† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2964|Trả lời: 0

Này Satan, Hãy Nghe Đây

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 20-7-2011 20:01:30 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Này Satan, Hãy Nghe Đây

Tác giả: C. Peter Wagner
Lời Nói Đầu Của C. Peter Wagner
Lời tựa Của Mục sư Claudio Freidzon
Phần Giới Thiệu
PHẦN MỘT “HÃY ĐI...GIẢNG TIN LÀNH”
1. Sự Kêu Gọi của Đức Chúa Trời
PHẦN HAI “NHỮNG KẺ TIN SẼ ĐƯỢC CÁC DẤU LẠ NẦY...”
2. Được Xức Dầu Trong Chức Vụ
3. Uy Quyền Bởi Đức Tin
PHẦN BA “LẤY DANH TA MÀ TRỪ QUỶ...”
4. Ma Quỷ học 101
5. Ma Quỷ học 102
6. Người Bị Quỷ Ám
7. Sự Giải Cứu Thuộc Linh
8. Những Nguy Hiểm Của Tà Thuật
9. Quyền Năng Của Sự Tha Thứ
PHẦN BỐN “DÙNG TIẾNG MỚI MÀ NÓI”
10. Báptêm Trong Thánh Linh
PHẦN NĂM “UỐNG GIỐNG CHI ĐỘC CŨNG CHẲNG HẠI GÌ”
11. Sự Che Chở Thuộc Linh
12. Trận Chiến Thuộc Linh 101
13. Trận Chiến Thuộc Linh 102
PHẦN SÁU “KẺ ĐAU SẼ ĐƯỢC LÀNH”
14. Sự Đụng Chạm Chữa Lành


Lời Nói Đầu
Vào thời điểm viết sách này, cuộc phục hưng gây kinh ngạc tại Argentina, đang kết thúc năm thứ mười lăm của nó!
Thật là một sự kiện đáng chú ý, bởi vì ngay cả những cuộc phục hưng nổi tiếng nhất như cuộc phục hưng ở phố Azusa, cuộc phục hưng ở xứ Wales, hay cuộc Thức Tỉnh Lớn Lao cũng chỉ kéo dài một vài năm. Đúng là những kết quả lâu dài, những dư âm còn lại của một số cuộc phục hưng vẫn còn lâu hơn sau đó, nhưng bản thân ngọn lửa phục hưng thì tương đối ngắn ngủi.
Carlos Annacondia là vị sứ đồ được mọi người công nhận và là người nổi bật hơn hết trong cuộc phục hưng ở tại Argentina. Ông tham gia cùng các tôi tớ xuất chúng của Đức Chúa Trời như Omar Cabrera, Claudio Freidzon, Pablo Deiros, Edgardo Silvoso, Pablo Bottari, Eduardo Lorenzo, và gần đây hơn là Sergio Scataglini. Ai nấy đều nhất trí rằng cuộc phục hưng được khởi phát khi Carlos Annacondia bắt đầu chức vụ truyền giáo cho dân chúng vào năm 1982.
Sự tuôn đổ Thánh Linh rộng khắp mọi nơi mà chúng ta vẫn luôn cầu xin dường như đang rất gần. Từ trước đến nay chưa bao giờ có nhiều Cơ Đốc Nhân nói đến phục hưng, giảng về phục hưng, đưa ra các khóa học và khóa hội thảo về phục hưng, cũng như viết các sách báo nói về phục hưng nhiều như lúc nầy.
Không còn nghi ngại gì nữa, quyển”Nầy Satan , Hãy nghe đây ” rất có thể được các sử gia trong tương lai xem là một trong những quyển sách quan trọng nhất, nếu không nói là quyển sách quan trọng nhất trong số các văn phẩm phục hưng của thập niên 1990. Tôi thật sung sướng vì nay đã có bản dịch Anh ngữ.
Carlos và tôi là bạn hữu từ nhiều năm. Tôi đã dự phần vào các chiến dịch của anh, gây dựng nhân sự của anh, đi đây đó với anh, dịch thuật cho anh, cầu nguyện với anh, nói chuyện và viết về anh, cùng ăn món bò “bíttết” Argentina với anh. Không có người lãnh đạo Cơ Đốc nào tôi tôn trọng hơn anh. Nếu có những tượng đài danh dự dành cho các nhà truyền giáo, thì Annacondia sẽ được xếp ở đó cùng với Billy Graham, Morris Cerullo, T.L.Osborn, Reinhard Bonnke và những người như thế. Lý do duy nhất khiến chúng ta chưa nghe nhiều về anh là vì anh không thể nói tiếng Anh lưu loát.
Theo nghiên cứu của tôi, những lý do căn bản khiến cho Cuộc Phục Hưng ở Argentina kéo dài hơn hết tất cả những cuộc phục hưng khác đều có liên quan đến Annacondia. Annacondia đã duy trì việc truyền giáo, tức là chinh phục linh hồn hư mất, như là trọng tâm chính suốt mười lăm năm. Ông luôn tìm kiếm sự hiệp nhất Tin Lành bất cứ nơi nào ông đến và ông đã thấy điều đó xảy ra. Nhiều thành phố ở Argentina đã chia lịch sử gần đây của họ là “trước Annacondia” và “sau Annacondia”. Ngoài ra ông còn nối kết tấm lòng mình với các vị lãnh đạo hoặc sứ đồ khác trong cuộc Phục Hưng Argentina, đắc thắng sự ghen tị, thờ ơ, cạnh tranh, cay đắng và chia rẽ thường là đặc trưng của nhiều phong trào tương tự.
Không có yếu tố nào về cuộc Phục Hưng ở Argentina có ý nghĩa hơn là việc không xem thường các thế lực ma quỉ đang nỗ lực bóp nghẹt công cuộc truyền giáo và dập tắt cuộc phục hưng. Tựa đề của quyển sách nầy là tiếng kêu báo hiệu chiến trận của Carlos Annacondia, "Nầy Satan Hãy Nghe Đây !" Như tôi đã được chứng kiến tận mắt, khi ông la lớn điều nầy trong các buổi nhóm công cộng, theo nghĩa đen “Tất cả cửa âm phủ phải mở ra!” Các quỉ hiện ra, và những nạn nhân bị quỉ ám lập tức được đưa ra và họ được giúp đỡ từng người một nhiều khi suốt cả đêm từ những nhà khải đạo đã được huấn luyện về sự giải cứu.
Điều nầy dọn đường cho mùa gặt. Khi Carlos kêu gọi, những người nam người nữ từ mọi tầng lớp xã hội thực sự đã chạy lên phía trước bục giảng để được cứu. Không có cảnh “Xin chúng ta hãy nhắm mắt, cúi đầu và hát thêm một câu nữa trong bài “Jesus tôi đến” như điều chúng ta vẫn thường làm. Đây là sự tự do dành cho mọi người, thường là họ chen đẩy nhau để tiến lên trước hết. Cho đến nay hơn hai triệu người đã tiến lên trước tòa giảng để được cứu và dời từ tối tăm qua sáng láng, từ quyền lực của Satan đến Đức Chúa Trời!
Khi bạn đọc quyển sách nầy, bạn sẽ cảm thấy như mình đang có mặt ở đó. Lời cầu nguyện của tôi là xin Chúa cảm động bạn để thưa rằng “Lạy Chúa con muốn tái dâng chính mình để làm phần việc của con cho loại phục hưng nầy được xảy đến cho thành phố con và cho dân tộc con!”
C. Peter Wagner
Chủng Viện Thần Học Fuller


Lời Tựa
Thật là một đặc ân lớn lao cho tôi khi được giới thiệu quyển sách mới nầy của nhà truyền giáo Carlos Annacondia. Là người bạn cùng quê, tôi cảm thấy hãnh diện, vì Carlos với lời chứng không tì vít và trong sáng như pha lê, là một sứ giả người Argentina xuất sắc đại diện cho tất cả chúng tôi trên khắp thế giới.
Từ năm 1983 đến nay, chức vụ của ông vẫn tiếp tục phát triển và hiệu quả cho nước Chúa qua việc chinh phục các linh hồn cho Chúa Cứu Thế và huy động Hội Thánh trong việc đeo đuổi Đại Mạng Lệnh Truyền Giáo.
Vào những năm 80, Đức Chúa Trời đã dấy người Anh em Carlos lên làm phát ngôn nhân của sứ điệp cứu rỗi cho một dân ngã lòng đã bị đánh bại niềm kiêu hãnh. Ông là công cụ được Đức Chúa Trời chọn cho một cuộc phục hưng làm rúng động toàn bộ Argentina. Sự trung tín, lòng tận hiến và đức tin của ông trong các dấu kỳ và phép lạ đã dẫn đến một sự thức tỉnh của Hội Thánh đối với công tác truyền giáo. Những người tin Chúa ra khỏi các dinh cơ của họ với nhiệt huyết mới để công bố Tin Lành, đánh dấu một thời kỳ mới cho đất nước chúng ta. Ngày nay, chức vụ của ông hiện lan rộng khắp các quốc gia trên thế giới.
Tôi gặp Carlos Annacondia vào năm 1993. Lúc ấy tôi là giáo sư thần học tại Học Viện Thánh Kinh thuộc Rió de la Plata , chủng viện của Hội Thánh Ngũ Tuần ở tại Argentina. Qua các sinh viên của tôi, tôi khám phá ra chiến dịch truyền giáo đang diễn ra trong thành phố La Plata, cách Buenos Aires năm mươi cây số. Nhà truyền giáo ấy là Carlos Annacondia đang khởi đầu chức vụ truyền giáo, đến lúc ấy tôi vẫn chưa biết ông ta. Những nhận xét của các học sinh tham gia trong cuộc truyền giáo khiến tôi chú ý. Họ nói rằng “Điều đang xảy ra thật là phi thường, mỗi tối có hàng ngàn người tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa và quyền năng giải cứu mạnh mẽ đến nỗi chúng tôi phải ở lại rất khuya để cầu nguyện cho những người bị quỉ ám”. Lập tức tôi quyết định: Mình cần phải gặp con người nầy .
Chiều hôm đó tôi đến địa điểm tổ chức buổi truyền giáo tại La Plata. Sự thật trước mắt tôi vượt hơn lời tường thuật của các sinh viên. Một đám đông vây quanh khán đài và tôi có thể cảm nhận một bầu không khí chờ đợi nôn nóng. Khi buổi nhóm bắt đầu, nhà truyền giáo bước lên bục giảng với cuốn Kinh Thánh trong tay. Ngay khi ông khởi sự nói, tôi cảm nhận một sự xức dầu mạnh mẽ bởi Thánh Linh. Kế đến là sự cầu nguyện và lời cầu nguyện của ông không giống bất cứ lời cầu nguyện nào-nhưng có uy quyền và dường như nạp điện cho bầu không khí “NÀY SATAN, HÃY NGHE ĐÂY...” là những từ khai mào cho cuộc đối đầu. Từ đó trở đi, trong Danh Chúa Jesus, Mục sư Carlos quở trách thẳng mọi quyền lực và mọi quỉ đang tấn công những người nghe.
Không phải đợi lâu mới thấy hiệu quả của lời cầu nguyện. Nhiều người thét lớn tiếng khi ngã xuống, run rẫy và bày tỏ các biểu hiện bên ngoài cho thấy những nan đề thuộc linh trong đời sống họ. Có đến hàng trăm người! Những người phụ giúp đưa một số người ra một nơi đặc biệt để chăm sóc cho họ. Uy quyền của Chúa Jesus đã được bày tỏ một cách đáng kinh ngạc tại đó. Rồi đến sự giảng dạy, và khi Mục sư Annancondia kêu gọi thân hữu với một tình yêu chỉ có thể đến từ trên cao, thì người ta bắt đầu chạy lên bục giảng. Họ mời Chúa Cứu Thế ngự vào đời sống mình với nước mắt tuôn tràn. Tôi rời nơi ấy lòng đầy cảm động với một khải tượng mới mẻ bùng cháy trong lòng...
Chúng tôi đã thiết lập mối quan hệ bạn hữu sâu đậm trong thời gian thật tuyệt vời. Chúng tôi bắt đầu gặp gỡ nhau vào mỗi thứ năm với các Mục sư khác để cầu nguyện và cùng chia sẻ gánh nặng về những linh hồn hư mất. Tôi nhớ những lần chúng tôi đã đặt tấm bản đồ Argentina ngay chính giữa và xin Đức Chúa Trời ban một cuộc phục hưng ở từng góc của xứ sở. Đó thật là những giờ vui sướng không tả xiết trong tâm linh.
Carlos Annacondia là người của Đức Chúa Trời. Lời chứng khiêm nhường của ông và tình yêu thương linh hồn là điều rõ rệt đối với tất cả những ai gặp gỡ ông. Không thể nào ở với ông mà không nói đến công việc của Đức Chúa Trời và tình yêu của chúng ta dành cho những người hư mất.
Quyển sách sẽ nầy đánh thức tâm linh bạn. Những phép lạ cặp theo những kẻ tin sẽ trở thành một thực tế trong đời sống bạn khi bạn nắm lấy uy quyền Đức Chúa Trời ban cho bạn. Mục sư Carlos biết rõ các chủ đề mà có rất ít người biết. Chúng là một phần kinh nghiệm của ông, và ông dạy họ bằng uy quyền.
Chức vụ của Annacondia đã thách thức đời sống tôi với tư cách là một Mục sư. Tất cả những buổi tối tại buổi truyền giáo đã đổ đầy lòng tôi bầu không khí của đức tin và các phép lạ. Tôi chân thành mong muốn điều tương tự sẽ xảy đến cho bạn. Qua cuốn sách nầy, nguyện Chúa cho bạn nhận được gánh nặng và năng quyền để làm một chứng nhân trung tín và đắc thắng.
Claudio J. Freidzon
Mục sư của Hội Thánh Rey de Reys (HT Vua của các vua ) Buenos Aires , Argentina

Phần Giới Thiệu
Trong năm đầu tiên sau khi tiếp nhận Chúa Jesus, tôi cảm thấy một gánh nặng trĩu trong lòng mình. Lời cầu nguyện sâu đậm nhất của tôi là cho đất nước mình, bởi vì tôi cảm biết Argentina đang chìm trong hư mất. Mỗi ngày tôi than khóc bên chiếc bản đồ của xứ sở nầy, đặt tay trên mỗi tỉnh thành khi cầu nguyện cho những linh hồn hư mất tại đó. Tôi dành hàng giờ công bố Argentina thuộc về Đấng Christ.
Lúc ấy chức vụ Messega of Salvation (Sứ Điệp Cứu Rỗi) do chính tôi đảm nhận ngày nay vẫn chưa tồn tại, nhưng Đức Chúa Trời đã chỉ cho tôi các quyển sách, rất nhiều sách có tên tôi trong đó. Đó là một khải tượng rõ ràng. Trong bất cứ trường hợp nào, tôi không bao giờ chạy đến với sự việc; mà ngược lại tôi luôn chờ đợi Chúa thúc đẩy mình. Tôi không ngừng thưa với Ngài rằng “Lạy Chúa, nếu đây là ý Chúa, Ngài sẽ thúc đẩy con làm điều đó”. Và Chúa đã thúc đẩy tôi viết quyển sách nầy như Ngài đã từng làm trong mọi sự kiện của đời sống tôi.
Chỉ có một vài cuốn sách ngoài Kinh Thánh để lại ảnh hưởng trên cuộc đời tôi. Nhưng tôi không bao giờ quên được thời gian tôi đọc các sách của Kathryn Kuhlman. Những quyển sách thuật lại các phép lạ đã làm tôi khóc; cứ mỗi lần như vậy sự thúc giục mạnh mẽ buộc tôi phải quỳ gối cầu nguyện. Vì lý do nào đó, tôi thưa rằng “Lạy Chúa, con muốn Ngài ban cho con điều người phụ nữ nầy đã được” Đức Chúa Trời đã nhậm lời cầu nguyện của tôi. Và ngày hôm nay tôi thật vui mừng khi đem sứ điệp cứu rỗi đến cho những người hư mất và chỉ cho họ đường đi, lẽ thật và sự sống.
Dầu bạn đang giữ vị trí nào trong thân thể của Chúa đi chăng nữa, điều ao ước của tôi là qua những trang sách nầy, bạn sẽ đạt đến một chỗ mà tại đó bạn sẽ kinh nghiệm các sự kiện siêu nhiên. Tất cả những lời làm chứng mà bạn sẽ đọc ở đây đều có một mục đích độc đáo: để cảm động bạn và thách thức bạn tìm kiếm những khía cạnh siêu nhiên của Đức Chúa Trời.
Lời cầu nguyện khiêm hạ và mục tiêu duy nhất của tôi là những trang sách nầy sẽ cho bạn ánh sáng để hiểu sứ điệp của tôi và chúng sẽ để lại trong bạn một từng trải khác biệt, một ấn tượng lâu bền trong cuộc đời bạn. Ý định của tôi không phải để các sách của mình xuất hiện đầy trên các kệ sách thư viện hay thấy tên mình được in trên các quyển sách. Danh tiếng và sự thành công không làm tôi quan tâm. Mục đích duy nhất của tôi là đem đến phước hạnh cho đời sống bạn qua sự khám phá chắc chắn về các phép lạ siêu nhiên từ Chúa dành cho tất cả những ai đặt lòng tin nơi Ngài. Khi đọc xong quyển sách nầy, có lẽ bạn cũng có thể cảm nhận như tôi, để chúng ta có thể cùng nhau công bố: Thế giới này thuộc về Chúa Cứu Thế .
Chúa Jesus phán:
“Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép Báptem sẽ được rỗi. Nhưng ai chẳng tin sẽ bị đoán phạt. Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh ta mà trừ quỉ, dùng tiếng mới mà nói, bắt rắn trong tay, nếu uống giống chi độc cũng chẳng hại gì, hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành” (Mac Mc 16:15-18).


Chương 1: SỰ KÊU GỌI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Vào tối ngày 26 tháng 5 năm 1984 năm nhà biên tập của tờ nhật báo El Guardian đã tham dự chiến dịch truyền giảng của chúng tôi tại Ensenada bằng cách ẩn mình cách thận trọng giữa đám đông. Họ đã nghe những câu chuyện đáng kinh ngạc xảy ra tại các buổi truyền giảng của chúng tôi. Và họ có mặt ở đó để tìm kiếm những chứng cớ lừa bịp mà họ hi vọng phát hiện được trong các phép lạ siêu nhiên mà Đức Chúa Trời thực hiện qua các buổi nhóm. Bài tường trình từ một bài báo được trích dẫn cho thấy không những họ đã không tìm thấy sự dối trá nào, mà còn tường thuật cách chính xác những trường hợp được chữa lành bằng phép lạ mà chính họ đã chứng kiến khi Đức Chúa Trời hành động trong quyền năng và vinh hiển.
Chữa Lành Bởi Phép Lạ Và Các Sự Kiện Không Thể Giải Thích được Tại Ensenada
Vào tối ngày 26 tháng 5 năm 1984, năm nhà biên tập của tờ El Guardián (The Guadian) là những người đã chứng kiến một số sự kiện mà tính ngoạn mục phi thường và tính chân thật của chúng không chấp nhận bất cứ lý do phản đối nào cả. Giữa vòng bốn ngàn người đang nhóm họp quanh bục giảng tại Hội Thánh Tin Lành... các nhà báo nhìn thấy hơn ba trăm người ngã xuống như thể bị sét đánh, chỉ vì một cái chạm nhẹ của nhà truyền giáo Cơ Đốc tên là Carlos Annacondia, và họ cũng đã xác minh những sự chữa lành xảy ra vào thời điểm đó...
Trong số năm nhà biên tập chuyên nghiệp có mặt thì ba người là Thiên Chúa Giáo, một người chỉ mang danh nghĩa Cơ Đốc và một người là vô thần...ngay trước mắt nhóm người vẫn thường phân tích các sự kiện hoàn toàn vô tư, không thành kiến trong phán đoán và lạnh lùng trong suy luận nầy là những quý bà sủi bọt mồm, những đứa trẻ ngã dài trên lớp cỏ ẩm, các phụ nữ ngã quỵ trong lớp đất bùn. Ba trong số những phụ nữ mặc những chiếc áo khoác bằng lông thú đắt tiền và hàng trăm thanh niên cả nam lẫn nữ, những người lớn tuổi, những người thuộc giới bình dân đang loạng choạng cố giữ mình cho khỏi ngã. Không một điều nào chúng tôi đang nói đây vượt quá sự thật cả...
Tất cả những gương mặt của những người được nhà truyền giáo Annacondia “đụng đến” đều có những biểu hiện rõ ràng của nỗi đau đớn hoặc niềm vui sướng, không một biểu lộ nào có thể bảo rằng họ đang đóng kịch hoặc giả bộ. Đây là những con người bình dân không thể dựng lên những cảnh như thế qua thần giao cách cảm với sự trung thực. Điều này gợi đến những ngày được ghi trong Kinh Thánh; những giờ khắc mà Hội Thánh đầu tiên đã sống, không phải là một hoạt động được dàn dựng hay trình diễn để lừa dối những người nhẹ dạ...
Annacondia không phải là nhà thôi miên. Ông ta dùng Thánh Kinh như một phương tiện trực tiếp và không hề tách khỏi Lời ấy. Không một nhóm từ nào của ông tách rời khỏi các sách Phúc âm...ông không hề tuyên bố chữa lành cho bất cứ ai bởi vì ông nói “Đức Chúa Trời chính là Đấng Chữa Lành”. Và có rất nhiều người được chữa lành. Một phóng viên của tờ El Guardia bị thương ở phần sụn của đầu gối trái do bị ngã nặng (tai nạn xảy ra ba tháng trước đó), giờ đây anh không còn thấy đau đớn gì nữa và có thể di chuyển được bình thường.
Gần ba mươi ngàn người tham dự các buổi tối của chiến dịch truyền giảng khác nhau, ngoài các nhà thanh tra và quan điểm của các phóng viên, tất cả đều đồng ý như một lời chứng vững chắc không thể giải thích được, rằng đó là những sự việc thật sự đã xảy ra mỗi buổi tối cầu nguyện; những đêm mà trong đó họ luôn nói về Chúa Cứu Thế và Đức Chúa Trời, chỉ các Đấng ấy mà thôi.
Như báo chí đã ghi nhận, mỗi đêm truyền giảng đều phi thường. Âm thanh của những bài hát thờ phượng Chúa tràn ngập phòng nhóm. Những cánh tay giơ cao bày tỏ lòng khao khát Chúa. Người ta vui mừng thuật lại những phép lạ siêu nhiên xảy đến cho đời sống họ.
Một phụ nữ khiến tôi chú ý đặc biệt và làm tôi cảm động sâu xa. Bà đã kinh nghiệm một phép lạ và thuật lại câu chuyện kỳ diệu đó như sau:
Tôi sống trọn thời thơ ấu với bố mẹ và ba anh chị em ở thành phố Río Dulce, là nơi giao tiếp của các nhánh sông. Chỗ ấy nằm ngay biên giới giữa tỉnh Cordoba và Santiago del Estero.
Một buổi chiều nọ khi mẹ tôi mở chiếc rương lớn, một con rắn đã cắn nhiều chỗ trên người bà. Kinh hoàng và quá đau đớn, bà thét lên và ngã quỵ trước mặt chúng tôi. Cha tôi không làm một điều gì cả, mặc dầu người anh cả của chúng tôi gào lên đòi ông phải ra tay, ông vẫn không phản ứng gì. Ngay sau đó, cha tôi chuẩn bị xe ngựa kéo và đi mất, bỏ mặc mẹ tôi nằm hấp hối dưới đất và chúng tôi cô quạnh bên cạnh bà. Tất cả chúng tôi phải vất vả lắm mới đưa được mẹ lên giường, nhưng bà đã quá yếu. Trời sụp tối, vì vậy chúng tôi quyết định mang mẹ lên một chiếc xuồng để đưa đến nơi nào có thể tìm được sự trợ giúp. Song vô ích. Mẹ tôi đã chết.
Bốn đứa chúng tôi, cùng đứng đó trước thi hài của mẹ, thật cô độc. Em trai nhỏ nhất của chúng tôi là Juan chỉ mới mười một tháng. Kế đến là tôi, bốn tuổi. Chị tôi Juana năm tuổi và cuối cùng là Pedro, anh lớn nhất của tôi, tám tuổi.
Chúng tôi tự tay làm một cái quan tài, và nhờ sự giúp đỡ của một người hàng xóm, chúng tôi đưa mẹ ra nghĩa trang. Người gần nhất sống cách chúng tôi một ngày rưỡi đường đi bằng ngựa. Chúng tôi suy đoán rằng ông hàng xóm đến là vì cha tôi, khi ra đi đã ghé qua và cho ông ta biết tình cảnh của chúng tôi. Sau khi giúp chôn cất mẹ tôi, ông ta ra về. Ông hứa sẽ trở lại, nhưng không bao giờ trở lại nữa.
Chỉ còn có một mình, chúng tôi quay về căn nhà bằng đất sét của mình, nơi chúng tôi đã sống, bị bỏ mặc cho số phận tại đó. Mỗi buổi chiều chúng tôi ra thăm mộ mẹ vì cảm thấy được che chở bởi thân xác mẹ tôi nằm ở đó. Chúng tôi cứ làm thế suốt trong ba năm, chẳng hề sợ hãi; nơi đó là nhà của chúng tôi. Thật thế, chúng tôi cảm thấy hết sức vui thích đến nỗi thường chơi đùa và ngủ lại ở giữa các ngôi mộ.
Ngày nay, tôi nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã bảo vệ chúng tôi suốt thời gian đó, khi mà chúng tôi chỉ có một mình. Chúng tôi ăn cá và săn bắt bằng những chiếc bẫy tự lắp đặt. Lúc ấy vịt, cừu, trứng rất nhiều và một số khác cũng có sẵn. Chúng tôi cho đứa em nhỏ Juan uống sữa từ một con dê đang cho con bú; con dê nằm xuống, Juan thường chui vào bú trực tiếp. Anh cả là người lo thức ăn cho cả nhà, mặc dầu tất cả chúng tôi đều phụ giúp.
Một ngày nọ, anh cả bắt chúng tôi thề rằng người nào trong chúng tôi có cơ hội đầu tiên gặp lại cha mình thì phải giết chết ông ấy. Thực ra lúc ấy chúng tôi chỉ là những đứa trẻ hoang dã, hung dữ. Chúng tôi trần truồng, bẩn thỉu và lôi thôi lếch thếch. Điều duy nhất giữ cho chúng tôi còn sống là mong muốn giết được cha mình. Điều đó cho chúng tôi sức mạnh cần thiết để sống còn.
Ba năm sau đó, cha tôi trở về, ông trói chúng tôi lại, cho vào bao và đem chúng tôi đến thị trấn gần nhất. Sau đó ông giao chúng tôi cho các chủ đất khác nhau, phân ly chúng tôi bất chấp tình thương gắn bó chúng tôi dành cho nhau.
Những người chủ trại đã nhận tôi, dạy tôi cách làm việc ngoài đồng, làm bánh mì và các công việc khác. Mặc dầu chỉ mới bảy tuổi, tôi đã làm việc rất vất vả. Thực ra họ đã phải thuần dưỡng tôi. Thậm chí lúc ấy, lời thề với các anh em tôi rằng sẽ giết cha tôi vẫn là động lực tiếp sức cho tôi để sống. Tôi phải lớn lên để thực hiện sự báo thù thay cho mẹ tôi . Tôi không bao giờ còn gặp lại các anh chị em tôi nữa, nhưng hy vọng tìm gặp họ cũng đã giúp tôi sống còn.
Khi tôi mười bốn tuổi, đứa con trai trong gia đình nuôi dưỡng hãm hiếp và đánh dập tôi dã man. Một ngày nọ, mệt mỏi vì phải chịu đựng tất cả những gì hắn đã làm cho tôi, tôi kể hết mọi chuyện cho cha mẹ hắn. Họ bảo tôi nói dối và còn đánh đập tôi tàn tệ đến nỗi cuối cùng tôi phải nằm nhà thương trong ba tháng. Các bác sĩ bảo rằng tôi không khá lên được vì tôi không muốn sống.
Cơn sốt tiếp tục làm cạn kiệt sức lực tôi, nhưng khi nhớ lại lời thề của chúng tôi, tôi bắt đầu bình phục dần dần cho đến khi có thể trở lại làm việc tại trại chăn nuôi. Một đêm nọ trước khi được mười bảy tuổi, tôi bỏ trốn, ẩn trong các cánh đồng lúa miến, đi bộ đến thị trấn gần nhất và đến nơi trước bình minh. Tôi chạy đến đồn cảnh sát và kể cho họ điều đã xảy đến cho tôi. Tưởng sẽ được bảo vệ nhưng họ bỏ tôi vào một phòng giam, tại đó hai cảnh sát đã đánh đập và cưỡng hiếp tôi.
Tôi thật sự muốn chết. Thậm chí tay cảnh sát trưởng thị trấn đêm đó cũng muốn cưỡng hiếp tôi, khi tôi phủ phục dưới chân và van nài ông đừng làm điều đó, tôi rên rỉ “Lạy ông, xin đừng làm khổ tôi”, ông ta cảm thấy tội nghiệp nên để tôi lại một mình. Ông cho tôi biết gia đình nuôi tôi là một gia đình rất có thế lực trong vùng và tôi phải quay về với họ. Tôi cho ông biết cha ruột tôi cũng là một người nổi tiếng và bảo ông tìm ông ấy; chắc chắn ông ta sẽ cho viên cảnh sát trưởng ấy một số tiền vì đã giải thoát tôi. Cuối cùng, viên cảnh sát trưởng đồng ý, ông khai báo cho gia đình chủ trại, đồng thời cho cha tôi chỗ ở của tôi.
Cùng ngày đó, tôi trở về với cha tôi. Ông không hề gặp các anh chị em tôi từ khi ông bỏ họ cách đây nhiều năm. Tôi thật vui mừng gặp được ông. Tôi tự nhủ, cuối cùng tôi cũng sẽ giết được ông. Tôi là một cô gái trẻ sử dụng dao rất thành thạo và tôi thấy đã đến lúc để thực hiện điều chúng tôi thề hứa với nhau nhiều năm trước.
Lúc nầy bố tôi đang khá giả. Ông tìm cách trò chuyện với tôi, muốn làm cho tôi cảm thấy dễ chịu, nhưng tôi không đáp ứng. Tôi thường cho ông xem con dao và nói: “Đừng đi ngủ vì một đêm nào đó tôi sẽ giết ông”.
Từ ngày nầy sang ngày khác, tôi không ngồi cùng bàn với cha tôi trong bữa trưa cũng như bữa tối. Tôi mang đĩa cơm của mình ra ngoài nhà và ngồi ăn dưới đất, bốc bằng tay, để chứng tỏ cho ông thấy điều ông đã làm cho tôi. Nhìn thấy điều đó, ông thường khóc và xin tôi tha thứ, nhưng tôi đầy lòng căm ghét đối với ông.
Ngày nọ tôi lấy một con dao và quyết định giết ông. Tôi muốn mặt đối mặt để chứng kiến nỗi đau đớn của ông. Tôi đã lao tới và đâm ông. Tôi nghĩ mình đã giết được ông ta, nhưng khi nhìn con dao tôi chẳng thấy chút máu gì cả. Vì thế tôi nói với ông: “Bố nầy, giờ bố chưa đến, nhưng không lâu đâu, tôi sẽ giết bố”.
Một buổi chiều nọ tôi đang ăn cơm ngoài hàng hiên, thì nghe một tiếng động lớn, như có cái gì đổ. Âm thanh ấy khiến tôi khiếp sợ, và tôi cảm nhận được mùi của sự chết. Cha tôi đã ngã chết. Tôi vui mừng phần nào, mặc dầu tôi đã ước ao giết ông bằng chính tay mình.
Cái chết của cha tôi dẫn đến những đau khổ mới, bởi vì giờ đây tôi không biết phải làm gì với cuộc đời của một đứa trẻ mồ côi như tôi. Một thanh niên quen biết cha tôi đến gặp tôi và cầu hôn tôi. Tôi nhận lời vì muốn có ai đó chăm sóc tôi. Nhưng những bất hạnh lại tiếp diễn. Chồng tôi đã lợi dụng tôi. Anh ta không muốn làm việc, anh ta đối xử với tôi như một đầy tớ.
Khi tôi mang thai, anh ta đem tôi đến Buenos Aires và bỏ tôi ở đó với một gia đình. Họ đối xử với tôi thật tồi tệ. Tôi cơ cực đến nỗi một buổi chiều nọ tôi quyết định lao mình vào gầm một chiếc xe lửa đang chạy, nhưng lạ lùng thay, chiếc xe lửa dừng ngay trước mặt tôi.
Trước khi con trai tôi ra đời, chồng tôi trở lại với tôi, nhưng sự đau khổ vẫn tiếp tuc. Một lần nữa, tôi bỏ trốn đến sống ở thành phố Rosario với hai con của tôi, một bé trai hai tuổi và một bé gái một tháng. Thật khó khăn khi phải sống và làm việc ở đó. Cuối cùng chồng tôi tìm được tôi và đến sống với chúng tôi.
Năm 1985 một người hàng xóm thuật cho tôi nghe về buổi truyền giảng của Annacondia. Tôi đã dâng đời mình cho Chúa Cứu Thế tại đó, nhưng cuộc đời tôi chẳng được thay đổi.
Vài năm sau đó tôi ngã bệnh, tôi bị xuất huyết nặng và không đỡ hơn chút nào. Năm 1991 tôi quyết định tìm đến một nhà thờ Tin Lành. Hạt giống được gieo trồng bởi Mục sư Annacondia cuối cùng đang nảy mầm.
Tôi đi nhà thờ với cả gia đình. Tôi bắt đầu nhóm lại đều đặn, nhưng vẫn không có sự tha thứ trong lòng, tôi chẳng nói gì về đời sống riêng của mình cả. Quá khứ của tôi được giấu kín trong đáy lòng. Mặc dầu tôi hầu việc Chúa ở Hội Thánh mình và cũng là một nhân sự có kỷ luật, song tôi chưa bao giờ tha thứ cho người nào xúc phạm tôi nặng nề.
Năm 1996 khi họ thông báo rằng Carlos Annacondia sắp tổ chức một chiến dịch truyền giảng tại thành phố của tôi, tôi chuẩn bị với tư cách một nhân viên trong ban tiếp tân. Vài đêm trước khi chiến dịch bắt đầu, tôi thưa với Chúa rằng tôi muốn làm một nhân sự tốt, tôi cầu nguyện: “Nếu có bất cứ điều gì trong con cần được Ngài thanh tẩy, xin hãy chỉ cho con thấy”. Tôi cũng xin Ngài cho tôi cơ hội tìm lại được các anh chị em mình. Tôi biết chị tôi đang ở Santa Fe, nhưng chưa bao giờ tìm được chị. Tôi luôn cầu nguyện cho chị.
Một buổi sáng nọ vào lúc mười giờ, trước khi chiến dịch bắt đầu, tôi nhận được thư của Juan, em út của tôi. Lập tức tôi liên lạc được với em qua điện thoại và chỉ ít ngày sau đó tôi lên thành phố để gặp em.
Tôi cảm tạ Chúa vô cùng vì đã giúp tôi tìm được em trai mình và nhiều lần tôi đã cầu nguyện xin Ngài tha thứ cho tôi tất cả những điều sai trái mà tôi đã làm.
Trong suốt chiến dịch đó, khi Mục sư Annacondia đang giảng về những rào cản ngăn trở ơn phước Chúa đến với chúng ta, lòng tôi đã có thể tha thứ cho người khác. Tôi thấy có điều gì đó giống như là các thiên sứ đang bay chung quanh tôi và bàn tay Chúa đang cất bỏ mọi oán ghét và thù hận ra khỏi đời sống tôi. Tôi khóc lớn tiếng từ những nơi sâu thẳm của linh hồn mình, xin Chúa tha thứ từng điều một mà tôi đã âm mưu nghịch cùng cha tôi và chồng tôi, đến nỗi cuối cùng tôi khan cả tiếng, không nói được. Từ đáy lòng, tôi đã có thể tha thứ cho họ, điều đó đã giúp tôi tìm được sự chữa lành cho trái tim tan nát. Mặc dầu biết Chúa nhiều năm nhưng tôi thực sự chưa bao giờ có thể tha thứ. Bức tường ngăn trở, sự không tha thứ đó, đã cản trở ơn phước Ngài đến trên đời sống tôi.
Đức Chúa Trời đã cất khỏi tôi sự oán ghét đối với những người đàn ông và Ngài đã cất đi sự đề kháng mà tôi có với chồng tôi. Ngài đã cất sự cay đắng khỏi lòng tôi, ban cho tôi sức mạnh mới, và trên tất ca, Ngài phục hồi cuộc hôn nhân của tôi.
Tôi xin dâng cho Chúa tất cả sự vinh hiển và tất cả sự tôn kính vì những thay đổi Ngài đã đem lại cho cuộc đời tôi và vì tôi tớ Ngài, công cụ được chọn của Ngài là Carlos Annacondia, Người đã đưa tôi đến chỗ hiểu biết lẽ thật.
CARMEN

Lời chứng của người phụ nữ nầy đã để lại một ảnh hưởng mạnh mẽ, không những trong đời sống cô ta, mà trong cuộc đời của nhiều người khác, là những người đã nghe câu chuyện về cuộc đời của cô, nhiều lời làm chứng khác đã được chia sẻ từ bục giảng. Sự kinh ngạc và thán phục của tôi trước sự đáng kinh sợ và quyền năng siêu việt của Chúa không bao giờ ngừng lại.
Buổi tối hôm đó, khi cảm tạ Chúa về tất cả những phép lạ đã xảy ra, tôi hiểu mục đích của Ngài qua cuộc đời tôi và ý muốn Ngài dành cho sự kêu gọi của tôi.
Tôi không hiểu vì sao từ khi còn là một cậu bé dầu lúc ấy tôi chưa tiếp nhận Chúa vào lòng, tôi luôn nhận biết rằng có một hữu thể mạnh hơn, là Đấng tôi không thấy được, đang gìn giữ tôi. Một đôi lần tôi nói với vài người bạn tôi về cảm giác ấy.
Giống như nhiều người Argentina khác, tôi xuất thân từ một gia đình nhập cư, mẹ tôi là người Tây Ban Nha, bố tôi là người Ý. Tôi được dưỡng dục theo văn hóa Ý. Ông nội tôi, một người Ý điển hình, thường dạy tôi rằng “Đàn ông mà khóc thì không phải là đàn ông. Nếu có đứa nào đánh con, đừng khóc mà chạy đến ông; con hãy đánh lại nó”. Điều đó và nhiều lời dạy dỗ khác đã hình thành lối sống tôi từ khi tôi còn là một cậu bé.
Bố tôi thuộc giai cấp thấp kém. Khi còn nhỏ, gia đình tôi sống trong một căn hộ chung cư, bố mẹ và ba anh em tôi, Angel, anh lớn nhất, Jose María, người con út, và tôi ở giữa. Bố tôi làm việc cho một công ty điện tử, còn mẹ chăm sóc chúng tôi.
Mọi sự đều thay đổi khi bố tôi bệnh nặng, chúng tôi phải đi làm. Lúc ấy tôi chỉ mới mười tuổi, nhưng mỗi buổi sáng tôi phải dậy sớm để làm việc trong một cửa hiệu bán thịt. Sau khi làm việc cả ngày tại đó và lau dọn xong, tôi trở về nhà, rồi ngay sau đó phải đi học lớp đêm. Nhiều buổi sáng, khi thức giấc, tôi nói với mẹ là tôi bị đau bụng, song thực ra chỉ vì tôi không muốn đi làm. Mẹ tôi thường chuẩn bị cho tôi một tách trà rồi đưa tôi đi làm. Đó là cách tôi học để có trách nhiệm và vì thế tôi đã bắt đầu lớn lên.
Sách Châm ngôn chép rằng: “Kẻ làm việc biếng nhác trở nên nghèo hèn, còn tay kẻ siêng năng làm cho được giàu có (ChCn 10:4). Mọi thứ tôi đảm nhận đều trở nên phát đạt. Ai cũng thích tôi. Ngay cả khi tôi phục vụ trong quân đội năm tôi hai mươi tuổi, tôi đã được phái đến làm việc ở nơi tốt nhất. Không ai hiểu nỗi tôi đã làm gì để được vị trí đó. Họ giao cho tôi các công việc tốt nhất và đề bạt tôi lên các vị trí cao hơn trong quân đội. Tôi luôn đi trước những bạn đồng lứa.
Năm hai mươi mốt tuổi, tôi gặp María, vợ tôi, lúc ấy chỉ mới mười lăm. Ông tôi thường bảo tôi hãy tìm một cô bạn gái trẻ để có thể dạy dỗ cô ấy cho tốt. Chúng tôi kết hôn khi tôi hai mươi lăm và María mười chín, sau đó anh tôi và tôi bắt đầu thành lập công ty mà tôi làm việc cho đến nay.
Thời gian trôi đi, tôi thấy có một khoảng trống lớn trong đời sống mình. Lòng tôi có nỗi sợ hãi, mục tiêu của cuộc đời tôi là phải có được sự bình an và hạnh phúc. Tôi nghĩ mình có thể đạt được hai điều đó nhờ thành công và được công nhận trong công việc. Vì vậy, tôi làm việc rất nhiều, tưởng rằng tích lũy của cải và làm ra tiền thì cuối cùng tôi sẽ hạnh phúc. Năm ba mươi lăm tuổi tôi đạt đến địa vị vững chắc về mặt tài chính như mong muốn. Cùng với hai anh em tôi, chúng tôi đã tạo lập được công ty quan trọng nhất trong đất nước mình. Tôi có thể mua bất cứ thứ gì mình muốn và cho María vợ tôi và bốn con tôi bất cứ điều gì chúng xin. Như vậy theo suy nghĩ của tôi cùng với nhiều người khác, tôi hẳn là một người hạnh phúc.
Song tôi vẫn cảm thấy nỗi trống vắng to lớn ấy, và tôi nhận ra rằng mình đã sai lầm khủng khiếp. Không một điều nào trong số những gì tôi nỗ lực đạt được có thể mang lại bình an hoặc hạnh phúc. Mỗi cuối tuần, nặng nề bởi những nan đề của tôi, María và tôi thường chuẩn bị cho các con đến một khu nghỉ mát mùa hè tại bãi biển Đại Tây Dương. Tìm kiếm chút bình an và yên tĩnh nào đó. Nhưng khi trở lại với công việc, tôi lại cảm thấy tồi tệ hơn trước. Tối đến tôi không ngủ được, có những nỗi sợ hãi mơ hồ, bất an và lo lắng. Tôi sợ chính cuộc sống, sợ sự chết, bệnh tật, sợ mất những gì tôi đang có, sợ điều gì đó khủng khiếp xảy đến với các con tôi. Thậm chí tôi mang một mặc cảm tội lỗi vì đã đưa chúng vào thế giới đầy dẫy chiến tranh, bạo lực và ma túy nầy. Vì vậy tôi quyết định trong lòng rằng sẽ không có thêm đứa con nào nữa.
Từng tháng đi qua, rồi lại từng năm, tôi cảm thấy ngày càng tồi tệ hơn. Tôi có đủ mọi lý do để hạnh phúc, thế mà tôi vẫn không vui thỏa. Tôi tự hỏi không biết có thể tìm được bình an và vui thỏa ở đâu; tôi bắt đầu cho rằng hai điều ấy chỉ là sự tưởng tượng của tâm trí mà thôi.
Lúc đó, tôi là thành viên của một nhóm doanh nghiệp có uy tín. Trong mỗi buổi họp, tôi không chỉ được giới thiệu là Carlos mà là ông chủ của công ty nầy công ty nọ. Họ chẳng quan tâm đến con người thực của tôi. Họ chỉ quan tâm đến những gì tôi làm chủ. Tôi bắt đầu chú ý đến sự thiếu thành thật trong loại quan hệ ấy, và tôi xa rời những kẻ tự xưng họ là bạn bè của tôi.
Cho đến lúc ấy tôi cũng không hề băn khoăn về Đức Chúa Trời, mặc dầu tôi đã chịu phép rửa và làm lễ thành hôn trong một nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Tôi tin nơi một Đức Chúa Trời xa cách, vô tình đối với những kẻ chỉ có thể thưa chuyện với Ngài qua một người trung gian. Tôi đã không biết Chúa là Đấng quan tâm đến tôi và muốn có một mối tương giao cá nhân với tôi. Tôi cũng không biết mình có thể làm bạn của Ngài, hiểu biết Ngài và có mối tương quan mật thiết với Ngài.
Vào một ngày nọ trong năm 1979 tôi đã được nghe Tin Lành. Tôi đã nghe Chúa phán rằng: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng , hãy đến cùng ta , ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ ” (Mat Mt 11:28). Tôi được mời đến một buổi nhóm nơi Mục sư Manuel Ruiz, vị sứ giả người Panama ở tại Bôlivia vào lúc ấy đang giảng. Trong buổi nhóm tôi nhận ra rằng nhà truyền đạo đang nói trực tiếp với tôi, với lòng tôi. Ông nói “Bạn đang bị đè nặng bởi những nỗi sợ hãi, những sự bất an và thất bại. Mọi điều đó hiện đang ở trước mặt Đức Chúa Trời. Hãy dâng lòng mình cho Ngài, Ngài sẽ chăm sóc không những gia đình bạn mà cả đến những nan đề của bạn”.
Khi nghe những lời ấy, tôi đã bật khóc như chưa từng được khóc từ nhiều năm nay. Khi nghe được tiếng Chúa qua một trong các đầy tớ Ngài, tôi nhận ra rằng Chúa yêu tôi, Ngài vẫn nhớ đến tôi. Khi vị truyền đạo hỏi có bao nhiêu người cần Chúa, tôi đã đưa tay lên vì tôi thật sự cần Ngài bằng cả tấm lòng. Tôi hỏi vợ tôi, lúc ấy đang ngồi ngay bên cạnh tôi, rằng nàng có muốn tiếp nhận Chúa Jesus không? Nàng trả lời “Em đã chờ đợi giờ phút nầy từ lâu rồi”.
Khi tôi đưa tay lên, tôi có cảm tưởng như nó nặng đến hàng tấn. Mọi thứ suy nghĩ tràn đến tâm trí tôi. Bạn bè, gia đình tôi và những nhà doanh nghiệp trong câu lạc bộ sẽ nói gì? Các giám đốc nhà băng làm việc với tôi sẽ nghĩ gì? Còn những tay quản trị thương mại và các nhà doanh nghiệp khác thì sao? Liệu họ có chế giễu và cười nhạo tôi vì đã quyết định mời Chúa ngự vào lòng mình không? Nhưng trước mặt tôi là một Đấng lớn hơn tất cả những người ấy hợp lại.
Vào đêm 19 tháng 5 năm 1979 chính xác là vào 10h30, María và tôi đã mời Chúa Jesus ngự vào lòng mình. Tôi không bao giờ quên điều xảy ra khi rời buổi nhóm đó. Lúc chúng tôi bước ra, mọi sự dường như đã đổi khác. Tôi đã không thể mua được sự bình an hay sự vui thỏa bằng tiền bạc hay thành công. Nhưng Chúa Cứu Thế đã ban tất cả cho tôi như một món quà chỉ vì Ngài yêu tôi. Chưa bao giờ có điều gì trong đời có thể mang lại một sự thay đổi kỳ diệu như điều đã xảy ra khi tôi đưa tay lên tiếp nhận Ngài. Mỗi ngày qua đi tôi lại càng thấy vui thỏa hơn. Tôi ngưng hút thuốc và uống rượu. Tôi bỏ lại mọi nghi ngờ và sợ hãi đàng sau. Tôi vốn là người ghiền Tivi, nhưng kể từ ngày gặp Chúa không hiểu sao tôi quên xem Tivi. Mọi sự đã thay đổi.
Sau khi tin nhận Chúa, tôi đã có thêm năm đứa con nữa. Đến nay, gia đình tôi gồm vợ tôi, chín đứa con và ba đứa cháu. Các con tôi là Carlos Alberto, Angel, María Eugenia, José María, Rebeca, Moises, Elias, Rut, và Natanael. Ngày nay chúng tôi thật sự vui mừng.
Bởi vì María và tôi trở thành những Cơ Đốc Nhân trong cuộc truyền giảng, nên chúng tôi không có hội thánh địa phương để tham gia. Đó là lý do khiến chúng tôi quyết định, cùng với những gia đình khác đã dâng đời sống mình cho Chúa trong cùng kỳ truyền giảng đó, bắt đầu nhóm lại với nhau.
Cùng với chúng tôi có một số công nhân trong công ty của chúng tôi: có vị trưởng phòng kinh doanh là người chịu trách nhiệm về một trong các gian hàng của chúng tôi, và một vài người khác. Chúng tôi tìm một Mục sư để dẫn dắt chúng tôi. Không ai trong chúng tôi biết cách giảng dạy, nhưng Chúa đã đặt để một Mục sư giữa vòng chúng tôi. Suốt trong thời gian ban đầu đó, Mục sư Gomelsky đã giúp chúng tôi tăng trưởng. Cùng với ông chúng tôi đã nung nấu khải tượng về việc chinh phục những linh hồn cho Chúa Cứu Thế. Chúng tôi nhiệt thành đến nỗi mặc dù hiểu rất ít về Chúa, chúng tôi đã giảng Tin Lành cho mọi người, chia sẻ chính kinh nghiệm của mình. Đức tin chúng tôi thật giản dị và không theo cấu trúc nào cả, thế mà người ta vẫn được cứu và được chữa lành. Sứ điệp quan trọng nhất của chúng tôi là Tin Lành của Chúa Cứu Thế Jesus và tình yêu Ngài dành cho chúng ta. Chúng tôi cầu nguyện cho người đau, tin rằng họ sẽ được lành, và họ đã được lành. Chúng tôi rao giảng sự cứu rỗi, không hề nghi ngờ người đứng trước chúng tôi sẽ tiếp nhận Chúa.
Khi thành lập Hội Thánh của mình vào năm 1979, tất cả chúng tôi đều là những người mới tin Chúa. Chúng tôi bắt đầu với bốn cặp vợ chồng cùng con cái của họ. Chúng tôi là các cộng tác viên, là các chấp sự, và các trưởng lão của Hội Thánh. Nhưng Đức Chúa Trời đã làm đầy nơi nầy rất nhanh.
Một tuần sau khi tin Chúa, tôi nhận được lời hứa Báptem bằng Thánh Linh cùng với dấu hiệu nói tiếng mới. Đức Chúa Trời đã cho tôi một khải tượng: Tôi thấy một khán đài đầy người và chính mình đang giảng bằng một thứ tiếng mà tôi không hiểu. Từ giờ phút đó trở đi tôi cảm biết một gánh nặng đối với những người chưa biết Chúa Cứu Thế. Tôi giảng về Chúa cho bất cứ người nào tôi gặp.
Mặc dầu vẫn đi làm nhưng điều quan trọng nhất trong cuộc đời tôi là hầu việc Chúa chứ không phải kiếm tiền. Các thành viên trong gia đình tôi là những người chưa biết Chúa và không thể chấp nhận rằng cuộc đời tôi đã tận hiến cho Ngài. Họ cố gắng thuyết phục tôi nhìn ra “sai lầm” của tôi, trích dẫn những lời khuyên khôn ngoan và quan trọng nhất của các người bạn tôi. Những cuộc đối thoại nầy luôn kết thúc bằng việc tôi làm chứng và họ dâng đời sống mình cho Chúa.
Suốt những ngày đầu bước đi theo Chúa, một điều thật kinh ngạc đã xảy ra cho tôi. Trong giờ tôi cầu nguyện, Chúa luôn tỏ cho tôi những khu phố lụp xụp. Tối đến khi nhắm mắt lại, tôi có thể thấy những khu vực nghèo nàn bị xã hội xa lánh: trẻ con đi chân đất, nhà cửa làm bằng thùng cáctông và mái tôn. Thoạt đầu tôi không hiểu Chúa muốn nói gì, tôi nghĩ mình phải rời bỏ hoặc cho đi các tài sản của mình, kể cả cổ phần của tôi trong công ty; đơn giản là cho những người nghèo tất cả mọi thứ. Tôi cảm thấy gánh nặng của Chúa và dành nhiều ngày cầu nguyện khóc lóc, tôi không thấy bình an chút nào, khi tôi cầu nguyện với María về điều đó, Đức Thánh Linh cảm động nàng và nàng nói “Em hiểu anh”. Nhưng tôi không thể tìm được chút yên ủi.
Một buổi chiều nọ tôi nói với María “Anh muốn bỏ lại mọi sự đàng sau và dọn đến Chaco để giảng đạo trong rừng. Em có muốn đi với anh không?”
Câu trả lời của nàng là “Em sẽ đi bất cứ nơi nào anh đi”.
Trong buổi chiều hôm đó tôi rời khỏi nhà và quyết định cho đi mọi thứ. Điều đầu tiên tôi làm là cho bố tôi chiếc xe hơi mới toanh, vì ông đang cần một chiếc.
Sau đó tôi đến nói chuyện với Mục sư của tôi là ông Gomelski. Sau khi đưa ra một số ý kiến về điều tôi nói với ông, ông nói “Anh đã làm việc rất chăm chỉ để có được những gì anh có; anh không ăn cắp. Vì vậy chỉ hãy sử dụng tài sản của anh cho Chúa khi nào Ngài phán bảo”.
Lúc ấy tôi có cảm giác giống như Ápraham khi ông đưa dao lên, sẵn sàng giết con mình. Khi Đức Chúa Trời nhìn thấy tôi tớ Ngài không do dự mà sẵn sàng thi hành mạng lệnh của Ngài, thậm chí phó giao chính con trai mình, Chúa đã giữ tay Ápraham lại. Đức Chúa Trời biết của báu của tôi không bao gồm những tài sản vật chất mà còn có cả tình yêu tôi dành cho Ngài và cho những con người hư mất. Ngày nay tôi nhận ra rằng từ bỏ mọi sự sẽ là một sai lầm, bởi vì đối với nhiều người, kể cả gia đình tôi, điều đó có thể là sự tai tiếng nhục nhã chứ không phải là một phước hạnh.
"Ta Ban Cho Điều Con Cầu Xin"
Một ngày nọ, sau khi tin Chúa được hai năm rưỡi, Mục sư của tôi trao cho tôi giấy mời giảng cho một Hội Thánh rất khiêm nhường ở thành phố La Plata trong tỉnh Buenos Aires. Cầm thư mời trong tay, tôi cảm nhận trong lòng điều gì đó rất đặc biệt từ nơi Chúa và vì vậy tôi đã nhận lời.
Hội Thánh ấy nghèo đến nỗi không có sàn nhà mà chỉ là những mảnh thảm cũ nằm trên đất. Hội chúng gồm hai mươi lăm người. Tối hôm ấy sau khi giảng, Đức Thánh Linh đã ngự đến bằng quyền năng mạnh mẽ đến nỗi mọi người trong nhà thờ đều nhận được Báptem bằng Thánh Linh. Lúc kết thúc giờ nhóm, vợ của vị Mục sư đến gặp tôi, bà nói “Đức Chúa Trời đã phán cùng tôi rằng người rao giảng buổi tối hôm nay sẽ trở thành người đem cơn phục hưng đến cho thành phố La Plata. Dấu hiệu sẽ là việc đổ đầy Thánh Linh trên mọi người bằng quyền năng của Đức Chúa Trời”.
Không có nhiều người trong buổi nhóm ấy nhưng có hai anh em từ một Hội Thánh thuộc thành phố Berisso, một nơi gần La Plata cũng có mặt. Họ mời tôi sắp xếp một cuộc truyền giảng tại Hội Thánh của họ. Đó là cách tôi đã khởi sự rao giảng. Sau chiến dịch truyền giảng đầu tiên ấy, vì cớ số lượng lớn các chiến dịch truyền giáo đang được tổ chức, chúng tôi cùng nhau sắp đặt một tổ làm việc mà chúng tôi gọi là Mensaje de Salvacíon (Sứ Điệp Cứu Rỗi).
Vào ngày 12/4/1982, Đức Chúa Trời phán với tôi bằng tiếng phán có thể nghe được. Ngài bảo “Hãy đọc sự hiện thấy về trũng xương khô trong Êxêchiên đoạn 37. Từ nay trở đi ta sẽ ban cho ngươi điều ngươi cầu xin”.
Lời cầu nguyện của tôi là “Argentina thuộc về Đấng Christ”. Tôi muốn Ngài bày tỏ các phép lạ siêu nhiên cho đất nước tôi để đồng bào tôi sẽ biết đến Ngài. Tôi không ra đời nơi sa mạc hay rừng rú, mà ở một nơi có hàng triệu người sống, song chẳng hề có một ai từng nói về Chúa cho tôi. Tôi đã không được nghe nói về Ngài cho đến khi có người nói với tôi về những phép lạ siêu nhiên đã xảy ra trong chiến dịch truyền giảng nơi tôi đã tin nhận Chúa. Chính những phép lạ ấy đã thu hút tôi tìm gặp được Chúa. Bấy giờ tôi hiểu rằng nếu không có những phép lạ về Đức Chúa Trời ở Argentina, thì người ta sẽ chẳng tin. Trong các sách Tin Lành các dấu lạ siêu nhiên không phải cho những kẻ tin mà là cho những kẻ chưa tin . Trong đất nước tôi “thấy thì tin” là một điều tất yếu.
Khi đọc Êxêchiên đoạn 37 tôi hiểu rằng chính hơi thở của Đức Thánh Linh đã mang lại các phép lạ.
Ngài bèn phán cùng ta rằng “Hãy nói tiên tri về hài cốt ấy, và bảo chúng nó rằng: Hỡi hài cốt khô, khá nghe lời Đức Giêhôva. Bấy giờ Ngài phán cùng ta rằng “Hỡi con người hãy nói tiên tri cùng gió. Hãy nói tiên tri và bảo gió rằng: Chúa Giêhôva phán như vầy: “Hỡi hơi thở, khá đến từ gió bốn phương, thở trên những người bị giết, hầu cho nó sống”. Vậy ta nói tiên tri như Ngài đã phán dặn ta và hơi thở vào trong chúng nó, chúng nó sống và đứng dậy trên chơn mình, hiệp lại thành một đội quân rất lớn. (Êxêchiên 37: 4,9-10)
Người dân đã bắt đầu nghe về Mensaje de Salvacíon (Sứ điệp cứu rỗi) bởi vì tất cả những phép lạ đã xảy ra trong các buổi nhóm của chúng tôi. Người ta chạy lên tòa giảng để tiếp nhận Chúa. Ngày nay tôi có thể bảo đảm với bạn rằng không phải mọi sự tôi đã trải qua trong việc đáp lại sự kêu gọi của mình là dễ dàng đâu. Có những điều xảy ra trong đời sống mà tôi không thể hiểu được.
Khi tôi được Báptem bằng Thánh Linh thì điều nầy đã xảy ra. Các anh em có mặt trong buổi tối hôm đó đã nhìn thấy vài điều đặc biệt từ Chúa trên tôi. Sau đó trong một buổi nhóm, vị Mục sư hỏi tôi có thể giúp ông cầu nguyện cho người bệnh không. Khi tôi khởi sự cầu nguyện, người ta bắt đầu ngã xuống từng người một. Việc nầy không phải là điều lạ đối với tôi. Tôi đã nhìn thấy người ta ngã trong chiến dịch truyền giảng của giáo sĩ người Panama nhưng tôi thật ngạc nhiên khi nhận thấy điều đó thực sự xảy ra cho tôi. Sau một hồi, tôi ngưng cầu nguyện cho những người khác cho đến khi Chúa phán trực tiếp với tôi rằng Ngài muốn sử dụng tôi.
Một ngày nọ tôi đi tìm mua một chiếc xe hơi. Khi người chủ xe mở cửa trước của xe và chỉ cho tôi xem xe, thình lình có điều gì đó xảy ra. Trong nhà ông ta, vợ và con gái ông bắt đầu biểu lộ những hành động của ma quỉ, bà vợ khởi sự đập vỡ đồ đạc chung quanh nhà. Ông chồng chạy vào và cuối cùng đã ngăn được bà. Tà linh đã hành hạ người phụ nữ nầy trong một thời gian. Người chồng cho biết họ đã từng tin Chúa và đã bỏ Chúa cũng như phạm nhiều lỗi lầm.
Sau sự việc đó, tôi nhận biết chẳng có điều gì phụ thuộc vào tôi cả. Tà linh trong người đàn bà ấy đã biểu lộ ra, và tôi thậm chí còn không biết bà ta đang ở trong nhà. Điều xảy ra đó nằm ngoài tầm kiểm soát của tôi. Nhưng sau đó Chúa đã cho tôi điều gì đó đặc biệt đến nỗi dầu tôi ở đâu, Đấng ngự trong lòng tôi cũng vẫn tự bày tỏ chính Ngài và khiến ma quỉ trốn chạy. Và rồi tôi nhận ra rằng tôi không phải là người điều khiển tình huống mà chính là Chúa. Vì vậy tôi đầu phục chính mình hoàn toàn cho Ngài.

Chương 2: SỰ XỨC DẦU TRONG CHỨC VỤ

Công việc Chúa đang có được những thời điểm kết quả, không những ở tại Argentina mà còn ở nhiều vùng tại Mỹ nữa. Người ta khao khát Chúa; họ cần tìm đúng đường. Tôi tin rằng chúng ta cần phải được chuẩn bị đầy đủ, và vì lý do trên, chúng ta cần sự xức dầu của Chúa để hỗ trợ cho các chức vụ của chúng ta. Công việc nào không có dấu ấn bởi sự xức dầu của Chúa thì dầu sống cũng như chết.
Ngay cả những người không có Chúa Cứu Thế trong đời sống họ vẫn có thể nhận ra sự xức dầu nầy. Khi chúng ta sống mỗi ngày, khi đi làm hoặc thực hiện các hoạt động khác nhau, những người chung quanh chúng ta phải thấy điều gì đó khác biệt trong chúng ta. Dầu họ không diễn tả điều đó bằng những từ ngữ chúng ta dùng, nhưng “điều gì đó” được gọi là sự xức dầu . Nếu thế gian không nhìn thấy sự xức dầu trong chúng ta, họ sẽ không tin Đức Chúa Trời đã sai phái chúng ta. Sự huấn luyện tốt nhất của chúng ta đến từ Đức Thánh Linh. Ý muốn của Đức Chúa Trời trên đất nầy sẽ không thể thực hiện được nếu không có sự hành động của Ngài qua đời sống chúng ta. Đó là lý do tại sao cần phải được đầu tư, được đổ đầy và được tươi mới liên tục bởi quyền năng và ân điển của Thánh Linh.
Đó là trường hợp của một phụ nữ trẻ tuổi hết lòng tìm kiếm Chúa. Bàn tay thương xót của Ngài đã hướng dẫn cô đến gặp một người thật sự không hề biết cô và đã chỉ cho cô con đường cứu rỗi. Cô thuật lại lời chứng đẹp đẽ như thế nầy.
"Đừng Lấy Đi Điều ông Đã Cho Tôi"
Tôi gặp rất nhiều nan đề trong đời, và tôi quyết định sẽ tự tử. Vì thế, lúc nào tôi cũng mang theo một lá thư trong túi để giải thích quyết định đó. Tôi không hề biết gì về chiến dịch truyền giảng đang bắt đầu tại thành phố Mar del Plata. Tôi cũng không biết nhà truyền giáo Carlos Annacondia. Tôi chưa bao giờ nghe đến tên ông ta.
Lúc ấy tôi là người quản lý nhân viên trong một khách sạn quan trọng của thành phố. Nhưng tôi đau yếu và buồn chán nhiều năm, mặc dầu tôi có một gia đình rất tốt. Tôi không thiếu điều gì cả, nhưng có điều gì đó trục trặc trong tôi.
Một buổi nọ tại nơi làm việc, tôi đang đợi các nhân viên thay ca, thình lình tôi quyết định kết liễu cuộc đời mình. Đó chính là ngày tôi chọn để tự tử. Vì nơi tôi làm việc nằm ngay trước bãi biển nên tôi nghĩ mình cứ bước thẳng xuống nước và đừng ngoái lại phía sau, cứ như thế tôi sẽ kết thúc mọi nỗi đau khổ của mình.
Lối vào khách sạn rất đẹp. Có gương lớn và những cánh cửa bằng đồng. Từ đó người ta có thể nghe thấy tiếng động đặc trưng của hành lang. Mặc dầu rất quen với những âm thanh đó, song buổi chiều hôm ấy tôi thật ngạc nhiên trước những tiếng động của các cánh cửa mở và đóng vọng vào. Thình lình tôi cảm thấy có một bàn tay rất khỏe nắm lấy gáy tôi và nhấc tôi lên. Tôi bắt đầu bước về phía một người vừa bước vào qua các cửa lớn đó. Khi tôi tiến gần đến ông ta, tôi nắm lấy áo ông và nói “Ông ơi, ông ơi, có ai có thể nói cho tôi biết về Chúa không? Tôi cần có ai đó nói cho tôi về Ngài”
Người đàn ông ấy với cặp mắt rất trong sáng và nụ cười thật hiền từ đã nói với tôi rằng “Được, tôi có thể nói về Chúa cho cô. Tôi có thể nói cho cô biết Chúa Cứu Thế là Đấng yêu thương cô và giải cứu được cô. Ngài là Jesus người Naxarét”
Tôi không bao giờ quên những lời ấy. Trong chính giây phút đó, tôi bắt đầu xin Chúa tha thứ cho tôi. Tôi xưng ra mọi tội lỗi mình đã phạm, thậm chí những tội lỗi trong thời thơ ấu. Khi tôi cầu xin sự tha thứ của Ngài, một luồng sáng xuyên qua người tôi, và tôi bắt đầu cảm tạ Ngài, rồi tôi nhìn vào người đàn ông đứng trước mặt và hỏi “Ông là ai, hãy nói cho tôi biết đi!”
Ông ta trả lời “Tôi là một tôi tớ của Đức Chúa Trời. Tôi là Carlos Annacondia”
Tôi nói “Tôi không biết ông, nhưng xin ông đừng lấy đi những gì ông mới vừa cho tôi”
Mười lăm phút sau chồng tôi đến đón tôi, anh ta không thể nhận ra tôi nữa. Từ ngày đó trở đi, cuộc đời tôi đã thay đổi. Tôi không bao giờ như trước nữa. Tối đó, tôi đến buổi truyền giảng của Annacondia và tại đó tôi đã dâng đời mình cho Chúa ngay trước một đám đông rất lớn. Ngày nay, có thể nói rằng tôi là người đầu tiên dâng cuộc đời mình cho Chúa qua nhà truyền giáo trong chiến dịch truyền giảng đầu tiên và không thể quên được của Carlos tại Mar del Plata.
Ba ngày sau khi tin nhận Chúa, Ngài phán với tôi bằng một tiếng phán có thể nghe được và bảo tôi sắp có một đứa con gái nữa. Đó là điều không dễ hiểu hoặc thậm chí không thể chấp nhận được, bởi vì tôi đã giải phẩu và cuộc giải phẩu ấy đã lấy đi một phần thuộc cơ quan sinh sản của tôi. Các bác sĩ cho tôi biết tôi không thể có con được nữa. Tôi đã ba mươi bảy tuổi và có ba con gái. Nhưng ngày hôm nay đứa con gái thứ tư của tôi đã mười một tuổi và là kết quả của việc tin nhận Chúa.
Không lâu sau buổi truyền giảng ấy, Chúa đã kêu gọi tôi hầu việc Ngài. Hiện nay tôi đang hầu việc Ngài, chồng tôi và tôi là Mục sư tại một Hội Thánh nhánh của Hội Thánh chúng tôi. Đức Chúa Trời là nguồn cảm thúc và là sức mạnh của chúng tôi.
MARÍA
Nếu không có sự xức dầu của Đức Chúa Trời, không chức vụ nào trên đất có thể thành công. Nếu có điều gì mà tất cả chúng ta đều cần phải có, thì đó chính là điều Chúa Jesus đã phán bảo các môn đồ Ngài “Hãy cứ ở trong thành cho đến khi các ngươi được mặc lấy quyền phép từ nơi cao” (LuLc 24:49). Các môn đồ trước hết phải được đổ đầy quyền năng của Đức Chúa Trời để làm chứng cho Ngài tại thành Giêrusalem, xứ Samari và sau cùng là cho đến các đầu cùng đất. Khi chúng ta được ban cho quyền năng, chúng ta sẽ có năng lực để trở thành những chứng nhân và đó là cách mà chức vụ của chúng ta bắt đầu. Đó là chỗ chúng ta sẽ thấy các dấu lạ dẫn lối cho chúng ta.
Ngày nọ, có một anh em đến Hội Thánh chúng tôi mời một người đến rao giảng và điều động một chiến dịch truyền giảng ba ngày tại một trong các khu phố nghèo nàn. Có nhiều người giảng tốt trong Hội Thánh chúng tôi; bất cứ ai trong số họ cũng có thể làm được công việc đó. Dầu vậy, người anh em ấy cứ nhất định tôi phải là người rao giảng Lời Chúa bởi vì trong một khải tượng, vợ anh thấy tôi đang giảng.
Tôi đã thưa cùng Chúa rằng tôi sẽ không bao giờ tự ý giảng trong một cuộc truyền giảng nào mà Chính Ngài phải luôn là người sai phái ai đó đến mời tôi. Nhờ thế tôi có thể nhận biết khi nào là lúc Chúa tể trị điều đó. Và đó là cách vẫn được dùng cho đến ngày nay.
Đến lúc đó Chúa đã phán với tôi rồi, Ngài phán nếu tôi muốn Ngài dùng tôi, thì tôi chỉ tin mà thôi. Ở tại chiến dịch truyền giảng thuộc khu ổ chuột, Ngài đã tỏ cho tôi biết ý nghĩa thực sự của Mac Mc 16:17. Ngài cho tôi biết bí quyết đối với các phép lạ siêu nhiên là phải tin.
Cuộc truyền giảng mà tôi được mời đến nằm giữa một trong số các khu phố tồi tàn nguy hiểm nhất trong vùng. Trong đêm đầu tiên, nhiều thành viên bị quỉ ám trong băng nhóm đã ngã nằm dài trên mặt đất, lăn lộn và sùi bọt mép. Tất cả họ đều được giải cứu khỏi ách nô lệ của ma quỉ. Ngày hôm sau, họ là những người đầu tiên có mặt để đợi buổi nhóm bắt đầu.
Đêm truyền giảng thứ hai, một số thành viên trong các băng nhóm đã cắt điện. Nhưng điều đó không ngăn được chúng tôi. Các anh em và tôi bắt đầu thờ phượng Chúa bằng cả tấm lòng của mình, Đức Thánh Linh đã ngự xuống đến nỗi những người đứng bên phải tôi đều ngã xuống đất. Một nửa trong số họ bắt đầu lăn tròn. Tôi có thể thấy người ta từ ngoài đường tiến vào, họ la hét, một số khác thì kêu khóc, một số bò lết, một số người đập đầu vào bục giảng, kêu gào. Trong lúc đó, tất cả chúng tôi tiếp tục thờ phượng Chúa cho đến khi điện được sửa xong. Đêm hôm đó tôi đã thấy công việc của Đức Thánh Linh cáo trách tội lỗi con người, chữa lành và giải cứu nhiều người.
Đêm thứ ba của chiến dịch, các tà linh tiếp tục ra khỏi nhiều người. Một số người đưa những người hàng xóm có các biểu hiện của ma quỉ trong nhà của họ đến. Trong đêm đó, buổi nhóm kết thúc với rất nhiều dấu kỳ và phép lạ. Đây mới chỉ là chiến dịch truyền giảng đầu tiên của tôi. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời đã ở đó, bày tỏ các phép lạ để làm cho vững Lời Ngài.
Tương tự như điều đã xảy ra cho người phụ nữ tại Mar del Plata, thế giới nầy đang chờ đợi ai đó giảng về Chúa cho họ, đem đến cho họ sự cứu rỗi, sự chữa lành và sự giải cứu, Kinh Thánh cho chúng ta biết:
Kẻ nào tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. Trong người Giuđa và người Gờréc không có sự phân biệt gì hết, vì họ có chung một Chúa, giàu ơn đối với mọi kẻ kêu xin Ngài, vì “Ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu”. Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao? Lại nếu chẳng ai được sai đi thì rao giảng thể nào? Như có chép rằng: “ Bàn chơn kẻ rao truyềnTin Lành là tốt đẹp biết bao!” RoRm 10:11-15
Bạn thân mến của tôi, bạn hoặc chức vụ của bạn có thường nghe đến sự thách thức của mạng lệnh nầy không? Nếu có, xin đừng bao giờ quên bảy bước dành cho sự xức dầu của chức vụ bạn.
Bảy Bước Cho Sự Xức Dầu
Có bảy yêu cầu để được thành công trong chức vụ hầu việc Chúa. Đây là những yếu tố cơ bản để có một chức vụ được xức dầu và thành công. Không có bảy bước đó, sự hầu việc của chúng ta sẽ không có ý nghĩa và không kết quả. Bảy bước đó là:
Sự Dâng Mình
Điều nầy có nghĩa là hoàn toàn đầu phục Chúa. Không ai trong chúng ta có thể phát triển một chức vụ thành công, kết quả nếu không phó dâng trọn vẹn đời sống mình cho Ngài.
Trong công ty của tôi, khi cần thuê người đến làm việc. Chúng tôi đưa quảng cáo lên báo. Rất nhiều người đáp ứng. Họ phải trải qua nhiều thử nghiệm tùy theo vị trí đã có sẵn. Chúng tôi sẽ chọn người mà chúng tôi tin là đã được trang bị tốt nhất cho công việc đó. Tuy nhiên, chúng tôi không làm việc đó nếu trước hết chưa lượng giá những điều kiện nhất định, ví dụ như năng lực để thực hiện công việc cũng như kinh nghiệm của họ.
Nhìn chung, khi cần một Mục sư, một tôi tớ Chúa, một cộng sự hoặc một người phụ tá, Hội Thánh tìm kiếm một nhà thần học là người thực sự am tường Thánh Kinh, người khôn ngoan có các kỹ năng và kinh nghiệm. Nhưng Đức Chúa Trời tìm kiếm một tôi tớ như thế nào? Yêu cầu duy nhất của Ngài là một đời sống hoàn toàn đầu phục Ngài. Ngài không tìm kiếm một nhà thần học, hay một người khôn ngoan hoặc người võ đoán. Đức Chúa Trời không chỉ tìm kiếm người khôn ngoan có năng lực mà còn là người thánh sạch biết đầu phục Chúa hoàn toàn. Điều nầy không dễ dàng có được, mà là sự chiến đấu đòi hỏi sự bền đỗ, đầu phục hoàn toàn của chúng ta, và còn có nhiều đòi buộc khác rất khó thực hiện đối với chúng ta.
Tôi nhớ khi Chúa kêu gọi tôi vào chức vụ. Năm đầu tiên tôi vật lộn với Chúa chỉ vì tôi mới đầu phục 90% cuộc đời mình cho Ngài. Tôi được Báptem bằng Thánh Linh, đã đến các bệnh viện để cầu nguyện cho những người đau (và họ đã được lành), đã rao giảng, và người ta tin Chúa. Mặc dầu mọi điều đó, vẫn còn một phần trong tôi chưa giao nộp hoàn toàn cho Chúa.
Tôi nhớ nhiều người đã nói tiên tri về chức vụ Chúa giao cho tôi. Họ nói với tôi rằng Ngài sẽ sai phái tôi đến các quốc gia khác, rằng tôi sẽ trở thành nhà truyền giáo quốc tế, rằng cả nước Mỹ đều sẽ nghe tiếng tôi, và nhiều điều khác nữa. Song tôi không cảm thấy đời sống mình được hoàn toàn tự do để phát huy chức vụ ấy.
Ngày nọ Chúa cho tôi thấy một khu phố tồi tàn trong một giấc mơ. Tôi tự hỏi: Có phải điều đó có nghĩa là Chúa muốn mình đến giảng ở đó không ? Phản ứng tức thời của tôi là “không, con sẽ không đến đó”. Một lần nữa, Chúa lại cho tôi thấy một khu phố nghèo nàn trong một giấc mơ. Và tôi lại trả lời “Con không đến đó. Làm sao con có thể đến các khu phố nghèo nàn được.” Đó là sự tranh chiến của tôi. Tôi nghĩ mình sẽ rao giảng cho những người giàu có và nổi tiếng, nhưng Chúa lại muốn tôi giảng Tin Lành cho người nghèo.
Tôi cảm thấy hơi buồn bực khi biết điều Chúa đang tỏ cho tôi và cách tôi đáp ứng. Ngày nọ tôi nói với Maria, vợ tôi rằng. “Nếu anh quyết định bỏ hết mọi sự để đi đến miền Bắc Argentina giảng Tin Lành chỉ với những gì chúng ta mang trên lưng mà thôi, thì em có đi với anh không?”
Nàng trả lời “Nếu đó là điều anh cảm biết Chúa bảo anh làm, em sẽ đi cùng anh bất cứ nơi nào”.
Tôi thực sự nghĩ đó là điều Chúa muốn, cho đến cuối cùng tôi hiểu rằng ý muốn của Ngài dành cho tôi là rao giảng Chúa Cứu Thế ở những nơi đó, cho những con người đó. Tôi sớm nhận ra rằng tôi không còn quan tâm đến các tài sản vật chất của mình nữa. Tôi đã mất đi lòng yêu thích mà tôi đã từng dành cho công ty của mình, là điều mà cho đến giờ phút ấy là cuộc sống của tôi. Khi tôi cất đi cái tôi và thay đổi các ưu tiên trong tấm lòng mình. Ngài đã sai tôi giảng Tin Lành cho người nghèo.
Chúng tôi đã giảng Tin Lành ở những khu vực xa xôi nhất của thành phố, dưới trời mưa, giữa đám bùn lầy. Đó là cách chức vụ của tôi đã bắt đầu. Tại đó, tôi tổ chức các chiến dịch truyền giảng giữa vòng những tên trộm cướp, những người đồi trụy, giữa vòng mọi loại tội lỗi. Maria và tôi có những đôi ủng đi mưa trong xe dành cho những ngày mưa khi mà chúng tôi phải đi trong những con phố ngập bùn. Nhưng chúng tôi đã giảng Tin Lành với niềm vui sướng!
Đức Chúa Trời cần sự đầu phục hoàn toàn của tôi. Đó là bước thứ nhất. Nếu không có sự vâng phục hoàn toàn, Ngài không thể dùng chúng tôi. Không phải chỉ có sự biến cải hoặc Báptem bằng Thánh Linh. Đức Chúa Trời muốn một đời sống hoàn toàn dâng trọn cho Ngài. Ngài đang tìm kiếm người bằng lòng thưa rằng “Lạy Chúa, bất cứ nơi nào Ngài sai con, con sẽ đi”.
Khải Tượng
Bước thứ hai trong việc xức dầu là khải tượng. Khải tượng của chức vụ mà Đức Chúa Trời ban cho bạn là gì? Trong Hội Thánh của Đấng Christ có năm sự kêu gọi chức vụ quan trọng: sứ đồ, tiên tri, truyền giáo, mục sư và giáo sư. Tôi không tin là hết thảy chúng ta đều được kêu gọi làm nhà truyền giáo hay hết thảy đều được kêu gọi làm mục sư; nếu vậy chúng ta đang xây một thân thể bị biến dạng. Nếu Chúa chưa ban cho bạn một khải tượng nào về chức vụ cho đời sống bạn, hãy xin Ngài một khải tượng! Bạn cần phải biết sự kêu gọi mà Chúa dành cho bạn để bạn có thể tập trung vào mục tiêu đó. Bạn cần một khải tượng rõ ràng, chính xác về chức vụ mà bạn sẽ phát triển. Nếu không, sẽ rất khó để đạt được mục tiêu. Có một sự kêu gọi rất cụ thể cho mỗi người trong chúng ta mà chúng ta cần phải hoàn thành. Khi có được sự kêu gọi đó, Chúa thường ban cho chúng ta khải tượng, khuôn mẫu và sự trang bị của Đức Thánh Linh để chúng ta có thể thực hiện được.
Bạn có biết nan đề nghiêm trọng nhất mà Hội Thánh ngày nay đối diện không? Chủ nghĩa thành đạt (Triumphalism) (“Niềm tin cho rằng giáo lý của tôi, thái độ của tôi hoặc niềm tin của tôi là ưu việt hơn tất cả những cái khác”). Hãy cẩn thận! Đó là một thứ bệnh ăn mòn các chức vụ. Vì sao tôi nói điều nầy? Rất đơn giản, nếu một Mục sư có một hội chúng gồm 3000 tín hữu, thì bất kỳ Hội Thánh nào có số tín hữu kém hơn số đó sẽ bị coi là thất bại. Vì thế để đạt được số người tham gia đó, ông ta sẽ làm bất cứ điều gì phải làm như mua một thính phòng lớn, hai tiếng đồng hồ trên đài phát thanh, vay tiền, hoặc bất cứ điều gì. Tất cả đều vì một mục đích đơn giản là để có một nhà thờ có ba ngàn thành viên. Đó là chủ nghĩa thành đạt.
Trong thực tế, không phải tất cả những sự kêu gọi của Chúa đều giống nhau. Vì vậy nếu bạn không có được khải tượng đúng, chức vụ của bạn sẽ thất bại. Điều quan trọng là phải biết ý muốn Chúa dành cho đời sống chúng ta. Đức Chúa Trời kêu gọi những người nam, người nữ vào chức vụ, nhưng phải biết rằng có những sự kêu gọi dành cho Mục sư, hay người chăn bầy một ngàn người, mười ngàn người, và cũng có những người chăn bầy năm mươi hoặc một trăm người.
Chức vụ đẹp nhất trên đất này là hết thảy kẻ bệnh đều được chữa lành. Chúa Jesus thường rời thành phố nầy để đi giảng cho một thành phố khác và cả thành đều đi theo Ngài, không phải chỉ những cư dân của một thị trấn nào đó, mà người ta từ khắp nơi đều đến để nghe Ngài. Ngài giảng cho hàng ngàn người, và hàng ngàn người được chữa lành. Ngài làm lay chuyển các thành phố, giải phóng những người bị quỉ ám, thậm chí khiến kẻ chết sống lại. Nhưng khi kết thúc chức vụ công khai trên đất có bao nhiêu người ở chung quanh Ngài. Chỉ có 120 người. Theo bạn có phải chức vụ nầy đã thất bại không?
Nếu chúng ta xem xét chức vụ này theo các tiêu chuẩn của mình ngày nay, chúng ta phải nói rằng Chúa Jesus đã thất bại, 120 người trên Phòng Cao chờ đợi lời hứa của Chúa. Hơn 500 người đã thấy Ngài sau khi Chúa Phục sinh, nhưng chỉ có 120 người trung tín có mặt ở đó. Vậy mà đã có những người đi rao giảng về Chúa Cứu Thế cho thế giới, và ngày nay chúng ta nhận Tin Lành như là kết quả của 120 người lúc đầu đó.
Vì vậy, hãy biết rằng có thể Chúa kêu gọi bạn có một Hội Thánh 1000 người, 500 người, 50 người hoặc 20 người. Ai quan tâm đến số lượng? Điều quan trọng là phải hoàn thành mục đích và kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho cuộc đời chúng ta.
Hãy coi chừng chủ nghĩa cực đoan; chúng ta cố gắng đạt được thành công bằng nhiều cách. Chúng ta có thể mong đợi các ơn phước của Đức Chúa Trời, nhưng trước hết chúng ta cần phải làm theo ý muốn Ngài. Đó là lý do vì sao có rất nhiều chức vụ kết thúc trong thất bại. Họ không làm theo ý muốn Ngài. Đó là lý do vì sao có nhiều chức vụ, dầu họ đã có các Hội Thánh đến hai ba trăm tín hữu nhưng không thỏa lòng và cay đắng vì cớ “không đủ”. Nếu hai ba trăm tín hữu là ý muốn của Chúa dành cho bạn, hãy chấp nhận và đừng lo lắng về số lượng.
Chúa muốn người ta được cứu, nhưng theo cách của Ngài. Không phải ai cũng được kêu gọi để rao giảng trong các thành phố lớn của thế giới. Có thể Chúa sai bạn đến một thị trấn nhỏ, đến những nơi khó khăn, nơi mà khó có thể giúp người ta hiểu được Tin Lành. Mọi linh hồn đều quý báu trước mặt Chúa. Ngay cả những người không được kêu gọi làm Mục sư cũng có một phần quan trọng trong nước Đức Chúa Trời. Chúng ta là một phần của một đội quân và cuộc chiến không chỉ có những người can đảm ở đầu tuyến mà còn là người trong vị trí quản lý, là người giúp chuẩn bị các bữa ăn, người có trách nhiệm giúp đỡ các chiến sĩ. Tất cả các chức vụ đều quan trọng. Chức vụ của bạn cũng vậy.
Sự Hiểu Biết
Có hiểu biết là điều cần thiết, song chúng ta dùng sự hiểu biết đó để phục vụ Chúa chứ không phải để tỏ cho thế gian thấy chúng ta hiểu biết nhiều chừng nào. Học tập để trả lời đúng đắn, đầy đủ các vấn đề nào đó là điều rất quan trọng. Chúng ta phải hiểu Lời Chúa và biết cách ứng dụng các nguyên tắc của Lời Chúa vào các tình huống trong đời sống. Những người ở trong chức vụ hầu việc Chúa phải đưa ra được những câu trả lời đúng bởi vì chúng ta hiểu rõ Lời Chúa, nếu không ma quỉ sẽ thắng thế vì nó biết lời Chúa rất rõ.
Chúa huấn luyện chúng ta để đem tình yêu và ân điển của Đấng Christ đến với người khác qua đời sống chúng ta. Nếu hết thảy những gì chúng ta có chỉ là sự hiểu biết mà không có tình yêu đối với những người hư mất, thì chúng ta không đạt được mục tiêu của mình. Mọi thứ đều cần phải được sắp đặt chu đáo và thật quân bằng để chức vụ đạt hiệu quả. Chúng ta cần sử dụng Lời của lẽ thật như những cộng tác viên được chấp thuận, không thay đổi hoặc lạm dụng lẽ thật của Lời Chúa.
Đức Tin
Đức tin không có việc làm thì chết. Chúng ta có thể có đức tin, nhưng nếu chúng ta không đưa đức tin vào hành động, thì đức tin sẽ ra vô ích. Nếu chúng ta tuân theo từng bước trong bảy bước nầy song không có đức tin, thì sẽ chẳng có sự xức dầu. Muốn có được sự xức dầu thì mỗi một yếu tố đều cần thiết.
Chúa phán rõ ràng cùng chúng ta “Kẻ nào tin sẽ được những dấu lạ nầy”. Ngài đề cập một số biểu hiện của quyền năng như chữa lành kẻ đau, đuổi quỉ, và những điều khác. Bạn có tin mình sẽ được các dấu lạ đó không? Các dấu lạ nầy để dành cho ai? Cho hết thảy chúng ta “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người”. Ngài sẽ làm vững mạng lệnh bằng những dấu lạ mà chỉ bởi đức tin mới có được mà thôi.
Khi bạn đứng sau bục giảng, bạn thực hành Lời Chúa bởi đức tin, với mục đích khẳng định Lời ấy. Phần còn lại, Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm. Có lẽ bạn lấy làm lạ điều tôi làm. Tôi chỉ giảng Tin Lành như Kinh Thánh chép trong Mác: Tôi rao giảng Lời Chúa . Một khi người ta tiếp nhận Chúa Jesus và tiến lên tòa giảng để công khai bày tỏ đức tin của họ, tôi nhân danh Chúa Jesus mà đuổi các quỉ, và chúng xuất ra. Tôi cầu nguyện cho kẻ đau và họ được chữa lành. Trong mỗi buổi nhóm tôi cũng cầu nguyện cho việc Báptem bằng Thánh Linh. Làm trọn bốn phương diện nầy là điều hết sức quan trọng. Đừng xao lãng điều đó bởi vì mỗi điều đều cần thiết: sự cứu rỗi , sự giải cứu , sự chữa lành và được Báptem bằng Thánh Linh .
Vậy thì, điều gì xảy ra khi chúng ta cầu nguyện bằng đức tin? Những sự việc siêu nhiên bắt đầu. Sự vận hành của Đức Chúa Trời chỉ hành động bởi một chìa khóa duy nhất, đó là đức tin. Chúng ta cần phải tin rằng điều chúng ta cầu xin sẽ xảy ra. Đức Chúa Trời không bao giờ thất tín đâu.
Cách đây không lâu, một Mục sư mời tôi đến giảng ở tại Hội Thánh của ông. Tôi bảo với ông “Vâng, tôi sẽ đến, Chúa có ban cho tôi những điều mới mẽ, và tôi muốn chia sẻ”. Buổi nhóm hôm đó thật náo nhiệt. Chúng tôi mời tất cả những ai muốn được báp tem bằng Thánh Linh đứng thành một hàng và tôi bắt đầu cầu nguyện. Mỗi một người tôi đặt tay đều bắt đầu nói các thứ tiếng. Tôi tin rằng điều đó sẽ xảy ra và nó đã xảy ra. Đó là đức tin.
Với lòng đơn sơ, hãy biến đức tin thành hành động. Nếu chúng ta thật sự tin Lời Chúa. Chúa sẽ biến đổi cuộc đời chúng ta. Tôi cố gắng giảng Tin Lành cách đơn giản nhất để mọi người đều hiểu được. Trong một chiến dịch truyền giảng ở Hoa kỳ, Chúa phán cùng tôi “Hãy giảng một tiếng đồng hồ, nếu cần. Dân chúng cần hiểu rằng họ là những người cần Ta, chứ không phải Ta cần họ” Đó là sự thực, con người cần Đức Chúa Trời, vì vậy chúng ta cần bày tỏ nhu cầu của họ bằng cách nói “Bạn cần Chúa.” Bạn định cứ tiếp tục mang tấm lòng tan vỡ, say sưa, phạm tội, tà dâm, nói dối hay bạn muốn thay đổi? Hãy biết rằng khi chúng ta xây lưng lại với Đức Chúa Trời là chúng ta chọn một cuộc đời đầy dẫy đau khổ, buồn bã và cay đắng”.
Tin Lành cũng đơn giản như vậy, chúng ta hãy học hỏi những điều đơn giản và rao giảng một Chúa Jesus đơn giản để ai nấy đều hiểu được những lẽ thật của Đức Chúa Trời.
Hành Động
Để hiểu bước nầy, chúng ta hãy xem Nêhêmi. Ông đã nhận được Lời từ Đức Chúa Trời bảo ông thi hành một công việc. Ông không ngồi đó đợi Chúa thực hiện, thay vào đó ông hành động và thưa rằng “..Ngày nay xin Chúa hãy làm cho tôi tớ Chúa được may mắn và ban cho nó tìm được sự nhơn từ trước mặt người nầy” (NeNe 1:11).
Nhiều người cầu nguyện, cầu nguyện, và khi chúng tôi bảo với họ rằng “Người anh em, chúng ta hãy đem khu vực lân cận nầy về cho Chúa Cứu Thế”, họ trả lời “Chúng tôi đang cầu nguyện về điều đó”. Một năm sau chúng tôi lại bảo họ “Người anh em, chúng ta phải rao giảng Chúa Cứu Thế cho khu vực lân cận nầy, có nhiều người nghiện ma túy ở đó”. Một lần nữa câu trả lời cũng giống như trước, họ đang cầu nguyện cho khu vực nầy. Họ dành cả cuộc đời chỉ để làm điều đó, cầu nguyện. Chúng ta cần cầu nguyện, song một khi Chúa đã ban cho chúng ta sự khẳng quyết của Ngài, chúng ta cần phải đứng lên như Nêhêmi đã làm và nói rằng “Hãy đến, xây cất các vách thành Giêrusalem lại, hầu cho chúng ta khỏi bị sỉ nhục nữa” (2:17). Chúng ta luôn muốn Chúa làm mọi sự, chúng ta muốn Ngài đến và rao giảng, chúng ta cầu nguyện hai phút, rồi bảo “Lạy Chúa xin hãy cứu khu vực lân cận”. Và đó là cách chúng ta mong đợi người ta đến với Chúa.
Lần nọ Chúa cho tôi khải tượng về một ốc đảo lớn với những cây cối kỳ lạ, tất cả các loại cây ăn trái, những dòng suối nước trong như pha lê, các bông hoa, cỏ xanh biếc, chim chóc, một đám đông lớn đang uống thứ nước tươi mát, ăn trái cây, ca hát, vui cười và đùa giỡn. Tôi nghĩ, “Đây hẳn phải là thiên đàng ”. Nhưng khi tôi tiến gần đến hàng rào chung quanh biên giới của nó, tôi nhìn thấy một sa mạc ở bên kia. Không có cây cối, không có nước, chẳng có bông hoa, không có bóng mát; ánh nắng mặt trời làm đá chẻ ra làm đôi, và tôi nhìn thấy một đám đông thống khổ đang nhìn trừng trừng vào tôi. Da nhiều người bị nứt nẻ, miệng lưỡi họ bị sưng phồng và họ phải đỡ nhau mà đứng. Hai tay họ dang thẳng về phía chúng tôi trong thiên đàng, van xin sự cứu giúp. Khải tượng nầy đã giúp tôi suy nghĩ về Hội Thánh của Chúa Jesus. Các bức tường trong các nhà thờ của chúng ta đang mệt mỏi vì nghe chúng ta. Mỗi một viên gạch đều có thể trở thành một tiến sĩ thần học. Chúng ta hãy mang sứ điệp của tòa giảng đến các đường phố, đến các quảng trường, các công viên trong thành phố. Chúng ta hãy đi từ nhà nầy sang nhà khác mà nói về Chúa Cứu Thế. Tiếng kêu khóc của những người đau khổ đang rền rĩ trong tai chúng ta. Hãy thức dậy. Tin tức trên đài phát thanh và truyền hình, các nhật báo hằng ngày và các tạp chí hàng tuần đang ca ngợi kẻ hủy phá! Chúng ta hãy rao giảng về Chúa Cứu Thế Jesus!
Chúa cần những người nam người nữ hành động. Chúng ta hãy nhạy bén và khôn ngoan. Trong cuộc sống, nếu chúng ta không phó mình để hành động, các sự việc sẽ không xảy ra đâu! Nếu chúng ta không chịu nỗ lực, chúng ta sẽ thất bại. Nếu không có hành động thì ngay cả khi chúng ta hết sức khôn ngoan, chúng ta cũng không chinh phục linh hồn cho Chúa Cứu Thế được. Thậm chí nếu họ xây cả một Hội Thánh cho chúng ta với tất cả mọi thứ chúng ta cần, hãy quên điều đó đi! Nhu cầu cần phải hành động có trong mọi đề án của chúng ta, và điều đó hàm ý việc đi ra hầu việc Chúa.
Nếu bạn biếng nhác, hãy từ bỏ chức vụ hoặc là xin Chúa cất sự biếng nhác ấy đi. Không có người lười biếng nào có thể thành công trong sự hầu việc Chúa, bởi vì Ngài cần những con người can đảm và chịu khó để làm việc cho Ngài. Chúa bảo Giôsuê “Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ! Chớ kinh khủng” (Gios Gs 1:9).
Làm việc chăm chỉ nghĩa là gì? Tức là phải làm việc vượt quá những giới hạn của mình. Ví dụ, nếu chúng ta thích ngủ nhiều, chức vụ sẽ không tiến triển. Mọi thứ đều cần phải có một giới hạn và có mức độ. Tuy nhiên, không cần thiết phải quá cực đoan ở đầu kia và bận rộn đến nỗi lúc nào cũng phải chạy và chẳng có cầu nguyện.
Cầu Nguyện Và Kiêng Ăn
Chúng ta là những thầy tế lễ của Đức Chúa Trời. Chúng ta có trách nhiệm giữ cho lửa trên bàn thờ của đời sống tận hiến mình cháy luôn qua sự cầu nguyện không ngừng. Như vậy lửa của Thánh Linh sẽ không bao giờ tắt.
“Lửa trên bàn thờ phải cháy luôn luôn không nên tắt. Mỗi buổi sáng thầy tế lễ sẽ lấy củi chụm lửa thêm, sắp của lễ thiêu lên trên, và xông những mỡ về của lễ thù ân tại đó” (LeLv 6:12).
Điều quan trọng về phần chúng ta là yêu thương những linh hồn hư mất, quỳ gối và kêu khóc cho những linh hồn hư mất của thế gian nầy, khi chúng ta tiếp nhận Chúa Jesus, lửa trên bàn thờ lên đến trần nhà. Song cùng với thời gian, tình yêu nguội dần, và lửa trên bàn thờ cũng vậy. Vì thế nơi có lửa, chỉ còn là tro. Nếu chúng ta để cho lửa trên bàn thờ tàn tắt như đã xảy ra với những người Lêvi, chúng ta không đáng là những thầy tế lễ, chúng ta thất bại trong những bổn phận của mình. Nếu chúng ta không giữ cho lửa trên bàn thờ của Đức Chúa Trời bùng cháy trong đời sống mình, chúng ta sẽ chỉ trở nên lạnh lẻo. Chúng ta sẽ mất đi tình yêu đã có đối với những linh hồn hư mất không có Chúa Cứu Thế và thôi không quan tâm đến công việc Chúa và các anh em chị em mình nữa.
Nhưng cũng như Hội Thánh Êphêsô, chúng ta vẫn có thể nhen lại tình yêu ban đầu của mình. Họ đã bỏ mất tình yêu ban đầu. Họ đã từng chịu khó nhọc, làm nhiều việc, chịu đựng nhiều, nhưng có điều gì đã trục trặc. Đức Chúa Trời nhìn thấy nhiều nỗ lực của Hội Thánh Êphêsô, những công việc không mệt mỏi của họ, Ngài biết rằng họ đã không dung chịu những kẻ ác và họ đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ. Song Ngài đã phán cùng họ rằng “Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu. Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu! Hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình” (KhKh 2:4-5).
Chúng ta có thể giữ cho lửa cháy luôn bằng sự cầu nguyện và kiêng ăn, tìm kiếm Chúa với cả tấm lòng và cầu thay cho những người hư mất. Như vậy, chúng ta sẽ được chuẩn bị để đương đầu với những trở ngại, bởi vì Chúa đã phán “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy (Eph Ep 6:12). Kinh Thánh cho chúng ta thấy rõ rằng chiến trận của chúng ta không phải cùng con người mà là cùng kẻ cầm quyền trên không trung. Chính đó là nơi chúng ta cần chiến thắng, cũng như với lời cầu nguyện không thôi, chúng ta nói “Satan, hãy thả thành phố nầy ra. Hỡi ma quỉ, hãy buông số tiền ấy ra. Hỡi Satan, tà linh ô uế, ngươi là kẻ mang tội lỗi đến trên Hội Thánh, nhơn danh Chúa Cứu Thế Jesus, hãy buông Hội Thánh ra.
Satan có thực, nhưng nhiều lúc chúng ta dường như coi thường nó, tưởng như là nó chẳng làm hại đến chúng ta. Ma quỉ thường rình mò chung quanh chúng ta như sư tử rống tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được (IPhi 1Pr 5:8). Chúng ta cần chiến đấu trong cuộc chiến nầy bằng sự cầu nguyện ở tại bàn thờ, và sau đó, mỗi khi chúng ta quở trách nó, giống như chúng ta cho thêm dầu vào lửa nơi bàn thờ.
Sự dâng mình, khải tượng, hiểu biết, đức tin và hành động, hết thảy đều rất quan trọng, nhưng chúng ta cần lưu tâm đặc biệt đến sự cầu nguyện và kiêng ăn. Yếu tố nầy không thể thiếu trong chức vụ của chúng ta. Nếu thất bại ở mặt nầy, mọi điều khác đều thất bại. Chúng ta cần thận trọng trong mọi điều mình làm, nhưng luôn luôn thêm sự cầu nguyện và cầu thay vào là một điều hết sức quan trọng. Nếu bạn là một người lãnh đạo, điều quan trọng là cần sắp xếp một nhóm người không ngừng cầu nguyện cho bạn, cầu thay cho đời sống của bạn.
Tình Yêu Thương
Đến đây chúng ta phải vây phủ tất cả những điều mình đã đề cập đến bằng tình yêu thương. Nếu không có tình yêu dành cho những linh hồn hư mất hoặc cho bầy chiên mình thì chức vụ Cơ Đốc sẽ vô ích và chẳng kết quả gì trong đời sống chúng ta. Bạn có thể năng nỗ và có đức tin hoặc sự thông biết, nhưng nếu bạn không có tình yêu thương, thì có ích gì? Dầu bạn xây dựng bất cứ điều gì, rốt lại bạn cũng sẽ làm hỏng nó vì bạn thiếu tình yêu.
Mỗi ngày tôi đều cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin ban cho con tình yêu thương. Nếu con không có tình yêu, con chẳng ra gì”. Nếu tôi không thật sự yêu thương những con người đau khổ thì tôi không thể tiếp tục chức vụ hầu việc Ngài. Có những ngày tôi gặp ba người thì thầm vào tai nầy, ba người to nhỏ vào tai kia, và ba người bàn tán từ phía sau. Tôi có thể quả quyết với bạn rằng không phải lúc nào cũng dễ để yêu thương đâu, và đó là lý do vì sao chúng ta cần có chung một tình yêu đặc biệt. Nhiều lúc lòng nhịn nhục của chúng ta khô cạn đi, và nếu chúng ta không còn chút tình yêu nào, chúng ta sẽ không thể tiếp tục làm công việc Chúa giao.
Kinh Thánh chép rằng “Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự (ICo1Cr 13:4-5, 7). Đó chính là loại tình yêu chúng ta phải có. Nếu lửa trên bàn thờ bạn đang cháy, hãy xin Chúa đổ đầy bạn bằng tình yêu, Ngài sẽ làm điều đó. Nhưng đừng quên, hãy cầu nguyện với Chúa, cầu thay ở trước mặt Ngài. Đừng chỉ thỏa mãn với sự cầu nguyện năm, mười phút, không đủ đâu. Hãy cầu nguyện với Chúa càng nhiều càng tốt, bao lâu mà bạn muốn, một giờ, hai giờ, hãy dành thì giờ nơi bàn thờ. Và rồi tất cả những bước chúng ta đưa vào để có một chức vụ thành công sẽ tràn ngập tình yêu quý báu của Chúa Cứu Thế Jesus.
Cách đây không lâu, một Mục sư người Đức gởi một anh em đến chỗ chúng tôi, anh là người đã viết rất nhiều sách. Anh đang khảo sát mọi thứ về các cuộc phục hưng cũng như những thiếu sót của chúng. Ông đã nói về Finney, Moody; Wesley và những người khác. Anh muốn tìm ra lý do vì sao các cuộc phục hưng lại chấm dứt.
Tôi trả lời anh bằng một minh họa. Nếu có hai võ sĩ trên một võ đài, khi người nầy tấn công, người kia phải bảo vệ mình. Và khi người kia ngưng tấn công, người nầy sẽ bắt đầu tấn công. Hội Thánh trong cuộc chiến với Satan cũng vậy. Khi chúng ta đánh trận vì cớ những linh hồn hư mất, điều khiến cuộc chiến tiếp diễn chính là tình yêu chúng ta dành cho linh hồn họ. Khi Hội Thánh ngưng yêu thương, ma quỉ sẽ tấn công, bấy giờ Hội Thánh sẽ ở vào thế thủ. Đừng bao giờ rời bỏ vị trí chiến thắng của bạn trong cuộc chiến!
Tôi muốn kết thúc chương nầy bằng vài lời mà Chúa đã phán cùng tôi. Tình yêu thương dành cho những người hư mất dẫn đến phục hưng . Khi tình yêu nguội dần, phục hưng cũng tàn tắt. Người nào có lòng yêu thương linh hồn tha thiết sẽ sống trong sự phục hưng liên tục.

Chương 3: UY QUYỀN BỞI ĐỨC TIN
Các dấu kỳ sẽ cặp theo những ai đáp ứng sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Đó là lời hứa của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, điều quan trọng cần phải nhớ rằng mỗi một dấu lạ đều phải được thực hiện bởi uy quyền, là điều lại nhận được sự hậu thuẫn từ đức tin. Đức Chúa Trời ban cho Cơ Đốc Nhân uy quyền thuộc linh mà chúng ta cần có để hành động. Từ sáng thế, Đức Chúa Trời đã ủy thác uy quyền cai trị đất cho con người và đặt để con người vào vị trí cầm đầu của cả vũ trụ. Sách Sáng thế ký cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên người nam và người nữ theo hình ảnh của chính Ngài. Ngài ban mạng lệnh cho họ là hãy sanh sản và gia tăng, Ngài bảo họ hãy làm cho đất thuần phục và quản trị trên loài cá biển, loài chim trời và trên mọi vật sống hành động trên đất (SaSt 1:27-28).
Từ thuần dưỡng có nghĩa là “bắt thần phục, bắt chịu dưới quyền kiểm soát, chinh phục bằng sức mạnh hoặc bằng quyền lực cao hơn”. Bấy giờ từ cai trị có nghĩa là “kiểm soát hoặc điều khiển, thực hiện uy quyền hoặc quyền hành ở trên, nắm vai trò thống trị hoặc có tác động của một ảnh hưởng kiểm soát ở trên, và nắm giữ vị trí hàng đầu, xuất sắc (bởi năng lực, sức mạnh hoặc địa vị). Từ những định nghĩa đó chúng ta có thể diễn giải các từ nầy để bày tỏ quyền hành chúng mô tả sự thống trị và uy quyền trên mọi sinh vật mà Đức Chúa Trời đã ban cho con người.
Nhưng quyền cai trị đó đã mất đi khi con người phạm tội, Satan đã cướp lấy uy quyền của con người và trở thành kẻ cai trị trái đất. Con người đánh mất địa vị đáng ra thuộc uy quyền của mình khi để cho Satan giật lấy nó từ tay con người.
Chúa Jesus chịu chết trên thập tự giá, không những Ngài đã cứu chuộc chúng ta, mà còn cất đi sự ngăn trở đã phân cách chúng ta khỏi Ngài, ban cho chúng ta quyền được trở nên con cái Đức Chúa Trời. Bởi điều đó, Ngài đã lấy lại uy quyền khỏi ma quỉ và trao uy quyền đó vào tay chúng ta. Tôi bảo đảm với bạn rằng chúng ta có uy quyền đến từ Đức Chúa Trời, và bởi đức tin đặt nơi Ngài, chúng ta có thể lấy khỏi tay ma quỉ bất cứ điều gì. Chỉ hãy tin rằng chúng ta là người thừa kế đích thực và đồng thừa kế với Đấng Christ trong nước thiên đàng. Cha chúng ta là Chủ, Ngài có quyền trên thế gian nầy.
Khi chúng ta, bởi đức tin, nhận lấy các quyền của mình chúng ta được trang bị để thi hành uy quyền trên mọi thế lực ma quỉ trong thế giới nầy. Nếu Satan đang khống chế một con người hoặc một tình huống, chúng ta có quyền đuổi nó đi, bởi vì chúng ta đã được khôi phục lại mọi uy quyền thiên thượng nhờ quyền năng thập tự giá của Chúa Cứu Thế Jesus.
Một ví dụ rõ ràng về điều nầy có thể được thấy qua những gì đã xảy đến cho chúng tôi ở tại Argentina khi chúng tôi bắt đầu các chiến dịch truyền giảng. Vào lúc ấy, chúng tôi chưa được phép truyền giảng Tin Lành trên đài phát thanh hoặc truyền hình. Năm 1992, khi chúng tôi, cùng với tám mươi Hội Thánh địa phương, tổ chức một chiến dịch truyền giảng lớn ở tại một tỉnh phía Bắc, chúng tôi yêu cầu một số đài phát thanh và truyền hình bán cho chúng tôi thời gian phát thanh để chúng tôi có thể phát đi các buổi nhóm trực tiếp. Ban quản trị đòi một số tiền rất lớn cho dịch vụ nầy, vì vài ngày trước đó cũng trong thành phố ấy, có một buổi lễ quan trọng về mặt chính trị và các đài phát thanh đã có thể thu tiền bao nhiêu tùy thích.
Chúng tôi cũng gặp khó khăn với địa điểm chúng tôi đã chọn để dựng lều. Giới chức trách không muốn cho chúng tôi sử dụng miếng đất ấy, mặc dầu họ đã cho các gánh xiếc thuê hoặc bất cứ ai yêu cầu để sử dụng vào các mục đích khác ngoài chúng tôi. Nhưng điều đó cũng không ngăn được chúng tôi, Chúa đang tiếp tục làm việc trong hoàn cảnh ấy. Một anh em đã cho chúng tôi miếng đất của anh nằm ngoài ngoại ô thành phố. Điều bất tiện duy nhất là thiếu phương tiện giao thông để đến đó. Thỉnh thoảng mới có một chuyến xe buýt, và điều đó khiến chúng tôi băn khoăn. Làm thế nào mà người ta có thể đến nghe truyền giảng mỗi đêm được?
Trước cuộc truyền giảng thật là những ngày khó khăn. Đội ngũ truyền giảng bắt đầu nản chí. Chúng tôi quyết định công bố chiến trận thuộc linh và nhơn danh Chúa Jesus mà quở trách ma quỉ, rằng: “Hỡi Satan, hãy lui ra. Chúng ta nhơn danh Chúa Jesus mà cột trói ngươi. Hãy thả các phương tiện giao thông ra! Hỡi kẻ mạnh sức, hãy lui ra, ngươi đã bị đánh bại”.
Chúng tôi cầu nguyện trong nhiều ngày. Khi các buổi nhóm bắt đầu, chúng tôi cảm nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ đến từ Đức Chúa Trời. Một trong các giờ cầu thay của chúng tôi cho cuộc truyền giảng. Đức Thánh Linh đã ban khải tượng cho các anh em khác nhau nhìn thấy kẻ mạnh sức đang sa xuống khỏi ngai nó cùng với các tổ chức của ma quỉ.
Một buổi sáng, Chúa phán cùng tôi “Con phải phát đi chiến dịch truyền giảng nầy qua đài phát thanh đồng thời qua đài truyền hình”. Tôi biết Chúa đã cho chúng tôi thời gian phát thanh và phát hình, kẻ mạnh sức đã bị đánh bại. Tôi nói với người điều phối viên đội truyền giảng, là Tito Meda, và bảo anh mua giờ phát cần thiết của đài phát thanh và truyền hình.
Và rồi sự ngạc nhiên bắt đầu xảy ra. Các nhà điều hành phương tiện truyền thông đã chấp thuận đề nghị của chúng tôi chỉ trả 30% giá tiền họ yêu cầu vào lúc đầu. Đài FM phát đi buổi truyền giảng mà không lấy tiền. Vào ngày thứ bảy, hơn mười đài phát thanh và truyền hình khác nhau đã phát đi chương trình buổi nhóm.
Còn nữa. Một buổi chiều nọ, năm phút sau khi buổi nhóm được phát, các kênh truyền hình mà chúng tôi không hợp đồng bị trục trặc kỹ thuật và không thể tiếp tục chương trình thường lệ của họ được. Chương trình duy nhất mà các thành phố có thể theo dõi buổi tối hôm đó là buổi truyền giảng của chúng tôi. Chúa chúng ta thật tuyệt vời!
Đêm đó chúng tôi chứng kiến người ta chạy lên tòa giảng để tiếp nhận Chúa. Bốn thanh niên đi xe hơi đến địa điểm đó. Họ ở trong tình trạng buồn chán đến nỗi trước khi nghe giảng qua đài phát thanh, họ đã quyết định tự tử trong xe. Hàng ngàn người nữa đã đến. Có hàng trăm phép lạ không tin được đang xảy ra. Một trong số đó thật đáng kinh sợ. Một bà mẹ để đứa con trai bị hội chứng Down ở trước màn hình Tivi: Trong khi tôi đang cầu nguyện, bà nhìn thấy con trai mình được chữa lành và nét mặt nó biến đổi ngay trước mắt bà. Hàng trăm chiếc răng được trám bằng chất trám bằng vàng và platinum. Nhiều bệnh nhân ung thư đã được chữa lành.
Sau buổi phát đầu tiên, chiến dịch truyền giảng bỗng trở nên nổi tiếng. Không ai hiểu được làm thế nào mà chúng tôi có được quá nhiều giờ phát với số tiền quá ít như vậy. Nhưng chúng tôi thì biết rõ tại sao. Bởi đức tin, chúng tôi đã nắm giữ quyền phép của Đức Chúa Trời. Kết quả là, cả thành phố đều rúng động bởi quyền năng của Chúa Jesus. Chúng tôi truyền giảng 38 ngày tại chỗ đó, hơn 30 ngàn người đã tiếp nhận Chúa Jesus vì cớ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chúng ta.
Một Mục sư ở tỉnh Jujuy có tín đồ là một bác sĩ, ông ta mua vé máy bay cho Mục sư để có thể đến Buenos hàng tháng và tham dự các lớp học ở tại khóa học Thánh Kinh. Trên máy bay, hễ khi nào cô tiếp viên hàng không hỏi ông có muốn dùng nước ngọt không thì ông luôn luôn trả lời rằng “Không, cám ơn cô” vì ông không có tiền. Sau nhiều chuyến đi như vậy, cuối cùng ông đã tốt nghiệp. Để thưởng cho các thành tích học tập, ông nhận được một số tiền. Ngày hôm đó, khi đáp chuyến bay trở về, ông rất nôn nóng chờ đợi tiếp viên mời ông dùng thức ăn hoặc nước uống gì đó. Lần nầy ông đã nhận lời. Ngay trước khi máy bay hạ cánh, vị Mục sư gọi tiếp viên và bảo cô tính tiền thức ăn và nước uống tuyệt vời mà cô ta đã mang đến. Cô tiếp viên nở một nụ cười thật tươi và trả lời “Ô! Tất nhiên là ông không phải trả gì cả vì mọi thứ đều đã được tính trong vé máy bay”.
Vị Mục sư hết sức sửng sốt! Suốt nhiều năm ông không hề được hưởng gì cả bởi vì ông không biết rằng thức ăn và đồ uống được miễn phí!
Điều tương tự cũng xảy ra với Hội Thánh của Chúa Jesus. Bởi sự thiếu hiểu biết, chúng ta không hưởng được những lợi ích mà Đức Chúa Trời đã ban cho con cái Ngài.
Hãy Sẵn Sàng Để Hiểu
Trong khải tượng, một người nam mặc vải gai bảo Đaniên đừng sợ bởi vì từ ngày đầu ông đã chuyên lòng để hiểu và hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời, những lời của ông đã được Chúa nghe. Nhưng có điều gì đó đã xảy ra với người nam nầy khi sự đáp lời của Chúa đến cho Đaniên. Người phải đối đầu với sự đề kháng, và trong hai mươi mốt ngày một chiến trận thuộc linh ác liệt đã diễn ra trên không trung (DaDn 10:12-13).
Điều mà vị thiên sứ hàm ý khi dùng từ ngữ “đã chuyên lòng hiểu” có nghĩa là đức tin cũng có thể được giải thích khi tôi đọc Kinh Thánh, tôi phân tích điều Kinh Thánh dạy tôi qua đức tin, ngay cả khi các ý tưởng và thành kiến của tôi xen vào và tìm cách giới hạn Lời Chúa. Điều nầy xảy ra với nhiều người. Những người có các hiểu biết chính xác có tính khoa học, ví dụ như có những ý tưởng khó tháo dỡ khi đến lúc cần chấp nhận sự việc bằng đức tin. Trong các Hội Thánh, một số định kiến ngăn chận sự phát triển của Hội Thánh. Chỉ có Đức Thánh Linh mới có thể phá đổ các định kiến và thành kiến ấy một cách siêu nhiên.
Khi chúng ta không có những loại định kiến nầy, chúng ta dễ tiếp cận với lãnh vực thuộc linh hơn. Một ví dụ rõ ràng đó là đức tin đơn sơ của con trẻ. Chúa Jesus phán rằng nếu không trở nên như con trẻ, chúng ta sẽ không bao giờ vào nước thiên đàng (Mat Mt 18:3) trẻ con chấp nhận và tin cậy bằng tất cả sự ngây thơ. Chúng không có những định kiến. Trái lại, chúng tiếp nhận bằng đức tin bất cứ điều gì bố mẹ hoặc người lớn bảo chúng. Trong sách Luca chúng ta đọc thấy Chúa Jesus vui mừng vì Cha Ngài đã giấu những điều thuộc về Thánh Linh khỏi người khôn ngoan và kẻ thông sáng, song lại tỏ những điều đó ra cho những con trẻ (LuLc 10:21).
Mặc dầu có nhiều người cố gắng hiểu Chúa bằng tâm trí của họ, song chúng ta chỉ có thể biết Ngài bằng đức tin. Chúng ta sẽ thấy những người bảo rằng những điều thuộc về Đức Chúa Trời là hoàn toàn điên dại và những kẻ tin vào Tin Lành đều là “những kẻ dại”. Đức Chúa Trời cứu chúng ta bởi đức tin chứ không phải bởi sự hiểu biết của chúng ta. Hãy trở nên như con trẻ trong cách chúng ta tin.
Đừng Hạn Chế Đức Tin Của Bạn
Có người nói rằng có một loại siêu vi tính chứa đựng tất cả kiến thức dành sẵn cho con người. Bộ nhớ của nó chứa đầy những dữ liệu không thể tin được do các khoa học gia cung cấp và có khả năng cung ứng mọi loại thông tin trong mọi lãnh vực của sự hiểu biết loài người. Tôi tưởng tượng nó thậm chí có thể cung cấp những thông tin bí mật về bất cứ quốc gia nào trên thế giới nầy. Nhưng nếu chúng ta bảo máy vi tính ấy cho chúng ta thông tin về một vấn đề thuộc linh nào đó, nó sẽ không làm được, bởi vì nó không hiểu thế giới siêu nhiên.
Loài người có một tâm linh giúp cho họ bởi đức tin tiếp cận với mọi mức độ thuộc linh. Nói cách khác, có thể nói rằng chúng ta là siêu nhiên bởi vì phần tâm linh ở trong chúng ta có khả năng giải thích những sự thuộc linh. Trong GaGl 5:22-23, Kinh Thánh liệt kê các mỹ đức bao gồm trong bông trái của Thánh Linh: Tình yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, và tiết độ. Chúng ta có thể thấy rõ ràng đức tin là một trái của Thánh Linh và chỉ có con người mới tiếp cận được điều đó bởi vì con người là sinh vật duy nhất sở hữu tâm linh. Mặc dầu nhờ đức tin chúng ta có thể phân giải những điều thuộc về Thánh Linh và đến gần quyền phép của Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng có thể phân biệt hai loại đức tin: đức tin tự nhiên và đức tin siêu nhiên.
Một buổi tối mùa hè trong chuyến công tác đến phía Bắc Argentina, tôi được mời giảng cho việc tái mở cửa cho một Hội Thánh. Chúng tôi đã mời mọi người đến dự buổi truyền giảng kéo dài ba ngày. Chúng tôi chuẩn bị các băng ghế làm bằng các tấm gỗ cũ. Trong ngày thứ nhất, chỉ có một vài người đến nhưng khi họ đã chứng kiến quyền phép của Đức Chúa Trời họ chạy đi báo cho bạn hữu về các phép lạ và dấu kỳ đang xảy ra. Vào ngày thứ hai, có nhiều người thân đã đến; và ngày cuối cùng phòng nhóm đã đầy chật.
Tôi thật cảm động khi nhận biết rằng hầu hết trong số họ đã không biết Đức Chúa Trời. Thật xứng đáng để đi hơn một ngàn cây số đến đó. Trong buổi nhóm đầu tiên, không lâu sau khi tôi bắt đầu thấy người ta trở nên bứt rứt khó chịu. Một số người gãi sột soạt, một số người khác thì quơ cánh tay, các trẻ em thì hầu như không yên được. Một đàn muỗi đang tràn vào phòng nhóm, muỗi đang gây khó chịu cho những người có mặt. Họ đã phải xịt thuốc muỗi trong phòng nhóm, nhưng đàn muỗi dường như càng gia tăng. Đức tin tự nhiên của tôi không hoạt động. Bạn hãy tưởng tượng điều nầy khó khăn thế nào đối với tôi. Là diễn giả, tôi biết chắc rằng khi tôi bắt đầu giảng, người ta sẽ hoàn toàn bị xao lãng bởi đàn muỗi và sẽ không tập trung vào lời nói của tôi được.
Lúc đó Đức Chúa Trời bảo tôi hãy đuổi đàn muỗi ra khỏi nhà thờ. Đây chính là nơi mà đức tin siêu nhiên sắp sửa hoạt động, nhưng tôi thưa rằng: “Lạy Chúa, Ngài muốn con làm điều đó bằng cách nào? Nếu con đuổi mà chúng không ra thì chính con là người phải ra”. Nhưng bởi vì Ngài cứ nhất định, nên tôi thưa rằng “Vâng, nếu Ngài ban cho con đức tin để làm việc đó con sẽ đuổi chúng ra.” Đó là cuộc chiến đời đời giữa đức tin tự nhiên vốn bảo tâm trí chúng ta rằng điều đó là không thể được, với đức tin của Đức Chúa Trời, là đức tin bảo rằng: ‘Hãy làm điều đó ngay bây giờ”.
Khi vị Mục sư giới thiệu tôi cho hội chúng, tôi đứng lên và thình lình đức tin siêu nhiên đến với tôi. Cũng giống như Đavít, mặt đối mặt với Gôliát, tôi không hề nghi ngờ gì về chiến thắng. Tôi nói “Hỡi các anh chị em, hãy đứng lên, chúng ta hãy cầu nguyện đuổi đàn muỗi nầy ra trong danh Chúa Jesus. Ngay bây giờ! Ngay giờ phút nầy!” Trong nháy mắt tất cả muỗi đều biến mất. Một ngọn gió nhẹ đã xua chúng ra khỏi nhà Đức Chúa Trời. Mọi người đều kinh sợ, và danh Chúa được vinh hiển.
Khi phân tích điều đã xảy ra, tôi hiểu rằng khi Đức Chúa Trời ban cho Ađam uy quyền trên mọi vật sống, điều đó bao gồm cả muỗi, mòng. Nan đề ở ngay trong chính tôi. Tôi không có đức tin siêu nhiên để tin rằng muỗi mòng sẽ phải biến đi trước lời quở trách của tôi. Tôi khó mà làm điều mình cần phải làm, bởi vì đức tin tự nhiên bảo tôi rằng tôi thật điên khùng và chẳng có quyền phép gì để làm điều đó. Đó chỉ là những thành kiến, những định kiến. Tuy nhiên, tôi đã liều thử tin bằng đức tin và thực hiện uy quyền trên sự việc, và đức tin siêu nhiên đã ban cho tôi uy quyền để làm điều đó!
Những thành kiến hình thành các cơ cấu vững chắc như vậy trong con người đến nỗi chúng không để cho đức tin được phát triển với uy quyền. Tôi không chỉ nói đến những người không tin Chúa Jesus hoặc không có đức tin để tin Ngài, mà nói đến những người có lòng tin nhưng giới hạn đức tin siêu nhiên của họ. Kinh Thánh cho chúng ta biết lúc Philíp gặp Chúa Jesus, ông ta vui sướng đến nỗi chạy về thuật lại cho bạn mình là Nathanaên. Ông bảo Nathanaên rằng ông đã tìm gặp được Chúa Jesus, con trai Giôsép người thợ mộc thành Naxarét. Phản ứng của Nathanaên là “Naxarét ư! Há có vật gì tốt ra từ đó?” GiGa 1:45-46.
Từ điều đó chúng ta biết rằng thành Naxarét không có tiếng tốt và sự kiện nầy đã ảnh hưởng đến Chúa Jesus. Có lẽ Nathanaên không tiếp xúc với Chúa Jesus nếu không có sự nài nỉ của Philíp. Thành kiến đã ngăn chăn ông gặp Chúa Jesus để được cứu. Chỉ khi Nathanaên tiếp xúc với Chúa Jesus là Đấng bày tỏ quyền phép của Ngài cho ông thì những đồn lũy giới hạn đức tin của ông mới bị phá đổ.
Đôi khi tôn giáo cũng có thể là kẻ thù của Đức Chúa Trời, nó có thể phát sinh những thành kiến dè giữ và những định kiến tôn giáo. Người ta không tin nơi phép lạ cho đến khi nào họ kinh nghiệm phép lạ trong chính đời sống họ và trong đời sống của những người thân yêu của họ. Đó là lý do vì sao họ cần dấu kỳ và phép lạ để có đức tin nơi Đức Chúa Trời.
Đâu Có Chúa Hiện Diện, Ở Đó Có Các Phép Lạ
Tôi biết rõ rằng bất cứ nơi nào Đức Chúa Trời hiện diện, ở đó sẽ có phép lạ. Chúng ta cần phá đổ mọi thành kiến đã cản trở chúng ta tiếp cận với đức tin siêu nhiên và nhận lấy uy quyền Chúa đã trao cho chúng ta bằng đức tin. Các phép lạ phá đổ những đồn lũy tồn tại trước đó. Qua phép lạ nhiều người có thể đến với đời sống đức tin. Kinh Thánh dạy chúng ta rằng phép lạ sẽ cặp theo những kẻ tin.
Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy; lấy danh ta mà trừ quỉ; dùng tiếng mới mà nói; bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì, hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành (Mac Mc 16:17, 18).
Tôi tin chắc rằng những phép lạ nầy không phải vì Hội Thánh mà vì những kẻ chưa tin. Tôi nghĩ Đức Chúa Trời ban phép lạ khắp Hội Thánh Ngài hầu cho những người khác có thể tin. Tôi có thể hiểu rõ điều nầy qua các chiến dịch truyền giảng của tôi. Người ta tin, và rồi đức tin của họ hành động khi họ thấy các phép lạ của Đức Chúa Trời: Người què đi được, người bị ung thư được chữa lành, người bị quỉ ám được giải cứu khỏi các quỉ. Đó là lý do vì sao trong mỗi buổi nhóm tôi mời những người đã nhận được phép lạ bước lên bục giảng để chia sẻ và làm chứng lại kinh nghiệm của họ. Điều nầy khích lệ người ta tin và nó mời gọi đức tin của họ.
Khi Đức Chúa Trời sai Môise dẫn dắt Ysơraên ra khỏi Aicập, Môise thưa cùng Ngài rằng dân chúng sẽ không tin Giêhôva là Đấng đã phán cùng ông. Vì vậy Đức Chúa Trời đã đưa cho ông một cây gậy rồi Ngài biến nó thành một con rắn. Môise kinh sợ và chạy trốn. Nhưng Đức Chúa Trời bảo ông hãy đưa tay ra nắm lấy đuôi con rắn. Khi ông làm theo, con rắn trở thành cây gậy trong tay ông. Phép lạ đó cùng các phép lạ khác đã tỏ cho dân Ysơraên biết rằng Đức Chúa Trời thật sự ở cùng ông. Xem (XuXh 4:2-9).
Như vậy dân Ysơraên cũng cần các phép lạ để tin. Khi họ nhìn thấy các phép lạ, thậm chí những kẻ vô tín cũng tin và đi theo Môise. Đức Chúa Trời đã hậu thuẫn và thần cảm những dấu lạ nầy để khiến cho dân chúng tin. Mặc dầu không thấy Đức Chúa Trời họ vẫn biết rằng Ngài ở đằng sau các phép lạ.
Điều tương tự đã xảy đến với Nicôđem, khi tìm đến Chúa Jesus ông đã nói “Lạy thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư đến từ Đức Chúa Trời bởi vì không ai làm được các phép lạ thầy đã làm nếu Đức Chúa Trời không ở cùng thầy” (GiGa 3:2). Người đàn ông nầy đã thừa nhận, qua các phép lạ kỳ diệu, rằng Đức Chúa Trời đã xác nhận Chúa Jesus. Chức vụ công khai của Chúa Jesus đầy dẫy các phép lạ và đám đông theo Ngài chỉ để thấy quyền phép chữa lành và giải cứu của Ngài.
Khi Giăng Báptít nghi ngờ, Chúa Jesus đã làm gì? Chúng ta hãy đọc trong Kinh Thánh lời ký thuật về điều đã xảy ra:
“Môn đồ của Giăng trình lại hết cả chuyện đó với người. Người bèn gọi hai môn đồ mình, sai đến thưa cùng Chúa rằng: Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng khác? Hai người đã đến cùng Đức Chúa Jesus, thưa rằng: Giăng Báp tít sai chúng tôi đến hỏi thầy: Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng khác? Vả, chính giờ đó, Đức Chúa Jesus chữa lành nhiều kẻ bịnh, kẻ tàn tật, kẻ mắc quỉ dữ, và làm cho nhiều người đui được sáng. Đoạn, Ngài đáp rằng: Hãy về báo cho Giăng sự các ngươi đã thấy và đã nghe: kẻ đui được sáng, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, Tin Lành đã rao giảng cho kẻ nghèo” (LuLc 7:18-22).
Chúa Jesus không bảo họ rằng: “ Ngươi há không nhận ra sự khôn ngoan mà ta phán cùng ngươi sao?” Chúa Jesus đã bày tỏ các phép lạ cho họ. Bằng cách ấy, Giăng cũng sẽ nhận ra Ngài là ai. Đức Chúa Trời luôn luôn giao tiếp với các con cái Ngài qua phép lạ, như Ngài đã dẫn dân sự đi trong sa mạc dưới trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm. Đó cũng là phép lạ, Mana từ trời mỗi buổi sáng cũng là một phép lạ; lốt chiên của Ghêđêôn là một phép lạ; việc Chúa Jesus chữa lành kẻ bịnh cũng là phép lạ. Cả thế giới ở ngoài kia đang tìm kiếm con đường thật. Chúa muốn họ biết rằng Chúa Jesus là đường đi, các phép lạ chỉ bày tỏ sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta mà thôi.
Hội Thánh Thật
Khi học về đền tạm của Ysơraên, chúng ta quan sát một số yếu tố bày tỏ các lẽ thật quan trọng. Nhưng có một yếu tố đặc biệt mà tôi muốn nhấn mạnh, đó là hòm giao ước.
Đền tạm được chia thành các phần khác nhau. Một trong số đó là Nơi Chí Thánh, nơi hiện diện của Đức Chúa Trời và là nơi chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm một năm được vào một lần chỉ sau khi đã trải qua nhiều nghi lễ trước đó. Hòm giao ước đặt tại đó. Trong hòm là hai bảng luật pháp và cây gậy của Arôn. Tôi có thể nhắc đến một số điều về Hòm Giao ước, nhưng tôi muốn bạn nhận biết rằng nơi nào có sự hiện diện của Đức Chúa Trời thì nơi đó có các dấu lạ và cây gậy nầy tượng trưng cho các dấu lạ của Đức Chúa Trời.
Thế gian đang tìm kiếm các dấu lạ để tìm ra con đường đúng. Đức Chúa Trời ban các dấu lạ cho chúng ta, như Ngài đã ban cho Môise, cho Giăng Báptít, và cho Nicôđem. Nhưng có nhiều giáo phái, tôn giáo, thầy bùa, phù thủy, thuật sĩ, ông đồng, bà cốt và những nhà khai sáng đã nổi lên với các dấu lạ giả tạo, xưng là Chúa Jesus nhập thể và bảo rằng: “Đây là con đường”. Vì vậy, chúng ta phải làm gì với những sự giả dối và lường gạt đến từ ma quỉ, có phải chúng ta phải công bố Phúc âm với lời lẽ khôn ngoan và thuyết phục hay là chúng ta công bố Phúc âm với sự tỏ ra của quyền năng của Đức Thánh Linh?
Nếu bạn muốn nhận ra Hội Thánh thật, hãy tìm các phép lạ của Chúa được mô tả ở đoạn Kinh Thánh sau đây:
“Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Ai tin và chịu phép báp tem, sẽ được rỗi; nhưng ai chẳng tin, sẽ bị đoán phạt. Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: lấy danh ta mà trừ quỉ; dùng tiếng mới mà nói; bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành” (Mac Mc 16:15-20).
Phần thứ nhất, “giảng Tin Lành cho mọi người”, có lẽ là điều phổ biến đối với nhiều hội thánh, bởi vì họ rao giảng Tin Lành. Các Hội Thánh khác làm phép báp tem cho những kẻ tin. Nhưng điều phân biệt Hội Thánh thật chính là những phép lạ cặp theo những kẻ tin. Vì vậy hãy tìm kiếm một Hội Thánh nơi các phép lạ mà Chúa hứa đang biểu lộ; nơi mà những kẻ bị áp bức thuộc linh tìm được sự giải cứu, nơi mà các thứ tiếng thiên đàng được nói ra, nơi có những cuộc đối đầu với ma quỉ, và nơi những người đau được chữa lành.
Chúa Cứu Thế Jesus của chúng ta đã ban mọi quyền phép cho các môn đồ để đi ra và chữa lành kẻ bịnh, giải cứu những kẻ bị tà ma ám. Kinh Thánh chép rằng:
Ngài gọi mười hai sứ đồ đến cùng Ngài và ban quyền phép đuổi quỉ và chữa lành mọi bệnh tật._ Mat Mt 10:1
Đức Chúa Trời đã ban cho bạn và tôi cùng một uy quyền. Với uy quyền đó chúng ta có thể chứng tỏ cho thế giới biết các dấu lạ của Đức Chúa Trời để họ tin. Chính Chúa Jesus cũng đã khiến cho dân chúng sửng sốt vì cớ quyền năng của Ngài và những người sùng đạo trong thời của Ngài đã hỏi: “Điều chi vậy, một sự dạy dỗ mới và quyền phép hay sao và thậm chí ra lệnh cho tà ma phải vâng theo Ngài” (Mac Mc 13:27). Đối với những cơ cấu tôn giáo và những thành kiến đã ăn sâu vào họ, uy quyền của Chúa là một giáo lý mới. Ngày nay uy quyền đó là của bạn và của tôi.
Hãy chấp nhận những thách thức để có được uy quyền của Đức Chúa Trời bằng đức tin để đối đầu với bệnh tật, ma quỉ và mọi hàng rào thuộc linh là điều chỉ có thể đắc thắng bởi đức tin. Chúng ta là kẻ kế tự của một gia tài lớn hơn hết song chúng ta chưa sử dụng gia tài ấy.
Hãy nhận lấy quyền phép bởi đức tin và bạn sẽ có được những kết quả không thể tin được.

Chương 4: TÀ LINH HỌC 101
Một thực tế mà chúng ta đối diện mỗi ngày là những con người sẽ đối đầu với các thế lực của ma quỉ. Tựa đề không có gì mới lạ đối với những người đã đọc Kinh Thánh. Trong Kinh Thánh chúng ta đọc thấy những người đã được giải cứu khỏi tà ma. Câu chuyện sau đây là một ví dụ về loại thế lực ma quỉ mà chúng tôi thường đối đầu trong chức vụ hầu việc của mình:
"Satan Đã Cột Trói Tôi"
Trong bốn mươi hai năm tôi bị chứng trầm cảm. Ngay khi còn là một cô bé, chứng trầm cảm nầy đã tách tôi khỏi những đứa trẻ khác, tôi không muốn chơi đùa với chúng. Tôi nhớ tôi luôn luôn leo lên một cây lê ở phía sau nhà. Tại đó tôi có thể ẩn mình khỏi thế giới chung quanh.
Tôi có năm chị em gái, nhưng không có ai giống tôi cả. Họ luôn vui cười. Nhiều người nói với mẹ tôi rằng “Cô bé nầy thật ngoan làm sao!” điều họ không biết là lý do khiến tôi im lặng như vậy là bởi vì có một nỗi kinh hoàng bên trong tôi. Tôi không biết chơi đùa, tôi không biết vui cười.
Toàn bộ cuộc đời của tôi đã bị ảnh hưởng ghê gớm bởi điều trải qua khi còn thơ ấu, liên quan đến cha tôi, một con người luôn say sưa. Ông ta thường đánh đập mẹ và các chị em tôi, luôn luôn mang theo vũ khí và lúc nào cũng dọa nạt chúng tôi. Ông còn nói rằng ông sẽ giết hết chúng tôi đang khi chúng tôi ngủ. Vì thế mỗi đêm tôi cố gắng thức cho đến khi tôi quá buồn ngủ và thiếp đi. Tôi luôn sợ hãi và có những ác mộng, tôi thường thức giấc và nhìn thấy bóng một người đàn ông mở cửa phòng tôi, người ấy mặc áo khoác và đội mũ của bố tôi.
Mỗi khi sợ hãi tôi thường chạy ra sân sau và ngồi hàng giờ bên cạnh gốc cây lê. Gia đình không biết có chuyện gì đã xảy ra với tôi nên họ không thể giúp đỡ tôi.
Mối quan hệ giữa bố mẹ cũng như với chúng tôi đã để lại ấn tượng xấu suốt phần còn lại của cuộc đời tôi. Vì điều đó, tôi không muốn lập gia đình. Có lẽ tôi đã tự trói buộc mình, tôi không muốn trải qua những điều mà mẹ tôi đã trải qua.
Nỗi buồn chán tiếp tục đeo đuổi thời kỳ thanh xuân và cuộc đời trưởng thành của tôi. Tôi luôn nhốt mình trong căn phòng tối hoàn toàn. Tôi hút thuốc suốt ngày, uống rượu, và chơi bói bằng ly. Tôi cũng có một khuynh hướng mạnh mẽ đối với tà thuật. Tôi thích điều đó. Tôi luôn cố gắng di chuyển các vật thể bằng sức mạnh của tâm trí, và tôi thường xem chỉ tay. Tôi cũng chơi bài tarốc (loại bài 78 lá dùng để bói), dự đoán tương lai của những người đến với tôi. Tất cả những xiềng xích nô lệ đó đã kéo tôi đến một cái hố cô độc, thậm chí còn sâu hơn.
Một ngày nọ, mẹ kể cho tôi nghe về những buổi nhóm đang diễn ra ở tại thành phố Moreno. Đó là một trong các buổi truyền giảng của Annacondia. Ngay lập tức tôi cảm thấy mình cần phải đến đó. Những ngày sau đó, có một tiếng nói rất lớn bắt đầu bảo tôi hãy uống thuốc độc và hãy tự tử để kết thúc nỗi khốn khổ của tôi. Nhưng tôi đau yếu đến nỗi không đủ sức đi ra ngoài để mua thuốc độc.
Chiến dịch truyền giảng kéo dài năm mươi hai ngày nhưng tôi chỉ có thể đến đó bốn ngày trước khi chiến dịch kết thúc. Lúc ấy, ma quỉ không ngừng thúc ép tôi phải tự tử. Một buổi chiều nọ mẹ tôi bảo tôi đi ra ngoài. Chúng tôi lên một chiếc xe buýt chạy ngang ngay trước trại nơi buổi truyền giảng được tổ chức. Tôi bắt đầu gào thét đòi xuống khỏi xe, tôi la lớn đến nỗi tất cả các hành khách đều nhìn chằm chặp vào tôi, và người tài xế phải dừng xe để chúng tôi xuống. Vừa xuống khỏi xe tôi lao mình chạy vào trại nơi buổi truyền giảng đang diễn ra.
Vào ngày 12 tháng 2 năm 1987 tôi đã tiếp nhận Chúa Jesus vào lòng. Đêm đầu tiên đó tôi không muốn rời buổi truyền giảng. Tôi quá vui mừng, đời sống tôi đã được thay đổi, nỗi buồn chán biến mất. Trong các buổi nhóm tiếp sau đó có điều gì trong tôi không cho phép tôi đứng lên phía trước để Mục sư Annacondia cầu nguyện cho tôi. Nhưng đêm cuối của chiến dịch, cuối cùng tôi đã đứng lên được. Khi họ bắt đầu cầu nguyện thì tôi run rẩy không kiềm chế được. Những người khải đạo đưa tôi vào trại giải cứu, tại đó họ đã tiếp tục cầu nguyện cho tôi. Tôi đã xưng nhận nhiều điều trong tấm lòng kể cả sự thù ghét và cay đắng. Ma quỉ đã trói buộc tôi trong nô lệ, nặng nề đến nỗi tôi ở trong tình trạng hết sức đau khổ. Dầu vậy khi tôi quyết định trong lòng phải được buông tha thì Đức Chúa Trời lập tức đem đến sự thay đổi.
Nhiều lần tôi phải công bố trước mặt Đức Chúa Trời những điều đã giấu kín tận đáy lòng tôi. Một trong những lần đó xảy ra khi tôi đang cầu nguyện với những người khác, có người nào đó được Chúa cho biết rằng tôi còn linh bói toán ở trong mình và tôi còn liên hệ với các lá bài tarốc. Vì vậy họ bắt đầu quở trách tà linh và cầu nguyện cho tôi được giải cứu. Thình lình chúng tôi nghe một tiếng động lớn giống như một chiếc ly vỡ và tôi hoàn toàn được giải cứu.
Không lâu sau đó, gia đình tôi cũng tiếp nhận Chúa. Họ đã chứng kiến sự thay đổi mà Đức Chúa Trời đem đến trong tôi. Những người hàng xóm nhìn chằm chằm khi thấy tôi bước ra đường vào ban ngày và thắc mắc không biết điều gì đã xảy ra. Bởi vì tôi ở trong phòng ngủ suốt ngày và chỉ thức dậy khi bên ngoài hoàn toàn tối. Tôi luôn sống trong sự tối tăm, thời gian cứ trôi đi còn tôi thì phàn nàn vì đã không làm được gì suốt ngày. Đó là lý do vì sao tất cả mọi người biết tôi đã nhìn thấy sự thay đổi ở trong tôi. Bây giờ tôi thức dậy sớm, tôi tươi cười và đi nhà thờ. Đức Chúa Trời thật sự đã thay đổi đời sống tôi.
MARÍA
Cơ Đốc Nhân hoặc đánh giá Satan quá thấp hoặc quá cao. Nhưng Đức Chúa Trời dạy chúng ta đứng vị trí phải lẽ trước mặt các thế lực của ma quỉ. Chúng ta biết rất rõ rằng Satan như sư tử rống rình mò, và tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được. Chúng ta còn biết rằng “kẻ nào tin ta sẽ được những dấu lạ nầy: lấy danh ta mà trừ quỉ” (Mac Mc 16:17). Vì vậy đừng sợ. Nếu bạn đặt lòng tin nơi Chúa Cứu Thế Jesus và vâng theo mạng lệnh của Ngài “Hãy đi giảng Tin Lành”, thì bạn sẽ đối diện với những phép lạ trong hành trình của bạn.
Ma quỉ là những hữu thể gian ác không có thân thể vật chất, chúng đi đây đó tìm kiếm một nơi có thể cư trú. Chúng nói, chúng biện luận, chúng thấy, và chúng nghe. Có nhiều ví dụ về điều đó; sách Mác cho chúng ta một vài thí dụ. Khi Chúa Jesus giảng dạy trong nhà hội, những người có mặt đã kinh ngạc trước sự dạy dỗ của Ngài bởi vì Ngài dạy như một người có quyền. Họ chưa hề nhận thấy uy quyền nầy nơi những người khác, thậm chí nơi các giáo sư dạy luật. Nhưng có điều nầy đã xảy ra, một người đàn ông bắt đầu la lên. Lập tức Chúa Jesus nhận biết rằng tà linh đang nói qua môi miệng người đàn ông nầy rằng: “Hỡi Jesus người Naxarét chúng tôi với Ngài có sự gì chăng? Ngài đến để diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai: là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời!” Nhưng Đức Chúa Jesus nghiêm trách nó rằng: “Hãy nín đi, ra khỏi người nầy!” (1:24-25).
Chúng ta hãy xem xét tình huống bất thường nầy trong nhà hội. Điều xảy ra vào thời điểm Chúa Jesus đang dạy dỗ, chứ không phải trước đó. Người bị quỉ ám đang ở trong nhà hội, và thật thú vị để lưu ý rằng mặc dầu những người sùng đạo nầy khâm phục Chúa Jesus và sự dạy dỗ của Ngài, họ đã không nhận ra Ngài là Đấng Mêsia, nhưng ma quỉ thì biết.
Chỉ với tâm linh mới có thể nhận biết thế giới tà linh. Đây là điều đã xảy ra khi Chúa Jesus nghe người đàn ông hét lên, lập tức Ngài bảo nó hãy im lặng và ra khỏi người đó. Ma quỉ vật vã để ở lại, nó vật người đàn ông dữ dội, cuối cùng xuất ra với một tiếng hét. Sau đó người ta bắt đầu nhận biết rằng Chúa Jesus có uy quyền thuộc linh, họ hỏi nhau: “Ấy là đạo gì đó? Người lấy phép và quyền đuổi tà ma, và chúng nó liền ra!” (LuLc 4:36).
Những Biểu Hiện Của Ma Quỷ
Ma quỉ biểu lộ nhiều cách khác nhau trong mỗi con người khác nhau bị nó chiếm hữu.
Những Người Bị ức Hiếp
Chúng ta thường thấy những người bị ức hiếp về mặt tâm linh. Sự ức hiếp nầy đến từ bên ngoài và không bao giờ ngưng nghỉ. Mục đích duy nhất của nó là nhằm bẻ gãy sự chống cự của chúng ta. Nó thể hiện qua những sự cám dỗ và những bắt bớ. Cơ Đốc Nhân là những người thường phải chịu loại ức hiếp nầy. Phương cách của ma quỉ chính là cố gắng để đưa con người trở lại với nếp sống tội lỗi cũ. Đó chính là lý do mà Kinh Thánh truyền cho chúng ta đừng cho ma quỉ nhơn dịp, mà phải chống cự nó.
Những Người Bị Khốn Khổ
Ma quỉ thường làm khổ con người. Trong loại biểu hiện nầy, tà linh tấn công từ bên trong. Đó là sự sợ hãi, buồn chán và khổ sở. Chúng ta phải làm rõ điều nầy: Một người bị ma quỉ làm khổ biểu hiện có nan đề thuộc linh không nhất thiết là bị quỉ ám. Trên thế giới nầy không có nhiều người bị quỉ ám, nhưng có rất nhiều người bị ma quỉ làm khổ. Người ấy không bày tỏ sự chống đối nào nhưng ma quỉ thì có ở đó, và chúng ta phải đuổi chúng ra, như chúng ta đã được truyền bảo phải làm ở Mac Mc 16:17, phải nhơn danh Chúa Jesus mà đuổi chúng ra.
Chúng ta hãy xem trường hợp của người đàn bà xứ Phênixi người đã thưa cùng Chúa Jesus rằng: “Con gái tôi mắc quỉ ám, khốn cực lắm” (Mat Mt 15:22).
Sau một cuộc đối thoại ngắn, Chúa Jesus đã bảo bà: “Hãy đi, vì ma quỉ đã ra khỏi con gái ngươi rồi” (Mac Mc 7:29). Nếu ma quỉ “đã ra khỏi con gái ngươi rồi,” thì chính là vì ma quỉ đã ở bên trong . Nếu không, có lẽ Chúa Jesus sẽ nói: “ Ma quỉ đã lìa con gái ngươi rồi”.
Người bị khốn khổ không phải như người bị quỉ ám. Chỉ có một vài lãnh vực trong đời sống người ấy nằm dưới ảnh hưởng ma quỉ bởi vì người ấy đã không giao lãnh vực đó cho Chúa hoặc vì cớ có một thỏa ước hoặc tình trạng nô lệ nào đó, có thể là lòng thù hận hoặc oán ghét. Hết thảy chúng ta đều biết rất rõ rằng khi những cảm xúc ấy bị chôn chặt tận đáy lòng chúng ta, thì một cánh cửa đã mở ra cho Satan bước vào đời sống chúng ta và gây ra những tàn hại. Điều nầy rất thực chứ không phải chỉ là một sự tưởng tượng.
Người Bị Quỉ Ám
Những người tạm thời bị quỉ ám mất khả năng kiểm soát thân thể và ý chí của mình. Sau khi được giải cứu và giúp đỡ, họ không nhớ những gì họ đã trải qua ngay trước khi được giải cứu. Người bị quỉ ám không kiểm soát được các hành động của mình. Họ làm những điều mà sau đó họ không nhớ. Thình lình họ nổi điên, đập vỡ hoặc đốt cháy đồ đạc. Khi đã bình tĩnh lại, nếu có ai hỏi, họ sẽ nói họ không nhớ gì cả.
Chúng ta hãy xem người cha đã mang con trai mình đến cho Chúa Jesus để được giải cứu khỏi một tà linh đã cướp đi lời nói của cậu bé. Người cha thưa với Chúa Jesus rằng nhiều lúc tà linh đã bắt đứa trẻ và ném nó xuống đất. Đứa trẻ sùi bọt mép, nghiến răng, và bị động kinh. Ông ta còn nói thêm rằng con quỉ nầy thỉnh thoảng còn ném đứa trẻ vào nước hoặc vào lửa toan giết nó đi, song không được. Tôi thật sự nghĩ người cha nầy có đức tin rất lớn, ông đã mô tả rõ ràng nỗi khốn khổ của con trai mình và với sự trưởng thành tâm linh ông đã giải thích rằng một tà linh đã ám vào con trai ông. Người cha cũng nói rằng điều nầy đã xảy ra từ khi con ông còn nhỏ. Ông ta đã đúng khi tuyên bố rằng đó là một quỉ câm. Con trai ông không hề nói, không gào thét. Ông mô tả nhiều điều nữa cho thấy đứa trẻ bị quỉ ám có những biểu hiện bề ngoài, nhưng gào thét không phải là một trong các biểu hiện ấy.
Bây giờ chúng ta hãy xem cách Chúa Jesus giải cứu cậu bé nầy. Ngài phán rằng: “Hỡi quỉ câm và điếc, ta biểu mầy hãy ra khỏi đứa trẻ nầy, đừng ám nó nữa” (Mac Mc 9:25). Điều đầu tiên mà Chúa Jesus làm là đuổi nó ra, Ngài đã phán rằng: “Hỡi quỉ điếc và câm hãy lui ra” song nếu con quỉ điếc thật, làm thế nào mà nó lui được?”. Hỡi anh em, đừng bao giờ quên rằng ma quỉ là cha của kẻ nói dối và là đứa lừa dối. Hãy xem điều gì xảy ra ngay khi Chúa Jesus quở nó: “quỉ bèn la lớn tiếng lên, vật đứa trẻ mạnh lắm và ra khỏi; đứa trẻ như chết vậy, nên nỗi nhiều người nói rằng nó chết rồi” (9:26). Thật bất ngờ ma quỉ la lớn và gào thét. Như vậy họ còn tin nó không? Chúa Jesus biết rõ Ngài đang xử lý ai. Nó không thể lừa được Ngài.
Người Mất trí
Cuối cùng loại biểu hiện nầy cho thấy một tình trạng sở hữu hoàn toàn và lâu dài. Ma quỉ đã sở hữu thân thể, linh hồn và tâm linh một người. Điều nầy hoàn toàn trái ngược với người được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Đó là trường hợp người đàn ông ở Gađara. Ông ta hoàn toàn bị cô lập với những người khác và có hành vi thật hung tợn. Ông tự làm hại mình, thường lấy đá rạch mình. Tôi đã thấy những người mất trí trong các bệnh viện tâm thần. Họ nhìn, nhưng không thấy. Nếu bạn nói chuyện với họ, bạn không chắc họ có đang lắng nghe hay không. Họ không hiểu gì hết bởi vì họ hoàn toàn bị các tà linh chế ngự. Có lẽ bạn tự hỏi không biết họ có thể được giải cứu không. Đức Chúa Trời cũng đầy lòng thương xót họ. Như Ngài đã giải cứu người đàn ông ở Gađara, Ngài cũng có thể giải cứu những người khác nữa.
Người Gadara Ở Thành Phố Córdoba
Buổi chiều cuối cùng sau chiến dịch truyền giảng sáu mươi ngày tại thành phố Córdoba, Argentina, sắp kết thúc. Đang khi tôi bước xuống khỏi bục giảng, chuẩn bị trở về khách sạn, một số anh em chận tôi lại và hỏi tôi có thể cầu nguyện cho một người điên không. Người đàn ông nầy thật sự điên loạn, ông ta giống người bị quỉ ám ở Gađara. Ông sống trên các núi, thường nói một mình, ở trần và đi chân không, đầu tóc ông bẩn không thể tin được (suốt 3 năm, ông không hề tắm) và để móng tay móng chân dài, ông ta thật sự giống một con thú. Buổi tối đó tôi thật sự mệt mỏi sau một chiến dịch truyền giảng kéo dài như thế, và ngay khi tôi sửa soạn đi, thì người ta đem người đàn ông ấy đến để tôi cầu nguyện cho. Bốn người khiêng cáng mang ông đến.
Khi tiến đến gần ông ta hơn, Đức Thánh Linh phán với tôi rằng “có hai quân đoàn”.
Nghe thế, tôi thưa rằng “Lạy Chúa, con không còn sức nữa, giọng con cũng đã khản rồi”. Song tôi vẫn đặt tay trên anh và quở trách mọi quỉ, rằng “Nhơn danh Chúa Jesus, hãy thả người nầy ra”. Người đàn ông nầy bỏ chạy một mạch cho đến khi chúng tôi không còn thấy được ông nữa, vì vậy bởi đức tin tôi công bố ông ta được buông tha.
Sáu tháng sau, tôi trở lại thành phố Córdoba để dự một buổi nhóm đặc biệt vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Nhiều người làm chứng lại thể nào Chúa đã chữa lành và giải cứu họ trong chiến dịch truyền giảng vừa qua của chúng tôi. Giữa vòng những người đó, có một người nam ăn bận rất lịch sự tiến lên và thuật lại việc Đức Chúa Trời đã giải cứu anh lúc ấy, những người lãnh đạo thành phố nói với tôi “Carlos, anh có nhớ người ấy không?” Tôi không mảy may liên hệ được anh ta là ai, nhưng khi anh ta làm chứng, tôi thật kinh ngạc vì hiểu ra sự thay đổi nơi người nầy.
Sáu tháng trước, sau khi chúng tôi cầu nguyện cho anh, người “Gađara ở Córdoba” đã chạy mãi đến giữa đồng trống rồi cứ đứng đó mà gào thét suốt năm ngày trọn. Ma quỉ thường xuất ra với mỗi một tiếng hét. Vào ngày cuối cùng, anh ta quay bước về phía trước kia từng là nhà của anh. Khi gia đình nhìn thấy anh, họ không thể hiểu chuyện gì đã xảy ra, bởi vì anh đã hoàn toàn bình thường trở lại; anh là một con người đã thay đổi hoàn toàn.
Buổi tối mà tôi cầu nguyện cho anh, tôi hết sức mỏi mệt, nhưng Đức Chúa Trời không cần năng lực hay nỗ lực của chúng ta. Ngài là Chúa tể trên mọi sự.
Satan hành động trong đời sống con người bằng nhiều cách khác nhau, tuy nhiên tất cả những hành động của nó đều nhắm vào sự cướp, giết, và hủy diệt (GiGa 10:10), Chúa Jesus tuyên bố rằng ma quỉ từ lúc ban đầu đã là kẻ giết người, rằng không có lẽ thật ở trong nó. Ngài cũng phán rằng nó nói dối, thậm chí dối trá về chính bản thân nó, bởi vì nó không những là kẻ nói dối mà còn là cha của hết thảy những sự dối trá (8:44). Liệu chúng ta có thể trông đợi gì nơi một kẻ trộm cắp, kẻ giết người, kẻ hủy diệt, kẻ dối trá như nó?
Những Sự Rủa Sả Của Gia Đình
Mỗi khi rủa sả là chúng ta đang mời gọi một con quỉ. Nhiều khi, người ta cần được giải cứu là vì họ đã bị người khác rủa sả, nhất là những người làm cha làm mẹ. Một trong những sự rủa sả phổ biến nhất là khi ông bà, cậu, dì, hay cha mẹ dâng con cháu mình theo yêu cầu của Satan. Chỉ vì họ không biết những hậu quả khủng khiếp của việc làm đó. Tất cả những lời rủa sả từ thế hệ này sang thế hệ khác sinh ra những chán nản và thất vọng truyền từ đời cha sang đời con cần phải bị chặt đứt.
Kinh Thánh phán rằng có những điều bị buộc ở dưới đất cần phải được mở ở trên trời. Đó là điều chúng ta cần phải làm. Nền văn hóa Tây Ban Nha, đặc biệt, rất thường tạo ra những sự cột trói bởi các mệnh lệnh và những sự đoán xét trong gia đình. Chúng ta đã phải nhận những sự rủa sả kế thừa ngay khi còn nhỏ. Một số ví dụ như: “Hệt như bố mày”; “Mày thì lúc nào cũng ngu đần”, hoặc “Mày chẳng được cái tích sự gì”.
Lời nói ra là lời biểu thị uy quyền. Đức Chúa Trời đã phán và thế giới được tạo dựng. Lời nói ra có sức mạnh gây dựng, và cũng phá đổ được. Chúng ta rất hay nghe bố mẹ hoặc anh chị em trong nhà gọi một đứa bé là “đồ khùng” hay “đồ ngu”. Qua những lời rủa sả đó, chúng ta đã mời gọi các tà linh và cột trói đứa trẻ. Lời nói có sức mạnh cột trói.
Trước đây tôi đã phải sửa trị nghiêm khắc một trong các con tôi khi nghe cháu nói với em nó một điều khủng khiếp. Tôi thật sự buồn bực khi nghe cháu nói như thế. Đừng bao giờ cho phép những lời như thế được nói ra trong nhà của bạn. Là Cơ Đốc Nhân, trách nhiệm của chúng ta là phải “chúc phước”, đem phước hạnh đến cho người khác ngay cả trong lời nói của mình. Bất cứ khi nào trò chuyện với các con tôi, tôi cũng nói: “Con có khỏe không hả “thiên tài”?, “Con đang bận làm gì đấy “nhà vô địch?”
Một số bà mẹ hoàn toàn không biết gì về lẽ thật nầy, vì vậy con cái họ khi lớn lên, phải gánh trả hậu quả của những gì mẹ chúng đã công bố trên chúng. Tôi biết những người nam đã bị mẹ họ bảo với họ rằng “sao tao lại sinh mày ra nhỉ” “Không biết vì sao mà tao lại đẻ ra mày!” Cuộc đời những chàng trai nầy bị ảnh hưởng nặng nề cho đến khi họ gặp được Chúa Jesus, và cuối cùng những vết thương của họ đã được chữa lành.
Khi chúng ta nói những từ như “ngu ngốc” hay “ngu đần” chúng ta bày tỏ sự tức giận nhất thời. Chúng ta không nhận biết có những hậu quả mình phải trả vì những lời rủa sả đó trong lãnh vực thuộc linh. Lời làm chứng sau đây của một thanh niên thật sự phản ánh văn hóa của người Tây Ban Nha và các câu nói tiêu cực thông thường hay được dùng.
Được Giải Cứu Khỏi Những Rủa Sả Của Thế Hệ Trước
Tôi sinh ra trong một gia đình mà những người nam người nữ thuộc nhiều thế hệ đã sống theo điều họ muốn; chắc chắn là họ luôn làm những điều trái với ý muốn Đức Chúa Trời. Vì thế mà tôi đã kế thừa sự bại hoại, tật bệnh và sự chết. Nhưng bẩm sinh tôi không phải là người phục vụ ma quỉ, mà theo thời gian tôi đã trở thành con người như vậy.
Khi còn là một đứa trẻ, tôi đã bị trừng phạt nặng nề bằng lời nói cũng như bằng những trận đòn. Bố mẹ tôi thường nói “Trẻ con cần phải bị trừng phạt cách khắc nghiệt”. Và rồi họ nói thêm, dường như để cố gắng tự chứng minh họ là đúng “Tao trừng phạt mầy chỉ vì tao thương mày”.
Các thầy cô giáo trong trường cũng thường bảo tôi rằng “Thầy đã bảo mà, thế nào em cũng làm điều đó”, “Thế nào rồi em cũng sẽ hiểu” và “Tôi sẽ làm cho em hiểu ra ngay thôi”.
Hễ khi nào tôi làm điều gì sai trái hoặc gây thiệt hại, lập tức tôi bị lên án bằng một lời tiên báo khủng khiếp “Thật bố nào con nấy”. Và rồi họ còn tiếp tục thêm vào những thành ngữ khác mà ai nấy thường dùng để nhấn mạnh việc tôi chẳng có hy vọng gì để thay đổi. Họ gọi tôi là quạ, là lợn, là khỉ, là vô tích sự, lười biếng, dễ ghét và nhiều danh hiệu khủng khiếp khác. Tất nhiên là mọi sự đều nhằm mục đích sửa trị và dạy bảo tôi!
Tôi phải nhơn danh Chúa Jesus mà tha thứ tất cả những điều đó để thôi sống trong xiềng nô lệ của sự thù ghét, sợ hãi và những sự dạy dỗ sai trật của gia đình mình.
Những người cao tuổi, mà tôi rất kính trọng cũng đã dạy tôi những điều khác. Họ thường bảo “Ở đâu có ý chí, ở đó có phương tiện” hoặc “Đức tin có thể dời núi được” (tất nhiên họ không nói đến đức tin đặt nơi Chúa, mà là nơi con người). Họ cũng bảo “Đừng bao giờ nhắc đến chữ chết” và “con còn trẻ, cả thế giới đều ở trong tay con”. Họ luôn nhắc đi nhắc lại “Gia tài lớn nhất mà người cha có thể cho con trai mình là sự giáo dục và nghề nghiệp để nó có thể thành công trong đời”. Cùng với điều đó, họ nói “Nếu muốn đạt được bất cứ điều gì, con cần phải học”. Nếu tôi trở thành một “tiến sĩ” thì cả gia đình sẽ thu gặt được những phần thưởng. Họ tuyên bố rằng “Nếu con không học, con sẽ trở thành một kẻ nghèo bị khinh khi”. Hoặc họ nói những câu như là “Con sẽ trở thành điều mình phải trở thành, hoặc con sẽ chẳng là gì cả”. Họ nói “Khi ta sở hữu, ta có quyền”, “Tiền không làm ta hạnh phúc, nhưng giúp ta hạnh phúc” “Khi no bụng, lòng sẽ hạnh phúc”. “Điều quan trọng nhất trong đời nầy là phải khỏe mạnh”... và những thành ngữ tương tự như thế.
Nếu họ bắt gặp tôi đang đọc các sách báo thuộc linh hay thường xuyên đến nhà thờ Thiên Chúa Giáo, họ sẽ cười nhạo tôi và bảo: “Đó là tất cả những gì chúng ta cần; giờ thì nó sắp trở thành một linh mục!” Từ các linh mục, thì câu nói mà tôi nhớ nhất là “Biết mình”, "Hãy bảo trọng!”,”Hãy tự giúp chính mình và kiện toàn chính mình”. Có cả một gánh những thứ “phải” và “nên” đè bẹp tôi. Cái gì cũng nhằm vào nỗ lực và sức mạnh của ý chí, hy sinh và chịu khổ, hối hận, chịu đựng, phải khôn khéo và lịch thiệp...
Họ cũng dạy tôi rằng một người phải tự khẳng định mình. Ở trung học người ta dạy tôi rằng con người là một con vật có ý chí và rằng “Tôi biết suy nghĩ, vì vậy tôi là tôi. Khi tôi hai mươi tuổi họ đã thành công khi làm cho tôi tin rằng con người phải chịu trách nhiệm về số phận của mình.
Thế gian theo kinh nghiệm đau thương của tôi là ích kỷ, thù hằn, lừa dối và giả hình. Dầu vậy, họ vẫn bảo tôi rằng thế giới không giống như vậy, đó chỉ là cảm nhận của tôi về thế giới, bởi vì “Kẻ cắp tưởng rằng ai cũng là kẻ cắp”.
Không những họ dạy tôi các giáo lý sai trật, mà họ cũng bảo tôi phải dạy như họ đã dạy, cứ tin rằng mình đang truyền đạt chân lý. Cuối cùng, tôi quyết định nghiên cứu tâm lý học điều trị bệnh và tâm lý học xã hội, khoa cận tâm lý, Thiền, Phật Giáo, chiêm tinh học và y học dân gian. Bằng cách nầy, tôi đã trở thành một giáo sư giả, tức là một kẻ mù dắt kẻ mù."
Vào tháng 10 năm 1984 tôi cùng với một nhóm các nhà tâm lý học và các sinh viên, tham gia một buổi truyền giảng trong chiến dịch của Annacondia ở thành phố Loman de Zamora Argentina, với một mục đích duy nhất là khảo sát. Tôi thật sự không muốn đi, tôi đã quá mệt mỏi với những sự chữa lành giả dối, nhưng dầu vậy các bạn tôi cũng đã rủ tôi cùng đi.
Trong buổi truyền giảng, họ mời những người đau tiến lên phía trước để họ có thể cầu nguyện cho. Vì tôi phải khổ sở với các chứng dị ứng di truyền không thể chữa trị được, nên tôi đã đi lên trước để có thể chứng thực được các phép lạ nầy. Thình lình tôi thấy mình đang kêu khóc xin Đức Chúa Trời cứu tôi và ban cho tôi tình yêu mà tôi chưa bao giờ có. Sau đó tôi hiểu ra rằng trước kia mình đã là một công cụ thích hợp trong tay Satan. Thật cảm tạ Chúa Cứu Thế Jesus, Ngài đã không nhìn vào sự gian ác và số lượng lớn những cuộc đời mà tôi đã đẩy đến vực thẳm, nhưng đã giải cứu tôi để bày tỏ tình yêu của Ngài!
BASILIO
Câu chuyện nầy khiến chúng ta phải suy nghĩ về việc đã bao nhiêu lần chúng ta nói những câu tương tự như thế. Tôi hình dung mỗi một nền văn hóa đều có những thành ngữ của riêng họ. Nhưng chúng ta rất thường nghe thấy những từ ngữ đó, đặc biệt là giữa những người yêu thương nhau, như là, vợ chồng, cha mẹ, con cái, anh chị em trong nhà. Xin đừng cho phép những câu nói ấy tiếp tục xuất hiện trong đời sống bạn. Hãy bỏ chúng khỏi số từ vựng của bạn. Hãy nhận biết rằng một số thất bại chúng ta phải trải qua trong cuộc đời chính là hậu quả của những lời đó. Đừng để lại hậu quả xấu trên đời sống những người thân yêu của bạn vì cách nói ấy.
Về mặt thuộc linh, những lời nầy có một tầm quan trọng lớn. Ma quỉ lợi dụng chúng để làm cho người nghe những lời rủa sả tin điều đó là đúng. Sớm hay muộn, chúng cũng sẽ làm thương tổn họ ở một mức độ mà chỉ có chức vụ của Đức Thánh Linh mới có thể chữa lành và giúp người ấy tha thứ cho những kẻ đã lăng mạ.
Đức Chúa Trời dạy chúng ta rằng cái lưỡi nắm giữ quyền sự sống và chết. Ai yêu mến nó sẽ ăn bông trái của nó (ChCn 18:21). Lời rủa sả cột trói đời sống và ngăn chận ơn phước. Hãy học tập chúc phước cho con cái, vợ hoặc chồng, cha mẹ bạn và bạn sẽ để ý thấy một sự thay đổi lớn.
Sứ đồ Phierơ dạy rằng “Vả, ai muốn yêu sự sống và thấy ngày tốt lành thì phải gìn giữ miệng lưỡi mình. Đừng nói điều ác và lời gian dảo” (IPhi 1Pr 3:10). Miệng lưỡi chúng ta thường gây ra nhiều điều đau đớn; chỉ Chúa Cứu Thế mới có thể đem sự chữa lành đến cho hoàn cảnh đó, nhưng chỉ khi nào chúng ta sẵn sàng nhìn nhận việc làm sai trật của mình.
Muốn có đời sống tốt lành, chúng ta cần kiềm giữ mình khỏi nói điều ác. Các thế lực tà linh thường tham gia vào những loại rủa sả nầy. Satan không toàn tri, nó không đọc được các tư tưởng của tôi, nhưng nó hiểu điều tôi công bố bằng môi miệng. Đó là lý do vì sao phải xưng nhận các ơn phước và đừng rủa sả là điều hết sức quan trọng. Bạn có nhớ cây vả khô đi khi bị rủa sả không (Xem Mat Mt 21:19).
Xưng nhận là điều vô cùng quan trọng. Khi con người tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa và Chủ đời sống họ, tôi luôn luôn bảo họ hãy lặp lại lớn tiếng lời cầu nguyện của họ. Ma quỉ phải nghe họ tuyên bố lời xưng nhận đức tin của họ. Nhiều lúc tôi thấy người ta đứng trước bục giảng, song khi gọi mời họ nói đôi lời để dâng đời sống mình cho Chúa Jesus, họ không lặp lại lớn tiếng. Vì vậy tôi bảo họ hãy nói lớn lên, ma quỉ phải nghe họ nói. Khi có người bảo: “Tôi cầu nguyện trong tâm trí”, tôi bảo họ rằng ma quỉ không nghe họ đâu. Kinh Thánh chép rõ ràng điều nầy trong RoRm 10:10 “Vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi”.
Nhiều khi tôi thấy người ta phải chiến đấu để mà nói “Lạy Chúa, con xin dâng đời sống của con đây” hoặc “Lạy Chúa, con xin tiếp nhận Ngài vào lòng”. Chính là vì trong giờ phút đó, có một cuộc chiến thuộc linh đang diễn ra trong lòng họ. Không có chỗ cho hai vương quốc trong tấm lòng chúng ta. Một nước phải ra đi, và điều đó chỉ phụ thuộc vào ý chí và sự lựa chọn tự do của người đang thực hiện quyết định hết sức quan trọng ấy.
Chương 5: TÀ LINH HỌC 102
Quyền năng của ma quỉ thường được bày tỏ qua các biểu hiện của ma thuật và phù thủy. Chúng tôi đã nhiều lần đối đầu với các sức mạnh nầy và chứng kiến nhiều người được giải cứu từ cả một cuộc đời sống trong bùa chú. Người phụ nữ trong câu chuyện dưới đây là một trong những trường hợp đó.
“Đã Ba Lần Nó Truyền Bảo Tôi Hãy Tự Sát"
Tôi có những nan đề thuộc về tâm trí từ khi còn là một cô bé. Điều đó bắt đầu khi tôi nhận ra mình là một người có khả năng nhìn thấu suốt những cái vô hình, nghĩa là tôi có thể thấy điều sắp xảy đến; tôi biết các sự việc, con người, nơi chốn. Có ai đó tỏ cho tôi những việc thuộc về quá khứ và tương lai. Điều nầy luôn làm tôi sợ hãi vì tôi không kiểm soát được các tình huống ấy, và cứ mỗi ngày chúng lại càng gia tăng.
Gia đình tôi đưa tôi đến một nhà tâm lý học, nhưng chẳng làm được gì cả. Tôi bực mình với vị bác sĩ đến nỗi, một lần khi được chín tuổi, tôi đã di chuyển một cái đế cắm bút để trên bàn ông ta bằng tâm trí mình. Vị bác sĩ tội nghiệp nổi giận, ông không biết phải nghĩ gì hoặc làm gì. Ông ta kinh ngạc trước những câu trả lời của tôi vì tôi biết rất nhiều điều. Cuối cùng ông ta chịu thua tôi và bảo mẹ tôi là ông không thể giúp tôi được.
Người ta đưa tôi đến gặp các bác sĩ khác, họ tiến hành các thử nghiệm, kể cả việc ghi điện tâm đồ, nhưng không ích gì. Vì vậy họ quyết định đưa tôi đến một nhà cận tâm lý học. Bà ta bảo chúng tôi rằng sẽ có hại cho tôi nếu từ chối quyền năng mà tôi đang có, có nghĩa là tôi phải chấp nhận điều đó. Bà ta lại còn bảo sẽ giúp tôi phát triển khả năng đó. Sau khi tham dự các lớp học của bà, tôi nhận ra là bà ta đang sử dụng tôi cho những mục đích riêng của bà. Tôi bỏ đi và bắt đầu tìm đến ba trung tâm duy linh. Hầu như họ đã đẩy tôi đến chỗ điên khùng.
Thời gian sau đó, tôi có thể nhìn thấy các hình bóng giữa ban ngày. Tôi nghe những tiếng thầm thì, những tiếng nói gọi tôi. Tôi nhìn thấy những hình thù kỳ lạ. Đêm đến tôi không ngủ được, tôi thường thấy những cơn ác mộng, nghe những tiếng xích và những tiếng nói truyền bảo tôi phải làm điều nầy điều nọ. Tôi cảm thấy như có ai đó kéo tóc tôi, xô tôi vào tường. Bố tôi rất to khoẻ, nhưng ông cũng không thể kiềm giữ tôi trong những lần như vậy vì cớ sức mạnh mà tôi đột nhiên có. Mẹ tôi thường phải giữ chặt hai tay tôi để tôi khỏi giật tóc mình.
Một lần nọ, khi đang ở sân nhà sau, tôi thấy một cái bóng đuổi theo tôi. Tôi quay lại và thấy một người đàn ông tóc đen và cặp mắt đen xuyên suốt. Ông ta trông rất khắc khe và nhìn trừng trừng vào tôi ánh mắt cáo tội. Tôi sợ điếng người và thét lên “Mẹ! Mẹ!”. Khi tôi quay lại, đó là bố tôi đang cố giữ tôi lại trong khi tôi cứ nhảy lên và đá đạp lung tung.
Về sau nầy, sự việc bắt đầu lắng xuống. Nhưng đầu năm 1987, chứng cũ trở lại. Tôi tưởng đó là lúc kết thúc. Tôi đã tìm cách tự sát ba lần, ngay cả khi tôi không muốn. Có lần, tôi đã đem một con dao lên giường, có một tiếng nói nói với tôi rằng “Hãy làm ngay bây giờ đi, không đau đâu. Đó là giải pháp duy nhất còn lại đó. Mày sắp mất trí rồi”. Tôi nhìn thấy trong các giấc mơ cuộc đời tôi sẽ diễn tiến thế nào nếu tôi không tự sát. Tôi thấy mình ở trong một cái hố, tay chân bị trói chặt, tóc dài, mặc một chiếc áo trắng bẩn thỉu, và nhiều người chung quanh ném những thứ bẩn thỉu vào người tôi. Tiếng ấy thường bảo “Tương lai mày sẽ như vậy”.
Tháng 2 năm 1988 tôi đi đến buổi truyền giảng của Annacondia tại thành phố Solano. Đêm đầu tiên, kết thúc trong lều cầu nguyện giải cứu. Tôi chỉ nhớ mình tỉnh giấc kêu khóc và ướt đẫm mồ hôi. Trong suốt những ngày ấy tôi bắt đầu cảm nhận sự bình an, yêu thương và vui mừng. Một đời sống mới đang bắt đầu.
Một đêm sau buổi truyền giảng đó, có điều gì đánh thức tôi dậy. Mở mắt ra tôi thấy một người rất khỏe đứng trước mặt tôi, ông nói “Ta là vua Thor; ngươi thuộc về ta, ngươi không được bỏ ta” (Thor là một vị thần trong truyền thuyết của người Scandinavia cai trị trên các lực lượng thiên nhiên, bão tố, và chiến tranh). Tôi muốn thờ phượng Chúa nhưng lưỡi tôi cứng như xi măng. Tôi cố lấy sức và bắt đầu nói đi nói lại “Có quyền năng ở trong huyết của Chúa Jesus”. Một vị tư vấn trong chiến dịch truyền giảng đã dạy tôi điều đó ở một trong các buổi nhóm. Sau đó, tôi bắt đầu thờ phượng Chúa hết lòng.
Một đêm khác, tôi thấy một con rắn trong giấc mơ, đầu nó to hơn thân nhiều. Chỗ ấy ngập nước bẩn đến đầu gối tôi và trời đang mưa lớn như có bão. Thình lình con rắn bắt đầu cười và bò quanh tôi thành các vòng tròn. Tôi quay nhìn nó và bảo “Ta không sợ ngươi”. Tôi hô lớn danh Chúa Jesus và nó bỏ đi. Nó trở lại ba lần và lần nào tôi cũng quở nó. Nhưng lần sau cùng, nó ngưng cười khi nghe tôi nói “Hỡi tà linh, ta nhơn danh Chúa Jesus đuổi ngươi đi. Hãy trở về vực sâu, nơi ngươi từ đó đến”. Tôi nhớ nó rất sợ hãi, nó bắt đầu quẩy đuôi và bỏ đi.
Ngày nay tôi sinh hoạt đều đặn với một Hội thánh. Khi hồi tưởng lại quá khứ, tôi nhận biết rằng mọi điều đó xảy đến cho tôi là vì cha ông tôi đã dâng tôi cho ma quỉ.
- SANDRA
Các Chủ Quyền Cùng Thế Lực
Không nghi ngờ gì nữa, nhiều năm từng trải trong sự giải cứu thuộc linh đã giúp chúng tôi hiểu được nhiều mưu chước và mánh lới của ma quỉ. Kinh Thánh thường nói về những hạng tà linh khác nhau. Có các chủ quyền, thế lực, vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời (Eph Ep 6:12).
Về những kẻ cầm quyền hay vua chúa, chúng ta có thể nói mỗi thành phố đều có một ông vua. Ví dụ rõ nhất được tìm thấy trong sách Đaniên. Dầu Đaniên đã cầu nguyện, ông vẫn không nhận được câu trả lời. Sau hai mươi mốt ngày tìm kiếm mặt Chúa, một thiên sứ phán cùng ông “Vì kể từ ngày đầu mà ngươi đã chuyên lòng hiểu, (Đaniên đã cầu nguyện bằng tâm trí), hạ mình ngươi xuống trước mặt Đức Chúa Trời ngươi (Đaniên đang cầu nguyện và kêu khóc ở trước mặt Đức Chúa Trời) thì những lời ngươi đã được nghe, và vì cớ những lời ngươi mà ta đã đến. Song vua nước Pherơsơ đã ngăn trở ta trong hai mươi mốt ngày” (DaDn 10:12-13). Chiến trận căng thẳng đến nỗi vị thiên sứ phải cầu viện sự giúp đỡ để thắng hơn kẻ đối nghịch. Điều đó có nghĩa là vua nước Pherơsơ đang cầm giữ câu trả lời hoặc sự ban phước mà Đaniên hết sức nóng lòng trông đợi.
Ngày nay cũng có những điều tương tự như vậy. Có các chủ quyền, những người mạnh sức, đang cầm quyền và ra sức, bằng mọi cách có thể được, ngăn trở công việc của Đức Chúa Trời. Chúng muốn ngăn trở các chiến dịch truyền giảng và đặt các chướng ngại vật trên đường của những người đang cần Chúa Cứu Thế. Để làm được điều nầy, chúng sẽ sử dụng mọi loại trở ngại.
Điều quan trọng phải hiểu rằng chiến trận cần phải thắng ở trên trời, trên không trung; chỉ khi đó chúng ta mới thấy được sự chiến thắng phản ánh trên đất. Vì vậy chúng ta cần cột trói và đuổi các quỉ, những linh cầm quyền và các thế lực. Một khi sự đắc thắng trên trời được thực hiện, thì cuộc chiến trên đất sẽ dễ dàng bởi vì sẽ không còn sự chống nghịch từ kẻ ác. Đó là lý do vì sao Phaolô nói rằng chiến trận của chúng ta không phải nghịch cùng thịt và huyết, mà là cùng các thế lực, các chủ quyền và vua Chúa của thế gian mờ tối nầy, tức là cùng các thế lực ma quỉ ở các nơi trên trời. Đó chính là các thế lực mà Hội Thánh đang phải đánh trận.
Chúng ta cần phải hiểu rõ rằng có một số các tôn ti thứ bậc của các linh, và chúng ta cần biết ai là kẻ chúng ta đang đối đầu khi công bố chiến trận với ma quỉ. Hãy cột trói kẻ mạnh sức là vua của sự tối tăm, như Phaolô nói trong IICo 2Cr 4:3-4. “Nếu Tin Lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất, cho những kẻ chẳng tin mà Chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời”. Nếu thế gian chưa tin, là vì họ đang bị ảnh hưởng, bị buộc trói bởi linh của sự vô tín. Chúng ta hãy quở trách linh nầy để họ có thể tin, hầu cho thế lực nầy buông tâm trí họ ra, và ánh sáng của Tin Lành là sự vinh hiển của Chúa Cứu Thế có thể chiếu rọi trong cuộc đời họ.
Ma Quỉ Có Thể Gây Ra Bệnh Tật Không?
Chúng ta đọc câu chuyện về Chúa Jesus và người đàn bà bị đau liệt. Chúa Jesus đã nhận biết bà bị một tà linh làm cho mắc bệnh và Ngài phán: “Con gái của Ápraham nầy, quỉ Satan đã cầm buộc mười tám năm, há chẳng nên mở trói cho nó trong ngày Sabát sao?” (LuLc 13:16). Theo khúc Kinh Thánh nầy, chúng ta thấy rõ rằng tà linh có thể gây ra bệnh tật. Nhưng có phải mọi tật bệnh đều do ma quỉ gây ra không? Suốt nhiều năm, có nhiều người đã tin như vậy. Nhưng trong thực tế, không phải vậy. Chúng ta hãy giải thích và chứng minh điều đó.
Trong 9:1, Chúa Jesus tuyên bố nhiều câu về đề tài nầy. Khi ủy thác mạng lệnh cho các môn đồ mình, Ngài đã ban cho họ quyền phép để đuổi quỉ và chữa lành các tật bệnh. Hãy xem cho kỹ; Chúa đã phân biệt giữa các quỉ và các tật bệnh. Điều nầy có nghĩa không phải tất cả các tật bệnh đều do ma quỉ.
Mỗi khi cầu nguyện cho người đau, tôi quở trách linh gây ra tật bệnh, nhưng tôi cũng quở trách tật bệnh đó. Lần nọ tôi được mời giảng cho một Hội Thánh ở thành phố Buenos Aires, khi đã giảng xong, tôi mời gọi những người bệnh bước lên để cầu nguyện cho họ. Nhiều người đã bước lên. Đức Thánh Linh phán cùng tôi rằng “Hãy gọi những người bị ung thư”.
Tôi kêu gọi, và có chừng mười hay mười hai người đã bước lên. Khi cầu nguyện cho họ, tôi quở trách tật bệnh: “Hỡi tà linh của bệnh ung thư, hãy ra khỏi những người nầy, nhân danh Chúa Cứu Thế Jesus”. Bốn người trong số họ ngã xuống, bắt đầu lăn lộn và sùi bọt mép. Họ đều đã được chữa lành. Những người không té, không rúng động, cũng được chữa lành. Đức Chúa Trời thật diệu kỳ! Những người trong chúng tôi tưởng mình là người có biết chút gì, giờ đây ý thức rằng mình chẳng biết gì cả và mình chỉ là những tôi tớ hèn mọn của Đức Chúa Trời chí cao. Halêlugia!
Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh tật. Ở các chương sau chúng tôi sẽ giải thích chi tiết hơn tầm quan trọng và quyền năng của sự tha thứ. Bảy mươi phần trăm những người có các nan đề thuộc linh và kết thúc trong trại giải cứu của chúng tôi đều có sự thù ghét, tức giận và gốc rễ của những cay đắng ăn sâu trong lòng mình. Đó là những lý do chính gây ra tật bệnh và sự đè nén, đau buồn trong đời sống con người. Đại đa số nhận được sự chữa lành thuộc thể khi họ tìm được sự chữa lành bên trong qua sự tha thứ.
Hãy dò xét lòng mình. Có thể có một sự thù ghét nào đó đối với chồng mình, với một người bà con; anh em, một người hàng xóm, hoặc anh chị em ruột. Lòng oán hận và căm thù đem lại hình phạt. Nhiều lúc, chúng là lý do chính gây ra các tật bệnh dường như không có nguồn gốc. Dù bạn căm ghét vì bất cứ lý do gì. Chúa Jesus đã tha thứ và Ngài truyền cho chúng ta hãy tha thứ. Nếu bạn không thực hiện điều đó, bạn vẫn cứ ở dưới sự đoán phạt và không vâng lời Ngài. Tha thứ không phải là một cảm xúc mà là một quyết định . Nếu bạn muốn tha thứ, Chúa sẽ giúp bạn tha thứ.
Tôi thường cầu nguyện cho những người bị tàn hại bởi các tật bệnh và họ đã nhận được sự chữa lành ngay khi cầu nguyện xong và xưng nhận sự tha thứ. Quyền năng của Đức Chúa Trời vận hành qua sự tha thứ thật đáng kinh sợ, đừng để cho ma quỉ sử dụng những cảm xúc để đem tật bệnh vào trong đời sống bạn.
Uy Quyền Đuổi Quỷ
Đức Chúa Jesus đã khẳng định Hội Thánh có quyền năng để đuổi và quở trách ma quỉ khi Ngài phán rằng “Các ngươi sẽ nhơn danh Ta mà trừ quỉ.” Bạn đừng tống nó ra hoặc đuổi nó ra bằng cách cho người bị quỉ ám uống dầu.
Sứ mạng đích thực của ma quỉ trên thế gian nầy là cướp giết và hủy diệt. Chúng ta cần phải tin và hiểu rõ điều đó. Nó sẽ không ngừng gây rắc rối cho đến khi Chúa đem chúng ta vào sự hiện diện của Ngài. Đó là công việc và mục tiêu của nó. Nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta uy quyền và trang bị chúng ta bằng Thánh Linh Ngài để vô hiệu hóa các công việc của ma quỉ trong danh Chúa Jesus.
Nhiều lúc chúng ta tin rằng chính mình Chúa là Đấng sẽ làm điều đó (và đúng vậy, Ngài đã làm tất cả rồi), nhưng Chúa đã giao cho chúng ta quyền phép cùng mạng lệnh để tiếp tục công việc mà Ngài đã khởi làm. Vì vậy, chúng ta không thể cầu nguyện cho người bị quỉ ám như vầy “Lạy Chúa, xin hãy cho người nầy được tự do”.
Câu trả lời là Ngài đã làm xong điều đó trên Thập Tự Giá! Chúng ta phải nắm lấy uy quyền Ngài đã giao cho mình và nhơn danh Ngài mà đuổi các quỉ - Đức Chúa Trời đã ban quyền phép cho hết thảy những ai tin Ngài, không phải cho riêng một người đặc biệt nào cả. Chúng ta cần nắm giữ uy quyền của Ngài trong lòng mình, đức tin ban cho chúng ta uy quyền.
Tôi tin chắc nơi điều Chúa Jesus nói với các môn đồ khi họ không đuổi quỉ ra khỏi một cậu bé được. Họ hỏi Ngài “Vì cớ gì chúng tôi không đuổi quỉ ấy được (Mat Mt 17:19).
Chúa Jesus trả lời họ rằng “Ấy là tại các ngươi ít đức tin” (17:20). Và Ngài cũng cho biết một điều khác nữa. “Nếu không cầu nguyện và kiêng ăn, thì chẳng ai đuổi thứ quỉ ấy ra được” (Mac Mc 9:29).
Vậy thì thế nào? Có phải Chúa tự mâu thuẫn chăng? Không, tất nhiên Ngài không bao giờ mâu thuẫn. Khi người nào có đức tin, người ấy có thể dời được núi. Nhưng khi đức tin yếu đuối, chúng ta cần phải tìm kiếm mặt Chúa vì đức tin là một ân tứ đến từ Ngài. Đó không phải là thuộc tính của con người mà là một ân ban từ trời. Nếu bạn có đức tin, hãy tìm kiếm nó, bởi vì Đức Chúa Trời hay “thưởng cho kẻ hết lòng tìm kiếm Ngài”. Nếu bạn có đức tin mạnh mẽ, đức tin dời núi được, thì không quỉ nào có thể chống nỗi bạn. Nhưng nếu bạn chưa có đức tin, hãy cầu xin Chúa bằng sự cầu nguyện và kiêng ăn để được đổ đầy sự xức dầu, sức mạnh, và quyền năng của Đức Chúa Trời.
Ngày nay chúng ta cần phải hết lòng tìm kiếm Ngài. Hội Thánh cần tìm kiếm quyền năng, sự xức dầu, và ân điển của Đức Chúa Trời. Chúng ta cần tìm kiếm Ngài bằng cách dành thì giờ ở riêng trong sự hiện diện của Ngài, bằng đầu gối, dốc đổ tấm lòng, linh hồn mình ra cho Ngài, cùng với nước mắt, xin Ngài trang bị, xức dầu và gia thêm đức tin, hầu cho chúng ta có thể làm công việc theo ý muốn Ngài.
Điều ác gia tăng, khoa học gia tăng, con người xây bỏ Đức Chúa Trời. Tôi tin rằng cách duy nhất để đưa con người đến gần Chúa là bởi sự xức dầu và năng quyền của Đức Thánh Linh. Chúng ta chỉ có được điều đó bởi tìm kiếm Chúa.
Ai là người có quyền năng? Mọi người đều có. Có lẽ bạn nghĩ: “Nhưng Carlos , ông có nhiều năng quyền hơn chúng tôi ! Bạn lầm! Không phải vậy đâu. Tôi có thể chứng minh điều nầy cả ngàn lần. Hết thảy chúng ta đều có cùng một uy quyền. Vì sao? Thật đơn giản. Tôi đã cầu xin Chúa ban cho tôi quyền năng một thời gian dài và bạn có biết câu trả lời của Ngài là gì không? Ngài phán “Ta đã ban quyền năng cho con rồi”.
Nhưng điều đó vẫn chưa thực hữu với tôi cho đến khi Ngài đem tôi đến với Lời Ngài, là chỗ tôi đã đọc “Kẻ nào tin sẽ được các dấu lạ nầy”. Tôi thưa “Vâng, con đọc rồi”
Nhưng Ngài phán “Con hãy đọc lại”.
Khi tôi đọc lại, các từ ngữ dường như chiếu sáng.
Chúa hỏi tôi “Con tin Ta chăng?”
Tôi thưa rằng “Lạy Chúa, có”
Ngài bèn phán “Quyền năng chưa được tỏ ra trong đời sống con vì con vẫn chưa tin Ta”
Điều thứ nhất là phải đặt lòng tin nơi Chúa, điều kế tiếp là phải tin Ngài.
Đó chính là bí quyết: Phải tin Đức Chúa Trời . Thậm chí nếu bạn chỉ là một tân tín hữu, nếu bạn phải hành động, hãy hành động! Đừng sợ, hãy tin cậy Chúa! Bạn sẽ có năng quyền. Đức Chúa Trời không hề có sự ngoại lệ. Một số người có đức tin nhiều hơn, và người khác có đức tin kém hơn, nhưng Chúa đã ban cho chúng ta uy quyền để thi hành công việc Ngài trên đất. Ngược lại, nếu bạn đã tin Chúa nhiều năm mà khi đối diện với ma quỉ bạn sợ hãi, nó sẽ cười nhạo bạn.
Bạn phải tập tành đức tin mỗi ngày. Các vận động viên thường làm gì? Họ luyện tập mỗi ngày để các cơ bắp phát triển. Điều gì xảy ra nếu họ không tập luyện? Bắp thịt của họ sẽ teo lại. Với đức tin cũng thế. Nếu bạn muốn đức tin mình lớn mạnh, bạn phải cho nó làm việc mỗi ngày, hãy thực hành đức tin. Và khi bạn thấy điều Ngài phán trở thành thực tế trong đời sống mình, đức tin bạn sẽ lớn lên và gia tăng rất nhiều.
Một phụ nữ nọ tiếp nhận Chúa và kinh nghiệm một sự thay đổi triệt để trong đời sống khiến cho một pháp sư umbanda tìm đến tôi để tôi cầu nguyện cho ông. Ông nói với tôi “Tôi có năm đền thờ umbanda”. Tôi là một pháp sư. Các quảng cáo của tôi hiện đăng trên các tạp chí và nhật báo”. Trong buổi chuyện trò, tôi bảo ông “Ông đang cho kẻ bất an những điều ông không có. Ông không có bình an, ông không có sự vui mừng, không đang bị phá sản.
Người đàn ông nầy đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế Jesus vào lòng cùng với vợ ông ta.
Hàng ngàn người đang bị lừa dối và tìm kiếm Chúa nơi không thể tìm được Ngài. Chúng ta thật đáng trách, chúng ta biết lẽ thật nhưng chúng ta chỉ giữ nó cho riêng mình. Hãy mang lẽ thật ra các đường phố và công bố lẽ thật cho mọi người “Chúa Cứu Thế Jesus có thể thay đổi đời sống quý vị! Chúa Jesus chữa lành bệnh tật! Chúa Jesus phục hồi các mối quan hệ hôn nhân, Ngài ban bình an. CHÚA CỨU THẾ JESUS LÀ SỰ SỐNG!” Nếu chúng ta không làm điều đó, ma quỉ sẽ tiếp tục cầm giữ họ trong quyền lực của nó và cứ đưa họ xuống địa ngục, hàng ngàn người mỗi ngày.
Nếu Hội Thánh không làm việc, các chiến dịch truyền giảng sẽ kết thúc trong thất bại. Đúng là không ai có thể ép người ta tham dự các buổi nhóm được, nhưng bạn phải giảng Tin Lành cho họ và cùng đi với họ đến buổi nhóm. Những người tiếp nhận Chúa Cứu Thế sẽ làm công việc đó, vì bạn trước hết đã giảng Tin Lành cho họ. Như vậy tất cả những gì chúng ta làm là đặt một dấu ấn trên họ, xác nhận họ.
Phaolô cho chúng ta biết: “Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép (ICo1Cr 2:4). Ông không đi ra bằng lời nói, mà bằng sự tỏ ra của Đức Thánh Linh. Đó là lý do vì sao đức tin của những kẻ tin không đặt trên sự khôn ngoan của loài người, nhưng trên quyền phép của Đức Chúa Trời. Đó là kết quả sẽ còn lại.
Khi tôi nói đến khúc Kinh Thánh nầy và bảo rằng Tin Lành không phải bởi lời nói mà bởi quyền phép , thì nhiều người nói “Nhưng Kinh Thánh chép rằng: Phước cho những kẻ chưa thấy mà đã tin vậy”.
Và Chúa phán cùng tôi “Hãy nói với họ con làm sáng danh Ta bằng những kẻ khi đã thấy thì họ tin”. Chính tôi là một người đã tin Tin Lành bởi những việc tôi đã thấy. Nếu tôi không thấy, chắc tôi đã không tin. Và tôi biết đó là phương cách dành cho nhiều người.
Trong một chiến dịch truyền giảng kéo dài bốn mươi lăm ngày ở tại thành phố San Juslo thuộc tỉnh Buenos Aires, có một người đưa vợ đến mỗi buổi tối truyền giảng, song anh ta thì không đến gần chúng tôi.
Vào một trong những ngày cuối của chiến dịch, anh ta dẫn con chó nhỏ đi dạo quanh, trong khi đợi vợ anh ra về. Anh ta đặt con chó nhỏ lên mui xe. Lúc đó, tôi bắt đầu cầu nguyện kết thúc, tôi nói “Lạy Chúa Jesus, hãy chạm đến!” con chó rơi xuống khỏi mui xe, nằm ngã ngửa. Người đàn ông nầy rất quý con chó của mình, anh nghĩ nó đã chết. Trong lúc đó tôi tiếp tục cầu nguyện “Hãy đứng dậy và bước đi”.
Lập tức, con chó nhỏ bật dậy và bắt đầu vẫy đuôi với chủ nó. Người đàn ông vừa khóc vừa chạy lên bục giảng với con chó nhỏ trong tay, sẵn sàng để tiếp nhận Chúa Cứu Thế. Dấu lạ ấy đã đủ cho anh ta.
Chúa muốn các linh hồn hư mất nhìn biết Ngài. Vì vậy Ngài bày tỏ chính mình bằng nhiều cách, dùng nhiều phương cách khác nhau cho những người khác nhau. Nhiều lúc Ngài sẽ dùng chúng ta như những công cụ để làm thành điều đó.
Kinh Thánh chép rằng hết thảy chúng ta đều nhận được sự xức dầu của Đức Thánh Linh nhưng sử dụng hay không là tùy nơi chúng ta. Chúng ta cần để Chúa tự do lưu xuất quyền năng của Ngài qua chúng ta.

Chương 6: NGƯỜI BỊ QUỈ ÁM
Các chiến dịch truyền giảng nối tiếp chiến dịch, hàng trăm người biểu hiện rõ hoạt động của các quỉ. Mỗi ngày, trước khi giảng Lời Đức Chúa Trời, tôi cầu nguyện và quở trách các tà linh muốn gây rối hoặc cản trở tâm trí của những người sắp sửa được nghe Lời Chúa. Bạn hãy đọc câu chuyện sau đây của Patricia, người được giải cứu bởi phép lạ ở một trong các buổi truyền giảng của chúng tôi.
Tất cả bắt đầu vào một ngày Chúa Nhật năm 1982. Đang ăn trưa, thình lình tôi có cảm giác như có cát trong mắt, và ánh sáng làm tôi đau mắt. Tôi đến nhiều chuyên gia về mắt, nhưng họ không tìm thấy gì trục trặc với đôi mắt của tôi cả. Thị giác của tôi suy kém dần, và cuối cùng tôi mất hẳn thị lực.
Quá tuyệt vọng tôi tìm đến một thầy pháp, ông ta bảo có thể giúp tôi khôi phục thị lực; lúc ấy tôi không biết rằng thần của ông chính là Satan.
Tôi tin ông ta và tuân theo các chỉ dẫn của ông cách rất cẩn thận. Một buổi sáng nọ, tôi yêu cầu mẹ mua cho tôi một con gà trắng, mật ong và bốn cây đèn cầy trắng. Với tất cả các thứ ấy, tôi đến gặp thầy pháp. Tôi diện như đi dự lễ, mặc toàn áo quần trắng, những người dự lễ với thầy pháp quấn một miếng vải trắng quanh đầu tôi, đoạn họ thực hiện việc gọi là “tắm máu” cho tôi. Họ cắt cổ con gà và rưới tất cả máu lên người tôi. Tôi không biết cũng chẳng quan tâm điều họ đang làm cho tôi. Tôi chỉ ước sao cho có lại thị lực.
Tôi trở về nhà, và hứa hôm sau sẽ quay lại. Tôi đã giữ lời. Khi tôi đến, họ bôi mật ong lên đầu tôi, và rửa bằng các dược thảo đã được chuẩn bị từ hôm trước. Từ đó trở đi tôi bắt đầu nhìn thấy trở lại và ánh sáng mặt trời không làm khổ tôi nữa. Tôi bắt đầu đặt lòng tin nơi những người ấy.
Vài ngày sau đó, tôi để ý thấy mình đang mất dần trí nhớ. Ngay sau đó tôi thấy khó để biết được mình đang ở đâu. Khi đi ra ngoài, tôi hay lạc đường, và tôi bắt đầu kinh hoảng. Tôi cảm thấy không ổn. Tôi trở lại thầy pháp, ông ta bảo tôi cần một sự điều trị khác trong số các cách chữa của họ, một phương cách chữa cho trí não của tôi. Theo ông ta, có ai đó đang tìm cách làm mất trí nhớ của tôi.
Sau khi họ chữa trị, tôi bình phục lại. Sau đó, ông ta đề nghị để tôi làm việc với ông, nhưng mẹ tôi phản đối vì lúc ấy tôi chỉ mới mười bốn tuổi.
Nhiều tháng trôi qua, tôi tiếp tục trong tình trạng nô lệ. Mỗi ngày tôi thường tuân giữ nhiều nghi lễ khác nhau của bùa chú và pháp thuật. Tôi học biết mọi thứ về các nữ đồng trinh, các thánh, “orixá” và “exú”, cách phân biệt những màu sắc khác nhau, cách sửa soạn các mâm đồ cúng, dùng loại đèn cầy nào, màu gì và bao nhiêu. Họ cắt nghĩa cho tôi mọi thứ về các búp bê đen. Tôi phải cho những con búp bê nầy thuốc lá để chúng cùng hút với tôi. Còn nhiều điều khác nữa mà tốt hơn là tôi nên quên đi.
Một thời gian, mối quan hệ bạn hữu giữa tôi với thầy pháp bị đổ vỡ, và tôi bỏ đi. Sau điều đó, tình trạng sức khỏe và tâm linh tôi trở nên khủng khiếp. Vì vậy tôi bắt đầu tìm đến một nhà tâm lý học để được giúp đỡ. Sau một vài lần điều trị, tôi thấy khá trở lại.
Năm 1987, tôi đến bác sĩ khám, ông cho tôi biết tôi bị ho gà. Họ cho tôi thuốc nhưng tôi chỉ càng thấy tệ hơn. Tôi nôn mửa mọi thứ đã ăn, nhiều lúc tôi muốn ngạt thở, tôi nghĩ mình sắp chết. Vào ngày 2 tháng 12 năm đó, tôi phải nhập viện vì viêm cuống phổi. Tôi rất yếu và phải nhập viện 18 ngày.
Có điều gì đó trong tôi không ngừng trò chuyện với tôi. Tôi cảm thấy như có ai đang rượt đuổi tôi, tôi nghe các tiếng ồn ào và thấy có vật gì đi quanh giường, tôi sợ hãi. Tôi không thể tin cậy ai cả. Hễ khi nào tôi kể lại cho ai đó những gì đang xảy ra cho tôi, thì họ cười và chế giễu, hoặc họ cho tôi là khùng. Tôi chẳng còn sức lực nữa.
Một Chúa Nhật nọ, gia đình đưa tôi đến buổi truyền giảng của Mục sư Annacondia ở tại Buenos Aires, khi ông Annacondia cầu nguyện và quở trách các quỉ, tôi ngã xuống đất. Tôi được đưa vào trại giải cứu, tôi đấm đá, cào cắn và đánh những người khiêng cáng.
Vào đêm thứ nhì, họ lại đưa tôi vào trại để cầu nguyện cho tôi. Tôi ói mửa ra một đống rắn và cóc, cuối cùng tôi đã được giải cứu.
Ngày nay tôi cảm tạ Chúa vì tình yêu và lòng thương xót vô tận của Ngài. Và tôi cũng cảm ơn Mục sư của tôi đã dẫn dắt tôi trên bước đường của Chúa. Tôi cảm ơn gia đình, đã chịu đựng tất cả những điều khủng khiếp đã qua. Tôi đã trừ bỏ hết mọi thứ bùa ngãi, vòng đeo cổ, và các búp bê. Hiện nay tôi thật sự là một người mới, trung tín với Chúa Jesus là Đấng đã giải cứu tôi khỏi địa ngục mà tôi đã từng ở trong đó.
- PATRICIA
Ma quỉ không chịu nổi khi nghe danh Chúa Jesus, vì vậy trong giờ cầu nguyện, người ta có thể nghe những tiếng thét từ đám đông. Lập tức hàng chục người khiêng cáng chạy đến với những con người khác nhau đang run rẩy và gào thét không kiểm soát nổi. Những anh em làm việc với tư cách những người khiêng cáng có uy quyền để quở trách Satan và bảo nó ngưng gào thét, để họ có thể chuyển những người nầy đến chỗ được các nhà tư vấn cầu nguyện giải cứu thuộc linh.
Nhiều lần, bởi nhìn vào mắt người ta, tôi nhận biết ai là kẻ đang làm chủ đời sống họ, ai đang là vua của lòng họ. Đôi mắt bày tỏ rất nhiều những gì chúng ta có thể biết. Cái nhìn trong cặp mắt của một người bị đè nén thường cứng cỏi; chúng phản chiếu sự chống cự với sự cầu nguyện. Khi tôi nhìn vào mắt họ, tôi cảm biết được kẻ xâm nhập vào cuộc đời họ, chiếm đoạt, chống cự, làm thương tổn, gây thương tích và hủy hoại những gì không thuộc về hắn. Nhưng Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta uy quyền để giải phóng những con người đó khỏi ma quỉ.
Trong hội thánh của tôi, hễ khi nào có người bị quỉ ám bắt đầu biểu lộ ra, thường thì tất cả chúng tôi đều lao tới người ấy. Mục sư cũng như các chấp sự, để quở mắng ma quỉ, tất cả đều hét lên cùng một lúc. Bạn hãy tưởng tượng xem, điều gì sẽ xảy đến cho bạn tại nơi làm việc nếu như giám đốc, phó giám đốc, quản lý, và người kế toán trưởng, tất cả đều bảo: “Không, không, không, làm theo cách nầy...không được, tốt hơn là cách nầy nầy!” Chắc chắn bạn sẽ nhìn họ và bảo “xin lỗi, hãy quyết định đi đã, rồi xin chỉ một người trong quý vị nói cho tôi biết điều tôi phải làm. Chứ tất cả quý vị đều thét vào tôi như thế thì tôi không thể vâng theo lời ai được cả”.
Ma quỉ phải phục dưới uy quyền; nếu tôi quở trách nó và bạn cũng quở trách nó, chúng ta làm mất tác dụng uy quyền của mình khi làm giảm sút uy quyền của nhau. Nếu tôi nói “Hỡi quỉ, nhơn danh Chúa Jesus, hãy đi!” người đứng cạnh tôi cũng bảo nó như vậy, nó sẽ không làm - Đức Chúa Trời đã tỏ cho tôi rằng đó là một trong những lý do vì sao sau nhiều ngày la hét, thường chúng ta vẫn không có được kết quả - Tôi đã gào thét vì tôi muốn đuổi con quỉ ấy ra. Người kia cũng vậy. Vì không nhận ra điều đó, chúng ta làm suy giảm uy quyền của nhau, và vì vậy mà quỉ không xuất ra.
Vậy chúng ta phải làm gì? Trước hết cần tôn trọng uy quyền của nhau, khi người nầy cầu nguyện, người kia hỗ trợ, khi người nầy bắt đầu mệt, người ấy ủy thác uy quyền cho người kia và tiếp tục hỗ trợ cho người đó trong sự cầu nguyện. Như vậy ma quỉ, là kẻ phải phục dưới uy quyền, phải vâng phục. Song nếu hết thảy chúng ta đều ra lệnh và cùng gào thét, nó sẽ không vâng lời.
Nhiều lúc, người bị quỉ ám rời khỏi buổi nhóm mà chưa được giải cứu hoàn toàn. Ngày hôm sau chúng biểu hiện những hành động như đã làm trước đó. Hết lần nầy qua lần khác điều tương tự vẫn xảy ra. Ngày nay, khi tôi thấy có ai đã đến trại giải cứu lần thứ ba, thì tôi hỏi vì sao người ấy chưa được giải phóng. Trong trường hợp đó, người khải đạo có thể quở mắng ma quỉ suốt đêm, mà vẫn không có kết quả gì xảy ra. Bạn không thể vào nhà khi người ta không mở cửa cho bạn vào. Có những người không biết họ đang ở trong sự nô lệ, vì vậy Chúa sẽ không bẻ gãy ý muốn tự do của họ. Họ là những người phải chọn và quyết định điều họ muốn làm.
Khi người ta muốn được buông tha, sự giải phóng xảy ra ngay lập tức. Họ không phải vào trại giải cứu hơn một lần. Nếu trên một lần, là do có điều gì đó không đúng đắn. Tôi nhớ một anh em, người mà trong một buổi truyền giảng đã hỏi tôi “Ông có nhớ tôi không?”
Tôi trả lời “Không, tôi không nhớ”
Anh nói với tôi rằng “Tôi là người đã trải qua rất nhiều đêm trong trại giải cứu ở thành phố San Martin”
Ngày nay, tôi dâng sự vinh hiển cho Chúa bởi vì điều đó không còn xảy ra nữa. Anh ta đã dạy chúng tôi rất nhiều điều. Những sự dạy dỗ của Chúa thật thực tế và hữu hiệu. Khi chúng ta tuân theo những sự dạy dỗ đó, công việc chúng ta được kết quả, và người ta nhận và vui hưởng sự tự do có trong Chúa Cứu Thế Jesus mà không có quá nhiều sự náo động hay ầm ĩ. Điều quan trọng là chúng ta phải làm việc với sự khôn ngoan và tình yêu thương của Chúa đồng thời sử dụng uy quyền cách đúng đắn. Uy quyền nầy nằm ở trong danh Chúa Jesus. Khi bạn nói “Hỡi ma quỉ, hãy đi ngay trong danh Chúa Jesus!”. Người ấy được buông tha vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Trong một kỳ truyền giảng tại một trong các khu vực ngoại ô của Buenos Aires gọi là La Boca, khi tôi đang bước xuống khỏi bục giảng, một trong các nhà khải đạo làm việc trong lều giải cứu đến nói với tôi rằng “xin ông hãy đến, có một người đàn ông bị quỉ ám trong trại bảo ông ta là Bêênxêbun. Ông hãy đến đuổi nó ra”.
Tôi bèn nói “Kinh Thánh chép rằng”. Ai tin Ta sẽ được các dấu lạ nầy: Lấy danh Ta mà trừ quỉ...” vì vậy bà có uy quyền trên Satan và hết thảy các quỉ sứ”.
“Ông tin vậy sao?” Bà nói với vẻ do dự.
“Phải tôi kiên quyết” và hãy nhơn danh Chúa Jesus bảo Bêênxêbun ra khỏi đời sống ấy.
Khi họ kết thúc buổi cầu nguyện cho tất cả những người đau, người chị em đó ra khỏi lều và đến nói với tôi “Mục sư Carlos. Đã được rồi. Anh ta đã được buông tha”.
Sự vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời, quyền phép ở trong danh của Chúa Jesus . Ngài đã ở cùng bà, và Ngài ở với bạn. Chúa Jesus ở với chúng ta. Nếu chúng ta tin nơi Ngài và Lời Ngài chúng ta sẽ có quyền phép.
Chúng ta phải nương cậy vào Ngài. Nhiều lúc có những điều bạn không biết, Thánh Linh thường bày tỏ những điều đó cho bạn. Thánh Linh ban ân tứ biện biệt cho chúng ta khi chúng ta thưa với Ngài rằng “Lạy Chúa, điều gì sắp xảy đến?” Ngài mặc khải điều đó cho chúng ta vì Ngài muốn chúng ta đắc thắng nhưng cũng vì Ngài muốn chúng ta học tập nương cậy vào Ngài.
Ma quỉ có thể cột trói một người trong Hội Thánh được không? Nhiều người nói rằng điều đó không đúng với Kinh Thánh, không thể có điều đó được. Trong LuLc 13:10-17, Chúa Jesus đã gọi người đàn bà đau liệt là “con gái của Ápraham”. Ngài thừa nhận bà như là con gái của Đức Chúa Trời, người đã tin Đức Chúa Trời vậy mà trong bà có một con quỉ. Làm sao có thể có điều đó. Chúng ta cũng tin rằng một Cơ Đốc Nhân đầy dẫy Đức Thánh Linh, sống theo ý muốn Chúa thì không sống trong tội lỗi, không thể bị quỉ ám hoặc có các vấn đề về tâm linh
“Chúng ta biết rằng ai sanh bởi Đức Chúa Trời thì hẳn chẳng phạm tội; nhưng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì tự giữ lấy mình, ma quỉ chẳng làm hại người được” (IGi1Ga 5:18).
Người nào dầu là thuộc viên của Hội Thánh Cơ Đốc, nhưng cứ dìm mình trong tội lỗi là đang mở cửa cho ma quỉ vào đời sống mình. Các lãnh đạo của chúng tôi ước tính rằng 30-40% những người được nhận sự giúp đỡ qua chức vụ giải cứu trong các buổi truyền giảng của chúng tôi là thành viên của các Hội Thánh. Họ có các nan đề thuộc linh, khi chúng tôi cầu nguyện cho họ, chúng tôi không hỏi Chúa vì sao họ phải chịu những nan đề đó, chúng tôi chỉ giúp đỡ cho họ.
Chúa kêu gọi chúng ta giải cứu con người để họ có thể tái xác lập mối tương giao trọn vẹn với Ngài. Vậy thì làm thế nào mà ma quỉ đã xâm nhập vào đời sống của người đàn bà đau liệt trong LuLc 13:1-35. Chúng ta cần biết điều đó để đóng cửa với Satan và đuổi nó đi mãi mãi, không bao giờ trở lại để làm hại một cuộc đời. Đa số các trường hợp một người gặp phải nan đề thuộc linh do Satan gây ra đều có các gốc rễ bắt nguồn từ quá khứ như là những giao kèo chưa được cắt đứt, của sự sợ hãi, ganh ghét, thù hận, ác cảm, cay đắng, đồi trụy tình dục, và những tội khác nữa. Những cảm xúc nầy đã đâm rễ trong một tình trạng nô lệ khiến họ không hưởng được một đời sống dư dật. Niềm vui phải đến trong đời sống và trong tấm lòng của họ. Chúa phán Ngài sẽ ban cho dân sự Ngài sự bình an của Ngài.
Có hai cách để sống đời sống Cơ Đốc: đắc thắng hoặc thất bại. Hầu hết các tình huống phụ thuộc vào chính người đó. Nếu con người cứ giữ kín những yếu đuối và những nan đề của họ, không chịu xưng tội của mình ra cho những người lãnh đạo thuộc linh là người có thể giúp đỡ và đập vỡ xiềng xích của ma quỉ, thì sẽ không bao giờ hưởng được sự đắc thắng lâu dài. Thi Tv 32:3 chép rằng “Khi tôi nín lặng, các xương cốt tôi tiêu tàn”.
Một buổi tối nọ tại một trong các chiến dịch truyền giảng của chúng tôi, cứ mỗi lần tôi quở trách ma quỉ từ trên bục giảng, thì một phụ nữ trong thính giả bắt đầu có những biểu hiện tà linh và run rẩy dữ dội. Chúng tôi đưa bà đến trại giải cứu nhiều lần để cầu nguyện, bà ta ra về mà không có gì thay đổi. Những người khải đạo cho tôi biết rằng bà đã tiếp nhận Chúa khá lâu và vẫn thường xuyên nhóm lại.
Buổi chiều hôm sau, điều tương tự lại xảy ra; khi tôi quở trách ma quỉ, bà bắt đầu run rẩy và thét lên. Đức Thánh Linh đặt chữ phá thai vào lòng tôi. Ngài tỏ cho tôi biết điều gì đó về cuộc đời của người phụ nữ nầy. Cuối cùng tôi bước đến bên bà và nói: “Bà có khi nào đã phá thai mà chưa hề xưng ra hoặc ăn năn chăng?”.
Đêm đó với những giọt nước mắt ăn năn, bà thú nhận rằng bà đã phá thai năm lần. Bà khóc lớn xin Chúa tha thứ, và bà đã được buông tha. Đức Chúa Trời không những giải cứu bà mà đêm đó bà còn nhận được ân tứ tiếng mới.
Con Người - Một Hữu Thể Tam Diện
Con người gồm có Linh, Hồn, và Thân. Chúng ta hãy xem xét một số chi tiết của từng phần nêu trên.
Linh
Trong GiGa 3:6 chúng ta đọc thấy “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt, hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần”. Thánh Linh của Đức Chúa Trời sinh một Linh mới trong người tin Chúa. (Xem Exe Ed 36:26-27). Kinh Thánh cũng cho chúng ta biết rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời giống như gió:
“Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy” (GiGa 3:8).
Thánh Linh của Đức Chúa Trời giống như gió, có nghĩa là Thánh Linh chuyển động tự do và đầy sức sống, Người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy. Đức Chúa Trời đã ban cho mỗi chúng ta một tâm linh mới và Linh đó là cốt lõi của một đời sống cá nhân. Linh là điều phân biệt con người với tất cả các sinh vật khác. Đây là một lãnh vực trong đời sống con người nhận được những sự từ Đức Chúa Trời:
“Nhưng có thần linh ở trong loài người, và hơi thở của Đấng Toàn Năng cho chúng sự khôn sáng (Giop G 32:8).
Hồn
lãnh vực nầy được kết hợp với tâm trí (psyche), tình cảm (những cảm xúc), và ý chí.
“Linh hồn nào phạm tội thì chết” (Exe Ed 18:4)
Thân
Thân bao gồm năm giác quan: nghe, thấy, nếm, rờ và ngửi. Vậy cái nào làm cho phạm tội? Linh hồn hay thân thể? Thân thể thì thấy được nhưng chính linh hồn quyết định thông qua ý chí. Xác thịt phản ảnh những ước muốn của linh hồn. Chúng ta có thể hiểu rõ điều nầy hơn khi đọc IISa 2Sm 11:2
Một buổi chiều kia, Đavít chổi dậy khỏi giường mình, đi dạo chơi trên nóc đền vua, bèn thấy một người nữ đương tắm; người nữ ấy rất là lịch sự.
Có nhiều lần tôi nghe người ta nói: “Ô vâng, chính xác thịt đã phạm tội” để tìm cách giảm nhẹ tội lỗi. Đavít đã nhìn thấy Bátsêba, nhưng ông không phạm tội chỉ vì nhìn Bátsêba. Hoặc là có phải cứ mỗi khi chúng ta nhìn thấy một người nữ xinh đẹp hoặc nghe một giọng nói ngọt ngào của người nữ thì chúng ta phạm tội không? Tôi tin rằng các giác quan của thân thể giống như một bộ cảm biến chuyển đạt thông tin đến linh hồn. Nếu Đavít nhìn Bátsêba rồi tiếp tục đi dạo mà không ngừng lại, thì đã không có chuyện gì xảy ra. Nhưng Đavít đã dừng lại, thèm muốn và chiếm đoạt, nên ông đã sai người đem Bátsêba về: “Đavít sai người đem nàng đến. Nàng đến nhà vua và vua ngủ với nàng” (11:4).
Đây là nơi những cảm xúc, tình cảm, ý chí và hồn của Đavít đã biến thành hành động, và ông phạm tội. Tôi tin rằng các xúc giác không thể quyết định, hồn quyết định và phạm tội. Xác thịt chỉ thi hành những ước muốn của hồn.
Vậy tôi nói rằng “Hãy bước đi theo Thánh Linh, chớ hề làm trọn những điều ưa muốn của xác thịt. Vì xác thịt có những điều ưa muốn trái với những điều của Thánh Linh, Thánh Linh có những điều ưa muốn trái với của xác thịt, hai bên trái nhau dường ấy, nên anh em không làm được điều mình muốn làm” (GaGl 5:16, 17).
Sự đối kháng mạnh mẽ nầy là do Thánh Linh muốn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời còn hồn và xác thịt lại chống lại ý muốn làm đẹp lòng Chúa: “Vì sự chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không phục dưới luật pháp Đức Chúa Trời, lại cũng không thể phục được” (RoRm 8:7).
Đầu Phục Đức Thánh Linh
Có hai sự liều mình rất nguy hiểm trong mỗi đời sống người Cơ Đốc. Điều thứ nhất là tin rằng mọi sự xảy đến đều do hoạt động của ma quỉ. Khi làm thế chúng ta dời mắt khỏi Chúa Jesus. Nguy cơ thứ hai là tin rằng dầu cho chúng ta ở trong tội lỗi, hoặc quyết định sống trái với ý muốn của Đức Chúa Trời, chúng ta vẫn hoàn toàn miễn nhiễm đối với Satan, có nghĩa là điều tệ hại mà Satan có thể làm cho chúng ta là bắt hiếp chúng ta. Hậu quả là chúng ta xao lãng đời sống thuộc linh, và cho ma quỉ cơ hội để cai trị chúng ta. Chúng ta tưởng rằng nếu mình không để ý đến nó thì nó sẽ không đụng đến mình. Đừng để bị lừa dối, đây là một trong những mưu chước phổ biến nhất của nó.
Nhưng làm sao mà một Cơ Đốc Nhân lại gặp phải những nan đề thuộc linh? Một số người nói rằng ở đâu có Đức Thánh Linh, ở đó không thể có ma quỉ. Đúng thế, nhưng xin đừng quên rằng con người bao gồm thân, hồn, và linh. Đức Thánh Linh ngự trị trong linh của loài người. Kinh Thánh phán rằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở trong con người và trở nên một với con người. Khi Đức Thánh Linh đến, Ngài bắt đầu tể trị mọi lãnh vực khác nhau của đời sống chúng ta: tình cảm, ước muốn, và ý chí. Đức Chúa Trời sẽ lấy mọi điều chúng ta dâng cho Ngài, nhưng có những lãnh vực trong đời sống phải mất hàng năm chúng ta mới giao nộp cho Ngài.
Khi nào thì một người đầy dẫy Đức Thánh Linh? Khi Đức Thánh Linh tể trị mọi lãnh vực trong đời sống cá nhân người ấy. Như vậy, chúng ta có thể nói rằng người ấy đầy dẫy Đức Thánh Linh, và bông trái Thánh Linh sẽ chứng tỏ điều đó. Nếu người nào đã giao nộp tình cảm, ước muốn, và ý chí của mình cho Chúa Cứu Thế, thì người ấy sẽ biểu lộ ra tình yêu thương của Chúa Cứu Thế ở mỗi bước đi. Nhưng không phải luôn luôn là vậy, bởi vì có nhiều lúc con người không giao quyền kiểm soát các lãnh vực nhất định của đời sống họ cho Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh sẽ không xông vào tâm linh của một người để tể trị đâu.
Nếu có một lãnh vực nào chưa nằm trong tay Chúa Jesus, thì nó ở trong tay ai? Thật là một câu hỏi quan trọng! Tôi tin Satan có thể cai trị những lãnh vực của hồn nếu chúng ta cho phép nó. Đó là nơi cuộc chiến bắt đầu, bởi vì Đức Thánh Linh sẽ không chiếm quyền trên ý chí tự do của một người. Khi đã có toàn thể con người chúng ta trong tay Ngài, Ngài mới có thể tể trị tình cảm, ước muốn và ý chí. Vì vậy nếu có những phương diện nào trong đời sống chúng ta chưa được dâng cho Ngài, chúng ta phải trao vào tay Chúa. Ví dụ hãy xem các tính khí của chúng ta. Chúng ta phải thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, xin Ngài hãy xem tánh tình của con, con không muốn nổi giận! lạy Đức Thánh Linh hãy kiểm soát sự nóng giận của con. Con từ bỏ cơn giận đó, con xin từ bỏ điều đó trong danh Chúa Jesus!” Chúng ta thưa với Đức Thánh Linh xin Ngài tể trị lãnh vực đó trong đời sống mình hầu cho chúng ta có thể đầy dẫy quyền năng và tình yêu của Đức Chúa Trời.
Cuối cùng chúng ta cần đứng vững vàng. Đó là mục tiêu đơn giản của mỗi một lời nói: “Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết nầy: Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài, ấy là trọn phận sự của ngươi” (TrGv 12:13). Một khi chúng ta thực hành lời ấy, ma quỉ cũng sẽ bỏ chạy, và căn nhà chúng ta sẽ đầy dẫy Đức Chúa Trời.
Ma quỉ đi dạo chung quanh và nói rằng: “Hôm nay ta sẽ vào nhà ai đây? Nó rảo đến bên căn nhà có người đang ngồi nghe nhạc rock và xem các chương trình phim ướt át, nó bèn nói “ta sẽ vào đây” rồi nó sẽ gây ra những sự tàn hại ở tại đó. Điều gì xảy ra nếu nó lại đến ngôi nhà của bạn và nghe các bài hát Cơ Đốc mà bạn đang hát? Ồ vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời! Halêlugia! Nó không thể vào được, nó đến một nhà khác, ở đó người ta đang cầu nguyện và tìm kiếm Đức Chúa Trời. Ma quỉ bèn nói: “Nơi nầy không dành cho ta” và nó tiếp tục đi. Hãy làm đầy dẫy đời sống mình và gia đình mình bằng chính Chúa Jesus “Đừng để cho ma quỉ nhơn dịp” (Eph Ep 4:27).
Hãy nhớ điều nầy, nếu một người gặp phải những nan đề, đó chính là vì người ấy đã mở cửa cho ma quỉ vào. Chúng ta cần biết đó là nan đề gì để có thể lập tức hành động cắt đứt xiềng nô lệ, bảo tà linh hãy đi ra, và đóng cửa lại để ma quỉ không bao giờ có thể trở lại đem sự hủy diệt. Vì vậy chúng ta cần không ngừng sử dụng những hiểu biết Chúa ban cho mình qua lời Kinh Thánh và tập tành sử dụng uy quyền luôn luôn.
Chương 7: SỰ GIẢI CỨU THUỘC LINH
Mỗi buổi nhóm trong chiến dịch truyền giảng, có hàng trăm người nam, người nữ, trẻ em, chỉ sau một thời gian cầu nguyện ngắn, bắt đầu có những biểu hiện của ma quỉ. Tình trạng nô lệ của họ có thể do thực hành phù phép, thông linh, ma thuật, hoặc tà thuyết. Sự giải cứu tâm linh cho những con người nầy là cần thiết, để họ được buông tha khỏi tình trạng nô lệ cho Satan. Cách tốt nhất để giải phóng những người trong tình trạng nô lệ là ban cho người đó tình yêu thương; có nghĩa là “chớ chìu theo ma quỉ,” nhưng quan tâm đến linh hồn của người đó. Những người đã xem chỉ tay hoặc đến thầy đồng cốt tìm biết về tương lai cần phải được giải cứu, bất kể họ có các biểu hiện thấy được hay không. Có thể họ không bị quỉ ám, nhưng họ bị ức hiếp, bị làm khổ, hoặc bị ám ảnh. Nếu họ đã có những kết ước với ma quỉ, các kết ước đó vẫn còn có hiệu lực cho đến khi chúng bị cắt đứt hoặc bẻ gãy qua sự giải cứu.
Một trong những vấn đề mà chúng tôi phải đối đầu và huấn luyện cho các nhà khải đạo của chúng tôi để xử lý và giúp đỡ cho những người đồng tình luyến ái, tức những người có các nan đề thuộc linh cần sự chỉ dẫn và sự giải cứu thuộc linh. Một lần nọ trong một buổi nhóm tại Argentina, một thanh niên từ giữa đám đông bắt đầu hét vào tôi, nói phạm thượng đến danh Đức Chúa Trời. Một thời gian sau đó, anh ta trở lại buổi truyền giảng, nhưng lần nầy để làm chứng lại điều Chúa đã làm trong cuộc đời anh. Đây là câu chuyện:
Khi mười lăm tuổi tôi bắt đầu trở thành một người đồng tính luyến ái, tôi có một người bạn và cậu ấy đến sống với tôi trong nhà bố mẹ tôi. Từ giờ phút đó trở đi, gia đình tôi trở thành địa ngục. Không thể sống ở đó được, mẹ tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ đến nỗi bà không muốn ra khỏi nhà và không lâu sau đó bà chết vì buồn rầu. Bố tôi bắt đầu uống rượu và trở thành một người ghiền rượu. Cả hai đều từ bỏ tôi.
Về sau, tôi cắt đứt mối quan hệ đó và tìm cách vất bỏ cuộc sống đồng tính luyến ái phía sau, nhưng không thể được. Ý tưởng của việc trở thành một người nữ đã hình thành trong tôi, và vì vậy tôi quyết định tiếp tục con đường đó. Tôi bắt đầu kết bè với những người đồng tính luyến ái. Mỗi ngày tôi càng trở nên tồi tệ hơn. Bấy giờ tôi không những là một người đồng tính luyến ái mà còn là người thích mặc quần áo phụ nữ. Tôi thường diện như một người nữ và làm việc như một ả điếm để kiếm tiền.
Nhưng tôi đã mắc bịnh, và các bác sĩ không giúp tôi được. Một căn bịnh về máu bắt đầu hủy hoại tôi. Cuối cùng phát triển thành chứng thấp khớp mãn tính tấn công làm méo mó hoàn toàn hình dạng lưng tôi, và khiến cho một chân tôi bị trật khớp. Tôi sắp bị mù. Các bác sĩ không tìm được cách điều trị thích hợp cho chứng bịnh của tôi và các mũi thuốc vácxin hàng tuần họ tiêm cho tôi cũng chẳng đem lại ích lợi gì, mỗi ngày tình trạng của tôi càng tồi tệ hơn.
Sau chín năm hết sức đau đớn tôi bắt đầu tìm đến các thầy mo và phù thủy để tìm sự chữa lành cho thân thể nhưng tất cả đều vẫn như cũ. Thậm chí tôi còn gởi hình đến những thầy pháp có tiếng nhất trong nước, nhưng chẳng có điều gì xảy ra.
Sau quá nhiều đau đớn, một đêm nọ tôi quyết định kết thúc cuộc đời mình. Tôi rời nhà và bắt đầu bước về phía trạm xe lửa, quyết định nhảy xuống gầm tàu, trên đường, một người bạn trông thấy tôi. Nhận thấy tôi không được ổn, người bạn tôi bảo “sao mầy không đi với tao, cách đây vài dãy phố có một gã khùng điên đang nói về Chúa Jêsus.”
Tôi nổi khùng lên và bảo nó hãy bỏ mặc Jesus ấy đi vì ông ta đã chết, tôi lại còn nói thêm rằng tôi sẽ chẳng đi đâu hết. Anh ta cứ năn nỉ tôi cho đến khi gần như lôi tôi đến đấy.
Ở trước bục giảng là nhà truyền giáo Carlos Annacondia ông ta bắt đầu giảng. Tôi hét vào ông ta “mặc kệ Chúa của ông đi, nếu địa ngục có thật hãy chỉ địa ngục cho tôi đi” nhưng ông ta cứ tiếp tục giảng. Cuối buổi nhóm, khi ông ta bước xuống khỏi bục giảng và cầu nguyện cho người ta, một thiếu nữ rất tử tế đưa tôi đến gặp ông và tôi nói “Nếu ông có thể làm bất cứ điều gì cho tôi thì hãy làm đi”.
Ông ta nhìn tôi và cười thành tiếng, rồi nói: “Đừng thách thức tôi. Hãy thách thức Đức Chúa Trời” đoạn ông ôm lấy tôi và bỏ đi. Trở về nhà với bạn tôi, có điều gì đã xảy ra bên trong tôi... điều gì đó đang thay đổi. Khi tôi mở cửa nhà, điều đầu tiên tôi làm là tìm cuốn Kinh Thánh mà ai đó, có lần đã cho tôi. Tôi đi ra hành lang, quỳ xuống và khóc: “Lạy Chúa Jesus nếu Ngài thật sự tồn tại xin hãy giúp con. Con không thể tiếp tục sống như vầy. Nếu Ngài có thật con xin dâng đời mình cho Ngài bây giờ”. Thình lình lửa từ trên trời phủ lấy tôi, tôi mở mắt,và thấy được, lưng của tôi được bẻ thẳng lại và hai chân tôi được chữa lành. Không chỉ có thế, các phép lạ đã tiếp tục xảy ra. Đức Chúa Trời đã giải cứu tôi khỏi chứng đồng tính luyến ái và thích phục sức như phụ nữ. Bây giờ, tôi đi nhà thờ đều đặn và giảng Tin Lành về Chúa Cứu Thế Jesus.
JUAN
Đồng tính luyến ái không phải là một căn bịnh, nó do một tà linh gây ra để cầm buộc một cuộc đời. LeLv 18:22 chép rằng: “Chớ nằm cùng một người nam như người ta nằm cùng một người nữ, ấy là một sự quái gớm”. Đồng tính luyến ái và những sự thực hành tính dục khác là một phần danh sách những việc gớm ghiếc. Như quan hệ tình dục giữa những người bà con gần, tà dâm, dâng con cái như của tế lễ cho các thần tượng, và các mối quan hệ tính dục với thú vật. Đức Chúa Trời nghiêm khắc cảnh cáo những sự thực hành như vậy vì cớ chúng hủy diệt sự sống của xã hội, của gia đình, và của chính người đó. Rõ ràng Ngài đã lên án tất cả những hành vi đồng tính luyến ái của người nam hoặc của người nữ:
“Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho tình dục xấu hổ trong vòng họ, những người đờn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. Những người đờn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đờn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đờn ông cùng đờn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình (RoRm 1:26-27).
Nếu đồng tính luyến ái là một chứng bịnh, Đức Chúa Trời đã không lên án nó. Qua các câu Kinh Thánh nầy, chúng ta thấy nó là tội lỗi. Một tỉ lệ phần trăm cao của những người đã được giải cứu khỏi đồng tính luyến ái đã làm chứng lại với chúng tôi rằng, hoặc họ đã bị cưỡng hiếp, hoặc bị lạm dụng về mặt tình dục khi còn là con trẻ. Nhiều lúc những lời lẽ như là: “Mầy giống như con gái” mà bố mẹ nói ra với ý định làm tổn thương một đứa trẻ đã biến cậu bé trai thành nô lệ vì những lời lẽ như vậy. Tuy nhiên, khi Chúa Jesus bước vào đời sống họ, tà linh phải ra đi, và họ được buông tha. Không cần bất cứ sự điều trị nào thêm nữa, tôi có thể quả quyết với bạn!
Nếu bạn biết bất cứ ai ở trong hoàn cảnh như vậy, hãy nói cho họ về Chúa Cứu Thế! Ngài có thể giải phóng họ. Đức Chúa Jesus đã đến trong thế gian nầy để cứu những người hư mất. Bạn đang ở giữa vòng họ, và tôi cũng vậy. Ngài yêu họ nhiều như Ngài yêu bạn và tôi. Họ cần có một Đấng thật sự yêu thương, đó là điều hết sức quan trọng, là Đấng có thể biến đổi cuộc đời của ho, Đấng đó chính là Chúa Jesus, họ cần Ngài. Con người luôn luôn kỳ thị họ, hoặc họ không tìm thấy tình yêu đích thật trong đời sống. Có một lời chứng mạnh mẽ khác nữa của một thanh niên đã đứng lên trước tòa giảng trong một chiến dịch truyền giảng. Trước mặt 5000 người, anh ta đã can đảm làm chứng lại câu chuyện sau đây:
Tên tôi là Luis, tôi là một kẻ đồng tính luyến ái và thích ăn mặc giống phụ nữ từ khi tôi mới mười hai tuổi. Tôi thường ăn diện như một người nữ và thu hút đàn ông. Tôi hành nghề mãi dâm, và không bao giờ cho bất cứ ai biết con người thật của mình. Lần nọ tôi đến dự các buổi nhóm của các bạn, nhưng chẳng có gì thay đổi cho đến một buổi tối nọ, khi Đức Chúa Trời chữa lành tôi khỏi chứng giang mai tồi tệ không thể lành được. Sự chữa lành đó đã đưa tôi đến chỗ đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời. Nhưng tôi lại rơi vào tội lỗi thậm chí còn tồi tệ hơn nữa cho đến khi tôi trở lại buổi truyền giảng nầy.
Đêm đầu tiên sau khi cầu nguyện, tôi té xuống đất, và khi tỉnh lại tôi thấy mình đang ở trong trại giải cứu. Khi người khải đạo hỏi tôi tên gì, tôi đáp: “Tên tôi là Luis”, điều nầy thật sự làm tôi ngạc nhiên bởi vì tôi chưa bao giờ tỏ thật tên mình cho bất cứ ai trước đó. Tôi luôn luôn dùng những tên giả. Buổi tối hôm đó, cùng với vị khải đạo, tôi đoạn tuyệt với tất cả các tà linh đồng tính luyến ái và xưng mọi tội lỗi ra cho Đức Chúa Trời. Từ đó trở đi, tôi bày tỏ các bằng chứng của sự thay đổi đã xảy ra trong đời sống tôi.
Ngày hôm sau, tôi đến tiệm làm tóc dành cho đàn ông. Lần đầu tiên tôi hớt tóc và cắt móng tay. Mỗi một đêm, sau đêm mà tôi đến dự truyền giảng, đêm nào tôi cũng té xuống đất. Lần nầy sang lần khác, họ cứ đem tôi vào trại giải cứu và cuối cùng tôi hoàn toàn cảm thấy được tự do. Lần đầu tiên tôi tìm lại được con người thật của mình. Tôi cảm thấy mình như một người đàn ông. Tôi đổi giọng, đổi tính cách của mình, thậm chí đổi cả cách ngồi. Họ khuyên tôi đốt hết các áo quần nữ, và đó là điều tôi đã làm. Từ ngày ấy trở đi mọi sự đều đã thay đổi. Tôi không còn cảm thấy khó chịu khi đứng trước người khác phái, và tôi thật sự có thể nhìn vào những người nữ. Tôi cảm thấy được buông tha, tôi đã đối diện với Đức Chúa Trời, và Ngài đã đến ngự trị tấm lòng tôi.
Đức Chúa Trời có quyền giải phóng những người bày tỏ các khuynh hướng như đồng tính luyến ái, cách mặc đồ của người nữ, hoặc nam. Rõ ràng Đức Chúa Trời không tạo nên một phái tính thứ ba: “Ngài dựng nên người nam cùng người nữ và ban phước cho họ” (SaSt 5:2). Bất cứ người nào muốn thoát ra khỏi tình trạng giới tính bất thường thuộc bất cứ loại nào, khi đến với Chúa Jesus, đều tìm thấy sự tự do mà mình mong muốn và qua Chúa Jesus, được phục hồi lại con người đích thật mà Chúa đã dựng nên trong người ấy.
Bảy Bước Dẫn Đến Sự Giải Cứu Thuộc Linh
Là Hội Thánh, chúng ta cần chuẩn bị chính mình để quở trách các tà linh và ban sự chỉ dẫn cho người đã được giải cứu. Vậy điều gì xảy ra nếu chúng ta đứng trước một người bị quỉ ám? Chúng ta phải tiến hành thế nào, và phải có thái độ ra sao? Có bảy bước chúng ta cần vâng theo khi đối đầu trước sự biểu hiện của ma quỉ. Mỗi bước đều hết sức quan trọng.
Xác Định Tình Trạng Quỷ Ám
Bạn làm điều nầy bằng cách quan sát những phản ứng của những người bị quỉ ám. Cách biểu hiện tình trạng quỉ ám mà qua những biểu lộ sau đây (có thể có những biểu lộ khác):
• Sự ngăn trở về tâm trí
• Những phản ứng hung hăng như đấm đá và những hành động khác
• Những lời phạm thượng
• Nói năng không mạch lạc, khó hiểu
• Có cảm giác như khó thở, hổn hển
• Cái nhìn đầy hận thù hoặc cặp mắt đờ đẫn vô hồn
• Tỏ ra khổ sở, bị áp bức một phần nào đó trong cơ thể
• Nôn mửa
• Gào thét không thể kiểm soát được
Tất cả những biểu hiện nầy diễn ra trong khi chúng ta quở trách ma quỉ trong danh Chúa Jesus. Nếu bạn nhận thấy có bất cứ những biểu hiện hoặc những hành động nào kể trên thì hãy nhơn danh Chúa cột trói ma quỉ mà nói rằng “Nhơn danh Chúa Jesus ta cột trói ngươi”. Cả tâm linh con người lẫn ma quỉ đều phải vâng phục uy quyền nếu chúng ta tuyên phán trong danh của Chúa Jesus. Nếu một người cứ nằm dưới đất và không chịu mở mắt mình ra, bạn hãy nói với tâm linh con người đó rằng: “Nhơn danh Chúa Jesus hãy mở mắt ngươi ra”. Người đó sẽ phải mở mắt ra.
Khi một người bị quỉ ám không muốn đến gần hoặc nói chuyện với bạn, hãy ra lịnh cho họ bằng cách nói rằng: “Hỡi linh loài người, hãy trở lại và kiểm soát thân thể ngươi trong danh Chúa Jesus”.
Có lần buổi truyền giảng của chúng tôi được tổ chức ngay bên cạnh một đồn cảnh sát. Thật ra trại giải cứu của chúng tôi chỉ nằm cách đồn cảnh sát nầy có hai mươi mét. Hoàn toàn bất ngờ, một người đàn ông bị quỉ ám bỏ chạy khỏi trại của chúng tôi hướng thẳng về phía đồn cảnh sát. Tất cả các cảnh sát viên đang đứng nơi cửa theo dõi các diễn biến. Người bị quỉ ám sùi bọt mép trong lúc chạy thật nhanh về phía họ. Tất cả sợ hãi đến nỗi chỉ trong vài giây, năm viên cảnh sát đều biến vào trong nhà và sập cửa lại. Chúng tôi bảo: “Hỡi Satan, chúng ta cột trói ngươi trong danh của Chúa Jesus, hãy đứng lại!” lập tức người đàn ông ngã sấp xuống đất. Sau đó, các cảnh sát kinh ngạc bước ra khỏi đồn và ngó quanh quất. Có lẽ họ nghĩ nếu họ có được uy quyền như chúng tôi thì tốt biết mấy, để ngăn chận bất cứ kẻ mất trí nào bỏ chạy.
Thực Hành Uy Quyền Trên Tà Linh
Đây là bước thứ hai . Tất cả những người có uy quyền đều có thể đuổi được các tà linh. Nhưng chúng ta phải không sợ và không được nghi ngờ. Nếu không, chúng ta sẽ thất bại. Xin đừng quên rằng chúng ta thi hành uy quyền bằng đức tin và điều ngược với đức tin là sợ hãi và nghi ngờ.
Khi chúng ta ra lệnh, ma quỉ phải vâng lời. Tất nhiên nếu bạn cột trói ma quỉ bằng danh riêng của mình mà không phải bằng danh của Chúa Jesus thì nó sẽ không vâng lời. Danh duy nhất mà nó phải vâng lời là danh của Chúa Cứu Thế Jesus.
Đưa Người Ấy Đến Chỗ Nhận Biết
Một khi ma quỉ đã bị cột trói trong danh của Chúa Jesus, bạn hãy thi hành uy quyền của Ngài bằng cách tiếp tục bước thứ ba. Đây là cách tiến hành: “Hỡi linh con người, trong danh Chúa Jesus hãy kiểm soát tâm trí và thân thể ngươi”. Người đó phải đáp ứng với sự nhận biết và ý chí của mình trước lời kêu gọi đó.
Hỏi Xem Họ Có Muốn Được Buông Tha Không
Bước thứ tư là hỏi người đó xem họ có muốn được tự do không. Hãy giải thích kỹ cho người ấy biết các nan đề của họ là gì. Người ấy đang ở trong sự giải cứu, và không hề biết gì và vì sao mình có mặt ở đó. Bằng cách giải thích tình trạng của người ấy bạn giúp họ quyết định để được buông tha. Nhưng nếu người ấy không muốn được giải phóng, thì không có hy vọng gì chúng ta có thể làm cho họ được.
Nhiều người đã kết ước với ma quỉ bằng cách nầy hay cách khác, kết ước ấy cần phải được cắt đứt. Nếu không, ma quỉ sẽ không chịu xuất ra thậm chí với những lời như là: “Hỡi ma quỉ hãy ra khỏi đời sống người này ngay bây giờ”. Chúng ta cần biết làm thế nào mà người ấy đã đến tình cảnh nầy. Hãy đặt những câu hỏi thăm dò để hiểu được thế nào người ấy bị ám và bất cứ những chi tiết nào khác có thể giúp trong quá trình giải cứu.
Nếu người ấy nói những câu như là: “Tôi đã đến một buổi cầu cơ”, “tôi đã có một cam kết bằng máu với một thầy mo”, “tôi đã hỏi ý kiến một phù thủy”, bạn phải nói: “Anh đã có một cam kết, anh cần phải cắt đứt cam kết đó”.
Người ấy cần phải nói những lời như sau: “Tôi đoạn giao sự thông linh trong danh Chúa Jesus” chỉ đơn giản như vậy. Hoặc nếu người ấy ở trong tình trạng đó là do đã tập tành sự kiểm soát về tâm trí, hãy hướng dẫn người đó nói: “Lạy Cha! Con tuyệt giao sự kiểm soát tâm trí”. Người ấy cần phải tuyệt giao với những tội lỗi cụ thể mình đã phạm và người giải cứu bằng quyền phép của Đức Chúa Trời phải nói như vầy: “Nhơn danh Chúa Jesus tôi bẻ gãy giao kèo này”. Bằng cách đơn giản ấy các giao kèo bị bẻ gãy.
Có một phụ nữ đến các buổi truyền giảng của chúng tôi liên tục trong ba năm. Bà ta bị điên, và cứ ở trong tình trạng đó từ lúc có một người mà bà không quen biết đã vào nhà bà và niệm một câu phù chú ở trên bà. Bà ta mất trí đến nỗi không thể sống với gia đình mình được nữa. Bà thường để giấy trắng khắp nhà để ngăn sự ô uế, không cho chồng hoặc con đến gần bà, bà ăn bằng hai tay trên một cái nắp thay vì dùng muỗng nĩa. Bà sống như một con vật, không nói chuyện với ai cả và kêu la suốt ngày.
Ngày nọ, chị của bà đem bà đến buổi truyền giảng và thuật cho tôi nghe điều trục trặc đã xảy ra với người đàn bà nầy. Bà ta rất thấp, cặp mắt đờ đẫn, và không ngừng quơ tay múa chân. Chị bà ngồi với bà, giữ hai tay bà. Tôi hết sức thương cảm khi thấy tình cảnh ấy. Tôi đã cầu nguyện cho bà bằng tất cả những gì có trong tôi. Đã nhiều lần tôi quở trách linh tà thuật và nói “hỡi linh tà thuật, hãy ra” nhưng không có gì xảy ra. Tôi cảm thấy thật đáng thương cho bà, họ đã phải đi hai giờ đồng hồ để đến được buổi truyền giảng và đã phải trở về nhà rất khuya buổi tối hôm đó.
Lần khác, trong khi cầu nguyện tôi thấy bà ta đứng trong hàng ngũ những người xin cầu nguyện. Khi nhìn thấy bà, tôi nói với Chúa rằng: “Xin hãy cho con sự biện biệt, Chúa ôi! Con thật sự không biết điều gì trục trặc với bà. Nguyện Chúa Thánh Linh của Ngài chỉ dẫn con. Con biết có người nào đó đã ếm chú trên bà. Nhưng vì sao bà không được buông tha?” Trong lúc đang cầu nguyện cho những người khác tôi cũng vẫn tiếp tục cầu nguyện cho bà. Thình lình nước mắt bắt đầu tràn ra trên má tôi, và trong khi tiến gần đến bà tôi cảm thấy một sự thương xót không tưởng tượng được từ nơi Chúa tràn ngập lòng tôi. Tôi biết điều đó khi Đức Chúa Trời đặt sự thương xót vào lòng con cái Ngài, đó là lúc điều gì đó sắp sửa xảy ra. Đức Thánh Linh phán cùng tôi: “Con có biết điều gì trục trặc với bà ta không?”
Tôi trả lời rằng “Lạy Chúa, có. Đó là công việc của phù phép, một câu thần chú”, ĐứcThánh Linh hỏi tôi: “Vậy con sẽ làm gì?”
“Con không biết, con mới vừa quở trách các tà linh nhưng không có điều gì xảy ra”
Bấy giờ Đức Chúa Trời hỏi tôi: “Con là Ai?”
Tôi thưa rằng: “Một thầy tế lễ của Đức Chúa Trời”,
Ngài hỏi: “Ai đã cột trói bà ta?”-
“Một thầy tế lễ của Satan”
Đức Chúa Trời phán rằng: “Vậy ai có uy quyền nhiều hơn?
-”Con”, đó là câu trả lời lập tức của tôi,
Ngài ra lệnh cho tôi: “Vậy hãy sử dụng uy quyền đó!”
Tôi đứng đó, quá ngạc nhiên. Đức Chúa Trời đang dạy tôi một điều mà tôi không hề biết. Tôi đã quở trách linh của phù phép nhưng tôi không thi hành uy quyền để giải cứu bà. Và rồi tôi bèn tiến đến gần người đờn bà, đặt tay tôi trên đầu bà tôi nói: “Hỡi Satan, ngươi là kẻ có mặt tại đây, ngươi biết uy quyền ta có bởi ta là thầy tế lễ của Đấng Chí cao. Ta vô hiệu hóa mọi công việc của ngươi trong đời sống của người đờn bà nầy và ta ra lệnh cho ngươi hãy đi! Ta buông tha linh hồn nầy khỏi linh phù chú trong danh của Chúa Jesus”. Ngay lập tức, người đàn bà té xuống đất và được đưa đến trại giải cứu, và bà đã được tự do. Thật đẹp đẽ khi thấy bà ôm chầm lấy người chị và cười thành tiếng khi họ ra về. Mỗi khi tôi thấy họ cùng nhau vui mừng thờ phượng Chúa trong các buổi truyền giảng, tôi lại dâng lời cảm tạ Chúa Jesus vì tình yêu không thể tả xiết của Ngài.
Ma quỉ có thể cột trói người ta bằng nhiều cách khác nhau. Có những người đến với chúng tôi để được giải cứu. Họ đã nộp mình như những thầy cúng trong việc thờ tà thuật và mọi thứ, từ việc đoán số tử vi cho đến ma thuật đen. Nhiều khi chúng ta không nhận thấy sự nguy hiểm có trong một số những trò chơi của trẻ con như là cầu cơ hoặc trò chơi chiếc ly. Chúng tôi đã thấy những thanh niên bị trói buộc sau khi gọi các quyền lực của Satan trong trò chơi chiếc ly. Tất cả những trò chơi ma thuật như thế có một ảnh hưởng rất mạnh trong lãnh vực thuộc linh.
Chúng ta phải cẩn thận với các phim hoạt hình mà con cái chúng ta thường xem như là bộ phim Smurfs hoặc các bộ phim khác mà có các nhân vật sử dụng quyền phép siêu nhiên. Những lời cầu kinh đó tìm cách đưa tâm trí đứa trẻ xa khỏi quyền phép có một và thật, là quyền phép của Đức Chúa Trời. Quyền lực đằng sau những loại phim hoạt hình như vậy cột trói con cháu chúng ta, rồi đến những hậu quả như sau: sự nổi loạn, chứng động kinh, và các hành vi biểu hiện khác, do việc xem các chương trình Tivi có vẻ như vô hại nhưng không phải vậy. Hãy cẩn thận với các loại phim hoạt hình mô tả các anh hùng từ thần thoại Hylạp. Con cái chúng ta hấp thụ vào tâm trí chúng những loại quyền lực như linh ác một cách vô ý thức và rồi kinh nghiệm tất cả các loại nan đề khiến chúng ta phải thắc mắc không biết điều gì đang xảy ra với chúng.
Chúng ta cần hết sức cảnh giác. Kinh Thánh chép rằng Satan “rình mò chung quanh như sư tử rống tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được” (IPhi 1Pr 5:8). Tất cả những điều nhỏ nhặt mà tôi vừa đề cập dường như không quan trọng lắm, nhưng trong trại giải cứu, chúng tôi đã phải giải cứu cho các trẻ em bị trói buộc bởi các tà linh. Các em thường bày tỏ và trò chuyện với chúng tôi, nhắc đến các bộ phim hoạt hình khác nhau và các nhân vật trên các chương trình truyền hình. Điều đó nhắc nhở chúng ta phải cảnh giác các bậc cha mẹ về những nguy hiểm của các chương trình Tivi nầy.
Tại thành phố La Plata ở tại Argentina một số trẻ em nói rằng đã nhìn thấy những thần lùn màu xanh sa xuống từ các đĩa bay. Tin tức về việc nầy lan khắp thế giới, và nhiều người từ các quốc gia đã đến và phỏng vấn những đứa trẻ. Về sau, chúng tôi đã giải cứu cho một số các em nầy trong trại của mình. Chính cha mẹ đã đưa chúng đến với chúng tôi vì những vấn đề mà chúng đang mắc phải. Những đứa trẻ nầy bị làm khổ, và chúng bắt đầu có các biểu hiện ma quỉ khi chúng nghe đến danh của Chúa Jesus.
Chúng ta biết cách ma quỉ thường hoạt động. Nó ăn mặc như một thiên sứ sáng láng, giống như những người ngoài hành tinh, bằng nhiều cách, chỉ để có thể hủy diệt. Nó có cả một túi những mưu chước để lừa dối chúng ta, để cướp lấy cuộc đời chúng ta và cuộc đời những con cái chúng ta. Hãy chú ý và hãy cảnh giác.
Một đêm nọ, khi giảng xong, tôi rời bục giảng và đi đến trại giải cứu. Lúc đó đã khuya. Khi bước vào tôi nhìn thấy một thanh niên nằm dưới đất hai tay giang rộng. Trông anh ta có vẻ như chết. Các anh em cầu nguyện cho anh đang ngồi chung quanh anh, trông rất kiệt sức. Tôi nhận ra người thanh niên nầy chưa được giải cứu. Khi tôi nhìn vào mặt cậu ta, Thánh Linh phán rằng “võ nghệ”. Tôi giúp người thanh niên nầy ngồi lên và sau khi đặt anh ta ngồi đối diện với tôi, tôi hỏi: “Em có tập võ công không?”, anh ta trả lời: “Không”.
“Đức Thánh Linh cho tôi biết rằng em đã lập ước với võ công trong khi xem Tivi. Em có lập kết ước đó không?”
Cậu ta lại trả lời “không”
Tôi biết Đức Thánh Linh không nói sai, có điều gì đó mà cậu ta chưa nói với tôi. Tôi hỏi cậu, cậu ta có hung bạo không, cậu có một ước muốn muốn hủy phá hoặc giết chóc không? cậu trả lời có. Tôi cầu nguyện và nói “Lạy Chúa! Ngài không bao giờ sai lầm”. Trong giây phút đó tôi thấy một tay vô địch võ công nổi tiếng xuất hiện trong tâm trí tôi, có nhiều bộ phim truyền hình nhiều tập đã được chiếu với sự xuất hiện của nhân vật nầy. Vì vậy tôi lại hỏi cậu ta: “Em có ngưỡng mộ những người như thế như thế không?”
Cậu thanh niên nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên mà trả lời “Có! Làm thế nào mà ông biết?”
“Em có muốn trở nên giống như ông ta không? Em có đứng và tập những động tác tương tự như anh ta đã làm trong phim không? Em có tưởng tượng mình đang đánh các kẻ thù và thắng chúng không?”
Cậu ta trả lời “có” và hết sức ngạc nhiên trước từng câu hỏi của tôi.
“Em đã để cho những thế lực gian ác tương tự như thế khống chế đời sống của những người ấy và nay khống chế trên em, bây giờ em phải từ bỏ uy quyền mà con người đó có trên em, từ bỏ võ công và từ bỏ giao kèo mà em đã lập với chúng mà em không biết”. Đêm đó chúng tôi đã cầu nguyện cùng nhau, đã quở trách các quỉ, và chàng thanh niên được buông tha. Sắc diện của em thay đổi hoàn toàn, em kêu lên: “Cuối cùng tôi đã được bình an”.
Hãy suy nghĩ cẩn thận về những gì bạn cho phép con cái xem trên Tivi. Các con cái tôi chỉ xem những phim hoạt hình Cơ Đốc, chúng thích chơi với các đồ chơi hình vẽ hoặc thể thao hơn. Các cháu không dành thì giờ xem những điều mà thay vì ích lợi lại độc hại cho chúng. Hãy cung cấp các phương tiện giải trí lành mạnh cho con cái bạn. Hãy dành thì giờ chơi với chúng. Tôi biết nhiều khi rất dễ dàng để cho phép chúng giải trí bằng Tivi, nhưng lời khuyên của chính tôi dành cho bạn là: hãy dành thì giờ với con cái bạn!
Công Bố Những Lời Đoạn Tuyệt
Bước thứ năm là bước đem lại sự tự do và sự giải cứu .
Khi người ta công bố những lời từ bỏ, chúng ta nắm lấy uy quyền trong danh Chúa Jesus để bẻ gãy mọi xiềng xích nô lệ và đuổi các quỉ ra. Nếu có hai, ba, mười, hai mươi ngàn, một quân đoàn, hoặc hai quân đoàn cũng không thành vấn đề. Khi tất cả những sự ràng buộc và tất cả những sự cam kết mà người đó đã từng có với Satan đã bị bẻ gãy, thì hoạt động của kẻ thù đã tận chung. Không có lý do nào khiến cho người đó còn tiếp tục bị khống chế.
Đoạn tuyệt là một vấn đề rất quan trọng và không những chỉ dành cho con cái chúng ta. Một khi chúng ta đã phát hiện điều gì đã xảy ra trong đời sống của một con người, đó là những giao ước hoặc những sự thù hận, hoặc đó là những sự nô lệ về thuộc thể hoặc thuộc linh, chúng ta đều cần phải dẫn người đó tới chỗ đoạn giao lớn tiếng một cách hết sức cụ thể về vấn đề khác nhau có thể đang cột trói người ấy. Có lẽ bạn tự hỏi vì sao lại phải nói lớn tiếng. Satan không toàn tri, nhưng Đức Chúa Trời thì toàn tri. Satan không biết điều bạn đang nghĩ, nhưng Đức Chúa Trời thì biết. Vì vậy bạn phải công bố lớn tiếng mọi tình trạng nô lệ hầu cho Satan có thể nghe bạn nói. Nó không thể đọc được tâm trí bạn, nó không biết những suy nghĩ của bạn. Nó chỉ biết được khi bạn nói lớn ra. Đó là lý do vì sao nghe nhiều, nói ít, là điều quan trọng. Vì khi chúng ta nói, ma quỉ bắt đầu biết điều có trong tâm trí chúng ta. Nó có thể lồng các ý tưởng vào trong tâm trí bạn, nhưng nó không đọc được điều có ở trong lòng chúng ta. ChCn 18:21 cho chúng ta biết rằng: “Sống chết ở nơi quyền của lưỡi”. Nếu chúng ta nói: “Bố tôi đã chết vì bịnh ung thư, ông nội tôi cũng vậy, vì thế có lẽ tôi cũng sẽ chết vì bịnh ung thư.” Chắc điều đó cũng sẽ xảy đến.
Satan nói “Chúa Jesus, xem kìa, người nầy muốn chết vì bịnh ung thư”. Nó đã nghe điều chúng ta nói.
Nếu chúng ta tuyên bố “Tôi sẽ sống tất cả những năm mà một người trên đất được phép sống, tôi sẽ khỏe mạnh, và sẽ không mắc bệnh.” Ma quỉ sẽ cố gắng tìm một chỗ vào nhưng không tìm được.
Đấng duy nhất có thể bước vào đời sống bạn và ảnh hưởng cuộc đời bạn bằng uy quyền của Ngài trên bạn chính là Chúa Cứu Thế Jesus, chứ không phải ma quỉ. Nhưng nếu bạn xưng nhận và công bố sự bại trận, thì sự thất bại sẽ bất ngờ đến với bạn bởi vì bạn đang bày tỏ bằng chính môi miệng bạn điều bạn muốn nhận lãnh. Đó là lý do vì sao khi cắt đứt một giao kèo, càng thực hiện điều nầy bằng lời lẽ từ môi miệng chúng ta với giọng nói có thể nghe được. Kinh Thánh chép rằng:
“Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jesus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu. Vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi” (RoRm 10:9-10).
Vì sao vậy? Khi chúng ta thưa rằng “Lạy Chúa! Con tiếp nhận Ngài” ma quỉ bịt tai nó lại, nhưng nó vẫn nghe điều bạn nói. Song nếu bạn chỉ nói lời đó trong tâm trí bạn, thì khi Chúa Jesus bảo Satan: “Người nầy đã thuộc về ta” Satan sẽ bảo “tôi có nghe gì đâu”. Khi chúng ta xưng nhận trước mặt Đức Chúa Trời cùng các thiên sứ Ngài và những người chưa tin: “Con xin tiếp nhận Chúa Jesus và xin Ngài tha thứ tội lỗi con”, mọi thế lực tà linh đều nghe lời xưng nhận đó, và quyền năng của Chúa Cứu Thế biến thành hành động. Những người đã từng lập một giao ước cần phải lớn tiếng từ bỏ giao ước đó chứ đừng bao giờ chỉ nói trong tâm trí. Họ cần phải nói như vầy: “Satan, ta đoạn tuyệt với ngươi trong danh của Chúa Jesus, ta công bố đoạn tuyệt với việc tương giao với các linh hồn trong danh Đức Chúa Jesus”.
Khi ấy Chúa Jesus sẽ bảo rằng: “ngươi đã nghe điều đó chưa Satan? Họ đã từ bỏ ngươi. Ngươi không còn có quyền gì trên cuộc đời của họ nữa, ta đang lấy lại khỏi tay ngươi”.
Một lần nọ tôi được mời cầu nguyện cho một phụ nữ ở thành phố Los Angeles. Bà ta bị mất trí, nhiều lúc không thể nói năng rõ ràng được. Khi thực hành việc giải cứu cho bà, họ đến và bảo tôi rằng: “bà đã từ bỏ điều nầy, bà đã từ bỏ điều kia, mọi điều đều đã được thực hiện nhưng không có sự thay đổi nào trong bà ta”. Tôi bèn đặt tay trên đầu bà và nói rằng: “Hỡi quỉ Satan mọi sự đều đã được làm rồi, bây giờ ngươi không có lý do gì để giữ bà ta trong tay ngươi. Ta ra lệnh cho ngươi hãy đi và để bà ta yên. Ta công bố bà được buông tha vì bà đã từ bỏ ngươi, và ngươi không có chỗ trong bà nữa. Hỡi bà, tôi công bố bà được tự do.” Tôi quay lại và ra về sau khi bảo những người cầu nguyện đưa bà ta về nhà. Họ giúp đưa bà về, ngày hôm sau bà được buông tha hoàn toàn. Ma quỉ không thể giữ bà lâu hơn nữa vì nó đã mất quyền hành trên bà.
Ở tại một cuộc truyền giảng khác, có một phụ nữ bị chứng tê liệt nửa người, bà là vợ của một người đàn ông làm việc trong quân đội ở thành phố Beriso, Argentina, bà đến tham dự một trong các buổi truyền giảng đầu tiên của tôi. Đêm hôm đó tôi đã quở trách tất cả linh của sự buồn rầu, của chứng bán thân bất toại, và mọi quỉ. Người phụ nữ nầy té xuống đất, và ngay giây phút đó bà nghe có một tiếng nói “ta phải đi, họ đuổi ta ra”. Nhưng trong thực tế, nó vẫn chưa đi. Đêm hôm đó trong giấc ngủ, bà cảm thấy có cái gì đó giở khỏi thân thể bà và chứng liệt nửa người biến mất.
Nhiều khi các tà linh không ra đi ngay lập tức, nhưng cuối cùng rồi nó sẽ phải đi. Bạn phải nói rằng “điều nầy đã được trọn”. Hãy xưng nhận lời của Đức Chúa Trời. Khi mọi sự đã được làm cách đúng đắn, các giao kèo bị bẻ gãy, và không điều gì còn che giấu, thì con người đó phải được buông tha và được giải cứu, nếu không có điều đó, là do vẫn còn những điều bị che giấu và cần phải được đưa ra ánh sáng.
Nhiều lúc vì xấu hổ người ta không muốn xưng ra tình huống tội lỗi của họ trong quá khứ, nhưng cuối cùng khi họ nói “tôi nhớ có một lần tôi đã thực hiện một cam kết... chồng tôi tìm đến một người đàn bà khác vì vậy tôi đã đi tìm một thầy pháp... ông ta niệm các câu thần chú... đã đưa cho tôi cái nầy hoặc cái nọ... và tôi đã làm điều đó”. Những giao kèo như thế cần phải được bẻ gãy. Khi tất cả những dây cột đã trói bạn với ma quỉ bị chặt đứt, không có lý do gì nó còn ở thêm một phút nào nữa để hủy phá cuộc đời và gia đình của bạn.
Dâng Lời Cảm Tạ Đức Chúa Trời Vì Sự Giải Cứu và Xin Được Đầy Dẫy Đức Thánh Linh
Bước thứ sáu là hãy bảo người đó dâng lời tạ ơn Đức Chúa Trời vì sự giải cứu của Ngài và cầu nguyện xin được đầy dẫy Đức Thánh Linh . Chúng ta làm điều nầy để đem sự hiện diện của Ngài ngự trị trong gia đình và trong đời sống chúng ta.
Có một vài lời khuyên liên quan đến chức vụ giải cứu của chúng ta. Đừng bao giờ để hai hoặc ba người nam làm công tác giải cứu cho một người nữ hoặc ngược lại, dầu ở trong Hội Thánh hoặc ở bất cứ nơi nào khác, chức vụ nên được kết hợp có cả nam lẫn nữ. Chúng ta hãy xem một ví dụ. Điều gì xảy ra khi một người đàn ông đi nhà thờ với vợ mình lần đầu tiên, và bà ta có các biểu hiện của ma quỉ? Người ta đưa bà ra khỏi nơi đó để có thể chăm sóc và giải cứu cho bà. Sau một vài phút, người chồng bắt đầu lo lắng và đi tìm bà. Những nhân viên tiếp tân đưa ông đến chỗ bà đang được giải cứu. Khi bước vào phòng ông nhìn thấy ba người đàn ông chung quanh vợ mình, một người đang giữ cánh tay của bà, hai người kia thì đang giữ hai vai của bà. Khi người chồng thấy cảnh đó, ông sẽ bảo “cái gì vậy? Điều gì đang diễn ra ở đây?” Vì cớ những éo le như trường hợp nầy có thể xảy ra, điều quan trọng là cần phải có một người nữ khác tại đó để giúp vào trường hợp nầy. Không phải vì không tin cậy những người lãnh đạo hoặc những người tư vấn và tôi đưa ra lời khuyên đó, tôi biết họ làm công tác Chúa giao với những ý định tốt lành trong Đấng Christ, nhưng vấn đề là người khác sẽ nghĩ gì .
Xác Minh Hiệu Quả Của Sự Giải Cứu
Bước thứ bảy và là bước cuối cùng là phải xác định xem sự giải cứu có hiệu lực hay không . Sau khi được giải cứu, họ trở nên hết sức thơ thới, họ khóc trong sự vui mừng. Họ cảm thấy hạnh phúc, thay đổi tâm trạng, có cái nhìn ngọt ngào và bình an, họ không chối bỏ danh Chúa Jesus nữa và thay vào đó họ công bố danh Ngài bằng sự tự do. Bấy giờ họ xưng nhận sự tự do và công bố rằng điều đã xảy ra được làm trong danh của Chúa Jesus. Vào cuối buổi giải cứu, đội ngũ nhân sự cần phải cầu nguyện và làm sáng danh Chúa Jesus, quy cho Ngài, và chỉ một mình Ngài tất cả sự vinh hiển và tất cả sự tôn quý.
Các bước trên không phải là một phương pháp cứng ngắt trong chức vụ giải cứu. Các lời khuyên nầy là kết quả của chính kinh nghiệm chúng tôi trong lãnh vực nầy suốt nhiều năm chức vụ. Tôi tin chắc rằng vị Mục sư của mỗi Hội Thánh chính là người cần phải hướng dẫn mỗi buổi giải cứu và khuyên bảo, tốt hơn bất cứ người nào khác. Vị Mục sư sẽ nói cho các bạn chính xác các bước phải tiến hành để có thể làm việc chung hài hòa với những người còn lại trong thân thể, là Hội Thánh của các bạn.
Chương 8: NHỮNG NGUY HIỂM CỦA VIỆC THỜ CÚNG
Câu chuyện sau đây thuật lại từng trải quy đạo lạ lùng của một thanh niên đã dấn sâu trong việc thờ cúng. Đức Chúa Trời đã giải phóng anh ta khỏi tình trạng nô lệ cho Satan.
Tôi theo học tâm lý trị liệu tại Đại học Laplata, Argentina. Tôi cũng đã lấy những giáo trình về thuật xem tướng số và các bài thi về đồ họa, chữ viết. Tôi đã làm việc chín năm tại bốn bệnh viện tâm thần, trong nghành khôi phục chức năng cho người bịnh tâm thần cùng với một số các phương pháp khác.
Tôi đã được dạy rằng tri thức là sức mạnh. Tôi chịu khổ để được làm giàu trong sự hiểu biết để tôi có thể được nổi danh và nổi bật giữa vòng những người cùng tuổi. Khi hoàn tất các môn học, tôi quyết định rằng lãnh vực hiểu biết khoa học thuộc loại có giới hạn và hết sức cạnh tranh. Nếu tôi trở thành một giáo sư về tà thuật về chiêm tinh học về cận tâm lý học, về y học dân gian, và các tôn giáo Đông Phương, tôi sẽ làm lóa mắt người ta về những điều huyền bí của sự tối tăm. Tôi muốn trở thành một con người bí ẩn, thâm sâu, và có sức quyến rũ. Một sự pha trộn giữa một nhà tâm lý trị liệu, một bậc thầy,và một nhà hiền triết. Những điều siêu nhiên và những điều huyền bí đã cuốn hút tôi.
Cuối cùng những con người tuyệt vọng đã rơi vào bẫy của tôi. Tôi thường quyến dụ họ bằng những buổi bàn luận về những điều thuộc linh, về tổ tông, về những điều huyền bí. Sự kiêu ngạo thầm kín của tôi đã ánh lên. Tôi tin chắc rằng mình biết hết mọi việc. Nhiều người đặt lòng tin nơi tôi, họ cần tôi, họ đi theo tôi, và cuối cùng, đã kết thúc trong một cuộc đời giống như cuộc đời của tôi: trống rỗng, nhưng với một vẻ bề ngoài có vẻ trật tự; ngu dại, nhưng với ảo tưởng là đã được hoạch định kỹ lưỡng; phóng đãng, nhưng bề ngoài tỏ vẻ vô tư và thức thời. Đó thật là một cuộc sống kinh khiếp, bên dưới che đậy một con người tánh khí thất thường, một đời sống sợ hãi được giấu bởi một thái độ thách thức bướng bỉnh, đe dọa, lúc nào cũng chỉ chực tấn công.
Suốt một thời gian dài tôi đã thực hiện các biểu đồ về những vì sao và dạy môn chiêm tinh học. Ứng dụng nó vào nghành tâm lý trị liệu. Tôi là một người dạy về Thiền Học Đông Phương và là một nhà khảo cứu một số các vấn đề về tà thuật và cận tâm lý. Tôi tìm kiếm Chúa trong các tôn giáo Đông Phương, nhưng đã không tìm được gì. Trong chín năm tôi làm việc trong khoa phục hồi các bịnh nhân tâm thần ở tại bốn Bệnh viện Mencoromiro, Botden, Etteve, và Modano, tất cả đều thuộc thành phố Wenoer nhưng tôi đã bị trục xuất khỏi cả bốn bệnh viện trên vì tôi đã chống lại các phương pháp điều trị bằng điện tư, bằng giải phẫu, và bằng hóa chất của họ. Vì vậy tôi bắt đầu làm việc với tư cách một nhà vật lý trị liệu tại nhà riêng của mình. Tôi tự giới thiệu mình là một nhà tâm lý học để người ta sẽ gọi tôi là một thầy chữa bệnh. Một số người đã nói rằng tôi có các sức mạnh siêu linh; tôi rất thích điều đó và tin điều đó. Thật ra tôi chỉ là một kẻ giả danh, một kẻ mù dắt kẻ mù.
Sau nhiều năm khảo sát sự thật về các giáo sư, các nhà lãnh đạo tâm thần Ấn Độ Giáo, những người chữa bệnh, và các thầy đồng, tôi nhận ra rằng mặc dầu đã có một số những kết quả đáng khích lệ, song không người nào trong số họ đem lại sự thay đổi thật sự, có nghĩa là các phép lạ. Kết quả quyền năng của họ chỉ là lừa dối và chỉ bề ngoài. Tôi bảo các đồ đệ của tôi: “tôi chỉ có thể dạy các anh điều tôi khám phá được trong sự tìm tòi của tôi”. Sự chân thật nầy lại càng cuốn hút họ hơn nữa.
Nhiều lần họ hỏi tôi về Đức Chúa Trời và tôi thường nói “tôi chỉ biết Ngài qua các truyện tích”. Khi họ hỏi tôi về ma quỉ, tôi thường nói tôi đã thấy ma quỉ biểu hiện trong con người, trong một số các bệnh nhân của tôi. Tôi có thể quả quyết ma quỉ có thật”.
Thật ngạc nhiên, có rất nhiều thanh niên tìm đến tôi để có được những lời dạy riêng tư về “sự hiểu biết và quyền lực trong tà thuật”. Họ sẵn sàng để trả bất cứ thứ gì hầu có được sự hiểu biết đó. Tôi đã dạy họ thiền để chuyển giao năng lực. Tôi làm việc suốt tuần, thậm chí những ngày thứ bảy hay là những ngày Chúa Nhật. Tôi đứng hàng đầu, các giấc mơ của tôi đã trở thành sự thực, thành công và danh tiếng đang ở trước cửa. Vì vậy ở tuổi ba mươi bảy tôi có được danh tiếng, tiền tài và thành công.
Vào một buổi tối Thứ Sáu giữa Tháng 10 năm 1984, cùng với một nhóm các nhà tâm lý học, một số các học sinh xuất sắc, và một số các chuyên gia khác, chúng tôi quyết định khảo sát điều đang diễn ra tại các buổi truyền giảng của Carlos Annacondia. Ban đầu tôi không muốn đi, nhưng các bạn bè nài ép tôi. Chúng tôi muốn thấy các phương pháp và các năng lực mà ông ta sử dụng. Trước một đám đông, Carlos Annacondia đã rao giảng sốt sắng trong quyền năng của Đức Thánh Linh. Tôi chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì giống như vậy.
Lúc bắt đầu, tôi vẫn luôn tìm kiếm các thủ thuật quyến rũ thôi miên tinh vi nào đó, các sứ điệp nghịch lý, hoặc sự chiêu dụ đám đông theo xúc cảm. Nhưng quyền năng của Đức Chúa Trời được thể hiện ra với sự đơn sơ và trong suốt.
Suốt buổi nhóm, những người đau được mời tiến lên phía trước để có thể được cầu nguyện. Trước đây tôi bị chứng dị ứng mũi và họng di truyền không thể chữa trị được suốt một thời gian dài, vì vậy tôi quyết định bước lên trước để xem các dấu kỳ và phép lạ nầy có thật hay không. Thình lình một tiếng khóc bộc phát từ bên trong con người của tôi. Tôi đã xin Chúa cứu tôi và ban cho tôi tình yêu mà tôi chưa bao giờ biết đến. Annacondia nói rằng nếu tôi tin rằng Đức Chúa Trời là Chân Thần duy nhất, nếu tôi tiếp nhận Chúa Jesus làm chủ và là Đấng Cứu Thế duy nhất của đời tôi, nếu tôi ăn năn tất cả tội lỗi của mình và từ bỏ mọi sự khôn ngoan, chỉ nhận lấy sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời mà thôi, tôi sẽ được cứu, được hòa thuận với Đức Chúa Trời, và được chữa lành. Ngay lúc ấy và ngay tại chỗ đó tôi té xuống đất. Một con người tuyệt vọng, một con người của sự hiểu biết đời nầy, tự phụ, một người đã làm việc hết sức mình để đạt đến một vị trí tiếng tăm trong thế giới nầy. Tôi đã tin những lời của Annacondia. Tôi khóc và xin Đức Chúa Trời tha thứ tội lỗi của tôi bởi vì chính trong giây phút đó tôi đã hiểu được thế nào là sự thương xót đích thực, có nghĩa là yêu kẻ khác bất chấp sự đáng khinh ghét của họ.
Về sau tôi mới hiểu được thế nào Satan đã dùng tôi như là một công cụ của nó mặc dầu tôi không bao giờ tìm kiếm Satan hoặc tự ý lập các cam kết với nó. Tuy nhiên, tôi học Kinh Thánh, tôi nhận biết rằng cuộc đời đã bị bại hoại, bệnh tật, và hướng đến sự chết.
Thật cảm tạ Chúa Cứu Thế Jesus chúng ta là Đấng đã bày tỏ tình yêu của Ngài dành cho tôi! Ngài đã không nhìn vào sự gian ác của tôi hoặc những cuộc đời mà tôi đã đẩy đến vực thẳm. Ngài giải cứu tôi như Ngài đã làm cho tất cả những ai đến với Ngài, dâng mình như một con trẻ không điều kiện hoặc đòi hỏi! Tôi không bao giờ còn phải khổ sở vì chứng dị ứng mũi họng nữa.
Vào cuối tháng 10 cũng trong năm đó, tôi đến dự một buổi truyền giảng khác của Annacondia. Buổi tối hôm đó ông nói: “Ở giữa anh em chớ nên có ai làm thầy bói , hoặc kẻ hay xem sao mà bói , thầy phù thủy , thầy pháp , kẻ hay dùng ếm chú , người đi hỏi đồng cốt , kẻ thuật số , hay là kẻ đi cầu vong , vì Đức Giêhôva lấy làm gớm giếc kẻ làm các việc ấy ” (PhuDnl 18:10-12). Vào lúc đó tôi nhận biết trước kia mình đã chìm sâu thể nào trong tội lỗi và đã đi ngược lại với công việc của Đức Chúa Trời biết bao.
Ngày hôm sau tôi dậy sớm cảm thấy rất mệt trong người, buồn nôn, choáng váng, hắt hơi, ho, ớn lạnh với chứng chuột rút và những cơn co thắt đột ngột. Tôi nghĩ mình bị ngộ độc thức ăn, tôi có cảm tưởng như mình sắp chết. Có cái gì đó áp chặt tôi xuống giường, người tôi nặng như chì. Mọi loại tư tưởng điên rồ ùa đến tâm trí tôi - những kỷ niệm đau đớn và tội lỗi, nhất là những lời dối trá. Từ trong người tôi phát ra những tiếng rên, những tiếng nói khàn khàn, lằm bằm. Tôi tưởng mình sắp phát khùng. Sau bốn mươi lăm phút dài vô tận, tôi nhớ Annacondia đã quở trách quỉ như thế nào. Tôi nắm lấy Chúa bằng tất cả sức lực của mình và kêu lớn với uy quyền tôi nói: “Hỡi linh lừa dối của các tiên tri giả, trong danh của Chúa Jesus người Naxarét, ta cột trói ngươi và ra lệnh cho ngươi hãy ra khỏi thân thể ta, ra khỏi linh hồn ta, hãy để yên tâm linh ta. Trong danh Chúa Jesus, hãy thả cuộc đời ta ra và đừng bao giờ trở lại. Tấm lòng ta thuộc về Đức Chúa Trời, là Cha của ta”. Sau đó, tôi đã xin Đức Thánh Linh kiểm soát môi lưỡi tôi và đừng để cho tôi bị lừa dối nữa. Chỉ vài phút sau đó tôi bắt đầu cảm thấy khỏe hơn. Tôi không còn thấy lạnh nữa, tôi cảm thấy ấm áp và dễ chịu, rồi tôi ngủ thiếp đi. Khi tôi thức giấc và đi ra ngoài, một người bạn gặp tôi và bảo “Trông anh thật khủng khiếp!” và tôi chỉ trả lời “Tôi đã trải qua một đêm khủng khiếp”. Tôi không muốn giải thích những gì đã xảy ra với tôi. Bạn tôi bảo dầu vậy trông bạn sáng sủa hơn, gương mặt của bạn có vẻ sạch sẽ và trẻ trung hơn”.
Chiều hôm đó bạn tôi và tôi được Báp têm bằng Thánh Linh. Đằng sau bục giảng với đôi tay giơ cao, chúng tôi bắt đầu nói các thứ tiếng. Đức Chúa Trời đã buông tha tôi, giải phóng tôi khỏi các thế lực của Satan! Ngày nay tôi dâng cuộc đời mình để công bố Tin Lành, cứu người hư mất, và làm vững mạnh những người yếu đuối trong đức tin trong danh của Chúa Cứu Thế Jesus chúng ta là vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
BASILIO
Các Thế Lực Của Tà Linh
Khi chúng ta nói về các lực lượng tà linh gian ác, sự giải cứu khỏi ma quỉ, sự hà hiếp về mặt tâm linh, và về các quỉ, chúng ta đang nói về tất cả các thế lực ma quỉ hành động trong thế giới nầy. (Xem IGi1Ga 5:19). Người nào khinh thường lẽ thật nầy là đẩy mình vào nhiều nguy hiểm. Một trong những nguy hiểm đó là sự sùng bái tà thuật. Đây là một sự lừa dối của kẻ thù dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm lừa dối những người đang tìm kiếm các câu trả lời và những người có các nhu cầu về thuộc thể lẫn thuộc linh. Điều quan trọng là trong sự tìm kiếm tuyệt vọng đó để có được các giải đáp cho các nan đề của đời sống, con người đã chọn nhầm đường. Một trong những lý do là vì Hội Thánh đã không cung ứng các câu trả lời mà họ đang tìm kiếm. Vì vậy người ta bắt đầu tìm kiếm những sự thuộc về thế giới siêu hình như tà thuật, phù phép, thần chú, và thờ hình tượng.
Ngành khoa học tà thuật đã tàn phá không những Argentina và cả Châu Mỹ Latinh và nhiều phần khác trên thế giới. Một số các Quốc gia được gọi là thế giới thứ nhất cũng đã bị lừa dối bởi những sự dối trá nầy. Lời Chúa phán rằng “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người , nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo của sự chết ” (ChCn 14:12). Chúng ta thường cố giải quyết những nan đề của đời sống bằng các phép lạ nhanh chóng và dễ dàng. Chúng ta không thích bất cứ điều gì khó khăn, và tất nhiên chúng ta không muốn phải có bất cứ những cam kết nào hoặc phải thay đổi cuộc sống hoặc phải thay đổi thái độ. Chúng ta thích phép mầu.
Khi nói đến việc tìm kiếm Chúa, nhiều người tìm ra lý do để bào chữa. Sự thật là Đức Chúa Trời đòi hỏi nhiều điều nơi con người, sự thánh khiết, vâng phục cùng nhiều điều khác nữa. Ngài cũng đòi hỏi chúng ta tôn trọng ý muốn của Ngài. Vì vậy dường như vâng phục Satan, tà thuật, hoặc bất cứ những từng trải ma quỉ nào có trên đời nầy có vẻ như dễ dàng hơn. Nhưng Satan cũng sẽ có những đòi hỏi, nó sẽ đòi những điều nhất định từ nơi chúng ta mà chúng ta không thể nào từ chối nó.
Tôi đã từng thấy một mục quảng cáo trên một tạp chí huyền bí giới thiệu một thập tự, mà theo như lời tuyên bố, sẽ đem lại may mắn và giúp bạn trúng số. Nếu bạn mua chiếc thập tự đó mà không trúng số, tờ tạp chí hứa trả lại tiền cho bạn. Tôi tin chắc có nhiều người đã tin vào sự dối trá nầy và đã mua chiếc thập tự. Tờ báo nầy cũng đã giới thiệu một kim tự tháp may mắn. Nó sẽ giúp người ta mau giàu và khỏe mạnh. Các mục quảng cáo khác thì nói rằng “Hãy xoa bụng đức Phật, bạn sẽ phát tài, mọi nan đề của bạn đều sẽ được giải quyết”. Họ còn trưng ra một chiếc thập tự khác để treo trước cửa nhà sẽ đem lại bình an hạnh phúc cho hôn nhân và tiền tài cho phần đời còn lại của bạn. Một quảng cáo khác hứa sẽ giữ an toàn cho bạn qua các nghi lễ thánh của ma thuật trắng để thực hiện theo cung hoàng đạo của bạn.
Đó là một số những điều mà các thế lực ma quỉ cung cấp cho những người tìm kiếm những giải pháp và những câu trả lời trong những chỗ sai trật. Nhiều người gặp rắc rối bèn đi đến các phù thủy, các thầy pháp, các nhà ma thuật, các nhà chiêm tinh và các thầy đồng. Họ nhờ ai đó đọc các lá bài cho họ, tưởng rằng Đức Chúa Trời sẽ phán với họ qua các lá bài. Xin hãy biết rằng Đức Chúa Trời lên án tất cả các loại tà thuật nầy. Có lẽ bạn để ý thấy có nhiều người giàu có các nhà chiêm tinh hay phù thủy riêng của mình. Một số các tổng thống thường cầu hỏi chúng trước khi quyết định những việc quan trọng. Điều nầy rất phổ biến, họ muốn biết quyết định của họ có đúng không, và điều gì sẽ xảy đến trong tương lai.
Đức Chúa Trời không đồng ý bất cứ điều nào kể trên. Ngài hoàn toàn đề kháng chúng bởi vì chúng là các tập tục của Satan. Lời khuyên của tôi dành cho bạn là đừng phí tiền và đừng trở nên nghịch thù với Đức Chúa Trời. Ngài không ngự trong những nơi đó, và Ngài gớm ghiếc bất cứ người nào thực hành những điều như vậy. Có lẽ bạn thắc mắc vì sao tôi lại nói những điều nầy, bởi vì Kinh Thánh khẳng định như vậy. Chỉ có Lời Chúa mới bày tỏ cho chúng ta ý muốn của Đức Chúa Trời. Nếu bạn muốn biết tương lai hãy đến với Lời của Đức Chúa Trời. Lời Ngài dạy chúng ta điều Đức Chúa Trời muốn dành cho chúng ta. Nếu bạn đang thực hành tà thuật, hãy chấm dứt, hãy lánh xa những sự thực hành đó, hãy đến gần với Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Bạn cũng cần phải bỏ lại tội lỗi phía sau, tức là bất cứ điều gì không đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Những Lời Cảnh Cáo của Đức Chúa Trời về Sự Sùng Bái Tà Thuật
Nhiều người nam người nữ không muốn chấp nhận Chúa Jesus bởi vì họ biết công việc mà họ đang làm là gian ác và nếu họ đến gần ánh sáng, tức là Chúa Cứu Thế Jesus, những công việc đó sẽ bị phơi trần. Vì vậy họ cứ thích ở trong sự tối tăm hơn.
Hãy xem những gì Chúa phán về những tập tục tà thuật nầy trong Kinh Thánh:
Thuật Chiêm Tinh
Thuật Chiêm Tinh nói về những người “xem sao, xem trăng” và những người “đoán trước tương lai” Đức Chúa Trời phán:
“Kìa họ sẽ trở nên như rơm rạ, bị lửa thiêu đốt, họ sẽ chẳng cứu mình được khỏi quyền ngọn lửa, lửa ấy chẳng phải lửa than để sưởi hay là lửa để ngồi kề một bên” (EsIs 47:14).
Cơ Đốc Nhân không được tham khảo lá số tử vi hoặc có bất cứ mối quan tâm nào nơi các cung hoàng đạo. Điều đó đến từ ma quỉ.
Thông Linh
Chúng ta hãy xem Kinh Thánh nói gì về điều nầy:
“Khi nào một người nam hay nữ làm đồng cốt, hay là bói khoa thì hắn sẽ bị xử tử, người ta sẽ ném đá chúng nó, huyết chúng nó sẽ đổ lại trên mình chúng nó” (LeLv 20:27).
Những lời đó được trích từ Kinh Thánh, không phải tôi nói điều đó mà là Đức Chúa Trời. Nhiều người nói chuyện với người chết. Đó là một sự thực hành phổ biến của các ông đồng, bà cốt. Có những người khác còn cầu nguyện với người chết nữa.
Xem Bói
Đức Chúa Trời phán về một số những tập tục khác ở trong PhuDnl 18:10-12.
“Ở giữa ngươi chớ nên có ai đem con trai hay con gái mình ngang qua lửa, chớ nên có thầy bói, hoặc kẻ hay xem sao mà đoán, thầy phù thủy, thầy pháp, kẻ hay dùng ếm chú, người đi hỏi đồng cốt, kẻ thuật số, hay là kẻ đi cầu vong. Vì Đức Giêhôva lấy làm gớm giếc kẻ làm các việc ấy, và vì các sự gớm giếc ấy, nên Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi đuổi các dân tộc đó khỏi trước mặt ngươi”.
Trong sự thương xót vô tận của Ngài, Đức Chúa Trời cũng phán rằng tất cả những ai tìm kiếm câu trả lời nơi các phù thủy, thầy bói, thầy pháp làm vậy vì cớ ngu dốt. Đó là lý do chúng ta phải cần đọc lời Đức Chúa Trời, để biết đâu là con đường phải chọn.
“Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người, nhưng đến cuối cùng, nó thành ra nẻo của sự chết” (ChCn 14:12).
Chúng Ta Hãy Bước Đi Trong Sự Sáng
Nhiều khi chúng ta làm những việc tồi tệ vì cớ thiếu hiểu biết. Có lẽ chúng ta tưởng mình đang làm điều đúng, nhưng không phải. Lời Chúa thật rõ ràng, và bây giờ khi chúng ta đã biết rõ điều đó, chúng ta cần phải bước đi theo lẽ thật của Lời Ngài. Nhiều khi trong đời sống hằng ngày, chúng ta làm những điều giống như cố gắng chữa lành “con mắt gian ác” hoặc một cái bụng buồn rầu với những phương pháp mà chỉ có các thầy pháp thường dùng. Bạn nói: “nhưng tôi làm điều đó trong danh của Đức Chúa Trời!” Bạn có khi nào nhận ra rằng trong danh của ai mà bạn đang làm điều đó không? Một ví dụ khác có thể là các quyền hành đã truyền từ đời cha sang đời con trong đêm 24 tháng 12. Điều nầy không thuộc về Đức Chúa Trời. Nếu con bạn đau bụng, chỉ hãy đặt tay bạn lên trán nó và nói “Lạy Chúa Jesus xin đụng đến con con và chữa lành cho nó” Ngài sẽ chữa lành con bạn mà không cần bạn phải đọc một câu thần chú nào cả. Mọi điều đó chẳng là gì cả ngoài công việc của sự tối tăm, phù thủy, thầy bói.
Tất cả những tập tục nầy rất phổ biến ở Châu Mỹ Latinh. Nếu chúng ta đã thừa kế bất cứ tập tục thầy bói hoặc phù thủy nào, chúng ta cần từ bỏ chúng trong danh của Chúa Jesus. Đức Chúa Trời gớm ghiếc tất cả những điều đó. Ngài dạy chúng ta trong Lời Ngài, đó là con đường chúng ta phải noi theo. Nếu trước kia bạn đã từng tham dự vào các tập tục đó, ngay bây giờ hãy xin Đức Chúa Trời tha thứ cho bạn, đừng bao giờ trở lại với chúng nữa.
Chúng ta cố gắng giải quyết các nan đề của mình, song nhiều lúc chúng ta không biết điều gì đã gây ra tật bịnh đó hoặc vì sao chúng ta phải chịu nhiều đau đớn trong cuộc đời mình. Có thể bạn đang có một gia đình tan nát và bạn không hiểu tại sao, vì vậy bạn quyết định tìm gặp một phù thủy, hoặc một thầy bói, hoặc một ông đồng để tìm giải pháp.
Chúng ta cần hiểu lẽ thật hết sức quan trọng nầy: Nguyên nhân thật sự nỗi khổ của bạn là tội lỗi. Đó là sự nổi loạn của bạn nghịch cùng Đức Chúa Trời. Vì vậy trước hết, hãy nhận biết rằng chúng ta là những tội nhân, chúng ta cần ân điển và sự thương xót của Đức Chúa Trời. Sau đó chúng ta mới có thể bước vào trong sự hiện diện của Ngài và thưa rằng: “Lạy Chúa, bởi huyết của Chúa Cứu Thế Jesus, nay con đã được sạch”. Sau đó, với tư cách con cái của Ngài, chúng ta có thể xưng nhận những lời hứa chúng ta tìm được trong Lời Ngài.
Có lẽ bạn nghĩ rằng “Nhưng tôi có bao giờ từ bỏ Đức Chúa Trời đâu !” trong một vài trường hợp điều nầy có thể đúng, nhưng Kinh Thánh chép rằng chúng ta đã xây lưng lại với Chúa khi làm điều không đẹp lòng Ngài. Tất cả những hành vi nổi loạn, những sự quá phạm, và không vâng lời Đức Chúa Trời, hoặc các mạng lệnh, các nguyên tắc của Ngài đều là tội lỗi. Điều nầy có nghĩa là hết thảy chúng ta đều phạm tội mỗi ngày mà không biết vì đã làm những điều không đẹp lòng Đức Chúa Trời. Nhưng Ngài muốn tha thứ cho chúng ta. Đức Chúa Jesus đã phán: “Ngài đến không phải để đoán phạt chúng ta nhưng để tìm và cứu những kẻ bị hư mất”. Ngài muốn hòa thuận lại với bạn. Nếu đã có lần bạn xây lưng lại với Chúa, thì bạn đừng bao giờ lìa bỏ Ngài nữa. Đừng bao giờ tin vào tà thuật, tử vi, hoặc đồng cốt. Thế gian hứa hẹn nhiều điều gian ác và tội lỗi, và chúng ta đã bị lừa dối. Đừng để cho điều nầy xảy ra! Chúa Jesus muốn thay đổi đời sống bạn! Đừng chết vì thiếu sự hiểu biết! Chỉ có trong Chúa Jesus chúng ta mới tìm được các câu trả lời và hy vọng. Bàn tay yêu thương và nhơn từ của Ngài đang trải rộng ra cho tất cả những ai cần đến Ngài.
“Hãy giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống...hãy nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời” (KhKh 2:10; HeDt 12:14).
Tôi nhớ có thời gian tôi thường bị bẩn vì dầu nhớt tại nơi làm việc. Vì vậy tôi thường về nhà khi trời tối để không ai nhìn thấy tôi. Nếu tôi sạch sẽ thì tôi chẳng quan tâm đến việc đi dưới các trụ đèn. Với các tội nhân cũng như vậy, khi linh hồn họ nhơ nhớp, lương tâm họ cũng nhơ nhớp. Vì vậy họ sẽ ở trong sự tối tăm. Nếu họ bước ra ánh sáng, người ta sẽ thấy các công việc của họ, và họ sẽ bị quở trách. Đó là một trong các lý do vì sao người ta không muốn đến gần Chúa Jesus. Họ biết nếu đến gần Ngài, họ sẽ phải rời bỏ những việc làm xấu xa đằng sau. Họ chọn cứ ở trong tội lỗi và sự gian ác, để làm bất cứ điều gì họ thích trong khi ẩn mình trong bóng tối.
Tôi tin chắc bạn không bao giờ đi dự tiệc cưới mà toàn thân vấy bẩn hoặc nhơ nhớp. Có lẽ bạn luôn bận áo quần đẹp nhất để đi dự tiệc. Chúng ta cũng vậy, chúng ta cần phải sạch sẽ và lúc nào cũng sẵn sàng để dự tiệc cưới Chiên con. Không ai nhơ nhớp mà được phép dự tiệc; đó là lý do vì sao chúng ta cần phải tự làm sạch mình, làm nên thánh, và tìm kiếm Chúa hết lòng với sự chân thật. Nếu chúng ta yêu Chúa Jesus, chúng ta cần phải sẵn sàng và chuẩn bị, bởi vì chúng ta biết rằng Ngài sắp trở lại để cất Hội Thánh Ngài, và chúng ta sẽ cùng Ngài dự tiệc cưới.

Chương 9: QUYỀN NĂNG CỦA SỰ THA THỨ
Một trong những buổi truyền giảng đầu tiên của tôi, có người đến gặp tôi và hỏi tôi có thể đến nhà để cầu nguyện cho mẹ họ không?” Khi buổi nhóm kết thúc, tôi đến gặp người phụ nữ nầy. Bước vào nhà, tôi thấy một người phụ nữ bị đau liệt, nằm trên giường đau đớn vì chứng suyễn mãn tính đã tấn công hai lá phổi của bà. Bà đang ở trong tình trạng rất xấu, mỗi ngày mỗi yếu đi và đang chết dần chết mòn.
Điều đầu tiên tôi làm là nói chuyện với bà về Chúa Jesus và sự cứu rỗi của Ngài. Khi nói xong, tôi giúp bà cầu nguyện xưng nhận đức tin, và bà đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế vào lòng. Sau đó tôi cầu nguyện cho bà, nhưng tôi không cảm thấy phước hạnh của Đức Chúa Trời đến được với bà. Thật là lạ, tôi cầu nguyện và hỏi Chúa có điều gì đang diễn ra. Ngài phán rằng tấm lòng của người đàn bà nầy đầy dẫy thù ghét, và ơn phước của Ngài không thể đến được nếu bà không tha thứ.
Vì vậy tôi quyết định hỏi thẳng bà: “Bà đang có nan đề với ai. Ai là người bà cần tha thứ?”
Bà ta bảo rằng bà không có nan đề gì cả, rằng bà có một mối quan hệ tốt đẹp với những người ở chung quanh bà. Tôi biết bà đang nói dối, Đức Chúa Trời đã khẳng định điều đó với tôi, và Ngài không nói dối. Vì vậy tôi nói “Bà ơi, bà không nói với tôi sự thật”. Khi nói điều đó, tôi cảm biết trong lòng mình rằng bà đang có vấn đề với cô con dâu. Vì vậy tôi hỏi con gái bà “Mẹ cô có bao nhiêu người con dâu?” Cô trả lời “hai”.
Tôi hỏi “tên họ là gì?” Cô trả lời “một người là Maria Loza và người kia là Ester”.
Với thông tin đó, tôi trở vào và nói chuyện với bà “mối quan hệ giữa bà với cô con dâu Maria Loza thế nào?” “A” bà ta nói với một nụ cười “Maria là một trái tim nhân hậu. Cô ấy đến thăm tôi với các cháu tôi một tuần hai lần, và mang bánh đến cho tôi nữa. Cô ấy thật là một cô con dâu gương mẫu.”
Tôi nói “Còn Ester thì thế nào?”
Yên lặng. Tôi lập lại câu hỏi đó bốn lần và không có câu trả lời. Bà ta không nói gì với tôi cả.
Thế rồi thình lình bà nói “Đừng nhắc đến tên nó. Nó là một con rắn. Nó dụ dỗ con trai tôi và cũng chẳng cho các cháu tôi đến thăm tôi. Tôi ghét nó! Tôi sẽ không bao giờ tha thứ vì những gì nó đã làm cho tôi!” Trong giây phút đó bà ta khẳng định điều Chúa đã phán cùng tôi, vì vậy tôi cố gắng giúp bà hiểu điều trục trặc với bà.
“Bà có biết điều gì đang xảy ra ở đây không? Bà đang chết dần chết mòn vì cớ tấm lòng bà đầy dẫy sự thù ghét và oán giận”.
“Tôi không cần, tôi sẽ không tha thứ cho nó, dẫu cho điều đó có giết chết tôi” Bà trả lời giận dữ.
“Nhưng Chúa đang phán với bà, Ngài nói rằng nếu bà không tha thứ, sự oán hận cuối cùng sẽ giết chết bà”. Tôi nói
“Mục sư, tôi xin lỗi, nhưng tôi thấy mình không muốn làm điều đó”
Tôi đã hiểu. Có những lúc thật không dễ dàng để tha thứ cho kẻ đã làm tổn thương chúng ta quá sâu sắc. Tôi đã nghe nhiều câu chuyện về những người đã bị lợi dụng khi còn nhỏ. Một số những người khác đã bị cưỡng hiếp, phản bội, và bị tấn công. Tất cả những điều khủng khiếp ấy làm tổn thương người ta vô cùng sâu đậm.
Có thể những người làm thương tổn không xứng đáng với sự tha thứ của chúng ta. Nhưng chúng ta cần nhận biết rằng chúng ta đã phạm tội, thậm chí còn tồi tệ hơn vì đã nghịch cùng Chúa chúng ta là Jesus vậy mà Ngài phán rằng: “Lạy Cha xin tha cho họ , vì họ không biết điều mình làm ” (LuLc 23:34). Tôi giải thích cho người phụ nữ ấy rằng tha thứ không phải là một cảm xúc, mà là một quyết định. Nếu chúng ta phải cảm thấy muốn tha thứ, có lẽ không bao giờ chúng ta tha thứ. Tôi cố gắng giúp bà hiểu lẽ thật nầy, và sau đó chúng tôi cùng cầu nguyện. Tôi nắm lấy tay bà và mời bà lập lại theo tôi: “Lạy Chúa con tha thứ cho Ester! Lạy Chúa Jesus con tha thứ cho Estes!” Bà ta đã lấy hết sức để nói được những lời đó, và cuối cùng bà đã nói được. Bà lập lại nhiều lần “Con tha thứ cho Ester trong danh Chúa Jesus”. Khi nói điều đó nước mắt bắt đầu dâng lên trong đôi mắt bà. Đức Thánh Linh đã làm việc trong lòng cứng cỏi của bà. Bà vừa nói vừa khóc với tôi “Tôi cảm thấy giống như có điều gì đó được nhấc ra khỏi lòng tôi và bây giờ tôi được tự do”.
Tôi hỏi “Bà đã tha thứ cho Estes chưa?” Bà nói “Rồi, tôi đã tha thứ”.
Sau đó sự chữa lành bắt đầu tuôn chảy. Sau ba năm dài không thể bước đi, bà đã đứng dậy và bước một vài bước. Mọi người trong căn phòng chứng kiến quyền năng thực sự của sự tha thứ .
Khi Chúng Ta Tha Thứ
“Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi... Vả nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi” (Mat Mt 6:12, 14:14, 15;).
Các câu Kinh Thánh ấy trong Phúc âm Mathiơ dạy chúng ta điều mà các định luật thuộc linh của Đức Chúa Trời cho phép con người được đến gần sự nhơn từ và thương xót của Ngài. Nhiều lúc chúng ta không nhận được các ân ban của Đức Chúa Trời, hoặc chúng ta cầu xin mà không được đáp lời, là do chúng ta đã không vâng giữ các nguyên tắc thuộc linh được chép trong Lời Ngài.
Chúng ta hãy xem xét di sản nầy ở mức độ sâu nhiệm hơn hầu cho các phước hạnh bội phần của Đức Chúa Trời đến được với đời sống của chúng ta. Tôi tin rằng bài cầu nguyện chung là lời cầu nguyện được nhiều người biết đến nhất trên thế giới, nhưng đáng buồn thay đó cũng là bài cầu nguyện bị xem thường hơn hết. Chúng ta hãy xem xét từng phần đoạn Kinh Thánh trong Mat Mt 6:9-13
“Xin Tha Tội Cho Chúng Tôi”
Kinh Thánh chép rằng chúng ta mắc nợ, và mắc nợ Đức Chúa Trời. Như vậy giá của khoản nợ nầy là thế nào? Liệu chúng ta có thể trả bằng tiền mặt chăng? Bạn hãy nhớ rằng Chúa Phán: “Tiền công của tội lỗi là sự chết”. Ngài đã trả một giá cho linh hồn con người, nếu như chúng ta có thể lấy tiền mà mua được thì chúng ta đã mua. Nhưng Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng linh hồn của con người quý hơn cả vàng hoặc bạc. Điều nầy có nghĩa là chúng ta không thể mua được sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Nhiều người thích nghĩ rằng họ có thể mua được; khi họ qua đời họ để lại tiền bạc và các thứ vật chất cho Hội Thánh để các thuộc viên trong Hội Thánh cầu nguyện cho họ. Tôi xin nói với bạn, dầu vậy, Đức Chúa Trời không phải là một thương gia. Chúng ta không thể mua được sự tha thứ của Ngài hoặc trả cho Ngài những gì Ngài đã hy sinh trên thập tự giá. Vì vậy con người phải trả bằng chính sự sống của mình vì cớ sự bội nghịch và không vâng lời của mình. Điều đó có nghĩa rằng giá của tội lỗi là sự chết.
Nhưng khi Đức Chúa Trời nhìn thấy toàn thể nhân loại hư mất và hết thảy đều phải chết, Ngài đã ban Chúa Jesus đến trần gian, không hề có tì vết và không hề phạm tội, hầu cho hễ ai tin nơi sự công bình của Chúa Cứu Thế không bị hư mất mà được sự sống. Ngài không sai Con Ngài đến để đoán xét thế gian mà để cứu rỗi thế gian. Vì vậy cũng như tội lỗi đã vào trong thế gian bởi một con người (Ađam), và bởi tội lỗi mà có sự chết, thì cũng bởi Chúa Jesus, sự sống và ơn phước đã vào trong thế gian. Khi Chúa Jesus chịu chết trên thập tự giá, Ngài đã hoàn thành kế hoạch cứu rỗi và làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho loài người. Trên thập tự giá, Chúa Jesus đã tuyên phán “Mọi sự đã được trọn” hết thảy đều thấy Ngài bị đóng đinh, nhưng chỉ có một ít người biết rằng Ngài đã trả món nợ mà con người mắc với Đức Chúa Trời.
Chúa Cứu Thế là Đấng Trung Bảo của chúng ta. Khi được lên thiên đàng, chúng ta sẽ mang theo mình của cầm thuộc linh mà Ngài đã giao vào tay chúng ta khi tiếp nhận Ngài vào lòng. Bạn có biết của cầm đó là gì không? “Lạy Cha! Con đã trả món nợ của Carlos bởi mạng sống và bằng huyết của con”, biên nhận nầy không phải được viết bằng mực, mà là bằng huyết mà Chúa Jesus người Naxarét đã đổ ra vì cớ chúng ta tại thập tự giá. Điều nầy có nghĩa nếu bạn dâng đời sống mình cho Chúa Jesus bạn không còn mắc nợ điều gì nữa, bởi vì ân ban của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jesus Christ Chúa chúng ta.
“Như Chúng Tôi Cũng Tha Kẻ Mắc Nợ Chúng Tôi”
Đây là phần thứ hai trong khúc Kinh Thánh chúng ta đang xem xét. Theo tất cả những gì chúng ta vừa mới thảo luận, lời Kinh Thánh thật rõ ràng, công khai tuyên bố rằng để nhận được sự tha thứ của Đức Chúa Trời, chúng ta cũng cần phải tha thứ. Khi Đức Chúa Trời tha thứ chúng ta, chúng ta được hòa thuận lại với Ngài và nhận được sự cứu rỗi. Nếu chúng ta không vâng giữ nguyên tắc nầy, chúng ta đánh mất sự tha thứ của Đức Chúa Trời và ơn phước của Ngài. Chúng ta cũng gặp nguy cơ mất cả sự cứu rỗi mà Chúa Jesus đã ban cho chúng ta cách nhưng không qua sự chết của Ngài trên thập tự giá ở tại Gôgôtha.
Từ ngày nầy sang ngày khác chúng ta nhìn thấy những gương mặt đầy cay đắng và giận dữ. Sự thù hằn không những làm chai sạn tấm lòng, mà còn làm cứng cỏi nét mặt của chúng ta. Khi tâm linh buồn bực, nó bày tỏ ra trên nét mặt của chúng ta, và cuối cùng cùng làm khô héo xương cốt chúng ta. Nó tác hại đến sức khỏe thuộc thể của chúng ta. Kinh Thánh chép rằng “Khi tôi nín lặng, các xương cốt tôi tiêu tàn” (Thi Tv 32:3). Thù hận và căm ghét làm tổn thương linh hồn và tấm lòng chúng ta, nếu chúng ta không chữa lành các vết thương ấy cách hoàn toàn, chúng sẽ tiếp tục bị rỉ máu. Suốt nhiều năm chúng ta cứ mang theo mình những mối ác cảm, thù hằn và mong muốn trả thù những người đã làm tổn thương chúng ta trong quá khứ. Nếu không để cho Chúa can thiệp và chữa lành, chúng ta sẽ cứ bị thương mãi mãi.
Tất cả những cảm giác tức giận, oán ghét, hoặc thù hận đều là một cánh cửa mở cho ma quỉ. Những cảm xúc nầy, một khi nằm dưới sự kiểm soát của ma quỉ, đem đến sự tự tử, buồn chán, điên cuồng, và mọi thứ tật bịnh. Bảy mươi phần trăm những người phải vào trại giải cứu là những người bị quỉ ám, nhưng hầu hết các nan đề thuộc linh của họ đều do thiếu lòng tha thứ.
Trong sách Êphêsô, Chúa dạy chúng ta như sau “Ví bằng anh em đương cơn giận thì chớ phạm tội; chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn, và đừng cho ma quỉ nhơn dịp” (Eph Ep 4:26-27). Kinh Thánh không bảo chúng ta đừng nổi giận, nhưng Đức Chúa Trời không muốn cơn giận đó kéo dài qua đêm. Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ chúng ta hãy sửa ngay lại mọi sự với Chúa và với những người chúng ta có thể đã làm tổn thương hoặc làm hại trong ngày hôm đó.
Nếu trong cuộc đời của mình chúng ta đã lầm lỡ và phạm tội cùng Đức Chúa Trời, thì Ngài là thành tín và công bình để tha mọi tội lỗi của chúng ta. Chúa phán rằng “Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi gian ác của chúng nó nữa” (HeDt 10:17).
Nhiều người, thậm chí là những Cơ Đốc Nhân, không nhận biết sự tha thứ quan trọng như thế nào. Nhưng đối với Đức Chúa Trời, ghét một anh em thì cũng phạm tội như đã giết người ấy. “Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người, anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình” (IGi1Ga 3:15). Bây giờ bạn đã hiểu điều tôi muốn nói chăng? Chúa phán rằng “Người nào nói mình ở trong sự sáng mà ghét anh em mình là vẫn còn ở trong sự tối tăm. (Xem 2:9-11) nhưng Ngài cũng phán rằng “Nếu chúng ta yêu thương anh em mình thì chúng ta đang ở trong sự sáng và không điều gì gây cho chúng ta vấp ngã”.
Hỡi các anh chị em yêu dấu của tôi, hãy đọc cho cẩn thận. Không phải tôi nói những lời đó, mà chính là Chúa. Trong 4:20 chúng ta biết rằng nếu yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì chúng ta là kẻ nói dối. Vì nếu không thể yêu anh em, là những người mình thấy, thì làm thế nào yêu Đức Chúa Trời, là Đấng chúng ta không thấy? Vì vậy đây là mạng lệnh của Chúa “Ai yêu Đức Chúa Trời, thì cũng phải yêu anh em mình” (4:21).
Vì vậy đừng yên lặng lâu hơn nữa. Đừng cứ giấu mãi những cảm xúc đang làm bạn khốn khổ trong quá nhiều năm tháng. Có thể đó chính là vách tường trong tấm lòng bạn đã ngăn chận những phước hạnh lâu dài không đến được với đời sống bạn. Vì vậy hãy xưng tội và ăn năn đi, bạn sẽ tìm thấy sự giải hòa. Không có gì tốt hơn điều đó.
Tha Thứ Đem Lại Sự Hòa Giải
Trong một số trường hợp, chúng tôi nói chuyện với những người đã trải qua một thời gian khó khăn để tha thứ cho chính mình vì những sự lựa chọn sai lầm hoặc những lầm lỡ mà họ đã phạm trong quá khứ. Tôi thấy những người khác thì oán giận Chúa vì họ tin rằng Ngài đã hình phạt họ bằng bịnh tật.
Sứ đồ Phaolô nói lời sau đây về sự tha thứ.
“Nhưng anh em tha thứ ai, thì tôi cũng tha thứ. Vả nếu tôi đã tha, là vì anh em mà tha, ở trước mặt Đấng Christ, hầu đừng để cho quỉ Satan thắng chúng ta, vì chúng ta không phải là không biết mưu chước của nó” (IICo 2Cr 2:10-11).
Nếu những người đã bị tổn thương mang rễ của sự cay đắng trong lòng, họ không làm trọn luật tha thứ của Chúa, họ đã cho ma quỉ một cơ hội và mở cửa cho các mưu chước của nó. Tất cả mọi điều đó đều là những chướng ngại vật và những tranh chiến mà Satan đặt vào đời sống của những người chưa bằng lòng dâng mọi sự cho Chúa, kể cả lòng ghen ghét và oán giận của họ.
Chúng ta biết rằng Satan chỉ đến để cướp giết và hủy diệt, và trong ngày cuối cùng nó sẽ tung ra hàng triệu quỉ sứ để đem đến tình trạng thù địch giữa vòng con người. Nó đã thành công trong việc đem sự phân rẽ giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, bà gia và nàng dâu, giữa các bạn hữu, giữa những người hàng xóm. Chúng ta biết rằng nếu chúng ta chiến đấu mà không tha thứ, sẽ ngăn chận các ơn phước của Chúa đến với đời sống mình. Sứ đồ Phaolô đã dạy trong RoRm 5:10-11: “Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời , mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của con Ngài , thì huống chi nay đã hòa thuận rồi , chúng ta sẽ nhờ sự sống của con ấy mà được cứu là dường nào ! Nào những thế thôi chúng ta lại còn khoe mình trong Đức Chúa Trời bởi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta , nhờ Ngài mà chúng ta hiện nay đã được sự hòa thuận ”. Khi chúng ta tiếp nhận Chúa Cứu Thế vào lòng mình chúng ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời. Và Đức Chúa Trời, Đấng hòa giải chúng ta với chính Ngài qua Chúa Cứu Thế đã ban cho chúng ta chức vụ của sự giải hòa. Không phải chỉ hòa thuận lại với Ngài, mà cũng hòa thuận với tất cả những người đã làm tổn thương và làm hại chúng ta trong quá khứ.
Chữ hòa giải đến từ tiếng La tinh Reconciliatio , ám chỉ “hành động khôi phục lại các mối quan hệ bị gãy đổ ”, nó cũng được dịch sang từ Hylạp Katanlage , có nghĩa là “thay đổi hoàn toàn ”. Chúa Jesus cung ứng những gương mẫu tốt nhất về sự tha thứ và hòa giải. Chúng ta thấy Ngài tha thứ cho Giuđa, Phierơ, những kẻ đã đóng đinh Ngài. Về những người nầy Ngài phán rằng “Lạy Cha xin tha cho họ , vì họ không biết điều mình làm ”.
Cùng một Đức Thánh Linh, Đấng xức cho Chúa Jesus cũng là Đấng đang ngự trong chúng ta ngày nay. Nhiều lúc khi giảng dạy về sự tha thứ, tôi nghe người ta la lên “Lạy Chúa con tha thứ!” Trong chính giờ phút đó họ nhận được phép lạ và được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Tôi xin nêu lên một ví dụ: Nếu chúng ta muốn đổ đầy nước vào một cái chai nhưng chúng ta dìm nó vào trong nước mà nắp chai vẫn đậy kín, thì dầu cho có bao nhiêu tiếng đồng hồ trôi qua cái chai vẫn trống không. Bạn phải mở nắp chai, thì cái chai sẽ đầy nước. Điều tương tự cũng xảy đến với đời sống bạn, bạn cần phải tha thứ. Hãy mở chiếc nắp đã không cho Đức Thánh Linh tự do tuôn đổ trong đời sống bạn. Năm 1994 tôi được mời đến dự kỳ hội đồng thường niên của các Hội Thánh Ngũ Tuần Đan Mạch. Tôi đã giảng dạy về quyền năng của sự tha thứ. Có một thanh niên đi nạng khiến tôi chú ý. Anh ta tiến lên phía trước tòa giảng vừa la lớn vừa khóc “Con tha thứ cho cha con. Lạy Chúa con tha thứ cho cha con”. Một vài phút sau, tôi thấy anh ta ném cặp nạng trên sàn nhà và chạy lên bục giảng để nói lời làm chứng. Đức Chúa Trời đã chữa lành cho anh!
Nếu người anh em của bạn có phạm tội nghịch cùng bạn, hãy nhịn nhục và tha thứ cho họ. Hãy hiểu rằng mình lường cho họ mực nào, thì họ cũng lường cho mình mực ấy. Mac Mc 11:25 chép rằng “Khi các ngươi đứng cầu nguyện , nếu có sự gì bất bình cùng ai , thì hãy tha thứ ”, bí quyết nằm ở chỗ điều chúng ta xưng ra. Có thể chúng ta không có khả năng đến gặp người mình cần tha thứ. Có thể người đó đã chết rồi hoặc ở rất xa, nhưng chúng ta có thể xưng ra sự tha thứ của mình ở trước mặt Đức Chúa Trời, công bố tên của người đó. Ví dụ chúng ta có thể nói “Lạy Chúa con tha thứ cho Dũng”. Đức Chúa Trời đang lắng nghe bạn và cả ma quỉ cũng thế. Đức Thánh Linh đã đổ đầy lòng bạn bằng tình yêu thương và chữa lành mọi vết thương. Khi ấy ma quỉ nhìn thấy sự vâng phục của bạn đối với Đức Chúa Trời và sẽ thôi hành hại bạn.
Đức Chúa Trời đã tha thứ cho sự phản bội của Giuđa, sự chối bỏ của Phierơ, là những kẻ đã đưa Ngài đến thập tự giá, cũng như tất cả tội lỗi của bạn và của tôi. Hãy suy gẫm đến những lời đó. Hãy xin Đức Thánh Linh giúp đỡ cho bạn, thăm viếng những chỗ còn tối tăm trong lòng bạn, hãy và đưa ra ánh sáng tất cả những vết thương mà bạn vẫn che giấu suốt nhiều năm qua trong nỗ lực của mình để quên đi.
Đó là sự lựa chọn của bạn, đừng chờ đợi lâu hơn nữa. Nếu bạn không tha thứ, Đức Chúa Trời không thể ban phước cho bạn. Hãy khôi phục lại các mối quan hệ gãy đổ trong lòng bạn, bạn sẽ được đổ đầy nhiều phước hạnh từ Chúa vinh hiển của chúng ta.


Chương 10: BÁP TEM TRONG THÁNH LINH
Ai là người có khả năng thay đổi đời sống của con người? Không ai thật sự có thể đem lại một sự thay đổi triệt để và lâu bền trong đời sống của con người cả. Người ta chỉ có thể sửa đổi những thói quen nhất định nào đó, nhưng rốt cuộc, những thói cũ rồi cũng sẽ trở lại. Chỉ Đức Thánh Linh mới có quyền phép để biến đổi một cuộc đời và đem lại những sự thay đổi lâu dài.
Suốt nhiều năm tôi cứ nghĩ rằng Đức Thánh Linh chỉ đụng đến đời sống của những người sống trong sự thánh khiết. Nhưng khi suy nghĩ về điều đó, tôi nhận ra rằng chính Đức Thánh Linh là Đấng thánh hóa đời sống họ. Đối với tôi, để được đầy dẫy và báp tem bằng Thánh Linh, Đức Thánh Linh cần phải đến với đời sống tôi. Làm thế nào tôi có thể trở nên thánh khiết nếu Ngài không ngự trị trong tôi?
Vì vậy nhiều lúc trước đây tôi đã cố gắng thay đổi, nhưng không thể. Song, một khi tôi đã gặp Chúa, và Thánh Linh đã bắt đầu làm việc trong đời sống tôi, thì điều đó xảy ra. Chúng ta cần có Đấng yên ủi ở trong mình để có thể đạt đến sự thánh khiết và nhận được sự đầy trọn của Ngài. Qua các buổi truyền giảng và nhiều lời làm chứng khác nhau, Đức Chúa Trời đã bắt đầu chỉ cho tôi thấy công việc của Đức Thánh Linh trong đời sống của con người.
Khi tôi đang giảng tại một trong các buổi truyền giảng đầu tiên của chúng tôi, tôi nhìn thấy một phụ nữ tiến về phía bục giảng. Bà ta đang cố gắng giữ chặt một người đàn ông. Ông ta hoàn toàn say rượu và khó mà đứng nổi trên chân mình. Họ đang bước đi với sự khó khăn hết sức. Cứ hai bước tiến, thì một bước lùi, cuối cùng họ cũng đến được bục giảng. Tất nhiên, người đàn ông nầy không thể đi xa được, nếu người đàn bà thả tay ông ra, ông sẽ té sấp xuống lập tức. Tôi bắt đầu nói với hội chúng về tội lỗi và về sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Tôi mời những người muốn tiếp nhận Chúa vào lòng đưa tay lên. Tôi thấy người đàn bà nầy nhấc bàn tay của người đàn ông say rượu lên, khuyến khích ông lập lại lời cầu nguyện đức tin. Nhìn thấy điều đó, tôi nghĩ rằng đây là một phụ nữ Cơ Đốc có một ông chồng say rượu và cách duy nhất để đem ông ta đến buổi truyền giảng là để ông ta say. Tôi tiếp tục cầu nguyện cho những linh hồn đã đầu phục Chúa. Tôi cầu nguyện giải cứu, cho những người đau ốm, và cuối cùng tôi cầu nguyện cho việc báp tem bằng Đức Thánh Linh.
Buổi tối hôm đó, nhiều người làm chứng lại họ được chữa lành, họ được giải cứu. Thình lình tôi thấy người đàn ông say rượu ở trên bục giảng cũng đang đợi để được làm chứng. Tôi tuyệt vọng nhìn quanh xem có người nào giúp tôi đưa ông ta xuống chăng. Đây không phải là lần đầu tiên có chuyện như thế xảy ra, và điều đó có thể gây ra sự bối rối. Khi tôi đến gần người đàn ông, ông ta mỉm cười với tôi, và tôi để ý thấy ông ta không loạng choạng nữa. Điều đó làm tôi ngạc nhiên, và rồi tôi thấy ông ta giơ tay lên, khi tôi định hỏi ông muốn chia xẻ điều gì, tôi nhận ra rằng ông ta đang nói các thứ tiếng. Tôi nhìn xuống chỗ người phụ nữ, thấy bà đang nhảy lên nhảy xuống vì vui mừng. Chồng bà ta đến buổi truyền giảng đầy rượu và lòng vô tín, thế rồi buổi tối hôm đó ông ta đã kết thúc trên bục giảng bằng lời làm chứng của mình, đầy dẫy Đức Thánh Linh. Người đàn ông nầy chỉ bước có ba mươi hoặc bốn mươi mét đến bục giảng nhưng trên con đường đó Đức Chúa Trời đã thay đổi hoàn toàn mà không hề có một nỗ lực nào về phía ông ta.
Lời chứng ấy cho chúng ta thấy rằng để được đầy dẫy Đức Thánh Linh chúng ta chỉ cần cầu xin Chúa đổ đầy ân điển Ngài trong chúng ta. Khi Ngài rờ đụng đời sống chúng ta, Ngài biến đổi chúng ta, thánh hóa, và đổ đầy trong chúng ta tình yêu dành cho Ngài và cho những người hư mất.
Đức Thánh Linh Ở Trong Chúng Ta
Buổi chiều nọ có một thanh niên, vốn là kẻ trộm đang đi bộ gần đến nơi tổ chức truyền giảng tại thành phố Bahia Blanca, Argentina. Có điều gì đó khiến anh chú ý, và anh dừng lại. Anh ta đã có một kế hoạch, cùng với một vài người bạn, sẽ đột nhập vào một căn nhà tối hôm đó. Nhưng trong lúc đang đợi trời tối dần, người thanh niên nầy đã nghe tôi nói về quyền năng biến đổi đời sống của Đức Chúa Trời. Chúng ta đều biết những người phạm tội không vui mừng, đa số họ đều muốn thay đổi, nhưng có điều gì đó mạnh mẽ bên trong ngăn trở họ không cho điều đó xảy ra. Khi người nầy nghe tôi kêu gọi tiếp nhận Chúa Jesus, anh ta đứng lên và đưa tay lên. Cũng như bình thường, tôi mời tất cả những người muốn thay đổi đời sống hãy xin Đức Thánh Linh giúp họ trở thành một con người mới. Người thanh niên nầy đã làm theo, anh ta thuật lại cho chúng tôi rằng giờ phút mà anh cầu nguyện, một ngọn lửa đã xuyên suốt người anh làm anh rúng động từ đỉnh đầu đến ngón chân, và anh ta bắt đầu khóc. Từ buổi tối hôm đó trở đi toàn bộ cuộc đời của anh đã được thay đổi; anh không bao giờ còn đi ăn trộm nữa. Khi Đức Thánh Linh đến với đời sống của người nầy, anh ta đã đi từ chết sang sống, từ một tên trộm và là một kẻ nghiện ma túy trở thành một con chiên hiền lành trong tay của Đức Chúa Trời.
Đức Thánh Linh làm nhiều điều trong chúng ta. Ngài thánh hóa, thanh tẩy, dạy chúng ta yêu kính Chúa, dạy chúng ta cầu nguyện, và trang bị chúng ta để phục vụ trong Hội Thánh. Khi chúng ta dâng đời sống mình cho Đức Chúa Trời, chúng ta được đầy dẫy Đức Thánh Linh Ngài và trở nên một với Ngài. Kinh Thánh chép rằng: “Còn ai kết hiệp với Chúa thì trở nên một tánh thiêng liêng cùng Ngài ” (ICo1Cr 6:17). Qua Thánh Linh là Đấng sống trong chúng ta, chúng ta có được sự sáng và sự chỉ dẫn để hiểu điều mà trước đây không thể hiểu được hoặc phân biệt được: “Vả người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời , bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự dồ dại , và không có thể hiểu được , vì phải xem xét cách thiêng liêng ” (2:14).
Vì sao một số Cơ Đốc Nhân cứ đi từ thất bại nầy sang thất bại khác, từ sự yếu đuối nầy sang sự yếu đuối khác, chỉ kinh nghiệm được một đời sống thuộc linh tầm thường? Há họ không có Đức Thánh Linh ngự trong họ từ ngày họ tin Chúa sao? Họ có, nhưng bước đi của Thánh Linh trong đời sống chúng ta lệ thuộc vào sự đầu phục nhiều hay ít chúng ta dành cho Ngài. Ngài muốn chúng ta dâng trọn vẹn chính mình cho Ngài, nhưng Ngài chỉ tể trị những gì chúng ta vui lòng dâng cho Ngài. Khi một người đầy dẫy Đức Thánh Lịnh, các bông trái của người ấy sẽ bày tỏ điều đó. Chúng ta có thể đầy dẫy Đức Chúa Trời, nhận được Thánh Linh Ngài, và sự báp tem của Ngài, nhưng chúng ta có thể đã đánh mất sự đầy trọn Thánh Linh qua thời gian, Đức Chúa Trời có thể đổ đầy Thánh Linh Ngài trong chúng ta chỉ trong một giây, nhưng sau đó, để Chúa luôn đầy dẫy là trách nhiệm của chúng ta.
Tôi biết nhiều người đã được đầy dẫy Đức Thánh Linh trong một thời gian, nhưng sau đó, sự đầy trọn bị giảm dần. Và tôi cũng biết những người khác được báp tem hết sức đơn giản nhưng đã giấu điều đó trong lòng và quan tâm đến điều đó, họ đã thực hành báp tem bằng Thánh Linh và duy trì, giữ cho điều đó sống động và hoạt động. Chỉ cần nhìn họ là chúng ta có thể thấy họ đầy dẫy Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Khi trải qua những tranh chiến và hoạn nạn, họ vui mừng. Khi đối diện với những khó khăn, họ đứng vững. Những người có Thánh Linh trong đời sống mình là những người đặt lòng tin cậy hoàn toàn nơi Chúa và không sợ hãi, các công việc của họ sẽ chứng tỏ sự đầy trọn của Ngài.
Khi tôi nhận được Đức Thánh Linh, đó là một sự bộc phát, nhưng sau đó nó là một cuộc chiến thật sự để giữ sự đầy trọn của Ngài. Đêm mà tôi nhận báp tem bằng Thánh Linh đã đánh dấu chính mình tôi và chức vụ của tôi mãi mãi. Đó là trong một buổi nhóm với nhà truyền giáo Manuelruiz. Chúng tôi đã bắt đầu cầu nguyện và thờ phượng Chúa. Trong một vài phút hầu hết những người ở đó đều đang nói các thứ tiếng khác nhau. Maria vợ tôi trông giống như một thiên sứ. Cô ta ca hát và nói các thứ tiếng hết sức trôi chảy. Đột nhiên tôi nhận ra rằng mọi người đều nhận được báp tem ngoại trừ tôi. Từ sâu thẳm trong linh hồn tôi muốn nhận báp tem mà họ đang được. Tôi bắt đầu kêu lớn tiếng với Chúa bằng cả tấm lòng “Lạy Chúa xin báp tem con nếu không con sẽ chết!” Tôi chỉ mới biết Ngài có một tuần, và tôi đã kinh nghiệm được những điều thật khó tin.
Trong lúc tôi đang kêu khóc với Chúa bằng tất cả những gì có trong tôi, xin Ngài ban báp tem, thì một tia sáng từ trời giáng trên tôi. Chính là quyền phép của Đức Chúa Trời, khiến tôi té xuống đất, và tôi bắt đầu nói tiếng mới. Tôi nói từ thứ tiếng nầy sang thứ tiếng kia, suốt đêm hôm đó. Qua hôm sau tôi đã lạc giọng và không bao giờ là con người trước kia nữa. Nhưng đêm hôm đó Đức Chúa Trời đã ban cho tôi một khải tượng, tôi thấy chính mình trong một giảng đường lớn, cao ba tầng, đang nói chuyện với một trăm năm mươi ngàn người. Tôi đang hét vào họ, cố gắng giải thích điều đang xảy ra cho tôi, tức là việc tôi được phép báp tem bằng Đức Thánh Linh. Đó là lý do khiến tôi gào lớn suốt một tiếng rưỡi bằng nhiều thứ tiếng. Tất nhiên lúc đó tôi không quan tâm việc Chúa cho tôi một khải tượng về điều sẽ được gọi là “sự kêu gọi của tôi để giảng Tin Lành”. Đêm hôm đó những người hàng xóm nghe tôi la lớn bằng nhiều thứ tiếng khác nhau suốt nhiều tiếng đồng hồ. Có lẽ họ hết sức ngạc nhiên khi thấy tôi chào hỏi họ ngày hôm sau. Như tôi đã nói với bạn ở phần trước, tôi là một nhà doanh nghiệp rất quan trọng. Công việc và gia đình là trung tâm đời sống tôi. Mặc dầu tôi sống trong ngôi nhà đó suốt nhiều năm, tôi chẳng bao giờ buồn chào hỏi bất cứ người hàng xóm nào. Sáng hôm đó nhiều người trong số họ đứng nói chuyện ở ngoài phố, có lẽ họ đang bàn tán với nhau về tiếng la mà họ đã nghe đêm trước. Khi tôi rời nhà để đi làm, tôi dừng lại ngay trước mặt họ và nói: “Chúa ban phước lành cho anh!” Hết sức ngạc nhiên, họ đáp lại: “Chúc buổi sáng tốt lành!”.
Khi tôi đến sở làm, tôi ôm chầm các thân chủ của mình, nhiều người trong số họ nhận ra rằng có điều gì đó đã xảy đến với tôi. Họ cảm thấy có điều gì đó như lửa cháy khi tôi ôm lấy họ và bắt tay họ. Vì vậy họ hỏi tôi có điều đã xảy ra vậy, và tôi nói cho họ nghe về Chúa Cứu Thế.
Từ đó trở đi tôi bắt đầu có những kinh nghiệm siêu nhiên. Một lần nọ tôi đụng đến một người đàn ông và ông ta bay lên không và đáp xuống cách chỗ chúng tôi đang đứng hai mét. Một lần khác tôi đi đến nhà một người để bàn về các vấn đề liên quan đến việc làm ăn, và các tà linh đã bắt đầu biểu hiện trong căn nhà đó. Tôi không hiểu hết các sự cố ấy bởi vì lúc đó tôi chỉ mới tin Chúa một thời gian ngắn.
Kinh Thánh chép rằng: “Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Jesus ở Naxarét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép , rồi người đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp , vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài ” (Cong Cv 10:38). Ngài cũng ở với chúng ta. Đức Thánh Linh không phải chỉ đến để giúp chúng ta nói các thứ tiếng hoặc khiến chúng ta ngã xuống đất. Ngài không đến với chúng ta để chúng ta nhảy múa hoặc khóc lóc trong Thánh Linh. Ngài là một biểu hiện sống động của quyền năng Đức Chúa Trời trong đời sống chúng ta, và Ngài xức cho chúng ta để làm những việc lành, để chữa lành những người đang ở dưới thế lực của ma quỉ và để công bố Phúc âm của Chúa Cứu Thế Jesus, đó là mục đích của Ngài.
Các biểu hiện thấy được của quyền năng Đức Thánh Linh đó là tôi đã ngã xuống và nói các thứ tiếng. Tuy nhiên, Đức Thánh Linh tiếp tục làm việc qua tôi bất cứ khi nào tôi cầu nguyện cho ai đó được chữa lành hoặc khi tôi rao giảng về Chúa Cứu Thế. Đó chính là lý do vì sao sự xức dầu đến trên người tin Chúa. Việc báp tem bằng Đức Thánh Linh có một mục đích, và cũng vì mục đích đó mà Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Jesus. Đức Thánh Linh đến bằng quyền phép, ban cho chúng ta các dấu lạ, sự hiểu biết, bày tỏ những sự việc cho chúng ta, và giúp chúng ta đứng vững trong Chúa. Nếu chúng ta học tập để lệ thuộc vào Ngài không ngừng và lâu dài, Ngài sẽ chỉ dẫn chúng ta.
Có một sự nguy hiểm trong việc cứ chạy từ hoạt động nầy sang hoạt động khác. Chúng ta có thể trở thành “những nhà chuyện nghiệp” và quên dừng lại để cầu hỏi Đức Thánh Linh cách giải quyết một vấn đề nào đó hoặc cách phải hành xử trong một tình huống nào đó. Hầu hết các Cơ Đốc Nhân, sau khi tin Chúa, xin Ngài báp tem bằng Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, sau khi đã được báp tem bằng Thánh Linh, nhiều người không cẩn thận và đã đánh mất điều đó. Trách nhiệm của chúng ta là phải gìn giữ và gia tăng báp tem đó hằng ngày. Nếu bạn đã được báp tem bằng Thánh Linh, hãy gìn giữ cẩn thận! Đừng ngưng việc nói các thứ tiếng. Hãy cứ tiếp tục mối quan hệ thân mật và đặc biệt ấy với Đức Thánh Linh, Ngài sẽ chỉ dẫn bạn từng bước một trên con đường đó.
Đức Thánh Linh Trong Hội Thánh
Đức Chúa Jesus biết Hội Thánh cần quyền năng, không có quyền năng ấy họ không thể nào rao giảng tình yêu thương và ân điển của Ngài trên đất nầy. Vì vậy Ngài đã ban Đức Thánh Linh để ban quyền phép cho những người theo Ngài trở thành những người làm chứng cho Ngài.
“Còn về phần các ngươi hãy đợi trong thành, cho đến khi được mặc lấy quyền phép từ trên cao” (LuLc 24:49).
“Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép và làm chứng về ta tại thành Giêrusalem, cả xứ Giuđê, xứ Samari cho đến cùng trái đất” (Cong Cv 1:8).
Đức Chúa Trời đã chọn một ngày đặc biệt để sự kiện nầy được xảy ra, tức là Ngày Lễ Ngũ Tuần. Ngài đã chọn ngày đó để Hội Thánh được ra đời tại Giêrusalem. Điều nầy đã xảy ra cách đây 2000 năm. Ngày Lễ Ngũ Tuần là một kỳ lễ quan trọng đối với người Ysơraên. Trong ngày đó họ ăn mừng Lễ Các Tuần, còn gọi là Lễ Mùa Gặt hay là ngày Hoa Quả Đầu Mùa. Người dân từ nhiều nơi xa và các thành phố nhóm lại tại Giêrusalem dự Lễ Các Tuần vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Kỳ lễ nầy xảy ra năm mươi ngày sau lễ vượt qua.
Kinh Thánh chép rằng Chúa Jesus đã giảng cho hàng ngàn người được chữa lành và được giải cứu, Ngài đã hiện ra cho hơn năm trăm người sau khi Ngài sống lại. Nhưng sau đó điều gì đã xảy ra? Vào ngày Lễ Ngũ Tuần chỉ có một trăm hai mươi người có mặt tại phòng cao. Hàng ngàn người đã được chữa lành ở đâu? Năm trăm người đã thấy Ngài lên trời ở đâu? Chỉ có một trăm hai mươi người tại phòng cao đó, chờ đợi lời hứa của Ngài. Khi ấy điều gì đã xảy ra? Một tiếng động như tiếng gió dữ dội đến từ trời, và hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh. Họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác theo như Đức Thánh Linh cho họ nói. Vào ngày đó Đức Chúa Trời đã chỉ định để ban quyền phép cho Hội Thánh mới thành lập của Ngài, Đức Thánh Linh đã đến để trang bị Hội Thánh làm các công việc của Nước Trời trên đất.
Không bao lâu sau cả thành phố đều náo động. Khi một trăm hai mươi người nhận được quyền năng của Đức Chúa Trời đi ra ngoài các đường phố họ đã làm cho cả thành phố phải ngừng hẳn lại. Những người học thức uyên bác nhận thấy rằng những người nầy trước kia không biết nói các thứ tiếng và bây giờ lại đang nói các thứ tiếng khác. Những người khác thì chế nhạo họ bảo rằng họ đang say rượu. Hãy tưởng tượng khung cảnh lúc ấy, một trăm hai mươi người với hai tay giơ cao nói nhiều thứ tiếng khác nhau, vui mừng vỗ tay thậm chí có thể nhảy múa nữa. Rõ ràng là những người sùng đạo có mặt ở đó đang khó chịu.
Tôi không cho rằng ngày nay sự việc đã thay đổi nhiều hơn, những người sùng đạo đến thăm các buổi truyền giảng của chúng tôi nhiều khi cũng bị sốc. Cảm tạ Chúa, Đức Thánh Linh không phải xin phép chúng ta để làm điều Ngài muốn làm.
Tôi còn nhớ rõ kỳ truyền giảng của chúng tôi ở tại thành phố Cordoba, được xem là một nơi rất học thức. Có nhiều bác sĩ và luật sư đã phụ giúp trong suốt kỳ truyền giảng, cùng với nhiều người từ các trường đại học khác nhau. Mỗi đêm thành phố đều sửng sốt trước các phép lạ, các dấu kỳ, và hàng ngàn người nói các thứ tiếng. Có trên tám mươi lăm ngàn linh hồn đã tiếp nhận Chúa trong kỳ truyền giảng đó. Thật là một “vụ tai tiếng” phước hạnh!
Vào ngày Lễ Ngũ Tuần cách đây 2000 năm, thành phố cũng đã náo động. Nhiều người mộ đạo đã ra sức ngăn chận sự kiện nầy. Nhưng Phierơ từng chối Chúa trước đó chỉ có mấy ngày, là người đã rất sợ hãi, nay đứng lên và tuyên bố:
“Những người nầy chẳng phải say như các ngươi ngờ đâu, vì bây giờ mới là giờ thứ ba ban ngày. Nhưng ấy là điều Đấng tiên tri Giôên đã nói tiên tri rằng: Đức Chúa Trời phán trong những ngày sau rốt ta sẽ đổ thần ta khắp trên mọi xác thịt, con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri. Bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, và các người già cả sẽ có chiêm bao”. (2:15-17).
Nếu như bạn là người sùng đạo cho đến giờ phút nầy, hãy bỏ lòng mộ đạo phía sau và xin Chúa đổ đầy bạn với Đức Thánh Linh. Đừng chứa đầy tôn giáo, MÀ PHẢI ĐẦY DẪY ĐỨC THÁNH LINH ! Những người mộ đạo thường nói rằng “tiếng lạ chỉ dành cho các sứ đồ ! Lời tiên tri chỉ dành cho các sứ đồ !” Nhưng Kinh Thánh cho tôi biết rằng Đức Chúa Jesus Christ hôm qua ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi.
Chúng ta đang sống trong thời kỳ sau rốt, và Kinh Thánh cho chúng ta biết con trai và con gái chúng ta sẽ nói tiên tri, lời đó đã được ứng nghiệm ngày nay. Cách đây vài năm, vào năm 1981 khi các con tôi nói với tôi rằng chúng muốn được báp tem bằng Thánh Linh, tôi bảo: “Được rồi nếu các con muốn Chúa làm báp tem cho mình, hãy vào phòng quỳ xuống và cầu nguyện” Chúng đã làm thế, vào phòng và bắt đầu cầu nguyện xin Chúa ban báp tem của Ngài. Ngay cả đứa con gái nhỏ xíu của chúng tôi cũng có ở đó trong tay của dì vú. Thình lình tôi nghe có tiếng huyên náo từ phòng chúng vọng ra. Tôi bảo vợ tôi là María: “Hãy vào xem các con, Đức Chúa Trời đang thăm viếng chúng”. Khi chúng tôi vào đến phòng, bà vú đang run rẩy. Bà là một người mới tin Chúa, nhưng bà đang nói các thứ tiếng và lời tiên tri. Con gái lớn nhất của chúng tôi đang nằm trên sàn nói tiên tri. Tất cả những đứa trẻ còn lại đều đang nói các thứ tiếng.
Khi vợ tôi và tôi bắt đầu cầu nguyện với chúng, con trai tôi, một trong những đứa lớn nhất, bắt đầu nói tiên tri bằng một thứ tiếng như là tiếng Đức. Tôi xin Chúa cho tôi sự thông giải, Đức Chúa Trời bảo tôi hãy đặt tay trên vợ tôi, bởi vì nàng sẽ thông giải các lời đó. Tôi làm thế trong khi tất cả những người khác tiếp tục cầu nguyện. Maria, là người lúc bấy giờ đang bồng bé gái trong tay, bèn đặt cháu xuống giường, và đứng lên nói rằng: “Không bao lâu nữa, không lâu nữa, một cuộc phục hưng lớn sẽ đến trên Argentina, và Argentina sẽ thuộc về ta, Đức Giêhôva phán vậy”. Con trai tôi tiếp tục lập lại lời tiên tri bằng một thứ tiếng mà chúng tôi không biết. Ở giữa ngọn lửa trong căn phòng đó, Đức Chúa Trời đã mang Lời Ngài đến cho chúng tôi và tuyên bố điều sẽ xảy đến. Chúng tôi chỉ mới tin Chúa được hai năm và thậm chí chức vụ của chúng tôi còn chưa bắt đầu.
Nhiều Cơ Đốc Nhân đã cười khi chúng tôi nói về một cuộc phục hưng sắp đến với Argentina và rằng hàng ngàn linh hồn sẽ đến chỗ nhìn biết Chúa. Nhưng buổi tối hôm đó, trong lúc Đức Chúa Trời chỉ cho chúng tôi chương trình của Ngài dành cho đất nước của chúng tôi, tôi thưa với Ngài rằng: “Lạy Chúa chúng con muốn được dự phần trong điều Ngài sẽ thực hiện”.
Từ giờ phút đó trở đi, Đức Thánh Linh bắt đầu bày tỏ cho tôi những điều về chức vụ truyền giảng hiện tại của chúng tôi. Chúa bảo trước cho tôi điều Ngài sắp làm qua chức vụ đó. Cũng trong năm đó tôi nhận được một khải tượng, trong đó tôi thấy nhiều quyển sách có tên tôi trong đó. Sau đó chính tôi đã thưa với Ngài rằng “Tôi chỉ viết các sách ấy khi nào Ngài thúc đẩy tôi”.
Trên khắp thế giới có nhiều người nam người nữ tự xưng họ là người đại diện của Chúa trên đất, điều đó không đúng. Đức Chúa Trời chỉ có một đại diện là Đức Thánh Linh, lời Ngài đã phán khẳng quyết điều nầy. Sứ đồ Phierơ, khi trích dẫn lời tiên tri từ sách Giôên đã nói rằng:
“Phải trong những ngày đó ta sẽ đổ thần ta khắp trên các đầy tớ trai và gái ta, chúng nó đều nói lời tiên tri. Ta lại sẽ tỏ ra sự lạ lùng ở trên trời, và dấu lạ ở dưới đất, tức là máu, lửa, và luồng khói. Mặt trời sẽ biến nên tối tăm, mặt trăng hóa ra máu, trước ngày lớn và vinh hiển của Chúa chưa đến. Và lại ai cầu khẩn danh Chúa thì sẽ được cứu” (2:18-21).
Phierơ đã nói với những người đang tìm sự giải thích về điều đã xảy ra trong ngày Lễ Ngũ Tuần đó. Kết quả là có hơn ba ngàn người đã được báp tem và cứ giữ sự dạy dỗ của các sứ đồ.
Chúa hứa sẽ bày tỏ các dấu kỳ trên trời và các dấu lạ dưới đất. Điều nầy dành cho tất cả các tôi tớ của Ngài, cho Hội Thánh của Ngài. Bạn đã sẵn sàng để nhận được các dấu lạ mà Ngài đã hứa cho chúng ta chưa. Bạn có muốn kinh nghiệm sự đầy trọn của Ngài không? Hãy đưa tay bạn lên trời, hãy bắt đầu ngợi khen Đức Chúa Trời, và thưa rằng:
Lạy Chúa Jesus , Linh Hồn Con Tôn Thờ Ngài . Con Yêu Ngài , Lạy Chúa Cứu Thế Jesus . Vinh Hiển , Vinh Hiển , Vinh Hiển Thuộc Về Ngài ! Giờ Đây Xin Hãy Đổ Đầy Con Bằng Thánh Linh Của Ngài .
Xin Tẩy Sạch Con , Xin Biến Đổi Con .
Con ca ngợi ngài , lạy Chúa
Vinh hiển thuộc về Ngài thưa Chúa .
Hãy tiếp tục cầu nguyện không ngừng nghỉ. Dâng môi miệng bạn cho Đức Thánh Linh và nếu có lời nào bạn không hiểu ra từ môi miệng bạn, đừng ngừng lại, hãy cứ nói những lời đó. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời. Ngài sẽ ban cho bạn ân tứ để có thể tôn vinh Ngài bằng các thứ tiếng khác.
Lạy Chúa! sự vinh hiển, sự vinh hiển thuộc về danh Ngài.

Chương 11: SỰ BẢO VỆ THUỘC LINH
Đức Thánh Linh đặt để sự che chở bảo vệ trên dân sự Ngài. Câu chuyện sau đây cho thấy sự bảo vệ của Ngài dành cho tôi khi đối diện với sự đe dọa của tử thần.
Khi còn nhỏ, tôi thường bị mẹ tôi đánh đập rất nhiều. Vì vậy cuối cùng tôi đã quyết định bỏ nhà ra đi. Tôi nhận được những lời khuyên xấu, và tôi bỏ đi với một nhóm người mà tôi chỉ mới gặp. Họ bảo tôi rằng họ sẽ lo cho tôi, và sống với họ sẽ an toàn hơn là sống với gia đình tôi. Trong cùng buổi tối hôm đó tôi đã dọn đến ở với họ, tôi bắt đầu hút cần sa. Không lâu sau đó tôi đã nghiện ma túy.
Tôi càng ngày càng hút nhiều hơn, ma túy bắt đầu ngăn chận mọi sự kềm chế của tôi. Khi ở dưới ảnh hưởng của ma túy, tôi thường trần truồng ở trước mặt các bạn và để họ chụp hình tôi. Họ đưa tôi đến một người đàn bà dạy tôi cách thoát y vũ khiêu dâm.
Những người bạn nầy đưa tôi đến một buổi cầu cơ, hứa rằng nhờ đó sẽ giúp tôi cảm thấy khá hơn.
Tôi hoàn toàn nô lệ với đám bạn nầy, và không thể thoát ra khỏi mối quan hệ đó. Họ bảo tôi ký một giao kèo, và dọa giết tôi nếu tôi bỏ đi.
Tôi ngày càng nghiện ma túy. Thậm chí tôi còn phải chích vào ngực. Một vài lần tôi bị bắt, nhưng luôn luôn có người nào đó chuộc tôi ra. Một lần nọ trong sự tuyệt vọng, thậm chí tôi đã đánh cướp một tiệm thuốc tây để có được ma túy.
Một ngày nọ tôi đến dự một buổi hòa nhạc, có gì đó đã xảy đến với tôi đêm hôm đó. Chàng ca sĩ nhạc rock ấy đã trở thành thần tượng của tôi. Tôi mua những tấm áp phích lớn có hình anh ta, những chiếc áo sơ mi có in hình anh ta ở trên đó, và bất cứ thứ gì khác mà tôi có thể tìm được. Tấm áp phích lớn của anh ta treo trong phòng tôi có thể nói chuyện với tôi. Lúc đầu tôi không thắc mắc nhiều lắm về điều nầy, nhưng chẳng bao lâu sau bức hình ấy đã có một quyền lực ở trên tôi. Một trong những buổi trò chuyện của chúng tôi, tôi kể cho anh ta nghe mọi chi tiết của cuộc đời tôi. Cuối cùng tôi bắt đầu cảm thấy rằng con người ấy đang sống ở bên trong tôi và kiểm soát tôi. Không lâu sau đó, tôi lại bị bắt và bị đưa vào một viện tâm thần, tại đó tôi bị nhốt trong một căn phòng nhỏ chỉ có một mình. Ngay cả tại đó tôi cũng tiếp tục bị người ca sĩ nhạc rock nầy ám ảnh.
Tôi đã nghe về một cuộc truyền giảng của Annacondia trong thành phố Rosario. Tôi thật muốn đi, vì vậy tôi đã đến đó. Khi Annacondia bắt đầu quở trách ma quỉ, một điều gì đó khủng khiếp đã xảy ra. Từ chỗ tôi đang đứng tôi bắt đầu rủa sả và lăng nhục ông ta. Tôi gào thét và bảo ông phải im đi.
Vài ngày sau đó con người đang kiểm soát trong tôi nói với tôi rằng: “Hãy lấy một con dao và giết nhà truyền giáo ấy đi” tôi trả lời rằng không có cách nào để làm được điều đó, nhưng anh ta cho tôi một kế hoạch: “Hãy giấu con dao trong áo của ngươi, và đi lên xin được đặt tay cầu nguyện. Khi nhà truyền giáo đến gần cô, hãy giết ông ta. Đừng sợ, tôi sẽ bảo vệ cô”.
Đêm hôm đó, tôi đến dự buổi truyền giảng và tiến lên phía trước trong hàng người cầu nguyện, sẵn sàng để giết Annacondia. Nhưng khi tôi vừa tiến gần đến nhà truyền giáo, tôi té xuống đất và được đưa vào trại giải cứu, tại đó họ tìm thấy con dao được giấu trong áo quần tôi. Họ cầu nguyện nhiều tiếng đồng hồ cho tôi. Tôi từ bỏ quyền lực của viên ca sĩ nhạc rock ở trên tôi, tôi xin Chúa tha thứ tôi vì đã bán ma túy và những tội khác tôi đã phạm. Khi được giải cứu tâm linh, nhiều quỉ đã xuất ra khỏi tôi, và tôi đã xưng nhận toàn bộ sự thật. Vào cuối buổi truyền giảng, Carlos đã đến và cầu nguyện cho tôi. Trong khi họ đang cầu nguyện giải cứu cho tôi, thì tôi viết xuống mọi điều ma quỉ đang nói với tôi trong số những điều khác, chúng bảo “Annacondia, các quỉ ghét ngươi”. Các tà linh cũng bảo tôi vẽ một chiếc quan tài có Annacondia bên trong và một câu như vầy “Hãy giết nhà truyền giáo”. Ngày nay tôi đã được buông tha hoàn toàn, và tôi thường xuyên cùng với gia đình nhóm lại tại một nhà thờ.
ANA

Sự Can Thiệp Của Đức Chúa Trời
Vào đêm cuối cùng của buổi truyền giảng được tổ chức tại thành phố San Martin, hơn một trăm ngàn người đã có mặt tại đó. Khi tôi sắp bước lên tòa giảng để cầu nguyện cho những người có nhu cầu, thì một trong những người phụ tá tôi nói rằng “đừng bước lên, anh Carlos, xin đừng bước lên!” Tôi ngạc nhiên, nên hỏi: “Vì sao? có chuyện gì vậy?” Anh ta trả lời: “Những người giữ gìn trật tự vừa cho chúng tôi biết rằng, trong số những người bước lên cầu nguyện có một số người nam được trang bị khí giới để bắn ông ngay lúc ông bước lên bục giảng”.
Tôi nói “Đừng lo lắng, tôi phải cầu nguyện cho người bịnh, họ cần được cầu nguyện, đó là nhiệm vụ của tôi. Đây là điều Đức Chúa Trời kêu gọi tôi làm. Điều gì đó sẽ xảy đến với những kẻ ấy. Tôi sẽ cầu nguyện cho những người mà Chúa Cứu Thế Jesus đã đưa đến đây. Nếu Ngài muốn tôi cầu nguyện cho họ, Ngài sẽ giữ gìn tôi. Vài phút nữa anh sẽ thấy họ rời bục giảng, vùng vẫy trên đường được đưa đến trại giải cứu”.
Và điều đó đã xảy ra. Ngay lúc tôi tiếp lấy chiếc micro và nói “Lạy Chúa Jesus” những người đàn ông đó té xuống đất, bị quỉ ám, và phải được đem đến khu vực giải cứu tâm linh. Tức là đưa đến trại giải cứu. Tại đó họ thú nhận rằng họ đến và chuẩn bị để giết tôi. Một người đàn ông mặc đồ trắng và là một thầy tế lễ ma thuật trắng đã trả tiền cho họ và cung cấp khí giới cùng phương tiện để họ thi hành kế hoạch. Nhưng Chúa đã ban cho chúng ta uy quyền để giày đạp đầu Satan. Chúng ta không đặt lòng tin nơi một Đức Chúa Trời làm bằng giấy bồi hoặc bằng nhựa, nhưng nơi một Đức Chúa Trời là Đấng sống.
Những kinh nghiệm nầy và những kinh nghiệm khác nữa cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã đưa tôi qua sự quả quyết ngày càng nhiều hơn rằng Ngài thường làm việc bằng những phương cách siêu nhiên và kỳ diệu. Tôi đã có những từng trải cá nhân hằng ngày và xác quyết được sự hiện hữu của sự bảo vệ thuộc linh. Đức Chúa Trời đã hứa rằng một phần “các dấu lạ sẽ cặp theo những kẻ tin”. Có cả lời hứa của sự che chở và bảo vệ, về phương diện thuộc linh cũng như thuộc thể, cho hết thảy con cái Ngài. Kinh Thánh chép rằng: “...Họ sẽ bắt rắn trong tay , uống giống chi độc cũng chẳng hại gì ” (Mac Mc 16:18). Khi lời nầy được viết ra, chưa có các vũ khí hiện đại, nhưng đã có những chất độc chết người. Đó là phương cách dễ dàng và hiệu quả nhất để giết một người mà không để lại dấu vết nào. Tất nhiên, sự hữu hiệu của phương pháp nầy nằm ở chỗ không có thuốc giải độc được biết vào thời đó.
Mọi thứ chúng ta rờ đụng bằng tay mình, bên ngoài, cũng như mọi thứ đi vào cơ thể chúng ta, đều sẽ không hiệu quả nếu Đức Chúa Trời bảo vệ chúng ta. Tuy nhiên đừng bao giờ quên rằng để có được sự che chở đó, cùng với tất cả những dấu lạ khác điều cần thiết là phải tin.
Mưu Sát Bằng Súng Trường
Tại một trong các buổi truyền giảng của chúng tôi tại thành phố San Justo, ở Buenos Aires, từ một bãi đất trống kế cận địa điểm tổ chức truyền giảng, một người đàn ông với khẩu súng trường bắn tỉa đang nhắm vào tôi với mục đích giết tôi. Về sau chính ông đã thuật lại cho tôi rằng cứ mỗi lần ông ta nhắm vào tôi, thì có một đám sương mù bao phủ bục giảng ngăn không cho ông nhắm mục tiêu để bắn. Ông có thể nhìn thấy một gương mặt xuất hiện và che chắn tôi, điều nầy xảy ra nhiều lần. Ông ta cũng nói rằng mỗi lần ông định bắn thì viên đạn lại không có trong nòng. Khi ông nhắm vào chỗ khác và lên cò, thì lại được, nhưng lúc ông nhắm vào tôi, điều tương tự lại xảy ra. Sau nhiều lần cố gắng, ông đã kết thúc trong trại giải cứu và nhận được sự giải cứu.
Những điều tương tự vẫn thường xảy ra trong các buổi nhóm khác nhau mà tôi tham dự, tại đây ở Argentina cũng như nhiều nơi khác trên thế giới. Những người đã cam kết thi hành đại mạng lệnh, cầu nguyện cho người bệnh, và thi hành uy quyền để đuổi quỉ thường là mục tiêu của sự tấn công như vậy. Khi một Hội Thánh cam kết để giảng Tin Lành thì thường là Hội Thánh phải chịu sự tấn công.
Các Thiên Sứ Vây Phủ Quanh Tôi
Kinh Thánh phán rõ rằng: “Thiên sứ của Đức Giêhôva đóng trại chung quanh những kẻ kính sợ Ngài ” (Thi Tv 34:7). Nhiều người đến dự các buổi truyền giảng của chúng tôi thuật lại rằng khi họ đến địa điểm truyền giảng, họ nhìn thấy các thiên sứ chung quanh bục giảng, chung quanh tôi. Một số trong những người nầy không phải là tín đồ, vậy mà họ đã nhìn thấy các thiên sứ. Đó là những dấu hiệu siêu nhiên của Đức Chúa Trời. Tôi luôn xin Đức Chúa Trời sai các đội quân thiên sứ của Ngài vây phủ tôi. Nếu họ đã giúp đỡ các đấng tiên tri, họ cũng làm như vậy với chúng ta ngày nay. Các thiên sứ rất quan trọng trong công cuộc truyền giáo. Một lần nọ vào cuối buổi truyền giảng ở tại thành phố Mar del Plata, chúng tôi quyết định tổ chức cuộc truyền giảng nữa trong một kho hàng ở tại Buenos Aires, một vùng đất tư nhưng rất rộng rãi. Nơi đó có một cuộc truyền giảng kéo dài ba ngày. Giờ phút bắt đầu giảng tôi nghe có tiếng đá rơi trên mái nhà. Tôi ngưng giảng, và ở trước mặt mọi người, tôi nói: “Trước khi kỳ truyền giảng nầy kết thúc, người nào đang ném đá trên mái nhà sẽ có mặt ở đây trong căn phòng nầy để xin Chúa tha thứ, và người ấy sẽ dâng đời sống mình cho Chúa Cứu Thế Jesus”. Và tôi tiếp tục giảng.
Vào ngày thứ hai, tôi bắt đầu giảng, đá lại rơi trên mái nhà. Tôi không nói gì cả mà tiếp tục giảng Lời Chúa. Đến giờ người ta đứng lên và làm chứng, có một thanh niên tiến lên bục giảng, anh ta vừa khóc vừa nói:
“Tôi chính là người đã ném đá lên mái nhà, và tôi không thể tin điều đã xảy ra cho tôi. Tôi lấy một tảng đá lớn. Tôi muốn ném xuyên qua mái nhà vào ông và giết ông. Khi định ném tảng đá ấy, tay tôi bị tê cứng. Các ngón tay tôi đã bị quẹo đi, và hòn đá rơi xuống đất. Nhưng đó chưa phải là tất cả; tôi cảm thấy có hai bàn tay thật mạnh đẩy tôi và tôi tiến về phía trước gần một mét rưỡi. Tôi quay ra sau, nhưng không thấy ai cả. Tôi cảm thấy bị đẩy một lần nữa, nhưng vẫn không có ai ở đó cả. Từng cái đẩy một đã đưa tôi vào cổng ngôi nhà nầy. Cái đẩy cuối cùng mạnh đến nỗi tôi lọt vào giữa hội chúng, và khi tôi muốn đứng lên thì tôi không đứng được”.
Đó là lời làm chứng của anh ta buổi tối hôm đó, người thanh niên nầy đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa duy nhất của mình. Trước khi rời bục giảng anh ta nói với tôi, “Xin lỗi tôi có thể nói chuyện với ông được không?”, Tôi trả lời: “Được”.
Anh ta đưa hai tay lên trời và nói lớn tiếng: “Hoan hô Chúa Cứu Thế!” Và vừa đi xuống bục giảng anh vừa khóc, người thanh niên đã đến đó không những chỉ oán ghét Đức Chúa Trời mà còn ghét bất cứ ai nói về Chúa. Nhưng anh đã ra về với Chúa Cứu Thế trong đời sống mình. Nếu bạn hỏi tôi ai là người đã đẩy anh vào buổi nhóm, tôi sẽ nói rằng đó là một thiên sứ. Đức Chúa Trời sai các thiên sứ Ngài để giúp đỡ chúng ta trong công tác truyền giáo.
Cuộc truyền giảng đầu tiên của tôi diễn ra ở tại một khu rất nghèo. Khi buổi nhóm kết thúc tôi phát hiện người lãnh đạo một băng đảng địa phương đã tiếp nhận Chúa. Bạn bè anh ta tưởng rằng tôi đã tẩy não anh ta. Cuối buổi nhóm, họ quyết định sẽ giết tôi.
Tất nhiên tôi không hề hay biết gì cả, buổi nhóm kết thúc, tôi vào xe cùng với gia đình và từ từ về nhà. Một số các anh em đang đứng ở cửa nhà thờ vẫy tay chào chúng tôi khi chúng tôi chạy ngang. Ngay chính giờ phút đó, một nhóm những người đàn ông vũ trang bước khỏi chỗ nấp để bắn chúng tôi. Không hề để ý đến họ, tôi đưa tay ra khỏi cửa sổ xe để vẫy lại các anh em, và sau đó tôi lái xe đi. Hôm sau các anh em thuật cho tôi nghe rằng khi tôi đưa tay vẫy trả lại họ, những người đàn ông vũ trang đang nhắm bắn chúng tôi đã té xuống đất.
Qua kinh nghiệm đó Chúa dạy chúng tôi rằng Ngài là Đấng gìn giữ chúng tôi. Satan muốn tiêu diệt chúng ta, nhưng Chúa bảo chúng ta chớ lo lắng, thậm chí nếu họ cho chúng ta uống thuốc độc, nó cũng sẽ không làm hại chúng ta. Đó là quyền năng bảo vệ của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta tấn công vào địa ngục, ma quỉ sẽ không chịu yên, nó sẽ tìm cách tiêu diệt chúng ta càng nhanh càng tốt.
Nhiều khi người ta nghĩ rằng những người rao giảng Lời Chúa thì không bị tấn công, nhưng không phải như vậy. Tôi là mục tiêu sự tấn công liên tục của Satan, và gia đình tôi cũng vậy. Dầu vậy, tôi không lo lắng, vì cớ vợ tôi, cũng như các con và các cháu tôi, tất cả đều được buộc vào chân Chúa Cứu Thế và ở dưới sự bảo vệ hoàn toàn của Đức Chúa Trời.
Chiếc Xe Hơi Cũ Bốc Cháy
Có một khu ổ chuột ở Argentina gọi là Itati. Đó là khu ổ chuột lớn nhất và nguy hiểm nhất trong vùng. Khi chúng tôi tổ chức một chiến dịch truyền giảng tại đó, rất nhiều người được cứu mỗi ngày. Một ngày nọ trời mưa suốt ngày, đường phố đầy sình lầy. Không thể nào lái xe vào khu vực nầy được, vì vậy tôi quyết định bỏ xe ở một khu vực gần đó và đi bộ. Tôi có một chiếc xe Citroen rất cũ, nó nhẹ và rất dễ di chuyển. Một đám cướp có vũ trang quyết định đổ xăng lên xe, bật diêm, và đốt xe. Nhưng có điều gì đó thật kinh ngạc và siêu nhiên đã xảy ra buổi tối hôm đó. Mỗi khi một người trong số họ quyết định đến gần chiếc xe, anh ta lại bị té xuống đất. Khi họ đã xoay xở và đến gần đủ để đẩy xe đi, thì bảng số xe bốc cháy, họ không tài nào đụng đến nó được!
Điều tương tự cũng đã xảy ra. Một đêm nọ, khi hai anh chàng đột nhập vào lều nơi chúng tôi tổ chức các buổi nhóm và ăn cắp một số ghế ngồi cùng với các đồ đạc khác. Một số trong những người phụ giúp chúng tôi hết sức tức giận. Họ không thể biết được vì sao một chuyện như thế lại có thể xảy ra được, vì vậy chúng tôi cầu nguyện xin Chúa can thiệp.
Vài ngày sau những tay ăn trộm ấy trở lại cùng với các ghế ngồi và một số đồ đạc. Họ thuật cho chúng tôi rằng họ rất hối tiếc vì điều họ đã làm. Họ cũng nói rằng những đồ vật ấy có cái gì rất kỳ lạ, cứ mỗi khi họ tính ngồi lên các chiếc ghế, thì chúng lại bốc cháy. Điều kỳ lạ cũng đã xảy ra với các món đồ khác mà họ đã ăn cắp. Họ hết sức sợ hãi và nghĩ rằng các vật ấy đã được làm phù phép. Nhưng đó chính là quyền phép siêu nhiên của Đức Chúa Trời. Tôi tin Chúa đã phán cùng tôi “Con sẽ rao giảng quyền năng của Ta, các dấu lạ sẽ theo sau. Các phép lạ sẽ xảy ra, và các quỉ sẽ xuất ra. Hãy cẩn thận người ta sẽ tìm cách tiêu diệt con! Nhưng Ta sẽ ở cùng con”. Tôi có một nơi sưu tập các vũ khí và các loại dao ở trong trại giải cứu bị bỏ ra bởi những người đã nói rằng: “Tôi muốn giết Annacondia”.
Hãy Đến Nơi Người Ta Đang Sống
Chúng ta không kinh nghiệm những điều nầy ở bên trong Hội Thánh, mà ở ngoài các đường phố, nơi ma quỉ đang nằm trong tư thế đề phòng. Con cái Đức Chúa Trời nhóm lại trong các nhà thờ, còn ở ngoài đường phố là nơi các tạo vật của Đức Chúa Trời có thể được tìm thấy. Nhiều người thắc mắc vì sao Hội Thánh không kinh nghiệm được những điều nầy, song các chức vụ truyền giáo thì lại kinh nghiệm. Câu trả lời rất đơn giản, chúng ta đang truyền giáo ở ngoài đường phố, trực tiếp vào tiền tuyến. Tuy nhiên chúng ta có được sự bảo vệ hoàn toàn của Đức Chúa Trời. Satan muốn ngăn chận Hội Thánh phát triển, nhưng Hội Thánh thậm chí càng phát triển hơn. Những sự bày tỏ quyền năng Đức Chúa Trời đang ngày càng gia tăng. Hễ khi nào chúng ta rao giảng trong các công viên, các quảng trường của thành phố, và ngoài đường, các dấu kỳ và phép lạ có ở đó để mọi người đều thấy.
Trong ví dụ về con chiên lạc mất, Chúa Jesus kể cho chúng ta nghe về người chăn đã để chín mươi chín con chiên phía sau để đi tìm con chiên lạc mất (LuLc 15:1-7) Ngài cũng nói rằng có sự vui mừng lớn ở Thiên đàng khi một kẻ có tội ăn năn (15:10). Đức Chúa Trời quan tâm đến một kẻ hư mất hơn là chín mươi chín người công bình không cần phải ăn năn. Tấm lòng của Chúa ở cùng con chiên lạc mất, và mắt Ngài luôn dõi theo những kẻ tìm kiếm con chiên lạc mất. Ngài sai các thiên sứ Ngài chăm sóc đặc biệt những người đi ra tìm kiếm kẻ lạc mất bởi vì họ đang ở trong sự nguy hiểm và nguy cơ luôn luôn. Hội Thánh biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, nhưng cả thế gian đang bị Satan cai trị và đang hư mất.
"Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ" (IGi1Ga 5:19).
Nếu bạn muốn ở trong trung tâm ý muốn Đức Chúa Trời, hãy tìm kiếm người hư mất. Đó là nơi Đức Chúa Trời đang ở cũng như toàn bộ quyền năng siêu nhiên của Ngài có mặt. Vì vậy nếu đó là điều bạn làm, bạn sẽ bắt đầu bước đi trong một chiều kích khác.
Bất chấp điều đó, Hội Thánh mắc phải một sai lầm lớn là ngăn trở sự phát triển của mình và dời mục tiêu khỏi công tác truyền giáo. Hội Thánh ngày càng trở nên một tôn giáo, chỉ là một thói quen, và quyền năng siêu nhiên của Đức Chúa Trời mất đi sức mạnh. Chúa Jesus đã dạy dỗ trong các nhà hội, nhưng các phép lạ thường xảy ra bên ngoài nhà hội, đó là nơi người ta cần được thấy để tin. Khi Môise trở về Aicập, dân Ysơraên phải nhìn thấy các phép lạ bằng chính mắt họ để tin rằng Chúa đã sai ông. Họ đã công nhận ông là người lãnh đạo họ vì những sự tỏ ra mà họ đã được chứng kiến. Nếu không có các dấu lạ từ Chúa chúng ta chỉ là những người mộ đạo, và Hội Thánh trở thành một tôn giáo. Các biểu hiện siêu nhiên của Đức Chúa Trời là những phép lạ tồn tại để cho thế gian sẽ tin và được cứu. Đó là lý do vì sao Hội Thánh phải có các biểu hiện nầy ở giữa mình.

Chương 12: CHIẾN TRẬN THUỘC LINH 101
Chúng tôi đã thăm thành phố Santiago del Estero để tổ chức một chiến dịch truyền giảng kéo dài bốn mươi ngày. Trước khi tôi đến, một tu sĩ nổi tiếng cũng đã đến đó. Ông ta theo khoa cận tâm lý học, và đã đi khắp Châu Mỹ Latinh phủ nhận sự tồn tại của các phép lạ và sự chữa lành siêu nhiên. Ông nói với mọi người rằng ma quỉ không tồn tại. Khi tôi cùng với đội truyền giáo Sứ điệp Cứu Rỗi đến nơi, một phần của giáo hội Công Giáo địa phương thực sự nôn nóng để xem điều gì sẽ xảy ra, bởi vì họ đã nghe vị tu sĩ nầy chỉ mới vài ngày trước đó. Lời tường trình dưới đây về những gì đã xảy ra sau đó minh chứng quyền năng của Đức Chúa Trời kỳ diệu của chúng ta.
Ở thành phố Santiago del Estero Argentina, cứ đến ngày 22 hàng tháng thì giáo hội Thiên Chúa giáo địa phương lại có một loại nghi lễ. Vào tháng 10 năm 1990 hội chúng quyết định tổ chức một buổi diễu hành tôn giáo. Họ sắp sửa diễu hành ngang qua nơi Carlos Annacondia đang tổ chức một buổi truyền giảng.
Họ đã bắt đầu đám rước, nhưng có điều gì đó thật siêu nhiên và khó giải thích xảy ra vào ngày đó. Khi bốn người mang ảnh tượng tôn giáo đi ngang qua nơi tổ chức buổi truyền giảng, họ đều té xuống đất. Một vài người khác trong đám rước cũng té xuống. Điều đó đã xảy ra vào đúng lúc nhà truyền giáo đang cầu nguyện khai mạc, những người chứng kiến đều sợ hãi, và họ không hiểu được điều gì sắp xảy ra. Nhưng Đức Chúa Trời có một mục đích.
Vị tu sĩ dẫn đầu đám rước sợ hãi đến nỗi ông ra lệnh đưa ảnh tượng trở về nhà thờ lập tức, mặc dầu chiếc hòm thủy tinh quanh ảnh tượng đã bị vỡ nát hoàn toàn. Một số trong những người bị ngã cuối cùng phải vào bệnh viện, những người khác ở trong trại giải cứu. Những người khác nữa thì ở lại dự buổi truyền giảng, nghe Lời Đức Chúa Trời.
Về sau khi vị tu sĩ nhận biết điều đã gây ra sự cố trên, ông yêu cầu cảnh sát địa phương ngăn chận buổi truyền giảng, nhưng họ không thể. Các buổi nhóm đã chúc phước cho Santiago del Estero. Hai mươi tám ngàn linh hồn đã được cứu, và nhiều người đã được chữa lành. Như trường hợp một người phụ nữ bị mù từ khi sinh ra.
JUAN

Một Đức Chúa Trời Siêu Việt
Có một sự xôn xao lớn ở tại buổi truyền giảng khi sự kiện trên xảy ra. Người ta bắt đầu kéo đến để xem chuyện gì đã xảy ra. Một số những người đi gắn máy tưởng rằng có một tai nạn xe khủng khiếp nên đã gọi xe cứu thương. Một số những người khiêng cáng của chúng tôi, khi nhận biết điều đã xảy ra, lại đến để giúp đỡ. Cuối cùng một nửa số người trong đám rước đã phải vào bệnh viện, không ai bị thương nặng cả, và một nửa còn lại thì ở trong trại giải cứu.
Nếu bạn hỏi tôi điều gì đã xảy ra thì tất cả những gì tôi có thể nói là có một cuộc đối đầu giữa các lực lượng thuộc linh. Tôi không có ý gây bối rối cho ai cả, nhưng rõ ràng là những người nầy đã lo lắng về buổi truyền giảng của chúng tôi. Có lẽ họ nghĩ rằng đám rước nầy sẽ mang cho chúng tôi một sứ điệp. Nhưng kết quả thì lại chẳng như ý.
Bên trên chúng ta có một chiến trận thuộc linh không ngừng xảy ra trên không trung vì những linh hồn hư mất. Nếu Hội Thánh thắng hơn, hàng ngàn người sẽ được cứu, được chữa lành, được giải phóng khỏi sự giam hãm của ma quỉ. Hội Thánh của Chúa Cứu Thế có uy quyền làm điều đó. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta những thành phố, những quốc gia, những dân tộc, những làng mạc, chúng ta với tư cách là Hội Thánh Ngài, phải thi hành uy quyền mà Đức Chúa Trời đã ban cho mình.
Thật chẳng có ích gì khi phớt lờ sự kiện ma quỉ là kẻ thù chúng ta và là kẻ đối địch. Nhiều tín hữu thậm chí không muốn nhắc đến tên nó. Họ bảo “Tôi không nói về Satan” điều nầy chẳng giúp ích được gì cả. Chúa Jesus đã gọi tên nó, đối đầu với nó, đuổi nó ra, và cất đi quyền lực của nó. Bao lâu mà chúng ta còn phớt lờ, nó sẽ giống như một con sư tử rống tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được. Đó là lý do vì sao chúng ta thấy nó tiêu diệt những người hầu việc Chúa, các chức vụ, và các hội thánh.
Vị sứ đồ đã nói điều nầy như vầy, "chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời , còn cả thế gian ở dưới quyền của ma quỉ ” (IGi1Ga 5:19). Khi chúng ta đọc cụm từ “cả thế gian” có lẽ chúng ta nghĩ nó quá chung chung. Nhưng Kinh Thánh giải thích khái niệm nầy: “Ai không ở với ta , thì nghịch cùng ta ; ai không thâu hiệp với ta thì tan ra ” (Mat Mt 12:30). Trên thế gian nầy có hai loại người - những người thuộc về Chúa và những người không thuộc về Ngài. Trên thế giới nầy có rất nhiều người không thuộc về Chúa, vì vậy sứ mạng của chúng ta là phải giảng Tin Lành cho họ hầu cho họ có thể biết Đức Chúa Trời và được biến đổi bởi Lời Ngài.
Tôi tin rằng đây là lúc thực hành uy quyền Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Nhiều lần khi chúng ta cố gắng giữ quyền kiểm soát, Thánh Linh của Đức Chúa Trời vỗ nhẹ vào vai chúng ta và phán rằng: “Vì sao con không để Ta làm chủ?” nhưng chúng ta không muốn nghe điều đó. Tôi mong ước bạn nhận ra những việc lớn mà Chúa muốn làm qua bạn và trong bạn . Ngài có một mục đích cụ thể cho mỗi một người. Chúng ta cần tiếp nhận và cởi mở đối với Chúa để Ngài sử dụng mình giúp mở rộng vương quốc của Ngài.
Nhiều người trẻ hỏi tôi “Carlos, anh đã làm gì cho Chúa mà khiến Ngài ban cho anh chức vụ nầy?”.
Câu trả lời của tôi luôn luôn là “Các ân tứ đến từ Đức Chúa Trời đều được ban cho cách nhưng không. Đức Chúa Trời ban các ân tứ ấy cho Hội Thánh Ngài để đổ đầy ân điển trên Hội Thánh” tất cả những gì tôi có thể làm cho Chúa để Ngài ban phước cho tôi là những việc như là cầu nguyện và kiêng ăn. Nhưng tôi làm các điều đó để Ngài có thể làm mạnh mẽ tôi và ban cho tôi sự mạnh dạn để chống cự ma quỉ. Tôi không tin rằng mình có thể trả gì về những điều Chúa mong muốn ban cho ta. Ngài muốn xức dầu chúng ta và ban cho chúng ta ân điển; các ơn phước nầy là một quà tặng từ thiên đàng để trang bị chúng ta làm các công việc giống như Chúa Jesus đã làm trên đất nầy. Bước thứ nhất chúng ta cần phải có, với tư cách những Cơ Đốc Nhân, để làm vừa lòng Chúa là được biến đổi thật sự và được dâng cho Ngài. Điều nầy không dễ. Chúng ta luôn luôn sẵn sàng nhận từ nơi Ngài, nhưng chúng ta lại có một giai đoạn khó khăn để dâng cho Ngài điều Ngài yêu cầu chúng ta. Cách đây ít lâu, tôi có đọc một câu chuyện minh họa vấn đề trên. Một cậu bé hỏi cha mình “Bố ơi, bố sửa chiếc xe tải giùm con được không?” Người cha cầm lấy chiếc xe đồ chơi, xem xét, rồi trả lời “Con trai ạ, nếu con đưa cho bố những mảnh còn thiếu, bố sẽ sửa được”. Cậu bé hỏi “Cái gì còn thiếu cơ”.
Người cha trả lời “Phải, một cái bánh xe, một cánh cửa, cái đơva. Hãy đưa cho bố những mảnh ấy, thì bố sẽ sửa xe cho con”.
Cậu bé đi lấy hộp đồ chơi, và ở đó cậu tìm thấy mọi thứ bị mất ngoại trừ bánh xe. Sau khi lục lọi kỹ lưỡng, cuối cùng cậu đã tìm thấy chiếc bánh xe. Người cha sửa chiếc xe, và cậu bé rất sung sướng.
Nếu chúng ta thưa với Chúa rằng “Lạy Chúa con muốn Ngài sử dụng con. Con muốn Ngài sắp xếp trật tự cuộc đời con. Con muốn sự xức dầu của Ngài” Ngài sẽ yêu cầu chúng ta giao cho Ngài những thứ mà chúng ta chưa giao nộp. Khi chúng ta làm điều đó rồi, Ngài sẽ sử dụng chúng ta. Khi chúng ta bước đi trong ý muốn trọn vẹn của Chúa, mọi điều sẽ xảy ra mà chúng ta không phải lo lắng về nó.
Lần nọ tôi đến bệnh viện để cầu nguyện cho một người đàn ông bị bệnh. Bên cạnh giường của ông ta, có một bệnh nhân sắp chết, nhưng tôi không hề biết. Tôi cầu nguyện cho người tôi đến thăm, và ông ta được chữa lành. Thật ngạc nhiên, sau khi tôi ra về, người đàn ông sắp chết ấy ngồi dậy, và ông ta cũng được chữa lành. Người ta xôn xao, họ đã chứng kiến một phép lạ. Tôi không nghe gì về điều đó cho đến mãi về sau, khi có người có mặt tại đó thuật lại cho tôi.
Khi chúng ta bước đi theo chương trình của Đức Chúa Trời, các sự việc xảy ra. Sự xức dầu là hết sức quan trọng! Điều đẹp đẽ nhất Đức Chúa Trời có thể ban cho chúng ta là sự xức dầu và quyền năng của Đức Thánh Linh . Nếu chúng ta đi đúng ý muốn Chúa, mọi sự sẽ xảy ra. Sự xức dầu là một ơn ban từ Chúa cho hết thảy những ai tìm kiếm Ngài trong sự vâng lời.
Bởi vì chúng ta đang ở giữa chiến trận, nên chúng ta cần phải được xức dầu bởi Đức Chúa Trời để chiến đấu. Nhưng bạn có muốn biết kẻ thù của mình là ai không? Đó là chính ma quỉ và tất cả các thế lực của nó.
Một phóng viên ở thành phố Córdoba đã viết những điều sau đây trên một trong các tờ báo địa phương:
Có một người la hét và chiến đấu suốt đêm dài với ma quỉ. Tôi không biết ma quỉ có đi không hay nó chỉ sợ, điều tôi thật sự biết là ông ta đã bị điếc vì tất cả những tiếng gào thét ấy.
Người ta có thể nói bất cứ điều gì họ muốn, chúng ta sẽ chiến đấu chống lại kẻ thù nghịch của mình, là ma quỉ. IPhi 1Pr 5:8 chép rằng: “Hãy tiết độ và tỉnh thức . Kẻ thù nghịch anh em là ma quỉ như sư tử rống đi rình mò chung quanh anh em tìm kiếm nguời nào nó có thể nuốt được ”. Ma quỉ là kẻ thù của Đức Chúa Trời và con cái Ngài.
Những việc như thông linh, macumba, umbanda, quimbanda, phù phép, khoa cận tâm lý học, thiền siêu nghiệm, bói toán, và kiểm soát bằng tâm trí... đang gia tăng rất nhiều gần đây, ở tại Argentina lẫn các quốc gia Mỹ Latinh khác. Bạn có biết vì sao không? Bởi vì Hội Thánh cứ an nhàn, vui hưởng các ơn phước của Đức Chúa Trời, trong lúc nhân loại trên thế giới đang chờ đợi để nghe Lời Chúa được rao giảng cho họ.
Để làm rõ điều nầy tôi muốn chia sẻ với bạn một khải tượng mà trước đây tôi có được, là khải tượng mà tôi đã mô tả ở chương 2 của sách nầy. Trong khải tượng đó Đức Chúa Trời cho tôi thấy một nơi đẹp đẽ mà tôi tin là thiên đàng. Tất cả những người có mặt đều bình yên và hạnh phúc. Nhưng tôi cũng đã nhìn thấy một hàng rào năm mét vây chung quanh. Khi tiến đến gần hàng rào, đám đông bên kia làm tôi kinh ngạc. Họ đang nằm dưới đất hầu như trần truồng dưới sức nóng thật khủng khiếp. Một số người cứ dán mắt vào ốc đảo, thân thể họ trông như những bộ xương, và môi họ nứt nẻ vì khát. Họ đang dang rộng tay và kêu khóc. “Xin cứu giúp chúng tôi.” Cách đó một khoảng, tôi có thể thấy những người khác đang loạng choạng và nói rằng: Xin làm ơn, chúng tôi cần sự cứu giúp!” Tiếng than khóc thật không thể chịu nổi. Tôi hiểu điều đó bày tỏ rằng Hội Thánh của Chúa Cứu Thế đang vui hưởng các phước hạnh và sự thịnh vượng thuộc linh của Ngài, trong lúc hờ hửng trước một thế giới đang kêu khóc. Chúng ta tham dự các hoạt động quan trọng, các kỳ hội nghị, các khóa hội thảo, các hội nghị chuyên đề, các buổi nhóm kết thân, và các chương trình đặc biệt trong các giảng đường xa xỉ. Nhưng Chúa Jesus bảo chúng ta “Hãy đi giảng Tin Lành.” Công việc duy nhất mà Chúa Jesus dự phần vào là những công việc có liên quan đến những linh hồn hư mất. Chúng ta hãy đi ra nơi sa mạc để tìm kiếm những người hư mất, họ đang đói khát Đức Chúa Trời, một Đức Chúa Trời hằng sống!
Một Kẻ Thù Khét Tiếng
Chúng ta có một kẻ thù để chiến cự. Hằng ngày nó tìm cách vồ bắt các linh hồn để họ không thể đến cùng Chúa Cứu Thế. Eph Ep 6:10-12 chép rằng:
“Vả lại anh em phải làm mạnh dạn trong Chúa, nhờ sức toàn năng của Ngài. Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỉ. Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền cùng thế lực cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy”.
Điều nầy cho chúng ta biết rằng Satan chống lại sự phát triển của nước Đức Chúa Trời. Phaolô nói rằng chúng ta không chiến đấu cùng loài người, nhưng chiến trận của chúng ta nhằm chống lại các chủ quyền, các thế lực cùng các vua chúa của thế gian mờ tối nầy. Chúng ta cần biết mình đang chiến đấu chống lại ai. Nếu chúng ta biết kẻ mình đang chiến đấu là ai, chúng ta có thể chiến đấu đúng như mình phải chiến đấu.
Hiện nay chúng ta biết chiến thắng của mình là điều chắc chắn. Đội quân của Chúa Cứu Thế Jesus là đội quân duy nhất trên thế giới biết rằng trận chiến đã thắng rồi ngay cả trước khi họ bắt đầu chiến đấu. Như vậy vì sao ta lại cho ma quỉ lợi thế? Ma quỉ đang rình mò như sư tử rống, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được, nhưng Chúa Cứu Thế Jesus đã đến thế gian nầy để hủy phá mọi công việc của nó, và Ngài đã ban lệnh cho chúng ta cũng làm giống như vậy.
Vương Quốc Tối Tăm
Có các tôn ti trật tự trong nước của sự tối tăm. Theo như Lời Đức Chúa Trời, Satan là kẻ cai trị cao nhất vương quốc của nó (Mat Mt 12:26). Nó cai trị đội quân của sự tối tăm (Thi Tv 78:49). Nó đi khắp vương quốc của nó, dạo chơi đây đó trên đất (Giop G 1:7) trong Kinh Thánh ma quỉ được gọi là “Vua chúa của thế gian nầy ”, “chúa đời nầy ” “con rồng lớn , hay con rắn đời xưa ” (GiGa 12:31; IICo 2Cr 4:4; KhKh 12:9; 20:2).
Các Chủ Quyền
Sứ đồ Phaolô nói rằng có các chủ quyền - những người cai trị hoặc cầm quyền - (CoCl 2:15, Eph Ep 6:12). Theo tự điển các quyền cai trị hoặc các chủ quyền có nghĩa là quyền của vua, quyền tối cao. Đó là quyền hành cao nhất và là chính quyền trong chế độ phong kiến. Vua hoặc chủ quyền có quyền trên một quốc gia (DaDn 10:13-20).
Các Thế Lực
Phaolô cũng nói rằng có các thế lực . Theo tự điển từ thế lực có nghĩa là “quyền hành, để yêu cầu và nhận sự vâng phục: quyền để đòi sự vâng lời: vị thế cao hơn xuất phát từ một vị trí mang theo nó quyền để ra lệnh và cho các quyết định tối hậu”. Satan có loại quyền nầy trong vương quốc của nó. Các chủ quyền ra lệnh và điều khiển tất cả mọi hoạt động bên trong khu vực kiểm soát quy định của nó.
Các lực lượng của thế gian mờ tối nầy kế đến trong các thứ bậc Phaolô nhắc đến “các thế lực của thế gian mờ tối nầy ” tự điển mô tả kẻ nắm quyền (hoặc thế lực) là những người cai trị và thi hành uy quyền, đặc biệt là trên một “khu vực hoặc một nhóm”. Chúng cũng là các quan chức được tuyển chọn hoặc bổ nhiệm để hành động như những kẻ cai trị, những người điều hành chính, hoặc các đầu não nhỏ thuộc một đơn vị chính trị. Vì vậy chúng ở dưới quyền của những kẻ đã chỉ định chúng.
Các Quỷ Sứ Và Lực Lượng Gian ác
Cho đến nay chúng ta thấy rằng tất cả các vị trí nầy do các quỉ sứ (các thiên sứ ác) chiếm giữ. Các hữu thể địa ngục nầy cũng giống như các sĩ quan trong một đội quân đang giữ trách nhiệm hoạt động (Mat Mt 25:41; KhKh 12:19).
Các lực lượng, theo như tự điển, là “một nhóm các cá nhân đang bận rộn hoặc sẵn sàng chiến đấu”. Chúng cũng là một tập thể những người sẵn sàng hoặc đang phục vụ cho một mục tiêu cụ thể. Danh từ nầy được dùng để chỉ các thuộc hạ là những người chiến đấu cho một mục đích hoặc được sai đi để chiến đấu. Những người nầy không bao gồm những kẻ đứng đầu thứ tự trong quân đội. Các quỉ sứ là một phần của các lực lượng Satan, những kẻ mà theo lời Kinh Thánh không có thân thể hữu hình, song là những tà linh quỉ quyệt, hết sức khốn khổ và hung dữ.
Các lực lượng của Satan là các sứ giả của nó. Chúng đến và thống trị con người cũng như loài vật. (Mat Mt 8:28-32; 12:43-45; Mac Mc 5:8-13). Chúng truyền các tật bịnh thuộc thể trên con người. Xem (Mat Mt 9:33; Mac Mc 9:38-42). Chúng làm khổ, đem đến các tật bịnh tâm trí, và đẩy con người đến chỗ bại hoại và hủy diệt. (Xem 5:4-5). Satan có một đội quân được tổ chức rất chu đáo, và ngay cả Chúa Jesus cũng đã nói rằng đội quân nầy không tự chia rẽ lẫn nhau.
Hiệp Một Để Chiến Đấu
Như chúng ta đã thấy, nước của sự tối tăm có tôn ti thứ bậc, và các lực lượng của nó hiệp lại để làm ác. Chúng ta, là những Cơ Đốc Nhân cũng phải làm một dưới quyền phép của Đức Chúa Trời để đối đầu và chiến thắng các lực lượng của kẻ ác. Trong lời cầu nguyện với Đức Chúa Cha, Chúa Jesus đã cầu nguyện cho sự hiệp một của hết thảy các Cơ Đốc Nhân:
“Để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha, lại để cho họ cũng ở trong chúng ta đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai con đến” (GiGa 17:21).
Hỡi các anh em, chúng ta phải hiệp nhất! Đừng để ý đến sự khác biệt trong các giáo phái. Chúng ta phải nên một trong Chúa.
Uy Quyền Của Chúa Cứu Thế GiêXu
Satan chỉ cho Chúa Jesus hết thảy các nước thế gian để cám dỗ Ngài, nó đem Ngài lên một nơi cao rồi bảo rằng: “Ta sẽ cho ngươi hết thảy quyền phép và sự vinh hiển của các nước đó , vì đã giao cho ta hết , ta muốn cho ai tùy ý ta ” (LuLc 4:6). Chúa Jesus không phủ nhận điều nó vừa nói, Ngài nhìn xem điều được đề nghị cho mình và đã trả lời bằng các lời của Kinh Thánh: “Vì có lời chép rằng : Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi , và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi ” (Mat Mt 4:10). Satan nói rằng các nước đã giao cho nó. Nhưng ai đã giao cho nó? Đức Chúa Trời ư? Không đời nào. Hắn đã nhận lãnh các nước, nhưng không phải từ tay Đức Chúa Trời. Vậy thì hắn đã nhận lãnh các nước ấy từ tay ai?
Chúng ta hãy xem SaSt 1:28 và xem xét các phước hạnh mà Chúa giao cho con người khi Ngài ban cho con người quyền cai trị và làm cho đất thuần phục. Chúng ta biết rằng người cai trị có nghĩa “thi hành uy quyền, ra lệnh, hoặc có ảnh hưởng thống trị). Khi Đức Chúa Trời bảo con người hãy cai trị trên đất, Ngài cũng hàm ý rằng mọi sự đã thuộc về người ấy.
Ađam là vua của mọi tạo vật, nhưng khi ông bất tuân, ma quỉ là kẻ đang dạo chơi đây đó trên đất tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được, đã lấy mất uy quyền của ông và quyền sở hữu đất của ông. Ađam, vì cớ phạm tội, đã trao cho Satan uy quyền của mình. Điều nầy giúp chúng ta hiểu được rằng ma quỉ thật sự có quyền hành và thế lực và rằng chúng ta đang ở đây để chiến đấu chống lại nó và lấy khỏi nó mọi linh hồn đang bị cầm giữ trong vòng kiểm soát của nó. Chúng ta phải lấy họ trong danh của Chúa Jesus, hoặc Satan sẽ không thả họ ra.
Chúng ta đã xem xét một số những điều nầy trong chương 3, nên hãy xem lại một số điểm để có thể hiểu rõ vấn đề hơn.
Tất cả chúng ta đều đồng ý rằng con người đã đánh mất sức mạnh và uy quyền của mình trên đất, nhưng Chúa Jesus đã trả món nợ đó. Khi Ngài sống lại, Ngài đã xóa bỏ tờ khế và hiện nay Ngài có đủ tư cách để đòi lại quyền sở hữu thế gian thông qua Hội thánh. Uy quyền đó cho phép chúng ta nói rằng “Hỡi ma quỉ, hãy thả điều không thuộc về ngươi ra” chúng ta lấy lại khỏi nó trong danh của Chúa Jesus người Naxarét. Satan đang chiếm đoạt thế gian, nhưng chúng ta có quyền lấy lại từ nó mọi thứ bằng uy quyền đến từ Đức Chúa Trời.
Liệu chúng ta có thể chống lại các thế lực gian ác bằng các khí giới tự nhiên như súng máy hoặc bom nguyên tử chăng? Không, chúng ta không thể. Nhưng chúng ta có loại vũ khí mạnh mẽ hơn; chúng ta có Đức Thánh Linh và sự xức dầu của Đức Chúa Trời. Điều đó giá trị hơn tất cả số lượng bom nguyên tử gộp lại.
Chúng ta phải chiến đấu như thế nào? Cũng như Đaniên đã chiến đấu, người của Đức Chúa Trời đã phán cùng ông rằng: “Hỡi Đaniên , đừng sợ vì kể từ ngày đầu mà ngươi đã chuyên lòng hiểu , hạ mình ngươi xuống trước mặt Đức Chúa Trời ngươi , thì những lời ngươi đã được nghe , và vì cớ những lời ngươi mà ta đã đến ” (DaDn 10:10-12).
Đaniên đang cầu nguyện với sự thông hiểu vì ông nhận biết kẻ thù của mình là ai, dầu vậy cuộc kháng cự vua nước Pherơsơ đã kéo dài hai mươi mốt ngày vì cớ sự kháng cự của các chủ quyền gian ác.
Tôi tự hỏi những lời của Đaniên ở đây là gì. Tôi có thể thấy ông đang nằm trên sàn nhà cầu nguyện rồi sau đó ông nói rằng: “Nầy Satan , hãy nghe ta , hãy thả thành phố nầy ra . Hãy thả dân tộc nầy ra ”. Tôi hình dung ông ra lệnh cho ma quỉ trong quyền năng và uy quyền của Thánh Linh ở trên ông để thả tất cả những gì ở dưới quyền kiểm soát của nó ra.
Nhiều khi chúng ta đòi một điều gì đó trong hai hoặc ba ngày, rồi chúng ta thôi. Chúng ta hãy lấy lại khỏi tay ma quỉ tất cả những gì nó đã cướp mất của chúng ta. Chúng ta cần kiên quyết và kiên trì trong lời cầu nguyện của mình. Hãy nghĩ đến tất cả những cuộc chiến đang được chiến đấu để được nhậm lời cầu nguyện. Nếu Satan đã cướp mất con trai của bạn, và hiện nay nó đang lạc mất ở giữa thế gian, hãy nói với Satan như vầy: “Hỡi Satan hãy nghe ta , trong danh của Chúa Jesus hãy thả nó ra . Ta truyền cho ngươi hãy thả nó ra trong danh của Chúa Jesus ”. Hãy tiếp tục cầu nguyện và xác chứng bằng đời sống của bạn cho đến khi ma quỉ thả con trai bạn ra. Cuộc chiến của chúng ta là chống lại các thế lực gian ác các chủ quyền, cùng các thế lực, chứ không phải nghịch cùng loài người.
Trong một kỳ truyền giảng ở Santiago Del Estero, trong lúc tôi đang cầu nguyện với một nhóm các anh em, Đức Chúa Trời đã ban cho tôi một khải tượng mới. Tôi nhìn thấy một nhóm những người lùn ăn mặc như lính Lamã đang chạy ngược chạy xuôi. Binh giáp của họ rất giống binh giáp Lamã. Họ đang giẫm đạp lên các khí giới nằm la liệt dưới đất và tông vào nhau. Tôi không hiểu điều Chúa đang tỏ cho tôi. Vì vậy tôi hỏi Ngài “Lạy Chúa điều gì vậy? Xin tỏ cho con, con không hiểu”.
Ngài trả lời “Điều con thấy đó là các lực lượng của ma quỉ”. Tôi hỏi “nhưng...phải, vì sao họ lại va vào nhau như vậy?” Câu trả lời của Ngài là: “Điều gì xảy ra khi một đội quân mất đi vị chỉ huy? Họ không biết phải đi đâu. Vì vậy đó là điều đang xảy ra; họ chẳng biết phải đi đâu”.
Tôi hỏi một câu nữa: “Vì sao các khí giới lại nằm dưới đất?” “Khi một đội quân bị đánh bại, họ ném vũ khí dưới đất và sợ hãi bỏ chạy. Nếu một đội quân rút lui mà vẫn mang theo khí giới, có nghĩa là họ sẽ chuẩn bị tấn công trở lại. Nhưng kẻ mạnh sức đã bị trói, và các thế lực của nó đã bị đánh bại. Ta đã mở một con đường!”
Bây giờ bạn sẽ hiểu tại sao, sau chiến trận thuộc linh khủng khiếp chúng tôi trải qua tại Santiago del Estero, hai mươi sáu ngàn người trong số hai trăm ngàn người sống trong tỉnh ấy đã dâng cuộc đời mình cho Chúa Jesus. Ma quỉ đã bị đánh bại!
Satan làm mù tâm trí của những người không tin. “Khi Tin lành bị che khuất là bị che khuất cho những kẻ hư mất ” (IICo 2Cr 4:3). Vậy thì chúng ta có thể làm gì? Chúng ta sẽ vẫn tiếp tục cầu nguyện và nói rằng “Hỡi Satan hãy nghe đây, hỡi linh của sự vô tín, hãy thả tâm trí của những người ngươi đã cầm giữ ra trong danh của Chúa Jesus người Naxarét”. Đó là điều hữu hiệu nhất chúng ta có thể làm.
Cuộc truyền giảng đầu tiên của tôi là ở trong các khu ổ chuột. Tôi được mọi người gọi là “Mục sư của khu ổ chuột”. Những người hiểu rõ Kinh Thánh thì nói rằng “những gì Carlos giảng, ông chỉ có thể giảng trong những nơi như thế” tôi chỉ có ba sứ điệp được chuẩn bị. Vì vậy tôi chỉ có thể giảng trong ba ngày ở một nơi.
Sau đó tôi được mời để giảng cho những người thuộc giai cấp xã hội cao trong một khu vực dân cư đẹp đẽ. Con gái vị Tổng thống đã sống ở đó. Bạn có biết tôi giảng gì không? Cũng các sứ điệp đó giống như đã giảng trong các khu ổ chuột. Bạn có biết kết quả thế nào không? Giống nhau.
Chúng ta nói gì thật sự không quan trọng. Chính điều quan trọng là công việc của Đức Thánh Linh trong người ta. Thậm chí nếu tôi cho ai đó một chiếc xe hơi hoặc một chiếc gắn máy làm quà, thì người ấy cũng không được biến đổi. Không phải bởi những lời diễn thuyết hoặc những lời khôn ngoan của con người mà chúng ta đem được một linh hồn về với Chúa. Khi Hội Thánh, trong danh của Chúa Jesus giật lấy từ tay Satan điều nó đã lấy đi, ngay khi tà linh ra đi, người ta sẽ hiểu được ánh sáng của Tin Lành. Ánh sáng ấy sẽ chiếu rọi trong đời sống họ. Nếu chúng ta thực hành phương pháp nầy, hàng ngàn linh hồn sẽ đến cùng Chúa.
Chương 13: CHIẾN TRẬN THUỘC LINH 102
Năm 1987, khi tôi ở tại Los Angsles, một Mục sư người Mễ Tây Cơ đến gặp tôi. Ông ta nói: “Người anh em, cách đây một năm tôi có một sự hiện thấy. Hôm nay tôi phải đến để chia sẻ với anh. Khi tôi đang ngủ, Đức Chúa Trời đã đưa tôi lên và cho tôi bay trên cả Lục địa Châu Mỹ. Đang khi bay trên các Quốc gia khác nhau của Nam Mỹ, tôi bay ngang Argentina. Ở đây hoàn toàn yên lặng! Tôi không chắc mình đã nhìn thấy thành phố nào, nhưng tôi đoán đó là Buenos Aires. Vì vậy tôi hỏi Chúa rằng: “Vì sao ở đây yên lặng vậy?” Câu trả lời của Ngài là “Vì cớ kẻ mạnh sức đã bị trói, và Hội Thánh đã dành được chiến thắng”.
Rồi ông nói thêm Chúa cũng bảo với tôi như vầy: “Chức vụ của Carlos giống như chức vụ của Hội Thánh. Nếu Hội Thánh tin cậy nơi ta, nơi danh Ta, họ sẽ đuổi các quỉ, nói các thứ tiếng mới, đặt tay trên kẻ đau, và kẻ đau sẽ được lành. Chúa bảo tôi điều nầy và tôi phải thuật lại cho anh”. Chức vụ của Hội Thánh Chúa Cứu Thế Jesus là chức vụ chúng ta cần phải thi hành trên đất. Nếu chúng ta thi hành chức vụ đó, kẻ đau sẽ được lành, ma quỉ sẽ bị đuổi ra, và quyền phép của Đức Chúa Trời sẽ được biểu thị trong đời sống người ta.
Chức vụ ấy là chức vụ chúng tôi đang cố gắng bày tỏ cho bạn qua các trang sách nầy. Các phép lạ nầy sẽ kèm theo những kẻ tin. Chứ không phải những kẻ đi theo Carlos Annacondia hoặc Mục sư của Hội Thánh họ. Kinh Thánh chép rằng những dấu lạ ấy sẽ cặp theo những kẻ tin, mà chúng ta chính là những người tin Chúa. Nếu chúng ta không lấy lại tất cả những gì mà ma quỉ đang cầm giữ trong vòng kiểm soát của nó, chúng ta thất trận. Nó cai trị trên vô tuyến truyền hình, vô tuyến truyền thanh, và các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng nếu phương tiện truyền thông đang ở dưới vòng kiềm tỏa của nó, thì làm thế nào để chúng ta lấy lại? Trước hết chúng ta cần phải cầu nguyện và ngày đêm cầu thay. Chúng ta phải ra lệnh cho Satan thả phương tiện truyền thông đại chúng ra trong danh của Chúa Jesus.
Bạn còn nhớ câu chuyện của chúng tôi ở chương 3 về cuộc truyền giảng lớn vào năm 1992 không? Đó là ở tại Tucuman, nơi mà chúng tôi không chỉ phát đi buổi nhóm mà thật sự đã có một buổi phát đồng thời. Bốn đài phát đã có ở đó, hai trong số đó là truyền hình, hai đài truyền hình quan trọng nhất của thành phố. Chúng tôi đã có phương tiện truyền thông đại chúng trong tay mình. Tôi nói với các nhân sự đồng công: “Chúng ta chỉ sẽ phát chương trình qua kênh 5. Chúng ta sẽ không đụng đến đài phát kia, để người ta không thể bảo rằng chúng ta đang làm rối loạn cả thành phố”. Vì vậy chúng tôi đã có một buổi phát truyền hình và truyền thanh đồng thời. Nhưng kênh truyền hình kia, là kênh truyền hình chúng tôi không sử dụng, đã gặp trục trặc với đường ăngten và không thể phát bất cứ chương trình gì buổi tối hôm đó. Vì vậy tối hôm đó, tất cả những gì mà người ta có thể nghe là Lời của Đức Chúa Trời.
Bạn có nghĩ rằng có thể ma quỉ đã đặt phương tiện truyền thông đại chúng vào tay chúng tôi vì chúng tôi tốt lành không? Tôi không nghĩ vậy. Rất có thể nó đã bực tức và nói với các thuộc hạ của nó điều tương tự như vầy: “Mầy đã làm gì vậy? Tại sao tụi bay lại thả các phương tiện truyền thông đại chúng ra? Bây giờ hãy xem điều mà những Cơ Đốc Nhân ấy đang làm đi!” Tối hôm đó ma quỉ đã bị đánh bại. Kết quả là, tất cả người dân ở tại Tucumán đã nhìn và được nghe lời của Đức Chúa Trời. Điều đó chẳng liên quan gì đến Carlos Annacondia hay số tiền mà chúng tôi đã trả (rốt cuộc chỉ có 30% tổng số tiền mà ban đầu họ đã đòi). Ma quỉ đã đến thế gian nầy để cướp bóc, và nó đã lấy đi phương tiện truyền thông đại chúng khỏi chúng ta. Nó đã đến để giết chóc và hủy diệt, hằng ngày nó hủy diệt các gia đình và các cuộc hôn nhân. Nhưng chúng ta có lời bảo đảm nầy trong Chúa Cứu Thế Jesus: “Vả Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỉ ” (IGi1Ga 3:8).
Tối hôm đó trong buổi truyền giảng, tôi nhìn thấy người ta từ nhà đến thẳng nơi chúng tôi rao giảng. Hẳn là họ đang xem Tivi và đã nhận được sự kêu gọi hãy đến. Một số người chỉ mặc quần mà không mặc áo sơ mi, những người khác đang mặc đồ ngủ và mang dép. Khi đã nghe sứ điệp, họ chỉ kịp chạy đến. Cũng có bốn thanh niên nghiện ma túy đã tính tự tử chạy đến để được giúp đỡ. Ngay sau khi bước vào trại giải cứu, họ được giúp đỡ và đã được giải cứu.
Tất cả điều nầy đã xảy ra vì cớ Lời Đức Chúa Trời đã được phát đi qua đài phát thanh và đài truyền hình. Buổi nhóm được phát đi ba lần trên truyền hình. Chúng tôi đánh vào đầu ma quỉ không những chỉ một lần mà đến ba lần.
Chính trong buổi truyền giảng mà chúng tôi đã nói ở chương 3, cậu bé bị hội chứng Down đã được chữa lành. Tôi không nhớ sứ điệp của tôi ngày hôm đó là gì, nhưng người mẹ đã tin và nói rằng: “Lạy Chúa đây là con trai con, Ngài có thể làm gì cho nó?”
Người mẹ đó đã kêu khóc với Chúa thay cho con trai mình ở trước màn hình Tivi. Chính trong giây phút đó, theo lời làm chứng của bà, đứa trẻ bắt đầu đứng thẳng lên, nét mặt nó biến đổi, hai bàn chân cháu được sửa ngay lại, và tâm trí cháu đã được chữa lành. Sau đó, bà đưa con trai đến bác sĩ, ông ta chẩn đoán cháu lành bệnh hoàn toàn.
Ma quỉ sẽ không thả phương tiện truyền thông đại chúng nếu chúng ta không lấy lại từ tay nó, công bố chiến trận trong danh của Chúa Cứu Thế Jesus như vầy: “Nầy Satan , hãy nghe đây , hãy thả thành phố của ta ra , hãy thả hàng xóm của ta ra , hãy thả phương tiện truyền thông đại chúng ra , hãy thả Quốc gia của ta ra , trong danh của Chúa Cứu Thế Jesus !”
Hội Thánh có quyền để bắt rắn và bò cạp bằng chính tay mình, và không gì làm hại Hội Thánh được. Đây là một lẽ thật quan trọng. Tôi đã chia sẻ với bạn bao nhiêu lần người ta tìm cách giết tôi, nhưng sự vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh và các thiên sứ của Đức Chúa Trời luôn luôn có ở đó để bảo vệ tôi. Sau khi đã làm hỗn độn quá nhiều ổ rắn độc, tôi có thể bảo đảm với bạn rằng không gì có thể làm hại chúng ta được.
Bây giờ, kết quả của chiến dịch truyền giảng lớn ở tại Tucumán là gì? Như bạn còn nhớ chúng tôi đã không được phép tổ chức các buổi nhóm ở thành phố. Vì vậy chúng tôi phải dời ra khu ngoại ô. Người dân đã phải đi bộ ba bốn cây số để đến được nơi đó. Thật là một địa điểm bất tiện, chỉ có hai chiếc xe Jeep. Mảnh đất đó nằm bên cạnh một cái hồ rất dễ gây lụt lội khi trời mưa và một đêm nọ điều đó đã xảy ra! Trong khi đang nhóm tôi có thể thấy nước chảy vào trong lều và dâng lên đến mắt cá nhưng kết quả thật không tin được. Tôi không biết chắc có bao nhiêu người sống trong thành phố đó, nhưng tôi chắc chắn rằng tất cả họ đều đã nghe Lời Chúa và sứ điệp của Ngài, vì có gần ba chục ngàn người đã tiếp nhận Chúa Jesus Christ làm Cứu Chúa của họ.
“Hiện Tượng Annacondia”
Trong một số các buổi nhóm ở tại Bolivia, chúng tôi đã gặp nhiều rắc rối với ma quỉ. Dầu vậy Đức Chúa Trời đã ban cho chúng tôi sự đắc thắng lớn. Một tờ nhật báo Bolivia xuất bản một lời tường thuật trong đó có cả bức hình của tôi đang cầu nguyện tựa đề của bài báo đó là “Hiện tượng Annacondia”. Bài báo viết như sau:
“Mỗi đêm chúng tôi hết sức sửng sốt bởi sự có mặt của nhà truyền giáo, Carlos Annacondia, người thường xuất hiện trên các kênh Tivi khác nhau và tụ tập hàng ngàn tín đồ. Những người nầy rõ ràng thường mong đợi phép lạ xảy đến với đời sống họ. Chúng tôi là những người chứng kiến những vụ ngất xỉu và những hành động cuồng loạn giữa vòng các tín đồ. Hiện tượng nầy dẫn đến điều gì? Phép lạ, sự thôi miên tập thể, hay là... ngoài ra Annacondia còn là nhà truyền đạt xuất sắc và dễ gần gũi, ông ta biết cách tiếp cận với những người theo mình. Đa số các kênh truyền hình sau 10 giờ 30 tối đã phát đi chương trình giảng dạy kéo dài một tiếng đồng hồ của ông ta. Chắc chắn ông ta có các nguồn tài chánh để trả cho mỗi giờ phát mỗi ngày trong những giờ cao điểm nầy. Và giáo hội Thiên Chúa nói gì về hiện tượng nầy?
Hẳn là họ phát khùng lên vì nghĩ rằng: người đàn ông nầy kiếm đâu ra số tiền đó ? Chắc chắn ông ta phải tốn đến cả một gia tài . Nhưng trong thực tế, các anh chị em yêu dấu của tôi ơi, tôi không hề trả một xu nào cho tất cả các giờ phát trên Tivi đó. Điều mà chúng tôi thực sự đã làm là cầu nguyện và lấy lại phương tiện truyền thông đại chúng khỏi sự kiểm soát của ma quỉ. Chúng tôi đã phát hiện rằng chính những người giàu nhất trong thành phố là những người đã chi trả cho các mục quảng cáo đắc tiền nhất trên các tờ nhật báo. Với các mục quảng cáo trên truyền hình cũng vậy. Tôi có thể kể cho bạn nhiều câu chuyện tương tự như vậy để bạn có thể hiểu rằng Tin Lành không phải là vấn đề của lời nói mà là quyền phép của Đức Chúa Trời.
Trước khi tin Chúa tôi thường hợp đồng quảng cáo vào các giờ xen kẽ trên đài phát thanh để quảng bá công việc kinh doanh của mình. Vì vậy tôi liên hệ được với nhiều người làm việc trên các đài phát thanh. Khi đã gặp Chúa tôi thưa với Ngài rằng: “Giờ đây con đã là người tin Chúa con sẽ đến các đài phát thanh để mua giờ phát thanh cho Mục sư Jorge Gomelsky để giảng Tin Lành. Tôi đi đến một số các đài phát thanh, nhưng bạn biết thế nào không? Họ cười vào tôi và bảo rằng: “Không được! Để giảng Phúc âm chúng ta có giám mục Giáo Hội Công Giáo là vị cố vấn thuộc linh của chúng ta, ông ta là người chịu trách nhiệm các chương trình trên đài phát thanh”. Bất cứ nơi nào tôi đi đến, tôi đều đối diện với một cánh cửa đóng kín, vậy mà tôi đã tưởng rằng đó là một công việc dễ dàng. Tôi phải tìm cho ra một giải pháp, vì vậy tôi quyết định đến Uruguay để đến một đài phát thanh có tên là: “Real”. Tại đó tôi có thể mua một giờ xen kẽ. Người dân tại Argentina có thể nghe chương trình của chúng tôi nhưng chỉ bằng máy phát thanh có sóng ngắn. Chúng tôi vẫn làm điều đó với sự vui mừng và lòng sốt sắng, chúng tôi đã phát chương trình nầy trong bốn năm liên tục.
Bây giờ bạn hãy suy nghĩ về điều nầy: năm 1980 tôi đến để xin thời gian xen kẽ chỉ có năm phút trên đài phát thanh, và tôi đã bị từ chối. Thế rồi bốn năm sau đó, họ đã gọi tôi và hỏi tôi có cần giờ phát thanh không? Họ cho tôi đến năm tiếng đồng hồ của giờ phát thanh để giảng Tin Lành. Và đó không phải chỉ là một đài phát thanh không ai biết đến. Mà là một trong những đài phát thanh được ưa chuộng nhất trong nước.
Điều gì đó đã xảy ra tại Argentina! Ma quỉ đã phải thả phương tiện truyền thông đại chúng ra, bởi vì Hội Thánh đã bắt đầu đòi lại và ra lệnh cho nó phải thả phương tiện truyền thông đại chúng ra trong danh của Chúa Cứu Thế Jesus. Đó không phải là một sự trùng hợp! Với Chúa không có gì là ngẫu nhiên cả. Ngài có một mục đích và một chương trình. Nhưng chúng ta phải là những người đòi hỏi điều chúng ta cần cho công việc của Đức Chúa Trời, nếu đó là một tòa nhà thờ, một trung tâm nhóm lại, hay là một chương trình phát thanh. Bất cứ điều gì chưa ở trong tay của Hội Thánh, chúng ta cần phải tin Đức Chúa Trời, và sau đó chúng ta phải lấy lại nó khỏi tay ma quỉ trong danh Chúa Jesus.
Suốt một thời gian dài hiện nay Hội Thánh vẫn phát đi các chương trình mỗi đêm trên các đài phát thanh quan trọng nhất của đất nước. Mỗi ngày Lời Chúa được phát đi cho hàng trăm ngàn người nghe. Ngày nay Argentina có hàng trăm đài phát thanh Tin Lành trên khắp đất nước.
Với tư cách Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Jesus, trách nhiệm của chúng ta là phải vạch mặt kẻ thù. Chúng ta là những thành viên trong đội quân của Đức Chúa Trời, hiệp một mạnh mẽ trong tình yêu thương với cả thân thể Đấng Christ để chiến đấu một cách có tổ chức. Chúng ta cùng nhau hưởng ứng sự lãnh đạo của Đấng chỉ huy quân đội Thiên Thượng là Chúa Cứu Thế Jesus. Bên cạnh đó chúng ta biết mình có sự trợ giúp của Đức Thánh Linh, Đấng chỉ dẫn chúng ta trong mọi sự và trang bị chúng ta để được đắc thắng trong mỗi chiến trận chúng ta tham gia (Mat Mt 12:28).
Chắc chắn rằng kẻ thù chúng ta là kẻ khôn ngoan và giàu kinh nghiệm. Mặc dầu nó không thể biết những cảm xúc hoặc ý nghĩ của chúng ta, nhưng đội quân của nó hiệp nhất và rất có tổ chức. Người ta nói rằng ma quỉ biết nhiều chỉ vì nó quá già. Vì thế có thể nó biết rằng yếu điểm của chúng ta là sự thiếu hiệp một, là điều khiến chúng ta không có được một đội quân hùng mạnh và hiệp nhất chặc chẽ. Nhưng chúng ta thật sự có một lợi thế. Chúng ta là đội quân duy nhất trên cả thế giới nầy biết rõ, thậm chí trước khi bắt đầu chiến đấu, rằng chiến trận đã thắng rồi. Điều đó là do Chúa Cứu Thế Jesus đã ban cho chúng ta chiến thắng khi Ngài đánh bại kẻ thù chúng ta tại thập tự giá trên đồi Gôgôtha (HeDt 2:14).
Có lẽ bạn đang thắc mắc vì sao ma quỉ vẫn dẫn trước nếu như Chúa đã chiến thắng rồi. Đó là vì chúng ta, với tư cách Hội Thánh, chưa coi nó là kẻ thù tồi tệ nhất của mình. Chúng ta vẫn quan tâm đến việc gây dựng các ngôi nhà thờ đồ sộ và đẹp đẽ mà quên rằng có một kẻ thù ở ngoài đó đang muốn tiêu diệt chúng ta. Nó biết nó đã bị đánh bại; nó cũng tin nơi quyền năng của Đức Chúa Trời và run sợ. Vì vậy nó không xuất đầu lộ diện công khai, mà ẩn nấp. Vì vậy chúng ta phải tìm nó, xác định nơi nó đang làm việc trong bóng tối, hãy tìm nó và đánh bại nó trong danh Chúa Jesus “Hầu đừng để cho quỉ Satan thắng chúng ta , vì chúng ta chẳng phải là không biết mưu chước của nó ” (IICo 2Cr 2:11).
Đôi khi điều nầy là lý do vì sao Hội Thánh cảm thấy chán nản và thất bại. Hội Thánh chưa đối đầu với kẻ thù của mình. Hội Thánh vẫn cứ hời hợt trong khi Satan luôn luôn tấn công chớp nhoáng vào Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Jesus. Chúng ta phải đối diện với kẻ thù của mình và nhắc cho nó biết rằng huyết của Chúa Jesus đã đánh bại nó rồi.
Tôi không khuyên bất cứ ai đối đầu với ma quỉ ở một nơi đặc biệt trước khi đã kiểm soát người mạnh sức trong khu vực trước hết. Nó là kẻ phối hợp các hoạt động có chiến thuật và khôn khéo của các thế lực tà linh gian ác. Một khi chúng ta đã cột trói và đuổi được kẻ mạnh sức trong khu vực đó, cùng với các thiên sứ ác theo sau nó, thì các quỉ sứ bị bỏ mặc không được bảo vệ và yếu đuối trước tấn công của chúng ta và trước sự tấn công của các thiên sứ Đức Chúa Trời là các Đấng giúp chúng ta đánh trận. Các thiên sứ sáng láng nầy là những người giúp đỡ chúng ta, và họ dự phần vào việc chinh phục cho nước Đức Chúa Trời. Khi ma quỉ đã mất người lãnh đạo và sự hỗ trợ trên không trung của chúng, chúng tháo chạy trong sợ hãi và hỗn loạn.
Có nhiều quỉ sứ giữa vòng các lực lượng của Satan. (Xem Mat Mt 12:26-27; 25:21). Nếu chúng ta chỉ đánh bại một vài trong số chúng, sức mạnh tấn công của chúng sẽ không bị suy giảm. Nhưng nếu chúng ta chống lại chủ quyền, thế lực và kẻ cai trị trong danh của Chúa Jesus, chúng ta làm hỗn loạn lực lượng của chúng. Vì vậy khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời giáng xuống với quyền phép trên các quỉ sứ, chúng sẽ bị phân tán và tháo chạy trong sự hỗn loạn. Tấn công vào kẻ cầm đầu đội quân mờ tối không phải là một sự mê tín hay là một ý nghĩ kỳ quặc . Chúng tôi đã chứng minh được điều nầy là đúng ở mỗi một buổi nhóm trong chiến dịch truyền giảng của chúng tôi. Từ lúc bắt đầu chúng tôi luôn luôn tìm cách giày đạp đầu con rắn trước khi dẹp mọi thế lực và sự khôn khéo ra khỏi nó để vô hiệu hóa tính hiệu quả chiến đấu của thân thể nó.
Tôi đã có một kinh nghiệm thật khó tin trong các chiến dịch truyền giảng đầu tiên của chúng tôi vào những năm 1983 và 1984 tại thành phố Mar del Plata, Argentina. Các Hội Thánh địa phương đã tổ chức một chiến dịch truyền giảng tại một sân vận động. Sau khi đến nơi một ngày, trong lúc tôi cùng với một trong số các anh em đồng công ở tại khách sạn đứng nhìn đại dương qua cửa sổ. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng tôi một khải tượng. Chúng tôi nhìn thấy ba người khổng lồ ở dưới nước giữ một tấm gương để ngăn chặn hàng triệu quỉ sứ không được xâm nhập vào thành phố. Những người khổng lồ nầy là các thiên sứ không cho phép các quỉ được vào thành phố. Các quỉ nầy đã bị trói, ngay trước khi các buổi nhóm bắt đầu.
Ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc truyền giảng trong thành phố đó đã trở thành một mốc lịch sử cho dân cư thành phố. Đức Chúa Trời đã hành động một cách kỳ diệu tại Mar del Plata! Một số người đi cách xa sân vận động mười khu phố đã té xuống đất dưới quyền phép của Đức Chúa Trời, những người khác có các biểu hiện của ma quỉ trên các tuyến xe lửa chạy ngang qua sân vận động. Các hành khách trên xe buýt phải đưa họ xuống khỏi xe để đưa vào lều truyền giảng. Cả thành phố đều biết rõ điều gì đang diễn ra. Khi các buổi nhóm kết thúc, người ta mang các băng cassetes bài giảng về nhà. Kết quả là ma quỉ cũng đã biểu hiện ở tại những gia đình đó. Các từng trời đã mở ra trên toàn thành phố. Mọi người đều đến dự nhóm, ngay cả những người không ai mời cũng đã đến, và hết thảy họ cuối cùng đã dâng đời mình cho Chúa.
Để có được một ý tưởng về những gì đã xảy ra tại đó, tôi xin cho bạn biết rằng trong số bốn trăm ngàn cư dân, tám mươi ba ngàn người đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế, tức là 20% cư dân! Sự chữa lành phổ biến nhất là việc chữa răng. Chúng tôi ước tính có ít nhất một thành viên trong mỗi gia đình được Đức Chúa Trời chữa răng. Các phương tiện truyền thông đại chúng đều đến để chứng kiến những điều gì đang xảy ra, và viết các bài báo về các sự kiện đó. Chiến dịch truyền giảng và các phép lạ đều nằm trên trang bìa của nhiều tờ báo. Không có điều gì tốt hơn là khải tượng mà Đức Chúa Trời đã ban cho tôi trước khi bắt đầu chiến dịch truyền giảng hầu cho tôi được biết rằng ma quỉ cùng các thế lực tà linh của nó đều đã bị cột trói.
Chiến trận thuộc linh mà chúng ta chiến đấu mỗi ngày không bao giờ chấm dứt. Nếu chúng ta ngừng lại, chắc chắn chúng ta sẽ mất điều mình đã giành được. Suốt tất cả những năm chức vụ tôi đã đến nhiều quốc gia và đã thấy tôn giáo, cơ cấu, truyền thống thì nhiều, nhưng rất ít nước mắt đổ ra vì cớ những linh hồn hư mất. Nếu chúng ta muốn chinh phục được những linh hồn nầy chúng ta cần phải chiến đấu trong chiến trận thuộc linh mỗi ngày!


Chương 14: SỰ RỜ ĐỤNG CHỮA LÀNH
Những sự chữa lành thuộc thể là một phần trong các dấu lạ Đức Chúa Trời ban cho con người. Khi chứng kiến một phép lạ chữa lành trong các buổi nhóm của chúng tôi, linh hồn vui mừng vì nhiều lý do. Một trong những lý do đó là nhìn thấy sự thay đổi trong những con người đến trong đau đớn nhưng ra về trong vui mừng. Mỗi một dấu lạ chứng tỏ cho bằng chứng về quyền phép của Đức Chúa Trời để chỉ cho con người thấy nhu cầu phải trở lại với Ngài.
Trong thời Chúa Jesus, nhiều người đã theo Ngài vì họ thấy phép lạ Ngài thi thố trên kẻ đau (GiGa 6:2). Những người đa nghi đến các buổi nhóm của chúng tôi để xem phép lạ có thực hay không. Khi họ chứng kiến một sự chữa lành, tất cả những gì họ có thể làm là ăn năn tội lỗi của mình. Đó là một lý do nữa khiến tôi vui mừng, người ta được cứu khi họ chứng kiến các phép lạ của Đức Chúa Trời.
Hãy đọc những phép lạ kỳ diệu nầy, và chứng kiến những biến đổi đã diễn ra.
Chẩn Đoán: Ung Thư Xương Chuyển Hóa
Điều đã xảy ra cho cậu Fernando của tôi thật không thể tin được. Cậu đau nặng gần chết trong bệnh viện Pháp ở thành phố Buenos Aires. Chẩn đoán là ung thư xương cùng với sự chuyển hóa trong các phần khác của cơ thể cậu; đặc biệt là với hai quả thận. Xương hầu như đã biến thành bột, cậu chỉ cân nặng 45kg.
Tình trạng nặng đến nỗi các bác sĩ quyết định chống lại việc điều trị cho ông bằng các hóa chất và tia phóng xạ. Ông sắp chết nên chỉ uống các thuốc giảm đau để sống còn. Cậu tôi đau đến nỗi phải để các bao cát ở giữa hai đầu gối để chúng đừng chạm vào nhau. Chỉ cần tiếp xúc với các tấm ra trải giường cũng làm cậu đau đớn. Cậu không ngừng kêu khóc vì đau, và dường như không còn gì có thể giúp đỡ cậu được.
Mẹ và dì tôi bảo tôi đến gặp Carlos Annacondia đang điều động một chiến dịch truyền giảng ở tại Mar del Plata. Vì vậy tôi đã làm theo. Tôi dự định mang bộ đồ ngủ của cậu tôi theo để Mục sư Annacondia có thể cầu nguyện cho cậu, nhưng khi vội vã đến buổi truyền giảng, tôi đã bỏ chúng lại trong phòng khách sạn.
Khi bước vào sân vận động tôi thấy chỗ ấy đầy người và Carlos Annacondia đang đi lại giữa họ để cầu nguyện cho mọi người. Mỗi khi ông chạm đến ai là người ấy té xuống đất. Đó là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một điều như thế. Tôi đặt đức tin mạnh mẽ nơi Chúa về điều Ngài sắp làm, vì vậy tôi đánh bạo len lỏi vào sân vận động. Trong lúc Annacondia cầu nguyện cho những người khác, tôi cố gắng kể cho ông lý do khiến tôi đến đây. Nhưng lập tức ông đặt tay lên đầu tôi và tôi ngã xuống. Tôi cứ ở đó, không biết là bao lâu, tôi không nghĩ Annacondia đã nghe lời thỉnh cầu của tôi, nhưng Chúa đã nghe. Về sau tôi được biết rằng cậu tôi đã bắt đầu khá lên từ buổi tối hôm đó.
Ngày hôm sau tôi trở về Buenos Aires, mang theo bộ áo quần mà tôi đã không đem theo mình đến sân vận động. Dầu vậy, dì tôi bởi đức tin, đã đến thăm cậu và đưa bộ quần áo đó cho cậu. Cậu đã nằm bẹp trong giường từ ba tháng nay không thể chỗi dậy được. Nhưng một buổi chiều nọ chúng tôi thấy cậy đi được trở lại, thật là một phép lạ. Kể từ đó, mỗi buổi tối chúng tôi cân cậu, và mỗi ngày cậu lại lên được 1kg. Vào ngày thứ ba hay thứ tư gì đó, bác sĩ quyết định rằng bây giờ cậu đã khỏe đủ để được điều trị bằng hóa chất.
Khi điều trị bằng hóa chất, người ta thường sụt cân. Nhưng cậu tôi thì không, cậu cứ tiếp tục tăng cân, mỗi ngày cậu tăng thêm được 1kg. Cuối cùng cậu đã lấy lại được 25kg bị mất.
Nhìn thấy sự tiến triển của cậu, các bác sĩ quyết định áp dụng các phương pháp mới. Trước hết họ xem xét hai quả thận, các nghiên cứu cho thấy chúng đã hoàn toàn được chữa lành. Họ khám xương, điều mà trước kia chỉ là bột nay đã hoàn toàn cứng vững. Cuối cùng họ bảo chúng tôi có thể xuất viện và trở về nhà ở Junin.
Một chuyên gia về ung bướu thuộc bệnh viện Pháp đã nói rằng: “Đây là một phép lạ của Đức Chúa Trời. Tôi chưa bao giờ thấy một phép lạ như vậy. Người đàn ông nầy hầu như đã chết, ông ta đang bịnh ở giai đoạn cuối cùng”.
Khi những người hàng xóm thấy cậu trở về, họ không tin nổi mắt mình. Người ta chạy ra đường phố chỉ để nhìn cậu bước đi. Họ nói “người nầy đã gần chết, mà bây giờ lại ở giữa chúng ta”. Cậu thật là một người chết sống lại, đó là một phép lạ của Chúa. Vì cớ sự chữa lành nầy, vợ, con cậu và các thành viên khác trong gia đình đều bắt đầu đi nhóm lại. Nhiều người trong Hội Thánh chúng tôi có mặt ở đó cũng vì phép lạ nầy.
Cách đây vài tháng vị bác sĩ chăm sóc cậu ở tại Buenos Aires đã đến thành phố chúng tôi, vợ cậu, một tín đồ trung tín đến gặp bà ta và hỏi bà: “Bà có nhớ chồng tôi không?”
Bà ta trả lời: “Tất nhiên làm sao tôi quên được phép lạ lớn nhất mà tôi được chứng kiến trong đời mình!”
Dì tôi là người rất dạn dĩ, bèn nói “chúng tôi luôn cảm tạ Chúa vì phép lạ nầy, và bây giờ chúng tôi cũng cầu nguyện cho bà”.
Sau kinh nghiệm đó tôi càng nắm chặt lấy Chúa. Tôi tin rằng khi Đức Chúa Trời ban phước cho một người nào như vậy, thì phép lạ sẽ lan rộng đến cả gia đình và hàng xóm, và đó là điều đã xảy ra với chúng tôi.
ROBERTO

Vẫn Mạnh Khỏe Vì Sự Vinh Hiển Của Đức Chúa Trời
Fernando, người đã được chữa lành, làm chứng lại câu chuyện sau đây:
Tôi cảm thấy thật khủng khiếp, toàn thân tôi đau đớn, tôi không thể ngủ nghỉ được. Đến nỗi vợ tôi cũng không thể ngủ với tôi nữa. Tôi cần một chiếc giường lớn cho chính mình, bởi vì tôi phải lăn trở để thay đổi vị trí. Tình trạng nầy kéo dài một năm. Đã có đến hai mươi hai bác sĩ khám cho tôi, nhưng không một ai có thể đi đến một sự chẩn đoán chính xác. Cho đến khi một người trong số họ tiến hành các nghiên cứu bổ sung. Kết luận đó là ung thư, ông ta gởi tôi đến bệnh viện Pháp ở tại Buenos Aires, tại đó một chuyên gia về ung thư đã khám cho tôi và đã khẳng định chẩn đoán: ung thư xương đã chuyển hóa sang các phần khác trong thân thể tôi. Tôi bệnh nặng đến nỗi các bác sĩ không nghĩ tôi có thể sống hơn mười lăm ngày. Tôi ốm đến nỗi không thể ngồi được, vì sợ rằng xương sống sẽ gãy.
Khi cháu tôi đến tìm Annacondia tại chiến dịch truyền giảng ở Mar del Plata để xin cầu nguyện, tôi bắt đầu khá lên. Tôi không còn bị đau nữa và bắt đầu lên cân mỗi ngày. Các bác sĩ đều sửng sốt; họ vẫn không thể tin được điều đó. Ngày hôm nay, sau mười một năm, tôi vẫn mạnh khỏe vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Năm 1979 chúng tôi đã chứng kiến một cuộc đối đầu mạnh mẽ giữa chính quyền quân sự cai trị trên đất nước chúng tôi và quyền năng của Đức Chúa Trời. Chúng tôi đã kinh nghiệm quyền phép của Ngài lần đầu tiên, vì vậy chúng tôi ao ước giảng Tin Lành cho những người hư mất, cầu nguyện cho những người đau và thấy họ được chữa lành. Chúng tôi đã quyết định đến những nơi mà chúng tôi có thể tìm được nhiều người trong số họ: đó là các bệnh viện.
Nhưng vì cớ chế độ quân sự không dễ dàng cho phép vào bệnh viện để cầu nguyện cho người đau, tôi đã cố gắng đến đó mỗi ngày vào giờ nghỉ trưa. Trước khi vào bệnh viện tôi cầu nguyện: “Lạy Chúa xin khiến con vô hình để không ai nhìn thấy con mà ngăn chận con”. Mà đúng như vậy. Tôi đã vào được, cầu nguyện cho người đau, và Đức Chúa Trời đã chữa lành cho họ. Thật là dễ dàng; họ có đức tin, còn tôi không nghi ngờ.
Ung Thư Tuyến Giáp Được Chữa Lành
Một ngày nọ, một anh em làm việc với tôi và cũng tin Chúa cùng ngày tôi tiếp nhận Chúa, đến gặp tôi. Anh ta nói với tôi rằng cháu ông bị ung thư tuyến giáp và rất yếu. Cô đã được giải phẩu, họ đã cắt bỏ các tuyến và bôi chất cobal lên ngực cô đến nỗi da cô đã bị bỏng. Cô bị đau đớn không tả xiết vì các vết bỏng, thậm chí cô không thể chịu được sự đụng chạm của các tấm chăn.
Tôi đến nhà để cầu nguyện cho cô. Khi chúng tôi đến nơi, cô dùng hết sức mình đứng lên để mời chúng tôi vào. Cô biết chúng tôi mang Lời của Chúa đến cho cô. Vì vậy chúng tôi cầu nguyện cho cô bằng đức tin, đọc Kinh Thánh, và bảo với cô rằng Đức Chúa Trời yêu thương cô và có thể chữa lành cho cô.
Khi ra về tôi nói với người anh em “Đức Chúa Trời đã chữa lành cho cô ta, tôi biết Chúa đã chữa lành cho cô”, anh ta nói với tôi “Amen tôi cũng tin điều đó”.
Ngày hôm sau chúng tôi gọi điện thoại và hỏi xem cô thế nào. Chúng tôi biết chắc một điều phi thường đã xảy ra. Gia đình cô cho biết “thật không thể nào tin được. Điều gì đã đến với cô” cô chỗi dậy nấu ăn, lau dọn ngoài sân sau, và làm rất nhiều các công việc khác trong nhà.”
Sau đó cô thuật lại điều đã xảy ra. Ngày mà chúng tôi cầu nguyện cho cô, trong lúc chồng cô đi làm và các con đi học, cô quyết định đi ra ngoài và lau dọn hành lang. Những người hàng xóm đã biết cô ốm nặng bảo với cô: “Thôi đi, cô phải vào nhà và nằm nghỉ chứ. Khi chồng cô trở về nhà ông ta sẽ buồn cô đó”. Nhưng cô nói với họ “Tôi sẽ không chết, Đức Chúa Trời đã chữa lành cho tôi. Tôi không còn bệnh nữa”.
Phép lạ nầy đã xảy ra vào cuối năm 1979. Nhiều năm đã trôi qua và cô vẫn khỏe mạnh. Theo lời các bác sĩ đáng lẽ cô đã phải chết lúc ấy, nhưng Đức Chúa Trời đã làm một phép lạ.
Phép Lạ Của Benita
Ở tại Thành phố Encarnación , Paraguay, một phụ nữ tên là Benita đã làm chứng lại câu chuyện phép lạ sau đây của bà.
Năm tôi ba mươi bảy tuổi tôi bắt đầu mắc bệnh. Nhiều bác sĩ đã khám cho tôi cả ở Asunción lẫn Encarnación. Tôi đau đớn rất nhiều và liên tục bị xuất huyết. Họ không biết phải làm gì vì vậy họ gởi tôi đến Thành phố Posadas, Argentina, hy vọng có ai tại đó có thể giúp đỡ tôi. Con gái tôi sống ở Buenos Aires là một tín đồ, đến gặp tôi. Bác sĩ bảo nó tôi cần giải phẩu ngay vì bệnh tôi đã đến giai đoạn phát triển; tôi đã bị ung thư tử cung.
Con gái tôi quyết định đưa tôi đến Buenos Aires để giải phẩu. Khi chúng tôi đến đấy nó đưa tôi đến dự một cuộc truyền giảng do Mục sư Annacondia hướng dẫn. Tại đó tôi đã tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa mình. Tôi tin đã nhận được sự chữa lành buổi tối hôm đó, nhưng tôi đã không chứng tỏ điều đó cho đến khi giải phẩu.
Sáng hôm sau đến bệnh viện giải phẩu, tôi nghe có một tiếng nói rằng: “Con không cần phải giải phẩu, con đã được chữa lành”. Lập tức tôi nhìn quanh để xem tiếng nói ấy đến từ đâu, nhưng không có ai ở đó cả, chỉ có một đứa cháu gái nhưng cháu bảo cháu không hề nói gì cả.
Trước khi giải phẩu, họ tiến hành một số các nghiên cứu. Các bác sĩ thấy có điều gì khác lạ, vì vậy họ bắt đầu đến gặp tôi người nầy rồi đến người kia, cho đến cuối cùng một người đã nói “Thưa bà, bà đã được chữa lành, không còn ung thư nữa”.
Khi tôi trở về nhà, chồng tôi không thể tin rằng tôi đã được lành bệnh. Ông cứ khăng khăng rằng tôi cần phải giải phẩu. Tôi đã phải chứng minh cho ông rằng Đức Chúa Trời đã làm một phép lạ, vì vậy tôi xin Chúa cho tôi một dấu hiệu để chồng tôi sẽ tin. Và Ngài đã ban điều đó cho tôi, năm bốn mươi tám tuổi tôi mang thai và sinh được một bé trai kháu khỉnh tên là Jorge. Ngày hôm nay tất cả chúng tôi cùng đi nhà thờ Tin Lành và hầu việc Đức Chúa Trời.
Mục Đích Của Sự Chữa Lành
Một trong những mục đích chính của Đức Chúa Trời khi làm các phép lạ nầy là để cứu các tội nhân và đem họ trở lại với Ngài. Chúa Cứu Thế Jesus đã không chia các buổi nhóm của Ngài thành các buổi truyền giảng hoặc các buổi chữa lành. Trong LuLc 9:1-62, Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Chúa Jesus và các môn đồ Ngài đã đi từ làng nầy qua làng khác, giảng Tin Lành và chữa bệnh cho mọi người khắp nơi. Họ công bố sứ điệp cứu rỗi và cũng chữa lành cho người bệnh. Tôi không tin rằng con người phải được cứu trước để sau đó được chữa lành.
Sự chữa lành của Đức Chúa Trời là một tiến trình mà qua đó Đức Chúa Trời hành động một cách siêu nhiên trong đời sống của con người, ban cho họ sự sống và sự khỏe mạnh. Sự thay đổi xảy ra trong đời sống của những người bệnh khi họ được chữa lành là một quá trình siêu nhiên của Đức Chúa Trời.
Khi chúng tôi nghiên cứu các phép lạ chữa lành bệnh được mô tả trong Kinh Thánh, có nhiều điều là do lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Nhiều người đã nói: “Lạy Chúa xin thương xót tôi” bởi lòng thương xót mà Chúa Jesus đã chữa lành cho họ. Nhiều lúc, những đoàn người khốn khổ đi theo Ngài, tìm kiếm các phép lạ.
Khi Chúa Jesus nhìn thấy đoàn dân đông tụ tập bên bờ hồ Galilê, Ngài đã động lòng thương xót họ vì họ như bầy chiên không có người chăn (Mac Mc 6:34). Ngài bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. Chúa Jesus tận dụng cơ hội để dạy dỗ cho đám đông đã bị Ngài hấp dẫn vì những lời tường thuật họ được nghe về các phép lạ chữa lành của Ngài.
Chúng ta hãy xem xét chiều sâu quan trọng hơn lý do Chúa Jesus chữa bệnh. Điều trước tiên và quan trọng hơn hết, Ngài đã chữa lành để dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Cha. Thứ hai Ngài đã chữa lành vì cớ sự thay đổi mà việc chữa lành sẽ đem lại trong dân chúng. Các phép lạ thay đổi những cuộc đời. Và những người đã kinh nghiệm phép lạ muốn được hầu việc Chúa. Khi Chúa Jesus đuổi quỉ cho người bị quỉ ám ở Giêrasê, ông ta đã muốn đi theo Chúa Jesus. Nhưng Chúa Jesus không cho, Ngài phán cùng người đàn ông nầy rằng:
“Hãy về nhà ngươi, nơi bạn hữu ngươi, mà thuật lại cho họ điều lớn lao thể nào Chúa đã làm cho ngươi, và Ngài đã thương xót ngươi thế nào” (5:19).
Chương trình Chúa Jesus dành cho đời sống con người là để người ấy trở thành sứ giả của phép lạ Đức Chúa Trời. Sự giải cứu lớn lao thúc đẩy người ấy trở thành một người giảng Tin Lành có ảnh hưởng lớn. Không phải bạn đã trở thành một người như vậy sao?
Cầu Nguyện Cho Người Bịnh
Có nhiều cách để cầu nguyện cho người đau. Chúng ta sẽ xem xét một cách được chứng tỏ xuyên suốt sách nầy: “Họ sẽ đặt tay trên kẻ đau , và kẻ đau sẽ được lành ” (16:18). Tôi đã kinh nghiệm điều nầy trong chức vụ, và đã chứng kiến hàng trăm người được chữa lành khi tôi đặt tay trên họ.
Đặt Tay
Là khi chúng ta rờ đụng một người khác bằng tay mình. Chúa Jesus đã chữa lành cho nhiều người đau bằng việc rờ đụng họ, đó không phải là phương cách duy nhất của Ngài, nhưng đó là phương cách đầu tiên Ngài đã dùng khi khởi sự thi hành chức vụ trên đất.
Chúng ta hãy xem xét khung cảnh được mô tả trong 1:31. Chúa Jesus đang ở trong nhà của Phierơ, nơi bà gia Phierơ đang nằm trên giường vì đau rét. Chúa Jesus đã đến cùng bà nắm lấy tay bà, chữa lành và đỡ bà dậy, cơn sốt lập tức lìa khỏi bà. Trong sách Phúc âm Luca có một chi tiết khác nữa được thêm vào câu chuyện nầy. Ở đây Chúa Jesus nghiêng mình trên bà và quở trách cơn sốt, bà được chữa lành lập tức. Xem LuLc 4:39.
Qua các khúc Kinh Thánh tương đương nầy chúng ta nhận thấy thái độ của Chúa Jesus đối với người đàn bà mắc bịnh. Ngài đến cùng bà ta, nghiêng mình trên bà, nắm lấy tay bà, quở trách cơn sốt, và bà lập tức được chữa lành. Chỉ một sự đụng chạm đơn giản của Chúa Jesus cũng đủ để chữa lành bà.
Sự rờ đụng tự bản thân nó là điều đặc biệt quan trọng. Con trẻ thường cảm thấy an toàn và bình yên khi mẹ chúng ôm ấp chúng. Thậm chí không nói một lời, thì sự đụng chạm khẽ cũng là một cách đặc biệt để nói rằng: “Tôi ở với bạn”.
Bây giờ chúng ta hãy xem điều gì xảy ra nếu tôi đặt tay mình trên một người bệnh và không thật sự tin rằng người ấy sẽ được chữa lành? Người ấy có thể sẽ không nhận được sự chữa lành. Chúng ta cần đức tin để đi từ bệnh tật đến sự lành mạnh. Chúng ta cần hiểu rằng quyền năng không ở trong bàn tay thuộc thể của chúng ta, mà ở trong sự xức dầu và quyền phép của Đức Thánh Linh tuôn chảy qua bàn tay chúng ta. Kinh Thánh khẳng định điều nầy trong Cong Cv 19:11 chép như vầy: “Đức Chúa Trời lại dùng tay Phaolô làm các phép lạ khác thường ”.
Khi bạn là người lãnh đạo hoặc Mục sư, cầu nguyện cho sự chữa lành trong hội chúng của bạn, hãy làm điều đó với lòng tin rằng Đức Chúa Trời thi hành các phép lạ. Bấy giờ buổi nhóm đó sẽ trở nên đặc biệt. Những người mà bạn cầu nguyện cho sẽ nhận biết đức tin của bạn và uy quyền thiên thượng của bạn. Điều nầy đến phiên nó, sẽ làm hoạt động đức tin của họ trong sự chữa lành của chính họ và họ sẽ được giải cứu. Nói chung khi tôi cầu nguyện cho người đau trong các chiến dịch truyền giảng tôi lập tức yêu cầu họ hãy làm những việc mà trước đây họ không thể làm. Những người không thể đưa tay lên thì đưa tay lên cho Chúa, những người không thể bước đi thì bước đi hoặc chạy. Những người khác rờ đụng những nơi khối u, nang và lập tức bắt đầu kêu khóc. Những người nầy đã biến đức tin của họ thành hành động. Mỗi một nỗ lực nhằm kiểm tra sự thật của việc chữa lành đều bày tỏ đức tin. Sau đó tôi mời họ tiến lên bục giảng để làm chứng lại điều vừa mới xảy ra cho họ để họ truyền đức tin đến những người khác là những người vẫn chưa nhận được phép lạ cho mình.
Cầu Nguyện Trên Quần Áo
Có một bà mẹ đến với buổi truyền giảng chúng tôi đang tổ chức tại quận Boca, thành phố Buenos Aores. Con bà đau rất nặng. Cậu đang nằm tại bệnh viện Argerich chỉ cách nơi chúng tôi truyền giảng vài dãy phố. Bà ta mang theo một trong những chiếc khăn mùi xoa của cậu để chúng tôi có thể cầu nguyện cho cậu. Cậu bé đang ở trong cơn hôn mê không thể hồi tỉnh và phải được chuyền thở bằng máy hô hấp nhân tạo. Bà đến bằng đức tin để cầu nguyện cho con trai bà. Bất chấp việc các bác sĩ đã tuyên bố “Não của cậu đã chết” nhưng Đức Chúa Trời, Đấng hậu thuẫn cho đức tin chân thành của bà thì không chết.
Khi trở lại phòng săn sóc đặc biệt trong bệnh viện, bà đặt chiếc khăn tay lên trán cậu bé. Cậu bé đã hồi tỉnh bởi phép lạ và bắt đầu nói chuyện. Khi điều nầy xảy ra, các bà mẹ khác đang nằm với con mình trong khoa nầy bắt đầu giành nhau chiếc khăn mùi xoa. Tôi được nghe kể rằng ngay sau khi họ đặt chiếc khăn lên trán đứa trẻ khác, quyền năng Đức Chúa Trời đã chữa lành chúng. Vài ngày sau, người mẹ đã đến để làm chứng lại cho chúng tôi và dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời vì phép lạ lớn lao họ đã nhận được.
Tôi đã nghe và thấy nhiều phép lạ chữa lành và giải cứu như vậy. Ở mỗi buổi nhóm đều có những người đem các đồ đạc hoặc áo quần như là các khăn mù xoa hoặc các bộ đồ ngủ của những người mà vì tật bệnh, không thể đến buổi truyền giảng được. Các đồ vật nầy thường là một phước hạnh cho những người khốn khổ. Hiện tượng nầy được ghi chép trong sách 19:11-12
“Đức Chúa Trời lại dùng tay Phaolô làm các phép lạ khác thường, đến nỗi người ta lấy khăn và áo đã bận vào mình người mà để trên các kẻ đau yếu thì họ được lành bịnh và được cứu khỏi quỉ dữ”.
Tôi thật sự tin rằng một miếng vải đơn sơ được xức dầu bởi Đức Thánh Linh có thể chữa lành bệnh và giải phóng người bị ức hiếp. Hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời muốn chữa lành, và mặc dầu nhiều lúc chúng ta sẽ thấy tình trạng nô lệ cho ma quỉ đàng sau một thứ tật bệnh, vào những lần khác đó sẽ là cách của Đức Chúa Trời dạy chúng ta chiến thắng các hoạn nạn.
Vì Sao Không Phải Tất Cả Đều Được Chữa Lành?
Mỗi đêm, nhiều người mắc bệnh thuộc thể và thuộc linh đến với các buổi truyền giảng của chúng tôi. Nhiều lời làm chứng về sự chữa lành và giải cứu được chia sẻ trong suốt buổi nhóm. Những câu chuyện đó truyền dẫn đức tin đến mọi người.
Một số người hỏi tôi vì sao trong số hàng trăm người đến dự truyền giảng, chỉ có một tỉ lệ nhỏ được chữa lành. Chúng ta hãy xem điều đã xảy ra khi Chúa Jesus đến thăm hồ Bêtếtđa (GiGa 5:1-46). Một số đông những người tàn tật đã có ở đó, người mù, người què, và người bại xuội. Nhưng Đức Chúa Jesus đã chú ý đến với một người duy nhất. Ngài đã đến với con người tàn phế nầy và hỏi anh ta “Ngươi có muốn lành chăng?” Nếu Chúa Jesus hiện diện với chúng ta ngày nay, có lẽ chúng ta sẽ hỏi Ngài vì sao Ngài chỉ chữa lành cho một người đàn ông nầy trong khi có rất nhiều người bệnh khác trong trường hợp nầy, cũng như trong tất cả các trường hợp khác, chúng ta cần phải lấy đức tin mà tin nơi quyền tối thượng của Đức Chúa Trời.
Chúng ta không thể nói rằng lý do người ấy không được chữa lành là vì thiếu đức tin. Chúng tôi đã chứng kiến nhiều người đến dự các buổi nhóm của chúng tôi mà chẳng hề có đức tin, họ đến chỉ vì tò mò, dầu vậy Đức Chúa Trời đã chữa lành cho họ. Một số người đã tiến lên bục giảng vui mừng và run rẩy mà nói rằng “Trước đây tôi không hề tin. Tôi chỉ đến đây để nhạo cười các bạn. Và Đức Chúa Trời đã chữa lành cho tôi”.
Trong hầu hết các đoạn Kinh Thánh, chúng ta thấy Chúa Jesus đã chữa lành hết thảy những kẻ bệnh. Ở một số câu chúng ta đọc thấy: “Có nhiều người theo , và Ngài chữa lành cả ” (Mat Mt 12:15). “Cả đoàn dân đến kiếm cách rờ Ngài , vì từ Ngài có quyền phép ra , chữa lành hết mọi người ” (LuLc 6:19). Nhưng sau khi thử tìm cách rút ra một kết luận từ điều nầy, khi tôi xem xét tất cả các khúc Kinh Thánh ấy tôi nhận ra rằng tất cả những con người nầy đã đến trực tiếp với Chúa Jesus, tìm kiếm sự chữa lành.
Ngày nay nhiều người đến các buổi truyền giảng hoặc các nhà thờ để tìm người nầy người nọ thay vì tìm kiếm vị thầy thuốc lớn, là Chúa Cứu Thế Jesus chúng ta. Đó là một sai lầm. Họ muốn sự chữa lành, chứ không phải Đấng Chữa Lành.
Vào thời Chúa Jesus, “Có một người đàn bà mắc bệnh mất huyết đã mười hai năm ...Người đàn bà ấy tự nghĩ rằng nếu ta chỉ rờ áo Ngài , thì cũng sẽ được lành ” (Mat Mt 9:20-21). Bà đã làm thế, nhưng Chúa Jesus để ý thấy có ai đó đã rờ đụng Ngài bằng đức tin, vì vậy Ngài quay lại và phán cùng bà: “Hỡi con , hãy vững lòng , đức tin con đã làm cho con được lành ” (câu 22). Và Kinh Thánh chép rằng từ đó trở đi người đàn bà đã được lành bệnh. Người phụ nữ nầy đã bị chứng mất huyết quá lâu, trước hết tìm kiếm sự cứu rỗi của Chúa Jesus, song cũng đã được lành bệnh lập tức.
Nhiều quốc gia đang trải qua các giai đoạn khó khăn và người ta đang hết sức tìm kiếm một phép lạ. Ở tại một trong các chiến dịch cuối cùng của tôi, một điều không thể tin được đã xảy ra. Vào cuối các buổi nhóm, tôi luôn luôn bước xuống khỏi bục giảng để cầu nguyện cho mọi người. Nhưng buổi tối hôm đó khi bắt đầu cầu nguyện và đặt tay lên đầu mọi người, họ bắt đầu kéo lấy tay tôi từ người nầy sang người khác, hầu như đang lôi tôi về phía họ. Tôi chưa bao giờ từng trải điều gì như vậy trong tất cả những năm hầu việc Chúa của mình.
Khi trở về nhà, tôi kể lại cho vợ tôi điều đã xảy ra trong buổi truyền giảng. Là một người rất khôn ngoan, nhà tôi đã nói rằng: “Anh còn nhớ khi chúng ta mới tin Chúa không? Chúng ta đã xin ai cầu nguyện cho mình. Việc chúng ta quỳ gối đã xưng nhận sự lệ thuộc của chúng ta nơi Đức Chúa Trời. Chúng ta không bao giờ cậy vào sự rờ đụng của bất cứ ai”.
Nếu người ta tìm kiếm sự chữa lành của Chúa Jesus, chắc chắn họ sẽ được chữa lành. Nhưng nếu họ tìm kiếm Annacondia, họ sẽ không được lành. Đó là lý do vì sao tôi cứ lập đi lập lại trong các buổi nhóm của tôi: “Chúa Jesus ở đây”. Nếu họ hiểu được điều tôi muốn nói, họ sẽ được mạnh khỏe.
Một lần nọ một trong những người phụ tá hỏi tôi: “Vì sao các phương tiện truyền thông đại chúng không đồn ra tin tức về tất cả các phép lạ chữa lành bệnh mà chúng ta chứng kiến trong các buổi nhóm của chúng ta?” tôi nói với anh ấy rằng con người tự nhiên không thể hiểu được những sự siêu nhiên. Người ấy không thể phân biệt chúng trừ khi người ấy nhận định bởi Đức Thánh Linh.
Có một số những lời làm chứng thật không thể tin được, như trường hợp của một cựu chiến binh trở về từ cuộc chiến Falkland Islands. Ông ta đến dự một số các buổi nhóm của chúng tôi. Chàng thanh niên nầy đã mất một nửa hộp sọ trong một cuộc chiến, và các bác sĩ đã thay thế nó bằng một tấm bạch kim. Đức Chúa Trời đã nắn lại xương tại buổi nhóm của chúng tôi. Nhưng không phải chỉ có thế, tấm bạch kim biến mất, phép lạ nầy không những đã tác động đến gia đình của anh mà toàn thể những người lân cận của anh. Một lần khác tôi đã cầu nguyện cho một thanh niên bị mù. Sau khi cầu nguyện anh liền được phục hồi thị lực và đã làm chứng về phép lạ đó. Tôi không bao giờ gặp lại anh nữa. Bốn tháng sau khi trở lại thành phố ấy vì một chiến dịch truyền giảng mới, tôi lại thấy người thanh niên đó được một người khác đưa đến để cầu nguyện. Vì vậy tôi hỏi anh điều gì đã xảy ra. Anh nói với tôi rằng sau khi được khôi phục thị lực, anh không hề đi nhà thờ nữa. Anh đã quên mất Đức Chúa Trời, anh đã quên Đấng đã chữa lành cho anh. Ngày hôm đó tôi đã cầu nguyện cho anh nhưng không có điều gì xảy ra. Người thanh niên nầy đã bỏ phí cơ hội Chúa đã ban cho anh. Sau đó tôi nhớ lại khi Chúa Jesus gặp lại người bại trong đền thờ Ngài đã nói với anh ta rằng: “Kìa ngươi đã lành rồi , đừng phạm tội nữa , e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng ” (GiGa 5:14).
“Tội Lỗi Ngươi Đã Được Tha”
Tôi liên tục chứng kiến các phép lạ kỳ diệu về sự chữa lành mà Đức Chúa Trời đã làm. Nhưng tôi nhận thấy rằng nhiều thứ bệnh tật là kết quả của một đời sống tội lỗi. Chúng ta đã thấy thể nào sự thiếu tha thứ là một vật cản đối với sự chữa lành. Tội lỗi cũng là một sự ngăn trở.
Một trong các ví dụ rõ ràng nhất về điều nầy có thể được thấy trong Mac Mc 2:1-12. Đó là câu chuyện về một người bạn được những người bạn mang đến cho Chúa Jesus. Bởi vì họ không thể len qua đám đông để đến với Chúa Jesus, họ đã quyết định giở mái nhà và giòng chiếc giường có người bại trên đó xuống.
Chúng ta hãy cùng nhau xây dựng lại các sự kiện. Những người bạn của anh hẳn phải có đức tin lớn. Những người bạn nầy đã biết rằng Chúa Jesus có thể chữa lành người bại, nhưng rất khó để đưa bạn họ đến với Ngài. Đám đông ngăn trở họ đến gần, và họ phải mang bạn mình trên một chiếc giường. Sau nhiều nỗ lực, ai đó hẳn đã đề nghị như vầy: “Còn mái nhà thì thế nào? Chúng ta có thể giở mái nhà và giòng anh ấy xuống bằng các sợi dây”.
Có lẽ người bệnh đã nói “Qua mái nhà ư? Tôi thật sự muốn Chúa Jesus cầu nguyện cho mình. Tôi nghĩ mình sẽ làm điều mình phải làm để điều đó xảy ra”. Các bạn của anh hẳn đã phải đo chính xác chỗ họ cần giở mái nhà, và sau đó họ đã giòng chiếc giường xuống.
Đang khi nói chuyện với đoàn dân, thình lình Chúa Jesus thấy người bại đang được giòng xuống. Ngài có thể thấy đức tin của người bại cũng như đức tin của các bạn anh. Phải nỗ lực rất nhiều để đưa được anh ta đến đó, đức tin đã nói lên điều đó. Vì vậy Chúa Jesus đã phán cùng anh ta: “Hỡi con ta , tội lỗi ngươi đã được tha ” (câu 5).
Bạn hãy hình dung điều mà các bạn anh ấy và đám đông có lẽ đang suy nghĩ. Bạn thì nghĩ gì? Chúa Jesus đã tha thứ tội lỗi anh ta, nhưng điều mà người bại cần là sự chữa lành, sự tha thứ. Tất nhiên, Chúa Jesus biết chính xác điều những người chung quanh Ngài đang nghĩ. Một trong những lời định nghĩa về việc suy nghĩ là: “tập trung ý tưởng của một người vào một điều gì đó”. Kinh Thánh chép rằng:
Đức Chúa Jesus trong trí đã hiểu họ tự nghĩ như vậy, tức thì phán rằng: “Sao các ngươi bàn luận trong lòng thể ấy? Nay bảo kẻ bại rằng: tội ngươi đã được tha; hay là bảo người rằng: hãy đứng dậy vác giường mà đi; hai điều ấy điều nào dễ hơn?” (Mac Mc 2:8-9).
Chúa Jesus đã biết điều có trong lòng của người đàn ông tàn tật ấy. Ngài biết có một hàng rào ngăn trở việc chữa lành: đó là tội lỗi. Nhiều lúc có những vật cản giữa Đức Chúa Trời, các ơn phước của Ngài, với chúng ta. Vì vậy Chúa Jesus đã dẹp bỏ sự ngăn trở ấy rồi mới chữa lành cho anh.
Hết thảy chúng ta đều có những ngăn trở trước khi đến với Chúa; tôi đã có một số vật cản và có thể bạn cũng có một số vật cản. Chúng ta cần chức vụ của Đức Thánh Linh qua sự tha thứ để có được sự chữa lành và sự giải cứu thuộc linh.
Sự tha thứ hết sức quan trọng. Nếu con người không bỏ khỏi họ những sự thù ghét, họ có thể kết thúc bằng cách trở nên điên khùng. Đó là điều đã xảy ra với Beatriz, là người đã thuật lại câu chuyện sau đây:
Tôi đã trải qua thời thơ ấu hết sức khó khăn và tàn nhẫn. Tuổi thiếu niên của tôi chẳng khác gì mấy, mặc dầu tôi tưởng mình đã tìm được hạnh phúc khi tôi gặp chồng tôi. Chúng tôi hình thành một gia đình và có được tài chánh ổn định, nhưng sự ghen ghét và oán hận cai trị tấm lòng tôi. Tôi cố gắng che đậy mọi sự bằng tiền bạc, nhưng chẳng ích lợi gì.
Qua một trong các con gái của tôi; tôi phát hiện chồng tôi đã có mối quan hệ thân mật với một đồng nghiệp trẻ tuổi. Sự thù ghét tiềm ẩn mà tôi đã từng có trong lòng bắt đầu lớn lên và dâng tràn. Tôi bắt đầu hoạch định một phương cách tốt nhất để giết anh ta và sau đó sẽ tự sát. Tôi cố gắng nhiều lần thực hiện điều đó bằng dao, dao bấm, súng, và các phương tiện khác. Ngày nay thậm chí bạn có thể nhìn thấy các vết sẹo trên mình chồng tôi.
Tôi ở trong sự buồn chán khủng khiếp, tôi mất hơn tám kg và trở nên biếng ăn vì chứng tâm thần. Tôi luôn luôn nằm bẹp trên giường và không còn chút sức lực nào. Các con tôi phải đưa tôi đến phòng tắm, chúng phải tắm rửa cho tôi và chăm sóc tôi ngày đêm. Tôi không bao giờ ở một mình, vì tôi có thể tự tử. Thậm chí tôi đã lao mình vào một chiếc xe hơi đang chạy và sau đó đã cố gắng làm tương tự với chiếc xe lửa đang chạy qua. Nhưng mỗi lần như thế tôi đều đã được cứu và đưa trở về nhà. Tôi không ăn, không ngủ, toàn thân tôi rã rời và các cơ quan nội tạng trong tôi không vận hành một cách bình thường được nữa. Tôi bị một cơn đột quỵ và kết thúc với nửa người bên phải bị liệt. Sự chẩn đoán của các bác sĩ là trạng thái rối loạn tinh thần hoang tưởng.
Bước kế tiếp là phải đưa tôi vào một bệnh viện tâm thần, tình cờ, nghe được trên đài phát thanh rằng nhà truyền giáo Carlos Annacondia sắp đến khu vực lân cận của chúng tôi. Ông ta sẽ tổ chức truyền giảng cách nhà tôi chỉ vài dãy phố, và cầu nguyện cho người đau. Tôi quyết định đến đo, tôi phải bí mật rời nhà mình. Tôi đang ở trong một tình trạng thật sự tồi tệ, nặng đến nỗi ngay khi đến được nơi ấy, những người tiếp tân đã đưa tôi thẳng đến khu vực giúp đỡ để nói chuyện với tôi. Tôi thật sự điên loạn, cặp mắt tôi đờ đẫn và tôi luôn nhìn chằm chằm vào một hướng.
Khi nhà truyền giáo cầu nguyện, tôi cảm thấy có điều gì rất lạ ở bên phải thân thể mình, sau đó tôi cảm thấy một cơn đau buốt trong đầu tôi. Lập tức tôi cảm thấy có cái gì nặng nề rời khỏi vai tôi. Tôi bắt đầu gào thét như một con vật, và theo lời những người ở chung quanh tôi, tôi đã bay bổng lên trong vài giây. Họ lập tức đưa tôi đến khu vực giải cứu, là nơi họ lập đi lập lại với tôi rằng hãy tha thứ những người tôi đã oán ghét rất nhiều, nhưng tôi không muốn làm thế.
Annacondia bước đến cầu nguyện cho tôi. Ông ta cầm lấy tay tôi, nhìn tôi và nói “Nếu không có sự tha thứ và bình an trong lòng bà, không điều gì sẽ giúp được bà”. Tôi cảm thấy Chúa Jesus đã ở đo, lập tức tôi nghĩ rằng để kết thúc nỗi khổ của mình và nhận được sự giải thoát tôi phải tha thứ cho chồng tôi. Tôi đã tha thứ và đã được chữa lành lập tức. Chứng bại liệt biến mất, huyết cầm lại, xương sống tôi trở nên thẳng, và tất cả các cơ quan trong người tôi bắt đầu hoạt động bình thường trở lại.
Kể từ ngày đó trở đi tôi đã dâng hoàn toàn chính mình cho Chúa. Đức Chúa Trời đã phục hồi cuộc hôn nhân của tôi. Chồng tôi đã gặp Chúa và ngày hôm nay chúng tôi đều là những người lãnh đạo của một nhóm nhỏ trong Hội Thánh chúng tôi. Cách đây ít lâu tôi gặp cô gái trẻ đã có lần dan díu với chồng tôi. Và tôi nói về Chúa cho cô. Cô đã ăn năn và hiện nay cô đang nhóm lại với một Hội Thánh Tin Lành.
Phục Hồi Răng
Một lần nọ trong khi đang giúp đỡ cho một số người tiến đến gần bục giảng, tôi đã cầu nguyện cho một thanh niên mười tám tuổi. Giây phút tôi đặt tay mình lên đầu cậu, cậu rùng mình và lùi lại, tôi nhận biết ngay rằng có một tà linh đang ở trong cậu. Tôi hỏi cậu: “Các ngươi có bao nhiêu?” Chúng trả lời tôi qua môi miệng của cậu bé “Chúng tao đông”.
Tôi mời một trong những người khiêng cáng đưa cậu vào khu vực giải cứu để được giúp đỡ. Cuối buổi nhóm, tôi đến để xem điều gì đang xảy ra với cậu. Sau một cuộc vật lộn dữ dội với các lực lượng ma quỉ, cậu đã được giải cứu.
Khi chúng tôi cầu nguyện cho cậu xong, cậu kể lại câu chuyện của mình cho chúng tôi. Cậu biết Chúa nhiều năm trước đây, nhưng đã xa lìa Ngài. Một ngày nọ chính ma quỉ đã gặp cậu trên đường về nhà và nói chuyện với cậu. Nó lấy quyển Kinh Thánh trên tay và xé nát trước mặt cậu. Đoạn nó nói với chàng trai trẻ: “Ngươi muốn tiền bạc, danh vọng, và quyền lực, ta sẽ cho ngươi điều đó. Và để chứng minh quyền lực của ta, ta sẽ trám lỗ răng trong miệng ngươi”. Nó cho ngón tay vào miệng cậu bé đang hết sức ngạc nhiên nầy và đã trám chiếc răng bằng một thứ bột nhão màu đen. Ấn tượng mạnh mẽ đến nỗi cậu đã quyết định có một thỏa thuận với Satan trong chính ngày hôm đó.
Đêm mà người thanh niên nầy đến sự buổi truyền giảng, cậu được yêu cầu phải cho ma quỉ đứa con đầu lòng để làm của tế lễ. Satan đã cho cậu quyền lực trên khu ổ chuột nơi cậu sống. Cậu kiểm soát nơi nầy và có tiền bạc cùng quyền hành. Cậu cầm đầu một số các băng nhóm địa phương. Ma quỉ cũng đã cho cậu một chiếc thập tự có một vết đỏ ở chính giữa. Cậu phải luôn luôn giữ nó trong tay và gọi đến các thế lực ma quỉ bất cứ khi nào cậu muốn. Chỉ cần giữ chặt chiếc thập tự nầy trong tay cậu sẽ có được sức mạnh tức khắc, và đó là cách để cậu kiểm soát khu vực nầy dưới quyền của mình.
Dầu vậy Đức Chúa Trời muốn cậu bé nầy có được một cơ hội thứ hai, vì vậy Ngài đã đưa cậu đến buổi truyền giảng tối hôm đó để nghe giảng. Khi tôi cầu nguyện cho cậu, cậu bóp chặc chiếc thập tự, nhưng lần nầy nó không hiệu quả. Đó là cuộc chiến đấu bằng sức lực trong lời cầu nguyện để chiếc thập tự trong tay cậu phải văng ra. Suốt nhiều giờ đồng hồ tôi cầu nguyện cho cậu, đến gần nửa đêm, cậu bắt đầu hoảng hốt. Cậu cần phải dâng đứa con đầu lòng cho Satan tối hôm đó. Giữa sự cầu nguyện để giải cứu, ma quỉ đã nói với tôi qua môi miệng của chàng trai rằng: “Ta sẽ khử nó, ta sẽ làm cho tim nó ngừng đập, và ta sẽ giết nó”. Chiến trận thuộc linh căng thẳng đến nỗi chàng trai ấy đã ngừng thở. Vì vậy tôi cầu xin Chúa bằng tất cả đức tin mà tôi có để đưa cậu bé trở lại sự sống, và Ngài nhậm lời. Sau đó cậu được giải cứu và đã làm chứng trước công chúng về toàn bộ sự việc nầy.
Khi kể cho tôi nghe câu chuyện chiếc răng được Satan trám, tôi đã xức dầu vào ngón tay mình và đụng vào chỗ trám, đoạn tôi nói: “Trong danh của Chúa Jesus ta hủy phá mọi công việc của ma quỉ”. Điều gì đó thật hết sức sửng sốt xảy ra, lập tức chất trám vỡ ra và tan chảy. Vì vậy tôi nghĩ rằng nếu đây là điều ma quỉ đang làm trong con người , tôi sẽ cầu nguyện để bởi quyền năng của Chúa công việc của nó bị phá hủy . Đó là cách tôi bắt đầu cầu nguyện cho răng của người ta, và hàng ngàn người đã được trám răng, thậm chí có một số người được trám bằng vàng. Đức Chúa Trời thường thi thố các phép lạ thật ngạc nhiên.
Satan đã mang tội lỗi vào trong thế gian, và kết quả là bệnh tật và sự chết xảy đến. Chúa Cứu Thế đã đến để hủy phá các công việc của ma quỉ mà một trong số đó là bệnh tật. Vì vậy chúng ta có thể thật sự tin rằng ngày nay Ngài sẽ chữa lành các tật bệnh của chúng ta. Chúa Cứu Thế đã gánh lấy tội lỗi và các tật bệnh của chúng ta. Hãy tiếp nhận điều đó và bạn có thể được chữa lành! Đức Chúa Trời có thể biến đổi bệnh tật của bạn trở thành một phép lạ chữa lành kỳ diệu.
Tôi muốn chia sẻ lại một lời cầu nguyện dành cho hết thảy những ai cần sự chữa lành. Hãy đặt hai tay bạn lên chỗ cần chữa lành và xin hãy lập lại lớn tiếng lời cầu nguyện sau đây. Hãy biến toàn bộ đức tin của bạn thành hành động và trung tín tin cậy nơi Chúa Cứu Thế Jesus chúng ta:
"Lạy Cha , linh hồn con ngợi khen Ngài và dâng vinh hiển cho Ngài . Lạy Cha Thiên Thượng , hiện con ở đây trước mặt Ngài . Con cầu xin Ngài bày tỏ lòng thương xót trên con , trong danh dịu dàng của Chúa Cứu Thế Jesus .
Lạy Cha , xin hãy bắt đầu rờ đụng con ngay giờ nầy , Lạy Chúa của con . Xin hãy bắt đầu đụng đến thân thể bệnh tật của con . Xin rờ đụng con , Lạy Chúa Jesus . Lạy Cha , xin hãy đụng đến tật bệnh trong thân thể con bằng quyền năng của Ngài . Lạy Chúa Jesus , xin hãy rờ đụng con , bằng quyền năng của Lời Ngài .
Lạy Đức Thánh Linh , xin hãy bắt đầu hành động trong đời sống con . Xin tiếp tục chữa lành con và thanh tẩy thân thể con , Lạy Chúa quyền năng của Đức Chúa Trời ! Halêlugia !
Và bởi những vết thương của Ngài con đã được chữa lành . Amen amen ".
Chương 15: ThẾ GiỚi ThuỘc VỀ
Chúa CỨu ThẾ
Bức thư dưới đây bày tỏ lòng khao khát sâu xa mà nhiều người trong số những người đã tin Chúa từ các buổi truyền giảng của chúng tôi đã có được để đem sứ điệp vinh diệu của sự cứu rỗi và sự giải cứu đến cho gia đình của họ, làng xóm của họ, thành phố của họ, quốc gia của họ, và cho các dân tộc trên khắp thế giới.
Anh Annacondia yêu dấu, xin gởi lời chào thăm đến anh và gia đình anh. Tôi quyết định viết thư cho anh để anh có thể hiểu câu chuyện của tôi. Điều gì đó thật vinh diệu đã xảy ra cho tôi, và tôi muốn anh biết điều Đức Chúa Trời đã làm cho cuộc đời tôi và của gia đình tôi.
Tên tôi là Jagpal. Tôi sinh ra năm 1969 ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, và tôi được nuôi dưỡng trong một tôn giáo gọi là Sikhism. Tôi đã tin nơi mười nhà tiên tri và thuyết luân hồi. Nhưng có điều gì đó trong lòng tôi không cho tôi tin nơi những điều nầy. Ngày này sang ngày khác tôi cứ tự hỏi mục đích của cuộc đời là gì , nếu như sau khi chết đi , chúng ta trở thành một cái cây hoặc một con vật ? Tôi không tìm thấy ý nghĩa gì hoặc sự hợp lý gì trong đó. Có một khoảng trống lớn trong cuộc đời tôi. Tôi đã tìm kiếm sự giúp đỡ trong Ấn Độ Giáo, và sau đó trong Phật Giáo. Tôi thực hành Yoga, nhưng chẳng có gì thay đổi những cảm xúc bên trong tôi.
Năm tháng trôi qua và gia đình tôi luôn phải vật lộn. Mẹ tôi là một giáo viên còn cha tôi phục vụ trong quân đội. Ông thường uống rượu rất nhiều, và điều đó làm tăng thêm sự tranh chiến. Tôi nghiên cứu thuật chiêm tinh và các ngành khoa học về tà thuật, nhưng không có sự thay đổi tích cực nào trong tôi. Sự việc ngày càng tồi tệ hơn.
Sau vài năm, bố mẹ tôi quyết định dời đến Santa Cruz, ở Bolovia. Tại đó họ đã mất hết tiền bạc. Điều nầy đã đẩy cha tôi vào tình trạng say sưa thậm chí tồi tệ hơn. Không một tôn giáo nào hoặc cách điều trị nào có thể giúp chúng tôi giải quyết vấn đề say sưa của cha tôi. Hoàn toàn không có sự bình an trong gia đình; và đôi lúc tôi đã nghĩ đến việc tự tử.
Vào ngày 10 tháng 8 năm 1991, một người bạn đã mời tôi đến dự buổi truyền giảng Cơ Đốc. Anh chính là người truyền đạo. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi tham dự một buổi nhóm như vậy và đó cũng là lần đầu tiên tôi được nghe đến danh Jesus. Có hàng ngàn người ở đo, tôi không biết những gì họ đang hát hoặc đang nói. Sự hiểu biết của tôi về tiếng Tây Ban Nha lúc ấy rất nghèo nàn. Nhưng tôi thích nhìn xem người ta vẫy các khăn tay trên không khi họ ca hát một cách vui mừng.
Khi anh bước lên bục giảng, người ta bắt đầu vỗ tay và đưa cao tay lên, tôi cũng làm như họ làm. Sau đó anh bắt đầu cầu nguyện, và mặc dầu tôi không hiểu điều anh đang nói, những lời của anh đã chạm đến tấm lòng tôi. Thình lình không hiểu vì sao, tôi bắt đầu kêu khóc, và không thể gượng lại. Đoạn anh mở Kinh Thánh và đọc, có điều gì đó trong giọng nói của anh chạm đến tôi sâu sắc, và ban sự bình an cho tôi. Tôi trở nên sùng kính, và bằng cách nào đó đã hiểu rằng có một Đấng Thánh ở trong nơi ấy.
Sau khi giảng Lời Chúa, anh cầu nguyện, thình lình tôi nhìn thấy một phụ nữ bên cạnh tôi té xuống đất. Tôi nghĩ bà ta bị ngất xỉu, nhưng sau đó khi nhìn sang trái tôi nhiều người nữa cũng té xỉu. Thật sửng sốt! Tôi chưa bao giờ thấy điều gì như vậy!
Khi người ta được giúp đỡ bởi sự đặt tay, tất cả đều té xuống, mọi thứ đều mới lạ đối với tôi. Tại Ấn Độ tôi chưa bao giờ chứng kiến điều gì như vậy. Tôi nhớ đã nói với một người bạn rằng chỉ có những người yếu đuối mới té ngã, rằng tôi sẽ không bao giờ ngã bởi vì tôi rất mạnh, tôi đến từ Ấn Độ. Bạn tôi cười lớn và bảo tôi đừng đứng vào hàng ngũ ấy. Sau đó, tôi thấy mình cùng đứng trong hàng ngũ của những người đang chờ đợi anh cầu nguyện. Tôi nhìn người tiếp tân và bằng tiếng Tây Ban Nha trọ trẹ tôi nói “Tôi không té đâu” khi tôi nhắm mắt lại, một ý tưởng chợt đến với tâm trí tôi. Tôi cảm thấy cần phải xin giúp đỡ. Vì vậy tôi đã cầu nguyện với Chúa, tôi thưa rằng: “Lạy Chúa xin hãy giúp con”. Và tôi cứ lập lại những lời đó nhiều lần.
Khi anh đặt tay trên đầu và cầu nguyện cho tôi. Không có điều gì lạ xảy ra, vì vậy tôi nghĩ: những người khác té ngã nhưng không có điều xảy ra với tôi . Nhưng khi mở mắt ra tôi thấy mình cũng đang nằm dưới đất, thậm chí tôi còn không biết mình đã té! Tôi thở sâu và một sự bình an không thể tin được tràn ngập linh hồn tôi, tôi lập tức biết rằng đó chính là Chúa. Cả người tôi có thể cảm nhận sự hiện diện của Ngài. Tôi không muốn ra về, tôi cảm thấy dòng điện chạy khắp người tôi.
Sau ngày tin Chúa, tôi đưa cha tôi đến buổi truyền giảng. Ông được giải cứu trong trại, và được buông tha khỏi tình trạng nghiện rượu. Ông không bao giờ còn uống được nữa. Sau đó cả mẹ và chị tôi cũng tiếp nhận Chúa. Từ đó trở đi cuộc đời tôi không bao giờ còn như trước nữa, tôi đã trở thành một người hạnh phúc nhất trên cả trần gian. Khoảng trống bên trong tôi đã biến mất mãi mãi.
Sau chiến dịch truyền giảng kéo dài ba mươi ba ngày tôi bắt đầu tham dự một Hội Thánh tại Santa Cruz. Tại đó tôi được huấn luyện, họ đã dạy tôi Kinh Thánh. Năm 1992 tôi được báp tem bằng nước. Năm sau đó tôi nhận được Lời hứa của Đức Thánh Linh và sau đó là sự kêu gọi để hầu việc Chúa. Sau đó tôi đã hoàn tất các bài nghiên cứu trong một trường Kinh Thánh, và năm 1994 tôi đã được phong chức.
Tôi đã làm chứng lại điều nầy ở các quốc gia như Peru, Hoa Kỳ, và Canna. Đức Chúa Trời đã ban các dấu kỳ và phép lạ cặp theo tôi. Ngày nay tôi đang sẵn sàng để đem Tin Lành đến cho đồng bào tôi, bộ tộc của tôi. Họ phải biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất có thể cứu được.
Tôi cảm tạ Chúa vì cuộc đời của anh, đã làm một phương tiện đem tôi đến với Chúa Cứu Thế. Tôi thật sự biết ơn anh, và sẽ luôn cầu nguyện cho anh.
Con Thuộc Linh của anh , JAFPAL

Với Các Dân Tộc
Đức Chúa Trời đã giúp chúng ta qua quyển sách nầy khám phá và học biết một số các mưu chước mà ma quỉ thường dùng để lừa dối thế giới nầy. Chúng ta cũng đến chỗ nhận ra rằng Đức Chúa Trời đã ban cho các môn đồ Ngài một công tác để thực hiện. Sứ điệp thật rõ ràng, sứ mạng dầu dễ dàng nhưng đầy thách thức. Sau khi đi qua các chương nầy, những lời sau đây càng lúc càng trở nên vững chắc: “Kẻ nào tin Ta sẽ được các dấu lạ nầy”. Sau khi Chúa Jesus đã hiện ra với mười một môn đồ và ban cho họ Đại Mạng Lệnh, Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Ngài đã được cất lên Trời. Tại đó Ngài ngự bên hữu Đức Chúa Cha nhưng có đôi điều khẳng định và làm trọn các lời của Đại Mạng Lệnh:
Về phần các môn đồ, thì đi ra giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng làm với môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo. (Mac Mc 16:20).
Những lời nầy đã xác nhận và khẳng định chức vụ của tất cả những người đang làm việc vì sự cứu rỗi các linh hồn hư mất. Các môn đồ đã đi ra ngoài các đường phố để hoàn thành điều Chúa truyền bảo họ phải làm, và Chúa luôn có ở đó để giúp đỡ họ, thậm chí làm vững mọi điều Ngài đã truyền bảo họ bằng các dấu lạ.
Thách thức của chúng ta ngày nay là phải hiểu rằng kẻ thù đang gây ra những sự tàn phá trên thế giới nầy. Đường phố đầy dẫy những người lạc lối, họ mất phương hướng, đang tìm kiếm con đường mà chúng ta đã tìm được rồi. Bạn không nghĩ rằng đã đến lúc họ cũng phải được biết lẽ thật sao? Chúng ta đã có uy quyền, sự xức dầu, quyền phép, và các dấu lạ trong tay mình. Đừng bao giờ quên rằng Chúa ở với chúng ta, cũng như Ngài đã ở với các môn đồ, bất cứ nơi nào chúng ta đi, để xác nhận công tác và làm cho vững chắc bằng các dấu lạ, và bằng Lời Ngài.
Lòng Đức Chúa Trời đau đớn vì những con chiên lạc mất. Ngày này sang ngày khác hàng ngàn linh hồn đang chết mất trong tay của kẻ lừa dối. Điều đáng buồn là hầu hết trong số họ chưa hề được nghe Tin Lành. Chúng ta đừng để điều nầy xảy ra! Kinh Thánh chép rằng “Linh hồn nào phạm tội thì phải chết ” (Exe Ed 18:4) chúng ta không thể để cho tất cả những con người đó hư mất mà chưa hiểu biết lẽ thật.
Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Jesus có trách nhiệm phải công bố Tin Lành. Tôi cảm biết từ nơi Chúa rằng nhiều Hội Thánh đã quên mất Đại Mạng Lệnh mà Chúa Cứu Thế Jesus đã để lại cho chúng ta: “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người ” (Mac Mc 16:15).
Làm thế nào chúng ta có thể giảng đạo cho những người hư mất? Chúng ra rao giảng bằng lẽ thật và sự đơn sơ của Tin Lành. Con người đã mệt mỏi vì những thất bại và những sự dối trá. Họ cảm thấy tuyệt vọng, và nhận biết họ cần một điều gì đó. Chúng ta không thể chỉ đến với họ bằng các lời nói, thậm chí họ cũng không tin những người lấy uy quyền và quyền phép mà đến nữa. Họ đã thất vọng vì người ta không hoàn thành các cam kết và những lời hứa với họ. Nhưng Kinh Thánh chép rằng Đức Chúa Trời luôn giữ lời hứa.
Hội Thánh không thể đi ra và nói với thế gian bằng hai tay không. Sứ đồ Phaolô nói rằng:
Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép (IICo 2Cr 2:4).
Chúng ta cần phải giảng Tin Lành bằng sự xức dầu đích thật . Chúng ta không thể cứ thụ động, chúng ta cần một sứ điệp đầy quyền năng và sức sống từ nơi Đức Chúa Trời hầu cho các dấu lạ sẽ theo sau. Chúng ta biết rất rõ rằng nếu quyền phép không đến từ Chúa, thì nó sẽ không kết quả. Chính mình Chúa Cứu Thế đã phán rằng Khi Đức Thánh Linh đến trên chúng ta, chúng ta sẽ nhận lấy quyền phép (Cong Cv 1:8). Ngài sẽ là Đấng chịu trách nhiệm để xức dầu cho mỗi Cơ Đốc Nhân. Sau đó chúng ta sẽ được trang bị để đem người khác về với Chúa. Mỗi chúng ta đều phải làm điều nầy trong nơi Chúa đặt để mình, có thể đó là một bục giảng lớn, một Hội Thánh nhỏ, hoặc là một nơi làm việc đơn sơ. Chúng ta phải rao giảng một Tin Lành bùng nổ bằng quyền phép.
Bây giờ hãy suy nghĩ, điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta có thêm uy quyền vào quyền năng bùng nổ nầy? Ở các chương trước chúng ta đã nói về uy quyền mà Chúa Cứu Thế đã ban cho chúng ta. Tôi có thể quả quyết với bạn rằng nếu bạn giảng Tin Lành của Chúa Cứu Thế Jesus chúng ta bằng sự xức dầu, quyền phép và uy quyền, không ai còn hờ hững được nữa. Các phép lạ cặp theo sẽ quá kỳ diệu đến nỗi không ai có thể khinh thường những điều đó.
Hãy tiếp nhận lời thách thức nầy! Đừng cứ hờ hững đối với những điều thuộc về Thánh Linh; hãy sẵn sàng cho một sự thay đổi. Hãy tìm kiếm quyền phép mà Đức Chúa Trời đã hứa cho chúng ta. Hãy tìm kiếm sự năng động mà Đức Thánh Linh sẽ ban cho bạn. Quyền năng nầy sẽ làm cho lời nói của bạn hiệu quả.
Năm Phương Diện Của Đại Mạng Lệnh
Trong sứ mạng trọng đại mà Chúa giao cho chúng ta, chúng ta thấy có năm điểm khẳng định cụ thể các phép lạ sẽ cặp theo những người hoàn thành mạng lệnh ấy.
Sự Cứu Rỗi
Phương diện thứ nhất của Đại Mạng Lệnh là sự cứu rỗi , và điều nầy được hàm ý qua những chữ “Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành ”. Điều nầy phải được thực hiện hầu cho hết thảy chúng ta có thể biết rằng Chúa có một giải pháp cho hết thảy những nhu cầu của chúng ta và rằng Ngài ban cho chúng ta khả năng để tìm được sự sống đời đời trong Chúa Cứu Thế Jesus.
Sự Giải Cứu
Phương diện thứ hai là sự giải cứu được tìm thấy qua cụm từ “Họ sẽ ...đuổi quỉ ”. Chúng ta phải tuyệt đối tin chắc rằng chúng ta, là con cái Đức Chúa Trời, có quyền trên các thế lực ma quỉ. Chúng ta có thể quở trách ma quỉ bằng uy quyền và đối đầu với nó bằng những lời lẽ nầy: “Nầy Satan hãy nghe đây , ta bảo ngươi phải ra khỏi người nầy và buông tha người ấy ”.
Sự Ban Quyền Năng
Điểm thứ ba là sự đầy dẫy Đức Thánh Linh . Đây là sự trao quyền từ nơi Đức Chúa Trời mà hết thảy chúng ta đều có cần. Đây là một ơn ban được nhận lãnh bởi ân điển dầu chúng ta không xứng đáng. Dòng chảy của Đức Thánh Linh phải được tràn ngập bên trên, trong, và qua người Cơ Đốc được tái sinh. Điều nầy hàm ý một đời sống có mục đích và ý nghĩa. Đức Thánh Linh sẽ chỉ bảo và dẫn dắt chúng ta trong hành trình trên đất nầy.
Sự Bảo Vệ Thuộc Linh
Nguyên tắc thứ tư là sự che chở thuộc linh mà chúng ta có được trong Chúa Cứu Thế. Khi Kinh Thánh chép “...Uống giống chi độc , cũng chẳng hại gì ”, chúng ta nhận thấy có một sự bảo vệ thuộc linh siêu nhiên chung quanh thân thể chúng ta, về mặt thuộc thể cũng như thuộc linh. Mặc dầu các thế lực ma quỉ đang hoạch định phương cách để tiêu diệt bạn, đời sống bạn vẫn được bảo vệ hoàn toàn. Đây sẽ là một phép lạ khác đối với những kẻ đang nhìn xem. Họ sẽ hiểu được sự che chở của Đức Chúa Trời trên đời sống bạn và gia đình bạn.
Sự Chữa Lành
Cuối cùng, phương diện thứ năm là sự chữa lành . Chúa Jesus đã bảo các môn đồ Ngài: “Hễ đặt tay trên kẻ đau , thì kẻ đau sẽ được lành ”. Trong một thế giới mà bệnh tật là một trong những nguyên nhân chính gây ra lo lắng, nơi mà những virus mới không thể kiểm soát được và các vi trùng có sức hủy hoại xuất hiện hằng ngày, thì sự chữa lành của Đức Chúa Trời là một trong những phép lạ thu hút người ta hơn hết để đến với các buổi nhóm Cơ Đốc của chúng ta. Cũng như trong thời Chúa Jesus, các đoàn dân không ngừng tìm kiếm các phép lạ chữa bệnh, và trách nhiệm của bạn là phải đưa họ đến với vị thầy thuốc đại tài của chúng ta.
Các Dấu Lạ Phải Được Nhìn Biết
Các dấu lạ phải cặp theo khi Hội Thánh rao giảng Lời Chúa hầu cho thế gian sẽ tin Ngài. Ma quỉ, là kẻ thù nghịch chúng ta, sẽ không ngừng nghỉ trong những nỗ lực của nó nhằm hủy hoại các công việc của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta không phải sợ nó.
Trong một buổi truyền giảng ở tại thành phố La Plata, chúng tôi nhận được một tờ giấy như vầy.
Tất cả các phù thủy và thầy pháp trong thành phố nầy và trong thành phố Ensenada (một thành phố nằm ngay bên cạnh La Plata) đã yêu cầu sự giúp đỡ từ các đồng nghiệp của họ từ Paraguay và Brazil để ngăn trở ơn phước của Đức Chúa Trời và để hủy hoại những gì Đức Chúa Trời đang làm tại đây.
Là một con người, tôi đã cảm thấy có một nỗi sợ hãi xâm chiếm tôi trong một giây phút. Nhưng một tiếng nói từ trời đã thì thầm vào tai tôi “Ta ban cho ngươi quyền phép để giày đạp các thế lực của kẻ thù , không gì sẽ làm hại ngươi được ”. Đây là cơ nghiệp của Hội Thánh Chúa Cứu Thế Jesus. Đã đến lúc chúng ta phải cùng nhau nâng cao các công việc của nước Đức Chúa Trời, vì biết rằng các dấu lạ nầy sẽ cặp theo những kẻ tin hầu cho thế giới sẽ đến chỗ nhìn biết Chúa Cứu Thế Jesus là Cứu Chúa chúng ta. Lời Ngài có quyền phép, Ngày hôm nay cho đến mãi mãi. Lời Ngài trở nên hữu hiệu vào đúng thời điểm theo như ý muốn Ngài. Và Lời đó cung ứng khả năng để hành động bởi đức tin. Như sứ đồ Phaolô đã nói: “Vả Đức Chúa Trời , bởi quyền lực cảm động trong chúng ta ” (Eph Ep 3:20) sự thách thức dành cho chúng ta những kẻ tin là phải hành động với sự xác quyết bởi đức tin. Không những có thể giày đạp kẻ thù mà còn có được sự bảo vệ của Đức Chúa Trời.
Gìờ Hầu Đến
Vào năm 1981 tôi nhận được một sứ điệp từ nơi Đức Chúa Trời phán rằng “Không bao lâu nữa, không lâu nữa, không lâu nữa. Sẽ có một cuộc phục hưng lớn tại Argentina, Argentina sẽ thuộc về Ta, Đức Giêhôva phán như vậy”.
Ngày nay, sau nhiều năm chúng tôi nhìn thấy thể nào Đức Chúa Trời toàn năng của chúng ta đã hành động và tiếp tục đưa đất nước yêu dấu của tôi tiến đến sự ứng nghiệm lời tiên tri nầy. Nhưng chúng tôi vẫn chưa nhìn thấy tất cả những gì Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho sứ sở nầy.
Tôi biết rất rõ, bởi vì tôi là một phần của đất nước tôi, rằng điều nầy cũng đang diễn ra cho các quốc gia Mỹ Latinh khác nữa. Các dân tộc lớn đang huy động ở giữa vòng họ một cuộc phục hưng thuộc linh. Nhưng xin chúng ta đừng quên rằng đã đến lúc chúng ta hãy cùng nhau hiệp lực xây dựng công trình.
Đó là sứ điệp của Đức Chúa Trời dành cho bạn, cho các anh em, lãnh đạo, và Mục sư. Thì giờ để giảng Tin Lành cho muôn dân là đây! Và bạn đã được giao phó nhiệm vụ ấy, hãy đứng vững vàng và hiệp một trong Chúa Cứu Thế để chúng ta cùng nhau có thể nhìn thấy trọn vẹn sự thật mà chúng ta chỉ mới bắt đầu nhìn thấy lờ mờ: thế giới thuộc về Chúa Cứu Thế.
Nếu bạn ao ước Đức Chúa Trời sử dụng đời sống bạn để hàng ngàn người có thể được biết Chúa, xin hãy đặt hai tay bạn lên trang nầy và lập lại lời cầu nguyện nầy với tôi:
Lạy Cha chúng con ở trên Trời , hôm nay con đến với Ngài để tin rằng với sự xức dầu và quyền phép mà Đức Thánh Linh đã cảm động rất nhiều người có đức tin và đã ngự trị trong họ , đã xức dầu cho Chúa Cứu Thế Jesus bằng Đức Thánh Linh và quyền phép , chính quyền phép và sự xức dầu ấy sẽ ở trên đời sống con giờ nầy .
Lạy Cha , con nhận được sự xức dầu và quyền phép để làm điều lành và phá hủy tất cả những công việc của ma quỉ để kẻ đau sẽ được lành , kẻ bị ức hiếp được giải phóng , các ách bị bẻ gãy , và cửa nhà tù được mở ra . Lạy Cha , con xin nhận sự xức dầu và quyền phép đến từ Cha ngay giờ nầy !
Lạy Chúa , con xin phó dâng chính mình vào tay của Ngài . Xin hãy sử dụng đời sống con , khiến con trở thành một người chinh phục linh hồn . Con xin dâng chính mình để làm theo ý muốn trọn vẹn của Ngài trong mọi sự . Con cầu nguyện trong danh Chúa Jesus , Amen .

Phần Kết Luận
Nầy Satan, Hãy Nghe Đây!
Lạy Cha , linh hồn con ngợi khen Cha và chúc tụng Ngài . Lạy Cha , Đức Chúa Trời chí thánh , xin hãy đụng đến đời sống của những người đang đọc quyển sách nầy . Lạy Cha , từ bây giờ xin hãy bắt đầu bẻ gãy các xiềng xích của ma quỉ , bứt đứt các dây trói của Satan . Halêlugia !
Lạy Cha , với uy quyền mà Ngài đã ban cho con trong danh Ngài , con cột trói và quở trách mọi linh của bệnh tật . Lạy Cha , xin hãy hành động qua những thân thể bệnh tật , xin hãy thay đổi máu huyết của họ , xin ban cho họ tấm lòng mới , và tiếp tục hành động bởi bàn tay quyền năng của Ngài .
Lạy Chúa , xin ban cho chúng con uy quyền để hủy phá công việc của kẻ ác , công việc của ma quỉ . Ma quỉ gian ác , ngươi đã bị đánh bại ; có một đội quân dấy lên nghịch cùng ngươi trong danh của Chúa Jesus người Naxarét !
Lạy Chúa của con , xin hãy tuôn đổ sự khôn ngoan và sự hiểu biết của Ngài trên chúng con ; xin hãy xức dầu cho chúng con để làm công việc của Ngài ! Chúng con cầu xin điều nầy trong danh của Chúa Jesus người Naxarét .
Xin hãy hà trên chúng con Thánh Linh của Ngài và xin trang bị cho chúng con . Xin ban cho chúng con tình yêu thương của Ngài đối với những linh hồn hư mất , đối với những kẻ đang đau khổ .
Hỡi Satan hãy nghe đây ; ta nghịch cùng ngươi ! Hỡi linh phù phép , Makumba , linh của umbanda , linh của quimbanda , hãy ra khỏi những đời sống nầy , hãy ra khỏi các dân tộc nầy ! Hỡi linh của ma thuật đen và ma thuật trắng , hãy đi ! Hỡi quỉ của ma thuật đỏ hãy ra khỏi đây giờ nầy ! Lạy Chúa xin hãy đụng đến những đời sống nầy . Xin hãy bứt đứt xiềng xích và ách nô lệ của Satan . Hỡi ma quỉ , hãy xuất ra !
Lạy Chúa chúng con xin tay quyền năng của Ngài hãy hành động . Con quở trách tất cả những sự điên loạn , hỡi tà linh hãy đi ! Ta bẻ gãy các câu phù chú ma thuật , ta hủy phá tất cả các phù chú của Satan !
Lạy Chúa Hội Thánh của Ngài đang đứng lên . Chúng con nhận lấy quyền phép , quyền phép từ nơi Chúa . Hỡi Thánh Linh , xin hãy hà trên chúng tôi ! Lạy Chúa chúng con là Hội Thánh Ngài , là Hội Thánh đắc thắng .
Hỡi ma quỉ ngươi đã bị đánh bại . Satan hãy nghe đây hãy buông tay ngươi ra khỏi các dân tộc , hãy ra khỏi đây trong danh của Chúa Jesus ! Còn ngươi , Satan , ngươi đã bị đánh bại đời đời .
Amen amen

Gương Mẫu Để Bắt Chước Và Noi Theo
Vào những năm sáu mươi, một trong những nan đề mà Hội Thánh gặp phải là sự thiếu hiệp một giữa vòng các Mục sư. Số người tin Chúa rất ít vì cớ không có những kinh nghiệm gì có những ảnh hưởng mạnh mẽ trên con người.
Đến cuối năm 1984, một số các Mục sư bắt đầu tìm kiếm những phương cách để trở nên hiệp một, nỗ lực để đạt đến một sự hiệp một không ngừng lớn mạnh. Năm 1985 chúng tôi đã mời nhà truyền giáo Carlos Annacondia điều động chiến dịch truyền giảng ở tại thành phố Rosario. Chúng tôi có hai động cơ để thực hiện điều nầy: thứ nhất bởi vì các Mục sư đã hiệp một, cần kinh nghiệm điều gì đó mới mẽ. Thứ hai chúng tôi không nghi ngờ gì rằng Carlos Annacondia là người Đức Chúa Trời đã dấy lên tại Argentina, chúng tôi đã có mặt ở chiến dịch truyền giảng của ông tại San Justo và đã vô cùng phấn khích khi chứng kiến quyền năng của Đức Chúa Trời thi hành các phép lạ.
Cho đến lúc đó, Hội Thánh ở tại thành phố Rosario vẫn chưa tỏ ra có những sự bẻ gãy quan trọng nào cả. Bên cạnh đó, rõ ràng là sự chống đối tin lành còn rất mạnh mẽ, và kẻ thù địch cũng đang rất mạnh.
Chiến dịch truyền giảng của Carlos Annacondia đã đến vào tháng 11 năm 1985. Vào những ngày đầu người ta có thể cảm nhận được một sự đề kháng thuộc linh đối với sứ điệp Tin Lành. Nhưng mười lăm ngày sau đó, các quỉ bắt đầu biểu hiện một cách thật sửng sốt. Có một chiếc lều được dành riêng để chăm sóc cho những người bị quỉ ám. Bởi vì có quá nhiều người bị quỉ ám, nơi ấy đầy nghẹt, và các anh em chịu trách nhiệm trong chức vụ đang dốc hết sức để làm việc. Đêm hôm đó chúng tôi cảm thấy như có điều gì đã bị phá hủy hoàn toàn trên không trung, có điều gì đó đã bị bẻ gãy trong thế giới tà linh. Từ đó trở đi chúng tôi bắt đầu quan sát một vài trường hợp ngoại lệ chưa bao giờ chứng kiến trước đây giữa vòng chúng tôi.
Dầu ma quỉ có mạnh mẽ đến mấy đi nữa, cũng không thể chống lại uy quyền thuộc linh của tôi tớ Đức Chúa Trời đang đối diện với nó. Vô số người đã bắt đầu đến các buổi truyền giảng, và tràn đến các trại chúng tôi hàng đêm mỗi khi họ nghe lời kêu gọi tiếp nhận Chúa Cứu Thế, họ thường đáp ứng bằng cách chạy lên phía trước, tan vỡ và khóc lóc.
Sự vinh diệu nầy cứ tiếp tục trong bốn mươi lăm ngày, chỉ kết thúc vì Annacondia phải đi đến một thành phố khác, nếu như cứ tiếp tục, chúng tôi thậm chí không thể hình dung điều gì sẽ xảy ra!
Ngay sau chiến dịch truyền giảng nầy, chúng tôi đã nhìn thấy những kết quả. Có một sự bùng nổ về truyền giảng, các Hội Thánh tại Rosario đã kinh nghiệm một sự tăng trưởng không thể tin nổi, từ khi họ tiếp tục trong tinh thần truyền giảng.
Tôi còn nhớ hai biến cố không thể quên được. Biến cố thứ nhất đã xảy ra trong Hội Thánh của chúng tôi: Santuario de Fe (Thánh Đường Đức Tin). Chúng tôi đã ra bên ngoài nhà thờ và tổ chức các buổi truyền giảng ngoài trời. Chúng tôi truyền giảng mỗi đêm trong sáu tháng liên tục. Hội chúng phát triển đến một mức độ mà chúng tôi không thể trở vào nhà thờ được nữa, chúng tôi đã phải mua một miếng đất mới và xây cất nhà thờ Thánh Đường Đức Tin mới.
Sự kiện thứ hai đã xảy ra là cuộc thức tỉnh truyền giáo nầy đã thúc đẩy một số lượng lớn các chiến dịch truyền giảng. Tôi nhớ trên đường từ sở làm về nhà, chừng năm mươi dãy phố, tôi thấy có năm buổi truyền giảng ngoài trời. Có những Hội Thánh, như Hội Thánh chúng tôi, đã được truyền giảng bởi tinh thần mà Carlos Annacondia đã truyền đạt lại cho chúng tôi qua chiến dịch truyền giảng của anh.
Trong các chiến dịch truyền giảng mới nầy chúng tôi thấy có điều gì rất khác khi chúng tôi đến thăm những người mới tin Chúa. Trước đây khi đến thăm họ, họ thường bảo: “Vâng, tôi cũng có đi, nhưng tôi thật sự không thích lắm...” hoặc “Tôi đã có đến dự buổi nhóm, nhưng tôi không muốn thay đổi tôn giáo của mình...” bây giờ thay vào đó, khi các anh em tự giới thiệu họ là người đến từ cuộc truyền giảng của Carlos Annacondia, sự đáp ứng không thay đổi là: “Vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời!” và lập tức người ta bắt đầu thuật lại một câu chuyện thật ngạc nhiên nào đó về các phép lạ mà họ đã nhận được. Chúng tôi nhận thấy khi người ta được kêu gọi để lên phía trước và dâng đời sống mình cho Chúa Cứu Thế Jesus, tấm lòng họ thật sự được thay đổi.
Ngày nay hết thảy chúng ta đều biết rằng các Hội Thánh ở Rosario có một tỉ lệ phần trăm lớn những người đã tin Chúa tại chiến dịch truyền giảng của Annacondia. Năm 1985 trở thành một bước ngoặt lịch sử, trước và sau chiến dịch truyền giảng, ở tại Hội Thánh Rosario. Khi lịch sử của Rosario được viết, và người ta mô tả công việc truyền giáo tại thành phố, sẽ có một mốc phân chia đánh dấu một giai đoạn mới bắt đầu từ năm 1985.
Vào năm 1992 chúng tôi tổ chức một chiến dịch truyền giáo thứ nhì, và vào tháng 11 năm 1996 chúng tôi tổ chức chiến dịch truyền giáo thứ ba. Mỗi lần như vậy những ảnh hưởng mạnh mẽ trên dân chúng và Hội Thánh thật không thể tả xiết. Người ta hưởng ứng với sứ điệp đơn giản nhưng được xức dầu của Annacondia. Các phép lạ kỳ diệu đã xảy ra để làm cho vững Lời Chúa. Hội Thánh trở nên sống động và được khích lệ để đi theo chức vụ của nhà truyền giáo nầy.
Bản liệt kê dưới đây là một số tâm tánh của Carlos Annacondia cho thấy ông ta là người đại diện xứng đáng cho chức vụ mà ông thi hành. Ông lôi cuốn và cảm động các Mục sư, ông là một gương mẫu để noi theo và bắt chước:
• Ông bày tỏ tình yêu sâu xa dành cho các linh hồn bằng những lời nói của mình, ông được kêu gọi để theo chân Chúa Cứu Thế, và qua sự tận hiến của ông dành cho con người. Ông cầu nguyện cho họ, quan tâm đến họ với lòng thương cảm, không để ý đến mình đã mệt mỏi thế nào.
• Ông thi hành uy quyền thuộc linh ở trước các quỉ hoặc bất cứ công việc gì của Satan. Ông chứng tỏ sự thực của quyền phép Đức Chúa Trời khi giải cứu con người khỏi tất cả những gánh nặng của họ và tình trạng áp bức thuộc linh.
• Có những phép lạ phi thường cặp theo chức vụ của ông. Các dấu lạ kỳ diệu nầy xác nhận sứ điệp ông rao giảng về một Chúa Cứu Thế cứu được và chữa lành được.
• Sự hạ mình được nhìn thấy rõ ràng qua chức vụ của ông. Ông không bao giờ muốn trở thành một “ngôi sao”. Ông đã dạy chúng ta thể nào về một Tin Lành đơn sơ và đầy quyền phép bằng tính đơn sơ và đầy tình yêu của ông. Người ta yêu mến ông vì cớ ông là một người của Đức Chúa Trời, một con người đáng tin cậy và trong suốt.
Cuối cùng tôi có thể quả quyết với bạn rằng tôi đã thấy nhiều đường lối và nhiều phương cách truyền giáo, nhưng không một phương pháp nào hiệu quả như phương pháp mà Carlos Annacondia thi hành. Tôi tin rằng đây không phải là một phương pháp mà là sự gồm tóm của tất cả các đặc điểm đã được mô tả ở trên.
Lời cầu nguyện của chúng tôi là xin Chúa luôn giữ ông tươi mới và trọn vẹn trong Thánh Linh như những gì ông có vào năm 1985. Và nguyện Đức Chúa Trời sẽ dấy lên hàng ngàn Annacondia khác nữa hầu cho chúng ta có thể thấy hàng triệu triệu người trong thành phố chúng ta và các quốc gia đến nơi chân Chúa Cứu Thế chúng ta.
Noberto O. Carlini
Mục sư Thánh Đường Đức Tin
Chủ tịch hội đồng Mục sư tại Rosario .


Lòng Thương Xót Những Linh Hồn
SAU KHI SUY GẪM khúc Kinh Thánh sau đây và cầu nguyện với Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh sẽ giúp tôi chia sẻ cùng bạn tất cả những kỷ niệm như những lời chứng về sự cảm tạ và đó chính là điều gây dựng chúng ta.
Đức Chúa Jesus bèn phán cùng nó rằng: “Hỡi quỉ Satan, ngươi hãy lui ra! Vì có lời chép rằng: ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi”. (Mat Mt 4:10)
Vào tháng Giêng năm 1979, trong một buổi nhóm của các Mục sư tại thành phố Bahía Blanca, Đức Chúa Trời đã phán với chúng tôi rằng Ngài sẽ dấy lên một trong những con cái bé mọn của Ngài để thi hành một chức vụ phi thường. Ngài đã bày tỏ qua một trong các tôi tớ của Ngài, Nilo Ylivainio ở xứ Finland, chức vụ ấy sẽ như thế nào. Thời gian trôi đi, thế rồi chúng tôi bắt đầu nghe về những phép lạ khó tin đang xảy ra tại các chiến dịch truyền giảng của Carlos Annacondia. Tôi đã gặp anh năm 1984 tại một kỳ hội nghị ở Embalse, Río Tercero, Córdoba.
Vào năm 1985, Carlos Annacondia đã tổ chức một chiến dịch truyền giảng ở một thị trấn thuộc Buenos Aires. Tên của chiến dịch truyền giảng đó là “San Justo, Chúa Jesus yêu bạn”. Tôi được chỉ định làm thủ quỹ và điều phối viên cho trại giải cứu. Tại đó tôi đã có cùng một kinh nghiệm như nữ hoàng Sêba (Xem IIVua 2V 10:6-7). Mắt và tai tôi đã mở ra, và tôi đã hiểu được lời tiên tri tại Bahia Blanca thật sự có ý nghĩa thể nào. Trong dịp đó tôi đã được nghe lời tiên tri; bây giờ tôi đang chứng kiến sự ứng nghiệm lời tiên tri đó. Đức Chúa Trời đã dấy lên một trong các con cái bé mọn của Ngài và ban cho anh ta một chức vụ thật kinh ngạc.
Sau San Justo, còn có nhiều chiến dịch truyền giảng khác nữa bao gồm các chiến dịch truyền giảng ở tại San Martín, Paso del Rey, Moreno, và Haedo y La Boca. Tôi đã tiếp tục làm thủ quỹ, cùng với Juan Dicrecencio, là tổng điều phối viên, chúng tôi có chung các trách nhiệm trong khu vực giải cứu. Nhiều lần chúng tôi đã cùng nhau chứng kiến sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Qua kinh nghiệm của mình tôi có thể nhận thấy rằng trong cuộc tỉnh thức mới mẻ nầy, Phúc âm vẫn được giữ nguyên, song sự thực hành thì có khác. Chúng tôi đã biết đến quyền phép của Đức Chúa Trời được mô tả trong Kinh Thánh, nhưng bây giờ chúng tôi đang ứng dụng quyền phép ấy.
Lời Chúa chép rằng Chúa Jesus đã đuổi các quỉ ra, các môn đồ Ngài cũng vậy. Nhưng bây giờ chúng tôi đang thi hành công việc đó, và kết quả là, người đau được chữa lành, kẻ điếc, tàn tật, mất trí, và những người khác đều đã được chữa lành ngay sau khi họ được giải cứu khỏi các quỉ đang ức hiếp họ. Thậm chí có những Cơ Đốc Nhân có biểu hiện của ma quỉ và phải được đem đến trại giải cứu. Mặc dầu họ đã tiếp nhận Chúa Jesus làm chủ và Cứu Chúa Mình, vẫn còn có những tội lỗi chưa xưng ra trong lòng họ, vì vậy những sự rủa sả, sự thờ tà thuật, lòng ghen ghét, thù oán, không tha thứ, thỏa thuận với Satan, và nhiều tà linh khác vẫn tấn công họ, vì cớ họ chưa từ bỏ những điều ấy. Một khi đã được buông tha khỏi sự ức hiếp của ma quỉ, những người nầy nhận được báp tem bằng Đức Thánh Linh, và Đức Chúa Trời đưa họ lên đến tầm cao của những người khổng lồ.
Tình yêu thương, sự thông công, và lòng thương xót đối với người hư mất ngự trị trong mỗi buổi nhóm. Mỗi buổi tối đều có sự chiến thắng, niềm vui, và hạnh phúc hiện diện. Chúng tôi được trang bị bởi Đức Thánh Linh để làm chức vụ giải cứu. Bất cứ ai đầu phục Ngài và nghe Lời Ngài đều làm được các phép lạ.
Sự dạy dỗ của Carlos Annacondia thật đơn giản. Chúa Jesus đã ban cho anh uy quyền để cứu vớt linh hồn, chữa lành kẻ bệnh, giải cứu kẻ bị quỉ ám, và ban sự yên nghỉ cho những kẻ mệt mỏi và gánh nặng.
Anh đã dạy cho nhiều thanh niên thi hành uy quyền trên các quỉ sứ và trên chính Satan.
Tôi nhớ có một thiếu nữ hai mươi tuổi, khi có một lượng người đông đảo cần được giải cứu, cô đã cột trói Satan trong danh Chúa Jesus cho đến khi có một trong các anh em đến tiếp sức. Ngày nay chúng tôi thấy có nhiều anh em trong các Hội Thánh đang thi hành uy quyền trên các quỉ, nhưng trong những ngày đó, thật là điều phi thường được chứng kiến sự ứng nghiệm lời tiên tri mà chúng tôi đã nhận lãnh vào năm 1979 ở tại Bahía Blanca. Vinh hiển thuộc về Đức Chúa Trời!
Các chiến dịch truyền giảng tiếp tục, có những trường hợp đã để lại dấu ấn sâu đậm trên đời sống và chức vụ của tôi. Tôi nhớ một người vợ của một Mục sư nọ là người rất u sầu, sự chết vây phủ bà. Bà đã không thể tha thứ cho cha mình, người mà khi làm Mục sư, đã sa ngã vào tội tà dâm. Bà đã được giúp đỡ, và khi bà tha thứ cho cha mình, bà được buông tha khỏi các quỉ đã không ngừng làm khổ bà, Bà vui mừng trở lại.
Vợ của một Mục sư khác, người đã nhiều lần phải đến trại giải cứu để được cầu nguyện. Bà đã gặp những nan đề về hôn nhân và bị hành hại bởi một linh giết người và tự tử. Sau khi được giải cứu, bà đã tha thứ và hòa thuận lại với chồng mình và với Chúa. Sau đó bà bắt đầu giúp đỡ cho những người khác trong trại giải cứu.
Một trường hợp khác đã ảnh hưởng mạnh mẽ trên tôi. Vợ của một Mục sư trẻ đến xin cầu nguyện, và câu chuyện của bà khiến chúng tôi nhận biết rằng con cái của Đức Chúa Trời cũng có thể bị ma quỉ làm khổ và có thể bị những hậu quả có liên quan đến phù thủy và thầy bói trực tiếp hoặc gián tiếp đã ếm chú trên họ.
Từ ngày lập gia đình năm bà mười bảy tuổi, bà có nan đề với bao tử của mình, điều nầy kéo dài trong mười hai năm. Bà rất ốm và không thể có con. Vào đêm thứ ba của chiến dịch truyền giảng, một số anh em đưa bà đến trại giải cứu bởi vì bà trở nên rất hung hăng. Chồng bà đã đến và kể cho tôi nghe về bà, ông bày tỏ nỗi lo lắng và luôn bận tâm về sức khỏe của bà. Bà đã được giúp đỡ suốt hai đêm liền. Vào ngày thứ ba một người anh em đang giải cứu bà nói rằng có ai đó đã ếm chú trên bà. Một người khác thì nói đó là vấn đề gia đình.
Tất cả dường như hết sức mâu thuẫn. Vì vậy chúng tôi đã tìm hiểu gia đình nầy. Người phụ nữ nầy đã đến buổi truyền giảng cùng với mẹ và chị mình, cả hai đều là những người tin Chúa. Khi chúng tôi đang giải cứu cho bà, thì người chị bắt đầu có một số biểu hiện. Bà ta không thích các câu hỏi của chúng tôi, bà cảm thấy khó chịu và muốn ra về. Sau hai đêm, bà thú nhận rằng một thanh niên trong Hội Thánh của họ đã yêu em bà, lúc bấy giờ mới mười lăm tuổi. Vì bà thích chàng trai đó, nên bà đã đến gặp một mụ phù thủy là người đã ếm chú trên em gái bà để khiến cho em gái bà sẽ phải mắc bệnh và chết.
Ngay sau khi thú nhận bí mật của mình, lời ếm chú ở trên em bà đã nhập vào bà và bà bắt đầu bị đau bụng khủng khiếp. Chúng tôi đã giải cứu cho cả gia đình bởi vì họ đều cần sự giải cứu và sự chữa lành thuộc linh. Sự tha thứ và tình yêu của Đức Chúa Trời bắt đầu tuôn tràn qua tất cả họ. Chúng tôi đã nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Một năm sau đó người chồng cho tôi biết rằng Chúa đã cho ông người vợ trở lại, một người phụ nữ vui vẻ hạnh phúc thuộc linh và năng động mà ông đã từng yêu. Cảm tạ Chúa!
Trong một cuộc truyền giảng chúng tôi tổ chức tại San Martín, chúng tôi đã có một kinh nghiệm lớn lao. Một nhóm các cô bé đã đến trại giải cứu có các biểu hiện của các quỉ. Đây là một trường hợp rất lạ. Khi chúng tôi cứu giúp cho nhóm bé gái này, dường như chúng đang ở dưới sự kiểm soát, nhưng khi một trong các bé gái tiến đến gần, chúng lại bắt đầu có các biểu hiện ma quỉ.
Chúng tôi nhận thấy rằng có một tà linh tình dục đang kiểm soát tất cả bọn chúng. Có vẻ như không thật khi thấy điều nầy xảy ra với các cô bé chỉ tám đến mười hai tuổi. Một tà linh tình dục đã ám vào đứa lớn nhất, mới mười hai tuổi, và cô bé đã kiểm soát các bé gái khác. Chúng thực hành đồng tính luyến ái trong phòng tắm của nhà thờ. Khi chúng tôi kể cho Mục sư của chúng nghe, ông rất tức giận chúng tôi và báo cho ủy ban của chúng tôi rằng thậm chí trong con nít mà chúng tôi cũng bảo là nhìn thấy quỉ. Tuy nhiên khi chúng tôi gọi những ông bố của các cô gái nầy (là các tín đồ) đến, chúng tôi đã kết thúc giải cứu cho các cháu và lột mặt nạ của các quỉ bằng cách nắm lấy uy quyền trong danh của Chúa Jesus. Thật là một kinh nghiệm diệu kỳ.
Tôi cũng nhớ điều đã xảy ra với một phụ nữ là người hết sức gầy gò và yếu đuối. Bà ta bị ung thư gan, thận, và các cơ quan khác. Khi chúng tôi đang giải cứu cho bà, bà yêu cầu được vào phòng tắm. Tất nhiên là bà nôn ra rất nhiều. Sau đó khi bà trở lại trại bà nôn ra cái mà dường như là những mảnh thận và gan. Sau đó bà bắt đầu cảm thấy khỏe hơn và đi về nhà. Ngày hôm sau chúng tôi không thể nhận ra bà. Bà thật tươi tắn. Bà đi được và hoàn toàn được lành bệnh vì sự vinh hiển của Chúa.
Một câu chuyện kinh ngạc khác của một phụ nữ bắt đầu có các biểu hiện ma quỉ khi Carlos Annacondia cầu nguyện cho bà. Khi vào trại giải cứu, tôi đã giúp đỡ bà và sau ba giờ cầu nguyện căng thẳng tôi đã giải cứu cho bà với sự trợ giúp của các ân tứ Thánh Linh. Người phụ nữ nầy kể cho chúng tôi nghe rằng bà là một thầy pháp, chung với một người bạn. Khi bà lập gia đình, bà thôi không dùng tà thuật và cắt đứt tình bạn. Nhưng người bạn kia là người đã yêu bà, đã phù phép trên bà để bà phải bỏ chồng mình mà quay về với ông ta. Đêm hôm đó, chúng tôi lấy uy quyền trong danh Chúa Jesus trên các tà linh đã hành động trong người bạn của bà và truyền cho phù chú phải bị bẻ gãy. Sau đó chính tà linh đã cho chúng tôi biết rằng phù chú đã bị bẻ gãy và bà đã được tự do. Diện mạo của bà lập tức biến đổi. Chúng tôi không thể nhận ra bà khi bà trở lại vào ngày hôm sau.
Một điều khó tin khác đã xảy ra cho một người phụ nữ chuyên nghiệp ba mươi lăm tuổi xin được giúp đỡ trong trại giải cứu. Bà nói bà là một nữ tiên tri của môn pháp thuật da đen. Chúng tôi đã thay phiên nhau hết người nọ đến người kia nói chuyện với bà suốt bốn đêm. Bà ta thuật lại thể nào bà đã trở thành một nữ tiên tri, cách thức bà đã làm việc và mặc dầu bà đã đưa người ta vào chỗ chết, bà vẫn không nghĩ rằng điều bà làm là sai trái. Trong mỗi cuộc đối đầu, chúng tôi lấy Lời Chúa mà nói cùng bà, và bà đã lắng nghe. Mọi sự diễn tiến tốt đẹp cho đến khi bà quyết định tiếp nhận Chúa và từ bỏ mọi tập tục không thuộc về Đức Chúa Trời. Sau đó cửa âm phủ được nới lỏng ra. Con quỉ trong bà biểu hiện ra, rất tức giận vì quyết định của bà. Nhưng với uy quyền trong danh Chúa Jesus, nó bắt buộc phải xuất ra. Chúng tôi nhận biết việc tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa mình và công bố từ bỏ mọi sự thực hành gian tà là quan trọng như thế nào.
Tôi nhớ một trường hợp thật đáng kinh ngạc khác nữa. Ở chiến dịch truyền giảng La Boca. Một đêm nọ khi tôi không có mặt trong trại giải cứu. Có người đã đến để cho tôi biết rằng có một lời tiên tri đang được nói ra trong trại. Lập tức tôi cảm thấy trong tâm linh mình có một sự kiểm tra. Khi tôi bước vào trại, tôi thấy hai mươi lăm người anh em đang chờ đợi để được xức dầu, và vị nữ tiên tri đang nói “Chúa phán rằng hỡi đầy tớ của ta, hãy xức dầu cho các đầy tớ ta đây”.
Khi tôi nghe những lời của bà ta, tôi cứ hỏi bà nhiều lần: “Chúa nào?”
Bà trả lời tôi “Đáng rủa thay là kẻ chống cự Thánh Linh!” Điều nầy khiến cho mọi người nghĩ rằng tôi đang chống cự Đức Thánh Linh. Khi anh Annacondia đến và vào gặp bà, bà ta bắt đầu rủa sả anh và bảo anh rằng bà sẽ giết các con của anh. Khi anh quở trách tà linh trong người đàn bà nầy, bà ta đã té xuống đất. Bà là một nữ tiên tri của tà thuật da đen. Đêm đó bà đã tiếp nhận Chúa Cứu Thế. Chúng tôi dâng lời cảm tạ Chúa về điều đã xảy ra, và cảm tạ Đức Thánh Linh về các ân tứ của Ngài. Qua trường hợp nầy chúng tôi đã cảm tạ Ngài vì ân tứ biện biệt.
Trong chiến dịch truyền giảng tại La Boca, chúng tôi đã chuẩn bị chính mình để cầu nguyện trong danh của Chúa Jesus chống lại những kẻ đang thực hành quyền kiểm soát tâm trí. Nhiều người đã từ bỏ sự thực hành nầy, và sau khi tiếp nhận Chúa Cứu Thế vào đời sống, họ đã giao nộp các tấm mề đay cho chúng tôi. Đêm hôm đó chúng tôi chất đầy một hộp những hình tượng khác nhau. Kể từ ngày đó, mỗi đêm khi chúng tôi cầu nguyện trình dâng các nhu cầu của mình ở trước mặt Chúa, chúng tôi đã thấy sự vinh hiển của Ngài khẳng định các lời khẩn cầu của chúng tôi bằng các dấu lạ và phép lạ.
Vào lúc bắt đầu, một số các giáo phái đã chấp nhận chức vụ của anh Carlos Annacondia. Nhưng có một số giáo phái không chấp nhận. Năm tháng trôi đi, hầu như tất cả các giáo phái đều đã công nhận chức vụ của anh, ngày nay họ đã thực hành hữu hiệu chức vụ giải cứu trong các Hội Thánh của họ, và họ đã có những người lãnh đạo chịu trách nhiệm lo cho chức vụ nầy.
Tôi xin dâng lời cảm tạ Chúa vì tất cả những điều đó. Trước hết vì người anh em Annacondia đã dâng chính mình cho Chúa một cách thật không thể tin được. Vì cớ gia đình của anh, và đặc biệt vì cớ vợ anh, Maria.
Xin cảm tạ Chúa
Mục sư Alberto Oscar Burkardt

Về Tác Giả
Carlos Alberto Annacondia sinh ra trong thị trấn Quilmes, thuộc tỉnh Buenos Aires, Argentina vào ngày 12 tháng 3 năm 1944. Ông là con trai của Vicente Annacondia và María Alonso. Các anh chị em của ông là Angel và José María. Ông đã kết hôn với Maria Rebagliatti năm 1970 và họ có chín người con.
Năm 1977 ông thành lập công ty ở tại thành phố quê nhà. Công ty đó đã trở thành một trong các doanh nghiệp quan trọng nhất nước.
Ông đã gặp Chúa qua một chiến dịch truyền giảng vào ngày 19 tháng 5 năm 1979. Từ đó trở đi ông đã bắt đầu hầu việc Chúa. Vào ngày 30 tháng 4 năm 1982, Carlos Annacondia đã bắt đầu chức vụ truyền giáo của mình, và trong năm 1984 ông đã thành lập chức vụ hầu việc nổi tiếng của ông Mensaje de Salvación (Sứ Điệp Cứu Rỗi). Sau đó ông đã bắt đầu tổ chức các chiến dịch truyền giảng cho dân chúng khắp thế giới. Người ta ước tính có trên hai triệu người đã tiếp nhận Chúa Jesus làm Chủ và Cứu Chúa của họ qua các chiến dịch truyền giảng của ông.

Hội Truyền Giáo Sứ Điệp Cứu Rỗi
Nhà Truyền Giáo Carlos Annacondia
Urquiza 1547
Quilmes (1879),
Tỉnh Buenos Aires, Argentina
E-mail: [email protected]


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-7-2018 08:39 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách