† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 8334|Trả lời: 0

LỊCH SỬ MỘT SỐ BÀI THÁNH CA

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 17-7-2011 08:15:04 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

LỊCH SỬ MỘT SỐ BÀI THÁNH CA

Mục lục
1. Tiểu sử Fanny Crosby
2. Sankey, cuộc đời hoạt động
3. Linh âm giai điệu - He keeps me singing - Luther B.Bridgers TC 217
4. Vầng đá muôn đời - Rock of Ages - Augustus M.Toplady TC 171
5. Ta hy sinh vì con hết - I gave my life for Thee - F.R.Havergal TC 92
6. Giê-xu là bạn thật - What a friend we have in Jesus - Joseph Scriven TC 253
7. Chúa sẽ lo toan - God will take care of you - W.S.Martin TC 49
8. Rất an ninh trong cánh Christ - F.Crosby and W.H.Doane TC 334
9.Càng yêu Chúa hơn - More love to thee, O Christ - Elizabeth Prentiss
10. Phước nguyên từ trời - Robert Robinson TC 28
11. Thập tự xưa - The old rugged cross - George Bernard CKMĐ
12. Giờ được chiêm ngưỡng tập giá - When I survey - Isaac Watts TC 95
13. Chúa vốn bức thành kiên cố - A mighty fortress is Our God-Martin Luther TC 41.
14. Tôi nguyện đến liền - Just I am, Withiut one plea - Charlotte Elliot TC 178
15. Tâm linh tôi yên ninh thay - It is well with my soul - H.G.Spafford
16. Miền vinh hiển - The sweet by and by - Benett and J.Webster TC 344
17. Ta sẽ chung nhóm ở thiên hà - Shall we gather at the river - R.Lowry TC 342
18. Ngài dìu dắt tôi - He leath me, O Blessed thought - J.H. Gilmore TC 271
19. Ôi Chúa Đấng tôi cần luôn - I need thee every hour - AnnieS. Hawks TC 258
20. Đêm yên lặng. Silent night! Holy night! - Joseph Mohr andGruber TC 59
21. Hãy chiếu sáng - Let the lower light be burning - Philip Paul Bliss - TC 327
22. Lòng tin ngó Chúa chẳng thôi - My faith looks up to thee - Ray Palmer TC 255
23. Đấng xưa giúp chúng tôi mãi - O God, our help in ages past-Isaac Watts TC 44
24. Kìa 99 con - The ninet and nine - Elizabeth C.Clephaneand Sankey TC 87


FRANNY CROSBY
...“Ngàn đời lòng ta ca ngợi Giê-xu đầy nhân ái, Chúa cứu và giúp ta đổi mới sống vui từ nay. Và ngàn muôn muôn năm lòng ta chan hoà vui sướng, khi thấy Giê-xu và cùng Ngài sống ở thiên đàng...”
Các bạn có tưởng tượng được là những lời thánh ca tràn đầy niền hân hoan đó là của một người mù không? Đó là của FANNY CROSBY, một giáo sư, một thi sĩ đã sáng tác hơn 8000 bài thơ phổ nhạc.
F.Crosby sinh tại ngoại ô thành phố Nữu ước ngày 4.3.1820 trong một gia đình tín đồ yêu mến Chúa. Bé Fanny bị bịnh mắt từ lúc mới được 6 tuần lễ và đã bị mù hẳn vì có người chỉ cho mẹ em rắc một thứ phấn bột để chữa nhưng kết quả thật thê thảm.
Thiếu ánh sáng đã là bất hạnh và cùng cực rồi, mà cha Fanny lại qua đời khi em chưa đầy 12 tháng để Fanny lại cho mẹ và bà nội nuôi. Hai bà cháu thường đi dạo trong một khu vườn gần nhà, bà dạy cháu nhận biết tiếng chim và mùi thơm của các loài hoa. Mỗi khi đi ngủ bà kể chuyện tích Kinh Thánh cho Fanny nghe. Fanny rất yêu thiên nhiên, yêu vẻ đẹp của đất trời, yêu ánh nắng ấm rực rỡ cùng mùi thơm của muôn hoa và tiếng chim hót rộn ràng. Tuy mù nhưng em vẫn phát triển bình thường như các trẻ khác; em rất thông minh và còn có phần ngỗ nghịch nữa.
Lúc Fanny lên năm, mẹ em đưa em lên Nữu ước để chữa chạy; thời ấy phương tiện di chuyển rất khó khăn và còn thô sơ lắm. Hai mẹ con đi xe thổ mộ qua các chặng đường gồ ghề, khúc khuỷu. Cuối cuộc hành trình mệt nhọc mới gặp được một bác sĩ chuyên khoa mắt nhưng bác sĩ xác nhận là em chỉ phân biệt được một màn sáng mờ mờ và một bóng tối chứ không thể nhìn rõ hơn được nữa. Người mẹ đau khổ lắm nhưng bé Fanny vẫn vô tư, vui mừng vì được đi chơi xa; sau khi bà mẽ lấy lại bình tĩnh, bà nói với Fanny: “Con Fanny yêu dấu của mẹ, hai đại thi hào của thế giới đều mù cả. Mẹ cảm tạ Chúa đã giới hạn ánh sáng thiên nhiên của con để ánh sáng tâm linh được đầy dẫy”.
Bù lại khuyết tật của mắt, Chúa cho Fanny có trí nhớ phi thường. Em có thể đọc các đoạn Kinh Thánh thật dài và nhớ rất lâu. Khả năng thiên phú về văn chương của Fanny phát triển rất sớm.
Năm mới lên 8, em sáng tác bài thơ sau:
Linh hồn em vui sướng
Dù chung quanh em là bóng tối
Em quả quyết rằng trong thế giới này
Em là người thoả vui
Em sẽ không khóc, không buông tiếng thở dài
Dù mắt em không ánh sáng
Vì biết bao ân huệ dành cho em
Ai được hưởng đâu nào?
Ân huệ của Fanny chính là sớm nhận biết Chúa Giê-xu là Cứu Chúa của mình. Về sau Fanny viết: “Chính mẹ và bà nội đã dạy Kinh Thánh cho tôi nhiều nhất. Tất cả những cảm hứng về văn chương, nghệ thuật của tôi đều bắt nguồn từ Kinh Thánh”.
Lúc chưa đi học, Fanny đã thuộc lòng nhiều đoạn trong 5 sách của Môi-se, Ru-tơ, Thi-thiên, Nhã-ca, Châm-ngôn và nhiều đoạn trong Tân ước. Nhưng bà nội thì càng ngày càng già yếu, mẹ thì bận việc gia đình, Fanny lại ao ước biết đọc biết viết để tự mình học hỏi Lời Chúa.
Năm 11 tuổi, có lần em đến thăm bà nội, sau buổi cầu nguyện chung của gia đình, về phòng riêng, em chợt thấy ánh trăng vằng vặc chiếu qua cửa sổ em quì xuống ngay chỗ khoảng sáng đó. Ánh trăng bao quanh đầu tóc và thân thể em, em cầu nguyện thiết tha: “Chúa ơi xin cho con đi học như biết bao bạn khác”. Dù chưa được đi học ngay, nhưng Fanny quả quyết rằng lời cầu nguyện của em đã được Chúa nhậm lời trong đêm đó.
Bốn năm sau (tức năm 15 tuổi) Fanny được nhận vào trường mù của thành phố Nữu ước. Vào trường nội trú, phải xa nhà xa mẹ, lúc đầu Fanny buồn lắm nhưng lòng hiếu học mạnh hơn nỗi nhớ nhà, Fanny quyết định hy sinh tình cảm riêng để thu nhận kiến thức. Fanny là học sinh xuất sắc nhất trường về các môn văn chương, sử ký, triết học và khoa học. Âm nhạc cũng là môn Fanny ưa thích, cô chơi cả dương cầm và phong cầm. Cô học hỏi thật nhiều qua các tác phẩm thi văn của các thi sĩ và văn sĩ nổi tiếng nhất. Cô nói: “Tôi muốn dùng âm nhạc và thơ văn để diễn tả tiếng suối chảy róc rách, hương thơm thoang thoảng của các loài hoa và tiếng chim hót rộn ràng trong rừng”. Văn tài của Fanny bắt đầu được nhiều người chú ý.
Năm 17 tuổi cô sáng tác nhạc và bài hát được trình bày trong buổi lễ đặt viên đá đầu tiên để cất ngôi trường mới, lúc ấy Fanny mới vào trường được 2 năm rưỡi. Sợ tuổi trẻ dễ háo danh và kiêu ngạo nên thầy của Fanny cấm cô làm thơ và bắt buộc cô học những kiến thức tổng quát rất hữu ích cho đời sống cô sau này. Rất may là có một giáo sư về khoa não trường học được mời đến để khám nghiệm cho các học sinh. Ông khám nghiệm Fanny và làm mọi người ngạc nhiên. Ông nói: “Cô bé này là một tác phẩm văn chương lỗi lạc nhất, sau này quí vị sẽ biết tiếng cô ấy cho mà xem”. Thế là Fanny được giao cho một giáo sư văn chương chăm sóc. Fanny tha hồ học văn chương, làm thơ viết văn và soạn nhạc. Các sáng tác của cô lần lượt được nhà trường giới thiệu và trình bày mỗi khi có khách viếng trường. Cô cũng được đi thăm nhiều Hội thánh để giới thiệu về nhà trường và sinh hoạt của các học sinh mù.
Năm 24 tuổi Fanny xuất bản tập thơ đầu tay tựa là: “Em gái mù và những vần thơ”, bài thơ đầu tiên là tự thuật tiểu sử của cô.
Năm 27 tuổi cô đường mời làm giáo sư tại trường mù và cô cộng tác tại đó suốt 11 năm.
Tuy đã học biết về Chúa từ bé nhưng mãi 30 tuổi, trong một buổi nhóm, sau khi nghe một bài thánh ca, Fanny mới thật sự cảm động dâng mình hầu việc Chúa. Từ đó trở đi, tất cả tài năng cô được hiến dâng cho Chúa Giê-xu.
Năm 38 tuổi, Fanny kết hôn với Alexander Van Alstyne một nhạc sĩ mù và cũng là giáo sư trong trường. Hai vợ chồng dọn về ở thành phố Nữ ước. Nhạc sĩ Alexander chơi phong cầm cho hai Hội thánh ở đó. Hai vợ chồng Fanny cộng tác với nhau rất tương đắc: bà viết lời còn ông soạn nhạc. Tên tuổi Fanny nổi tiếng từ đó.
Năm 43 tuổi, bạn của Fanny yêu cầu bà sáng tác một thánh ca, bà đã soạn một bài ý thơ như sau:
Chúng ta về, chúng ta về
Về nhà toạ lạc bên kia khung trời
Cánh đồng khoác áo tuyệt vời
Ánh dương chiếu diệu đời đời không phai.
Lời thơ của Fanny mộc mạc nhưng chứa chan tình cảm đã khiến người nghe xúc động đến rơi lệ. Fanny tiếp tục sáng tác thánh ca, và 5 năm sau tập thánh ca của Fanny được xuất bản gồm 60 bài. Người bạn nhạc sĩ đã khuyến khích Fanny sáng tác thánh ca đầu tiên đã trở thành bạn thân của vợ chồng Fanny. Họ tiếp tục cộng tác với nhau; khi nhạc sĩ này đã qua đời thì người ta đã hát lại bài thánh ca đầu tiên mà Fanny đã soạn theo đề nghị của ông. Sau này Fanny quen thêm nhiều nhạc sĩ nổi tiếng khác nữa trong số đó có giáo sư Doans là một con cái Chúa. Một hôm ông ghé thăm bà, đàn cho bà nghe một sáng tác mới của ông và nhờ bà viết lời ngay cho kịp ra ga. Fanny yên lặng, bình tĩnh ngồi nghe ông dạo nhạc rồi thốt lên: “Ồ, đúng là lòng bình an trong cánh Giê-xu”. Nửa giờ sau, Fanny đọc lên những lời thơ ngọt ngào, tuyệt diệu. Bài hát ấy đã đem niềm an ủi cho biết bao tâm hồn nặng trĩu âu sầu. Một trong giai thoại được biết như sau: Một em bé ở nước Anh đang đau nặng, cha mẹ em đã kể cho em nghe về những bài thánh ca của Fanny. Một đêm kia em nói: “Con muốn hát bài 'Bình ăn trong cánh Giê-xu'(Rất an ninh tại trong cánh Christ, số 344). Khi đến câu... “Kia Thiên sứ hoan ca thi thánh”..., em gấp sách lại, mặt sáng rỡ, em la lên: - Mẹ ơi! có thiên sứ đến kìa!” Rồi em qua đời mang nét mặt bình an và vui mừng khôn tả.
Thi thiên 4:8 chép: “Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ nằm và ngủ bình an, vì chỉ một mình Ngài làm cho tôi được ngủ yên ổn”.
Sự bình an của Giê-xu êm ái như một dòng sông lặng lờ trôi nhưng lại vững chãi như một bức tường thành kiên cố. Những ai đang mệt mỏi, nặng trĩu cô đơn ưu sầu, hãy mau tìm đến nương trong cánh bóng Giê-xu. Bóng yêu thương của Chúa sẽ bao phủ, sẽ xua tan hết ưu sầu và gieo rắc vào lòng ta những khúc hoan ca.
Vợ chồng Fanny chỉ sinh được một bé trai; nhưng Đức Chúa Trời theo ý chỉ Ngài đã đem con ông bà về với Ngài. Đối với một người mẹ thì thử thách này nặng nề, đau đớn biết bao. Nhưng Fanny càng đến gần Chúa hơn và không chút nghi ngờ tình yêu của Ngài. Dù mất đứa con duy nhất yêu dấu nhưng bà không hề tuyệt vọng. Bà đặt tình yêu vào các đứa trẻ quanh vùng bà cư ngụ. Bà dành thì giờ tụ tập chúng, dạy chúng và kể chuyện Kinh Thánh cho chúng. Bà cũng dùng những trang sách có màu để minh hoạ bài học. Màu đen tượng trưng cho tội lỗi màu đỏ biểu tượng dòng huyết Chúa Giê-xu; màu trắng chỉ về sự công nghĩa của Đức Chúa Trời; màu vàng là sự vinh hiển chói loà của Chúa lan tràn đến tất cả các em nào thuộc về Ngài. Người ta kể một giai thoại khác về một sáng tác của Fanny như sau: một lần kia giáo sư Doane yêu cầu bà viết một thánh ca với chủ đề: “Hãy cứu vớt những người đắm chìm nơi tội lỗi”. Fanny chú tâm soạn cho xong bài ấy. Sau đó có một buổi truyền giảng cho một số công nhân, tự dưng bà có một mối băn khoăn trong lòng. Bà hình dung trong nhóm thính giả ấy có một thiếu niên cần được cứu bằng mọi cách. Bà gọi chung cả phòng nhóm rằng nếu có một thiếu niên nào đã bỏ nhà ra đi, đã bỏ ngoài tai những lời giáo huấn của mẹ hiền thì xin ở lại gặp bà sau giờ nhóm. Thật kỳ lạ! Sau giờ nhóm có một thiếu niên ở lại gặp bà. Cậu hỏi: “Có phải bà ám chỉ cháu không? Mẹ cháu mất rồi cháu đã hứa với mẹ là sẽ gặp lại mẹ ở thiên đàng nhưng cháu biết lối sống hiện nay của cháu thì không thể nào cháu gặp lại mẹ cháu được”. Fanny giảng giải cho cậu bé. Thế là ánh sáng, tình yêu và sự tha thứ của Chúa tràn vào tâm hồn cậu. Cậu tin chắc tội mình đã được tha và sẽ gặp lại mẹ ở thiên đàng... Thế nhưng câu chuyện chưa chấm dứt ở đấy... 39 năm sau, cũng trong một buổi nhóm, Fanny kể lại câu chuyện em thiếu niên được cứu, tức thì, giữa đám đông có một người đàn ông bước ra: “Chính tôi là cậu bé ấy đây”. Với giọng nói đầy xúc động, người ấy cầm tay bà nói tiếp: “Tôi đã đi lang thang xa khỏi Chúa. Lúc ấy tôi nghĩ rằng Chúa chỉ là Chúa của mẹ tôi thôi, Ngài chẳng để ý gì tôi đâu, nhưng trong buổi nhóm hôm đó sau khi gặp bà, tôi đã gặp được Chúa. Tôi đã tìm thấy sự bình an và từ đó đến nay tôi vẫn sống cuộc đời Cơ-đốc nhân cao đẹp. Nếu chúng ta không gặp lại nhau hôm nay thì tôi vẫn tin chắc rằng tôi với bà sẽ gặp lại nhau ở thiên đàng”.
Fanny vui mừng lắm vì bà thấy rõ rằng chẳng những Đức Chúa Trời thương xót cứu vớt tội nhân mà còn gìn giữ họ nữa. Tất cả những người nhận được ơn yêu thương và nguồn an ủi từ nơi Chúa đều không thể nín lặng. Chúa đã thúc giục lòng Fanny làm cho bà sốt sắng rao truyền danh Chúa. Dù bà thiếu ánh sáng thiên nhiên nhưng ánh sáng tâm linh luôn đầy dẫy. Đúng như lời mẹ bà đã nói khi bà còn nhỏ. Bà là một người mù về thuộc thể nhưng thật sáng về tâm linh. Bà sốt sắng muốn phổ biến ánh sáng thiên thượng đó cho mọi người chưa biết Chúa. Người phụ nữ khuyết tật này đã ý thức việc phục vụ Chúa bằng cách 'rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến', vì vậy bà luôn mang trong lòng trọng trách “lo vực người đang luân vong, sẵn vớt kẻ giữa dòng, truyền danh Giê-xu ban cứu ân cho tội nhân” (TC 323). Một lần khác, bà đi thăm một lao xá và giảng cho tù nhân. Một người tù đã kêu lên: “Chúa ơi đừng đi qua khỏi con”. Bài giảng của Fanny khiến người này cảm xúc nhưng chính cử chỉ và tâm tình của tù nhân ấy cũng cảm động bà. Bà trở về sáng tác bài: “Chúa ôi xin dừng chân lại gần con”. (TC.256). Bài thánh ca này được truyền tụng khắp nước Anh. Có một thương gia giàu có nhưng nghiện rượu rất nặng. Anh dần dần thay đổi tính tình, mất sức khoẻ, tài năng và bạn hữu. Nhưng một hôm có một tín hữu hướng dẫn anh đến dự một buổi nhóm. Khi nghe hội chúng hát bài thánh ca ấy, tự dưng anh ao ước trong lòng: “Ước gì Chúa cũng đừng đi qua khỏi con”. Đêm sau anh trở lại dự nhóm, hội chúng lại hát bài ấy, bài hát ấy trở thành lời cầu nguyện của anh. Từ đó anh đầu phục Chúa, hiến dâng đời mình cho Ngài. Bốn mươi năm sau anh gặp Fanny tác giả bài thánh ca và kể rằng lúc nào anh cũng giữ trong túi một bản sao bài thánh ca ấy.
Chúa Giê-xu là Chúa của thiên đàng vinh hiển. Ngài đến thế gian không chỉ cứu những người giàu có, quyền thế nhưng Ngài đến với cả những người cô đơn nghèo nàn, khốn khổ, những cuộc đời đau thương, u buồn nhất. Chúa Giê-xu chính là nguồn an ủi, nguồn hy vọng cho mọi người tìm cầu Ngài.
Fanny không để cho sự mù lòa chi phối và giới hạn những sinh hoạt của bà, ân tứ làm thơ, soạn nhạc phối hợp với những khả năng thực tiễn khác, đã biến Fanny thành người hữu dụng cho Chúa, tâm hồn bà tràn đầy tình yêu giống như Chúa nên bà sẵn sàng tham gia mọi công tác truyền giáo. Ngay khi đã cao tuổi rồi, bà vẫn giảng dạy thuyết trình nhiều nơi và cũng bỏ nhiều công sức viết văn, sáng tác thơ và soạn nhạc. Bà cộng tác nhiều với hội truyền giáo ở Nữu ước. Một trong cơ sở truyền giáo ấy do ông Hary Mc. Caley sáng lập. Ông này trước khi tin Chúa từng là bợm nhậu, kẻ cắp, sống ngoài vòng pháp luật thế nhưng ánh sáng của tình yêu Thiên Chúa thay đổi ông hoàn toàn. Ông được Chúa dùng để cứu bao nhiêu người khác trở lại con đường công chính. Một người khác là ông Henri Hadley cũng từng là người chống đối đạo Chúa gắt gao. Ông là chủ bút một nhật báo có lần yêu cầu Fanny làm một bài thơ đăng trên báo của ông. Ít lâu sau, chính người chủ bút này tới thăm Fanny và cho bà biết ông đã gặp Chúa. Rồi suốt 17 năm sau đó, ông tận tuỵ theo Chúa, phục vụ Ngài và sáng lập 60 cơ sở truyền giáo Fanny cũng cộng tác hầu việc Chúa ở những nơi đó. Nhưng một thử thách khác lại đến với Fanny: năm bà 82 tuổi, chồng bà qua đời. Thế là chồng và con bà đã hội ngộ trong nước Chúa. Fanny còn lại một mình trơ trọi, bà lại càng đến gần Chúa hơn, tiếp tục cuộc sống bình an và là nguồn phước cho mọi người. Dầu cao tuổi, sức yếu nhưng linh lực trong bà cứ ngày càng mạnh hơn như Lời Chúa: “Vậy chúng ta chẳng ngã lòng dầu bề ngoài hư nát, nhưng bề trong cứ càng ngày đổi mới càng hơn” (IICô 4:16).
Gần cuối đời, Fanny trở về quê cũ, nơi bà đã sống những tháng ngày thơ ấu êm ấm bên cạnh mẹ và bà nội. Bà xuất bản cuốn “Hồi ký 60 năm” thêm một kỷ niệm đáng nhớ là có lần các bạn hữu và người thân của bà tụ tập lại để nghe Fanny kể 90 năm ơn phước mà Chúa ban cho bà. Bà nói: “Hy vọng chính là trọng tâm trong các sáng tác của tôi. Hy vọng là đoá hoa không bao giờ tàn của tôi. Hy vọng làm tươi mới, làm phong phú mọi khoảnh khắc của cuộc đời. Hy vọng làm cho bình minh tươi sáng hơn, ban trưa rực rỡ hơn và hoàng hôn sáng sủa hơn. Tôi muốn chỉ cánh cửa hy vong ấy cho những tâm hồn đang thất vọng chán chường và tôi sẽ tiếp tục giữ trọng trách ấy cho đến khi tôi vào nước thiên đàng. Mỗi ngày tôi đều nguyện xin Chúa giúp mình không ích kỷ. Tôi đã học bài học tin cậy và vâng lời. Biết bao nhiêu năm qua niềm tin đơn sơ nơi Đức Chúa Trời không hề làm tôi thất vọng. Bàn tay Cha đã ban thật nhiều ơn phước cho tôi. Có 3 điều tôi luôn luôn cảnh giác, đó là sở thích của tôi, tính khí và miệng lưỡi của tôi. Tôi thường cầu nguyện xin Chúa gìn giữ môi lưỡi con... Ở tuổi 90, tôi quí trọng và yêu mến Lời Chúa hơn cả lúc tôi 19,20. Lời Chúa là chiếc neo hy vọng, là ngọn đèn soi sáng con đường tôi đi về Nhà Cha tôi trên trời. Nhìn lại sau lưng, tôi thấy một chặng đường tranh đấu gay go nhưng nhìn trước mặt tôi thấy ánh sáng thiên thượng bừng lên rực rỡ muôn vàn”.
Fanny là người yêu mến Chúa và thờ phượng Chýa suốt cuộc đời nhưng bà vẫn không được miễn trừ thử thách. Bà gặp nhiều hoàn cảnh đau buồn trong cuộc sống nhưng vẫn không thất vọng mà còn yên ủi được nhiều người khác. Tại sao bà có được tâm tình đó? Vì bà có niềm tin vững vàng vào Cứu Chúa Giê-xu, Cứu Chúa siêu phàm, Cứu Chúa lạ lùng, Cứu Chúa chết trên cây thập tự để bày tỏ tình yêu của Ngài. Cứu Chúa đã hứa: Ta lấy tình yêu đời đời mà yêu ngươi (Giê 39:3) nên chỉ có Ngài mới che chở được Fanny trong bóng cánh bình an (TC 267: Chỉ có Giê-xu siêu phàm).
Đêm 11.2.115 Fanny đang viết thư cho một người bạn có con gái qua đời thì đến lượt bà được Chúa cất đi. Bà đã được trực tiếpnhận lấy ánh sáng thiên thượng và chính bà được bình an trong cánh tay Chúa Giê-xu. Fanny qua đời, hưởng thọ 95 tuổi.
Suốt đời tận tuỵ hầu việc Chúa, Fanny đã sáng tác hơn 8000 bài thánh ca, nhiều bài ghi tên tác giả là Fanny Crosby, một số ghi bút hiệu khác, không phải tất cả đều là tuyệt tác. Một nhà bình luận đã phê bình rằng những sáng tác của Fanny mang nét đơn sơ mộc mạc nhưng chững chạc và sống động, vì thế rất nhiều bài được phổ biến sâu rộng và lâu dài đến ngày nay.
Trong tập tự thuật của Fanny, bà viết: “Một số sáng tác của tôi đã được chính Thánh Linh hướng dẫn; một số khác là kết quả của nhiều ngày, giờ suy gẫm Lời Chúa sâu xa. Nhiều bài đã được sáng tác trong những đêm dài thức canh cầu nguyện khi những xáo trộn náo nhiệt bên ngoài không còn cắt ngang dòng tư tưởng, một số khác nữa là cảm xúc trước những biến cố xảy ra trong cuộc đời mà tôi thấy phải nói lên bằng thơ và nhạc.
Một người tật nguyền suốt 95 năm như Fanny mà Chúa còn đại dụng, còn những người thân thể nguyên vẹn như chúng ta thì sao? Chúng ta có gì dâng tặng Ngài? Cứu Chúa giê-xu là Đấng Fany thờ phượng và hiến dâng trọn đời có là Đấng đã chỉ cho chúng ta cánh cửa hy vọng, Fanny đã phác hoạ chân dung Chúa Giê-xu là Đấng ban ân phước và tình yêu, Ngài có đáng cho chúng ta ca ngợi chăng? Câu hỏi này danh cho....
LƯỢC THUẬT: Những thời điểm cuộc đời Fanny Crosby
- Mới sinh được 6 tuần bị mù.
- Chưa đầy 1 tuổi: mồ côi cha.
- 8 tuổi: làm thơ.
-11 tuổi: có thơ đăng báo.
- 15 tuổi: Vào trường mù.
- 17 tuổi: Sáng tác nhạc.
- 27 tuổi: Được mời làm giáo sư trường mù.
- 30 tuổi: Dâng mình hầu việc Chúa.
- 38 tuổi: Lập gia đình, sinh một con trai, con qua đời.
- 43 tuổi: Sáng tác thánh ca và từ đó trở đi tham gia công tác truyền giáo, truyền giảng, nâng đỡ, thăm viếng nhiều Hội thánh. Vẫn viết văn làm thơ soạn nhạc, tận tuỵ hầu việc Chúa.
- 95 tuổi: Trước lúc qua đời còn viết thơ an ủi người khác.


SANKEY MỘT CUỘC ĐỜI HOẠT ĐỘNG
Chúng ta biết gì về Sankey? Tại sao Đức Chúa Trời đã đại dụng ông trong công tác truyền giáo của Moody mà những kết quả vĩ đại chúng ta còn nghe nhắc đến.
Sankey sinh năm 1840 và lớn lên tại Edinburg, tiểu bang Pensylvania, Hoa-kỳ. Ông được nuôi dưỡng trong âm điệu những bài thánh ca mà mẹ ông vẫn hát và được học biết Kinh Thánh ngya khi còn thơ ấu. Mỗi buổi chiều, nhất là những buổi chiều đông lạnh, 9 anh em ông quây quần bên lò sưởi và hát những bài thánh ca là thứ vốn liếng không hề khô cạn. Ông thực sự dâng hiến đời mình chỉ để ca hát cho Đức Chúa Trời mà thôi.
Chú bé Sankey còn được nghe những câu chuyện về Chúa Giê-xu qua một người láng giềng tốt bụng là ông Frazer. Chính ông đã đưa Sankey đến trường Chúa nhật và chính những lời cầu nguyện của ông đã đem cậu thiếu niên Sankey quay về với Chúa.
Trong nhà tên thường gọi Sankey là David. Năm lên 8, Sankey đã có thể tự xướng âm để hát những bài thánh ca chú thích. Hoàn cảnh gia đình Sankey là điểm thuận lợi lớn để Sankey học nhạc và phát triển năng khiếu.
Năm 15 tuổi, Sankey tin Chúa trong một chiến dịch truyền giảng và bước vào những hoạt động năng nổ của mình trong Hội thánh. Về sau, Sankey gia nhập Hội thánh Giám lý và là người phụ trách trường Chúa nhật. Ông trung tín và tận tuỵ trong công việc. Ông cũng giữ chức chủ tịch YMCA ở địa phương, hướng dẫn ca đoàn của Hội thánh mà chính Sankey là nam đơn ca thường xuyên. Ông làm việc gì cũng cẩn thận, siêng năng học tập cho chính mình để có thể giúp đỡ người khác nữa.
Năm 20 tuổi, Sankey gia nhập quân đội Liên bang và tiếp tục hầu việc Chúa giữa binh sĩ. Cũng trong thời gian này, ông được bầu làm giám thị Trường Chúa Nhật và bắt đầu áp dụng phương pháp để hát solo kêu gọi trong các cuộc truyền giảng. Cách thức đó tỏ ra hữu hiệu và trở nên công cụ mạnh mẽ trong tay Chúa.
Năm 1863 ông kết hôn với một nữ ca viên trong ban hát của ông. Chúa ban cho họ một cuộc sống gia đình hạnh phúc với 3 con trai kháu khỉnh, ngoan ngoãn. Những điều đó giúp ông rất nhiều trong sự hầu việc Chúa. Sau khi thi hành nghĩa vụ quân sự trong thì nội chiến, Sankey trở về New Castle giữ chân phụ tá cho cha ông làm nghề thu thuế lợi tức. Sống an nhàn trong việc làm ăn sinh sống cũng như trong sự hầu việc Chúa, Sankey không hề biết những ơn phước vô hạn đang chờ đợi người ca công của Thượng Đế.
Năm 1870, nhân dịp dự Hội nghị của Hiệp Hội Thanh niên Cơ-đốc, nhà truyền giáo Moody đã đến nói chuyện trong buổi nhóm cầu nguyện. Trong buổi nhóm, Sankey đã hát bài “Suốt huyết tuôn”, giọng hát và cách trình bày của ông đã chinh phục Moody. Bắt đầu từ đó, cánh cổng đã mở ra và qua đó, Sankey đã bước vào cánh đồng rộng lớn của chương trình hầu việc Chúa. Moody vô cùng cảm kích và không ngần ngại mời Sankey đến Chicago để cộng tác trong chiến dịch truyền giảng. Bằng những lời mạnh mẽ đầy tính thuyết phục, Moody nói: “Tôi đã tìm kiếm anh suốt 8 năm rồi”. Và sau khi hỏi Sankey về cuộc sống, ông đã buông ra một câu mệnh lệnh đột ngột: “Anh hãy bỏ những thứ ấy đi”. Những thứ được xem là bảo đảm chắc chắn cho cuộc sống bỗng trở thành những thứ cần phải từ bỏ. Sankey đã cầu nguyện thật nhiều, long trọng tin rằng đó là ý chỉ của Chúa nhưng vẫn còn một chút phân vân. Ông đã từ bỏ tất cả để nhận lời cộng tác với Moody. Ông kể lại 5 năm sau đó: Tôi bỗng nhớ 5 năm trước, vừa đến nhà ga xa xôi đó vào một buổi sáng sớm, tôi không quen biết ai cả vì đó là lần đầu tiên tôi đặt chân đến thành phố này... Lúc ấy tôi đã bối rối biết bao, không biết thật sự Chúa kêu gọi mình hay là tự ý mình... Trong khi suy nghĩ vậy, tôi dâng lời cầu nguyện xin Chúa ban ơn cho công việc mà tôi sắp dấn thân”. Và Chúa đã hành động. Ngay sau khi Sankey khẩn cầu, vào cái ngày đầu tiên đó tại Chicago, Chúa đã ban ơn cho ông và ông không bao giờ quên. Lần đầu thử nghiệm, Chúa ban cho một kết quả rực rỡ mà ông không hề nghĩ đến. Tại một góc đường, Sankey đứng trên một bục nhỏ mà hát. Chỉ trong chốc lát, một đám đông đã vây quanh ông và vì người đến mỗi lúc một đông nên phải dời đến nhà hát opera gần đấy để nhóm và chỉ vài phút sau, cả nhà hát đã chật ních người để rồi sau đó. Moody bắt đầu truyền giảng.
Công việc thật tốt đẹp tại Chicago. Ngoài các chương trình truyền giảng buổi tối, Sankey và Moody đi thăm những người bệnh, tổ chức các buổi kiêng ăn cầu nguyện. Riêng Sankey còn tổ chức các giờ học âm nhạc qua đó ông trình bày sự cứu rỗi của Chúa Giê-xu cho các thân hữu. Những bài hát và lời hướng dẫn của Sankey đã đưa dắt nhiều học viên đến với Chúa. Một câu chuyện xảy ra trong thời gian này khêu cháy thêm trong ông ước muốn chinh phục linh hồn tội nhân về cho Chúa và điều ấy vẫn nung nấu suốt đời ông: Một phụ nữ gọi điện thoại cho ông, báo tin có một cô gái hấp hối yêu cầu được gặp ông. Bên giường người bệnh sắp được yên nghỉ đó, ông đã nghe cô bé nói: “Thầy có nhớ trong một buổi chiều thứ năm thầy đã dạy em hát 'Tôi thật vui mừng vì Giê-xu yêu tôi, Giê-xu yêu tôi...' Và thầy nói với cả lớp là chúng ta chỉ cần giao tấm lòng của chúng ta cho Ngài, Ngài đang chờ đợi để được yêu chúng ta. Em đã giao cho Ngài tấm lòng của em rồi thầy ạ...”. Cô bé là thân hữu đầu tiên mà Sankey đã đưa về với chúa và kể từ đó có rất nhiều, rất nhiều thân hữu khác mà ông không thể kể hết được.
Không phải mọi sự lúc nào cũng xảy ra dễ dàng như thế, đôi lúc cũng có khó khăn, ngăn trở, chỉ trích nhưng ông và Moody vẫn vững tâm và tiếp tục bước tới.
Năm 1873, hai ông xuống tàu đi Anh quốc chỉ với một lời mời mập mờ. Nhưng suốt nhiều năm sau đó, sự yên tĩnh của Hội thánh Anh quốc đã bị xáo động, những cuộc phục hưng lớn xảy ra làm thay đổi bộ mặt Hội thánh Tin Lành Anh quốc. Số người nhóm trong buổi truyền giảng của hai ông có khi lên tới 25.000 đến 30.000 người cho đến nay đó quả thật là số kỷ lục. Biết bao nhiêu người làm chứng lại rằng họ đã tin Chúa và được vững vàng qua những buổi truyền giảng của Sankey và Moody. Sau mỗi buổi nhóm, Sankey tìm gặp từng người và không mệt mỏi ông luôn lắng nghe rồi tìm những lời dịu dàng nhất để nâng đỡ và đưa dắt nhiều người đến với Chúa. Trong số đó có người mà sau này Sankey kể lại rằng: “Người ta cho biết anh ta là người gian ác nhất thành phố, đã từng gây cho cảnh sát nhiều khó khăn nhất... nhưng bây giờ anh ta trở thành người khiêm nhu nhất của Đấng Christ”.
Trong những năm cuối đời ông, sức khoẻ và giọng hát suy yếu, ông từ giã công việc và trở về gia đình nay là nguồn an ủi lớn cho ông, khi mà thật đột ngột, có một ngày trong đời ông không còn thấy ánh sáng đầu tiên của mặt trời khi thức giấc.
Sankey người đã đem ánh sáng và hạnh phúc đến cho hàng ngàn người nay đã sống quãng đời còn lại của mình trong bóng tối.
Sankey là ca sĩ solo chính, là ca trưởng và để thoả mãn nhu cầu to lớn về bài hát cho các buổi truyền giảng của Moody, ông còn là một nhạc sĩ. Các ca khúc của ông ngày nay vẫn còn được ưa thích trong các buổi thờ phượng của Hội thánh như bài “Nương mình trong cánh Chúa” (TC.49). “Nơi ẩn núp lúc phong ba” (TC.282) “Vì anh tôi cứ kêu nài” (TC.329) “Kìa 99 con... (TC.87)... Còn rất nhiều bài hát khác hoặc dành cho toàn ban, hoặc tốp ca, hoặc đơn ca mà chúng ta không kể hết được.
Khi nghe những bài giảng của Moody, tâm linh chúng ta bị đánh thức dậy, nhưng ngay sau đó những bài hát của Sankey yên ủi, vỗ về và dẫn dắt chúng ta đến sự đầu phục Chúa hoàn toàn... Trong số hàng triệu người đến dự những buổi nhóm của Sankey đã có rất nhiều người trở lại tin Chúa; nhiều bao nhiêu thì không ai có thể nói được nhưng có một điều chắc chắn mà chúng ta biết là hai người cùng làm việc với nhau cùng một mục tiêu duy nhất; tuy hai cách thức khác nhau, Moody giảng dạy và Sankey hát lời kêu gọi, kết quả thật to lớn mà chúng ta không thể tách rời ra được. Một mục sư người Mỹ tên F.Pentecost đã dự vài buổi nhóm và mô tả lại như sau: “Thật không làm sao tin được. Biết bao nhiêu sự tỉnh thức và khuấy động mà cả xứ sở Tô-cách-lan và Ái-nhĩ-lan đã nhận từ hai ông, kết quả thật to lớn”. Đề cập đến sức mạnh qua thánh ca của Sankey, mục sư F.Pentecost nói: “Quả thật bất cứ ai thăm viếng xứ Tô-cách-lan sau nhiều năm tới nữa đều biết rằng Sankey từng hiện diện ở đó. Vì ông hát hàng trăm bài hát đi vào lòng người và làm thay đổi đời sống tâm linh của hơn 20.000 người tin Chúa”.
Trên khắp xứ sở, từ cao nguyên đến đồngbằng, những bài thánh ca của Sankey cứ vang vọng mãi.
Trải qua mấy mươi năm - (nay đã hơn 100 năm) - những bài thánh ca ấy đã bay vượt khỏi lãnh thổ hai nước Anh và Mỹ để đến với mọi dân tộc trên khắp các lục địa. Những bài thánh ca ấy cũng đến với chúng ta bằng tất cả những hàm xúc sâu xa nhất của Sankey, người đã từng trải đức tin. Thường thì Sankey sáng tác cả lời và nhạc nhưng cũng có nhiều bài hát ông phổ thơ của các thi sĩ khác, phần lớn là thơ của Fanny Crosby, một nữ thi sĩ mà cuộc đời và những lời thơ của bà vẫn khiến lòng ta xúc động. Cũng đôi khi Sankey sáng tác và nhờ bà đặt lời.
Khi sáng tác ông hoàn toàn đặt tâm trí mình để Chúa dẫn dắt mọi ý tưởng và ban cho ông những giai điệu thiên thượng mà ông không bao giờ nghĩ rằng chính tài năng của mình làm ra được. Như giai thoại về bài “Kìa 99 con...” vẫn còn được nhắc nhở như là bằng chứng ân tứ Đức Chúa Trời dành cho ông, người đầy tớ trung thành và tận tuỵ của Ngài.
Sau 4 tháng hội họp tích cực, Sankey và Moody từ Glasgow đến Edingburg để tham gia một chiến dịch 3 ngày theo lời mời khẩn cấp của Hội đồng Mục sư. Trước khi lên xe lửa, Sankey mua một tờ báo để biết tin tức quê nhà nhưng ông chẳng tìm thấy gì ngoài bài giảng của ông Henry Ward Beech. Ông cũng không ngờ đồng tiền đã được sử dụng đúng nghĩa nhất: lúc ông định xếp tờ báo lại thì ông khám phá một bài thơ nằm lẻ loi nơi góc cột cuối mục tin tức và quảng cáo. Ông đọc bài thơ và thấy thích quá bèn đọc cho Moody nghe nhưng Moody đang bận đọc thư, chẳng chú ý gì đến. Dầu vậy Sankey vẫn cắt lấy bài thơ và cẩn thận để vào tập chép nhạc của mình.
Hai ngày sau đó, với đề tài “Đấng Chăn Chiên Hiền lành” Moody đã giảng khiến một số đông thính giả cảm động. Khi ngồi xuống, Moody quay qua hỏi vị ca trưởng Sankey: “Anh có bài đơn ca nào thích hợp với đề tài để kết thúc buổi nhóm không?” Sankey thú nhận là chẳng có bài nào cả. Chính lúc ấy một tiếng nói bên trong phán với ông: “Sankey hãy tôn vinh bằng bài thơ ngươi tìm thấy trên xe lửa đó”. Ông trả lời: “Không thể được, bài thơ chưa phổ nhạc mà”. Tiếng ấy lại phán: “Ngươi lo phần đầu, để phần còn lại cho ta”. Sau đó, với vẻ điềm tĩnh như thể ông đã hát bài ấy cả ngàn lần rồi, Sankey đặt mẫu giấy báo lên đàn phong cầm, hướng lòng về Chúa cầu nguyện trong khoảnh khắc rồi đặt tay lên phím đàn đánh hợp âm La giáng trưởng và bắt đầu hát.
Kìa 99 con nằm bình yên trong 4 vách tường ràn chiên. Một con bơ vơ nơi vách núi xa, xa cách cửa vàng nhà Cha...
Cả Hội chúng lắng nghe trong tinh thần háo hức khát khao trong khi Sankey tiếp tục hát hết 5 phiên khúc của bài ca tuyệt vời này khi những lời cuối cùng vẫn còn âm vang trong lúc tiếng đàn vừa dứt, Moody đi qua cây đàn phong cầm và hỏi, trong hàng nước mắt: “Ở đâu mà anh có bài hát này vậy?” Sankey đáp: “Đó chính là bài thơ mà tôi đọc cho ông nghe trên xe lửa..”
Bài hát: Kìa 99 con... là bài thánh ca hay nhất mà Sankey đã sáng tác dưới sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Ngày nay bài hát này còn nổi tiếng hơn lần đầu tiên được hát lên hơn một thế kỷ trước đây. Biết bao lần sau khi bài hát chấm dứt, người ta nghe được những tiếng thở dài trong sự yên lặng. Bài hát đã đụng đến tấm lòng của hàng ngàn thính giả.
Nhiều năm sau Sankey còn nhắc lại: “Giai điệu của bài hát được ban cho từng nốt một, cho đến nay vẫn không thay đổi”. Một trong những bài thánh ca bất hủ đã được khai sinh như thế đấy. Dầu hát ở đâu bài hát ấy vẫn được yêu thích; trực tiếp hay gián tiếp, nhiều người đã tin nhận Chúa qua bài hát ấy. Bài hát ấy đã gắn liền và làm cho Sankey và Moody nổi tiếng ở nhiều nước trong vòng 30 năm chức vụ của họ.
Có nhiều câu chuyện quanh bài “Kìa 99 con...” Nhiều lắm.
Trong một buổi thờ phượng, năm 1875, hội chúng đông đảo quá, Moody phải giảng phía ngoài nhà thờ Northfield, Sankey hát bài ca ấy. Có một ông tên Caldwell ở bờ bên kia sông Connecticut nghe, chịu cảm động và ít lâu sau ông tiếp nhận Chúa. Vài năm sau, trong lễ đặt viên đá đầu tiên xây nhà thờ mới, Sankey cũng lại hát bài ấy. Bấy giờ ông Caldwell ở gần nhà thờ và đang hấp hối. Ông bảo vợ mở cửa sổ về hướng Nam vì ông nghe có tiếng hát vọng vang đâu đó. Và cả 2 ông bà đều lắng nghe bài hát đã từng đưa ông đến với Đấng Christ. Chẳng bao lại sau ông qua đời.
Suốt cả đời Sankey chuyên tâm làm việc, ca hát không mệt mỏi, nhưng chắc chắn sự đóng góp to lớn của ông trong công việc nhà Chúa chính là những bản thánh ca của ông vẫn còn giá trị đến ngày nay. Ông sáng tác rất nhiều thánh xa, xuất bản thành 10 quyển. Ngoài ra ông cũng còn viết nhiều loại sách khác để làm chứng hoặc bồi linh.
Ngay trong thời của ông, các bài hát của ông cũng rất phổ biến trong đông đảo quần chúng, nhu cầu về các bài thánh ca, nhất là những bản solo của Sankey rất lớn. Ban đầu ông cho mượn các bản chép tay của mình nhưng làm điều đó không thấm vào đâu, quyển tập ấy không thể chuyền tay hết được và đôi khi nó cũng không trở về tay sở hữu chủ đúng lúc. Sau đó ông cho in những bản mẫu nhưng vừa in xong đã hết nhẫn ngay.
Khi ông B.C.Morgan, chủ nhiệm báo Cơ-đốc nhân đến dự nhóm để thu thập tài liệu, đề nghị soạn một tập thánh ca; thế là tập ca khúc và những bài thánh ca solo của Sankey được hình thành. Lần đầu in 5000 bản, giá 6 xu 1 tập, chỉ trong 24 giờ đã bán hết. Sau nhiều lần tái bản, tuyển tập được quảng cáo và đặt bán không chỉ trong tiệm sách mà ở cả các hàng bách hoá nữa. Trong tập “Sổ Vàng”, MS.Frank Luther ghi: “Có lẽ tập thánh ca bán chạy nhất hiện nay là tập thánh ca của Sankey mà nhà xuất bản đã xác nhận con số 50 triệu phát hành trên khắp thế giới”.
Để tránh những sự chỉ trích có thể xảy ra - mà sau đó thật đã xảy ra - Moody và Sankey đã giao hoàn toàn bản quyền các tập bản thánh ca cho một thương gia, cũng là mạnh thường quân của họ, là ông William E.Dodge ở New York chịu trách nhiệm. Tiền thu được lần đầu được sử dụng để xây cất nhà thờ Chicago Avenue (nay là Moody Memorial). Sau đó nhiều khoản chi cũng được dành cho các tổ chức khác đặc biệt là các trường Northfield và Núi Hermon do Moody sáng lập. Khi hướng dẫn khách tham quan trường, Moody hay chỉ vào toà nhà mà nói rằng:..."Sankey đã hát cho toà nhà này mọc lên...”.
Lúc Moody qua đời năm 1899 số tiền do các tập thánh ca đem lại ước lượng khoảng 7.250.000 đô la.
Trong những năm cuối đời. Sankey thật sự sống trong bóng tối, chỉ còn ôn lại những kỷ niệm trong đời mình. Cuộc đời hoạt động của ông bùng cháy mãnh liệt như ánh sáng xưa kia này đã dần lụi tàn, qua lớp tro than, người ta tưởng nó đã tắt ngấm. Nhưng Ellsworth Day trong quyển “Bụi cây cháy sáng” có nhắc đến ánh sáng đã chiếu lên đời sống ông vào một buổi chiều năm 1907 khi F.B.Meyer đến thăm ông, “Ông nói về những ngày tốt đẹp đã qua khi MS D.L.Moody còn ở với họ” và lúc Meyer ra về, ông dẫn Sankey đến bên chiếc đàn Organ nhỏ và nhẹ nhàng nói: “Hãy hát đi anh”. Những ngón tay nhăn nhíu đặt trên những phím đàn vàng vọt, giọng hát ấm dần và như trở lại nét đẹp ngày xưa. Và Meyer đã khóc nức nở khi nghe những lời thành tín trong lời ca: “Sẽ không còn bóng tối khi Giê-xu đến”. Ánh sáng như tràn ngập căn phòng.
Sankey và Moody là 2 cái tên không thể tách rời được. Nhưng vì lý do sức khoẻ, Sankey đã sớm từ giã Moody. Dù vậy tâm hồn ông vẫn đầy nhiệt tình và sốt sắng, trái tim ông vẫn ngân nga những giai điệu chưa hát thành lời... Bài hát cuối cùng ông dành riêng cho Moody trong ngày người bạn chí thiết ấy qua đời là một bài hát thật cảm động mà cũng tràn đầy hy vọng, an ủi. Ông đã hát bài thánh ca “Ra khỏi nơi tăm tối” để tiễn đưa Moody về với Chúa.
Sankey ước mơ một mặt trời chẳng hề tàn lặn ở thiên đàng. Và sẽ vui mừng biết bao khi lời hát của một trong những bài ca ưa thích nhất của ông: “Sẽ không còn bóng tối” được ứng nghiệm trong vinh hiển.
Sankey qua đời năm 1908.
Đức Chúa Giê-xu phán rằng Ngài là Đấng Chăn chiên nhân lành đã vì chiên mà xả thân mình...
Nhiều năm về trước, một thanh niên trụy lạc bỏ nhà mình ở Anh qua làm ăn ở Gia-nã-đại, nhưng ở đó anh ta cũng vùi mình uống rượu và cờ bạc chứ cũng chẳng làm ăn gì. Cuộc sống cứ kéo dài như thế một thời gian. Một buổi tối mùa đông, anh lại say rượu tính về nhà nhưng trượt chân ngã ngoài đường. Lần này anh không đứng dậy được nữa: anh qua đời vào ngày hôm say. Hung tin ấy đồn về gia đình bên Anh nhưng chẳng gây một kích động nào cả dường như ai cũng muốn anh ta qua đời vậy.
Anh Andrew này có một người em ruột là Elizabeth Clephane (1830-1869) một thiếu nữ hết lòng yêu mến Chúa, yêu người và nhất là yêu người anh hoang đàng này, cô đã cầu nguyện cho anh cô từ lâu. Vì thế được tin ấy cô vô cùng đau đớn, cô vào buồng riêng đóng cửa lại cầu nguyện cùng Chúa: Đúng rồi, Ngài có 99 con chiên chẳng lẽ ân điển Ngài không đủ chia xẻ cho con chiên lạc đường kia sao? Chẳng lẽ Ngài đã thoả mãn vì có 99 con trong chuồng chiên rồi sao?...”
Sau một hồi lâu, cô dường như nhận được sự trả lời và nét mặt trở nên hứn hở, em đứng dậy và viết ra những cảm ý của mình. Đó là bài thơ về 99 con chiên và con chiên lạc bầy.
Vì tính hổ thẹn tự nhiên của con gái, cô cất tờ giấy đó trong tủ áo của mình. Cho đến ngày cô qua đời người ta mới tìm ra tờ giấy ấy, ai nấy đọc đều cảm động nên gởi đi đăng báo...

LINH ÂM GIAI ĐIỆU (TC.217)
Tâm tôi rày văng vẳng linh âm giai điệu
Giê-xu luôn se sẻ ca ngâm
Đừng kinh sợ chi có Ta đương lo liệu
Trầm bổng trên cuộc thế thăng trầm
Cứ mỗi lần nghe Hội thánh hát bài thánh ca đó, tôi bỗng nhớ lại tác giả của nó, Luther B.Bridgers. Tôi được hân hạnh quen biết ông ta tại một Hội thánh nhỏ ở thôn quê thuộc miền Bắc tiểu bang Carolina (Hoa-kỳ). Bây giờ ông là một thanh niên khoẻ, đẹp duyên dáng. Ông có một đức tin mãnh liệt và một lối giảng linh động và hấp dẫn lạ thường khiến cho kỷ niệm của lần đầu gặp gỡ ấy khó phai mờ trong tâm trí tôi.
Sau đó một thời gian chúng tôi lại gặp nhau và L.B.Bridgers thủ thỉ tâm sự với tôi về cuộc lương duyên tốt đẹp mà Chúa sắp đặt cho ông với một thiếu nữ ở Kentucky, về ơn lành mà Đức Chúa Trời đối với vợ chồng ông. Ba cậu bé xinh đẹp làm cho gia đình này vốn hạnh phúc lại càng thêm hạnh phúc. Ông nói: “Anh ạ, tôi rất ước ao Đức Chúa Trời sẽ kêu gọi cả 3 con tôi vào sự hầu việc Ngài. Nếu tất cả 3 con tôi cũng đều đi giảng Tin Lành thì thật phước hạnh biết bao!”
Chính lúc cuộc đời của vợ chồng L.B.Bridgers tươi sáng, thơ mộng như thế, ông đã sáng tác bài ca bất hủ này. Tôi còn nhớ một câu trong bài ca ấy: “Đôi khi Ngài đưa dắt qua cơn ba đào, dọc đường gặp thử thách ngăn trở; dầu lên đèo lên dốc xuống thác qua hào, nhìn dấu chơn Ngài trước sờ sờ...” Nếu ai biết những biến cố xảy ra về sau cho L.B.Bridgers thì phải nhận rằng những lời trên đây là câu nói tiên tri. Khi sáng tác bản nhạc và lời ca ấy, chính L.B.Bridgers cũng chẳng rõ được cơn ba đào khủng khiếp mà mình trải qua sau này.
Một thời gian khá lâu, chúng tôi lại gặp nhau. Luther B.Bridgers đã thuật lại câu chuyện bi đát của đời ông:
Một buổi sáng kia, ông đi giảng tại một chi hội gần thị xã Kentucky, vợ và 3 con ông tiễn ông tận đầu ngõ. Đi được một quãng xa, ông ngoái lại nhìn thì vẫn thấy kìa, vợ ông tay bồng đứa bé nhất còn 2 đứa lớn bên cạnh bà tươi cười vẫy tay và nói với theo: “Chúc ba đi bình an nhá”. Ông cũng vẫy tay lại với chúng rồi lật đật chạy ra ga xe lửa. Ông đi giảng được 2 tuần lễ và trong đêm Chúa nhật cuối cùng của cuộc phục hưng, khoảng 1 giờ sáng, giữa lúc ông đang ngủ thì tiếng chuông điện thoại reo. Đầu kia, một giọng hối hả vang lên:
- Có phải ông Luther B.Bridgers đó không?
- Vâng, chính tôi đây.
- Thưa ông, chúng tôi rất đau đớn kính tin ông rõ, tối nay căn nhà của ông bị hoả hoạn, bà và 3 cháu đều bị chết cháy cả!
Nghe ông thuật đến đó, tôi xúc động quá đỗi vội hỏi “Thế rồi ông làm gì?” L.B.Bridgers đáp: “Lúc ấy ma quỉ cười nhạo tôi rằng: Đó! Luther ơi, ngươi thấy chưa, Đức Chúa Trời có thương yêu gì ngươi đâu! ngươi đi vắng nên chẳng ai bảo vệ gia đình cả. Vợ ngươi, con ngươi đã làm mồi cho ngọn lửa, ngươi còn thờ phượng Đức Chúa Trời ấy chăng?” Tôi bèn quì xuống bên chiếc điện thoại mà thưa rằng” Lạy Đức Chúa Trời, con đi giảng Tin Lành cho bao nhiêu người và từng nói với họ rằng Tin Lành có thể an ủi họ trong cơn thử thách khổ đau. Chúa ơi, giờ đây con xin Ngài dùng Tin lành ấy để an ủi con trong giờ phút khốn nạn này”.
Cám ơn Chúa, giữa cơn ba đào khủng khiếp lòng ông được bình an vì cảm biết Đức Chúa Trời ở gần mình, cánh tay toàn năng của Ngài đang âu yếm bao phủ ông. Sáng hôm sau, ông quay về Harrod Suburg đứng nhìn tất cả sản nghiệp của mình chỉ còn một đống tro tàn. Ông thấy người ta đang nhặt một vài mẫu xương cháy thành than. Và đó là tất cả di tích của cái gia đình yêu thương ấm cúng của ông. Họ bỏ những mảnh xương ấy vào trong một chiếc quan tài và ông bỗng thấy một vật gì sáng, lấp lánh trong đống tro. Ông cúi xuống lượm lên: Đó là một mảnh thép của chiếc đồng hồ đeo tay mà ông đã làm quà cho bà trong dịp sinh nhật cuối cùng của đời bà. Ông vẫn nhớ rõ, khi nhận chiếc đồng hồ ấy, bà Luther B.Bridgers đã rất sung sướng và cảm động khen ông là người chồng tốt cha hiền.
Kể đến đây Luther bảo tôi: “Anh ơi, trước cảnh tang thương ấy tôi không còn có sức chịu đựng nữa. tôi quyết định bỏ quê nhà ra đi với chiếc va li cũ kỹ và một tấm lòng tan vỡ để tiếp tục chức vụ.
Sáu tuần lễ sau tấn thảm kịch, nhà truyền đạo Luther chủ toạ một Hội đồng phục hưng tại một chi hội giám lý ở Richmond, tiểu bang Virginia. Mục sư chủ toạ chi hội là tấn sĩ Samhatcer tiếp đãi Luther và tôi trong tư thất của ông. Một đêm kia chúng tôi đang ngủ chúng trong một phòng bỗng tôi nghe tiếng Luther nói: “Tôi đây mình ơi, tôi đang đến đây!” Rồi ông bước xuống khỏi giường, khóc nức nở và nguyện cầu: “Chúa ơi, con không hiểu vì sao tai hoạ này xảy ra, con không hiểu. Chúa ơi, con xin Ngài đừng để con thất vọng. Chúa Giê-xu ơi, bao nhiêu người đang trông đợi nơi con, xin Ngài giúp con trung tín”.
Sau khi ông lên giường ngủ lại, nghe tiếng ngày đều hơi tôi mới rón rén dậy bật đèn lên thì thấy ông đang gối đầu trên cánh tay ngủ ngon lành, hai gò má còn ướt lệ nhưng trên môi lại nở nụ cười. Có lẽ ông đang nằm mơ thấy vợ và 3 con yêu dấu của mình?
Vinh quang bởi đức tin chiến thắng của ông khiến căn phòng thành một nơi thánh, họ đứng nhìn ông một lát rồi không ngăn được nướt mắt, họ nói lớn lên: “Luther ơi, bài giảng vĩ đại hơn hết mà anh giảng cho thế gian này chính là cách anh chịu đựng sự đau khổ của mình trong gìơ phút anh phải chịu úng chén đắng cay”.
Đêm chót của cuộc phục hưng, hội thánh cũnghát bài ấy, đến điệp khúc:
“Giê-xu, Giê-xu, Giê-xu
Tốt đẹp bấy hồng danh
Ngài làm cho tôi thoả tình
Mừng hát trong mọi bước thiên trình...”
Thì tôi bắt đầu suy nghĩ ý nghĩa của Danh Giê-xu đối với Luther sâu nhiệm và cao quí biết dường nào, nhất là trong cơn thử thách đớn đau hơn hết của đời ông.
Bạn thân mến! Biết đâu sự thử thách của bạn lại chẳng đang chờ bạn hôm nay?...


VẦNG ĐÁ MUÔN ĐỜI
Bài thánh ca này đã an ủi không biết bao nhiêu linh hồn đau khổ, buồn rầu và củng cố niềm tin cho bao nhiêu tấm lòng rồi.
Tác giả lời thánh ca này là Mục sư Augustus M.Toplady học trường thần đạo Holy Trinity ở Ái-nhĩ-lan và hầu việc Chúa suốt đời. Ông đã được cứu bởi lời làm chứng của một người tín đồ quê mùa. Điều lạ là người này kém học đến nỗi không viết được cho đúng tên của chính mình thế nhưng Chúa đã dùng ông thay đổi một đầy tớ Chúa như Toplady.
Có nhiều giai thoại về bài thánh ca này, mà một là câu chuyện sau: nhiều năm trước đây, một chiếc tàu buôn bị lâm nạn giữa biển khơi, trong số đó có 2 vợ chồng ca sĩ danh tiếng đó cũng đang tìm lối thoát. Lúc đầu, 2 người đều có phao cấp cứu, về sau cái phao của bà bị giật mất nên bà chỉ bám sau lưng ông chồng mình. Cứ thế mà lênh đênh cho đến khi kiệt sức quá, bà bảo: “Chắc tôi đuối sức mất” - “cố gắng đi mình, giờ sinh tử mà, thôi chúng ta cùng hát bài Vầng đá muôn đời nhé.
Khi họ hát, mọi người đều cảm thấy có sự thêm sức lạ lùng từ thiên thượng. Thế là họ cũng cầu nguyện và tiếp tục tranh đấu cho đến khi một chiếc tàu cứu nạn của hải quân đến cứu họ.
Thật bài hát này đã cứu nhiều người khỏi chết đuối, và nó còn cứu nhiều linh hồn hấp hối sắp bị diệt vong thoát khỏi hồ lửa nữa.

TA HY SINH VÌ CON HẾT
Bản thánh ca quí báu này do cô Frances Redley Havergal sáng tác. Cô sinh ngày 14.12.1836 tại Anh quốc, cha cô là một mục sư. Cô rất vui tính và ham hoạt động và thường biểu lộ niềm vui qua sự ca hát. Cô bước chân vào lãnh vực thi phú năm lên 7 tuổi. Cô cũng học nhạc và trở nên nhạc sĩ dương cầm. Năm 11 tuổi, một việc đau buồn xảy đến cho Frances: mẹ cô qua đời. Bốn năm sau, vào lúc đang quì gối cầu nguyện, đời cô bỗng thấy tươi sáng vì cô đã gặp Chúa Giê-xu Christ là Mặt Trời Công Nghĩa.
Mười lăm năm sau khi viết vài thánh ca này, Frances thuật lại rằng: “Vâng, bài 'Ta hy sinh vì con hết' là của tôi, và có lẽ sẽ rất hào hứng nếu bạn biết bài ca ấy đã ra đời như thế nào và hầu hết thế giới biết đến. Nó là bài đầu tay của tôi được liệt vào hàng thánh ca. Tôi sáng tác bài ấy từ năm 1859, lúc còn là thiếu nữ rất trẻ. Tôi không rõ tâm trạng tôi lúc bấy giờ thế nào nữa, tôi sống trong nghi ngờ, sợ hãi. Tôi đến với Chúa Giê-xu bằng một đức tin run rẩy. Tôi chưa bao giờ hiểu rõ về Ngài và cũng chưa cảm biết thật được Ngài yêu mến.
Trong một thời gian, cô ở tại nhà một chức viên người Đức. Một hôm cô trở về nhà với một tình trạng mỏi mệt, ốm yếu. Cô ngồi xuống ghế. Trên bức tường đối diện có treo hình Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên thập tự giá, phía dưới có hàng chữ: “Ta chịu điều này vì con, con đã hiến gì cho ta?” Khi đọc những lời này thình lình những vần thơ đến trong trí cô:
Ta hy sinh vì con hết
Huyết tuôn tim này tan tành
Đem con ra từ nơi chết
Chuộc tội đặng con lại sanh
Ta đã phó tánh mạng cho con rồi
Phó chi cho ta, con ôi?!
Cô kể tiếp “Tôi viết vội bài thơ ấy vào một tờ giấy cũ, tôi đọc lại và nghĩ: Chà! Chẳng có vẻ gì là thơ cả, thôi không cần viết lại làm gì”. Tôi ngồi xuống bên lò sưởi, bỗng nhiên tôi được thúc giục bỏ tờ giấy ấy vào túi. Sau đó tôi đến thăm một bà lão ở trại tế bần. Tôi lấy bài thơ đọc cho bà nghe; bà vốn là một người rất yêu mến Chúa, luôn nói về Ngài, về tình yêu của Ngài. Nghe tôi đọc bà tỏ vẻ rất ưa thích nên tôi chép lại và cất đi”.
Trong khoảng 42 năm sống trên đất, Frances Redley Havergal luôn gặp ốm đau nhưng cô vẫn đứng vững trng Chúa. Từ khi mắc bệnh cô ao ước được luôn gần bên Chúa Giê-xu. Ngài thuộc về cô, đó là điều cô xem rất quí báu, quí báu hơn cả thế gian. Lúc khởi đau nặng, cô viết câu Kinh Thánh: “Huyết Chúa Giê-xu, Con Ngài, làm sạch mọi tội lỗi chúng ta”. Câu này được treo trong phòng cô và khắc vào bia mộ cô theo lời yêu cầu của cô.


GIÊ-XU LÀ BẠN THẬT
Tai hoạ ráo riết theo đuổi những bước chân của Joseph Scriven như hình với bóng. Sau khi tốt nghiệp bằng cử nhân mỹ thuật ở Đại học Dublin, Ái-nhĩ-lan năm 1842, năm ông 23 tuổi, Scriven đã chạy trốn khỏi quê hương sau cái chết bi thảm của vị hôn thê ông ngay chiều hôm trước ngày hôn lễ của họ. Dầu đã xa cách ngàn trùng những khung cảnh cùng mùi vị quen thuộc của Dublin nhưng cũng chẳng chút được khuây khoả nào.
Cuối cùng ông đặt chân đến Cảng Hy vọng (Port Hope) bên bờ phía Bắc hồ Ontario thuộc bang Ontanrio, Canada. Nhưng ở đó hạnh phúc cũng khước từ ông. Cách đó 10 dặm về phía Bắc, nằm bên hồ Rice tuyệt đẹp là một khu định cư nhỏ tên Bewdley. cách khu này vài dặm nữa là đồn điền Pengelley, nơi Scriven làm gia sư cho lũ trẻ trong nhiều năm ở đó. Vài năm sau đó, Scriven phân chia thì giờ mình để dạy cho 2 gia đìh Pengelly và James Sackville ở Bewdley. Chính trong phòng khách nhà ông Sackville mà Scriven đã cảm hứng viết bài thơ mãi mãi gắn liền với tên ông đó.
Một đêm khuya năm 1855, Scriven nặng trĩu với nỗi cô đơn, ngã lòng, buồn thảm - đã dốc đổ lòng mình với Đức Chúa Trời, van nài Ngài giải thoát ông khỏi gánh nặng ấy và hứa nguyện hầu việc Ngài nếu lời cầu nguyện của ông được nghe và được trả lời. Scriven cảm thấy lòng được cất khỏi gánh nặng cách kỳ diệu. Trong niềm hoan hỉ vừa tìm thấy, Scriven vội thảo nhanh một bài thơ đơn sơ với nhiều khổ thơ mô tả cuộc chiến đấu và chiến thắng của ông. Bài thơ có tựa là “Cầu nguyện không thôi” như sau (dịch thoát ý):
Kỳ diệu thay là tình bạn chúng ta có với Chúa Giê-xu. Ngài mang lấy tất cả tội lỗi đau đớn của chúng ta. Lạ lùng bấy là đặc ân được dâng trình mọi sự với Đức Chúa Trời trong lời cầu nguyện. Ôi, chúng ta thường đánh mất sự bình an và mang lấy những nỗi khổ đau không cần thiết. Tất cả chỉ vì chúng ta không dâng trình nỗi niềm mình cho Chúa trong lời nguyện cầu.
Bước vào tình yêu lần thứ nhì, ông đính ước với cô Eliza Catherine Roche con gái độc nhất của Đại uý Hải quân Hoàng gia Andrew Roche. Nhưng một lần nữa, hạnh phúc lại khước từ Scriven: Eliza mắc bệnh lao phổi và chết năm 1860 trước khi lễ cưới của họ được diễn ra.
Sau 2 nỗi bất hạnh trong đời, ông lại càng dấn thân trong công việc tôn giáo và từ thiện. Ông kết hợp với nhóm anh em Plymouth và phục vụ trong tư cách Truyền đạo suốt nhiều năm. Thêm vào đó, ông cũng đi giảng cho hội thánh Báp-tít Bailiebors ở gần đó. Ông được nhiều người ở Bewdley và vùng phụ cận yêu mến vì đời sống giống Chúa của ông, cũng như Đấng Christ, ông thường ban phát lợi tức của mình cho người nghèo mà ông coi là cần được giúp đỡ hơn chính ông. Những năm về sau, ông được mô tả là “Người có vóc dáng thấp, tóc hoa râm, râu cạo sạch và đôi mắt xanh lơ sáng long lanh của một thiên sứ” trong khi những người biết rõ ông hơn thì cho biết ông có thói quen “giảng cho mọi người nghe về tình thương của Chúa Giê-xu”.
Khi thân thể ông đã suy mòn vì lao nhọc và tâm trí mệt mỏi vì nản lòng, ông Sackville lại đem ông về nhà ông ta và chính tại đó, năm 1886 Scriven đã trải qua những ngày cuối cùng của đời mình, cũng trong căn nhà mà 31 năm trước ông đã sáng tác bài thơ kia. Khi người chủ nhà tìm thấy bài thơ đó trong tập dán tranh sưu tập của Scriven thì cũng là lúc nhà thơ sắp qua đời Scriven giải thích: “Đức Chúa Trời và tôi, chúng tôi đã sáng tác bài thơ đó”.
Sackville sao một bản cho mình và sao một bản khác gởi cho một tờ báo Cơ-đốc và bài thơ đã được in lần đầu tiên. Không lâu sau đó Scriven qua đời. Trong cơn sốt, ông rời khỏi giường và ngã quị vì mệt lã, ông vấp té xuống một khe nước cạn chỉ sâu không đến 6 inches (khoảng 0,15m) và cách nhà khoảng 100m. Các bạn ông kể rằng: ông chết quì gối trong tư thế cầu nguyện.
Ba đài kỷ niệm ông đã được dựng lên năm 1919 tại Bewdley và vùng phụ cận nhân sinh nhật lần thứ 100 của ông. Bài thơ đó được phổ nhạc và được trân trọng bảo tồn trong lòng các Cơ-đốc nhân trên trong lịch sử thánh ca của Hội thánh phổ thông.

CHÚA SẼ LO TOAN
Năm 1905, W.Stillman Martin, mục sư và nhà soạn nhạc, cùng vợ, cậu con trai và vài người bạn đang đi thăm thành phố Nữu ước. Mục sư Martin đựơc mời truyền giảng Tin Lành vào một ngày Chúa nhật và ông đã nhận lời. Nhưng bà C.D.Martin vốn đã nhuốm bệnh lại trở nặng hơn vào ngày Chúa nhật đó đến nỗi ông quyết định phải gọi điện thoại để báo cho Hội thánh đó rằng ông không đến giảng được. Khi ông sắp nhấc ống nghe lên thì cậu con trai nói với ông: “Ba ơi, ba không nghĩ rằng Chúa muốn ba giảng hôm nay còn Ngài sẽ lo liệu cho Má trong khi Ba đi sao?” Mục sư Martin cảm thấy như mình bị quở trách, ông bèn quyết định cứ đi giảng. Cuối bài giảng của ông có nhiều người tiếp nhận Chúa. Mục sư Martin trở về nhà với lòng vui mừng vì làm tròn trách nhiệm và Đức Chúa Trời đã chúc phước cho chức vụ ông.
Khi ông về đến nhà, cậu con trai đón ông ở cửa và đặt vào tay ông một bao thơ cũ, phía sau lưng có ghi lời của bài thánh ca này. Từ đức tin đơn sơ của cậu bé, bà Martin đã được cảm động viết ra bài thơ là lời của bài thánh ca này. Đọc bài thơ xong, Mục sư Martin đi đến cây đàn Organ trong phòng và vài phút sau ông đã soạn xong phần nhạc.
Nhiều lần người ta đã sợ hãi hay phải đối diện với những điều lo lắng thì bài thánh ca này đã đem lại cho họ sự an vui một cách diệu kỳ.
Chuyện kể rằng có một cơn bão đã thổi qua thành phố khi cô bé Virginia đang đến đó thăm bà. Bầu trời vang rền tiếng sấm và sét chớp loà. Bé Virginia leo vào lòng bà tay bá cổ bà và nói: “Bà ơi, mình hát bài thánh ca 'Chúa sẽ lo toan' đi bà!” Hai bà cháu đã biết hát bài này ở lớp Trường Chúa nhật. Khi họ hát lên, nỗi sợ hãi đã tan biến khỏi lòng Virginia.

RẤT AN NINH TRONG CÁNH CHRIST
Trong số những bài hát của Fanny Crosby có một số bài được sáng tác theo lối ngược. Thay vì viết một bài thơ để cho ai khác đó phổ nhạc, bà lại viết hẳn một vài khổ thơ của mình để đặt vào những giai điệu của người khác.
Được sinh ra trong một mái nhà tranh nhỏ ở Southern Putnam, hạt Putnam, New York ngày 24.3.1820, Fanny bị mù vĩnh viễn lúc mới 6 tuổi bởi một loại thuốc dùng nhầm lúc bé bị viêm mắt. trước khi thôi nôi, Fanny lại đã mồ côi cha. Mẹ và bà của Fanny đã coi sóc, giáo dục Fanny suốt những năm thơ ấu của cô. Khi Fanny lên 6, gia đìh cô dời đến khu Ridgefield, bang Connecticut nơi họ đã sống “sáu năm thơ mộn và ích lợi”. Năm lên 9 Fanny đã sáng tác bài thơ đầu tiên. Một buổi chiều ở ngoài đồng, Fanny cầu xin Đức Chúa Trời sử dụng mình cho mục đích cao quí, thanh khiết tốt lành và xin dâng đời thanh xuân của mình cho Ngài. Trở về nhà một vài tiếng đồng hồ sau, Fanny thảo nhanh trên giấyu bài thơ đầu tiên của mình. So với lứa tuổi và điều kiện thể chất của nhà thơ, phải công nhận rằng những vần thơ này thuộc trong số những vần thơ tuyệt tác trong mọi nền văn chương, nguyên bản tiếng Anh như sau:
Oh What a happy soul am I, Although I cannot see.
I am resolved that in this world continted. I will be.
How many blessings I enjoy that other people do not
To weep and sigh because I am blind, I can not and I will not.
Không ít người kinh ngạc về việc Đức Chúa Trời đã làm nhiều phép lạ qua bà. Trước lúc qua đời năm 1915 vào tuổi 95, Fanny đã sáng tác nhiều thánh ca, bài hát và thơ hơn bất kỳ ai khác kể từ lúc bắt đầu kỷ nguyên Cơ-đốc.
Năm 1858, Fany Crosby thành hôn với Alexander Van Alstyne, một nhạc sĩ và cũng là giáo sư mù tại trường cho người mù thành phố Nữu ước, nhưng bà cứ tiếp tục sáng tác và xuất bản những tác phẩm của mình dưới tên phụ nữ nổi tiếng của bà. Bà và ông là tín hữu Hội thánh Giám lý ở Đại lộ thứ 13 Nữu ước.
Một buổi chiều mùa hè năm 1868, William H.Doane, một thương gia tài ba và là một tín hữu Cơ-đốc cũng thường sáng tác nhạc để tiêu khiển, đến gõ cửa nhà Fanny.
Cửa mở, ông lao vào và nói vội vàng:
- Bà Fanny tôi có đúng 40 phút trước khi rời đây đi xe lửa đến Cincinati.
Khi bà hỏi lý do, tôn ta giải thích:
- Tháng tới có một hội nghị Trường Chúa nhật của cả tiểu bang ở Cincinati. Thêm vào những đoàn đại biểu đông đúc của người lớn còn có nhiều thanh thiếu niên tham dự. Tôi muốn có một bài thánh ca mà tôi có thể giới thiệu lần đầu tiên ở Hội nghị này để nắm lấy những trái tim và trí tưởng tượng của các thanh thiếu niên ấy.
Fanny mỉm cười, ngước đôi mắt mù mòa loà hướng về ông:
- Ông viết nhạc rồi phải không?
- Sao bà biết?
- Trực giác của phụ nữ đấy ông ạ.
- Thế này nhé, vì bà đã biết bà cũng nên nghe nó, Doane nói thêm, - bà hãy lắng nghe cẩn thận vì còn 35 phút nữa thì xe lửa chạy và tôi muốn đem bài thánh ca mới ấy theo.
Ông đến ngồi vào chỗ cây đàn dương cầm và đàn giai điệu mới của mình cách rất cảm động, khi ông đàn xong Crosby nói:
- Có một câu Kinh Thánh luôn reo vang trong tâm trí tôi cả ngày. Câu đó là: “Ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài”.
- Còn bài thánh ca thì sao? Doane lo lắng hỏi.
- Đấy, bài thánh ca ở ngay đó ông William ạ. Bà giải thích, bài thánh ca ở ngay trong câu ấy. Khúc nhạc của ông nói rằng “Rất yên ninh trong cánh Christ”. Còn điều gì thích hợp hơn cho các cô cậu ở Hội nghị Trường Chúa nhật ấy nữa?
Ông Doane xem đống hồ, có vẻ mất kiên nhẫn:
- Chỉ còn 30 phút nữa thôi
- Ông sẽ có bài thánh ca của mình. Fany vừa trả lời, vừa đi đến bàn tìm giấy bút, ngồi xuống và bắt đầu viết. Trong khi viết được một số vần thơ, Fanny yêu cầu ông Doane đàn qua vài lần nữa giai điệu ấy. Lúc viết xong, Fanny gấp tấm giấy lại, bỏ vào bì thơ, trao cho Doane.
- Bài hát đây William. Ông có thể đọc nó trên xe lửa. Thôi nhanh lên, ông không muốn trễ tàu mà.
Doane cám ơn, chào tạm biệt, chộp lấy mũ và phóng ra chiếc xe ngựa đang chờ ông trước nhà. Trên chuyến tàu đến Cincinati ông đọc những gì Fanny đã giết cho khúc nhạc của ông. Khổ thơ đầu và điệp khúc là:
“Rất an ninh trong cánh Christ, êm bấy trên ngực Ngài nay. Bóng yêu thương Ngài bao phủ kín, ắt tâm linh an lạc thay. Kìa Thiên sứ hoan ca thi thánh, reo trong tôi điệu nhạc hay. Trong quang cảnh thiên quốc hiển vinh, tại bên biển sáng ngời đây.
Điệp khúc:
Rất an ninh trong cách Christ, êm bấy trên ngực Ngài nay. Bóng yêu thương Ngài bao phủ kín, ắt tâm linh an lạc thay.
Mặc dù Fanny đã sáng tác ngót 8000 bài thơ trong suốt cả đời mình thì bà mất chỉ một số bài được phổ biến và ít bài nào được biết nhiều như bài bà đã viết cho điệu nhạc do một thương gia ở Ohio soạn cho một hội nghị Trường Chúa nhật.

CÀNG YÊU CHÚA HƠN
“Tại sao tai hoạ xảy đến với chúng ta giữa bao nhiêu người như vậy?” Bà Elizabeth Prentiss hướng đôi mắt đẫm lệ về phía chồng bà.
“Chúng ta nên hỏi chính mình tại sao một điều như thế này lại không xảy đến với chính mình chứ em. Chúmg ta có hơn bất cứ gia đình nào khác đã mất người thân mình trong trận dịch này không?, ông hỏi cách cảm thông. “Phải chăng Đức Chúa Trời nợ chúng ta một lòng sủng ái đặc biệt mà Ngài không nợ gia đình nào khác? Hay Ngài cũng yêu thương tất cả mọi người?”.
Bà Prentiss giấu mặt trong đôi tay và khóc một hồi lâu cho đến khi bà cảm thấy không còn nước mắt để khóc nữa. Bà nghĩ về tất cả những điều bà đã làm cho đến lúc ấy. Khi thần chết đến, thình lình và nhanh nhẩu, gọi tên những người thân yêu của bà.
Sinh ở Porland, tiểu bang Maine, bà là con gái của một tu sĩ sùng kính, thuở thiếu thời El. đã bộc lộ một năng khiếu văn chương lỗi lạc. Khi còn là một cô gái 16 tuổi, bà đã là một cộng tác viên thường xuyên của một trong những tạp chí hàng đầu của quốc gia, tờ “Người Bạn Đồng Hành của Thanh Niên” xuất bản ở Boston. Sau khi kết thúc việc học, bà đã đi dạy trong nhiều năm. Năm 27 tuổi bà lập gia đình với Mục sư George L.Prentiss và chuyển đến thành phố Nữu ước nơi ông là Mục sư của Hội thánh trưởng lão Mercet.
Mười một năm sau ngày cưới, năm 1856 thảm kịch ấy ập đến và cướp đi những người thân yêu khỏi gia đình ông bà. Trong nhiều tuần lễ, nỗi buồn vẫn khó nguôi ngoai bất kể đức tin chân thành và không lay động của bà nơi Chúa và tình yêu của Ngài. Tín hữu trong Hội thánh vẫn yêu thương, ân cần, giúp đỡ vợ chồng ông Mục sư thu xếp nhà cửa, cơm nước cùng trông nom công việc nhà hằng ngày.
Vào một buổi chiều tối, khi họ từ nghĩa trang về, bà nói với ông:
“Anh George, đêm thì tối, em thì ở xa gia đình. Chúng ta phải làm gì bây giờ, chẳng lẽ chỉ ngồi yên lặng chịu đựng, trong khi gia đình chúng ta tan vỡ, đời sống chúng ta khốn nạn, hy vọng chúng ta không còn, mơ ước chúng ta tan biến?”
“Đây là cơ hội để chúng ta bày tỏ trong đời sống mình những điều mà chúng ta cứ luôn giảng luận, dạy dỗ và tin tưởng bao nhiêu năm nay”, ông trả lời đầy vẻ yêu thương.
“Đôi lúc em nghĩ rằng em không thể đứng nổi một giây phút nào nữa cả dầu khoảng thời gian đó chẳng thấm thía gì so với cả đời người” bà thêm vào.
“Nhưng chính trong những lúc như thế này, Đức Chúa Trời lại càng yêu chúng ta hơn, như thể chúng ta yêu thương con của chúng ta nhiều hơn hết khi chúng bệnh tật, buồn phiền hay gặp cảnh đau đớn” ông nói tiếp. “Chúa Giê-xu phán rằng: Các ngươi sẽ gặp hoạn nạn trong thế gian nhưng hãy cứ vững lòng, Ta đã thắng thế gian rồi. Sự đau khổ không đến từ Đức Chúa Trời như là một sự đo lường có tính rèn luyện và ở đây nó cũng không cần được tranh cãi, lý lẽ hoá, thảo luận hoặc triết lý hoá. Ở đây nó phải được sử dụng và điều khiển cho sự vinh hiển của Ngài”.
Sau vài phút yên lặng nặng nề, bà Prentiss nhìn lên nói:
- Em nhớ rất rõ một câu mình đã dùng trong bài giảng vào Chúa nhật trước. Câu ấy đã giúp em rất nhiều trong những ngày gian nan này.
- Câu đó là gì thế?
- Mình đã nói rất nhiều lần rằng tình yêu của Đức Chúa Trời có thể giữ linh hồn khỏi mù quáng.
- Thật đúng như vậy em yêu ạ. Chúng ta càng yêu Đức Chúa Trời như chúng ta nhận biết Ngài trong Chúa Giê-xu thì phép lạ chữa lành của Ngài lại càng xảy ra trong lòng của chính chúng ta. Càng ít yêu Chúa thì càng có ít cơ hội cho chúng ta có thể chống cự được những nỗi đau đớn thống khổ, mất mát trong đời sống chúng ta.
Buổi chiều, khi ông rời nhà đi thăm viếng, bà ngồi thổn thức trong phòng khách bên quyển Kinh Thánh, đọc qua nhiều phần, lúc đọc thầm, khi đọc lớn tiếng vì bà thấy tiếng đọc to hỗ trợ đức tin mình. Rồi đặt quyển Kinh Thánh xuống, bà nhìn qua một quyển thánh ca, tìm kiểm ánh sáng và sự an ủi từ các bài hát phản ánh những nỗi buồn cùng sự đắc thắng của các Cơ-đốc nhân khác trong hoàn cảnh tương tự. Khi lật qua bài “Càng gần Chúa hơn” (TC 240) bà đọc lớn tiếng nhiều lần, lòng thầm nguyện rằng từng trải của chính bà cũng sẽ tương tự, ít nhất cũng về thời gian, như từng trải của Gia-cốp, người đã gặp Đức Chúa Trời và đã trở thành một người mới từ ngày đó trở đi. Nhịp điệu của các câu thơ cứ vương vấn tâm trí khi bà suy nghĩ và cầu nguyện. Rồi, không phải nỗ lực bao nhiêu, bà bắt đầu viết ra vài dòng thơ của chính mình theo vần luật tương tự mà Sarah Adams đã dùng viết bài kể chuyện thư ca về Gia-cốp ở Bê-tên. Bài thơ của bà bắt đầu như sau:
“Lòng nguyện càng yêu Giê-xu, mến yêu Ngài thêm.
Thành tâm quì xin chăm chú mến yêu Ngài thêm.
Mối sở ước ngày đêm, mến yêu Ngài thêm”.
Bà viết xong 4 khổ thơ trong buổi chiều hôm ấy nhưng không đưa cho ông mãi đến 13 năm đó ông mới biết. Bà thánh ca này được in rời năm 1869 và năm sau đó, 1870 thì được in trong một cuốn thánh ca.
Dầu đã viết 5 quyển sách trước khi bà về với Chúa năm 1878 (lúc bà được 60 tuổi) và một trong những quyển ấy là quyển “Bước về thiên đàng” trở thành một “best seller” (bán chạy nhất). Bà Prentiss đã sống trong lòng người Cơ-đốc bởi bản dịch Tân ước của bà (Bản dịch Cựu ước của Sarah Flower Adams).

PHƯỚC NGUYÊN TỪ TRỜI
Tác giả bài thánh ca rất quen thuộc này là Robert Robinson.
Khi Robinson con nhỏ, mẹ chàng ao ước con mình sau này trở nên Mục sư của Anh quốc giáo, nhưng trái lại, lúc 14 tuổi, chàng tập sự trong một tiệm hớt tóc ở Luân-đôn và trở thành đầu xỏ của đám thiếu niên du đạng khét tiếng của thành phố Luân-đôn. Robinson gây nhiều điều sỉ nhục cho gia đình nên từ đó gia đình không thừa nhận cậu nữa. Mới 17 tuổi mà Robinson đã phạm những tội kinh tởm nhất; ai cũng đinh ninh Robinson cứ đi sâu vào đường phóng đãng thôi.
Nhưng một chiều nọ,...
“Tụi bây rót thêm rượu cho mụ ấy nữa đi”, gã trẻ tuổi nói. Người đàn bà nghèo khổ có nước da bánh mật đã say đến mức khó đứng vững nổi nữa, nhưng bọn thanh niên hoang đàng vô nhân cứ chuốc rượu thêm cho bà ta.
“Cứ đổ rượu vào miệng mụ đi rồi mụ sẽ bói cho tụi mình, Robert Robinson la lên. Mấy tên đàn em chuốc rượu nữa cho đến khi người đàn bà đồng ý đoán tương lai cho chúng, không lấy tiền. Sau khi bà ta tiên đoán một tên du thỉ du thực trong bọn chúng rằng hắn sẽ chết yểu thì hắn phản ứng ngay:
“Mụ say quá rồi, mụ chẳng biết điều mụ đang nói đâu”.
“Ô, mầy phải biết điều đó, chính mày rót rượu cho bả mà!” Robinson trả lời hắn.
Quay lại tên cầm đầu bọn du đãng, ngươ2i đàn bà với cặp mắt lờ đờ, chỉ một ngón tay run run về hắn bảo:
“Còn mày, gả kia, mày sẽ sống để thấy con cháu mày đấy. Robinson đột nhiên xanh mặt, bảo ngay: “Ừ, mụ nói đúng, mụ say chẳng biết trời trăng gì nữa thiệt. Thôi tụi mình rút mặc xác mụ ở đó đi”.
Nhưng lời của người đàn bà ấy cứ ám ảnh Robinson không thôi. “Nếu mình sẽ sống để thấy con cháu... hắn nghĩ, mình phải thay đổi cách sống chứ không thể sống thế này mãi được”. Thế là ngay chính hôm ấy, 24.5.1752, Robinson nửa đùa nửa thật dắt cả đám đàn em đến dự cuộc truyền giảng phục hưng, diễn giả là nhà truyền đạo trứ danh thời ấy là George Whitefield.
“Nè, bọn mình tới đó, chế nhạo mấy tên tín đồ Giám lý bịp bợp khốn kiếp đi”. Robinson giải thích cho đồng bọn.
Nhưng Thánh Linh Đức Chúa Trời đã khuấy động tấm lòng phiền muộn và tâm trí hỗ độn của chàng. Trong cơn buồn ngủ, chàng thanh niên ương ngạnh này nghe vang vọng cây Kinh Thánh mà Whitefield giảng trong Math 3:7 rằng: “Hỡi dòng dõi rắn lục kia, ai đã cảnh cáo các ngươi trốn khỏi cơn giận ngày sau?” Sứ điệp ấy khiến Robinson vừa tịnh tâm vừa hãi sợ. Chàng cảm thấy vị truyền đạo đang nói với mình, với chỉ một mình mình thôi.
Vào ngày thứ tư 10.12.1755, hai năm 7 tháng sau khi bài giảng đó, Robinson đã phục hoà với Đức Chúa Trời và tìm thấy sự tha thứ tự do trọn vẹn qua huyết báu của Chúa Giê-xu Christ. Sau này, Robinson viết thư cho nhà truyền đạo đã đầu tiên kết án tội lỗi mình rằng: “Thú thật với ông chính là để dò xem sự trơ trẽn của chỗ đó mà tôi đến. Tôi thương hại sự ngốc nghếch của nhà truyền đạo, sự mê mẩn của người nghe. Tôi ghét cay ghét đắng giáo lý Cơ-đốc. Tôi đến để thương hại những tín đồ Giám lý khốn nạn bị lừa dối nhưng rồi tôi đã ra về với lòng thèm muốn niềm phước hạnh của họ”.
Robinson bắt đầu thay đổi. Chàng rời bỏ cuộc sống trụy lạc của mình. Nhờ sự giúp đỡ của Whitefield và say một thời gian thử nghiệm, chàng về quê hương tại Norjolk và gia nhập Hội thánh Non-Conformist. Chàng cảm nhận sự kêu gọi hầu việc Chúa, đã tự học và được John Wesley đến Nhà nguyện Hội thánh Giám lý Calvin Norfolk Anh quốc. Tại đó, nhân ngày kỷ nie65m Thánh Linh giáng lâm, năm 1758, ba năm sau sự qui đạo kỳ diệu của mình, Robinson viết ra lời tự thuật tâm linh trong những dòng sau:
Phước nguyên từ trời xin chảy vào lòng
Bật lên khúc ca chúc ơn Ngài
Suối nhân từ hằng tuôn chảy ngập dòng
Giục tôi thoả vui hát một bài
Nguyện chỉ giáo tôi thi ca bổng trầm
Mà lưỡi lửa cõi thiên thượng hát.
Để tôi ngợi ngọn ân điển ngàn tầm
Là non cứu ân non cực lạc (câu 1).
Nhớ lại tiên tri Samuel sau trận chiến đánh đuổi quân Philitin, đã lấy một hòn đá 'dựng lên giữa khoảng Mích-ba và Sen, đặt tên là Ê-bên-ê-xe, vì người nói rằng Đức Giê-hô-va đã cứu giúp chúng tôi đến bây giờ” (ISa 712), Robinson thấy rằng mình phải ca ngợi một Ê-bên-ê-xe thuộc linh trong lòng chính mình để nghi nhớ chiến thắng của Đức Chúa Trời trên Sa-tan 3 năm trước đó. Ý thức rằng chính bởi Đức Chúa Trời mà mình được cứu và dâng mình vào chức vụ, Robinson mong muốn “hòn đá tượng trưng” nhắc nhở chính mình ông rằng “cho đến nay tôi đến đây được là nhờ ơn của Chúa”. Vì thế ông viết các lời thơ như sau:
Đến đây là nhờ ơn Chúa phù trì, nguyền xây cất Ê-bên-ê-xe.
Nếu Cha đẹp lòng tôi dám nguyện kỳ, miền thiên quốc tôi sớm quay về” (câu 2)
Nhưng trong câu chót ta nghe dường như một lời tiên tri buồn thảm về cuộc sống của chàng sau này:
“Tự nghiệm tánh tôi ưa xa Thánh Phụ.
Thường hay cách ly Cha Từ Ái...” (câu 3)
Bài hát này một năm sau được in trong quyển “Sưu tập nhữngbài thánh ca được dùng bởi Hội thánh Đấng Christ, ở Angel Alley, Bishopgate” và là bài thánh ca phổ biến nhất trong số bài Robinson từng sáng tác. Tháng 12 năm đó, theo lời yêu cầu cá nhân của một thanh niên trong Hội thánh ông, ông đ4 sáng tác một thánh ca giáng sinh. Với một ít sửa đổi cho hợp với người lớn, chúng ta biết bài này là bài “Mighty God, While Angels bless Thee, May A Mortal lisp Thy Name!”.
Là một tín hữu Hội thánh Giám lý, một tín hữu Báp-tít cảm thông, cởi mở, một người theo “Nhóm Ly khai” đồng thời cũng là người của Giáo hội Duy nhất Thần, Robinson được kể như một nhà truyền đạo hiếm có, người có thể nói rằng 'Chúa vừa lòng điều gì, khi nào và như thế nào', ông là tác giả của khá nhiều sách. Ngoài phần đảm trách chức vụ, ông phải mua và coi sóc một nông trại là nguồn cung cấp nhu cầu cho gia đình ngày càng tăng thêm của ông.
Như đã nêu trên, mấy năm trước khi qua đời một lần nữa Robert Robinson lại buông mình vào tư dục.
Một ngày nọ trong cuộc hành trình bằng xe ngựa, có một thiếu phụ đang chăm chú đọc một quyển sách. Bà ngồi gần Robinson. Thình lình, bà ta quay sang hỏi ông: “Ông biết tôi thích bài thánh ca nào nhất trong tập này không?” Robinson tìm cách chối khéo câu trả lời cho câu hỏi kỳ lạ đó. Nhưng bà nọ đưa quyển sách cho ông và chỉ ngay bài thánh ca: “Phước nguyên từ trời xin chảy vào lòng”. Rồi bà kể lể sự ưa thích của bà về bài thánh ca đẹp đẽ đó. Cuối cùng Robinson không thể im lặng hơn nữa, ông nói với bà ấy giọng đầy cảm xúc:
“Thưa bà, chính kẻ khốn nạn nầy là tác giả bài thánh ca đó nhiều năm về trước. Và thưa bà, tôi bằng lòng đổi cái thế giới này giá mà làm được vậy để lại có được những phước hạnh sau hồi đó”.
Robert Robinson qua đời ngày 9.7.1790 lúc 55 tuổi, và đã chết như lòng mong muốn một cái chết “êm đềm, đột ngột và đơn cô”.


THẬP TỰ XƯA
Ít khi chúng ta có thể ca ngợi hay tỏ lòng biết ơn của mình đối với tác giả của những bản thánh ca trong lúc sinh thời của họ. Giống như những tác phẩm nghệ thuật khác, khi những bản thánh ca trở nên nổi tiếng thì tác giả đã qua đời từ lâu. Biết bao lần chúng ta bày tỏ lòng tôn kính, hâm mộ của mình trước những phần mộ cô đơn, khiêm tốn. Họ đã yên nghỉ hàng bao nhiêu năm trước khi chân giá trị về tài năng của họ được thiên hạ biết đến.
Tuy nhiên trong vòng những soạn giả thánh ca mà tác phẩm của họ được hoan nghênh đương thời họ, chúng ta phải kể đến Mục sư George Bernard, tác giả và nhà soạn nhạc của bài “thập tự xưa” thường được gọi là “bài thánh ca phép lạ” vì sự phổ cập khác thường và vẻ thu hút lòng người của bài hát này (sáng tác năm 1913).
George Bernard ra đời ở Youngstown, Ohio. Khi gia đình dời đến Alba, Iowa ông cũng chỉ là một em bé sơ sinh. Vài năm sau họ lại chuyển đến Lucas, Iowa và ở đó cậy Bernard đã tiếp nhận Chúa. Cha cậu mất năm cậu 16 tuổi, để lại cả gánh nặng gia đình gồm bà mẹ và 4 cô em gái trên vai người thiếu niên ấy, vì thế Bernard không thể học hành đến nơi như ý mong muốn trong sự chuẩn bị cho sự hầu việc Chúa sau này. Phải chăng những thành công sau này của ông càng đáng ca ngợi hơn vì ông đã đạt được trong khi phải đương đầu với những cuộc tranh đấu sớm sủa ấy?
Vài năm sau, cả nhà chuyển đến Illinois, nơi ông lập gia đình. Ông và bà được huấn luyện và phục vụ một thời gian như nhân viên trong tổ chức Cứu Thế quân. Sau đó ông hợp tác với hội thánh Giám lý Episcopal. Những cảm hứng dẫn đến việc sáng tác bài thánh ca này được ảnh hưởng rất nhiều qua những kinh nghiệm khi ông hoạt động trong đợi Cứu Thế quân.
Suốt trong những năm đầu của chức vụ, ông đã luôn “cầu nguyện cho một sự hiểu biết trọn vẹn về thập tự giá và chương trình (kế hoạch) của thập tự giá trong Cơ-đốc giáo”. Ông dành rất nhiều thì giờ để nghiên cứu, cầu nguyện và suy gẫm cho đến khi ông có thể nói: “Tôi đã thấy Đấng Christ của thập tự giá như thể tôi đang thấy Giăng 3:16 rời trang giấy in, mặc lấy hình dạng và hành động từ ý nghĩa của sự cứu chuộc. Trong suốt thời gian ấy đề tài của bài hát đã đến với ông. Ông muốn làm một việc gì với điều ấy tại đó ngay nhưng ông đã để ý một tiếng nói bên trong rằng “Hãy chờ đợi”. Những cuộc truyền giảng ở Michigan và Nữu ước đã ngăn trở ông viết ra bài hát mong muốn. Nhưng trên chuyến hành trình trở về Michigan, ông đã trải qua một kinh nghiệm “Khá gay go” khi cảm nhận đựơc ý nghĩa lời Phao-lô: Thông công trong sự thương khó của Đấng Christ. Những cảm xúc cá nhân cùng với những thành công trong kỳ giảng phục hưng đã khiến ông có thể đạt đến chỗ tập trung hơn bao giờ hết và dường như bài hát đã đến với ông mà không cần quá nhiều nỗ lực.
Cuối cùng bài hát được hoàn tất và ông viết lời cùng nhạc tại tư thất của ông bà Mục sư L.O.Bostwick tại Pokagon, Michigan. Trong lúc ấy một loạt bài những buổi thờ phượng ở Hội thánh Pokagon cũng đã đựơc xếp đặt.
Ông lấy cây guitar yêu thích của mình và nhờ ông bà L.O.Bostwick nghe hộ, góp ý trong khi ông vừa đàn vừa hát. Trong gian bếp của tư thất đó, ông bà Mục sư chủ nhà là những người đầu tiên thưởng thức bài Thập tự xưa do chính tác giả trình bày. Khi ông hát xong Mục sư nói với người khách của mình: “Đức Chúa Trời đã ban cho ông một bài ca bất tử. Chưa có bài hát nào làm chúng tôi cảm động như bài hát ấy”. Và họ xin ông cho phép họ xuất bản bài hát, Đêm 7.6.1913 Mục sư Bernard giới thiệu bài hát ấy ở một Hội thánh gần đó và ban hát 5 giọng đã hát bài hát ấy từ những ghi chép bằng bút chì của ông. Thành viên của ban hát lịch sử ấy gồm: Frank Virgil, Olive Mars Clara Virgil, William Thaldorf và Florence Jones cũng là nhạc sĩ Organ đầu tiên đàn bài hát mới ấy. Hằng năm, Hội thánh ấy kỷ niệm “Ngày thập tự xưa”, tên của những người đầu tiên đã hát bài ấy cùng ý nghĩa sự kiện ấy đã được khắc trên một tảng đá to gần đó.
Ngay lập tức bài hát trở nên phổ biến.
Được giới thiệu trước mặt Đại hội đồng ở Thần học viện Chicago, Illinois, lập tức bài hát được lan truyền đến hàng trăm Hội thánh khác toàn Hoa-kỳ và được thu vào hàng nghìn đĩa hát, băng nhạc. Khắp mọi nơi, tư gia, buổi nhóm, bệnh viện, nhà tù... bài hát đều trình bày sứ điệp của nó. Ngay các phạm nhân trong tù cũng gọi đó là “bài thánh ca của tù nhân”. Tác giả đã gửi một bản sao đến Charles H.Gabriel, nhà soạn nhạc thánh, hoà âm, nhạc phúc âm nổi tiếng và ông này đã gửi lại với lời tiên tri “Ông sẽ nghe từ bài hát này...
Phao-lô đã viết: “Đức Chúa Trời cấm tôi khoe mình (hãnh diện) trừ ra khoe mình trong thập tự giá của Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta (Gal 6:14). Được cảm hứng bởi Lời này, John Browning đã sáng tác bài thánh ca “Đời tôi lấy thập tự làm hiển vinh”. Từ trong bóng đêm nghèo nàn, thống khổ và sự nguyện cầu của chính mình George Bernard đã hát về năng quyền và theo thời gian, bài hát của ông cứ được thêm nhiều người biết đến.
Ông Homer Rodeheaver một nhà truyền đạo hay hát, một người chuyên xuất bản thánh ca rất nổi tiếng đã tiếp tục lan truyền ảnh hưởng của bài hát này tại bất cứ nơi nào ông đến. Đài phát thanh cũng đã sử dụng bài hát ấy và đạt đến kết quả như ta thấy ngày nay. Với năng lực tối cao của thánh ca để chữa lành tâm linh, để khích lệ, an ủi và thêm sức cho tâm hồn, bài “Thập tự xưa” chứa đựng một nhiệm vụ, một sứ điệp sẽ còn tồn tại lâu dài.
Những bài hát Phao-lô và Si-la hát giữa đêm khuya đã gây một trận động đất ở nhà giam thành Philip. Bài hát George Bernard hát từ giữa đêm tối của tâm linh ông đã gây nên một cơn chấn động thuộc linh trong vô số tấm lòng và đem không biết bao nhiêu người đến với thập tự giá.
(Người ta đã dựng một cây thập tự cao 12 bộ đứng bên vệ đường gần thành phố Reed Michigan, trên đó ghi dòng chữ “THẬP TỰ XƯA”. Ấy là một dấu hiệu nhắc nhở khách qua lại rằng, đây là “nhà của tác giả bất tử Mục sư George Bernard").

GIỜ ĐƯỢC CHIÊM NGƯỠNG
Bài hát này rất xưa nhưng vẫn nổi tiếng đến ngày nay. Isaac Watls (1674-1748) đã viết bài này tại nơi ông dưỡng bệnh. Thân phụ ông là chấp sự của Hội thánh địa phương ở Anh quốc. Dầu Isaac Walts có tài năng âm nhạc nhưng cho đến năm ông 18 tuổi mới bị thân phụ chọc tức và bắt đầu nghiên cứu nhạc. Sau đó ông được kêu gọi trở nên người hầu việc Chúa, song ông thường đau ốm nên nghỉ hưu sớm và dưỡng bệnh suốt 36 năm.
Bài này ông viết theo ý ước ao mà Phao-lô ghi lại trong Gal 6:14 “Tôi hẳn chẳng khoe mình trừ ra khoe mình về thập tự giá của Đức Chúa Giê-xu Christ chúng ta”. Có một buổi tối khi tiến sĩ William M.Taylor truyền giảng cho một xóm dân lao động nghèo ở Luân-đôn, 1500 thính giả đã cùng hát thánh ca này với lòng kỉnh kiền thành thật. Và khi vừa hát xong, Thánh Linh đã thăm viếng họ, mọi người đều trào lên lời cầu nguyện ăn năn khóc lóc, thậm chí người ta như nghe được tiếng lòng của họ. Trong cơn đại phần hưng ở xứ Wales, hầu hết các buổi nhóm đều chọn hát bài này. Một buổi nhóm khác ở Luân-đôn, do ông Torrey và Alecander hướng dẫn, khi ông đề nghị: chúng ta không cần hát hết cả bài, nhưng xin để tôi đơn ca một câu mà thôi...” Nhìn đầu, tay, chân Chúa cám cảm bấy. Yêu thương bi đát chung hoà giọt rơi. Từ nghìn xưa chẳng chi sánh cảnh ấy. Há thấy mão miện bằng gai khác đời”.
Vừa khi dứt tiếng hát, 30 người dự nhóm đứng dậy tiếp nhận Chúa.
Danh tướng Anh quốc là Edward Robert rất buồn mà đi theo bà đến dự buổi truyền giảng. Tối thứ hai ông đi một mình vì bà phải ở nhà. Sau khi hát xong bài thánh ca này, ông đã làm chứng lại rằng: “Dầu tôi kể từ bây giờ cho đến ngày mai thì cũng không xiết niềm xảm xúc của tôi lúc tôi hát câu thứ 3 của bài hát này. Vừa hát xong tôi quỳ ngay xuống, nước mắt tuôn tràn. Hầu như cả đời tôi chưa bao giờ như thế. Đó hoàn toàn do tình yêu của Chúa cảm động tôi mà thôi. Cho đến giờ cầu nguyện tin Chúa tôi mới cố gắng bước lên toà giảng. Vợ tôi đổ nước mắt cầu nguyện cho tôi đã 8 năm trời rồi”.
Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Giê-xu Christ và Đức Chúa Giê-xu Christ

CHÚA VỐN BỨC THÀNH KIÊN CỐ
Hơn 400 năm trước đây, tất cả Cơ-đốc nhân trong giáo hội hiếm được có cơ hội để hát thánh ca như chúng ta ngày nay. Những bài nhạc, bài hát chỉ dành cho quí ông trong hàng giáo phẩm và ban hát tinh tuyền diễn tấu, hát xướng mà thôi. Hơn nữa tất cả các bài hát, các tiết mục trong sự thờ phượng cùng lời Kinh Thánh đều được viết, đọc và hát bằng tiếng La tinh, thử hỏi giới bình dân tầm thường làm sao hiểu nổi?
Sau khi Âu châu bùng nổ cuộc phục hưng, cải chánh văn hoá và tôn giáo, người ta mới thấy có những bài hát được dịch và viết bằng tiếng mẹ đẻ của mình và như vậy mới phổ biến được trong dân chúng. Nhưng giá lúc ấy không có một người tài giỏi và đầy cảm lực như Martin Luther thì hẳn rằng những bài thánh ca cũng khó được lan truyền rộng rãi.
Luther là một lãnh tụ về Cách mạng tôn giáo Ông xuất thân là con một người thợ mỏ ở Đức, năm 1483. Dù sinh trong một gia đình nghèo nàn nhưng Chúa cho ông có tài năng âm nhạc không những biết sử dụng nhạc khó mà còn là một tay ca sĩ nữa. Lúc bé, Luther đã thường cùng các em khác đi hát dạo trước cửa nhà người giàu lẫn người nghèo mỗi dịp lễ giáng sinh để báo tin mừng cho họ. Ông đã nói rằng: “Tôi mong có thể sáng tác nhiều bài hát để phổ biến Lời Chúa cho cả nhân loại”. Tập thánh ca đầu tiên ra đời ở Đức năm 1524 chỉ có 8 bài hát thì phần ông đã chiếm 4 bài rồi. Tập thánh ca này được lan rộng khắp Âu châu, nước Đức được coi là “biển của thánh ca”, còn Luther được mệnh danh là chim oanh của Wittenberg. Trong tất cả những bài hát do Luther sáng tác, bài “Chúa vốn bức thành kiên cố” là bài hùng mạnh và thành công nhất. Bài này được viết năm 1529 và lấy ý từ Thi thiên 46:1-3 “Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân. Vì vậy chúng tôi chẳng sợ dầu đất bị biến cải; núi lay động và bị quăng vào lòng biển. Dầu nước biển ầm ầm sôi bọt, và các núi rúng động vì cớ sự chuyển dậy của nó”.
Thật, trong lúc ông đứng dậy một mình chống trả thế lực của tối tăm, phải đổ mồ hôi nước mắt và cả mạng sống vì chân lý vì chính nghĩa của Đức Chúa Trời, thì cả Âu châu đang bị mây đen vây phủ, bầy chiên của Chúa như ngạt thở và dường như công lao cứu chuộc của Huyết Đấng Christ đã hết hiệu lực. Martin Luther cảm thấy chán nản. Bệnh tật cùng nỗi thất vọng phủ chụp ông để làm tiêu tan sức lực, lòng hăng hái của ông. Mười hai năm trước, ông đã dũng cảm đóng 95 luận đề của mình lên cánh cửa nhà thờ ở Wittenberg, nước Đức. Ông nhớ rất rõ nhiều sự kiện đã xảy ra từ sự kiện đáng nhớ ấy của năm 1517. Ông đã bị Giáo hoàng dứt phép thông công và ông đã ngang nhiên đốt lệnh đốt ấy trước mặt công chúng, như Giáo hoàng đã phải ra lệnh đốt sách của ông sau này vậy. Những cuộc tranh luận với Tiến sĩ John Eck, cuộc họp Nghị viện nổi tiếng ở Worms, việc dịch Kinh Thánh ra tiếng Đức phổ thông cùng với cuộc hôn nhân của ông với Katherine Von Bora 4 năm trước... Tất cả đều hiện ra trong tâm trí ông.
Nhưng năm 1529 là khoảng thời gian buồn bã, không chỉ cho cá nhân ông mà cũng cho cả phong trào ông khởi xướng 12 năm trước đó. Trong nỗ lực dứt mình ra khỏi trạng thái chán nản, thậm chí ông dùng cả một lời khuyên của chính mình: “Eva sa vào phiền toái khi bà đi dạo một mình trong vườn. Tôi có những cám dỗ nguy hiểm nhất khi tôi chỉ ở với chính mình”, ông đã từng viết như vậy. Vì thế ông chủ tâm né tránh sự cô độc và tìm bầu bạn với những người có đồng quan điểm.
Ông cũng nói: “Không ăn uống là một cách chước tệ hại nhất, không thấy đói bụng cũng đủ tệ hại để chán nản rồi. Thế là ông tìm bè bạn ở yến tiệc, ăn uống để nếu không thoả mãn tấm lòng thì cũng thoả mãn thể xác vậy! Nhìn đến mấy tác phẩm vừa viết, ông nhận ra rằng đã có lần ông viết: nguyên tắc để bứt mình ra khỏi sự lười biếng, nhàm chán và thất vọng là: Đức tin nơi Đấng Christ, phát điên, được tình yêu của một phụ nữ tốt. Nhưng phương thuốc ưa thích của ông là âm nhạc. Ông nói: “Ma quỉ ghét âm nhạc vì nó không chiụ nổi sự hoan hỉ. Sa-tan có thể cười tự mãn nhưng không thể cười vui vẻ, có thể cười nhạo song không thể hát”. Vì thế ông có thể hát với gia đình, bè bạn và ngay lúc chỉ một mình. Ông viết: “Khi tôi đi ngủ, ma quỉ luôn luôn chực chờ tôi, tôi bắt đầu dứt khỏi kẻ thù ghê tởm ấy bằng cách giảng dạy và hát với mình. Nhiều lần, điều này rất có hiệu quả. Đối với tôi, sống là một chiến đấu không ngừng cho đức tin. Nhằm đánh bại kẻ thù của tôi, đôi lúc tôi phải gặp nó, lao đầu vào nó, đối mặt với nó, có những lần khác tôi phải gặp sự thách thức của ma quỉ cách gián tiếp”.
Nhưng tại Loburg vào năm 152 - ông 45 tuổi - sự chán nản kéo dài hết ngày này sang ngày khác cho đến lúc ông nghĩ rằng ông sẽ không bao giờ lấy lại niềm tin tưởng và sự bình tịnh đã có được trước đó. Từ chốn sâu thẳm của nỗi thống khổ và tuyệt vọng của mình, ông nhớ đến lời Chúa Giê-xu trên thập giá: “Đức Chúa Trời ôi, Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” Ông tự nhủ rằng chính tiếng kêu tuyệt vọng bắt đầu với những chữ: “Đức Chúa Trời tôi ơi”, là một lời khẳng định của đức tin. Ông ngước mắt thuộc linh nhìn qua các từng trời, thấy rõ Đức Chúa Trời vốn là sức lực của ông là nơi ở đời đời của ông, vậy sao ông lại sợ điều chi nữa, hoặc bất cứ ai nữa? Và ông đã hát lên.
Martin Luther, người đã trao lại cho đồng bào mình quyển Kinh Thánh bằng tiếng mẹ đẻ của họ cũng là người phục hồi việc ca hát trong hội chúng, ông sáng tác thánh ca Đức ngữ, soạn hoà âm, khiến âm nhạc thành niềm vui của toàn thể hội chúng thay vì là bổn phận thuần tuý và đơn độc của ca đoàn; ông cũng cho phép cả phụ nữ được đồng ca giữa nơi công cộng là điều đã bị ngăn chặn khỏi họ trong một ngàn năm rồi. Với những lời Thi thiên 46 bùng cháy trong lòng, cuối năm 1529, ông ném sự thách thức của mình vào những kẻ thù, bất kể đó là Giáo hoàng hay nông dân, Sa-tan hay tội lỗi... Qua ngòi bút, ông đã kể lại cuộc chiến đấu của mình trong một thánh ca oai nghiêm nhất đã từng được viết ra. Năm 1853, bài thánh ca đã được Frederick Hedge dịch sang Anh ngữ bài những lời hùng tráng sau đây:
Chúa vốn bức thành kiên cố ta rày
Thuẫn khiên ta che đỡ hằng ngày
Đấng cứu giúp hồi nguy khốn, ưu sầu
Đấng giúp ta luôn thắng nhiệm mầu
Ngày đêm dẫu quân thù xưa, nghịch ta, ta khôn nghiêng ngửa
Tuy nó thâm mưu đa tài quyết chống ta suốt đêm ngày
Quả trên đất không ai địch tày...
Bốn khổ thơ nhắc nhở rằng Thiên Chúa là thành luỹ, Christ là Đấng Quán quân và Sa-tan là kẻ thù của linh hồn; nhưng chiến thắng cuối cùng sẽ thuộc về Đức Chúa Trời, Đấng mà “Vương quốc của Ngài là đời đời”.
Bài thánh ca này đã khích lệ chính Luther cùng nhiều người khác. Người ta đã bảo bài hát ấy như trụ mây và trụ lửa cho nước Đức trong thời kỳ khốn khổ. Mỗi tín hữu phải Cải chánh đều biết và thích hát bài ấy. Các em thiếu nhi lúc vui đùa, người mẹ hiền ngồi bên rổ khâu vá, chiến sĩ nơi tiền tuyến hay người công nhâ khi đổ mồ hôi lao động cũng đã hát lên bài ấy. Người ta đã từng gọi đó là bản quốc thều của nước Đức.
Martin Luther (1483-1546) một trong những anh hùng đức tin nổi tiếng trong lịch sử đã để lại cho chúng ta một di sản lớn lao nhất của ông, đó là những lời và nhạc bài thánh ca “Chúa Vốn Bức Thành Kiên Cố” ấy.

TÔI NGUYỆN ĐẾN LIỀN
Charlotte Elliott (1789 1871) nổi khùng với bản thân cô, với gia đình và với cả Đức Chúa Trời. Ba mươi ba tuổi lẽ ra cô phải tràn đầy sức khoẻ mới phải, đàng này cô cứ bệnh hoạn yếu ớt bởi phải chịu sự huấn luyện căng thẳng về âm nhạc và nghệ thuật.
Cô phàn nàn: “Nếu Đức Chúa Trời yêu tôi, Ngài ắt chẳng đãi tôi như thế. Lẽ ra Ngài phải đãi tôi, đối xử với tôi như tôi đã đối xử với anh, chị tôi hay bất cứ ai mà tôi yêu mến”.
Tinh thần phản kháng không chỉ gây ô nhiễm lòng cô mà còn làm cuộc sống của cả gia đình căng thẳng theo. Để làm dịu tâm hồn cô con gái tài năng của mình, ông Charles Elliot đã mời Tấn sĩ Cesar Malan, mục sư và nhạc sĩ nổi tiếng người Thuỵ sĩ đến chơi nhà ông ở Westfield Lodge, Brighten nước Anh vào tháng 5.1822. Ngày 9.5 Tấn sĩ Malan - người được kể là nhạc sĩ lớn nhất trong giới biên soạn thánh ca tiếng Pháp ngồi ăn tối với gia đình Elliot thì Charlotte bùng nổ cơn tình cảm điển hình của cô: cô nguyền rủa rằng Đức Chúa Trời độc ác đối với cô, cô chỉ trích anh cô, Mục sư Henry Venn Elliot cũng như em gái cô và cả cha cô nữa về sự thiếu cảm thông của họ đối với cô. Buồn phiền vì thái độ thiếu tôn trọng của Charlotte đối với vị khách quí danh tiếng, cha cô cáo lỗi và rời khỏi phòng ăn cùng người con trai và cô con gái thứ hai.
Tấn sĩ Malan và Charlotte nhìn đối mặt nhau qua bàn ăn. Sau giây phút yên lặng căng thẳng, Tấn sị hỏi:
- Cô chán ngấy chính mình cô phải không?
- Ý ông muốn nói gì? Cô giận dữ hỏi lại ông.
- Cô giữ sự ghen ghét, tức giận vì trên đời này cô chẳng có gì để bám víu. Ông đáp. Kết quả là cô trở nên chua cay và bất mãn.
- Thế phương thuốc chữa trị của ông là gì nào? Cô hỏi.
- Cô cần đức tin mà cô đang cố khinh bỉ, loại bỏ đó.
Cảm nhận được sự hiểu biết của Tấn sị Malan đối với mình, chẳng bao lâu Charlotte trút bỏ “cái vỏ” của mình, buông thả những cảm xúc bị giam chặt mà cô cứ mãi chiến đấu để che giấu trong nhiều năm. Tấn sĩ Malan giải thích thế nào Đức Chúa Trời, như chúng ta biết Ngài trong Chúa Giê-xu, có thể giúp cô tìm thấy sự bình an trong tâm hồn cũng như cho trí não và thể xác cô. Bất chợt Charlotte thấy rõ con người mình như Đức Chúa Trời thấy, và cô thật xấu hổ.
- “Thưa Tấn sĩ” cô nói “Tôi muốn xin lỗi ông về thái độ thiếu tôn trọng của tôi trong bữa ăn, xin ông tha thứ cho tôi. Tôi cũng xin được Tấn sĩ khuyên bảo. Nếu tôi muốn trở thành một Cơ-đốc nhân, được chia xẻ sự bình an, vui mừng mà Tấn sĩ đang có đó thì tôi phải làm gì và làm thế nào?”
- “Cô phải dâng mình cho Đức Chúa Trời như chính cô hiện giờ đây”, ông giải thích, “với những cuộc chiến đấu và những nỗi sợ hãi, những điều thù ghét và tình yêu thương, với lòng đố kỵ cùng tánh nóng giận, với lòng kiêu ngạo lẫn sự xấu hổ... Chúa sẽ cất những thứ đó ra khỏi lòng cô trong sự tương xứng với đức tin và thay vào đó là tình yêu lớn lao của Ngài.
- “Như chính tôi hiện giờ?!” Charlotte lặp lại và thêm “tôi phải đến cùng Chúa với con người tôi, hiện trạng như chính tôi giờ đây phải không?
Tấn sĩ Malan đáp: “Phải rồi, hãy cầu nguyện thế này: Lạy Đức Chúa Trời, con đến cùng Ngài với con người của chính con giờ đây để Ngài làm mới lại và sử dụng con cho sự vinh hiển và cho nước của Ngài”.
Mười bốn năm sau, vào ngày kỷ niệm buổi nói chuyện đó, Charlotte sớm được gọi cách trìu mến là 'Tia thái dương của Brighton” nhận được bức thư hằng năm của Tấn sĩ Malan. Bà hồi tưởng lại lần gặp gỡ ấy và những đổi thay kỳ lạ trên đời sống mình, bà nhớ lại lời Tấn sĩ “đến cùng Chúa như chính cô hiện giờ thế nào, đừng cố gắng nữa, Chúa muốn cứu chữa từ chính bộ mặt này, tình trạng này của cô...”, rồi bà cũng nhớ câu trả lời của mình... Bà cũng nghĩ đến, nhớ đến nhiều người chỉ mãi lo kiếm tiền, chạy theo dục vọng, phạm đủ mọi tội và rồi nặng trĩu mặc cảm, sợ đến với Chúa...
Lúc ấy anh và em gái bà vắng nhà, bận giúp bán hàng trong cho bán hàng vì công ích xã hội của Trường Nữ thánh Mary, Charlotte nay đã 47 tuổi - ngồi viết ra lời tự thuật tâm linh của mình trong một bài thơ có 7 khổ, mà những dòng bắt đầu như sau:
Tuyệt nhiên không cách chi bào chữa tôi
Chỉ huyết Giê-xu đã đổ thay rồi
Ngài yêu tôi lắm hằng khuyên tôi đến
Kính thưa (Giê-xu) Chiên Con tôi nguyện đến liền...

TÂM LINH TÔI YÊN NINH THAY
Bi kịch đã xảy ra ngay trước khi lời bài thánh ca này được viết ra cũng như liền sau khi nó được phổ nhạc.
“S.S.Ville du Havre” chiếc thuyền Pháp và là chiến thuyền sang trọng nhất trên biển khi nó khởi hành từ Nữu ước tháng 11.1873. Trong số hành khách trên thuyền có bà H.G.Spafford ở Chicago cùng 4 con là Maggie, Taretta, Annie và Bessie. Ông Spafford không thể cùng đi với gia đình vì bận công việc ở Chicago, thành phố vừa chịu một trận hoả hoạn lớn khủng khiếp. Dầu vui vẻ vì gia đình ông cùng đi trên một chuyến tàu có những anh em trong Chúa, song có một linh cảm chợt đến trước phút chia tay đã khiến ông xin đổi phòng khác cho bà và các con. “Tạm biệt” ông chào gia đình và hứa sẽ gặp họ ở Pháp trong một vài tuần đến.
Lúc 2 giờ sáng ngày 22.11.183 khi chiếc tàu sang trọng đó đã rời bến được nhiều ngày và đang lướt sóng trên mặt biển yên tĩnh thì nó bị một chiếc tàu sắt Anh, chiếc Lochearn đâm vào. Trong vòng 2 tiếng đồng hồ, chiếc S.S.Ville du Havre đã chìm xuống đại dương cùng với 226 hành khách, gồm cả 4 người con của ông bà Spafford. Chín ngày sau, khi những người sống sót cập bến Cardoff của xứ Wales bà Spafford gửi cho chồng một bức điện chỉ mấy chữ “Được cứu một mình”. Khi nhận điện tín của bà, ông đã nói với một người bạn thân rằng: “Tôi vui mà tin cậy Đức Chúa Trời khi điều đó khiến tôi phải trả giá”. Đối với ông, đây là thử thách thứ hai đến hầu như là quá sớm ngay sau bước chân của thử thách thứ nhất trong trận hoả hoạn ở Chicago, ông đã mất tất cả của cải, trong cơn bi kịch ở đại dương, ông đã mất tất cả 4 đứa con yêu quí. Cố gắng sớm tới mức tối đa ông đặt chỗ đi tàu qua Âu châu để gặp lại vợ. Trên đường tàu đi, tháng 12 năm 1873 đó, vị thuyền trưởng mời ông vào phòng mình và bảo: “Tôi tin rằng chúng ta đang đi qua nơi chiếc Ville du Havre đã chìm đấy ông Spafford ạ”. Đêm ấy, ông Spafford trằn trọc mãi nhưng rồi chẳng bao lâu đức tin đã chiến thắng nghi ngờ và tại đó, giữa Đại Tây dương trên con tàu ấy và từ nỗi thống khổ thương tâm, ông đã viết ra 5 khổ thơ mà khổ thơ đầu là:
“Khi tôi đựơc bình tịnh dường sông chảy theo đường đời
Hoặc lắm thống bi như ba đào sôi
Hoàn cảnh dẫu ra sao, Christ khuyên cứ nói sắt đinh: Linh hồn tôi yên ninh thay, bình an thay!...
Vài tuần sau, khi gặp nhau ông Spafford nói với vợ “Chúng ta không mất các con. Chúng ta chỉ xa nhau một thời gian ngắn thôi”.
Ông Spafford và ông Philip Paul Bliss - nhà lãnh đạo ban hát và nhà soạn nhạc - vốn quen biết nhau. Cả hai ông đã nhiều lần cộng tác với Moody và Sankey trong những cuộc truyền giảng và Bliss trong vài dịp đã hướng dẫn việc hát khi Spafford là diễn giả.
Theo đề nghị của Spafford, Bliss đồng ý phổ nhạc bài thơ trên. Và vào ngày thứ sáu cuối tháng 11 năm 1876 tại một buổi họp mặt ở Farwell Hall, Chicago có mặt khoảng 1000 mục sư, Bliss đã giới thiệu bài “Tâm linh tôi, yên ninh thay” của hai ông bằng một bài đơn ca.
Một tháng sau, khi nét mực trên bản thảo bài hát ấy còn chưa khô, ông bà Bliss để hai đứa con lại với bà nội chúng rồi đi xe lửa từ Buffalo Nữa ước đến Chicago, nơi dự định tổ chức một chiến dịch truyền giảng ngay sau ngày đầu năm mới. Họ rời Buffalo vào trưa thứ sáu 29.12.1876. Khoảng 8 giờ tối đêm ấy, lúc chuyến xe đang tiến gần đến Ashtobula, bang Ohio thì cây cầu bắc ngang một thung lũng hẹp sâu, đã gãy khiến chiếc xe lửa cùng 7 toa hành khác đâm xuống dòng sông phủ băng bên dưới. Ngay sau đó, hoả hoạn xảy ra giết chết nhiều người không bị chết chìm nhưng bị nhốt bởi sườn tàu ngã và những thành gỗ xoắn lại. Trong số 160 hành khách chỉ có 59 thi thể được tìm thấy cùng với 12 người sống sót. Một trong những người sống sót kể rằng ông Bliss có thể thoát ra được nhưng vì bà Bliss bị kẹt trong đống đổ nát một cách vô vọng; ông đã ở lại bên bà, sau đó ngọn lửa đã xông tới chỗ họ và cả hai chắc chắn đã chết.
Trong 3 ngày bạn bè ông đã ở lại tại nơi xảy ra thảm hoạ song họ chẳng tìm được một dấu vết gì của người ca trưởng ấy cùng vợ, dẫu hàng tá đồ vật đã được moi ra từ tro tàn và từ đáy sông.
Tất cả họ không có một ngôi mộ nào ở trần thế này, 4 người con của ông bà Spafford chìm giữa lòng Đại Tây dương và ông bà Bliss chết trong tai nạn xe lửa ở Ohio. Nhưng bài thánh ca của họ, với một bi kịch đi trước và một bi kịch khác theo sau, sẽ mãi mãi sống trong lòng con cái Chúa là những người thoả vui rằng cả gia đình Spafford và Bliss đều có thể hát cách trung thực và khải hoàn rằng:
Tâm linh tôi, yên ninh thay, yên ninh thay.

MIỀN VINH HIỂN
Đây là bài thánh ca duy nhất được sáng tác và soạn nhạc trong một hiệu thuốc tây. Bài hát đã ra đời vì Samuel Fillmore Bennett, dược sĩ 31 tuổi, biết toa thuốc phải kê đúng lúc.
Là một người thuộc hạt Evre, bang Nữu ước, Bennett cùng gia đình chuyển đến Elkon bang Wisconsin vào giữa thế kỷ 19 nơi ông lớn lên và trở thành chủ bút một tờ báo tỉnh nhỏ, tờ “độc lập”. Khi cuộc nội chiến xảy ra, ông gia nhập quân đội và trực thuộc đơn vị tình nguyện Wisconsin thứ 40 và còn ở trong quân ngũ cho đến khi cuộc chiến chấm dứt năm 1865. Trở về Elkon ông mở một thiệu thuốc mà lúc ấy gọi là cửa hàng bào chế và bán dược phẩm dược cụ.
Trong vòng bạn bè Bennett có Joseph P.Webster, một nhạc sĩ địa phương có tài vừa mới đi một vòng các tiểu bang miền Bắc với ban tứ tấu do chính ông thành lập. Suốt 2 năm sau đó, 2 người đã cộng tác chặt chẽ, Bennett viết lời còn Webster vốn là một nhạc sĩ violon tài năng soạn nhạc.
Một buổi sáng cuối thu năm 1867 một phụ nữ bước vào hiệu thuốc và nói với người chủ hiệu:
- Ông Bennett này, cách đây mấy phút tôi gặp bạn ông, ông Joseph Webster ấy mà. Ông ta có vẻ như vừa mất một người bạn tốt nhất của mình vậy. Có chuyện gì thế ông?
Bennett trả lời
- Ôi, bà biết mấy ông nhạc sĩ mà: nay thì nóng mai thì lạnh. Nhưng nếu bà muốn biết làm sao để chữa trị ông ta thì tôi sẽ kê cho bà một toa thuốc chưa bao giờ thất bại.
- Toa ấy viết bằng tiếng La tinh hở?
- Ồ không, tôi viết bằng tiếng Anh bình thường ấy chứ. Bà biết đó, tôi và Joe đã bỏ công sức cho tập bài hát mới của chúng tôi gần 2 năm nay rồi. Joe viết nhạc cho mấy bài thơ của tôi. Cứ lần nào ông ấy đến đây mà có vẻ buồn rầu chán nản thì tôi để ông ấy một mình trong giây lát. Nếu anh ta không ra khỏi tình trạng ấy thì tôi sẽ lôi ảnh ra bằng cách viết một bài thơ mới cho ảnh phổ nhạc. Đó là toa thuốc đặc biệt của tôi đấy bà ạ. Khi ảnh bắt đầu nghĩ đến một điệu nhạc mới là ảnh quên mất hết những nỗi lo lắng phiền muộn của mình và trở nên thư thái ngay ấy thôi bà ạ.
Nghe vậy bà khách cười lắc đầu rồi cầm túi xách ra về.
Một lát sau, Webster đi vào hiệu thuốc, chẳng nói chẳng rằng cũng chẳng liếc chào ai mà cứ đến ngay chỗ lò sưởi. Chờ đợi một chặp rồi Bennett mới lên tiếng:
- Chào Joseph nhá.
Bạn ông chẳng trả lời. Ông nói thêm:
- Thôi, sớm muộn gì anh cũng nói mà, vậy thì anh nên nói hết những gì trong lòng anh ngay bây giờ đi, nào có gì xảy ra vậy ông bạn?
Webster bắt đầu trút đổ ra tất cả những nỗi nhức nhối, đau đớn, chán nản, thất bại chồng chất trong khi Bennett yên lặng lắng nghe. Cuối cùng Joseph kết thúc: “Thôi tôi nghĩ thực ra cũng chả ích lợi gì để cứ nóng nãy như thế. Rồi đây mọi điều sẽ tốt đẹp trong miền vinh hiển”.
Bennett ngắt ngang:
- Sao? Anh vừa nói gì đó hở Joe?
- À, tôi vừa bảo rằng rối đây mọi điều sẽ tốt đẹp trong miền vinh hiển.
Bỏ người bạn đứng bên lò sưởi, nhà dược sĩ đi đến bàn mình, lấy giấy và bắt đầu viết. Hai khách hàng bước vào tiệm nhưng vị chủ nhân từ chối phục vụ họ cho đến khi ông hoàn tất việc cần thiết trước mắt, vì thế họ được Webster tiếp chuyện. Khi một khách hàng nói với bạn mình rằng: “Trong ông Webster như vừa té vào đóng rác vậy”. Người nhạc sĩ ấy trả lời: “Xin các ông đừng lo cho tôi. Tôi vừa bảo rằng rồi đây mọi sự sẽ tốt đẹp trong miền vinh hiển”.
Bennett đứng lên, rời bàn đi lấy giấy và mực ở một quầy cạnh đó rồi tiếp tục viết. Vài phút sau, ông trao tờ giấy cho Webster và nói:
- Đây là đơn thuốc của anh, Joe à. Tôi hy vọng nó sẽ công hiệu như những đơn thuốc trước vậy nhé.
Webster liếc nhìn tờ giấy, rồi bắt đầu đọc to lên những gì bạn mình vừa viết:
“Miền vinh hiển kia rạng soi hơn ô vàng, nhờ lòng tin ta trong thấy cảnh hiển vinh.
Vì Cha ở bên kia mong ta trọn đàng, Ngài đang sắm cho phần ta nơi đẹp xinh.
Trong chốn ấy rất êm dịu, bờ bên đó thoả mãn bấy ta gặp nhau.
Trong chốn ấy rất êm dịu, bên bờ đẹp nơi chúng ta mong gặp nhau.
Cầm cây violon lên, Webster bắt đầu phổ ngay một giai điệu đơn giản cho mấy khổ thơ mới. Chỉ trong chốc lát ông đã ngâm nga điệu “điệp khúc”.
- Đưa cho tôi tờ giấy, Webster nói: để tôi ghi nhanh nốt nhạc kẻo tôi quên mất đấy.
Ông dạo qua điệu hát hai ba lần nữa rồi nói với 3 người kia.
- Chúng ta có 4 người hợp thành một ban tứ ca nam tốt đấy. Mình hát thử bài hát mới này đi xem nó ra sao nhé.
Khi họ đang hát bài “Miền vinh hiển” lần đầu tiên đó thì ông R.R.Crosby, chú của bà Bennett bước vào, chờ 4 người hát xong lời 2, ông nói:
- Thưa các ông, tôi chưa bao giờ nghe bài hát này nhưng bài hát này sẽ bất tử đấy. Tôi đang băng qua đường và nghe hát, tôi nghe và không thể không vào để lắng nghe.
Vài ngày sau, bài hát được giới thiệu với công chúng. Trong vòng 2 tuần lễ, bài hát được đám thanh thiếu niên hát khắp Elkon. Được in trong quyển “The Sighet Ring” (Hội ấn chứng) của Webster và Bennett năm 1868, bài hát ấy là bài phổ biến nhất và thành công nhất mà hai ông đã từng sáng tác. Nguyên thuỷ bài “Miền vinh hiển: chỉ được viết trên một tờ giấy nhỏ 5 x 7ich. (12,70cm x 17,78cm như một toa thuốc” nhưng nó đã đủ tầm vóc đi vào lòng của tín hữu Cơ-đốc trên toàn thế giới.


TA SẼ CHUNG NHÓM TRÊN THIÊN HÀ
Mặc dù Mục sư Robert Lowry thường nói rằng: “Tôi thích giảng một bài giảng hơn là viết một bài thánh ca”, song ông lại thường được nhắc đến qua những bài hát hơn là những bài giảng của ông. Thực tế là nếu không bởi những bài thánh ca của ông thì tên ông chắc khó được nhớ đến, dầu ông chẳng có một sự học hỏi âm nhạc nghiêm túc (chính qui) nào cho đến sau sinh nhật thứ 40 của ông.
Có thể là điều không bình thường khi người ta trông đợi một giáo sư đại học sáng tác một bài hát được công chúng ưa thích, nhưng Lowry một thời là giáo sư thuật hùng biện ở trường ông (Đại học đường Buckneil) đã viết lời và nhạc của 'bài hát làm đổ nước mắt nhiều nhất' trong thời của ông. Bài hát thoạt tiên có tên “Đứa con vắng mặt” bài hát được biết đến cách thiết thực hơn theo lời ở dòng đầu “Đứa con lang thang của tôi đêm nay ở đâu?”. Không còn nghi ngờ gì rằng bài hát này đã nảy sinh bởi một câu hỏi của một con chiên khi ông đi thăm viếng từng gia đình tín hữu trong Hội thánh mình.
Ông cho biết ông sáng tác bài hát của mình ra sao: “Tôi xem xét tâm trạng đang ở đâu, ở trong nhà hay ngoài phố, tôi cũng ghi nhanh ra không kể lời hay nhạc, thường thì ngoài lề một tờ báo hay mặt sau của một bì thơ thường thường thì tôi viết cả lời và nhạc luôn một lúc”.
Lowry đã có một đóng góp hiển nhiên vào phần âm nhạc Trường Chúa nhật khi ông sử dụng tốt các phần “Điệp khúc”. Ông thấy rằng phần này cần thiết không chỉ để hoàn tất ý nghĩa của các khổ thơ song cũng giúp các em nhỏ vốn không thể đọc được vẫn có thể hát chung với người lớn. Kết quả là ông dạy phần “điệp khúc” cho lũ trẻ và khuyến khích chúng hát chung với người lớn sau mỗi khổ thơ.
Sau những năm hầu việc Chúa tại các Hội thánh Báp-tít ở West Chesterm bang Pensylvania và thành phố Nữu ước, ông đến Brooklyn (Nữu ước) làm người chăn bầy cho một Hội thánh Báp-tít ở đó. Mùa hè năm 1864, thời tiết ôi bức và ẩm ướt lạ thường. Cuộc sống thành phố đã quá đủ mức tệ hại rồi với cái thời tiết nóng bức kinh khủng đó, thế mà dân chúng lại thêm khốn khổ khi một trận dịch bắt đầu quét qua các đường phố, ngõ hẻm của đô thị đông nghịt người ấy. Hết người này đến người khác ngã xuống và cơn dịch thay vì giảm bớt, lại có vẻ nổi cơn thịnh nộ với số bệnh nhân mỗi ngày một tăng. Hàng trăm người chết và hàng trăm người khác nữa nằm chờ chết. Robert Lowry tận tuỵ đi thăm từ nhà này qua nhà kia, uỷ lạo người bệnh, an ủi người có tang và người ta cứ hỏi ông: “Thưa Mục sư, chúng tôi đã chia tay ở tử hà liệu chúng tôi có gặp lại nhau ở sinh hà không?” Ông phải an ủi họ rằng gia đình họ nay tan vỡ thì sẽ lại toàn vẹn “ở dòng sông của sự sống chảy bên ngai Đức Chúa Trời” theo ý của Khải 22:1 “Thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra”. Ông nhắc đi nhắc lại lời hứa này với hàng trăm gia đình, khi hết nhà này đến nhà khác phủ trong màn tang chế, khi bạn bè và người thân nằm xuống hàng loạt.
Vào lúc xế trưa một ngày nọ, vị Mục sư mệt mỏi đi vào phòng khách trong cái nóng tàn bạo hơn bình thường và số người chết tăng thêm nhiều vô kể. Ông ngồi vào cây Organ nhỏ bé của mình để tìm sự xoa dịu, giải thoát trong âm nhạc và cũng để tìm lối thoát cho những cảm xúc bị đè nén trong lòng ông. Ông nghĩ về nhứng đứa trẻ, “những thiên sứ quí báu của Đức Chúa Trời, đã không chịu nỗi sự tàn hại của trận dịch và về những người khác đã ra đi trước đó. Đột nhiên, lời và nhạc của một bài hát mới bắt đầu tuôn ra như thể bởi cảm hứng vậy. Chẳng mấy chốc ông cất tiếng hát:
“Phải chăng sau này họp trên sông vàng, nơi muôn thiên sứ hay lai vãng.
Sông kia tuôn dòng lưu ly muôn đời, lưu ra từ ngôi Đức Chúa Trời?...”
Trả lời câu hỏi của chính mình với sự xác tín của đức tin Cơ-đốc, ông viết tiếp phần “điệp khúc":
“Vâng, ta sẽ chung nhóm ở thiên nhà là sông đẹp xinh đẹp xinh không thể thuật ra,
Sông đây nơi họp của thánh dân muôn đời, sông tràn từ ngôi Đức Chúa Trời”.
Năm sau, năm 1865 bài hát được in trong tập “Những giọng hát hoan hân” với tựa đề “Gặp nhau trong đời sau”. Từ đó bài hát ấy lan tràn trong những quyển thánh ca và bài hát của nhiều giáo phái.
Khi William Bradbury mất, Tấn sĩ Lowry được công ty Biglow và Marn chọn kế tục và trong điều kiện ấy, ông cho in rất nhiều trong số những quyển bài hát Trường Chúa nhật cho họ “Vàng ròng”, một trong những quyển ấy bán được hơn một triệu bản.
Trong khi bị sử dụng cách sai lầm bởi một vài giáo phái hoặc bị đã kích, phê bình ác ý bởi những nhóm khác, hoặc là đầu đề của nhiều trò cười nhạo thô thiển của vài diễn giả thì bài thánh ca “Ta sẽ chung nhóm ở Thiên hà” vẫn còn có thể an ủi tấm lòng tan vỡ và làm mạnh mẽ tấm lòng phiền muộn với lời bảo đảm về sự tái ngộ sẽ đến với những người thân yêu, người mà “chúng ta đã yêu trong một thời gian dài và mất trong một thời gian ngắn”.


NGÀI DÌU DẮT TÔI
Toà nhà Giáo hội Báp-tít đầu tiên ở góc Tây Bắc hai đường Broad và Arch ở thành phố Philadelphia đang bị phá xuống để dành chỗ cho một toà nhà hiện đại dùng làm văn phòng của công ty Liên hiệp Cải thiện khí đốt của thành phố đó. trong lúc đứng nhìn ngôi nhà thờ cũ bị kéo xuống, một tu sĩ Báp-tít nói với một nhân viên của công ty: “Toà nhà cũ kỹ ấy có một lịch sử đặc biệt. Một bài thánh ca tuyệt diệu, bài “Ngài dìu dắt tôi” đã được sáng tác tại đó”.
Khi toà nhà mới đã xây dựng xong, người ta đã đúc một tấm bảng đồng để tưởng nhớ tác giả và dịp tiện tạo cảm hứng để ông sáng tác bài thánh ca nổi tiếng nhất của ông. Tấm bảng đồng ghi: “Ngài dìu dắt tôi” bài thánh ca mà cả thế giới hát, đã được sáng tác bởi Mục sư Tấn sĩ Joseph H.Gilmore, là con trai của vị tiểu bang New Hampshire, tại nhà của chấp sự Wattson ngay sau khi ông giảng luận trong nhà thờ Báp-tít đầu tiên ở góc Tây Bắc hai đường Broad và Arch vào ngày 26.3.1862. Ngôi thánh đường và nhà riêng của chấp sự Wattson ở ngay trên chỗ toà nhà này. Trong tinh thần ngưỡng mộ vẻ đẹp và danh tiếng của bài thánh ca và cũng để tưởng niệm tác giả bài thánh ca ấy, công ty Liên hiệp Cải thiện khí đốt đã thực hiện bảng cố định này ngày 1.6.1926.
Những kỷ niệm trở về với đêm thứ tư, tháng 3.1862 ấy:...Suốt trong những tháng ngày tuyệt vọng, ảm đạm của cuộc Nội chiến, vị mục sư trẻ cứ giảng dạy trong ngôi nhà thờ lịch sử này. Hai mươi tám tuổi, Mục sư Joseph H.Gilmore đã được chuẩn bị tốt cho chức vụ của ông: ông đã tốt nghiệp với lời khen tặng của Đại học đường Brown và chủng viện thần học Newton nhiều năm trước. Khi ông cùng bà đến Philadelphia (thành phố của Tình huynh đệ), họ đã có chút mơ mộng rằng họ đang bước vào cuộc hành trình quan trọng nhất trong đời họ. Vị mục sư trẻ tuổi ấy đã chọn Thi thiên 23 cho buổi thờ phượng giữa tuần. Suốt những ngày ảm đạm ấy ông cứ đặt mình vào sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời. Ông nhắc đi nhắc lại: “Chúa dẫn tôi bên mé nước bình tịnh, Ngài đưa tôi trong các lối công bình”, và giục giã tín hữu hãy theo sự dẫn dắt của Thiên Chúa như đàn chiên theo người chăn. Ông nài khuyên họ hãy tìm kiếm trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm như đã được Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên để dẫn dắt họ ra khỏi vòng nô lệ của Ai-cập để vào sự tự do của Đất Hứa.
Sau buổi nhóm, Mục sư và bà Gilmore cùng đi với ông bà chấp sự Wattson đến nhà ông bà ấy. Ngôi nhà ấy ở cạnh nhà thờ, phía khu trung tâm thành phố. Mục sư Gilmore không thể kìm chế việc giảng lại đề tài ông đã chọn. Đề tài ấy cứ đeo đuổi ông cho đến khi ông phải ghi ra thành những dòng thơ lên mặt giấy phía sau phần bài giảng vừa rồi của ông, thì lúc ấy ông mới thấy nhẹ nhàng khuây khoả được. Ông bắt đầu với những lời như sau:
“Chúa dìu dắt tôi! Ôi ý nghĩ phước hạnh biết bao;
Ôi những lời tràn đầy niềm an ủi thiên thượng;
Ở đâu, làm gì.. tay Chúa vẫn cứ dắt dẫn tôi..”...
Ông viết một mạch, khi ông dừng bút thì đã có được 4 khổ thơ và một điệp khúc.
Trong khi ông quên ngay bản diễn ý bằng thơ ca Thi thiên 23 của mình thì bà không thế. Bà gửi một bản đến tờ “Người Canh gác và Người Phản ảnh” ở Boston, bài thơ ấy được xuất bản. William Bradbury khám phá thấy bài thơ liền phổ nhạc và việc ấy đã đảm bảo cho tác giả một chỗ đứng vững chắc trong thánh nhạc Cơ-đốc. Joseph H.Gilmore đã giữ nhiều chức vụ cao quí trong giới tôn giáo và giáo dục và là người nhận vô số vinh dự xứng đáng trong suốt cuộc đời 84 năm dài đầy bông trái.
Ngày nay ông vẫn được nhớ đến bởi một bài thơ 4 khổ thảo nhanh trong phút cảm hứng sau buổi giảng ở Philadelphia khi ông 28 tuổi, bởi một vợ nhạy cảm đủ để nhận thức điều tốt đẹp khi bắt gặp được nó và bởi một nhà soạn nhạc tinh tế chẳng bao giờ để lọt khỏi mình một bài thơ tuyệt tác được.


ÔI CHÚA ĐẤNG TÔI CẦN LUÔN
Theo như lời của tác giả thì bài thánh ca quen thuộc này đã được “thổi” vào trần gian bằng đôi cánh tình yêu và hoan hỉ. Nhà thơ, bà Annie Sherwood Hawks, đã từ Hoosick, New Yord nơi bà sinh ra chuyển đến Brooklyn, và trong nhiều năm bà là một tín hữu sốt sắng của Hội thánh Báp-tít Hanson Place ở đó. Khoảng năm 1868 vị chủ toạ Hội thánh ấy cũng là một nhà thơ và sáng tác thánh ca, Mục sư Robert Lowry khám phá năng khiếu thi ca kỳ diệu của bà, ông đã khuyến khích bà dùng đặc ân đó sáng tác thơ cho thiếu nhi. Suốt 80 năm chức vụ của ông tại đó, bà đã sáng tác hầu hết số bài thơ của mình và phần lớn các điệu phổ nhạc đều do ông soạn.
Một buổi sáng tháng 6.1872 bà Hawks lúc ấy được 37 tuổi, đang bận bịu với những việc bình thường và túi bụi của các bà nội trợ, thình lình bà bị tràn ngập bởi ý thức về sự hiện diện gần gũi của Đức Chúa Trời.
“Tôi tự hỏi làm sao một người có thể sốg mà không có Ngài” bà nghĩ “Khi tôi thấy dường như Chúa chần chừ nán lại trong phòng”. “Tách rời khỏi Đức Chúa Trời, làm sao con người có thể đối diện với đau thương hay kinh nghiệm được niềm vui sâu xa vững bền” và tách rời khỏi sự đồng hành luôn luôn của Chúa thì làm sao con người đắc thắng cám dỗ?” Bà nửa như tự hỏi trong lòng, nửa nói thành lời.
Ý nghĩ về nhu cầu Đấng Christ đối với con người đã hoàn toàn chiếm hữu bà. Chẳng mấy chốc, chẳng cần nỗ lực bao nhiêu, một loạt các “cặp” câu thơ đã hình thành trong trí bà. Chờ đợi để viết các câu thơ ấy thì thật khó nên ngay lúc ấy bà đã tuôn ra những dòng sau:
“Ôi Chúa Đấng tôi cần luôn, duy Chúa nhơn lành, dịu êm ấy duy Lời Chúa, giúp tôi an bình.
“Ôi Chúa Đấng tôi cần luôn, xin Chúa luôn gần, tà ma hết phương lừa dối, khi Chúa ở gần...
Những dòng thơ quá đơn sơ đến mức bà thấy mắc cỡ nếu đưa cho vị mục sư của mình. Song ông cứ khăng khăng rằng bà phải đưa cho ông từng bài thơ mà bà sáng tác. Cho nên nuốt lấy lòng tự ái bà trao bài thơ trên cho ông sau buổi nhóm sáng Chúa nhật kết đó với chút hy vọng rằng trên đôi cánh âm nhạc của ông, tiếng hát của họ sẽ đi vào hàng triệu tấm lòng.
Tấn sĩ Robert Lowry đọc đi đọc lại những khổ thơ đơn sơ ấy cho đến lúc ông nhận thức rằng con chiên của mình đã sáng tác bài thơ hay nhất của bà song với “xu hướng điệp khúc” mà ông vẫn dành rất nhiều tình cảm, ông cảm thấy bài thánh ca vẽ không trọn vẹn nếu thiếu một phần như vậy. Thế là, ngồi bên cây đàn Organ bé nhỏ trong phòng khách của tư thất Mục sư ở Brooklyn, ông vừa phổ nhạc bài thơ của bà Hawks, vừa soạn thêm phần điệp khúc của chính ông như sau:
“Mỗi phút cần Chúa giúp đỡ tôi, nương nhờ cánh giê-xu hoài.
Xin ban phước cho tôi từng giây, tôi đến đây Ngài (ơi)”.
Đây không phải là lần đầu tiên Tấn sĩ viết một 'điệp khúc'. Ông ái mộ bài thánh ca vĩ đại “chúng ta, những người yêu mến Đức Giê-hô-va, hãy đến” (TC.22) của Isaac Watts đến mức ông thấy rằng bài hát ấy xứng đáng có một giai điệu du dương dạt dào tình cảm hơn là giai điệu uy nghi của bài “thánh Thomas” như cách người ta vẫn hát bài ấy; thế là ông soạn một giai điệu của chính mình và thêm phần điệp khúc như sau:
“Ta bước lên Si-ôn hè, tiến lên ngọn núi Si-ôn đẹp đẽ
Ngắm Si-ôn ta hăng hái bước tới thủ đô thiêng liêng vinh quang muôn đời”.
Ông cũng ngưỡng mộ bài thánh ca phục sinh oai nghiêm “Ha-le-lu-gia, Chúa Phục sinh hôm nay của Wesley với mức thế đó và ông không thể an nghỉ cho đến khi viết và soạn xong phần 'điệp khúc' của chính ông và của cả bài hát ấy. Đó là bài 'Chirst Phục sinh' (TC.103) một thánh ca được mãi mãi yêu chuộng, được cả người lớn lẫn trẻ em trên toàn thế giới hát trong mùa Phục sinh.
Bài hát mới: “Ôi Chúa aĐấng chúng tôi cần luôn” được trình bày lần đầu tiên tại hội nghị Trường Chúa nhật Hội tháh Báp-tít toàn quốc họp tại Cinninati, Ohio tháng 11 năm 1872. Năm sau, bài hát ấy đựơc in trong một quyển nhạc mới có tựa đề “Vương miện Hoàng gia” do Tấn sĩ Lowry và W.H.Doane biên soạn.
Về sau này, bà Hawks, tác giả bài thơ đã nói: Bài thơ của tôi có tính cách tiên tri hơn là diễn tả kinh nghiệm của chính tôi, tôi không hiểu nổi tại sao bài hát ấy lại đụng đến trái tim lớn, phập phồng của nhân loại như vậy. Phải mãi về sau này, khi bóng dáng của một sự mất mát lớn lao phủ trên tôi, tôi mới hiểu được cái gì đó của sự an ủi trong những lời thơ mà tôi được phép viết ra trong những giờ phút bình tịnh, yên ninh ngọt ngào của tôi.
Sau khi chồng bà qua đời năm 1888, bà về ở Bennington Vermont với một trong các con của bà, cho đến năm 1918 bà về với Chúa, hưởng thọ 83 tuổi.


ĐÊM YÊN LẶNG
Thung lũng Tyrol ở đỉnh núi Alpes bên Áo quốc là nơi xuất xứ bài thánh ca Giáng sinh tuyệt diệu này.
Quanh năm thung lũng vẫn hấp dẫn nhiều du khách, không phải chỉ vì những tường thành hay bờ thấp bằng tuyết thôi mà còn vì sự thông biết âm nhạc phổ biến nơi từng em bé ở đây nữa. Năm 1818 ấy, trong làng Obendort bên sườn núi có 2 thanh niên: một người là Mục sư Joseph Mohr và một người bạn ông là Franz Gruber cũng là giáo sư và nhạc sĩ của ngôi nhà thờ ở đó. Cả hai đều yêu thích âm nhạc và họ đã từng nói rằng bài hàt tuyệt diệu cho đến lúc ấy vẫn chưa xuất hiện nơi trần gian.
Một ngày trước lễ Giáng sinh. Mục sư J.Mork ngồi yên lặng trong nhà thờ nhìn ra cảnh tượng bên ngoài đầy tuyết phủ. Trước cảnh thung lũng đẹp đẽ, ông thấy lòng mình thật tràn đầy bình an lẫn hớn hở và dường như ông được đưa về với ngày giáng sinh đầu tiên ở Y-sơ-ra-ên mà từ đó tin mừng về Con Trời giáng hạ đã được loan truyền... Những vần thơ đã tiềm tàng từ lâu, giờ đây được thoát ra từng tiếng một:...“Đêm yên lặng, đêm thánh thiện... Sau đó ông đem ngay bài thơ qua cho Gruber. Ông này thấy hay quá, phổ nhạc luôn và 2 người tập chung với nhau bài hát mới ấy để tối đó tôn vinh Chúa trong lễ nhóm. Quả nhiên, bài hát ấy đã cảm động lòng người. Sự bình an diệu kỳ của Chúa đã tràn ngập họ cùng với tấm lòng cung kính tôn thờ Ngài.
Tiếc thay sau đêm phước hạnh đó, bài hát đã bị bỏ quên. Cho đến cuối tháng 11.1819 chiếc đàn phong cầm của nhà thờ hư phải sửa. Sau khi sửa xong, người ta mời ông Gruber đàn thử để xem xét còn hỏng hóc gì chăng và một lần nữa, bài “Đêm yên lặng” được thoát ra qua ngón đàn kỳ diệu của người nhạc sĩ này. Lập tức người thợ sửa đàn xin bài hát ấy để đem về phổ biến ở làng mình. Rồi ở một làng ở khuất sau sườn núi có 4 chị em ruột nhà Stasseer rất yêu thích bài thánh ca này; một lần nọ chúng được mời đi hát ở thành phố Leipsig (Đức) và chính từ ngôi đại giáo đường đó, bài “Đêm yên lặng” đã chinh phục thế giới. Dầu vậy người ta thường gọi là “bài hát Tyrolese” chứ ít khi gọi như chúng ta là bài “Đêm yên lặng”.


HÃY CHIẾU GIỐNG HẢI ĐĂNG
Philip Paul Bliss (1838-1876) được hai đặc ân hiếm có: ông thuộc giáo hội “toàn thế giới” và khi ông được nghe một câu chuyện hay. Ít khi ông không có cảm hứng để sáng tác một bài hát mới.
Lúc 12 tuổi, P.P.Bliss bị lôi cuốn vào mối thông công của Hội thánh Báp-tít Cherry Flats, hạt Troga, bang Pennsylvania nhưng ít lâu sau ông tham dự những kỳ trại và những buổi giảng phục hưng của Hội thánh Giám lý Ông lập gia đình với một tín hữu sốt sắng tích cực thuộc Hội thánh Trưởng lão và một thời gian ông đã là chủ toạ Trường Chúa nhật và là thành viên trong ca đoàn của Hội thánh đầu tiên ở Chicago.
Về việc trang bị âm nhạc thì vì hoàn cảnh thiếu thốn, ông hiếm khi có dịp tiện. Lần đầu tiên Bliss được nghe tiếng đàn dương cầm là lúc đã 10 tuổi và còn đi chân đất. Bị thu hút bởi tiếng đàn cho đến nỗi cậu bé bước vào nhà và nói với người phụ nữ đang đàn: “Ồ hay quá, xin bà tiếp tục đàn nữa đi”. Thay vì trả lời với cậu bé hâm mộ ấy cách lịch sự, bà ta quở trách Bliss đã đi chân đất vào nhà bà và đuổi cậu thẳng cánh!...
Sau này, Bliss cộng tác với nhà sáng tác ca khúc George F.Root và dạy ở các trường dạy hát, nhạc viện, các hội nghị xuyên miền Tây Hoa-kỳ. Ông làm đủ thứ nghề: làm công ở nông trại, thợ máy cưa, phụ bếp... nhưng ông sung sướng và hăng hái dâng đời mình - khi ông đã tin Chúa - cho việc ca hát ngợi khen Chúa và sáng tác những bài hát diễn tả những từng trải theo Chúa của chính mình.
Khi tiền bản quyền từ tập “Những bài thánh ca” của ông lên đến mức 30.000 dollars, ông đã chuyển toàn bộ số tiền ấy cho bạn và người đồng sự của ông là Thiếu tá Whittle để tiếp tục những nỗ lực truyền giảng của họ, bất kể điều kiện tài chánh của bản thân ông thế nào.
Một buổi tối, Bliss dự một buổi giảng của Dwight L.Moody với chú tâm và cẩn trọng. Vị mục sư kể câu chuyện vị thuyền trưởng của một chiếc tàu đang tiến vào cảng Cleveland trong một đêm giông bão tối tăm. Ngoài nỗi hiểm nguy vì sóng to gió lớn còn thêm nỗi bi đát vì trời tối đen chẳng có lấy một vì sao. Chẳng thấy gì ngoài ánh đèn từ ngọn hải đăng thật cao trên mỏm núi, thuyền trưởng hỏi hoa tiêu.
- Anh có chắc là cảng Cleveland đây không?
- Chắc chắn mà.
- Thế còn những ánh đèn bên dưới đâu không thấy?
- Tắt hết rồi, thưa thuyền trưởng.
- Anh liệu có thể cập bến được không?
- Thưa thuyền trưởng, hoặc chúng ta phải cập bến, hoặc chúng ta phải chết. Thế thôi.
Dù cho có đôi tay mạnh mẽ và trái tim dũng cảm, viên hoa tiêu - trong màn đêm tối tăm - đã lầm con kênh dẫn vào bến và con thuyền ấy đã va vào đá... gây mất mát lớn về nhân mạng. Moody kết luận:
“Chúa sẽ coi sóc ngọn hải đăng lớn, còn chúng ta hãy giữ những ánh đèn bên dưới luôn cháy sáng”.
Ngay đêm đó, Bliss viết lời và nhạc cho một trong số những thánh ca phổ biến nhất của ông.
“Lòng đại từ của Chúa Cha soi rạng từ lời Thánh như vọng đăng sáng,
Ngài giao việc ta trông đăng tháp này hằng đêm chiếu nơi biển trần đây.
Mọi đời sống hãy chiếu giống hải đăng
Chiếu sáng giữa ba đào hung hăng
Hầu rọi đường cho bao thuỷ thủ kìa
Vượt bao hiểm nguy lúc trời khuya.
Bài hát được in lần đầu tiên năm 1874 trong tập “Thánh ca” hai năm trước cái chết bi thảm và không phải lúc của Bliss.
Đây không phải là lần đầu một cảm hứng như thế đến với ông. Ba năm trước, khi nghe Mục sư Brundage kết thúc một bài giảng như thế này “Người nào hầu như bị thuyết phục thì hầu như được cứu, nhưng hầu như được cứu thì hoàn toàn hư mất”. Câu ấy cứ vang vọng trong tai ông và ông đã sáng tác lời và nhạc bài “Hầu như bị thuyết phục”. Nghe một mục sư khác nói về lòng can đảm của Daniel trong việc mở cửa sổ về hướng Giê-ru-sa-lem cầu nguyện, bất chấp chỉ dụ của vua ngăn cấm Philip P.Bliss đã sáng tác cả bài “Dám là một Daniel” và “Có phải cửa sổ của bạn mở về hướng Giê-ru-sa-lem?”. Từ câu chuyện trong Cựu ước kể về Jonathan và người mang vũ khí của chàng đã gặt chiến thắng bất ngờ đối với kẻ thù, ông sáng tác bài: “Chỉ một người mang vũ khí”. Đọc một bài báo kể chuyện một tổ chiến sĩ bị bao vây trên một ngọn đồi (trong cuộc nội chiến) yêu cầu cứu viện nhưng chỉ nhận được một câu trả lời: “Hãy giữ lấy chiến luỹ. Tôi đang đến” đã khơi mào cho Bliss sáng tác một trong những bài hát cảm động nhất của ông, bài “Hãy giữ lấy chiến luỹ”.
Được phó cho một giọng hát tuyệt vời, xếp từ cung Db thấp đến Ab cao, ông thường tự giới thiệu các sáng tác của mình. Từ ngòi bút lưu loát của ông đã tuôn chảy những bài được ưa thích như “Ánh sáng của thế giới là Giê-xu” (TC.84) “Tôi thật quá sung sướng vì Giê-xu yêu tôi”, “Người của Ai Bi! Thật anh diệu kỳ”, “Càng thánh khiết hơn cho tôi”, “Lời diệu kỳ của sự sống”, “Tôi ca ngợi Đấng mua chuộc tôi”, “Kéo vào bờ”...
Suốt 12 năm, từ 1864 năm ông in bài hát đầu tiên của mình “Lora Vala” cho đến khi qua đời năm 1876, ông đã gây một ấn tượng sâu sắc và kjhông thay đổi trên đời sống âm nhạc của các Hội thánh và giáo hữu toàn Hoa-kỳ. Ngày nay, dù một vài bài của ông không phổ biến như khi chúng mới được sáng tác nhưng những bài khác, với vẻ đẹp bất tử của mình, đã có một vị trí Cơ-đốc nhân khắp thế giới.


LÒNG TIN NGÓ CHÚA CHẲNG THÔI
Trong khi bài thơ hay nhất của Tennyson, bài Crossing the Bat, là bài cuối cùng của ông được viết lúc Tennyson đã 81 tuổi thì bài thơ hay nhất của Ray Palmet là bài đầu tiên được ông viết ra năm 22 tuổi.
Mùa thu năm 1830 Ray Palmer, chàng sinh viên tốt nghiệp trường Yale đến thành phố Nữu ước với tư cách là thầy giáo của một trường nữ học được tuyển chọn và do một nữ tín hữu Hội thánh Saint George điều khiển. Sống với gia đình của hiệu trưởng, Palmer chia thì giờ của mình ra cho việc dạy học sinh và học thần đạo. Từ nhỏ, Palmer vẫn thường diễn tả những gì mà lòng mình cảm nhận, bằng thi ca. Vào một đệm đầu mùa đông năm 1830, ông ngồi vaò bàn, bắt đầu viết một bài thơ mới. Đó là giờ mà “Đấng Christ, với sự giàu có của tình yêu và ân điển Ngài, tôi được nhận lấy cách sống, động, tràn đầy tâm linh và cảm xúc sâu lắng nhất”. Chẳng nghĩ gì về việc viết một bài thánh ca mà cũng chẳng có tí dụng ý naò để viết một bài thơ để cho ai đó đọc đến, Palmer ghi ra 6 khổ thơ với vần 6.6.4.6.6.6.4. bât thường. Khổ thơ đầu là:
“Lòng tin ngó Chúa chẳng thôi, Gô-gô-tha Chiên Con Trời. Thật là Chúa tôi, xin nhận lời tôi, quăng mọi tội xa khỏi tôi, quyết hiến cả thân, hồn này. Thuộc về Chúa hoài”.
Ông cảm động sâu xa đến mức làm những dòng cuối bị lem vì nước mắt đã tuôn tràn. Trước khi đi ngủ, ông đã viết vào nhật ký: “Tối nay tôi đã viết một bài thơ đơn sơ. Tôi chỉ viết ra điều tôi cảm nhận và với ít nỗ lực. Tôi nhớ rằng mình đã viết những chữ cuối cùng với một cảm xúc dịu dàng”.
Sau đó ông chép lại bài thơ vào một quyển sổ bìa da mà ông thường đem theo mình để khi cảm hứng thì sáng tác. Rồi bài thơ cũng bị quên đi nhanh chóng.
Mùa thu 1832, hai năm sau đó, Palmer đang đi thăm viếng ở Boston, thì tình cờ gặp bạn ông, Tấn sĩ Lowell Mason, cha đẻ của thánh ca Hoa-kỳ; Tấn sĩ hỏi chàng trai rằng anh ta có tình cờ bắt gặp được bài thánh ca hay nào thì để dành cho ông vì ông định xuất bản quyển “Thánh ca và giai điệu” với sự giúp đỡ của Tấn sĩ Hastings ở Nữu ước, Palmer ngần ngại đề cập đến quyển sổ nhỏ của mình. Bất đắc dĩ lắm ông mới để người khác đọc đến những dòng tường thật tâm linh sâu xa và cảm động của mình. Khi đọc mấy câu thơ đó, Mason xin một bản sao. Hai người ghé vào một nhà kho ghi lại bài thơ. Trên đường về nhà, vị nhạc sĩ cứ đọc đi đọc lại nhiều lần các câu thơ ấy, ông chịu xúc động và soạn ngay một giai điệu cho bài thơ mà ông đặt tên nguyên thuỷ cho nó là “Olivet”.
Hai hôm sau, họ gặp lại nhau trên một con phố nhộn nhịp khác của Boston. Không chờ chào hỏi nhà thơ trẻ tuổi, Tấn sĩ Mason kêu lên: “Palmer này, anh có thể sẽ sống lâu và làm nhiều điều tốt, nhưng tôi nghĩ là thế hệ tương lai biết đến anh nhiều vì chính anh là tác giả bài “Lòng tin ngó Chúa chẳng thôi” đấy.
Nhà thơ được phong chức Mục sư năm 1835. Ông giữ nhiều chức vụ thuộc linh cũng như hành chính ở tiển bang Maine và New York. Khi ông và bà kỷ niệm ngày thành hôn, năm 1882 một người bạn đã làm quà cho ông với những lời đầy kính trọng như sau: “Đặc ân lớn nhất Thiên Chúa từng ban cho con cái Ngài trên đất và cho một số tương đối ít người là sáng tác một bài thánh ca Cơ-đốc cao quí, được các Hội thánh tiếp nhận, được những tấm lòng yêu thương thành kính ở những miền đất khác nhau, nói những thứ tiếng khác nhau (hát lên và còn sẽ tiếp tục hát khi tương lai mở ra những thế kỷ tươi sáng.
Dầu ông còn viết nhiều bài thánh ca khác nữa và cũng dịch từ tiếng La-tinh những viên ngọc quí trong thi ca như bài “Đức Thánh Linh đến trong tình yêu” và "Giê-xu, Ngài là Niềm vui của những tấm lòng yêu thương”... thì trước khi ông mất vào năm 1887, những Cơ-đốc nhân nói tiếng Anh đều đồng ý rằng bài thánh ca đầu tiên của Ray Palmer là bài hay nhất của ông.

ÔI CHÚA ĐẤNG GIÚP CHÚNG TÔI MÃI
Isaac Watts sống ở Anh quốc sau artin Luther gần 200 năm. Ông là một trong những nhà lãnh đão đã góp phần làm cho thánh ca có những bước phát triển vượt bậc. Watts có khả năng đặc biệt cần có cho sự nghiệp quan trọng của một nhà sáng tác thánh ca. Mẫu chuyện nhỏ trong thuở ấy của ông cho thấy năng khiếu thư ca của ông xuất hiện rất sớm. Một hôm, trong khi gia đình đang hiệp nguyện, cậu bé Watts phát cười to lên. Khi hỏi lý do, cậu bảo rằng cậu không nín cười được khi thấy một con chuột leo lên sợi dây chuông gần lò sưởi và cậu đã làm mấy câu thơ: (dịch ý)
“Con chuột muốn đạt đến bậc cao hơn,
Nên đã leo lên sợi dây để buông lời cầu nguyện”.
Ngày nay chúng ta khó hình dung được tình hình thánh nhạc trong thời kỳ đó. Isaac Watts sinh năm 1674. Rất nhiều Hội thánh, cả giáo hội cải chánh gồm cả Hội thánh nơi Watts nhóm lại, càng ngày càng nghiêm nhặt. Bài hát duy nhất được phép hát trong nhà thờ trong khi thờ phượng là những Thi Thiên, lý do viện dẫn là vì Thi thiên trực tiếp lấy ra từ Kinh Thánh nên được xem chính là Lời Đức Chúa Trời và mới xứng đáng hát thờ phượng Chúa thôi. Những bài hát “do loài người đặt ra” không lấy từ Thi Thiên thì bị xem là sai quấy. Ai có ý sáng tác thánh ca thì bị kể là những “kẻ khoe khoang tự phụ”, là kẻ dám nghĩ rằng “sẽ trau giồi thêm cho Đức Chúa Trời và dạy Đức Thánh Linh sáng tác”!
Việc ca hát lúc ấy thường rất buồn tẻ vì chỉ có một ít thánh ca được hát trong hầu hết các Hội thánh. Thường thì người hướng dẫn đọc từng dòng Thi thiên, Hội thánh hát dòng ấy rồi dừng lại chờ nghe đọc dòng kế tiếp. Chỉ có ít âm điệu được sử dụng vì người hướng dẫn phải tìm âm điệu nào mà mọi người biết và tất cả đều ê a kéo dài một cách buồn chán.
Nhưng với Watts và một số nhà lãnh đạo khác thì nhận thức rằng cuộc sống mới phải được hoà cùng các bài hát thờ phượng. Họ cảm thấy hội chúng đã chán ngán khi cứ ê a những điệu Thi Thiên như thế và hẳn họ sẽ hoan nghênh những bài hát mới.
Một ngày kia khi Watts phàn nàn về những câu Thi Thiên và những âm điệu được hát trong Hội thánh của thân phụ ông thì một nhân viên trong Hội thánh hỏi vặn lại: “Vậy cậu có cái gì tốt hơn hãy cho chúng tôi đi!” Watts nhận lời thách thức đó và dù lúc ấy Watts hãy còn trẻ lắm, ông đã viết một thánh ca mới có tựa là: “Hãy ngắm xem sự vinh hiển của Chiên Con”. Khi đem hát vào Chúa nhật kế đó, bài thánh ca được hoan nghênh nồng nhiệt khiến nhà thi sĩ trẻ quyết định viết thêm những bài khác nữa. Trong mấy năm sau đó, ông đã sáng tác phần lớn trong số 210 bài thánh ca trong tập nhạc của ông, tập “Thánh ca và Linh khúc”, xuất bản năm 1707. Đó thật sự là quyển thánh ca đầu tiên bằng Anh ngữ.
Watts bắt đầu công việc của mình bằng lòng nhiệt thành tuổi trẻ và luôn tranh đấu cho tinh thần tự do, cởi mở về vấn đề các bài hát trong nhà thờ. Thánh ca của ông, khoảng 600 bài đã đánh thức dân tộc Anh vào niềm vui ca hát. Danh tiếng các thánh ca ấy vượt Đại Tây dương sang Châu Mỹ. Benjamin Franklin rất thích; quyển sách đầu tiên của nhà in Franklin là quyển “Những Thánh ca và Thi thiên của Watts” xuất bản năm 1741. Do những ảnh hưởng sâu đậm trong lòng người, có thể nói cho đến nay, chưa có ai có những bài thi thánh vượt trội hơn những bài của Isaac Watts.
“Đấng vừa giúp chúng tôi” xuất bản năm 1719 là một trong những tháh ca hay nhất của Watts. Chúng ta hãy để ý đến nét đẹp sâu sắc của lời hát đầy những hình ảnh và ẩn dụ thật hay (câu 1,4,6). Bài hát mang một sứ điệp tiềm ẩn là, dù thời gian có như “dòng nứơc mãi trôi qua” thì Đức Chúa Trời vẫn còn đời đời và là Nguồn Cứu giúp của chúng ta trong tương lai cũng như Ngài từng là như thế trong quá khứ. Được dựa trên thi thiên 90, bài này thường đựơc dùng như một thánh ca năm mới. trong số những thi phẩm kihác của ông có bài thánh ca Giáng sinh tuyệt vời “Phước cho nhân loại” (1719). Ngoài ra, những bài “Jesus shall reign, Where is the sun” (1719), bài “When I survey the wondrows Cross (TCVN 95) cũng được nhiều người ưa chuộng.
Watts không lập gia đình nhưng rất yêu trẻ con. Những vần thơ của ông vẫn ẩn chứa điều gì đó về thời thơ ấu. Martin Luther cũng có ơn tương tự khi viết Thánhc cho trẻ em và cho người lkớn, nhưng kể về phương diện là người viết thánh ca cho trẻ em thì hầu như chưa ai vượt qua Isaac Watts.
Bài “Hush, my babe, Lie still and Slumber” được kể là bài hát dành cho tẻ em tuyệt vời trên thế giới.
Năm 115 ông xuất bản một tập thánh ca hấp dẫn dành cho thiếu nhi, trong đó có những bài nổi tiếng như “How Doth the Little Busy Bee”, “Birds in Their Little Nests Agree”, “Let Dogs Delight to Bark and Bike”...
Isaac Watts mất năm 1748. Tượng đài kỷ niệm ông được dựng ở Tu viện Westminter. Đó là vinh dự cao quí nhất dành cho một người Anh. Trên một bia là hình vẽ Watts đang ngồi bên bàn viết trong khi các thiên thần đang thì thầm những nhạc khúc bên tai ông.
Bạn có nghĩ, điều đó đã thực sự xảy ra chăng?....


KÌA 99 CON
Đức Chúa Giê-xu phán rằng Ngài là Đấng Chăn chiên nhân lành đã vì chiên mà xả thân mình...
Nhiều năm về trước, một thanh niên trụy lạc bỏ nhà mình ở Anh qua làm ăn ở Gia-nã-đại, nhưng ở đó anh ta cũng vùi mình uống rượu và cờ bạc chứ cũng chẳng làm ăn gì. Cuộc sống cứ kéo dài như thế một thời gian. Một buổi tối mùa đông, anh lại say rượu tính về nhà nhưng trượt chân ngã ngoài đường. Lần này anh không đứng dậy được nữa: anh qua đời vào ngày hôm say. Hung tin ấy đồn về gia đình bên Anh nhưng chẳng gây một kích động nào cả dường như ai cũng muốn anh ta qua đời vậy.
Anh Andrew này có một người em ruột là Elizabeth Clephane (1830-1869) một thiếu nữ hết lòng yêu mến Chúa, yêu người và nhất là yêu người anh hoang đàng này, cô đã cầu nguyện cho anh cô từ lâu. Vì thế được tin ấy cô vô cùng đau đớn, cô vào buồng riêng đóng cửa lại cầu nguyện cùng Chúa: Đúng rồi, Ngài có 99 con chiên chẳng lẽ ân điển Ngài không đủ chia xẻ cho con chiên lạc đường kia sao? Chẳng lẽ Ngài đã thoả mãn vì có 99 con trong chuồng chiên rồi sao?...”
Sau một hồi lâu, cô dường như nhận được sự trả lời và nét mặt trở nên hứn hở, em đứng dậy và viết ra những cảm ý của mình. Đó là bài thơ về 99 con chiên và con chiên lạc bầy.
Vì tính hổ thẹn tự nhiên của con gái, cô cất tờ giấy đó trong tủ áo của mình. Cho đến ngày cô qua đời người ta mới tìm ra tờ giấy ấy, ai nấy đọc đều cảm động nên gởi đi đăng báo...


† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 14-11-2018 05:06 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách