọi kẻ đang đứng trước mặt Đấng Christ, vì họ sẽ “bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong các sách ấy” (KhKh 20:12). Quả là một lẽ thật nghiêm túc biết bao khi ý thức được rằng Đức Chúa Trời đang lưu giữ những bản tường trình chính xác về những tư tưởng, những lời nói, những hành động, những việc làm của hết thảy những kẻ từng vi phạm tiêu chuẩn của Ngài.
Kinh Thánh cũng ghi rằng “quyển sách sự sống” sẽ mở ra. Tôi đồng ý với lời giải nghĩa trong phần chú thích cuối trang của bản Kinh Thánh Scofield: “Quyển sách sự sống ở tại đó để trả lời cho tất cả những người dùng các công việc lành của họ mà năn nỉ để được xưng công bình ... cho một chỗ trống kinh khiếp mà lẽ ra tên của họ đã có thể được ghi vào chỗ đó.” Trong Gie Gr 2:8, chúng ta thấy có những kẻ giảng luật pháp của Đức Chúa Trời mà không hề biết Ngài, và trong 23:21, Đức Chúa Trời tuyên bố rằng: “Ta chẳng sai những tiên tri nầy mà chúng nó đã chạy; Ta chẳng phán với, mà đã nói tiên tri.” Việc làm một thành viên của hàng giáo phẩm thời nay sẽ không bảo đảm sự sống đời đời cho một người, vì Chúa Jesus đã phán rằng: “Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỷ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta! (Mat Mt 7:22-23). Sự thật là bất kỳ công việc nào, dẫu có tốt lành thế nào đi nữa, cũng không thể bảo đảm sự sống đời đời cho một con người. “Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, đều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình” (Eph Ep 2:8, 9).
Công việc duy nhất để bảo đảm cho sự sống đời đời ấy là công tác đã làm trọn của Đấng Christ trên thập tự giá. Bất cứ ai đến với Ngài với đức tin như con trẻ đều được vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. Nếu bạn chưa bao giờ mở đời sống mình ra tiếp đón Chiên Con đã bị đóng đinh và đã sống lại của Đức Chúa Trời, tôi nài xin bạn ngay giờ nầy hãy kêu cầu cùng Ngài với tư cách một tội nhân biết ăn năn, thừa nhận nhu cầu của mình, và mời Ngài ngự vào lòng bạn làm Chúa và Cứu Chúa của bạn.
1 H.A. Ironside, Lectures on the Revelation (Neptune, New Jersey: Loizeaux Brother, 1920), trang 133-134.
2 John F. Walvoord và John E. Walvoord, Armageddon (Grand Rapids, Michigan: Zondervan, 1974), trang 179.


THẮC MẮC VÀ GIẢI ĐÁP
Tôi nhận thấy trong những năm gần đây, Cơ đốc nhân ngày càng quan tâm nhiều hơn đến lời tiên tri của Kinh Thánh. Sự quan tâm nầy đem lại một lòng khao khát lành mạnh mong được nói lên chiều sâu của các lẽ thật tiên tri được khải thị trong lời quý báu của Đức Chúa Trời. Tại nhiều Hội Thánh nơi tôi đến để tổ chức các hội nghị về lời tiên tri, các tín đồ đã nêu lên nhiều câu hỏi về đề tài sống động nầy. Hy vọng rằng những thắc mắc của họ đã được giải đáp qua các chương trước. Tôi muốn kết thúc quyển sách nầy bằng cách nêu lên những thắc mắc đến giờ nầy vẫn chưa được giải quyết.
Hỏi: Vì sao Hội Thánh sẽ được cất lên trước tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên?
Đáp: Chúng ta đọc trong DaDn 9:24 “Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi....” Rõ ràng lời tiên tri nầy là nhằm tác động đến quốc gia Y-sơ-ra- ên. Dân tộc của Đa-ni-ên là dân Do-thái. Vì không tìm thấy Kinh thánh nói gì về Hội Thánh trong sáu mươi chín tuần lễ đầu, là những tuần lễ đã xảy đến và đã qua đi, nên không có lý do gì để đặt sự kiện nầy trong tuần lễ thứ bảy mươi vẫn chưa xuất hiện nầy. Cũng nên lưu ý rằng tuần lễ thứ bảy mươi không bắt đầu với Sự Cất Lên của Hội Thánh, mà bắt đầu bằng sự kiện ký giao ước giữa Anti Christ và quốc gia Do-thái (9:27). Vì Anti Christ sẽ không xuất hiện cho đến khi Hội Thánh được cất lên (IITe 2Tx 2:7, 8), nên về mặt luận lý có thể suy luận rằng Hội Thánh không thể có mặt trên đất nầy trong tuần lễ thứ bảy mươi. Ngoài ra, còn một sự kiện thú vị nữa là sau khi Hội Thánh được nói đến trong KhKh 3:1-22, thì Hội Thánh không được nhắc đến như là đang ở trên đất mãi cho đến sau trận Ha-ma-ghê-đôn trong 19:1-21. Tân Nương của Đấng Christ được mô tả là ở trên thiên đàng trong thời kỳ cơn đại nạn (19:7-10).
Hỏi: Đâu là những khác nhau của sự đoán xét tại ngai Đấng Christ với sự đoán xét tại ngai trắng và lớn?
Đáp: Trong chương trước, chúng ta đã xem xét sự đoán xét tại ngai trắng và lớn, là sự đoán xét xảy ra sau nước thiên hy niên. Đây sẽ là sự đoán xét về công việc làm của mọi kẻ chẳng tin, và sẽ quyết định mức độ hình phạt cho phần của họ trong hồ lửa suốt cả cõi đời đời (20:11-15). Không một tín hữu nào phải đứng trước mặt Đấng Christ tại ngai trắng và lớn nầy.
Sự đoán xét tại ngai Đấng Christ sẽ xảy ra sau sự cất lên của Hội Thánh, và sẽ xảy ra ít nhất 1007 năm trước sự đoán xét tại ngai trắng và lớn. Đây cũng sẽ là sự đoán xét công việc làm (IICo 2Cr 5:10) để quyết định mức độ phần thưởng cho các tín hữu, là những kẻ sẽ hưởng cõi đời đời với Đức Chúa Jesus Christ. Sẽ có không dưới năm loại mão miện sẽ được ban cho các thánh đồ đã trung tín nỗ lực hầu việc Ngài:
1. Mão triều thiên không hay hư nát (ICo1Cr 9:25).
2. Mão triều thiên của sự sống (Gia Gc 1:12; KhKh 2:10).
3. Mão triều thiên vinh hiển (IPhi 1Pr 5:4).
4. Mão triều thiên của sự vui mừng (ITe1Tx 2:19).
5. Mão triều thiên của sự công bình (IITi 2Tm 4:8).
Hỏi: Sự Cất Lên làm sao có thể sắp xảy đến được, khi mà Tin Lành vẫn chưa được rao giảng trong mọi thứ tiếng?
Đáp: Thắc mắc nầy phát xuất từ Mat Mt 24:1-51, khi chúng ta đọc đến chỗ: “Tin Lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ, sự cuối cùng sẽ đến.” Nên hiểu rằng “tin lành về nước Đức Chúa Trời” cũng là tin lành chúng ta rao giảng ngày nay, xét về mặt nội dung. Nó được gọi là “tin lành về nước Đức Chúa Trời” trong 24:1-51, vì nó sẽ được rao giảng ngay trước thời đại nước Đức Chúa Trời. Ở đây, Đức Chúa Jêsus đang nói về công cuộc đi ra truyền giáo vĩ đại sau khi Hội Thánh được cất lên. Trong Khải-huyền, Giăng đã nhìn thấy tầm cỡ của cuộc thức tỉnh tâm linh toàn cầu đó: “Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem, thấy vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra; chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là” (KhKh 7:9). Nói cách khác, Mat Mt 24:14 không nói đến công cuộc truyền giảng tin lành thế giới phải xảy ra trước sự cất lên của Hội Thánh. Hội Thánh không được uỷ thác phải đi đến khắp toàn thế gian để giảng tin lành cho mỗi con người, hầu cho Đấng Christ có thể trở lại rước Tân Nương Ngài lên. Sự vâng lời của chúng ta phải căn cứ vào mạng lệnh rõ ràng và lòng thương xót của Chúa Jesus (Mac Mc 16:15; IIPhi 2Pr 3:9).
Hỏi: Trước khi sự cất lên xảy ra, Cơ đốc nhân có biết được ai là Anti Christ không?
Đáp: Một số người nghiên cứu Kinh Thánh nổi tiếng về lời tiên tri của Kinh Thánh tin rằng Anti Christ sẽ là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt hoàn sinh. Những người cho rằng Sa-tan không có quyền năng gọi kẻ chết sống lại thì cảm thấy dễ chịu hơn với quan điểm cho rằng Anti Christ sẽ là một con người khác nữa, là kẻ sẽ được đầy dẫy Sa-tan và bị Sa-tan tể trị y như Giu-đa vậy. Nếu quan điểm nầy đúng, thì có thể chúng ta ngày nay đang nhìn thấy Anti Christ, nhưng không biết nó là ai. Vì cớ đó, nếu Anti Christ đang sống ngay trong giờ nầy, thì nó cũng không ý thức được vai trò của nó một ngày kia trong lời tiên tri của Kinh Thánh. Dầu bạn theo quan điểm nào, (tôi thích quan điểm thứ hai hơn), thì sự thật vẫn là tín đồ sẽ được cất lên khỏi trần gian nầy trước khi kẻ gian ác kia hiện ra (IITe 2Tx 2:7, 8).
Hỏi: Khi nào thì Anti Christ sẽ nắm toàn quyền trên thế gian nầy?
Đáp: Theo DaDn 7:8, Anti Christ sẽ nắm quyền kiểm soát tức khắc ba trong số mười quốc gia của đế quốc La-mã hồi sinh. Sau đó chẳng bao lâu, nó sẽ nắm quyền cai trị bảy quốc gia còn lại. Với sự hủy diệt của đại liên minh phương bắc do Nga cầm đầu (Exe Ed 38:1-23), Anti Christ bấy giờ sẽ trở nên lãnh tụ không ai tranh cãi được của thế giới nầy (KhKh 13:7).
Hỏi: 144.000 người đó là ai?
Đáp: Trong 7:1-17, chúng ta được giới thiệu về một nhóm tín đồ đặc biệt được gọi là “những tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta” (7:3). Sau đó, họ được gọi là “trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con” (14:4). Đây sẽ là những người đầu tiên đến với Đấng Christ nhận Ngài làm Cứu Chúa sau khi Hội Thánh được cất lên, và số lượng của họ sẽ là 144.000 người. Trong 7:1-17, chúng ta đọc thấy họ sẽ ra từ mười hai chi phái của Y-sơ-ra-ên, mỗi chi phái 12.000 người. Có một điểm cần phải làm sáng tỏ: chi phái Đan bị loại ra (7:6) và chi phái Ma- na-se (một trong những con trai của Giô-sép) thay vào chỗ của Đan. Chúng ta không biết vì sao có sự thay đổi nầy, nhưng có người gợi ý rằng đó là do chi phái Đan luôn luôn là một trong những chi phái đầu tiên sa vào tội thờ lạy hình tượng (Cac Tl 18:30). Lời tiên tri của Gia-cốp về Đan, con trai mình, có thể cũng là một yếu tố (SaSt 49:17).
Hỏi: Liệu có tín hữu nào có mặt trong trận Ha-ma-ghê-đôn không?
Đáp: Khi Đấng Christ tái lâm trong Sự Hiện Ra để hủy diệt toàn bộ thế lực của trần gian và chấm dứt triều đại khủng bố của Sa-tan, các thánh đồ trong cơn đại nạn, là những người vẫn đang còn sống, hoặc sẽ đang bị tù hoặc đang lẩn trốn. Vì họ sẽ không chịu mang dấu của con thú, họ sẽ không làm thành viên trong cộng đồng chính trị, xã hội, hay kinh tế của Anti Christ được.
Hỏi: Trong triều đại thiên hy niên của Đấng Christ có sự chết hay không?
Đáp: Chúng ta đã quan sát trong một chương trước đây rằng mọi kẻ ở với Đấng Christ từ buổi đầu của thiên hy niên đều sẽ là tín đồ thật. Lúc đó, hết thảy họ đều đã có thân thể vinh hiển, trừ những người đã phải sống qua cơn đại nạn. Những người hay chết nầy (những người chưa có thân thể vinh hiển) sẽ trở thành tổ tiên của một dòng dõi mới trên đất. Những kẻ sinh ra trong thời kỳ thiên hy niên phải tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa mình, giống y như những người sống trước thời kỳ đó vậy. Thật không thể tưởng nổi, nhưng đúng là như vậy, hàng triệu người sinh ra trong những điều kiện trọn vẹn của nước Đấng Christ sẽ vẫn không chịu tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa mình. Chúng ta được biết từ lời tiên tri của Ê-sai, “Tại đó sẽ không có trẻ con chết non, cũng chẳng có ông già nào chẳng trọn đời mình; vì chết lúc trăm tuổi còn là chết trẻ, và kẻ có tội lúc trăm tuổi, ấy là bị rủa sả” (EsIs 65:20). Rõ ràng, trong chế độ thần trị, thậm chí cả khi Sa-tan cũng bị xiềng trong vực sâu không đáy, một số kẻ chẳng tin vẫn nỗ lực vận dụng bản tánh A-đam của mình để rồi họ phải bị đoán xét trên cơ sở cá nhân và bị quăng vào Âm phủ. Vì cớ sự trường thọ sẽ được phục hồi trong thời thiên hy niên, nên dường như người sống đến một trăm tuổi mà chết thì giống một đứa trẻ con vậy. Toàn bộ những kẻ chẳng tin sẽ tụ họp lại với nhau khi Sa- tan được thả ra từ vực sâu không đáy (KhKh 20:7) để biểu diễn một trận dấy nghịch hùng hậu chống lại Đức Chúa Jesus Christ. Lửa của Đức Chúa Trời sẽ từ trời rơi xuống và thiêu nuốt đạo binh nầy (20:8, 9). Họ là những kẻ hay chết cuối cùng nếm mùi sự chết thuộc thể.
Hỏi: Điều gì sẽ đến tiếp sau sự đoán xét nơi ngai trắng và lớn?
Đáp: Sự đoán xét cuối cùng của Đức Chúa Trời sẽ giáng trên đất và các từng trời. Sứ đồ Phi-e-rơ viết rằng: “Trong khi chờ đợi trông mong cho ngày Đức Chúa Trời mau đến, là ngày các từng trời sẽ bị đốt mà tiêu tán, các thể chất sẽ bị thiêu mà tan chảy đi! Vả, theo lời hứa của Chúa, chúng ta chờ đợi trời mới đất mới, là nơi sự công bình ăn ở” (IIPhi 2Pr 3:12, 13). Thời điểm của sự đoán xét sau cùng nầy được tìm thấy trong KhKh 21:1-27, tại đó, sau sự đoán xét nơi ngai trắng và lớn, Giăng tuyên bố: “Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhứt và đất thứ nhứt đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa” (21:1). Những người đã tin cậy Con Đức Chúa Trời làm Cứu Chúa sẽ hưởng sự thông công của Ngài trong những điều kiện toàn hảo suốt cả cõi đời đời.
Hỏi: Xin giải nghĩa thời kỳ bảy mươi lăm ngày giữa tuần lễ thứ bảy mươi và thiên hy niên .
Đáp: Xin đọc DaDn 12:11, 12. Sẽ đến ngày Anti Christ ký một giao ước với Y-sơ-ra- ên (9:27). Việc ký kết hòa ước nầy sẽ chính thức mở đầu một thời kỳ bảy năm mà chúng ta gọi là tuần lễ thứ bảy mươi của Đa-ni-ên. Đây là một thời kỳ gồm hai ngàn năm trăm hai mươi ngày (xem biểu đồ). Nhưng “đến giữa tuần ấy (tức là sau một ngàn hai trăm sáu mươi ngày), người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc” (9:27). Tại thời điểm đó, nó sẽ đặt một hình tượng, giống như chính nó, trong đền thờ. Chúa Jesus đã gọi đây là: “sự tàn nát gớm ghiếc” (Mat Mt 24:15).
Vì cớ điều nầy sẽ diễn ra tại điểm giữa của tuần lễ thứ bảy mươi, nên chúng ta kết luận sẽ có chính xác một ngàn hai trăm sáu mươi ngày tính cho đến lúc chấm dứt tuần lễ thứ bảy mươi. Tuy nhiên DaDn 12:11 cho chúng ta biết rằng thời kỳ của sự gớm ghiếc sẽ tiếp tục trong một ngàn hai trăm chín mươi ngày. Điều nầy đưa ra thêm ba mươi ngày nữa. Bốn mươi ngày thêm vào nữa được tìm thấy trong câu 12. Trong bảy mươi lăm ngày nầy, những điều sau đây sẽ xảy ra: Sự Hiện Ra của Đấng Christ (sự tái lâm) (KhKh 19:11-19). Anti Christ và Tiên Tri Giả sẽ bị quăng vào hồ lửa (19:20), Sa-tan sẽ bị ném vào vực sâu không đáy (20:1-3), và những kẻ sống sót sau cơn đại nạn sẽ bị đoán xét (Mat Mt 25:1-13, 31-46).
Giờ đây, tôi xin đưa ra một nhận định chót khi kết thúc quyển sách nói về lời tiên tri của Kinh Thánh. Không ai có được sự sống đời đời vì cớ người ấy tin nơi điều mà Đức Chúa Trời sẽ làm thành trong tương lai. Chúng ta không được cứu rỗi bởi những gì Đức Chúa Trời sẽ làm, song bởi những gì Đức Chúa Trời đã làm rồi. Nếu bạn muốn được sống đời đời, bạn phải quay nhìn lại Gô-gô-tha. Chính tại đó, Đức Chúa Jêsus đã mang lấy tội lỗi của toàn thế gian trên thân thể Ngài, đã tuôn huyết Ngài ra, và đã phó mạng sống Ngài. Nếu bạn chưa hề tin nơi “Chiên Con của Đức Chúa Trời”, Đấng đã chịu giết và đã sống lại nầy, làm Cứu Chúa của chính bạn, tôi khuyên nài bạn hãy đến với Ngài ngay giờ nầy. Hãy cầu nguyện như vầy:
"Lạy Đức Chúa Trời , con nhìn nhận mình là một tội nhân và ăn năn tội lỗi của con . Con tin Ngài yêu con , bất chấp mọi tội lỗi của con , và đã sai Con Ngài đến thế gian mang lấy tội lỗi con trong thân thể Ngài trên cây thập tự . Lạy Đức Chúa Jesus Christ , con tin Ngài đã đổ huyết Ngài ra và phó mạng sống làm giá chuộc tội duy nhất cho tội lỗi con . Con cũng tin Ngài đã sống lại từ kẻ chết . Xin Ngài ngự vào đời sống con . Xin thương xót con , là một tội nhân , và cứu rỗi con ngay giờ nầy .”


† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 14-11-2018 02:19 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách