† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 3153|Trả lời: 0

Nền Tảng Tăng Trưởng Tâm Linh

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 21-7-2011 22:37:51 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Nền Tảng Tăng Trưởng Tâm Linh
Tác giả: Richard Patterson

LỜI MỞ ĐẦU
Ngay lúc ăn năn và tiếp nhận Chúa Cứu Thế vào cuộc sống, bạn kinh nghiệm được một sự thay đổi vô cùng quan trọng và từ giờ phút đó cuộc sống của bạn không còn như trước nữa. Tuy nhiên, bạn được thay đổi nhiều hay ít là tùy nơi bạn có tìm kiếm, có thừa nhận và có nuôi dưỡng sự tăng trưởng của đời sống tâm linh của bạn hay không. Đời sống tâm linh không bao giờ tự động tăng trưởng, và nó có thể bị bỏ mặc cho may rủi, đến đâu hay đó, hay có thể được thiết kế và trau dồi cách thận trọng. Bài học này có mục đích trau dồi nuôi dưỡng đời sống thuộc linh của bạn.
Chúng tôi xin ghi ơn quí vị có tên sau đây, là những người đã đóng góp vào biên soạn thảo các Chương trong tập tài liệu này:
Tiến sĩ Burt. D Braunius
Tiến sĩ Kermit A. Ecklebarger
Tiến sĩ Paul J. Loth
Tiến sĩ Gary C. Newton
Tiến sĩ Arthur M. Ross
Tiến sĩ Richard Patterson, Chủ tịch Hội Huấn Luyện Phúc Âm
(Evangelical Training Association)
Mục đích của việc hiệp hội những vị này (một người là giáo sư đại chủng viện, người khác là giáo sư Trường Cao đẳng Kinh Thánh, giáo sư viện đại học Cơ-đốc, Nhà giáo dục người lớn, giám đốc trường hàm thụ và ủy viên quản trị tổ chức), là để khuyến khích các bạn suy ngẫm và đáp ứng trên một phạm vi càng rộng lớn càng tốt. Chúng tôi muốn trình bày cho bạn biết những tư tưởng tốt đẹp nhất về cách tăng trưởng tâm linh và về cách sống cho Chúa căn cứ trên Kinh Thánh của một số các nhà lãnh đạo Tin lành thuộc nhiều thành phần khác nhau.
Tên môn học là “Tăng trưởng để Trưởng Thành Tâm Linh” được lựa chọn để nhấn mạnh rằng sự tăng trưởng tâm linh của bạn vẫn chưa hoàn toàn cho đến khi bạn gặp Chúa Cứu Thế và được biến đổi nên giống như Chúa (IGi1Ga 3:2). Khi bắt đầu học bài này, bạn nên để ý đến lời Martin Luther nói mấy trăm năm trước đây vì sự tăng trưởng tâm linh: “Có ba điều hoạt động để ngăn cản bạn tăng trưởng tâm linh, đó là: Thế gian, Sa-tan và chính bạn “
Dù chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng tăng trưởng tâm linh là một điều tự nhiên, chắc chắn và tự động theo như cách tăng trưởng của sinh vật, nhưng thực ra sự tăng trưởng tâm linh khác hẳn, vì trên lãnh vực tâm linh tăng trưởng là tranh đấu. Mới bắt đầu kinh nghiệm học hỏi để tăng trưởng tâm linh mà nghe như vậy, bạn có thể cho là không phấn khởi lắm, nhưng sự thật là: tăng trưởng tâm linh nhiều khi là khó khăn và lúc nào cũng đòi hỏi nhiều chuyên tâm, cố gắng (ITi1Tm 2:15).
Có khi bạn cảm thấy như cả thế gian tìm cách ngăn chặn bạn tăng trưởng tâm linh, vì thế gian chẳng bao giờ sẵn sàng giúp bạn lớn trên con đường theo Chúa cả. Thế gian đang chìm đắm trong tội lỗi và chống lại mọi người thật lòng tin Chúa. Khi bạn cố gắng tăng trưởng tâm linh thì Sa-tan tìm đủ cách để phá họai. Kinh nghiệm của Gióp cho thấy rằng Sa-tan đến trước ngai của Đức Chúa Trời để tố cáo, chỉ trích và lên án người tin Chúa, IPhi 1Pr 5:8 mô tả Sa-tan giống như con “sư tử rồng”, đi tìm người nào nó có thể nuốt và hủy diệt. Vì vậy, khi tiến trên con đường tăng trưởng tâm linh, chúng ta phải nhớ rằng Sa-tang đang hoạt động trong thế giới này và là một kẻ thù đáng sợ.
Nhưng cuộc chiến đấu quan trọng nhất lúc nào cũng là chiến đấu với chính mình. Ngay cả sứ đồ Phao-lô cũng kinh nghiệm cuộc chiến đấu cam go này, (RoRm 7:23-25). Phao-lô không gọi là một cuộc “chạm trán “. Vì vậy dù bạn là người mới tin Chúa một vài ngày hay đã tin Chúa hàng mấy chục năm. Sự lớn lên trong Chúa (tăng trưởng tâm linh) lúc nào cũng cần thiết, làm thỏa lòng nhưng đồng thời cũng là cuộc chiến đấu không ngừng. Tăng trưởng là mục tiêu, như Lời Chúa thúc giục trong IICo 2Cr 7:1
Như những khán giả trong vận động trường theo dõi các đấu sĩ (gladiators) đời xưa, chúng tôi cổ vũ bạn hãy đạt đến trình độ trưởng thành tâm linh để Chúa vui lòng.
Tiến sĩ Richard Patterson, Ph. D
Chủ tịch Hội Huấn luyện, Phúc Âm

Chương 1: LÀ THÀNH PHẦN CỦA GIA ĐÌNH THƯỢNG ĐẾ
Người Cơ-đốc khỏe mạnh là người Cơ-đốc tăng trưởng (lớn lên) tâm linh. Tăng trưởng là điều phải có và cần thiết cho đời sống tâm linh, cũng như cho thể xác vậy. Khi được sinh lại vào gia đình của Thượng Đế, người tin Chúa là “con đỏ trong Chúa Cứu Thế” (ICo1Cr 3:1). Dù mới 15 tuổi hay đã 50 tuổi, người mới tin Chúa bắt đầu là trẻ con tâm linh và cần phải “tăng trưởng trong sự cứu rỗi” (IPhi 1Pr 2:2 BDY). Đức Chúa Trời muốn và mong mỏi những người này lớn hơn. Để giúp đỡ họ trên quá trình tăng trưởng. Chúa có chuẩn bị những người lãnh đạo có ân tứ của Chúa, như được nói đến trong Eph Ep 4:1-11, Sứ đồ Phao-lô nhấn mạnh một trong các nhiệm vụ chính của ông là “khuyên bảo và cố gắng huấn luyện mọi người để họ đạt đến mức toàn hảo (trưởng thành) trong Chúa Cứu Thế Giê-xu “(CoCl 1:28 BDY).
Nhưng tăng trưởng tâm linh không phải là một thứ “tự động”. Có nhiều người tin Chúa chẳng bao giờ lớn lên cả Mặc dầu chính Thượng Đế muốn họ lớn lên và sẵn sàng bạn đủ điều kiện cho họ tăng trưởng. Tình trạng “còi cọc tâm linh” không phải là một tình trạng mới mẻ gì. Tân Ước đã đề cập đến hai trường hợp: Thứ nhất là trường hợp của một số tin hữu ở Cô-rinh-tô, là những con đỏ tâm linh không chịu lớn lên để có thể ăn những thức ăn cứng nên sứ đồ Phao-lô phải tiếp tục nuôi họ bằng sữa (ICo1Cr 3:1-2). Trường hợp thứ hai được nói đến trong thơ HeDt 5:12, khi có những tín hữu vẫn phải học những chân lý căn bản của Phúc Âm trong khi họ đã có đủ thời gian để trở thành giáo sư có thể giúp đỡ người khác.
Tại sao Cơ-đốc không tăng trưởng ? Có nhiều lý do khác nhau khiến người tin Chúa bị hướng dẫn sai lầm. Có một tổ chức chỉ nhấn mạnh đến công tác truyền giáo và làm cho người khác nghĩ rằng chỉ cần tin Chúa để được cứu rỗi là đủ, còn trưởng thành chỉ là một kết quả tự động phải đến. Thái độ coi sự tái sanh là mục đích tối hậu, là cứu cánh duy nhất đã bóp nghẹt động lực thúc đẩy Cơ-đốc nhân tăng trưởng để trưởng thành.
Một lý do khác ngăn chăn người tin Chúa lớn mạnh là ước muốn đạt được “trưởng thành tâm linh cấp kỳ”, do đó họ đi tìm những công thức đơn giản có thể đem lại “sự tin kinh tức khắc”(instant godliness). Họ khao khát ước ao một thứ kinh nghiệm tâm linh có thể đem đến cho họ một cuộc sống Cơ-đốc đắc thắng mà khỏi phải dụng công cố gắng. Họ bị thất bại vì không biết rằng tăng trưởng tâm linh là một kinh nghiệm kéo dài suốt đời. Ngay cả sứ đồ Phao-lô cũng tự nhận trong Phi Pl 3:12 (BDY)” Không phải tôi đã đạt đến mức toàn thiện hay đã đạt mục đích”. Khi nói lời này, Phao-lô cũng kể mình là một trong sóo người đã đạt đến trình độ trưởng thành (3:15) nhưng “trưởng thành” không có nghĩa là trọn vẹn tuyệt đối, vì cuộc sống Cơ-đốc là một kinh nghiệm tăng trưởng tâm linh sống động cho đến lúc về với Chúa.
Trưởng thành trong Chúa Cứu Thế gồm có nhiều khía cạnh. Cũng như người muốn cho cơ thể mình lớn mạnh, Cơ-đốc nhân phải có chất dinh dưỡng thích hợp, phải tập tành đầy đủ, phải giữ vệ sinh và phải có cái nhìn tích cực. Người khỏe mạnh tâm linh là người nuôi mình bằng Lời Thượng Đế (GiGa 6:26, 27, 63) là người phát triển nghị lực tâm linh nhờ trải qua nhiều kinh nghiệm gian khổ với kiên nhẫn và cầu nguyện (Gia Gc 1:2-5), là người biết sợ tội và biết thanh toán tội ngay (IGi1Ga 1:9), và là người đắc thắng các cám dỗ bằng cách nhờ cậy vào công lao của Chúa Cứu Thế đã thực hiện (ICo1Cr 10:13).
Vì tăng trưởng tâm linh là cần thiết cho cuộc sống lành mạnh của người theo Chúa và vì sự tăng trưởng này không đến cách tự động, Cơ-đốc nhân phải áp dụng một “chương trình tập luyện sức khỏe tâm linh phải quân bình”. Bệnh “ấu trĩ tâm linh” rất giống chứng bệnh đau tim ở đặc tính hay đánh lừa, tức là nó làm cho người bệnh tưởng mình không mắc bệnh. Chính các tín hữu ở Cô-rinh-tô đã mắc bệnh này nhưng lại cho họ đã trưởng thành rồi (3:18-21; 4:8-10). Nếu họ đã hiểu rõ thế nào là thành phần của gia đình Thượng Đế, chắc họ đã tránh khỏi chứng bệnh ấu trĩ tâm linh. Khi Cơ-đốc nhân càng hiểu được ý nghĩa của sự tái sinh và quyền Chúa tể của Đức Chúa Giê-xu, họ càng biết ơn các nguồn tài nguyên tâm linh mà Thương Đế sẵn dành cho con cái của Ngài.
NẮM VỮNG CHÂN LÝ TÁI SINH
Tái sinh là điểm bắt đầu để khiến bạn trở nên thành phần của gia đình Thượng Đế. Khi nói với một lãnh tụ Do Thái giáo tên là Ni-cô-đem:” Nếu không tái sinh, không ai thấy được Nước Chúa” (GiGa 3:3 BDY). Đức Chúa Giê-xu quả quyết rằng tất cả mọi người phải kinh nghiệm một điểm bắt đầu mới, là tái sinh. Cũng như một người bắt đầu cuộc sống thể xác vào lúc được sinh ra đời, người được tiếp nhận vào gia đình Thượng Đế cũng phải có điểm bắt đầu tâm linh là tái sinh. Thượng Đế ban một sự sống mới, là sự sống vĩnh cửu cho người nào tin nhận Đức Chúa Giê-xu, (3:16), tâm linh của người này được Đức Thánh linh sinh lại (3:5-6) và người này là một công cuộc sáng tạo mới của Thượng Đế (IICo 2Cr 5:17). Từ đó người này hưởng được một sự sống có phẩm chất mới trong “trật tự mới” của chính Đức Chúa Giê-xu ban cho. Sự sống mới này chẳng những bảo đảm cho người vô thiên đàng mà còn cho người ấy nhận lấy sự sống dư dật ngay trong đời này như Chúa đã hứa trong GiGa 10:10. Sự tái sinh mang đến những thay đổi làm cho chúng ta tăng trưởng.
Các mối liên hệ gia đình mới
Tái sinh, tức là sinh ra mới, đem lại các mối liên hệ gia đình mới, vì người tin Chúa “là người nhà của Thượng Đế”(Eph Ep 2:19). Khi viết khúc Kinh thánh này, sứ đồ Phao-lô nhắc cho các độc giả thuộc dân ngoại (ngoài Do Thái) nhớ rằng các mối liên hệ gia đình mới là đặc quyền. Chúa ban cho. Khi trước các dân ngoại, không thuộc thành phần tuyển dân của Đức Chúa Trời, dân Do Thái, không nhận được sứ điệp cứu rỗi cách trực tiếp và nhất là “không hy vọng, không Thượng Đế”(2:11, 12). Nhưng Thượng Đế đã dùng sự chết của Chúa Cứu Thế, Giê-xu mà phá đổ bức tường ngăn cách giữa người này với người khác và giữa người với chính Thượng Đế. Khi đã biết rõ địa vị mới của mình trong gia đình Thượng Đế, chúng ta mới ý thức người được Chúa cứu chuộc là người có giá trị và quan trọng dưới con mắt của Chúa.
Khi được sinh lại, người tin Chúa có Cha mới, là Thượng Đế. Trên một khía cạnh, Thượng Đế là Cha của toàn thể nhân loại vì Ngài sáng tạo tất cả, nhưng tội lỗi đã cắt đứt mối liên hệ Cha-con nguyên thủy đó (GiGa 8:44), và người được tái sinh là người được tái lập mối liên hệ Cha-con với Thượng Đế, như Lời Chúa chép trong 1:12 (BDY) “người tiếp nhận Chúa đều được quyền làm con cái Thượng Đế”. Khi vừa được sinh lại, người tin Chúa được kinh nghiệm mô tả trong GaGl 4:6 (BDY). “Vì chúng ta là con Thượng Đế nên Ngài đã sai Thánh Linh của Chúa Cứu Thế ngự vào lòng chúng ta, giúp chúng ta gọi Thượng Đế bằng Cha”, gọi một cách tự nhiên và thân ái như chính Chúa Giê-xu đã gọi Cha trong giờ phút chịu thử thách trong vườn Ghết-sê-ma-nê (Mac Mc 14:36)
Có Thượng Đế là Cha của mình, Cơ-đốc nhân được an toàn trong tình yêu thiên thượng và được Thánh Linh đổ tràn trong lòng tình yêu của Thượng Đế (RoRm 5:5) là tình yêu vượt quá mọi hiểu biết của con người và không có một thứ gì có thể phân cách Cơ-đốc nhân với tình yêu nhiệm màu đó (Eph Ep 3:18, 19 và RoRm 8:35-39). Cũng vì mối tình Phụ tử đó, Cha trên trời áp dụng các biện pháp kỷ luật để sửa dạy con và giúp con tăng trưởng (HeDt 12:6). Nhưng vì Thượng Đế cũng là Người Cha khoan dung tha thứ, nên con cái lỗi lầm mà biết ăn năn đều có thể đến gần Chúa một cách tin tưởng vững lòng (IGi1Ga 1:9-22). Một khi đã biết rõ tất cả các gian lao trên đời đều được sự khôn ngoan vô hạn và tình yêu Phụ tử của Thượng Đế gạn lọc, người Cơ-đốc có thể đối diện các con thử thách với niềm tin vững chắc vì bất cứ điều gì Thượng Đế cho phép xảy ra đều nhắm vào vinh hiển của Ngài và vào sự tăng trưởng tâm linh của chúng ta (Gia Gc 1:2-4)
Ngoài ra, Cơ-đốc nhân cũng được sự hỗ trợ trong gia đình từ các anh chị em trong Chúa Giê-xu. Gia đình tâm linh gồm có tất cả mọi người cũng đặt niềm tin vào Chúa (GaGl 6:10). Anh chị em cùng một niềm tin phải nâng đỡ chăm sóc lẫn nhau để giúp nhau tăng trưởng (ICo1Cr 12:25; Eph Ep 4:11-16).Vì Thượng Đế không định cho Cơ-đốc nhân sống cô độc, các tín hữu đều cần đến nhau. Ngay từ khi Hội Thánh đầu tiên được thiết lập, các Cơ-đốc nhân đã nhóm họp với nhau để học hỏi, thông công, dự Tiệc Thánh và cầu nguyện (Cong Cv 2:42). Ngoài việc học Kinh Thánh riêng tư, tín hữu cũng cần được những người có ân tứ dạy dỗ hướng dẫn việc học Lời Chúa để tăng trưởng và có sự hiểu biết Lời Chúa sâu nhiệm hơn (Eph Ep 4:14). Việc các tín hữu trong một đoàn thể làm quen với nhau qua mối thông công trong Chúa sẽ đem lại cho họ nhiều cơ hội để giúp đỡ yêu thương nhau (ICo1Cr 12:26). Qua thờ phượng tập thể tín hữu sẽ khích động đức tin của nhau. Nhưng điều quan trọng hơn hết là sự liên hệ có tính cách gia đình giữa các con cái của Thượng Đế phải thể hiện tình yêu huynh đệ và tình hiếu khách (RoRm 12:10-13; HeDt 13:1-2). Tiêu chuẩn của tình yêu bất vụ lợi mà các tín hữu bày tỏ cho nhau chính là tình yêu hy sinh tuyệt đối của Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Người ta chỉ có thể biết chúng ta là môn đệ thật của Chúa khi chúng ta yêu nhau (GiGa 13:34, 35)
Sinh hoạt trong gia đình Thượng Đế nuôi dưỡng sự tăng trưởng tâm linh. Tín hữu sẽ có sự “hãnh diện lành mạnh” khi biết các anh chị em đều cần đến mình. Lời Chúa trong ICo1Cr 12:14-20 dạy rằng mỗi bộ phận trong cơ thể (mỗi Cơ-đốc nhân) đều cần thiết và đều có sự đóng góp quan trọng vào phúc lợi chung của đoàn thể. Mỗi cá nhân tín hữu đều cần các ân tứ tâm linh của các tín hữu khác cho sự tăng trưởng tâm linh của mình, vì vậy tất cả các tín hữu đều liên lập với nhau (12:21-25). Cơ-đốc nhân được tăng trưởng là nhờ cả chia xẻ lẫn tiếp nhận.
Quyền Công Dân Thiên Đàng
Sự tái sinh đem lại sự thay đổi quyền công dân, làm cho những ngoại tịch kiều dân trở thành công dân Nước Chúa, là người cùng quốc tịch với các thánh đồ (Eph Ep 2:19). Ngay trong đời này, Cơ-đốc Nhân được hưởng các quyền lợi và đặc quyền của công dân Nước Trời. Nhưng khi còn sống trên trần gian, dân Chúa không khỏi gặp những khó khăn chẳng khác gì người kiều dân sống ở đất khách quê người. Trước đây họ thuộc về thế gian và sống “ăn khớp” với thế gian nhưng bây giờ họ cảm thấy mình lạc lõng (GiGa 15:19), vì họ phải đương đầu với thực trạng “còn ở thế gian” nhưng “Không thuộc về thế gian” (17:11-14). Nơi họ cư ngụ trở thành địa điểm truyền giáo khi họ tìm cách đưa hàng xóm láng giềng đến với Chúa Giê-xu (17:18).
Khi sứ đồ Phao-lô nhắc nhở cho các tín hữu ở thánh Phi-líp phải sống như các công dân Nước Trời, những người này hiểu ngay ý nghĩa của lời Phao-lô, vì Phi-líp là một thành phố thuộc địa của La mã và ai ra đời ở đó đều được hưởng quyền công dân La mã. Guồng máy hành chánh của Phi-líp hoạt động như một “tiểu La mã”. Mặc dầu người Phi-líp sống cách xa thủ đô La mãy mấy trăm dặm và t hời đó phải đi đường cả tháng mới tới thủ đô, họ sống như những người dân La mã và trọn quyền công dân La mã. Do đó các tín hữu Phi-líp hiểu được ý nghĩa của lời Phao-lô nhắc họ sống như những công dân đang kiều ngụ tại một nơi xa xăm. Là công dân Nước Trời, Cơ-đốc nhân phải có tinh thần trách nhiệm và tôn trọng luật pháp của nơi họ đang cư ngụ trên đất, nhưng đồng thời phải giữ lòng trung kiên với Thượng Đế (RoRm 13:1-7). Người được sinh lại có hy vọng về Nước Trời (IIPhi 2Pr 1:3,4). Sự sốt sắng trông chờ ngày về Nhà Cha sẽ giúp tín hữu biết sắp đặt thứ tự ưu tiên cho cuộc sống trên trần gian (Phi Pl 3:17-21).
Quan điểm về quyền công dân Nước Trời giúp ích rất nhiều cho sự tăng trưởng tâm linh của người Cơ-đốc. Cuộc sống tha hương, xa nước Trời không phải lúc nào cũng dễ dàng cả. Làm cách nào dân Chúa không chán nản khi đương đầu với các áp lực của đời? IICo 2Cr 4:14-16 dạy rằng Mặc dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ ngày càng đổi mới. Nhìn mọi vật quan điểm công dân nước Trời, người Cơ-đốc ý thức được các khổ nạn ở đời chỉ là tạm bợ, còn hạnh phúc họ sẽ hưởng trong thế giới vô hình là vĩnh cửu, bất tận. Một sự sống hướng về Nước trời giúp cho người Cơ-đốc có đời sốn trưởng thành tâm linh.
Cơ nghiệp mới
Người được sinh lại vào gia đình Thượng Đế được tận hưởng một gia tài (cơ nghiệp) vô cùng phong phú. Việc thừa kế gia tài này được chính Thượng Đế bảo đảm và Ngài là Đấng bảo vệ cả cơ nghiệp lẫn ngườii thừa kế. Khi Chúa Cứu Thế trở lại lần thứ hai, Cơ-đốc nhân sẽ nhận lấy những tài sản tâm linh hiện đang được tồn trữ trong kho trên trời (IIPhi 2Pr 1:3-5). Nhưng chẳng những cơ nghiệp tâm linh vô cùng phong phú và chắc chắn, cơ nghiệp đó còn có thể được nếm trước ngay trong đời này, vì từ lúc được sinh lại, Cơ-đốc nhân đã bắt đầu hưởng một phần cơ nghiệp khi nhận lãnh Đức Thánh Linh là “bằng chứng Thượng Đế, sẽ hoàn thành sự cứu chuộc, cho chúng ta thừa hưởng cơ nghiệp” (Eph Ep 1:14 BDY). “Bằng chứng” có nghĩa là “Món tiền đặt cọc”, và vì người có Thánh Linh được Thượng Đế bảo đảm sẽ nhận cả cơ nghiệp khi Chúa Giê-xu trở lại (IICo 2Cr 5:5).
Cơ-đốc nhân được nếm trước phước hạnh của Nước Trời khi được Thánh Linh ban cho những kết quả “yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lương, thành tín, hòa nhã, tự chủ” (GaGl 5:22, 23 BDY) trong cuộc sống của mình. Các đức tính này đến với người tin Chúa khi họ “đầy dẫy Thánh Linh”, tức là khi họ để cho Thánh Linh hướng dẫn mọi sinh hoạt và không để cho các dục vọng của xác thịt điều khiển mình. Một đời sống đầy dẫy Đức Thánh Linh được bày tỏ qua sự tôn vinh ca ngợi Chúa, sự vui mừng nội tâm, sự tạ ơn Chúa liên tục và qua các mối liên hệ hòa hợp với các anh chị em trong Chúa bằng sự thuần phục lẫn nhau (Eph Ep 5:18-21). Người tăng trưởng tâm linh là người biết áp dụng nguồn năng lực của Thánh Linh vào cuộc sống hàng ngày của mình, 5:18-21 chẳng những dạy cho chúng ta biết kết quả của sự đầy dẫy Thánh Linh nữa. Khúc Kinh Thánh này được chia thành bốn câu (18,19,20 và 21), nhưng khi chép thơ Ê-phê-sô sứ đồ Phao-lô viết thành một câu dài, và điểm của Phao-lô muốn nhấn mạnh có thể được trình bày như sau:
Đừng say rượu vì say sưa là phóng đãng, nhưng phải đầy dẫy Thánh Linh bằng cách nhắc nhở chính mình lời Thi Thiên, thánh ca; bằng cách nức lòng trổi nhạc ca ngợi Chúa bằng cách luôn luôn nhân danh Chúa Giê-xu tạ ơn Thượng Đế bằng cách thuận phục nhau do lòng kính sợ Thượng Đế.
Vì những mệnh lệnh này được sứ đồ Phao-lô nhắc lại trong nhiều chổ khác (ITe1Tx 5:18, Phi Pl 4:4-6, CoCl 3:16, 17), nên chúng ta có thể cho rằng đây là lời sứ đồ dạy chúng ta cách thuận phục sự hướng dẫn kiểm sóat của Đức Thánh Linh và một khi chúng ta thực hành các điều này với lòng vâng phục, Đức Thánh Linh sẽ tạo trong chúng ta một thái độ đúng đắn.
QUYỀN CHÚA TỂ CỦA CHÚA CỨU THẾ
Lời tuyên xưng niềm tin “Chúa Giê-xu là Chúa Tể” có thể là tín điều đầu tiên của Hội Thánh lúc ban sơ, và trong thời Tân Ước, được các người mới tin Chúa tuyên xưng khi họ chịu lễ báp-tem (Cong Cv 8:16; 19:5). Từ ngữ “Chúa” “Chúa tể” là danh hiệu Đấng Cứu Thế (Messiah) được dùng để gọi Chúa Giê-xu sau khi Ngài thăng thiên, là điểm then chốt của bài giảng mà Phi-e-rơ đã gỉang vào ngày lễ Ngũ Tuần (2:36), là danh hiệu được dùng để tán dương đức khiêm tốn của Chúa Giê-xu trong Phi Pl 2:11 (Khúc Kinh Thánh Phi Pl 2:5-11 có thể là một bản thánh ca của Hội t hánh đầu tiên được sứ đồ Phao-lô trích dẫn) và là lời công khai tuyên xưng đức tin của người mới tin Chúa (RoRm 10:9-10). ICo1Cr 12:3 nhấn mạnh việc dùng danh hiệu “Chúa” của Chúa Giê-xu để thử phơi bày chân tướng các tà thần.
Danh hiệu Chúa là một từ ngữ được dùng nhiều nhất trong cả bộ Tân Ước (717 lần) và có rất nhiều ý nghĩa. Trong thời cổ La mã, từ ngữ “Chúa” được dùng khi chào hỏi nhau (như bây giờ chúng ta nói “thưa ông”). Được dùng để bày tỏ lòng tôn kính với giáo sư, được người nô lệ dùng để bày tỏ lòng tùng phục với chủ, được dùng để thờ phượng Thượng Đế. Tất cả các ý nghĩa này đều áp dụng cho Chúa Giê-xu, nhưng đặc biệt là bốn ý nghĩa sau chót cho chúng ta thấy sự tăng trưởng tâm linh trong gia đình Thượng Đế. Để trở thành một Cơ-đốc nhân, miệng của bạn phải xưng nhận Giê-xu là Chúa và lòng bạn phải tin Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại (RoRm 10:9 BDY).Vì Lời Chúa trong các thư tín của Phao-lô dạy rằng chúng ta được cứu chỉ nhờ đức tin (Eph Ep 2:8, 9 v.v...) việc xưng nhận Giê-xu là Chúa không phải là một điều gì phụ thêm, nhưng chính là một phần của đức tin đem lại sự cứu rỗi. Tin nhận Giê-xu tức là tin nhận Ngài là Chúa. Đức tin là thái độ tin cậy, và hiến dân khi ý thức được Giê-xu là Chúa Tể. Tin nhận Giê-xu là Chúa Tể bao gồm một số thái độ làm cho ta tăng trưởng tâm linh.
Vâng phục Chúa Giê-xu như là Giáo sư
Tin nhận Giê-xu là Chúa bao hàm việc chấp nhận Ngài là Giáo sư có thẩm quyền. Người có đời sống tâm linh kiên định vững vàng là người sống theo các lời dạy của Chúa Giê-xu, còn ai bỏ qua các điều Chúa dạy dỗ chắc chắn phải lãnh hậu quả tai hại (Mat Mt 7:21-28). Sau khi thấy Chúa hóa bánh ra nhiều để cho 5 ngàn người ăn no nê, một số môn đồ của Chúa đinh ninh Chúa sẽ tiếp tục cho họ no cơm ấm áo, nhưng đến khi nghe Chúa dạy về “bánh hằng sống” họ thất vọng và bỏ Chúa. Lúc đó Chúa quay lại hỏi các sứ đồ: “Các con muốn bỏ ta không ?” thì Si môn Phi-e-rơ thưa: “Thưa Chúa, chúng con sẽ đi theo ai ? Chúa đem lại cho chúng con đạo sống vĩnh viễn” (GiGa 6:67, 68 BDY). Công nhận Giê-xu là Chúa tức là chấp nhận Lời Chúa là đáng tin cậy và tối cần thiết cho sự cứu rỗi của mình.
Một khi dã tin tưởng rằng các điều Chúa dạy là thật chúng ta sẽ vâng phục Chúa. Còn nếu gọi Giê-xu là “Chúa” mà khước từ Lời Chúa dạy dỗ là một thái độ đầy mâu thuẫn, tiền hậu bất nhất. Chính Chúa Giê-xu đã hỏi rằng “Sao các con gọi ta là Chúa mà không vâng lời Ta?” (LuLc 6:46 BDY). Người công nhận Giê-xu là Chúa là người học trò chấp nhận lời dạy của Chúa và sống theo lời đó, chớ k hông phải như người học trò coi tư tưởng của Giáo sư mình là thích thú hấp dẫn. Chỉ những người chấp nhận giáo sư Giê-xu là Chúa bằng cách sống theo lời Ngài dạy dỗ mới được chân lý giải phóng và được sống tự do thật (GiGa 8:31, 32)
Phục vụ Giê-xu như là Chủ
Một ý nghĩa thông dụng của từ ngữ “Chúa “trong Kinh Thánh là:chủ của người nô lệ, Luật pháp La mã cho người chủ toàn quyền trên nô lệ của mình. Nô lệ là vật sở hữu của chủ và chủ muốn làm gì thì làm. Mặc dù đa số chủ tương đối tốt, nhưng nô lệ vẫn là tài sản của chủ và không có một quyền lợi nào cả. Theo đó, khi người tin Chúa tự gọi mình là “tôi tớ của Chúa Cứu Thế Giê-xu” họ bày tỏ lòng thuận phục hoàn toàn với Chúa là sở hũu của họ (RoRm 1:1; Phi Pl 1:1; IITi 2Tm 2:24). Là chủ, Chúa Cứu Thế có toàn quyền trên mọi lãnh vực của cuộc sống họ, vì vậy sứ đồ Phao-lô nhắc nhở các tín hữu là họ phải vâng phục Chúa trọn vẹn, họ không còn làm chủ chính mình nữa, nhưng “đã dược chuộc với giá rất cao” (ICo1Cr 6:20; 7:23). Tiếng “Chúa” không chỉ là một từ ngữ dùng trong sự thờ phượng để tỏ lòng sùng kính, nhưng là một thái độ hiến mình cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày, vì Cơ-đốc nhân phải phục vụ Chúa như nô lệ phục vụ chủ mình (RoRm 12:11).
Việc trao Chúa Cứu Thế nắm trọn quyền kiểm sóat cuộc sống mình không phải là một điều Cơ đốc nhân muốn cũng được không cũng được và cũng không phải là điều làm cho người đó thành một người “thiêng liêng siêu phàm tâm linh” hay là một cái gì ngoại lệ. Cuộc sống bình thường của tín hữu là cuộc sống có quan hệ với Đức Giê-xu như là Chúa Tể của đời sống mình và thái độ dưới mức bình thường này chính là tội lỗi. Chúa Giê-xu là Chúa vì Ngài đã chuộc chúng ta bằng sự chết của Ngài. Đây là một sự kiện khách quan. Việc tôn nhận Ngai làm Chúa tể chính là mối liên hệ suốt đời giữa ta với Chúa. Trải suốt đời ta hằng ngày Chúa đòi hỏi những sự vâng phục mới, qua đó chúng ta tái xác nhận sự thuận phục quyền bính của Ngài trên đời sống chúng ta.
Nhưng khi thuộc về Chúa, chúng ta không phải chỉ có một việc là thi hành bổn phận: Có Chúa làm chủ là một phước hạnh lớn lao khiến chúng ta có thể tăng trưởng tâm linh. Người được được cứu rỗi là người đươc đổi chủ. Khi trước, Sa-tan và tội lỗi kiểm sóat đời sống chúng ta như chủ độc ác, nhưng khi đặt niềm tin vào Chúa Cứu Thế, chúng ta được phóng thích khỏi ách nô lệ tội lỗi (6:17, 18). Một khi đã thóat ách nô lệ Sa-tan, chúng ta được tự do để phục vụ Chúa. Mặc dầu Sa-tan còn tiếp tục cám dỗ chúng ta nhưng ách kiểm soát của Sa-tan đã bị bẽ gãy. Chúa Cứu Thế mua chuộc chúng ta tại “chợ nô lệ “và phóng thích chúng ta để phục vụ Thượng Đế (GaGl 5:1; RoRm 6:22). Một khi đã ý thức được rằng ách nô lệ tội lỗi đã bị Chúa bẻ gãy, người tin Chúa có tiến triển tăng trưởng tâm linh.
Tôn Vinh Chúa Giê-xu là Vua
Từ ngữ “Chúa” cũng là một từ ngữ của hoàng gia và là một danh hiệu vinh dự dành cho nhà vua đang cai trị. Khi xưng vua là “Chúa”, tức là bây giờ tỏ lòng tôn kính quyền tể trị của vua. Những người sống đồng thời với Chúa Giê-xu đã biết rằng Ngài là Đấng Chịu xức dầu đã được Thượng Đế hứa trong Cựu Ước nên tung hô Ngài là “Lạy Chúa, con vua Đa-vít” (Mat Mt 15:22; 20:30, 31). Hội Thánh đầu tiên dùng danh hiệu “Chúa” để bày tỏ quyền tể trị của Ngài là Đấng đã thăng thiên và đang ngự bên phải Thượng Đế. Cuối cùng mọi đầu gối sẽ quỳ xuống và mọi người sẽ tuyên xưng Chúa Giê-xu là Chúa tể (Phi Pl 2:10, 11). Hiện nay Ngài đang ngồi trên ngai và tể trị ở thiên đàng ròi đến cuối cùng Ngài sẽ được nhìn nhận là Vua của cả thế gian này (ICo1Cr 15:24-28).
Cơ-đốc nhân tăng trưởng tâm linh là người sống đúng như công dân trung thành với Chúa là Vua đang cai trị, và chỉ một mình Ngài là Chúa tể của đời sống họ. Song song với trách nhiệm của công dân, Cơ-đốc nhân được phấn khởi khi biết được quyền năng của Vua mình. Khi ban bố mệnh lệnh trọng yếu là Cơ-đốc nhân phải là chứng nhân cho t oàn thể thế giới. Chúa cũng tuyên bố lời hứa này: “Tất cả uy quyền trên trời dưới đất đều thuộc về ta “(Mat Mt 28:18-20). Nhiệm vu Chúa giao cho chúng ta rất vĩ đại, tài nguyên của Vua vũ trụ, cũng có thừa dư dật để cho ta thực hiện nhiệm vụ đó.
Thờ phượng Giê-xu là Thượng Đế
Điều quan trọng hơn cả là: Mỗi khi gọi Giê-xu là “Chúa” Cơ-đốc nhân đã xưng nhận Ngài là Thượng Đế. Trong thời Tân Ước, người Do Thái có lòng kính sợ sự thánh khiết của Thượng Đế đến nỗi họ tránh việc gọi đến danh hiệu “Giê-hô-va “của Ngài, và để thay thế danh hiệu này, họ dùng danh hiệu tiếng Do Thái có nghĩa là “ Khi Cựu Ước được dịch từ tiếng Do Thái ra tiếng Hy Lạp, các dịch giả dã dùng tiếng “Chúa “để thay thế danh hiệu “Giê-hô-va” 6,156 lần. “Chúa” là danh hiệu đặc biệt dành cho Thượng Đế và là danh hiệu cao cả nhất. Như vậy, khi xưng nhận “Giê-xu là Chúa”, Cơ-đốc nhân xưng nhận Giê-xu là Thượng Đế, và Thượng Đế thế nào thì Giê-xu cũng như vậy (GiGa 20:28). Mặc dầu được thân mật với Chúa Giê-xu cũng như một người Bạn, chúng ta cũng đừng quên rằng khi đứng trước sự hiện diện của Chúa chúng ta phải có thái độ kính sợ, Chúa là Đấng của Chúa chúng ta phải thờ phượng, nên chúng ta ca tụng và tôn cao Ngài. Thi hành bổn phận sẽ làm cho tăng trưởng. Sự thờ phượng rèn luyện nhân cách và khi nhân cách đã kiên định, c húng ta có thể phục vụ Chúa cách hữu hiệu (ITi1Tm 3:14-16; 4:8, 15, 16).
Ý thức được chức vị “Chúa tể “của Chúa Cứu Thế là một điều vô cùng quan trọng, vì khi chúng ta càng tôn vinh Giê-xu là Thượng Đế là Vua đang cai trị, là chủ và là Giáo sư, chúng ta càng trưởng thành trong Chúa.
TÓM LƯỢC
Một mục đích quan trọng cho tất cả Cơ-đốc nhân là trưởng thành tâm linh. Nhưng đạt đến địa vị trưởng thành đó, người Cơ-đốc phải trải qua một qúa trình lâu dài và tăng tiến để lớn lên trong sự hiểu biết nếp sống Cơ-đốc và sự hiểu biết chính Chúa Cứu Thế. Bước đầu tiên trong quá trình tăng trưởng tâm linh là sự tái sinh, vì phải có điểm bắt đầu này mới có đời sống mới trong Chúa Cứu Thế. Cơ-đốc nhân cũng phải ý thức được rằng bây giờ họ thuộc về một gia đình mới và có mối liên hệ với gia đình đó, họ cũng có một quyền công dân mới là quyền phải được tôn trọng và có một cơ nghiệp mới để vui hưởng.
Một khía cạnh quan trọng nữa trong qúa trình tăng trưởng tâm linh là sự nhận Chúa Cứu Thế làm “Chúa tể “trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Vì “Chúa tể “có nghĩa là Giáo sư, Chủ, Vua và Thượng Đế, nên khi gọi Ngài là Chúa tể, chúng ta phải coi việc đặt Chúa vào địa vị tôn trọng trong cuộc sống mới của mình là việc quan trọng số một. Chúa Cứu Thế phải là vị giáo sư dạy cho chúng ta các bài học về tăng trưởng tâm linh. Chúa Cứu Thế phải được coi là Chủ, và chúng ta phải tuyệt đối vâng phục Chủ của mình. Chúa Cứu Thế là Vua và chức vị Vua của Ngài đòi hỏi nơi chúng ta một lòng sùng kính và trung thành trọn vẹn. Cuối cùng, chúng ta phải nhận Chúa Cứu Thế là một với Thượng Đế, và phải thờ phượng Ngài đúng như Thượng Đế. Việc công nhận quyền Chúa tể của Chúa Cứu Thế giúp chúng ta hiểu biết sâu nhiệm hơn khái niệm tăng trưởng tâm linh.
BÀI LÀM
1. Sự tăng trưởng của Cơ-đốc Nhân là gì, và tại sao sự tăng trưởng nay rất quan trọng ?
2. Xin cho biết hai lý do chính ngăn chặn sự tăng trưởng tâm linh
3. Xin kể ra bốn phương diện quan trọng mà mỗi “chương trình đào luyện sức khỏe tâm linh “tốt cần phải có.
4. Người được tái sinh là thành phần của gia đình Thưuợng Đế và được hưởng n hiều “lợi ích gia đình”. Xin kể ra ba thứ lợi ích này và cho biết mỗi thứ lợi ích đó đóng góp gì vào sự tăng trưởng tâm linh.
5. Chúa Giê-xu là “Chúa Tể” về bốn phương diện nào ? Hãy xác định trách nhiệm và nguồn tai nguyên mà mỗi phương diện đem lại cho đời sống Cơ-đốc.
ÁP DỤNG
1. Dựa trên tự điển Thánh Kinh cho biết ý nghĩa các từ ngữ sau đây, theo cách dùng trong Kinh Thánh: “tái sinh” (new birth), “con cái” hay “con cái Thượng Đế” (God‘s son or children), “làm con nuôi”(adoption), “cơ nghiệp”(inheritance) và “công dân”(citizen).
2. Tìm từ ngữ “Chúa”(Lord) trong Thánh Kinh Phù Dẫn (Bible concordance), rồi lấy 4 tờ giấy viết trên tờ thứ nhất tiêu đề “chỉ áp dụng cho Thượng Đế” tờ thứ nhì: “chỉ áp dụng cho Chúa Giê-xu”, Tờ thứ ba: “Có thể áp dụng cho Thượng Đế hay Chúa Giê-xu” và tờ thứ tư “áp dụng cho nhân vật nào đó”. Sau đó, bạn liệt kê các câu Kinh Thánh thích hợp lên bốn tờ giấy này (ví dụ: câu Kinh Thánh có từ ngữ “Chúa” áp dụng cho Thượng Đế thì viết trên tờ giấy thứ nhất v.v...). Bạn cũng viết một bên câu Kinh Thánh (có từ ngữ “Chúa”) vài giòng để tóm tắt ý nghĩa chính của câu đó. Sau khi đã viết xong, bạn nghiên cứu từng tờ giấy một để thấy rõ cách Kinh Thánh dùng danh hiệu “Chúa” để chỉ về Thượng Đế, về Chúa Giê-xu, về Thượng Đế hay Chúa Giê-xu, và về nhân vật nào đó.
3. Khi Chúa Giê-xu là Chúa Tể của đời ban, bạn học được những điều gì sâu sắc cho cuộc sống của bạn?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Grounds, Venon . Radical Commitment : Getting Serious About Christian Growth . Portland, OR: Multnomah Press, 1984
MacDonald, Gordon Ordering Your Private World . Nashville: Thomas Nelson Publishers, 1985
Tennery, Merrill. C. Roads a Christian Must Travel Wheaton, IL: Tyndale House Publishers, Inc. 1979.

Chương 2: NGUỒN SỐNG CƠ-ĐỐC
Sự tái sinh là điểm bắt đầu để chúng ta trở nên thành phần (“người nhà”) trong gia đình Thượng Đế, rồi sau đó chúng ta trải qua quá trình tăng trưởng tâm linh, kéo dài suốt đời, sự tăng trưởng này đòi hỏi thức ăn tâm linh, tức là chất dinh dưỡng thích hợp. Việc đọc và nghiên cứu suy gẫm Lời Chúa chính là chất dinh dưỡng đó (IIPhi 2Pr 2:2). Ngoài ra, đặc quyền làm “người nhà” trong gia đình Thượng Đế đòi hỏi chúng ta phải có một nếp sống của con người có tinh thần trách nhiệm. Kinh Thánh là Lời Thượng Đế, chẳng những dạy con cái Thượng Đế phải sống như thế nào mà còn dạy chúng ta nguồn sức sống đó, tức là các tài nguyên cần thiết để chúng ta có thể có một đời sống tâm linh kiên định (ngược với đời sống khi trồi khi sụt)
KINH THÁNH LÀ LỜI CỦA THƯỢNG ĐẾ
Rất nhiều lần, chính Kinh Thánh xác nhận Kinh Thánh là Lời của Thượng Đế. Hơn 760 lần, các vị chép Cựu Ước xác nhận sứ điệp họ ghi chép lại là “lời của Thượng Đế, và hàng trăm câu, nhất là trong các sách Tiên tri, đã bắt đàu bằng mấy chữ:” Đức Giê-hô-va phán “(Như trong Gie Gr 31:1-40). Khi thi hành chức vụ trên thế gian Chúa Giê-xu đã xác nhận cả ba phần của Cựu Cước, tức là Luật Pháp, các sách Tiên Tri và Thi Ca (LuLc 24:44) và nhấn mạnh rằng Cựu Ước đến từ Thượng Đế (Mac Mc 7:7, 8)
Tân Ước cũng tự xác nhận Tân Ước là Lời Thượng Đế Chúa Giê-xu đã công bố Tin Mừng với thẩm quyền của Thượng Đế (Mat Mt 7:28, 29) là cho người nghe phải ngạc nhiên và t hốt ra câu “Chẳng hề có người nào đã nói như người này” (GiGa 7:46). Chúa đã xác nhận những sứ điệp Chúa công bố đều từ Thượng Đế khi Ngài phán rằng: ‘ Ta không tự ý làm việc gì, nhưng chỉ nói những điều Cha ta đã dạy “(8:28). Các sứ đồ cũng xác nhận nguồn gốc của các sứ điệp họ công bố và các thư tín họ chép lại là từ Thượng Đế, như sứ đồ Phao-lô đã viết cho các tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca rằng: “chúng tôi không ngớt tạ ơn Thượng Đế, vì khi chúng tôi truyền giảng Phúc Âm, anh em tiếp nhận ngay như lời Thượng Đế, không phải lời loài người. Phúc Âm chính là Lời Thượng Đế...” (ITe1Tx 2:13). Sứ đồ Phi-e-rơ cũng công nhận các thư tín do Phao-lô chép là Kinh Thánh, ngang hàng với Cựu Ước (IIPhi 2Pr 3:16).
Cả Kinh Thánh quả quyết Kinh Thánh là lời Thượng Đế. Sự kiện này cũng đã được chính Chúa Cứu Thế Giê-xu xác nhận khi Ngài bày tỏ Thần Tánh của Ngài và cho người ta thấy Ngài là Đấng đáng cho mọi người tin cậy, vì Ngài đã sống một đời sống vô tội, đã làm bao nhiêu phép lạ, đã làm ứng nghiệm các lời tiên tri trong Cựu Ước và nhất là Ngài đã từ chết sống lại.
Thẩm quyền của Lời Thượng Đế
Vì là Lời Thượng Đế nên Kinh Thánh đòi hỏi chúng ta phải đặc biệt lưu ý và kính trọng. Một số từ ngữ được dùng để giải thích thẩm quyền của Kinh Thánh, đó là: “Mặc khải” (hay “khải thị” revelation), “linh cảm” (hay “cảm ứng” inspiration”), “Không thể thất bại” (infallibility) và “không thể sai lầm” (inerrancy).
Kinh Thánh được mặc khải có nghĩa là chính Thượng Đế đã tự bày tỏ bản tính, ý chỉ đời đời của Ngài và chương trình cứu rỗi nhân loại trong lời Kinh Thánh. Chúng ta có được các chân lý này là hoàn toàn do Thượng Đế tiết lộ (ICo1Cr 2:6-12)
Các người chép Kinh Thánh được “linh cảm” có nghĩa là họ được Đức Thánh Linh kiểm sóat và hướng dẫn một cách siêu nhân để họ viết hoàn toàn đúng theo ý muốn của Thượng Đế. Mặc dầu các người chép Kinh Thánh đều có kinh nghiệm, trí hiểu biết và lối hành văn riêng, tất cả đều được “chính Chúa Thánh Linh cảm ứng để họ nói ra Lời của Thượng Đế” (IIPhi 2Pr 1:21 BDY). Sự kiện Thượng Đế là tác giả Kinh Thánh chẳng những áp dụng cho những khúc Kinh Thánh do Thượng Đế phán trực tiếp hay đọc từng chữ cho người ta chép, nhưng sự kiện này cũng áp dụng cho tất cả mọi câu, mọi khúc Kinh Thánh, vì “cả Kinh Thánh đều được Thượng Đế cảm ứng”(IITi 2Tm 3:16 BDY). Ngay cả việc lựa chọn từng chữ từng tiếng cũng được Thánh Linh kiểm sóat để có thể diễn tả đúng ý nghĩa Ngài muốn.
Kinh Thánh “không thể thất bại” có nghĩa là Lời Thượng Đế lúc nào cũng hữu hiệu để hoàn thành ý chí của Thượng Đế (EsIs 55:11). Thượng Đế dùng sứ điệp của Ngài trong Kinh Thánh để làm thành ý định của Ngài.
Kinh Thánh “không thể sai lầm” có nghĩa là sứ điệp của Kinh Thánh hoàn toàn chính xác. Tất cả những gì Kinh thánh dạy đều trung thực cả. Khi chúng ta hiểu sứ điệp của Kinh Thánh cách chính xác thì tất cả các chi tiết trong sứ điệp đó đều đúng cả.
Trên hết, thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời chú trọng đến trách nhiệm của người nghe lời ấy, Thượng Đế thực thi (enforces) sứ điệp của Ngài (HeDt 2:1-4). Muốn tăng trưởng thuộc linh, Cơ-đốc nhân phải đáp ứng sứ điệp của Kinh Thánh với tâm trí hoàn toàn tập trung vào Lời Chúa, lòng khiêm tốn phục tùng và với tinh thần vâng lời tuyệt đối (Gia Gc 1:19-22).
Đặc tính đồng nhất của Lời Thượng Đế
Mặc dầu cả bộ Kinh Thánh có 66 sách khác nhau, và được ghi chép trong một khoảng thời gian dài đến 15 thế kỷ, tất cả đều tập trung vào đại đề chính là chương trình cứu chuộc nhân loại của Thượng Đế. Cựu Ước nói về chương trình này qua cách Thượng Đế đối xử với dân của Ngài là dân Do Thái, còn Tân Ước tiếp tục chương trình cứu chuộc với việc Chúa thiết lập Hội Thánh, là một đoàn thể gồm những người tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu, thuộc mọi chủng tộc. Thời Cựu Ước, dân Do Thái là dân tộc đại diện Thượng Đế trên mặt đất, và qua thời Tân Ước. Thượng Đế đã chọn Hội Thánh để giữ nhiệm vụ này. Sự thay đổi này không có nghĩa là hiên tại không có liên hệ gì với quá khứ, nhưng cả Cựu Ước và Tan Ước được nối liền với nhau bởi lời hứa của Thượng Đế và bởi việc Ngài hoàn thành các lời hứa đó (Mat Mt 5:17). Các tiên tri thời Cựu Ước đã báo trước về các ơn phước tâm linh của Hội Thánh, và lời tiên tri của họ được ứng nghiệm bắt đầu với chức vụ của Chúa Giê-xu (LuLc 4:16-21). Việc Hội Thánh của Chúa lan tràn qua các dân ngoại (ngoài Do Thái) cũng làm ứng nghiệm lời hứa đầu tiên của Thượng Đế với Áp-ra-ham. “Các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ người mà được phước” (SaSt 12:3 và GaGl 3:8).
Như vậy, người tin nhận Chúa Cứu Thế là “tín hữu của toàn bộ Kinh Thánh” chớ không phải là chỉ “tín hữu của kinh Tân Ước”. Những điều dạy dỗ sâu sắc của Chúa mà Cơ-đốc nhân phải học hỏi để tăng trưởng tâm linh và để sống một đời sống Cơ-đốc đúng mức đều có cả trong Cựu ước và Tân Ước (RoRm 15:4, ICo1Cr 10:6-11). Do sự kiểm sóat siêu nhiên của Thượng Đế, sứ điệp của cả Kinh Thánh đều ăn khớp và không hề mâu thuẫn nhau.
Đặc Tính Sáng Sủa Rõ Ràng Của Lời Thượng Đế
Không cần phải là giáo sư đại chủng viện hay là mục sư mới có thể hiểu được Kinh Thánh. Kinh Thánh được chép không phải là để làm rối trí hay để che giấu, nhưng mục đích của Kinh Thánh là để truyền đạt sứ điệp của Thượng Đế cách rõ ràng. Chân lý của Thượng Đế được trình bày bằng ngôn ngữ thông dụng hàng ngày. Mục đích của chức vụ sứ đồ Phao-lô là: “giảng giải chân lý, cách rõ ràng” (IICo 2Cr 4:12 BDY).
Lời Thượng Đế Có Tiềm Năng Làm Tăng Trưởng
Kinh Thánh dùng nhiều hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày để dạy cho Cơ-đốc nhân các phương pháp áp dụng Lời Chúa để có thể tăng trưởng tâm linh. Lời Chúa như hạt giống là nguồn của sức sống tăng trưởng (Mat Mt 13:1-26) . Lời Chúa là thức ăn bổ dưỡng để làm cho người mới tin Chúa tăng trưởng tâm linh (IIPhi 2Pr 2:2; ITi1Tm 4:6), Lời Chúa là tấm gương để cho Cơ-đốc nhân soi và thấy rõ thực trạng đời sống tâm linh của mình (Gia Gc 1:22-25). Lời Chúa là “Gươm Thánh Linh” là một thứ vũ khí tấn công, để Cơ-đốc nhân có thể đánh bại Sa-tan khi bị tấn công (Eph Ep 6:17); Lời Chúa là ánh sáng để rọi sáng các nẻo đường tối tăm, cung cấp các nguyên tắc của Kinh Thánh để hướng dẫn ta trong các quyết định hàng ngày (Thi Tv 119:105). Như vậy, chúng ta thấy rõ lời Thượng Đế là nguồn năng lực vĩ đại giúp ta tăng trưởng và sống nếp sống Cơ-đốc.
Đặc Tính Đầy Đủ Của Lời Thượng Đế
Sau khi tuyên bố rằng cả Kinh Thánh đều được Thượng Đế cảm ứng, sứ đồ Phao-lô liền mạnh dạn khẳng định rằng mục đích của Lời Chúa là để “dạy dỗ, khiển trách, sửa trị, đào luyện con người theo sự công chính, nhờ đó người của Thượng Đế được thành thục, có khả năng làm mọi việc lành” (IITi 2Tm 3:16, 17). Lời này có nghĩa là chân lý Kinh Thánh đầy đủ để trang bị hoàn toàn cho Cơ-đốc nhân để có một nếp sống trưởng thành, vì Kinh Thánh cung cấp tất cả những gì người tin Chúa cần để biết phải sống cách nào trong mọi hoàn cảnh.
HỌC HỎI ĐỂ THỰC HÀNH
Khi đã nhận thức được Lời Chúa rất quí giá cho sự tăng trưởng tâm linh. Cơ-đốc nhân cần phải chú tâm đọc và suy gẫm Kinh Thánh. Mục đích tối hậu của việc học Kinh Thánh là đem chân lý của Kinh Thánh áp dụng vào sinh hoạt hàng ngày của mình. Gia Gc 1:22 dạy rằng” Đạo Chúa không phải chỉ để nghe suông nhưng để thực hành “
Nếu chúng ta tin rằng Kinh Thánh đã được linh cảm (Thánh Linh hà hơi) khi được chép ra, thì chúng ta cũng phải được linh cảm khi học Lời Chúa. Vì vậy mỗi khi học Kinh Thánh, chúng ta cần chuẩn bị lòng và tâm trí mình trong sạch (nhờ huyết Chúa Giê-xu tẩy sạch) và cầu xin Đức Thánh Linh soi sáng dạy dỗ. Chúng ta cần một số nguyên tắc, phương pháp. Nhưng nếu chỉ có nguyên tắc phương pháp mà không có sự soi sáng trực tiếp của Đức Thánh Linh, chúng ta chỉ học bằng lý trí, bằng suy luận của con người và có thể gặt hái những kết quả rất nguy hiểm.
Những lý do ta phải học Kinh Thánh với Đức Thánh Linh là: -Mục đích chúng ta học Kinh Thánh là để biết Chúa Giê-xu và làm vinh hiển Ngài. Ai có thể dạy chúng ta biết Chúa và tôn vinh Chúa, nếu không phải là Đức Thánh Linh, là “Thần chân lý ra từ Cha. Ngài sẽ làm chứng cho Ta “(GiGa 15:26 BDY) và “Thần Chân lý sẽ tôn vinh Ta” (16:14a). Lời Thượng Đế là chân lý mà trí óc hữu hạn của con người không thể tiếp nhận được. Nhưng, “khi Thần Chân Lý đến, Ngài sẽ dạy cho các con biết chân lý toàn diện (16:13 BDY). “Đấng An Ủi là Thánh Linh mà Cha nhân danh Ta sai đến, sẽ dạy dỗ cho các con mọi điều, nhắc các con nhớ mọi lời Ta đã nói “(14:26 BDY)
Sau đây là một số nguyên tắc giúp chúng ta trong việc đọc và thực hành Lời Chúa
Đọc Với “Kính Hai Tròng” (Bifocals).
Nhiều Cơ-đốc nhân mắc chứng “cận thị tâm linh” Chỉ lo nghĩ đến hoàn cảnh riêng của mình nên khi đọc Kinh Thánh họ chỉ tìm sự dạy dỗ cho ngày hôm nay. Họ quên rằng sứ điệp Kinh Thánh nguyên thủy được phán cho người khác. Để tránh tình trạng này, người đọc Kinh Thánh phải mang “kính hai tròng” tâm linh, với tròng thấy xa để hiểu rõ ý nghĩa của sứ điệp khi được công bố cho người nghe đầu tiên, và với tròng thấy gần để tìm hiểu ý nghĩa của sứ điệp đó cho người hiện đang sống ngày nay. Lời Thượng Đế có ý nghĩa cho Cơ-đốc nhân ngày nay, thì cũng phải có ý nghĩa cho người nghe lúc ban đầu.
Đọc Để Tìm Ý Chính Của Mỗi Đoạn Văn
Người đọc Kinh Thánh phải tìm ý chính của đoạn văn, vì cách đọc Kinh Thánh hợp lý là tập trung vào cả đoạn văn chớ không tập trung vào từng câu một. Mỗi đoạn văn gồm có nhiều câu để trình bày cùng một vấn đề. Ý chính của cả đoạn văn là đề tài kết tụ các câu trong đoạn văn lại với nhau. Khi đã tìm được ý chính của đoạn văn, người đọc có thể thấy cách tác giả dùng các câu trong đoạn văn để truyền đạt ý mình muốn nói. Viết một câu ngắn gọn để tóm tắt ý chính của cả một đoạn văn là một việc không dễ dàng gì cho người mới bắt đầu, nhưng cứ tập thực hành nhiều lần, bạn sẽ thấy càng lâu càng dễ hơn.
Việc phân chia các sách trong Kinh Thánh thành Chương (Đoạn) và Câu, thực hiện vào năm 1560, là một điều tiện lợi nhưng cũng là một điều tai hại. Không có Chương (Đoạn) và Câu, chúng ta rất khó tìm ra khúc Kinh Thánh, mình muốn kiếm, nhưng vì có Chương và nhất là vì phân chia ra thành Câu, người đọc thường coi mỗi câu là một đơn vị tư tưởng độc lập. Khi cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của một câu Kinh Thánh mà tách rời câu đó ra khỏi đoạn văn, người đọc rất dễ để cho ý kiến cá nhân mình xen vào. Ý nghĩa của một câu Kinh Thánh chỉ có thể giải thích chung với ý chính của cả đoạn văn. Khi học Kinh Thánh chúng ta nên lưu ý đến nguyên tắc khôn ngoan này: Khúc Kinh Thánh càng ngắn thì càng dể bị hiểu sai.
Đọc Kinh Thánh Để Tìm Biết Những Nguyên Tắc Cho Được Sống Cơ-Đốc
Đọc Kinh Thánh để tìm được những sự dạy dỗ sâu sắc và sức mạnh cho cuộc sống hằng ngày của Cơ-đốc nhân đòi hỏi nhiều hơn là đọc với mục đích tìm kiếm các lời hứa và mệnh lệnh. Trong số các bài học quan trọng nhất trong Kinh Thánh, có nhiều bài học không được ghi chép một cách minh bạch, dứt khóat, còn những bài học được trình bày, chính xác lại thường nhằm vào một tình hình hạn hẹp. Khi đọc Kinh Thánh để áp dụng, chúng ta cố gắng tìm các nguyên tắc thích hợp cho cuộc sống hàng ngày. Các huấn thị đặc biệt cho sinh hoạt Cơ-đốc cần được nghiên cứu để rút tỉa ra nguyên tắc tâm linh, luân lý và giáo lý tổng quát. Nguyên tắc này, cũng là sự dạy dỗ chúng ta thu lượm được sẽ được dùng làm “nguyên tắc chỉ đạo” áp dụng cho nhiều trường hợp, chứ không dùng làm một thứ qui luật riêng biệt. Hoàn cảnh hiện tại rất có thể khác hẳn với hoàn cảnh của thính giả hay độc giả nguyên thủy (đối tượng đầu tiên của Kinh Thánh), nhưng các nguyên tắc hướng dẫn cách sống của họ đến nay vẫn còn hiệu lực. Vì vậy, điểm bắt đầu chúng ta nên làm khi đọc Kinh Thánh là tìm biết nguyên tắc căn bản của đoạn văn, và nguyên tắc này phải thích hợp với trọng tâm của vấn đề tác giả trình bày cho thính giả hay độc giả nguyên thủy.
Đọc Kinh Thánh Để Tìm Biết Các Sự Dạy Dỗ Sâu Sắc
Vì muốn được kinh nghiệm phước hạnh thuộc linh cấp kỳ nên có một số người học Kinh Thánh theo cách “đi ngang về tắt”. Nhưng việc học Kinh Thánh theo bốn bước sau đây sẽ giúp con cái Chúa tìm biết được nhiều sự dạy dỗ sâu sắc thích hợp.
“Quan sát ” (Observation) là bước đầu để tập trung vào việc tìm xem đoạn văn đó nói gì. Người đọc Kinh Thánh phải ghi nhận tất cả các sự kiện quan trọng trong đoạn văn. Chúng ta có thể dùng phương pháp “5W” và 1 “H”, tức là: Who (Ai ?), What (Cái gì ?), When (Lúc nào), Where (Ở đâu ?), Why (Tại sao ?) và How (Cách nào ?). Quan sát tất cả các chi tiết này là bước đầu tiên cần thiết để có thể hiểu Kinh Thánh đúng.
“Giải thích ” (Interpretation) là bước thứ nhì để tìm hiểu ý nghĩa của đoạn văn. Tất cả các chi tiết được phân tích để tìm xem tác giả muốn nói gì. Phải dùng Từ điển Kinh Thánh và sách Giải kinh để tìm ý nghĩa chính xác của các từ ngữ quan trọng, các mối liên hệ văn phạm đáng để ý và các chi tiết về bối cảnh. Tất cả các ý nghĩa này đều cần thiết để hiểu đoạn văn cách hợp lý. Nhưng nếu thấy có chi tiết nào không ăn khớp với cách giải thích của chúng ta, chúng ta cần phải xét lại cách giải thích đó.
“Lượng giá ” (Evaluation) là bước thứ ba để tìm cách áp dụng sứ điệp của Thượng Đế cho ngày nay. Cả Kinh Thánh là Lời của Thượng Đế, nhưng có một vài điều Cơ-đốc nhân ngày nay không áp dụng, như bây giờ chúng ta không chào nhau với cái “hôn thánh” (IIPhi 2Pr 5:14) của thời Phi-e-rơ. Chúng ta có thể tỏ tinh thần thân mật yêu thương nhau mà không cần phải hôn nhau. Chúng ta có thể nêu ra bốn nguyên tắc sau đây để giúp đỡ chúng ta biết cách áp dụng những điều Kinh Thánh dạy cho thời đại chúng ta đang sống đây:
Thứ nhất, những điều Kinh Thánh dạy có tính cách phổ thông đều có hiệu lực cho mọi thời đại và mọi Cơ-đốc nhân. Ngược lại, các lời dạy cho cá nhân trong trường hợp có tính cách cá biệt thường chỉ áp dụng cho cá nhân ấy. Các điều phổ thông đều căn cứ trên các chân lý của Kinh Thánh, còn các điều có tính cách cá biệt thường chỉ cần căn cứ trên văn hóa hay phong tục tập quán. Giả sử như cái “hôn thánh “là điều căn cứ trên phong tục tập quán.
Thứ hai, những lời hứa có điều kiện chỉ áp dụng khi các điều kiện này được thỏa mãn.
Thứ ba, những qui luật sau đó đã được thay đổi bởi sư mặc khải thì không còn hiêu lực. Ví dụ: Các qui luật về ăn uống về việc dâng tế lễ của Cựu Ước đã được Chúa Giê-xu bãi bỏ khi Ngài hoàn thành công cuộc cứu rỗi.
Thư tư, các câu chuyện hay các gương trong Kinh Thánh chỉ xác đáng khi đọc chính tác giả chấp thuận hay kiểm nhận. Không phải bất cứ câu chuyện nào ghi chép trong Kinh Thánh đều là đúng để ta làm theo cả.
“Áp dụng ” là đem chân lý đã tìm được qua những bước trên đây vào sinh hoạt hằng ngày. Câu ta phải hỏi là: “như vậy tôi phải sống cách nào?” Nhưng để tìm câu giải đáp, chúng ta còn cần phải nêu ra 3 câu hỏi nữa. Nguyên tắc tâm linh mà tác giả đưa ra cho các độc giả (hay thính giả) nguyên thủy ngày nay còn hiệu lực không? Trong cuộc sống của tôi hiện nay thì hoàn cảnh nào tương tự với tình trạng nguyên thủy ? Thượng Đế muốn làm gì ngày nay trong hoàn cảnh tương tự ? Tuy nhiên, chỉ biết nguyên tắc nào là nguyên tắc có hiệu lực vẫn chưa đủ; người Cơ-đốc còn phải đem các nguyên tắc đó ra áp dụng trong sinh hoạt hàng ngày nữa.
CÁC NGUYÊN TẮC GIẢI KINH
“Giải kinh ” là khoa học ấn định các qui luật đúng cần phải được áp dụng để giải thích Kinh Thánh. Khi nghiên cứu cách người ta dùng ngôn ngữ để truyền đạt ý tưởng, môn giải kinh nêu ra các nguyên tắc mà chúng ta phải theo dể hiểu Kinh Thánh cách đúng. Mặc dầu ý chính của hầu hết các phân đoạn trong Kinh Thánh đều minh bạch rõ ràng, cũng có những ý phải được cân nhắc kỹ càng mới hiểu được tác giả muốn nói gì (IIPhi 2Pr 3:16). Bẻ cong Kinh Thánh để cho thích hợp với một tư tưởng lệch lạc không phải là một điều khó, và hầu hết các hệ phái sai lầm (sects) đều xây dựng trên các khúc Kinh Thánh bị giải thích sai. Vì vậy chúng ta cần phải áp dụng các qui luật đúng đắn để có thể cẩn thận học hỏi Lời Chúa và tránh được việc xuyên tạc Kinh Thánh (IICo 2Cr 4:2)
Bây giờ việc học Lời Thượng Đế cần thiết cho chúng ta hơn là cho các độc giả nguyên thủy, vì Kinh Thánh vốn được viết bằng ngoại ngữ cho những dân tộc sống ở phương trời xa xăm, với nền văn hóa xa lạ, vào các thời đại xa xưa. Các qui luật giải kinh sau đây sẽ giúp các bạn vượt được những chướng ngại vật đó để các bạn có thể hiểu đúng Lời Thượng Đế.
Tìm biết Văn Thể của Tác Giả (Literary Style)
Không phải lúc nào các tác giả cũng dùng nghĩa đen của những từ ngữ họ viết. Ví dụ khi nghe: “Nhà chính trị đó bị sa lầy” chúng ta không hiểu theo các nghĩa đen là ông ấy bị rơi vào một cái hố đầy cả sình lầy, nhưng trong câu đó, từ ngữ “lầy” có nghĩa là một tình cảnh khó khăn không gỡ ra được. Cũng vậy, các tác giả Kinh Thánh thường dùng nghĩa bóng. Ngoại trừ các sách Sử Ký trong Cựu Ước và các thư tín trong Tân Ước là các sách hay dùng văn thể trực tiếp (nói theo nghĩa đen), các tác giả Thi Thiên, Châm Ngôn và các sách Tiên Tri thường dùng thể thơ để diễn đạt tư tưởng, còn Chúa Giê-xu hay dùng các ngụ ngôn để dạy dỗ. Mỗi văn thể có một lối dùng ngôn ngữ riêng, vì vậy người đọc phải căn cứ trên văn thể của tác giả để tìm hiểu ý nghĩa của mối đoạn văn trong Kinh Thánh.
Chú Ý Đến Mạch Văn
Trong một cuộc đối thoại, người ta hiểu ý nghĩa của mỗi từ ngữ và mỗi câu nói tùy theo mạch văn, vì mỗi ý tưởng của người nói được diễn đạt bằng một loại ý tưởng có liên hệ với nhau. Muốn đọc Kinh Thánh cách chính xác, người đọc phải tìm biết dòng tư tưởng của tác giả khi tác giả viết ra. Người đọc phải hiểu từng thành ngữ và từng câu văn cách nào cho thích hợp với ý chính của tác giả. Lời hứa về sự khôn ngoan trong Gia Gc 1:5 không bảo đảm rằng chứng ta chỉ cần cầu nguyện là có thể quyết định làm gì cũng không thất bại cả. Trong đoạn văn trước Gia-cơ có kêu gọi các tín hữu hãy vui mừng khi gặp các thử thách khổ nạn trong đời, vì kinh nghiệm nhẫn nhục chịu đứng giúp tín hữu trưởng thành tâm linh. Mục đích của sự khôn ngoan Chúa hứa đầy đủ để giúp chúng ta có cái nhìn sáng suốt biết cách ứng phó khi trải qua các thử thách khổ nạn.
Tìm Hiểu Y Nghĩa Các Từ Ngữ Then Chốt
Từ ngữ diễn tả tư tưởng, nhưng mỗi từ ngữ có nhiều ý nghĩa khác nhau. Ví dụ câu: “La xa xơ, bạn ta đang ngủ” (GiGa 11:11) chữ “ngủ” có thể là ngủ thức dậy hàng ngày cũng có nghĩa là “chết” .Các bản dịch mới đáng tin cậy cũng giúp chúng ta hiểu nghĩa các từ ngữ trong Kinh Thánh cách rõ ràng hơn. Nhưng khi gặp các từ ngữ quan trọng hay khó hiểu, chúng ta phải tra cứu Thánh Kinh Tự điển để tìm biết vào thời đại tác giả chép đoạn văn đó, các từ ngữ đó có ý nghĩa gì. Thỉnh thoảng có những từ ngữ có nhiều sắc thái mà dịch giả không thể nào lột hết ý được, nhưng khi tra cứu chúng ta có thể thấy được các từ ngữ có nhiều sắc thái mà dịch giả không thể nào lột hết ý được, nhưng khi tra cứu chúng ta có thể thấy được các sắc thái này và hiểu rõ ràng hơn ý nghĩa sâu sắc của tác giả. Phải cẩn thận để chọn ý nghĩa thích hợp nhất cho mỗi từ ngữ chúng ta đang học và phải tìm hiểu cả đoạn văn theo ý nghĩa mà tác giả muốn dùng. Sinh viên làm bài thi, thường viên dẫn lời hứa ban sự “khôn ngoan” này cách không đúng chổ. Lúc thi sinh viên cần “kiến thức” (knowledge) chứ không phải khôn ngoan “wisdom”. Không thể trích dẫn câu này để thay thế cho việc học bài cách kỹ lưỡng.
Để Ý Đến Văn Phạm
Người ta truyền thông với nhau bằng cách dùng nhiều tiếng, nhiều từ ngữ, những câu nói chỉ vỏn vẹn có một tiếng thật là hiếm. Cách sắp xếp các từ ngữ trong câu nói cũng quan trọng không kém việc lựa chọn cho đúng từ ngữ. Vì trong một câu nói, chúng ta có thể dùng chừng ấy từ ngữ nhưng nếu đem sắp xếp khác đi thì ý nghĩa của câu đó có thể hoàn toàn thay đổi. Ví dụ câu: “Người ăn cá”, sắp xếp lại thành “cá ăn người “. Vì vậy người đọc phải cẩn thận chú ý đến các hình thái văn phạm mà tác giả dùng để diễn đạt tư tưởng của mình. Thì của động từ và các liên từ cũng rất quan trọng. Phải tìm ý chính của mỗi câu văn rồi để xây dựng ý chính đó. Khi dạy bảo các tín hữu đang gặp thử thách nghịch cảnh phải “coi điều vui mừng” (Gia Gc 1:2) không dạy họ tự kỷ ám thị để ráng lạc quan, nhưng qua câu 3, Gia-cỏ dùng chữ “vì” để trình bày lý do tại sao họ phải vui mừng khi gặp thử thách sinh ra kiên nhẫn nhịn nhục, một đức tính thuộc linh rất cần thiết.
Cái Nhìn Qua Bối Cảnh Lịch Sử
Đọc Kinh Thánh cũng như đọc thư của người khác, vì Kinh Thánh được viết cho những người sống ở một lúc địa khác, vào nhiều thế kỷ trước, với nền văn hóa khác. Muốn hiểu ý nghĩa sứ điệp Thượng Đế viết cho họ, người đọc cần phải hiểu về họ và về hoàn cảnh của họ, càng nhiều càng tốt. Khi người đọc ngày nay càng có thể đặt mình được vào hoàn cảnh của độc giả nguyên thủy, họ càng hiểu được ý nghĩa của Kinh Thánh khi được chép ra, và càng nắm vững được tầm quan trọng của Kinh Thánh cho ngày nay.
Phối Hợp Với Các Khúc Kinh Thánh Khác Dạy Cùng Một Vấn Đề
Trong Kinh Thánh thường có nhiều khúc đề cập cùng một vấn đề, vì vậy khi học về một vấn đề nào, chúng ta phải tìm các câu, các khúc Kinh Thánh khác đề cập đến vấn đề so sánh, nghiên cứu, nhờ đó có thể hiểu biết cách đầy đủ hơn. Nếu chỉ căn cứ trên một câu duy nhất để hành động thì chẳng khác gì “chạy mà chỉ mang một chiếc giày.”
TÓM LƯỢC
Yếu tố chính giúp ta tăng trưỏng tâm linh là ăn nuốt. Lời Thượng Đế cách đều đặn. Kinh Thánh cho ta các lời Giáo huấn của Thượng Đế dạy ta phải sống cách nào cho xứng đáng là con cái Chúa. Các bạn cần phải có một nhận thức quan trọng là: Cả Kinh Thánh được Thượng để cảm ứng, và vì là Lời của Thượng Đế nên Kinh Thánh là nguồn duy nhất đem lại cho chúng ta sức sống thuộc linh kiên định. Các bạn phải dọn lòng mình trong sạch nhờ huyết Chúa Giê-xu rồi cầu xin Đức Thánh Linh soi sáng dạy dổ mỗi khi đọc Lời Chúa. Sau đó các bạn phải học cách đọc Kinh Thánh bằng cách nhận định ý chính của đoạn văn, tìm hiểu ý nghĩa của sứ điệp, rồi lượng giá để có thể áp dụng sứ điệp mình học vào sinh hoạt hằng ngày. Việc áp dụng môn giải kinh là một môn dạy các qui luật giải thích Kinh Thánh, là một điều ăn thiết khi các bạn cố gắng tìm hiểu Lời của Thượng Đế và áp dụng cho cuộc sống thuộc linh của mình.
BÀI LÀM
1. Kinh Thánh căn cứ trên các bằng chứng nào để tự xác nhận kinh Kinh Thánh là Lời của Thượng Đế?
2. Xin nêu ra các điểm khác biệt giữa các từ ngữ: mặc khải, linh ứng (cảm ứng), không thể thất bại (infallibility) và không thể sai lầm (inerrancy). Tại sao các đặc tính này đều quan trọng cả?
3. Xin cắt nghĩa tại sao Kinh Thánh lại hiệp nhất như vậy, và cho biết yếu tố nào đã làm cho tất cả các sứ điệp trong Kinh Thánh ăn khớp với nhau ?
4. Lời Chúa ví sánh với năm hình ảnh nào? (Lời Chúa là....) như thế nào ? Những hình ảnh đó cho biết Lời Chúa giúp ta tăng trưởng tâm linh như thế nào?
5. Xin kể ra năm đặc điểm chính của Kinh Thánh
6. Khi đọc Kinh Thánh với mục đích áp dụng Lời Chúa vào sinh hoạt hằng ngày, chúng ta phải chú ý vào bốn điều nào ?
7. Xin kể ra và định nghĩa bốn bước chúng ta phải theo khi đọc Kinh Thánh, để tìm được những sự dạy dỗ sâu sắc ? Tại sao phải theo cho đúng thứ tự đó?
8. Tại sao chúng ta cần có các qui luật để học Kinh Thánh.
9. Xin kể ra và giải thích sáu nguyên tắc giải kinh.
ÁP DỤNG
1. Bạn hãy đọc chương (đoạn) thứ nhất của thư Gia-cơ và viết ra ý chính của mỗi đoạn văn (viết một câu riêng cho mỗi đoạn văn). Chương 1 được chia ra thành 8 đoạn văn như sau: Câu 2 đến câu 8, câu 9 đến câu 11, câu 12, câu 13, đến câu 15, câu 16 đến câ 18, câu 19 đến câu 21,câu 22 đến câu 25 và câu 26 đến 27. Sau khi xong chương 1, bạn tiếp tục làm giống như vậy cho các chương 2,3,4 và 5 của sách Gia-cơ.
2. Nghiên cứu Gia Gc 1:2-8 bằng cách áp dụng bốn bước: quan sát, giải thích, lượng giá và áp dụng. Bạn bắt đầu bằng cách lấy 4 tờ giấy viết lên tờ thứ nhất tiêu đề “quan sát” tờ thứ hai tiêu đề “giải thích “... Bạn ghi lại các câu hỏi bạn muốn nêu ra vào tờ giấy với tiêu đề thích hợp, và cũng viết lại những điểm quan trọng bạn thấy được khi tuần tự theo bốn bước trên.
3. Đọc lại tờ giấy có tiêu đề “giải thích” và ghi lại ý kiến của bạn cho biết tại sao lời giải thích của bạn hợp với 6 nguyên tắc giải kinh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Fee, Grodon D. and Stuart, Douglas. How to Read the Bible for All Its Worth . Grand Rapids: Zondervan Pub. House, 1982
Mickelsen, Berkeley A. and Alvera M. Understanding Scripture . Venture, CA: Regal Book, 1982
Sterret, T,Norton. How to Understand Your Bible . Downers Grove, IL: Inter Varsity Press 1974
Chương 3: TƯƠNG GIAO VỚI THƯỢNG ĐẾ
Qua lời Kinh Thánh, Thượng Đế phán với con cái của Ngài, và con cái của Thượng Đế có thể thưa chuyện với Cha trên trời bằng lời cầu nguyện. Trên trần gian, ít khi người dân được cơ hội tiếp xúc với vị nguyên thủ quốc gia, nhưng Cơ-đốc nhân được đặc quyền thưa chuyện bất cứ lúc nào với Đấng Tạo hóa của cả vũ trụ. Nhờ sự chết, sự sống lại và thăng thiên của Chúa Cứu Thế Giê-xu mà chúng ta có thể vào trong sự hiện diện của Thượng Đế cách dạn dĩ và không bị hạn chế (HeDt 4:14-16; 10:19-22; Eph Ep 1:18). Lời phán và công việc của Thượng Đế chứng minh Ngài là Đấng có ngôi vị, nồng nàn tình thương, chớ không phải là một sức mạnh lạnh lẽo vô tình. Dù chỉ là con người nhỏ bé, chúng ta được mối tình phụ tử của Thượng Đế khuyến khích, để dạn dĩ đến thưa chuyện với Thượng Đế vô cùng vĩ đại. Khi sống trên trần gian, chính Chúa Giê-xu cũng thường xuyên trò chuyện với Cha. Nếu cầu nguyện là một nhu cầu thiết yếu cho Chúa Giê-xu, là Đấng Thiên nhân thì đối với chúng ta là con người bé bỏng, sự cầu nguyện phải là một nhu cầu sống chết. Chính Chúa Giê-xu thúc giục chúng ta cầu nguyện và nhắc chúng ta rằng Cha trên trời luôn chăm mon chúng ta (Mat Mt 7:7-11)
LÝ DO TẠI SAO TA PHẢI CẦU NGUYỆN
Tại sao phải cầu nguyện ? Vì Thượng Đế biết tất cả mọi sự (Toàn Tri), làm được tất cả mọi điều (Toàn Năng) và có tình yêu vô bơ bến (Toàn Ai), chúng ta cầu nguyện làm gì ? Cầu nguyện không phải là để báo cáo cho Thượng Đế biết tình cảnh cá nhân của chúng ta, vì Thượng Đế đã biết các nhu cầu của chúng ta trước khi chúng ta cầu nguyện (6:32). Chúng ta cũng không cần cầu nguyện để xin Thượng Đế đổi thái độ đối với chúng ta, vì Thượng Đế không phải là một vị ác thần có dụng tâm làm hại con người. Lời cầu khẩn của người ngoài Chúa thường là lời cầu xin các vị thần đừng ác cảm với họ, nhưng Thượng Đế là Chân thần không cần những lời cầu khẩn đó (6:25-34) vì “những gì tốt đẹp và toàn hảo đều đến từ Thượng Đế “(Gia Gc 1:17 BDY)
Ngoài ra, cầu nguyện không phải là để thuyết phục Thượng Đế làm những điều gì Ngài không muốn làm. Thái độ đúng của Cơ-đốc nhân khi cầu nguyện là thuận phục ý muốn của Thượng Đế, chớ kh ông tìm cách thực hiện ý muốn của mình (Mat Mt 6:10). 26:39-44 chép về ba lần Chúa Giê-xu cầu nguyện “Cha ơi, nếu có thể được, xin cho Con khỏi uống chén này, nhưng xin theo ý cha, chứ không theo ý con. Kinh Thánh bảo đảm cho chúng ta rằng: “Chúng ta biết chắc chắn khi cầu xin điều gì hợp ý Chúa thì Ngài nghe chúng ta “(IGi1Ga 5:14 BDY)
Mục đích của cầu nguyện không phải là để thay đổi ý muốn của Thượng Đế, nhưng để điều chỉnh ý muốn của chúng ta cho hợp với ý Chúa. Những câu chuyện trong Kinh Thánh là cho ta nghĩ dường như Thượng Đế đã nhận lời cầu nguyện và điều chỉnh kế hoạch Ngài đã công bố, rất có thể là những kinh nghiệm học hỏi mà Chúa dùng để dạy con cái Ngài những bài học quí giá (SaSt 18:16-33)
Cuối cùng, lý do chúng ta cầu nguyện không phải là để kinh nghiệm một thứ kết hợp huyền bí nào đó với Thượng Đế, như điều các tôn giáo Đông phương thường dạy, vì khi cầu nguyện Cơ-đốc nhân vẫn không mất cá tính của mình. Cầu nguyện là sự tương giao thân mật giữa hai nhân vật và không làm cho nhân vật nào cảm thấy mình trở thành một thành phần của nhân vật kia. Trong sư cầu nguyện có một yếu tố thuộc linh ta cần phải nhấn mạnh là người cầu nguyện có thể cảm nhận được sự hiện diện của Thượng Đế, là Đấng lúc nào cũng có mặt.
Nếu cầu nguyện không thực hiện các điều chúng ta vừa nói trên đây thì cầu nguyện dường như là một sự phí công phí thì giờ, vậy cầu nguyện để làm gì ? Vì Thượng Đế đã quyết định hành động để đáp ứng lời cầu nguyện của chúng ta, cầu nguyện đem lại sự thay đổi. “Lời cầu nguyện của người công chính rất mạnh mẽ và hiệu nghiệm” (Gia Gc 5:16 BDY). Trong sự khôn ngoan vô tận của Ngài, Thượng đế coi cầu nguyện là một yếu tố quan trọng trong chương trình của Ngài, vì nhớ lời cầu nguyện mà Cơ-đốc nhân được giữ vai trò cộng sự viên trong sự can thiệp của Thượng Đế vào công việc của loài người.
Có người đã nói câu rất có lý này: “Cầu nguyện đem lại lợi ích cho chúng ta, chứ không phải cho Thượng Đế “Là Đấng cầm quyền tể trị tối thượng trên mọi loài mọi vật, Thượng dế không cần lời cầu nguyện mới có thể thực thi ý chí đời đời của Ngài, Lý do chúng ta phải cầu nguyện là vì chúng ta là con người yếu đuối, để thất bại. Vì khuynh hướng của con người là quên Thượng Đế nên cầu nguyện kích động trong chúng ta lòng trung thành với Thượng Đế và nhắc nhở chúng ta nhớ luôn rằng chúng ta phải hoàn toàn tùy thuộc vào Thượng Đế. Cầu nguyện cũng là một yếu tố góp phần vào sự tăng trưởng thuộc linh của Cơ-đốc nhân.
MỘT NẾP SỐNG CẦU NGUYỆN QUÂN BÌNH
Vì cầu nguyện vô cùng cần thiết cho sự trưởng thành thuộc linh và cho mối thông công chặt chẽ với Thượng Đế, nên muốn có một nếp sống cầu nguyện quân bình, chúng ta phải có các kinh nghiệm sau đây:
Thờ Phượng (Worship)
Khi đứng trước sự hiện diện của Thượng Đế, Cơ-đốc nhân phải ý thức Ngài là ai, để có một lòng kinh ngạc(awe) và kính sợ(reverence), đúng với thái độ của một loài thọ tạo đứng trước Đấng Tạo hóa Cực đại. Khi ngẵm nghĩ trong lòng Thượng Đế là Ai, Cơ-đốc nhân liền cảm thấy lòng mình tràn ngập kính sợ quí trọng Ngài. Nhờ tập trung vào bản tính toàn thiện toàn mỹ của Thượng Đế, chúng ta có thể đuổi ra khỏi tâm trí những vấn vương của đời là thứ vẫn làm cho chúng ta xao lãng sự hiện diện của Chúa. Vì Thượng Đế là Thần Linh, Ngài muốn con cái Ngài phải thờ phượng bằng “Tâm linh và chân lý” (GiGa 4:23, 24). Khi đến trong sự hiện diện của Thượng Đế cầu nguyện, chúng ta phải coi Ngài cao quí hơn tất cả mọi người, mọi sự
Xưng Tội (Confession)
Khi ý thức được sự thánh khiết củaThượng Đế, tự nhiên chúng ta phải cảm biết mình là con người tội lỗi và chúng ta cần phải xưng tội mình với Chúa. Tiên tri Ê-sai, khi ý thức được sự thánh khiết tuyệt đối của Thượng Đế đã phải kêu la rằng: “Khốn nạn cho tôi ! Xong đời tôi rồi ! vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân” (EsIs 6:5). Mỗi Cơ-đốc nhân cần phải xưng tội để kinh nghiệm sự tẩy sạch bởi huyết của Chúa Giê-xu: “Nếu chúng ta thú tội với Chúa, Ngài sẽ giữ lời hứa tha thứ chúng ta và tẩy sạch tất cả lỗi lầm chúng ta”(IGi1Ga 1:9 BDY). Điều này, có nghĩa là Thượng Đế là Đấng tuyệt đối công bình khi tha tội chúng ta nếu chúng ta thành thật thú nhận tội lỗi với ngài. Một số người ngừng tăng trưởng tâm linh không chịu nhận sự tha thứ của Thượng Đế. Để tránh tình trạng tê liệt thuộc linh này, chúng ta phải cầu nguyện và thú nhận tội lỗi với Chúa.
Ái Mộ (Adoration)
Một khi biết mình được tình thương và lòng khoan dung tha thứ của Cha trên trời làm cho vững tâm (IGi1Ga 4:10) Cơ-đốc nhân cũng cần phải thưa với Cha rằng mình kính yêu Cha vô cùng. Chúng ta phải cầu nguyện trong bầu không khí ái mộ ấm áp với tình yêu Chúa. Bày tỏ tình yêu Chúa bằng lời nói và bằng hành động vâng phục là cách duy nhất chúng ta đáp ứng lại tình yêu vô bờ bến của Chúa đối với chúng ta (3:1; 4:16). Chúa Giê-xu dạy rằng trách nhiệm thứ nhất của Cơ-đốc nhân là kính yêu Thượng Đế với cả tấm lòng, linh hồn và trí óc (Mat Mt 24:37). Tình yêu này không phải là điệu bộ trống rỗng, nhưng phát xuất từ cả ý chí lẫn cảm xúc.
Ca Ngợi (Praise)
Thờ phượng là hành động chứng tỏ chúng ta ý thức được Thượng Đế là ai, còn ca ngợi là hành động để táng dương việc của Thượng Đế làm. Thượng Đế đáng cho chúng ta ca ngợi “vì các việc quyền năng Ngài... tùy theo sự oai nghi cả thể của Ngài” (Thi Tv 150:2). Cơ-đốc nhân phải lớn tiếng “rao truyền sự cao cả của Chúa.... và truyền ra kỷ niệm về sự nhơn từ lớn của Chúa” (145:4-7), vì “Đức Giê-hô-va làm lành cho muôn người, sự từ bi Ngài giáng trên các vật Ngài làm nên “(145:9). Khi chúng ta ca ngợi Thượng Đế, Ngài được tôn vinh còn chúng ta được tăng trưởng tâm linh. Ca ngợi giúp chúng ta nhớ lại các ơn lành của Thượng Đế.
Tạ Ơn (Thanksgiving)
Có thể nói trong sự cầu nguyện không có điều gì quan trọng hơn là tạ ơn. Chúng ta đã nhận được từ Thượng Đế ơn tha thứ tội lỗi và sức lực nâng đỡ đời sống chúng ta, vì vậy chúng ta phải biết Thượng Đế cách sâu xa. Lòng vô ơn bạc nghĩa là căn nguyên của sự phản nghịch Thượng Đế (RoRm 1:21). Vì kiêu căng tự cao tự đại nên người ta gạt bỏ Thượng Đế và cho là mình tự sức tạo ra các phước hạnh trong đời. Cơ-đốc nhân không thể nào có thái độ vô ơn bạc nghĩa được, nhưng phải có lòng tạ ơn trong mọi cảnh ngộ, khi gặp khó khăn cũng như khi được hanh thông thoải mái (ITe1Tx 5:18).Chúng ta cần phải đương đầu với những cảnh ngộ éo le khó chịu bằng lời cầu nguyện tạ ơn Chúa, vì biết Chúa sẽ ban cho chúng ta bình an nội tâm (Phi Pl 4:6, 7), Một khi đã ý thức được rằng Thượng Đế lúc nào cũng cầm quyền tể trị và Ngài sẽ dùng cảnh ngộ khó khăn chúng ta đang gặp để làm cho chúng ta tăng trưởng thuộc linh, thì chúng ta có đủ lý do để dâng lên lời cầu nguyện tạ ơn (RoRm 8:28; Gia Gc 1:2-4)
Cầu Thay (Intercession)
Cầu nguyện cũng là cơ hội để chúng ta cầu xin Thượng Đế đáp ứng nhu cầu của người khác. Câu Thượng Đế thứ nhất, người khác thứ hai, ta cuối cùng” cho chúng ta thứ tự ưu tiên rất đúng để cầu nguyện. Sứ đồ Phao-lô thường cầu cho các tín hữu được trưởng thành tâm linh (Phi Pl 1:9-11; Eph Ep 1:16-23; 3:14-21). và cũng yêu cầu họ cầu nguyện cho việc công bố Phúc Âm của ông (Eph Ep 6:18-20). Nhờ cầu thay, các bạn có thể đóng góp tích cực vào đời sống của người khác, vượt xa khả năng tài nguyên và năng lực của các bạn (Phi Pl 1:19)
Nài Xin (Requests)
Cuối cùng, cầu nguyện là trình cho Chúa các chi tiết liên hệ đến ca nhân các bạn (Phi Pl 4:6). Cầu xin Thượng Đế gíup chúng ta đương đầu các thách thức, giải quyết các nan đề, nắm được các cơ hội... Không phải là lời cầu nguyện ích kỷ. Chúa Cứu Thế Giê-xu dạy các môn đồ nhân danh Ngài mà cầu xin với Đức Chúa Cha. “các con nhân danh Ta cầu xin điều gì, Cha cũng ban cho...” (GiGa 16:23, 24). Qua lời cầu nguyện, các bạn nhận sự giúp đỡ từ Chúa để đáp ứng các nhu cầu hằng ngày.
KẾT QUẢ CỦA LỜI CẦU NGUYỆN TRONG KINH THÁNH
Cầu nguyện giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của những nhân vật trong Kinh Thánh. Các vĩ nhân trong Kinh Thánh Cựu Ước kể cả các bậc lãnh tụ, như Áp-ra-ham, Môi-se, Nê-hê-mi, Ê-xơ-ra; các người kính sợ Chúa như Gióp, An -ne, các tiên tri như Sa-mu-ên, Ê-li, Ê-li-sê, Giô-na, Đa-ni-ên, Giê-rê-mi, các quốc vương như Đa-vít, Sa-lô-môn, Ê-xê-chia.... đều chứng kiến sự can thiệp trực tiếp của Thượng Đế vào đời sống của họ nhờ sự cầu nguyện. Mặc dầu Chúa Giê-xu là Thượng Đế Ngôi Hai, lúc mang lấy thể xác con người trên thế gian. Chúa thường xuyên cầu nguyện với Cha trên trời. Vâng theo lời dạy của Chúa Giê-xu, các sứ đồ và các thánh đồ trong Hội Thánh đầu tiên đều đặt sự cầu nguyện lên ưu tiên. Thượng Đế có nhiều cách đáp lại lời cầu nguyện của con dân ngài chớ không phải lúc nào Ngài cũng theo một mẫu mực duy nhất. Nhưng dù sự trả lời của Thượng Đế là “Được”, “Chờ đợi”, hay “không được”, Lời cầu nguyện cũng đã có ánh sáng rất sâu xa trên đời sống của họ.
Nhậm Lời Cầu Xin
Kinh Thánh Cựu Ước có ghi lại nhiều gương cho thấy cách Thượng Đế nhận lời cầu xin.
Các lãnh tụ đầu tiên của dân Do Thái đều biết rõ quyền năng của sự cầu nguyện. Khi Áp-ra-ham cầu nguyện cho A-bi-mê-léc, vua của Ghê-ra, Thượng Đế tha cho vua này khỏi chết và cho cả hoàng gia có thể sinh con (SaSt 20:17, 18). Trong khi dân Do Thái đi trong sa mạc trong bốn mươi năm. Họ đã phản bội Chúa nhiều lần và bị Chúa đe dọa tiêu diệt, Môi-se cũng đã nhiều lần cầu nguyện cho họ thóat khỏi sự tiêu diệt đó (Dan Ds 11:2; 14:12-16; 21:7)
Lịch sử dân Do Thái là lịch sử của một dân nhiều lần lìa bỏ Thượng Đế, từ bỏ kỷ luật của Ngài và chối bỏ sự giải cứu mà họ đã được nhờ cầu nguyện. Sau khi họ ăn năn tội thờ hình tượng. Thượng Đế nhậm lời cầu nguyện của Sa-mu-ên và giải cứu họ khỏi ách đô hộ của dân Phi-li-tin (ISa1Sm 7:5-13). Nhưng về sau, khi Sau-lơ đã trở thành vua đầu tiên của dân Do Thái, Sa-mu-ên cầu nguyện và Thượng Đế giáng sấm sét và mưa lớn để cho dân chúng thấy Thượng Đế không bằng lòng khi họ bắt chước các dân tộc khác mà xin một vua. Nhưng Sa-mu-ên khuyên họ đừng lìa bỏ Chúa và hứa với họ rằng: “Còn ta đây cũng chẳng phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà t hôi cầu nguyện cho các người “ (12:16-23)
Khi Đa-vít và Sa lô môn cai trị trên vương quốc Do Thái thống nhất, dân chúng được lãnh đạo bởi những người biết cầu nguyện. Nhiều Thi Thiên là lời cầu nguyện của vua Đa-vít (Thi Tv 17:1-15; 72:20; 86:1017; 142:1-7) 51:1-19 là lời cầu nguyện xưng tội và ăn năn thống hối với Đa-vít sau khi vua phạm tội tà dâm với Bát-sê-ba, và Thi Thiên này đã trở thành lời xưng tội mẫu mực cho các thế hệ sau. Lời cầu nguyện của vua Sa lô môn xin Thượng Đế ban cho sự khôn ngoan lúc vua lên ngai (IVua 1V 3:7-9) và sự hạ mình của nhà vua lúc cầu nguyện dâng hiến đến thờ cho Chúa đã đem lại phước hạnh cho cả nước.
Qua đời Tân ước, sự cầu nguyện tiếp tục giữ vai trò thiết yếu. Chúa Cứu Thế Giê-xu cầu nguyện khi Ngài chịu báp-tem và khi Thánh Linh giáng trên Ngài (LuLc 3:21, 22). Chúa cầu nguyện lúc bắt đầu thi hành chức vụ (Mac Mc 1:35, LuLc 5:16). Khi chọn 12 sứ đồ (6:12). Khi Phi-e-rơ xưng Ngài là “Đấng Christ, con Đức Chúa Trời hằng sống”(9:18-20, Mat Mt 16:16). Khi Chúa hóa hình trên núi (LuLc 9:29). Khi Chúa bị phản nộp và chịu đóng đinh trên thập tự giá (22:40-44).
Nhờ cầu nguyện mà Hội Thánh đầu tiên được Chúa hướng dẫn để chọn một sứ đồ thay thế cho Giu đa (Cong Cv 1:24), được Chúa ban cho can đảm để làm chứng cho Chúa dù gặp bắt bớ (4:31), được Thượng Đế đổ Đức Thánh Linh trên những người tin Chúa ở xứ Sa-ma-ri (8:15), được tiếp nhận mạng lệnh của Chúa để rao giảng Tin lành cho dân ngoại (10:9-23) được Thánh Linh chỉ dạy và ban quyền năng để Phao-lô có thể thực hiện các chuyến truyền giáo rộng lớn (13:1-3). Nhờ cầu nguyện, Chúa đã hướng dẫn việc lựa chọn và bổ nhiệm những người lãnh đạo Hội Thánh (14:23). Chúa đã cứu Phi-e-rơ, Phao-lô và Si la ra khỏi ngục tù (12:12; 16:25-40). Thượng Đế đáp lời cầu nguyện bằng cách hướng dẫn, trang bị và ban quyền năng cho Hội Thánh đầu tiên để làm công việc Chúa cách hữu hiệu.
Hoán Lại Cho Đến Thời Điểm Tốt Đẹp Hơn
Ngay cả trong các thời đại của Kinh Thánh, Thượng Đế không phải lúc nào cũng nhậm lời cầu xin của dân Chúa cách cấp kỳ. Nhiều lúc Thượng Đế chờ đợi đến đúng thời điểm. Dường như các cửa trời đóng lại trước những lời kêu la của Gióp khi tình cảnh gia đình và cá nhân ông càng ngày càng xuống dốc. Nhưng Thượng Đế không đáp lời: “Không”, mà Ngài hoãn lại thời điểm chấm dứt khổ nạn để dạy cho tôi tớ Ngài bài học thuộc linh quí giá, mà Gióp chỉ có thể học trong khổ nạn. Cuối cùng, lúc được giải cứu, Gióp đã trở thành một con cái trưởng thành của Thượng Đế, được Ngài ban lại sức khỏe và gia tài gấp đôi (Giop G 3:11-23; 7:20; 42:8-10; Gia Gc 5:11). Có những cặp vợ chồng không thể sinh con cái đã phải chờ đợi lâu ngày chầy tháng, nhưng khi đúng thời điểm tốt đẹp của Thượng Đế, bà An-ne đã sinh ra Sa-mu-ên (ISa1Sm 1:5-7, 20) và Xa-cha-ri với Ê-li-sa-bét đã sinh ra Giăng-Báp-tít (LuLc 1:13).
Xác Nhận Một Đường Lối Tốt Hơn
Có khi Cha trên trời, với sự khôn ngoan tuyệt đối của Ngài, đã yêu thương khi không chấp nhận lời cầu nguyện của con cái ngài, vì Ngài biết điều gì là tốt lành hơn cho họ. Thượng Đế đâu có phải là một ông cha độc ác để nhậm lời xin chết của Ê-li (IVua 1V 19:4) hay của Giô-na (Gion Gn 4:1-10). Các nhà tiên tri này vì quá xuống tinh thần nên quẫn trí và cầu xin Chúa cho họ được chết, nhưng Chúa trả lời: “Không được, vì chết không phải là giải pháp cho những nhà tiên tri vừa mới được Ngài dùng làm công cụ để phát động hai cuộc phục hưng.
Cũng có khi Thượng Đế khước từ lời cầu nguyện của con cái Ngài, không phải vì lời đó điên khùng hay dại dột, nhưng vì Chúa có điều tốt hơn. Như trường hợp của Phao-lô xin Chúa làm cho “cái giăm xóc vào thịt “lìa xa ông, nhưng Chúa trả lời rằng: “An điển Ta đủ cho người rồi, vì sức mạnh của Ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối”(IICo 2Cr 12:7-20). Nhờ đó Phao-lô nhận thức được rằng các phước hạnh thuộc linh do ân điển của Thượng Đế đem đến cho ông trong các nghịch cảnh đã vượt quá xa sự khó chịu hay đau đớn của thể xác.
KẾT QUẢ CỦA LỜI CẦU NGUYỆN NGÀY NAY
Cầu nguyện vẫn là một sức mạnh vô cùng hữu hiệu trong thời hiện đại. Mặc dầu nhiều người vô tín trong thời đại khoa học hiện nay cứ tiếp tục không chấp nhận bàn tay siêu nhiên của Thượng Đế đang can thiệp vào các biến cố hằng ngày, chúng ta có thừa bằng chứng để quả quyết rằng Thượng Đế vẫn nhậm lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện của con cái Thượng đé vẫn có ảnh hưởng trên cuộc sống cá nhân cũng như trên các biến cố quốc tế như vào thời đại của Kinh Thánh. Chúng ta không cần phải là một “siêu Cơ-đốc nhân “mới nhận được quyền năng cần phải là một “siêu Cơ-đốc nhân “mới nhận được quyền năng của sự cầu nguyện. Nhà tiên tri Ê-li, là người có lời cầu nguyện đổi được thời tiết, cũng là người yếu đuối như chúng ta” (Gia Gc 5:17). Cũng như chúng ta ngày nay, Ê-li đã có nhiều lúc thất vọng sợ hãi, nhưng Thượng Đế đã nhậm lời cầu nguyện của ông.
Thượng Đế Nhậm Lời Cầu Nguyện Cách Dứt Khóat Rõ Ràng
Có bao nhiêu lời làm chứng xác nhận rằng Thượng Đế thành tín đã nhậm lời cầu nguyện của con cái Ngài. Nhiều Cơ-đốc nhân bị tù đày, vì danh Chúa cho biết họ đã được Chúa thêm can đảm và sức mạnh khi cầu nguyện. Nhiều người mắc các chứng bệnh nan y và sắp chết đã được chữẫ lành cách siêu nhiên khi con cái Thượng Đế cầu nguyện. Có những Hội Thánh vẫn phát triển trong các quốc gia bắt bớ Đạo Chúa, nhờ lời cầu thay của các Cơ-đốc nhân ở nước ngoài. Bao nhiêu đời sống bị tội lỗi tàn phá đã được hoàn toàn biến đổi sau khi họ ăn năn, nhờ lời cầu thay trung tín của bà con hay bạn bè. Nhiều người vui sướng ca ngợi Chúa vì Ngài nhậm lời cầu nguyện và hàng ngày thỏa mãn vô số nhu cầu của họ.
Trông Mong Cách Thực Tế Khi Cầu Nguyện
Nhiều tín hữu thường thất vọng vì cầu nguyện mà không thấy được kết quả trực tiếp. Có người cho rằng Thượng Đế không giữ lời hứa, nhưng kỳ thực họ đã hiểu sai các lời hứa của Chúa liên hệ đến sự cầu nguyện. Chúa Giê-xu hứa rằng “các ngươi nhơn danh Ta cầu xin điều chi mặc dầu, Ta sẽ làm cho...,” nhưng lời hứa này không có nghĩa là mình muốn gì Chúa cho nấy. Cầu nguyện là lời xin Thượng Đế giúp đỡ chứ không phải là yêu sách bắt Chúa phải hành động. Trong Kinh Thánh có những lời hứa tổng quát dường như không đặt điều kiện và không có ngoại lệ, nhưng nguyên tắc không thay đổi là Thượng Đế không bao giờ làm điều gì ngược lại với các thuộc tính và vinh quang của Ngài. Chúa nói rằng “để cha được sáng danh nơi con” (GiGa 14:13), tức là mọi việc Chuas làm đều nhắm vào mục đích duy nhất là tôn vinh Đức Chúa Cha. Cũng có những câu Kinh Thánh nói rõ rệt là “Thượng Đế không nhậm những lời cầu nguyện để thỏa mãn tham dục vị kỷ (Gia Gc 4:3) và cũng không nghe lời cầu nguyện ngược với ý muốn của Chúa (IGi1Ga 5:14). Sự nhậm lời cầu nguyện của Thượng Đế không bao giờ là một thứ thỏa mãn yêu sách, vì Ngài không bị bắt buộc phải cung cấp tất cả mọi điều con dân Ngài ước muốn. Với sự khôn ngoan vô tận và tình yêu bất biến. Thượng Đế thấu suốt mọi lời cầu xin và mọi nhu cầu của con cái Ngài, và chỉ ban cho những thứ Ngài biết là tốt nhất.
Có người dựa và Mat Mt 18:19 (BDY)” Nếu hai người trong các con đồng tâm cầu xin bất cứ điều gì. Cha Ta trên trời sẽ thực hiện điều đó” Để nói rằng: hễ hai người đồng tâm thì lời cầu nguyện của họ được bảo đảm một trăm phần trăm. Nhưng những người này không biết rằng Lời Chúa Giê-xu phán trong khúc Kinh Thánh này (18:15-20) liên hệ đến sự hòa thuận đồng tâm nhất trí, sự tha thứ giữa các tín hữa, đến kỷ luật trong Hội Thánh chứ không phải liên hệ đến cầu xin vật gì. Khúc Kinh Thánh nầy nói đến sự hòa thuận đồng tâm nhất trí, sự tha thứ giữa các tín hữu, đến kỷ luật trong Hội Thánh, và đến biện pháp kỷ luật phải áp dụng cho các phần tử có lỗi nhưng không chịu ăn năn. Mong chờ sai lầm là điều rất nguy hiểm, vì có người tưởng Chúa không thành tín khi không thấy Chúa đáp lời cầu nguyện của họ. Họ bất mãn Chúa vì những điều mà Chúa chẳng bao giờ hứa làm cho họ.
Tin Tưởng Vững Chắc Khi Cầu Nguyện
Với cái nhìn hạn hẹp của con người, chúng ta thấy bệnh tật, khổ nạn, nghịch cảnh và bức hại đều là những thứ hoàn toàn bất hạnh. Nếu có quyền lựa chọn, chắc chắn Cơ-đốc nhân sẽ không bao giờ để cho những thứ bất hạnh này xâm nhập cuộc đời của họ. Tuy nhiên, những thứ này là “thành phần “của thế giới tội lỗi sa đọa và tín hữu phải sống trong thế giới đó với niềm tin của mình. Đó là hậu quả của sự sa vào tội lỗi của nhân loại. Thượng Đế rất ghét những điều này nên đã có hành động dứt khóat khi sai Con Một của Ngài xuống trần gian, chịu chết trên thập tự giá để “chiến thắng Sa-tan, vua sự chết” (HeDt 2:14). Một khi đã ý thức rõ ràng rằng Thượng Đế “ với quyền năng Ngài đang tác động trong chúng ta, có thể thực hiện mọi điều vượt quá mức chúng ta cầu xin và mong ước” (Eph Ep 3:20 BDY) và quyền năng đó chính là quyền năng Thượng Đế đã dùng để khiến Chúa Cứu Thế Giê-xu sống lại và thăng thiên (1:19-22), thì chúng ta có thể cầu nguyện với lòng tin tưởng vững chắc, vì không có gì khó quá cho Thượng Đế cả.
Thượng Đế hứa sẽ đến giúp đỡ con cái của Ngài khi họ đang trải qua các hoàn cảnh khó khăn, nhưng Ngài không bao giờ hứa rằng Ngài sẽ miễn cho họ khỏi gặp các hoàn cảnh đó. Thật ra, chính Chúa Giê-xu đã cảnh cáo các môn đệ cách rõ ràng rằng “Thế gian sẽ gây đủ thứ hoạn nạn khốn k hổ cho các con, nhưng đừng nản lòng vì Ta đã chiến thắng thế gian rồi”(GiGa 16:33 BDY). Ngài hứa sẽ ban cho họ bình an trong khi gặp hoạn nạn khốn khổ, chứ không bao giờ hứa cho họ được “miễn nạn”. Trong các thời đại Kinh Thánh, thỉnh thoảng Thượng Đế làm vinh hiển danh Ngài bằng cách bỏ hẳn các khó khăn nghịch cảnh, nhưng cũng có những lúc Ngài thêm sức cho người tin để họ có thể kiên nhẫn nhịn nhục và đem vinh quang về Ngài. Hễ khi nào Thượng Đế không ra tay chữa bệnh hay cất bỏ các hoàn cảnh khó khăn, là chắc chắn lúc đó Thượng Đế đang có những phước hạnh thuộc linh tốt hơn cho con cái của Ngài.
TÓM LƯỢC
Cầu nguyện là một yếu tố thiết yếu cho sự tăng trưởng đến trình độ trưởng thành thuộc linh. Nhờ sự cầu nguyện chúng ta có thể trực tiếp đến thưa chuyện với Thượng Đế. Kinh Thánh cho chúng ta các gương về mọi thứ cầu nguyện, cầu thay và đồng thời cho chúng ta biết Thượng Đế đã nhậm lời như thế nào. Chúng ta nên bắt chước những gương này để cầu nguyện. Các bạn cần chú ý để cho đời sống cầu nguyện của các bạn được quân bình với các yếu tố: thờ phượng, xưng tội, ái mộ, ca ngợi, tạ ơn, cầu thay và nài xin. Người tăng trưởng thuộc linh là người biết học để vui lòng tiếp nhận sự nhậm lời của Thượng Đế theo ý muốn của Ngài. Vì cầu nguyện là một sức lực vô cùng mạnh mẽ nên chúng ta phải liên tục thực tập cầu nguyện để được tăng trưởng tâm linh.
BÀI LÀM
1. Hãy cho biết bốn điều lời cầu nguyện không thể thực hiện được, và giải thích tại sao như vậy ?
2. Nếu cầu nguyện không thể thực hiện bốn điều đó, tại sao ta lại cầu nguyện?
3. Kể ra bảy yếu tố của một đời sống cầu nguyện quân bình và cho biết mỗi yếu tố giúp đỡ bạn tăng trưởng thuộc linh như thế nào?
4. Trong đời Cựu Ước, lời cầu nguyện đã đem lại những kết quả nào khi Thượng Đế dùng biện pháp kỷ luật để trừng phạt dân của Ngài.
5. Tại sao ý kiến cho rằng lời cầu nguyện bảo đảm chúng ta sẽ nhận được tất cả mọi điều chúng ta cầu xin là một ý kiến sai lầm.
6. Làm sao có thể coi câu trả lời “chờ đợi “hay “không được “là cách trả lời tích cực cho lời cầu nguyện của chúng ta ?
7. Xin nêu ra vài điều ước mong sai lầm mà người ta có về sự cầu nguyện và cho biết tại sao đây là vấn đề rất trầm trọng.
ÁP DỤNG
1. Khi học Kinh Thánh riêng bạn hãy đọc sách Lu-ca và sách Công Vụ các Sứ đồ, mỗi ngày một chương (đoạn), rồi ghi lại trong cuốn “Nhật Ký Cầu Nguyện “những đoạn câu có nói đến sự cầu nguyện, với các chi tiết này: cơ hội cầu nguyện, vấn đề cầu nguyện, các yếu tố cầu nguyện (như thờ phượng, xưng tội...) và sự nhậm lời (nếu có ghi trong đoạn câu liên hệ)
2. Nghiên cứu các bài cầu nguyện trứ danh trong cả Kinh Thánh và ghi nhận những yếu tố thờ phượng, xưng tội, ái mộ, ca ngợi, cảm tạ và cầu thay trong mỗi bài cầu nguyện.
3. Bạn hãy giữ một sổ “nhật ký cầu nguyện “để ghi lại các điều bạn cầu xin và các điều Chúa nhậm lời. Chia mỗi trang giấy thành bốn cột: Ngày, Điều Cầu Xin, Điều Được Nhậm, Ngày Chúa Nhậm Lời.
TÀI LIỆU THAM K HẢO
Bounds, EM. Power Through Prayer . Chicago: Moody Press, n.d
Murray, Andrew. With Christ in the School of Prayer Old Tappan, NJ: Revell 1953
Kelly, Thomas R.A Testament of Devotion New York: Harper and Brothers Publishers, 1941
Chương 4: THIẾT LẬP MỘT NẾP SỐNG TIN KÍNH
Cơ-đốc nhân tăng trưởng tâm linh sẽ có ảnh hưởng trên xã hội bên ngoài, những ảnh hưởng này lớn hay nhỏ là tùy theo trình độ sống đạo của Cơ-đốc nhân đó. Nói cách khác, nếu người này càng sống sát với niềm tin mình xưng nhận thì ảnh hưởng đó càng lớn, nhưng nếu chỉ sống đạo một cách hời hợt thì ảnh hưởng đó rất nhỏ, mà có khi còn gây ảnh hưởng xấu nữa. Nên thánh không phải là một điều có cũng được mà không có cũng được, nhưng là điều kiện tiên quyết để phục vụ vương quốc của Thượng Đế, vì mỗi người phục vụ Thượng Đế thánh khiết đến phải có tấm lòng trong trắng (“ Vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời”HeDt 12:14b)
Nhưng Thượng Đế không đòi hỏi người tin phải toàn thiện, vì Hê-bơ-rơ chương 11 cho thấy gương của các anh hùng đức tin, họ đã được Thượng Đế dùng mặc dầu họ cũng có những bất toàn, những chổ yếu, vì khi ý thức mình yếu đuối, họ được Chúa làm cho mạnh mẽ. (11:34) “yếu đuối trở thành mạnh mẽ”bản Kinh Thánh Việt Nam cũ dịch là “thắng bịnh tật” bản King James, dịch là “out of Weakness (they) were made strong). Dù vậy, chúng ta không được viện cớ “Thượng Đế dùng những người yếu đuối tội lỗi để thực hiện chương trình của Ngài” để cứ tiếp tục sống trong tội. Nhưng đó chính là điều thách thức chúng ta phỉa từ bỏ tội lỗi và tiếp tục cuộc chạy đua đức tin, như Lời Chúa dạy trong12:1, 2.
Nên thánh không phải là sống cho đúng một thứ tiêu chuẩn thiện lành chỉ có bề mặt của con người, nhưng là một thái độ của tấm lòng và thái độ này được biểu lộ bằng nếp sống tin kính. Để có được nếp sống nên thánh và tin kính đó, trước hết chúng ta phải vun trồng một tấm lòng dành riêng cho Thượng Đế, thứ hai là chúng ta cần phải chiến thắng cám dỗ trong cuộc sống, và thứ ba phải thiết lập các mẫu mực của đời sống thánh hóa
VUN TRỒNG TẤM LÒNG DÀNH RIÊNG CHO THƯỢNG ĐẾ
“Tin kính”(Godliness) là thái độ của tấm lòng và thái độ này biểu lộ qua cách ăn ở kính kiên. Các Cơ-đốc nhân tăng trưởng thuộc linh phải vun trồng tấm lòng mình để dành riêng cho Chúa hầu có thể có một nếp sống tín kính.
Suốt cả Kinh Thánh, từ ngữ “tấm lòng “được dùng để nói đến toàn thể người bề trong, kể cả tâm trí, xúc cảm và ý chí. Đức Thánh Linh muốn đầy dẫy tấm lòng của chúng ta với sự hiện diện siêu nhiên của Ngài. Một khi tấm lòng chúng ta đầy dẫy Chúa, nó sẽ tuôn tràn qua lời nói, việc làm và hành vi cử chỉ tín kính. Nói cách khác, nếp sống tin kính phát xuất từ tấm lòng đầy dẫy Thánh Linh của Thượng Đế.
Để có thể nuôi dưỡng tấm lòng tin kính, chúng ta những Cơ-đốc nhân muốn tiếp tục tăng trưởng và trưởng thành trong đức tin, trước hết phải mở lòng mình cho Chúa ngự trị, thứ hai phải xưng các tội mình biết, và thứ ba phải ước ao được đầy dẫy Đức Thánh Linh.
Mở Tấm Lòng Cho Chúa Ngự Trị
Thượng Đế không bao giờ thỏa lòng khi chúng ta khóac lên người cái “áo phục vụ” và “áo thờ phượng” như cách người ta mặc áo hay đội nón. Các thứ hoạt động tôn giáo này không có giá trị gì trước mắt, nếu chúng ta không phục vụ và thờ phượng Chúa với cả tấm lòng (EsIs 29:13). Chính Thượng Đế dạy dân của Ngài phải yêu kính Ngài với toàn thể con người chúng ta, kể cả tấm lòng, tâm trí, linh hồn, ý chí, năng lực (PhuDnl 6:5; Mat Mt 22:37). Để có thể yêu kính Chúa trên cao độ đó, chúng ta phải để cho Đức thánh linh thấm nhập vào mọi lãnh vực của người bề trong.
Thượng Đế dạy dân của Ngài trong sách Gie Gr 4:3, 4 rằng: “Hãy cày mở ruộng mới các ngươi, chớ gieo trong gai gốc.... hãy tự cắt bì mình cho Đức Giê-hô-va và cất dương bì khỏi lòng ngươi”. Phần thứ nhất của lời này so sánh tấm lòng của dân Chúa với một cánh đồng đất cứng và bỏ hoang nên cỏ dại mọc đầy. Phần thứ nhì Chúa kêu gọi họ phải cắt bỏ lớp vỏ đang che đậy tấm lòng, để cho Lời Chúa vào và thay đổi nếp sống của họ. Vì ghê tởm lối sống tội lỗi của dân chúng nên Thượng Đế ra lệnh cho họ phải đập vỡ tấm lòng và để cho thánh linh thay đổi nếp sống của họ. Vì ghê tởm lối sống tội lỗi của dân chúng nên Thượng Đế ra lệnh cho họ phải đập vỡ tấm lòng và để cho Thánh Linh thay đổi nếp sống của họ. Cũng vậy, nếu chúng ta muốn tiếp tục tăng trưởng và trưởng thành thuộc linh, chúng ta phải để cho Đức thánh linh nghiền nát các chổ cứng cỏi trong lòng và chúng ta phải nuôi dưỡng một tấm lòng mềm mại dành riêng cho Chúa.
Xưng Tội Với Chúa
Một khi chúng ta, Cơ-đốc nhân tăng trưởng tâm linh, đã mở những nơi bí mật và kín giấu trong tấm lòng chúng ta cho Chúa, chúng ta cũng phải xưng mọi tội lỗi một cách rành mạch với Chúa như Lời Chúa dạy trong IGi1Ga 1:9. Sự xưng tội cách đơn sơ và khiêm nhường trước mặt Thượng Đế sẽ đem lại cho chúng ta sự tha thứ, chữa lành và quyền năng, vì quyền năng của Thượng Đế Toàn năng chỉ tác động trong những tấm lòng khiêm nhường và nhay cảm sẵn sàng vâng phục sự cáo trách của Đức Thánh Linh (EsIs 57:15).
Để có thể tăng trưởng tâm linh liên tục, chúng ta hàng ngày phải tự xét tấm lòng và hành động của mình trước mặt Chúa và xưng tất cả tội lỗi chúng ta nhận biết.
Mong Muốn Được Đầy Dẫy Đức Thánh Linh
Một khi đã thanh toán tội lỗi cách dứt khóat, chúng ta phải tìm cầu sự đầy dẫy Đức Thánh linh, vì chúng ta chỉ có quyền năng để phục vụ Chúa khi chúng ta đầy dãy Đức Thánh Linh. Theo Cong Cv 1:8, thì Thánh linh được ban cho Hội Thánh để Hội Thánh có quyền năng làm chứng về Chúa Cứu Thế Giê-xu, và Eph Ep 5:18 là mạng lệnh Chúa truyền cho mỗi người tin Chúa phải tiếp tục đầy dẫy Đức Thánh Linh.
Suốt thời kỳ Cựu Ước, con dân của Chúa được thôi thúc tìm kiếm Thượng Đế, như tác giả Thi Tv 42:1, 2 bày tỏ tấm lòng khao k hát tìm cầu Chúa rằng: “Đức Chúa Trời ôi ! Linh hồn tôi mơ ước Chúa, như con nai cái thèm khát khe nước. Linh hồn tôi khao khát Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời hằng sống. Tôi sẽ đến ra mắt Đức Chúa Trời chừng nào”
Trong thời Cựu Ươc, kinh nghiệm được đầy dẫy Đức Thánh Linh chỉ có từng hội, từng lúc nhưng trong thời kỳ Tân ước, Chúa hứa cho Hội Thánh Ngài có thể được liên tục đầy dẫy Thánh Linh. Khi Phán về lời hứa ban cho Đức Thánh Linh, Đức Chúa Giê-xu đã trưng dẫn EsIs 44:3 khi tuyên bố rằng: “Kẻ nào tin Ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy”
Theo lời này, cũng như theo nhiều câu Kinh Thánh khác, Đức Thánh Linh chẳng những đầy dẫy tấm lòng của chúng ta mà còn tuôn tràn qua đời sống người khác nữa. Lời cầu nguyện của sứ đồ Phao-lô trong Eph Ep 3:14-21 cho chúng ta thấy cách Đức Thánh Linh hành động trong tấm lòng người tin Chúa. Trước hết, Phao-lô cầu xin cho các tín hữu được “quyền ghép bởi Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng” và cuối cùng ông cầu cho họ “được đầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời” Qua ngôi vị của Đức Thánh Linh, chúng ta nhận được quyền năng vô hạn, vì vậy người tín hữu đầy dẫy Thánh Linh có quyền năng để làm chứng về Chúa và để phản ảnh “mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời” trong nếp sống của mình.
Việc xây dựng một nếp sống tin kính bắt đầu bằng việc nuôi dưỡng tấm lòng để dành riêng cho Thượng Đế và đòi hỏi chúng ta phải có kỷ luật và kiên trì để suy gẫm học hỏi Lời Chúa và cầu nguyện. Bằng cách ghi lại các ý suy gẫm, các vấn đề mình lưu tâm và các lời cầu nguyện của mình trong tập nhật ký, chúng ta tỏ tinh thần trách nhiệm với Chúa về sự tăng trưởng thuộc linh của chính mình.
CHIẾN THẮNG CÁC CÁM DỖ
Là Cơ-đốc nhân tăng trưởng các bạn cũng bị các sự cám dỗ tấn công như bất cứ tín hữu nào khác, vì người được Chúa sử dụng không có nghĩa là được Chúa bảo đảm sẽ không bị sa vào các mưu chước của Sa-tan. Thật ra người đang được Chúa sử dụng lại là người có thể bị Sa-tan cám dỗ gắt gao hơn. Vì vậy các bạn là người có nếp sống tin kính phải học biết cách nào mình có thể đắc thắng các sự cám dỗ trong đời.
Có ba phương pháp thực tiễn các bạn có thể áp dụng để đắc thắng các cám dỗ. Đó là (1) thú nhận các yếu đuối của mình; (2) sử dụng các nguồn năng lực của Chúa; và (3) canh giữ tư tưởng của mình.
Nhìn Nhận Các Yếu Đuối Của Mình
Một số tín hữu vì mình giữ thể diện trước măt người khác nên làm như họ không hề phải chiến đấu với tội lỗi và cám dỗ. Họ nghĩ lầm tưởng rằng nếu họ chia xẻ các cuộc chiến đấu của họ, người khác sẽ cho họ là con người yếu đuối. Nhưng theo Kinh Thánh, thì Cơ-đốc nhân “lý tưởng” lại khác hẳn. Chúng ta xem lại gương các anh hùng đức tin trong HeDt 11:1-40 thì thấy ngay rằng họ là những người “yếu đuối trở thành mạnh mẽ”(11:34). Sứ đồ Phao-lô cũng có ghi lại Lời Chúa phán trực tiếp với ông rằng: Càng biết mình yếu đuối, con càng kinh nghiệm quyền năng Ta đến mức hoàn toàn “(IICo 2Cr 12:7, 10 BDY), vì quyền năng của Đức Thánh Linh chỉ tác động trong đời sống Cơ-đốc nhân nào khiêm tốn và ý thức được các yếu đuối của mình.
Ngược lại, khi Cơ-đốc nhân nào tự tin và kiêu ngạo sẽ ỷ lại vào tài năng riêng và loại bỏ Chúa ra ngoài. “Vậy thì ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã”( ICo1Cr 10:12).
Kinh Thánh ghi lại rất rõ rệt gương các nhà lãnh tụ như Sau-lơ, Đa-vít, Sa-lô-môn đã bị mắc bẫy cám dỗ vì kiêu ngạo. Vì vậy, các bạn phải tự nguyện thú nhận các yếu đuối, tội lỗi và thất bại của mình để có thể tăng trưởng tâm linh. Các bạn phải giữ tấm lòng khiêm nhường trước mặt Chúa và trước mặt người khác. Gie Gr 17:9 chép rằng: “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa, ai có thể biết được?” Câu này chẳng những áp dụng cho người chưa tin mà cũng áp dụng cho chúng ta nữa. Vì vậy, để đắc thắng các cám dỗ, các bạn phải thú nhận với chính mình, với Chúa và với anh chị em trong Chúa các yếu đuối và các cuộc chiến đấu với tội lỗi của các bạn.
Sử Dụng Các Nguồn Năng Lực Của Thượng Đế
Tác giả Thi Tv 73:26 cho ta thấy mối liên hệ trực tiếpgiữa sự yếu đuối của mình và sưc lực của Thượng Đế khi nói rằng: “Thịt và lòng tôi bị tiêu hao, nhưng Đức Chúa Trời là sức lực của lòng tôi và là phần tôi đến đời đời” Quyền năng vô hạn của Chúa liền tác động khi các bạn khiêm nhường thú nhận sức người của các bạn chỉ là sức yếu đuối hữu hạn. Chúa hứa rằng khi chúng ta đến gần Chúa thì Chúa sẽ đến gần chúng ta. Khi các bạn đến với Chúa với tấm lòng hạ mình. Chúa sẽ ban cho các bạn quyền năng cần thiết để chiến thắng các sự cám dỗ, như Lời Chúa hứa trong Gia Gc 4:7 -10.
Bí quyết của sự chiến các cám dỗ là tìm được sức mạnh trong Chúa và tận dụng các nguồn năng lực của Ngài. Trong Eph Ep 6:10-20, sứ đồ Phao-lô gọi các nguồn năng lực của Chúa là “các khí giới của Đức Chúa Trời” để phòng thủ, người tin Chúa phải được trang bị với lẽ thật (chân lý), sự công chính (công bình),sứ điệp của Tin lành bình an, đức tin và sự cứu rỗi. Để tấn công kẻ thù, người tin Chúa phải có Lời Chúa và sự cầu nguyện liên tục. Mới nhìn qua, chúng ta tưỏng đa số các thứ khí giới ngày có tính cách thần học trừu tượng, nhưng thực ra tất cả đều có giá trị thực tiễn vô cùng quí giá cho chúng ta.
Là cơ đốc nhân tăng trưởng và trưởng thành, các bạn phải nhờ Lời Chúa làm phương châm để có thể phát giác được các mưu chước lừa dối của Sa-tan. Khi được sự công chính của Thượng Đế bảo vệ, sự công chính chúng ta nhận được nhờ công lao huyết báu của Chúa Giê-xu, chúng ta có thể bỏ ngoài tai các lời buộc tội của Sa-tan. Nhờ tuân hành Đại mệnh lệnh của Chúa Giê-xu, chúng ta không còn bị ám ảnh là mình sống không có mục đích. Được trang bị với đức tin, chúng ta có thể vượt thẳng các thương tổn tạm thời và các chướng ngại vật trong đời để tiến tới, Mặc dầu có lúc cũng gặp phải những kinh nghiệm đau buồn. Khi biết chắc chắn mình đã được cứu rỗi, các bạn sẽ không vì một số thất bại hay yếu đuối mà sợ mình phải mất đức tin, bỏ Chúa.
Cuối cùng, là Cơ-đốc nhân tăng trưởng tâm linh, các bạn phải dùng Lời Chúa để bịt miệng Sa-tan là kẻ buộc tội các bạn và để rọi ánh sáng trên con đường các bạn đang đi.
Với các nguồn năng lực đó, Thượng Đế sẽ làm cho bạn đắc thắng các cám dỗ.
Canh Giữ Tư Tưởng Của Mình
Tội lỗi phát xuất từ tấm lòng (Mat Mt 15:18), vì vậy bất cứ chiến lược nào được áp dụng để chiến thắng cám dỗ đều phải bắt đầu với tấm lòng. Nếu chúng ta không lo thanh toán ngay một tư tưởng hay một ham muốn bất chính, tư tưởng hay ham muốn đó sẽ dẫn đến hành động tội lỗi. Các Cơ-đốc nhân thất bại phần lớn là vì đã để cho các tư tưởng và ham muốn tội lỗi cháy trong lòng của họ trong một thời gian. Muốn đắc thắng cám dỗ, chúng ta phải học biết cách đặt tư tưởng mình vào kỷ luật.
Sứ đồ Phao-lô giải thích cho chúng ta thấy phương pháp ông đã áp dụng để khỏi bị mưu chước của Sa-tan sập bẫy là “bắt mọi tư tưởng phải đầu phục Chúa Cứu Thế”( IICo 2Cr 10:5). Nếu muốn tiếp tục tăng trưởng và trưởng thành trong Chúa Cứu Thế, các bạn phải đừng dể lọt vào lòng mình bất cứ tư tưởng hay ham muốn nào đi ngược với các nguyên tắc và qui luật của Kinh Thánh. Nhờ biết đối xử cách dứt khóat với tội lỗi ngay trong tư tưởng, các bạn có thể kìm hãm các hành động tội lỗi cách hữu hiệu hơn. Khi vừa thóang nhận biết có một tư tưởng, cám dỗ nào xuất hiện, các bạn hãy trưng dẫn một câu Kinh Thánh thích hợp hay hát nho nhỏ một bản thánh ca. Nhờ tập trung tư tưởng vào Chúa như vậy, các bạn sẽ được Chúa giải cứu khỏi sự cám dỗ.
THIẾT LẬP CÁC MẪU MỰC CỦA NẾP SỐNG THÁNH THIỆN
Để tiếp tục tăng trưởng tâm linh, Cơ đốc nhân phải kiên định thi hành các nguyên tăc thánh hóa của Kinh Thánh. Mặc dầu nếp sống tin kính bắt đầu với tấm lòng, nó phải được bày tỏ ra qua sinh hoạt hằng ngày, vì các việc làm và hành động tin kính đều phải phát xuất từ tấm lòng trong sạch và đời sống có kỷ luật. Để có thể thiết lập các đường hướng cho nếp sống thánh hóa (1) bạn phải giữ đúng các tiêu chuẩn trong Kinh Thánh (2) bạn phải áp dụng kỷ luật cho mọi lãnh vực của cuộc sống mình và (3) thiết lập mối liên hệ (để thông công chia xẻ) với các anh em kính sợ Chúa.
Giữ Đúng Các Tiêu Chuẩn Trong Kinh Thánh
Thượng Đế ban lệnh cho Cơ-đốc nhân phải thánh thiện và trọn vẹn trong cách ăn nết ở chỉ vì một lý do đơn giản là Thượng Đế là Đấng Thánh Thiện (IIPhi 2Pr 1:15; LeLv 11:44). Nếu các bạn phải giống Chúa Cứu Thế thì trước hết các bạn phải phấn đấu để giống Chúa trong sự thánh thiện của Ngài. Tiêu chuẩn thánh thiện phải là tiêu chuẩn của Thượng Đế, tức là thánh thiện trọn vẹn, chứ không phải các tiêu chuẩn luân lý đạo đức của đời, và ngay cả các tiêu chuẩn đạo đức của Giáo Hội nữa. Là Cơ-đốc nhân tăng trưởng tâm linh, các bạn phải liên tục tìm mọi cách để sống đúng tiêu chuẩn thánh thiện của Thượng Đế đã được bày tỏ trong Kinh Thánh.
Sự kiện không đạt đến tiêu chuẩn trọn vẹn của Thượng Đế, không phải là sự kiện làm Cơ-đốc nhân nản lòng thất vọng, nhưng chính đó là sự kiện đẩy chúng ta càng đến gần thập tự giá của Chúa càng hơn. Qua sự hy sinh và dòng huyết của Chúa Cứu Thế, người tin Chúa đã được Chúa xưng công chính cách hoàn toàn (RoRm 5:8, 9) và không cần phải cảm thấy mình bị kết tội khi chưa đạt đến tiêu chuẩn thánh thiện trọn vẹn của Thượng Đế, vì Lời Chúa trong RoRm 8:1 (BDY) bảo đảm rằng: “Vậy, người thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu sẽ không bị kết tội nữa.” Người thật tâm tin Chúa thì nhờ huyết của Chúa Giê-xu được thánh hóa bởi một tác động của Đức Chúa Trời (GaGl 3:2-3). Khi các bạn tiếp tục đi trong ánh sáng của Lời Chúa thì “Huyết của Đức Chúa Giê-xu, còn Đức Chùa trời, tẩy sạch mọi tội lỗi” của các bạn (IGi1Ga 1:7)
Là người Cơ-đốc tăng trưởng tâm linh, các bạn phải cố gắng sống đúng các tiêu chuẩn thánh hóa của Kinh Thánh, không phải là để được ân huệ và tránh khỏi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, nhưng chính vì để bày tỏ tấm lòng biết ơn Thượng Đế vi sự thương xót và vì ân điển của Ngài. Trong RoRm 12:1, 2 (BDY) sứ đồ Phao-lô thách thức mọi người tin Chúa. “Do lòng thương xót của Thượng Đế, tôi nài khuyên anh em dân thân thể mình cho Thượng Đế như một sinh tế sống và thánh, đẹp lòng Ngài. Đó là cách thờ phượng đích thực của người theo Chúa (được Thượng Đế chấp nhận). Đừng đồng hóa với người đời, nhưng hãy để Chúa đổi mới tâm trí mình, nhờ đó anh em có thể tìm biết ý muốn của Thượng Đế, và hiểu rõ điều gì tốt đẹp, trọn vẹn, hài lòng Ngài.” Thật là kỳ diệu khi nghĩ đến việc chỉ bởi Chúa như một lễ vật sống và thánh, thì chúng ta “được Thượng Đế chấp nhận.”
Bí quyết của nếp sống thánh thiện không phải là đạt đến mức toàn thiện trọn vẹn, nhưng là tận hiếu toàn thể con người của mình cho Đức Chúa Trời. Thay vì sống theo các tiêu chuẩn đạo đức hay lối sống của người thế gian, bạn phải sống theo tiêu chuẩn của Kinh Thánh. Tâm trí các bạn phải phản ảnh tư tưởng và ý muốn của tâm trí Chúa Giê-xu, “nhờ thánh linh, chúng ta có tâm trí của Chúa Cứu Thế” (ICo1Cr 2:16b). Mội khi đã trở thành những gươn mẫu sống theo ý muốn Thượng Đế, tốt đẹp, trọn vẹn và hài lòng. Mẫu mực nếp sống thánh hóa sẽ là bằng chứng của tấm lòng và tâm trí đã được Chúa biến hóa.
Ap Dụng Kỷ Luật Cho Mọi Lãnh Vực Của Đời Sống
Nếp sống thánh hóa đòi hỏi rất nhiều công lao và kỷ luật. Mặc dầu Lời Chúa trong IIPhi 2Pr 1:2 nói rằng “Quyền phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính (Godliness)”, nhưng không phải vì vậy mà bỏ qua trách nhiệm của người tin Chúa. Khúc Kinh Thánh này (1:2-11) nhiều lần dạy chúng ta “phải gắng hết sức”(câu 5), “hãy chú y”(câu 10) “làm điều đó” (câu 10). Ý nghĩa chung của cả khúc Kinh Thánh này là nếu chúng ta thật sự “dự phần bản tánh Đức Chúa Trời”(câu 4) thì chúng ta phải cố công gắng sức để có nếp sống thánh thiện
Lời Chúa trong ITi1Tm 4:7, 8 (BDY) cũng khuyến cáo người tin Chúa phải áp dụng kỷ luật cho bản thân để có một đới sống tin kính (kinh kiền = godliness). Kỷ luật đòi hỏi cố công gắng sức và nhiều khi không thích thú mấy. Thật ra hầu hết các kỷ luật đều khó khăn nhưng lại rất cần thiết để giúp chúng ta có nếp sống thánh thiện (HeDt 12:1-11)
Để tăng trưởng tâm linh, các bạn phải áp dụng kỷ luật cho mọi lãnh vực của cuộc sống, là lãnh vực xã hội (giao tế). Trí óc, tình cảm, thể xác và luân lý đạo đức. Trong lãnh vực xã hội (giao tế) các bạn phải rất thận trọng trong việc lựa chọn bạn bè và giữ sự giao tế với bạn cho đứng đắn. Trong lãnh vực trí óc, các bạn phải ấn định mục tiêu để mở mang trí tuệ, như xếp đặt thì giờ để đọc sách, để tham dự các lớp văn hóa, tham dự trường thần học hay các chương trình huấn luyện (workshop). Trong lãnh vực tình cảm, các bạn phải đừng để cho các lo âu trong quá khứ hay các áp lực trong hiện tại chiếm hết thì giờ và nghị lực. Phải tìm những cách thức lành mạnh để biểu lộ tình cảm của mình qua sự giao tế với bạn bè và qua các môn giải trí tiêu khiển. Việc giữ cho thân thể mạnh khỏe tráng kiện bằng cách tập thể dục đều đặn và ăn uống có tiết độ có ảnh hưởng rất lớn trên tình cảm và tinh thần.
Cuối cùng, Cơ-đốc nhân tăng trưởng tâm linh, các bạn cần phải áp dụng kỷ luật thật chặt chẽ trên lãnh vực luân lý đạo đức. Tình, tiền và quyền thế là ba thứ cám dỗ rất nguy hiểm cho mỗi Cơ-đốc nhân trong khi thi hành nhiệm vụ, vì vậy các bạn cần phải áp dụng kỷ luật đúng theo Lời Chúa dạy. Nói tóm lại, các bạn phải áp dụng kỷ luật chặt chẽ trong các lãnh vực xã hội (giao tế), trí óc, tình cảm, thể xác và đạo đức thì mới có thể có một nếp sống tin kính (kính sợ Chúa)
Kỷ luật quan trọng nhất trong đời sống của bạn là học Lời Chúa hàng ngày. Nhờ mỗi ngày dành thì giờ yên lặng để học hỏi Lời Chúa cách đều đặn và có hệ thống mà các bạn có thể hiểu biết Lời Chúa và áp dụng Lời đó vào cuộc sống. Ngoài ra, các bạn cũng dành thì giờ cầu nguyện và suy gẫm để giữ tấm lòng hòa nhịp với Chúa. Một kỷ luật khác rất cần thiết cho sự tăng trưởng nếp sống thánh thiện mà các bạn phải áp dụng là giữ sự thông công và cùng thờ phượng Chúa với một nhóm tín hữu. Nếu không áp dụng kỷ luật này, các bạn có thể tập trung qúa nhiều thì giờ lăng xăng lo việc này việc nọ mà bỏ bê chính tấm lòng của mình, hậu quả là chỉ có một chức vụ bận rộn nhưng hời hợt với rất ít bằng chứng của lòng tin kính (godliness).
Thiết Lập Mối Liên Hệ Và Chia xẻ Với Các Anh Chị Em Tín Hữu Khác
Các Cơ-đốc nhân hăng say hoạt động thường có khuynh hướng làm việc đơn độc một mình. Họ thường chạy quá nhanh và ôm đồm nhiều quá đến nổi không thể nuôi dưỡng các mối liên hệ quí giá với các tín hữu kính sợ Chúa, là những người họ cần chia xẻ trách nhiệm để gánh chung với nhau. Có thể họ không để ý đến một số nhược điểm của họ và mong rằng Chúa cũng sẽ bỏ qua, nhưng đến lúc những người này thất bại và tìm phương chạy chữa thì đã quá muộn. Chức vụ, gia đình và các mối liên hệ của họ đã sứt mẻ quá nhiều.
Là Cơ-đốc nhân đang tăng trưởng các bạn phải thiết lập và duy trì mối thông công chặt chẽ sâu đậm với ít nhất là một Cơ-đốc nhân kính sợ Chúa. Ngoài thân nhân trong gia đình của các bạn. Cơ-đốc nhân này phải là người các bạn có thể tâm tình và bày tỏ tất cả các tội lỗi và lỗi lầm của mình, ngay cả những tội có tính cách riêng tư (Gia Gc 5:16). Người này phải là người có thể khuyến khích bạn sống một đời sống thánh hóa, và cũng có thể sát cánh với các bạn trong cuộc chiến đấu tâm linh và cuộc “chống trả với tội ác “(HeDt 12:4)
Theo tinh thần này, tất cả các tín hữu cần phải gặp mặt nhau cách đều đặn, với một cá nhân hay một nhóm tín hữu kính sợ Chúa, nhờ đó Cơ-đốc nhân đang tăng trưởng thuộc linh có thể giữ lòng khiêm nhường hạ mình và tiếp tục lớn lên trong nếp sống thánh hóa.
TÓM LƯỢC
Chức vụ các bạn có hữu hiệu hay không hoàn toàn tùy thuộc nơi các bạn có một nếp sống tin kính Chúa (godly) hay không. Sự tin kính (godliness) có đặc tính “tự sinh sôi nẩy nở”. Muốn có nếp sống tin kính, trước hết các bạn phải nuôi dưỡng tâm linh mình để dành riêng cho Chúa, bằng cách mở lòng ra mời Chúa vào ngự trị, xưng ra tất cả tội lỗi các bạn biết, và để cho Đức Chúa Trời đổ đầy quyền năng của Đức Thánh Linh vào đời sống các bạn. Thứ hai, các bạn phải học tập chiến thắng các cám dỗ bằng cách thú nhận các yếu đuối của mình, tận dụng các nguồn năng lực của Chúa và canh giữ tâm trí tư tưởng của mình. Thứ ba, các bạn phải thiết lập các mẫu mực của nếp sống thánh hóa bằng cách áp dụng các tiêu chuẩn của Kinh Thánh vào mọi sinh hoạt, áp dụng kỷ luật cho mọi lãnh vực của đời sống và thông công chia xẻ với tín hữu kính sợ Chúa
BÀI LÀM
1. Xin kể ra ba bước cần thiết để có một nếp sống tin kính
2. Xin cho biết tầm quan trọng của việc xưng tội hàng ngày
3. Xin cho biết phần việc của Đức Thánh Linh trong sự thiết lập nếp sống tin kính
4. Làm cách nào bạn có thể chiến thắng cám dỗ?
5. Tại sao việc canh giữ tâm trí (tư tưởng) là việc cần thiết?
6. Tại sao các tiêu chuẩn của Kinh Thánh vẫn là các tiêu chuẩn duy nhất để chúng ta áp dụng trong cuộc sống ?
7. Tại sao việc thiết lập mối liên hệ chặt chẽ (để thông công, chia xẻ) với các anh chị em tín hữu khác là điều quan trọng.
ÁP DỤNG
Để có thể áp dụng nguyên tắc trong chương này cách tốt đẹp, yêu cầu các bạn sốt sắng tích cực trả lời các câu hỏi, hay áp dụng các lời khuyên sau đây.
1. Những lãnh vực nào trong cuộc sống của bạn là lãnh vực mà bạn đang tìm cách để che giấu Thượng Đế?
2. Bạn hãy cầu xin Chúa tha thứ tội lỗi cho bạn (kể cả từng tội một)
3. Bạn hãy cầu xin Đức Thánh linh đầy dẫy những chổ trong tấm lòng của bạn, là chổ trước đây vẫn đầy dẫy các ước muốn và tư tưởng hư xấu.
4. Bạn hãy liệt kê ra các sự cám dỗ bạn đang phải chiếu đấu
5. Xin cho biết bạn làm cách nào để áp dụng kỷ luật trên tâm trí (tư tưởng)
6. So sánh với tiêu chuẩn Kinh Thánh thì tiêu chuẩn sống của bạn thấp kém hơn như thế nào ?
7. Xin kể ra các lãnh vực trong cuộc sống mà các bạn cảm thấy là cần có kỷ luật nhiều hơn.
8. Ai là người tin kính Chúa mà bạn sẽ cùng thiết lập mối liên hệ để thông công chia xẻ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bridges, Jerry. The Pursuit of Holiness . Colorado Springs, Co: Navpress, 1978.
Brown, Colin Editor. Dictionary of New Testament Theology Grand Rapids, MI: Zondervan Publishing House, 1976.
Foster, Richard. Celebration of Discipline . San Francisco CA. Harper & Row Publishers 1978.

Chương 5: PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG THIẾT LẬP CÁC MỐI TƯƠNG GIAO GIỮA NGƯỜI VỚI NGƯỜI
Chức vụ của người Cơ-đốc đang tăng trưởng và tiến lên trưởng thành tâm linh có thành công hay không một phần lớn tùy thuộc vào khả năng thiết lập và duy trì mối tương giao tích cực với người khác. Kinh Thánh dạy các tín hữu đang tăng trưởng phải phát triển mối liên hệ trong gia đình, trong Hội Thánh và trong thế gian.
NỀN TẢNG KINH THÁNH
Kinh Thánh cho chúng ta một nền tảng thần học vững chăc về việc Cơ-đốc nhân phải phát triển mối liên hệ tích cực với người khác. Đây là ba lý do thần học đó (1), đặc tính của mối liên hệ (sự thông công) (2) đặc tính của Hội Thánh và (3) mệnh lệnh của Chúa Cứu Thế
Đặc Tính Của Sự Tương Giao
Từ ngữ “tương giao” (fellowship) theo nguyên văn Hy lạp là “koinoia” có nghĩa là chia xẻ với nhau, sự tham dự, hay quyền sở hữu chung. Khi được dùng trong đoạn văn nói về sự hội họp của các tín hữu, từ ngữ ngày có nghĩa là mối liên hệ mật thiết giữa các tín hữu với Chúa Cứu Thế Giê-xu và với nhau. Trong Kinh Thánh, hai mối tương giao này (với Chúa và với nhau) được nối liền với nhau. Như trong thư IGi1Ga 1:3 (BDY) chép rằng: “Tôi đang kể cho anh em những điều mắt thấy tai nghe tường tận, để anh em có thể cùng chúng tôi vui hưởng mối giao hảo với Chúa Cha và Con Ngài là Chúa Cứu Thế”. Mối tương giao chặt chẽ này giữa Cơ-đốc nhân với Thượng Đế và với những anh chị em tín hữu khác lại được nhấn mạnh trong các câu sau: “Vậy nếu ai nói mình thân thiết với Ngài mà lại sống trong bóng tối là người nói dối và không làm theo chân lý. Nếu chúng ta sống trong ánh sáng như Thượng Đế, chúng ta sẽ giao hảo với nhau, và huyết Chúa Giê-xu, Con Thượng Đế, tẩy sạch tất cả tội lỗi chúng ta” (1:6-7 BDY).
Mối liên hệ hữu cơ giữa sự tương giao của Cơ-đốc nhân với Chúa Cứu Thế Giê-xu và sự tương giao của các Cơ-đốc nhân với nhau được Kinh Thánh mô tả rõ ràng trong 4:11, 12 (BDY) như sau: “Anh em thân yêu, Thượng Đế đã yêu thương chúng ta đến thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau. Dù chúng ta chưa thấy được Thượng Đế, nhưng một khi chúng ta yêu thương nhau, Thượng Đế sống trong chúng ta và tình yêu Ngài trong chúng ta càng tăng thêm mãi”.
Mối tương giao của các thánh đồ là sự liên hiệp siêu nhiên của các tín hữu quanh một Chúa chung, là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Khái niệm “tương giao” trong Kinh Thánh đòi hỏi tất cả Cơ-đốc nhân có một tinh thần tương thân tương ái sâu đâm, dựa trên lòng trung kiên với Chúa Giê-xu (ICo1Cr 10:16; HeDt 13:16; RoRm 15:2, 6; Phi Pl 2:1)
Đặc Tính Của Hội Thánh
Theo định nghĩa thì Hội Thánh là tập thể của những tín hữu liên kết với nhau bởi việc cùng phó tác mình cho Chúa Giê-xu. Là môt thân thể, Hội Thánh được kết chặt với nhau bởi những mối liên hệ thích ứng giữa các phần tử với nhau. Lời Chúa trong thư Eph Ep 4:16 (BDY) dạy rằng “Dưới quyền lãnh đạo của Chúa, mọi bộ phận trong thân thể kết hợp và nâng đỡ nhau. Mỗi bộ phận đều làm trọn chức phận riêng, và cả thân thể lớn mạnh trong tình yêu thương.
Sự tăng trưởng của cả Hội Thánh, là thân thể Chúa tùy thuộc vào việc tất cả các bộ phận (phần tử) có biết sử dụng cách hữu hiệu mọi ân tứ và khả năng (ta lâng) để phục vụ và gây dựng lẫn nhau hay không. Kinh Thánh cũng dùng một số hình ảnh mô tả đặc tính của Hội Thánh, như: nhà (toàn bộ người trong nhà), đàn chiên, vương quốc, gia đình, cộng đồng. Mỗi hình ảnh này đều nói đến mối liên hệ giữa các phần tử với nhau và với Chúa. Sự liên hệ vững chắc trong Hôi thánh cũng giống như xi măng giữ các viên gạch dùng để xây dựng tòa nhà.
Mệnh Lệnh Của Chúa Cứu Thế Giê-Xu
Cơ-đốc nhân phải chuyên cần chăm lo phát triển mối liên hệ với nhau trong tình thương vì đó chính là một mệnh lệnh của Chúa Giê-xu. “Ta cho các con một điều răn mới: các con phải yêu nhau như Ta đã yêu các con”( GiGa 13:24 BDY)
Chúa Giê-xu chẳng những ra lệnh cho các môn đệ phải yêu thương nhau, nhưng Ngài còn dạy cho họ cách phải yêu thương nhau nữa. Mấy câu đầu trong Giăng đoạn 13 ghi chép lại câu chuyện Chúa Giê-xu rửa chân cho các môn đệ. Sau khi thực hiện hành động yêu thương đó,Chúa dạy họ rằng “Ta là Thầy là Chúa mà đi rửa chân cho các con thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Ta nêu gương để các con noi theo điều ta làm “(13:14-15 BDY). Vì vậy, khi Chúa dạy các môn đệ phải yêu thương nhau như Chúa đã yêu thương họ, họ hiểu rõ ràng dứt khóat điều Chúa muốn họ làm. Những năm cuối cùng sống trên đất được Chúa dùng để cho các môn đệ thấy cách cụ thể thế nào là yêu thương theo Lời Chúa dạy. Chúa đã “đầu tư” đời sống Ngài vào cuộc sống của họ bằng những cách mà họ không thể nào quên được.
PHÁT TRIỂN MỐI TƯƠNG GIAO TRONG GIA ĐÌNH
Gia đình là “phòng thí nghiệm” để Cơ-đốc nhân học tập việc thiết lập mỗi tương giao giữa người với người, rồi kinh nghiệm đó có thể đem áp dụng vào các lãnh vực khác trong cuộc sống Cơ-đốc. Nói cách khác, mối tương giao tốt đẹp trong gia đình là căn bản để phát triển các mối tương giao trong Hội Thánh và ngoài xã hội.
Tương Giao Giữa Vợ Chồng
Các nhà tâm lý và các nhà giáo dục đều đồng ý rằng mối tương giao tốt đẹp giữa vợ chồng là biểu hiệu quan trọng nhất của gia đình lành mạnh. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên khi thấy mỗi lần Kinh Thánh đề cập đến gia đình là bắt đầu nói đến mối tương giao giữa vợ chồng. Trong thư Ê-phê-sô và thư Cô-lô-se, khi dạy về gia đình thì sứ đồ Phao-lô bắt đầu bằng cách đưa ra những huấn thị để dạy dỗ người làm chồng và làm vợ. Đặc biệt là trước khi đề cập đến bổn phận của chồng và vợ, Phao-lô nhấn mạnh đến nguyên tắc áp dụng chung cho tất cả Cơ-đốc nhân, đó là câu Eph Ep 5:21 (BDY) “Do lòng kính sợ Chúa Cứu Thế, anh em phải tùng phục nhau.” như vậy những huấn thị cho cả chồng lẫn vợ đều phải được hiểu được hiểu dưới ánh sáng của nguyên tắc này, vì với lòng kính sợ Chúa, tất cả tín hữu dù nam hay nữ cũng đều phải coi người khác tôn trọng hơn mình.
Một khi đã biết áp dụng nguyên tắc này, người làm chồng cũng như người làm vợ đều có thể làm trọn vai trò của mình trong gia đình theo như sự dạy dỗ của Lời Chúa. Vợ phải tùng phục chồng và chồng phải yêu thương vợ. Không cần phải thảo luận về những thay đổi vai trò trong nhiều gia đình hiện nay, chúng ta thấy Lời Chúa trong khúc Kinh Thánh này đều đặt trách nhiệm lên cả người chồng lẫn người vợ trong việc phát triển mối tương giao năng tình yêu trong gia đình. Vợ được Chúa dạy phải tùng phục và kính trọng chồng thì chồng cũng nhận được mệnh lệnh phải yêu thương vợ mình như Chúa yêu Hội Thánh (5:22-33). Chúng ta cần để ý là hai mệnh lệnh này được nêu ra trong các khúc Kinh Thánh khác và áp dụng cho tất cả tín hữu, không phân biệt nam nữ.
Nếu bạn đã lập gia đình, điều cần thiết là bạn phải lưu tâm cố gắng phát triển mối tương giao nặng yêu thương và tùng phục với vợ (hay chồng). Mối tương giao này, phải làm theo mẫu mực của mối tương giao giữa Chúa Cứu Thế và Hội Thánh của Ngài. Các cặp vợ chồng tin kính Chúa phải cùng nhau ấn định những sinh hoạt thú vị chung với nhau, như nghỉ mát ngắn hạn, giờ cầu nguyện chung đều đặn, hẹn ăn trưa với nhau... Các thì giờ đặc biệt dành cho nhau như vậy rất cần thiết để giữ sự ấm cúng và sự tin tưởng trong mối thông công giữa bạn với vợ (hay chồng).
Mối Tương Giao Giữa Cha Mẹ Và Con Cái
Nhiều Cơ-đốc nhân thường bị chức vụ mình thu hút đến nổi bỏ bê con cái. Còn những thanh thiếu niên đang sống với cha mẹ cũng thường xa dần cha mẹ khi tích cực tham gia vào công việc Hội Thánh. Vì vậy tất cả Cơ-đốc nhân, dù là người làm cha mẹ hay làm con cái, cũng cần phải lưu tâm đến các nhu cầu của con cái (hay cha mẹ) mình. Mối tương giao giữa cha mẹ và con cái cũng cần có thì giờ để xây dựng. Con cái cần nhiều thì giờ sinh hoạt với cha mẹ nếu muốn lãnh hội được gia tài quí giá của Lời Chúa mà cha mẹ đã học hỏi được. Phẩm chất của sự tương giao giữa cha mẹ và con cái thường là yếu tố quyết định cho việc con cái có đi theo những giá trị Kinh Thánh của cha mẹ hay không.
Cơ-đốc nhân tăng trưởng tâm linh phải đầu tư, đầy đủ thì giờ để phát triển mối tương giao quí giá với mọi phần tử trong gia đình mình.
PHÁT TRIỂN MỐI TƯƠNG CÁC TRONG HỘI THÁNH
Sự tăng trưởng của Hội Thánh tùy thuộc vào phẩm chất của các mối tương giao giữa các tín hữu. Tất cả tín hữu đều được lời Kinh Thánh dạy phải gây dựng lẫn nhau, thu nhận lỗi lầm với nhau, có tinh thần cảm thông, tùng phục nhau và chấp nhận nhau.
Gây Dựng Lẫn Nhau
Kinh Thánh dùng từ ngữ “gây dựng “để nói đến quá trình xây đắp và tăng cường nhau trong thân thể của Chúa Cứu Thế (Eph Ep 4:16), chủ yếu bằng cách khuyến khích nhau (RoRm 14:19; ITe1Tx 5:11). Bạn cần phải phát huy khả năng khuyến khích người khác nếu muốn tích cực trong chức năng phục vụ Chúa, vì những người tình nguyện có thể cộng tác với bạn ít khi coi phần thưởng bằng hiện vật là động cơ để thúc đẩy họ làm việc. Theo các cuộc khảo cứu thực hiện với các người tình nguyện làm việc trong nhà thờ thì khả năng quan trọng nhất để thúc nhất để thúc đẩy người khác phục vụ là khả năng nâng đỡ khuyến khích. Các cuộc khảo cứu ngoài đời cũng xác nhận điều này. Cơ-đốc nhân có thể xây dựng lẫn nhau bằng lời khuyến khích, bằng vài dòng cảm ơn hay bất cứ hành động thân tình, biết ơn nào. Một vài thứ “hiện vật “nho nhỏ như hoa hay tấm thiệp cũng có thể được dùng để gây dựng lẫn nhau.
Thú Nhận Lỗi Lầm Với Nhau
Cũng như tất cả các Cơ-đốc nhân khác, bạn không tránh được lầm lỗi, như quên một lời thông báo, trễ hẹn, làm cho người khác đau buồn v.v... Ngay trong cuộc sống riêng tư, bạn cũng không tránh được tội và lầm lỗi. Dấu hiệu của Cơ-đốc nhân tăng trưởng là biết thành thật thú nhận tội lỗi và yếu đuối của mình. Khi sẵn sàng nhận mình yếu đuối và lỗi lầm, Cơ-đốc nhân chứng tỏ cho người khác thấy mình có tinh thần phục thiện và khiêm tốn. Thú nhận tội lỗi mình với Thượng Đế và với anh chị em trong Chúa là điều cần thiết để bày tỏ tinh thần trách nhiệm của bạn đôi với thân thể của Chúa Cứu Thế (Gia Gc 5:16)
Có Tinh Thần Thông Cảm
Sứ đồ Phao-lô kêu gọi Cơ-đốc nhân “đừng làm việc gì để thỏa mãn tham vọng cá nhân hoặc tự đề cao, nhưng hãy khiêm tốn, coi người khác hơn mình. Đừng vị kỷ nhưng phải lưu ý đến quyền lợi người khác” (Phi Pl 2:3-4 BDY). Cơ-đốc nhân phải nhìn bằng cái nhìn của người cùng làm việc với mình, phải cảm xúc bằng sự cảm xúc của họ. Khi gặp cảnh đau buồn, Cơ-đốc nhân phải chung gánh đau buồn với anh chị em mình (GaGl 6:2),khi người khác gặp cơ hội vui mừng, Cơ-đốc nhân cũng chung vui với họ (RoRm 12:15).
Tùng Phục Lẫn Nhau
Sự tùng phục lẫn nhau không phải là một điều gợi ý, mà là một mệnh lệnh của Kinh Thánh: “Do lòng kính sợ Chúa Cứu Thế, anh em phải tùng phục nhau.”(Eph Ep 5:21 BDY). Câu này hàm ý rằng, người tin Chúa phải coi mình đang ở dưới quyền của các anh chị em tín hữu khác và phải nhạy cảm trước các nhu cầu và ước mong của họ, cũng như phải nghe các ý kiến của người khác. Kinh Thánh cũng ra lệnh cho Cơ-đốc nhân phải vâng phục chính quyền (RoRm 13:1; Tit Tt 3:1; IPhi 1Pr 2:13) vâng phục các người lãnh đạo thuộc linh (ICo1Cr 16:16) và các trưởng lão (IIPhi 2Pr 5:5)
Nếu muốn tiếp tục tăng trưởng để trưởng thành trong Chúa Cứu Thế, bạn phải phát huy thái độ khiêm nhường kính phục và tinh thần trách nhiệm đối với những người đang giữ địa vị lãnh đạo.
Chấp Nhận Nhau
Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Giê-xu gồm có đàn ông, đàn bà, trẻ con thuộc mọi nền văn hóa, quốc gia, truyền thống, ngôn ngữ và màu sắc chính trị. Vì có nhiều khác nhau, nên hay có các hàng rào và tình hình căng thẳng cũng có thể xảy ra. Nhưng mặc dầu các dị biệt đó, trên căn bản Hôi thánh vẫn là một thân thể hợp nhất. Đây là một nét đặc biệt thần học mà Hội Thánh chỉ có thể thực hiện được khi các hội viên đều chấp nhận nhau. Là Cơ-đốc nhân đang tăng trưởng để trưởng thành trong Chúa Cứu Thế, bạn phải giữ gìn để khỏi sa vào lỗi lầm là chỉ thích làm việc chung với người hợp ý với mình. Nhưng bạn phải cố gắng phát huy mối tương giao chặt chẽ với những người thuộc các bối cảnh xã hội, kinh tế và chính trị khác nhau.
PHÁT TRIỂN MỐI LIÊN HỆ TRONG THẾ GIAN
Một trong những điều để thử cho biết một Cơ-đốc nhân có thiêng liêng hay không là khả năng tạo mối liên hệ với người trong thế gian. Nếu muốn thực thi Đại Mạng Lệnh của Chúa Cứu Thế Giê-xu, Hội Thánh phải xâm nhập thế gian bằng cách phát huy các mối liên hệ chặt chẽ với người chưa tin. Nhưng Cơ-đốc nhân phải hết sức thận trọng khi tiếp xúc với những người có những tiêu chuẩn và lối sống ngược với Lời Chúa dạy để khỏi bị đồng hóa với đời.
Gương Của Chúa Giê-Xu Đã Nêu Khi Ngài Sống Ở Trần Gian
Khi người Pha-ri-si chỉ trích Chúa về ngài kết bạn với những người thâu thuế và người tội lỗi (LuLc 7:34). Chúa trả lời rằng Chúa đến không phải để kêu gọi người “thánh thiện” nhưng để kêu gọi người có tội trở về với Thượng Đế (Mat Mt 9:13). Chúa đã để rất nhiều thì giờ thiết lập mối liên hệ với những người bị coi là cặn bã của xã hội. Tuy nhiên, khi làm như vậy, Chúa không hề bị đời làm ô nhiễm. Bạn cũng phải noi gương của Chúa. Đừng để mình quá bận rộn với các ủy ban, các chương trình, các dự án và các cuộc hội họp của nhà thờ đến nổi không còn thì giờ và nghị lực để phát huy mối liên lạc với người chưa tin Chúa, nhưng phải quân bình trong sự tương giao với anh chị em tín hữu và với người chưa tin.
Kết Bạn Truyền Giáo (Friendship Evangelism)
Thượng Đế dùng nhiều phương pháp truyền giáo khác nhau để kêu gọi người ta vào vương quốc của Ngài và phương pháp “kết bạn truyền giáo” là cách Cơ-đốc nhân xây dựng tình bằng hữu với người chưa tin trong sinh hoạt hằng ngày để có cơ hội bày tỏ tình thương của Chúa và chia xẻ niềm tin với họ. Phương pháp này có hữu hiệu hay không một phần tùy thuộc vào khả năng phát huy mối liên hệ quan tâm với người chưa tin và nhất là tùy thuộc vào nếp sống của Cơ-đốc nhân có bày tỏ Chúa Cứu Thế Giê-xu hay không
Là Cơ-đốc nhân đang tăng trưởng để trưởng thành trong Chúa Cứu Thế, bạn phải biết hỏi các câu hỏi thích hợp, biết để ý nghe, biết thông cảm và biết chia xẻ sứ điệp Phúc Âm đúng thời điểm. Mặc dầu người bạn chưa tin Chúa có tỏ thái độ lạnh nhạt vơi những điều thuộc linh, bạn cũng phải cố gắng duy trinh tình bằng hữu với người đó. Bạn phải đặt ưu tiên cao cho việc xây dựng tình bằng hữu này thì phương pháp kết bạn truyền giáo của bạn mới có kết quả.
Khi cố gắng phát huy mối liên hệ, bạn bè với người chưa tin, bạn phải hết sức thận trọng để đừng đánh mất các giá trị và tiêu chuẩn của Kinh Thánh.
Lời Chúa trong Gia Gc 4:4 cảnh cáo rằng: “Làm bạn với thế gian tức là thù nghịch với Đức Chúa Trời”. Nhưng khúc Kinh Thánh này phân biệt sự làm bạn với “người thế gian” và sự làm bạn với “các giá trị, các tiêu chuẩn của thế gian” Như vậy, Cơ-đốc nhân được Kinh Thánh dạy phải phát huy sự liên hệ trong tình yêu thương với người sống trong thế gian (chưa tin Chúa), nhưng đồng thời Kinh Thánh cũng cảnh cáo chúng ta đừng để cho các giá trị như thế gian ảnh hưởng. Vì vậy bạn phải hết sức cẩn thận đừng hy sinh các nguyên tắc và giá trị của Kinh Thánh khi cố gắng kết bạn với người chưa tin Chúa.
ĐỐI PHÓ VỚI CÁC NAN ĐỀ
Nơi nào có người ta thì ở đó có nan đề. Trên phương diện này, giáo hội cũng không khác gì các hội đoàn khác. Vì vậy, khi tìm cách tăng trưởng tâm linh, bạn phải chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với các nan đề thường xảy ra trong các mối liên hệ. Nhưng nhiều khi, những điều mới thấy chúng ta tưởng là nan đề giữa các Cơ-đốc nhân lại trở thành những tác nhân thúc đẩy tăng trưởng, nếu biết đối phó cách đúng đắn. Để có thể biến các nan đề và các mâu thuẫn giữa cá nhân này với cá nhân nọ trở thành hữu ích, bạn phải học biết cách kiên nhẫn chịu đựng, khuyên răn và tha thứ.
Kiên Nhẫn Chịu Đựng Lẫn Nhau
Cơ-đốc nhân chưa phải là những người toàn thiện, vì vẫn còn các nhược điểm trong cá tính, còn thói xấu, còn các phong cách riêng gây cho người khác khó chịu và còn những tranh đấu riêng tư. Là Cơ-đốc nhân đang tăng trưởng để trưởng thành trong Chúa. Muốn có ảnh hưởng tích cực trên người khác bạn phải học tập kiên nhẫn chịu đựng những người hay xúc phạm người khác.
Lời Chúa trong Eph Ep 4:1-3 (BDY) dạy chúng ta rằng: “Anh em phải sống đúng tiêu chuẩn Thượng Đế đã đặt khi Ngài tuyển chọn anh em làm con cái Ngài. Phải hết sức khiêm cung, hiền từ, phải nhẫn nại chịu đựng nhau trong tình yêu thương, phải sống bình an hòa thuận để giữ sự hợp nhất trong Thánh Linh”.
Như Thượng Đế đã kiên nhẫn chịu đựng nhân loại, người tin Chúa phải kiên nhẫn chịu đựng nhiều hành vi cử chỉ xúc phạm của anh chị em mình. Trong quá trình tăng trưởng, hầu hết những cơ đốc nhân chân thành sẽ “cởi bỏ” lần lần những hành vi gây xúc phạm và “mặc vào” những đức tính thích hợp với trái của Thánh Linh. Là Cơ-đốc nhân tăng trưởng, bạn phải cẩn thận đừng dành cho mình toàn thể công tác “để cho các thánh đồ được trọn vẹn”(4:12), nhưng phải có tinh thần kiên nhẫn chịu đựng khi có anh em làm trái ý mình.
Khuyên Răn Lẫn Nhau
Tuy nhiên, có những trường hợp Cơ-đốc nhân phải khuyên răn nhau. Khi có người bạn tin Chúa đang chìm càng sâu vào tội lỗi và người này không còn tăng trưởng nữa, thì Cơ-đốc nhân cần phải khuyên răn người bạn đó. Trong ICo1Cr 4:14, sứ đồ Phao-lô đã lên tiếng khuyên răn một số tín hữu vì những hành vi phóng đãng của họ. Còn khi giảng cho Hội Thánh ở Ê-phê-sô là Hội Thánh phải đương đầu với các giáo sứ giả, Phao-lô nói rằng: “Anh em phải đề cao cảnh giác; đừng quên tôi đã đổ nhiều nước mắt khuyên bảo mọi người, ngày cũng như đêm, ròng rã ba năm trời” (Cong Cv 20:31 BDY). Khuyên răn dùng lời khôn khéo thích hợp để nói cho bạn mình biết rằng thái độ hay hành vi của họ vi phạm lời dạy của Chúa trong Kinh Thánh và làm cho họ chậm tăng trưởng. Để cho lời khuyên răn được hữu hiệu, hai bên phải có một mối tương giao tốt đẹp. Trái lại, nếu hai bên đang nghịch nhau thì chẳng ai chịu nghe lời khuyên răn cả.
Vì vậy, điều cần thiết là bạn phải sống thế nào cho bạn bè tin tưởng và kính phục để có thể khuyên răn họ khi họ có lỗi. Một cách để có thể được người khác kính phục là kiên nhẫn chịu đựng anh em mình.
Tha Thứ Nhau
Nếu muốn có một chức vụ hữu hiệu, bạn phải đừng bao giờ để cho sự cay đắng và oán hơn xâm nhập lòng mình. Lời Chúa trong Eph Ep 4:31, 32 BDY dạy rằng: “Phải loại bỏ khỏi đời sống anh em những điều cay đắng, oán hờn, giận dữ, cải cọ, phỉ báng và mọi điều xấu xa khác. Phải có lòng nhân từ, yêu mến nhau, phải tha thứ nhau như Thượng Đế đã tha thứ anh em trong Chúa Cứu Thế”.
Bị thương tổn và xúc phạm trong chức vụ là một điều không thể tránh được, vì khi làm việc với người khác, thế nào bạn cũng có lúc bị tổn thương. Tuy nhiên bạn phải hết sức cẩn thận để đối phó với các “vết thương lòng “của mình, vì nếu không đối phó đúng cách, các vết thương này có thể tiêu diệt chức vụ của bạn
Như có lần chúng ta đã nói trên đây, bạn có thể bỏ qua hay là quên đi một số hành vi cử chỉ gây xúc phạm của người khác. Một số hành vi khác cần phải được đối xử cách khôn khéo. Nếu người gây cho bạn xúc phạm đã thành thật xin lỗi thì vấn đề đã tự nó giải quyết xong. Ngược lại, nếu người có lỗi, chẳng những không chịu nhận trách nhiệm mà còn đổ lỗi cho người khác, thì nạn đề trở thành trầm trọng. Gặp trường hợp này, bạn thấy người kia đã cứng lòng và bạn có thể bị cám dỗ mà cay đắng. Nhưng dù sao đi nữa, phương pháp thích hợp nhất vẫn là sự tha thứ.
Khi sứ đồ Phi-e-rơ hỏi Chúa Giê-xu. “Con phải tha thứ mấy lần cho người có lỗi với con? Bảy lần phải không, thưa Chúa? Thì Chúa đáp: không bảy mươi lần bảy” (Mat Mt 18:22 BDY)
Là Cơ-đốc nhân tăng trưởng để trưởng thành trong Chúa bạn phải vui lòng tha thứ cho bất cứ người nào gây thương tổn cho bạn, trong bất cứ hòan cảnh nào và đừng bao giờ để cho cay đắng mọc rễ trong lòng bạn.
TÓM LƯỢC
Thành công trong chức vụ phần lớn tùy thuộc vào khả năng thiết lập và duy trì mối liên hệ (tương giao) với người khác. Căn cứ trên Kinh Thánh, chúng ta có thể nêu ra ba lý do thần học tại sao việc phát huy khả năng liên hệ với người khác là quan trọng. Đó là (1) đặc tính của mối liên hệ (“tương giao”) đòi hỏi phải chia xẻ (2) đặc tính của Hội Thánh là thân thể của Chúa Cứu Thế hàm ý phải có tương giao liên lạc giữa các bộ phận (thành phần) (3) chính Chúa Cứu Thế ban mệnh lệnh cho Cơ-đốc nhân phải yêu thương nhau.
Là Cơ-đốc nhân tăng trưởng, bạn có trách nhiệm phát huy khả năng mối liên hệ với gia đình, Hội Thánh và thế gian. Ưu tiên phải dành cho mối tương giao với vợ (hay chồng) và con cái. Trong mối liên hệ thông công với anh em trong Hội Thánh, bạn cần phải phát huy khả năng gây dựng nhau, thú nhận lỗi lầm với nhau, thông cảm nhau, tùng phục nhau và chấp nhận nhau. Trong mối liên hệ với người thế gian (chưa tin Chúa) bạn phải theo gương của Chúa Cứu Thế Giê-xu để vừa có thể tích cực kết bạn đồng thời và vừa thận trọng để khỏi bị tiêm nhiễm các giá trị của thế gian (đừng để mình đồng hòa với đời). Cuối cùng, bạn phải phát huy khả năng đối phó với các nan đề (và biến các nan đề này thành hữu ích) trong khi thành công liên hệ với người khác bằng cách tập kiên nhẫn chịu đựng, khuyên răn và tha thứ
BÀI LÀM
1. Xin nêu ra ba lý do dựa trên Kinh Thánh tại sao Cơ-đốc nhân phải phát triển các mối tương giao tích cực ?
2. Tại sao mối thông công trong gia đình rất quan trọng cho Cơ-đốc nhân trưởng thành thuộc linh ?
3. Xin cho biết năm yếu tố cần thiết cho việc xây dựng các mối tương giao trong Hội Thánh.
4. Tại sao việc gây dựng lẫn nhau là điều quan trọng cho chức vụ ?
5. Tại sao sự tùng phục nhau là điều quan trọng cho sự tăng trưởng thuộc linh ?
6. Xin cho biết những thách thức chính mà Cơ-đốc nhân phải đương đầu khi phát triển mối liên hệ với người chưa tin
7. Xin cho biết ba nguyên tắc cần áp dụng để giải quyết các nan đề giữa các Cơ-đốc nhân với nhau.
ÁP DỤNG
Để có thể áp dụng cách hữu hiệu các nguyên tắc trong chương này, bạn hãy tự hỏi.
1. Tại sao tôi phải coi việc phát huy các khả năng thiết lập mối liên hệ với người khác là quan trọng ?
2. Tôi có những ưu điểm nào (khả năng nào mạnh nhất) trong việc thiết lập mối liên hệ với người khác?
3. Tôi có những khuyết điểm nào (khả năng nào yếu nhất) trong việc thiết lập mối liên hệ với người khác?
4. Những điều gì tôi có thể làm để cải thiện mối thông công với vợ (hay chồng) tôi ? (áp dụng cho người đã có gia đình).
5. Những điều gì tôi có thể làm để cải thiện mối thông công với một dứa con của tôi? (Ap dụng cho người có con cái)
6. Tôi có thể làm gì để cải thiện mối thông công với cha mẹ tôi ? (áp dụng cho thanh niên)
7. Tại sao tôi khó tùng phục một số người ?
8. Ai là người tôi khó chấp nhận
9. Làm cách nào tôi có thể phát huy và cải thiện mối liên hệ với người chưa tin Chúa?
THAM KHẢO
Hartville Sue. Reciprocal Living . Coral Gables FL. West Indies Mission 1976
Pippert, Rebecca Manley. Out of the Salt Shaker and two the World . Downers Groes . Dwners IL. Inter Varsity Press 1979
White Jerry and Mary, Friends and Friendships . The Secrets of Drawing Closer. Colorado Springs, CO: Nav Press, 1982

Chương 6: SỰ THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC VÀ NẾP SỐNG TƯƠNG GIAO VỚI CHÚA
Các Cơ-đốc nhân đang tăng trưởng để đạt đến trưởng thành thuộc linh là người đang phát huy các mối liên hệ mới với anh chị em mình trong Chúa. Những người này cũng có mối tương giao với Thượng Đế, là Thiên Phụ và với Chúa Cứu Thế Giê-xu, là Chúa của họ. Trước đó họ hoàn toàn không biết Thượn Đế (Cong Cv 17:30; ICo1Cr 15:34; Eph Ep 4:18), nhưng bây giờ họ biết Thượng Đế cách thực nghiệm (LuLc 10:21,22; GiGa 14:7; GaGl 4:9). Trước đó họ thù nghịch Thượng Đế(RoRm 5:10), ghét Thượng Đế(GiGa 15:23; RoRm 1:30), nhưng bây giờ họ được phục hòa với Thượng Đế (IICo 2Cr 5:10; RoRm 5:11, CoCl 1:21, 22), được làm bạn với Thượng Đế (GiGa 15:13-15) kính yêu Thượng Đế (IGi1Ga 4:19-21) và thờ phượng Thượng Đế (GiGa 4:23, 24; Phi Pl 2:3). Từ chổ chưa tin Thượng Đế đến chổ trở thành Cơ-đốc nhân, họ đã tiến rất xa (LuLc 15:13, 20; Eph Ep 2:13, 17).
THỜ PHƯỢNG LÀ GÌ ?
Thờ phượng tức là bày tỏ lòng thần phục, sùng bái, tôn thờ. Chúng ta thờ phượng Thượng Đế là Đấng Tạo hóa và chỉ một mình Ngài là Đấng đáng cho chúng ta tôn thờ. Trong khi đó các hình tượng hay bất cứ loài thọ tạo nào khác đều không đáng thờ phượng, KhKh 4:11 (BDY) chép rằng “Lạy Chúa là Thượng Đế của chúng con. Chúa đáng nhận vinh quang,vinh dự và uy quyền, vì Chúa đã sáng tạo vạn vật. Do ý muốn Chúa, muôn vật được dựng nên và tồn tại” 5:12 (BDY) cũng chép rằng: “Chiên con đã chịu giết đáng được uy quyền, giàu có,khôn ngoan, sức mạnh, vinh dự, vinh quang và chúc tụng”. Đối tượng của sự thờ phượng của người nào cho chúng ta biết người đó coi ai (hay cái gì) là có giá trị nhất.
Làm cách nào chúng ta có thể có sự thờ phượng xứng đáng với Đấng Đáng thờ phượng hơn cả? Nhờ học hỏi cách thờ phượng ở thiên đàng, chúng ta được biết thế nào là thờ phượng đích thực. Trong 4:10, 11 hai mươi bốn trưởng lão quỳ phủ phục trước Thượng đế là Đấng đang ngự trên ngai. Họ là loài thọ tạo hữu hạn, thờ phượng Đấng Vĩnh Cửu Vô hạn, dâng vinh quang của họ (mão miệm vàng) cho Ngài và ca ngợi “Chúa đang nhận vinh quang, vinh dự và uy quyền, vì Chúa đã sáng tạo vạn vật..” Đây là nòng cốt của sự thờ phượng.
Khi đã ý thức Thượng Đế là Ai và Ngai làm gì, chúng ta phải dâng lên Ngài vinh quang xứng đáng cho Danh Ngài (Thi Tv 95:1-7; 96:1-9; KhKh 5:12, 13). Tinh túy của thờ phượng là tôn vinh tán dương Thượng Đế với tất cả tâm trí và tấm lòng chân thành. Không phải là một hành động miễn cưỡng gượng ép, nhưng là vui vẻ tự nguyện (IICo 2Cr 9:7). Khi dùng nhạc khí để thờ phượng thì tiếng nhạc phải tấu lên với sự vui mừng và với tinh thần của Thi Tv 100:1-5 chứ không phải trình diễn cách thờ ơ uể oải hay lấy lệ. Mỗi hành động thờ phượng phải là hành động tích cực đáp ứng tình yêu của Chúa, và người thờ phượng không làm khách bàng quang chỉ ngồi nhìn hay chờ người khác làm cho mình mà mình phải tích cực tham dự.
CÁC CĂN BẢN CỦA SỰ THỜ PHƯỢNG
Thờ phượng là từ ngữ được dùng để dịch bốn từ ngữ Hi bá lai khác nhau (trong Cựu ước) và từ ngữ thường được dùng nhất có nghĩa là “sấp mình, bảy tỏ lòng tôn kính sùng bái”. Từ ngữ này được dùng lần đầu tiên trong SaSt 18:2 khi Áp-ra-ham sấp mình xuống trước ba vị khách, mà một trong ba vị này chính là Chúa.
Trong ba từ ngữ Hy lạp dùng trong Tân Ước, Từ ngữ thông dụng nhất (proskuneo) có nghĩa đen là “hôn hướng ve” “(To kiss toward). Hành động này bày tỏ lòng tôn sùng thần phục Thượng Đế (GiGa 4:21-24). Trong cách sách Phúc Âm từ ngữ này được dùng để nói đến sự thờ lạy Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng Mết si a, được sùng kính thờ phượng (Mat Mt 2:2, 8, 11; 14:33; 28:9, 17)
Sự thờ phượng thật phải phát xuất từ tâm linh, còn các cử chỉ hay thái độ bên ngoài không phải là điều kiện tiên quyết và cũng không bảo đảm đó là sự thờ phượng thật. Điểm này được sách Công Vụ xác nhận, vì sách này chỉ dùng từ ngữ Hy lạp “Proskuneo” bốn lần (Cong Cv 7:43 (thờ lạy hình tượng) 8:27 (thờ phượng tại Đền thờ Giê- su -sa -lem) 10:25 (Cọt nây lạy Phi-e-rơ) 24:11 (Phao-lô thờ phượng trong đền thờ). Ngoài bốn lần đó ra, sách Công Vụ không hề dùng từ ngữ “proskuneo” để nói đến sự thờ phượng của Cơ-đốc nhân.
Một động từ khác (latreuo) cũng nói về thờ phượng, nhưng thường được dịch là hầu việc, phượng sự hay phục vụ (to serve, to minister) như trong HeDt 9:9, 14; KhKh 22:3. Đây là thờ phượng với tinh thần tận hiến cho Chúa, với lòng yêu mến và kính sợ, vô cùng cao đẹp hơn sự phục vụ của một người nô lệ. Cơ-đốc nhân tận hiến chính mình cho Chúa để thờ phượng vì Chúa đã hy sinh chính mình Ngài cho chúng ta. Thượng Đế muốn bạn dâng hiến con người tòan diện, và một khi bạn đã tận hiến như vậy để phục vụ Chúa. Tất cả cuộc sống của bạn là thờ phượng chứ không phải chỉ thờ phượng một tiếng đồng hồ vào sáng Chúa nhựt mà thôi. Bạn có thể dâng hiến cho Chúa sự thờ phượng này trong cách bạn làm việc. Dạy một lớp Trường Chúa Nhật, đơn ca, phục vụ trong một ủy ban hay tiểu ban của Hội Thánh hay dâng hiến tiền bạc. Ý thức “bất cứ việc gì mình làm cho Chúa là thờ phượng”, dù là làm cách âm thầm hay làm công khai, sẽ cách mạng hoàn toàn khái niệm của bạn về chức vụ của một Cơ-đốc nhân.
Khi nghiên cứu tất cả các từ ngữ Kinh Thánh dùng để nói đến sự thờ phượng, bạn sẽ thấy rằng thờ phượng bao gồm cả thái độ (kính sợ = awe, tôn sùng = reverence, kính phục = respect)lẫn hành động (cúi đầu, sấp mình, ca ngợi, phục vụ). Thờ phượng đích thực không hề là một việc làm theo nghi thức, nhưng đòi hỏi tất cả lý trí, tình cảm và ý chí. Thờ phượng là hành động có hiểu biết, được tình yêu làm động lực thúc đẩy và đưa đến sự thuận phục ý muốn của Thượng Đế (RoRm 12:1, 2). Các gương thờ phượng chúng ta đã nêu ra trên đây cho thấy thờ phượng có thể là tập thể hay cá nhân, có thể là việc làm cho Chúa cách âm thầm hay công khai và động cơ thúc đẩy thờ phượng là lòng sùng kính Chúa, Đấng hòan toàn xứng đáng cho chúng ta tôn thờ. Chính Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dạy cho chúng ta những nguyên tắc căn bản sau đây về sự thờ phượng khi Ngài tuyên bố rằng chúng ta phải thờ phượng Thượng Đế bằng tâm linh và chân lý (GiGa 4:23-26).
1. Ta có thể thờ phượng Thượng Đế bất cứ nơi nào (và ở khắp mọi nơi) vì tâm linh không bị giới hạn bởi không gian và thời gian
2. Thờ phượng là kinh nghiệm tiếp xúc trực tiếp với Thượng Đế, tâm linh mình tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đấng được khải thị qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
3. Thờ phượng phải chủ quan, sinh động, bộc lộ các mối xúc cảm, như người ta thường bộ lộ tai các đám cưới, đám tang, đại hội thể thao v.v…
4. Thờ phượng phải đích thực, không màu mè, vì Thượng Đế rất ghét sự thờ phượng không chân thành (EsIs 1:10-17; MaMl 1:7-14; Mat Mt 15:8, 9). Thờ phượng giả dối là thờ phượng không đúng theo lời được Thượng Đế mặc khải. Vì vậy, muốn thờ phượng bằng chân lý, bạn phải tăng trưởng trong sự hiểu biết Lời Chúa. Càng lớn lên trong sự hiểu biết Lời Chúa, bạn càng ý thức sâu xa rằng Thượng Đế là Đấng xứng đáng cho bạn thờ phượng.
5. Bạn cần phải có sự quân bình giữa kinh nghiệm chủ quan và việc giữ chân lý chính giáo khách quan. Cơ-đốc nhân thuộc các thành phần và các bối cảnh (quá trình kiến thức tâm linh) khác nhau có thể biểu lộ sự thờ phường bằng nhiều đường lối khác nhau phản ảnh cá tính và văn hóa của từng người, căn cứ trên chân lý không bao giờ thay đổi của Chúa.
6. Thượng Đế ưa thích những người thờ phượng Ngài theo cách ấy (GiGa 4:23)
Như vậy, bạn thờ phượng khi biết Thượng Đế là Ai, Ngài phán dạy và làm gì. Bạn thờ phượng không vì sự thờ phượng mang lại lợi ích gì cho ban, nhưng bạn thờ phượng vì Thượng Đế là Đấng đáng cho bạn tôn thờ.
CÁC ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT CỦA SỰ THỜ PHƯỢNG
Sẽ đến lúc tất cả nhân loại đều phải quì gối tôn thờ Thượng Đế (Phi Pl 2:10, 11), nhưng muốn cho sự thờ phượng của mình được Thượng Đế chấp nhận, bạn phải thỏa mãn các điều kiện tiên quyết của Ngài. Trước hết và quan trọng hơn hết là sự tái sanh, vì “không ai xưng nhận Giê-xu là Chúa nếu không do Thánh Linh hướng dẫn” (IICo 2Cr 12:3 BDY). Chỉ nhờ Đức Thánh linh, Cơ-đốc nhân mới biết Chúa Giê-xu là Ai, và mới có lòng kính yêu thờ phượng Chúa vì biết Chúa đáng cho mình tôn thờ.
Nhưng khi bị ô uế vì tội lỗi hằng ngày, Cơ-đốc nhân cũng không thể thờ phượng Chúa nếu tội lỗi đó chưa được huyết Chúa Giê-xu tẩy sạch. Câu chuyện Chúa rửa chân cho môn đồ trong GiGa 13:2-15 cho thấy rằng Mặc dầu đã tắm rồi (tái sanh), họ cũng cần được rửa chân (tẩy sạch tội lỗi hằng ngày).
ƯU TIÊN TRONG SỰ THỜ PHƯỢNG CỦA CÁC HỘI THÁNH ĐỊA PHƯƠNG
Mục sư A.W. Tozer có lần nói rằng: Thờ phượng là viên ngọc châu mà Hội Thánh đã đánh mất “.Tại sao như vậy ?
Thờ phượng dường như là lãnh vực yếu kém nhất trong nhiều hệ phái Tin lành (Evangelical) Mặc dầu họ rất mạnh trong các lãnh vực khác như truyền giáo, huấn luyện, thông công và cũng đang có chiều hướng áp dụng Phúc Âm vào các lãnh vực xã hội, nguyên tắc xử thế nào và khải đạo (counseling). Sự thờ phượng không có chiều sâu vì tín hữu trong nhiều giáo hội không hề cảm nhận rõ rệt sự hiện diện đáng kinh sợ (làm kinh ngạc kính sợ) và sự uy nghiêm của Thượng Đế.
Những nhà thờ có Mục sư giỏi dạy dỗ huấn luyện lại ít chú ý đến thờ phượng, và vì vậy hội viên trở thành khán giả bàng quan chứ không còn là người tham dự trực tiếp nữa. Cần phải có sự quân bình giữa sứ điệp rao giảng Lời Chúa cách trung thực, với thì giờ ca ngợi, cầu nguyện và thầm lặng để tôn cao vinh quang và các thuộc tính của Thượng Đế hằng sống. Theo lời của Wesley thì giờ thờ phượng là lúc người ta tin “tan biến vào trong sự diệu kỳ, tình thương và ca ngợi.”
Chắc chắn lúc nào cũng có người chống đối sự thờ phượng thật. Như khi cô Ma ri ở Bê tha ni đập bể bình ngọc và đổ dầu thơm quí giá lên đầu và chân Chúa Giê-xu, có người phản đối nói: sao xài phí như vậy ? Sao không đem bán bình dầu để bố thí cho người nghèo? (Mac Mc 14:4, 5). Mặc dầu thương xót lo lắng cho người nghèo là điều quan trọng, nhưng còn có việc cần thiết hơn. Chúng ta có thể diễn ý Lời Chúa bênh vực cho Ma ri như sau: “Đừng nặng lời với cô ấy, vì cô vừa làm một việc tốt đẹp. Ta rất bằng lòng. Sau khi Ta đã đi rồi, các người sẽ còn dư dả thì giờ để lo công tác xã hội “(14:6, 7). Chính Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đặt sự thờ phượng lên trên sự phục vụ và tuyên bố gương thờ phượng của Ma ri là một yếu tố quan trọng của sứ điệp Phúc Âm (14:9).
Không có gì có thể thay thế, hay là qúi giá hơn thì giờ ở trong sự hiện diện của Chúa để chiêm ngưỡng uy nghiêm và vinh quang của Ngài. Chắc bạn có nghe câu nhiều người thường nói: “được cứu để phục vu” nhưng mặc dầu phục vụ là kết quả của sự cứu rỗi, phụcvụ không phải là lý do chính để Chúa cứu chúng ta. Chúa cứu chúng ta chính là để chúng ta tôn vinh, tôn đại Ngài. Một trong những cách chúng ta tôn vinh Chúa là sự phục vụ, nhưng phục vụ chỉ mới là một trong nhiều hình thức thờ phượng. Công tác phục vụ chẳng những do người tôi mọi (như cách sứ đồ Phao-lô tự xưng mình là tôi mọi của Chúa) mà cũng còn có công tác phục vụ của thầy tế lễ. Sự thờ phượng bao gồm cả công tác phục vụ của chức tế lễ, nhưng không phải công tác phục vụ nào cũng bao gồm sự thờ phượng cả. Ngày nay, ý kiến cho rằng Cơ-đốc nhân được cứu để phục vụ (và coi phục vụ là bổn phận đầu tiên và quan trọng nhất) được nhiều người đề cao đến nổi làm cho nhiều người quá bận rộn vì các hoạt động tôn giáo. Những người này tưởng rằng theo chương trình Chúa sắp đặt cho họ thì họ phải bận rộn trong các công tác giáo hội, vì giáo hội là “chính nghĩa” cao đẹp nhất thế giới. Nhưng những người này vì quá bận rộn hoạt động cho nhà thờ mà không còn thì giờ và nghị lực để thờ phượng chiêm ngưỡng Chúa nữa.
Một số người khác cho rằng truyền giáo hải ngoại là hoạt động then chốt của một giáo hội thiêng liêng. Nhưng truyền giáo hải ngoại, cũng như truyền áp Phúc Âm trong nước, phải là kết quả của sự thờ phượng Áp-ra-ham, vị giáo sĩ hải ngoại đầu tiên trong Kinh Thánh được nghe Lời Chúa gọi, bảo phải rời quê hương đến một xứ xa lạ để làm chứng về Thượng Đế là Chân Thần hằng sống, như có chép trong Cong Cv 7:2 (BDY) rằng: “Thượng Đế vinh quan đã hiện ra với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta....” Kinh nghiệm này của Áp-ra-ham cũng giống kinh nghiệm của tiên tri Ê-sai đã trở thành một nhà truyền giáo sau khi thờ phượng trong đền thờ và được chiêm ngưỡng Đức Giê-hô-va Vạn Quân trên ngai” Cao sang “(cao trọng và dấy lên = high an lifted up) (EsIs 6:1). Một khi công cuộc truyền giáo được bắt nguồn từ kinh nghiệm thờ phượng thì vinh quang của Thượng Đế được đề cao trong khi lưu tâm đến các nhu cầu của con người. Ngược lại, nếu không có sự thờ phượng thật, thì việc truyền bá Phúc Âm chỉ còn là một chương trình chất trên một chiếc xe giáo hội đã chở quá nặng (quá tải).
Khi nhìn thấy Chúa là Đấng đã sống lại, các môn đồ thờ phượng Chúa, chính những người thờ phượng Chúa nầy dược Chúa trao cho Đại Mệnh Lệnh để đi ra “làm cho tất cả các dân tộc thành môn đệ Ta “(Mat Mt 28:16-20). Phao-lô được kêu gọi làm giáo sĩ hải ngoại khi đang cùng thờ phượng với Hội Thánh An ti ốt, theo Cong Cv 13:2 (BDY) “Hội Thánh đang thờ phượng Chúa và nhịn ăn”.
NỘI DUNG CỦA SỰ THỜ PHƯỢNG TẬP THỂ
Mặc dầu Tân Ước không nói gì nhiều về hình thức và nội dung của các buổi thờ phượng trong các Hội Thánh địa phương, chúng ta cũng có thể thấy được những sinh hoạt sau đây trong Công Vụ chương 2 và chương 20 và trong ICo1Cr 12:14
Lời Chúa
Lời Chúa trong Cựu Ước rất được quí chuộng và được đọc lớn trong các buổi thờ phượng cho mọi người đều nghe (ITi1Tm 4:13). Các thư tín của Phao-lô cũng được đọc như vậy (ITe1Tx 5:27). Lời Chúa cũng được rao giảng để đem người chưa tin trở lại với Chúa và cũng để gây dựng các tín hữu (Cong Cv 2:41; 4:2)
Tiệc Thánh
Tiệc Thánh là phần chính yếu trong các buổi thờ phượng hàng tuần. Cong Cv 20:7 ghi chép buổi nhóm họp vào ngày thứ nhất trong tuần lễ (Chúa Nhật), với các môn đồ bẻ bánh và Phao-lô truyền giảng Lời Chúa.
Cầu Nguyện
Câu nguyện được thực hiện tập thể và cá nhân (Cong Cv 2:42; 4:24; 6:4; 10:9; ITi1Tm 2:1-4). Cầu nguyện gồm có xưng tội, ca ngợi nài xin, cầu thay và tạ ơn cho tất cả.
Âm Nhạc
Chúng ta có thể thờ phường mà không có thánh ca, nhưng âm nhạc đem lại cho thờ phượng sự tươi đẹp và uy nghiêm. Suốt cả Kinh Thánh, từ Sáng Thế Ký đến Khải thị, đều nói đến âm nhạc thờ phượng và chúng ta có thể học nhiều nhất nơi vua Đa-vít về thứ âm nhạc đặc biệt này. Nhà vua đã tổ chức và cung cấp mọi phương tiện cần thiết cho các nhạc sĩ và ca sĩ tài giỏi (ISu1Sb 25:1-6) để nâng cao sự thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên.
Tân Ước khuyến khích Cơ-đốc nhân hát thánh ca khi ở một mình hay hát chung với người khá và coi đó là một phần của thờ phượng. Cơ-đốc nhân ca hát khi vui mừng (Gia Gc 5:13), Phao-lô và Si la hát thánh ca trong lao tù (Cong Cv 16:25). Những từ ngữ “ca vịnh (Thi Thiên), thơ thánh (Thánh ca)” trong Eph Ep 5:19 và CoCl 3:16 chẳng những nói đến các Thi Thiên trong Cựu Ước mà rất có thể cũng nói đến những bài thánh ca do các Cơ-đốc nhân sáng tác thời đó, vì trong số các tín hữu của Hội Thánh ca do các Cơ-đốc nhân sáng tác lúc đó, vì trong số các tín hữu của Hội Thánh ban đầu có nhiều người Do Thái. Thánh ca (hymns) là bài hát tôn vinh ca ngợi Thượng Đế, còn “bài hát thiêng liêng” (spiritual songs) có thể là nhiều loại ca nhạc do Đức Thánh Linh hướng dẫn sáng tác. Nhiều khúc Kinh Thánh Tân Ước, như Eph Ep 5:14; Phi Pl 2:5-11; ITi1Tm 3:16 vv. rất có thể là các bản thánh ca của Hội Thánh đầu tiên còn những câu như RoRm 11:33-36; 16:27; ITi1Tm 6:16 mà bây giờ chúng ta gọi là bài tụng ca (doxology) có thể là những lời xưng nhận đức tin ban đầu.
Vì tính cách quan trọng của âm nhạc trong sự thờ phượng chúng ta cần khuyến khích tín hữu hát thánh ca khi ở một mình, hát chung với người khác, hát với ca đoàn, hát đơn ca. Hát thánh ca có thể thực hiện với các loại nhạc khí, hoặc không có nhạc khí cũng được.
Dâng Hiến
Tân Ước nói nhiều đến việc dâng hiến hơn tất cả các sinh hoạt nào khác trong Hội Thánh. ICo1Cr 16:2 nói đến việc quyên góp đều đặn mỗi Chúa Nhật Phi Pl 4:10-18 nói đến các món quà của tín hữu gởi tặng sứ đồ Phao-lô và nghĩa cử này được coi là “lễ vật tỏa hương thơm ngào ngạt, một sinh tế đẹp lòng Thượng Đế”, IICo 2Cr 8:12 và ITi1Tm 5:17, 18 dạy chúng ta dâng hiến cách rộng rãi không so đo.
Dâng hiến là một hành động chứng tỏ tín hữu kính yêu Thượng Đế (Gia Gc 2:15-17: IGi1Ga 3:17, 18). Dâng hiến phải phát xuất từ người đã nhận sự sống mới từ nơi Chúa (IGi1Ga 3:14, 16; IICo 2Cr 8:5), phải là một hành động tự nguyện (8:11, 12; 9:7), phải là một hành động vui lòng mà làm (9:7) và phải tùy theo khả năng Chúa ban cho từng người (ICo1Cr 16:2).
Ngoài các sinh hoạt trên đây, chúng ta có thể kể một vài yếu tố thờ phượng khác, như xác nhận niềm tin (ITi1Tm 6:12 BDY), cả hội chứng đồng thanh “A men” (ICo1Cr 14:16) đưa tay lên trời (ITi1Tm 2:8).
Các sinh hoạt và yếu tố trên đây cho thấy các đặc điểm thờ phượng của Hội Thánh trong Tân Ước. Mặc dầu các điều này không bắt buộc cách khắt khe, chúng ta so thể dựa vào đó để áp dụng cho mỗi hội chúng tùy theo sáng kiến, linh động và văn hóa riêng biệt.
Có một câu hỏi đặt ra là: các buổi thờ phượng trong Hội Thánh phải được sắp đặt trước, hay để cho tự động, không gò bó? Có người cho rằng sự thờ phượng phải để tự động không gò bó và giao phó hoàn toàn cho Đức Thánh Linh hướng. Những người này cho rằng các nghi thức sắp đặt trước là điều không thế chấp nhận được. Vì vậy có một số Hội Thánh không chấp nhận uy quyền của giáo hội ấn định hình thức thờ phượng của họ. Ngược lại, trong một số hội chúng khác, sự thờ phượng phải theo các nghi thức đã ấn định, hay phải được Mục sư hoặc phụ tác sắp đặt trước chương trình. Mặc dầu áp dụng cách nào, các buổi thờ phượng Thượng Đế đều phải được Đức Chúa Thánh Linh hướng dẫn điều khiến.
THỜ PHƯỢNG RIÊNG TƯ, CÁCH CÁ NHÂN
Một số Mục sư nhân mạnh đến sự thờ phường trong nhà thờ họ phụ trách, nhưng nếu sự thờ phượng không phải là một phần của kinh nghiệm cá nhân thì họ sẽ gặp khó khăn khi hướng dẫn hội chúng thờ phượng. Trong sách “Tăng Trưởng Chiều Sâu Trong nếp sống Cơ-đốc”, tác giả Charles Swindoll có kể lại việc ông nuôi dưỡng sự thờ phượng cá nhân mà không nói ra, không giải thích và cũng không thú nhận các cuộc chiến đấu như vậy. Để thực hiện điều này, ông thêm vào phần “Kỷ luật cầu nguyện” của mình thời gian để ca hát và thầm lặng trước mặt Chúa. Nhưng những giờ phút ca hát và thầm lặng này rất tản mạn nên ông phải tìm cách chen nó vào thời khóa biểu đã chật cứng.
Thờ phượng phải bắt đầu với nếp sống tương giao riêng tư với Chúa. Bạn hãy bắt đầu mỗi ngày mới với Thượng Đế bằng cách dành thì giờ suy gẫm nghiền ngẫm Lời Chúa trong khi tôn thờ Chúa, thú nhận các lỗi lầm mình với Chúa, cảm tạ Chúa và trình các sự nài xin mình cho Chúa (Adoration, Confession, Thanksgiving, Supplication = ACTS). Một khi bạn đã bắt đầu thờ phượng Chúa cách riêng tư, nếp sống thờ phượng này sẽ lớn lên và lan tràn ra để đúng đến sự thờ phượng của các anh em khác xung quanh bạn. Đừng tập trung vào những sự thay đổi màu mè bên ngoài như hát các bản thánh ca khác nhau, thay đổi thứ tự trong chương trình thờ phượng, nhưng phải chú tâm vào sự làm việc của Đức Thánh Linh trên tấm lòng của người khác. Khi bạn khao khát được thấy khải tượng lớn lao về vinh quang của Thượng Đế trong cuộc sống mình, Thượng Đế sẽ làm việc qua bạn để làm cho Hội Thánh khao khát một sự thờ phượng thuộc linh.
Nếu bạn chưa có thì giờ thờ phượng riêng tư hằng ngày, ngay hôm nay bạn phải dành ít nhất năm phút thầm lặng trước mặt Chúa để đọc một khúc Kinh Thánh ngắn, suy gẫm khúc đó và cảm tạ Chúa về một điều nào đó. Rồi qua ngày mai, bạn dành mười phút để thờ phượng riêng tư như vậy, và cứ mối ngày tăng thêm năm phút cho đến mức tối đa bạn có thể thực hiện được. Bạn cũng có thể học thuộc lòng vài bản thánh ca để ca ngợi Chúa trong thì giờ thờ phượng riêng tư, trong khi lái xe đến sở làm, hay khi đang đi bách bộ.
Các nguyên tắc trên đây cũng có thể áp dụng cho giờ “Gia đình lễ bái “(giờ thờ phượng Chúa trong gia đình). Phải giữ giờ này cho đều đặn, nhưng cũng phải để cho linh động, đừng cứng nhắc.
BÀI LÀM
1. Xin bạn kể ra các ý nghĩa khác nhau của từ ngữ “thờ phượng “trong Kinh Thánh, và cho biết bạn áp dụng các ý nghĩa này vào sự thờ phượng của bạn như thế nào ?
2. Xin kể ra các điều căn bản về sự thờ phượng mà Chúa Giê-xu đã dạy (theo GiGa 4:23-26).
3. Tại sao sự thờ phượng tập thể rất quan trọng ?
4. Các buổi thờ phượng tập thể cần có những yếu tố nào ?
5. Tại sao sự thờ phượng riêng tư (cá nhân) rất quan trọng cho sự tăng trưởng thuộc linh của bạn ?
6. Xin kể ra bốn yếu tố cần phải có trong thì giờ thờ phượng riêng tư, và cho biết cách bạn áp dụng các yếu tố này vào giờ thờ phượng riêng của mình.
ÁP DỤNG
1. Bạn hãy xem xét tất cả các khía cạnh của sự thờ phượng trong Hội Thánh bạn, rồi tìm cách áp dụng các yếu tố thờ phượng đó vào những việc sẽ xảy ra trong tuần sắp tới.
2. Bạn hãy kiểm điểm lại thời gian bạn dành để thông công riêng tư với Chúa trong khoảng thời gian này, bạn để bao nhiêu phút cho sự thờ phượng ? Bạn hãy đem các nguyên tắc đã học được trong chương này để thực hành trong thuộc gian thông công với Chúa.
3. Hãy tìm cho biết bạn có những ân tứ thuộc linh nào và cho biết cách nào bạn có thể đem sử dụng các ân tứ đó vào sự thờ phượng để gây dựng thân thể của Chúa Cứu Thế. Sau khi đã biết rõ các điểm này, bạn hãy dâng các ân tứ và khả năng của bạn cho Chúa để dùng vào giờ thờ phượng của Hội Thánh.
4. Bạn có bao giờ không thỏa lòng về sự thờ phượng tập thể trong Hội Thánh của bạn không ? Bạn hãy viết ra những điều gi làm bạn không thỏa lòng và cũng viết ra nbững lời đề nghị xây dựng để có thể cải thiện tình hình, rồi đem các đề nghị này ra thảo luận với một người nào bạn có thể tin cậy và cho biết kết quả.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Allen, Ronald, and Borror, Gordon, Worship , Rediscovering the Missing Jewel . Portland, OR: Multnomah Press, 1982.
Ryrie, Charles C.Basic Theology Wheaton , IL: Victor Books, 1987
Swindoll, Charles R. Growing Deep in the Christian Life . Portland, OR: Multnomah Press 1986
Tozer, A. W. Whatever Happened to Worship ? Camp Hill, PA: Christian Publications, 1985
Webber, Robert E. Worship is a Verb . Waco , TX: Word Books, 1985
Wiersbe, Warren W. Real Worship . Nashville: Oliver Nelson Book 1986
Chương 7: XÁC ĐỊNH MỐI LIÊN HỆ CÓ Ý NGHĨA TRONG HỘI THÁNH
Động từ “xác định “trong đầu đề của chương 7 này kêu gọi chúng ta chú ý đến các căn bản và nguồn gốc của Hội Thánh và chỉ nhờ chú ý nghiên cứu các điều này mà chúng ta có thể tạo ra một kiểu mẫu cho mối liên hệ trong Hội Thánh. Từ ngữ “có ý nghĩa” nói lên các kinh nghiệm và các giá trị quan trọng do mối liên hệ này tạo ra để chứng tỏ rằng đây không phải là một mối liên hệ thông thường. Từ ngữ “mối liên hệ” gợi ý: Đây là bổn phận (trách nhiệm) hai chiều, thành viên có bổn phận với Hội Thánh và Hội Thánh có bổn phận với thành viên. Như vậy, khi thấy đầu đề trên đây, chúng ta đã biết được nội dung của chương này nhằm vào mục đích đóng góp một yếu tố quan trọng vào quá trình tăng trưởng để tiến đến trưởng thành tâm linh.
HỘI THÁNH LÀ GÌ?
Có người gọi nhà thờ là Hội Thánh, như Hội Thánh ở Thành phố này. Hội Thánh ở vùng kia, Hội Thánh của hệ phái nọ.... Nhưng nhà thờ chỉ là một công trình kiến trúc do Hội Thánh sử dụng, chứ nhà thờ không phải là Hội Thánh.
Tổ Chức Và Cơ Thể Do Thượng Đế Thiết Lập
Dù loài người đã tự thiết kế và thực hiện nhiều tổ chức tôn giáo, nhưng Thượng Đế đã trù liệu và thiết lập một tổ chức, vào thời điểm và theo đường lối riêng của Ngài, và gọi tổ chức đó là Hội Thánh. Chính Chúa Cứu Thế đã báo cho Phi-e-rơ biết trước việc Chúa thiết lập Hội Thánh khi Ngài phán và ông trong Mat Mt 16:18 rằng: “Con là Phi-e-rơ (Tiếng Hy lạp là “petros “= viên đá:), ta sẽ xây dựng Hội Thánh ta trên vầng đá này (Tiếng Hy lạp là “petra” = vầng đá lớn), quyền lực của địa ngục không thắng nổi Hội Thánh đó”. Như vậy, Hội Thánh là do Thượng Đế xây dựng và Hội Thánh không phải chỉ là một tổ chức mà là một cơ thể, vì có những tế bào sống, là các người tin Chúa, “anh em cũng đã trở thành những hòn đá sống, được Thượng Đế dùng xây nhà Ngài “(IIPhi 2Pr 2:5 BDY)
Bạn hãy chú ý khúc Kinh Thánh Ma-thi-ơ trên đây thấy rõ nền tảng của Hội Thánh là “vầng đá lớn “chứ không phảI Phi-e-rơ tức là “petros” Tiếng Hy lạp có nghĩa là một viên đá nhỏ, một hòn sỏi. Trên vầng đá lớn, Thượng Đế xây dựng Hội Thánh của Ngài, gồm tất cả những người nào xưng nhận Chúa Giê-xu là Chúa (trong số đó có Phi-e-rơ các môn đồ của Chúa)
Một Nền Tảng Duy Nhất
Hội Thánh gồm những hội viên tất cả những người nào xưng nhận Chúa Giê-xu là Chúa, và nền tảng của Hội Thánh là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nhiều khúc Kinh Tháh đã xác nhận rõ rệt Chúa Cứu Thế là nền tảng của Hội Thánh, như ICo1Cr 3:11 (BDY) chép rằng: “Vì ngoài nền tảng đã đặt xong là Chúa Cứu Thế Giê-xu, chẳng ai có thể đặt nền móng khác” và Eph Ep 1:22, 23 (BDY) chép rằng “Thượng Đế đã đặt vạn vật dưới chân Chúa Cứu Thế, lập Ngài làm thủ lãnh tối cao của Hội Thánh. Hội Thánh là thân thể Ngài. Hội Thánh đầy dẫy Chúa Cứu Thế và Chúa Cứu Thế đầy dẫy khắp vạn vật.
Mối Liên Hệ Kiểu Mẫu
Lời Chúa trong Eph Ep 5:22, 23 so sánh mối liên hệ vợ chồng với mối liên hệ giữa Chúa Cứu Thế và thân thể của Ngài, là Hội Thánh gồm những thành phần được cứu. Có những bài học hết sức minh bạch mà chúng ta có thể rút tỉa từ trong hai mối liên hệ này như trung thực, yêu thương, thành tin và uy quyền. Một khi dã ý thức được mối liên hệ đứng đắn giữa chồng với vợ, vợ với chồng, chúng ta sẽ thấy rõ ràng hơn mối liên hệ thật mà Chúa muốn thiết lập với Cơ-đốc nhân. Mặt khác, mối liên hệ giữa Đầu và chi thể (Chúa và Hội Thánh) sẽ trở thành mẫu mực cho những gia đình lý tưởng trong Chúa.
Tổ Chức Với Thánh Viên Là Con Người
Mặc dầu Hội Thánh là một công cuộc sáng tạo vĩnh cửu, thiêng liêng, không bao giờ bị tiêu diệt, các thành viên của Hội Thánh lại là những con người hay sai lầm. Vì tôn giáo khá hấp dẫn nên có một số người tự nhiên được thu hút đến và trở thành hội viên của giáo hội mà chưa thành thật xưng nhận Chúa Giê-xu là Chúa và Đấng Cứu Rỗi của họ. Vì vậy, số người hội họp trong nhà thờ gồm chẳng những có thánh đồ còn bất toàn mà cũng có người chưa tin Chúa thật, cùng với tất cả những lỗi lầm và yếu đuối. Chúa Cứu Thế cho chúng ta thấy tình cảnh này trong câu chuyện ngụ ngôn cỏ lùng trong Mat Mt 13:36-43
Chức Năng Của Hội Thánh
Từ ngữ Hy lạp (ekklesia) dịch là “ Hội Thánh” trong Tân ước được dùng để nói đến đoàn thể tín hữu địa phương, và cũng được áp dụng cho đoàn thể toàn thế giới thuộc các thời đại và gồm có những người đã xưng nhận Chúa Giê-xu là Chúa và Đấng cứu rỗi của mình.
Nghĩa đen của từ ngữ “ekklesia” những người được kêu gọi ra khỏi” Theo định nghĩa này, chúng ta có thể thấy rõ chức năng của Hội Thánh vì tín hữu là người được kêu gọi ra khỏi thế gian để sống giống như Đấng Sáng lập và Đầu của Hội Thánh, là Chúa Giê-xu. Nói cách khác, Hội Thánh gồm có những con dân của Thượng Đế có đời sống giống Chúa Cứu Thế.
Mặc dầu Cơ-đốc nhân tiếp nhận được một bản chất mới khi ăn năn tội lỗi và tiếp nhận Chúa Giê-xu, nhưng bản chất cũ vẫn tìm cách nắm quyền chủ trị trên cuộc sống của người đó. Vì vậy, chức vụ của Hội Thánh là trang bị các Cơ-đốc nhân để có thể chiến thắng bản chất cũ và để tăng trưởng tiến lên trưởng thành tâm linh.
Xác định đúng chức năng của Hội Thánh là bước đầu để phát triển một mối liên hệ có ý nghĩa. Mặc dầu Hội Thánh có nhiều nhiệm vụ thú vị dễ chịu, nhưng để có thể một mối liên hệ cá nhân hiệu quả, vấn đề chính yếu của Hội Thánh là “làm thế nào giữ cho vấn đề chúnh yếu vẫn là vấn đề chính yếu”, như một người nào đó đã có nói. Trong trường hợp của Hội Thánh, thì “vấn đề chính yếu” là trang bị cho các tín hữu sống cho Chúa Cứu Thế.
MỐI LIÊN HỆ CỦA TÍN HỮU VỚI HỘI THÁNH
Những người học hỏi nghiên cứu lịch sử Hội Thánh đã nhận thấy rằng các thời kỳ sinh động nhất trong lịch sử Hội Thánh là thời kỳ các tín hữu ý thức rõ ràng họ là “những người được kêu gọi ra khỏi” và tích cực truyền bá Phúc Âm cho thế gian đang ở trong sự tăm tối thuộc linh. Ngược lại, các thời kỳ tê liệt của Hội Thánh là thời kỳ các tín hữu có thái độ tự mãn nguyện và giữ vai trò khán giả bàng quan mà không tích cực tham gia chức vụ Chúa giao phó cho họ.
Quyền Kế Vị Các Sứ Đồ
Hội Thánh vào thời kỳ các sứ đồ được mô tả cách sống động trong Công Vụ chương 2, và Hội Thánh đó là mẫu mực Thượng Đế muốn cho Hội Thánh các thời đại phải noi theo cho đến ngày Chúa Giê-xu tái lâm. Vì tất cả Cơ-đốc nhân hiện nay có “quyền kế vị các sứ đồ” để nhận được tất cả những gì các tín hữu hiện diện trong buổi họp đầu tiên (ngày lễ ngũ tuần) đã nhận, thì quyền kế vị các sứ đồ và mẫu mực Chúa ấn định cho Hội Thánh đầu tiên cũng phải áp dụng cho Hội Thánh của Ngài ngày nay.
Mặc dầu Kinh Thánh cho phép chúng ta có thể có khá nhiều sáng kiến và hình thức. cả trên phương diện lịch sử lẫn phương diện văn hóa. Kinh Thánh cũng đã xác định rõ ràng chức năng của Hội Thánh là “di sản của quyền kế vị các sứ đồ”.
Anh Chị Em Tín Hữu
Theo sinh hoạt của Hội Thánh vào thời các sứ đồ, mọi chức vụ (chức dịch phục vụ) đều hoàn toàn do các tín hữu (không thuộc hàng giáo phẩm) đảm nhiệm, còn các người lãnh đạo Hội Thánh phải lo trang bị cho chức vụ của tín hữu. Một trong các lý do chính đã đem lại kết quả rực rỡ cho Hội Thánh đầu tiên là tinh thần dấn thân vào việc bành trướng và chức dịch phục vụ của hội viên.
Mặc dầu từ ngữ “laity” (hàng tín hữu “không thuộc hàng giáo phẩm) chưa có vào thời kỳ Hội Thánh đầu tiên, và chỉ được Clement bắt đầu dùng vào năm 95 sau Chúa, “hàng tín hữu” là thành phần căn bản trong chức vụ của Francis ở Assisi, Martin luther, John Wycliffe, John Huss và nhiều người khác.
Theo Tân Ước, giữa hàng giáo phẩm (Mục sư, Truyền đạo) và hàng tín hữu không có gì khác biệt ngoại trừ phương diện chức năng (Function). Hàng giáo phẩm không phải là một giai cấp riêng biệt, nhưng được Chúa ban cho một số ân tứ đặc biệt để giữ một số vai trò đặc biệt. Tuy nhiên tất cả mọi người tin Chúa đều là người phục vụ Thượng Đế và mỗi người được Thánh Linh ban cho một số ân tứ “riêng biệt “để thi hành các chức dịch trong Hội Thánh. Một khi các tín hữu trong Hội Thánh ý thức rõ ràng chân lý này rồi xác định mình có ân tứ nào để đem ra thi hành chức vụ Chúa giao phó cho từng người với “quyền kế vị các sứ đồ”, thì lúc đó Hội Thánh sẽ đảo lộn thế giới một lần nữa (Cong Cv 17:6)
Chức Vụ Tư Tế Của Mỗi Tín Hữu
Vào thời Cái Chánh tôn Giáo (Reformation), Martin Luther tìm lại được chân lý vĩ đại trong Kinh Thánh về chức vụ tư tế của mỗi tín hữu và Hội Thánh đang ngủ mê đã thức tỉnh. Chân lý này rất đơn giản: Mỗi tín hữu là một thầy tế lễ của Thượng Đế, được đến trực tiếp với Thượng Đế và chịu trách nhiệm trước Thượng Đế. Chức vụ tế lễ này được nói rõ trong IPhi 1Pr 2:9 “Nhưng anh em là dòng sống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài.” KhKh 1:6 cũng chép rằng: “Đấng yêu thương chúng ta lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thấy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài”
Như vậy, mỗi tín hữu là một thầy tế lễ của Thượng Đế cho thế gian. Bất cứ điều gì Thượng Đế muốn cho toàn thể xã hội cũng như mỗi cá nhân trong xã hội phải làm gì , Ngài đều ủy thác cho mỗi tín hữu -là thầy tế lễ của Ngài - để truyền đạt ý muốn đó cho mọi người biết. Bất cứ điều gì Thượng Đế muốn cho xã hội và cho cá nhân trong xã hội được hưởng, như an ủi, chăm sóc, cứu trợ, cứu rỗi. Thượng Đế đều có ý định dùng các thầy tế lễ của Ngài làm công cụ để thực hiện các điều đó. Chính Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dạy điều này khi ngài phán rằng: “Ta quả quyết với các con, điều gì các con cấm đoán (buộc) dưới đất sẽ bị cấm đoán trên trời, điều gì các con thực hành (mở) dưới đất cũng sẽ được thực hành trên trời “(Mat Mt 18:18 BDY)
Một khi mỗi tín hữu đã ý thức về việc Thượng Đế giao phó cho mình quyền kế vị các sứ đồ, chức thầy tế lễ và chức năng phục vụ của người tin hữu (lay minister), người này sẽ không còn mãn nguyện khi chỉ làm người khách bàng quan trong Hội Thánh, nhưng sẽ được thúc đẩy tham gia tích cực vào chức vụ.
CÁC MỤC TIÊU VÀ TÍN HỮU QUA HỘI THÁNH
Ở đầu chương này, chúng ta nói rằng việc nhận định Hội Thánh là gì và nhận định mối liên hệ của tín hữu với Hội Thánh là điều cần thiết trước khi có thể hiểu từ ngữ “có ý nghĩa”.
Tân Ước dạy rằng tín hữu chỉ có thể có một mối liên hệ thiện hảo với Hội Thánh (= mối liên hệ có thể đem lại thỏa lòng và đáp ứng được điều ước mong) khi tín hữu này tích cực tham gia các chức vụ do Kinh Thánh chỉ dạy. Vì “chức vụ “thường bị méo mó lệch lạc trong giáo hội hiện nay, chúng ta cần phải định nghĩa các chức vụ cho chính xác, căn cứ trên Kinh Thánh. Mặc dầu các mục tiêu đề cập sau đây cần phải được nghiên cứu kỷ càng, ở đây chúng ta chỉ có thể liệt kê và cắt nghĩa vắn tắt. Chúng tôi khuyến khích bạn nên nghiên cứu từng mục tiêu một và bắt đầu áp dụng thực thi mục tiêu đó vào chức vụ cá nhân (riêng tư), cá tính (personality) và vai trò suốt đời (nhiệm vụ dài hạn) của bạn.
Truyền Giáo Thế Giới
Lời Chúa Cứu Thế từ giã môn đề khi về trời là Đại Mệnh lệnh của Ngài, được ghi chép trong Mat Mt 28:18-20 (BDY): “Chúa đến gần các môn đệ, ân cần dặn bảo: “Tất cả uy quyền trên trời dưới đất đều về tay Ta. Vậy các con hãy đi làm cho tất cả các dân tộc thành môn đệ Ta, làm báp têm cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Linh và dạy họ vâng giữ mọi mệnh lệnh Ta ! Chắc chắn Ta ơ với các con luôn luôn, từ nay cho đến ngày tận thế”. Chúa dạy rất rõ, Đại Mệnh Lệnh này phải là mục tiêu cá nhân của tất cả các tín hữu. Như vậy ai nói rằng Đại Mệnh Lệnh chỉ áp dụng cho hàng giáo phẩm mà không áp dụng cho toàn thể Hội Thánh là người nói ngược với Kinh Thánh. Truyền Giáo thế giới là một phần thiết yếu trong công thức Thượng Đế ấn định cho việc tăng trưởng để đạt đến trưởng thành tâm linh. Vì vậy, tìm cầu tăng trưởng tâm linh mà làm ngơ công tác truyền giáo trong phạm vi ảnh hưởng của mình sẽ không đem lại kết quả gì cả.
Tính Cách Liên Đới Nhau Của Tín Hữu (Như Chi Thể) Trong Hội Thánh (Như Thân Thể)
Sứ đồ Phao-lô và một số tác giả khác trong Kinh Thánh thường dùng từ ngữ “nhau”, “lẫn nhau”, để nhấn mạnh đến tính cách liên đới của chức vụ mà tín hữu thi hành qua Hội Thánh và ở trong Hội Thánh. Như trong RoRm 12:5 (BDY) chép rằng: “Trong Chúa Cứu Thế, tất cả chúng ta hợp làm một thân thể và các chi thể dều tùy thuộc lẫn nhau”. Phao-lô dùng hình ảnh các chi thể của một thân thể để trình bày đặc tính liên đới, tùy thuộc giữa chi thể này với chi thể nọ, và giữa các chi thể của một thân thể để trình bày đặc tính liên đới, tùy thuộc giữa chi thể này với chi thể nọ và giữa các chi thể với cả thân thể. Hình ảnh này được dùng nhiều lần, như trong ICo1Cr 12:1-31; RoRm 12:1-21 và Eph Ep 4:1-32). Khi một chi thể đau đớn, cả thân thể cũng đau đớn, khi một chi thể vui mừng, cả thân thể cũng vui mừng. Như vậy, theo huấn thị của Kinh Thánh dạy về chức vụ của tín hữu trong Hội Thánh, thì vai trò của Cơ-đốc nhân tăng trưởng là một thành phần hoạt động, làm trọn chức năng của mình trong thân thể là Hội Thánh.
Chí Tình Với Nhau
Tính thần tận tình của tín hữu phải hướng về các chi thể khác trong thân thể như câu RoRm 12:10 dạy rằng: “Hãy yêu thương nhau tha thiết như anh em ruột thịt” (bản anh ngữ NASB dịch: “hãy chí tình với nhau trong tình yêu huynh đệ”. Từ ngữ “chí tình?”(= có tình nghĩa chân thành sâu sắc) kêu gọi các tín hữu tăng trưởng phải làm trọn chức năng của họ như là những phần tử có tình tương thân trương ái trong một gia đình.
Vinh Dự Thật
Phần thứ hai của câu 12:10 dạy rằng: “Hãy lấy lẽ kính nhường nhau” (BDY = phải kính trọng nhau). Lời này nói đến vai trò của người tôi tớ, với lòng khiêm tốn bày tỏ lòng kính trọng người khác, xem họ tôn trọng hơn. Tinh thần này hoàn toàn xa lạ với các tiêu chuẩn giá trị trong xã hội, nhưng lại là một phần trong công thức tăng trưởng thuộc linh.
Hợp Nhất
Lời Chúa kêu gọi chúng ta phải hợp nhất, như trong 15:5 (BDY) “Cầu xin Thượng Đế Kiên Nhẫn và An Ui ban cho anh em tinh thần hợp nhất theo gương Chúa Cứu Thế Giê-xu.” Nhắm vào mục tiêu này, Cơ-đốc nhân tăng trưởng phải tích cực giữ vai trò của người đem lại sự hợp nhất trong các mối liên hệ giữa tín hữu này và tín hữu khác.
Tiếp Nhận
Tín hữu có bổn phận tiếp nhận người khác như Lời Chúa dạy: “Anh em hãy tiếp nhận nhau như Chúa Cứu Thế đã tiếp nhận chúng ta, để Thượng Đế được tôn vinh” 15:7 BDY. Trong khi thế gian đầy đẫy thành kiến và thiên vị, Cơ-đốc nhân nào đạt được mục tiêu này sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh.
Khuyên Bảo
Để quân bình với mục tiêu trên đây, sứ đồ Phao-lô dạy rằng “Tôi biết chắc anh em thừa hảo tâm và kiến thức nên có thể tự khuyên bảo lẫn nhau “(15:14 BDY). Đây là nhiệm vụ phải đối xử với anh em trên các nguyên tắc yêu thương trong ICo1Cr 13:1-13, mệnh danh là “Chương Yêu Thương, nhưng đừng quên rằng dung dưỡng tội lỗi trong Hội Thánh sẽ giết chết sức tăng trưởng tâm linh của cá nhân và của toàn thể Hội Thánh.
Chào Hỏi Với Trìu Mến
Có người hiểu lầm “cái hôn thánh “trong RoRm 16:16 (“Anh em hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau”), nhưng đây là một yếu tố trong công thức tăng trưởng tâm linh không thể bỏ qua. Mặc dù chúng ta không làm theo hình thức của “cái hôn thánh” theo phong tục thời xưa, nhưng phải áp dụng đúng tinh thần là bày tỏ lòng chân thành, lưu tâm, ưu ái với các anh chị em tín hữu trong Hội Thánh. Những cử chỉ lơ là, khách sáo và hời hợt ngày nay các tín hữu đừng để chào hỏi nhau trong Hội Thánh chẳng những ngược với tinh thần của Hội Thánh thật mà cũng không thích hợp với sự tăng trưởng tâm linh nữa.
Tinh Thần Phục Vụ
Tinh thần phục vụ người khác phải tiềm tàng trong tất cả các mục tiêu nói đến trong chương này. Nhưng ở đây, tinh thần phục vụ còn có thêm một chiều nữa khi chúng ta áp dụng câu GaGl 5:13 (BDY). “Anh em được tự do để phục vụ lẫn nhau trong tình yêu thương” Những câu kinh thánh trước và sau câu này đề cập đến sự tự do của Cơ-đốc nhân, và đồng thời kêu gọi Cơ-đốc nhân phải phục vụ nhau trong tình yêu thương. Đây là vai trò của “người nô lệ tự do” một “nghịch lý “(paradox) rất đáng chú trong chức vụ của tín hữu.
Mang Gánh Nặng
Vai trò của người khôi phục được mô tả trong câu: “hãy mang lấy gánh nặng cho nhau”(6:2). Có lẽ không có mục tiêu này, vì “người khôi phục” là người thực thi nhiệm vụ của thầy tế lễ. Mang lấy gánh nặng cho người khác cũng là một yếu tố đặc biệt đóng góp vào sự tăng trưởng tâm linh.
Tha Thứ
Thọat nhìn thì mục tiêu này giống như mục tiêu “mang gánh nặng” trên đây, nhưng theo Lời Chúa trong Eph Ep 4:2 thì giữa hai mục tiêu có sự khác biệt (“Phải hết sức khiêm cung, hiền từ, phải nhẫn nại chịu đựng nhau trong tình yêu thương”, BDY). Khi tha thứ anh em, Cơ-đốc nhân đang tăng trưởng được liên kết với Chúa Cứu Thế, nhờ đó ân điển của Thượng Đế tuôn tràn qua đời sống và chức vụ của mình (4:32)
Tùng Phục
Lời Chúa trong 5:21 (BDY) dạy rằng: “Do lòng kính sợ Chúa Cứu Thế, anh em phải tùng phục nhau.” Người tùng phục là người chứng tỏ được vị trí thật của mình trong Chúa Cứu Thế (Phi Pl 2:5-11) qua chức năng liên hệ lẫn nhau.
Khuyến Khích
Mục tiêu cuối cùng trong loạt mục tiêu chúng ta học hỏi trong chương này được nói đến trong ITe1Tx 5:11 (BDY). Vậy anh em hãy tiếp tục an ủi, xây dựng nhau “(Bản tiếng Anh NIV dịch là “Vậy anh em hãy khuyến khích nhau và xây dựng nhau”). Khuyến khích người khác để mình được tăng trưởng tâm linh mới nghe thì như là một điều kỳ dị, nhưng Kinh Thánh nhấn mạnh rằng tăng trưởng chỉ có thể thực hiện khi có mối tương quan liên đới với nhau. Vì vậy xác định mối liên hệ có ý nghĩa Hội Thánh chẳng những là một bổn phận của Cơ-đốc nhân mà cũng là phương thuốc của Thượng đế dùng để thúc đẩy sự tăng trưởng tâm linh cá nhân và tập thể.
Khi các mục tiêu trên đây đáp ứng. Hội Thánh đã truyền đạt cho thế giới một sứ điệp năng động và rõ ràng để thế gian thấy được Hội Thánh thật của Thượng Đế, và thấy một mối liên hệ thiêng liêng mà thế gian không có được. Nhờ đó nhiều người được kéo đến sứ điệp về Chân lý của Cơ-đốc nhân. Hội Thánh nào có sự tăng trưởng tâm linh thật, như được xác nhận qua các mục tiêu trên đây, chắc chắn sẽ tăng trưởng về số lượng
TÓM LƯỢC
Một khi đã nhận định được Hội Thánh thật là gì, Cơ-đốc nhân liền được thúc đẩy để xác định mối liên hệ thích đáng mà họ phải có. Vì Hội Thánh vừa là một tổ chức vừa là một cơ thể do Thượng Đế thiết lập, Hội Thánh cho chúng ta mối liên lạc kiểu mẫu giữa người với Thượng Đế.
Khi biết mình có quyền kế vị các sứ đồ, Cơ-đốc nhân có trách nhiệm về chức vụ đặc biệt Chúa giao phó cho mình và vì vậy Cơ-đốc nhân phải tìm trong Kinh Thánh để biết các mục tiêu của chức vụ mình.
Cơ-đốc nhân cũng thấy được những mẫu mực rõ rệt trong các lời khuyên lơn kêu gọi của Tân ước có dùng từ ngữ “nhau” “lẫn nhau”. Khi đạt được các mục tiêu (các lời khuyên lơn) này, thì sẽ có một năng lực tươi mới sinh động trong tình yêu thương của Hội Thánh và trong việc Giảng Tin lành cho thế giới.
BÀI LÀM
1.Khái niệm của Cơ-đốc nhân về Hội Thánh khác với khái niệm của người chưa tin như thế nào ?
2. Chức vụ (chức năng) của Hội Thánh là gì ?
3. Tại sao “hàng tín hữu” (không t huộc “hàng giáo phẩm” là thành phần rất quan trọng trong Hội Thánh ?
4. Bạn có những nghĩa vụ(bổn phận) nào khi làm “thầy tế lễ” của Thượng Đế ?
5. Xét liên hệ các mục tiêu của Cơ-đốc nhân trong (qua) Hội Thánh.
ÁP DỤNG
Bạn hãy áp dụng các bước sau đây để biết rõ Hội Thánh giúp đỡ cho bạn thực hiện được các mục tiêu trong chức vụ như thế nào:
1. Lấy một tờ giấy, liệt kê các chức năng họat động của Hội Thánh mà bạn có tham gia (thành một cột thẳng đứng bên tay trái tờ giấy)
2. Đem các mục tiêu bạn học được trong Chương này để lượng giá các chức năng hoạt động vừa liệt kê trên đây.Viết những điều bạn nhận định thành một cột thẳng đứng bên tay phải của tờ giấy.
3. Nếu nhận thấy có chức năng hoạt động đáng nghi ngờ sau khi đã dùng các mục tiêu để lượng giá, bạn cần tìm cách rút ra khỏi hoạt động này (nhưng vẫn tham gia các hoạt động khác)
4. Kiểm điểm lại các chức năng hoạt động khác của Hội Thánh mà bạn chưa tham gia, rồi lượng giá các chức năng này theo cách đã nói đến trong câu 2. Một khi đã nhận thấy có chức năng (hoạt động) nào có thể giúp bạn đạt được các mục tiêu, bạn hãy tích cực tham gia các chức năng hoạt động này.
5. Có những chức năng hoạt động nào bạn có thể đem vào trong Hội Thánh,hay có thể khuyến khích Hội Thánh áp dụng, để giúp đỡ bạn đạt được các mục tiêu của bạn không ?
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Getz, Gene, Building up One Another . Wheaton IL: Victor Books 1976
Sweeting, George. The Basics of the Christian Life . Chicago: Moody Press 1983
Treadwell William, and McSwain, Larry, Church Organization Alive . Nashville: Broadman Press 1987
Chương 8: NHẬN BIẾT KHẢ NĂNG PHỤC VỤ
Là một tín hữu tăng trưởng một trong những bài học đầu tiên bạn cần phải biết là bạn được cứu để phục vụ. Bạn được cứu không phải chỉ để thỏa mãn riêng bạn mà thôi. Bạn được Chúa cứu để Ngài sử dụng bạn trong chương trình phục vụ của Ngài trong cả thế giới. Bạn không chỉ được giải thóat khỏa hỏa ngục, mà bạn còn nhận được một đặc ân vô cùng vinh dự là phục vụ Thượng Đế tối cao. Phục vụ Thượng Đế là một đặc ân vô cùng vĩ đại
Là Đấng Tạo Hóa Toàn Năng cầm quyền tể trị tối thượng, Thượng Đế không cần bất cứ một ai, cũng không cần bất cứ cái gì để thực hành ý định của Ngài. Nhưng chính Đấng Toàn Năng đó lại bằng lòng dùng chúng ta làm công cụ của Ngài là một điều ngoài trí óc hữu hạn của chúng ta. Đây là một trong nhiều cách Chúa bày tỏ ân điển Ngài cho chúng ta, là vật thọ tạo của Ngài. Thượng Đế chỉ cần phán ra lời Ngài, thì cả vũ trụ với muôn loài vạn vật liền được dựng nên. Rồi để bảo tồn vủ trụ với muôn loài đó, Thượng Đế cũng không cần ai giúp đỡ Ngài cả. Nhưng Thượng Đế muốn chọn chúng ta để phục vụ Ngài, theo Lời Chúa Cứu Thế phán rằng: “Không phải các con đã chọn ta, nhưng ta đã chọn, bổ nhiệm vài sai các con đi để đem lại thành quả lâu dài.” (GiGa 15:16 BDY). Chính Chúa đã lựa chọn và ủy nhiệm các chức vụ đặc biệt cho mỗi Cơ-đốc nhân và để cho Cơ-đốc nhân có thể thi hành các chức vụ này cách hữu hiệu, Chúa cũng ban phát các ân tứ đặc biệt.
CÁC ÂN TỨ ĐỂ THI HÀNH CHỨC VỤ
Ngay khi nghiên cứu các ân tứ để thi hành chức vụ, bạn phải biết cách dứt khóat rõ ràng Nguồn của các ân tứ đó, là Đức Thánh Linh, An tứ của Đức thánh linh ban cho không phải là tài năng, nổ lực hay cố gắng của con người, vì những cố gắng do nghị lực của xác thịt con người chắc chắn không bao giờ thực hiện được các mục tiêu mà Chúa ấn định.
Lời Chúa trong Eph Ep 4:11, 12 (BDY) chép rằng “Ngài cho người này làm sứ đồ, người kia làm tiên tri, người khác làm truyền đạo, mục sư hay giáo sư... Ngài phân phối công tác như thế để chúng ta phục vụ đắc lực cho Ngài, cùng nhau xây dựng Hội Thánh là Thân Thể Ngài”. Mấy câu Kinh Thánh này xác định rõ ràng rằng mục đích của việc Chúa ban phát các ân tứ là để đem lại lợi ích cho thân thể của Chúa Cứu Thế. Chúa không bao ân tứ để chúng ta xây dựng “cái tôi” của mình, hay để phát triển quyền lực của người tiếp nhận ân tứ. Nhưng ân tứ là để phục vụ tập thể, là thân thể của Chúa. Vì vậy, bất cứ Chúa ban cho bạn ân tứ nào, bạn phải dùng ân tứ đó tôn vinh Thượng Đế và để đem lại lợi ích cho người khác.
Nhiều khi có Cơ-đốc nhân tin rằng họ tôn vinh Chúa bằng cách giữ các nghi lễ, bằng cách nhóm họp, dâng hiến tiền bạc hay bỏ thì giờ để làm việc này việc kia cho nhà thờ. Nhưng khi cẩn thận nghiên cứu Kinh Thánh (như Mat Mt 9:13; EsIs 1:11 v.v...) bạn sẽ thấy rằng Chúa có một chương trình khác hẳn. Nói vậy, không có nghĩa là bạn đừng nhóm họp, đừng dâng hiến tiền bạc và thì giờ nữa, nhưng có nghĩa là Cơ-đốc nhân tôn vinh Chúa thật sự khi đem áp dụng ân tứ của Chúa ban cho để phục vụ người khác.
Việc nghiên cứu dàn bài sau đây sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về giáo lý các ân tứ để phục vụ, như Kinh Thánh trình bày.
1. Thượng Đế muốn cho Cơ-đốc nhân khôn ngoan để biết rõ các ân tứ của Đức Thánh Linh (ICo1Cr 12:1)
A. An tứ là những món quà của Thánh Linh ban cho (RoRm 1:11)
B. An tứ là những khả năng đặc biệt do Thánh Linh ban cho vào lúc tiếp nhận Chúa Giê-xu để tín hữu có thể phục vụ thân thể Chúa cách hữu hiệu nhất.
II. Mỗi con cái của Chúa đều có một hay nhiều ân tứ (ICo1Cr 12:7)
III. Các ân tứ cá nhân được dùng để phục vụ một mục đích đặc biệt (Eph Ep 4:11, 12)
IV. Người nhận ân tứ có trách nhiệm trước Thượng Đế (ITi1Tm 4:11, 12)
V. An tứ khác với khả năng (IIPhi 2Pr 4:11)
VI. Đừng lẫn lộn ân tứ với chức vụ (như sứ đồ, tiên tri v.v...) với sự phục vụ (phương tiện để sử dụng ân tứ) hay với trái của Thánh Linh (trái liên quan đến đời sống tin kính)
VII. Các ân tứ thuộc linh được chia làm ba loại riêng biệt
A. Các ân tứ dùng lời nói
1. An tứ sứ đồ (Eph Ep 4:11), hiện nay là ân tứ giáo sĩ
2. An tứ tiên tri (4:11), thay mặt Thượng Đế để nói, bằng lời làm chứng hay công bố sứ điệp của Chúa.
3. An tứ truyền giáo (Evangelism) (4:11), khả năng đặc biệt để truyền đạt Phúc Âm sứ điệp của Chúa.
4. An tứ dạy dỗ (4:11), một ân tứ độc đáo để giải thích và áp dụng Lời Chúa.
5. An tứ khích lệ (RoRm 12:8) để khuyến khích an ủi.
6. An tứ tri thức và khôn ngoan (ICo1Cr 12:8) để hiểu Lời Chúa sâu sắc và biết áp dụng lời đó vào các nan đề trong cuộc sống.
B. Các ân tứ phục vụ
1. An tứ nâng đỡ (12:28) khả năng để phục vụ Hội Thánh, giữ các vai trò trợ giúp.
2. An tứ tiếp khách (RoRm 12:13; IPhi 1Pr 4:9) để sẵn sàng mở cửa tiếp đón người khác cách nồng hậu, cung cấp thức ăn và chổ nghỉ ngơi.
3. An tứ dâng hiến (RoRm 12:8), dâng hiến trên số phận mười, vui vẻ đóng góp tích cực vào công việc Chúa.
4. An tứ quản trị (ICo1Cr 12:28), tức là ân tứ lãnh đạo do Chúa ban cho bằng tín hữu cũng như cho hàng giáo phẩm.
5. An tứ bày tỏ lòng thương xót (RoRm 12:8) để bày tỏ tấm lòng và các hành động thương yêu giúp đỡ người đang cần
6. An tứ đức tin (ICo1Cr 12:9), ngoài ra đức tin cứu rỗi, đây là ân tứ để biết được những điều Chúa muốn làm và kiên trì vượt qua các chướng ngại cho đến khi những điều này thực hiện xong.
7. An tứ phân biệt (12:10) để phân biệt giữa Thần chân lý (Thánh linh) với các thần giả mạo
C. Các ân tứ biểu hiện
1. An tứ làm phép lạ (12:10) là khả năng làm những vật siêu nhiên kỳ diệu để chứng thực sự ủy nhiệm của Thượng Đế (Mac Mc 16:20; HeDt 2:4)
2. An tứ chữa bệnh (ICo1Cr 12:9) là khả năng siêu nhiên để Chúa dùng làm công cụ chữa bệnh và phục hồi sức khỏe.
3. An tứ nói và thông dịch ngôn ngữ khác (12:28) để phát những lời “xuất thần “, hoặc nói và thông dịch một thứ ngôn ngữ trước đó chưa từng biết.
Các nhà thần học bất đồng ý kiến về các ân tứ trên đây có phải tất cả đều là ân tứ thật không và có phải tất cả đều còn áp dụng cho thời đại chúng ta đang sống không. Tuy nhiên, lịch sử Hội Thánh và nhất là lịch sử các cuộc phục hưng chứng minh rằng Thượng Đế không thay đổi (HeDt 13:8) Đức Thánh linh và các ân tứ của Ngài không thay đổi. Tất cả các ân tứ trên đây đều được Kinh Thánh đề cập đến và cần được Cơ-đốc nhân lưu tâm khi cân nhắc chức vụ của mình.
Trong các ân tứ trên đây, có một số ân tứ “thông dụng “hơn những ân tứ khác, vì vậy chúng ta có thể nói rằng Đức Thánh Linh có ý định dùng các ân tứ thông dụng này cách tính cực và rõ rệt trong Hội Thánh. Điều đáng buồn là có một số tính hữu vì quá say mê một vài ân tứ có vẻ hấp dẫn nên tốn quá nhiều thì giờ tìm kiếm hay để bàn luận về các ân tứ này mà bỏ qua chức vụ ưu tiên quan trọng nhất mà Thượng đế đã ủy thác.
BẠN CÓ NHỮNG ÂN TỨ NÀO ?
Đây là một câu hỏi vô cùng quan trọng cho nhiều Cơ-đốc nhân. Khi bạn được cứu rỗi, Thượng Đế không dán trên trán bạn một bản tuyên dương liệt kê các ân tứ Ngài ban cho bạn, vì một lý do là Ngài muốn để cho bạn tự khám phá ra. Nhờ bạn tìm tòi để khám phá các ân tứ Chúa ban cho khi mới tiếp nhận Chúa, đời sống tâm linh bạn sẽ phong phú và tăng trưởng.
Khi dùng các nguyên tắc hướng dẫn trong chương này, để xác định các ân tứ thuộc linh Chúa cho, bạn sẽ nhận biết được các ưu điểm (chổ mạnh) và các nhược điểm (chổ yếu) và trao đổi với một vài người anh em trong Chúa và dùng “Phương pháp dò dẫm”(làm thử để rút tia kinh nghiệm qua các thất bại) và nhờ họ nói cho bạn biết họ thấy bạn thành công ở điểm nào.
Tìm Biết Các Ưu Điểm
Bước thứ nhất trong việc xác định các ân tứ thuộc linh là tìm biết các ưu điểm. Khi làm việc này, bạn phải cẩn thận để thanh lọc những ưu điểm và thành công do tài khéo bạn đã học hỏi được. Những điều bạn cần xác định ở đây là những chiến thắng, những thành công và năng lực trong chức vụ không thể giải thích công thông thường, tức là những thành công, thắng lợi và sức mạnh do một quyền năng siêu nhiên. Một khi đã nhận định rõ ràng các điều này bạn sẽ có một ý niệm rõ ràng về các ân tứ tâm linh Chúa ban cho bạn.
Xác Định Các Nhược Điểm
Bước thứ hai là tìm biết các nhược điểm. Bạn cũng hãy áp dụng các phương pháp trên đây để lượng giá những việc không đem lại kết quả trong chức vụ. Khi đã tìm thấy các thất bại, các cố gắng không đi đến đâu và các nhược điểm của mình, bạn sẽ biết rõ những ân tứ nào là ân tứ Chúa không ban cho bạn.
Tham Khảo Với Các Anh Em Tín Hữu
Để có thể có một cái nhìn sâu sắc hơn về các ân tứ thuộc linh bạn nên tham khảo với một vài anh em tín hữu biết bạn rõ ràng và có cơ hội quan sát khi bạn thi hành chức vụ. Để cho có kết quả tốt, bạn phải tìm những anh em trưởng thành trong Chúa để tham khảo, vì chỉ người nào có Đức Thánh Linh tác động trong lòng mới có thể giúp bạn trong việc này. Những người này cũng phải là bạn thân để họ có thể chia xẻ với bạn một cách khách quan.
Dùng “Phương Pháp Dò Dẫm”
Khi tìm cách xác định các ân tứ Chúa cho bạn để phục vụ Ngài, bạn có thể áp dụng “phương pháp dò dẫm “(trial & error, tức là thử bắt tay vào việ để rút tia kinh nghiệm qua các thất bại). Câu “thất bại là mẹ thành công” tuy không hòan toàn đúng nhưng nhiều khi bạn phải thử bắt tay vào việc để đạt được thành công hay gặt lấy thất bại, bạn mới có thể rút tia được nhiều kinh nghiệm và mỗi lần thấy rõ những đường hướng để tập trung và các ân tứ hữu hiệu nhất để phục vụ vương quốc của Thượng Đế.
ÁP DỤNG CÁC ÂN TỨ THUỘC LINH VÀO LÚC NÀO
Một nan đề trầm trọng trong các Hội Thánh hiện nay là nhân viên được tuyển mộ và bổ nhiệm trước khi cấp lãnh đạo hay chính các nhân viên đó đã xác định các ân tứ phục vụ của họ. Cách làm việc này, dù có thiện chí đến đâu cũng không đem lại kết quả vì đi ngược với đường lối của Đức Thánh Linh. Chính Chúa đã hứa với chúng ta rằng Ngài sẽ ban đầy đủ ân tứ cho con cái Ngài để Hội Thánh có thể hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ Chúa đã giao phó. Theo sự khôn ngoan và biết trước của Ngài, Chúa đã ban cho tín hữu những ân tứ cần thiết và thích hợp để Hội Thánh làm tròn chức vụ
Sau khi đã xác định các ân tứ phụcvụ của mình, bạn phải có bước thứ hai là có sự cam kết dấn thân của cá nhân bạn với Chúa. Các ân tứ này là ân tứ chính bạn đã nhận được, và đối với Chúa bạn có trách nhiệm đem các ân tứ đó ra thực hành. Do đó bạn cần đặt các ân tứ này vào hàng ưu tiên để tập trung năng lực của bạn vào đấy. Đừng bao giờ coi các ân tứ này là thứ sử dụng cũng được, không sử dụng cũng chẳng sao, nhưng chính là một phần trong chương trình phục vụ Hội Thánh Thượng Đế đã ấn định cho bạn.
Phát triển các ân tứ cũng là một phần trong sự cam kết dấn thân của bạn. Thượng Đế thường ban cho bạn các ân tứ còn trong tình trạng thô sơ để bạn có cơ hội phát triển và mài dũa qua kinh nghiệm sử dụng để các ân tứ đó càng ngày càng hữu hiệu như Chúa muốn. Chúng ta có thể xem các ân tứ mà Cha trên trời ban cho chúng ta như là Ngài đầu tư vào chúng ta và muốn chúng ta phát triển để làm lợi thật nhiều cho Chúa.
Phát triển các ân tứ là một quyết tâm liên tục và kéo dài suốt đời. Để theo kịp các biến chuyển của thế giới và các kỹ thuật mới, bạn phải tiếp tục ghi tên học các chương trình huấn luyện, đọc sách, tham dự các cuộc hội thảo.... Chúng ta gọi đây là “giáo dục trọn đời “.
Một nan đề trầm trọng khác cho Hội Thánh hiện nay là nhân viên cứ dùng những khả năng cũ kỹ lạc hậu không theo kịp với tri thức và kỷ thuật hiện đại. Lý do không phải là vì tín hữu từ chối không chịu phát triển các ân tứ của họ, mà là vì họ tưởng rằng việc phát triển này không cần thiết. Nhưng phát triển các ân tứ hết sức cần thiết để bạn có thể tiếp tục tăng trưởng tiến đến trưởng thành tâm linh.
Bây giờ chúng ta trở lại câu hỏi: “Khi nào bạn sử dụng các ân tứ tâm linh?” Để trả lời câu hỏi này, bạn nên nhớ ba điểm dự định (anticipate), thích nghi (adapt) và hành động (act).” Quá trình ba điểm” này sẽ hướng dẫn bạn khi bạn sắp đặt lo liệu chương trình phục vụ mà Chúa muốn bạn thực hành.
Dự Tính
Bạn phải bắt đầu bằng cách dự tính xem những hòan cảnh nào của gia đình, của công ăn việc làm, của cuộc sống trong xã hội và nhất là của đời sống tâm linh sẽ ảnh hưởng dến việc sử dụng các ân tứ tâm linh của bạn.
Thích Nghi
Phương pháp thích nghi đòi hỏi bạn phải làm thế nào để thích nghi các ân tứ tâm linh của bạn vào những kinh nghiệm độc đáo và những cơ hội cần phải nắm lấy để phục vụ. Không biết thích nghi là lỗi lầm đã làm cho nhiều tín hữu hụt mất cơ hội phục vụ. Mặc dầu bạn có thể gặp phải một vài hòan cảnh hơi khác với những kinh nghiệm sử dụng ân tứ thuộc linh trước đây, bạn đừng nên để hụt mất cơ hội có thể sử dụng ân tứ phục vụ của mình. Muốn được như vậy, bạn cần phải áp dụng phương pháp thích nghi, tức là linh động đủ để thích nghi với những tình hình có phạm vi khác nhau, mà vẫn có thể phục vụ Chúa cách hữu hiệu. Bạn cần phải nhờ cậy hòan toàn vào Đức thánh linh để Ngài hướng dẫn và lãnh đạo khi tiến vào những lãnh vực chưa từng kinh nghiệm, đây cũng là những thách thức lớn lao nhất cho bạn là con dân của Chúa
Hành Động
Mặc dầu bạn đã dự tính xong các cơ hội để xử dụng ân tứ tâm linh và đã biết thích nghi để có thể đối phó với tình hình thay đổi, vẫn chưa có gì xảy ra cả nếu bạn chưa bắt tay hành động. Dự tính và đưa ra lý thuyết này nọ về sự phục vụ là việc rất dễ, nhưng nếu chỉ có bấy nhiêu đó thì cũng chưa có gì cả.
Đầu óc và tinh thần con người thường làm người ta tự mãn nguyện sau khi đã cứu xét một vấn đề và đã chọn một lập trường mà chưa thực sự bắt tay vào việc. Nếu chưa hành động thì tất cả những việc khác đều chỉ là “thể dục trí óc” và kẻ thù của chúng ta là Sa-tan rất thích áp dụng chiến thuật này để đánh lừa chúng ta. Ngoài ra, chúng ta cũng cần chú ý rằng: hành động mà không có mục đích hay mục tiêu cũng mạnh chỉ là hành động vu vơ, lạc đề. Điều chúng ta muốn nhấn mạnh ở đây là sau khi đã cứu xét tất cả các chi tiết liên hệ đến việc phục vụ Chúa với các ân tứ Chúa ban cho, bạn cần phải hành động
Nhưng hành động này phải thực hiện ở đâu ? Kinh Thánh dạy rằng Cơ-đốc nhân là công dân của Thiên đàng mà đồng thời cũng là người còn sống trên trần gian. Do đó, trần gian là giai đoạn hiện tại của chức vụ bạn. Mặc dầu bạn không để cho bị giới hạn bởi Hội Thánh địa phương của mình, nhưng đây cũng là Giê-ru-sa-lem (Cong Cv 1:8) để bạn bắt đầu tập trung vào. Tín hữu cần phải luôn luôn tự nhắc nhở rằng: tôi là Cơ-đốc nhân hoàn vũ mà cũng là Cơ-đốc nhân địa phương. Khi biết rõ như vậy bạn sẽ thấy mình có một phạm vi hoạt động rất hứng thú, vì không có gì làm cho bạn xúc động hơn là khi bạn biết rằng chính Chúa Giê-xu đã ban cho bạn các ân tứ thuộc linh để Ngài có thể dùng bạn một cách độc đáo trên thế gian này.
TÓM LƯỢC
Xác định các ân tứ phục vụ là một phần quan trọng trong quá trình tăng trưởng để trưởng thành trong Chúa Cứu Thế. Khi sử dụng các ân tứ do Đức Thánh Linh ban cho để phục vụ người khác, bạn đóng góp vào việc xây dựng thân thể Chúa Cứu Thế và tôn vinh Thượng Đế. Kinh Thánh nêu ra rất nhiều ân tứ khác nhau để cho chúng ta thấy rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau. Nhờ việc tự kiểm điểm đời sống của mình và tham k hảo với anh em trong Chúa, bạn có thể tìm biết được các ân tứ phục vụ của bạn. Một khi đã tìm biết các ân tứ này rồi, bạn phải chú tâm vào việc phát triển và sử dụng ân tứ vào việc phục vụ Chúa.
BÀI LÀM
1. An tứ phục vụ và tài năng khác nhau thế nào ?
2. Bạn phải theo những “nguyên tắc hướng dẫn” nào để xác định các ân tứ tâm linh của bạn ?
3. Xin kể ra một số đường lối bạn theo để phát triển các ân tứ?
4. Bạn dùng các phương pháp dự tính, thích nghi và hành động như thế nào khi sử dụng các ân tứ tâm linh của bạn.
ÁP DỤNG
1. Hãy tìm trong Kinh Thánh các ân tứ phục vụ có nói đến trong chương này, rồi dùng Thánh kinh phù dẫn (Concordance) để tra cứu cách áp dụng các ân tứ đó. Dùng sự khảo cứu này làm nền tảng cho việc xác định ân tứ (các ân tứ) tâm linh của bạn.
2. Tổ chức một toán hỗ trợ tùy theo (support group) thì giờ và địa điểm của bạn. Toán này gồm có 3 hay 4 người, họp nhau lại để cùng tìm biết các ân tứ tâm linh của nhau, rồi giúp đỡ nhau lại để cùng phát triển các ân tứ trong khung cảnh phục vụ. Toán này phải hoạch định và quyết tâm họp lại mỗi tuần lễ một lần trong một khoảng thời gian ít nhất là 6 tháng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Baxter, Ronald E. Gits of the spirit . Grand Rapids, MI: Kregel Publications, 1983
Gangel, Kenneth O. Unwrap Your Spiritual Gifts . Wheaton, IL: Victor Book 1983
Jone, R. Wayne. Using Spiritual Gifts . Nashville: Braodman Press, 1985
Kinghorn, Kenneth C. Gifts of the Spirit . Nashville: Abingdon Press 1976
Lutzer, Erwin W. You’re Richer Than You Think ! Wheaton IL: Victor Book 1978
McRae, William, The Dynamixs of Spiritual Gifts . Grand Rapids, MI: Zondervan Publishing House 1983
Chương 9: PHỤC VỤ QUA CÔNG TÁC TRUYỀN GIÁO VÀ CHĂM SÓC
Một khi đã xác định được các ân tứ phục vụ của mình, bạn cần nên đưa các ân tứ ấy lên hàng ưu tiên trong sự phụcvụ Chúa. Có tín hữu coi việc dạy dỗ là trọng tâm của chức vụ họ, cũng có tín hữu khác đặt trọng tâm vào việc quản trị, hay truyền giảng v.v... Tuy nhiên, có một vài lãnh vực đặc biệt Chúa muốn cho tất cả các tín hữu đều tham dự, ngoài những lãnh vực họ có ân tứ riêng để đảm nhiệm. Các lãnh vực đặc biệt này là truyền giáo và chăm sóc. Có một số người nhận được ân tứ đặc biệt về truyền giáo và chăm sóc, nhưng không phải vì vậy mà hai công tác này Chúa chỉ dành riêng cho họ. Tất cả các Cơ-đốc nhân đều có trách nhiệm truyền giáo và chăm sóc cả.
Ê-phê-sô 4:11;, nói đến ân tứ truyền giáo (“làm truyền đạo”) được Chúa ban cho một số Cơ-đốc nhân, nhưng chính Chúa Cứu Thế ban Đại Mệnh lệnh cho tất cả các tín hữu phải làm chứng nhân cho Chúa, phải công bố Phúc Âm cho người chưa tin và giúp họ trở về làm môn đệ của Chúa: “Vậy các con hãy đi dìu dắt tất cả các dân tộc làm môn đệ Ta, làm báp-tem cho họ nhân danh Cha, Con và thánh Linh và dạy họ vâng giữ mọi mệnh lệnh Ta! Chắc chắn Ta ở với các con luôn luôn, từ nay cho đến ngày tận thế “(Mat Mt 28:19, 20 BDY).Chúng ta cũng thấy những mệnh lệnh tương tự trong Mac Mc 16:15 và Cong Cv 1:8; ChCn 11:30 cũng chép rằng: “Người khôn ngoan có tài được linh hồn người ta” Như vậy, truyền giáo không phải là một công tác tùy thích, muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi, nhưng là một trách nhiệm Chúa ủy thác cách rõ ràng cho tất cả các Cơ-đốc nhân.
Truyền giáo là công bố Tin mừng Chúa Cứu Thế đã chịu chết để đền tội cho nhân loại, bất cứ người nào lấy đức tin ăn năn hối cải và tin nhận Chúa, thì đời sống được thay đổi để được giống Chúa. Tất cả mọi người tin Chúa đều có thể là chứng nhân cho Chúa, nếu không thì Chúa đã không ban mệnh lệnh bảo tất cả chúng ta đều phải tuân hành.
Thượng Đế ban quyền năng cho những nhà truyền bá Phúc Âm và ban phước cho họ để chức vụ của họ có kết quả mỹ mãn. Đồng thời Chúa cũng muốn mỗi Cơ-đốc nhân đều công bố Phúc ân cứu rỗi Mặc dầu không phải ai cũng có ân tứ đặc biệt như các nhà truyền bá Phúc Âm.
TẠI SAO HAI CHỨC VỤ TRUYỀN GIÁO VÀ CHĂM SÓC ĐỂ CHUNG NHAU
Mới nghe thì dường như chức vụ, truyền giáo và chức vụ chăm sóc thuộc hai lãnh vực riêng biệt, nhưng có nhiều lý do chính đáng để nối kết hai chức vụ này lại với nhau.
Kinh Thánh Nối Kết Hai Chức Vụ Này Với Nhau .
Chức vụ truyền giáo và chức vụ chăm sóc được nghiên cứu chung trong chương 9 này là vì Kinh Thánh đã nối cả hai lại với nhau. Thượng Đế muốn cho Cơ-đốc nhân lo cho người khác trên cả hai lãnh vực này. Đừng nghĩ rằng truyền giáo chỉ là truyền giảng chân lý không cần quan tâm đến sự đáp ứng của xã hội. Kinh Thánh cho thấy rõ ràng rằng Thượng Đế muốn cho con cái của Ngài làm người chăm sóc đồng bào đồng loại trên trần gian. Đây là điều chính Giê-xu đã bày tỏ cho các môn đồ Ngài rất nhiều lần suốt ba năm chức vụ của Ngài.
Truyền Giáo Là Kết Quả Của Chăm Sóc
Nếu không được tinh thần chăm sóc chân thành làm động cơ thúc đẩy, Cơ-đốc nhân không thể nào thực hiện công cuộc truyền giáo thật. Tinh thần chăm sóc là động lực chính giúp các tín hữu chia xẻ với người khác những gì Chúa đã làm trong đời sống họ.
Người tin Chúa thật luôn nghĩ đến các nhu cầu của người khác. Mặc dầu Cơ-đốc nhân phải coi chân lý là quý trọng và phải được bảo vệ, nhưng chỉ khi nào chân lý được chia xẻ với hành động cụ thể để đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của người chưa tin, thì việc chia xẻ đó mới có tác động mạnh mẽ được.
Một động lực khác là người thật lòng tin Chúa quan tâm đến nhu cầu của người khác. Động lực có tác dụng mạnh nhất trên người chưa tin là chia xẻ lời chứng Tin lành đáp ứng đúng những nhu cầu của họ.
Truyền Giáo Và Chăm Sóc Đi Song Song Với Nhau
Để bắt đầu lưu tâm đến chức vụ chăm sóc, bạn cần phải đánh dấu để làm nổi bật lên các ân tứ được liệt kê trong chương 8 dưới tiểu mục “Các ân tứ phục vụ”. Mặc dầu có chức năng của một số ân tứ khác cũng có tính cách chăm sóc (ví dụ: ân tứ chữa bệnh, ân tứ làm p hép lạ), nhưng chúng ta dùng các ân tứ thuộc loại ân tứ phục vụ làm căn bản để có thể hiểu công tác chăm sóc cách rõ ràng hơn. Đặc biệt là các lãnh vực “giúp đỡ “, “tiếp khách “, “dâng hiến “,” bày tỏ lòng thương xót” đều tập trung vào chức vụ chăm sóc. Dù những lãnh vực này có thể thực hiện mà không có truyền giảng; nhưng điểm quan trọng chúng ta nhấn mạnh ở đây là công tác truyền giáo khi được thi hành đúng theo đường lối của Kinh Thánh thì phải có công tác chăm sóc yểm trợ.
TÔI CÓ THỂ TẠO NÊN NHỮNG ẢNH HƯỞNG NÀO?
Trên mộ bia của Đức Khổng Tử người ta ghi “vạn thế sư” tức là ông thầy của muôn đời. Một người có thể dạy được được mười ngàn thế hệ là một việc hi hữu. Nhưng bạn nên nhớ rằng khi bạn tham gia vào công tác này còn đến đời đời, chứ không phải chỉ có mười ngàn thế hệ thôi đâu.
Vì dân số thế giới đang tăng gia với mức độ kinh khủng, nên nhu cầu truyền giáo cũng lớn lao hơn lúc nào hết. Chỉ khi nào Cơ-đốc nhân ý thức được trách nhiệm truyền giáo và chăm sóc của mình thì Đại mệnh lệnh của Chúa chúng ta mới có thể được liên tục thực thi cách đầy đủ để đáp ứng với dân số thế giới cứ càng ngày càng gia tăng nhanh chóng. Để cho Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Giê-xu có thể truyền bá Phúc Âm cách hữu hiệu cho thế gian với dân số gia tăng nhanh chóng như vậy, công tác truyền giáo phải thi hành với lòng thương xót (công tác chăm sóc) theo như Kinh Thánh dạy.
DÙNG PHƯƠNG PHÁP NÀO?
Có rất nhiều phương pháp, hệ thống, công thức hay qui luật, nhưng có một phương pháp đơn giản, mà lại vô cùng mạnh mẽ trong thư Rô-ma, thường được gọi là “Con Đường La ma”, với những câu Kinh Thánh được trình bày cách thứ tự, lớp lang, đẹp đẽ để giúp tin hữu trình bày kế hoạch cứu rỗi của Chúa Cứu Thế cho người chưa tin. Nhưng bạn cần phải nhớ rằng, dù dùng phương pháp nào đi nữa, công tác truyền bá Phúc Âm phải được thi hành cùng với công tác chăm sóc.
Con đường La mã bắt đầu với RoRm 3:10 (BDY) là lời nghiêm trọng tuyên bố rằng: “Chẳng một người nào công chính, dù chỉ một người thôi” và tiếp theo là câu 23 “vì mọi người đều phạm tội, không phản chiếu vinh quang Thượng Đế (thiếu hụt tiêu chuẩn vinh quang Thượng Đế)”. Bước thứ nhất cho người chưa tin thấy khi đứng trước Thượng Đế cái áo “công chính riêng” (cái vỏ đạo đức cá nhân) của họ tước bỏ xuống. Bước thứ hai ở trong 5:17 (BDY) “Vì tội A-đam mà sự chết cầm quyền trên mọi người” để cho người chưa tin thấy họ ở dưới quyền của sự chết vì tội của A-đam và tất cả nhân loại đều thừa kế bản chất tội lỗi của A-đam.
6:23 đặt trước mặt người chưa tin tặng phẩm (món quà) của Thượng Đế mà họ có thể tiếp nhận bằng đức tin: “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng tặng phẩm của Thượng Đế là đời sống vĩnh phúc trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta”. Đó là bước thứ ba, còn bước thứ tư được Lời Chúa trình bày trong 10:9, 10 BDY. “Nếu miệng anh em xưng nhận Giê-xu là Chúa và lòng anh em tin Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại thì anh em được kể là người công chính và do miệng xưng nhận Ngài, anh em được cứu rỗi”.
Như vậy, qua mấy câu ngắn gọn rõ ràng trong một sách của Kinh Thánh, bạn có thể hướng dẫn cho người chưa tin biết được con đường cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Khi tận tâm trình bày Phúc Âm của Chúa, bạn phải bày tỏ tình bằng hữu cao đẹp, lời nói dạn dĩ với chân tình, mà cũng đừng bỏ qua nhu cầu cá nhân của người nghe. Nhưng điều quan trọng hơn cả là: muốn cho chức vụ truyền bá Phúc Âm của bạn hữu hiệu, bạn p hải luôn luôn vâng phục Đức Thánh Linh và đặt mình dưới quyền năng tối thượng của Ngài, để chính quyền năng đó tác động trên lòng con người.
BẮT ĐẦU Ở ĐÂU?
Mẫu mực chính Chúa Giê-xu truyền dạy các sứ đồ trong Tân ươc, cũng là mẫu mực muôn đời là Cong Cv 1:8 (BDY). “Nhưng khi Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng làm chúng ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri và khắp thế giới”. Mẫu mực này giống như những vòng tròn, cứ càng ngày càng lan rộng ra, như khi bạn ném một viên đá xuống mặt nước. Điểm bắt đầu luôn luôn là điểm viên đá chạm nước. Đối với nhiều người, điểm bắt đầu là gia đình và có thể đây là nơi bạn có thể làm chứng cho Chúa cách hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, Chúa đã cảnh cáo chúng ta rằng gia đình cũng có thể là chổ bạn gặp những thất bại lớn nhất trong công tac truyền giáo (Mat Mt 13:57)
Từ “Giê-ru-sa-lem” của riêng bạn, bạn cần phải tiến qua “Giu-đê” “Sa-ma-ri “rồi đến những nơi xa xăm hơn hết trên mặt đất. Khi đã chấp nhận mạng lệnh của Chúa trong Cong Cv 1:8 làm đường lối truyền giáo và chăm sóc, bạn liền thấy nổi bật lên nhiều điều phải đặt lên hàng ưu tiên. Ví dụ, căn cứ trên câu Kinh Thánh này, bạn nhận thấy rằng truyền giáo quốc nội phải là điểm bắt đầu của chức vụ truyền bá Phúc Âm và chăm sóc của bạn, rồi mới lan tràn qua công cuộc truyền giáo hải ngoại. Hiện nay, mẫu mực (đường lối) này thường bị lệch lạc và nổ lực cũng như trọng tâm truyền giáo đã bị đảo ngược.
Các nhà thống kê tiên đoán rằng trong 25 năm sắp tới đây, sẽ có những thành phố bành trướng hết sức nhanh chóng để trở thành những “siêu đô thị” với dân số hàng triệu, hàng chục triệu người. Hầu hết các “siêu đô thị” này đều ở Trung Mỹ hay Nam Mỹ, và cần phải là các trọng tâm truyền bá Phúc Âm hữu hiệu nhất.
CHỨC VỤ CỦA TÔI PHẢI ĐƯỢC LƯỢNG GIÁ NHƯ THẾ NÀO
Có lẽ yếu tố cần thiết trong công tac truyền giáo và chăm sóc của bạn là việc lượng giá để biết công tác đó có hiệu quả và hiệu lực không
Hiệu Quả Và Hiệu Lực
Hai khái niệm về “Hiệu quả” và “hiệu lực” không giống nhau. “Hiệu quả” là “làm đúng các công việc (doing things right), “còn hiệu lực”là làm các việc đúng (right things)
Để làm sáng tỏ điểm này, chúng ta dùng ví dụ: bạn có hiệu lực khi bạn biết tập trung các nổ lực truyền giáo và chăm sóc của bạn, rồi liên tục thay đổi cải thiện để đạt được kết quả tốt đẹp nhất. Nhưng bạn có hiệu quả khi bạn xét lại các phương pháp truyền giáo và chăm sóc bạn áp dụng, để xem các phương pháp này có sử dụng cách hữu hiệu nhất các tài nguyên của bạn không.
Như vậy, đặc tính có hiệu quả liên hệ đến việc bạn có dùng các tài nguyên của mình cách thích hợp (properly) để đạt được mục đích. Bạn có hiệu quả khi biết hướng lực và tài nguyên của mình để làm những công việc giúp cho bạn đạt được mục tiêu truyền giáo và chăm sóc. Rất có thể bạn phải ngưng một số công việc trước nay vẫn làm để trở thành có hiệu lực.
Bạn có thể thất bại trong chức vụ nếu chỉ có hiệu quả hay chỉ có hiệu lực mà thôi. Vì bây giờ bạn phải thận trọng để có thể sử dụng các ân tứ phục vụ của bạn vừa có hiệu quả vừa có hiệu lực. Việc này đòi hỏi bạn phải chuyên cần cố gắng và chuyên cần cố gắng là một đức tính Chúa muốn cho mỗi Cơ-đốc nhân tăng trưởng phải có.
Thành Quả Của Chức Vụ
Bạn cũng cần phải lượng giá chức vụ truyền giáo và chăm sóc của bạn căn cứ trên thành quả và trên công sức bạn bỏ vào. Rất dễ cho bạn tập trung vào công việc bạn làm mà không để ý đến ảnh hưởng của công việc đó trên người khác. Tuy nhiên, cả hai đều quan trọng như nhau. Vì ở đây chúng ta nhấn mạnh đến vai trò của bạn trong công tác truyền giáo và chăm sóc, nên bạn có thể thiếu quân bình nếu chỉ tập trung vào các việc của bạn làm mà thôi. Do đó bạn cũng cần tìm biết ảnh hưởng (kết quả) của chức vụ truyền giáo và chăm sóc của bạn trên người khác, tức là đem họ đến với Chúa Cứu Thế.
Nếu không thấy có kết quả, tức là không thấy ai tiếp nhận Chúa qua chức vụ truyền giáo và chăm sóc của bạn, bạn cần phải thay đổi việc làm của mình để các việc này sẽ giúp cho bạn đạt được mục đích.
Nổ Lực Bên Trong Và Bên Ngoài .
Đây là lãnh vực thứ ba bạn cần lưu ý khi lượng giá chức vụ truyền giáo và chăm sóc của bạn. Ở đây, bạn cần đặt chức vụ của bạn vào bối cảnh gồm có các nổ lực phân tích các công việc bạn làm trong Hội Thánh và các công việc bạn làm ở ngoài đời (trong xã hội). Đây là khái niệm toàn thế giới của Cơ-đốc nhân chúng ta đã đề cập trước đây.
TÓM LƯỢC
Chương này nhấn mạnh rằng: là một Cơ-đốc nhân tăng trưởng để tiến đến trưởng thành thuộc linh, bạn phải là người biết quản lý cách hữu hiệu các ân tứ phục vụ Chúa ban cho, đồng thời phải tuân hành các mệnh lệnh của Chúa truyền cho tất cả tín hữu về công tác truyền giáo và chăm sóc. Để đạt đến mục đích cần lượng giá chức vụ của bạn, căn cứ trên hiệu quả và hiệu lực, trên kết quả và các việc bạn làm, trên nổ lực bên trong và bên ngoài.
Đây là một phần trong chức vụ tế lễ của Cơ đốc nhân. Bạn được vô cùng phấn khởi khi biết rằng Thượng Đế,với quyền tể trị tối thượng của Ngài, đã ban cho bạn các ân tứ và cũng truyền dạy bạn phải sử dụng các ân tứ đó trong trần gian, rồi đến một ngày kia. Ngài sẽ bảo bạn phải tính sổ với Ngài về chức vụ của bạn. ICo1Cr 3:12-18 dạy rằng tất cả mọi tín hữu đều có trách nhiệm phải khai trình về mọi việc họ làm trong Hội Thánh thôi đâu. Từ ngữ “công trình”(hay việc làm) trong khúc Kinh Thánh này luôn được dùng theo số ít, có nghĩa là chức vụ suốt đời của Cơ-đốc nhân.
Như vậy, một số yếu tố quan trọng tiến trình tăng trưởng để đạt đến trưởng thành tâm linh là nhận biết và quân bình các ân tứ phục vụ Chúa ban cho bạn với mệnh lệnh của Chúa về chức vụ truyền bá Phúc Âm, chăm sóc, và tận dụng các ân tứ này suốt cuộc sống của mình. Đó chính là trọng trách quản lý.
BÀI LÀM
1. Tại sao tất cả các Cơ-đốc nhân đều phải tham gia chức vụ truyền bá Phúc Âm và chăm sóc ?
2. Cái gì nối liền công tác truyền bá Phúc Âm và công tác chăm sóc lại với nhau.
3. Con đường la mã là gì ? Bạn hãy viết ra một dàn bài để trình bày phương pháp này?
4. Làm cách nào bạn có thể áp dụng mẫu mực truyền giáo (Chúa ban cho các sứ đồ trong Cong Cv 1:8) vào hoàn cảnh riêng của bạn ?
5. Xin cho biết sự khác biệt giữa “có hiệu lực” và “có hiệu quả”. Làm cách nào bạn áp dụng nguyên tắc nầy để lượng giá chức vụ truyền bá Phúc Âm và chăm sóc của bạn?
6. Tại sao bạn phải lưu tâm đến kết quả của chức vụ bạn?
ÁP DỤNG
1. Tổ chức một toán 3 hay 4 người để khuyến khích nhau trong chức vụ truyền bá Phúc Âm và chăm sóc. Tóan này nên họp lại mỗi tuần một lần, hay hai tuần một lần, để chia xẻ với nhau các lời làm chứng về công tác truyền bá Phúc Âm và chăm sóc, và cũng để thúc giục nhau cứ tiến hành và phát triển công tác này.
2. Trong thời gian thông công riêng với Chúa (cầu nguyện suy gẫm Lời Chúa) bạn phải cảnh giác để có thể nhận thấy các gương Chúa nối liền công tác truyền bá Phúc Âm với sự chăm sóc. Bạn hãy hứa nguyện với Chúa là sẽ cố gắng làm theo các gương này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Innes, Dick, I Hate Witnessing . Ventura. CA: Regal Books 1985
Little, Paul E. How to Give Away Your Faith , Downers Grove, IL: Inter Varsity Press 1966
Miles, Doles. Overcoming Barries to Witnessing Nashville: Broadman Press 1984
Peterson, Jim. Evangelism as a Lifestyle . Colorado Springs. Nav. Press 1980
Rinker, Rosalind, You can Witness with Confidence . Grand Rapids, MI: Zondervan Publishing House 1984
Sweeting George. How to Witness Successfully . Chicago: Moody Press 1978

Chương 10: PHỤC VỤ QUA CÔNG TÁC GIÁO DỤC
Muốn tăng trưởng tâm linh, Cơ-đốc nhân phải phục vụ Thượng Đế qua việc phục vụ người khác. Cơ-đốc nhân phải tìm kiếm cơ hội để phục vụ. Kinh Thánh dạy rằng:” Đã thuộc về một Nước bền vững tồn tại đời đời, ta hãy ghi ân, phục vụ Chúa với lòng nhiệt thành kính sợ để Chúa vui lòng (HeDt 12:28 BDY). Sự phục vụ không đem lại cho chúng ta sự cứu rỗi, nhưng chúng ta phục vụ để bày tỏ lòng biết ơn Thượng Đế qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Nếp sống đổi mới và sự tăng trưởng tâm linh là kết quả của ân điển Thượng Đế ban cho chúng ta. Kinh Thánh nói rõ ràng rằng:” Anh em được cứu nhờ ân phúc Thượng Đế “ Eph Ep 2:8 BDY). Những cách bày tỏ sự tăng trưởng tâm linh như dạy dỗ hoặc những công tác phục vụ tâm linh là cách tín hữu “chứng tỏ cho mọi người biết Chúa đã đem anh em ra khỏi cảnh tối tăm tuyệt vọng đưa vào trong ánh sáng phước hạnh kỳ diệu của Ngài (IIPhi 2Pr 2:9 BDY)
Khi một Cơ-đốc nhân lớn lên trong ân điển thì đồng thời người đó cũng lớn lên trong sự biết ơn. Các công tác phục vụ tâm linh, như các hoạt động tích cực trong Hội Thánh địa phương là cách để bày tỏ lòng biết ơn và tạ ơn Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Như vậy dạy dỗ và học hỏi Lời Chúa trong Hội Thánh là những cách để bày tỏ lòng biết ơn Thượng Đế và để lớn lên trong mối thông công với Thượng Đế và với người khác. Khi nói đến “dạy, dỗ”1`, chúng ta không nói đến một chức vụ chuyên nghiệp như chức vụ của một người giáo viên hay giáo sư, cũng không nói rằng chỉ có những người có ân tứ tâm linh đặc biệt để dạy dỗ mới được chia xẻ dạy dỗ, như những trường hợp nói đến trong RoRm 12:7; ICo1Cr 12:28; Eph Ep 4:11. Những chữ dạy dỗ (chia xẻ) chúng ta thảo luận ở đây được áp dụng cho tất cả mọi tín hữu tăng trưởng tâm linh, vì những người này đều tham gia vào sự dạy dỗ, hay chia xẻ lời của Chúa. Đại mệnh Lệnh của Chúa Cứu Thế được chép trong Mat Mt 28:18-20 không phải chỉ dành riêng cho những người dạy trong các lớp học, mà là mệnh lệnh Chúa truyền cho tất cả mọi người tin Chúa.
Những câu Kinh Thánh nói về sự dạy dỗ, như PhuDnl 6:7 vàHeDt 5:12, là nói đến sự việc xảy ra trong lúc tương giao hàng ngày. Khi cha mẹ chỉ dẫn con cái về các việc tâm linh, hay khi anh chị em tín hữu chia xẻ thảo luận với nhau về Kinh Thánh, thì đó là giao ước. Việc dạy này xảy ra cách tự nhiên, tự phát và luôn luôn nói về Chúa. Các lớp Trường Chúa Nhật và các công tác giáo dục khác trong Hội Thánh cũng thuộc loại dạy dỗ này, nhưng thường có tính cách “chính qui” hơn. Dù vậy, đừng có ai nghĩ rằng chỉ có các lớp Cơ-đốc giáo dục mới là dạy dỗ Lời Chúa.
DẠY ĐẠO LÀ GÌ ?
Như đã nói trên đây, dạy Lời Chúa là việc Cơ-đốc nhân làm một cách tự nhiên khi sống trên trần gian và làm chứng về Chúa. Công tác dạy đạo tiếp tục không ngừng. Dạy đạo trong gia đình, khi mở Kinh Thánh đọc và cầu nguyện quanh bàn ăn tối hay trước khi đi ngủ (gia đình lễ bái). Lời Chúa được dạy khi Cơ-đốc nhân nói ra hay tiếp nhận lời hướng dẫn thuộc linh từ một anh em trong Chúa. Lời Chúa cũng được dạy khi một người chưa tin nghe Cơ-đốc nhân giới thiệu Phúc Âm, và lấy đức tin và lòng ăn năn mà tiếp nhận Chúa Cứu Thế làm Chúa và Đấng Cứu Rỗi mình. Dạy đạo cũng có thể được trình bày cách “chính thức” hơn trong các lớp học của nhà thờ hay trong các trường Cơ-đốc, khi các giáo viên hay giáo sư có huấn luyện sử dụng khả năng chuyên nghiệp và các kỷ thuật hữu hiệu để dạy dỗ. Bất cứ trong trường hợp nào , khi việc dạy đạo đem lại sự tăng trưởng tâm linh thì người tham dự đã kinh nghiệm được quyền năng đổi mới của Phúc Âm.
Dù lời Thượng Đế được dạy “không chính qui” trong sinh hoạt hằng ngày, hay được dạy dỗ trong các lớp học có tổ chức chính thức. Thượng Đế cũng dùng việc dạy Lời Ngài để biến đổi đời sống con người trong thế gian. Trong cuốn sách “Tập Trung Vào Con Người Trong Công Tác Cơ Đốc Giáo Dục” (Focus on People in Church Education), tác giả Lois LeBar viết: “Cơ-đốc Giáo dục là cây cầu bắt từ Lời Chúa đến thế gian. Nó phối hợp nội dung và phương cách của công việc Chúa. Với cơ đốc giáo dục chúng ta khám phá đường lối làm việc của Đức Thánh Linh, là Giáo sư Thiên thượng để cùng làm việc với Ngài. Qua công tác nầy, lời Thượng Đế biến đổi mọi lãnh vực của cuộc sống và làm cho muôn dân trở nên môn đồ của Chúa Cứu Thế.
Dạy Dỗ Là Chia Xe
Đây là việc chia xẻ kinh nghiệm giữa hướng dẫn viên và học viên, trong khi hướng dẫn viên dẫn dắt và điều khiển giờ học. Vì Kinh Thánh mô tả Hội Thánh là một nơi hợp nhất, thành công và tương giao, nên việc dạy dỗ chia xẻ cũng phải hai chiều và được mọi người tham dự. Sự chia xẻ không có tính chính qui khi cha mẹ con cái nói chuyện với nhau về các phước hạnh và sự chăm sóc của Chúa, hoặc chia xẽ có tính cách chính qui như khi các tín hữu họp chung lại sẽ học hỏi một câu Kinh Thánh đặc biệt, sẽ giúp cho mọi người thấy được chân lý của Thượng Đế cách rõ ràng hơn và áp dụng chân lý đó vào cuộc sống.
Dạy Dỗ Là Một Công Tác Tích Cực
Người ta học hỏi nhờ thực hành và nhờ kinh nghiệm khi tiếp xúc với người khác. Khi học viên trực tiếp tham dự vào việc chia xẻ Lời Chúa với các học viên khác và với hướng dẫn viên, mối thông công của học viên với Chúa Cứu Thế sẽ phát triển. Khi các tín hữu học tập chia xẻ các cảm nghĩ nội tâm, và học tập thương cảm (empathize) và thông cảm với nhau, họ sẽ hiểu rõ ràng hơn mối liên hệ thật của họ với Chúa Giê-xu. Vì lý do đó, đặc tính đầu tiên và cũng là đặc tính quan trọng nhất của các hướng dẫn viên Cơ-đốc phải là mối liên hệ của họ với Chúa Giê-xu.
Dạy Dỗ Là Để Đỗi Mới Đời Sống
Dạy dỗ, chia xẻ và học hỏi không phải chỉ để biết các sự kiện ghi chép trong Kinh Thánh mà thôi, nhưng phải nhắm vào mục đích là tạo ảnh hưởng trên con người toàn diện, kể cả trí khôn, thái độ và hành vi cử chỉ. Kết quả lý tưởng của công tác nầy được mô tả trong câu Kinh Thánh (LuLc 2:52) nói về Chúa Giê-xu khi còn thơ ấu: “Đức Chúa Giê-xu khôn ngoan càng thêm (phát triển trí óc), thân hình càng lớn (phát triển thể xác), càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời (phát triển tâm linh) và người ta (phát triển xã hội=giao tế). Công tác dạy dỗ, chia xẻ phải làm thế nào cho mọi người có thể kinh nghiệm Lời Chúa cho chính mình họ, trong mọi lĩnh vực phát triển. Kinh Thánh phải được chia xẻ, dạy dỗ cách nào để liên hệ chặt chẽ với toàn thể cuộc sống của họ.
CHÚA GIÊ-XU LÀ GIÁO SƯ
Có rất nhiều chổ trong Kinh Thánh gọi Chúa Giê-xu là “Thầy” là “Giáo sư “. Thật ra danh hiệu “Thầy” hay “Giáo sư “được bốn sách Phúc Âm dùng cho Chúa Giê-xu nhiều hơn bất cứ danh hiệu nào khác.
Người Ta Gọi Chúa Là Thầy (Giáo Sư)
Từ ngữ Hy lạp (didaskalos) có nghĩa là thầy giáo, người dạy học, được dùng hơn bốn mươi lần trong bốn sách Phúc Âm để nói về Chúa Giê-xu. (trong bản Kinh Thánh King James, từ ngữ này được dịch là “master” thay vì “ teacher ”. Vì lúc đó chữ “ master ” có nghĩa là “ schoolmaster ” tức là thầy giáo)
Chẳng những các môn đồ Chúa gọi Chúa là Thầy (Mac Mc 4:38) mà các thầy dạy luật và người Pha-ri-si cũng gọi Ngài bằng thầy. Ví dụ: Ni-cô-đem là một người Pha-ri-si cũng thưa với Chúa rằng: Chúng tôi biết Thầy là Giáo sư Thượng Đế sai xuống...” (GiGa 3:2 BDY). Chính Chúa Giê-xu cũng tự xưng mình là Thầy, khi Ngài sai hai môn đồ đi chuẩn bị chổ để dự Lễ Vượt qua lần cuối cùng. Khi vào nhà, các con nói với chủ nhà: “Thầy hỏi: Phòng dành riêng cho Ta và các môn đệ Ta ăn lễ Vượt qua ở đâu ?” (Mac Mc 14:4 BDY)
Nhiều câu khác cũng nói đến tầm quan trọng ưu tiên của chức vụ dạy dỗ của Ngài. Như Mat Mt 4:23 chép rằng: “Chúa Giê-xu đi khắp xứ Ga-li-lê, dạy dỗ trong các hội trường....” 5:2 “Chúa dạy dỗ nhân dân như sau ....” 7:29 “Vì Ngài giảng dạy (dạy dỗ) đầy uy quyền...”
“ Rabbi”, có khi được dịch là “Thầy” hay “Giáo sư” cũng là một danh hiệu thường được dùng để gọi Chúa Giê-xu “Rabbi” là một chức của người Do Thái, để nói đến người có khả năng và thẩm quyền để giải thích và dạy dỗ luật pháp Do Thái Giáo. Theo GiGa 1:38, các môn đồ của Giăng-Báp-tít gọi Chúa Giê-xu là Rabbi. Ni-cô-đem cũng gọi Chúa là Rabbi (3:2). “ Rabboni ” cũng tương tự như “rabbi” nhưng nặng tính cách giáo dục hơn, và được bà Mari Ma đơ len dùng để gọi Chúa sau khi Chúa sống lại (20:16)
Chúa Giê-Xu Dạy Dỗ Trong Nhiều Trường Hợp Khác Nhau
Kinh Thánh cho biết Chúa Giê-xu dạy dỗ cho nhiều “nhóm thính gia”khác nhau, có nhóm chỉ có một người, tức là “một dạy một”, có khi thính giả là một nhóm nhỏ ; cũng có khi Chúa dạy cho một đám đông hàng ngàn người.
4:1-42 ghi chép trường hợp “một dạy một”, khi Chúa nói chuyện với người đàn bà Sa-ma-ri bên một giếng nước, tại Thành Si kha, xứ Sa-ma-ri. Trong cuộc đối thoại (hai chiều) này, chẳng những đàn bà được học về “nước sống” và ai “uống nước” Ta cho sẽ chẳng bao giờ khác nữa”Câu 14) mà cũng có cơ hội đáp lại: “Xin cho tôi uống nước ấy (câu 15).
LuLc 22:14-38 ghi chép câu chuyện Chúa dự lễ Vượt qua trên phòng cao với các môn đồ là trường hợp dạy dỗ một nhóm nhỏ. Thật ra, Chúa đã hướng dẫn học tập nhóm nhỏ với môn đồ của Ngài rất nhiều lần. Trong trường hợp này (dự lễ Vượt qua). Chúa và môn đồ có cơ hội họp riêng để ăn bữa tối cuối cùng và để nghe. Chúa bày tỏ cho môn đồ biết được sự hy sinh của Chúa, việc Chúa bị phản bội, chổ của họ trong Vương quốc của Chúa, và việc Phi-e-rơ sẽ chối Chúa. Nhờ có thì giờ học hỏi với Chúa, các môn đồ có một sự nhận thức mới về công việc của Chúa làm và về cách họ phải phục vụ Ngài.
Mat Mt 23:1-39 ghi chép câu chuyện Chúa dạy dỗ đám đông và lên án các thầy dạy luật và người Pha ri si. Suốt mấy năm chức vụ. Chúa Cứu Thế dạy dỗ đám đông nhiều lần vì khi Ngài đi đâu cũng có một đám đông đi theo Ngài. Những lời dạy của Chúa trong 23:1-39 là lời được trình bày thứ tự và đầy quyền năng để dạy cho đám đông nên làm những điều thầy dạy luật và Pha-ri-si nói, nhưng đừng bắt chước làm theo những hành động của họ. Rồi sau khi đã lên án cấp lãnh đạo giả hình, Chúa kết luận bằng lời “Phước cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến “(câu 39).
Ngày nay, các tín hữu có trách nhiệm tiếp tục chức vụ dạy dỗ chia xẻ của Chúa Cứu Thế, với đám đông, với nhóm nhỏ, hay với một người, tức là mỗi Cơ-đốc nhân đều phải tham gia vào “mọi điều Đức Chúa Giê-xu đã làm và dạy từ ban đầu”(Cong Cv 1:1). Là người theo Chúa, chúng ta phải biết rằng Phúc Âm được lan truyền là do vâng theo Đại Mệnh Lệnh của Chúa bảo chúng ta “dạy họ giữ hết cả mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi” (Mat Mt 28:20). Khi có một nếp sống giống Chúa và có lòng mong muốn tăng trưởng để trưởng thành trong Chúa, bạn sẽ là người chia xẻ sứ điệp trưởng thành trong Chúa, bạn sẽ là người chia xẻ sứ điệp Phúc Âm có tính cách chính thức như các lớp học, hay “không chính thức” như khi sinh hoạt với gia đình, bạn bè, láng giềng hay bạn đồng liêu.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ THÀNH MỘT HƯỚNG DẪN VIÊN HỮU HIỆU .
Kinh Thánh cho biết Chúa Cứu Thế là thầy (Giáo sư và ghi chép những gương dạy dỗ của Chúa. Đồng thời trong Kinh cũng có mệnh lệnh Chúa truyền cho Cơ-đốc nhân phải dạy dỗ chia xẻ Lời Chúa, căn cứ trên nền tảng này, chúng ta nghiên cứu các nguyên tắc cùng với các khả năng có thể giúp chúng ta dạy dỗ chia xẻ Lời Chúa cách hữu hiệu
Frank E. Gaebelein, một nhà sư phạm Cơ-đốc nổi tiếng có trình bày cho chúng ta biết làm thế nào để có thể dạy dỗ chia xẻ hữu hiệu trong bất cứ hoàn cảnh nào. Sau đây là các nguyên tắc của ông ta:
Các Nguyên Tắc Để Dạy Dỗ Hữu Hiệu
Thứ nhất, ai là người cởi mở và bạo dạn làm chứng về Đức tin Cơ-đốc nhân của mình sẽ là người dạy dỗ hữu hiệu. Đây là những người có thể cùng với sứ đồ Phao-lô nói: “Tôi chẳng bao giờ hổ thẹn về Phúc Âm của Chúa Cứu Thế” (RoRm 1:16). Nguyên tắc này có nghĩa là người dạy dỗ hữu hiệu luôn tìm cơ hội để chia xẻ đức tin của mình. Dù ở sở làm, ở nhà, trong Hội Thánh, họ lúc nào cũng để cho lòng hăng say nhiệt thành vì Chúa Cứu Thế bộc lộ mạnh mẽ.
Thứ hai, người dạy dỗ hữu hiệu nhất là người biết Kinh Thánh . Nguyên tắc này có nghĩa là người này đọc và suy gẫm Kinh Thánh mỗi ngày, không phải chỉ đọc ở nhà thờ hay cho tín hữu nào thuận tiện. Các lớp huấn luyện có thể giúp cho tín hữu hiểu biết Lời Chúa sâu nhiệm hơn và biết cách dạy dỗ chia xẻ Lời Chúa sâu nhiệm hơn. Lời của Thượng Đế lúc nào cũng giá trị cho cuộc sống và cho sự học hỏi của Cơ-đốc nhân. Tín hữu nào biết chia xẻ dạy dỗ Lời Chúa cách hữu hiệu cũng đều xác nhận rằng: “Cả Thánh Kinh đều được Thượng Đế cảm ứng, có ích cho việc dạy dỗ, khiển trách, sửa trị, đào luyện con người theo sự công chính “(IITi 2Tm 3:16 BDY)
Thứ ba, người dạy dỗ hữu hiệu phải hoàn toàn hiến mình sống cho chân lý . Đời sống của những người này phải phản ảnh sự chân thật và chính thức. Vì người dạy dỗ chia xẻ Lời Chúa là người làm gương cho học viên, nên phải hoàn toàn làm theo chân lý trong mọi sinh hoạt của cuộc sống, không bao giờ có thể thỏa hiệp với đời.
Thứ tư, người dạy dỗ hữu hiệu là người cố gắng tiến lên trình độ cao đẹp hơn . Chúa không bằng lòng với trình độ tầm thường. Thượng Đế là Đấng vinh quang toàn thiện và tuyệt đối. Là người mang hình ảnh của Thượng Đế, cả người dạy dỗ lẫn học viên đều phải tìm cách tôn vinh Ngài trong mọi ý tưởng, thái độ và hành động. Chuẩn bị thấu đáo, dạy dỗ có phẩm chất cao và mỗi thông công trong tinh thần lo lắng chăm sóc nhau là kết quả của ước muốn đạt đến mức tuyệt hảo trong việc chia xẻ Lời Chúa.
Thứ năm, người dạy dỗ hữu hiệu là người yêu thương người khác . Đối với Chúa Cứu Thế, thiếu nhi, thiếu niên, thanh niên, trung niên và cao niên đều quí giá cả. Vì vậy người hướng dẫn họ học Lời Chúa cũng phải quí trọng và chăm sóc họ như chính Chúa quí trọng và chăm sóc họ vậy. Yêu thương người khác tức là hiểu biết ảnh hưởng của tội lỗi và các cám dỗ trên đời sống họ, là ý thức được rằng tất cả mọi người đều cần có mối liên hệ cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Giê-xu, là sẵn sàng dành thì giờ để xây dựng với những người này một mối liên hệ thuộc linh tương thân tương trợ. Có người hướng dẫn chỉ thích kể các câu chuyện thật trong Kinh Thánh mà không tìm biết các sự thật này liên quan đến các học viên như thế nào để có thể đem áp dụng cách thực tế vào đời sống của họ. Việc áp dụng Lời Chúa cũng quan trọng như việc trình bày lời đó vậy, vì chính Kinh Thánh dạy Cơ-đốc nhân phải “nói chân lý trong tình thương để ngày càng tăng trưởng đến mức giống Chúa Cứu Thế về mọi phương diện”(Eph Ep 4:15 BDY)
Cuối cùng, người dạy dỗ hữu hiệu là người hoàn toàn đầu phục Chúa Cứu Thế Giê-xu , là Giáo sư lớn hơn hết . Chính Thượng Đế đã phán rất rõ rệt về Chúa Cứu Thế: “Đây là Con yêu dấu của Ta, làm hài lòng Ta hòan toàn, Mọi người phải nghe lời Con!”, (Mat Mt 17:5 BDY). Mệnh lệnh này đòi hỏi chúng ta phải có cuộc sống tận hiến cho Chúa và làm môn đệ Ngài, Chúa phải là Chúa tể của tất cả, hay Ngài không làm Chúa gì cả! Người dạy dỗ hữu hiệu là người bằng lòng để Chúa lãnh đạo hướng dẫn mình hoàn toàn, dù phải trả giá nào cũng chịu cả. Nhiều người dạy dỗ Lời Chúa đã kể lại rằng nếu để tự ý họ, họ chẳng bao giờ tham gia chức vụ dạy dỗ Lời Chúa. Nhưng họ đã đáp ứng tiếng gọi của Giáo sư của họ là Chúa Cứu Thế, và đã nắm lấy cơ hội phục vụ Chúa.
Các Đức Tính Cần Có Để Dạy Dỗ Hữu Hiệu
Ngoài sáu điểm (hay nguyên tắc) trên đây, nhiều khúc Kinh Thánh cũng có nói đến những đức tính mà người dạy dỗ phải có. Đó là đức tính biết chấp nhận người khác, biết khuyến khích, đức tính kiên nhẫn, biết điều, không nói hành, trung tín, làm gương sáng, biết tháo vát, biết thương người, khôn ngoan và hòa nhã.
Gia-cơ chương 3 và chương 4 cảnh cáo Cơ-đốc nhân để đừng ai coi thường trách nhiệm dạy dỗ. Lời Chúa trong mấy chương này dạy tất cả các Cơ-đốc nhân, đặc biệt là những người “làm thầy “phải hết sức thận trọng trong lời nói. Tất cả đều phải sống cách nào để khỏi xúc phạm đến người khác, không được cay đắng, đố kỵ, xung khắc, dối trá, thiên kiến, giả hình, nhưng phải trong sạch, hòa nhã, cởi mở, có lòng thương xót, gieo giống hòa bình và gặt bông trái công chính (Gia Gc 3:18 BDY).
TÓM LƯỢC
Như bạn đã học trong chương này, sự tăng trưởng tâm linh có liên quan với việc dạy dỗ người khác. Người sống trong Chúa Cứu Thế và người học hỏi với Chúa và phục vụ Ngài. Sự sống đó phải tăng trưởng qua sự chia xẻ Lời Chúa với tinh thần đầu phục và làm theo gương của Chúa là Thầy là Giáo sư. Chính Chúa truyền đạt chân lý của Ngài cho bạn để bạn chia xẻ với người khác. Một cách để bạn cứ tiếp tục tăng trưởng để trưởng thành tâm linh là theo gương của Chúa Giê-xu bằng cách phục vụ Chúa qua chức vụ dạy dỗ.
BÀI LÀM
1. Sự tăng trưởng thuộc linh và chức vụ chia xẻ Lời Chúa liên hệ nhau như thế nào ?
2. Tại sao bạn, là một người đang tăng trưởng để tiến lên trưởng thành tâm linh, phải lưu tâm đến chức vụ chia xẻ Lời Chúa?
3. Xin kể ra một số cách thức mọi người tin Chúa đều có thể dạy chia xẻ về Chúa khi đang sống và làm chứng cho Chúa giữa trần gian này.
4. Bằng những cách nào việc dạy dỗ chia xẻ Lời Chúa có thể làm cho người học được đổi mới đời sống ?
5. Trong số ba “nhóm thính giả” đã đề cập trên đây, bạn coi “nhóm thính giả” nào quan trọng hơn cả ? Tại sao vậy ?
ÁP DỤNG
1. Bạn hãy tìm các câu Kinh Thánh trưng dẫn trong chương này có liên quan đến danh hiệu “Thầy “(Giáo sư) của Chúa Giê-xu, rồi nghiên cứu các câu đó trong thượng hạ văn (context) cùng với các câu trước và sau. Sau khi đã nghiên cứu, bạn hãy ghi lại: Khúc Kinh Thánh đó nói gì về Chúa, về các đặc tính của Lời Chúa và dạy Chúa muốn người nghe phải áp dụng Lời Chúa như thế nào?
2. Bạn tìm xem ai là giáo viên Cơ-đốc mà bạn kính trọng, rồi xin người này cho phép bạn quan sát lớp Kinh Thánh người đó hướng dẫn. Bạn để ý nhận xét và ghi lại: Người đó áp dụng những nguyên tắc nào và bày tỏ những đức tính (khả năng cá nhân) nào trong khi chia xẻ Lời Chúa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Coleman, Lucien E. Why the Church Must Teach . Nashville. Broadman Press, 1984
Gangel, Kenneth O. Understanding teaching . Wheaton, IL: Evangelical Teacher training Association 1968
Held, Ronald Learning Together , Springfield, MO: Gospel Publishing 1976
Joy, Donald M. Meaningful Learning in the Church . Winona Lake, IN: Light and Life Press, 1969
LeBar, Lois E. Education That is Christian . Old Tappan, NJ: Revell 1981
LeBar, Lois E. Focus on People in church Eduation . Old Tappan, NJ: Revell 1968.
Chương 11: PHỤC VỤ QUA CHỨC VỤ LÃNH ĐẠO
Tất cả các Cơ-đốc nhân đang thực sự tăng trưởng thuộc linh đều có phần trong chức vụ lãnh đạo. Lãnh đạo là công tác có nhiều trình độ, nhiều lãnh vực khác nhau, và mỗi tín hữu đều có trách nhiệm hướng dẫn người khác. Vì có nhiều cách thể hiện lãnh đạo, mọi tín hữu đều phải đảm nhiệm vai trò lãnh đạo thích hợp trong gia đình, trong Hội Thánh hay ngoài xã hội.
Kinh Thánh ấn định trách nhiệm lãnh đạo trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Ví dụ, trong gia đình các bậc làm cha mẹ phải có trách nhiệm lãnh đạo gia đình khi trung tín dạy các mệnh lệnh của Chúa cho con cái. Trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ươc, vai trò lãnh đạo của cha mẹ được ấn định rõ rệt Thượng Đế truyền mệnh lệnh này cho dân Y-sơ-ra-ên qua tôi tớ Ngài là Môi-se, trong PhuDnl 6:7 như sau: Khá cẩn thận dạy dỗ điều đó (các mạng lệnh của Chúa) cho con cái người và phải nói đến, hoặc khi người ngồi trong nhà hoặc khi đi ngoài đường hoặc lúc ngươi nằm, hay là khi chổi dậy. “Trong Eph Ep 6:4 (BDY), Chúa cũng dạy: “Cha mẹ không nên chọc giận con cái, nhưng phải nuôi nấng, khiển trách, dạy dỗ chúng theo đường lối Chúa”.
Kinh Thánh mô tả Hội Thánh là một thân thể, trong đó mỗi chi thể có trách nhiệm điều hành “đúng theo mức độ đức tin Thượng Đế ban cho mình”(RoRm 12:3 BDY). Hội Thánh lúc nào cũng có đầy đủ cơ hội lãnh đạo cho mỗi tín hữu, từ việc tiếp khách đến việc khuyên bảo và truyền giảng Lời Chúa.
Nếu muốn tạo nên ảnh hưởng tích cực cho Chúa trong xã hội, thì chúng ta phải cho xã hội thấy các giá trị luân lý, đạo đức của lãnh đạo Cơ-đốc nhân trong mọi phương diện của đời sống qua nếp sống và lời làm chứng của Cơ-đốc nhân. Ngay trong xã hội ban sơ của Sáng Thế Ký, A-đam và Ê-va đã được Chúa dạy phải quản trị (cầm quyền trên, các loài thọ tạo. Thượng Đế phán: “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình Ta và theo tượng Ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất và khắp cả đất.” (SaSt 1:26). Thi Tv 8:6 cũng chép: “Chúa ban cho người quyền cai trị công việc tay Chúa làm, khiến muôn vật phục dưới chân Ngài” Trong Mat Mt 5:13-16, Chúa Cứu Thế mô tả vai trò lãnh đạo của Cơ-đốc nhân là “muối của đất” là “ánh sáng của thế giới” để cho người khác thấy “việc làm tốt đẹp của các con và ca ngợi Cha các con trên trời”
Trách nhiệm lãnh đạo là của tất cả các Cơ-đốc nhân, không phải chỉ có một vài người đặc biệt mới lãnh trách nhiệm đó. Qua sự lãnh đạo trong gia đình, Hội Thánh và xã hội, bạn là Cơ-đốc nhân đang tăng trưởng để tiến lên trường thánh tâm linh, phải giữ đúng chức năng của bạn là muối có vị mặn và ánh sáng rực rỡ.
ĐỊNH NGHĨA LÃNH ĐẠO
Theo quan điểm Cơ-đốc thì lãnh đạo là gây ảnh hưởng và hướng dẫn đời sống của người khác theo các giống Chúa Cứu Thế, và áp dụng các nguyên tắc đề ra trong Kinh Thánh. Sự lãnh đạo và sử dụng các ân tứ và tài năng Chúa ban cho để phục vụ một người hay một nhóm người trong tình yêu thương và vì danh Chúa. Kết quả của sự lãnh đạo theo Kinh Thánh là cá nhân hay đoàn thể được lớn lên trong sự giống Chúa, để Hội Thánh và Vương quốc của Chúa được gây dựng và bành trướng.
CÁC NGUYÊN TẮC LÃNH ĐẠO CỦA CHÚA CỨU THẾ
Khi nghiên cứu học hỏi đời sống của Chúa Cứu Thế, chúng ta có thể tìm được một số đặc tính (hay nguyên tắc lãnh đạo). Chúa thường nhấn mạnh. Các nguyên tắc này là mẫu mực cho Cơ-đốc nhân tìm kiếm sự tăng trưởng thuộc linh.
Thẩm Quyền Của Kinh Thánh.
Các giáo sư ( rabbi ) trong thời Cựu ước đã bóp méo Lời của Thượng Đế. Những sai lầm này bị Chúa Cứu Thế vạch ra cho dân chúng thấy, và đồng thời Ngài cũng dạy cho họ biết ý nghĩa thật của lời Kinh Thánh, khi phán rằng: “Các người có nghe lời phán.... song ta phán cho các ngươi...” (Mat Mt 5:21, 23)
Tầm Quan Trọng Của Ngôi Vị Và Công Việc Của Chúa Cứu Thế.
Sự lãnh đạo Cơ-đốc không thể nào tách rời ra khỏi công việc của Chúa Giê-xu đã làm khi Ngài xuống trần làm Đấng Cứu thế và Chúa tể, Chúa phán rằng: “Con Loài Người đến trần gian để tìm và cứu những người lầm lạc “(LuLc 19:10 BDY).
Hội Thánh đầu tiên luôn luôn xác nhận uy quyền tuyệt đối của Chúa Giê-xu, vì “Chúa Giê-xu mà đồng bào đã đóng đinh trên thập tự giá đã được Thượng Đế tôn làm Chúa Tể và Đấng Cứu Thế (Cong Cv 2:36 BDY)
Tầm Quan Trọng Của Từng Cá Nhân Một
Chúa Giê-xu tập trung vào từng cá nhân tín hữu là người tăng trưởng tâm linh và nhận lãnh trách nhiệm phục vụ.
Khi được Chúa gọi, các môn đồ đều là người ít được hay chưa được huấn luyện. Khả năng duy nhất của họ có lẽ chỉ là sự sẵn sàng để cho Chúa sử dụng. Do đó, Chúa tập trung chức vụ của Ngài vào việc huấn luyện phát triển các môn đồ này. Vì vậy, trước giờ phút từ giã họ để về trời. Chúa Cứu Thế truyền dặn họ tiếp tục công việc của Ngài. “Nhưng khi Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng, các con sẽ làm nhân chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri và khắp thế gian”(Cong Cv 1:4-5, 8 BDY)
Chúng ta vô cùng phấn khởi khi nghĩ đến sự tăng trưởng vượt mức của các môn đồ qua ba năm rưỡi được chính Chúa huấn luyện, là những ngư phủ hành nghề trên biển Ga-li-lê, các môn đồ đã được biến thành người làm chứng về Chúa cho cả thế giới, thật ra một điều kỳ diệu vì Chúa Giê-xu đã lưu tâm đến từng cá nhân, huấn luyện và trang bị cho họ để họ phục vụ Chúa với quyền năng tối thượng của Thánh Linh.
Đời Sống Và Chức Vụ Có Chủ Đích Của Chúa Giê-Xu .
Chúa Cứu Thế quả quyết rằng Ngài xuống trần gian để thực hiện một chủ đích rõ rệt: “Ta phải làm những việc Cha ta giao thác”(GiGa 9:4). Chủ đích của chức vụ Chúa được trình bày rất rõ ràng từ đầu đến cuối Tân Ước và chủ đích là cứu rỗi nhân loại qua sự chết của Ngài trên thập tự giá Mat Mt 1:21 bắt đầu giới thiệu chủ đích đó: “Ngài sẽ cứu dân Ngài ra khỏi xiềng xích tội lỗi” và sách cuối cùng là KhKh 22:16, 17 chép:” Ta là Giê-xu đã sai thiên sứ báo cho con biết những điều này để truyền lại cho các Hội Thánh.... Ai muốn, tiếp nhận miễn phí nước hằng sống.”
Người lãnh đạo giống Chúa chắc chắn phải theo khuôn mẫu của đời sống Chúa trên trần gian. Muốn được vậy, uy quyền của Kinh Thánh phải được tôn trọng tuyệt đối, phải lấy chính Chúa Giê-xu (thân vị của Ngài) và công việc của Ngài làm trung tâm. Chức vụ lãnh đạo phải tập trung vào việc trang bị cá nhân tín hữu để thi hành công tác thuộc linh, là công bố sứ điệp ăn năn tội lỗi, và đặt đức tin vào Chúa Cứu Thế Giê-xu. Các nguyên tắc lãnh đạo của Chúa Cứu Thế, được trình bày trong Kinh Thánh Tân Ước, phải là những nguyên tắc căn bản mà các người có trách nhiệm lãnh đạo Hội Thánh hiện nay phải noi theo.
ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO CƠ-ĐỐC
Người ta có thể nhận biết các đặc điểm của các cấp lãnh đạo Cơ-đốc qua cách họ thi hành các chức năng và qua mối liên hệ của họ với người khác. Sau đây là năm đặc điểm lãnh đạo do Kinh Thánh dạy, và là cần thiết cho sự tăng trưởng, tinh thần tôi tớ, phục vụ, chăm sóc, ủy quyền và khuyến khích.
Tinh Thần Tôi Tớ
Trong Tân ước nhiều lần Chúa Cứu Thế Giê-xu bày tỏ Ngài là tôi tớ. Lời Chúa dạy rõ rệt nhất về tinh thần tôi tớ lãnh đạo (servant leadership) được chép trong Mat Mt 20:26-28 (BDY), khi mẹ của Gia-cơ và Giăng đến xin Chúa cho hai con trai của bà được giữ địa vị lãnh đạo: “Nhưng giữa các con..... ai muốn làm lớn phải làm tôi tớ người khác. Ai muốn lãnh đạo phải làm nô lệ cho anh em. Các con nên bắt chước Ta, vì Ta dến trần gian không phải để cho người phục vụ, nhưng để phục vụ người và hy sinh tính mạng cứu chuộc nhiều người.” Một lần khác, Chúa cũng dạy rằng: “Ai muốn lãnh đạo, phải làm đầy tớ người khác” (23:11 BDY).
Hai trường hợp Chúa bày tỏ tinh thần tôi tớ cũng là trường hợp Ngài bày tỏ lòng ưu ái chăm sóc các môn đồ. Lần thứ nhất, trước Lễ Tiệc Thánh, khi Chúa rửa chân cho các môn đồ (GiGa 13:1-11) còn lần thứ hai sau khi Chúa sống lại và chuẩn bị bữa ăn sáng cho môn đồ bên bờ biển Ti-bê-ri-át (21:9-14)
Chúa Cứu Thế là mẫu mực tuyệt hảo của tinh thần tôi tớ lãnh đạo. Trong cuốn sách nhan đề: “Một Môn Thần Học Của Cơ-Đốc Giáo Dục” tác giả là Lawrence. O. Richards có nếu ra các đặc điểm của người làm tôi tớ lãnh đạo theo gương Chúa, như sau:
Các Liên hệ tôi tớ: Người tôi tớ lãnh đạo là người ở giữa anh em (quần chúng) và ngang hàng với anh em, chứ không phải là người đứng trên anh em. Điểm cần nhấn mạnh về tinh thần tôi tớ là người làm tôi tớ lãnh đạo không coi mình đứng trong địa vị có quyền hành, nhưng trong địa vị sẵn sàng phục vụ người khác vì cớ Chúa Cứu Thế. Tinh thần này là điều cần thiết để tạo nên bầu không khí thông công tâm linh, cho mỗi người đều có tự do bộc lộ chia xẻ tư tưởng và cảm nghĩ của mình. Đây là điều Chúa Cứu Thế đã cầu xin Cha trong 17:21 (BDY) “Xin Cha cho các môn đệ mới cũ đều hợp nhất, cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha và họ ở trong chúng ta, để nhân loại biết Con là Sứ giả của Cha”.
Các Đặc tính tôi tớ: Các đặc tính, hay đức tính này là: khiêm tốn, nếp sống tin kính (kỉnh kiền, godly), tinh thần phục vụ của Cơ-đốc nhân, chăm sóc và khuyến khích người khác. Lời Thượng Đế dạy rằng người lãnh đạo là người phục vụ người khác cách khiêm tốn giống Chúa Cứu Thế để Thân thể của Chúa được trang bị đầy đủ mà thi hành các chức vụ tâm linh. Điểm này có nghĩa là khiêm tốn hạ mình phải là đức tính chính yếu, vì “ai tự hạ mình sẽ được đề cao” (LuLc 18:14 BDY). Với tinh thần khiêm tốn hạ mình, người lãnh đạo lo trang bị các thánh đồ (Cơ-đốc nhân) để mọi người phục vụ đắc lực cho Ngài, cùng nhau xây dựng Hội Thánh là Thân thể Ngài “(Eph Ep 4:12 BDY)
Mẫu Mực Tôi tớ của Nếp sống Tin kính (kỉnh kiền): Đặc điểm mẫu mực của lãnh đạo là làm cho người khác hơn là ra lệnh cho người khác làm. Lời Chúa trong IPhi 1Pr 5:3 dạy các nhà lãnh đạo Hội Thánh “đừng áp chế ai (đừng hống hách làm ra vẻ bề trên), nhưng hãy làm gương tốt cho bầy chiên noi theo”. Người khác chỉ muốn nghe lời của người lãnh đạo khi người này nói và sống đúng theo Kinh Thánh, giống như Chúa Cứu Thế vậy.
Phục Vụ
Phục vụ bao gồm những hoạt động làm cho một người hay một toán có thể thi hành những điều Kinh Thánh gọi là “chức vụ”. Sự phục vụ của Cơ-đốc nhân có thể thấy trong nhiều hoạt động như dạy một lớp Trường Chúa Nhật, phụ giúp trong phòng giữ trẻ em, chăm sóc người đau ốm, làm việc với một nhóm thanh thiếu niên v.v... Các hoạt động để phục vụ Chúa thật ra không có giới hạn vì càng có sáng kiến chúng ta càng tìm ra nhiều hoạt động hữu ích khác nhau nữa.
Chúng ta cần để ý là lúc sống trên trần gian, Chúa Cứu Thế thi hành các chức năng của Ngài theo những đường lối đặc biệt, nhưng tất cả đều được nối chặt với nhau bởi “sợi dây phục vu”. Vì đời sống của Chúa trên đất là đời sống phục vụ nên Ngài thưa với Cha rằng: “Con đã làm sáng rỡ vinh quang Cha trên đất, hoàn tất mọi việc Cha uỷ thác”(GiGa 17:4 BDY), và một lần khác, Chúa phán rằng: Khi còn ban ngày Ta phải làm những việc Cha Ta giao thác” (9:4 BDY). Chúa cũng ban mệnh lệnh cho các môn đồ về những việc họ phải thi hành và mệnh lệnh rõ rệt nhất, mà cũng là mệnh lệnh đầy thách thức nhất “Hãy đi khắp thế giới, công bố Phúc Âm cho cả nhân loại “(Mac Mc 16:15 BDY)
Với cánh tay toàn năng của Đức Thánh Linh và sự dấn thân của người lãnh đạo Cơ-đốc theo đúng kiểu mẫu của Chúa Cứu Thế, tất cả tín hữu tìm cầu sự tăng trưởng thuộc linh đều phải có tinh thần cần mẫn và tinh thần phục vụ Chúa để đem lại thành quả cho Ngài.
Chăm Sóc
Chức vụ chăm sóc được thể hiện trong các hoạt động nâng cao tinh thần tương thân tương ái giữa các nhóm viên trong một nhóm. Những người lãnh đạo có tinh thần chăm sóc phải tìm cách tạo nên mối liên hệ, ấm cúng trìu mến giữa người này với người khác. Trong Kinh Thánh, Chúa Cứu Thế đã biểu lộ tinh thần này rất nhiều lần và Ngài cũng dạy bảo các môn đồ: “Ta truyền cho các người những điều răn đó, đặng các người yêu mến lẫn nhau vậy”(GiGa 15:17). Chúa cũng dành cho con trẻ một tình yêu đặc biệt khi phán rằng: “Cứ để con trẻ đến Ta, đừng ngăn cản, vì Nước trời thuộc về những người giống các em ấy”(Mat Mt 19:14),còn đối với người thu thuế tội lỗi, Chúa tự coi là bạn của họ (11:9)
Người tích cực tham gia lãnh vực chăm sóc người khác, cần có một số đức tính quan trọng trong số đó trái của Thánh Linh là quan trọng hơn cả. Trái của Thánh linh được GaGl 5:22, 23 nêu ra là: Yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lương, thành tín, hòa nhã và tự chủ. Ngoài ra, người thi hành chức vụ chăm sóc cũng phải bày tỏ đức tin, hy vọng và tình thương (ICo1Cr 13:13), và tự nhiên tình thương phải đứng hàng đầu.
Ủy Quyền
Ủy thác trách nhiệm và quyền hành cho người khác là điều phải làm, nhưng người ủy thác cần phải tin tưởng và tin cậy nơi người được ủy thác. Người ủy thác cũng phải biết chắc rằng ngươi được ủy thác, tức là người nhận quyền hạn hay trách nhiệm mình giao phó cho, phải có khả năng để đảm nhiệm và thi hành trách nhiệm hay quyền hạn đó. Ví dụ, bạn không thể nào ủy thác trách nhiệm hướng dẫn nhóm thanh niên cho một người nào đó, nếu người này chưa hề có kinh nghiệm làm việc chung với thanh thiếu niên (vào lứa tuổi trung học) và cũng không có trình độ hiểu biết Kinh Thánh cần thiết.
Khi ủy thác trách nhiệm cho ai, bạn phải nhắc cho người đó nhớ rằng Lời của Thượng Đế là căn bản thẩm quyền của Cơ-đốc nhân. Là một người lãnh đạo, bạn cũng phải cẩn thận, đừng bao giờ đặt mình ngang với Kinh Thánh, nhưng người lãnh đạo là tôi tớ và người quản lý tìm cách sử dụng cho có hiệu quả các khả năng và thời gian Chúa ban cho
Một gương ủy thác trách nhiệm và quyền hạn rõ rệt nhất trong Cựu ước là việc Môi-se đã làm, theo lời khuyên bảo của nhạc phụ là Giê-trô. Giê-trô để ý quan sát và thấy Môi-se ôm đồm quá nhiều việc và làm việc quá sức khi một mình ông ngồi đoán xét cả dân tộc Y-sơ-ra-ên (XuXh 18:13). Để cải thiện tình hình đó, Giê-trô đã khuyên Môi-se phải ủy thác trách nhiệm, như được ghi lại trong 18:18-22, là mấy câu nhấn mạnh đến những điểm quan trọng sau đây.
1. Trước khi có thể ủy thác trách nhiệm cho người khác cách đứng đắn, người ủy thác phải có mối liên hệ đúng với Thượng Đế “Con hãy làm kẻ thay mặt cho dân sự trước mặt Đức Chúa Trời” (câu 19)
2. Người ủy thác phải biết rõ cách thi hành trách nhiệm mình ủy thac cho người khác. Chỉ cho họ biết con đường nào phải đi và điều chi phải là (câu 20)
3. Người được ủy thác trách nhiệm phải có khả năng, có lòng kính sợ Chúa, chân thật, ghét sự tham lam, và có đời sống ngay lành với Chúa và là với người khác (câu 21)
Tân Ước cũng cho chúng ta nhiều gương ủy thác trách nhiệm, như khi Đức Chúa Cha ủy thác quyền xét xử nhân loại cho Chúa Cứu Thế (GiGa 5:27 BDY) “Thượng Đế đã giao quyền xét xử loài người cho Con, vì Con Thượng Đế chịu làm Con người” và Chúa Cứu Thế trao trách nhiệm làm chứng nhân cho các môn đồ: “Các con đã chứng kiến các việc đó. Ta sẽ sai Thánh Linh đến với các con như Cha ta đã hứa. Vậy các con cứ chờ đợi trong thành phố này, cho đến khi đầy dẫy quyền năng thiên thượng... Nhưng khi Thánh Linh giáng trên các con, các con sẽ nhận được quyền năng làm chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri và khắp thế giới” (LuLc 24:48-49) và Cong Cv 1:8)
Khuyến khích
Người biết khuyến khích là người biết lựa chọn lời để giúp đỡ người khác phát triển và tăng trưởng tâm linh. Người biết khuyến khích cũng phải biết chấp nhận, nâng đỡ và khen mọi người khác.
Những nguyên tắc căn bản của sự khuyến khích đều có trong Kinh Thánh. Nguyên tắc trước tiên là phải thận trọng trong lời nói: “Con có thấy kẻ hốp tốp (lanh chanh) trong lời nói mình chăng ? Một kẻ ngu muội côn đồ có sự trông cậy hơn hắn”( ChCn 29:20). Nguyên tắc thứ hai là tín hữu phải nhạy cảm khi nói: “Nhưng sự khôn ngoan từ trên mà xuống thì...đầy dẫy lòng thương xót” (Gia Gc 3:17). Nguyên tắc thứ ba là tín hữu phải nói năng hòa nhã: “Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận”( ChCn 15:1). Mấy lời đơn sơ sau đây có thể giúp bạn trong việc khuyến khích người khác: “Bạn đã giúp tôi rất nhiều...” “Cám ơn bạn đã làm…”, “Tôi rất cảm kích vì việc bạn đã làm...”
TÓM LƯỢC
Trong chương này bạn đã học được nhiều nguyên tắc hướng dẫn về sự lãnh đạo.Bất cứ Cơ-đốc nhân nào muốn tăng trưởng để đạt đến trưởng thành trong Chúa đều phải gánh vác một vài trách nhiệm lãnh đạo trong cuộc sống và trong chức vụ. Khi đảm nhiệm bất cứ một trách nhiệm lãnh đạo nào, bạn cũng phải bắt chước Chúa. Phong cách lãnh đạo của bạn cũng phải nhắm vào việc thi hành chức vụ trong mối thông công nặng tình thương Cơ-đốc, nhờ đó bạn mới có thể tăng trưởng cách tốt đẹp.
BÀI LÀM
1. Bạn định nghĩa lãnh đạo như thế nào
2. Xin cho biết bốn nguyên tắc lãnh đạo Chúa Cứu Thế thường nhấn mạnh trong chức vụ của Ngài ?
3. Bạn cần phải phát huy những đặc điểm nào để trở thành một người lãnh đạo hữu hiệu
4. Xin cho biết một vài gương trong đời sống của Chúa Cứu Thế đã nói lên rõ ràng tính cách quan trọng của tinh thần tôi tớ.
5. Tại sao tinh thần chăm sóc rất cần thiết cho sự lãnh đạo ?
6. Tại sao việc ủy thác trách nhiệm rất quan trọng ?
7. Bạn làm cách nào để có thể khuyến khích người khác ?
ÁP DỤNG
1. Bạn diễn tả (diễn ý) hai khúc Kinh Thánh nói về sự lãnh đạo: Mat Mt 20:26-28 và 23:8-12. Bạn cho biết trong hai khúc này bạn tìm được những nguyên tắc lãnh đạo nào ? Nếu các câu Kinh Thánh này được áp dụng đúng đắn, sự lãnh đạo trong Hội Thánh của bạn sẽ có những gì thay đổi ? Nếu bạn đem áp dụng nguyên tắc này cho chính bản thân một cách kiên định, bạn sẽ kinh nghiệm được những thay đổi trong cuộc sống ?
2. Bạn hãy lấy một tờ chương trình hay bản tin tức của Hội Thánh, rồi căn cứ trên tài liệu này bạn hãy liệt kê ra tất cả các sinh hoạt trong Hội Thánh. Tìm xem sinh hoạt nào bạn chỉ biết sơ sài rồi tìm biết thêm về sinh hoạt đó. Bạn cũng tìm biết sinh hoạt này có nhu cầu gì, và cầu nguyện trong tuần tới xin Chúa thỏa mãn nhu cầu đó. Bạn hãy cho biết lãnh vực sinh hoạt nào của Hội Thánh làm bạn chú ý nhất, và giải thích cho một người quen biết tại sao bạn chú ý đến lãnh vực đó.
3. Đọc lại XuXh 18:18-22 một lần nữa. Căn cứ trên khúc Kinh Thánh này, bạn tìm xem toán của bạn, hay Hội Thánh của bạn cần phải ủy thác trách nhiệm trong những lãnh vực nào để Thân thể của Chúa Cứu Thế có thể điều hành cách hữu hiệu hơn. Bạn đem khái niệm ủy thác trách nhiệm ra thảo luận với một người lãnh đạo trong Hội Thánh và xin người này cho bạn biết một vài gương ủy thác hữu hiệu. Nếu người này có tinh thần cởi mở, bạn hãy đưa ra một số đề nghị để cải thiện việc ủy thác trách nhiệm trong Hội Thánh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Engstrom, Ted W. and Dayton, Edward R. The Art of Management for Christian Leaders . Waco, TX: Word 1976
Gangel, Kenneth O. Leadership for Church Education . Chicago: Moody 1970
Gangel, Competent to Lead . Chicago: Moody 1974
Keating, Charles J. The Leadership Book New York: Paulist Press 1982
Kilinski, Kenneth and Wofford, Jerry.Organization and Leadershiop for the Local Church . Grand Rapids: Zondervan 1973
Richards, Lawrence O. A Theology of Christian Education . Grand Rapids: Zondervan 1975
Sanders, J. Oswald. Spiritual Leadership Chicago: Moody,1967
Chương 12: HỌC HỎI SUỐT ĐỜI
Tăng trưởng là một tiến triển không ngừng trong đời sống của Cơ-đốc nhân. Đây là sự thật chúng ta nhận thấy trong cuộc sống của các nhân vật quan trọng như Môi-se, Đa-vít Phi-e-rơ, Phao-lô,cũng như trong đời sống của hầu hết những người khác trong Kinh Thánh đã được Thượng Đế sử dụng. Ngày nay, câu nói chúng ta thường nghe “Xin kiên nhẫn,vì Thượng Đế chưa hết làm việc trong đời sống tôi” là một câu có ý nghĩa thích hợp với Kinh Thánh.
Sứ đồ Phao-lô nhấn mạnh điểm này rất nhiều lần. Trong Phi Pl 3:12-14, Phao-lô nói ông vẫn “đeo đuổi mục đích cao cả... nhanh chân tiến bước vào tương lai” còn trong IITi 2Tm 4:7, ông gọi đời sống của Cơ-đốc nhân là “cuộc chiến đấu”, “cuộc chạy đua” liên tục không ngừng.
Các nhà giáo dục thường dùng câu “học hỏi suốt đời” để nói về quan điểm này. Trong các lễ tốt nghiệp đại học, các diễn giả thường nhắc nhở sinh viên tốt nghiệp rằng việc họ lãnh bằng cấp chưa phải là điểm chấm dứt nhưng mới là điểm bắt đầu. Nhưng có lẽ lời nói này không có ảnh hưởng nhiều trên sinh viên tốt nghiệp như các diễn giả mong muốn. Tuy nhiên nguyên tắc “học hỏi suốt đời” có nghĩa là: Giai đoạn giáo dục chính thức ở các cấp tiểu học, trung học, đại học chỉ là bắt đầu, chứ không phải là cuối cùng của học vấn. Giai đoạn giáo dục chính thức ở trường học chỉ có thể được kể là thành công nếu sinh viên tốt nghiệp được trang bị đầy đủ để có thể tiếp tục học hỏi suốt đời.
LÀM CÁCH NÀO BẠN CÓ THỂ HỌC HỎI SUỐT ĐỜI?
Người đã đến lứa tuổi trưởng thành có nhiều cách học. Thật ra, nhiều cuộc khảo cứu cho biết rằng những người lớn học nhiều bằng cách khác nhau. Để đáp ứng các nhu cầu học vấn khác biệt nhau này, giáo dục người lớn thường được chia thành hai loại, loại chính qui và loại không chính qui
Học Hỏi Chính Qui
Cơ đố Giáo dục chính qui cho người lớn càng ngày càng được nhiều người chú ý ham thích và thường được tổ chức như là những lớp học thực nghiệm. Sau đây là một vài hình thức Cơ-đốc Giáo dục tráng niên:
Trường Chúa Nhựa Cho Người Lớn : Tổ chức này nằm trong sinh hoạt của các Hội Thánh địa phương và là một cơ hội học hỏi rất tốt cho người thuộc lứa tuổi trưởng thành. Vì lứa tuổi này có những nhu cầu và mối quan tâm khác nhau, nên nhiều nhà thờ có tổ chức các lớp dạy những môn khác nhau, để cho học viên có thể lựa chọn. Học viên lựa chọn môn học nào họ thấy là quí giá nhất cho đời sống. Cơ-đốc cho và sự tăng trưởng tâm linh của họ. Đồng thời, học viên cũng phải biết rõ mục đích mình khi tham dự mỗi môn học. Có khi mục đích của học viên không hòan toàn giống với mục đích của khoa học, nhưng học viên vẫn có thể tham dự những hoạt động hữu ích cho mình trong các giờ học.
Trường Kinh Thánh Buổi Tối . Trường này có thể do một Hội Thánh, hay do một số Hội Thánh cùng một địa phương cộng tác tổ chức. Chương trình học có thể là một buổi tối mỗi tuần lễ, để học các môn như Kinh Thánh, giáo lý, các chức vụ của tín hữu. Một số chương trình giáo dục này có thể cho “tín chỉ” dùng cho việc cấp chứng chỉ hay bằng cấp.
Đại Học Và Chủng Viện: Trước đây lứa tuổi đông đúc nhất thế giới là lứa tuổi thanh thiếu niên, nhưng bây giờ lứa tuổi tráng niên (từ 25 trở lên) đã trở thành lứa tuổi đông nhất. Ở Hoa Kỳ số thanh thiếu niên tham dự các trường đại học trong thập niên 80 đã giảm xuống, trong khi số người từ 25 đến 44 tuổi tham dự trường đại học đã gia tăng 10 phần trăm, còn tuổi tham dự trường đại học đã gia tăng 10 phần trăm, còn số người từ 65 tuổi trở lên tham dự đại học cũng tăng 7,2 phần trăm. Theo dự tính nhân khẩu học thì trong thập niên 90, lứa tuổi từ 25 đến 45 sẽ tăng lên đến 45% cònlứa tuổi 65 trở lên cũng tăng đến 25%. Căn cứ vào các thống kê này, các trường đại học và chủng viện. Cơ-đốc (nhiều hệ phái) đang lo thích nghi chương trình giáo dục của họ, kể cả loại chương trình có bằng cấp lẫn loại không bằng cấp, để đáp ứng nhu cầu của các lứa tuổi người lớn này. Các chương trình này gồm có: chương trình ban ngày vào thì giờ thích hợp cho học viên, chương trình buổi tối, chương trình hàm thụ, chương trình thứ bảy (cuối tuần), chương trình mùa hè.Học phí cũng được ấn định cho thích hợp với học viên “bán thời “(không học trọn thời gian)
Các Lớp Kinh Thánh Cho Người Lớn . Có lẽ hiện tượng phổ biến nhất trong các hoạt động giáo dục cho Cơ-đốc nhân trong thập niên vừa qua là các lớp học. Kinh Thánh cho người lớn. Các lớp học này có thể được tổ chức tại tư gia, tại nhà thờ hay tại địa điểm nào khác, nhưng chỉ nhắm vào mục đích duy nhất là tạo cơ hội để học hỏi và chia xẻ Lời Thượng Đế trong khung cảnh cởi mở thân mật, để áp dụng chân lý của Kinh Thánh vào sinh hoạt hàng ngày, và để thông công với nhau. Các lớp Kinh Thánh này cũng có nhiều loại, như lớp Kinh Thánh này cũng có nhiều loại, như lớp dành cho phụ nữ, lớp cho nam giới, lớp dành cho người đã lập gia đình (những cặp vợ chồng),lớp dành cho người độc thân và áp dụng chương trình học Kinh Thánh có hệ thống,hay nhắm vào công cuộc truyền bá Phúc Âm. Các lớp Kinh Thánh cho người lớn trên đây có thể đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của mỗi Cơ-đốc nhân, vì tạo cho họ cơ hội để học Kinh Thánh cách nô lệ trong bối cảnh thông công và tương thân tương ái.
Các Lớp Hội Thảo , Hội Kiến , Thực Tập : Mặc dầu hiện nay những hình thức này không còn thịnh hành lắm, nhưng trong thập niên vừa qua, các lớp hội thảo, hội kiến và thực tập cho tín hữu lớp tuổi tráng niên đã thu hoạch được nhiều kết quả khả quan, với những môn học phổ thông như: nghệ thuật lãnh đạo và giảng dạy, hiểu biết về hôn nhân và gia đình, thần học, nội dung Kinh Thánh. Ngoài ra, cũng có các đại hội giáo phái, đại hội bồi linh (giảng dạy) rất được lứa tuổi người lớn ủng hộ. Tuy nhiên, muốn nhận được kết quả tốt qua các lớp hội thảo hay đại hội này, thì trước khi tham dự, mỗi học viên phải tự xác định mục đích mình muốn đạt. Rồi khi chấm dứt hội thảo hay đại hội, học viên phải có kế hoạch để đem ra thực hành điều mình đã học hỏi được. Nếu được thì một số người đã cùng tham tham dự lớp hội thảo hay đại hội nên họp chung lại với nhau để rút tỉa, chia xẻ kinh nghiệm đã học hỏi và thảo luận với nhau đường lối đem các diều đó ra thi hành.
Phân tích cho cùng thì Cơ-đốc giáo dục người lớn là một nổ lực cá nhân. Mặc dầu các cơ hội học hỏi chính thức đề cập trên đây đều đòi hỏi sự chia xẻ đóng góp chung, mỗi cá nhân chỉ thu lượm được kết quả tối đa khi biết xác định mục đích riêng của mình trước khi tham dự và biết thảo kế hoạch đem các điều học hỏi ra áp dụng sau khi học xong.
Học Hỏi Không Chính Qui
Một lối học hỏi suốt đời thường không được chú ý là sự học hỏi không chính thức (tự học), mà mỗi người lớn đều kinh nghiệm hằng ngày, qua các cuộc đàm thoại, đọc sách, khảo cứu hay chương trình tự học có sắp đặt trước. Sau đây là số ví dụ:
Suy Gẫm Lời Chúa Riêng Tư : Việc suy gẫm Lời Chúa cách riêng tư, hoặc bằng cách dùng “lịch cầu nguyện “, dùng tài liệu học Kinh Thánh theo đề tài, hoặc học một sách trong Kinh Thánh.... là một trong những kinh nghiệm học hỏi quan trọng hơn hết mà bạn phải có để tăng trưởng tâm linh. Bạn cần có một cuốn tập để ghi chép những điều được Chúa dạy trong lúc thông công với Chúa và suy gẫm lới Chúa
Các Bài Giảng Luận : Bài giảng là phương tiện rất tốt để học hỏi. Bạn có thể ghi lại bài giảng của mục sư vào sáng hay chiều Chúa Nhật, bài giảng bạn nghe trên ra-đi-ô hay TV v.v... để ôn lại những sự dạy dỗ. Bạn cũng có thể đem các bài giảng này ra thảo luận với người khác (với Mục sư, nếu được) và điều cần thiết là phải áp dụng điều bạn học hỏi vào cuộc sống.
Đọc : Có rất nhiều loại sách, tạp chí và báo chí Cơ-đốc mà bạn có thể đọc. Vi chính bạn tự chọn đề tài mình muốn đọc và tự để riêng thì giờ cho việc đọc, nên việc học hỏi bằng cách đọc là một phương pháp thực tế. Việc đọc một tờ báo hay tạp chí thuộc linh bạn thích có thể giúp bạn khi bước theo Chúa Cứu Thế. Vì vậy Mỗi Cơ-đốc nhân nên có chương trình đọc sách đều đặn để đáp ứng nhu cầu thuộc linh của mình.
Các Dự An Học Hỏi Của Người Lớn : Gần như mỗi ngày, người lớn tuổi thường có cơ hội học hỏi, như khi vào thư viện khảo cứu một vấn đề nào đó, hay khi đặt câu hỏi về một lãnh vực nào đó để nhờ người am hiểu giải đáp giúp. Tuy nhiên khi làm như vậy bạn cũng phải xác định rõ ràng vấn đề bạn muốn học hỏi, và cũng đề ra một đường lối thực hiện để việc học hỏi đó có kết quả.
Học Hỏi Theo Hợp Đồng . Người lớn cũng thường học hỏi theo lối giáo dục chính qui, nhưng cũng có thể học không chính qui theo lối “Hợp đồng Tự học” khi học viên tự chọn các môn học mình thích, tự đặt chương trình riêng để áp dụng và dự tính trước kết quả mình sẽ thu lượm được sau khi học xong. Trong trường hợp này, học hỏi theo hợp đồng, có nghĩa là học viên tự “ký hợp đồng với mình” khi quyết định học gì, đạt kết quả nào, và phần thưởng nào sẽ tự phạt cho mình.
Bạn Nên Đeo Đuổi Các Môn Học Nào
Tăng trưởng tâm linh là một tiến triển suốt đời và chỉ hoàn thành khi bạn thấy Chúa Cứu Thế mặt đối mặt. Vì vậy mục phải đặt mục tiêu suốt đời của bạn là tăng trưởng thành tâm linh, như vậy bạn mới có thể sống cho Chúa. Sau đây là một số lãnh vực học hỏi (môn học) bạn cần lưu ý trong chương trình học hỏi suốt đời của bạn.
Hiểu Biết Kinh Thánh
Kinh Thánh là sách giáo khoa suốt đời của Cơ-đốc nhân, vì vậy đây là môn học quan trọng hơn hết trong chương trình học hỏi suốt đời của bạn. Biết và hiểu Lời Chúa mỗi ngày sâu nhiệm hơn phải là mục đích quan trọng nhất của mỗi tín hữu. Sách nào trong Kinh Thánh bạn ít biết và ít hiểu nhất phải được đem ra học hỏi nhiều nhất. Vào mấy ngày đầu của mỗi năm, bạn phải ấn định các mục tiêu học Kinh Thánh cho chính mình, và cũng phải soạn ra một chương trình để có thể đạt tất cả các mục tiêu đó trong cuối năm.
Thần Học Và Sinh Hoạt Cơ Đốc Thực Hành
Biết rõ các lời dạy trong Kinh Thánh về chức vụ của Chúa Cứu Thế, về các giáo lý của Kinh Thánh, và về cách phải sống thế nào cho xứng đáng là Cơ-đốc nhân, là điều rất quan trọng, vì vậy không một ai là tín hữu lại ngần ngại không chịu học hỏi thần học của Kinh Thánh. Chỉ khi nào đã nắm vững được các lời dạy của Kinh Thánh, bạn mới có thể giới thiệu Lời Chúa cho người chưa tin, biết rõ các luận điệu sai lầm của các tà giáo, và mới có thể sống một đời sống. Cơ-đốc nhân đầy đủ đúng mức.
Chức Vụ Thức Hành (Practical Ministry)
Mỗi Cơ-đốc nhân đều được Đức Thánh Linh ban ân tứ và khả năng để gây dựng Hội Thánh và gây dựng các anh chị em mình trong Chúa. Tuy nhiên, các ân tứ và khả năng này cũng cần được phát triển để có thể được sử dụng đúng mức đúng chổ, là đem vinh quang về cho Thượng Đế. Vì vậy, bạn phải tham dự các lớp huấn luyện của Hội Thánh để phát triển khả năng phục vụ của mình. Các lớp huấn luyện nay gồm có: Huấn luyện hướng dẫn viên, đưa người chưa tin đến với Chúa, khải đạo, thăm viếng, các môn học căn bản hay các chức vụ khác.
ĐÚC KẾT LẠI
Tất cả mọi lãnh vực giáo dục người lớn đều hữu ích cả. Tuy nhiên, để có thể có ảnh hưởng trên cuộc sống, trên chức vụ và trên sự tăng trưởng tâm linh của các Cơ-đốc nhân thuộc lứa tuổi trưởng thành, các lãnh vực giáo dục này phải được tổ chức cách nào để đáp ứng nhu cầu của mỗi tín hữu và giúp mỗi người đạt được mục đích của họ. Sau đây là mấy nguyên tắc bạn có thể dùng để tổ chức một chương trình học hỏi cá nhân với mục đích đáp ứng nhu cầu học hỏi suốt đời.
Xác Định Mục Tiêu Cá Nhân Của Bạn
Bất cứ chương trình học hỏi nào, kể cả chương trình giáo dục người lớn của bạn, cũng phải có đường hướng và mục tiêu dứt khóat. Các mục tiêu này trước hết phải căn cứ trên các nhu cầu của bạn. Ví dụ: bạn nhận thấy có vài lãnh vực bạn cần phải cải tiến trong mấy tháng hay mấy năm sắp đến, hay có lãnh vực khác bạn cần mở mang kiến thức, như sự phục vụ hay vực khác bạn cần mở mang kiến thưc, như sự phục vụ hay các thách thức trong cuộc sống hằng ngày này sẽ giúp bạn xác định các mục tiêu học hỏi của bạn, và bạn cần phải ghi chép lại các mục tiêu này để dùng làm dữ kiện lượng giá sau này.
Xác Định Kinh Nghiệm Nào Có Thể Giúp Bạn Đạt Mục Tiêu
Bước kế tiếp là bạn tìm xem môn học nào, kể cả học chính qui và không chính qui, có thể gíup bạn đạt được các mục tiêu đã đề ra. Có thể bạn chọn tham gia các toán huấn luyện do Hội Thánh tổ chức, hay tham gia một lớp Trường Chúa Nhật, hay các môn học chính thức (có tổ chức). Cũng có thể bạn sẽ cho rằng các phương pháp học hỏi không chính qui là phương pháp thích hợp nhất cho bạn. Việc xác định (và lựa chọn) những môn học, hay phương pháp học hỏi nào thích hợp nhất để đạt mục tiêu là nguyên tắc thứ nhì bạn cần phải áp dụng.
Sắp Xếp Vào Chương Trình Của Bạn Các Kinh Nghiệm Học Hỏi Được Chọn
Nếu các môn học bạn thấy cần thiết để đạt các mục tiêu học hỏi của bạn sẽ được tổ chức vào mỗi tháng hay mỗi tam cá nguyệt, bạn hãy lấy cuốn lịch và sắp xếp những thì giờ đó thành chương trình học hỏi cả năm của bạn. Việc sắp xếp thì giờ này được gọi là: “quản trị thời gian” và là một nguyên tắc rất quan trọng trong cố gắng tăng trưởng thuộc linh của bạn.
Xác Định Cách Nào, Khi Nào Biết Bạn Đã Đạt Được Mục Đích
Sau khi hoàn tất một chương trình học hỏi, bạn có thể có những bằng chứng rõ rệt để biết chắc bạn đã thu lượm những kết quả cụ thể không ? Chắc chắn bạn muốn biết rõ kiến thức của bạn có tiến bộ, tư cách của bạn có thay đổi sau khi xong khóa học. Bằng cách nào đó, bạn cần phải biết làm sao bạn biết khi nào việc học hoàn tất và đạt được mục tiêu. Đấy là những “mục tiêu có thể đo lường được”(measurable objectives).
Một khi bạn đã đạt được mục đích nhờ các cố gắng và kinh nghiệm học hỏi, bạn sẽ thu lượm kết quả là sự tăng trưởng và phát triển thật. Bạn cần nhớ điểm quan trọng này: chương trình học hỏi cá nhân do bạn tự soạn thảo lấy, là chia khóa để thành công tối ca trong việc học hỏi suốt đời của bạn.
TÓM LƯỢC
Tăng trưởng là một quá trình liên tục cho mỗi Cơ-đốc nhân và đòi hỏi nhân phải học hỏi liên tục. Tất cả các nhân vật Kinh Thánh được Thượng Đế sử dụng đều có kinh nghiệm hỏi học liên tục, là điều sứ đồ Phao-lô đặc biệt nhấn mạnh trong các thư tin của ông.
Là một tín hữu đang tăng trưởng tâm linh, bạn có rất nhiều cơ hội để thực hiện chương trình học hỏi suốt đời, qua phương cách chính thức và không chính thức. Tuy nhiên, chỉ khi nào bạn tự soạn thảo một chương trình học hỏi riêng, bạn mới có thể tận dụng được các cơ hội học hỏi này, để bạn trưởng tâm linh và đem vingh quang về cho Chúa Cứu Thế.
BÀI LÀM
1. Bạn tìm xem hiện nay đang có những cơ hội học hỏi chính thức nào đáng lưu ý, rồi liệt kê ra những cơ hội bạn thấy là hữu ích cho bạn trong hai năm sắp tới.
2. Bạn cũng tìm xem hiện nay đang có những cơ hội học hỏi không chính thức nào đáng lưu ý, rồi cũng liệt kê như trên.
3. Tại sao sự hiểu biết Kinh Thánh sâu nhiệm phải được đặt vào hàng ưu tiên trong chương trình học hỏi suốt đời của bạn ? Bạn thấy “chiến lược cá nhân “nào hữu hiệu nhất để giúp bạn hiểu biết Kinh Thánh cách sâu nhiệm hơn?
4. Tại sao “chức vụ thực hành “( pratical ministry ) là một yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng tâm linh ?
5. Những lãnh vực phục vụ nào bạn thấy là thích hợp nhất cho việc áp dụng các ân tứ của bạn ?
6. Tại sao bạn phải soạn một chương trình học hỏi cá nhân(có tổ chức) để dùng riêng cho bạn ?
ÁP DỤNG
Bạn hãy lấy một tờ giấy và viết như sau:
Các Mục Đích Cá Nhân Cơ Hội Học Hỏi Kết Quả
1..............................…………………………………………………………….............................
2..............................……………………………………………………………..............................
3..............................…………………………………………………………….............................
Bạn viết các mục đích của riêng bạn mà bạn cần phải đạt được, vào cột “Mục đích cá nhân”. Sau đó, bạn liệt kê trong cột “Cơ hội học hỏi” những môn học hay phương pháp học chính thức và không chính thức, có thể giúp cho bạn thực hiện được các mục đích cá nhân. Cuối cùng, bạn ghi rõ “mục tiêu có thể đo lường được” vào cột “Kết qua” để dùng vào việc lượng giá sau khi đã đạt được mục đích cá nhân.
Chú thích: để có được “mục tiêu có thể đo lượng được”, bạn chỉ cần câu hỏi đơn giản này: “tôi sẽ phải làm gì khi đã đạt được mục đích ?” Đây là một thái độ cụ thể bạn có thể nhận thấy và “đo lường “được”. Bạn cũng ghi xuống ngày giờ nào bạn mong muốn sẽ thấy rõ kết quả này.
Bạn cứ tiếp tục áp dụng cách thức trên đây cho từng Mục đích cá nhân mà bạn đã liệt kê
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Aslanian, Carol B.and Brickell, Henry M. Americans in Transition . Princeton NJ: College Entrance Examination Board, 1980
Sternbron, Melvin J. Can the Pastor do it Alone ? Ventura CA: Regal Books 1987
Sweeting, George W. You Can Climb Higher . Nashville: Thomas Nelson 1985

KẾT LUẬN
Qua 12 chương ngắn ngủi, chúng tôi đã cố gắng trình bày một nền tảng vững chắc và một phạm vi đầy đủ cho sự tăng trưởng tâm linh của bạn, bằng cách khảo sát xem làm cách nào Cơ-đốc nhân có thể tăng trưởng “người bề trong “và qua sự phục vụ. Chúng tôi cũng chia xẻ với bạn những điều chúng tôi nhận thấy về ảnh hưởng của xã hội trên tiến trình tăng trưởng tâm linh.
Là tác giả của 12 chương này, chúng tôi đã cố gắng đưa sự tăng trưởng tâm linh lên ánh sáng như một viên kim cương (hột xoàn), để mỗi khía cạnh đều được nổi bật rõ ràng. Chúng tôi cũng đi đến kết luận là không có một công thức đặc biệt nào có thể bảo đảm sự tăng trưởng tâm linh cả. Như vậy cần có đất tốt và môi trường thích hợp để phát triển. Cơ-đốc nhân cũng cần có đất và môi trường tâm linh để tăng trưởng.
Đất tốt là Lời của Thượng Đế, tức là Kinh Thánh. Kinh Thánh lúc nào nguồn cung cấp cấp cho chất dinh dưỡng cho tâm linh Cơ-đốc nhân. Vì vậy chúng ta phải liên tục trở về với Kinh Thánh để các rễ tâm linh của chúng ta có thể hút được thức ăn cần thiết cho sự sống.
Môi trường cũng là một yếu tố quan trọng khi nghe đến từ ngữ môi trường, có lẽ tín hữu sẽ nghĩ ngay đến Hội Thánh là nơi người tin Chúa được nuôi dưỡng gây dựng. Nghĩ như vậy cũng đúng, nhưng chỉ đúng một phần. Vì ngoài Hội Thánh ra, thế gian cũng là môi trường của Cơ-đốc nhân nữa. Mặc dầu chúng ta không chấp nhận các giá trị của thế gian, nhưng chúng ta cần thế gian là môi trường để ra hoa kết quả. Để có thể tăng trưởng tâm linh, chúng ta cần có cả Hội Thánh lẫn thế gian. Như cây sồi to lớn mạnh mẽ cần bao nhiêu trận bão tố để cho hệ thống rễ lan rộng đâm sâu vào lòng đất và để cho vỏ cây sồi trở nên cứng rắn. Cơ-đốc nhân cũng cần có thể để đức tin có thể lớn lên và tăng cường. Khi thế gian chống đối khước từ và thách thức đức tin chúng ta, thì một hiện tượng kỳ lạ xảy ra, là chúng ta tăng trưởng. Lịch sử Hội Thánh chứng minh rằng khi bị bắt bớ bách hại, Hội Thánh của Chúa Cứu Thế luôn được trưởng thánh thuộc linh.
Chúng ta cũng ý thức được rằng cố gắng sống ẩn dật cho Chúa trong tu viện, là một cuộc sống không sinh sôi nảy nở. Khi phải đương đầu với thế gian, Cơ-đốc nhân được đặt vào môi trường đặc biệt thuận lợi cho sự tăng trưởng tâm linh. Nhưng môi trường đó thật sự đem lại sự tăng trưởng hay không là còn tùy nơi cách Cơ-đốc nhân sử dụng môi trường đó.
Chúng ta cần sống trong môi trường thế gian vì khi ở trong đó chúng ta có thể chia xẻ. Tin Mừng cứu rỗi cho những người đang ở trong tối tăm tội lỗi. Trong khi dân số thế giới đã lên đến 6 tỉ người, việc chia xẻ niềm tin của mỗi cá nhân tín hữu là cần thiết để có thể hoàn thành nhiệm vụ truyền giáo chính Chúa đã ủy thác cho chúng ta. Có một hiện tượng lạ lùng là khi tích cực chia xẻ niềm tin với người khác, chúng ta kinh nghiệm được một sự tăng trưởng tâm linh độc đáo. Một vài nhà thần học học cho rằng chia xẻ niềm tin vào Chúa Cứu Thế là thứ tác nhân kích thích tăng trưởng hữu hiệu nhất.
Một trong các niềm vui lớn lao nhất của người tin Chúa là được thấy đời tâm linh mình sinh sôi nẩy nở qua sự chia xẻ Chúa với người khác. Chắc chắn khi đời tâm linh bạn sinh sôi nảy nở cách đó, bạn đem vinh hiển về cho Thượng Đế. Chúng tôi cầu xin Thượng Đế cho bạn được như vậy.
Tiến sĩ Richard Patterson, Chủ tịch Hội Huấn luyện Phúc Âm.

Mục Lục
Lời mở đầu
PHẦN I
Nền tảng phải có để tăng trưởng tâm linh
Chương 1: Là thành phần của gia đình Thượng Đế
Chương 2: Nguồn sống
Chương 3: Tương giao với Thượng Đế
PHẦN II
Tăng trưởng người bề trong
Chương 4: Thiết lập một nếp sống tin kính
Chương 5: phát triển khả năng thiết lập các mối tương giao giữa người với người
Chương 6: Sự thờ phượng đích thực và nếp sống tương giao với Chúa
Chương 7: Xác định mối liên hệ có ý nghĩa trong Hội Thánh
PHẦN III
Tăng trưởng qua phục vụ
Chương 8: Nhận biết khả năng phục vụ
Chương 9: Phục vụ qua công tác truyền giáo và chăm sóc
Chương 10: Phục vụ qua công tác giáo dục
Chương 11: Phục vụ qua chức vụ lãnh đạo
PHẦN IV
Liên tục tăng trưởng tâm linh
Chương 12: Học hỏi suốt đời
Kết luận


† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 14-11-2018 04:26 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách