† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2648|Trả lời: 0

Loạt Bài Về Giao Ước

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 17-7-2011 08:16:52 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Loạt Bài Về Giao Ước
Tác giả: Malcolm Smith


I. Giao Ước Cũ
A. Thi Tv 81:1-10 Thơ A-sáp làm. Cho thầy nhạc chánh, dùng về nhạc khí “Ghi-tít.”
81:1 Hãy hát reo cho Đức Chúa Trời là sức lực chúng ta; Hãy cất tiếng la vui vẻ cho Đức Chúa Trời của Gia-cốp. 81:2 Hãy hát xướng và nổi tiếng trống cơm, đờn cầm êm dịu với đờn sắt. 81:3 Hãy thổi kèn khi trăng non, lúc trăng rằm, và nhằm các ngày lễ chúng ta. 81:4 Vì ấy là một luật cho Y-sơ-ra-ên, một lệ cho Đức Chúa Trời của Gia-cốp. 81:5 Ngài lập đều ấy làm chứng cớ nơi Giô-sép, lúc Ngài ra đánh xứ Ê-díp-tô, là nơi tôi nghe một thứ tiếng tôi chẳng hiểu. 81:6 Ta đã cất gánh nặng khỏi vai người; tay người được buông khỏi cái giỏ. 81:7 Trong cơn gian truân ngươi kêu cầu, ta bèn giải cứu ngươi, đáp lại ngươi từ nơi kín đáo của sấm sét, và cũng thử thách ngươi nơi nước Mê-ri-ba. (Sê-la). 81:8 Hỡi dân sự ta, hãy nghe, ta sẽ làm chứng cho ngươi: Ớ Y-sơ-ra-ên! chớ chi ngươi khứng nghe ta! 81:9 Giữa ngươi chẳng nên có thần lạ nào, ngươi cũng chẳng nên thờ lạy thần kẻ ngoại. 81:10 Ta là GIÊ-HÔ-VA, Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đã đem ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô: Hãy hả hoác miệng ngươi ra, thì ta sẽ làm đầy dẫy nó.
1. Cả Thi thiên này đang nói về việc Đức Chúa Trời giải phóng Y-sơ-ra-ên khỏi Ê-díp-tô. Trong câu 8-10 cho thấy khi Chúa muốn ban phước Ngài đòi hỏi sự vâng lời nơi chúng ta. Từ “nếu” hay “chớ chi” rất quan trọng, nêu lên điều kiện đồi hỏi: không có thần lạ; không thờ lạy thần nào ngoài Ngài - không có bất cứ điều gì chen giữa họ và Chúa. Trong câu 10 Đức Chúa Trời nêu lý do cho các việc làm của Ngài. Câu “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi” dường như muốn nói tất cả các dân tộc khác trên thế gian có thể xưng Ngài là Đức Chúa Trời nhưng dân tộc nầy lại có thể nắm giữ lấy Ngài và công bố Ngài là Đức Chúa Trời của họ. Thái độ của Ngài đối với họ như thể họ là những con chim non trong tổ. Chim non hoàn toàn không tự lo liệu được, và nếu ngắm nhìn các chú chim non trong tổ bạn sẽ chú ý ngay đến những chiếc mỏ hả hoác thật to gắn liền với tấm thân bé bỏng của chúng. Giống như một con chim mẹ nuôi con mình cách trung tín, Đức Chúa Trời đã công bố với các con nhỏ của Ngài rằng nếu họ đến với Ngài họ chỉ cần hả hoác miệng mình ra thì Ngài sẽ làm đầy dẫy chúng. Một sự nghiên cứu nhỏ cho biết là một chú chim non có thể ăn rất nhiều. Trên thực tế, nếu con người chúng ta được ăn cùng số lượng cân xứng như một chú chim non ăn mỗi ngày thì chúng ta sẽ phải ăn hết một con bê và ba con cừu mỗi ngày. Điều Đức Chúa Trời đang muốn làm cho chúng ta ở đây rất lớn lao chứ không phải là việc nhỏ chút nào.
Nhưng dựa trên thẩm quyền nào Y-sơ-ra-ên gọi Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của họ? Và tại sao Đức Chúa Trời lại đồng ý với họ rằng Ngài thực sự là Đức Chúa Trời của họ? Vì cớ mối quan hệ có một không hai này, tất cả mọi điều họ phải làm là đến với Ngài trong sự trông mong và hả hoác miệng họ ra để Ngài có thể ban cho họ bất cứ điều gì họ cần đến. Việc hiểu rõ mối quan hệ này sẽ giúp chúng ta có một hình ảnh đúng đắn về đức tin là như thế nào và thấu suốt hơn về nền tảng của Cựu Ước.

2. Trong Sáng thế ký đoạn 15 chúng ta thấy Đức Chúa Trời lập một giao ước với Áp-ra-ham. Khi từ “giao ước ” được dùng trong Kinh Thánh của bạn, nó thật sự mang ý nghĩa là “thiết lập mối kết ước” như trong việc lập một lời thề nguyền. Thường thì việc này được thực hiện bằng cách cắt một phần chi thể của bạn để máu chảy ra và giao ước có thể được thiết lập. Kết ước không phải là việc dễ dàng. Điều gần gũi nhất chúng ta có ngày nay là mối quan hệ trong hôn nhân khi người nam tự nguyện hiến thân cho người nữ và người nữ cũng tự nguyện hiến thân cho người nam y như vậy. Hai người trở nên hoàn toàn là một mà thôi.
Giao ước bằng huyết này không thể nào phá vỡ được ngoại trừ sự chết. Khi đã kết ước với ai mà mình muốn phá hủy thì sẽ phải chịu chết. Việc kết ước được thực hiện như sau:
a. hai người cùng đến với nhau
b. họ cởi áo khoác và trao cho nhau
c. họ cũng sẽ trao cho nhau thanh gươm và dây thắt lưng của mình (tượng trưng cho việc phó dâng tất cả những gì mình có, tất cả tiềm năng và sức lực của mình đều được giao thác cho người kia)
d. rồi họ sẽ hoán đổi một phần của tên mình cho nhau hầu cho về sau này mỗi lần họ viết tên mình ra thì người ta sẽ biết họ là anh em kết ước với người kia
e. rồi họ sẽ bắt một con vật, xẻ thịt nó ra làm đôi và sẽ đứng đối mặt nhau với hai mảnh thịt đó để ở giữa và hai người sẽ đi qua đi lại chéo nhau theo hình số 8
f. dùng dao rạch vào tay của hai người cho máu chảy ra, đoạn dùng một sợi dây buộc chặt hai bàn tay của hai người chung vào nhau hầu cho máu có thể chảy từ tay người này sang tay người kia và thấm vào sợi dây thừng nhỏ đó. Sau đó họ sẽ cắt sợi dây này ra và mỗi người sẽ giữ một phần đeo trên thắt lưng của mình như một vật kỷ niệm nhắc nhở rằng họ đã kết ước với nhau. Một số người thuộc văn hoá phương đông sẽ hứng huyết trong một cái chậu và rồi uống huyết đó, nhưng người Do thái không được phép uống huyết
g. vết thương trên tay kế đó sẽ được liền lại nhờ một loại bột màu đen, để lại một vết sẹo (giống hệt như Đấng Christ vẫn còn mang dấu vết của sự hy sinh Ngài thế cho chúng ta)
h. sau đó họ sẽ công bố san sẻ những gì mình có cho nhau hầu cho mỗi người sẽ biết chính xác những điều được giao thác cho họ khi họ cần đến và những sự rủa sả nào sẽ đến trên họ nếu họ không tôn trọng giao ước đã lập
i. rồi họ sẽ dựng một tấm bia kỷ niệm, thường là một phiến đá lớn được khắc bằng thanh gươm mà họ đã trao cho nhau hoặc họ sẽ hoán đổi một số súc vật trong bầy để khi bầy vật gia tăng lên sẽ là một điều nhắc nhở họ về giao ước đã lập hoặc họ có thể trồng một số cây nào đó quanh chỗ đã kết ước.
j. kế đó họ sẽ cùng ngồi xuống dự bữa tiệc kết ước gồm những món ăn rất đơn giản như bánh và rượu nho chẳng hạn
B. SaSt 12:1-3 Vả, Đức GIÊ-HÔ-VA có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.
15:1 Sau các việc đó, trong sự hiện thấy có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Hỡi Áp-ram! Ngươi chớ sợ chi; ta đây là một cái thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.
1. Trong những khúc Kinh Thánh này chúng ta thấy Đức Chúa Trời khởi đầu một mối quan hệ kết ước đặc biệt với Áp-ra-ham. Trong 12:1-3 chúng ta có thể thấy Đức Chúa Trời hứa rằng từ nơiÁp-ra-ham sẽ ra một “dân lớn”. Điều này ám chỉ giao ước đầu tiên và mối tương quan đặc biệt Đức Chúa Trời sẽ có với Y-sơ-ra-ên. Chúng ta cũng có thể thấy là qua Áp-ra-ham “mọi chi tộc nơi thế gian sẽ được phước”, vốn là hình bóng rõ ràng về giao ước thứ hai, giao ước mới và tốt hơn, sẽ đến qua Đấng Cứu Thế đem phước hạnh đến cho “mọi chi tộc trên đất.”
Rồi trong 15:1, Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham rằng Ngài sẽ là đấng che chở, bảo bọc cho Áp-ra-ham và Ngài đang cam kết mọi sự thuộc về Ngài là phần thưởng dành cho Áp-ra-ham. Nói cách khác “tất cả mọi sự thuộc về Ta đều dành sẵn cho ngươi tùy ý sử dụng.” Điều này tương tự như việc trao cho Áp-ra-ham chiếc áo khoác, dây thắt lưng và thanh gươm vậy.
2. Đức Chúa Trời tiếp tục trong phần còn lại của chương này và truyền dạyÁp-ra-ham điều phải làm để chuẩn bị cho việc thiết lập một giao ước bằng huyết. Nhưng lúc đó Đức Chúa Trời đã làm một điều khác thường đáng chú ý trong việc Ngài khiến cho Áp-ra-ham ngủ mê. Bạn biết là không con người hay chết nào có thể từng bước vào mối quan hệ kết ước với Đức Chúa Trời cả. Làm thế nào một tội nhân lại có thể kết ước với một Đức Chúa Trời vô tội thánh khiết được? Vì thế Đức Chúa Trời làm trọn giao ước thay cho họ và di chuyển xuyên qua những phần của lễ trong hình dạng một ngọn lửa, và theo cách thức chéo qua lại hình số 8. Kế đó Ngài đánh thức Áp-ra-ham dậy và báo cho người biết là hai bên đã kết ước với nhau và trong đoạn 17 Đức Chúa Trời đã đóng ấn giao ước này bằng phép cắt bì và đổi tên cho Áp-ra-ham thành Áp-ram. Chính danh của Đức Chúa Trời trong tiếng Hy-bá-lai thậm chí không thể nào đọc được. Mẫu tự chính trong danh xưng của Ngài là “H” đã được Ngài gắn vào tên của Áp-ram tạo thành tên Áp-ra-ham và cũng gắn vào tên của vợ người là Sa-rai để đổi thành là Sa-ra (viết là “Sarah” trong tiếng Anh). Từ hôm ấy trở đi Đức Chúa Trời cho phép Áp-ram mang danh xưng của Ngài trong tên riêng của người và Đức Chúa Trời được gọi là “Đức Chúa Trời của Ap-ra-ham” và cho đến nay vẫn còn được nhắc đến theo cách đó. Nếu đọc các sách Phục truyền và Lê-vi ký bạn sẽ thấy các phước lành và những sự rủa sả đi đôi với việc tuân giữ hay phá vỡ giao ước này. Đức Chúa Trời cũng ban cho họ một bia kỷ niệm của giao ước. Đó là một cái rương trên đó có đặt “nắp thi ân” và cái rương này chính là “hòm giao ước” và bất cứ nơi nào họ đi họ đều phải đem theo “hòm giao ước” như một vật kỷ niệm nhắc nhở rằng họ đang ở trong mối quan hệ kết ước với Đức Chúa Trời, làm một với Đức Chúa Trời toàn năng. Cựu Ước nói đến Đức Chúa Trời như “người chồng” và Y-sơ-ra-ên như “cô dâu” của Ngài vậy.
EsIs 54:5 Vì chồng ngươi tức là Đấng đã tạo thành ngươi; danh Ngài là Đức GIÊ-HÔ-VA vạn quân. Đấng chuộc ngươi tức là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, sẽ được xưng là Đức Chúa Trời của cả đất.
3. Khi một người kết ước với một người khác thì con cái họ, hiện đang sống hoặc chưa sinh ra, cũng bước vào giao ước đó. Vì con cái đã “có ở trong họ” rồi. Do đó toàn thể dân tộc đã bước vào trong giao ước với Đức Chúa Trời. Vậy nên vì cớ giao ước này, mọi điều các con dân trong Y-sơ-ra-ên cần phải làm là hả hoác miệng họ ra và nhận lãnh những gì họ cần đến (Thi Tv 81:10). Vì vậy khi bất cứ kẻ nào đụng tới Y-sơ-ra-ên tức là họ đụng tới Đức Chúa Trời. Tất cả mọi sự thuộc về Đức Chúa Trời đều trở thành của ho, song trong cùng cách thức như vậy mọi sự họ có đều thuộc về Đức Chúa Trời. Sa-lô-môn đã viết trong Nha Dc 6:3 “Tôi thuộc về lương nhơn tôi, và lương nhơn tôi thuộc về tôi.” Mối quan hệ giao ước giữa Đức Chúa Trời với con cái Ngài là như vậy đó.
C. Trong Sáng thế ký 22 Đức Chúa Trời bảo Áp-ra-ham bắt Y-sác đem dâng làm của lễ. Làm thế nào Áp-ra-ham lại có thể thực hiện được một việc như vậy mà không hề có sự bàn cãi hay tranh luận rõ rệt nào với Đức Chúa Trời? Chính là vì Áp-ra-ham hiểu được rằng mọi sự mình sở hữu đều dành sẵn cho Đức Chúa Trời tùy ý sử dụng theo như giao ước bằng huyết đã thiết lập giữa hai bên. Do đó trong việc làm này Áp-ra-ham bày tỏ sự phục tùng và am hiểu của ông đối với giao ước bằng huyết này. Tại đó Đức Chúa Trời lại tái xác quyết giao ước này với Áp-ra-ham.
D. Chúng ta cũng thấy chứng cớ của mối quan hệ này trong tình huống liên quan tới ách nô lệ của Y-sơ-ra-ên tại Ê-díp-tô. Vì khi bất cứ ai đụng đến một người nào ở trong mối giao ước với Đức Chúa Trời thì họ sẽ phải trả lời với Đức Chúa Trời.
1. XaDr 2:8 Vì Đức GIÊ-HÔ-VA vạn quân (sau sự vinh hiển, rồi Ngài sai ta đến cùng các nước cướp bóc các ngươi) phán rằng: Quả thật, ai đụng đến các ngươi tức là đụng đến con ngươi của mắt ta.

2. Bạn có thể bắt làm nô lệ bất cứ nhóm người nào trên mặt đất này và bạn chỉ có những người đó đấu tranh với mình, nhưng khi bạn tìm cách bắt một dân tộc nào ở trong mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời làm nô lệ thì bạn sẽ phải đối phó với người đã cùng lập giao ước với họ.
3. XuXh 2:23-24 Sau cách lâu, vua xứ Ê-díp-tô băng; dân Y-sơ-ra-ên than thở kêu van vì phải phục dịch khổ sở; tiếng kêu van lên thấu Đức Chúa Trời. 2:24; Ngài nghe tiếng than thở chúng, và nhớ đến sự giao ước mình kết lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
4. Do đó Môi-se đến trước mặt Pha-ra-ôn rao ra những lời Đức Chúa Trời đã phán cùng mình “Hãy để cho dân ta đi!” Vào thời điểm Đức Chúa Trời chấm dứt mọi quan hệ với Ê-díp-tô, Ngài đã tàn phá đất nước Ê-díp-tô rộng lớn này và Y-sơ-ra-ên đã ra đi với các xe ngựa mình chất đầy mọi thứ tài sản quý báu của xứ, và 450 năm lao nhọc không lương nay được trả công trong chỉ một ngày! Trong tình cảnh này họ như thể những chú chim non yếu đuối, không tự lo liệu được đã hả hoác miệng ra và kêu cầu sự giúp đỡ nơi người bạn kết ước của mình, và Ngài đã đáp lời bằng cách đem đến cho họ tất cả những nguồn cậy trông cần thiết để giải quyết tình trạng của họ. “Hãy hả hoác miệng ngươi ra thì ta sẽ làm cho đầy dẫy.”
5. Nhưng hãy nhớ là giao ước này được đóng ấn bởi huyết. Nó không chấm dứt bằng việc đến giải cứu Y-sơ-ra-ên tại Ê-díp-tô nhưng đúng hơn Đức Chúa Trời đã tiếp tục ở với dân sự Ngài trong suốt cuộc hành trình trong đồng vắng của họ. Thực tế thì các con dân Y-sơ-ra-ên đã được dẫn dắt và che chở khỏi ánh mặt trời chói chan nơi sa mạc bởi trụ mây của Đức Chúa Trời vào ban ngày và trụ lửa lúc ban đêm đã giữ họ khỏi cái giá lạnh của sa mạc về đêm. Không những thế song Ngài còn chu cấp cho họ thức ăn, nước uống, áo xống, sức lực, và bảo vệ họ khỏi kẻ thù. Vì sao? Vì họ ở trong mối giao ước bằng huyết với Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham.
Y-sơ-ra-ên phải học biết một điều luật duy nhất mà thôi, đó là điều luật của mối quan hệ giao ước. Tôi không xứng đáng gì cả, tôi không có công lao gì cả, tôi không tự có được gì cả, tôi không thể làm gì cả, nhưng vì cớ một giao ước đã được kết lập trước khi tôi sinh ra, tôi có thể ngồi đây với miệng hả hoác ra trong mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời và Ngài sẽ làm cho nó đầy dẫy. Vấn đề duy nhất họ gặp là khi họ quên đi điều luật của giao ước này. Tuy nhiên, bất cứ lúc nào họ cố gắng giải quyết mọi sự bằng chính sức riêng của mình thì họ đều thất bại không biết bao nhiêu lần, song khi họ đến với Đức Chúa Trời nhận biết sự yếu đuối của mình thì Ngài không hề để cho họ phải thất vọng.
6. Cả đến câu chuyện của Đa-vít và Gô-li-át cũng cho thấy một điều mà Đa-vít am tường nhưng đạo quân Y-sơ-ra-ên thì lại không còn nhớ đến. Đa-vít nhận biết rằng khi đạo quân Phi-li-tin đến tranh chiến cùng Y-sơ-ra-ên tức là họ cũng đang chống nghịch cùng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Do đó khi đến trước mặt Gô-li-át, Đa-vít không dùng chính sức riêng của mình nhưng đúng hơn chàng biết rõ rằng mình “nhơn danh Đức Giê-hô-va vạn quân” mà đến.
ISa1Sm 17:36-37 Tôi tớ vua đã đánh chết con sư tử và con gấu; vậy thì người Phi-li-tin không chịu phép cắt bì kia cũng sẽ đồng số phận với chúng nó; vì hắn đã sỉ nhục các đạo binh của Đức Chúa Trời hằng sống. 17:37 Đa-vít lại nói: Đức GIÊ-HÔ-VA đã giải cứu tôi khỏi vấu sư tử và khỏi cẳng gấu, ắt sẽ giải cứu tôi khỏi tay người Phi-li-tin kia. Sau-lơ đáp rằng: Hãy đi, nguyện Đức GIÊ-HÔ-VA ở cùng ngươi.
17:43-47 Người Phi-li-tin nói cùng Đa-vít rằng: Ta há là một con chó nên ngươi cầm gậy đến cùng ta? Người Phi-li-tin bắt danh các thần mình mà rủa sả Đa-vít, 17:44 và tiếp rằng: Hãy lại đây, ta sẽ ban thịt ngươi cho chim trời và thú đồng. 17:45 Đa-vít đáp cùng người Phi-li-tin rằng: Ngươi cầm gươm, giáo, lao mà đến cùng ta; còn ta, ta nhơn danh Đức GIÊ-HÔ-VA vạn binh mà đến, tức là Đức Chúa Trời của đạo binh Y-sơ-ra-ên, mà ngươi đã sỉ nhục. 17:46 Ngày nay Đức GIÊ-HÔ-VA sẽ phó ngươi vào tay ta, ta sẽ giết ngươi, cắt đầu ngươi, và ngày nay ban thây của đạo binh Phi-li-tin cho chim trời và thú vật của đất. 17:47 Khắp thế gian sẽ biết rằng Y-sơ-ra-ên có một Đức Chúa Trời; và quân lính này sẽ thấy rằng Đức GIÊ-HÔ-VA không giải cứu bằng gươm, hoặc bằng giáo; vì Đức GIÊ-HÔ-VA là Chúa của chiến trận, và Ngài sẽ phó các ngươi vào tay chúng ta.
Việc Đa-vít thắng trận không lớn lao bằng việc Đức Chúa Trời đã chứng minh danh Ngài là chân thật bằng cách cung ứng cho nhu cầu của Đa-vít bởi sự kiện Đa-vít không cậy vào công lao riêng của mình để đến gần tranh chiến cùng Gô-li-át, mà đúng hơn chàng đã nhờ vào danh của Đức GIÊ-HÔ-VA vạn quân vậy.
7. Ê-xê-chia, vua Y-sơ-ra-ên, đã đối diện một tình huống tương tự khi người nhận được lá thư từ San-chê-ríp, vua A-si-ri, ngăm dọa sẽ xoá sạch Y-sơ-ra-ên khỏi mặt đất. Ê-xê-chia đã đem lá thư này đến trước Đức Chúa Trời của giao ước mình, mở thư ra trước mặt Đức Chúa Trời và kêu khóc với Ngài trong sự yếu đuối của mình, cầu khẩn Đức Chúa Trời giải cứu họ khỏi người này là kẻ nhạo báng Ngài. Như chúng ta thấy trong đoạn này, Đức Chúa Trời đã nghe tiếng kêu cầu của vua và một lần nữa đã ban cho người sự giải cứu từ nơi Ngài.
IIVua 2V 19:14-36 Ê-xê-chia tiếp đặng thư ở nơi tay các sứ giả, bèn đọc; đoạn người đi lên đền thờ của Đức GIÊ-HÔ-VA, và mở thơ ra trước mặt Đức GIÊ-HÔ-VA. 19:15 Ê-xê-chia cầu nguyện Đức GIÊ-HÔ-VA rằng: Ôi, GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Ngài vẫn ngự ở giữa các chê-ru-bin, chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời của các nước thế gian. Chính Ngài đã làm nên trời và đất. 19:16 Hỡi Đức GIÊ-HÔ-VA! Hãy nghiêng tai Ngài và nghe. Hỡi Đức GIÊ-HÔ-VA! hãy mở mắt Ngài ra và xem. Cầu Chúa hãy nghe các lời mà San-chê-ríp sai nói, đặng phỉ báng Đức Chúa Trời hằng sống. 19:17 Đức GIÊ-HÔ-VA ôi! quả thật các vua A-si-ri đã diệt các dân tộc, và phá hoang địa phận chúng nó, 19:18 ném các thần chúng nó vào lửa;nhưng chẳng phải là thần, chẳng qua là công việc của tay người ta làm ra bằng gỗ và bằng đá; nên chúng hủy diệt các thần ấy. 19:19 Vậy bây giờ, hỡi GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của chúng tôi ôi! hãy giải cứu chúng tôi khỏi tay San-chê-ríp, hầu cho muôn nước trên đất biết rằng chỉ một mình GIÊ-HÔ-VA là Đức Chúa Trời. 19:20 Ê-sai, con trai A-mốt, sai nói với Ê-xê-chia rằng: GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta có nghe lời ngươi cầu nguyện cùng ta về việc San-chê-ríp, vua A-si-ri.
19:21 Này là lời Đức GIÊ-HÔ-VA đã phán về hắn: Gái đồng trinh Si-ôn khinh dể, chê cười ngươi; con gái Giê-ru-sa-lem đã lắc đầu theo ngươi. 19:22 Ngươi phỉ báng và sỉ nhục ai? cất tiếng lên cùng ai? Thật ngươi đã trừng con mắt nghịch với Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên! 19:23; Ngươi đã nhờ các sứ giả mình nhạo báng Chúa, mà rằng: Ta đem nhiều xe, lên chót núi, đến đỉnh rất xa của Li-ban; ta sẽ đốn những cây bá hương cao hơn hết, và cây tòng tốt nhứt của nó; ta sẽ đến cõi xa hơn hết, tức rừng rậm của nó. 19:24 Ta đã đào giếng, uống nước của đất lạ; dưới bàn chân ta sẽ làm cạn các sông Ê-díp-tô. 19:25 Sự này ta đã làm từ lâu, việc này ta đã định từ thời cổ, ngươi há chẳng nghe đến sao? Bây giờ, ta khiến cho sự đó xảy đến, để cho ngươi phá hoang các thành kiên cố ra đống hư nát. 19:26 Vì vậy, dân sự của các thành ấy đều yếu đuối, bị sợ hãi và hổ thẹn; chúng giống như cây cỏ xanh ngoài đồng, tỉ như cây cỏ trên nóc nhà, khác nào lúa mì đã héo trước khi cọng chưa thành. 19:27 Nơi ngươi ngồi, lúc ngươi đi ra, đi vào, và sự giận dại ngươi đối cùng ta, ta đã biết hết. 19:28 Bởi ngươi giận dại cùng ta, và vì lời kiêu ngạo ngươi đã thấu đến tai ta, ắt ta sẽ xỏ cái vòng nơi mũi ngươi. Đoạn, ta sẽ khiến ngươi trở về theo con đường mà ngươi đã đi đến. 19:29 (Hỡi Ê-xê-chia), nhờ dấu hiệu này ngươi nhìn biết rằng lời này sẽ ứng nghiệm: Năm nay, các ngươi sẽ ăn vật hột giống rớt xuống, sanh ra; năm thứ nhì, ăn vật tự mọc lên; nhưng năm thứ ba, các ngươi sẽ gieo và gặt, và trồng nho và ăn trái nó. 19:30 Hễ giống gì thoát khỏi, còn lại của dân tộc Giu-đa, dưới sẽ châm rễ xuống, trên sẽ kết bông trái lên. 19:31 Vì sẽ có phần sót lại từ Giê-ru-sa-lem mà ra, kẻ thoát khỏi từ núi Si-ôn mà đến; lòng sốt sắng của Đức GIÊ-HÔ-VA sẽ làm nên việc ấy. 19:32 Bởi cớ đó, Đức GIÊ-HÔ-VA phán về vua A-si-ri như vầy: Nó sẽ không vào thành này, chẳng xạ tên trong nó, cũng chẳng kéo đến giơ khiên lên trước mặt nó, và chẳng đắp lũy nghịch nó. 19:33 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: nó sẽ trở về theo con đường nó đã đi đến, không vào trong thành này. 19:34 Vì tại cớ ta và Đa-vít, kẻ tôi tớ ta, ta sẽ binh vực thành này đặng cứu nó. 19:35 Trong đêm đó, có một thiên sứ của Đức GIÊ-HÔ-VA đi đến trong dinh A-si-ri, và giết một trăm tám mươi lăm ngàn người tại đó. Sáng ngày mai, người ta thức dậy, bèn thấy quân ấy, kìa, chỉ là thây đó thôi. 19:36 San-chê-ríp, vua A-si-ri bèn trở về, ở tại Ni-ni-ve.
8. Vua Giô-sa-phát đã đối diện một tình huống thật giống như Ê-xê-chia khi Giô-sa-phát bị quân nghịch bao vây và vô cùng kinh hãi. Nhưng giống như chú chim non ông biết mình phải làm gì, vì the ông đã kêu cầu cùng Đức Chúa Trời và hả hoác miệng mình ra chờ đợi. Ông nhắc nhở Đức Chúa Trời rằng Ngài đã ban xứ này cho dòng dõi của bạn hữu Ngài làÁp-ra-ham làm sản nghiệp đời đời (câu 7). Nói cách khác ông đã viện dẫn giao ước của Áp-ra-ham. Chúng ta cũng thấy trong câu 12 thái độ hoàn toàn bất lực của họ với tất cả sự trông cậy nương tựa nơi Đức Chúa Trời.
IISu 2Sb 20:1-30 Sau các việc này, xảy có dân Mô-áp, dân Am-môn, và những người Mao-nít ở cùng họ, kéo đến đặng đánh giặc với Giô-sa-phát. 20:2 Bấy giờ, có người đến thuật cho Giô-sa-phát mà rằng: Có một đám quân rất đông từ bên bờ kia của biển, từ nước Sy-ri, mà đến hãm đánh vua; kìa chúng đương ở tại Hát-sát-son-Tha-ma, cũng gọi là Ên-ghê-đi. 20:3 Giô-sa-phát sợ hãi, rắp lòng tìm cầu Đức GIÊ-HÔ-VA, và rao khắp xứ Giu-đa phải kiêng ăn một ngày. 20:4 Giu-đa nhóm lại đặng cầu Đức GIÊ-HÔ-VA cứu giúp; người ta ở các thành Giu-đa đều đến đặng tìm cầu Đức GIÊ-HÔ-VA. 20:5 Giô-sa-phát đứng trong hội chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, tại trong đền của Đức Giê-hô-va, trước hành lang mới, 20:6 mà cầu nguyện rằng: Lạy GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi! Ngài há chẳng phải là Chúa ở trên các từng trời sao? Há chẳng phải Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? Ở nơi tay Chúa có quyền thế năng lưc, chẳng ai chống trả Chúa cho nổi. 20:7 Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi! Ngài há chẳng phải đã đuổi dân ở xứ này khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, mà ban xứ ấy cho dòng dõi Ap-ra-ham, là bạn hữu Chúa, làm sản nghiệp đời đời sao? 20:8 Chúng đã ở đó, và đã cất cho danh Chúa một đền thánh mà rằng: 20:9 Nếu tai họa giáng trên chúng tôi, hoặc gươm giáo, hoặc sự đoán phạt, hoặc dịch hạch, hay là cơn đói kém, thì chúng tôi sẽ đứng trước đền nầy và trước mặt Chúa (vì danh Chúa ở trong đền nầy), mà kêu cầu Chúa trong sự gian nan chúng tôi, thì Chúa sẽ dủ nghe và giải cứu cho. 20:10 Trong lúc dân Y-sơ-ra-ên từ xứ Ê-díp-tô lên, Chúa có cấm họ loán đến xứ dân Am-môn, dân Mô-áp, và người ở núi Sê-i-rơ; dân Y-sơ-ra-ên xây khỏi chúng nó, không diệt chúng nó đi 20:11 kìa, chúng nó báo lại chúng tôi dường nào, đến toan đuổi chúng tôi khỏi sản nghiệp Chúa đã ban cho chúng tôi nhận lấy. 20:12 Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi, chớ thì Ngài sẽ không xét đoán chúng nó sao? Vì nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo nầy đương đến hãm đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa! 20:13 Cả Giu-đa đều đứng tại trước mặt Đức GIÊ-HÔ-VA với các đứa nhỏ, vợ, và con cái mình. 20:14 Bấy giờ, tại giữa hội chúng, Thần Đức GIÊ-HÔ-VA cảm động Gia-ha-xi-ên, con trai Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia, là người thuộc về dòng A-sáp, 20:15 mà phán rằng: Hỡi các người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem, cùng vua Giô-sa-phát, hãy nghe! Đức GIÊ-HÔ-VA phán cho các ngươi như vầy: Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi cớ đám quân đông đảo nầy: vì trận giặc nầy chẳng phải của các ngươi đâu, bèn là của Đức Chúa Trời. 20:16 Ngày mai, hãy đi xuống đón chúng nó: kìa chúng nó đi lên dốc Xít, các ngươi sẽ gặp chúng nó nơi đầu trũng, trước mặt đồng vắng Giê-ru-ên. 20:17 Trong trận nầy các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Đức GIÊ-HÔ-VA ở cùng các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! chớ sợ, chớ kinh hãi; ngày mai hãy đi ra đón chúng nó, vì Đức GIÊ-HÔ-VA ở cùng các ngươi. 20:18 Giô-sa-phát bèn cúi sấp mặt xuống đất, và cả Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mình xuống trước mặt Đức GIÊ-HÔ-VA, mà thờ lạy Ngài. 20:19 Người Lê-vi về dòng Kê-hát và về dòng Cô-rê đều đứng dậy cất tiếng lớn mà ngợi khen GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. 20:20 Buổi sớm mai, chúng đều chổi dậy thật sớm, kéo ra đồng vắng Thê-cô-a; đương lúc chúng đi, Giô-sa-phát đứng tại đó, mà nói rằng: Hỡi người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem! hãy nghe ta: Khá tin cậy GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc; hãy tin các đấng tiên tri Ngài, thì các ngươi sẽ được may mắn. 20:21; Khi người đã bàn nghị với dân sự, bèn lập những người ca xướng cho Đức GIÊ-HÔ-VA mặc áo lễ thánh mà đi ra trước cơ binh ngợi khen Chúa rằng: Hãy ngợi khen Đức GIÊ-HÔ-VA, vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời. 20:22 Đương lúc chúng khởi ca hát và ngợi khen, thì Đức GIÊ-HÔ-VA đặt phục binh xông vào dân Am-môn, dân Mô-áp và những kẻ ở núi Sê-i-rơ đã đến hãm đánh Giu-đa; và các dân ấy đều bị bại. 20:23 Dân Am-môn và dân Mô-áp dấy lên đánh dân ở núi Sê-i-rơ, đặng diệt chúng nó đi; khi đã diệt dân ở Sê-i-rơ rồi, thì chúng lại trở giết lẫn nhau. 20:24 Khi dân Giu-đa đến tháp canh nơi đồng vắng, nhìn đến đám quân đông đảo, thì thấy những thây nằm sãi trên đất, chẳng có một ai thoát khỏi được. 20:25 Giô-sa-phát và dân sự người đến cướp lấy tài vật của chúng, thấy có nhiều của cải, xác chết, và đồ quí báu, bèn cướp lấy cho đến chừng đem đi không đặng họ cướp lấy tài vật trong ba ngày, vì là rất nhiều. 20:26 Qua ngày thứ tư, họ nhóm hiệp tại trũng Bê-ra-ca, vì nơi đó họ ngợi khen Đức GIÊ-HÔ-VA; bởi cớ ấy, người ta đặt tên chỗ đó là trũng Bê-ra-ca cho đến ngày nay. 20:27 Hết thảy người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem cùng Giô-sa-phát đi đầu trước, trở về Giê-ru-sa-lem các vui vẻ; vì Đức GIÊ-HÔ-VA đã làm cho chúng vui mừng, vì cớ quân thù nghịch mình bị đánh bại. 20: 28 Chúng gảy đờn cầm, đờn sắt, và thổi sáo mà trở về Giê-ru-sa-lem, đến đền của Đức GIÊ-HÔ-VA. 20:29 Khi các nước thiên hạ nghe Đức GIÊ-HÔ-VA đã đánh bại quân thù nghịch của Y-sơ-ra-ên, thì lấy làm kinh hãi Đức Chúa Trời. 20:30 Vậy, nước của Giô-sa-phát được hoà bình, vì Đức Chúa Trời người ban cho người sự an nghỉ bốn bên.
Điều này thậm chí còn được thấy rõ rệt hơn qua việc Giô-sa-phát đã dùng từ “bạn hữu” để mô tả mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham vốn là một từ nhằm ám chỉ một người ở trong mối quan hệ “giao ước bằng huyết”. Do đó Giô-sa-phát đang nhắc nhở Đức Chúa Trời về mối quan hệ giao ước vớiÁp-ra-ham. Một lần nữa Đức Chúa Trời phán bảo hãy yên nghỉ vì trận chiến không phải là của các ngươi, nhưng là của ta, ta sẽ chiến trận thay các ngươi.
9. Một thí dụ khác liên quan đến một trong những câu chuyện về Ê-li và A-háp, vốn là một vị vua bội đạo. A-háp đã phá vỡ giao ước vì thế Đức Chúa Trời đã sai tiên tri Ngài là Ê-li đến cảnh cáo,
IVua 1V 17:1 Ê-li ở Thi-sê-be, là một người trong bọn đã sang ngụ Ga-la-át, nói với A-háp rằng: Ta đứng trước mặt GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hằng sống mà thề rằng: Mấy năm về sau đây, nếu ta chẳng nói, chắc sẽ không có sương, cũng không có mưa.
Bạn thấy Ê-li không những biết những phước hạnh của sự tuân giữ giao ước mà ông cũng biết những lời rủa sả đến vì cớ không tôn trọng giao ước đó.
PhuDnl 28:15 Nhưng nếu ngươi không nghe theo tiếng phán của GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi, không cẩn thận làm theo các điều răn và luật phát của Ngài mà ta truyền cho ngươi ngày nay, thì nầy là mọi sự rủa sả sẽ giáng xuống trên mình ngươi và theo kịp ngươi:
28:23-24 Các từng trời ở trên đầu ngươi sẽ như đồng, và đất dưới chơn ngươi sẽ như sắt. 28:24 Thay vì mưa, Đức GIÊ-HÔ-VA sẽ khiến cát và bụi từ trời sa xuống trên đất ngươi, cho đến chừng nào ngươi bị hủy diệt.
Ê-li, dù là một người có đức tin lớn, không đang tự đặt ra một lời rủa sả theo trí tưởng tượng của mình. Ông đang đứng trên giao ước đã được Đức Chúa Trời kết lập và chỉ công bố một trong những án phạt đối với sự không tuân giữ giao ước này. Ê-li biết Đức Chúa Trời sẽ giữ lời hứa của Ngài để ban cho cả các phước lành lẫn những sự rủa sả liên quan với giao ước.
10. Thảm kịch của mối quan hệ giao ước mà Đức Chúa Trời cố gắng đạt tới với Y-sơ-ra-ên là các con dân Y-sơ-ra-ên đã lìa bỏ giao ước và đi theo các thần tượng khác và phải gánh chịu mọi sự rủa sả mà Đức Chúa Trời đã cảnh cáo họ trước. Y-sơ-ra-ên quá giày đạp giao ước đến độ Đức Chúa Trời không còn lắng nghe họ nữa, và trở nên chán ngán về những tiếng kêu gào ăn năn rỗng tuyếch của họ. Chúng ta có thể thấy từ khúc Kinh Thánh nối tiếp trong Giê-rê-mi là ngay cho dù họ kêu xin Đức Chúa Trời vì cớ chính mình Ngài đừng phá vỡ mối giao ước với họ, song Đức Chúa Trời không còn lắng nghe họ, vì chính họ - chứ không phải Đức Chúa Trời - đã lìa bỏ và phá vỡ mối giao ước. Y-sơ-ra-ên đã lìa bỏ Ngài đi theo các thần khác và giờ đây đang gặt những hậu quả của việc mình làm.
Gie Gr 14:21-15:7 Xin hãy vì danh Ngài, chớ chán chúng tôi, và chớ để nhục ngôi vinh hiển của Ngài! Xin Ngài nhớ lời giao ước với chúng tôi mà chớ hủy. 14:22 Trong những sự hư vô của dân ngoại, há có quyền làm mưa được sao? có phải từ trời xuống mưa được chăng? Hỡi GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời chúng tôi, Ngài há chẳng phải là Đấng đó? Vậy nên chúng tôi sẽ trông đợi Ngài, vì Ngài đã làm ra mọi sự ấy. 15:1 Đức GIÊ-HÔ-VA bèn phán cùng tôi rằng: Dầu Môi-se và Sa-mu-ên đứng trước mặt ta, nhưng lòng ta cũng chẳng hướng về dân nầy. Hãy đuổi chúng nó khỏi trước mắt ta, cho chúng nó đi ra. 15:2 Sẽ xảy ra khi chúng nó hỏi ngươi rằng: Chúng tôi sẽ đi đâu? - thì hãy bảo chúng nó rằng: Đức GIÊ-HÔ-VA phán như vầy: Ai đã được định cho chết, hãy chịu chết; ai đã được định cho phải gươm dao, hãy chịu gươm dao; ai đã được định cho đói kém, hãy chịu đói kém; ai đã được định cho sự phu tù, hãy chịu phu tù. 15:3 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Ta sẽ giáng cho chúng nó bốn thứ tai vạ: gươm để giết, chó để xé, chim trời và loài thú trên đất để nuốt và diệt đi. 15:4 Vì có Ma-na-se, con trai Ê-xê-chia, vua Giu-đa, và vì những sự nó đã làm trong thành Giê-ru-sa-lem, ta sẽ khiến chúng nó bị ném đi ném lại trong các nước thiên hạ. 15:5 Hỡi Giê-ru-sa-lem, ai sẽ thương xót ngươi được sao? ai sẽ xây lại mà hỏi thăm ngươi? 15:6 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Ngươi đã bỏ ta, đã xây lại đàng sau, nên ta đã giang tay trên ngươi, để diệt ngươi. Ta đã chán sự đổi ý. 15:7 Ta đã lấy nia sảy chúng nó nơi cửa các thành đất nầy. Ta đã cất mất con cái chúng nó và diệt dân ta, mà chúng nó cũng chẳng trở lại khỏi đường lối mình.
E. Giao ước tốt hơn. Chúng ta thấy trong phần “B. 1.” là SaSt 12:3 báo trước một “giao ước thậm chí tốt hơn” vốn “ở trong Áp-ra-ham” sẽ đến. Giê-rê-mi đã nói đến “giao ước mới” mà Đức Chúa Trời sẽ kết lập với cả dân tộc Y-sơ-ra-ên.
Gie Gr 31:31-34 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. 31:32 Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức GIÊ-HÔ-VA phán vậy. 31:33 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. 31:34 Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức GIÊ-HÔ-VA! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.
Chúng ta biết rằng “giao ước mới” hay “giao ước tốt hơn” nầy đã có “ở trong Áp-ra-ham” trong sự kiện là Đấng Cứu Thế sẽ ra từ dòng dõi Áp-ra-ham là tổ phụ của Y-sơ-ra-ên. “Giao ước mới” sẽ được kết lập qua Chúa Cứu Thế Jêsus khi Ngài phó chính mình vì cớ tội lỗi của thế gian hầu cho “hễ ai tin Ngài sẽ không bị hư mất mà được sự sống đời đời” và do đó Ngài trở nên Đấng trung bảo của giao ước vì không người nào có thể bước vào giao ước nầy nếu không có Đấng Cứu Thế!
HeDt 12:24 gần Đức Chúa Jêsus, là Đấng trung bảo của giao ước mới, và gần huyết rưới ra, huyết đó nói tốt hơn huyết của A-bên vậy.
8:6-8 Nhưng thầy tế lễ thượng phẩm chúng ta đã được một chức vụ rất tôn trọng hơn, vì Ngài là Đấng trung bảo của giao ước tốt hơn, mà giao ước ấy lập lên trên lời hứa tốt hơn. 8:7 Vì nếu ước thứ nhứt không thiếu gì, thì chẳng có chỗ nào lập ước thứ hai. 8:8 Vả, trong những lời nầy thật có ý trách, là lời Đức Chúa Trời phán cùng dân Giu-đa rằng: Chúa phán, kìa nhựt kỳ đến, khi đó ta sẽ cùng nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa lập một giao ước mới:
1. Điều khiến cho giao ước nầy là một giao ước tốt hơn đó là dân Ngoại, vốn ngày trước cách xa, đã được đem lại gần nhờ giao ước mà Đấng Christ đã lập với toàn thể nhân loại nầy.
Eph Ep 2:14-20 Vì, ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức tường ngăn cách, 2:15 là sự thù nghịch đã phân rẽ ra, bởi vì Ngài đã đem thân mình mà trừ bỏ luật pháp của các điều răn chép thành điều lệ. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài muốn lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài, 2:16 và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời. 2:17 Ngài lại đã đến rao truyền sự hòa bình cho anh em là kẻ ở xa, và sự hòa bình cho kẻ ở gần. 2:18 Vì ấy là nhờ Ngài mà chúng ta cả hai đều được phép đến gần Đức Chúa Cha, đồng trong một Thánh Linh. 2:19 Dường ấy, anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời. 2:20 Anh em đã được dựng nên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus là đá góc nhà;
ICo1Cr 12:12-14 Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy. 12:13 Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gơ-réc, hoặc tôi mọi , hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta cũng đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa. 12:14 Thân cũng chẳng phải có một chi thể, bèn là nhiều chi thể.
2. Lời hứa của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên là thanh tẩy họ khỏi mọi sự gian ác của họ, ban cho họ một tấm lòng mới, và đặt trong họ một thần linh ngay thẳng sẽ khiến họ muốn vâng lời Đức Chúa Trời.
HeDt 8:12 Nhơn ta sẽ tha sự gian ác của họ, và không nhớ đến tội lỗi họ nữa.
Exe Ed 36:26-28 Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. 36:27 Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo. 36:28 Các ngươi sẽ ở trong đất mà ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ làm dân ta, ta sẽ làm Đức Chúa Trời các ngươi.
3. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ không bao giờ cần phải có ai bảo họ hãy “nhận biết Đức GIÊ-HÔ-VA ” một lần nữa vì Đức Chúa Trời sẽ ngự giữa các ngươi và các ngươi sẽ biết Ngài cách cá nhân. Các ngươi sẽ không còn phải đi lên đền tạm để ra mắt Đức Chúa Trời vì dưới giao ước mới các ngươi sẽ trở nên đền thờ và Đức Chúa Trời sẽ ngự giữa các ngươi.
Gie Gr 31:31-34 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. 31:32 Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức GIÊ-HÔ-VA phán vậy. 31:33 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. 32:34 Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức GIÊ-HÔ-VA! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.
ICo1Cr 6:19 Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao?
4. Giờ đây chúng ta có thể hiểu rõ hơn những lời của Chúa Jêsus tại “Bữa Tiệc Ly” với các môn đồ khi Ngài phán trong
Mat Mt 26:26-28 Khi đương ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hãy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta. 26:27 Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hãy uống đi 26:28 vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.

5. Không có sinh tế nào được dùng để lập giao ước mới và tốt đẹp hơn nầy nhưng trái lại đó chính là sự sống, là thân và huyết của “Con Đức Chúa Trời” đấng vui lòng phó chính sự sống mình làm giá chuộc cho cả nhân loại. Giao ước không còn có thể bị phá vỡ nữa vì chúng ta có một giao ước đời đời giữa Đức Chúa Trời và con người qua Chúa Cứu Thế Jêsus.
6. Chúng ta không còn có dấu ấn nào trong xác thịt mình để đóng ấn giao ước nầy nhưng trái lại chúng ta có dấu ấn của Đức Chúa Trời bởi Đức Thánh Linh đang sống trong chúng ta.
Eph Ep 1:13 Ấy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chơn thật là đạo Tin Lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin, và được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa.

7. Giao ước mới là giao ước tốt hơn với nhiều lời hứa mới và tốt đẹp hơn.
1:3 Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời:
a. Tất cả những gì chúng ta cần phải làm để tận hưởng lợi ích của giao ước nầy là nhận biết sự yếu đuối của con người và nhu cầu cần đến Đức Chúa Trời của chúng ta. Kế đó chúng ta chỉ cần “hả hoác miệng mình ra, và Ngài sẽ làm cho đầy dẫy nó” (Thi Tv 81:10).
b. Dưới giao ước mới nầy chúng ta chỉ cần đến với Đức Chúa Trời và thưa với Ngài rằng: “Chúa ôi, xin tha thứ cho mọi tội lỗi của con” là đã đủ, song Đức Chúa Trời thì lại phán: “hãy hả hoác miệng ngươi ra!” Ngài không chỉ tha thứ cho tôi mà Ngài còn khiến tôi trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, xưng tôi là công nghĩa, khiến tôi trở nên như chưa hề phạm tội trước mặt Ngài.
c. Chúng ta chỉ cần đến với Đức Chúa Trời và thưa rằng, “Chúa ôi, xin hãy khiến lòng con vui vẻ, đó là tất cả mọi điều con cầu xin.” Nhưng Đức Chúa Trời lại phán, Hỡi con ta “hãy hả hoác miệng ngươi ra” vì ta sẽ ban cho ngươi “sự vui mừng không thể tả xiết và tràn đầy vinh hiển!”

d. Chúng ta chỉ cần cầu xin Đức Chúa Trời rằng, “Lạy Chúa xin chỉ hãy ban cho con một chút bình an, chỉ một chút bình an mà thôi, Chúa ôi.” Nhưng Đức Chúa Trời lại phán “hãy hả hoác miệng ngươi ra” và ta sẽ ban cho ngươi “sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết!”
e. Chúng ta chỉ cần cầu xin Đức Chúa Trời, “Chúa ôi xin hãy giúp con hòa thuận với mọi người.” Nhưng Đức Chúa Trời lại phán, “hãy hả hoác miệng ngươi ra” và ta sẽ ban cho ngươi “sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng các ngươi!”
f. Chúng ta chỉ cần cầu xin Đức Chúa Trời, “Chúa ôi, xin Ngài làm ơn dẫn dắt con, con đã ….. và con chỉ cần dẫn dắt phần nào mà thôi.” Đối với điều đó Đức GIÊ-HÔ-VA phán, “hãy hả hoác miệng ngươi ra” vì ‘fleece’ là một phần của giao ước cũ và đây là một giao ước mới và tốt đẹp hơn, trong giao ước đó ta sẽ ban cho ngươi Chính Mình Đấng Christ ở trong ngươi để làm sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, vì vậy ngươi sẽ có tâm trí của Đấng Christ và ngươi sẽ biết phải làm gì, và ngươi sẽ được dẫn dắt bởi sự bình an trong lòng mình.
g. Giao ước nầy thật tốt hơn vô cùng đến nổi nó cho chúng ta biết trong Rô-ma 8 rằng chúng ta là kẻ kế tự của Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đức Chúa Jêsus Christ. Là một kẻ kế tự có nghĩa là chúng ta đã nhận được một di sản. Chúng ta đã nhận lãnh Đức Chúa Jêsus Christ, vốn là Đức Chúa Trời, vì thế chúng ta đã nhận lãnh qua giao ước nầy tất cả mọi sự thuộc về Đức Chúa Trời. Chúng ta là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ.
h. Tất cả mọi việc chúng ta cần phải làm là “hả hoác miệng mình ra” song chúng ta không thể nào tin là nó đơn giản như thế vì vậy chúng ta cố gắng để tự có được nó, xứng đáng hưởng nó, tranh đấu để có nó, cảm thấy rằng cầu xin Đức Chúa Trời điều đó thì thật quá nhiều. Nhưng Đức Chúa Trời lại phán, “hãy hả hoác miệng ngươi ra thì ta sẽ làm cho đầy dẫy nó.” Bạn thấy Đức Chúa Trời đã kể cả chúng ta trong giao ước nầy và theo:
IGi1Ga 5:14-15 Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta. 5:15 Nếu chúng ta biết không cứ mình xin điều gì, Ngài cũng nghe chúng ta, thì chúng ta biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài.
i. Chúng ta phải nhận thức rằng chúng ta không đến gần Đức Chúa Trời bởi chính sức riêng của mình nhưng trái lại nhờ sự nhu mì, và khiêm nhường. Mat Mt 5:3 cho chúng ta biết rằng: “Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy.”
Chúng ta không thể nào bắt đầu sở hữu nước thiên đàng cho đến khi chúng ta trở nên nghèo nàn trong tâm linh ý thức được nhu cầu cần có Đức Chúa Trời trong đời sống mình. Làm thế nào chúng ta có thể giúp đỡ những người cho rằng mình không cần gì cả? Chúng ta không thể nào trở nên kẻ dự phần trong mối quan hệ giao ước mới cho đến khi nào chúng ta ý thức được nhu cầu cần đến Đức Chúa Trời của mình.
II. Giao ước Mới
A. ISa1Sm 18:1-4 Đa-vít vừa tâu xong cùng Sau-lơ, thì lòng của Giô-na-than khế hiệp cùng lòng Đa-vít, đến đỗi Giô-na-than yêu mến Đa-vít như mạng sống mình. 18:2 Từ ngày đó, Sau-lơ rước Đa-vít về đền mình, không cho trở về nhà cha người nữa. 18:3 Giô-na-than khế hiệp cùng Đa-vít, bởi vì người yêu mến người như mạng sống mình. 18:4 Người cổi áo mình mặc mà trao cho Đa-vít, luôn với áo xống khác, cho đến gươm, cung, và đai của mình nữa.

B. Từ sự kiện nầy chúng ta có thể hiểu được việc ở trong và là một phần của giao ước mới có ý nghĩa như thế nào. Giô-na-than kết lập một giao ước với Đa-vít, là người mà ông yêu quí như chính bản thân mình. Hãy ghi nhớ là khi một người lập một giao ước thì về mặt pháp lý người đó không chỉ đang đại diện cho chính mình mà còn đại diện cho tất cả những kẻ sẽ kế tự họ sau nầy, là những kẻ “vẫn còn ở trong lòng họ,” những hậu tự chưa được sinh ra. Dù Giô-na-than lúc ấy chưa có đứa con nào, song những con cái chưa sinh ra đang đứng tại đó “trong Giô-na-than.” Ông là người đại diện cho chúng khi ông bước vào giao ước bằng huyết nầy với Đa-vít.
Tại đây chúng ta thấy Giô-na-than đã cởi áo khoác, dây thắt lưng, gươm, và cung mình mà trao cho Đa-vít khi ông khởi xướng sự thoả thuận trong giao ước bằng huyết nầy. Dù sự ký thuật trong Thánh Kinh không giải thích toàn thể việc khế kết giao ước giữa hai người nầy, song chắc chắn nó đã được thực hiện trọn vẹn.
C. Làm thế nào Đa-vít có thể kết ước với một người thuộc gia tộc của Sau-lơ? Đa-vít là một người đẹp ý Đức Chúa Trời, ưa thích phục sự Đức Chúa Trời và sống để hầu việc Ngài. Tương phản lại là Sau-lơ, người mang mọi thứ bản tánh mà Đa-vít không hề có. Sau-lơ chống nghịch lại ý muốn của Đức Chúa Trời. Sau-lơ tìm kiếm cho bản thân mình. Sau-lơ ghen ghét Đa-vít vì Đa-vít có mọi sự mà lẽ ra Sau-lơ phải có. AmAm 3:3 Hai người không đồng ý há có thể đi chung đường sao? Làm thế nào hai gia tộc nầy lại có thể kết giao ước với nhau được? Khi kết lập giao ước thì bạn không còn nắm giữ cái quyền được sống độc lập của mình vì bạn đã liên hiệp chính mình với sự sống của một người khác. Bạn có trách nhiệm đối với nhau.
Khi xem xét câu chuyện của Sau-lơ chúng ta tìm thấy một người trong gia tộc của Sau-lơ không mang tính chất của Sau-lơ, đó chính là Giô-na-than. Giô-na-than khác hẳn, ông yêu mến Đức Chúa Trời với tất cả tấm lòng và chỉ mong muốn làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời. Khi gặp gỡ Đa-vít, ông nhìn thấy nơi Đa-vít một con người mà ông có thể kết ước với. Xin hãy nhớ là giao ước của họ sẽ có hiệu quả trên thế hệ nầy tiếp nối thế hệ khác của những người chưa được sinh ra.
D. Mê-phi-bô-sết là con trai của Giô-na-than, được nuôi dưỡng trong nhà của Sau-lơ, được dạy dỗ điều giả dối là Đa-vít là một kẻ thù muốn trở thành Vua của Y-sơ-ra-ên và mọi người trong nhà Sau-lơ sẽ phải khiếp sợ người nầy. Khi xảy ra việc cả Sau-lơ lẫn Giô-na-than đều bị giết chết trong chiến trận trong cùng một ngày thì mọi người trong nhà Sau-lơ đều chạy trốn vì sợ hãi những điều Đa-vít sẽ làm cho họ. Mê-phi-bô-sết lúc ấy mới 5 tuổi và khi người vú nuôi đang chạy trốn khỏi nhà Sau-lơ trong nỗi sợ hãi thì bà ta trượt chơn và té ngã khi đang ẵm đứa nhỏ trên tay. Chơn Me-phi-bô-sết bị gãy trong lúc té đó và người bị què (IISa 2Sm 4:4 9:13). Người vú nuôi cùng những tôi tớ khác trong nhà chạy trốn vào đồng vắng đến một nơi gọi là Lô-đê-ba. Tại đó họ dạy Mê-phi-bô-sết tin rằng ngôi vua đúng ra là của người và người sẽ phải kinh sợ và ghen ghét Đa-vít. Vì thế tại đây một người trai trẻ, sinh ra là một hoàng tử, người thừa kế ngôi vua của Sau-lơ, lại đang sống trong một túp lều nơi đồng vắng vây quanh bởi một gia tộc chỉ dạy cho người thù ghét, sợ hãi và mong muốn Đa-vít phải chết đi. Thế nhưng trọn thời gian nầy người đã ở trong mối quan hệ kết ước với Đa-vít qua Giô-na-than và hiển nhiên người không biết điều đó hoặc tin vào điều đó.
E. Mê-phi-bô-sết trước mặt Đa-vít: Đa-vít nhớ lại giao ước với Giô-na-than và hỏi xem có người nào của nhà Sau-lơ (chứ không chỉ của nhà Giô-na-than thôi) mà người có thể ban phước cho vì cớ giao ước với Giô-na-than chăng (IISa 2Sm 9:1). Xíp-ba, một tôi tớ trước đây của Sau-lơ, được thấy là người có thể cho Đa-vít biết chỗ ở của Mê-phi-bô-sết. Đa-vít sai tôi tớ mình đến Lô-đê-ba và đưa Mê-phi-bô-sết về với mình.
Bạn có thể hình dung nỗi kinh hoàng Mê-phi-bô-sết chắc hẳn đã cảm thấy khi các tôi tớ của Đa-vít kéo người ra khỏi túp lều nơi đồng vắng, vì người đang sống trong nỗi sợ hãi và hầu như thậm chí đã có thể mưu định hoặc ít ra toan tính trong trí sẽ sát hại Đa-vít. Giờ đây người lại đang ở trong tay của chính kẻ mà người mong muốn tiêu diệt hơn hết.
Thánh Kinh (9:1-13) mô tả cảnh tượng lúc Mê-phi-bô-sết đến trước mặt Đa-vít run rẩy sợ sệt sấp mình xuống đất và lạy. Đa-vít kêu tên người, rồi nói cùng người, “Chớ sợ, ta muốn làm ơn cho ngươi vì cớ Giô-na-than, cha ngươi, . . .”
Mê-phi-bô-sết ý thức được sự xấu xa tồi tệ của tấm lòng mình đối cùng Đa-vít suốt nhiều năm qua và đáp, “Kẻ tôi tớ vua là gì, mà vua lại đoái mắt đến một con chó chết, như tôi đây?” Bạn thấy Mê-phi-bô-sết đã nhận biết rằng mình không xứng đáng chi cả vì tấm lòng ông chỉ muốn làm điều ác đối cùng con người nhơn hậu nầy. Ông chẳng đáng nhận lãnh gì hơn là phần của một con chó chết, đó là bị ném vào đống rác bẩn thỉu mà thôi.
F. Đa-vít vì cớ Giô-na-than: Đa-vít không đối xử với Mê-phi-bô-sết do ông xứng đáng, có công trạng, hay đã làm gì để đáng hưởng sự nhơn hậu nầy, song đúng ra vì Đa-vít được nhắc nhở bởi những vết sẹo trên tay mình, kết quả của giao ước mà người đã lập với Giô-na-than thậm chí trước khi Mê-phi-bô-sết được sinh ra.
Tuy nhiên khi Mê-phi-bô-sết giơ tay ra nắm lấy tay Đa-vít để tạ ơn về tất cả những gì Đa-vít đã hứa ban cho mình thì điều đó đối với Mê-phi-bô-sết có nghĩa là ông phải chết đối với toàn thể con người trước đây của ông và bắt đầu hiểu rõ ý nghĩa của giao ước bằng huyết. Do đó huyết của ông sẽ không phải bị đổ ra, vì điều đó chỉ được thực hiện bởi những người đứng ra kết ước và huyết của Giô-na-than là đã đủ. Vì thế trong việc chấp nhận lời đề nghị của Đa-vít, Mê-phi-bô-sết đã phó dâng tất cả những gì mình có cho Đa-vít và ngược lại Đa-vít đã đặt vào tay Mê-phi-bô-sết tùy ý sử dụng tất cả những gì nằm trong phạm vi quyền bính của người.
Mê-phi-bô-sết sẽ không bao giờ cần phải trở lại sống trong túp lều nơi đồng vắng với tất cả những người đã từng sống trong sự giận dữ, cay đắng, hận thù và tranh đấu. Giờ đây ông sẽ được sống trong cung như một người anh em kết ước với Đa-vít và được ăn cùng bàn của Vua. Ông sẽ không còn phải lê thân đây đó vì đã có ba người tôi tớ sẵn sàng phục vụ mọi nhu cầu của ông.
Khi các tôi tớ của Đa-vít đến kéo ông ra khỏi túp lều bẩn thỉu, bụi bậm, nóng bức nơi sa mạc khô cằn, ông sợ rằng mình sẽ phải chết ngày hôm đó. Ấy vậy mà ông đã chết thực! Ông đã chết đối với mọi điều trong quá khứ và trở nên sống động trong một cuộc sống mới, và sáng hôm sau, thay vì chổi dậy khỏi nền đất cứng đầy bụi nơi ông nằm ngủ, ông thấy mình đang quấn mình trong một tấm chăn len ấm áp trên một chiếc giường êm ái, và thay vì phải lê thân đến bên giếng để lấy ít nước rửa ráy, ông được ba người hầu đang cúi gập xuống trước ngài Mê-phi-bô-sết sẵn sàng phục tùng theo lệnh của ông. Tôi quả quyết rằng ông hẳn đã nghĩ là mình đang nằm mơ vì chắc chắn ông không xứng đáng để được hưởng điều nầy. Và có lẽ sáng hôm ấy khi ngồi xuống nơi bàn điểm tâm của Vua, một lần nữa ông đã chú ý đến vết sẹo trong lòng bàn tay của Đa-vít và hiểu ra rằng vết sẹo ấy không hề có do nơi cá nhân ông, nơi những gì ông đã làm hoặc đã không làm. Nó chỉ do nơi huyết của Giô-na-than đã bị đổ ra vì cớ ông nhiều năm về trước.
Và có lẽ như trong hầu hết mọi phạm vi khác, đã có người đang sống trong cung của Đa-vít đến gặp Mê-phi-bô-sết và nói với một giọng điệu kiện cáo đại khái như, “Ngươi nghĩ là mình đang làm gì ở đây? Ta biết ngươi là ai, ngươi là kẻ đã từng âm mưu chống lại Vua. Thật bạo gan thay khi ngươi dám ngồi đây và ăn cùng bàn với chính người mà ngươi đã từng sống trong sự phản loạn chống nghịch lại!” Thế nhưng nếu Mê-phi-bô-sết đã bắt đầu thực sự am hiểu mối quan hệ giao ước nầy thì ông có thể trả lời mà không cần phải bào chữa, “Ngươi nói đúng đấy, và thực ra ngươi chỉ biết có một nửa những gì ta đã làm và cảm nhận; song nếu ngươi đến cùng Đa-vít thì ngươi sẽ nhìn thấy vết sẹo trong lòng bàn tay người, dấu ấn của giao ước. Nó thực sự không liên quan gì tới những việc ta đã làm; chỉ bởi giao ước đã kết lập sẵn cho ta mà ta rất vui sướng được hưởng lấy phước hạnh của giao ước nầy.” Giờ đây ông được ở trong gia tộc của Vua, ông được ngồi ăn nơi bàn của Vua, ông có quyền được thừa kế, ông có quyền trò chuyện thân thiện với Vua, ông có quyền được đối đãi như Giô-na-than, song nói một mạch thì ông sẽ là người đầu tiên phát biểu rằng dù ông có quyền hợp pháp song ông không xứng đáng hưởng quyền ấy chút nào.
G. Đấng Christ vì cớ chúng ta: Nhân loại ngày nay giống như những người trong nhà của Sau-lơ. Hãy xem xét dòng dõi loài người thì bạn sẽ thấy mọi người đều đang tìm cách đi theo đường lối riêng của mình, vì tất cả đều đã phạm tội, không một người công bình, dẫu một người cũng không. Và đây là tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà Đức Chúa Trời đối diện với con người. Ngài mong muốn kết ước với con người nhưng không một ai xứng đáng để kết ước với Ngài. Vì thế Đức Chúa Con phải nhập thể và được hạ sinh bởi nữ đồng trinh Ma-ri. Khi Chúa Giê-xu được sinh ra, Ngài là con người trọn vẹn. Thế nhưng Ngài hoàn toàn khác với mọi con người đã từng hoặc sẽ sống trên đất nầy. Ngài là một Giô-na-than trong nhà của Sau-lơ. Ngài sẽ chỉ làm những gì mà Cha Ngài đẹp lòng. Và khi Đức Chúa Cha nhìn xuống Đức Chúa Con là Jêsus, Ngài đã phán, Mat Mt 3:17 Và có tiếng từ trời phán rằng, “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi bề. ”
Cuối cùng, đã có một người mà Đức Chúa Cha có thể lập một giao ước bằng huyết với. Con Đức Chúa Trời, đấng mà chính mình Ngài là Đức Chúa Trời, đã đến trong thân xác con người để thay vào chỗ của chúng ta như người đứng ra kết ước thay thế cho loài người. Giống như Mê-phi-bô-sết đã có trong Giô-na-than thì chúng ta cũng đã có trong Đức Chúa Jêsus Christ y như vậy. Đức Chúa Cha đã bởi ân điển Ngài đặt mọi kẻ tin trong Đức Chúa Jêsus Christ:
ICo1Cr 1:28-30 Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có. 1:29 để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. 1:30 Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta.
H. Bữa Tiệc Ly Giao ước: Khi nhìn vào “Bữa Tiệc Ly” Chúa Jêsus cùng dự với các môn đồ Ngài, chúng ta thấy họ nêu lên đủ thứ thắc mắc cho đến khi chúng ta đến phần Ngài lấy bánh và bẻ ra:
ICo1Cr 11:24-25 Và khi tạ ơn rồi, Ngài bẻ ra mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, vì các ngươi mà phó cho; hãy làm điều nầy để nhớ ra. 11:25 Cũng một thể ấy, sau khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: Chén nầy là sự giao ước mới trong huyết ta; hễ khi nào các ngươi uống, hãy làm điều nầy để nhớ ta.
Chúng ta thấy các môn đồ không có thắc mắc gì vào thời điểm nầy. Đó là vì họ nhận biết ý nghĩa của bữa tiệc giao ước. Họ là người đông phương và hiểu rõ giao ước và điều Ngài đang làm. Vì thế họ đã nhận lấy bánh và chén, biết rõ rằng nó tượng trưng cho chính sự sống của Đấng Christ đang kết ước với họ.
Chỉ cần một vết cắt nhỏ nơi cổ tay để cho một vài giọt máu chảy ra hầu đóng ấn cho giao ước giữa Giô-na-than với Đa-vít. Nhưng khi cần phải đóng ấn cho giao ước giữa Đức Chúa Trời với con người, Chúa Jêsus đã mang trên chính mình Ngài tội lỗi của chúng ta và gánh chịu sự đau đớn của tội lỗi trong thân thể Ngài, là giá chuộc cần phải có hầu cho bạn và tôi có thể bước vào sự sống mới trong Đấng Christ và trở nên kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, được hưởng tất cả những gì Đức Chúa Trời là Cha trên trời của chúng ta sở hữu. Để rồi như Đấng Christ đã chịu chết trên cây thập tự thì cũng vậy, tôi cũng thực sự chết trên cây thập tự vì tôi đã ở trong Đức Chúa Jêsus Christ. Ngài đại diện cho tôi! Ngài đã làm thay cho tôi những điều tôi không thể tự mình làm được. Và giờ đây tôi là một người dự phần trong giao ước đời đời nhờ huyết của Đức Chúa Jêsus Christ (HeDt 13:20).
Vì bất cứ ai tin nơi những gì Đấng Christ đã chu cấp thì người ấy được trở nên kẻ dự phần của “giao ước đời đời.” Tình trạng tội lỗi của chúng ta được giải quyết nhờ Đấng Christ. Chúng ta trở nên một tạo vật mới trong Đức Chúa Jêsus Christ, mọi sự cũ đã qua đi, mọi sự đều trở nên mới (IICo 2Cr 5:17).
Làm thế nào tội lỗi của tôi được giải quyết?
IGi1Ga 1:9 Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.
Khi chúng ta ý thức được bản chất tội lỗi của mình và cầu xin sự tha thứ của Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ thành tín để tha tội cho chúng ta; không phải giàu lòng thương xót để tha thứ chúng ta, cũng không phải đầy ân điển để tha thứ chúng ta, nhưng là thành tín , vì Ngài có trách nhiệm phải làm điều đó vì chúng ta có quyền hợp pháp để được tha tội bởi giao ước Ngài đã lập. Nói cách khác, khi chúng ta chấp nhận địa vị của mình trong giao ước với Ngài thì Đức Chúa Trời sẽ thành tín làm tròn trách nhiệm của Ngài đối với giao ước đó.
Một khi chúng ta tin nơi giao ước bằng huyết của Chúa Jêsus thì công tác của Đức Chúa Cha là:
1. cất tội lỗi chúng ta đi
2. ban cho chúng ta một tấm lòng mới
3. dạy dỗ chúng ta biết Ngài là ai
4. trở thành Đức Chúa Trời của chúng ta và chúng ta là dân sự của Ngài
Chúng ta không thể thêm một phân nào vào vóc dáng của chúng ta, y hệt như Mê-phi-bô-sết không thể làm bất kỳ điều gì để khiến mình được tốt đẹp hơn. Đó là công tác của Đức Chúa Cha. Chính Đức Chúa Trời sẽ thực hiện điều Ngài ưa thích trong chúng ta và sẽ làm trọn hết mọi việc lành mà Ngài đã khởi sự trong mỗi chúng ta (Phi Pl 1:6).
III. Đức Thánh-Linh được ban cho
Eph Ep 1:13 Ấy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chơn thật, là đạo Tin lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Đức Thánh-Linh là Đấng Chúa đã hứa.
A. Được ấn chứng như một Dấu hiệu: Là tín đồ trong giao ước mới chúng ta không cần phải thực hiện nghi thức của giao ước bằng huyết nhưng trái lại chỉ cần chấp nhận hành động đã được thực hiện vì cớ chúng ta bởi Đức Chúa Jêsus Christ. Thay vì mang dấu vết của việc kết ước thì chúng ta đã được ấn chứng bằng Đức Thánh-Linh như một dấu hiệu chứng tỏ chúng ta là những thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời. Tất cả mọi người tin nơi Ngài đều có dấu ấn chung của Đức Thánh-Linh như một dấu hiệu là chúng ta ở trong mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời.
IGi1Ga 3:24 Ai vâng giữ các điều răn của Ngài thì ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy; chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta, là nhờ Đức Thánh-Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.
RoRm 8:14-17 Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời. 8:15 Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha! 8:16 Chính Đức Thánh-Linh làm chứng trong lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. 8:17 Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài.

Những dấu hiệu chính của một đời sống có Thánh Linh Đức Chúa Trời dẫn dắt là:
* người đó có năng quyền để sống một đời sống đổi mới tốt đẹp hơn
* người đó có sự khôn ngoan để hiểu biết lời Chúa
* người đó có sự bình an không phải do hoàn cảnh bên ngoài đem đến
* người đó có thể yêu thương, tha thứ cho kẻ thù nghịch mình
B. Kẻ đồng kế tự với Đấng Christ: 8:17 Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ , miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài.
Là “kẻ đồng kế tự với Đấng Christ” chúng ta có cùng mối tương quan với Đức Chúa Cha mà Chúa Jêsus đã có khi Ngài còn tại thế. Chúng ta “ở trong Đấng Christ” và chúng ta có thể cầu khẩn cùng Đức Chúa Cha và chúng ta là “kẻ kế tự của Đức Chúa Trời,” vốn là tất cả những gì được đem đến cho chúng ta bởi Đức Thánh-Linh của lời hứa. Thế nên nếu chúng ta mong muốn được hưởng mọi phước hạnh của giao ước với Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ phải bước đi trong Thánh Linh vậy.
C. Quyền phép của Đức Thánh-Linh: Chính sự hiện diện của Đức Thánh-Linh khiến cho việc chúng ta bước đi với Đức Chúa Trời là một điều gì đó sống động, năng động, và đầy quyền phép. Một điều gì đó trổi vượt hơn chứ không chỉ là một giáo lý hay mà thôi. Nếu tôi muốn bước đi trên đất nầy trong mối quan hệ kết ước với Đức Chúa Cha bởi năng quyền của Đức Thánh-Linh thì tôi phải chăm xem Chúa Jêsus. Bởi vì giờ đây nhờ sự hiện diện của Đức Thánh-Linh ở trong tôi, tôi có thể bước đi như Chúa Jêsus đã từng bước đi.
IGi1Ga 2:6 Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính mình Ngài đã làm.
Đức Chúa Cha đã ban Đức Thánh-Linh cho chúng ta hầu cho chúng ta có thể đến gần sự hiện diện và quyền phép của Đức Thánh-Linh y như Chúa Jêsus đã từng làm, để rồi chúng ta có thể trở nên giống như Ngài và làm những việc mà Ngài đã từng làm. “Làm theo như chính mình Ngài đã làm!”
Khi giảng dạy cho những đoàn dân đông vào ngày cuối cùng của Lễ Lều Tạm trong GiGa 7:38-39, Chúa Jêsus đã phán rằng Đức Thánh-Linh sẽ được ban xuống cho những kẻ tin nhưng vẫn chưa được ban xuống vì Chúa Jêsus chưa được vinh hiển. Ngài chưa bị đóng đinh, chưa bị chôn, chưa sống lại từ nơi phần mộ, và chưa lên cùng Cha để trình diện thân và huyết Ngài như là giá chuộc cho tội lỗi, là dấu hiệu của giao ước mới.
7:38-39 Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh thánh đã chép vậy. 7:39 Ngài phán điều đó chỉ về Đức Thánh-Linh mà người nào tin Ngài sẽ nhận lấy; bởi bấy giờ Đức Thánh-Linh chưa ban xuống, vì Đức Chúa Jêsus Christ chưa được vinh hiển.
Đức Chúa Jêsus Christ bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Cha và trình dâng huyết của chính mình Ngài và nói, “Cha ôi, con đã đổ huyết nầy thế cho Dick Christensen và nếu Cha chấp nhận con tức là Cha chấp nhận anh ta vậy.” Và Đức Chúa Cha phán, “Ta chấp nhận Christensen trong con. Và bây giờ Ta ban cho Christensen trong con ân tứ của Đức Thánh-Linh. Tất cả mọi kẻ tin đều có mặt tại đó khi Chúa Jêsus ra mắt Đức Chúa Cha. Chúng ta đã có tại đó “trong Đấng Christ.” Giờ đây chúng ta có thể dạn dĩ đến trước ngai Đức Chúa Trời vì chúng ta đã được tiếp nhận “trong Đấng Christ” và đã được ban cho ân tứ Đức Thánh-Linh.
HeDt 4:16 Vậy chúng ta hãy vững lòng (dạn dĩ) đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng.
D. Jêsus, Con người Trọn vẹn: Người ta thường cho rằng Chúa Jêsus, vừa là Đức Chúa Trời vừa là con người, đã sử dụng quyền phép Đức Chúa Trời của Ngài để làm những việc như hóa nước thành rượu, đi bộ trên mặt biển, chữa lành kẻ đau, và những sự biểu hiện tương tự khác trong lãnh vực siêu nhiên. Thế nhưng, tin như thế tức là chối bỏ chính mục đích mà vì đó Chúa Jêsus đã mặc lấy hình hài xác thịt và trở nên con người.
Phi Pl 2:5-8 Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 2:6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 2:7 Chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ, và trở nên giống như loài người; 2:8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.
Chúa Jêsus đã sống trọn đời mình và đã làm các phép lạ như là “con người trọn vẹn,” là cách thức mà Đức Chúa Trời đã luôn định cho con người để sống trên đất nầy, và Ngài đã làm điều đó bằng cách nhờ cậy hoàn toàn vào quyền phép của Đức Thánh-Linh khi Ngài thực hiện ý muốn của Đức Chúa Cha.
Chúng ta có thể nhìn thấy điều nầy trong những sự cám dỗ Sa-tan đem đến cho Chúa Jêsus sau khi Ngài đã trải qua 40 ngày đêm kiêng ăn trong đồng vắng, được Đức Thánh-Linh đưa đến đó vì mục đích nầy. Sa-tan trong những sự cám dỗ Chúa Jêsus đã tìm cách làm cho Ngài phải hành động cậy vào quyền phép là Con Đức Chúa Trời của Ngài, nói rằng, “Nếu ngươi thật là Con Đức Chúa Trời hãy khiến đá nầy trở nên bánh đi . . .” (Mat Mt 4:1-25). Nói cách khác Sa-tan muốn Chúa Jêsus sử dụng quyền phép Đức Chúa Trời của Ngài để chứng tỏ Ngài là ai. Nhưng Chúa Jêsus đã đến để trở nên con người trọn vẹn và đã tự giới hạn chính mình đối với việc thực hiện quyền phép chỉ trong lãnh vực đó. Ngài đã tự làm cho mình trở nên trống không đối với quyền phép Đức Chúa Trời của Ngài và chỉ nhờ cậy vào quyền phép của Đức Thánh-Linh, là chính Đức Thánh Linh mà đã được ban cho mỗi kẻ tin Ngài, để thực hiện ý muốn của Đức Chúa Cha.
Vì thế khi nhìn vào đời sống Chúa Jêsus chúng ta phải thấy là Ngài đã đến để thực hiện ý muốn của Đức Chúa Cha chứ không phải ý muốn riêng của mình.
GiGa 4:34 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài.
6:38 Vì ta từ trên xuống, chẳng phải để làm theo ý ta, nhưng làm theo ý Đấng đã sai ta đến.
E. Con người trọn vẹn được mặc lấy quyền phép bởi Đức Thánh-Linh: Chúng ta cũng phải hiểu rằng khi Ngài làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha thì Ngài nhờ cậy vào sự hiện diện và quyền phép của Đức Thánh-Linh. Chúng ta thấy Đức Thánh-Linh trong đời sống Ngài ngay từ lúc bắt đầu suốt cho đến từng trãi bước lên thập tự giá của Ngài. Tất cả đều được thực hiện trong sự cộng tác với và nương cậy vào Đức Thánh-Linh:

Sự Giáng Sinh của Ngài
Mat Mt 1:18 Vả, sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus Christ đã xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Thánh Linh.

Việc Ngài chịu Báp-têm
3:16-17 Vừa khi chịu phép báp-têm rồi, Đức Chúa Giê-xu ra khỏi nước; bỗng chúc các từng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu, đậu trên Ngài. 3:17 Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng.

Việc Ngài chịu Cám dỗ
LuLc 4:1 Đức Chúa Jêsus đầy dẫy Đức Thánh-Linh, ở bờ sông Giô-đanh về, thì được Đức Thánh-Linh đưa đến trong đồng vắng.

Đời sống và Công việc Hàng ngày của Ngài
2:27 Vậy người cảm bởi Thánh Linh vào đền thờ, lúc có cha mẹ đem con trẻ là Jêsus đến, để làm trọn cho Ngài các thường lệ mà luật pháp đã định.
4:14 Đức Chúa Jêsus được quyền phép Đức Thánh-Linh trở về xứ Ga-li-lê, và danh tiếng Ngài đồn khắp các xứ chung quanh.
Mat Mt 12:28 Mà nếu Ta cậy Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà trừ quỉ, thì nước Đức Chúa Trời đã đến tận các ngươi.
Việc Ngài nhận lãnh Đức Thánh-Linh từ Đức Chúa Cha
12:18 Nầy, tôi tớ ta đã chọn, là người mà ta rất yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng. Ta sẽ cho Thánh Linh ta ngự trên người, người sẽ rao giảng sự công bình cho dân ngoại.
GiGa 3:34 Vì Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến thì rao truyền lời của Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Trời ban Thánh Linh cho Ngài không chừng mực.
Việc Ngài Giảng dạy bởi Đức Thánh-Linh
Cong Cv 1:1-2 Hỡi Thê-ô-phi-lơ, trong sách thứ nhứt ta, ta từng nói về mọi điều Đức Chúa Jêsus đã làm và dạy từ ban đầu, 1:2 cho đến ngày Ngài được cất lên trời, sau khi Ngài cậy Đức Thánh-Linh mà răn dạy các sứ đồ Ngài đã chọn
Việc Ngài chịu Đóng đinh
HeDt 9:14 Huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Đức Thánh-Linh đời đời dâng chính mình không tì vít cho Đức Chúa Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, đặng hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống là dường nào?
Sự Phục sinh của Ngài
RoRm 8:11 Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống.
Chính cùng Thánh Linh mà đã được ban cho mọi kẻ sẽ cầu khẩn Ngài đó ban quyền phép cho chúng ta để làm theo ý muốn của Đức Chúa Cha. Nói cách khác để chúng ta “làm theo như chính Ngài đã làm vậy.”
LuLc 11:13 Vậy nếu các ngươi là người xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Thánh Linh cho người xin Ngài?
GiGa 14:16-20 Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên-ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, 14:17 tức là Thần Lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. 14:18 Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi. 14:19 Còn ít lâu, thế gian chẳng thấy ta nữa, nhưng các ngươi sẽ thấy ta; vì ta sống thì các ngươi cũng sẽ sống. 14:20 Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng ta ở trong Cha ta; các ngươi ở trong ta, và ta ở trong các ngươi.
ICo1Cr 6:19 Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh-Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận lãnh bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao?
F. Chúng ta sẽ làm những việc còn lớn hơn nữa: Dường như thể những việc mà Chúa Jêsus đã thực hiện bởi Đức Thánh-Linh chưa lớn lao đủ, nên Chúa Jêsus đã phán rằng chúng ta sẽ làm những việc thậm chí còn lớn lao hơn nữa.
GiGa 14:12 Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha.
* Chúng ta không bước đi trong sự đầy dẫy Đức Thánh-Linh nên không có năng quyền để làm gì cả!
* Chúng ta không vận dụng đức tin để làm những việc mà Chúa đã từng làm, do lòng vô tín mà chúng ta không thể nhận lãnh được những phước hạnh mà Chúa có thể ban cho đời sống chúng ta ngay trên đất nầy và rồi qua chúng ta mà tuôn đổ phước hạnh đó cho mọi người quanh mình, trong khi Chúa đã hứa sẽ ban cho chúng ta năng quyền để làm những việc thậm chí lớn lao hơn việc Ngài đã làm nữa!
* Ma quỉ gieo sự nghi ngờ trong lòng chúng ta! Thậm chí khi chúng ta bước đi trong sự xức dầu của Thánh Linh, ma quỉ cũng gieo sự nghi ngờ trong lòng chúng ta và rồi chúng ta không làm được việc Chúa muốn chúng ta làm!

Câu chuyện thật về cuộc đời của một tôi tớ Chúa là Ô. John Smith. Ông đã từng bước đi trong năng quyền của Đức Thánh-Linh, và chỉ tin xác quyết Đức Thánh-Linh sẽ làm trong ông như đã làm trong Chúa Giê-xu: mỗi người đều có thể kêu kẻ chết sống lại, chữa lành những kẻ đau . . . Một ngày kia, khi ông Smith đi vắng, vợ ông ở nhà chết đột ngột. Khoảng 2, 3 tiếng sau ông trở về, thấy điều đó thì lòng ông không chịu nổi. Ông dựng vơ đứng lên, và nhân danh Chúa ra lệnh cho vợ ông phải bước đi, vợ ông rớt xuống! Ông dựng vợ lên lần nữa, và nói, “Nhân danh Chúa, hãy bước đi”, song vợ ông lại rớt xuống lần nữa. Ông dựng vợ lên lần thứ ba và nhân danh Chúa một lần nữa, truyền cho vợ ông bước đi, và cuối cùng thì vợ ông đã bước đi trở lại như bình thường! Ông cần sự giúp đỡ của bà vô cùng vào thời điểm đó, và ông biết rõ sự chết của vợ ông là do ma quỉ tấn công, hầu ngăn trở công việc mà ông đang thực hiện cho Chúa. Ông biết rõ điều đó, nên trong năng quyền của Thánh Linh ông truyền sự sống cho người vợ mình. Nhìn vào đời sống ông, ông tin chắc vào lời Chúa phán nên mới có thể làm được như vậy.
Không phải đức tin có tầm thước cỡ nào, nhưng khi có đức tin chúng ta sẽ không bỏ qua những lời hứa của Chúa. Chúa hứa với tôi việc gì, tôi sẽ nhận được việc đó!
Trong thời kỳ sau rốt nầy, những đại nạn, khó khăn sẽ đòi hỏi Cơ Đốc Nhân vận dụng đức tin lớn hơn hết - phải bước đi giống như chính mình Ngài đã bước đi. Chúng ta sẽ không thấy phép lạ nếu không trông mong thấy những điều đó.
IV. Người Con trai Hoang đàng
LuLc 15:11-32 Ngài lại phán rằng: Một người kia có hai con trai. 15:12 Người em nói với cha rằng: Thưa cha, xin chia cho tôi phần của mà tôi sẽ được. Người cha liền chia của mình cho hai con. 15:13 Cách ít ngày, người em tómthâu hềt, đi phương xa, ở đó, ăn chơi hoang đàng, tiêu sạch gia tài mình. 15:14 Khi đã xài hết của rồi, trong xứ xảy có cơn đói lớn; nó mới bị nghèo thiếu, 15:15 bèn đi làm mướn cho một người bổn xứ, thì họ sai ra đồng chăn heo. 15:16 Nó muốn lấy vỏ đậu của heo mà ăn cho no, nhưng chẳng ai cho. 15:17 Vậy nó mới tỉnh ngộ, mà rằng: Tại nhà cha ta, biết bao người làm mướn được bánh ăn dư dật, mà ta đây phải chết đói! 15:18 Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha, mà rằng: Thưa cha, tôi đã đặng tội với trời và với cha, 15:19 không đáng gọi là con của cha nữa; xin cha đãi tôi như đứa làm mướn của cha vậy. 15:20 Nó bèn đứng dậy mà về cùng cha mình. Khi còn ở đàng xa, cha nó thấy thì động lòng thương xót, chạy ra ôm lấy cổ mà hôn. 15:21 Con thưa cùng cha rằng: Cha ơi, tôi đã đặng tội với trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con của cha nữa. 15:22 Nhưng người cha bảo đầy tớ rằng: Hãy mau mau lấy áo tốt nhứt mặc cho nó; đeo nhẫn vào ngón tay, mang giày vào chơn. 15:23 Hãy bắt bò con mập làm thịt đi. Chúng ta hãy ăn mừng, 15:24 vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại thấy được. Đoạn, họ khởi sự vui mừng. 15:25 Vả, con trai cả đương ở ngoài đồng. Khi trở về gần đến nhà, nghe tiếng đờn ca nhảy múa, 15:26 bèn gọi một đầy tớ mà hỏi cớ gì. 15:27 Đầy tớ thưa rằng: Em cậu bây giờ trở về, nên cha cậu đã làm thịt bò con mập, vì thấy em về được mạnh khoẻ. 15:28 Con cả liền nổi giận, không muốn vào nhà. Vậy cha nó ra khuyên nó vào. 15:29 Nhưng nó thưa cha rằng: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép, mà cha chẳng hề cho tôi một con dê con đặng ăn chơi với bạn hữu tôi. 15:30 Nhưng nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về, thì cha vì nó làm thịt bò con mập! 15:31 Người cha nói rằng: Con ơi, con ở cùng cha luôn luôn, hết thảy của cha là của con. 15:32 Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được.
A. Đức Chúa Trời là Đấng nào trong cách Ngài đối xử với tội nhân: Ẩn dụ nầy được Đấng Christ kể lại để minh họa bản tánh của Đức Chúa Cha trong thái độ của Ngài đối với những kẻ có tội. Đây là câu chuyện về hai người con trai đã không “biết rõ” cha của mình ngay cho dù họ đã sống với ông và hưởng sự chu cấp của ông dành cho họ.
1. Một người nhìn mọi sự việc trong sự giận dữ, cay đắng, và phản loạn bên trong.
2. Người kia nói ‘vâng’ và ‘không’ vào những lúc thích hợp nhưng không có mối tương quan thật sự.
Nhưng cả hai người đều thật sự không có mối tương quan nào với cha mình. Đối với họ, ông là một người ban cho đầy xa cách, và là ông chủ của nông trại. Đứa con thứ nhì hay phục tùng hơn, đang nỗ lực để có được quyền hạn của mình đối với nông trại, song không hề thật sự biết rõ hay có mối thông công với cha mình. Đây là một mối quan hệ có tính cách chủ nhân với người làm công nhiều hơn.
Đứa con thứ nhứt, khác hẳn với anh mình, đã phải biểu lộ sự phản loạn và những đòi hỏi của mình đối với người cha về phần gia tài sẽ được ban cho mình, không hề tỏ ra quan tâm đến người cha, song ưa thích làm những việc riêng của mình, đi theo đường riêng của mình hơn.
B. Điều nầy thực sự nói về chúng ta: Chúng ta cần phải hiểu chân lý của câu chuyện nầy chính là nó tiêu biểu cho toàn thể nhân loại vì chúng ta thảy đều ở trong mối tương quan với Đức Chúa Cha là đấng Tạo hóa mình. Chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Chúa Trời tự hữu, vì chúng ta không thể nào thậm chí có được hơi thở nếu không được sự cho phép của Ngài. Ngài là đấng Tạo hóa của chúng ta.
Thế nhưng nhiều người trong chúng ta biết nhiều về Đức Chúa Trời song không hề “biết rõ” Ngài thật sự là ai. Chúng ta nhìn thấy trong câu chuyện nầy đứa con thứ nhứt được mô tả là đang ở trong một xứ xa, không còn trong mối thông công với Cha nữa. Giữa họ đã có một khoảng cách thật lớn dù người Cha chưa bao giờ mong ước như vậy. Đứa con nầy đã lạc mất, đang lang thang trong cuộc sống vô nghĩa, không hề biết vì sao mình được tạo dựng nên, sống trong một xứ xa phân cách với Đức Chúa Trời.
C. Hành động của người con và phản ứng của người cha:
Trước hết người con út đòi hỏi phần gia tài của mình, tánh tự cao khiến anh ta cư xử như thế, nhưng người cha bằng lòng chia gia tài cho anh ta không một lời ngăn cản. Cũng một thể ấy, Đức Chúa Trời Cha chúng ta không bao giờ cố gắng ngăn cản chúng ta khỏi đi theo đường lối kiêu ngạo của mình. Điều nầy cho chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời mong muốn quan hệ với chúng ta như những con người có tình cảm và ý chí tự do, chứ không phải như những con rối không thể nào có mối tương quan thật. Đức Chúa Trời biết rằng khi người con nầy trở về, anh ta sẽ yêu quý cha mình, nhưng hiện giờ thì anh ta cần được cho phép đi theo con đường riêng của mình. Xin lưu ý: dầu không nói ra, song câu chuyện nầy hàm ý là khi đứa con khởi sự đi theo đường riêng mình thì người cha đã sẵn sàng tha thứ cho anh ta rồi, vì khi anh ta trở về tức là anh ta đã quay trở lại với sự tha thứ đang dành sẵn chờ đợi để ban cho anh ta.
Đây là thái độ của Đức Chúa Trời đối với tội nhân. GiGa 3:16: Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
Đức Chúa Trời đã tha thứ rất lâu ngay cả trước khi chúng ta cầu xin Ngài tha thứ. Ngài đã tha thứ cho chúng ta thậm chí trước khi chúng ta chưa sinh ra. Vì vậy, sự tha thứ không phải là điều tôi đến để cầu xin, song đúng hơn là điều tôi đến để nhận lãnh vì Chúa đã sẵn ban sự tha thứ cho tôi rồi.
Chính mình Đức Chúa Trời đã chịu đựng tội lỗi của chúng ta, sự phản loạn của chúng ta, sự xấu hổ của chúng ta như bất cứ người cha nào khác chịu đựng nỗi đau thương trong lòng về tội lỗi của con cái mình. Đức Chúa Trời đã gánh chịu tội lỗi của chúng ta trong chính mình Ngài và rồi đã tha thứ cho chúng ta để chúng ta quay về với sự tha thứ của Ngài đang sẵn sàng chờ đợi chúng ta nhận lãnh.
D. Gấp đôi từ tay Đức Giê-hô-va:
EsIs 40:2 Hãy nói cho thấu lòng Giê-ru-sa-lem, và rao rằng sự tranh chiến nó đã trọn; tội lỗi nó đã được tha; nó đã chịu gấp đôi từ tay Đức Giê-hô-va vì các tội mình.
Từ “gấp đôi” trong Y-sơ-ra-ên là một cách thoát khỏi sự vỡ nợ. Nếu bạn là một người bị vỡ nợ, bạn chỉ có một lối thoát duy nhất. Bạn phải lấy một mảnh da dê và viết lên đó tất cả số nợ của mình, tất cả tên của những bạn mắc nợ, tất cả mọi chi tiết. Rồi bạn sẽ phải lấy tấm da dê đó đóng vào một cây cọc trước sân nhà mình như một dấu hiệu để bất cứ ai đi ngang qua đều có thể dừng lại đọc. Bạn đang công khai tuyên bố bản thân mình bị vỡ nợ không phương tự thoát được. Hy vọng duy nhất của bạn là một người nào đó đủ giàu để trả cho tất cả số nợ đó sẽ đi ngang qua và sẵn lòng trả hết số nợ của bạn. Và nếu một người nào đó có khả năng nhận lãnh trách nhiệm nầy, chịu khó dành thời gian dừng lại đọc hết danh sách nợ nần, và rồi sẵn lòng trả hết số nợ ấy, người đó sẽ lật tấm da dê trên đó có ghi danh sách các món nợ và “gấp đôi” tấm da dê lại để không còn ai có thể đọc được nữa, và người đó sẽ ghi tên mình phía sau tấm da dê. Từ thời điểm đó trở đi, tất cả các chủ nợ của bạn sẽ cần phải đến gặp người nhà giàu nầy để được trả nợ, họ không còn có thể đến đòi nợ nơi bạn nữa.
Theo cách đó những lời tiên tri của Ê-sai liên quan tới tội lỗi của Y-sơ-ra-ên là dù họ đã phá sản và lún sâu trong tội lỗi quá nhiều đến nỗi không có lối thoát, không phương cách nào để họ có thể trả món nợ tội lỗi đã phạm nghịch cùng Đức Chúa Trời, song tiên tri Ê-sai đã ghi lại trong sự cảm thúc của Thánh Linh rằng chính Đức Chúa Trời sẽ trả món nợ tội cho họ. Đức Giê-hô-va đã trả gấp hai từ chính tay Ngài!
E. Cái tạm gọi là hạnh phúc: Đứa con thứ nhứt đã có thể tìm thấy cái “tạm gọi là” hạnh phúc trong một thời gian. Bỗng nhiên, nhờ số tiền có được, cậu ta trở thành bạn của mọi người. Nhưng đó là kiểu tình bạn không có giá trị thật. Nó phụ thuộc vào mọi thứ diễn ra trong con đường đời của anh ta. Vì vậy đó là một “loại hạnh phúc” cạn cợt, chỉ nhắm đến việc thỏa mãn xác thịt. Đó cũng là một loại hạnh phúc tạm bợ chóng tàn, không bền vững. Khi đã tiêu sạch tiền của thì cũng là lúc bạn bè lìa bỏ cậu ta, và hạnh phúc cũng vuột khỏi tầm tay cậu!
1. Ăn uống với bầy heo: Khi xem xét các câu 15 và 16 chúng ta thấy chàng trai trẻ nầy đã phải rơi xuống vực thẳm trước khi đi đến chỗ tận cùng của mình. Tại nơi đây, một thanh niên Do-thái như cậu ta lại phải đi chăn heo, cho heo ăn và ăn cùng một thức ăn với heo. Heo bị xem là loài ô uế đối với người Do-thái và tệ hơn thế chúng là con vật đáng gớm ghiếc. Cậu ta đã xuống đến chỗ thấp hèn nhất trong đời mình. Chúng ta cần phải biết ơn Chúa biết bao khi rơi vào “bước đường cùng của mình” (c. 17). Đức Chúa Trời, trong sự nhân từ Ngài, biết cách để đưa chúng ta đến sự ăn năn. Đức Chúa Trời lột trần chúng ta như lột một củ hành, hết lớp nầy đến lớp khác cho đến khi chúng ta nhận ra ảo tưởng trong đó mình đang sống . . .
RoRm 2:4 Hay là ngươi khinh dể sự dư dật của lòng nhơn từ, nhịn nhục, khoan dung Ngài mà không nhận biết lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời đem ngươi đến sự ăn năn sao?
Xin lưu ý: Vào thời điểm nầy chàng trai vẫn không “biết rõ” cha mình. Cậu ta vẫn không biết rằng mình đã được tha thứ rồi. Cậu ta vẫn không biết cha cậu yêu cậu đến dường nào, và cậu ta vẫn không biết là cha cậu đã và vẫn đang chờ đợi cậu. Chàng trai trẻ nầy giống y như chúng ta khi chúng ta cách xa Đức Chúa Trời và “sống theo đường lối riêng của lòng mình.”
2. Chỗ tận cùng của chúng ta: Chính vào lúc nầy, khi đã lâm vào bước đường cùng (c. 17a) người con mới có thể thấy được lòng nhơn từ của cha mình (c. 17b), nhận ra rằng ngay cả những kẻ đầy tớ trong nhà cha cũng được cha đối đãi rất tử tế. Do đó cậu ta xoay khỏi lối sống hiện tại và quay trở về cùng cha mình. Lòng nhơn từ của Đức Chúa Trời đưa cậu ta đến sự ăn năn. Sự ăn năn của cậu ta là chết đi con người cũ để có thể sống một đời sống mới.
F. Chào mừng con ta đã trở về: Qua các câu 18-19 chúng ta thấy tấm lòng của người con đã xoay hướng về sự nhơn từ của cha mình. Tấm lòng của cậu giờ đây là một tấm lòng khiêm nhường và vâng phục. Cậu không còn bước đi “theo ý riêng mình” trong sự kiêu căng, ngạo mạng nữa. Giờ đây câu chỉ muốn được gần gũi cha mình, không dám trông mong gì nhiều vì sâu thẳm đáy lòng cậu biết mình chẳng xứng đáng chút nào.
LuLc 15:18-19: Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha, mà rằng: Thưa cha, tôi đã đặng tội với trời và với cha, không đáng gọi là con của cha nữa; xin cha đãi tôi như đứa làm mướn của cha vậy.
1. Một người cha mong đợi: Nhưng cậu con út khó mà nhận biết rằng cha cậu đang mong đợi cậu, ngóng trông cậu, chờ cậu quay bước trở về con đường nhỏ đó. Khi cha nhìn thấy cậu, ông vội vàng chạy tới đón cậu, lòng ngập tràn yêu thương dành cho con trai mình, đôi vòng tay dang rộng run rẩy ôm chầm lấy đứa con mà ông hằng mong đợi. Cha cậu không đối xử với cậu trên cơ sở của những gì cậu đáng nhận lãnh nhưng dựa trên tính chất của người cha và mối tương quan của đứa con đối với mình. Cậu là một đứa con! Một đứa con được cha yêu dấu!
2. Một người cha che đậy: Cậu con út không chỉ nhận được sự tha thứ mà còn tức khắc được cha bắt đầu tuôn đổ phước hạnh xuống cho mình. Hãy lưu ý là người cha đã phủ lấp sự dơ bẩn, hôi thối của lối sống cũ bằng cách mặc cho con mình “áo xống tốt nhứt,” mang giày mới và đeo nhẫn vào tay để khi những người khác nhìn vào cậu họ sẽ chẳng còn biết cậu đã từng ở đâu hay là đã từng làm những gì. Cậu được xem như là chưa hề phạm tội vậy.
LuLc 15:22: Nhưng người cha bảo đầy tớ rằng: hãy mau mau lấy áo tốt nhứt mặc cho nó; đeo nhẫn vào ngón tay, mang giày vào chơn.
3. Một người cha phục hồi: Sự kiện cậu không có giày mang chứng tỏ cậu đã từng là một nô lệ, vì nô lệ không có giày dép, và thậm chí cậu đã cầu xin cha là cho mình được trở nên một trong các đầy tớ của cha thôi. Cậu sẽ không còn bị coi như một nô lệ nữa, vì cậu được mang giày mới vào chơn. Và cậu cũng được đeo nhẫn vào tay. Chiếc nhẫn giống như thẻ tín dụng vào thời đó. Vì khi muốn mua món gì, người ta sẽ dùng nhẫn để đóng dấu trên tờ biên nhận kế bên số lượng. Chúng ta thấy nếu cậu phải trở lại với những người bán hàng trước đây nơi thế lực của cậu chẳng có ích lợi gì, họ sẽ nhìn cậu và nhớ cậu là ai; nhưng giờ đây cậu không dựa vào giá trị của mình để đến đó, song dựa vào giá trị của cha mình.
Cậu con út đã có thể cầu xin bất cứ điều gì mình muốn và điều đó sẽ được làm cho cậu vì cớ cha cậu mà thôi. Đó là giao ước mới.
GiGa 14:13-14 Các ngươi nhơn danh ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh nơi Con. Nếu các ngươi nhơn danh ta xin điều chi, ta sẽ làm cho.
IGi1Ga 5:14-15 Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Ngài, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta. 5:15 Nếu chúng ta biết không cứ mình xin điều gì, Ngài cũng nghe chúng ta, thì chúng ta biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài.
Vì thế, là những Cơ Đốc Nhân, chúng ta đã được đóng ấn và được ban cho Đức Thánh-Linh của lời hứa. Ngài là đấng lắng nghe mọi lời chúng ta cầu xin. Tất cả những gì chúng ta cần dùng chúng ta chỉ việc cầu xin nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ. Chúng ta không cần phải van nài hay than vãn, chúng ta chỉ cần cầu xin với lòng mong đợi và cảm tạ vì điều đó đã sẵn dành cho chúng ta nhận lãnh rồi. Chúng ta chỉ cần cầu xin tìm kiếm ý muốn Đức Chúa Trời được thực hiện trong hoàn cảnh của mình và Ngài bị ràng buộc trong mối quan hệ kết ước với chúng ta để làm những gì cần làm cho chúng ta.
V. Phước hạnh của Giao ước mới
Gie Gr 31:31-34 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. 31:32 Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức GIÊ-HÔ-VA phán vậy. 31:33 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. 31:34 Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức GIÊ-HÔ-VA! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.
A. câu 33 . . . Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng . . . : Giao ước mới và tốt hơn nầy với Đức Chúa Cha qua Đức Chúa Jêsus Christ chứa đựng phước hạnh đầu tiên là chính Đức Chúa Trời sẽ tự tay Ngài viết luật pháp (tức lời Ngài) trong lòng chúng ta. Điều nầy được thực hiện bởi công tác của Đức Thánh-Linh là đấng có trách nhiệm dạy dỗ và dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật.
IGi1Ga 2:20 Về phần các con, đã chịu xức dầu (= Đức Thánh-Linh) từ nơi Đấng thánh, thì đã biết mọi sự rồi.
2:27 Về phần các con, sự xức dầu (Đức Thánh-Linh) đã chịu từ nơi Chúa vẫn còn trong mình, thì không cần ai dạy cho hết; song sự xức dầu của Ngài dạy các con đủ mọi việc, mà sự ấy là thật, không phải dối, thì hãy ở trong Ngài, theo như sự dạy dỗ mà các con đã nhận.
1. Tôi không thể nào giữ luật pháp: Khi mới đến với Đức Chúa Trời lần đầu tiên, chúng ta thường tin rằng chính những việc làm tội lỗi của chúng ta đã tạo ra nan đề. Kế đó chúng ta nhận thức rằng thực ra sự bất năng trong việc tuân giữ luật pháp của tôi chính là nan đề thật sự. Việc “nói dối” không phải là vấn đề lớn so với “kẻ nói dối.” “Hành động dối trá” có thể được tha thứ nhưng chúng ta vẫn còn mang bản chất của “kẻ nói dối,” là tác nhân đã thực hiện sự dối trá đó, để cứ tiếp tục lặp đi lặp lại hành động nầy hoài. Đó không chỉ là những gì tôi làm nhưng đúng hơn là có một điều gì đó sai trật đối với tôi.
Chúng ta có thể đồng ý với luật pháp của Đức Chúa Trời nhưng tuân giữ luật pháp ấy lại là một việc khác. Vì một khi đã vi phạm bất cứ phần nào của luật pháp thì chúng ta đều là kẻ có tội. Theo luật pháp thì không phải tránh làm điều sai trật là đã đủ, vì ngay cho dù chúng ta chỉ “suy nghĩ” hay “ham muốn trong lòng” hướng về điều sai trật thôi thì chúng ta cũng đã phạm tội rồi. Vì thế nếu chúng ta muốn được bước đi với Đức Chúa Trời trong mối giao ước thì Ngài phải làm một điều gì đó để thay đổi chúng ta. Điều nầy Ngài phán Ngài sẽ làm bằng cách chép luật pháp Ngài trong lòng chúng ta. Chúng ta trở nên những tạo vật mới trong Đức Chúa Jêsus Christ, với một bản chất mới mong ước được làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời từ đáy lòng mình.
IICo 2Cr 5:17 Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.
2. Tôi đã chết trong Đấng Christ: Khi Chúa Jêsus chết trên thập tự giá thì bản tánh cũ của chúng ta cũng đã bị đóng đinh và đồng chết với Ngài trên thập tự giá. Giờ đây chúng ta có thể sống trong bản tánh mới bởi sự hiện diện và quyền phép của Đức Thánh-Linh. Không phải là tôi đang cố gắng làm đẹp lòng Đức Chúa Trời vì cái “tôi” muốn tìm cách để có được sự cứu rỗi của Ngài nhờ các việc lành mình đã chết trên thập tự giá. Tôi không còn cố gắng để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời nữa nhưng đúng hơn chúng ta hành động xuất phát từ ước muốn mà Ngài đã đặt để trong lòng mình. Chúng ta sẽ sống bởi bông trái của Đức Thánh Linh Ngài sống qua đời sống của chúng ta.
GaGl 2:20 Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi và đã phó chính mình Ngài vì tôi.
RoRm 6:3-6 Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp-têm trong Đức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp-têm trong sự chết Ngài sao? 6:4 Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-têm trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy. 6:5 Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau: 6:6 vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa.
B. câu 33 “Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. ” Sẽ có một mối tương quan thiên thượng. Chúng ta sẽ không chỉ là các tạo vật của đấng tạo hóa nhưng chúng ta sẽ bước vào một mối tương quan sống động trong đó chúng ta sẽ là con cái của Ngài, và là dân sự của Ngài. Chúng ta đã được mua chuộc với một giá cao là huyết quý báu của Đức Chúa Jêsus Christ.
C. câu 34 Các ngươi sẽ không còn phải dạy những kẻ tin là “hãy nhận biết Đức Giê-hô-va ” vì hết thảy sẽ biết Ngài, từ kẻ nhỏ nhất đến kẻ lớn nhất. Giây phút chúng ta tham dự vào mối giao ước, Ngài sẽ nhận trách nhiệm tự bày tỏ chính mình Ngài cho chúng ta. Đây không phải là một việc làm về phần chúng ta nhưng, như với tất cả các phần khác của giao ước, đó là việc làm của Đức Chúa Trời trong chúng ta. Sự mặc khải đến từ Đức Chúa Trời. Chỉ một mình Ngài mới có thể bày tỏ cho lòng chúng ta biết Ngài là ai. Ngài làm điều nầy qua công tác của Đức Thánh-Linh. Đôi khi điều nầy xảy ra khi chúng ta đọc lời Ngài, hoặc khi chúng ta nghe lời Đức Chúa Trời. Loài người có thể dạy dỗ nhưng chính Thánh Linh Đức Chúa Trời là đấng ban sự sống để làm cho những lời dạy dỗ ấy sống động đối với người nghe.
Cơ Đốc Nhân thật sẽ ao ước được giao thông mật thiết với Đức Chúa Trời vốn là điều hiển nhiên trong đời sống của họ bước đi với Ngài.
Một số chứng cớ bày tỏ rằng chúng ta “biết Đức Chúa Trời” và đang ở trong mối giao thông đúng đắn với Ngài là gì? (trong thư 1 Giăng, từ “biết hay được biết” được dùng 32 lần):
1. Nếu chúng ta thường xuyên vâng giữ các điều răn của Ngài: IGi1Ga 2:3-4 Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. 2:4 Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người.
2. Tình yêu của chúng ta đối với Ngài sẽ khiến chúng ta bước đi trong sự yêu mến lẫn nhau: IGi1Ga 2:5 Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài.
3. Nếu chúng ta cảm nhận sự hiện diện của Đức Thánh-Linh đang dạy dỗ lẽ thật cho chúng ta: 2:20 Về phần các con, đã chịu xức dầu từ nơi Đấng thánh, thì đã biết mọi sự rồi. 2:27 Về phần các con, sự xức dầu đã chịu từ nơi Chúa vẫn còn trong mình, thì không cần ai dạy cho hết; song vì sự xức dầu của Ngài dạy các con đủ mọi việc, mà sự ấy là thật, không phải dối, thì hãy ở trong Ngài, theo như sự dạy dỗ mà các con đã nhận.
4. Nếu chúng ta bước đi (thường xuyên cư xử) trong sự công bình của Đức Chúa Trời chứ không theo những điều ưa muốn của xác thịt: 2:29 Ví bằng các con biết Ngài là công bình, thì hãy biết rằng người nào làm theo sự công bình, ấy là kẻ bởi Ngài mà sanh ra.
5. Nếu chúng ta ở trong Đức Chúa Trời thì chúng ta có thể bước đi tự do khỏi tội lỗi. Việc ở trong Chúa đòi hỏi một sự nỗ lực liên tục tìm kiếm và thuận phục theo ý muốn Ngài; để rồi ý muốn của tôi sẽ bị loại bỏ để phục sự ý muốn của Ngài: 3:5-6 Vả các con biết Đức Chúa Jêsus Christ đã hiện ra để cất tội lỗi đi, và biết trong Ngài không có tội lỗi. 3:6 Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; còn ai phạm tội, thì chẳng từng thấy Ngài và chẳng từng biết Ngài.
6. Nếu chúng ta yêu anh em trong Đấng Christ cách chân thật (đôi khi điều nầy cần có quyền năng siêu nhiên để đặt những người khác trước chính bản thân mình): 3:14-15 Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết. 3:15 Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người; anh em biết chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình.
7. Nếu chúng ta thực hành (bày tỏ ra) tình yêu mà chúng ta nói mình đang có với tư cách tín đồ của Đấng Christ: 3:18-19 Hỡi các con cái bé mọn, chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật. 3:19 Bởi đó, chúng ta biết mình là thuộc về lẽ thật, và giục lòng vững chắc ở trước mặt Ngài.
8. Nếu chúng ta biết Đức Thánh-Linh đang ở trong chúng ta làm chứng với chúng ta rằng chúng ta thuộc về Ngài. Đức Thánh-Linh ban cho tôi sự xác quyết (bởi sự làm chứng trong tâm linh tôi) về sự cứu rỗi của tôi: 3:24 Ai vâng giữ các điều răn thì ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy; chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta, là nhờ Đức Thánh-Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta. 4:13 Bởi điều nầy chúng ta biết mình ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta, là Ngài đã ban Đức Thánh-Linh Ngài cho chúng ta.
RoRm 8:16 Chính Đức Thánh-Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.
9. Nếu chúng ta nghe và nhận biết lẽ thật của Đức Chúa Trời khi lẽ thật ấy được rao giảng ra: IGi1Ga 4:6 Chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời: ai nhìn biết Đức Chúa Trời thì nghe chúng ta; còn ai chẳng hề thuộc về Đức Chúa Trời, thì chẳng nghe chúng ta. Ấy bởi đó chúng ta nhìn biết thần chơn thật và thần sai lầm.
10. Nếu chúng ta biết lẽ thật rằng Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời và duy nhất trong Ngài có sự sống đời đời: IGi1Ga 5:20 Nhưng chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến, Ngài đã ban trí khôn cho chúng ta đặng chúng ta biết Đấng chơn thật, và chúng ta ở trong Đấng chơn thật, là ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, Con của Ngài. Ấy chính Ngài là Đức Chúa Trời chơn thật và là sự sống đời đời.
Cong Cv 4:12 Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.
D. câu 34 “Ta sẽ chẳng nhớ tội chúng nó nữa. ” Đức Chúa Trời sẽ không ghi nhớ tội lỗi của chúng ta để dùng nó chống lại chúng ta. Huyết hy sinh của Đức Chúa Jêsus Christ đã đủ để cất tội lỗi của chúng ta đi và để trình dâng chúng ta “được xưng công bình” trước mặt Đức Chúa Cha, y như thể tôi chưa hề phạm tội vậy.
Nếu chúng ta để cho lẽ thật chạm đến tấm lòng mình, chúng ta sẽ nhìn thấy mối quan hệ giữa chúng ta và đấng đã lập giao ước với chúng ta trong một cách thức mới mẻ. Chúng ta sẽ không còn cảm thấy mình không xứng đáng sử dụng các phước hạnh của giao ước nầy, song trái lại chúng ta sẽ nghiêm chỉnh tự ràng buộc mình vào tất cả những phước hạnh chúng ta có thể nắm giữ được vì cớ địa vị mới của chúng ta trong Đức Chúa Trời.
Xin nhớ rằng chúng ta không còn là kẻ mắc nợ nữa vì Đức Chúa Trời đã trả xong món nợ của chúng ta hầu cho chúng ta có thể bước đi cách tự do. (Hình ảnh minh họa về dân Y-sơ-ra-ên đã nhận lãnh sự “gấp đôi” đối với tất cả tội lỗi của mình. Ê-sai 40:1;. Một quốc gia hoàn toàn băng hoại trong tội lỗi đã được giải phóng khỏi mọi tội lỗi mình.) Dù món nợ lớn đến đâu đi nữa thì nó cũng được trả hết rồi. Đức Chúa Trời không thể ghi nhớ tội lỗi của người tin theo Ngài nữa.
E. Kết luận:
Chúng ta phải nhớ rằng khi bước vào trong giao ước thì chúng ta phải “chết” (GaGl 2:20), là điều hạ chúng ta xuống đến chỗ “bất lực” theo ý Đức Chúa Trời muốn, không còn là con người ngạo mạng như trước đây, suy nghĩ theo sức riêng của mình rằng mình là một cái gì đó mà thực ra không đúng với con người thật của mình. Giờ đây Đức Chúa Trời thực sự là Đức Chúa Trời và tôi hoàn toàn bất lực, yếu đuối, và bất năng. Ngoại trừ một điều thực tế là nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà tôi được ở trong mối giao ước với Ngài. Điều đó có nghĩa là kẻ bất lực hoàn toàn ở trong mối kết ước với Đấng có sức mạnh tuyệt đối. Giờ đây mọi điều chúng ta làm đều là phản ánh của sự vĩ đại của Đức Chúa Trời mà thôi.
IICo 2Cr 12:9 Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi.
Phi Pl 4:13 Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi.
VI. Bữa tiệc Giao ước:
XuXh 12:1-14 Tại xứ Ê-díp-tô, Đức GIÊ-HÔ-VA phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 12:2 Tháng nầy định làm tháng đầu cho các ngươi, tức là tháng giêng trong quanh năm. 12:3; Hãy nói cho toàn hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Đến ngày mồng mười tháng nầy, mỗi gia trưởng tùy theo nhà mình phải bắt một con chiên con. 12:4 Nếu nhà ít người quá ăn không hết một con chiên con, hãy chung cùng người rất lân cận mình, tùy theo số người; và hãy tính cho mỗi chiên con tùy sức người ăn hết. 12:5 Các ngươi hãy bắt, hoặc trong bầy chiên, hoặc trong bầy dê, chiên con đức hay là dê con đực, tuổi giáp niên, chẳng tì vít chi, 12:6 đoạn để dành cho đến ngày mười bốn tháng nầy; rồi cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ giết nó, vào lối chiều tối. 12:7 Họ sẽ lấy huyết đem bôi trên hai cây cột và mày cửa của nhà nào ăn thịt chiên con đó. 12:8 Đêm ấy họ sẽ ăn thịt chiên quay với bánh không men và rau đắng. 12:9 Chớ ăn thịt nửa chín nửa sống hay là luộc trong nước, nhưng phải quay trên lửa cả và đầu, giò, với bộ lòng. 12:10 Các ngươi chớ để chi còn lại đến sáng mai; nếu còn lại, hãy thiêu đi. 12:11 Vậy, ăn thịt đó, phải như vầy: Dây lưng cột, chơn mang giày, tay cầm gậy, ăn hối hả; ấy là lễ Vượt qua của Đức GIÊ-HÔ-VA. 12:12 Đêm đó ta sẽ đi qua xứ Ê-díp-tô, hành hại mọi con đầu lòng xứ Ê-díp-tô, từ người ta cho đến súc vật; ta sẽ xét đoán các thần của xứ Ê-díp-tô; ta là Đức GIÊ-HÔ-VA. 12:13 Huyết bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ dùng làm dấu hiệu; khi ta hành hại xứ Ê-díp-tô, thấy huyết đó, thì sẽ vượt qua, chẳng có tai nạn hủy diệt các ngươi. 12:14 Các ngươi hãy ghi ngày đó làm kỷ niệm; trải các đời hãy giữ làm một lễ cho Đức GIÊ-HÔ-VA, tức là một lễ lập ra đời đời.
A. Bữa tiệc kết ước: Luôn luôn vào lúc cuối của việc kết ước, hai bên tham dự vào giao ước bằng huyết sẽ cùng dùng chung một bữa tiệc kết ước như là một kỷ niệm của giao ước nầy. Bữa ăn nầy sẽ là một bữa ăn sinh tế. Bữa tiệc kết ước có ý nghĩa rất lớn lao nhưng lại mang tính chất vô cùng đơn giản.
Để nhấn mạnh tầm quan trọng của bữa tiệc kết ước, chúng ta thấy rằng trong nhiều nền văn hóa nếu một kẻ thù bằng cách nào đó lẻn vào nhà hay lều trại của bạn và tìm cách ngồi ăn cùng bàn với bạn, thì bạn không còn có thể đối xử với anh ta như một kẻ thù nữa, song phải bảo vệ anh ta, thậm chí chống lại chính đồng bào của mình nữa. Do đó việc ăn chung bàn với một người khác không phải là một vấn đề nhỏ nhặt.
Trong tình huống được mô tả tại xứ Ê-díp-tô, Đức Chúa Trời đã nhớ lại giao ước Ngài với Y-sơ-ra-ên và đã nghe tiếng kêu cầu của họ. Ngài sắp sửa giải cứu họ khỏi ách nô lệ mà họ đã từng gánh chịu tại xứ Ê-díp-tô (một hình ảnh tượng trưng cho thế gian).
1. Một con chiên không tì vít: Trong câu 2-3 cho chúng ta thấy rằng vào ngày mồng mười tháng giêng (tức tháng Tư theo dương lịch), họ sẽ phải bắt một con chiên con không tì vít, mỗi gia đình một con, và giữ nó thêm 3 ngày nữa để kiểm tra con chiên và biết chắc rằng nó không có tì vít gì. Đoạn, vào ngày 14 họ sẽ giết con chiên vào khoảng 3 giờ chiều. Huyết của con chiên con sẽ được bôi trên cột và mày cửa như là một sự che đậy tội lỗi; sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên tội lỗi sẽ vượt qua nhà ấy, tha mạng cho con trai đầu lòng lẽ ra sẽ phải chết trong sự đoán phạt nầy. Họ sẽ phải quay chiên con trên lửa và ăn thịt nó, đoạn thiêu đi bất cứ thứ gì còn sót lại. Người ta ước lượng rằng có khoảng 257.000 chiên con đã bị giết chết vào buổi chiều hôm ấy trong xứ Gô-sen. Không ai được phép luộc thịt chiên con vì Đức Chúa Trời muốn mùi thịt nướng của chiên con lan tỏa khắp xứ Ê-díp-tô.
2. Một dân tộc sẵn sàng lên đường: Họ sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng hành động. Điều nầy có nghĩa là họ sẽ phải vén áo xống mình lên và cột quanh thắt lưng để có thể di chuyển dễ dàng. Họ sẽ phải sẵn sàng lên đường mau chóng và hành lý đóng gói gọn gàng và tay cầm gậy sẵn sàng lên đường. Đoạn họ sẽ phải ăn hối hả để có thể sẵn sàng khởi hành khi có lệnh ra đi.
B. Không có kẻ yếu đuối giữa vòng họ: Mặc dầu Thánh Kinh không đề cập điều nầy trong Xuất Ê-díp-tô ký 12, nhưng trong Xuất Ê-díp-tô ký 15 chúng ta biết rằng những nô lệ Do-thái đã bị Ê-díp-tô bắt làm gạch và bị đối xử vô cùng tàn nhẫn và theo lịch sử đã có nhiều người ốm yếu bị chết trong các hầm gạch. Thế nhưng, chúng ta cũng thấy trong Thi Tv 105:37 rằng sau bữa ăn kết ước khi Đức Chúa Trời dắt đưa Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô thì giữa vòng họ không có một người nào yếu sức cả. Nói cách khác, đã có một sự chữa lành diệu kỳ xảy ra buổi chiều tối hôm ấy khi họ ăn bữa ăn kết ước. Do đó chúng ta cần phải nhận biết quyền năng của việc nhận lãnh tiệc thánh như một kiểu mẫu của bữa tiệc giao ước vậy.
105:37 Đoạn Ngài dẫn Y-sơ-ra-ên ra có cầm bạc và vàng; chẳng một ai yếu mỏn trong các chi phái của Ngài.
C. Dân sự ra đi mang theo chiên con của Đức Chúa Trời trong lòng: Hai triệu người bước ra khỏi mái nhà mình vốn đã được bao phủ bởi huyết chiên con, mỗi gia đình có chiên con của Đức Chúa Trời bên trong họ (tượng trưng cho Đấng Christ ở trong chúng ta). Khi rời khỏi Ê-díp-tô (tượng trưng cho thế gian), họ đến dưới sự che phủ của trụ mây Đức Chúa Trời ban ngày và trụ lửa ban đêm. Cả hai đều tượng trưng cho sự hiện diện liên tục của Đức Chúa Trời và vì họ bước đi trong mối quan hệ kết ước với Đức Chúa Trời, nên Ngài luôn ở bên cạnh để chu cấp cho mọi nhu cầu của họ. Hàng năm vào ngày mồng mười tháng Nisan (tháng giêng theo lịch Do-thái, tháng Tư theo dương lịch), họ lại sẽ có bữa ăn giao ước nầy và thuật lại ý nghĩa của nó cho con cháu mình.
Khi dân Y-sơ-ra-ên đã định cư thành một dân tộc, họ đem chiên con lên đền thờ để dâng tế lễ mỗi năm một lần vào cùng thời gian nầy. Điều nầy rất quan trọng vì việc chăn nuôi những con chiên con nầy để dâng lên làm sinh tế đã trở thành một nhiệm vụ cần thiết phải thực hiện. Những chiên con làm sinh tế được dâng lên khi chúng khoảng một năm tuổi và người ta ước lượng rằng khoảng thời gian của Ma-la-chi có chừng 2.000.000 chiên con được dâng làm sinh tế mỗi mùa xuân. Theo cách đó chúng ta biết Chúa Jêsus được sinh ra gần thời điểm Lễ Vượt qua khi các gã mục tử đang canh giữ bầy chiên mình ngoài đồng, là việc mà họ thường làm vào mùa xuân khi những chiên con đang được chuẩn bị sẵn sàng để làm sinh tế lễ Vượt qua. Do đó chúng ta biết Chúa Jêsus không ra đời vào tháng Mười Hai như người ta thường tổ chức kỷ niệm.
D. Những người chăn canh giữ bầy chiên: Hãy hình dung những người chăn chiên, vào mùa xuân (tháng Ba - Tư) năm ấy, đang canh giữ những con chiên con được sanh ra để chịu chết nầy và một thiên sứ hiện ra bảo họ hãy đi đến thành Bết-lê-hem (LuLc 2:8-10) để gặp Đấng Cứu thế vừa mới sinh ra cho họ. Chính một khoảng thời gian sau đó mà Giăng Báp-tít nhìn thấy Chúa Jêsus đến cùng mình và quay sang nói với mọi người rằng: “Kìa Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (GiGa 1:29). Mỗi người Do-thái tức khắc sẽ hiểu được mối tương quan giữa những điều Giăng nói về Chúa Jêsus với chiên con Lễ Vượt qua. Xin lưu ý là chúng ta biết chiên con lễ Vượt qua được khám xét trong ba ngày và chức vụ công khai của Chúa Jêsus đã kéo dài suốt ba năm. Vì vậy khi giờ đã đến Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem và chính vào ngày mồng mười tháng Nisan (ngày mà chiên con lễ Vượt qua được chọn) mà Chúa Jêsus đã vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn. Điều thú vị là trong suốt ba ngày kế tiếp khi những người Lê-vi đang khám xét các chiên con lễ Vượt qua xem co tì vít gì không, thì điều tương tự cũng đang xảy ra với Chúa Jêsus khi Ngài bị những nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó tra hỏi. Quan Tổng Đốc La-mã tuyên bố ông không thể tìm thấy Chúa Jêsus có lỗi gì. Ngay cả Giu-đa cũng nói hắn đã nộp huyết vô tội. Theo cách đó Chúa Jêsus đang bị tra xét kỹ càng cho đến chiều tối ngày mười ba tháng giêng.
E. Lễ Vượt qua với Chúa Giê-xu: Chúng ta biết rằng ngày của người Do-thái bắt đầu khác với ngày của chúng ta. Ngày của người Do-thái bắt đầu và chấm dứt vào 6 giờ chiều. Vào ngày 13 tháng giêng, ngày 13 chấm dứt lúc 6 giờ chiều và ngày 14 (lễ Vượt qua) bắt đầu vào cùng thời điểm đó, cho dù hầu hết các hoạt động của lễ Vượt qua bình thường chỉ được tiến hành vào sáng và trưa hôm sau mà thôi. Chính vào lúc bắt đầu của ngày 14 ấy mà Chúa Jêsus cùng các môn đồ Ngài đã dự lễ Vượt qua với nhau. Chúa Jêsus đang làm trọn tất cả những gì lễ Vượt qua nhằm chỉ về Ngài.
1. Bánh được bẻ ra: Khi một người Do-thái kỷ niệm lễ Vượt qua, người chủ nhà có một cái túi ba ngăn và mỗi ngăn đựng một ổ bánh không men. Người ấy sẽ lấy ổ bánh trong ngăn giữa và bẻ nó ra. Nếu bạn hỏi họ ba ổ bánh ấy có nghĩa gì, rất có thể họ sẽ trả lời rằng chúng tượng trưng cho Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Vì thế khi bạn hỏi, “Tại sao bạn lại bẻ ổ bánh tượng trưng cho Y-sác?” thì rất có thể họ sẽ không trả lời được. Sự thật là trải qua nhiều thế kỷ, người Do-thái đã từng có ngay trong lễ Vượt qua của họ hình bóng toàn hảo về Đức Chúa Trời ba ngôi, Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Thánh-Linh, cả ba trong một túi. Họ sẽ luôn lấy ổ bánh ở giữa và bẻ nó ra. Chính Chúa Jêsus đã ban phát ý nghĩa của việc làm nầy khi đang dự lễ Vượt qua với các môn đồ Ngài đã lấy bánh từ ngăn giữa của chiếc túi, bẻ nó ra và phán cùng các môn đồ rằng: “Nầy là thân thể ta đã bị vỡ ra vì các ngươi . . .” Vì Chúa Jêsus đã tự nhận Ngài chính là ngôi hai trong ba ngôi đã bị vỡ nát vì tội lỗi của cả nhân loại.
2. Huyết của giao ước mới: Vào cuối bữa ăn lễ Vượt qua, họ lấy một chén rượu nho và chuyền từ người nầy sang người khác để cùng uống, vào lúc đó Chúa Jêsus phán rằng: “Nầy là huyết ta, huyết của giao ước mới bị đổ ra vì các ngươi . . .” Đây là điều mà tất cả các bữa ăn lễ Vượt qua trước đó đã hướng đến. Mọi điều trước đây đều là một kiểu mẫu hay hình bóng của lễ Vượt qua thật sự nầy khi Chúa Jêsus sẽ phó dâng chính mình Ngài làm sinh tế vì cớ tội lỗi chúng ta.
F. Chúa Jêsus là chiên con làm sinh tế: Chính vào lúc 9 giờ sáng ngày 14 mà Chúa Jêsus bị đem đi và đóng đinh trên thập tự giá. Cùng lúc đó những người Lê-vi ở tại đền thờ đang mài bén những con dao, chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho việc dâng những chiên con làm tế lễ sẽ diễn ra vào 3 giờ chiều hôm ấy. Kinh Thánh thuật lại rằng vào lúc giữa trưa sự tối tăm bao phủ khắp đất (LuLc 23:44) khi Chúa Jêsus chịu đau đớn trên thập tự giá. Sau đó vào lúc 3 giờ chiều trong đền thờ những con chiên con đôi mắt khờ dại bị đưa đến bàn thờ để chịu cắt cổ; cũng chính vào giây phút đó mà bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem Chúa Jêsus đương bị treo trên cây thập tự đã kêu lớn tiếng rằng: “Mọi sự đã được trọn . . .” (GiGa 19:30) và Ngài, chiên con của Đức Chúa Trời, đã chết thay cho bạn. Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng vào lúc Ngài trút hơi thở cuối cùng, bức màn trong đền thờ bị xé ra làm hai từ trên xuống dưới (LuLc 23:45) ngụ ý là ngày nay chúng ta được trực tiếp đến gần Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jêsus Christ.
G. “Mọi sự đã được trọn ”: Tiếng kêu lớn của Chúa Jêsus trên thập tự trong lúc những người lính La-mã đang đứng bên dưới cây thập tự có một ý nghĩa rất lớn vì đó chính là tiếng kêu chiến thắng thường được các tướng lãnh La-mã dùng ra lệnh cho quân đội của mình trong chiến trận. Vị tướng La-mã sẽ đứng tại nơi mà ông ta có thể nhìn thấy các binh sĩ đang chiến đấu, thường là trên một ngọn đồi cao. Khi trận chiến đến thời điểm mà vị tướng biết mình đã thắng trận, ông ta sẽ reo to một từ Hy-lạp nầy thật là lớn, hàm ý là “Mọi sự đã được trọn . .” hay “Thắng rồi.” Đây cũng chính là từ mà Chúa Jêsus đã dùng khi Ngài kêu lớn lúc những người lính canh La-mã đang đứng bên dưới cây thập tự.
Trận chiến đã đắc thắng nhưng nó chẳng có giá trị gì đối với chúng ta cho đến khi chúng ta đón nhận sự chiến thắng đó cho đời sống riêng của mình bằng cách tiếp nhận những điều Chúa Jêsus đã làm trọn thay cho chúng ta. Chúng ta phải để cho huyết của Đấng Christ tuôn chảy vào lòng mình bằng cách chỉ việc tin cậy nơi Đức Chúa Jêsus Christ, nhận lãnh sự tha thứ tội và sự ban cho Đức Thánh-Linh.
VII. Giao ước của Sự sống (Giao ước với A-đam)
A. Giao ước Sáng tạo hay Giao ước của Sự sống: (SaSt 2:16-17
Xin hãy nhớ: Theo định nghĩa thì giao ước là một khế ước của sự sống hay sự chết, một sự cam kết nếu phá vỡ sẽ phải nhận lãnh sự chết.
2:16-17 Rồi GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn 2:17 nhưng về cây biết điều thiện và điều ác, thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết.

B. Việc Phá vỡ Giao ước
1. Đây không phải là một đề nghị bình thường nhưng đúng hơn là giao ước đầu tiên của Đức Chúa Trời với loài người và điều kiện rất dứt khoát, nếu bạn chọn phá vỡ giao ước đó bạn sẽ phải chết!
2. Sự Chọn lựa: Cây biết điều thiện điều ác nầy là gì? Nó không phải là một loại cây ăn trái có phép thần diệu nào đó mà khi bạn cắn vào trái nó thì nước của trái nầy khiến cho cái chết bắt đầu hoành hành trong thân thể bạn. Đúng hơn chúng ta thấy loài người sống trong vườn Ê-đen đang đồng đi với Đức Chúa Trời và hoàn toàn vô tội. Tính vô tội và sự công bình không giống nhau. Con người vô tội vì không có sự chọn lựa. Con người thậm chí không biết đến sự hiện hữu của điều ác do đó con người vô tội chứ không phải công bình (tính vô tội giống như tình trạng ngây thơ của trẻ con), không nhận biết được mặc trái của sự việc. Con người không phải là một con người trọn vẹn cho đến khi đã có sự chọn lựa. Con người không thể chọn bước đi với Đức Chúa Trời cho đến khi đối diện với một sự chọn lựa. Vì bạn không thể chọn bước đi với Đức Chúa Trời nếu không có con đường nào khác để đi. Con người cũng không thể nào tương tác trong một đường lối kết ước nếu không chọn lựa làm điều đó. Khả năng chọn lựa vô cùng quan trọng, do đó phải có sự chọn lựa hay đối tượng của sự chọn lựa phải hiện diện. (Theo cách đó ngày nay chúng ta phải chọn lựa chấp nhận mối quan hệ giao ước Đức Chúa Trời đã dành sẵn cho chúng ta qua sự hy sinh của Đức Chúa Jêsus Christ).

Con người không thể trở nên một hữu thể có ý chí tự do thành thực nếu không đối diện với khả năng chọn lựa. Vì thế Đức Chúa Trời đã chọn cây biết điều thiện điều ác làm đối tượng của sự chọn lựa. Bất cứ vật thể nào cũng đã có thể làm đối tượng của sự chọn lựa, song Đức Chúa Trời đã chọn cây nầy. Đức Chúa Trời phán: “Những gì ngươi chọn về cây nầy sẽ đem đến cho ngươi một sự hiểu biết nào đó về điều thiện và điều ác, bởi vì ngươi sẽ phải thực hiện một sự chọn lựa.” Khi Đức Chúa Trời phán, “Ngươi chớ hề ăn đến cây đó,” con người lập tức phải đối diện với một sự chọn lựa, đó là có vâng theo Đức Chúa Trời chỉ vì Ngài đã ra lệnh hay không.
3. Cái cây:
a. Cây nầy không có vẻ gì là xấu, là ác cả (SaSt 3:6)
3:6 Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.
b. Làm sao cây nầy lại có thể trông xấu hay ác được khi họ không biết điều ác là gì
c. Theo như chúng ta biết thì họ cũng không có khái niệm gì về sự chết vì sự giận
dữ, cay đắng, hiểm độc . . . không có trong vốn từ của họ
4. Sự Thử nghìệm: Vì không có điều gì rõ rệt nơi cái cây cho thấy nó có vẻ khác thường hay có vẻ gì khiến người ta cảm thấy sợ hãi (là một từ ngữ khác không có trong vốn từ của họ) nên sự chọn lựa đã phải đặt trên nền tảng duy nhất là sự tin cậy của họ nơi tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho họ mà thôi. Đức Chúa Trời yêu tôi vì vậy Ngài đáng để tôi tin cậy. Vì Đức Chúa Trời đáng tin cậy, và thậm chí dầu tôi không hiểu vì sao tôi không nên làm điều nầy, song tôi chọn tin cậy Đức Chúa Trời và do đó, tôi sẽ không làm! Vì cớ Ngài là Đức Chúa Trời, nên tôi chọn lựa phó thác chính mình cho Ngài. Đây là điều cốt lõi của giao ước, sự từ bỏ chính mình cho một người khác (điều nầy cũng tương tự như khi chúng ta hứa nguyện trước mặt Đức Chúa Trời trong ngày lễ hôn phối vậy). Đức Chúa Trời đã hoàn toàn phó thác Chính mình Ngài cho họ, giờ đây họ phải chọn lựa phó thác cho Ngài. Cái cây là nơi việc phó thác diễn ra.
5. Phần thưởng: Chúng ta chỉ có thể phỏng đoán được đối với những gì sẽ xảy ra nếu hai người đã chọn lựa tin cậy nơi Lời phán của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta thực sự biết điều nầy từ lời Thánh Kinh:
SaSt 3:22-24 GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời phán rằng: Nầy, về sự phân biệt điều thiện và điều ác, loài người đã thành một bực như chúng ta; vậy bây giờ, ta hãy coi chừng, e loài người giơ tay lên cũng hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng. 3:23 GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời bèn đuổi loài người ra khỏi vườn Ê-đen đặng cày cấy đất, là nơi có người ra. 3:24 Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn, rồi đặt tại phía đông vườn Ê-đen các thần chê-ru-bin với gươm lưỡi chói lòa, để giữ con đường đi đến cây sự sống.
a. Không còn sự chọn lựa nữa: Tại đây chúng ta thấy rằng sau khi họ đã ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác thì Đức Chúa Trời phán rằng họ phải ra khỏi vườn “e rằng họ sẽ ăn trái của cây sự sống.” Điều nầy có vẻ là nếu họ đã chọn không ăn trái cây biết điều thiện và điều ác và thay vào đó đã ăn trái cây sự sống, thì rất có thể họ đã được an toàn trong tình trạng của mình. Đó là họ sẽ không phải tiếp tục chọn lựa vì họ đã chọn lựa điều tối ưu nhất trong mọi sự chọn lựa. Họ sẽ được sống mãi trong sự sống đời đời và trong mối quan hệ giao ước với Đức Chúa Trời.
b. Sự hiểu biết ĐIỀU THIỆN và điều ác: Nếu họ đã chọn lựa chống trả sự cám dỗ của con rắn, và không ăn trái cây nầy, thì rất có thể họ sẽ biết cây biết điều thiện và điều ác như “cây biết ĐIỀU THIỆN và điều ác.” Bạn thấy trong việc từ chối không ăn trái cây cấm thì rất có thể họ đã đi đến chỗ nhận biết ĐIỀU THIỆN là gì. Cho đến lúc đó họ chưa biết ĐIỀU THIỆN là gì bởi vì họ không biết điều ác là gì. Bạn không biết thế nào là ngọt ngào cho đến khi bạn nếm một cái gì đó đắng. Bạn không biết sự sáng ra sao cho đến khi bạn hiểu thế nào là bóng tối. Nếu họ đã từ khước sự cám dỗ thì họ có thể bất chợt hiểu ra được ĐIỀU THIỆN là gì, vì Đức Chúa Trời là đấng khôn ngoan và chỉ mong muốn điều TỐT LÀNH cho họ. Nếu điều tôi đang chọn là điều THIỆN thì điều mà tôi kháng cự kia hẳn phải là điều ác vậy. Đối với họ cây đó sẽ trở nên cây biết ĐIỀU THIỆN và điều ác nhưng họ sẽ biết điều ác theo cùng một cách mà Đức Chúa Trời biết điều ác vậy . Vì Đức Chúa Trời biết điều ác rất rõ nhưng Ngài không gian ác và cũng không hề phạm điều ác. Đức Chúa Trời biết điều ác y như cách các chuyên gia về ung thư biết bệnh ung thư vậy. Ngài biết ý định của nó, đường lối của nó, và kết cuộc của nó nhưng chính mình Ngài không có liên hệ gì đến nó cả. Tôi biết điều gì cám dỗ tôi, tôi đã từng có thể trông thấy điều ác và biết rõ nó, song tôi không có phần gì với nó cả.
c. Sự hiểu biết điều thiện và ĐIỀU ÁC: Thay vì thế, cây đó đã trở nên “cây biết điều thiện và ĐIỀU ÁC” đối với họ. Giờ đây họ biết ĐIỀU ÁC bằng kinh nghiệm riêng và có thể thấy rằng những gì mà họ đã từng có là những điều tốt lành, nhưng giờ thì họ lại đang ở trong ĐIỀU ÁC. Đó là điều họ đã chọn lựa, và trong sự chọn lựa ấy họ đã trở nên không giống như vị bác sĩ hiểu biết về ung thư nhưng không hề bị ung thư, song trái lại họ giống như bệnh nhân đang mắc bệnh và đang chết dần mòn vì căn bệnh ấy.
6. Sự Sa ngã:
a. Sự nghi ngờ. Câu nghi vấn? Sự gợi ý?
SaSt 3:1 Vả trong các loài thú đồng mà GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?
b. Lời nói dối.
3:4 Rắn bèn nói cùng người nữ rằng: Hai ngươi chẳng chết đâu.
c. Sự lừa dối. Đức Chúa Trời không muốn ngươi ăn trái cây đó vì nếu ngươi ăn sẽ trở nên giống như Ngài.
3:5 nhưng Đức Chúa Trời biết hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.
(I). Sách lược vẫn giống nhau: Mưu lược của ma quỷ vẫn không thay đổi trên 6.000 năm qua. Công việc của nó vẫn là tạo nên sự nghi ngờ và thắc mắc trong lòng chúng ta. Nếu bạn đến nhóm ở nhà thờ có mức độ thuộc linh trung bình, bạn sẽ thấy quan niệm của họ về việc dâng mình cho Đức Chúa Trời tương tự như nói rằng, “tạm biệt mọi điều gì có tính cách vui đùa!” Hoặc khi một điều gì không hay xảy đến thì chúng ta nói, “ý Chúa được nên”, dường như thể nghi ngờ liệu ý định của Đức Chúa Trời đối với chúng ta có đem lại ích lợi cho chúng ta chăng. “Đức Chúa Trời há có phán?” Bạn có quá khờ dại cả tin để tin rằng Đức Chúa Trời chỉ mong muốn điều tốt nhất cho bạn không?
(II). Nhượng bộ đối với bản ngã: Khi con người sa ngã họ nương cậy vào chính mình; họ hướng đến sự khôn ngoan riêng, ý tưởng riêng liên quan đến ý nghĩa của cuộc sống. Khi làm như thế họ tin cậy Sa-tan và nghi ngờ không tin cậy Đức Chúa Trời. Đây chính là thực chất của điều ác - chính mình làm chủ mình, mình là số một - thay vì hoàn toàn đầu phục đấng tạo hóa. Củ cà rốt (phương tiện cám dỗ) ở phía trước mũi họ là, “ngươi sẽ như Đức Chúa Trời.” Tôi không cần phụ thuộc vào Đức Chúa Trời. Vật thọ tạo phụ thuộc vào đấng tạo hóa à, không đâu! Tôi sẽ tự mình làm chủ, làm những gì tôi muốn, và theo cách đó con người trở nên một kẻ nắm giữ cái tôi của mình thay vì một người từ bỏ bản ngã.
Thay vì được liên hiệp với Đức Chúa Trời, đấng hằng ban cho, con người lại liên kết với Sa-tan là kẻ mãi mãi chiếm đoạt cho bản thân mình. Con người không còn bước đi trong sự sáng nhưng đúng hơn đã bị sanh lại trong sự tối tăm.
(III). Bước đi xa khỏi sự yêu thương: Đức Chúa Trời đã phán trong 2:17 “ . . . vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết.” Đây là giao ước của sự sống, giao ước mà dựa trên đó vũ trụ đã được dựng nên. Nếu tôi chọn bước đi xa khỏi tình yêu “agape”, tình yêu phó chính sự sống mình của Đức Chúa Trời, để trở nên một kẻ phát biểu rằng mọi sự đều dành cho mình, bước đi xa khỏi Đức Chúa Trời là đấng tối cao để phát biểu rằng mình là số một, thì tôi đã bước đi xa khỏi sự sống là Chính mình Ngài. Đức Chúa Trời là sự sống vì Ngài là đấng sáng tạo; bước đi xa khỏi sự sống là “không có sự sống” hay cái mà Đức Chúa Trời gọi là “sự chết.” Bất cứ điều gì không phải là tình yêu phó chính sự sống mình đều là sự chết. Tách ra khỏi tình yêu phó chính sự sống mình thì là sự chết. Đây chủ yếu không phải là sự chết của thân thể, nhưng tệ hại hơn nhiều, đó là việc bị cắt đứt khỏi mối thông công với Đức Chúa Trời là đấng yêu thương.
(IV). Chết tức là sự phân cách: Khi con người cho rằng mình đang sống, đó chỉ vì con người không có điều gì khác để theo đó mà phán đoán. Sự thật là con người đã chết trong khi thân thể vẫn còn đang sống. Sự chết không phải là sự hủy diệt mà là sự phân cách. Khi chúng ta nói một người nào đó đã chết, chúng ta không hàm ý rằng người đó không còn ở đó nữa, song chúng ta muốn nói rằng chúng ta không thể liên lạc được với họ nữa. Nếu bạn đọc báo thấy rằng RevC đã chết thì bạn biết trong một nghĩa nào đó, đó là lời nói dối lớn nhất từng có, vì thực tế là lúc ấy tôi sẽ càng sống động hơn bao giờ trước đây! Khi họ nói tôi đã chết, điều đó thực sự có nghĩa là trong lúc nầy bạn không thể thông công với tôi hay sờ đụng được tôi nữa. Tôi vẫn đang sống nhưng ở một nơi nào khác.
(V). Chính ngày ấy: Khi A-đam và Ê-va phạm tội cùng Đức Chúa Trời và ăn trái cấm, chính ngày ấy họ đã chết; vì Thánh Kinh chép: “ . . . vì một mai (hễ ngày nào) ngươi ăn, chắc sẽ chết.” Chính ngày ấy đã có một sự phân cách với Đức Chúa Trời. Họ vẫn sống, nhưng họ không còn sống như họ đã từng sống nữa. Họ vẫn sống, nhưng họ đã chết trong khi vẫn đang sống. Giao ước của sự sống đã bị phá vỡ. Án phạt rõ ràng là sự chết. Con người đã phá vỡ giao ước và điều đó có thể đã là sự kết thúc của muôn vật như chúng ta nhìn biết. Nhưng bởi ân điển của Đức Chúa Trời đấng đã phó Chính mình Ngài cho con người, Đức Chúa Trời đã thiết lập giao ước thứ hai (giao ước với A-đam). Đức Chúa Trời sẽ đạt được mục đích của Ngài cho dù loài người đã sa ngã.
(VI). Đức Chúa Trời, “Đấng Cứu chuộc chúng ta” Sau đó Đức Chúa Trời bắt đầu đưa con người qua một loạt các mối quan hệ giao ước để rồi đưa chúng ta đến với “GIAO ƯỚC MỚI”, tức giao ước với Chúa Jêsus khi Ngài xóa sạch quyền lực của tội lỗi và phục hòa con người trở lại tình trạng mà lẽ ra A-đam đã phải có. Khi chúng ta cùng dự phần với Đức Chúa Jêsus Christ qua lễ tiệc thánh, chúng ta ăn trái của cây sự sống và sẽ sống đời đời. Mỗi giao ước tiếp theo sau giao ước của sự sống đều là sự biểu hiện tình yêu và ân điển của Đức Chúa Trời, đem con người trở lại với tình trạng mà Ngài luôn mong muốn con người có được.
VIII. Giao ước với A-đam
Một lần nữa chúng ta thấy Đức Chúa Trời là đấng khởi xướng giao ước. Ngài bước vào để mở một con đường cho con người được phục hòa. Khi làm như thế, trước tiên Ngài phải xử lý sự sa ngã và những kẻ tham gia vào đó.
SaSt 3:14 Đức GIÊ-HÔ-VA bèn phán cùng rắn rằng: Vì mầy đã làm điều như vậy, mầy sẽ bị rủa sả trong vòng các loài súc vật, các loài thú đồng, mầy sẽ bò bằng bụng và ăn bụi đất trọn cả đời.
A. câu 14 Con rắn, tượng trưng cho Ma quỉ, là kẻ phải được xử lý trước tiên sau sự sa ngã, vì nó là kẻ trước tiên khuất phục trước Sa-tan. Dù lời kết án nầy được phán về con rắn, nhưng nó cũng ngụ ý chỉ về Sa-tan là kẻ tự nhắc mình lên chống lại sự vinh hiển của Đức Chúa Trời; nó sẽ bị hạ xuống thấp và mọi nỗ lực của nó để phá vỡ kế hoạch của Đức Chúa Trời sẽ không đạt được hiệu quả gì.
3:15 Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chơn người.
B. câu 15 Con người đã đứng về phía Sa-tan. Nhưng Đức Chúa Trời phán Ngài sẽ làm cho dòng dõi người nữ (con người) cùng dòng dõi Sa-tan nghịch thù nhau. Dù con người lúc bấy giờ đang liên kết với Sa-tan, Đức Chúa Trời sẽ đem đến sự phân rẽ giữa hai liên minh nầy. Từ dòng dõi của người nữ sẽ ra Đấng Christ, là con người trọn vẹn, đấng sẽ làm phân rẽ sự hiệp nhất giữa con người với Sa-tan. Từ chính những người mà Sa-tan đã dối gạt, Đức Chúa Trời sẽ đem đến cho Sa-tan sự đại bại. Đức Chúa Trời phán: “Ta sẽ làm cho . . . nghịch thù nhau.” Nói cách khác, Đức Chúa Trời đang hứa chắc chắn rằng chính những người mà Sa-tan đã đánh bại sẽ đem đến cho nó sự hủy diệt hoàn toàn.
1. Một cách rõ ràng hơn, chúng ta thấy rằng “sự thù nghịch” sẽ đến qua người nữ, tức Ê-va, là đại diện cho toàn thể phụ nữ. Nói cách khác, sẽ có chiến tranh giữa Sa-tan và nữ giới. Người nữ là kẻ bị dối gạt, vì thế Đức Chúa Trời, bởi lòng yêu thương và nhơn từ Ngài, sẽ qua người nữ mà đem đấng cứu chuộc đến, là đấng sẽ hủy phá công việc của Ma quỉ. Và nếu chúng ta đọc câu 15 cẩn thận, chúng ta thấy người nam không được đề cập tới trong mối quan hệ với việc đem đến sự “thù nghịch” nầy, dường như để làm hình bóng về sự sinh hạ Cứu Chúa bởi người nữ đồng trinh. Ngày nay con người được cứu vì một người nữ đã hạ sinh một con trẻ trong sự đồng trinh của mình.
2. Xin cũng lưu ý là câu nầy nói tới sự “thù nghịch” sẽ có giữa Sa-tan với người nữ và “giữa dòng dõi nó cùng dòng dõi người nữ.” Điều đó giờ đây có nghĩa gì? Phải chăng dòng dõi người nữ tượng trưng cho tất cả nhân loại, tức mọi người do người nữ sinh ra? Tôi không tin câu đó có nghĩa như thế. IGi1Ga 3:12 chép rằng:
3:12 Chớ làm như Ca-in, là kẻ thuộc về ma quỉ, đã giết em mình. Vì sao người giết đi? Bởi việc làm của người là dữ, còn việc làm của em người là công bình.
3. Đây là đứa con đầu lòng của Ê-va, và theo lời Thánh Kinh cho biết thì có dấu hiệu cho thấy rằng lòng của Ca-in hướng về phía Sa-tan. Ông đứng về phía Sa-tan do đó khi Đức Chúa Trời phán trong câu 15 rằng Ngài sẽ đặt sự “thù nghịch giữa Sa-tan cùng người nữ và giữa dòng dõi Sa-tan cùng dòng dõi người nữ”, thì câu ấy không thể nào ám chỉ toàn thể nhân loại vì chính dòng dõi đầu tiên đã không chống nghịch với Sa-tan nhưng lại chống nghịch với Đức Chúa Trời. Điều then chốt ở đây là Đức Chúa Trời đã phán: “Ta sẽ đặt sự thù nghịch.” Điều đáng chú ý là Đức Chúa Trời đã làm một công tác siêu nhiên trong lòng con người, đặt trong lòng con người một sự thù ghét đối với Sa-tan và công việc nó.
4. Thánh Kinh ghi rõ rằng con người được sinh ra theo xác thịt, chống nghịch với Đức Chúa Trời, bị phân cách với Đức Chúa Trời ngay lúc chào đời, và đứng về phía của Ma quỉ. Thánh Kinh ghi lại như sau:
Khi nói về những người Pha-ri-si, là những người sùng kính nhất thời đó, Chúa Jêsus đã phán:
GiGa 8:44 Các ngươi bởi cha mình, là ma quỉ, mà sanh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, vì không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối.
Eph Ep 2:2 Là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung, tức là thần hiện đang hành động trong các con bạn nghịch.
Bởi sự sanh ra theo xác thịt, chúng ta ở về phía của Ma quỉ, nhưng nhờ ân điển Đức Chúa Trời qua sự “tái sanh” tôi không còn là con người cũ nữa:
IICo 2Cr 5:17 Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới: những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.
Bởi đức tin nơi đấng Mê-si-a, bởi kinh nghiệm tái sanh vốn là một phần của “giao ước mới,” chúng ta có về phía Đức Chúa Trời cả một nhóm người trước kia đã từng thuộc về Ma quỉ nhưng hiện nay đã trở nên “thù nghịch” với nó.
5. Trước tiên chúng ta thấy trận chiến sẽ diễn ra giữa Sa-tan cùng người nữ; sau đó nó diễn ra giữa Sa-tan với những người đã được sanh lại trong Đấng Christ và thuộc về “dòng dõi của người nữ”; nhưng kế đó câu nầy hàm ý nghĩa cá nhân nhiều hơn và chúng ta thấy “người sẽ giày đạp đầu mầy, và mầy sẽ cắn gót chơn người.” Sẽ có một mối xung đột “một đối một” sau cùng giữa Sa-tan với “hậu tự tối thượng của người nữ”. Hậu tự nầy sẽ giày đạp đầu con rắn, là hình bóng về sự đại bại cuối cùng của nó vì nọc độc của rắn nằm ở phía sau đầu nó.
HeDt 2:14 Vậy thì, vì con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Đức Chúa Jêsus cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ.
IGi1Ga 3:8 Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ; vì ma quỉ phạm tội từ lúc ban đầu. Vả, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỉ.
6. Xin lưu ý là Ma quỉ sẽ “cắn gót chơn Người.” Giờ đây nếu ngươi tấn công gót chơn ta thành công, thì ngươi có thể hạ gục ta tạm thời, nhưng sẽ không hủy diệt được ta. Song khi ngươi tấn công và giày đạp đầu ta thành công, thì ngươi sẽ hủy phá công việc của ta trọn vẹn. Vì thế chúng ta có thể thấy một hình bóng của Phúc âm trong câu nầy. Giả như đây là một khoảng thời gian nào đó kéo dài thì chúng ta sẽ khó mà hiểu được nếu không biết kết thúc của câu chuyện ra sao. Khi chúng ta biết được toàn thể câu chuyện thì chúng ta mới thấy được phần đầu có ý nghĩa thế nào.
IX. Giao ước với Nô-ê
SaSt 6:8-13 Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức GIÊ-HÔ-VA. 6:9 Nầy là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. 6:10 Nô-ê sanh ba con trai là Sem, Cham và Gia-phết. 6:11 Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung ác. 6:12 Nầy, Đức Chúa Trời nhìn xem thế gian, thấy đều bại hoại, vì hết thảy xác thịt làm cho đường mìn trên đất phải bại hoại. 6:13 Đức Chúa Trời bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt ta; vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng; vậy, ta sẽ diệt trừ họ cùng đất.
6:17 Còn ta đây, ta sẽ dẫn nước lụt khắp trên mặt đất, đặng tuyệt diệt các xác thịt có sanh khí ở dưới trời; hết thảy vật chi ở trên mặt đất đều sẽ chết hết.
A. Điều gì đem đến giao ước với Nô-ê?
A-đam đã phá hủy “giao ước của sự sống” và hậu quả là sự chết. Trong SaSt 3:21 chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã giết một con thú lấy da làm áo cho họ che thân. Nếu chỉ để che đậy sự lỏa lồ của họ thì lá vả cũng đủ tốt rồi. Nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho họ một loại che phủ khác. Để Đức Chúa Trời có thể lấy da làm áo mặc cho họ, một con thú đã phải chịu chết. Giao ước của sự sống đã bị phá vỡ, thì án phạt là sự chết. Do đó, Đức Chúa Trời đã hy sinh một con vật để lấy huyết nó thay vào chỗ của A-đam và Ê-va.
HeDt 11:4 Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công bình, vì Đức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy; lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói.
1. Đức tin là một sự đáp ứng tích cực: 11:4 cho chúng ta biết rằng bởi đức tin, A-bên đã dâng một tế lễ tốt hơn. Ông biết phải làm gì khi ông muốn đến với Đức Chúa Trời. Đức tin là sự đáp ứng đối với một điều gì đó đã được truyền phán.
RoRm 10:17 Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng.
2. Cả hai đều đáp ứng: A-bên đang đáp ứng lại những gì ông đã học được từ giao ước với A-đam. Đó là nếu muốn đến gần Đức Chúa Trời ông phải dâng một tế lễ bằng huyết đổ ra để khỏa lấp tội lỗi của mình. Mặt khác, Ca-in đã dâng lên hoa quả của đất mà Đức Chúa Trời đã rủa sả trong SaSt 3:17-18. Ca-in đã đem dâng bông trái của sự rủa sả.
3. Lời hứa: Nhưng A-đam và Ê-va đã thực sự hiểu gì về lời hứa về một Đấng Cứu thế? Dường như có thể là qua 4:1
SaSt 4:1 A-đam ăn ở với Ê-va, là vợ mình; người thọ thai sanh Ca-in và nói rằng: Nhờ Đức GIÊ-HÔ-VA giúp đỡ, tôi mới sanh được một người (I have gotten a man from the LORD).
Một số bản dịch ngụ ý rằng từ “nhờ” (“from” trong câu Kinh thánh nầy của bản Anh ngữ) được thêm vào để dễ hiểu. Có lẽ Ê-va có thể đã nghĩ rằng con trai đầu lòng của bà sẽ là Cứu Chúa, Đấng cứu thế. “ . . . Tôi đã sanh được một người . . . là Cứu Chúa.” Vì thế có vẻ là A-đam và Ê-va đang trông tìm Đấng cứu thế qua dòng dõi của họ.
Một thí dụ khác qua đó con người hiểu lời hứa của Đức Chúa Trời về một Đấng Cứu chuộc được tìm thấy trong việc Nô-ê ra đời. Trong 5:28-29 chúng ta thấy là một người tên Lê-méc đã sanh một con trai đặt tên là Nô-ê.
5:28-29 Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi, sanh một trai, 5:29 đặt tên là Nô-ê, mà nói rằng: Đứa nầy sẽ an ủi lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Đức GIÊ-HÔ-VA đã rủa sả.
Tên của Nô-ê có nghĩa là “sự yên nghỉ.” Dường như thể Lê-méc cho rằng Nô-ê có lẽ là kẻ giải cứu sẽ làm thay đổi sự rủa sả của họ. Vì thế chúng ta thấy những tia sáng nầy tỏ ra rằng con người vào thời đó đang trông mong một Đấng Cứu thế và đang tìm kiếm sự xuất hiện của Ngài.
B. Dòng dõi của Ca-in
Tội lỗi đang gia tăng và hậu quả của nó ngày càng kinh khiếp hơn sự kiện xảy ra trong vườn Ê-đen. Nhìn vào Ca-in là hậu tự đầu tiên của A-đam, chúng ta thấy đó là một người hoàn toàn coi thường lời của Đức Chúa Trời. Ông phạm tội giết người với một sự mưu tính trước dù đã được Đức Chúa Trời cảnh cáo.
SaSt 4:6-8 Đức GIÊ-HÔ-VA phán hỏi Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống? 4:7 Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó. 4:8 Ca-in thuật lại cùng A-bên là em mình.Vả, khi hai người đương ở ngoài đồng, thì Ca-in xông đến A-bên là em mình, và giết đi.
1. Không có sự ăn năn: Sau khi Ca-in đã giết em mình, Đức Chúa Trời hỏi ông về hành động sát nhân đó, và Ca-in trả lời bằng cách khước từ trách nhiệm và đáp trả cách bướng bỉnh với Đức Chúa Trời. Sau khi Đức Chúa Trời rủa sả ông vì những việc ông đã làm, Ca-in không hề có thái độ ăn năn hay quan tâm đến tội lỗi kinh khiếp mà mình đã phạm, song trái lại ông chỉ quan tâm đến bản thân mình và làm sao để ông có đủ sức chịu đựng sự hình phạt mà thôi.
SaSt 4:9-15 Đức GIÊ-HÔ-VA hỏi Ca-in rằng: A-bên, em ngươi, ở đâu? Thưa rằng: Tôi không biết; tôi là người giữ em tôi sao? 4:10 Đức GIÊ-HÔ-VA hỏi: Ngươi đã làm điều chi vậy? Tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta. 4:11 Bây giờ, ngươi sẽ bị đất rủa sả, là đất đã hả miệng chịu hút máu của em ngươi bởi chính tay ngươi làm đổ ra. 4:12 Khi ngươi trồng tỉa, đất chẳng sanh hoa lợi cho ngươi nữa; ngươi sẽ lưu lạc và trốn tránh trên mặt đất. 4:13 Ca-in thưa cùng Đức GIÊ-HÔ-VA rằng: Sự hình phạt tôi nặng quá mang không nổi. 4:14 Nầy, ngày nay, Chúa đã đuổi tôi ra khỏi đất nầy, tôi sẽ lánh mặt Chúa, sẽ đi lưu lạc trốn tránh trên đất; rồi, xảy có ai gặp tôi, họ sẽ giết đi. 4:15 Đức GIÊ-HÔ-VA phán rằng: Bởi cớ ấy, nếu ai giết Ca-in, thì sẽ bị báo thù bảy lần. Đức GIÊ-HÔ-VA bèn đánh dấu trên mình Ca-in, hầu cho ai gặp Ca-in thì chẳng giết.
2. Sự xuống dốc: A-đam ít ra cũng đã có lòng kính sợ Đức Chúa Trời. Thế nhưng tội lỗi của thế hệ nối tiếp ngày càng chồng chất thêm khiến cho thực trạng ngày càng tối tăm hơn. Ca-in và dòng dõi ra từ ông đang ngày càng xuống dốc, xa cách khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
SaSt 4:16 Ca-in bèn lui ra khỏi mặt Đức GIÊ-HÔ-VA, và ở tại xứ Nốt, về phía đông của Ê-đen.
3. Lê-méc: Từ dòng dõi của Ca-in có Lê-méc là người đầu tiên cưới hai vợ. Đây là một người hung bạo và hoàn toàn thiếu tôn kính đối với những điều thuộc Đức Chúa Trời.
4:19 Lê-méc cưới hai vợ; một người tên là A-đa, một người tên là Si-la.
4:23-24 Lê-méc bèn nói với hai vợ mình rằng: Hỡi A-đa và Si-la! Hãy nghe tiếng ta; nầy, vợ Lê-méc hãy lắng tai nghe lời ta: Ừ! Ta đã giết một người, vì làm thương ta, và một người trẻ, vì đánh sưng bầm ta. 4:24 Nếu Ca-in được bảy lần báo thù, Lê-méc sẽ được bảy mươi lần báo oán.
C. Dòng dõi của Sết:
Dòng dõi của Sết không phải là không có những người khiếm khuyết, song chúng ta thấy nhiều tia sáng trong dòng dõi của Sết hơn, dường như thể họ có sự trông mong hay đức tin mà chúng ta không tìm thấy nơi các hậu tự của Ca-in. Ngoài ra hình ảnh minh họa của Lê-méc là cha của Nô-ê đã được đề cập tới trước đây (5:25-29; khác với Lê-méc là con của Ca-in ghi lại trong 4:23-24), chúng ta biết rằng Hê-nóc, cha của Mê-tu-sê-la, cũng đồng đi với Đức Chúa Trời sau khi sanh ra Mê-tu-sê-la.
5:21-24 Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sanh Mê-tu-sê-la. 5:22 Sau khi Hê-nóc sanh Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh con trai con gái. 5:23 Vậy, Hê-nóc hưởng thọ được ba tram sáu mươi lăm tuổi. 5:24 Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi.
D. Nô-ê:
Trong vô số gia tộc sống trên đất vào thời điểm nầy, ước khoảng trên 150.000.000 người, chỉ một mình Nô-ê là người được ơn trước mặt Đức Chúa Trời.
6:8 Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức GIÊ-HÔ-VA.
1. Không phải là một người trọn vẹn: Đức Chúa Trời đối xử với ông bởi ân điển, vì chúng ta không xứng đáng hưởng đặc ân gì cả! Nô-ê là người trọn vẹn trong dòng dõi xác thịt của ông, nhưng ông không phải là một người toàn hảo. Theo Hê-bơ-rơ đoạn 11, chúng ta biết rằng bởi đức tin Nô-ê đã đóng chiếc tàu. Ông là một người đã bởi đức tin mà đồng đi với Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được xem là công bình, chứ không phải là người không hề phạm tội. Đức Chúa Trời đã hứa lập giao ước với Nô-ê sau khi đã qua cơn nước lụt.
6:18 Nhưng ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, rồi ngươi và vợ, các con và các dâu của ngươi, đều hãy vào tàu.
2. Ông được ơn: Sau cơn nước lụt chúng ta thấy Nô-ê lập một bàn thờ (8:20-22) và dâng tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã nhậm của lễ đó và cất sự rủa sả khỏi đất, và hứa sẽ không hành hại các vật sống như Ngài đã làm bởi cơn nước lụt. Kế đón Ngài ban phước cho Nô-ê (9:1-8) và ban cho ông mọi vật hành động trên đất cùng các cá biển dùng làm đồ ăn, với điều kiện là họ không được ăn các vật đó lúc còn sống, nghĩa là có máu ở trong. Ngài cũng qui định rằng kẻ nào làm đổ máu người thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại, vì Đức Chúa Trời làm nên người giống như hình Ngài và khi một người làm hại đến một người khác tức là người đó đang làm hại đến hình ảnh của Đức Chúa Trời vậy. Kế tiếp Đức Chúa Trời đã chính thức lập giao ước với Nô-ê:
9:9-17 Còn phần ta đây, ta lập giao ước cùng các ngươi, cùng dòng dõi các ngươi, 9:10 và cùng mọi vật sống ở với ngươi, nào loài chim, nào súc vật, nào loài thú ở trên đất, tức là các loài ở trong tàu ra, cho đến các loài vật ở trên đất. 9:11 Vậy, ta lập giao ước cùng các ngươi, và các loài xác thịt chẳng bao giờ lại bị nước lụt hủy diệt, và cũng chẳng có nước lụt để hủy hoại đất nữa. 9:12 Đức Chúa Trời lại phán rằng: Đây là dấu chỉ về sự giao ước mà ta lập cùng các ngươi, cùng hết thảy vật sống ở với các ngươi, trải qua các đời mãi mãi. 9:13 Ta đặt mống của ta trên từng mây, dùng làm dấu chỉ sự giao ước của ta với đất. 9:14 Phàm lúc nào ta góp các đám mây trên mặt đất và phàm mống mọc trên từng mây, 9:15 thì ta sẽ nhớ lại sự giao ước của ta đã lập cùng các ngươi, và cùng các loài xác thịt có sự sống, thì nước chẳng bao giờ lại trở nên lụt mà hủy diệt các loài xác thịt nữa. 9:16 Vậy, cái mống sẽ ở trên mây, ta nhìn xem nó đặng nhớ lại sự giao ước đời đời của Đức Chúa Trời cùng các loài xác thịt có sự sống ở trên đất. 9:17 Đức Chúa Trời lại phán cùng Nô-ê rằng: Đó là dấu chỉ sự giao ước mà ta đã lập giữa ta và các xác thịt ở trên mặt đất.
3. Ba con trai của Nô-ê: Khi nghiên cứu câu chuyện của Nô-ê và ba con trai ông trong 9:20-29, chúng ta thấy dân cư trên khắp đất đều ra từ ba người nầy. Qua sự ký thuật về việc không che đậy sự lỏa lồ của Nô-ê, chúng ta thấy rằng một trong những hậu tự của Cham (là Ca-na-an, con trai út của ông), đã gánh chịu sự rủa sả của Đức Chúa Trời. Xin lưu ýrằng điều nầy không có nghĩa là tất cả giống dân da đen đều sẽ phải bị rủa sả, nhưng chỉ một gia tộc thuộc về dòng giống đó mà thôi. Chúng ta cũng thấy là từ nơi Sem (giống dân ở Trung đông) sẽ ra Đấng Mê-si-a, và hậu tự của Gia-phết (giống dân Âu-châu) lẫn hậu tự của Cham sẽ tìm thấy Đấng Mê-si-a trong các lều trại của Sem. Xin cũng lưu ý trong 9:26 Đức Chúa Trời nói về chính mình Ngài là “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Sem”, vốn ám chỉ mối quan hệ giao ước của Đức Chúa Trời với Sem vậy.
X. Giao ước Với Áp-ra-ham
A. Bối cảnh:
Một gia đình thuộc dòng dõi của Sem, tức Tha-rê - cha của Áp-ra-ham, đã dời đến vùng gọi là Vịnh Ba-tư. Trong Kinh Thánh của chúng ta chỗ đó được gọi là vùng U-rơ thuộc xứ Canh-đê, tức I-rắc ngày nay. U-rơ là một thành phố thiêng liêng được biệt riêng cho các vị thần và nữ thần mặt trăng. Mọi người sống trong thành nầy đều thờ lạy mặt trăng. Họ không còn nhìn biết Đức Chúa Trời chân thật. Người ta tin rằng Tha-rê là thợ đúc các tượng thờ. Do đó Áp-ra-ham đã được nuôi dạy phải thờ lạy các thần tượng và rất có thể đã thờ các thần mặt trăng cho đến khi Đức Chúa Trời của Sự Vinh hiển bày tỏ chính mình Ngài cho Áp-ra-ham. Vì thế Áp-ra-ham rất cần phải tách mình ra khỏi gia đình mình và sự thờ lạy thần tượng của họ. Điều quan trọng cần lưu ý là qua những lời lẽ diễn đạt trong 12:1, rõ ràng là Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính mình Ngài cho Áp-ram vào một lúc nào đó trong khi ông còn đang ngụ tại U-rơ xứ Canh-đê trước khi cả gia đình lên đường đến Cha-ran, vốn nằm trên đường đến xứ Ca-na-an (11:31-32). Có vẻ như là Áp-ram chắc hẳn đã nói với gia đình mình rằng chính Đức Chúa Trời không thấy được đã bày tỏ Chính mình Ngài cho Áp-ram và truyền cho Áp-ram phải đi đến xứ Ca-na-an. Tha-rê và cả gia đình cùng lên đường với Áp-ram, song họ đã dừng lại tại Cha-ran, không đến được vùng đất hứa. Áp-ram cùng gia đình mình đã chờ đợi tại Cha-ran cho đến khi cha ông qua đời. Kế đó, cùng với Lót và Sa-rai, ông đã vâng theo lệnh Đức Giê-hô-va và đi đến xứ Ca-na-an.
Bài học chúng ta có thể rút ra từ câu chuyện trên là Áp-ram đã phải gánh chịu hậu quả của việc không vâng lời của ông. Trước tiên Chúa bảo Áp-ra-ham ra khỏi quê hương nhưng Chúa không bảo ông nói việc đó với cha và cả nhà mình, và cũng không bảo ông phải cùng đi chung với họ. Do đó, vì không vâng lời mà giữa đường ông phải dừng lại tại Cha-ran, và rồi phải chờ cho đến khi cha chết mới tiếp tục lên đường đến xứ Ca-na-an.
Chúa rất rõ ràng. Chúa phán dạy chúng ta làm điều gì một cách chính xác, cụ thể mặc dù chúng ta không hiểu rõ, nếu chúng ta không làm theo điều Chúa phán chúng ta sẽ gặp rắc rối.
12:1-3 Vả, Đức GIÊ-HÔ-VA có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. 12:2 Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. 12:3 Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.
Xứ Ca-na-an vào thời đó có dân Ca-na-an, vốn là hậu tự của Ca-na-an, con trai của Cham, cư ngụ. Đó là một nơi cực kỳ đồi bại, nơi mà tội dâm dục được kết hợp chặt chẽ trong sự thờ phượng tôn giáo, nổi tiếng khắp thế giới thời đó. Trong đền thờ có những người nam và nữ buôn dâm phục vụ trong các buổi lễ tôn giáo hàng ngày.
B. Áp-ram không có người kế nghiệp:

Áp-ram hoàn toàn thất vọng vì Sa-rai son sẻ và ông không có con để nối dõi. Ông có ý định nhận Ê-li-ê-se, một người đầy tớ sinh đẻ trong nhà ông, làm người kế nghiệp ông.
15:2 Áp-ram thưa rằng: Lạy Chúa GIÊ-HÔ-VA, Chúa sẽ cho tôi chi? Tôi sẽ chết không con, kẻ nối nghiệp nhà tôi là Ê-li-ê-se, người Đa-mách.
Đức Chúa Trời đáp rằng Ê-li-ê-se sẽ không phải là kẻ nối nghiệp ông, nhưng kẻ kế nghiệp ông sẽ từ nơi lòng ông mà ra, và hơn thế nữa dòng dõi ông sẽ đông như sao trên trời đến nỗi không thể đếm hết được.
15:4-6 Đức GIÊ-HÔ-VA phán cùng Áp-ram rằng: Kẻ đó chẳng phải là kẻ kế nghiệp ngươi đâu, nhưng ai ở trong gan ruột ngươi ra, sẽ là người kế nghiệp ngươi. 15:5 Đoạn, Ngài dẫn người ra ngoài và phán rằng: Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi. Ngài lại phán rằng: Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy. 15:6 Áp-ram tin Đức GIÊ-HÔ-VA, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người.
Câu 6 cho chúng ta thấy đức tin của Áp-ram khi ông đáp ứng lại ân điển của Đức Chúa Trời trong đời sống mình. Do nơi sự yếu đuối của mình, Áp-ram tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời, đó là đức tin, một thái độ đáp ứng lại lời hứa của Đức Chúa Trời, và khi làm như vậy ông được kể là công bình. Từ “kể” có nghĩa là “trả lương cho bạn” hay “trả lợi nhuận cho tài khoản của bạn.” Nói cách khác, dầu Áp-ram không thể làm gì cả nhưng chỉ bởi tin nơi Đức Chúa Trời mà ông đang được kể là công bình.
C. Giao ước bằng huyết:
Trong 15:1 chúng ta thấy Đức Chúa Trời tự nguyện kết ước với Áp-ram và hứa rằng Ngài sẽ là cái thuẫn đỡ cho ông và là phần thưởng rất lớn của ông. Tiếp đến trong 15:7-21, Ngài thực hiện việc lập giao ước bằng huyết và giải thích rõ thêm đối với tất cả những chi tiết liên hệ tới.
15:1 Sau các việc đó, trong sự hiện thấy có lời Đức GIÊ-HÔ-VA phán cùng Áp-ram rằng: Hỡi Áp-ram! Ngươi chớ sợ chi; ta đây là một cái thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.
15:7-21 Đức GIÊ-HÔ-VA lại phán cùng Áp-ram rằng: Ta là Đức GIÊ-HÔ-VA, Đấng dẫn ngươi ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh đê, để ban cho ngươi xứ nầy làm sản nghiệp. 15:8 Áp-ram thưa rằng: Lạy Chúa GIÊ-HÔ-VA, bởi cớ chi tôi biết rằng tôi sẽ được xứ nầy làm sản nghiệp? 15:9 Đức GIÊ-HÔ-VA đáp rằng: Ngươi hãy bắt đem cho ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con chiên đực ba tuổi, một con cu rừng và một bò câu con. 15:10 Áp-ram bắt các loài vật đó, mổ làm hai, để mỗi nửa con mỗi bên đối với nhau, nhưng không mổ các loài chim ra làm hai. 15:11 Có những chim ăn mồi bay đáp trên mấy con thú chết đó, song Áp-ram đuổi nó đi. 15:12 Vả, khi mặt trời vừa lặn, thì Áp-ram ngủ mê; nầy một cơn kinh hãi, tối tăm nhập vào mình người. 15:13 Đức GIÊ-HÔ-VA phán cùng Áp-ram rằng: Phải biết rằng, dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về chúng nó, làm tôi mọi cho dân xứ đó và bị họ hà hiếp bốn trăm năm. 15:14 Nhưng, ta sẽ đoán phạt dân mà dòng dõi ngươi sẽ làm tôi mọi đó; rồi khi ra khỏi xứ, thì sẽ được của cải rất nhiều. 15:15 Còn ngươi sẽ bình yên về nơi tổ phụ, hưởng lộc già sung sướng, rồi qua đời. 15:16 Đến đời thứ tư, dòng dõi ngươi sẽ trở lại đây, vì tội lỗi của dân A-mô-rít chưa được đầy dẫy. _ 15:17 Khi mặt trời đã lặn, thình lình sự tối mịt giáng xuống; kìa, có một lò lớn khói lên, và một ngọn lửa lòe ngang qua các xác thịt đã mổ. 15:18 Ngày đó, Đức GIÊ-HÔ-VA lập giao ước cùng Áp-ram, mà phán rằng: Ta cho dòng dõi ngươi xứ nầy, từ sông Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát, 15:19 là xứ của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít, 15:20 Hê-tít, Phê-rê-sít, Rê-pha-im, 15:21 A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-rê-ga-sít và Giê-bu-sít.
Khi Áp-ram ngủ me, ông thấy trong khải tượng những điều đang diễn ra khi Đức Chúa Trời lập giao ước bằng huyết. Điều đó dường như thể Đức Chúa Trời đang phán với Áp-ram rằng: “vì ngươi là một con người và không thể nào giữ sự giao ước nên ta sẽ thực hiện sự kết ước cho cả ngươi và ta. Ngươi yên nghỉ trong ta, và ta, là Đức Chúa Trời, sẽ thực hiện sự giao ước.” Vì thế Đức Chúa Trời lập giao ước với Chính mình Ngài và khiến Áp-ram trở thành người được hưởng lợi ích từ giao ước đó.
D. Ích-ma-ên, nỗ lực riêng của Áp-ra-ham:
Trong 16:1-17:27, chúng ta thấy câu chuyện của Ích-ma-ên và Y-sác. Ích-ma-ên là đứa con ra đời do nỗ lực riêng của Áp-ram và Sa-rai để làm trọn lời hứa của Đức Chúa Trời. Sa-rai thấy mình son sẻ nên đã đem con đòi mình là A-ga đến cho Áp-ram để nàng sanh con và nhờ đó Sa-rai có thể có được đứa con của lời hứa với Áp-ram. Ích-ma-ên bởi đó đã được sanh ra và được nuôi dạy lớn lên với lòng tin rằng mình là đứa con của lời hứa, song thực sự không phải như vậy, dù trong đoạn 17 chúng ta thấy Đức Chúa Trời hứa sẽ làm cho Ích-ma-ên thành một dân lớn. Ngày nay dân Ả-rập xem Ích-ma-ên là tổ phụ họ và tín ngưỡng của họ là Hồi giáo, vốn rất gần với Cơ-Đốc giáo nếu như nó không đặt niềm tin nơi Mô-ha-mét, người đã sáng lập ra nó vốn thuộc dòng dõi của Ích-ma-ên. Do đó luôn có sự thù nghịch giữa con cái thật của lời hứa trong Y-sác và nỗ lực của con người để sanh ra đứa con của lời hứa trong Ích-ma-ên. Cả hai dòng dõi đều có chung tổ phụ là Áp-ram vậy.
1. Tiếng cười: Kế đó trong đoạn 17 Đức Chúa Trời xác quyết lời hứa giao ước của Ngài với Áp-ram và đổi tên của ông thành Áp-ra-ham (cha cao quý hay cha của nhiều dân tộc) và tên của Sa-rai thành Sa-ra. Một lần nữa Ngài khẳng định với Áp-ra-ham rằng Sa-ra sẽ sanh ra đứa con của lời hứa và Áp-ra-ham đã cười vì biết rằng cả ông và Sa-ra đều không còn khả năng để sanh con theo thói thường nữa. Đây chính là điều mà Đức Chúa Trời đang mong đợi. Ngài cần Áp-ra-ham và Sa-ra đều ở trong tình trạng bất lực để họ sẽ thật sự biết rằng đó là công việc của Đức Chúa Trời chứ không phải là của riêng mình. Ngài là Đấng đã khởi xướng giao ước và hứa sẽ giữ lời giao ước đó. Đức Chúa Trời truyền Áp-ra-ham đặt tên cho con là Y-sác, nghĩa là “tiếng cười,” dường như thể để nói rằng: “Ha, ha, ha! Ngươi nghĩ sao về việc nầy?
Điều nầy cũng được xác nhận trong RoRm 4:17-22:
4:17-22 (y như lời chép rằng: Ta đã lập ngươi làm cha nhiều dân tộc), thật người là cha chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời, tức là Đấng người đã tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, gọi những sự không có như có rồi. 4:18 Người cậy trông khi chẳng còn lẽ trông cậy, cứ tin, và trở nên cha của nhiều dân tộc, theo lời đã phán cho người rằng: Dòng dõi ngươi sẽ như thể ấy. 4:19 Người thấy thân thể mình hao mòn, vì đã gần đầy trăm tuổi, và thấy Sa-ra không thể sanh đẻ được nữa, song đức tin chẳng kém. 14:20 Người chẳng có lưỡng lự hoặc hồ nghi về lời hứa Đức Chúa Trời, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin, và ngợi khen Đức Chúa Trời, 14:21 vì tin chắc rằng điều chi Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài cũng có quyền làm trọn được. 14:22 Cho nên đức tin của người được kể cho là công bình.
2. Có điều gì quá khó cho Đức Chúa Trời chăng? Trong đoạn 18 Đức Chúa Trời đến viếng Áp-ra-ham trong hình dạng ba người nam để tái xác quyết lời hứa của Ngài liên quan đến Y-sác mà họ vẫn chưa nhận biết. Hãy hình dung cảnh những người nam đang thăm viếng trong trại của Áp-ra-ham vốn được chia ra bởi một tấm vách ngăn mà những người nữ sẽ vào phía sau đó khi những người nam đang tiếp khách. Giống như hầu hết những người nữ khác, Sa-ra rất thích quan tâm đến câu chuyện đang được trao đổi phía ngoài, và rất có thể bà đã áp tai sát vào bức màn để lắng nghe mọi lời đối đáp. Khi nghe Chúa phán rằng chẳng bao lâu nữa bà sẽ mang thai, bà đã bật cười và Chúa phán hỏi bà rằng: “Há có điều chi Đức Giê-hô-va không làm được chăng?” Để Sa-ra có thể sanh con được Đức Chúa Trời sẽ phải làm cho tử cung bà trở lại như lúc còn trẻ, là điều mà Ngài đã thực hiện cách rõ rệt vì chúng ta thấy trong đoạn 20 rằng một lần nữa Áp-ra-ham lại nói dối Sa-ra là em gái mình và rõ ràng là bà vẫn còn xinh đẹp để có thể giựt giải trong cuộc thi sắc đẹp tại Ghê-ra và vua xứ Ghê-ra là A-bi-mê-léc đã muốn lấy bà làm hầu thiếp, và bà sẽ bị giữ trong hậu cung của vua nếu Đức Chúa Trời không bày tỏ cho ông biết sự thật. Chúng ta cũng biết là chính Áp-ra-ham cũng đã được hồi xuân lại, vì dù Y-sác là con đầu lòng của ông song ông cũng còn có những đứa con khác với Kê-ta-ra là người vợ lẻ ông đã cưới trong SaSt 25:1-4 sau khi Sa-ra qua đời.
XI. Những điều kiện trong Giao ước với Áp-ra-ham
Mỗi giao ước đều có những điều kiện riêng. Trong phần vừa rồi chúng ta đã xem xét cách toàn diện giao ước Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham. Giờ đây chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn các chi tiết của giao ước nầy.
A. Lời Thánh Kinh tóm lược những Lời hứa trong Giao ước Đức Chúa Trời đã lập với Áp-ra-ham:
12:1-3 Vả, Đức GIÊ-HÔ-VA có phán cùng Áp-ram rằng: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. 12:2 Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. 12:3 Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.
12:7 Đức GIÊ-HÔ-VA hiện ra cùng Áp-ra-ham mà phán rằng: Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi đất nầy! Rồi tại đó Áp-ra-ham lập một bàn thờ cho Đức GIÊ-HÔ-VA, là Đấng đã hiện đến cùng người.
13:14-17 Sau khi Lót lìa khỏi Áp-ram rồi, Đức GIÊ-HÔ-VA phán cùng Áp-ram rằng: Hãy nhướng mắt lên, nhìn từ chỗ ngươi ở cho đến phương bắc, phương nam, phương đông và phương tây: 13:15 Vì cả xứ nào ngươi thấy, ta sẽ ban cho ngươi và cho dòng dõi ngươi đời đời. 13:16; Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi như bụi trên đất; thế thì, nếu kẻ nào đếm đặng bụi trên đất, thì cũng sẽ đếm đặng dòng dõi ngươi vậy. 13:17 Hãy đứng dậy đi khắp trong xứ, bề dài và bề ngang; vì ta sẽ ban cho ngươi xứ nầy.
15:5 Đoạn, Ngài dẫn người ra ngoài và phán rằng: Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi. Ngài lại phán rằng: Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy.
15:18-21 Ngày đó, Đức GIÊ-HÔ-VA lập giao ước cùng Áp-ram, mà phán rằng: Ta sẽ cho dòng dõi ngươi xứ nầy, từ sống Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát, 15:19 là xứ của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít, 15:20 Hê-tít, Phê-nê-sít, Rê-pha-im, 15:21 A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-rê-ga-sít, và Giê-bu-sít.
17:5-8 Thiên hạ chẳng còn gọi ngươi là Áp-ram nữa, nhưng tên ngươi sẽ là Áp-ra-ham, vì ta đã đặt ngươi làm tổ phụ của nhiều dân tộc. 17:6 Ta sẽ làm cho ngươi sanh sản rất nhiều, làm cho ngươi thành nhiều nước; và các vua sẽ do nơi ngươi mà ra. 17:7 Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, và cùng hậu tự ngươi trải qua các đời; ấy là giao ước đời đời, hầu cho ta làm Đức Chúa Trời của ngươi và của dòng dõi ngươi. 17:8 Ta sẽ cho ngươi cùng dòng dõi ngươi xứ mà ngươi đương kiều ngụ, tức toàn xứ Ca-na-an, làm cơ nghiệp đời đời. Vậy, ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ.
17:16 Ta sẽ ban phước cho nàng, lại do nơi nàng ta sẽ cho ngươi một con trai. Ta sẽ ban phước cho nàng, nàng sẽ làm mẹ các dân tộc; những vua của các dân tộc sẽ do nơi nàng mà ra.
17:19 Đức Chúa Trời bèn phán rằng: Thật vậy, Sa-ra, vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, rồi ngươi đặt tên là Y-sác. Ta sẽ lập giao ước cùng nó, để làm giao ước đời đời cho dòng dõi của nó.
18:18 vì Áp-ra-ham chắc sẽ được trở nên một dân lớn và cường thạnh; các dân tộc trên thế gian đều sẽ nhờ người mà được phước.
22:16-18 Đức GIÊ-HÔ-VA phán rằng: Vì ngươi đã làm điều đó, không tiếc con ngươi, tức con một ngươi, thì ta lấy chánh mình ta mà thề rằng 22:17 sẽ ban phước cho ngươi, thêm dòng dõi ngươi nhiều như sao trên trời, đông như cát bờ biển, và dòng dõi đó sẽ chiếm được cửa thành quân nghịch. 22:18 Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta, nên các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước.
B. Đức Chúa Trời đang phán về ai khi Ngài nói rằng: “Các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước”?
1. Câu trả lời phổ biến nhất là từ “dòng dõi” nầy ám chỉ dân Y-sơ-ra-ên. Chắc chắn là câu dòng dõi của Áp-ra-ham sẽ đông như “cát của bờ biển” đã được ứng nghiệm khi bạn để ý hầu hết các dân tộc Do-thái và Ả-rập đều truy nguyên thấy bắt nguồn từ một ông tổ là Áp-ra-ham cả. Vì thế một người vốn đã trăm tuổi, không con, sẽ được nhìn thấy dòng dõi mình qua Ích-ma-ên, Y-sác, và con cái mà người có với Kê-tu-ra trở thành nền móng của các dân tộc Do-thái và Ả-rập.
2. Nhưng khi đến vấn đề cụ thể là ai sẽ nhận được giao ước nầy, thì Đức Chúa Trời phán rất rõ rệt. Chúng ta thấy trong 17:19-21 rằng dầu Đức Chúa Trời đã ban phước cho Ích-ma-ên, nhưng ông không thể nào làm ứng nghiệm lời hứa của giao ước được. Y-sác là “đứa con của lời hứa” và người có hai con trai, Gia-cốp và Ê-sau. Vì Ê-sau là con đầu lòng, nên bởi quyền trưởng nam lẽ ra ông đã nhận được giao ước, song Đức Chúa Trời phán người được hưởng giao ước lại là Gia-cốp. Gia-cốp (kẻ lừa gạt, người chiếm vị) đã được Đức Chúa Trời đổi tên thành “Y-sơ-ra-ên” (dịch là “hoàng tử của Đức Chúa Trời” nhưng có nghĩa là “một người mà Đức Chúa Trời đã chinh phục”) có mười hai con trai, song giao ước sẽ truyền lại qua người con tên Giu-đa . . .
49:10 Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chơn nó, cho đến chừng Đấng Si-lô (đấng xứng đáng, tức là Đấng Christ) hiện tới, và các dân vâng phục Đấng đó.
3. Vì vậy chúng ta có thể thấy sự chọn lọc của Đức Chúa Trời khi Ngài ban cho đấng giải cứu đã hứa trong giao ước. Khi tìm hiểu giao ước cũ kỹ hơn và xem qua các sách của các đấng tiên tri, chúng ta thấy trong vòng dân tộc Y-sơ-ra-ên nói chung, là những kẻ đôi lúc rất xa cách Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời vẫn giữ lại “một dân sót” giống như tổ phụ họ là Áp-ra-ham trong tấm lòng tin cậy nơi Ngài. Các đấng tiên tri tiếp tục rao báo lời cảnh cáo và sự đoán phạt nghịch cùng hội chúng Y-sơ-ra-ên và tìm kiếm những kẻ còn sót lại sẽ bước đi với Đức Chúa Trời.
EsIs 46:3 Hỡi nhà Gia-cốp và hết thảy các ngươi là dân sót của nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe ta, ta đã gánh vác các ngươi từ lúc mới sanh, bồng ẵm các ngươi từ trong lòng mẹ.
Gio Ge 2:32 Bấy giờ ai cầu khẩn danh Đức GIÊ-HÔ-VA thì sẽ được cứu; vì theo lời Đức GIÊ-HÔ-VA, thì ở trên núi Si-ôn và trong Giê-ru-sa-lem, sẽ có những người trốn khỏi, và trong những người còn sống sót, sẽ có kẻ mà Đức GIÊ-HÔ-VA sẽ kêu gọi.
4. Khi Giăng Báp-tít nói với các nhà lãnh đạo tôn giáo Y-sơ-ra-ên rằng họ là con cháu Áp-ra-ham trên danh nghĩa huyết thống vẫn chưa đủ. Nếu họ là con cháu thật của Áp-ra-ham thì họ cần phải làm công việc của Áp-ra-ham, ấy là bước đi bởi đức tin. Sau đó Giăng gọi họ là rắn lục và rắn độc, là những từ hầu như không thể nào mô tả con cái của Áp-ra-ham được, ngay cho dù dòng máu của Áp-ra-ham có chảy trong thân họ đi nữa.
Mat Mt 3:9 và đừng tự khoe rằng: Áp-ra-ham là tổ chúng ta; vì ta nói cho các ngươi rằng Đức Chúa Trời có thể khiến đá nầy sanh ra con cái cho Áp-ra-ham được.
5. Chính Chúa Jêsus cũng lại đề cập đến vấn đề nầy khi Ngài phán với những người Pha-ri-si liên quan đến sự khác biệt giữa mối quan hệ về huyết thống của họ với Áp-ra-ham và việc họ thiếu đi mối tương quan thật lòng đối với Áp-ra-ham cũng như đối với Đức Chúa Trời.
GiGa 8:33-44 Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do? 8:34 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi. 8:35 Vả, tôi mọi không ở luôn trong nhà, mà con thì ở đó luôn. 8:36 Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do. 8:37 Ta biết rằng các ngươi là dòng dõi Áp-ra-ham, nhưng các ngươi tìm thế để giết ta, vì đạo ta không được chỗ nào ở trong lòng các ngươi. 8:38 Ta nói điều ta đã thấy nơi Cha ta’ còn các ngươi cứ làm điều đã học nơi Cha mình. 8:39 Chúng trả lời rằng: Cha chúng tôi tức là Áp-ra-ham, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu các ngươi là con Áp-ra-ham, thì chắc sẽ làm công việc của Áp-ra-ham. 8:40 Nhưng hiện nay, các ngươi tìm mưu giết ta, là người lấy lẽ thật đã nghe nơi Đức Chúa Trời mà nói với các ngươi; Áp-ra-ham chưa hề làm điều đó! 8:41 Các ngươi làm công việc của Cha mình. Chúng nói rằng: Chúng tôi chẳng phải là con ngoại tình; chúng tôi chỉ có một Cha, là Đức Chúa Trời. 8:42 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ví bằng Đức Chúa Trời là Cha các ngươi, thì các ngươi sẽ yêu ta, vì ta bởi Đức Chúa Trời mà ra và từ Ngài mà đến; bởi chưng ta chẳng phải đã đến tự mình đâu, nhưng ấy chính Ngài đã sai ta đến. 8:43 Tại sao các ngươi không hiểu lời ta? Ấy là bởi các ngươi chẳng có thể nghe được đạo của ta. 8:44 Các ngươi bởi cha mình, là ma quỉ, mà sanh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ lẽ thật, vì không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối.
6. Tuy những người Pha-ri-si nầy theo xác thịt vốn thuộc dòng dõi của Áp-ra-ham, song Chúa Jêsus phán ở đây rằng không phải tất cả dòng dõi của Áp-ra-ham theo xác thịt đều được Đức Chúa Trời coi là dòng dõi thật của Áp-ra-ham.
7. Kế đó trong LuLc 19:1-48 khi Chúa Jêsus gặp Xa-chê, một người thu thuế và là kẻ tội lỗi thuộc hàng xấu xa nhất. Nhưng khi Xa-chê dâng lòng mình cho Chúa Jêsus và bày tỏ điều đó qua việc lấy phân nửa gia tài mình có chia cho những kẻ nghèo và trả lại gấp tư cho bất cứ ai mà ông đã làm thiệt hại, thì Chúa Jêsus biết được sự đổi mới trong lòng của Xa-chê và đã phán rằng: “ . . . người nầy cũng là con cháu của Áp-ra-ham.” Chúa Jêsus không nói về con cháu của Áp-ra-ham theo phần xác nhưng ý Chúa muốn nói Xa-chê có “tấm lòng của Áp-ra- ham khi ông có đức tin nơi Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, và đức tin trong lòng ông cảm động ông làm điều giống như Áp-ra-ham đã làm.
8. Phao-lô cũng khẳng định chân lý nầy trong thư tín gởi cho các tín hữu ở Rô-ma. Ông nói rằng người Giu-đa thật không phải là người tự xưng mình là người Giu-đa, nhưng là người bày tỏ tấm lòng chân thật với Đức Chúa Trời. Người Do-thái có phép cắt bì để phân biệt với các dân ngoại. Dấu cắt bì bên ngoài bày tỏ sự vâng lời Đức Chúa Trời. Phao-lô nói dấu cắt bì bên ngoài không có giá trị gì nếu không chịu cắt bì trong lòng. Con cháu thật của Áp-ra-ham là người chịu cắt bì trong lòng, trong tâm linh, trước mặt Đức Chúa Trời và không tìm kiếm sự khôn ngoan, vinh hiển nơi con người nhưng ở nơi Đức Chúa Trời.
RoRm 2:28-29 Vì người nào chỉ bề ngoài là người Giu-đa, thì không phải là người Giu-đa, còn phép cắt bì làm về xác thịt ở ngoài, thì không phải là phép cắt bì, 2:29 nhưng bề trong là người Giu-đa mới là người Giu-đa, phép cắt bì ở trong lòng, làm theo cách thiêng liêng, không theo chữ nghĩa, mới là phép cắt bì thật. Một người Giu-đa như vậy được khen ngợi, chẳng phải bởi loài người, bèn là bởi Đức Chúa Trời.
GiGa 5:44 Các ngươi vẫn chịu vinh hiển lẫn của nhau, không tìm kiếm vinh hiển bởi một mình Đức Chúa Trời đến, thì thể nào các ngươi tin được?
9. Trong thư gửi cho người Ga-la-ti, Phao-lô đề cập đến cả người Do-thái lẫn người ngoại bang. Ông nói con cháu Áp-ra-ham theo huyết thống không có giá trị, mà phải có lòng tin nơi Đức Chúa Trời. Người có đức tin thật được kể là con cháu Áp-ra-ham.
GaGl 3:6-7 Như Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, thì đã kể là công bình cho người, 3:7 vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham.
Phao-lô viết cho cả người Do-thái lẫn các dân ngoại là những người đã đến với Đấng Christ bởi đức tin và nói rằng dù bạn là ai đi nữa, chúng ta thảy đều là một trong Đấng Christ và nếu bạn thuộc về Đấng Christ thì bạn được kể là dòng dõi Áp-ra-ham và là người kế tự lời hứa giao ước Đức Chúa Trời đã lập với Áp-ra-ham.
3:26-29 Vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời. 3:27 Vả, anh em thảy đều chịu phép báp-têm trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy. 3:28 Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đờn ông hoặc đờn bà; vì trong Đức Chúa là Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một. 3:29 Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa.
10. Đây là điều liên hệ đến những cuộc tranh cãi trong sách Công vụ các Sứ đồ. Đây là lý do vì sao những người Do-thái ghét Phao-lô, vì ông tuyên bố rằng những lời hứa Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham không chỉ dành riêng cho những người Do-thái mà cho tất cả những ai tin nhận Đức Chúa Jêsus Christ. Trong Cong Cv 28:20, chúng ta thấy Phao-lô bị xiềng xích vì lời chứng rằng Đấng Mê-si-a,“hy vọng của Y-sơ-ra-ên,” Đấng sẽ làm ứng nghiệm giao ước với Áp-ra-ham, đã đến và được ban cho bất cứ ai cầu khẩn danh Ngài. Người Giu-đa nói rằng giao ước là của riêng họ, nhưng Phao-lô nói giao ước dành cho tất cả những người tin nơi Chúa Jêsus. Đó là lý do họ ném đá Phao-lô vì họ không muốn dân ngoại hưởng ơn phước giống như họ.
28:20 Ấy vì cớ đó mà tôi đã xin gặp anh em và nói chuyện với, vì là bởi sự trông cậy của dân Y-sơ-ra-ên nên tôi mang lấy xiềng nầy.
Cơ Đốc Nhân thật không che giấu Đấng Christ cho riêng mình mà phải chia sẻ Đấng Christ cho người khác.
11. Trong GaGl 3:16 Phao-lô lại nói về “hạt giống” của Áp-ra-ham. Khi nói về “hạt giống,” chúng ta có thể nói đến “hạt giống” ở số ít lẫn số nhiều. Ví dụ: Tôi có thể có một “hạt giống” trong tay hoặc tôi có thể có một nắm “hạt giống.” Nếu tôi nói về “dòng dõi” tôi, bạn sẽ không biết tôi đang nói về 1, 3, hay 300 người . . . bởi vì từ “offspring” (có nghĩa là dòng dõi) là một từ dùng cho cả số ít lẫn số nhiều. Ở đây Phao-lô đang sử dụng thuật dùng từ và nói rằng qua dòng dõi Áp-ra-ham tất cả các dân tộc trên thế gian sẽ được phước.
3:16-18 Vả, các lời hứa đã được phán cho Áp-ra-ham và cho dòng dõi người. Không nói: Và cho các dòng dõi người, như chỉ về nhiều người; nhưng nói: Và cho dòng dõi người, như chỉ về một người mà thôi, tức là Đấng Christ. 3:17 Vậy thì tôi nói rằng: Lời giao ước mà Đức Chúa Trời trước kia đã kết lập thành rồi, thì không có thể bị hủy đi, và lời hứa cũng không có thể bị bỏ đi bởi luật pháp, là sự cách sau bốn trăm ba mươi năm mới có. 3:18 Vì, nếu cơ nghiệp được ban cho bởi luật pháp, thì không bởi lời hứa nữa. Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng lời hứa mà ban cơ nghiệp cho Áp-ra-ham.
12. Trong câu 16, Phao-lô nói lời hứa Chúa phán với Áp-ra-ham và dòng dõi ông, không phải nói về nhiều người mà chỉ nói về một người, tức là Đấng Christ. Vậy phải chăng điều đó có nghĩa là qua dân tộc Do-thái? Không, đúng hơn là qua Đấng Christ. Vì vậy sự ứng nghiệp của lời hứa nầy thu hẹp trong một người, là Đấng Christ, và rồi tất cả mọi người “ở trong Đấng Christ ” hoặc là người Do-thái hay dân Ngoại, đều trở nên “hạt giống thật của Áp-ra-ham ”,“dòng dõi thật của Áp-ra-ham ”, “dân Y-sơ-ra-ên thật của Đức Chúa Trời ”, và là kẻ kế tự những lời hứa của giao ước.
13. Vậy dân Y-sơ-ra-ên thật của Đức Chúa Trời không phải là những kẻ có “huyết thống ” của Áp-ra-ham mà là nhưng kẻ có “đức tin của Áp-ra-ham ”. Họ là những người nhận ơn phước của Đức Chúa Trời. Bởi vì một người là người Do-thái không có nghĩa là họ tự động là dân tộc được chọn, nhưng có nghĩa là họ nhận được phước hạnh của Áp-ra-ham bởi vì họ tin nhận Đức Chúa Jêsus Christ. Để nhận được phước hạnh tôi phải ở trong Đấng Christ.
C. Phước hạnh đó là gì?
Phước hạnh đó là bạn được ban cho năng quyền trong tâm linh, tinh thần, thân thể, tình cảm, trong mọi sự bạn có liên quan tới. Bạn được ban cho năng quyền để thành công và thạnh vượng. Sự thạnh vượng của chúng ta là gì? Đó là sự thành công trong việc bước đi với Đức Chúa Trời: Có tâm trí và tình cảm của mình hòa hợp với Thánh Linh của Đức Chúa Trời; Kinh nghiệm được quyền phép của sự sống và sự chữa lành hành động trong thân thể mình; Nhìn thấy trong thế giới vật chất nầy sự bày tỏ rằng thực sự Đức Chúa Trời đang ở với mình trong tất cả những gì mình đặt tay vào để thực hiện.
Trái với sự phước hạnh là sự rủa sả dành cho loài người sau khi sa ngã. Tâm trí và tình cảm bị bản ngã thống trị. Thân thể tôi bề ngoài vẫn sống nhưng bên trong đã chết rồi. Đi kèm theo sự rủa sả là sự đau ốm, nghèo khổ và tật bệnh.
Khi đọc câu chuyện của Áp-ra-ham và Y-sác chúng ta có thể thấy phước hạnh của Đức Chúa Trời giáng xuống trên họ. Họ được chúc phước trong tâm linh vì họ bước đi và trò chuyện với Đức Chúa Trời và được chúc phước trong nhiều cách thức khác mà mọi người có thể nhìn thấy. Giờ đây qua Áp-ra-ham mà tất cả các chi tộc trên thế gian đều có thể được phước. Đây là điều chính xác đã xảy ra trong Chúa Giê-xu. Vì Chúa Jêsus đã mang trên chính mình Ngài sự rủa sả, nên Ngài đã cất sự rủa sả khỏi chúng ta hầu cho chúng ta có thể nhờ đó nhận được phước hạnh.
GaGl 3:13-14 Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, _ vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ, _ 3:14 hầu cho phước lành ban cho Áp-ra-ham nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà được rải khắp trên dân ngoại; lại hầu cho chúng ta cậy đức tin mà nhận lãnh Đức Thánh-Linh đã hứa cho.
Trong câu 14 chúng ta thấy là việc nhận lãnh Đức Thánh-Linh là một phần của lời hứa ban cho dòng dõi của Áp-ra-ham. Kết quả của việc nhận lãnh Đức Thánh-Linh là chúng ta được đổ đầy bởi Đức Thánh-Linh, được ban cho năng quyền để bước đi với Đức Chúa Trời. Bởi Đức Thánh-Linh mà sự yêu thương của Đức Chúa Trời được rải khắp trong lòng chúng ta, chúng ta được ban phước với tất cả các phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Đức Chúa Jêsus Christ.
D. Còn về xứ Ca-na-an thì sao?
SaSt 15:18-21 Ngày đó Đức GIÊ-HÔ-VA lập giao ước cùng Áp-ram, mà phán rằng: Ta cho dòng dõi ngươi xứ nầy, từ sông Ê-díp-tô cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát, 15:19 là xứ của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít, 15:20 A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-rê-ga-sít, và Giê-bu-sít.
1. Đất phải được chuộc: A-đam được lập làm kẻ quản trị đất song ông đã phá hủy giao ước và đất đã trở thành kẻ cai trị ông. “Ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.” Do đó, khi mọi sự đã được truyền phán và thực hiện, và Đức Chúa Trời đã đạt được mục đích của Ngài, đem chúng ta trở lại điều mà Ngài đã định ý nơi A-đam, thì đất phải được kể đến. Con người phải trở lại quản trị đất. Đất trở nên có ý nghĩa quan trọng như một kiểu mẫu hoặc một hình bóng. Trong Cựu Ước khi chúng ta càng tiến đến gần giao ước mới hơn, thì sự thực hữu của điều hiện thực lại chiếu rọi cái bóng của nó vào trong cựu ước. Vì thế bạn nhìn thấy cái bóng của tôi hiện ra từ phía sau bức tường, bạn sẽ nhận ra rằng con người thật của tôi đang ở đàng sau bức tường đó, vì cái bóng đang hiện rõ ở đây. Bạn chưa có thể nhìn thấy tôi nhưng cái bóng của tôi cho biết rằng tôi đang ở đó. Trên thực tế, có thể là bạn chưa hề gặp tôi, song bạn có thể tả vẽ cách gần đúng là tôi trông thế nào qua cái bóng của tôi. Trong Cựu ước, chúng ta thấy những hình bóng chỉ về những điều thực hữu sẽ xảy ra trong tương lai.
2. Ca-na-an là một “hình bóng”: Xứ Ca-na-an nhằm làm hình bóng về tương lai của toàn thế gian nầy khi Đức Chúa Trời thiết lập vương quốc của Ngài trên đất và cất những sự rủa sả khỏi đất và lại đặt con người quản trị đất nầy. Nhưng cho tới thời điểm đó chúng ta thấy vùng đất giao ước nầy là một hình bóng tại trung tâm của thế giới nơi Đức Chúa Trời có thể chọn một dân tộc kết ước sẽ dâng đời sống mình để làm vinh hiển danh Ngài. Do đó xứ Ca-na-an trở thành nơi yên nghỉ, miền đất hứa, đất làm cơ nghiệp. Đó là điều mà cuộc xuất hành khỏi Ai-cập hướng đến: đưa dân sự đến đất hứa, và điều mà Giô-suê hướng đến: đưa dân sự vào đất hứa, và Các Quan Xét hướng đến: thiết lập quốc gia của họ trong đất hứa.
3. Nhưng Đức Chúa Trời đã từng ban cho họ đất hứa không? Xin đọc Gios Gs 21:44-45
21:44-45 Đức GIÊ-HÔ-VA làm cho tứ phía đều được an nghỉ, y như Ngài đã thề cùng tổ phụ họ, chẳng có một kẻ thù nghịch nào còn đứng nổi trước mặt họ. Đức GIÊ-HÔ-VA phó hết thảy kẻ thù nghịch là tay họ. 21:45 Trong các lời lành mà Đức GIÊ-HÔ-VA đã phán cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là không thành: thảy đều ứng nghiệm hết.
4. Họ được ở trong xứ nhưng phải tuân theo những điều kiện đặt ra, đó là họ phải vâng giữ giao ước. Đây không chỉ là một món quà, song đúng hơn nó được ban cho như một phần của việc vâng giữ giao ước.
PhuDnl 5:32-33 Vậy, các ngươi khá cẩn thận làm theo, y như GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời các ngươi đã phán dặn các ngươi; chớ xây qua bên hữu, hoặc qua bên tả. 5:33 Các ngươi khá đi trọn đường mà GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời các ngươi đã chỉ cho, để các ngươi được sống, hưởng phước, và ở lâu dài trong xứ mà mình sẽ nhận được.
6:1-3 Vả, nầy là điều răn, luật lệ và mạng lịnh mà GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời các ngươi đã phán dặn ta dạy lại cho, để các ngươi làm theo nó trong xứ mà các ngươi sẽ đi vào nhận lấy, 6:2 hầu cho ngươi kính sợ GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi, trọn đời, ngươi và con cháu ngươi vâng giữ các luật lệ và điều răn của Ngài mà ta truyền cho ngươi, để ngươi được sống lâu ngày. 6:3 Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi hãy nghe lấy và cẩn thận làm theo, hầu cho ngươi được phước và thêm lên nhiều trong xứ đượm sữa và mật, y như GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi đã phán hứa cùng ngươi.
5. Một lời cảnh cáo khác là họ không được rơi vào sự thờ lạy hình tượng khi ở trong xứ.
8:19-20 Nếu ngươi quên GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi mà theo các thần khác, hầu việc và quì lạy trước các thần ấy, thì ngày nay ta cáo quyết rằng: Các ngươi hẳn sẽ bị diệt mất! 8:20 Các ngươi sẽ bị diệt mất như những dân tộc kia mà Đức GIÊ-HÔ-VA tuyệt diệt trước mặt các ngươi, bởi vì không nghe theo tiếng GIÊ-HÔ-VA, Đức Chúa Trời của các ngươi.
6. Nếu họ vâng giữ giao ước thì họ sẽ được phước và hưởng được đất hứa.
11:8-9 Vậy, phải gìn giữ hết thảy điều răn mà ta truyền cho các ngươi ngày nay, để các ngươi được mạnh mẽ, vào nhận lấy xứ mà mình sẽ chiếm được, 11:9 hầu cho các ngươi sống lâu ngày trên đất mà Đức GIÊ-HÔ-VA đã thề ban cho tổ phụ các ngươi, và cho dòng dõi của họ, tức là xứ đượm sữa và mật.
7. Đức Chúa Trời phán nếu họ vâng lời Chúa, Ngài sẽ ban cho họ mưa thuận thì để họ gieo trồng mùa màng và chăn nuôi súc vật. Nếu họ không chịu vâng lời thì Chúa sẽ giữ mưa lại và họ sẽ nhanh chóng chết mất trong xứ.
11:13-17 Vậy, nếu các ngươi chăm chỉ nghe các điều ta truyền cho các ngươi ngày nay, hết lòng hết ý kính mến GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi, và phục sự Ngài, 11:14 thì ta sẽ cho mưa mùa thu và mưa mùa xuân xuống thuận thì tại trong xứ các ngươi; ngươi sẽ thâu góp ngũ cốc, rượu, và dầu của ngươi. 11:15 Ta cũng sẽ khiến đồng ruộng ngươi sanh cỏ cho súc vật ngươi; ngươi sẽ ăn và được no nê. 11:16 Các ngươi khá cẩn thận, kẻo lòng mình bị dụ dỗ, xây bỏ Chúa, mà hầu việc các thần khác, và quì lạy trước mặt chúng nó chăng, 11:17 e cơn thạnh nộ của Đức GIÊ-HÔ-VA sẽ phừng lên cùng các ngươi, Ngài đóng các từng trời lại, nên nỗi chẳng có mưa nữa, đất không sanh sản: như vậy, các ngươi sẽ vội chết mất trong xứ tốt tươi nầy, là xứ mà Đức GIÊ-HÔ-VA ban cho các ngươi.
8. Chúng ta có thể thấy trong sách Các Quan xét là khi tấm lòng của dân sự xa cách Đức Chúa Trời, họ không còn được sở hữu đất nữa, và khi họ đồng lòng vâng phục Ngài thì họ lại giành đất đai lại được. Vậy chúng ta thấy chìa khóa của sự sở hữu đất là tấm lòng của họ. Đất là sự phản chiếu tấm lòng của họ. Khi họ vâng phục Chúa thì hưởng được đất. Khi họ phạm tội xa cách Chúa thì họ sẽ mất đất. Họ phải rời khỏi đất nước và bị bắt làm phu tù khi họ phạm tội nghịch cùng Chúa và khiến cho Ngài lấy mất đi quyền sở hữu đất đai của họ. Bạn không thể phạm tội với Chúa mà có thể ở bình yên trong xứ được.
Bạn có thể hỏi: “Còn về vấn đề dân Y-sơ-ra-ên lại tập trung trở về quê hương họ thì sao?” Phần lớn sự hiện hữu của họ là nhờ vào sự hỗ trợ của đồng đô la Mỹ. Dân Y-sơ-ra-ên ngày nay đang sống dựa vào cây sậy đã bị gãy của nước Mỹ. Những gì chúng ta thấy ngày nay không phải là sự ứng nghiệm lời tiên tri vì những người Do-thái sống tại Y-sơ-ra-ên là những kẻ chối bỏ đạo, chứ không phải là những người tin thờ Đấng Christ, do đó không phải là “con cháu thật của Áp-ra-ham” là những người mà lời hứa dành cho họ.
9. Toàn thể thế giới: Tân ước nhìn xa hơn về Ca-na-an vì Ca-na-an chỉ là hình bóng của những gì sẽ là một phần trong giao ước qua Đức Chúa Jêsus Christ. Phao-lô nói trong RoRm 4:13 rằng lời hứa nầy không chỉ nói đến một vùng đất bé nhỏ nằm trên bờ Địa Trung Hải, mà là chỉ về toàn thể thế giới vậy.
4:13 Vả, ấy chẳng phải bởi luật pháp mà có lời hứa cho Áp-ra-ham hoặc dòng dõi người lấy thế gian làm gia nghiệp, bèn là bởi sự công bình của đức tin.
Trong Hê-bơ-rơ 11 chúng ta có thể thấy Áp-ra-ham hiểu rằng đất Ca-na-an là hình bóng của lời hứa thật về một thành do Đức Chúa Trời xây cất.
HeDt 11:8-10 Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi (rời khỏi U-rơ xứ Canh-đê), đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu. 11:9 Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình (xứ Ca-na-an), như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. 11:10 Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập.
Hê-bơ-rơ tiếp tục cho chúng ta biết rằng dầu Áp-ra-ham và con cháu ông sống tại Ca-na-an, song đó không phải là điều mà họ tìm kiếm, vì lời hứa mà họ trông đợi cho đến lúc lìa đời vẫn chưa hề nhận lãnh được chính là lời hứa thật mà họ chỉ trông thấy từ xa.
11:13-16 Hết thảy những người đó đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều hứa cho mình; chỉn trông thấy và chào mừng những điều đó từ đằng xa, xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất. 11:14 Những kẻ nói như thế, tỏ rõ rằng mình đương đi tìm nơi quê hương. 11:15 Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở lại, 11:16 nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời; nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành.
Chúng ta có thể thấy giao ước với Áp-ra-ham bao hàm mọi điều.

XII. Giao ước tại Núi Si-na-i
A. Giao ước cũ: Giao ước nầy được lập với Môi-se tại Núi Si-na-i. Đây là “giao ước cũ” tượng trưng cho “cựu ước” trong Kinh Thánh của chúng ta. Hẳn nhiên là giao ước nầy không “cũ” khi nó được thiết lập, nhưng khi tân ước hay “giao ước mới” được ban cho thì giao ước đầu tiên với Môi-se trở thành “cựu ước” hay “giao ước cũ.” Giao ước nầy không giống như giao ước của sự sống hay bất cứ giao ước nào khác vẫn còn tồn tại mà chúng ta đã xem xét qua cho đến hiện nay.
XuXh 19:1-6 Tháng thứ ba, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, trong ngày đó dân Y-sơ-ra-ên đến nơi đồng vắng Si-na-i. 19:2 Từ Rê-phi-đim ra đi, đến nơi đồng vắng Si-na-i, và đóng trại tại đó, đối diện cùng núi. 19:3 Môi-se bèn lên đến Đức Chúa Trời, Đức GIÊ-HÔ-VA ở trên núi gọi người mà phán rằng: Ngươi hãy nói như vầy cho nhà Gia-cốp, và tỏ điều nầy cho dân Y-sơ-ra-ên: 19:4 Các ngươi đã thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao, và dẫn các ngươi đến cùng ta thế nào. 19:5 Vậy, bây giờ, nếu các ngươi vâng lời ta và giữ sự giao ước ta, thì trong muôn dâng, các ngươi sẽ thuộc riêng về ta. 19:6 Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên.

Đây là phần mở đầu để dẫn đến giao ước thực sự, song trước khi tiếp tục xem xét giao ước chúng ta cần tìm hiểu bối cảnh đã đưa họ đến thời điểm nầy.
B. Giao ước ban cho Gia-cốp: Trong sách Sáng thế ký chúng ta thấy giao ước với Áp-ra-ham được truyền lại cho Y-sác rồi Y-sác truyền lại cho Gia-cốp là người con thứ trong hai con trai của ông. Gia-cốp là một người đói khát sự chúc phước trong khi Ê-sau lại ưa thích việc săn bắn, câu cá, và những nỗ lực khác hơn. Giống như Áp-ra-ham và Sa-ra đã cố gắng đạt được phước hạnh của giao ước bằng chính sức riêng mình qua Ích-ma-ên, Rê-bê-ca và Gia-cốp, đứa con bà yêu quí hơn, cũng đã cố gắng dùng sức riêng để giành lấy sự chúc phước. Thế nên Gia-cốp đã phải sợ hãi chạy trốn anh mình đến một trũng đầy đá gọi là Bê-tên, nơi ông đã gối đầu trên một hòn đá và Đức Chúa Trời cho ông thấy trời mở ra và Giê-hô-va Đức Chúa Trời lập giao ước với Gia-cốp. Khi Đức Chúa Trời phán Ngài sẽ ban giao ước cho bạn thì bạn không cần phải cố gắng dùng sức riêng mình để làm thành lời hứa đó vì Đức Chúa Trời sẽ khiến mọi sự xảy ra khi Ngài đã chuẩn bị sẵn sàng. Tại đó Đức Chúa Trời đã tái lập với Gia-cốp giao ước mà Ngài đã ban cho Áp-ra-ham và Y-sác.
Một điểm thú vị ở đây là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp đều được xem như các Tộc trưởng, các tổ phụ, của dân tộc mà sau nầy sẽ được gọi là dân Y-sơ-ra-ên. Áp-ra-ham không phải là người Do-thái mà đúng hơn xuất thân từ I-rắc, là dân Ngoại. Ông nhận lãnh giao ước nơi Đức Chúa Trời nhưng điều đó không khiến ông trở thành một người Do-thái. Cả Y-sác và Gia-cốp cũng vậy, cho đến khi tên của Gia-cốp được đổi thành Y-sơ-ra-ên.
C. Hãy chôn cất ta trong xứ Ca-na-an: Vì thế chúng ta thấy giao ước tiếp tục được truyền lại cho đến cuối sách Sáng thế ký, khi Giô-sép bị các anh mình bán xuống xứ Ê-díp-tô để rồi cuối cùng được cất nhắc lên địa vị cao đứng thứ nhì sau Pha-ra-ôn. Cả nhà Gia-cốp, 70 người, đã dời xuống Ê-díp-tô định cư tại xứ Gô-sen. Đến khi Gia-cốp qua đời thì thi thể ông được đem trở về xứ Ca-na-an để chôn cất vì ông biết Ca-na-an là vùng đất đã hứa ban cho họ và ông không muốn được chôn ở xứ lạ. Giống như cha mình, Giô-sép, vốn là người có quyền hành thứ nhì tại Ê-díp-tô, khi qua đời thay vì được chôn trong một ngôi mộ nguy nga nào đó, thi thể ông đã được liệm trong một cái quan tài tại Ê-díp-tô cho đến khi dân Y-sơ-ra-ên đem xác ông trở về đất hứa, vì Giô-sép biết rằng Đức Chúa Trời sẽ đem họ trở lại xứ sở của mình. Vì thế dân Y-sơ-ra-ên đã giữ quan tài của ông nhiều trăm năm cho đến lúc họ trở lại xứ Ca-na-an.
D. Đức Chúa Trời “nhớ”: Trong suốt thời gian ở tại Ê-díp-tô, họ tiếp tục sanh sôi nẩy nở và tiêm nhiễm nhiều thói tục và tín ngưỡng của dân Ê-díp-tô. Cuối cùng Pha-ra-ôn lo sợ sự gia tăng của dân Y-sơ-ra-ên có thể trở thành một mối họa cho ông ta, vì thế Pha-ra-ôn đã bắt họ làm tôi mọi và buộc họ phải làm việc không lương cho Ê-díp-tô. Trong suốt thời gian tại Ê-díp-tô dân Y-sơ-ra-ên đã xa cách Chúa, không còn giữ mối thông công với Đức Giê-hô-va và không còn nhớ đến tầm quan trọng của mối giao thông giữa Đức Chúa Trời với các tổ phụ mình. Họ trở nên quen thuộc với lối sống và tín ngưỡng của dân Ê-díp-tô. Khi trong ý định của Đức Chúa Trời đến thời điểm giải phóng cho dân sự Ngài thì họ đã kêu la với Đức Chúa Trời cầu xin Ngài giải cứu họ, và Đức Chúa Trời “nhớ” lại giao ước của Ngài với Áp-ra-ham. Từ “nhớ,” trong mối quan hệ giao ước có nghĩa là “luôn giữ trong tâm trí.” Vì vậy nó không có nghĩa là nhớ một điều gì đó tôi có thể đã quên nhưng đúng hơn là “luôn giữ một điều gì đó trong tâm trí tôi để tôi sẽ không quên được.” Giao ước vẫn còn hiệu quả, Đức Chúa Trời vẫn đang phán: “Ta sẽ chẳng bao giờ lìa xa ngươi cũng chẳng bỏ ngươi đâu.” Do đó Môi-se đã xuất hiện.
Môi-se là người được ủy quyền trong giao ước của Đức Chúa Trời được sai đến cùng Pha-ra-ôn để tuyên bố sự kiện tụng của Đức Chúa Trời. Pha-ra-ôn đã bắt làm tôi mọi một dân tộc ở trong mối quan hệ giao ước bằng huyết với Đức Chúa Trời. Họ là dân tộc thuộc riêng về Đức Chúa Trời, vì vậy Môi-se đã nhân danh Đức Chúa Trời đến nói với Pha-ra-ôn rằng: “Hãy tha cho dân TA đi!”
E. “Ra”, thần của ánh sáng: Nhưng như chúng ta biết lòng của Pha-ra-ôn cứng cõi chống nghịch cùng Đức Chúa Trời và dân sự Ngài, do đó Đức Chúa Trời đã giáng các tai vạ xuống trên một số thần chính trong xứ Ê-díp-tô để bày tỏ sự vô quyền của họ trước Đức Chúa Trời chân thật của Y-sơ-ra-ên. Vị thần cuối cùng bị xử lý là Ra, thần ánh sáng, và bản thân Pha-ra-ôn tin mình chính là hiện thân của thần Ra nầy. Bạn sẽ nhận thấy là phần giữa của tên Pha-ra-ôn có danh hiệu “ra.” Điều nầy đặc biệt đúng với vị Pha-ra-ôn đang cai trị Ê-díp-tô khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ nầy vì danh hiệu của ông ta là Rameses. Do đó chính tai vạ cuối cùng Đức Chúa Trời giáng xuống Ê-díp-tô là tai vạ của “sự tối tăm.” Sự tối tăm vây phủ khắp nơi đến nổi họ thậm chí không thể nào ra khỏi giường ngủ và Pha-ra-ôn, vị thần ánh sáng, hoàn toàn vô quyền không thể làm được bất cứ điều gì trước tai vạ nầy.
F. Một “dân hỗn tạp”: Trong khi Ê-díp-tô đang ở trong sự tối tăm thì Đức Chúa Trời phán bảo Môi-se truyền cho dân sự rằng vào ngày mồng 10 tháng giêng (tức tháng Nissan) mỗi gia đình sẽ chọn một con chiên con không tì vít, và khám xét con chiên đó trong vòng ba ngày cho đến ngày 14 tháng giêng là thời điểm để giết nó vào lúc chiều tối. Huyết con chiên được đựng trong một cái chậu và họ dùng một nhánh kinh giới để nhúng vào huyết bôi lên mày cửa nhà mình. Kế đó mỗi thành viên trong gia đình sẽ đi ngang qua cửa để vào nhà và ăn thịt chiên con. Hãy lưu ý là mỗi người đi vào nhà sẽ bước qua hai cột cửa có bôi huyết, hàm ý là họ sẽ núp mình trong huyết chiên con (hình ảnh của Chúa Jêsus sau này đổ huyết ra vì cớ họ; còn nhánh kinh giới là loại cây người ta nhúng vào giấm cho Chúa Jêsus nếm trên thập tự giá). Đây là biểu tượng của giao ước. Dường như thể Đức Chúa Trời đang phán với họ rằng Ngài đang làm điều nầy là vì cớ mối quan hệ giao ước giữa Ngài với họ. Sau khi họ đã bước ngang qua các mày cửa có bôi huyết thì có một bữa ăn chung với nhau giống y như vào cuối lúc lập giao ước những người kết ước cùng dùng chung bữa ăn giao ước vậy. Mỗi người trong họ đều nai nịt gọn gàng sẵn sàng để thực hiện một cuộc hành trình dài với hành lý thu dọn sẵn như một cách biểu lộ đức tin, đức tin nơi giao ước Đức Chúa Trời đã lập mặc dầu vào lúc đó họ vẫn còn là nô lệ. Bất cứ ai bước vào nhà đều được xem là một phần của giao ước và Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng khi họ rời khỏi Ê-díp-tô thì họ là một dân tạp chủng, nghĩa là có nhiều người ngoại ở giữa nhà Y-sơ-ra-ên.
XuXh 12:38 Lại có vô số người ngoại đi lên chung, luôn với chiên, bò, súc vật rất nhiều.
G. Tại sao họ được giải phóng? Họ không phải được giải phóng để được tự do mà là để được thoát khỏi ách tôi mọi của Ê-díp-tô, một hình ảnh tiêu biểu cho thế gian, và để hầu việc Đức Chúa Trời hằng sống. Họ không phải được giải phóng để rồi nghỉ ngơi an nhàn suốt cuộc đời còn lại của mình. Trái lại, họ được ban cho sự tự do để bước đi trong mục đích của Đức Chúa Trời. Do đó Đức Chúa Trời đã đem họ lên núi Si-na-i nơi Ngài sẽ gặp gỡ họ.Tháng thứ ba sau khi rời khỏi Ê-díp-tô họ đến tại núi Si-na-i nơi Đức Chúa Trời gặp gỡ Môi-se và ban cho người luật pháp.
H. Giao ước tại núi Si-na-i giống như một ngoặc đơn trong khi giao ước với Áp-ra-ham vẫn tiếp tục cho đến khi được ứng nghiệm trong Đấng Christ. Giao ước với Áp-ra-ham có tính chất khác hẳn với giao ước tại núi Si-na-i. Trong giao ước với Áp-ra-ham thì lời hứa có trước điều kiện. Trong giao ước tại núi Si-na-i Đức Chúa Trời phán bảo Môi-se truyền cho dân sự “Nếu các ngươi . . . thì . . .”, Chúa đặt điều kiện trước lời hứa.
XuXh 19:3-6 Môi-se bèn lên đến Đức Chúa Trời, Đức GIÊ-HÔ-VA ở trên núi gọi người mà phán rằng: Ngươi hãy nói như vầy cho nhà Gia-cốp, và tỏ điều nầy cho dân Y-sơ-ra-ên: 19:4 Các ngươi đã thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao, và dẫn các ngươi đến cùng ta thế nào. 19:5 Vậy bây giờ, nếu các ngươi vâng lời ta và giữ sự giao ước ta, thì trong muôn dân, các ngươi sẽ thuộc riêng về ta, vì cả thế gian đều thuộc về ta. 19:6 Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Bấy nhiêu lời đó ngươi sẽ nói lại cùng dân Y-sơ-ra-ên.
I. Trên cánh chim ưng: Tại đây Đức Chúa Trời nhắc nhở họ thế nào Ngài đã đem họ ra khỏi ách nô lệ, và chăm sóc cho họ y như thể Ngài là một con chim ưng chở họ trên đôi cánh của Ngài. Điều nầy nhắc đến ý của Thi Tv 81:8-10 khi Đức Chúa Trời hứa rằng nếu họ vâng lời Ngài thì họ có thể (giống như những con chim non trong tổ) hả hoác miệng mình ra và Ngài sẽ làm đầy dẫy chúng. Vì thế Môi-se đem các lời của giao ước đến trước dân sự để xem họ sẽ đáp ứng ra sao.
XuXh 19:8 Cả dân sự đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi xin làm mọi việc Đức GIÊ-HÔ-VA đã phán dặn. Môi-se bèn thuật lại lời của dân sự cùng Đức GIÊ-HÔ-VA.
J. Kế đó trong câu 9-25 chúng ta thấy sự đáng kính sợ của Đức Chúa Trời khi Ngài tự bày tỏ Chính mình Ngài cho dân sự.
XuXh 19:9-25 Ngài phán rằng: Nầy, ta ở trong đám mây mịt mịt đi đến ngươi; đặng khi nào ta phán cùng ngươi, thì dân sự nghe và tin cậy ngươi luôn luôn. Đoạn, Môi-se đem lời của dân sự thưa lại cho Đức GIÊ-HÔ-VA. 19:10 Đức GIÊ-HÔ-VA bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy đi đến cùng dân sự, khiến dân giữ mình thánh sạch ngày nay và ngày mai, cùng phải giặt áo xống mình. 19:11 Qua ngày thứ ba, dân khá sẵn sàng, vì ngày đó Đức GIÊ-HÔ-VA sẽ giáng lâm trước mặt dân sự tại núi Si-na-i. 19:12 Vả, ngươi hãy phân định giới hạn cho dân sự ở chung quanh núi, và dặn rằng: Khá giữ mình đừng leo lên núi, hoặc đụng đến chơn; hễ kẻ nào đụng đến thì sẽ bị xử tử. 19:13 Chớ ai tra tay vào mình người đó, nhưng người đó phải bị liệng đá hoặc bắn tên; bất luận vật hay người, cũng chẳng để cho sống đâu. Khi kèn thổi lên, dân sự sẽ đến gần núi. 19:14 Môi-se xuống núi đến cùng dân sự, khiến họ giữ mình thánh sạch, và giặt áo xống mình. 19:15 Người dặn dân sự rằng: Trong ba ngày hãy sẵn sàng, chớ đến gần đờn bà. 19:16 Qua sáng ngày thứ ba, có sấm vang chớp nhoáng, một áng mây mịt mịt ở trên núi, và tiếng kèn thổi rất vang động; cả dân sự ở trong trại quân đều run hãi. 19:17 Môi-se bèn biểu dân ra khỏi trại quân nghinh tiếp Đức Chúa Trời; dân sự dừng lại tại chơn núi. 19:18 Vả, bấy giờ, khắp núi Si-na-i đều ra khói, vì Đức GIÊ-HÔ-VA ở trong lửa giáng lâm nơi đó; khói ra khác nào khói của lò lửa lớn kia, và cả hòn núi đều rung động cách kịch liệt. 19:19 Tiếng kèn càng bang động; Môi-se nói, Đức Chúa Trời đáp tiếng lại. 19:20 Đức GIÊ-HÔ-VA giáng lâm trên chót núi Si-na-i, đòi Môi-se lên, Môi-se bèn lên. 19:21 Đức GIÊ-HÔ-VA phán rằng: Hãy cấm dân sự đừng xông pha đền gần Đức Chúa Trời mà nhìn, e nhiều người trong bọn phải chết chăng. 19:22 Dầu những thầy tế lễ đến gần Đức GIÊ-HÔ-VA cũng phải giữ mình thánh sạch, kẻo Ngài hại họ chăng. 19:23 Môi-se thưa cùng Đức GIÊ-HÔ-VA rằng: Dân sự chẳng được lên núi Si-na-i đâu, vì Ngài có cấm chúng tôi mà phán rằng: Hãy phân định giới hạn chung quanh núi, và phân biệt nơi đó là đất thánh. 19:24 Đức GIÊ-HÔ-VA phán rằng: Hãy đi xuống, rồi đem A-rôn lên cùng ngươi, song những thấy tế lễ và dân sự chớ xông pha đặng lên đến gần Đức GIÊ-HÔ-VA, e Ngài hại họ chăng. 19:25 Vậy, Môi-se đi xuống, nói lại cho dân sự nghe.
Đức GIÊ-HÔ-VA ở trong lửa và trong đám mây khói giáng lâm trên núi phủ kín khắp ngọn núi, và núi rung chuyển trước sự hiện diện của Ngài; tiếng của Đức Chúa Trời phát ra rất lớn đến nỗi cả dân sự run rẩy, sợ hãi trong sự hiện diện của Ngài. Qua sự thể hiện vĩ đại ấy Ngài cho thấy rõ rằng Ngài là Đấng Tạo Hóa còn họ chỉ là vật thọ tạo mà thôi. Ngài là Đấng đã tạo dựng nên họ và họ không bao giờ có thể bước đi như thể Ngài không hiện hữu. Tại đây, lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong lịch sử được ghi lại, Đức Chúa Trời đã phán với 3 triệu người cùng một lúc bằng ngôn ngữ của họ để họ có thể hiểu được. Và khi họ đang đứng trước sự hiện diện của Ngài thì Ngài ban cho họ 10 điều răn.
XuXh 20:1-17 Bấy giờ, Đức GIÊ-HÔ-VA phán mọi lời nầy, rằng: 20:2 Ta là GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ. 20:3 Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác. 20:4 Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước dưới đất. 20:5 Ngươi chớ quỳ lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhơn tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời, 20:6 và sẽ làm ơn đến ngàn đời cho những kẻ yêu mến ta và giữ các điều răn ta. 20:7 Ngươi chớ lấy danh GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi màl àm chơi, vì Đức GIÊ-HÔ-VA chẳng cầm bằng vô tội kẻ nào lấy danh Ngài mà làm chơi. 20:8 Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. 20:9 Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày, 20:10 nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi: trong ngày đó, ngươi, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc vật của ngươi, hoặc khách ngoại bang ở trong nhà ngươi, đều chớ làm công việc chi hết, 20:11 vì trong sáu ngày Đức GIÊ-HÔ-VA đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ: vậy nên Đức GIÊ-HÔ-VA đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh. 20:12 Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi ban cho. 20:13 Ngươi chớ giết người. 20:14 Ngươi chớ phạm tội tà dâm. 20:15 Ngươi chớ trộm cướp. 20:16 Ngươi chớ nói chứng dối cho kẻ lân cận mình. 20:17 Ngươi chớ tham nhà kẻ lân cận ngươi, cũng đừng tham vợ người, hoặc tôi trai tớ gái, bò lừa, hay là vật chi thuộc về kẻ lân cận ngươi.
K. Nhưng sau đó chúng ta thấy trong câu 18-19 dân sự không muốn nhận biết Đức Chúa Trời cách riêng tư. Họ muốn Môi-se làm người trung gian giữa họ và Đức Chúa Trời.
20:18-19 Vả, cả dân sự nghe sấm vang, tiếng kèn thổi, thấy chớp nhoáng, núi ra khói, thì run rẩy và đứng cách tận xa. 20:19 Dân sự bèn nói cùng Môi-se rằng: Chính mình người hãy nói cùng chúng tôi thì chúng tôi sẽ nghe; nhưng cầu xin Đức Chúa Trời chớ phán cùng, e chúng tôi phải chết chăng.
L. Quyển sách giao ước: Kế đo từ Xuất 21 cho đến 24 chúng ta có được quyển sách gọi là “quyển sách giao ước”. Quyển sách nầy được ban cho Môi-se tại trên núi. Tại đây Đức Chúa Trời ban bố 10 điều răn và cách thức áp dụng 10 điều răn trong cuộc sống hàng ngày. Sau đó Môi-se đã ghi lại tất cả 10 điều răn nầy trong quyển sách gọi là “quyển sách giao ước” (xin xem 24:7). Một lần nữa, đây là lần thứ hai khi nghe tất cả mọi điều Đức Chúa Trời truyền phán với Môi-se họ đã đồng ý làm theo tất cả những gì Đức Chúa Trời phán dạy.
24:3 Môi-se bèn thuật lại cho dân sự mọi lời phán của Đức GIÊ-HÔ-VA và các luật lệ, thì chúng đồng thinh đáp rằng: Chúng tôi sẽ làm mọi lời Đức GIÊ-HÔ-VA phán dạy.
Vì thế sáng hôm sau Môi-se lập một bàn thờ tại chơn núi. Họ cũng dựng 12 cây trụ tượng trưng cho 12 chi phái Y-sơ-ra-ên. Trong giao ước nầy dân sự trở nên một phần chính yếu của giao ước cũng như Đức Chúa Trời vậy.
24:4 Môi-se chép hết mọi lời của Đức GIÊ-HÔ-VA; rồi dậy sớm, xây một bàn thờ nơi chơn núi, và dựng mười hai cây trụ chỉ về mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.
1. Bàn thờ tượng trưng cho sự hiện diện của Đức GIÊ-HÔ-VA, và 12 cây trụ tượng trưng cho dân sự. Kế đó huyết được đổ ra. Phân nửa huyết được rưới trên bàn thờ, tại đây chúng ta thấy sự đổ huyết là biểu tượng của việc thiết lập giao ước. Huyết được rưới trên bàn thờ, làm hình bóng tượng trưng cho Đức Chúa Trời, để biểu hiện việc Đức Chúa Trời bước vào giao ước. Phân nửa huyết còn lại được tạm thời đựng trong các chậu.
24:5-6 Người sai kẻ trai trẻ của dân Y-sơ-ra-ên đi dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân cho Đức GIÊ-HÔ-VA bằng con bò tơ. 24:6 Môi-se lấy phân nửa huyết đựng trong các chậu, còn phân nửa thì rưới trên bàn thờ.
2. Kế đó một lần nữa người đọc “quyển sách giao ước” cho dân sự nghe, như muốn nói rằng: “Các ngươi có thật sự chắc chắn sẵn lòng làm theo tất cả mọi điều Đức Chúa Trời đã phán dạy chăng?” Và lần thứ ba dân sự đồng thinh đáp: “Chúng tôi sẽ làm theo.”
24:7 Đoạn, người cầm quyển sách giao ước đọc cho dân sự nghe, thì dân sự nói rằng: Chúng tôi sẽ làm và vâng theo mọi lời Đức GIÊ-HÔ-VA phán chỉ.
3. Với sự xác quyết đó Môi-se lấy phân nửa huyết còn lại rưới trên dân sự hay các cây trụ, là hình bóng tượng trưng cho dân sự (vì không thể nào rưới huyết trên cả ba triệu người được).
24:8 Môi-se bèn lấy huyết rưới lên mình dân sự mà nói rằng: Đây là huyết giao ước của Đức GIÊ-HÔ-VA đã lập cùng các ngươi y theo mọi lời nầy.
4. Do đó dân sự đã bước vào giao ước bằng huyết với Đức Chúa Trời. Và theo như tập tục của giao ước, Môi-se, A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu, cùng bảy mươi trưởng lão đi lên trên núi vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời và tại đó họ đã cùng dự bữa ăn giao ước với Đức Chúa Trời.
24:9-11 Đoạn, Môi-se và A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều lên núi, 24:10 ngó thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, dưới chơn Ngài có một vật giống bích ngọc trong ngần, khác nào như sắc trời thanh quang. 24:11 Ngài chẳng tra tay vào những người tôn trọng trong vòng dân Y-sơ-ra-ên; nhưng họ ngó thấy Đức Chúa Trời, thì ăn và uống.
5. Giao ước tại núi Si-nai đã được đóng ấn. Khoảng 40 năm sau giao ước nầy được nhắc lại cho con cháu của những người nầy trong quyển sách được gọi là Phục truyền luật lệ ký, hay còn gọi là quyển sách luật pháp thứ hai. Khi đọc sách Phục truyền bạn hãy để ý đến đoạn 28 nơi Đức Chúa Trời hứa ban phước hạnh và sự rủa sả liên hệ đến việc tuân giữ hay không tuân giữ giao ước của Ngài.
Điều đau buồn là chỉ 6 tuần lễ sau khi đã ba lần xác quyết sự sẵn lòng làm theo tất cả mọi điều Đức Chúa Trời phán dạy, chúng ta thấy họ lại đang nhảy múa quanh một con bò vàng!
XIII. Giao ước tại núi Si-na-i tiếp tục
A. Vì sao Đức Chúa Trời lại ban giao ước tại núi Si-na-i, tức giao ước của luật pháp? Một lý do là để chỉ cho con người thấy tội mình. Nếu không có luật pháp con người không thể nào thật sự biết chắc tội lỗi là gì. Luật pháp trở nên ánh sáng chỉ ra sự tối tăm của chúng ta, giúp chúng ta nhận biết mình thật sự xấu xa như thế nào. Luật pháp giống như một tiêu chuẩn cho chúng ta thấy mình đã xa khỏi đường lối trọn lành đến mức nào. Theo cách đó luật pháp chỉ cho tôi thấy bản chất của tội lỗi là gì.
Đức Chúa Trời là tình yêu thương, tình yêu thương agapé. Ngài không sở hữu tình yêu, song Ngài chính là tình yêu. Ngài cũng chính là sự sống và do đó sống tức là agapé, là yêu thương bằng tình yêu của Đức Chúa Trời. Con người được tạo dựng theo ảnh tượng Đức Chúa Trời, và là sự phản ảnh trọn vẹn của tình yêu agapé trên đất nầy. Chính qua con người mà tình yêu agapé của Đức Chúa Trời sẽ được bày tỏ. Tuy nhiên, sự sa ngã của con người đã đem chúng ta đến chỗ mà Kinh Thánh ghi là “tất cả mọi người đều đã phạm tội, hụt mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.”
B. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là gì? Xin nhớ là Môi-se được Chúa giấu trong bộng đá (Xuất 33) để sự vinh hiển của Đức Chúa Trời có thể đi ngang qua và chính tại đó mà Đức Chúa Trời đã cho Môi-se biết Ngài là đấng nào. Ngài là Đức Chúa Trời “nhơn từ thương xót,” từ ngữ dùng trong cựu ước để mô tả tình yêu agapé. Vì thế khi con người hụt mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời thì con người không thể nào yêu thương bằng tình yêu agapé của Chúa được. Con người thiên nhiên không thích tình yêu của Đức Chúa Trời vì nó trái ngược với cách sống chỉ hướng về chính mình của con người.
Đấng Christ là gương mẫu của tình yêu agapé. Chính trong lúc chúng ta còn là kẻ có tội mà Đấng Christ đã chết thay cho chúng ta.
RoRm 5:8 Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết.
C. Theo lẽ tự nhiên, điều nầy nghe có vẻ hay đối với người được cứu và nhận biết Đấng Christ đã chết thế cho mình. Nhưng nhận biết rằng đây là một nguyên tắc sống lại là một điều khác nữa. Tình yêu agapé là cách mà chúng ta phải sống. Chúng ta cần phải phó sự sống mình hầu cho những người khác có thể sống. Thật bất ngờ, điều nầy trở nên một nguyên tắc sống đáng kinh hãi. Người công bình chết thế cho kẻ không công bình thay vì ngược lại.
Trong thư gởi cho người Cô-rinh-tô, Phao-lô đã viết:
ICo1Cr 1:18 Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Đức Chúa Trời.
1. Từ “điên dại” được dùng ở đây trong tiếng Hy-lạp thật sự mang ý nghĩa là một “người khờ dại.” Nói cách khác thế gian sẽ nói rằng: “Bạn tin điều đó à? Chắc hẳn bạn là một kẻ khờ dại nếu bạn tin rằng mình cần phải sống bằng tình yêu agapé. Bạn muốn nói là nếu một người nhờ bạn vác giúp cái túi của anh ta một dặm thì bạn sẽ tự nguyện vác nó đi hai dặm luôn chăng? Làm như vậy quả là ngu xuẩn.”
2. Con người thiên nhiên khi suy nghĩ về “tình yêu” thì chỉ nghĩ đến tình yêu ”Eros” chứ không phải tình yêu “agapé.” Theo quan điểm của con người thiên nhiên thì sống cho người khác là rồ dại; họ chỉ sống nhằm theo đuổi hạnh phúc riêng của chính mình. Vì vậy, tình yêu agapé không hấp dẫn đối với con người thiên nhiên vì nó đưa ra sự ngăn cấm đối với mọi điều mà người ấy muốn làm.
Thế thì luật pháp là sự diễn đạt của tình yêu agapé trong việc nó cho chúng ta biết cách nào để sống theo mẫu mực của Đức Chúa Trời. Nếu tôi yêu bạn bằng tình yêu agapé thì tôi sẽ không muốn giết hại bạn, ăn cắp của bạn, chiếm đoạt vợ bạn cho riêng mình . . . Điều răn “Ngươi chớ . . .” bề ngoài có vẻ như tiêu cực nhưng lại thật sự là sự biểu lộ của tình yêu agapé. Đấng Christ khẳng định điều nầy khi Ngài phán:
Mac Mc 12:29-31 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Nầy là điều đầu nhứt: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe, Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta, là Chúa có một. 12:30 Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. 12:31 Nầy là điều thứ hai: Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình. Chẳng có điều răn nào lớn hơn hai điều đó.

3. Đây là toàn bộ luật pháp được tóm lại trong hai câu. Vì thế chúng ta thấy giao ước của luật pháp là một giao ước của tình yêu và làm thế nào để có được sự sống. Nó giống như hình ảnh minh họa về một bãi đậu xe nhìn xuống Thung lũng Grand Canyon. Có một rào chắn và phía bên nầy rào chắn là bãi đậu xe, phía bên kia là một cái dốc đứng sâu xuống tận đáy vực thẳm. Tuy nhiên, phía trên rào chắn có dựng một tấm bảng ghi hàng chữ: “Không được Đậu Xe Vượt Quá Ranh Giới nầy.” Một người nào đó có thể nhìn vào bảng cấm nầy và nói: “Đây lại là một bảng hiệu tiêu cực khác nhằm hạn chế tôi và ngăn tôi không được làm điều tôi muốn làm,” hoặc một người khác có thể nhìn thấy nó và nhận biết rằng bên kia rào chắn là sự chết và bảng hiệu nầy nhằm đem lại cho mình sự sống.
Vì thế khi con người nhìn vào luật pháp, họ nhìn thấy sự chết. Khi con người nhìn vào tình yêu agapé của Đức Chúa Trời được bày tỏ, họ cho rằng như vậy là ngu xuẩn hay khờ dại. Như sứ đồ Giăng đã viết:
GiGa 3:19 Vả, sự đoán xét đó là như vầy: sự sáng đã đến thế gian, mà người ra ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa.
4. Con người có khuynh hướng tìm đến tôn giáo. Con người nói chung sẽ tìm kiếm cách thức để đến gần Đức Chúa Trời. Vì thế khi con người đến với luật pháp của Đức Chúa Trời và thấy mình tội lỗi thì con người ý thức được tội lỗi của mình nhưng lại lý luận rằng giờ đây mình đã biết các phép tắc luật lệ và sẽ tuân giữ các phép tắc luật lệ ấy. Giống như dân Y-sơ-ra-ên đã làm khi họ ba lần đồng ý rằng sẽ làm theo tất cả những gì Đức Chúa Trời phán dạy. Vì vậy giống những người Pha-ri-si, con người cố gắng giữ luật pháp và trở nên một người tốt. Song luật pháp không liên quan đến việc tuân giữ các phép tắc luật lệ. Trái lại luật pháp là tình yêu thương, chứ không phải việc tuân giữ các phép tắc. Bạn có thể tuân giữ các luật lệ song vẫn không có tình yêu thương. Do đó trong việc cố gắng tuân giữ luật pháp họ phá vỡ trọng tâm của luật pháp. Họ trở nên giống như người Pha-ri-si là kẻ LÀM VIỆC để tuân giữ văn tự của luật pháp và khinh thường bất cứ ai không làm như họ. Họ không có tình yêu thương. Chúa Jêsus xem họ còn tệ hơn những người thậm chí không cố gắng để giữ luật pháp. Vì thế con người dễ rơi vào tình trạng tuân giữ luật pháp song vẫn không yêu thương kẻ lân cận như chính mình, hay đúng hơn, đang vi phạm luật pháp mà không hay biết.
RoRm 5:20 Vả, luật pháp đã xen vào, hầu cho tội lỗi gia tăng; nhưng nơi nào tội lỗi đã gia tăng thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa:
D. Luật pháp được ban bố thì tội lỗi càng được chỉ ra nhiều hơn, cho chúng ta thấy mình thật sự tội lỗi như thế nào, và chúng ta hoàn toàn bất lực không thể làm gì được trước tình trạng đó. Núi Si-na-i được đặt tại đó để đưa chúng ta đến với Giao ước của Áp-ra-ham, nơi mà tôi học biết rằng mình bất lực, Đức Chúa Trời là hy vọng duy nhất của sự của rỗi, và tôi đáp ứng lại sự ban cho của Ngài, và rồi yên nghỉ. Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời và điều đó được kể là công bình cho người. Đức Chúa Trời kể Áp-ra-ham là công bình, là điều mà ông không kiếm được bằng nỗ lực riêng NHƯNG NHẬN LÃNH vì ông tin và yên nghỉ nơi Đức Chúa Trời. Trước khi có luật pháp ban bố tại núi Si-na-i, có thể đã có một số người cảm thấy mình có thể cậy sức riêng để đạt được sự công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Núi Si-nai cho chúng ta thấy sự bất năng của ý tưởng đó. Luật pháp như một chiếc gương soi. Chiếc gương trên tường cho tôi thấy mình dơ bẩn nhưng nó không thể làm gì để giúp tôi được sạch, thế nhưng nó có thể thúc giục tôi đi lấy xà phòng và nước để rửa sạch vết dơ đi.
1. Ngay cả trong thời kỳ của giao ước tại núi Si-na-i, các của lễ nhằm cho chúng ta thấy cách thức một kẻ có tội đến với Đức Chúa Trời. Bằng cách tuân giữ luật pháp chăng? Không đâu. Nhưng bằng cách đem đến một vật thay thế. Một con sinh phải thế vào chỗ của người ấy vì trong tội lỗi giao ước đã bị phá vỡ và huyết phải bị đổ ra. Nếu huyết bạn không đổ ra thì một người khác phải đổ huyết thay cho bạn.
2. Huyết Chúa Jêsus đã phải đổ ra để chúng ta có thể đến với Ngài và tìm được sự yên nghỉ. Khi tôi tiếp nhận Ngài vào đời sống thì Ngài ngự vào lòng tôi bởi Đức Thánh-Linh. Tình yêu agapé ngự trị trong tôi và giờ đây “Tình yêu thương của Đức Chúa Trời được rải khắp trong lòng tôi.” Giờ đây bởi Thánh Linh Ngài tôi có thể kinh nghiệm được tình yêu agapé của Đức Chúa Trời đang sống qua tôi. Sống tức là yêu thương bằng tình yêu của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta không có tình yêu thương của Đức Chúa Trời thì chúng ta cũng không có sự sống. Hãy suy nghĩ về điều nầy!
XIV. Vị Vua Hầu Đến
Trong IISa 2Sm 7:4-17 Đức Chúa Trời phán với Đa-vít và bày tỏ với ông những điều được gọi là “Giao ước của Đa-vít.” Đây là một giao ước liên quan đến vương quốc của Đức Chúa Trời và ý định của Ngài thiết lập “Nước Đức Chúa Trời” trên đất nầy.
7:4-17 Nhưng trong lúc ban đêm, có lời của Đức GIÊ-HÔ-VA phán cùng Na-than rằng: 7:5 Hãy đi nói cùng Đa-vít, tôi tớ ta, rằng: Đức GIÊ-HÔ-VA phán như vầy: Người há sẽ xây cho ta một cái đền để ta ngự tại đó sao? 7:6 Ngươi biết từ ngày ta đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô cho đến ngày nay, ta chẳng có ngự trong đền nào, nhưng hằng đi đó đây dưới trại và nhà tạm. 7:7 Khắp nơi nào ta ngự qua với dân Y-sơ-ra-ên, ta há có phán lời gì cùng một trưởng nào trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, là kẻ ta dặn chăn dân sự ta, sao? Ta há có phán cùng chúng nó rằng: Cớ sao các ngươi không dựng cho ta một đền thờ bằng gỗ bá hương? 7:8 Vậy bây giờ, ngươi hãy nói cùng Đa-vít, kẻ tôi tớ ta, như vầy: Đức GIÊ-HÔ-VA vạn quân có phán như vầy: Ta đã gọi ngươi từ giữa đồng cỏ, từ nơi ngươi chăn chiên, đặng lập ngươi làm kẻ dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên của ta. 7:9 Ta đã ở cùng ngươi trong mọi công việc ngươi làm, tuyệt diệt các kẻ thù nghịch ngươi khỏi trước mặt ngươi, khiến cho ngươi được danh lớn như danh người sang trọng của thế gian. 7:10 Ta đã sắm sẵn một chỗ cho dân Y-sơ-ra-ên ta, làm cho nó châm rễ tại đó, và nó sẽ ở nơi mình, chẳng còn bị quấy rối nữa; các con loài ác sẽ chẳng hà hiếp nó nữa như ngày xưa, 7:11 tức là như lúc ta lập quan xét trị dân Y-sơ-ra-ên ta. Ta đã giải cứu ngươi khỏi các thù nghịch ngươi mà ban bình an cho ngươi. Rốt lại, Đức GIÊ-HÔ-VA phán hứa rằng Ngài sẽ dựng cho ngươi một cái nhà. 7:12 Khi các ngay ngươi đã mãn, và ngươi ngủ với các tổ phụ ngươi, thì ta sẽ lập dòng giống ngươi kế vị ngươi, là dòng giống do ngươi sanh ra, và ta sẽ khiến cho nước nó bền vững. 7:13 Nó sẽ xây một đền thờ cho danh ta, và ta sẽ khiến cho ngôi nước nó bền đỗ đời đời. 7:14 Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con ta. Nếu nó phạm tội ác, tất ta sẽ sửa phạt nó bằng roi và thương vít loài người, 7:15 nhưng ta sẽ không rút ân điển ta khỏi nó như ta rút khỏi Sau-lơ, là kẻ ta đã trừ diệt khỏi trước mặt ngươi. 7:16 Như vậy, nhà ngươi và nước ngươi được bền đỗ trước mặt ngươi đời đời; ngôi ngươi sẽ được vững lập đến mãi mãi. 7:17 Na-than đến thuật lại cho Đa-vít mọi lời nầy và sự mặc thị nầy.
A. Hiểu được vị trí của Đa-vít trong Kinh Thánh là điều thật quan trọng. Đối với nhiều người ông chỉ là một cậu bé chăn chiên tầm thường, biết chơi đàn hạc, đã đánh bại Gô-li-át, và trở nên vị vua nổi tiếng của Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, Đa-vít quan trọng hơn điều đó nhiều vì ông làm hình bóng trong cựu ước và nhằm hướng đến tân ước. Việc chúng ta hiểu biết Đa-vít xứng hiệp với sự sống và mục đích của Đức Chúa Trời trong cựu ước như thế nào sẽ giúp chúng ta hiểu tân ước rõ hơn.
B. Tại sao lại là Đa-vít? Trong SaSt 49:1-33 chúng ta thấy khi Gia-cốp sắp qua đời thì một ai đó sẽ được Gia-cốp chúc phước để nhận lãnh lời hứa của giao ước. Trong các câu 8-10 chúng ta thấy ông đến với con trai mình là Giu-đa. Tại đây Gia-cốp nói rằng Giu-đa sẽ được khen ngợi bởi các anh em mình. Tên Giu-đa nghĩa là “ngợi khen.” Vì thế Giu-đa đã được đặt tên rất đúng ý nghĩa.
49:8-10 Hỡi Giu-đa! Các anh em sẽ khen ngợi con, tay con sẽ chận cổ quân nghịch, các con trai cha sẽ quì lạy trước mặt con. 49:9 Giu-đa là một sư tử tơ; Hỡi con! Con bắt được mồi rồi tha về. Nó sụm gối, nằm khác nào sư tử đực, như sư tử cái; há ai dám khiến ngồi lên? 49:10 Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chơn nó, cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới, và các dân vâng phục Đấng đó.
1. Vì thế Gia-cốp nhìn về tương lai thấy rằng chi phái dấy lên từ Giu-đa sẽ là một chi phái được ngợi khen. Trong câu 9 chúng ta thấy rằng từ Giu-đa sẽ ra một đấng giống như sư tử đã đi ra để bắt lấy mồi. Điều nầy giống một cảnh tượng ở Phi-châu khi con sư tử đang đói sẵn sàng vồ bắt mồi để ăn thịt thì tất cả các con mồi đều vô cùng hoảng sợ cảm nhận được mối đe dọa quanh chúng cho đến khi con sư tử cái chạy theo rượt đuổi và chụp bắt con mồi. Một khi sư tử đã bắt được mồi rồi và đang mãi mê ăn thịt thì những con mồi còn lại sẽ ngay lập tức cảm thấy nhẹ nhỏm, ung dung gặm cỏ bên cạnh bầy sư tử mà không còn sợ hãi nữa vì chúng biết con sư tử đã được no nê thỏa mãn rồi. Hình ảnh trong câu 9 cũng tương tự như vậy khi sư tử của chi phái Giu-đa đã đi ra và chiến thắng, bắt được mồi, giờ đây được thỏa mãn, không còn bị quấy nhiễu nữa.
2. Trong câu 10 chúng ta thấy “cây phủ việt sẽ chẳng hề dời khỏi Giu-đa.” Cây phủ việt là cây vương trượng do vua sử dụng. Đức Chúa Trời đang phán nếu bạn muốn tìm các vua của nhà Đức Chúa Trời thì hãy hướng đến chi phái Giu-đa. “Kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chơn nó” một lần nữa lại nói đến thế nào trong vòng chi phái Giu-đa sẽ dấy lên những người thiết lập công lý từ đời nọ sang đời kia. Điều nầy sẽ thành sự thật “cho đến chừng Đấng Si-lô hiện đến.” “Si-lô” có nghĩa là “Đấng mà nó thuộc về” hay “đấng xứng đáng.” Nói cách khác từ chi phái Giu-đa sẽ tiếp tục sinh ra những người sẽ ở địa vị vua cho đến khi đấng xứng đáng hiện đến. Cho đến chừng đấng thật sự nắm giữ “vương quyền” hiện đến. Các vua thuộc chi phái Giu-đa sẽ cầm giữ cây phủ việt cho đến khi vị vua cuối cùng đến nắm giữ cây phủ việt nầy và Ngài sẽ đến như là một hậu tự của Giu-đa. “Và các dân vâng phục Đấng đó” hàm ý là tất cả các dân tộc sẽ đến với Ngài vì họ muốn ở trong vương quốc của Ngài.
3. Điều nầy không xảy ra ngay tức khắc vì trước tiên dân sự được lãnh đạo bởi Môi-se và sau đó là Giô-suê, và cả hai đều không phải là vua. Rồi khi dân sự xa cách Đức Chúa Trời thì Chúa dấy lên “những người giải cứu” được tìm thấy trong sách Các Quan Xét; thật ra họ không phải là những quan xét như chúng ta biết nhưng họ giống những người giải cứu hơn. Họ cũng không phải là vua cho đến khi có Sa-mu-ên làm kẻ giải cứu họ, vốn là một đấng tiên tri. Chính lúc Sa-mu-ên già yếu đi mà dân sự muốn có một vua giống như các dân tộc khác (ISa1Sm 8:1-10:27). Sa-mu-ên phản đối là họ đã được Đức Chúa Trời cai trị và không cần có vua, song dân sự cứ khăng khăng đòi xin một vua vì họ muốn giống các dân tộc khác. Vì thế Sau-lơ được lập làm vua, người vốn thuộc chi phái Bên-gia-min. Chúng ta biết rằng trong SaSt 49:1-33 không hề nói rằng các vua sẽ ra từ chi phái Bên-gia-min. Do đó rõ ràng Sau-lơ không phải là một sự chọn lựa đúng đắn và bằng cách ban cho họ Sau-lơ làm vua, Đức Chúa Trời đang cho họ thấy rất rõ rằng họ có thể có vua của mình nhưng đó không phải là sự chọn lựa của Ngài dành cho họ. Nếu theo sự chọn lựa của Ngài thì vị vua sẽ phải ra từ Giu-đa. Vì vậy Sau-lơ được xức dầu làm vua nhưng chẳng bao lâu đã phạm tội, không còn ở dưới sự chúc phước của Đức Chúa Trời và bị Sa-mu-ên quở trách (ISa1Sm 15:12-35). Nước bị cất khỏi tay Sau-lơ và ban cho một người khác theo sự chọn lựa của Đức Chúa Trời.
4. Kế đó Sa-mu-ên được sai đến xức dầu cho vị vua thật của Y-sơ-ra-ên (16:1-23). Đức Chúa Trời sai ông đến Bết-lê-hem nhà Y-sai thuộc chi phái Giu-đa. Sa-mu-ên cho gọi các con trai của Y-sai đi ngang qua trước mặt ông, nhưng Đức Chúa Trời không chọn một người nào trong vòng những con trai khỏe mạnh, cao lớn của Y-sai cả, mà lại cho gọi cậu bé chăn chiên Đa-vít và xức dầu cho người làm vua. Đa-vít là kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời.
5. Nhiều năm trước thời của Đa-vít khi dân sự xa cách Đức Chúa Trời thì dân Phi-li-tin xâm lấn họ (4:1-22). Vì đang thua trận nên họ thỉnh hòm giao ước của Đức Chúa Trời đem về trại quân giống như một loại bùa may mắn hy vọng Đức Chúa Trời sẽ tỏ bày sự hiện diện của Ngài. Họ đã không thờ phượng Đức Chúa Trời suốt một thời gian dài, do đó Đức Chúa Trời cho phép hòm giao ước bị cướp đi hơn là để cho một dân có lòng xa cách Ngài sử dụng nó. Dân Y-sơ-ra-ên bỏ chạy tháo lui trong kinh hoàng. Chính trong khoảng thời gian nầy mà một đứa trẻ đã ra đời và được đặt tên là Y-ca-bốt, có nghĩa là “sự vinh hiển đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên.” Dân Phi-li-tin rút đi mang theo hòm giao ước và cảm thấy rất mừng rỡ vì đã đắc thắng. Dầu cho phép dân Phi-li-tin đoạt đi hòm giao ước tượng trưng cho chính mình Ngài, nhưng Đức Chúa Trời không phải là một tù nhân chiến tranh dễ khuất phục. Dân Phi-li-tin đem đặt hòm giao ước trong đền thờ thần Đa-gôn của chúng, là một thần cá rất lớn. Sáng hôm sau khi trở lại đó, chúng thấy thần của mình nằm sải dài úp mặt xuống đất trước mặt hòm giao ước của Đức Chúa Trời. Chúng bèn đem thần mình đặt lại tại chỗ cũ và sáng hôm sau khi đến để thờ phượng thì chúng lại thấy vị thần cá vĩ đại của mình đã té nhào, quỳ mọp ngay trước hòm giao ước và vỡ ra từng mảnh. Nhận biết rằng không thể nào hòa lẫn Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên với thần của mình nên chúng đã dời hòm giao ước sang thành lân cận và mọi người trong thành đó đều ngã bệnh. Cuối cùng chúng quyết định gởi hòm giao ước của Đức Chúa Trời trở lại nơi biên giới địa phận Y-sơ-ra-ên nhưng không ai biết phải làm gì với hòm đó. Sau cùng hòm được dân tại Ki-ri-át-Giê-a-rim thỉnh vào nhà trại của A-bi-na-đáp tại trên gò nổng và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đầy dẫy nhà ấy. Nhưng vua Sau-lơ không quan tâm gì đến hòm giao ước cả và cứ để hòm giao ước ở tại đó.
Giờ đây Đa-vít lên ngôi vua và nhận biết rằng ông chỉ là một vị vua ở dưới quyền của vị Vua chân thật. Vì vậy trong IISa 2Sm 6:12-18 Đa-vít rước hòm giao ước đến một đền tạm mà ông đã dựng trên núi Si-ôn. Ông đã hát Thi thiên 24 khi hòm giao ước được đem đến đó. Qua Thi thiên này chúng ta thấy rõ rằng Đa-vít nhận biết Đức Chúa Trời là Vị Vua thật của Y-sơ-ra-ên.
6. Trong 7:1-29 Đa-vít cho mời tiên tri Na-than đến vì lòng ông muốn xây một đền thờ cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Vì thế Đa-vít cầu hỏi người của Đức Chúa Trời về ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với ý tưởng của ông. Na-than đáp rằng đó là một ý hay nhưng đêm ấy khi Na-than còn lại một mình Đức Chúa Trời đã phán với người hãy trở lại nơi Vua Đa-vít và bảo Đa-vít không nên xây nhà cho Chúa. Na-than đã nói với Đa-vít theo ý riêng mình và đã không cầu hỏi Đức Chúa Trời nên người cần phải sửa lại theo ý Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán với Na-than hãy bảo Đa-vít rằng Ngài đã từng ở trong trại và nhà tạm suốt nhiều năm trời và chưa hề đòi hỏi bất cứ ai phải xây cho Ngài một ngôi nhà vì Ngài hoàn toàn thỏa dạ khi ở trong lều tạm mà thôi.
Đức Chúa Trời muốn Đa-vít xây một ngôi nhà, song không phải là ngôi nhà bằng gỗ bá hương như ông đã có mà đúng hơn là một ngôi nhà trong ý nghĩa của một triều đại, một ngôi nhà của các vị vua sẽ kế tục Đa-vít cho đến chừng Vị Vua thật sẽ hiện đến. Đức Chúa Trời sẽ cho phép vị vua đầu tiên kế vị Đa-vít xây đền thờ cho Ngài. Đức Chúa Trời sẽ thiết lập một mối tương quan đặc biệt với các vị vua thuộc dòng dõi Đa-vít và họ sẽ giống như các con trai của Ngài. Khi họ không vâng lời thì Ngài sẽ sửa dạy họ như cha sửa dạy con. Đức Chúa Trời là Vị Vua chân thật duy nhất. Ngài sẽ chọn cho phép một người làm đại diện của Ngài trên đất nầy và do đo Ngài đã lập giao ước giữa Ngài với Đa-vít.
Chúng ta thấy trong câu 16 là vương quốc nầy sẽ còn đến đời đời:
7:16 Như vậy, nhà ngươi và nước ngươi được bền đỗ trước mặt ngươi đời đời; ngôi ngươi sẽ được vững lập mãi mãi.
7. Rõ ràng là Đức Chúa Trời đang nói về cả các hậu tự trực tiếp của Đa-vít lẫn về một đấng sẽ sống đời đời. Ngài đang nói về ngôi của Đa-vít tại Giê-ru-sa-lem nhưng đồng thời cũng đang nói về một ngôi vua bền vững, không thể nào bị lật đổ. Đa-vít sẽ có một triều đại khi hậu tự của người sẽ cai trị trên đất nầy, nhưng ở một giai đoạn nào đó các con của Đa-vít sẽ được gọi là con của Đức Chúa Trời. Một đấng ra từ Đa-vít sẽ thật sự là Con Đức Chúa Trời và sẽ sống đời đời và cai trị đời đời, ngồi trên ngôi Đức Chúa Trời không hề cùng. Ngôi Đa-vít là một ngôi vua thực hữu song cũng làm hình bóng về ngôi đời đời của Đức Chúa Trời. Vì thế khi chúng ta nói đến ngôi của Đa-vít thì chúng ta cũng đang nói đến ngôi của Đức Chúa Trời.
IISu 2Sb 9:8 Đáng ngợi khen thay GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của vua, vì Ngài vui thích vua, đặt vua ngồi trên ngôi của Ngài đặng làm vua cho GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của vua! Bởi vì Đức Chúa Trời của vua yêu mến Y-sơ-ra-ên, đặng làm cho chúng vững bền đến đời đời, nên Ngài đã lập vua làm vua trên chúng, để làm theo sự ngay thẳng và sự công bình.
8. Các hậu tự của Đa-vít được đặt trên ngôi Đức Chúa Trời. Họ đang ngồi trên ngôi Đa-vít nhưng vì đó là hình bóng của ngôi Đức Chúa Trời nên họ nói đến ngôi đó như là ngôi của Đức Chúa Trời.
Đa-vít rất đỗi vui mừng vì mọi người đều biết rằng một hậu tự của Áp-ra-ham sẽ ngồi trên ngôi vua. Mọi người đều biết rằng điều nầy sẽ xảy ra qua chi phái Giu-đa. Mọi gia đình trong chi phái Giu-đa đều thắc mắc liệu con trai mình sẽ là người ngồi trên ngôi đó chăng. Giờ đây Đa-vít đã được cho biết rằng mình là người đó. Hãy tưởng tượng nỗi vui mừng khi bạn trông đợi sự hiện đến của Đấng Mê-si-a và rồi được cho biết rằng một trong những cháu chắt của mình sẽ là Đấng Mê-si-a. Giờ đây những mục đích trong giao ước của Đức Chúa Trời đã kết chặt với nhà Đa-vít. Đa-vít giờ đây là “vị vua nhỏ” cai trị thay cho Đức Chúa Trời trên đất nầy.
9. Đa-vít được Sa-mu-ên xức dầu làm vua và Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên người.
ISa1Sm 16:13 Sa-mu-ên lấy sừng dầu, xức cho người ở giữa các anh người. Từ ngày đó về sau, Thần của Đức GIÊ-HÔ-VA cảm động Đa-vít. Sa-mu-ên đứng dậy đi về Ra-ma.
C. Việc Xức dầu: Việc xức dầu nầy tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Giê-hô-va và Đa-vít ghi khắc từng trãi nầy trong lòng, ý thức được điều đó khi ông được Đức Chúa Trời xức dầu làm vua. Ông chỉ là hình bóng về những điều sẽ xảy đến, khi “Đấng” sẽ hiện đến sẽ làm Vua, Đấng mà đã được nói tiên tri cho Giu-đa (SaSt 49:8-10), Sư tử của chi phái Giu-đa, Đấng Si-lô (Đấng duy nhất xứng đáng, 49:10). Nếu Đa-vít được xức dầu làm vua bởi sự lựa chọn của Đức Chúa Trời, và nếu ta, Đa-vít, và hậu tự của ta được gọi là con Đức Chúa Trời, thì Đấng sẽ đến chắc hẳn phải là “Con Đức Chúa Trời,” Đấng Chịu Xức Dầu. Trong Thi thiên 2 Đa-vít gọi Đấng sẽ đến là “Đấng Chịu Xức dầu”. Từ nầy dịch sang tiếng Hy-bá-lai là “Đấng Mê-si-a”; sang tiếng Hy-lạp là “Đấng Christ.” Đa-vít là người đầu tiên dùng danh hiệu “Đấng Mê-si-a,” “Đấng Chịu Xức dầu,” “Đấng Chịu Xức dầu của Chúa,” hay “Đấng Christ.” Đấng được Đức Thánh-Linh tuôn đổ không xiết kể để Ngài được trở nên Vua trên muôn vua và Chúa trên các chúa. Và khi đọc Thi thiên 2 bạn cảm nhận được rằng dưới sự xức dầu của Đức Thánh-Linh, Đa-vít đã hiểu được ý nghĩa của Đức Chúa Trời Ba ngôi là thể nào.
Thi Tv 2:1-12 Nhơn sao các ngoại bang náo loạn? Và những dân tộc toan mưu chước hư không? 2:2 Các vua thế gian nổi dậy, các quan trưởng bàn nghị cùng nhau, nghịch Đức Giê-hô-va, và nghịch Đấng chịu xức dầu của Ngài, mà rằng: 2:3 Chúng ta hãy bẻ lòi tói của hai Người, và quăng xa ta xiềng xích của họ. 2:4 Đấng ngự trên trời sẽ cười, Chúa sẽ nhạo báng chúng nó. 2:5 Bấy giờ Ngài sẽ nổi thạnh nộ phán cùng chúng nó, dùng cơn giận dữ mình khuấy khỏa chúng nó, mà rằng, 2:6 Dầu vậy, ta đã lập Vua ta trên Si-ôn núi thánh ta. 2:7 Ta sẽ giảng ra mạng lịnh: Đức GIÊ-HÔ-VA phán cùng ta rằng: Ngươi là Con ta; ngày nay ta đã sanh Ngươi. 2:8 Hãy cầu ta, ta sẽ ban cho Con các ngoại bang làm cơ nghiệp, và các đầu cùng đất làm của cải. 2:9 Con sẽ dùng cây gậy sắt mà đập bể chúng nó; Con sẽ làm vỡ nát chúng nó khác nào bình gốm. 2:10 Vì vậy, hỡi các vua, hãy khôn ngoan; hỡi các quan xét thế gian, hãy chịu sự dạy dỗ. 2:11 Khá hầu việc Đức GIÊ-HÔ-VA cách kính sợ, và mừng rỡ cách run rẩy. 2:12 Hãy hôn Con, e Người nổi giận, và các ngươi hư mất trong đường chăng; vì cơn thạnh nộ Người hòng nổi lên. Phàm kẻ nào nương náu mình nơi Người có phước thay!
D. Đa-vít thấy rằng các dân tộc trên thế gian không muốn nhận Đức Chúa Trời, cũng không muốn nhận Đấng Mê-si-a là đại diện của Ngài. Nhưng Đấng ngồi trên thiên đàng cười nhạo sự ngu dại của con người khi họ cho rằng bằng cách nào đó họ có thể làm cho mục đích của Đức Chúa Trời ngưng trệ. Dường như Đức Chúa Trời đang phán rằng loài người suy nghĩ và hành động như thế nào, điều đó không quan trọng, vì Đức Chúa Trời đã lập giao ước và Ngài sẽ thực hiện điều mà Ngài đã hứa với Đa-vít và sẽ đặt Vua của Ngài tại Si-ôn. Ngài sẽ cai trị trên đất và các dân tộc sẽ là cơ nghiệp của Ngài.
Do đó trong KhKh 5:5 chúng ta thấy Chúa Giê-xu, Chiên Con của Đức Chúa Trời, được giới thiệu là “Sư tử của chi phái Giu-đa, tức là Chồi của vua Đa-vít, đã thắng . . .” Và khi họ xoay lại để nhìn Sư tử thì họ thấy (c. 6) “chính giữa các trưởng lão, có một Chiên Con ở đó như đã bị giết . . .” Đó là cách Sư tử nầy đã thắng, Ngài đã chết thay cho kẻ thù nghịch mình. Thật là một việc làm lạ kỳ đối với một Sư tử, song tình yêu của Đức Chúa Trời cũng lạ lùng so với suy nghĩ của con người. Và rồi Giăng nhìn thấy Chiên Con đã bị giết đến trước ngôi và nghe có tiếng của thiên sứ hàng muôn hàng ngàn đồng nói lên một tiếng lớn rằng: (c. 12) “Xứng đáng thay là Chiên Con đã chịu chết” vì (c. 9) Ngài “đã lấy huyết mình mà chuộc cho Đức Chúa Trời những người thuộc về mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, mọi nước.” “Xứng đáng thay là Chiên Con” nếu bạn dịch trở lại tiếng Hy-bá-lai thì đó là “Đấng Si-lô,” “Đấng Xứng đáng.” Ngài là con vua Đa-vít, Con Đức Chúa Trời. Đó là lý do vì sao trong các sách Tin lành khi họ nhận ra Chúa Jêsus là ai, họ đã gọi Ngài (khoảng 16 lần) là “con vua Đa-vít.” Theo cách đó Chúa Jêsus là Đấng làm trọn lời hứa trong giao ước với Đa-vít.
Mat Mt 1:1 Gia-phổ Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham.
12:23 Chúng lấy làm lạ, mà nói rằng: Có phải người đó là con cháu vua Đa-vít chăng?
Chính vào thời điểm của IISa 2Sm 7:1-29 mà mọi người đều biết cách chính xác Đấng Mê-si-a sẽ ra từ gia tộc nào của dòng dõi loài người. Từ đây các đấng tiên tri bắt đầu nói về Giao ước với Đa-vít và cung cấp các chi tiết thậm chí quan trọng hơn về Đấng sẽ đến và Ngài sẽ làm gì một cách chính xác.
XV. Các Đấng Tiên tri và Giao ước
Chúng ta hãy nhìn lại giao ước với Đa-vít:
7:12-16 Khi các ngày ngươi đã mãn, và ngươi ngủ với các tổ phụ ngươi, thì ta sẽ lập dòng giống ngươi kế vị ngươi, là dòng giống do ngươi sanh ra, và ta sẽ khiến cho nước nó bền vững. 7:13 Nó sẽ xây một đền thờ cho danh ta, và ta sẽ khiến cho ngôi cùng nước nó bền đỗ đời đời. 7:14 Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con ta. Nếu nó phạm tội ác, tất ta sẽ sửa phạt nó bằng roi và thương vít loài người, 7:15 nhưng ta sẽ không rút ân điển ta khỏi nó như ta rút khỏi Sau-lơ, là kẻ ta đã trừ diệt khỏi trước mặt ngươi. 7:16 Như vậy, nhà ngươi và nước ngươi được bền đỗ trước mặt ngươi đời đời; ngôi ngươi sẽ được vững lập đến mãi mãi.
A. Hãy nhớ là trong cựu ước chúng ta thường có hình bóng trên đất về những sự thực hữu của những điều trên thiên đàng. Chúng ta biết Đức Chúa Trời không ở trong một cái trại, hoặc trong một ngôi nhà, song Ngài cho phép người ta dựng nên một cái trại, tức đền tạm, và phán rằng Ngài sẽ ngự và gặp gỡ dân sự tại đó. Nhưng mọi người đều biết là Ngài không ở nơi đó mà chỉ chọn nơi đó để bày tỏ sự hiện diện của Ngài thôi. Đền tạm chỉ là hình bóng nhỏ bé trên đất về thiên đàng thực sự ở trên trời. Khi vua Sa-lô-môn xây dựng đền thờ cho Đức Chúa Trời, ông tuyên bố rằng ông biết trời của các từng trời cũng không đủ chỗ để chứa Ngài, huống chi là ngôi đền thờ nhỏ bé mà ông xây cất.
IVua 1V 8:27 Nhưng quả thật rằng Đức Chúa Trời ngự trên đất nầy chăng? Kìa, trời, dầu đến đỗi trời của các từng trời chẳng có thể chứa Ngài được thay, phương chi cái đền tôi đã cất!
B. Khi giao ước mới đến chúng ta sẽ bàn đến điều thực tế là tại sao không có đền thờ nào trên đất ngày nay mà Đức Chúa Trời chấp nhận. Hiện nay chúng ta có thể nhóm họp ở bất cứ nơi đâu và có được sự hiện diện của Đức Chúa Trời bởi sự ngự trị của Đức Thánh-Linh. Nhưng khi Chúa Jêsus bị người đàn bà Sa-ma-ri chất vấn là cần phải đi thờ phượng Đức Chúa Trời tại đâu thì Ngài đáp:
GiGa 4:19-24 Người đờn bà thưa rằng: Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri. 4:20 Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem. 4:21 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đờn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem. 4:22 Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến. 4:23 Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy. 4:24 Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.
Vào thời điểm Chúa Jêsus phán điều nầy thì họ sẽ phải thờ lạy tại đền thờ, nhưng Ngài cũng công bố rằng giờ hầu đến khi họ sẽ không còn phải đi lên đền thờ Giê-ru-sa-lem để thờ lạy nữa. Họ sẽ không còn phải bước đi trong hình bóng nữa vì điều thực tại đã đến rồi, và đó chính là sự thờ phượng bằng tâm linh.
C. Hãy nhớ cách nào trong IISu 2Sb 9:8 ngôi vua Đa-vít đã trở thành ngôi của Đức Chúa Trời trên đất nầy.
IISu 2Sb 9:8 Đáng ngợi khen thay GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của vua, vì Ngài vui thích vua, đặt vua ngồi trên ngôi của Ngài đặng làm vua cho GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời của vua! Bởi vì Đức Chúa Trời của vua yêu mến Y-sơ-ra-ên, đặng làm cho chúng vững bền đến đời đời, nên Ngài đã lập vua làm vua trên chúng, để làm theo sự ngay thẳng và sự công bình.
Chúng ta biết ngôi của Đức Chúa Trời còn đời đời trong khi ngôi của vua Đa-vít cuối cùng trở về bụi đất vì đó chỉ là một hình bóng, y như đền thờ chỉ là hình bóng về nhà thật của Đức Chúa Trời, tức là tâm linh của chúng ta.
D. Đức Chúa Trời cũng làm mới lại giao ước nầy với Sa-lô-môn trong
7:18 thì ta sẽ lập ngôi nước ngươi được bền vững, y theo lời ước ta đã kết với Đa-vít, cha ngươi, mà rằng: Ngươi sẽ chẳng hề thiếu người quản trị Y-sơ-ra-ên.
1. Theo cách đó Đức Chúa Trời đã chọn Sa-lô-môn trong vòng các con trai của Đa-vít để qua đó khẳng định giao ước của Ngài với Đa-vít. Như chúng ta biết sự yếu đuối của Sa-lô-môn là phụ nữ. Khi ông hướng về các người nữ và cưới họ làm vợ thì ông cũng đem các thần ngoại bang của họ vào trong xứ. Trên hết mọi sự nầy, Sa-lô-môn đã đánh thuế rất nặng trên dân sự để lấy tiền xây đền thờ của Đức Chúa Trời và khi con trai ông là Rô-bô-am lên ngôi (2 Sử ký 10) dân sự yêu cầu vua giảm bớt gánh nặng về thuế vì nó quá lớn. Vua hỏi ý kiến các trưởng lão thì họ đồng ý cắt giảm thuế, song khi hỏi ý kiến những kẻ trẻ tuổi thì những người nầy khuyên vua nên lợi dụng tình thế đó mà chứng tỏ uy quyền của mình và tăng thuế gấp đôi. Rô-bô-am làm theo lời những kẻ trẻ tuổi và hậu quả là cả nhà Y-sơ-ra-ên, ngoại trừ Giu-đa, đều tìm cách lập Giê-rô-bô-am lên làm vua cai trị họ, và nhà Y-sơ-ra-ên bị chia ra. Do đó Giê-rô-bô-am trở nên vị vua đầu tiên cai trị mười chi phái ở phía bắc gọi là Y-sơ-ra-ên. Rô-bô-am tiếp tục làm vua cai trị vương quốc phía nam gọi là Giu-đa, gồm chi phái Giu-đa và một phần sót lại của chi phái Bên-gia-min.
2. Giê-rô-bô-am gây ra một lỗi lầm rất lớn mặc dù về bề ngoài việc ông làm dường như chính đáng. Dân sự bị chất gánh nặng về sưu thuế, nhưng Rô-bô-am là hậu tự của Đa-vít và dù ông đã đối đãi với dân sự cách ngu dại song chính qua ông mà Đấng Mê-si-a sẽ đến. Dù chúng ta có thích việc làm của ông ta hay không, ông vẫn là người đại diện của Đức Chúa Trời trên đất vào thời điểm đó và được ban cho quyền cai trị trên ngôi và giao ước của Đức Chúa Trời đã lập trong ông. Nếu dân sự muốn ra mắt Đức Chúa Trời, họ phải đi đến Giê-ru-sa-lem là nơi có nhà của Đức Chúa Trời, dù cho họ có thích hay không. Do đó khi Giê-rô-bô-am phân rẽ với Giu-đa, họ cũng tách mình ra khỏi giao ước, ra khỏi mọi lời hứa của Đức Chúa Trời, ra khỏi hy vọng về Đấng Mê-si-a. Về sau khi Giê-rô-bô-am được đề cập đến trong lịch sử thì ông ta bị xem là người đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên đến chỗ phạm tội. Vì không muốn dân sự trở lại Giê-ru-sa-lem để thờ phượng Đức Chúa Trời, ông ta đã dựng nên hình tượng bò con vàng và lập chức thầy tế lễ giả cho dân sự.
E. Sau đó các tiên tri bắt đầu xuất hiện và truyền phán chủ yếu cho Giu-đa. Tiên tri Ê-sai, chẳng hạn, đã phán khi vua A-cha đang ngồi trên ngôi Đa-vít (Ê-sai 7). A-cha dành rất ít thời gian cho Đức Chúa Trời và là một người chỉ chú trọng đến vật chất. Đến lúc các chi phái phía bắc liên minh với Sy-ri đang lập kế hoạch tấn công Giu-đa và chiếm thành Giê-ru-sa-lem. Vua A-cha và dân Giu-đa rất đỗi sợ hãi. Vì thế Đức Chúa Trời đã sai tiên tri Ê-sai đến nói với vua A-cha:
EsIs 7:4 mà nói cùng người rằng: Hãy cẩn thận, ở yên lặng, đừng sợ chi, lòng ngươi chớ bủn rủn vì cớ hai đuôi đuốc có khói, tức là vì cơn giận dữ của Rê-xin và Sy-ri, và của con trai Rê-ma-lia.
1. Tại sao Ê-sai lại có thể nói với vua A-cha cách tự tin như vậy? Vì cớ giao ước! Dù vua A-cha không xứng đáng, song Đức Chúa Trời đã thề lập giao ước với Đa-vít, và A-cha là người đại diện của giao ước trên đất lúc bấy giờ. Đức Chúa Trời ở với họ và sẽ làm thành mục đích của Ngài mặc dù A-cha có xứng đáng hay không. Rõ ràng là A-cha vẫn nghi ngại liệu Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ ông chăng. Đức Chúa Trời lại sai tiên tri Ê-sai đến nói cùng A-cha và bảo ông hãy cầu xin bất cứ dấu hiệu gì chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời đã cam kết gìn giữ nhà Giu-đa bình yên.
EsIs 7:10-11 Đức GIÊ-HÔ-VA lại phán cùng A-cha rằng: 7:11 Hãy xin GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời ngươi một điềm, hoặc dưới vực sâu, hoặc trên trời cao,
2. Nhưng A-cha vì một lý do nào đó đã bác bỏ lời yêu cầu của Đức Chúa Trời. Lúc bấy giờ Ê-sai trở nên bực dọc đối với A-cha và cảm thấy A-cha đang bắt đầu khiến cho Đức Chúa Trời chán ngán bởi vẻ giả tạo về tình trạng thuộc linh sai trật của ông, đã nói với “nhà Đa-vít”:
7:13-14 Ê-sai bèn nói rằng: Hỡi nhà Đa-vít, hãy nghe! Các ngươi cho làm phiền người ta là nhỏ mọn, mà muốn làm phiền Đức Chúa Trời ta nữa sao? 7:14 Vậy nên, chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi: nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt tên là Em-ma-nu-ên.
3. Vì thế Đức Chúa Trời ban cho họ một dấu vì cớ họ thiếu đức tin và nghĩ rằng chương trình của Đức Chúa Trời sắp bị kẻ thù giày đạp dưới chơn. Sẽ có một ngày khi một nữ đồng trinh sẽ chịu thai và sanh một Con trai, không ai khác hơn là Em-ma-nu-ên, “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.” Lời tiên tri nầy là một dấu hiệu cho A-cha và nhà Giu-đa, dòng dõi mà qua đó con trẻ sẽ đến, rằng việc gìn giữ họ khỏi tay kẻ thù nghịch là nằm trong mục đích của Đức Chúa Trời. Đó cũng là một dấu hiệu trong tương lai cho dân Y-sơ-ra-ên: khi con trẻ nầy đến thì họ sẽ biết chương trình và mục đích của Đức Chúa Trời đang được hoàn thành.
4. Chúng ta hầu như có thể cảm nhận được sự vui mừng mà lời Đức Chúa Trời đã đem đến cho lòng của Ê-sai, khi chúng ta thấy sự xác quyết của lẽ thật nầy tuôn tràn trong tâm linh ông, lúc ông bắt đầu nhận thức rằng các dân tộc có thể chống nghịch lại dân sự của Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời sẽ giữ gìn họ vì một con trẻ sẽ đến, đó là Em-ma-nu-ên, “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.”
9:1 Dân đi trong nơi tối tăm đã thấy sự sáng lớn; và sự sáng đã chiếu trên những kẻ ở xứ thuộc về bóng của sự chết.
9:5-6 Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an. 9:6 Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời. Thật lòng sốt sắng của Đức GIÊ-HÔ-VA vạn quân sẽ làm nên sự ấy!
5. Dường như qua các đấng tiên tri Đức Chúa Trời đang chiếu rọi lẽ thật lớn hơn về cách Ngài sẽ thực hiện giao ước đã hứa với Đa-vít. Trong đoạn 11 chúng ta thấy Ê-sai nói rằng dù dân sự Đức Chúa Trời sẽ trải qua nỗi khó khăn kinh khiếp và dường như bị loại bỏ, song sự phán xét sẽ đến, một “cái chồi,” sẽ nứt lên từ gốc Y-sai khi vương quốc của Đa-vít được phục hồi.
11:1 Có một chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai, một Nhánh từ rễ nó sẽ ra trái.
Đó là lời tiên tri về Chúa Jêsus, Đấng mà Thần của Đức Giê-hô-va sẽ ngự trên:
11:2 Thần của Đức GIÊ-HÔ-VA sẽ ngự trên Ngài, tức là thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức GIÊ-HÔ-VA.
6. Khi Ê-sai đang nói tiên tri với các Vua và dân sự trong thành, thì ở ngoài làng tiên tri Mi-chê đang nói chuyện với những người nông dân. Mi-chê đang rao truyền sứ điệp rất giống với Ê-sai nhưng chính Mi-chê đã làm cho sứ điệp đó dễ hiểu hơn đối với dân trong làng trong 5:1:
MiMk 5:1 Hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-ta, ngươi ở trong hàng ngàn Giu-đa là nhỏ lắm, song từ nơi ngươi sẽ ra cho ta một Đấng cai trị trong Y-sơ-ra-ên; gốc tích Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng.
Mi-chê nói ở đây rằng có một đấng sẽ được sinh ra tại tiểu thôn Bết-lê-hem, và Ngài vốn đã có từ xưa. Hãy thử nghĩ việc am hiểu cựu ước cách đúng đắn sẽ khó khăn biết bao nếu không nhờ hiểu biết những điều đã xảy ra trong tân ước. Làm thế nào một đấng có gốc tích từ trước vô cùng sẽ đến cai trị? Làm thế nào Đức Chúa Trời sẽ đến như một con trẻ do một nữ đồng trinh sinh ra?
7. Trong lúc đó ở phương bắc trong xứ Y-sơ-ra-ên mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Họ chối bỏ Đức Chúa Trời và Ngài sai tiên tri Ô-sê đến cùng họ. Ô-se được Đức Chúa Trời truyền là phải cưới Gô-me, một kỵ nữ, làm vợ. Điều nầy để làm hình bóng về dân Y-sơ-ra-ên đã rời bỏ mối quan hệ với Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương họ để chạy theo các tà thần. Họ là cô dâu và Đức Chúa Trời là chàng rể, nhưng họ đã tỏ ra bất trung và đi làm kỵ nữ, hành dâm cùng các tà thần. Bây giờ tới lúc phải ly dị. Không còn sự nhơn từ, không còn sự thương xót dành cho họ. Giao ước đã qua rồi, Ngài sẽ không còn là Đức Chúa Trời của họ nữa. Gia đình của Ô-sê bị tan rã và cả dân tộc đều biết tình cảnh Ô-sê đang trải qua. Chính vào thời điểm nầy Ô-sê đã nói lên điều Đức Chúa Trời đang cảm nghĩ khi dân Y-sơ-ra-ên lìa bỏ mối quan hệ giao ước với Ngài. Kế đó trong đoạn 3 chúng ta thấy Gô-me đã đến chỗ tận cùng của mình, những kẻ đã từng lợi dụng nàng không còn ưa muốn nàng nữa; nàng bị đem bán đấu giá. Đức Chúa Trời bảo Ô-sê: “Hãy đi, lại yêu người đờn bà đó theo như Đức Chúa Trời vẫn yêu con cái Y-sơ-ra-ên.” Ô-sê sẽ phải mua chuộc nàng về cho chính mình y như Đức Chúa Trời sẽ mua chuộc Y-sơ-ra-ên cho chính Ngài vậy. Vì nàng đã từng thuộc về Ô-sê qua hôn nhân, nhưng giờ đây nàng sẽ thuộc về ông bởi sự mua chuộc. Đây là điều Đức Chúa Trời sẽ làm đối với Y-sơ-ra-ên sau khi họ đã trải qua nhiều ngày không vua, không quan trưởng, không của lễ, không trụ tượng . . . :
OsHs 3:5 Nhưng, rồi đó, con cái Y-sơ-ra-ên sẽ trở lại tìm kiếm GIÊ-HÔ-VA Đức Chúa Trời mình, và Đa-vít vua mình. Chúng nó sẽ kính sợ mà trở về cùng Đức GIÊ-HÔ-VA, và được ơn Ngài trong những ngày sau rốt.
Ở đây, Đa-vít là hình bóng của Đấng Christ, “Đấng Si-lô,” Đấng xứng đáng, Đấng Mê-si-a mà họ sẽ tìm kiếm. Điều nầy họ chưa thực hiện. IPhi 1Pr 1:1-2:24 giải thích với người Do-thái và các dân Ngoại rằng những người không phải là con cái Đức Chúa Trời thì giờ đây đã trở nên con cái Đức Chúa Trời. Những ai không được thương xót thì giờ đây đã được thương xót nhờ Đức Chúa Jêsus Christ. Khi họ tìm kiếm Chúa Jêsus thì họ lại sẽ bước vào một giao ước mới và tốt đẹp hơn.
8. Do đó, các chi phái phía bắc đã bị A-si-ri bắt làm phu tù. Trong xứ Giu-đa mọi việc cũng trở nên tồi tệ hơn cho đến khi tiên tri Giê-rê-mi xuất hiện như người đại diện của giao ước để tuyên bố khai tử giao ước tại núi Si-na-i. Đức Chúa Trời không quên giao ước của Ngài với Đa-vít. Giê-rê-mi rao báo cho Giu-đa rằng họ cũng sẽ bị bắt làm phu tù, nhưng mặc dù giao ước nầy đã chấm dứt, một điều khác tốt đẹp hơn sẽ đến với họ:
Gie Gr 23:5 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh công bình. Ngài sẽ cai trị làm vua, lấy cách khôn ngoan mà ăn ở, làm sự chánh trực công bình trong đất.
9. Chúng ta thấy sự ứng nghiệm trọn vẹn của mọi điều nầy bắt đầu xảy ra khi thiên sứ phán với Ma-ri trích dẫn giao ước của Đức Chúa Trời với Đa-vít:
LuLc 1:30-35 Thiên sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì người đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. 1:31 Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là JÊSUS. 1:32 Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. 1:33 Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng. 1:34 Ma-ri bèn thưa rằng: Tôi chẳng hề nhận biết người nam nào, thì làm sao xó được sự đó? 1:35 Thiên sứ truyền rằng: Đức Thánh-Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép Đấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình, cho nên con thánh sanh ra, phải xưng là Con Đức Chúa Trời.
10. Lúc bấy giờ Giô-sép và Ma-ri đang sống tại Na-xa-rét nhưng Mi-chê lại nói tiên tri rằng Đấng Mê-si-a sẽ được sanh ra tại Bết-lê-hem. Nhiều tuần lễ trước khi mọi việc này xảy ra, tại trên đão Ca-pri, vị hoàng đế già Sê-sa Au-gút-tơ đã cãi nhau với Hê-rốt. Sê-sa tin rằng Hê-rốt đang lấy cắp tiền thuế thuộc về mình nên truyền lệnh cho mọi người phải trở về quê hương để khai vào sổ bộ. Vì thế Ma-ri lúc ấy đang có mang gần 9 tháng cần phải trở về Bết-lê-hem để khai vào sổ bộ. Tại sao vậy? Vì Giô-sép là hậu tự trực tiếp của Đa-vít, và qua một dòng dõi khác trong gia đình thì Ma-ri cũng là một hậu tự trực tiếp của Đa-vít, khiến cho Chúa Jêsus trở thành người nối ngôi hợp pháp của vua Đavít bởi huyết thống qua Ma-ri, và thành con nuôi của Giô-sép mà theo luật pháp thì con nuôi được phép trở nên kẻ kế tự. Do đó qua hai dòng dõi khác nhau của gia đình, Chúa Jêsus đã thỏa đáng cả hai điều kiện để ngồi trên ngôi của Đa-vít.
Hãy tưởng tượng nếu cuộc tranh cãi giữa Au-gút-tơ và Hê-rốt đã xảy ra vào bất kỳ lúc nào khác thì sẽ không có lý do gì khiến Ma-ri và Giô-sép phải thực hiện cuộc hành trình đến Bết-lê-hem hầu cho ứng nghiệm lời tiên tri được. Thế là Vua Jêsus đời đời đã được sanh ra. Ngài không phải là “Vua hầu đến” song đúng hơn là “Vị vua đang đến.” Ngài vẫn luôn là Vua và chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ ngự trên ngôi Ngài và nước Ngài sẽ chẳng hề dứt.
Nước của Ngài không phải là một nước trên đất nầy nhưng đúng hơn nước Ngài ở trong lòng người bởi Đức Thánh-Linh. Nếu chúng ta có Đức Thánh-Linh trong lòng thì chúng ta là một phần trong vương quốc Đức Chúa Trời. Nước Ngài được rải khắp trong lòng chúng ta!
XVI. Giao ước mới
Gie Gr 31:31-34 Đức GIÊ-HÔ-VA phán rằng: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. 31:32 Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức GIÊ-HÔ-VA phán vậy. 31:33 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. 31:34 Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức GIÊ-HÔ-VA! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.
A. Điều quan trọng cần nhớ là bối cảnh qua đó lời hứa của giao ước mới nầy được thiết lập. Chúng ta hãy ôn lại:
1. Giao ước đầu tiên là Giao ước của Sự sống hay Sự Sáng tạo khi Đức Chúa Trời cho chúng ta biết tính chất của mục đích Ngài. Chúng ta phải nhớ là khi Đức Chúa Trời có ý định làm một điều gì thì Ngài sẽ hoàn thành mục đích đó. Nhưng khi con người sa ngã chúng ta thấy giao ước thứ nhì được thiết lập.
2. Giao ước thứ nhì hay Giao ước với A-đam là nhằm đem con người trở lại với mục đích ban đầu của Đức Chúa Trời dành cho họ.
3. Kế đó là Giao ước với Nô-ê qua đó Đức Chúa Trời hứa bảo tồn dòng dõi loài người. Con người sẽ không hoàn toàn bị loại bỏ nữa nhưng sẽ được làm hòa với Đức Chúa Trời qua đấng giải cứu Chúa đã hứa với A-đam. Đấng giải cứu sẽ thực hiện điều mà sự đoán phạt không thể nào thực hiện được trong việc đem con người đến với Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng thấy là đấng giải cứu sẽ đến qua dòng dõi của Sem.
4. Đức Chúa Trời thiết lập Giao ước với Áp-ra-ham và chúng ta thấy là tất cả các chi tộc trên thế gian sẽ được phước qua đấng sẽ ra từ Áp-ra-ham. Chúng ta tra xem nguồn gốc từ Áp-ra-ham đến Y-sác, Gia-cốp, và rồi đến Giu-đa thì chúng ta thấy “Đấng Si-lô,” “Đấng Xứng đáng,” đã được hứa ban. Nhưng dường như giao ước nầy được thực hiện khi Đức Chúa Trời kết lập giao ước với Môi-se.
5. Giao ước với Môi-se hay Giao ước tại núi Si-na-i, một giao ước của Luật pháp. Luật pháp được ban bố để chỉ cho con người thấy tội mình hầu cho họ có thể hiểu được tính chất của sự thánh khiết và tình yêu agapé của Đức Chúa Trời. Do đó chúng ta thấy Đức Chúa Trời theo dõi sự phát triển của dân tộc Y-sơ-ra-ên. Xin lưu ý là dân Y-sơ-ra-ên trong cựu ước là dân tộc duy nhất trong lịch sử được Đức Chúa Trời theo dõi quan phòng.
6. Tiếp theo là Giao ước với Đa-vít, theo đó hậu tự của Y-sai từ chi phái Giu-đa là Đa-vít đã trở nên vị vua đầu tiên ngồi trên ngôi của Đức Chúa Trời như người đại diện giao ước của Đức Chúa Trời trên đất nầy. Trong giao ước nầy Đức Chúa Trời hứa rằng dòng dõi của Đa-vít sẽ cứ tiếp tục như là con của Đức Chúa Trời cho đến khi Con thật của Đức Chúa Trời sẽ ra từ Đa-vít và sẽ ngồi trên ngôi của Đức Chúa Trời đời đời, hướng đến mục đích thiết lập một vương quốc mới đem chúng ta trở lại với tình trạng trong vườn Ê-đen xưa.
7. Kế đó chúng ta thấy nhà Y-sơ-ra-ên bị chia cắt trong suốt thời trị vì của Rô-bô-am, cháu vua Đa-vít. 10 chi phái phía bắc đi theo các tà thần và bị bắt làm phu tù và tản lạc vì họ đã lìa bỏ giao ước của Ngài, để lại chi phái Giu-đa ở phía nam tiếp tục giữ giao ước đó cho đến lúc họ rơi vào sự thờ lạy hình tượng và Đức Chúa Trời sai tiên tri Giê-rê-mi đến với họ.
B. Giê-rê-mi được sai đến cùng dân sự rao báo rằng họ sẽ bị Nê-bu-cát-nết-sa bắt làm phu tù và họ không cần phải chiến cự lại. Nê-bu-cát-nết-sa là vua xứ Ba-by-lôn nằm ở bên bờ kia sông Ơ-phơ-rát. Trong Sáng 11 bạn sẽ thấy phần đất nầy gọi là Canh-đê, cách U-rơ không xa. Bạn thấy Nê-bu-cát-nết-sa ra từ xứ Canh-đê nơi Áp-ra-ham đã ra khỏi khi Ngài lập giao ước với ông. Dường như Đức Chúa Trời đang phán: “Giao ước đã chấm dứt rồi và ta đang sai các ngươi trở lại nơi các ngươi đã bắt đầu.” Nếu như tại núi Si-nai họ được thiết lập hôn nhân thì bây giờ là lúc họ bị ly dị và trả về nơi họ đã được tìm thấy. Giê-rê-mi nói với họ rằng Nê-bu-cát-nết-sa đang được Đức Chúa Trời sai đến và họ đã bắt giam ông vì những lời nầy. Bảy mươi năm họ sẽ phải ở trong cảnh phu tù và rồi Đức Chúa Trời sẽ bắt đầu trở lại. Sứ điệp của ông là một sứ điệp rao báo sự đoán phạt sắp xảy ra nhưng cũng là một sứ điệp đem đến cho họ hy vọng nơi giao ước Đức Chúa Trời đã hứa cùng Đa-vít.
Gie Gr 23:5-6 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh công bình. Ngài sẽ cai trị làm vua, lấy cách khôn ngoan mà ăn ở, làm sự chánh trực công bình trong đất. 23:6 Đương đời vương đó, Giu-đa sẽ được cứu; Y-sơ-ra-ên sẽ ở yên ổn, và người ta sẽ xưng danh Đấng ấy là: ĐỨC GIÊ-HÔ-VA SỰ CÔNG BÌNH CHÚNG TA!
Một chú thích thêm thật thú vị ở đây là cách mà Chúa Jêsus đã đến sống tại
làng Na-xa-rét. Ma-thi-ơ ghi lại rằng các đấng tiên tri nói Ngài sẽ được gọi là
người Na-xa-rét.
Mat Mt 2:23 và người vào ở trong một thành kia tên là Na-xa-rét. Vậy là ứng
nghiệm lời mấy đấng tiên tri đã nói rằng: Người ta sẽ gọi Ngài là người Na-xa-
rét.
Nhưng bạn có thể nghiên cứu các đấng tiên tri và sẽ thấy rằng không có đấng
tiên tri nào nói rằng Ngài sẽ được gọi là người Na-xa-rét. Vậy thì Ma-thi-ơ
đang nói về điều gì? Từ Na-xa-rét được dịch từ tiếng Hy-bá-lai có nghĩa là:
“ngôi làng của Nhánh.” Do đó chính Đức Chúa Trời đã thấy trước rằng Đấng
sinh ra tại làng Bết-lê-hem sẽ được đưa đến dưỡng dục tại làng Na-xa-rét.
Ngài được đặt cho tên gọi rất phổ biến là Jêsus. Thực ra tên Jêsus thật phổ biến
đến nỗi khi người ta nói đến Đấng Christ thì họ gọi Ngài là “Jêsus người Na-xa-
rét” hay “Jêsus ngươi của làng Nhánh;” Tên của Ngài đã từng gắn liền với việc
Ngài là Nhánh mà Cựu ước nói đến.
EsIs 11:1 Có một chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai, một Nhánh từ rễ nó sẽ ra trái.
Gie Gr 23:5-6 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh công bình. Ngài sẽ cai trị làm vua, lấy cách khôn ngoan mà ăn ở, làm sự chánh trực công bình trên đất.
Gie Gr 33:15 Trong những ngày ấy và kỳ đó, ta sẽ khiến nẩy lên một Nhánh của sự công bình cho Đa-vít; Đấng ấy sẽ làm ra sự công bình chánh trực trong đất nầy.
XaDr 3:8 Hỡi Giê-hô-sua, thầy tế lễ cả, ngươi cùng bạn hữu ngươi ngồi trước mặt ngươi hãy nghe, vì những kẻ nầy làm dấu: nầy, quả thật ta sẽ làm cho đầy tớ ra là Chồi mống dấy lên.
6:12 Ngươi khá nói cùng người rằng: Đức GIÊ-HÔ-VA vạn quân có phán như vầy: Nầy, có một người tên là Chồi mống, sẽ nứt ra từ chỗ người, và người ấy sẽ xây đền thờ Đức GIÊ-HÔ-VA.
Xin trở lại Gie Gr 31:31-
31:31 Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa.
C. Câu hỏi có thể được nêu ra là: “Nếu giao ước mới được lập với nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa, thì làm thế nào tôi có phần trong giao ước đó được?” Xin hãy nhớ nhà thật của Đức Chúa Trời gồm bất cứ ai có đức tin mà Áp-ra-ham đã bày tỏ khi ông tin Đức Chúa Trời và điều đó được kể là công bình cho ông, bất luận đó là người Do-thái hay người Ngoại. Phao-lô đã nói về điều nầy trong Ê-phê-sô đoạn 2 và 3.
D. In câu 32 Đức Chúa Trời nhắc đến giao ước tại núi Si-nai và họ đã lìa bỏ (ly dị) Ngài ra sao mặc dầu Ngài là chồng họ. Rồi trong câu 33 và 34, Ngài nói đến giao ước mới; thực ra ý của giao ước nầy không mới nhưng việc áp dụng giao ước thì mới:
1. Nói đến sự tha thứ tội - điều nầy không mới
2. Nói đến việc tuân giữ luật pháp - điều nầy không mới
3. Nói đến việc nhận biết Đức Chúa Trời - hẳn nhiên điều nầy không có gì mới cả
4. Nói đến Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của họ và họ là dân sự Ngài - không mới
Nhưng điều mới là nội dung của giao ước nầy sẽ được ghi khắc trong lòng con người, là điều mà trước đây họ chưa bao giờ nghĩ là có thể thực hiện được. Giờ đây Ngài đặt luật pháp Ngài trong bụng họ và chép nó trên bảng lòng của họ. Luật pháp Đức Chúa Trời đã từng được chép trên hai bảng đá. Dân sự sẽ lưu tâm đến luật pháp được chép trên bảng đá để xem thử mình sẽ phải làm gì. Điều ngăn trở là “cái tôi” bên trong không muốn làm theo những gì được ghi chép trên bảng đá bên ngoài. Do đó có sự căng thẳng giữa con người và luật pháp. Đức Chúa Trời không bao giờ đi ngược lại luật pháp vì trọng tâm của luật pháp là tình yêu agapé của Ngài. Nhưng giờ đây Ngài sẽ đặt luật pháp của Ngài trong lòng chúng ta để nó trở nên một nguyên tắc bên trong. Thay vì bức chế từ bên ngoài, luật pháp sẽ trở thành một nguyên tắc sống từ bên trong. Thay vì luật pháp ra lệnh cho chúng ta phải làm điều mà chúng ta thấy mình không có khả năng làm trọn hoặc không muốn làm, Ngài sẽ đặt tình yêu của Ngài trong lòng chúng ta và khiến chúng ta có sự vui vẻ để làm theo ý muốn của Ngài.
ChCn 4:23 Khá cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra.
E. Những việc tôi làm ngày hôm nay phản ánh những điều từng chất chứa bên trong lòng tôi cho đến giờ nầy. Đức Chúa Trời sẽ đặt luật pháp Ngài trong lòng chúng ta để hướng chúng ta đến mẫu người mà Ngài muốn trong tương lai. Chính tay Ngài đã ghi chép luật pháp đó trên hai bảng đá nhưng giờ đây Ngài sẽ ghi chép nó trên bảng lòng chúng ta. Xin lưu ý, chính Đức Chúa Trời sẽ ghi chép luật pháp trên tấm lòng chúng ta, Ngài sẽ thực hiện điều nầy bởi sự can thiệp siêu nhiên của Ngài. “Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó và chúng nó sẽ làm dân Ta.” Vì vậy khi đọc các Thi thiên chúng ta có thể làm điều mà Chúa muốn như các con cái của giao ước nhận biết Ngài là Đức Chúa Trời của tôi vì Ngài đã khiến chúng tôi trở nên dân sự của Ngài.
Xin hãy xem câu 34:
Gie Gr 31:34 Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình mà rằng: Hãy nhận biết Đức GIÊ-HÔ-VA! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.
F. Trong những giao ước khác luôn có một người đứng giữa con người và Đức Chúa Trời như một người trung gian. Môi-se biết Đức Chúa Trời “cách trực tiếp” (mặt đối mặt), nhưng phần dân sự còn lại chỉ biết Ngài “cách gián tiếp” (qua người trung gian là Môi-se). Vì thế dân Y-sơ-ra-ên đã phải đến cùng “kẻ lân cận” mình = Môi-se, hay đến cùng “anh em” mình = chi phái Lê-vi là chi phái lập nên những người Lê-vi làm thầy tế lễ nhận biết Đức Chúa Trời. Từ “nhận biết” dùng ở đây có nghĩa là biết một cách tường tận, thân thiết như trong quan hệ hôn nhân. Mọi người trong giao ước mới nầy sẽ “nhận biết” Đức Chúa Trời “cách trực tiếp,” được kết hôn với Đức Chúa Trời, có sự nhận biết Ngài cách thân thiết riêng tư, từ kẻ nhỏ nhất đến kẻ lớn nhất. Do đó khi chúng ta được sanh bởi Đức Chúa Trời thì Thánh Linh sẽ làm chứng trong tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.
RoRm 8:16 Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.
Vì vậy, nếu có bất cứ ai đứng giữa tôi với Đức Chúa Trời thì tôi đã quay trở về với giao ước cũ cách vô vọng và từ bỏ giao ước mới. Chúng ta đã trở nên một nước thầy tế lễ và không còn cần một người trung gian để có thể đến trước mặt Đức Chúa Trời nữa.
G. Nhưng làm thế nào Đức Chúa Trời có thể đem đến giao ước mới khi giao ước cũ đã bị phá vỡ? Đức Chúa Trời phán rằng Ngài có thể làm được điều nầy vì “Ngài sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.” Muốn đem lại giao ước mới nầy trước tiên Đức Chúa Trời phải giải quyết những tội lỗi của họ đã phá vỡ các giao ước khác. Vì thế mọi tội lỗi đã phạm chống nghịch lại Đức Chúa Trời và các giao ước của Ngài trước hết phải được tha thứ. Kế đó Đức Chúa Trời mới có thể giới thiệu tôi với giao ước mới nhờ đó tôi có thể có luật pháp của Đức Chúa Trời được chép trong lòng mình. Tôi không còn thói quen bước đi trong tội lỗi như lối sống cũ nữa. Tôi có thể nhìn vào Đức Chúa Trời và nói rằng “Ngài là Đức Chúa Trời của con” và Ngài sẽ phán rằng “con là dân Ta.” Giao ước mới nầy chắc chắn như thế nào?
Gie Gr 31:35-36 Đức GIÊ-HÔ-VA, là Đấng đã ban mặt trời làm sự sáng ban ngày, ban thứ tự mặt trăng và ngôi sao soi ban đêm, lật biển lên, đến nỗi sóng nó gầm thét, Đức GIÊ-HÔ-VA là danh của Ngài phán rằng: 31:36 Nếu lệ luật đó mất đi khỏi trước mặt ta, thì bấy giờ dòng giống Y-sơ-ra-ên cũng sẽ thôi không làm một nước trước mặt ta đời đời, Đức GIÊ-HÔ-VA phán vậy.
Tại đây Đức Chúa Trời đang phán rằng Ngài sẽ không còn là Đức Chúa Trời nữa trước khi Ngài không giữ trọn lời hứa trong giao ước nầy. “Ta sẽ làm trọn lời hứa nầy với dân Y-sơ-ra-ên Ta, là nhà thật của Đức Chúa Trời, chắc chắn như mặt trời vẫn soi sáng ban ngày, mặt trăng vẫn chiếu rọi ban đêm không hề dứt.”
XVII. Đặc tính của Giao ước mới
Exe Ed 34:1-6 Có lời Đức GIÊ-HÔ-VA phán cùng ta rằng: 34:2 Hỡi con người, hãy nói tiên tri nghịch cùng những kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên; hãy nói tiên tri, và bảo những kẻ chăn ấy rằng: Chúa GIÊ-HÔ-VA phán như vầy: Khốn nạn cho kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên, là kẻ chỉ nuôi mình! Há chẳng phải những kẻ chăn nên cho bầy chiên ăn sao? 34:3 Các ngươi ăn mỡ, mặc lông chiên, giết những con chiên mập, mà các ngươi không cho bầy chiên ăn! 34:4 Các ngươi chẳng làm cho những con chiên mắc bịnh nên mạnh, chẳng chữa lành những con đau, chẳng rịt thuốc những con bị thương; chẳng đem những con bị đuổi về, chẳng tìm những con bị lạc mất; song các ngươi lại lấy sự độc dữ gay gắt mà cai trị chúng nó. 34:5 Vì không có kẻ chăn thì chúng nó tan lạc; đã tan lạc thì chúng nó trở nên mồi cho hết thảy loài thú ngoài đồng. 34:6 Những chiên ta đi lạc trên mọi núi và mọi đồi cao; những chiên ta tan tác trên cả mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.
34:11-12 Chúa GIÊ-HÔ-VA phán như vầy: Nầy, chính ta, tức là ta, sẽ kiếm chiên ta, ta sẽ tìm nó ra. 34:12 Ví như kẻ chăn tìm bầy mình ra, trong ngày mà nó ở giữa những chiên mình bị tan lạc, thì ta cũng sẽ tìm chiên ta ra như vậy: ta sẽ cứu chúng nó ra khỏi mọi nơi mà chúng nó đã bị tan lạc trong ngày mây mù tăm tối.
34:15-16 Ấy chính ta sẽ chăn chiên ta và cho chúng nó nằm nghỉ, Chúa GIÊ-HÔ-VA phán vậy. 34:16 Ta sẽ tìm con nào đã mất, dắt về con nào đã bị đuổi, rịt thuốc cho con nào bị gãy, và làm cho con nào đau được mạnh. Nhưng ta sẽ hủy diệt những con mập và mạnh. Ta sẽ dùng sự công bình mà chăn chúng nó.
34:23-24 Ta sẽ lập trên chúng nó chỉ một kẻ chăn, người sẽ chăn chúng nó, tức là Đa-vít, tôi tớ ta. Ấy là người sẽ chăn chúng nó, người sẽ làm kẻ chăn chúng nó. 34:24 Ta, Đức GIÊ-HÔ-VA, sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, còn Đa-vít, tôi tớ ta, sẽ làm vua giữa chúng nó. Ta, Đức GIÊ-HÔ-VA, đã phán vậy.
Ê-xê-chi-ên xuất thân từ một gia đình thầy tế lễ bị Nê-bu-cát-nết-sa bắt làm phu tù và sống bên bờ sông Kê-ba. Làm thế nào mà Ê-xê-chi-ên lại nói đến giao ước mới nầy?
A. Trong đoạn 34:1-6 nầy, Ê-xê-chi-ên nói với những người lãnh đạo dân sự (chủ yếu là các vị vua) như là những người chăn bầy và dân sự như những con chiên. Hãy nhớ Đa-vít là người trung gian của giao ước Đức Chúa Trời lập với Đa-vít vì ông là người nhận lãnh giao ước từ nơi Chúa và rồi chia sẻ lại cho dân sự. Do đó ông đứng giữa Đức Chúa Trời và dân sự. Bởi giao ước nầy, mỗi một người nối nghiệp Đa-vít cũng sẽ trở thành người trung gian của giao ước hay người chăn dắt dân sự. Về một nghĩa nào đó thì điều nầy thật đúng đối với Đa-vít vì Đa-vít đã từng là một cậu bé chăn chiên được lập làm vua. Giờ đây các vua kế nghiệp Đa-vít sẽ phải là những kẻ chăn dắt dân sự của Chúa. Nhưng Đức Chúa Trời phán qua Ê-xê-chi-ên rằng những kẻ chăn đã ngược đãi bầy chiên và làm cho chiên tản lạc. Điều nầy đã xảy ra khi Ba-by-lôn chinh phạt Giu-đa. Lúc bấy giờ Ba-by-lôn cũng đã chinh phạt A-si-ri là nước đã từng bắt dân Y-sơ-ra-ên (10 chi phái) làm phu tù . Vì thế giờ đây bầy chiên đã tan lạc khắp nơi trên đế quốc Ba-by-lôn và A-si-ri.
Kế đó Ê-xê-chi-ên nói tiếp rằng Đức Chúa Trời sẽ tìm kiếm những con chiên lạc mất và dấy lên cho họ Đa-vít, tôi tớ Ngài sẽ chăn dắt bầy chiên (đây nói về Đấng Christ là một Đa-vít trọn vẹn), không giống như những kẻ chăn đã đến trước Ngài mà Ê-xê-chi-ên mô tả.
B. Do đó bạn có thể thấy được ý nghĩa quan trọng khi Chúa Jêsus mô tả Chính Ngài là Người chăn hiền lành.

GiGa 10:11-16 Ta là người chăn hiền lành người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình. 10:12 Kẻ chăn thuê chẳng phải là người chăn, và chiên không phải thuộc về nó, nếu thấy muôn sói đến, thì nó bỏ chiên chạy trốn; muông sói cướp lấy chiên và làm cho tản lạc. 10:13 Ấy vì nó là kẻ chăn thuê, chẳng lo lắng chi đến chiên. 10:14 Ta là người chăn hiền lành , ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta, 10:15 cũng như Cha biết ta, và ta biết Cha vậy; ta vì chiên ta phó sự sống mình. 10:16 Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng nầy; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi.
C. Trong Exe Ed 34:11-12 Đức Chúa Trời tuyên bố Chính Ngài sẽ đến để tìm kiếm chiên của Ngài. Kế đó trong câu 23, Ngài công bố rằng Ngài sẽ lập “một kẻ chăn trên chúng nó.” “Kẻ chăn” đó sẽ là một hậu tự của Đa-vít, đấng sẽ đến để tìm kiếm chiên lạc mất vì Ngài không giống “kẻ chăn thuê” (GiGa 10:13) là kẻ không thật sự chăm lo cho chiên. Đây là “người chăn hiền lành” yêu thương chiên và vì chiên mà phó chính sự sống mình. Do vậy đối với những ai biết lời Kinh Thánh, Chúa Jêsus đang tự nhận Ngài chính là hậu tự của Đa-vít, Đấng sẽ làm ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-xê-chi-ên.
Do đó nếu bầy chiên sẽ được nhóm hiệp lại, và nếu hậu tự của Đa-vít sẽ cai trị trên chúng, thì điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ phải nối kết lại mối quan hệ với Y-sơ-ra-ên. Giê-rê-mi cũng đã rao báo những điều căn bản giống như vậy nhưng vào lúc đó dân sự không muốn nghe về sự đoán phạt ngay cho dù sứ điệp về sự đoán phạt sắp xảy ra được gắn liền với một lời hứa là Đức Chúa Trời sẽ lại đến cùng họ. Nhưng giờ đây sự đoán phạt đã giáng trên họ và họ ưa thích được nghe những tin tức tốt lành hơn.
D. Rồi trong Exe Ed 36:16-25 Đức Chúa Trời truyền cho Ê-xê-chi-ên rao báo cho dân sự một lần nữa để vạch rõ lý do việc Ngài sẽ lại đến cùng họ.
36:16-25 Lại có lời Đức GIÊ-HÔ-VA phán cùng ta rằng: 36:17 Hỡi con người, khi nhà Y-sơ-ra-ên ở trong đất mình, đã làm ô uế đất ấy bởi đường lối và việc làm của mình: đường lối chúng nó ở trước mặt ta như là sự ô uế của một người đờn bà chẳng sạch. 36:18 Ta đã rải cơn thạnh nộ của ta trên chúng nó, vì cớ huyết mà chúng nó đã làm đổ ra trên đất, và vì chúng nó đã làm ô uế đất ấy bởi thần tượng mình. 36:19 Ta đã làm tan tác chúng nó trong các dân, và chúng nó đã bị rải ra trong nhiều nước; ta đã xét đoán chúng nó theo đường lối và việc làm. 36:20 Khi chúng nó đã tới trong các nước mà chúng nó đã đi đến, thì chúng nó đã phạm danh thánh ta, đến nỗi người ta nói về chúng nó rằng: Ấy là dân của Đức GIÊ-HÔ-VA; chúng nó đã ra đi từ đất Ngài! 36:21 Nhưng ta tiếc danh thánh của ta mà nhà Y-sơ-ra-ên đã phạm trong các dân tộc, là nơi nhà ấy đã đi đến. 36:22 Vậy nên hãy nói cùng nhà Y-sơ-ra-ên rằng: Chúa GIÊ-HÔ-VA phán như vầy: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, ấy chẳng phải vì cớ các ngươi mà ta làm cách ấy, nhưng vì cớ danh thánh ta mà các ngươi đã phạm trong các dân, là nơi các ngươi đã đi đến. 36:23 Ta sẽ làm nên thánh danh lớn của ta, là danh đã bị phạm trong các dân, giữa các dân đó, các ngươi đã phạm danh ấy. Chúa GIÊ-HÔ-VA phán: Như vậy các dân tộc sẽ biết ta là Đức GIÊ-HÔ-VA, khi trước mắt chúng nó ta sẽ được tỏ ra thánh bởi các ngươi. 36:24 Ta sẽ thâu lấy các ngươi khỏi giữa các dân; ta sẽ nhóm các ngươi lại từ mọi nước, và đem về trong đất riêng của các ngươi. 36:25 Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi.
Họ bị bắt làm phu tù vì họ gặt những hậu quả do việc chọn lựa làm theo đường lối riêng của mình. Đức Chúa Trời sẽ lại thăm viếng họ và đem đến cho họ “Đấng Chăn chiên Hiền lành” của Ngài vì cớ “Danh Thánh Ngài” mà họ đã nói phạm giữa các dân. Dân sự trong cảnh phu tù đã nhận lãnh điều họ đáng phải gánh chịu, nhưng điều Đức Chúa Trời sắp làm cho dân Y-sơ-ra-ên không hề do bất cứ công lao nào của họ cả, song đúng hơn chỉ để bảo vệ danh Thánh của Ngài mà Ngài phải giữ trọn giao ước đã lập. Đức Chúa Trời đã hứa với Đa-vít và sẽ giữ lời hứa ấy hầu cho các dân tộc sẽ biết Ngài chính là Đức Chúa Trời.
1. Bước đầu tiên (c. 24) để tỏ cho các dân tộc biết rằng Ngài giữ giao ước Ngài là Ngài sẽ tái nhóm hiệp dân Y-sơ-ra-ên từ các dân tộc mà họ đã bị tản lạc và lập họ lại trên quê hương mình. Điều nầy đã xảy ra vào khoảng 50 năm sau lời tiên tri của Ê-xê-chi-ên khi các phu tù ở Ba-by-lôn được mãn hạn và được chép trong các sách Nê-hê-mi và Ê-xơ-ra.
36:24 Ta sẽ thâu lấy các ngươi khỏi giữa các dân; ta sẽ nhóm các ngươi lại từ mọi nước, và đem về trong đất riêng của các ngươi.
2. Bước thứ nhì (cc. 25-27) rất giống với những gì Giê-rê-mi đã nói tiên tri khi ông nói rằng Đức Chúa Trời sẽ:
31:33 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta.
Có nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ đặt trong lòng họ tình yêu agapé của Ngài, vốn là sự bày tỏ của tình yêu Đức Chúa Trời như chúng ta đã thấy trước khi có luật pháp. Giờ đây trong Ê-xê-chi-ên, Đức Chúa Trời phán: “Ta sẽ khiến ngươi trở nên một người mới mẻ ở bề trong bằng cách ban cho ngươi một tấm lòng mới, một tâm linh mới,” vì Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ một tấm lòng bằng thịt, và đặt Thần Ngài trong họ hầu cho họ vui thích làm theo ý muốn của Ngài. Ê-xê-chi-ên đang nói đến “giao ước mới” theo một cách thức khác hẳn, rất giống như Giê-rê-mi đã nói. Chúng ta thấy sự kết hợp của “luật pháp Đức Chúa Trời” (Sự yêu thương của Ngài) và Thần của Đức Chúa Trời, vốn là tính chất của “giao ước mới,” trong Rô-ma 5:5; khi Phao-lô giải bày hai điều nầy chung với nhau.
RoRm 5:5 Vả, sự trông cậy không làm cho hổ thẹn, vì sự yêu thương của Đức Chúa Trời rải khắp trong lòng chúng ta bởi Đức Thánh-Linh đã được ban cho chúng ta.
a. Thậm chí quan trọng hơn nữa là sự mặc khải rằng “kinh nghiệm tái sanh” không phải là một sự mặc khải của giao ước mới do Chúa Jêsus bày tỏ khi Ngài còn tại thế. Xin hãy nhớ phần ký thuật cuộc luận đàm giữa Ni-cô-đem và Chúa Jêsus liên quan đến sự cần thiết phải được “sanh lại” và thế nào trong câu 10 Chúa Jêsus lấy làm lạ khi Ni-cô-đem, vốn là một người am hiểu lời Thánh Kinh, lại không hiểu được khái niệm của việc “tái sanh bởi Thánh Linh.” Tại sao Chúa Jêsus lại cho rằng lẽ ra ông đã phải am hiểu điều nầy rồi?
GiGa 3:1-10 Trong vòng người Pha-ri-si, có người tên là Ni-cô-đem, là một người trong những kẻ cai trị dân Giu-đa. 3:2 Ban đêm, người nầy đến cùng Đức Chúa Jêsus mà nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được. 3:3 Đức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời. 3:4 Ni-cô-đem thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? 3:5 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời. 3:6 Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. 3:7 Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại. 3:8 Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy. 3:9 Ni-cô-đem lại nói: Điều đó làm thể nào được? 3:10 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi là giáo sư của dân Y-sơ-ra-ên, mà không hiểu biết những điều đó sao!
b. Rất đơn giản vì trong Exe Ed 36:26-27 Đức Chúa Trời bằng những lời lẽ dễ hiểu giải thích rằng Ngài sẽ đặt Thần của Ngài trong lòng mỗi kẻ thuộc riêng về Ngài: “Ta sẽ đặt thần mới trong các ngươi”; câu 27 “và Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi . . .”. Đây là việc sanh lại bởi Thánh Linh Đức Chúa Trời.
3. Yếu tố thứ ba của điều sẽ xảy ra khi “người chăn hiền lành” sẽ đến là việc thanh tẩy dân sự Đức Chúa Trời khỏi “mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi” (36:25). Điều Ê-xê-chi-ên đang nói về thực chất chính là những kẻ dự phần vào Nước của hậu tự Đa-vít sẽ là những kẻ được tẩy sạch bởi nước của Đức Chúa Trời, được ban cho tấm lòng mới và được đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời. Chính Chúa Jêsus đã nói với Ni-cô-đem :
GiGa 3:5 Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời.
Có thể là điều liên hệ đến “việc sanh bởi nước” mà Chúa Jêsus nói đến không phải ám chỉ tiến trình của việc sanh ra theo công lệ thiên nhiên mà đúng hơn ám chỉ việc Đức Chúa Trời tẩy sạch chúng ta khỏi mọi tội lỗi mình. Kinh nghiệm “tái sanh” do đó liên quan đến việc tẩy sạch khỏi tội lỗi và việc nhận lãnh Đức Thánh-Linh nhờ đó “tình yêu của Đức Chúa Trời được rải khắp trong lòng chúng ta” và chúng ta mặc lấy một bản tánh mới vì tấm lòng bằng đá ngày trước được thay thế bằng tấm lòng mới theo ý Ngài.
E. Rồi trong đoạn 37 của Ê-xê-chi-ên, Đức Chúa Trời lại bày tỏ khái niệm của “việc sanh lại” như một phần của giao ước mới.
Exe Ed 37:1-10 Tay của Đức GIÊ-HÔ-VA đặt trên ta; Ngài dắt ta ra trong Thần Đức GIÊ-HÔ-VA, và đặt ta giữa trũng; nó đầy những hài cốt. 37:2 Đoạn Ngài khiến ta đi vòng quanh những hài cốt ấy; nầy, có nhiều lắm trên đồng trũng đó, và đều là khô lắm. 37:3 Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, những hài cốt nầy có thể sống chăng? Ta thưa rằng: Lạy Chúa GIÊ-HÔ-VA, chính Chúa biết điều đó! 37:4 Ngài bèn phán cùng ta rằng: Hãy nói tiên tri về hài cốt ấy, và bảo chúng nó rằng: Hỡi hài cốt khô, khá nghe lời Đức GIÊ-HÔ-VA. 37:5 Chúa GIÊ-HÔ-VA phán cùng những hài cốt khô ấy rằng: Nầy, ta sẽ phú hơi thở vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống. 37:6 Ta sẽ đặt gân vào trong các ngươi, sẽ khiến thịt mọc lên trên các ngươi, và che các ngươi bằng da. Ta sẽ phú hơi thở trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống; rồi các ngươi sẽ biết ta là Đức GIÊ-HÔ-VA. 37:7 Vậy ta nói tiên tri như Ngài đã phán dặn ta; ta đương nói tiên tri, thì có tiếng, và nầy, có động đất: những xương nhóm lại hiệp với nhau. 37:8 Ta nhìn xem, thấy những gân và thịt sanh ra trên những xương ấy; có da bọc lấy, nhưng không có hơi thở ở trong. 37:9 Bấy giờ Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, hãy nói tiên tri cùng gió; hãy nói tiên tri và bảo gió rằng: Chúa GIÊ-HÔ-VA phán như vầy: Hỡi hơi thở, khá đến từ gió bốn phương, thở trên những người bị giết, hãy cho chúng nó sống. 37:10 Vậy ta nói tiên tri như Ngài đã phán dặn ta, và hơi thở vào trong chúng nó; chúng nó sống, và đứng dậy trên chơn mình, hiệp lại thành một đội quân rất lớn.
1. Giao ước Đức Chúa Trời lập với Y-sơ-ra-ên đã chấm dứt và họ đã chết rồi. Điều nầy được khẳng định rõ hơn trong câu 11:
37:11 Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi con người, những hài cốt nầy, ấy là nhà Y-sơ-ra-ên. Nầy, chúng nó nói rằng: Xương chúng ta đã khô, lòng trông cậy chúng ta đã mất, chúng ta đã tuyệt diệt cả!
2. Nhưng Đức Chúa Trời sẽ làm một điều mới mẻ:
37:12-14 Vậy, hãy nói tiên tri, và bảo chúng nó rằng: Chúa GIÊ-HÔ-VA phán như vầy: Hỡi dân ta, nầy, ta sẽ mở mồ mả các ngươi, làm cho các ngươi lại lên khỏi mồ mả, và ta sẽ đem các ngươi về trong đất của Y-sơ-ra-ên. 37:13 Hỡi dân ta, các ngươi sẽ biết ta là Đức GIÊ-HÔ-VA, khi ta đã mở mồ mả các ngươi, và làm cho các ngươi lại lên khỏi mồ mả. 37:14 Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và các ngươi sẽ sống. Ta sẽ lại lập các ngươi trong đất riêng của các ngươi; rồi các ngươi sẽ biết rằng ta, Đức GIÊ-HÔ-VA, sau khi hứa lời ấy thì đã làm thành, Đức GIÊ-HÔ-VA phán vậy.
3. Đức Chúa Trời đang phán rằng dân Y-sơ-ra-ên thiên nhiên đã chết nhưng sẽ có một Y-sơ-ra-ên mới mang đặc điểm là “sự sanh lại,” một dân tộc được Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trị. Đặc điểm của mỗi người trong nước Đức Chúa Trời là sự phục sinh. Phao-lô đã diễn đạt như sau:
Eph Ep 2:1, 5-6 Còn anh em đã chết vì lầm lạc và tội ác mình . . . 2:5 nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ - (ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu) - 2:6 và nhờ Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jêsus Christ.
F. Rồi một lần nữa trong đoạn 37 nầy chúng ta thấy Ê-xê-chi-ên trở lại với đề tài hậu tự của Đa-vít là Đấng sẽ cai trị trên dân sự Ngài như một giao ước đời đời. Không còn cần đến giao ước nào nữa vì đây sẽ là một giao ước đời đời.
Exe Ed 37:24-28 Tôi tớ ta là Đa-vít sẽ làm vua trên chúng nó. Hết thảy chúng nó sẽ có chỉ một kẻ chăn; chúng nó sẽ bước theo các mạng lịnh của ta; chúng nó sẽ gìn giữ các luật lệ của ta và làm theo. 37:25 Chúng nó sẽ ở đất mà ta đã ban cho tôi tớ ta là Gia-cốp, và là đất tổ phụ các ngươi đã ở. Chúng nó, con cái chúng nó, và con cái của con cái chúng nó sẽ ở đó cho đến đời đời; tôi tớ ta là Đa-vít sẽ làm vua chúng nó mãi mãi. 37:26 Vả, ta sẽ lập với chúng nó một giao ước đời đời giữa chúng nó với ta. Ta sẽ lập chúng nó và làm cho đông đúc. Ta sẽ đặt nơi thánh ta giữa chúng nó đời đời. 37:27 Đền tạm ta sẽ ở giữa chúng nó; ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. 37:28 Bấy giờ các nước sẽ biết ta, là Đức GIÊ-HÔ-VA, biệt Y-sơ-ra-ên ra thánh, vì nơi thánh ta sẽ ở giữa chúng nó đời đời.
Giao ước mới cho chúng ta biết rằng nơi thiêng liêng của Chúa là “thân thể của chúng ta” vì nó đã trở thành đền thờ của Đức Thánh-Linh (ICo1Cr 6:19). Vì chúng ta là một phần của dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nên sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ngự giữa chúng ta.
6:19 Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh-Linh đang ngự trong anh em, là đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao?
Vì vậy chúng ta là một phần của giao ước đời đời.

XVIII. Điều kiện của Giao ước
Gie Gr 31:31-34 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. 31:32 Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức GIÊ-HÔ-VA phán vậy. 31:33 Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. 31:34 Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình , mà rằng: Hãy nhận biết Đức GIÊ-HÔ-VA! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức GIÊ-HÔ-VA phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.
A. Những câu nầy nêu lên điều kiện của giao ước. Điều kiện của giao ước là mỗi bên kết ước phải thề nguyền với nhau. Xin hãy nhớ tính chất của giao ước luôn luôn là một sự cam kết của sự sống và sự chết. Đây không hề là một kiểu quan hệ bình thường mà là mối quan hệ phải được xem là nghiêm túc nhất. Do đó khi họ kết ước thì huyết phải đổ ra để biểu thị tính chất nghiêm túc của sự thỏa thuận giữa hai bên và để ngụ ý rằng nếu một trong hai người vi phạm giới hạn của giao ước thì sẽ nhận lãnh hình phạt là sự chết. Vì vậy, khi Đức Chúa Trời kết lập giao ước với con người thì Ngài đang phán rất nghiêm túc rằng nếu Ngài không thực hiện giao ước thì Ngài sẽ không còn là Đức Chúa Trời nữa. Đức Chúa Trời xem việc giữ giao ước vô cùng quan trọng.
Các điều kiện của giao ước là:
1. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và ta sẽ chép vào lòng chúng nó.
2. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó và chúng nó sẽ làm dân Ta.
3. Chúng nó thảy đều sẽ biết ta, từ kẻ nhỏ nhất đến kẻ lớn nhất.
4. Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.
B. Hãy tưởng tượng nếu bạn sống dưới giao ước tại núi Si-na-i và bởi luật pháp của Đức Chúa Trời bạn nhận biết mình là một tội nhân và tệ hại hơn nữa, một tội nhân không có khả năng tự thay đổi bản chất tội lỗi của mình. Bạn sẽ phải làm gì đối với bản chất tội lỗi của mình? Bạn làm gì đối với những tội lỗi dưới giao ước cũ mà bạn không thể nào được tha thứ? như tội tà dâm, và tội giết người chẳng hạn? Nếu bị bắt gặp phạm những tội nầy thì bạn sẽ phải bị kéo ra ngoài trại quân và bị ném đá đến chết. Do đó sau khi phạm cả hai tội nầy thì Đa-vít đã viết trong Thi Tv 51:16: “Vì Chúa không ưa thích của lễ, bằng vậy, tôi chắc đã dâng.” Đa-vít nhận thức rằng đã quá trễ để cầu xin sự tha thứ vì thế ông nài xin trực tiếp đến lòng nhơn từ thương xót của Đức Chúa Trời là điều vượt quá giới hạn của luật pháp. Bạn biết là nếu bạn đang sống dưới luật pháp thì đề tài tha thứ quả là không được nhấn mạnh đến trong bảng luật đâu. Khi am hiểu giao ước đầy đủ hơn chúng ta nhận biết rằng phá vỡ giao ước là sẽ chết. Vì vậy ngay từ ban đầu trong giao ước đầu tiên Đức Chúa Trời đã phán bảo A-đam, “Ngày nào ngươi ăn trái cây đó ngươi chắc sẽ chết.” Do đó, nếu tôi muốn được tha thứ thì hoặc tôi phải chết hoặc phải có một người chết thế cho tôi.
C. Dưới thời kỳ luật pháp (tức giao ước tại núi Si-na-i) thì bạn có vật thay thế là con sinh tế. Nếu bạn phạm tội thì bạn phải dân một của lễ. Một số người đã tốn rất nhiều tiền để cứ phải mua chiên và dê liên tục đến đền tạm dâng của lễ chuộc tội. Nếu phạm tội với một người khác thì bạn phải vừa dâng của lễ chuộc tội vừa dâng của lễ chuộc sự mắc lỗi. Nhưng làm thế nào một con dê có thể cất tội lỗi đi được? Tôi là một người có lý trí, và tội lỗi mà tôi phạm là do tôi toan định. Con dê thì không có lý trí, và nó không chọn phạm tội cũng không chọn tình nguyện chết thay cho tôi. Làm thế nào một con vật lại có thể trả giá thay cho tội lỗi con người được? Không thể nào! Đây là điều mà dân sự đều cảm thấy, do đó mỗi năm một lần họ có ngày đại lễ “chuộc tội” để chuộc lại phần nào sự thay thế không thỏa đáng nầy. Vào ngày nầy, thầy “tế lễ thượng phẩm” sẽ bắt hai con dê và sẽ đặt tay trên đầu một con dê, xưng ra mọi tội lỗi của dân sự, rồi giết nó đi lấy huyết đem vào nơi “chí thánh” và rảy lên trên nắp thi ân (tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời). Nhưng dù sao đó cũng vẫn là huyết của một con dê không thể nào chuộc lại tội lỗi con người. Điều nầy giống như một Giấy nợ dâng lên cho Đức Chúa Trời bởi đức tin và trông mong rằng một ngày kia một sinh tế trọn vẹn sẽ được dâng lên để cất tội lỗi của cả nhân loại đi. Do đó khi trở về nhà họ không hề cảm thấy được tự do thật vì tội lỗi họ đã được “che đậy” chứ không được cất đi. Đây là điều tốt nhất con người đã phải thực hiện để chuộc tội lỗi mình, song nó chưa đạt được điều Đức Chúa Trời mong muốn.
D. Nhưng ở đây tiên tri Giê-rê-mi nói trong sự xức dầu của Đức Chúa Trời rằng: “Ta sẽ tha sự gian ác các ngươi, và chẳng nhớ tội các ngươi nữa.” Chúa sẽ không hề nhớ đến tội lội của họ nữa vì thế trong giao ước mới sẽ không còn cần đến con dê làm sinh tế, hay ngày lễ chuộc tội nữa, vì giao ước mới sẽ bãi bỏ giao ước cũ tại núi Si-na-i. Chúa Jêsus là sinh tế cuối cùng chuộc tội cho loài người! Ê-sai đã chép:
EsIs 53:6 Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức GIÊ-HÔ-VA đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.
Cụm từ “chất trên người” cũng là cụm từ trong tiếng Hy-bá-lai được dùng để mô tả cách thức thầy tế lễ thượng phẩm “đặt tay trên con dê.” Dường như thể Đức Chúa Cha đã lấy tất cả mọi tội lỗi và đem đặt hay chất trên Chúa Jêsus. Chúa Jêsus trở nên tội lỗi vì cớ chúng ta và đã chết thay cho những kẻ vi phạm giao ước. Khi Chúa Jêsus chịu chết thì tội lỗi không phải chỉ được che đậy, mà là được cất đi! Sự sống lại của Chúa Jêsus từ trong cõi chết là chứng cớ cho thấy tội lỗi chúng ta đã được trả xong.
E. Trong tân ước chúng ta thấy rằng mình được “xưng công bình.” Được “xưng công bình” có nghĩa là:
1. được tha hết mọi tội lỗi
2. được xem như là chúng ta chưa hề phạm tội
3. được Đức Chúa Trời chấp nhận như thể chúng ta chưa hề phạm tội
Chúng ta không chỉ được xưng công bình nhưng Đức Chúa Trời phán qua tiên tri Giê-rê-mi (đoạn Gie Gr 31:33-34) rằng Ngài sẽ chép luật pháp Ngài trong bụng và trên lòng chúng ta, và ban cho chúng ta một tấm lòng mới. Nói cách khác, tôi không còn là một tội nhân vô vọng, không thể làm gì ngoại trừ phạm tội vì chỉ có bản tánh tội lỗi đang cai trị trong tôi. Trái lại tôi đã được ban cho một bản tánh mới, một tấm lòng mới. Giờ đây tôi có luật pháp (sự yêu thương) của Đức Chúa Trời được chép trong lòng mình.
F. Ê-xê-chi-ên đã nói (Exe Ed 36:25) rằng Đức Chúa Trời sẽ tẩy sạch chúng ta và rồi sẽ đặt Thần Ngài trong chúng ta, đem đến cho chúng ta sự sống mới và sự thôi thúc mới trong mọi việc chúng ta làm. Chúng ta không còn bị định để bước theo xác thịt nữa nhưng trái lại bước đi theo con người mới có Đức Thánh-Linh ngự trị, là Đấng ban sự sống cho mọi người dự phần trong giao ước mới. Chúng ta hành động theo những điều chất chứa trong lòng, vì thế, với luật pháp (sự yêu thương) của Đức Chúa Trời chép trong lòng, tôi không thể nào không sống theo luật yêu thương đó. Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với tấm lòng con người giống như là nguồn điện đối với một thiết bị điện. Khi một người hiệp nhất với tình yêu của Đức Chúa Trời, người ấy không thể nào không sống theo các điều răn của Đức Chúa Trời và hơn thế nữa. Người đó không cần phải suy nghĩ về tình yêu thương cũng không cần phải cố gắng thực hiện tình yêu thương. Giống như một cái lò điện không cần phải gắng sức để luộc một quả trứng, vì khi có nguồn điện thì thiết bị điện không thể nào không thực hiện đúng chức năng của mình. Tất cả mọi điều nó cần phải làm là hiện diện ở đó và làm một công cụ chuyển dẫn dòng điện mà thôi.
G. Điều kiện của giao ước cũng nói rằng dân sự của Đức Chúa Trời sẽ “nhận biết” Ngài. “Nhận biết” có nghĩa là “hiệp nhất với hay hiểu thấu suốt”. Nói rằng tôi “biết” một điều gì đó có nghĩa là tôi thấu suốt đề tài đó, tôi không chỉ biết đề tài đó cách sơ sài nhưng biết nó cách đầy đủ trọn vẹn. Từ nầy cũng được dùng để mô tả mối quan hệ trong hôn nhân, người nầy sẽ không chỉ biết về người kia cách hời hợt nhưng cả hai sẽ tiến đến chỗ thực sự biết rõ về nhau. Dân Y-sơ-ra-ên đã bỏ qua điều nầy dưới giao ước tại núi Si-na-i. Khi tất cả dân sự nhóm họp tại dưới chơn núi và Đức Chúa Trời phán với họ bằng một giọng rõ ràng, dân sự quá sợ hãi đến nỗi họ đã chọn Môi-se làm người đại diện cho mình. Họ muốn có mối quan hệ gián tiếp với Đức Chúa Trời. Họ đã biết về Đức Chúa Trời, song họ chọn Môi-se để có thể “nhận biết” Ngài rõ ràng. Khi Môi-se đã có thể nhận biết Chúa, ông tiến đến chỗ nhận thức được rằng bản tánh của Đức Chúa Trời là tình yêu thương. Và Chúa Jêsus đã đến thế gian nầy để bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời. Theo giao ước cũ bạn phải biết nhờ một người trung gian mới có thể biết Đức Chúa Trời được, song trong giao ước mới mọi người đều sẽ “nhận biết” Đức Chúa Trời cách riêng tư.
GiGa 17:3 Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Đấng Cha sai đến.
Sự sống đời đời liên quan đến việc “nhận biết” Đức Chúa Trời. Sự sống đời đời không liên quan đến sự kiện bạn sống mãi mãi, một sự sống kéo dài không dứt, mà hơn thế nữa nó liên quan đến phẩm chất của sự sống trong bạn. Đó là bạn sẽ “nhận biết” Đức Chúa Trời. Không phải là tôi sẽ chết để rồi bắt đầu sống sự sống đời đời, nhưng đúng hơn đó là sự sống phước hạnh tôi hưởng được trên đất nầy ngay từ khi tiếp nhận Đức Chúa Jêsus Christ và bước vào giao ước mới với Ngài.
GiGa 10:14-15 Ta là người chăn hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta, 10:15 cũng như Cha biết ta, và ta biết Cha vậy; ta vì chiên phó sự sống mình.
Tất cả mọi người ở trong giao ước mới đều được Đức Chúa Trời nhận biết. Ngài hiểu thấu nơi sâu kín nhất của chúng ta và kết hợp chặt chẽ với tâm linh chúng ta, chúng ta liên hiệp làm một với Ngài. Không chỉ Đức Chúa Trời biết rõ chúng ta nhưng chúng ta cũng “biết rõ” Ngài nữa. Đấng Christ sống trong tôi và tôi ở trong Đấng Christ. Vì vậy khi Đấng Christ đổ huyết Ngài cho giao ước đời đời, đó là nhằm tạo dựng một dòng dõi mới, một dân có tình yêu của Đức Chúa Trời, có chính sự sống của Đức Chúa Trời, sống trong mình.


† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 17-11-2018 09:14 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách