† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2718|Trả lời: 0

Kinh Thánh Phán Với Bạn

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 17-7-2011 07:58:02 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Kinh Thánh Phán Với Bạn
Tác giả: Robert Mc Afee Brown

Lời Mở Đầu
Lời Tri Ân
Vài điều về Quyển Kinh Thánh
1. Tìm Thấy Phương Hướng
2. Những Sự kiện và Những Con số.
Đề tài của Kinh Thánh
3. Đặt Câu Hỏi Thích đáng.
4. Đức Chúa Trời, Sáng Thế Ký và Gia phả.
5. Hai Mặt Của Một Đồng Tiền - Và Một Lời Tóm Tắt.
6. Lời Tuyên Bố Và Những Thách Thức.
7. Tính Chất Bất Ngờ Của Phúc Âm.
8. Một Kẻ Khủng Bố Được Biến Đổi
9. Khi Đức Chúa Trời “Liều Mình.”
10. Chỗ Đồi Sọ.
11. Một Sự Đe Dọa.
12. Đối Đầu Với Những Sự Thật Xấu Xa.
Kinh Thánh Được Viết Cho Ai?
13. Về mặt nầy... Về mặt khác.
14. Một Công Tác Tái Tạo Toàn Diện.
15. “Nhưng Nhất Định Bạn Không Đến Nhà Thờ!”
Những Chân Trời Mới Trong Kinh Thánh
16. Một Thế Giới Mới Kỳ Diệu.
17. Sự Thật Về Sống và Chết.
Lối Suy Nghĩ Theo Kinh Thánh Về Các Nan Đề Ngày Nay
18. Giai Điệu và Các Biến Tấu
19. Khảo Sát Chiều Hướng Xã Hội Hoặc Tập Thể Trong Đạo Đức Luận Của Kinh Thánh, Cùng Bác Bỏ Đường Lối Duy Luật Pháp Hay “Tinh Thần Pharisi,” Là Vấn Đề Được Nói Đến Trong Phần Luận Giải Đức Tin Tân Ước về “Sự Tự do của Cơ Đốc Nhân”
20. Những Sự Dạy Dỗ Không Đơn Giản Của Chúa Jêsus-Cùng Lời Chú Thích về Phaolô. 21. Trở Nên Hết Sức Cụ Thể
22. Kinh Thánh và Bầu Cử
23. Kinh Thánh Và Súng Đạn.
Phần kết Luận
24. Bí Mật và Ý nghĩa


Lời Mở Đầu
“Một cuốn sách nói về Kinh Thánh” có thể là một cái bẫy và là một sự lừa dối. Người ta có thể nghĩ rằng nếu đã đọc “một cuốn sách nói về Kinh Thánh” thì không cần phải đọc Kinh Thánh nữa. Thật ra, quyển sách nầy cũng giống như giúp bạn đọc về vị tổng thống của Hoa Kỳ (hoặc nhà quán quân của Liên Đoàn Quốc Gia) để biết về tổng thống trước khi bạn thật sự gặp ông. Những cuốn sách nói về Kinh Thánh giúp bạn biết Kinh Thánh một cách gián tiếp. Mục tiêu duy nhất của những quyển sách đó là thúc đẩy bạn tìm đến với Kinh Thánh, giục bạn cầm Kinh Thánh lên và đọc. Những quyển sách này cũng giúp bạn những thông tin và hiểu biết cần thiết để khi thật sự đọc Kinh Thánh, bạn sẽ không bỏ cuộc ngay từ đầu vì cảm thấy chới với trong các câu “người nầy sanh ra người kia” cứ lập đi lập lại.
Như chúng ta sẽ thấy trong các trang kế tiếp, Kinh Thánh không phải “chỉ là một cuốn sách như bao nhiêu quyển sách khác” có nhiều thông tin thú vị về Đức Chúa Trời. Kinh Thánh chính là quyển sách cho người ta thấy Đức Chúa Trời “sống động,” bày tỏ đường lối Ngài cho con người và truyền dạy họ làm những điều liên quan đến Ngài. Ngài không phải là một Đức Chúa Trời “vô hại” hay “dễ bảo,” ngự trị an toàn sau các chắn song của thiên đàng xa xôi. Ngài có phương cách tỏ mình gây khó chịu nhất, ít ra là khi chúng ta cần Ngài; để đối mặt với chúng ta trong những cách lạ lùng nhất. Ngài thường hóa ra lại rất khác so với loại Thượng Đế mà chúng ta tự nghĩ ra. Chúng ta phải chuẩn bị cho những điều ngạc nhiên và những tin tức bất ngờ.
Nếu đã được chuẩn bị cho những sự ngạc nhiên, bạn sẽ thấy tin bất ngờ nầy xuất hiện ở khắp mọi nơi, và khi bạn trở lại với các sách khác uyên thâm hơn quyển sách nầy để có thêm các thông tin ( sách chú giải và những sách thuộc loại đó), cuối cùng bạn sẽ phải quay lại với chính Kinh Thánh và để Kinh Thánh phán với mình, như Kinh Thánh cũng từng phán với nhiều người trước bạn. Nếu bạn làm như vậy, có thể Đức Chúa Trời không còn chỉ là một “ý tưởng,” mà Ngài sẽ trở thành một thực hữu đối với bạn. Bởi vì bạn sẽ tìm gặp Ngài chính ở chỗ Ngài vẫn luôn tìm kiếm bạn từ đầu.

Lời Tri Ân
Rất nhiều người đã giúp tôi thực hiện cuốn sách nầy. Dù có nguy cơ bỏ sót nhiều người, tôi vẫn phải nhắc đến một số người. Cuốn sách nầy có thể sẽ không bao giờ được bắt đầu nếu không có sự sẵn lòng của Tiến sĩ Charles J. Turck, Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Macalester, đã làm nhẹ đi gánh nặng dạy dỗ của tôi tại đó trong một quý để tôi có được nhiều thời gian hơn biên soạn cuốn sách nầy. Không phải tất cả các hiệu trưởng Cao Đẳng đều có sự cảm thông hiểu biết như vậy. Ngoài ra tôi cũng đã lấy nhiều ý tưởng từ các sách vở khác, và mặc dầu tôi không hình dung người nào có thể tránh được điều đó, một số trong những ý tưởng mà tôi đã sử dụng rõ ràng là lệ thuộc vào những sáng tạo của người khác mà tôi phải tri ân. Câu chuyện “The man from Mars” trong Chương VI được chuyển thể từ Campus Gods on Trial của Chad Walsh (The Macmillan Company), và câu chuyện Hội Thánh Đầu tiên tại San Francisco trong Chương 15 được chuyển thể từ cuốn The Shape of the Liturgy của Dix.(The Dacre Press) Những ví sánh về chiếc đĩa hát và ô kính cửa sổ trong Chương 3 có nguồn gốc từ các tác phẩm của Emil Brunner. Có nhiều “vay mượn” khác nữa, nhưng phần kể trên là rõ nhất. Cũng xin ghi nhận rằng tôi đã nhận được sự giúp đỡ không kể xiết từ các chủ bút của Ban Chấp Hành Hội Trưởng Lão Ngành Giáo Dục Cơ Đốc và Nhà Xuất Bản Westminster. Nếu vẫn còn có những cụm từ tẻ nhạt và những câu văn khó hiểu trong các trang tiếp theo đây, điều đó không phải lỗi của họ, mức độ hoàn thành của họ trên hai bản thảo đầu tiên cũng đã tuyệt vời một cách lạ lùng rồi.
Điều nầy đúng đối với tôi (nói theo một ẩn dụ mà tôi đã thấy được quy gán một cách khác nhau cho Coleridge, Newton, Herbert, và Perrault) nếu tôi thấy được bất cứ khải tượng nào ở chân trời thuộc linh, đó là vì tôi đã được mang trên vai của những người khổng lồ. Nhưng, điều này cũng đúng nữa, nếu khải tượng bị che mờ và khó phân biệt, là do tôi đã bị buộc phải xem cảnh đẹp bằng chính cặp mắt của mình thay vì của họ.
Robert Mc AFee Brown

Chương 1: Tìm Thấy Phương Hướng
(Kinh Thánh Là Gì? )
HỌC VIÊN (càng lúc càng quyết liệt ): Nhưng tại sao tôi lại phải bận tâm với một quyển sách đã được viết ra hàng ngàn năm trước cơ chứ! Tôi chỉ quan tâm đến những gì đang xảy ra hiện bây giờ! Việc người ta giải quyết nan đề của họ vào năm 700 T.C. thì có tạo được khác biệt gì cho tôi cơ chứ! Tôi đã có những vấn đề phải giải quyết ngay bây giờ rồi. Còn bận tâm đến việc đọc Kinh Thánh làm gì?
GIÁO VIÊN TRƯỜNG CHÚA NHẬT ( rõ ràng đã không chuẩn bị cho loại sự việc nầy ): Thôi được...
Đó là một câu hỏi có lý. Đó cũng là một câu hỏi gay go. Không câu trả lời mang tính lý thuyết suông nào có thể giải đáp được. Và nếu có thì nó phải xuất phát từ đời sống và tình huống của con người ngày nay. Dưới đây là một câu trả lời (và là một câu trả lời đúng) có thể cho chúng ta một sự trợ giúp nào đó. Chúng ta sẽ gọi đó là
Sự Phục Sinh Giữa Thái Bình Dương
Một tàu chiến mang theo 1500 lính thủy đánh bộ, là những người được đưa từ Nhật Bản trở về Hoa Kỳ để giải ngũ. Vào ngày thứ hai, một nhóm nhỏ trong số họ đến gặp vị mục sư tuyên úy và trước sự ngạc nhiên hết sức của ông ta, xin ông hướng dẫn họ học Kinh Thánh mỗi buổi sáng. Nén sự kinh ngạc của mình, vị mục sư tuyên úy đón lấy cơ hội.
Gần cuối hải trình, nhóm người nầy đang học đến Giăng đoạn 11, là đoạn thuật chuyện sự sống lại của Laxarơ. Vị tuyên úy gợi ý rằng sự kiện này đã làm sống động điều Chúa Jêsus phán trong trường hợp đó: “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin Ta thì sẽ sống mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin Ta thì không hề chết.” Điều quan trọng hơn cả sự sống lại của một tử thi vào năm 30 S.C chính là vấn đề lời tuyên bố của Chúa Jêsus có đúng vào năm 1946 S.C. (hoàn cảnh lúc ấy) hay không.
Ông kể cho họ câu chuyện của Raskolnikov, người đàn ông trong tác phẩm Crime and Punishment của Dostoevsky, là người tự hủy hoại chính mình bằng hành động giết một người khác, nhưng ông ta thật sự đã được hồi sinh khi được nghe những lời này của Chúa Jêsus.
Mọi người thảo luận chút ít. Một vài câu hỏi được đưa ra. Nhưng nói chung thì không có gì cho vị tuyên úy thấy rằng ông đã trình bày quan điểm của mình hiệu quả lắm.
Khi cuộc thảo luận kết thúc, một lính thủy mang cấp bậc hạ sĩ theo vị tuyên úy vào phòng. Sau một vài lời mở đầu lúng túng, anh đi thẳng vào vấn đề. Anh nói: “Thưa mục sư, tôi cảm thấy như thể mọi sự chúng ta đọc buổi sáng hôm nay nhằm thẳng vào tôi. Tôi đã sống trong địa ngục trong suốt sáu tháng qua, và lần đầu tiên tôi cảm thấy được giải phóng.”
Trong khi anh ta kể, câu chuyện trở nên rõ ràng. Vừa xong trung học anh được gọi vào quân ngũ. Anh đã trải qua thời gian dài trong các lực lượng đóng quân tại Nhật bản. Anh ngày càng chán chường. Cuối cùng một buổi tối nọ anh đã đi chơi với một số bạn bè và vướng phải rắc rối. Một rắc rối nghiêm trọng. May mắn thay (anh nghĩ như vậy) không ai biết chuyện đó. Nhưng chính anh biết rõ. Anh biết chắc rằng Đức Chúa Trời cũng biết. Anh cảm thấy mặc cảm tội lỗi, tội lỗi khủng khiếp. Mỗi ngày khi chiếc tàu càng gần đến San Fransisco, thì cảm nhận ấy lại gia tăng, rằng anh đã hủy hoại cuộc sống của mình và sẽ không bao giờ có thể đối mặt với gia đình khi trở về nhà.
Dầu vậy, đó vẫn chưa phải là kết thúc. Anh cứ tiếp tục lập đi lập lại ý tưởng này nhiều lần: “Mãi cho đến trước ngày hôm nay, thưa mục sư tôi vẫn là một kẻ chết. Tôi cảm thấy bị chính mình, bị gia đình tôi (nếu họ biết), và bị Đức Chúa Trời lên án hoàn toàn. Tôi đã chết , nhưng bây giờ, sau khi đọc câu chuyện của Chúa Jêsus và Laxarơ, tôi biết mình đã được sống lại. Sự tha thứ của Đức Chúa Trời có thể vươn đến, thậm chí với tôi. Rốt lại, Chúa Jêsus phục sinh đang nói về một điều thực hữu, ngay lúc nầy.”
Khi viên hạ sĩ rời phòng, rõ ràng là anh vẫn còn rất nhiều nan đề phải trang trải, và sự việc không tự động trở nên dễ dàng trong “đời sống mới,” nhưng khi vị tuyên úy dõi mắt nhìn anh ta bước đi, ông ta biết rằng vào ngày hôm ấy, trên chiếc tàu ấy, ở giữa Thái Bình Dương, phép lạ về sự phục sinh đã xảy ra. Hoàn toàn rõ ràng, lời của Chúa Jêsus là đúng: “Người nào tin Ta thì sẽ sống mặc dầu đã chết.”
Điều Gì Đã Xảy Ra?
Bây giờ chúng ta hãy đối diện với điều đó. Xét theo bề ngoài thì đối với một người lính thủy bị dày vò trong linh hồn đang ngồi trên đống dây thừng trên chiếc tàu chiến, dường như câu chuyện người chết sống lại vào thế kỷ thứ nhất hoàn toàn chẳng liên quan gì đến anh. Nhưng vì một lý do lạ lùng nào đó, câu chuyện không phải không có liên quan. Câu chuyện như thế nào mà sau khi đọc nó người lính thủy có thể nói rằng anh đã chết mà nay được sống? Điều xảy ra chính là chân lý sống trong câu chuyện đã trở nên chân lý sống cho chính anh . Đó không phải là một câu chuyện xưa cổ trong lịch sử, mà đó chính là câu chuyện của anh . Một lời ký thuật về chính tình trạng của anh ta . Sứ điệp của sự sống mới đã vượt qua các trang giấy và đến được với anh, nắm lấy anh, và đã biến đổi anh. Kinh Thánh không chỉ tuyên bố điều gì đó đã xảy ra vào thế kỷ thứ nhất mà Kinh Thánh còn tuyên bố điều đang xảy ra trong thế kỷ thứ hai mươi.
Giả sử như, và đây cũng là điều hoàn toàn có khả năng, vị tuyên úy đã bỏ sót “vấn đề quan trọng” trong câu chuyện của Laxarơ (và tôi biết rõ khả năng nầy lắm bởi vì tôi đã từng là một mục sư tuyên úy), dầu vậy quyền năng của sứ điệp Kinh Thánh “đã xuyên thấu” vào người lính thủy nầy, bằng sứ điệp chữa lành và ban sự sống mới của Kinh Thánh.
Đây không phải là một trường hợp đơn lẻ. Những chuyện như vậy đã xảy ra cho con người kể từ khi Kinh Thánh được viết ra. Sự thật là khi người ta tự cởi mở chính mình trước sứ điệp của Thánh Kinh, sự việc bắt đầu xảy ra.
• Con người hành động một cách dạn dĩ.
• Nhiều cuộc đời được biến đổi.
• Những kẻ nhút nhát trở nên can đảm
• Một Hội Thánh chết trở nên sống động trở lại
Chúng ta hãy chọn bừa ba tên tuổi trong lịch sử Hội Thánh: Thánh Augustine, nhà kiến trúc của tư tưởng Cơ đốc Tây phương; Martin Luther, người đi đầu trong số những nhà Cải chánh Tin lành vĩ đại; và John Wesley, nhà sáng lập điều ngày nay chúng ta gọi là Hội Giám lý. Mỗi người trong số ba nhân vật nầy đều đã đến chỗ trưởng thành trong đức tin Cơ Đốc bằng con đường khó khăn. Không có sự chuyển tiếp dễ dàng từ “ tôn giáo thời thơ ấu” hay bất cứ điều gì tương tự như vậy đối với họ, mà đó là một cuộc chiến gay go, gian khổ. Đối với mỗi người, chính sự tiếp xúc với sứ điệp sống của Kinh Thánh cuối cùng là nhân tố quyết định khiến họ ủng hộ Kinh Thánh.
Điều tương tự cũng đang xảy ra ngày nay. Không những chỉ khuấy động những người lính thủy, mà cả đến những người nam người nữ ở khắp mọi nơi. Thật vậy, điều có ý nghĩa nhất trong hai mươi lăm năm qua về sự sống của Hội Thánh Tin lành chúng ta là điều có thể được gọi là “việc tái khám phá Kinh Thánh.” Người ta đang nhận ra rằng Kinh Thánh không phải là một cuốn sách lỗi thời, nhưng nó thức thời một cách đáng ngạc nhiên, và khi họ trở lại với Kinh Thánh, Kinh Thánh ngày càng soi rọi ánh sáng tươi mới trên những hoàn cảnh của chính họ vào các năm 1946, hoặc 1955, hoặc 1964.
Kinh Thánh Là Gì?
Nếu đúng như vậy, thì có một vấn đề xác thực cần phải được nêu lên một lần nữa: “Như vậy Kinh Thánh là gì? Vì sao Kinh Thánh tiếp tục có được thứ ảnh hưởng mạnh mẽ như vậy? Vì sao người ta tiếp tục được biến đổi bởi Kinh Thánh?” Chúng ta hãy tìm hiểu xem.
Nếu bạn được trao cho một cuốn Kinh Thánh lần đầu tiên trong đời, và có vài giờ để ghi xuống một số những cảm tưởng, thì có thể bạn sẽ kết thúc với một bảng danh sách như sau:
Một quyển sách QUÁ dài
hai phần chính (Cựu ước và Tân ước - những thuật ngữ ấy có nghĩa gì?)
thật ra, Kinh Thánh không phải chỉ là một quyển sách mà gồm nhiều sách (66 quyển) một số rất dài, một số khác chưa đến một trang.
• thuộc đủ loại:
• lịch sử.
• chuyện ngắn
• kịch
• thơ ca trữ tình
• triết lý
• các điều luật
• các bức thư chân tình
• một số điều làm tôi bị lúng túng hoàn toàn
• dường như chủ yếu viết về người Do Thái và về sau viết về một người trong số họ một cách đặc biệt (nhân vật Giêxu).
• Nếu bạn đi thêm một chút xíu nữa vào trong lịch sử của bản thân Kinh Thánh bạn sẽ kết luận với một vài sự kiện nữa:
• sách đã được viết ra cách đây rất lâu - khoảng 1000 năm
• phần đầu được viết bằng tiếng Hybá, phần thứ hai bằng tiếng Hylạp, một ít tiếng Aram (là ngôn ngữ gì?)
• kể từ đó nhiều phần trong Kinh Thánh đã được dịch ra trên 1000 THỨ TIẾNG!!
• Bản dịch mới nhất (sang tiếng Anh) được gọi là “cuộc mạo hiểm xuất bản lớn nhất trong lịch sử.”
Tất nhiên, những thông tin trên không bắt đầu trả lời cho câu hỏi: Kinh Thánh là gì? Nhưng nếu bạn cứ tiếp tục xem xét các thông tin đó, cuối cùng bạn sẽ đưa ra một điều gì đó như một vài đoạn tiếp theo sau đây.
Sẽ là không đủ khi bảo rằng Kinh Thánh là lời ký thuật việc con người tìm kiếm Đức Chúa Trời , một lời tường thuật về cuộc tìm kiếm khổ sở, chậm chạp, tiến dần từ những sự bắt đầu sơ khai đến chủ nghĩa độc thần (niềm tin nơi một Đức Chúa Trời )phát triển cao. Thật vậy, có nhiều ví dụ về sự phát triển khái niệm về Đức Chúa Trời khi nó trở nên thuần khiết và cao quý trong quá trình lịch sự của người Do thái. Nhưng là một phương tiện để hiểu biết Kinh Thánh, thì điều đó chưa đủ. Bảo rằng Kinh Thánh là lời ký thuật của việc Đức Chúa Trời tìm kiếm loài người thì gần với sự thật hơn. Xuyên suốt Kinh Thánh, con người dường như lúc nào cũng có khuynh hướng trốn tránh Đức Chúa Trời. Mặc dầu vậy, Đức Chúa Trời tiếp tục tìm kiếm những con người đó, không chịu bỏ cuộc, tiếp tục đeo đuổi bất chấp vô số những sự từ chối và né tránh.
Kinh Thánh có tất cả sự thú vị và hồi hộp của một câu chuyện trinh thám, trong đó viên thám tử không ngơi ngớt rượt đuổi kẻ tội phạm từ chương nầy sang chương khác. Cùng một loại đeo đuổi không khoan nhượng ấy chi phối lời giải thích mà người Do thái đã trình bày với quá khứ lịch sử của họ trong Cựu ước. Cuộc tìm kiếm kết thúc trong Tân ước, nơi có lời tuyên bố rằng Đức Chúa Trời, vì quá mong muốn có được mối tương giao với con người đến đỗi không những đã sai các sứ thần, những vị khâm sai hay các tiên tri hoặc những người đại diện - mà qua Chúa Cứu Thế Jêsus, chính Ngài đã đến! Đây chính là lời tuyên bố gây kinh ngạc hơn hết đã từng được phán ra. Đây chính là tuyên bố lạ lùng nhất từng được công bố. Nếu như có một tin tức bất ngờ nào, thì đó chính là Tin lành.
Dầu vậy thậm chí còn có nhiều điều lớn lao như thế nữa. Kinh Thánh không những cho biết Đức Chúa Trời đã tìm kiếm dân Ngài trong quá khứ; mà Kinh Thánh còn là một phương tiện để Ngài tìm kiếm chúng ta ngày nay . Kinh Thánh không chỉ là quá khứ tẻ nhạt; mà nó còn là hiện tại sống động. Ta không thể đọc Kinh Thánh mà không ý thức mình tham dự vào. Bởi vì những kinh nghiệm của các nhân vật trong Kinh Thánh chính là kinh nghiệm của chúng ta. Họ đặt những câu hỏi:
• Nếu con người chết đi, liệu có sống lại không? (Giop G 14:4).
• Bạn nghĩ gì về Chúa Cứu Thế? (Mat Mt 22:42).
• Lạy Chúa, Ngài là ai? (Cong Cv 9:5).
• Lạy Chúa, tôi phải làm gì? (22:10).
• Vì sao con đường của kẻ ác được thạnh vượng? (Gie Gr 12:1).
• Hỡi linh hồn ta, cớ sao ngươi sờn ngã? (Thi Tv 42:5).
• Và chúng ta cũng đặt những câu hỏi tương tự, dù cách dùng từ hơi khác:
• Điều gì xảy đến cho tôi khi qua đời?
• Liệu Chúa Jêsus có thật sự vĩ đại hơn những con người vĩ đại không?
• Đức Chúa Trời là ai?
• Niềm tin nơi Đức Chúa Trời sẽ tạo ra điều gì khác biệt?
• Mấu chốt của việc “sống tốt” là gì?
• Vì sao cuộc sống đôi khi dường như phù phiếm khủng khiếp?
Tới mức độ đã thật sự đặt những câu hỏi trên (phải có can đảm để nêu những câu hỏi ấy một cách thành thật), chúng ta phát hiện mình có liên quan đến việc đặt và trả lời những điều có trong Kinh Thánh. Hãy nhớ rằng chúng ta sẽ không tìm thấy những câu trả lời có sẵn trên chiếc đĩa bạc, các câu trả lời cũng không được ban cho các nhân vật trong Kinh Thánh trên một chiếc đĩa bạc. Những câu trả lời họ có đã được nhấn mạnh cho họ qua “ máu, sự lao khổ, nước mắt và mồ hôi” của một lịch sử đau buồn. Những câu trả lời đó đã không ra từ nghiên cứu của một nhà triết học, hay thậm chí từ một lớp học Trường Chúa Nhật. Chúng nổi lên từ những gian khổ và mất mát của cuộc sống, và chính trong những gian khổ và mất mát đó chúng ta khám phá sự giải đáp của Kinh Thánh xác thực như thế nào.
Nhưng không phải chỉ qua các câu hỏi và trả lời mà chúng ta thấy Đức Chúa Trời tìm kiếm chúng ta trong Kinh Thánh. Không những các mạng lệnh và lời hứa của Chúa đã được đem đến gần chúng ta, mà chính mình Đức Chúa Trời “trở nên sống động,” và phán với chúng ta khi chúng ta đọc Kinh Thánh nghiêm túc. Chính vì lý do đó mà các Cơ Đốc Nhân gọi Kinh Thánh là “Lời của Đức Chúa Trời.” Điều nầy không có nghĩa những “lời” của Đức Chúa Trời được ghi lại trong Kinh Thánh như thể có ai đó đã có một chiếc máy thâu băng siêu phàm và rồi đã sao chép lại sứ điệp ấy ra trên giấy. Bởi vì, như chúng ta sẽ thấy Đức Chúa Trời “phán” với con người, không nhiều qua những lời tuyên bố cho bằng qua hoạt động sáng tạo của Ngài ngay nơi con người đang ở. Sự mặc khải siêu nhiên của “Lời” Ngài, là quyền phép sáng tạo của Ngài, chính là “sự kiện” Chúa Cứu Thế Jêsus, qua đời sống, sự chết, và sự phục sinh của Ngài - “Ngôi lời đã trở nên xác thịt,” như sách Phúc âm Thứ Tư đã chép. Và rồi, Kinh Thánh cho chúng ta biết những thời điểm Đức Chúa Trời hành động trên đời sống của con người, khi chúng ta đọc Kinh Thánh, là tạo khả năng Chúa có thể phán trực tiếp với chúng ta qua các sự kiện và hành động ấy. “Kinh Thánh là một bức thư đặc biệt được gởi với tên và địa chỉ của bạn trên đó” là một cách mô tả Kinh Thánh. Vì vậy Kinh Thánh hơn cả một lời ký thuật; là một tiếng gọi, một lời mời gọi, một sứ điệp khẩn cấp dành cho chúng ta.
Việc Sử Dụng Kinh Thánh
Nếu đúng như vậy, thì bây giờ có một câu hỏi hàng đầu cần phải được nêu lên: Tôi có thể sử dụng Kinh Thánh bằng cách nào ngõ hầu Kinh Thánh sẽ phán với tôi theo cách ấy? Chúng ta hãy xem xét một số phương cách qua đó các Cơ Đốc Nhân đã thử để trả lời cho câu hỏi nầy.
1. Một phương pháp mà người ta đã sử dụng từ rất sớm, đặc biệt với những câu Kinh Thánh khó, đó là giải thích Kinh Thánh bằng ngụ ngôn . Ngụ ngôn là một câu chuyện có những ý nghĩa ẩn tàng không xuất hiện ở bề mặt. Ví dụ nếu tôi viết: “con gấu trúc mắc một cái dằm trong móng vuốt của nó cho đến khi đến được bờ sông,” đây có thể là cách nói ngụ ngôn của tôi hàm ý rằng Cơ Đốc Nhân (gấu trúc) dính líu vào trong tội lỗi (cái dằm) cho đến khi người ấy được báp tem (bờ sông), và tôi có lẽ đang cố gắng một cách nghiêm túc để viết về niềm tin Cơ Đốc bằng hình thức chuyện ngụ ngôn về loài vật.
Nhiều người trong số các Giáo phụ của Hội Thánh Đầu Tiên đã giải thích các đoạn Kinh Thánh bằng cách nầy. Hãy lấy ví dụ của Chúa Jêsus về câu chuyện người Samari Nhơn lành, minh họa điều hàm ý một người lân cận tốt là thế nào ( xem LuLc 10:25-37 nếu bạn đã quên diễn tiến của câu chuyện). Thánh Augustine đã dựng nên một ngụ ngôn từ câu chuyện nầy, sau khi cho mỗi chi tiết một ẩn ý. “Có một người” chính là Ađam. Giêrusalem là thành của thiên đàng. Những kẻ cướp là ma quỷ và các quỷ sứ nó. Người Samari là Chúa Jêsus. Quán trọ là Hội Thánh. Chủ quán là sứ đồ Phaolô. Và vân vân. Câu chuyện về người Samari Nhơn lành đã được biến đổi từ một câu chuyện về lòng tử tế thật thành một chuyện ngụ ngôn của kịch nghệ Cơ Đốc về sự cứu rỗi.
Bởi vì ngôn ngữ tôn giáo luôn phải tận dụng lối nói hình tượng, phương pháp giải thích bằng ngụ ngôn đôi khi rất hữu ích. Sự nguy hiểm ở chỗ một người không phải là học giả và chuyên gia có thể “bóp méo” một câu chuyện để nói lên điều mình muốn, như vậy không những ý nghĩa thực sự của câu chuyện có thể bị đánh mất, mà những ý nghĩa sai trật hoàn toàn có thể bị “hiểu”.
2. Tương phản hoàn toàn với phương pháp ngụ ngôn là quan điểm Kinh Thánh phải được diễn dịch theo nghĩa đen , kèm thêm tuyên bố từng lời đã được hà hơi trực tiếp, nên mọi lời đều có lợi ích và giá trị ngang bằng nhau. Phương pháp giải thích Kinh Thánh này mới hơn phương pháp ngụ ngôn rất nhiều. Ví dụ, Luther, nhà Cải chánh Tin lành đầu tiên, phân biệt rõ ràng giữa các sách khác nhau của Kinh Thánh, đã gọi sách Giacơ là một “thơ tín ít giá trị,” và bảo rằng ông thấy có ít giá trị niềm tin trong sách Khảihuyền. Nhận định của ông đúng hay không tạm thời không quan trọng cho bằng ông cảm thấy tự do để đưa ra những nhận xét đó. Nhưng những nhà Cải chánh về sau, đã tiếp tục cùng với Luther để bác bỏ thẩm quyền tuyệt đối của giáo hoàng và quay sang đặt niềm tin nơi thẩm quyền tuyệt đối của Thánh Kinh ngày càng nhiều hơn, giải thích rằng là Cơ Đốc Nhân nghĩa là người tin lời Kinh Thánh, những lời tuyên bố chứa đựng bên trong hai bìa của sách, đúng theo nghĩa đen trong mọi chi tiết. Điều nầy nẩy sinh nan đề ra sao?
Vì một điều, thật sự là ngôn ngữ tôn giáo cần phải dùng đến chủ nghĩa biểu tượng, sự tượng hình, và cách mô tả có chất thơ trong những trường hợp nhất định, việc sử dụng ngôn ngữ như vậy đánh mất ý nghĩa tôn giáo nếu xét theo nghĩa đen. Ví dụ khi Chúa Jêsus bảo chúng ta hãy trở nên như con trẻ, không có nghĩa Ngài hàm ý chúng ta phải mang tã.
Có một khó khăn về đạo lý trong quan niệm mà“những người giải thích theo nghĩa đen” đôi khi tán thành, cho rằng tất cả các phần trong Kinh Thánh đều đúng và được thần cảm như nhau. Có - hoặc phải có - một sự khác biệt rõ ràng giữa thái độ của Thi Tv 127:1-5 đối với kẻ thù: “Phước cho người bắt con nhỏ ngươi, đem chà nát chúng nó nơi hòn đá!” (câu 9) với thái độ của Chúa Jêsus với kẻ thù của Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ; vì họ không biết điều mình làm” (LuLc 23:34). Hai câu ấy rõ ràng không cùng một mức độ giá trị thuộc linh như nhau. Đặt mọi câu Kinh Thánh trên cùng một mức quan trọng như nhau là đưa chính mình vào chỗ khó khăn giống như người mở Kinh Thánh hú họa để tìm lời khuyên trong lúc gặp khó khăn, và chuốc lấy họa khi tưởng được soi sáng bằng những lời nầy: “Giuđa đi ra và treo cổ.” Chưa thỏa mãn với lời an ủi lạnh lùng ấy, anh ta thử lại một lần nữa, lần nầy anh mở ra trúng chỗ: “Hãy đi và làm y như vậy.”
Kinh Thánh không phải là một bộ sưu tập cố định gồm những câu trả lời có bằng chứng giáo khoa, được sử dụng theo kiểu đó. Hiểu như vậy, sẽ thấy thật khó khăn khi tiếp cận Kinh Thánh như một loạt các lời tuyên bố mà mỗi lời đều đúng theo nghĩa đen và có giá trị bằng nhau. Vấn đề là Đức Chúa Trời của Kinh Thánh có thực sự chọn cách nầy để mặc khải chính mình Ngài hay không. Dầu còn đeo đuổi vấn đề nầy trong chương kế tiếp, chúng ta vẫn lập lại một lần nữa điều đã được nói, đó là qua Kinh Thánh, chúng ta thấy Đức Chúa Trời không mặc khải chính mình Ngài qua các lời tuyên bố nhiều cho bằng qua các sự kiện, các nhân vật, và các hành động. Nói cách khác, Ngài là một Đức Chúa Trời có thân vị, ra sức bước vào mối tương giao cá nhân với con cái Ngài. Chúng ta không thể bước vào mối tương giao cá nhân với một cuốn sách phi thân vị nhưng chúng ta có thể bước vào mối tương giao cá nhân với một con người, với Chúa Cứu Thế Jêsus. Và vì vậy, chính về nhân vật đó mà sách nầy được viết ra, chứ không phải vì bản thân quyển sách, Ngài là chủ thể và đối tượng của đức tin chúng ta. Những người Tin lành tin chắc nơi “thẩm quyền của Kinh Thánh,” bởi vì Kinh Thánh đưa họ mặt đối mặt với Chúa Cứu Thế Jêsus. Đức Chúa Trời đã đối diện họ bằng một thân vị sống, không phải chỉ qua những thông tin về những nhân vật đó.
Điều nầy phần nào cũng giống như một bức thư của một người bạn. Bạn không quý trọng bức thư nhiều vì những cụm từ hoặc văn phong của nó cho bằng vì nó đưa người ấy đến gần bạn hơn và giúp bạn hiểu rõ người ấy hơn. Sự hiện diện liên tục của lá thư có lẽ cũng tốt, nhưng đó là một sự thay thế khá tồi so với sự hiện diện liên tục của người bạn. (Bất cứ ai đã từng yêu thì sẽ hiểu điều nầy.) Luther đã làm rõ điểm nầy - nếu chúng ta có thể thay đổi ý tưởng của mình hơi đột ngột - khi ông nói: “Kinh Thánh là chiếc nôi mà Đấng Christ nằm ở trong.”
3. Một cách sử dụng Kinh Thánh khác nữa đó là giải thích Kinh Thánh trong tinh thần phê phán , tức là từ quan điểm nghiên cứu văn chương Kinh Thánh. Suốt một thời gian dài, các học giả đã nghiên cứu các thủ bản Kinh Thánh đầu tiên, từ cách xác định các sách trong Kinh Thánh được viết ra vào lúc nào, ai viết và viết cho ai, hoàn cảnh nào các sách ra đời, và v.v..Bởi vì con người đôi khi chế nhạo cách giải thích Kinh Thánh nầy, nên phải nhấn mạnh rằng Cơ Đốc Nhân ngày nay mắc nợ lớn đối với các học giả ấy. Nhờ những nỗ lực của họ, ngày nay chúng ta có những công cụ để hiểu Kinh Thánh tốt hơn bao giờ hết có thể có được. Để biết được cuốn sách đã được viết ra lúc nào, do ai, dành cho ai, ý định của tác giả là gì? - tất cả điều nầy ngày nay đã có được cách rõ ràng.
Vì vậy khó khăn chính với phương pháp nầy không phải là vì nó sai trật hoặc thiếu sự tôn kính, nhưng bởi bản thân nó chưa đầy đủ. Ví dụ thật thú vị khi biết rằng có hai câu chuyện sáng tạo trong Sáng Thế Ký, và thật thú vị để so sánh những tương đồng và những khác biệt của chúng. Nhưng điều nầy chỉ có giá trị như một công cụ để giúp chúng ta hướng đến các vấn đề nền tảng hơn: ý định của các câu chuyện sáng tạo này là gì? Chúng cho ta biết gì về sự quan tâm của Chúa đối với chúng ta? Những hàm ý của ý tưởng Đức Chúa Trời đã dựng nên trái đất, và đặc biệt là Ngài đã dựng nên chúng ta, là gì? Bản thân phương pháp phê bình không cho chúng ta những câu giải đáp dành cho những thắc mắc ấy.
4. Vậy thì những phương cách trên chưa phải là cách đầy đủ hoàn toàn để hiểu biết và sử dụng Kinh Thánh. Có cách nào có ý nghĩa hơn không? Phương cách được đề nghị ở đây (và sẽ được bao hàm xuyên suốt phần còn lại của sách nầy) là chúng ta hãy đọc Kinh Thánh như các diễn viên tham gia vào vở kịch Kinh Thánh trong công cuộc Đức Chúa Trời tìm kiếm loài ngươì.
Chúng ta là một phần của vở kịch nầy. Chúng ta không thể tách mình khỏi vở kịch đó. Chúng ta không thể hiểu Kinh Thánh như một thủ bản cổ chủ yếu vì lòng quan tâm của một người chuyên sưu tầm đồ cổ hoặc người bảo quản viện bảo tàng.
Chúng ta phải hiểu Kinh Thánh như một cuốn sách sống được viết cho chúng ta, trong đó chúng ta làm một với những người ở dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời và những người nhận được sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Lỗi lầm chết người đó là đọc Kinh Thánh như một người đứng ngoài xem xét chứ không phải như một người tham dự, và đưa ra một giả định sai lầm rằng chúng ta có thể ngồi trong rạp hát theo dõi vở kịch, trong khi thật sự chúng ta phả ở trên sân khấu dự phần trong vở kịch.
Điều đó có nghĩa khi Amốt lớn tiếng cảnh báo dân chúng thành Bêtên rằng họ đang phạm những điều sai trái, thì chúng ta cũng đang nghe ông phán cùng mình. Không những ông chỉ cho chúng ta biết điều gì sai trật ở tại Bêtên - là ông cũng cho chúng ta biết điều sai trật ở tại Minneapolis, Houston hay Grover Corner hoặc bất cứ nơi nào chúng ta đang sống.
Khi Chúa Jêsus phán cùng các môn đồ: “Còn người ta nói ta là ai?” đó cũng chính là câu hỏi đang được nhắm vào chúng ta. Chúng ta nói Ngài là ai? Chúng ta đang được hỏi để quyết định, cũng như các môn đồ đang được hỏi để quyết định.
Như vậy, hoặc Chúa Jêsus nói: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng hãy đến cùng ta,” hay Ngài nói: “Các ngươi bề ngoài ra dáng công bình, nhưng trong lòng thì chan chứa gian ác và tội lỗi,” là Ngài đang nói với chúng ta cũng như nói với các thính giả ở thế kỷ đầu tiên.
Như thế, chúng ta đang trở thành những diễn viên hoặc người tham dự không phải chỉ vì biết đôi điều về tình huống lịch sử mà trong đó có lời được phán ra hoặc một sự kiện diễn ra, mà chính bởi hiểu rằng lời hoặc sự kiện đó có liên quan đến hoàn cảnh của mình, ngõ hầu lời ấy trở thành lời phán dành cho chúng ta, sự kiện ấy là sự kiện có ý nghĩa cho chính chúng ta. Chúng ta dự phần vào những mạng lịnh và những lời hứa mà Đức Chúa Trời phán truyền, trong niềm hy vọng và kính sợ của dân sự Ngài khi họ trải qua các trang sách nầy. Câu chuyện của họ hiện nay là câu chuyện của chúng ta. Bởi vì họ là “dân sự Ngài,” chúng ta cũng vậy.
Sau đây là một ví dụ về cách Kinh Thánh hoạt động. Không lâu sau khi Đức Quốc Xã chiếm đóng Hòa Lan trong Thế chiến II, một nhóm những Cơ Đốc Nhân Hòa Lan bị mật vụ Đức bỏ tù. Vài tháng sau, khi một người trong số họ được thả, anh sẵn lòng để mang tin đến cho các gia đình của những người khác. Họ nên nói gì đây? Một người trong số họ cuối cùng đã gởi một lá thư, lời dịch thô thiển như sau:
Xin hãy cố gắng hiểu rằng điều đã xảy đến cho chúng tôi thật sự đã đem kết quả đến cho sự tấn tới của đạo Tin lành, bởi vì những người lính gác tù và tất cả những người còn lại ở đây đều đã đến chỗ nhận biết Chúa Cứu Thế. Thật vậy, chúng tôi nghe rằng nhiều người trong anh em bên ngoài đã có được sự can đảm vì cớ việc chúng tôi bị tù và đang nói về lẽ thật dạn dĩ hơn bao giờ hết.
Chúng tôi hy vọng rằng mình sẽ không cần phải xấu hổ vì lời chứng của mình nhưng mong cho mình được dạn dĩ đủ hầu cho ảnh hưởng của Chúa Cứu Thế sẽ được lan truyền bởi chúng tôi, dầu chúng tôi sống hay chết.
Những lời này hẳn phải mang một âm điệu quen thuộc. Bởi vì điều tác giả lá thư đã làm là dự phần bức thư Phaolô đã viết trong khi ông ở tù 1900 năm trước đó (Phi Pl 1:12-20), và coi những lời đó là của chính mình. Những Cơ Đốc Nhân Hòa Lan, khi gởi lá thư nầy, đã làm chứng rằng, kinh nghiệm của Phaolô chính là kinh nghiệm của họ, sứ điệp của Phaolô cũng là sứ điệp của họ, Đức Chúa Trời của Phaolô cũng là Đức Chúa Trời của họ.
Họ là những người dự phần trong vở kịch Kinh Thánh
Chương 2: Những Sự Kiện Và Những Con Số
(Kinh Thánh Đến Từ Đâu? )
Như vậy, chúng ta có cuốn Kinh Thánh đầy đủ - đã được in, được đóng thành tập, sẵn sàng để được đọc. Nhưng hãy hỏi bất cứ ai làm thế nào Kinh Thánh xuất hiện trong hình thức ngày nay, bạn sẽ thấy rắc rối. Thay vì tìm được cách giải đáp, bạn rất có thể sẽ tạo nên một mớ các câu hỏi hỗn độn. Giống như vầy:
• Ai đã viết Kinh Thánh?
• Ngũ kinh là gì?
• Ai quyết định điều phải được viết trong Kinh Thánh?
• Vì sao lại có 66 sách?
• Ngụy kinh là gì?
• Vì sao người ta vẫn tiếp tục dịch Kinh thánh?
• Có phải bản dịch nầy cũng tốt như bản dịch khác không?
• Tại sao tất cả các bản Kinh Thánh đều không đồng ý với nhau?
• Tại sao lại có Kinh Thánh Công giáo và Kinh Thánh Tin lành?
• Bộ “Kinh điển” là gì?
• Tại sao Kinh Thánh được viết bằng tiếng Hybá và Hylạp?
• Những con số nhỏ hàm ý gì?
Chúng ta phải cố gắng sắp xếp mớ hỗn độn nầy cho trật tự. Chỉ khi nào biết rõ đôi điều làm thế nào quyển sách nầy xuất hiện trong hình thức hiện nay chúng ta mới có thể hiểu đúng Kinh Thánh được.
Hai Điểm Khởi Đầu
Trước hết chúng ta cần nhớ hai điều.
Điều thứ nhất . Kinh Thánh không phải là một quyển sách “từ trời rơi xuống” hoàn toàn từ đầu đến cuối. Tin vào một điều như vậy có lẽ là giáo lý tuyệt vời của Mohamet, bởi vì người Hồi Giáo tin rằng kinh Koran xuất hiện trong hình thức đã hoàn tất; đó có thể cũng là giáo lý tuyệt vời của Mormon, bởi vì những người Mormon tin rằng sách Mormon được ban cho như là một sản phẩm hoàn tất cho Joseph Smith nhưng đó không phải là giáo lý tuyệt vời của người Cơ Đốc, bởi vì Cơ Đốc Nhân nhận biết rằng Kinh Thánh không phải đột nhiên xuất hiện, toàn bộ đã được hoàn tất, nhưng đó là một tác phẩm được“thực hiện trong một thời gian lâu dài” - hơn 900 năm! Hãy đóng cuốn sách nầy lại và suy nghĩ trong hai phút về sự kiện Chúa Jêsus có thể đọc cái chúng ta gọi là Cựu ước, và khi Ngài đọc Cựu ước, là cách đây gần 2000 năm, thì chưa hề có sách nào trong Tân ước được viết ra.
Điểm thứ hai . Kinh Thánh không phải được viết ra bằng tiếng Anh. Kinh Thánh chúng ta là một bản dịch. Chúa Jêsus không nói tiếng Anh. Môise cũng không nói chuyện bằng giọng Boston. Luca chưa bao giờ đọc tác phẩm của Shakespear. Và trừ khi bạn học tiếng Hybá và Hylạp cùng với một chút tiếng Aram nữa (là điều mà vài độc giả của sách nầy có khả năng thử trong tương lai gần), bạn sẽ không bao giờ đọc được Kinh Thánh bằng ngôn ngữ mà các tác giả đã viết nó. Kinh Thánh tiếng Anh của chúng ta chỉ là một nỗ lực để cho ra đời một bản dịch chính xác các dữ kiện mà khởi đầu đã được viết bằng những ngôn ngữ khác.
Toàn Bộ Kinh Thánh Bắt Đầu Như Thế Nào
Để tranh luận, giả sử có điều gì đó tuyệt vời vừa xảy đến với bạn.
• Bạn vừa đạt điểm tối đa trong bài thi đại số mà bạn biết chắc mình sẽ hỏng.
• Hoặc bạn vừa tìm được một việc làm tốt cho mùa hè.
• Hoặc bạn đã yêu.
Bạn phải làm gì? Bạn phải chia sẻ tin tức với một người nào đó. Điều nầy không có nghĩa nhất định bạn phải khoe khoang. Bạn chỉ để cho niềm vui của mình “tràn sang” người nào đó.
Bây giờ giả sử, để tranh luận, có điều gì đó thậm chí còn tuyệt vời hơn nữa đã xảy ra.
• Bạn gặp phải nhiều phức tạp rắc rối về ý nghĩa của đời sống mình, và một kinh nghiệm đã làm sáng tỏ chúng.
• Hoặc bạn cứ từng hồi từng lúc cố gắng cầu nguyện và một ngày nọ phát hiện ra rằng không phải bạn đang cầu nguyện với một Vị Thần Không Nghe Không Thấy nhưng đang tương giao với một Đức Chúa Trời Hằng Sống.
• Hoặc bạn trải qua một bi kịch cay đắng và khám phá ra rằng bạn không cô độc nhưng Đức Chúa Trời đã có ở đó với bạn.
Bạn làm gì đây?
Mặc dù thoạt đầu bạn có lẽ hết sức cả thẹn về điều đó, nhưng sớm hay muộn bạn sẽ khám phá rằng một lần nữa bạn sẽ phải chia sẻ tin vui với một người nào đó. Cuộc sống thật có ý nghĩa, rằng Đức Chúa Trời là thật, rằng bạn không cô độc - đây là những điều quan trọng đáng ghi nhớ đến nỗi bạn không thể nào giữ yên lặng về chúng một khi bạn biết sự thật.
Bây giờ giả sử, một lần nữa, để tranh luận, đó là Đức Chúa Trời yêu thương ấy, Đấng mà bây giờ bạn biết, đã tỏ rõ cho bạn rằng Ngài muốn sử dụng bạn để khiến Ngài và ý muốn của Ngài trở nên thực hữu hơn đối với những người ở gần bên bạn.
Lần nầy bạn làm gì đây?
Mặc dầu có lẽ thoạt đầu bạn nhút nhát và sợ hãi, nhưng cuối cùng bạn sẽ phải nói. Và phải chia sẻ tin mừng với tất cả những người chịu lắng nghe. Bạn thấy chính mình ở vào cùng tình huống như tiên tri Amốt: “Khi Chúa Giêhôva đã phán dặn, thì ai thì chẳng nói tiên tri” (AmAm 3:8).
Nếu bạn có thể tưởng tượng đặt chính mình vào trong các tình huống ấy, thì có thể bạn sẽ bắt đầu hiểu vì sao và bằng cách nào mà Kinh Thánh đã được viết ra. Nếu người ta có những tin vui họ chia sẻ ra. Nếu họ gặp chuyện buồn họ cũng san sẻ. Và nếu họ ý thức Đức Chúa Trời là thật, và nếu họ hiểu cuộc đời bằng những mạng lệnh và những lời hứa của Ngài, họ sẽ phải chia sẻ quan điểm ấy, cùng toàn bộ những gì lời Chúa hàm ý, với những người khác.
Đây chính là loại sự việc mà chúng ta thấy xảy ra trong Kinh Thánh. Một số các trước giả Kinh Thánh thấy rằng Đức Chúa Trời đã buộc họ phải lấy danh Ngài mà công bố. Những người nầy chúng ta thường gọi là “các tiên tri.” Và những điều họ nói quan trọng đến nỗi chúng phải được viết xuống để cho người khác đọc. Hoặc một biến cố lớn xảy ra trong lịch sử Do Thái (chiến thắng kẻ thù chẳng hạn) và một bài hát được soạn ra cho trường hợp đó. Bài hát giải thích biến cố như là một sự chứng quyết về quyền năng và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, vì vậy nó trở thành điều quan trọng trong sự hiểu biết của con người về cách Đức Chúa Trời can thiệp vào đời sống của họ. Hoặc một sự kiện đau buồn xảy ra ( dân tộc bị buộc phải lưu đày) và ai đó có được sự hiểu biết Chúa ban để nhìn thấy đây là phương cách tình yêu của Chúa phải được bày tỏ ra đối với những kẻ chống nghịch Ngài. Sứ điệp nầy được giữ lại và người ta bắt đầu hiểu rằng toàn bộ lịch sử phải được nhìn xem như một nhà hát nơi đó Đức Chúa Trời là diễn viên chính. Hoặc các bài hát được viết ra để việc họ thờ phượng Chúa công khai trở thành một phương tiện qua đó sự hiện diện của Đức Chúa Trời được nhận biết ngay cả khi họ không ở trong Đền thờ - vì vậy các bài hát cũng đã được giữ gìn và được viết lại cùng với những tác phẩm thánh khác.
Vấn đề là tất cả những tác phẩm nầy đều là một sự đáp ứng đối với hành động và sự quan tâm của Chúa với dân sự Ngài -và qua nhiều thế kỷ một tập hợp văn phẩm có tầm cỡ đã được hình thành. Tác phẩm nầy mang lấy tầm quan trọng chính xác là vì nó đã hình thành bằng phương thức dần dần nầy, bởi vì nó tỏ rõ rằng Đức Chúa Trời liên hệ với loài người tại nơi họ sống, ngay trong những tranh chiến và những nỗi khổ của lịch sử xương máu thật sự của họ.
Việc Ghi Chép Lại - Với Diễn Tiến Theo Bảng Mẫu Tự Chữ Cái
Cựu ước của chúng ta là sản phẩm cuối cùng của quá trình hình thành dần dần nầy. Và sự hiểu biết của chúng ta về các nội dung Kinh thánh có thể được nâng cao nhờ nhận biết quá trình “ghi chép lại” nầy đã được thực hiện ra sao để có được hình thức hiện nay của Kinh Thánh. Tất nhiên chúng ta vẫn có thể nhận được ích lợi khi đọc các sách này mà không có sự hiểu biết mở rộng về nguồn gốc của chúng, nhưng để biết các lời ký thuật nầy đan quyện với nhau như thế nào thường bổ ích khi chúng ta đọc qua hai hoặc ba lời ký thuật khác nhau về cùng một sự kiện. (Bạn không cần nhớ từng chi tiết của những gì tiếp theo, nhưng nó sẽ giúp ích nếu bạn có thể giữ được một bức tranh tổng quát trong đầu.) Chúng ta hãy xem sáu sách đầu tiên của Cựu ước (được gọi là “Hexateuch” theo ý nghĩa Hylạp là “sáu cuộn”) được hình thành như hình thức hiện nay của chúng bằng cách nào.
Dưới đây là cách chúng được hình thành. Có lẽ từ rất lâu vào năm 900 T.C (cách đây gần 3000 năm!) Một tác giả đầu tiên đã soạn một loạt những câu chuyện về các chi phái ở tại miền Nam Palettin, và một thời gian sau đó, những bổ sung đã được thêm vào lời ký thuật nầy hầu cho các chi phái phía Bắc không bị bỏ sót trong lịch sử. Trong những lời ký thuật nầy, từ Hybá được sử dụng cho chữ Đức Chúa Trời là một từ mà chúng ta phải viết là “Yahweh,” và từ nầy trong tiếng Hy bá là YHWH (hoặc như thỉnh thoảng từ nầy được viết, là JHVH). Vì lý do đó, tài liệu này được gọi là “J” và nơi JHVH xuất hiện trong phần đầu của Cựu ước, chúng ta có thể khá chắc chắn rằng các đoạn Kinh Thánh đang được bàn bạc là từ tài liệu “J.”
Về sau (có lẽ khoảng giữa năm 750 - 700 T.C) một tác giả khác đã viết một lời ký thuật tương tự về lịch sử, lần nầy với sự nhấn mạnh chính vào các chi phái phía Bắc. Bởi vì ông không tin rằng “danh” của JHVH đã được biết đến cho tới thời Môise, nên ông đã sử dụng một từ Hybá khác dành cho Đức Chúa Trời, là Êlôhim. Tài liệu của ông vì vậy hiện nay được biết là tài liệu “E.” Về sau những lời ký thuật nầy được đan kết với nhau, để hình thành điều mà bạn có thể đoán được gọi là tài liệu “JE”.
Các chi phái phía Bắc, nay đã trở thành một vương quốc, gặp phải một thảm bại lớn về mặt quân sự vào năm 722 T.C và trong những hỗn loạn theo sau từng trải nầy, một nhóm người đến chỗ nhận biết rằng tai họa nầy chính là do sự thờ phượng Đức Chúa Trời sai trật. Kết quả là họ đã viết một lịch sử nữa, đặc biệt nhấn mạnh về cách thờ phượng phải được tiến hành. Khoảng một trăm năm sau thất bại ấy, năm 621 T.C, tài liệu nầy đã được khám phá trong Đền thờ. Điều đó dẫn đến những cải cách rộng lớn. Phần lớn của tài liệu nầy dường như được chứa đựng trong cái mà ta gọi là “Phục truyền luật lệ ký,” vì vậy mà khá tự nhiên, nó được gọi là tài liệu “D,” trở thành hết sức quan trọng đến nỗi được kết hợp vào các lời ký thuật mang tính lịch sử khác, để hình thành tài liệu “JED.”
Còn một bước cuối cùng. Vương quốc phía Nam cũng vậy, đã bị đánh bại về mặt quân sự, và dân chúng bị đẩy vào tình trạng lưu đày. Một lần nữa, họ đã viết lịch sử của mình, lần nầy với sự nhấn mạnh đặc biệt về tầm quan trọng của Giêrusalem như là trung tâm sự thờ phượng, về các thầy tế lễ cùng những người chỉ đạo đời sống tôn giáo của dân chúng. Bởi vì sự nhấn mạnh “mang tính tế lễ” của nó mà tài liệu nầy được biết như là tài liệu “P.” Bốn tài liệu được đan quện với nhau để hình thành tài liệu “JEDP,” và chính từ sự kết hợp nầy mà sách Sáng Thế Ký qua Giôsuê đã có mặt. Ví dụ trong các đoạn mở đầu của sách Sáng Thế Ký, lời ký thuật về sự sáng tạo trong SaSt 1:1; 2:4 là từ tài liệu “P,” trong khi lời ký thuật trong đoạn 2:4 trở đi là từ tài liệu “J.”
Các tác giả khác nhau nầy đôi khi nhấn mạnh những yếu tố khác nhau trong lịch sử các dân tộc của họ, nhưng chúng thống nhất trong niềm tin của họ, cho rằng lịch sử dân tộc họ chỉ có thể hiểu được bởi quyền tối cao của Đức Chúa Trời tể trị trên lịch sử. Lịch sử như là nơi làm việc của Đức Chúa Trời -đó là chủ đề của họ. Đức Chúa Trời phán với họ qua các biến cố lịch sử, và họ đến chỗ hiểu biết ý muốn của Ngài khi đọc các sự kiện ấy trong ánh sáng của niềm tin đó.
Quá trình hình thành ở tại Jamnia .
Trong khi toàn bộ điều nầy cứ tiếp tục, các sách khác đang được viết ra, hầu cho đến khoảng năm 200 T.C hầu hết các tài liệu Cựu ước đã được tập hợp lại với nhau. Ngoài bộ sách Hexateuch còn có những lời thuật truyện mang tính lịch sử khác, các sách của các tiên tri, một sách thơ ca, một truyện ngắn, một cuốn sách mang lời ai ca, các quy định từ chỗ thờ phượng cho đến cách giết các sinh vật được chấp nhận, và v.v.. Tính đa dạng được đề cập dưới ba tiêu đề. Tiêu đề thứ nhất được biết như là Luật pháp , bao gồm năm sách đầu tiên của Cựu ước. Các tiên tri đã soạn nhóm thứ hai, không những bao gồm các tiên tri nhỏ và tiên tri lớn, mà còn nhiều sách lịch sử, như là Giôsuê, Cácquanxét v.v..Các sách còn lại chỉ được biết như là các Tác phẩm .
Bộ sưu tầm nầy, đã hình thành 39 sách tất cả, ngày càng được chấp nhận rộng rãi hơn, và một hội nghị của các Rabi Do Thái nhóm tại Jamnia, Palettin, vào khoảng năm 90 hoặc 100 S.C đã quyết định rằng không còn một sách nào được phép xen vào trong nhóm các tác phẩm thánh nầy.
Bản Dịch Đầu Tiên
Xin nhớ rằng, ngoại trừ một vài câu lác đác bằng tiếng Aram, các sách nầy đều được viết bằng tiếng Hybá. Lúc bấy giờ bộ chữ cái Hybá không có nguyên âm và không có hệ thống chấm câu. Hơn nữa, tất cả các chữ cái đều đi liền nhau. Nếu bạn viết theo kiểu ấy trong tiếng Anh, bạn sẽ được một thứ giống như vầy: MTHLRDYRGD WHBRGHT ITSTHLNSGIP.
TIFTHHFSBNDGISHLLHVNTHRTDSBFRM
Nếu bạn có thể đoán được vị trí của các nguyên âm, và chúng là gì, làm thế nào để phân chia các từ đã tìm được, cuối cùng bạn có thể đoán ra câu ấy được đọc như vầy:
TA LÀ GIÊHÔVA ĐỨC CHÚA TRỜI NGƯƠI, ĐÃ RÚT NGƯƠI KHỎI XỨ ÊDÍPTÔ, LÀ NHÀ NÔ LỆ. TRƯỚC MẶT TA, NGƯƠI CHỚ CÓ CÁC THẦN KHÁC. (XuXh 20:2, 3)
Mặc dầu việc bỏ sót những nguyên âm tiết kiệm được chỗ trống, song rõ là khó khăn khi đọc loại chữ viết như vậy, để gải quyết vấn đề này, “ các giá trị nguyên âm” bắt đầu được sử dụng trên các thủ bản về sau, các ký hiệu nhỏ đặt bên dưới hoặc bên trên các nguyên âm để biểu thị nguyên âm nào phải được lồng vào chỗ nào.
Khi thời gian trôi đi, ngày càng có nhiều người Do Thái học tiếng Hylạp, và ngày càng ít người đọc được tiếng Hybá một cách chính xác. Vì vậy bắt đầu khoảng năm 270 TC và trải rộng suốt Kỷ nguyên Cơ Đốc, các học giả Do Thái đã dịch Cựu ước từ tiếng Hybá sang tiếng Hylạp. Tài liệu nầy chính là những bản dịch được các Cơ Đốc Nhân đầu tiên sử dụng, là bản Bảy Mươi (từ chữ septuaginta = bảy mươi) bởi vì theo một lời truyền khẩu, bảy mươi (-hai) học giả đã xuất bản bản dịch nầy trong bảy mươi (-hai) ngày.
Khoảng mười hai sách trong bản Bảy mươi không được kể vào Kinh Thánh được chuẩn thuận của người Do Thái bởi Hội nghị ở tại Jamnia. Các sách nầy được gọi là Ngụy kinh (nghĩa là “ẩn dấu” hoặc “tối nghĩa”). Cựu ước của chúng ta không gộp chúng vào, bởi vì nó dựa trên các tài liệu của người Hêbơrơ, chúng được gộp vào Kinh Thánh của Công Giáo La Mã, bởi vì bản dịch chính thức của Công Giáo La Mã đã tận dụng mở rộng bản Bảy mươi nầy.
Một Giao ước “Mới”
Phải mất tới 700 năm để ghi chép Cựu ước. Tân ước, trái lại, được hoàn thành trong khoảng 100 năm. Các sách Tân ước không được viết bằng tiếng Hybá mà bằng tiếng Hylạp, không phải ngôn ngữ Hylạp tiêu chuẩn trịnh trọng của Plato mà là ngôn ngữ bình thường nơi chợ búa, được gọi là koine. Ở đây, các sách Tin lành tượng trưng cho một loại “bản dịch,” bởi vì Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài nói tiếng Aram, chứ không phải tiếng Hylạp, và ngôn ngữ nói Aram của họ phải được dịch sang ngôn ngữ viết Hylạp. Có thể tìm thấy một vài thành ngữ Aram trong bốn sách Phúc âm như tiếng kêu của Chúa Jêsus trên thập tự giá: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma-sa-bách-ta-ni” (Mac Mc 15:34), và lời Ngài phán cùng một bé gái: “Ta-li-tha cu-mi” (5:41).
Nhiều người không nhận ra rằng các tác phẩm Tân ước sớm sủa nhất không phải là các sách Phúc âm, mà là các bức thư của Phaolô. Lá thư đầu tiên trong số nầy, I Têsalônica, có lẽ ra đời rất sớm vào năm 50 S.C. Phaolô không hề có tư tưởng cho rằng ông đang viết “thơ thánh”; các lá thư của ông là những “bức thư ngẫu nhiên,” viết ra để giúp các Hội Thánh xử lý những nan đề cụ thể. Chúng hầu như luôn được lưu hành giữa vòng các Hội Thánh Cơ Đốc đầu tiên và một bộ sưu tập các lá thư đó dần dần được triển khai. Chúng hình thành một phần chủ yếu Tân ước của chúng ta.
Phần còn lại của các sách Tân ước (trừ các sách Phúc âm sẽ được thảo luận trong Chương 9) rơi vào hai loại chính. Một số các sách nầy được viết ra trong thời kỳ bắt bớ, như lá thư gởi cho người Hêbơrơ, thư I Phierơ, và (mặc dù bạn có thể không đoán được nếu nhìn sơ qua) sách Khảihuyền. Trong các sách nầy, chúng ta có được lời chứng rõ ràng về lòng can đảm của các Cơ Đốc Nhân đầu tiên vì đã đứng vững vàng chống lại thế giới ngoại giáo thù địch.
Các lá thư khác chiến đấu chống lại tà giáo, là điều phổ biến cuối thế kỷ thứ I. (“Tà giáo không phải là một niềm tin hoàn toàn sai; mà là niềm tin nhấn mạnh quá đáng một phần lẽ thật, và vì vậy có thể tự coi chính nó là chân lý.”) Tà giáo chính trong thời kỳ nầy là quan điểm cho rằng mặc dầu Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời nhập thế, Ngài vẫn không là một con người hoàn toàn, mà chỉ dường như có một thân thể loài người. Vì vậy mà niềm tin nầy được gọi là “Docetism,” theo nghĩa Hylạp là “có vẻ như.” Không cần nói, chúng ta cũng biết rằng nếu niềm tin nầy thắng thế trong thời đó, nó sẽ hủy diệt đức tin Cơ Đốc, bởi vì toàn bộ giá trị của niềm tin Cơ Đốc chính xác là lời tuyên bố mà thuyết Docetism đã phủ nhận, đó là trong Chúa Jêsus, Đức Chúa Trời cư ngụ trọn vẹn đời sống của một con người, và rằng đó là đời sống con người thật sự, chứ không phải giả tạo. Tình huống nầy giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn sự nhấn mạnh của sách Phúc âm Thứ Tư về “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ,” và những lời tuyên bố tương tự trong ba bức thư của Giăng.
II Phierơ và các phần trong các “Thư Tín Mục Vụ” (I & II Timôthê, Tít) chống lại tà giáo nầy và những quan điểm sai lệch khác.
Điều nầy không hàm ý rằng các sách Tân ước chỉ là tiêu cực, nhưng chỉ để chúng ta hiểu được sứ điệp tích cực của Tân ước một cách đầy đủ hơn nếu chúng ta cũng biết điều mà Tân ước đang tìm cách phủ nhận.
Sự Phát Triển của “Bộ Kinh Điển” (Canon)
Marcion, một người theo tà giáo đầu tiên, đã đi đến một kết luận sai lầm rằng Cựu ước và Tân ước nói về hai Đức Chúa Trời khác nhau. Ông quyết định thảo ra một danh sách các tác phẩm thánh đáp ứng được sự tán thành của ông. Ông bắt đầu bằng cách loại bỏ toàn bộ Cựu ước, và trong Tân ước của ông chỉ gộp vào sách Phúc âm Luca và mười bức thư của Phaolô mà ông cảm thấy là “an toàn.”
Vì những trò hề như vậy, và vì sự phổ biến của các tà giáo khác, Hội Thánh Đầu tiên dần dần bắt đầu triển khai một bảng danh sách tiêu chuẩn các tác phẩm được chính thức chấp nhận, danh sách bao gồm Cựu ước, tất nhiên, sau khi thấy trong đó sự chuẩn bị cho các công việc quyền năng của Đức Chúa Trời được ứng nghiệm trong Tân ước qua Chúa Cứu Thế Jêsus, mà họ dần dần đạt đến sự thỏa thuận về các sách, trong số nhiều tác phẩm Cơ Đốc mới, được chuẩn thuận. Cho đến năm 200 S.C. có một sự đồng tình khá phổ biến về các sách Tin lành, sách Côngvụ, và các thư tín của Phaolô. Các tác phẩm khác đều “nằm ngoài lề” trong một thời gian, nhưng đến năm 367 S.C. một danh sách đã được chuẩn thuận bao gồm 27 sách hợp thành Tân ước hiện nay của chúng ta. Các sách nầy đến chỗ được biết như là “bộ kinh điển,” (“canon”) đến từ một từ Hylạp có nghĩa là “nguyên tắc,” hay “tiêu chuẩn,” bởi vì chúng là tiêu chuẩn hoặc nguyên tắc cho đức tin Cơ Đốc và vẫn là như vậy cho đến nay.
Giao ước = Giao Kèo = Quy Ước
Lúc này, chúng ta đã làm rõ một bí mật nhỏ.
Từ “giao ước” đã bị đưa lén vào cuộc thảo luận nầy một số lần, mà không làm rõ ý nghĩa của nó. Trên thực tế, chỉ ý nghĩa của nó thôi thì cũng không dễ giải thích, bởi vì đây là cách dịch kém cỏi một từ Hybá. Từ tiếng Anh đầy đủ hơn phải là từ “giao ước,” một từ đúng Kinh Thánh, và cực kỳ quan trọng (như chúng ta sẽ thấy ở Chương 15) là điều hàm ý sự thỏa thuận hoặc mối quan hệ được thiết lập giữa Đức Chúa Trời và loài người. “Giao ước Cũ” (cái chúng ta gọi là Cựu ước) là một ký thuật về giao kèo giữa Đức Chúa Trời và dân sự Ngài. “Giao ước Mới” (cái chúng ta gọi là Tân ước) là một ký thuật về mối quan hệ mới được thiết lập giữa Đức Chúa Trời và con người qua thân vị của Chúa Cứu Thế Jêsus. Vì cớ Tân ước làm trọn Cựu ước chứ không phải xóa bỏ Cựu ước, cho nên cả hai giao ước hoặc cả hai giao kèo nầy đều được đưa vào trong Kinh Thánh hiện nay của chúng ta.
Jerome Cho Ra Đời Bản Vulgate
Đến thế kỷ thứ 3 S.C. bạn có thể có một bản Kinh Thánh Hylạp (bản Bảy Mươi) hoặc một bản tiếng Hylạp và Hybá.
Nhưng có lẽ bạn không đọc được tiếng Hylạp, nói chi đến Hybá. Ngôn ngữ duy nhất mà bạn biết là tiếng Latin. Bởi vì hầu hết những người học thức đều nằm trong tình huống tương tự, nên giáo hoàng đã ủy nhiệm cho một học giả tên là Jerome dịch Kinh Thánh sang tiếng Latin. Bản dịch nầy, được thực hiện giữa năm 385 và 475S.C., được gọi là bản bản Vulgate (từ La-tin vulgatus có nghĩa là “bình thường” hoặc “phổ biến”) bởi vì đây là ngôn ngữ phổ thông hoặc “bình thường” của dân chúng. Nó trở thành bản dịch chính thức của Giáo hội Công Giáo La Mã.
Có một kết quả thú vị mà bản dịch nầy để lại trên lịch sử Hội Thánh về sau, minh họa nan đề của việc dịch Kinh Thánh. Từ Hylạp được sử dụng trong Mat Mt 4:17 là mentanoite , là từ mà chúng ta có thể dịch sang tiếng Anh là “ăn năn, quay trở lại, bắt đầu lại, có một khởi đầu mới.” (Hãy ăn năn và tin đạo Tin lành.”) Từ Latin mà Jerome đã sử dụng là poenitentiam agite có thể được dịch là “ăn năn,” nhưng cũng là từ có thể được dịch là “sám hối ăn năn,” và đó chính là ý nghĩa mà mạng lệnh của Chúa Jêsus đã được hiểu trong Cơ Đốc Giáo giới thời Trung cổ. Vì vậy mà những lời dạy của Chúa Jêsus đã trở thành: “Hãy ăn năn sám hối và tin đạo Tin lành,” chúng cũng đã được dịch như vậy cho đến ngày nay trong bản Tân ước Douay (Công Giáo La Mã). Chung quanh ý niệm nầy, nghi lễ sám hối đã được triển khai cùng với niềm tin cho rằng chúng ta phải làm những điều nhất định để giành được sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Khi các học giả Tin lành quay trở lại với tiếng Hylạp nguyên gốc thay vì ngừng lại ở tại tiếng Latin, họ phát hiện ra rằng không có cơ sở rõ ràng cho nghi lễ sám hối trong câu Kinh Thánh này, và nó đã bị hủy bỏ khỏi các nghi lễ của người Tin lành.
Luther Mang Kinh Thánh Đến Cho Dân Chúng
Đến cuối thời Trung cổ, chỉ các linh mục và những người có học vấn cao (không nhất thiết là đồng nghĩa) mới có thể đọc và hiểu được tiếng Latin. Bấy giờ những bản dịch mới trong các ngôn ngữ bình thường mà dân chúng nói thật cần thiết, đặc biệt từ khi cuộc Cải Chánh Tin lành đã đưa Kinh Thánh trở lại vị trí trung tâm trong đời sống của người Cơ Đốc.
Khi một nhóm các bạn hữu của Martin Luther gấp rút đưa ông đến chỗ ẩn núp, vào một thời điểm tính mạng ông gặp nguy hiểm, có lẽ họ không hề có ý tưởng mối quan tâm của họ dành cho sự an toàn của ông sẽ dẫn đến một trong những ảnh hưởng lớn nhất của toàn bộ việc dịch Kinh Thánh. Luther, ẩn náu ở tại Lâu đài Wartburg, đã sử dụng thời gian buộc phải rãnh rỗi của mình để dịch Tân ước sang tiếng Đức (1522, ) cũng như về sau ông đã tiếp tục thực hiện cho phần Cựu ước (1534).
Người dân Đức không hề có Kinh Thánh đầy đủ bằng chính ngôn ngữ của họ trước thời điểm nầy, và Luther đã thực hiện công việc dịch thuật của ông tuyệt vời đến nỗi Kinh Thánh đã trở thành một cuốn sách sống họ có thể hiểu được. Thay vì tiến hành việc dịch thuật theo nghĩa đen cứng đơ, ông đã cố gắng truyền đạt hương vị của các sự kiện, hầu cho người dân có thể hình dung những sự kiện đó đang xảy ra ngay trong nơi họ sống. Có những tên cướp trên con đường nằm giữa Giêrusalem và Giêricô - hẳn cũng nguy hiểm như khi băng qua Khu Rừng Đen vào ban đêm! Khi Luther dịch Thi Tv 46:1-11 (“Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi”) ông đã truyền đạt ý tưởng nầy bằng cách gợi lên hình ảnh của một lâu đài thời Trung cổ đồ sộ với những bức tường dày, một đường hào rộng, an toàn và mạnh mẽ được bảo vệ, và cũng cho Thithiên nầy một tựa đề phụ: “ Chúa vốn bức thành kiên cố ta.” Người Đức biết rõ điều đó hàm ý gì! Để bảo đảm rằng họ có thể hiểu được những quy định về của lễ trong Lêviký một cách đúng đắn, Luther đã kiểm tra tài liệu nầy với người bán thịt.
Những Thoáng Nhìn Ban Đầu về Một Cuốn Kinh Thánh tiếng Anh
Nhưng Kinh Thánh đã được dịch sang tiếng Anh như thế nào?
Truyền thuyết kể rằng vào thế kỷ thứ bảy một con người đáng tin cậy ở tại Whitby là Caedmon đã hát các phần nói về câu chuyện Sáng tạo và cuộc đời của Chúa Jêsus bằng tiếng Anh, và vào thế kỷ thứ tám một thành viên vĩ đại của giáo hội được biết là “Phó giám mục Bede” đã dịch sách Phúc âm Thứ Tư sang tiếng Anh.
Tuy nhiên bản dịch Anh văn hoàn tất đầu tiên đến từ ngòi bút của John Wycklife (hoặc Wiclif hay Wyclif hay Wickliffe-vào thời đó người ta không chú ý chi tiết đến cách đánh vần đúng.) Cùng với một số học giả, ông đã hoàn tất Tân ước vào năm 1380 và phần còn lại của Kinh Thánh vào năm 1382, sử dụng bản Vulgate của Jerome làm tài liệu gốc. Tất cả các bản sao, tất nhiên đều có mặt bằng chữ thường viết tay, Wicklife đã sai phái các nhóm người được gọi là Lollards đọc các bản Kinh Thánh nầy và giải thích chúng cho người dân trong các nơi chợ. Trên cơ sở những gì phát hiện được trong Kinh Thánh, Wicklife đã chống lại nhiều nguyên lý trong Cơ Đốc Giáo thời Trung cổ, và ông cũng là một người đi trước của Phong trào Tin lành. Kết quả là, các tác phẩm của ông của ông đã bị lên án, và các sách của ông bị đốt. Bởi vì Wicklife đã vô tình chết trước khi họ thiêu sống ông, giới cầm quyền đã đào xương ông lên và thiêu chúng. Đó là cái giá mà một người phải trả khi đưa Kinh Thánh đến cho dân chúng.
Mang Lén Vì Sự Vinh Hiển của Đức Chúa Trời
Dịch giả kế tiếp, William Tyndale, kém may mắn hơn, bởi vì Tyndale vẫn còn sống khi giới cầm quyền áp đặt sự kiểm soát chặt chẽ hơn trên ông. Ông đã bị bóp cổ và xử tử bằng hình thức thiêu sống. Nhưng Tyndale có hai lợi thế trong việc thực hiện các bản dịch của mình mà Wicklife đã không có được. Johann Gutenberg đã sáng chế máy đánh chữ di chuyển được vì vậy mà bản dịch của Tyndale có thể được in với số lượng lớn. Và một học giả người Hà Lan là Erasmus đã xuất bản một ấn bản có tính học thuật của bản Tân ước Hylạp, vì vậy Tyndale có thể đặt cơ sở bản dịch của mình trên ngôn ngữ gốc, thay vì bị lệ thuộc vào bản Latin.
Khi sự việc đã trở nên quá nguy hiểm cho Tyndale ở tại Anh Quốc, ông đã sang Đức và in Kinh Thánh tiếng Anh tại đó. Sau đó các cuốn Kinh Thánh nầy được đưa lén vào nước Anh trong các kiện vải lớn. Một giám mục tức giận đã mua rất nhiều Kinh Thánh Tân ước của Tyndale và đốt chúng trước công chúng. Tyndale đã lấy số lợi nhuận có được từ việc mua Kinh Thánh của vị giám mục và in một ấn bản mới!
Một Làn Sóng Các Bản Dịch Mới
Mặc dầu Tyndale đối diện với cái chết của người tuận đạo, ảnh hưởng mạnh mẽ của công việc ông đã được nhận biết, và nó dường như trở nên an toàn hơn để xuất bản một quyển Kinh Thánh tiếng Anh ở tại Anh quốc. Năm 1535, chỉ mười năm sau khi bản Tân ước của Tyndale xuất hiện, cuốn Kinh Thánh được in đầy đủ lần đầu tiên bằng tiếng Anh đã có mặt, là công việc của Miles Coverdale, người đã sử dụng phần lớn bản dịch của Tyndale nhưng đã hoàn tất phần Cựu ước, là phần màTyndale mới chỉ thực hiện một ít. Hầu hết các phầnKinh Thánh được sử dụng trong Book of Common Prayer (Sách Của Lời Cầu Nguyện Chung ) hiện nay của các Giám mục đều đặt nền tảng trên bản dịch của Coverdale.
Các bản dịch mới xuất hiện dày đặc và nhanh chóng trong những năm kế tiếp đó. The Great Bible (Quyển Kinh Thánh Lớn năm 1539) có được sự chuẩn thuận của triều đình, và mang tên gọi này vì tầm cỡ của nó. Các bản sao được ràng bằng xích trong các nhà thờ. Về sau một nhóm những người Thanh giáo đã trốn đến GenevaThụy sĩ, để thoát khỏi bách hại trong đời trị vì của “Mary Khát Máu” (gọi như vậy bởi vì sự bắt bớ của bà đối với những người Tin lành,” và trong khi ở tại đó, họ đã xuất bản Kinh Thánh Geneva (1560), là cuốn Kinh Thánh đầu tiên có các câu Kinh Thánh đánh số. Cuốn Kinh Thánh nầy không được ưa chuộng giữa vòng các giám mục Anh quốc, bởi vì các dịch giả đưa những lời giải thích theo khuynh hướng của Calvin vào hai bên lề Kinh thánh. Các Giám mục đã phản đối lại bằng cuốn Kinh Thánh của các Giám mục (1568, Bishops’ Bible) nhưng cuốn Kinh Thánh nầy không bao giờ được ưa chuộng trừ ra giữa vòng các giám mục.
Bản dịch nổi tiếng nhất trong số các bản dịch tiếng Anh là cuốn Authorized Version, thường được gọi là bản King James (1611). Bốn mươi bảy học giả được chỉ định bởi Vua James I Anh quốc để thực hiện một bản dịch mới dựa trên các ngôn ngữ gốc của Kinh Thánh và sử dụng tất cả những bản dịch tiếng Anh hiện có lúc bấy giờ. Mặc dầu có nhiều bản Kinh Thánh đã được dịch sang tiếng Anh kể từ lúc đó, không bản dịch nào trong số đó thách thức nghiêm trọng được tính quần chúng của bản King James, mãi cho đến gần đây.
Nhu cầu Về Một Bản Dịch Mới
Vì sao phải bận tâm với các bản dịch mới nếu chúng ta đã có bản King James, với lời văn xuôi tiếng Anh tuyệt vời không thể so sánh được của nó? Dưới đây chỉ là một vài lý do:
1. Việc sử dụng các từ tiếng Anh đã thay đổi rất nhiều kể từ năm 1611. Vào năm 1611 từ “prevent” (ngăn ngừa) có nghĩa là “precede” (đến trước). Vào năm 1611, câu Kinh Thánh trong Phi Pl 4:14 được dịch như vầy: “Ấy thế mà nghĩa cử của anh em càng nổi bật vì anh em đã chia sẻ cùng tôi trong cảnh hoạn nạn.” Câu ấy có thể rõ ràng trong năm 1611, nhưng không còn rõ lắm gần đây. Câu ấy chỉ hàm ý rằng: “Nhưng anh em giúp tôi trong cơn hoạn nạn thì đã làm điều thiện.”
2. Một lý do cơ bản hơn nữa về một bản dịch mới đó là các nguồn phương tiện sẵn có cho các dịch giả vào năm 1611 thật nghèo nàn đáng thương khi so sánh với những bản hiện có. Những dịch giả của bản King James có khoảng hai mươi bốn thủ bản Hylạp chưa hoàn hảo, không bản nào sớm hơn thế kỷ thứ mười, và nguyên bản Tân ước của họ đã có trên 5000 lỗi của người sao chép.
3. Những khám phá mới đây của ngành khảo cổ học đã làm sáng tỏ sự hiểu biết của chúng ta về những phần chủ yếu của các nguyên bản Kinh Thánh. Ngày nay có hàng ngàn thủ bản đã được đào lên ở tại Palettin và Aicập, và nhờ việc so sánh với các bản nầy, các dịch giả có thể hiểu được ý nghĩa gốc của các đoạn Kinh Thánh gây tranh cãi rõ ràng hơn. Ví dụ vào năm 1948, trong một cái hang ở gần Biển chết, một mớ những thủ bản đã được khám phá, một số trong đó được viết vào giữa thế kỷ thứ hai và thế kỷ thứ nhất T.C. Đây là thủ bản xưa cổ không thể so sánh được -1000 năm xưa cổ hơn các thủ bản hiện có khác - và cuộn da bao gồm Sách Êsai đã làm rõ những khúc Kinh Thánh mà cho đến lúc ấyvẫn luôn tối nghĩa.
Bản Dịch Mới Nhất
Vì những lý do đó cũng như những lý do khác nữa, một bản dịch tiếng Anh đáng tin cậy, cập nhật, mới mẻ, mới đây đã được hoàn tất - sản phẩm của 14 năm làm việc cật lực bởi các học giả nổi tiếng. Tân ước đã xuất hiện vào năm 1946, và Cựu ước vào năm 1952. Nếu bạn đã từng bị bối rối, ví dụ, vì những câu Kinh Thánh khó hiểu ở đầu Thithiên thứ 8 trong bản King James: “Nhưng vì các cừu địch Chúa, Chúa do miệng trẻ thơ và các con đương bú, mà lập nên năng lực Ngài, đặng làm cho người thù nghịch và kẻ báo thù phải nín lặng” thì bạn sẽ thấy khó khăn nầy được giải quyết trong bản Kinh thánh Revised Standard Version:
Đến trẻ con miệng còn thơm sữa cũng tung hô ca ngợi thánh danh khiến quân thù thẹn thùng câm nín.
Dưới đây là những ví dụ khác về sự làm sáng tỏ tương tự:
• Bản Kinh James: Đừng suy nghĩ về đời sống các ngươi (Mat Mt 6:25).
• Bản Kinh Thánh RSV: Đừng lo lắng về đời sống mình
• Bản King James: Chớ có tư tưởng cao quá lẽ (RoRm 11:2)
• Bản Kinh Thánh RSV: Chớ kiêu ngạo
• Bản King James: Hỡi anh em anh em đã tin đến Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa vinh hiển chúng ta thì chớ có tây vị người nào. (Gia Gc 2:1)
• Bản Kinh Thánh RSV: Thưa anh em, anh em tự nhận mình là thuộc về Chúa Cứu Thế Jêsus là Chúa vinh quang, sao còn thiên vị giàu nghèo.
Việc Dịch Sẽ Còn Tiếp Tục .
Bản Kinh Thánh “RSV” có lẽ sẽ trở thành bản dịch tiêu chuẩn trong đời của chúng ta, mặc dầu bản King James vẫn tiếp tục được sử dụng cùng với nó, với sự phong phú rộng lớn. Nhưng các bản dịch mới sẽ được tiến hành, và sẽ tiếp tục được thực hiện, bao lâu mà con người còn đọc Kinh Thánh. Bởi vì cách sử dụng sẽ thay đổi, và các thủ bản mới sẽ được khám phá là điều sẽ làm sáng tỏ thêm ý định của các trước giả ban đầu. Vì vậy sẽ không bao giờ là đúng khi “làm tê liệt” quá trình dịch và cho rằng, ví dụ, bản King James, được bọc trong bìa da đen và được in trên loại giấy mỏng mới chính là bản Kinh Thánh “đích thực.” Cho đến cuối cùng, con người sẽ tham gia vào một trong những cuộc theo đuổi có giá trị nhất - đó là nỗ lực để trình bày lời Đức Chúa Trời bằng những lời lẽ thích hợp nhất hầu làm cho Đức Chúa Trời trở nên sống động trong trái tim và tâm trí của con người.

Chương 3: Đặt Câu Hỏi Thích Đáng
(Đức Chúa Trời Bày Tỏ Chính Mình Ngài Bằng Cách Nào?
H. Công thức hóa học của muối là gì?
Đ. Bạn có thể lấy muối khỏi một bình đựng muối vào một ngày ẩm ướt nếu như bạn bỏ trước một ít hạt gạo vào bình.
H. Hệ thống tàu ngầm có thể chứng tỏ lợi ích như thế nào?
Đ. Cách tốt nhất để đi từ Grand Central đến Broadway và Phố 110 là hãy đón một chiếc xe buýt đến công trường Times Square và một chiếc xe tốc hành về hướng Bắc với hai đèn đỏ.
Hỏi và Đáp thế nào đó đã không ăn khớp với nhau. Một lý do khiến cho những câu trả lời trở nên vô nghĩa bởi vì chúng là những câu trả lời dành cho những câu hỏi không được hỏi đến. Chúng có lẽ là những câu trả lời rất tốt nếu như câu hỏi là “Làm thế nào lấy được muối khỏi một bình đựng muối vào ngày ẩm ướt?” hoặc “Làm thế nào để đi từ Grand Central đến Broadway và Phố 110 bằng xe điện ngầm?”
Phần lớn công việc của chúng ta khi tiếp cận Kinh Thánh là hãy học cách đặt những loại câu hỏi đúng, những câu hỏi mà các câu trả lời của Kinh Thánh sẽ là những câu trả lời xác thật. Thật vô nghĩa khi hỏi các tác giả Kinh Thánh như vầy:
H. Làm sao để chứng minh sự hiện diện của Đức Chúa Trời?
Đối với các truớc giả Kinh Thánh, loại câu hỏi nầy hoàn toàn nằm bên ngoài mục tiêu. Họ không nói về ý tưởng “điều gì đó ở đâu đó” có thể hay không thể tồn tại, mà đang nói đến một Đấng Thực hữu hằng sống là Đấng đối diện với họ, đã làm thay đổi đời sống họ, đã bước vào mối quan hệ với họ. Cố gắng để “chứng minh sự tồn tại của Ngài” chẳng khác nào bạn và Joe thảo luận câu hỏi: “Fred có thật sự tồn tại không?” ngay trước mặt Fred, Fred có lẽ thỉnh thoảng đóng góp vào cuộc thảo luận. Bạn phải coi sự hiện diện của Fred là điều đương nhiên, bởi vì bạn đã biết anh ta rồi. Đó chính là điều các tác giả Kinh Thánh đã làm với Đức Chúa Trời. Ngài là yếu tố đầu tiên và cuối cùng của đời sống họ. Họ chẳng mất thì giờ để ra sức “chứng minh” Ngài; họ đang tìm cách để xem Ngài tự bày tỏ chính mình Ngài như thế nào, và những gì Ngài truyền bảo họ.
Vì vậy, muốn hiểu câu trả lời của Kinh Thánh chúng ta phải đặt câu hỏi phải lẽ:
H. Đức Chúa Trời tự bày tỏ chính mình Ngài bằng cách nào?
Như thế chúng ta sẽ đến được chỗ nào đó.
Kinh Thánh Trả Lời Câu Hỏi Này Như Thế Nào
Ngày xưa một nhóm người nô lệ không phải Do Thái đã cố gắng để tìm hiểu về Đức Chúa Trời của dân Do Thái. Nhưng điều nầy dường như tuyệt vọng. Họ kêu lên rằng: “Ngài thật là Đức Chúa Trời ẩn mình” (EsIs 40:15). Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời ẩn mình! Đối với nhiều người, đó là kết thúc vấn đề. Tuy nhiên vẫn còn có một ý nghĩa nữa để kêu gào. Bởi vì mặc dầu những người nô lệ nhận biết rằng Đức Chúa Trời thật là Đấng ẩn mình, họ biết nơi nào để tìm được Ngài. Ngài phải được tìm thấy trong Ysơraên. Họ muốn nói rằng nếu bạn muốn biết nơi nào Đức Chúa Trời ẩn mình nầy được mặc khải, hãy xem xét các biến cố trong đời sống và lịch sử của dân tộc Do Thái, vì chính tại đó, Đức Chúa Trời đã tỏ mình. Đối với người Ysơraên: “Thật Đức Chúa Trời ở giữa ngươi; ngoài Ngài chẳng có ai khác, không có Đức Chúa Trời nào nữa. Hỡi Đức Chúa Trời của Ysơraên, là Cứu Chúa, Ngài thật là Đức Chúa Trời ẩn mình! ” (45:14, 15).
Thật ra nói như thế là muốn bảo rằng: “Nếu bạn muốn biết Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài như thế nào, hãy xem xét những biến cố lịch sử của dân Do Thái, bạn sẽ thấy Ngài hành động tại đó, và bạn sẽ thấy Ngài tỏ mình ở đó, chứng tỏ cho những người ấy Ngài là Đấng nào, Ngài như thế nào, Ngài truyền bảo họ điều gì, Ngài hứa với họ điều gì.”Vì vậy mà Kinh Thánh cho chúng ta lịch sử của dân tộc Ysơraên đó, và cuối cùng (trong Tân ước) câu chuyện của một nhân vật mà qua Đấng đó, Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài cách trọn vẹn nhất.
Đây là điều cực kỳ gây ngạc nhiên. Thậm chí gây bàng hoàng. Bởi vì dân Do Thái nầy không phải là một dân tộc “lớn” như các dân khác. Họ là một dân nhỏ bé, luôn luôn bị cai trị bởi các dân tộc lớn, bị hoạn nạn, bị đẩy vào trong tình trạng lưu đày, các thành, làng mạc và dân sự của mình cứ không ngừng bị nhổ khỏi chỗ và bị hủy diệt từ lúc nầy đến lúc khác. Trên sân khấu của lịch sử thế giới, họ là một tấm thảm trên nó các đế quốc lớn chùi ủng -khó mà là một nơi thích hợp để mong được thấy Đức Chúa Trời hành động! Nếu chúng ta lên kế hoạch thực hiện công việc, nhất định chúng ta sẽ chọn cách khác. Nhưng không phải chúng ta hoạch định các sự việc, vì vậy chúng ta phải lắng nghe lời tuyên bố của Kinh Thánh, đó là cách Đức Chúa Trời đã hoạch định, và hãy xem vì sao Ngài đã làm điều đó theo cách của Ngài chứ không phải theo cách của chúng ta. Vậy thì đâu là câu trả lời của Kinh Thánh cho thắc mắc: “Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài như thế nào?.”
Đức Chúa Trời Bày Tỏ Chính Mình Ngài
Điều đầu tiên phải được nói không rõ ràng như nó có thể xuất hiện. Kinh Thánh tỏ rõ rằng Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài . Ngài không chỉ tiết lộ những thông tin về chính mình. Nói một cách khác, những gì chúng ta tìm được trong Kinh Thánh không phải là một mớ các dữ kiện về Đức Chúa Trời, mà là một Đức Chúa Trời hằng sống trong mối quan hệ sống động với những con người sống. Những người nầy không tự sức mình đưa họ vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Họ làm chứng rằng Đức Chúa Trời đã chủ động tìm kiếm họ. Công việc của họ là đáp ứng lại, nhưng phần chủ động nằm ở phía Ngài. Ngài bày tỏ cho họ không phải chỉ những ý tưởng hoặc những thông tin mà là chính mình Ngài. Trên thực tế, đây là phương cách duy nhất có thể được thực hiện để dẫn đến mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và con người.
Hãy xem xét điều đó theo cách nầy. Một học sinh trung học mới đang tiến vào cửa. Một cách độc lập, bạn có thể biết được khá nhiều về cậu ta: mười lăm tuổi, tóc nâu, cùng học chung một trường với bạn, cởi xe đạp thành thạo, mang chiếc găng tay sặc sỡ của người chơi bóng chày ở hàng tiền đạo, khỏang hai lần một tuần, thường nhận những bức thư sực nức mùi thơm nằm trong những bao thư tô màu, được viết bằng nét chữ viết tay mảnh dẻ của con gái, Tất cả những yếu tố nầy bạn có thể khám phá bởi một chút điều tra kiên nhẫn.
Tuy vậy bạn có thật sự biết rõ anh ấy không?
Tất nhiên là không.
Làm thế nào để bạn có thể biết anh ta?
Chỉ bằng một cách, trong sự phân tích vừa rồi, nếu người bấy bằng lòng tỏ mình cho bạn biết , nếu anh ta sẵn sàng chủ động bước vào mối quan hệ với bạn để rồi qua mối quan hệ ấy, anh ta tiết lộ chính mình cho bạn. Nếu điều nầy xảy ra, bạn không những chỉ biết những sự việc về anh ấy, mà bạn còn sẽ biết chính người ấy . Bạn và anh ta sẽ gặp nhau trong sự gặp gỡ sống động.
Điều nầy phần nào cũng giống như lời tuyên bố mà Kinh Thánh đã nói về Đức Chúa Trời. Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời được nhận biết bởi cùng một loại gặp gỡ sống động, qua đó chúng ta hiểu biết một con người sống. Nếu Ngài không mặc khải chính Ngài thì Ngài vẫn mãi mãi ẩn dấu đối với chúng ta. Chúng ta không thể biết Ngài thật sự nếu tất cả những gì chúng ta có chỉ là những thông tin về Ngài. Chúng ta không thể bước vào mối quan hệ với những thông tin về Đức Chúa Trời; chúng ta chỉ có thể bước vào mối quan hệ với chính Đức Chúa Trời. Vì vậy Kinh Thánh không phải là một cuốn sách giáo khoa gồm những lời tuyên bố mang tính giáo lý (mặc dầu những lời tuyên bố mang tính giáo lý có thể rút ra từ Kinh Thánh) - Kinh Thánh là một lời ký thuật về một cuộc gặp gỡ giữa Đức Chúa Trời và dân sự Ngài.
Đức Chúa Trời Bày Tỏ Chính Mình Ngài Qua Các Sự Kiện Lịch Sử
Chúng ta thấy Đức Chúa Trời hành động ở đâu? Tại đây Kinh Thánh nói rất rõ. Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài ngay nơi con người sống -giữa những hy vọng và những thù ghét của họ, những ưa thích và sợ hãi của họ, những công việc và tranh chiến của họ, tức là trong các sự kiện lịch sử, và đặc biệt là trong các sự kiện lịch sử của dân tộc Do Thái. Khi những con người mà đối với họ, Đức Chúa Trời là thực hữu trong quá khứ, hiện tại và tương lai, họ tìm thấy niềm tin của mình đặt nơi Ngài được khẳng định, được làm sáng tỏ, và đôi khi được sửa đúng. Ngài làm các công việc - lịch sử là nơi làm việc của Ngài. Ngài ban cho bằng chứng ngay nơi con người đang sống Ngài là Đấng thế nào và điều Ngài sẽ làm. Mặc dầu đây vẫn luôn là một điều bí ẩn, chỗ mà ý nghĩa nào đó bước vào sự bí ẩn, chỗ mối quan hệ thật thay thế điều chỉ là thông tin, luôn nằm giữa tình huống thực của con người.
Lời tuyên bố Đức Chúa Trời đang hành động ngay nơi con người sống là một tuyên bố có ý nghĩa lớn lao. Có nghĩa là muốn biết Chúa và được Ngài biết, bạn không cần phải chìm vào một tình trạng hôn mê huyền bí, tự tách mình khỏi loài người, hay cứ luôn ở trong nơi ẩn dật. Đức Chúa Trời ở ngay nơi bạn sống, ở trong tình huống của bạn, không phải nơi nào khác. Hãy xem xét ba ví dụ về việc Chúa gặp gỡ loài người trong những tình huống lịch sử của chính họ:
VÍ DỤ MỘT: Khi Con cái Ysơraên cuối cùng đã thoát khỏi các đội quân Pharaôn đuổi theo, và băng qua Biển đỏ, họ đã không tự hào về kế hoạch khôn khéo của chính mình. Trái lại, họ dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu họ khỏi kẻ thù. Sự giải thích biến cố đó tác động đến toàn bộ lịch sử về sau nầy của họ. Đức Chúa Trời đã giải cứu họ trong giờ phút hiểm nghèo; Ngài đã hành động ngay nơi họ đang có mặt, ở với họ trong giờ khủng hoảng.
VÍ DỤ HAI: Nhiều thế kỷ sau đó cũng chính những người Ysơraên nầy đã bị đánh bại hoàn toàn bởi người Babylôn, bị bắt làm phu tù. Tuy nhiên ngay cả trong toàn bộ biến cố đau buồn của sự thất bại và lưu đày của mình họ vẫn có thể thấy Đức Chúa Trời đang bày tỏ chính mình Ngài, tỏ cho họ thấy hậu quả của việc họ không làm theo ý muốn Ngài. Họ đã khám phá Ngài đang khi làm việc, không phải bởi họ quay lưng lại với lịch sử, mà ngay giữa lịch sử.
VÍ DỤ BA: Cuối cùng, khi Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua đời sống của một con người, thì điều nầy cũng đã xảy ra ngay nơi con người đang sống. Những lời ký thuật về sự ra đời của Chúa Jêsus nhắc nhở chúng ta về điều đó. Cơ hội nhìn thấy con trẻ Cứu Thế không được ban cho những người chăn chiên đang khi họ thực hiện một chuyến hành hương hoặc thậm chí khi họ đang ở trong nhà thờ, nhưng đang khi họ đang làm công việc thích hợp của mình, đó là chăn giữ bầy chiên. Cùng một tin mừng đã đến với những Nhà Thông thái ngay nơi họ ở, bận rộn với công việc thích hợp của họ, đó là quan sát bầu trời. Chúa Cứu Thế chính là một phần của lịch sử chúng ta. Ngài đã ra đời “trong đời vua Hêrốt trị vì.” Ngài đã chịu khổ “dưới tay Bônxơphilát.” Cuộc đời của Ngài đã được xác định niên đại.
Những cuộc gặp gỡ giữa loài người và Đức Chúa Trời xảy ra ngay nơi con người sống, trên vũ đài lịch sử loài người.
Lưu Ý Dành Cho Những Độc Giả Thận Trọng : Nhưng ở đây có một vấn đề rắc rối. Nhiều người bảo rằng: “Đức Chúa Trời mặc khải chính mình qua thiên nhiên , đó chính là nơi tôi tìm thấy Ngài.” Đúng là thế giới tự nhiên, công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời, cho chúng ta một số những dấu chỉ về tâm tánh của Đấng Tạo Hóa. “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời; bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi Tv 19:1). Nhưng tác giả Thithiên lẫn các trước giả Thánh Kinh đều không hề dùng thiên nhiên để tranh luận về Đức Chúa Trời như thể nhờ thiên nhiên bạn có thể nhận biết Đức Chúa Trời theo đức tin Thánh Kinh là Đấng thế nào. Lấy thế giới tự nhiên để biện luận rằng “phải có” một Đức Chúa Trời, hoặc thiên nhiên ấy “chứng minh” sự tồn tại của Đức Chúa Trời, là mang lấy một công việc đáng nghi ngại. Bởi vì nếu thiên nhiên đem lại ánh hoàng hôn đáng yêu thì nó cũng mang lại ung thư, những trận bão lốc và những con cọp hung dữ cấu xé lẫn nhau. Đức Chúa Trời không thể được “giải thích” bởi thiên nhiên. Đó là một cách khác. Bởi vì họ đều đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời vì những lý do khác, nên các trước giả Kinh Thánh có thể nhìn thấy bằng chứng về Đức Chúa Trời trong trật tự được tạo dựng của Ngài. Nhưng vũ đài thật sự của cuộc đối đầu giữa Đức Chúa Trời và con người không phải chỉ là thế giới thiên nhiên, mà là thế giới của các biến cố loài người, nơi con người đau khổ, tranh đấu, yêu, ghét, sống và chết.
Đức Chúa Trời Mặc Khải Chính Mình Ngài Qua Những Con Người .
Làm thế nào chúng ta biết hoạt động của Đức Chúa Trời trong thế giới các biến cố loài người? Chúng ta không thể chỉ xem xét một nhóm các “biến cố” phức tạp và đi đến kết luận về Đức Chúa Trời từ nơi chúng, cũng như chúng ta không thể xem xét thiên nhiên và kết luận về Đức Chúa Trời từ nơi đó. Điều chúng ta tìm được trong Kinh Thánh, khi đối mặt với nan đề nầy, không phải chỉ là vấn đề thuật lại lịch sử mà là cách giải thích lịch sử.
Lời tuyên bố Đức Chúa Trời hành động trong lịch sử dân Do Thái, chẳng hạn, là một cách giải thích dựa trên lịch sử đó bởi những con người xem xét nó từ một quan điểm đặc biệt. Ý nghĩa nội tại của tình tiết Biển đỏ là một ý nghĩa được truyền đạt cho chúng ta bởi những con người mà niềm tin của họ đặt nơi Đức Chúa Trời khiến họ hiểu được sự kiện ấy theo cách rất đặc biệt.
Chúng ta thấy rằng đối với một số người dường như Đức Chúa Trời ban cho họ sự hiểu biết đặc biệt. Qua họ, ý muốn và mục đích của Ngài gần gũi với chúng ta hơn là qua những người khác trong cùng trường hợp đó. Những người nầy được gọi là “các tiên tri.” Chúng ta thường nghĩ đến một vị tiên tri như là một người nói trước tương lai, như thể người ấy có được quả cầu thủy tinh được bảo đảm bởi Thượng Đế. Mặc dầu đúng là các tiên tri trong Cựu ước thường nói về tương lai và điều tương lai mang lại, tầm quan trọng chính của họ là tư cách phát ngôn nhân của Đức Chúa Trời, những người báo trước về ý định của Đức Chúa Trời cũng như nói trước về tương lai. Và họ nói với uy quyền. Họ không nói một cách nhút nhát.
“Đối với tôi dường như một khả năng hợp lý đó là trong những hoàn cảnh nhất định chúng ta chỉ có thể giải thích ý muốn của Đức Chúa Trời là vì vậy-cho nên,”
Không, khi phải nói điều gì, họ nói như sấm truyền:
“GIÊHÔVA ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN NHƯ VẦY!”
và sau đó công bố ý muốn của Đức Chúa Trời cho tình huống riêng biệt đó. Các tiên tri báo cho dân sự điều Đức Chúa Trời sắp sửa làm, và điều mà Ngài sẽ làm vào thời điểm đó; họ chỉ rõ rằng Đức Chúa Trời đang hành động, rằng họ dự phần vào, rằng họ không ngồi yên và để mặc cho mọi sự xảy ra. Và vì vậy bởi việc chứng kiến một Đức Chúa Trời hành động, họ đã là và vẫn là một phương tiện để qua đó Đức Chúa Trời mặc khải cho những người còn lại trong chúng ta.
Chúng ta sẽ xem xét những sự hiểu biết của các tiên tri nầy khá chi tiết khi đọc cuốn sách nầy. Còn bây giờ chỉ hãy lưu ý Đức Chúa Trời, Đấng mà các tiên tri đã cho chúng ta được làm quen với, là như thế nào. Ngài là Đức Chúa Trời của sự công bình nghiêm nhặt, Đấng đã truyền rằng chúng ta phải công bình nghiêm túc trong mọi cách giao tiếp xử sự của con người mình (Amốt); Ngài cũng là Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót và nhân từ, không sẵn sàng từ bỏ dân sự dầu họ đáng bị từ bỏ (Ôsê); Ngài là thánh, cao trọng và được cất nhắc, là Đấng “khác biệt” với chúng ta (Êsai). Phần lớn hiểu biết riêng của chúng ta về Đức Chúa Trời là kết quả những lời tuyên bố gây thu hút của các vị tiên tri.
Đức Chúa Trời Mặc Khải Chính Mình Ngài Cách Tối Thượng Qua Một Thân Vị - Chúa Cứu Thế Jêsus .
Toàn bộ Cựu ước đều hướng về điều nầy. Một số các nhà tiên tri đã nói đến Đấng Chịu Xức Dầu (“Mêsia” là từ Hybá) Đấng sẽ đến từ Đức Chúa Trời để tỏ cho loài người biết Đức Chúa Trời là Đấng nào, và Ngài truyền dạy họ điều gì. Nói cách khác, giữa tất cả những gì đã xảy đến trong lịch sử Do Thái, một điều xảy ra có ý nghĩa hơn bất cứ điều nào khác; giữa vòng tất cả những nhân vật lịch sử Do Thái, sẽ xuất hiện một con người quan trọng hơn bất cứ con người nào khác, và qua các biến cố của đời sống con người nầy, sự mặc khải của Đức Chúa Trời sẽ được làm trọn vẹn hơn là đã được bày tỏ trước đây. Cựu ước chờ đợi “kỳ trọn vẹn” khi mọi sự nầy sẽ xảy đến. Vào một thời kỳ, dân chúng kêu khóc với Chúa qua một hình ảnh thật sống động: “Ôi! Ước gì Ngài xé rách các từng trời, Ngài ngự xuống” (EsIs 64:1).
Lời tuyên bố của Tân ước chính là sự đáp lời cho tiếng kêu ấy. Đức Chúa Trời đã đến cùng con người, bởi vì con người không thể đến với Đức Chúa Trời. Ngài đã đến bằng phương cách duy nhất mà họ có thể hiểu được, là một con người, giống như chính họ. Điều nầy, cũng là điều mà đức tin Cơ Đốc xưng nhận, là sự bày tỏ tuyệt đỉnh của Đức Chúa Trời cho con người: Đức Chúa Trời tỏ bày chính mình Ngài cách trọn vẹn nhất trong những sự kiện tập hợp lại chung quanh một Chúa Jêsus, được gọi là Đấng Christ. (“Christ là tiếng Hy lạp tương đương với từ Mêsia” trong tiếng Hêbơrơ. Những từ nầy có thể dùng thay thế cho nhau). Trong khi Cựu ước nói bằng những thuật ngữ chung chung về lời Đức Chúa Trời, hoặc quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, thì Tân ước nói bằng những thuật ngữ hết sức cụ thể khi xem xét Chúa Cứu Thế Jêsus: “Ngôi lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta” (GiGa 1:14).
Những hàm ý của lời tuyên bố trọng yếu nầy, điều ngạc nhiên nhất từng được thực hiện, sẽ chiếm phần lớn sự chú ý của chúng ta suốt quyển sách nầy. Điều chúng ta phải nhìn thấy rõ ràng ở tại điểm nầy đó là khi Kinh Thánh phán về Đức Chúa Trời thì không chỉ nói về Đức Chúa Trời; mà Kinh Thánh tỏ cho chúng ta Đức Chúa Trời hành động trong bối cảnh loài người, trong đời sống một con người. Như vậy Đức Chúa Trời tỏ mình cho chúng ta bằng cách nào? Cuối cùng và mang tính quyết định, Đức Chúa Trời đã tự bày tỏ mình bằng cách chính Ngài đã đến với chúng ta qua Chúa Cứu Thế Jêsus, là Đấng bước vào mối tương giao với chúng ta, mang lấy trên chính mình Ngài những giới hạn của kiếp người, thậm chí chịu khổ và chịu chết như là sự bày tỏ tối hậu của tình yêu và sự khao khát Đức Chúa Trời dành cho chúng ta để bước vào mối thông công trọn vẹn hơn với chúng ta. Chúng ta hãy quyết định điều phải làm với Ngài.
Đức Chúa Trời Bày Tỏ Chính Mình Ngài Qua Đời Sống Của Một Cộng Đồng
Những người quyết định những tuyên bố về Ngài là đúng đã họp thành cái được gọi là Hội Thánh Cơ Đốc. Và trong sự sống của Hội Thánh, Đức Chúa Trời tiếp tục hành động, sống động, để mặc khải chính mình Ngài. Trước khi khảo sát ý niệm này, chúng ta phải nhắc nhở chính mình rằng Hội Thánh không chỉ đột ngột xuất hiện và tồn tại “từ ban đầu” vào khoảng năm 30 S.C. Trên thực tế, những Cơ Đốc Nhân đầu tiên, thường ám chỉ mình như là “dân Ysơraên mới” gợi ý rằng họ đứng vào chỗ tiếp nối với Ysơraên cũ. Người Ysơraên cũ, như chúng ta đã thấy, là một dân tộc được kêu gọi, được biệt riêng, qua họ Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính mình Ngài. Những người Ysơraên đã đến chỗ hiểu rằng họ phải là “ánh sáng cho các dân tộc” (EsIs 42:6), có nghĩa là đến phiên họ phải làm cho thế giới còn lại biết Đức Chúa Trời là Đấng đứng cùng họ trong mối quan hệ thân mật đó.
Bây giờ đây chính xác là công tác mà Tân ước tuyên bố nấy trên Hội Thánh Cơ Đốc. Những Cơ Đốc Nhân đầu tiên đã tìm cách rao truyền “tin mừng” của điều Đức Chúa Trời đã thực hiện qua Đấng Christ cho mọi người sống trên khắp trái đất. “Dân Ysơraên mới” đã mang lấy trên chính họ công việc mà Ysơraên cũ đã không thực hiện bởi vì Ysơraên cũ không chấp nhận Chúa Jêsus là Đấng Mêsia của lời hứa. Vì vậy, từ quan điểm Cơ Đốc, công tác của dân Do Thái đã được tìm thấy và trở thành công tác của Hội Thánh Cơ Đốc. Lời tuyên bố nầy là, qua lịch sử của cộng đồng được nối tiếp đó, như đã được ký thuật trong cả Cựu lẫn Tân ước, hành động của Đức Chúa Trời hằng sống vẫn tiếp tục được mặc khải. Một cái nhìn lướt qua sách Côngvụ chẳng hạn, một trong những tài liệu đáng phấn khích nhất trong toàn bộ văn phẩm, sẽ cho bạn thấy thể nào qua đời sống của cộng đồng Cơ Đốc, quyền năng và sự hiện diện của Đức Chúa Trời hằng sống tiếp tục được bày tỏ ra bằng những cách mới. Bởi vì Đức Chúa Trời đang sống chứ không chết, nên hoạt động của Ngài không ngừng lại ở bất kỳ thời điểm nào, mà cứ tiếp tục qua ống dẫn sự chỉ định của Ngài - là mối thông công của các Cơ Đốc Nhân, được biết là Hội Thánh.
Đức Chúa Trời Mặc Khải Chính Mình Ngài Qua Một Quyển Sách .
Làm sao chúng ta biết tất cả những điều đó? Chúng được chép trên các trang giấy in trong Kinh Thánh của chúng ta. Vì vậy Kinh Thánh chính là một phương tiện để Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho chúng ta, bởi vì nhờ đọc Kinh Thánh mà chúng ta thấy Ngài đối mặt với mình.
Nhưng chúng ta phải cẩn thận ở đây. Có sự khác biệt giữa Đức Chúa Trời với những lời tuyên bố về Đức Chúa Trời. Những lời tuyên bố trong Kinh Thánh ra từ các sự kiện lịch sử mà Kinh Thánh mô tả, và những tuyên bố nầy được tập hợp lại với nhau, được viết lại, được nối kết với nhau, và được dịch bởi con người. Chúng ta tin rằng những người nầy được cảm động bởi quyền năng và Thánh Linh của Đức Chúa Trời một cách riêng lẻ, nhưng điều nầy không khiến họ không còn là con người. Vì vậy chúng ta sẽ nghe lời của con người trong Kinh Thánh cũng như lời của Đức Chúa Trời.
Có thể một vài minh họa sẽ làm rõ điều nầy. Hãy hình dung bạn mua một chiếc đĩa hát, trên nhãn hiệu có câu “Âm thanh Bậc Thầy” khi lắng nghe đĩa hát bạn nghe được tiếng của người nghệ sĩ bậc thầy-Caruso, Flagstad hoặc thậm chí của Bing Crosby. Tuy nhiên không phải chỉ có giọng người nghệ sĩ bậc thầy. Còn có những tiếng ồn khác - tiếng xào xào do đĩa hát được chế tạo bởi con người. Điều nầy không có nghĩa là chúng ta không nghe được tiếng của bậc thầy, nhưng đơn giản là chúng ta phải cẩn thận để phân biệt giữa những âm thanh của chủ nhân và những tiếng động trên bề mặt của đĩa hát. Với Kinh Thánh cũng vậy, chúng ta luôn phải đối diện với trách nhiệm phân biệt giữa những âm thanh do tiếng nói của Vị thầy, và những gì là tình huống con người khi viết lại những lời mà hiện nay chúng ta có.
Hoặc hãy thử tưởng tượng bạn đang đứng trước một bức tường gạch. Chỉ khi nào có một chiếc cửa sổ trên tường thì bạn mới có thể nhìn xuyên qua tường được. Thậm chí lúc ấy, nếu chỉ nhìn vào khung cửa sổ, bạn cũng không thể thấy quang cảnh ở đàng xa. Vì vậy bạn phải nhìn qua khung cửa sổ và tập trung sự chú ý của mình vào những gì nằm ở đàng xa. Tương tự như vậy, Cơ Đốc Nhân không được nhìn quá nhiều vào Kinh Thánh cho bằng qua Kinh Thánh để thấy những cuộc đối mặt giữa Đức Chúa Trời với loài người được mô tả trên các trang giấy in. Chúng ta không thể thấy gì cả nếu không có những trang giấy in nầy. Nếu chúng ta chỉ nhìn Kinh Thánh, những lời tuyên bố và những đề nghị của Kinh Thánh, thì hình ảnh bên kia có thể bị mù mờ; chúng ta không đến chỗ biết Đức Chúa Trời trọn vẹn như phải biết. Nhưng nếu chúng ta nhìn xuyên qua Kinh Thánh, thì nó phục vụ như một loại cửa sổ mà nhờ đó Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế được đưa vào đúng trọng tâm. Như vậy Kinh Thánh là phương tiện để Đức Chúa Trời tạo được ảnh hưởng mạnh mẽ của Ngài trên chúng ta ngày nay.
Kết Toán
Như vậy đây là điều được cộng thêm:
Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài.
Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua các sự kiện lịch sử.
Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua những con người.
Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài cách tối thượng qua một nhân vật - Chúa Cứu Thế Jêsus.
Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua đời sống của một cộng đồng.
Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua một quyển sách.
Công việc tiếp theo của chúng ta là cố gắng tìm biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời, Đấng đã mặc khải chính mình Ngài bằng những phương cách lạ lùng nầy.
Chương 4: Đức Chúa Trời, Sáng Thế Ký và Gia Phả
(Mọi Sự Từ Đâu Mà Có? )
Bảo rằng hầu hết mọi người đều muốn biết rõ Đức Chúa Trời là điều vô lý.
Bảo rằng hầu hết chúng ta đều muốn trốn tránh Đức Chúa Trời và muốn Ngài để mặc chúng ta, là điều gần với sự thật hơn. Ít ra đó là điều Kinh Thánh phán và là một ý tưởng khá ngạc nhiên.
Làm Thế Nào Để Trốn Đức Chúa Trời
Qua Bốn Bài Học dễ Dàng
Chúng ta biết câu chuyện về một tác giả Kinh Thánh ra sức trốn khỏi Chúa, và điều gì đã xảy ra. Lời ký thuật nầy được chép trong Thi Tv 139:1-24. Đây là chỗ thích hợp để bắt đầu nghiên cứu về Đức Chúa Trời của Thánh Kinh, bởi vì nó sẽ giữ chúng ta không “quá tình cảm” khi nghĩ về Ngài.
Đức Chúa Trời đã đến quá gần tác giả, là người bị kinh khủng bởi ý tưởng Đức Chúa Trời của trời và đất đang ở rất gần. Nếu bạn có một người bạn có thể “nhìn thấu lòng bạn” khi bạn lừa dối, và là người biết bạn hầu như rất rõ, bạn phần nào hiểu được cách tác giả nầy cảm nhận, bởi vì ông khám phá Ngài biết ông quá rõ: “Vì lời chưa ở trên lưỡi tôi, kìa hỡi Đức Giêhôva, Ngài đã biết trọn hết rồi (c. 4). Thật là một tình huống khá khó chịu!
Vì vậy, sự gần gũi của Đức Chúa Trời khiến ông bối rối, ông quyết định đặt một khoảng cách lớn giữa chính mình và Đức Chúa Trời. Đây là điều con người vẫn thường làm theo nhiều cách khác nhau khi Đức Chúa Trời hằng sống trở nên quá gần. (Chỉ có những vị thần “dễ bảo” mà tự tay chúng ta đã làm ra thì sự hiện diện của họ mới làm cho chúng ta cảm thấy dễ chịu.) Đức Chúa Trời hằng sống thường truyền các mệnh lệnh. Vì vậy tác giả Thithiên tưởng tượng bốn cách để trốn tránh:
1. Ông sẽ “lên trời,” tìm nơi trú ẩn, trongng một thế giới mà dường như có hoạch định kỹ càng để Đức Chúa Trời trở nên thừa thải, một “bầu trời” thật sự theo trí tưởng tượng riêng của người ấy.
Nhưng không hiệu quả. Đức Chúa Trời có ở đó.
2. Vì vậy người ấy quyết định đặt giường mình nằm tại “Âm phủ,” là nơi người đó biết chắc Đức Chúa Trời không có mặt.
Nhưng, xui xẻo thay, Đức Chúa Trời có ở đó, ngay tại nơi Ngài không có việc gì để ở!
3. Bấy giờ tác giả kinh hoảng, vì vậy ông quyết định chạy thật xa đến các đầu cùng của đất,: “Ở tại cuối cùng biển.” Đức Chúa Trời không thể nào theo kịp người ấy. Người ấy sẽ qua mặt Chúa!
Không may. Đức Chúa Trời có ở đó trước ông.
4. Cuối cùng người ấy quyết định bao phủ mình bằng“sự tối tăm.”
Một lần nữa, Đức Chúa Trời tìm thấy ông.
Không lối thoát. Không chỗ trốn tránh.
Bài học: Bạn Không Thể Trốn Khỏi Đức Chúa Trời
Điều nầy thật không chịu đựng nỗi! Dầu tác giả Thithiên đi đến đâu Đức Chúa Trời cũng có ở đó trước. Điều tác giả đã nói ban đầu rốt lại là đúng: “Chúa bao phủ tôi phía sau và phía trước, đặt tay Chúa trên mình tôi.” Người ấy đã bị mắc kẹt. Không thể thoát ra được. Trong cuộc đeo đuổi không khoan nhượng nầy, Đức Chúa Trời theo sát ông dầu ông có ra sức trốn tránh đến đâu.
Như vậy rõ ràng tác giả Thithiên đã nhận biết rằng ông bị kẹt vào một cuộc chiến nắm chắc phần thua. Ông không thể nào trốn khỏi Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nhất định kiểm soát cuộc đời của ông. Một ý nghĩ lạ lùng, có lẽ đây là đời sống thực sự. Có lẽ ông đã được biến trở thành một người đầu phục, để thừa nhận Đức Chúa Trời, để thay đổi và gặp gỡ Ngài, thay vì trốn chạy khỏi Ngài. Và vì vậy một ghi nhận mới đã bước vào Thithiên nầy (c.13). Tác giả đi từ sợ hãi sang ngợi khen. Và bây giờ những tư tưởng của Đức Chúa Trời, thay vì đáng sợ trở nên “quý báu” (c.17). Thay vì trốn khỏi Đức Chúa Trời vì sợ hãi, ông sẽ phải được tái tạo, ông trở lại với Chúa trong sự tin cậy phó thác trọn vẹn và xin được tái tạo:
Đức Chúa Trời ơi , xin hãy tra xét tôi , và biết lòng tôi ;
Hãy thử thách tôi và biết tư tưởng tôi ;
Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng ,
xin dắt tôi vào con đường đời đời !
(Thi Tv 139:23, 24).
Ghi chú dành cho độc giả thận trọng: Các câu 19-22 trong Thithiên nầy , như bạn sẽ thấy trong Kinh Thánh của mình , thật nóng nảy và cay đắng . Tác giả ghét những kẻ thù của Chúa “thật là ghét ” và cầu cho chúng bị hủy diệt . Đây là một sự nhắc nhở thích đáng cho chúng ta về tính người của tác giả Thithiên . Ông phản ứng rất giống chúng ta (hãy nghĩ đến kẻ thù tồi tệ nhất của Chúa mà bạn biết và xem có phải không dễ để nói những câu như vậy về họ chăng ). Vì vậy những câu Kinh Thánh nầy nhắc nhở chúng ta rằng thậm chí trong giây phút có sự hiểu biết thuộc linh cao độ , chúng ta vẫn có thể làm hỏng sự nhận biết ấy . Điều nầy làm cho các câu 23, 24 càng quan trọng hơn .
Nguy Hiểm, Khó Khăn, Chỉ Thị, và Lời Chẩn Đoán
Kinh nghiệm nầy của tác giả Thithiên khiến chúng ta phải coi chừng việc nói hấp tấp về Đức Chúa Trời của Kinh Thánh. Vì vậy chúng ta hãy luôn nhớ một vài điều sâu xa hơn.
Thứ nhất, một sự nguy hiểm . Có điều gì đó hết sức ngạo mạn trong phỏng đoán của chúng ta cho rằng mình có thể hiểu hoặc (thậm chí tồi tệ hơn) viết về Đức Chúa Trời. Bởi vì chúng ta luôn rơi vào sự nguy hiểm của việc hạ thấp Đức Chúa Trời thành một “vật thể,” thành một “cái gì đó” để chúng ta có thể mô tả hoặc vẽ đồ thị. Cũng vậy, chúng ta cần phải nhớ rằng mình chưa có được “toàn bộ câu chuyện về Đức Chúa Trời,” thậm chí khi đã nói tất cả những gì có thể nói, chúng ta cũng mới chỉ cào trên bề mặt mà thôi. Không ai có được một cái nhìn đầy đủ không bị cản trở về sự oai nghi tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Câu chuyện Môise chỉ được phép nhìn thấy “phía sau” Đức Chúa Trời mà thôi là một nỗ lực hết sức sớm sủa để làm rõ quan điểm nầy. (Xem XuXh 33:17-23) Vì vậy chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng mình có thể thu nhỏ Đức Chúa Trời thành một loạt những lời tuyên bố hoặc thành bốn đoạn trong một cuốn sách.
Thứ nhì, sự khó khăn . Chúng ta thấy thật khó để suy nghĩ về Đức Chúa Trời ngoại trừ bằng những gì đến từ kinh nghiệm con người. Vì vậy chúng ta mô tả Đức Chúa Trời bằng những gì dường như khiến Ngài giống như chúng ta - to lớn hơn, có lẽ, và lâu đời hơn, kinh nghiệm nhiều hơn, có thể với bộ râu dài, ngự trên một chiếc ngai. Kiểu giới hạn Chúa trong những ý niệm của trường sơ cấp là điều nhất định phải tránh. Tuy nhiên, mặt khác của sự lập luận nầy, chúng ta có thể lưu ý những phạm trù rút ra từ kinh nghiệm của chính chúng ta chỉ là những gì qua đó chúng ta có thể suy nghĩ, và nếu chúng ta không khẳng định quá nhiều về chúng, một số trong những phạm trù con người mà chúng ta sử dụng có thể gần với tiêu chuẩn nhiều hơn là những phạm trù phi thân vị. Chẳng hạn khi chúng ta nói rằng Đức Chúa Trời là Đấng “có thân vị,” chúng ta không hàm ý rằng Ngài là một “con người” như chúng ta, có hai tay, hai chân, móng tay, mà là, bất cứ điều gì khác chúng ta có thể nói về Ngài, Ngài ít nhất là một con người chúng ta có thể có mối tương giao cá nhân và thông công. Ngài có thể còn hơn nhiều (và nhất định như vậy), nhưng bởi vì chúng ta bước vào mối tương giao với những con người chứ không phải với đá, chúng ta sử dụng các phạm trù về con người chứ không phải về địa chất học để nói đến mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời.
Mọi nỗ lực nhằm “phô diễn Đức Chúa Trời bằng lời” đòi hỏi một phương cách truyền đạt không chuẩn, bởi vì chúng ta đang cố gắng mô tả bằng chính kinh nghiệm của mình một Đấng vĩ đại hơn tất cả những kinh nghiệm của mình. Chúng ta phải công nhận sự thiếu kém của các biểu tượng loài người đồng thời chúng ta vẫn tiếp tục sử dụng chúng - bởi vì chúng ta không có phương tiện khác. Cũng giống như người họa sĩ cố gắng mô tả ba chiều kích ở trên khung vải hai chiều kích của mình. Chúng ta hãy nói rằng bức tranh của người ấy có những đường xe lửa bị khuất ở chân trời. Thật vậy, đường xe lửa thì song song ngay với chân trời, nhưng trên khung vải chúng không song song. Chúng hướng vào nhau và cuối cùng nối với nhau. Khi chúng ta thấy bức vẽ nầy trong một phòng triển lãm tranh, người họa sĩ thành công trong việc nói cho chúng ta sự thật (các đường xe lửa song song với nhau) bằng cách vẽ một điều khác (các đường xe lửa của người ấy không song song). Ngôn ngữ về Đức Chúa Trời cũng rất giống như vậy. Bởi vì chúng ta cũng giống như người họa sĩ đang cố gắng đưa vào chiều kích kinh nghiệm của chính mình điều bao la hơn kinh nghiệm chính mình có thể hiểu đầy đủ.
Thứ ba, một lời chỉ dẫn . Chúng ta hãy nhớ rằng sự hiểu biết Đức Chúa Trời của Kinh Thánh luôn lưu lại một cảm nhận về sự bí mật. Thành ngữ của người La tin, mysterium tremendum phải quen thuộc với bất cứ ai ra sức nói, viết, hoặc nghĩ về Đức Chúa Trời. Luôn có một yếu tố của sự kinh sợ, kỳ diệu, của điều gì đó gần gần với sự sợ hãi nhưng không phải hoàn toàn giống như sự sợ hãi. Những từ mô tả cái “lạnh” không lột tả được điều nó hàm ý, nhưng một câu trích từ Gió Lùa Trong Rặng Liễu làm cho ý nghĩa trở nên tuyệt vời. Có lẽ bạn còn nhớ lúc Con Chuột Xù (Rat) và con chuột chủi (Mole) đang tìm kiếm con Portly, một con rái cá con đã bị lạc mất. Chúng bị sững sờ bởi âm nhạc huyền bí của “người thổi sáo tại các cổng bình minh,” thần thú vật Pan. Chúng bèn tìm đường hướng đến nơi phát ra tiếng nhạc.
Thình lình con Chuột Chủi chợt cảm thấy một nỗi Kinh Sợ ập lên mình, nỗi kinh sợ khiến cho các bắp thịt nó tan thành nước, đầu nó cúi xuống, và hai chân nó cắm rễ trong lòng đất. Đó là một nỗi sợ hãi kinh khiếp - Thật sự nó cảm thấy bình an và hạnh phúc một cách tuyệt vời - nhưng đó là một nỗi kinh sợ đã thu hút và cầm giữ nó, dù không thấy, nó biết đó chỉ có nghĩa là có một Sự Hiện Diện oai nghiêm nào đó hết sức gần.
Cuối cùng con chuột Chủi đã dám ngẩng lên và thấy mình đang ở trước sự hiện diện của “Người Bạn Hữu và Cứu Giúp”, ở với người ấy được an toàn và thỏa mãn, là con rái cá con.
“Chuột xù!” Nó lấy lại hơi thở để thì thào, run rẩy: “Anh có sợ không?”
“Sự ư?” Con chuột Xù lẩm bẩm, cặp mắt nó sáng ngời tình yêu không thể nói ra được: “Sợ Ngài ư? Ô không bao giờ! Không bao giờ! A, tuy nhiên -vâng-chuột Chủi à, tôi sợ.” Trong kinh nghiệm “ngoại giáo” nầy, Kenneth Grahame đã lột tả cách đáng nhớ một ghi nhận đáng tin cậy của Kinh Thánh, một ghi nhận đã được bày tỏ qua các đoạn Kinh Thánh như là EsIs 6:1-8; 40:1-31; 45:1-25; Exe Ed 3:1-27 Giop G 42:1-6 và vô số những đoạn khác.
Thứ tư, một sự chẩn đoán . Chúng ta phải đối diện với một sự kiện gây bối rối đó là, có những khái niệm khác nhau về Đức Chúa Trời của Kinh Thánh, đặc biệt là trong Cựu ước. Nhiều lúc Ngài dường như là một nhà chuyên chế tàn bạo, ưa thích sự chết của những người nam và người nữ. Những lúc khác, Ngài là hiện thân của lòng thương xót và sự tha thứ. Nhiều lúc Ngài chỉ là một vị thần giữa vòng nhiều thần, Những lúc khác nữa, Ngài lại là Đức Chúa Trời duy nhất.
Chúng ta có thể nói gì về điều nầy? Đơn giản chúng ta phải nhớ rằng Cựu ước đến từ đời sống và kinh nghiệm của hằng trăm năm lịch sử Do Thái, trong đó ý thức dân tộc trở nên sâu nhiệm hơn, và qua quá trình đó, Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài đầy đủ hơn cho họ khi họ có thể tiếp thu và đáp ứng với Ngài. Đức Chúa Trời mặc khải chính mình cho con người ngay hơi họ sống, chứ không phải nơi nào khác. Ngài đến với tầm nhìn còn mờ đục của họ, ở giữa những nền văn hóa chưa hoàn hảo của họ, trong chỗ tội lỗi và thờ hình tượng của họ, và họ đáp ứng trước các mạng lệnh của Ngài khi họ hiểu chúng , lúc ấy và tại đó. Sự đáp ứng của họ cũng chưa trọn vẹn, bởi vì họ là con người chứ không phải là Đức Chúa Trời. Kết quả là họ truyền lại cho chúng ta những sự hiểu biết không có giá trị và không đủ tầm quan trọng. Cơ Đốc Nhân, người đã nhìn thấy quá trình mặc khải nầy đến cao điểm của nó qua Chúa Cứu Thế, có thể xem Ngài như là “chiếc thước đo” để qua đó phán xét mọi biến cố trong sự mặc khải của Kinh Thánh. Chúng ta không muốn bắt chước những điều tàn bạo mà người Ysơraên đã làm để đáp ứng trước điều họ cảm nhận là ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho họ. Nhưng ít ra chúng ta cũng học tập từ nơi họ điều này-cũng giống như họ tìm cách vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời khi lời Ngài đến với họ trong thời điểm của họ, chúng ta có bổn phận tương tự là phải vâng theo ý muốn của Chúa khi lời Ngài đến với chúng ta trong thời đại của mình.
Tương tự như vậy, khi tình cờ thấy những câu có liên quan đến “các thần khác” trong các sách ban đầu của Thánh Kinh, chúng ta phải đặt niềm tin nầy trong bối cảnh của niềm tin Do Thái đã được thiết lập vững chắc về sau nầy rằng chỉ có một Đức Chúa Trời và một mà thôi, và rằng mọi người phải có lòng trọn thành đối với Ngài. “Hỡi Ysơraên! Giêhôva Đức Chúa Trời chúng ta là Giêhôva có một không hai” (Phục. 4) là lời khẳng định căn bản niềm tin trưởng thành của Cựu ước. Tất cả những niềm tin khác phải được phán xét trong ánh sáng của niềm tin ấy.
Vì vậy trong những gì tiếp theo, chúng ta hãy nhớ sự nguy hiểm, sự khó khăn, sự chỉ dẫn, và sự chẩn đoán. Câu chuyện về “sự tiệm tiến” của các ý tưởng về Đức Chúa Trời là một câu chuyện thú vị, nhưng đó không phải là mối quan tâm của chúng ta ở đây. Chúng ta phải tìm cách để nhìn thấy Đức Chúa Trời hằng sống bước vào đời sống của những người trong Thánh Kinh, ngõ hầu chúng ta có thể được chuẩn bị để Ngài cũng bước vào đời sống mình.
Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hóa
Trong lịch sử lâu dài, xoắn theo đường trôn ốc qua đó dân tộc Do Thái đã đến chỗ nhìn biết Đức Giêhôva, chủ nghĩa độc thần (niềm tin nơi một Đức Chúa Trời ) cuối cùng đã trở thành nền tảng tuyệt đối. Và một khi dân Do Thái nhận biết rằng có một Đức Chúa Trời và chỉ một mà thôi, một hệ quả hết sức quan trọng của niềm tin nầy trở nên rõ rệt đối với họ: Đức Chúa Trời có một, Đấng tể trị tất cả mọi sự, cũng là Đấng tạo dựng mọi vật. Mối quan hệ giữa các ý tưởng nầy được minh họa cách đầy ấn tượng qua một khúc Kinh Thánh trong Êsai, được viết trong thời kỳ Lưu đày Babylôn.
Vì Đức Giêhôva, là Đấng đã dựng nên các từng trời, tức là Đức Chúa Trời đã tạo thành đất và làm ra nó, đã lập nó cho bền vững, chẳng phải dựng nên là trống không, bèn đã làm nên để dân ở, phán như vầy:
“Ta là Đức Giêhôva , không có Đấng nào khác .” EsIs 45:18).
Lời ghi nhận nầy được lập đi lập lại nhiều lần trong các đoạn về sau của sách Êsai. Những đoạn nầy, cùng với Sángthếký đoạn 1 và 2 (trong hình thức hiện nay của chúng cũng xuất phát từ thời kỳ Lưu đày), là các nguồn phương tiện chính của chúng ta để hiểu biết Đức Chúa Trời của Kinh Thánh, là Đấng Tạo Hóa.
Các Câu Chuyện của Sángthếký - với Những Bổ Sung
Một sự kiện khác về Kinh Thánh mà “đứa trẻ đi học nào cũng biết” là các đoạn đầu của Sángthếký, thuật lại sự sáng tạo thế giới. Thật ra, không phải đứa trẻ đi học nào cũng biết là có hai lời ký thuật về Sự Sáng Tạo, một ở trong SaSt 1:1; 2:4a và một ở trong SaSt 2:4b đến câu 25. Trước khi đọc tiếp, bạn hãy dành năm phút để đọc hai khúc Kinh Thánh trên, và năm phút nữa để suy nghĩ về chúng.
Tầm quan trọng về mặt tín ngưỡng đích thực của các câu chuyện nầy là gì? Khi cố gắng trả lời câu hỏi đó, chúng ta khám phá rằng các lời ký thuật sâu nhiệm hơn ngoài bề mặt nhiều. Sau đây là một số điểm bắt đầu:
1. Các câu chuyện nầy , trước hết là những câu chuyện về Đức Chúa Trời . Chúng phà khắp bầu không khí sự oai nghiêm, quyền phép, và sự thánh khiết của Ngài. Cụm từ “thánh khiết” trong Kinh Thánh gợi lên ý niệm về “ sự khác biệt”; tức là Đức Chúa Trời là khác hơn, lớn hơn trật tự được sáng tạo. Sử dụng một từ dài dòng hơn, Đức Chúa Trời là “Đấng siêu việt hơn”; tức là, Ngài không bị bó hẹp bên trong thế giới nầy, nhưng vượt lên trên, vượt ra ngoài, lớn hơn những gì Ngài đã tạo dựng. Sự hiểu biết nầy về Đức Chúa Trời được hàm ý xuyên suốt câu chuyện Sángthếký và được tuyên bố hết sức rõ ràng dứt khoát trong sách Êsai, là sách được viết vào cùng khoảng thời gian. Nhà tiên tri của thời Lưu đày đã tỏ rõ quan điểm của ông bằng vẻ đẹp không thể ví sánh được:
Ai đã lấy lòng bàn tay mà lường biển , lấy gang tay mà đo các từng trời? Ai đã lấy đấu mà đong bụi đất? Ai đã dùng cân mà cân núi , và dùng thang bằng mà cân gò? ...
Kìa , các dân tộc khác nào một giọt nước nhỏ trong thùng , và kể như là một mảy bụi rơi trên cân ; nầy , Ngài giở các cù lao lên như đồ vật nhỏ . Rừng Liban chẳng đủ đốt lửa , những thú vật ở đó chẳng đủ làm của lễ thiêu . Mọi dân tộc ở trước mặt Đức Giêhôva thảy đều như không , Ngài xem như trống không và hư vô vậy ...
Các ngươi không biết sao? Vậy thì các ngươi không nghe sao? Người ta há chưa dạy cho các ngươi từ lúc ban đầu? Các ngươi há chẳng hiểu từ khi dựng nền đất? Ấy là Đấng ngự trên vòng trái đất nầy . Các dân cư trên đất như cào cào vậy . Chính Ngài là Đấng giương các từng trời ra như cái màn , Ngài giương ra như trại để ở . Chính Ngài là Đấng làm tiêu diệt các quan trưởng và làm cho các quan xét trên đất ra hư không .
EsIs 40:12, 15-17, 21-23).
Đó chính là Đức Chúa Trời của sự sáng tạo - Đức Chúa Trời của sự oai nghi, quyền năng, siêu việt, trước mặt Ngài chúng ta phải đứng trong sự kinh sợ.
Điều nầy có nghĩa người nào biết suy nghĩ đúng Kinh Thánh, sẽ không thể nào “thờ lạy thiên nhiên,” hoặc tin rằng thiên nhiên là Đức Chúa Trời. Niềm tin ấy (được gọi là “chủ nghĩa phiếm thần,” tức là mọi sự đều là Đức Chúa Trời) là một niềm tin ngoại giáo, đã bị bác bỏ bởi sự nhấn mạnh của Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời dựng nên thiên nhiên, Ngài vượt trên thiên nhiên, vượt xa thiên nhiên. Một trong các Thithiên đã phân biệt rõ điều nầy:
Thuở xưa Chúa lập nên trái đất , các từng trời là công việc của tay Chúa .
Trời đất sẽ bị hư hoại , song Chúa hằng còn ; Trời đất sẽ cũ mòn hết như áo xống ; Chúa sẽ đổi trời đất như cái áo , và nó bị biến thay ;
Song Chúa không hề biến cải , các năm Chúa không hề cùng .
(Thi Tv 102:25-27).
2. Điều thứ hai mà chúng ta học được từ các câu chuyện Sáng tạo đó là mọi sự đều lệ thuộc vào Đức Chúa Trời . Tôi không phải “chủ nhân số phận mình” hoặc là “vị chỉ huy linh hồn mình.” Mà chính là Đức Chúa Trời. Chúng ta không đặt chính mình vào đây. Mà chính là Chúa. “Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài” (100:3). Sự sống không phải là điều chúng ta kiếm được hoặc xứng đáng được, mà là điều đã được ban cho chúng ta. Đó là một món quà. Chúng ta không cầu xin để có nó, hoặc kiếm được nó. Chúng ta chỉ nhận lãnh sự sống. Cô gái mà bạn đang yêu, bậc cha mẹ đang chăm sóc bạn - đều là những sự ban cho của Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hóa. Mọi sự đều có ý nghĩa và tầm quan trọng bắt nguồn từ Đức Chúa Trời. Ngài không những là Đấng tạo dựng vũ trụ mà còn là Đấng nâng đỡ vũ trụ.
Hãy ngừng lại một chút để suy gẫm từ mới được nói. Tin nơi sự sáng tạo theo ý nghĩa của Kinh Thánh là phải tin rằng vào mọi thời điểm , trật tự sáng tạo phải lệ thuộc vào Đức Chúa Trời để được duy trì. Không có Ngài, trật tự nầy sẽ ngưng tồn tại. Sẽ là không đủ khi chỉ nghĩ về Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng thế gian “ngày xưa” rồi ngồi xuống bảo rằng: “Còn bây giờ! ta hãy để cho thế giới nầy tự vận chuyển.” Kinh Thánh nhấn mạnh rằng công trình sáng tạo là hoạt động không ngừng nghỉ của Đức Chúa Trời “Cha Ta đã làm việc cho đến bây giờ, Ta đây cũng làm việc như vậy” (GiGa 5:17) là cách Chúa Jêsus kết luận.
3. Các câu chuyện Sáng tạo nhấn mạnh hết sức rõ ràng rằng công trình sáng tạo là tốt lành , bởi vì đó là công việc tay Đức Chúa Trời làm. Chủ đề nầy được nhấn mạnh đặc biệt trong câu chuyện đầu tiên của Sángthếký. Có bốn lần lời nhận định tương tự về công trình sáng tạo được sử dụng: “Và Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.” (Đối chiếu với SaSt 12:1-20; 21:1-34; 24:1-67) Đức Chúa Trời cũng thấy rằng “sự sáng là tốt lành” (câu 4) và trong phần kết luận chúng ta tìm thấy một tuyên bố tổng kết: “Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành” (câu 31). (Phản ứng tự nhiên: “Vậy còn về tất cả các điều ác trên thế giới nầy thì sao?” Chúng ta sẽ bàn đến trong Chương 11 và 12.)
Như vậy thế giới của Đức Chúa Trời là tốt lành. Điều nầy có nghĩa chúng ta phải có một thái độ tích cực đối với thế giới nầy. Chúng ta không phải “từ chối” thế giới nầy, hay đưa hai tay lên trời trong sự tuyệt vọng trước ý tưởng làm được điều gì có ý nghĩa cho nó. Không ai hiểu tính tốt lành của sự sáng tạo cách nghiêm túc lại có thể nói rằng: “Thế giới nầy gian ác đến nỗi tôi phải trốn khỏi nó,” hoặc “con người quá xấu xa đến nỗi tôi ghét hết thảy họ,” hoặc: “Chẳng còn ý nghĩa gì để sống nữa.” Niềm tin của Kinh Thánh là một trong những “sự khẳng định thế giới” chứ không phải “chối bỏ thế giới,” chính xác bởi niềm tin ấy đặt nơi sự tốt lành của sự sáng tạo. (Chúng ta sẽ hiểu điều nầy rõ hơn trong các chương về sau nói về các nguyên tắc đạo đức của Kinh Thánh.)
4. Cuối cùng, các câu chuyện Sáng tạo nhắc nhở chúng ta rằng bởi vì Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới, nên nó có các ý nghĩa và mục đích nằm ở phía sau. Thế giới mà chúng ta đang sống trong đó không “tình cờ” mà có. Cũng không phải đơn giản là sản phẩm của cơ hội hay số phận, mà vũ trụ nầy là kết quả của hoạt động có mục đích của Đức Chúa Trời. Chúng ta không phải “bị mắc kẹt” trong một vũ trụ không thân thiện và thù địch. Mà thay vào đó, Đức Chúa Trời có một chương trình và một phương hướng cho nó. Vì vậy, công tác chính của chúng ta là phải tìm cách khám phá kế hoạch đó và làm cho đời sống mình hài hòa với kế hoạch ấy, hầu cho chúng ta được cùng làm việc với Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, thay vì chống nghịch Ngài. Chúng ta phải giúp mang lại, thay vì cản trở những công việc mà Đức Chúa Trời đã dự định khi Ngài tạo dựng thế gian.
“Nhưng Còn Về Sáng thếký Và Bảng Gia Phả?
Hẳn bạn sẽ dễ chịu khi bỏ mặc vấn đề nầy ở đó. Đây có thể là một chương ngắn. Chúng ta có thể cảm thấy rằng mọi sự đã kết quả khá tốt đẹp. Nhưng không may, chúng ta không thể bỏ mặc vấn đề nầy ở đây. Bởi vì các phần mở đầu nầy của Sángthếký là đề tài của nhiều sự tranh cãi đến nỗi chúng ta không thể làm ngơ sự kiện nầy.
Sự khó khăn nổi lên cách đây khoảng 100 năm khi các nhà khoa học bắt đầu tỏ rõ rằng thế giới đã có đến hàng triệu, hoặc có thể hàng tỉ năm để tiến hóa thành hình thái hiện nay của nó. Những tín hữu trung thành với Kinh Thánh nói rằng điều nầy là phạm thượng. Há không phải Kinh Thánh đã dạy rằng Đức Chúa Trời dựng nên thế giới trong “sáu ngày” hay sao? Không ai sẽ bảo họ rằng:
Sáu ngày = 1 000000000 năm (hoặc tương tự).
Ai đúng - những nhà “sùng đạo” hay các nhà khoa học? Đặt câu hỏi theo cách nầy (như chúng ta vẫn thường làm) là đi trệch mục tiêu. Tốt hơn trước hết chúng ta hãy hỏi xem các câu chuyện Sáng tạo nầy muốn nói gì và không muốn nói gì. Như chúng ta thấy, đó là những câu chuyện ngợi khen Đức Chúa Trời, một Đức Chúa Trời vĩ đại đến nỗi đã tạo dựng vũ trụ. Chúng giải quyết thắc mắc của niềm tin: “Vì sao?” Vì sao có thế giới? Bởi vì Đức Chúa Trời trong sự vĩ đại và yêu thương của Ngài đã cho thế giới có mặt. Bây giờ, để làm cho điều nầy trở thành một vấn đề niềm tin có ý nghĩa sâu sắc, các tác giả nói đôi điều về việc Đức Chúa Trời đã thực hiện toàn bộ điều đó “như thế nào,” và chính ở đây, chỉ ở đây thôi, khoa học đã dấy lên một số thắc mắc. Bởi vì khoa học khảo sát những câu trả lời dành cho câu hỏi: “Bằng cách nào?” Các tác giả của những câu chuyện Sáng tạo đặt các câu chuyện của họ một cách tự nhiên hoàn toàn trên những thông tin chính xác có sẵn cho họ vào khoảng năm 500 T.C. Sự kiện hiểu biết khoa học của chúng ta đã thay đổi một cách đáng kể kể từ đó không làm hỏng hoặc chứng minh những sự hiểu biết về mặt tôn giáo của các tác giả là sai. Hiện nay không có “xung đột” thực sự trong việc tin vào tính chính xác mang tính khoa học của thuyết tiến hóa hiện đại đồng thời tin vào tính chính xác mang tính tôn giáo của các câu chuyện trong Sángthếký.
Hai Lối Nghĩ
Chúng ta phải hiểu rõ ràng rằng khi bàn đến những vấn đề tôn giáo và những vấn đề khoa học, là chúng ta đang bàn đến hai cách mô tả sự thật khác nhau, và hai điều nầy không được lẫn lộn. Sángthếký không phải là lời ký thuật mang tính khoa học về sự Sáng tạo, vì vậy mà không được giải thích theo cách ấy. Sángthếký bàn đến vấn đề “Tại sao?” và câu trả lời của nó là “Đức Chúa Trời.” Khoa học hiện đại xem xét thế giới và hỏi: “Bằng cách nào?” Và câu trả lời của nó là thế giới tiến hóa từ từ - một câu trả lời mà không hề nhằm phá hoại niềm tin đặt nơi Đức Chúa Trời.
Sau đây là bốn tuyên bố:
2 + 2 = 4
Tôi yêu bạn
Babe Ruth đã ghi được 619 điểm trong sự nghiệp liên đoàn chính của anh
Tôi cũng yêu bạn.
Rõ ràng câu 1 và câu 3 thuộc về một trật tự khác so với câu 2 và câu 4. Câu 1 và câu 3 có thể chứng minh bằng thực tiễn: “bạn có thể kiểm tra chúng.” Câu 2 và câu 4 không thể “được chứng minh một cách tương tự; nhưng đối với cuộc sống ý nghĩa, thì chúng có thể “đúng sự thật hơn” nhiều so với bất cứ con số nào của cái gọi là những tuyên bố “căn cứ trên sự thật.”
Hãy xem xét vấn đề nầy theo một cách khác, bởi vì nó quan trọng. Trong vở kịch As You Like It của Shakespeare, chúng ta được biết có “... những cái lưỡi trong cây, những cuốn sách trong các dòng suối nhỏ đang chảy, những bài giảng trong các tảng đá.” Diễn giả muốn nói rằng có những bài học phải được học từ rừng cây. Các phép ẩn dụ giúp nhấn mạnh lẽ thật trong tuyên bố của người ấy. Nhưng lời tuyên bố thì rõ ràng là không “đúng” như một tập hợp các sự kiện theo đúng nguyên văn. Hãy để một người đọc sửa văn có đầu óc thực tiễn cầm lấy vở kịch của Shakespeare, và anh ta lập tức sẽ sắp xếp lại vở kịch của Shakespeare! Anh ta sẽ đổi lại như vầy:
Các cành trong cây, những hòn đá trong dòng suối đang chảy, các bài giảng nằm trong những quyển sách.
Chúng ta sẽ sửa như vầy: “Các cành trong cây, những hòn đá nằm trong dòng suối đang chảy, các bài giảng ở trong những quyển sách.” Như vậy mới đúng sự thật, song lại hoàn toàn chẳng quan trọng. Câu nói của Shakespeare là một sự mô tả có giá trị về các cánh rừng, trong khi câu nói của người đọc sửa văn thì vô vị mặc dầu chính xác về mặt khoa học.
Bây giờ hãy trở về với các câu chuyện Sáng tạo. Ý nghĩa của các câu chuyện Sáng tạo không được làm sáng tỏ bởi một cuộc tranh cãi ầm ĩ về số giờ trong mỗi “ngày” (và chúng ta phải nhớ rằng Kinh Thánh nói “một ngày trước mặt Chúa như một ngàn năm,” vì vậy thật sự không có xung đột từ quan điểm đó). Điều quan trọng đó là Đức Chúa Trời đã tạo dựng . (Hãy đọc lớn câu in nghiêng nầy hai lần nhấn mạnh từng từ.) Cho dầu công cuộc sáng tạo có được thực hiện trong 24 giờ hay 24 ngàn năm hay 24 ti năm, đó hoàn toàn là vấn đề bên lề. Nói cách khác, chúng ta chấp nhận những gì khoa học phải cho chúng ta biết bên trong lãnh vực điều tra hợp pháp của nó (là lãnh vực đang trả lời cho câu hỏi “Bằng cách nào?”) Và không bị bối rối khi chúng ta quay sang lãnh vực điều tra mang tính tôn giáo (là lãnh vực liên quan đến câu hỏi “Tại sao?”). Tranh cãi duy nhất của chúng ta với những người tuyên bố rằng khoa học có tất cả những câu trả lời là khoa học có thể trả lời cho câu hỏi “Tại sao?” cũng như cho câu hỏi “Bằng cách nào?” không? Nhà khoa học hoàn toàn có quyền cho chúng ta biết thế giới nầy bao nhiêu tuổi, và nó đã hình thành như thế nào, bằng cách phân tích các cấu trúc của đá, các vòng của cây và v.v.. Nhưng nếu người ấy cố gắng cho chúng ta biết vì sao thế giới tồn tại, thì người ấy lập tức rơi vào một lãnh vực vượt quá bằng chứng giới hạn mang tính khoa học.
Như vậy các câu chuyện của Sángthếký, là sản phẩm của sự tận hiến mang tính tôn giáo để suy gẫm về ý nghĩa của công trình Sáng tạo, và chỉ rõ lẽ thật về mặt tín ngưỡng không thể trốn tránh được và sự xác đáng của nó cho chúng ta.
Chương 5: Hai Mặt Của Một Đồng Tiền-Và Một Lời Tóm Tắt
(Những từ “Đấng Phán xét ,” Đấng Cứu Chuộc ” và “Ba ngôi ” có nghĩa gì? )
Sách phải có các chương. Nhưng đừng để cho chương mới nầy lừa phỉnh bạn. Chúng tôi chỉ tiếp tục ngay chỗ mà chúng tôi đã bỏ dở ở trang cuối chương trước. Chúng ta vẫn đang nói về cùng một Đức Chúa Trời. Trong chương nầy chúng ta sẽ xem xét lời khẳng định rằng Ngài là Đấng Phán Xét và Ngài là Đấng Cứu Chuộc. (Còn một phần cuối của chương nầy nữa, nhưng bạn sẽ phải đợi để xem phần đó nói gì.)
Đức Chúa Trời là Đấng Phán Xét Công Bình
Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa cũng là Đức Chúa Trời công bình, Ngài đòi hỏi con cái Ngài phải sống công bình, và Ngài buộc họ phải chịu trách nhiệm khi làm điều sai trái. Nói cách khác Ngài là một vị quan tòa. Chúng ta có thể tìm thấy một loại nhịp điệu gồm ba nhịp mạnh trong sự công nhận của Kinh Thánh về sự kiện nầy - nhịp điệu lập đi lập lại của mạng lịnh , tai họa , sự làm mới lại .
1. Đức Chúa Trời truyền các mạng lệnh . Ngài đòi hỏi con cái Ngài phải sống đúng theo những mạng lệnh đó. Ví dụ bạn được yêu cầu phải thi hành sự công chính, thay vì sự bất công. Bạn được yêu cầu phải yêu Chúa hơn những thần tượng hoặc các tà thần. Bạn được yêu cầu phải yêu người lân cận như chính mình, mà không được làm tổn hại người ấy. Và vân vân. Không có cách nào để thoái thác những mạng lệnh ấy. Không một ai, thậm chí cả bạn có thể luồn lách bên dưới mạng lệnh ấy hoặc né tránh chúng.
2. `Khi các mạng lịnh nầy không được để ý, tai họa sẽ theo sau.
Tai họa nầy được giải thích như là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên tội lỗi loài người. Sách Amốt là một nơi thích đáng để thấy nguyên tắc nầy hành động. Amốt xem xét các dân tộc xung quanh Ysơraên từng dân một, Đamách, Gaza, Tyrơ, Êđôm, Ammôn, Môáp, và Giuđa - rồi nói rằng mỗi dân tộc sẽ phải bị trừng phạt vì đã bất chấp ý muốn của Đức Chúa Trời. Và sau đó là sự báo trả, sự báo trả để kết thúc mọi sự báo trả. Bởi vì chính điều tương tự cũng sẽ xảy đến cho bản thân “dân sự của Đức Chúa Trời. - Họ cũng sẽ bị đoán phạt bởi Đức Chúa Trời vì việc làm sai trái của họ. Không có sự trốn thoát cho họ, chỉ vì họ là “dân được chọn.” Thật ra, chính vì cớ họ là tuyển dân, mà sự hình phạt họ sẽ nghiêm khắc hơn - họ hẳn sẽ biết rõ hơn. Mọi người đều phải bị đoán xét. Không có ngoại lệ.
3. Điều cần thiết để làm thay đổi tình huống là con người phải ăn năn . Hoàn cảnh không phải đen tối hoàn toàn. Các tiên tri không chỉ nói đến sự hủy diệt, nhưng họ nói đến sự hủy diệt để “thức tỉnh con người.” Hầu cho họ sẽ thay đổi trước khi quá muộn. Như Amốt đã viết:
Hãy tìm điều lành và đừng tìm điều dữ , hầu cho các ngươi được sống ;
Thì Giêhôva Đức Chúa Trời vạn quân sẽ ở cùng ngươi , như các ngươi nói vậy .
Hãy ghét điều dữ và ưa điều lành ; hãy lập sự công bình nơi cửa thành ;
Có lẽ Giêhôva Đức Chúa Trời vạn quân sẽ ra ơn cho những kẻ còn sót lại của Giôsép .
(AmAm 5:14, 15)
Vậy khi nói Đức Chúa Trời là quan tòa là nhấn mạnh rằng lịch sử mang ý nghĩa đạo đức, rằng khi con người làm sai, họ không “thoát khỏi hình phạt” vô thời hạn. Sẽ có lúc họ phải lãnh trách nhiệm. Đời sống con người nằm trong bàn tay và trong vận mệnh của Đức Chúa Trời công bình, nếu con người bất chấp Ngài, họ phải đau khổ và những hậu quả kéo theo. Họ sẽ bị Ngài đoán phạt và phát hiện trong tình trạng kém thiếu. Cách duy nhất để thoát khỏi án phạt là con người phải thay đổi quyết liệt.
Còn tiếp...
Đây là một bức tranh khắt nghiệt. Nó khiến chúng ta phải đối diện với một nan đề thực tiễn: Làm thế nào sự đoán phạt nầy có thể song hành với nhiều lời khẳng định của Kinh Thánh về tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời?
Cần phải nhớ rằng khi chúng ta nói Đức Chúa Trời là một quan án, thì lời mô tả ấy vẫn phải “được tiếp tục” như phần kế tiếp của chương nầy sẽ cho thấy. Nhưng trước khi đi sang một lời khẳng định khác về Đức Chúa Trời, cần nhớ rằng chúng ta không thể loại bỏ sự nhấn mạnh của Kinh Thánh: Đức Chúa Trời là quan án. Sự nguy hiểm ở đây là chúng ta tình cảm hóa tình yêu của Chúa cách phiến diện, tới mức độ sự công chính và sự đoán phạt không còn hiện diện nữa. Nhưng bản thân tình yêu phải gồm cả yếu tố đoán phạt nghiêm nghị. Tình yêu mà chìu theo tình cảm thì có thể không phải là tình yêu thật. Các bậc cha mẹ bảo rằng: “Tôi không thể hiểu vì sao Johnny lại hư hỏng. Chúng tôi luôn cho nó mọi thứ nó muốn,” có lẽ không yêu thương bằng những bậc cha mẹ đôi khi phải nói “Không” với nó và giúp nó nhận ra rằng nó đang sống trong một thế giới không thể muốn gì được nấy.
Tội lỗi và điều ác của con người là sự vi phạm đến Đức Chúa Trời. Chúng làm thoái hóa thế giới của Ngài và chúng tượng trưng cho thái độ từ chối quyền tể trị của Ngài. Ngài không thể nào cứ “nhắm mắt làm ngơ” trước tội lỗi hoặc từ chối xem trọng nó. Điều sai trái phải bị hình phạt. Nếu không thì không có ý nghĩa đạo đức đối với thế giới và tất cả những gì chúng ta có thể nói là “cái gì cũng được.” Như vậy chúng ta đang ở trong quan điểm khác thường để nhận ra rằng sự đoán phạt có thể là “mặt tiêu cực của tình yêu,” là tình yêu khi phải bày tỏ chính nó đối với điều sai trái. Tình yêu không được để cho điều ác “thoát khỏi hình phạt.” Bởi vì sự công chính và tình yêu thương là hai mặt của một đồng tiền.
Điều nầy nghĩa là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời có một mục đích phía sau nó, đó là sự cứu chuộc. Ngài không hình phạt chỉ vì “ích kỷ” mà là để cố gắng thay đổi kẻ ác. Nếu họ không chịu đáp ứng với sự thuyết phục, thì có lẽ họ sẽ chịu đáp ứng với kỷ luật nghiêm khắc. Đoán phạt là một loại “đối xử mạnh tay” mà Đức Chúa Trời dùng để đem các dân tộc và những con người mắc lỗi đến chỗ giác ngộ. Các trước giả Kinh Thánh cũng đã hiểu được rằng đoán phạt là một cách để làm cho tình yêu của Đức Chúa Trời đến được với họ. Tác giả Thithiên tỏ rõ rằng: “Khi Đức Chúa Trời chổi dậy đoán xét, để giải cứu các người hiền từ “bị hà hiếp” trên đất” (Thi Tv 76:9). Tại đây chúng ta có được một lời tóm tắt: “Đoán xét để giải cứu.” Đoán phạt vì mục đích cứu rỗi là một phần không thể thiếu được trong quan điểm của Kinh Thánh về Đức Chúa Trời là Đấng Phán xét. Với điều đó trong tâm trí. Chúng ta có thể xoay qua “mặt bên kia của đồng tiền.”
Đức Chúa Trời là Đấng Cứu Chuộc
Phải thừa nhận rằng từ “Đấng Cứu Chuộc” nghe có vẻ lỗi thời. Nhưng nó là một từ quan trọng của Kinh Thánh, và chúng ta không thể tiếp tục nếu không có từ nầy. “Mua chuộc,” trong cách dùng thông thường, là mua lại vật gì mà chúng ta đã từng sở hữu. Như vậy chúng ta nói đến việc chuộc lại một vật cầm cố (từ người chủ cầm đồ) hoặc chuộc lại một lời hứa (là điều chúng ta đã thất hứa nhưng chúng ta vẫn muốn làm tốt).
Trong ý nghĩa nầy, Đức Chúa Trời tìm cách để “chuộc lại” con người, đó là mua họ trở lại, hoặc, đúng hơn trong trường hợp của Ngài, là chinh phục họ trở lại, và thậm chí dỗ họ trở lại, để làm bạn với Ngài. Tình huống nầy là mặc dầu con người, vốn thuộc về Đức Chúa Trời đã bỏ Ngài và bị lạc mất - song thậm chí dù đó là lỗi của họ, Ngài vẫn tìm kiếm họ về và tái khẳng định họ là của Ngài. Từ “cứu chuộc” vì vậy là một từ đầy hy vọng, nói lên rằng Đức Chúa Trời không bỏ chúng ta, thậm chí khi chúng ta từ bỏ Ngài, Ngài vẫn không ngừng tìm kiếm chúng ta.
Sự bày tỏ rõ ràng nhất của Kinh Thánh về hành động cứu chuộc của Đức Chúa Trời là toàn bộ câu chuyện về sự hiện đến của Chúa Cứu Thế vào trong thế gian, như là tình yêu cứu chuộc, ra đi của Đức chúa Trời được thể hiện một cách cụ thể và đích thân. Bởi vì Chương 7 đến Chương 10 sẽ triển khai đề tài nầy, nên bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu những bày tỏ khác của Kinh Thánh trong hành động cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
Không phải trừu tượng về điều nầy. Chúng ta có thể xem xét một nhân vật cụ thể, là tiên tri Ôsê. Tiên tri Ôsê biết rằng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của sự công chính và Ngài hành phạt việc làm sai trái. Nhưng ông cũng biết rằng chừng đó chưa kết thúc câu chuyện. Sự nhận biết tình yêu cứu chuộc của Đức Chúa Trời đến với ông qua một kinh nghiệm cá nhân đau buồn. Ôsê đã khám phá vợ mình là Gôme không chung thủy với ông. Nàng là một kẻ ngoại tình. Mối quan hệ giữa Ôsê và Gôme vì vậy đã bị phá hỏng. Sau đó Ôsê nhận ra điều tương tự với mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và Ysơraên, Ysơraên cũng đã tỏ ra bội tín. Nó cũng giống như một kẻ ngoại tình phó mình cho các thần tượng khác. Cũng giống như Gôme đã bội ước lòng chung thủy với Ôsê, Ysơraên cũng đã bội lời hứa trung thành với Đức Chúa Trời.
Vì vậy Ôsê đã đuổi Gôme khỏi nhà mình. Nhưng rồi ông khám phá một điều thật kinh ngạc. Ông khám phá rằng dầu Gôme không chung thủy với ông - ông vẫn yêu nàng! Mặc dầu nàng không “xứng đáng” với tình yêu của ông, tình yêu ấy vẫn có ở đó. Ông có thể nào dám tin rằng Đức Chúa Trời cũng có tình yêu đó - rằng mặc dầu Ysơraên đã bội tín với Ngài, Ngài vẫn yêu họ không? Ôsê dám tin điều đó. Việc ông đưa Gôme trở về nhà mình đã lột tả sống động điều ông cảm biết điều chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ làm cho dân sự Ngài. Thoạt đầu họ bị đuổi khỏi “nhà của Đức Chúa Trời” và bị lưu đày. Nhưng sẽ có một cuộc trở về! Tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài lớn đến nỗi Ngài không thể và không muốn từ bỏ họ. Ngay cả khi họ dối giả, Ngài vẫn vây phủ họ bằng “những sợi dây nhơn từ.”
Ta sẽ cưới ngươi cho Ta đời đời ; Ta sẽ cưới ngươi cho Ta trong sự công bình và chánh trực , nhơn từ và thương xót . Phải , Ta sẽ cưới ngươi cho ta trong sự thành tín , và ngươi sẽ biết Đức Giêhôva . (OsHs 2:19-20).
Như vậy, Đức Chúa Trời cứu chuộc là Đức Chúa Trời hay tìm kiếm và sẵn sàng khôi phục lại mối thông công vì cớ tình yêu sâu xa của Ngài .
Có ba ví dụ của Chúa Jêsus, mỗi ví dụ đều nhấn mạnh một phần của lời tuyên bố được in nghiêng:
Một : Trong ví dụ về con Chiên Lạc Mất (LuLc 15:3-7) chúng ta được nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời là Đấng hay tìm kiếm. Người chăn không ngồi ở bãi nhốt chiên đợi những con đi lạc trở về. Người ấy phảira đi giữa đêm khuya tìm những con chiên nào đã lạc mất.
Hai: Trong ví dụ Về Đứa Con Trai Hoang đàng(15:11-24) chúng ta được nhắc nhở Đức Chúa Trời là Đấng hay tha thứ. Khi đứa con trai cuối cùng đã tỉnh ngộ và quay trở về, đón chờ điều tệ hại nhất, thì cậu thấy cha mình đang ngóng đợi, sẵn sàng tha thứ cho cậu.
Ba: Trong ví dụ về Những Người Làm Công Trong Vườn Nho (Mat Mt 20:1-16) chúng ta được nhắc nhở rằng tình yêu cứu chuộc của Đức Chúa Trời là món quà tặng, chứ không phải là điều có thể kiếm được. Một số người làm việc từ rạng sáng cho đến chập tối để lãnh một đơniê. Nhưng vào những giờ khác nhau trong ngày, những người khác đã được thuê vào làm, một số lúc chín giờ, một số vào lúc trưa, số khác lúc ba giờ, và một số ngay trước giờ nghỉ. Nhưng người chủ đã trả cho mỗi người số tiền bằng nhau - thậm chí những người chỉ làm việc vài phút! Ví dụ nầy không phải là một bài học về mối quan hệ lao động nhưng là sự mô tả về Vương quốc của Đức Chúa Trời và về sự kiện tình yêu của Đức Chúa Trời đối với mỗi người không được bày tỏ theo những gì họ xứng đáng, mà là một sự ban cho nhưng không. Chúa yêu bởi vì bản tánh của Ngài là yêu thương, chứ không vì con người đáng được yêu.
Những Âm Thanh Vang Vọng Trong Bản Thánh Ca
Đó chính là Đức Chúa Trời con người được bước vào mối quan hệ cá nhân với Ngài qua sự thờ phượng. Điều nầy thật quan trọng. Nếu bạn muốn biết điều con người thật sự tin về Đức Chúa Trời, đừng chỉ nhìn vào lịch sử của họ, hoặc những lãnh tụ vĩ đại của họ. Hãy nhìn vào đời sống tận hiến của họ - những giây phút họ dâng lòng mình trong sự ca tụng, hạ mình trong sự ăn năn, vui mừng với sự cảm tạ, hoặc nài xin với nhu cầu thành tâm. Chúng ta tìm thấy những giây phút nầy được ghi chép lại trong sách thánh ca Do Thái, là Thánh vịnh, trong đó chúng ta thấy lối quan hệ với Đức Chúa Trời cứu chuộc thật thực hữu đối với con người. Sau đây là một vài đoạn trích nhằm khuấy động bạn tự mình tìm hiểu Thánh vịnh nầy:
Hỡi Đức Giêhôva , xin hãy nhớ lại sự thương xót và sự nhơn từ của Ngài .
Vì hai điều ấy hằng có từ xưa .
Xin chớ nhớ các tội lỗi của buổi đang thì tôi , hoặc các sự vi phạm tôi ;
Hỡi Đức Giêhôva , xin hãy nhớ đến tôi tùy theo sự thương xót và lòng nhơn từ của Ngài .
(Thi Tv 5:6-7).
Đức Giêhôva có lòng thương xót , hay làm ơn ,
Chậm nóng giận , và đầy sự nhơn từ .
Ngài không bắt tội luôn luôn , cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời .
Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi ,
Cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi .
Đức Giêhôva thương xót kẻ kính sợ Ngài ,
Khác nào cha thương xót con cái mình vậy .
(103:8, 10-13).
Đức Chúa Trời ôi ! Xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhơn từ của Chúa ;
Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa .
Đức Chúa Trời ôi ! Xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch , và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng .
Xin chớ từ bỏ tôi khỏi trước mặt Chúa ,
Cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa .
Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa ,
Dùng thần linh sẵn lòng mà nâng đỡ tôi .
(51:1, 10-12).
Ảnh Hưởng Mạnh Mẽ Của Đức Chúa Trời Trên Những Người Thời Tân Ước
Bây giờ chúng ta hãy bỏ qua nhiều thế kỷ cho đến khoảng năm 55 hoặc 60 S.C. Chúng ta thấy Phaolô kết thúc lá thư gởi cho người Côrinhtô bằng những lời như sau: “Nguyền xin ơn của Đức Chúa Jêsus Christ, sự yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự giao thông của Đức Thánh Linh ở với anh em hết thảy” (IICo 2Cr 13:13).
Đây thật là một lời chào lạ lùng! Có phải Phaolô đang muốn ám chỉ đến một Đức Chúa Trời hay ba Đức Chúa Trời? Có phải Đức Chúa Trời, Đấng Christ, Đức Thánh Linh, đều như nhau, hay là khác nhau?
Chúng ta đang tiến đến một lý lẽ khó hiểu ở đây , mang tên giáo lý Ba Ngôi . Không có một “giáo lý Ba Ngôi ” chính thức như vậy trong Tân ước . Nhưng chính từ kinh nghiệm của các Cơ Đốc Nhân thời Tân ước mà giáo lý Ba Ngôi đã được hình thành . Hãy để sự kiện nầy được nhấn mạnh : Giáo lý Ba Ngôi không phải là nỗ lực của các nhà thần học nhằm làm sự việc trở nên khó khăn cho các Cơ Đốc Nhân trung bình bằng cách giới thiệu một môn toán siêu phàm bảo rằng ba bằng một. Giáo lý Ba Ngôi là một nỗ lực nhằm mô tả, càng hệ thống càng tốt, nội dung của kinh nghiệm Cơ Đốc Nhân về Đức Chúa Trời.
... ĐỨC CHÚA CHA.
Hãy lấy một trong những Cơ Đốc Nhân đầu tiên như Phierơ chẳng hạn. Ông đã lớn lên trong một gia đình Do Thái. Ông biết Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, Đức Chúa Trời và Đức Giêhôva của lịch sử mà người dân Do Thái của ông đã đứng trước mặt Ngài trong mối quan hệ đặc biệt. Qua sự thờ phượng ở nhà hội, qua việc nghiên cứu luật pháp, và qua những kinh nghiệm của chính đời sống mình, Đức Chúa Trời nầy đã là một thực hữu đối với Phierơ, Đấng mà với Ngài ông đã có mối quan hệ cá nhân. Ông cùng với vô số những người Do Thái khác biết rằng Đức Chúa Trời thương xót những kẻ kính sợ Ngài “như cha thương xót con cái mình” (Thi Tv 103:13). Thậm chí Phierơ còn có thể gọi Đức Chúa Trời này là “Cha.”
... ĐỨC CHÚA CON.
Nhưng rồi một ngày kia Phierơ gặp một con người hơn cả một con người . Người nầy đã đối mặt với Phierơ khi ông đang vá lưới , hoặc đánh cá suốt đêm mà không may mắn . Phierơ đã biến mình trở thành môn đồ của con người Jêsus nầy và sống trong mối quan hệ gần gũi với Ngài . Ông phát hiện rằng từ ngữ của con người không giải thích được Ngài . Vì vậy khi Chúa Jêsus hỏi Phierơ : “Còn ngươi nói ta là ai? ” Phierơ trả lời : “Ngài là Đấng Christ , Con Đức Chúa Trời hằng sống ” (Mat Mt 16:16). Khi Chúa Jêsus đối mặt với Phierơ , Phierơ không thể trốn tránh kết luận : Đức Chúa Trời đang đối mặt ông . Người nầy chính là Đức Chúa Trời -tuy nhiên Ngài vẫn là người .
... VÀ ĐỨC THÁNH LINH.
Nhưng giờ đến, khi Chúa Jêsus không còn hiện diện với các môn đồ trong thân xác nữa. Bất chấp sự kiện đó, họ không cảm thấy Đức Chúa Trời lìa bỏ họ, bởi vì Ngài đã ban “Đức Thánh Linh” xuống. Đây không phải là Đức Chúa Trời khác, mà Ngài chính là Đức Chúa Trời, Ngài tỏ mình cho họ như một sự hiện diện liên tục và là nguồn năng quyền của họ. Phierơ đã biết Đức Chúa Trời là Cha, ông biết Đức Chúa Trời là Đức Chúa Con, bây giờ ông biết Đức Chúa Trời là Đức Thánh Linh, và đời sống ông đến chỗ đầu phục không ngừng trước quyền năng ấy, không phải quyền năng của chính ông, mà là Đức Chúa Trời đang hành động qua ông. Không phải một Đức Chúa Trời được nói đến trong quá khứ - Ngài đang hành động ngay lúc nầy trong hiện tại, với lời hứa rằng Ngài cũng sẽ tiếp tục hành động như vậy trong tương lai.
Vì vậy các tác giả Tân ước nói về Đức Chúa Trời qua ba cách ấy. Họ không dựng lên một về vấn đề rắc rối về trí tuệ, họ chỉ mô tả cách Đức Chúa Trời hằng sống hành động trên đời sống họ.
Về “Đức Thánh Linh” Nầy
Trong thời của mình, chúng ta thường gặp phải khó khăn lớn nhất khi cố gắng nói về Đức Thánh Linh một cách có ý nghĩa. Nếu Đức Chúa Cha hơn “sự lờ mờ về một Đấng nào đó có lòng nhân đức” một chút, thì Đức Thánh Linh chỉ là một sự lờ mờ. Chúng ta không đơn độc trong sự khó khăn nầy. Điều tương tự đã gây phiền toái cho một số Cơ Đốc Nhân đầu tiên.
KHUNG CẢNH: Êphêsô. Nhà của một số các môn đồ. Phaolô bước vào.
PHAOLÔ (lo lắng để làm quen được nhiều hơn): Từ khi tin Chúa , các anh đã nhận được Đức Thánh linh chưa? CÁC MÔN ĐỒ (thắc mắc không biết Phaolô đang nói đến cái gì): Không , chúng tôi chưa hề nghe có Đức Thánh Linh nào . (Cong Cv 19:2).
Và đối với chúng ta tình huống thậm chí lại còn bối rối hơn nữa bởi giáo hội thường xuyên sử dụng từ cũ kỹ (linh): Dành cho chữ “Thánh Linh” đọc là “Thần linh” trong hầu hết các sách thánh ca, cầu nguyện và các bài giảng. Chúng ta nghĩ đến “các linh” như là lời cầu kinh xưa cổ của người Tô Cách Lan.
Lạy Chúa nhân từ, xin giải cứu chúng tôi
Khỏi những tà ma và yêu linh cùng những con thú chân dài,
Và những thứ VA ĐỤNG trong bóng tối.
“Đã không tin nơi các linh thuộc loại đó nữa , làm sao chúng ta lại phải tin nơi một Thánh Linh? ” Là một câu trả lời không có gì bất thường . Trên thực tế , từ Ăng lô Xắc xông cổ mà do nó có xuất hiện từ nầy , gast, nguồn gốc có nghĩa là “hơi thở ,” hoặc “linh ,” hoặc “hồn ,” là từ (như chúng ta sẽ thấy ) không xa với ý nghĩa gốc của Kinh Thánh . Làm thế nào chúng ta khắc phục được những nhầm lẫn nầy? Chúng ta hãy nhớ rằng , Đức Thánh Linh , theo định nghĩa đơn giản nhất , là Đức Chúa Trời hành động . Muốn được chiếm hữu bởi Đức Thánh Linh không phải chỉ “cảm thấy , cảm động ” hoặc được dầm thấm bởi “nhóm linh ” mà phải được chiếm hữu bởi Đức Chúa Trời . Ngài là trung tâm kinh nghiệm của các Cơ Đốc Nhân đầu tiên , và từ đó đến nay Ngài vẫn là trung tâm đối với kinh nghiệm xác thực của người Cơ Đốc . Sự thực hữu của Ngài có thể được cảm nhận rõ ràng nhất trong kinh nghiệm của cộng đồng . Bạn còn nhớ , Phaolô đã nói đến sự giao thông “koinonia (cộng đồng , thông công ) của Đức Thánh Linh ” (IICo 2Cr 13:13). Như vậy Hội Thánh là phạm vi ảnh hưởng nơi quyền năng Ngài vận hành trọn vẹn nhất . Thật ý nghĩa vì hầu hết mọi sự các Cơ Đốc Nhân đầu tiên đã làm trong sách Công vụ các sứ đồ đều được quy gán cho quyền phép của Đức Thánh Linh . “Ấy là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng ...” (Cong Cv 15:28) là lời xác quyết của người Cơ Đốc trưởng thành .
Khi chúng ta xem xét ý niệm “linh ” trong Kinh Thánh , chắc chắn ấn tượng nổi bật nhất mà chúng ta có được về “linh ” là nguồn sức mạnh . Từ Hêbơrơ được sử dụng trong Cựu ước , ruach, được triển khai từ ý niệm về “gió ,” hàm ý sự bày tỏ của hành động và sự hiện diện của Đức Chúa Trời . (“Cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh (ruach )Chúa ,” Thi Tv 51:11) từ Tân ước pneuma cũng vậy , tượng trưng cho hoạt động mạnh mẽ của Đức Chúa Trời trong đời sống con người . Như Chúa Jêsus đã nói : “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép ” (Cong Cv 1:8).
Những hình ảnh bằng từ ngữ mà các Cơ Đốc Nhân đầu tiên dùng cho Đức Thánh Linh cũng phản ánh sự kiện nầy. Ngài không yếu mềm và thụ động. Trái lại: “Khi đã cầu nguyện thì nơi nhóm lại rúng động, ai nấy được đầy dẫy Đức Thánh Linh” (4:31). Trong lời ký thuật về sự giáng lâm của Đức Thánh Linh vào Lễ Ngũ Tuần, các sứ đồ nghe “có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào” khi họ tìm cách mô tả Đức Thánh Linh bằng một hình ảnh thấy được, Ngài đã hiện ra như “những cái lưỡi bằng lửa.” (Xem 2:1-4 ).
Trọng Tâm Của Vấn Đề
Quyền năng sống động , làm rúng động , đem lại sự biến đổi của Đức Chúa Trời đang bày tỏ chính Ngài qua đời sống con người - Đức Chúa Trời hành động - là điều gì đó mà chúng tôi hàm ý khi nói về Đức Thánh Linh . Những vấn đề như vậy không bao giờ có thể được bày tỏ đầy đủ bằng con chữ tẻ nhạt . Âm nhạc phải là phương tiện truyền thông phô diễn độc nhất . Đáng buồn thay , hầu hết các bài thánh ca về Đức Thánh Linh quá nhàm chán và không gây phấn khích cho nên thật khó mà hình dung người ta có thể được ban quyền năng bởi Đức Thánh Linh nếu như Ngài không năng động hơn họ nghĩ . Vì thế hãy xem trọng việc tìm và sử dụng một băng nhạc B Minor Mass của Bach và lắng nghe bản hợp xướng về Đức Thánh Linh “Cum Sacto Spiritu .” Nếu lắng nghe , bạn sẽ gần với sự hiểu biết Đức Thánh Linh hơn là đọc hàng tá quyển sách . Bach không trình bày một giọng hát thiếu sức sống “êm dịu nhỏ nhẹ của sự tĩnh lặng .” Trái lại loại nhạc nầy đầy sức sống động , mạnh mẽ năng động , nhanh mạnh từ đầu cho đến kết thúc , là hiện thân của sức sống . Thật là một kinh nghiệm xúc động khi được nghe âm nhạc nầy , thậm chí càng cảm kích hơn khi được hát lên . Nó có thể cho bạn ít nhất một ý niệm mơ hồ nhỏ bé về điều cảm kích nhất - đó là được chiếm hữu bởi Đấng bạn đang ca ngợi .
Chương 6: Lời Tuyên Bố Và Những Thách Thức
(Vấn Đề Tiền Định Và Các Phép Lạ? )
Khi Pascal , nhà khoa học người Pháp nổi tiếng qua đời , một tài liệu nhỏ đã được tìm thấy về bản thân ông trong đó có câu như vầy : “Đức Chúa Trời của Ápraham , Đức Chúa Trời của Ysác , Đức Chúa Trời của Giacốp , không phải của các nhà triết học và các học giả .” Pascal không thích ý tưởng mơ hồ nào đó về Đức Chúa Trời như là “một thể thống nhất vô định hình ” hoặc “nguồn của sự thực hữu kết hợp mọi sự .” Ông quan tâm đến Đức Chúa Trời của lịch sử , một Đức Chúa Trời không xa cách và không quan tâm đến con người , mà là Đấng hành động , Đấng làm các sự việc trong bối cảnh lịch sử . Điều nầy hoàn toàn hòa hợp với hiểu biết của Kinh Thánh về Đức Chúa Trời , nơi chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời sai phái ...
Đức Chúa Trời truyền phán.
Đức Chúa Trời kêu gọi...
Đức Chúa Trời giải cứu...
Đức Chúa Trời làm việc...
Lịch sử là xưởng làm việc của Đức Chúa Trời, là nơi mà Ngài hành động.
Lời Tuyên bố: Đức Chúa Trời là Đấng Tối Cao
Bây giờ đây là một khái niệm sâu rộng lớn lao . Sự kiện Đức Chúa Trời đã được biết đến trong các biến cố của lịch sử Do Thái và cuối cùng Ngài mặc khải chính mình qua biến cố mang tính lịch sử của Chúa Cứu Thế Jêsus : “Trong đời vua Hêrốt ” (Mat Mt 2:1) cho thấy Đức Chúa Trời với tư cách Chúa của lịch sử đã được hiểu một cách nghiêm túc như thế nào bởi đức tin của Kinh Thánh .
Thay vì xem xét lời tuyên bố nầy bằng những từ chung chung, chúng ta hãy thực hiện một cuộc vật lộn nhỏ đơn giản với một khúc Kinh Thánh cụ thể, được trích từ sách Êsai. Bối cảnh của khúc Kinh Thánh nầy là: Asyri đã nổi lên như một cường quốc nguy hiểm của thế giới, và hiện nay sẵn sàng vồ lấy Giuđa, nơi Êsai đang sống và nói tiên tri. Vấn đề là: Làm thế nào hoạt động của Đức Chúa Trời trong lịch sử có thể được phân biệt qua việc Asyri (một dân tộc ngoại giáo tàn bạo) tàn hại Giuđa (dân sự của Đức Chúa Trời)? Êsai trả lời rằng Asyri, một dân tộc ngoại giáo, là một công cụ cho các mục đích của Đức Chúa Trời! Đức Chúa Trời phán rằng:
Hỡi Asyri , là cái roi của sự thạnh nộ ta ! Cái gậy cầm trong tay nó là sự tức giận của Ta vậy .
Ta sẽ sai nó nghịch cùng một nước chẳng tin kính ; khiến nó đi đánh một dân mà Ta nổi giận , để cướp lấy , bóc lột , và giày đạp chúng nó như bùn ngoài đường .
Nhưng Asyri một dân tộc kiêu hãnh , khoe khoang , không biết rằng mình đang được sử dụng :
Nhưng nó (dân tộc Asyri ) không có ý thế , trong lòng nó chẳng nghĩ như vậy : lại thích phá hại , và hủy diệt nhiều dân ;
Vì nó nói rằng ...
“Thì ta há chẳng sẽ làm cho Giêrusalem và thần tượng nó cũng như ta đã làm cho Samari và thần tượng nó sao? ”
Asyri sẽ chinh phục Giêrusalem như nó đã chinh phục Samari rồi. Nhưng vua Asyri sẽ kiêu ngạo và nghĩ rằng nó đã thực hiện điều nầy bởi chính sức mạnh của mình: Khi Đức Giêhôva đã làm xong mọi công việc của Ngài trên núi Siôn và tại Giêrusalem Ngài sẽ trừng phạt sự khoe khoang ngạo mạn của vua Asyri và lòng kiêu hãnh ngạo mạn của ông ta. Bởi vì nhà vua nói rằng:
“Ta đã làm điều đó bởi sức mạnh của tay ta , bởi sự khôn ngoan ta , vì ta là thông minh ;
Ta đã dời đổi giới hạn các dân , đã cướp của quý họ , như một người mạnh đã làm cho những kẻ đương ngồi trên ngai phải xuống ...”
Thái độ nầy sẽ là nguyên nhân sự sụp đổ của Asyri , bởi vì đây là một nỗ lực nhằm chối bỏ quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên lịch sử . Êsai phán tiếp với giọng chế nhạo : Cái rìu há lại khoe mình cùng người cầm rìu ư? Cái cưa há lại dấy lên nghịch cùng kẻ cầm cưa ư? Thế cũng như cái roi vận động kẻ giơ roi , cái gậy nâng đỡ cánh tay cầm gậy ! Hậu quả sẽ là tai họa dành cho người Asyri thờ hình tượng là kẻ chỉ thờ chính họ :
Vậy nên , Chúa , là Đức Giêhôva vạn quân , sẽ làm cho những người mập mạnh của nó trở nên gầy mòn , và dưới sự vinh hiển nó sẽ đốt cháy lên như lửa thiêu đốt .
(EsIs 10:5-7, 11, 13, 15, 16).
Để có được tác dụng đầy đủ của khúc Kinh Thánh đáng lưu ý nầy xin hãy đọc lại:
1. Chữ “Asyri,” thay thế bằng “một dân tộc thù địch.”
2. Đối với “nước chẳng tin kính,” (Giuđa) thay thế bằng dân tộc của chính bạn.
3. Đối với “Giêrusalem”, thay thế bằng thủ đô của chính đất nước bạn.
4. Đối với “Samari,” hãy thay thế bằng đất nước gần đây nhất chịu dưới sự thống trị của dân tộc thù địch mà bạn liệt kê trong mục số 1.
Và rồi bạn sẽ thấy được tác động mạnh mẽ của khúc Kinh Thánh nầy.
Bây giờ chúng ta có thể phát hiện một số những hàm ý gây xáo trộn . Liệu Kinh Thánh có thật sự muốn nói rằng Đức Chúa Trời dấy Hitler và Stalin lên không? Có phải họ là phương cách để ý muốn Ngài thực hiện trên thế giới nầy không? Chúng ta phải xem xét kỹ những gì khúc Kinh Thánh nầy thật sự cho chúng ta biết về Đức Chúa Trời là Chúa của lịch sử .
1. Khúc Kinh Thánh nầy khẳng định rằng lịch sử nằm trong tay Đức Chúa Trời . Asyri dường như là ông chủ , nhưng không phải . Chính Đức Chúa Trời mới là Đấng Chủ Tể . Điều nầy không dễ hiểu . Chúng ta không thể nói rằng chính ý muốn của Đức Chúa Trời là Hitler phải giết sáu triệu người Do Thái và rằng hàng ngàn người vô tội khác đã bị giết chết trong Thế chiến II . Tuy nhiên , chúng ta phải nói rằng trong một thế giới mà Đức Chúa Trời nắm quyền kiểm soát tối hậu , càng xao lãng luật pháp của Ngài ở mức độ lớn thì chỉ càng dẫn đến tai họa ở mức độ lớn . Nếu Đức Chúa Trời là Đấng công bình thì việc làm sai trái không thể bị bỏ mặc . Chúng ta hãy làm rõ điều nầy : Hoa Kỳ , Pháp , Anh , và những đất nước khác nói chung đã “là các dân tộc chẳng tin kính ,” cũng giống như Giuđa vậy . Chúng ta đã phục vụ Đức Chúa Trời bằng môi miếng , nhưng đời sống mình thì chối bỏ Ngài . Một tiên tri Êsai hay Giêrêmi hay Amốt thời nay hẳn sẽ có nhiều điều để nói với chúng ta . Bóc lột những kẻ có quyền lợi thua kém , làm giàu trong khi người khác chết đói , lười biếng trong khi người ta phải còng lưng lao động nô lệ - những điều nầy đem lại những mối lợi kếch xù , mà sớm hoặc muộn sẽ phải bị trả giá . Những lời như thế thật khó nói và khó nghe , nhưng chúng đúng với sự hiểu biết mang tính tiên tri . Trong những tình huống như thế , khi loài người trong sự tự do của mình , chối bỏ Đức Chúa Trời , thì các lực lượng như Đức Quốc Xã và chủ nghĩa Cộng Sản phát triển . Và điều Kinh Thánh nhấn mạnh là , thậm chí các thế lực như vậy cũng đã được đặt dưới quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời . Ngài không bị đánh bại bởi Hitler hay Stalin . Trái lại , Đức Chúa Trời có thể sử dụng những thế lực như họ để trong cuộc chạy đường dài , các mục đích của Ngài , chứ không phải của họ , được thành . Ngài sử dụng cơn giận của loài người để ngợi khen Ngài . (Xem Thi Tv 77:1-20).
2. Nói rằng lịch sử nằm trong tay Đức Chúa Trời là bảo lịch sử có một ý nghĩa đạo đức . Nếu Giuđa đã trở nên một “dân tộc chẳng tin kính ,” thì Giuđa phải chờ đợi để trả giá , tức là bị đánh bại bởi Asyri . Khi cuộc khủng hoảng đến , Asyri đã sẵn sàng để giày đạp , thì đây không chỉ là một bất thường của lịch sử - mà nó có ý nghĩa về đạo lý . Nó có thể được giải thích như là một sự cảnh báo . Êsai báo cho Giuđa biết rằng sự chối bỏ Đức Chúa Trời sẽ dẫn đến những hậu quả , những hậu quả khắc nghiệt mang tính lịch sử , đối mặt với điều đó , con người phải ăn năn . Nhìn lịch sử theo cách nầy là nhìn xem ý nghĩa đạo đức của nó . Ví dụ , ngày nay khúc Kinh Thánh nầy có thể nhắc nhở Hoa Kỳ rằng họ là đất nước giàu có nhất trên thế giới , rằng nếu sự giàu có của họ chỉ được sử dụng cho chính họ , thì sự đoán phạt của Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ theo sau .
3. Ngay cả dân tộc được làm “công cụ” cho các mục đích của Đức Chúa Trời cũng phải chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời dùng Asyri mà Asyri không biết điều đó , vì Asyri không nhìn nhận Đức Chúa Trời , Asyri phải chịu sự đoán xét cũng như Giuđa . Nói rằng : “Ta đã làm điều đó bởi sức mạnh của tay ta ” giống như vua Asyri đã làm , là chuốc lấy tai họa bằng cách chối bỏ , không thừa nhận quyền tể trị của Đức Chúa Trời . Đây là một lời cảnh cáo nghiêm khắc cho những dân tộc nào tưởng rằng họ có đủ sức mạnh để làm theo ý họ muốn . Khi một dân tộc trở nên nổi tiếng và hùng cường , thì thật dễ để họ tự hào về sự vẻ vang đó , mà nói rằng : “Ta đã làm điều đó bởi sức mạnh của tay ta .” Asyri đã phạm tội đó . Giuđa đã phạm tội nầy . Hoa Kỳ cũng dễ dàng phạm tội nầy . Phục truyền luật lệ ký đã nói rõ về điều nầy . Tại đây dân Giuđa được cảnh báo chớ quên Đức Chúa Trời khi họ trở nên hùng cường và thạnh vượng .
Vậy khá coi chừng , chớ nói trong lòng rằng : Ấy là nhờ quyền năng ta và sứ c lực của tay ta mà đoạt được những sản nghiệp nầy . Hãy nhớ lại Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi ... Nếu ngươi quên Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi mà theo các thần khác , hầu việc và quỳ lạy trước các thần ấy , thì ngày nay ta cáo quyết rằng : Các ngươi hẳn sẽ bị diệt mất . Các ngươi sẽ bị diệt mất như những dân tộc kia mà Đức Giêhôva tuyệt diệt trước mặt các ngươi bởi vì không nghe theo tiếng Giêhôva Đức Chúa Trời của các ngươi . ( PhuDnl 8:17-20).
Những Thách Thức
Như vậy lời khẳng định là: Đức Chúa Trời là Đấng tối cao. Ngài đang nắm quyền kiểm soát. Đây là một sự hiểu biết căn bản của Kinh Thánh mà không một số lượng sắp xếp văn bản nào có thể dẹp bỏ được. Nhưng điều nầy khiến chúng ta gặp phải khó khăn nghiêm trọng ở một số điểm, và chúng ta phải xem xét hai trong số những thách thức đối mặt với chúng ta khi xem trọng lời khẳng định đó. (Sự thách thức thứ ba, mối liên hệ giữa điều ác với quyền tối cao của Đức Chúa Trời, được trình bày trong Chương 11 và 12.)
Vấn đề Một: Quyền Tối Cao của Đức Chúa Trời và “Thuyết Tiền Định”
Vấn đề nổi lên theo cách nầy , nếu Đức Chúa Trời là Đấng tối cao , “Đấng tể trị mọi sự ,” thì dường như chúng ta đang muốn nói rằngtất cả mọi sự xảy ra đều do Chúa định . Và điều nầy dường như phá hỏng sự tự do của chúng ta . Nếu bạn chọn hầu việc Chúa , thì đó là bởi vì Ngài đã quyết định rằng bạn sẽ chọn Ngài . Nếu bạn chọn chối bỏ Chúa , là điều (rất nhiều Cơ Đốc Nhân đã nghĩ như vậy ) cũng là vì Chúa đã quyết định bạn sẽ chối bỏ Ngài - và phải chịu lấy những hậu quả . Nếu vậy Ngài đã “tiền định ” hành động của bạn . Chúng ta còn có thể nói gì về một kết luận đáng sợ như vậy?
Chúng ta không được nhầm lẫn giữa niềm tin đặt nơi quyền tối cao của Đức Chúa Trời của Kinh Thánh với thuyết định mệnh. Chẳng hạn, không phải khẳng định của Kinh Thánh là bạn không có quyền chọn bánh mì thịt nguội cho buổi tối bởi vì được định trước sẽ ăn bơ đậu phụng. Một quan điểm như vậy hàm ý rằng bạn chỉ là một con rối, một con tốt bị điều khiển, không một nỗ lực, một cố gắng nào về mặt đạo đức hoặc lựa chọn nào về phía bạn có thể tạo được sự khác biệt nhỏ nhặt nhất. Đó không phải là niềm tin theo Kinh Thánh, mà là thuyết định mệnh của ngoại giáo.
Hai Khẳng Định Không Thể Tránh Được
Niềm tin theo Kinh Thánh tiếp tục theo một cách khác, với hai lời khẳng định dường như không giống nhau:
Sự kiện thực tế thứ nhất về đời sống là Đức Chúa Trời , và sự kiện thứ nhất nầy về Đức Chúa Trời là Ngài là Đức Chúa Trờ i - tối cao , toàn năng . Kết luận nầy không thể bị né tránh mà không làm sai lệch sứ điệp của Kinh Thánh . Điều nầy có nghĩa là cuối cùng mọi sự đều được nhìn xem như “dưới mắt Đức Chúa Trời .” Đây là thế giới của Ngài , không phải của chúng ta . Chúng ta được đặt ở đây là bởi Ngài , chứ không phải bởi chính mình . Chúng ta phải làm theo ý muốn Ngài , chứ không phải ý muốn mình . Ngài không phải là một ông thần nhỏ bằng thiếc , chỉ là một trong nhiều vật thể trong một vũ trụ thù địch ; mà Ngài là đầu tiên và là cuối cùng , gồm tóm mọi sự tồn tại .
Nhưng niềm tin theo Kinh Thánh cũng đưa ra một lời khẳng định khác. Đó là, chúng ta là những con người phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức, rằng chúng ta không thể trốn tránh trách nhiệm điều mình đã làm. Chúng ta đã được ban cho món quà của sự tự do. Ngay cả khi chúng ta lạm dụng sự tự do đó và có những quyết định sai trật, chúng ta cũng không thể đổ lỗi cho Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể nói: “Tôi không chịu trách nhiệm, đó là lỗi của Đức Chúa Trời.” Trái lại, Kinh Thánh chỗ nào cũng khẳng định chúng ta phải chịu trách nhiệm, không thể nào trốn tránh được.
Ngoài mặt, hai ý tưởng nầy có vẻ không “khớp với nhau.” Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng. Tôi phải chịu trách nhiệm. Nếu điều thứ nhất đúng, thì điều thứ hai sai.
Về mặt lôgic, chúng nhất định không hài hòa với nhau, tuy nhiên chúng ta phải lưu ý rằng đời sống không phải lúc nào cũng theo đúng lôgíc chặt chẽ. Những điều thực tế nhất trong đời sống lại rất thường xuyên chống đối lại những điều lôgíc:
“Bạn có thật lòng nghĩ rằng Anne xinh đẹp không?” “Ồ, không, cô ta chính xác là không đẹp.”
“Cô ta có thông minh không?”
“Tôi thật lòng không nói rằng cô ta thông minh.”
“Thế cô ta có phải là một người nói chuyện có duyên và dí dỏm không?”
”Cũng không...”
“Lạ chưa. Thế cô ấy có giàu không?”
“Không, không có lấy một xu.
“Có điều gì tuyệt vời đặc biệt về cô ta thế? ”
“Ồ, tôi không thể nói chính xác điều đó được.”
“ Vậy mà, anh yêu cô ta chứ?”
“Anh biết rõ rồi mà!”
Kết luận không theo đúng tính hợp lý - tuy nhiên đó vẫn là một kết luận đúng ! Anh ta thật sự yêu cô ta . Họ sẽ kết hôn với nhau vào tháng tới . Trong đời sống có những lãnh vực nơi mà tính hợp lý không phải là phiên tòa chung thẫm .
Chúng ta có thể theo dõi manh mối nầy bằng việc xem xét vấn đề tiền định . Bởi hai điều về mặt lôgíc không thể hòa hợp được có thể được giải hòa trong kinh nghiệm tôn giáo . Phaolô là một sự trợ giúp ở đây . Ông nói : “Hãy lấy lòng sợ sệt run rẩy mà làm nên sự cứu chuộc mình .” Ở đây ông nhấn mạnh đến trách nhiệm của chúng ta , và rồi ông nói tiếp cũng trong cùng câu ấy : “Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài .” Nhấn mạnh đến quyền tối cao của Đức Chúa Trời (Phi Pl 2:12, 13). Trong một câu nói ông kết hợp rõ ràng là hai thái độ không thể dung hòa được . Vấn đề ở đây là mặc dầu tính lôgíc không hiểu được sự nối kết giữa quyền tối cao của Đức Chúa Trời với trách nhiệm của con người , kinh nghiệm tôn giáo có thể làm và làm được . Hãy đặt câu hỏi sau đây cho bất cứ một người nào có sự hiểu biết về niềm tin :
H. Bạn có trở nên tốt qua các nỗ lực của chính mình không?
Đ: Tất nhiên là không, điều đó là bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Tôi không thể nhận lãnh lời khen ngợi.
Và rồi hãy hỏi:
H: Được rồi vậy thì còn về lời nói dối mà anh vừa nói tuần rồi? Tôi cho rằng đó là lỗi của Đức Chúa Trời chắc?
Đ: Tất nhiên là không. Đó là lỗi của tôi, tôi không thể đổ lỗi cho Chúa về lời nói dối đó.
Kinh nghiệm niềm tin thực tiễn về Đức Chúa Trời dường như đòi hỏi cả hai câu trả lời. Như Phaolô vẫn thường nói đi nói lại: “Chính là tôi, nhưng không phải là tôi, mà đó chính là ân điển của Đức Chúa Trời.” Đưa ra câu trả lời khác nhau cho mỗi câu hỏi là thái độ đạo đức giả.
Ý nghĩa của “Sự Tuyển Chọn”
Vấn đề tiền định cũng nổi lên khi chúng ta xem trọng lời khẳng định của Cựu ước rằng Đức Chúa Trời đã “chọn” dân Do Thái như là sự quan tâm đặc biệt của Ngài (xem thêm phần nói về “giao ước” trong Chương 15). Và khi chúng ta nhận ra rằng Đức Chúa Trời đã chọn họ, không phải vì họ xứng đáng, nhưng chỉ vì Ngài yêu thương họ, điều nầy nghe hoàn toàn có vẻ tự phụ và độc đoán. Vì sao Đức Chúa Trời lại phải “chọn” dân nầy mà không phải là dân tộc khác? Còn những dân tộc không được chọn thì sao?
Một phần quan trọng của câu trả lời nầy là sự nhắc nhở rằng dân Do Thái đã được “chọn” không phải là nhờ đặc quyền đặc biệt mà là để mang những trách nhiệm đặc biệt. Họ đã không có một giai đoạn dễ dàng hơn bởi vì họ là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Họ đã có một thời kỳ khó khăn hơn. Các dân ngoại, về một ý nghĩa nào đó có thể được miễn thứ vì việc làm sai trái của họ. Nhưng dân Do Thái thì không được miễn thứ - vì họ biết rõ hơn! Vì vậy chúng ta phải loại bỏ bất cứ ý tưởng nào về “sự thiên vị” theo ý nghĩa nào đó khi cho rằng sự lựa chọn khiến cho các sự việc dễ dàng hơn cho kẻ được chọn.
Hơn nữa chúng ta phải thấy việc lựa chọn dân Giuđa trong mục tiêu tối hậu của nó , là mục tiêu mà qua họ tình yêu và sự quan tâm của Đức Chúa Trời có thể được bày tỏ cho mọi người : “Ta sẽ khiến ngươi làm sự sáng cho các dân ngoại , hầu cho ngươi làm sự cứu rỗi của ta đến nơi đầu cùng đất .” (EsIs 49:6). Và đây cũng chính là vấn đề nghiêm túc để qua các biến cố của lịch sử Do Thái , các dân tộc đến chỗ nhìn thấy Đức Chúa Trời hành động , và được chuẩn bị cho sự bày tỏ cuối cùng của Ngài qua Chúa Cứu Thế Jêsus .
Xin lưu ý thêm rằng khi làm tất cả điều đó, Đức Chúa Trời không gạt bỏ món quà tự do mà Ngài đã ban cho chúng ta. Người Do Thái có thể chấp nhận Chúa hoặc từ chối Ngài. Họ vẫn thường từ chối Ngài, cũng giống như chúng ta. Nhưng điều nầy không làm Đức Chúa Trời nao núng. Ngài dùng chính tội lỗi là sự chối bỏ của họ, để đưa họ vào trong kế hoạch của Ngài, dùng những điều đó như là một phương cách để bày tỏ rõ ràng hơn Ngài là Đấng nào và điều Ngài đòi hỏi là gì. Điều nầy cũng gần như là một người soạn một tác phẩm âm nhạc cho dàn nhạc phải đứng đằng sau chúng ta khi chúng ta chơi đàn, và khi chúng ta mắc phải những sai phạm, người ấy phải thay đổi các nhịp điệu kế tiếp của bài hợp xướng để sử dụng các sai phạm ấy và đan dệt chúng vào trong khuôn khổ của tác phẩm. Người ấy kiểm soát sự chỉ dẫn tối hậu và kết quả của bài nhạc, nhưng người ấy làm vậy liên quan đến cách chúng ta làm trọn những chỉ dẫn của người ấy hoặc không làm trọn. Người ấy là chủ tình huống, song chúng ta vẫn được tự do.
Niềm tin của Kinh Thánh trong sự lựa chọn là một niềm tin tích cực . Niềm tin không bảo rằng : “Đức Chúa Trời cố ý bác bỏ hầu hết mọi người mà chỉ chọn một ít người .” Niềm tin ấy khẳng định rằng Đức Chúa Trời có lựa chọn , và rằng những người đã được chọn như vậy là những người mà qua họ , Ngài đến được với toàn thể nhân loại . Công việc của chúng ta không phải là rối trí về số phận của những người “không được chọn ,” và khoái trá trước sự kiện (như Cơ Đốc Nhân đôi khi thường có ) rằng “chúng ta tạo thành một hội ” mà người khác không được . Trên thực tế , không ai trừ Đức Chúa Trời biết ai “thuộc về hội đó .” Nhiều khi , “kẻ ngoại đạo xấu xa ” có thể gần với Nước Đức Chúa Trời hơn là bạn .
“Vì Sao Phải Bận Tâm?”
Khi quyền tối cao của Đức Chúa Trời được coi trọng, một câu hỏi sâu xa hơn nổi lên, chẳng hạn như: “Nếu Đức Chúa Trời thực sự nắm quyền kiểm soát, vì sao còn phải bận tâm? Ngài sẽ hiểu rằng chúng ta làm những việc Ngài muốn chúng ta làm. Hãy thư giãn đi!”
Đây là một lãnh vực khác, điều dường như là một kết luận hợp lý lại không theo được. Chính vấn đề sự kiện lịch sử đơn giản khiến những người tin chắc quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời trở nên cực kỳ “năng động.” Nếu Ngài đã chọn họ để làm trọn ý muốn của Ngài, thì họ phải nỗ lực mạnh mẽ để làm đúng điều đó! Ví dụ,vào thời kỳ Cải chánh Tin lành, những người thuộc giáo phái Calvan là những người xem sự tiền định nghiêm túc nhất. Nhưng trong cả thời kỳ đó không có những cá nhân tích cực và có tinh thần trách nhiệm hơn là những người thuộc giáo phái Calvin. Vì sao vậy? Bởi vì họ tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã chọn họ để làm công việc của Ngài và bởi vì không có, tuyệt đối không có điều gì, có thể đánh bại họ. Ai có thể chống lại kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời? Kết quả là người ta thấy họ có một sức mạnh phi thường (và đôi khi khủng khiếp). Một nhà văn ở thế kỷ thứ 17 đã viết rõ ràng như vậy: “Tôi thà đối mặt với cả một trung đoàn tuốt gươm trần còn hơn là chỉ một người theo thuyết Calvin tin chắc người ấy đang làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
Vấn Đề Thứ Hai: Quyền Tối Cao Của Đức Chúa Trời Và Các Phép Lạ
Bây giờ chúng ta hãy xem xét khó khăn chủ yếu thứ nhì của chúng ta. Kinh Thánh nói rất nhiều đến “những công việc quyền năng” mà Đức Chúa Trời của lịch sử đã thực hiện. Và có lẽ không chướng ngại vật nào lớn cho các độc giả ngày nay hơn là các phép lạ nầy. (Ở đây chúng ta chỉ bàn đến những phép lạ trong Cựu ước. Chương chín luận đến các phép lạ của Chúa Jêsus.) Đối với một độc giả ở thế kỷ thứ hai mươi dường như không thể nào lưỡi rìu có thể nổi, hay là những cây gậy có thể biến thành rắn, và các vách tường thành lại đổ sụp xuống vì kèn được thổi lên. Vậy thì sao?
Đức tin đối chọi với Đức tin - Không đức tin đối chọi với Không đức tin.
Có một phương cách sai lạc khi tiếp cận vấn đề nầy cần được phá đổ. Đó là quan điểm cho rằng muốn tin vào các phép lạ thì phải có hành động đức tin vĩ đại, trong khi không tin vào phép lạ thì chỉ là lẽ thường, bởi vì phép lạ không thể xảy ra. Lưu ý kỹ rằng lời tuyên bố: “Phép lạ không thể xảy ra” chỉ là một câu võ đoán cũng giống như lời tuyên bố: “Phép lạ có thể xảy ra” là một hành động của đức tin.” Mỗi câu nói đều hàm ý cả một quan điểm về vũ trụ mà đối với nó người nói đã tự cam kết. Như vậy, sự chọn lựa không phải là sự chọn lựa giữa đức tin hoặc không có đức tin. Đó là một sự chọn lựa giữa các đức tin kình chống nhau. Người nầy thì muốn nói rằng: “Tôi tin vào một vũ trụ trong đó Đức Chúa Trời có thể hành động bằng những cách mà tôi có thể hoàn toàn không hiểu.” Người kia thì lại bảo rằng: “Tôi tin vào một vũ trụ mà trong đó không điều gì có thể xảy ra mà tôi không hiểu.” Bạn có thể quyết định quan điểm nào có ý nghĩa đối với bạn hơn.
Phép Lạ Là Gì?
Chúng ta phải làm rõ điều mình hàm ý bởi “phép lạ.” Một định nghĩa phổ biến về phép lạ là điều gì đó “trái với tự nhiên.” Có những nguyên tắc hoặc luật lệ nhất định hành động trong vũ trụ. Thỉnh thoảng, điều gì đó xảy ra đi ngược lại với các định luật nầy thì đó là phép lạ.
Nhưng phép lạ cũng có thể được giải thích như là điều gì đó “trái với những gì chúng ta biết về tự nhiên.” Định nghĩa nầy, dầu khiêm tốn hơn, có lẽ giá trị hơn. Bởi vì nó công nhận những giới hạn của tầm nhìn chúng ta, và gợi cho thấy rằng có thể có một quan điểm hoàn hảo hơn quan điểm chúng ta có. Và đây chính xác là điều mà đức tin theo Kinh Thánh nhấn mạnh - tức là cái nhìn của Đức Chúa Trời là điều tốt nhất và chúng ta không bao giờ dám tuyên bố là mình cũng có được cái nhìn đó. Ngài có thể làm những điều dường như lạ lùng đối với chúng ta nhưng không lạ đối với Ngài. Thậm chí là đúng khi bảo rằng từ cái nhìn của Đức Chúa Trời thì không có phép lạ - Đức Chúa Trời chỉ đang làm theo cách “tự nhiên” đối với Ngài, thậm chí chúng rõ ràng “siêu việt” đối với chúng ta. Chúng ta không có quyền giới hạn Đức Chúa Trời trong những hoạt động chỉ chúng ta mới hiểu được.
Chúng ta hãy giải thích điều đó theo cách nầy. Giả sử bạn là một người từ hỏa tinh. Khi đĩa bay của bạn lượn vòng bên trên một thành phố của nước Mỹ, bạn thấy hoạt động giao thông và các đèn giao thông. Sau một hồi bạn quyết định rằng có một điều luật: “Khi nào đèn xanh thì xe sẽ chạy, và ngừng lại khi đèn đỏ.” Nhưng rồi một điều lạ lùng xảy ra. Tất cả các xe cộ đều tấp vào một bên lề và hai chiếc xe hơi phóng qua sáu, bảy chiếc đèn đỏ mà không dừng lại. Sau đó các xe khác mới bắt đầu chạy tiếp.
Điều nầy khiến bạn hết sức bối rối. Bởi vì nó đi ngược lại quy luật. Nhưng thật sự thì không có gì trái với luật lệ cả; nó chỉ trái với những gì bạn (nhớ rằng từ hành tinh Hỏa tinh đến) biết về luật lệ. Vì điều mà bạn không biết, đang khi ngồi trên chiếc đĩa bay, đó là có một điều khoản trong luật lệ dành cho các trường hợp khẩn cấp, khi một xe cứu thương hoặc xe cảnh sát xuất hiện với tiếng còi hụ. Các xe khác được luật pháp yêu cầu phải tấp vào một bên và nhường đường, dầu đèn đỏ hay xanh. Xe cứu thương và xe cảnh sát không vi phạm luật lệ; họ đang minh họa một phần của điều luật mà bạn tình cờ chưa được biết. Lý luận của bạn hoàn toàn đúng trong chừng mực của nó, nhưng chưa đi xa đủ.
Phép lạ Còn Là Gì Nữa?
Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu bỏ dở vấn đề nầy ở đây, trong Kinh Thánh phép lạ không chỉ là “những gì chúng ta không biết.” Có một lời khẳng định tích cực hơn: Phép lạ là sự công nhận quyền phép của Đức Chúa Trời, rằng chúng ta không phải là những người ở trong chỗ bảo Chúa điều Ngài có thể làm hoặc không thể làm. Chính Ngài là Đấng quyết định! Các trước giả Kinh Thánh hoàn toàn biết rằng “những công việc quyền năng” của Đức Chúa Trời vượt quá bất cứ khả năng giải thích nào của con người. Những phép lạ âý là một phương cách để khẳng định quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trên tất cả những gì Ngài đã dựng nên. Ngài không bị “ràng buộc” bởi tạo vật giống như chúng ta. Nếu Đức Chúa Trời thật sự là Chúa hằng sống của mọi tạo vật, thì chúng ta phải biết rằng Ngài có thể bày tỏ chính mình Ngài theo cách Ngài chọn, chứ không như chúng ta muốn. Tin vào phép lạ tức là tin rằng Đức Chúa Trời có thể làm những điều mới . Và chúng ta phải tiếp cận với sự kiện phép lạ trong Kinh Thánh bằng chính cách nhìn nầy. Chúng ta phải dọn chỗ cho khả năng Chúa có thể làm những việc dường như mới mẻ và thậm chí lạ lùng theo cái nhìn của chúng ta, dầu có thể chúng chẳng mới hay lạ gì đối với cái nhìn của Ngài.
Phép lạ Cơ Bản
Bảo rằng tất cả những phép lạ được ký thuật đều có tầm quan trọng tín ngưỡng bằng nhau là điều không đúng. Điều quan trọng nhất không phải là vấn đề lưỡi rìu nổi lên hay mặt trời dừng lại trước lời cầu khẩn của Giôsuê. Điều quan trọng hơn hết là chúng ta có hiểu được phép lạ cơ bản của đức tin theo Kinh Thánh hay không. Nếu chúng ta hiểu được, chúng ta được trao quyền và có bổn phận phải xem xét những phép lạ được ký thuật khác trong mối liên hệ với phép lạ cơ bản.
Như vậy phép lạ cơ bản là gì? Chắc chắn, đây là một sự thật - sự thật lạ lùng không giải thích được - đó là Đức Chúa Trời yêu những con người hay vấp phạm hay phạm tội như chúng ta. Chủ đề nầy được triển khai xuyên suốt Kinh Thánh - qua việc Đức Chúa Trời chọn Ysơraên, sự tha thứ không ngừng của Ngài, đặc biệt việc Ngài ban Con Độc Sanh của Ngài, việc Ngài ban Đức Thánh Linh, mối quan tâm của Ngài dành cho chúng ta đến tận ngày hôm nay - chúng ta đến chỗ hiểu được toàn bộ điều đó lạ lùng như thế nào, hoàn toàn bất ngờ như thế nào, và vượt quá bất cứ điều gì chúng ta có quyền chờ đợi ra sao, đi ngược lại với những gì chúng ta biết về phương cách mà cuộc sống vẫn thường tiếp diễn như thế nào. Việc Đức Chúa Trời yêu thương con người tội lỗi và bước vào mối thông công với họ là trọng tâm của lời khẳng định theo Kinh Thánh. Đây chính là phép lạ căn bản. Đặc biệt khi chúng ta nhìn thấy điều đó tập trung vào Chúa Cứu Thế Jêsus, chúng ta hiểu rằng đây chính là vấn đề quan trọng thật sự. Sau khi hiểu được điều đó, chúng ta có thể tiếp tục hỏi về phép lạ nầy hoặc phép lạ kia, không những liên quan đến tính đáng tin cậy của lời ký thuật chúng tôi về điều đó, nhưng quan trọng hơn, nó giúp làm sáng tỏ và làm rõ thêm hiểu biết của chúng ta về phép lạ căn bản của Chúa Jêsus Christ như thế nào và ở mức độ ra sao.
Vì vậy chúng ta hãy quay sang xem xét kỹ càng hơn về phép lạ cơ bản.

Chương 7: Tính Chất Bất Ngờ Của Phúc Âm
(Điều Gì Khiến Chúa Jêsus Quan Trọng Như Vậy? )
Nay ban hành cho mọi người đều biết:
Cứ ba năm, mọi người sẽ quên đi hết những gì họ đã học biết về Chúa Jêsus, nên phải bắt đầu học lại toàn bộ * * *
Ở mức độ nào đó, một điều luật như vậy không phải là một ý tưởng tồi. Ít ra nó cũng buộc chúng ta phải trở lại và đọc lại các sách Phúc âm, các thơ tín“lần đầu,” để đối diện với Đấng được mô tả ở đó. Sau khi nhận hiểu Ngài mà không bị những sự sai lệch và những hạn chế, không tránh được của tâm trí chúng ta, đã mặc cho Ngài, chúng ta sẽ kinh ngạc - và thậm chí bị sốc - trước những gì chúng ta nhìn thấy.
Ai Đúng?
Bạn để ý sự giới hạn khi đọc các sách nói về Chúa Jêsus. Hầu như mọi người đều cho bạn điều gì đó kém hơn là “toàn bộ” con người thật của Chúa Jêsus. Bạn thường học được nhiều về người viết “cuộc đời Chúa Jêsus” hơn là học được về chính mình Chúa Jêsus.
Một người với những kiến thức về xã hội chủ nghĩa viết một cuốn sách về Chúa Jêsus, thế là Chúa Jêsus nổi lên như một nhà vô địch vĩ đại trong số những người kém quyền lợi hơn người khác.
Một nhà điều hành quảng cáo viết về cuộc đời Chúa Jêsus và rồi Chúa Jêsus nổi lên như một nhân vật thông minh đặc biệt trong việc sử dụng các nguyên tắc quảng cáo của Ngài.
Một người theo chủ nghĩa nhân văn viết một cuốn sách về Chúa Jêsus và Chúa Jêsus xuất hiện như một giáo sư vĩ đại, một người theo chủ nghĩa nhân đạo, một người bạn.
Hình ảnh nào là đúng? Có phải Ngài là “Chúa Jêsus hiền lành, nhu mì và dịu dàng,” đồng thời lại là một kẻ tố cáo nóng nảy có thể sử dụng những ngôn ngữ rất khắt khe để lên án những người Pharisi không? Có phải Ngài là một người huyền bí khó hiểu chỉ quan tâm đến “những việc thuộc linh” và đồng thời là một người khuyên chúng ta hãy cầu nguyện cho những vấn đề vật chất thô thiển như bánh ăn hằng ngày?
Giá trị Lời Khẳng Định Của Cựu ước .
Lý do của những mâu thuẫn gây bối rối nầy xuất phát từ sự kiện Tân ước đã đưa ra hai lời khẳng định dường như mâu thuẫn nhau về Chúa Jêsus. Đối với một số người, hai lời tuyên bố nầy vô hiệu hóa lẫn nhau. Đối với những người khác, chúng dường như khó hiểu. Nhưng đối với đại đa số các Cơ Đốc Nhân suốt các thời đại, dường như cần thiết phải nhấn mạnh cả hai lời khẳng định nầy. Chúng có thể được phát biểu qua một số cách: Chúa Jêsus vừa là Đức Chúa Trời vừa là người.
Ngài vừa là con người vừa là Đức Chúa Trời
Ngài tỏ cho chúng ta Đức Chúa Trời là Đấng thế nào và Ngài cho chúng ta biết mình phải trở nên con người thế nào. Hoặc nói điều đó theo thuật ngữ của Kinh Thánh: “Chúa Cứu Thế là hiện thân của tất cả bản chất thần linh của Thượng Đế” (CoCl 2:9), tuy nhiên Ngài là một người “từng chịu đựng mọi cám dỗ như chúng ta” (HeDt 4:15).
Những Cơ Đốc Nhân có hảo ý gặp thảm họa khi nỗ lực để chọn một trong hai lời khẳng định nầy mà bỏ mất lời khẳng định kia. Có rất nhiều người, ví dụ, là những người sẵn sàng thú nhận rằng Chúa Jêsus là một con người rất rất rất tốt, hoặc thậm chí là một con người hết sức, hết sức hết sức tốt lành - nhưng lại lẫn tránh ý tưởng Ngài là Đức Chúa Trời.
Mặc khác, có những Cơ Đốc Nhân khẳng định mạnh mẽ rằng bởi vì Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, Ngài biết mọi sự, và không có điều gì Ngài không làm được. Họ lấy làm bực tức nếu bạn tỏ rõ cho họ rằng Chúa Jêsus đã có lúc mệt mỏi, đói khát, ngã lòng, và cô độc giống như bất cứ con người bình thường nào, mặc dù những sự kiện nầy đã được nhấn mạnh nhiều lần trong các sách Phúc âm.
Cả hai nhóm người nầy đều bỏ sót giá trị của Tân ước. Ví dụ, hãy xem các câu mở đầu của sách Phúc âm Thứ Tư. Tác giả đang muốn nói về “Ngôi lời” của Đức Chúa Trời mà theo Cựu ước, là một cách để mô tả quyền phép và sự sáng tạo của Đức Chúa Trời: “Các từng trời được làm nên bởi lời Đức Giêhôva” (Thi Tv 33:6). Lời Đức Chúa Trời là quyền phép sáng tạo của Ngài, bởi phương tiện đó, Ngài bước vào mối quan hệ với con người, Ngài phán với họ, trò chuyện với họ và tỏ cho họ biết Ngài là Đấng thế nào. Sách Phúc âm Thứ Tư nói gì? Sách ấy chép như vầy: “Ngôi lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta” (GiGa 1:14). “Đã trở nên xác thịt” có nghĩa là hoàn toàn đơn giản, “trở nên một con người” như chúng ta. Đây là sự tỏ ra của tính sáng tạo và quyền phép Đức Chúa Trời, bằng đời sống của một con người bằng thịt và huyết. Đức Chúa Trời không chỉ giả vờ làm con người. Ngài đã trở thành một người giữa vòng chúng ta, thông qua một con người được gọi là Jêsus-conGiôsép, con trai của một người thợ mộc Naxarét. Khi Chúa Jêsus đói, đó là cơn đói thật sự, chứ không phải giả vờ. Khi những chiếc đinh bị đóng vào bàn tay Ngài, chúng đau đớn, và máu thật sự tuôn ra từ vết thương. Điều Tân ước dám khẳng định đó là trong đời sống và giảng dạy, sự chết và sự sống lại của con người nầy, chính mình Đức Chúa Trời được thể hiện một cách độc đáo, hầu cho nếu bạn muốn thấy Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào và những gì Ngài đã làm một cách rõ ràng nhất, hãy nhìn xem Jêsus -con Giôsép nầy.
Một Tuyên bố gây Kinh ngạc
Bấy giờ đây là một lời tuyên bố gây kinh ngạc. Chúng ta cần nhớ điều đó. Chúng ta phải ngạc nhiên ở mức độ nào đó mỗi khi đọc tin mừng hoặc nghe tin mừng được loan báo. Điều nầy không phải là cái gì đó để tin một cách sơ sài. Nó khiến cho, như chúng ta nói: “một số người tin.” Và dường như cũng ngạc nhiên như bản thân lời công bố là sự kiện người ta đã tin phúc âm mà không nhận ra rằng nó đáng kinh ngạc. Một lời tuyên bố như vậy, nếu đúng sự thật, thì rõ ràng là điều quan trọng nhất đã từng xảy ra trong dòng lịch sử nhân loại. Đó là Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa của các đầu cùng đất, vượt trổi hơn và có trước mọi thời đại và không gian, đã sống đời sống như một người trong chúng ta phải là tin tức hàng đầu. Rằng con người đã phẫn nộ đối với việc làm nầy của Đức Chúa Trời, rằng họ đã nhổ lên Chúa Jêsus và hành hình Ngài một cách dã man tàn bạo phải là một câu chuyện gây bàng hoàng. Nhưng chúng ta có thể quan tâm đến cái chết của một con ba ba nuôi trong nhà hơn là quan tâm đến sự kiện Chúa Cứu Thế Jêsus đã bị hành hình trên một ngọn đồi bên ngoài thành Giêrusalem vì bị cáo là nguy hiểm cho sự an toàn công cộng. Câu chuyện nầy đã trở nên phổ thông đến nỗi nó không còn làm động lòng chúng ta nữa. Nó không còn khiến chúng ta bàng hoàng nữa. Không còn làm chúng ta kinh tởm nữa. Thậm chí không còn làm chúng ta xúc động nữa.
Tuy nhiên - những biến cố về cuộc đời và sự chết của Chúa Jêsus đã thật sự tạo được một sức ảnh hưởng mạnh mẽ trên dân chúng trong thời đại của Ngài. Điều đó thật sự đã khuấy động dân chúng. Chúng đã làm dân chúng bàng hoàng. Khiến họ kinh tởm, thậm chí làm họ bị kích động.
Điều Con Người Đang Tìm Kiếm
Vì sao con người vào thời đó lại quá hung hãn trong những phản ứng của họ đối với Chúa Jêsus như vậy? Hãy cố hình dung điều họ đang tìm kiếm. Họ là những người Do Thái. Điều đó có nghĩa là họ đã bị xua đuổi và bị chà đạp cả hàng trăm năm. Bất cứ khi nào họ dường như bắt đầu thành công, thì một cường quốc lớn mạnh lại tràn xuống từ phương bắc hoặc tấn công lên từ phương nam và bắt họ làm phu tù. Vì vậy họ vẫn đang tìm kiếm một đấng minh oan, một nhà giải phóng, mà họ có thể trao cho danh hiệu “Mêsi” (có nghĩa là “Đấng Chịu Xức Dầu”), một Đấng Mêsi mà Đức Chúa Trời sẽ gởi đến để giải cứu họ và cho họ tự do, và qua Đấng ấy, sự trị vì của Đức Chúa Trời sẽ được thiết lập trên đất. Đấng Mêsi nầy sẽ như thế nào? Một “cuộc trưng cầu dân ý” của thế kỷ đầu tiên hẳn đã diễn ra hơi giống như vầy:
NGƯỜI THỨ NHẤT (Hết sức thực tế ): Tôi ư? Tôi đang tìm kiếm một người con cháu của vua Đavít để đến và cai trị như cách vua Đavít đã cai trị. Ôi những ngày ấy! Chúng ta đã có đất đai, lương thực, danh tiếng và một vị vua vĩ đại. Một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ sai phái một vua Đavít khác, Đấng trị vì chúng ta. Rồi chúng ta sẽ có được hòa bình và công chính, kẻ thù sẽ phải bị hủy diệt. Tôi chỉ mong Đấng ấy mau đến.
NGƯỜI THỨ NHÌ (với giọng gầm gừ ): Tôi không biết chính xác chúng ta sẽ nhận ra Đấng Mêsi bằng cách nào nhưng tôi có thể cho anh biết điều nầy. Người ấy sẽ là một chiến sĩ vĩ đại. Người ấy sẽ kéo những tên La mã đáng nguyền rủa kia xuống biển. Và chúng ta sẽ giành lại xứ sở của chính mình mà không một mống ngoại quốc nào còn được cai trị, lấy hết tiền của chúng ta đóng thuế và bắt chúng ta nghèo khổ. Tôi trước tiên sẽ gia nhập đội quân của ông ấy, và chúng ta sẽ âm mưu một cuộc cách mạng để nghiền nát quân La mã thành từng mảnh.
NGƯỜI THỨ BA (cặp mắt cuồng nhiệt ): Không, sẽ không dễ dàng như vậy đâu. Chúng ta đã lâm vào khó khăn quá sâu để nhờ cậy bất cứ con người nào chỉ là người mà giải phóng được chúng ta. Hy vọng duy nhất của chúng ta nằm ở nơi một Đấng đến từ trời, được sai xuống từ các đám mây trời, với các đội quân của thiên sứ. Loại công việc mà Sách Đaniên đã nói đến. Đấng ấy sẽ đánh bại người La mã áp bức, giải cứu chúng ta khỏi họ, và rồi sẽ thiết lập vương quốc thiên đàng của Ngài ngay tại đây trong xứ Palettin. Đó là điều duy nhất có thể cứu chúng ta.
Đó là những giấc mơ và những khát vọng điển hình của một dân lưu đày, sống dưới sự thống trị khắc nghiệt của một “quân đội chiếm đóng,” vô quyền để chống lại, quá cay đắng để chịu đựng, quá kiêu hãnh để chấp nhận yên phận. Họ cảm biết chắc chắn rằng thậm chí trong sự sỉ nhục của mình Đức Chúa Trời cũng không quên họ, và Ngài sẽ sai đến Đấng Chịu Xức Dầu của Ngài, mặc dầu không phải tất cả đều đồng ý Đấng Chịu Xức Dầu chính xác phải như thế nào.
Điều Con Người Đã Tìm Được
Liệu những người nầy có tìm thấy trong Chúa Jêsus Đấng Mêsi mà họ đang tìm kiếm không?
Không hề
Có thể thoạt đầu một số người trong vòng họ đã tìm thấy. Có lẽ họ cảm nhận vào lúc bắt đầu rằng Chúa Jêsus sẽ trở thành loại Đấng Mêsi đó. Có lẽ Giuđa là một trong số những người ngày càng vỡ mộng vì Chúa Jêsus đã không phải là loại Đấng Mêsi của Giuđa. Và một môn đồ khác, Simôn Xêlốt (không phải Simôn Phierơ), dường như là thành viên của một toán người cuồng nhiệt đang tìm cách khởi sự một cuộc nổi loạn công khai chống lại La mã, và người nầy đã gia nhập với Chúa Jêsus, hy vọng rằng Ngài sẽ lãnh đạo cuộc chiến đấu nầy.
Nhưng Chúa Jêsus đã có chương trình của Ngài về những gì Đấng Mêsi phải có, và điều đó hóa ra lại rất khác so với suy nghĩ của mọi người khác. Ngài không sẵn sàng để trở thành một công cụ cho những tham vọng của chủ nghĩa dân tộc Ysơraên trong thế kỷ đầu tiên. Đức Chúa Trời đã có chương trình sâu rộng hơn để bày tỏ cho con người qua Đấng Mêsi. Vì vậy điều chúng ta tìm thấy, đó là Đấng Mêsi mà Chúa Jêsus xưng nhận không phải là Đấng Mêsi mà dân chúng đang trông đợi. Chúa Jêsus đã nói lên sự hiểu biết của Ngài về tư cách Đấng Mêsi bằng những lời gây bàng hoàng không thể tưởng tượng đối với dân chúng trong thời của Ngài, bàng hoàng và không thể tưởng tượng được thậm chí đối với những môn đồ thân tín nhất của Ngài.
Tất cả đã xuất hiện công khai một thời gian ngắn trước khi kết thúc cuộc đời của Ngài. Sau chức vụ ngắn ngủi quanh khu vực Biển Galilê, Chúa Jêsus và các môn đồ thân cận của Ngài đã đi lên phía bắc trong một thời gian, có lẽ để đánh giá lại tình hình. Mọi sự diễn ra không tốt đẹp lắm. Một cuộc khủng hoảng đang ở trước mắt. Chúa Jêsus, sau khi hỏi các môn đồ những quan điểm gì họ đã nghe về Ngài, đã đặt câu hỏi hướng thẳng vào họ: “Nhưng các ngươi thì nói Ta là ai?” (Mac Mc 8:29). Phierơ là người đã trả lời: “Thầy là Đấng Christ.” Bởi điều đó ông hàm ý: “Ngài chính là Đấng Mêsi, Đấng Chịu Xức Dầu mà Đức Chúa Trời đã sai đến.”
Nhưng chẳng bao lâu sau điều Phierơ muốn nói qua lời xưng nhận nầy hóa ra lại hoàn toàn khác với những gì Chúa Jêsus hàm ý. Chúa Jêsus đã kết hợp hai ý niệm mà trước đây chưa từng được kết hợp trong suy nghĩ của người Do Thái. Thứ nhất là ý niệm về “Con Người,” là điều có lẽ được hàm ý, không phải dường như hàm ý - chỉ là một con người - nhưng là một con người thuộc về trời đã được mô tả trong sách Đaniên có nói đến ở phần trước. Ý niệm thứ hai là ý niệm về “Người Tôi Tớ Chịu Khổ,” người chịu khổ thay cho người khác, người gánh trên chính mình những hậu quả tội lỗi của những kẻ đã bắt bớ mình (đặc biệt xem trong EsIs 52:13 đến 53:12). Chúa Jêsus đã kết hợp hai ý niệm nầy bằng một câu gây ngạc nhiên: “Con người phải chịu khổ...” (Mac Mc 8:31).
Lúc ấy điều nầy hoàn toàn không có ý nghĩa đối với Phierơ. Con Người phải chịu khổ ư? Vô lý! Con Người phải đến trên mây trời, hoặc Ngài phải là một vị vua vĩ đại có kinh nghiệm chiến đấu, hoặc Ngài phải là một người lãnh đạo phong trào yêu nước, sao lại phải chịu khổ và phải chết? Không bao giờ! Đó chính xác là điều Ngài không được làm. Làm sao Ngài có thể hoàn thành những việc lớn lao mà Đức Chúa Trời sẽ thực hiện qua đấng Mêsi theo cách đó? Sự hoang mang sửng sốt của Phierơ được thấy rõ qua những người còn lại đã đến tiếp xúc với Chúa Jêsus. Nếu Ngài sẽ chịu chết, nếu Ngài không hoàn thành tất cả những gì dân chúng mơ ước trong nhiều thế kỷ, thì rốt lại rõ ràng Ngài không phải là Đấng Mêsi. Ngài hẳn phải là một kẻ lập dị, một kẻ mạo danh, một kẻ cần phải bị loại bỏ.
Điều Con Người Đã Làm
Vì vậy dân chúng lý luận. Và họ đã hành động theo đó. Chính phương thức mà họ dùng để trừ khử Chúa Jêsus dường như là một sự khẳng định mỉa mai rằng họ đã đúng. Bởi vì có một câu trong luật pháp của người Do Thái: “Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ” (trích trong GaGl 3:13) cho thấy một người bị chết bằng hình thức đóng đinh (“cây” = gỗ = thập tự giá) là kẻ phải chịu dưới sự rủa sả của Đức Chúa Trời. Còn gì rõ ràng hơn việc Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá nghĩa Ngài đã bị Đức Chúa Trời chối bỏ, và rốt lại Ngài không phải là đấng Mêsi đã được hứa? Đấng Mêsi không bị “treo trên cây gỗ”; Ngài chiến thắng, Ngài cai trị trong vinh quang.
Bây giờ, dầu chúng ta có muốn hay không, đó là cách hầu hết những người trong thế kỷ đầu tiên đã lập luận khi họ đối mặt với lời tuyên bố vô lý rằng Chúa Jêsus là Đấng Mêsi mà họ trông đợi. Chúng ta phải đối mặt hết sức thẳng thắn với sự thật như vậy. Chúa Jêsus đã không chinh phục được tất cả các đám dân đông đến với Ngài bởi một nhân cách dễ chịu. Ngài đã chinh phục được một số ít người, phải (mặc dầu hầu hết họ đã bỏ trốn trong khi Ngài bị bắt và bỏ mặc Ngài đi đến cái chết mà không có họ). Song nhiều người khác đã mạnh mẽ và nhất quyết chối bỏ Ngài. Họ thẳng thừng phủ nhận lời tuyên bố của Ngài, gọi đó là lời phạm thượng, và làm hết sức mình để bắt Ngài chịu hành hình một lần đủ cả.
Họ đã thành công .
Hay ít ra, họ nghĩ họ đã thành công. Sự kiện cái chết của Ngài đã không kết thúc câu chuyện là một sự kiện mà bây giờ chúng ta sẽ phải xem xét. Nhưng trước khi làm điều đó, chúng ta phải nhận ra rằng cuộc đời của Ngài là một sự “thất bại” trong ý nghĩa mà chúng ta thường sử dụng từ ấy. Loại đấng Mêsi gì mà lại bị giết chết trong thế kỷ thứ nhất giống như một tội phạm tầm thường trên một chiếc ghế điện, sau những lời tố cáo thành công của cả giới cầm quyền dân sự lẫn tôn giáo? Thật là một Đấng Mêsi lạ lùng, khó mà xứng đáng được ngó ngàng đến lần thứ hai!
Thiểu Số Nhỏ Bé của Những Người Không Đồng Tình
Tuy nhiên vẫn có những kẻ thật sự quyết định nhìn lại lần thứ hai. Họ là những con người đã can đảm thách thức trước các sự thật, đã nói đến chiến thắng khi rõ ràng chỉ có bi kịch, họ nói với giọng vui mừng khi đáng lẽ phải buồn rầu, đã mỉm cười khi đáng lẽ phải khóc lóc. Vì sao họ lại khác với 99, 5 % kia? Chúng ta hãy thử xem xét họ.
Chúng ta hãy xem những môn đồ của Chúa Jêsus ngay sau khi lãnh tụ của họ bị bắt, bị buộc tội trong một phiên tòa “được dàn dựng” và bị giết chết. Họ bị bối rối bởi sự đảo ngược nhanh chóng vận mệnh mà họ và lãnh tụ của họ phải chịu. Chúa Jêsus, người mới vừa cùng họ dự bữa ăn tối chỉ một hoặc hai đêm trước, nay đã nằm chết lạnh lẽo trong huyệt mộ. Họ đã bị vỡ mộng . Chúa Jêsus đã nói về những điều kỳ diệu như thế. Ngài đã làm những việc tuyệt vời như thế. Nhưng bây giờ tất cả đã qua rồi. Ngài chỉ dệt ra một giấc mơ. Khi khó khăn thật sự xảy đến Ngài vô quyền, và giấc mơ ấy đã tan biết như một làn khói. Bạn có thể thấy họ đang sẵn sàng để trốn khỏi thành Giêrusalem và trở về với lưới cá của mình, họ nói với nhau: “Tôi sẽ không bao giờ tham dự vào những chuyện như vậy nữa.” Họ bị hoảng sợ . Họ đang nhóm họp đằng sau những cánh cửa khóa kín. Vì sao vậy? Lý do hết sức đơn giản. Họ sợ hãi người ta đã từng thấy họ đã từng ở với Chúa Jêsus. Chúa Jêsus nay đã bị giết chết. Ai sẽ là những người kế tiếp? Người La mã có rất nhiều thập tự. Hãy để cho Ủy Ban Các Hoạt động Chống La mã theo dõi họ, và rồi họ sẽ trải qua một vụ xét xử “được dàn dựng” và cái chết bởi nhục hình.
Đó là điều rất có khả năng xảy đến cho các môn đồ ngay sau cái chết của lãnh tụ họ. Một nhóm người không có gì hứa hẹn, bị hoang mang, vỡ mộng, và hoảng sợ. Chẳng ai mong đợi họ làm được bất cứ điều gì.
Nhưng họ đã thật sự làm được điều gì đó. Ngay sau đó họ đã bắt đầu làm được rất nhiều điều. Để hoàn thành câu chuyện, chúng ta phải xem xét một bức tranh khác về nhóm người nầy. Lần nầy khung cảnh không bị giới hạn ở một căn phòng nhỏ với cánh cửa được chặn kỹ. Mà nó phải rộng đủ để cuối cùng bao gồm toàn cả Đế quốc La mã. Hãy xem một cảnh khác.
Thay vì bị hoang mang, họ trở nên hết sức quả quyết về chính mình. Họ được khuấy động để hành động, và đi thật xa thật rộng công bố điều họ gọi là “tin lành,” trong các đền thờ và các chỗ chợ, cho những người bán cá rong và các quan chức La mã. Thay vì bị vỡ mộng, họ đầy lòng tự tin, và có một sự vui mừng dường như ngây thơ trong việc chia sẻ một kinh nghiệm lớn lao đã làm biến đổi họ. Thay vì bước đi với bước chân nặng nề, họ đầy quyền năng huyền bí mà họ gọi là quyền năng thánh. Thay vì bị hoảng sợ, họ đầy lòng can đảm có sức lan truyền, và đi khắp các nơi theo nghĩa đen kêu lớn về cùng một loại những điều mà vì nó, lãnh tụ của họ mới vừa bị giết chết. Người ta càng bảo họ phải im lặng không thôi sẽ bị phạt chết, thì họ lại càng vui mừng để nói. Thật vậy họ đã gây một ấn tượng trên dân chúng chung quanh họ, đến nỗi không lâu sau, những kẻ thù của họ (không phải bạn hữu họ mà là kẻ thù của họ) phải gọi họ là “đã làm đảo lộn cả thiên hạ” (Cong Cv 17:6).
Vì Sao Họ Không Đồng Tình Với Đa Số
Điều gì đã đem lại sự biến đổi lạ lùng nầy? Hoàn toàn không thể tránh được, chính là sự xác quyết không lay chuyển được của họ rằng Chúa Jêsus đã không bị cầm giữ bởi phần mộ mà Ngài đã bị đặt vào sau khi hoàn toàn chết, nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết và Ngài đang ở với họ, bên cạnh họ, ở giữa vòng họ như một sự hiện diện sống động và tích cực. “Chúa Cứu Thế Phục Sinh” không còn là lý thuyết đối với họ, mà là một sự thực, một sự thực trong kinh nghiệm của chính họ. Họ biết Ngài đang sống bởi vì họ và Ngài, một lần nữa lại ở trong mối tương giao thân mật. Và khi chúng ta xem xét bản tường trình những việc họ đã làm, những bài giảng họ đã giảng, các bức thư họ đã viết, những câu chuyện về Chúa Jêsus mà họ đã biên soạn, một sự kiện gây kinh ngạc nổi lên. Cơ sở của toàn bộ sự mạnh dạn đảm nhận công việc nầy không phải (như chúng ta thường được dẫn dụ để tin) là những sự dạy dỗ về đạo lý của Chúa Jêsus, mà chính là “tin mừng” về sự Phục sinh.
Đó thật sự là “tin mừng” trên mọi mức độ của đời sống. Nó xác chứng những lời tuyên bố của Chúa Jêsus, và đức tin mà các môn đồ đã đặt nơi Ngài. Nó chứng tỏ rằng thậm chí từ một thảm họa như việc Chúa Jêsus chịu đóng đinh, Đức Chúa Trời vẫn có thể làm điều cực kỳ tốt lành. Nó cho thấy rằng chúng ta không phải sợ sự chết nữa, bởi vì Đức Chúa Trời mạnh hơn cả sự chết, Ngài là Đức Chúa Trời của sự sống và sự chết. Nó chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời có thể mang lấy tội lỗi con người (ngay cả tội lỗi kinh khiếp nhất của những kẻ đã giết chết Chúa Jêsus) và đắc thắng tội lỗi. Nói tóm lại nó đã cho thấy rằng sự Phục sinh có thể đến qua sự chết, chiến thắng có thể đến từ bi kịch, và thậm chí khi con người đã làm điều tồi tệ nhất, Đức Chúa Trời vẫn có thể làm điều tốt nhất của Ngài. Tin lành nầy “đã làm đảo lộn” tất cả những gì con người đã tin trước kia về Đức Chúa Trời cũng như phương cách hành động của Ngài.
Chứng cớ gì?
Một cái nhìn thật nhanh về chứng cớ sẽ tỏ rõ tính cách trọng tâm của sứ điệp nầy. Những câu Kinh Thánh được viết ra cách cụ thể sớm sủa nhất về sự sống lại nằm trong các thư của Phaolô. Ví dụ, trong lá thư đầu tiên gởi cho người Côrinhtô, ông nói rằng đức tin nơi sự sống lại chính là “Phúc âm” tức là Tin lành. Ông đã “nhận được” Tin lành ấy khi trở thành một Cơ Đốc Nhân. Đó là “điều trước hết..., ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội lỗi chúng ta..., Ngài đã bị chôn,... Ngài sống lại vào ngày thứ ba” (ICo1Cr 15:3,4) nhưng đó không phải chỉ là điều mà Phaolô đã được cho biết. Ông liệt kê những người đã được chứng kiến sự hiện ra của Chúa Cứu Thế và rồi ông nói: “Ngài cũng hiện ra cho tôi xem” (câu 8). Kinh nghiệm nầy đã trở thành sự thật đối với chính Phaolô. Đức tin Phục sinh nầy là đức tin Cơ Đốc: “Đó là điều chúng tôi giảng dạy, và là điều anh em tin.” (câu 11). Thậm chí ông còn nói mạnh mẽ hơn nữa: “Nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích” (câu 14).
Loại chứng cớ nầy nổi bật trên hầu hết mọi trang Kinh Thánh Tân ước. Đấng Christ đã sống lại từ kẻ chết! Hãy hát lên điều đó! Hãy la lớn tiếng lên! Hãy để mọi người đều biết! Bởi vì sự kiện đó đã làm thay đổi mọi sự.
Chúng ta tự nhiên có những thắc mắc. Chúng ta muốn biết càng nhiều càng tốt về một sự kiện như vậy. Phaolô không cho chúng ta bất cứ các chi tiết nào. Để có các sự kiện cụ thể, chúng ta phải quay trở lại các đoạn kết thúc trong từng sách của bốn sách Phúc âm (Mac Mc 16:1-20; Mat Mt 28:1-20 LuLc 24:1-53; GiGa 20:31; 21:1-25), mặc dầu vậy, điều quan trọng phải nhớ rằng sự phục sinh đã được giả định trước suốt mỗi sách. Chúng ta tìm thấy gì? Những lời ký thuật đưa ra rất nhiều bằng chứng về sự kiện trọng tâm của sự sống lại , với những khác biệt về một số các chi tiết . Bất cứ một người thành thật nào cũng phải thừa nhận cả hai điều đó. Về những vấn đề quan trọng có sự đồng tình: Đấng Christ đã không bị mồ mả cầm giữ, Ngài đã sống lại từ kẻ chết, Ngài đã hiện ra cho các môn đồ, họ đã đến chỗ quả quyết về sự hiện diện sống động của Ngài, và đời sống của họ đã được biến đổi bởi Ngài. Khi bạn định nghĩa chính xác những chi tiết mình tìm thấy, điều rất tự nhiên, sự đồng tình đầy đủ có kém hơn. Bốn người viết, rất lâu trước khi có nhật báo, điện thoại, báo in, có những sự suy nghĩ và hồi tưởng khác nhau cũng như sự nhấn mạnh vào những sự kiện khác nhau. Ví dụ họ không biết chắc ai chính là người ở tại mộ khi những người phụ nữ đến đó để xức xác Chúa. Họ cũng không thể đồng ý chính xác loại thân thể mà Chúa Phục sinh đã có, vì vậy trong một số câu chuyện Ngài có thể ăn cá nướng với họ, và trong những câu chuyện khác Ngài có thể xuất hiện hoặc biến mất tùy ý.
Những sự kiện nầy được lưu ý bởi vì chúng thường làm những người đọc các câu chuyện đó bối rối. Tại sao lại có những sự bất đồng thậm chí nhỏ nhặt như vậy? Chúng ta hãy hình dung một sự kiện bất ngờ xảy ra ngày hôm nay. Hai chiếc xe hơi đâm nhau trên con đường chính của thị trấn bạn ngay trước trường trung học.
• Bạn nhìn thấy tai nạn từ cửa sổ của một cửa hiệu tạp hóa.
• Đứa cháu của bạn thì nhìn thấy tai nạn từ một chiếc xe hơi đậu bên kia đường cách đó một khu nhà.
• Các em học sinh lớp mười nhìn thấy tai nạn từ trong sân trường.
• Một học sinh lớp mười một nhìn thấy tai nạn từ cửa sổ tầng hai của trường trung học.
• Một viên cảnh sát nhìn thấy tai nạn từ một góc phố.
• Rất nhiều khách bộ hành nhìn thấy hai chiếc xe ngay sau vụ tai nạn.
Nếu vài tháng sau, tất cả các nhân chứng nầy đều được lôi ra tòa, thì bất cứ luật sư hiệu quả nào cũng sẽ nghi ngờ không biết câu chuyện của họ có chính xác khớp với mọi chi tiết hay không. Con người ta hoàn toàn không lưu ý những điều nhỏ nhặt, hoặc nhớ kỹ những điều đó. Luật sư sẽ nghi ngờ họ rủ nhau để “lừa dối ông ta” bằng cách bịa đặt ra một câu chuyện thay đổi theo thời gian.
Bây giờ hãy hình dung ba mươi hoặc năm mươi năm sau, các nhân chứng được yêu cầu cho thông tin về vụ tai nạn. Họ sẽ nhớ được gì? Họ có thể đưa bằng chứng rõ ràng và xác quyết rằng đã từng có một tai nạn ở tại đó. Không có ai bất đồng chuyện đó cả. Nhưng về những chi tiết phụ, như là màu của hai chiếc xe, tốc độ của chúng, và v..v.. thì sẽ có những khác biệt dễ hiểu.
Có một sự biệt đáng kể giữa một tai nạn ô tô và sự sống lại từ kẻ chết. Và có một yếu tố huyền nhiệm trong tính chất vô song của sự kiện phục sinh có thể bị mất ý nghĩa bất cứ khi nào chúng ta cố gắng tiến hành một phân tích quá rõ ràng để giải thích điều đó. Sự sống lại từ kẻ chết không bao giờ có thể “được giải thích” một cách đầy đủ. Ngoài ra, ví dụ của chúng ta có thể ít nhất là một lời gợi ý không rõ ràng. Khi chúng ta xem xét lại những lời ký thuật về sự sống lại trong các sách Phúc âm, chúng ta có thể thấy rằng chính những khác biệt về chi tiết là một phẩm chất giá trị cho sự kiện không một ai muốn “lừa dối chúng ta.” Bốn lời ký thuật (được viết bởi những con người khác nhau ở những nơi khác nhau vào những năm khác nhau) ăn khớp chặt chẽ với nhau làm khuấy động những nghi ngờ của chúng ta. Chính những khác biệt nhấn mạnh tính nhất quán của lời khẳng định trọng tâm mà họ đều đồng ý - đó là thập tự giá chưa phải là kết thúc, nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết.
Nếu như thập tự giá là kết thúc, thì chúng ta hãy nhớ rằng, các môn đồ hẳn sẽ bị giải tán, bi quan và vỡ mộng. Và Cơ Đốc Giáo hẳn không bao giờ có sự bắt đầu. Điều đã làm cho Cơ Đốc Giáo “bắt đầu” chính là lời xác quyết của các môn đồ rằng Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết, rằng Ngài đang ở trong mối tương quan thân mật với họ, và rằng tin tức làm rúng động thế giới nầy phải được công bố với bất cứ giá nào, bởi vì nó đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa của đời sống. Kể từ ngày đó, dấu hiệu căn bản của niềm tin Cơ Đốc không phải là sự buồn rầu mà là vui mừng, không phải thất bại mà là đắc thắng. Và biểu hiện của người Cơ Đốc không phải là gương mặt u sầu mà là gương mặt tỏa sáng vui mừng.
Sự Lựa Chọn Để Ngỏ Cho Chúng Ta
Từ câu chuyện đáng kinh ngạc nầy chúng ta hiểu được gì? Dường như chúng ta có thể làm một hoặc hai điều với câu chuyện đó. Chúng ta có thể chấp nhận lời chứng của những người đồng thời với Chúa Jêsus, và để cho sự kiện gây sửng sốt nầy tạo được sự biến đổi tương tự trong đời sống chúng ta như đã biến đổi đời sống của họ. Hoặc chúng ta có thể từ chối tiếp nhận nó, khăng khăng bảo rằng “người chết thì vẫn cứ chết.” Chúng ta có thể bảo rằng tuyên bố của Kinh Thánh làm rúng động thế giới đến nỗi nó không thể nào là sự thật, rằng nó chỉ là một điều hư cấu của những người mộ đạo, hoặc là sự phát minh đáng khinh của một nhóm người bị lừa dối không thể đối mặt với thực tế phủ phàng rằng lãnh tụ của họ đã bị tiêu diệt.
Cả hai quan điểm trên đều đối xử với lời xưng nhận của người Cơ Đốc bằng điều gì đó như là lòng tôn trọng mà nó phải có. Cả hai quan điểm đều hiểu rằng đây là một lời tuyên bố lạ lùng, không được coi nhẹ hoặc chấp nhận một cách hấp tấp. Cả hai quan niệm đều hiểu rằng lời khẳng định nầy hoặc là một lẽ thật có ý nghĩa nhất suốt mọi thời đại hoặc là một điều vô nghĩa trơ tráo đã từng thâm nhập vào dòng dõi loài người.
Điều mà chúng ta không được phép làm với câu chuyện nầy là tìm cách loại bỏ nó khỏi lời ký thuật Cơ Đốc, cho rằng các môn đồ đã không thật sự tin điều đó, hoặc cho rằng nó đã được thêm vào các ý tưởng của họ bởi một nhóm người nào đó về sau nầy. Như vậy là can thiệp vào các sự thật một cách bất chính. Kẻ nào nói rằng đức tin phục sinh là một ảo tưởng thì phải thành thật để thừa nhận rằng những Cơ Đốc Nhân đầu tiên đã bị lừa dối, và rằng chính sự lừa dối nầy là nền tảng của niềm tin Cơ Đốc.
Đây hoặc là một sự lừa dối hoặc là một sự thật đúng đắn. Bạn không thể nào cứ bám theo đường lối trung dung.

Chương 8: Một Kẻ Khủng Bố Được Biến Đổi
(Chúa Jêsus “Thay Đổi” Con Người Bằng Cách Nào? )
Tất cả được tóm tắt như vầy: Vào thế kỷ thứ nhất, một nhúm người đã đưa ra lời khẳng định gây kinh ngạc rằng Đấng Mêsi mà người Do thái trông đợi hằng trăm năm đã xuất hiện.
Những người còn lại cho đó là điều vô lý.
Hãy hỏi một người có hiểu biết vì sao anh ta cho nó là điều vô lý, bạn sẽ có được câu trả lời như sau:
NGƯỜI THÔNG MINH (có vẻ kiên nhẫn ): Anh xem đấy. Đấng Mêsi thực sự sẽ trở thành một lãnh tụ vĩ đại. Còn Đấng Mêsi mà những “Cơ Đốc Nhân” đề ra thì không phải thuộc loại đó. Tôi biết việc Ngài bị hành hình với hai tên tội phạm. Bạn không thể nào giữ im lặng đối với việc đó. Nhưng hãy tin tôi đi, Đấng Mêsi thật sự sẽ không bị đóng đinh -mà sẽ là một nhà lãnh đạo. Chuyện đó ư? Ồ! Tôi cũng biết rõ như anh việc họ làm om sòm chung quanh ý tưởng không thể tin được rằng Jêsus của họ không chết. Họ hàm ý gì? không chết ư? Tôi đã thấy những tên lính đóng ấn ngôi mộ có xác ông ta bên trong. Như thế đối với tôi là quá đủ.
Việc Nghe Trộm Một Thầy Giảng
Dẫu vậy, một nhóm nhỏ những con người cố chấp, bướng bỉnh vẫn cứ tin “vào cái ý tưởng không thể tin được nầy”; hết sức kiên quyết, không thỏa hiệp và không hề sợ hãi. Họ bắt đầu rao giảng điều đó và bắt đầu thuyết phục người khác tin rằng đó là lẽ thật. Chúng ta hãy nghe trộm một vài bài giảng của họ. Chúng ta là những người ngoài cuộc hiếu kỳ. Chúng ta muốn biết điều các Cơ Đốc Nhân đang lớn tiếng rao truyền, vì vậy chúng ta đi theo Phierơ khắp nơi và ghi chép các bài giảng của ông ta. Những ghi chú mà chúng ta gom góp được hóa ra giống với các dàn bài của một số bài giảng trong sách Côngvụ, là các bài giảng mà các học giả cho biết vào những ngày tháng hết sức sớm sủa trong sinh hoạt của Hội Thánh Cơ Đốc. (Chúng được tìm thấy trong Cong Cv 2:14-39; 3:13-26; 4:10-12; 10:36-43). Chúng tiêu biểu cho khuôn mẫu chung của việc giảng dạy có lẽ được theo sau. Trước hết, người giảng dạy “công bố” tin mừng. Người ấy cho chúng ta biết điều người ấy tin, trọng tâm niềm tin Cơ Đốc của người ấy thật sự là gì. Sau đó người ấy mới bàn đến vấn đề: Nếu đức tin nầy là thật, chúng ta phải làm gì với đức tin đó? Vì vậy khuôn mẫu trở thành: Trước hết là giảng dạy, sau đó là dạy dỗ; hoặc trước hết là công bố tin mừng, sau đó là một số lời khuyên về “điều phải làm đối với tin mừng.”
Các Ghi Chú Về Bài Giảng
Và rồi, sau khi chuẩn bị một tập giấy và một cây bút chì, hay đúng hơn là viết trâm và giấy chỉ thảo, chúng ta ghi lại các ghi chú của mình, đem các ghi chú đó về nhà với mình và nhờ đó một bài tập nhỏ ở nhà đã xuất hiện với dàn bài nháp về những gì các Cơ Đốc Nhân đầu tiên đã giảng dạy:
1. Các tiên tri đã nói về “một Đấng sẽ đến.” Những hy vọng đó cộng với những khát vọng nay đã được ứng nghiệm. “Thời kỳ mới” đã bắt đầu.
2. Điều nầy (xem bên trên) đã được làm rõ qua ảnh hưởng mạnh mẽ của Chúa Jêsus, (trọng tâm sứ điệp luôn luôn nói về Chúa Jêsus) những nỗ lực khác nhau để bày tỏ điều nầy là đúng như thế nào:
a. dòng dõi Đavít của Ngài - những nỗ lực được dùng đến khi có cần để liên kết Chúa Jêsus với Vua Đavít.
b. chức vụ của Ngài - đề cập đến nhiều điều Chúa Jêsus đã làm khi sống trên đất “Những công việc quyền năng” v.v..
c. sự chết của Ngài - luôn luôn được nhấn mạnh. Quan trọng (Vì sao?)
d. sự sống lại của Ngài - là điều làm thay dổi mọi sự. Do Đức Chúa Trời thực hiện. (Những người giảng đạo luôn luôn vui mừng về điểm nầy trong bài giảng. Họ tuyên bố đã được thấy Chúa Jêsus nữa chứ không phải chỉ là những lý thuyết đối với họ).
3. Chúa Jêsus đã được tôn cao. Chắc chắn Ngài đang “ngự bên hữu Đức Chúa Trời” (có nghĩa là Đức Chúa Trời đã tôn quý và công nhận Ngài. Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế).
4. Chúa Jêsus hiện diện trong Hội Thánh qua “Đức Thánh Linh” những người giảng đạo nói Đức Chúa Trời đang hành động trong họ qua “Đức Thánh Linh!” Đời sống quyền năng.
5. Chúa Jêsus sẽ trở lại. Thời kỳ ứng nghiệm (xem # 1) không những đã bắt đầu (xem # 2) Ngài sẽ đạt đến sự ứng nghiệm trọn vẹn khi Chúa Jêsus trở lại với tư cách Chúa Tể mọi đời sống.
* Vì vậy: (Bởi vì tất cả những điều đó là đúng, tức là từ # 1-5)
6. Hãy trở lại và có một bắt đầu mới mẻ! (Được nhấn mạnh trong mọi bài giảng) hãy thú nhận những việc sai trái của chúng ta. Nếu làm như vậy, Đức Chúa Trời sẽ tha thứ. Đời sống mới, con người mới. Trở thành một thành viên trong nhóm bằng cách chịu báp tem _ đời sống được biến đổi (nghe thật thú vị).
Sau Đó Là Gì?
Điều nầy thật thú vị. Theo bất cứ cách giải thích nào, đây cũng không phải là những điều có thể được thực hiện nhanh chóng một cách sơ sài. Nếu những điều đó là thật, chúng đòi hỏi sự tái tổ chức triệt để nhất về đời sống. Nếu Đức Chúa Trời thật sự đã bày tỏ Ngài qua một cuộc đời đặc biệt trên đất nầy, thì điều quan trọng là phải biết càng nhiều càng tốt về đời sống ấy. Nếu Đấng đã sống đời sống ấy không bị cầm giữ bởi mồ mả, thì nhất thiết phải chấp nhận một thái độ hoàn toàn mới đối với sự chết cũng như sự sống. Nếu Jêsus ấy đang hành động tích cực trong Hội Thánh ngay lúc nầy, thì Hội Thánh phải là một phần quan trọng đặc biệt trong toàn bộ sự quan tâm của Đức Chúa Trời dành cho con người. Nếu công việc của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế phải được hoàn tất vào một thời điểm về sau nầy, thì hẳn là điều quan trọng để sửa soạn cho sự kiện đó.
Vì vậy mà mỗi bài giảng đều dẫn đến câu hỏi: Trước sự thật đó, chúng ta sẽ làm gì? Và chính để trả lời cho vấn đề nầy mà phần kết luận của bài giảng luôn hướng đến lời kêu gọi hoặc “dạy dỗ” (điểm số 6 trong phần ghi chú bên trên). “Các bạn phải làm gì? Phải ăn năn,” Phierơ đã nói như vậy. “Có nghĩa là các bạn phải chuyển hướng, thay đổi hướng đi của đời sống mình - vì đó chính là ý nghĩa của “sự ăn năn. Đời sống của bạn bây giờ phải có một trọng tâm mới: không phải chú vào chính mình, mà là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời mà bạn đã được biết qua Chúa Cứu Thế Jêsus.”
Một sự đoạn tuyệt với quá khứ, một sự mới mẻ bắt đầu. Thật vậy, đó là điều xảy đến với chính Phierơ. Phierơ đã từng chối bỏ Chúa Jêsus cách công khai, chối rằng ông không hề biết Ngài. Và sau đó Chúa Jêsus đã bị hành hình. Đã quá trễ để thay đổi. Nhưng không quá trễ, bởi vì Chúa Cứu Thế phục sinh đã hiện ra với Phierơ và đã tha thứ cho ông. Vì vậy Phierơ đã có một bắt đầu mới mẻ. Đời sống của ông được tái tạo. Vì vậy không lạ gì khi ông có thể nói như vậy!
Tập trung Vào Các Trường Hợp Khác
Nhưng Phierơ không đơn độc trong kinh nghiệm nầy. Việc được “tái tạo” là khá phổ biến giữa vòng tất cả những Cơ Đốc Nhân đầu tiên. Cách tốt nhất để hiểu điều đó hành động là hãy xem xét một số người “trước” và “sau” khi đời sống người ấy được thay đổi hoàn toàn bởi ảnh hưởng mạnh mẽ của Chúa Jêsus. Có một người là ứng viên nổi bật nhất cho một trường hợp mẫu như thế. Đó là Phaolô, kẻ khủng bố của các Cơ Đốc Nhân, người đã từng say mê với việc bắt giết họ, và rồi đã trở thành Phaolô, tôi tớ của Chúa Jêsus Christ, sẵn sàng từ bỏ chính mình để phục vụ Jêsus mà ông đã từng căm ghét. Đây là một con người, nói cách khác, đã trải qua một “sự đảo lộn” thuộc loại bất ngờ nhất, đến nỗi kẻ đã từng phải chịu trách nhiệm về những điều hung ác đã trở thành một vị anh hùng. Chúng ta nhìn thấy nơi Phaolô một gương mẫu của điều có thể xảy ra cho một con người khi Chúa hằng sống nắm giữ người ấy.
Thường thì chúng ta có thể học biết nhiều về một con người nhờ đọc các lá thư thân tình của người ấy hơn là bởi đọc một tiểu sử “theo nghi thức” được viết bởi một người ngưỡng mộ nào đó. Đáng mừng thay, Phaolô là một người say mê viết thư, ông thảo vội vài dòng ở đây, một lá thư ngắn nguệch ngoạc ở kia, một bức thư dài hơn khi có thì giờ, đọc cho bất cứ ai có thể viết kịp những dòng chữ cuồng nhiệt của ông, và rồi thỉnh thoảng thậm chí lồng vào một câu chào thăm bằng chữ viết tay của chính mình. Có lẽ ông rất kinh ngạc khi biết rằng một số trong các bức thư của ông (mặc dầu chắc chắn không phải là tất cả) đã được bảo quản suốt mười chín thế kỷ và được góp nhặt lại như là những tác phẩm trước hết trong Tân ước của chúng ta. Ông không có tham vọng viết thần học trang trọng (trừ ra khả năng của một bức thư gởi cho các Cơ Đốc Nhân ở Rôma); ông chỉ bàn đến những vấn đề cụ thể khi chúng nổi lên. Một trong những đặc trưng đáng ngạc nhiên nhất của ông là khả năng “chuyển hướng” từ những vấn đề hết sức thực tế sang những vấn đề cao trọng nhất, hoặc ngược lại. Lời mô tả kinh điển của ông về ý nghĩa bữa Tiệc Thánh (ICo1Cr 11:23-26) đã bất ngờ chuyển thành một lời “quở trách” mạnh mẽ mà ông dành cho những người ở Côrinhtô bởi vì họ đã say rượu của sự Thông công! Và sau lời luận bàn cao quý của ông về sự sống đời đời (15:1-58) ông lập tức chuyển sang vấn đề hết sức thực tế là tiến hành sự giùm giúp đặc biệt cho những người nghèo.
Chúng ta cần nhớ những điểm đó về các thư tín của Phaolô nếu chúng ta muốn hiểu được nhiều nhất từ các thư tín ấy.
Việc đánh giá Phaolô
Con người nầy có những thành tích gì? Ông ta là ai? Người ta đôi khi nghĩ Phaolô là một loại “chị em yếu đuối,” bởi vì dường như ông đau ốm suốt và phải có một bác sĩ ở với ông (là bác sĩ Luca, người đã viết sách Côngvụ.) Nhưng càng xem xét cuộc đời của Phaolô bạn sẽ càng thấy rằng đối với một người khỏe mạnh mà làm được những điều như Phaolô đã làm thì quả là một kỷ lục; còn đối với một người hay đau yếu mà làm được như vậy thì hẳn phải là một phép lạ. Chúng ta có thể kết luận an toàn rằng không có điều gì “yếu đuối” hay là hâm hẩm nơi Phaolô cả.
Ông luôn luôn ở giữa những sự bận rộn của một cuộc chiến đấu. Nếu không phải là phiên của ông phải nói trước buổi xét xử của nhà vua, thì ông đang tìm cách thoát khỏi nhà tù. Nếu ông không bị đánh đòn, thì ông đang bị ném đá. Ông tiếp tục trên một cuộc hành trình dài bằng đường biển và bị đắm tàu. Ông tiếp tục một cuộc hành trình khác và lâm vào một vụ đắm tàu khác. Khi đến một thành phố mới, cơ may mà ông phải chạy khỏi thành ấy một vài ngày sau là điều khá chắc chắn. Bất cứ nơi nào ông đến thì dường như ông kích động, như có người đã nói, hoặc một cuộc dấy loạn, hoặc một cuộc phục hưng. Bạn không thể nào giữ ông yên được. Bỏ ông vào tù đi, ông sẽ làm cho người cai ngục quy đạo. Tìm cách giăng bẫy ông trong một thành có tường bằng cách canh tất cả các cửa ra vào. Ông sẽ trốn thoát trong ban đêm bằng cách được dòng qua tường trong một cái thúng.
Con người “hay gây sóng gió nầy” sinh tại thành Tạtsơ, vốn không phải là “một thành kém cỏi,” như ông đã hãnh diện mà cho chúng ta biết. Ông là một công dân La mã, một điều khiến ông cũng rất tự hào. Ông kiếm sống với tư cách một người may trại để bán. Ông là một người Giuđa thuần chủng, ông cho chúng ta biết: “Tôi chịu phép cắt bì ngày thứ tám, về dòng Ysơraên, chi phái Bêngiamin, người Hêbơrơ, con của người Hêbơrơ, về luật pháp thì thuộc phe Pharisi; về lòng sốt sắng thì là kẻ bắt bớ Hội Thánh, còn như về sự công bình của luật pháp, thì không chỗ trách được” (Phi Pl 3:5, 6). Một người như thế hẳn rất khinh ghét những lời tuyên bố vô nghĩa của những Cơ Đốc Nhân. Vì vậy bằng một kiểu cách thẳng thắn rất đặc trưng của mình, Phaolô đã hành động. Ông nói, với sự bộc trực hết sức cùng các bạn hữu mình: “Tôi bắt bớ và phá tán Hội Thánh của Đức Chúa Trời quá chừng” (GaGl 1:13). Ông là người trước hết được nhắc đến trong Tân ước vào thời điểm một Cơ Đốc Nhân tên là Êtiên bị ném đá chết vì quan điểm của mình (Cong Cv 7:57; 8:1).
Phaolô nghĩ đó là một ý tưởng rất tốt. Và ông đã giúp một tay.
Tình cảnh khó khăn của Phaolô
Phaolô lúc ấy là một con người nhỏ thó cứng rắn có uy, triệt để trung thành với lời tuyên bố cho rằng Cơ Đốc Giáo là điều hoàn toàn vô nghĩa, bất cứ con người nào xứng đáng sẽ tìm cách để quét sạch nó đi. Đó là Phaolô “đứng ở bên ngoài,” một con người đã “làm tàn hại Hội Thánh: sấn vào các nhà, dùng sức mạnh bắt đàn ông đàn bà mà bỏ tù.” (8:3).
Nhưng cũng có một Phaolô “đã đứng vào phía trong” nữa. Ông là một con người tranh chiến với chính mình. Bên dưới hoạt động điên cuồng nầy, ông đang bị bối rối. Có lẽ ông bị bối rối trước cách vui mừng, hớn hở mà qua đó những Cơ Đốc Nhân khốn khổ phải chịu chết, bởi vì khi chết họ rõ ràng chẳng khổ sở gì cả. Xem con người của Êtiên nầy. Ông ta không khúm núm trước những kẻ bắt bớ mình, xin họ tha mạng. Không hề có một giây phút nào. Nhưng ông đã xin Chúa tha thứ cho những kẻ bắt bớ ông. Tưởng tượng xem! Một tiếng nói nhỏ bên trong Phaolô cứ tiếp tục chất vấn: “Rốt lại liệu có thể có điều gì vô nghĩa đối với người Cơ Đốc nầy không?”
Một điều khác nữa làm Phaolô hoang mang. Ông giữ luật pháp Do thái rất nghiêm nhặt. Luật pháp cho ông biết chính xác những gì ông phải làm để có mối quan hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời. Nhưng luật pháp đã không làm cho Phaolô cảm thấy “phải lẽ” với Đức Chúa Trời. Trái lại, nó khiến ông cảm thấy trục trặc hơn bao giờ hết. Và càng nghiên cứu điều luật pháp bảo ông không được làm, như ông đã nói, ông lại càng muốn làm chính những gì luật pháp cấm đoán. Đây thật là một tình huống gay go! Mặc dầu ông tự xưng mình là “không chỗ trách được” đối với luật pháp, ông không thấy mình đang ở trong mối quan hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời, là điều tuyệt đối quan trọng đối với ông. Thay vì buông tha ông, luật pháp chỉ khiến ông bị nô lệ sâu hơn.
Vì vậy, đây là cách Phaolô mô tả tình trạng khó khăn của ông. Ông là một tù nhân của luật pháp. Ông cảm thấy mình phải làm trọn mọi quy định theo luật pháp, làm tất cả điều gì mà luật pháp đòi hỏi, trước khi có thể xứng đáng với tình yêu của Đức Chúa Trời. Ông phải “kiếm được” quyền để có mối tương giao với Đức Chúa Trời. Và điều đó nghe có vẻ ổn thỏa ở bề ngoài: Sống một cuộc sống tốt lành, dùng luật pháp như một sự chỉ dẫn, và nhờ đó trở nên công bình ở trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng có một khó khăn ẩn dấu. Việc sống theo luật pháp không đưa Phaolô đến mối tương giao ấy với Đức Chúa Trời. Ông chán nản và thất vọng bởi sự bất năng của mình để làm đầy đủ hầu cảm thấy rằng mình thật sự dành được quyền trước tình yêu của Đức Chúa Trời. Thay vì cứu ông, luật pháp chỉ lên án ông triệt để hơn. Nó có thể chỉ cho ông thấy những chỗ ông bị thiếu kém, nhưng không thể cho ông sức mạnh để vượt lên trên những khiếm khuyết của mình. Ông đã thú nhận: “Bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn” (RoRm 7:18).
Kẻ Khủng Bố Được Biến Đổi
Một ngày nọ, chính Phaolô đang trong tâm trạng bối rối tức tối nầy chuẩn bị lên đường từ Giêrusalem đến Đamách. Ông có một mục đích hết sức rõ rệt trong đầu. Chính là để bắt càng nhiều Cơ Đốc Nhân càng tốt, trói họ đưa trở về Giêrusalem, và chứng kiến họ phải đối mặt cùng một số phận như Êtiên.
Và rồi điều gì đó đã xảy ra. Sự kiện nầy được mô tả ba lần khác nhau trong sách Công vụ (Cong Cv 9:3-6; 22:6-10; 26:13-16), và các lời ký thuật cơ bản điều như nhau, chỉ khác biệt một vài chi tiết nhỏ. Phaolô thấy chính mình bị đối mặt với Chúa Jêsus là người mà ông đang bắt bớ.
Điều nầy lật đổ toàn bộ thế giới của ông
Ông khẳng định một cách chắc nịch: Chúa Cứu Thế Phục sinh đã hiện ra với ông.
Trước câu hỏi của Phaolô: “Lạy Chúa Ngài là ai?” Ông đã nhận được một câu trả lời khiến ông bối rối: “Ta là Jêsus, Đấng ngươi đang bắt bớ.” Và Phaolô đã bắt đầu nhận ra rằng ông đang đi theo một con đường sai trật và tiến về hướng sai trái. Ông phải chuyển hướng theo ý nghĩa triệt để nhất của từ này; thay vì làm một kẻ tìm giết các Cơ Đốc Nhân, ông trở thành một người yêu mến các Cơ Đốc Nhân; thay vì chối bỏ Đức Chúa Trời của những Cơ Đốc Nhân, ông phải tận hiến chính mình cho Đức Chúa Trời của các Cơ Đốc Nhân. Nói tóm lại, Phaolô, một kẻ chống đối các Cơ Đốc Nhân khét tiếng, bản thân ông phải trở thành một Cơ Đốc Nhân. Một đề nghị thật sửng sốt. Một điều sửng sốt hơn nữa đó là ông đã làm chính xác điều đó!
Một số người lập luận rằng sự thay đổi đầy kịch tính nầy trong Phaolô đã xảy ra tức khắc. Giây trước ông oán ghét Đấng Christ; giây sau ông yêu kính Ngài. Những người khác thì cho rằng Phaolô đã dịch chuyển theo hướng nầy một thời gian dài, mặc dầu quyết định “xảy ra lập tức” vào một thời điểm cụ thể. Hãy tưởng tượng bạn đang lắng nghe một cuốn băng nhạc giao hưởng. Bạn biết bài nhạc nầy khá rõ, và bạn thích cách dàn vĩ cầm chơi âm điệu chính. Thế rồi có một khúc không được rõ ràng lắm, sau đó các cây đàn vĩ cầm lại dạo khúc nhạc trở lại. Nhưng một ngày nọ, có lẽ hoàn toàn bất ngờ vào lần nghe thứ mười lăm hay có thể chỉ dần dần vào một vài lần nghe kế tiếp, bạn thấy ở phần giữa của cùng âm điệu đó, lần nầy được chơi thật chậm rãi bởi những cây đàn viôlông xen. Tất nhiên! Không có gì nhạc nhiên là các phần khác nghe có vẻ hơi lạ. Chúng chỉ là phần nhạc đệm. Nếu bạn khám phá điều nầy vào một thời điểm đặc biệt, thì vẫn đúng là sự khám phá nầy sẽ không đến nếu không nghe bài nhạc ấy mười bốn lần trước. Tương tự như vậy, mặc dầu nhiều người dường như “tìm được niềm tin” theo những cách thật ngoạn mục, nó có thể là kết quả của một cuộc hành hương thuộc linh lâu dài trước đó. Ngoài ra, cũng giống như sự nhận biết của bạn về âm điệu violon xen chỉ có thể đến dần dần, và vẻ đẹp của điệu nhạc ấy gia tăng mỗi lần bạn nghe, thì sự nhận biết thật sự của chúng ta về Chúa cũng có thể đến một cách hết sức giản dị, và tiếp tục sâu lắng xuyên suốt phần còn lại của đời sống chúng ta. Người không có một thời điểm sáng tỏ đột ngột không cần thiết phải mặc cảm rằng mình đã bị phủ nhận một kinh nghiệm xác thực về sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đời sống. Ngay cả Phaolô cũng không khẳng định toàn bộ câu chuyện được viết đã xảy ra trên đường đến Đamách; nhiều năm sau đó, ông đã viết rằng: “Không phải tôi... đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy, hầu cho giựt được” (Phi Pl 3:12).
Điều gì đã xảy ra sau biến cố nầy? Ông đã tiếp tục chạy, suốt phần còn lại của cuộc đời mình, nhất định không dám “chống cự với sự hiện thấy trên trời” (Cong Cv 26:19). Sau một giai đoạn chuẩn bị, ông đã bắt đầu một trong những cuộc đời mạnh mẽ nhất từng được biết đến. Ông đã băng bộ khắp vùng Tiểu á và Âu Châu theo nghĩa đen, truyền bá “tin mừng” nầy và chứng tỏ sự khác biệt thế nào Tin lành đó đã đem lại. Bảo rằng không hề có một giây phút nào ảm đạm là chưa nói hết sự thật. Phaolô đã để lại một lời ký thuật như sau:
Năm lần bị người Giuđa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. Lại nhiều lần tôi đi đường, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối... chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ (IICo 2Cr 11:24-27).
Không phải là một cuộc sống dễ dàng! Tại sao phải sống như thế! Tại sao “không tránh những rủi ro ấy đi”?
Một Tình Huống Mới Mẻ Hoàn Toàn
Bởi vì, như Phaolô đã nói: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi” (Phi Pl 1:21). Đấng Christ đã thay đổi hoàn cảnh của Phaolô như thế nào? Hãy nhớ rằng trước toàn bộ sự việc nầy, ông đã từng cuồng nhiệt làm đầy đủ để kiếm được tình yêu thương của Đức Chúa Trời, bằng cách tuân giữ luật pháp từng chi tiết. Và bây giờ Đấng Christ đã đến bằng một lời hứa cách mạng rằng điều đó không cần thiết. Thậm chí không thể được. Đấng Christ đã phó sự sống của Ngài, không phải cho kẻ xứng đáng mà cho kẻ không xứng đáng, không phải cho kẻ đáng nhận nữa mà cho kẻ không đáng nhận. Ngài đã lấp đầy khoảng trống lớn giữa Đức Chúa Trời và con người. Phaolô không thể kềm giữ sự kinh ngạc của ông trước sự kiện đó:
Vả , họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa ; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành . Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta khi chúng ta còn là người có tội thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết (RoRm 5:7, 8 in nghiêng là ý tác giả ).
Hãy nói về tin tức bất ngờ ấy!
Vì vậy Đấng Christ là phương cách hành động của Đức Chúa Trời do tình yêu ban cho cách nhưng không của Ngài. Luật pháp đã bị dẹp sang một bên. Tình huống không phải là tốt đủ để có được tình yêu của Đức Chúa Trời, mà là Đức Chúa Trời yêu bạn dầu bạn không thể tốt đủ để có được tình yêu của Ngài. Đối với Phaolô, mọi điều khác lưu xuất ra từ sự kiện đáng ngạc nhiên ấy.
Từ Chết Qua Sống
Đối với Phaolô sự khác biệt chính là khác biệt giữa chết và sống. Một sự tương phản ấn tượng hơn khó mà có được. Trước sự khác biệt nầy, đời sống mới là một khả năng dành cho ông, ông nói với chúng ta rằng con người cũ đã bị làm cho chết. Cũng giống như Đấng Christ đã chịu chết và sống lại, Phaolô cũng phải kinh qua hình thức đóng đinh và sống lại của chính mình. ông nói với chúng ta: “Tôi đã bị đóng đinh với Đấng Christ mà tôi sống không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi” (GaGl 2:20) con người cũ trước kia của Phaolô đã chết đi, và “con người mới” đã đến, một Phaolô mà đời sống được hướng dẫn bởi Chúa Cứu Thế là Đấng ngự trong ông. Ngài đang bắt đầu làm mới trở lại mọi sự.
Sự tương phản, nếu được, có thể gây thậm chí ấn tượng hơn nữa. Bằng phương cách biểu tượng, Phaolô cho chúng ta biết chúng ta phải dự phần sự chết, và sự sống lại của Đấng Christ. Đây là cách ông giải thích phép báp tem:
được dìm xuống nước = sự chết của bạn = Đấng Christ bị đặt trong phần mộ.
Lên khỏi nước = một đời sống mới = sự sống lại của Chúa Cứu Thế vượt khỏi phần mộ.
Không có sự chết, không có sự sống lại. Nhưng khi bạn làm một chính mình với sự chết của Đấng Christ, bạn sẽ chung phần sự sống lại của Ngài.
Anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu báp tem trong Đức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp tem trong sự chết Ngài sao, vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp tem trong sự chết Ngài hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy (RoRm 6:3, 4).
Tính mới mẻ của đời sống! Đó là điều đã xảy ra. Chúng ta có điều đó trong mấy từ.
Tính cách mới mẻ nầy của đời sống đã tạo nên sự khác biệt gì cho cách sống của bạn? Hãy lắng nghe Phaolô mô tả bây giờ đời sống trông như thế nào , ngay cả khi đối mặt với gươm giáo , bị ném đá , bị chìm tàu , và những lính gác :
Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn , khốn cùng , bắt bớ , đói khát , trần truồng , nguy hiểm hay là gươm giáo chăng ... trái lại trong mọi sự đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần . Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết , sự sống , các thiên sứ , các kẻ cầm quyền , việc bây giờ , việc hầu đến , quyền phép , bề cao hay là bề sâu , hoặc một vật nào , chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa chúng ta (RoRm 8:35, 35-39).
Chính vì Phaolô tin điều đó, nên ông sẵn sàng “liều mình.” Ông đã làm một với Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, ai là người còn phải sợ gươm giáo khi một việc nêu trên là thật? Làm thế nào mà một việc nhỏ nhặt như sự chết có thể hủy phá mối tương giao như thế?
Tin Mừng - Từ Nhà Tù
Bạn bảo về nguyên tắc thì tốt. Nhưng liệu những điều kể trên có xảy ra đúng như vậy khi những khó khăn hoạn nạn xảy đến không? Chẳng hạn, giả sử như Phaolô bị ở tù. Ông sẽ hành động như thế nào trong loại tình huống ấy? Cái lý thuyết tốt đẹp bé nhỏ của ông há không gặp phải một sự thách thức khá là gay go sao?
Một câu hỏi thích đáng. Chúng ta có thể đưa ra một câu trả lời thích đáng. Bởi vì trên thực tế, Phaolô đã trải qua rất nhiều thời gian trong tù. Một số trong các “bức thư trong tù” của ông đã được gìn giữ. Hãy đọc một trong các thư tín ấy (Philíp) chúng ta có thể biết Phaolô đã phản ứng thế nào trong những hoàn cảnh khó khăn thật sự.
Phaolô có ngã lòng khi phải ở sau các song sắt không? Không, thậm chí ông còn vui mừng vì điều đó, bởi vì như vậy có nghĩa là Tin lành có thể được bày tỏ cho những người lính gác, ông nhận biết rằng điều xảy đến cho ông không quan trọng, miễn là Đấng Christ được rao giảng. Thậm chí việc ông sống hay chết cũng trở nên không đáng kể - ông thích được đi ở với Đấng Christ, nhưng ông biết rằng ông còn công việc phải làm bây giờ, và ông vẫn phải còn ở trong xác thịt. Ông nói chịu khổ vì cớ Đấng Christ là một điều vinh hạnh. Chính những người Philíp cũng không phải lo lắng, họ phải dâng các lời cầu xin lên cho Chúa và tin cậy Ngài bởi vì “sự bình an của Đức Chúa Trời, vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi Pl 4:7). Phaolô không phàn nàn về tình trạng nơi ông ở. Ông có thừa sức trong hoàn cảnh ấy: Tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và trong mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ đấng ban thêm sức cho tôi . (4:11-13 bổ sung in nghiêng).
Đó là cách Chúa Jêsus “biến đổi” Phaolô. Giữa những hoàn cảnh khó khăn rối động phaolô vẫn có thể thanh thản. Khi sự việc trở nên gay go, Phaolô có thể vui mừng. Không những vậy, ông còn có thể kêu gọi người khác hãy bình thản và vui mừng nữa.
Chuyển Sang Tình Huống Của Chúng Ta
Toàn bộ điều đó nghe có vẻ phấn khích khi được áp dụng cho Phaolô. Ông ta dường như cứ tà tà trên loại hệ thống tăng tốc thuộc linh, trong khi chúng ta phải khổ sở tiến bước chậm chạp, nhiều khi cũng không chắc là mình có tiến được chút nào không. Tuy nhiên kinh nghiệm của Phaolô không phải hoàn toàn “xa lạ” đối với chúng ta. Đúng là chúng ta không cần phải cải đạo từ tinh thần luật pháp Do thái. Nhưng có thể chúng ta cần phải cải đạo từ một loại tinh thần luật pháp Cơ Đốc, một tôn giáo bảo chúng ta rằng phải là những cậu bé cô bé tốt và làm tám điều kế tiếp không thất bại nếu muốn Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta. Có lẽ chúng ta thậm chí cần được chuyển đổi từ một loại Cơ Đốc theo tập tục vốn buồn tẻ, chán ngắt và thiếu sức sống. Dầu chúng ta có trải qua loại kinh nghiệm quy đạo ngoạn mục giống như Phaolô hay không thì điều đó cũng không quan trọng lắm. Điều quan trọng chính là bằng cách nầy hoặc cách khác chúng ta đến chỗ có thể nói với Phaolô rằng: “Đấng Christ là sự sống của tôi.” Bởi vì khi điều đó bắt đầu xảy ra, thì sự sống đối với chúng ta trong thời của mình cũng thú vị y như đã xảy ra cho Phaolô trong thời của ông.

Chương 9: Khi Đức Chúa Trời “Liều Mình”
(Vì Sao Con Người Muốn Giết Chúa Jêsus? )
Một mặt, đó là lỗi của những con sư tử, chúng quá đói, mà các Cơ Đốc Nhân lại quá thơm ngon. Và khi thời gian trôi đi, ngày càng có nhiều sư tử ăn thịt nhiều Cơ Đốc Nhân hơn nữa, bởi vì nhà nước hết sức muốn để tiêu diệt đạo giáo mới và nguy hiểm nầy. Tất nhiên, phần lớn những người đã từng biết Chúa Jêsus đều đã qua đời hết rồi. Những người khác thì đã bị tuyên án và bị đày đến các khu mỏ ở tại đảo Sardinia.
Những người khác rút vào bí mật. Nhưng vì bất cứ lý do nào, vấn đề còn lại là thế hệ đã từng biết Chúa Jêsus “trong xác thịt” đang biến mất, và có một nhu cầu để tập hợp một số những bộ sưu tập nhỏ bị tan rải gồm các câu chuyện về Ngài thành một hình thức lâu bền.
Công Việc Phát Hiện Văn Phẩm
Chúng ta hãy bắt đầu với công việc điều tra hơi riêng tư. Bất cứ ai từng đọc ba sách đầu của Tân ước (Mathiơ, Mác và Luca), đều sẽ nhận ra rằng chúng là sản phẩm cuối cùng của một nỗ lực nhằm “tập hợp và ghi chép lại” những điều quan trọng về Chúa Jêsus. Chúng ta gọi ba sách nầy là “Các Sách Tin lành Cộng Quan.” Bởi vì khi nghiên cứu chúng với nhau, tức là theo các mục song song, chúng ta có thể thấy những điểm tương tự và các mối quan hệ rõ ràng hơn.
Vì vậy, hãy tưởng tượng như đang làm điều đó. Chúng ta thấy gì? Chúng ta thấy sách Mác ngắn nhất trong ba sách, cả Mathiơ lẫn Luca đều tuân theo dàn bài của Mác. Khi một trong hai sách rời khỏi phần ký thuật của Mác để mang vào các dữ kiện mới của chính mình, thì chắc chắn tác giả sẽ quay trở lại sách Mác ngay tại điểm mà người ấy bỏ dở, và tiếp tục lại theo sách Mác. Ở nhiều chỗ, các từ giống hệt nhau trong cả ba sách. Mathiơ đã chiếm dụng hơn 90 phần trăm các từ chính xác của Mác, Luca sử dụng trên 50 phần trăm. Các học giả kết luận rằng Mathiơ và Luca hẳn đã để phần ký thuật của sách Mác ở trước mặt họ trong khi viết sách.
Bây giờ chúng ta hãy cắt ngắn và loại bỏ tất cả những chỗ ba sách giống hệt nhau. (Việc nầy làm mất khá nhiều phần của sách Mác.) Chúng ta có được một khám phá thú vị đó là vẫn còn rất nhiều phần trong Mathiơ và Luca nguyên văn giống hệt nhau. Rõ ràng là họ cùng sử dụng một nguồn phương tiện khác nữa ngoài sách Mác. Người ta chưa hề tìm được bản sao của nguồn tài liệu nầy, và các học giả chỉ đơn giản gọi nó là “Q,” bởi vì từ tiếng Đức “Quelle ” có nghĩa là (bạn đoán được không?) “nguồn tài liệu.” “Q” dường như là một bộ sưu tập gồm những câu nói của Chúa Jêsus. Bài giảng Trên Núi là một ví dụ của tài liệu từ “Q.”
Bây giờ nếu bạn gạch bỏ tất cả những chỗ Mathiơ và Luca đồng tình, mỗi sách sẽ vẫn còn lại một số lượng các câu đáng kể, các học giả kết luận rằng các tác giả hẳn phải có thêm các nguồn thông tin riêng.
Điều nầy có nghĩa là các sách Tin lành Cộng Quan hiện nay của chúng ta dựa trên bốn nguồn thông tin căn bản:
1. Sách Mác - cũng được Mathiơ và Luca sử dụng.
2. Tài liệu “Q” - được Mathiơ và Luca sử dụng thêm.
3. Tài liệu đặc biệt của Luca.
4. Tài liệu đặc biệt của Mathiơ.
Giăng Mác (Và Một Số Người Khác) Đã Bắt Đầu Công Việc
Điều khiến cho công việc viết lách bắt đầu là cơn hỏa hoạn lớn ở tại Rôma vào khoảng năm 64 S.C. Phần lớn thành nầy bị phá hủy. Nero, Hoàng đế, cần một vật đứng mũi chịu sào, vì vậy ông đã đổ tội cho các Cơ Đốc Nhân. Kết quả là nhiều Cơ Đốc Nhân đã bị giết. Một người tên là Giăng Mác đã trốn thoát. Ông là một người đồng hành với Phaolô và là một người bạn của Phierơ, ông đã quyết định rằng trước khi sự việc nầy lại xảy ra một lần nữa, ông sẽ ghi chép lại tất cả những thông tin mà ông có thể góp nhặt được về Chúa Jêsus. Không lâu sau đó cuốn sách nhỏ của ông đã xuất hiện: “Tin lành của Chúa Jêsus Christ.” Đây không phải là một “cuốn tiểu sử” hay bản tóm tắt ngắn gọn về Chúa Jêsus; mà là một nỗ lực để chứng tỏ rằng Ngài thật sự là Đấng Mêsi đã được hứa. Giăng Mác chia sẻ với các độc giả của mình một bộ sưu tập gồm ít nhiều những sự việc rời rạc, tất cả đều nhấn mạnh và công bố “tin mừng” về hành động của Đức Chúa Trời qua Chúa Jêsus Christ.
Sách Mác có lẽ đã có sớm vào khoảng năm 65 S.C. Trong vòng hai mươi hoặc ba mươi năm tiếp đó một số các bản ký thuật khác về “tin lành” đã xuất hiện, hai sách trong số đó còn tồn tại. Một trong hai sách nầy do một người ngoại quy đạo, là bác sĩ Luca, dường như là bác sĩ chăm sóc cho Phaolô, viết. Bác sĩ Luca không những đã viết quyển sách chúng ta nhắc đến ở chương vừa rồi, là Côngvụcácsứđồ, mà còn viết một quyển sách sớm hơn, trong đó ông cũng đã thu thập những điều quan trọng phải được ghi nhớ về Chúa Jêsus. Như chúng ta đã thấy, ông đã tự do sử dụng sách Mác, nguồn tài liệu “Q,” và nguồn thông tin đặc biệt của ông. Ông nhấn mạnh đặc biệt sự kiện Chúa Jêsus là “tin mừng” cho mọi người, thuộc bất cứ chủng tộc nào, quốc tịch, hoặc địa vị gì trong đời sống kinh tế.
Cũng vào thời điểm nầy, một quyển sách khác đã xuất hiện, do một người Do thái tên là Mathiơ viết, ông đưa ra lời kêu gọi mạnh mẽ dành cho đồng bào Do thái của mình để sẵn lòng tiếp nhận đức tin Cơ Đốc. Ông đã ghi nhận những sự chịu khổ đặc biệt để chứng tỏ Chúa Jêsus đã làm ứng nghiệm các lời tiên tri trong Cựu ước như thế nào, ông cũng đưa vào phần lớn các dữ kiện từ những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus. Ông cũng đã sử dụng rất nhiều tài liệu của sách Mác, nguồn “Q,” và nguồn thông tin riêng của ông.
Có lẽ một thời gian ngắn sau “Các Sách Tin Lành Cộng Quan,” sách Phúc âm Thứ Tư đã xuất hiện. Thay vì sử dụng lối văn thuật truyện rõ ràng dứt khoát của các sách Cộng Quan, tác giả sách Phúc âm Thứ Tư kéo dài một vài sự kiện và xem xét ý nghĩa nội tại của chúng. Ở một vài chỗ, ông tiến hành những thay đổi quan trọng (có lẽ để rõ hơn) trong trình tự thời gian của cuộc đời Chúa Jêsus. Ai đã viết sách Phúc âm Thứ Tư, chúng ta không rõ. Không có chỗ nào tác giả nêu danh tánh mình. Nhiều người khẳng định rằng ông chính là sứ đồ Giăng, nhưng những người khác lại cảm thấy rất có khả năng ông ta là một “Giăng” khác, có thể là Giăng Trưởng Lão, người đã sống ở tại Êphêsô. Trước tất cả các sự kiện, ông là một con người đã suy gẫm rất sâu sắc về ý nghĩa cuộc đời Chúa Jêsus, và đã đưa những kết quả suy xét nầy vào trong một kiệt tác của sự suy gẫm tận hiến.
Lời Tuyên Truyền Mang Tính Tôn Giáo
Như vậy đây là bốn lời ký thuật cho chúng ta những thông tin cụ thể về cuộc đời của Chúa Jêsus. Nhưng bốn sách nầy không phải chỉ là “các bộ sưu tập thông tin.” Chúng không được định ý nhằm trở thành những tiểu sử khách quan, vô tư, mà là những lời làm chứng, những lời ký thuật “có thiên kiến” thẳng thắn, được viết bởi những người tin Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời. Đây là lý do chúng được gọi là “các sách phúc âm” hoặc “tin lành,” thay vì là các tiểu sử. Chúng ta có thể tự do gọi các sách nầy là “các tác phẩm tuyên truyền mang tính tôn giáo,” miễn là chúng ta hãy nhớ rằng “tuyên truyền” không nhất thiết là một từ xấu. Nó cũng nói lên một nỗ lực để thuyết phục chúng ta về điều gì đó tốt lành.
“Một Con Trẻ Được Sanh Ra”
Chúng ta được cho rất ít thông tin về cuộc đời thơ ấu của Chúa Jêsus. Mác, sách ký thuật đầu tiên hết, bắt đầu với sứ mạng của Giăng Báp tít nhanh chóng và sống động, trong vòng chín câu, Jêsus, một người nam đã trưởng thành, đã xuất hiện trong khung cảnh. Giăng, sách ký thuật muộn nhất, có một “phần mở đầu” hết sức quan trọng (và khó hiểu) nói về ý nghĩa sự giáng sinh của Chúa Jêsus, nhưng về bản thân sự giáng sinh và đầu đời của Chúa Jêsus thì ông cũng không nói gì cả. Mặc khác trong Luca và Mathiơ chúng ta có những câu chuyện đẹp đẽ về sự giáng sinh của Chúa Jêsus. Những lời thuật truyện nầy cho chúng ta biết gì về ý nghĩa của Chúa Jêsus? Chúng ta học được rất nhiều, chẳng hạn, về tầm quan trọng của Chúa Jêsus, về câu chuyện được ký thuật trong sách Luca rằng khi Đức Chúa Trời lựa chọn để sự giáng sinh của Chúa Jêsus được bày tỏ cho loài người, Ngài đã không công bố điều đó trong các cung điện của giới cầm quyền Palettin hoặc các thị trưởng của các thành phố lớn. Thay vào đó, tin tức trước hết đã được loan báo cho một nhóm những người chăn chiên, là những người thuộc giai cấp hết sức tầm thường trong xã hội. Sự giáng sinh của Chúa Jêsus cho thấy mối quan tâm của Đức Chúa Trời với những kẻ thấp hèn nhất. Cũng vậy, câu chuyện về các nhà thông thái trong Mathiơ chứng tỏ rằng sứ điệp không chỉ cho người nghèo và các dân thấp hèn, nhưng cho mọi người ở khắp mọi nơi, không những ở tại Paléttin, mà ở các đầu cùng đất, giàu cũng như nghèo, khôn ngoan cũng như mộc mạc, ngoại quốc cũng như bản xứ. Và khi Luca cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus được sinh ra trong một chuồng bò, chúng ta được nhắc nhở rằng Ngài đã không đến như một hoàng tử cao sang và quyền quý. Nhưng với tư cách một con người không có chỗ để gối đầu. Con người mà “không có chỗ trong quán” cho Ngài cũng sẽ là con người bị loài người “chối bỏ và khinh khi.”
Điều quan trọng là đừng trở nên quá tình cảm về các câu chuyện giáng sinh. Thật dễ để phóng đại về “em bé Jêsus” và thật là một bức tranh dễ thương mà khung cảnh chuồng bò để lại trên một tấm thiệp Giáng sinh với “các thiên sứ xinh xắn bé nhỏ” bay trên đầu Ngài. Chúng ta đừng quên rằng con trẻ mà mọi người ra sức sùng bái lớn lên sẽ trở thành một con người mọi người ra sức đóng đinh. Sự giáng sinh không phải là bắt đầu của một “câu chuyện thành công” của loài người; nó là sự bắt đầu của một câu chuyện mà trong đó người anh hùng sẽ bị chối bỏ như một kẻ hung ác, và những con người mộ đạo tốt lành vui mừng hết sức khi họ giết chết Ngài.
“Những Năm Ẩn Dật”
Ba mươi năm đầu trong cuộc đời của Chúa Jêsus thật sự là một chỗ trống trong các nguồn tài liệu của chúng ta, vì vậy mà chúng thường được gọi là “những năm ẩn dật.” Luca chỉ gộp vào câu chuyện thật duy nhất, chuyện Chúa Jêsus lên đền thờ Giêrusalem vào năm mười hai tuổi, là một sự kiện hoàn toàn có khả năng xảy ra trong cuộc đời của một cậu bé Do thái. Hơn nữa, chúng ta đều biết rằng Chúa Jêsus là thành viên của một gia đình đông con, với bốn anh em trai và ít nhất là hai em gái (Mac Mc 6:3; Mat Mt 13:55, 56). Chúng ta biết rằng thói quen của Ngài là tham dự các buổi thờ phượng vào ngày Sabát (LuLc 4:16). Và bởi vì về sau Ngài tỏ ra có sự hiểu biết thấu đáo về Cựu ước, chúng ta có thể suy ra rằng Ngài đã học tại một trường của nhà hội khi còn là một cậu bé ở tại Naxarét. Chúng ta biết rằng cha Chúa Jêsus là một người thợ mộc và rất có thể Chúa Jêsus cũng là một người thợ mộc trong làng cho đến năm Ngài khoảng ba mươi tuổi, nếu như mọi người thường phỏng đoán Giôsép đã qua đời từ khi Chúa Jêsus còn nhỏ, thì có thể Chúa Jêsus là người lao động chính của gia đình đông con nầy.
Nguồn phương tiện khác duy nhất của chúng ta về những sự kiện gián tiếp trung thực dành cho giai đoạn nầy được tìm thấy trong các câu chuyện hoặc các ví dụ của Chúa Jêsus, là những sự kiện cho chúng ta một bức tranh về những gì mà cuộc sống ban đầu của Ngài có thể đã diễn ra. Ngài chắc chắn đã nhìn thấy những đứa trẻ chơi trong chỗ chợ (7:31-35). Những phụ nữ may vá các miếng vải và quần áo cũ (5:36), hoặc những người đàn ông thử cho rượu mới vào các bầu da cũ và làm cho bầu da nứt ra (37 -39), hoặc một người phụ nữ tìm được một đồng bạc lạc mất và gọi các bạn mình đến để vui mừng (15:8-10), hay một người chăn chiên thuật lại thể nào ông đã trở lại ràn chiên và tìm thấy một con chiên bị mất rồi ông phải đi ra vào giữa đêm để tìm nó (1 -7).
Những Diễn Tiến trên Sân khấu: Giăng Vào
Nhưng bây giờ vở kịch thật sự mới bắt đầu. Các sự việc bắt đầu hiện rõ với sự xuất hiện của người thanh niên tên là Giăng, một nhà hùng biện nóng nảy - điều mà ngày nay có thể sẽ bị gọi là “kẻ kích động quần chúng” - ông rao giảng trong khu vực đồng vắng gần Biển Chết. Dân chúng kéo đến để nghe ông. Giăng không mang đến cho họ sự dễ chịu. Ông là một người thẳng thắn và dám nói thật. Ông không phải là người không thẳng tay. Khi vua Hêrốt Antiba phạm tội tà dâm, Giăng cáo cùng ông rằng ông đã sai. Điều đó khiến Giăng phải trả giá bằng cái đầu của mình. Giăng bảo dân chúng rằng ngày phán xét hầu gần và tốt hơn họ phải chuẩn bị cho ngày ấy. Ông nói Đức Chúa Trời sẽ kíp sai Đấng Mêsi của Ngài đem ngày ấy đến. Ông nói họ không thể thoát được bởi lời biện hộ yếu ớt rằng họ là “dân được chọn,” về dân ấy Đức Chúa Trời có thể dấy lên một dân từ chính những hòn đá nầy. Ông nói rằng tốt hơn là họ phải ăn năn và tin Ngài, và rằng họ phải chứng tỏ ý định của họ bằng việc chịu báp tem. Vì vậy mà ông được gọi là Giăng Báp tít.
Những Diễn Tiến Trên Sân Khấu: Chúa Jêsus Vào
Một ngày nọ, khi Giăng đang rao giảng, thì Chúa Jêsus, một thanh niên khoảng ba mươi tuổi, xuất hiện trong đám đông và xin chịu báp tem. Có lẽ Ngài muốn chứng tỏ rằng Ngài tin nơi Giăng, hoặc có thể Ngài muốn làm một với nhân loại tội lỗi mà Ngài sẽ phục vụ. Dầu là lý do gì nào, Giăng (người cảm biết mình không xứng đáng làm điều đó), đã làm báp tem cho Chúa Jêsus tại sông Giôđanh. Giây phút ấy mang một tầm quan trọng lớn lao đối với Chúa Jêsus, bởi vì dường như Ngài đã nhận được sự khẳng định không thể nhầm lẫn rằng Ngài có được sự kêu gọi đặc biệt mà Đức Chúa Trời đã dành cho Ngài.
Vì vậy Chúa Jêsus lập tức đối mặt với câu hỏi: “Nếu tôi đã được Đức Chúa Trời kêu gọi, nếu tôi phải trở thành Đấng Mêsi, Ngài kêu gọi tôi phải trở thành Đấng Mêsi như thế nào?” Chúa Jêsus một mình vật lộn với nan đề nầy. Những cám dỗ để chọn đường tắt khác nhau được đề ra cho Ngài:
Ngài nhìn thấy những viên đá có hình dạng như ổ bánh mì ở chung quanh mình, tại sao không biến chúng thành bánh? Đấng Mêsi phải có loại quyền phép ấy. Thật là một ý tưởng tuyệt vời! Hãy cho những người dân Paléttin bị áp bức nghèo khổ thức ăn đáp ứng những cái bụng đói của họ và không có điều gì mà họ sẽ không làm cho Ngài. Hãy đổ đầy bao tử của họ, rồi sau đó hãy đổ đầy linh hồn họ. Thật tuyệt vời! Họ chắc chắn sẽ bằng lòng lắng nghe bất cứ ai làm thay đổi tình trạng kinh tế của họ. Và rốt lại, há không phải đó là điều dân chúng đang trông đợi từ Đấng Mêsi sao? Ai đó làm giảm nhẹ tình trạng đói nghèo tồi tệ của họ, không phải đó thật sự là cách để bày tỏ lòng thương xót của Ngài đối với họ sao?
Nhưng một tiếng nói khác đã can thiệp vào, tiếng nói của con người Jêsus đích thực, là Đấng tìm thấy trong cơ nghiệp Do thái của Ngài một lẽ thật quan trọng hơn: “Người ta sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời” (PhuDnl 8:3). Ngài không nói rằng bánh là điều không cần thiết, nhưng chỉ bánh không thì không đủ. Còn có một nhu cầu cơ bản hơn trong con người.
Một hình ảnh khác xuất hiện. Thay vì dùng bánh như một thứ mồi nhử, tại sao không dùng chính tôn giáo như là một thứ cám dỗ, bằng cách phô mình như một người thi thố phép lạ? Hãy leo lên ngay nóc đền thờ và nhảy xuống; hãy sử dụng quyền phép của Đức Chúa Trời để đáp xuống mà không bị thương tích. Điều nầy sẽ là một bằng chứng ngoạn mục về sự kêu gọi của Đấng Mêsi. Bằng cách thách thức quyền phép của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus sẽ chứng minh được quyền phép của Đức Chúa Trời. Và rồi dân chúng sẽ lưu ý. Đây há không phải cũng là điều mà dân chúng khao khát sâu xa sao? Một Đấng Mêsi mà có những lời tuyên bố hết sức dứt khoát như vậy thì dân chúng có thể tụ tập chung quanh Đấng ấy mà không hề có một sự phân vân hoặc thắc mắc nào phải không? Há không phải Ngài phải làm những việc lớn như vậy cho họ nếu như Ngài là lãnh tụ của họ sao?
Nhưng một lời khác lại đến: “Ngươi đừng thử Chúa là Đức Chúa Trời ngươi” (6:16). Và Chúa Jêsus đã từ chối ý tưởng chinh phục những người theo mình bằng những phương tiện ngoạn mục (hãy nhớ điều nầy khi chúng ta thảo luận về các phép lạ của Chúa Jêsus).
Một con đường tắt thứ ba được đề nghị. Chúa Jêsus nhìn thấy tất cả các vương quốc trải ra ở trước mặt Ngài. Bằng cách thờ phượng điều ác, Ngài có thể giành được quyền kiểm soát chính trị trên tất cả. Khi ấy dân chúng sẽ lắng nghe. Thật là một cơ hội quý báu! Há Ngài không thật sự có bổn phận ấy với dân mình sao, phải giải phóng họ khỏi ách nô lệ La mã? Phải là một lãnh tụ chính trị để chung quanh Ngài họ có thể tập hợp? Điều đó há không xứng đáng với một vài sự thỏa hiệp sao?
Nhưng Chúa Jêsus cũng từ bỏ lời đề nghị đó. Ngài không phải đến để phục vụ điều ác. “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (6:13).
Như vậy Chúa Jêsus đã từ chối loại tư cách Mêsi thờ lạy thế lực của điều ác, thay vào đó Ngài dâng chính mình cho Đức Chúa Trời chân thật. Đức Chúa Trời, chứ không phải Satan, là đối tượng lòng trung thành của Ngài. Ngài cũng sẽ không phải là loại Mêsi mà dân chúng muốn. Ngài phải là Đấng Mêsi theo các điều kiện của Đức Chúa Trời, chứ không phải các điều kiện của họ.
Diễn Tiến Của Sân Khấu: Chuyển bối cảnh sang vùng Galilê.
Phần lớn chức vụ của Chúa Jêsus diễn ra ở gần Biển Galilê ở phía bắc Paléttin. Vì có thể chỉ ngắn ngủi trong vài tháng, chắc chắn là không lâu hơn hai hoặc ba năm, Chúa Jêsus đã dấn thân vào một chức vụ tích cực. Ngài đã làm những gì?Trước hết Chúa Jêsus rao giảng , thỉnh thoảng ở tại Cabênaum (là nơi dường như là một loại “tiền trạm”), đôi khi trong các nhà hội, và đôi khi dọc theo các con đường ở miền quê hoặc trên các vùng đồi. Mác cho chúng ta một tóm tắt cô đọng về điều Ngài rao giảng: “Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin lành” (Mac Mc 1:15). Chúa Jêsus phán rằng thời kỳ mà các tiên tri đã nói hiện đến rồi. Thời kỳ chuẩn bị đã qua. Nước Đức Chúa Trời đang đến gần. (Chúng ta sẽ xem xét ý tưởng “Nước Đức Chúa Trời” trong Chương 16 ). Vì điều đó, dân chúng sẽ phải làm gì? Họ phải “ăn năn,” quay trở lại, bắt đầu trở lại. Nếu các sự việc nầy là như vậy thì đời sống bây giờ hẳn phải đổi khác. “Tin lành” tạo ra toàn bộ sự khác biệt.
Chúa Jêsus cũng đã dạy dỗ . Ngài dành phần lớn thời gian để tỏ rõ cách bạn phải sống sau khi đã cam kết chính mình với Chúa và Nước Ngài. (Chương 18 - 23 sẽ bàn đến những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus).
Và rồi sau đó, Chúa Jêsus cũng đã tập hợp một nhóm các môn đồ chung quanh Ngài. Một ít người đã được thuyết phục rằng không những Chúa Jêsus đang rao giảng lẽ thật, mà chính mình Ngài là lẽ thật. Họ giúp đỡ Ngài trong tất cả công việc Ngài làm. “Nhóm nội bộ” này được gọi là các sứ đồ , theo tiếng Hylạp có nghĩa là “sứ giả” hoặc là một người tuyên bố với uy quyền. Họ gồm đủ mọi thành phần - các ngư phủ từ vùng Galilê, một thành viên của đảng cuồng nhiệt Xêlốt, hai cặp anh em ruột, một người thâu thuế (nghề nghiệp bị khinh bỉ nhất ở tại Paléttin), một cá nhân đơn độc đến từ Giuđê tên là Giuđa và một vài người khác. Việc Chúa Jêsus có khả năng uốn nắn những cá tánh khác biệt như vậy thành một cộng đồng đích thực là một chỉ báo sức hữu hiệu thật ấn tượng của Ngài. Ngoài các sứ đồ, còn có nhiều môn đồ , “những người học hỏi ” hoặc tập sự, là những người sốt sắng muốn biết nhiều hơn về Chúa Jêsus. Một số trong vòng họ có lẽ ban đầu là môn đồ của Giăng Báptít, Chúa Jêsus dạy dỗ họ và đôi khi sai phái họ đi ra trong những nhóm nhỏ để rao giảng, hầu cho sứ điệp của Ngài có thể được công bố rộng rãi hơn.
Thắc Mắc Từ Khán Giả: Còn Về Những Phép Lạ Kia?
Chúa Jêsus cũng đã thi hành nhiều “công việc quyền năng” hay là các phép lạ trong chức vụ của Ngài . Chúng ta phải dừng lại ở đây, bởi vì chính những phép lạ nầy là trở ngại thật sự cho nhiều người.
Chúng ta phải rõ ràng về một điều: Các phép lạ nầy không phải “ sau nầy được thêm vào” những lời ký thuật về Chúa Jêsus. Chúng đã có mặt trong các tài liệu sớm sủa nhất mà chúng ta có. Loại bỏ chúng là làm ngược lại mà không được phép đối với các lời ký thuật. Các phép lạ là trọng tâm toàn bộ mục đích của các tác giả Tin lành. Ví dụ, Chúa Jêsus đến với sứ điệp của Nước Trời, một Vương Quốc hiện đang thực hữu trong đời sống của con người. Ngài nói cho dân chúng biết Nước Trời như thể nào, bằng những câu chuyện và những sự dạy dỗ. Không những Ngài mô tả nước trời; mà Ngài còn làm mẫu hoặc cư xử cho thấy đời sống trong Nước Trời là thể nào. Trong ý nghĩa nầy, một số các phép lạ là “những ví dụ mẫu.” Vào thời đó bệnh tật được giải thích như là một hậu quả của tội lỗi con người. Chúa Jêsus chữa lành một người bệnh bằng cách rờ đến người ấy và mang lấy sự ô uế trên chính mình Ngài. Bởi hành động của Ngài, Chúa Jêsus đã trình bày thật ấn tượng chính Ngài là người “gánh tội lỗi,” người đã mang trên chính thân Ngài tội lỗi của người khác. Đây là một trong các đặc trưng của đời sống trong Nước Trời, là tội lỗi được tha thứ (điều nầy cho thấy ý nghĩa đặc biệt về tầm quan trọng của sự chết Chúa Jêsus, chúng ta sẽ thấy trong chương kế tiếp). Một lần khác, Chúa Jêsus đã phán: “Nếu Ta cậy ngón tay Đức Chúa Trời mà trừ quỷ, thì Nước Đức Chúa Trời đã đến nơi các ngươi rồi” (LuLc 11:20). Thật ra, Ngài phán điều nầy sau khi Ngài đã “đuổi quỷ” có nghĩa là, đã chữa lành một người. Điều nầy cũng bày tỏ sống động nước Đức Chúa Trời là thể nào. Trong nước ấy, điều ác phải thuận phục và chịu thua trước quyền năng của Đức Chúa Trời. Các phép lạ như thế là những sự bày tỏ về lòng tha thứ của Đức Chúa Trời trong sự hành động, và sự chiến thắng của Đức Chúa Trời trước các thế lực của điều ác.
Ngoài cách tiếp cận ấy đối với các phép lạ, bạn hãy để hai hoặc ba phút suy nghĩ mỗi điểm sau đây, và xem thử chúng có cùng nhau mang lại cho bạn sự hiểu biết đầy đủ hơn về các phép lạ của Chúa Jêsus không:
1. Phép lạ cơ bản (như chúng ta đã thấy ở chương trước) chính là Chúa Jêsus. Đức Chúa Trời phải quan tâm đến chúng ta đủ để ban Con Ngài làm hiện thực tình yêu tha thứ của Ngài, là điều, nếu bạn đồng ý, “lạ lùng” nhất có thể hình dung được. Phép lạ của tình yêu tha thứ là điều cơ bản của Tân Ước. Nếu đó là một khái niệm giả dối, mọi điều khác trong Tân Ước đều sụp đổ tan tành. Còn nếu đó là một khái niệm đúng sự thực, thì không gì quá ngạc nhiên trong phần còn lại của Tân Ước.
2. Nếu đây thực sự là thế giới của Đức Chúa Trời, và Chúa Jêsus thực sự là Con của Đức Chúa Trời, thì không có lý do gì Chúa Jêsus không được ban quyền phép bởi Đức Chúa Trời để làm những việc nhất định dường như quá lạ lùng đối với chúng ta nhưng sẽ là sự bày tỏ của quyền năng Đức Chúa Trời và thực hữu của vương quốc Ngài.
3. Chúa Jêsus cũng không nhận “sự vẻ vang” cho mình vì những phép lạ. Các phép lạ là sự tỏ ra của quyền phép Đức Chúa Trời . Những Cơ Đốc nhân đầu tiên cũng đã xác nhận sự kiện đó y như vậy “Đức Chúa Jêsus ở Naxarét, tức là người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ” (Cong Cv 2:22). Đức Chúa Trời không để cho Đức Chúa Jêsus “phá vỡ luật lệ,” mà Ngài muốn bày tỏ qua Chúa Jêsus sự thực Vương quốc của Ngài.
4. Ít nhất là trong các sách Tin Lành Cộng Quan, Chúa Jêsus đã không thi hành phép lạ để “chinh phục” những người ủng hộ. Ngài rõ ràng đã từ chối ý niệm này suốt trong lúc chịu cám dỗ. Ngài nhiều lần nói với con người, nhắc đi nhắc lại là chớ nói đến những phép lạ mà Ngài đã thực hiện. Ở tại một nơi, thậm chí Ngài không thể làm phép lạ vì họ thiếu đức tin (Mac Mc 6:5). Những người thực lòng tin, có thể, qua các phép lạ, nhìn thấy sự tỏ bày những gì đời sống trong Vương quốc Đức Chúa Trời sẽ diễn ra, và có thể nhìn thấy Nước Đức Chúa Trời hành động qua công việc của Đức Chúa Jêsus.
Diễn Tiến Của Sân Khấu: Chuẩn Bị “Sự Chống Đối” Cả Bên Ngoài Sân Khấu Và Trên Sân Khấu .
Như vậy, các loại hoạt động đa dạng đặc trưng cho chức vụ ở vùng Galilê của Chúa Jêsus là: rao giảng, dạy dỗ, tập họp các môn đồ, làm các công việc quyền năng. Chúng ta phản ứng: thật là một chương trình tuyệt vời, được tính toán để giành được sự hậu thuẫn rộng lớn từ mọi thành phần dân chúng. Nhưng có thật như vậy không? Chúng ta đã bắt đầu lệch hướng nếu như chỉ lấy một câu như: “Đoàn dân đông vui lòng mà nghe Ngài” (Mac Mc 12:37) rồi từ đó suy luận rằng Chúa Jêsus đã khiến dân chúng ở khắp mọi nơi tin Chúa nhiệt thành. Đúng là có những người nhiệt thành theo Ngài, nhưng dường như từ ban đầu đã có sự bắt bớ lớn. Người ta không thích những việc Ngài nói và làm. Chúng khiến họ khó chịu. Nếu có một số người được thu hút, thì cũng có nhiều người từ chối. Nếu có một số người hài lòng, thì cũng có nhiều người bực tức.
Thậm chí những người đã trở thành các môn đồ cũng cảm thấy bực bội. Khi Chúa Jêsus tiếp cận lần đầu với Phierơ, ông không bị thu hút bởi “nhân cách có sức hút” của Chúa Jêsus. Không hề. “Xin ra khỏi tôi” thực tế ông muốn nói: “tôi không muốn có liên hệ gì với Ngài.” (Xem LuLc 5:8). Một con người có tội, bị chạm trán bất ngờ với sự nhơn từ trong suốt, cảm thấy khó chịu; hơn nữa, ông cảm thấy đầy kinh hãi và bị áp đảo. Đây là một điều quá lạ lùng. Loại bỏ một con người như vậy ra khỏi đời sống bạn thì dễ dàng hơn là phải khuất phục người ấy. Tất nhiên là cuối cùng Phierơ đã đầu phục Ngài, nhưng đó là một tranh chiến đối với ông suốt chặng đường.
Cũng có sự chống đối từ các nơi khác nữa. Những người thân cận tại vùng Naxarét đã có những phản ứng hết sức lẫn lộn khi Ngài trở về quê hương và giảng dạy trong nhà hội.
CẬU BÉ ĐỊA PHƯƠNG ĐÃ TRỞ VỀ, ĐOÀN DÂN ĐÔNG LẮNG NGHE NGÀI, báo chí có thể đăng tin như vậy, nhưng họ sẽ phải bổ sung thêm:
DÂN CHÚNG TỨC GIẬN, TÌM CÁCH GIẾT VỊ DIỄN GIẢ.
Bởi vì Chúa Jêsus không đem đến cho họ cuộc nói chuyện đáng hài lòng theo giáo điều đóng góp cho ngân quỹ của nhà hội, Ngài đọc sách tiên tri Êsai và rồi bảo rằng đó chính là Ngài - Ngài ư! - là sự ứng nghiệm của lời Kinh Thánh? Tất nhiên người dân địa phương biết rõ hơn. Họ đã lớn lên cùng với Ngài. Ngài chỉ là con trai của người thợ mộc. Thật phạm thượng!
Vì vậy họ đã tìm cách đẩy Ngài xuống vực.
Giả sử bạn hỏi một người Pharisi điển hình, một công dân gương mẫu, người ấy nghĩ gì về Chúa Jêsus. Câu trả lời sẽ rất dứt khoát
NGƯỜI PHARISI (có vẻ rất hung hăng ): Ông ta ư? Ông ta là một kẻ điên cuồng. Vì sao? Ông ta thậm chí không tôn trọng luật pháp Dothái của chúng ta! Chúng ta biết điều ông ta đã làm trong ngày Sabát vừa qua không? Ông ta và các môn đồ đi ngang qua các cánh đồng và ông ta đã để cho họ bứt các gié lúa mà ăn. Vào ngay ngày Sabát! Khi mà điều đó rõ ràng là bị cấm bởi luật pháp. Tôi có thể chứng tỏ cho các ông nơi chính xác nếu các ông nghi ngờ lời tôi nói. Không những vậy, ông ta còn chữa lành cho một người vào ngày Sabát. Vi phạm ngày Sabát ngay trước mũi tôi.
Nhưng chẳng gì có thể so sánh với điều ông ta đã làm vào buổi chiều nọ. Anh biết nhà của Joses ở trên con đường kia không? Phải, chính tôi không có mặt tại đó, nhưng tôi biết điều này dựa trên nguồn thẩm quyền hết sức đáng tin cậy, bởi vì anh tôi đã có mặt tại đó và chứng kiến toàn bộ sự việc. Bốn người nam phải dòng một người bại qua mái nhà và Jêsus đã ngó người bại ấy và bảo rằng tội lỗi anh đã được tha! Tha tội ư? Jêsus này là ai mà dám đi đây đó tha tội? Không ai trừ ra Đức Chúa Trời có thể tha thứ tội lỗi. Ông ta nghĩ mình là Đức Chúa Trời chắc.
Và bạn có biết điều đó có ý nghĩa gì đối với tôi không? Nghĩa là ông ta điên khùng, lừa đảo, và phải bị trừ khử. Chết, chôn, và quên lãng đi.
Những người khác có thể bực tức bởi những đám bạn mà Chúa Jêsus có. Đấng Mêsi của họ hẳn sẽ không giao du với hạng người rác rưởi cặn bã. Ngài phải quan hệ với những con người có thế lực và địa vị. Còn Chúa Jêsus? Ngài luôn luôn kết bạn với những tay thâu thuế bị ghen ghét, và với những kẻ “có tội;” dân chúng thậm chí còn đồn rằng Ngài là một kẻ “ham ăn mê uống” (LuLc 7:34) - “một kẻ đàn đúm” không kém!
Ít nhất chúng ta cũng có thể suy ra toàn bộ sự chỉ trích này rằng khi Chúa Jêsus đi đây đó thì mọi việc không bao giờ tẻ nhạt. Bất cứ điều gì Chúa làm, Ngài cũng khuấy động mạnh mẽ dân chúng. Và điều này rốt lại khiến Ngài là một mục tiêu cần phải trừ khử đối với những kẻ cai trị và các nhà chính trị, những người không bao giờ muốn dân chúng “bị khuấy động.” Hêrốt Antipa vùng Galilê, thấy Chúa Jêsus đúng là một sự phiền toái về mặt chính trị và muốn khử Ngài. Ngay cả Philát, thống đốc vùng Giuđê, mặc dầu không tìm thấy lỗi lầm thật sự nào nơi Chúa Jêsus, cuối cùng cũng đã chịu thua trước áp lực vì mối đe dọa về mặt chính trị nếu để Chúa Jêsus sống. Toàn bộ điều này - trớ trêu tột độ - về một con người đã từng nói: “Nước của ta chẳng thuộc về thế gian này” (GiGa 18:36).
Diễn Tiến Của Sân Khấu: Chuẩn Bị Cho Đoạn Kết Của Một Bi Kịch
Chúng ta đã thảo luận (trong Chương 7) sự kiện ở tại Sêsarê Philíp, khi các môn đồ đã biết rằng Chúa Jêsus không những là Đấng Mêsi, mà còn là Đấng Mêsi chịu khổ (ý tưởng lạ lùng).
Kết cuộc của sự kiện này là Chúa Jêsus đã đưa họ đến Giêrusalem, vào ngay trung tâm của sự bắt bớ được chuẩn bị. Sự kiện quan trọng nhất trên đường đi là một cảnh tượng thật kinh ngạc được Giacơ, Phierơ và Giăng chứng kiến. Họ cùng Chúa Jêsus lên một ngọn núi cao, tại đó, trong một sự hiện thấy, họ chứng kiến Ngài được hóa hình, bày ra trước mặt họ sự vinh hiển trong tương lai của Ngài. Ý nghĩa của biến cố này chắc chắn thuộc về Đấng Mêsi. Êli, là người dân Dothái cảm biết, sẽ trở lại trước khi Đấng Mêsi đến, tại đây Chúa Jêsus đang trò chuyện với Êli, và có tiếng phán rằng: “Người này là Con rất yêu dấu của Ta, hãy vâng nghe người” (Mac Mc 9:7). Toàn bộ điều này hết sức lạ lùng và khó hiểu, nhưng được nhìn thấy rõ ràng như một hình thức con dấu chuẩn thuận của Đức Chúa Trời về sự hiểu biết Chúa Jêsus đã có về sự kêu gọi của Ngài.
Ba lần, như đã được ký thuật, Chúa Jêsus báo trước cho các môn đồ rõ ràng rằng Ngài phải chịu khổ và chịu chết, rằng Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết. Ba lần như đã được chép, các môn đồ không thể hiểu lời lạ lùng này ám chỉ điều gì cả.
Và rồi họ đã đến Giêrusalem. Các sự kiện trong tuần lễ đó tại Giêrusalem được ký thuật rất chi tiết trong các sách Phúc âm. Chúng ta có nhiều thông tin về tuần lễ đó hơn bất cứ phần nào khác trong cuộc đời của Chúa Jêsus, vì vậy chúng ta không cần kể lại tỉ mỉ tất cả các chi tiết ở đây. Nhìn sơ qua một vài sự kiện cho thấy lưới bẫy đang thu dần lại thế nào.
Ý nghĩa của sự vào thành lạ lùng này là gì? Chúa Jêsus cỡi trên lưng một con lừa vào thành Giêrusalem, với các đám đông vẫy chào và tung hô, một hình thức diễu hành của thế kỷ thứ nhất tương đương với cuộc duyệt binh có các băng giấy tung hô trên đại lộ Broadway. Ngài không vào thành trên một con ngựa chiến màu trắng như một anh hùng quân sự vĩ đại thường làm; Ngài đến trên một con vật mang gánh nặng khiêm nhường. Lời ký thuật của Mathiơ về sự kiện này cho chúng ta một manh mối: Chúa Jêsus đang làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Mêsi một cách có ý thức trong XaDr 9:9 rằng “Vua” đến “cỡi trên một con lừa nhu mì.” Nói cách khác, Ngài không phải là một Đấng Mêsi ưa chiến tranh, Ngài là một Đấng Mêsi bằng lòng làm tôi tớ mọi người, dân chúng thật lạ lùng, đã không hiểu được vấn đề, kết quả là trong một vài ngày nữa những kẻ đang la lớn “hoan hô!” sẽ gào lên “hãy giết hắn đi!”
Suốt những ngày sôi động này ở tại Giêrusalem, Chúa Jêsus bị bao vây bởi những kẻ chất vấn, tìm cách dồn Ngài vào thế bí để Ngài phải nói một câu tai hại được sử dụng để chống lại Ngài. Chúa Jêsus đã đối đáp với những kẻ chất vấn này bằng sự khôn ngoan đáng kinh ngạc, tránh đỡ những cú đâm thọt một cách khéo léo, và bỏ mặc họ bối rối rút lui khỏi hiện trường. Tuy nhiên, phía sau hiện trường, sân khấu đang được dàn dựng, và các đồng minh chống lại Chúa Jêsus đang hình thành một liên minh mạnh mẽ hơn. Họ thậm chí đã có một “đạo quân thứ năm” (kẻ tay trong) làm việc ngay trong nhóm của Chúa Jêsus, đó là Giuđa, kẻ thủ quỹ của tổ chức. Vì sao Giuđa trở thành kẻ phản bội là một câu hỏi không dễ trả lời. Có lẽ sau một thời gian cống hiến mạnh mẽ, ông đã bị thuyết phục một cách thật thà rằng Chúa Jêsus là kẻ giả mạo phải bị dẹp bỏ. Dầu thế nào, ông cũng đã đứng sang phía đối phương và giúp họ lần theo các hoạt động của Chúa Jêsus để khi thời điểm chín mùi, họ có thể bất ngờ tấn công.
Trong khi các kế hoạch cuối cùng của kẻ thù đang hình thành, thì Chúa Jêsus đang dự bữa ăn cuối cùng với các môn đồ Ngài, có lẽ là bữa ăn theo truyền thống chuẩn bị cho lễ Vượt Qua của dân Dothái hầu đến. (Chúng ta sẽ xem xét ý nghĩa của điều được nói và làm trong bữa ăn này ở Chương 15).
Ngay sau đó, họ rời phòng cao nơi đã ăn tối và lên một ngọn đồi ở vùng giáp ranh của thành. Chúa Jêsus, dường như là người duy nhất nhận biết việc Ngài bị bắt gần kề thế nào, đi tẻ ra để cầu nguyện. Ngài không muốn chết, Ngài thưa với Đức Chúa Trời điều đó. Nhưng Ngài đã thêm vào lời cầu nguyện ấy một trong số những lời quan trọng nhất mà Ngài từng nói: “Song không theo ý muốn con, mà theo ý muốn Cha.” (Mac Mc 14:36). Ngài sẵn sàng làm một với ý muốn của Cha Ngài.
Và rồi thình lình khu vườn đầy những gươm giáo loảng xoảng, những tiếng chửi rủa, la lối, các cây đèn lồng và những lời nhạo báng. Chúa Jêsus đã bị bao vây bởi những kẻ ghét Ngài. Bạn hữu Ngài lẩn vào bóng đêm. Ngài trở thành một tù nhân.
Ngài chỉ còn lại một mình, và định mệnh của Ngài là chắc chắn.
Chương 10: Chỗ Đồi Sọ
(Ý Nghĩa của Thập Tự Giá )
Bản án của Ngài đã chắc chắn ư? Nhất định phải có ai đó can thiệp chứ - trong số các môn đồ thân tín của Ngài; những con người quan tâm đến cuộc chơi công bằng; nếu không, thì chính mình Đức Chúa Trời!
Nhưng đã không có một ai. Đây không phải chỉ là giây phút “căng thẳng hồi hộp” trước khi tác giả vở kịch đưa ra một kết thúc nhanh chóng và vui vẻ. Đúng là đã có một kết thúc nhanh chóng, nhưng vui vẻ thì chắc chắn là không, bởi vì tất cả đã từ bỏ Chúa Jêsus. Thậm chí Phierơ cũng đã khiếp sợ, lớn tiếng rủa vì sợ hãi điên cuồng: “Ta chẳng hề quen biết với người mà các người nói đó.”
Các Tình Tiết “Trinh Sát”
Nếu có ai giữ một bản danh sách kiểm về diễn tiến của việc trừ khử Chúa Jêsus trong những ngày giờ cuối cùng đó, thì bản danh sách đó sẽ được ghi như vầy:
-Hãy dò hỏi Giuđa. Bảo hắn cho chúng ta thông tin về những nơi Jêsus lui tới.
Kiểm tra với các thầy tế lễ về tiền hối lộ trả cho Giuđa
Báo cho các lính canh hãy sẵn sàng theo Giuđa một thời gian ngắn
Sắp xếp một nửa tá người đi gặp Hêli. Để ông ta tập tành họ những lời buộc tội chống lại Chúa Jêsus tại phòng xử án.
Các khoản tiền trưng dụng từ nơi Cai Phe để thanh toán cho các “nhân chứng”
Thuê sứ giả để triệu tập các thành viên của tòa án tối cao (tòa Công luận) triệu tập trong một thời gian ngắn (nhấn mạnh với ông ta rằng chúng ta phải kết thúc tốt đẹp vụ này trước lễ Vượt Qua, bởi vì không được giết ai vào lễ Vượt Qua).
Sai các đại biểu đến gặp Philát để nói rõ rằng tốt hơn ông ta cũng phải kết án Chúa Jêsus, nếu không muốn có những lời báo cáo xấu bị gởi về Rôma.
Sự việc diễn tiến khá tốt đẹp. Buổi xét xử cũng đã được tổ chức. Thủ tục tố tụng thì bất hợp pháp. Các nhân chứng thì được mua chuộc. Tòa án quyết định rằng “chứng cớ” là áp đảo. Bản án tử hình đã được thông qua. Toàn bộ sự việc còn lại dành cho BônxơPhilát, người đại diện của chính quyền Lamã để phê chuẩn.
Vào rạng sáng, Philát tiếp cận vụ xử. Ông ta dường như thật sự bối rối. Có gì sai trái nơi Chúa Jêsus? Chẳng có gì cả - vậy mà -có một đám đông hỗn loạn ở bên ngoài gào thét, đòi máu. Nếu thả Chúa Jêsus, ông sẽ phải chịu trách nhiệm về một cuộc bạo loạn. Tin tức về các cuộc bạo loạn sẽ về đến Rôma, mà Rôma thì không thích những cuộc nổi loạn ở các tỉnh xa. Trên thực tế, Rôma từng gọi về những người được ủy quyền đã để cho tình hình vuột khỏi tầm kiểm soát của họ. Và những người ấy, một khi đã bị triệu về, phải bị án chết vì đã làm cho Sêsa không hài lòng. Đây là cái cổ của Philát hoặc Chúa Jêsus. Vì vậy Philát đã phê chuẩn án tử hình. Ông sắp xếp các binh lính Lamã đóng đinh Chúa Jêsus trên một cây cột thẳng đứng có một thanh ngang và bỏ mặc Ngài phải chết. Đó là phương cách được chấp nhận.
Đây không phải là một cách chết dễ chịu. Nạn nhân bị phơi ra dưới ánh nắng mặt trời, bị khát khủng khiếp, trước gió bụi, và ruồi mòng. Bởi vì sự sống có thể kéo dài nhiều ngày, nên được xem là hành động ân huệ khi một tên lính Lamã đánh gãy ống chân nạn nhân bằng một cây gậy để người ấy được chết nhanh chóng hơn.
Và như vậy họ đã coi Chúa Jêsus như một tên tội phạm bình thường, cùng với hai tên tội phạm khác, họ đóng đinh Ngài trên một ngọn đồi bên ngoài thành Giêrusalem được gọi là đồi Gôgôtha, “chỗ Sọ.” Đó là điều con người đã làm cho một người, theo một đánh giá vừa phải, là một con người tốt lành nhất từng sống trên đất. Đó là điều con người đã làm cho Đức Chúa Trời nhập thể trong thân xác con người, theo đánh giá của một Cơ Đốc nhân.
Có Phải Chúa Jêsus Đã bị Đức Chúa Trời “Từ Bỏ” Không?
Bạn có thể học được rất nhiều về một con người khi chứng kiến cách người ấy chết. Kết hợp bốn lời ký thuật về sự chết của Chúa Jêsus, chúng ta tìm thấy bảy “câu nói,” hoặc lời tuyên bố, mà Ngài đã thốt lên trong 6 giờ bị treo trên thập tự giá. Khi Ngài nói: “Ta khát” (GiGa 19:28), chúng ta nhận biết với một nỗi đau nhói rằng Ngài thật sự đau đớn trải qua một chặng đường dài, gian khổ vì đồng nhất trọn vẹn với chúng ta, khi Ngài nói: “Lạy Cha xin tha cho họ; vì họ không biết điều mình làm.” (LuLc 23:34), chúng ta thật kinh ngạc vì ngay trong giờ phút bị hành hạ, Ngài có thể xin Cha tha thứ cho những kẻ hành hạ Ngài.
Nhưng còn có một “lời” khiến chúng ta bối rối. Đó là tiếng kêu đau khổ tột cùng, “lời” duy nhất được chép trong Mathiơ và Mác: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mat Mt 27:46; Mac Mc 15:34). Liệu có phải Chúa Jêsus, vì mọi người, đã nếm trải sự lìa bỏ hoàn toàn của Đức Chúa Trời không? Có ít nhất hai cách để hiểu những lời khó hiểu này. Có thể Chúa Jêsus đã nhìn thấy trong một khoảnh khắc sự khủng khiếp rõ mồn một đời sống bị phân cách khỏi Đức Chúa Trời là thế nào. Tới mức độ đó, Ngài đã làm một chính mình với chúng ta cách đầy đủ và hoàn toàn có thể được, và đã trải nghiệm chính cặn bã sự hư mất của con người. Và rồi từ khoảnh khắc của sự rõ ràng thấu suốt đó, có lẽ Ngài đã lấy lại được cảm nhận tin cậy hoàn toàn nơi Đức Chúa Trời: “Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha!” (LuLc 23:46).
Cách giải thích thứ hai nhấn mạnh đến tiếng kêu ấy. Bất cứ người Dothái nào gặp hoạn nạn cũng biết rõ cơ nghiệp của mình đủ để thốt lên Thi Tv 22:1-31. Những lời mở đầu là “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” Tác giả Thithiên tiếp tục cho biết thể nào ông bị xem thường, khinh dễ, các xương cốt đều rời rã, lưỡi ông dính nơi ngàm, tay chân ông bị đâm lủng, áo xống ông bị những kẻ ác phân chia và họ bắt thăm để đoạt lấy áo dài của ông, nhưng Đức Chúa Trời đã đến giúp đỡ tác giả Thithiên. Thithiên này bắt đầu bằng những lời tuyệt vọng, đã kết thúc bằng một lời đắc thắng. Tác giả Thithiên không những ngợi khen Đức Chúa Trời mà còn kêu gọi đồng bào mình hãy ngợi khen Ngài nữa, bởi vì Đức Chúa Trời đã lắng nghe khi ông kêu cầu. Nhiều người tin rằng Chúa Jêsus bắt đầu đọc thuộc Thithiên này như một xác quyết niềm tin Ngài đặt nơi Chúa. Có lẽ Ngài đã kiệt sức và không đọc hết được; có thể Mathiơ và Mác chỉ ký thuật câu đầu, vì biết rằng các độc giả họ nhận biết Thithiên đó. Dẫu thế nào, có rất nhiều điểm giống nhau giữa Thithiên này với sự đóng đinh cho thấy dường như rõ ràng Thithiên này có trong đầu các tác giả Phúc âm.
Như vậy có lẽ trong khoảng sáu giờ Chúa Jêsus đã chết. Thi thể Ngài được hạ xuống và được đặt vào một ngôi mộ vay mượn. Ngôi mộ được niêm phong.
“Cuối Cùng Cũng Đã Giải Quyết Xong”
Một phóng viên đi đây đó phỏng vấn dân chúng vào ngày hôm sau sẽ nhận được những phản ứng như vầy:
MỘT NGƯỜI “MỘ ĐẠO:” Thật tốt vì đã dẹp được ông ta một cách an toàn. Theo tôi nghĩ thì ông ta hơn cả một kẻ cuồng tín nhiều. Vì sao, các ý tưởng của ông ta hẳn sẽ thổi tung đạo giáo của chúng ta!
MỘT NGƯỜI KHÁCH BỘ HÀNH: Ông ta đã chữa lành cho con trai tôi. Ông ta thường đến thăm gia đình tôi. Chúng tôi yêu quí ông rất nhiều. Tôi sẽ nhớ tiếc ông ta.
MỘT THÀNH VIÊN CỦA TÒA CÔNG LUẬN: Ngợi khen Đức Chúa Trời vì kẻ phạm thượng ấy đã bị giết chết! Những suy nghĩ nguy hiểm của con người này, và những lời tự xưng là Đấng Mêsi thật là điên rồ, thật thà và đơn giản. Thật là may chúng ta đã trừ khử được ông ta.
PHILÁT (quan điểm chính thức của một người biện minh cho một lương tâm tội lỗi ): Hòa bình đã được bảo tồn! Công lý đã chiến thắng! Sức mạnh của Rôma được an toàn! Hoan hô Sêsa!
PHILÁT (những suy nghĩ trong lòng ). Tôi tự hỏi... Liệu có thể tìm thấy điều gì tồi tệ về ông ta không. Thực ra, ông ta giống một vị vua hơn... Không thể có sự thực nào về những điều môn đồ ông ta tin về ông ta... Dầu vậy, tôi vẫn băn khoăn.
MỘT MÔN ĐỒ: Phải, thế là hết. Tôi thật không bao giờ nghĩ họ có thể giết Ngài. Tôi biết chắc Đức Chúa Trời sẽ đến vùa giúp Ngài. Nhưng chúng tôi vừa phải đối mặt với điều đó. Ngài có một uớc mơ thật đẹp, nhưng đó chỉ là một giấc mơ, và tôi thật dại dột khi nghĩ đó là sự thật. Tốt nhất là tôi quay về Galilê và bắt đầu lại công việc đánh cá của tôi. Tôi đã học được bài học của mình.
Thật hết sức mỉa mai, ngày người ta quả quyết nhất rằng họ đã trừ khử được Chúa Jêsus lại chính là trước ngày Ngài phục sinh.
Thập tự giá và sự Phục Sinh
Hình phạt đóng đinh là điều thật khủng khiếp. Vậy tại sao Tân Ước dường như bị thu hút bởi thập tự giá một cách lạ lùng như vậy? Vì sao thập tự giá vẫn tiếp tục xuất hiện từ trang này sang trang khác? Vì sao người ta đến ngày nay vẫn hát bằng một kiểu bất hợp lý thật đáng ngạc nhiên: “Tại nơi thập tự giá của Đấng Christ, tôi tự hào? ”
Cần nhấn mạnh ngay rằng câu chuyện thập tự giá chính nó không phải là một “câu chuyện thành công.” Đó là một câu chuyện thất bại. Các tác giả Tân Ước nhìn xem mặt tối của thập tự giá từ ánh sáng tỏa chiếu trên nó bởi sự phục sinh. Họ tin nơi một Cứu Chúa đã sống lại; và chính vì lý do đó mà họ có thể nhìn xem bằng cặp mắt kiên định vào giây phút Chúa Cứu Thế Phục Sinh dường như bị đánh bại và tìm thấy chiến thắng của Ngài ngay tại đó. Chúng ta đã xem xét ý nghĩa của đức tin phục sinh (trong Chương 7). Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào ánh sáng mà đức tin soi sáng trên thập tự giá, gỡ rối bốn mớ dây cho một câu trả lời toàn diện. Không một sợi nào trong số đó tự nó là câu trả lời trọn vẹn, nhưng mỗi sợi dây đều quan trọng.
1.Thập Tự Giá Là Một Gương Mẫu
Giả sử bạn là một trong số những Cơ Đốc nhân đầu tiên. Chắc chắn vì niềm tin ấy sự việc sẽ gay. Khi trở thành Cơ Đốc nhân, bạn mất tài sản. Cha bạn bị bắt. Bạn biết nếu bị phát hiện, sẽ là hàm sư tử hoặc tồi tệ hơn. Bất cứ điều gì xảy đến, việc là một Cơ Đốc nhân cũng liên can đến sự chịu khổ. Trong hoàn cảnh đó, bạn làm thế nào chịu đựng nổi?
Phải, vì một điều, bạn nhớ rằng mình được kêu gọi để trải qua bất cứ điều gì chính mình Chúa Jêsus đã trải qua. Ngài đã để lại một gương cho bạn trên đường để mang sự chịu khổ một cách sáng tạo. Bạn có thể nhớ đến Ngài trên cây thập tự để được tiếp sức mà mang lấy thập tự của mình. Một trong các thư tín bạn đã nghe đọc trong hội thánh có thể nhắc nhở bạn về điều này: “Vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài” (IPhi 1Pr 2:21), bạn cũng có thể nhớ đến những lời của chính Chúa Jêsus, cho bạn biết rằng việc theo Ngài không phải dễ dàng: “Nếu ai muốn theo Ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta.” (Mac Mc 8:34)
Hoặc thập tự giá cũng có thể là một gương mẫu cho bạn về mức độ yêu thương bạn được kêu gọi. Bạn có thể tự nhủ: “Đây là một gương mẫu về tình yêu của Đức Chúa Trời. Ngài đã đến với tôi cũng như với mọi người và yêu thương chúng ta thậm chí khi chúng ta đóng đinh Ngài. Đó là điều Ngài phải trả giá vì yêu chúng ta. Chúng ta phải xứng đáng với tình yêu ấy bằng cách yêu thương nhau như vậy.” Và rồi bạn có thể làm chính mình ngạc nhiên (và những người khác nữa) bằng việc chia sẻ một bữa ăn với tên Aquila đáng ghét, hoặc đi đến nhà tù để che chở cho Publius khỏi các tên lính Lamã.
Giả sử bạn là một trong những Cơ Đốc nhân của thế kỷ hai mươi. Nếu bạn sống đằng sau Bức Màn Sắt, hoặc trong một lãnh thổ bị chiếm đóng, hay trong nỗi lo sợ đối với đội hành quyết, những điều tương tự thật rõ ràng. Nhưng có những “thập tự giá” trong đời sống dầu cho bạn sống ở đâu, những loại chịu khổ đụng đến đời sống ở mọi nơi, những quyết định khó khăn phải thực hiện, và bạn muốn thực hiện, bất chấp chúng nhỏ nhặt thế nào. Thập tự giá vẫn là một gương mẫu, bây giờ cũng như lúc ấy, bảo rằng: “Chính Đấng Christ đã trải qua nỗi đau đớn và sự thống khổ. Hãy xem bạn có thể mang thập tự giá như Ngài đã mang không.”
Và, điều có ý nghĩa hơn nữa, thập tự giá vẫn là một tấm gương đối với bạn về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho con người, một tình yêu mà, thậm chí trong thế kỷ thứ hai mươi, bạn phải noi theo. Khi bạn suy nghĩ về điều đó, bạn nhận ra rằng đây chính là phẩm chất mà các thánh đồ ngày nay được tạo thành - những con người phó chính mình không giới hạn cho những kẻ có cần, giống như Chúa Jêsus đã làm bởi tình yêu vô song của Ngài. Bạn nhớ Thánh Francis ở thế kỷ thứ mười ba, ban chính mình cho những người cùi mà không ai thậm chí muốn lại gần. John Woolman, ở thế kỷ thứ mười bảy đã kêu gọi được những chủ nô cứng lòng giải phóng các nô lệ của họ; Toyohiko Kagawa vào thế kỷ thứ hai mươi, làm việc nhiều năm trong những khu nhà ổ chuột tại Nhật bản. Đối với những con người ấy, và rất nhiều người khác nữa, thập tự giá là một gương mẫu về mức độ tình yêu của Đức Chúa Trời, và họ đã tìm cách để được xứng đáng với tình yêu ấy bằng cách đáp lại bằng tình yêu. Và bạn nhận ra, có lẽ phần nào hơi mất tinh thần rằng mình cũng bị đòi hỏi điều tương tự.
Nhưng có một điều bất lợi. Không nhất thiết phải đúng là thập tự giá sẽ cảm động chúng ta bởi gương mẫu của nó. Chúng ta có lẽ không “yêu điều cao trọng nhất khi nhìn thấy điều đó.” Chúng ta có thể ghét điều đó. Những người “tốt lành” trong thời Chúa Jêsus chắc chắn đã không thích điều tốt lành nhất, họ đã ghét con người cao cả nhất đến nỗi đã giết Ngài. Và đối với mọi tên lính đứng trước sự kiện Chúa chịu đóng đinh đã thốt lên: “Người này thật là Con Đức Chúa Trời.” (Mat Mt 27:14), có hàng tá những người chỉ quan tâm đến việc giành lấy chiếc áo phế thải của Con Đức Chúa Trời bằng cách tung hột súc sắc may mắn. Gương mẫu của tình yêu, thậm chí là tình yêu cao cả nhất, cũng không nhất thiết đem lại một đáp ứng yêu thương. Nó có thể đem lại sự khinh miệt và khước từ. Chúng ta có thể từ chối yêu thương. Chúng ta có thể nói: “Tôi không cảm động. Điều đó không dành cho tôi.” Vì vậy nói thập tự giá là một gương mẫu là nói đến một phần của đức tin Tân Ước chứ không phải toàn bộ. Chúng ta phải đi thêm.
2. Thập Tự Giá Là Sự Phán Xét .
Những Cơ Đốc nhân đầu tiên thật sự đã đi sâu hơn. Họ cũng đã nhìn thấy thập tự giá là sự phán xét đối với chính họ và mọi người. Giả sử một lần nữa, bạn là một trong những Cơ Đốc nhân đầu tiên ấy. Khi bạn chăm nhìn thập tự giá, bạn khám phá một cách mới mẻ điều ác thật sự là gì. Ví dụ bạn nhìn thấy những hậu quả của sự lừa dối và phản bội. Bởi vì Chúa Jêsus đã bị đưa lên thập tự giá bởi những lời dối trá, những mưu đồ, những kế hoạch mờ ám, việc từ chối xét xử công minh, những người làm chứng bị mua chuộc và tất cả những điều còn lại. Có lẽ bạn hơi thu mình lại khi Phierơ nhắc nhở bạn qua một bài giảng rằng “các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi” (Cong Cv 2:23).
Nhưng sâu xa hơn cả điều đó, thập tự giá chỉ cho bạn thấy con người “tốt lành” của bạn có thể gian ác như thế nào. Thập tự giá là sự phán xét đối với tất cả những gì bạn cho rằng đàng hoàng hoặc xứng đáng. Bởi vì ai là những người đã đưa Chúa Jêsus lên thập tự giá? Những kẻ tội phạm, cặn bã của xã hội, rác rưởi của thế gian ư? Không, họ đang ở đó, cùng bị đóng đinh với Ngài. Những người đã đưa Chúa Jêsus lên thập tự giá là những người “tốt,” những kẻ ủng hộ luật lệ và nguyên tắc Lamã, những người lãnh đạo các phong trào tôn giáo tốt nhất trong thời đó, những công dân đáng đáng kính, tuân giữ luật pháp.
Những người giống như bạn!
Và bạn nhận ra rằng bạn và những người cùng thành phần với mình, có lẽ với những ý định tốt nhất, phải chịu trách nhiệm với con người đang bị treo tại đó. Tất nhiên điều này thật khó tiếp nhận. Bạn cự tuyệt khi Phierơ nói với những con người “mộ đạo”: “Các ngươi đã chối bỏ Đấng thánh là Đấng Công bình... Các ngươi đã giết Chúa của sự sống” (3:14-15) và khi Êtiên cũng đồng tình, một giọng như vậy mà nói rằng: “Chính các ngươi lại đã nộp và giết Đấng đó” (Đấng Công bình) (7:52), thật là quá mức đối với những người “đàng hoàng” trong đám đông, vì vậy, họ cũng giết Êtiên luôn. Có lẽ bạn đã có mặt tại đó. Dẫu thế nào, sự kiện bạn không thể thoát khỏi là điều ác có sức mạnh hơn hết khi nó giả vờ là tốt lành . Trong ánh sáng của sự kiện gây bối rối này, không ai nhận được giấy chứng nhận sức khỏe trong sạch. Và bất chấp bạn ở cách xa khỏi thập tự giá nơi Chúa chịu đóng đinh đến đâu, bạn, Ông Cơ Đốc Nhân Của Thế Kỷ Thứ Nhất vẫn cảm thấy bị phán xét bởi sự kiện này.
Bây giờ giả sử một lần nữa bạn là một Cơ Đốc nhân ở thế kỷ hai mươi. Rõ ràng là bạn ở rất xa sự kiện Chúa bị đóng đinh, bạn thở ra nhẹ nhỏm. Nhưng cái thở ra đó hóa ra là quá sớm, bởi vì bạn thấy mình không thể tránh được kết luận khó chịu đó là những điều đã đưa Chúa Jêsus lên thập tự giá vào thế kỷ thứ nhất cũng chính là những điều hiện đang đóng đinh Ngài - do bạn - và chúng hẳn làm Đức Chúa Trời khó chịu cũng nhiều bằng đã quấy rầy Ngài vào thế kỷ thứ nhất. Nếu sự lừa dối và phản bội đã đóng đinh Chúa Jêsus vào thế kỷ thứ nhất, thì cũng chính những điều đó đang đóng đinh Ngài trong thế kỷ thứ hai mươi. Nếu những con người “tốt lành” phải chịu trách nhiệm về cái chết của Ngài vào thế kỷ thứ nhất, thì họ cũng tiếp tục đóng đinh Ngài vào thế kỷ thứ hai mươi. Bạn dễ dàng loại bỏ Đấng Christ (“không thực tế... quá ảo tưởng... đúng, đúng, nhưng Ngài phải thực tế hơn... Ngài lý tưởng quá...”), bạn từ chối coi lời Ngài là nghiêm túc đủ - chính điều đó khiến Ngài phải ở trên thập tự giá. Thập tự giá của Ngài là một sự đoán xét đối với bạn trong thế kỷ thứ hai mươi, cũng chính điều đó đã đoán xét bạn vào thế kỷ thứ nhất. Thập tự giá cho bạn biết rằng tội lỗi của bạn không phải chỉ là tội phạm với người khác, mà là phạm tội cùng Đức Chúa Trời. Cũng như tội lỗi và điều ác đã đóng đinh Chúa Cứu Thế vào thế kỷ thứ nhất, chúng liên kết để đóng đinh Ngài trong thế kỷ thứ hai mươi. Thập tự giá là sự phán xét, bất chấp bạn là ai, bất chấp nơi bạn đứng.
3. Thập Tự Giá Là Sự Giải Hòa
Nhưng không phải mọi sự đều đen tối. Những Cơ Đốc nhân đầu tiên đã nhìn thấy nhiều hơn. Nếu thập tự giá làm cho họ nhận thức rõ với sự nghiêm trọng khủng kiếp điều con người đã làm cho Đức Chúa Trời, thì thập tự giá cũng khiến họ nhận thức với sự sáng tỏ mãnh liệt điều Đức Chúa Trời đã làm cho loài người. Ngài hòa giải họ với chính mình Ngài. Thập tự giá là sự giải hòa. Và lần này, chúng ta hãy đảo ngược thủ tục của mình. Trước hết chúng ta hãy cố gắng hiểu điều được bao hàm trong ý nghĩa khó hiểu của “sự giải hòa” khi nó áp dụng vào hoàn cảnh của chúng ta và sau đó hãy xem xét cách các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã hiểu về sự giải hòa.
“Giải hòa” không phải là một từ chúng ta thường dùng trong hành lang trung học, văn phòng doanh nghiệp, hoặc phòng khách. Tuy nhiên ý tưởng về sự giải hòa là quan trọng đối với hành lang trung học, văn phòng doanh nghiệp, phòng khách. Tất cả chúng ta đều biết những người “ sống thui thủi một mình,” những ông-chủ-không-ai-ưa, những cô gái không ai mời nhảy. Đó là những người cô độc, bị phân cách với người khác, đó là điều trục trặc. Điều cần làm trong những tình huống như vậy là mối quan hệ gãy đổ cần phải được phục hồi. Sự phục hồi mối quan hệ gãy đổ này là sự giải hòa.
Bây giờ chúng ta hãy nói cụ thể hơn:
Bạn và Joe có xung đột.
Hơn nữa rõ ràng chính là do lỗi của bạn. Vấn đề của bạn là làm thế nào có lại mối quan hệ tốt đẹp với Joe, hay nói cách khác làm thế nào để đem lại sự hòa giải? Rõ ràng việc này cũng không thể được mua chuộc bởi bạn. Sẽ là không đủ khi tặng cho Joe một món quà đắt tiền (mặc dầu hành động này có thể không bị bỏ ra ngoài). Thậm chí sẽ là không đủ để bạn “dốc toàn lực” và trở nên tử tế với Joe hơn bình thường bởi vì “tử tế hơn mức cần thiết” là một điều mâu thuẫn trong các mối quan hệ bạn bè.
Thực tế của vấn đề là mối quan hệ gãy đổ sẽ không bao giờ được hàn gắn chỉ từ phía của bạn. Thậm chí khi bạn làm cho Joe động lòng thương xót và xin anh ta sự tha thứ cũng không giải quyết được toàn bộ vấn đề. Bởi vì quyết định phải đến từ phía người đã bị đối xử sai - tức là Joe. Anh ấy phải sẵn lòng tha thứ và chịu lấp khoảng trống do hành động sai trái của bạn gây ra.
Điều này có lẽ cũng là một việc khó cho anh ta thực hiện. Anh ta sẽ phải hạ mình, nuốt đi sự kiêu hãnh, và có thể thậm chí đau khổ để chứng tỏ một cách tích cực rằng anh ta chấp nhận bạn không có ý xấu và chỉ mong ước được làm bạn với bạn.
Câu chuyện trên không ngoài mục đích cho chúng ta một gợi ý, một manh mối mờ nhạt về mối quan hệ bị gãy đổ giữa Đức Chúa Trời và chúng ta và cách nó được phục hồi. Bạn phải thực hiện cho được mối nối cần thiết. Chúng ta cũng giống như vậy, bị phân rẽ với Đức Chúa Trời do hậu quả việc làm sai trái của chúng ta, chứ không phải của Ngài. Chúng ta không thể góp nhặt công trạng ở trước mặt Chúa bằng cách làm “hơn những gì chúng ta phải làm,” bởi vì về mức độ mà chúng ta phải yêu kính Chúa thì không có giới hạn. Hành động quyết định phải là do nơi Ngài. Và Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng quyết định đã được thực hiện bởi Ngài rồi, đó là Ngài đã đến gặp gỡ chúng ta qua Đức Chúa Jesus Christ bởi hành động ra đi, tình yêu hòa giải. Và thập tự giá, hết sức cụ thể và hết sức rõ ràng, cho chúng ta thấy rằng tình yêu “phải trả gía.” Đức Chúa Trời yêu thương đủ để trả cái giá bằng thập tự để chúng ta được phục hòa lại với nhau. Công việc của chúng ta là phải chấp nhận sự ban cho này, là điều chúng ta không xứng đáng.
Bây giờ, giả sử bạn là Cơ Đốc nhân trong thế kỷ đầu tiên. Như bạn thấy bạn cần phải được giải hòa với Đức Chúa Trời. Mối quan hệ bị gãy đổ cần được khôi phục. Và bạn khám phá rằng Phaolô đã gom toàn bộ sự việc vào trong một lời tuyên bố quả quyết: “Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ làm cho thế gian làm hòa với Ngài.” (IICo 2Cr 5:19). Điều đó nói đến tình huống của bạn! Bởi vì bạn biết rõ rằng bạn không thể thực hiện việc giải hòa. Không điều gì bạn có thể làm đủ để “bồi thường” cho Đức Chúa Trời vì điều sai trái bạn đã làm. Nhưng bây giờ bạn biết Đức Chúa Trời đã thực hiện việc giải hòa, và Ngài làm điều đó “qua Đấng Christ.” Bây giờ khi nhận biết Đấng Christ và nhìn xem Ngài là hành động hòa giải quyền phép của Đức Chúa Trời, một điều nữa trở nên rõ ràng đối với bạn.
Bạn đến chỗ hiểu ra rằng tình yêu hòa giải thuộc loại này là tình yêu chịu khổ tình yêu chịu khổ, cam chịu thay cho ai đó - là cái được gọi là “sự chịu khổ thay.” Và rồi bạn nhớ đến những câu Kinh Thánh nói về “Người Tôi Tớ Chịu Khổ” trong phần sau của sách Êsai. Bạn nhớ rằng trong những câu ấy một người tôi tớ, là người không có hình dung rõ ràng, đã tự nguyện gánh lấy trên chính mình sự đau khổ mà đáng lẽ dành cho những kẻ làm khổ Ngài. Họ đã đến chỗ nhận biết điều Ngài đã làm và họ nói:
Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã bị tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc; ai theo đường nấy: Đức Giêhôva đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người (EsIs 53:4-6).
Đó chính là sự chịu khổ thay thế! Khi bạn suy gẫm những lời này, bạn thấy trong đó một sự mô tả kỳ diệu đúng với bạn khi bạn chăm xem thập tự giá của Đấng Christ. Điều này cũng đúng với Ngài: Ngài đã chịu khổ thay cho bạn. Ngài đã bằng lòng trả cái giá hành động sai trái của bạn, và Ngài đã làm điều đó một cách tình nguyện - vì yêu bạn. Ngài đã phá đổ những sự ngăn trở giữa Ngài và bạn. Những hàng rào mà bạn đã dựng nên. Ngài đã thực hiện việc giải hòa. Tiếp nhận điều đó hay không hoàn toàn tùy thuộc nơi bạn.
Chúng ta không bao giờ có thể hiểu thấu đáo huyền nhiệm sự giải hòa giữa Đức Chúa Trời và loài người. Nhưng ít nhất chúng ta cũng có thể hiểu rằng trung tâm của mọi sự chính là Đức Chúa Trời của tình yêu chịu khổ. Chúng ta có thể có được sự nhận biết vô cùng mạnh mẽ rằng Đức Chúa Trời đã quí trọng chúng ta hầu như quá đáng. Vì yêu thương chúng ta nhiều đến mức ấy , Ngài đã phó chính mình Ngài cho chúng ta.
4. Thập Tự Giá Là Sự Chiến Thắng
Giả sử (lần cuối cùng trong chương này) bạn là một trong những Cơ Đốc nhân đầu tiên. Không một giây phút nào bạn nhìn xem thập tự giá như là “sự thất bại của Đức Chúa Trời” hoặc một điều gì tương tự như vậy. Đối với bạn, thập tự giá được nhìn trong ánh sáng phục sinh là một chiến thắng thật thu hút của Đức Chúa Trời - là “tin tức ngạc nhiên” làm thay đổi mọi sự. Bạn gật đầu đồng tình khi nghe đọc lời tóm tắt của Phaolô trong buổi nhóm Chúa nhật về những việc có tầm quan trọng chính yếu đối với niềm tin của bạn (CoCl 2:8-15), kết thúc bằng những lời “Ngài (Đức Chúa Trời) đã truất bỏ các quyền cai trị cùng các thế lực, dùng thập tự giá (Chúa Jêsus) chiến thắng chúng nó , và nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ.” (câu 15, bổ sung in nghiêng). Bạn nhận biết một cách hết sức sâu sắc rằng đây chính là điều đã xảy ra tại thập tự giá. Tại đó bạn nghĩ đến “các quyền cai trị cùng các thế lực” ( Phaolô hàm ý các thế lực của điều ác) đang ở trong một cuộc chiến chí tử với quyền lực của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời “đã đắc thắng chúng.”
Nói cách khác, bạn thấy rằng có điều gì đó có ý nghĩa lâu bền đang diễn ra trên ngọn đồi ngoài thành Giêrusalem đó. Dầu thật khó diễn tả, bạn phần nào có được cảm nhận rằng đây là điều quan trọng hơn hết. Bạn nhìn xem thập tự giá như một bãi chiến trường. Một bên là các thế lực của điều ác, tội lỗi và sự chết, chắc rằng bây giờ chúng đã “dồn được Đức Chúa Trời vào tình huống khó khăn” bởi vì Ngài đã dại dột hết sức tạo lợi thế cho chúng bằng việc trở thành con người. (Phaolô nói rằng “Vì sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa Trời, thảy đều ở trong Đấng ấy” (Chúa Jêsus), 2:9) và phía bên kia là Đức Chúa Trời. Nếu Ngài có thể chịu đựng được cuộc tấn công này dựa trên sức mạnh của Ngài, thì không điều gì có thể đánh bại Ngài.
Và bạn hơi nghẹn thở khi nghĩ về tầm quan trọng choáng váng của cuộc xung đột này, cho đến khi bạn nhớ rằng, như Phaolô đã nói, Đức Chúa Trời “đã chiến thắng chúng.” Bạn thấy rằng mão gai là một chiếc mão thật sự - chiếc mão duy nhất mà “một vị vua” như Chúa Jêsus mới có thể đội được - và Ngài đã chiến thắng từ đầu đến cuối, bất chấp sự yếu đuối mà chiếc mão tượng trưng. Bạn hãy nhìn xem thập tự giá qua sự phục sinh, chia sẻ sự đắc thắng đã được giành lấy với một giá thật đắt. Bạn sống trong một thế giới là thế giới của Đức Chúa Trời, hiện bây giờ cho đến mãi mãi. Chiến thắng của Ngài là điều chắc chắn.
Giả sử (cũng là lần cuối cùng trong chương này) bạn hiện nay là một Cơ Đốc nhân của thế kỷ thứ hai mươi. Kiểu nói chuyện lạ lùng này và loại ý niệm lạ lùng hơn này có được ý nghĩa gì đối với bạn không? Càng suy nghĩ về điều đó nó lại càng lạ lùng. Bởi vì bạn nhớ rằng bạn sống trong một thế giới nơi điều ác là một thực tại tồi tệ và nơi điều ác dường như đang thách thức Đức Chúa Trời. Bạn trở nên hết sức quả quyết rằng hoặc Đức Chúa Trời chiến thắng hoặc điều ác chiến thắng là vấn đề hết sức quan trọng. Khi suy nghĩ về điều này, bạn nẩy ra ý tưởng có một thời điểm trong mỗi cuộc chiến, trước khi toàn bộ cuộc chiến kết thúc, là lúc ta biết rõ bên nào sẽ chiến thắng. Như bạn đã biết trong Thế Chiến II, sau khi quân Đồng Minh đã giành được một vị trí đổ quân an toàn tại lục địa Âu châu, thì rõ ràng là họ sẽ đánh bại Đức Quốc Xã. Chiến thắng dứt khoát đã giành được, mặc dầu những tháng chiến đấu vẫn còn trước mặt.
Điều này giúp bạn hiểu thế nào thập tự giá hiện vẫn là sự chiến thắng, sau mười chín trăm năm, trong một thế giới, nơi cuộc đọ sức giữa Đức Chúa Trời và điều ác vẫn chưa kết thúc, cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn. Bởi vì thập tự giá là chiến thắng quyết định, là vị trí đầu cầu đã được xác lập, sự kiện tỏ rõ ai đã giành chiến thắng cuối cùng. Bạn hãy cứ vững tin. Bởi vì ở tại đây, điều ác đã có được cơ hội tốt nhất để đánh bại Đức Chúa Trời - song vẫn không thể làm được. Đây là đức tin nâng đỡ bạn trong những giờ tối tăm, để kêu gọi bạn hãy hành động khi những lợi thế dường như chống lại bạn dồn dập, để giúp bạn tin cậy và hy vọng. Để bạn đặt lòng tin nơi chiến thắng cuối cùng của Đức Chúa Trời.
Vì vậy, nếu điều này là đúng, thì không lạ gì Cơ Đốc nhân ở mọi thời đại đều nhìn xem thập tự giá không phải là một biểu tượng của sự sỉ nhục và tuyệt vọng, mà là một biểu tượng của sự tôn cao và đắc thắng. Điều này từ trước đến nay là một chiến thắng. Thập tự giá hiện nay là sự đắc thắng của Đức Chúa Trời. Chúa Cứu Thế là Đấng chiến thắng. Ngài trị vì với tư cách Chúa của sự sống.
Chỗ sọ đã trở thành ngai vua
Chương 11: Một Sự Đe Dọa
(Tại Sao Có Điều Ác? )
Chúng ta hay nghe nóivề một Đức Chúa Trời nhân từ.
Một Đức Chúa Trời toàn năng.
Một Đức Chúa Trời yêu thương con cái Ngài.
Dường như với một Đức Chúa Trời như vậy, thế giới phải là một nơi rất tốt đẹp để sống. Nhưng có một vấn đề...
Nhận biết rõ tình cảnh của chúng ta
Điều quan trọng là phải nhận biết vấn đề này trong toàn bộ sự rõ ràng của nó. Có thể lời bày tỏ sau đây làm rõ vấn đề:
43 trẻ em bị thiệt mạng trong một tai nạn xe đưa đón học sinh
Một chiếc xe buýt chở 43 học sinh đã rơi thẳng xuống sông Yellow River đêm hôm qua khi phần giữa của chiếc cầu sụp đổ dưới sức nặng của chiếc xe buýt. Hôm nay, mọi hy vọng tìm thấy các em đã bị từ bỏ. Những tay thợ lặn đã tìm được xác của tất cả trừ 5 em.
Vì sao Đức Chúa Trời lại để điều đó xảy đến với những đứa trẻ vô tội?
ĐIỆN BÁO
Bộ Quốc phòng đau buồn xin thông báo cho bà: chồng bà, Hạ sĩ quan Ralph số quân 0021311729 đã hy sinh trong chiến đấu vào ngày 23 tháng 4. Tinh thần chiến đấu dũng cảm của ông để bảo vệ ngọn đồi 203 sẽ luôn được tưởng nhớ bởi các đồng đội. Thông tin thêm sẽ được chuyển tiếp bằng thư.
Liệu người vợ và hai đứa con của bà có còn đặt lòng tin nơi một Đức Chúa Trời yêu thương không?
(Nhạc nhỏ dần ) và bây giờ là bản tin sáu giờ. Đây là bản tường trình chúng tôi mới nhận được từ Ấn độ. Nạn đói tồi tệ nhất trong lịch sử Ấn độ nay đã trở nên một thực tế tàn nhẫn. Các quan chức không thể đẩy lùi được những kẻ nổi loạn đang cướp bóc các kho lúa địa phương đòi lương thực cho các gia đình. Ở một số địa phương, cảnh sát phải buộc phải bắn vào đám đông.
Bạn đã thử dùng Kleeno chưa? Một loại chất tẩy vạn năng làm cho mọi thứ trắng hơn!
Liệu những người Ấn độ có tin rằng Đức Chúa Trời là Cha của mọi người không?
Chúng tôi đã sống 39 tháng trong trại tập trung. Trong suốt thời gian này cha tôi đã chết vì đói, còn mẹ tôi thì chết trong một phòng hơi độc. May thay anh tôi đã bị bắn chết trong khi chúng tôi trốn thoát, nhờ vậy đã thoát được những nỗi kinh hoàng đó. Tôi đã được lên lịch cho đội hành quyết vào ngày thứ ba. Nhờ sự giải phóng đến vào thứ hai mà tôi đã thoát chết. Tôi không hiểu làm thế nào mà người ta có thể...
Tại sao Đức Chúa Trời lại cho phép những điều như vậy lại xảy ra?
Không Đức Chúa Trời, Không Nan Để
Bất cứ Cơ Đốc nhân hiệu quả nào cũng đều phải đối đầu với sự thật rằng những điều này thường xảy ra - trong thế giới của Đức Chúa Trời. Chúng làm cho nhiều người khó mà, nếu không nói là không thể, đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời.
Đồng thời, có một nan đề ngược lại mà những người từ chối đặt lòng tin nơi Chúa bởi nan đề điều ác phải đối mặt. Nếu có Đức Chúa Trời, thì không có “nan đề” điều ác. Nghĩa là, nếu chúng ta sống trong một vũ trụ vô mục đích và không có ý nghĩa, chúng ta không có quyền đòi hỏi thái độ đàng hoàng và ngay thẳng cũng như sự thật phải thắng hơn, và sự đê tiện, sự đau khổ và điều ác thì không được thắng thế. Có thể có những điều chúng ta không “thích,” nhưng chúng ta không thể đòi chúng “không được” có mặt, hoặc chung qui chúng là một “nan đề.” Chúng chỉ là “cách mọi việc vẫn xảy ra,” trong một vũ trụ trung tính về mặt đạo đức.
Vì vậy, hãy để ý - đây chính là điều thật sự gây khó khăn cho các Cơ Đốc nhân - rằng bạn cần tin chắc nơi một Đức Chúa Trời nhân từ, yêu thương, và quyền năng, thì vấn đề điều ác càng gây ra nhiều cuộc tranh luận. Nếu thật sự có một Đức Chúa Trời như vậy, tại sao điều ác vẫn mạnh mẽ như thế. Và nếu bạn coi Tân Ước là nghiêm túc, thì bạn thậm chí gặp phải một tình huống tồi tệ hơn đó là chính Con Đức Chúa Trời dường như vô quyền khi chống lại điều ác. Điều ác đã hành hình Ngài. Khái niệm về Đức Chúa Trời của bạn càng cao, thì vấn đề lại càng tồi tệ hơn. Nếu không có Đức Chúa Trời, vấn đề thôi tồn tại như một “nan đề;” nếu có một Đức Chúa Trời, thì tình huống dường như không thể dung chịu được.
Dọn dẹp Các Tầng Cây Thấp
Điều quan trọng, trong việc xử lý vấn đề phức tạp này, là phải bỏ một số những câu trả lời sai trật nếu chúng ta muốn hiểu những câu trả lời đúng.
Sách Gióp bàn đến vấn đề này một cách đặc biệt. Trong phần mở đầu của vở kịch mang tính tôn giáo này, Đức Chúa Trời đồng ý rằng Gióp có thể bị thử thách xem thử đức tin của ông có đứng vững được trong hoàn cảnh gay go không.
Sự thử thách được tiến hành:
1) Gióp được tin các bầy súc vật đông đảo của ông đã bị bắt và giết chết.
2) Sau đó Gióp hay rằng cùng số phận ấy đã đổ xuống đầu các tôi tớ ông.
3) Một sứ giả đã báo cáo rằng các con trai và con gái của ông đều chết hết.
4) Không bao lâu sau khi hay được những tin đó thì thân thể ông bộc phát những chỗ đau khủng khiếp, xấu xí.
Vợ ông bảo bây giờ sao ông không “rủa sả Đức Chúa Trời và chết đi.” (nhân đây cũng xin nói vợ ông rất buồn bực khó chịu vì bà vẫn còn sống trong khi tất cả những người còn lại trong gia đình đều bị chết hết, có lẽ là thử thách lớn nhất Gióp phải đối mặt.”
Đây không phải là những nan đề mới, cũng không phải là những nan đề cũ. Sách Gióp hiện đại có thể được viết ra, trong đó Gióp hay tin trong vòng 10 phút (a) nhà ông đã bị cháy rụi (b) tiền ông trong nhà băng đã mất sạch, (c) con trai ông đã hy sinh ở chiến trường, (d) con gái ông đã chết trong một tai nạn ô tô, và bây giờ ở giữa tất cả những điều đó (e) ông phát hiện mình mắc chứng bại liệt. Ông cũng sẽ hỏi câu hỏi mà Gióp đã thắc mắc: “Vì sao điều này xảy đến cho tôi?”
Ba “người bạn” (dấu ngoặc kép được sử dụng một cách thận trọng) đến để cho Gióp câu trả lời thẳng thắn, chân thật. Phần lớn sách Gióp được dành cho các lời luận của họ với Gióp, trong lúc bàn luận, rõ ràng là tác giả muốn cho thấy sự kém thiếu trong các câu trả lời “của những người bạn.” Chúng ta hãy xem xét hai trong số những giải pháp bị bác bỏ.
1) Chủ đề chính của những người “bạn” là mọi đau khổ đều là hậu quả của tội lỗi . Nếu bạn “tốt lành,” mọi sự sẽ ổn cả. Nhưng nếu bạn “xấu xa” bạn sẽ bị trừng phạt. Với luận điểm đó, mỗi người “bạn” đều tìm cách đưa ra một góp ý.
ÊLIPHA : Ông hãy suy xét lại, nào bao giờ có kẻ vô tội bị hư mất?
Đâu có người ngay thẳng lại bị trừ diệt?
Theo điều tôi thấy ai cày sự gian ác ,
Và gieo điều khuấy rối , thì lại gặt lấy nó .
(Giop G 4:7, 8)
BINH ĐÁT : Kìa Đức Chúa Trời chẳng từ bỏ người trọn vẹn.
Cũng không giúp đỡ kẻ hung ác .
(8:20)
SÔPHA : Sự thắng hơn của kẻ ác không có lâu,
Và sự vui mừng của kẻ vô đạo chỉ một lúc mà thôi .
(20:5).
Đây là một công thức dễ chịu. Trên giấy tờ, nó có vẻ ổn.
Sự Tốt Lành = Sự Thạnh Vượng.
Sự Xấu Xa = Đau Khổ.
Chỉ còn lại một câu phải hỏi: có đúng như vậy không? Sách Gióp chứng tỏ điều đó không đúng. Vấn đề chính xác Gióp là một người “tốt lành” nhưng số phận của ông không thịnh vượng, mà là đau khổ. Các “bạn” của Gióp chỉ có thể giải quyết vấn đề này bằng cách phủ nhận lòng tốt của Gióp tồn tại. Bởi vì điều xấu xa = đau khổ. Gióp phải là người xấu. Chấm hết. Loại bỏ vụ việc này. Nhưng sách Gióp trình bày ông là một người công bình ngay thẳng. Nói cách khác, nguyên tắc này không phải lúc nào cũng đúng. Diễn đạt theo cách bây giờ, việc một người giàu có không nhất thiết hàm ý Đức Chúa Trời ban phước cho người ấy. Có thể vì anh ta đã tìm cách trốn thuế lợi tức. Việc một người nghèo khó không nhất thiết nghĩa là người ấy gian ác. Có thể người ấy quá ngay thẳng không chấp nhận hối lộ. Nguyên tắc này không phải luôn luôn đúng.
Nhưng điều thật sự làm suy yếu lập luận của “các bạn” Gióp, là việc chịu khổ của người “vô tội.” Có phải một đứa trẻ đói khát ở tại Ấn độ “tội lỗi” hơn là một đứa bé ở Hoa Kỳ được nuôi ăn đầy đủ, đứa trẻ mà bố nó kiếm được 10.000 đôla một năm không? Có phải những đứa trẻ bị giết chết ở tại Triều Tiên “tội lỗi” hơn những đứa trẻ ở tại Hoa Kỳ, là những đứa sống sót được hoàn toàn do chiến tranh thực sự đã xảy ra ở đó chứ không phải ở đây?
Hơn nữa nếu bạn coi quan điểm này là nghiêm túc thì bạn bất chấp nguy hiểm của việc làm cho tôn giáo không là gì ngoài một chính sách bảo hiểm dẫn đến nhiệt tình khổng lồ siêu phàm: “Hãy sống tốt để Đức Chúa Trời ban thưởng, bởi vì nếu bạn không tốt lành, chắc chắn Ngài sẽ trừng phạt bạn - bạn không muốn bị trừng phạt, phải không?
2) Một trả lời khác mà “các bạn” của Gióp muốn thử nghiệm đó là Đức Chúa Trời sai hoạn nạn đến để giúp chúng ta “tăng trưởng .”
Sự chịu khổ là một điều tốt, bởi vì nó dạy chúng ta nương cậy nơi Đức Chúa Trời và chúng ta đừng bao giờ thắc mắc các đường lối của Ngài.
ÊLIPHA: Người mà Đức Chúa Trời quở trách lấy làm phước thay!
Vậy chớ khinh sự sửa phạt của Đấng Toàn Năng .
(5:17)
Quan điểm này cũng được đưa ra chỗ khác trong Kinh Thánh: “Vì Đức Giêhôva yêu thương ai thì trách phạt nấy như một người cha đối cùng con trai yêu dấu mình” (ChCn 3:12 và xem HeDt 12:7).
Lập luận này có ý nghĩa rõ ràng hơn là lập luận trước. Đúng là người cha có thể kỷ luật con trai mình vì yêu thương, để đứa con ấy có thể lớn lên và trưởng thành. Tuy nhiên một quan điểm như vậy, được chấp nhận như là một giải pháp thích đáng cho nan đề điều ác, có thể trở thành một công cụ để “bào chữa” cho điều ác và thôi quan tâm đến điều ac. Hãy lưu ý những cực đoan mà quan điểm ấy có thể dẫn chúng ta đến.
“Được rồi vậy là nó bị gãy chân. Đừng nắn lại xương. Cơn đau sẽ uốn nắn tâm tánh của nó.”
“Không cần phải có một bệnh viện ở đây. Người ta “trưởng thành” nhờ chịu khổ.”
“Vì sao lại phải dọn dẹp khu ổ chuột ấy cho phiền? Những đứa trẻ này sẽ có cá tánh hơn nếu chúng lớn lên trong một khu xóm khổ cực.”
Không một con người biết suy nghĩ nào lại đồng ý với những phát biểu nói trên. Tuy nhiên chúng sẽ kéo theo sự thoải mái tai hại nếu bạn đồng tình, quá hấp tấp, với quan điểm cho rằng việc chịu khổ uốn nắn tâm tánh và vì vậy được cho là đúng.
Như vậy trong cả hai cách trả lời của “các bạn” Gióp, chỉ đủ chân lý để làm cho chúng là những đề nghị đầy mạo hiểm. Chắc chắn có những trường hợp việc chịu khổ đúng là do sự trừng phạt tội lỗi và cũng có trường hợp việc chịu khổ mang tính kỷ luật.
Bạn gặp khó khăn khi bạn thay thế “tất cả” cho “một số.”
Một Số Tầng Cây Thấp Nữa .
Hiện nay đang có sẵn những phương cách khác để giải quyết nan đề điều ác. Hầu hết những cách giải quyết này thậm chí còn kém thỏa mãn hơn là những phương cách của “các bạn,” Gióp. Chúng ta phải cẩn thận đừng để bị bán cho một tờ hóa đơn hàng giả về những vấn đề như sau.
Có những người tuyên bố rằng mọi đau khổ đều đến từ Đức Chúa Trời . Đây là một lối giải thích hoàn toàn hiểm độc, hơn cả quan niệm cho rằng mọi đau khổ đều là sự trừng phạt của tội lỗi. Nếu chúng ta bảo rằng mọi đau khổ đều đến từ Đức Chúa Trời, chúng ta tiếp tục làm cho Ngài phải chịu trách nhiệm về điều ác theo cách biến Ngài thành một loại quỉ đáng sợ, hoàn toàn có khuynh hướng hủy phá hơn là tạo dựng. Chúng ta cũng tạo cho chính mình một phương thức dễ chịu để trốn tránh trách nhiệm:
THẨM PHÁN (ở phần kết thúc một vụ án giết người ): Vì cố tình và có chủ ý bóp cổ nạn nhân đến chết, bằng một hành động tội ác được mưu tính trước, anh phải chịu án tử hình trên ghế điện. Anh có gì nói thêm để bào chữa cho mình không?
TÙ NHÂN: Đúng. Chúa đã làm cho người ấy đau khổ, không phải tôi, đây là thế giới của Ngài, không phải tôi. Tôi không phải chịu trách nhiệm về những gì Ngài khiến tôi làm. Ông là ai mà chất vấn Chúa? Tôi không làm bất cứ điều gì sai trái. Tôi phải được thả tự do.
(Tù nhân đi ra , vật lộn với những lính gác , không biết rằng để được nhất quán hắn cũng phải công nhận rằng Đức Chúa Trời đã định sự chịu khổ của hắn .)
Nếu bạn là quan tòa, bạn khó mà để cho lập luận “mọi đau khổ đều đến từ Đức Chúa Trời” thông qua dễ dàng.
Đôi khi, người ta còn cho rằng điều ác là một ảo tưởng - có nghĩa là điều ác thật sự không hề tồn tại. Rõ ràng là chỉ có một kẻ rắc rối, cạn cợt mới có thể coi một lời tuyên bố như vậy là nghiêm túc. Hãy thử đi một chuyến đến bãi chiến trường, phòng cấp cứu, hoặc một nhà thương tâm thần, cũng sẽ đủ để xua tan ảo tưởng cho rằng điều ác là một ảo tưởng. Hoặc, theo một cách nói nhẹ nhàng hơn, bài thơ hài hước gồm 5 câu nỗi tiếng sau đây có thể diễn tả:
Có một kẻ chữa lành bằng đức tin đến từ Deal
Kẻ ấy bảo: “Mặc dầu nỗi đau không có thật
Khi tôi ngồi trên một cái đinh và nó đâm lủng da tôi,
Tôi không thích điều tôi tưởng tượng mình cảm nhận.”
Một lập luận phức tạp khác nữa đó là điều ác cần thiết cho “ích lợi toàn bộ .” Một âm điệu chói tai trong một bài nhạc giao hưởng có thể rất khó chịu nếu nghe riêng lẻ, nhưng khi được nghe vào thời điểm thích hợp trong một bản giao hưởng, nó đóng góp sự tương phản cho khúc nhạc tuyệt vời sắp sửa được nghe, làm cho đoạn nhạc sau trở nên hay hơn bao giờ. Nếu quan điểm này là đúng, thì không có động cơ đích thực để trừ khử điều ác. Loại bỏ âm hưởng chói tai sẽ làm hỏng bản giao hưởng, loại bỏ điều ác sẽ làm hỏng sự quân bằng lớn hơn của toàn bộ. Đây là một quan niệm không coi con người với tư cách con người là quan trọng. Bạn có thực lòng cho rằng có ai đó chết vì lao phổi hoàn toàn là để đóng góp cho “sự ích lợi của mọi người” không?
Sau cùng, một số người sẽ chứng minh điều ác là hợp lý trên cơ sở mọi sự cuối cùng rồi sẽ tốt đẹp . Những người chịu khổ sẽ có được phần thưởng trên thiên đàng. Ở đây một lần nữa, tôn giáo trở nên hoàn toàn là một phần thưởng dành cho những người “dễ thương” và một lần nữa lập luận này khiến cho việc hết sức vô tâm đối với điều ác trên thế giới này là điều có thể được. (“Hãy để họ chịu khổ ít năm, họ có cả cõi đời đời để được hạnh phúc.”) Nhưng chúng ta sẽ nói thêm vấn đề này ở Chương 17.
Một Vài Cách Trả Lời Thông Thường
Cho đến nay, dường như mọi điều con người thường nghĩ về nan đề điều ác đều sai lầm cả. Nhưng trên thực tế, người ta cũng đã suy nghĩ rất nhiều điều có lý về nan đề của điều ác. Trước khi chúng ta chuyển sang một số những câu trả lời cụ thể của Kinh Thánh cho nan đề này, ở chương kế tiếp, cũng nên ghi nhận một số những điều mà lẽ thường vẫn hay nói. Vì vậy ở đây có bốn yếu tố mà khi cùng xem xét với nhau, ít ra cũng soi rọi phần nào cho nan đề của chúng ta.
1) Sự tồn tại của những định luật đáng tin cậy . Nếu luật sức hút thình lình “bị thu hồi,” cuốn sách này sẽ bay lên trần nhà trong khi chiếc ghế bạn đang ngồi vụt ra khỏi cửa sổ. Bạn có thể không đứng lên được sau khi đã ngã xuống. Chiếc xe buýt ở bên ngoài có thể không chịu xê dịch hoặc chỉ chạy thụt lùi. Mọi sự đều hỗn loạn. Không có gì là vững bền, đáng tin cậy, hoặc có thể đoán trước được.
Sự kiện những điều như vậy không xảy ra, rằng có những định luật đáng tin cậy, giúp cho đời sống con người khả thi. Điều đó có nghĩa là một số điều ác có thể được giải thích phần nào do có những trường hợp chúng ta đã bất chấp các định luật đó hoặc đặt chính mình vào những tình huống khiến các luật ấy chống lại chúng ta thay vì giúp đỡ chúng ta. Sẽ là hoàn toàn hỗn loạn cho mọi người nếu Đức Chúa Trời đình chỉ luật vạn vật hấp dẫn trong năm phút bởi vì miếng đệm cửa sổ trên tầng lầu thứ sáu mươi tư sẽ quay mòng mòng và rơi khỏi bậu cửa sổ.
Có một gợi ý về cách tiếp cận này qua những lời của Chúa Jêsus rằng Đức Chúa Trời “làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Mat Mt 5:45). Vũ trụ chúng ta đang sống được sắp đặt cách nhất định bởi Đức Chúa Trời, chúng ta không có quyền gì đòi hỏi Ngài phải sắp xếp mọi sự cho mình nếu chúng ta tình cờ đi ngược lại các mục đích của Ngài hoặc vi phạm những định luật Ngài đã thiết lập.
2) Tính cần thiết của sự rủi ro . Hầu như mọi niềm vui trong cuộc sống đều kéo theo yếu tố rủi ro. Bạn phải chấp nhận những rủi ro để kinh nghiệm những vui mừng.
Nếu kết bạn, bạn phải chấp nhận nguy cơ người bạn ấy có thể lừa dối mình. Dầu vậy bạn vẫn chấp nhận rủi ro ấy để có một người bạn.
Nếu bạn yêu, bạn chấp nhận nguy cơ có thể bị tổn thương. Người bạn yêu có thể không đáp lại tình yêu của bạn, hoặc cô ta có thể bỏ rơi bạn vào phút chót vì một người khác. Nhưng dường như mọi người đều đồng ý rằng tình yêu xứng đáng với những rủi ro.
Nếu kết hôn và có con cái, bạn phải chấp nhận điều rủi ro là con bạn có thể ghét bạn hoặc có thể lớn lên trở thành một tên ác ôn cướp nhà băng. Nhưng cha mẹ vẫn chấp nhận những nguy cơ của việc có con cái, bởi vì họ thà có con cái với những rủi ro, còn hơn là từ bỏ niềm vui ấy.
Càng yêu sâu xa chừng nào, chúng ta càng có thể bị tổn thương sâu sắc chừng nấy, tuy nhiên, chúng ta sẽ không từ bỏ những niềm vui của tình yêu vì muốn tránh những nguy cơ tổn thương có thể xảy ra.
3) Những giá trị trong việc chịu khổ . Nếu chúng ta không tìm cách đẩy vấn đề đi quá xa, chúng ta có thể thấy rằng đôi khi có những giá trị có điều kiện trong việc chịu khổ. Trong một số trường hợp, việc chịu khổ có thể là một phương tiện để phát huy tinh thần trách nhiệm. Một người nhìn thấy những bất hạnh, đói nghèo hoặc tình trạng thất nghiệp của con người, có thể được cảm thúc để làm điều gì đó tích cực và hữu ích để sửa lại những sai trái này. Và có nhiều trường hợp sự đau khổ đã làm sâu đậm thêm lòng thương cảm và hiểu biết của những người đã từng trải sự chịu khổ. Người phụ nữ đã mắc chứng bại liệt, và vật lộn trong đau đớn để có được một loại tự chủ và lòng thương cảm mà Chúa ban, thường làm được nhiều điều để giúp người khác trong hoàn cảnh tương tự hơn là những người chưa bao giờ thực sự biết loại đau đớn này một cách trực tiếp. Cô ấy có thể làm điều đó chính xác là vì bản thân cô đã chịu khổ cách cùng cực.
4) Sự thực về sự tự do và tội lỗi của loài người . Điềụ quan trọng cần phải nhớ rằng phần lớn điều ác và sự đau khổ là do chúng ta đã lạm dụng chính sự tự do của mình, vì vậy không thể nào qui gán trực tiếp cho Đức Chúa Trời được. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta tự do để lựa chọn Ngài hoặc từ chối Ngài, tự do để sống theo ý muốn của Ngài, hoặc từ chối ý muốn của Ngài và sống theo ưa thích của mình. Sự tự do của chúng ta có trong nó tội lỗi tiềm ẩn của chúng ta, và tội lỗi chúng ta có trong nó sự làm bại hoại con đường mà Đức Chúa Trời đã dự định cho chúng ta phải sống. Tuy nhiên, nếu chúng ta không có sự tự do này, chúng ta chỉ là những con rối lắc lư trên một sợi dây, hoặc những người máy bị hệ thống máy móc điều khiển. Hoàn toàn vô quyền để nói gì về điều mình đã làm hoặc trở thành của chúng ta. Nhưng bởi vì chúng ta có sự tự do đó, nên không có cách nào để trốn tránh trách nhiệm mà bảo rằng chính lỗi của Đức Chúa Trời nếu chúng ta lựa chọn sai lầm và gặp phải khó khăn. Đây là cái giá mà chúng ta phải vui lòng trả cho món quà của sự tự do. (Xem thêm ở Chương 13).
Bốn yếu tố này khi được xem xét cùng với nhau, soi sáng phần nào cho câu hỏi: Vì sao có điều ác trong thế giới của Đức Chúa Trời? Nhưng bây giờ, chúng ta phải thử một “cách trả lời” đầy đủ hơn bằng cách xem xét trực tiếp cách giải quyết nan đề này của Kinh Thánh.

Chương 12: Đối Đầu Với Sự Thật Xấu Xa
(Đức Chúa Trời Làm Gì Đối Với Điều Ac? )
Giêrêmi không phải là một con người hết sức thận trọng. Khi người ta nói ra những câu mộ đạo sáo rỗng, ông thẳng thắn quở trách họ. Khi cảm thấy Đức Chúa Trời thiên vị, ông cũng nói lên điều đó. Vào thời của Giêrêmi, niềm tin cho rằng Đức Chúa Trời thưởng thiện phạt ác là một điều “đúng đắn.” (Còn nhớ những người “bạn” của Gióp ở chương trước). Nhưng Giêrêmi không được thuyết phục. Ông thấy rằng người “thiện lành” đang bị cư xử bất công, trong khi những người “gian ác” thì lại thịnh vượng. Vì vậy ông đem trường hợp của mình đến thẳng với Đức Chúa Trời:
Sao đường lối những kẻ ác được thạnh vượng?
Sao những người gian trá được yên ổn?
(Gie Gr 12:1)
Lần sau nếu có một người hoài nghi dày dạn kinh nghiệm hỏi bạn rằng có phải Kinh Thánh có rất nhiều chuyện ảo tưởng, ủy mị, hãy nhớ câu hỏi đó. Kinh Thánh không cắt xén những vấn đề gây bối rối. Kinh Thánh đặt vấn đề một cách thẳng thắn. Kinh Thánh còn làm hơn cả điều đó (là điều mà tất cả những người hoài nghi dày dạn kinh nghiệm thường làm) Kinh Thánh trả lời các vấn đề đó. Trong chương này chúng ta phải cố gắng hiểu xem Kinh Thánh trả lời thế nào cho vấn đề mà những Giêrêmi ở mọi thời đại cảm thấy được thúc giục để hỏi.
Sự Công Chính Của Đức Chúa Trời Và Các Dân Tộc
Chúng ta không được làm ngơ hoàn toàn trước quan điểm mà Giêrêmi và Gióp đã công kích. Bởi vì quan điểm “đúng đắn” này có một ý nghĩa nào đó khi có liên hệ đến các dân tộc, mặc dầu nó có vẻ khó hiểu khi liên hệ đến các cá nhân. Chúng ta đã thấy (trong Chương 6) rằng các nhà tiên tri đã tin vào một loại “công bình khắt khe” trong khúc quanh dài của lịch sử. Họ tin rằng nếu một dân tộc cứ khăng khăng đi ngược lại ý muốn của Đức Chúa Trời công bình, thì dân tộc ấy cuối cùng sẽ bị hư mất. Dân tộc ấy không thể nào “thoát khỏi hình phạt” mãi được.
Bạn nói: được thôi, bao lâu mà bạn còn là kẻ chiến thắng và chưa bị giày đạp.
Nhưng một dân tộc bị chà đạp thì khó mà nói được như vậy...
Toàn bộ vấn đề ngoạn mục của các tiên tri là xứ sở của họ đã bị giày xéo mà họ vẫn nói như vậy. Chinh xác như vậy. Đó chính là cách họ giải thích nỗi đau khổ của chính họ chứ không phải của ai khác. Ví dụ Michê, phán về chính dân tộc mình, ông đã nói như vầy:
Vì những kẻ giàu của thành này đầy sự cường bạo , dân cư nó dùng sự nói dối và trong miệng chúng nó có lưỡi hay phỉnh phờ . Vậy nên ta đánh ngươi , làm cho ngươi bị thương nặng , và khiến ngươi hoang vu vì cớ tội lỗi ngươi .
(MiMk 6:12, 13).
Dân tộc này đang bị đánh bại, đất đai đang bị tước đoạt - hầu hết mọi người đều bị bắt đi lưu đày. Và có lẽ sự kiện đáng ngạc nhiên hơn hết của lịch sử Cựu Ước đó là thay vì giải thích tai họa của quốc gia họ như là một bằng chứng của sự thật rằng Đức Chúa Trời đã từ bỏ họ, họ có thể hiểu nó như một gương mẫu của sự kiện Chúa đã thật sự quan tâm đến họ, và đang dùng những phương tiện này để “khiến họ tỉnh ngộ,” hầu cho họ sẽ từ bỏ các đường lối gian ác và trở lại cùng Ngài. Một bài học đã được dạy cho họ với tư cách cả một dân tộc.
Với tư cách một dân tộc, phải. Nhưng nếu bạn tìm cách bảo rằng những cá nhân tốt lành luôn luôn được khen thưởng, và những cá nhân xấu xa luôn luôn bị hình phạt, thì bạn phải mang lấy những lời phản kháng mạnh mẽ của Gióp và Giêrêmi.
Vấn Đề Của Những Cá Nhân
Vậy còn về những cá nhân thì sao? Đây là thắc mắc của Habacúc:
Sao Ngài nhìn xem kẻ làm sự dối trá khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi? (HaKb 1:13)
Trong thực tế, Habacúc được truyền phải chờ đợi. Vào đúng kỳcủa Đức Chúa Trời, người công bình sẽ được minh oan. Hiện nay điều này có vẻ chưa đúng, nhưng tầm nhìn của ông bị hạn chế và ông phải có đức tin để tin rằng, cuối cùng, các mục tiêu của Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài sẽ thắng.
Đức Giêhôva đáp lại cùng ta mà rằng :
Ngươi khá chép lấy sự hiện thấy ,
và rõ rệt nó ra trên bảng ,
hầu cho người đương chạy đọc được ,
Vì sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhất định .
Sau cùng nó sẽ kíp đến , không phỉnh dối đâu ,
Nếu nó chậm trễ , ngươi hãy đợi ;
Bởi nó chắc sẽ đến , không chậm trễ .
Này , lòng người kiêu ngạo , không có sự ngay thẳng trong nó ,
Song người công bình thì sống bởi đức tin mình .
(2:2-4)
Chúng ta cũng hãy nhắc nhở mình về kinh nghiệm của Ôsê (mà chúng ta đã xem xét khá chi tiết trong Chương 5). Ôsê đã đến chỗ nhận biết rằng sự chịu khổ có thể có một giá trị chữa lành và cứu chuộc. Mặc dầu kẻ làm điều xấu phải bị trừng phạt, nhưng sự trừng phạt có mục đích. Bởi vì mặt bên kia của sự trừng phạt là sự phục hồi. Đức Chúa Trời hình phạt với mục đích đưa dân Ngài trở về với Ngài. Và điều này cũng đúng cho các cá nhân lẫn cho các dân tộc. Ôsê biết rất rõ từ kinh nghiệm của chính mình rằng sự chịu khổ không phải chỉ là sự báo thù của Đức Chúa Trời; mà nó còn có một giá trị cứu chuộc đích thực.
“Tôi Tớ Chịu Khổ”
Kinh nghiệm của Ôsê cho thấy bản thân việc chịu khổ có thể mang tính cứu chuộc, và niềm tin này đến với sự định nghĩa sắc bén nhất của nó qua khúc Kinh Thánh nằm ở phần sau trong sách Êsai, được gọi là các câu thơ về “Người Tôi Tớ Chịu Khổ” và cũng là đoạn Kinh Thánh chúng ta xem xét vắn tắt ở Chương 10. Trong các câu thơ này, bạn còn nhớ, một người “tôi tớ” đơn sơ đã tình nguyện mang lấy sự trừng phạt mà đáng lẽ chất trên những kẻ phạm tội. Đây là một loại tình yêu cao trọng tột cùng - tình yêu bằng lòng chịu khổ vì hậu quả việc làm sai trái của người khác. Điều đó cũng giống như bạn đã quật một chiếc rìu phá băng thấu vào tim đối thủ của bạn và sau đó anh của người ấy phải lên ghế điện thay chỗ cho bạn. Đây là sự chịu khổ “thay thế” - kẻ vô tội chịu khổ thay cho kẻ có tội.
Dưới đây là một ví dụ về một mức độ của việc chịu khổ “thay thế”:
Khi Kênh đào Panama được xây dựng, tỉ lệ tử vong hết sức cao giữa vòng các công nhân vì bệnh sốt vàng da. Cuối cùng dường như người ta đã chắc chắn rằng bệnh sốt vàng da được lây truyền bởi muỗi, nhưng cần phải nghiên cứu tính chất của bệnh để có thể xử lý chúng hiệu quả. Vì vậy một nhóm người đã tình nguyện để cho loại muỗi ghê gớm này đốt, hầu căn bệnh có thể được nghiên cứu kỹ lưỡng khi nó truyền khắp cơ thể họ. Một số trong những người này đã chết. Tuy nhiên, như một kết quả của việc chịu khổ và chịu chết của họ, một loại huyết thanh hiệu quả đã được chế tạo, và mạng sống của hàng ngàn công nhân được cứu. Sự chịu khổ của một vài người đã trở thành ích lợi cho nhiều người, và sự chịu khổ ấy có ý nghĩa và mục đích.
Đó là loại ý tưởng mà “Các Bài Ca Của Người Tôi Tớ” nhấn mạnh. Bản thân người tôi tớ “chẳng có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ.” Thật vậy “người đã bị người ta khinh dễ và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm” người ta che mặt họ khỏi người. Tuy nhiên họ đã nhìn thấy một điều hết sức quan trọng khi quan sát sự chịu khổ của người - người đã chịu khổ cho họ . Thái độ của họ đã thay đổi, họ bàng hoàng sửng sốt, và phải đã kêu lên:
Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết
Người vì sự gian ác chúng ta mà bị thương
Bởi sự sửa phạt người chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi người , chúng ta được lành bệnh.
(EsIs 53:5 in nghiêng là ý tác giả)
Đây là một trong những cao điểm của Cựu Ước. Việc chịu khổ mang tính cứu chuộc thay cho người khác là việc chịu khổ mà bản thân nó đã được đền bồi. Sự đau đớn và roi đòn gánh lấy một cách tình nguyện có thể đem lại sự bình an và sự chữa lành cho những người mà vì họ chúng được gánh. Thậm chí việc chịu khổ của những người vô tội còn đúng là một loại “liệu pháp gây sốc.” Nếu tôi hiểu rằng điều tôi làm đã gây đau khổ cho một con người vô tội, thì nó gây tác động xác đáng trên việc tôi có làm điều đó nữa hay không. Nó có thể khiến tôi hành động hết sức khác biệt, khi ý thức mạnh mẽ mình đã làm tổn thương người ấy như thế nào.
Câu Trả Lời Cho Gióp
Trong chương vừa qua, chúng ta đã bỏ mặc Gióp với một nan đề. (Hãy lật lại trang 145 nếu bạn quên điều đó). Ông ta nhận được câu trả lời thuộc loại nào? Đó không phải là một câu trả lời “thỏa mãn trí tuệ”; nếu chúng ta muốn một lời giải thích hợp lý bao bọc toàn bộ vấn đề điều ác trong một gói gọn gàng xinh xắn, thì tốt hơn chúng ta hãy tìm ở nơi khác. Dầu vậy, câu trả lời (Giop G 38:1-41:25) cùng với sự đáp lại của Gióp (40:3-5; 42:1-6), hợp thành một phần quan trọng của một câu trả lời đúng. Đức Chúa Trời bắt đầu bằng cách chất vấn Gióp. (Hết câu hỏi này đến câu hỏi khác). Ngài đối mặt ông bằng sự huyền nhiệm của công cuộc sáng tạo: “Khi ta đặt nền trái đất, thì ngươi ở đâu?” (38:4). Ngài tiếp tục mô tả sự kỳ diệu của công cuộc sáng tạo, và hỏi Gióp những câu hỏi về sự sáng tạo. (Hết câu này đến câu khác). Và tác dụng của các câu hỏi là để nhắc nhở Gióp rằng ông chỉ là một phần bé nhỏ trong sự sáng tạo, vậy mà ông dám cả gan đoán xét Đấng Sáng tạo. Làm thế nào mà một tạo vật đòi hỏi muốn biết tất cả những gì mà Đấng tạo hóa biết? (Hết câu hỏi này đến câu hỏi khác).
Để đáp lời trước sự công kích dữ dội (tác dụng đầy đủ của nó chỉ có được khi bạn ngồi và đọc một mạch từ đoạn 38-41), Gióp đã một lần nữa thử ngắt lời bằng cách nhận xét:
Tôi vốn là vật không ra gì sẽ đáp chi với Chúa? Tôi đặt tay lên che miệng tôi . ( 39:37)
Nhưng ý chính trong sự trả lời của ông đến sau đó:
Tôi biết rằng Chúa có thể làm được mọi sự
Chẳng có ý chỉ nào Chúa lấy làm khó lắm .
Kẻ này là ai , không hiểu biết gì lại dám che ý chỉ của Chúa?
Phải tôi đã nói những điều tôi không hiểu đến ,
Tức các sự lạ lùng quá cho tôi mà tôi chẳng thông biết ...
Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa ,
Nhưng bây giờ mắt tôi đã thấy Ngài ;
Vì vậy tôi lấy làm gớm ghê tôi ,
Và ăn năn trong tro bụi
(42:2-6 in nghiêng là ý tác giả ).
Xét ngoài mặt thì đây dường như là một “cách trả lời” không hài lòng. Không có một lối lý luận lôgic khôn ngoan nào giải quyết vấn đề một lần đủ cả. Nhưng có điều gì đó quan trọng hơn lôgic khôn ngoan rất nhiều. Bởi vì Gióp đã có được một kinh nghiệm trực tiếp về sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Trước đây, ông chỉ nghe đồn về Đức Chúa Trời, ông có bằng chứng gián tiếp. Nhưng bây giờ đích thân ông nhận biết Đức Chúa Trời - ông đã có được chứng cớ trực tiếp. Ông đã bước vào mối quan hệ cá nhân với Đức Chúa Trời hằng sống. Ngoài sự kiện đó, mọi điều khác đều trở nên tầm thường. Điều đã tạo sự khác biệt đối với Gióp không phải Đức Chúa Trời đã thắng trong cuộc tranh luận, nhưng Đức Chúa Trời đã trở nên thực hữu đối với ông. Lần đầu tiên trong đời Gióp có thể nói: “Bây giờ mắt tôi đã thấy Ngài.” Và kết quả của việc này là bây giờ ông có thể tin cậy Đức Chúa Trời trong mọi sự. Không cần một câu “trả lời” cho nan đề của ông nữa. Vấn đề đã được quyết định bởi sự kiện Đức Chúa Trời toàn năng Đấng có thể “làm được mọi sự” đang ở trong mối tương giao thân mật với Gióp, là kẻ “không ra gì.”
Vì vậy Gióp ăn năn. Ông nhận biết trong sự phân tích cuối cùng, thật ngạo mạn khi đòi Đức Chúa Trời phải “biện hộ” cho chính mình. Và Gióp, thay vì là một kẻ chỉ trích cay đắng, nay đã sống bình an - một con người có đức tin không còn kêu gào Chúa để “chứng minh ông là công bình” nữa, mà thờ phượng Đức Chúa Trời hằng sống của đời mình. Nan đề của ông đã dẫn ông đến chính trọng tâm của một kinh nghiệm niềm tin sống động về Đức Chúa Trời, và dẫn ông đến với Đấng hiện đang thực hữu, nên không còn “nan đề gì” tồn tại nữa.
Tân Ước Đã Nói Gì?
Chúng ta có thể lấy từ Cựu Ước sự soi sáng ấy liên hệ đến vấn đề chịu khổ. Còn sự sáng tỏ nào thêm nữa chúng ta có thể rút ra được từ “tin mừng” trong trong Tân Ước?
Tân ước cho thấy sự khác biệt gì qua việc Chúa Jêsus được sinh ra, sống, chịu chết, và sống lại từ kẻ chết? Dưới đây là bốn sự hiểu biết mà Tân Ước giúp chúng ta làm rõ:
1) Đức Chúa Trời có mặt với chúng ta khi điều ác xảy đến.
2) Đức Chúa Trời đắc thắng điều ác.
3) Đức Chúa Trời đắc thắng sự chết.
4) Đức Chúa Trời ban cho chúng ta quyền năng để đắc thắng.
Mỗi phần trên đây đều đáng bình luận.
1) Đức Chúa Trời có mặt với chúng ta khi điều ác xảy đến . Một ý niệm lạ lùng! Đức Chúa Trời can dự vào điều ác ư? Chắc chắn là Đức Chúa Trời vượt trên điều thiện và điều ác, ở tận nơi nào đó trên trời, không dính líu đến những sự lo âu và phiền muộn quấy rầy tất cả những con người tầm thường. Vì vậy một người thợ mỏ trong bài thơ “ Caliban in the Coal Mines” đã nghĩ như vầy khi ông nói:
“Thượng đế ơi, Ngài không biết sự tối tăm là thế nào -
Ngài ngự trong bầu trời chiếu sáng của Ngài”
Nhưng trọng tâm của phúc âm, là “tin mừng” chính là Đức Chúa Trời thật sự biết điều đó thế nào, bởi vì Ngài không ở xa xôi và cách biệt, nhưng qua Chúa Giêxu Christ, Ngài đã trở thành người và sống giữa vòng chúng ta. Vì vậy phải nói rằng, Đức Chúa Trời đã “xâm nhập” vào đời sống con người chúng ta và dự phần đời sống ấy. (Xem Chương 7-10). Điều này thật đơn giản, nghĩa là Đức Chúa Trời ở với chúng ta trong những điều tồi tệ đó, không phải Ngài cho phép điều ác tồn tại trong thế giới rồi sau đó Ngài tránh xa thế giới chừng nào tốt chừng nấy, trái lại, Ngài đã đến ngay chỗ tội ác có mặt - trong cuộc sống của con người - để chiến đấu với nó, trong đời sống con người, với tư cách một con người. Bạn hầu như có thể nói rằng Đức Chúa Trời “bằng lòng ngậm đắng nuốt cay,” rằng Ngài đã không ở cách xa những kinh nghiệm khó chịu mà những con cái Ngài đang trải qua. Niềm tin theo Kinh Thánh nhìn thấy lời tuyên bố này tập trung rõ ràng nhất qua việc Chúa Cứu Thế chịu đóng đinh. Tại đây, chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Trời, qua Chúa Cứu Thế Giêxu, phải chịu những điều ác tồi tệ nhất mà con người có thể nghĩ ra. Ngài không đi vòng để tránh đau khổ và điều ác, nhưng Ngài chấp nhận chúng.
Ngài có dự phần vào .
Bất cứ ý tưởng nào cho rằng “Đức Chúa Trời không quan tâm” lập tức bị chận đứng bởi một suy gẫm nhỏ về sự kiện con người đã không đóng đinh một kẻ đáng yêu, mà chính Con Đức Chúa Trời. Người thợ mỏ trong bài thơ quá khiêm tốn trong lời cầu xin của mình. Tất cả những gì anh xin là “một nhúm các vì sao.” Đức Chúa Trời đã không ban một nhúm các vì sao. Ngài ban chính Con Ngài.
Lưu ý điều này đã đưa Đức Chúa Trời vào trong mối quan hệ chịu khổ của chúng ta như thế nào:
Trường hợp 1: Một ông bố và bà mẹ nọ có đứa con trai được nuôi nấng lớn lên và vào lúc gần như bắt đầu tuổi thanh xuân, chàng trai qua đời. Bậc cha mẹ này có thể biết rằng Đức Chúa Trời cũng đã từng trải một nỗi đau tương tự như nỗi đau họ đang kinh nghiệm, và Ngài hiểu.
Trường hợp 2: Một người với khải tượng lớn và lòng quan tâm đối với đồng bào mình bắt đầu đưa những kế hoạch của mình vào hành động cụ thể, nhưng người ta chỉ nhạo báng anh, từ chối giúp đỡ anh, lại còn muốn tiêu diệt anh hoàn toàn. Người này có thể nhận biết được thất bại của mình (thật sự đó là một thất bại) không phải là một kinh nghiệm đẩy anh “xa cách” với Đức Chúa Trời mà ngược lại, nó đưa anh đến gần với những gì Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ, đã từng trải.
Đối với những người như vậy, không những họ tin quyết rằng Đức Chúa Trời hiểu biết, mà còn tin rằng Chúa, là Đức Chúa Trời, có thể giúp họ trong giờ hoạn nạn của mình. Lá thư gởi cho người Hêbơrơ cho thấy điều đó:
Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng. (HeDt 4:15, 16)
2) Đức Chúa Trời đắc thắng điều ác . Bảo rằng Đức Chúa Trời chỉ có mặt với chúng ta trong những điều xấu xa ác tệ thôi thì chưa phải là “tin mừng.” Điều đó cũng nghĩa là Đức Chúa Trời cũng bị “kẹt” trong những tình thế nan giải như chúng ta, và Ngài cũng không thể thoát ra được. Vì vậy, ở đây, Tân Ước đưa ra một tuyên bố gây ngạc nhiên khác. Tân Ước tuyên bố rằng Đức Chúa Trời không những dự phần điều ác, nhưng Ngài thật sự chiến đấu với điều ác và chiến thắng nó.
(Lời bắt bẻ mạnh mẽ của một độc giả hoài nghi: Hãy đợi một phút! Làm thế nào mà bạn nói như thế được? Nếu điều ác đã bị Đấng Christ đánh bại cách đây 1900 năm, thì nó đang làm một công việc khá tốt là giả vờ còn sống ngày nay).
Đây là một phản ứng hợp lý, và để giải quyết, chúng ta phải tự nhắc mình về ý nghĩa nội tại của sự kiện Chúa chịu đóng đinh và phục sinh, nếu các sách Phúc âm kết thúc bằng sự chết của Chúa Jêsus, chúng ta sẽ có một bi kịch, chỉ thế thôi. Đức Chúa Trời có mặt trong điều ác, đúng thế, và điều ác đã chiến thắng Ngài. Nhưng chúng ta đã thấy, Tân Ước tỏ rõ rằng sự chết của Chúa Jêsus không phải là kết thúc. Tội ác đã thực sự đóng đinh Con Đức Chúa Trời và giết Ngài đi, nhưng nó không thể thắng Ngài bởi vì Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết, vì vậy, ý nghĩa đích thực của thập tự giá đã được tỏ rõ, đó là sức mạnh của điều ác đã bị đánh bại bởi quyền năng của Đức Chúa Trời. Ở đây là Đức Chúa Trời, trong thân vị của Đấng Christ, yếu đuối, và không phương tự vệ, bất lực, bị những con người tội ác và các thế lực của điều ác tấn công. Nếu Đức Chúa Trời có thể đắc thắng trong cuộc đối đầu này với điều ác, thì rõ ràng Ngài có thể đắc thắng bất cứ cuộc tấn công nào nữa mà các thế lực của điều ác nhắm vào Ngài. Tân Ước nói một cách chính xác rằng -Đức Chúa Trời đã chiến thắng trong cuộc chiến đấu này - Ngài là người chiến thắng nổi bật (Phần nói về “Thập Tự Giá Là Sự Chiến Thắng” trong Chương 10 nên được đọc lại để liên hệ với phần này).
Điều đó có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Chúng ta có thể hoàn toàn quả quyết rằng không một sự phô bày nào của các thế lực điều ác mạnh đủ để đánh bại Đức Chúa Trời, nghĩa là chúng ta đang sống trong một thế giới Ngài đã chiến thắng.
(Sự nhượng bộ miễn cưỡng của độc giả hoài nghi: Nhưng dẫu cho nếu Đức Chúa Trời đã chiến thắng vào ngày hôm đó , dường như kể từ ngày hôm đó Ngài đã thua. Làm sao bạn tin được điều ác đã bị đánh bại trong thế giới của thế kỷ thứ hai mươi này?)
Đây không phải là câu hỏi dễ trả lời. Câu trả lời tối hậu duy nhất mà Cơ Đốc nhân có thể đưa ra là qua sự kiện Chúa chịu đóng đinh và phục sinh con người nhìn thấy dấu hiệu của quyền phép Đức Chúa Trời vượt trên điều ác đủ để sẵn sàng tin rằng sự đắc thắng của Ngài là điều chắc chắn. Có thể ví dụ sau đây làm rõ vấn đề này:
Khi bạn đọc một câu chuyện trinh thám (ví dụ như The Case of the Bloody Hand hay là No Corpse ) cốt chuyện dường như hết sức phức tạp, lộn xộn, bạn hoàn toàn không chắc chắn kết cuộc sẽ như thế nào. Nhưng ở chương cuối nhà thám tử triệu tập tất cả những người bị tình nghi trong một căn phòng, xử lý và tháo gở điều bí ẩn, phân tích từng giai đoạn, và tiết lộ bằng cách nào anh ta biết được kẻ phạm tội. Chỉ trong ánh sáng của chương cuối cùng, phần còn lại của sách mới ăn khớp với nhau. Sau khi đã đọc đến đó, bạn có thể kêu lên: “Ồ đúng rồi! Bây giờ tôi mới hiểu vì sao người quản gia trong Chương Ba lại ném con dao xuống giếng mà không lau dấu tay đi.” Bây giờ bạn mới có thể hiểu được các tình tiết, những phản kế, “những âm mưu xảo trá” và những dấu vết, những manh mối được cài đặt một cách cẩn thận.
Giả sử, bạn đọc chương cuối trước, rồi sau đó mới đọc phần còn lại của câu chuyện trinh thám...
Bạn có thể sẽ hiểu ra nhiều tình tiết trong câu chuyện! Bạn nhìn thấy ý nghĩa và tầm quan trọng trong các sự kiện diễn ra. Bạn sẽ hiểu rõ hơn một chút nữa mối quan hệ giữa con dao, các dấu vân tay, lá thư chưa gởi, và người khách nửa đêm - trong khi với người khác, cũng những sự kiện đó lại là một mớ hỗn độn tuyệt vọng. Bởi vì bạn đã biết điều xảy ra trong chương cuối nên bạn có được một cái nhìn toàn cảnh rõ ràng hơn về ý nghĩa của toàn bộ câu chuyện.
Bây giờ đừng đẩy vấn đề đi quá xa, cũng đừng thắc mắc quá nhiều về nó. Nhưng cứ hãy giữ nguyên đó như một cách để bảo rằng bạn, là một Cơ Đốc nhân, đang ở chỗ phần nào giống với độc giả. Khi nhìn xem những rối rắm bí ẩn của các sự kiện như đời sống và lịch sử của nhân loại; bạn thấy được ý nghĩa và phương hướng nào đó trong chúng bởi vì bạn đã biết kết cuộc sau cùng là gì. Bạn biết Đức Chúa Trời sẽ đắc thắng trong cuộc chiến tranh đang tiếp diễn với điều ác, bởi vì Ngài đã chiến thắng trong biến cố đóng đinh và phục sinh. Vậy phải nói rằng, bạn đã xem chương cuối, bạn có thể sống đời mình trong sự bảo đảm rằng quyết định của cuộc chiến đã giành được rồi và kết cuộc chắc chắn là chiến thắng của Đức Chúa Trời. Tất nhiên bạn không thể “chứng minh” điều ấy. Bạn vẫn bước đi bởi đức tin (có nghĩa là “tin cậy”) thay vì bởi mắt thấy. Nhưng bạn đã hiểu rõ đủ để đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời.
Ở đây chúng ta phải nhấn mạnh một vấn đề sống động hơn nữa đã được giải thích trong Chương 10. Khi nói về việc Đức Chúa Trời chiến thắng điều ác qua Đấng Christ, chúng ta không thể giải thích đầy đủ nếu không hiểu phương cách qua đó các đoạn Kinh Thánh về “Người Tôi Tớ Chịu Khổ” (EsIs 52:13; 53:12) giải tỏ sự kiện của thập tự giá. Một lần nữa hãy xem xét phần trích dẫn ở đầu chương này. Ở đây, một chiều kích khác của thập tự giá là sự đắc thắng. Chúng ta đã phạm tội, bất tuân ý chỉ của Đức Chúa Trời, nhưng thay vì chính chúng ta phải chịu toàn bộ gánh nặng của hình phạt tội lỗi, Đức Chúa Trời, qua Chúa Cứu Thế đã đích thân gánh lấy hình phạt. (Đó là lý do vì sao, vào nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử Cơ Đốc giáo, Đấng Christ đã được nhắc đến như là “Đấng gánh tội lỗi.”) Ngài mang gánh nặng tội lỗi đáng lẽ nấy trên chúng ta; Ngài gánh trên chính mình hình phạt đáng lẽ dành cho chúng ta. Ngài “đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết”; vì “sự gian ác chúng ta mà bị thương.”
Nhưng vì sao Đức Chúa Trời phải làm như vậy, chúng ta không biết. Đó là một huyền nhiệm. Nhưng là huyền nhiệm của tình yêu Ngài và qua hành động của Ngài, chúng ta hiểu phương cách tình yêu đối đầu với điều ác - bằng cách gánh lấy điều ác và chiến thắng nó. Phaolô cũng giải thích vấn đề này theo một cách hơi khác. Ông nói: “Bởi Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta, các điều khoản trái với chúng ta nữa, cùng phá hủy với tờ khế đó mà đóng đinh trên cây thập tự” (CoCl 2:13, 14).
3) Đức Chúa Trời chiến thắng sự chết . Đối với phần lớn mọi người, sự thật về cái chết là điều dường như làm hỏng ý nghĩa của đời sống. Đối với họ, toàn bộ câu chuyện có thể được đặt trong một nguyên tắc:
Chúng ta sống, tranh đấu, và chết.
Con cháu chúng ta sống, tranh đấu và chết.
Con cái chúng nó sống, tranh đấu, và chết.
Cuối cùng mọi người đều chết và chẳng có gì để bày tỏ về sự sống.
Đối lập với điều này, Kinh Thánh khẳng định hết sức tích cực sự thật về “sự sống đời đời.” Cái chết không phải là cuối cùng hành trình của con người. Sự chưa hoàn thành của đời sống sẽ được làm trọn bởi Đức Chúa Trời theo cách chúng ta chưa hiểu hết được, nhưng đó vẫn là lời khẳng định trọn vẹn về sự ứng nghiệm các mục đích của Đức Chúa Trời dành cho đời sống con người ( Chương 17 sẽ nói rõ vấn đề này đầy đủ hơn, ở đây chúng ta chỉ liên hệ lời tuyên bố đó với nan đề của điều ác).
Chúng ta không được để cho sự thật về đời sau giải quyết nan đề của điều ác một cách quá đơn giản. Ví dụ người ta rất thường được bảo rằng đừng lo lắng về điều ác ở trên thế giới này, bởi vì “mọi sự rồi sẽ tốt đẹp ở nơi thiên đàng.” Nhưng chúng ta cũng phải hiểu rằng đức tin theo Kinh Thánh về đời sau không tương ứng với chu trình vô nghĩa của sống - tranh đấu_ chết - sống tranh đấu chết - sống - tranh đấu - chết từ đời này sang đời khác. Chúng ta sống, tranh đấu và chết, đúngvậy - nhưng Đức Chúa Trời có thể khiến chúng ta sống lại, uốn nắn lại chúng ta và sử dụng chúng ta cho những mục đích của Ngài theo những cách vượt quá sự tưởng tượng của chúng ta, hầu cho sự chưa trọn vẹn của chúng ta được nên trọn vẹn bởi Ngài, đời sống chưa hoàn thành của chúng ta được hoàn thành bởi Ngài. Kinh Thánh tuyên bố rằng không có điều gì đe dọa đời sống chúng ta mà cuối cùng có thể phân rẽ chúng ta khỏi Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, bởi vì Đức Chúa Trời, qua Chúa Cứu Thế là Chúa của sự sống và sự chết. Phaolô đã nói điều này một cách rõ ràng hơn hết:
Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ là Chúa chúng ta. (RoRm 8:38, 39).
Những lời ấy là trái tim và là trọng tâm của Tân Ước. Chúng đáng được đọc lại một lần nữa:
Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ là Chúa chúng ta. (RoRm 8:38, 39).
4) Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng . Còn một điều nữa cần phải nhấn mạnh: Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng điều ác. Điều này không có nghĩa là chúng ta có thể tránh điều ác và đau khổ. Mà là Đức Chúa Trời ban cho chúng ta các nguồn phương tiện để nhờ đó chúng ta đối địch với điều ác và đau khổ - và đắc thắng chúng.
Kinh Thánh không hứa hẹn bởi “trở thành người tốt” chúng ta sẽ tránh được điều ác và đau khổ; nhưng Kinh Thánh đã tỏ rõ ràng hầu như trên mọi trang Kinh Thánh rằng khi điều ác và đau khổ đến với chúng ta, là điều không thể tránh khỏi, chúng ta không cần khuất phục chúng nhưng trải qua và chịu được theo một cách cho thấy chúng ta là kẻ chiến thắng chứ không phải chúng. Chúng ta có thể đối mặt với chúng bằng những nguồn phương tiện mà hiện nay đã dành sẵn cho chúng ta bởi “tin mừng:” Lòng tin chắc rằng Đức Chúa Trời ở với chúng ta giữa những điều ác, rằng Ngài chiến thắng điều ác và chiến thắng sự chết. Vững tin nơi những điều đó, chúng ta có thể đối mặt với điều ác mà không sợ hãi.
Nhưng chúng ta còn có một bổn phận nữa. Chúng ta phải chia sẻ bất cứ sức mạnh nào mà mình có được với người khác. Một lần nữa, Phaolô có thể giúp chúng ta hiểu:
Chúc tạ Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, Ngài là Cha hay thương xót, là Đức Chúa Trời ban mọi sự yên ủi, Ngài yên ủi chúng tôi trong mọi sự khốn nạn, hầu cho nhơn sự yên ủi mà Ngài đã yên ủi chúng tôi , thì chúng tôi cũng có thể yên ủi kẻ khác trong sự khốn nạn nào họ gặp (IICo 2Cr 1:3, 4 in nghiêng là ý tác giả )
Phaolô muốn nói rằng Đức Chúa Trời ban cho ông sức mạnh (sự yên ủi = sức mạnh), hầu cho đến lượt, ông cũng có thể ban sức mạnh cho những kẻ đang gặp hoạn nạn. Ông nhận lãnh sức mạnh và sự bảo đảm từ nơi Chúa chưa đủ; ông phải chuyển trao sức mạnh và sự bảo đảm đó tiếp tục cho những người khác. Và điều này tạo thành sự chiến thắng đích thực trên điều ác, thậm chí khi “những sự đau đớn của Đấng Christ chan chứa trong chúng tôi thể nào,” Phaolô nói tiếp “thì sự yên ủi của chúng tôi bởi Đấng Christ cũng chứa chan cũng thể ấy.” (1:5). Phaolô quả quyết với chúng ta, đối với những người đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời, Ngài thật sự ban cho họ sức mạnh để đối đầu với bất cứ điều gì đời sống có thể đem đến, và công việc của họ là trở thành một người mang sức mạnh Chúa ban cho mình cho người khác.
Điều này nghĩa là việc sử dụng cách sáng tạo nhất sự đau khổ có được khi qua đau khổ, bạn có năng lực để giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Câu hỏi đích thực không phải là: “Tại sao điều này xảy đến với tôi,” mà là: “Tôi có thể dùng điều đã xảy đến cho mình như một phương tiện để hầu việc Chúa trọn vẹn hơn bằng cách nào?”
“Câu Trả Lời” Đích Thực Duy Nhất
Bây giờ chúng ta đã thấy rõ rằng không có câu trả lời đơn giản, hai cộng hai bằng bốn cho phụ huynh của những đứa trẻ chết trong tai nạn xe buýt, vợ viên hạ sĩ quan, các gia đình Ấn độ bạo loạn, hay là những nạn nhân của trại tập trung. Nhưng cũng đã rõ ràng rằng có những nguồn phương tiện trong đức tin đặt nơi Kinh Thánh để đối điện với những tình huống ấy, xử lý chúng, sống với chúng, và biến đổi chúng bởi đức tin, thay vì bị chúng biến ra tuyệt vọng. Công việc của người Cơ Đốc không phải là để có “một câu trả lời sẵn sàng” cho mọi tình huống, mà là để có được toàn bộ cách tiếp cận với cuộc sống, từ sự gặp gỡ với Đức Chúa Trời, giúp người ấy sống được với mọi tình huống và đắc thắng trong mọi tình huống.
Chương 13: Về Mặt Này... Về Mặt Khác
(Tôi Là Ai? )
Khi viện nghiên cứu triết học trong một trường đại học lớn đang được xây dựng, người ta tranh luận về câu đề tặng sẽ phải được khắc trên cổng chính. Một nhóm người muốn khắc câu nói của Protagoras: “Con người là thước đo của mọi sự.” Một nhóm khác đề nghị ghi những lời thưa cùng Chúa trong Thithiên thứ Tám: “Con người là gì mà Chúa nhớ đến?”
Trên thế giới luôn luôn có hai khái niệm khác biệt về con người. Trong khái niệm đầu, con người là trung tâm của mọi sự. Trong khái niệm thứ hai, Đức Chúa Trời là trung tâm của mọi sự. Ai đúng? Con người là gì?
Một Câu Hỏi Bạn Không Thể Tránh
Đừng cho rằng câu hỏi: “Con người là gì?” là không thực tế và không quan trọng. Đó là một câu hỏi mà lúc nào bạn cũng thắc mắc và không thể thôi thắc mắc được. Mỗi một thắc mắc sau đây chẳng qua là một cách cụ thể để hỏi: “Con người là gì? Tôi là ai? Điều gì đã khiến tất cả chúng ta hành động như thế?”
• “Âu yếm nhau trong cuộc hò hẹn có được không?”
• “Làm thế nào để tôi được hạnh phúc?”
• “Vì sao tôi không được làm theo ý thích?”
• “Làm thế nào để chúng ta tránh được Chiến Tranh Thế Giới III?”
• “Vì sao làm điều “phải” lại khó thực hiện như vậy?”
• “Vì sao tôi phải đi học?”
• “Có điều gì sai trật với Chủ nghĩa Cộng sản?”
• “Vì sao giáo sư dạy hình học lại ghét tôi dữ vậy?”
Vì không tránh được câu hỏi này, nên đây là “kế hoạch tấn công của chúng ta” để đối diện với nó. Trước hết chúng ta sẽ lấy mẫu các câu trả lời chuẩn cho câu hỏi này hiện có trên thị trường ngày nay. Sau đó, trong phần còn lại của chương này chúng ta sẽ xem xét hai phần của câu trả lời theo Kinh Thánh, và trong chương tiếp theo chúng ta sẽ xem xét phần thứ ba, là phần quan trọng đến nỗi phải dành trọn một chương cho nó. Cuối cùng chúng ta sẽ xem xét con người-trong-cộng đồng, trong hội thánh. Bằng cách này chúng ta có thể hiểu cách trả lời của Kinh Thánh có ý nghĩa hay không, và cũng để xem cách trả lời đó thế nào so với các câu trả lời khác.
Một Số Các Câu Trả Lời Hiện Hành - Mười Xu Một Tá
Một cách trả lời rất phổ biến trong những ngày này đó là chúng ta được dựng nên vì Nhà nước . Chỉ khi nào phục vụ Nhà Nước chúng ta mới hoàn thành vận mệnh của mình. Đó là câu trả lời của Hiller -Mussolini - Stalin cho câu hỏi này, và bởi vì Kremlin đã áp đặt nó trên hằng triệu con người trong thời của chúng ta, nên chúng ta không thể chỉ cười xòa trước cách trả lời đó. Tất nhiên là có một sự thật trong tư tưởng cho rằng chúng ta không thể chỉ sống cho chính mình, mà phải cống hiến sự trung thành cho điều gì đó lớn hơn chính mình. Tuy nhiên, chỗ câu trả lời này để ngỏ trước câu hỏi quan trọng, chính là trong sự khẳng định của nó cho rằng Nhà Nước phải là đối tượng cao nhất của lòng trung thành chúng ta. (Chúng ta sẽ đào sâu vấn đề này một chút nữa ở Chương 22).
Một số người tuyên bố rằng chúng ta được dựng nên để hạnh phúc . Chúng ta được tạo dựng để hưởng những giờ phút tốt đẹp, những giờ phút tốt nhất mà chúng ta có thể có. Những người tin vào điều đó không nhất thiết là những người ích kỷ bởi vì họ có thể lập luận rằng cách tốt nhất để hưởng thời gian tốt lành là giúp người khác có được thời gian tốt đẹp - tức là bằng cách đem sự dễ chịu đến cho người khác, bạn sẽ tìm thấy hạnh phúc cho mình. Vấn đề chủ yếu ở đây là, bạn hàm ý gì qua từ “hạnh phúc?” Đối với phần lớn mọi người, đây hàm ý những sự dễ chịu thuộc thể - một ngôi nhà đẹp, áo quần đẹp, TV 21 inch, và một chiếc xe hơi đời mới. Chúng ta phải hỏi con người có phải đời sống của họ nhất thiết sẽ có ý nghĩa sâu đậm hơn, trọn vẹn hơn chỉ vì họ có nhà đẹp, áo quần đẹp, TV 21 inch và xe hơn mới không. Đời sống họ có thể trống vắng hơn bao giờ hết.
Những người khác trả lời câu hỏi này bằng cách bảo rằng: “Chúng ta chỉ là những con người” bằng cách trả lời đó họ dường như hàm ý rằng chúng ta là những con vật phát triển cao cấp , chứ không có gì hơn. Những ý tưởng về tình yêu, về Đức Chúa Trời, hoặc sự hy sinh, chỉ là những suy nghĩ do ao ước, không thực tế, nhằm cố ý thoát khỏi sự thực không dễ chịu rằng chúng ta đang bị “ràng buộc với cõi trần.” Lập luận này đi tiếp, tốt hơn hết là hãy đối mặt với sự thật và tận dụng điều có ích nhất. Bạn hãy để ý cách trả lời này cũng mang tính giáo điều như cách trả lời của thần học cứng nhắc nhất. Rốt lại, chúng ta nhất định phải hỏi liệu có phải không có sự khác biệt cơ bản giữa nơi trú ẩn của một con vật và một ngôi nhà thờ lớn; giữa tiếng kêu vì sợ hãi của một con thú với một bản nhạc giao hưởng; giữa một bữa ăn của một con vật với lễ Tiệc Thánh.
Điều quan trọng về cách trả lời này và những cách trả lời khác dành cho câu hỏi “Con người là gì?” không phải là chúng hoàn toàn sai, mà là chúng chưa đầy đủ. Chúng ta phải trung thành với Nhà Nước - nhưng chúng ta cũng phải trung thành với những người khác nữa. “Hạnh phúc” có thể là một phần của mục đích chúng ta được tạo dựng - nhưng chúng ta cũng được dựng nên để hy sinh nữa. Chúng ta cũng có phần giống loài vật, phải ăn uống và ngủ nghỉ để sống còn - nhưng thức ăn, nước uống và giấc ngủ rồi không có gì nữa, chẳng bao lâu sẽ làm chúng ta chán đến chết, bởi vì với chúng ta, còn có nhiều ao ước khác nữa chứ không phải chỉ những mong muốn của loài vật. Và vì vậy chúng ta có thể tiếp tục với những câu trả lời hiện hành khác.
Vìvậy chúng ta hãy xem xét cách trả lời của Kinh Thánh để xem có phải nó không cho chúng ta một lời mô tả thỏa mãn đầy đủ hơn về tình huống con người của chúng ta không.
Phần Thứ Nhất Trong Cách Trả Lời Của Kinh Thánh
Về một phương diện, Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta để tương giao với Ngài . Ý tưởng này được triển khai rõ ràng nhất trong các phần đầu của sách Sáng thế ký. Trong Chương 4 chúng ta đã bàn luận cách giải thích của các câu chuyện sáng tạo này. Chúng ta thấy rằng đây không phải những lời ký thuật về ông tổ - tiên - tằng (không biết đến thứ mấy) của chúng ta. Các câu chuyện này được đặt trong một mốc thời gian đặc biệt, lại là những câu chuyện rất thật về mọi vấn đề theo thời gian. Bất cứ điều gì mà chúng nói cho chúng ta về quá khứ cổ xưa của ai đó, chúng cũng nói với chúng ta nhiều hơn rất nhiều về đời sống hiện tại của chúng ta. Chúng mô tả chúng ta . Ví dụ, từ Hêbơrơ ad -ham , từ đó chúng ta có tên gọi “Ađam,” không phải là một cái tên riêng dành cho một cá nhân. Nó chỉ là một từ để chỉ “người nam”-mọi người nam - cũng như “Êva” chỉ có nghĩa là “người nữ” - mọi người nữ. Điều rất thực về Ađam và Êva (về “người nam” và “người nữ”) cũng đúng với tất cả chúng ta nữa. Chúng ta không phải đang đọc một câu chuyện xưa cổ. Mà chúng ta đang đọc câu chuyện “của chúng ta” được đặt trong hình thức diễn đạt bằng hình tượng.
“Hình Ảnh Của Đức Chúa Trời” Là Gì?
Từ các câu chuyện đó, chúng ta biết được gì về chính mình? Trước tiên chúng ta học biết rằng chúng ta được tạo dựng “theo hình ảnh của Đức Chúa Trời.” Đây là một điều khó hiểu, nhưng chúng ta phải làm sáng tỏ điều đó càng nhiều càng tốt. Điều này không có nghĩa là chúng ta là Đức Chúa Trời. Đó sẽ là một ý niệm không thể dung chịu được đối với các trước giả Kinh Thánh. Tuy nhiên chúng ta được tạo dựng theo “hình ảnh” của Đức Chúa Trời hoặc “giống như” Đức Chúa Trời. Chúng ta có phần nào giống Đức Chúa Trời, mặc dầu chúng ta không giống Đức Chúa Trời hoàn toàn .
Ví dụ Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo. Ngài tạo dựng và bảo tồn thế giới này. Ngài tạo dựng và bảo tồn chúng ta. Và chúng ta cũng có tính sáng tạo. Chúng ta làm ra mọi thứ từ nghệ thuật thơ ca và âm nhạc, các hình thức chính phủ dân chủ cho đến lưới bắt muỗi, các máy đánh chữ và kem trái cây hai phần gồm kẹo mềm với những hạt đậu phộng rắc lên trên. Ngoài ra, người nam và người nữ có một phần trách nhiệm trong việc tạo dựng đời sống mới của con người, khi họ kết hôn và có con cái. Khi xem xét tính sáng tạo nơi đời sống con người, chúng ta có thể thấy như một loại hình ảnh đã bị lu mờ, điều gì đó của tính sáng tạo vốn thuộc về Đức Chúa Trời - với sự khác biệt đáng kể, tức là chúng ta sáng tạo bởi vì sự thôi thúc có tính sáng tạo đã được cài đặt trong chúng ta bởi Đức Chúa Trời và lệ thuộc vào Ngài, trong khi Đức Chúa Trời sáng tạo bởi vì bản tính của Ngài là sáng tạo, và Ngài không lệ thuộc vào ai cả.
Một cách khác để giải thích “hình ảnh của Đức Chúa Trời:” là hãy nghĩ đến sự phản chiếu , như khi bạn nhìn vào một tấm gương. Khi bạn nhìn hình ảnh của bạn phản chiếu trong gương, có điều gì đó giống bạn, tuy nhiên nó khôngphải thực sự là bạn mặc dầu nó có thể cho bạn một ý tưởng khá tốt về con người của bạn như thế nào. Ngoài ra hình ảnh này hoàn toàn phụ thuộc vào bạn. Nếu bạn di chuyển xa tấm gương - hình ảnh không còn nữa. Nó không thể tồn tại một cách độc lập. Điều này nhắc nhở chúng ta một sự kiện quan trọng trong mối quan hệ giữa chúng ta với Chúa. Chúng ta lệ thuộc vào Ngài, giống như hình ảnh trong tấm gương lệ thuộc vào chúng ta. Nếu Đức Chúa Trời tách biệt hoàn toàn khỏi chúng ta, chúng ta sẽ ngưng tồn tại, giống như hình ảnh trong chiếc gương sẽ biến mất nếu bạn đi sang một căn phòng khác.
Một Số Những Hậu Quả
Ý tưởng chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời nhấn mạnh cả sự vĩ đại lẫn sự nhỏ bé của chúng ta. Nó nhấn mạnh đến sự vĩ đại của chúng ta, bởi vì theo quan niệm này, chúng ta chiếm một vị trí độc đáo trong công trình sáng tạo của Chúa. Chỉ có loài người mới được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Mọi vật khác đều phải ở dưới quyền kiểm soát của con người, được con người sử dụng cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Thi Tv 8:6, 7). Con người có một tầm quan trọng đặc biệt bởi vì Đức Chúa Trời “nhớ đến con người” đã “làm con người kém Đức Chúa Trời một chút” và “đội cho người sự vinh hiển sang trọng” (4,5). Có điều gì đó thật độc đáo khi được làm một con người, đồng thời niềm tin này nhấn mạnh sự nhỏ bé của chúng ta bởi vì nó nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta lệ thuộc vào Đức Chúa Trời về chính sự sống của mình. (Bạn còn nhớ ví dụ về tấm gương). Chúng ta không tạo ra chính mình. Chúng ta không thể kiểm soát hoàn toàn chính mình. Chúng ta có thể hiểu chính mình khi chúng ta thừa nhận rằng chúng ta lệ thuộc vào Đấng Tạo Hóa của mình - đây là điều khó và không dễ để chấp nhận.
Hãy lưu ý một điều khác nữa về việc được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là chúng ta là những hữu thể có trách nhiệm . Chúng ta có thể quyết định điều mình sẽ làm. Và nếu Kinh Thánh nói đúng, thì Đức Chúa Trời đặt chúng ta ở đây và ban cho chúng ta sự tự do để chọn lựa Ngài hoặc từ chối Ngài. Không có gì là tự động ở đây cả. Chúng ta không phải là “những tên lửa được điều khiển” hoàn toàn nằm dưới tính thất thường của người đang ngồi tại nút kiểm soát. Chúng ta tự chọn các quyết định của mình.
Chúng ta có được món quà khủng khiếp của sự tự do .
Khủng khiếp - vì mặc dầu chúng ta có thể chọn để yêu Chúa, chúng ta cũng có thể chọn để từ chối Ngài. Chúng ta có thể nói “không” cũng như “vâng.” Dầu Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta để bước vào mối tương giao với Ngài, Ngài không áp đặt điều đó lên chúng ta, bởi vì tình yêu không thể ép buộc. Tình yêu phải được ban cho một cách nhưng không. Như vậy chúng ta có cơ hội để làm trọn số phận của mình bằng cách yêu kính Chúa và sống với tư cách con cái Ngài (đó là mục đích của việc tạo dựng chúng ta). Hoặc chúng ta có cơ hội để khước từ số phận của mình bằng cách bảo rằng: “Không, điều đó khó quá. Tôi không thích như thế, tôi yêu chính mình hơn. Tôi sẽ loại bỏ Đức Chúa Trời.”
Phần Thứ Nhì Trong Cách Trả Lời Của Kinh Thánh
Vấn đề đem chúng ta đến phần thứ hai mà Kinh Thánh phán về chúng ta - đó là dầu một mặt chúng ta được Chúa tạo dựng để tương giao với Ngài, mặc khác, chúng ta đã từ chối mối tương giao đó . Chúng ta có cơ hội để nói vâng trước sự ban cho của tình yêu và sự tương giao của Ngài, nhưng chúng ta đã chọn để nói không. Thay vì để Đức Chúa Trời ở trung tâm đời sống mình, chúng ta chọn chính mình làm trung tâm đời sống chúng ta.
Đây là một cách nói vòng vo của việc mô tả điều Kinh Thánh gọi thẳng thừng là “tội lỗi.” “Tội lỗi” là một từ không được ưa chuộng thời nay. Một phần những khó khăn nổi lên là vì quan niệm theo qui ước của chúng ta về “tội lỗi” rất khác so với quan niệm của Kinh Thánh. Một bản liệt kê điển hình các “tội lỗi theo Trường Chúa Nhật” có thể là thế này:
• hút thuốc
• uống rượu
• đánh bài
• đi xem phim vào ngày Chúa nhật
• quá quan tâm đến tình dục
Chúng ta sẽ khám phá rằng từ quan điểm của Kinh Thánh đây là một sự phân tích hời hợt, không đi vào trọng tâm vấn đề gì cả.
Tội Lỗi Là Gì
Như vậy thì Kinh Thánh hiểu thế nào về tội lỗi? Một lần nữa câu chuyện của Sáng thế ký, vốn là câu chuyện “của chúng ta,” sẽ cho chúng ta đầu mối rõ nhất. Quay trở lại SaSt 3:1-24, chúng ta thấy rằng loài người bị cám dỗ. Và cám dỗ là gì? Đó là cám dỗ muốn nắm giữ vai trò của Đức Chúa Trời:
Ngươi sẽ như Đức Chúa Trời , biết điều thiện và điều ác (3:5).
“Ngươi sẽ như Đức Chúa Trời” - đó là cám dỗ cơ bản. Chúng ta được tạo dựng để sống như là con cái Đức Chúa Trời và đặt Ngài ở trung tâm đời sống mình, thay vì vậy, chúng ta muốn chính mình giữ vai của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, trọng tâm của tội lỗi là hành động nổi loạn , nổi loại chống lại sự vâng phục Đức Chúa Trời. Chúng ta muốn nắm quyền kiểm soát.
Chúng ta hãy diễn dịch ý tưởng này sang cách nói của mình, để xem có phải đây thực sự không phải là câu chuyện “của mình” không:
“Cuộc đời tôi là của tôi; đừng ai bảo tôi phải cư xử như thế nào.”
“Trong đó có gì cho tôi chứ?”
“Đơn giản là tôi sẽ làm điều tôi muốn.”
“Anh hãy đi mà tìm lấy Con Người Số Một.”
“Tôi biết chính xác điều tôi muốn để thoát khỏi cuộc đời này, và tôi sẽ rất vui vẻ mà chọn điều đó.”
Khi nói những điều như thế, tôi muốn làm rõ rằng trung tâm của đời sống mình là “tôi.” Đó chính là bản chất của tội lỗi - biến “tôi” trở thành trung tâm đời sống thay vì Đức Chúa Trời. Đó là khăng khăng giữ ý muốn của tôi thay vì ý muốn của Đức Chúa Trời, chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình. Nhưng tôi không được tạo dựng để nghĩ về chính mình trước hết. Tôi được dựng nên để kính yêu và phục vụ Đức Chúa Trời. Thay vì làm như vậy, tôi nói: “Tôi sẽ giữ vai trò Đức Chúa Trời trong đời sống mình. Tôi sẽ là trung tâm của mọi sự.”
Và thậm chí nếu tôi có được vẻ mộ đạo (đôi khi tìm kiếm lời đồn ấy) và khẳng định rằng tôi chỉ tìm cách làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời mà thôi, thì tôi thấy mình cũng có một khả năng siêu phàm để làm cho ý muốn của Đức Chúa Trời trùng khớp với điều tôi luôn muốn thực hiện. Tôi vẫn ở tại trung tâm đời sống mình.
Đây là một điều mà duy chỉ có tôi, với tư cách một con người có khả năng phạm, bởi vì tôi có sự tự do có thể bị lạm dụng. Cây cối không có khả năng “phạm tội;” một con cọp, một con rùa, hoặc một con chim bông lau, cũng không thể phạm tội. Nhưng tôi thì có, bởi vì tôi có những khả năng mà một cái cây, con hổ, và con rùa hay con chim bông lau không có, tôi chống lại việc sử dụng chúng theo cách tôi phải sử dụng. Khi có cơ hội để yêu kính Chúa tôi chọn yêu chính mình. Và khi làm như vậy, tôi phân rẽ chính mình khỏi Đức Chúa Trời.
Giờ đây, hậu quả đáng buồn của việc tự tách mình khỏi Đức Chúa Trời là vì thế tôi cũng tự tách mình khỏi đồng loại. Nếu tôi không chấp nhận sự thật tôi được dựng nên với địa vị cao trọng để tương giao với Đức Chúa Trời, thì rất có thể tôi cũng không cảm biết rằng Bill John được tạo dựng vì địa vị đó. Nếu anh ấy không phải là con cái của Chúa, mà chỉ là đứa con của bụi đất thì tôi chẳng cần phải quan tâm nhiều lắm đến anh ấy, hoặc những gì xảy ra cho anh ấy. Nếu có cơ hội, tôi sẽ tìm cách “lợi dụng” anh ấy - điều khiển anh ta cho ích lợi của chính tôi. Anh ta trở thành một “thứ đồ vật,” tôi tách mình khỏi Bill John, cũng như tôi tách mình khỏi Jack Smith và John Brown và (tương tự như vậy) tất cả những John, Smith và Brown, đều xa cách lẫn nhau. Tất cả chúng ta đều tìm cách để “thủ vai của Đức Chúa Trời” đối với nhau, để “kiểm soát” lẫn nhau, và hóa ra chúng ta lại là những con người đáng thương khi nắm giữ vai trò của Đức Chúa Trời.
Và hậu quả là một thảm họa
Một lần nữa câu chuyện trong Sáng thế ký nhấn mạnh câu chuyện “của chúng ta.” Hậu quả của sự nổi loạn trong Sáng thế ký là bị đuổi khỏi “Vườn Êđen.” Trong thời của chúng ta hậu quả của sự nổi loạn là toàn bộ sự trục trặc của đời sống con người. Trái đất của chúng ta, đáng lẽ có thể là vườn Êđen, lại là nơi mà một số lớn con người sống như trong địa ngục.
• Tôi nhìn xem cuộc đời bằng những sở thích của chính mình.
• Bạn nhìn xem cuộc đời bằng những sở thích của chính bạn.
• Chúng ta xung đột.
• Dân tộc này quan tâm đến lợi ích riêng của họ
• Dân tộc kia cũng vậy
• Họ xung đột với nhau
Trên mọi bình diện lớn nhỏ, chúng ta thấy cùng một khó khăn đó nằm ở gốc rễ những rắc rối của chúng ta.
Cung Cấp Một Số Tài Liệu
Bây giờ đây là một kết luận đặc biệt không dễ chịu. Chúng ta không thích ý niệm cho rằng có điều gì đó hoàn toàn trục trặc với chúng ta. Chúng ta thích tin rằng khó khăn này có thể được chữa trị một cách qua loa hơn. Chắc chắn là Kinh Thánh không bi quan như vậy! Nhưng Kinh Thánh không khiến chúng ta dễ chịu nếu chúng ta tìm cách trốn tránh kết luận này. Hãy xem một bảng tóm tắt ngắn:
Êsai không những công nhận ông là một người có môi dơ dáy mà còn thừa nhận rằng ông sống giữa vòng một dân có môi dơ dáy (EsIs 6:5). Một nhà tiên tri sau đó đã tỏ rõ rằng: “Mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp” (64:6). Giêrêmi nhắc nhở chúng ta rằng “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa.” (Gie Gr 17:9). Chúa Jêsus cũng không nói điều dễ chịu hơn về chúng ta. Ngài nhắc nhở chúng ta rằng “Tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng.” (Mac Mc 7:21, 22) Những lời Ngài phán với những người Pharisi cũng nhắm vào tất cả chúng ta: “Các người giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy.” (Mat Mt 23:27). Ngài bảo chúng ta: “Khi làm xong việc truyền phải làm thì hãy nói rằng: Chúng tôi là đầy tớ vô ích” (LuLc 17:10). Phaolô tiếp tục điệp khúc: “Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không” (RoRm 3:10 xem Thi Tv 14:1, 2). Chúng ta cứ được nghe lập đi lập lại rằng thậm chí những thành tựu cao nhất của chúng ta cũng bị bại hoại.
Đó chỉ mới là một phần nhỏ chúng ta lấy ra làm mẫu để phân tích, và nó gây một nhận xét khó chịu khiến chúng ta không thích. Tuy nhiên đây là lời tuyên bố của Kinh Thánh về cảnh trạng khốn khó của chúng ta. Hãy lưu ý rằng sự thật không phải chúng ta xấu xa hết mức, bởi vì chúng ta thậm chí không biết mình xấu xa. Nhưng chúng ta là điều tốt đẹp song đã bị làm hỏng. Vì vậy mặc dầu được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, “hình ảnh” ấy đã bị méo mó hết sức tồi tệ.
Chúng ta có thể làm rõ điều này bằng một sự hiểu biết sau cùng từ so sánh của tấm gương. Thay vì nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong một chiếc gương hoàn hảo, bây giờ chúng ta hãy nhìn hình ảnh phản chiếu của mình xuất hiện ở một trong những tấm gương được đặt tại công viên giải trí. Trong các tấm gương đó, mặt kính bị cong và hình ảnh bị méo mó. Ở một chiếc gương, chúng ta cao có sáu tấc và bề ngang thì tới chín tấc. Ở một tấm gương khác, chúng ta cao tới một mét tám và bề ngang chỉ có mười lăm phân. Ở tấm gương thứ ba khuôn mặt chúng ta tròn xoe, chỉ cái mũi là to nhất ở đấy. Hình ảnh đã bị méo mó, nhăn nhúm và làm hỏng, dường như ngoài sự nhận biết của chúng ta. Đó là cách hiện nay chúng ta đang đứng trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Hình ảnh của Đức Chúa Trời trong chúng ta đã bị bóp méo, làm cho nhăn nhúm và hư hỏng, dường như không thể nhận ra nỗi.
Tội lỗi Không Phải Là:
• Trên cơ sở của sự hiểu biết về tội lỗi như là
• sự nổi loạn
• nghịch cùng Đức Chúa Trời
• phân cách chúng ta
• với Đức Chúa Trời
• và với con người
làm biến dạng “hình ảnh của Đức Chúa Trời” trong chúng ta, chúng ta có thể thấy sự thiếu kém của một số của những cách giải thích tội lỗi nghiêng về qui ước hơn.
Tội lỗi không phải chỉ là sự thiếu hiểu biết . Đối lập với những người quả quyết rằng chúng ta làm điều sai trái là vì chúng ta không biết điều gì tốt hơn cả, vì một khi biết điều gì là đúng, chúng ta sẽ làm, cần phải đặt để sự khẳng định sâu sắc hơn của Phaolô:
Tôi có ý muốn làm điều lành , nhưng không có quyền làm trọn ; vì tôi không làm điều lành mình muốn , nhưng làm điều dữ mình không muốn (RoRm 7:18, 19).
Vấn đề chính xác là chúng ta rất thường xuyên chọn điều ác khi chúng ta biết rất rõ điều gì là điều lành.
Tội lỗi không phải đơn giản là sự kế thừa nguồn gốc “loài vật ” của chúng ta . Như Dostoevsky đã chỉ ra rằng đó là một sự lăng nhục đối với loài vật. Loài vật có thể giết các loài vật khác, nhưng chúng không bao giờ đóng đinh con người bằng tai hoặc thiêu xác họ trong các trại tập trung khi họ đang còn sống. Con người có thể khôn ngoan quỉ quyệt trong sự độc ác của mình rất nhiều so với những gì loài vật từng có thể.
Tội lỗi không đơn giản chỉ là những thôi thúc “thuộc thể ” của chúng ta thắng hơn những thôi thúc “thuộc linh ” của chúng ta . Đây là sự hiểu sai khái niệm của Kinh Thánh phổ biến nhất. Kinh Thánh không phân biệt giữa “thân” và “hồn” như chúng ta vẫn hay phân biệt.Theo ý tưởng của Kinh Thánh, con người là một thể thống nhất phức tạp -chứ không phải là một linh hồn cư ngụ trong một thân thể như con người vẫn hay nói: (xin xem thêm Chương 17). Khi Phaolô nói đến “xác thịt,” ông không hàm ý những thôi thúc gian ác về mặt thuộc thể đối lập với những thúc giục tốt đẹp về mặt thuộc linh. Thay vào đó ông muốn nói toàn thể con người của chúng ta, đời sống đạo đức và tín ngưỡng của chúng ta cũng như những tham muốn nhục dục của chúng ta. Vấn đề được làm rõ qua một trong những bản danh sách của ông về “các việc làm của xác thịt.” Ông bao gồm những việc như là
thờ hình tượng
phù phép
phù oán
tranh đấu
ghen ghét
buồn giận
cãi lẫy
bè đảng
ganh gỗ , và những việc giống như vậy
cũng như những “tội lỗi ” rõ ràng hơn về
gian dâm
ô uế
say sưa
luông tuồng
mê ăn uống , cùng các sự khác giống như vậy
(GaGl 5:19, 21)
Có lẽ bây giờ bạn có thể thấy vì sao “những tội lỗi của Trường Chúa Nhật” là hời hợt, chỉ ở bề ngoài. Theo Kinh Thánh, tội lỗi là sự trục trặc cơ bản của toàn bộ đời sống. Ngay chính trung tâm của đời sống nó đã bị giật mạnh và rời ra đến nỗi toàn bộ các phần đều bị ảnh hưởng và bị sai lệch. Tội lỗi, thay vì một loạt chỉ là những hành vi cụ thể, là một tình trạng đời sống trên mọi cấp độ của nó. Ví dụ, bản thân say rượu không phải là một tội lỗi nhiều cho bằng đó chính là dấu hiệu có điều gì đó đã bị trục trặc và đời sống ấy đã bị rối loạn sâu xa ở chính trung tâm của nó. Người không xử lý được các mối quan hệ của mình với người khác, hoặc sợ chính mình phải đối mặt với con người thật của mình, có thể uống rượu say để né tránh một thế giới thực hữu khó chịu mà anh ta cảm thấy chưa được trang bị để giải quyết. Ẩn vào một thế giới vờ như dễ chịu do anh tự tạo ra, nơi đó anh ta là vua của tất cả những gì anh quan sát. Việc anh ta say rượu, trong trường hợp ấy, chỉ là một triệu chứng của một sự trục trặc sâu xa hơn.
Như vậy nguồn gốc tội lỗi của chúng ta, không được tìm thấy trong sự thiếu hiểu biết của mình hoặc “mang sang” từ nguồn gốc loài vật của chúng ta, hoặc trong những thôi thúc về thuộc thể của chúng ta. Nó được tìm thấy trong sự thật đó là chúng ta đã lạm dụng sự tự do mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Điều đáng lẽ khiến chúng ta trở nên vĩ đại - vì chúng ta là những tạo vật tự do có trách nhiệm - lại chính là điều khiến chúng ta gây ra một nan đề cho chính mình. Chúng ta sử dụng sai sự tự do của mình. Chúng ta nói không với Đức Chúa Trời, thay vì nói vâng.
Hậu quả là, chúng ta bị mắc kẹt trong những hành động sai trái đến nỗi không thể tự mình sửa ngay lại tình huống.
Sửa Ngay Lại Vấn Đề
Nói như vậy thường gây ra một phản ứng mạnh mẽ
NGƯỜI PHẢN ỨNG MẠNH MẼ: Có phải anh bảo rằng: “Chúng ta không thể tự mình sửa ngay lại tình huống không?” thật là câu nói của một kẻ chủ bại! Nhất định chúng ta có thể sửa chữa được tình huống, nếu chúng ta quyết tâm đủ. Chúng ta sẽ cố gắng hết sức để làm điều chúng ta muốn làm. Chúng ta sẽ làm nhiều hơn bình thường mình vẫn làm. Nếu kiêu ngạo là nan đề của chúng ta, chúng ta sẽ hết sức, hết sức hạ mình ở trước mặt Chúa. Và cuối cùng số thiện chí thặng dư sẽ áp đảo số điều xấu nhỏ bé trong quá khứ. Đừng nói với chúng tôi rằng chúng tôi bất năng. Chúng tôi sẽ tự mình chiến thắng điều này!
Thật ra, điều đó chỉ làm cho tình huống tồi tệ hơn. Nan đề của chúng ta là chúng ta “nghĩ về mình cao hơn là mức mình đáng phải nghĩ.” Chúng ta phải thôi kiêu hãnh, ngạo mạn, và đến chỗ hạ mình. Khi nhận ra điều này, chúng ta tự bảo mình: “Mình sẽ cố hết sức để hạ mình.” Và điều gì xảy ra? Tới mức độ đã thành công, chúng ta bắt đầu cảm thấy mình thật khiêm nhường làm sao, và cố gắng hết sức, chúng ta cũng không thể tránh được kết luận rằng mình thật cừ khôi vì đã khiêm nhường như vậy. Trong việc này, chúng ta thật sự rất tốt - tốt hơn nhiều người mà mình biết. Đức Chúa Trời hẳn phải hài lòng trước đặc điểm đẹp đẽ của sự hạ mình chúng ta.
Điều gì đã xảy ra? Chúng ta trở nên kiêu hãnh vì đã hạ mình. Nhưng sự nhận biết ấy có giải quyết được nan đề của chúng ta không? Không, thậm chí khi nhận biết sự kiện này, chúng ta đang ở trong chỗ nguy hiểm vì kiêu hãnh trước việc chúng ta thừa nhận rằng mình tự hào vì đã khiêm nhường.
Chúng ta bị mắc bẫy, và dường như bị định cứ bị mắc bẫy. Chúng ta không thể thoát ra được.
Tất nhiên trừ phi Đức Chúa Trời quyết định giúp đỡ chúng ta.
Chương 14: Một Công Tác Tái Tạo Toàn Diện
(Làm Sao Để Tôi Được Thay Đổi? )
...Kinh Thánh phán rằng Đức Chúa Trời đã quyết định giúp đỡ chúng ta.
Kinh Thánh phán rằng chỗ chúng ta bất lực để tự cứu lấy mình, thì Đức Chúa Trời cứu chúng ta.
Kinh Thánh nói rằng khi chúng ta không thể tự mình sửa ngay được, Đức Chúa Trời sửa lại cho chúng ta. Nếu bạn đã hiểu rõ toàn bộ điều này, bạn có thể bỏ qua chương này.
Một Thiên Thần Trong Giai Đoạn Hứa Hẹn Hay Một Tội Nhân Tuyệt Vọng?
Chúng ta hãy xem xét lại tình huống của mình. Một mặt Kinh Thánh tuyên bố rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, để tương giao với Ngài. Chúng ta có những khả năng lớn. Đây là mặt “lạc quan” của bức tranh, mặt khác Kinh Thánh tuyên bố rằng chúng ta đã làm hỏng những khả năng đó. Chúng ta đã làm biến dạng hình ảnh của Đức Chúa Trời. Chúng ta là những tội nhân. Đây là mặt “bi quan” của bức tranh.
Nhiều người cứ tóm chặt lấy một trong hai lời khẳng định này và hành động như thể đó là toàn bộ lẽ thật. Vì vậy bạn sẽ nghe một số người nói về con người theo cách làm cho bạn nghĩ chúng ta đã mọc cánh. Và rồi bạn sẽ nghe những người khác chỉ nói độc về tội lỗi khiến bạn sẽ nghĩ rằng Cơ Đốc giáo chỉ cốt nhằm nhắc nhở chúng ta (khá hân hoan) rằng chúng ta hết sức tồi tệ, chấm hết. Vì vậy điều quan trọng phải nhớ rằng Kinh Thánh thừa nhận cả hai mặt, lạc quan và bi quan. Không một mặt nào tự hậu thuẫn cho nó được. Cả hai đều cần thiết.
Nhưng thậm chí như vậy cũng không phải là toàn bộ câu chuyện. Điều đó muốn nói rằng: “chúng ta có những khả năng to lớn, nhưng chúng ta đã đánh mất chúng và không thể lấy lại.” Điều đó bỏ lại lời cuối cùng bên phía bi quan. Chúng ta cần nói rằng lời cuối cùng, theo cái nhìn của Kinh Thánh, không phải là một tinh thần bi quan ảm đạm cũng không phải là một tinh thần lạc quan ngây thơ. Kinh Thánh thật sự khẳng định “tính chất tội lỗi của tội,” nhưng đó không phải là kết thúc câu chuyện. Bởi vì nếu Kinh Thánh dường như bi quan về con người, thì Kinh Thánh không bao giờ bi quan về Đức Chúa Trời, và điều Đức Chúa Trời có thể làm với con người và làm từ nơi con người. Giống như một bác sĩ cần biết tình trạng bệnh tật trước khi ông ra sức chữa trị, và cũng như loại chữa trị sẽ được xác định bởi tính chất của bệnh tật, cũng vậy, điều quan trọng là chúng ta phải hiểu được bản chất “bệnh tật” con người của mình để chúng ta có thể hiểu “cách chữa trị” triệt để mà đức tin theo Kinh Thánh phán rằng khả thi.
Phần Thứ Ba Của Cách Trả Lời Theo Kinh Thánh
Kết quả là có một lời khẳng định thứ ba về con người mà Kinh Thánh nhấn mạnh. Nếu chúng ta được tạo dựng để tương giao với Đức Chúa Trời, và nếu chúng ta đã từ chối mối tương giao ấy, thì một điều nữa cũng đúng đó là Đức Chúa Trời đã cung ứng một phương cách để sự tương giao được phục hồi . Đó là điều cho khiến đức tin Cơ đốc trở thành “tin mừng.” Không có điều đó, đức tin Cơ Đốc sẽ chỉ là tin “xấu.” Tin “lành” là sự phân cách giữa Đức Chúa Trời và chúng ta, điều chúng ta không thể vượt qua được, đã được giành lấy cho chúng ta bởi Đức Chúa Trời rồi và Ngài ban cho chúng ta một mối quan hệ hoàn toàn mới mẻ với Ngài cách nhưng không.
Đây là một cách mô tả vòng vo những từ như “sự cứu rỗi,” “sự cứu chuộc,” “sự giải hòa,” và “ân điển” của Kinh thánh. Dầu những từ này không hoàn toàn giống nhau về ý nghĩa, chúng đều mô tả cùng một kinh nghiệm căn bản, và tượng trưng cho trọng tâm và cốt lõi của đức tin theo Kinh Thánh. Chúng ta phải cố gắng để hiểu điều có nguy cơ bị lâm nguy ở đây, bởi vì cách này hay cách khác, tất cả chúng ta đều đặt một câu hỏi mà các từ ấy cung ứng một câu trả lời. Chúng ta hỏi câu hỏi ấy theo những cách khác nhau:
• Làm sao để tôi được thay đổi?
• Làm sao để tôi có thể thôi tập trung vào bản ngã?
• Tôi phải làm gì để được cứu?
• Ai sẽ cứu tôi khỏi thân thể hay chết này?
Làm thế nào tôi tìm được ý nghĩa cho đời sống mình?
Bước Thứ Nhất
Trong sự dạy dỗ của Giăng, của Chúa Jêsus, các thư tín của Phaolô, các bài giảng của Phierơ, chúng ta thấy từ “ăn năn” được lập đi lập lại. Như chúng ta đã thấy trước đây, từ này có nghĩa là “đổi hướng,” “bắt đầu trở lại,” “có một bắt đầu tươi mới.” Đây là một điểm bắt đầu khá phổ biến trong quá trình được thay đổi. Điều đó không dễ chịu, bởi vì nó đòi hỏi việc thừa nhận rằng chúng ta đã sai, không ai thích thừa nhận điều đó. (Và thậm chí nếu chúng ta đã từng “sai trái một chút,” nhất định chúng ta cũng không sai trái như một số người mà chúng ta có thể nêu. Tại sao chúng ta phải là người thú nhận mình sai? Sao không có người khác làm điều đó trước?) Chúng ta lẫn tránh bước đầu tiên này và nghĩ ra những lý do trì hoãn, việc này cũng phần nào giống như khi phải đến gặp nha sĩ, chúng ta vớ lấy bất cứ những lời bào chữa tạm thời nào để trì hoãn ngày kinh khủng ấy.
Tất nhiên bao lâu mà chúng ta còn làm như vậy, thì chúng ta sẽ vẫn ở trong cảnh khốn khó của mình. Bao lâu mà chúng ta từ chối thừa nhận rằng có điều gì đó trục trặc với mình, thì vẫn không thể nào để được phục hồi. Sự ăn năn, vì vậy, đòi hỏi sự sẵn sàng của chúng ta để thừa nhận nhu cầu của mình . Thật ra, điều đó đòi hỏi chúng ta nói: “Tôi đã làm hỏng mọi việc. Tôi cần sự giúp đỡ.”
Sau Bước Thứ Nhất
Điều gì xảy ra sau đó? Thật ngạc nhiên, điều hoàn toàn bất ngờ, đó là mặc dầu chúng ta “ở trong rắc rối” trước mặt Đức Chúa Trời, Ngài tha thứ chúng ta và ban sức mạnh cho chúng ta để sống đời sống mới. Ngài chấp nhận con người của chúng ta. Ngài không bảo: “Hãy đi ra và chứng tỏ con tốt lành như thế nào, sau đó hãy trở lại và có lẽ chúng ta sẽ xem xét trường hợp của con.” Không, Ngài phán rằng: “Ngay bây giờ ta chấp nhận con đúng như con người của con, không còn ngăn trở nào ở giữa chúng ta nữa. Ta sẽ bước vào mối quan hệ thân mật với con đúng như con đã mời Ta vào.”
Làm thế nào Cơ Đốc nhân biết lời tuyên bố đáng ngạc nhiên này là thật? Làm sao người ấy có thể “ký thác” vào điều đó? Bởi vì đây là điều toàn bộ Tân Ước đã nói đến. Bởi vì ở tại đó chúng ta không chỉ tìm thấy một lời tuyên bố về loại tình yêu này, mà cả một đạo luật yêu thương được ban bố. Nhìn xem Đấng Christ từ chỗ khốn khó của mình, chúng ta thấy nơi Ngài, hiện thân của loại tình yêu này. Qua Ngài chúng ta thấy tình yêu ra đi của Đức Chúa Trời để đến với chúng ta khi chúng ta không thể đến được với Ngài, bước vào kinh nghiệm của chúng ta, từ chối ghét bỏ con người thậm chí khi con người oán ghét Ngài, yêu họ cho đến tận cùng của sự chịu khổ, thậm chí phải chết trên cây thập tự. Vì vậy niềm tin của người Cơ đốc nói rằng:: “Đó là tình yêu của Đức Chúa Trời đến với con người hiện tại của bạn, chứ không đợi cho đến khi bạn xứng đáng, Ngài gặp gỡ bạn ngay chỗ bạn không ra gì. Hãy đơn sơ tin rằng Đức Chúa Trời là như vậy. Hãy đơn sơ tin rằng Ngài đã nắm quyền chủ động mà tìm kiếm bạn, để bạn được tha thứ nếu bạn chấp nhận món quà của sự tha thứ mà Ngài cung ứng cho bạn.”
Việc Ngài chấp nhận chúng ta đúng hiện trạng của mình tạo ra một sự khác biệt lớn lao. Thật vậy, nó tạo ra một sự khác biệt hoàn toàn, bởi vì điều đó có nghĩa là mối quan hệ ấy đang khả thi. Chúng ta có thể bước vào mối quan hệ với Đức Chúa Trời ngay bây giờ , không phải đợi đến một ngày xa xôi nào đó khi tôi đã trở nên “tốt đủ.” Chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa điều này qua mối liên hệ giữa cha mẹ với con cái. Nếu cha mẹ bạn chẳng bao giờ quan hệ với bạn trừ khi bạn “tốt lành,” thì bạn sẽ không có quan hệ gì nhiều với họ. Điều có ý nghĩa nhất trong tình yêu của cha mẹ (ở mức độ cao đẹp nhất và tốt nhất) là nó không phải là tình yêu phụ thuộc vào người đáng được yêu. Nhưng nó mạnh mẽ nhất vào đúng thời điểm có ít “lý lẽ” nhất:
Khi bạn làm bẹp dúm thanh chắn và đèn pha của chiếc xe hơi gia đình một ngày trước khi mọi người sắp sửa đi chơi hồ, và bạn cảm thấy hết sức khổ sở về điều đó;
... Hoặc khi mặt bạn nổi đầy mụn mủ xấu xí (bệnh thủy đậu) và muốn trốn đi đâu đấy và ẩn mặt mãi mãi;
.... Hoặc bạn về nhà sau khi ẩu đả với đội banh chiến thắng trong trận chung kết, và không bao giờ được trở lại trường học nữa.
Đó là những lúc bạn suy nghĩ: làm sao còn ai yêu thương mình được? Mình là một thằng thất bại hoàn toàn. Đó chính là những lúc bạn thấy cha mẹ yêu thương bạn - vào những thời điểm bất ngờ, khi rõ ràng là họ yêu bạn, không phải vì bạn đã làm điều gì xứng đáng với tình yêu của họ, nhưng đơn giản chỉ vì bạn là bạn và họ yêu thương chính con người của bạn - trong tất cả những khốn khổ và bất hạnh của bạn.
Phải, tình yêu của Chúa cũng giống như vậy. Tất nhiên còn hơn rất nhiều, nhưng là loại tình yêu đó. Tình yêu dành cho kẻ không đáng yêu, đến với bạn ngay chỗ bạn đang có mặt, cống hiến chính mình mà không đòi đáp trả, để đáp ứng nhu cầu của bạn.
Như vậy việc thiết lập mối quan hệ mới là công việc của Đức Chúa Trời. C. S. Lewis đã mô tả sinh động điều này trong câu chuyện thần thoại của ông, The Voyage Of The Dawn Treader :
Một con người hay cáu gắt nọ, tên là Eustace Scrubb, rất hay gắt gỏng đến nỗi bị biến thành một con rồng. Sau một thời gian anh ta mới thấy rằng làm một con rồng thì không vui gì, và thật sự cũng không vui lắm khi cứ gắt gỏng với mọi người khác. Vì vậy anh ta bắt đầu giúp đỡ thay vì gây cản trở cho những người bạn đồng thuyền với mình (là những người bị mắc cạn trên một hòn đảo sau một cơn bão dữ dội).
Nhưng anh ta không thể nào bỏ được bộ da rồng của mình.
Anh có làm gì đi nữa, nó cũng không chịu tróc ra. Anh ta chỉ có thể được biến trở lại hình dạng đúng của mình nếu anh bằng lòng để cho Aslan, con sư tử, vua của các loài thú, dùng các móng vuốt của mình mà cào đi lớp vẩy khủng khiếp đó. Con rồng Eustace không thể tự cứu mình được. Nó chỉ có thể được cứu bởi điều gì đó mà vua của các tạo vật có thể làm cho nó. Sự giải phóng của nó là một sự ban cho -chứ không phải là điều nó có thể tự mình có được.
Vì vậy mối quan hệ mới trong Kinh Thánh (mà Kinh Thánh gọi là “sự cứu rỗi”) cũng là một sự ban cho hoàn toàn. Không phải kiếm được, cũng không xứng đáng được. Không phải là điều gì đó tôi có thể đòi hỏi như một “quyền lợi.” Tôi đã được đem vào trong mối quan hệ mới với Đức Chúa Trời, không phải vì tôi tốt lành (là điều tôi không có), nhưng bởi vì Đức Chúa Trời yêu tôi, bất chấp sự kiện tôi không tốt lành. Đó chính là khía cạnh quá “mới mẻ,” quá bất ngờ của tình yêu trong đức tin Cơ Đốc. Phaolô tỏ rõ rằng hẳn là một điều rất ngạc nhiên khi một người bằng lòng chịu chết thay cho một người công nghĩa. Đó hẳn là một thử nghiệm đích thực tình yêu của người ấy. Nhưng ông nói tiếp, thật là một loại tình yêu chưa từng có khi Đấng Christ chịu chết cho con người, là những kẻ thậm chí không tốt lành, không ra gì. Đấng Christ đã chịu chết cho chúng ta đang khi chúng ta là người có tội (RoRm 5:8 xin cũng xem phần cuối Chương 10), điều đó cho thấy phạm vi mà tình yêu đích thực sẵn sàng đạt đến. Đức Chúa Trời yêu kẻ không xứng đáng. Thật là một tin bất ngờ!
Trọng Tâm Của Vấn Đề .
Chúng ta hãy tóm điều này thật vắn tắt. Có một cách diễn đạt của Paul Tillich đặt toàn bộ vấn đề chỉ trong hai dòng. Câu ấy như vầy:
Bạn được chấp nhận. Tất cả những gì bạn phải làm là hãy chấp nhận sự thật rằng bạn đã được chấp nhận.
Bạn được chấp nhận đúng như con người của mình. Bạn không cần phải “chứng minh” chính mình, hoặc nỗ lực điên cuồng để đạt được sự công nhận của Chúa. Bạn được chấp nhận ngay bây giờ. Như vậy bạn phải làm gì đây? Chỉ chấp nhận sự thật đó. Và hãy bắt đầu sống đúng với sự thật đó.
Đây là một cách khác để mô tả điều Kinh Thánh hàm ý: “sự xưng nghĩa bởi đức tin.” Đây là điều Phaolô đã khám phá, là điều Martin Luther đã tái khám phá, điều mà các Cơ Đốc nhân trong mọi thời đại đã phát hiện là sự kiện gây biến đổi trong đời sống cho đến nay vẫn chưa trọn vẹn của họ. Đó là món quà của sự cứu rỗi, của đời sống mới.
Đáp Ứng Của Chúng Ta
Toàn bộ điều này dẫn đến đâu? Đến sự biến đổi: Nếu bạn được Chúa chấp nhận đúng như hiện trạng của mình, thì bạn có thể chấp nhận chính mình đúng như con người của bạn; và nếu như bạn có thể chấp nhận chính mình đúng như hiện trạng của mình, thì bạn có thể chấp nhận người khác đúng như con người của họ.
Một lần nữa, mối quan hệ là điều có thể được. Bạn không còn cô độc và bị phân cách nữa (như ở Chương 13). Hiện bây giờ bạn được tự do để yêu thương, và đó chính là lý do mà bạn được dựng nên. Lần này chúng ta có thể tóm tắt toàn bộ vấn đề trong một dòng:
Chúng ta yêu bởi vì Ngài đã yêu chúng ta trước (IGi1Ga 4:19).
Làm thế nào mà sự ban cho này, là điều được ban cho chúng ta giải quyết được nan đề tự cho mình là trung tâm và kiêu ngạo của chúng ta? Chúng ta khám phá rằng món quà này thuộc loại không thể nào nuôi dưỡng lòng kiêu ngạo của chúng ta. Chúng ta không xứng đáng với nó, mà Đức Chúa Trời lại ban nó cho chúng ta. Không có cơ sở nào khả thi để vỗ ngực khen mình. Đáp ứng của chúng ta chỉ có thể là thái độ của lòng biết ơn , biết ơn Chúa vì đã ban cho chúng ta món quà yêu thương quá lớn (xem thêm Chương 18). Sự “công bình” của chúng ta là sự công bình của Đấng Christ, Đấng đã phá đổ hàng rào kiêu hãnh của chúng ta bằng cách trở nên hạ mình để Ngài có thể tôn cao chúng ta. (Bạn còn nhớ Phaolô không? “Tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi.”) Bao lâu mà chúng ta cứ khiêm nhường (đây không phải là thái độ giả vờ nghĩ rằng mình khá tốt nhờ tuyên bố mình không tốt, mà là một sự thừa nhận thành thật về chỗ đứng của mình trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời) - miễn là chúng ta vẫn giữ sự khiêm nhường - thì Đức Chúa Trời vẫn có thể không ngừng lấn chiếm đời sống chúng ta, và tiếp tục ngày càng thực hữu hơn đối với chúng ta. Một sự hiểu biết theo Kinh Thánh, xuất hiện bất ngờ ở nhiều chỗ khác nhau, có thể làm rõ sự thật này. Điều đó nói như vầy: “Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (Gia Gc 4:6; IPhi 1Pr 5:5 xem ChCn 3:34).
Như vậy trong tình huống mới của mình. Chúng ta phải xem trọng lời khuyên của Phaolô: “Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa” (ICo1Cr 1:31). Chúng ta mắc nợ Ngài và tình yêu của Ngài về con người hiện nay của chúng ta, không phải do sự khôn khéo và tốt lành của chính mình. Ngài đã tạo nên cuộc cách mạng trong đời sống chúng ta. Cuối cùng, hãy để Giêrêmi xác nhận sự hiểu biết của chúng ta về thái độ “con người mới” là người đã tiếp nhận món quà sự sống mới của Đức Chúa Trời:
Người khôn chớ khoe sự khôn mình; người mạnh chớ khoe sự mạnh mình; người giàu chớ khoe sự giàu mình; nhưng kẻ nào khoe hãy khoe về trí khôn mình biết ta là Đức Giêhôva; là Đấng làm ra sự thương xót, chánh trực và công bình trên đất; vì ta ưa thích những sự ấy; Đức Giêhôva phán vậy; (Gie Gr 9:23, 24).
Không Phải Một Lần Đủ Cả
Một số người cho rằng điều này xảy ra “đột ngột.” (Bạn hãy búng ngón tay đánh tách một cái khi nói chữ “đột ngột” để gây ấn tượng). Đối với họ, giờ phút sáng tỏ thật bất ngờ, thường thì người ta phải mất một thời gian dài. Nhưng không có ai mà đối với họ sự kiện này hoặc một loạt dài các sự kiện (thường được gọi là “sự qui đạo”) là cuối con đường. Nó chỉ mới là phần bắt đầu của con đường mới. Phaolô nói đến việc “tiếp tục bươn tới trước.” Ông nhận biết một cách đúng đắn rằng chúng ta “chưa” đến nơi, rằng chúng ta chưa đạt đến (ở bất cứ mức độ nào trong đời này) sự thành công trọn vẹn của đời sống Cơ Đốc. Đó là lý do vì sao khi nói “trở thành” một Cơ Đốc nhân thì đúng hơn nói “là” một Cơ Đốc nhân.
Kinh Thánh gọi tiến trình này là “sự nên thánh.” Nghe cứ như là một từ nghiêm khắc, nhưng nó không khó hiểu nếu bạn đã từng học lỏm bỏm tiếng Latinh ở trường trung học. Từ này gồm hai phần sanctus (thánh) và ficare (làm nên). “Nên thánh” vì vậy là quá trình ngày càng thánh khiết hơn hoặc như một số những Cơ Đốc nhân thường gọi: “lớn lên trong ân điển.” Quá trình này không xảy ra qua một đêm. Nó không dễ dàng. Và cũng không bao giờ được xưng nhận là một thành tựu của mình. Nhưng điều làm cho sự nên thánh cực kỳ thú vị và xứng đáng là vì trên thiên lộ này, Cơ Đốc nhân nhận ra rằng mình không còn cô độc nữa. Người ấy đang được trợ giúp.
Một Số Dấu Hiệu Của Sự Tăng Trưởng - Được Tập Tành Và Được Thử Luyện
Làm thế nào để “được lớn lên trong ân điển?” Làm thế nào để một người ngày càng “thánh khiết” hơn? Không có những câu trả lời ngoạn mục, không có “bảy nguyên tắc thành công,” không có những công thức đơn giản để “sống tốt lành,” bất chấp điều mà những quyển sách “được ưa chuộng” về tôn giáo có thể bảo bạn. Nhưng có những điều chắc chắn ra từ kinh nghiệm của “những người thuộc về Chúa” mà sớm hay muộn sẽ trở nên quen thuộc đối với bạn. Dưới đây là một vài điều trong số đó.
1) Kinh nghiệm của các Cơ Đốc nhân chính là khi bạn sống với Thánh Kinh. Đức Chúa Trời thỉnh thoảng “bước ra” và thật sự gặp bạn qua sự gặp gỡ cá nhân. Có lẽ lối diễn đạt ấy quá ngoạn mục ở giai đoạn này của cuộc chơi. Cần phải nói chính xác rằng, khi các Cơ Đốc nhân sống gần gũi với lời Chúa gặp bối rối trong việc làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, họ sẽ thấy ý muốn Chúa trở nên rõ ràng. Điều này không có nghĩa là lật vội các câu Kinh Thánh để tìm một câu chứng cớ thần kỳ cho bạn biết điều phải nói trong cuộc phỏng vấn đáng sợ vào thứ ba tuần tới, mà có nghĩa là bạn càng đặt chính mình vào phương cách Đức Chúa Trời hành động và thực hiện các công việc trong Kinh Thánh, thì Ngài càng trở nên thực hữu, và Ngài càng có nhiều cơ hội để bày tỏ đường lối của Ngài cho tấm lòng bạn. Đó là một sự thật - chứ không phải chỉ là một hy vọng của lòng mộ đạo - càng sống lâu với Kinh Thánh, càng có khả năng Đức Chúa Trời của Kinh Thánh trở thành thực hữu trong đời sống bạn. Điều này đòi hỏi việc học Kinh Thánh đầy đủ, chuyên tâm, khi bạn tìm cách phát hiện một khúc Kinh Thánh đặc biệt nào đó muốn nói gì. Nhưng chỉ học không thôi thì chưa đủ. Bạn hãy luôn tiếp tục đặt những câu hỏi sâu xa hơn: “Khúc Kinh Thánh này muốn nói gì với tôi, ngay lúc này ở tại đây?” (Xem thêm Chương 1).
2) Kinh nghiệm của những Cơ Đốc nhân đó là khi bạn cầu nguyện, không phải chỉ là bạn nói với chính mình, nhưng qua sự cầu nguyện, đây là một sự sâu nhiệm trong mối quan hệ giữa chính bạn với Chúa. Bởi vì Đức Chúa Trời thực sự quan tâm đến việc thiết lập mối quan hệ cá nhân với bạn, nên cầu nguyện không phải là điều gì đó “ma quái.” Theo sau sự cầu nguyện ấy tự nhiên là phương tiện hữu hiệu để thiết lập mối quan hệ trọn vẹn hơn. Đối với những con người vĩ đại trong Kinh Thánh, là những người có mối quan hệ gần gũi với Đức Chúa Trời điều này là xác thực. Ápraham, Môise, Đavít, Ysai, Giêrêmi, các tác giả Thithiên - không một người nào trong số những người này coi Đức Chúa Trời như là “một ý tưởng” mà họ đã từng nghe biết. Ngài là một Đức Chúa Trời hằng sống, với Ngài họ có thể bước vào trong mối quan hệ cá nhân. Và “mối quan hệ cá nhân” chỉ là một cách mô tả khác của điều được gợi ý bởi từ “cầu nguyện.” Tấm gương nổi bật trong Kinh Thánh là chính mình Chúa Jêsus. Ngài thức dậy từ sáng sớm để cầu nguyện. Ngài cầu nguyện vào giờ ăn, trong vườn Ghếtsêmanê, trên thập tự giá. Lúc nào Ngài cũng liên tục ở trong mối liên hệ với Đức Chúa Trời, trọng tâm của sự sống đích thực. Và không một đời sống nào có thể trọn vẹn nếu thiếu yếu tố này.
3) Kinh nghiệm của các Cơ Đốc nhân là đức tin và sự xác quyết lớn lên và được sâu nhiệm khi chúng được thử thách. Khi bạn “bị ở trong một hoàn cảnh bấp bênh” vì điều bạn đặt lòng tin. Lời hứa dành cho bạn là khi bạn có thái độ kiên quyết đặt nơi danh Chúa, bạn sẽ thấy mình không cô độc, Đức Chúa Trời ở với bạn, đưa tay ra nâng đỡ và ban cho bạn sự can đảm có cần trong tình huống đó. Điều này không có nghĩa là đời sống sẽ trở nên dễ chịu an nhàn, mà là dù bất cứ điều gì xảy đến, đều có các nguồn phương tiện sẵn dành cho bạn để đối đầu với tình huống ấy.
4) Cuối cùng, kinh nghiệm của các Cơ Đốc nhân chính là dự phần vào một cộng đồng thờ phượng Chúa để lớn lên trong đức tin. Đời sống Cơ Đốc là một con đường đặc biệt lởm chởm đá cho mỗi cá nhân, và con đường đó sẽ được làm cho bằng thẳng hơn bởi biết rằng có những người khác cũng đang bước đi trên đó. Bạn sẽ không nghĩ đến việc tự mình ra sức leo lên ngọn núi Matter-horn Bạn cố gắng công tác đó với tư cách thành viên của một tập thể. Bởi vì nó nằm trong cuộc chinh phục của người Cơ Đốc_ dự phần trong kinh nghiệm của sự thờ phượng chung- cùng nhau xưng tội lỗi mình, cùng nghe những lời tha thứ, cùng nhau ngợi khen Đức Chúa Trời qua các bài hát, cùng nhau lắng nghe Lời của Đức Chúa Trời được đọc và giảng giải. - San sẻ những kinh nghiệm này là làm cho đời sống của tất cả những người dự phần được phong phú. Điều này đặc biệt đúng qua lễ Tiệc Thánh, đỉnh cao sự sống của cộng đồng thờ phượng Chúa. Tất cả những kinh nghiệm này tỏ rõ rằng đời sống Cơ Đốc không phải là một đời sống cô độc mà là một đời sống của cộng đồng và sự san sẻ. Chúng ta không bao giờ trả lời đầy đủ câu hỏi “Con người là gì?” cho đến khi chúng ta nhận biết sự kiện này. Con người trong cộng đồng - với tư cách là một thành viên của mối thông công thờ phượng Chúa - là hình ảnh trọn vẹn duy nhất của con người mà chúng ta có thể phát họa. Đây là lý do vì sao sự hiểu biết của chúng ta về con người sẽ không đầy đủ cho đến khi chúng ta xem một chương nữa để thảo luận về cộng đồng này, là Hội Thánh, trong đó con người tìm được sự trọn vẹn của mình.
Một Lời Cảnh Báo Chót
Tuy nhiên, trước đó, một lời cảnh cáo sau cùng phải được nêu lên. “Việc lớn lên trong ân điển” không phải là một con đường đi thẳng đến sự hoàn hảo. Hoàn toàn ngược lại. Cơ Đốc nhân là người nhận ra rằng mình luôn luôn đứng trong chỗ cần đến sự tha thứ và ân điển của Đức Chúa Trời, cho đến tận giây phút cuối cùng của cuộc đời mình. Phaolô hiểu rõ điều này:
Vì theo người bề trong , tôi vẫn lấy luật pháp Đức Chúa Trời làm đẹp lòng ; nhưng tôi cảm biết trong cơ thể mình có một luật khác giao chiến với luật trong trí mình , bắt mình phải làm phu tù cho luật tội lỗi , tức là luật ở trong chi thể tôi vậy . Khốn nạn cho tôi ! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết này? Cảm tạ Đức Chúa Trời , nhờ Đức Chúa Jesus Christ , là Chúa chúng ta ! Như vậy thì chính mình tôi lấy trí khôn phục luật pháp của Đức Chúa Trời , nhưng lấy xác thịt phục luật pháp của tội lỗi (RoRm 7:22-25).
Hãy lưu ý rằng lời trích này chưa kết thúc khi Phaolô được cứu khỏi “thân thể hay chết này.” Thậm chí sau khi được cứu, Phaolô vẫn làm điều sai trái. Ông vẫn hầu việc “luật của tội lỗi.” Phaolô rất ý thức về điều này. Sẽ là quá đơn giản khi bảo rằng cuộc chiến một khi đã được giành lấy rồi thì không bao giờ cần phải tiến hành chiến tranh nữa. Đây là một cuộc chiến liên tục, một chiến trận mà trong đó chúng ta không được lơi lỏng sự phòng thủ của mình.
Nhưng cuộc chiến này là một cuộc chiến vinh hiển, bởi vì như Martin Luther đã nói trong bài hát “Chúa Bức Thành Kiên Cố Ta,” “trước Đấng có quyền xua nó lui liền, chúng ta không kinh khiếp ưu phiền:
Bằng ta hỏi tên Ngài chăng?
Là Giêxu danh chiến thắng.”
Chương 15: “Nhưng Chắc Chắn Bạn Không Đến Nhà Thờ!”
(Vì Sao “Tôn Giáo Cá Nhân ” Là Không Đủ? )
Nhiều người chỉ đi một phần đường với Kinh Thánh. Họ đánh vào bảng trắc nghiệm các câu hỏi lựa chọn theo kiểu này:
Chỉ dẫn : gạch dưới câu trả lời thích hợp
1. Có một Đức Chúa Trời.…..................... có không
2. Đức Chúa Trời quan tâm đến con người...... có không
3. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, Đấng Phán xét, Đấng Cứu chuộc... có không
4. Đức Chúa Trời được mặc khải qua Chúa Cứu Thế Giêxu... có không
5. Đức Chúa Trời đòi hỏi sự vâng lời... có không
6. Người nào tin những điều nêu trên thì phải dự phần tích cực trong hội thánh... có không
Ở mục thứ 6, sự phản kháng bắt đầu
Trường Hợp Chống Lại Hội Thánh - Một Túi Đầy Những Sự Phản Đối .
Vì sao có quá nhiều người không ưa hội thánh? Chúng ta hãy liệt kê một số những sự chống đối phổ biến, trước khi xem xét sự hiểu biết của Kinh Thánh về hội thánh. Sau đó, ở cuối chương này chúng ta có thể thấy những sự chống đối này theo triển vọng của nó. Đây là phần bắt đầu.
Tôi không thích nhà thờ bởi vì:
... những người trong nhà thờ hết sức giả hình
... nhà thờ đầy những bà cô lớn tuổi thuộc cả hai phái
... nhà thờ chẳng làm điều gì cả
... bạn phải hết sức mộ đạo nếu muốn thuộc về nhà thờ
... tôi không tin Đức Chúa Trời có “các giờ văn phòng” vào sáng Chúa nhật
... các hội thánh luôn xung đột nhau
... tôi không chịu nổi những bài thánh ca khủng khiếp của ban hát
... tôi quan tâm đến thế giới này hơn là thiên đàng
... hội thánh luôn lỗi thời trên năm mươi năm
... làm việc mới có giá trị, chứ đừng chỉ mang bộ mặt nghiêm trang vào ngày Chúa nhật
... tôn giáo là một vấn đề cá nhân
... các thầy giảng không thực hành điều họ dạy
(Chỗ trống được chừa cho những phản đối của riêng bạn. Nếu bạn cần thêm chỗ hãy viết ngoài lề).
Một số những lời phản đối có căn cứ, một số không xác đáng. Nhưng mỗi lời nêu trên là điều thường được nghe.
Hội Thánh Đã Bắt Đầu Vào Lúc Nào?
Trước khi để cho những người chỉ trích ghi lời cuối cùng, chúng ta hãy quay sang Kinh Thánh và khám phá đôi điều về tổ chức nguy hiểm này.
Trước hết hội thánh đã bắt đầu vào lúc nào? Câu trả lời theo truyền thống là:
H. Hội thánh được khai sinh vào ngày nào?
Đ. Lễ Ngũ Tuần.
H. Rất tốt. Câu hỏi tiếp theo...
Thậm chí khi bạn tra từ “Lễ Ngũ Tuần” trong tự điển và tìm thấy nó liên quan đến sự kiện các môn đồ được ban cho quyền phép bởi Đức Thánh Linh (Công vụ 2), bạn cũng không chịu thỏa mãn hoàn toàn. Bởi vì các môn đồ ấy là ai? Trước khi có sự kiện thập tự giá và sự phục sinh, họ đã là một cộng đồng được liên kết bởi sự cam kết chung của họ với Chúa Jêsus người Naxarét. Gốc rễ đích thực của hội thánh đâu phải nằm ở đó? Cũng đúng và cũng không, vì điều này, trong sự chuyển hướng của nó, đây không phải là một cộng đồng mới toanh. Tất cả những người này, kể cả Chúa Jêsus, đều thuộc vào những cộng đồng nhà hội khác nhau rải rác khắp xứ Paléttin; họ vốn đã là các thành viên của cộng đồng thờ phượng Đức Chúa Trời trong dân Dothái. Vì vậy sự bắt đầu của hội thánh phải được đẩy lùi qua lịch sử của dân tộc Dothái, trở lại thời kỳ Cựu Ước đến tận sự hình thành của “mối quan hệ giao ước” (chúng ta sẽ hiểu việc này trong một phút nữa); giữa Ysơraên và Đức Chúa Trời, khi dân Dothái trở thành “dân sự của Đức Chúa Trời.” Sự bắt đầu của họ nằm trên ranh giới của lịch sử được ký thuật, khi Ápraham, đáp ứng trước lời kêu gọi của Chúa, rời khỏi Urơ và đến sống tại Canaan. Đây là sự bắt đầu của “dân sự Đức Chúa Trời.” Cộng đồng Cơ Đốc, hội thánh, có nguồn gốc lâu đời của nó bắt nguồn nơi lịch sử sớm sủa nhất của dân tộc Dothái.
“Giao Ước” Chính Xác Là Gì?
Từ “giao ước” đã âm thầm lẻn vào đoạn trên. Chúng ta phải dành một phút để hiểu rõ từ này bởi nó rất quan trọng. Khi Kinh Thánh nói đến giao ước giữa hai người , nó hàm ý một “sự thỏa thuận” hoặc “giao kèo.” Mỗi bên hứa sẽ trung tín với phần thỏa thuận của mình, và nếu bên A không trung thành, bên B được buông tha khỏi bổn phận của mình.
Nhưng Kinh Thánh cũng nói đến một thỏa thuận giao ước giữa Đức Chúa Trời và Ysơraên , dân sự Ngài . Đây không phải là một sự thỏa thuận giữa hai bên bằng nhau mà là giữa một người cấp trên (Đức Chúa Trời) với một người cấp dưới (Ysơraên). Đức Chúa Trời nắm vai chủ động và lựa chọn Ysơraên, và rồi Ysơraên có thể đáp ứng lại, bằng cách đó, họ được ràng buộc với Đức Chúa Trời cách độc đáo và không thể cắt đứt được. Trường hợp quan trọng nhất của thỏa thuận giao ước này đã được lập tại núi Sinai (XuXh 24:3-8), vào thời điểm đó, dân Ysơraên hứa trung thành tuyệt đối với Đức Chúa Trời và vâng theo ý muốn Ngài trong khi Đức Chúa Trời hứa rằng dân Ysơraên sẽ vẫn cứ là tuyển dân của Ngài. Về sau, giao ước đã được làm mới lại (Gios Gs 24:1-33 chẳng hạn) nhưng giao ước cũng đã bị vi phạm. Dân sự đã xa lạc khỏi Đức Chúa Trời, hoặc họ cúng thờ các thần khác. Như vậy Ysơraên vi phạm thỏa thuận của giao ước bên phía họ. Nhưng Đức Chúa Trời thì không! Đây là một điều thật ngạc nhiên - Đức Chúa Trời vẫn thành tín. Việc chọn Ysơraên hoàn toàn do ân điển - vì Ysơraên không hề “xứng đáng” với đặc ân này - Đức Chúa Trời vẫn thành tín với Ysơraên ngay khi họ thất tín. Đức Chúa Trời đã đặt để lòng Ngài nơi Ysơraên. Ngài không thể từ bỏ họ. Khi có mọi lý do để ném bỏ Ysơraên, Ngài nói rằng:
Lòng ta rung động trong ta; lòng thương xót của ta cả đều nóng nảy.
Ta cầm sự nóng giận lại ,
Và sẽ chẳng lại hủy diệt Épraim ;
Vì ta là Đức Chúa Trời chẳng phải là người ;
Ta là Đấng Thánh ở giữa ngươi ;
Chẳng lấy cơn giận đến cùng người ;
(Ôsê 11:8;,9)
“Giao Ước Mới” Trở Thành Một Sự Khả Thi
Tiên tri Giêrêmi đã nói đến khả năng trong tương lai của một giao ước mới. Giao ước này sẽ không đặt cơ sở trên việc giữ một bộ luật lệ, như giao ước ở tại núi Sinai và sự làm mới lại của nó theo sau đó. Mà là một giao ước mới, Đức Chúa Trời sẽ đặt luật lệ Ngài vào “trong lòng họ, và viết nó lên chính tấm lòng họ.” Một mối liên hệ mới với Đức Chúa Trời vì vậy sẽ là khả thi, điều gì đó sắp sửa được thực hiện không phải bởi sự tốt lành của con người, mà là bởi hành động của Đức Chúa Trời đến với con người. Điều này khả thi bởi vì Đức Chúa Trời hay tha thứ:
Chúng nó thảy đều sẽ biết ta , kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn . Đức Giêhôva phán : Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó , và chẳng nhớ tội chúng nó nữa (Gie Gr 31:34).
“Giao Ước Mới” Trở Nên Thực Hữu
Điều này tiếp tục tồn tại như một khả năng trong tương lai xuyên suốt Cựu Ước. Tân Ước khẳng định rằng Hội thánh Cơ đốc là một thực tại của cộng đồng giao ước mới. Trong phần ký thuật đầu hết về Tiệc Thánh, Chúa Jêsus đã phán: “Chén này là giao ước mới trong huyết Ta” (ICo1Cr 11:25). Và trong các sách phúc âm đầu tiên hết, Chúa Jêsus phán: “Này là huyết ta, huyết của sự giao ước đổ ra cho nhiều người.” (Mac Mc 14:24). (Một vài thủ bản ban đầu viết rằng: “Này là huyết của giao ước mới ta...”)
Hãy lưu ý kỹ điều mà nó hàm ý. Giao ước mới không còn xa xôi trong tương lai nữa. Nó đang có mặt ở đây, ngay bây giờ, đang được trở thành hiện thực. Nó sẽ trở thành một thực tế qua sự chết của Chúa Jêsus, là điều mà bữa ăn với các môn đồ đang thể hiện trước một cách sống động.
Đây chính xác là điều các Cơ Đốc nhân đầu tiên phát hiện là sự thực. Qua sự chết (và sự phục sinh) của Chúa Jêsus, mối quan hệ mới với Đức Chúa Trời đã trở nên thực hữu. Một cộng đồng giao ước mới bắt đầu tồn tại, gồm những người đã trung thành với Chúa Giêxu Christ. Đối với họ, Ysơraên cũ vẫn tiếp tục trong cộng đồng mới này. Cơ Đốc nhân ám chỉ chính họ như là “dân Ysơraên mới” hay là “dân Ysơraên đích thực của Đức Chúa Trời” (GaGl 6:16; IPhi 1Pr 2:9; RoRm 9:27, 28; HeDt 8:1-12; Eph Ep 2:4-10). Phaolô liên kết mục đích của Hội thánh với giao ước mới một cách rõ ràng:
Không phải tự mình chúng tôi có tài năng mà nghĩ việc gì như bởi chính mình chúng tôi, nhưng tài năng của chúng tôi đến từ Đức Chúa Trời. Và ấy là Ngài đã ban tài năng cho chúng tôi giúp việc giao ước mới , chẳng phải giao ước về chữ, bèn là giao ước về Thánh Linh, vì chữ làm cho chết, song Thánh Linh làm cho sống (IICo 2Cr 3:5, 6 in nghiêng là ý tác giả)
Như vậy, từ đầu đến cuối, Kinh Thánh là quyển sách nói về cộng đồng. Những người bước vào mối quan hệ của Đức Chúa Trời làm phần việc của một cộng đồng, chứ không phải của những cá nhân. Niềm tin theo Kinh Thánh có được sự biểu lộ cao nhất qua đời sống phối hợp của cộng đồng.
Những Lời Chúa Jêsus Dành Cho Phierơ
Mối quan hệ của Chúa Jêsus với cộng đồng Cơ Đốc mới này là gì? Ngài có để lại sự cung ứng nào cho sự phát triển của nó không? Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta hãy xem xét một trong những câu gây tranh cãi nhiều nhất trong Tân Ước. Ở tại Sêsarê Philíp, Chúa Jêsus đã phán:
Còn ta, ta bảo người rằng: ngươi là Phierơ, ta sẽ lập hội thánh ta trên đá này, các cửa âm phủ sẽ chẳng thắng được hội đó (Mat Mt 16:18).
Một trong những khác biệt cơ bản nhất giữa Tin Lành và Công giáo Lamã phụ thuộc vào cách câu Kinh Thánh này được giải thích. Người Công giáo Lamã nói rằng: Ở đây Chúa Jêsus trao cho Phierơ thẩm quyền độc nhất với tư cách người đứng đầu hội thánh, Phierơ là tảng đá mà trên đó hội thánh được xây dựng. Phierơ chuyển nhượng quyền hành này cho những người kế nhiệm, và người kế nhiệm đó lại chuyển cho người kế nhiệm, và cứ như vậy trong sự nối tiếp không gián đoạn, cho đến vị giáo hoàng ngày nay. Chỉ có nơi nào giáo hoàng được tôn trọng như là người đại diện của Đấng Christ trên đất thì Hội thánh của Đấng Christ mới thực sự tồn tại. Bất cứ Hội thánh nào không tôn trọng giáo hoàng đều không phải là một phần của Hội thánh đích thực.
Cách giải thích câu Kinh Thánh này của người Tin Lành lại dài hơn một chút:
1) Một số những người Tin Lành cảm thấy rằng những lời này không phải đến từ môi miệng Chúa Jêsus, mà sau này đã được thêm vào. Dường như đối với họ, rõ ràng nếu toàn bộ tương lai của Cơ Đốc giáo giới lệ thuộc vào ý tưởng mà câu Kinh Thánh này diễn đạt, thì nó đã phải được nhắc đến trên một lần (các sách Phúc âm khác đều bỏ câu Kinh Thánh này). Điều này, tất nhiên chỉ là một sự lý luận tiêu cực không được bình luận và tự nó không có sức thuyết phục.
2) Có nhiều học giả Tin Lành công nhận Chúa Jêsus đã nói những lời đó hơn. Nhưng họ nói tiếp, hãy nhớ bối cảnh của câu nói đó. Chúa Jêsus đã hỏi: “Còn các ngươi thì xưng ta là ai?” và Phierơ đã trả lời: “Chúa là Đấng Christ.” Vì vậy vấn đề quan trọng ở đây là: điều gì là “đá” mà trên đó Hội thánh được xây dựng? Người Tin Lành tin rằng “đá” chính là lời công nhận của Phierơ rằng: “Chúa Jêsus là Đấng Christ.” Nơi nào đức tin ấy tồn tại, thì nơi đó là Hội thánh. Như vậy câu Kinh Thánh này phải được giải thích là: “Ngươi là Phierơ và trên đá này (nghĩa là trên đức tin ngươi đặt nơi ta) Ta sẽ xây hội thánh ta.”
Lưu ý đối với những độc giả thận trọng : Lời giải thích này là phổ biến trong Hội Thánh Đầu Tiên. Giữa vòng các Giáo Phụ Của Hội Thánh Đầu tiên, có 44 người đã hiểu câu Kinh Thánh này theo cách ấy, và chỉ có 17 người xem “đá” là chính mình Phierơ. Sau thế kỷ thứ tư và suốt Thời Kỳ Trung Cổ, cách giải thích chiếm ưu thế này đã bị chuyển đổi. Nhưng cuộc Cải Chánh đã giúp đem trở lại quan điểm ban đầu này.
3) Giáo hội Tin Lành lý luận tiếp, dẫu cho nếu hàm ý chính Phierơ là đá, cũng không có bằng chứng gì để cho rằng uy quyền của Phierơ đã được chuyển trao cho “những người kế nhiệm.” Giáo hội Tin Lành khẳng định rằng các sứ đồ, thay vì truyền lại một số những quyền hành khác thường cho những người kế nhiệm họ, đã truyền lại lời chứng, sự chứng kiến của họ, là điều được bao hàm trong các trang Kinh Thánh Tân Ước. Vì vậy, Hội thánh được thấy ở nơi con người giữ lòng trung thành với lẽ thật đã được công bố trong Tân Ước, đó là “Chúa Jêsus là Đấng Christ.” Chính đức tin ấy đã phân biệt Hội thánh ngày nay, cũng như nó đã phân biệt Hội thánh cách đây 1900 năm.
Những Người “Làm Đảo Lộn Thế Giới”
Hội thánh mà Tân Ước mô tả cho chúng ta, lúc ấy như thế nào? Tại sao những Cơ Đốc nhân hay khuấy rối này lại có thể gây được một sự ầm ĩ mà tất cả những tiếng gào thét của Nero hoặc của những con sư tử của ông ta lại không át chúng đi được? Thay vì trừu tượng về điều đó, chúng ta hãy để cho một vài bức ảnh có nền mờ kể lại câu chuyện.
Cốt Chuyện Của Một Cuộn Phim Không Lời
Đoạn phim quay cảnh ở xa của một khu chợ Đông phương. Chuyển sang cự ly trung bình gồm những khu lều rạp khác nhau. Thỉnh thoảng cận cảnh của một con lừa hoặc một con lạc đà đang mang các sản phẩm trong ngày có phiên chợ. Dần dần lấy cận cảnh của một thương gia thấp người, có khuôn mặt u buồn đang tiến vào chợ - một người lạ trong thị trấn. Chuyển sang túp lều của một thương gia cao hơn đang chỉ dẫn những người khác sắp xếp các sản phẩm - một người sống tại quê nhà trong vùng.
Đoạn quay cảnh xa của người thương gia thấp đang tiến tới lán trại của người thương gia cao. Dần dần cảnh tập trung vào gương mặt hai người đàn ông đang nói chuyện. Vẻ thăm dò lộ rõ trong đôi mắt của người đàn ông cao lớn khi ông quan sát gương mặt người kia. Chuyển sang cự ly trung bình, hạ thấp máy quay xuống cánh tay của người đàn ông cao lớn, có một cái que trong tay. Chuyển thấp xuống phần bụi cát và tập trung vào đầu chiếc que đang vẽ ra một con cá ở dưới lớp cát bụi.
Chuyển sang người đàn ông thấp, nét mặt đang theo dõi con cá vừa được vẽ. Khi nhìn thấy hình ảnh đó, biểu lộ trên gương mặt ông thay đổi, gương mặt sáng lên, sự u buồn biến mất. Ông nhìn người đàn ông cao lớn một cách vui mừng và gật đầu mạnh mẽ. Chuyển sang cự ly trung bình, hai người đàn ông ôm nhau theo kiểu người Trung Đông và rồi chia tay. Hình ảnh con cá trong lớp bụi mờ đi và bị bôi xóa bởi các bước chân của người qua kẻ lại.
Thắc mắc : vì sao hình vẽ một con cá ở dưới đất lại liên kết hai người lạ mặt chưa hề gặp nhau trước đây bao giờ?
Bức Thư Từ Một Chủ Quán Rượu Kinh Ngạc
Publius xin chào Romanus!
Tôi vội viết thư cho anh để kể cho anh nghe một kinh nghiệm thật sửng sốt của tôi hôm qua. Như anh biết đó, tôi chỉ mới đến Giêrusalem cách đây hai ngày từ Cápbađốc, một khách lạ hoàn toàn. Tôi có cơ hội đi đến một nơi công cộng là chỗ có một số người đang nhóm họp lại. Họ dường như đang chờ đợi điều gì đó khiến tôi hiếu kỳ. Thình lình có cái gì đó hết sức sửng sốt xảy ra. Tôi không biết giải thích như thế nào, nhưng không khí dường như đầy tiếng động - giống như những cơn gió thổi qua những cánh đồng Cápbađốc - những người đàn ông này rất sửng sốt. Họ dường như “nóng cháy” với điều gì đó mà họ phải chia sẻ. Thế rồi một số người trong bọn họ bắt đầu nói, và tôi xin thề (bạn sẽ cho điều này là điên cuồng, Romanus à) tôi có thể phân biệt được một số câu bằng ngôn ngữ của mình. Người đàn ông đứng kế bên tôi nhún vai tỏ vẻ khinh thường với câu: “Họ say rượu đó.” Một trong những người lãnh đạo đã nghe được câu nói của ông ta và trả lời: “Những người này chẳng phải say như các ngươi ngờ đâu, vì bây giờ mới chín giờ sáng.” (Câu nói ấy khiến mọi người cười ầm.) Đoạn ông đưa ra một lời giải thích bằng tiếng Hylạp phổ thông mà tất cả chúng ta nói.
Ông bảo rằng, những người này, kể cả ông, đều đã nhận được Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Và rồi ông tiếp tục nói đến điều họ đặt lòng tin. Có một người tên là Giêxu vừa bị giết gần đây. Nhưng ông ta đã sống lại từ kẻ chết và đang ở với họ và ở giữa vòng họ. Những điều tương tự như vậy. Khi người ấy nói xong, tôi thấy mình bật thốt: “Chúng ta phải làm chi?” Ông ta trả lời: “Phải có một bắt đầu mới, phải chịu phép báp têm, và anh em cũng sẽ nhận được Đức Thánh Linh.”
Và anh Romanus này, tôi đã làm đúng như vậy. Tôi đã tìm được Đức Chúa Trời mà tôi luôn tìm kiếm - thực sự là Ngài đã tìm kiếm tôi. Hãy mau đến Giêrusalem để tôi có thể chia sẻ điều này với anh.
Mẫu Đối Thoại ở Tại Côrinhto
LÃNH ĐẠO (đọc từ một bức thư )
“Cứ ngày đầu tuần lễ, mỗi một người trong anh em khá tùy sức mình chắt lót được bao nhiêu thì để dành tại nhà mình, hầu cho khỏi đợi khi tôi đến rồi mới góp. Khi tôi đến, tôi sẽ sai những kẻ mà anh em đã chọn cầm thơ tôi đi, đặng đem tiền bố thí của anh em đến thành Giêrusalem.” (Xếp cuộn giấy lại ).
Đó là một phần trong bức thư của Phaolô mà chúng ta sẽ bàn luận bây giờ. Phần còn lại của bức thư hầu như là những lời chào thăm cá nhân. (quay sang chàng thanh niên ) đồng ý không?
CHÀNG THANH NIÊN: Tôi không hiểu điều đó. Tôi thừa nhận là mình chỉ mới qui đạo nhưng tôi không hiểu vì sao chúng ta là những Cơ Đốc nhân Hylạp ở tại Côrinhtô lại phải bỏ số tiền mà chính tay mình khó khăn mới kiếm được cho những Cơ Đốc nhân Dothái ở tại Giêrusalem mà chúng ta chưa hề gặp mặt.
MỘT NGƯỜI KHÁC (chen vào ): Phải, vì một điều, hội thánh Giêrusalem là một loại “hội thánh mẹ” của chúng ta. Chúng ta hẳn sẽ không bao giờ được nghe “Tin Lành” nếu như những người ở đó không bắt đầu rao truyền Tin Lành ở tại Antiốt, rồi đến Galati và cuối cùng đến tận đây, Hylạp.
MỘT NGƯỜI KHÁC NỮA: Phải, và đừng quên rằng chúng ta không phải là nhiều “hội thánh” khác nhau. Tất cả chúng ta đều là một phần của một Hội thánh. Chúng ta là hội thánh của Đấng Christ ở tại Côrinhtô; cũng giống như hội thánh Đấng Christ ở tại Êphêsô, và ở tại Giêrusalem. Dầu quen biết nhau hay không điều đó không tạo nên sự khác biệt nào cả. Đấng Christ đã chịu chết cho tất cả chúng ta. Nếu Ngài đã phó mạng sống Ngài cho chúng ta, thì chắc chắn chúng ta có thể ban tặng một số tiền nhỏ mọn cho con cái Ngài dầu họ ở bất cứ nơi đâu.
Người đàn ông cao lớn, một Cơ Đốc nhân, băn khoăn không biết người khách lạ này có phải là Cơ Đốc nhân hay không. Bởi vì vào thời đó các Cơ Đốc nhân đang bị bắt bớ, hẳn người ta sẽ không la lên từ tố cáo “Cơ Đốc nhân?” với một người bạn, hoặc một kẻ thù có khả năng. Vì vậy một ngôn ngữ ký hiệu bí mật đã được sử dụng. Từ Hylạp “cá” (ichthus ) đã được sử dụng như một cách viết theo các mẫu tự đầu. Tức là mỗi mẫu tự là mẫu tự đầu của một từ trong lời tuyên bố đức tin của người Cơ Đốc, “Giêxu, Con Đức Chúa Trời, là Đấng Cứu Thế.” Như vầy:
I=i=Iesous= Jesus
X=ch=Christos= Christ
q= th = Theou= of God
g=u=(h)Uios=son
S=s=Soter=savior
Như vậy, vẽ một con cá là dấu hiệu cho thấy bạn là Cơ Đốc nhân tin Chúa. Không ai ngoài Cơ Đốc nhân hiểu được dấu hiệu này. Vì vậy hai người đàn ông này muốn nói: Cả hai chúng ta đều đang thờ phượng cùng một Đấng Christ, và điều này nối kết tấm lòng chúng ta bằng tình yêu thương, mặc dầu chúng ta chưa bao giờ gặp nhau trước đây.
VÀ MỘT NGƯỜI KHÁC NỮA: Bên cạnh đó, chúng ta phải nhớ rằng không có sự phân biệt giữa những người ở trong Hội Thánh. Tôi thừa nhận đây là một điều khó tin, nhưng bởi vì quốc tịch của những Cơ Đốc nhân Giêrusalem khác với chúng ta là điều không có vấn đề gì đối với Đức Chúa Trời - vì vậy, điều đó cũng không có vấn đề gì đối với chúng ta.
NGƯỜI THANH NIÊN BAN ĐẦU: Được rồi, điều này dường như vẫn xa lạ đối với tôi, nhưng nếu các anh đều coi trọng điều đó như vậy thì tôi nghĩ mình cũng làm được như vậy.
MỘT MẪU ĐỐI THOẠI Ở TẠI SAN FRANCISCO
HỌC SINH: Nhưng vì sao sự thờ phượng của Hội Thánh Đầu Tiên lại quan trọng như thế?
GIÁO SƯ: (cố gắng hết sức để học sinh hiểu ): Chúng ta hãy nhìn vấn đề theo một cách khác. Chúng ta hãy khoác cho kinh nghiệm của họ một chiếc áo thời nay và làm như điều đó xảy đến ngày hôm nay.
HỌC SINH: Đồng ý
THẦY GIÁO: Hãy tưởng tượng bạn là một người bán hàng trong một siêu thị tại San Francisco. Sáng sớm ngày Chúa nhật, bạn đến một ngôi nhà lớn ở Phố Jackson. Bạn rảo bước dọc theo lối đi và bước vào nhà qua cánh cửa sau. Trong phòng khách, “hội thánh” đang nhóm lại. Có đủ mọi hạng người. Một số người bạn biết, một số người bạn không biết. Bạn cẩn thận nhìn quanh một vòng để xem có các gián điệp của chính phủ hay không, nhưng những người trong ban chấp sự dường như đã nắm vững tình hình. Phía trước phòng, ngồi bên kia bàn phòng khách là các trưởng lão, và một người trong số họ, vị trưởng lão đứng đầu, cuối cùng đứng lên để bắt đầu buổi nhóm. Sau khi tất cả các bạn đã chào thăm thân mật với nhau, một chiếc khăn được trải lên bàn, trên đó đặt một chiếc dĩa bàn và chiếc cốc có chân, lấy từ tủ đựng ly tách của chủ nhà. Khi những lời quen thuộc của Chúa Jêsus được nhắc lại, một ổ bánh mang lên từ bếp được bẻ ra, và một ít rượu từ hầm rượu được rót vào cốc. Sau khi có một số người cầu nguyện và những lời đối đáp, bánh và rượu được chuyền quanh bởi các trưởng lão và tất cả các bạn đều dự phần. Khi đã dự xong, một số các bạn mang những miếng bánh nhỏ về nhà. Sau đó, vị trưởng lão đứng đầu nói: “Buổi nhóm kết thúc,” mọi người lại vội vàng đi ra theo lối cửa sau.
HỌC SINH (hơi thất vọng): Thầy muốn nói toàn bộ buổi nhóm chỉ có thế thôi sao?
THẦY GIÁO: Ngoài bề mặt thì đúng như vậy. Các chi tiết có thể thay đổi từ nơi này sang nơi khác, tất nhiên khi thời gian trôi đi buổi nhóm cũng có nhiều điều phức tạp hơn. Đối với một người ngoài thì điều này dường như không có nghĩa gì. Tuy nhiên vào cái ngày mà chúng ta đang nói đến thì có một hệ quả.
HỌC SINH (hy vọng hơn ) Sao?
THẦY GIÁO: Khi bạn rời lối đi nơi cổng vào, có ai đó nhìn bạn một cách khả nghi, phát hiện ra và bắt đầu la lên: “Ê, ở đây có một bọn Cơ Đốc nhân!” Một đám đông tụ tập lại, một số người bị xô đẩy, và không bao lâu sau, có cuộc xô xát diễn ra trên đường phố. Sau đó bạn nghe tiếng còi hụ và một chiếc xe cảnh sát đỗ lại. “Chuyện gì xảy ra ở đây?” Viên cảnh sát ra lệnh và khi ông ta nghe người ta gọi các bạn là “những Cơ Đốc nhân,” ông ta ấn mạnh các chiếc xích tay vào rất nhiều người trong số các bạn, và khi chiếc xe mui trần của cảnh sát đến nơi, ông ta đưa mười bảy người vào đồn.
Không phải mất một thời gian dài cho những sự việc xảy ra ở đây. Mọi người đều đã biết rõ luật: “Trở thành Cơ Đốc nhân là một điều cấm,” cũng giống như “Phạm tội giết người là một điều cấm,” và thủ tục sắp xảy ra cho cả hai trường hợp đều như nhau. Tất cả các bạn sẽ được hỏi là có muốn phạm tội hay không. Hầu hết mọi người đều thừa nhận mình là Cơ Đốc nhân, và khi một người ấp a ấp úng, viên quan tòa cảnh sát chỉ vào một bức hình của Tổng thống và nói: “Quì xuống trước bức hình này và nói “ Xin Ngài tha thứ các tội tôi.” Người ấy không làm thế vì anh tin rằng chỉ có Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế mới tha tội được và không con người nào có quyền đó.
Viên quan toà cảnh sát chẳng còn gì phải làm nữa. Tất cả các bạn đều phạm tội. Vì vậy họ đưa các bạn đến Alcatrazvà cho các bạn lên ghế điện từng người một suốt buổi sáng dài.
Học sinh (lúc này đã bị tác động khá mạnh ) Vì sao họ chấp nhận nguy hiểm như vậy?
THẦY GIÁO: Chính vì “nghi thức không có ý nghĩa” nhỏ nhặt ấy trong việc thờ phượng là trọng tâm và cốt lõi của đời sống họ. Nó đem họ vào mối tiếp xúc trực tiếp với Cứu Chúa phục sinh của họ và với nhau. Mọi điều khác đều phụ thuộc vào điều đó.
Phản Bác Việc Chống Lại Hội Thánh
Những kẻ “chỉ trích” hội thánh gay gắt trước hết cần được biết rằng lời buộc tội của họ chưa nghiêm trọng đủ! Những người yêu mến hội thánh và sống trong hội thánh có thể đưa ra lời lên án gay gắt hơn là những kẻ đứng ngoài. Bởi vì khi họ biết hội thánh rõ hơn, thì họ nhìn thấy sự đáng ghét của hội thánh cũng nhiều hơn - song họ cũng thấy được tiềm năng lớn lao của hội thánh rõ hơn. Và thường thì sự thật này giữ họ vẫn ở trong hội thánh, thay vì đi ra ngoài và ném đá vào cửa sổ.
Hãy xem điều này hoạt động thế nào. Những người “ chỉ trích” đứng ngoài đang thực hiện một suy nghĩ không đáng tin cậy. Khi đối mặt trước những yếu kém rõ ràng của nền dân chủ của Hoa kỳ, người ấy không bảo: “Chế độ dân chủ thật thối nát. Hãy xem tình trạng hối lộ và bại hoại. Toàn bộ sự việc là một mớ hỗn loạn. Tôi sẽ chẳng bận tâm mà đi bỏ phiếu.” Không, anh ta nói: “Chế độ dân chủ cần phải tốt hơn như thế này. Chúng ta hãy tìm những ứng cử viên tốt vào chức vụ, để chế độ dân chủ sẽ hữu hiệu.” Lời chỉ trích gây dựng ở bên trong thực tế hơn là những lời chỉ trích gây phá đổ từ bên ngoài. Nếu điều này đúng về chế độ dân chủ, thì nó cũng đúng trong lãnh vực hội thánh. Nhưng...
Về một mặt, sự ví sánh này không đầy đủ. Cần phải biết rõ rằng hội thánh không phải là một hiệp hội tình nguyện gồm những con người tốt lành sốt sắng hiệp lại với nhau để hình thành một câu lạc bộ nhằm nâng cao các tiêu chuẩn đạo đức của cộng đồng. Mà hội thánh là điều gì đó xuất hiện bởi vì những con người tầm thường thấy chính họ ở giữa một kinh nghiệm của cộng đồng hoàn toàn khác với bất cứ điều gì mà họ đã từng kinh nghiệm trước đây. Điều gì đó hoàn toàn không phải do chính họ song ra từ quyền năng và tình yêu của Chúa, được bày tỏ cho họ qua Chúa Giêxu Christ và Đức Thánh Linh. Những người này đã đáp ứng truớc tình yêu ra đi của Đức Chúa Trời và thừa nhận rằng cộng đồng này (tức là hội thánh) chính là công việc của Đức Chúa Trời chứ không phải của họ.
Những người chỉ trích phải nhớ rằng họ thường chỉ trích hội thánh vì tình trạng hiện nay của hội thánh, bằng cách so sánh nó với hội thánh phải có . Đây thực sự là một lời khen ngợi khó hiểu. Bảo rằng: “Hội thánh đại diện cho sự bình đẳng chủng tộc, nhưng không thực hành điều đó,” là một sự công nhận rằng nguyên tắc của hội thánh là đúng, và rằng chỉ có sự thực hành là sai. Sự suy diễn thật rõ ràng. Những người tin nơi sự bình đẳng chủng tộc phải làm việc trong hội thánh để làm cho sự thực hành này gần với nguyên tắc hơn. Họ sẽ thấy những người ở trong hội thánh cũng băn khoăn về sự chênh lệch này và cũng đang cật lực để tìm cách dỡ bỏ điều đó.
Vì Sao Phải Có Hội Thánh?
Vì sao phải có hội thánh? Vì sao “tôn giáo cá nhân” là không đủ?
Sau đây là bốn gợi ý khi bạn tìm cách trình bày rõ ràng câu trả lời của mình.
1) Cơ Đốc giáo từ đầu đến cuối là một tôn giáo của cộng đồng. Cơ Đốc giáo mà không có cộng đồng thì không phải là Cơ Đốc giáo, mà là một thứ gì khác. “Cơ Đốc giáo cá nhân” là một sự mâu thuẫn. Những người bảo rằng: “Tôi tin nơi Cơ Đốc giáo chứ không tin vào cộng đồng hội thánh” hoàn toàn cho thấy họ không hề có ý niệm gì về Cơ Đốc giáo thực sự là như thế nào cả.
2) “Hội thánh” không phải là kiến trúc bằng ván xấu xí nằm ở góc phố Đầu tiên và Chính yếu, với những chiếc cửa sổ kinh dị, ban hợp xướng khủng khiếp và thậm chí ông truyền đạo còn kinh khủng hơn. Cũng không phải là mái vòm xinh đẹp kiểu Gôtích nằm ở thị trấn với những chiếc cửa sổ đáng yêu theo kiến trúc Gôtích, một ban nhạc hát loại nhạc đáng yêu theo kiểu Gôtích, một người truyền đạo với giọng nói kiểu Gôtích, và một ngân quỹ với một khoản nợ đáng yêu kiểu Gôtích. Thay vào đó, Hội Thánh là mối thông công tuyệt vời của những người nam và những người nữ suốt mọi thời đại trên thiên đàng và trên đất, là các thánh đồ, là những người tuận đạo, là những con người hay vấp phạm như chúng ta, những người đã dâng chính mình họ cho Chúa vì Ngài đã bày tỏ mình qua Chúa Giêxu Christ, và cố gắng sống cuộc đời của họ theo đức tin đó.
3) Trên thực tế lịch sử, chính nhờ phương tiện hội thánh mà Cơ Đốc giáo đã sống và phát triển. Cơ Đốc giáo không thể tồn tại trong lịch sử mà không có một cộng đồng tiếp tục để qua đó Cơ Đốc giáo được công bố, được thực hành, (ở một mức độ lớn hơn hoặc kém hơn), và được truyền bá. Không phải những cá nhân đơn độc hoàn thành được nhiệm vụ này mà chính là mối thông công của những người tin Chúa. Bất cứ ở đâu danh của Đấng Christ được biết đến và được công nhận ngày nay thì đó là do hội thánh đã có mặt tại đó.
4) Các Cơ Đốc nhân thấy rằng những mối quan tâm về đạo lý của họ được củng cố bởi sự sống cùng phối hợp của họ. Khi các Cơ Đốc nhân làm việc với nhau, họ không những gây dựng và làm mạnh mẽ lẫn nhau, mà họ còn thấy rằng chính mình Đức Chúa Trời làm mạnh mẽ và gây dựng điều họ thực hiện. Câu nói của Gamaliên với Hội Đồng ở tại Giêrusalem, khi một số các Cơ Đốc nhân đầu tiên bị ra tòa, từ đó đến nay vẫn đúng:
Vì nếu mưu luận và công cuộc này ra bởi người ta thì sẽ tự hư đi ; nhưng nếu bởi Đức Chúa Trời ra , thì các ngươi phá diệt những người đó chẳng nổi . (Cong Cv 5:38, 39)
Các cửa âm phủ cũng không thể thắng được hội thánh .

Chương 16: Một Thế Giới Mới Kỳ Diệu
(Sự Phán Xét Cuối Cùng? Sự Đến Lần Thứ Hai?
Những Điều Đó Có Ý Nghĩa Gì? )
Một cám dỗ lớn khi đọc Kinh Thánh là bỏ qua các phần bạn không hiểu - hoặc ít nhất là cũng không muốn coi trọng các phần đó. Điều này đặc biệt đúng với những ý tưởng như “Sự Phán Xét Cuối Cùng; Sự Trở Lại Lần Thứ Hai,” và v.v... Toàn bộ khía cạnh này theo ý tưởng của Kinh Thánh được đề xuất bằng một từ thuận tiện, mặc dầu khó đọc: lai thế học (eschatolory ). Đây là một từ mà trước kia bạn không bao giờ cần đến. Và có lẽ bây giờ bạn cũng không muốn bận tâm đến nó. Dầu vậy, sẽ rất thuận tiện khi sử dụng nó trong chương này.
Sách đại số của bạn ghi: A = ð r2
Có nghĩa là diện tích vòng tròn tìm được bằng cách nhân bán kính với bán kính rồi sau đó nhân kết quả này với 3,1416. Nhưng thật tiết kiệm chỗ khi ghi “A = ð r2”!
Một bản tóm tắt thống kê của môn bóng chày ghi rằng Mays, cf.
Ab r h po a e
5 2 3 8 2 0
... có nghĩa là Willie Mays chơi ở sân giữa cho đội Giants, trực tiếp khiến đối phương đánh trật 8 lần, 2 lần giúp đồng đội hạ đối phương, đang khi chơi banh không gây lỗi, và trong 5 lần đập bóng, ghi được 3 điểm, với số điểm trung bình gây ấn tượng là 60%. Nhưng thật tiết kiệm được chỗ khi ta ghi: Mays, cf. ab r h po a e
5 2 3 8 2 0!
Tương tự như vậy , quyển sách này sử dụng từ “lai thế học,” (“mạt thế học”)
... có nghĩa là “những sự cuối cùng” (theo tiếng Hylạp, ta eschata ). Nó tượng trưng cho một nỗ lực để suy nghĩ về những việc sau rốt, về sự ứng nghiệm, về một lãnh vực trong đời sống vượt quá bất cứ điều gì mà chúng ta có được kinh nghiệm trực tiếp hoặc thực tế. Nó nhắc nhở chúng ta rằng, thời gian, thời gian mà trong đó chúng ta sống, chưa phải là trọn vẹn trong chính nó. Lịch sử loài người của chúng ta cũng chưa trọn vẹn trong chính nó. Nó sẽ đi đến một nơi nào đó. “Ba vạn sáu ngàn ngày” của chúng ta chưa phải là tất cả câu chuyện. Đời sống và kinh nghiệm của chúng ta, nói cách khác, được vây quanh bởi một điều gì đó tốt hơn, nền tảng hơn điều chúng ta rờ đụng và cảm nhận được từ ngày này sang ngày khác. Đức Chúa Trời có các mục đích vượt quá bất cứ điều gì có thể được hoàn tất đầy đủ trên đất này. Nhưng thật tiết kiệm chỗ khi viết chữ “thuyết lai thế” cho phần còn lại của chương này!
Sự Không Tránh Được Của Thuyết Lai thế
Hãy lưu ý rằng bạn không thể trốn tránh thuyết lai thế. Nếu bạn bác bỏ thuyết lai thế Cơ Đốc, bạn chỉ thay thế bằng một cách giải thích khác về thuyết lai thế. Câu nói nổi tiếng: “Hãy ăn, uống, và vui sướng đi, vì ngày mai các ngươi sẽ chết.” là một tuyên bố của thuyết lai thế. Câu đó nói như vầy:
• Có điều gì đó tốt hơn sự sống.
• Tên gọi của điều đó là sự chết.
• Nó mạnh hơn cả sự sống.
• Nó chinh phục và đánh bại sự sống.
• Nó là tột cùng.
• Bởi vì cuối cùng sự chết sẽ bắt lấy bạn, hãy sống cuộc đời cho phù hợp: hãy vui hưởng đi.
Tương tự như vậy, đức tin Cơ đốc là đức tin lai thế học. Đức tin ấy nói ngược lại với lai thế học ngoại giáo:
• Có một Đấng tốt hơn cả sự sống
• Danh Đấng ấy là Đức Chúa Trời Hằng Sống, Đấng ấy đã thăm viếng loài người qua Chúa Giêxu Christ.
• Ngài mạnh hơn cả sự sống.
• Ngài biến đổi và làm tươi mới đời sống. Ngài là Đấng Tối Thượng.
• Bởi vì Ngài đối diện bạn bằng tình yêu và mong mỏi bạn đáp lại bằng tình yêu, hãy sống cuộc đời bạn cho thích hợp: hãy yêu Ngài và yêu đồng loại mình.
Bằng cách nào, bạn cũng can dự vào lai thế học.
Ý nghĩa của Lai thế Học theo Kinh Thánh: Lịch Sử Đang Đi Đến Một Nơi Nào Đó .
Ý nghĩa của lai thế học theo Kinh Thánh có thể được hiểu bằng cách so sánh với đối thủ chính của nó trong thời kỳ Tân Ước. Đây là một niềm tin cho rằng lịch sử không tiến lên phía trước mà di chuyển theo vòng tròn. Khi người Hylạp xem xét thiên nhiên họ thấy một sự lập lại bất bận. Hoa nở mùa xuân (trala), sống mùa hè, chết vào mùa thu, biến mất trong mùa đông, hoa nở mùa xuân (trala) sống mùa hè, chết mùa thu, biến mất vào mùa đông, hoa nở mùa xuân (trala), sống mùa hè... luôn luôn cùng một khuôn mẫu. Dường như chẳng có gì mới cả.
Họ áp dụng cùng khuôn mẫu này cho sự tồn tại của chính mình . Và điều đó có nghĩa là không có hướng tiến lên. Lịch sử chẳng bao giờ đi đến đâu cả; nó không có mục tiêu hoặc ý nghĩa tối hậu: nó chỉ là một vòng tròn đơn điệu tương tự lập đi lập lại mãi. Ngay bây giờ, tôi đang viết một chương về lai thế học, vào một buổi chiều nóng bức, trong một văn phòng ngột ngạt. Khi lịch sử đã đi trọn vòng tròn của nó, tôi sẽ lại thấy mình đang viết chương này, vào một buổi chiều nóng nực, trong văn phòng ngột ngạt, và về sau tôi lại sẽ thấy mình cũng đang viết chương này, vào một buổi chiều nóng bức, trong một văn phòng ngột ngạt, cứ tiếp tục như thế, lập đi lập lại, từ lúc này sang lúc khác, chẳng bao giờ thoát khỏi khuôn khổ này, không có kết thúc gì hơn trong tầm nhìn ngoài câu nói dường như đã có cho đến lúc này.
Trái với hình ảnh tẻ nhạt này, lai thế học theo Kinh Thánh khẳng định rằng lịch sử là một loạt những sự kiện độc đáo có ý nghĩa bởi vì chúng hướng đến một thời điểm hoàn thành, sẽ được ứng nghiệm bởi Đức Chúa Trời. Lịch sử sẽ đi đến một nơi nào đó chứ không phải chỉ “xoay tròn.” Đây là vũ đài nơi Đức Chúa Trời hành động (xem Chương 6). Bởi vì sự hoạt động của Đức Chúa Trời không chỉ bị hạn chế ở lịch sử, điều này có nghĩa lịch sử của chúng ta có ý nghĩa tối hậu bởi vì nó liên hệ với toàn bộ hoạt động của Đức Chúa Trời, cả ở đây lẫn bên kia. Công việc của chúng ta trong phần còn lại của chương này là “giải thích tường tận” điều này.
Những Nguy Hiểm Của Cách Giải Thích Theo Nghĩa Đen
“Có phải sự Phán Xét Cuối Cùng sẽ xảy đến vào thứ ba không?” “Chúa Jêsus sẽ Trở Lại Lần Thứ Hai vào năm 2000 phải không?” Con người vẫn luôn tìm cách xác định ngày tháng của những sự kiện này. Nhưng lần tới nếu có ai bảo bạn rằng Ngày Phán Xét là 24 tháng 10 lúc 7:30 sáng thì bạn hãy nhớ những lời của Chúa Jêsus: “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy. Song chỉ một mình Cha biết mà thôi” (Mat Mt 24:36). Cũng hơi tự cao tự đại khi tuyên bố mình biết nhiều hơn Chúa Jêsus đấy.
Thay vì tuyên bố biết được bí mật nội bộ chính xác khi nào và bằng cách nào sự ứng nghiệm các mục đích của Đức Chúa Trời sẽ đến. Việc quan trọng hơn hãy tin rằng sự ứng nghiệm sẽ đến, rằng lịch sử đang tiến theo một hướng có ý nghĩa, rằng trong thời điểm thích hợp của chính Đức Chúa Trời, các mục tiêu của Ngài sẽ được hoàn thành, khi quyền phép của Ngài tự bày tỏ ra trên đời sống và số phận của con người. Hơn nữa, chúng ta có thể khẳng định loại niềm tin ấy mà không lo lắng địa hình của thiên đàng và nhiệt độ của địa ngục. Các ý niệm đó không phải là nỗi lo của chúng ta, và thậm chí nếu như chúng có bất cứ ý nghĩa gì đi nữa thì cũng có thể được trao phó cách an toàn cho Đức Chúa Trời quyết định.
Lai thế Học theo Kinh Thánh Được Diễn Tả Như Thế Nào .
Cựu Ước hướng đến tương lai. Hiện tại thật khó hiểu: Đức Chúa Trời chọn một dân và dân ấy từ bỏ Ngài. Quyền phép trong thế giới của Đức Chúa Trời trao cho các dân tộc không công nhận Ngài; Đường lối của kẻ ác được thạnh vượng. Hậu quả là, Cựu Ước khẳng định, những sự khó hiểu này cuối cùng sẽ được giải tỏ. Đức Chúa Trời sẽ can thiệp để lập lại sự công bình của Ngài. Các tác giả mô tả sự kiện này bằng những cụm từ mang tính lai thế như “Ngày của Đức Giêhôva,” hoặc “Thời kỳ Hầu Đến,” “Những Ngày Sau Rốt.”
Đôi khi ngày của Đức Giêhôva này được diễn giải như là sự phán xét : “Ấy là ngày tối tăm không phải là ngày ánh sáng” (AmAm 5:18).
Đôi khi nó được diễn dịch như là một sự phục hồi : các dân nổi loạn sẽ bị giày đạp dưới chân, và dân sự Đức Chúa Trời sẽ được khôi phục, sau kinh nghiệm đau thương của họ.
Đôi khi nó được liên kết với hy vọng về một Đấng Mêsi sẽ đến để minh chứng cho Đức Chúa Trời và dân sự của Đức Chúa Trời. Sau đó, Đức chúa Trời sẽ là moi sự trong mọi sự, con người sẽ vâng theo ý muốn Ngài, và sẽ có loại thiên đàng trên đất:
Bò cái sẽ ăn với gấu ;
Các con nhỏ chúng nằm chung ;
Sư tử ăn cỏ như bò ...
Nó chẳng làm hại , chẳng giết ai .
Trong cả núi thánh của ta ;
Vì thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giêhôva ,
Như các dòng nước che lấp biển
(EsIs 11:7, 9)
Đến cuối thời kỳ Cựu Ước, chúng ta thấy một sự chuyển đổi trong lối suy nghĩ này. Trong Đaniên (sách Cựu Ước cuối cùng được viết) khung cảnh của Thời Kỳ Mới dường như chuyển từ đất đến một nơi nào khác. Sẽ có sự gián đoạn dữ dội trong quá trình lịch sử, bản thân lịch sử sẽ bị đổi ra một điều gì đó hoàn toàn khác, và bằng một phương cách không thể mô tả được, luật lệ của Chúa sẽ được bày tỏ không những trên đất, mà khắp cả vũ trụ.
Bầu không khí Tân Ước thì hơi khác. Tân Ước tuyên bố rằng “Sự cuối cùng” đã đến, nhưng bằng một phương cách rất khác so với sự mong đợi của Cựu Ước. Bằng việc ban Con Ngài, Đức Chúa Jesus Christ, Đức Chúa Trời đã can thiệp tích cực vào đời sống con người. Đấng Christ đã đến, và với Ngài, ngày của Đức Giêhôva đã bắt đầu. Và ngay lúc ấy, Tân Ước khẳng định, sự hoàn tất trọn vẹn sẽ xảy đến, Đấng Christ sẽ trở lại một lần nữa và “sự cuối cùng” vốn đã xâm nhập vào trong lịch sử, sẽ được trọn vẹn. Trong thời kỳ ở tạm, các Cơ Đốc nhân phải sống như công dân của cả thời kỳ hiện tại và của “thời kỳ hầu đến.”
Khảo sát Lai thế Học của Tân Ước
Chúng ta hãy xem xét các thuật ngữ của Tân Ước mô tả “sự cuối cùng.” Công việc của chúng ta là phải hiểu những thực tế mà những thuật ngữ về lai thế học đã chỉ ra, thay vì dừng ở bản thân các thuật ngữ mà thôi.
Sự Trở Lại Lần Thứ Hai của Đấng Christ - có ý nghĩ gì trong lời tuyên bố rằng Đấng Christ sẽ “trở lại?” Cũng như các câu chuyện về sự Sáng Tạo chép rằng: “Ban đầu Đức Chúa Trời,” các câu nói về Sự Trở Lại Lần Thứ Hai khẳng định: “Trong ngày cuối cùng Đấng Christ.” Lịch sử được vây bọc trước và sau bởi Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là Đấng tối cao tể trị lịch sử. Lịch sử, nói cách khác, di chuyển hướng đến Đấng Christ thay vì xa khỏi Đấng Christ. Chính vì có liên quan đến Ngài mà lịch sử của chúng ta mới được hiểu. Sự đến lần thứ nhất của Đấng Christ là manh mối hiện tại của chúng ta về đời sống thực sự như thế nào. Lời tuyên bố rằng Ngài sẽ “trở lại” hứa hẹn những gì hiện nay chúng ta biết về Ngài một phần sẽ được làm sáng tỏ cách trọn vẹn.
Antichrist (Kẻ Địch lại Đấng Christ) - các sách Tân Ước nhất định, đặc biệt là Khải huyền, đã nói về Antichrist, hiện thân của tất cả những điều ác. Antichrist được bày tỏ vào thời kỳ “cuối cùng,” cùng với Christ thực. Hình ảnh của Antichrist đại diện cho việc điều ác sẽ tiếp tục gia tăng cho đến cuối cùng.
Trước khi loại bỏ điều này như một ý tưởng kỳ quặc, bạn hãy tự hỏi mình xem điều này há không phải là một lời mô tả chính xác về tình hình của chúng ta ư. Thế giới thật ra không “ngày càng tốt hơn.” Mỗi một tiến bộ mới về mặt lịch sử lại đem đến một hiểm họa mới. Tiến bộ càng lớn thì hiểm họa càng nhiều. Ngày nay, chúng ta đứng trên bờ của cộng đồng thế giới, nhưng chúng ta cũng đứng bên bờ của sự hủy diệt thế giới. Những điều làm cho cộng đồng thế giới khả thi chính là những điều đe dọa cộng đồng thế giới.
Máy bay làm cho tất cả chúng ta trở thành hàng xóm, nhưng nó cũng làm cho chúng ta giết những người hàng xóm của mình dễ dàng hơn.
Sự truyền thông rộng khắp thế giới ràng buộc chúng ta lại gần với nhau hơn, nhưng là một phương tiện tuyên truyền, nó có thể đẩy chúng ta ra xa nhau.
Sức mạnh nguyên tử làm cho tình trạng nghèo thiếu không còn cần thiết, nhưng nó cũng khiến chúng ta tuyệt chủng.
Chính loại sự kiện này mà biểu tượng của Antichrist trở nên rõ ràng. Tội ác cứ dai dẳng, gia tăng cho đến cuối cùng.
Sự Phán Xét Sau Cùng - ý niệm về một thời điểm tính sổ, về một cuộc phán xét hàm ý rằng điều xảy đến trong cuộc đời con người có những hậu quả lâu dài . Đúng và sai đều có ý nghĩa và thực sự tạo ra một sự khác biệt, một loại khai trình nào đó liên quan đến chúng sẽ được tiến hành.
Thật dễ để gặp rắc rối ở đây. Một số người nghĩ rằng sự phán xét cuối cùng giống như sổ liên lạc cuối năm:
• Một số người hỏng... và phải đi địa ngục.
• Một số người được điểm C+... và vừa vặn lọt vào thiên đàng.
• Một vài người tốt nghiệp hạng danh dự ... và trở nên các thánh.
Điều này gợi ý (sai lầm) rằng mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời đặt cơ sở trên công trạng chúng ta một cách khắt khe . Một ý tưởng trong chốc lát sẽ tỏ rõ rằng nếu dựa trên cơ sở của sự thưởng-phạt, chẳng ai có thể nhận được đặc ân của Đức Chúa Trời. (“Lạy Chúa nếu ngày chấp trách tội lỗi, thì ai có thể đứng nổi?”) Sự cứu rỗi, hay là sự sống đời đời là một sự ban cho - chứ không phải là điều kiếm được. “Bởi ân điển mà anh em được cứu” là điểm then chốt không cần tranh cãi ở vấn đề nổi bật này. Ngoài điểm then chốt này, biểu tượng của sự phán xét cuối cùng là một sự nhắc nhở rằng chúng ta phải chịu trách nhiệm ở trước mặt Chúa về những gì mình đã làm với cuộc đời của mình.
Có lẽ điều công bằng nhất (và đáng sợ nhất) phải nói là chúng ta sẽ được Đức Chúa Trời nhìn xem đúng như con người thật của mình, với tất cả những sự kiêu căng tự phụ bị lột bỏ. Điều này may lắm là một viễn ảnh rùng rợn. Phierơ đã có một ý niệm mơ hồ về điều đó trong suốt vụ xử Chúa Jêsus. Sau khi chối Ngài, ông đã ngó Chúa Jêsus một lần. Chúa Jêsus đã nhìn ông - và Phierơ không thể đáp lại cái nhìn ấy. Ông đã bị phán xét, bị nhìn đúng con người thật của mình, đó là một kinh nghiệm khủng khiếp. Nhưng đã có một sự cứu chuộc tối hậu thậm chí dành cho Phierơ, khi Chúa Jêsus (sau phục sinh) tha thứ ông và phục hồi mối tương giao với ông.
“Nhưng còn những người Hốt-tan-tô ( ở Nam phi) thì sao?” Tức là những người chưa được cứu thì thế nào? Hay là ai cũng được cứu cả? Chắc chắn là không có câu trả lời “theo đường lối của tổ chức” ở đây nhằm làm thỏa mãn mọi Cơ Đốc nhân. Nếu tình yêu của Đức Chúa Trời là tột bực, thì thật khó mà tin rằng Đức Chúa Trời sẽ “từ bỏ” một người từ chối đáp lại tình yêu của Ngài, mà Ngài sẽ tiếp tục, vượt khỏi cuộc đời này để chinh phục người ấy trở lại với Ngài. Mặt khác, nói một cách hết sức dễ dàng “mọi người đều được cứu” là cho rằng sự phân biệt về mặt đạo lý thật sự không thành vấn đề - rằng Hitler cũng gần gũi với Đức Chúa Trời như là Albert Schweitzer. Chúng ta phải cho con người cái quyền đạo lý để cứ tiếp tục nói không với Đức Chúa Trời nếu như họ muốn. Đức Chúa Trời không thể “ép buộc” con người yêu Ngài nếu không đó không phải là tình yêu thật, một phần ý nghĩa của sự tự do con người đó là nó cho chúng ta đặc quyền đáng sợ để từ chối tình yêu ấy.
Dầu tốt hay xấu đến mức nào đi nữa, chúng ta cũng phải lệ thuộc vào lòng thương xót và tình yêu của Đức Chúa Trời. Chúng ta không được dựng những hàng rào chung quanh tình yêu đó hoặc tuyên bố mình biết chính xác tình yêu ấy đạt đến bao xa. Công việc của chúng ta là dâng đời sống mình cho Chúa, và truyền tình yêu Ngài cho người khác, thay vì đoán xét sự trọn vẹn hoặc không trọn vẹn cam kết của người khác.
Nước của Đức Chúa Trời
Ý niệm này của Kinh Thánh đầy dẫy ý nghĩa lai thế. Nước Đức Chúa Trời là trung tâm của chức vụ của Chúa Jêsus. Ngài giảng dạy về Nước Trời, Ngài kể những ví dụ về Nước Trời, Ngài thi hành “những công việc quyền năng” để bày tỏ Nước Trời. Tuy nhiên - bạn có chắc bạn biết Nước Trời hàm ý điều gì không? Từ trước đến nay nó là đề tài của những cách giải thích khác nhau nhiều hơn hầu như bất cứ ý tưởng nào khác trong Kinh Thánh.
Một người Công giáo Lamã tốt lành : Hội thánh Lamã là cổng vào Nước Trời. Nếu bạn muốn ở trong Nước Trời, bạn phải ở trong Giáo hội Lamã.
Một thành viên tốt của đạo Tin Lành : Giáo phái của tôi là cổng dẫn vào Nước Trời. Nếu bạn muốn được ở trong Nước Trời, bạn phải thuộc về giáo phái của tôi.
Một nhà hoạt động xã hội khắc khổ : Nước Trời được xây dựng bởi những nỗ lực mạnh mẽ của những con người có thiện chí. Nếu chúng ta hợp lại với nhau, chúng ta có thể đem Nước Trời xuống trên đất này.
Người thích giải thích theo đúng nghĩa đen nghiêm nhặt : Tôi đã nghiên cứu Kinh Thánh kỹ lưỡng và khám phá rằng Nước Trời sẽ đến vào ngày 14 tháng 3 năm 1987 trước 2g chiều một chút. Khốn cho những kẻ chưa từ bỏ đường lối ác của họ trước thời điểm này!
Người trung thành với chủ nghĩa cá nhân : Nước Trời ở trong lòng tôi. Dầu cho điều gì xảy ra, Nước Trời vẫn sống trong tôi.
Như vậy chúng ta có những cách giải thích hết sức cực đoan như là...
“Hãy vui vẻ lên, hỡi những người của Đức Chúa Trời! Nước Ngài đến chậm; hãy công bố thời kỳ của mối quan hệ anh em.
“Và kết thúc đêm của điều sai trái.” *
Hãy ngồi xuống, hỡi những người của Đức Chúa Trời, Nước mà Ngài sẽ mang đến, xuất hiện đúng khi nào và ở nơi nào Ngài muốn.
Bạn không thể làm điều gì cả.
... và mọi điều ở giữa
Một Vài Sự Giúp Đỡ
Một lý do giải thích cho sự khó khăn này là cụm từ “Nước Đức Chúa Trời” không truyền đạt rõ ràng ý nghĩa các từ gốc của Kinh Thánh. Khái niệm của Kinh Thánh không gợi ý một nước về mặt địa lý với các biên giới và vân vân, như là sự trị vì của Đức Chúa Trời, vương quyền của Ngài, hoặc quyền tối cao của Ngài. “Nuớc Đức Chúa Trời” là Đức Chúa Trời đang hành động với quyền phép nhà vua của Ngài, hoặc sử dụng quyền tối cao của Ngài trên đời sống. Ý niệm về một Vương quốc như là một lãnh thổ hoặc là một khu vực mà con người có thể bước vào chỉ là một ý nghĩa thứ yếu.
Một nguồn tư liệu gây bối rối khác nữa có thể tránh khi hiểu rằng “Nước thiên đàng” được sử dụng trong sách Phúc âm Mathiơ chỉ có nghĩa là “Nước Đức Chúa Trời” trong các phần ký thuật khác. Người Dothái cho rằng sử dụng tên của Đức Chúa Trời là phạm thượng. “Mathiơ,” tác giả sách Phúc âm thuần Dothái hơn hết, đã coi trọng điều đó. Bằng cách viết “Nước thiên đàng,” ông tránh sử dụng từ “Đức Chúa Trời” và vì vậy cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng ông cũng chỉ hàm ý Nước Trời.
Nước Trời Cả Trong Hiện Tại Lẫn Tương Lai
Trong Kinh Thánh có ba cách giải thích về Nước Trời
Trước hết đó là sự hiểu biết quyền tối cao đời đời và vô hạn của Đức Chúa Trời. Ngài thi hành Vương quyền trên mọi tạo vật “từ trước vô cùng cho đến đời đời.” Ngài là Chúa của mọi sự, trong hiện tại lẫn cõi đời đời. Nước của Ngài là một Vương quốc tồn tại vĩnh cửu, dầu chúng ta có biết điều đó hay không.
Ngoài ra , ở một mức độ nhất định nào đó, rõ ràng quyền tể trị tối hậu của Đức Chúa Trời thực sự đã được bày tỏ qua lịch sử loài người. Nước Trời đã được nhận biết một phần bởi dân Dothái khi họ tuân giữ kinh Torah hoặc Luật pháp. Nước Trời được nhận biết phần nào qua sự hiện đến của Đấng Christ. Sau sự hiện đến của Ngài, Nước Trời được nói đến như là “ở giữa vòng các ngươi.” Nước Trời “ở gần!” Nước Trời “đã đến tận các ngươi rồi.”
Cuối cùng , có một số đoạn Kinh Thánh tỏ rõ rằng Nước Trời, trong toàn bộ sự trọn vẹn của nó, vẫn còn nằm trong tương lai. Nếu Nước Trời đã đến một phần, thì nó sẽ còn đến. Sự hoàn tất trọn vẹn mục tiêu của Đức Chúa Trời chưa đạt được hoàn toàn, mà vẫn còn phải đến.
Những yếu tố này có thể kết hợp để làm sáng tỏ sự phân biệt của quan điểm Kinh Thánh bằng cách bảo rằng Nước Đức Chúa Trời đã “xâm nhập vào” lịch sử loài người một cách dứt khoát bởi sự hiện đến của Đức Chúa Jesus Christ, nhưng sự trọn vẹn và đầy đủ của công việc quyền năng Đức Chúa Trời vẫn nằm ở tương lai. Hãy xem xét hai khía cạnh của lời tuyên bố này.
Nước Trời đang hiện diện ; nó đã đến . Sự trị vì của Đức Chúa Trời đang ở đây, và lòng trung thành phải được dành cho Ngài. Ngày của Đức Giêhôva đã bắt đầu trở nên rõ ràng. Điều mà trước kia chỉ là một sự trông đợi, nay đang là một thực tế. Bằng chính sự hiện diện và công việc của mình, Chúa Jêsus phán: “Nước Đức Chúa Trời đã đến nơi các ngươi rồi” (LuLc 11:20). Qua Ngài, sự trị vì của Đức Chúa Trời đã bắt đầu một cách tích cực trên đất. Kỳ đã trọn. Nước Trời không chỉ đang trên đường đến. Nước Trời đang ở đây.
Tuy nhiên (điều này phải luôn được nói trong cùng một câu), Nước Trời đang ở trong tương lai ; Nước Trời hầu đến . Nước Trời trong phạm vi phổ thông của nó vẫn chưa trở thành một thực tế. Chúa Jêsus trông đợi điều này phải đến trong tương lai. Ngài dặn bảo các môn đồ phải cầu nguyện cho điều đó: “Nước Cha được đến... ở đất như trời” (Mat Mt 6:10) sẽ có một sự hoàn tất trong tương lai điều đã xuất hiện trong Đấng Christ.
Nhấn mạnh vào một trong hai lời tuyên bố trên mà loại bỏ điều còn lại là làm sai lệch tồi tệ hình ảnh này. Cho rằng thế giới chúng ta hiện biết đây là một với Nước Trời là sự bày tỏ lố bịch. Cho rằng Nước Trời chỉ có trong tương lai là coi hiện tại không quan trọng và không liên quan. Trong bài Cầu Nguyện Chung, chúng ta cầu nguyện rằng: “Nước Cha được đến ... vì nước... đều thuộc về Cha.” Chúng ta muốn cầu xin Đức Chúa Trời rằng khi Ngài muốn điều đó, nguyện cho Nước mà chúng ta hiện thấy đây trong toàn bộ sự trọn vẹn của nó trong Đấng Christ cũng hiện diện trong sự toàn vẹn hoàn toàn của nó khắp mọi tạo vật khi Đức Chúa Trời muốn.
Sự Ban Cho Của Đức Chúa Trời
Nước được trình bày trong Kinh Thánh là công việc của Đức Chúa Trời . Đó không phải là điều chúng ta có thể kiếm được hoặc “xây tạo;” đây là điều chúng ta chỉ có thể nhận lãnh. “Sự hiện đến” của Nước Trời không phải là công việc của chúng ta. Chúa Jêsus phán qua một ví dụ:
“Nước Đức Chúa Trời cũng như một người vãi giống xuống đất ; người ngủ hay dậy , đêm hoặc ngày , giống cứ nẩy chồi mọc lên mà người không biết thể nào . Vì đất tự sanh ra hoa lợi ...” (Mac Mc 4:26-28).
Con người không thể nhận được lời khen ngợi gì vì đã “xây dựng” Nước Đức Chúa Trời. Đó là Nước của Đức Chúa Trời chứ không phải là điều gì chúng ta đạt được.
Tuy nhiên có một điều kiện gắn liền với đời sống của chúng ta dưới quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời. Điều kiện đó đối diện chúng ta nhiều lần trước trong sách này. Chúng ta phải ăn năn. Sứ điệp đầu tiên của Chúa Jêsus được chép bao gồm: “Nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin Lành” (1:15). Trong đời này không gì quan trọng hơn điều đó. Nếu mắt bạn cản trở bạn nhận món quà của Nước Trời, hãy móc nó mà quăng đi! Cũng giống như khi tìm thấy kho tàng chôn trong một thửa ruộng, bạn phải bán mọi thứ mình có để mua cho được kho tàng đó (Mat Mt 13:44). Hay giống như thấy một viên ngọc trai đẹp lạ thường, vì nó, bạn từ bỏ mọi thứ mình sở hữu để có được nó (13:45). Để sống với tư cách công dân Nước Trời, phải có mục tiêu vững vàng về cuộc đời.
Thuyết Lai thế và “Điều Tôi Thực Hiện Ngày Hôm Nay”
NGƯỜI ĐIỀU TRA NÔN NÓNG (là người vẫn đang tìm cách để chen vào ít nhất 5-6 trang ): Toàn bộ thuyết lai thế này rất có lý và chắc chắn rất thật. Nhưng điều tôi muốn hỏi là mọi điều này có liên quan gì đến các quyết định trước mắt của tôi. Đối với tôi, dường như càng đi sâu vào “thế giới khác,” thì bạn càng trở nên không thích hợp. Nếu bạn lúc nào cũng tập trung vào “những điều sau rốt,”hoặc một Nước không thuộc về đời này, thì há không phải bạn rõ ràng mất đi tầm nhìn về những công việc làm ăn hằng ngày trong đời sống hiện nay sao?
Đây là một câu hỏi có lý. Chúng ta sẽ bàn đến câu hỏi này qua ba cách. Mỗi lần cho thấy cách “chúng được tiếp cận” như thế nào trong Hội thánh thời Tân Ước, sau đó liên hệ câu trả lời của chúng với “hiện tại”
1) Thực tế là mối quan tâm của các Cơ Đốc nhân đầu tiên với “ kỳ hầu đến” khiến họ sống có trách nhiệm hơn trong thời hiện tại . Đây là một sự thật. Chúng ta có thể chứng minh điều này bằng tài liệu. Hãy xem trường hợp của Phaolô; cuối bức thư đầu tiên gởi cho hội thánh Côrinhtô ông đã có một cuộc bàn luận dài về sự sống lại - một biểu tượng của thuyết lai thế nếu có. Từ đó ông liền quay sang khuyên giục những người Côrinhtô quyên góp tiền bạc gởi cho những người nghèo ở tại Giêrusalem. Ông không hề để cho các độc giả của mình có suy nghĩ rằng: “Lai thế học quan trọng đến nỗi chúng ta có thể quên những anh em đang thiếu thốn của mình.”Trên thực tế, khi một số người trong bầy chiên của ông ở tại Têsalônica dùng thông tin ấy để bảo rằng vì “sự cuối cùng” đã gần rồi, họ sẽ không làm việc nữa mà cứ ngồi chờ hội thánh ban cho các bữa ăn miễn phí, Phaolô đã xử lý thái độ phi lý này hết sức nghiêm khắc bằng cách viết thư cho họ: “Nếu ai không khứng làm việc thì cũng không nên ăn nữa” (IITe 2Tx 3:10). Người viết bức thư Hêbơrơ cũng giải thích cùng một quan điểm trong đoạn 11 quen thuộc. Tác giả nhấn mạnh rằng ở đây chúng ta không có thành còn luôn mãi, rằng chúng ta là những người khách lạ và là khách bộ hành trên đất này, nhưng người ấy có tiếp tục từ đó để kết luận rằng chúng ta phải ngồi kiên nhẫn, khoanh tay mà chờ đợi ngày lớn ấy không? Không hề. “Thế thì (có nghĩa là bởi vì hoàn cảnh liên quan đến thuyết lai thế của chúng ta),... hãy lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta” (HeDt 12:1). “Cuộc đua đã bày ra cho chúng ta” là ngay lúc này. Chúng ta có một công việc phải làm, và chúng ta phải tiếp tục công việc đó, đừng đi đây đó lãng phí thời gian!
2) Hoàn cảnh của chúng ta hiện nay không hoàn toàn giống như hoàn cảnh của những Cơ Đốc nhân đầu tiên. Họ đang trông đợi một sự trở lại hầu như ngay lập tức của Đấng Christ. Hiện nay chúng ta thấy sự trông đợi này đã không được đặt đúng chỗ -Đấng Christ đã không trở lại, ít ra là theo cách họ đã trông đợi. Trong tình huống của mình, chúng ta phải xem xét điều có lẽ là một tương lai lâu dài của lịch sử đang trải ra trước mặt chúng ta. Chúng ta có thể sống trong niềm tin rằng ý nghĩa đời sống chúng ta sẽ được Đức Chúa Trời bày tỏ vào thời điểm thích hợp của Ngài chứ không phải của chúng ta. Kết quả là, bài học chúng ta có thể học được từ những Cơ Đốc nhân đầu tiên là chúng ta phải hành động có trách nhiệm đối với hoàn cảnh của mình cũng như họ đã làm đối với hoàn cảnh của họ . Bởi vì hoàn cảnh của chúng ta khiến chúng ta phải xem xét nghiêm túc tương lai lịch sử, chúng ta phải cần phải làm nhiều hơn là chỉ ban cho người nghèo hoặc chăm sóc những anh em Cơ đốc của mình. Chúng ta phải cần hiểu rằng trách nhiệm xã hội của người Cơ đốc chúng ta phải được mở rộng hơn rất nhiều, rằng mối quan tâm về thuyết lai thế của chúng ta , khi được hiểu trong lãnh vực hành động thực tiễn, có thể kéo chúng ta vào một cuộc tranh đấu tại địa phương để cung cấp nơi ăn chỗ ở tử tế, hoặc là một chính sách đối ngoại đặt cơ sở trên điều gì đó hơn là chỉ dựa trên sức mạnh quân sự.
3) Quan tâm đến những điều như vậy không những đòi hỏi sức mạnh và sự xác quyết hơn mà còn cả lòng can đảm nữa. Đây là điều thứ hai mà Hội Thánh Đầu Tiên cho chúng ta thấy. Cơ Đốc nhân , yên tâm nơi niềm hy vọng của thuyết lai thế , có thể sống trong thế giới này với một thái độ từ bỏ hoặc bình thản . Một lần nữa, hãy nghe cách Phaolô diễn tả điều này:
Vì nếu chúng ta sống , là sống cho Chúa , và nếu chúng ta chết là chết cho Chúa , vậy nên chúng ta hoặc sống hoặc chết , đều thuộc về Chúa cả . Đấng Christ đã chết và sống lại , ấy là để làm Chúa kẻ chết và kẻ sống (RoRm 14:8, 9).
Hai câu Kinh Thánh này mô tả trọn vẹn tâm trạng của các Cơ Đốc nhân đầu tiên. Không còn điều gì để lo lắng. Bạn có thể bắt tay vào những hoạt động của mình trong đời này và biết chắc rằng không gì có thể làm hại bạn. Nếu Sêsa không thích cách bạn hành xử, bạn cũng chẳng bận tâm. Ông ta thực sự không thể làm hại bạn bởi dầu sống hay chết, bạn cũng đã thuộc về Đức Chúa Trời chứ không thuộc về Sêsa. Lòng trung thành tối hậu của bạn dành cho Đức Chúa Trời đã giải phóng bạn không phải sống âu lo trong đời này và khiến bạn không cần phải sợ “điều có thể xảy đến cho mình.” Thay vì làm cùn lụt tinh thần trách nhiệm về mặt đạo lý, loại đức tin lai thế học này làm vững mạnh nó.
Có lẽ không viễn cảnh nào cần hơn cho những con người đang sống trong nửa sau của thế kỷ hai mươi này. Đây là một thời kỳ mà một tiểu thuyết gia gọi là: “Thời Đại Trông Đợi;” một nhà thơ gọi là “Thời Kỳ Lo Lắng,” một nhà báo gọi là: “Thời Đại Ngờ Vực.” Một thời đại mà người ta lo sợ khi phải nói thẳng vì e rằng họ sẽ bị chụp cho chiếc mũ “kẻ âm mưu lật đổ,” hoặc “cộng sản,” hoặc có thể chỉ là một “người khuynh tả,” một thời đại mà con người ta sợ phải tham gia vào “các lý tưởng, các phong trào”_ một thời đại mà, nói ngắn gọn, điều đặc biệt cần thiết chính là loại thái độ bình thản vững vàng mà niềm tin của thuyết lai thế có thể làm được. Ngày nay, để có được niềm tin như các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã có trong thời của họ, là “dầu sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Đức Chúa Trời,” bạn phải được giải phóng và buông tha để có được một nếp sống có trách nhiệm và can đảm.
Lưu ý đối với những Độc Giả Thận Trọng : Nếu điều này đối với bạn dường như chỉ là một vấn đề mang tính lý thuyết suông, thì hãy nhớ nan đề này đã là một sự thật bi thảm ra sao đối với nhiều anh em Cơ Đốc ngày nay sống đằng sau “Bức Màn Sắt.” Nhiều ký thuật về sự chống cự anh hùng của những Cơ Đốc nhân đã lọt ra ngoài bức màn sắt ấy, cho thấy chính vì niềm trông cậy lai thế của họ mà những người Đức, người Tiệp, Hunggari và những người khác đã có được sự can đảm và sức mạnh để đứng vững chống lại những nỗ lực độc ác khiến họ phải phản bội không những chính đức tin của họ, mà ngay cả những anh em cùng đức tin với họ nữa. Câu chuyện này chưa được viết đầy đủ, nhưng một ngày kia khi đã được viết ra, nó sẽ chứng thực một cách mạnh mẽ cho sự thật để tin rằng “tại đây chúng ta không có thành còn mãi, nhưng chúng ta tìm kiếm một thành hầu đến” thì phải có một đức tin đem lại sự can đảm và sức mạnh trong tầm cỡ hoàn toàn bất ngờ.
3) Các Cơ Đốc nhân được trợ lực bởi quan điểm lai thế để hiểu rõ những gì thực sự quan trọng và cần làm . Một ý thức phân biệt rõ ràng tuyệt vời được triển khai. Chẳng hạn, Phaolô thấy rằng xem trọng giáo lý lai thế có nghĩa là bạn phải thay đổi thái độ đối với của cải:
Kẻ đang mua, nên như kẻ chẳng được của gì; và kẻ dùng của thế gian, nên như kẻ chẳng dùng vậy; vì hình trạng thế gian này qua đi (ICo1Cr 7:30, 31). Một tác giả khác trong số các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã nhận thấy rằng nếu thuyết lai thế có bất cứ ý nghĩa xác thực nào, nó cũng đẩy chúng ta vào những loại hoạt động nhất định và liên quan đến chúng ta thay vì đến người khác. Ông bày tỏ điều này hết sức cụ thể và rõ ràng:
Sự cuối cùng của muôn vật đã gần , vậy hãy khôn ngoan tỉnh thức mà cầu nguyện , nhất là trong vòng anh em phải có lòng yêu thương sốt sắng , người này người khác phải tiếp đãi nhau ; và sử dụng các ơn ban của mình để phục vụ Chúa hầu cho Ngài được sáng danh trong mọi sự (IPhi 1Pr 4:7-11 rút gọn ).
Đó là những điều quan trọng. Chính vì “sự cuối cùng của muôn vật đã gần” mà chúng ta phải “có lòng yêu thương nhau cách sốt sắng.” Muốn hiểu được phương hướng mà đời sống đang dịch chuyển thì phải nhìn thấy rõ hơn bao giờ hết những điều quan trọng và những điều cần phải làm.
Vì vậy coi trọng giáo lý lai thế không phải là xem thường những đòi hỏi về mặt đạo lý. Càng coi trọng tư cách công dân của mình trong Nước Trời là nước không thuộc về đời này, bạn càng thấy mình nghiêm túc dấn thân vào cuộc tranh chiến trong nước thuộc về đời này. Trên sách vở, điều đó có ý nghĩa không không biết, nhưng toàn bộ kinh nghiệm của Hội Thánh Đầu Tiên chứng tỏ rằng điều đó thực sự có ý nghĩa khi áp dụng vào đời sống.

Chương 17: Sự Thật về Sống và Chết
(Điều Gì Xảy Ra Khi Tôi Chết? )
Về một phương diện, Gióp chưa thực tế đủ. Ông hỏi điều ông cho là một câu hỏi khó: “Nếu loài người chết, có được sống lại chăng?” (Giop G 14:14). Nhưng câu hỏi đích thực là: “Khi một người chết, người ấy có sống lại chăng?” Chúng ta biết rằng mình sẽ chết và điều không dễ chịu của sự thật ấy là chúng ta không thể né tránh sự chết. Vì vậy câu hỏi này cứ xuất hiện: Chết có phải là hết không, hay tôi sẽ sống lại?
Bỏ Đi Một Số Trả Lời Sai
Có đủ loại những giải đáp không thích đáng dành cho câu hỏi này. Và để hiểu đầy đủ câu trả lời của Kinh Thánh, trước hết chúng ta hãy xem xét một số các câu trả lời khác.
1) Cách trả lời trần trụi , khắc nghiệt , “thừa nhận sự thật .” Cách dễ nhất và ảm đạm nhất để trả lời cho câu hỏi này là bằng một câu thẳng thừng: “Không. Không có sự sống đời đời. Khi chết, là bạn chết, chấm hết.” Khi đưa ra câu trả lời này, ngươi ta thường thực hiện một trong hai điều về nó:
Một số người bảo rằng: “Được thôi, chúng ta chỉ sống một lần, hãy tận dụng điều tốt nhất của cuộc đời. Chúng ta hãy có một cuộc đời thật đầy trọn, hưởng thụ nó; chúng ta hãy tận dụng tối đa những gì chúng ta có, để không hối tiếc khi tất cả đã qua đi. Bởi vì chúng ta không còn một cơ hội khác, chúng ta sẽ rót tràn cốc của mình và hưởng thụ cuộc vui chơi trước khi chúng ta tiêu tàn. Đừng chèo ngược dòng thủy triều. Chúng ta sẽ xuôi theo dòng suối cho đến khi nào chiếc bong bóng của cuộc đời nổ tung.”
Đây có thể được gọi là thái độ: “Chèo, chèo, chèo con thuyền của bạn.” Bạn còn nhớ phần còn lại là gì không: “Nhẹ nhàng đi xuống dòng suối; vui vẻ, vui vẻ, vui vẻ, cuộc đời chỉ là một giấc mơ.”
Người khác bảo rằng: “Được thôi, chúng ta chỉ sống có một lần, cuộc đời là một trò lừa đảo tồi tệ mà số phận đã lợi dụng chúng ta. Chúng ta hãy thôi lừa dối chính mình rằng cuộc đời là một điều vui vẻ. Chúng ta sẽ cố sức để vắt được một chút ý nghĩa nơi nó trong khi còn ở đây. Nhưng chúng ta biết chẳng có ý nghĩa gì cả. Chúng ta có thể ra sức lội ngược dòng thủy triều nếu muốn, nhưng chúng ta biết quá rõ ràng đến cuối cùng nó sẽ nhận chìm chúng ta. Rốt cuộc, chúng ta sẽ đi vào cõi hư không cũng như mọi sự và mọi người khác.”
Đây có thể được gọi là thái độ “ mạnh mẽ và cuồng nhiệt.” Bạn còn nhớ phần còn lại như thế nào không: Cuộc đời “là một câu chuyện phiếm do một kẻ ngu xuẩn thuật lại, đầy âm thanh và sự cuồng nhiệt. Chẳng có ý nghĩa gì cả.”
Thật ngạc nhiên vì có nhiều người giữ thái độ “Chèo, chèo, chèo chiếc thuyền của bạn” mà không nhận ra rằng chiếc thuyền lao xuống dòng suối cho đến khi nó lộn xuống một thác nước và mọi người đều chết hết. Chính nhận thức về sự thật này thường đẩy những con người hay suy nghĩ vào thái độ “mạnh mẽ và cuồng nhiệt.”
Có điều gì đó rất thành thật về cách đáp ứng “hãy thừa nhận điều đó,” khi những người giữ thái độ này không cố gắng che đậy sự thật, mà hàm ý rằng chúng ta sống trong một vũ trụ xa lạ, thù địch, trong đó những lý tưởng trìu mến nhất của chúng ta và những giá trị rốt lại đều không có ý nghĩa. Hãy làm việc vì một thế giới tốt đẹp, nếu bạn muốn, nhưng đừng trông mong công việc của bạn có bất cứ ý nghĩa tốt đẹp tối hậu nào, bởi vì thậm chí nếu lý tưởng của bạn kéo dài được một vài thế hệ sau khi bạn chết, chẳng bao lâu nó sẽ qua đi, bởi vì cuối cùng mọi người đều chết và chẳng còn lại gì cả. Quan niệm này về cuộc đời được so sánh với một con đường xây bởi những đống xương của các thế hệ trước; không bao lâu nữa, xương của bạn sẽ được chất thêm trên con đường đó và nó làm con đường dài hơn một chút, nhưng giờ đến, sẽ chẳng còn xương để thêm và không còn người lữ khách nào nữa. Mọi thứ đều hư tàn dọc con đường cho đến cuối cùng, không có gì còn lại cả. Lịch sử chỉ là một dãy những tấm bia mộ.
2) Quan niệm “không tưởng ” (chiếc bánh -nướng -trên -trời -khi -bạn qua -đời ). Một cách trả lời sai lầm thứ hai, nhiều người chấp nhận bởi sợ phải đối mặt với sự thật trần trụi và khắc nghiệt, được đặt trưng bởi những lời lẽ của một bài hát xưa cổ: “Bạn sẽ có chiếc bánh nướng trên trời khi qua đời.” Nói cách khác, sự việc có thể khá khắc nghiệt trên đất này, nhưng hãy vững lòng bởi vì sau khi qua đời, bạn sẽ được phần thưởng của mình. Sự sống đời đời cũng giống như chiếc kẹo mút mà mẹ hứa cho cậu bé con nếu bé chịu ngồi yên trong chiếc ghế cũ kỹ rất đáng ghét của ông nha sĩ mà không thét lên khi nhổ răng. Cuộc đời cũng khác là khắc nghiệt và khó chịu, nhưng rồi mọi sự sẽ êm xuôi vào lúc cuối cùng, và “ở trên trời” mọi thứ sẽ là táo và kem (trong trường hợp bạn không thích bánh nướng). Tất nhiên cũng có một loại lẽ thật tối thiểu trong quan điểm này, nghĩa là giả định rằng có điều gì đó tốt lành hơn là ở trên thế giới này, nhưng những quan niệm cho rằng đời sống trên đất chỉ là một quá trình cắn răng chịu đựng (như thế gây khó khăn cho nha sĩ hơn) trước những điều khó chịu, và có một loại phần thưởng tự động nào đó dành cho “kẻ sống tốt lành” - đây là những quan niệm hết sức mơ hồ về sau chúng ta sẽ thấy rõ ràng hơn.
3) Lối né tránh của việc “tiếp -tục -sống -trong -ký -ức của -những người -khác ”
Những người khác bảo rằng sự sống đời đời chẳng có gì ngoài “tính bất tử của sự ảnh hưởng.” Chúng ta thật sự sống trong ký ức của những người khác. Bởi vì ảnh hưởng của chúng ta, những tư tưởng của chúng ta, nhân cách của chúng ta đã dầm thấm trong những người tưởng nhớ chúng ta. Ví dụ như Abraham Lincoln, là một người “vẫn sống mãi” bởi vì ảnh hưởng của ông vẫn được cảm nhận ở tại Hoa kỳ, và ông sống vì “được tưởng nhớ trong lòng đồng bào mình.”
Cũng khá đúng , chúng ta có sống trong ký ức của người khác.
Nhưng chưa đúng đủ . Bởi vì ý niệm này không giải quyết được sự thực về cái chết - sự cuối cùng và hoàn thành của nó. Điều gì xảy ra cho những người không được tưởng nhớ? Hoặc giả sử bạn được tưởng nhớ trong năm mươi năm hoặc bảy mươi lăm năm. Rồi điều gì xảy ra khi mọi người đã từng nhớ đến bạn đều qua đời? Điều gì xảy ra khi toàn thể nhân loại đều qua đi và không ai còn lại để tưởng nhớ đến bất kỳ ai? Đây là chỗ khá yếu của tính bất tử.
4) Thuyết “Luân Hồi .”Một số tôn giáo xem sự sống vĩnh hằng như là việc đầu thai trở lại, tức là được sinh một lần nữa trong một hình thức hoặc hình dạng khác. Nếu bạn không tốt thì bạn đầu thai làm một con chó, nếu bạn rất tồi, thì làm một con thằn lằn. Như vậy bạn phải tìm cách đưa mình lên trở lại nấc thang bằng cách làm một con chó tốt hoặc một con thằn lằn hết sức tốt. Và khi bạn đã dần dần được trong sạch đủ, thì bạn sẽ thoát khỏi cái vòng đầu thai liên tục này và cuối cùng hoàn toàn được trút bỏ khỏi qui luật tất yếu của sự tồn tại khốn khổ này.
Điều đó có ý nghĩa gì? Nó cho thấy một quan điểm sống hết sức bi quan. Mục đích là để trốn tránh khỏi cái vòng ấy. Đời sống là điều gì đó phải né tránh - và bạn có thể tránh được nếu bạn may mắn (là điều mà có thể bạn không có được) hoặc nếu bạn tốt đủ (là điều có thể bạn cũng không có được). Có điều gì đó thật buồn chán trong ý tưởng con gà mà bạn ăn hôm Chúa nhật, có thể là dì Gettrude của bạn, hoặc con muỗi mà bạn mới đập chết, có thể là ông cố của bạn, người rõ ràng đã từng là một tên vô lại.
5) Vì sao không phải “sự bất tử của linh hồn ”? Một cách trả lời không đầy đủ khác cần phải được xem xét trước khi chúng ta xem quan điểm của Kinh Thánh. Và cần được biết trước, đây là một cách trả lời khó hiểu, đặc biệt vì có nhiều người nhầm lẫn nó với câu trả lời của người Cơ đốc.
Cách trả lời này được gọi là “sự bất tử của linh hồn.” Nó xuất phát từ người Hylạp, và khi tư tưởng Hylạp và tư tưởng Cơ Đốc Hybá gặp nhau trong Hội Thánh Đầu Tiên, quan điểm Hylạp thường có vẻ chiếm ưu thế. Quan điểm này trên thực tế bảo rằng có một phần trong tôi là linh hồn của tôi, sẽ tiếp tục tồn tại. Suốt cuộc đời trên đất, linh hồn bất tử này cư trú trong thân thể hay chết của tôi. Điều xảy ra lúc tôi qua đời là thân thể chết đi và trở thành cát bụi, trong khi linh hồn bất tử của tôi được phóng thích và được tự do để được tiếp tục sự tồn tại bất tử của nó mà không bị giảm hiệu quả do bó hẹp trong một thân thể.
Nghe có vẻ hay, đúng không? Nhưng hãy đợi một phút. Điều này có nghĩa là thân thể tôi là một điều phiền toái cho linh hồn tôi, là thứ giam hãm nó, giới hạn nó, cản trở nó, khiến nó dễ bị cám dỗ. Như bản thân người Hylạp đã diễn tả: “Thân thể là nhà tù của linh hồn.” Điều này có nghĩa là cuộc sống thân xác trên đất này là phí thời gian. Một khoảng thời gian xen vào khó chịu trong đời sống của linh hồn, là điều gì đó cần phải qua đi và kết thúc càng nhanh càng tốt. Toàn bộ mục đích của đời sống là phải thoát khỏi sự sống, tống khứ cái thân thể hay gây phiền hà này để lại bắt đầu một sự tồn tại tự do và được tháo cùm trong cõi vĩnh hằng. Đời sống con người trên đất không có ý nghĩa quyết định gì cả.
Kinh Thánh Tiếp Cận Vấn Đề Này Như Thế Nào?
Kinh Thánh coi việc chúng ta được Đức Chúa Trời tạo dựng để tương giao với Ngài là đương nhiên. Thoạt đầu người ta tưởng rằng chúng ta có thể bước vào mối giao này trong quãng đời của mình. Nhưng khi các trước giả Cựu Ước vật lộn với nan đề này, họ dần dần đến chỗ hiểu rằng Đức Chúa Trời này, bởi Ngài vượt quá những gì chỉ là thời gian và không gian, phải mở ra một khả năng cho mối tương giao với con cái Ngài vượt quá những gì chỉ là không gian và thời gian. Nói cách khác, Đức Chúa Trời đời đời, phải mở ra khả năng cho chúng ta bước vào mối quan hệ đời đời với Ngài.
Kinh Thánh cũng thừa nhận rằng có điều gì đó đã trục trặc. Tội lỗi của chúng ta, tức là cám dỗ dai dẳng muốn đặt chính mình thay vì Đức Chúa Trời ở trung tâm đời sống, đã phá vỡ mối tương giao và gây cản trở nghiêm trọng đến sự hoàn thành của nó cả trong thực tại hiện nay lẫn khả năng tương lai. Chính vì lý do đó mà các trước giả Kinh Thánh nhấn mạnh một ý tưởng cho thấy thật khó cho chúng ta để hiểu biết - sự liên kết giữa tội lỗi và sự chết. Tội lỗi là một cách để nói đến mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời đã bị gãy đổ tan tành. Sự chết là một cách để nói đến sự kiện bản thân sự sống đã bị phá vỡ tan tành, sự sống vốn là điều Đức Chúa Trời ban cho. Cả tội lỗi và sự chết, vì vậy, như là những sự đe dọa cho mối tương giao giữa loài người và Đức Chúa Trời. Có một sự liên kết đích thực giữa tội lỗi là sự phân cách khỏi Đức Chúa Trời, với sự chết là sự phân cách sâu xa hơn nữa khỏi Đức Chúa Trời. Chúng ta hãy xem những ý niệm này được triển khai như thế nào trong Kinh Thánh.
Âm phủ - Nơi Đức Chúa Trời Không Hiện Diện .
Thoạt đầu các trước giả Cựu Ước cảm biết rằng sự chết đem lại sự phân cách hoàn toàn khỏi Đức Chúa Trời. Con người tự phân rẽ mình khỏi Đức Chúa Trời bởi tội lỗi của mình, và sự chết đã hoàn thành quá trình phân cách ấy, vì vậy họ coi sự chết hết sức nghiêm trọng, và không tìm cách né tránh việc suy nghĩ đến sự chết; kết quả là, các trước giả đầu tiên trong Cựu Ước không có cái nhìn dễ chịu đặc biệt về đời sau. Họ hình dung người chết đi đến âm phủ (được dịch không chính xác là “địa ngục”) một nơi được gọi là “âm ti.” Âm phủ là một loại hang hầm mờ tối, nằm dưới mặt đất, nơi con người tiếp tục sống trong một hình thức tồn tại mơ hồ và khó chịu. Một điều quan trọng về âm phủ là Đức Chúa Trời không có mặt ở đó . Đây là điều khiến cho nó trở nên mơ hồ và khó chịu. Không những Đức Chúa Trời không có mặt ở đó, mà Ngài cũng không xem xét quan tâm đến những người ở đó - họ đã vượt khỏi sự quan tâm của Ngài. Khi tác giả Thithiên muốn mô tả một tình huống mà trong đó Đức Chúa Trời không có mặt, ông đã liên hệ điều đó với kinh nghiệm bị ở trong âm phủ:
Vì linh hồn tôi đầy dẫy sự hoạn nạn , mạng sống tôi hầu gần âm phủ .
Tôi bị kể vào số những kẻ đi xuống huyệt ;
Tôi khác nào một người chẳng có ai giúp đỡ ,
Bị bỏ giữa kẻ chết ,
Giống như một kẻ bị giết nằm trong mồ mả ,
Mà Chúa không còn nhớ đến,
Là kẻ bị truất khỏi tay Chúa .
(Thi Tv 88:3-5 in nghiêng là ý tác giả ).
Âm phủ - Nơi Đức Chúa Trời Có Hiện Diện
Tuy nhiên, vào một thời điểm sau này họ đã đến chỗ hiểu rằng đây là một hình ảnh chưa đầy đủ. Thực vô ích để giới hạn Đức Chúa Trời theo kiểu này! Thật lố bịch làm sao khi nghĩ rằng Ngài không thể với tới ngay cả âm phủ! Và vì vậy mà chúng ta tìm thấy một ghi nhận rất khác trong một Thithiên khác: “Nhưng Đức Chúa Trời sẽ chuộc linh hồn tôi khỏi quyền âm phủ, vì Ngài sẽ tiếp rước tôi” (49:15). Và như bạn còn nhớ (ở Chương 4) tác giả 139:1-24 đã sửng sốt về đời sống mình khi ông tìm cách đi đến âm phủ để tránh mặt Đức Chúa Trời và phát hiện rằng Đức Chúa Trời cũng có ở đó nữa. Những xác nhận tích cực thêm nữa về sự quan tâm tiếp tục của Đức Chúa Trời dành cho con người vượt quá phạm vi đời sống trên đất này được thấy như sau:
Song tôi cứ ở cùng Chúa luôn luôn ;
Chúa đã nắm lấy tay hữu tôi .
Chúa sẽ dùng sự khuyên dạy mà dẫn dắt tôi ,
Rồi sau tiếp rước tôi trong sự vinh hiển ...
Thịt và lòng tôi bị tiêu hao ; nhưng Đức Chúa Trời là sức lực của lòng tôi , và là phần tôi đến đời đời .
(73:23-26).
Bên Kia Am Phủ
Trong hai sách sau của Cựu Ước, ý tưởng sự sống lại từ kẻ chết của cá nhân được nhắc đến. Các khúc Kinh Thánh này không ám chỉ âm phủ. Trái lại, gợi ý rằng đời sống sau sự chết bao hàm một mối quan hệ tích cực với Đức Chúa Trời. Sách trước trong hai sách này có lẽ là sách quan trọng nhất trong Cựu Ước, gợi ý sự sống lại của người công bình.
Những kẻ chết của Ngài sẽ sống .
Những xác chết của tôi đều chổi dậy ! Hỡi kẻ ở trong bụi đất , hãy thức dậy , hãy hát !
Vì hột móc của Ngài như hột móc lúc hừng đông , đất sẽ buông các âm hồn ra khỏi .
(EsIs 26:19)
Khúc Kinh Thánh còn lại gợi ý sự sống lại không những của người công bình mà của kẻ không công bình, kẻ công bình thì để nhận phần thưởng, còn kẻ không công bình để chịu hình phạt của họ. “Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì để được sự sống đời đời, kẻ thì để chịu sự xấu hổ nhơ nhuốc đời đời” (DaDn 12:2).
Có ít chỗ nào trong Cựu Ước nói thêm về sự sống đời đời. Để thấy niềm tin này đầy đủ được nhấn mạnh như là một sự khẳng định vui mừng, chúng ta phải chuyển sang Tân Ước.
Cộng Đồng Của Sự Sống Lại .
Một trong những bài thánh ca đầu tiên hết của Hội thánh Cơ đốc có chứa đựng những lời này:
“Ngươi đương ngủ , hãy thức , hãy vùng dậy từ trong đám người chết , thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi .”
(Eph Ep 5:14).
Các lời ấy nói lên thái độ của Tân Ước. Từ trang đầu tiên của Tân Ước đến trang cuối cùng, niềm tin đặt nơi sự sống đời đời với Đức Chúa Trời được khẳng định. Các Cơ Đốc nhân đầu tiên đều ở trong một ý thức thực sự về “cộng đồng của sự sống lại.” Họ biết rõ rằng quyền phép của Đức Chúa Trời lớn hơn quyền lực của sự chết, bởi vì Đức Chúa Trời đã đắc thắng sự chết bằng cách khiến Đấng Christ sống lại từ kẻ chết (xem Chương 7). Đây là bản hiến chương dành cho sự tồn tại của họ. Và điều đó làm thay đổi mọi sự.
Ý tưởng về quyền phép Đức Chúa Trời thắng hơn sự chết không còn là một hy vọng của lòng mộ đạo. Nó là một sự thật quả quyết. Đấng Christ đã sống lại từ kẻ chết, và những kẻ đặt lòng tin nơi Ngài cũng được “dự phần trong sự sống lại của Ngài.” Nói cách khác, Tân Ước không năng nổ bàn luận và tranh cãi về niềm tin này, bởi vì nó chính là xương sống của mọi niềm tin khác.
Chúa Jêsus đã thừa nhận điều này, qua một lời bình hầu như không chuẩn bị: “Đến kỳ kẻ công bình sống lại, ngươi sẽ được trả” (LuLc 14:14). Ngài bênh vực niềm tin đặt nơi sự sống đời đời trong cuộc bàn luận với những người Sađusê (là những người chối bỏ sự sống đời đời), mặc dầu vậy Ngài tỏ rõ rằng sự sống lại không phải chỉ là một sản phẩm của những điều kiện sống thuộc về đời này. Sự sống đời đời là một trong những đề tài được lập đi lập lại trong bốn sách Tin Lành trong đó nhấn mạnh đến thái độ được bày tỏ bởi Chúa Jêsus: “Đây là ý muốn của Cha ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời” (GiGa 6:40).
Cố Gắng Của Phaolô Để Mô Tả Sự Thật Này Của Người Cơ Đốc .
Các bức thư của Phaolô, là các tài liệu Cơ đốc đầu tiên hết, cũng ghi lại niềm tin này. Trong lá thư đầu tiên hết được bảo quản, ông nỗ lực đặc biệt để tỏ rõ rằng những người đã chết không bị phân cách khỏi việc dự phần vào chiến thắng hầu đến của Đức Chúa Trời trên các thế lực điều ác (ITe1Tx 4:13-18). Nhưng lời luận đầy đủ nhất của Phaolô được trình bày qua việc ông trả lời cho những người Hylạp, là những người nghĩ rằng ý tưởng của sự sống lại của thân thể là lố bịch. Họ muốn sự sống lại của “tâm linh.” Tất cả những gì mà “thân xác” đại diện, theo mắt họ chỉ là một sự giới hạn, sự cản trở. Chính để trả lời cho những người này mà Phaolô đã viết ICôrinhtô 15.
Đoạn này không dễ hiểu, nhưng Phaolô không bàn đến một đề tài dễ. Không có câu trả lời “đơn giản” cho những câu hỏi như: “Người chết sống lại thể nào, lấy xác nào mà trở lại” (ICo1Cr 15:35). Cách trả lời của Phaolô là một sự tương đồng lấy từ thiên nhiên. Ông nhắc nhở những độc giả hoài nghi rằng khi họ gieo hạt giống, trước hết nó phải “chết” nếu nó muốn nẩy mầm trong hình thức sự sống mới. “Xác” của hột lúa mì chưa gieo xuống đất rất khác so với “hình thể” của cây lúa mì trưởng thành, tuy nhiên vẫn có sự liên tục giữa chúng. Hột giống được “sống lại”qua một hình thức đã được biến đổi. Cái được gặt khác với cái được gieo, tuy nhiên nó đến từ cái đã được gieo ra.
Phaolô tiếp tục, bấy giờ sự sống lại của kẻ chết cũng giống như vậy. Ông nói, chúng ta “được gieo ra” trong thân xác thuộc thể, nhưng chúng ta được “sống lại” trong thân thể thuộc linh. Ông đã làm rõ điều này trong một loạt những sự tương phản:
Thân thể đã gieo ra là hư nát , mà sống lại là không hay hư nát .
Đã gieo ra là nhục , mà sống lại là vinh .
Đã gieo ra là yếu , mà sống lại là mạnh .
Đã gieo ra là thể huyết khí , mà sống lại là thể thiêng liêng .
(15:42-44).
Một “Thể Thiêng Liêng”
Điều Phaolô hàm ý bởi “thể thiêng liêng” không dễ để xác định. Rõ ràng là bởi từ “thể” ông hàm ý toàn bộ con người của chúng ta. Ông không nói về “sự bất tử của linh hồn” như thể chỉ có phần này trong chúng ta là có ý nghĩa đối với Đức Chúa Trời. Ông nói đến “sự sống lại của thân thể,” gợi ý rằng thân thể của chúng ta là quan trọng trước mặt Đức Chúa Trời. Tôi chưa là một con người trọn vẹn nếu không có thân thể của tôi. Bạn cũng vậy. Thân thể là một phần của những gì khiến tôi là tôi, và bạn là bạn.
Phaolô khẳng định chúng ta sẽ không có thân thể yếu đuối thuộc về đất mà chúng ta sẽ có thân thể mới được tạo dựng bởi Đức Chúa Trời. Sẽ có sự liên tục giữa chúng ta hiện nay và chúng ta lúc ấy (mặc dầu chúng ta sẽ được biến đổi bởi Chúa) cũng giống như có sự liên tục giữa hạt lúa mì được gieo xuống đất và cây lúa mì trưởng thành một vài tháng sau đó.
Chúng ta có được một hình ảnh rõ ràng về cảm nhận của sự biến đổi và sự liên tục này trong một bức thư khác, là nơi Phaolô mô tả ý nghĩa của thể thiêng liêng.
Nhưng chúng ta là công dân trên trời; ấy là từ đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Jesus Christ, Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài y theo quyền phép Ngài có để phục muôn vật.
(Phi Pl 3:20-21 in nghiêng là ý tác giả).
Đây là manh mối: thân thể “hèn mạt” sẽ được tái tạo trở lại, khuôn đúc lại bởi quyền phép Đức Chúa Trời. Mặc dầu có sự biến hóa, nhưng sẽ có sự liên tục; thân thể tôi sẽ được cấu tạo trở lại, nhưng nó vẫn là thân thể của tôi , vẫn là chính tôi. Đức Chúa Trời quan tâm đến toàn bộ trật tự đã được tạo dựng phần thuộc thể cũng như mọi vật khác. Nó không bị Đức Chúa Trời bỏ đi như là một thứ không quan trọng không có giá trị; mà được Ngài biến hóa cho chính các mục đích của Ngài, hầu có thể là một phương tiện có giá trị hơn để thực hiện ý muốn của Ngài.
Sự ví sánh về hạt lúa mì nói đến ý tưởng thân thể được sống lại trong chừng mực mà Phaolô có thể “giải thích tường tận.” Trong phân tích vừa rồi, người ta chỉ có thể đưa ra một đoán định được thần cảm. Vấn đề này vẫn vượt quá sự hiểu biết đầy trọn của con người “Này là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em” (ICo1Cr 15:51) Sự kiện chính đối với Phaolô không phải là sự kết hợp hóa học của thể thiêng liêng; mà sự kiện chính là Đức Chúa Trời, theo phương cách và đường lối của Ngài, sẽ tái định hình và tái tạo chúng ta, để chúng ta có thể tiếp tục sống trong mối tương giao liên tục với Ngài, thực hiện ý muốn Ngài và dâng lên Ngài lời ngợi khen. Ở cuối đoạn này, sau khi kết thúc nỗ lực để đưa ra những câu trả lời chi tiết cho những thắc mắc mà không ai có thể trả lời, Phaolô đã diễn tả lời khẳng định cuối cùng của người Cơ đốc hết sức rõ ràng:
Hỡi sự chết , sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết , cái nọc của mầy ở đâu?
Cái nọc sự chết là tội lỗi , sức mạnh tội lỗi là luật pháp . Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng nhờ Đức Chúa Jesus Christ chúng ta (15:55-57).
Các Sự Kiện Của Lời Tuyên Bố Này
Bây giờ chúng ta hãy kéo những đầu mối lỏng lẻo lại với nhau.
Yếu tố 1. Kinh Thánh công nhận sự thật và tính dứt khoát của sự chết. Kinh Thánh không tìm cách né tránh nói đến vấn đề này. Kinh Thánh cũng không giảm thiểu tối đa sự thật rằng chúng ta sẽ chết và thân thể chúng ta sẽ hư nát. Kinh Thánh đối mặt thẳng thắn với sự thật này. Như vậy bất cứ điều gì khác mà Kinh Thánh phải nói đều không đến từ sự né tránh không thực tế vấn đề, mà từ việc đối mặt thực tế với vấn đề, và kiên quyết vật lộn với nó.
Yếu tố 2. Kinh Thánh không tìm cách để “chứng minh” sự sống đời đời. Sự sống đời đời không phải là điều gì đó có thể được chứng minh hết sức thuyết phục để người ta phải tin. Niềm tin đặt nơi sự sống đời đời là kết quả tất yếu của niềm tin đặt nơi Đức Chúa Trời . Nếu bạn tin Đức Chúa Trời được mặc khải trong Cựu Ước, thì sự sống đời đời sẽ trở thành một điều khả thi và thậm chí là điều phải xảy ra. Nếu bạn đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời được mặc khải qua Chúa Giêxu Christ, Đấng Ngài đã khiến sống lại từ kẻ chết, thì bạn phải biết chắc rằng sự chết không phải là điều có thể vô hiệu hóa các mục tiêu của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã đắc thắng sự chết và Ngài là Chúa của sự chết và sự sống. Điều này không có nghĩa là Cơ Đốc nhân có bản sơ đồ chi tiết của thiên đàng, nhưng người ấy biết rõ rằng sự sống đời đời là mối tương giao liên tục với Đức Chúa Trời - và như thế là đủ.
Yếu tố 3. Sự sống đời đời là một sự ban cho . Sự sống đời đời không phải là điều con người kiếm được. Mối tương giao với Đức Chúa Trời không phải là điều chúng ta “xứng đáng” được. Nó là sự ban cho của Đức Chúa Trời bất chấp việc chúng ta không xứng đáng. Chúng ta có thể từ chối sự sống đời đời, nhưng không thể đòi hỏi sự sống đời đời. Khi Chúa Jêsus kể ví dụ về sự Phán Xét Cuối Cùng (Mat Mt 25:31-46) những kẻ “công bình” là những người sẽ vào hưởng sự vui mừng của Cha họ trên thiên đàng, không nhận biết rằng họ là người công bình. Họ không cảm thấy rằng họ đã giành được bất cứ đặc ân đặc biệt nào, hay đã làm những “việc lành” để đảm bảo thiên đàng cho mình. Phaolô tỏ rõ rằng mối tương giao với Đức Chúa Trời không đạt được bởi “việc làm,” mà do kết quả của đức tin mà chính Đức Chúa Trời, qua Đấng Christ, đã mở ra những khả năng mới cho mối tương giao. Dầu chúng ta không xứng đáng với điều đó. Chúng ta không “tốt” đủ để xứng đáng được sự sống đời đời. Đó là sự ban cho của Đức Chúa Trời.
Yếu tố 4. Sự sống đời đời có thể được mô tả như là sự sanh lại . Điều đó nằm sau hình ảnh hạt giống lúa mì của Phaolô. Nó phải chết và được sống lại. Với chúng ta cũng vậy. Chúng ta chết và được sanh lại. Thật vậy, đây là điều đức tin Cơ đốc đòi hỏi, và là trọng tâm của điều Phaolô rất thường xuyên nói về việc lột bỏ con người “cũ” và mặc lấy con người “mới.” Đời sống của người Cơ Đốc là sự chết liên tục đối với bản ngã và được sống cho đời sống mới với Đấng Christ. Điều này đòi hỏi tuyệt giao với việc tôn thờ bản ngã. Đâu đó dọc theo đường đi hoặc thình lình hoặc dần dà, giờ đã đến, khi chúng ta thôi sắp đặt đời sống chung quanh chính mình mà phải sắp xếp đời sống chung quanh Đức Chúa Trời. Chúng ta phải chết đối với đời sống bận rộn với bản ngã, và bắt đầu một đời sống “mới” bận rộn với Đức Chúa Trời. Nói cách khác, chúng ta phải được sanh lại. Chúa Jêsus nhấn mạnh điều này trong cuộc bàn luận với Nicôđem: “Nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời” (GiGa 3:3). Khi được sanh lại theo cách này, con người bắt đầu sống đời đời, vì vậy sự sống đời đời được mô tả đúng nhất là sự sống mới, trong đó, con người được sanh lại để có loại tồn tại khác. Con người không còn tìm cách khen ngợi mình, mà tìm cách ca tụng Đức Chúa Trời.
Giờ đây, phương cách mà ý niệm tái sanh trong Tân Ước được nhấn mạnh khi nối kết với sự sống đời đời là bởi ý tưởng của sự Phục sinh. Thay vì nói đến sự bất tử của linh hồn, như chúng ta đã thấy, Tân Ước nói đến sự sống đời đời là điều sẽ được thực hiện bởi quyền phép của Đức Chúa Trời, Đấng khiến sống lại và làm biến đổi toàn bộ người đó; không chỉ linh hồn thôi, nhưng tất cả những gì thuộc riêng về người đó. Cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều đồng ý rằng thân thể và linh hồn không thể tách rời. Chúng không phải là hai thành phần hết sức khác nhau, bị lắp ghép vào nhau một cách nghèo nàn. Nhưng chúng hợp thành một thể thống nhất. Chúng ta là những con người “có cả tâm linh lẫn thể xác” (psychosomatic) (psyche = linh hồn, soma = thân thể). Chúng ta không chỉ là thân thể hoặc chỉ là linh hồn; chúng ta là cả hai, không chia cắt được.
Vì vậy, sự sống đời đời là một sự biến hóa, chứ không phải là vứt bỏ đời sống trên đất. “Thân thể” đại diện cho tất cả những gì thuộc về bản chất của chúng ta và tất cả những gì chúng ta làm và trên đất này. Như vậy, nói đến “sự phục sinh của thân thể” là một cách bảo rằng tất cả những gì xảy ra trên đất đều liên quan đến Đức Chúa Trời, và rồi Ngài sẽ chọn, làm thành, và làm trọn tất cả những nỗ lực chỉ mới là một phần, chưa trọn vẹn của con người.
Yếu tố 5. Điều này dẫn đến một vấn đề khác. Theo Kinh Thánh, sự sống đời đời không được hiểu như là khởi đầu của giây phút chúng ta qua đời. Sự sống đời đời khả thi ngay lúc này. Điều này được nhấn mạnh đặc biệt trong sách Phúc âm thứ Tư và các thư tín của Giăng. Khi đời sống một người tập trung vào Đức Chúa Trời qua Đấng Christ, người ấy đang sống đời đời. Người ấy đang kinh nghiệm một phần chất lượng cuộc sống bất tử mà thay vì kết thúc vào giây phút của sự chết thuộc thể, sẽ được lưu xuất vào chính giây phút đó để tiếp tục cách phong phú và trọn vẹn không tả xiết đối với chúng ta. Vì vậy, chúng ta có thể nếm trước “những dấu hiệu và những dự đoán” về sự sống đời đời, bởi vì sự sống đời đời đã hiện thực phần nào ngay lúc này.
Chương 18: Giai Điệu Và Những Biến Tấu
(Tôi cố gắng sống một đời sống tốt lành . Vì sao điều đó không đủ? )
Có lẽ đoạn này phải được gọi là “Bằng Cách Giới Thiệu.” Mục đích là để cho thấy trong phần còn lại của sách này, chúng ta sẽ tiến hành điều gì đó hơi khác. Cho đến nay, chúng ta đã xem xét một số những vấn đề và những câu hỏi nặng ký - mọi thứ, từ Ba Ngôi Đức Chúa Trời cho đến những cơn lốc xoáy, từ vườn Êđen cho đến lai thế học, nhưng vẫn chưa đủ nếu chỉ xem xét các nan đề và các câu hỏi. Chúng ta phải biết chắc mình liên hệ những nan đề và những câu hỏi với chỗ chúng ta đang sống ngay lúc này. Từ giờ trở đi, chúng ta sẽ xem xét ảnh hưởng mạnh mẽ của toàn bộ niềm tin Kinh Thánh trên cách chúng ta sống và hoạt động ngày nay. Chúng ta thường gọi lãnh vực của cách hành xử cá nhân và xã hội là lãnh vực đạo đức học .
Kinh Thánh nói rất nhiều về đạo đức học. Kinh Thánh tỏ rõ rằng những xác quyết tín ngưỡng của chúng ta - điều chúng ta tin về Đức Chúa Trời, về bản chất con người, về lịch sử, về đời sống và sự chết - có liên quan rất nhiều đến cách chúng ta hành xử. Thật vậy, nó cho thấy chúng ta không thể tách tín ngưỡng và các nguyên tắc đạo đức với nhau. Chúng luôn đi đôi.
Đó chính là “giai điệu” của chương này. Nếu bạn hay nghe nhạc, bạn biết rằng một hình thức được ưa chuộng của một phần bản giao hưởng là “giai điệu và các biến tấu.” Cũng một giai điệu đó được chơi nhiều lần, nhưng mỗi lần theo một phương cách hơi khác nhau.
Ví dụ phần thứ nhì trong Bản Giao Hưởng Số 5 của Beethoven diễn ra như thế này:
(dòng nhạc)
Được chơi bằng đàn xelô (cellos)
Sau đó theo sau một chuỗi các biến tấu. Biến tấu thứ nhất như vầy:
(dòng nhạc)
Biến tấu thứ hai hơi nhanh hơn:
(dòng nhạc)
Biến tấu thứ tư được chơi (hơi vui nhộn bởi đàn công bát, double basses)
(dòng nhạc)
Giai điệu này cơ bản mỗi lần đều giống nhau, nhưng hơi khác nhau mỗi khi nó được tái hiện.
Trong chương này chúng ta sẽ tuân theo một thủ tục tương tự. Giai điệu sẽ được tuyên bố trong phân đoạn hai. Phần còn lại của chương bao gồm bốn biến tấu nói về điều đó, là điều phải chỉ rõ hơn tầm quan trọng của nó.
Sự Phản Đối Chủ Đề (Giai điệu)
ĐỘC GIẢ BỰC BỘI (không hề bị thôi miên bởi tiếng kèn bass ):
Nào hãy đợi một phút. Đợi một phút thôi. Điều gì khiến bạn đoan chắc rằng đây là một chủ đề tốt? Tôi hoàn toàn không chắc là tôi thích nó. Tôi thậm chí không tin là nó đúng. Tôi cố gắng sống đời sống tốt lành. Tôi cố gắng cư xử đàng hoàng với những người láng giềng. Vì sao như vậy vẫn không đủ? Nếu tất cả chúng ta thực hiện điều đó, thế giới này sẽ là một nơi khá tốt đẹp để sống. Vì sao bạn cứ phải khăng khăng lôi tôn giáo và Đức Chúa Trời vào trong lập luận này? Vì sao bản thân đạo lý vẫn không đủ? Bộ tôi không thể sống một đời sống tốt lành mà không tin Đức Chúa Trời sao?
Trước lời thách thức ấn tượng này, chúng ta hãy chơi giai điệu (chủ đề) của mình một lần nữa - lần này đầy đủ hơn một chút - và hãy để nó cùng với bốn biến tấu của nó phục vụ như một nỗ lực nhằm giải quyết những sự phản đối của người độc giả bực bội.
Khẳng định triệt để của Kinh Thánh là không một phạm vi nào trong đời sống mà Đức Chúa Trời bị “cản trở.” Không có một lãnh vực “thánh” nào trong đời sống mà không liên quan đến “thế tục,” không một lãnh vực thế tục nào có thể được hiểu ngoài Đức Chúa Trời. Toàn bộ cách tiếp cận của Kinh Thánh cấm chúng ta phân chia đời sống thành những lãnh vực tách bạch như vậy. Một ví dụ rõ ràng về điều này trong thỏa thuận giao ước được lập tại núi Sinai. Những mạng lệnh và những mối quan tâm của Đức Chúa Trời xâm nhập vào mọi lãnh vực của đời sống. Chỉ đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời hoặc chỉ thờ phượng Đức Chúa Trời thôi thì chưa đủ. Những người đồng ý tin nơi Đức Chúa Trời và thờ phượng Ngài cũng phải đặt toàn bộ đời sống mình dưới ý muốn của Đức Chúa Trời. Đọc XuXh 20:1-23:33 bạn sẽ thấy điều này.
Mọi sự đều phải làm cho phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời, từ các qui định liên quan đến
• trộm cắp,
• rủa sả
• chăn nuôi súc vật, và
• các chuyển nhượng về bất động sản
• cho đến những qui định liên quan đến
• việc vay mượn,
• việc dâng sinh tế,
• tử tế với khách lạ, và
• việc nói sự thật.
Toàn bộ đời sống thuộc về Đức Chúa Trời. Chúng ta phải khai trình, không phải chỉ với lương tâm mình hoặc với xã hội, mà với Đấng Ban Cho và Bảo Tồn sự sống. Tôn giáo và đạo đức học không bao giờ có thể tách biệt. Chúng là hai mặt của một đồng tiền.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét vấn đề này theo cách khác. Trên thực tế, điều gì sẽ xảy ra khi con người thực sự phân rẽ tôn giáo với đạo đức học? Chúng ta phải thừa nhận rằng có nhiều người không đặt lòng tin nơi Chúa sống một đời sống vô kỷ và tận hiến, là điều thách thức và là một sự quở trách đối với những người xưng mình là Cơ Đốc nhân, đừng Cơ Đốc nhân nào xưng mình là công bình mà được phép quên điều đó. Tuy nhiên thật có lý để đặt câu hỏi là liệu “đạo đức mà không có tôn giáo” có thể kéo dài và được giữ mãi như vậy không. Hãy nghĩ đến một cái cây to lớn trong công viên gần nhà bạn. Nếu một thứ bệnh tấn công cây và giết chết rễ nó, bạn có thể không nhận thấy trong một thời gian, bởi vì các cành và lá của nó vẫn tiếp tục sống một thời gian sau khi rễ đã chết. Nhưng chẳng sớm thì muộn, cành sẽ khô đi và lá sẽ rụng, chúng không thể sống lâu nữa nếu không được cung cấp sự sống từ rễ.
Điều này cũng đúng với vấn đề chúng ta đang bàn luận. Về mặt lịch sử, gốc rễ của mối quan tâm và trách nhiệm đạo đức chính là niềm tin tôn giáo. Vì vậy bảo rằng đạo đức học phải được tách biệt khỏi tôn giáo cũng giống như bảo rằng các cành và lá có thể sống mà không có rễ. Không hiệu quả đâu. Nó có thể có vẻ như hiệu quả trong một thời gian, cũng như cây có thể sống trong một thời gian sau khi rễ đã chết. Nhưng sẽ không hiệu quả lâu. “Đạo đức không tôn giáo” tức là đạo đức không có gốc rễ, cuối cùng nó sẽ chết. Mặc dầu cá nhân ấy có thể làm được điều đó trong một thời gian, sẽ khó khăn gấp đôi cho toàn bộ xã hội. Khi xã hội chúng ta ra sức tăng cường sự phân rẽ giữa tôn giáo và đạo đức, chúng ta sẽ thấy các nguyên tắc đạo đức ngày càng đáng ngờ. Ý niệm cho rằng sự thật và lòng ngay thẳng là quan trọng bị thay thế bởi ý niệm cho rằng “công việc là công việc,” cuối cùng, điều này có nghĩa là “mọi sự đều được.”
Nói một cách đơn giản:
Nếu có thể được, bạn hãy thành thật (điều đó an toàn hơn).
Nếu không thể thành thật, bạn hãy làm điều hợp pháp.
Nếu không thể làm điều hợp pháp, đừng để bị bắt quả tang.
Biến Tấu Của “Michê”
Bây giờ là phần dành cho một số “biến tấu” của giai điệu cho rằng tôn giáo và đạo đức học không thể phân rẽ nhau. Biến tấu thứ nhất ngắn gọn, và chỉ bao gồm một lời công nhận về một số những ý tưởng qua câu Kinh Thánh quen thuộc:
Hỡi người ! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện ;
Cái điều mà Đức Giêhôva đòi ngươi .
Há chẳng phải là làm sự công bình , ưa sự nhơn từ ,
và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?
(MiMk 6:8)
Hầu hết mọi người, dầu “mộ đạo” hay không, đều đồng ý rằng điều thiện là phải “làm sự công bình” và phải “ưa sự nhơn từ” (mặc dầu họ sẽ không đồng ý bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời).
Họ thường bảo rằng: “Đó chính là điều chúng ta cần, công bình hơn, nhơn từ hơn.” Nhưng hãy lưu ý rằng quan điểm của Kinh Thánh hoàn toàn khác. Công bình và nhơn từ không phải chỉ là những vấn đề tự nó là quan trọng, mặc dầu chúng là những yêu cầu về mặt đạo đức thuộc loại cao cấp. Chúng có ý nghĩa bởi vì chúng là những điều Đức Chúa Trời đòi hỏi chúng ta . Chính vì ý muốn của Ngài là chúng ta phải làm điều công bình và yêu điều nhân từ mà chúng ta phải xem trọng hai điều đó.
Vì vậy, trong lãnh vực đạo đức học của Kinh Thánh, những câu hỏi quan trọng không phải là những câu lý thuyết như: “điều gì là tốt lành?” hoặc: “sống cho phải lẽ là sống như thể nào?” Hoặc: “Làm như thế có khôn ngoan không?” Câu hỏi quan trọng là câu hỏi cụ thể rõ ràng: “Ý muốn của Đức Chúa Trời gì?” Những câu hỏi về mặt đạo đức học không đứng một mình; chúng phải được cân nhắc trong ánh sáng của ý muốn Đức Chúa Trời, và cách nó có thể được hoàn thành tốt nhất. Tôn giáo và đạo đức học luôn đi đôi với nhau.
Biến Tấu Của “Sự Thờ Phượng Và Hành Động.”
Nhiều người ra sức vạch một giới hạn giữa “sự thờ phượng” và “hành động,” và chọn hoặc cái này hoặc cái kia. Đại khái như thế này:
Điều quan trọng nhất trong đời sống là mối tương giao với Đức Chúa Trời. Không gì quan trọng bằng điều đó. Cầu nguyện, suy gẫm, đọc Kinh Thánh - đây là những điều thật sự quan trọng cho sự lớn lên của linh hồn. Ngoài ra không điều gì thực sự quan trọng. Vì vậy chúng ta hãy thôi tranh luận mà cứ tiếp tục bền đỗ trong sự cầu nguyện.
Điều quan trọng nhất trong đời là làm những công việc thực tế cần phải được làm. Không có gì quan trọng bằng điều đó. Bầu cử, lập luật, hành động - đó là những điều thực sự quan trọng để cải thiện đời sống con người. Ngoài những điều đó, không có điều gì khác thực sự quan trọng. Vì vậy chúng ta hãy thôi tranh luận và bắt tay vào công việc.
Mỗi quan niệm đều có một sự kêu gọi nhất định. Mối quan hệ với Đức Chúa Trời là nền tảng của đời sống con người và cần phải làm các công việc là điều quan trọng. Sai lầm xuất hiện khi ta ra sức phân rẽ hai lãnh vực này, Kinh Thánh tỏ rõ nhiều lần rằng làm như vậy sẽ không thể nào mà tránh được rắc rối. Những người chỉ tập trung vào sự thờ phượng mà thôi thì lại quá bận rộn đến những chi tiết tỉ mỉ của nghi lễ đến nỗi họ trở nên mù lòa trước sự bất công. Những người chỉ quan tâm đến “việc thực hiện các công việc” thấy rằng ý thức của họ về phương hướng và mục đích bị suy yếu. Sự thờ phượng dẫn đến hành động, hành động phải được đặt cơ sở nơi sự thờ phượng - đó chính là lẽ thật mà Kinh Thánh tuyên bố.
Chúng ta hãy nói cụ thể hơn. Chúng ta có thể theo gương một con người qua kinh nghiệm thờ phượng để xem điều đó khiến ông ta trở thành “một người hành động” như thế nào. Người đó là Êsai. Ông nhớ kinh nghiệm này rất rõ, bởi vì nó xảy ra “vào năm vua Ôxia băng” (EsIs 6:1). Ông đang thờ phượng Chúa trong đền thờ, và ông nhận ra rằng Đức Chúa Trời có ở đó, đây là điều trước kia ông không hề nhận biết. Ông nhận biết rằng bổn phận đầu tiên của ông là phải thờ phượng và suy tôn Đức Chúa Trời, là phải khẳng định cùng với chính các thiên sứ: “Thánh thay, Thánh thay Thánh thay là Đức Giêhôva Vạn Quân! Khắp đất đầy dẫy sự vinh hiển Ngài!” (c.3). Ông nhận biết rằng Đức Chúa Trời thật sự là Đấng “Thánh Khiết,” tách biệt khỏi con người, rằng trước mặt một Đức Chúa Trời như vậy, con người phải luôn luôn cúi đầu tôn kính.
Khi Êsai nhận biết sự oai nghiêm của Đức Chúa Trời, ông cũng nhận biết rằng trái lại, ông là một con người gian ác và ô uế, cũng như dân sự mà ông đang sống giữa vòng họ. Trước mặt một Đức Chúa Trời như vậy ông chỉ có thể kêu lên: “Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi, vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua tức là Đức Giêhôva Vạn Quân!” (c.5). Đây là một hành động chân thật khi Đức Chúa Trời đối mặt với con người: Đức Chúa Trời xứng đáng, còn tôi không xứng đáng; Đức Chúa Trời thanh sạch còn tôi ô uế; Đức Chúa Trời là thánh, còn tôi thấp hèn.
Nếu tất cả chỉ có thế, chúng ta có thể xem Đức Chúa Trời như một bạo chúa gian ác, chỉ quan tâm đến việc định tội loài người. Nhưng đó không phải là tất cả. Êsai tiếp tục một cách sống động để cho thấy Đức Chúa Trời không lìa bỏ ông trong tình trạng ô uế và đầy tội lỗi. Môi miệng ông ô uế, vì vậy cần phải được thanh tẩy. Tội lỗi ông đã được tha.
Dẫu vậy vẫn chưa phải là hết. Bởi vì sau đó, một phần của kinh nghiệm cho thấy sự thờ phượng và hành động có liên quan mật thiết như thế nào với nhau. Bởi vì Êsai đã nghe được tiếng Đức Chúa Trời kêu gọi một sứ giả: “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta?” (c.8). Êsai đã thưa rằng: “Có tôi đây, xin hãy sai tôi.” Chính nhờ kinh nghiệm thờ phượng Chúa mà Êsai đã được chuẩn bị cho hoạt động cam go với tư cách một nhà tiên tri. Cuộc đối mặt mật thiết của ông với Chúa buộc ông phải ra đi và đối mặt với đồng bào mình. Bởi vì ông đã thờ phượng Chúa nên bây giờ ông sẵn sàng để “hành động.” Đây là ghi nhận xác thực của Kinh Thánh.
Điều này không có nghĩa thờ phượng chỉ là một phương sách hoặc “thủ thuật” để khiến người ta thực hiện một công việc “hiệu quả” hơn trong những hoạt động xã hội. Có một sự cảm biết thực sự mà trong đó sự thờ phượng “tự nó là quan trọng,” điều chúng ta làm hoàn toàn là vì chúng ta được tạo dựng để ngợi khen và thờ phượng Đức Chúa Trời, đây là hoạt động cao nhất của chúng ta với tư cách loài người. Chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời bởi vì Ngài là Đấng “đáng thờ phượng,” chứ không phải bởi vì điều đó làm cho chúng ta trở nên những công dân tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, khi sự thờ phượng là thật, nó không phải là một “sự trốn tránh khỏi thế giới này,” mà nó đẩy chúng ta vào lại giữa thế giới một cách vững chắc, cương quyết hơn bao giờ hết. Theo quan điểm của Kinh Thánh, không có sự khác biệt thật sự giữa “sự thờ phượng thật sự” và “sự hành động.” Chúng chỉ là các phần của toàn bộ kinh nghiệm sống trọn đời “dưới quyền Đức Chúa Trời.” Cầu nguyện cho một người hàng xóm bị bệnh và giúp đỡ trong phòng một người bệnh đều là các phần của cùng một mối quan tâm cơ bản. Sự thờ phượng thật không để mặc chúng ta “đắm mình trong sự mộ đạo của riêng mình,” nhưng đẩy chúng ta vào những lãnh vực nơi ý muốn của Đức Chúa Trời cần phải được thực hiện.
Biến Tấu “Bởi Đó”
Bây giờ chúng ta hãy xem xét một biến tấu của Tân Ước về chủ đề này. Điều bạn không thể tránh khi đọc Tân Ước là việc các Cơ Đốc nhân quan tâm đến nhau chính vì họ tin rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến tất cả họ. Chính vì tình yêu của Đức Chúa Trời , được bày tỏ cho họ qua Đấng Christ, mà họ được thúc giục để yêu thương lẫn nhau. Một người trong số họ đã nói: “Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước” (IGi1Ga 4:19). Đức Chúa Trời yêu chúng ta, vì vậy chúng ta phải yêu thương lẫn nhau. Sẽ là trừu tượng khi bạn nói đến việc yêu kính Chúa mà không yêu anh em mình:
Ví có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời mà ghét lại anh em mình; thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được. Chúng ta đã nhận nơi Ngài điều răn này: Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình (4:20, 21).
Chúa Jêsus tuân giữ cùng một thứ tự ưu tiên như vậy. Mạng lệnh thứ nhất là phải yêu kính Đức Chúa Trời. Mạng lệnh thứ hai, Ngài cho chúng ta biết - cũng giống như mạng lệnh đầu tiên , - là hãy yêu kẻ lân cận mình. Bạn phải yêu Joe Doakes (người có thể bạn đang có mối ác cảm vào lúc này) bởi vì:
a) Đức Chúa Trời yêu bạn, và bạn phải “chuyển” tình yêu ấy cho người khác.
b) Đức Chúa Trời yêu Joe Doakes (mặc dầu bạn thấy thật khó tin) và bạn không được từ chối yêu người mà Đức Chúa Trời yêu thương; và
c) Nếu bạn yêu kính Chúa và muốn làm theo ý muốn Ngài, thì ý muốn Ngài rõ như pha lê về vấn đề đặc biệt này.
Không có cách gì để lẫn tránh mạng lệnh ấy.
Bây giờ chúng ta bắt đầu hiểu vì sao đạo đức học của Tân Ước có thể được gọi là đạo đức học “vì vậy.” Chúng ta cứ thấy một đoạn Kinh Thánh dài về Đức Chúa Trời kết thúc bằng cụm từ “vì vậy,” là điều tiếp tục tỏ rõ thế nào niềm tin đặt nơi Chúa nấy trên bạn tất cả những đòi hỏi về đạo lý. Dưới đây là một vài thí dụ. Trong lá thư gởi cho người Rôma, Phaolô đã viết mười một đoạn dài khó hiểu về “thần học” giải thích cho người Rôma đức tin Cơ Đốc là như thế nào, Chúa Giêxu Christ là ai, điều Ngài đã làm cho con người, và vân vân. Thần học thuần túy. Và sau đó là gì? Đoạn 12 bắt đầu bằng câu: “(Vì ) vậy , hỡi anh em, tôi... khuyên anh em,” và Phaolô đưa ra một bản danh sách dài các thái độ, hành vi, và đặc trưng về cách các Cơ Đốc nhân phải hành động -những điều như là:
• Lòng yêu thương phải cho thành thật.
• Hãy gớm sự dữ.
• Mà mến sự lành.
• Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau như anh em.
• Hãy chúc phước cho kẻ bắt bớ anh em.
• Phải ăn ở cho hiệp ý nhau.
• Đừng lấy ác trả ác cho ai.
Và chữ “vì vậy” là điểm then chốt của toàn bộ lập luận này. Thực ra Phaolô muốn nói rằng: bởi vì tất cả những điều mà tôi viết cho anh em (trong cả mười một đoạn!) đều là thật, vì vậy đây là cách mà anh em phải hành động.
Lá thư gởi cho người Êphêsô cũng giống như vậy. Ba đoạn đầu trình bày công việc của Đấng Christ trên thập tự giá và rồi đoạn thứ tư bắt đầu:
Vì vậy , tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em, hãy khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau, dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh (Eph Ep 4:1-3).
Và tác giả tiếp tục với lời khuyên về cách phải sống vì cớ những gì Đức Chúa Trời đã làm qua Đấng Christ. Các nguyên tắc đạo lý này dựa trên đức tin.
Thậm chí một ví dụ gây ấn tượng hơn nữa của việc đặt đạo lý ngang với bối cảnh điều Đức Chúa Trời đã làm, được thấy trong thư Phaolô gởi cho các tín hữu Philíp. Ông thấy không thể nào phân rẽ tôn giáo với đạo đức học. Và chúng quện vào nhau không thể tách rời.
Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. Mỗi một người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa. Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự (Phi Pl 2:3-8).
Bạn để ý trong khúc Kinh Thánh ấn tượng này, Phaolô đang đưa ra những huấn thị về đạo đức học, nhấn mạnh đến tính khiêm nhường và cảnh cáo lòng tranh cạnh và hư vinh. Nhưng làm sao chúng ta biết “sự khiêm nhường này” là như thế nào? Chúng ta tìm thấy câu trả lời cho mình chính ở trọng tâm của Tin Lành - qua sự hạ mình lạ lùng của Đấng Christ, là người vốn có hình Đức Chúa Trời, nhưng đã tự bỏ mình đi để có thể mang lấy hình của một người tôi tớ. Lời khẳng định về điều Đấng Christ đã làm (trọng tâm của đức tin Cơ đốc) cũng là lời khẳng định về điều chúng ta phải làm (trọng tâm của đạo đức học Cơ đốc). Đức Chúa Trời đã hành động như thế đối với chúng ta. Vì vậy chúng ta cũng phải hành động như vậy đối với đồng loại của mình. Hai điều này không thể tách rời.
Sự thật này được thấy rõ trong kinh nghiệm của Phaolô trên đường đến Đamách (xem Chương 8). Ở đây, ông thấy mình bất ngờ đối đầu với Đức Chúa Trời. Và ông đã hỏi hai câu:
1) Lạy Chúa, Ngài là ai?
2) Lạy Chúa, tôi phải làm gì? (Cong Cv 22:8, 10)
Trước hết ông phải biết Đức Chúa Trời, Đấng đối mặt ông là Đấng nào. Và khi đã biết rồi, ông phải làm điều gì đó tương xứng với sự hiểu biết này. Phaolô dường như muốn nói rằng bởi vì Ngài chính là Đức Chúa Trời, vì vậy tôi phải tìm biết và làm bất cứ điều gì Ngài truyền cho tôi phải làm.
Những ví dụ này tỏ rõ rằng đạo đức luận của Tân Ước là đạo đức “vì vậy,” chúng trình bày điều chúng ta phải làm vì cớ những gì Đức Chúa Trời đã làm. Chúng trình bày hành động của chúng ta để đáp ứng trước hành động của Đức Chúa Trời. Toàn bộ đạo đức luận này được tóm tắt bằng một câu: “Nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy (bằng việc sai Con Ngài) thì chúng ta cũng phải yêu nhau” (IGi1Ga 4:11).
Biến Tấu Của “Các Tín Điều Và Các Việc Làm”
Những câu khẩu hiệu được yêu chuộng trong những ngày này là: “Chúng ta cần việc làm chứ không cần tín điều”
“Điều quan trọng không phải là những gì bạn tin mà là những gì bạn làm.”
Nhưng dầu có được ưa chuộng hay không, các câu khẩu hiệu như vậy cũng chứa đựng một sự ngụy biện cơ bản. Những khẩu hiệu ấy đã không tính đến sự kiện điều bạn tin ảnh hưởng đến điều bạn làm . Điều bạn tin không những quan trọng; mà nó làm thay đổi thế giới này hoàn toàn.
Ví dụ, nếu bạn tin (như những người Đức Quốc Xã đã tin) rằng dân Dothái là cặn bã của thế giới, làm ô uế cho “dòng dõi Bắc Âu thuần chủng” đến nỗi cần phải bị tiêu diệt sạch, chắc chắn, bạn sẽ bỏ họ vào các trại tập trung và những phòng hơi ngạt để tiêu diệt càng nhiều người Dothái càng tốt. Phương châm của Đảng Quốc Xã dẫn đến hành động của Đảng Quốc Xã.
Tuy nhiên, nếu bạn tin (như các Cơ Đốc nhân tin), rằng Đức Chúa Trời “đã làm cho muôn dân sinh ra bởi chỉ một người và khiến ở khắp trên mặt đất” (Cong Cv 17:26), thì bạn sẽ nhận ra rằng người Dothái là con cái của Đức Chúa Trời, và bạn sẽ phải làm hết sức mình để chống lại sự tàn sát tiếp diễn của họ. Niềm tin của người Cơ Đốc phải dẫn đến việc làm của người Cơ đốc.
Lưu Ý Đối Với Những Độc Giả Thận Trọng : Xin hãy cẩn thận ở đây, chúng ta đang đứng bên bờ vực dễ rơi vào chỗ xuyên tạc đức tin theo Kinh Thánh. Chúng ta hầu như cho rằng biết điều lành thì phải làm điều lành, hoặc (nói một cách khác) rằng chúng ta phạm tội chỉ vì đã không biết nhiều hơn. Kinh Thánh không bảo nếu chúng ta biết mọi người đều là con cái của Đức Chúa Trời, chắc chắn chúng ta sẽ đối xử với họ như vậy. Tuy nhiên chúng ta biết mình phải đối xử với họ như vậy, và Kinh Thánh khiến chúng ta biết, thường là biết một cách không dễ chịu, mạng lệnh này cũng như những mạng lệnh khác. Nhưng chính vì chúng ta không thể cho rằng biết điều lành thì phải làm điều lành nên không có lý do gì để từ bỏ cuộc chiến đấu để biết điều lành và cố gắng làm điều lành. Đó là bổn phận không ngừng của chúng ta với tư cách người Cơ Đốc.
Dưới đây là một vài ví dụ những xác quyết của Kinh Thánh mang các hàm ý về đạo đức học, những niềm tin (nếu bạn muốn) đòi hỏi việc làm. Có lẽ bạn có thể nghĩ thêm những điều khác.
Chính đức tin theo Kinh Thánh tuyên bố rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa . Ngài có một mục đích dành cho thế giới này, nếu không Ngài không tạo dựng thế giới. Bởi vì Ngài đã đặt để chúng ta ở đây, nên rõ ràng là Ngài muốn chúng ta giúp thực hiện mục đích của Ngài ngay tại nơi chúng ta đang sống. Công việc của chúng ta không phải là trốn khỏi thế giới của Đức Chúa Trời mà là để sống trong thế giới đó theo cách đẩy mạnh các mục đích của Ngài. Đặt lòng tin nơi sự sáng tạo là phải tin nơi tính cần thiết để cho hành động đạo đức tuân theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
Chính niềm tin theo Kinh Thánh tuyên bố rằng Ngôi lời đã trở nên xác thịt , rằng Đức Chúa Trời đã sai chính Con Ngài vào trong thế gian để sống cuộc sống loài người, chứ không phải là một siêu nhân hay là một người “giả vờ,” mà là một con người thật. Điều này rõ ràng có nghĩa thế giới này, xác thịt, và thân thể đều nằm trong sự quan tâm của Đức Chúa Trời, bởi vì chúng tượng trưng cho vũ đài Đức Chúa Trời chọn để mặc khải chính mình Ngài. Chúng ta không thể say sưa trong lý tưởng xa hoa của việc chỉ quan tâm đến “những việc thuộc linh” khi Đức Chúa Trời rõ ràng đã quan tâm đến “những điều thuộc về vật chất.” Đây là lý do vì sao chúng ta có thể nói đến Cơ Đốc giáo như là tôn giáo “duy vật chất” hơn hết trong tất cả các tôn giáo. Chúng ta không bác bỏ thân thể, đời sống thuộc thể, những điều tốt lành chung quanh chúng ta, nhưng xác nhận chúng và sử dụng chúng một cách vui mừng. Để diễn tả súc tích nhất quan điểm của niềm tin Kinh Thánh, vật chất là quan trọng.
Chính niềm tin nơi Kinh Thánh tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã ban Con Ngài để cứu loài người . Rõ ràng Ngài thấy chúng ta xứng đáng với tất cả nỗi thống khổ và sự hành hạ của cái chết sỉ nhục trên thập tự giá. Ngài đã bằng lòng đến với chúng ta qua Đấng Christ và chinh phục chúng ta trở về với Ngài; dẫu cho đó là cái giá Ngài phải trả. Điều chắc chắn tiếp theo là nếu con người quí báu đến mức ấy đối với Đức Chúa Trời thì họ cũng phải quí báu đối với chúng ta. Bất cứ điều gì làm mất phẩm giá của con người là loài mà Đấng Christ đã đến để cứu chuộc đều là sự chối bỏ Chúa cùng tình yêu của Ngài. Điều này có nghĩa là...
một khu nhà ổ chuột,
một điều khoản có tính phân biệt chủng tộc trong một hợp đồng bất động sản,
một bảng hiệu “Chỉ Dành Cho Người Da Trắng,”
... tất cả đều đi ngược lại mục đích của Đức Chúa Trời và không những xúc phạm đến con người mà còn xúc phạm đến Đức Chúa Trời là Đấng đã đến để cứu loài người.
Bạn thấy đấy, trong mỗi trường hợp, niềm tin đều mang những hàm ý trong lãnh vực hành động. Và vì vậy, chúng ta có một biến tấu khác của giai điệu: Tôn giáo và đạo đức học luôn đi đôi với nhau.”
Với biến tấu ấy, cuộc biện hộ ngưng nghỉ.
Chương 19: Khảo Sát Khía Cạnh Xã Hội Hay Tập Thể Của Đạo Đức Luận Theo Kinh Thánh
Cùng Việc Bác Bỏ Đường Lối Của Chủ Nghĩa Duy Luật Pháp Hoặc “Tinh Thần Pharisi,”Là Vấn Đề Được Nói Đến Trong Phần Giải Luận Của Đức Tin Tân Ước Về “Sự Tự Do Của Người Cơ Đốc”
(Vì Sao Tôi Không Thể Sống Theo Luật Lệ?)
Cách đây hai trăm năm, tựa đề của chương luôn luôn được viết như vậy. Chúng có thuận tiện lớn để cho độc giả một dàn bài dễ nắm về điều sắp được nói đến. Nhưng nếu tựa đề này quá kồng kềnh đối với bạn, bạn có thể bỏ qua và thay vào đó hãy đọc đoạn kế tiếp.
Chương này bàn đến ba yếu tố về đạo đức học của Kinh Thánh:
1) Chúng là đạo đức học của tập thể chứ không phải của chủ nghĩa cá nhân.
2) Chúng bác bỏ “tinh thần luật pháp” hoặc việc sống theo một tập hợp các nguyên tắc.
3) Chúng nhấn mạnh sự tự do liên quan đến cách hành xử đúng đạo lý.
Một Số Ý Niệm Hết Sức Bất Thường .
Khi kẻ thù của những Cơ Đốc nhân đầu tiên tìm cách để mô tả họ, cụm từ họ tình cờ tìm ra là: “Những tên này đã gây thiên hạ nên loạn lạc” (Cong Cv 7:6).
Đó là một lời mô tả chính xác.
Nếu bạn là một người ngoại không đa nghi và có một người trong số những Cơ Đốc nhân này đến làm việc với bạn, thế giới của bạn sẽ sớm bị đảo lộn. Những điều mà trước kia bạn yêu quí, như là các hình tượng ngoại giáo, sẽ bị hạ xuống khỏi các bệ nó. Thay vì “tìm kiếm Con Người Số Một,” bạn sẽ cố gắng không những yêu thương bạn hữu mình mà còn yêu cả những kẻ thù của mình nữa. Thay vì tôn thờ Sêsa, bạn sẽ thờ phượng Chúa Jêsus - và vì điều đó, bạn có thể bị treo lên thập tự.
Đạo Đức Học Cộng Đồng
Điều này không chỉ xảy ra vì những Cơ Đốc nhân đơn lẻ nào đó. Ý tưởng các Cơ Đốc nhân làm việc là điều gì đó được thực hiện bởi các nhóm Cơ Đốc nhân làm việc chung với nhau. Khi chúng ta nói về các nguyên tắc đạo lý Cơ Đốc trong thời Tân Ước chúng ta phải nhớ rằng chúng là đạo đức học cộng đồng . Các Cơ Đốc nhân sống, thờ phượng, và làm việc -chung với nhau. Những gì họ làm thực tế như là các hàng tạp phẩm cho ngày mai vậy.
Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người... vì trong tín đồ không ai thiếu thốn cả bởi vì những người có ruộng hay nhà đều bán đi, bán được bao nhiêu tiền cũng đem đến đặt dưới chân các sứ đồ. Rồi tùy theo sự cần dùng của mỗi người mà phát cho (2:44, 45; 4:34, 35).
Các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã xem trọng các nguyên tắc đạo lý cộng đồng của họ như vậy đấy. Nếu người lân cận của bạn gặp khó khăn thiếu thốn, bạn không chỉ cầu nguyện cho người ấy; bạn phải thò tay vào túi mình để trợ giúp cho người ấy bằng chính tiền của mình - vì bạn không gọi đó là tài sản “của riêng bạn” nữa, bởi bạn đã dâng nó cho cộng đồng hầu cho bất cứ ai thiếu thốn cũng có thể được trợ giúp. Bạn phải yêu người Đấng Christ đã yêu. Bạn không thể nhàn nhã trong sự xa hoa. Nếu như “anh em trong Chúa” của bạn đang đói ăn.
Ngày nay, người ta xem xét thử nghiệm ban đầu này trong nếp sống của người Cơ đốc và thì thầm với một cái rụt vai: “Chủ nghĩa Cộng Sản.” Thực ra, điều này rất khác so với chủ nghĩa Cộng sản hiện đại, điều mà bất cứ người nào nghiên cứu đầy đủ môn chủ nghĩa Cộng sản đều có thể cho bạn biết. Điều gây ấn tượng về nếp sống ấy đó là nó cho thấy những Cơ Đốc nhân đầu tiên đã sẵn sàng đi xa thế nào để chuyển các niềm tin thành hiện thực. Họ không chỉ nói về “việc quan tâm đến chỗ nứt nẻ của người khác;” mà họ thực sự giúp người ấy thoát ra.
Lưu Ý Đối Với Độc Giả Thận Trọng : Nhưng thử nghiệm này đã thất bại. Cũng như những lý do của việc nó được thử là quan trọng, những lý do thất bại của nó cũng vậy. (1) Với một nhóm người nhỏ bé, thân tình, thì việc chia sẻ những của cải vật chất trong đời sống là điều có thể được. Tuy nhiên, khi nhóm người này đã trở nên đông đúc hơn, khi cộng đồng Cơ Đốc đã thật sự phát triển nhanh chóng, thì việc chia sẻ tự phát phải được tổ chức, và tính tự phát chắc chắn biến mất. Điều này không có nghĩa là việc chia sẻ phải chấm dứt, nhưng nó phải được tiến hành cách khác hơn. (2) Ngoài ra, những Cơ Đốc nhân không phải là những vị thánh ở trong những cửa sổ kính màu của nhà thờ. Họ vẫn là những con người của thế gian, bị cám dỗ để biến bất cứ điều tốt nào thành lợi nhuận cho chính mình, như điều đã xảy ra trong trường hợp của Anania và Saphiara là những người cố gắng “qua mặt tổ chức” và tích trữ cho tổ ấm tài chánh dự phòng cho tương lai của mình.
3) Cuối cùng nỗ lực này dần dần sụp đổ khi “sự trông đợi ngày tận thế” (xem Chương 16) sụp đổ. Những Cơ Đốc nhân đầu tiên đã mong đợi sự trở lại lập tức của Đấng Christ. Khi Ngài không trở lại, họ đã phải sửa đổi cách sống của mình hầu cho các nguồn phương tiện của họ không bị sử dụng hết.
Đức Chúa Trời và Toàn Thể Cộng Đồng
Sau khi sử dụng thể nghiệm độc đáo này như là một nguồn động lực, chúng ta hãy lùi xa hơn vào trong quá khứ, đề xem vấn đề này đã được diễn tả thế nào trong Cựu Ước. Chúng ta đã thấy (trong Chương 15) rằng một trong những ý tưởng quan trọng nhất của Kinh Thánh là ý niệm về giao ước. Đức Chúa Trời bước vào trong mối quan hệ đặc biệt với cả một dân tộc. Ngài đồng ý để làm Đức Chúa Trời của họ, và họ bằng lòng làm dân sự của Ngài.
Nhưng bạn còn nhớ điều xảy ra, đó là tuyển dân cứ vi phạm giao ước về phía họ và thờ lạy các thần khác. Hậu quả của sự kiện này thật rõ ràng, mọi người đều hiểu: giao ước bị vi phạm có nghĩa là cộng đồng bị gãy đổ . Khi mối quan hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời và con người bị hủy hoại, mối quan hệ giữa người và người cũng bị hủy hoại tương tự. Đời sống “bị trật khớp” và tai họa theo sau.
Trong những câu châm ngôn của tất cả các tiên tri - Amốt, Ôsê, Michê, Êsai, Giêrêmi và những người còn lại - chủ đề này luôn được lập đi lập lại. Ysơraên đã làm gãy đổ mối quan hệ giao ước của họ với Đức Chúa Trời. Ôsê tuyên bố: “Vì Đức Giêhôva có sự kiện cáo với dân đất này, bởi trong đất này chẳng có lẽ thật, chẳng có nhân từ, cũng chẳng có sự nhìn biết Đức Chúa Trời” (OsHs 4:1). Và điều gì xảy ra nơi “không có sự nhìn biết Đức Chúa Trời?” Ôsê nói cụ thể một cách không dễ chịu. Những điều đã xảy ra là:
thề gian ,
thất tín ,
giết người ,
ăn trộm ,
và tà dâm ;
chúng nó làm sự tàn bạo , máu chồng trên máu (4:2).
Con người hành động theo cách này khi mối quan hệ giao ước không còn được coi trọng. Không những chỉ có tội lỗi nói chung,” mà còn có “những tội lỗi nói riêng.”
Vì sao điều này xảy ra? Vì sao con người chối bỏ Đức Chúa Trời và bởi đó cùng nhau hủy hoại sự sống của họ? Êxêchiên cũng như tất cả các tiên tri đều hiểu rằng điều đã làm đảo lộn kế hoạch chính là tội kiêu ngạo; là cảm thấy rằng đời sống có thể được tổ chức không cần Đức Chúa Trời. Con người chối bỏ mối quan hệ giao ước bởi vì họ nghĩ (sai lầm) rằng họ có thể sống không cần Đức Chúa Trời, rằng họ có thể “tự sức mình.” Nhưng sự chối bỏ Đức Chúa Trời hoàn toàn này đem lại những hậu quả tai hại của chính nó:
Vì lòng ngươi đã tự cao ,
và ngươi nói rằng : Ta là một vị thần ,
Ta ngồi trên ngai Đức Chúa Trời ,
ở giữa các biển ;
dầu lòng ngươi tự cao lên bằng lòng Đức Chúa Trời , ngươi còn là loài người , không phải Đức Chúa Trời .
Bởi sự thông thạo và sự buôn bán mình thì ngươi đã làm cho sự giàu có mình tấn tới -
Vậy nên Chúa Giêhôva phán như vầy :
Vì lòng ngươi tự cao lên bằng lòng Đức Chúa Trời ,
Cho nên , nầy , Ta sẽ khiến những người ngoại quốc hung bạo hơn hết trong các dân ,
Nổi dậy nghịch cùng ngươi , chúng nó sẽ rút gươm nghịch cùng sự khôn sáng hoa mỹ ngươi
Và làm ô uế sự vinh hiển ngươi .”
(Exe Ed 28:2, 5-7)
Nếu đây là một hình ảnh khắc nghiệt, nó cũng là một hình ảnh xác thực. Toàn bộ lịch sử Cựu Ước cho thấy mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời bị chối bỏ,
Mối quan hệ giữa con người với con người cũng thật sự tan tành; sự hỗn loạn và tai họa thật sự theo sau;
• con người bắt đầu xung đột với đồng loại mình;
• kẻ giàu thật sự bốc lột người nghèo
• các thầy tế lễ thật sự trở nên những kẻ giả hình;
• tôn giáo thật sự trở thành một trò cười
Không có lối thoát ư? Đây là những lời cuối cùng sao? Chúng ta hiểu rằng không phải. Đức Chúa Trời không từ bỏ dân Ngài. Ngài đuổi theo họ, chứ Ngài không từ bỏ họ. Sau cuộc lưu đày là sự khôi phục. Nhưng vào lúc có sự phục hồi, khi Con Cái Ysơraên được trở về xứ sở của họ, đã gây ra những khó khăn khác thường của chính họ, và bây giờ chúng ta phải xem xét những điều đó.
Sự Phát Triển Của “Tinh Thần Luật Pháp.”
Khi Siru, người cai trị Batư, bắt đầu để cho dân Dothái từ từ trở về quê hương, họ đã hình thành một lối sống đặt trọng tâm dính chặt vào một tập hợp các điều luật. (Kinh nghiệm này được mô tả trong sách Exơra và Nêhêmi). Việc cảm nhận rằng Đức Chúa Trời đã bảo dân Ngài chính xác điều phải làm và không được làm, rằng mọi người phải sống theo đúng “những điều phải làm” và “những điều chớ làm” của bộ luật. Các thầy tế lễ phải giải thích bộ luật này và thi hành những nghi lễ và hình thức đã được mô tả trong đó. Vì vậy bộ luật gồm các nguyên tắc hay là “điều răn” trở thành thước đo của sự thành công. Bạn “tốt” nếu tuân giữ các luật lệ, “xấu” nếu bạn xao nhãng chúng.
Tinh Thần Luật Pháp Và Sự Công Bình Riêng .
Hãy lưu ý điều xảy ra khi bạn cố sống theo các luật lệ. Luôn có khả năng bạn sẽ lập luận như vầy:
Bước Một : “Những người tuân giữ luật pháp là những người tốt, Đức Chúa Trời ban thưởng cho họ. Những kẻ không tuân giữ luật pháp là xấu xa, Đức Chúa Trời sẽ trừng phạt họ.”
Bước Hai : “Có một người rất thạnh vượng. Ông ta hẳn đã tuân giữ luật pháp. Còn người kia đang gặp hoạn nạn. Hẳn là ông ta đã không tuân giữ luật pháp.”
Bước Ba : Nếu tôi nói với chính mình: “Tôi luôn giữ luật pháp khá là tốt có nghĩa là Đức Chúa Trời phải ban thưởng cho tôi. Lạy Chúa, Ngài hãy xem đấy..” tại điểm đó bạn bắt đầu ra lệnh cho Chúa như một trung sĩ cảnh sát huấn luyện.
Bước Ba có thể đi theo một cách khác: “Tôi luôn làm điều tốt lành cho mình. Ngày hôm qua tôi đã trao đổi khá tốt trong công việc làm ăn. Điều đó phải hàm ý rằng Đức Chúa Trời hết sức hài lòng với tôi và đang chúc phước cho mọi nỗ lực của tôi.”
Tinh thần luật pháp, nói cách khác, dẫn đến sự công bình riêng, trong đó, tôi so sánh con người tốt lành của mình với con người xấu xa của bạn, và rõ ràng Đức Chúa Trời ưa thích tôi nhiều hơn.
Kinh Thánh lên án quan điểm này rất nặng. Sách Gióp (xem Chương11) là một thách thức rõ ràng đối với điều đó. Một trong các tác giả Thithiên chỉ ra một lẽ thật sâu xa hơn là một tinh thần luật pháp: “Hỡi Đức Giêhôva, nếu Ngài cố chấp sự gian ác, thì Chúa ôi! Ai sẽ còn sống?” (Thi Tv 130:3). Và một lời khẩn nài khác với Đức Chúa Trời: “Xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian ác, và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi. Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi. Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi” (51:2-4).
Các Điều Luật Về Các Luật Lệ .
Tinh thần luật pháp giống như một căn bệnh ác tính, bạn càng tìm cách chữa nó; nó càng trở nên tồi tệ. Hằng trăm điều luật trở nên dễ lầm lẫn và bối rối vì vậy bạn ra sức sắp xếp nó theo thứ tự quan trọng. Và để làm được điều này, bạn phải thêm vào một số các luật khác nữa:
1) Các luật để cho bạn biết các luật nào là quan trọng nhất.
2) Các luật để cho bạn biết luật nào bị vi phạm nếu bạn ở vào tình huống khó khăn là nơi bạn không thể không vi phạm hoặc điều luật này hay điều luật kia.
Đến cuối thời Tân Ước đã có 613 luật lệ hoặc điều luật khác nhau. Ngoài những lời giải thích và những lời truyền khẩu về chúng. Cuối cùng những lời truyền khẩu trở thành các “điều luật” nhiều bằng bản thân các luật lệ ban đầu. Dưới đây là cách chúng hoạt động:
Điều luật : “Trong ngày Sabát, ngươi.. chớ làm công việc chi hết” (XuXh 20:10).
Câu hỏi : Được, nhưng thế nào là“công việc”? Chính xác những điều gì bị cấm trong ngày Sabát?
Trả lời : Có 39 loại công việc khác nhau bị cấm trong ngày Sabát (và bản danh sách 39 loại công việc đó đã được đưa ra).
Câu hỏi : Được, nhưng há không phải một số trong các việc này dường như là công việc chứ không phải thực sự là công việc sao? Làm sao để chúng ta phân biệt được sự khác nhau?
Trả lời : Về các chi tiết còn nghi ngờ bạn phải tìm được một quyết định đặc biệt để không vi phạm điều luật. Ví dụ một người phụ nữ thắt nút trên chiếc khăn choàng trong ngày Sabát thì được. Đó không phải là công việc. Nhưng nếu cũng người phụ nữ ấy phải thắt một cái nút để mang các bình nước trên thắt lưng của mình thì đó là công việc, và như thế là vi phạm.
Điều gì xảy ra?
Điều xảy ra thật hết sức rõ ràng. Bạn trở nên quá lo phiền về việc vi phạm một trong các điều luật, hoặc một trong các nguyên tắc về một trong các điều luật, hoặc một trong những quyết định về một trong các nguyên tắc của một trong những luật lệ - đến nỗi toàn bộ thời gian của bạn bị choán mất bởi sự tuân giữ quá tỉ mỉ các chi tiết này và ý niệm về một mối tương giao cá nhân với Đức Chúa Trời (là điều mà luật pháp thực sự quan tâm đến từ lúc đầu) bị đánh mất và bị lãng quên. Ý tưởng yêu kẻ lân cận cũng vậy - ai dám làm một hành động tử tế tự phát cho người lân cận mình khi hành động ấy có thể vi phạm một trong những điều lệ của luật pháp?
Sự Phản Kháng Của Tân Ước
Bản kháng nghị gay gắt chống lại tinh thần luật pháp trong Cựu Ước được tìm thấy và nhấn mạnh trong Tân Ước.
Chúa Jêsus, chẳng hạn, hoàn toàn không bằng lòng để cho đời sống chỉ còn là một tập hợp các điều luật. Dầu là một người Dothái nhân đức, Ngài đặt mối quan tâm dành cho con người lên trên sự quan tâm dành cho luật pháp. Ngài sẵn sàng vi phạm luật không được làm việc trong ngày Sabát khi nhu cầu của con người có liên quan. Trước sự kinh ngạc đến sửng sờ của những người chung quanh, Ngài đã chữa lành cho một người đau trong ngày Sabát. Nếu ngày Sabát cản trở việc giúp đỡ cho nhu cầu của con người, thì cũng không cần quan tâm đến các điều luật ngày Sabát nữa. Như Chúa Jêsus đã nói: “Vì loài người mà lập ngày Sabát chứ chẳng phải vì ngày Sabát mà dựng nên loài người” (Mac Mc 2:27). Quan tâm đến người lân cận mình quan trọng hơn là quan tâm đến một điều luật. Trong một số trường hợp, Ngài đã gây bàng hoàng hết sức cho những người đương thời mình vì phán rằng: “Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng (và Ngài đã trích một số điều trong luật pháp), song Ta phán cho các ngươi rằng (và Ngài cho họ lời tuyên bố mới của chính Ngài).” Điều này cho thấy rằng khi Chúa Jêsus đưa ra lời tuyên bố dường như mâu thuẫn rằng Ngài đến không phải để hủy phá luật pháp mà để làm trọn luật pháp (Mat Mt 5:17), Ngài hàm ý rằng Ngài đến để cứu luật pháp khỏi mọi lý thuyết suông lố bịch mà những người Pharisi mang lại, và “làm trọn” điều vốn là ý định ban đầu của luật pháp - để đem Đức Chúa Trời và loài người vào trong mối quan hệ sống động. Ngài đã làm điều này bằng cách nhấn mạnh mạng lệnh phải yêu kính Đức Chúa Trời và yêu kẻ lân cận mình trong số tất cả những luật lệ, qui định, cũng như những đòi hỏi. (Xem Chương 20).
Điều khiến cho lập luận này quan trọng hết sức đối với chúng ta ngày nay đó là tinh thần luật pháp luôn luôn là sự cám dỗ đối với những người “mộ đạo.” Có lẽ bạn biết những con người lấy những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus rồi ra sức biến nó thành bộ luật mới . Hoặc họ triển khai một bộ luật mới để cho phù hợp với một tình huống đặc biệt, và rồi bảo rằng: “Nếu giữ đúng các nguyên tắc này, bạn mới là Cơ Đốc nhân. Nếu không, bạn không phải là Cơ Đốc nhân.” Những luật lệ như thế rất nhiều:
1) Cơ Đốc nhân không đi xem phim (ít nhất là vào Chúa nhật).
2) Cơ Đốc nhân không hút thuốc.
3) Cơ Đốc nhân không uống rượu.
4) Cơ Đốc nhân không khiêu vũ.
5) Cơ Đốc nhân dành ra____ phút để cầu nguyện mỗi ngày.
6) Cơ Đốc nhân luôn đi nhà thờ vào ngày Chúa nhật.
Đây là một hình thức mới của tinh thần luật pháp. Đó là sống theo một tập hợp những điều luật (và kết quả thường là tiêu cực). Bạn “tốt lành” nếu bạn tuân giữ các luật lệ, “xấu” nếu bạn vi phạm những luật lệ đó.
Lý Lẽ Chống Lại Tinh Thần Luật Pháp .
Vì sao điều này lại xa lạ đối với tinh thần của Tân Ước như vậy? Vì sao nó bị tấn công một cách mạnh mẽ như vậy trong Tân Ước? Chúng ta hãy tóm tắt những điều phản đối:
Phản Đối Thứ Nhất : Tinh thần luật pháp quên rằng tôn giáo là mối quan hệ tích cực với Đức Chúa Trời bởi tình yêu. Nó biến tôn giáo thành ra “việc tuân-giữ -các-nguyên-tắc-để bạn không-bị-bắt-gặp.” Làm cho hành vi bề ngoài quan trọng hơn là thái độ và động cơ bên trong. Nó làm mất đi tính tự phát thoải mái của đời sống Cơ đốc.
Phản Đối Thứ Hai : Tinh thần luật pháp hiểu sai bản chất tình yêu của Đức Chúa Trời. Nó biến tình yêu của Đức Chúa Trời thành điều gì đó mà bạn phải kiếm được bằng cách tuân giữ các luật lệ trong khi toàn bộ tuyên bố của Tân Ước là tình yêu của Đức Chúa Trời không thể do kiếm mà có được; đó là một sự ban cho nhưng không, cho những người không xứng đáng với tình yêu đó.
Phản Đối Thứ Ba : Tinh thần luật pháp chuyển đổi trung tâm lòng quan tâm tôn giáo từ Đức Chúa Trời sang con người. Mối quan tâm số một của bạn trở thành việc cứu lấy chính mình, làm tất cả những gì bạn có thể làm để được sự cứu rỗi. Cho rằng bạn có thể tự cứu lấy mình, trong khi Tân Ước công bố rằng sự cứu rỗi là sự ban cho của Đức Chúa Trời, và bạn phải quan tâm đến Đức Chúa Trời và con cái Ngài, thay vì chỉ bận tâm đến mình.
Phản Đối Thứ Tư : Tinh thần luật pháp khiến cho cá nhân ấy kiêu ngạo. Bạn có thể bắt đầu suy nghĩ như vầy: Chà, mình thật sự làm tốt. Hôm nay chỉ phạm có bốn trong số 613 điều luật, và như vậy là xuất sắc trong bất cứ nhóm người ưu tú nào. Anh bạn thật không tồi; bạn đang thực sự tiến bộ. Giây phút nghĩ như thế, người ấy bắt đầu sa bại. Vì đây là sự nguy hiểm luôn luôn đe dọa đời sống của những con người “mộ đạo” - nguy hiểm của sự tự mãn hay tự đắc (đặc biệt khi bạn so sánh mình với những người nhất định có thể đề cập). Lên án của Chúa Jêsus dành cho những kẻ “tốt lành” trong thời Ngài cần phải đọc cho bất cứ ai nghĩ mình là trội hơn anh em mình bởi đi nhà thờ đều đặn, đọc các sách bồi linh, hoặc dâng ít tiền cho Hội Hồng Thập Tự. (Hãy nghiền ngẫm Mat Mt 23:1-39 như một bài nói chuyện dành cho bạn).
Phản Đối Thứ Năm : Một trong những phàn nàn chính của Phaolô là tinh thần luật pháp không có quyền năng. Luật pháp có thể cho bạn biết điều nó đòi hỏi bạn, nhưng không cho bạn sức mạnh để làm trọn những đòi hỏi đó. Tất cả những gì tinh thần luật pháp có thể làm cho Phaolô là thêm sự khốn khổ cho ông. Thật vậy, Phaolô thậm chí đi xa hơn nữa, bằng một lời tuyên bố làm chấn động những người đồng thời với ông: “Nhưng tôi chỉ bởi luật pháp mà biết tội lỗi, vì nếu luật pháp không nói: Ngươi chớ tham lam, thì tôi đã không biết sự tham lam” (RoRm 7:7). Có lẽ (như hầu hết những nhà tư tưởng Dothái sâu sắc thường lập luận) Phaolô quá khắt khe khi nhìn lại tình trạng trước khi qui đạo của ông. Nhưng vẫn đúng là có điều gì đó thật cám dỗ về những hoạt động bị cấm. Mẹ bảo với cậu bé: “Con làm gì trong bếp cũng được nhưng đừng nhét đậu hạt vào mũi nhé.” Ngay lập tức, cậu bé, dầu chưa bao giờ nghĩ đến việc nhét các hạt đậu vào mũi, có thể cho rằng không gì thú vị hơn điều đó và dành cả buổi chiều để tìm cách thực hiện thử nghiệm bị cấm.
Phaolô tiếp tục, một giá trị đích thực của luật pháp đó là nó mang ý tưởng chủ bại. Bạn càng cố gắng làm theo luật pháp (là điều mà ông đã biết do kinh nghiệm cá nhân), thì bạn càng nhận ra rằng nó không hiệu quả. Nhưng nó có thể là một “gia sư” hoặc một “thầy giáo” dẫn chúng ta đến Đấng Christ. Bởi điều đó, ông hàm ý rằng, cuối cùng, nếu bạn nhận ra rằng luật pháp là một ngỏ cụt, thì bạn sẽ có khả năng hơn để quay sang cách sống tự do mới mẻ, là điều Đấng Christ đã đem lại. Phaolô gọi điều này là đứng vững trong sự tự do mà “Đấng Christ đã buông tha chúng ta” (GaGl 5:1). Đó là câu trả lời của ông cho sự hư không của việc sống bởi luật lệ.
“Sự Tự Do Của Cơ Đốc nhân”
Đặc biệt gần cuối lá thư gởi cho người Galati, Phaolô nói đến sự giải phóng hay sự tư do này. Cơ Đốc nhân được buông tha khỏi luật pháp. Người ấy không còn bị nô lệ cho hằng trăm qui định nhỏ nhặt, là điều không thể cứu người ấy. Người ấy đến chỗ hiểu rằng những công việc đó không làm cho mình “công bình” trước mặt Đức Chúa Trời. Chính niềm tin của người ấy đặt nơi Đấng Christ buông tha người ấy khỏi tình trạng nô lệ cho luật pháp.
Nhưng sự tự do này hoàn toàn không tiêu cực. Chính “Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do” (GaGl 5:1). Tự do để làm gì? Hoàn toàn không phải tự do để làm “bất cứ điều gì dưới mặt trời.” Hoàn toàn không phải “làm dịp cho anh em ăn ở theo tánh xác thịt,” như Phaolô nói (c.13), tức là cơ hội chỉ để tập trung vào xác thịt. Trái lại sự tự do này hàm ý chúng ta có thể “lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau” (c.13). Bây giờ chúng ta được tự do để yêu thương. Là điều trước đây chúng ta không hề được. Đây là sự tự do của Cơ Đốc nhân - không phải để chăm lo cho chính mình, mà để sống một đời sống biết quan tâm đến người khác. Để mang lấy “gánh nặng cho nhau,” để “làm trọn luật pháp của Đấng Christ” (6:2).
ĐỘC GIẢ ĐA NGHI (sợ mắc bẫy ): Tôi nghĩ phải có trục trặc gì đó ở đây. Tự do để phục vụ ư... Hừm. Một sự mâu thuẫn hoàn toàn về thuật ngữ.
Nhưng đây không phải là sự mâu thuẫn. Đây là một trong số những nghịch lý sống động của đức tin có rất nhiều trong Tân Ước. Tác giả thư IPhierơ cũng tuyên bố một điều gây ngạc nhiên tương tự: “Hãy ăn ở như người tự do” ông viết, và rồi trong chính câu đó, ở nửa phần sau, ông nói thêm: “song, phải coi mình là tôi mọi Đức Chúa Trời” (IPhi 1Pr 2:16). Một người được “tự do” có thể được định nghĩa như là một người hầu việc Chúa.
Bây giờ điều quan trọng là cả Phaolô lẫn những người khác đều không nói rõ chính xác bằng cách nào , trong mỗi hoàn cảnh nhất định, bạn có thể sống bày tỏ sự tự do Cơ Đốc này. Hiện nay bạn được tự do để yêu người lân cận, nhưng không ai có thể cho bạn những huấn thị chi tiết yêu người lân cận mình như thế nào , bởi vì tình yêu thương không phải là bám chặt vào một loạt các nguyên tắc, mà là mối quan tâm tự phát đối với người lân cận. Điều tình yêu đỏi hỏi trong trường hợp này có thể không giống tình yêu đòi hỏi trong trường hợp kia. Bởi đó, không có “các nguyên tắc” liên kết với đạo đức học của người Cơ Đốc. Thánh Augustine tóm tắt nếp sống Cơ Đốc từ quan điểm này bằng một câu thật đúng đồng thời cũng nguy hiểm, ông nói: “Hãy yêu thương, và làm như bạn muốn.” Thánh Augustine hàm ý rằng nếu bạn thật sự yêu thương, thì điều gì bạn “vui lòng” để làm sẽ là điều mà tình yêu đỏi hỏi trong tình huống ấy. Là một người phản đối tinh thần luật pháp tôn giáo, quan điểm của Augustine là quan trọng, và nó tóm tắt quan điểm của Phaolô.
Nhưng ở đây có một vấn đề, chính Phaolô biết điều đó, khi ông bắt đầu mô tả theo cách ấy, thì người Côrinhtô, ví dụ rất vui sướng mà nói rằng: “Tốt thôi! Thật tuyệt! Chúng ta sẽ đi theo con đường đó! Nếu không có luật lệ ‘mọi sự đều được.’ Chúng ta có thể làm điều mình thích.” Phaolô xử lý thách thức này theo kiểu đặc thù bằng cách thảo luận một nan đề cụ thể ở địa phương (ICo1Cr 10:23-31). Và mặc dầu bản thân nan đề này hiện nay không tồn tại, vấn đề nổi lên từ lời luận này là một vấn đề lớn, hiện vẫn được quan tâm
Giả sử (Phaolô nói với các độc giả của ông) bạn đến dự tiệc tại nhà một người bạn chưa tin Chúa, và khám phá rằng thịt mà bạn phải ăn đã được cúng cho một vị thần ngoại giáo như là thần Serapis chẳng hạn. Bấy giờ điều này chẳng có khác biệt gì đối với bạn. Bạn biết Serapis chẳng hề tồn tại, và bạn có thể ăn thịt với một lương tâm trong sạch. Tuy nhiên, có thể đối với người anh em Cơ đốc kia thì hành động của bạn trở thành một cám dỗ đối với tội lỗi. Người ấy cảm thấy ăn thịt cúng cho các hình tượng là điều sai trái và đó là vấn đề nguyên tắc người ấy không được làm. Tuy nhiên... người ấy thấy bạn làm, và về mặt xã hội, đừng thò ngón tay đau ra thì dễ dàng hơn nhiều, nên người ấy bắt chước bạn và ăn thịt, mặc dầu người ấy cảm biết làm thế là sai trái đối với mình. Hành động của bạn đã đưa người ấy đến chỗ làm điều sai. Vì vậy
Nếu có ai nói với anh em rằng: Cái này đã dâng làm của cúng thì chớ ăn, vì cớ người đã bảo trước, lại vì cớ lương tâm: tôi chẳng nói về lương tâm anh em, nhưng về lương tâm người đó (ICo1Cr 10:28, 29).
Như vậy đạo đức mà không có các nguyên tắc hoặc qui định vẫn đem lại nền tảng xác thực để biết điều phảilàm. Như Phaolô nói: “Chớ ai tìm lợi riêng cho mình, nhưng ai nấy hãy tìm lợi cho kẻ khác” (ICo1Cr 10:24). Người Cơ Đốc được tự do để tìm kiếm điều ích lợi cho người lân cận mình. Và “điều ích cho người lân cận” là điều người ấy sẽ tìm thấy, không phải nhờ lật trang 79 của quyển sách có tựa đề là 613 Cách Để Yêu Người Lân Cận , mà là bằng cách bước vào mối liên hệ yêu thương sống động với người lân cận đó. Trọng tâm của đạo đức học theo Tân Ước, vì vậy là một loại tình yêu tự phát, không thể chỉ thu gọn trong các nguyên tắc mà là những cố gắng để tìm điều lợi cho người lân cận.
Điều này dường như vẫn quá mơ hồ và chung chung, quá thiếu sự hướng dẫn cụ thể. Vì vậy chúng ta phải đặt nhiều hàm lượng về ý niệm yêu thương tích cực, ra đi này, bằng cách xem xét một số những lời dạy dỗ của Chúa Jêsus.

Chương 20: Những Sự Dạy Dỗ Không Đơn Giản Của Chúa Jêsus-Với Lời Chú Thích Của Phaolô
(Yêu Người Lân Cận Nghĩa Là Gì? )
Tới nay, chúng ta đã đến được đâu?
Chúng ta đã thấy rằng “sự tự do của người Cơ đốc” nằm ở trọng tâm câu trả lời của Tân Ước cho vấn đề đạo đức học, và sự thiện lành không thể được “kiểm soát bởi luật pháp” bằng cách ép nó vào một tập hợp các luật lệ. Có “tính tự phát” đặc trưng cho nếp sống Cơ đốc trong điều kiện tốt nhất của nó.
Đồng thời chúng ta cũng thấy rằng đây là một loại tự do nguy hiểm. Được bảo rằng “hãy yêu thương, và làm như bạn muốn,” có thể chứng minh là lời khuyên hoàn toàn không đầy đủ, đặc biệt nếu chúng ta không biết cụ thể hơn yêu thương có ý nghĩa thế nào. May mắn thay Tân Ước không làm chúng ta thất vọng ở điểm này. Chúng ta tìm thấy các ví dụ lập đi lập lại hàm ý tình yêu thương là như thế nào:
Nếu ai có của cải đời này, thấy anh em mình đang cùng túng mà chặt dạ, thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được? (IGi1Ga 3:17).
Tác giả muốn nói thẳng rằng đôi khi bạn phải chứng tỏ tình yêu của mình bằng cách lấy tiền trong ví của bạn.
Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét những cách qua đó sự dạy dỗ của Chúa Jêsus soi sáng trên hành vi của người Cơ đốc mà không trở thành một bộ luật mới.
Trở Lại Với “Những Lời Dạy Đơn Giản Của Chúa Jêsus?”
Nhưng trước hết, chúng ta hãy coi chừng một cái bẫy rất cám dỗ nói như vầy:
Chúng ta hãy quên tất cả chuyện thần học này đi. Hãy quay về với những sự dạy dỗ đơn giản của Chúa Jêsus. Những lời dạy đó cho chúng ta toàn bộ sự chỉ dẫn khi chúng ta cần, và chúng ta có thể quên đi tội lỗi, sự cứu rỗi cùng mọi điều đó.
Xét theo bề mặt điều này nghe có vẻ hay, nhưng về một số điểm, nó dẫn đến vấn đề nghiêm trọng.
1. Tầm quan trọng của Chúa Jêsus chủ yếu không nằm nơi những lời dạy dỗ của Ngài. Thật vậy, những lời dạy ấy có thể đặt song song trong sách của các rabi Dothái hoặc trong những lời dạy dỗ mang tính tôn giáo Đông Phương từ lâu trước thời Chúa Jêsus. Đúng là không một người nào đã nói tất cả những điều mà Chúa Jêsus đã nói, hoặc có được nguyên tắc đạo đức nhất quán cao trọng như Chúa Jêsus đã có, nhưng đối với đức tin Cơ đốc, ý nghĩa đích thực của Chúa Jêsus không nằm phần lớn nơi những gì Ngài phán mà nơi con người của Ngài.
2. Khi chúng ta bắt đầu xem xét những lời dạy đó, chúng ta khám phá rằng những “lời dạy dỗ đơn giản” này, không “đơn giản” tí nào. Hoàn toàn không “đơn giản” với những câu như là: “Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn” (Mat Mt 5:48). Những “lẽ thật đơn giản” của Tám Phước Lành hóa ra lại quá phức tạp: “Phước cho những kẻ có lòng trong sạch . Phước cho những kẻ chịu bắt bớ ...” đây không phải chỉ là vấn đề có lòng trong sạch hoặc chịu đựng sự bắt bớ.
3. Nhiều trong số “những sự dạy dỗ đơn giản” này, thay vì đem cho chúng ta sự khích lệ, lại khiến chúng ta giận dữ. Thay vì làm cho chúng ta dễ chịu, chúng làm chúng ta bối rối. Chúa Jêsus thường khiến chúng ta phải nghi ngờ nghiêm trọng về toàn bộ cách sống của mình. Hãy dành một phút để nghĩ đến một số điều Ngài phán.
Với giới lãnh đạo tôn giáo trong thời của Ngài : “Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi” (21:31).
Với những người thân cận với Ngài nhất : “Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không đổi lại và nên như đứa trẻ, thì chẳng được vào nuớc thiên đàng đâu” (8:3).
Đối với những người “thiện lành ” nghĩ mình “rất mộ đạo :” “Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi” (23:28).
Đối với những người cho rằng điều ác chỉ là kết quả của điều kiện sống xã hội : “Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng, những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối, và lộng ngôn” (15:19).
Đây không phải là những lời bình vui vẻ; chúng là những lời lên án gây khó chịu - một loạt những “cú đấm tay tả” vào quai hàm thuộc linh.
4. Cuối cùng, nói về những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus như thể chúng có thể được tách riêng khỏi “thần học” hoặc “niềm tin nơi Đức Chúa Trời” là phản bội lại chính bản thân những lời dạy dỗ đó. Bởi vì nguyên tắc đạo đức của Chúa Jêsus là nguyên tắc đạo đức tôn giáo trọn vẹn. Nếu bạn không tin nơi Đức Chúa Trời là Đấng Chúa Jêsus nói đến, thì chẳng có ý nghĩa gì để giữ những sự dạy dỗ của Ngài cách nghiêm túc. Ví dụ Ngài bảo bạn phải yêu kẻ thù mình, không phải vì điều đó sẽ “kết quả,” hoặc làm thay đổi kẻ thù của bạn. Nhưng bởi vì chính ý muốn của Đức Chúa Trời là bạn phải làm như vậy. Bạn phải tha thứ, không phải vì điều đó có lợi hoặc khôn ngoan, mà bởi vì Đức Chúa Trời đã tha thứ bạn, và bạn phải phản chiếu lòng thương xót của Đức Chúa Trời trong chính đời sống mình. Cứ tiếp tục như vậy. Khi các môn đồ báo cáo rằng họ đã khiến các quỉ phải phục mình (và nghĩ rằng họ cũng khá xuất sắc với kết quả đó), Chúa Jêsus đã trách họ: “Chớ mừng vì các quỉ phục các ngươi, nhưng hãy mừng vì tên các ngươi đã ghi trên thiên đàng” (LuLc 10:20). Nói cách khác, làm theo ý muốn Đức Chúa Trời quan trọng hơn là hãnh diện về điều bạn đã “hoàn thành được.”
Những lời bình luận này tỏ rõ chúng ta không thể nói đến những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus mà không liên hệ đến toàn bộ sứ mạng của Ngài trên đất.
Việc Hiểu Những Lòi Dạy Dỗ Của Chúa Jêsus Trong Bối Cảnh .
“Toàn bộ sứ mạng” của Chúa Jêsus chính xác là gì? Nếu chúng ta còn nhớ phần luận về cuộc đời của Chúa Jêsus (Chương 7-10) thì sẽ thấy rõ rằng Ngài không phải đến chỉ để cho chúng ta một vài hột ngọc trai của sự khôn ngoan mang tính đạo lý. Ngài đến để khôi phục lại mối quan hệ bị gãy đổ giữa Đức Chúa Trời và loài người, để công bố và làm thành hiện thực sự kiện Đức Chúa Trời thương yêu loài người tội lỗi và mong muốn có mối tương giao với họ, và rằng Nước Đức Chúa Trời hiện nay là một thực tế. Cũng như các phép lạ là “những dấu hiệu” của Nước Trời, thì những sự dạy dỗ cũng là một cách bày tỏ sự sống trong Nước Trời là thế nào. Những lời dạy đó cho thấy một người phải sống như thế nào trong Nước Trời. Vì lý do đó, Những lời dạy dỗ này không thể bị tách khỏi toàn bộ chức vụ của Chúa Jêsus, chúng ta cắt phá sứ điệp của Ngài khi nỗ lực phân rẽ hai điều đó
Tính Khắt Khe Trong Lời Dạy Của Chúa Jêsus .
Dường như rõ rànglà những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus tượng trưng cho những yêu cầu không phù hợp của Nước Trời. Những lời dạy ấy không (như chúng ta nói) “tính đến bản chất của con người.” Có nghĩa là, Chúa Jêsus không làm dịu bớt tính khắt khe của những sự dạy dỗ của Ngài hầu cho chúng ta dễ làm theo hơn. Lời dạy về sự trọn vẹn làm cho điều này rõ là khó chịu:
Chúa Jêsus không bảo: “Hãy hết sức mình thiện lành trong các tình huống.”
Ngài không bảo: “Hãy hết sức mình chống lại nhiều cám dỗ chừng nào tốt chừng nấy.”
Ngài không bảo: “Hãy làm hết sức mình và cứ để mặc nó.”
Ngài không bảo: “Hãy nên trọn vẹn theo các tiêu chuẩn trọn vẹn của con người.”
Mạng lệnh của Ngài là một mạng lệnh khả thi chính xác nhất: “Hãy nên trọn vẹn như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn” (5:48).
Đây là một mạng lệnh triệt để, không có sự nhượng bộ nào được thực hiện hoặc hứa hẹn.
Cũng y như vậy đối với những sự dạy dỗ cụ thể. Chúa Jêsus không bảo rằng: “Hãy yêu kẻ thù nghịch mình bao lâu mà điều đó còn có thể thực hành được.” Không, Ngài phán: “Hãy yêu kẻ thù nghịch mình” - không đưa ra một sự nhượng bộ nào cả. Thật ra, chỉ yêu kẻ thù nghịch thôi thì chưa đủ, bạn còn phải cầu nguyện cho họ. Chúa Giêxu không đồng ý với Phierơ rằng tha thứ cho một người bảy lần là quá tốt bụng. Trái lại, Ngài bảo chúng ta phải tha thứ “bảy mươi lần bảy.” Nhưng với Chúa Jêsus, đây là một loại số học đặc biệt, loại toán số học của lòng thương xót, bởi vì
70 x 7 ¹ 490, mà
70 x 7 = vô tận
Nói cách khác, chúng ta phải tha thứ với số lượng vô hạn
Mạng Lệnh Trọng Tâm
Mạng lệnh trọng tâm trong những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus là gì? Chắc chắn đó là chúng ta phải có lòng tin cậy tuyệt đối nơi Đức Chúa Trời. Không có “các điều kiện” đi kèm, không có sự nhượng bộ được đưa ra. “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi” (LuLc 10:27). Sự phó thác trọn vẹn cho Đức Chúa Trời là bổn phận của người Cơ đốc. Muốn có được sự phó thác này, phải làm công dân Nước Trời, và vào Nước Trời là điều quan trọng hơn bất cứ điều gì khác. Phải tập trung vào một mục đích duy nhất trong khi đeo đuổi Nước Trời và tình yêu của Đức Chúa Trời để không điều gì khác có thể ngăn trở. Nếu mắt bạn gây cho bạn phạm tội, thì thà móc nó đi còn hơn là bị ném vào địa ngục. Nếu của cải đe dọa, ngăn bạn vào Nước Trời, thì bạn phải “bán hết của cải mình có mà cho kẻ nghèo” bởi vì như Chúa Jêsus nói rõ: “Các ngươi không thể hầu việc Đức Chúa Trời và ma môn.” Bạn phải yêu quý và hầu việc một trong hai điều này mà thôi. Là điều nào? “Ngươi phải kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi...”
Ngài giải thích cùng vấn đề tiêu cực khi phán rằng: “Đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn uống” (Mat Mt 6:25). Lo lắng là thiếu tin cậy trọn vẹn nơi Đức Chúa Trời. Lo lắng và tin cậy trọn vẹn nơi Chúa loại trừ lẫn nhau. Chúa Jêsus thuật chuyện một người giàu có lo lắng về tương lai đến nỗi ông ta phá sập những kho vựa cũ và xây những kho vựa lớn hơn để có được an tâm trước khả năng của sự đói kém. Nhưng ông ta là một kẻ dại. Ông chỉ quan tâm đến của cải mình. Ông nghĩ rằng của cải là đủ, và tưởng rằng nó có thể cung cấp sự an toàn tối hậu cho mình. Nhưng ông đã không tính đến sự thật khắc nghiệt: “Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại” (LuLc 12:20).
Sự nhấn mạnh lòng tin cậy trọn vẹn đặt nơi Chúa liên quan mật thiết đến một sự nhấn mạnh khác. Mạng lệnh thứ hai, cũng giống như điều răn thứ nhất : “Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình” (10:27). Nói cách khác, tôi không yêu Chúa bằng cách xa rời mọi người để suy gẫm những ý tưởng sâu sắc. Tôi yêu Chúa bằng cách yêu Joe Doakes hoặc Susie Smith, hoặc bất cứ ai là người lân cận tôi.
Nhưng ai là người lân cận tôi? Khi có người hỏi Chúa Jêsus câu này, Ngài trả lời bằng một câu chuyện gây bối rối về một người Samari (10:25-37). Câu chuyện cũng khá quen thuộc, dù chúng ta không thường xuyên làm cho nó trở thành một câu chuyện gây băn khoăn đủ. Bởi vì ý nghĩa của câu chuyện chính là người lân cận phải giúp bất cứ ai đang gặp khó khăn. Người “chứng tỏ mình là người lân cận với người bị rơi vào tay kẻ cướp” là người Samari, tức là kẻ thù không đội trời chung với dân Dothái, là những kẻ đang được Ngài kể cho câu chuyện này. (Điều này cũng giống như một người Mỹ phải minh họa điều hàm ý là một người lân cận tốt bằng cách sử dụng ai đó như một người Cộng sản làm ví dụ của mình). Người đã được giúp đỡ “là một người nào đó,” không được biết thêm. Không có những thắc mắc được nêu lên:
về màu da của người ấy.
bối cảnh xã hội của người ấy,
học vấn của người ấy,
lòng trung thành của người ấy,
mức thu nhập của người ấy.
Thông tin cần thiết duy nhất đó là người ấy đang gặp khó khăn.
Tình yêu mà Chúa Jêsus đang nói đến là tình yêu “dành cho mọi người,” không có các giới hạn. Là tình yêu bao gồm tất cả mọi người.
Và đó là một nhiệm vụ đòi hỏi khá cao.
Ngôn Ngữ Hylạp Có Một Từ Cho Điều Đó
Bạn nghĩ gì khi nghe đến từ “yêu thương?”
Những đóa hoa táo vào tháng tư?
Một cậu con trai và một cô con gái đi dạo trên con đường nhỏ trong vườn trái cây?
Bầu trời tuyệt đẹp ở trước mặt?
Âm nhạc (hầu hết là tiếng đàn vĩ cầm) đến từ bầu trời?
Tất cả những gì diễn ra trên một màn hình rộng lớn đầy màu sắc của không gian ba chiều?
Chữ “tình yêu” như cách chúng ta thường sử dụng, hàm ý tình yêu lãng mạn, yêu một người “đáng yêu,” yêu mà “chúng ta nồng nhiệt hy vọng” sẽ được yêu đáp lại.
Không có gì sai trái với loại tình yêu đó cả, ngoại trừ việc nó không liên quan gì đến chủ đề đang thảo luận. Có ba từ khác nhau để diễn tả “tình yêu” trong tiếng Hylạp, đáng tiếc, chúng ta chỉ có một từ tiếng Anh cho cả ba từ đó.
Khi nói đến “tình yêu lãng mạn,” người Hylạp sử dụng từ eros .
Khi nói đến tình yêu anh em và tình đồng chí, người ấy sử dụng từ philia .
Nhưng khi Cơ Đốc nhân nói về tình yêu, người ấy dùng từ agape (phát âm một cách khó khăn: ah-gaa -pay).
Agape , tình yêu của người Cơ Đốc, là yêu kẻ không có tình yêu, yêu những người có thể chối bỏ và coi khinh tình yêu đó, dầu vậy, đối với người ấy, tình yêu cần phải được ban cho. Đây là loại tình yêu Chúa Jêsus muốn nói đến. Không phải là loại tình yêu dễ chịu, êm ái, lãng mạn - mà là tình yêu tuyệt đối, ban cho, cống hiến chính nó cho mọi người, bất chấp giá trị, sự xinh đẹp của họ hay điều gì khác. (Phaolô cho chúng ta một loại thơ thánh về tình yêu agape , trong ICôrinhtô 13. Hãy cố gắng đọc lại một lần đoạn Kinh Thánh này, sử dụng từ “agape ” thay vì từ “tình yêu thương,” và xem thử nó có gợi lên điều gì mới mẻ chăng).
Điều quan trọng về Chúa Jêsus đó là Ngài không chỉ nói về agape ; mà Ngài chính là hiện thân của tình yêu đó. Nếu bạn muốn biết tình yêu agape là gì, đừng chỉ xét điều Chúa Jêsus phán - mà hãy xem điều Ngài đã làm. Toàn bộ đời sống của Ngài là sự phô diễn sống động về tình yêu agape . Ngài đã phó chính mình hoàn toàn cho những kẻ gặp khó khăn; Ngài tiếp tục phó mình hoàn toàn thậm chí khi người ta nhổ trên Ngài và đóng đinh Ngài. Việc Ngài chịu đóng đinh chính là đỉnh điểm của tình yêu agape - tình yêu vô kỷ được bày tỏ qua hành động. Tại đây chúng ta thấy Đức Chúa Trời yêu biết bao. Ngài phó chính mình hoàn toàn cho những kẻ không xứng đáng.
Và đó là loại tình yêu chúng ta phải biến nên thực hữu trong đời sống mình; tình yêu agape không có giới hạn, ban cho một cách không hạn chế cho bất cứ ai có cần, sẵn sàng chịu đau khổ thay cho bất cứ ai khác mà không nghĩ đến phần thưởng.
Đây là một đòi hỏi quá cao.
Một Trong Những Phần Khó Nhất
Tình yêu agape bao gồm sự tha thứ . Chỉ có một vài điều là khó hơn việc tha thứ. Đây có lẽ là điều khó khăn nhất mà Cơ Đốc nhân phải thực hiện. Chúng ta phải tha thứ cho “những kẻ mắc nợ chúng ta,” như Đức Chúa Trời đã tha “nợ cho chúng ta,” bài Cầu Nguyện Chung nhắc nhở chúng ta như vậy. Tại sao chúng ta phải tha thứ? “Hầu cho các ngươi, được làm con cái của Cha các ngươi ở trên trời.” Chúa không hứa hẹn rằng sự tha thứ sẽ “đem lại kết quả.” Chúa Jêsus không nói: “Nếu ngươi tha thứ cho kẻ thù mình, họ không còn là kẻ thù của ngươi nữa, họ sẽ yêu mến ngươi.” Có thể kẻ thù sẽ coi sự tha thứ của bạn như là dấu hiệu của sự yếu đuối và càng đấm bạn tới tấp nữa. Bạn phải chấp nhận rủi ro đó. Bạn phải tha thứ, không phải vì nó “hiệu quả,” mà vì Đức Chúa Trời tha thứ cho bạn, tình yêu tha thứ đối với đồng loại là đáp ứng của bạn đối với tình yêu tha thứ của Ngài dành cho bạn. Điều này vô cùng quan trọng. Khi bạn nói rằng: “Điều cô ta đã làm hoàn toàn không tha thứ được,” bạn đang nói lên một tình cảm mà mọi người đều cảm nhận, nhưng đó không phải là tình cảm của người Cơ Đốc. Toàn bộ ý nghĩa của sự tha thứ là bạn phải tha thứ điều dường như đúng là“không thể tha thứ được.” Nếu không, tình yêu không phải là tình yêu thực sự. Bạn đã dựng lên một hàng rào giữa chính mình và người kia làm ngăn cản mối quan hệ thân mật mà tình yêu tha thứ làm được.
Một Phần Khác Nữa Của Những Phần Khó
Một yếu tố có những đòi hỏi lớn lao đặc biệt trong lời dạy của Chúa Jêsus là sự nhấn mạnh vào động cơ . Tình yêu mà chỉ có “ở bề ngoài” thì không phải là tình yêu thật. Tình yêu thật phải dầm thấm trong cả con người. Kết quả là không những chỉ hành động bên ngoài là quan trọng, mà cả thái độ bề trong, là điều thúc đẩy tình yêu đó. Gốc rễ của vấn đề đạo đức học chính là động cơ:
Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ giết ai; và rằng hễ ai giết người thì đáng bị tòa án xử đoán. Song ta phán cho các ngươi: hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; (Mat Mt 5:21, 22).
Có thể bạn tự cho mình là “không phạm tội” giết ai cả. Nhưng liệu bạn có thể tự nhận “không phạm tội” trước lời cáo buộc là đã từng giận dữ không? Chính giận dữ là gốc rễ của tội giết người. Vì vậy giận dữ là chỗ tấn công vấn đề. Động cơ của chúng ta cần phải được xem xét liên tục - và thanh tẩy.
Việc Biến Một Lý Tưởng “Bất Khả Thi” Thành Thích Đáng
Không ai đo đời sống mình bằng những lời dạy của Chúa Jêsus mà có thể nói rằng: “Tôi đã làm mọi sự đáng phải làm trong nếp sống Cơ Đốc. Tôi đã đạt ‘đến đích’.”
Không ai, có nghĩa là trừ kẻ dại dột bị mắc lừa hoặc kẻ đạo đức giả không thể chịu nỗi.
Một số người đã đi đến kết luận: Có phải như vậy có nghĩa là những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus quá xa vời với chúng ta đến nỗi chúng trở nên không thích hợp chăng? Họ bảo rằng: “Chúa Jêsus là một người lý tưởng quá mấu, Ngài kỳ vọng quá nhiều nơi chúng ta, các mạng lệnh của Ngài cao đến nỗi không thể thực hiện được và tất cả chúng ta đều thất bại. Vậy thì còn bận tâm làm chi?” Những người khác cảm thấy như thế là từ bỏ cuộc tranh đấu quá vội, và họ trình bày vấn đề theo cách này: “Làm thế nào chúng ta có thể biến những mạng lệnh tuyệt đối của Chúa Jêsus trở nên phù hợp với tình huống của chính mình ngay lúc này?”
Đây và “vấn đề sáu mươi bốn Mỹ kim” trong các nguyên tắc đạo đức của người Cơ Đốc. Dưới đây là bốn điểm xuất phát cho câu trả lời của chính bạn.
1) Những mạng lệnh tuyệt đối của tình yêu agape trang bị cho chúng ta một tiêu chuẩn để đoán xét các động cơ của mình . Nếu điều này có vẻ lý thuyết suông. Hãy nhớ rằng một hành động không chỉ bị xét đoán bởi “kết quả” của nó; mà giá trị thật sự của nó có thể phụ thuộc vào động cơ đã thúc giục hành động.
Giả sử khi đi ngang qua một chiếc cầu, bạn thấy hai người đàn ông nhảy xuống nước, người này rồi đến người kia. Trông có vẻ như họ làm cùng một công việc. Thật ra, họ đã làm những việc rất khác nhau.
Người thứ nhất nhảy xuống nước để tự tử.
Người thứ hai nhảy xuống nước để cứu người kia.
Người thứ nhất bị thúc đẩy bởi mong muốn hủy hoại sự sống. Người thứ hai được thúc đẩy bởi ao ước muốn cứu lấy mạng sống.
Như vậy động cơ đã làm cho hai hành động này khác nhau như đêm và ngày.
Các mạng lệnh tuyệt đối của Chúa Jêsus cho chúng ta một tiêu chuẩn tuyệt đối để phán xét các động cơ của chúng ta.
2. Các mạng lệnh tuyệt đối của tình yêu agape có thể cho chúng ta thấy khả năng lý tưởng trong bất cứ tình huống nào . Tình yêu agape có thể trang bị một tiêu chuẩn để đoán xét việc chúng ta phải làm. Hầu hết những sự chọn của chúng ta không minh bạch như trắng và đen, hoàn toàn tốt, hoặc hoàn toàn xấu. Chúng bị trộn lẫn với nhau và không rõ ràng, một số phủ bóng xám. Trong việc lựa chọn giữa những đường lối hành động khác nhau, không một lựa chọn nào trong số đó là hoàn toàn tốt, chúng ta có thể được giúp đỡ bằng cách đặt câu hỏi: “Sự lựa chọn nào gần với lý tưởng của tình yêu agape nhất?” Như vậy tình yêu agape luôn là điều xác đáng, thậm chí dẫu chưa bao giờ được nhận biết đầy đủ (xem thêm Chương 22).
3. Các mạng lệnh tuyệt đối của tình yêu agape đứng vững với tư cách phán xét mọi điều chúng ta đã làm . Bất chấp chúng ta “thành công” đến chừng nào, các mạng lệnh của tình yêu agape vẫn luôn nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta phải làm nhiều hơn nữa. Đây là một trong những chỗ mà tình yêu agape xác đáng nhất. Nếu đạo lý của người Cơ Đốc bị diễn đạt thấp kém hơn, nó sẽ mất tính xác đáng của nó ngay giây phút nó được đạt đến. Nhưng nó không bao giờ đạt đến được; Cơ Đốc nhân không bao giờ được nghỉ ngơi trên mái chèo đạo đức của mình, vì cảm thấy rằng mức đến đã vượt qua được. Người ấy luôn có một “lương tâm bồn chồn.”
4. Sự kiện gây xáo trộn này gợi ra một cách khác cho thấy các mạng lệnh tuyệt đối của tình yêu agape là xác đáng. Chúng giúp chúng ta hiểu tình huống của mình đúng sự thật . Nếu các mạng lệnh đạo đức là toàn bộ câu chuyện, chúng ta đang ở trong tình huống thất vọng và bị lên án, bởi vì chúng ta chưa làm tất cả những gì mình bị đòi hỏi (Bạn có thật sự “yêu người lân cận như mình” chưa?) Nếu Chúa Jêsus chỉ là một giáo sư vĩ đại về mặt đạo đức họ, Ngài bỏ mặc chúng ta trong tuyệt vọng, bởi vì chúng ta không thể sống theo những gì Ngài yêu cầu.
Nhưng những mạng lệnh về mặt đạo đức không phải là tất cả. Nếu Chúa Jêsus cũng là Đấng Cứu Thế, Đấng gặp gỡ chúng ta giữa bất toàn và sai trật của chúng ta, là Đấng đã phán với chúng ta: “Ân điển ta đủ cho ngươi rồi” (IICo 2Cr 12:9), Đấng chữa lành và cứu chuộc - thì chúng ta có thể đối mặt với cuộc sống bằng sự tin cậy và hy vọng, thay vì tuyệt vọng, ý thức rằng có “sự bình an của Đức Chúa Trời,” là điều mặc dầu “vượt quá mọi sự hiểu biết,” vẫn là một sự thật. Những ai đến với Đức Chúa Trời bằng sự đau buồn, hạ mình và ăn năn, cầu xin sự tha thứ của Đức Chúa Trời, thấy rằng họ không cô độc, nhưng Đức Chúa Trời ở với họ, và ban sức cho họ để đối mặt với sự tranh chiến một lần nữa.1
1. Đây là lời “chú thích về Phaolô” mà tựa đề chương này đã hứa hẹn:
Mặc dù không có gì mới mẻ đặc biệt trong các nguyên tắc đạo đức của Phaolô, chúng ta thấy trong các tác phẩm của ông một nỗ lực đáng kể để làm cho đạo lý của tình yêu agape xác đáng trong một thế giới tội lỗi. Mối quan tâm của Phaolô đối với tình yêu agape không chủ yếu là một ao ước “sống theo những lời dạy dỗ của Chúa Jêsus.” Mà nó là điều gì đó sâu đậm hơn nhiều. Tình yêu agape của Chúa Jêsus, tình yêu tha thứ và hy sinh, đã tỏ cho Phaolô biết rằng Đức Chúa Trời yêu ông mặc dù ông không xứng đáng với tình yêu đó. Do lòng biết ơn đối với Chúa vì ban cho tình yêu tha thứ của Ngài, Phaolô cố gắng sống đời sống của tình yêu agape để đáp lại.
Và mặc dầu không nhìn thấy hết những hàm ý của nó, ông đã khiến một số các hàm ý của nó rõ ràng đối với chúng ta hơn là đối với ông. Chúng ta có thể thấy sự kiện này hoạt động qua thái độ của ông đối với tình trạng nô lệ.
Tình trạng nô lệ là một bộ phận được chấp nhận của lối sống của Đế quốc Lamã mà Phaolô là một công dân. Các Cơ Đốc nhân ngày nay cảm thấy rằng tình trạng nô lệ là một sự vi phạm rõ ràng đối với tình yêu agape và người ta thường ngạc nhiên khi khám phá rằng không chỗ nào Phaolô lên án rõ ràng thể chế nô lệ. (Và quả thật, Chúa Jêsus cũng không lên án).
Tuy nhiên, trước khi lên án Phaolô quá vội vã, hãy lưu ý rằng ông đã trồng những hạt giống của một thái độ đối với tình trạng nô lệ, mà khi trở thành một đóa hoa đầy đủ, đã hủy diệt hoàn toàn chế độ nô lệ. Hãy xem bức thư ngắn ngủi của ông viết cho Philêmôn, người chủ nô Cơ Đốc.
Người nô lệ của Philêmôn là Ônêsim, đã bỏ trốn, nhưng lại được gặp gỡ Phaolô. Phaolô thuyết phục Ônêsim rằng bổn phận của anh là phải trở về với Philêmôn, và gởi kèm một “giấy chứng nhận bảo đảm tạm thời” cho chủ mình. Trong bức thư đó ông gọi “Ônêsim là con tôi” (Philêmôn 10) - thật khó có lối qui ước như vậy để mô tả một người nô lệ. Philêmôn phải tiếp lấy Ônêsim, “không coi như tôi mọi nữa nhưng coi hơn tôi mọi, coi như anh em yêu dấu” (c.16) Phaolô viết rằng: “Hãy nhận lấy người như chính mình tôi vậy” (c.17). Ônêsim không được đối xử như là một thứ tài sản, mà là một con người, thật vậy, như một người anh em.
Đối với các Cơ Đốc nhân, những người nô lệ là “những người anh em;” không có khác biệt gì phải dựng lên. Trong một bức thư khác, Phaolô mô tả hội thánh là nơi “không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ... vì trong Đức Chúa Jesus Christ, anh em thảy đều là một” (GaGl 3:28). Bề ngoài thể chế nô lệ vẫn tiếp tục; nhưng đối với Cơ Đốc nhân, sự phân biệt đó đã biến mất.
Bây giờ cứ theo bề mặt mà xét thì điều này nghe có vẻ như là một cách đẹp đẽ để vi phạm sự bất công - cứ bảo rằng những người nô lệ không phải “thật sự” là nô lệ, mặc dầu họ có thể vẫn bị mang xiềng, bị buộc phải làm việc đến sụm lưng, mười tám giờ một ngày. Nhưng Phaolô đã đưa vào thứ chất nổ làm nổ tung tình trạng nô lệ.
Bởi vì bạn không thể đối xử với một người như “anh em” trong thời gian rất lâu mà vẫn coi người ấy như cặn bã của thế gian, là người chỉ tồn tại để phục vụ cho những ý muốn nhất thời và sở thích nhỏ nhất của bạn. Và đây là điều đã xảy ra khi thời gian trôi đi. Các Cơ Đốc nhân thấy rằng họ không thể giữ những người nô lệ, đồng thời là những Cơ Đốc nhân. Thứ “men” Cơ Đốc này là một trong những lý do vì sao toàn bộ việc buôn bán nô lệ của đế quốc Lamã đã bắt đầu sụp đổ.
Bài học dành cho chúng ta là hãy xem xét những tội lỗi trong chính xã hội của mình để xem có phải đạo lý của tình yêu agape chưa thúc đẩy chúng ta sử dụng cùng một loại thuốc nổ đó. Còn về các hội thánh kỳ thị giữa da trắng và da đen của chúng ta thì sao? Các chính sách nhập cư của chúng ta thì sao? Hoặc những thức ăn mà chúng ta phí phạm trong khi người dân châu Á bị chết đói?
Chương 21: Trở Nên Hết Sức Cụ Thể
(Kinh Thánh Nói Gì Về Vấn đề Tình Dục , Hôn Nhân và Việc Làm )?
Chúng ta đã xem xét một số các yếu tố trong cách tiếp cận của Kinh Thánh đối với các nguyên tắc đạo đức. Bây giờ chúng ta phải áp dụng những hiểu biết đó vào hoàn cảnh của chính mình. Phần còn lại của sách này chúng ta sẽ cố gắng “suy nghĩ theo Kinh Thánh” về bốn vấn đề sau:
1. Tình dục và hôn nhân.
2. Vấn đề việc làm hoặc công việc
3. Đường lối chính trị và sự thỏa hiệp
4. Chiến tranh
Lưu Ý Đối Với Độc Giả Thận Trọng : Những bàn luận này đại diện cho nỗ lực của một người để “suy nghĩ theo Kinh Thánh.” Bạn không bị yêu cầu phải đồng ý. Tất cả những gì bạn được yêu cầu làm là hãy cụ thể điều Chúa đòi hỏi chính mình trong bốn lãnh vực đó, và hãy nhớ rằng mạng lệnh nấy trên bạn không thể bị đẩy cho bất cứ người nào khác. Chúa Jêsus đã tuyên bố điều này hết sức rõ ràng:
PHIERƠ (tìm các lẫn tránh một mạng lệnh ): Lạy Chúa, còn người này, về sau sẽ ra thể nào (môn đồ được Chúa yêu đang đứng kế bên ông)?
CHÚA JÊSUS: Điều đó can hệ gì với ngươi? Còn ngươi, hãy theo ta! (GiGa 21:21, 22).
Tình Dục Và Hôn Nhân
Một số người có ý tưởng kỳ quặc rằng Cơ Đốc giáo cho tình dục là điều gì đó mà không một con người “tử tế” nào muốn nói đến hoặc nghĩ đến. Bây giờ có một vài lời tuyên bố của Phaolô dường như có thể xác minh điều này, từ trước đến nay cũng có một khuynh hướng khổ hạnh trong lịch sử Cơ Đốc giáo tiêu cực đối với tình dục. Nhưng đó không phải là thái độ xuất hiện khi một người ra sức để “suy nghĩ đúng theo Kinh Thánh” về tình dục và hôn nhân.
Tình Dục Là Tốt Lành
Ví dụ, hầu như rõ ràng theo cái nhìn của Kinh Thánh, tình dục là tốt lành. Tình dục là một phần trong chương trình sáng tạo của Đức Chúa Trời; là một trong những món quà của Ngài dành cho nhân loại. Tình dục vốn không xấu xa và khó chịu cũng như ánh nắng mặt trời vốn không xấu xa và khó chịu. Sự kiện này trở nên rõ ràng qua phần ký thuật của Kinh Thánh về sự sáng tạo, nơi sự phân biệt về giới tính là một phần tốt đẹp trong công trình sáng tạo:
Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Đức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ... Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành (SaSt 1:27, 31).
“Các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành” cần phải được đặt tương phản với bất cứ nỗ lực nào nhằm cho rằng có điều gì đó không hoàn toàn “hay ho” về tình dục theo quan điểm tôn giáo. Willam Temple đã tỏ rõ rằng thật sai trái khi đùa cợt về tình dục (nghĩa là nói những câu đùa “bẩn thỉu”) và cũng thật sai trái khi đùa cợt về Sự Thông Công Thánh - không phải bởi vì một trong hai vấn đề là xấu xa, nhưng cả hai đều là thánh, và đùa cợt với những điều như vậy là thiếu tôn kính. Vì vậy Cơ Đốc nhân phải tránh “khiếm nhã” về vấn đề tình dục, không phải bởi vì tình dục là xấu, mà chính xác vì tình dục là tốt lành.
Người ta thường lập luận:
Giả thuyết Lớn : Các việc “thuộc linh là tốt, còn các việc thuộc thể là xấu xa.
Giả thuyết Nhỏ : Tình dục là vấn đề thuộc thể.
Kết luận : Vì vậy, tình dục là xấu xa.
Nhưng điều này không đúng theo lối nghĩ của Kinh Thánh. Không những giả thuyết lớn là sai, mà giả thuyết nhỏ cùng kết luận cũng sai! Theo lối nghĩ đúng Kinh Thánh, con người là một thể thống nhất (xem Chương 13, 17) cả phần thuộc thể và “thuộc linh” đều được đan dệt vào nhau và không thể phân rẽ được. Không có phần thuộc thể “xấu xa” trong con người, trái lại con người là một tổng thể thờ phượng Đức Chúa Trời, xây dựng các chiếc cầu hoặc tham gia vào hoạt động tình dục. Sự thôi thúc về mặt tình dục nơi con người là một phần của tổng thể đó chứ không phải là điều gì đó riêng lẻ. Đó là một món quà Chúa ban, là điều rất tốt lành.”
Tình Dục Là Một Điều Tốt Lành Có Thể Bị Làm Cho Hư Hỏng
Đáng buồn thay, đây không phải là toàn bộ câu chuyện. Tình dục là một điều tốt lành, nhưng, giống như những điều tốt lành khác, có thể bị làm cho hư hỏng, một lần nữa câu chuyện sáng tạo làm cho chúng ta hiểu vấn đề. Vấn đề chính của Sáng thế ký đoạn 3 là con người đầu hàng trước cám dỗ: “Nguơi sẽ trở nên như Đức Chúa Trời.” Đây là cám dỗ cơ bản - cám dỗ để tự lực, là điều xua đuổi Đức Chúa Trời ra khỏi bối cảnh. Cám dỗ cơ bản không phải là cám dỗ buông tuồng về mặt tình dục, như người ta vẫn thường nghĩ. Nhưng hãy lưu ý rằng khi cám dỗ căn bản ấy kiểm soát đời sống, nó làm hỏng mọi phương diện của đời sống, kể cả phương diện tình dục. Tình dục trở thành một phương tiện để làm thỏa mãn bản ngã: “Hãy chơi trò chơi tình dục này vì những gì bạn có thể có được từ nó. Đừng quan ngại người kia. Hãy sử dụng người kia cho những thỏa mãn cho chính mình, đừng kiềm hãm. Hãy bộc lộ chính mình.” Thay vì được sử dụng một cách sáng tạo, theo ý định của Đức Chúa Trời, như một phương tiện để chia sẻ điều làm phong phú đời sống của cả hai, tình dục bây giờ bị sử dụng một cách gây tàn hại, bị hư hỏng, trở thành một điều gì đó mà nó vốn không được định như vậy. Trở thành một phương tiện để “lợi dụng người khác” cho người kia không còn thực sự là “con người” nữa, mà chỉ là một thứ “đồ vật.” Đây là sự phủ nhận thái độ của Kinh Thánh đối với những con cái Đức Chúa Trời.
Nhân đây, xin nói điều này là lý do vì sao sự lạm dụng quá mấu việc “âu yếm” hoặc “lang chạ” hầu như lúc nào cũng dẫn đến rắc rối bởi vì hoặc đó là trường hợp người này lợi dụng người kia hoặc là trường hợp cả hai người đang kinh nghiệm tình dục chỉ nhằm mục đích “khoái cảm nhục thể.” Trong cả hai trường hợp, tình dục bị nằm ngoài điều Đức Chúa Trời định cho nó, bị rẻ rúng bởi vì đã bị sử dụng sai, đến nỗi thay vì góp phần làm phong phú đời sống, nó góp phần làm bại hoại đời sống.
Quan Niệm Của Cựu Ước Về Hôn Nhân
Trong Kinh Thánh rõ ràng là mối quan hệ tình dục dành riêng cho những người đã được kết hợp trong hôn nhân, nhằm làm phong phú mối quan hệ hôn nhân cho việc cả hai san sẻ tình yêu cho nhau và cho sự tạo dựng một gia đình, là một cách bày tỏ của tình yêu mà tình dục làm cho khả thi.
Bây giờ đúng là trong Cựu Ước chế độ đa thê (tức là người đàn ông có nhiều vợ) được coi là điều đương nhiên. Nhưng thậm chí trong tình huống ấy, lòng chung thủy trong hôn nhân vẫn bị đòi hỏi. Thật là sai trái cho người đàn ông khi có mối quan hệ tình dục với một người phụ nữ không phải là vợ mình, và những hình phạt chống lại tội lỗi này (tội “tà dâm”) là rất nặng. Không những hành động này bị cấm một cách dứt khoát - “Ngươi chớ phạm tội tà dâm” (XuXh 20:14 đối chiếu với PhuDnl 5:18) - mà còn có những huấn thị về việc hình phạt tội này: “Nếu người nào phạm tội tà dâm cùng vợ của người khác, hay là phạm tội tà dâm cùng vợ lân cận mình, người nam cùng người nữ đó đều sẽ bị xử tử” (LeLv 20:10).
Có một sự nhấn mạnh đáng kể vào tầm quan trọng của gia đình trong Cựu Ước. Những nguy hiểm và những khó khăn của mối quan hệ đa thê đôi khi được thừa nhận (như trong các câu chuyện của Đavít) và có một sự tôn quí nồng hậu đối với vai trò do một người vợ tốt (chứ không phải những bà vợ)nắm giữ trong ChCn 31:10-31.
Quan Niệm Của Tân Ước Về Hôn Nhân
Trong Tân Ước, chế độ một vợ một chồng (sống với nhau và không có thêm người nào khác) được coi là đương nhiên như là mối quan hệ bình thường giữa hai người khác phái. Rõ ràng trong những lời dạy dỗ của Chúa Jêsus, Ngài nghĩ đến hôn nhân ở điều kiện cao nhất và cảm thấy nó được sự chúc phước của Đức Chúa Trời. Không hề có gợi ý gì cho thấy Ngài cho rằng hôn nhân chỉ là “điều tốt thứ nhì đối với việc sống độc thân. Trong một tuyên bố hết sức quan trọng, Ngài kết hợp một số các ý tưởng của Cựu Ước về hôn nhân và biến nó thành của chính Ngài.
Các ngươi há chưa đọc về Đấng Tạo Hóa hồi ban đầu, dựng nên một người nam, một người nữ, và có phán rằng: Vì cớ đó, người nam sẽ lìa cha mẹ, mà dính díu với vợ mình, hai người sẽ cùng nên một thịt hay sao? Thế thì vợ chồng không phải là hai nữa, nhưng một thịt mà thôi. Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp (Mat Mt 19:4-6 xem Mac Mc 10:6-9).
Chúng ta có được dấu hiệu rõ ràng hơn về thái độ của Chúa Jêsus đối với hôn nhân, là ý định bởi Đức Chúa Trời bằng cách xem xét vắn tắt điều Ngài phán về ly dị. Đây là một vấn đề Ngài đưa ra lời khuyên cụ thể chi tiết về mặt đạo đức. Mặc dầu các sách Tin Lành khác không ăn khớp chính xác điều Ngài phán, hàm ý các nhận xét của Ngài là rõ ràng. Điều sai trái với ly dị đó là khi Đức Chúa Trời đã kết hợp hai người, họ không thể bị phân rẽ bởi loài người. Vì vậy, ly dị một người để kết hôn một người khác là phạm tội tà dâm (Mac Mc 10:11, 12 so sánh với LuLc 16:18). Mathiơ thay mặt Chúa Jêsus khi bảo rằng ly dị là sai trái “nếu không phải vì cớ ngoại tình” (Mat Mt 5:32).
Cơ Đốc nhân có những thái độ khác nhau về lời tuyên bố này của Chúa Jêsus. Một số người tin rằng Ngài hàm ý “không ly dị dầu bất cứ trường hợp nào.” Những người khác lại sử dụng “ngoại lệ của Mathiơ” và cảm thấy rằng ly dị là điều được phép khi một trong hai bên không chung thủy. Những người khác nữa cảm thấy rằng Chúa Jêsus không lập một tinh thần luật pháp mới trong vấn đề này, vì vậy, đôi khi ép hai người không còn yêu nhau phải sống với nhau có lẽ là điều sai trật ý muốn Đức Chúa Trời, còn tệ hại hơn là cho phép họ phân rẽ. Ít nhất thì cũng rõ ràng là chúng ta không thể lấy một từ như “tà dâm” từ môi miệng Chúa Jêsus và biến nó thành một khái niệm hợp pháp. Chúa Jêsus đã nói điều thật ấn tượng về tội tà dâm.
Các ngươi có nghe lời phán rằng: Ngươi chớ phạm tội tà dâm. Song ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội cùng người rồi (5:27, 28).
Hành động bên ngoài là sai trái, nhưng ý tưởng bề trong cũng vậy! Tất cả những ai thành thật với chính mình phải thú nhận rằng mình bị kết án bởi lời tuyên bố đó. Kết quả là thái độ của chúng ta đối với tội tà dâm không thể chỉ là thái độ lên án của sự công bình riêng khi ai đó bị “bắt quả tang.” Nó đòi hỏi sự nhận biết rằng tất cả chúng ta đều ở dưới sự lên án, và tất cả chúng ta đều cần sự tha thứ của Đức Chúa Trời đến với chúng ta bất cứ nơi nào chúng ta đang có mặt, để rờ đụng, chữa lành, và biến đổi chúng ta.
Chính xác bởi vì Chúa Jêsus coi trọng hôn nhân, Ngài không tán thành việc ly dị.
Một Người Độc Thân Nói Lên Suy Nghĩ Của Mình .
Thái độ của Phaolô rắc rối hơn. Ở một số chỗ, dường như ông miệt thị hôn nhân, đáng lưu ý là ở trong ICôrinhtô, nơi tất cả những gì ông thú nhận một cách miễn cưỡng là nếu bạn không thể kiềm chế chính mình về mặt tình dục, thì tốt hơn hãy lập gia đình, bởi vì “thà cưới gã còn hơn để cho lửa tình un đốt” (ICo1Cr 7:9). Đây là một tiếng kêu cứu khác xa đối với thái độ của Chúa Jêsus. Tuy nhiên, trước khi bạn quá khắt khe đối với Phaolô, hãy nhớ rằng khi đang nói đến hôn nhân, ông không tuyên bố với thẩm quyền của Đức Chúa Trời mà chỉ viết lên quan niệm của chính mình mà thôi (xem 7:25). Hơn nữa, bởi vì Phaolô đang trông đợi sự trở lại gần kề của Đấng Christ, ông cảm thấy không có điều gì khác là quá quan trọng nếu đem so sánh. Nói chung, ông bảo những ai đã lập gia đình cứ sống như những người đã lập gia đình, và khuyên những người chưa lập gia đình đừng dấn thân vào. Tốt hơn là hãy chuẩn bị cho sự trở lại của Đấng Christ.
Tuy nhiên trong bức thư gởi cho người Êphêsô, Phaolô (hoặc một trong những môn đệ của ông) đã có lời mô tả tuyệt vời về hôn nhân Cơ Đốc khi “ở dưới sự tể trị của Đức Chúa Trời,” chứ không chỉ là một giao ước của luật dân sự. Và mặc dầu các độc giả nữ cảm thấy khó chịu bởi gợi ý cho rằng người đàn ông phải là đầu gia đình, chủ đề chính của phần này (5:21-33) mang tính dạy dỗ hơn hết. Tác giả nhìn thấy mối quan hệ hôn nhân giống với mối quan hệ giữa Đấng Christ và Hội thánh. Lấy vị dụ: “Hãy kính sợ Đấng Christ mà vâng phục nhau” (Eph Ep 5:21). Không phải chỉ vì bạn “tôn trọng con người của nhau,” nhưng vì bạn tôn kính Đấng Christ, bởi vì Đấng Christ có thể được tôn kính khi bạn tôn kính nhau trong mối quan hệ hôn nhân. Hoặc một lần nữa, chồng phải yêu vợ mình như thế nào? Họ phải yêu vợ mình “như Đấng Christ yêu hội thánh và phó chính mình vì hội thánh” (c.25). Sự vô kỷ hoàn toàn của Đấng Christ phải là tấm gương cho những người chồng noi theo. Dẫu người nam phải làm đầu gia đình, cũng không thể là một bạo chúa hay kẻ độc tài. Người ấy phải vị tha, cũng như người vợ phải vị tha. Toàn bộ mối quan hệ này phản chiếu Đấng Christ và tình yêu của Ngài dành cho hội thánh. Trên thực tế, gia đình có thể là một hình thức “của một hội thánh nhỏ,” một nhóm người mà đời sống mình không hướng vào chính mình, mà hướng đến Đức Chúa Trời. Đời sống gia đình có thể là “một khu vườn của ân điển,” trong đó mọi người đều lớn lên, hướng đến tầm thước trọn vẹn của Đấng Christ.
Trong lúc đó...
Như vậy, Kinh Thánh coi hôn nhân là hết sức tốt lành, là điều được Đức Chúa Trời ban phước. Dầu bạn có đồng ý với điều đó hay không, quyết định bạn phải có khi tiến đến khả năng hôn nhân là: Đây là hôn nhân đáng phải có. Nếu không đồng ý, thì bạn sẽ cảm nhận về tình dục như là “thế nào cũng được, bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu.” “Phần thưởng” của bạn là bạn đã làm hư hỏng và đồi bại một điều có tiềm năng lớn và cao quí.
Trái lại, nếu đồng ý với quan điểm của Kinh Thánh, bạn sẽ không làm điều gì khiến suy giảm kết quả tốt đẹp nhất cho mình về một cuộc hôn nhân như vậy. Bạn sẽ nhận ra rằng mình đã được Đức Chúa Trời ban cho một món quà tuyệt vời, và sự lựa chọn thuộc về bạn. Bạn có thể sử dụng món quà ấy trái với ý định của Ngài, trong trường hợp đó, nó sẽ trở thành một sự rủa sả, hoặc bạn có thể sử dụng món quà đó đúng như ý định Ngài muốn nó được sử dụng, trong trường hợp đó, nó sẽ là một phước hạnh.
Vấn Đề Việc Làm Hoặc Nghề Nghiệp
Bạn có bao giờ nghĩ rằng: Chao ôi, giá như mình không phải làm việc....và tưởng tượng:
thức dậy muộn vào mỗi buổi sáng, hoặc
đi du lịch đến các đảo ở Biển Nam, hoặc
theo dõi các trận bóng đá mỗi buổi chiều mùa hè, và
say sưa xem bóng chày vào mỗi buổi chiều mùa đông?
Khi làm như vậy, bạn thực sự đang biến “công việc” thành “kỳ nghỉ.” Bạn xem công việc như là một thứ xâm phạm, một thứ xâm phạm thật sự không được chào đón, đối với những điều dễ chịu của đời sống. Dầu “công việc đó” là gì thì cũng giống nhau: vặn một con vít theo một dây chuyền lắp ráp, ngồi sau một chiếc bàn giấy, chào mời bàn chải từ nhà này đến nhà khác, hoặc miệt mài với các bài tập số học để nộp cho thầy giáo trung học là người dường như được tạo ra chỉ để làm khổ đời bạn.
Thái độ của chúng ta đối với việc làm, công việc hoặc nghề nghiệp đã sai trật tự. Đối với nhiều người, công việc trở thành một thứ phiền toái chứ không phải là một cơ hội. Và bởi vì công việc là một phần khắng khít với đời sống, chúng ta cần phải có một thái độ tích cực đối với nó. Kinh Thánh có soi sáng gì cho vấn đề rắc rối này không?
Đức Chúa Trời Ban Hành Công Việc
Trong Cựu Ước, rõ ràng là chúng ta không được ngồi lười biếng để đợi người khác phục vụ. Đức Chúa Trời đặt để chúng ta tại đây, trên thế giới này và ban cho chúng ta công việc để làm. Điều này áp dụng cho những công việc khiêm nhường nhất, “cho việc chặt củi và xách nước” (xem PhuDnl 29:11; Gios Gs 9:21, 27), cho bất cứ công việc nào cần thiết để duy trì sự sống và bảo tồn trật tự đã được tạo dựng của Đức Chúa Trời. “Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày” là cách điều răn thứ tư mô tả điều này. Thithiên thứ Tám cho thấy Đức Chúa Trời đã ủy thác cho con người việc giám sát thế giới được Ngài tạo dựng như thế nào:
Chúa làm người kém Đức Chúa Trời một chút ,
Đội cho người sự vinh hiển và sang trọng .
Chúa ban cho người quyền cai trị công việc tay Chúa làm ,
Khiến muôn vật phục dưới chân người ,
Cả loài chiên , loài bò ,
Đến nỗi các thú rừng ,
Chim trời và cá biển ,
Và cùng mọi vật lội đi các lối biển ,
(Thi . 8:5-8;)
Cũng vậy, trong các câu chuyện Sáng tạo, Đức Chúa Trời ban công việc cho con người làm, và công việc này là tốt lành . Công việc là một phần tốt lành của sự Sáng Tạo. Con người phải làm cho đất phục tùng: “và quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống, hành động trên mặt đất” (SaSt 1:28). Con người phải “trồng và giữ” Vườn Êđen (2:15).
Thậm chí những công việc tầm thường, không thú vị, đều đặn hằng ngày cũng phải được liên hệ đến Đức Chúa Trời. Khi một người làm tốt công việc gieo trồng mùa xuân, người đó không được ngồi mà tự hào, mà phải dâng sự vinh hiển cho Chúa. Tự vỗ ngực khen mình là làm lệch sự chú ý từ Chúa sang chính mình - và đó là sự thờ hình tượng.
Khi mô tả cách gieo trồng đúng đắn, Êsai nói về một người biết về phương cách ấy: “Ấy là Đức Chúa Trời dạy và bảo nó cách phải làm” (EsIs 28:26). Và sau khi mô tả cách đập lúa thành thạo ông nhận xét: “Điều đó cũng ra bởi Đức Giêhôva Vạn Quân, mưu Ngài lạ lùng, sự khôn ngoan Ngài tốt lành” (c. 29). Mọi công việc đều có liên quan đến Đức Chúa Trời, thậm chí những công việc tầm thường như gieo và gặt.
Chúng Ta Đã Làm Hỏng Y Nghĩa Của Công Việc
Nhưng một lần nữa, đó không phải là toàn bộ câu chuyện. Công việc đã bị làm hỏng. Trong các câu chuyện Sáng Tạo, Ađam và Êva được đặt trong vườn Êđen để chăm sóc vườn. Công việc là một phần ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho họ. Tuy nhiên điều hết sức tốt lành này đã bị làm hỏng, bởi vì sự xâm nhập của tội lỗi loài người. Cũng như toàn bộ sự sống đã trở nên bại hoại và thoái hóa đi bởi tội lỗi, việc làm của con người cũng vậy. Việc làm tự nó không phải là một sự rủa sả. Nhưng nó đến chỗ bị đặt dưới một sự rủa sả. Đức Chúa Trời phán cùng Ađam sau khi ông đã phạm tội:
“Đất sẽ bị rủa sả vì ngươi ;
Trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sinh ra mà ăn .
Ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn ” (SaSt 3:17, 19).
Nói cách khác, tội lỗi của con người đã thật sự làm đảo lộn mọi sự. Nó làm hỏng ý nghĩa đích thực của công việc chúng ta. Điều này không có nghĩa là công việc là sự trừng phạt dành cho tội lỗi, bởi vì như chúng ta đã thấy, công việc là một phần của ý muốn Đức Chúa Trời dành cho loài người, nhưng cũng như mọi điều khác, ý nghĩa của nó đã bị méo mó và bị đánh mất khi con người không làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, mà thay vào đó làm theo ý muốn của họ.
“Sự Kêu Gọi” Của Tân Ước
Trong Tân Ước, ý niệm về nghiệp (hoặc được kêu gọi để làm điều gì đó) có một chiều kích được bổ sung. Ý nghĩa chủ yếu ở đây là công việc giúp đẩy mạnh Tin Lành. “Công việc” của bạn có thể là người giảng Tin Lành, công việc của tôi có thể là giáo sư, tiên tri. Phaolô được kêu gọi để làm “ tôi tớ của Chúa Giêxu Christ,” và ông đã thi hành sự kêu gọi này bằng cách đi từ nơi này sang nơi khác, rao giảng, dạy dỗ và viết thư. Đồng thời ông cũng có một phương tiện để sinh sống là may trại, là công việc ông đeo đuổi để giải quyết các nhu cầu tài chánh của mình và để có thể làm các công việc khác của mình. Nhưng công việc chính của ông vẫn là mang “Tin Lành” đến cho con người. Trong mọi điều này, ông chỉ đang khiến chính mình sẵn sàng để được sử dụng bởi Chúa. Điều ông thực hiện không phải để dành vẻ vang cho mình, mà cho sự vinh hiển lớn lao hơn của Đức Chúa Trời. Như lời ông nói với những người Côrinhtô hay gây rắc rối:
Tôi đã trồng , Abôlô đã tưới , nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên . Vậy người trồng , kẻ tưới , đều không ra gì , song Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên . Người trồng , kẻ tưới , đều bằng nhau , ai nấy sẽ nhận phần thưởng tùy theo việc mình đã làm . Vả chúng tôi là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời ; anh em là ruộng của Đức Chúa Trời cày , nhà của Đức Chúa Trời xây (ICo1Cr 3:6-9).
Từ “kêu gọi” trong Tân Ước được hàm ý bởi cùng một gốc từ Hylạp như từ “hội thánh” từ Hylạp dành cho hội thánh (ekklesia , từ đó chúng ta có từ “truyền đạo”) theo nghĩa đen có nghĩa là những người được “gọi ra” hoặc biệt riêng khỏi những người còn lại trong thế gian. “Sự kêu gọi” của bạn được hoàn thành trong mối thông công với những người đã được “gọi ra.”
Điều này không có nghĩa là những công việc tầm thường, đều đặn là không quan trọng. Khi viết thư cho người Têsalônica (là những người có lẽ cũng hay gây rắc rối như người Côrinhtô), Phaolô đối diện với nan đề có rất nhiều Cơ Đốc nhân, trông đợi sự trở lại lập tức của Chúa Cứu Thế, đã ngừng làm việc. Phaolô mạnh mẽ lên án điều này:
Vả , chúng tôi nghe trong anh em có kẻ ăn ở bậy bạ , chẳng hề làm lụng , trở chăm những sự vô ích thôi . Chúng tôi nhân danh Đức Chúa Jesus Christ , bảo và khuyên những kẻ đó phải yên lặng mà làm việc , hầu cho ăn bánh của mình làm ra (IITe 2Tx 3:11, 12).
Đối với những kẻ không tuân theo lời khuyên này, có một nguyên tắc ngắn gọn súc tích: “Nếu ai không khứng làm việc, thì cũng không nên ăn nữa” (3:10).
“Những Người Làm Việc” Trong Tân Ước
Một số những đoạn khác trong các bức thư của Phaolô liên quan đến lời khuyên dành cho “những người làm việc” (thật sự là “những người nô lệ”). Chúng ta đã xem xét thái độ của Phaolô đối với “những người nô lệ” trong chương vừa rồi. Tại đây chúng ta hãy xem sự hiểu biết gì chúng ta có thể rút ra từ lời khuyên của Phaolô dành cho họ. Ví dụ hãy xem những lời dành cho người Êphêsô:
Hỡi kẻ là tôi tớ , hãy run sợ , lấy lòng thật thà mà vâng phục kẻ chủ mình theo phần xác , như vâng phục Đấng Christ , không phải vâng phục trước mặt người mà thôi , như các người kiếm cách làm đẹp lòng người ta , nhưng phải như tôi tớ của Đấng Christ , lấy lòng tốt làm theo ý muốn Đức Chúa Trời . Hãy đem lòng yêu mến hầu việc chủ cũng như hầu việc Chúa , chẳng phải như hầu việc người ta (Eph Ep 6:5-7).
Đây là sự khôn ngoan rõ rệt trong phương pháp làm việc. Cơ Đốc nhân phải làm công việc hằng ngày cho Chúa thay vì cho con người. Phần thưởng cho công việc người ấy phải là phần thưởng do làm đẹp lòng Chúa. Dầu công việc đặc biệt của bạn là gì đi nữa, nó cũng phải được làm như làm cho Chúa, chứ không theo cách “người làm đẹp lòng con người.” Đây là một ý niệm cơ bản. Điều này có nghĩa là làm việc chân thật trong bài tập đại số về nhà của bạn và nhận được một con điểm C-thay vì quay cóp cách giải và nhận được một con điểm B+. Điều này có nghĩa là giá trị của một con người “làm việc từ 9g sáng đến 5g chiều không nằm ở chỗ người ấy có kiếm được 10 ngàn Mỹ kim một năm hay không mà là công việc người ấy làm có đáng giá ở trước mặt Đức Chúa Trời hay không.
Thúc Đẩy Sự Dạy Dỗ Của Tân Ước
Tân Ước không cho chúng ta những giải đáp cụ thể đối với những nan đề về nghề nghiệp trong thế kỷ thứ hai mươi nằm gọn gàng trên một chiếc đĩa bạc. Nhưng Tân Ước có đưa ra một số nguyên tắc vững vàng cơ bản. Chúng ta hãy xem các giáo phụ Tin Lành đã giải quyết các vấn đề này như thế nào.
Đây là điều đã xảy ra vào những thế kỷ đầu của Hội thánh:
Thế giới bị coi là xấu xa đến nỗi, mặc dầu những Cơ Đốc nhân bình thường vẫn ở trong thế giới này và đeo đuổi công việc làm ăn của mình như người bán thịt, thợ nướng bánh, hoặc người làm nến, những Cơ Đốc nhân thật sự tận hiến thường rút lui khỏi thế gian và đi theo một sự kêu gọi mang tính“tôn giáo” cụ thể, đi vào một tu viện. Nếu bạn làm lý lịch cho những người bạn khác nhau trong thời trung cổ, thì kết quả có lẽ khe khắt:
John Smith, người bán thịt…….. …............ …. ….... C-
Cha Jones, mục sư bình thường.…............... B
Abbot Doe, tu sĩ.…............................ A
Bấy giờ những nhà Cải Chánh Tin lành đã làm thay đổi toàn bộ điều đó. họ vượt qua sự phân biệt giữa các nghề nghiệp “thế tục” và “thánh” này. Họ cảm thấy rằng đây chính là thế giới của Đức Chúa Trời và Ngài muốn con người hầu việc Ngài trong thế giới ấy chứ không phải rút lui khỏi thế giới ấy. Chẳng hạn, theo luận điểm của Luther, người đầy tớ gái có thể hầu việc Chúa trong sự kêu gọi của cô cũng hiệu quả như một nữ tu trong sự kêu gọi của người ấy, người thợ đóng giầy có thể phục vụ Chúa trong sự kêu gọi của mình cũng hiệu quả như người thầy dòng có thể phục vụ Ngài trong sự kêu gọi của anh ta. Đối với Calvin, cả thế gian này phải là một chủng viện, tức là một nơi mà đời sống hầu việc và ngợi khen Chúa phải được sống động, trọn vẹn. Như vậy, theo quan điểm của họ, phiếu đánh giá của chúng ta phải được sửa lại hầu cho thứ hạng có tiềm năng phải là như vầy:
John Smith, thợ điện... A
Mục sư John ở một nhà thờ địa phương... A
Giáo sư Doe, nhà thần học... A
Như vậy người Tin Lành tin rằng về thực chất không có sự kêu gọi nào là thánh hơn hay “thiêng liêng” hơn sự kêu gọi khác. Ý định của Đức Chúa Trời không phải tất cả mọi người đều là thầy giảng, nhà truyền giáo hay giám đốc giáo dục tôn giáo; Đức Chúa Trời cũng “kêu gọi” con người thực hiện mối quan tâm Cơ Đốc của họ trong công việc chính trị, kinh doanh, dạy học, và các nghề nghiệp khác. Những người như vậy có thể nhận biết ý muốn của Đức Chúa Trời trong nghề nghiệp của họ khi làm công việc của mình với lòng ngay thẳng. Công việc đầu tiên của một kỹ thuật viên Cơ đốc trong phòng thí nghiệm không phải là hát trong ban hát nhà thờ; mà phải làm các thử nghiệm của mình một cách chu đáo, thành thật, và khoa học. Người ấy không được làm công việc cách qua loa, dối giả trong phòng thí nghiệm để tham gia ban hát đúng giờ.
Đấng Christ Với Tư Cách “Người Làm Việc”
Thực ra, cụm từ “người làm việc” đã được áp dụng cho chính Chúa Jêsus. Dù hiểu biết chủ yếu về “công việc” của Đấng Christ ám chỉ đến công tác cứu chuộc của Ngài dành cho loài người (việc Ngài đến trần gian, chịu chết trên thập tự giá, và được sống lại nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời), vẫn có sự ám chỉ thú vị Ngài là một người lao động, hoặc cụ thể hơn, một người thợ mộc (xem Mac Mc 6:3). Sự kiện Chúa Jêsus lao động để kiếm sống là điều có ý nghĩa. Điều này không những cho chúng ta thấy rằng Ngài làm một với những kẻ phải đổ mồ hôi để kiếm sống; mà còn tái khẳng định chân giá trị của việc làm. Việc làm đã được thánh hóa bởi sự kiện chính mình Đấng Christ đã làm việc. Việc làm chắc chắn không xứng đáng với nhân phẩm chúng ta nếu nó không xứng đáng với Ngài. Chắc chắn nó không đáng khinh nếu như Ngài quí trọng nó. Bất cứ ai bảo rằng công việc chân thật, thực tế là quá thấp kém phải đối mặt với sự kiện chính Con Đức Chúa Trời đã không coi nó là đáng khinh đối với Ngài.
Công Việc Chưa Phải Là Toàn Bộ Câu Chuyện
Cách đây vài phút, chúng ta thấy rằng Điều Răn Thứ Tư nhấn mạnh tầm quan trọng của công việc theo cái nhìn của Đức Chúa Trời. Nhưng một câu khác, theo sau câu ấy nói như vầy: “nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi, trong ngày đó, ngươi... đều chớ làm công việc chi hết;” (XuXh 20:10). Công việc chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Chúng ta được tạo dựng để làm việc và để nghỉ ngơi ( cũng để thờ phượng Chúa; như phần tiếp theo sẽ chỉ rõ). “Nghỉ ngơi” có nghĩa là chúng ta dừng lại một lúc khỏi việc định hình thế giới này theo cách thức của chính mình; rằng chúng ta phải cố nhớ rằng rốt lại, đây là thế giới của Đức Chúa Trời và công việc thực sự của chúng ta là ra sức hoàn thành ý muốn của Ngài thay vì của chính mình. Ngoài ra, nghỉ ngơi là một phần của cách chúng ta phản ánh hình ảnh Đức Chúa Trời trong chúng ta. Chúng ta phải nghỉ ngơi, bởi vì Đức Chúa Trời “đã nghỉ ngơi,” theo như hình thái tu từ rõ rệt trong câu chuyện Sáng Tạo: “Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm” (SaSt 2:2).
Chúa Jêsus nhấn mạnh điều tương tự trong chuyến viếng thăm Mari và Mathê. Mathê hối hả bận rộn, bực bội lăng xăng với mọi việc, càng lúc càng căng thẳng, bối rối. Còn Mari ngồi yên và lắng nghe Chúa Jêsus. Kết quả:
MATHÊ (cáu kỉnh vì phải làm tất cả mọi công việc mà nhà bếp thì rất nóng ): Lạy Chúa, em tôi để một mình tôi hầu việc, Chúa há không nghĩ đến sao? (Và rồi dằn dỗi ) Xin biểu nó giúp tôi.
CHÚA JÊSUS: Hỡi Mathê, Mathê, ngươi chịu khó và bối rối về nhiều việc. Nhưng có một việc cần mà thôi. Mari đã lựa phần tốt là phần không có ai cất lấy được (LuLc 10:40-42).
Chúa Jêsus không khen tính lười biếng, nhưng Ngài cho thấy chúng ta có thể trở nên cáu kỉnh vì công việc của mình đến nỗi công việc không còn ý nghĩa. Mari, chứ không phải Mathê, đã chọn “phần tốt.” Bởi vì Mathê “mảng lo về việc vặt” (LuLc 10:40). Hẳn là tốt cho Mathê nếu bà ngồi nơi chân Chúa Jêsus hơn là chuẩn bị một bữa ăn cầu kỳ không cần thiết.
Có một sự nhịp nhàng giữa công việc và việc nghỉ ngơi cần phải được tuân thủ. Giấc ngủ là ví dụ rõ ràng nhất về điều này. Cứ thử cố gắng làm việc mà không ngủ trong ba đêm liền và sau đó xem tính hiệu quả của công việc bạn có thể làm vào buổi sáng thứ tư như thế nào.
Công Việc và Sự Thờ Phượng
Quan trọng hơn nữa là tính không thể tách rời giữa công việc và sự thờ phượng. Sự thờ phượng phải được liên hệ với công việc, và công việc phải phát triển từ sự thờ phượng. Ở nhiều nơi trong thế giới Cơ Đốc, khi kỷ niệm Tiệc Thánh, bánh và rượu được người ta mang đến sớm vào thời điểm thích hợp trong buổi nhóm và được đặt lên bàn - biểu tượng của phương cách qua đó việc làm của con người (sự lớn lên của hạt lúa, việc nuôi trồng cây nho) được dâng lên cho Đức Chúa Trời để Ngài chúc phước. Khi các thức này đã được chúc phước và được phân phát, nó là một dấu hiệu cho thấy Đức Chúa Trời vui lòng chấp nhận các biểu tượng này và dùng chúng như những sự nhắc nhở thấy được về sự hiện diện của Ngài. Công việc của con người được chấp nhận, được chúc phước, và được biến đổi. Chính từ nghi lễ , mà chúng ta dùng để mô tả thứ tự cụ thể của sự thờ phượng, có nghĩa gốc là “công việc” hoặc “sự phục vụ công cộng.” Thực hành trung tín sự phục vụ công cộng là “nghi lễ;” như vậy bất cứ công việc nào được làm tốt là sự phục vụ không những làm cho công chúng mà còn làm cho Đức Chúa Trời. Phaolô cho thấy sự liên kết này khi ông bảo những người ở Côrinhtô hãy dâng giúp cho những người gặp khó khăn: “Vì việc phát tiền bố thí dường ấy (nghi lễ ) chẳng những đỡ ngặt cho các thánh đồ mà thôi, lại xui nhiều người càng thêm lòng tạ ơn Đức Chúa Trời” (IICo 2Cr 9:12).
Từ Đây Chúng Ta Đi Đâu?
Rõ ràng là chúng ta không thể rút ra từ Kinh Thánh một sơ đồ chi tiết về các công việc trong một xã hội công nghiệp của thế kỷ hai mươi. Kinh Thánh không đưa ra thông tin về công việc ứng dụng kỹ thuật khoa học. Điều chúng ta phải làm là hiểu được những loại nguyên tắc ra từ sự bàn luận này và sau đó liên hệ chúng với các tình huống cụ thể của thế kỷ hai mươi trong đó chúng ta tìm thấy chính mình. Đây là một công việc gay go, nhưng nó là một phần của bổn phận kính mến Đức Chúa Trời bằng cả trí khôn.
Chương 22: Kinh Thánh và Bầu Cử
(“Anh nghĩ Tôn Giáo và Chính Trị Thực Sự Pha Trộn Được Ư? ”)
Bạn thường nghe những câu nói như:
“Tôn giáo và công việc chính trị không pha trộn được.”
“Công việc của người truyền đạo là ‘giảng Tin Lành’ chứ không phải quan tâm đến những vấn đề chính trị.”
“Hoạt động chính trị quá “bẩn thỉu” đối với Cơ Đốc nhân”
Những lời tuyên bố như vậy thật vô nghĩa và nguy hiểm
Chúng vô nghĩa bởi vì chúng bỏ qua việc khi coi trọng “tôn giáo,” bạn phải quan tâm đến đồng bào của mình. Trong loại hình thế giới chúng ta, mối quan tâm đến đồng bào của mình chắc chắn có nghĩa là phải quan tâm đến vũ đài chính trị, nơi con người đang sống. Bởi vì “phúc âm” không những chỉ quan tâm đến các cá nhân, mà còn quan tâm đến cá nhân trong các mối quan hệ xã hội của họ, cho nên phúc âm phải xác đáng với cách con người sắp xếp các mối quan hệ xã hội của họ trong các đường lối chính trị và cách thức cai trị.
Những lời ấy nguy hiểm bởi vì chúng hàm ý rằng tôn giáo không thích hợp với một trong những lãnh vực quan trọng nhất của đời sống hiện đại. Ví dụ các quyết định của Quốc hội ảnh hưởng đến số phận của hàng triệu người khắp nơi trên trái đất. Không Cơ Đốc nhân nào có đặc quyền về mặt đạo đức mà không quan tâm đến sự kiện đó, hoặc tuyên bố rằng chính trị là “bẩn thỉu” đến nỗi Cơ Đốc nhân chớ làm bẩn tay mình do tiếp cận quá gần với nó. Trái lại, Cơ Đốc nhân phải chứng tỏ rằng công việc chính trị có thể là một “lãnh vực ân điển,” một nơi mà ít ra, con người có thể cố gắng thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời một cách thô kệch.
Sự Thận Trọng Thuộc Loại Ưu Tiên Cao - Không Có Bản Sơ Đồ Xã Hội Trong Kinh Thánh
Một lời cảnh cáo quan trọng rất cần thiết khi chúng ta bắt đầu: Kinh Thánh không cho chúng ta bản sơ đồ hoặc bản đồ chi tiết hay cách thức hình thành dành cho “hệ thống chính trị của người Cơ Đốc.” Bất cứ khi nào bạn thấy có ai đó trích một câu Kinh Thánh đơn lẻ để “ chứng minh ” cho một quan điểm liên quan đến một vấn đề cụ thể nào đó của việc lập luật, thì bạn có quyền nghi ngờ. Suốt cuộc Nội Chiến, các mục sư đã trích dẫn Kinh Thánh để hậu thuẫn cho chế độ nô lệ và để phản đối chế độ nô lệ. Ở tại Nam phi ngày nay, các quan chức chính phủ đang ra sức bênh vực chủ nghĩa phân biệt chủng tộc dựa trên các chứng cớ của Kinh Thánh. Điều vẫn thường xảy ra trong những trường hợp như vậy đó là khi người đặt niềm tin nơi điều gì đó, họ sẽ tìm cho được “những bằng chứng” trong Kinh Thánh để hậu thuẫn cho nó. Không có kế hoạch về hệ thống xã hội“được lập sẵn” trên các trang Kinh Thánh.
Nhưng điều này không có nghĩa là Kinh Thánh không xác đáng. Không đâu! Bởi vì Kinh Thánh cho chúng ta một dấu chỉ về những thái độ, mối quan tâm, động cơ để thông báo và hướng dẫn những loại quyết định nào chúng ta phải thực hiện đối với những vấn đề cụ thể. Cơ Đốc nhân có lòng quan tâm đối với các nhóm dân thiểu số có thể thấy ý nguyện của mình được thực hiện cách tốt nhất qua việc tham gia vào Đảng Dân Chủ, trong khi người kia có thể cảm thấy rằng các mục tiêu tốt nhất có thể đạt được là nhờ những người Cộng Hòa, còn người thứ ba có thể thích cứ đứng độc lập thì hơn. Điều không ai trong số ba người đó được tuyên bố đó là theo Kinh Thánh, mối quan tâm dành cho mọi người chỉ có thể được thực hiện hiệu quả qua Đảng Dân Chủ hoặc qua Đảng Cộng Hòa hoặc chỉ bởi việc cứ giữ độc lập về mặt chính trị. Kinh Thánh nói rõ ràng rằng bạn phải có thái độ quan tâm đến mọi người, đặc biệt quan tâm đến những người bị áp bức. Một khi mối quan tâm ấy đã được xác định, bạn phải ra sức, một cách chân thành và chuyên cần hết sức, làm thế nào để bên trong cơ cấu xã hội mình đang sống, bạn có thể thực hiện mối quan tâm ấy cách tốt nhất.
Ví dụ, nhấn mạnh cơ bản của Kinh Thánh “đất và muôn vật trên đất, thế gian và những kẻ ở trong đó, đều thuộc về Đức Giêhôva” (Thi Tv 24:1) là một lời tuyên bố vừa mang tính chính trị vừa mang tính tôn giáo. Trái đất không phải của chúng ta để tùy nghi sử dụng mà bóc lột anh em mình và biến đời sống trên đất trở thành địa ngục. Chúng ta phải sống với nhau như thế nào trong thế giới của Đức Chúa Trời? Tương tự như vậy chủ đề được lập đi lập lại: “ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình” (LeLv 19:8; LuLc 10:27), mang tính tôn giáo lẫn tính chính trị. Trong loại hoàn cảnh xã hội nào, trong loại cơ cấu chính trị nào, tôi có thể thực hiện tốt nhất mối quan tâm của mình dành cho người lân cận?
“Không Có Thần Nào Khác”
Chúng ta hãy lên khung cuộc thảo luận của đức tin theo Kinh Thánh và trách nhiệm chính trị chung quanh Điều Răn thứ nhất trong Mười Điều Răn, bởi vì mặc dầu Điều răn này có vẻ như hoàn toàn “mang tính tôn giáo,” nó thực sự là một trong những tuyên bố “mang tính chính trị” nhiều nhất trong toàn bộ Kinh Thánh.
Ta là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Êdíptô, là nhà nô lệ. Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác (XuXh 20:2, 3 in nghiêng là ý tác giả).
Điều này hàm ý gì? Nó hàm ý rằng chỉ có một Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời hằng sống của lịch sử Hêbơrơ. Sự trung thành tuyệt đối phải được dành cho Ngài, chứ không cho bất cứ người nào khác. Lòng trung thành vô điều kiện và tối hậu chỉ có thể được dành cho Đức Chúa Trời hằng sống . Điều này có liên quan gì đến chính trị?
Liên quan mọi sự .
Điều đó có nghĩa là chúng ta không bao giờ được dành lòng trung thành tối hậu của mình cho bất cứ hệ thống chính trị nào; bất cứ hệ thống kinh tế nào, bất cứ tập hợp những lý tưởng chính trị hay xã hội nào, bất cứ dân tộc hoặc nhóm các dân tộc nào. Lòng trung thành tối hậu của chúng ta chỉ thuộc về Đức Chúa Trời mà thôi. Nếu chúng ta dành sự trung thành của mình cho một người nào khác, hoặc một vật nào khác, thì con người hoặc sự vật đó chiếm vị trí của Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta. Và theo quan điểm của đức tin theo Kinh Thánh, đây là sự thờ hình tượng: sự thờ phượng một hình tượng hoặc một tà thần. “Tổ quốc tôi” không phải là Đức Chúa Trời, vì vậy tôi sẽ không dâng sự trung thành tuyệt đối cho tổ quốc tôi. Thái độ “Đất nước tôi, dù đúng hay sai” là một thái độ không đúng Kinh Thánh, dầu đất nước đó là Nga, Đức hay Ấn độ... Đảng Xã hội ( Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ, hay Đảng Cấm Bán Rượu Lậu) đều không phải là Đức Chúa Trời, vì vậy tôi không phải là một đảng viên ủng hộ tuyệt đối. “Đảng tôi, dầu đúng hay sai” cũng là một thái độ không đúng Kinh Thánh. Cám dỗ luôn luôn là biến một đối tượng nào đó do con người lập ra (một xứ sở, một cơ cấu chính trị) trở thành đối tượng của lòng trung thành tối hậu. Đây là tội thờ hình tượng dầu trong thế kỷ thứ bảy T.C. hay thế kỷ hai mươi S.C.. Cơ Đốc nhân chỉ thờ phượng một Đức Chúa Trời hằng sống duy nhất.
Điều này nghe như là một cuộc nói chuyện nguy hiểm! Dành lòng trung thành với điều gì đó cao hơn cả Nhà NướcHoa kỳ ư? Có khuynh hướng lật đổ chế độ! Cho rằng Hoa kỳ chưa phải là một “dân tộc Cơ Đốc” trọn vẹn ư? Xúi giục nổi loạn! Dầu vậy, đức tin theo Kinh Thánh không cho chúng ta sự lựa chọn nào khác. Mọi sự, tất cả mọi sự, trừ chính mình Đức Chúa Trời, đều chịu phán xét, và đều phải ở dưới Đức Chúa Trời.
Ánh sáng từ Hội Thánh Đầu Tiên .
Các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã khám phá điều này rõ ràng và dứt khoát. Họ có bổn phận phải tôn thờ chính quyền, hoàn toàn theo nghĩa đen. Nếu họ không công nhận hoàng đế là thần và tuyên xưng: “Sêsa là Chúa,” họ có thể bị hành hại hoặc giết chết. Bởi vì hễ ai không dành sự trung thành tối hậu cho Sêsa mà cho một đối tượng nào khác thì rõ ràng là kẻ phản bội.
Nhưng “tín điều” của các Cơ Đốc nhân đầu tiên mà chúng ta ghi nhận chép rằng: “Giêxu là Chúa.” Giêxu, chứ không phải Sêsa. Cơ Đốc nhân muốn nói rằng: “Tôi sẽ không dành lòng trung thành vô điều kiện cho Sêsa, nhưng cho Chúa Jêsus.” Đưa ra một tuyên bố đức tin trong thời đó có nghĩa là tham gia chính trị! Những lời buộc tội chống lại một nhóm Cơ Đốc nhân ở tại Têsalônica, chẳng hạn “chúng nó hết thảy đều là đồ nghịch mạng Sêsa, vì nói rằng có một vua khác là Giêxu” (Cong Cv 17:7). Rõ ràng Sêsa không thể để cho loại sự việc ấy tiếp diễn. Luca nói thêm: “Bấy nhiêu lời đó làm rối động đoàn dân và quan án” (17:8). Bạn biết chắc là họ bối rối! Cơ Đốc giáo là một vấn đề nguy hiểm trong thế kỷ thứ nhất.
Ủy Ban Hoạt Động Chống Lamã .
Để hiểu được sức ép đầy đủ của lời chứng Cơ Đốc đầu tiên này, chúng ta hãy xem qua các biên bản một số các vụ xét xử của Ủy Ban Các Hoạt Động Chống Lamã vào thế kỷ thứ nhất, các Cơ Đốc nhân bị điều tra như là một mối đe dọa cho lối sống của người Lamã:
Vụ Xét Xử Thứ Nhất
H: Tên gì?
Đ: Simôn con Giôna, được mọi người gọi Simôn Phierơ, hay Sêpha, có nghĩa là đá.
H: Kết hôn chưa?
Đ: Rồi.
H: Nghề nghiệp?
Đ: Trước kia là một người buôn bán ở vùng Galilê, một ngư phủ ở vùng Biển Galilê, hiện nay là một sứ đồ của Chúa Giêxu Christ.
H: Như vậy ngươi là một thành viên tích cực của nhóm Cơ Đốc này phải không?
Đ:Vâng, đúng là tôi.
H: Cách đây một năm, vào đúng ngày này ngươi ở đâu?
Đ: Ngày này cách đây một năm ư? Có lẽ nơi nào đó ở tại Giêrusalem.
H: Không được lẫn tránh... Có đúng là vào ngày được hỏi, ngươi đã xuất hiện trước hội đồng Giêrusalem không?
Đ: Phải, tôi đã ra trước hội đồng này hai lần.
H: Điều gì đã xảy ra vào hai lần đó?
Đ: Lần thứ nhất, một môn đồ nữa và tôi đã được cảnh cáo không được giảng và dạy thêm gì nữa về Giêxu người Naxarét. (Cố nhớ lại ) Họ dường như khá nghiêm nhặt về điều đó.
H: Có phải hai anh đã hứa vâng giữ các yêu cầu đó không?
Đ: Nhất định là không. Theo như tôi còn nhớ, chúng tôi đã trả lời: “Chúng tôi không thể không nói về điều mình đã thấy và nghe.”
H: (Với các thành viên trong ủy ban ) Xin các vị vui lòng lưu ý điều đó. Kẻ nhân chứng này thú nhận rằng ông ta đã không xem trọng các yêu cầu của hội đồng (quay sang Phierơ ) còn lần thứ nhì?
Đ: Chúng tôi lại được gọi ra trước hội đồng một lần nữa, và được nhắc nhở phải im lặng.
H: Và ngươi đã trả lời như thế nào?
Đ: Câu trả lời của chúng tôi là: “Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời loài người.”
H: Hừm... thế là đủ. Ông Sêpha, cho nhân chứng ra. (Phierơ đi ra ). Thế đấy, thưa quí ông, rõ ràng ngay trước mũi các ông, những Cơ Đốc nhân này thậm chí không vâng lời hội đồng tôn giáo, nói chi đến Sêsa. Câu nói của ông Sêpha: “Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta” là chống lại Lamã. Những tên Cơ Đốc nhân này thật là một mối đe dọa!
Vụ Xét Xử Thứ Hai
H: Xin cho biết tên?
Đ: Đêmêtriu.
H: Quê hương.
Đ: Êphêsô.
H: Nghề nghiệp?
Đ: Tôi là một thợ bạc.
H: Ngươi làm những gì?
Đ: Các khám để đặt tượng nữ thần Đianh yêu quí của người Êphêsô
H: Ngươi có quen với tên Phaolô người Tạtsơ không?
Đ: Tôi có quen.
H: Như vậy người có phải là một Cơ Đốc nhân không?
Đ: Ô không, thưa Ngài, tôi không phải là Cơ Đốc nhân và cũng chưa bao giờ đồng cảm với các ý tưởng Cơ Đốc, Phaolô người Tạtsơ là một kẻ thù, không phải bạn.
H: Những tay thợ khác có cùng sự phản kháng đối với Phaolô người Tạtsơ không?
Đ: Ô vâng có chứ, thưa quí ông - tôi muốn nói rằng, bẩm ngài, tôi nói thay mặt cho tám mươi ba anh em thợ của tôi.
H: Chính xác Phaolô đã làm gì ngươi?
Đ: Ông ta rao giảng một loại tà giáo; và ông ta làm hỏng công việc làm ăn của chúng tôi.
H: Ông ta làm hỏng công việc làm ăn của ngươi bằng cách nào?
Đ: Vâng, ông ta bảo dân chúng ở tại đó là chỉ có một Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời của ông ấy . Bấy giờ gã này có tài bẻm mép, khiến cho rất nhiều người Êphêsô tin hắn, Ngài thấy đấy. Vâng, và điều tự nhiên, nếu họ tin nơi Đức Chúa Trời của hắn, họ sẽ không tin nơi thần Đianh nữa, và chúng tôi sẽ không bán được các khám tượng (và rồi nói một cách vội vã ) tôi muốn nói rằng đây là một sự sỉ nhục cho thần Đianh yêu quí của chúng ta, sự việc là thế thưa Ngài.
H: Người của ông có làm gì để cố gắng ngăn chận ông ta không?
Đ: Ồ vâng, thưa Ngài, chúng tôi đã tiến hành một cuộc biểu dương lực lượng, như ngài biết. Chúng tôi...
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG (cắt ngang ): Chúng ta đã ghi lại tất cả những thông tin ấy rồi. Ta không tin cần thiết phải cần lập lại điều này một lần nữa. Đây thưa các Ngài, tài liệu mật F-2934j, lấy từ nhà thờ phượng của một người Cơ Đốc. Một lời ký thuật của bác sĩ Luca về toàn bộ sự việc qua một bản thảo được gọi là Công Vụ Các Sứ Đồ, phần 19, hai đoạn dài cuối cùng.
H: Tốt lắm. (Mãi mê suy gẫm tài liệu , là phần mà tốt hơn bạn hãy tự đọc ngay lúc này ). Cho ngươi ra. (Đêmêtriu đi ra ). Vâng thưa quí vị, đây cũng là sự kiện cứ xảy ra luôn. Những Cơ Đốc nhân này đi đến đâu là gây náo loạn đến đó. Tất cả đều nhân danh của việc tin vào một Đức Chúa Trời duy nhất. Thật quá nguy hiểm nếu cứ để tiếp tục.
Tôi không bận tâm đến niềm tin riêng củamột người, miễn là họ tuân thủ các luật lệ của nhà nước và đừng gây rắc rối nào. Nhưng tên Phaolô này - hắn đã đứng lên và bảo rằng Nữ thần Đianh là không có thật. Và thật gây ảnh hưởng! Toàn bộ kinh tế của thành phố đã đi đến chỗ suy sụp. Cơ Đốc giáo này gây thay đổi quá sức. Chúng ta phải tiêu diệt nó đi.
Vụ Xét Xử Thứ Ba
CHỦ TỊCH ỦY BAN: Thưa quí ông, một tài liệu hết sức nguy hiểm và có mưu toan lật đổ chính quyền vừa được phát hiện và lọt vào tay tôi, một “bức thư gửi cho người Hêbơrơ.” Tôi xin đọc cho các ông nghe một vài đoạn trích. (Đọc )
Hết thảy những người đó (ở đây tác giả ám chỉ những kẻ ông vừa khen ngợi) đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều hứa cho mình; chỉ trông thấy và chào mừng những điều đó từ đằng xa, xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất. (Xin quí vị lưu ý “những kẻ khách và lưu đày trên đất” không chịu thừa nhận Đế quốc Rôma là tất cả những gì con người mong muốn). Những kẻ nói như thế tỏ rõ rằng mình đương đi tìm nơi quê hương. (Thưa quí ông, tìm kiếm một quê hương. Đế quốc Lamã rõ ràng là chưa đủ cho họ). Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở lại. Nhưng (và xin quí ông lưu ý đặc biệt điều này) họ ham mến một quê hương tốt hơn , tức là quê hương ở trên trời. (Và một câu cuối cùng, thưa quí ông. Vâng, câu đó đây rồi. Xin vui lòng hãy lắng nghe lời đó nếu các ông muốn). Vì dưới đời này chúng ta không có thành còn luôn mãi, nhưng chúng ta tìm thành hầu đến. (Những người này cho rằng Đế quốc Lamã huy hoàng chỉ là hạng nhì! Có điều gì đó tốt hơn, một thành nào đó ở trên trời. Nếu dân chúng bắt đầu nghĩ theo lối ấy, thì Đế quốc này sẽ sụp đổ tan tành. Những người suy nghĩ như thế phải được làm cho ngậm miệng).
Vấn đề phải rõ ràng. Nếu bạn dành sự trung thành tối hậu cho Đức Chúa Trời, bạn không thể dành lòng trung thành tối hậu cho bất cứ ai hết, điều này có thể có những hậu quả khó khăn. Có thể giờ đến, trong danh Đức Chúa Trời mà bạn đặt đức tin, bạn phải nói không với vị chủ tịch trong câu lạc bộ con trai của bạn, với một anh em trong hội học sinh nam, hoặc với một người làm ăn chung, hoặc với ông chủ của bạn, hoặc thậm chí với bậc cầm quyền của bạn. Các Cơ Đốc nhân Đức đã thấy điều này khi Đức Quốc Xã lên nắm quyền. Các Cơ Đốc nhân Nga cũng thấy điều đó mỗi ngày. Cùng một nguyên tắc áp dụng cho các Cơ Đốc nhân Hoa kỳ nếu chính phủ ra lệnh cho họ phải làm điều gì đó phản bội lại Điều Răn: “Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác.” Trong những thời điểm như vậy, Cơ Đốc nhân không còn sự chọn lựa nào ngoài việc nói như Martin Luther: “Tôi đứng đây; tôi không thể làm khác được. Đức Chúa Trời giúp đỡ tôi.”
Sự Cần Thiết Của Việc “Tham Dự Vào”
Nhưng không phải chỉ có thế mà còn nữa. Cho đến nay, những gì chúng ta vừa nói có thể dẫn ai đó đến chỗ bảo rằng: “Tôi không thể dính dự vào công việc không sạch sẽ của chính quyền hoặc chính trị. Nó quá hèn hạ. Lúc nào tôi cũng sẽ nói không.” Đây là sự sai lệch đáng buồn của đức tin đúng Kinh Thánh. Hậu quả là, Kinh Thánh cho chúng ta biết một điều nữa liên quan đến trách nhiệm chính trị, đó là chúng ta phải tham dự vào cuộc sống chung quanh mình . Chúng ta không thể là những Cơ Đốc nhân đứng bên lề. Những chủ đề chính của Kinh Thánh đều hàm ý điều đó. Chúng ta hãy xem một vài hàm ý trong số đó.
Sự chú trọng của Kinh Thánh về tầm quan trọng của lịch sử đã nhấn mạnh điều đó. Lịch sử là nơi Đức Chúa Trời hành động, Ngài quan tâm điều đang xảy ra trong lịch sử. Ngài đặt chúng ta trong lịch sử và giao công việc cho chúng ta làm ngay tại đây. Nếu chúng ta cứ “hẹn lần hẹn lửa” là chúng ta từ chối trách nhiệm Chúa ban hoặc không chịu tham gia vào.
Các câu chuyện Sáng Tạo nhấn mạnh điều đó. Chúng ta được đặt ở đây để “chăm sóc trái đất.” Đây là hình ảnh công việc cần phải làm trong một xã hội nông nghiệp, để giữ cho sự sống trên đất tiến triển, bạn không thể làm điều đó nếu là người đứng ngoài. Trong bài cầu nguyện mẫu của Ngài, Chúa Jêsus dạy chúng ta cầu nguyện cho “đồ ăn đủ dùng hằng ngày.” Những ai cho rằng Chúa Jêsus chỉ quan tâm đến “những việc thuộc linh” phải suy gẫm điều đó. Nếu “người ta không phải chỉ sống nhờ bánh mà thôi,” như Chúa Jêsus cũng đã nói, thì rõ ràng điều đó cũng có nghĩa người ta không thể sống mà không có bánh. Thức ăn hằng ngày là quan trọng. Cách chúng ta hiểu điều này là quan trọng. Điều quan trọng là mọi người phải có đủ bánh.
Tất cả những nhấn mạnh này đều cho thấy cách con người sống với nhau là một vấn đề mang tính tôn giáo . Nếu con người bị đói, đó là một vấn đề mang tính tôn giáo; nếu con người không có nhà ở đàng hoàng, đó là một vấn đề mang tính tôn giáo; nếu những người có màu da sậm hơn không được phép ăn chung trong cùng nhà hàng với những người có nuớc da sáng hơn, đó là một vấn đề mang tính tôn giáo - bởi vì Đức Chúa Trời yêu thương tất cả con cái Ngài, và đã giao cho chúng ta một phần trách nhiệm lớn để cùng nhau sắp xếp đời sống xã hội của mình.
Vậy Thì Sao?
Kết luận được rút ra không khó. Cơ Đốc nhân phải bận rộn quan tâm đến những lãnh vực các vấn đề này được bàn cãi và quyết định trong cuộc sống. Ở thế kỷ thứ hai mươi, đây là lãnh vực chính trị. Điều này có nghĩa là Cơ Đốc nhân nào tìm cách “suy nghĩ đúng theo Kinh Thánh” về các vấn đề chính trị, phải coi trọng các bổn phận của quyền công dân. Người ấy phải suy nghĩ để hiểu rằng những con người có trách nhiệm cần phải được tiến cử, phải tham gia vận động để họ được bầu, phải bỏ phiếu cho họ, và đặt để ảnh hưởng mạnh mẽ trên họ một khi họ đã ra làm việc. Thậm chí người ấy có thể cảm thấy rằng chính sự kêu gọi của người Cơ Đốc là phải ra tranh cử vào chức vụ.
Quan tâm đến vấn đề này không có nghĩa là tất cả các Cơ Đốc nhân đều phải có thái độ giống nhau về việc lập luật cụ thể - ví dụ, việc giải quyết vấn đề nhà ở trong một khu ổ chuột. Một số người cảm thấy ngành công nghiệp tư nhân sẽ giải quyết vấn đề này tốt nhất. Những người khác cảm thấy một dự án nhà ở của Liên Bang là giải pháp khả thi nhất. Các Cơ Đốc nhân có thể có những ý kiến chính đáng khác nhau. Tội lỗi không thể tha thứ được là thái độ không quan tâm, và không dự phần vào.
Nan đề Của Sự Thỏa Hiệp
Một số người bảo: “Nhưng nếu tham gia theo cách này có thể tôi phải thỏa hiệp một số nguyên tắc của mình.” Đúng là đường lối hành động “tốt nhất” hoặc “lý tưởng” không phải là một khả năng hết sức thường xuyên có trong quá-trình-trao-đổi của đời sống chính trị. Hầu như bất cứ quyết định về mặt chính trị nào cũng sẽ đòi hỏi “sự thỏa hiệp.” Bởi vì trong hai người sau đây, ai là người bạn sẽ bỏ phiếu làm thị trưởng thành phố.
Ứng cử viên A: (Cho rằng người da đen được tắm trong các bể bơi công cộng, không có các hợp đồng nhà ở “bị giới hạn” làm cho những người Dothái bị cấm sống trong những khu vực “đẹp nhất” của thành phố, nhưng ông ta uống ruợu quá độ và không phải là thành viên lâu năm của giáo hội).
Ứng cử viên B: (Là thành viên lâu năm của Hội Thánh Ban Đầu, là ủy viên quản trị trong ban chấp hành, và là một người chống uống rượu, nhưng ông lại ủng hộ kỳ thị chủng tộc và tin rằng người Dothái phải được “giữ trong chỗ của họ.”).
Lời Chỉ Dẫn : Hãy đánh “x” vào ô vuông nằm trước ứng viên bạn chọn.
Bạn sẽ bỏ phiếu cho ai? Dầu bỏ cho người nào, bạn cũng “thỏa hiệp” một số trong niềm tin của bạn. Và đó là nan đề của bạn! Bởi vì không có Ứng cử viên C là người bao gồm tất cả những phẩm chất tốt đẹp mà bạn muốn. Hoặc A, hoặc B. Không có giải pháp không bỏ phiếu. Chỉ vì muốn bảo rằng Cơ Đốc nhân phải tránh xa khỏi hoạt động chính trị cụ thể bằng hành động của mình, điều này hóa ra là một cách để bảo rằng đức tin Cơ Đốc là không xác đáng.
Vì vậy, Cơ Đốc nhân phải nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã đặt mình trong một thế giới ngay tại đây , hiện bây giờ , và người ấy phải chịu trách nhiệm ngay tại đây. Người ấy không thể thở dài và chờ đợi Nước Đức Chúa Trời khi các vấn đề rõ trắng và đen. Người ấy phải chọn ngay bây giờ giữa những tông màu xám. Kinh Thánh không bảo chúng ta, những con người muốn làm thành ý muốn Đức Chúa Trời bằng cách nhàn nhã, vô công rỗi nghề cho đến khi mọi sự đã được thu dọn đâu vào đấy. Kinh Thánh cho chúng ta thấy những con người làm theo ý muốn Đức Chúa Trời ngay nơi họ sống , ở giữa những hoàn cảnh thật khó chịu dường như không thể tưởng tượng được:
• trong một trại lao động nô lệ ở tại Aicập;
• trong một chính quyền thành phố thối nát ở tại Bêtên;
• dưới quyền một vị vua chuyên chế là Salômôn;
• trong hoàn cảnh lưu đày ở tại Babylôn;
• dưới quyền cai trị tàn bạo của người Lamã;
Chính trong những hoàn cảnh như vậy, những con người đó phải nói, hành động, và xây dựng luật, và (nếu họ không thể làm điều nào trong những điều đó), phản kháng. Ngày nay chúng ta cũng được kêu gọi để có cùng trách nhiệm đó.
Niềm tin theo Kinh Thánh và Nền Dân Chủ
ĐỘC GIẢ ĐA NGHI (vẫn băn khoăn về các khuynh hướng phá đổ): Bạn nhất định không có một hệ thống chính trị nào có thể nhận được sự trung thành tuyệt đối và vô điều kiện của chúng ta. Có lẽ Kinh Thánh có hàm ý điều đó. Như vậy, có phải là không có sự khác biệt thực sự nào giữa hệ các thống chính trị -chẳng hạn như giữa Dân Chủ và Cộng Sản ư?
Hoàn toàn không. Có những khác biệt sâu xa chứ. Cơ Đốc nhân phải chọn lựa giữa các hệ thống chính trị đó. Người ấy phải tự hỏi mình: “Hệ thống chính trị nào có khả năng gần với ý muốn Đức Chúa Trời dành cho đời sống con người hơn?” Khi đã trả lời được câu hỏi này, người ấy phải nỗ lực góp phần biến hệ thống chính trị mình đã chọn trở thành một hệ thống hoàn hảo hơn.
Vì sao Cơ Đốc nhân phải bác bỏ một hệ thống chuyên quyền như chủ nghĩa Cộng Sản? Chính xác bởi vì hệ thống chuyên quyền này bất chấp nguyên tắc cơ bản của lối nghĩ theo Kinh Thánh: “Trước mặt Ta ngươi chớ có các thần khác.” Nhà nước chuyên quyền nói rằng: “Ta là thần của ngươi. Ngươi chỉ tôn thờ ta và chỉ được phục vụ ta mà thôi. Nếu bất cứ điều gì xuất hiện và đòi hỏi lòng trung thành cao hơn, như luân lý, tôn giáo, thái độ lịch sự của con người hoặc bất kể điều gì, ngươi phải chối bỏ nó và hoàn toàn đề kháng nó bởi vì ta đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối của ngươi.” Trước một lời tuyên bố như vậy, không một con người có tinh thần vâng giữ Kinh Thánh nào có thể thuận phục, bởi vì đây là một sự chối bỏ hoàn toàn Đức Chúa Trời hằng sống.
Như vậy bằng cách nào mà chế độ Dân Chủ lại gần với lối suy nghĩ của Kinh Thánh hơn? Câu trả lời liên quan đến quan điểm của Kinh Thánh về con người, cùng với sự thừa nhận của Kinh Thánh về cả những khả năng và những hạn chế của chúng ta. Ông Reinhold Nuebuhr đã rút tỉa từ rất nhiều kinh nghiệm khôn ngoan thành hai dòng khi bảo rằng:
Khả năng của con người về sự công chính làm cho nền dân chủ khả thi; nhưng khuynh hướng bất công của con người làm cho nền dân chủ cần thiết.
Sự khôn ngoan nằm ở chỗ niềm tin dân chủ phải đặt nền tảng trên cả tiềm năng của con người lẫn trên sự bại hoại của con người về các tiềm năng của mình. Mặc dù thừa nhận rằng chúng ta có thể tạo ra các hình thức chính quyền công bằng, cũng phải thừa nhận rằng chúng ta có thể hủy hoại những công cụ của công lý mà chúng ta đã tạo ra, hoặc, tồi tệ hơn, bóp méo chúng theo các mục đích của mình. Đặc biệt khi con người có được quyền hành thì cám dỗ này càng gia tăng ảnh hưởng trên họ. Không có một con người nào hoặc một nhóm người nào “tốt” đủ để giữ quyền hành vô hạn trên những con người khác. Và vì hiểu rằng không một cá nhân nào hoặc một nhóm riêng nào có được quyền hành vô hạn, xã hội dân chủ đã có những cuộc bỏ phiếu định kỳ, để tất cả mọi người đều có “tiếng nói.” Thay vì chỉ một số ít. Nếu “khuynh hướng bất công của con người” dường như đang thắng thế, thì các thành viên trong xã hội dân chủ có thể phản kháng những động lực chuyên quyền đó bằng phương tiện bỏ phiếu.
Một ví dụ khác về loại cung ứng này được bao hàm trong Hiến pháp Hoa kỳ, qui định rằng không một ban ngành nào của chính phủ có được quyền hành không giới hạn, nhưng sẽ được “kiểm tra” và “cân bằng lực lượng” bởi những bộ phận khác trong chính phủ. Những nhà sáng lập hiến pháp nước Mỹ đã nhận biết rằng dân chủ không phải chỉ “khả thi” (bởi vì khả năng của con người về sự công bằng), mà còn “cần thiết” (bởi vì khuynh hướng bất công của con người). Vì vậy dân chủ giúp cho việc ngăn ngừa sự tôn thờ hình tượng khả thi.
ĐỘC GIẢ ĐA NGHI Sự bất lợi nằm ở đâu?
Sự bất lợi nằm ngay đây. Luôn luôn có khả năng tôn sùng một kiểu dân chủ đặc biệt nào đó như là kiểu của Anh, của Mỹ; hoặc của Pháp. Không hề có một hệ thống dân chủ nào tồn tại mà bao hàm được tất cả những phẩm chất đáng phải có, Cơ Đốc nhân phải luôn coi chừng để chống lại và nhổ rễ những yếu tố ấy trong đời sống chính trị của đất nước mình, là điều hình thành sự bất công lâu dài về mặt kinh tế, hoặc tôn cao chủng tộc này hoặc chủng tộc khác, hoặc trao các quyền hành thái quá cho các nhóm nhỏ. Cuộc tranh đấu sẽ không bao giờ kết thúc.
Đó là một trong cáclý do vì sao nó thú vị như vậy
Chương 23: Kinh Thánh và Súng Đạn
(Cơ đốc Nhân Làm Gì Đối Với Chiến Tranh )?
“Anh đã có giấy gọi nhập ngũ chưa?”
“Chưa, nhưng trước sau gì rồi cũng có.”
“Anh sẽ nhập ngũ ngay chứ?”
“Tất nhiên rồi. Còn có gì khác để làm nữa đâu?”
Loại tình huống này đối diện với hầu hết mọi chàng trai ở tại Hoa kỳ ngày nay. Khi đến mười tám tuổi, người ấy sẽ đối mặt với một giai đoạn phục vụ trong quân đội, được huấn luyện căng thẳng bằng những phương pháp hết sức cập nhật để giết đồng loại của mình; thậm chí có thể được phái đến chiến trường để thực hành sự huấn luyện của mình. Mọi người trong xã hội của người ấy (điều đó có nghĩa là tất cả chúng ta) đều dự phần vào mặt đạo đức trong sự kiện người ấy phải làm như vậy.
Ở đây có một nan đề cho Cơ Đốc nhân, bởi vì chiến tranh - đặc biệt là chiến tranh nguyên tử hiện đại - dường như là một sự vi phạm hoàn toàn nguyên tắc yêu thương của người Cơ Đốc. Thật khó mà dung hòa mạng lệnh hãy yêu kẻ thù với lệnh thả những quả bom nguyên tử trên họ hoặc giết họ bằng súng phun lửa. Cơ Đốc nhân làm gì trong tình huống này?
Một sự Thận Trọng
Việc tra tìm Kinh thánh chẳng giúp gì ở đây. Đặc biệt là trong thời kỳ chiến tranh, những người ủng hộ chủ nghĩa quân phiệt thì đưa ra những câu Kinh Thánh cho thấy sự hậu thuẫn của Đức Chúa Trời trong các cuộc chiến bạo tàn của dân Ysơraên, trong khi những nhà phi quân sự thì tách riêng những câu như “Hãy yêu kẻ thù nghịch mình.” Bất cứ ai cũng có thể tìm được điều mình muốn tìm trong Kinh Thánh bằng cách nhấn mạnh những điều phù hợp với quan điểm của mình và bỏ qua những gì không phù hợp. Đặc biệt dễ dàng để rút các lời tuyên bố ra khỏi văn mạch trong trò chơi không kết quả này. Ví dụ, khi Chúa Jêsus phán: “Ta đến không phải đem hòa bình, mà đem gươm giáo,” Ngài không nói đến việc tham gia chiến tranh.
Trái lại, chúng ta phải cố gắng tìm biết toàn bộ quan điểm của Kinh Thánh về vấn đề này, và sau đó đưa ra giải đáp cho câu hỏi: Tôi phải làm gì?
Ánh sáng từ Cựu Ước
Phần lớn Cựu Ước dường như thẳng thắn tán thành chiến tranh, chiến tranh hết sức tàn bạo vào lúc đó. Một số sách Cựu Ước thậm chí đặt cơ sở trên một tài liệu được biết là “Sách Của Các Chiến Trận Của Đức Giêhôva” (xem Dan Ds 21:14). Những chiến thắng quân sự của Ysơraên thường được giải thích như là những chiến thắng của Đức Chúa Trời (xem các câu chuyện về cuộc chinh phục Canaan trong Các quan xét). Nahum là một bài ca vui mừng dâng lên cho Đức Chúa Trời vì đã chiến thắng kẻ thù. Một số phần trong các điều luật đầu tiên đã chứng minh sự báo thù như “mắt đền mắt, răng đền răng,” là đúng, mặc dù điều này được cung ứng như là một phương pháp ngăn chặn sự báo thù thậm chí còn bừa bãi hơn, và vì vậy, là một biểu tượng của sự tiến bộ đạo đức! Có những đoạn Thi thiên gây bối rối:
Ớ con gái Babylôn , là kẻ phải bị diệt ,
phước cho người báo trả ngươi ,
Vì theo điều ác ngươi đã làm cho chúng ta .
Phước cho người bắt con nhỏ ngươi ,
đem chà nát chúng nó nơi hòn đá ! (Thi Tv 137:8, 9)
Những trường hợp này được trích dẫn có chủ ý như một sự nhắc nhở tỉnh táo rằng chúng ta không thể sử dụng Kinh Thánh như là một cuốn sách “cố định.” Trong đó, những lẽ thật giống nhau được tìm thấy ở mọi nơi. Đây là những thái độ mà những Cơ Đốc nhân ngày nay và những Dothái không muốn chấp nhận. Điều quan trọng phải nhớ, Kinh Thánh là lời ký thuật mối quan hệ của Đức Chúa Trời với dân sự Ngài, cho ta một bức tranh toàn diện về những con người đó, Kinh Thánh không chỉ ký thuật những khía cạnh “đẹp đẽ” của mối quan hệ này, mà là toàn bộ mối quan hệ như nó vốn có - tốt, xấu, và hời hợt. Đây là một phẩm chất cao quí về tính chân thật của những người viết và biên soạn, đến nỗi các khúc Kinh Thánh như vậy không âm thầm bị loại bỏ khi sự hiểu biết về mặt đạo lý được sâu nhiệm, bởi vì chúng ta thấy các khúc Kinh Thánh khác trong Cựu Ước mang tính khác biệt hoàn toàn.
Điều này trở nên rõ ràng trong những lời sấm truyền của các tiên tri. Hầu hết các khúc Kinh Thánh “ủng hộ chiến tranh” trong Cựu Ước coi việc làm theo ý muốn Đức Chúa Trời ngang với các chiến thắng quân sự của người Ysơraên. Nhưng sứ điệp của các tiên tri không có sự đánh đồng như vậy. Đức Chúa Trời đứng trong sự đoán phạt Ysơraên cũng như trên người Asyri hoặc người Aicập. Thật ra, Ngài có thể dấy các dân tộc lên để đánh bại Ysơraên chính xác vì họ đã giả định sai lầm rằng ý muốn của Ngài giống của họ (Các quan xét 8). Mặc dầu điều này không nói lên tính bất hợp pháp của chiến tranh, nhưng nó rõ ràng có được gợi ý cho rằng chiến thắng quân sự ngang bằng với sự tán thành của Đức Chúa Trời.
Các tiên tri cũng thừa nhận những giới hạn của điều có thể được thực hiện bởi chiến tranh, bởi các mưu đồ chính trị và việc sử dụng bừa bãi quyền hành. Ví dụ Êsai cảnh cáo dân sự chớ có quá đặt lòng tin cậy nơi các công cụ của sức mạnh, và ông vẽ ra một khải tượng về sự trị vì trên toàn vũ trụ của Đức Chúa Trời, trong đó chiến tranh không còn nữa, và ông nhìn thấy rõ ràng chiến tranh không phải là sự hoàn thành cao nhất ý muốn thánh của Đức Chúa Trời:
Ngài sẽ làm sự phán xét trong các nước ,
Đoán định về nhiều dân ,
Bấy giờ họ sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày ,
Lấy giáo rèn lưỡi liềm .
Nước này chẳng còn lấy gươm nghịch cùng nước khác ,
Người ta chẳng còn tập sự chiến tranh .
(EsIs 2:4).
Mệnh lệnh rõ ràng của Điều Răn thứ sáu: “Ngươi chớ giết người” (XuXh 20:6) thường xuyên bị hiểu lầm. Điều này cần phải được nói (ngay cả các mục sư tuyên úy đôi khi nhấn mạnh vấn đề chấp nhận quá dễ dàng trong thời chiến) rằng luật cấm này chỉ áp dụng về mặt lịch sử cho những người thuộc bộ tộc Ysơraên mà thôi, và rằng từ Hybá này gần với điều chúng ta hàm ý “hành động giết người” hơn là với “việc giết chóc.” Tuy nhiên, đối với con người ngày nay, ngày càng khó để hiểu sự khác biệt nhiều giữa việc giết chóc vô nhân đạo trong chiến tranh và hành động giết người.
Ý định Rõ Ràng Trong Sự Dạy Dỗ của Chúa Jêsus
Chúng ta thấy một hình ảnh ít khó hiểu hơn, nhưng chính xác hơn về mặt đạo lý trong Tân Ước. Không điều gì trong đời sống hoặc sự dạy dỗ của Chúa Jêsus có thể “bị vặn vẹo” để hậu thuẫn cho việc giết chóc và chiến tranh. Như chúng ta thấy, nếu Ngài cho chúng ta nguyên tắc đạo lý tuyệt đối của Nước Trời, thì các mệnh lệnh này là nghiêm nhặt nhất ngay nơi vấn đề đang được thảo luận.
Không những bạn không được giết kẻ thù mình; mà còn không được ghét kẻ thù mình, bạn phải yêu kẻ thù mình.
Chẳng những bạn phải nhịn không trả thù; mà phải cầu nguyện cho kẻ thù mình với thiện ý tích cực.
Không những bạn không được nổi giận nếu có người tát bạn; mà còn phải “đưa má bên kia” để người ấy tát nếu họ muốn. Nếu có ai lấy đi áo khoác, bạn không được nổi nóng hoặc thưa kiện, mà phải cho luôn áo dài.
Những ai “làm cho người ta hòa thuận” thì sẽ được phước.
Họ sẽ được gọi là “con Đức Chúa Trời.”
Quan điểm đạo lý của Chúa Jêsus là một quan điểm của tình yêu tích cực, ban phát ra, không bao giờ tính toán tổn thất của bản thân. Luôn luôn ban cho một cách rời rộng trước các nhu cầu của người khác. Ngài cương quyết giữ một thái độ có ảnh hưởng sâu rộng đối với những đòi hỏi của nó trên bản thân đến nỗi bản thân không bao giờ đòi hỏi kẻ thù.
Phaolô bày tỏ cùng mối quan tâm để làm trọn mạng lệnh của tình yêu. Trong một đoạn Kinh Thánh điển hình, ông nói tình yêu phải cho thành thật, phải sống cho hòa thuận với nhau, chúc phước cho kẻ bắt bớ mình, đừng lấy ác trả ác cho ai, hãy sống hòa bình với mọi người (trong chừng mực điều đó lệ thuộc vào bạn), đừng báo thù, hãy cho kẻ thù ăn nếu họ đói, cho họ uống nếu họ khát (RoRm 12:9-21).
Cơ Đốc Nhân Phải Làm Gì?
Cơ Đốc nhân sẽ phải làm gì khi đối mặt với những mạng lệnh nghiêm nhặt của Chúa Jêsus và âm vang của chúng qua Phaolô? Có phải người ấy không được từ chối mang vũ khí, hoặc làm những điều khác cho thấy người ấy tán thành chiến tranh? Bởi vì đây là một vấn đề hết sức quan trọng đối với Cơ Đốc nhân ngày nay, và bởi vì không có một “đường lối của tổ chức” cho vấn đề này, chúng ta hãy xem xét lời trình bày về tinh thần hòa bình Cơ Đốc, sau đó là lời trình bày về trường hợp sử dụng vũ lực của Cơ Đốc nhân. Và rồi chúng ta sẽ kết luận với một số biện pháp an toàn mà những người ủng hộ một trong hai quan điểm đó phải nhớ.
Trường Hợp Dành cho Tinh Thần Hòa Bình Cơ Đốc
Tinh thần của người Cơ Đốc có thể được tuyên bố qua một số câu như: Chiến tranh hoàn toàn hủy diệt đời sống và các giá trị của loài người, không phục vụ cho những mục đích tốt lành. Điều này đặc biệt đúng với chiến tranh hiện đại, được tiến hành bởi các loại bom nguyên tử và bom hydrogen. Chiến tranh cũng là điều đối lập hoàn toàn với tinh thần của Chúa Jêsus. Chúng ta không thể hình dung Chúa Jêsus chấp nhận chiến tranh. Ngài nói đến việc yêu kẻ thù mình, chứ không giết họ. Chúa Jêsus không bao giờ bắn vào người khác, hoặc thả bom phụ nữ và trẻ em không có khả năng tự vệ. Vì vậy Cơ Đốc nhân phải theo gương thầy mình trong vấn đề này, dầu hậu quả thế nào. Nếu hậu quả là sự chống đối, trừng phạt, bắt bớ hoặc bỏ tù, Cơ Đốc nhân phải sẵn sàng trả giá để làm chứng cho đường lối yêu thương chống lại bạo lực. Cơ Đốc nhân chỉ có thể hành động trong đức tin rằng nếu mình làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, Ngài tiếp nhận và sử dụng lời chứng ấy theo cách của Ngài, bất chấp lời chứng ấy có vẻ “ngớ ngẩn” thế nào đối với con người. Lòng trung thành tối hậu phải được dành cho Đấng Christ và đường lối của Ngài - nếu đường lối của Đấng Christ xung đột với đường lối dân tộc; thì không cần thắc mắc Cơ Đốc nhân phải phục vụ ai. Người ấy phải phục vụ Đấng Christ.
Tất cả các Cơ Đốc nhân phải tôn trọng thực chất chủ yếu của quan điểm hòa bình dẫu cho bản thân họ không đồng ý với điều đó. Bất cứ điều gì khác mà một lời làm chứng như vậy có thể thực hiện, nó luôn nhắc nhở những người khác rằng có một đường lối cao đẹp hơn là sự bạo hành để kêu gọi sự trung thành của con người - một đường lối mà những người yêu chuộng hòa bình tin quyết đến nỗi sẵn sàng trả bất cứ giá riêng nào để duy trì.
Lưu ý đối với Độc Giả Thận Trọng : Một số những người theo chủ trương hòa bình sẽ thay đổi lập luận này ở một điểm, bằng cách nhấn mạnh rằng tinh thần yêu chuộng hòa bình sẽ “hữu hiệu.” Họ nói nếu chúng ta từ chối mang vũ khí chống lại kẻ thù, kẻ thù sẽ không làm hại chúng ta mà sẽ được biến cải và bị chinh phục bởi gương yêu thương của chúng ta, vì vậy chiến tranh sẽ kết thúc tại đó. Bởi vì luôn có “phần của Đức Chúa Trời” trong mỗi một con người, chúng ta phải kêu gọi đến “phần của Chúa” trong kẻ thù và nhờ đó thay đổi họ.
Tin rằng có “phần của Đức Chúa Trời” trong mỗi một con người là một phần của đức tin Cơ Đốc. Nhưng còn một phần khác của lẽ thật (như chúng ta đã thấy ở Chương 13), nhắc nhở chúng ta rằng hình ảnh Đức Chúa Trời trong con người đã bị làm cho sai lệch, vì vậy con người bị ảnh hưởng bởi tư lợi cũng như bởi sức mạnh của tình yêu.
Trường hợp Cơ Đốc nhân Sử Dụng Vũ Lực
Có những Cơ Đốc nhân khác quan niệm khác về vấn đề này. Họ tin rằng có những lúc Cơ Đốc nhân phải sử dụng vũ lực. Quan điểm của họ khó nói hơn là quan điểm của những người theo chủ trương hòa bình, và không thể được tiến hành một cách ngắn gọn như vậy.
Người “không chủ trương hòa bình” đồng ý vơí người chủ trương hòa bình rằng nguyên tắc đạo lý của Chúa Jêsus là một nguyên tắc đạo lý của tình yêu đơn thuần, tình yêu ra đi, và không thể nào buộc Ngài làm một người lính nhảy dù hoặc bắt Ngài mang vũ khí giết hại con ngưới. Vì vậy người Cơ Đốc không ủng hộ hòa bình sẽ gia nhập với người ủng hộ hòa bình trong việc bác bỏ chủ nghĩa dân tộc Sô-vanh cực đoan, là điều thường đầu độc một dân tộc trong thời chiến. Trong nhiều tình huống, bản thân người ấy sẽ là một người ủng hộ hòa mình. Người ấy có thể đồng ý rằng thật là bất hợp pháp khi dùng vũ lực bênh vực chính mình trong một cuộc chạm trán một đối một. Người ấy có thể bảo rằng: “Nếu ai đó đấm vào mắt tôi, tôi không được đấm trả. Và dẫu có gì theo sau nữa, tôi cũng phải chịu đựng bằng tình yêu chịu khổ.”
Tuy nhiên, người không ủng hộ chủ trương hòa bình tuyên bố rằng tình huống thật khó khăn khi có trên hai người dính dự vào, và trong ánh sáng của tình yêu Cơ Đốc, tình huống này phải được suy nghĩ lại. Nếu bạn đang đi trên phố và thấy một tên côn đồ đấm một người không phương bảo vệ, bạn tin chắc rằng Chúa Jêsus là đúng trong viêc yêu thương người lân cận mình, nhưng bạn vẫn có hai vấn đề khó khăn phải giải quyết:
1) Ai là “người lân cận” của bạn trong tình huống đặc biệt này?
2) Bạn bày tỏ “tình yêu thương” của mình bằng cách nào? Bạn không thể nào từ chối dính líu vào. Nếu bạn “tiếp tục bước sang bên kia đường,”sự yên lặng của bạn là hành động tán đồng với kẻ mạnh hơn trong cuộc xung đột, trong trường hợp này là tên côn đồ. Nhưng nếu bạn can thiệp vào để chấm dứt cuộc chiến, có thể bạn sẽ phải dùng đến vũ lực. Tên côn đồ có thể không bị thuyết phục bởi những lý lẽ của bạn. Nhưng nếu bạn không ngăn chận nó một cách hiệu quả, làm sao bạn có thể bày tỏ tình yêu đối với nạn nhân? Mặc khác, nếu bạn hạ gục tên côn đồ bằng một hòn đá lớn, bạn có thể bày tỏ tình yêu đối với nạn nhân, nhưng chắc chắn đây không phải là tình yêu đối với tên côn đồ, kẻ mà bạn vừa mới làm vỡ sọ hắn.
Minh họa này cho thấy sự khó khăn khi áp dụng “tình yêu” vào một tình huống tương đối đơn giản, nơi điều tốt hoặc xấu được xác định chính xác. Những lựa chọn thực sự của chúng ta thường không rõ ràng như vậy. Có thể tên côn đồ rốt lại không “xấu” chút nào cả; có thể hắn đang chết đói và mất việc làm với bốn đứa con nhỏ và một người vợ đau ốm ở nhà. Có thể nạn nhân đang điều khiển lợi nhuận trong một công ty vừa mới sa thải tên “côn đồ” vì những lý do không chính đáng, có thể bạn là một người đóng thuế chống lại việc bắt các ngọn đèn mới ở nơi vụ tấn công xảy ra, như vậy tạo sự dễ dàng hơn cho “tên côn đồ” không bị phát hiện. Vì vậy bạn hoàn toàn có liên can đến tội lỗi. Người không ủng hộ hòa bình thường đưa các yếu tố này vào để nhấn mạnh lựa chọn của bạn về mặt đạo lý không phải là một sự lựa chọn đẹp đẽ sạch sẽ giữa “điều thiện” hoặc “điều ác.” Bất cứ điều gì bạn làm cũng sẽ khiến bạn dính líu vào một điều ác nào đó.
Vì vậy, Cơ Đốc nhân “bị mắc kẹt” trong một tình huống nơi “tình yêu hành động” không dễ xác định chút nào và không thể được thực hiện một cách đơn giản. Hãy lấy một ví dụ “đời thực.” Giả sử bạn là một Cơ Đốc nhân ở tại Hòa Lan vào thời kỳ có cuộc xâm lược của Đức Quốc Xã, nếu bạn “yêu thương” bọn Đức Quốc Xã xâm lược tới một mức độ là từ chối không sử dụng vũ lực chống lại chúng, bạn sẽ không còn yêu thương người dân Hòa Lan trong chính ngôi làng của bạn, bởi vì nhiều người trong số họ đã bị bắn chết dã man bởi các đội hành quyết Đức Quốc Xã. Trái lại, nếu phải “yêu thương” đồng bào Hòa Lan của mình tới mức độ muốn cứu họ khỏi tay Đức Quốc Xã, bạn sẽ phải chống lại Đức Quốc Xã bằng vũ lực, có thể bằng cách giết chúng. Trong trường hợp nào bạn cũng không “yêu thương” trọn vẹn cả người Hòa lan lẫn những kẻ Đức Quốc Xã. Ngoài ra bạn sẽ đối mặt với cùng một tình thế khó khăn cơ bản, nếu bạn là thành phần thứ ba đứng ngoài cuộc, như là Hoa Kỳ hoặc Tây Ban Nha. Không can thiệp vào sẽ là vô trách nhiệm đối với người Hòa Lan, dung tha cho Đức Quốc Xã, trong khi can thiệp vào thì nhất thiết phải sử dụng vũ lực.
Như vậy, Cơ Đốc nhân phải đối mặt với vấn đề sống theo đạo lý tình yêu trong một thế giới đạo lý đó không thể thực hiện một cách trọn vẹn, và bất cứ điều gì người ấy làm cũng sẽ thiếu mất sự trọn vẹn những gì tình yêu đòi hỏi. Điều này là đúng, dầu cho người Cơ Đốc nhân đang được đề cập đây là một người ủng hộ hòa bình hoặc không ủng hộ hòa bình.
Người ủng hộ hòa bình , từ chối chống lại Đức Quốc Xã, vì vậy, về mặt đạo lý có dính líu với tội ác mà Đức Quốc Xã đại diện và tội giết người mà các đội hành quyết Đức Quốc Xã đã phạm.
Người không ủng hộ hòa bình , khi chống lại Đức Quốc Xã, dấn mình vào việc phải sử dụng vũ lực và bạo hành để đạt được mục tiêu của mình.
Người không ủng hộ hòa bình cứ nhất định cho rằng có những lúc sự lựa chọn thứ hai là điều lương tâm người Cơ Đốc phải chấp nhận. Người ấy sẽ phải bỏ qua, thậm chí tham dự vào việc sử dụng vũ lực, với tất cả sự khủng khiếp mà nó kéo theo, bởi vì đối với người ấy, cách lựa chọn khác, tức là thiếu quan tâm đến đồng bào của mình, là điều không đúng với tinh thần Cơ Đốc. Người ấy lập luận rằng từ chối chống lại cuộc xâm lăng của một kẻ độc tài (như Hitlle hoặc Mussolini) là đẩy người dân bị trị đến một cuộc sống bất công bạo ngược, một chế độ chuyên chế mà thậm chí những điều ác trong cuộc chiến tranh hiện đại cũng được coi là thích đáng để cứu người dân bị trị trong tình huống đó. (Nếu bạn được nhìn thấy những bức tranh về những gì đã xảy ra trong các trại tập trung của Đức Quốc Xã, bạn sẽ cảm nhận được tính thuyết phục của lập luận này). Vì vậy, người không ủng hộ hòa bình sẽ lập luận, có những hoàn cảnh, chính vì nhân danh đức tin Cơ Đốc và đòi hỏi của nó để hành động một cách có trách nhiệm trong tình huống trước mắt, các Cơ Đốc nhân sẽ phải dùng đến vũ lực.
Đối với một số người, lập luận trên hoàn toàn không thuyết phục. Theo họ, dường như những người không chủ trương hòa bình chưa “kiên quyết” đủ để coi trọng đạo lý của tình yêu, nên đã nghĩ ra đủ loại biện minh để làm điều mọi người khác đang làm. Vì vậy cần phải nhấn mạnh rằng, những người giữ lập trường này làm thế là vì khổ sở nhận biết nỗi khó khăn để sống đời sống Cơ Đốc trong thế kỷ thứ hai mươi và rằng chính vì phải thực tế đối mặt với những sự kiện buộc họ phải đi theo hướng ấy nên họ đã đi theo hướng ấy. Có thể có sự tham dự vào chiến tranh theo lương tâm, cũng như có thể từ chối theo lương tâm.
Một Số Biện Pháp Bảo Vệ Cho Tất Cả Những Người Có Liên Quan .
Cả người ủng hộ chủ nghĩa hòa bình lẫn người không ủng hộ chủ nghĩa hòa bình đều không thể bảo: “Quan niệm của tôi hoàn toàn hợp lý.” Trong trường hợp này hoặc trường hợp kia, Cơ Đốc nhân đều can dự vào tội lỗi và việc làm sai trái. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là Cơ Đốc nhân là những người bất lực về mặt đạo lý. Có những điều nhất định mà bất cứ Cơ Đốc nhân nào cũng có thể làm trong thời chiến hoặc những lúc có chiến tranh đe dọa:
1. Bạn có thể từ chối căm thù. Dầu cuộc chiến tranh lạnh căng thẳng như thế nào hoặc cuộc chiến tranh nóng dữ dội đến đâu. Bạn vẫn có thể từ chối đầu hàng trước thái độ trả thù hoặc lòng căm ghét có tính toán, là đặc trưng của các dân tộc vào những thời điểm đó. Bạn có thể nhận biết mình có liên quan vào điều ác trong tình huống đó, và rằng dân tộc của bạn cũng có một phần trách nhiệm trong tình huống đó.
2. Bạn có thể ủng hộ những biện pháp tích cực làm mất tác dụng đe dọa của chiến tranh. Như là ủng hộ việc ban phát thức ăn, áo quần và máy móc cho những khu vực bị áp bức. Chính bạn có thể đến với họ (ít nhất với hai điều đầu: thức ăn, áo quần). Điều này có nghĩa hỗ trợ cho những nỗ lực để tái thiết các khu vực đã bị tàn phá bởi bom đạn. Gồm cả việc hậu thuẫn cho tất cả những nỗ lực để làm cho các quốc gia “thù địch” ngồi lại với nhau quanh một bàn hội nghị. Dường như không có giới hạn cho những việc có thể làm được.
3. Bạn có thể làm mất tác dụng một số điều bạn phải làm vì đang sống trong một xã hội có chiến tranh hoặc bị đe dọa bởi chiến tranh. Ví dụ, mặc dầu dân tộc bạn có thể “chống lại” một dân tộc khác, bạn vẫn có thể tiếp tục tích cực trong Hội thánh Cơ Đốc, là nơi gồm đủ mọi dân tộc, kể cả dân tộc “thù nghịch,” nhờ đó, duy trì được chiếc cầu thiện chí là điều vượt lên trên những tư lợi dân tộc.
4. Bạn có thể tránh việc tán thành hoặc phản đối bừa bãi tất cả những gì dân tộc mình thực hiện, hoặc trước, trong, hoặc sau một cuộc chiến tranh. (Cám dỗ của những người ủng hộ hòa bình là lên án tất cả những gì dân tộc của mình làm trong thời chiến tranh; cám dỗ của những người không ủng hộ hòa bình là tán thành tất cả). Cơ Đốc nhân phải nhớ rằng mình phải thuận phục một thẩm quyền cao hơn Nhà nước; người ấy phải sẵn sàng nói những điều không được ưa chuộng khi một vấn đề quan trọng hoặc một sự xác quyết bị lâm nguy.
Yếu Tố Luôn Có Mặt Trong Các Nguyên Tắc Đạo Lý Cơ Đốc .
Như vậy rõ ràng không có “câu trả lời dễ dàng” cho vấn đề Cơ Đốc nhân và chiến tranh. Rõ ràng điều này cũng đúng với tất cả những quyết định về mặt đạo lý mà Cơ Đốc nhân thực hiện. Những tranh cãi về chiến tranh chỉ nhấn mạnh nan đề đạo lý không đổi của người Cơ Đốc. Cơ Đốc nhân sống trong một thế giới phi Cơ Đốc không chấp nhận nguyên tắc đạo lý Cơ Đốc, song Cơ Đốc nhân phải sống theo những nguyên tắc đạo lý Cơ Đốc. Có một số loại thỏa hiệp luôn luôn bị kéo theo. Phần của người Cơ Đốc chính là phải khôn ngoan để nhận ra sự thật này.
Đây là lưu ý để dựa vào đó bất cứ sự bàn luận nào về những nguyên tắc đạo lý đúng Kinh Thánh phải tiếp cận. Là Cơ Đốc nhân, muốn cố gắng để “suy nghĩ đúng Kinh Thánh” về cuộc đời, chúng ta cần nhận biết rằng ngay cả những điều tốt nhất của mình cũng còn kém thiếu, rằng có làm đến mấy, chúng ta cũng chưa đạt đến, và trong mọi mức độ của đời sống, các nguyên tắc đạo lý vẫn là không đủ, mà cần phải được vây phủ và bao bọc bằng tình yêu và sự tha thứ được làm tươi mới bởi Đức Chúa Trời, là Đấng chọn lựa và sử dụng ngay cả những nỗ lực kém thiếu của chúng ta trong khi làm theo ý muốn của Ngài để biến chúng thành điều tự chúng ta không làm được. Bởi vì nước, quyền và sự vinh hiển đều thuộc về Ngài vô cùng.
Chương 24: Bí Mật Và Ý Nghĩa
(Bây Giờ Chúng Ta Làm Gì? )
Khi đến phần kết của cuốn sách này, dường như
không phải mọi câu hỏi đều được trả lời
không phải tất cả những nghi ngờ đều bị xua tan,
không phải mọi khó khăn đều được giải quyết,
không phải tất cả những điều bí mật đều được làm rõ.
Cơ Đốc nhân có bổn phận phải hiểu đức tin của mình càng đầy đủ càng tốt - phải giải quyết những thắc mắc của mình dầu phức tạp đến đâu, phải đối diện với những khó khăn dầu phiền phức đến đâu, và phải làm hết sức mình, với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, để khắc phục những nan đề. Và khi trải qua cuộc đời này, người Cơ Đốc có thể mong đợi để nhận được sự soi sáng lớn lao hơn, sự bảo đảm vững chắc hơn, kiến thức sâu rộng hơn, và sự hiểu biết vững vàng hơn. Nhưng thật là sai lầm khi cho rằng cuối cùng mọi sự bí mật sẽ biến mất và người ta sẽ có được “mọi câu trả lời.” - Hoặc do kết quả của “việc đọc thêm một quyển sách nữa,” hoặc đi dự một kỳ hội đồng nữa, hoặc sau khi có một khải tượng rõ ràng đặc biệt. Còn sống bao lâu, Cơ Đốc nhân còn bị buộc phải nói như Phaolô rằng: “Ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương, cách mập mờ ”(ICo1Cr 13:12).
Không ai tìm cách hiểu biết, yêu mến và hầu việc Chúa lại có thể tuyên bố rằng người ấy đã nhận biết đầy đủ mục tiêu của mình. Thật vậy, càng hiểu biết sâu xa, thì sự am hiểu của người ấy về ý nghĩa của sự huyền nhiệm nằm bên dưới mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và loài người càng lớn. Người ấy sẽ hiểu rằng mình đã đối mặt với điều chưa có câu trả lời đầy đủ, là điều mình sẽ không bao giờ có được câu trả lời đầy đủ. Bí mật vẫn luôn còn đó, bí mật không bao giờ được hiểu hoặc giải thích một cách duy lý. Cho đến cuối cuộc đời của mình, Cơ Đốc nhân phải thú nhận rằng: “Lạy Chúa, tôi tin; xin giúp đỡ tôi trong sự không tin của tôi” (Mac Mc 9:24).
Chúng ta có thể nói gì trong ánh sáng của tình huống này?
Sự Huyền Nhiệm Là Đường Dẫn Đến Ý Nghĩa
Một điều chúng ta có thể thừa nhận đó là bí mật không nhất thiết hàm ý chỉ là sự không hiểu được. Thật ra bí mật có thể là cổng dẫn vào sự hiểu biết sâu nhiệm về cuộc đời hơn là những gì hiểu được mà không có yếu tố của sư huyền nhiệm.
Ví dụ: Bạn có một anh bạn thân ở trung học. Mãi đến vài tháng gần đây anh ta rất tập trung trong giờ học và không bao giờ thua kém ai trong các bài tập của mình. (Trên thực tế, đôi khi bạn mong anh ta bị điểm kém, chỉ để chứng tỏ anh ấy là con người). Còn bây giờ với các bài thi cuối năm nằm trước mặt mình trong giờ học, anh cứ vẽ nguệch ngoạc và ngồi hàng giờ với quyển sách trước mặt mà chẳng hề lật lấy một trang. Mối quan tâm lớn nhất của anh ta luôn luôn là môn toán, vậy mà sau giờ học, bạn thấy anh ấy lén lút làm thơ! Hỏi anh ta một câu, anh chẳng nghe bạn nói. Hỏi anh ta có chuyện gì vậy, anh ta nhìn bạn với cặp mắt đờ đẫn, và bước ra khỏi phòng. Sau đó vào buổi chiều anh ta trở về với cặp mắt mơ màng và leo lên giường và chẳng nó lời nào với ai. Bạn không thể hiểu điều gì đã xâm chiếm anh ta. Anh ta là một bí mật đối với bạn.
Thế rồi có người bảo: “Không biết sao? Hắn ta đang yêu.”
Bây giờ bạn mới vỡ lẽ - ít nhất, bạn có thể hiểu anh ấy hơn là trước đây
“Đang yêu” là một huyền nhiệm, là điều bạn không thể nào giải thích hoặc hiểu đầy đủ được. Tuy nhiên, qua phương tiện của sự bí mật ấy , bây giờ bạn có thể hiểu bạn mình hơn trước. Bí mật của “việc đang yêu” đã làm rõ sự hiểu biết của bạn, thay vì làm mù mờ vấn đề. Nói cách khác, bí mật có thể là lối dẫn vào ý nghĩa. Nó không dẫn bạn vào ngõ cụt.
Huyền nhiệm của sự sáng tạo không phải là điều gì đó bạn có thể giải thích một cách duy lý, nhưng nhờ phương tiện của huyền nhiệm đó bạn có thể hiểu rằng thế giới của Đức Chúa Trời có mục đích và phương hướng, và tại đó, bạn có công việc để làm.
Huyền nhiệm của sự phục sinh không phải là điều gì đó bạn có thể giải thích duy lý, nhưng bởi phương tiện của sự huyền nhiệm đó, bạn có thể hiểu rằng một sự đắc thắng đã được giành lấy trên tội lỗi và sự chết, và bạn là người kế thừa sự chiến thắng ấy.
Huyền nhiệm của sự tha thứ không phải là điều gì đó bạn có thể giải thích hợp lý, nhưng bởi phương tiện của sự huyền nhiệm đó, bạn có thể hiểu rằng Đức Chúa Trời yêu bạn vì chính bạn, và Ngài kêu gọi bạn để yêu thương người khác giống như vậy.
Và vân vân. Trong tất cả những khẳng định của đức tin theo Kinh Thánh, chúng ta phải đối mặt với yếu tố của sự huyền nhiệm, của điều gì đó không thể rút gọn thành một công thức ngắn gọn -tuy nhiên mỗi một lãnh vực trong sự huyền nhiệm đó có thể là phương tiện để hiểu biết đầy đủ hơn về ý nghĩa của đời sống.
Ý Nghĩa Ở Giữa Sự Huyền Nhiệm
Một điều khác nữa cần nhớ đó là mặc dầu đức tin theo Kinh Thánh đối mặt với chúng ta bằng sự huyền nhiệm, nó cũng giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa ở giữa sự huyền nhiệm. Chúng ta không chỉ đối mặt với sự bí mật. Chúng ta còn đối mặt với ý nghĩa đầy đủ được ban cho một cách trực tiếp để chúng ta có thể sống tự tin khi đối mặt với những bí mật còn lại. Chúng ta xem qua một cái gương cách mập mờ, nhưng chúng ta thực sự nhìn thấy - không phải mọi sự, nhưng đủ dùng. Chúng ta nhìn thấy đầy đủ để có thể bước đi trong sự tin cậy.
Chúng ta nhìn thấy đủ ánh sáng soi trên sự huyền nhiệm của Đức Chúa Trời để sẵn sàng phó thác đời sống mình cho Ngài.
Chúng ta thấy đủ sự sáng soi trên huyền nhiệm của điều ác để sẵn sàng tin cậy Đức Chúa Trời trong những điều còn lại.
Chúng ta thấy đủ ánh sáng soi trên huyền nhiệm của tội lỗi và sự cứu chuộc để biết chắc rằng Đức Chúa Trời có các nguồn phương tiện để đáp ứng nhu cầu sâu xa nhất của chúng ta.
Đặc biệt, chúng ta nhìn thấy đủ ánh sáng chiếu trên sự huyền nhiệm của Chúa Cứu Thế Giêxu để biết rằng Ngài là “đầu mối” cho ý nghĩa của sự sống, không những tỏ cho chúng ta Đức Chúa Trời như Ngài vốn có, mà cũng để bày tỏ chính mình chúng ta phải trở nên người thế nào. Trong sự bảo đảm căn bản này, chúng ta có thể kiên quyết tiếp tục tin nơi Ngài, tái xác quyết với tác giả của thư Phierơ:
Hiện nay chúng ta chưa thấy mọi vật ... nhưng chúng ta thấy Ngài (Chúa Jêsus ) (HeDt 2:8, 9).
Và Ngài là đủ.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 20-9-2018 10:47 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách