† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3074|Trả lời: 0

Khoa Học Và Kinh Thánh

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 16-7-2011 08:07:20 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Khoa Học Và Kinh Thánh
Tác giả: Viện Thần Học Vệt Nam
Chương một : ĐẶC ĐIỂM KHOA HỌC
I. Vai trò của Khoa học
II. Phạm vi của Khoa học
III. Phương pháp Khoa học
IV. Giới hạn của Khoa học
Chương hai : ĐẶC ĐIỂM KINH THÁNH
I. Zặc tính ngôn ngữ Kinh Thánh
II. Những khó hiểu trong Kinh Thánh
III. Tương quan giữa Kinh Thánhv à Khoa học
Chương ba : KHOA HỌC VÀ SỰ GIẢI THÍCH SÁNG THẾ KÝ
I. Mười ba điều quả quyết của Kinh Thánh
II. Các ngày trong Sáng Thế Ký
II. Thuyết tiến hoá
IV. Đại hồng thuỷ
Chương bốn : KHÁM PHÁ KHOA HỌC VÀ SỰ CHÂN XÁC CỦA KINH THÁNH
I. Sử Học
II. Khảo cổ học
III. Y học
IV. Quyền năng của Đức Chúa Trời
KẾT LUẬN __


ĐẶC ĐIỂM KHOA HỌC
Tập thảo luận “De Revolutonibus Orbium Coe Lestium” của Copernic được phổ biến (1543) đã khởi đầu cho thời đại khoa học hiện đại và đồng thời nó cũng là một thách thức cho Giáo hội thời đó. Với chủ trương quả đất tròn và quay quanh mặt trời. Copernic và Galilée đã bị giáo hội kết án. Họ đã dám nhân danh khoa học để đi ngược lại những gì Giáo hội chủ trương. Dầu Galilée đã trưng dẫn Kinh Thánh để hậu thuẫn cho Copernic cũng như chứng tỏ rằng những điều ông khám phá không làm suy giảm đức tin, nhưng những người bảo thủ vẫn không nhìn nhận sự sai lầm của họ - Giáo hội thời đó đã tỏ thái độ coi thường khoa học để bảo vệ một truyền thống thiếu nền tảng.
I. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC
Khoa học bắt đầu bằng sự nghiên cứu sự chuyển động của sự vật - không có chuyển động sẽ không có khoa học - khoa thực vật học có vì có sự chuyển động hay thay đổi của các tế bào trong thân cây - khoa vật lý học có sự chuyển vận của vật chất... Chuyển động bao gồm ý niệm không gian và thời gian - cho nên khoa học không thể tách rời hai ý niệm đó. Nói cách khác, nếu một hiện tượng không được mô tả bằng không gian và thời gian thì không thể xếp vào phạm vi khoa học.
Dầu các hiện tượng thuộc phạm vi vật lý học hay động vật học thì chúng cũng phải được khảo sát hoặc như là nguyên nhân và hậu quả của chuyển động hoặc như là chúng chuyển động. Vai trò của khoa học là GIẢI THÍCH những chuyển động, hay nói cách khác khoa học cho biết hiện tượng chuyển động NHƯ THẾ NÀO; khoa học tìm ra mối tương quan giữa các sự kiện để giải thích hiện tượng dựa trên phương pháp khoa học. Mối tương quan đó được gồm tóm trong những định luật khoa học. Khoa học không tạo ra những định luật mà là KHÁM PHÁ ĐỊNH LUẬT. Và dầu khoa học có khám phá được hay không thì định luật vẫn có. Định luật duy trì sự hài hoà của vũ trụ, khiến vũ trụ tồn tại.
Khoa học theo nghĩa rộng có nghĩa là biết. Tuy nhiên để biết một vật hay một thực tại nào thì không phải bắt buộc phải sử dụng cùng một phương pháp. Ngay trong cùng một lãnh vực khoa học, mỗi bộ môn cũng có những phương pháp riêng thích ứng. Phương pháp sử học - hiểu như một khoa học - không giống như phương pháp vật lý học bởi lẽ người ta không thể dựng lại một khung cảnh lịch sử trong quá khứ để kiểm chứng như người ta làm thí nghiệm trong khoa vật lý. Và trong những khoa học kém chính xác như nhân văn lịch sử thì sự quan sát nghiêng về phẩm chất và sự tương quan giữa các sự kiện nhiều hơn. Tuy nhiên, người ta cho rằng trong sự quan sát, khoa học thiên về lượng - tức chú ý đến sự đo lường bao nhiêu thì càng trưởng thành bấy nhiêu. Vì thế trong những khoa học như xã hội học, tâm lý học, người ta thường cố gắng đưa những ký hiệu toán học. Cả trong lãnh vực tư tưởng, ngày nay người ta cũng thay môn luận lý cổ điển bằng luận lý toán học được tượng trưng bằng những hệ thức mang toàn những ký hiệu toán học nhằm đưa đến sự chính xác trong luận lý.
Cùng một sự kiện có thể có nhiều lối giải thích, nhưng với cái nhìn khoa học, lời giải thích sẽ trở nên có giá trị nếu vấn đề không nằm ngoài phạm vi của khoa học.
Khoa học không thể trả lời TẠI SAO sự kiện và GIẢI THÍCH sự kiện với một trình độ chính xác cao nhất - bằng những phương pháp vật lý có thể sử dụng.
II. PHẠM VI CỦA KHOA HỌC
Một lời tuyên bố cho rằng khôngmột sự việc nào lại có thể nằm ngoài phạm vi của khoa học thật ra là một kết luận triết học chứ không phải khoa học. Nếu một sự kiện nào không được mô tả bằng không gian và thời gian thì không thể nào được xếp vào phạm vi khoa học. Cho nên có những thực tại mà khoa học không thể nào đặt chân đến. Khoa học không thể nào nói gì về Thượng Đế, về tình yêu, về cái đẹp... Đây là những thực tại phi không gian, phi thời gian thuộc phần của triết học hay siêu hình học. Vai trò của khoa học là quan sát, mô tả và giải thích các sự kiện trong thiên nhiên. Khoa học có thể cho ta biết một hiện tượng xảy ra như thế nào chứ không cho ta biết tại sao nó xảy ra như thế. Khoa học không thể cho ta biết vũ trụ này có chủ đích gì, ai đã làm nên vũ trụ, tại sao nó có. Khoa học cũng không thể nào đưa ra những phán đoán về giá trị của những vật nó đo lường. Khoa học tự nó không xác định được rằng nguyên tử năng sẽ được dùng để phá huỷ các thành phố hay tiêu diệt bịnh ung thư. Đấy chỉ là những phán đoán nằm ngoài phạm vi phương pháp khoa học.
Vai trò của khoa học là giải thích sự kiện thực tế chứ không nhằm xác định thực tế đó có hay không. Trả lời cho những tra hỏi đến tận cùng uyên nguyên của sự vật thuộc phạm vi của hình thể học, siêu hình học và mặc khải. Những gì không thấy, nghe, ngửi được thì không thuộc phạm vi của khoa học thực nghiệm. Dầu các nhà khoa học có sáng chế những dụng cụ tinh vi để đo lường vượt ra ngoài khả năng quan sát của các giác quan - nhưng những đối tượng được khảo sát vẫn là đối tượng của giác quan. Khoa học không thể chứng minh hay đo lường được tình yêu, cái đẹp, đức tin cũng như không thể chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế, vì những thực tại này không phải là đối tượng của khoa học.
Có lẽ có người đặt câu hỏi rằng nếu những điều không thể chứng nghiệm được bằng phương pháp khoa học thì điều đó có giá trị và có thật hay không. Đặt câu hỏi như thế là đi quá phạm vi của khoa học. Người ta không thể điều động tất cả những dụng cụ khoa học trong phòng thí nghiệm để kiểm chứng tình yêu của hai người yêu nhau là có giá trị hoặc có thật hay không. Chúng ta cần phải biết rằng có nhiều phương tiện khác hơn là phương tiện dùng trong phòng thí nghiệm để đạt đến kiến thức thật đúng. Nói cách khác, khoa học là một phương pháp để khám phá chân lý về những thực tại vật lý nhưng ngoài phạm vi vật lý lại còn có những thực tại phi vật chất (như đạo đức, tình yêu, chân, thiện, mỹ, Thượng Đế...) và nhiều phương pháp khác để đạt đến chân lý.
Khoa học chỉ có giá trị và có thẩm quyền trả lời cho những tra hỏi trong phạm vi của nó. Vì thế cần có một thứ ánh sáng hay thẩm quyền khác để trả lời cho những vấn đề ngoài phạm vi khoa học. Nếu khoa học giải thích cho chúng ta biết hiện tượng xảy ra như thế nào, chứ không cho biết tại sao no xảy ra như vậy, thì Kinh Thánh, mặc khải của Đức Chúa Trời, cho ta biết tại sao nhưng không chủ trương giải thích cho ta biết hiện tượng đó diễn ra như thế nào. Nói cách khác, Kinh Thánh không nhằm giải thích sự kiện nhưng chỉ nhằm nói lên nguồn gốc, ý nghĩa, mục đích và xác định sự kiện như là điều hiển nhiên. Điều này không có nghĩa là khi đề cập đến những vấn đề liên quan đến khoa học thì Kinh Thánh thiếu chính xác. Kinh Thánh chỉ muốn nói lên chủ đích Kinh Thánh muốn nhắm vào.
III. PHƯƠNG PHÁP KHOA HỌC:
Nói một cách đơn giản, phương pháp khoa học diễn tiến qua ba giai đoạn: quan sát, đặt giả thuyết, kiểm chứng.
1. Quan sát: Nhà khoa học quan sát tất cả mọi sự kiện xảy ra và mô tả cách chính xác bằng những dụng cụ khoa học. Sự mô tả thường được biểu diễn bằng những con số và càng thiên về lượng bao nhiêu thì sự mô tả càng chính xác.
Những sự kiện không những cỉ được nhìn cách riêng rẽ nhưng còn trong tương quan với toàn thể. Những tương quan giữa các sự kiện thường được biểu diễn bằng những ký hiệu toán học.
Sự quan sát cũng thường bị giới hạn bởi những điều kiện vật lý - chẳng hạn khi đi vào phạm vi cấu tạo cơ bản của vật chất nhà khoa học không thể thấy gì về điện tử, trung hoà tử, Proton.. Ở đây, nhà khoa học chỉ thấy qua giả thuyết tưởng tượng được biểu diễn bằng ngôn ngữ tưởng tượng của toán học mà thôi.
2. Đặt giả thuyết: Sau khi đã quan sát và ghi nhận cách chính xác các dữ kiện, nhà khoa học tìm câu trả lời co các vấn đề căn cứ trên những dữ kiện đó. Câu trả lời nhằm tổng quát hoá các sự kiện, có khi là kết quả của sự phân tích toán học, có khi là kết quả của trực giác và trí tưởng tượng. Câu trả lời này chưa phải là chân lý khoa học vì chưa được kiểm chứng, vẫn còn là giả thuyết.
3. Kiểm chứng: Một giả thuyết hay lý thuyết chỉ là những tiên đoán về những dữ kiện đã quan sát được nên chưa hẳn là đúng. Có khi có nhiều giả thuyết hay lý thuyết cho cùng một sự kiện. Một giả thuyết hay lý thuyết chỉ trở thành chân lý khi đã được kiểm chứng bằng những thí nghiệm khoa học. Các thí nghiệm có thể phù hợp một phần, phù hợp hoàn toàn hay không phù hợp với những điều tiên đoán trong giả thuyết. Vì thế, giả thuyết cần được sửa đổi và các thí nghiệm cần lặp lại nhiều lần cho đến khi các dữ kiện ăn khớp hoàn toàn với những loạt thí nghiệm khác nhau. Lúc đó định luật hay chân lý khoa học đã được khám phá.
Như thế với phương pháp khoa học, một lý thuyết chỉ được coi là chân lý sau khi đã làm thí nghiệm kiểm chứng và thấy phù hợp khoa học về lịch sử không thể lập lại để kiểm chứng ở phòng thí nghiệm. Sử học có phương pháp khảo cứu riêng - và được liệt vào loại khoa học “kém chính xác”. Người ta không thể dựng lại một lịch sử loài người từ thời tạo thiên lập địa căn cứ trên những dữ kiện đã khám phá được của khảo cổ học và địa chất học. Cho nên những gì người ta nghĩ về nguồn gốc con người chỉ là những giả thuyết.
Một lý thuyết khoa học chỉ được coi là chân lý khi đã đi hết diễn trình của phương pháp khoa học, nghĩa là từ quan sát, đặt giả thuyết và kiểm chứng bằng thí nghiệm.
IV. GIỚI HẠN CỦA KHOA HỌC
Lý thuyết khoa học được xem là có trình độ xác xuất cao nhất nhưng nó không có gì là tuyệt đối cả. Một lý thuyết hôm nay xem ra hợp lý nhưng có thể bị bài bác ngày mai. Việc “sửa sai” các lý thuyết khoa học nói lên giới hạn của chính khoa học. Chúng ta không thể coi những lý thuyết khoa học là tuyệt đối vì lẽ có những định luật chi phối sự kiện mà khoa học chưa hoặc không bao giờ khám phá ra được. Chỉ trong vòng vài chục năm nay, cơ học lượng tử đã thay thế khoa vật lý cổ điển và chính cơ học lượng tử cũng đã, đang được sửa đổi nữa.
Trong sự khám phá thế giới vật chất, khoa học không thể dừng lại. Chúng ta không biết bao giờ sự hiểu biết trọn vẹn về nguyên tử, về không gian, về vũ trụ... được hoàn tất. Nhưng mà chúng ta biết chắc một điều là khoa học có giới hạn trong phạm vi của nó.
Giả thuyết khoa học cũng nói lên giới hạn của nó. Có những điều khoa học không bao giờ dám quả quyết gì cả mặc dầu vấn đề nằm ngay trong phạm vi của nó. Đến nay cũng không ai dám quả quyết là trái đất đã được hình thành như thế nào và tuổi chính xác của vũ trụ là bao nhiêu. Cũng chưa ai có thể cho biết số lượng các thiên thể nằm trong ngân hà và có bao nhiêu thiên hà trong vũ trụ. Có nhiều giả thuyết được đưa lên nhưng vì chưa thể, hoặc không thể kiểm chứng được bằng những phương pháp khoa học nên không thể có giá trị như một lý thuyết khoa học.
Khoa học nhân văn, lịch sử được coi là khoa học không chính xác vì lẽ các sự kiện không thể quan sát, đo lường cách chính xác bằng những dụng cụ khoa học hoặc làm thí nghiệm để kiểm chứng. Hơn nữa các sự kiện đó còn bị chi phối bởi những yếu tố ngoài phạm vi khảo sát khoa học. Người ta cũng không thể nào thu thập đầy đủ những dữ kiện cần thiết liên quan đến sự kiện để đưa ra một phán quyết đáng tin.
Sự trưởng thành nhanh chóng của khoa học dù rất đáng cho chúng ta ca ngợi nhưng khoa học cũng không giải quyết tất cả các nan đề trong đời sống con người. Y học dù đã tìm ra những phương thuốc chữa trị những chứng bệnh nan y những vẫn không thể kéo dài đời người vượt khỏi giới hạn của nó. Tiến bộ kỹ thuật đã cung cấp cho con người một đời sống vật chất thoải mái nhưng không tiêu diệt được những ray rức sâu xa của tâm hồn. Cho nên những vấn đề nhân sinh không phải chỉ tìm cách giải quyết trong khoa học nhưng còn trong Lời Đức Chúa Trời. Khoa học giúp giải quyết những vấn đề vật chất nhưng Lời Đức Chúa Trời giải quyết những vấn đề tâm linh.
CÂU HỎI CHƯƠNG I
2. Khoa học là gì? Cho biết vai trò, phạm vi, giới hạn của khoa học.
2. Thế nào là giả thuyết khoa học? Khoa học có thể khám phá những chân lý về nguồn gốc loài người không? Tại sao?
3. Có phải khoa học luôn luôn giải thích được những chân lý của Kinh Thánh không? Tại sao? Nêu lên vài minh chứng.

ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ KINH THÁNH
I. ĐẶC TÍNH NGÔN NGỮ KINH THÁNH
Trong lãnh vực khoa học và Kinh Thánh, sự suy tư đích thực hợp thời sẽ không thể nào có được trước khi bản chất của ngôn ngữ Kinh Thánh đã được thâm cứu. Có rất ít sách bàn về Kinh Thánh với khoa học đã đề cập đến điểm này. Trong các sách đã đá động đến đề tài ấy thì đề cập hết sức sơ sài. Được hướng dẫn bằng nhiều phương tiện, bằng luận lý học và bằng phương pháp phân tích, qua nhiều thế kỷ, khoa học đã thiết lập được ngôn ngữ đặc biệt của nó. Ngôn ngữ Kinh Thánh là ngôn ngữ cổ của Palestine và Hy-lạp. Muốn kết hợp hai ngôn ngữ đó, người ta bị bắt buộc phải thông suốt cả hai. Khi nhà khoa học dùng những danh từ như “nguyên tử”, “định luật”, “định lý” hay “không gian cong”, thì chúng ta phải biết môn triết lý khoa học mới có thể hiểu đúng những danh từ ấy có nghĩa gì. Danh từ nguyên tử vốn có một lịch sử lâu đời, và ý niệm về một nguyên tử đã biến đổi rất nhiều từ Newton đến De Broglie. Triết gia về khoa học cần phải biết tác giả dùng ý niệm nào về ngôn từ. Hơn nữa, triết gia về khoa học biết rằng người ta chẳng bao giờ thấy được một nguyên tử, bởi vì độ lớn của một nguyên tử nhỏ hơn vật nhỏ nhất mà mắt người ta có thể trông thấy được đến mấy ngàn lần. Lối hiểu chữ nguyên tử thông thường, thường khác xa với lối hiểu về phương diện kỹ thuật.
A. Ngôn ngữ Kinh Thánh có tính cách bình dân, không có tính khoa học.
Bình dân đây được dùng với nghĩa là thuộc về dân chúng. Ngôn ngữ bình dân là thứ ngôn ngữ dân chúng dùng trong giờ trò chuyện, trong buổi nhóm họp hay ở ngoài chợ búa. Đó là lối văn căn bản cho sự giao thiệp hàng ngày của dân chúng.
Ngôn ngữ khoa học là thứ ngôn ngữ đặc biệt giúp cho các nhà chuyên môn của mỗi khoa học trao đổi với nhau cách nhanh chóng, đúng nghĩa và tiện lợi. Nhờ đó các nhà khoa học dùng các danh từ riêng của họ mà không cần dài dòng giải thích hay định nghĩa, vì các đồng nghiệp của họ hiểu ngay họ muốn nói cái gì.
Cả hai thứ ngôn ngữ đó đều có ích cho mục đích riêng của mỗi bên. Các nhà khoa học biết bài nghị luận của họ cho một tạp chí chuyên môn trong thứ ngôn ngữ chuyên môn của họ. Họ truyền đạt tư tưởng của họ một cách dễ dàng qua thứ ngôn ngữ chuyên môn này. Nhưng khi họ trò chuyện với người láng giềng của họ trong buổi họp mặt nào đó, thì các nhà khoa học lại phải khôn ngoan sử dụng ngôn ngữ bình dân.
Kinh Thánh là sách dành cho mọi tầng lớp, mọi dân tộc trong mọi thời đại, nên từ ngữ Kinh Thánh phải bình dân, phải dễ hiểu cho mọi tầng lớp trong xã hội. Có lẽ trong ngôn ngữ y khoa và hàng hải của Lu-ca có một số danh từ chuyên môn, nhưng hầu hết ngữ vững của Kinh Thánh về vạn vật trong thiên nhiên đều bình dân. Bởi thế, nhà khoa học đi tìm từ liệu chuyên môn trong Kinh Thánh thì thật là mất công. Có nhà giải kinh cố gắng tìm tòi những dấu chỉ kín đáo trong Kinh Thánh liên quan đến khoa học ngày nay, cũng hoàn toàn luông công. Bắt một tác phẩm bình dân nói tiếng nói của khoa học thì không tốt. Bắt Kinh Thánh nói những điều Kinh Thánh không chủ trương nói cũng không tốt.
B. Ngôn ngữ Kinh Thánh là ngôn ngữ biểu tượng
Biểu tượng ở đây chỉ về những gì xuất hiện ra bên ngoài. Kinh Thánh là một thứ ngôn ngữ không những bình dân mà còn giới hạn vào những gì hiển hiện cho ngũ quan cảm giác được. Tỉ dụ Kinh Thánh nói đến “bốn góc của trái đất” (EsIs 11:12), vì việc chia một vật gì đó ra làm bốn phần là cách loài người thường làm và là một phương pháp thích hợp để chỉ một nơi chốn, một địa điểm cho đến ngày nay. Không phải là chúng ta không thường nghe các thành ngữ như “từ bốn phương trời” hay “từ mọi góc biển chân trời”. Những thành ngữ như vậy không phải là cách nói của khoa học hay có tính phản khoa học, nhưng là những thành ngữ bình dân nhằm mô tả hiện tượng trong câu chuyện thường ngày. Kinh Thánh cũng nói đến mặt trời mọc, mặt trời lặn. Đối với mắt của mọi người thì mặt trời có mọc lên và lặn xuống, và nó có hiện tượng đi ngang qua bầu trời. Thực ra chúng ta không cảm thấy, không xem thấy trái đất xoay quanh mặt trời. Những kiểu nói đó không khoa học, nhưng cũng không phản khoa học, đó là kiểu nói bình dân, hiện tượng, trong các câu chuyện thường ngày. Thử coi ngôn ngữ của Sáng thế ký đoạn một, Đối với các danh từ sinh vật học và thảo mộc học, sách nói đến loài cá, loài chim, loài thú, loài cây, loài cỏ. Sáng thế ký không phân biệt loại giống lưỡng thể động vật hay động vật có vú sống dưới nước. Về phương diện thiên văn học, Kinh Thánh cũng dùng thứ ngôn ngữ biểu tượng. Kinh Thánh có nói tới trái đất, mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Sách không nói đến sao chổi, các loại hành tinh hay các thứ tinh vân cầu. Kinh Thánh chỉ mô tả và giới hạn vào những gì mắt xem thấy được khi ta ngước mắt lên trời. Cách đó cũng áp dụng cho các từ về sinh vật học.. Chúng ta sẽ đề cập đến những mặc khải đặc biệt qua những từ ngữ bình dân của Sáng thế ký 1 ở chương sau.
C. Ngôn ngữ Kinh Thánh là ngôn ngữ không định lý đối với các vật tự nhiên.
Điều này có nghĩa là Kinh Thánh không lập thuyết cho bản tính các sự vật. Có người giải thích thơ HeDt 11:3 là thuyết vật chất được tạo dựng từ năng lượng, nhưng nên nhớ rằng đó là một lối giải thích, Kinh Thánh không có thuyết nào về vật chất cả. Cũng có người đề nghị rằng chữ “vận hành” trong SaSt 1:2 ngầm chỉ về thuyết làn sáng của ánh sáng, nhưng giải Kinh như vậy là quá trớn. Ai đem sự ấp ủ của Thần của Đức Chúa Trời trên mặt nước vào trong thuyết làn sóng vật chất của Do Broglie là lý luận kỳ cục: Kinh Thánh giữ im lặng đối với sắp xếp bên trong của mọi vật hữu hình.
Cũng không có thuyết thiên văn nào trong Kinh Thánh. Sáng thế ký đoạn 1 không bênh vực Aristote hay ptolemy hay Copernicus hay Newton hay Einsein hay Milhe - tuy nhiên có vài lối giải thích của thiên văn học hiện đại phù hợp với lời giải thích của một số người giải nghĩa Sáng thế ký đoạn 1 mà chúng tôi sẽ trình bày ở chương sau.
Trong Kinh Thánh không có một định thuyết nào về thiên văn học, địa chất học, vật lý, hoá học, động vật học và thảo mộc học Kinh Thánh chỉ đề cập tới các vấn đề đó theo ngôn ngữ bình dân và biểu tượng, không bị bó buộc vào một định lý khoa học nào, tuy ngày nay có vài giả thuyết khoa học phù hợp với điều Kinh Thánh nói đến bằng ngôn ngữ thông thường.
D. Kinh Thánh dùng văn hoá thời đại làm phương châm mặc khải.
Ông John Pye Smith nhận định như sau: “Không thể nào nghi ngờ tính cách chung của cả bộ Kinh Thánh, nhất là trong những phần được viết trước tiên, là lời nói về Chúa, về bản thể Ngài, các sự trọn lành Ngài, các ý định Ngài, và các công việc Ngài bằng thứ ngôn ngữ mượn bởi thể xác và tinh thần con người và mượn bởi những ý kiến liên quan đến hành động của Thiên Chúa trong thế giới thiên nhiên, tức là ngôn ngữ của lớp người được Chúa ban cho mặc khải”. (John Pye Smith, Genesis and Geology, p.225).
Chúng ta cần đi vào chi tiết như sau:
1. Ngôn ngữ về “thời gian” ở trong Cựu ước và Tân ước không phải là thứ thời gian khoa học, nhưng là thứ thời gian theo tính cách xã hội thời các tác giả Kinh Thánh. Ánh sáng và bóng tối định giới hạn cho ngày; những chu kỳ của mặt trăng định giới hạn cho tháng, những chu kỳ của thời tiết với những chuyển vận của tinh tú định giới hạn cho năm. Mỗi ngày cũng chia thành từng canh hai giờ. Cách phân chia như vậy là đầy đủ cho nếp sống thường nhật của dân chúng. Còn cách chia thời gian theo kiểu văn minh khoa học bây giờ thì họ không biết. Do đó chúng ta không thể áp dụng phương pháp khoa học ngày nay vào những cách tính toán bình dân về thời gian mà các tác giả Kinh Thánh đã dùng.
Nói như vậy không có nghĩa là cách tính thời gian dùng trong Kinh Thánh hoàn toàn sai. Cách tính đó là cách tính thông thường tương đối đúng cho dân chúng thời xưa, và có cho thời nay. Những phương pháp đó không thể so sánh với những phương pháp khoa học tối tân, nhất là với thứ đồng hồ nguyên tử trong thời gian được tính bởi những rung động của các điện tử.
2. Những danh từ tâm lý trong Kinh Thánh là những từ ngữ trong văn hoá thời cổ, không phải là những từ ngữ dùng trong khoa tâm lý học ngày nay. Kinh Thánh dùng những từ ngữ như: tim, gan, xương, ruột, thận... và qui tác động tâm lý cho các cơ quan này. Đây là thứ từ ngữ hiện thực hoá mà ngày nay chúng ta cũng dùng như đau thấu xương, buồn thúi ruột, héo trái tim... Những từ ngữ đó nhằm mô tả một thứ tâm sinh lý. Trái tim có thể tin không (RoRm 10:9-10)? Gan chúng ta có thể buồn sầu không (CaAc 2:11)? Phải chăng Phao-lô có tình yêu thiêng liêng ở trong ruột ông (Phi Pl 1:8)? Phải chăng thận là một phần trong cơ cấu tâm lý chúng ta (Gie Gr 1120 KhKh 2:23)? Chúng ta có phải học Tân ước cho biết rằng mỗi người chúng ta có một hồn, một linh, một trí, một tâm, một lực, một thể (Sôma và Sarks)không? Kẽ dĩ nhiên câu tr3 lời của chúng ta quá rõ ràng, nhưng đây là cách diễn tả mà chúng ta vẫn thường diễn tả.
Nếu chúng ta nhấn mạnh rằng vấn đề tâm lý trong Kinh Thánh cần phải hiểu theo nghĩa chữ, nghĩa đen, thì chúng ta đi đến kết luận rằng khoa tâm lý trong Kinh Thánh không thể nào chấp nhận được. Nhưng nếu chúng ta đồng ý rằng lẽ thật của Kinh Thánh được biểu diễn bằng những từ ngữ của nền văn hoá đồng thời với lúc viết Kinh Thánh, từ ngữ thông thường, bình dân thì chúng ta không còn thắc mắc. Bổn phận chúng ta là tìm trong Kinh Thánh khoa tâm lý thần học căn bản ẩn chứa trong đó. Tim và thận chỉ là những con đường sinh lý diễn tả đời sống tình cảm, đam mê của chúng ta với những kinh nghiệm, cảm hứng của chúng ta.
3. Những phương pháp tính toán, những hệ thống đo lường trong Kinh Thánh thuộc về thời tiền khoa học, không phải là những phép tính và đo của thời nay. Con số thường được dùng theo nghĩa chúng ta nói ngày nay như “nhiều”, “vài”, “một ít”. Ba đứng thế cho một ít; 7,10 và 100 đứng thế cho sự trọn vẹn. 10 cũng có nghĩa là vài. 40 có nghĩa là nhiều, 7 và 70 có nghĩa là lớn, đông nhưng không nhất định con số tính cho chẵn, con số tròn, được dùng như con số đúng. các tự điển Kinh Thánh thường kê ra những bảng đối chiếu chi tiết về các từ văn hoá Sê-mi-tích (Semitic) của Cựu ước sang văn hoá La-hy (Gracoe Roman) của Tân ước thì các hệ thống cân đo cũng thay đổi. Hệ thống nào là hệ thống được linh cảm và vô ngộ? Hệ thống trong Cựu ước hay hệ thống trong Tân ước? Nếu chúng ta tin rằng chân lý bất diệt của Thiên chúa đến với chúng ta qua những phương châm của văn hoá làm trung gian thì câu hỏi trên trở nên vô nghĩa. Thiên Chúa không hà hơi và bảo đảm cho những hệ thống đo lường thời Kinh Thánh được viết, chúng được dùng trong Kinh Thánh chỉ vì chúng là những đơn vị đo lường được dân chúng thời viết Kinh Thánh quen dùng.
4. Các danh từ địa lý trong Kinh Thánh là những danh từ phổ thông của nền văn hoá thời đó. Kinh Thánh nói đến núi non, thung lũng, bình nguyên, sông ngòi, suối lạch, hồ ao, bờ biển... Kinh Thánh có một thứ địa lý thần học về trời, về đất, về địa ngục... Nhưng không nên coi thứ địa lý này như địa lý thông thường. Cựu ước bằng tiếng Hy-bá-lai và Tân ước bằng tiếng Hy-lạp đã dùng những danh từ phổ thông của nền văn hoá thời đó để mô tả các đề tài địa lý.
C. Ngôn ngữ Kinh Thánh có những lợi điểm sau đây:
1. Vì là thứ ngôn ngữ bình dân, không định lý khoa học, nên ngôn ngữ này lập thành một mặc khải rất ý nghĩa. Ngay cả ngày nay có mấy ai hiểu nổi một cuốn sách dùng toàn những từ khoa học tân tiến? Người nào chê Kinh Thánh không dùng ngôn ngữ khoa học thì người ấy không hiểu mình nói cái gì. Nếu Kinh Thánh dùng các từ ngữ của khoa học mới nhất thì những người trong các thời đại trước không hiểu nổi, và biết bao nhiêu người không có những kiến thức khoa học hiện nay cũng không hiểu nữa. Kinh Thánh đã dùng thứ ngôn ngữ thích hợp cho hết thảy mọi người, trong mọi thời đại. Ông Shields nói: “Kinh Thánh tuy không mô tả khoa học, nhưng không phản khoa học, cho nên Kinh Thánh đúng cho mọi người thời nay, cũng như đã đúng cho người thời xưa và sẽ còn đúng cho các thế hệ trong tương lai nữa.”
2. Vì Kinh Thánh dùng những từ ngữ tiền khoa học nên Kinh Thánh là của mọi thời đại và thích ứng cho mọi giai đoạn tiến bộ của loài người. Không còn cách nào hiệu nghiệm hơn để Kinh Thánh có chêm vào những tiếng chuyên môn của khoa học thì bất tiện cho việc giảng đạo, vì như thế Kinh Thánh sẽ trở nên lạnh lẽo, khô khan, vô vị và rất khó hiểu cho dân chúng.
Tóm tắt lại, Kinh Thánh đề cập đến các vật tự nhiên bằng lối văn, thừ ngôn ngữ bình dân, tiền khoa học. Đó là lối văn đương thịnh hành của thời đại Kinh Thánh được viết ra. Đức Thánh Linh nói qua thứ từ liệu đó với hai mục đích: thứ nhất là để người ta khỏi lấy từ liệu Kinh Thánh làm một thứ khoa học vô ngộ; thứ hai là để các nội dung thần học trong Kinh Thánh không bị tổn hại.
II. NHỮNG KHÓ HIỂU TRONG KINH THÁNH
1. Nhiều người ngạc nhiên và chán nản vì thấy trong Kinh Thánh có nhiều chỗ khó hiểu quá. Hội thánh đầu tiên cũng có những khó khăn tương tự như chúng ta, vì thế sứ đồ Phi-e-rơ viết: “Cũng như Phao-lô, anh rất yêu dấu của chúng ta, đã đem sự khôn ngoan đã được ban cho mình mà viết thơ cho anh em vậy. Ấy là điều người đã viết trong mọi bức thơ, nói về những sự đó, ở trong có mấy khúc khó hiểu, mà những kẻ dốt nát và tin không quyết đem giải sai ý nghĩa cũng như họ giải sai các phần Kinh Thánh khác, chuốc lấy sự hư nát riêng về mình” (IIPhi 2Pr 3:15, 16).
Người khôn ngoan thật không bao giờ chối cãi rằng Kinh Thánh không có những điều khó hiểu. Họ thành thực nhìn nhận và cố gắng tìm hiểu những khó khăn trong Kinh Thánh.
Nhưng nếu nói rằng trong Kinh Thánh chẳng có gì là khó hiểu cả, thì lại càng phi lý; vì Kinh Thánh là gì? Kinh Thánh là kho tàng các chân lý khải thị về trí khôn, ý muốn, đặc tính và bản thể của Đấng tối cao, tuyệt đối khôn ngoan và vô cùng thánh khiết tức là Đấng Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa lại là tác giả của Kinh Thánh, nguồn mặc khải thiên thượng. Nhưng Kinh Thánh này, nguồn mặc khải này ban cho ai? Thưa, ban cho loài thọ tạo, có giới hạn về mọi phương diện, trí khôn đầy khuyết điểm trong sự hiểu biết, đầy khuyết điểm trên đường thánh thiện. Người khôn ngoan nhất, thánh thiện nhất, so với Thiên Chúa thì chỉ là đứa bé chưa học vỡ lòng. Như vậy trí khôn loài người hạn hẹp làm sao khỏi thấy những sự khó hiểu trong cuốn sách do Đấng thông thái vô cùng chép ra. Khi vật hữu hạn tìm hiểu những sự vô hạn thì tất phải gặp khó khăn không nhiều thì ít. Khi người thất học nghe bài diễn văn của nhà thông thái sẽ thấy có nhiều điều rắc rối, có khi còn cho là vô lý nữa.
Một người có lương tâm chai đá trước tội lỗi vì đã sống quen với tội ác, khi người đó nghe nói đến những hình phạt của Thiên Chúa giáng trên tội nhân thì bỡ ngỡ và bối rối, không hiểu được lý do nên vội cho Thiên Chúa là ác nghiệt, thiếu nhân từ. Còn kẻ hiểu được tội ác là điều gớm ghê chừng nào và đòi hình phạt nặng trước mặt Thiên Chúa là Đấng cực thánh thì kẻ đó sẽ lấy lý đoán của Chúa mà làm phải lẽ.
Như thế lạ gì trong nguồn mặc khải của Tihên Chúa có nhữn điều khó hiểu. Giả sử có ai trao cho bạn bản cửu chương và nói: “Đây là Lời Đức Chúa Trời, trong đó Ngài bảy tỏ hết sự khôn ngoan của Ngài.” Hẳn bạn sẽ lắc đầu và bảo: “tôi không tin, vì bản cửu chương đâu phải là nguồn mặc khải trọn vẹn về sự khôn ngoan vô cùng của Chúa”. Vì bản cửu chương dễ hiểu quá cho bạn. Còn sự khải thị đầy đủ về trí khôn, ý muốn, đặc tính và bản thể của Thiên Chúa hẳn là những sự khó hiểu cho những kẻ mới tập sự hiểu biết. Những người thông minh nhất trong loài người cũng chỉ mới tập sự trước kho tàng mặc khải của Thiên Chúa.
2. Những gì khó hiểu trong Kinh Thánh không có nghĩa là những điều đó sai lầm.
Có nhiều người quen nghĩ rằng nếu họ không nhận ra lẽ tại sao Kinh Thánh lại có nguồn gốc từ Thiên Chúa và tuyệt đối vô ngộ, lập tức họ đi tới kết luận rằng giáo lý đó là sai lầm. Nghĩ vậy không triết lý chút nào. Nếu bình tâm suy nghĩ một chút, họ sẽ thấy rằng không mấy thuyết khoa học được hoan nghinh ngày nay mà trước kia không bị chỉ trích, bác bỏ.
Thuyết thiên văn của ông Copernicus, bây giờ được toàn thể thế giới công nhận, nhưng ban đầu bị bài bác không ít. Người ta bảo nếu thuyết này đúng thì kim tinh cũng phải có những chu kỳ biến đổi như mặt trăng. Nhưng thời đó không thể có thiên lý kính nào đủ sức khám phá ra những chu kỳ của kim tinh. Và rồi thuyết đó đưa ra những lý lẽ mạnh đã thuyết phục được nhiều người, mặc dầu vấn nạn trên kia vẫn còn nan giải. Về sau khi đã có những ống kính mạnh hơn, người ta mới thấy rõ những chu kỳ của kim tinh.
Đối với những điều khó hiểu trong Kinh Thánh cũng vậy, chỉ tại người ta chưa nắm vững được ít nhiều sự kiện còn tàng ẩn trong vấn đề.
Vậy khi nghiên cứu Kinh Thánh, ta cũng áp dụng cái lý đương nhiên mà người ta thường áp dụng trong các lãnh vực khoa học, tức là khi một lý thuyết có đủ chứng cớ hiển nhiên thì ta phải chấp nhận mặc dầu còn có những khó khăn nan giải trong chi tiết nhỏ. Kẻ nông cạn thường chối bỏ một chân lý chỉ vì gặp thấy ít nhiều điều họ không thể giải thích nổi theo chân lý đó. Chúng ta cũng nông cạn khi không tin nguồn gốc siêu nhiên và đặc tính vô ngộ của Kinh Thánh chỉ vì chúng ta gặp thấy những khó khăn mà chúng ta cho là nan giải trong Kinh Thánh.
3. Ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nếu chúng ta bảo Kinh Thánh do loài người và vì thế thiếu đặc tính vô ngộ (không sai lầm).
Khi bạn gặp ai nói: Nếu anh bảo Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời thì anh giải thích làm sao các nan đề trong Kinh Thánh? Bạn hỏi lại ngay họ rằng: Nếu anh bảo loài người viết ta Kinh Thánh thì anh giải thích làm sao ứng nghiệm trọn vẹn tất cả các lời tiên tri về Đấng Cứu Thế? Anh giải thích làm sao sự hợp nhất diệu kỳ của toàn bộ Kinh Thánh? Giải thích làm sao về sức mạnh lạ lùng, siêu nhiên của Kinh Thánh trong việc nhắc lòng người ta hướng về Thiên Chúa?... Đối với những vấn nạn nhỏ nhặt của họ về Kinh Thánh, bạn có thể nêu ra trước mặt họ nhiều vấn nạn sâu xa ý nghĩa phản lại việc họ chối bỏ Kinh Thánh. Ai thành thật muốn hiểu biết chân lý và nói theo chân lý sẽ không ngần ngại khi quay về Kinh Thánh.
Ngày kia có một chàng sinh viên rất giàu tư tưởng của những thuyết chuyên bác bỏ Kinh Thánh đến nói với ông Torrey rằng anh ta đã suy xét nhiều và nhận thấy không thể nào nhìn nhận Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời được.
Ông Torrey hỏi: Tại sao?
Anh ta trưng một câu Kinh Thánh mà anh ta không muốn tin là sự thật.
Ông Torrey trả lời: Giả sử tôi không trả lời được vấn nạn của anh, thì điều đó không có nghĩa là Kinh Thánh không do Thiên Chúa. Nếu anh có Kinh Thánh là bởi loài người thì tôi có thể trưng ra cho anh thấy nhiều khó khăn hơn nếu anh không nhận Kinh Thánh là bởi Chúa. Anh không thể chối cãi thực tế là các lời tiên tri đã ứng nghiệm. Anh giải nghĩa thế nào việc đó nếu Kinh Thánh không phải là Lời Chúa? Anh không thể bịt mặt trước sự hợp nhất lạ lùng của 66 cuốn sách trong bộ Kinh Thánh. Các sách đó đã được viết ra dưới những trường hợp khác nhau, vào những thời kỳ cách xa nhau, bởi hơn 40 người trần gian viết. Anh giải nghĩa việc đó thể nào nếu không nhận Thiên Chúa là tác giả chính của tất cả 66 sách đó? Anh không thể chối cãi là Kinh Thánh có một thần lực để cứu người ta khỏi tội, để mang lại cho loài người sự bình an, hy vọng và vui thoả, để nâng cao tâm hồn người ta lên tới Chúa; thần lực đó hết mọi sách khác hợp lại cũng không thể tạo nên. Anh giải nghĩa thế nào việc siêu phàm đó nếu anh không nhìn nhận Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời theo nghĩa không sách nào khác là Lời Đức Chúa Trời.”
Chàng sinh viên đó không thể trả lời. Kẻ không tin Kinh Thánh bởi Thiên Chúa sẽ phải đối diện với nhiều khó khăn hơn kẻ tin Kinh Thánh là bởi Thiên Chúa.
4. Khi bạn không thể giải quyết nổi một khó khăn thì không có nghĩa là khó khăn đó không thể giải quyết, và khi bạn không thể trả lời một câu hỏi thì không có nghĩa là câu hỏi đó không thể trả lời. Về Kinh Thánh cũng phải nói như vậy mới đúng.
Lẽ thật hiển nhiên đó, biết bao lần chúng ta bỏ qua. Có nhiều người gặp điều khó hiểu trong Kinh Thánh, họ ngồi suy nghĩ một lát thấy không thể giải thích được, lập tức họ kết luận không có ai giải đáp được và vì thế họ lìa bỏ niềm tin vào đặc tính vô ngộ và nguồn gốc siêu nhiên của Kinh Thánh. Người khiêm nhường, khôn ngoan sẽ nói: dù tôi thấy không có lời giải đáp nào thoả đáng cho vấn đế này, nhưng người nào thông thái hơn tôi sẽ có thể dễ dàng tìm ra lời giải đáp.
Chúng ta sẽ tránh được thái độ vô lý nếu chúng ta hiểu rằng chúng ta không thông biết hết mọi sự, và có nhiều sự chúng ta không thể giải thích bây giờ, nhưng nếu chúng ta có nhiều hiểu biết hơn một chút nữa, chúng ta sẽ giải thích được dễ dàng. Nhất là chúng ta đứng quên điều này là một trí khôn vô hạn sẽ có giải đáp rất dễ dàng cho những gì mà các trí khôn hữu hạn hoàn toàn bất lực. Chúng ta nghĩ thế nào về một cậu học trò mới bước chân vào lớp đại số học. Cậu ta loay hoay trong vòng nửa giờ không tìm ra đáp số cho một bài toán khó nên cậu ta tuyên bố không ai có thể giải được bài toán đó hoặc vì cậu ta không tìm ra đáp số? Cậu tuyên bố đề bài toán này sai?
Có một người giàu tài trí và kinh nghiệm đã từ xa bỏ công việc để đến gặp ông Torrey, lòng đầy bối rối vì ông ta vừa khám phá ra một điều mà ông đã hết những băn khoăn của ông ta cho ông Torrey, thì ông Torrey, thì ông Torrey giúp ông ta tìm thấy ngay chỗ mở nút cho nan đề, và ông ta ra về với lòng khoan khoái. áng lẽ ông ta đã tránh được biết bao ưu phiền nếu từ đầu ông ta hiểu được rằng vấn đề ông ta cho là khó khăn, nan giải thì người khác có thể giải thích được dễ dàng. Ông ta cứ tưởng rằng nan đề của ông ta gặp đó là hoàn toàn mới, nhưng thực ra biết bao nhiêu người đã gặp và đã giải đáp xong từ trước khi ông ta được sinh ra.
5. Những cái mà người ta cho là khuyết điểm gặp trong Kinh Thánh chỉ là quá nhỏ bé nếu so với những điều thật là cao trọng và kỳ diệu của Kinh Thánh. Một điều chứng tỏ lòng dạ lệch lạc của nhiều người là phung phí rất nhiều thì giờ vào việc nghiên cứu những khuyết điểm nhỏ nhặt trong Kinh Thánh mà không chú ý gì đến những vẻ xinh đẹp, những nét lạ lùng hằng chiếu sáng rực rỡ trong mỗi trang sách Kinh Thánh. Mấy ai biết để tâm, để trí vào những sự tốt đẹp cao quí vô song làm Kinh Thánh nổi vượt lên trên hết mọi thứ sách khác của trần gian. Chúng ta nghĩ thế nào về một người khi chiêm ngưỡng một bức họa tuyệt tác chỉ chăm chú nhìn vào mấy cái vết chân ruồi ở góc bức tranh? Nhiều Cơ-đốc nhân cũng có thái độ như vậy khi truy cứu Kinh Thánh, họ chỉ chăm chú tìm tòi, moi móc ra những vết chân ruồi hơn là thưởng thức những nét siêu phàm hiện trước mắt. Mọi điều tệ hại là cái “mốt” thời trang này lại hay ca tụng những kẻ chuyên tìm vết chân ruồi trong Kinh Thánh là bậc trí thức và hợp thời.
6. Những sự khó hiểu trong Kinh Thánh thường to lớn cho những đầu óc nông cạn, nhưng là bé nhỏ cho những khối óc sâu sắc.
Đối với những hạng người tìm đọc Kinh Thánh để phô trương tư tưởng riêng của mình trước mặt thiên hạ hoặc để mua vui trong chốc lát thì những chỗ khó hiểu trong Kinh Thánh càng tối tăm mù mịt. Còn đối với những kẻ chuyên lo học Kinh Thánh để chiêm ngưỡng Lời Đức Chúa Trời và lấy làm luật sống cho đời mình thì các câu Kinh Thánh trở nên minh bạch. George Muller đã chuyên chăm nghiên cứu Kinh Thánh từ đầu tới cuối hơn một trăm lần, thì không một chỗ khó hiểu nào trong Kinh Thánh làm ông phải bối rối cả. Những ai mới chỉ đọc suốt bộ Kinh Thánh một hai lần thì thường gặp nhiều điều khó khăn làm cho nản chí.
7. Những khó khăn ta gặp trong KInh Thánh sẽ tan đi mau chóng nếu ta chuyên chú học hỏi với tinh thần cầu nguyện.
Có nhiều điều trong Kinh Thánh đã từng làm chúng ta rối trí nhưng dần dà đã sáng tỏ ra và hiện giờ không còn gì là khó cho chúng ta nữa. Sau mỗi năm học tập Kinh Thánh, những khó khăn trong đó lại giảm dần xuống, mỗi năm mỗi giảm xuống mãi cho tới một ngày chúng ta thấy Kinh Thánh hoàn toàn sáng tỏ trước mắt chúng ta từ Sáng thế Ký đến Khải Huyền.
LÝ DO KINH THÁNH KHÓ HIỂU
1. Nhiều chỗ khó hiểu trong Kinh Thánh đến từ những bản sao viết tay thời xưa.
Các bản dịch của Kinh Thánh không có đặc tính vô ngộ. Chỉ có bản Kinh Thánh nguyên thủy, tức bản tiên khởi, mới có đặc tính vô ngộ. Còn các bản dịch khác, như bản tiếng Việt chẳng hạn, thì diễn đạt đúng những ý chính của nguyên bản mà thôi. Bản Kinh Thánh nguyên thủy hiện nay không còn. Bản đó được sao đi chép lại nhiều lần với sự chú ý cẩn thận hết sức, nhưng dầu sao cũng không tránh khỏi một vài lỗi lầm trong khi sao chép bằng tay. Ngày nay người ta còn giữ được nhiều bản chép tay rất tốt và khi so sánh các bản đó với nhau, chúng ta có thể nói đúng nguyên bản thể nào. Có thể nói, ngày nay người ta đã lập lại được bản chính. Người ta không còn phải nghi ngờ chút nào về các giáo lý quan trọng có chứa trong nguyên bản. Cũng có khi người ta dịch từ những bản chép tay xưa không được hoàn hảo cho lắm nên những bản dịch bởi đó cũng mang nhiều khuyết điểm. Những khó hiểu vì thế mà sinh ra.
Tỉ dụ trong GiGa 5:4, ta đọc ”...vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động; lúc nước đã động rồi, ai xuống ai trước hết, bất kỳ mắc bệnh gì, cũng được lành.” Câu đó thật đáng nghi ngờ và khó tin, nhưng sau khi nghiên cứu kỹ, người ta nhận thấy đó là một lỗi lầm của thư ký chép tay thời xưa. Người thư ký nào đó, khi coi nguyên bản của Giăng, đã tự ý thêm vào bên cạnh lời giải thích của y về đặc tính chữa bệnh của giếng nước. Rồi sau đó, một người thư ký khác chép lại bản đó, liền viết thẳng lời giải thích kia vào bản sao của mình như thể lời giải thích đó là của Giăng. Và cứ thế truyền xuống cho đến bản dịch của chúng ta ngày nay.
Những khác biệt về con số trong Kinh Thánh, tỉ dụ các khác biệt về tuổi của mấy vua chép trong Các Vua và sách Sử ký. Chắc chắn đây là lỗi lầm của thư ký. Những lầm lẫn về con số như vậy dễ xảy ra, bởi vì tiếng Hy-bá-lai dùng chữ trong mẫu tự làm số. Mỗi chữ có một con số khác nhau nhưng trông hình dạng lại rất giống nhau. Tỉ dụ chữ thứ nhất trong mẫu tự Hy-bá-lai là con số 1, nhưng trên nó hai chấm rất nhỏ như vết chân ruồi thì thật là con số 1.000. Chữ sau cùng trong mẫu tự Hy-bá lai là 400, nhưng chữ thứ tám trong mẫu tự Hy-bá-lai, coi rất giống chữ cuối cùng và rất dễ lộn với chữ cuối, nhưng là con số 9. Thư ký chỉ lầm lạc một chút là đổi hẳn con số rồi. Nhưng có điều lạ là rất ít những lầm lẫn như vậy trong các bản chép tay cổ.
2. Những khó hiểu trong Kinh Thánh có thể là do dịch không đúng.
Cũng có bản dịch Mat Mt 12:40 là Giô-na ở trong bụng “cá voi”. Có người nói nhạo rằng con cá voi đó phải có cái miệng và cổ họng đặc biệt lắm mới nuốt nổi một ông tiên tri. Nếu nghiên cứu kỹ một chút, người đó sẽ nhận ra tiếng dùng trong bản chính là “con quái vật biển” mà bản dịch đã giải nghĩa là “con cá voi”. Như vậy chỗ khó hiểu là do người dịch sai và người đọc không sâu sắc.
3. Có khi Kinh Thánh khó hiểu là vì người ta giải nghĩa sai về Kinh Thánh.
Có khi Kinh Thánh dạy một đàng mà người giải kinh lại nói một nẻo. Phần nhiều những khó khăn không do điều Kinh Thánh nói nhưng do lời nói của người giải thích.
Nếu chúng ta cứ bám lấy lời giải thích của mấy nhà giải kinh xưa nay thì ta thấy khó mà dung hoà Sáng thế ký đoạn một với những khám phá của khoa học ngày nay. Sự khó hiểu không do điều Sáng thế ký đoạn một nói, nhưng do lời giải thích của người ta đặt vào đó. Thực ra không hề có mâu thuẫn giữa khoa học ngày nay và Sáng thế ký đoạn một.
4. Có những khó hiểu do quan niệm sai lầm về Kinh Thánh.
Có nhiều người nghĩ rằng khi nói Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời có nghĩa là Đức Chúa Trời nói hết mọi lời trong Kinh Thánh. Nhưng hiểu thế là sai. Thường thường Kinh Thánh ghi lại lời nói của kẻ khác, tức là của người tốt của người xấu, của người được Chúa soi sáng, của người không được Chúa soi sáng, của thiên sứ của ma quỉ. Chúa ghi lại những lời đó đúng một cách tuyệt đối. Nhưng chính những lời đó có khi đúng, có khi không đúng sự thật.
Tỉ dụ, SaSt 3:4 có chép rằng ma quỉ đã nói: “Các ngươi chẳng chết đâu.” quả thực ma quỉ có nói như vậy, song lời nó nói dối trá đã làm hại cả loài người chúng ta. Lời Đức Chúa Trời ghi chép rằng ma quỉ có nói như vậy, nhưng lời nói đó không phải là Lời của Đức Chúa Trời, mà là lời của ma quỉ. Lời Đức Chúa Trời nói rằng đó là lời của ma quỉ.
Nhiều người đọc Kinh Thánh mà không phân biệt ai nói những lời đó - Thiên Chúa nói hay người tốt nói, người xấu nói, người có ơn nói hay người không có ơn nói, thiên sứ nói hay ma quỉ nói. Họ kéo một câu Kinh Thánh ra khỏi khung cảnh của nó, không chú ý xem kẻ nói câu đó là ai, rồi họ bảo: “Đó, Lời Thiên Chúa nói như vậy.” Mà thực ra Thiên Chúa không nói những điều đó. Lời Chúa dạy rằng ma quỉ ma quỉ nói vậy hay loài người nói vậy... Và điều Chúa nói thật, tức là quỉ nói vậy hay người nói vậy hay thiên sứ nói vậy.
Có người trưng lừi của Ê-li-pha, Binh-đát, và Sô-pha nói với Gióp như thể lời của Đức Chúa Trời chỉ vì thấy lời đó được chép trong Kinh Thánh, mặc dầu Đức Chúa Trời đã bác bỏ ý kiến của họ và phán với họ rằng: “Các ngươi không hề nói về ta một cách xứng đáng” (Giop G 42:7). Một phần lớn những khó khăn mà chúng ta gặp bởi vì chúng ta không nhận định ai đã nói.
Trong Thi thiên, đôi khi có lời Chúa phán với người và lời đó là chân thật mãi mãi, và cũng có lời người nói với Chúa, lời đó là thật mà cũng có khi là dối. Trong Thi thiên chúng ta thường gặp lời căm thù và uất hận của những người nói. Tiếng kêu oán thù đó là lời của người bị ức hiếp kêu oan với Đấng có trọn quyền báo oán (RoRm 12:19), và chúng ta không buộc phải bênh vực những người ấy.
Vì thế, khi đọc Kinh Thánh, nếu Đức Chúa Trời nói, chúng ta tin mọi điều Ngài nói. Nếu người được ơn linh ứng nói, thì chúng ta cũng tin những lời đó vì đã được Chúa bảo nói. Nếu Kinh Thánh ghi lại lời nói của những người thường đối đáp với nhau, chúng ta phải tự xét lấy. Nếu ma quỉ là kẻ nói, thì chúng ta phải nhớ rằng ma quỉ là kẻ nói dối từ ban đầu, nhưng đôi khi ma quỉ cũng có nói sự thật.
5. Có những khó hiểu do ngôn ngữ của Kinh Thánh.
Kinh Thánh là sách cho mọi thời đại và cho mọi người, nên Kinh Thánh được viết bằng thứ ngôn ngữ không thay đổi và mọi người đều hiểu được, đó là thứ ngôn ngữ của đại chúng và của hiện tượng. Một trong những điểm lợi của Kinh Thánh là đã không viết bằng ngôn ngữ khoa học ngày nay. Tuy nhiên, có những khó khăn do ngôn ngữ Kinh Thánh là do nhiều phần trong Kinh Thánh được ghi bằng lối văn thi ca; tức là thứ ngôn ngữ của cảm xúc, của đam mê, của tưởng tượng và hình bóng. Nếu người nào không biết thơ phú là gì tất nhiên sẽ gặp khó khăn trong những phần thi ca của Kinh Thánh.
Tỉ dụ trong Thi thiên 18 có những diễn tả tuyệt hay về cơn bão tố sấm sét để nói về uy quyền của Đức Chúa Trời, thử hỏi một người không biết gì về thơ có hiểu nổi câu này: “Khói bay ra từ lỗ mũi Ngài, ngọn lửa phát ra từ miệng Ngài, làm cho than cháy đỏ.” (Thi Tv 18:8)? Sự khó hiểu đây không phải tại Kinh Thánh, nhưng vì chúng ta không biết về văn chương.
6. Có những khó hiểu vì chúng ta thiếu hiểu biết về lịch sử, về địa lý và phong tục tập quán của người thời đại Kinh Thánh ghi lại.
Những nghiên cứu và khám phá của khoa địa lý, lịch sử và khảo cổ đã chứng minh cho Kinh Thánh. Tỉ dụ sách Đa-ni-ên là sách bị công kích nhiều nhất. Lý luận của những người chỉ trích đã nêu lên rằng trong lịch sử đã không có một nhân vật nào tên là Bên-xác-xa, và các sử gia cũng đồng ý cho rằng Na-bô-ni-đớt là ông vua cuối cùng của Ba-bi-lôn, mà Na-bô-ni-đớt lại không có mặt ở thành Ba-bi-lôn khi thành này bị chiếm. Như vậy Bên-xác-xa phải là một nhân vật tưởng tượng, và cả câu truyện cũng hoang đường, không có sự thật lịch sử. Lý luận đó xem ra mạnh và không thể chối cãi.
Nhưng ông H.Rawlinson đã tìm thấy tại Muglieir và mấy nơi khác trong xứ Canh-đê (Chaldée) những cuốn sách bằng đất sắt trên đó ghi rằng Bên-xác-xa (tức Belsaruzur) được Nabonidus phong chức Đông Cung Thái Tử. Như vậy dĩ nhiên Bên-xác-xa được cai trị như nhiếp chính tại ba-by-lôn trong thời kỳ vua cha đi vắng, vì thế mới có chuyện ông đặt Đa-ni-ên lên chức thứ ba trong nước (DaDn 5:16), còn ông thì thứ hai trong nước. Rõ ràng là Kinh Thánh không sai lầm.
Những người công kích còn quả quyết chắc chắn rằng Môi-se không thể là tác giả của Ngũ kinh, bởi vì trong thời ông chưa có chữ viết. Nhưng những khám phá của khảo cổ học gần đây chứng minh rằng chữ viết đã có từ lâu trước thời Môi-se.
7. Khó khăn vì không am tường những hoàn cảnh trong đó Kinh Thánh được viết ra và lệnh truyền của Chúa được ban xuống.
Tỉ dụ, ai không rõ các hoàn cảnh trong đó Thiên Chúa truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải tiêu diệt hết các dân tộc Ca-na-an, hẳn cho lệnh đó là tàn ác quá. Nhưng ai đã hiểu các dân xứ Ca-na-an lúc đó đang chìm sâu trong hố tội lỗi ghê gớm chừng nào, và hiểu sự kêu gọi hoàn toàn luống công đối với họ và hiểu sự yếu đuối của dân Y-sơ-ra-ên, thì người đó sẽ nhận thấy lệnh truyền của Chúa là một sự thương xót đối với các thế hệ tương lai.
8. Khó khăn vì tính chất đa diện của Kinh Thánh.
Người nào thông minh nhất cũng chỉ suy tưởng theo đường lối của mình mà thôi, tức đơn diện. Nhưng chân lý thì đa diện, và Kinh Thánh thì toàn diện. Như vậy trí khôn chật hẹp của chúng ta đôi khi thấy trong Kinh Thánh phần nọ mâu thuẫn với phần kia.
Tỉ dụ, trong tư tưởng có người theo phái Calvin, có người theo Arminien, và có nhiều phần trong Kinh Thánh hợp với trường phái Calvin thì lại gây khó khăn cho trường phái Arminien, trong khi những phần khác trong Kinh Thánh hợp cho tư tưởng Arminien, nhưng đồng thời trở nên khó hiểu cho tư tưởng phái Calvin.
Nhưng cả đôi bên đều có sự thật. Ngày nay có nhiều người có tâm trí mở rộng đủ tiếp thu cả hai khía cạnh của sự thật qua tư tưởng của Calvin và Arminien. Nhưng nhiều người khác lại không được như thế, nên Kinh Thánh trở nên khó khăn và rắc rối cho họ. Sự khó khăn đó không phải tại Kinh Thánh, nhưng tại họ bị chi phối bởi một trường phái tư tưởng.
Cũng vì thế có người xem Phao-lô mâu thuẫn với Gia-cơ, và điều Phao-lô nói cỗ này xem ra mâu thuẫn với điều ông nói trong chỗ khác. Nhưng cái khó khăn thật, là do óc hẹp hòi của chúng ta không thâu thập được hết chân lý rộng lớn của Thiên Chúa.
9. Khó khăn vì Kinh Thánh nói về Đấng vô biên, vô hạn mà trí khôn chúng ta thì hữu hạn.
Dĩ nhiên là khó khăn khi đem các việc của Đấng vô hạn đặt vào trong tầm mức hẹp hòi của trí khôn hữu hạn chúng ta, cũng như đem nước của cả đại dương đổ vào trong một chiếc lon. Thuộc về loại khó khăn này có giáo lý về Ba Ngôi, hai bản tính Thần, Nhận của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Đối với ai quên rằng Thiên Chúa là vô hạn thì giáo lý về Ba Ngôi trở nên một sự quái đản trong toán học vì một bằng ba. Nhưng nếu chúng ta đinh ninh trong trí rằng giáo lý về Ba Ngôi là một cố gắng đem các việc tinh thần đặt vào trong những khuôn khổ vật chất của ngôn từ, thì các khó khăn tiêu tan hết ngay.
10. Khó khăn vì trí khôn chúng ta còn thấp kém về phương diện siêu nhiên.
Một người dù học nhiều về thần đạo đến cũng vẫn còn non nớt, chưa có thể hiểu thấu mọi sự như Thiên Chúa hiểu, trừ khi người đó lấy đức tin mà thâu nhận mọi sự. Thuộc loại khó khăn này là giáo lý Kinh Thánh dạy về hình phạt đời đời. Đôi khi chúng ta cho rằng giáo lý này không thể có, không nên có vì chúng ta cảm thấy khó chấp nhận quá. Nhưng khó khăn đó là tại chúng ta còn mù quáng về siêu nhiên, chúng ta không nhìn rõ sự xấu xa độc ác ghê gớm dường nào của tội, nhất là tội chối bỏ Con Thánh của Đức Chúa Trời là Giê-xu Christ. Nhưng khi chúng ta nên thánh thiện giống như Thiên Chúa nhìn, thì chúng ta sẽ hiểu thấu và chấp nhận dễ dàng giáo lý về hình phạt đời đời.
Nói tóm lại, có sự khó khăn trong việc hiểu lời Chúa trong Kinh Thánh đều do khuyết điểm ở nơi chúng ta chứ không do Kinh Thánh. Kinh Thánh thì hoàn hảo, còn chúng ta chưa được hoàn hảo, nên chưa có thể hiểu Kinh Thánh một cách dễ dàng. Chúng ta càng tiến tới sự toàn thiện của Thiên Chúa thì những khó khăn trong Kinh Thánh càng giảm bớt đi trước mắt chúng ta. Như vậy phải kết luận: khi nào chúng ta nên trọn vẹn như Thiên Chúa thì chúng ta không còn gặp một khó khăn nào trong Kinh Thánh nữa.
PHƯƠNG CÁCH GIẢI QUYẾT
1. Giải quyết mọi khó khăn trong Kinh Thánh với lòng thành thật.
Khi bạn gặp một khó khăn trong Kinh Thánh, bạn hãy thẳng thắn nhìn nhận nó. Đừng trốn tránh cũng đừng giấu giếm. Hãy nhìn thẳng vào vấn đề nếu có kẻ nào muốn gây khó cho bạn. Nếu bạn không giải quyết được một cách tốt đẹp thì đừng giải quyết. Có nhiều người vì quá sốt sắng bênh vực Kinh Thánh nên đã vội vã đưa ra những giải quyết không ngay thẳng, không xứng đáng, nên đã làm hại cho Kinh Thánh hơn là làm ích. Người ta sẽ kết luận rằng nếu chỉ có lời giải thích như vậy là tốt nhất thì Kinh Thánh không đáng tin nhận.
2. Giải quyết với lòng khiêm nhường.
Hãy công nhận trí khôn và sự hiểu biết của chúng ta có giới hạn, và đừng có bao giờ nghĩ rằng nan đề đó không có thể giải đáp bởi vì tôi không tìm thấy giải đáp. Rất có thể sẽ có một giải đáp đơn giản, dầu khi bạn không tìm ra giải đáp nào cho vấn đề.
3. Giải đáp vấn đề một cách cương quyết.
Bạn hãy nghĩ rằng bạn sẽ tìm ra giải đáp cho vấn đề nếu bạn chịu khó nghiên cứu cho sâu xa hơn. Những khó khăn trong Kinh Thánh là bài học của Cha trên trời để tập cho trí óc bạn làm việc. Đừng bỏ giở sự tìm tòi giải đáp khi bạn không thấy kết quả sau khi suy nghĩ năm mười phút. Bạn hãy bền tâm nghiên cứu mãi, ngày này sang ngày khác. Sự làm việc đó có ích cho bạn hơn là chính giải đáp được tìm ra. Sớm muộn rồi lời giải đáp sẽ hiện ra với bạn nếu bạn kiên tâm tìm kiếm nó.
4. Giải quyết mọi khó khăn với lòng can đảm.
Bạn đừng hoảng sợ khi gặp phải một khó khăn, dầu khó khăn đó ban đầu có vẻ nan giải và vượt khả năng của bạn. Hàng trăm ngàn người khác đ4 gặp những khó khăn như thế trước khi bạn sinh ra. Các khó khăn đó đã xuất hiện từ mấy trăm năm rồi mà Kinh Thánh vẫn còn đứng vững. Kinh Thánh vốn vẫn tồn tại sau 18 thế kỷ bị chống đối phê bình, đã kích, tấn công liên tiếp đủ mọi mặt. Như vậy có lẽ nào Kinh Thánh bị đổ vỡ trước những khám phá của bạn hay trước những tràng súng chỉ trích, gièm chê của thời nay. Ai đã quen thuộc một chút với lịch sử phê bình Kinh Thánh sẽ mỉm cười trước những lời đe dọa của đối phương quyết tâm tiêu diệt Kinh Thánh.
5. Giải quyết khó khăn với lòng kiên nhẫn.
Đừng nên nản lòng, thối chí vì bạn thấy không thể giải đáp xong cho mọi nan đề trong một ngày. Nếu có một nan đề nào cứ thách đố mãi khả năng giải đáp của bạn, bạn hãy xếp nó lại trong một thời gian. Rất có thể khi bạn trở lại thì nó đã tan biến mất rồi, khiến bạn không hiểu tại sao trước kia bạn khổ tâm khổ trí đến thế.
6. Giải quyết khó khăn bằng chính Lời Kinh Thánh.
Nếu bạn gặp khó khăn trong phần Kinh Thánh này,bạn hãy dùng phần Kinh Thánh khác để soi sáng và phá tan khó khăn đó. Không gì giải thích Kinh Thánh tốt hơn bằng chính Kinh Thánh. Có người đến hỏi ông Mục sư về một khó khăn trong Kinh Thánh đã làm khổ tâm y không ít. Ômg Mục sư chỉ cho ông ta đọc một đoạn Kinh Thánh và sau khi đọc xong, người đó thấy mây mù tan hết, và vấn đề khó khăn đã được giải toả.
7. Giải quyết khó khăn bằng cầu nguyện.
Một điều lạ là khi người ta quì gối nhìn vào các khó khăn gặp trong Kinh Thánh thì các khó khăn đó tan biến đi. Đáp lại lời cầu nguyện của chúng ta, Chúa không những mở mắt cho chúng ta nhìn thấy những vẻ đẹp kỳ diệu của Lời Chúa trong Kinh Thánh mà còn soi trí cho chúng ta thấy suốt được những khó khăn mà khi chưa cầu nguyện chúng ta tưởng là nan giải. Lý do chính để các nhà giải kinh nổi tiếng thời nay trở thành những tay phê bình phá hoại Kinh Thánh là họ đã không cầu nguyện.
III. TƯƠNG QUAN GIỮA KINH THÁNH VÀ KHOA HỌC
Khoa học và Kinh Thánh có mâu thuẫn nhau không?
Chúng ta có thể khẳng định rằng khoa học và Kinh Thánh không bao giờ có mâu thuẫn nhau. Thiên nhiên, đối tượng khảo sát của khoa học, và Kinh Thánh, đối tượng khảo sát của thần học, đều là tác phẩm của cùng một tác giả nên không thể có sự chống đối nhau giữa nhà khoa học và nhà thần học chân chánh. Vì thế, sự mâu thuẫn, nếu có, chỉ là do cách hiểu và giải thích lệch lạc về Kinh Thánh và khoa học mà thôi.
Như đã nói, khoa học và thần học là hai lãnh vực riêng biệt và có mục đích khá cnhau, nên sự xung đột nếu có cũng chỉ là sự tranh chấp nhau về thẩm quyền giữa nhà khoa học và nhà thần học. Người này muốn tuyên bố những vấn đề thuộc phạm vi của người kia và ngược lại. Nói cách khác sự xung đột xảy ra khi nhà khoa học hoặc nhà thần học đi quá phạm vi của mình, như trong trường hợp Ga-li-lê và giáo hội thời trung cổ.
Khoa học và Kinh Thánh không những không chống đối nhau mà còn hỗ tương cho nhau nữa. Tuy Kinh Thánh không dùng ngôn ngữ khoa học nhưng những sự kiện khoa học được Kinh Thánh đề cập tới thì hoàn toàn phù hợp với những gì khoa học khám phá ra sau này. Chẳng hạn như trong LuLc 17:30-35 phù hợp với sự khám phá quả đất tròn. Hoặc ngày dài của Giô-suê và Ê-xê-chia phù hợp với sự khám phá mới của khoa học cho biết thời gian mất đi một ngày trong quá khứ. Một khoa học gia làm việc tại trung tâm không gian ở Maryland đã thuật lại trên nhật báo Evening World số ra ngày 10 tháng 10 năm 1969, như sau: công tác của ông và các đồng nghiệp là xác định các thiên thể trong Thái Dương Hệ trong vòng 100 và 1000 năm sắp đến. Mục đích để biết đường di chuyển và vị trí các hành tinh để có thể định.
Trong việc tìm hiểu ý nghĩa của Kinh Thánh, chúng ta không thể bỏ quên những khám phá mới mẻ và chính xác trong lãnh vực khoa học. Bỏ quên không những khiến chúng ta thiệt thòi mà còn đi trái với tinh thần của kẻ “đi tìm” ý nghĩa Lời Chúa.
CÂU HỎI CHƯƠNG II
1. Đặc tính bình dân của ngôn ngữ Kinh Thánh có những ích lợi gì thiết thực nào?
2. Trưng dẫn vài trường hợp nổi bật tính cách mô tả hiện tượng trong ngôn ngữ Kinh Thánh.
3. Ngôn ngữ Kinh Thánh đã lợi dụng như thế nào nền văn hoá đương thời về các phương diện: thời gian, tâm lý, đo lường...?
4. Nếu bảo Kinh Thánh là do loài người viết sẽ càng gặp khó khăn hơn, tại sao?
5. Những lý do khiến Kinh Thánh khó hiểu, trưng ra kinh nghiệm của bạn.
6. Thái độ cần có khi gặp những thắc mắc trong Kinh Thánh?
7. Nêu những lý do và đơn cử vài thí dụ cho thấy khoa học và Kinh Thánh không mâu thuẫn nhau.

KHOA HỌC VÀ SỰ GIẢI THÍCH SÁNG THẾ KÝ
I. MƯỜI BA ĐIỀU QUẢ QUYẾT CỦA KINH THÁNH
Mười ba biến cố sau đây chép trong Sáng thế ký đoạn 1 đã được khoa học xác nhận đúng theo thứ tự thực hiện.
1. “Ban đầu Đức Chúa Trời sựng nên trời đất.” (câu 1)
2. “Vả đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực.” (câu 2)
3. “Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.” (câu 2)
4. “Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng... Đức Chúa Trời bèn phân sáng ra cùng tối. Đức Chúa Trời đặt tên sáng là ngày, tối là đêm.” (câu 3-5)
5 “Ngài làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở tr6n khoảng không.” (câu 7)
6. “Đức Chúa Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi.” (câu 9)
7. “Và phải có chỗ khô cạn bày ra.” (câu 9)
8. “Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh cây cỏ, cây trái kết quả, tuỳ theo loại mà có hột giống trong mình trên đất.” (câu 11)
9. “Đức Chúa Trời lại pohán rằng: Phải có các vì sáng torng khoảng không trên trời đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thời tiết, ngày và năm...” (câu 14-18)
10. “Đức Chúa Trời dựng nên các loài cá lớn, các động vật sống nhờ nước mà sanh nhiều ra tuỳ theo loại.” (câu 21)
11. “Và các loại chim hay bay, tùy theo loại.” (câu 21)
12. “Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh các vật sống tuỳ theo loại, tức súc vật, côn trùng và thú rừng, đều tuỳ theo loại.” (câu 24)
13. “Đức Chúa Trời dựng nên loài người theo hình Ngài.” (câu 27)
VŨ TRỤ HỮU HÌNH
“Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.” SaSt 1:1
Sáng thế ký quả quyết vũ trụ hữu hình này hiện hữu là do Đức Chúa Trời sáng tạo từ ban đầu, từ hư vô.
Sáu mươi năm về trước, người ta đã nhân danh khoa học mà đả kích câu Kinh Thánh này, cho là điều phi lý, vì họ thấy khoa hoá học dạy rằng: vật chất vốn có từ đời đời, trước sau vật chất vẫn là vật chất không có khởi thuỷ, cũng không có tận chung. Nào ai phá huỷ được vật chất? Nào ai tạo thêm được vật chất? Người ta chỉ có thể thay đổi hình dạng cho vật chất, tạo nên đồ vật này nọ do hợp chất, ngời ta cũng có thể phá huỷ những đồ vật đã làm thành, nhưng nguyên vật chất thì hằng có mãi trước cũng như sau.
Nếu vật chất không thể bị tận tuyệt, cũng không do ai sáng tạo thì câu Kinh Thánh trên bị nghi ngờ là điều tất nhiên.
Cũng vào thời đó, người ta tin rằng sức nóng từ mặt trời phát ra là do mặt trời đang nguội dần. Thiên văn học thời đó dạy rằng mặt trời lúc ban đầu là cả một khối vật chất cực lớn, có lẽ lớn bằng cả thái dương hệ, tức gồm hầu hết các hành tinh bây giờ. Dần dần mặt trời nguội đi, co lại, quay tít và làm văng ra nhiều mảnh, các mảnh đó biến thành những hành tinh và vệ tinh.
Nếu ban đầu mặt trời to lớn bằng cả thái dương hệ gộp lại và cực nóng thì ắt hẳn nó đã nguội đi và co lại tới tầm vóc hiện nay trong một thời gian rất ngắn tương đương với tuổi của trái đất chúng ta. Như vậy không đúng, nên chúng ta phải tìm hiểu sức nóng của mặt trời từ một nguồn gốc khác.
Có người kể nguồn gốc sức nóng mặt trời phát ra là vì sự bốc cháy ghê gớm trên mặt trời. Họ cho mặt trời gồm chứa những chất như than đá và đang bừng cháy, làm phát ra sức nóng hiện có. Nhưng nếu mặt trời lúc ban đầu to lớn bằng cả thái dương hệ và chứa toàn những chất than tốt nhất thì hẳn nó đã bị đốt cháy hao mòn đi tới tầm vóc nó có hiện giờ trong một thời gian quá ngắn không đủ trả lời cho vấn đề.
Chúng ta cần đi tìm một giải thích khác. Chúng ta biết có những nguyên tố có tính chất phóng xạ, khi nó được chuyển biến từ thể này sang thể khác thì nó phát ra năng lượng. Theo Einstein, một khối vật chất có thể biến sang năng lượng, mà ông còn cho biết rõ số năng lượng được phát sinh bởi một khối vật chất nhất định nào đó. Nhờ thuyết của Einstein các nhà thiên văn học đã tính ra rằng mặt trời đã phải tiêu hao chừng 4.2.000.000 tấn vật chất trong mỗi giây đồng hồ để phát ra sức nóng hiệ có. Cách giải thích này còn cho ta biết thêm một cách đích xác về cường độ của nhiệt lượng hiện nay đang văng vãi từ mặt trời.
Trong kỳ đệ nhị thế chiến vừa qua, khoa nguyên tử lực đã chứng tỏ vật chất có thể biến sang năng lượng như thể nào và nhờ đó bom nguyên tử chào đời.
Ngày nay không co2n một ai nghi ngờ gì về hiện tượng biến thiên từ vật chất sang năng lượng và từ năng lượng sang vật chất. Các phòng thí nghiệm về nguyên tử lực có thể chứng minh cho ta thấy hiện tượng này.
Như vậy chúng ta đã nhận thấy cái phi lý của thuyết cho rằng vật chất là hằng hữu, không có khởi thuỷ và không do ai tạo dựng. Thuyết này đã được thay thế bằng một thuyết khác, mới mẻ, chắc chắn, chủ trương rằng vật chất có thể đổi sang năng lượng và năng lượng có thể tạo thành vật chất.
Có nhiều bằng chứng về việc tạo thành vật chất lúc ban đầu... Các phần sau sẽ đưa ra những bằng chứng.
CÂU HỎI
1. Mặt trời lúc ban đầu có phải to lớn bằng cả thái dương hệ họp lại không? Chứng minh?
2. Giả thuyết nào hợp lý nhất cho nguồn gốc sức nóng của mặt trời?
3. Công thức của Einstein E = mc2 trả lời như thế nào cho thuyết vật chất không có khởi nguyên?
TUỔI CỦA TRÁI ĐẤT
Trong giới hạn khoa học đã có nhiều cố gắng định tuổi cho trái đất chúng ta đang ở. Người ta đã ước tính lượng muối trong đại dương và tỉ lệ muối các sông mang vào biển. Người ta căn cứ vào hai con số đó để tìm ra thước đo tuổi của trái đất. Tuy nhiên phương pháp này có nhiều giá định quá. Nó giả định, rằng các đại dương không có muối từ ban đầu, các đáy của biển không chứa sẵn muối để nước của biển làm tan hoà ra. Nó giả định rằng các sông vốn luôn luôn mang vào biển một mức độ muối như hiện nay.
Nó giả định rằng một khi muối đã vào trong biển thì không bao giờ đi đâu nữa. Những giả định này rõ ràng là sai. Nên phương pháp này chỉ là một phương cách ước lượng sơ sài nhất.
Người ta cũng đã đo lường đất bồi trên cửa biển của một con sông và cũng ước lượng con sông đó chử phù sa đến theo một mức độ nào. Người ta căn cứ vào hai số đó để tính tuổi trá đất. Nhưng điều khó là chúng ta không thể biết con số sông đó có xuất hiện đồng một thời với trái đất hay không, và con sông đó ngày xưa có chở phù sa theo cùng một khối lượng như ngày nay hay không? Vì tế sự ước lượng ti1nh toán của chúng ta cũng chỉ là sơ sài mà thôi.
Mấy phương pháp kể trên chỉ có thể tính cho trái đất một tuổi dài chừng vài trăm ngàn năm là hết sức. Nhưng chúng ta còn một phương pháp nữa tốt hơn.
Chất Uranium có đặc tính phóng xạ, và sau nhiều lần biến đổi, nó biến thành chì và Helium là hai chất bền lâu. Dù ở trong đủ mọi tình trạng của nhiệt và hàn, dù bị nén hay ở chỗ không có không khí, chất Uranium cũng chỉ biến đổi theo một mức nhất định, chỉ chừng một phần trong 637 phần của Uranium biến thành chì trong thời gian 10 triệu năm.
Công cuộc khảo cứu về chất Uranium cho biết những mẫu Uranium già nhất đã có một tuổi gần 4 tỉ năm. Dĩ nhiên trái đất còn già hơn nữa, bởi vì rất có thể một thời gian đã trôi qua từ khi tạo dựng quả đất cho tới khi những mẫu Uranium đó được kết tinh lại. Vậy tính cho phải chăng thì trái đất của chúng ta đã già chừng 5 tỉ năm rồi.
LIÊN HỆ TRÁI ĐẤT MẶT TRĂNG
Mặt trăng có ảnh hưởng thế nào đối với trái đất thì ai cũng rõ được khi nhìn nước biển hay nước sông lên xuống. Nhưng ảnh hưởng của trái đất đối với mặt trăng còn lớn hơn nữa mà ít người để ý. Trái đất có sức làm chậm lại sự quay động của mặt trăng và bắt buộc mặt trăng cứ phải giữ mãi một chiều hướng về phía trái đất là chiều có “thằng cuội ngồi gốc cây đa”.
Sự liên hệ giữa trái đất và mặt trăng cũng là lý do khiến đôi bên phải đứng xa nhau như hiện giờ. Khi nghiên cứu để đoán tuổi cho mối liên hệ này, các nhà vật lý học đã dựa theo thuyết nói rằng ban đầu trái đất và mặt trăng rất là gần gũi nhau, nhưng sau chỉ vì đôi bên cứ ảnh hưởng lẫn nhau mạnh mẽ nên mới phải xa nhau như đang có hiện nay. Tuy vậy các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra một giải thích thoả mãn cho câu truyện này vì lẽ chiều rộng và chiều sâu của các đại dương từ ngày trái đất xuất hiện cho tới nay vẫn chưa xác định được, nên cản trở mọi lời giải đáp chính xác.
Nhưng bằng những ước đoán hợp lý các nhà vật lý học đã đưa ra một tuổi cho hệ thống trái đất - mặt trăng là 4 tỉ hay 5 tỉ năm. Như vậy thuyết này cũng rất phù hợp với tuổi trái đất được nêu ra ở trên.
TUỔI CỦA VẪN THẠCH
Chúng ta không rp4 về nguồn gốc đích xác của các vẫn thạch, chúng ta chỉ biết chúng đến từ bên ngoài trái đất. Có lẽ đa số các vẫn thạch phát xuất nội trong cõi thái dương hệ của chúng ta. Như vậy nếu rõ được tuổi của chúng ta sẽ có một ức đoán hợp lý về tuổi của thái dương hệ này. Tiến sĩ Sowler gần đây đã đưa ra một tuổi của các vân thạch là từ 4 tỉ rưỡi đến 5 tỉ năm. (William A.Fowler, Nuclear Astrophysics (philadelphia: American Philosophical Society, 16) p.82
TUỔI CỦA MẶt TRỜI
Hầu hết các nhà khoa học về môn thiên văn học đồng ý cho rằng sức nóng từ mặt trời là do khinh khí biến đổi sang một khối Helium nhỏ hơn và một khối năng lượng lớn hơn. Sự biến đổi này diễn ra bên trong mặt trời là nơi nhiệt độ lên hàng triệu độ. Người ta có thể đoán ra tuổi của mặt trời bằng cách dùng phương pháp phân quang học để tính ra số lượng Helium hiện có trên mặt trời.
Nếu mặt trời hằng phát ra năng lượng theo mức độ hiện nay chúng ta sẽ có thể ước tính được tuổi của mặt trời, tức là quãng thời gian cần phải có để mặt trời sản xuất được số lượng Helium hiện có.
Nhưng chúng ta chắc rằng mặt trời không phải luôn luôn phát xuất ánh sáng theo như mức độ hiện giờ, và sự hiểu biết của chúng ta về số lượng Helium trên mặt trời cũng rất là không chính xác. Vì thế sự nghiên cứu của khoa học chỉ mới nói lên được phần nào cái lớn lao của tuổi mặt trời.
Ông Cork đã nghiên cứu và cho biết như sau “Có thể phỏng định ít nhiều về tuổi của mặt trời bằng cách cho rằng tất cả Helium hiện có trên mặt trời là do khinh khí biến thành. Đem số lượng Helium đó đối chiếu với mức độ Helium mặt trời đang phát xuất ra hiện nay thì được biết tuổi mặt trời chừng độ bốn tỉ năm.” (J.M.Cork, Radio activity and Nuclear Physics (New York: Van Nostraud, 1950).
Tiến sĩ Fowler nói: “Có một đường lối riêng biệt để tính tuổi cho thái dương hệ căn cứ vào sức phóng xạ của các vẫn thạc. Những cuộc nghiên cứu tỉ mỉ về cơ cấu của mặt trời dựa vào khối lượng của nó và dựa vào những dự đoán hợp lý về sự cấu tạo của nó đã cho ta thấy rằng mặt trời đã trải qua chừng 5 tỉ năm mới được chiếu sáng như ngày nay”.
TINH TÚ THIÊN HÀ
Thiên hà của chúng ta là một đống sao rất lớn, gồm hơn 100 tỉ sao, trong đó trung bình sao này cũng lớn tương đương với mặt trời của chúng ta. Thiên hà có hình dĩa dẹp, chỗ rộng nhất đường kính độ chừng một trăm ngàn năm ánh sáng, còn bề dày của nó độ chừng mười ngàn năm ánh sáng. Cả cõi thiên hà chúng ta đều quay động hướng về một trung tâm hấp dẫn nó. Nhưng ngoài sự quay động nhất trí này của toàn thể, mỗi sao lại có đường lối quay động riêng, khác biệt với sao khác.
Khoa học đã cố công tìm tòi cho biết tuổi của thiên hà chúng ta là bao nhiêu.
Có nhiều học giả chủ trương rằng thiên hà chúng ta lúc đầu không có sự quay động nhất trí. Vậy câu hỏi được đặt ra là. Phải mất thời gian bao lâu để thiên hà chúng ta đi tới sự quay động nhất trí hiện nay? Câu trả lời là 7 tỉ rưỡi năm.
Có người lại căn cứ vaò sự trao đổi năng lượng giữa các loại sao khác để tính tuổi cho thiên hà này.
Một tác phẩm về thiên văn của đại học Harvard nhan đề là: “The Milky Way” (dòng ngân hà) có đưa ra những nhận định như sau:
“Thiên hà của chúng ta đã bắt đầu quay động chưa được lâu đủ để sự trao đổi năng lượng giữa các loại sao khác nhau được công hiệu. Theo sự quan sát của chúng tôi về sự gặp gỡ giữa các sao thì thấy rằng nếu thiên hà chúng ta đã tồn tại trong hình thưc hiện chỉ được 2 tỉ thôi thì hẳn là các sao đã không tỏ ra nhiều cá tính trong lối quay động của chúng như thế này. Sự kiện một số khá đông những sao quen biết thuộc loại phổ quang A kết tụ lại theo nhiều lối tập trung khác nhau đủ chứng tỏ rằng thiên hà chúng ta đã không thể tồn tại trong hình thức hiện thời lâu hơn 10 tỉ năm. (B.J.Bok and P.F.Bok, Thă Mil Way) (Cambridge: Harvard University, 1957).
Vậy bất kỳ theo phương pháp nào trong việc tính tuổi cho thiên hà chúng ta, các kết quả của khoa học đưa ra đều ở trong giới hạn hợp lý, và tất cả đều đưa đến kết luận rằng cõi thiên hà chúng ta đã có điểm khởi đầu.
TUỔI VŨ TRỤ
Chúng ta đã bàn đến tuổi của cõi thiên hà chúng ta trong vũ trụ có rất nhiều thiên hà; khoảng chừng một ngàn tỉ thiên hà đang quay động trong vũ trụ, và đang tiến rất mau đi xa khỏi chúng ta. Có thể đo vận tốc quay xa dẫn chúng ta của các thiên hà, hay đo độ nở của vũ trụ.
Cái thước cho các khoa học gia đo tuổi vũ trụ là quãng thời gian mỗi thiên hà phải trải qua để tới mức độ xa cách chúng ta hiện giờ.
Hiện tượng quan phổ (Spectrum) của ánh sáng phát ra tùy thuộc làn sóng dài hay ngắn của ánh sáng đó, một đầu đi từ những làn sóng dài của màu đỏ tới đầu kia có màu tím của những làn sóng ngắn. Mỗi vật đều phát ánh sáng có chiều dài hay ngắn nhất định của làn sóng; ánh sáng đó xuất hiện trong hiện tượng quang phổ thành những đường nét nhất định, rõ ràng, hằng ở mãi một chỗ, trừ khi nguồn ánh sáng xê dịch hoặc tới gần người quan sát hoặc đi xa người quan sát khi nguồn phát sáng đi xa dần thì các lằn quang phổ thường hướng xa dần về phiá màu đỏ. Sự thay đổi các lằn quang phổ được lấy làm thước để đo lường sự xê dịch nhanh hay chậm của các tinh tú đang lìa xa trái đất.
Trong thực tế thì hầu hết các thiên hà đều có đường lằn hướng về màu đỏ. Các sự xê dịch sang màu đỏ như vậy lớn hơn cho những thiên hà ở xa trái đất và nhỏ hơn cho những thiên hà còn ở gần trái đất. Người ta đã đặt tên cho sự xê dịch đó là “xê dịch đỏ” (red shift).
Các đà tiến nhanh của các thiên hà căn cứ vào xê dịch đỏ như thế càng gia tăng theo mức độ xa cách giữa chúng ta với các thiên hà đó. Các mức độ nhanh đó có thể giúp chúng ta đi ngược lại thời gian để tìm hiểu nguồn gốc các thiên hà, và người ta đã nhận định được rằng có một lúc nào đó tất cả các thiên hà đã phát xuất bởi cùng một chỗ, và lúc đầu tiên đó đã cách đây tới 6 tỉ năm rồi. Cuốn sách mới nhất của ông Fowler cho rằng các thiên hà phát xuất từ một chỗ cách đây chừng 10 tỉ năm rồi. Còn khoa vô tuyến (Radio astronomy) lại muốn kéo dài thời gian đó tới 15 tỉ năm.
Nhưng dù tính tuổi vũ trụ 5 tỉ hay 10 tỉ hay 15 tỉ năm hay lâu hơn nữa cũng không phải là mục đích quan trọng đối với chúng ta vì chúng ta chỉ muốn chứng minh là vũ trụ có khởi đầu.
Sự xê dịch đó cho ta biết sức đi nhanh của các thiên hà ở xa có thể lên đến hàng chục ngàn dặm mỗi giây đồng hồ.
Một số người cho mức nhanh đó làm quá đáng, nên họ tìm cách giải thích sự xê dịch đó bằng đường lối khác hơn là bằng đo lường mức nhanh.
Có một thuyết mới hơn chủ trương rằng ánh sáng có thể thay đổi chiều dài của làn sóng nó. Những vận tốc của ánh sáng từ các thiên hà xa xăm cũng đã được đo kỹ và thấy rằng cũng không khác với vận tốc ánh sáng nơi chúng ta. Vì thế thuyết đó đã bị bác bỏ.
Tiến sĩ Edwin P.Hubble tuyên bố: “Có thể quả quyết các xê dịch đó là những chuyển dịch về độ nhanh, bằng không thì phải coi đó là một thứ gì huyền bí có liên quan đến nguyên lý bí mật của vũ trụ... hiện tượng xê dịch đó có thể giải thích rõ ràng nếu căn cứ vào chủ thuyết nói rằng hết thảy các tinh vân cầu đã có một lần kết tụ lại với nhau thành một đống trong một khoảng thời gian ngắn. Rồi vào một lúc nào đó cách đây độ chừng 1800 triệu năm, đã có một vụ nổ cực lớn làm văng toé các tinh vân cầu ra tứ tung với đủ mọi đà nhanh chậm khác nhau. Và ngày nay chúng ta thấy vị trí các tinh vân cầu hợp với đà nhanh ban đầu của chúng. Những tinh vân cầu đi lẹ nhất thì đã tới chỗ cách xa chúng ta nhất, còn những tinh vân nào châm chạp thì vẫn còn gần với chúng ta. cách tả như vậy thật quá đơn giản, nhưng cũng gợi lên được sự quan trọng của cái gọi là “tuổi của vũ trụ”, tức là một khoảng thời gian dài đến một tỉ tám trăm triệu năm”. (Dallas, Taxas, December 30, 1941)
Ngày nay, tuổi của vũ trụ được đặt giữa chừng 7 tỉ và 15 tỉ năm.
Tiến sĩ Hubble cũng còn nêu lên rằng còn nhiều cách khác giải thích ý nghĩa của xê dịch đó có thể trưng ra Nhưng ông cũng vạch ra nhiều khó khăn nằm trong lối giải thích đó, tỉ dụ như: “tinh vân càng ở xa thì càng qui tụ lại với nhau đông đảo hơn.” Điểm này chưa có giải đáp nào thoả đáng.
CÁC NGUYÊN TỐ
Người ta hiện nay tin rằng khinh khí là nguyên tố duy nhất có mặt trong sự tạo dựng vật chất lúc ban đầu. Những biến đổi từ nguyên tố này sang nguyên tố khác dưới những điều kiện riêng biệt thì khoa học ngày nay đã thấu hiểu. Từ đó có vấn đề được đặt ra như sau: Phải mất một thời gian dài bao lâu để có các loại nguyên tố hiện nay và với một số lượng như hiện nay? Trả lời câu hỏi này cũng là trả lời các câu hỏi về tuổi trái đất, tuổi vũ trụ, tuổi thiên hà v.v...
MỌI TINH THÚ ĐỀU CÓ KHỞI THUỶ
Mặt trăng phát ra ánh sáng và sức nóng như thế là vì nó thiêu đốt mỗi giây đồng hồ 4.2.000.000 tấn vật chất trên đó. Trong số vật chất bị tiêu hao này chừng 1/200 được thâu lại. Như vậy có nghĩa là mặt trời đang bị giảm sút xuống lần lần. Các ngôi sao khác cũng vậy.
Nếu các tinh tú trên trời đều giảm sút khối lượng dần dần thì dĩ nhiên là chúng có bắt đầu chúng không thể đời đời hằng hữu được.
Nếu không có sự giảm dút như vậy và nếu mỗi giây có bốn triệu tấn vật chất thêm vào cho mặt trời đã nhiều vô hạn và mặt trời của chúng ta đã làm đầy hết cả không gian vũ trụ rồi. Cũng có thể nói như vậy về mỗi ngôi sao trong 100 tỉ ngôi sao của mỗi một thiên hà. Nên nhớ vũ trụ có hàng ngàn tỉ thiên hà. Điều đó vô lý.
Như vậy phải kết luận các tinh tế trên trời đều có khởi thuỷ. Sách Sáng thế ký đoạn 1 câu 1 không nói rõ thời gian khai dựng vũ trụ. Đối với Kinh Thánh, sự tạo thiên lập địa bắt đầu từ 5 tỉ hay 6 tỉ năm hay 10 tỉ năm hay 100 tỉ năm hay lâu hơn nữa, cũng không phải là điều quan hệ. Những điểm Kinh Thánh tường thuật về cuộc sáng thế tỏ rõ một chân lý là vũ trụ chúng ta đã có khởi đầu.
Sự kiện đó hiển nhiên rõ ràng đến nỗi hầu hết các khoa học gia về thiên văn không ngần ngại bàn luận về ngày tạo thiên lập địa. Họ lập nên những thuyết giải nghĩa việc tạo lập vũ trụ. Có thuyết chủ trương vũ trụ đã được tạo dựng từ một khối năng lượng cực lớn, có lẽ dưới hình thức ánh sáng.
Có thuyết cho rằng khối năng lượng đó đã biến đổi sang vật chất trong thời gian thật ngắn, không dài hơn nửa tiếng đồng hồ. (George Gamow, The Creation of the Universe (New York: Neutor Books, 1961).
Như vậy sách Sáng thế ký đoạn 1 câu 1 không có gì trái với khoa học, mà còn phù hợp trọn vẹn với những sự kiện khoa học và với các học thuyết đáng tin cậy nhất hiện nay.
NHỮNG THUYẾT KHOA HỌC
Một thuyết khoa học sở dĩ được tạo ra là để đi đo6i với các sự kiện đã biết. Một số học thuyết có thể đúng mà cũng có thể sai. Nhiều khi chính tác giả của nó cũng không tin nó hoàn toàn đúng. Lý thuyết khoa học giúp chúng ta xếp đặt các dữ kiện lại cho có thứ tự mạch lạc với nhau trong trí khôn ta và các khoa học gia nhờ đó mà tiên đoán được những gì sẽ xảy ra. Khi nào người ta thâu góp thêm được những sự kiện mới thì phần lý thuyết cũng được sửa lại cho thích hợp với các dữ kiện đó hoặc bị thay thế bằng một lý thuyết khác có giá trị hơn. Sự thay đổi lý thuyết như vậy không làm phiền lòng các khoa học gia, vì thay đổi lý thuyết như vậy có nghĩa là người ta có thể tiến tới một thuyết đúng trọn vẹn cuối cùng.
Trước đây người ta nói bốn ngàn dặm nơi trung tâm trái đất là chất sắt cứng. Thuyết này dựa trên sự truyền dẫn những rung chuyển qua trung tâm trái đất khi có vụ động đất. Theo sự quan sát thời bấy giờ thì những rung chuyển ấy chỉ truyền qua được trái đất cách như vậy nếu trung tâm trái đất là chất sắt cứng. Nhưng những khám phá gần đây đã cho thấy rằng những rung chuyển do động đất đã không được dẫn truyền theo đúng điều kiện đi qua sắt cứng, mà là qua sắt chảy. Vì thế thuyết này đã được sửa lại là: Trung tâm trái đất là sắt chảy lỏng.
Trước đây người ta cho nguyên tử là phần vật chất nhỏ bé nhất, không thể phân chia hay tách ra từng phần được. Ngày nay chúng ta đã phá vỡ được nguyên tử và biết trung tâm của nó được cấu thành do những proton và neutron, lại có những điện tử (electron) xoay chung quanh trung tâm nó như những hành tinh xoay chung quanh mặt trời. Đó là tình trạng của một thuyết lý về những đơn vị nhỏ nhất của vật chất cho một thời.
Chúng ta hãy nh2n thẳng vào sự thật của các thuyết lý khoa học là những lý thuyết chỉ căn cứ vào các sự kiện đã biết. Chúng ta thấy có hai thuyết về ánh sáng và cả hai thuyết cùng được giảng dạy trong học đường. Một thuyết dạy rằng ánh sáng chỉ là những làn sóng, còn thuyết kia cho rằng ánh sáng quả là những hạt vật chất đi thâu qua không gian. Thuyết trước bênh vực được một phần các sự kiện đã biết về ánh sáng và phải dựa vào thuyết sau để giải thích các sự kiện còn lại. Cả hai thuyết hiệp lại với nhau có thể giúp cho nhà khoa học tiên đoán được những biến chuyển của ánh sáng, hai thuyết hiệp lại cũng giúp cho khoa học gia sáng chế ra những thứ ống kính mới và biết chắc chắn về công dụng của chúng ngay từ trước khi chúng được chế ra.
Các thuyết khoa học đều có thể giúp ích cho nhân loại, dù đúng hay đúng một nửa hay không đúng.
CÂU HỎI
1. Tuổi trái đất được tính theo phương pháp Uranium là thể nào?
2. Liên hệ trái đất mặt trăng như thế nào? Và từ bao lâu?
3. Người ta có thể tính tuổi của vũ trụ. Điều đó chứng tỏ được gì? Bạn suy nghĩ và trả lời thế nào nếu Ngài cho rằng vật chất cấu tạo thành vũ trụ không có khởi thuỷ?
4. Mọi thuyết khoa học dần dần thay đổi theo thời gian, điều này có nghĩa gì?
ĐỊA CẦU SƠ KHAI
“Vả trái đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực” SaSt 1:2
Trong Kinh Thánh từ đầu chí cuối, có lẽ chỉ câu này là bị chỉ trích, bị đả kích gắt gao kịch liệt hơn hết.
Các thuyết khoa học về việc tạo thành thái dương hệ trong hai khoa thiên văn và địa chất, đã có một lịch sử dài và hấp dẫn.
GIẢ THUYẾT VỀ TINH VÂN (NEBULAR)
Cách đây gần một thế kỷ, giả thuyết về tinh vân được vững thế nhất, vì không chỉ là một thuyết mà còn l2 một sự kiện thực tế nữa. Thuyết đó đại khái nói rằng: bất kỳ hệ thống tinh cầu nào giống kiểu thái dương hệ của chúng ta, nghĩa là mặt trời ở giữa có các hành tinh này xoay quanh, đều đã khởi đầu là một khối hơ\i nóng, có hình chiếc đĩa dẹp, cự fcnóng và quay động từ từ. Rồi khi khối vật chất trong thể hơi nóng đó bắt đầu nguội đi thì nó cứng lại và quay mau hơn. Rồi có những phần tử nhỏ văng ra và thành những hành tinh. Các hành tinh này xoay quanh mình và xoay quanh khối trung tâm theo cùng một chiều hướng mà toàn khối hơi nóng ban đầu đã xoay. Khối trung tâm đó thành ra mặt trời.
Thuyết này có vẻ hợp lý vì đi đôi với các luật vật lý đang được giảng dạy.
Nhìn vào thái dương hệ, ta thấy thuyết này có lý lắm. Mặt trời đang xoay cùng chiều với các hành tinh xoay quanh nó; hầu hết các hành tinh đều xoay quanh trụ của nó theo cùng một chiều hướng chung, rồi hết thảy các vệ tinh nhỏ cũng xoay chung trục của nó theo một chiều hướng đó nữa. Như vậy có thể tin rằng thái dương hệ đã xuất hiện theo đúng cách thức mà thuyết tinh vân đã đưa ra.
Thêm vào đó chúng ta còn có chứng cớ của các tấm ảnh thiên văn, trong đó có những tấm ảnh thiên văn xoáy trôn ốc giống hình chiếc đĩa dẹp. Có những tấm ảnh khác chụp tinh vân hình tròn vì nhìn bên cạnh. Có những tấm ảnh khác cho ta thấy những mảnh vật chất đang vỡ ra khỏi cục trung tâm và đang biến thành những hành tinh.
Hàng trăm tấm ảnh thiên văn như thế chứng minh cho thuyết tinh vân là đúng. Vì thế không một khoa học gia nào trong thời đó nghi ngờ giá trị của thuyết tinh vân.
Nhưng khoảng 45 năm gầnđ ây, một nhà toán vật lý đã dày công nghiên cứu về các luật vật lý trong giả thuyết tinh vân và đã nêu lên ý kiến rằng nếu quả thực có một khối hơi nóng ban đầu như thế thì khối đó không thể nào tung ra những mảnh nhỏ để làm hành tinh cho khối lớn được. Nếu có sự phân tách thì nó phân tách ở chính giữa khối và như vậy thành ra hai khối vật chất bằng nhau. (W.T.Skilling and R.S.Richardson, Brief Text in Astronomy (New York: Holt, Rinehert & Winston, 1959), p.310. Điều này không hợp với thái dương hệ trong đó hành tinh lớn nhất cũng chỉ bằng 1/1000 của khối lượng mặt trời.
Người ta cũng đã nhận định rằng khối hơi nóng ban đầu đó khi bắt đầu nguội đi và co lại thì làm sao có thể làm văng ra phía sau những mảnh nhỏ; mà nếu có đi nữa thì làm sao các mảnh vụn vật chất đó có thể kết tụ lại để là thành một hành tinh? (Henry Norris Russell, The Solar System and its origin (New York: Masneillan, 1935). p.93-96.
CÁC THIÊN HÀ
Một thuyết cựu truyền có giá trị như thuyết tinh vânmà kết cục lại bị lung lay tận rễ như vậy đã làm xôn xao dư luận tong giới khoa học, nên người ta phải vội vàng sửa đổi thuyết đó hầu lướt thắng mọi khó khăn nan giải. Nhưng bao nhiêu cố gắng đều luống công, vì cũng trong thời kỳ đó, tiến sĩ Hubble dùng ống viễn kính trên thiên văn đài Wlson mà nhận ra rằng các tinh vân hình trôn ốc đó kỳ thực không phải những khối hơi nóng như người ta vẫn tin tưởng xưa nay, nhưng đó chính là những thiên hà, tức là những đống sao rất lớn. Các đống sao này coi không khác cõi thiên hà của chúng ta. Nhưng đống sao gần nhất cũng đo được một triệu rưỡi năm ánh sáng cách với chúng ta, nghĩa là quảng xa đó ánh sáng phải đi hết một triệu rưỡi năm với vận tốc mỗi giây ba trăm ngàn cây số, mới tới chúng ta từ thiên hà gần nhất. (Edwin P.Hubble. The Real of the Nebulae (New York: Doveer, 1936).
Thiên hà chúng ta gồm chừng 100 tỉ ngôi sao, mặt trời chúng ta chỉ là một ngôi sao trong số 100 tỉ đó và đang đứng giữa quãng đường từ trung tâm ra đến cạnh thiên hà. Từ trái đất nhìn lên, chúng ta thấy cạnh của thiên hà có hình đĩa dẹp cạnh đó có sắc trắng như con đường sữa, ta đặt tên cho nó là sông Ngân hà. Chỗ có đường kính lớn nhất hình đĩa dẹp đó rộng chừng 100.000 năm ánh sáng. Các thiên hà hình trôn ốc đều giống với thiên hà chúng ta, cũng gồm bởi một số sao tương đương và cũng có tầm vóc tương tự.
GIẢ THUYẾT VỀ TINH VÂN THIẾU SÓT
Những khám phá mới của khoa học đã cho giả thuyết tinh vân phát nổ là thiếu sót, vì diễn tả không đúng nguồn gốc của thái dương hệ và các hệ thống tinh cầu cùng loại. Các ảnh chụp về thiên văn đã chứng tỏ là các thiên hà chứ không phải là vì đám tinh vân. Thuyết tinh vân nổ cũng đã trái luật vật lý. Ngày nay thuyết này chỉ còn ghi lại trong sách vở như một tài liệu lịch sử mà thôi.
Trước khi giả thuyết tinh vân nổ tung bị đánh đổ, khoa học không đồng ý với sách Sáng thế ký đoạn 1 câu 2. Thực ra khoa học đã hoàn toàn chống lại Kinh Thánh.
Thuyết tinh vân nói rằng ban đầu trái đất chỉ là một khối có hình dĩa, rất đặc, rất nóng, phát ra nhiều ánh sáng. Kinh Thánh nói rằng trái đất ban đầu vô hình, trống rỗng và tối tăm. Như vậy đôi bên diễn tả khác nhau hẳn.
Trong thời kỳ người ta tin tưởng vào thuyết tinh vân, sách 1:2 đã là đầu đề cho người ta phản đối Kinh Thánh. Kinh Thánh bị kết án là trái khoa học, và cách diễn tả của Kinh Thánh không thích hợp cho bất cứ một loại thiên thể nào mà người ta biết được lúc bấy giờ.
Cũng trong thời kỳ đó, có người muốn bênh vực Kinh Thánh nên đã tuyên bố rằng những phát triển về khoa học sau này may ra sẽ làm sáng ý nghĩa câu Kinh Thánh đó. Cũng có người muốn dịch câu Kinh Thánh đó cách khác cho hợp với khoa học thời bấy giờ.
Cũng trong thời kỳ đó, có người muốn bênh vực Kinh Thánh nên đã tuyên bố rằng những phát triển về khoa học sau này may ra sẽ làm sáng ý nghĩa câu Kinh Thánh đó. Cũng có người muốn dịch câu Kinh Thánh đó cách khác cho hợp với khoa học thời bấy giờ.
Nhưng tất cả các công lao đó đều không đưa ra được một luận chứng nào về sự chính xác của Kinh Thánh.
MỘT TINH VÂN TỐI
Chúng ta trở lại với 1:2. Câu đó có ý nói gì? Vô hình, trống không và tăm tối, mấy tiếng đó có nghĩa gì? Tiến sĩ Alter, giám đốc đài thiên văn Griffith đã trích câu này như một lời diễn tả khéo nhất chưa từng thấy cho một tinh vân mờ tối.
Trước đây các tinh vân mờ tối bị kể như những chỗ trống trên trời, những chỗ không có sao. Nhưng những tấm ảnh thiên văn sau này chứng tỏ cho các khoa học gia rằng đó là những đám vật chất đen. Ngày nay không còn ai nghi ngờ gì về sự thực hữu của các tinh vân đen tối nữa. Chúng xuất hiện rõ ràng hơn bất cứ đối tượng thiên văn nào khác, trừ ra các sao. Các sách thiên văn mới đây nói về nhiều hình thức khác nhau của tinh vân đen tối.
Khoa học ngày nay cho rằng những đám tinh vân mờ mịt đó là nguồn gốc cho những sao mới xuất hiện. Trong thực tế, các thuyết mới về nguồn gốc thái dương hệ đều cho rằng thái dương hệ đã phát xuất tự một thứ tinh vân mờ mịt đen bằng đó. (Richard S.Lull, Evolution of the Earth and Its Inbabitants. (New Haven: Yale University) p.8; Robert A.Baker, introduction to astronomy (New York: Vow Nostrand, 1935) pp.253-57. Tinh vân sáng hay tinh vân tối cũng có sự cấu tạo giống nhau. Tinh vân sáng là tinh vân được một sao sáng gần bên kích thích cho nó giải sáng. Còn tinh vân tối không có sao sáng bên cạnh giúp cho nên vẫn cứ mờ tối mãi.
CÂU HỎI
1. Tuổi của vũ trụ là bao nhiêu và căn cứ vào đâu để biết?
2. Các tinh tú trên trời có giảm bớt khối lượng lần lần không? Tại sao?
TIẾN TRÌNH CỦA MỘT NGÔI SAO
Khoa thiên văn học công nhận mỗi sao bắt đầu là một đám khí loãng nóng, chỉ nóng đủ để phát ra một thứ ánh sáng đỏ mờ. Rồi đám khí ấy co đặc lại và nóng hơn lên, cho mãi tới một nhiệt độ cực cao, cao cho đến mức tối đa; rồi nhiệt độ bắt đầu giảm xuống lần lần, và sau cùng sau đó trở nên một sao chết, không còn toả ra ánh sáng nữa. Đó là tiến trình của một ngôi sao.
Cái hình thức đầu tiên của một tinh cầu khi còn là chất hơi với chút ánh sáng đỏ mờ không khác gì một tinh vân khi còn tan loãng, chỉ khác nhau một ít như sao nọ khác sao kia về nhiệt độ và dày đặc mà thôi. Nếu cứ đi ngược lại tiến trình đó ta sẽ thấy ngôi sao to lớn đỏ mờ đó càng ít nhiệt độ hơn và càng tan loãng hơn, như vậy thì đúng là tình trạng ban đầu của một tinh vân rồi.
Nhiều tác giả các s1ch thiên văn lấy tinh vân tan loãng là khởi đầu của một ngôi sao và tình trạng đỏ mờ, rời rạc, là bước thứ hai của sao đó. Ngày nay những tinh vân tan loãng được công nhận là bước đầu của sao mới.
Theo ý kiến hiều học giả vế Hy-bá-lai văn thì phần thứ nhất của câu 2 đoạn 1 sách Sáng thế ký có ý nghĩa như sau: “Và trái đất thì vô hình thể, tan loãng và sự mờ tối bao phủ trên mặt trái đất. Nó cực kỳ rộng lớn và chuyển động không ngừng”.
Dịch như vậy thì câu Kinh Thánh này rất thích hợp cho một tinh vân tan loãng và mờ tối.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu về tình trạng rời rạc, tan loãng của các tinh vân và thấy nó còn loãng hơn những thứ khí loãng nhất mà các phòng thí nghiệm khoa học có thể tạo ra. Họ nhận thấy các tinh vân thực là tối tăm, tan loãng và quay động. Về hình thể của các tinh vân đen tối đó thì các ảnh thiên văn chụp được ghi rõ cho chúng ta thấy các tinh vân đó hoàn toàn ở trong sự diễn tả của 1:2. Chúng vô hình, loãng và tối.
Như vậy ngày nay chúng ta biết chắc rằng có những tinh tú trên trời được diễn tả rất đúng theo lời Kinih Thánh; rất có thể tin rằng trái đất ban đầu là một tinh vân tối.
TRÁI ĐẤT NÓNG LÚC BAN ĐẦU
Thuyết nào công nhận một hành tinh thoát thai từ một tinh vân loãng thì cũng phải công nhận rằng khối hơi loãng đó có đặc lại bất cứ cách nào. Rồi khối hơi đó được nóng lên, hoặc do sức nóng vốn có, hoặc do sức phóng xạ hay bất cứ cách nào khác. Ta thấy loài thảo mộc đầu tiên trên mặt đất rất là phong phú đủ chứng tỏ mặt đất lúc bấy giờ nóng và ẩm ướt. Chắc rằng mặt trái đất chứa nhiều nước trong một thời gian rất lâu.
Ông Henry Norris Russell, trong tác phẩm nhan đề là “Thái Dương Hệ và nguồn gốc” (The Soalr system and its origin) đã bàn rằng có thể là thái dương hệ bởi một tinh vân loãng mà ra. Ông thấy không có gì trở ngại cho sự khởi đầu như vậy. (Russell. pp 123-26).
Trong thực tế, tiến trình của tinh tú bắt buộc các sao mới phải bắt nguồn từ một tinh vân loãng.
Ông Fred Whipple ở đại học Harvard và ông Gerard P.Kuiper ở đại học Chicago đã nêu lên những thuyết lý để giải thích thái dương hệ của chúng ta ra bởi tinh vân loãng như thế nào. Cả hai thuyết đó đều phức tạp nên không muốn bàn đến ở đây. Cả hai thuyết đều được giới khoa học tiếp nhận và đang được nghiên cứu kỹ lưỡng. Còn nhiều thuyết thiên văn nổi tiếng khác nữa, nhưng thuyết nào cũng bắt đầu với tinh vân loãng.
Như vậy ngày nay chúng ta có thể thấy rằng các thuyết tân tiến về nguồn gốc địa cầu hay thái dương hệ đều phù hợp với Sáng thế ký đoạn 1 câu 2.
CÂU HỎI
1. Giả thuyết cũ về tinh vân đã giải thích nguồn gốc thái dương hệ như thế nào?
2. Giả thuyết cũ về tinh vân chống Kinh Thánh như thế nào? Cuối cùng thì cái gì chứng tỏ bên nào là chân lý?
3. Các tinh vân tối là gì? Đám khí loãng đó đã giúp ích gì cho các nhà thiên văn?
SỰ SỐNG ĐẦU TIÊN
“Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước” 1:2
Ý nghĩa câu Kinh Thánh này được sáng tỏ hơn khi bản dịch ASV năm 1901 đã đổi chữ “vận hành” (moved) ra chữ “ấp ủ” (brooded). Giáo sư Nathan J.Stone cho rằng chữ này trong nguyên văn Hy-bá-lai thường chỉ về con chim bồ câu “ấp ủ” trê trứng của nó để làm cho trứng nảy nở sự sống, hoặc chỉ về con chim phượng hoàng đập cánh trên tổ của nó để xua đuổi kẻ thù và bảo vệ đàn con nhỏ. Vậy ý nghĩa của câu này có thể diễn lại như sau: Thần Đức Chúa Trời nhẹ nhàng ấp ủ trên mặt nước để làm phát triển và bảo vệ sự sống sơ khai.
Khoa học dạy rằng sự sống trong những hình thức thô sơ ban đầu xuất hiện dưới biển trước tiên. Thật không còn gì ăn khớp hơn với phần nhì của câu 2 đoạn 1 Sáng thế ký. Sự sống được nói tới trong câu Kinh Thánh này phải hiểu về sự sống rất mực thô sơ, bởi vì những loại sinh vật phức tạp và hoàn bị hơn sẽ được nói tới trong những thời kỳ tới ở những câu Kinh Thánh tiếp sau.
ÁNH SÁNG
“Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng, thì có sự sáng... Đức Chúa Trời bèn phân sáng ra cùng tối. Đức Chúa Trời đặt tên sự sáng là ngày, sự tối là đêm” (1:3-5).
Tiến trình tinh tú như đã trình bảy rất được hoan nghinh trong giới thiên văn. Muốn đi hết tiến trình hay dù đi một phần thôi, mỗi sao phải có một khối lượng vật chất lớn hơn 1/100 khối lượng mặt trời, bằng không thì nó không thể nào phát nóng để thành một ngôi sao. KHối lượng của trái đất chỉ bằng 1/333.000 của khối lượng mặt trời vì thế nó không trở thành một ngôi sao, không thể đi hết tiến trình tinh tú.
Sự sáng được nói tới trong câu 3 phải hiểu về sự sáng bởi mặt trời, chứ không phải sự sáng bởi trái đất. Hiểu như vậy cũng rất đúng với sự diễn tả trong Kinh Thánh ở câu 4 và 6 sách Sáng thế ký: “Đức Chúa Trời bèn phân sáng ra cùng tối. Đức Chúa Trời đặt tên sự sáng là ngày, sự tối là đêm”. Vậy nếu trái đất đã giống như một sao, có sức tự phát sáng ra, thì cả trái đất đều sánghết, không còn phân biệt giữa sáng và tối, cũng không có ngày và đêm trên mặt đất nữa.
Như vậy khoa học hoàn toàn đồng ý với câu 3 và 4 và 5 của Sáng thế ký đoạn 1. Đứng chính giữa là mặt trời tự phát ra ánh sáng, soi sáng cho trái đất để khi một bán cầu sáng thì bán cầu bên kia tối. Có ngày mà cũng có đêm.
TRÁI ĐẤT NGUỘI ĐI
“Và Đức Chúa Trời làm nên khoảng không, phân rẽ nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không” 1:7.
Câu này nói rằng trên mặt đất có chứa nhiều nước và trên bầu trời thì có những tầng mây dày đặc bao phủ trái đất. Đó là giai đoạn một hành tinh phải trải qua trong lúc nguội dần đi. Khi mặt đất còn nóng 100 độ thì không thể có nước ở trên mặt đất vì sức nóng đã làm bốc hơi hết nước đọng trên mặt đất. Khi nhiệt độ xuống thấp hơn thì những đám mây đen mịt do hơi nước bốc lên bắt đầu rơi xuống đất. Mặt đất càng nguội đi thì càng có nhiều nước trên đất và càng ít nước trên mây. Tình trạng đó của trái đất là tất nhiên phải có khi mà trái đất còn nóng hơn bây giờ.
NƯỚC BAO PHỦ TRÁI ĐẤT
“Đức Chúa Trời lại phán rằng: Những nước ở dưới trời phải tụ lại một nơi” 1:9a.
Câu này nói rõ rẳng ban đầu nước bao phủ cả trái đất, và Đức Chúa Trời làm chúng nó tụ lại một nơi. Các thuyết về địa chất cũng chứng minh cho tình trạng sơ khai bị nước bao bọc này của trái đất.
CÁC LỤC ĐỊA NỔI LÊN
“và phải có chỗ khô cạn bày ra” 1:9b.
Có nhiều thuyết khác nhau về địa chất học đã cố gắng iải thích về sự trồi lên sụt xuống của các đại lục suốt trong một thời kỳ rất lâu dài. Nhưng hết thảy đều đồng ý cho rằng torng những giai đoạn địa chất sơ khai, mặt đất mềm và bằng phẳng như nhau hết, nước bao phủ. Khi mặt địa cầu co lại vì nguội thì bấy giờ mới xảy ra hiện tượng là các lục địa trồi lên mặt nước.
THẢO MỘC XUẤT HIỆN
“Đức Chúa Trời lại phán rằng: đất phải sanh cây cỏ” 1:11
Hoá học dạy rằng không hành tinh nào có thể có dưỡng khí lâu nếu không có nhiều cây cối để liên tục cung cấp dưỡng khí cho nó. Không cây cối thì dưỡng khí chóng tan vào khoáng chất như đá, sắt... và dưỡng khí bị tiêu hao đi hết. Có thể nói rằng không khí trên mặt đất không có đủ dưỡng khí cho sinh vật cho đến khi cây cối mọc lên và phát ra dưỡng khí.
Nói chung, cây cỏ là đồ ăn của động vật. Cũng có nhiều loại thú ăn thịt nhưng đại đa số thú vật nuôi mình nhờ cây cỏ, nếu không chúng đã tiêu diệt nhau hết rồi. Vì thế chúng ta biết rằng cây cỏ phải xuất hiện trước động vật. Chúng ta không có ý nói đến những hình thức tối sơ của thực vật và động vật nhưng nói đến những loài cây và loài thú được diễn tả trong Sáng thế ký đoạn 1 từ câu 11 đến câu 27. Có lẽ câu Kinh Thánh trên nói về thời đại tiền cam biên trong địa chất học. (William J.Miller, Introduction to Historical Geology (New York: van Nostrand, 1952) p.90.
Người ta đã cho lùi lại rất xa thời kỳ mà loài thảo mộc xuất hiện trên mặt đất. Chỉ mới cách đây ít năm người ta định chừng 1 tỉ năm. Mấy năm sau người ta khám phám ra những cục than đá có gốc loài cây và người ta định tuổi là 2 tỉ năm. Đến năm 1962 người ta lại gặp thấy những lớp đá còn ghi dấu vết của nhụy hoa và người ta ấn định một thời gian là 3 tỉ năm. Như vậy không những niên đại được lùi xa mà loài cây cũng thấy hoàn hảo hơn nữa.
CÂU HỎI
1. Tiến trình tinh tú như thế nào?
2. Thuyết địa cầu được tạo thành do đám mây khí loãng co đặc lại (tinh vân loãng) có hợp với 1:2 không? Điều đó chứng tỏ được gì cho Kinh Thánh?
3. Sự sống sơ khai bắt đầu từ nước được koa học xác nhận. Điều này chứng tỏ được gì cho Kinh Thánh? Bạn sẽ trả lời thế nào khi có người cho sự sống đó tự nhiên mà thành?
4 Những điều Kinh Thánh nói đã được địa chất học minh xác lại như thế nào? Bạn có tin chắc rằng khoa học rồi đây sẽ làm sáng tỏ thêm Kinh Thánh không? Tại sao? Dựa vào những bằng chứng nào?
MÀN MÂY HÉ MỞ
“Đức Chúa Trời lại phán rằng: Phải có các vì sáng trong khoảng không trên trời, đặng phân ra ngày với đêm, và dùng làm dấu để định thì tiết, ngày và năm... Đức Chúa Trời làm nên hai vì sáng lớn; vì lớn hơn để cai trị ban ngày, vì nhỏ hơn để cai trị ban đêm”. 1:14-18.
Khúc Kinh Thánh này cũng là một trong những điểm bị đả kích mạnh nhất. Người ta bảo rằng Kinh Thánh nói sai vì Kinh Thánh kể mặt trời có sau loài cây. Vô lý, vì loài cây không thể mọc lên nếu thiếu ánh sáng và khí nóng của mặt trời.
Đã hẳn rằng loài cây không thể sống nếu thiếu sánh sáng và khí nóng bởi mặt trời, nhưng Kinh Thánh không hề nói rằng loài cây được dựng nên trước mặt trời. Từ ngữ dùng trong khúc Kinh Thánh này không phải là “tạo ra” nhưng là “làm nên”. Scofield dịch chữ đó là hàm ý mặt trời, mặt trăng “hoạt động trên đất”, còn câu 14-18 Kinh Thánh nói mặt trời được làm cho chiếu sáng xuống mặt đất, hay mặt đất được ánh sáng mặt trời chiếu rọi.
Trên kia, Kinh Thánh đã tỏ rõ tình trạng sơ khai của trái đất bị mây đen che phủ đặc kín. Do đó không thể nói về giờ giấc ở trong ngày, thì tiết trong năm, hay những dấu hiệu về thời gian do mặt trời đem lại. Vậy khi Đức Chúa Trời làm cho mặt trời hoạt động để phân thì tiết, ngày đêm, năm tháng, thì Đức Chúa Trời khiến cho màn mây đen đặc kia hé mở ra để ánh sáng mặt trời soi xuống đất.
Giả sử hôm nay là một ngày mêy che u ám cả bầu trời và tôi bảo bạn rằng ngày mai tôi sẽ làm cho mặt trời rọi ánh sáng xuống đất, thì có thể nào bạn nghĩ rằng tôi sẽ làm nên một mặt trời mới, đặt nó lên bầu trời cho nó soi xuống đất không? Hẳn là không. Bạn chỉ có thể hiểu là tôi muốn phá tan mây mù để cho mặt trời vốn có từ mấy triệu năm qua được chiếu ánh nắng xuống đất, thế thôi. Khi giải nghĩa Kinh Thánh ta cũng phải suy nghĩ cho hợp lý, vì Kinh Thánh vốn viết cho con người.
Như vậy không có gì là mâu thuẫn khi nói loài cây xuất hiện trên đất trước khi màn mây hé mở cho mặt trời soi xuống đất. Trứơc khi màn mây hé mở, nhiệt độ trên mặt đất còn rất cao. Bằng không thì bao nhiêu nước trong mây vẫn còn dày đặc. Có thể nói trước khi màn mây mở, tình trạng trái đất như trong một cái nhà kiếng để trồng cây. Các tầng mây làm phân tán tia nắng của mặt trời nên loài cây mới không bị đốt cháy, cũng như tấm kính đục trong nhà kiếng làm phân tán ánh nắng mặt trời vậy. Nhiệt độ trên đất lúc này làm ấm áp mọi vật và cây cối phát triển mạnh mẽ nhất. Còn cách nào tốt hơn cho sự phát triển thảo mộc bằng cách Chúa dự liệu trong 1:11-12a. Nhà kiếng trong sở thú chỉ bắt chước mà thôi.
LOÀI CÁ
“Đức Chúa Trời dựng nên các loài cá lớn,c ác vật sống động nhờ nước mà sanh nhiều ra” 1:21
Khoa địa chất học đã cho rằng thời kỳ Devonian là thời của loài xá xuất hiện, sau thời xuất hiện của thảo mộc. Thời kỳ Ordovician là thời kỳ cách đây 400 triệu năm, có ghi dấu mấy loại cá. Như vậy sự tạo dựng loài cá không thể đặt sau thời kỳ Devonian.
LOÀI CHIM
“Và các loài chim hay bay tuỳ thoe loại” 1:21
Có lẽ phải tính thời kỳ Jueassic hay thời kỳ Cretaceous trong địa chất học cho các loài chim xuất hiện. Loài chim là loài yếu đuối nhất trong các loài vật và để lại rất ít di tích hoá thạch. Hiện nay thời kỳ xa nhất có thể đặt cho loài chim là từ 80-130 triệu năm.
LOÀI CÓ VÚ
“Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đất phải sanh các vật sống tuỳ theo loại, tức súc vật, côn trùng và thú rừng” 1:24
Thời kỳ Cenozoic được kể là thích hợp cho loài có vú xuất hiện. Tuy vậy, cũng có người còn định một thời gian xa hơn nữa. Tất nhiên loài có vú đến sau loài chim. Theo địa chất học thời kỳ đó cách đây chừng 60 triệu năm.
LOÀI NGƯỜI
“Đức Chúa Trời dựng nên loài người theo hình Ngài” (1:27)
Loài người xuất hiện trong thời đại chót, tức nguyên đại đệ IV. Không tìm thấy di tích gì về loài người trong các lớp địa tầng sớm hơn. Loài người xuất hiện khá trễ nên không thể dùng phương pháp Uranium để định tuổi của loài người đựơc. Căn cứ vào cihều sâu của các lớp đất đá phủ trên di tích loài người, khoa địa chất học đã đưa ra một ức đoán về tuổi của loài người là từ nửa triệu tới một triệu năm. Phương pháp Carbon 14 gần đây đặt nhiều nghi ngờ về ức đoán này. Còn nhiều phương pháp mới nữa đang được nghiên cứu để tính tuổi cho loài người. Sau này chúng ta có thể biết rõ hơn về tuổi của nhân loại.
Như vậy chúng ta đã thấy 13 điều sách Sáng thế ký kể theo một thứ tự mà khoa học địa chất đã xác nhận là đúng. Bây giờ chúng ta phải trả lời một câu hỏi: Do đâu Môi-se biết được thứ tự đó? Có 5 câu trả lời:
1. Môi-se được biết những điều đó qua các trường của Ai-cập mà ông đã học.
2. Chính Môi-se không viết ra sách Sáng thế ký; sách đó đã được viết ra về sau, trong thời văn hoá Ba-bi-lôn chẳng hạn.
3. Tác giả Sáng thế ký đã tự đặt ra câu chuyện đó hoặc ông ngồi một mình mà suy luận ra như vậy.
5. Do chính Thượng Đế mặc khải cho Môi-se.
Nếu chỉ có 5 câu trả lời đó thôi, thì một trong số đó phải đúng, và nếu chúng ta chứng minh được 4 câu sai thì câu còn lại được xem là đúng. Chúng ta thử xem.
1. Câu chuyện này do các trường học của Ai-cập? Hẳn là không. Trong các câu chuyện ghi khắc trên những tấm bia đá chúng ta thấy có những truyện về tạo thiên lập địa do người Ai-cập kể lại. Tuy ý có giống truyện trong sách Sáng thế ký về vài điểm nhưng hầu hết các điểm chính đều không hợp và cũng không giống cách diễn tả của câu chuyện nữa. Nó cũng không hợp với khoa học ngày nay. Dù Môi-se hay ai khác cũng không thể lấy câu chuyện trong sách Sáng thế ký từ nguồn gốc Ai-cập. (W.Max Mueller Mythology:: Mythology of all Races, XII (New York: Cooper 1964) pp.33-127; 173-83; 212-45.
2. Câu chuyện có thể lấy tài liệu từ văn minh Ba-bi-lôn? Càng không thể được. Chúng ta đã được biết các truyền thuyết và tạo thiên lập địa của Ba-bi-lôn. Một thuyết hấp dẫn hơn cả nói đại khái như sau: Ban đầu có hai vị thần tranh chiến với nhau, một vị thua và bị giết. Vị thần thắng lấy thịt của thần thua để làm nên trái đất, lấy xương và răng để làm nên đá, lấy huyết để làm sông biển. Hẳn là Môi-se không thể lấy chuyện Sáng thế ký bởi nguồn này. Các truyền thuyết khác của Ba-bi-lôn về Sáng thế ký cũng đều hoang đường và phi lý như trên. (Stephen H.Langdon, Semitic Mythology, (New York: Cooper 1964) pp.277-325. Thật khác xa Sáng thế ký biết chừng nào!
3. Bạn có đi lục soát hết các thư viện ở thế gian cũng không tài nào tìm ra được một câu truyện Sáng thế ký giống như trong Kinh Thánh.
4. Môi-se có thể phỏng đoán ra được thứ tự đó chăng? Nếu nói có thì cái may đoán trúng thật vô cùng nhỏ bé. Bạn có thể nói Môi-se đã phỏng đoán cái thứ tự đó và đã may mắn đoán trúng. Nhưng nếu tính kỹ xác xuất để có thể gặp may mắn, người ta thấy rằng cái may đó chỉ là một trên hơn ba trăm triệu. Nghĩa là cái rủi ro nói sai nhiều gấp hơn ba trăm triệu lần cái cơ may nói đúng. (Bạn thử làm bài toán xác xuất và thấy kết quả ngay).
Hoặc bạn nói: Môi-se đã suy luận ra thứ tự đó bằng tài trí của ông. Càng vô lý hơn nữa. Giả sử bạn bỏ quên hẳn được câu truyện của Sáng thế ký và mọi điều bạn biết về truyện đó do các sách khoa học ngày nay, rồi bạn ngồi bóp trán và suy nghĩ cho ra một câu truyện của tôi thì chắc như sau: Khởi đầu loài người ở với Thiên Chúa tại thiên đàng, nhưng loài người là loài có xác thịt, mà trời là chỗ ở của thần linh, cõi trời không thích hợp cho loài người, làm con người cảm thấy khó chịu. Người và Thiên Chúa bàn với nhau và đôi bên thoả thuận là đôi bên phải dựng nên một chỗ thích hợp riêng cho con người. Một chương trình về quả đất được vạch ra, trong đó có khí trời, có nước, có cây cối, súc vật, v.v.. Điều chắc chắn là tôi sẽ không đặt con người ở cuối rốt của chương trình. Con người phải tham dự vào mọi công trình kiến tạo để trái đất được tốt đẹp cho con người. Dĩ nhiên ai trông thấy súc vật và loài cá cũng đều biết rằng súc vật có thể học bơi, còn cá thì không thể học đi đứng; vì thế sẽ cho súc vật được tạo nên trước và cho một số súc vật tập bơi cho giỏi để chúng có thể sống mãi dưới nước để trở thành loài cá, một số súc vật khác cứ mãi miết tập bay cho đến khi hai chân trước biến thành cánh. Có lẽ bạn cho tôi là tôi đùa, nhưng không đâu, tôi tin rằng lối suy luận trên hợp với lối suy luận của con người hơn lối sắp đặt của Sáng thế ký về câu truyện khai thiên lập địa. Hẳn là hết thảy chúng ta đều nghĩ rằng Chúa cưng loài người nên Chúa dựng nên trâu bò, ngựa lừa để giúp đỡ loài người và chúng ta sẽ đặt những con vật đó sau loài người. Tôi không tin rằng loài người có thể nghĩ ra được cái thứ tự trong việc sáng thế của sách Sáng thế ký trong Kinh Thánh. Vậy 13 việc đó thì Môi-se nhờ đâu mà biết đặng hầu có thể đem ra mà xếp thứ tự? Môi-se có biết rõ về những tinh vân tối để có thể viết cách rõ ràng về một tinh vân trong câu 2 của Sáng thế ký đoạn 1 không? Hẳn là không, vì trước đây 45 năm, dù các khoa học gia nổi tiếng nhất, có trong tay cả một xấp hình chụp tinh vân tối, mà cũng không hề ngờ rằng đó là tinh vân, họ chẳng biết gì về tinh vân tối ở trên trời. Vậy một người như Môi-se làm sao có thể diễn tả đúng một đối tượng thiên văn mà gần 4 năm sau khoa học mới khám phá ra?
Người ta đã tính ra có chừng 100 tỉ người đã sống từ thời Môi-se cho đến khi các khoa học gia hiểu lời diễn tả của Môi-se về cuộc sáng thế. Vậy chúng ta có thể nói cái may cho Môi-se nói đúng là một trăm tỉ. Xin nói rút bớt đi là cái biết của Môi-se về tinh vân tối chỉ là một, mà cái không biết chỉ là một tỉ thôi. Chúng ta chỉ cần đặt tỉ số và sẽ kết luận Môi-se trăm phần không thể diễn tả đúng về một tinh vân tối.
Làm sao Môi-se biết được ban đầu có nước bao phủ trái đất? Không thể nào trả lời được câu hỏi này. Thật là rất khó cho Môi-se đoán ra cái tình trạng sơ khai này của trái đất. Cái may mắn của ông không thể nào hơn một phần trăm của cái rủi được.
Làm sao Môi-se biết được ban đầu có mây dày đặc che kín cả trời đất? Xin tính cho ông cái may trong một ngàn rủi cũng thấy là khó khăn rồi.
Chúng ta còn thể nêu lên nhiều câu hỏi khác như: Làm sao Môi-se biết được sự sống xuất hiện đầu tiên ở biển? Làm sao ông biết ánh sáng đầu tiên do mặt trời chứ không phải do đất tự phát? Làm sao ông biết được mưa đổ xuống ồ ạt trên đất giữa thời loài cây và loài cá? Làm sao ông biết được thảo mộc có trước loài cá?
“Ấy là gốc tích trời và đất sau khi đã dựng nên, trong lúc Đức Giê-hô-va dựng nên trời và đất. Vả lúc đó chưa có một cây nhỏ nào mọc ngoài đồng, và cũng chưa có một ngọn cỏ nào mọc ngoài ruộng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chưa có cho mưa xuống trên đất, cà cũng chẳng có một người nào cày cấy đất nữa” 2:4-5. Khoa địa chất học sẽ chứng minh cho những lời đó là đúng với thực tại.
Trong khi viết nên Sáng thế ký đoạn 1, làm sao Môi-se biết được 13 việc sáng tạo đó cách chính xác và xếp đặt theo đúng thứ tự? Theo những con số ức đoán mà chúng tôi đã nêu ra ở trên, chúng tôi đem tổng kết lại để tìm ra kết quả thì thấy rằng Môi-se chỉ có cái may biết được bằng một, còn cái không biết bằng 31.135, 104.000.000.000.000.000. Như vậy thì cái biết nhỏ bé quá, không còn chút chi là đáng kể nữa. Chúng ta thử tượng tượng ra cái bé nhỏ ấy là nhỏ bé chừng nào.
Giả thử chúng ta muốn có một cuộc rút thăm và chúng ta cho in thăm nhiều bằng con số nói trên. Muốn được vậy chúng ta phải thuê 8.000.000 máy in, mỗi máy có thể in 2.000 thăm trong mỗi phút. Nếu các máy này chạy suốt ngày đêm thì phải mất 5.000.000 năm mới in xong số thăm đó. Rồi bây giờ bạn đánh dấu một lá thăm và cho trộn lẫn vào đống thăm cực lớn kia. Rồi bạn bịt mắt một người rồi bảo người ấy đi rút lấy một lá thăm. Liệu anh ta có rút trúng lá thăm bạn đánh dấu không? Tuy vậy, cái may mắn của anh ta còn lớn hơn cái may của Môi-se khi ông viết đoạn 1 sách Sáng thế bằng kiến thức thời đó.
Một chút tưởng tượng nữa. Giả sử mỗi lá thăm đó rộng một phân vuông và mỗi xấp 100 lá thì dà một phân. Vậy cả đống thăm đó sẽ to lớn là chừng nào? Nó rộng bằng cả diện tích Á Châu và cao một cây số kia. Bây giờ bạn đánh dấu một lá thăm rồi đem nó trộn bằng Á Châu và cao 1 cây số. Bạn bịt mắt một người và bảo người ấy đi rút sao cho trúng nhằm lá thăm bạn đánh dấu trước. Cái may rút trúng của người ấy còn lớn hơn cái may của Môi-se viết trúng mọi điều trong Sáng thế ký bằng trí khôn loài người mà thôi.
5. Chúng ta đã bác bỏ 4 câu trả lời trên vì hoàn toàn phi lý. Vậy chỉ còn một cách trả lời hợp lý là: Chính Đức Chúa Trời đã mặc khải cho Môi-se viết nên đoạn 1 sách Sáng thế. Có lời Kinh Thánh quả quyết rằng: “Tất cả Kinh Thánh được chép ra bởi sự linh cảm của Chúa”. Đó là chứng cớ hùng hồn cho chân lý của Kinh Thánh.
Xin lập lại cách khác. Giả sử tôi nói quyết rằng chính tôi đã xây nên một ngôi nhà cổ nào đó, nhưng tôi không tìm được nhân chứng, người ta cũng không tin tôi là kẻ đã xây nên nhà đó. Vậy có cách nào tôi chứng minh cho lời quyết của tôi? Tôi có thể chứng minh được tôi đã xây nhà đó nếu tôi có thể nói ra một số đồ vật ẩn kín bên trong ngôi nhà đó mà người ngoài không thể nhìn thấy. Khi ngôi nhà đó kéo đổ xuống và những đồ vật đó lộ ra y như lời tôi đã diễn tả rõ ràng từng cái một thì lời quyết tôi được mọi người tin.
Giả sử trong trường hợp đó tôi nói rằng: Khi đổ xi măng tôi đã đánh rơi một bó đinh ở góc tường phía Đông Bắc. Còn ở góc tường phía Đông Nam các ông sẽ thấy một lô sắt vụn nằm trong đống bê tông. Về khung nhà, các ông sẽ thấy xà cỡ 2.8 thay vì cỡ 2.6 như nhà khác. Còn góc nhà về phía Tây Nam có đóng 4 cái cọc thay vì 3 như thói quen... Và cứ vậy tôi tiếp tục nói hết 13 đồ vật đặc biệt đã được dùng trong việc xây cất toà nhà cổ đó, từ dưới nền nhà cho đến nóc. Bạn kéo đổ toà nhà đó xuống và bạn nhận ra tôi đã nói hoàn toàn đúng 13 sự vật thì bạn kết luận thế nào về lời quả quyết tôi là người đã xây nên nhà đó? Chứng cớ như vậy thì toà án nào trên thế giới cũng phải nhìn nhận cả.
Chúng ta cũng đang đứng trước một chứng cớ như vậy đối với 13 việc tạo dựng mà Sáng thế ký đoạn 1 đã chép. Dầu sách đó đã được viết ra từ mấy ngàn năm trước khi khoa học xuất hiện, thế mà khoa học hiện nay chứng nhận 13 điều đó thật đúng. Có lẽ Chúa đã viết nên câu chuyện trong sách Sáng thế ký để ngày nay, khi khoa học phát triển thì chúng ta có thể nhận định được chính Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá. Không còn dùng khoa học để phát triển lòng vô tín mà trái lại, để chắc chắn Đức Chúa Trời đã dựng nên địa cầu và mọi loài sinh vật trên đó.
CÂU HỎI
1. Kinh Thánh nói mặt trời lộ ra sau loài thảo mộc. Điều này có nghĩa như thế nào? Khoa học đã giúp cho sự giải thích như thế nào?
2. Những điểm Kinh Thánh lần lượt theo thứ tự kể ra rất phù hợp với khoa địa chất học. Bạn trả lời như thế nào để thuyết phục người khác tin rằng Kinh Thánh chính là mặc khải của Đức Chúa Trời và chứng tỏ Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá?
3. Hãy cho biết cảm tưởng của bạn sau khi xong phần I của chương III.
II. CÁC NGÀY TRONG SÁNG THẾ KÝ
Tiếng Hy-bá-lai chép chữ “ngày” trong sáng thế ký, ta có thể hiểu theo nghĩa quãng thời gian. Còn những tiếng buổi sáng và buổi chiều cũng có thể hiểu theo nghĩa bắt đầu và kết thúc. Như vậy câu “vậy có buổi chiều và buổi mai, ấy là ngày thứ nhất” cũng có nghĩa là “bắt đầu và kết thúc công việc của Đức Chúa Trời trong thời kỳ thứ nhất”.
Những chữ “Ngày, sáng, chiều, trong tiếng Hy-bá-lai cũng đồng nghĩa với những chữ “day, morning, evening” trong tiếng Anh. Tra tự điển Anh ngữ, bạn sẽ thấy chữ “day” cũng chỉ nghĩa một thời gian nào đó; “mornig” và “evening” cũng có nghĩa là khởi đầu và chung cuộc một thời kỳ, không khác chi khởi đầu và chung kết một ngày 24 giờ đống hồ. Tự điển Thánh Kinh phù dẫn cũng chỉ cách dùng các chữ đó như vậy.
Thi Tv 90:5, 6 chép “Chúng nó khác nào một giấc ngủ. Ban mai mọc tợ như cây cỏ xanh tươi; buổi chiều người ta cắt nó và nó héo”. Buổi sáng và buổi chiều ở đây đã rõ là không chỉ sáng và chiều của một ngày thường.
Quãng thời gian mà Sáng thế ký gọi là “ngày” đó có thể hiểu là 24 giờ hay bất cứ khoảng thời gian dài, ngắn nào đó cũng được, hoặc chỉ một khoảnh khắc rất ngắn bằng nửa giây đồng hồ hay cả một niên đại địa chất dài đằng đẵng cũng được.
33:6-9 chép “Các từng trời được làm nên bởi Lời Đức Giê-hô-va, cả cơ binh trời bởi hơi thở của miệng Ngài mà có. Ngài thâu nước biển lại thành như đống, và trữ những nước sâu trong chỗ chứa. Khắp thiên hạ khá kính sợ Đức Giê-hô-va; các dân thế gian hãy kinh khủng Ngài, vì Ngài phán thì việc liền có, Ngài biểu thì vật liền vững bền”.
Khúc Kinh Thánh này như muốn nói các việc làm của Đưc Chúa Trời hoàn thành trong một thời gian rất ngắn.
Hơn nữa, các khoảng thời gian nói trong sách Sáng thế ký có thể phân tích ra bởi những khoảng thời gian khác xen kẽ vào. Thiên Chúa chỉ kể ra những khoảng thời gian Ngài làm việc trên trái đất mà thôi. Nếu sau việc thứ nhất của Thiên Chúa, tức là sau thời kỳ tạo dựng thứ nhất, có một triệu năm trôi qua, rồi Chúa tiếp tục làm việc tạo dựng thứ hai, thì công việc thứ hai này cũng kể là đã chiếm thời kỳ tạo dựng thứ hai. Ta nên nhớ trước mặt Thiên Chúa không có thời gian.
Cách giải nghĩa này cũng được áp dụng vào lời tiên tri của Chúa, mỗi lần Chúa tính thời gian Chúa đối xử với dân Y-sơ-ra-ên. Nếu Chúa báo một sự gì sẽ xảy đến cho dân Y-sơ-ra-ên trong một khoảng thời gian nào đó, thì thời gian đó chỉ được tính khi dân Y-sơ-ra-ên đã ở trong đất Palestine như một quốc gia. Có phải 69 tuần lễ của Đa-ni-ên đã qua lâu rồi và chúng ta đang ở trong thời kỳ của tuần lễ thứ 70 mở màn?
Ít nhất là có ba cách giải thích chữ “ngày” trong Sáng thế ký.
1. Hiểu chữ “ngày” đó về ngày 24 tiếng đồng hồ. Nhưng cách này bị khoa địa chất học loại bỏ.
2. Hiểu chữ “ngày” như một niên đại theo địa chất học. Ví dụ thời kỳ Devonian là một ngày. Cách giải nghĩa này tuy thích hợp với giả thuyết khoa học, nhưng lại cho công việc của Chúa chỉ là sức hướng dẫn tiềm tàng chậm chạp. cách này không hợp với ý nghĩa khúc Kinh Thánh trích trong Thi Thiên 33 vừa rồi.
3. Hiểu chữ “ngày” là một biến đổi lớn trong các di tích hoá thạch theo đúng mỗi việc Chúa làm trong Sáng thế ký. Sau một biến đổi, loài cá xuất hiện, sau một biến đổi khác, loài chim xuất hiện; sau một biến đổi khác nữa, loài có vú xuất hiện...
Nếu Chúa dựng nên những sinh vật mới trong thời kỳ biến đổi này, rồi sau đó Chúa không dựng nên loài sinh vật mới nào nữa, chúng tự phát triển theo chủng loại của chúng. Rồi tới thời khác Chúa làm nên những loại mới khác, thì các thời gian của các thời kỳ biến đổi đó có thể được gọi là những ngày tạo dựng của Chúa.
Các địa tầng và các loại di tích hoá thạch bênh vực mạnh mẽ cho cách giải thích thứ ba này.
Không nhất thiết một trong ba cách giải thích đó phải hoàn toàn đúng, còn hai cái kia phải sai. Rất có thể là một số ngày đúng theo kiểu giải thích này, và một số ngày khác lại đúng theo kiểu giải thích khác. Chúng ta nên nhớ đến ngày thứ tư mặt trời mới lộ ra để cho biết thời tiết, ngày tháng.
Cũng có thể rằng các ngày trong Sáng thế ký là những quãng thời gian rất ngắn và được phân tách ra bởi những quãng thời gian rất dài. Hầu hết các việc làm của Chúa trong Sáng thế ký đoạn 1 và 2 được ghi nhận là những biến đổi theo địa chất học. Điều này hợp với Lời Chúa trong Kinh Thánh rằng: “Chúa phán thì chúng vững bền”, và củng cố cho cách giải thích các ngày trong Sáng thế ký là những việc tạo dựng mau lẹ, đầy quyền năng, được phân tách ra bởi những thời kỳ lâu dài của địa chất học.
Hiểu như vậy thì thấy khoa học và Kinh Thánh rất hoà hợp.
SaSt 1:22 chép: “Đức Chúa Trời ban phước cho các loại đó mà phán rằng: hãy sinh sản thêm nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy sinh sản trên đất cho nhiều”. Câu 21 cho chúng tự phát triển tuỳ theo loại.
Thật là hợp lý nếu chúng ta hiểu rằng Chúa cho các loài sinh vật đó một thời gian khá lâu để chúng chuẩn bị làm tròn lệnh truyền của Chúa.
CÂU HỎI
1. Ba lời giải thích về chữ NGÀY trong Sáng thế ký là gì? Điều đó có ích lợi gì cho sự giải quyết những bất đồng giữa Kinh Thánh và khoa học.
2. Theo bạn hiểu chữ ngày trong Sáng thế ký có ý nghĩa gì?
III. THUYẾT TIẾN HOÁ
Sự sống xuất hiện và bành trướng trên mặt đất thể nào? Kinh Thánh ghi chép mấy điều như sau:
“Đức Chúa Trời phán rằng: Đất phải snah cây cỏ, cỏ kết hột giống, cây trái kết quả, tuỳ teo loại mà có hột giống trong mình trên đất, thì có như vậy” 1:11
“Đức Chúa Trời lại phán rằng: nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các loại chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời”
“Đức Chúa Trời dựng nên các loài cá lớn, các vật sống hay động nhờ nước mà sanh nhiều ra, tuỳ theo loại; và các loài chim hay bay, tuỳ theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành” 1:20, 21
“Đức Chúa Trời làm nên các loài thú rừng tuỳ theo loại, súc vật tuỳ theo loại, và các côn trùng trên đất tuỳ theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành” 1:25
1. Khái luận về Thuyết tiến hoá: Từ ngày Cơ-đốc giáo ra đời, có hai nhân vật xuất hiện trong thế giới khoa học làm xôn xao cả giáo hội, đó là Copermicus và Darwin.
Copermicus đã làm kinh ngạc thế giới bằng thuyết thiên văn chủ trương rằng trái đất xoay quanh mặt trời, không phải mặt trời xoay quanh trái đất. Hàng giáo phẩm lúc đó đứng lên đả kích ông vì họ cho thuyết của ông đã hạ bệ con người trong chương trình của Tạo Hoá.
Vào năm 1859, Charles Darwin cho xuất bản tác phẩm thời danh của ông, nhan đề “Nguồn gốc các chủng loại” (Origin of Species) làm nổi bật thuyết tiến hoá vốn có từ lâu. Thực ra tác phẩm vĩ đại của ông bàn về luật đào thải tự nhiên (natural selection) hơn là bàn về chính thuyết tiến hoá. Trong Cơ-đốc giáo có ba phản ứng khác nhau: có người thừa nhận, có người chống đối, có người trốn tránh; hầu hết là trốn tránh, không muốn đề cập đến vấn đề chông gai đó.
Thuyết tiến hoá nhấn mạnh một điểm là mọi đời sống hữu cơ đều phát xuất từ những hình thức đơn giản hơn. Sự biến đổi từ hình thức thô sơ tới hình thức phức tạp đòi những quãng thời gian dài, từng triệu, từng triệu năm.
Theo tiến hoá, loài thực vật và động vật ngày nay không còn giống với thực vật và động vật thời tiền sử. Những cơ thể đơn giản trở nên phức tạp hơn xưa. Nhưng các nhà tiến hoá cũng nhìn nhận thực tế có sự thụt lùi của nhiều cơ thể. Có những sinh vật đã đi từ đơn giản đến phức tạp rồi lại đi từ phức tạp đến đơn giản.
Trái với quan niệm củ anhiều người, tiến hoá của sinh vật không nhất thiết phải liên hệ tới nguồn gốc sự sống. Tiến hoá hữu cơ và nguồn gốc sự sống là hai vấn đề riêng biệt.
Sau thuyết đào thải tự nhiên của Darwin, có nhiều thuyết khác chen chân vào, trong số đó có thuyết ngẫu biến (mutation theory) là nổi hơn cả. Thuyết này về sau đã được sửa chữa và gia nhập vào tân phái của thuyết Darwin.
2. Thái độ của Cơ-đốc giáo với thuyết tiến hoá: Ngày nay, trong Cơ-đốc giáo, có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề tiến hoá.
Có người tin vào đặc tính bất biến của các chủng loại. Họ nói: các chủng loại hiện có trên trái đất cũng vẫn còn y nguyên giống như lúc ban đầu do tay Chúa dựng nên. Chúng ta sẽ nhận ra điều đó khi naò khoa học có thể định nghĩa cho minh bạch từ chủng loại của sinh vật trên trái đất.
Có người theo thuyết tiến hoá giả thiểu, nghĩa là có tiến hoá trong một giới hạn nào thôi.
Có người tin rằng Đức Chúa Trời dựng nên ban đầu một hình thức tối sơ của sự sống, rồi sau đó Ngài hướng dẫn từng bước tiến cho sự sống đi từ thô sơ, đơn giản đến phức tạp, kiện toàn.
Trước đây, Cơ-đốc nhân phải đứng trước hai thái độ quá khích hoặc phản khoa học, hoặc phản Kinh Thánh. Ngày nay chúng ta tìm được một lập trường thoả đáng hơn, vì khoa học ngày nay đã tiến xa hơn ngày thuyết tiến hoá mới ra đời rất nhiều. Một khoa học gia đã nói: “Người ta có thể tin vào sáng tạo vừa tin vào tiến hoá, miễn là người ta biết định nghĩa danh từ mình dùng”. Nói cách khác, nếu bạn hiểu rõ tiến hoá là gì và sáng tạo là gì thì đôi bên đâu có nghịch ý với nhau.
Một điều hiển nhiên, chắc chắn là: các khám phá của khoa học giúp ta tin rằng các chủng loại đã có thay đổi ít nhiều trải qua các thời đại. Các loài cây và loài vật hiện nay là kết quả của sự tiến hoá có giới hạn.
Người tin vào thuyết chủng loại bất biến sẽ trưng ra những lời Kinh Thánh dạy rằng các tạo vật sinh sản “tuỳ theo loại”.
Nhưng thực ra chưa ai thấu hiểu được ý nghĩa của chữ “tuỳ theo loại” trong Kinh Thánh. “Loại” đây bao gồm những thứ gì? những giống gì? Khoa sinh vật học chia ra hàng trăm thứ “loại” khác nhau. Có phải Đức Chúa Trời dựng nên một loài chim tổ phụ rồi để cho nó sinh sản theo “giai cấp” của nó, vì “giai cấp” cũng là một trong các loại?
Có người cho “loại” đồng nghĩa với giống. Hai giống thuốc lá vẫn sinh hai thứ thuốc riêng biệt, nhưng chúng có thể pha giống với nhau để sinh ra một giống thuốc thứ ba. Và chúng ta đã từng thấy những giống chim câu mới, chó mới, gà mới, lúa mới, cả đến giống cam mới, hoa mới... Tất cả những giống mới đó xuất hiện theo sự pha giống với nhau. Những sự đổi mới đó do tay người làm, tức để cho các giống loại lai với nhau, có thứ do sự thay đổi ở trong lòng hạt giống của riêng mỗi loại.
Như vậy bạn phải đối diện với vấn đề sự sống biến đổi thế nào từ ngày tạo dựng ban đầu? Ở đây, ta phải trả lời hai câu hỏi khác nhau: 1. Sinh vật thay đổi thế nào và 2. Giới giạn của sự thay đổi là đến đâu.
3. Sinh vật thay đổi cách nào? Các nhà sinh vật học hiện nay công nhận 4 cách thay đổi chính của sinh vật.
a. Cách thứ nhất: Sinh vật thay đổi từ trong lòng hạt giống. Mỗi nhiểm thể (chromosome) của tế bào sống gồm nhiều gạt “gen” rất nhỏ, mắt người không nhìn thấy, nhưng thí nghiệm bằng tia Xa chứng tỏ được sự hiện diện của chúng.
Khi tia X chiếu vào một tế bào thì sự thay đổi trong hạt giống trở nên nhanh hơn. Điều đó có nghĩa là hoá chất của hạt giống thay đổi về phần cơ cấu, và cơ cấu mới của hạt giống tỏ ra một phản ứng khác hẳn lúc trước.
Sự thay đổi trong hạt giống này nhiều nhà khoa học cho là phương pháp thay đổi chính của sinh vật.
Dĩ nhiên, các hạt giống quyết định cho sự xuất hiện của sinh vật. Để cho một sinh vật biến đổi ra khác thì các hạt giống thay đổi về hoá chất hoặc cơ cấu. Qua hàng triệu năm, có nhiều “giống” mới xuất hiện do sự thay đổi từ trong lòng hạt giống như vậy.
Tuy thế, không phải hết thảy các nhà sinh vật học đều cho sự thay đổi trong lòng hạt giống là quan trọng cho cuộc tiến hoá. Như giáo sư Richard B.Goldschmidt có nói: “Thực ra chưa có ai sản xuất được một loại sinh vật mới nào bởi những thay đổi lớn hay thay đổi nhỏ. Trong những sinh vật quen loại như giống ruồi ăn trái cây thối, người ta được biết những yếu tố làm cho cánh của chúng ta thay đổi. Giả sử chúng ta đặt hàng ngàn những yếu tố thay đổi đó vào trong một sinh vật thì sinh vật đó sẽ không khác mảy may với bất cứ một loại sinh vật nào của thiên nhiên.
Gần đây, các nhà khoa học đã tìm thấy rằng có nhiều sự thay đổi trong sinh vật trước kia cho là hạt giống biến đổi, lại do một căn cơ khác gây nên.
Còn một chuyện khác cảnh cáo chúng ta chớ quá tin vào sự sinh vật biến đổi do hạt giống. Đó là hầu hết những biến đổi đã được khoa học nghiên cứu thì hoặc chết lụi đi hoặc không thích hợp cho sự tranh sống của sinh vật, vì những khuyết điểm của cơ thể như cánh không đều, chân không vững, mắt không tinh, tóm lại những biến đổi đó làm cho sinh vật trở nên quái thai trong chủng loại của chúng.
Thêm một điểm ngược lại, sự thay đổi nói trên là vốn tính các hạt giống trong sinh vật không hay biến cải. Vậy làm sao có sự thay đổi về bản thể được?
b. Cách thứ hai: Sinh vật thay đổi vì các nhiễm thể thay đổi. Cách thay đổi thứ hai này, cũng như cách thứ nhất ông Darwin chưa từng biết đến.
Các hạt gen trong mỗi nhiễm thể (Chromasome) cùng hoạt động kết đôi với nhau. Đôi khi nhiều hạt gen có sự cộng tác đặc biệt để phát sinh ra một công hiệu mới rõ ràng trước mắt chúng ta. Khi có sự thay đổi trong cách xếp đặt các hạt gen của mỗi nhiễm thể, thì các hạt gen bị lẫn lộn đi, không còn làm việc với các “bạn cũ” của mình đã quen, và vì thế phát sinh những hậu quả khác thường.
Chính các nhiễm thể có thể thay đổi trong 3 cách:
a. Có những phần của nhiễm thể bị vợ ra và tiêu mất, kết quả là các hạt gen trong những phần đó cũng bị mất, và con vật ra từ cái trứng bị thiếu mất vài hạt gen như vậy sẽ tỏ ra ít nhiều đặc tính biến đổi.
b. Những phần của nhiễm thể này bị vỡ ra có thể thay đổi vị trí với những phần của những nhiễm thể khác.
c. Nhiều khi gặp những nhiểm thể có hai bộ hạt gen riêng biệt.
Nhiều nhà sinh vật học tin rằng sự thay đổi cách xếp đặt hạt gen trong nhiễm thể là động cơ thúc đẩy cho các chủng loại mới phát sinh. Một nhà chủng loại học nổi tiếng là tiến sĩ Ledyard Stebbins nhìn nhận rằng “Một số lớn những thay đổi trong lòng hạt giống thực ra chỉ là những khiếm khuyết nhỏ, tức là những cách xếp đặt thay đổi trong nhiễm thể”.
Có một loại ruồi nhỏ ta thường thấy đậu trên những trái ca6y chín thối mà tên khoa học là ruồi Drosophila, chúng có những thay đổi nơi cánh mà trước đây các nhà chủng loại học cho là do hạt gen thay đổi. Nhưng gần đây công trình nghiên cứu đã khám phá ra là do những thay đổi trong cách xếp đặt cơ cấu của nhiễm thể, như ông Stebbins nói.
c. Cách thứ ba: Sinh vật thay đổi do những cái dị thường giống như quái thai.
Một nguyên tắc bất dịch của khoa học là các hiễm thể mang hạt gen và các hạt gen quyết định những đặc tính di truyền của sinh vật.
Như trong hành chẳng hạn. Mỗi tế bào sống của cây hành có 16 nhiễm thể. Khi tế bào chia đôi thì số nhiễm thể cũng tăng lên gấp đôi và mỗi tế bào mới đó nhận đủ 16 nhiễm thể. Trong loài người cũng vậy, các tế bào mới nhận đủ 48 nhiễm thể y như các tế bào mẹ đã sanh chúng., Điều đó có nghĩa gì? Nghĩa là mỗi tế bào nhận được bởi tế bào mẹ cùng một thứ nhiễm thể, và cùng một loạt hạt giống y như vốn có trong tế bào mẹ.
Các con số về nhiễm thể của hàng ngàn cây cối và súc vật đã được nghiên cứu và thấy số nhiễm thể bao giờ cũng đủ, không thừa, không thiếu. Tuy vậy, thỉnh thoảng cũng gặp vài trường hợp dị thường trong nhiễm thể; khi số nhiễm thể tăng lên gấp đôi ba hay bốn lần hơn, trường hợp đó là trường hợp của quái thai trong chủng loại.
Tình trạng nhiễm thể tăng gấp lên như vậy là tình trạng tự nhiên. Trong phòng thí nghiệm, nhà khoa học có thể dùng một thứ thuốc đó sẽ sinh ra cây lớn. Trong thực tế, dù bạn biết hay không, bạn thường thực hiện điều đó trong vườn hoa của bạn. Những bông hoa mới lạ trong vườn có tên là Tetraploid snapdragons đã được phát triển theo kiểu đó.
d. Cách thứ tư: Sinh vật thay đổi vì lai giống. Sự lai giống hay bị coi thường, nhưng thực ra nó là một phương rất quan trọng để tạo nên chủng loại. Có những nhà hần học, vì ít kiến thức khoa học, đã nêu lên một số sinh vật lai giống và bị son sẻ khi họ muốn chứng minh thuyết chủng loại bất biến. Họ chỉ vào con la, một sinh vật trung tính lai giống giữa ngựa và lừa.
Thực ra có hàng trăm giống vật lai bị son sẻ; nhưng người ta thường quên một thực tế khác là hàng trăm giống vật lai vẫn có khả năng sinh sản.
Các nhà khoa học đã cố gắng tạo ra những giống lai mới, đặc biệt là cây cối trong vườn. Đôi khi kết quả là giống lai son sẻ đôi khi giống lai vẫn sanh sản. Nhưng số son sẻ thường nhiều hơn. Các nhà khoa học có thể làm cho một số son sẻ này lại có sức sanh sản. Họ chỉ cần dùng đến thuốc Colchocine. Hoá chất này làm tăng gấp đôi số nhiễm thể và các tế bào lại tiếp tục chia đôi ra. Thiên nhiên không biết dùng Colchocine, nhưng cũng có nhiều trường hợp như vậy trong thiên nhiên.
Do bốn phương pháp thay đổi của sinh vật vừa kể trên, khoa học đã chứng tỏ rằng chủng loại mới có thể xuất hiện. Điều đó có nghĩa gì đối với sự bành trường và phát triển sinh vật?
4. Giới hạn của sự thay đổi trong chủng loại. Chúng ta thấy rằng thực vật và động vật đã thay đổi. Hàng trăm giống chi câu đã ra từ một giống câu đá. Hàng chục giống chó tốt đã ra từ một giống chó hoang. Hàng trăm giống gà đã ra từ một giống gà rừng. Nhưng các giống khác nhau đó vẫn ở trong cùng một loại mà thôi. Gà vẫn là gà, chó vẫn là chó, chim câu vẫn là chim câu.
Cái khó nhất là định rõ được cái thang lên xuống của mỗi chủng loại dài đến đâu. Có thể là con ngựa tổ của loài ngựa chỉ bé bằng con mèo, rồi dần dầnc ác thứ ngựa xuất hiện do những thay đổi trong lòng hạt gen. Trong lịch sử loài ngựa, không phải hầu hết đeu tiến hoá to lớn lên mãi, nhưng cũng có khi chúng đi ngược chiều tiến hoá mà trở nên nhỏ bé nhỏ. Tuy vậy ngựa bao giờ cũng là ngựa. Nếu có truyện nào đặt con thú không phải là ngựa làm tổ tiên cho con ngữa thì câu truyện đó hẳn phải là hoang đường.
Thử xem một vài ví dụ nữa về vấn đề sinh vật có thay đổi từ ngày được tạo dựng. Con cá voi và con trăn vẫn còn sót lại những chân sau. Những cá dưới nước sâu vẫn có mắt nhưng không còn dùng nữa. Con chim đà điểu vẫn còn giữ lại đôi cánh hết bay. Các phần thân thể đó hiện nay không còn dùng đắc lực nữa, nhưng chứng tỏ về một sự thay đổi đã có từ ngày tạp dựng tới nay. Các sự thay đổi đó đều là sự thay đổi trong chủng loại chứ không vượt ra ngoài chủng loại được, và tất cả đều do sự biến đổi từ bên trong, từ cách biến thái của hạt gen.
Những Cơ-đốc nhân khôn ngoan thận trọng thường gạt bỏ mọi ý tưởng về một sự tiến hoá toàndiện và vô giới hạn. Bởi vì tiến hoá như vậy là đi từ thấp đến cao, vật toàn hảo phát xuất từ vật bất toàn, thoe một tiến trình tranh đấu vương lên mãi cho tới mức hoàn thiện về tinh thần và thể xác, không do bàn tay sáng tạo trực tiếp của Thiên Chúa từ lúc ban đầu. Và như vậy cũng đi xa với thí nghiệm của chủng loại học. Tiến hoá toàn diện cho tới nay vẫn là một thuyết không thể kiểm chứng bằng thí nghiệm, đó là một niềm tin hơn là một sự kiện.
Vậy trong vấn đề này, các nhà khoa học và các nhà thần học nên nhận định rằng thiên nhiên đã minh chứng có sự thay đổi trong sinh vật, và Kinh Thánh không dạy thuyết “chủng loại bất biến”.
Trong thế giới sinh vật có hơn một triệu chủng loại khác nhau về cây cối và động vật. Kinh Thánh chỉ nói đến một số ít các chủng loại quen thuộc. Thay vì đòi Thiên Chúa dựng nên hơn một triệu giống loại khac nhau về cây cối và chủng loại nhiều Cơ-đốc nhân nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ dựng nên một số loài vật chính để làm tổ phụ, rồi từ đó sẽ có nhiều giống khác được sinh sôi, nảy nở ra về sau như lời truyền phán của Thiên Chúa.
Dưới những hoàn cảnh, những môi trường khác nhau, các conv ật bành tổ đó di cư khắp trên mặt đất làm nảy nở ra những giống loại mới khác do sự thay đổi trong lòng hạt giống hay trong nhiễm thể. Cùng với thời gian, sự lai giống can thiệp vào làm cho sự phát triển của sinh vật càng xa rộng và càng mau lẹ. Nhưng sự tranh giành để sống là định luật, thời nào sinh vật cũng phải tranh giành để sống còn. Cho nên con vật mạnh thì sống và tiến lên, con vật yếu thì lui đi và chết dần.
Kinh Thánh không nói tình trạng đó kéo dài bao lâu. Khoa học cũng không nói. Nhưng khoa học cho ta biết rõ ràng, chắc chắn rằng trái đất đã trải qua nhiều triệu năm rồi và sinh vật đã xuất hiện trên đất cũng từ lâu.
Lý luận mạnh nhất mà các nhà tiến hoá thường đưa ra để chứng minh thuyết tiến hoá là các di tích hoá thạch. Họ tuyên bố rằng “cuốn sách địa tầng” mở ra những trang chói lọi về cuộc tiến hoá từ vật thô sơ tới sinh vật cao nhất là con người. Nhưng các nhà khoa học cũng nhìn nhận rằng “cuốn sách” đó thiếu mất nhiều trang.
“Sách” đó bảo rằng con ngựa đã tiến từ con ngựa đầu tiên nhỏ như con mèo và đi dần tới vóc dáng cao lớn như hiện nay. Loài ốc hến đã tiến hoá rất nhiều, nhưng “sách” đó không thấy nói khi nào ốc hến không phải là ốc hến. Vô vàn, vô số những thứ cá đã sống và đã chết, nhưng thứ nào cũng giữ đặc tính cá biệt trong mình. Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng có sự tiến hoá ở trong phạm vi nào đó, tuy sự tiến hoá đã đi rất xa.
Cũng theo “cuốn sách địa tầng” đó, có íy nhiều tạo vật nguyên thuỷ rất ph1ưc tạp, không đơn giản chút nào như người chủ trương tiến hoá tin. Cũng có những sinh vật thời đại bây giờ như các thứ vi khuẩn và rêu biển lại rất dồi dào trong những địa tấng tối cổ.
Các nhà khảo cổ học cũng công nhận một sự kiện đặc biệt này nữa, là có một số chủng loại không hề thay đổi hay thay đổi rất ít trong nhiều triệu năm qua.
Trong thực tế, khoa học chỉ mới nghiên cứu đựơc một phần rất nhỏ bé trong di tích hoá thạch nằm trong các địa tầng. Như vậy làm sao có thể vẽ trên một cây gia phổ cho các chủng loại sinh vật khi người ta chưa biết rõ những thứ sinh vật đó đã từng sống trong các thời đại đã qua?
Hầu hết các nhà khia học đều tin rằng họ đã có trong tay đủ tài liệu để vẽ ra những nét đại cương về các chủng loại. Chúng ta có thể đồng ý trong một giới hạn naò với các nhà khoa học đó. Thực ra đã có sự cải biến trong từng giống vật: cho nên trong vài trường hợp chúng ta có thể nêu lên những nét chính về bước tiến của vạn vật. Nhưng chấp nhận một cuộc tiến hoá từ con vi trùng đến con người thì quả thật không cần thiết.
Chứng cớ của các địa tấng và các chứng cớ khác của khoa học không buộc chúng ta nhìn nhận một sự tiến hoá vô hạn định như vậy. Tuy chúng ta có thể chấp nhận sự biến hoá của các chủng loại chính. Nói cách khác, sự biến hoá của các chủng loại chính hay là tiến hoá bên trong biên giới của mỗi chủng loại thì đó là một sự kiện không thể chối cãi. Nhưng tiến hoá từ những sinh vật thô sơ đơn giản như những sinh vật chỉ có một tế bào và tiến tới những sinh vật phức tạp, hoàn bị thì đó không còn là sự kiện mà là niềm tin. Đó là một ức đoán hay một lời quả quyết đơn phương mà thôi. Những lý luận như vậy đi quá sự kiện khoa học.
Vậy chúng ta những Cơ-đốc nhân phải đứng chỗ nào? Lý đương nhiên không buộc chúng ta phải thừa nhận một thuyết quá khích về chủng loại bất biến, cũng không buộc chúng ta phải theo quan điểm quá khích khác là tiến hoá toàn diện. Cả hai đều không đi đôi với thực tế của sự kiện khoa học.
Sau khi nghiên cứu về nguyên ngữ của Sáng thế ký đoạn một, giáo sư Gleason Archer đã nói:
Danh từ Hy-bá-lai “min” (loại) trong Sáng thế ký có thể chấp nhận một lối giải thích rằng trong khi các chi nhánh khác nhau của một chủng loại tiến hoá trong vòng ấn định, thì chính các chủng loại vẫn còn nguyên vẹn, không hề bị vượt qua”.
Ngày nay Cơ-đốc nhân có thể tin rằng Thiên Chúa đã dựng nên những hình thức căn bản của sự sống, của sinh vật, rồi những hình thức đó đi qua một tiến trình canh cải chạy dài cho tới thời nay.
Cơ-đốc nhân có thể tái quyết niềm tin của mình vào Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, chân thật và bất biến; đồng thời tin theo và cộng tác với khoa học trong lãnh vực nào khoa học có câu trả lời và bao lâu khoa học dựa vào những chứng cớ hiển nhiên.
Khoa học cũng ở trong vòng luân lý. Những phương pháp khoa học chỉ có giá trị khi các nhà khoa học thành thật và thẳng thắn. Các thuyết khoa học đã được dựng lên rồi lại bị đánh đổ xuống nhiều lần từ xưa nay, nhưng trong tiến trình, khoa học phải càng ngày càng tiến gần chân lý hơn. hững ý tưởng nào không chịu nổi những nhát búa phê bình mạnh mẽ giáng xuống thì phải loại bỏ đi.
Nếu có câu trả lời cuối cùng cho các vấn đề của khoa học và tôn giáo, thì chính khoa học có thể đóng góp vào việc cung ứng các câu trả lời đó. Vậy chúng ta có thể tin tưởng rằng khoa học rồi đây sẽ chứng minh cho Lời Đức Chúa Trời.
CÂU HỎI
1. Thuyết chủng loại bất biến nói gì? Có thể tin theo không? Tại sao?
2. Tóm lược các cách thay đổi của sinh vật.
3. Biến đổi trong chủng loại hay tiến hoá trong chủng loại khác với tiến hoá toàn diện như thế nào? Lý do tại sao bạn chấp nhận, hay không chấp nhận tiến hoá toàn diện.
4. “Cuốn sách địa tầng” có chứng minh cho thuyết tiến hoá hay không?
5. Cơ-đốc nhân có thể tin theo và cộng tác với khoa học như thế nào?
IV. ĐẠI HỒNG THUỶ
Lụt là một trong những biến cố lạ lùng nhất do Kinh Thánh thuật lại, và Nô-ê là một trong những nhân vật được chú ý nhất trong Kinh Thánh. Tuy lụt chỉ được nhắc tới ít lần trong Kinh Thánh, nhưng nó lại được Tân ước đặc biệt chú ý. Lụt cũng là một vấn đề cãi cọ gay go nhất trong lịch sử đấu tranh giữa thần học và khoa học.
Ông Heidel bày tỏ những trái ngược giữa các truyện lụt của Ba-by-lôn và của Do-thái. Truyện lụt của Do-thái thì trong sạch, có luận lý và độc thần, trong khi truyện lụt của Ba-by-lôn thì dơ bẩn, quê kệch, lố bịch và đa thần.
A. Những điểm quan trọng về trận lụt.
a. Chắn chắn khung cảnh văn hoá để xây đắp cốt truyện là văn hoá Mê-sô-pô-ta-mi. Chiếc tàu Nô-ê được đóng tại xứ đó. Nguồn gốc các lưu truyền Kinh Thánh cũng ở đó. Áp-ra-ham ra từ đó. Tháp Ba-bên rất có thể là một tháp Ziggurat của xứ đó. Và nền văn minh sớm nhất các sử gia tìm thấy là nền văn minh Mê-sô-pô-ta-mi.
b. Thời gian xảy ra lụt thì khó tính ra được. Ussher tính Nô-ê sống vào khoảng 2.300 năm TC. Những lớp bùn có lẽ do lụt để lại trong xứ Ur và xứ Kish được tính trứơc 3.000 năm TC. Nền văn minh đầu tiên của Ba-by-lôn và Ai-cập tính được vào khoảng trước 4.000 năm TC. Băng giá tan vào khoảng từ 10.000 năm TC tính theo phương pháp Carbon 14.
Ông Unger nhận xét: “Khoa học về khảo cổ không thể đặt trận lụt của Nô-ê muộn tới năm 2348 TC là năm Ussher đưa ra vì Ussher dùng các gia phổ của Sáng thế ký làm như lịch tính thời gian. Chắc chắn trận lụt xảy ra trước 4.000 năm” (M.F.Unger, “Introductory Guide to the Old Testament” 1951, p. L94).
c. Những căn cớ gây nên trận lụt, theo Kinh Thánh, thì mưa và nước từ các vực sâu vọt lên. Mưa đây có nghĩa là mưa lớn và nước đây là nước trào lên từ các suối, mạch, sông, ngòi và biển cả. Nước mưa khó đủ để gây ra được lụt lớn bao la như vậy. Có tác giả kể trận lụt vào thời kỳ băng giá và kể băng giá như là kết quả của trận lụt Vì nếu khí hậu bỗng dưng đổi thì nước của trận lụt sẽ đông đặc ở Nam cực và Bắc cực, và làm nên thời kỳ băng giá. Nếu không khí của trái đất bỗng dưng nóng lên thì sẽ làm cho tuyết băng chảy ra thành một khối nước lớn đủ gây nên trận lụt.
Ngày nay không còn thể bênh vực thuyết cho rằng nước đông của thời băng giá là do trận lụt, chỉ trừ khi người ta muốn tin vào nhiều trận lụt và các trận lụt ấy đã bắt đau cách đây một triệu năm rồi.
Có thuyết cho rằng thời băng giá cung cấp nước, và sự nghiêng xiêu của trái đất trên trục nó gây nên một sự thay đổi làm tan khối nước đông đó.
Một thuyết thời danh khác về nguồn gốc phát sinh ra nước cho trận lụt là có một sự biến chuyển của vỏ trái đất đại dương hay trong thung lũng của xứ Mê-sô-pô-ta-mi đã khiến cho nước đại dương tràn lên đất liền, và một biến cố ngược lại sẽ khiến cho nước lụt rút đi. Thuyết này coi như một giải thích thoả đáng cho nguồn gốc phát sinh ra nước lụt nhiều như vậy.
B. Lụt khắp thế giới
Chỉ trừ vài học giả đó đây, giáo hội đã nhận một trận lụt chung thế giới, nghĩa là nước lụt che phủ cả trái đất và phủ lút những ngọn núi cao. Thuyết nào được bênh vực bằng những lý lẽ sau:
a. Ngôn ngữ dùng trong Sáng thế ký từ đoạn 6-9 đều chỉ nghĩa chung khắp. 7:9-23 nói về “hết thảy” núi cao ở dưới “khắp” bầu trời đều bị ngập dưới nước, và “hết thảy” loài xác thịt di động trên đất đều chết. “Hết thảy” các tạo vật có hơi thở trong lỗ mũi thuộc “các” miền đất khô; “mọi” vật sống đều bị tiêu diệt. Ý rõ ràng của ngôn ngữ được dùng trong nghĩa toàn thể như vậy là muốn nói rằng tất cả thế giới bị chìm ngập dưới nước và hết thảy mọi người, mọi vật đều chết.
b. Người ta lý luận rằng các lưu truyền về đại hồng thuỷ là phổ biến đối với mọi người. Nếu hết mọi chủng tộc đều bởi No-ê mà ra thì tất nhiên họ mang theo trong mình một kho tàng chung về lưu truyền. Tính cách phổ quát của các lời truyền khẩu về nước lụt đi đến đâu cũng mang theo những điều cốt yếu về truyện lụt vì hết thảy các dân tộc đều bắt nguồn từ các con cháu của Nô-ê, họ đi đến đâu cũng mang theo những điều cốt yếu về truyện lụt. Tuy về sau người ta cứ dần dần sai lạc đi, hoặc thêm hay bớt vào những điểm căn bản của trận lụt.
c. Trên khắp thế giới đâu đâu cũng còn thấy được những vết còn lại của trận lụt, như các hồ lớn ngày xưa trê đất liền, các lớp đất hoàng sa, các vật dụng trôi pha như gỗ, đá, gạch, ngói mà người ta cho là tại nước lụt đá tràn đến. Đó chính là bằng cớ cho một trận lụt chung khắp mọi nơi.
d. Sự chết bỗng dưng của các giống vật, nhất là giống khổng - tượng Mammoth ở Tây Bá Lợi Á bị chết lạnh cứng trong băng giá, chứng tỏ một trận lụt khắp trái đất. Theo ý kiến ông Davis thì điều kiện khí hậu của Tây Bá Lợi Á xưa phải khác xa ngày nay mới có thể có những loại cây cỏ mọc lên cần thiết cho giống voi Mammoth ăn mà sống. Hơn nữa, đất đai ở đó xưa cũng phải mềm, không cứng lạnh như ngày nay. Những điều đó chứng tỏ có một sự thay đổi bất thần về khí hậu do lụt lớn gây nên. Hơn nữa, những con voi Mammoth này đã chết đuối, chết ngộp, chứ không phải chết vì giá lạnh.
đ. Lý luận đặc biệt của một số nhà địa chất học chuyên về lụt cho rằng sự giảm sút các loại thu vật cũng có thể do lụt lớn gây nên. Hiện nay còn ít loại thú vật đang sống so với số các loại thú vật hoá thạch. Như thế thì lụt đã làm giảm đi một số lớn các loại thú vật như vậy.
C. Lụt địa phương
Tuy nhiều Cơ-đốc nhân vẫn tin vào tính cách toàn cầu của cơn đại hồng thuỷ, nhưng hầu hết các học giả thuộc phái bảo thủ trong giáo hội ngày nay đã ngiêng về thuyết bênh vực lụt địa phương. Họ tin rằng thời gian xảy ra trận lụt vào khoảng năm 4.000 TC. Nước lụt do mưa trên trời và dưới biển trào lên. Câu Kinh Thánh nói: “Các nguồn của vực lớn nổ ra” (7:11) chứng tỏ đã xảy ra hiện tượng địa chất nào đó khiến cho nước biển tràn lên thung lũng xứ Mê-sô-pô-ta-mi. Nước lụt đem tàu Nô-ê lên dãy núi A-ra-rát. Bản nguyên văn Hy-bá-lai của Kinh Thánh không nói tàu Nô-ê được đem lên cao 17.000 thước trên đỉnh núi A-ra-rát, song chỉ nói tàu đậu xuống một nơi trên dãy núi A-ra-rát. Hẳn đã do một phép lạ đặc biệt thì Nô-ê và gia đình ông mới xuống được chỗ núi cao chót vót như vậy, ở đó khí hậu lạnh đến buốt xương. Do một hiện tượng địa chất ngược lại thì nước rút đi khỏi miền thung lũng. Sau đây là lời giải thích của giới bảo thủ trong giáo hội:
“Ở miền Tây Á có một khu vực rất thấp chạy dài từ biển A-ran cho tới những cánh đồng hoang của xứ Caucasur về phía Bắc và bao quanh bờ biển phía Nam của biển Caspian, trong đó gồm có A-ra-rát và đại sa mạc muối là miền đất, theo ông Ansted và biển Aral chiếm vùng thấp nhất của vùng đất hoang rộng tới 100.000 dặm vuông như được khoét sâu vào miền trung tâm của đại lục, và chắc chắn chỗ đó trước kia là đáy của đại dương. Nước lụt từ đại dương đã tràn vào khu vực lòng chảo thiên nihên đó” (Ansted, JFB, I.p.100).Nước lụt đã rút ra khỏi lòng chảo thiên nhiên đó. Mục đích của trận lụt là để quét sạch nền văn hoá xấu xa, tội lỗi của xứ Mê-sô-pô-ta-mi. Vì trận lụt có tính cách địa phương nên khó tìm ra bằng chứng rõ rệt, nhất là việc đó đã xảy ra hơn 6.000 năm rồi.
Có ba quan điểm về trận lụt địa phương là: 1. Loài người lúc bấy giờ chưa vượt quá giới hạn của miền thung lũng xứ Mê-sô-pô-ta-mi. Chúng ta không thể chấp nhận ý kiến này vì tài liệu mà khoa học cung cấp cho chúng ta cho biết loài người đã ra khỏi khu vực Mê-sô-pô-ta-mi từ lâu trước trận lụt. 2. Ông G.F. Wright tin rằng thời băng giá đã đưa loài người vào sống trong thung lũng của Kinh Thánh về trận lụt địa phương phải được giải thích theo hiện tượng học. 3. Ý kiến thứ ba mạnh hơn cả, cho rằng tất cả bài tường thuật của Kinh Thánh về trận lụt địa phương phải được giải thích theo hiện tượng học.
Nếu trận lụt chỉ là địa phương mặc dầu được diễn tả bằng những danh từ rộng lớn, thì sự huỷ diệt loài người chỉ là địa phương, mặc dầu diễn tả bằng từ ngữ có nghĩa rộng khắp thế giới.
Bản văn Kinh Thánh không quyết mà cũng không chối việc nhân loại đã vượt quá thung lũng của xứ Mê-sô-pô-ta-mi. Ông Nô-ê chắc chắn không giảng đạo cho các dân tộc Phi-châu Ấn-độ, Trung-hoa hay Mỹ-châu là những nơi đã có chứng cớ về sự hiện diện của loài người đã từ mấy ngàn năm trước trận lụt. Mỹ châu đã có người ở từ 10.000 năm tới 15.000 năm rồi. Sáng thế ký chỉ nhấn mạnh vào những nền văn hoá mà Áp-ra-ham đã từng sống qua.
D. Những phê bình về trận lụt toàn cầu
Trận lụt địa phương được mạnh lý hơn qua những nan đề to lớn mà thuyết lụt toàn cầu gây nên. Nhưng trước khi phê bình thuyết toàn cầu, chúng ta cần ghi nhớ hai điều: 1. Đây không phải là vấn đề Đức Chúa Trời có thể hay không có thể làm việc đó. Những kẻ tin trận lụt chỉ có tính cách địa phương cũng tin vào quyền phép vô biên của Thiên Chúa như mọi Cơ-đốc nhân khác. Vấn đề không phải là Thiên Chúa có thể làm gì? Nhưng là Thiên Chúa đã làm gì? 2. Đây chỉ là vấn đề giải thích, không phải là vấn đề linh cảm của Kinh Thánh. Những kẻ tin vào lụt địa phương vẫn tin vào sự linh cảm của Kinh Thánh. Nếu không, họ chẳng tin vào trận lụt nào cả. Thật là sai khi bảo rằng chỉ những ai tin Kinh Thánh được linh cảm. Cũng thật là sai khi nói rằng kẻ nào tin vào lụt địa phương là kẻ không tin vào quyền năng của Chúa và tin Kinh Thánh có thể sai lầm.
a. Thuyết binh vực lụt toàn cầu không thể minh chứng được ba điểm cần thiết sau đây:
1. Không thể minh chứng rằng ý nghĩa phổ quát của từ ngữ dùng torng truyện lụt phải đòi một trận lụt phổ quát toàn cầu.
Chỉ mười lăm phút truy tầm trong Kinh Thánh cũng đủ gặp nhiều trường hợp trong đó nghĩa phổ quát của từ ngữ được dùng để chỉ một phần mà thôi. Tiếng “tất cả” hay “hết thảy” không luôn luôn chỉ từ cái thứ nhất cho đến cái cuối cùng trong hết mọi trường hợp. Thi Tv 22:17 chép: “Tôi đếm được tất cả xương tôi”, câu này không có nghĩa là từng cái xương của toàn bộ xương lộ ra ngoài hết. GiGa 4:3 “Ngài đã bảo tôi hết thảy mọi điều tôi đã làm” không có nghĩa là Chúa Giê-xu đọc ra tất cả tiểu sử của đời bà ta. Mat Mt 3:5 “bấy giờ... tất cả xứ giu-đê và tất cả miền xung quanh Giô-đanh đều đến cùng người”, không thể hiểu là từng người một đến cùng Giăng Báp-tít. Tuy có những trường hợp nói tất cả là tất cả nói hết thảy là hết thảy và bối cảnh đoạn văn, câu truyện cho phép chúng ta biết được trường hợp nào hiểu như vậy. Trong thơ Rô-ma, Phao-lô nói về sự phổ biến của tội nguyên tố, nhưng tiếng “mọi người” đây không thể bao gồm cả Chúa Giê-xu được.
Tính cách phổ cập của trận lụt dựa vào tính cách phổ cập trong kinh nghiệm của người thuật lại truyện đó. PhuDnl 2:25 “Ta khởi rải trên các dân tộc trong thiên hạ sự sợ hãi và kinh khủng về danh ngươi.” tức là trên các dân tộc mà Y-sơ-r-a-ên đã biết. SaSt 41:57 “Và vì khắp thế gian đều bị đói quá, nên các nơi đều đổ đến Ê-díp-tô mua lúa nơi Giô-sép bán”. Chỉ về các dân tộc mà người Ai-cập đã biết. IVua 1V 18:10 ”...Chẳng dân nào nước nào mà chủ tôi không sai đến tìm ông”. Chắc hẳn vua A-háp không tìm kiếm Ê-li trong hết mọi nước trên thế giới.
Từ chỗ đứng của mình, người quan sát nhìn thấy mọi núi cao bị chìm ngập dưới nước và mọi loài thở không khí đều bị chết. Vậy chúng ta kết luận rằng: từ ngữ mà tác giả Kinh Thánh dùng không nhất thiết chỉ nghĩa rằng nước lụt che phủ khắp mặt địa cầu. Những danh từ có nghĩa phổ quát thường được dùng trong Kinh Thánh theo nghĩa hạn hẹp.
Tàu Nô-ê có tầm mức 15 thước cao hơn mặt nước (SaSt 7:20) và tác giả cho rằng nước dâng cao hơn 15 thước trên các ngọn núi bởi vì tàu không chạm một ngọn núi nào. Ngọn núi cao nhất trong vùng đó là núi A-ra-rát cao 17.000 bộ. Hy-mã-lạp-sơn cao tới 29.000 bộ. Thứ hỏi những ai bênh vực thuyết lụt toàn cầu có muốn quyết rằng chiều sâu của nước lụt tới hơn 6 dặm?
2. Không thể hoàn toàn tin tưởng vào tính cách phổ quát của các truyện cổ tích về lụt.
Truyện lụt được bành trướng khắp thế giới, nhưng điều đáng chú ý là không có truyện lụt nào ở Nhật Bản và Ai-cập, rất ít truyện lụt ở Phi-châu.
Chúng ta cần phân biệt chuyện nào chắc chắn có liên quan tới truyện trong Sáng thế ký, truyện nào không chắc có liên quan, truyện nào vô tình hay hữu ý bắt chước truyện Kinh Thánh do các vị thừa sai giáo sĩ kể lại và lẫn lộn vào các truyện lụt địa phương, và truyện nào là của địa phương hoàn toàn, không dính líu gì tới Kinh Thánh.
Ông Woods kết luận:
“Tuy hiện nay không còn thể bênh vực chủ trương rằng hết mọi truyện lụt đều ra từ truyện lụt của Kinh Thánh, nhưng truyện Kinh Thánh đã có ảnh hưởng sâu xa trên một số lớn các truyện đó” (F.H.Woods, “Deluge”, ERE, IV,550).
Không đủ tài liệu chứng cớ để có thể đem một truyện lụt toàn cầu ra từ các truyện cổ tích về lụt đang lưu truyền trên thế giới.
3. Những khám phá của khia địa chất học không ủng hộ thuyết lụt toàn cầu.
Một trận lụt địa phương có thể đến rồi đi vào không để lại dấu vết gì sau mấy ngàn năm, nhưng một trận lụt toàn cầu có thể không để lại vết tícxh gì được chăng? Chúng ta không có thể căn cứ vào những vết tích lụt như những lớp phù sa, những lớp sỏi đá hay vật liệu xây dựng còn tụ đọng một vài nơi. Những cái đó là kết quả của thời băng giá kế tiếp nhau trên một triệu năm, Không còn bằng chứng địa chất rõ rệt nào cho trận lụt toàn cầu. Các sách lịch sử địa chất học cho biết những thuyết muốn ghép trận lụt vào một biến cố địa chất học đều thất bại, và cho tới nay không còn một bằng chứng nào khả dĩ bênh vực được trận lụt toàn cầu nữa.
b. Có nhiều nan đề liên quan đến trận lụt toàn cầu.
Chúng tôi xin tóm tắt sau đây những luận điệu về truyện đó gặp thấy trong các tự điển Thánh Kinh và các sách giải kinh.
Một điểm cần nêu lên trước khi đi vào việc phê bình là: Trận lụt được ghi chép như một việc xảy ra vừa tự nhiên vừa siêu nhiên. Việc đó không phải là một phép lạ thuần tuý và kinh dị. Tự nhiên và siêu nhiên cùng làm việc sát cánh với nhau. Nếu ai muốn bênh vực một trận lụt toàn cầu, thì phải hiểu rằng cũng cần có một chuỗi phép lạ kinh dị xảy ra. Hơn nữa, người ta không thể chỉ nói một cách sốt sắng rằng Đức Chúa Trời làm được tất cả. Chúng ta đồng ý với ông Smith rằng:
“Không ai có thể hồ nghi Thiên Chúa Toàn Năng có thể làm một việc cả thể như trận lụt toàn cầu. Nhưng chúng ta không có quyền bịa đặt thêm phép lạ, và bài tường thuật trong sách Sáng thế ký chỉ rõ ràng hai bằng cớ tự nhiên cung cấp nước cho trận lụt. (Smith's Bible Dictionary, III, 2183).
1. Nan đề về việc cung cấp nước đủ cho trận lụt toàn cầu. Tất cả nước trên trời đổ xuống trên mặt đất chỉ tạo nên được một lớp nước dày bảy phân mà thôi. Nếu mặt trái đất bằng phẳng để cho tất cả nước trong đại dương tràn lên che phủ mặt đất thì bề sâu của lớp nước sẽ có từ hai dặm rưỡi đến ba dặm. Để che phủ những ngọn núi cao nhất cần phải có nước tám lần nhiều hơn nước hiện có bây giờ. Vậy để có đủ nước che phủ mặt địa cầu. Chúa phải dựng thêm nước nhiều hơn nữa, nhưng Kinh Thánh không nói gì tới việc tạo dựng đó.
2. Sự pha lộn của nước và sức ép của nước sẽ tàn phá ghê gớm. Nhiều loại cá biển và nhiều giống sinh vật dưới biển sẽ chết trong nước ngọt; nhiều loại cá nước ngọt sẽ chết trong nước mặn. Nếu hai thứ nước trên mặt đất pha trộn với nhau thì cần phải dựng nên một lần nữa các loại sinh vật sống dưới nước. Nhưng Kinh Thánh không thấy nói gì tới việc đó. Vả lại, sức ép của khối nước cao 6 dặm (để che ngọn Hy-mã-lạp-sơn) sẽ đè nát một số rất lớn các sinh vật sống dưới nước. Chín mươi phần trăm các giống cá chỉ sống trong vòng 50 sải nước sâu mà thôi. Sức nặng của khối nước dày 6 dặm sẽ tiêu diệt chúng, đa số hay hầu hết chúng không thể di tản hoặc di tản không bao xa.
Kết quả trên đời sống thảo một cũng tàn hại không kém. Thự cra, cả thế giới thảo mộc bị tiêu diệt dưới sức ép của nước, lại vì nước mặn và ngâm nước lâu tới một năm trời. Vô số chu kỳ sinh sản của loài thảo mộc, loài côn trùng bị cắt đứt, nên cần phải có một cuộc sáng tạo mới rộng lớn không kém cuộc sáng tạp ban đầu để tu bổ lại trái đất. Nhưng Kinh Thánh không có một lời về sự huỷ diệt và tái tạo như vậy.
3. Làm cho khối nước lớn như vậy rút đi cũng là một phép lạ không kém phép lạ cung cấp khối nước đó.
Nếu cả thế giới chìm dưới khối nước cao sáu dặm thì còn có chỗ nào để cho nước chảy đi. Nhưng bản văn nói rằng nước rút đi, nhờ gió thổi (SaSt 8:1). Đối với một trận lụt địa phương pháp đó có thể được, nhưng không có giải đáp nếu cả trái đất đều chìm dưới nước.
4. Còn hai vấn đề nữa liên quan đến nước đáng chú ý
- Những xáo trộn về thiên văn gây ra bởi sự gia tăng khối lượng của trái đất nếu vỏ trái đất được bọc thêm một lớp nước dày sáu dặm; và những xáo trộn đó không phải là nhỏ, nên các nhà về thiên văn học có thể khám phá ra được. Nhưng tuyệt nhiên không nghe giới thiên văn học nói gì đến vấn đề này.
- Lại nữa, trong miền Auvergne (nước Pháp) có những chỏm núi bằng cứt sắt và tro bởi các núi lửa phun ra đã tắt từ lâu. Chúng già hơn trận lụt Nô-ê cả mấy ngàn năm, nhưng chúng không tỏ ra dấu gì đã bị nước lụt viếng thăm phá phách cả. Một trận lụt toàn cầu không thể nào hiền lành như vậy cả vì, như ông Price nói, những đợt sóng nước của trận lụt đi nhanh mỗi giờ một ngàn dặm.
5. Nan đề sau cùng đối với thuyết lụt toàn cầu là có thể làm gì, nhưng cái gì xem ra thích hợp với Lời Kinh Thánh hơn cả. Làm thế nào đưa các giống vật từ phương xa tới tàu? Có thuyết bảo thiên sứ đưa chúng đến. Có người cho rằng trước thời lụt, hai lục địa Bắc Mỹ và Nam Mỹ nối liền với Âu Châu, và đã tách phân ra sau trận lụt. 10:25 nói: “Tên của người là Bê-léc, vì đất trong đời người đó đã chia ra”. Như vậy các giống vật không cần phải lội qua Đại Tây dương.
Cứ theo điều khoa địa chất học có thể chỉ định, thì không có sự thay đổi nào lớn như vậy về vỏ trái đất đã xảy ra trong mấy ngàn năm qua. Nếu mặt địa cầu lúc bấy giờ cũng như bây giờ, thì cần phải có một chuỗi phép lạ mới được hết các giống vật trên thế giới, mỗi giống một đôi, đến tàu và đem trả chúng về sau trận lụt vì phải đi qua các đại dương, các sa mạc, các rừng núi, sông ngòi.
Sau khi đã đem được các giống vật vào trong tàu rồi, vấn đề cho ăn và săn sóc cũng thật nan giải. Nguyên việc xúc phân đổ đi cũng đủ làm kiệt sức số người ít ỏi trong tàu rồi.
Lại còn phải lo đồ ăn riêng cho rừng loại giống vật, phải lo điều kiện sống cho từng giống vật. Có giống cần không khí ẩm, có giống lại cần không khí khô. Ở đây cũng không phải là vấn đề Chúa có thể làm gì, nhưng vẻ đơn sơ của Lời Kinh Thánh chép về truyện đó cấm chúng ta không được tự do gia tăng đến mức vô hạn số phép lạ cần thiết để làm trôi xuôi cái thuyết lụt toàn cầu.
E. Truyện lụt của dân Ba-by-lôn
Giáo sư George Smith trong năm 1872 đã tìm được 12 bản truyện anh hùng ca của dân Gilgamesh, trong đó bản thứ 11 tả về trận lụt Ba-by-lôn Những bản chữ đầu tiên đó được viết vào khoảng năm 2.000 TC. Các truyện cổ tích khac về lụt được tìm thấy trong bản chữ Nippur viết năm 2.100 TC và trong những bản chữ khác tìm thấy ở Ninive và ở Kish.
Khi so sánh đối chiếu truyện Ba-by-lôn với truyện Kinh Thánh, ông Wright nhận thấy rằng:
1. Truyện Ba-by-lôn đa thần, còn truyện Kinh Thánh thì độc thần.
2. Cả hai truyện cũng kể trận lụt xả đến là hình phạt của thiên thượng đối với tội lỗi loài người.
3. Kích thước của tàu Ba-by-lôn thì phi lý (140.140.140 thước) còn tàu của Nô-ê trong Kinh Thánh có các phần tương đối nhau với kích thước vừa phải y như một chiếc tàu vượt biển thời nay.
4. Truyện anh hùng ca Ba-by-lôn có một giọng điệu luân lý rất thấp kém.
5. Trong truyện Ba-by-lôn không thấy nhắc gì đến những biến cố địa chất, như sự nổ tung của các giếng sâu có nghĩa là đáy biển nhô lên để đem nước vào đáy biển sụp xuống để rút nước ra.
6. Cả hai truyện đều hợp nhau trong những nét chung về việc thâu góp các giống thú vật, nhưng truyện Ba-by-lôn không nói gì tới các giống vật sạch và cũng gồm nhiều người khác vào tàu nữa.
7. Trong truyện Ba-by-lôn, chiếc tàu có một cột buồm và một hoa tiêu.
8. Trận lụt Ba-buy-lôn lâu 14 ngày, còn Kinh Thánh kể trận lụt lâu tới một năm và 17 ngày.
9. Truyện Ba-by-lôn có một con bồ câu và một con quạ trong thứ tự ngược lại và thêm một con chim én nữa.
10. Truyện Ba-by-lôn có lập bàn thờ sau lụt, nhưng trong khung cảnh đa thần.
11. Cả hai truyện đều giống nhau trong khung cảnh loài người sẽ không bao giờ bị tiêu diệt bởi lụt nữa (Wright “The Deluge of Noah”, p.824).
Truyện Ba-by-lôn và truyện Kinh Thánh cùng bắt nguồn từ một lưu truyền chung đời cổ và vì thế cả hai có nhiều chỗ giống nhau. Truyện Ba-by-lôn đại diện cho một lưu truyền bị hư hỏng rất hiều vị trí tưởng tượng của loài người. Còn truyện Do-thái đại diện cho một lưu truyền còn nguyên vẹn, trong sạch do sự quan phòng của Chúa và được chép lại qua sự linh cảm của Chúa.
Trận lụt như thế chỉ đến trong vùng thung lũng xứ Mê-sô-pô-ta-mi. Các giống vật đeấn từ trong tàu, do sự xui giục của Chúa, là những giống vật của miền đó. Chúng được gìn giữ để làm ích cho loài người sau trận lụt. Câu chuyện hoàn toàn im lặng đối với những người sống trên đất Mỹ Châu, Phi Châu, Úc Châu, và Trung Hoa. Các loại thảo mộc chết sau trận lụt đã mau mọc trở lại trên khu vực bị tàn phá và các giống vật khác đã trở lại sống trong khu vực đó, đến nỗi sau một thời gian ngắn, các hậu quả của trận lụt đã được xoá bỏ. Việc Tân ước nhắc tới trận lụt không mang tính chất quyết định nào, nhưng cho phép một sự giải thích hoặc về lụt toàn cầu hoặc về lụt địa phương.
CÂU HỎI
1. Ba lối giải thích về chữ ngày trong Sáng thế ký là gì? Điều đó giúp ích gì cho sự giải quyết những bất đồng giữa Kinh Thánh và khoa học?
2. Kinh Thánh có dạy thuyết chủng loại bất biến không? Nếu không ta có thể kết luận thế nào về niềm tin và khoa học.
3. Bạn có phản ứng thế nào với thuyết tiến hoá? Tại sao?
4. Cuốn sách địa tầng là gì? Những thiếu sót của cuốn sách này?
5. Bạn biết gì về từ ngữ LOẠI trong sách Sáng thế ký? Theo ý của bạn thì nó có nghĩa gì?
6. Quan điểm và lập luận của bạn đối với vấn đề lụt toàn cầu hay lụt địa phương.
7. Liệt kê những nan đề mà thuyết lụt toàn cầu gặp phải. Giải thích sơ lược.
8. Lập trường của Cơ-đốc nhân đối với vấn đề tiến hoá hay sáng tạo, khoa học hay niềm tin như thế nào? 9. Bạn cho biết cảm nghĩ của bạn sau khi học xong phần này.

KHÁM PHÁ KHOA HỌC VÀ SỰ CHÂN XÁC CỦA KINH THÁNH
I. SỬ HỌC
LỊCH SỬ CHỨNG MINH LỜI TIÊN TRI CHÉP TRONG KINH THÁNH ỨNG NGHIỆM
“Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm, một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn” (Mat Mt 5:18)
“Hãy rao những việc sẽ xảy đến sau này, cho chúng ta biết các ngươi là thần” (EsIs 41:23)
Đã có nhiều sách nói về sự ứng nghiệm các lời tiên tri trong Kinh Thánh. Nhiều cuộc đào bới do sử học và khảo cổ học chủ trương đã đi sâu vào tàn tích của các lâu đài cổ mà Kinh Thánh nói tới. Có những bài tường thuật tỉ mỉ về kết quả khai quật đã chứng minh Kinh Thánh nói đúng. Hàng trăm, hàng ngàn quyển sách làm chứng các lời tiên tri đã được thực hiện và đang được thực hiện.
Cũng đã có một số sách dùng sự ứng nghiệm các lời tiên tri để chứng minh Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời.
Nếu ai còn nghi ngờ gì về sự linh cảm của Kinh Thánh, xin vui lòng đọc những trang sau đây hầu có bằng chứng chắc chắn cho niềm tin Cơ-đốc của mình.
Ở đây chỉ xin trưng ra một số ít trong nhiều lời tiên tri được coi là ứng nghiệm, và cũng chỉ thuật rất vắn tắt về sự ứng nghiệm của các lời tiên tri đó, miễn sao có vừa đủ chứng tích mà sử học đã xác nhận để lượng giá mà thôi. Muốn nghiên cứu rộng hơn, đề nghĩ các bạn nên đọc các sách về loại này.
Có những trường hợp chúng tôi dựa vào lịch sử hoặc những sách khác để dễ bề kiểm chứng về các sự kiện phát xuất từ những nguồn ở ngoài Kinh Thánh.
Phương pháp chứng minh ở đây dựa theo nguyên tắc xác suất. Đại khái nguyên tắc đó như sau: Nếu cái “có thể” cho một việc xảy ra là 1 trong M, và cái “có thể” cho một việc khác xảy ra là 1 trong N; thì cái “có thể” cho cả hai việc đó cùng xảy ra là gấp M lần N. Xin giải thích cho rõ: Giả sử cứ 10 người có một người sói đầu và cứ 100 người thí có 1 người cụt mất một ngón tay. Vậy cứ 1.000 (số tích của 10 x 100) thì có một người vừa sói đầu vừa cụt ngón tay. Muốn hiểu rõ kết luận này bạn thử lấy con số 1.000 người chẳng hạn, rồi bạn lọc ra những người có đầu sói Vì cớ 10 người mới có một người đầu sói nên bạn sẽ có 100 người đầu sói trong vòng 1000 người, 900 người kia không có sói đầu nên không thể vừa sói đầu vừa cụt tay. Vì cứ 100 người mới có 1 người cụt ngón tay, nên bạn chỉ tìm đựơc 1 người trong số 100 người sói đầu đó. Vậy người này vừa sói đầu vừa cụt ngón tay, và anh ta là người làm thoả hai điều kiện: sói và cụt. Nói cách khác, cái có thể hay xác suất cho một người trở nên đầu sói là 1 trong 10, và cái có thể cho một người cụt ngón tay là 1 trong 100. Vậy xác suất cho một người đặc biệt vừa sói vừa cụt là 1 trong 10.100, hay một trong một ngàn. Lý thuyết này đã tỏ ra là đúng. Cách chứng minh của phép toán này được dùng trong toán học và đã làm nền tảng cho sự tính toán của mọi thứ bảo hiểm.
Sự tính toán ở đây về mức độ ứng nghiệm của các lời tiên tri chỉ được dùng như thế là các lời đó được viết ra theo sự hiểu biết của trí không loài người.
A. Lời tiên tri về thành Ty-rơ
Sách tiên tri Exe Ed 26:3-5, 7, 12, 14, 16 (viết năm 590 TC)
“Vậy nên Chúa Giê-hô-va phán rằng: Hỡi Ty-rơ, này Ta địch cùng mày, Ta sẽ khiến nhiều nước địch cùng mày, như sóng biển dấy lên vậy. Chúng nó sẽ huỷ phá những vách thành Ty-rơ địch cùng mày, như sóng biển dấy lên vậy. Chúng nó sẽ huỷ phá những vách thành Ty-rơ và xô đổ tháp của nó; ta sẽ cào bụi, khiến nó thành một vầng đá sạch láng. Nó sẽ làm một chỗ cho người ta phơi lưới giữa biển; vì Chúa Giê-hô-va phán rằng: Ta đã phán. Nó sẽ làm mồi của các nước...
“Vì Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Này, Ta sẽ đem Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, là vua của các vua, với những ngựa, những xe, những lính kỵ, cùng đạo quân và dân đông, từ phương Bắc kéo xuống nghịch cùng thành Ty-rơ...
“Đoạn, quân nghịch mày sẽ lấy của báu mày, cướp hàng hoá mày, phá đổ vách thành mày; chúng nó sẽ phá đổ đền đài mày, và quăng những đá, gỗ và bụi đất của mày dưới nươc...
“Ta sẽ khiến mày nên vầng đá sạch láng, mày sẽ nên một chỗ cho người ta phơi lưới, và không được xây dựng lại nữa, vì ta là Đức Giê-hô-va đã phán, Chúa Giê-hô-va phán vậy...
“Hết thảy các quan trưởng đều suống khỏi ngai mình; cởi áo chầu ra, và lột bỏ những áo thêu. Họ như là mang lấy sự rung rẩy và ngồi xuống đất”.
Lời tiên tri về thành Ty-rơ nói rằng thành sẽ bị tàn phá và kể ra 7 việc sẽ xảy đến:
1. Vua Nê-bu-cát-nết-sa sẽ chiếm thành Ty-rơ
2. Các nước khác sẽ dự phần vào việc làm trọn lời tiên tri
3. Thành sẽ bị san bằng như mặt phẳng của tảng đá
4. Thành sẽ hoá nên một chỗ để phơi lưới.
5. Những đá và gỗ của thành sẽ bị quăng xuống biển
6. Các thành khác sẽ kinh sợ trước sự đổ vỡ của thành Ty-rơ
7. Thành Ty-rơ sẽ không bao giờ được xây lại
Ty-rơ là một thành xây trên bờ biển phía Bắc của xứ Palestine, là thành của người Phê-ni-xiêng ở, họ là một dân biển mạnh mẽ, các quân thù đều sợ họ. Vua thành Ty-rơ xưa đã cung cấp gỗ tốt cho Sa-lô-môn xây đền thờ.
Năm 586 TC. Nê-bu-cát-nết-sa, vua nước Ba-by-lôn đến hãm vây thành Ty-rơ. Cuộc vây hãm này ké dài 13 năm, và khi Nê-bu-cát-nết-sa chiếm được thành vào năm 573 TC, thì ông thấy người Phi-ni-xiêng đã chuyển hết những đồ đạc quí giá sang một hòn đảo cách xa bờ biển chừng nửa dặm. Dù chiếm được thành, Nê-bu-cát-nết-sa không thể đuổi theo họ tới hòn đảo đó, nên vua đành phải rút quân về Ba-by-lôn. Như vậy điểm thứ nhất của lời tiên tri đã nên trọn, tức là (1) Nê-bu-cát-nết-sa đã chiếm thành Ty-rơ.
Trong thời gian 241 năm, thàh Ty-rơ vẫn nằm trong tình trạng hoang tàn như khi Nê-bu-cát-nết-sa bỏ đi. Về sau, A-lịch-sơn đại đế khởi cuộc chinh phạt. Ông lập chiến trường ở phía đông, nhưng ông lại e rằng chiến thuyền của Ty-rơ có thể là một mối nguy cho quê hương ông, nên ông tiến xuống phía Nam để đoạt lấy thành Ty-rơ. Năm 322 TC A-lịch-sơn tiến tới cổ thành Ty-rơ, nhưng ông không thể chiếm thành trên đảo được. Vì thế, ông chiếm các thành ở ven biển và thâu đaọt các chiến thuyền của họ. Song dù ông sử dụng các chiến thuyền đó, ông vẫn không thể chiếm nổi Ty-rơ. Sau cùng, ông phải xây hẳn một con đê cao chạy từ đất liền ra tới hòn đảo. Để xây đê đó, ông đã dùng hết vật liệu lấy bởi cổ thành Ty-rơ mà không đủ. Ông phải cho đào hết đất ở trong và ngoài thành mới xây xong con đê đó. Lục quân của ông theo con đê này mà tiến quân, với sự yểm trợ của hải quân sử dụng các chiến thuyền của các thành đã bị chiếm trước. Dồn hết lực lượng công phá thành Ty-rơ, và sau 7 tháng, A-lịch-sơn đại đế đã chiếm được thành.
Như vậy, các điểm (2), (3) và (5) của lời tiên tri đã được trọn, tức là: (2) các nước khác dự phần vào việc làm trọn lời tiên tri. (3) Thành Ty-rơ bị san thành bình địa, sạch trơn như một tảng đá. (5) Các đá và gỗ của thành bị quăng xuống biển.
Các thành khác vì kinh sợ trước sự thảm bại của thành Ty-rơ nên đã xin mở cửa đón rước A-lịch-sơn vào mà không chống cự gì hết. Như vậy điểm thứ sáu của lời tiên tri đã trọn. Các thành khác đã phải kinh hãi trước sự đổ vỡ của thành Ty-rơ.
Ngày nay du khách đến thành Ty-rơ sẽ thấy đó là chỗ trú của dân chài lưới; họ đang phơi lưới trên chính địa điểm thành Ty-rơ xưa. Như vậy điểm thứ tư của lời tiên tri đã nên trọn. Nó trở thành chỗ phơi lưới.
Những mạch nước của Ty-rơ vẫn còn chảy mạnh. Những mạch nước đó trước kia đã cung cấp dư dật nước uống cho dân cả thành. Nhưng nay các mạch đó vẫn còn và có tới 10 triệu Ga-lông nước tràn lên mỗi ngày. Thật chốn này vẫn còn là một địa điểm rất tốt cho một thành phố mới, và nước dùng hàng ngày có thể đầy đủ cho một đô thị lớn. Nhưng thành Ty-rơ không hề được xây lại. Như vậy điểm thứ bảy của lời tiên tri đã hoàn toàn ứng nghiệm suốt thời gian dài 2.500 năm nay, thành Ty-rơ không bao giờ được tái lập.
Ta thấy lời tiên tri của Ê-xê-chi-ên đã ứng nghiệm trọn vẹn cho đến điểm cuối cùng. Bây giờ chúng ta tìm hiểu về sự linh cảm của Kinh Thánh do sự ứng nghiệm của lời tiên tri này.
Lịch sử cho thấy rằng trong khi nhiều thành lân cận bị chiếm đi chiếm lại bởi vua nọ vua kia, thì thành Ty-rơ vẫn địch nổi các cuộc tấn công bên ngoài và giữ vững được tự do, độc lập. Thành Ty-rơ và thành Ba-by-lôn tượng trưng cho hai thứ quân lực: Ty-rơ mạnh về hải quân; Ba-by-lôn mạnh về lục quân, vì thế hai bên không thể tiêu diệt nhau.
Vậy bây giờ bạn hãy tưởng tượng rằng Ê-xê-chi-ên đã viết lời tiên tri đó theo sự hiểu biết tự nhiên của ông, rồi xin các bạn hãy thử ước lượng về các điểm sau đây:
1. Ê-xê-chi-ên có bao nhiêu may mắn để biết hoặc báo trước rằng Nê-bu-cát-nết-sa sẽ chiếm được thành Ty-rơ? Bởi vì Nê-bu-cát-nết-sa đã chiếm được nhiều thành lân cận và ông đã búa vây thành Ty-rơ sau khi lời tiên tri của Ê-xê-chi-ên được phát ra trước đó 4 năm, nên sự may mắn xin tính là 1 trong 3, nghĩa là chỉ 1/3 là có thể biết trước điều đó.
2. Ê-xê-chi-ên có bao nhiêu may mắn để biết được rằng trong khi chiếm thành Ty-rơ, Nê-bu-cát-nết-sa không làm trọn được lời tiên tri về sự san thành bình địa thành Ty-rơ, nhưng có các nước khác dự vào để làm trọn lời tiên tri? Các biến cố trong thời đó cho Ê-xê-chi-ên biết rằng khi Nê-bu-cát-nết-sa chiếm được thành nào thì ông ta có đủ lực lượng để san thành bình địa thành đó. Vậy để khiêm nhường xin cho cái may mắn đó là 1 trong 5.
3. Ê-xê-chi-ên có bao nhiêu may mắn để biết rằng Ty-rơ sẽ bị san bằng trơn trọi như mặt láng của một tảng đá sau khi thất thủ? Đã có bao nhiêu thành khác bị san bằng như mặt tảng đá sau khi bị chiếm đoạt? Địa điểm của hầu hết các đô thị cổ xưa được đánh dấu bằng một đống gạch vụn, nhưng chưa có một thành phố nào đã bị cào sạch hết trơn những thứ đổ nát đó. Vậy cái may đúng của Êxê là 1 trong 500.
4. Ê-xê-chi-ên có bao nhiêu may mắn để iết rằng sau khi đã bị càn quét nhẵn trụi như vậy. Ty-rơ trở nên chỗ trú ngụ cho dân chài? Thực ra thì không thể căn cứ vào đâu để sy đoán; nhưng cứ coi địa điểm thành đó như một giải đất nhỏ nằm trên bờ biển Palestine. Và so với các địa điểm ven biển khác cùng có một diện tích tương tự như Ty-rơ thì đặt ra cho Ê-xê-chi-ên cái may mắn nói đúng là 1 trong 10.
5. Ê-xê-chi-ên có bao nhiêu may mắn để biết rằng khi Ty-rơ đã bị san bằng thì các vật liệu xây cất của nó và cả đến bụi đất ở nơi đó đều bị quăng xuống biển? Một khi cả thành đã bị quét sạch thì người ta di chuyển các đống đổ nát đi nơi khác. Nhưng cũng có thể là người ta lại dùng các vật liệu đó để xây nhà cửa trong các thành gần đó. Vậy cái may cho là 1 trong 10.
6. Làm sao ông tiên tri biết được rằng các thành khác tự động mở cửa đón rước nê-bu-cát-nết-sa, A-lịch-sơn vào và không chút kháng cự? Cái may của ông cho là 1 trong 5.
7. Làm sao biết đựơc rằng Ty-rơ sau khi bị san bằng sẽ không bao giờ được tái thiết nữa? Hầu hết những đô thị có hiều điểm lợi thiên nhiên như thành Ty-rơ đều đã được xây cất lại. Ty-rơ giữ một địa thế rất thuận lợi, lại có đầy đủ nước uống tốt quanh năm và đó là điều kiện rất quí giá trong miền đó. Vậy cái may của nhà tiên tri ít ra cũng là 1 trong 20.
Sau khi đã đo lường mức độ may mắn của Ê-xê-chi-ên đối với sự ứng nghiệm của từng phần trong lời tiên tri kể trên, chúng ta có thể tìm ra cái may mắn toàn bộ của ông đối với sự ứng nghiệm đó với nhau như nguyên tắc tính xác xuất đã giải thích, ta được biết cái may mắn cho toàn bộ lời tiên tri nếu do tự Ê-xê-chi-ên nói.
Vậy, nếu Ê-xê-chi-ên chỉ dùng sức trí khôn tự khôn để viết nên lời tiên tri đó với sự ứng nghiệm trọn vẹn như vậy thì cái may mắn thành công của ông là 1 trong 3.5.500.10.5.20 tức là 1 trong 75.000.000.
Cái may mắn nói đúng của ông chỉ là một trong bảy mươi lăm triệu, thế mà lời tiên tri của ông đã ứng nghiệm 100%. Như vậy có thể kết luận rằng ông tự sức mình thấu triệt được cả bí nhiệm của tương lai không? Hay là phải nói: Có Thiên Chúa mặc khải cho Ê-xê-chi-ên mọi điều đó? Và như vây, ngày nay với những kiến thức sử học đem lại, với phương pháp lý luận của toán học, ta phải đi đến kết luận; Kinh Thánh được chân xác vì đó là Lời Đức Chúa Trời.
B. Lời tiên tri về thành Ga-xa và Ách-ca-lôn
“Thật vậy Ga-xa sẽ bỏ hoang, Ách-ca-lôn sẽ hoang vu; người ta sẽ đuổi dân cư Ách-ca-lôn đương lúc giữa trưa, và Éc-rôn bị nhổ đi...
“Miền biển sẽ trở nên đồng cỏ, với những lều của kẻ chăn và chuồng của bầy chiên” SoXp 2:4-6, viết năm 630 TC.
“Và phần sót lại của người Phi-li-tin sẽ chết. Chúa Giê-hô-va phán vậy”. AmAm 1:8 viết năm 787 TC.
“Ga-xa trở nên trọc trọi” Gie Gr 47:5 viết năm 600 TC.
Những lời tiên tri đó báo 4 điều sau đây:
1. Người Phi-li-tin sẽ chết.
2. Ga-xa sẽ trở nên trọc trọi.
3. Ách-ca-lôn sẽ trở nên hoang vu.
4. Vùng lân cận Ách-ca-lôn sẽ trở nên nơi ở cho mục đồng với bầy chiên của họ.
Khi những lời tiên tri này đựơc nói ra thì dân Phi-li-tin đang sống mạnh mẽ kiêu hùng trong xứ Palestine. Chữ Palestine có nghĩa là đất của người Phi-li-tin. Thế mà dân Phi-li-tin đã bị tuyệt diệt.
Một thành Ga-xa vẫn còn đứng trơ đó, khiến chó, trong một thời gian khá lâu, người ta nghĩ rằng lời tiên tri về Ga-xa không đúng. Nhưng sau người ta đã nghiên cứu kỹ về địa điểm của thành Ga-xa như được chép trong Kinh Thánh thì thấy rằng thành Ga-xa mới ngày nay vẫn còn được xây trên chỗ khác. Người ta đã khai quật và tìm thấy thành Ga-xa cũ bị chôn vùi dưới cát sâu. Thực sự nó đã trở nên trọc trọi.
Ách-ca-lôn vẫn còn là một trong những thành lớn của xứ Palestine khi các lời tiên tri về Ách-ca-lôn được tung ra. Đó là một thành giàu có và thịnh vượng trong đời Chúa Giê-xu. Vua Hê-rốt đã tô điểm thêm cho Ách-ca-lôn và lập nhà nghỉ mát của vua tại đó. hưng đến năm 1270 SC vua Sultan Bibars đã phá huỷ thành này và không bao giờ nó được xây cất lại nữa. Cả vùng bờ biển lân cận đã trở nên bãi cỏ cho nhiều bầy chiên sinh sống. Đây đó mọc lên những túp lều vải của bọn mục đồng với những chuồng chiên.
1. Có nhiều dân tộc vẫn còn tồn tại từ lúc các lời tiên tri được nói ra cho đến ngày nay, nhưng dân Phi-li-tin đã mất hẳn. Vậy cái may nói trúng là 1 trong 5.
2. Làm sao biết được rằng thành Ga-xa sẽ bị phủ dưới cát (trọc trọi)? Điều này rất mực hiếm, nhất là ở xứ Palestine. Như thế cho cái may nói trúng là 1 trong 100.
3. Cái may nói trúng Ách-ca-lôn cứ kể là 1 trong 5
4. Làm sao biết được Ách-ca-lôn bị phá huỷ, chính nó và vùng lân cận trở nên đồng cỏ nuôi chiên thay vì dùng vào việc khác, hoặc bị bỏ hoang hoặc được xây cất lại? Cái may nói trúng cho là 1 trong 5.
Như vậy, sự khôn ngoan tự nhiên nói trúng được cả bốn điểm trong lời tiên tri trên đây chỉ là một trong 12.500.
C. Lời tiên tri về thành Giê-ri-cô
“Bấy giờ Giô-suê phát thề rằng: Phàm ai chổi lên xây thành Giê-ri-cô này sẽ bị rủa sả trước mặt Đức Giê-hô-va! Đặt nền nó lại, tất con trưởng nam mình phải chết, dựng cửa nó lại tất con út mình phải chết” Gios Gs 2:26 viết năm 1451 TC
Lời tiên tri này báo bốn điều:
1. Thành Giê-ri-cô sẽ được xây lại.
2. Nó sẽ được xây lại bởi một người.
3. Con trưởng nam của người đó sẽ chết khi khởi công xây cất.
4. Đứa con út của người ấy sẽ chết khi công việc hoàn thành.
Giê-ri-cô đã bị Giô-suê phá hủy khi ông dẫn dân Y-sơ-ra-ên tiến vaò đất hứa. Lời tiên tri này được phát ngôn vào dịp đó và được ứng nghiệm vào khoảng 500 năm sau đó, khi vua A-háp trao cho Hi-ên việc xây lại thành Giê-ri-cô. Con trưởng nam của Hiel là A-bi-ram chết khi Hi-ên khởi công xây cất. Đến khi ông hoàn tất công việc và treo các cửa lên thì Sêgub là con trai út của ông bị chết (IVua 1V 16:33, 34).
1. Cái may nói trúng việc xây lại thành Giê-ri-cô có thể là 1 trong 2.
2. Vì các thành thị càng ngày càng trở nên rộng lớn, nhất là trong thời tân tiến. Nên một người không thể điều khiển xây nổi một thành hay tái thiết một thành. Vậy cái may nói trúng là 1 trong 10.
3. Cái may nói trúng con trưởng của Hi-ên chết khi công việc tái thiết bắt đầu được kể là 1 trong 100.
4. Cái may nói trúng con út của Hi-ên chết khi các cửa được treo lên cũng được kể là 1 trong 100.
Vậy cái may nói trúng cả lời tiên tri là 1 trong 2.10100.100 hay là 1 trong 2.10 lũy thừa 5 (200.000)
D. Lời tiên tri về xứ Palestine
“Ta sẽ làm cho thành các ngươi ra vắng vẻ, các nơi thánh quạnh hiu, và ta chẳng còn hưởng mùi thơm về của lễ các ngươi nữa. Ta sẽ làm xứ ra đồi bại, đến đỗi kẻ thù nghịch ở tại đó cũng lấy làm lạ. Ta sẽ tản lạc các ngươi trong các dân và rút gươm ra đuổi theo sau các ngươi, xứ các ngươi sẽ hoang vu, thành sẽ vắng vẻ” LeLv 26:31-32 - viết năm 1491 TC.
“Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ngày mà ta sẽ làm sạch mọi tội lỗi các ngươi. Ta sẽ lại làm cho thành các ngươi có dâ ở, và những chỗ đổ nát sẽ dựng la5i, đất hoang vu sẽ được cày cấy” (Exe Ed 36:33-35 - viết năm 587 TC).
Các lời tiên tri này tiên báo bảy điều sau đây:
1. Các thành của dân Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên hoang vu.
2. Các nơi thánh sẽ trở nên hoang tàn.
3. Đất đai sẽ trở nên khô cằn.
4. Kẻ thù của họ sẽ ở trong đất.
5. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ phải tan tác.
6. Một thanh gươm sẽ đuổi theo người Do-thái
7. Người Do-thái sẽ trở về lại xứ Palestine, các thành thị sẽ bị được xây cất, và đất đi sẽ được cày cấy.
Các lời tiên tri này đã ứng nghiệm và đang ứng nghiệm trong thời đại chúng ta. Chúng ta thử xét đến từng chi tiết về các điểm đó.
1. Lời tiên tri này đựơc phát ra liền sau khi Chúa đưa dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ai-cập và đem họ vào đất hứa. Như vậy khó mà đoán được Chúa sẽ để cho các thành thị Y-sơ-ra-ên trở nên hoang vu.
Vậy cái may nói trúng cho là 1 trong 10.
2. Các nơit hánh vốn được hoạt động náo nhiệt trong thời gian dân Y-sơ-ra-ên sống trong đồng vắng Vậy làm sao biết được các nơi thánh sẽ trở nên hoang tàn với các thành thị? Tuy nhiên, cho cái may là 1/2 đi.
3. Cách đây 50 năm hay lâu hơn một chút, các du khách viếng xứ Palestine đều thuật lại rằng rất ít đất đai được canh tác, vì người Ả-rập ở đó cho là khô cằn, không màu mỡ. Hầu hết các ruộng do đó đều bỏ hoang. Cái may đoán trúng chỉ là 1 trong 10.
4. Xứ Palestine trở nên chiến luỹ hay pháo đài của Hồi giáo, mà dân Hồi giáo là kẻ thù của người Do-thái. Vậy Hồi giáo chiếm cứ đất đai là điều có thể. Cái may cho là 1 trong 2.
5. Người Do-thái dù ở trong những cơn bách hại lớn vẫn hằng ra sức để sống gần nhau, trong nước Ai-cập cũng như trong xứ Palestine hay trong đồng vắng. Vậy làm sao biết được họ sẽ bị tan tác? Cái may nói trung là 1 trong 5.
6. Làm sao biết được sau khi đã bị tan tác, người Do-thái bị bách hại nhiều hơn hết trong khắp thế giới. Những năm trong kỳ đệ nhị thế chiến, cuộc bách hại do Hitler chủ trương là cuộc bách hại dữ tợn nhất trong lịch sử nhân loại, mà dânchịu là người Do-thái. Cái may nói trúng là 1 trong 10.
7. Làm sao biết được khi bị tan lạc và bách hại thảm khốc như vậy người Y-sơ-ra-ên lại có thể trở về từ đầu cùng đất để lập quốc? Năm 1948 họ đã được quyền lập quốc và tuyên bố thành lập quốc gia. Hết thảy chúng ta đều phải ngạc nhiên trước sự lập quốc nhanh chóng của họ và sự đắc thắng của họ về mặt quân sự trong khi tái chiếm xứ Palestine. Cái may của phần thứ 6 là 1 trong 10 thì cái may của phần 7 phải hơn nữa. Nhưng chúng ta lấy khiêm nhượng là 1 trong 10 xem sao.
Và để cho ứng nghiệm toàn thể lời tiên tri, nếu do đầu óc con người thì cái may chỉ là 1 trong hai trăm ngàn mà thôi.
Xin lưu ý là LeLv 26:8 chép: “Năm người trong các ngươi sẽ đánh đuổi một trăm, và một trăm trong các ngươi sẽ đáh đuổi một muôn, và quân gnhịch sẽ bị gươm sa ngã trước mặt các ngươi”. Có lẽ tiên tri này khởi thuỷ không có ý chỉ về trận chiến 6 ngày năm 1967 giữa người Do-thái và các nước Ả-rập. Tuy vậy lời tiên tri ứng nghiệm cách rất đặc biệt bởi cuộc chiến này. Tất cả dân số Ai-cập Jordanie và Syrie gấp 20 lần dân số Do-thái. Đúng là năm người đánh đuổi một trăm người như lời tiên tri cách đấy hơn ba ngàn năm.
E. Lời tiên tri về xứ Ê-đôm
“Hỡi người ở trên bộng đá lớn, choán trên đỉnh núi kia, cho mình là đáng sợ, lòng kiêu ngạo đã dối gạt ngươi; dầu ngươi lót ổ mình cao như ổ chim ưng, Ta cũng làm cho ngươi từ đó rớt xuống, Đức Giê-hô-va phán vậy. Ê-đôm sẽ không có người ở nữa, chẳng có một con người kiều ngụ tại đó” Gie Gr 49:16-18 viết năm 600 TC.
Những điều tiên báo trong lời tiên tri này là:
1. Ê-đôm sẽ bị xâm chiếm.
2. Ê-đôm sẽ nên hoang tàn.
3. Ê-đôm sẽ không có ai đến định cư.
Khi phát ra lời tiên tri này thì Ê-đôm đang còn là một xứ rất phồn thịnh. Đất ruộng Ê-đôm phải kể là phì nhiêu bậc nhất thế giới. Ê-đôm ở giữa ngã ba lớn về thương mại. Thủ đô của Ê-đôm là Petros được xây bằng những những thứ đá cứng rắn và thiên nhiên đã dành cho những phương tiện phòng thủ chắc chắn hơn mọi thành khác. Ê-đôm vẫn còn hưng thịnh một thời gian lâu sau thời Chúa Giê-xu. Đến năm 636 SC Ê-đôm bị quân Hồi giáo xâm chiếm, và từ đó đến nay, Ê-đôm đã thật sự trở nên hoang tàn. Nhiều người đi tham quan qua xứ Ê-đôm về đã thuật lại rằng họ tuyệt nhiên không thấy có người định cư hay súc vật trên Ê-đôm nữa. Sự may nói trúng trong điểm 1 là 1 trong 10; về điểm 2 là 1 trong 10 và về điểm 3 là 1 trong 100.
Còn cơ may để nói trúng trọn cả lời tiên tri đó là 1 trong 10 lũy thừa 4 là một trong một trăm ngàn.
F. Lời tiên tri về Ba-by-lôn
“Ba-by-lôn... sẽ chẳng hề có người ở nữa, trải đời nọ sang đời kia không ai ở đó; người Ả-rập không đóng trại tại đó, những kẻ chăn cũng không cầm bầy mình tại đó. Song những thú rừng sẽ đến ở, và nhà cửa đầy những chim cú, chim đá choán làm chỗ của mình, dê đực lấy làm nơi nhảy nót” (EsIs 13:19-20 - viết năm 712 TC).
“Người ta sẽ chẳng từ nơi ngươi lấy đá làm móng cùng đá làm nền nữa, nhưng ngươi sẽ là hoang vu đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy.. Các thành nó trở nên hoang vu, đất khô, nơi sa mạc, đất không dân ở, không con người naò đi qua” Gie Gr 51:26, 43 - viết năm 600 TC.
Mấy lời tiên tri đó báo trước rằng:
1. Ba-by-lôn sẽ bị phá huỷ
2. Nó sẽ không bao giờ có dân ở nữa.
3. Người Á-rập sẽ không cắm trại trên đó.
4. Sẽ không có những chuồng chiên trên đó.
5. Những dã thú sẽ đến tìm chỗ trú ẩn trên các đống đổ nát của nó.
6. Người ta sẽ không lấy đá ở đó để xây cất nhà cửa. 7. Người ta sẽ không đi qua các đống đổ nát của nó.
Ba-by-lôn bị thất thủ năm 538 TC sau khi đã nổi danh là Kinh Thánh vĩ đại và tráng lệ nhất thế giới. Các tường của nó dày 90 bộ và cao 300 bộ với những tháp canh cao ngất trời. Tường thành mỗi bề dài 14 dặm. Một con sông chảy qua thành để cung cấp nước cho dân chúng. Có nhiều đất ruộng ở bên trong lũy thành có sức cung lương thực đủ cho cả thành. Ba-by-lôn không phải lo sợ về bất cứ một cuộc vây hãm nào của địch quân.
Dầu người Ả-rập quen đi cắm trại ở mọi nơi, nơi chốn, nhưng họ có mối lo sợ dị đoan đối với Ba-by-lôn. Nếu bạn có thuê một người Ả-rập làm hướng dẫn viên thì chắc chắn anh ta sẽ không chịu ngủ đêm tại Ba-by-lôn đâu. Thành đổ nát đó không còn một bóng người cư ngụ. Chỉ có các giống dã thú tụ tập dưới những đống đổ nát. Không có một chuồng chiên nào được thiết lập ở gần Ba-by-lôn cả.
Gạch ngói và các thứ vật liệu xây cất đã được moi móc lên khỏi những đống đổ nát để chuyển tới các thành lân cận, nhưng các viên đá quí người ta đã tốn nhiều mới chở tới Ba-by-lôn được thì lại không hề được mang đi nơi khác.
Hầu hết các thành cổ xưa là nơi du khách tới quan sát tấp nập, nhưng Ba-bỵ-lôn vẫn nằm trơ trọi, số du khách thật hiếm hoi.
Cái may nói trúng của các điểm kể trên là:
- 1 trong 10 cho điểm 1
- 1 trong 100 cho điểm 2
- 1 trong 200 cho điểm 3
- 1 trong 5 cho điểm 4
- 1 trong 5 cho điểm 5
- 1 trong 100 cho điểm 6
- 1 trong 10 cho điểm 7
Vậy cái may nói đúng cho tất cả lời tiên tri là: 1 trong 5.10 lũy thừa 9 hay là 1 trong 5.000.000.000.
G. Lời tiên tri về Giê-ru-sa-lem mở rộng.
“Đức Giê-hô-va phán: Này, những ngày đến, khi thành sẽ được xây lại cho Đức Giê-hô-va, từ tháp Ha-na-nê-ên cho đến cửa góc. Dây đo sẽ giăng thẳng trên đồi Ga-rép và vòng quanh đến Gô-a. Cả nơi trũng của thây chết và tro, hết thảy đồng ruộng cho đến khe Kết-rôn và đến góc cửa ngựa về phía Đông, đều sẽ được biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và đời đời sẽ không bị nhỏ đi và đổ xuống nữa” Gie Gr 31:38-40 viết năm 600 TC.
Có 9 điểm được nêu lên trong việc bành trướng khu vực của Giê-ru-sa-lem. Điều tiên tri trước hết là thành sẽ được mở rộng, rồi sau đó nói đến thứ tự mở rộng từng giai đoạn, tấm hình vẽ sau đây chỉ sơ qua hình dáng của thành cũ và địa điểm được mở rộng theo 9 điều tiên tri.
Thành được bành trướng trước hết ở số 1 và số 2 hai địa điểm này bên trong bức tường của vua Suleiman xây. Rồi sau đó Giê-ru-sa-lem bắt đầu vượt quá bức tường và tiến về phía số 3. Thành cứ lần lượt rộng lớn thêm ra và theo các số thứ tự. Và ngày nay đã tiến đến cửa ngựa tại số 9.
Bạn dễ nhận các số thừ tự các đường tiến và 9 điểm trong cuộc bành trướng của cổ thành Giê-ru-sa-lem. Cổ thành có 6 gốc nhất định.
Giê-ru-sa-lem cũng có thể bắt đầu mở rộng từ bất cứ góc nào trong 6 góc đó, hoặc từ bất cứ phía nào hay cạnh nạo. Bạn thử đặt cuộc khuếch trương cổ thành khởi đầu một góc nào đó và ghi chỗ ấy là số 1. Sau khi số 1 đã xây xong, tiến đến là một góc hay một phía nào đó khác được xây tiếp tục. Bạn cứ tự do vậy cho hết chín điểm.
Như vậy chúng ta thấy rằng nếu chỉ nhờ sự iểu biết tự nhiên của tr1i khôn thì cái may nói trúng 9 điểm tiên tri đó sẽ là 1 trong 8.10 lũy thừa 10 (1/10,000,000,000) mà thôi.
H. Cổng vàng
“Đoạn người đưa ta đến hiên cửa ngoài của nơi thánh ngó về phía đông. Cửa ấy vẫn đóng. Đức Giê-hô-va bèn phán cùng ta rằng: Hiên cửa này sẽ đóng luôn không mở nữa. Chẳng ai được vào lối hiên cửa này, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã vào bởi đó. Vậy cửa ấy sẽ đóng lại. Chỉ có Vua, vì người là Vua, thì có thể đến ngồi tại đó đặng ăn bánh trước mặt Đức Giê-hô-va. Vua sẽ vào bởi nhà ngoài của hiên cửa, và cũng ra bởi đường ấy” Exe Ed 44:1-3 - viết năm 574 TC.
Khi lời tiên tri này đựơc viết thì con đường từ khe Kết-rôn vào Giê-ru-sa-lem qua cổng này đựơc gọi là Cổng Vàng. Cửa này được sử dụng thời Chúa Giê-xu và là cổng mà Chúa cỡi lừa đi vào thành Giê-ru-sa-lem cách vẻ vang. Năm 1543 SC Khi tường thành Giê-ru-sa-lem được xây lại bởi Vua Thễ Suleiman, thì con đường vào cổng vàng không còn dùng nữa. Vua thấy không dùng nữa bèn ra lệnh bít cửa lại. Thay vì xây tường thẳng luôn qua thì ông lại xây lại cổng, vòm cổng và trang trí như cũ, rồi mới bít lối vào cổng. Hoàng đế Wilhelm dự tính chiếm Giê-ru-sa-lem rồi cho mở cổng vàng để đi vào thành cách khải hoàn. Vị vua này muốn đạp đổ lời tiên tri trên, nhưng ông đã thất bại. Hiện cổng vàng này hình như đang chờ đợi sự trở lại của Chúa Giê-xu Ngài sẽ mở ra và đi vào thành Giê-ru-sa-lem.
Xác suất cho lời tiên tri này ứng nghiệm là khoảng một phần ngàn (1/1000).
I. Sa-ma-ri
“Vậy nên ta sẽ khiến Sa-ma-ri nên như một đống đổ nát ngoài đồng, như chỗ trồng nho, và sẽ làm cho những đá của nó lăn xuống trũng, và những nền ra trần trụi (MiMk 1:6 viết năm 750 TC)
Lời tiên tri này nói trước 5 điều:
1. Sa-ma-ri sẽ bị tàn phá
2. Nó sẽ trở nên như đồng cỏ nát ngoài đồng
3. Thành chỗ trồng nho
4. Đá nó sẽ bị lăn xuống
5. Nền nó sẽ bị đào lên trần trụi
750 năm sau Sa-ma-ri vẫn còn là một thành phố có tếng, trong thời Chúa Giê-xu nó vẫn được Kinh Thánh nói đến. Nhưng cuối cùng thì nó bị àn phávà trở thành một đống đổ nát. Dần hồi người ta dọn dẹp nó và những đá làm nền cùng với những thứ đổ nát khát được kéo đến mé đồi và lăn xuống trũng. Bây giờ nó được biến thành vườn cây, vườn nho.
1. Thành Sa-ma-ri trên đồi được bảo vệ rất vững chắc. Làm sao Mi-chê tiên đoán được nó sẽ bị tàn phá? Xác suất để lời tiên tri được đúng ta cho là một trên 4. 1/4.
2. Làm sao thành lại vẫn còn là một đống đổ nát không được xây lại trong khi bao nhiêu thành phố khác bị đổ nát nhiều lần và vẫn được xây lại? Ước lượng xác suất đúng của lời tiên tri này là một trên năm 1/5.
3. Cái may để Sa-ma-ri trở thành nơi trồng nho thật là nhỏ. Vì người ta phải cào sạch đi những đổ nát của thành để biến thàh vườn nho, trng khi đất đai chung quanh đó để làm vườn thì rất nhiều. Xác suất để lời tiên tri này đúng ta ước lượng độ một phần trăm 1/100.
4. Cái may để đá được kéo ra lăn xuống trũng thay vì dồn đống lại để dùng xây dựng về sau là một phần mười 1/10.
5. Cái may để lời tiên tri về nền móng bị đào lên cho là 1 trên 2 lần.
Nếu Mi-chê nhìn tình thế rồi và đưa ra 5 điều tiên đoán này về thành Sa-ma-ri theo sự khôn ngoan của con người thì cái may (xác suất) để tất cả 5 điều tiên đoán trên được đúng hết là một torng 40.000 ngàn lần (1 lần trong 4x5x100x10x2= 1/40.000)
Về Si-ôn bị cày
“Vậy nên vì cớ ngươi, Si-ôn sẽ bị cày như ruộng (MiMk 3:12 viết năm 750 TC). Từ khi có lời tiên tri này cho đến ngày nay thì các phần của thành Giê-ru-sa-lem thường hay bị tàn phá, và rồi được xây dựng lại. Nhưng năm 1543 SC khi vách thành Giê-ru-sa-lem được vua Suleiman xây lại, thì phần được gọi là Si-ôn, thành Đa-vít của Giê-ru-sa-lem thì bị bỏ ra bên ngoài tường thành. Và nó bị cày lên để trồng trọt. Đó là phần duy nhất của thành Giê-ru-sa-lem bị cày. Phần đặc biệt này của thành Giê-ru-sa-lem bị biến thành đất canh tác trong khi nó là phần được ưa chuộng nhất của Giê-ru-sa-lem, cung điện Sa-lô-môn xây ở đây, thì cái may để lời tiên tri của Mi-chê được đúng ta ước chừng một trong một trăm (1/100).
L. Lời tiên tri về Mô-áp và A-môn
“Hãy nói cùng con cái Am-môn rằng ... ta sẽ phó ngươi cho con cái phương đông làm cơ nghiệp, chúng nó sẽ đóng trại giữa ngươi, và cất nhà mình trên đó, chúng nó sẽ ăn trái ngươí và uống sữa ngươi... Bởi cớ đó ta sẽ phá các thành của bờ cõi người Mô-áp. Ta sẽ phó xứ này và xứ của người Am-môn cho các con trai phương đông (Exe Ed 25:3-4, 9-10 viết năm 590 TC).
Nhưng về sau ta sẽ đem các con cái A-môn bị phu tù trở về (Gie Gr 49:6 viết năm 600 TC).
Những lời tiên này tiên đoá 3 điều:
1. Mô-áp và Am-môn bị các người phương đông chiếm và họ sẽ ăn trái cây và uống sữa của xứ.
2. Người phương đông sẽ xây dựng cung điện ở Am-môn
3. D6n Mô-áp và Am-môn sẽ được trở về và nhận lại đất đai mình.
Dân Ả-rập liên tục xâm lẩn hai nước và lấy trái cây. Họ đuổi hầu hết dân đi. Những cung điện người Ả-rập xây cất ở Am-môn vẫn còn được dùng ngày nay. Gần đây Anh quốc cố bảo vệ xứ khỏi sự tấn công từ bên ngoài. Đất đai được trồng trọt trở lại và các thành phố được xây dựng lại với một tốc độ nhanh chưa từng thấy ở xứ này. Ước lượng cái may để lời tiên tri 1 được đúng là một trong 5 lần lời tiên tri 2 được đúng là một trong 10 lần và lời tiên tri 3 là một trong hai mươi lần. Vậy cái may để tiên đoán đúng cả 3 lời tiên tri trên là 1 trong 1000 lần.
Tóm tắt
Cùng phương pháp đã thực hiện những lời tiên tri khác trong Kinh Thánh có xác suất về may rủi nói trúng như sau (đây chỉ là tổng kết một phần rất nhỏ những lời tiên tri được ứng nghiệm):
- Về Ty-rơ 1 trong 7.5.10 lũy thừa 7
- Về Giê-ri-cô 1 trong 2.10 luỹ thừa 5
- Về xứ Palestine 1 trong 2.105
- Về cửá vàng 1 trong 10 luỹ thừa 3
- Về Sa-ma-ri 1 trong 4.10 luỹ thừa 4
- Về Si-ôn bị cày 1 trong 10 lũy thừa 2
- Về Mô-áp và Am-môn 1 trong 10 luỹ thừa 3
- Về Giê-ru-sa-lem mở rộng 1 trong 8.10 lũy thừa 10
- Về xứ Ê-đôm 1 trong 10 luỹ thừa 4
- Về Ba-by-lôn 1 trong 5.10 luỹ thừa 9
Nếu 11 lời tiên tri này đã được viết nên theo sự khôn ngoan tự nhiên của loài người mà thôi, không do Thiên Chúa mặc khải ra, thì cái may nói trúng của các tiên tri đó ta có thể tìm thấy bằng cách đem nhân tất cả các con số may mắn đó lại với nhau, và kết là 5.76.1596 x 10.59.
Bạn cũng có thể kèm thêm vào đó những lời tiên tri khác và ước lượng lại những con số nói trúng. Bạn có thể dùng những lời tiên tri chỉ về thành Si-đôn trong Exe Ed 28:20-23 về thàh ca-bê-na-um và Bết-sai-đa trong LuLc 10:13, 15 về con đường cái quan giữa Ai-cập và A-sy-ry trong EsIs 19:23-25 về những biến đổi bên Ai-cập trong Exe Ed 29:15; 30:13.
Có người cho rằng những câu nói đó trong Kinh Thánh không phải là lời tiên tri, mà chỉ là những câu truyện lịch sử được ghi sau này, khi các biến cố đó đã xảy ra.
Nói như vậy là chưa hiểu lịch sử và Kinh Thánh. Tất cả các lời tiên tri đó đều trong Cựu ước, và mỗi lời đều nói trước Chúa Giê-xu hàng mấy trăm năm. Trong các lời đó chỉ có một lời đã hoàn toàn ứng nghiệm trước Chúa; hai lời khác ứng nghiệm một nửa trước Chúa, một nửa sau Chúa. Còn các lời tiên tri khác đều ứng nghiệm sau Chúa Giê-xu.
Chúng ta thử hình dung cái may nói trúng 1 trong 5.76.À0 luỹ thừa 59 (tức con số 5 đi với 59 con số 0), chúng ta có thể đúc ra được 10 lũy thừa 28 đống bạc, mỗi đống to bằng mặt trời.
Đống sao của chúng ta, quen gọi là ngân hà, gồm tất cả các sao thuộc thiên hà chúng ta. Đó là một tâp5 hợp sao rất lớn, gồm ít ra là 100 tỉ sao, sao nào cũng to bằng mặt trời. Ở ngoài cõi thiên hà chúng ta còn nhiều thiên hà khác và mỗi thiên hà cũng chừng 100 tỉ sao, nếu bạn phải đếm 100 tỉ sao, cứ mỗi phút đếm 250 sao và đếm suốt ngày suốt đêm không nghỉ, thì hết 750 năm bạn mới đếm xong số sao của một thiên hà.
Người ta ước lượng rằng cả vũ trụ có chừng hai ngàn tỉ thiên hà, mỗi thiên hà chừng trên 100 tỉ sao.
Nhưng với số bạc là 5.10 luỹ thừa 59 bạn có thể làm ra được 1.10 luỹ thừa 5 lần số các sao trong hai ngàn tỉ thiên hà đó.
Giả sử bạn đánh dấu một đồng bạc rồi đem nó trộn lẫnv ào giữa các đồng bạc khác trước khi bạn dồn lại thành từng đống lớn to bằng mặt trời. Rồi bạn bịt mắt một người rồi bảo anh ta đi tới các đống bạc lớn kia mà tìm cho ra đồng bạc bạn đã đánh dấu. Thử hỏi anh ta có được bao nhiêu may mắn để thành công? Nếu anh ta đi mỗi giờ được 60 dặm và đi suốt ngày suốt đêm thì phải mất 5 năm mới đi vòng quanh được một sao, tức một đống bạc mà thôi. Như vậy cái may mắn thành công của anh ta không thể có vì quá nhỏ bé. Nhưng đi vòng trong cả một thiên hà thì phải để ra 500 tỉ năm mới đủ. Giả sử anh ta đi thậ mau lẹ, có thể đi lục bới tất cả các đống bạc chứa trong 100 tỉ sao kia trong vòng một giây đồng hồ thay vì 500 tỉ năm, thì cũng phải mất 3.10 luỹ thừa 9 (ba tỉ năm) năm thì mới lục bới hết tất cả đống bạc ấy. Tức phải dùng hết một nửa thời gian từ lúc vũ trụ được thành lập cho đến bây giờ, tức ba tỉ năm.
Thật là chuyện phi lý nếu chúng ta dám quả quyết anh ta có một chút may mắn nào để tìm ra chính đồng bạc đã đánh dấu đó. Nhưng dầu vậy vẫn còn tốt số hơn các vị tiên tri chỉ dùng trí khôn mình mà nói trúng tất cả 11 lời tiên tri kể trên. Nhưng 11 lời tiên tri đó và còn rất nhiều lời tiên tri khác trong Kinh Thánh đã được ứng nghiệm trăm phần trăm.
Vậy chúng ta chỉ còn có thể kết luận là chính Đức Chúa Trời đã soi sáng cho các tác giả đó viết ra những lời tiên tri đó, vì lịch sử của loài người được Ngài sắp đặt. Còn lẽ nào mạnh hơn nữa để bác bỏ Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời?
Những lời tiên tri vừa kể là những sự kiện đã xảy ra trong lịch sử. Một điều không thể chối cãi được. Có những sự kiện trước đây người ta thấy sử học không ghi lại và tưởng rằng Kinh Thánh no1i sai và lời tiên tri không ứng nghiệm. Nhưng nhờ khai quật của các nhà khảo cổ, lịch sử được sáng tỏ và Kinh Thánh cũng được minh xác và cuối cùng người ta thấy rằng Kinh Thánh quả thật là Lời Đức Chúa Trời và Ngài là Đấng nắm toàn quyền trên lịch sử nhân loại.
II. KHẢO CỔ HỌC
Nếu Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời thì phải tuyệt đối chân xác. Không một chi tiết nào, dù nỏ, lại sai lầm hay bị đào thải bởi những khám phá khoa học Lịch sử được ghi lại trong Kinh Thánh chân xác tuyệt đối và khảo cổ học ngày nay đã minh chứng rất nhiều cho sự chân xác đó. Bằng những phương pháp khoa học hiện đại, các nhà khảo cổ đã khai quật nhiều di tích lịch sử phù hợp với những điều được Kinh Thánh ghi lại. Sau đây chúng tôi xin đưa ra một vài trường hợp tiêu biểu.
A. Bia trụ Taylor
Bia trụ Taylor (hiện đặt tại British Museum) được các nhà khảo cổ tìm thấy ghi lại biến cố lịch sử trong đời vua Ê-xê-chia Đối chiếu bia trụ tìm thấy và Kinh Thánh, người ta thấy hoàn toàn phù hợp. Chúng ta hãy so sánh hai bản văn:
- Kinh Thánh IIVua 2V 18:13-16
“Năm thứ mười đốn đời Êx-ê-chia, San-chêríp, vua A-si-ri, vua Giu-đa, sai sứ đến La-ki nói với vua A-si-ri rằng: Tôi phạm lỗi. Cầu vua lìa khỏi nước tôi: hễ vua đòi điều gì, tôi sẽ chịu. Vua A-si-ri bắt Ê-xê-chia vua Giu-đa, phải trả ba trăm ta lâng bạc, và ba mươi ta lâng vàng. Ê-xê-chia nộp cho người bạc lấy ở trong đền Đức Giê-hô-va và trong kho tàng của cung vua. Bấy giờ, Ê-xê-chia gỡ vàng ở các cửa và cột đền thờ Đức Giê-hô-va mà chính mình người đã cẩn vào, rồi nộp hết cho vua A-si-ri”.
- Bia trụ Taylor (ghi lời San-chê-ríp, vua A-si-ri)
“Vì Ê-xê-chia, vua Giu-đa, không chịu thuần phục ách ta, nên ta vây hãm 46 thành kiên cố của nó cũng như vô số những thành nhỏ trong vùng phụ cận. Ta đã xâm chiếm bằng những phương cách như dùng đòn khiêng, máy phá thành cộng thêm với bộ binh và các đợt tấn công tàn khốc. Ta đem đi 100.150 người già lẫn trẻ, đàn ông, đán bà và vô số súc vật như những chiến lợi phẩm. Chính nó ta đem nhốt ở Giê-ru-sa-lem như chim trong lồng... Ta đã vơ vét tất cả các thành, đã chia đất nó cho Mitinti, vua Ách-đốt; Pa-đi, vua Éc-rôn; Sillibel, vua Ga-xa. Ta đặt nhiều sắc thuế và nó phải đóng nhiều hàng năm. Ê-xê-chia sợ hãi trước uy quyền của ta. Nó phải đem đến thành Ninive 30 ta lâng vàng, 800 ta lâng bạc, hột xoàn, kim cương, bửu thạch, các giường và ghế bằng ngà voi, quần áo sặc sỡ, áo choàng màu tím đậm, màu đỏ sậm, các vật bằng đồng, chì, sắt, áo giáp, khiêng, chiến xa, vũ khí đủ loại, các đàn bà trong cung cấm, nam nữ nhạc công, cũng như chính các con gái nó. Nó đưa các sứ giả đến dâng lễ vật và giao kết thần phục”.
B. Sự giàu có của Sa-lô-môn
1. Ngựa: IVua 1V 10:26: “Sa-lô-môn cũng nhóm xe và lính kỵ. Có 1400 xe và 12.000 lính kỵ, để trong các thành chứa xe, và tại Giê-ru-sa-lem, gan bên vua”.
Nhà khảo cổ Guy đã khám phá tại Meghido những chuồng ngựa của Sa-lô-môn. “Một chuồng ngựa phía Nam có chiều rộng 70 mét, dài 92 mét. Cứ năm chuồng ngựa làm thành một dãy hướng về phía Bắc. Trước mặt là một sân rộng mỗi chiều khoảng 60 mét. Một bức tường nhiều nơi dày hơn 1 mét chung quanh sân, gần khoảng giữa sân là hồ chứa nước dành cho ngựa uống. Hồ có thể chứa tới 10.500 lít. Hai phòng hình chữ nhật đi theo vòng rào có lẽ đã được dùng để làm nhà chứa chiến xa. Mỗi đơn vị chuồng ngựa gồm một lối đi chính gĩưa rộng 3 m tráng thạch cao. Hai bên lối đi là hai dãy hành lang rộng bằng đá rộng độ 1,5 m. Mỗi dãy hành lang dài khoảng 26m được dùng nhốt 15 con ngựa. Như thế có 150 con ngựa cho phần chuồng ở phía Nam mà thôi” (Howard F.Vos, Introd. to B. Arch p.5).
2. Lò đúc vũ khí: Kinh Thánh chép: “Vua (Sa-lô-môn) biểu đúc các vật đó tại đồng bằng Giô-đanh, trong một nơi đất sét, giữa Su-cốt và Xát-than (IVua 1V 7:46).
Năm 1938-1939, tiến sĩ S Nelson Gluek đã đào bới và xác nhận di tích thành Exion Ghê-ba. Ông tìm thấy di tích của lò đúc, lò rèn, nồi nấu kim thuộc và lò luyện kim thuộc của Sa-lô-môn. Ông cũng tìm thấy lớp quặng đồng và quặng sắt ở gần đó dùng để chế tạo dĩa, đánh mũi giáo và lưỡi câu, những thứ này được dùng để xuất cảng đổi lấy ngà voi (9:26-28).
C. Các cuộn biển chết
Một trong những khám phá gần đây của khảo cổ học làm nhiều người kinh ngạc nhất đó là sự khám phá các cuộn giấy da tại biển chết vào năm 1947. Các cuộn da này được chứa trong những lu bằng đất, ghi lại sinh hoạt của cộng đồng Qumran. Một số lớn các cuộn da là bản sao Kinh Thánh. Một phần của tất cả các sách trong Kinh Thánh, trừ Ê-xơ-tê, được tìm thấy. Và quan trọng nhất là toàn bộ sách Ê-sai. Ngoài ra cũng còn tìm thấy sách giải nghĩa Ha-ba-cúc và một số sách vở liên quan đến sự thờ phượng.
Theo phương pháp phóng xạ Carbon (Radio Carbon) và căn cứ trên chữ viết (Paleography), căn cứ trên các bình sành, các đồng bạc người ta định đựơc niên đại của các cuộn biển chết vào khaỏng 150 TC - 70 SC. Như thế các cuộn biển chết cung cấp cho chúng ta một cổ bản Kinh Thánh xưa nhất (bản Masoretic được coi là xưa nhất còn lại có niên đại 900 SC). So sánh các cuộn biển chết với Kinh Thánh chúng ta có ngày nay không có gì khác nhau, chỉ trừ vài chi tiết nhỏ không đáng kể.
Sự khám phá ra các cuộn biển chết cho thấy Đức Chúa Trời đã bảo tồn Lời Ngài như thế nào. Thời gian vẫn không làm cho “một chấm, một nét trong Lời Chúa” qua đi. Điều này cũng làm cho chúng ta có bằng cớ để tin quyết vào bản Kinh Thánh mà chúng ta đang có.
Ngày nay khảo cổ học đã tìm thấy hàgn ngàn bằng cớ chứng minh sự chân xác của Kinh Thánh cũng như cho thấy các tài liệu trong Kinh Thánh rất đáng tin cậy. Lời Đức Chúa Trời, được ban cho loài người trong mục đích cứu rỗi, được vững lập đời đời. Dầu trời đất qua đi song Lời Chúa không bao giờ qua đi (Mac Mc 13:31; IIPhi 2Pr 1:24, 25; IGi1Ga 2:17).
III. Y HỌC
Y học ngày nay cũng đã khám phá ra những điều phù hợp với những gì Kinh Thánh đã dạy bảo trước đây mấy ngàn năm. Chẳng hạn như việc ung thư nơi cơ quan sinh dục và việc cắt bì là một bằng chứng.
Bệnh ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư thông thường nhất của đàn bà. Bệnh ung thư này chiếm 25 % trong tất cả các loại ung thư và chiếm 80 % trong các loại ung thư nơi các cơ quan sinh dục. Bảng thống kê còn cho thấy đại đa số các người chết vì bệnh này vì đã không chịu ngăn ngừa bằng phương pháp mà Đức Chúa Trời đã truyền dặn cho Áp-ra-ham.
Vào đầu thập niên 1900, bác sĩ Hiram N.Wineberg, trong khi xem xét lý lịch bệnh nhân tại bệnh viên New York. Mount Sinai Hospital đã nhận thấy rằng hầu hết các phụ nữ Do-thái đều tránh được bệnh này. Sau đó bác sĩ I.Kaplan và các cộng sự viên tại bệnh viện New York's Bellevue cũng xác nhận rằng có rất ít phụ nữ Do-thái bị bệnh ung thư nơi cơ quan sinh dục. Năm 1949, cá cbác sĩ chuyên về bệnh đàn bà tại bệnh viện Mayo Clinic ghi nhận rằng trong 568 trường hợp ung thư liên tiếp thì không có một phụ nữ Do-thái nào là nạn nhân.
Tại sao các phụ nữ Do-thái lại ít bị bệnh ung thư nơi cơ quan sinh dục? Những khám phá y học ngày nay đồng ý rằng lý do phụ nữ Do-thái tránh được bệnh ung thư vì những người nam Do-thái đã làm phép cắt bì mà Đức Chúa Trời đã truyền cho Áp-ra-ham 4.000 năm về trước. Một số khám phá gần đây cho bết phụ nữ tránh được bệnh ung thư tử cung không phải vì các yếu tố như thức ăn, môi trường sống hay nòi giống nhưng là nhờ lớp da qui đầu của đàn ông được cắt. Nhưng làm sao phép cắt bì nơi đàn ông tránh được bệnh ung thư nơi đàn bà? Lý do đơn giản là nếu không cắt lớp da qui đầu thì đây là môi trường tốt để cho nhiều loại vi khuẩn nẩy sinh, trong đó có vi khuẩn Smegma, tức vi khuẩn sinh ra bệnh ung thư. Trong khi giao hợp, loại vi khuẩn này vào cổ tử cung và khiến sinh bịnh ung thư. Cho nên chúng ta có thể nói rằng phép cắt bì là đề phòng hữu hiệu nhất chống lại bệnh ung thư nơi các cơ quan sinh dục đàn ông cũng như đàn bà.
Có một điều thích thứ khác liên quan đến vấn đề cắt bì mà các nhà y học đã khám phá: Tháng 11 năm 1946 một bài báo trong tờ Journal of the American Medical Association đã cho biết lý do tại sao phải cắt bì trong ngày thứ tám. Emmett Holt và Rustin Mc Intosh cho biết rằng trẻ sơ sinh trong thời gian từ ngày thứ hai đến thứ năm rất dễ băng huyết. Sự băng huyết trong thời kỳ này rất dễ nguy hiểm cho các cơ quan bên trong, nhất là não bộ, và có thể gây ra bệnh mất cảm giác hoặc thiếu máu. Sở dĩ có sự băng huyết vì trong thời kỳ này, chất vitamin K chưa được cấu tạo. Các nhà y học cho biết vitamin K chỉ được cấu tạo sau ngày thứ 7. Như thế cắt bì trong ngày thứ 8 là thích hợp nhất.
Một yếu tố khác cũng rất quan trọng trong sự làm đông huyết, đó là chất Prothrombin. Vào ngày thứ ba, trẻ em chỉ có 30 % chất Prothrombin so với mức bình thường. Vì thế việc giải phẫu trong thời gian này có thể gây nên sự băng huyết trầm trọng. Tuy nhiên, đến ngày thứ tám, chất Prothrombin lên đến 110 % so với mức độ bình thường. Như thế vào ngày thứ tám, hai yếu tố vitamin K và Prothrombin đã đủ khả năng để làm đông huyết và bảo đảm cho việc cắt bì nơi trẻ sơ sinh.
Những gì mà Đức Chúa Trời đã truyền cho Môi-se phải tuân giữ để ngăn ngừa bệnh tật thì sau mấy ngàn năm khoa học mới khám há và xác nhận. Đức Chúa Trời chỉ bảo cho dân Ngài cách rành rẽ những phép vệ sinh mà lúc bấy giờ họ không biết lý do tại sao phải làm như thế. Nếu không bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, Môi-se không tài nào viết ra những điều mà mãi hơn ba ngàn năm sau nhân loại mới khám phá. Một lần nữa chúng ta lại thấy họ chứng tỏ Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời.
IV. QUYỀN NĂNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
A. Sức phóng xạ (Radiation)
Mặt trời là nhà máy điện lực rất lớn. Mỗi thước vuông trên mặt trời liên tục phát ra một sức điện là 70.000 mã lực. Mà có biết bao thước vuông trên diện tích của mặt trời. Hơn 10.000 diện tích trái đất.
Giả sử chúng ta mua số năng lượng do mặt trời phát ra trong vòng 24 giờ với giá một phần tư xu mỗi kí-lô-oát. Nếu trả số tiền đó bằng bạc thì số bạc sẽ chi kém cả Á Châu với bề dày bốn cây số. Đó là một sức mạnh ghê gớm. Nhưng khi dựng nên mặt trời, Đức Chúa Trời chẳng những làm nên số năng lượng mặt trời sẽ còn phát ra trong bao nhiêu tỉ năm sắp đến. Mặt trời còn đủ năng lượng để phát ra liên tiếp như hiện nay trong quãng thời gian dài hơn 30 tỉ năm nữa.
Trong thiên hà chúng ta có 100 tỉ sao. Vậy ra đem số năng lượng của mặt trời nhân lên gấp 100 tỉ lần để ta được hiểu một chút về quyền năng của Đức Chúa Trời.
Trong vũ trụ có chừng hai hay ba ngàn tỉ thiên hà. Ta thử mà nhân sức mạnh của cõi thiên hà chúng ta lên gấp hai hay ba ngàn tỉ, và ta sẽ hiểu thêm một chút nữa về quyền năng của Thiên Chúa được tỏ qua sức phóng xạ của các tinh tú trên trời.
B. Động năng (Kinetic Energy)
Một vật càng chuyển động mau lẹ thì càng phát ra nhiều năng lượng. Một viên đạn trái phá từ nòng súng đại bác bắn đi nhanh tối đa là một dặm mỗi giây đồng hồ. Trái đất quay chung quanh mặt trời mỗi giây chừng 18 dặm rưỡi. Chúng ta biết công thức vật lý dạy năng lượng phát ra bằng khối lượng nhân với bình phương vận tốc, bây giờ đem số 18,5 tự thừa thì được hơn 300. Vậy bất kỳ phần nào trên trái đất đang chuyển động đang khi quay quanh mặt trời cũng phát ra một số năng lượng nhiều gấp 300 lần số năng lượng của một viên đạn đại bác bắn ra, nếu khối lượng vật đó bằng khối lượng của viên đạn.
Mặt trời cùng với cả thái dương hệ quay chung quanh trung tâm của thiên hà chúng ta với tốc độ là 134 dặm mỗi giây. Đem 134 tự thừa lên ta được gần 18.000. Như vậy thái dương hệ phát ra một số năng lượng 18.000 lần nhiều hơn. Nói cách khác, sức tàn phá của thái dương hệ lớn hơn gấp 18.000 lần so với viên đạn trái phá, nếu thái dương hệ nhỏ bằng viên đạn.
Có những thiên hà đi nhanh mỗi giây 60.000 dặm. Ta cũng nghĩ đến tất cả cái khối hơn 100 tỉ sao, sao nào cũng lớn bằng mặt trời, sao nào cũng đi nhanh 60.000 dặm/giây. Chúng ta sẽ hiểu khối năng lượng hầu như vô hạn phát ra do sự quay đông của các tinh tú trên trời.
Thiên Chúa vẫn ngự trên ngai chí cao. Loài người, dù có bom nguyên tử, là chi trước mặt Ngài? Sức mạnh của Chúa là nguồn an ủi bất tận cho mỗi Cơ-đốc nhân.
C. Hấp lực (Gravitation)
Hấp lực là đặc tính của vật chất, không thể tách rời khỏi vật chất. Bạn đặt hai cuốn sách lên bàn, liền có hấp lực giữa hai cuốn sách đó đang muốn kéo lại gần nhau. Mặt trăng và trái đất có hấp lực với nhau và chúng ta biết chúng hằng lôi kéo nhau khi chúng ta nhìn xem nước biển lên xuống. Trái đất có hấp lực với mặt trăng khi giữ mặt trăng phải xoay chung quanh trái đất. Còn hấp lực của mặt trời đối với trái đất thì thật lớn. Người ta đã tính ra rằng nếu bạn muốn thay thế hấp lực đó bằng một giây cáp thì bạn phải đúc một giây cáp có đường kính tám ngàn dặm. Hấp lực tương đương với sức mạnh của giây cáp này. Nói cách khác, sức mặt trời lôi kéo trái đất mạnh đến nỗi hầu làm đứt giây cáp đúc bằng sắt có đường kính là 8.000 dặm.
Hấp lực cũng đang giữ cho thiên hà chúng ta đoàn tụ với nhau. Giả sử Đức Chúa Trời đặt giây cáp từ sao nọ đến sao kia trong số 100 tỉ sao của thiên hà chúng ta rồi để cho thiên hà bắt đầu quay thì sự rối loạn sẽ khủng khiếp biết dường nào! Như vậy luật hấp lực trong vũ trụ không những tỏ ra quyền năng vô biên của Ngài mà còn tỏ cho ta thấy sự khôn ngoan tuyệt đối của Ngài.
Luật hấp lực là một sức mạnh không ai có thể chống lại hay trốn tránh được. Khi bạn đi đường trong một ngày nắng, bạn bước vào trong bóng cây, bạn có thể tránh bớt sức nóng của mặt trời. Bạn cũng có thể che dù cho mát. Nhưng chắc chắn bạn không thể đặt cái dù dưới chân bạn để tránh hấp lực. Con người không tài nào đổi thay được luật hấp lực. Nhưng đó là một ơn phước. Vì nếu trong chiến tranh nước này có thể thay đổi hấp lực của nước kia, thì kết quả sẽ khốc hại chừng nào! Nếu một phe có thể giảm hấp lực bên đối phương xuống số không thì đối phương bị tung lên trời, rớt ra ngoài không gian ngay. Nếu một nước có thể làm cho hấp lực bên nước địch tăng gấp 5 lần thì cả nước địch bị chôn chân dưới đất và không tài nào nhúc nhích nổi. Hấp lực quả là một trong những sức mạnh lớn lao của vũ trụ. Hiểu được luật hấp lực ta mới rõ được phần nào quyền năng của Thiên Chúa.
Nếu ta cộng lại ba sức mạnh lớn của vũ trụ mà ta vừa biết qua là sức phóng xạ, luật hấp lực và động năng, ta sẽ hiểu đôi chút về quyền phép nhiệm mầu của Thượng Đế trong việc sáng tạo ra vũ trụ này.
Nhưng Thượng Đế còn nhiều sức mạnh khác nữa, và những sức mạnh nầy lạ lùng hơn sức mạnh sáng tạo vũ trụ. Ta thử nghĩ đến một vài thứ sức mạnh đó.
D. Những quyền năng khác của Thượng Đế
1. Quyền năng sáng tác Kinh Thánh. Chúa dùng đủ hạng người sống trong xã hội của những thời đại khác nhau, để qua họ Chúa trao sứ điệp của Chúa cho loài người và làm nên một nguồn mặc khải liên tục.
2. Quyền phép hiểu biết về tương lai. Chúa báo trước những gì sẽ xảy ra trên thế giới này, hàng mấy ngàn năm sau mới ứng nghiệm, và ứng nghiệm trọn vẹn trong mọi chi tiết.
3. Quyền phép nghe lời cầu nguyện của mỗi chúng ta mọi nơi, mọi lúc và trả lời cho mọi tiếng kêu cầu của chúng ta.
4. Quyền phép giữ gìn mọi kẻ tin Chúa, để cho họ được an tâm trọn vẹn về tương lai của họ, dù ở đời này hay đời sau.
5. Quyền phép biến cải đời sống những người tin Chúa. Chúa tìm kiếm các tội nhân đủ loại, đủ cỡ và làm cho họ trở nên con cái Đức Chúa Trời.
6. Quyền phép đem chúng ta khỏi mồ mả và đưa chúng ta về sống với Chúa trong cõi cực lạc vô tận.
Vì thế mà Chúa Giê-xu phán: “Hết mọi quyền phép trên trời, dưới đất đã giao cho Ta. Vậy hãy đi... và này, Ta hằng ở cùng các ngươi cho đến tận thế”.
CÂU HỎI CHƯƠNG BỐN
1. Lịch sử đã chứng minh lời tiên tri về thành Ty-rơ như thế nào?
2. Theo bạn thì sự kiệnlời tiên tri được ứng nghiệm nói lên điều gì, và bạn dùng lập luận này khi nào? Tại sao?
3. Khảo cổ học đã giúp cho chúng ta những gì? Những khám phá củ akhoa học này giúp đợ bạn như thế nào?
4. Có những sự kiện Đức Chúa Trời bảo dân sự Ngài thi hành, có thể trong lúc đó họ không biết lý do, nhưng rồi khoa học ngày nay cho chúng ta biết được ý nghĩa đích thực. bạn đã biết qua về y học và phép cắt bì, thái độ của bạn đối với những mạng lịnh có khi có những chỗ chưa giải thích thoả đáng của Chúa như thế nào?
5. Bạn cho biết cảm tưởng khi biết sơ qua về vài năng quyền của Đức Chúa Trời mà khoa học có thể đo lường được. Đồng thời, bạn suy nghĩ thêm về những quyền năng mà khoa học không thể biết được, xin cho biết cảm tưởng của bạn.

KẾT LUẬN
Những khám phá củ akhoa học ngày nay liên quan đến Kinh Thánh khiến chúng ta có thêm lý do để tin Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời. Những ý kiến của khoa học chân chính về Sáng thế ký, những bằng chứng khảo cổ học, y học, sử học... càng cho thấy rõ tác giả của Kinh Thánh là Đấng Toàn Năng, tể trị vạn vật, tể trị lịch sử. Dầu Kinh Thánh không phải là cuồn sách khoa học nhưng không vì thế mà khi Kinh Thánh đề cập đến thế giới vật lý lại mâu thuẫn với khoa học.
Nếu không thể phủ nhận được giá trị và khả năng của khoa học thì cũng không ý thức về vai trò, phạm vi và giới hạn của nó. Những người chủ trương duy khoa học đã phủ nhận mọi thứ siêu hình học vì siêu hình học muốn khám phá ra nơi thực tại các dữ kiện khác ngoài những gì khoa học mang lại. Những người chủ trương như thế phủ nhận nguyên nhân tối cao của vạn vật. Chúng ta không bắt buộc khoa học phải chấp nhận siêu hình học nhưng cần biết rằng vấn đề siêu hình không thuộc phạm vi khoa học, cũng không thuộc lãnh vực khảo sát của bất cứ khoa học thực nghiệm nào.
Những thành quả của khoa học cho phép khoa học kết luận rằng thực tại (cái có thực) là đối tượng của khoa học, nhưng không có gì cho phép khoa học kết luận thực tại chỉ có thế. Càng ý thức được phạm vi và giới hạn của mình, các nhà bác học càng nhìn nhận rằng công trình kỳ diệu của họ không thể đáp ứng được các khát vọng sâu xa của con người. Và khi đã nhìn nhận như thế, khoa học đã nhận ra những giới hạn trong lãnh vực chuyên môn của mình.
Khi nói đến phạm vi của khoa học, chúng ta không có ý nói là các nhà bác học không được đề cập đến vấn đề thực tại siêu hình nhưng chỉ muốn nói rằng ông ta không có quyền chỉ sử dụng phương pháp khoa học riêng biệt và giới hạn trong lãnh vực khoa học thực nghiệm để đề cập tới vấn đề. Vì lẽ vấn đề vượt khỏi phạm vi của khoa học thực nghiệm.
Khoa học và đức tin không thể xung đột nhau - nhưng đức tin là cái gì vượt khỏi phạm vi khoa học. Sự xung đột nếu có, chỉ là kết quả của sự sai lầm về phương pháp. Chính vì thế mà năm 1926, những hội viên của Hàn Lâm Viện Paris hoàn toàn đồng thanh tuyên bố rằng không thể có sự xung đột thực sự giữa các chân lý khoa học và chân lý tôn giáo. Khoa học và đức tin không những không hạ bệ nhau mà còn tương trợ cho nhau trong ý nghĩa vươn lên của mỗi lãnh vực, như nhà khoa học lỗi lạc P.Teillard de Chardin, đã nói: “Dường như thế giới tân tiến phát sinh từ trào lưu chống đối tôn giáo. Con người tự mâu thuẫn với chính mình. Lý trí thay thế tín ngưỡng. Thế hệ chúng ta và hai thế hệ trước chỉ nghe nói đến những tranh chấp đức tin và khoa học đến độ dường như có một lúc khoa học đã hoàn toàn được chỉ định thay thế cho đức tin. Thế nhưng tình trạng căng thẳng càng kéo dài, cuộc tranh chấp xem ra lại được giải quyết dưới một hình thức quân bình khác hẳn, nghĩa là không phải bằng phương cách khai trừ hoặc nhị phân nhưng là tổng hợp. Sau hai thế kỷ đấu tranh hăng hái, khoa học và đức tin không giảm hạ nhau, nhưng ngược lại cả hai sẽ không phát triển bình thường, nếu không có tương tự, chỉ vì lý do đơn giản là cùng một sự sống tác động trong cả hai. Thật vậy, trong những hướng tiến cũng như trong các khám phá xây dựng, khoa học không thể đạt đến cùng đích của mình nếu không nhuốm mầu thần nhiệm và đức tin” (Le Phenomène Humain” Paris 1962, p.315)
Kinh Thánh và khoa học đều nhằm bày tỏ chân lý: chân lý của đức tin và chân lý của khoa học. Cả hai đều là tác phẩm của Thượng Đế. Cho nên thái độ Cơ-đốc nhân là thái độ tìm kiếm cả hai để sở đắc thực tại toàn diện.
CÂU HỎI
1. Tạo sao khoa học càng tiến bộ, những mâu thuẫn giữa khoa học và Kinh Thánh bị phá bỏ dần?
2. Quan điểm của bạn giữa đức tin và khoa học.
3. Nhận định câu: “Nếu có câu trả lời cuối cùng cho các vấn đề của khoa học và tôn giáo, thì chính khoa học có thể đóng góp vào việc cung ứng các câu trả lời đó. Vậy Cơ-đốc nhân có thể bình tâm tin tưởng rằng khoa học rồi đây sẽ minh chứng cho Lời Đức Chúa Trời.
4. Bạn có phản ứng thế nào đối với lời khuyên trong IPhi 1Pr 3:15b. Sự trau dồi kiến thức là hại hay tăng giá trị của đức tin? __



† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-9-2018 10:46 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách