† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3097|Trả lời: 0

Mẫu Tự Hi-Bá-Lai

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 20-7-2011 19:28:51 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Mẫu Tự Hi-Bá-Lai

Lời Nói Đầu
Nếu có dịp nghiên cứu về cổ ngữ Hy-bá-lai , quí vị sẽ thấy vô cùng thích thú . Khi nhìn thấy văn thể mà chính Đức Chúa Trời dùng để truyền đạt mạng lịnh , bày tỏ ý chỉ và công việc Ngài cho nhân loại , lòng chúng ta không khỏi rung động trước tình yêu cao cả và quyền năng diệu kỳ của Ngài . Hầu hết con cái Chúa đều biết rõ là nguyên văn bản Kinh Thánh Cựu Ước được chép bằng chữ Hy-bá-lai . Bản văn nầy được Đức Chúa Trời hà hơi cho các trước giả nên tự bản văn ấy có giá trị tuyệt đối !
Khi đọc đến những từ trong nguyên bản Hy-bá-lai thì tiếng phán của Đức Chúa Trời như vang dội trong tâm linh ta , và dường như trực tiếp phán với chính lòng mình . Cũng như Kinh Thánh Tân Ước được chép bằng tiếng Hi-lạp , khi đọc đến nguyên văn Hi-lạp của Tân Ước , chúng ta có thể hình dung được lời phán từ miệng Chúa Giê-xu khi Ngài tại thế .
Hy-bá-lai văn là một cổ ngữ từ ngàn xưa , bắt nguồn nơi thổ ngữ Tây bắc Semitic . Dòng dõi Áp-ra-ham được mệnh danh là dân "Hê-bơ-rơ " (Hebrew ). Trải qua hàng ngàn năm ngôn ngữ Hy-bá-lai vẫn giữ được tính chất thuần túy của nó . Cho đến khi người Y-sơ-ra-ên bị lưu đày qua A-si-ri , Ba-by-lôn và bị các đế quốc đô hộ thì ngôn ngữ nầy bị pha trộn nhiều với tiếng Aramaic . Hy-bá-lai văn có 22 chữ cái với 27 hình thức khác nhau , phát ra độ 30 âm . Cổ ngữ nầy vốn không có nguyên âm , toàn là phụ âm . Mãi đến cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ VII S. C . mới có một nhóm học giả Do-thái điểm thêm nguyên âm , tức là những dấu chấm , dấu gạch hay dấu phết cặp theo các phụ âm . Tuy nhiên không có một nguyên âm nào tách rời . Nhờ điểm thêm nguyên âm nên chữ Hy-bá-lai dễ đọc và dễ hiểu hơn . Một đặc điểm nữa là không có một vần nào bắt đầu bằng một nguyên âm cả chỉ trừ ra liên tự "và " trong trường hợp bị biến thể khi đứng trước một vài tiền trí từ hay phụ âm nào đó thì cách viết và phát âm giống như một nguyên âm . Hiện nay tại Do-thái người ta không dùng nguyên âm mà chỉ dùng toàn phụ âm thôi , vì thế rất khó đọc và khó hiểu . Thỉnh thoảng mới tìm thấy một ít sách có cả nguyên âm và phụ âm . Lối đọc và viết đều từ phải sang trái (chiều ngang ).
Loạt bài nầy không phải là học về Hy-bá-lai văn , nhưng chỉ nghiên cứu ý nghĩa thuộc linh của mẫu tự Hy-bá-lai . Nên tôi xin phép giới thiệu vài nét đại cương của một cổ ngữ có liên quan đến Cơ-đốc-giáo hầu cho con cái Chúa được rõ . Nguyện Đức Chúa Trời ban phước cho quý vị khi đọc loạt bài nầy , nếu có chỗ nào sơ sót kính xin quý vị lượng thứ cho . Xin đa tạ .
Soạn giả cẩn tự .

Mục Lục
7 Mẫu Tự Hi Bá Lai
Tác giả: Bà Phạm Văn Năm
Chữ Thứ Nhất: (Aleph)
Chữ Thứ Nhì: (Beth)
Chữ Thứ Ba: (Gimel)
Chữ Thứ Tư: (Daleth)
Chữ Thứ Năm: (Hê)
Chữ Thứ Sáu: (Wau)
Chữ Thứ Bảy: (Zain)
Chữ Thứ Tám: (Kheth)
Chữ Thứ Chín: (Teth)
Chữ Thứ Mười: (Yod)
Chữ Thứ Mười Một: (Caph)
Chữ Thứ Mười Hai: (Lamed)
Chữ Thứ Mười Ba: (Mêm)
Chữ Thứ Mười Bốn: (Num)
Chữ Thứ Mười Lăm: (Samech)
Chữ Thứ Mười Sáu: (Ayin)
Chữ Thứ Mười Bảy: (Pe)
Chữ Thứ Mười Tám: (Tzade)
Chữ Thứ Mười Chín: (Koq)
Chữ Thứ Hai Mươi: (Resh)
Chữ Thứ Hai Mươi Mốt: (Shin)
Chữ Thứ Hai Mươi Hai: (Tau)


ALEPH (Bò đực)
Số tiêu biểu: 1
Nếu chúng ta đọc Kinh Thánh bằng tiếng Hy-bá-lai sẽ thấy các chữ cái (22 chữ) trong mẫu tự Hy-bá-lai đều có mặt trong Thi Thiên 119. Mỗi 8 câu bắt đầu bằng một tự mẫu; thí dụ từ câu 1 đến 8 bắt đầu bằng chữ ALEPH, chữ thứ nhì là BETH. Cứ mỗi tự mẫu là 8 câu như vậy, vì thế mà Thi Thiên 119 mới dài đến 176 câu! Người ta tin rằng bởi sự hà hơi của Đức Thánh Linh nên mỗi chữ ấy đầu có ý nghĩa, có thể giải nghĩa rõ ràng từng chữ, từng tiếng. Những chữ trong tự mẫu Hy-bá-lai phần lớn đầu có thể chỉ về Đấng Christ, và bày tỏ chính mình Ngài.
Chữ thứ nhất của tự mẫu nầy là chữ ALEPH, có nghĩa là Bò Đực. Nó là chữ thứ nhất đứng trước các chữ khác, như con bò kéo xe hay kéo cày đều đứng trước các vật ấy. Kinh Thánh thường dùng con bò đực tượng trưng cho ba điều: Sức mạnh - Phục vụ - Hi sinh.
S­ức Mạnh
Nói đến bò đực, chúng ta không quên câu chuyện lịch sử trong sách IVua 1V 19:19-21 cho biết khi Ê-li-sê được Ê-li gọi thì người đang cầm cày, trước mặt ông có 11 đôi bò, ông cầm đôi thứ 12. Khi ông từ giã thân nhân để thi hành chức vụ thì đã giết đôi bò, lấy cày làm củi chụm lửa nấu thịt đãi các tôi tớ mình, đoạn ông theo Ê-li và hầu việc người. Đó là đặc điểm của bò đực, nó có sức lực hầu việc chủ và cũng hi sinh khi chủ cần đến.
Ngày nay, thật khó tìm được những người có đủ ba điều kiện như trên. Tìm người có sức mạnh về thể xác thì rất dễ, nhưng muốn tìm một người khỏe mạnh phần thuộc linh lại là một việc khác. Ngày nay người ta chú trọng đến sự mạnh khỏe phần thể xác, điều ấy không có gì là sai cả, vì là một điều cần cho sự sống của con người. Nhưng vấn đề đáng chú ý là người ta mạnh để mà phạm tội, mạnh trong sự hư hoại, mạnh để làm những việc xấu xa ô uế như đã mô tả trong thơ RoRm 1:29-32. Người ta dùng hết sức mạnh Chúa ba cho mình để tiêu phí cho tội lỗi thì sức mạnh đó không có ích gì cho bản thân người ấy cũng như không ích lợi cho cho gia đình và xã hội.
Người khỏe mạnh thuộc linh là người có lòng thành thật, trong sạch, đi theo đường lối và ý chỉ của Chúa. Một người có tâm linh mạnh mẽ, có tấm lòng trong sạch thật khó kiếm vì rất hiếm hoi, nhưng Chúa Giê-xu rất cần những người ấy. Chúa Giê-xu là Đấng trọn vẹn trong mọi phương diện, Ngài là Đấng đầy ơn, nhân cách của Ngài thật trọn lành toàn vẹn. Tâm thần, linh hồn và thể xác của Ngài đều trong sạch. Ngài có quyền năng làm được mọi sự, sẵn sàng phục vụ mọi người cần đến Ngài và Ngài cũng sẵn sàng hi sinh vì mọi người. Chữ ALEPH là chữ đầu nhất, tượng trung cho sức mạnh thuộc linh của chúng ta, nó là phần quan trọng nhất, nhờ đó ta có thể thực hiện những công tác lớn lao để làm vinh hiển danh Chúa.
Con người muốn có sức mạnh thì phải có đủ sinh tố trong các thức ăn. Cũng vậy, nguồn gốc của sức mạnh thuộc linh là do Lời của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu phán: "Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời. " (Mat Mt 4:4). Muốn có một đời sống thuộc linh mạnh mẽ, ta nên học hỏi Lời Đức Chúa Trời, bước đi trong luật pháp Chúa cách trọn lành ngay thẳng thì sức lực thuộc linh sẽ gia tăng, chúng ta sẽ "nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn trong Đấng Christ" (Eph Ep 4:13) mới có đủ sức để hầu việc.
Phục Vụ
Con bò đực dùng sức mạnh để làm việc. Mat Mt 20:28 là một câu diễn tả thật đầy đủ ý nghĩa về đời sống và chức vụ của Chúa Giê-xu: "Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người". Theo phần xác thì Chúa Giê-xu là một người thợ mộc, sanh ra từ dòng dõi vua Đa-vít, nhưng theo thần linh của Thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Giê-xu Christ, Chúa chúng ta" (RoRm 1:3, 4). Ngài là Đấng mang lấy gánh nặng cho chúng ta như lời kêu gọi của Ngài trong Mat Mt 11:28. Ngài là Đấng sẵn sàng giúp đỡ chúng ta, để chúng ta được nhẹ nhàng, thoát gánh nặng tội lỗi, được tự do phục vụ Chúa và người mà Chúa đặt để chung quanh chúng ta.
Sự làm việc là một điều cần yếu cho sự sống của con người. Thời xưa, người La-mã và Hi-lạp không thích làm việc. Họ cho rằng nếu họ bắt tay làm một việc gì thì sẽ mất thể diện, nên mọi việc đều do đầy tớ làm cả. Về sau có người đứng lên đả phá lề thói ấy và khuyến khích mọi người phải làm việc vì là ích lợi cho thân thể, cũng ích lợi cho người khác nữa! Chúa Giê-xu không chỉ dạy dỗ, khuyến khích, nhưng chính Ngài cũng thực hành, Ngày bày tỏ lý tưởng cao đẹp nhất của con người là hạ mình xuống hầu việc Đức Chúa Trời và phục vụ mọi người. Hội thánh của Chúa rất cần những người hầu việc Ngài, những người dấn thân phục vụ Chúa, những người có lòng khiêm nhường, yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ người khác như Chúa chúng ta.

Hi Sinh
Con bò cũng tượng trưng cho sự hi sinh. Khi xưa Đức Chúa Trời dùng con bò đực dâng làm của lễ thiêu trên bàn thờ để chuộc tội cho dân sự. Ấy là hình bóng về sự hi sinh của Chúa Giê-xu, Ngài là con sinh để chuộc tội cho loài người. Sự hi sinh cao quý nhất, có ý nghĩa nhất là sự hi sinh của Chúa Giê-xu, Ngài hi sinh vì tội của chúng ta "đang khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết" (RoRm 5:8). Hội truyền giáo Báp-tít khi mới thành lập, họ nhóm lại chỉ có 13 người vào năm 1793; trong số ấy có William Carey. Ông là người dâng trọn đời sống mình hầu việc Chúa, và phục vụ Ngài tại Ấn độ trong 50 năm. Họ chọn con bò đực là tiêu biểu cho sức mạnh, sự hầu việc và hi sinh. Họ chạm hình con bò đực đứng giữa cái cày và bàn thờ, phía dưới có ghi mấy chữ: "Sẵn sàng hầu việc, sẵn sàng hi sinh".
Trên các phương tiện truyền thông: truyền hình, báo chí, chúng ta thường thấy người ta nói đến tinh thần yêu nước, xây dựng đất nước và thường kêu gọi sự đóng góp, hi sinh. Nhưng trên thực tế ít người dám hi sinh thật sự (hội đồng loài chuột). Cũng vậy, nhiều người giảng về sự hi sinh, dạy về sự hi sinh, khuyên người ta hi sinh cho công việc Chúa, nhưng chính mình họ thì không dám thực hiện theo điều họ dạy và khuyên chút nào cả. Hi sinh là sự chối mình, là một vấn đề trọng đại, nếu ai không chối mình thì người ấy chưa phải là tín đồ của Đấng Christ. Một tín đồ thật của Chúa là người bằng lòng hi sinh thì giờ, sức lực, tiền bạc và dốc đổ tình thương của mình trong sự phục vụ Chúa. Đạo Đấng Christ được thành lập trên thập tự giá, trên sự chối mình để bày tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta. Chúng ta thường than thở về sự yếu đuối, nguội lạnh của hội thánh, sự sai lầm của tín hữu và mạch nước sự sống, sức mạnh thuộc linh hầu như cạn tắt. Nguyên nhân của sự đau buồn nầy là vì hội thánh thiếu sự chối mình. Sự thử thách đến với hội thánh là một sự rèn đúc sức mạnh thuộc linh của con cái Chúa đang sống trong hoàn cảnh khó khăn. Nếu chúng ta thấy mình chưa có tinh thần hi sinh như đáng phải có thì chúng ta nên kiểm điểm lại chính mình, xin Chúa ban cho mình một sức mạnh thuộc linh để sẵn sàng đứng lên phục vụ Chúa và sẵn sàng hi sinh cho công việc Ngài, ắt chúng ta sẽ thỏa lòng cảm tạ Chúa và ca ngợi Ngài luôn.
Chữ ALEPH là chữ thứ nhất của mẫu tự Hy-bá-lai giống như mẫu tự Hy-lạp; Chúa Giê-xu tự xưng Ngài là ALPHA lẽ tất nhiên Ngài cũng là ALEPH trong mẫu tự Hê-bơ-rơ nữa, vì Ngài là Đấng Trước Nhất và trong mọi vật Ngài Đứng Đầu Hàng . Chúng ta nên theo Ngài để được sức mới. Nếu Đấng Christ ở trong chúng ta thì chúng ta sẽ có S­ức Mạnh (thuộc linh) Quyền Năng Của Sự Yêu Thương , Sẵn Sàng Phục Vụ , Sẵn Sành Hi Sinh cho Chúa và cho mọi người.
================================

BETH (Nhà)
Số tiêu biểu: 2

Chữ BETH là chữ thứ nhì trong mẫu tự Hy-bá-lai. Phát âm như chữ B. Nghĩa chữ nầy là "nhà", như chữ BETHEL là "nhà Đức Chúa Trời" và BETHLEHEM là "nhà bánh" v. v... Khi Chúa Giê-xu tại thế, Ngài đã dự tiệc cưới ở Ca-na trong xứ Ga-li-lê. Tiệc cưới ấy tỏ ra rằng đã có người bắt đầu thành lập gia đình mới, và rất có thể họ sẽ xây dựng một nhà để ở. Chúng ta là con cái Chúa, dù chúng ta không có nhà riêng nhưng ta có một nhà chung, đó là:
Nhà sự Sống, là Hội Thánh của Đức Chúa Trời
Đức Chúa Giê-xu đã đến thế gian với mục đích xây dựng một nhà cho Đức Chúa Trời tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Ngài cũng gọi Hội Thánh là Tân Phụ và Ngài là Tân Lang "Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài, vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn" (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ) (KhKh 19:7, 8). Đấng Christ là đầu Hội Thánh như chồng là đầu vợ (Eph Ep 5:25). Thế thì nhà Đức Chúa Trời tức là Hội Thánh của Ngài, như ITi1Tm 3:15 Phao-lô có nói: "Phòng ta có chậm đến thì con biết làm thế nào trong nhà Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy". Như chúng ta đã thấy ở trên khi Đức Chúa Giê-xu bắt đầu chức vụ thì Ngài dự tiệc cưới ở Ca-na, sau khi từ giã căn nhà có tiệc cưới, Ngài bắt đầu công tác cho nhà Đức Chúa Trời. Ngài vào đền thờ bện một cái roi bằng dây, đuổi hết những kẻ buôn bán và người đổi bạc ra khỏi đó. Phi-e-rơ đã nói: "Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời". Nhà Đức Chúa Trời là nơi rao truyền đạo sự sống, ban nước hằng sống cho mọi người. Từ xưa đến nay, theo lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên và lịch sử Hội Thánh thì những người phá hoại nhà Đức Chúa Trời lại là dân sự Ngài. Họ đã lạm dụng nhà Đức Chúa Trời để thủ lợi. Họ không lo xây dựng nhà Chúa mà chỉ làm cho nhà Chúa bị ô uế bởi tội lỗi do chính mình gây ra. Họ lập mưu chống nghịch với người nầy kẻ khác, lôi cuốn một số người theo mình để gây rối cho Hội Thánh, dùng những thủ đoạn mánh lới như người đời. Họ cũng dùng đường lối của thế gian để áp dụng cho nhà Đức Chúa Trời, rồi lại tự hào rằng mình mới là người lo cho nhà Đức Chúa Trời! Thật ra đó là những Cơ-đốc-nhân chỉ với cái tên gọi bên ngoài, nhưng tấm lòng chưa được tái sanh, chưa gặp chính Đấng Christ, chưa mời Chúa làm chủ trong cuộc đời của mình. Cũng có người quên rằng nhà của Đức Chúa Trời là nhà "cầu nguyện" cho muôn dân. Không có gì lấy làm lạ khi có người vào nhà Đức Chúa Trời mà không gặp được Ngài. Có lẽ họ vào nhà Chúa để nghe một vị mục sư danh tiếng giảng, nếu có điểm nào thích hợp thì họ sẽ vui lên một chút, nếu không thích thì thôi, giống như người ta đi nghe một bài diễn thuyết chứ không phải đi nghe mạng lịnh của Đức Chúa Trời. Thật đáng buồn thay! Đức Chúa Trời diễn tả về Dân Y-sơ-ra-ên khi xưa như sau: "Dân ta ngồi trước mặt ngươi, và nghe lời ngươi; chúng nó không làm theo. Miệng chúng nó tỏ ra nhiều sự yêu mến, mà lòng chúng nó chỉ tìm lợi. Nầy, chúng nó coi người như là kẻ hát hay, có tiếng vui và kẻ đờn giỏi, chúng nó nghe lời ngươi nhưng không làm theo" (Exe Ed 33:31, 32). "Vì cớ việc ác chúng nó ta sẽ đuổi chúng nó khỏi nhà ta, ta sẽ chẳng thương yêu chúng nó nữa" (OsHs 9:15). Chúa cũng khuyên rằng: "Hãy nghe theo tiếng ta, noi theo điều ta dạy mà làm. Vậy thì các ngươi sẽ làm dân ta, ta sẽ làm Đức Chúa Trời các ngươi" (Gie Gr 11:4). Thật phước thay cho ai là người vào nhà Đức Chúa Trời mà gặp được mặt Ngài, nghe được tiếng Ngài để cẩn thận làm theo.
Nhà sự Sống là một Lâu Đài Hạnh Phúc
Chính thân thể của mỗi Cơ-đốc-nhân là nhà của Chúa, Ngài muốn giữ cho nhà ấy luôn sạch sẽ, thánh khiết nên Ngài bằng lòng vào trong nhà ấy để ở, để xây dựng, giúp đỡ, dọn dẹp hầu cho nhà ấy cứ sạch sẽ luôn và mỗi ngày thêm tốt đẹp, cũng khiến cho nhà ấy trở thành một lâu đài hạnh phúc, nó được đặt trên nền tảng của sự công nghĩa, nếu thiếu sự công nghĩa thì lâu đài ấy bị sụp đổ.
Một lâu đài giống như một mảnh vườn, nó cần được săn sóc giữ gìn bởi chủ, nếu không thì gai gốc, cỏ dại sẽ phủ đầy mảnh vườn. Lâu đài hạnh phúc của chúng ta cũng phải được Chúa vun bồi săn sóc hằng ngày, nếu không sẽ bị rong rêu phủ kín, dơ bẩn, xấu xa. Chính Đấng Christ phải kiểm soát căn nhà thiêng liêng của chúng ta mỗi giờ, mỗi phút hầu giữ nó luôn sạch, sạch cả trong lẫn ngoài. Nhiều con cái Chúa mong muốn chính thân thể mình được trở nên "lâu đài" hay "đền thờ" Chúa ngự nhưng lại không bằng lòng để Chúa kiểm soát, dẹp đi những ý riêng, những ích kỷ, ganh tị, giận phiền. Họ không dành trọn quyền cho Chúa để Ngài có thể dọn sạch căn nhà chính Ngài có thể ngự trị. Chúa không thể ngự vào trong tấm lòng dơ bẩn được. Vì thế nhiều người tin Chúa lâu năm vẫn dễ vấn vương với tội lỗi, họ không đủ nghị lực để chiến thắng. Hằng ngày họ thấy mình yếu đuối, dơ bẩn và cố gắng dọn dẹp cho có vẻ khả quan hơn. Nhưng than ôi! càng cố gắng bao nhiêu lại càng thất bại bấy nhiêu. Chỉ từ bỏ một vài sai lầm nhỏ nhặt vẫn chưa đủ khiến cho đền thờ Chúa được thánh khiết, cho đến khi nào "tất cả mọi điều ô uế bị tống đuổi ra hết" từ cái bàn rất to cho đến một đồng tiền rất nhỏ đều phải bị quăng ra ngoài! Nếu chúng ta muốn cho "nhà" của Chúa luôn sạch sẽ thì hãy mời Chúa ngự vào làm chủ cuộc đời chúng ta. Chúng ta phải giữ mối tâm giao mật thiết với Ngài luôn, hầu cho Ngài canh giữ "nhà" tức là lòng chúng ta cách cẩn thận, bằng không ma quỷ sẽ lẻn vào cướp mất những gì tốt nhất của chúng ta và bỏ lại những điều ghê tởm nhất trong lòng ta đấy!
Chúa muốn cho lòng chúng ta, tức là đền thờ của Ngài phải thật thánh sạch và lưu xuất những hạnh phúc thật, vang lên những tiếng ngợi khen vui vẻ thật, với một tình yêu thương thật trong danh vinh hiển của Ngài, hầu cho từ nơi đền thờ ấy khiến cho nhiều người được phước vì ta có trái của Thánh Linh trong lòng mình.
Bết-lê-hem là nhà bánh
Thành Bết-lê-hem có nghĩa là nhà bánh, nhưng có nhiều người sinh trưởng trong ấy lại bị đói đến nỗi phải lìa bỏ thành Bết-lê-hem như gia đình Ê-li-mê-léc. Đấng Christ sanh tại Bết-lê-hem, nhưng chính Ngài mới là Bết-lê-hem thật, Bết-lê-hem thiêng liêng. Khi dân Y-sơ-ra-ên đi lưu lạc trong đồng vắng, chính Ngài đã nuôi họ bằng bánh ma-na trong 40 năm. Khi tại thế Ngài đã hóa bánh 2 lần cho đoàn dân đông đúc được no nê, nhân đó Ngài dạy dỗ họ về bánh thật, là bánh hằng sống từ trên trời xuống để chỉ về chính mình Ngài "Nhưng Cha ta ban cho các ngươi bánh thật là bánh từ trên trời xuống. Bởi chưng bánh Đức Chúa Trời là bánh từ trên trời giáng xuống, ban sự sống cho thế gian" (GiGa 6:32, 33). Chúa Giê-xu cũng tự xưng chính Ngài là bánh hằng sống: "Ta là bánh của sự sống, ai đến cùng ta chẳng hề đói và ai tin ta chẳng hề khát" (GiGa 6:33). "Ta là bánh của sự sống v. v..." Chúng ta là kẻ tin Ngài tức là kẻ ở trong "nhà bánh", thử hỏi linh hồn chúng ta có thật được no nê bánh sống ấy chăng? Hay chúng ta đang bị đói khát vì cớ sự vô tính của mình? Hằng ngày bánh hằng sống đã bị lảng quên, chúng ta đi kiếm những thức không phải là bánh hằng sống khiến cho linh hồn chúng ta thêm bệnh hoạn và chúng ta đang "chết đói trong nhà bánh". Thật vậy, chính Chúa Giê-xu đã hứa ai ở trong Ngài thì được sự sống dư dật: "Nếu ai ăn bánh ấy thì sẽ sống vô cùng, và bánh mà ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian tức là thịt ta" (GiGa 6:51). Chúng ta có nuôi linh hồn mình bằng bánh ấy hằng ngày chăng?
===============================

GIMEL (Lạc đà)
Số tiêu biểu: 3
Chữ thứ ba trong mẫu tự Hy-bá-lai là GIMEL (như chữ G). Chữ nầy có nghĩa là "lạc đà". Con lạc đà trong Kinh Thánh được biết có ba công dụng rất quan trọng: Đi đường xa, mang nặng và chịu đựng. Chúng ta sẽ lần lượt học qua ba điểm sau đây.
Đi Đường Xa
Lạc đà là một con vật có biệt tài đi trong sa mạc rộng lớn mênh mông rất bền bỉ, không con thú nào bì kịp. Nó giống như một chiếc tàu lênh đênh trên "biển cát". Cơ thể nó có thể chịu đựng sức nóng như thiêu, có thể đi nhiều ngày trong sa mạc, không uống nước mà không mệt nhọc gì cả. Nó cũng có tài định hướng đi rất đúng. Nó không biết nhìn trời để "lần bước theo ngôi sao" như các vị bác sĩ ngày xưa, cũng không có địa bàn như những vị thuyền trưởng trên đại dương bát ngát mà vẫn đi đúng đường trong sa mạc mênh mông như sa mạc Sa-ha-ra chẳng hạn.
Về điểm nầy con lạc đà tiêu biểu cho đời sống thuộc linh của Cơ-đốc-nhân, hay là sự sinh hoạt của Hội Thánh Đấng Christ. Ngược dòng thời gian, chúng ta nhớ đến Áp-ra-ham là người được Đức Chúa Trời kêu gọi trước tiên để lìa bỏ quê hương, đi đến nơi mà mình chưa biết. Dầu vậy Áp-ra-ham không lạc đường vì Đức Chúa Trời đã dắt dẫn ông. Ông cứ đi, tuy không có địa bàn cũng không thể định hướng nhờ sao, nhưng ông đi thật đúng đường để vào xứ Ca-na-an.
Dân Y-sơ-ra-ên đi trong sa mạc 40 năm mà "giày họ không mòn, áo họ không rách" vì Đức Chúa Trời là vị hướng đạo cho họ. Chúng ta ngày nay cũng đang đi đường đến xứ Ca-na-an thiêng liêng, từ đất đến trời. Chúng ta không phải là kẻ "đi mà không biết mình đi đâu" nhưng chúng ta có Chúa yêu dấu của mình là Giê-xu Christ, Ngày đã đến thế gian mở một con đường cứu rỗi từ đất đến trời cho chúng ta. Ngài đã đi trước để dẫn dắt chúng ta, dấu chơn Ngài còn in rõ trên "sa mạc thiêng liêng" cặp theo những dòng huyết tưới khắp nẻo đường. Chúng ta biết chắc nơi chúng ta sẽ đến là thiên đường. Hiện nay chúng ta là khách lữ hành trên đất, Thi Tv 119:19 chép rằng: "Tôi là người khách lạ trên đất. Xin chớ giấu tôi các điều răn Chúa". Một khách lữ hành trên lưng lạc đà ở giữa sa mạc, điều cần yếu nhất cho người ấy là giếng nước, nếu không có nước thì thật là một tai nạn! Có hai điều làm cho viễn khách lo ngại cho cuộc hành trình của mình trong sa mạc là:
Đi sai đường nên không tìm thấy giếng nước.
Kẻ thù làm cho các giếng nước có chất độc.
Trong trận chiến tranh giữa người Âu châu và Ả-rập khi xưa, binh sĩ Âu châu thường phải thử nước của các giếng trong sa mạc trước khi uống vì sợ ngộ độc. Trên đường thuộc linh của Cơ-đốc-nhân thì Đức Chúa Trời thường giấu những điều răn của Ngài, khỏi mắt con cái Ngài vì đó là những "giếng nước" làm thỏa mãn cho khách lữ hành thiêng liêng trên đường sự sống mà không có chất độc nào. Vì vậy tác giả Thi Thiên có lần đã cầu nguyện rằng: "Xin Chúa mở mắt tôi để tôi thấy sự lạ lùng trong luật pháp của Ngài" (Thi Tv 119:18). Tại sao Chúa giấu Lời của Ngài? Kinh Thánh là địa bàn, là kim chỉ nam, là suối nước sống, Cơ-đốc-nhân nhờ đó mà nhận định đúng đường lối của Chúa Giê-xu để trải qua sa mạc cách rõ ràng, tìm thấy những giếng nước trong lành ngon ngọt được lấp kín khỏi mắt kẻ thù là ma quỷ.
Trong cơ thể lạc đà có một túi nước dự trữ, nên dù cuộc hành trình có dài bao nhiêu, nó cũng có thể chịu đựng được mà không chết khát. Đức Chúa Giê-xu Christ cũng dự bị cho chúng ta một mạch nước đời đời không hề cạn tắt là Đức Thánh Linh để ở với chúng ta mãi mãi. Vậy chúng ta phải hết lòng tìm kiếm và yêu mến Ngài hầu cho đời sống thuộc linh của chúng ta luôn được tươi mới, mát mẻ.
Mang Nặng
Lạc đà có sức mạnh phi thường. Nó có thể mang những kiện hàng hóa nặng nề suốt đường xa kinh khủng. Với gánh nặng trên lưng, nào người, nào đồ vật, nó vượt hàng ngàn dặm mà không hề ngã quị giữa đường. Đây cũng là đặc điểm một tín đồ thật của Đấng Christ. Mỗi người đều mang lấy gánh nặng của mình và của người khác nữa. Phao-lô khuyên: "Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em đã làm trọn luật pháp của Đấng Christ". (GaGl 6:2). Đấng Christ cũng từng mang lấy mọi gánh nặng thay cho chúng ta. Ngài kêu gọi chúng ta là kẻ mệt mỏi và gánh nặng hãy đến với Ngài để được sự yên nghỉ (Mat Mt 11:28). Mỗi Cơ-đốc-nhân đều có gánh nặng trong lòng, gánh nặng về sự yêu thương linh hồn tội nhân đang hư mất, về sự yếu đuối của anh em, về sự mở mang vương quốc của Đức Chúa Trời v. v... Chúng ta dù mang nặng nhưng có sức mang nổi, nhờ Chúa "thêm sức cho" mỗi ngày. Phao-lô đã chứng minh rằng "Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi" (Phi Pl 4:13). Lắm lúc chúng ta cảm thấy gánh nặng thật quá nặng nề hầu như lảo đảo, muốn "quăng phứt đi" cho rảnh thì liền lúc ấy có tiếng êm dịu nhỏ nhẹ trong tâm linh ta: "Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay săn sóc anh em" (IPhi 1Pr 2:7).
Chịu Đựng
Con lạc đà lại có một đặc điểm nữa là "chịu đựng" cách bền bỉ dẻo dai. Nó vừa mang nặng, đi đường xa, chịu đựng lâu ngày dưới sức nóng như thiêu trong sa mạc. Đấng Christ đã vào thế gian tăm tối nầy, Ngài mang gánh nặng tội lỗi chúng ta, Ngài hướng dẫn chúng ta tiến bước trên con đường xa thẳm, Ngài cũng chịu đựng những sai lầm vi phạm của chúng ta nữa. Khi tại thế Ngài chịu đựng sự phản trắc của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, sự chối bỏ của Phi-e-rơ, sự sỉ nhục của quân lính La-mã, sự độc ác của dân Do-thái, sự giả hình của bọn Pha ri si. Nhưng Ngài "như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm trước mặt kẻ hớt lông" để hoàn tất chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Ngài tỏ lòng nhơn từ đối với sự bất toàn của chúng ta, Ngài vẫn cầu thay cho chúng ta nơi ngôi thi ân trên trời. Riêng chúng ta là Cơ-đốc-nhân, chúng ta phải noi gương Ngài mà chịu đựng những thử thách khó khăn, chịu bắt bớ khốn khổ vì Ngài, chịu đựng những kẻ lạc lối lầm đường, những con người "xác thịt" trong hội thánh, những anh em giả dối là những kẻ có lương tâm đã lì v. v...
Sứ đồ Phao-lô là con người chịu đựng bền bỉ dẻo dai, chúng ta hiểu được nhờ khúc sách sau đây: "Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đôi phen tôi gần phải bị chết; năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn mươi; ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. Lại nhiều lần tôi đi đường, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối; chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ. Còn chưa kể mọi sự khác là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội thánh, nào có ai vấp ngã mà tôi chẳng như nung như đốt ư? Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế nhưng không ngã lòng; bị bắt bớ nhưng không đến bỏ; bị đánh đập nhưng không đến chết mất, chúng tôi thường mang sự chết của Chúa trong thân thể mình, hầu cho sự sống Đức Chúa Giê-xu cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi. Bởi chúng tôi là kẻ sống, vì cớ Đức Chúa Giê-xu mà hằng bị nộp cho sự chết, hầu cho sự sống của Đức Chúa Giê-xu cũng tỏ ra trong xác thịt hay chết của chúng tôi" IICo 2Cr 11:23-29 và 4:8-11). Đó là một bằng chứng cụ thể nhất. Mỗi Cơ-đốc-nhân chân chính có một sức chịu đựng phi thường, cả cuộc đời của họ thật vô cùng tốt đẹp, "không vết, không nhăn, không chi giống như vậy" nhưng "không chỗ trách được". Có lúc họ cũng đương đầu với hạng người bần tiện, đê hèn trong xã hội nhưng họ chẳng chút than van oán trách, cũng không nản chí sờn lòng, cứ "phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va". Đời sống họ giống như "cây trồng gần dòng nước, sanh bông trái theo thì tiết, lá nó chẳng tàn héo". Người ngoại cuộc nhìn xem tưởng chừng như họ đang ở trong lửa bỏng dầu sôi như ba bạn Hê-bơ-rơ. Nhưng lạ lùng thay họ vẫn vui vẻ trong ơn yêu thương của Chúa, hoạt động cho công việc Chúa càng mạnh mẽ hơn nữa, môi miệng họ như một dòng suối mát mẻ tuôn tràn nước sống vì họ đã tìm được bí quyết của sự chịu đựng ấy là "Vì danh Chúa mà chịu khổ". Họ bằng lòng chấp nhận mọi cảnh khó khăn cho đến cuối cùng, như Ê-sai đã nói "Đồng vắng và đất khô hạn sẽ vui vẻ, nơi sa mạc sẽ mừng rỡ, và trổ hoa như bông hường, nó trổ hoa nhiều và vui mừng, cất tiếng hát hớn hở. Sự vinh hiển của Liban và sự tốt đẹp của Cạt mên và Sa rôn sẽ được ban cho nó. Chúng sẽ thấy sự vinh hiển Đức Giê-hô-va, và sự tốt đẹp của Đức Chúa Trời chúng ta" (EsIs 35:12). Đời sống họ không phải mỗi bước đều có rải hoa hồng, nhưng họ đang đi trong sa mạc, trong ấy ẩn những suối nước trong và có hoa hồng cặp theo.
Qua bài học nầy chúng ta thấy rằng bởi sự sống Đấng Christ ở trong chúng ta nên chúng ta cứ tiếp tục cuộc hành trình đầy gian khổ xa xăm (xa hơn cả nguyệt cầu mà các phi hành gia Hoa kỳ đã đổ bộ lần đầu tiên vào ngày 20-7-69). Đây là hành trình thuộc linh từ đất đến trời, lâu dài cho đến hết cuộc đời chúng ta, không lạc hướng, không lầm đường, không mỏi mệt kiết sức dưới những gánh nặng đau thương, nhưng vẫn vui tươi cất bước cách hăng hái trên thiên trình trong quyền năng siêu việt của Đức Thánh Linh. Ê-sai cho biết bí quyết thành công ấy không phải bởi sức người như sau "Đức Giê-hô-va sẽ cứ dắt đưa ngươi; làm cho ngươi no lòng giữa nơi khô hạn lớn; làm cho cứng mạnh các xương ngươi, ngươi sẽ như vườn năng tưới, như nước suối chẳng hề khô vậy" (EsIs 58:11) và "ai trông đợi Đức Giê-hô-va chắc được sức mới, cất cánh bay cao như chim ưng, chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi" (EsIs 40:31) và tác giả Thi Thiên cũng cho biết "Họ đi tới, sức lực lần lần thêm; ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại thành Si ôn" (Thi Tv 58:7).
Nguyện Chúa ban cho chúng ta sức mới hằng ngày để tiến bước thiên trình mà không "ngã chết dọc đàng" như dân Y-sơ-ra-ên trong cuộc hành trình nơi sa mạc. 
===================================

DALETH (Cái cửa)
Số tiêu biểu: 4

Chữ DALETH có nghĩa là "cái cửa". Nó có hình dạng như cái cửa. Phát âm như chữ D. Kinh Thánh đề cập đến cái cửa trong Sáng thế ký chương 4 khi Chúa phán với Ca-in: "Tội lỗi rình đợi trước cửa". Cũng giống như một con thú rừng rình mò trước cửa để chờ đợi con mồi, tội lỗi rình đợi trước cửa lòng Ca-in, đáng lý ra Ca-in phải "chiến thắng" và "quản trị" nó như lời Chúa cảnh cáo, trái lại Ca-in đã tiếp nhận nó và bị nó dẫn đi theo đường nó!
Sự hủy diệt rình đợi trước cửa được mô tả trong Xuất Ê-díp-tô ký chương 12 khi dân Y-sơ-ra-ên bắt con chiên con không tì vít nhốt trong nhà bốn ngày, đoạn giết nó rồi lấy huyết bôi trên mày cửa cùng hai cây cột cửa. Tất cả mọi người đều ở trong nhà, không ai được ra khỏi cửa. Chúa Giê-xu khi tại thế có phán rằng: "Ta là cái cửa nếu ai bởi ta mà vào thì sẽ được cứu rỗi". Thật chính Đấng Christ là cửa cứu rỗi để dẫn người ta vào con đường sự sống. Chính Ngài cũng là Đường Đi, Chân Lý và Sự Sống, mà Ngài cũng là cái cửa để bảo vệ an toàn cho ai là người đang đi trên con đường ấy.
Tội lỗi và sự chết bao trùm thế giới và cả nhân loại, xã hội ngày càng hư hoại, người ta đều "tư kỷ, tham tiền, lường thầy phản bạn, ưa thích sự vui chơi hơn là yêu mến Đức Chúa Trời". Tội lỗi đang rình đợi trước cửa và khắp các nẻo đàng khiến cho thế giới tối tăm nầy càng thêm tăm tối. Trước tiên tội lỗi đã biến vườn Ê-đen trở thành sa mạc, tội lỗi đã khiến cho A-đam và Ê-va bất tuân mạng lịnh của Đức Chúa Trời nên gia đình phước hạnh của A-đam trở thành sầu khổ vì tội sát nhân của Ca-in. Cũng vì thế mà nhân loại trong thời tiền sử cũng hung ác không khác chi thời đại nguyên tử nầy. Sáng thế ký 6: 5 chép rằng: "Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn". Nhiều quốc gia trên thế giới đang đua nhau chế tạo các khí giới tối tân để tiêu diệt nhau. Dầu môi miệng người ta hô hào hoà bình, tìm biện pháp để tái lập hòa bình, song càng tìm kiếm càng không thấy bóng dáng hòa bình đâu cả mà chiến tranh mỗi lúc càng tàn khốc hơn, càng lan rộng khắp mọi nơi. Sự kiện ấy cứ tiếp diễn chỉ vì người ta quên rằng Đấng Christ là cái cửa dẫn đến hòa bình, là cái cửa bảo toàn sự sống cho nhân loại. Chính môi miệng Ngài đã thốt ra lời hứa quý báu nầy: "Ta ban cho các ngươi sự hòa bình" và "sự hòa bình ấy chẳng phải như thế gian cho". Người ta có thể mở ra nhiều cuộc hòa đàm, hội nghị để tìm kiếm hòa bình giữa các quốc gia, nhưng các phương cách ấy không đưa nhân loại đến sự hòa bình. Chính Chúa Giê-xu là Đấng kiến tạo hòa bình khi Ngài phán: "Hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ". Ngài là cái cửa đưa đến sự yên nghỉ thật, cửa dẫn đến sự hòa bình thật. Khi bị treo trên thập hình, Ngài chẳng chút hận thù, dâng lời cầu nguyện tha thiết: "Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì". Dù Ngài có đủ quyền bính để tiêu diệt kẻ thù song Ngài muốn mở cửa hòa bình cho người ta bước vào là "tin lành cứu rỗi". Mọi nhân vật trong thế gian bất luận là ai, từ vị nguyên thủ quốc gia, hay các chính trị gia, thương gia, kỹ nghệ gia, hoặc bần cố nông hay tư sản v. v... đều phải bước vào cửa hòa bình ấy là chính Đấng Christ thì mới hưởng được hòa bình thật sự. Ngài là cửa cứu rỗi, trong Ngài chúng ta thấy sự công nghĩa yêu thương, chúng ta ở đó sẽ được thỏa lòng vì Ngài phán: "Họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ". Chỉ Ngài mới kiến tạo một xã hội công bình vì sự công bình ấy nằm ngay trong lòng mỗi cá nhân đã bằng lòng tiếp nhận Ngài. Họ là những con người thánh thiện, được huyết của Chúa bôi xóa tội lỗi, cho họ mặc lấy bản tánh của Đức Chúa Trời. Ngoài Đấng Christ ra không có cửa nào khác để đưa nhân loại đến sự hòa bình vĩnh cửu. Ngài cũng là cái cửa giải thoát mọi sự bối rối nghi ngờ, tuyệt vọng. Ngài giúp chúng ta ra khỏi ngõ bí đường cùng. Chúng ta hãy đến với Ngài, đem mọi nan đề đặt nơi chân Ngài, Ngài sẽ giải quyết tất cả. Ngài là cái cửa được đóng chặt để ngăn chặn mọi sự gian ác xấu xa xâm nhập vào lòng chúng ta. Ngài cũng là cái cửa mở toan cho công việc thuộc linh tốt đẹp, là cái cửa khóa chặt đối với địa ngục, song mở rộng cho thiên đàng.
Chữ DALETH tiêu biểu về quyền năng và chức vụ Chúa Giê-xu thật rõ ràng, Ngài là các cửa đưa người ta vào thiên đàng, ngoài Ngài không có cửa nào khác. Chúng ta là kẻ đã vào cửa ấy rồi thì đừng tìm cách thoát ra, bởi vì bên ngoài cửa ấy bao nhiêu là tội lỗi đang "rình đợi" chúng ta đó.
=======================================

HÊ (Cửa sổ)

Số tiêu biểu: 5
Chữ nầy (phát âm như chữ H) có nghĩa là "cửa sổ". Trong tiếng Hy-bá-lai có tám từ liệu khác nhau chỉ về cửa sổ và được chia làm hai loại. Trong Kinh Thánh cho chúng ta biết hai loại "cửa sổ" ấy như sau:
Cửa sổ trên trời (SaSt 7:11 và 8:2; IIVua 2V 7:2, 19; MaMl 3:10)
Cửa sổ đền thờ hay cửa sổ nhà người Do-thái. (SaSt 26:8; Gios Gs 2:15, 18; IISa 2Sm 19:12; 6:19; IVua 1V 6:4; IIVua 2V 9:30, 32; IICo 2Cr 11:33 v. v...)
Danh từ "cửa sổ" xuất hiện lần đầu tiên trong SaSt 16:6, khi Chúa truyền lịnh cho Nô-ê đóng tàu và làm một cửa sổ trên tàu ấy. "Ngươi sẽ làm một cửa sổ trên tàu". Từ đó chữ "cửa sổ" được nhắc đến hơn bốn mươi lần trong cả Tân và Cựu Ước. Thế thì danh từ "cửa sổ" có liên hệ gì với Chúa Giê-xu không? Chúng ta sẽ nghiên cứu vài đặc điểm của chữ nầy.
Cửa Sổ Trên Trời
Trong cơn đại hồng thủy Đức Chúa Trời đã mở "các cửa sổ trên trời" làm mưa xuống trên đất, "các cửa sổ trên trời mở xuống" (SaSt 7:11) theo bản Kinh Thánh tiếng Anh) "Các cửa sổ trên trời lấp ngăn lại" (SaSt 8:2).
Thành Sa-ma-ri bị vây lâu ngày bởi quân Sy ri, dân sự bị đói. Tiên tri Ê-li-sê nói tiên tri rằng: "Ngày mai, tại giờ nầy, nơi cửa thành Sa-ma-ri, một đấu bột lọc sẽ bán một siếc lơ, và hai đấu mạch nha sẽ bán một siếc lơ. Nhưng quan cai nâng đỡ vua lại nói rằng "Dầu cho Đức Giê-hô-va mở các cửa sổ trên trời, điều đó há có được sao?" (IIVua 2V 7:1-2).
EsIs 24:18 mô tả sự đoán phạt chung cả thế gian, lúc ấy: "Các cửa sổ trên trời mở ra"
đến trong MaMl 3:10 là câu Kinh thánh mà các con cái Chúa đều quen thuộc: "Từ nay các ngươi khá lấy điều nầy mà thử ta, xem ta có mở các cửa sổ trên trời đổ phước xuống cho các ngươi đến nỗi không chỗ chứa chăng".
Bốn phân đoạn Kinh thánh nói về "cửa sổ trên trời" này nói đến hai điều: từ trời ơn phước đổ xuống cho loài người; cũng từ những "cửa sổ trên trời" ấy lại giáng xuống những tai họa kinh khiếp.
Cửa sổ trên trời hình bóng về Đấng Christ. Ngài là Đấng tạo hóa, yêu thương muôn vật mọi loài, là Chúa Cứu Thế từ trời giáng xuống trần gian, ban phước cho ai bằng lòng tin nhận Ngài. Trong 33 năm tại thế, đã nhiều lần Ngài mở "cửa sổ trên trời" cho dân Do-thái nhìn thấy Đức Chúa Trời bằng cách xưng rằng: "Ta với Cha là một" và "ai đã thấy ta tức là đã thấy Cha", Ngài cũng làm nhiều phép lạ trong sự chữa bịnh, hóa bánh ra nhiều, đi bộ trên mặt biển, quở cơn bão tố, đuổi quỉ v. v... Nhưng trước hết Ngài là Đấng "giải bày Cha cho chúng ta biết" Ngài là "cửa sổ trên trời" Ngài hé mở cửa ấy khi hóa hình trên núi, cũng cho chúng ta thấy những triển vọng đẹp đẽ của tương lai, tức là một vương quốc hùng cường thiên thượng sẽ được thành lập ở trần gian, một vua công nghĩa sẽ trị vì đến đời đời.
Ngay trong đời nầy, mọi ơn phước thuộc linh hay thuộc thể mà Đức Chúa Trời ban cho loài người đều qua Chúa Giê-xu, Ngài là Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người. Những con cái Chúa có lòng trung thành với Ngài, vâng lời Ngài thì "cửa sổ trên trời" sẽ không bao giờ đóng lại với họ, mà vẫn mở toang, mọi ơn phước cứ đổ xuống đến nỗi "không chỗ chứa" còn lưu ra cho kẻ khác nữa! (MaMl 3:10).
Trái lại, nếu con cái Chúa không chịu vâng theo tiếng Ngài, bất tuân mạng lịnh Ngài thì tai họa sẽ đến trên họ, rượt đuổi theo họ mãi mãi vì "các từng trời ở trên đầu họ sẽ như đồng, và đất dưới chơn họ sẽ như sắt" (PhuDnl 28:23).
Như chúng ta đã thấy trong phần trên, những ơn phước do "cửa sổ trên trời" đổ xuống cho nhân loại là chính Chúa Giê-xu khi Ngài đến thế gian lần thứ nhất, Ngài đem sự "vui mừng lớn cho muôn dân" đem "phước cho nhân loại". Nhưng cũng từ nơi cửa sổ trên trời ấy lại đổ tai họa cho loài người khi họ khư khư khước từ ân sủng lớn lao ấy. Ngài là Chúa Cứu Thế cũng là quan án công bình. Ngài sẽ ngồi trên ngôi mà đoán xét thế gian. Trong thời Nô-ê "cửa sổ trên trời" mở ra và những trận mưa kinh khủng trút xuống đất để hình phạt loài người vì cớ tội ác của họ. Đến ngày tận thế cũng vậy, "cửa sổ trên trời" lại mở một lần nữa để trút tai họa xuống mặt đất ô uế, tội lỗi nầy, như trong Ê-sai đã mô tả: "Hỡi dân cư trên đất, sự kinh hãi, hầm và bẫy đến trên ngươi. Kẻ nào trốn khỏi tiếng kinh hãi sẽ sa xuống hầm; nếu lên khỏi hầm sẽ mắc vào lưới. Vì các "cửa sổ trên trời" đều mở ra, các nền dưới đất đều rung rinh. Đất đều tan nát, đất đều vỡ lỡ, đất đều rúng động. Đất lay động như người say; lỏng chỏng như cái võng, tội lỗi chất lên nặng trĩu, nó sẽ đổ xuống và không dậy được nữa" (EsIs 24:17-20). Cũng đúng như lời Ngài tuyên bố sau khi từ kẻ chết sống lại: "Hết cả quyền phép trên trời dưới đất đều đã giao cho ta" (Mat Mt 28:18). Ngài là Đấng cầm cây gậy sắt, lấy sự công bình mà cai trị các dân.

Cửa sổ Đền Thờ và cửa sổ nhà người Do Thái
Đền thờ vua Sa-lô-môn xây cất có 3 dãy phòng có cửa sổ để ánh sáng từ bên ngoài có thể soi vào (IVua 1V 6:4).
Nhờ nhìn ngang qua cửa sổ mà A-bi-mê-léc, vua Phi-li-tin biết Rê-bê-ca là vợ Y-sác, vì thế Y-sác tránh khỏi sự phiền phức (SaSt 26:8).
Hai thám tử Y-sơ-ra-ên được Ra-háp dòng dây từ cửa sổ xuống ngoài vách thành nên thoát nạn (Gios Gs 2:15, 18).
Đa-vít nhờ Mi-canh dòng xuống nơi cửa sổ nên đã kịp thời thoát khỏi tay Sau-lơ. Cũng bởi cửa sổ Mi-canh lại thấy "Đa-vít nhảy múa trước mặt Đức Giê-hô-va thì khinh bỉ người" do đó nàng bị phạt không sanh con cho đến ngày nàng thác. (ISa1Sm 19:12 và IISa 2Sm 6:19).
Từ nơi "cửa sổ" trên lầu, hoàng hậu Giê-sa-bên là một người đàn bà gian ác lừng danh đã bị ném xuống đất chết để đền tội ác của nàng. Một vị hoàng hậu ngoại bang, uy quyền, hung tợn khét tiếng trong thời bấy giờ đã chấm dứt cuộc đời nơi "cửa sổ" (IIVua 2V 9:30, 31).
Ê-li-sê sắp qua đời truyền cho vua Giô-ách bắn một mũi tên về hướng đông. Ê-li-sê rất hài lòng nói rằng ấy là mũi tên chiến thắng của Đức Giê-hô-va. Trước khi bắn Giô-ách được Ê-li-sê bảo "mở cửa sổ" và từ đó bắn ra. (IIVua 2V 13:17).
Cửa sổ nơi tư dinh của Đa-ni-ên luôn mở, để ông hướng về Giê-ru-sa-lem mà cầu nguyện (DaDn 6:10). Đó là thói quen của Đa-ni-ên mở cửa sổ hướng về Giê-ru-sa-lem cầu nguyện mỗi ngày ba lần. Dù kẻ thù lập mưu kế hại ông, nhưng ông không bao giờ chịu thua mưu của họ. Chắc hẳn khi ông bị quăng vào hang sư tử thì hình ảnh của chiếc "cửa sổ" ấy vẫn hiện rõ trong tâm trí ông, Đa-ni-ên không thể quên nó. Tuy trong hang sư tử, lạnh lẽo cô đơn, những vách đá xám ngắt tối tăm bao bọc tư bề thì "cửa sổ" của lòng Đa ni ên vẫn mở rộng hướng về Chúa trên trời mà cầu nguyện.
Sứ đồ Phao-lô được anh em tín hữu dòng xuống nơi cửa sổ trong cái thúng để thoát khỏi tay người Do-thái (IICo 2Cr 11:33).
Ơ-tích vì ngủ gục nên đã từ cửa sổ té xuống đất (Cong Cv 20:9).
Qua những phân đoạn Kinh thánh đề cập đến cửa sổ đền thờ hay nhà người Do-thái, chúng ta thấy có những hình ảnh khác nhau. Tuy nhiên cũng đều có nghĩa hình bóng về Chúa Giê-xu cả. Một cái nhà nếu không có cửa sổ thì thật tối tăm, công dụng của cửa sổ là khiến cho nhà được sáng sủa trước, kế đến người ta cũng nhờ cửa sổ để nhìn xem cảnh vật bên ngoài, rồi trong cơn nguy biến người ta cũng nhờ cửa sổ mà thoát thân. Đấng Christ là cửa sổ của lòng chúng ta, cửa sổ thiêng liêng ở nơi nhà "sự sống" của chúng ta, nhờ Ngài chúng ta có sự sáng trong lòng. Ngài là hy vọng của Cơ-đốc-nhân, nhờ Ngài chúng ta có hy vọng được sự vinh hiển. Phao-lô nhắc nhỡ tín đồ Cô-lô-se rằng: "Đấng Christ ở trong anh em là sự trông cậy về vinh hiển" (CoCl 1:27).
Những triết lý khoa học, sự khôn ngoan của đời không đem lại cho chúng ta sự yên ủi hay niềm hy vọng nào cả. Một đời sống không có đấng Christ giống như một nhà không cửa sổ, tối tăm mù mịt, không có ánh sáng, không có không khí trong sạch tràn vào, cũng không thấy những gì bên ngoài, không biết tương lai ra sao, cả cuộc đời họ chỉ quờ quạng trong bóng tối.
Những Cơ-đốc-nhân "tạm bợ" không có Đấng Christ là sự sáng, sự sống thật trong lòng, nên dù có danh hiệu là tín đồ lâu năm vẫn ngồi trong bóng tối tăm, và chúng ta không lấy làm lạ thấy họ đã "xoay chiều, đổi hướng", vì không phân biệt được những ảnh hưởng tai hại hoặc ích lợi cho đời sống họ. Họ không thấy được cái gì tốt để noi theo, cái gì xấu để loại ra khỏi lòng. Từ bao nhiêu năm có tiếng là theo Chúa mà họ vẫn "ngồi ỳ" một chỗ, không thể làm việc gì cho Chúa, nhưng cứ bằng lòng trong địa vị tăm tối của mình. Những bài giảng luận dù linh động đến đâu cũng không lay chuyển tấm lòng cứng cỏi của họ. Những tiếng kêu gào của tội nhân đau khổ, hư mất cũng không làm rung động tâm can họ, họ chỉ lo những việc thuộc về đời nầy mà thôi. Thậm chí tiếng của Chúa như sấm vang, sét nổ rằng: "Ta là sự sáng của thế gian, người nào theo ta chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống" cũng không làm cho họ dời khỏi chỗ mình. Thật đáng thương thay!!!
Lạy Chúa Giê-xu Ngài là "cửa sổ trên trời" xin hãy đến với tấm lòng tăm tối của chúng con, ban cho chúng con "ánh sáng của sự sống". Chúng con nhờ Ngài mà thoát khỏi mọi cơn nguy hiểm, cũng nhờ Ngài mà chúng con bắn những mũi tên để chiến thắng kẻ thù. Từ nơi Ngài chúng con có thể loại ra khỏi lòng những tội ác, giết chết những Giê sa bên đang ngự trự trong tâm linh. Xin đừng để bản ngã của chúng con áng ngữ vinh quang của Ngài đang soi rọi vào lòng chúng con, để chúng con tiếp rước ánh sáng ấy cách vui vẻ thỏa lòng, hầu đời sống chúng con sẽ như đền thờ của Ngài, được Ngài vui ngự mãi mãi.


WAU (Cây đinh)

Số tiêu biểu: 6
Chữ thứ sáu là WAU (tiêu biểu cho chữ W). Chữ nầy có nghĩa là "cây đinh" hay là "cái móc". Một nghĩa khác nữa là "và" tức là một liên tự trong văn phạm. Cây đinh rất thông dụng trên toàn thế giới, mọi dân mọi nước đều biết dùng đinh. Vào thế kỷ thứ XVIII dân chúng ở thành phố Cradley Heath nước Anh đều là thợ làm đinh, họ chưa có máy móc tối tân như hiện nay. Trong nghề làm đinh họ chỉ dùng khuôn là những chiếc "thùng cát" nhưng đúc rất chậm. Song họ rất ưa thích nghề nầy, nên trải qua nhiều đời họ cứ tiếp tục làm đinh. Cho đến ngay kỹ nghệ làm đinh với phương pháp tối tân hiện đại vẫn thịnh hành tại đây.
Trong Kinh Thánh nói đến các loại đinh như sau:
Đinh bằng gỗ (như cây nọc trại cũng gọi là đinh, Cac Tl 4:21, 22 và 5:26). Đinh bằng sắt (ISu1Sb 22:3). Đinh bằng bạc (XuXh 27:10-17; 38:10, 11, 12, 17, 19). Đinh bằng vàng (IISu 2Sb 3:9; XuXh 26:37; 36:36).
Cây đinh bằng gỗ, bằng sắt hoặc bằng bạc hay bằng vàng cũng đều ích lợi cả. Công dụng của cây đinh là liên kết hai vật lại với nhau. Từ bàn, ghế, tủ, nhà cửa đến xe cộ, tàu bè v. v... đều cần đến đinh. Đinh rất quan trọng, đôi khi vì thiếu đinh mà một công việc to tát phải bị đình chỉ.
Cây đinh làm hình bóng về Đấng Christ trong vài phương diện sau đây:
I. Đấng Christ là cây đinh "vàng" liên hiệp giữa trời và người. Loài người đã bị tội lỗi làm cho xa rời Đức Chúa Trời. Cái đinh vô tội, vinh hiển tương giao với Đức Chúa Trời đã bị ma quỉ bẻ gãy trong vườn Ê-đen, nên tổ phụ chúng ta là A-đam và Ê-va đã bị đuổi ra khỏi vườn phước hựu, xa cách mặt Đức Chúa Trời và càng xa mãi. Từ đó Đức Chúa Trời đã dùng những "cây đinh" như: mười điều răn, của lễ, thầy tế lễ, tiên tri trong Cựu ước v. v... để liên kết loài người lại với Đức Chúa Trời. Song những cây đinh ấy chỉ là hình bóng của cây đinh bằng "vàng" sẽ đến sau nầy là Giê-xu Christ, là Người. Ngài là "cây đinh vàng" mà Đức Chúa Trời dùng để liên hiệp loài người lại với Ngài, sau khi những cây đinh bằng gỗ, bằng sắt, bằng bạc trước kia lại bị dân Do-thái "bẻ gãy" một lần nữa. CoCl 1:20 chép: "Và bởi huyết Ngài trên thập tự giá thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất, trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời".
Khi vua Đa-vít lo sắm vật liệu xây cất đền thờ cho Đức Giê-hô-va thì ông cũng "dự bị nhiều sắt đặng làm đinh" (ISu1Sb 22:3). Nhưng khi vua Sa lô môn xây cất đền thờ ấy thì không thấy nói đến những đinh bằng sắt đâu cả, trái lại có những đinh bằng vàng thay vào đó (IISu 2Sb 3:9).
Vàng chỉ về sự vinh hiển của vua. Đấng Christ là "cây đinh bằng vàng" vinh hiển, vô tội ở thiên đàng; cây đinh vàng ấy đến thế gian để nhận lấy những cây đinh "gian ác hung tàn" đóng vào tay và chân Ngài trên thập tự giá.
Thật thế, Đấng Christ đến thế gian đã "ở giữa Đức Chúa Trời và loài người" làm cho "thế gian lại hòa với Ngài". Không có Đấng Christ là "cây đinh thiêng liêng, bằng vàng thánh khiết" để đóng dính chúng ta với Đức Chúa Trời thì không có phương pháp nào khác để chúng ta lại hòa với Đức Chúa Trời được. Sự liên kết nầy chặt chẽ vì Đấng Christ là "cây đinh yêu thương" của Đức Chúa Trời dùng để đóng chúng ta vào với Ngài, đến nỗi không có sự đau đớn khốn khó nào trong thế gian nầy phân rẽ chúng ta được. "Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao hay là bề sâu, hoặc mọi vật nào chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Giê-xu Christ là Chúa chúng ta" (RoRm 8:38, 39). Chúng ta hiệp với Đức Chúa Trời qua Đấng Christ, nhưng chúng ta cũng nhờ Ngài mà liên kết với nhau.
II. Đấng Christ là cái móc vàng liên hiệp giữa người với người. "Vì ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta, Ngài đã hiệp cả hai lại làm một" (Eph Ep 2:15).
Theo một phương diện khác thì Đấng Christ cũng là "cái móc vàng" kết chặt người nầy với người khác. Muôn dân, muôn nước khắp thế gian, nhiều màu da, chủng tộc, mọi phong tục, tập quán, ngôn ngữ đều khác nhau khó mà liên hiệp với nhau được. Nhưng trong Đấng Christ thì tất cả là "anh em", tất cả đều chung một "thân thể" vì Ngài là "cái đầu". Trong Hội thánh của Ngài giữa tín hữu có sợi dây "liên lạc của sự trọn lành", kết chặt tình thương trong tâm hồn, "đồng một lòng, hiệp một ý" với nhau do nơi Đấng Christ là "cái đinh lớn, cái móc to" để liên kết lòng người nầy với người khác, khiến họ chung một đức tin, một sự yêu thương, một hy vọng ngưỡng trông nơi thập tự giá, nơi "cây đinh vàng bị treo từ buổi sáng thế". Chúa phán: "Còn ta, khi ta bị treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta".
Giữa xã hội bất công, thối nát nầy, nhiều thể chế chính trị cố gắng đưa ra những biện pháp để liên hiệp, nhưng sự liên hiệp ấy chẳng qua là những cây đinh rỉ sét, hư hỏng mà người ta tưởng rằng nó sẽ là những cây đinh vững chãi! Lời Chúa phán rằng: "Những cây đinh vững chãi ấy sẽ lỏng xệch, nó bị đập và rớt xuống... và Đức Giê-hô-va đã phán vậy" (EsIs 22:25). Bởi họ dùng cường quyền ép người ta liên hiệp. Sự liên hiệp ấy được xây dựng trên nền móng bất công, bất nghĩa của sự thương yêu giả tạo, bị lạm dụng để cung phụng cho bản tánh ích kỷ của con người. Sự liên hiệp ấy không có sự tự do, không xóa bỏ nỗi hận thù, không loại được những hiềm khích, không phá đổ những thành kiến cổ hũ trong thâm tâm con người hư hoại.
Những sự liên hiệp của con cái Đức Chúa Trời là sự liên hiệp vững chãi bởi "cây đinh vàng thiên thượng" là Đấng Christ, bởi tình yêu thương chân thật, hiệp một trong sự thánh khiết, trong ý chỉ của Đức Chúa Trời, vui mừng hiệp nhau trong những công tác thuộc linh trọng đại. Mọi hành vi, cử chỉ từ lời nói, suy nghĩ đến tấm lòng đều thành thật vô tư, không vụ lợi, không mánh khóe thủ đoạn chi cả. Mọi sự hiệp một chánh đáng như vậy sẽ bền vững và có sức thu hút nhiều người khác tiếp nhận "cây đinh vàng" Giê-xu Christ vào lòng để họ cũng được "đóng dính" vào ý chỉ của Đức Chúa Trời, liên kết chặt chẽ với Ngài, không phân vân, ngờ vực tình thương vô hạn của Ngài nữa.
===================================

ZAIN (Khí giới)

Số tiêu biểu: 7
Chữ thứ bảy trong mẫu tự Hy-bá-lai là ZAIN (đọc như chữ Z) có nghĩa là "khí giới". Danh từ chỉ về "khí giới" trong tiếng Hy-bá-lai có bảy từ ngữ, được nêu ra trong 23 câu Kinh Thánh. Nó bao gồm các loại như: gươm, giáo, áo giáp, thuẫn, giây nịt lưng, mũ, giày, cung, tên, búa, rìu v. v...
Trước cơn Đại Hồng Thủy có một người sanh từ dòng dõi Ca-in tên là Tu-banh Ca-in, là "người rèn đủ thứ khí giới bằng đồng và bằng sắt" (SaSt 4:22). Chúng ta không lấy làm lạ vì sao Tu-banh Ca-in biết rèn đủ thứ khí giới mà không cần thụ huấn nơi một trường huấn nghệ nào cả, vì tổ tiên của ông ta là Ca-in, con đầu lòng của A-đam và Ê-va đã biết dùng khí giới để giết người trước tiên, nên các thứ khí giới bằng đồng và bằng sắt được sản xuất từ dòng dõi ấy.
Từ ấy đến nay các loại khí giới được thông dụng hơn. Công dụng của khí giới là "tự vệ" và "tiêu diệt kẻ thù". Người Đông phương thuở xưa khi đi đường hay mang rìu trên vai (giống như dân tộc thiểu số hay mang rựa hoặc chà gạt) để tự vệ như đề phòng giặc cướp hay chống cự với thú dữ.
Người đàn ông Tô-cách-lan được phép võ trang một "đoản kiếm" (gươm ngắn) để tự vệ. Mỗi cá nhân là một cảnh sát viên có quyền xử dụng loại đoản kiếm ấy, nhưng vì nhiều người lạm dụng thứ khí giới ấy để giết người cách dễ dàng nên đến năm 1828 họ bỏ lối trang bị vũ khí ấy, và thành lập một đội cảnh sát riêng biệt, huấn luyện kỹ càng và võ trang bằng súng ống như hiện nay. Một quân nhân, một cảnh sát viên có bổn phận bảo vệ an ninh cho quốc gia, chống ngoại xâm, trừng phạt những người phạm pháp vì vậy họ cần có khí giới để thi hành pháp luật. Kinh Thánh không có ý phủ nhận khí giới của loài người chế tạo ra nếu họ biết dùng cho phải lẽ. Phao-lô dạy rằng: "Vì quan quyền là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ích cho người. Song nếu ngươi làm ác thì hãy sợ, vì người cầm gươm chẳng phải là vô cớ, vì là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm dữ" (RoRm 13:4).
Loài người dùng khí giới vật chất do chính mình làm ra. Vậy thì con cái Đức Chúa Trời cũng có bổn phận bảo vệ luật pháp của Đức Chúa Trời bằng thứ khí giới thuộc linh, vì khí giới bằng kim khí chỉ dành cho người có trách nhiệm bảo vệ an ninh, tức là những người thi hành phận sự công dân khi quốc gia đòi hỏi. Luật pháp của Đức Chúa Trời là cao trọng có cả hai yếu tố: "yêu thương" và "tha thứ". Nhưng luật của loài người khác hẳn, không có sự yêu thương trong một cảnh sát viên khi họ bắt được một phạm nhân, vì ông ta được chỉ định thi hành luật pháp chớ không phải để thi thố tình thương.
Cơ-đốc-nhân vừa là chiến sĩ cũng vừa là cảnh sát viên thuộc linh để thi hành phận sự công dân thiên quốc. Họ bảo vệ linh hồn mình bằng cách chống cự cùng ma quỷ. Họ phải được huấn luyện và võ trang đầy đủ mọi khí giới thuộc linh để thi hành phận sự công dân thiên thượng. Họ vừa bảo vệ linh hồn mình, vừa lo mở mang vương quốc của Đức Chúa Trời. Họ không được võ trang bằng những gươm lưỡi chói lòa, hay các thứ vũ khí tối tân nào khác. Nhưng khí giới của họ là khí giới "công bình" được Đức Chúa Trời ban phát "cầm những khí giới công bình ở tay hữu và tay tả" (IICo 2Cr 6:7). Trong trận chiến thuộc linh họ phải "mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỷ". Không có phân đoạn Kinh Thánh nào mô tả đầy đủ về các thứ khí giới của Cơ-đốc-nhân như thơ Eph Ep 6:14-17. Đó là khí giới của Tin Lành, là khí giới được chế tạo từ thiên đàng, được ban cho chúng ta quyền xử dụng qua sự chết của Chúa Giê-xu nơi thập tự giá. Dòng dõi Ca-in là dòng dõi gian ác nên chế tạo các thứ khí giới giết người còn lưu truyền đến ngày nay. Dòng dõi Đấng Christ là dòng dõi yêu thương, những khí giới "công bình" ấy chỉ "cứu tội nhân", tiêu diệt tội lỗi và ma quỷ. "Vả, những thứ khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu, bèn là bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, có sức mạnh để đạp đổ các đồn lũy, nhờ khí giới đó chúng tôi đánh đổ các lý luận, mọi sự cao tự nổi lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời và bắt hết các ý tưởng làm tôi vâng phục Đấng Christ" (IICo 2Cr 10:4, 5).
Dù mọi người đều là tội nhân đáng chết, song sau khi họ ăn năn trở lại tin nhận công lao của Đấng Christ trên thập tự giá thì lập tức họ trở nên những chiến sĩ được võ trang đầy đủ, sẵn sàng xông ra trận mạc. Bởi chưng Đấng Christ là "khí giới" mà Đức Chúa Trời dùng để bảo vệ luật pháp của thiên đàng. Ngài làm phu phỉ mọi điều mà luật pháp đòi hỏi. Chính Ngài là "gươm của Thánh Linh" là "Lời Đức Chúa Trời" và "Ngài mặc áo nhúng trong Huyết, danh Ngài là "Lời Đức Chúa Trời" (KhKh 19:13) "Miệng Ngài thò ra thanh gươm nhọn hai lưỡi" nên Ngài chiến thắng ma quỷ, sự tối tăm mọi quyền lực của đời nầy và đời sau. Chính Ngài đã tuyên bố: " Ta đã thắng thế gian rồi".
Lời Đức Chúa Trời bảo vệ Tin Lành thuần túy của Đức Chúa Trời, không một thứ khí giới nào có thể chiến thắng nổi.


KHETH (Hàng rào)
Số tiêu biểu: 8
Chữ thứ tám của mẫu tự Hy-bá-lai là KHETH phát âm như chữ KH. Chữ nầy có nghĩa là "hàng rào" hay là "vách" hoặc "thành".
Từ nầy trong nguyên văn Hy-bá-lai có đến chín hình thức khác nhau, được chép ít nhất 39 chỗ trong Cựu Ước. Chữ BATSAR được chép 16 lần trong 10 sách, chữ GADAR một lần, chữ NIBSAR 11 lần trong 6 sách, chữ MATSOR một lần, chữ MITSURAH bốn lần trong một sách, chữ GADER một lần, chữ SUK một lần, chữ AZAQ một lần và chữ MALE một lần v. v...
Trong sách Giop G 19:8 có chép: "Chúa có chận đường tôi, tôi chẳng đi qua được", cũng có nghĩa là Ngài "rào" đường tôi đang đi. Chữ này là GADAR chỉ được dùng một lần trên đây thôi. Trên bước linh trình nhiều lúc Chúa đặt những "hàng rào" trước mặt tôi tớ, con cái Ngài để họ bị chặn lại khi họ vô tình đi quá xa ý chỉ của Ngài. Những hàng rào ấy có khi là những "hàng rào gai" của "hoạn nạn" "bắt bớ" chẳng hạn.
Trên một con đường nguy hiểm, dốc cao, hố thẳm người ta thường làm những rào cản dọc theo mé đường để tài xế thấy chỗ nguy mà hãm bớt tốc lực và lái xe cẩn thận hơn. Loài người đang tiến nhanh trên con đường thật nguy hiểm là "tội lỗi". Họ đang đổ dốc mà không hãm thắng. Họ thích tự do, bất chấp những "hàng rào luân lý, đạo đức" hay "tôn giáo" hoặc những tổ chức tốt đẹp trong xã hội. Họ xem thường cuộc sống có nề nếp, tổ chức của gia đình, xem cha mẹ anh chị em như là thù địch, thích sống cuộc đời lang thang, vất vưởng, vô định. Vì thế trước đây ở Mỹ có phong trào Hippy, hiện nay lại có những "băng đảng" lộng hành khắp nơi. Sự giết chóc xảy ra hằng ngày. Không ai có thể ngăn chặn họ được, họ muốn sống cách tự do man rợ, vượt ngoài vòng lễ giáo, pháp luật, phá đổ hàng rào "luân lý" mà họ cho là "cổ hủ". Vì những cái rào ấy không đủ sức để ngăn chặn họ và cũng không thể chặn nổi vì quá yếu ớt! Nó chỉ là phương pháp của loài người, xây dựng bên ngoài không ngăn nổi "lòng dục" bộc phát bên trong.
Tạ ơn Đức Chúa Trời, vì Ngài là Đấng Tạo Hóa, Ngài luôn luôn yêu thương nhân loại, đang lúc họ mê man trượt dốc thì chính Ngài đã dự bị cho họ một hàng rào lớn và chắc chắn nhất, ấy là ÂN ĐIỂN của Ngài, là Cứu Chúa Giê-xu Christ. Mọi "hàng rào" của loài người lập ra rất dễ bị phá đổ, chỉ ân điển của Đức Chúa Trời là một "hàng rào" một "bức thành" kiên cố, không ai triệt hạ nổi! Ngược dòng lịch sử, chúng ta thấy có nhiều người đã cố tâm vượt rào, trượt dốc, lao mình vào chốn hư mất trầm luân. Nhưng ân điển của Đức Chúa Trời đã ngăn họ lại, khiến họ phải dừng ngay và quay về với Cha từ ái. Phao-lô là một đại tội nhơn đã bị chặn trên con đường Đa-mách bởi ân điển lớn lao của Chúa. Ngoài ra còn có muôn triệu người đã nhờ "hàng rào" ân điển mà được cứu rỗi.
Đấng Christ là một bức thành kiên cố, thập tự giá là một "hàng rào" vĩ đại cuối cùng để chặn đường tội nhân vào địa ngục. Khi xưa Đức Chúa Trời dùng nhiều biện pháp ngăn chặn, kiềm hãm loài người để họ đi theo ý chỉ của Ngài. Mười điều răn mà Ngài ban bố cho dân Y-sơ-ra-ên trên núi Si-nai khi xưa cũng là một "hàng rào" mà họ không phép vượt qua. Nhưng bởi sự cứng cỏi của lòng họ, sự bất phục tùng của họ, họ đã phá đổ "hàng rào" ấy bằng cách tiếp nhận và thờ lạy hình tượng ngoại bang để cuối cùng mang lấy hình phạt, gây họa cho giống nòi, phải tan lạc khắp thế giới, chịu không biết bao nhiêu là nỗi thống khổ đau thương! Đời xưa như đời nay, con người luôn muốn làm điều gì mà "lòng mình ưa thích". Thậm chí những người có danh hiệu là Cơ-đốc-nhân, tức là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh, là người đã chạy vào "thành ẩn náu" đã ở trong "hàng rào ân điển" rất an toàn, thế mà họ lại muốn vượt rào ấy để lao mình vào hố sâu, vực thẳm. Họ xem thường thập tự giá nên sẵn sàng đạp qua để bước vào lối cũ. Đó là ý tưởng của những người chống nghịch lại với Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho họ cái hàng rào ân điển hầu ngăn chặn họ khỏi chốn trầm luân. Họ đã chấp nhận một thời gian, nhưng bị cám dỗ mà khước từ, đã vượt qua cái rào "hội thánh" cách dễ dàng, để tự do đi vào con đường tăm tối. Tại họ "ham hố đời nầy" nên không nghe được tiếng êm dịu của Chúa Giê-xu kêu gọi "Hãy cứ ở trong ta thì ta sẽ ở trong các ngươi..." (GiGa 15:4).

=================================

TETH (con rắn)

Số tiêu biểu: 9

Chữ thứ chín của mẫu tự Hy-bá-lai là TETH (phát âm như chữ T). Chữ này có nghĩa là "con rắn" trông giống như con rắn ngẩng đầu lên. Trong tiếng Hy-bá-lai có 11 từ ngữ chỉ về rắn, tiếng Ả-rập có 4 và tiếng Hi-lạp có 5.
Trong Kinh Thánh từ Sáng thế ký đến Khải huyền danh từ "rắn" được đề cập đến 51 lần trong 24 sách. Con rắn xuất hiện lần đầu tiên trong Sáng thế ký chương 3. Bắt đầu từ đó con rắn bò suốt cả Kinh Thánh song song với chương trình cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời đã và đang thực hiện để cứu vớt nhân loại. Nhận xét những biến cố xảy ra trong Kinh Thánh đủ biết rằng đó là do sự có mặt của con rắn. Con rắn là hiện thân của Ma quỷ, luôn luôn gây rối, quấy động, biết bao tang tóc đổ vỡ đều do "con rắn" gây ra.
Biến cố quan trọng nhất do "con rắn" gây ra tại vườn Ê-đen mà chúng ta đều biết. Con rắn thật khôn khéo, quỷ quyệt biết cách gợi tánh hiếu kỳ của người nữ. Khi cám dỗ Ê-va, con rắn nói rất ít chỉ 2 câu gồm 56 chữ! Câu đầu 21 chữ khiến Ê-va ngờ vực, câu thứ hai 35 chữ đủ sức khiến Ê-va hành động ngay. Bà Ê-va đã thảo luận với con rắn rất dài dòng, vẫn không thắng nổi sức quyến rũ của nó. Rồi từ đó loài người mang lấy án phạt, bị sự chết xâm nhập vào tâm linh, thể xác và linh hồn, bị tội lỗi chủ trị đời sống. Và cũng từ đó loài người càng sinh sản thêm nhiều càng trở nên hung ác đến nỗi Đức Chúa Trời không thể chịu đựng họ được nữa, đã dùng nước tiêu diệt họ trong tai họa mệnh danh là cơn "Đại hồng thủy", chỉ trừ có gia đình Nô-ê còn sống vì đã vâng lời Chúa đóng một chiếc tàu để cứu cả gia đình. Rồi một "Tân thế giới" được tái lập từ dòng giống Nô-ê.
Loài người vẫn bị tội lỗi chế ngự cứ làm điều ác trước mặt Đức Chúa Trời. Suốt dòng lịch sử giữa Đức Chúa Trời và Ma quỷ có sự tranh chiến không ngừng. Từ vườn Ê-đen Ma quỷ đã phá hoại chương trình của Đức Chúa Trời, tức thì Đức Chúa Trời đã tuyên bố một cuộc chiến tranh trường kỳ giữa "dòng dõi người nữ" và "dòng dõi con rắn" từ khi sáng thế đến ngày chung tận cõi đời!
Một biến cố lịch sử nữa liên quan trực tiếp đến con rắn là trong Dan Ds 21:4-9. Ma quỷ xui giục dân Y-sơ-ra-ên "nói nghịch cùng Đức Chúa Trời và Môi-se" nên Đức Chúa Trời sai rắn lửa cắn họ chết vô số! Sau khi bị tai nạn kinh khiếp, họ liền ăn năn, rồi con rắn bằng đồng đánh bóng được Chúa truyền cho Môi-se làm ra treo lên cây sào, đó là một "linh dược" chữa những người bị rắn cắn bằng cách "nhìn lên" rắn đồng ấy. Con rắn lửa biểu hiệu về ma quỷ, con rắn đồng chỉ về Đấng Christ. Chính Ngài đã xác nhận với Ni-cô-đem rằng: "Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào thì con người cũng bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sống" (GiGa 3:14). Ma quỷ luôn luôn phá hoại công việc của Đức Chúa Trời, Ngài xây dựng, Ma quỷ phá đổ. Ngài làm điều ích lợi cho loài người, Ma quỷ lạm dụng sự ích lợi đó để biến thành một tai họa. Thực phẩm là thứ mà Đức Chúa Trời dùng để thêm sức sống cho loài người, Ma quỷ dùng chính thức ăn để đưa con người vào sự chết!! Ma quỷ lợi dụng những gì loài người ưa thích để xô họ vào đó khiến họ đam mê mà xa cách ý chỉ của Đức Chúa Trời. Con rắn đồng mà Môi-se đã làm theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời để cứu chữa cho dân khỏi tai vạ khủng khiếp thì họ cũng bị Ma quỷ cám dỗ, thay vì họ hết lòng thờ lạy Đức Chúa Trời thì họ lại thờ lạy "con rắn đồng" ấy. Mãi đến đời vua Ê-xê-chia con rắn đồng mới bị phá hủy (IIVua 2V 18:4). Về sau có những huyền thoại về con rắn đồng mà người ta tìm được tại Alexandrie và quyết là đó là con rắn đồng của Môi-se! Một số học giả giải thích rằng ấy chẳng qua là vì tính hiếu kỳ của con người thích sưu tầm, đề xướng ra những gì có liên quan đến tài liệu lịch sử, rất có thể người ta đúc những con rắn đồng khác để thờ lạy, vì làm một con rắn bằng đồng thì không phải là một việc khó quá cho những người ưa thờ hình tượng. Như trước đây nhiều năm, một số người chủ trương tìm kiếm góp nhặt "những mẫu xương khô của sứ đồ Phi-e-rơ" và sau một thời gian tìm tòi họ tuyên bố rằng đã tìm được rất nhiều xương của vị sứ đồ ấy, nhiều cho đến nỗi nếu đem các mẫu xương mà người ta thu thập được ráp lại với nhau thì sứ đồ Phi-e-rơ có đến hàng chục cánh tay, hàng tá ống chơn, và 5, 7 cái sọ!!!
Cuộc giao tranh giữa Đức Chúa Trời và Ma quỷ vẫn còn đang tiếp diễn. Một trận thư hùng với "con rồng tức là con rắn xưa, là ma quỷ, là Sa tan" được ghi nhận trong sách Khải huyền chương 12. Tại đây chúng ta thấy đối phương kéo đạo binh quỷ sứ ra tranh chiến với "người đàn bà" có Sa tan chỉ huy cuộc chiến. Về phần người đàn bà thì có sự tiếp cứu thần hựu từ Đức Chúa Trời nên được an toàn. Đây là sự biểu hiệu về cơn bắt bớ mà Hội Thánh của Đức Chúa Trời phải trải qua. Ma quỷ rất thù ghét con cái Đức Chúa Trời tức là "dòng dõi người nữ" là Hội Thánh nên quyết định bắt bớ đến cùng. "Người đàn bà" đây là biểu hiệu về dân Y-sơ-ra-ên, cả hai: thuộc linh và thuộc thể. Vì con cái Đức Chúa Trời ở khắp thế giới, trải qua mọi thời đại là "dòng dõi người nữ", là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh. Ma quỷ không để yên cho con cái Chúa làm theo ý Ngài, nên mỗi giờ, mỗi phút nó tìm đủ mọi cách lôi cuốn, cám dỗ người theo Chúa trở lại chống nghịch bất tuân mạng lịnh Ngài, không làm theo ý chỉ Ngài mà đi theo một chiều hướng khác! Thay vì lo thi hành mạng lịnh tối hậu của Chúa Giê-xu là "đi khắp thế gian giảng Tin lành cho mọi người" thì nó khiến họ xâu xé lẫn nhau, tranh chấp quyền lợi cá nhân, tranh giành địa vị ảnh hưởng như người đời, gây chia rẽ, chuốc hận thù, tìm đủ mánh khóe thủ đoạn để khai trừ những phần tử ưu tú khỏi nhà Đức Chúa Trời, khoe khoang, kêu ngạo, tự cao, tự đắc. Họ đương nhiên gia nhập vào hàng ngũ "dòng dõi con rắn" để chiến đấu với "dòng dõi người nữ" mà họ không ngờ! Thật là một thực trạng kinh khiếp!!
Con cái thật của Chúa chỉ có một nguyện vọng là: "Tin lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất để làm chứng cho muôn dân" hầu cho "sự cuối cùng sẽ đến". Và khi sự cuối cùng đến thì cơn chiến tranh trường kỳ giữa "dòng dõi người nữ" và "dòng dõi con rắn" cũng tạm ngưng, vì Sa tan đã bị xiềng nơi vực thẳm cho đến một ngàn năm!!! Chúng ta phải cầu nguyện Chúa cho ngày ấy mau đến, để con dân Chúa được hiện diện trong nước Thiên hy niên do chính Chúa Giê-xu cai trị bằng sự công bình và phước hạnh.

YOD (Bàn tay)
Số tiêu biểu: 10
Từ ngữ "bàn tay" là một trong 36 chữ được Kinh Thánh chép nhiều nhất. Nhưng với phạm vi của bài nầy không thể liệt kê ra hết các từ ngữ ấy. Theo cổ ngữ Ê-thi-ô-pi chữ "bàn tay" là "Yaman" còn chữ La tinh là "manus" và do đó có chữ "manufacture" (Anh ngữ) tức là "chế tạo".
Trong Cựu ước từ Sáng thế ký đến Ma-la-chi chữ "bàn tay" được chép 1412 lần. Từ Ma-thi-ơ đến Khải thị 182 lần, cộng chung 1594 lần. Sách I Sa-mu-ên chép nhiều nhất 103 lần, Ê-xê-chi-ên 99 lần và Giê-rê-mi 98 lần.
Chữ YOD là một chữ có hình dáng nhỏ nhất trong 22 mẫu tự Hy-bá-lai, trông tựa như một dấu phẩy. Chữ nầy thật nhỏ nhưng lại rất quan trọng. Nghĩa của nó là "bàn tay" mà cũng là số 10. Theo tiếng Hy-bá-lai thì mỗi chữ cái của mẫu tự tượng trưng cho một con số; như chữ ALEPH là chữ đầu tiên thì là số 1, BETH là số 2 và chữ QOP (Q) là số 100. Chữ RESH (R) là số 200, rồi đến các chữ khác con số càng tăng đến chữ cuối là 400, rồi từ 22 chữ tức là 22 số đó mà làm thành số ngàn và thêm mãi v. v...
Bàn tay là một chi thể rất hệ trọng của thân; nó tỏ ra năng lực của con người. Trí óc điều khiển, bàn tay hành động. Mọi công tác hoặc nhỏ bé hay lớn lao đều do bàn tay của con người thực hiện cả. Không có bàn tay, con người mất đi lẽ sống trên đời. Dù khoa học có tiến bộ, có thể tạo ra những "bàn tay giả" để tháp vào cho những người xấu số chẳng may mất một hay cả hai tay; nhưng cũng không thể bằng bàn tay của Đức Chúa Trời ban cho loài người!
Hai bàn tay có mười ngón, các nhà giải kinh cho rằng đó chỉ về mười điều răn của Đức Chúa Trời. Vì vậy nhìn đến đôi bàn tay, ta nên liên tưởng đến mười điều răn của Chúa và nhắc nhở chúng ta nên dùng đôi tay để hầu việc Ngài, làm trọn phận sự kính Chúa yêu người theo như ý nghĩa của mười điều răn mà Chúa truyền dạy cho con dân Ngài.
Có những bàn tay thực hiện được công việc vĩ đại hay phá hoại hủy diệt như:
Bàn tay Đức Chúa Trời.
Trước hết bàn tay của Đức Chúa Trời là bàn tay quyền năng, Ngài đã dựng nên muôn loài vạn vật kỳ diệu dường nào. Sáng thế ký 1:1; mở đầu như sau: "Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất" và suốt trong hai chương đầu của sách cho chúng ta thấy công việc tạo thành muôn vật được hoàn tất trong sáu ngày. Sách Ê-sai có chép "...chính ta, tức là tay ta đã giương ra các từng trời" (EsIs 45:12) và "các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm" (Thi Tv 19:1). Tay Chúa dựng nên trời đất, tay Chúa lấy đất "nắn nên hình người" (SaSt 2:7). Tay Ngài nắn nên các loài thú đồng và các loài chim trời (SaSt 2:19). Ngài dùng xương sường của A-đam làm nên một người nữ (SaSt 2:22). Với bàn tay quyền năng cao cả ấy Ngài đã làm nên những công việc lớn lao cả thể, nhưng Ngài cũng "lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam" và "mặc lấy cho" sau khi họ đã phạm tội cùng Ngài (SaSt 3:21).
Khi Ngài dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, Ngài ban cho họ hai bảng luật pháp có ghi mười điều răn do chính "ngón tay của Đức Chúa Trời viết ra" (Xuất 31: 18 và 32: 16). Từ Ai-cập đến Ca-na-an Ngài giúp đỡ họ do tay quyền năng của Ngài, như làm những phép lạ vĩ đại, phi thường để giải cứu họ khỏi những cơn nguy hiểm bởi kẻ thù. Dẫu vậy, họ đã nhiều lần giơ tay lên chống nghịch cùng Ngài bằng cách muốn ném đá các tôi tớ Ngài (XuXh 17:4, Dan Ds 14:10) dùng tay chạm trổ hình tượng rồi thờ lạy nó mà lìa bỏ Ngài, song Ngài không nở bỏ họ vì Ngài đã "chạm họ trong lòng bàn tay" Ngài (EsIs 49:16). Dù Y-sơ-ra-ên không trung tín với Chúa, cứ phạm tội, cứ làm điều ác mãi nhưng Đức Chúa Trời vẫn ở cùng họ, tay Ngài nắm lấy họ "Ta sẽ nắm tay ngươi và giữ lấy ngươi" (EsIs 42:6). Tay Ngài không ngừng hoạt động, cứ cứu giúp dân sự Ngài, nhưng họ bị tai họa là do lòng cứng cỏi cùng tội lỗi của họ gây nên. Chúa Giê-hô-va phán: "Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng trở nên ngắn mà không cứu được... nhưng ấy là sự gian ác các ngươi đã che khuất mặc Ngài khỏi các ngươi, đến nổi Ngài không nghe các ngươi nữa" (EsIs 59:1, 2). Cho đến ngày nay, tay Đức Chúa Trời vẫn đưa ra để dẫn dắt, giúp đỡ con cái Ngài là chúng ta đây, vì chúng ta là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh. "Chính Ngài đã lấy lòng yêu đương, thương xót mà chuộc họ, Ngài đã bồng ẵm và mang họ trong các ngày thuở xưa" (EsIs 63:9).
Bàn tay loài Người
Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng, tay Ngài làm nên mọi sự, không có sự gì khó quá cho Ngài. Nhưng, Ngài lại dùng bàn tay của loài người hiệp tác với Ngài trong nhiều công việc, miễn là người ta bằng lòng dâng trọn bàn tay cho Ngài xử dụng.
Tay Người trong tương quan với dân Y-sơ-ra-ên
Đức Chúa Trời dùng tay Môi-se, A-rôn, Mi-ri-am để giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ai-cập (MiMk 6:4). Tay Môi-se làm những phép lạ tại Ai-cập trước mặt vua Pha-ra-ôn bởi cây gậy nơi tay người. Tay Môi-se và A-rôn giơ ra khiến những tai vạ khủng khiếp đổ xuống trên xứ Ai-cập (XuXh 7:1-10:29). Tay Môi-se giơ ra trên Biển Đỏ khiến nước biển dồn lại cho dân sự đi qua, rồi cũng chính tay người giơ ra làm cho nước lấp trở lại để tiêu diệt quân binh Ai-cập (XuXh 14:21, 27). Tay Môi-se đập hòn đá tại Hô-rếp khiến nước chảy ra cho dân sự uống. Tay Môi-se đã giơ lên để cầu thay cho dân Y-sơ-ra-ên khi họ giao chiến cùng dân A-ma-léc (17:6, 11). Ngài dùng tay Giô-suê đưa dân sự vào xứ Ca-na-an. Tay Giô-suê chiến đấu với kẻ thù tại Ca-na-an khi vào xứ. Sau đó Ngài dùng tay của các vị quan xét giải cứu họ khỏi tay kẻ ức hiếp họ v. v... Rồi cũng bởi cớ tội ác của họ ngày càng gia tăng, nào chính họ, nào chính các vị vua chúa của họ đều phạm tội chống nghịch với Đức Chúa Trời nên Ngài dùng các vua ngoại bang tiêu diệt họ, lưu đày làm cho họ tan tác khắp nơi trên thế giới. Đức Chúa Trời cho phép dân ngoại giơ tay ra tàn hại dân sự Ngài để tỉnh thức họ hầu cho họ nhìn biết Ngài là Đức Chúa Trời vẫn còn thương yêu họ!
Tay Người trong tương quan với lời Đ­ức Chúa Trời#
Quyển Kinh Thánh mà chúng ta có ngày nay là do Đức Chúa Trời dùng "bàn tay loài người" chép ra bởi sự hà hơi và soi dẫn của Đức Thánh Linh tức là Thần của Ngài. Các bản cổ sao của Kinh Thánh đều do "bàn tay" và "ngón tay" của Môi-se, của các đấng tiên tri, của các tôi tớ Chúa, của các vị sứ đồ và môn đồ Ngài chép ra. Lời Ngài được khải thị cho các vị ấy, khiến họ viết ra đúng ý chỉ của Đức Chúa Trời. Ngài dùng "bàn tay" loài người để diễn đạt ý định cùng công việc Ngài, Ngài trù hoạch một chương trình cứu rỗi cho nhân loại, định đoạt vận mệnh tương lai của thế giới. Ngày sau rốt nầy Ngài không còn khải thị cho các trước giả để chép Kinh Thánh nữa, vì bộ Kinh Thánh mà chúng ta hiện có đã trọn vẹn rồi. Giờ đây, Ngài vẫn dùng những "bàn tay" dâng hiến cho Ngài để phổ biến lời Ngài bằng cách dịch ra nhiều ngôn ngữ, bằng cách phân phát cho mọi người chưa hiểu biết về Đức Chúa Trời, để họ cũng như chúng ta được tiếp nhân sự cứu rỗi nhưng không của Ngài. Rồi đến phiên họ, họ cũng dâng hiến "bàn tay" mình mà phân phát Lời Chúa nữa.
Bàn tay Chúa Giê-xu
"Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài" là Giê-xu Christ giáng thế làm người để cứu nhân loại bởi tay toàn năng của Ngài. Khi Ngài đến thế gian xử dụng "bàn tay" của Ngài để bày tỏ quuyền năng vốn có của Ngài vì Ngài là Đấng Tạo Hóa. Dân Y-sơ-ra-ên không biết Ngài là "Đấng từ trời xuống" nên khi họ thấy Ngài làm phép lạ đuổi quỷ, chữa bịnh, hóa bánh ra nhiều, kêu kẻ chết sống lại, thì họ "sững sờ" và rất lấy làm lạ. Bởi vì họ không biết Ngài "là Đức Chúa Trời", Ngài đã "ở cùng Đức Chúa Trời" và "muôn vật bởi Ngài mà nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài" nên dù Ngài đã dùng tay quyền phép làm những việt vĩ đại, phi thường mà người ta vẫn không tin, chỉ lấy làm lạ mà thôi.
Cuộc đời Ngài chỉ có ba mươi ba năm rưỡi, Ngài vừa giảng dạy, vừa thực hiện công tác qua đôi "bàn tay" của Ngài. Chúa không giảng bằng lời nói suông, nhưng "bàn tay" Ngài luôn cứu giúp những kẻ khốn khó, khổ đau hầu xoa dịu phần nào nỗi cô đơn trong tâm linh họ và mong cứu rỗi linh hồn họ khỏi gông cùm tội lỗi. Như chúng ta đã biết, Ngài được trưởng dưỡng từ gia đình của người thợ mộc Giô-sép, tất nhiên Ngài đã dùng đôi bàn tay trong việc bào gỗ, đóng bàn ghế và các vật dụng cách dễ dàng. Bàn tay Ngài bận rộn suốt ngày.
Bàn tay Ngài hóa nước thành rượu khi mới bắt đầu chức vụ công khai. Trong một trường hợp khác Ngài dùng "tay" bện một roi bằng dây đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ. Bàn tay Ngài rờ đến người phung khiến họ được sạch, xoa bùn vào mắt kẻ mù làm cho sáng lại. Cũng bàn tay ấy ban bánh và cá cho đoàn dân đông hơn 5 ngàn người ăn no nê. Bàn tay quyền năng Ngài cầm tay một em bé gái đã chết khiến em nầy sống lại. Tuy bận rộn nhưng Ngài cũng đưa bàn tay dịu dàng bồng ẵm các con trẻ và chúc phước cho chúng. Tay Ngài còn làm nhiều phép lạ khác để chữa lành mọi bệnh tật nan y.
Từ lúc bắt đầu chức vụ đến khi "mọi việc đã được trọn" Ngài luôn sè bàn tay ra ban phước cho mọi người. Bàn tay Ngài là bàn tay trợ giúp, bàn tay yêu thương, trong tay Ngài đầy dẫy ơn phước, sẵn sàng ban phát ra cho ai nhờ cậy đến Ngài. Ngài hoàn thành sứ mạng do hai bàn tay, nhưnh cuối cùng, hai bàn tay nhơn từ ấy bị các mũi đinh gian ác của kẻ bạo tàn đóng vào thập tự giá! Ma quỷ không muốn thấy bàn tay nhơn từ ấy hoạt động nên nó cám dỗ Ngài khi bảo Ngài "hãy hóa đá ra bánh". Nó muốn bàn tay ấy sẽ đưa ra lấy đá làm ra bánh theo lời cám dỗ của nó, như Ê-va khi xưa đã nghe theo lời nó "đưa tay ra hái trái cây" mà Đức Chúa Trời đã cấm. Nhưng Chúa chúng ta vẫn giữ vững bàn tay của Ngài thật trong sạch, thà chịu nhận các mũi đinh đóng vào hơn là nghe theo lời ma quỷ.
Đến nay "bàn tay" Chúa Giê-xu vẫn còn đưa ra giúp đỡ con cái Ngài, còn đưa ra để cầu thay cho chúng ta bên hữu Đức Chúa Cha. Ôi! bàn tay của Chúa Giê-xu thật trong sạch thay! Chúng ta ngày nay có giữ tay mình cho khỏi đụng chạm đến những thứ mà Chúa nghiêm cấm chăng? Bàn tay chúng ta có đặt trong bàn tay Chúa để Ngài dẫn dắt chúng ta trong cõi đời tăm tối nầy khỏi lầm đường lạc lối chăng? Nguyện Chúa giúp chúng ta luôn có bàn tay trong sạch, bàn tay có ích lợi cho Chúa và mọi người.

Bàn tay Cơ Đốc Nhân
Bàn tay của Đấng Tạo Hóa làm nên vũ trụ và loài người. Bàn tay của con người được Chúa dùng để làm theo ý chỉ Ngài. Bàn tay Chúa Giê-xu cứu giúp nhân loại, thi hành kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Còn bàn tay của Cơ-đốc-nhân đã làm, đang làm và sẽ làm gì? Chúng ta sẽ nhận thấy công việc của tay mình có thể làm được như sau:
Đời sống của một Cơ-đốc-nhân thật, không phải là một đời sống "lý thuyết" suông nhưng là một đời sống "thực tế". Một đời sống được đổi mới từ bên trong và phát lộ ra bên ngoài, bởi lời sống của Chúa Giê-xu. Chúa phán rằng: "Những lời ta nói cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống". Cơ đốc giáo không phải là một "triết lý" dạy đời, nhưng là một "hành động cách mạng" trong tâm linh con người bởi sự sống của Thánh Linh tác động. Những luận thuyết giải thích về Đức Chúa Trời, về vũ trụ, về thần đạo không phải là sự sống của Cơ-đốc-nhân nhưng chính sự sống của Lời Đức Chúa Trời truyền đạt vào trong tâm hồn của con người; cũng ví như một bài văn diễn tả cảnh vườn hoa đẹp đẽ với muôn màu sắc nhưng không tạo được một nụ hoa, chỉ sự sống của cây mới sinh ra nụ hoa vậy. Thế nên, một Cơ-đốc-nhân nếu chỉ sống trên lý thuyết của Cơ đốc giáo thì người ấy chưa phải là Cơ-đốc-nhân thật. Người ấy phải có sự sống của Đấng Christ trong lòng khiến cho người ấy "hoặc ăn hoặc uống hoặc làm sự chi khác cũng vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm." Đó là một Cơ-đốc-nhân thật, họ sẽ giống như Đấng Christ, bàn tay họ sẽ thánh sạch dịu dàng để làm công việc của Ngài. Nếu muốn Chúa đẹp lòng thì không phải chỉ có ý nghĩ hay, những chương trình vĩ đại đầy ắp trong đầu, cũng không do giàu tưởng tượng mà được, bèn là phải thực hiện những ý nghĩ hay ấy, những chương trình vĩ đại ấy qua đôi "bàn tay" mình như chính Đấng Christ vậy.
Lời nói của đôi "bàn tay" sẽ có hiệu lực hơn lời nói bằng lưỡi. "Bàn tay" nhân từ sẽ nói lời êm dịu ngọt ngào, chân thật hơn là lời nói văn hoa bóng bẩy của cái lưỡi. Một câu chuyện chúng ta rất quen thuộc là chuyện "Người Sa-ma-ri nhơn lành" do Chúa Giê-xu thuật lại. Người Sa-ma-ri nhơn lành nầy khi thấy một nạn nhân lâm vào cảnh khốn khổ, người không nói một lời nào cả; có thể vì nạn nhân thương tích nặng nề, chỉ nằm thoi thóp nên không thể nghe gì nữa. Mà người ấy cũng không cần phải nghe, chỉ cần "bàn tay" nhanh nhẹn "áp lại lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương", cần có chút nước thấm giọng để đỡ khát, cần có phương tiện đến nhà quán để được săn sóc. Đó là bài giảng sống động, hùng hồn nhất, là tiếng nói của "bàn tay" những người Cơ đốc.
Chân lý của Cơ đốc giáo không phải chỉ ngồi đó mà suy nghĩ, ngồi đó mà chỉ trích phê bình, hoặc ngồi đó mà truyền lệnh cho kẻ khác thi hành công tác nhưng chính là một sứ mạng khẩn cấp và hệ trọng mà mỗi Cơ-đốc-nhân "phải đi và làm theo như vậy". Nếu chúng ta chú ý đến mạng lệnh Chúa truyền là: "Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ ta" ắt chúng ta sẽ thấy vô số "nạn nhân" đang chờ "bàn tay" của người "Sa-ma-ri" đến cứu giúp họ; họ không cần cái lưỡi của thầy tế lễ hay người Lê vi, tức những cái lưỡi phát xuất rất nhiều luận lý cao siêu vượt bậc, thật hấp dẫn, nhưng không ích gì đối với một nạn nhân đang cần "bàn tay" trợ giúp. Những lý thuyết ấy chỉ là những âm thanh vang dội, ồn ào càng làm cho đinh tai nhức óc nạn nhân, khiến họ càng thêm khốn khổ. Những vị ấy nói thật hay, nhưng không thực hành gì cả. Bàn tay thuộc linh của họ không thể đụng chạm đến vết thương lòng của nạn nhân. Họ không có "dầu vui mừng" của Thánh Linh để xoa dịu những vết thương, nên càng đụng đến họ càng làm cho người ta đau đớn vì không phải "bàn tay của người Sa-ma-ri nhơn lành" mà là bàn tay của kẻ gây ra thương tích. Chúng ta hãy nhìn lại đôi bàn tay mình đã, đang và sẽ làm gì cho tha nhân? Chữ YOD là bàn tay, một chữ thật nhỏ bé nhưng ý nghĩa thật lớn lao thay! 


CAPH (Cánh)
Số tiêu biểu: 20

Chữ nầy có nghĩa là CÁNH (như cánh chim). Chữ CÁNH được nhắc đến 82 lần trong Kinh Thánh; 78 lần trong Cựu Ước và 5 lần trong Tân Ước. Cánh chim biểu lộ tình thương và công việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời: đẹp và có sức mạnh. Loài chim có bộ lông cánh đẹp nhất là con công. Nhìn một con công xòe cánh và đuôi ra chúng ta sẽ thấy màu sắc của cái mống. Tại Nam Mỹ có một giống chim hết sức nhỏ, hình vóc chỉ lớn bằng con ong, mới xem qua người ta cứ ngỡ là con ong, nhưng khi bắt được nó mới biết đó là một giống chim tí hon kỳ lạ, giống chim này có nhiều màu sắc rực rỡ khác thường. Đức Chúa Trời dựng nên loài chim, Ngài ban năng lực cho chúng nơi cặp cánh. Chúng không cần nhiệt lượng của hơi nước như tàu thủy hay tàu hỏa, cũng không cần nhiên liệu như phi cơ. Nhưng cặp cánh của chúng có sức mạnh phi thường. Chúng cất cánh bay lên giữa khoảng trời xanh bát ngát cách nhẹ nhàng, đúng như lời quyền năng của Chúa phán khi chúng mới được dựng nên: "các loài chim phải bay trên mặt đất trong khoảng không trên trời" (SaSt 2:20). Chúng định hướng rất chính xác, dù sương mù dày đặc hay bão tố dữ dội, chúng vẫn lướt gió tung mây bay về tổ ấm cách an toàn. Khi mới nở ra khỏi vỏ trứng, cặp cánh chim con nhỏ bé trơ trụi, bao phủ bằng một lớp lông non mềm mại dễ thương. Nhưng cặp cánh ấy vô dụng vì không đủ năng lực để nâng chim lên khỏi tổ. Cánh ấy phải được phát triển, tức là phải mọc thêm những chiếc lông cánh dài tùy theo loại chim. Rồi cặp cánh ấy phải được huấn luyện cách thuần thục, bấy giờ mới có thể bay lên khoảng không cách nhẹ nhàng mau lẹ.
Trong sách PhuDnl 32:11 cho ta thấy cách chim phụng hoàng tập bay cho chim con khi đã đủ lông cánh. Trước hết chim mẹ vất bỏ những vật mềm đã lót ổ khi đẻ trứng. Chim con phải nằm trên những cành cây khô cứng khó chịu, sau đó chim mẹ đùa chim con ra ngoài tổ dựa bên gành đá chơ vơ, đoạn hất mạnh chim con ra ngoài từ trên cao độ hai ngàn bộ. Chim con hốt hoảng liền tức khắc sử dụng cặp cánh. Nhưng vì cặp cánh ấy quá yếu ớt không đủ sức nâng lấy thân chim, nó chỉ bay phấp phới. Vài giây đồng hồ sau chim con đuối sức và từ từ rơi xuống. Chim mẹ lúc ấy bay loanh quanh theo con, khi thấy chim con đã rơi xuống giữa khoảng không, chim mẹ liền bay thấp xuống phía dưới xớt lấy chim con đem về tổ. Bài học ấy được lặp lại nhiều lần cho đến khi chim con thật quen thuộc, đủ sức bay một mình không cần sự giúp đỡ của chim mẹ nữa. Khi chim ưng con đã chịu huấn luyện sử dụng cặp cánh thuần thục rồi, lúc bấy giờ nó cũng bay cao như mẹ nó. Nó cũng tìm các ngọn núi cao để làm tổ và đường bay của nó cũng xa tít tận mây xanh. Kinh Thánh ghi nhận rằng đường chim ưng bay trên trời thật diệu kỳ, loài người không biết được (ChCn 30:19).
Cặp cánh của chim ưng là biểu tượng rất rõ ràng về đời sống thuộc linh cao thượng của Cơ-đốc-nhân. Mỗi người phải có cặp cánh đã chịu huấn luyện thuần thục, đã biết trông đợi Đức Giê-hô-va để "nhận được sức mới" lúc bấy giờ mới có thể "cất cánh bay cao" như EsIs 40:31 đã diễn tả. Chim ưng bay cao không có thợ săn nào bắn trúng. Đời sống Cơ-đốc-nhân cao thượng thì kẻ thù không bắn trúng họ, dù bằng tên lửa hay bất cứ loại khí giới nào. Trong mọi trường hợp nguy nan, khốn khổ, mọi hoàn cảnh tăm tối hãi hùng, họ sử dụng cặp cánh thuộc linh thật nhẹ nhàng, họ bay xa tít.
Như đời sống Giô sép, ông có cặp cánh "tin cậy và vâng lời" Chúa. Ông đã bay cao, mũi tên giàu sang quyền quý nơi nhà Phô-ti-pha không bắn trúng ông được. Tuy hoàn cảnh của Giô sép thật quá cam go, bi đát song ông đã bay thật cao và đã thoát. Khi gặp lại các anh mình, một lần nữa cặp cánh tin cậy vâng lời đã tỏa ra những màu sắc rạng rỡ bằng tình yêu thương tha thứ. Ông không hề phiền giận, cũng không cố ý trả thù về những mưu ác của các anh, mặc dù ông có đủ uy quyền trong tay. Cặp cánh thiêng liêng ấy đã cất ông lên tận trời xanh, mũi tên thù hận đành rơi xuống đất!
Chúng ta là tín đồ đấng Christ nhận được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời cách nhưng không, chúng ta được phước lớn vì Chúa ban cho mình cặp cánh "tin cậy, vâng lời". Chúng ta thỏa lòng trong tổ ấm của gia đình và hội thánh với nhiều ơn phước Chúa đổ xuống khiến chúng ta vui sống trên thế gian nầy. Phần đông chúng ta muốn giữ mãi địa vị "chim non trong tổ ấm", cặp cánh thuộc linh không có cơ hội luyện tập nên chưa đủ sức bay cao. Lắm khi Đứa Chúa Trời nhìn thấy hội thánh Ngài giống như đàn chim ưng đã lớn, cặp cánh đã dài, nhưng chưa biết bay nên Ngài phải tập cho họ bay bằng cách phá tan tổ ấm, tung chúng ta ra trong khoảng không nguy hiểm; nào hoạn nạn, đau đớn, bắt bớ, gian lao cho đến khi chúng ta có thể sử dụng cặp cánh "tin cậy và vâng lời" cách triệt để. Bài học ấy chúng ta phải học theo chương trình của Ngài cho đến khi nào chúng ta thật đủ sức bay cao.
Dân Y-sơ-ra-ên khi xưa cư ngụ tại Ai cập khoảng thời gian khá lâu là 430 năm. Cái tổ ấy rất ấm cúng. Nhưng Đức Chúa Trời đã phá tan bằng cách khiến người Ê-díp-tô áp bức, tiêu diệt họ đủ mọi cách cho đến khi họ bằng lòng lìa khỏi tổ ấy để nương cậy nơi Ngài. Họ phải hoàn toàn "tin cậy và vâng lời" Ngài khi vượt qua Biển Đỏ hãi hùng, qua sa mạc ghê rợn, thiếu nước, thiếu lương thực, nguy với quân thù, khốn đốn đủ mọi mặt, tưởng chừng như sắp bị tiêu diệt. Nhưng Đức Chúa Trời luôn luôn xòe cánh ra xớt họ như chim phụng hoàng xớt con mình, khiến họ được bình an vào Đất Hứa. Tuy nhiên, phần lớn trong bọn họ đã ngã chết dọc đường vì không chịu sử dụng cặp cánh "tin cậy và vâng lời" như lịnh Ngài truyền.
Hội thánh đầu tiên khi vừa vững lập tại Giê-ru-sa-lem, cái tổ ấm ấy quy tụ đủ các vị lãnh đạo là các sứ đồ, các tín hữu, đủ mọi tầng lớp, mọi thành phần trong xã hội lúc bấy giờ. Họ hình thành một tổ chức toàn hảo: "lấy mọi vật làm của chung". Hằng ngày cứ đến đền thờ cầu nguyện và thờ phượng Chúa. Ơn phước ngập tràn, các phép lạ xảy ra thường xuyên. Nhưng một cơn bắt bớ khủng khiếp đến với họ do Sau-lơ cầm đầu, khiến các tín hữu tan lạc khắp nơi. Họ đã sử dụng cặp cánh "tin cậy và vâng lời" cách triệt để. Kết quả danh Chúa được đồn ra khắp thế gian.
Trên một phương diện khác, cánh là hình bóng về "ân tứ và khả năng". Nhiều Cơ-đốc-nhân có ân tứ và khả năng nhưng không chịu tập luyện để sử dụng cặp cánh thiêng liêng ấy, cứ xếp cứng vào mình cho đến ngày nhắm mắt lìa đời. Thật là đáng tiếc!
Tiến sĩ Oliver W. Holwes đã nói rằng: "Có nhiều người đã chết với khả năng âm nhạc của mình". Họ có khả năng âm nhạc hay bất cứ một khả năng nào khác, song không dám đem ra sử dụng cho công việc của Đức Chúa Trời, có khi vì tánh nhút nhát hoặc vì thấy kẻ khác vượt trỗi hơn mình.
Qua thí dụ về những ta lâng, Chúa Giê-xu không muốn chúng ta giấu những khả năng Chúa ban cho mình. Mỗi chúng ta nên dùng ân tứ và khả năng Chúa ban cho vào công việc Ngài. Chữ thứ 11 của mẫu tự Hy-bá-lai có nghĩa là CÁNH để dạy chúng ta về đời sống đắc thắng trong lãnh vực thuộc linh, nhắc chúng ta nhớ đến tình yêu thương sâu đậm của Chúa Giê-xu. Khi xưa Chúa Giê-xu nhìn thấy thành Giê ru sa lem, cùng sự bại hoại của thành ấy nên Ngài khóc về thành mà phán rằng: "Hỡi Giê ru sa lem, Giê ru sa lem, ngươi ném đá các tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi, bao nhiêu lần ta muốn nhóm các ngươi lại như gà mái túc các con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng" (Mat Mt 23:37).
Trong quyển "Sông Phước Vô Tận", tác giả là bà Ann Smith đưa ra nhiều sự dạy dỗ rất quý trong một chương có tựa là "Sống Trên Đôi Cánh". Ước mong mỗi chúng ta đều có một đời sống mạnh mẽ vui tươi, hầu cho chúng ta có sức vượt khỏi thế gian mờ tối nầy mà bay cao như chim ưng, không mệt nhọc, không mòn mỏi cho đến khi gặp Chúa! 

LAMED (Cái đót bò)

Số tiêu biểu: 30
Theo ông James A. Patch, Kinh Thánh chỉ nói đến chữ nầy bốn lần. Lần đầu trong sách Cac Tl 3:31, khi Sam-ga làn quan xét "người đã dùng cái đót bò giết sáu trăm người Phi-li-tin". Trong sách ISa1Sm 13:21 nói về dân Y-sơ-ra-ên xuống xứ Phi-li-tin để sửa và mài dũa lại cho bén những cái đót của lưỡi cài hay chĩa ba. Cũng trong TrGv 12:11 ví cái đót như lời nói của người khôn ngoan. Sách Cong Cv 26:14 chép Phao-lô đá vào ghim nhọn (cái đót).
Cái đót bò xuất xứ từ Sy-ri, các nông gia Sy-ri khi cày ruộng thường dùng một cành cây thẳng cứng bằng gỗ sồi, dài chừng một thước rưỡi, một đầu bằng và một đầu chuốc nhọn. Đường kính của đầu bằng độ ba phân tây dùng để thúc bò, đầu nhọn bịt sắt dùng để cạy đất dính vào lưỡi cày. Đó là công dụng của cái đót bò.
Cái đót bò trong tay Sam-ga.
Cái đót bò! Một dụng cụ đơn sơ tầm thường của các nông gia. Nó không phải là một khí giới chiến đấu; nó có hai công dụng: thúc bò đi cho mau hơn và cạy đất dính nơi lưỡi cày. Các nông gia thời xưa cày ruộng bằng bò không thể không cầm đót! Nó tầm thường nhưng ích lợi vô cùng. Tuy cái đót bò không phải bằng kim loại như gươm, giáo hay mã tấu, dao găm, nó chỉ là một đoạn gỗ nhỏ có thể bẻ gãy dễ dàng. Bình thường Sam-ga dùng nó khi cày ruộng, nhưng thình lình kẻ thù tràn tới như nước vỡ bờ, trong trường hợp cấp bách đó ngoài cái đót bò ra Sam-ga không có một khí giới nào khác. Ông đã dùng nó giết 600 người Phi-li-tin trong một ngày, đem lại sự đắc thắng vẻ vang, giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay quân thù. Thật là một chiến công hi hữu!
Sam-ga không phải là một chiến sĩ nổi danh, nhưng ông đã kịp thời đối phó bằng vật sẵn có nơi tay nên đã thành công mỹ mãn, trở nên một vị quan xét cho dân Y-sơ-ra-ên. Điều nầy dạy chúng ta một bài học quí. Chúng ta là tín đồ Đấng Christ, rất yếu đuối, tầm thường, nhưng chúng ta đang ở trong tay Chúa, chính Ngài sẽ xử dụng chúng ta trong công việc Ngài, chúng ta sẽ đắc thắng quân thù là ma quỷ cách vẻ vang. Đó không phải do nơi tài riêng của chúng ta bèn là bởi quyền năng của Đức Thánh Linh vậy.
Những cái "Đót Bò" trong tay Đức Chúa Trời
Lịch sử Kinh Thánh đã chứng minh rằng Đức Chúa Trời thường dùng những con người tầm thường trong nhiều công tác phi thường. Họ là những dụng cụ hữu ích cho Chúa khi Ngài nắm lấy họ, xử dụng họ theo nhu cầu của công việc Ngài. Thử xét qua đời sống các bậc vĩ nhân trong Kinh Thánh, từng làm nên những công tác lớn cả về thuộc linh lẫn thuộc thể, chúng ta sẽ thấy ý định của Chúa diệu thay!
Giô sép là ai ? Giô sép chẳng qua là một người như muôn vạn người khác trên thế gian nầy; một người tầm thường, yếu ớt. Lúc thiếu thời chỉ là một "cậu ấm" được cha thương yêu chiều chuộng đến nỗi gây lòng ganh tị nơi các anh. Bị các anh ghét bỏ, bắt cóc, bán đi làm nô lệ, tứ cố vô thân nơi đất khách quê người, trở thành một tên nô lệ, mắc hàm oan phải tra thân vào tù tội. Cuộc đời Giô sép như thế có ai ngờ rằng một ngày nào đó chàng sẽ trở nên một vị phó vương chăng? Không ai nghĩ rằng việc ấy có thể thành sự thật, ngay cả các anh của Giô sép cũng đinh ninh rằng chàng đã chết rục xương nơi xứ người rồi!
Nhưng mọi sự xảy ra khác hẳn. Từ một tên nô lệ, một tù nhân, một kẻ bị khinh dễ chê bai lại trở thành vị toàn quyền của một đại cường quốc lúc bấy giờ! Ấy chỉ vì Giô sép là người được Đức Chúa Trời nắm trọn đời sống ông trong tay Ngài, tuy phải trải qua bao gian nan, thống khổ trong lúc bị hàm oan, áp bức, Giô sép vẫn giữ một tấm lòng trong sạch, một dạ trung thành với Chúa giữa những cơn thử thánh nặng nề nhất; ông vẫn cứ vững tin nơi Chúa. Đến kỳ Ngài nhắc ông từ địa vị thấy hèn lên chỗ cao sang khiến mọi người đều kinh ngạc. (SaSt 37:39-45).
Môi-se , một cậu bé bị thả trôi trên sông, nhờ sông, nhờ công chúa của Pha-ra-ôn cứu khỏi chết. Bốn mươi năm được trưởng dưỡng nên điện ngọc đền ngà, nhưng sau đó vì phạm tội sát nhân phải lánh mình nơi đồng khô cỏ cháy. Lại một lần nữa, bốn mươi năm cực nhọc nơi hoang vắng xa xôi, tưởng rằng cuộc đời của ông sẽ cứ kéo lê trong những chuỗi ngày lao khổ, bầu bạn với đàn chiên, an phận với gia đình, ngoài ra không còn thiết gì đến công danh phú quý, hình như ông nghĩ rằng mình chẳng qua là một cái "đót bò", thế thôi! Ngờ đâu cái đót bò ấy đã được Đức Chúa Trời nắm lấy thật chặt, ông đã trở nên một vị lãnh tụ tài ba vô tiền khoáng hậu, một con người phi thường trong suốt lịch sử nhân loại. Thật Môi-se là cái "đót bò" trong tay Đức Chúa Trời! (Xuất Ê-díp-tô ký, chương 2 đến 40).
Đa vít , một cậu bé chăn chiên mộc mạc, bị các anh khinh khi, bị Sau-lơ ganh ghét săn đuổi, phải trốn chui trốn nhũi trong các hang đá, rừng sâu, mạng sống như chỉ mành treo chuông, đối diện với sự chết trong đường tơ kẽ tóc! Thế mà Đa-vít vẫn trung thành với Chúa, bằng lòng nằm gọn trong tay Đức Chúa Trời, kết quả ông đã trở nên một chiến sĩ lừng danh, một vị anh hùng lừng danh, một vị đế vương gương mẫu, khai sáng một quốc gia hùng cường, mở đường cho Đấng Mê-si giáng thế ISa-mu-ên và II Sa-mu-ên, EsIs 9:5 và LuLc 1:32, 33).
Các tín đồ đầu tiên . Trước khi tin nhận Chúa, Phao-lô thẳng tay đàn áp tín đồ Đấng Christ. Theo nhãn quan của ông thì những người ấy chỉ như những cái "đót bò" khẳng khiu, yếu ớt, không ra chi cả nên ông đã mạnh dạn "đá chơn vào" không chút thương xót. Khi ông đã nghe tiếng Chúa Giê-xu phán: "Ngươi đá đến cái đót bò thì khó chịu cho ngươi vậy" (theo nguyên văn là "cái đót" vì Chúa Giê-xu phán với Sau-lơ bằng tiếng Hy-bá-lai, bản Việt-ngữ dịch là "ghim nhọn") tức thì ông nhận biết rằng những "cái đót" ấy đang ở trong tay của Đấng toàn năng là Giê-xu ở Na-xa-rét, Đấng đã chết, hiện đang sống và chính Ngài đang nắm chặt những "cái đót bò" ấy trong tay Ngài.
Khi ông bừng mắt ra và nhận thức điều ấy, ông liền hạ mình xuống trước mặt Chúa, dâng trọn cuộc đời cho Ngài. Đến phiên ông, ông cũng bằng lòng trở nên cái "đót bò" trong tay Đứa Chúa Trời, được Ngài đại dụng đến nỗi ông cũng bị người khác "đá chơn vào", song cái đót ấy không bị gãy nhưng lại có ảnh hưởng lớn, tồn tại đến ngày nay (Công vụ chương 9 đến 28).
Hình ảnh cái đót bò yên ủi chúng ta. Là những Cơ-đốc-nhân thiếu khả năng, thiếu điều kiện thuận lợi để tiến bước trên đường đời, song khi chúng ta có một đức tin đơn sơ, vững chắc nơi Chúa Giê-xu, được Chúa nắm lấy chúng ta, dùng chúng ta trong công việc Ngài, tất nhiên chúng ta có thể làm điều gì Chúa muốn, vì chính Ngài đã hành động qua đời sống chúng ta, còn riêng chúng ta thật không có một điều gì đáng kể. Chính Đức Chúa Trời thấy chúng ta là những cái đót bò mà Ngài có thể dùng được. Người thế gian không hiểu nỗi sự mầu nhiệm nầy.
Cái đót bò của Sam-ga đã giết chết 600 người Phi-li-tin cũng có giá trị như lưỡi gươm sáng chói của Ghê-đê-ôn đã tiêu diệt đạo binh Ma-đi-an hùng dũng. Đoàn quân tinh nhuệ của Giô-áp với đầy đủ khí giới chỉ đủ sức lùa những người phản loạn vào trong tháp. Song chỉ câu nói của một phụ nữ vô danh mà đầu Sê-ba lìa khỏi cổ! Con cá khổng lồ nuốc Giô-na thời Cựu ­ơc so với con cá nhỏ bé mang đồng bạc để nộp thuế cho Chúa Giê-xu trong thời Tân ­ơc, tuy cả hai hình thức rất khác biệt đều được Chúa dùng trong công việc Ngài. Cũng vậy, một nhà thần đạo trứ danh so với một chứng đạo viên trung tín thật cũng khác biệt xa vời, nhưng cả hai đều như những cái đót bò trong tay Đức Chúa Trời. Vì thế dù chúng ta ở trong địa vị nào, thành phần nào cũng không có mảy may chi để khoe mình. Chúng ta cũng không nên khinh dể một kẻ rất nhỏ nào của Chúa, vì một ngày nào đó đến kỳ định của Chúa, Ngài sẽ dấy họ lên làm những việc lớn cho nhà Chúa.
Nguyện Chúa giúp chúng ta nhớ chữ LAMED nầy mà bằng lòng làm cái đót bò trong tay Chúa hầu ích lợi cho công việc Ngài.


MÊM (nước)
Số tiêu biểu: 40
Chữ thứ mười ba trong mẫu tự Hy-bá-lai là MÊM, nghĩa là "nước". Phát âm như chữ M. Hình dáng chữ nầy tựa như sóng biển.
Kinh Thánh chép chữ "nước" 631 lần. Lần đầu trong SaSt 1:2 lần cuối trong Khải-thị 22:17;. Nước là một trong ngũ-hành của công việc sáng tạo, là nhu yếu phẩm cho muôn vật mọi loài. Trong nước có sự sống sinh sản những động vật. Đức Chúa Trời phán: "Nước phải sanh các vật sống cho nhiều, và các vật sống hay động nhờ nước mà sanh nhiều ra" (SaSt 1:20, 21).
Chữ nước thứ nhất bắt đầu với sự tối tăm hổn độn của vũ trụ. Sau khi Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước với lời phán quyền năng của Ngài, tức thì nước được phân rẽ ra, "nước ở dưới khoảng không cách với nước ở trên khoảng không" (SaSt 1:7). Rồi từ giữa những "nước ở dưới trời" lại bày ra mặt đất, vì "đất ra từ nước và làm nên ở giữa nước" (IIPhi 2Pr 3:5). Mặt đất được lệnh Chúa truyền sinh cây cỏ, nhưng nước giữ một vai trò quan trọng là duy trì sự sống cho muôn vật.
Từ khi Đức Chúa Trời dựng nên A-đam và Ê-va cho đến đời Nô-e, trải qua mười thế hệ, loài người chưa bao giờ thấy mưa, lúa bấy giờ mặt đất được tưới bằng "hơi nước dưới đất" bay lên và do nước của con sông bốn nhánh (SaSt 2:6, 10). Chưa có một giọt mưa nào từ trời rơi xuống, vì thế người ta không ngờ rằng một ngày nào đó nước trên trời sẽ đổ xuống bởi những trận mưa kinh khủng suốt bốn mươi ngày đêm! Đồng thời dòng nước êm ả từ con sông bốn nhánh cũng cuồn cuộn trào lên và dâng cao đến nỗi ngập cả núi non vạn vật! Kinh Thánh chép: "Chánh ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra, và các đập trên trời mở xuống" (SaSt 7:11). Thật là một tay họa khủng khiếp đổ xuống trên loài người lúc bấy giờ. Theo nguyên văn Hy-bá-lai thì chữ nước số nhiều là MAYIM, còn chữ trời cũng thuộc số nhiều là SAMAYIM. Thế thì biến cố đại hồng thủy trong Sáng thế ký chương 7 không phải là chuyện mơ hồ như một số người vô tín phủ nhận, mà đó là một sự kiện có thật.
Nghiên cứu trong Kinh Thánh chúng ta thấy Đức Chúa Trời thường thực hiện ý định của Ngài trong công tác ở giữa loài người là nước. Chúng ta sẽ lần lượt nhận thấy như sau:
Tai họa đầu tiên Đức Chúa Trời hình phạt loài người là Nước Lụt.
Các cuộc hôn nhân của Y-sắc, Gia-cốp và Môi-se đều từ các giếng nước. (Riêng cuộc đời của Môi-se phải bị trôi trên dòng sông suốt mấy tiếng đồng hồ). (SaSt 24:14; 19:10, XuXh 2:3-10 và 16:21).
Tai họa thứ nhất trút xuống trên đất Ê-díp-tô cũng bắt đầu với nước, nước hôi thúi (7:1-7).
Dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai cập đã trải nghiệm quyền năng của Đức Chúa Trời bởi "nước". Nước rẽ ra nơi Biển Đỏ, cứu họ khỏi tay người Ê-díp-tô (14:21-31).
Nước đắng hóa ngọt tại Ma-ra (15:22-26).
Nước phun ra từ hòn đá Hô-rếp, (17:3-7).
Nước tại Mê-ri-ba khiến hai vị lãnh tụ là Môi-se và A-rôn bị Đức Chúa Trời lên án phạt không được vào Đất Hứa (Dan Ds 20:2-13).
Nước sông Giô đanh rẽ ra đưa họ vào đất Ca na an (Gios Gs 3:1-17).
Tiên tri Ê-li và Ê-li-sê cũng từng đập áo tơi mình nơi sông Giô đanh và nước của sông ấy rẽ ra cho hai ông đi qua (khi Ê-li-sê trở lại một mình dùng áo tơi của Ê-li đập nước thì nước cũng rẽ ra cho ông) (IIVua 2V 2:8-14).
Một người ngoại bang đầu tiên được sạch bịnh phung nhờ tắm bảy lần dưới sông Giô đanh (theo lịnh truyền của Ê-li-sê; sách II Vua chương 5).
Khi Giăng Báp-tít bắt đầu chức vụ bằng cách làm lễ báp tem cho dân chúng tại sông Giô đanh trong số đó có Chúa Giê-xu cũng đến chịu phép báp tem nữa (Mat Mt 3:3-17).
Phép lạ thứ nhất của Chúa Giê-xu để bày tỏ sự vinh hiển Ngài là "hóa nước thành rượu" (GiGa 2:1-12).
Sự cứu rỗi đưa đến cho người đàn bà Sa-ma-ri và dân thành Si kha bắt đầu nơi giếng nước Gia-cốp (GiGa 4:7-42).
Chúng ta được cứu bởi ba điều chứng: Thánh Linh, Nước và Huyết, ba điều ấy hiệp một (IGi1Ga 5:8). Và còn nhiều nữa chúng ta kể không hết.
Công dụng của nước là duy trì sự sống và tẩy sạch những dơ bẩn. Các thầy tế lễ trước khi dâng của lễ phải tắm nước. Khi Chúa Giê-xu bày tỏ một lẽ đạo quan trọng đến sự cứu rỗi, Ngài phán: "Nếu một người chẳng nhờ Nước và Thánh Linh mà sanh thì không được vào nước Đức Chúa Trời" (GiGa 3:5).
Thánh Phao-lô khi luận về sự thánh khiết của Hội Thánh đã tuyên bố: "Để khiến hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng đạo làm cho hội tinh sạch" (Eph Ep 5:26).
Khi Chúa Giê-xu chết trên thập tự giá Ngài bị một tên lính dùng giáo đâm ngang sườn Ngài tức thì máu và nước chảy ra (GiGa 19:34).
Trong thơ IGi1Ga 5:6 cho chúng ta thấy điểm quan trọng của sự hy sinh của Đấng Christ liên quan đến nước . Ấy chính Đức Chúa Giê-xu đã lấy nước và huyết mà đến, chẳng những lấy nước mà thôi, bèn là lấy nước và huyết. Một sự liên hiệp nhiệm mầu giữa ba yếu tố: Thánh Linh, Nước và Huyết (5:6).
Nước vật chất rất cần cho thân thể, nước thuộc linh thiết yếu cho linh hồn. Chúa Giê-xu đã dùng nước là một nguyên liệu phổ thông mọi người đều dùng đến để dạy một lẽ đạo quan trọng về nước hằng sống. Nước đó tức là Tin lành cứu rỗi, là chính Chúa Giê-xu Christ. Ngài phán: "Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình" (GiGa 7:38). Và "Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi, nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời" (GiGa 4:13, 14). Nước ấy rất cần cho mỗi một người, nước đó chính là Đức Thánh Linh, Ngài là mạch nước sống. Đời sống Cơ-đốc-nhân nào không có Ngài thì sẽ khô héo, cằn cỗi không sanh hoa kết quả được. Tâm hồn người không có Thánh Linh luôn luôn thèm khát những gì thuộc về đời nầy. Vì họ tưởng rằng những thú vui của trần gian sẽ làm cho tâm hồn đã khát. Nhưng họ đã lầm! Khi họ miệt mài uống thứ nước của đời, họ càng khao khát mãi, không bao giờ thỏa mãn được. Cơ-đốc-nhân nào hết lòng tin nhận Chúa Giê-xu tức thì tội được tha, lòng được rửa sạch, tâm hồn sẽ thỏa mãn. Họ sẽ trở thành những con sông nước sống bắt nguồn từ Đức Thánh Linh; dòng nước của sông ấy chảy mạnh và chảy xa, luôn luôn tràn đầy hạnh phúc cho những ai gần gũi họ. Một mạch nước chảy ngầm dưới đất chỉ trào lên khi có ai đào trúng mạch, nhưng những con sông trong lòng tín đồ thì tự nó tràn đầy dư dật. Đó là "một ngọn sông dòng nước nó làm vui thành Đức Chúa Trời" (Thi Tv 46:4). Nếu mỗi Cơ-đốc-nhân là một con sông phước ắt sẽ dập tắt được ngọn lửa cuồng loạn của thế giới nầy.
Phần kết thúc của sách Khải thị cũng lập lại lời Đức Thánh Linh mời gọi mọi người khao khát hãy đến nhận lấy nước sự sống, tức là sự cứu rỗi mà Ngài ban cho cách nhưng không (KhKh 22:17; EsIs 55:1).
=====================================

NUN (Cá)

Số tiêu biểu: 30
Chữ thứ mười bốn của mẫu tự Hy-bá-lai là NUN, chữ nầy nghĩa là cá. Phát âm như chữ N. Kinh thánh nói đến chữ CÁ khoảng 61 lần. Có nhiều phép lạ xảy ra liên quan đến cá như: cá nuốt Giô na, cá mà các môn đồ đánh lưới được nhiều vô số, Chúa hóa cá ra nhiều cho dân chúng, cá mang đồng bạc đến cho Chúa Giê-xu nộp thuế, một mẻ cá phi thường sau khi Chúa Giê-xu từ kẻ chết sống lại v. v... Trong bài này nhấn mạnh về con cá nuốt Giô-na.
Cả ba sách Tin lành Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca đều chép lại câu chuyện này. Sách Ma-thi-ơ nói rõ hơn, ghi lại đến hai lần (Mat Mt 12:39-41 và 16:4). Đây là một dấu lạ liên quan đến Chúa Giê-xu, một dấu hiệu đặc biệt chỉ về sự phục sanh của Ngài. Dấu lạ của Giô na không phải là cả thành Ni-ni-ve ăn năn, bèn là sự ông ra khỏi bụng cá. Một vị tiên tri như Giô na rao giảng khiến mọi người ăn năn là một việc thường xảy ra như với bất cứ một tiên tri nào khác. Xét về lời giảng của Giô na không có gì xuất sắc. Sự ăn năn của người Ni-ni-ve là một việc có thể xảy ra trong lúc bấy giờ. Chỉ lạ ở chỗ Giô na bị quăng ra khỏi tàu, bị cá kình nuốt chửng nhưng vẫn sống trong bụng cá ba ngày đêm. Sau khi được Đức Chúa Trời truyền lịnh con cá bèn mửa Giô na ra trên mé biển. Không hiểu tình trạng của ông lúc ấy ra sao chỉ thấy Kinh thánh chép rằng ông ta đứng dậy và giảng cho dân thành Ni-ni-ve. Đó là phép lạ xảy ra cho Giô na, một phép lạ độc đáo xảy ra trong thời Cựu Ước, minh chứng cho sự sống lại của Chúa Giê-xu trong thời Tân Ước (Mat Mt 12:39-41).
Chúa Giê-xu dùng phép lạ để giải nghĩa cho phép lạ. Phép lạ là điều vượt quá tầm hiểu biết của con người, nó thuộc về cõi siêu nhiên, trí hữu hạn của con người không thể suy nghiệm được. Khi người Do-thái xin Ngài làm một phép lạ để họ xem hầu chứng minh cho chức vụ Ngài, song Ngài từ chối. Mục đích Ngài làm phép lạ là để bày tỏ Thần quyền của Ngài chớ không phải để thỏa tính tò mò của họ. Chức vụ Ngài là giảng Tin lành, chết đền tội cho nhân loại và sống lại để tiêu diệt quyền lực của ma quỷ và tử thần. Quyền năng siêu việt của Đức Chúa Trời cũng như tình thương vô hạn của Ngài vượt quá sự hiểu biết của loài người. Vì cớ ấy người vô tín không thể tin phép lạ cũng không giải nghĩa được. Chúa phán cách cương quyết: "dòng dõi hung ác gian dâm nầy xin một dấu lạ, nhưng sẽ chẳng cho dấu lạ chi khác ngoài dấu lạ của đấng tiên tri Giô-na. Rồi Ngài bỏ họ mà đi" (Mat Mt 16:4).
Chúa phục sanh là một dấu lạ lớn nhất, là nền tảng của Cơ-đốc-giáo. Cho nên khi chúng ta tin Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời để chỉ về sự hi sinh của Ngài, thì cũng tin rằng dấu lạ của Giô-na là hình bóng về sự sống lại của Ngài vậy. Cả hai hình bóng nầy phải đi đôi với nhau, cùng đứng vững hay cùng sụp đổ. Không ai có thể tin rằng Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời đồng thời lại phủ nhận sự sống lại của Ngài được. RoRm 10:9 chép: "Vậy, nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giê-xu và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng khiến Ngài sống lại từ trong kẻ chết thì ngươi sẽ được cứu".
Các sứ đồ đầu tiên khi giảng Tin lành thì không giảng về những lẽ đạo cao siêu bí ẩn, họ chỉ giảng về hai điều: Đấng Christ chịu chết trên thập tự giá và đã sống lại. Vì chính mắt họ đã thấy Ngài chết trên thập tự giá và sống lại cách hiển nhiên nên mạnh dạng tuyên bố cho mọi người, không một quyền lực nào ngăn chặn họ được. Phao-lô cũng viết rằng: "Ngài đã chết vì sự quá phạm của chúng ta và sống lại vì sự công bình của chúng ta". Mọi lẽ đạo về sự cứu rỗi của Đấng Christ đều bao gồm trong hai điều ấy, không ai có thể loại bỏ một điều nào cả. Cũng như không ai khi nghĩ đến con cá nuốt Giô-na lại không nhớ đến sự sống lại của Giô-na. Thập-tự-giá là dấu hiệu cuối cùng để Cơ-đốc-nhân bày tỏ đức tin của mình.
Thuở xưa các Cơ-đốc-nhân muốn bày tỏ đức tin thường dùng dấu hiệu của Giô-na tức dấu hiệu con cá. Sở dĩ họ chọn dấu hiệu nầy là vì theo nguyên văn Hi-lạp chữ cá là "ICHTHUS", chữ nầy bắt đầu bằng chữ "I", vì trong tiếng Hi-lạp không có chữ "J". Chữ "I" thay cho chữ "Jesus". Kế đó là chữ "CH" thay chữ Christ. Chữ thứ ba "TH", theo Hi-lạp tức là "Theós" nghĩa là Đức Chúa Trời. Kế tiếp chữ "U" thay cho "Uiós" nghĩa là "CON", và chữ cuối cùng "S" thay chữ "Sôtêr" là "Cứu Chúa". Vậy nghĩa chữ đó là: "Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của chúng ta". Đó là chữ "Cá", một dấu hiệu của các tín đồ trong thời kỳ bị bắt bớ. Khi hai tín hữu gặp nhau họ không thể nói hoặc viết được ám hiệu, họ liền dùng hai ngón tay; ngón cái và ngón trỏ xòe ra như đuôi cá, tất nhiên người đối diện cũng ra dấu hiệu tương tự. Cả hai đều ngầm hiểu rằng mình vẫn giữ đức tin thật vững vàng trong Christ.
Ở Tô-cách-lan vẫn còn dùng hình con cá làm biểu hiệu cho tín đồ Đấng Chirst. Ở Mỹ người tín đồ thường dùng hình con cá gắn sau xe hơi, nếu chạy xe ngoài đường thấy xe nào có hình con cá thì biết xe đó là của tín đồ.
Trong những hầm mộ tại La-mã, nơi các tín đồ ẩn núp trong thời kỳ bắt bớ người ta tìm thấy những dấu hiệu xưa như nhánh ô-li-ve và con cá vẽ trên tường để chỉ sự sống lại của Chúa Giê-xu.
Khi Chúa Giê-xu chọn các môn đồ, trong ấy có những người đánh cá lành nghề và cá góp phần quan trọng, xuất hiện nhiều lần trong thời đó. Ấy vì Ngài muốn gây một ấn tượng sâu xa trong môn đồ về sự sống lại của Ngài. Ngài khuyên họ theo Ngài rồi Ngài sẽ khiến họ trở nên tay đánh lưới người. Không phải Ngài lựa chọn toàn người đánh cá, song Ngài gọi họ là những người đánh cá thuộc linh. Khi bắt đầu chọn các môn đồ đầu tiên, Ngài khiến họ đánh được mẻ cá to, nhiều vô số, đến nỗi lưới phải đứt, hai chiếc thuyền chở đầy cá gần chìm (LuLc 5:1-11). Rồi trong sách Phúc-âm Giăng chương 21 Chúa Giê-xu thực hiện một phép lạ cuối cùng trước khi thăng thiên, trong đó Ngài chỉ chổ cho môn đồ đánh cá; kết quả, họ đem vào bờ một trăm năm mươi ba con cá lớn. Chứng tỏ Ngài là Đấng toàn năng đã từ kẻ chết sống lại. Ngài muốn cho mọi người biết sự sống lại của Ngài là thật, điều mà dân Do-thái và các thầy tế lễ cố tình che dấu. Tin lành trọn vẹn của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại là: ĐẤNG CHRIST CHếT Và SốNG LạI. Chúng ta đang thờ phượng và hầu việc một Đấng "Đang Sống Đời Đời, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ". Ngài sống thì chúng ta cũng sẽ sống, Ngài là Đấng đáng cho chúng ta chịu khổ, phụng sự suốt đời như Phao-lô khuyên: "Vậy hỡi anh em, hãy vững vàng, chớ rúng động. Hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu" (ICo1Cr 15:58).
Mỗi khi nhìn thấy con cá hay hình ảnh của nó, chúng ta nên nhớ đến con cá nuốt Giô-na, hình bóng về sự sống lại của Chúa Giê-xu, cùng gợi lại cho chúng ta nhớ đến biểu hiệu của các môn đồ đầu tiên trong thời kỳ bắt bớ để giục giã chúng ta trên đường theo Chúa, là Đấng đã sống lại từ trong kẻ chết.


SAMECH (Giúp đỡ)

Số tiêu biểu: 60
Chữ nầy có nghĩa là "giúp đỡ" hay nâng đỡ, hỗ trợ v. v... Kinh Thánh dùng chữ nầy rất ít. Trong thư ITe1Tx 5:14 và Cong Cv 20:35 ngụ ý khuyên người mạnh nên nâng đỡ kẻ yếu đuối. Cũng có nghĩa là sự trợ giúp công việc nhà Chúa trong nhiều phương diện.
Trong ICo1Cr 12:28 có chép: "Đức Chúa Trời lập trong Hội Thánh, thứ nhất là sứ-đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo, kế đến kẻ làm phép lạ, rồi kẻ được ơn chữa bịnh, cứu giúp, nói các thứ tiếng". Đó là những ân tứ đặc biệt gồm mọi thành-phần Cơ-đốc-nhân, tùy ơn của mỗi người có để lo việc Chúa. Tất cả Cơ-đốc-nhân không thể là sứ đồ, cũng không phải tất cả đều được ơn chữa tật bịnh, hoặc được ơn cai-quản hay nói tiên tri. Nhưng chúng ta tất cả đều có ích cho Chúa. Tất cả chúng ta là kẻ hỗ-trợ hay giúp đỡ công việc của nhà Đức Chúa Trời.
Nhìn lại cuộc đời theo Chúa của chúng ta, lắm lúc chúng ta thật hỗ thẹn vì nhận thấy những khuyết-điểm, bất toàn, yếu-đuối của mình. Chúng ta thấy mình như con thỏ rừng là giống quá yếu ớt, nếu không "đóng cư sở mình trong hòn đá" thì rất dễ làm mồi cho kẻ thù là ma quỷ (ChCn 30:26). Những người mạnh mẽ, đầy ân tứ Đức Thánh Linh không chỉ là những mục sư, truyền đạo hay người được ơn chữa bệnh, được ơn giảng dạy, mà còn là những người bằng lòng để Chúa sử dụng mình, bất luận họ thuộc thành phần hay địa vị nào, họ chỉ hết lòng thờ phượng, tin cậy Chúa; đó chính là những người Chúa cần đến trong chương trình và ý định của Ngài.
Sách vở loài người thường tôn tặng, đề cao những bậc kỳ-tài, lỗi lạc: hoặc văn nhân, nghệ sĩ, hoặc các khoa học, kỹ nghệ gia... Nhưng Kinh Thánh hoàn toàn khác hẳn. Không một cá nhân hay con người nào được đề cao. Kinh Thánh chỉ trình bày những sự việc, những công tác, những con người thực hiện công tác đó theo kế hoạch của Đức Chúa Trời và mọi vinh quang đều thuộc về Đức Chúa Trời. Chính Đức Chúa Giê-xu khi ở thế gian, mọi hành động, mọi lời nói của Ngài cũng nhằm tôn vinh Đức Chúa Trời. Nhiều người đã được Chúa đại dụng, thực hiện nhiều công việc lớn lao, song tên tuổi của họ nhiều khi không được ghi lại trong Kinh Thánh. Không ai biết danh tánh bà góa nghèo nàn đã dâng hai đồng tiền ăn một phần tư xu, song Đức Chúa Giê-xu đã đề cao hành động của bà và Kinh Thánh đã ghi lại để khích lệ chúng ta: của dâng không đáng quý bằng tấm lòng, bà đã dâng tất cả những gì bà có cho Đức Chúa Trời. Việc làm của bà khích lệ chúng ta ngày nay trong cách chúng ta dâng hiến, hầu việc Chúa.
Tất cả những gì chúng ta làm trong công tác hầu việc Chúa, dù ở đâu, lớn nhỏ thế nào, đều được Đức Chúa Trời ghi nhận. Trong Mat Mt 25:31-46, Chúa có phán: khi chúng ta giúp đỡ, dù một việc làm rất nhỏ cho một kẻ rất nhỏ vì kẻ ấy là môn đồ của Chúa, Ngài kể như chúng ta đã làm cho chính mình Ngài vậy. Dù loài người hay quên song Chúa luôn nhớ, điều nầy khích lệ chúng ta để không buồn nản, ngã lòng trong mọi công tác phục vụ Chúa.
Một người thật tâm hầu việc Chúa đúng với ý nghĩa của nó thì không cần ai biết việc làm của mình, không thích hình ảnh mìng được phô trương, cũng không muốn được mọi người tôn tặng. Vì những người cao thượng không thèm khát danh vọng hão huyền, xem sự hầu việc Chúa như một sự kiếm chác! Họ chỉ muốn được "đồng công" cộng tác lo công việc nhà Chúa, vì Chúa, để phát triển nhà Đức Chúa Trời, ai khen cũng không mừng, ai chê cũng không núng.
Phao-lô là một bậc vĩ nhân, ông cũng có nhiều người trợ giúp, cộng tác trong việc truyền Tin Lành. Nếu chỉ một mình ông thì công việc Chúa sẽ không kết quả như đã có. Trong những giờ phút cô đơn ông cần có người ở gần để yên ủi, bầu bạn. Trong thơ La-mã chương 16 chúng ta thấy Phao-lô gởi lời chào thăm rất nhiều người. Họ là những cộng sự viên đắc lực, những kẻ giúp việc giảng Tin lành, những kẻ đã cùng ông chịu khổ. Ông không quên một ai và từng người từng tên đã được ghi lại trong Kinh Thánh, dù có lẽ họ không hề mong đợi điều ấy chút nào.
Sự giúp đỡ có nhiều phương diện, nhiều cách thức khác nhau, nhưng chỉ một mục đích: ích lợi cho con cái Chúa và cho công việc Ngài. Có lần ông Spurgeon nói rằng tiền lương của ông đúng ra phải chia cho một thanh niên thường nhóm lại, vì người nầy có vẻ mặt sáng ngời, vui vẻ, mỗi khi giảng nhìn đến nét mặt người ấy thì ông được khích lệ, hăng hái cách lạ lùng! Khi Phao-lô đến thành La-mã, trong lốt tù nhân vì cớ Đấng Christ, ông phải chịu muôn điều cực khổ; bị bão, chìm tàu suýt mất mạng sống, thế mà khi gặp mặt anh em thì liền ngợi khen Đức Chúa Trời. Bao khốn khổ đều tan biến nhường chỗ cho sự vui mừng. Một Cơ-đốc-nhân được đầy dẫy Đức Thánh Linh trong lòng sẽ biểu lộ ra nét mặt, khi người khác nhìn đến sẽ cảm thấy hân hoan, vui vẻ dù người ấy chưa thốt một lời nào và khi họ nói ra càng thêm khích lệ. Vì lời nói của họ thành thật, phát xuất từ đáy lòng, lời nói có ân hậu và muối!
Chúng ta là Cơ-đốc-nhân, chúng ta chỉ làm điều mình có thể làm để giúp đỡ công việc Chúa, tùy khả năng của mình. Chúa không ép ai làm việc vĩ đại cho Chúa để rồi phàn nàn, oán trách, hoặc buồn bã ngã lòng vì công việc nặng nhọc quá sức mình. Ngài chỉ mong người ta làm việc Chúa bởi sự tình nguyện, vâng phục cách trọn vẹn để thỏa lòng trong công tác mình đã làm cho Chúa, như thế thì không có gì để than phiền, oán trách.
Chữ SAMECH có nghĩa là "người giúp đỡ" nếu ai muốn theo Chúa phải noi gương Ngài làm một kẻ giúp đỡ trong nhà Chúa, trong tất cả mọi việc chúng ta làm vì danh Chúa dù không được ai biết đến, vẫn vui lòng giúp đỡ bằng mọi cách cho mọi người, miễn là ích lợi cho nhà Chúa.

AYIN (Con mắt)

Số tiêu biểu: 70
Chữ thứ mười sáu là AYIN (đây là một chữ câm, như chữ ALEPH, phiên âm như một dấu phẩy ngược, phát âm bằng những nguyên âm theo nó). Chữ nầy có nghĩa là con mắt (đơn). Cả Kinh Thánh Tân và Cựu Ước nói đến chữ nầy 578 lần.
Con mắt được nói đến lần đầu tiên do ma quỷ: "Ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác" (SaSt 3:5). Lần cuối cùng trong KhKh 21:4 "Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng". Lời phán sau nầy bởi Đấng ngự trên ngôi cao sang là Vua trên muôn Vua, Chúa trên muôn Chúa truyền ra. Khi A-đam và Ê-va phạm tội, con mắt xác thịt mở ra thì con mắt tâm linh bị mù tối. Dòng giống A-đam ở trong sự tối tăm, không biết Đức Chúa Trời là ai, không thấy sự chói lói của Tin lành vinh hiển. Con cái Chúa là người đã tin nhận Ngài, được Ngài mở mắt lòng, nhìn xem sự vinh hiển của Chúa Giê-xu, lòng được thỏa mãn, khoan khoái vì Ngài đặt những khải tượng thuộc linh trong lòng tín đồ, khiến họ có đức tin vững chắc. Họ thấy những điều mà người ngoại không thấy, tức là họ cứ nhìn xem Chúa Giê-xu là cội rễ và cuối cùng của đức tin và cứ bước đi trong đức tin.
Khi xưa các vị tiên tri được người ta mệnh danh là người có khải tượng, là kẻ tiên kiến. Họ được mệnh danh như thế vì họ thấy xa hơn người khác. Các thi nhân có cặp mắt khác hơn người thường, họ có thể thấy những điều mầu nhiệm trong những đóa hoa, trong non cao, hố thẳm, biển cả, rừng xanh; họ thấy những điều mà người khác không thấy. Các khoa học gia là những người có mắt quan sát các sự vật quanh mình, từ đó khám phá ra những định luật thiên nhiên. Khi ông Newton nhìn thấy một quả táo rơi xuống đất, ông suy luận có một luật hút từ trái đất. Hàng triệu người cũng từng thấy quả táo rơi xuống đất, nhưng họ không thấy gì nữa ngoài quả táo rơi xuống đất! Với Newton thì ông biết có một luật gọi là hấp lực hay trọng lực trong cõi thiên nhiên. Và nhiều nhà phát minh khác cũng do quan sát sự vật trong cõi thiên nhiên mà sáng chế ra những máy móc thuận lợi cho đời sống con người.
Trong lãnh vực thuộc linh cũng thế, nhiều người tín đồ tin Chúa lâu năm (chỉ có trong danh sách mà thôi) nhưng không có một khải tượng thuộc linh nào. Như Sau-lơ (sau là sứ đồ Phao-lô) trước khi tin nhận Chúa ông không thấy gì khác trong Chúa Giê-xu, ông xem Ngài như một người bịp bợm, mị dân, tà giáo, nên ông tìm mọi cách để đàn áp những kẻ tin theo Ngài. Ông thấy trong tín đồ Đấng Christ có những điều mà ông cho là kỳ quặc, phản lại Do-thái giáo, thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, nên ông bắt bớ, tàn sát họ như mãnh hổ vồ nuốt con mồi. Nhưng trên đường Đa mách ông đã gặp Chúa, mắt xác thịt bị mù song mắt lòng được mở ra, ông thấy rõ Chúa Giê-xu không phải là kẻ bịp bợm, lường gạt như ông tưởng, song Ngài thật là Đức Chúa Trời thành nhục thể, một Đấng Mê-si đã đến thế gian làm Cứu Chúa của mọi người. Ông nhận thức giá trị thật của sự trung tín nơi các môn đồ Ngài. Con mắt Chúa soi thấu lòng ông, bấy giờ cả hai mắt thuộc linh và thuộc thể ông được sáng sủa. Ông có một khải tượng mới, một ý chí vững chắc để đầu phục Ngài.
Con mắt Chúa Giê-xu đã từng khóc về tội lỗi của thành Giê ru sa lem. Ngài khóc về thành Giê ru sa lem vì thành nầy đáng lý ra phải là nguồn phước cho cả thế gian. Ngài yêu thành thánh nầy vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ở trên thành ấy. Nhưng Ngài chỉ thấy sự bội nghịch, thành sẽ bị hủy diệt vì từ chối Đấng Mê-si là chính mình Ngài. Ngài thấy, Ngài cảm xúc và Ngài khóc!
Ngài khóc khi La-xa-rơ chết, Ngài thấy vô số người đã chết, đang chết và sẽ chết trong tội lỗi. Họ bị trầm luân đời đời nơi địa ngục. Ngài thấy, Ngài cảm xúc và Ngài khóc!
Khi tiên tri Giê-rê-mi thấy tội lỗi của dân Giu-đa quá lớn, ông đã khóc dầm dề, Chúa bảo ông rằng một mình ông khóc cũng chưa đủ, phải mướn người ta khóc, phải dạy người ta khóc vì sự bội nghịch của dân sự và sự hình phạt của Đức Chúa Trời sắp đổ xuống trên dân Y-sơ-ra-ên (Gie Gr 9:1-26).
Khi Ê-xơ-ra và một số người Y-sơ-ra-ên được phép trở về xứ Giu-đa, xây sửa lại thành Giê ru sa lem và đền thờ, lúc họ khởi sự xây lại đền thờ thì những người trước kia đã từng thấy đền thờ cũ, cùng sự vinh quang rạng rỡ của nó thì liền khóc la lớn tiếng trong khi người ta bắt đầu xây nền (Exo Er 3:12, 13).Ê-xơ-ra đã cầu nguyện, khóc lóc cho dân Y-sơ-ra-ên vì họ lấy vợ ngoại bang. Dân sự khóc lóc nức nở vì con mắt xác thịt của họ bị cám dỗ mà lấy vợ ngoại bang, họ khóc lóc ăn năn tội. Khi mắt lòng họ mở ra họ nhất định lập ước với Đức Chúa Trời, họ đuổi những người vợ ngoại bang ra khỏi nhà cùng với con cái họ (10:1-44). Họ ăn năn khóc lóc là một việc, nhưng nếu chỉ khóc mà thôi cũng chưa đủ, họ phải lập ước với Đức Chúa Trời, phải từ bỏ mọi sự sai lầm thật lòng trở lại cùng Chúa. Chỉ khi nào chúng ta cảm xúc, khóc rồi trở lại làm theo ý chỉ của Chúa thì mới được phước. Khi con mắt lòng được mở ra, bấy giờ chúng ta mới thấy, mới cảm xúc và mới khóc lóc cách đắng cay.
Con mắt của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt thấy bạc thì ham thích, bằng lòng đổi mạng thầy mình với ba mươi miếng bạc. Nhưng khi thấy Chúa bị án thì hối hận, nhưng không khóc, không ăn năn nên bị loại bỏ. Con mắt Phi-e-rơ thấy những người trong sân thầy cả thượng phẩm thì sợ nên chối Chúa; sau đó thấy ánh mắt Chúa nhìn đến ông, ông ăn năn thực sự đã "khóc lóc cách đắng cay". Chúa tha thứ và dùng ông cách lạ lùng.
Nếu chúng ta yêu thương linh hồn tội nhân như chính Đấng Christ, nếu chúng ta nhìn họ qua cặp mắt Chúa Giê-xu, chúng ta sẽ thấy, sẽ cảm xúc và sẽ khóc. Chẳng những chúng ta khóc mà thôi, nhưng tình yêu thương của Đấng Christ cảm động khiến chúng ta vừa muốn vừa làm theo ý chỉ của Ngài là vâng mạng Ngài đi ra làm chứng về Chúa, dắt họ về với Chúa hầu Chúa cứu linh hồn họ, đó là làm theo ý tốt của Ngài vậy.
Cũng có những con mắt không khóc được, con mắt vẫn mở rộng ra, vẫn thấy rõ và chỉ thấy những cái may mắn, phước hạnh, khả năng, ân tứ của người khác để mà tức bực, khó chịu v. v... Đó là con mắt ganh đố. Con mắt của vua Sau-lơ thời Cựu ­ơc đối với Đa-vít là con mắt ganh tị, ghen ghét như trên. Có một loại mắt khác nữa: con mắt kiêu ngạo, tự mãn, tự thị. Đức Chúa Trời đã từng lên án dân Y-sơ-ra-ên là kẻ có con mắt nầy rằng: "Khốn thay cho kẻ chính mắt mình coi mình là khôn ngoan, tự mình xét đoán mình là thông sáng" (EsIs 5:21). Nếu ai có con mắt ấy, hãy xin Chúa cho nó mù đi, để con mắt "xem người khác như tôn trọng hơn mình" được mở ra hầu không làm cớ vấp phạm cho ai, song làm gương tốt cho mọi người. At tự cho mình là sáng tức là kẻ ấy đang bị mù (GiGa 9:39-41).
Chữ AYIN là con mắt, bao gồm cả mắt thuộc linh và thuộc thể, mắt Chúa và mắt người. Con mắt xui người ta phạm tội như Ê-va, con mắt khiến người ta được phước như Môi-se. Chúng ta là con cái Chúa, con mắt thuộc linh của chúng ta sáng sủa thì khi Ngài hiện ra chúng ta sẽ thấy Ngài cách rõ ràng, vì con mắt ấy đã được chữa lành bởi thuốc xức mắt của Chúa Giê-xu.


PE (Cái miệng)

Số tiêu biểu: 80
Chữ thứ 17 là PE, phát âm như chữ P, nghĩa là cái miệng. Chữ "miệng" được Kinh Thánh đề cập đến 303 lần. Lần đầu tiên trong sách Sáng-thế-ký 4:11; "đất hả miệng chịu hút máu của em ngươi... " lần cuối trong KhKh 19:21 "Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa...".
Tội lỗi vào trong thế gian do nơi con mắt và cái miệng. Bà Ê-va lấy mắt nhìn đến vẻ đẹp của trái cấm và đả hả miệng ra ăn lấy trái cây ấy. Hậu quả tai hại là sau đó ít lâu đất "hả miệng hút máu" của A-bên do Ca-in làm đổ ra.
Phần lớn mọi tội lỗi đều bởi miệng loài người gây ra, lại cũng bởi miệng mà người ta được phước. Con người nhờ miệng ăn uống nên mới sống, nhờ miệng nói ra lời hiền lành để yên ủi kẻ buồn rầu, cùng khổ. Miệng thốt ra lời khôn ngoan khiến người ta ưa thích,quí mến. Miệng ngợi khen quyền năng vô hạn của Đức Chúa Trời. Miệng giảng dạy lời hằng sống của Chúa. Miệng đồn ra danh Chúa Giê-xu, nói ra tình yêu thương tuyệt mỹ của Ngài. Miệng hát những bài thánh ca du dương êm ái để ca ngợi Chúa. Miệng dâng lên lời khẩn nguyện nài xin trước mặt Chúa.
Miệng vui cười vang dội để bày tỏ niềm vui v. v... và miệng cũng là một khí giới nguy hiểm vô cùng. Do nơi cửa miệng loài người đã nói lời dối trá, xấc xược. Miệng nói lời kiêu ngạo, khoe khoang. Miệng nói lời chua cay hiểm độc. Miệng bày tỏ chuyện bí mật của người khác. Miệng nói lời tục tỉu. Miệng nịnh hót người ta. Miệng thày lay thóc mách. Miệng vu cáo người vô tội. Miệng phao đồn những tin thất thiệt. Miệng nói phạm thượng. Miệng chửi rủa. Miệng lằm bằm. Miệng khóc la rên rỉ. Miệng nói lời tầm phào, bá láp v. v... Lợi ích và nguy hiểm do miệng gây ra thật nhiều, có thể tóm lại trong hai loại: tốt và xấu. Loại tốt ví như giống tốt, nẩy sanh bông trái tốt, có ảnh hưởng tốt, phát xuất từ những con người tốt là người được chuộc bởi huyết Chiên Con. Những người nầy sẽ nghe lời phán từ miệng Vua trên muôn Vua, Chúa trên muôn Chúa rằng: "Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵng cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất" (Mat Mt 25:34).
Loại xấu ví như giống xấu, nẩy sanh bông trái xấu, phát xuất từ những con người xấu là người chống nghịch với ý chỉ của Đức Chúa Trời, giày đạp huyết Chiên Con, khinh dể sự cứu rỗi do tình yêu thương của Thượng Đế toàn năng. Tuy có khi họ cũng lẫn lộn trong hàng ngũ của những người tốt, song tự họ không phải là giống tốt, đó chỉ là những cỏ lùng lẫn trong lúa mì. Những kẻ thuộc loại nầy sẽ bị "giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa" (KhKh 19:21) trong ngày phán xét.
Câu chuyện một đầy tớ bất trung, đem giấu nén bạc của chủ, khi chủ về lại "già miệng" trách móc chủ để bào chữa cho mình. Nhưng chủ nói rằng: "Hỡi đầy tớ ngoan ác kia, ta sẽ do nơi đều ra từ miệng ngươi mà xét ngươi" (Theo nguyên văn LuLc 19:22).
Đầy tớ trung tín đã không nói dài dòng, chỉ trình lên chủ công việc mình đã làm lợi ra mà thôi. Không phải các đầy tớ nầy không có miệng để nói nhiều hơn, để khoe khoang công việc mình cho người khác biết rõ hơn, khoe tài nghệ của mình cho người khác thán phục hơn đâu. Song người nầy "im lặng" để nghe tiếng chủ. Nghe được lời khen từ miệng chủ là điều vinh dự, phước hạnh nhất cho mình!
Chúa Giê-xu quở trách người Pha-ri-si bởi cớ họ chỉ tôn thờ Chúa bằng "miệng" mà không phải bằng tấm lòng (Mat Mt 15:8). Lòng họ chất chứa sự ghen ghét, ganh tị, gian ác nên miệng họ không sợ gì mà không lên án Chúa là "lộng ngôn" đồng thời cũng miệng ấy họ lại ngày đêm đọc sách luật pháp Môi-se, rồi cũng do miệng ấy truyền lịnh quân lính đi bắt Chúa, tố cáo Chúa, truyền cho Phi-lát phải đóng đinh Ngài!
Miệng của A-na-nia và Sa-phi-ra dám nói dối với Đức Thánh Linh, đến nỗi cả hai vợ chồng phải chết tức khắc! Ngược lại Phao-lô vì làm chứng cho Chúa mà phải bị thầy tế lễ thượng phẩm A-na-nia sai người vả miệng Phao-lô. Kinh Thánh còn mô tả rõ về sự khác biệt giữa miệng người công bình và miệng người gian ác "Miệng người công bình nuôi dạy nhiều người! Miệng người công bình sanh sự khôn ngoan" (ChCn 10:21, 31) "Nhưng miệng kẻ gian ác chỉ nói sự gian tà", "Nhưng miệng kẻ gian ác buông ra điều dữ" (10:12 và 13:28).
Không một Cơ-đốc-nhân nào lại thích có cái miệng như tên đầy tớ bất trung kia. Nhưng chắc hẳn mỗi người đều ao ước được có cái miệng chứa "Đạo" ở trong (RoRm 10:8). Những cái miệng như thế mới có thể xưng danh Chúa cách trung thực. Vì trong lòng tin quả quyết Chúa Giê-xu sống lại từ trong kẻ chết, nhờ sự tin chắc như thế mà được xưng công bình, cũng nhờ miệng làm chứng chắc như thế mà được sự cứu rỗi (RoRm 10:9, 10). Nếu toàn thể Hội Thánh của Đức Chúa Trời chỉ có cái miệng của người công bình mà thôi, ắt sẽ khiến cho những cái "miệng kẻ ác phải bị ngậm lại mà nhận tội mình trước mặt Đức Chúa Trời" (RoRm 3:19).

TZADE

Số tiêu biểu: 90
Chữ thứ mười tám trong mẫu tự Hy-bá-lai là chữ TZADE. Phát âm như TS.
Chữ nầy có vài ý nghĩa nhưng rất lờ mờ không rõ ràng lắm. Nhưng một ý nghĩa được khẳng định là "đầu phục" hay "đầu hàng". Chữ nầy cũng giống vài chữ khác trong mẫu tự Hy-bá-lai, tức là khi chúng đứng giữa những chữ khác cùng nhóm thì hình dáng như thường, nghĩa là có hình cong, còn nếu chúng đứng sau chót thì lại thẳng lên và dài thêm ra, cũng như chữ CAP, NUN, PE v. v... Riêng chữ TZADE nầy hơi khác một chút, ấy là khi nó ở giữa một nhóm chữ thì cong lại giống như một người quì gối đưa hai tay lên trời, còn khi nó ở sau chót thì hình dáng lại thẳng đứng lên giống như một cây có hai cái đọt. Ông MacMillan cho rằng hiện nay phần đông loài người trên thế gian vẫn chưa chịu đầu hàng Thượng Đế, chưa chịu qui phục Ngài. Họ luôn luôn chống nghịch với Ngài, cứ quyết tâm tranh chiến cùng Ngài không thôi. Thậm chí một số người tuy đã thuộc trong hàng ngũ của đạo binh thiên quốc, núp dưới bóng cờ thập tự, chịu sự huấn luyện và điều khiển của vị nguyên soái là Giê-xu Christ, thế mà nhiều lúc cũng không đầu phục Ngài cách hoàn toàn, cũng có lần chống nghịch cùng Ngài.
Đầu phục người nào tức là ở dưới quyền điều khiển của người ấy. Một người hoàn toàn đầu phục Chúa là người hoàn toàn thuộc về Chúa, người ấy ở dưới quyền điều khiển của Chúa, không có gì thuộc riêng về mình cả: sự sống, thân thể, thì giờ, tiền bạc, danh dự, tình cảm và gia đình đều thuộc quyền sở hữu của Chúa. Ngài đòi hỏi người ấy phải dâng tất cả cho Ngài cách vui lòng không phải gượng ép. Trước kia chúng ta là thù nghịch với Chúa, nhưng nay chúng ta được hòa thuận lại với Ngài thì chúng ta không còn là của chúng ta nữa. Chúng ta là của Chúa. Ông Phao-lô đã nói trước kia ông phó mình làm tôi sự gian ác, thì bây giờ ông cũng hoàn toàn làm tôi tớ cho Đấng Christ " ...mà nay trở nên sống và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình" (RoRm 6:13).
Khi chúng ta yêu mến một người, thường chúng ta bị người ấy chinh phục. Bất cứ về phương diện nào, tình cảm hay ý thích, khả năng hay nghệ thuật v. v... chúng ta có thể bị khuất phục mà không ngờ. Dù người ấy không đòi hỏi gì cả nhưng chúng ta cũng tìm mọi cách làm cho người mình yêu mến được vui lòng. Nhất là trong tình yêu; chúng ta có thể bỏ nhiều thời giờ nghĩ đến người yêu, hay làm bất cứ điều gì dù khó nhọc đến đâu, miễn sao cho người ấy hiểu được lòng mình!
Chúng ta hẳn không quên câu chuyện Gia-cốp, vì yêu Ra-chên nên "coi bảy năm bằng chừng đôi ba bữa". Thật là một sự hi sinh quá lớn cho tình yêu. Đấng Christ đang cần những con người "đầu phục Ngài hoàn toàn, yêu mến Ngài tha thiết" đến nỗi bằng lòng hi sinh sức lực, thì giờ và mọi vật cho Ngài cách trọn vẹn.
Có người bằng lòng dâng tiền bạc để hầu việc Ngài, nhưng không chịu dâng thì giờ cho Ngài, như thế cũng chưa hoàn toàn đầu phục Ngài. Có người suốt đời họ không có thì giờ thờ phượng Chúa, không có thì giờ nhóm cầu nguyện, không có thì giờ thăm viếng người đau yếu, không có thì giờ làm chứng về Chúa, không có thì giờ an ủi người buồn khổ v. v... Nhưng thật ra không phải người ấy không có thì giờ, nhưng chỉ vì không thích những việc ấy. Bổn phận Cơ-đốc-nhân là phải hội đủ các điều kiện trên, không nên khước từ tình yêu của Chúa đối với mình. Ngài thật đã yêu chúng ta tha thiết, yêu đến nỗi Ngài bằng lòng chết vì chúng ta trên Thập tự giá, Ngài bằng lòng hi sinh để được chúng ta!
Một lần kia có người hỏi tiến sĩ Kelman rằng: "Làm sao tiến sĩ có thể đọc nhiều sách như thế? Thì giờ đâu để đọc những sách ấy?" Ông đáp rằng: "Tôi phải xếp qua nhiều việc khác để có thì giờ đọc sách". Tại sao vị tiến sĩ nầy bằng lòng bỏ qua những việc khác? Vì ông ta thích đọc sách hơn làm việc khác, đọc sách là lẽ sống của ông ta, đọc sách khiến ông ta vui thỏa hơn bất cứ làm việc gì khác. Ông ta đã đầu phục thú mê đọc sách của mình, cái thú đọc sách đã điều khiển được ông ta, khiến ông ta dành nhiều thì giờ để đọc sách. Cũng một lẽ ấy, khi một người chịu phục dưới quyền điều khiển của Đấng Christ thì chính người ấy sẽ vui thích làm công việc Ngài, họ sẽ để mọi việc khác lại một bên, lo việc Chúa trước nhất, hầu việc Chúa không chán, không mệt. Họ đã thoát khỏi sự ràng buộc của bản tánh thiên nhiên để tự do trong sự hầu việc Chúa. Phước thay cho ai là người hoàn toàn đầu phục Chúa! Chỉ Chúa là Đấng đáng cho chúng ta say mê và đầu phục. Thánh Phao-lô khi đã nhận biết chân lý nầy cách rõ ràng thì ông đã dõng dạc tuyên bố: "Vì cớ Đấng Christ, tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy... vì sự nhận biết Đấng Christ là quý hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó" (Phi Pl 3:7, 8).
=======================================
Chữ Thứ Mười Chín
KOQ (Cái lỗ của lưỡi rìu)
Số tiêu biểu: 100
Chữ nầy có nghĩa là cái lỗ của lưỡi rìu (để tra cán vào, phát âm như chữ Q).
Kinh Thánh ít đề cập đến nghĩa của chữ nầy, chỉ trong sách IIVua 2V 6:1-5 kể về câu chuyện cái lưỡi rìu sút cán văng xuống nước, rồi lại nổi lên, đó là một phép lạ Ê-li-sê đã làm. Nhiều người trong chúng ta chắc đã từng đọc qua câu chuyện hay nghe nhiều tôi tớ Chúa giảng luận về phân đoạn Kinh Thánh nầy.
Lưỡi rìu và cái cán cả hai đều quan trọng, ích lợi một khi cái cán được lắp vào trong lưỡi rìu. Lưỡi rìu hạ cây đẵn gỗ chứ không phải cán, nhưng nếu không có cán thì lưỡi rìu cũng không thể đốn gỗ hạ cây được.
Câu chuyện trong sách 6:5 ghi lại sự mất rìu và tìm lại được của một chàng thanh niên vô danh. Phần nhiều tôi tớ Chúa khi giảng phân đoạn Kinh Thánh nầy đều chọn đề mục là: "Mất quyền phép của Thánh Linh và được lại".
Câu chuyện rất ngắn chỉ bày tỏ phép lạ "sắt nổi" trên mặt nước là việc hi hữu!
Theo thường tình thì khi lưỡi rìu văng xuống nước, chàng thanh niên nầy phải nhảy xuống sông lặn hụp mò tìm mới đúng. Nhưng anh ta lại kêu la với thầy mình, tỏ thật rằng lưỡi rìu đó anh mượn của người khác nên lo sợ vô cùng. Điều ấy khiến chàng ta lo sợ và la lên. Tiên tri nghe vậy không hề bực tức, cũng không quở trách hoặc la rầy học trò tại sao lại vô ý, bất cẩn v. v... như thói thường của các cấp lãnh đạo. Trái lại vị tiên tri khả kính chỉ hỏi lại một câu: "Nó rớt ở đâu?". Người bèn chặt một khúc gỗ quăng ngay xuống nước chỗ lưỡi rìu rớt khiến nó nổi lên tức khắc. Đây là một phép lạ, một phép lạ độc nhứt trong Kinh Thánh: "gỗ chìm, sắt nổi". Chàng thanh niên tìm lại lưỡi rìu, tra vào cán cách cẩn thận chắc chắn hơn hầu công việc được tiếp tục.
Câu chuyện nầy đề cập đến bốn đối tượng: Chàng thanh niên, lưỡi rìu, tiên tri Ê-li-sê, khúc gỗ. Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu qua từng đối tượng.
Chàng thanh niên . Chàng thanh niên nầy là một người tốt, có lòng lo công việc chung, hiệp với anh em lo mở mang trường ốc. Chàng ta nghèo quá không có rìu phải đi mượn của người khác, khi có rìu lòng mừng khấp khởi. Có lẽ vì rìu mới mượn của bạn nên chàng không xem xét cẩn thận trước khi dùng. Không ngờ lưỡi rìu bị lỏng, chàng ta ráng sức chặt thật mạnh đến nổi sút cán rơi xuống nước. Nhưng chàng thanh niên nầy không phải là kẻ biếng nhác, nên rìu mất chàng ta không thể ngồi nghỉ để chờ đến giờ trở về lo ăn uống. Trái lại, chàng ta hốt hoảng, la lên. Khi được rìu thì bắt tay làm việc cách hăng hái hơn. Điểm quan trọng là lần nầy chàng sẽ cẩn thận xem xét lưỡi rìu, nêm lại cho chắc chắn để việc làm được bảo đảm hơn, công tác sẽ hoàn tất mà chàng ta cũng có rìu để trả lại cho bạn mình!
Theo các nhà giải kinh, trong câu chuyện nầy Chúa đã thi hành một phép lạ cá nhân cho chàng thanh niên. Cái rìu trong tay chàng thanh niên ví như sự xức dầu và quyền phép của Đức Thánh Linh. Quyền phép ấy rất sắc bén bởi năng lực từ nơi Đức Chúa Trời. Chàng ta không có rìu phải mượn của người ta. Chúng ta ngày nay cũng giống như chàng thanh niên ấy, chúng ta không có một khả năng, một ân tứ nào cả, mọi khả năng ân tứ mà chúng ta có là chúng ta "mượn" từ Đức Chúa Trời. Nên nếu chúng ta có những quyền năng hay ân tứ thuộc linh nào thì phải cẩn thận giữ gìn để không bị mất. Có người được Chúa xức dầu và ban cho ân tứ giảng Tin lành cách đầy quyền năng. Có kẻ được ân tứ ngợi khen Chúa với một dọng ca du dương truyền cảm, người khác có khả năng viết lách bài vở khuyến kích người ta trên đường tin kính Chúa. Kẻ khác nữa có ơn chứng đạo, dắt đem nhiều người về với Chúa. Đó là những cán rìu được tra vào lưỡi rìu thật bén, thật chắc chắn là những người được Đức Thánh Linh hiệp tác với. Nhưng người được ơn nầy không nên khinh kẻ được ơn kia. Người được ơn chữa bịnh thì không thể chê kẻ có đức tin là không có Thánh Linh, hoặc người được ơn làm phép lạ cũng không có quyền khinh dể những kẻ có lời nói khôn ngoan v. v... Đó là "các sự ban cho khác nhau" các "chức vụ khác nhau", các việc làm khác nhau, nhưng "chỉ có một Đức Thánh Linh, một Đức Chúa Trời, là đấng làm mọi việc trong mọi người". Song nếu một ngày nào đó chúng ta không cẩn thận để cho sự kiêu ngạo chen vào làm cho lưỡi rìu bị lõng, cuối cùng nó rớt ra khỏi cán, nhìn lại mình chỉ là một khúc gỗ vô dụng không có giá trị gì cả!
Ngày nay những cán rìu bị mất lưỡi nằm chồng chất trong hội thánh của Đức Chúa Trời không phải là ít!!!
Lưỡi rìu . Như chúng ta biết sở dĩ lưỡi rìu sút ra khỏi cán là vì bị lỏng. Đời sống chúng ta nếu ỷ lại vào khả năng mình, kiêu căng tự mãn, tự đắc tức là đã bị lỏng lơi, lưỡi rìu sớm muộn gì cũng bị rớt mất! Ân tứ Chúa ban cho chúng ta không phải là sự khuấy động, nhưng là sự bảo vệ vững chắc khỏi mọi sự lung lạc của đời hầu duy trì quyền năng của Thánh Linh suốt đời sống chúng ta.
Caruso là một danh ca nước Ý, ông ta có một giọng ca truyền cảm. Ông ta cho biết bí quyết để có một giọng ca luôn tuyệt diệu là phải cẩn thận gìn giữ, từ thức ăn, thức uống, giấc ngủ, sự tiếp xúc với bạn bè, kiêng cử những gì có hại cho sức khỏe, khiến giọng ca luôn luôn phong phú. Người ta nói rằng Caruso không ăn gì trước khi hát từ 6 đến 8 tiếng đồng hồ, vì nếu ăn vào ông ta hát không hay.
Đời sống chúng ta là một cái cán rìu, một khúc gỗ tầm thường không có giá trị gì. Được Chúa ban cho ân tứ, khả năng thì nên thận trọng giữ gìn, đừng làm buồn Thánh Linh, chúng ta phải hiệp tác với Thánh Linh. Phao-lô khuyên chúng ta nên "bước đi trong Thánh Linh" nghĩa là chúng ta phải lồng mình vào trong Thánh Linh như cái cán rìu tra vào "trong" cái lỗ rìu cách chặt chẽ. Nhờ Ngài chúng ta được sống, được quyền phép mà nên mạnh mẽ trong lòng.
Tiên tri Ê-li-sê . Tiên tri Ê-li-sê sẵn sàng giúp đỡ chàng thanh niên mất rìu. Đức Chúa Trời cũng sẵn sàng giúp đỡ kẻ mất Thánh Linh để họ lại nhận được Ngài với điều kiện là người ấy phải chỉ đúng chỗ bị mất, phải đến tận nơi ấy nhận lại. Khi Ê-li-sê làm phép lạ khiến lưỡi rìu nổi lên rồi, chính ông không lấy lưỡi rìu trao cho chàng thanh niên. Ông chỉ truyền lịnh:" Hãy lấy nó đi" và người ấy đã "giơ tay ra và lấy nó". Một người muốn nhận lại quyền phép Đức Thánh Linh tất nhiên phải có đức tin, bàn tay đức tin phải đưa ra tiếp rước Ngài, phải hạ mình xuống để nhận lại Ngài.
John Bunyan, tác giả quyển "Thiên Lộ Lịch Trình" (The Pilgrim's Progress) mô tả lúc Cơ-đốc đồ ngủ quên nơi chòi bị mất quyển Chứng Cớ (chỉ về Đức Thánh Linh) mà vẫn không hề hay biết. Người đi một đỗi quá xa mới hay rằng mình đã mất quyển Chứng Cớ. Người hết sức buồn bực lo âu, tìm kiếm suốt cả đường đi. Cuối cùng người nhớ lại rằng mình đã ngủ một giấc ngon lành nơi chòi, đến khi tỉnh dậy thấy trời gần tối, lật đật cất bước lên đường nên không hay rằng quyển Chứng Cớ đã rớt mất tại nơi mình đã ngủ. Người liền trở lại nơi chòi mà gặp ngay quyển Chứng Cớ dưới đất. Người vui mừng quá đỗi đưa tay ra nhặt lấy quyển Chứng Cớ, cất kỹ vào mình, không dám sơ hở sợ rơi mất nữa. Đó chỉ về tín đồ bị mất Thánh Linh và được lại.
Mất Thánh Linh mà biết buồn khổ, đau đớn cố tâm tìm kiếm Ngài chắc chắn sẽ tìm lại được. Nhưng nguy khốn thay cho ai là người mất Thánh Linh mà không hề biết, vẫn tự đắc cho mình là kẻ tài nghệ hơn người rồi sinh tâm ngạo mạn, ăn nói trịch thượng lại mong cho mọi người phải thán phục. Nếu không được như vậy thì bực tức, khó chịu, oán trách chê bai người khác là mù quáng không biết tài năng của mình để mà suy tôn ngưỡng mộ! Thật ra nào phải người ta không biết rõ, người ta biết rõ lắm. Người ta biết rằng người ấy chỉ là cái cán rìu bằng thứ gỗ đẹp, gỗ quý nhưng không có "lưỡi rìu". Người ấy cố tạo cho mình một địa vị trong Hội Thánh bằng những thủ đoạn riêng tư. Rốt cuộc người ấy chỉ "lấy bụng mình làm chúa mình" ai nói động đến một chút là quát tháo ầm ỹ, phiền muộn, giận hờn, gây rối cho hội thánh. Đáng lý ra người ấy phải kêu la khóc lóc, xưng tội mình, xưng ra tội kiêu ngạo, tội khinh dễ kẻ khác, tội tự thị tự mãn để được Đức Chúa Trời thương xót tỏ phép lạ cách cá nhân như chàng thanh niên trong chuyện nầy hầu cho người ấy nhận lại quyền phép Đức Thánh Linh như trước thì thật là phước!
Khúc gỗ . Phép lạ Ê-li-sê làm tại sông Giô-đanh cho kẻ mất rìu được lại là "khúc gỗ".
Tiên tri không làm gì khác hơn là chặt một khúc gỗ quăng xuống chỗ lưỡi rìu rớt, tức thì lưỡi rìu bằng sắt nổi lên. Sắt chìm, gỗ nổi là lẽ tự nhiên, nhưng ở đây khi tiên tri quăng khúc gỗ xuống thì sắt lại nổi lên. Đó là phép lạ. Khúc gỗ của Đấng Christ trên cây gỗ mới có thể cứu chúng ta khỏi tội lỗi, khiến ta được tái sanh, được quyền phép Thánh Linh để hầu việc Chúa bởi quyền năng và ân tứ Ngài ban cho. Đó không phải là một việc dễ, bèn là một phép lạ do chính Đức Chúa Trời.
Chúng ta không quên câu chuyện lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên, khi họ ra khỏi Ai cập vào đồng vắng. Họ đến một chỗ có nước nhưng nước lại đắng không uống được. Chúa truyền cho Môi-se chặt một khúc gỗ quăng xuống nước, nước liền hóa ngọt khiến dân sự uống được. Đây cũng là hình bóng về quyền năng Thập Tự Giá. Thập tự giá của Đấng Christ khiến lòng đau buồn trở nên vui vẻ, lòng cay đắng được ngọt ngào. Đó là một phép lạ, phép lạ do Đức Chúa Trời thực hiện. Môi-se cũng như Ê-li-sê, thừa hành mạng lịnh từ Đức Chúa Trời, tức thì phép lạ xảy ra!

RESH (Cái đầu)
Số tiêu biểu: 200
Chữ thứ hai mươi trong mẫu tự Hy-bá-lai là "RESH", như chữ R. Chữ nầy có nghĩa là "cái đầu", cũng có nghĩa là người cai trị, cầm đầu. Kinh Thánh nói đến chữ nầy 399 lần.
Trong sách SaSt 2:10 có nói đến con sông bốn ngã, nhưng theo nguyên văn tiếng Hy-bá-lai thì viết là "con sông chia ra bốn đầu". Cũng có nghĩa là một người cầm đầu một chi phái, một gia tộc. Lại còn có nghĩa là ban đầu (RESHITH). Một nghĩa chính xác chỉ về Chúa Giê-xu như Phao-lô diễn tả trong CoCl 1:18 "Ấy cũng chính Ngài là ĐÂù của thân thể, tức là ĐầU của hội thánh. Ngài là BAN ĐầU sanh trước nhất từ trong những kẻ chết, hầu cho trong mọi vật Ngài đứng đầu hàng". Trong thân thể cái đầu rất quan trọng. Đầu điều khiển cả thân thể. Đầu chứa đựng sự khôn ngoan. Người ta mất tay, mất chân, mắt mũi vẫn sống, nhưng mất đầu thì không thể sống. Đấng Christ là đầu hội thánh, Ngài là Chúa Cứu thế của mọi người. Về điểm nầy có thể đánh tan mọi thành kiến sai lầm của một giáo hội kia cho rằng "John Knox là đầu của Hội Thánh Tin Lành" hoặc "Martin Luther là đầu của Hội Thánh Tin Lành v. v..."
Kinh Thánh khẳng định rằng: "Hội thánh chỉ có một cái đầu là Chúa Giê-xu Christ ngoài ra không có ai khác là đầu hội thánh cả" (Eph Ep 5:23). Mỗi thuộc viên trong hội thánh là một phần tử trong thân thể của Đấng Christ, nhưng Chúa là đầu; trong Ngài chứa đựng cả một kho tàng vô tận về khôn ngoan và hiểu biết. Vì thế, tổ chức của hội thánh có trật tự, có sự hòa hợp thích đáng. Hội thánh đầu tiên có các trưởng lão được chỉ định hướng dẫn những con chiên của Đức Chúa Trời về phương diện thuộc linh.
Khi xưa chữ trưởng lão đồng nghĩa với chữ "giám mục" hay "mục sư", vì chức vụ của họ đều như nhau. Chữ trưởng lão thuở xưa không hẳn là chỉ về những người lớn tuổi trong hội thánh nhưng thường là những người có kinh nghiệm hoặc có tư cách. Vua Rô-bô-am đã nghe theo lời của những nghị viên trẻ tuổi, từ chối lời khuyên thiết thực của những bậc lão thành là những người có kinh nghiệm và khôn ngoan hơn bọn thanh niên kia. Vì thế cuộc nổi loạn bùng nổ và nước Do-thái bị qua phân!
Phao-lô nhận thức được điều nầy nên ông cảnh cáo những tín hữu trong thơ Tít, khuyên Tít nên chọn người làm giám mục phải là người không chỗ trách được, bởi họ là kẻ quản lý nhà Đức Chúa Trời, họ không được kiêu ngạo và giận dữ v. v...
Dù hội thánh có tổ chức, lập nên các vị giám mục, mục sư hay chấp sự, ấy chẳng qua là các tín hữu được đặc ân dự phần trong công tác mở mang vương quốc của Đức Chúa Trời ở trần gian, lo việc nhà của Đức Chúa Trời, nhưng họ không phải là đầu của hội thánh mà Đấng Christ là đầu.
Nếu những người lãnh trọng trách nầy với tấm lòng thanh sạch, được Chúa đẹp lòng và ban ơn cho họ, thì họ cũng được thỏa lòng, hăng say phục sự Chúa, họ sẽ chấp nhận những khó khăn, lao khổ nhất của công tác thuộc linh nầy. Chữ "chấp sự " có nguồn gốc từ hai chữ Hi-lạp ghép thành" tức là chữ "Dia" nghĩa là suốt qua, và chữ "Conia" nghĩa là bụi đất, nghĩa chữ ấy là một con người bằng bụi đất làm việc nhọc nhằn. Một vị chấp sự phải là một người hầu việc Chúa cách hài lòng, cũng phải có một đời sống khá tốt, họ sẽ được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Giê-xu Christ (ITi1Tm 3:13).
Đấng Christ là đầu, nếu các chi thể trong hội thánh đều trong sạch, tất nhiên mọi tổ chức của hội thánh sẽ được hòa hợp, guồng máy hành chánh được tiến triển tốt đẹp giống như một mảnh đất phì nhiêu giữa sa mạc, như giếng nước nơi đồng vắng và như ngọn hải đăng trên nền đá vững bền chói lòa ánh sáng trong biển trần tăm tối!
Ngược lại, nếu những phần tử trong hội thánh tức những chi thể Đấng Christ có một đời sống thuộc linh quá thấp thỏi thì thật nguy hiểm. Khi người nào đó được chỉ định làm một chức viên để dự phần trong công việc Chúa mà thiếu sự khiêm nhường, tưởng mình là đầu của hội thánh, "đầu" của tất cả mọi người, muốn cho mọi người phải nghe theo mình răm rắp, không ai được phát biểu ý kiến hay bày tỏ quan điểm của mình thì chính người ấy đã chiếm địa vị của "cái đầu" chớ không phải là những chi thể trong thân. Họ quên rằng chính mình họ cũng là tín hữu, một phần tử trong hội thánh, là những con người bằng bụi đất được ủy nhiệm trong công tác cao trọng để thi hành chứ không phải là cái đầu. Vì thế, nếu hội thánh nào có người tín hữu như vừa kể trên tất nhiên gây cho hội thánh sự cải vã, tranh chấp, gây phe lập đảng, kéo một số đông theo mình để làm rối cho hội thánh, khiến nhiều người buồn bực khổ đau.
Đấng Christ mới là đầu hội thánh. Ai đó dám cả gan chiếm đoạt quyền của Đấng Christ, thật là nguy hiểm vô cùng. Nếu muốn cho hội thánh như mảnh đất phì nhiêu giữa sa mạc thì mỗi Cơ-đốc-nhân phải là người kính sợ Đức Chúa Trời. Khi một người kính sợ Đức Chúa Trời được đặc ân làm kẻ lãnh đạo trong nhà Chúa, sẽ không bao giờ chiếm hữu cái địa vị "làm đầu" của Chúa Giê-xu, nhưng hết sức khiêm nhường, hiệp nhất trong tình yêu thương, gây dựng lẫn nhau, khiến ai nấy đều vui vẻ thỏa lòng, vì Đức Chúa Trời ở giữa hội thánh và Đấng Christ là đầu, Ngài điều khiển mọi hoạt động của hội thánh.
Chúa Cứu thế chúng ta là đầu của hội thánh chứ không phải một người nào. Chính Chúa Giê-xu đã từng vào đền thờ Giê ru sa lem đuổi những kẻ buôn bán tại đó. Với mục đích thờ phượng Chúa nên đền thờ mới được xây dựng với danh hiệu là "nhà cầu nguyện", nay người ta đến đó để mà buôn bán, khiến cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã mất, nhường chỗ cho sự ô uế, tối tăm. Nếu hôm nay Đấng Christ đến với hội thánh chúng ta sẽ thấy gì? Có lẽ một vài hội thánh đã bị "mất đầu"! Nhưng một chi thể nào đó đã thay thế cái đầu! Thân thể không có đầu là một thây chết! Hội thánh không có Đấng Christ làm đầu là một hội thánh chết! Có bao nhiêu hội thánh "không đầu" trong cả thế giới nói chung và trong mỗi quốc gia, mỗi chi hội, nói riêng? 

SHIN
Số tiêu biểu: 300
Chữ thứ hai mươi mốt trong mẫu tự Hy-bá-lai là chữ "SHIN". Chữ nầy có hai âm, nếu dấu chấm bên phải thì phát âm như chữ "s" còn nếu dấu chấm bên trái thì phát âm như chữ "x". Chữ SHIN có nghĩa là "răng" trông như một cái chĩa ba răng. Nó không phải là vô nghĩa đối với chúng ta.
Trong EsIs 41:14, 15 có chép: "Hỡi sâu bọ Gia-cốp và các người của dân Y-sơ-ra-ên, đừng sợ chi hết, ta sẽ giúp ngươi, Đức Giê-hô-va phán như vậy, tức là Đấng chuộc ngươi. Nầy ta sẽ lấy ngươi làm cái bừa nhọn, thật mới và có răng bén. Ngươi sẽ tán các núi và nghiền nhỏ ra, làm cho các gò nên giống như cám mịn". Đây là một câu Kinh Thánh rất khích lệ. Câu nầy gồm có lời hứa về quyền năng. Dù Gia-cốp chỉ như loài sâu bọ, yếu đuối hèn hạ, nhưng Chúa phán rằng sau khi Ngài đã chuộc dân Y-sơ-ra-ên, Ngài sẽ giúp sức cho, Ngài dùng họ như một cái bừa có răng bén nhọn đến nỗi nghiền núi và gò ra như cám mịn.
Thật là một quyền năng siêu việt! Những chữ "có răng bén" thật quan trọng, răng bén mới nghiền tán núi và gò, tức là khắc phục những sự khó khăn, những nghịch cảnh, những hoạn nạn, khốn khổ sẽ thành tro bụi, nó không còn là một trái núi to tướng hay một ngọn đồi sừng sững án ngữ trước mặt dân Y-sơ-ra-ên nữa.
Đây là một dấu tỏ rằng khi quốc gia Y-sơ-ra-ên lâm nạn, bị kẻ thù đe dọa thì những cái lưỡi trơn tru lại ít khi dùng đến. Tuy những cái lưỡi trơn tru, ngọt ngào cũng có chỗ dùng, nhưng không làm tiêu biến những tai nạn xảy đến cho dân Y-sơ-ra-ên. Có người nói rằng khi quốc gia Tô cách lan lâm vào cơn khủng hoảng thì John Knox là người đã nói bằng "răng" chớ không phải bằng lưỡi. Câu nầy ngụ ý rằng lời nói của John Knox như là một bộ răng rất bén trên đôi hàm của ông. Ông thốt ra những lời "đanh thép" mạnh mẽ khiến cho hoàng hậu Mary khiếp sợ nên bà đã thử nhổ răng của ông bằng cách nịnh hót tán tỉnh ông. Nhưng John Knox nhất định khước từ lời tán tỉnh ấy, ông không bị khuất phục và mềm yếu trước những lời nịnh hót của hoàng hậu Mary. Ông vẫn tiếp tục nói ra những lời "sắc bén" và mong giải phóng người Tô cách lan khỏi chế độ độc tài của vị Giáo hoàng thuở ấy. Trong mọi thời đại nếu muốn được tự do người ta phải trả một giá rất đắt. Nhiều người bị mất tự do bởi các lưỡi trơn tru, mềm dịu. Người có lời nói đanh thép mới giải thoát dân tộc khỏi sự áp bức của kẻ thù.
Trong sách OsHs 12:14 ta tìm thấy câu nầy: "Đoạn, Đức Giê-hô-va nhờ một Đấng tiên tri đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô; và nhờ Đấng tiên tri gìn giữ nó". Sự ăn chơi xa hoa phóng đãng của hoàng hậu Mary đã đưa quốc gia bà rơi vào vòng tôi mọi, nhưng một người có hàm răng sắc bén, có cái lưỡi gồ ghề, có bộ xương sống cứng vững là John Knox đã giải phóng được nước Tô-cách-lan.
Ê-sai là một tiên tri có lời nói rất cứng rắn, Robert Burns đã gọi cú pháp của sách tiên tri Ê-sai là "lửa thần của Ê-sai". Đây là đặc điểm của các đấng tiên tri, theo tiếng Hy-bá-lai thì có nghĩa là "sôi trào" lên. Lời nói của họ phát ra như lửa hực, khiến cho mọi vật đều chuyển biến. Chúng ta nhớ lời giảng của Phao-lô trong sách Sứ đồ đã làm đảo lộn thế giới lúc bấy giờ, đến nỗi người ta nói rằng họ thấy ông như là "đồ ôn dịch" nên quyết tâm trừ diệt (Cong Cv 24:5).
Cái răng cũng có thể ví với lời Kinh Thánh vì Kinh Thánh khiển trách tội lỗi, nhưng khuyến khích người ta trong đường công bình. Những kẻ ác không thích Kinh Thánh vì rất khó chịu cho họ. Khi nào họ bằng lòng ăn năn tội lỗi thì Kinh Thánh rất ích lợi cho họ. Người tội lỗi cũng không thích Kinh Thánh vì Kinh Thánh đã nghiền nát những thói quen, những sinh hoạt tối tăm của họ ra từng mảnh vụn; Kinh Thánh đã vạch trần tội lỗi giấu kín trong tâm khảm con người, dù điều đó là thật nhưng người ta vẫn không chấp nhận sự thật ấy. Trái lại người ta phạm tội, làm điều gian ác lại muốn cho người khác suy tôn mình là anh hùng, quân tử. Người ta thích cái lưỡi rìu trơn tru hơn là cái răng bén nhọn bởi nó nghiền nát tâm tánh hư hoại của người ta nên người ta rất ghét!
Lời của Đức Chúa Trời không phải chỉ là cái răng bén nhọn để nghiền nát tâm tánh tội lỗi của con người, lời ấy còn là phương thuốc chữa bịnh trong tâm linh khiến cho người ta vui thỏa, hàn gắn những vết thương lòng, một phương thuốc hay đã chữa biết bao tâm hồn tan vỡ được lành mạnh từ bao nhiêu thế kỷ nay. Chúa Giê-xu từng phán: " Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh, lời Cha tức là lẽ thật" (GiGa 17:17). Kinh Thánh là chân lý, ngoài lời Chúa ra không tìm thấy chân lý ở bất cứ nơi nào. Chính lời Đức Chúa Trời là chân lý, Chúa Giê-xu cũng xưng Ngài là chân lý (GiGa 14:6), Đức Thánh Linh cũng là chân lý (IGi1Ga 5:7). Kinh Thánh là quyển sách có răng nhọn; là quyển sách tốt nhứt, được phổ biến nhiều nhất thế giới. Nếu ai yêu mến Kinh Thánh thì Kinh Thánh sẽ thỏa đáp thắc mắc cho người ấy. Nếu Kinh Thánh không có "răng" chắc nhiều người thích đọc lắm, nhưng Kinh Thánh phải có răng bén nhọn tức là quyền phép của Đức Chúa Trời để nghiền nát những "núi kiêu ngạo" những "đồi tự cao" hay những "gò đau khổ" trên mặt đất nầy.
Ông Richard Weaver, một vị truyền đạo trứ danh thời xưa có nói rằng: " Lời Đức Chúa Trời có răng bén nhọn, nên lời Ngài đã nghiền tán lòng dạ loài người; nếu ai bằng lòng để cho lời ấy nghiền tán thì mới được thanh sạch trọn vẹn và được chữa lành". Trong sách Cong Cv 2:37 chép rằng khi dân chúng nghe lời Phi-e-rơ rồi thì lòng chịu cảm động. Theo nguyên văn chữ "lòng chịu cảm động" đây có nghĩa là họ bị chà nát trong tâm linh, đau đớn trong tâm hồn đến nỗi kêu la rằng: "Chúng tôi phải làm chi?" Đây là điều quan trọng mà mỗi mục sư truyền đạo đều trông mong. Nếu người ta không có lòng ăn năn đau đớn về tội lỗi mình thì không thể giúp họ được cứu rỗi. Chỉ khi người ta ăn năn tội thì Đức Thánh Linh mới hành động trong lòng họ, nghiền tán họ và chữa lành họ. Vì "Lời Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến nỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng" (HeDt 4:12). Đó là lời Chúa có quyền năng biến đổi con người từ địa vị tối tăm trở nên sáng láng, từ một con sâu bọ họ được ban cho những chiếc răng bén nhọn, có thể nghiền tán "núi đồi" của sự khó khăn, khắc phục mọi hoàn cảnh éo le, chướng nghịch của thế gian trở nên cảnh phước hạnh, hưởng được nước thiên đàng vinh hiển mãi mãi.

TAU
Số tiêu biểu: 400
Chữ thứ hai mươi hai trong mẫu tự Hy-bá-lai là chữ TAU. Phát âm như chữ TH, hơi nhẹ hơn một chút. Nếu có chấm ở giữa thì đọc như chữ T, cũng là chữ cuối cùng trong mẫu tự nầy. Chữ nầy có nghĩa là dấu ấn, như người đóng dấu chiên, bò, lạc đà v. v... Thuở xưa người ta cũng đóng dấu trên thân thể của nô lệ, hầu cho tên ấy sẽ làm nô lệ suốt đời.
Kinh Thánh nói đến chữ này lần đầu tiên trong SaSt 4:15 "Đức Giê-hô-va bèn đánh dấu trên mình Cain, hầu cho ai gặp Ca-in thì chẳng giết". Đây có một hình ảnh tương phản; Ca-in phạm tội sát nhân bị Đức Chúa Trời đánh dấu trên mình hầu cho không bị giết, để ông ta mang lấy tội lỗi của mình. Trong sách Khải-thị cũng bày tỏ người thuộc về Chúa và kẻ thuộc về ma quỷ, họ cũng bị đánh dấu trên trán hay trên cánh tay; dấu của con thú cho kẻ theo con thú, dấu của Chiên Con cho kẻ theo Chiên Con (KhKh 7:1-8; 13:16-18).
Cơ-đốc-giáo dùng thập tự giá làm dấu hiệu. Theo truyền thuyết thì dấu hiệu nầy được đặt ra vào năm 451 S. C. vì có vài vị giám mục ở thành phố Chaleedon không biết viết tên mình, nên khi họp hội nghị cộng đồng họ chỉ vẽ hình thập tự giá thay cho chữ ký, về sau người ta liền dùng biểu hiện nầy trong Cơ-đốc-giáo. Như trong chữ thứ 14, chúng ta học về chữ "NUN" có nghĩa là "con cá" và Hội thánh đầu tiên đã dùng con cá làm biểu hiện cho đức tin của Cơ-đốc-nhân, cũng là bằng chứng về sự sống lại của Chúa Giê-xu (như Giô-na ở trong bụng cá ba ngày). Nhưng dấu hiệu con cá bị phai mờ khi các cuộc bắt bớ đạo chấm dứt và khi người ta thấy dấu hiệu của thập tự cũng có ý nhắc đến sự đau đớn, thương khó của Chúa Giê-xu và bày tỏ đức tin của mình nên Hội nghị tại Chaleedon đã chấp nhận. Khi bắt đầu dùng dấu hiệu thập tự giá người ta cũng e ngại, bởi vì dấu hiệu thập tự giá khiến cho người Do-thái phật lòng; mỗi khi nhìn đến dấu thập tự giá chẳng khác nào gợi lại tội ác mà họ đã phạm khi đóng đinh Đức Chúa Giê-xu vào đấy. Trái lại đối với Cơ-đốc-nhân thì dấu hiệu nầy chỉ về Chúa chết cho mọi người, và mọi người đều dự phần trong sự thương khó của Chúa Giê-xu, đồng thời cũng dự phần trong công tác của Ngài, nghĩa là cùng dự phần hi-sinh và phục vụ.
Chúng ta ngày nay không mang dấu hiệu con cá hay là thập tự, nhưng mỗi người đều có dấu của Đấng Christ đóng vào tâm linh, khiến cho chúng ta vui lòng phục vụ Ngài, làm tôi tớ Ngài suốt đời, chịu khổ vì danh Ngài; Phao-lô cũng nói rằng : "Trong mình tôi có đốt dấu vết của Đức Chúa Giê-xu vậy" (GaGl 6:17).
Chúng ta là dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh, chúng ta được đóng ấn bằng Đức Thánh Linh, ấn đó tức là sự tái sinh, cùng sự đau khổ vì danh Chúa. Một người tín đồ chưa được tái sinh không thể chịu khổ vì danh Chúa, nhưng chịu khổ vì danh dự riêng của mình. Những con người như thế không có một dấu vết nào của Đấng Christ cả.
Có một vị thánh đồ kia thường hay để thì giờ cầu nguyện và suy gẫm. Ngày kia Sa-tan hiện đến xưng mình là Con Đức Chúa Trời và nói rằng: "Ta là Đấng Christ". Vị thánh già liền nói rằng: "Nếu ông là Đấng Christ thì xin cho tôi xem dấu thương tích của ông". Nhưng Sa-tan không có một thương tích nào để đưa ra mà chỉ có những thương tích chính Sa-tan đã làm cho người khác đau khổ. Chúa Giê-xu bị thương cả tay, chân, sườn và đầu vì cớ loài người; đó là dấu hiệu thật của Cứu Chúa. Dấu hiệu thật của Sứ đồ, dấu hiệu thật của thánh nhân là dấu hiệu đau khổ vì danh Ngài, chịu đàn áp vì danh Ngài v. v... Một vị giáo phụ trong thời hội thánh đầu tiên cảnh cáo tín hữu nên đề phòng các sứ đồ giả, vị giáo phụ tỏ cho tín hữu nên để ý và ghi nhận sự khác biệt giữa sứ đồ thật và sứ đồ giả. Ông nói sứ đồ thật thường bận rộn với công việc Chúa, đối đầu với những khó khăn, họ luôn bận rộn với những công tác thuộc linh. Nhưng sứ đồ giả thì rất nhàn hạ, mặc ai lo hầu việc Chúa, lo cho nhà Chúa, lo mọi công tác thuộc linh, lo chăm sóc người mới tin Chúa, lo yên ủi kẻ buồn rầu. Nhưng phần sứ đồ giả thì không hề suy nghĩ đến việc gì cả, cũng không có việc gì để làm. Làm việc lớn thì cho là quá sức không làm nỗi, làm việc nhỏ thì cho là hèn quá không xứng với khả năng của mình. Rốt cuộc vẫn không ích chi đối với nhà Chúa, không có dấu hiệu nào tỏ ra là một tín đồ mà chỉ là kẻ cầu an, sống theo xác thịt mà thôi!
John MacMillan nói rằng có hạng tín đồ không bao giờ bị thương tích (thuộc linh) vì họ không chiến đấu, vì không chiến đấu nên họ không có một vết thương nào trong tâm linh. Thật là một sự yên ủi lớn cho những ai đã từng bị thương tích vì cớ trung thành với Đấng Christ. Họ giống như Đấng Christ, chính Giăng cũng minh chứng rằng: "Đấng Christ đã vì chúng ta bỏ sự sống, chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy" (IGi1Ga 3:16).
Nếu chúng ta được Đấng Christ đóng ấn của Ngài trên ta thì ta là nô-lệ Ngài, chúng ta nên phục sự hầu việc Ngài cách hết lòng "chúng ta sẽ được thấy mặt Chúa vì danh Chúa sẽ ở trên trán mình" (KhKh 22:4).
Ước mong rằng trong vòng chúng ta không có ai bị ma quỷ đóng ấn, nhưng mỗi chúng ta đều có ấn của Chiên Con nơi lòng.

==========================================

Thay Lời Kết
Bài ý nghĩa thuộc linh trong mẫu tự Hy-bá-lai đến đây là hết. Tuy loạt bài nầy là những tài liệu sưu tầm có tính cách lịch sử, song nó hàm chứa sự dạy dỗ sâu xa rất quý cho những ai thích tìm tòi, tra cứu cổ ngữ nầy.
Ước mong tài liệu nhỏ bé nầy sẽ đem lại lợi ích phần nào cho con cái Chúa.
Bà Phạm Văn Năm
(Soạn theo tài liệu Chirst in the Hebrew Alphabet của John MacMillan và The International Bible Encyclopedia , Analytical Concordance to the Holy Bible của Robert Young ).
Đã trích đăng trong các số báo Thánh Kinh Nguyệt San tại Việt Nam từ năm 1971-1973.


† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 14-11-2018 02:18 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách