† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2651|Trả lời: 0

Nếp Sống Cộng Đồng

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 21-7-2011 22:38:30 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Nếp Sống Cộng Đồng
Tác giả: Dietrich Bonhoeffer

Lời Nói Đầu
Cộng Đồng
Một ngày với tha nhân
Một ngày cô đơn
Nhiệm vụ
Xưng tội và tiệc thánh


Lời nói đầu

Điều chúng ta bàn ở đây, vì cớ bản chất của nó, chỉ có thể được thực hiện với nỗ lực của tập thể. Vì đây không phải là việc riêng của một nhóm người, nhưng là nhiệm vụ được giao cho Hội Thánh, nên vấn đề không phải là những cách giải quyết vấn đề riêng rẽ, một cách ngẫu nhiên, nhưng là trách nhiệm của Hội Thánh chung. Thái độ dè dặt, một sự dè dặt rất dễ hiểu, của Hội Thánh trước nhiệm vụ này nên nhường chỗ cho tinh thần sẵn sàng giúp đỡ. Sự đa dạng của các cộng đồng trong Hội Thánh đòi hỏi tất cả mọi người có trách nhiệm phải cảnh giác cộng tác. Quyển sách này chỉ muốn góp phần nho nhỏ vào vấn đề rộng rãi này và nếu có thể cũng muốn giúp để lý giải và thực hành.


CỘNG ĐỒNG
“Kìa, anh em sống hoà thuận với nhau, thật tốt đẹp thay!” (Thi Tv 133:1). Chúng ta cùng nhau suy niệm vài lời Kinh Thánh răn dạy chúng ta về nếp sống cộng đồng.
Đối với người tin Chúa Giê-xu Cứu Thế, sinh hoạt cộng đồng với các anh chị em tín hữu khác không phải là một việc dĩ nhiên. Chúa Giê-xu Cứu Thế đã từng phải sống chung với những người thù nghịch Chúa. Trong những giờ phút cuối cùng, lúc Chúa bị bắt, tất cả các môn đệ đã bỏ Chúa trốn đi. Chúa chịu đau khổ một mình trên cây thập tự, hoàn toàn cô độc giữa những người tội lỗi xấu xa đang cười nhạo Ngài. Chúa đã đến trong trần thế để đem sự bình an cho kẻ thù chống lại Đức Chúa Trời. Người tin Chúa cũng vậy, không sống cuộc đời ngăn cách trong tu viện nhưng sống giữa những người thù nghịch mình. Đó là sứ mạng, là công tác của tín hữu. “Nước Trời phải thể hiện giữa những người thù nghịch bạn. Nếu ai không sẵn sàng chịu cái khổ này mà chỉ muốn quây quần với bạn bè, chỉ muốn ngồi trên những cánh hoa hồng hoặc hoa huệ, không muốn sống với những người xấu xa mà chỉ muốn sống với những người sùng đạo, người đó không thuộc về Nước Chúa. Đó là những người phạm thượng và phản bội Chúa Cứu Thế! Nếu Chúa Cứu Thế cũng xử sự như thế thì ai sẽ được phước hạnh đời đời?” (Luther).
“Ta đã gieo họ ra giữa các dân, ở các nước xa họ sẽ nhớ lại ta” (XaDr 10:9). Theo ý muốn tốt lành của Đức Chúa Trời, cộng đồng tín hữu đã trở thành một dân tộc tan lạc, như những hạt giống “bị xô đùa đây đó trong tất cả các nước của thế gian” (PhuDnl 28:25). Đó là một lời nguyền rủa, nhưng cũng là Lời Hứa dành cho chúng ta, dân Chúa phải sống trên đất khách, giữa những người ngoại đạo, nhưng trở thành hạt giống của Nước Trời trên khắp thế giới.
“Ta sẽ nhóm hiệp họ, vì ta đã chuộc họ lại”, “họ sẽ trở về” (XaDr 10:8, 9). Lời Hứa này thành sự thực lúc nào? Lời Hứa này đã thành sự thực trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Chúa đã chết để “nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tan lạc lại làm một đoàn” (GiGa 11:52), và Lời Hứa này sẽ thành sự thực trong ngày Chúa tái lâm, khi các Thiên sứ của Đức Chúa Trời “nhóm lại những người đã được chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời này cho đến tận phương trời kia” (Mat Mt 24:31). Từ nay cho đến ngày đó tuy dân Chúa phải sống tản mác nhưng được nối kết lại với nhau trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, là hạt giống gieo ra giữa người ngoại đạo nhưng trở thành hiệp nhất bằng cách tưởng nhớ Chúa trên đất khách quê người.
Vì thế trong khoảng thời gian giữa cái chết của Chúa và ngày Chúa tái lâm, sự kiện cộng đồng hữu hình của các tín hữu sinh hoạt chung với nhau là một điềm chỉ biểu thị thực chất vĩnh hằng sẽ đến trong ngày Chúa tái lâm. Nhờ ân sủng của Đức Chúa Trời mà Hội Thánh được phép hội họp quanh Lời và Thánh Lễ của Chúa. Không phải tất cả mỗi tín hữu đều có được diễm phúc này. Những tù nhân, bịnh nhân, những người bị lưu lạc và các vị truyền giáo Tin Lành cho người nước ngoài phải sống một mình. Họ thấm thía hơn ai hết rằng, cộng đồng hữu hình là ân sủng của Chúa. Họ cầu nguyện bằng lời thơ:
“Xưa tôi đi cùng đoàn chúng,
Dẫn họ đến nhà Đức Chúa Trời,
Có tiếng reo mừng và ngợi khen,
Một đoàn đông giữ lễ” (Thi Tv 42:4).
Nhưng bây giờ, theo ý chỉ tốt lành của Đức Chúa Trời, họ sống một mình, làm hạt giống gieo ra trên đất khách.
Tuy nhiên, cái kinh nghiệm được sinh hoạt cộng đồng chung với các anh chị em trong Chúa mà họ không có, họ lại kinh nghiệm nồng nàn trong đức tin. Vì thế cho nên Sứ đồ Giăng, một môn đệ của Chúa, tuy bị đày ải một mình trên đảo Bát-mô, có thể vui mừng dự Lễ Thờ Phượng Chúa chung với Hội Thánh “trong ngày của Chúa” (KhKh 1:10). Sứ đồ Giăng thấy bảy chân đèn, là bảy Hội Thánh; thấy bảy ngôi sao, là bảy Thiên sứ của Hội Thánh; và thấy ở giữa những chân đèn có Con Người, là Chúa Giê-xu Cứu Thế, trong vinh quang của Đấng Phục sinh. Chúa đã dùng Lời Chúa khích lệ và an ủi Sứ đồ Giăng. Đó là mối tương giao thiên thượng mà người tù bị đày ải đó được dự phần trong ngày phục sinh của Chúa.
Đối với người tin Chúa, mối tương giao với các anh chị em khác là một nguồn vui mừng và là một niềm khích lệ khôn tả. Sứ đồ Phao lô trong tù đã mong đợi “người con trai yêu dấu trong đức tin” là Ti-mô-thê đến sống với mình trong những ngày cuối cùng của cuộc đời. Phao lô không quên được những giọt lệ của Ti-mô-thê trong lần chia tay cuối cùng (IITi 2Tm 1:4). Mỗi lần suy nghĩ đến Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca, Phao lô “đêm ngày thành tâm nài xin Chúa cho phép gặp lại anh em” (ITe1Tx 3:10). Và cụ Sứ đồ Giăng cũng tâm sự rằng, niềm vui của mình chỉ trọn vẹn khi cụ, thay vì dùng giấy mực, có thể đích thân đi thăm và trò chuyện với các tín hữu của mình (IIGi 2Ga 1:12).
Người tin Chúa không hổ thẹn rằng mình còn rất xác thịt khi mong ước được gần gũi tương giao với các tín hữu khác. Con người được dựng nên trong thể xác. Trong thể xác Con Đức Chúa Trời đã đến trần gian vì cớ chúng ta, trong thể xác Chúa đã sống lại, trong thể xác người tín hữu tiếp nhận Chúa Cứu Thế, và sự sống lại từ cõi chết sẽ đem lại sự tương giao trọn vẹn của những con người có thể xác và linh hồn do Đức Chúa Trời dựng nên. Người tín hữu ca tụng Đấng Sáng Tạo, là Đấng Giải Hoà và Đấng Cứu rỗi, là Chúa Cha, Con và Thánh Linh, về sự hiện diện trong thể xác của các anh chị em trong Chúa. Các tu sĩ, bệnh nhân, các tín hữu bị lưu lạc khi được tương giao với các anh chị em trong Chúa cảm nghiệm được sự hiện hiện của Chúa Ba Ngôi. Trong khung cảnh cô đơn, người đi thăm và người được thăm nhận diện Chúa Cứu Thế là Đấng đang hiện diện trong con người của nhau. Họ tiếp nhau và gặp nhau trong tinh thần kỉnh kiền, khiêm cung và vui mừng như thể đang gặp Chúa. Họ nhận lãnh phước hạnh của nhau như thể phước hạnh của chính Chúa Giê-xu Cứu Thế. Nhưng nếu chỉ gặp anh chị em một lần ngắn ngủi mà còn được nhiều phước hạnh như vậy, thì những người được sinh hoạt tương giao với nhau mỗi ngày còn phước hạnh nhiều hơn là dường nào!
Tuy nhiên, cái ân sủng mà người cô đơn quí trọng bao nhiêu lại càng dễ bị người nhận lãnh mỗi ngày khinh thường và chà đạp bấy nhiêu. Ta thường quên rằng, sự tương giao với các anh chị em trong Chúa là món quà ân sủng đến từ Nước Trời. Món quà này có thể bị lấy lại bất cứ lúc nào. Khoảng cách giữa ta và cái cô đơn sâu thẳm đó có thể chỉ là một khoảng thời gian rất ngắn ngủi. Vì thế, ai đang được sống cộng đồng với những tín hữu khác, người đó nên thành tâm ca tụng ân sủng của Đức Chúa Trời, phải quì gối cảm tạ Đức Chúa Trời và xưng nhận rằng: sở dĩ chúng ta ngày nay còn được sống cộng đồng với các anh chị em trong Chúa là nhờ ân sủng và chỉ nhờ ân sủng của Chúa mà thôi.
Đức Chúa Trời ban cho mỗi cộng đồng hữu hình một lượng ân tứ khác nhau. Một chuyến viếng thăm ngắn ngủi của các anh chị em trong Chúa, một buổi cầu nguyện chung, một lời chúc phước có thể an ủi những tín hữu đang cô độc rất nhiều. Một bức thư do chính tay một anh chị em đích thân viết có thể là một niềm khích lệ rất lớn. Lời chúc phước do chính tay Phao lô viết trong những bức thư của mình cũng nói lên mối tương giao đó. Chúa cho nhiều người có đặc ân tương giao với nhau mỗi ngày Chúa nhật trong Lễ Thờ Phượng. Cũng có người được diễm phúc sống một cuộc đời theo Chúa trong gia đình đoàn tụ hạnh phúc. Các sinh viên thần học trước khi thụ phong Mục sư được Chúa cho phép sống chung với các bạn đồng môn trong thời gian tu học. Ngày nay, những tín hữu tin kính rất khát khao được sinh hoạt cộng đồng với các anh chị em khác trong thời gian rảnh rỗi. Tín hữu ngày nay hiểu rằng, sinh hoạt cộng đồng là ân sủng, sống tương giao là diễm phúc, là “hoa hồng và hoa huệ” của cuộc đời theo Chúa (Luther).
Qua và trong Chúa Giê-xu Cứu Thế
Hội Thánh là một cộng đồng qua và trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Cộng đồng tín hữu luôn luôn phải có - và chỉ có - ý nghĩa này. Dù chỉ là một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi hoặc là một cộng đồng sinh hoạt suốt năm, các tín hữu luôn luôn ở trong mối tương giao này. Chúng ta thuộc về nhau chỉ qua và trong Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi.
Điều này có nghĩa là gì?
Thứ nhất : Vì cớ Chúa Giê-xu Cứu Thế người tín hữu cần anh chị em trong Chúa .
Thứ hai : Chỉ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế người tín hữu đến với anh chị em trong Chúa .
Thứ ba : Trong Chúa Giê-xu Cứu Thế chúng ta được lựa chọn từ cõi vĩnh hằng đời đời , được chấp nhận trong thời gian hữu hạn và được hiệp nhất trong cõi vĩnh hằng đời đời .
Thứ nhất : Người tin Chúa là người không còn tự đi tìm ân phúc cứu rỗi, sự công chính nơi chính mình nữa, nhưng chỉ tìm nơi Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Người tín hữu biết rằng Lời Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế kết án mình phạm tội mặc dầu mình không cảm thấy có tội, và Lời Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế xử mình trắng án và công chính mặc dầu mình không cảm thấy công chính. Người tín hữu không nhờ chính mình, không nhờ tự tố cáo và tự bào chữa mà sống nữa, nhưng sống nhờ Đức Chúa Trời tố cáo mình và bào chữa cho mình. Người tín hữu sống hoàn toàn nhờ Lời của Đức Chúa Trời phán quyết về bản thân mình, tin tưởng đầu phục dưới Lời tuyên án - tha bổng hoặc kết tội - của Đức Chúa Trời.
Cái chết và sự sống của người tín hữu không nằm trong tay của mình nữa, nhưng người tín hữu tìm thấy cái chết và sự sống trong Lời Đức Chúa Trời đến với mình. Các nhà Cải Chánh Tin Lành đã diễn đạt điểm này như sau: Sự công chính của chúng ta là “sự công chính ngoại nhập”, một sự công chính từ ngoài đến (extra nos). Người tín hữu tuỳ thuộc vào Lời Đức Chúa Trời phán với mình, nương tựa vào Lời từ ngoài đến với mình, sống hoàn toàn do Chân lý của Lời Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Nếu có người hỏi: “Ân cứu rỗi của bạn ở đâu, niềm hạnh phúc của bạn ở đâu, sự công chính của bạn ở đâu?”, người tín hữu sẽ không bao giờ dẫn chứng chính bản thân mình, nhưng dẫn chứng Lời Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế là Lời đã ban cho mình ân cứu rỗi, niềm hạnh phúc và sự công chính. Người tín hữu chỉ kỳ vọng nơi Lời Đức Chúa Trời. Vì hằng ngày khao khát sự công chính nên người tín hữu hằng ngày mong đợi Lời Đức Chúa Trời. Chỉ nhờ “từ ngoài” mà ta no nê, đã khát. “Từ trong” chỉ là nghèo khổ và cái chết. Sự giải cứu phải đến từ ngoài, đã đến và đến mỗi ngày qua Lời của Chúa Giê-xu Cứu Thế, là Lời đem lại cho chúng ta sự Cứu rỗi, Công chính, Vô tội và Hạnh phúc.
Đức Chúa Trời đã đặt Lời này trong môi miệng của chúng ta để chúng ta có thể chia sẻ Lời này cho người khác. Ai đã từng đối diện với Lời Chúa, người đó sẽ chia sẻ Lời Chúa cho người khác. Đức Chúa Trời muốn chúng ta đi tìm và tìm thấy Lời Sống của Chúa qua Lời Chứng của các anh chị em trong Chúa, qua môi miệng của con người. Vì thế người tín hữu cần các anh chị em khác chia sẻ Lời Đức Chúa Trời cho mình. Những lúc nghi ngờ, chán nản, ta luôn luôn cần anh chị em trong Chúa; ta không thể tự giúp bản thân ta, mà chỉ đánh mất chân lý rồi tự lừa mình mà thôi. Người tín hữu cần anh chị em trong Chúa làm người khuân vác và rao truyền Lời Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời cho mình. Vì cớ Chúa Giê-xu Cứu Thế người tín hữu cần anh chị em trong Chúa. Chúa Cứu Thế trong tâm ta yếu đuối hơn Chúa Cứu Thế trong lời của người anh chị em; trong ta Chúa ẩn hiện lờ mờ, trong người anh chị em Chúa mạc khải rõ ràng.
Vì thế mục tiêu chung của tất cả các cộng đồng tín hữu rất rõ ràng: gặp nhau để chia sẻ Phúc Âm. Vì cớ mục tiêu này nên Đức Chúa Trời cho phép chúng ta có cơ hội họp lại và ban cho chúng ta một mối tương giao. Mối tương giao của chúng ta chỉ đặt căn bản trên Chúa Giê-xu Cứu Thế và “sự công chính ngoại nhập” mà thôi. Chúng ta cũng có thể khẳng định rằng: Mối tương giao của người tín hữu xuất phát từ Phúc-âm-về-sự-xưng-công-chính-nhờ-ân-sủng. Đó là Phúc Âm của Kinh Thánh và của phong trào Cải chánh. Các tín hữu mong đợi nhau chỉ trong mối tương giao này mà thôi.
Thứ hai : Chỉ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế người tín hữu mới có thể đến với anh chị em trong Chúa. Con người xung khắc nhau, nhưng “Chúa là sự bình an của chúng ta” (Eph Ep 2:14). Trong Chúa, nhân loại đang chia rẽ trở thành hiệp nhất. Nếu không có Chúa Cứu Thế, Đức Chúa Trời và con người xung khắc nhau, và con người xung khắc với con người. Chúa Cứu Thế đã trở thành môi giới hoà giải con người với Đức Chúa Trời và con người với nhau. Nếu không có Chúa Cứu Thế ta không thể nhận biết Đức Chúa Trời, không thể kêu cầu với Đức Chúa Trời, không thể đến với Đức Chúa Trời. Nhưng nếu không có Chúa Cứu Thế ta cũng không thể nhận diện và không thể đến với các anh chị em của ta. Con đường nối liền chúng ta với nhau bị cái Tôi ngăn chận. Chúa Cứu Thế đã khai thông con đường đến với Đức Chúa Trời và đến với anh chị em trong Chúa. Nhờ đó các tín hữu có thể sống hoà thuận với nhau, yêu thương nhau, phục vụ nhau và nhất trí với nhau. Nhưng chỉ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế và chỉ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Chỉ trong Chúa Giê-xu Cứu Thế chúng ta mới trở thành một, chỉ qua Chúa chúng ta mới liên hệ mật thiết với nhau. Chúa là người môi giới duy nhất, người môi giới vĩnh cữu đời đời.
Thứ ba : Khi giáng thế làm người, Con Trời đã chấp nhận bản thể và nhân tính của con người, chấp nhận chúng ta trong thực thể và xác thể. Đó là một quyết định vĩnh cữu của Chúa Ba Ngôi. Hiện nay chúng ta ở trong Chúa. Hễ Chúa ở đâu, Chúa mang thể xác của chúng ta ở đó; Chúa mang chúng ta. Hễ Chúa ở đâu, chúng ta cũng ở đó, ở trong sự nhập thể, ở trên cây thập tự và ở trong sự phục sinh của Ngài. Chúng ta thuộc về Chúa vì chúng ta ở trong Ngài. Vì thế Kinh Thánh gọi chúng ta là thân thể của Chúa Cứu Thế. Vậy nếu chúng ta cùng toàn thể Hội Thánh được lựa chọn và được chấp nhận trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, chúng ta cũng cùng nhau thuộc về Chúa trong cõi vĩnh cữu đời đời. Chúng ta, những người đang sống trong cộng đồng của Chúa, sẽ sống với Chúa trong mối tương giao vĩnh cữu đời đời. Khi đối diện với các anh chị em trong Chúa, chúng ta phải hiểu rằng, trong Chúa Giê-xu Cứu Thế chúng ta đang hiệp nhất với các anh chị em mình. Tương giao trong Chúa là tương giao qua và trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Tất cả những lời giáo huấn và điều luật trong Kinh Thánh dạy về nếp sống cộng đồng của tín hữu đều đặt trên điều kiện tiên quyết này.
“Còn như sự anh em yêu thương nhau, về điều đó, không cần viết cho anh em, vì chính anh em đã học nơi Đức Chúa Trời, phải yêu thương nhau, ... chúng tôi khuyên anh em luôn luôn thể hiện tình yêu thương đó mãi” (ITe1Tx 4:9). Chính Chúa đã đích thân dạy chúng ta bài học yêu-thương-anh-chị-em mình. Điểm duy nhất mà con người chúng ta còn có thể bổ túc cho bài học này là ghi nhớ lời giáo huấn của Chúa. Bài học yêu-thương-anh-chị-em bắt đầu khi Đức Chúa Trời thương xót chúng ta, khi Đức Chúa Trời mạc khải Chúa Giê-xu Cứu Thế làm Người Anh cho chúng ta, khi Đức Chúa Trời chiếm hữu tâm hồn của chúng ta qua tình yêu của Ngài. Vì Chúa đã thương xót chúng ta, chúng ta cũng phải học tập thương xót anh chị em của mình. Chúng ta đã nhận được sự tha thứ thay vì án phạt, chúng ta cũng phải sẵn sàng tha thứ cho anh chị em của mình. Những điều Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta là những điều chúng ta mắc nợ anh chị em của mình. Hễ càng nhận lãnh bao nhiêu, chúng ta càng phải chia sẻ bấy nhiêu. Tình yêu-thương-anh-chị-em của chúng ta càng lạt lẽo bao nhiêu, chúng ta càng ít nương dựa vào sự thương xót và tình yêu thương của Đức Chúa Trời bấy nhiêu. Chính Đức Chúa Trời đã đích thân dạy chúng ta phương cách gặp nhau: Đức Chúa Trời đã tìm gặp chúng ta qua Chúa Giê-xu Cứu Thế. “Anh em hãy tiếp lấy nhau, cũng như Chúa Cứu Thế đã tiếp anh em, để Đức Chúa Trời được vinh quang” (RoRm 15:7).
Nhờ điểm này, trong khi sinh hoạt tương giao với nhau, ta có thể hiểu được giá trị của các tín hữu khác. Phao lô gọi Hội Thánh của mình là “các anh em trong Chúa” (Phi Pl 1:14). Sở dĩ tôi là anh, là chị, là em của người khác là nhờ qua Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Đối với người khác tôi là một người anh chị em nhờ những điều mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã làm cho tôi và với tôi; người khác đối với tôi trở thành người anh chị em nhờ những điều mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã làm cho và với người đó. Thật vậy, chúng ta trở thành anh chị em chỉ nhờ Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Đây là một sự thật có ý nghĩa rất sâu xa. Không phải một người kỉnh kiền, ăn nói sùng đạo, xưng hô tình nghĩa là anh chị em. Nhưng anh chị em là người đã được Chúa Giê-xu Cứu Thế cứu rỗi, được giải phóng khỏi tội lỗi, được kêu gọi đến đức tin và đến sự sống vĩnh hằng. Tất cả những điều một tín hữu có, trong nội tâm và lòng sùng đạo, không thể làm căn bản cho mối tương giao của chúng ta, nhưng những điều phát xuất từ Chúa Cứu Thế mới là yếu tố thẩm định. Mối tương giao của chúng ta đặt căn bản trên những điều Chúa Cứu Thế đã làm cho chúng ta, không phải chỉ trong buổi đầu để rồi với dòng thời gian tình nghĩa anh chị em sẽ đổi khác. Mối tương giao trong Chúa sẽ luôn luôn tồn tại trong tương lai và cho đến đời đời. Chúng ta tương giao và sẽ tương giao với anh chị em qua Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Mối tương giao của chúng ta càng chân thật, càng sâu đậm bao nhiêu, tất cả những yếu tố khác giữa chúng ta càng trở thành thứ yếu bấy nhiêu, và Chúa Giê-xu Cứu Thế và công khó của Ngài giữa chúng ta càng rõ ràng, càng tinh ròng bấy nhiêu. Chúng ta có nhau chỉ qua Chúa Cứu Thế, và qua Chúa Cứu Thế chúng ta mới thực sự có nhau, có nhau mãi mãi.
Ngoài ra nếu ta còn đòi hỏi điều nào khác nữa tức là ta đã gieo mầm mống chia rẽ ngay từ buổi đầu. Nếu ta muốn có nhiều hơn điều mà Chúa Cứu Thế đã ban cho mình, thì ta không thành tâm mong đợi tình anh chị em trong Chúa. Ta chỉ đi tìm những kinh nghiệm đặc biệt trong cộng đồng mà ta không nhận được ở những chỗ khác mà thôi. Ta muốn đem vào tình anh chị em trong Chúa những ước mong không rõ ràng và không tinh ròng. Trong trường hợp này tình anh chị em trong Chúa thường bị nguy cơ nhiễm độc từ trong ngay từ đầu. Nguyên nhân là vì ta lầm lẫn giữa tình anh chị em trong Chúa với hình ảnh lý tưởng của một cộng đồng sùng đạo, là vì ta đồng hoá những đòi hỏi tự nhiên của tâm hồn sùng đạo với thực chất tâm linh của tình anh chị em trong Chúa.
Về tình anh chị em trong Chúa, chủ yếu là ngay từ đầu ta phải hiểu rõ rằng:
Thứ nhất : Tình huynh đệ trong Chúa không phải là một lý tưởng , nhưng là một thực thể thiên thượng .
Thứ hai : Tình huynh đệ trong Chúa là một thực thể thuộc linh chứ không phải là một thực thể tâm lý .
Nhiều cộng đồng tín hữu tan rã vì đã sinh hoạt dựa vào một hình ảnh lý tưởng. Ngay cả những tín hữu tin kính nhiệt thành cũng thường có một hình ảnh cố định nào đó về cách sinh hoạt cộng đồng của người theo Chúa và cố gắng thực hiện hình ảnh đó. Nhưng nhờ ân sủng của Đức Chúa Trời nên tất cả những hình ảnh này đều không thể thực hiện được. Chúng ta phải vượt qua những nỗi thất vọng về người khác, về giới tín hữu nói chung và về chính mình để Đức Chúa Trời có thể hướng dẫn chúng ta nhận biết mối tương giao đích thực trong Chúa.
Bởi ân sủng, Chúa không để chúng ta - dù chỉ trong một thời gian ngắn - sống với những hình ảnh lý tưởng, đắm mình vào một kinh nghiệm vui thoả hoặc những cảm giác hạnh phúc nào đó. Đức Chúa Trời không bao giờ lợi dụng cảm xúc, nhưng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của chân lý. Chỉ khi nào cộng đồng thất vọng nhiều, những tội lỗi xấu xa ló dạng, lúc đó cộng đồng mới bắt đầu trở thành xứng đáng trước mặt Đức Chúa Trời, bắt đầu thấu đáo được Lời Hứa của Chúa dành cho mình trong đức tin. Nỗi thất vọng về cá nhân và về cộng đồng càng đến sớm chừng nào càng tốt chừng nấy. Một cộng đồng không chịu đựng nổi những nỗi thất vọng này sẽ không thể nào tồn tại được. Cộng đồng nào không dẹp bỏ, trái lại cố giữ những hình ảnh lý tưởng của mình, cộng đồng đó sẽ đánh mất Lời Hứa về sự sinh tồn dành cho một cộng đồng tín hữu. Cộng đồng đó không sớm thì muộn sẽ tan rã. Tất cả những hình ảnh lý tưởng của con người trong cộng đồng tín hữu đều cản trở sự tương giao chân thật; ta phải dẹp bỏ tất cả những hình ảnh lý tưởng đó để cộng đồng có thể sống thực. Ai yêu những mơ mộng của mình về một cộng đồng tín hữu nhiều hơn yêu chính cộng đồng tín hữu, người đó sẽ trở thành người phá hoại cộng đồng tín hữu, dầu rằng cá nhân người đó rất thành tâm, tin kính và hi sinh.
Đức Chúa Trời ghét mơ mộng; vì mơ mộng sinh kiêu ngạo và đòi hỏi nhiều. Ai mơ mộng một cộng đồng lý tưởng, người đó đòi hỏi Đức Chúa Trời, đòi hỏi người khác và đòi hỏi chính mình phải thực hiện những mơ mộng của mình. Người đó bước vào cộng đồng tín hữu với tư cách là người đòi hỏi, tự lập ra luật pháp riêng rồi dựa vào luật pháp đó phê chuẩn anh chị em và Đức Chúa Trời. Người đó cư xử khắt khe và là một người chỉ trích các anh chị em trong cộng đồng. Người đó hành động như thể mình vừa mới xây dựng cộng đồng, như thể hình ảnh lý tưởng của mình có thể nối kết mọi người. Những điều không hợp với ý muốn của mình, người đó cho là thất bại. Mơ mộng của người đó sụp đổ ở đâu, người đó cho là cộng đồng sụp đổ ở đó. Như thế người đó trước hết trở thành người kiện cáo anh chị em mình, rồi sau đó trở thành người kiện cáo Đức Chúa Trời, và cuối cùng trở thành người thất vọng kiện cáo chính mình.
Vì Đức Chúa Trời đã đặt một căn bản duy nhất cho cộng đồng của chúng ta, vì Đức Chúa Trời đã từ lâu nối kết chúng ta với các anh chị em khác trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, từ trước khi chúng ta bước vào mối tương giao với nhau, nên chúng ta không được bước vào cộng đồng với tư cách là người đòi hỏi, nhưng với tư cách là người cảm tạ và nhận lãnh. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời về những điều Ngài đã làm cho chúng ta. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời vì Ngài ban cho chúng ta các anh chị em là những người đang sống trong sự kêu gọi, trong sự tha thứ, trong Lời Hứa của Ngài. Chúng ta không than phiền về những điều mà Đức Chúa Trời không ban cho mình, nhưng cảm tạ Đức Chúa Trời về những điều Ngài ban cho mình mỗi ngày. Các anh chị em trong Chúa vốn là những con người tội lỗi, tuyệt vọng, nay được bước đi và sống trong phước hạnh của ân sủng Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những anh chị em đó, như vậy chưa đủ sao? Phải chăng những ân huệ mà Đức Chúa Trời ban cho cộng đồng tín hữu hằng ngày, kể cả trong những ngày khó khăn, nghèo khổ, ít giá trị hơn cộng đồng tín hữu? Lúc tội lỗi và hiểu lầm làm tổn thương sinh hoạt cộng đồng, phải chăng lúc đó người anh chị em tội lỗi không còn là anh chị em đang cùng với tôi sống trong Lời của Chúa Giê-xu Cứu Thế nữa sao? Và tội lỗi của người anh chị em không phải là một lý do mới để tôi cảm tạ Chúa rằng, tất cả chúng ta đều đang được sống trong tình yêu tha thứ của Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu Cứu Thế hay sao? Ngay cả lúc thất vọng về anh chị em của mình, lúc đó tôi không được bình an vô cùng sao? Vì lúc đó tôi học được rằng, tất cả chúng ta không bao giờ có thể sống nhờ lời nói và công đức riêng của mình, nhưng chỉ nhờ vào một Lời và một Công Đức đã nối kết chúng ta với chân lý, tức là nhờ sự tha thứ tội lỗi trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Khi những màn sương ban mai của mơ mộng tan đi, lúc đó ngày đẹp của mối tương giao trong Chúa bắt đầu.
Cũng như trong đời sống theo Chúa của mỗi cá nhân, cảm tạ là sinh hoạt chủ yếu trong cộng đồng tín hữu. Ai biết cảm tạ về việc nhỏ, người đó mới nhận được việc lớn. Chúng ta cản trở Đức Chúa Trời ban cho mình những ân tứ thuộc linh to lớn - mà Chúa dành sẵn cho chúng ta - vì chúng ta không cảm tạ về những điều chúng ta nhận lãnh hằng ngày. Chúng ta tưởng rằng mình không có quyền thoả mãn với những kiến thức, kinh nghiệm, tình yêu thuộc linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho mình trong khuôn khổ hạn hẹp. Chúng ta nghĩ mình phải luôn luôn khao khát những ân tứ to lớn. Rồi chúng ta phàn nàn rằng chúng ta thiếu hi vọng vững chắc, thiếu đức tin mạnh mẽ, thiếu kinh nghiệm già dặn mà Đức Chúa Trời đã ban cho các tín hữu khác. Chúng ta tưởng phàn nàn như vậy là thành tâm sùng đạo. Chúng ta cầu xin những việc lớn mà quên cảm tạ về những ân huệ nho nhỏ hằng ngày (nhưng thực ra không phải nhỏ!). Nhưng làm sao Đức Chúa Trời có thể giao cho chúng ta những sự việc to lớn trong khi chúng ta không biết cảm tạ nhận lãnh những sự việc nho nhỏ từ nơi Chúa. Nếu mỗi ngày chúng ta không cảm tạ về cộng đồng tín hữu mà Chúa đã đặt để chúng ta vào - cho dù cộng đồng không có kinh nghiệm đặc biệt, không giàu có cụ thể, mà chỉ có sự yếu đuối, đức tin nhỏ bé và nhiều nan đề mà thôi - thì chúng ta sẽ luôn luôn kiện cáo trước mặt Đức Chúa Trời về tất cả sự nghèo khổ, thiếu kém không tương ứng với điều chúng ta kỳ vọng; và như vậy chúng ta cản trở không để Đức Chúa Trời làm cho cộng đồng của chúng ta tăng trưởng theo tầm mức và sự giàu có mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã dành sẵn cho chúng ta.
Điểm này đặc biệt quan trọng đối với các vị Mục sư và những thành viên nhiệt tâm trong Hội Thánh, những người thường phàn nàn về Hội Thánh của mình. Mục sư không nên phàn nàn về Hội Thánh của mình, nhất là với người khác, cũng không được phàn nàn với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời giao phó Hội Thánh cho Mục sư không phải để Mục sư kiện cáo Hội Thánh trước mặt Ngài và trước mặt con người. Ai kiện cáo cộng đồng tín hữu của mình, người đó trước tiên phải tự xét lại, tự hỏi phải chăng chính hình ảnh lý tưởng của mình mới đáng bị Đức Chúa Trời phá huỷ. Nếu nhận thức như vậy, ta nên cảm tạ Đức Chúa Trời là Đấng đã hướng dẫn mình có được nhận thức này. Nếu nhận thức khác hơn, ta nên tránh trở thành người kiện cáo Hội Thánh của Đức Chúa Trời, nhưng tốt hơn kiện cáo chính mình về sự vô tín của mình. Ta phải xin Đức Chúa Trời cho mình thấy những thất bại và tội lỗi của riêng mình. Ta cần cầu xin Chúa đừng để mình phạm tội với anh chị em mình. Với ý thức mình cũng là một tội nhân, ta cầu thay cho các anh chị em mình. Như thế ta sẽ làm tròn bổn phận của mình và cảm tạ Đức Chúa Trời.
Cộng đồng tín hữu cũng tương tự như sự nên thánh của mỗi cá nhân tín hữu. Cộng đồng tín hữu là một món quà của Đức Chúa Trời tặng cho chúng ta tuy chúng ta không xứng đáng được hưởng. Chỉ có Đức Chúa Trời mới thấu đáo thực chất của cộng đồng chúng ta, cũng như chỉ có Ngài mới thấu đáo thực chất của sự nên thánh trong chúng ta. Những điều tuy có vẻ yếu đuối và tầm thường đối với chúng ta nhưng có thể là vĩ đại và vinh quang đối với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta cộng đồng tín hữu không phải để chúng ta mỗi ngày lo đo nhiệt độ của cộng đồng, cũng như người tín hữu không cần phải thường xuyên bắt mạch đời sống tâm linh của mình. Nếu chúng ta mỗi ngày càng biết ơn nhận lãnh những điều Đức Chúa Trời ban cho mình bao nhiêu, mỗi ngày cộng đồng sẽ càng tăng trưởng mạnh mẽ, đều đặn, và phát triển theo ý chỉ tốt lành của Đức Chúa Trời bấy nhiêu.
Tình anh chị em trong Chúa không phải là một tình yêu lý tưởng mà chúng ta phải thực hiện, nhưng là một thực thể do Đức Chúa Trời tạo dựng nên trong Chúa Cứu Thế. Chúng ta được dự phần vào thực thể này. Nếu chúng ta càng học biết thấu đáo rằng nền tảng, sức mạnh và Lời Hứa của cộng đồng tín hữu của tất cả chúng ta đều đặt trên Chúa Giê-xu Cứu Thế, chúng ta sẽ càng học tập suy nghĩ đến cộng đồng của chúng ta một cách bình thản hơn, rồi cầu nguyện và hi vọng cho cộng đồng.
Một thực thể thuộc linh, không phải là một thực thể tâm lý
Vì chỉ đặt nền tảng trên Chúa Giê-xu Cứu Thế nên cộng đồng tín hữu là một thực thể thuộc linh chứ không phải là một thực thể tâm lý. Đây là điểm phân biệt cộng đồng tín hữu với tất cả các cộng đồng khác.
Theo Kinh Thánh, “thuộc linh” là điều do Chúa Thánh Linh - Đấng đã ban Chúa Giê-xu Cứu Thế làm Chủ và Cứu Chúa trong tâm hồn chúng ta - tạo dựng nên. Còn “tâm lý” đến từ các bản năng, sức mạnh và tài năng thiên nhiên của linh hồn con người.
Căn bản của tất cả thực thể thuộc linh là Lời Đức Chúa Trời mạc khải rõ ràng trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Căn bản của tất cả thực thể tâm lý là những hoạt động và đòi hỏi đen tối, không tinh ròng của linh hồn con người. Căn bản của cộng đồng thuộc linh là chân lý, còn căn bản của cộng đồng tâm lý là dục vọng. Bản thể của cộng đồng thuộc linh là ánh sáng - vì “Đức Chúa Trời là ánh sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm” (IGi1Ga 1:5) và “nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta tương giao với nhau” (1:7). Bản thể của cộng đồng tâm lý là tối tăm - “vì thật là từ trong, từ lòng người mà ra những ác tưởng” (Mac Mc 7:21). Đó là sự tối tăm của đêm khuya, bao trùm trên những cội rễ của tất cả mọi hành động của con người xác thịt, cũng bao trùm trên tất cả các bản năng cao thượng và sùng đạo. Cộng đồng thuộc linh là cộng đồng của những người được Chúa Cứu Thế kêu gọi, còn cộng đồng tâm lý là cộng đồng của những linh hồn sùng đạo. Trong cộng đồng thuộc linh tình yêu sáng rực, là Agape, phục vụ anh chị em; còn trong cộng đồng tâm lý tình yêu tối tăm của bản năng vừa sùng đạo vừa vô đạo, tức là Eros, đốt cháy. Một bên là công tác phục vụ anh chị em một cách trong sáng rõ ràng, còn một bên là đòi hỏi thoả mãn không trong sáng rõ ràng. Một bên là khiêm nhường thuận phục anh chị em, còn một bên thì muốn anh chị em phải khiêm nhường thuận phục sự đòi hỏi của riêng mình. Trong cộng đồng thuộc linh chỉ có Lời Đức Chúa Trời hướng dẫn, trong cộng đồng tâm lý ngoài Lời Đức Chúa Trời còn có những con người có quyền hành, có kinh nghiệm, có ma lực thu hút đặc biệt. Một bên chỉ có Lời Đức Chúa Trời trói buộc, còn một bên ngoài Lời Đức Chúa Trời con người còn tự mình trói buộc mình. Một bên tất cả thế lực, vinh quang và quyền hạn đều ở trong Chúa Thánh Linh, còn một bên những người có quyền hành và có ảnh hưởng được quí trọng. Dĩ nhiên họ là những người sùng đạo, thành tâm thiện chí phục vụ, nhưng thực tế chỉ là soán ngôi Chúa Thánh Linh rồi đày Ngài đến một phương trời xa xăm vô tưởng. Ở đây chỉ có tâm lý mà thôi. Vì thế ở đó có Chúa Thánh Linh hướng dẫn, còn ở đây có kỹ thuật tâm lý, có phương pháp hướng dẫn. Ở đó có tình yêu chân thành giúp đỡ anh chị em, không có tâm lý, không có kỹ thuật, còn ở đây thì có phân tích và xây dựng tâm lý, ở đó có công tác phục vụ anh chị em một cách khiêm nhường, giản dị, còn ở đây có đối xử dò xét, tính toán của những con người xa lạ.
Có lẽ nhận xét sau đây giúp ta thấy điểm dị biệt giữa thực thể thuộc linh và thực thể tâm lý rõ ràng nhất. Trong cộng đồng thuộc linh không khi nào có sự liên hệ “trực tiếp” giữa một người với một người khác, còn trong cộng đồng tâm lý có sự đòi hỏi tương giao, đòi hỏi tiếp xúc trực tiếp với linh hồn người khác, một sự đòi hỏi tự nhiên, phát xuất từ đáy sâu của linh hồn con người. Dục vọng này của linh hồn con người đòi hỏi sự hoà hợp tuyệt đối giữa tôi với người hoặc bằng cách hợp nhất trong tình yêu, hoặc bằng cách ép buộc người khác phải khuất phục dưới quyền hành và ảnh hưởng của tôi. Người mạnh tâm lý được thoả mãn cùng cực và làm cho người yếu cảm phục, yêu thương hoặc sợ hãi. Ở đây những mối liên hệ, gợi cảm, lệ thuộc của con người đóng vai trò quan trọng, và tất cả những đặc điểm của một cộng đồng gián tiếp qua Chúa Cứu Thế cũng xuất hiện trong cộng đồng tâm lý trực tiếp, nhưng xuất hiện một cách méo mó.
Vì thế có loại tín hữu tâm lý. Tín hữu tâm lý bề ngoài giống như tin Chúa thực, nhưng thực ra tin Chúa do một người cố ý hoặc vô tình lạm dụng khả năng của mình làm cho một cá nhân hoặc cả một cộng đồng xúc động sâu xa đến nỗi bị lôi cuốn làm theo ý hướng của người đó. Trong trường hợp này linh hồn tác động trực tiếp trên linh hồn. Người yếu bị người mạnh chế ngự; trước ảnh hưởng của người mạnh, người yếu không còn sức kháng cự nữa. Người yếu bị cưỡng bức, chứ không thấu đáo vấn đề. Điểm này thể hiện rõ ràng khi người tin Chúa tâm lý có bổn phận phải thực hành những việc không liên quan hoặc mâu thuẫn với cá nhân của người mà mình chịu ảnh hưởng. Trong trường hợp này người tin Chúa tâm lý thất bại. Điều này cho thấy người đó hiển nhiên không tin Chúa nhờ Chúa Thánh Linh nhưng do ảnh hưởng của con người và vì thế không bền vững.
Cũng vậy, có loại tình-yêu-người-lân-cận tâm lý. Tình yêu này có khả năng hi sinh cực đoan, dấn thân tuyệt đối và kết quả còn cụ thể hơn tình yêu đích thực của Chúa Cứu Thế nữa. Tình yêu này thao thao bất tuyệt bằng ngôn ngữ của Chúa Cứu Thế. Nhưng đây là loại tình yêu mà Sứ đồ Phao lô đã nói: “Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi người nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt” - nghĩa là nếu tôi nối kết những hành động cụ thể nhất của tình yêu với sự hi sinh cụ thể nhất - “nhưng không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi” (ICo1Cr 13:3). Tình yêu tâm lý yêu tha nhân vì cớ bản thân mình, còn tình yêu thuộc linh yêu người khác vì Chúa Cứu Thế. Vì thế tình yêu tâm lý đi tìm sự tiếp xúc trực tiếp với người khác, không yêu người đang được tự do, nhưng yêu người đang bị mình trói buộc. Tình yêu này muốn thắng, muốn chiếm hữu, muốn lấn ép người khác bằng tất cả mọi phương tiện. Tình yêu này không muốn ai kháng cự, chỉ muốn thống trị.
Tình yêu tâm lý không quí trọng nhưng tương đối hoá chân lý, vì tình yêu này không muốn điều gì, kể cả chân lý, xen vào mối liên hệ giữa mình và người mình yêu. Tình yêu tâm lý khát khao người khác, khát khao mối tương giao và tình yêu của người khác, nhưng không phục vụ người khác. Đã vậy, tình yêu tâm lý lại còn thích phục vụ giả dối nữa.
Điểm dị biệt giữa tình yêu thuộc linh và tình yêu tâm lý nằm trên hai bình diện. Hai bình diện này tuy hai nhưng thực ra chỉ là một, đó là: tình yêu tâm lý không bao giờ sẵn sàng chấp nhận để cho mối tương giao giả tạo của mình đổ vỡ rồi xây dựng lại một mối tương giao chân thật, và tình yêu tâm lý không thể yêu kẻ thù vì kẻ thù chống cự tình yêu này rất mãnh liệt.
Cả hai đều phát xuất từ một nguồn: tình yêu tâm lý tự bản năng là tham muốn, tức là tham muốn mối tương giao tâm lý. Hễ khi nào tình yêu tâm lý còn thoả mãn được lòng tham muốn này thì còn tham muốn, bất kể chân lý, cũng bất kể tình yêu tha nhân đích thực. Còn hễ khi nào loại tình yêu này không thể thoả mãn được lòng tham muốn của mình nữa thì tình yêu sẽ chấm dứt, tức là chấm dứt yêu kẻ thù. Lúc đó tình yêu đổi thành thù ghét, khinh thường và vu khống..
Nhưng lúc đó cũng là lúc mà tình yêu thuộc linh bắt đầu. Vì thế hễ khi nào tình yêu tâm lý đối diện với tình yêu thuộc linh thì đổi thành ghen ghét cá nhân, vì tình yêu thuộc linh không tham muốn nhưng phục vụ. Tình yêu tâm lý lấy chính mình làm mục tiêu, làm thành quả, làm thần tượng để tôn sùng và bắt tất cả cũng phải phục tùng. Tình yêu này chỉ chăm sóc, trang điểm và yêu thương chính bản thân mình mà thôi. Nhưng tình yêu thuộc linh phát xuất từ Chúa Cứu Thế. Tình yêu này phục vụ chỉ một mình Chúa, và biết rằng chính mình không thể trực tiếp đến với tha nhân được.
Chúa Cứu Thế đứng giữa tôi và người. Tôi không biết tình yêu tha nhân là gì. Vì đối với Chúa Cứu Thế, khái niệm phổ thông về tình yêu phát xuất từ sự đòi hỏi của linh hồn tôi chỉ là lòng ghen ghét và tính vị kỷ xấu xa mà thôi. Chỉ có Chúa Cứu Thế mới có thể lý giải bằng ngôn ngữ của Ngài cho tôi hiểu tình yêu là gì. Chúa Giê-xu Cứu Thế dạy cho tôi biết tình yêu anh chị em trong chân lý hoàn toàn trái ngược với ý tưởng và sự suy nghĩ của tôi. Vì thế tình yêu thuộc linh liên hệ mật thiết với Lời của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Hễ khi nào Chúa Cứu Thế vì cớ tình yêu muốn giữ tôi lại trong mối tương giao thì tôi ở lại trong mối tương giao, còn hễ khi nào chân lý của Ngài vì cớ tình yêu đòi hỏi tôi chấm dứt mối tương giao thì tôi chấm dứt dù rằng tình yêu tâm lý của tôi phản đối mãnh liệt. Sở dĩ tình yêu thuộc linh có thể yêu kẻ thù như yêu anh chị em vì tình yêu thuộc linh không tham muốn nhưng phục vụ, không phát xuất từ anh chị em hoặc từ kẻ thù nhưng phát xuất từ Chúa Cứu Thế và từ Lời của Ngài. Tình yêu tâm lý không bao giờ có thể hiểu tình yêu thuộc linh được; vì tình yêu thuộc linh đến từ trên, đối với tất cả các tình yêu trần tục hoàn toàn là sự lạ, là việc mới, là điều khó hiểu.
Vì Chúa Cứu Thế đứng giữa tôi với tha nhân nên tôi không có quyền đòi hỏi tương giao trực tiếp với tha nhân. Chúa Cứu Thế đã dạy tôi biết rằng, cũng như Chúa đã giúp đỡ tôi, chỉ có chính Chúa mới có thể giúp đỡ tha nhân mà thôi. Điều này có nghĩa là tôi phải để cho người khác tự do, không dùng tình yêu thương của mình chỉ định, cưỡng bách, quản lý người khác. Khi người khác được tự do, không lệ thuộc tôi, người đó sẽ kinh nghiệm được tình yêu trong cương vị của người. Vì Chúa Cứu Thế yêu thương người nên đã trở thành Người cho người. Chúa đã chết và đã sống lại cho người. Chúa đã tha tội cho người và sửa soạn cho người một sự sống vĩnh cửu. Vì Chúa Cứu Thế đã từ lâu hành động cụ thể cho người anh chị em của tôi, từ trước khi tôi có thể bắt đầu hành động, nên tôi phải để người anh chị em của tôi được tự do cho Chúa. Người anh chị em của tôi chỉ nên đối diện với tôi trên cương vị của một người sống cho Chúa mà thôi. Đó là ý nghĩa của câu nói chúng ta chỉ có thể gặp gỡ tha nhân qua trung gian của Chúa Cứu Thế. Tình yêu tâm lý tự phác hoạ cho mình một hình ảnh về tha nhân: người đó phải và sẽ phải như thế nào. Tình yêu này nắm lấy sự sống của tha nhân trong bàn tay mình. Nhưng nhờ Chúa Giê-xu Cứu Thế tình yêu thuộc linh có thể nhận ra được hình ảnh đích thực của tha nhân. Đó là hình ảnh mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã và muốn tạo cho người.
Vì thế tình yêu thuộc linh thận trọng trong lời nói và việc làm với tha nhân, chỉ nói chỉ làm những điều Chúa Cứu Thế dạy bảo mà thôi. Tình yêu này không làm cho tha nhân xao xuyến tinh thần bằng cách gây ảnh hưởng một cách quá riêng tư, trực tiếp, bằng cách xen vào cuộc sống của tha nhân một cách bất khiết, không mừng khi thấy tha nhân sùng đạo thái quá. Nhưng tình yêu này sẽ đối diện với người bằng Lời của Đức Chúa Trời một cách rõ ràng và sẵn sàng để cho người một mình đối diện với Lời của Chúa trong một thời gian dài để người được tự do, để Chúa Cứu Thế tác động trong người. Tình yêu này sẽ tôn trọng ranh giới của người. Đó là ranh giới mà Chúa Cứu Thế đã phân chia giữa chúng ta. Và tình yêu này sẽ tìm được mối tương giao hoàn toàn với tha nhân trong Chúa Cứu Thế là Đấng duy nhất nối kết và hợp nhất chúng ta. Vì thế tình yêu này sẽ thưa với Chúa Cứu Thế về người anh chị em nhiều hơn là nói với người anh chị em về Chúa. Tình yêu này biết rằng, con đường ngắn nhất dẫn đến tha nhân luôn luôn dẫn xuyên qua sự cầu nguyện với Chúa Cứu Thế và rằng, tình yêu tha nhân hoàn toàn nối chặt với chân lý trong Chúa Cứu Thế. Phát xuất từ tình yêu này, môn đệ Giăng đã nói: “Tôi nghe con cái tôi làm theo chân lý, thì không còn có điều gì vui mừng hơn nữa”(III Giăng 4).
Tình yêu tâm lý sống nhờ những dục vọng mờ ám không được kiểm soát và không thể kiểm soát được. Tình yêu thuộc linh sống trong sự trong sáng của việc làm do chân lý thúc đẩy. Tình yêu tâm lý tạo ra nô lệ, ràng buộc, gắng gượng, tình yêu thuộc linh tạo ra tự do cho anh chị em trong Lời Chúa.
Tình yêu tâm lý vun trồng những đoá hoa giả tạo, tình yêu thuộc linh sinh bông kết trái , xanh chín dưới bầu trời của Đức Chúa Trời, dưới mưa, bão và mặt trời theo ý muốn tốt lành của Ngài.
Đối với tất cả các cộng đồng tín hữu, vấn đề sinh tồn là kịp thời nhận thức điểm dị biệt giữa lý tưởng con người và thực thể thiên thượng, giữa mối tương giao thuộc linh và mối tương giao tâm lý. Vấn đề sống chết của một cộng đồng tín hữu là sớm ý thức được điểm này. Nói một cách khác: một cộng đồng sống theo Lời Chúa chỉ lành mạnh khi cộng đồng đó không phải là một phong trào, một dòng tu, một hội đoàn, một collegium pietatis, nhưng là một phần của Một Hội Thánh Phổ thông của Chúa và chia sẻ với toàn thể Hội Thánh nỗi khó khăn, cuộc chiến đấu và Lời Hứa của Chúa. Những nguyên tắc tuyển chọn và thanh lọc người không dựa vào nhận xét khách quan trong khi làm việc chung với nhau nhưng dựa vào mối liên hệ gia đình và kỳ thị địa phương đều là mối nguy hiểm cho cộng đồng tín hữu. Trên con đường tuyển chọn về phương diện tinh thần và thuộc linh, yếu tố tâm lý luôn luôn mò vào, cướp mất tiềm năng thuộc linh của cộng đồng và hiệu năng của Hội Thánh, rồi đẩy Hội Thánh đến chỗ lạc đạo. Loại trừ những người yếu đuối, kém quan trọng, và những người có vẻ vô dụng ra khỏi một cộng đồng tín hữu tức là loại trừ Chúa Cứu Thế là Đấng đang gõ cửa lòng của những người anh chị em đau khổ đó. Vì thế chúng ta cần thận trọng về điểm này.
Nếu không nhận xét cẩn thận ta có thể nghĩ rằng, lý tưởng và thực thể, yếu tố tâm lý và yếu tố thuộc linh dễ hoà đồng với nhau nhất trong một cộng đồng gồm có nhiều thành phần khác nhau, cụ thể là trong hôn nhân, gia đình, tình bạn, nghĩa là khi yếu tố tâm lý đóng vai trò then chốt trong sự hình thành của cộng đồng, còn yếu tố thuộc linh chỉ đóng vài trò bổ sung mà thôi. Ta tưởng rằng, chỉ trong những cộng đồng như vậy hai yếu tố này mới dễ bị lẫn lộn hoặc hoà đồng với nhau, còn những cộng đồng hoàn toàn thuộc linh không bị mối nguy hiểm này đe doạ. Nhưng nghĩ như vậy là lầm. Kinh nghiệm cho thấy thực tế hoàn toàn khác hẳn. Một cuộc hôn nhân, một gia đình, một tình bạn thường thấu đáo ranh giới của những yếu tố xây dựng mối tương giao của mình; nếu lành mạnh, những cộng đồng này biết rõ ranh giới giữa yếu tố tâm lý và yếu tố thuộc linh nằm ở đâu. Những cộng đồng này biết rằng sự tương giao thuộc thể-tâm lý trái ngược với sự tương giao thuộc linh. Trái lại trong một cộng đồng hoàn toàn có tính cách thuộc linh yếu tố tâm lý rất dễ xen vào và hoà đồng. Một cộng đồng hoàn toàn thuộc linh chẳng những rất nguy hiểm nhưng cũng rất bất thường. Nếu một cộng đồng thuộc linh không có yếu tố thuộc thể-gia đình hoặc không có sự tương giao qua công việc, nếu không có những sinh hoạt hằng ngày với tất cả những nhu cầu đòi hỏi của những con người đang tích cực hoạt động, thì ở đó ta phải cẩn thận và cảnh giác.
Có lẽ tất cả mọi tín hữu đều được Đức Chúa Trời ban cho ít nhất một lần trong đời cái kinh nghiệm phước hạnh khó quên về mối tương giao chân thật với các anh chị em trong Chúa. Nhưng kinh nghiệm này không gì khác hơn là ân huệ Chúa ban thêm bên cạnh thức ăn hằng ngày mà Chúa ban cho sự sống của cộng đồng tín hữu. Chúng ta không xứng đáng nhận được những kinh nghiệm này, và chúng ta không sinh hoạt với các tín hữu khác vì cớ những kinh nghiệm này. Yếu tố nối kết chúng ta lại với nhau không phải là kinh nghiệm về tình anh chị em nhưng là niềm tin vững chắc nơi tình anh chị em trong Chúa. Đức Chúa Trời đã và sẽ hành động trên tất cả chúng ta. Trong đức tin chúng ta nắm chắc món quà vô giá này. Đây là món quà làm cho chúng ta vui mừng và hạnh phúc, cũng làm cho chúng ta sẵn sàng từ khước tất cả các kinh nghiệm mà Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta. Chúng ta liên hệ với nhau không phải trong kinh nghiệm nhưng trong đức tin.
“Kìa, anh em sống hoà thuận với nhau, thật tốt đẹp thay!” (Thi Tv 133:1). Đó là lời Kinh Thánh khen tặng những cộng đồng sống theo Lời Chúa. Nếu nghiêm túc lý giải từ “hoà thuận”, câu Kinh Thánh này có nghĩa: “Nếu anh chị em sống với nhau trong Chúa Cứu Thế”; vì chỉ có Chúa Giê-xu Cứu Thế duy nhất là sự hoà thuận của chúng ta. “Chúa là sự bình an của chúng ta” (Eph Ep 2:14). Chúng ta đến với nhau, vui với nhau và tương giao với nhau chỉ nhờ Chúa mà thôi.

Một Ngày Với Tha Nhân
Lạy Chúa! Lúc sương mai còn đọng
chúng con đồng thờ phượng Chúa cao sang.
Buổi tối, lúc mặt trời đà lặn
chúng con đồng hiệp nguyện hướng về Ngài.
Xin dâng lên lời ca tôn đại Chúa
hiện nay và mãi mãi đời đời.
(Luther, dựa theo Ambrosius)

Một ngày bắt đầu
“ Hãy để cho Lời Chúa Cứu Thế sống động trong anh em” (CoCl 3:16).
Một ngày trong thời Cựu ước bắt đầu vào buổi tối và chấm dứt vào chiều hôm sau, lúc mặt trời lặn. Đó là thời gian mong đợi.
Một ngày trong thời Tân ước bắt đầu vào lúc hừng đông và chấm đứt vào sáng hôm sau lúc ánh sáng ban mai vừa loé. Đó là thời gian ứng nghiệm, thời gian phục sinh của Chúa. Chúa sinh ra vào ban đêm, ánh sáng đi vào bóng tối. Khi Chúa Cứu Thế đau thương và chịu chết trên cây thập tự, giữa trưa đã trở thành giữa khuya. Nhưng khi Chúa Cứu Thế chiến thắng mộ phần, lúc đó là hừng đông của buổi sáng phục sinh. Bài ca ca tụng “Mặt trời công chính” của Hội Thánh Cải chánh có lời như sau:
“Buổi sáng sớm, lúc mặt trời mọc,
Chúa Cứu Thế của tôi phục sinh;
đánh đuổi tội lỗi của đêm khuya,
đem lại ánh sáng, sự cứu rỗi và sự sống.
Ha lê lu gia!”
Đó là mặt trời mọc lên cho Hội Thánh đang mong đợi (MaMl 4:2), và “những người yêu mến Chúa được giống như mặt trời, mọc lên rực rỡ” (Cac Tl 5:31).
Ban mai thuộc về Hội Thánh của Chúa Cứu Thế Phục sinh. Lúc ánh sáng vừa loé là lúc Hội Thánh kỷ niệm buổi sáng sớm ngày hôm đó, buổi sáng Chúa chiến thắng cái chết, ma quỉ và tội lỗi, buổi sáng Chúa ban sự sống mới và sự cứu rỗi cho con người.
Ngày nay chúng ta, những người không còn sợ hãi, cũng không quí trọng đêm tối như người xưa nữa, còn có thể cảm thông được niềm vui mừng của các vị thánh tổ và của Hội Thánh đầu tiên khi ánh sáng ban mai vừa loé không? Chúng ta cần học tập ca tụng Đức Chúa Trời Ba Ngôi vào mỗi buổi sáng tinh sương. Chúng ta ca tụng Chúa Cha là Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hoá đã bảo vệ sự sống của chúng ta trong đêm tối và đánh thức chúng ta dậy để sống một ngày mới. Chúng ta ca tụng Chúa Con là Đức Chúa Trời, Cứu Chúa của nhân loại, Đấng đã chiến thắng mộ phần và địa ngục cho chúng ta, và là Đấng Thắng đang sống giữa chúng ta. Chúng ta ca tụng Chúa Thánh Linh là Đức Chúa Trời, Đấng vào lúc trời còn tinh sương ban Lời của Đức Chúa Trời làm ánh sáng soi sáng tâm hồn chúng ta, đánh đuổi bóng tối và tội lỗi ra khỏi cuộc đời chúng ta, và dạy chúng ta cầu nguyện. Nếu biết ca tụng Chúa như thế, chúng ta sẽ linh cảm được niềm vui của các anh chị em sống hoà thuận với nhau, sau một đêm dài họp lại với nhau vào buổi sáng sớm để cùng nhau ca tụng Chúa, cùng nhau nghe Lời Chúa và cùng nhau cầu nguyện. Ban mai không thuộc về cá nhân một người nhưng là của toàn thể Hội Thánh của Đức Chúa Trời Ba Ngôi. Ban mai thuộc về gia đình tín hữu, thuộc về các cộng đồng anh chị em trong Chúa. Các bản thánh ca cổ của Hội Thánh ca tụng Đức Chúa Trời vào ban mai vẫn còn văng vẳng. Các anh chị em vùng Boehmen đã ca rằng:
Ban ngày đánh đuổi đêm tối;
hỡi tín hữu Chúa Cứu Thế,
hãy tỉnh táo và thức dậy,
ca tụng Chúa Trời, là Chúa.
Hãy nhớ, Chúa là Chúa Trời
dựng bạn theo hình tượng Chúa,
để bạn dễ nhận ra Ngài.

Ban ngày bắt đầu và ló dạng,
Ôi Chúa, chúng con ca tụng Chúa,
Chúng con cám ơn Chúa yêu quí,
Đã gìn giữ chúng con trong đêm.
Xin gìn giữ chúng con hôm nay
Là những người hành hương đau khổ,
Xin giúp, xin gìn và xin giữ,
Để chúng con tránh mọi xấu xa.

Vì ánh sáng ban ngày đã rọi,
Anh em hỡi, hãy cùng cảm tạ
Đức Chúa Trời nhân lành, từ bi
Bảo vệ chúng ta trong đêm tối.
Lạy Chúa, chúng con xin dâng hiến
Lời nói, việc làm và ước nguyện.
Xin Chúa dùng theo ý muốn Chúa,
để công việc chúng con tốt đẹp.
Một cộng đồng sống theo Lời Chúa cần bắt đầu buổi sáng sớm bằng một Lễ Thờ Phượng chung. Toàn thể cộng đồng họp lại để ca tụng và cảm tạ, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Lời cầu nguyện và lời ca vang lên, xuyên qua sự yên tĩnh của ban mai. Sau một đêm dài yên lặng chúng ta sẽ dễ cảm nhận lời ca và Lời Chúa hơn. Kinh Thánh dạy rằng, ý nghĩ và lời nói đầu tiên trong một ngày của Chúa phải là: “Buổi sáng Chúa sẽ nghe tiếng con, buổi sáng con sẽ trình bày duyên cớ con trước mặt Chúa” (Thi Tv 5:3), “Buổi sáng lời cầu nguyện con sẽ thấu đến trước mặt Chúa” (Thi Tv 88:13), “Hỡi Đức Chúa Trời, lòng con tin chắc, lòng con tin chắc; con sẽ hát, phải, con sẽ hát ngợi khen. Hỡi vinh quang ta, hãy tỉnh thức! Hỡi cầm sắt, hãy tỉnh thức! Chính mình ta sẽ tỉnh thức thật sớm” (57:7-8). Vào lúc bình minh người tín hữu khao khát Đức Chúa Trời: “Con thức trước rạng đông và kêu cầu; con trông cậy nơi Lời Chúa” (119:147). “Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời con, vừa sáng con tìm cầu Chúa; Trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước, linh hồn con khát khao Chúa, thân thể con mòn mỏi về Chúa” (Thi Tv 63:1).
Sách “Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn” dạy: “Người ta biết rằng phải cảm tạ Chúa trước khi mặt trời mọc, và đi gặp Chúa trước khi ánh sáng chiếu” (Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn 16:28), và sách Giê-xu Si-rách khuyên dạy riêng các thầy giáo luật phải “nhớ thức dậy sớm để tìm kiếm Chúa là Đấng đã dựng nên mình và cầu nguyện trước mặt Chúa Chí Cao” (Giê-xu Si-rách 39:6).
Kinh Thánh cũng mô tả ban mai là thời gian Chúa giúp đỡ đặc biệt. Đối với một thành phố thuộc về Chúa, “Đức Chúa Trời ở giữa thành phố ấy; thành phố ấy sẽ không bị rúng động. Vừa rạng đông Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ nó” (Thi Tv 46:5). Và: “Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm” (CaAc 3:23).
Người tín hữu không nên bắt đầu ngày mới với những quay cuồng vội vã của cuộc đời. Chúa là Đấng dựng nên ngày mới và cai quản ngày mới ấy. Bóng tối mập mờ của ban đêm mơ mộng sẽ nhường chỗ cho ánh sáng của Chúa Cứu Thế và Lời của Ngài. Tất cả những sự hỗn độn, bất khiết, lo lắng, sợ hãi đều biến mất. Cho nên vào buổi sáng sớm, có nhiều ý nghĩ và lời nói vô ích không cần phải thốt ra. Ý nghĩ và lời nói đầu tiên phải là Ý và Lời của Chúa, của Cứu Chúa của cuộc đời chúng ta. “Con đang ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Chúa Cứu Thế sẽ chiếu sáng con” (Eph Ep 5:14).
Kinh Thánh tường thuật rằng, các tôi tớ của Chúa như Áp-ra-ham, Gia-cốp, Môi-se, Giô-suê đã thức dậy sớm để tìm kiếm Chúa và thực hiện mạng lịnh của Ngài (xem SaSt 19:27; 22:3; XuXh 8:16; 9:13; 24:4; Gios Gs 3:1; 6:12 v.v.!).
Các sách Phúc Âm tường thuật rằng, Chúa Giê-xu “sáng hôm sau, trời còn mờ mờ, thức dậy, bước ra, đi vào nơi vắng vẻ, và cầu nguyện tại đó” (Mac Mc 1:35).
Có người thức dậy sớm vì lo lắng và thiếu bình an. Kinh Thánh dạy rằng: “Uổng công thay cho các con thức dậy sớm, đi ngủ trễ, và ăn bánh lao khổ” (Thi Tv 127:2). Thức dậy sớm vì yêu Chúa mới đáng quí. Đó là thói quen của các tôi tớ Chúa trong Kinh Thánh.
Giờ tĩnh nguyện chung vào buổi sáng gồm có phần đọc Kinh Thánh, hát Thánh ca và cầu nguyện. Một cộng đồng càng có nhiều thành phần khác nhau, giờ tĩnh nguyện buổi sáng càng cần phải linh động. Đó là điểm rất cần thiết. Một cộng đồng gia đình có trẻ con cần tĩnh nguyện khác với các nhà thần học. Ta không thể đem giờ tĩnh nguyện của một cộng đồng này đến áp dụng cho một cộng đồng khác; giờ tĩnh nguyện của các nhà thần học không thể giống như giờ tĩnh nguyện của một gia đình có trẻ con.
Tuy nhiên, mỗi giờ tĩnh nguyện chung đều gồm có:
Lời của Kinh Thánh ,
Bài ca của Hội Thánh ,
Lời cầu nguyện của cộng đồng .
Sau đây chúng ta cùng bàn với nhau về những điểm này.
Sự mầu nhiệm của Thi thiên
Kinh Thánh Tân ước dạy chúng ta “Hãy dùng ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau” (Eph Ep 5:19) và “dùng những ca vịnh, thơ thánh, bài hát thiêng liêng, mà dạy và khuyên nhau” (CoCl 3:16).
Từ xưa, phần cầu nguyện bằng Thi thiên đóng một vai trò rất quan trọng trong Hội Thánh. Nhiều Hội Thánh bắt đầu Lễ Thờ Phượng bằng Thi thiên. Nhưng rất tiếc ngày nay chúng ta đã đánh mất vai trò quan trọng của Thi thiên. Thi thiên giữ một vai trò đặc biệt trong toàn bộ Kinh Thánh. Thi thiên là Lời của Đức Chúa Trời, và đồng thời, ngoại trừ một vài ngoại lệ, cũng là lời cầu nguyện của con người. Tại sao Lời Đức Chúa Trời cũng là lời của con người?
Ngoài câu hỏi này ta còn có thêm một nhận xét: Nếu cầu nguyện bằng Thi thiên, lúc đầu ta có thể dùng Thi thiên làm lời cầu nguyện của riêng mình, nhưng đến một Thi thiên nào đó, ta tự cảm thấy không thể dùng Thi thiên làm lời cầu nguyện của riêng mình được. Điển hình là những Thi thiên nói về sự vô tội, về sự tha thứ, và một vài Thi thiên nói về sự thương khó. Nhưng những lời cầu nguyện này là Lời của Chúa Thánh Linh. Người tín hữu không thể viện một lý do mơ hồ nào mà cho rằng những lời này đã lỗi thời hoặc thuộc về thời “tiền tôn giáo”. Như vậy, ta không thể hiểu, mà cũng không thể cầu nguyện bằng những Lời Kinh Thánh này. Ta có thể đọc, nghe, có thể kinh ngạc và hứng khởi về những Lời này, nhưng những Lời này vẫn là lời cầu nguyện của một Người khác. Ta không thể cầu nguyện bằng những Lời này, mà cũng không thể loại bỏ những Lời này ra ngoài Kinh Thánh.
Trong trường hợp này, đáng lẽ ta nên tự nhủ rằng, trước hết ta cầu nguyện bằng những Thi thiên mà mình có thể hiểu được. Đáng lẽ ta nên tạm gác lại những điểm khó hiểu trong Kinh Thánh mà trở về với những điểm giản dị và dễ hiểu trước.
Tuy nhiên, chính điểm khó hiểu này cho phép ta có một cái nhìn sơ khởi vào sự mầu nhiệm của Thi thiên. Ta cầu nguyện bằng những Thi thiên đó nhưng không dám cầu bằng môi miệng, mà phải lắp bắp và sợ hãi. Điều này cho phép ta suy diễn rằng, Người cầu nguyện bằng Thi thiên phải là một Người khác hẳn chúng ta, là Người quả quyết mình vô tội, là Người dám kêu nài toà án của Đức Chúa Trời, là Người đã chịu đau khổ cùng tận. Người đó không ai khác hơn là chính Chúa Giê-xu Cứu Thế. Chính Chúa là Người cầu nguyện bằng những Thi thiên đó và bằng tất cả các Thi thiên. Kinh Thánh Tân ước và Hội Thánh đã nhận biết và minh chứng điều này. Con người Giê-xu Cứu Thế, Con Người thấu đáo đau khổ, nghèo khó và bệnh tật, cũng là Đấng hoàn toàn vô tội và công chính, cầu nguyện bằng Thi thiên qua môi miệng của Hội Thánh. Thi thiên như vậy đích thực là Lời Cầu nguyện của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Chúa đã cầu nguyện bằng Thi thiên, và Thi thiên đã trở thành Lời Cầu nguyện muôn đời của Chúa. Đó là lý do tại sao Thi thiên vừa là lời cầu nguyện với Chúa vừa là Lời của chính Chúa. Vì ở đây Chúa Cứu Thế vừa cầu nguyện vừa gặp gỡ chúng ta. Chúa Giê-xu Cứu Thế cầu nguyện bằng Thi thiên trong Hội Thánh của Ngài. Hội Thánh của Chúa và mỗi cá nhân cũng cầu nguyện, nhưng chỉ cầu nguyện thực sự khi Chúa Cứu Thế cầu nguyện qua Hội Thánh và qua mỗi cá nhân. Người cầu nguyện không nhân danh chính mình mà cầu nguyện, nhưng nhân danh Chúa Giê-xu Cứu Thế. Người cầu nguyện không cầu nguyện vì nhu cầu thiên nhiên, nhưng cầu nguyện vì mang hình hài của con người Cứu Thế, cầu nguyện dựa trên Lời cầu nguyện của con người Giê-xu Cứu Thế. Chỉ nhờ đó mà lời cầu nguyện mới được nhậm. Vì Chúa Cứu Thế cũng cầu nguyện Thi thiên - Cầu nguyện của mỗi cá nhân và của Hội Thánh trước Ngôi Đức Chúa Trời, và hơn nữa, vì những người cầu nguyện ở đây hoà mình vào Lời Cầu nguyện của Chúa Giê-xu Cứu Thế, nên lời cầu nguyện vang đến tai Đức Chúa Trời. Như thế, Chúa Cứu Thế trở thành Đấng Cầu Thay của chúng ta.
Thi thiên là Lời Cầu nguyện của Chúa Cứu Thế cầu thay cho Hội Thánh của Ngài. Nay Chúa Cứu Thế ở với Chúa Cha, nhưng những con người mới của Chúa Cứu Thế, Thân-thể-Chúa-Cứu-Thế-trên-trần-thế, tiếp tục cầu nguyện Lời Cầu nguyện của Chúa cho đến khi thời gian chung kết. Lời Cầu nguyện của Chúa không phải là lời riêng của một chi thể, mà là lời của toàn Thân-thể-Chúa-Cứu-thế. Lời Thi-thiên mà một cá nhân không thể hiểu và không thể dùng làm lời cầu nguyện của riêng mình sẽ trở thành sống động qua toàn thể Hội Thánh. Vì thế cầu nguyện bằng Thi thiên là cách cầu nguyện đặc biệt của cộng đồng. Nếu một câu hoặc một Thi thiên không thể là lời cầu nguyện của riêng tôi thì câu hoặc Thi thiên đó sẽ là lời cầu nguyện của một người khác trong cộng đồng. Như vậy lời cầu nguyện mới đích thực là lời cầu nguyện của con người Giê-xu Cứu Thế đích thực và của Thân-thể-Chúa-trên-trần-thế.
Qua Thi thiên chúng ta học tập cầu nguyện dựa trên Lời Cầu nguyện của Chúa Cứu Thế. Thi thiên là một trường học dạy cầu nguyện.
Ở đây, chúng ta học được điểm thứ nhất : Cầu nguyện là gì? Cầu nguyện là dựa vào Lời Đức Chúa Trời, là cầu nguyện dựa vào Lời Hứa. Lời cầu nguyện của tín hữu đặt căn bản trên Lời Chúa đã mạc khải chứ không có liên hệ đến những ước muốn vị kỷ của con người. Chúng ta cầu nguyện dựa vào lời cầu nguyện của con người đích thực Giê-xu Cứu Thế. Kinh Thánh dạy, rằng Chúa Thánh Linh cầu nguyện trong và cho chúng ta, rằng Chúa Cứu Thế cầu nguyện cho chúng ta, rằng chúng ta chỉ có thể cầu nguyện thực sự với Đức Chúa Trời trong danh Chúa Giê-xu Cứu Thế.
Điểm thứ hai chúng ta học được từ lời cầu nguyện bằng Thi thiên là chúng ta nên cầu nguyện gì. Phạm vi của Thi thiên chắc chắn rộng lớn hơn kinh nghiệm của mỗi cá nhân chúng ta. Tuy nhiên trong đức tin, mỗi cá nhân đều có thể cầu nguyện tất cả những lời cầu nguyện của Chúa Cứu Thế. Đó là những lời cầu nguyện của con người đích thực và chỉ có Chúa mới có được những kinh nghiệm trong những lời cầu nguyện này.
Chúng ta có thể cầu nguyện bằng những Thi thiên nói về sự trả thù không? Vì là tội nhân và vì khi đọc những Thi thiên nói về sự trả thù chúng ta thường có ngay những ý tưởng gian ác nên đáng lẽ chúng ta không thể dùng những Thi thiên này để cầu nguyện. Nhưng Chúa Cứu Thế - Đấng đã chịu tất cả những sự trả thù của Đức Chúa Trời thay cho chúng ta, Đấng đã tha thứ cho kẻ thù, Đấng chịu sự trả thù để kẻ thù được tự do - ở trong chúng ta nên chúng ta, những chi thể của Chúa, có thể dùng những Thi thiên nói về sự trả thù để cầu nguyện, cầu nguyện qua và từ tâm hồn của Chúa.
Chúng ta có thể dùng Thi thiên để tự xưng mình vô tội, sùng đạo và công chính không? Thực ra, tự sức chúng ta, chúng ta không thể dùng những Thi thiên nói về sự vô tội, sùng đạo và công chính làm lời cầu nguyện của tâm hồn tráo trở của mình được. Nhưng chúng ta có thể và phải dùng những Thi thiên đó để cầu nguyện với tâm hồn vô tội và trong sạch của Chúa Giê-xu Cứu Thế, và với sự vô tội của Chúa mà chúng ta được phép dự phần trong đức tin; vì “huyết và sự công chính của Chúa Cứu Thế là trang sức và áo choàng của chúng ta” nên chúng ta có thể và nên cầu nguyện bằng những Thi thiên này. Qua Chúa những Thi thiên này cũng thuộc về chúng ta.
Chúng ta không thể hiểu, không thể biết được ý nghĩa của những Thi thiên nói về sự thương khó, chúng ta có thể cầu nguyện bằng những Thi thiên đó không? Chúng ta cần cầu nguyện bằng những Thi thiên nói về sự thương khó, không phải để dấn thân vào những điều mà mình không có kinh nghiệm, cũng không phải để tự than thân trách phận, nhưng vì những sự thương khó này đích thực và có thực trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, vì con người Giê-xu Cứu Thế đã chịu bệnh tật, đau đớn, nhục nhã và chịu chết, và vì tất cả mọi xác thịt đều cùng chịu thương khó và chịu chết trong sự thương khó và cái chết của Chúa. Chúng ta có quyền cầu nguyện bằng những Thi thiên nói về sự thương khó này vì cớ tất cả những điều đã xảy ra cho chúng ta trên cây thập tự của Chúa Cứu Thế, vì cớ cái chết của con người cũ của chúng ta, và vì cớ tất cả những điều đã xảy ra cho chúng ta từ khi chúng ta chịu báp-tem. Qua cây thập tự của Chúa Giê-xu, Thân-thể-Chúa-trên-trần-thế có thể dùng những Thi thiên nói về sự thương khó này làm lời cầu nguyện phát xuất từ trong tâm hồn mình.
Điểm thứ ba chúng ta học được từ lời cầu nguyện bằng Thi thiên là sự cầu nguyện cộng đồng. Khi Thân-thể-Chúa-Cứu Thế cầu nguyện, tôi, một cá nhân, nhận biết rằng lời cầu nguyện của tôi chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ lời cầu nguyện của Hội Thánh. Tôi học cầu nguyện lời cầu nguyện của Thân-thể-Chúa. Tôi vươn mình ra khỏi những ước nguyện riêng tư và cầu nguyện một cách vô tư. Nhiều Thi thiên đã được các Hội Chúng thời Cựu ước dùng để cầu nguyện theo thể đối đáp. Thể thơ parallelismus membrorum, là thể thơ có vế thứ hai lập lại cùng một sự việc nhưng với một lời thơ khác, không phải chỉ thuần tuý là một thể thơ mà thôi, nhưng cũng có ý nghĩa thần học. Trường hợp điển hình là Thi thiên 5. Trong Thi thiên này có hai tiếng ngâm, cả hai đều thưa với Đức Chúa Trời cùng một lời cầu nguyện nhưng mỗi tiếng ngâm một lời thơ khác. Phải chăng điều này dẫn chứng rằng, người cầu nguyện không cầu nguyện một mình, nhưng luôn luôn có một người thứ hai, một Người khác, một phần tử của Hội Thánh, của Thân-thể-Chúa, vâng, chính Chúa Giê-xu Cứu Thế, cũng cùng cầu nguyện chung để lời cầu nguyện của mỗi cá nhân được nhậm?
Cũng tương tự như vậy, thể thơ lập đi lập lại cùng một sự việc này làm cho Thi thiên 119 dài dường như bất tận. Điều này cho ta hiểu rằng nếu muốn mỗi lời cầu nguyện thấm sâu vào lòng, ta phải lập đi lập lại nhiều lần, rằng cầu nguyện không phải là một lần dốc đổ tâm hồn - vui hoặc buồn - , nhưng là một tiến trình học hỏi không ngừng, là tiếp thu, là ghi tạc vào ký ức ý muốn của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế. Trong tác phẩm giải nghĩa Thi thiên của mình, Oetinger đã nhấn mạnh một chân lý rất sâu nhiệm khi sắp xếp các Thi thiên vào bảy lời cầu xin của bài Cầu nguyện chung “Lạy Cha”. Oetinger muốn nói rằng, các Thi thiên hàm ý những lời cầu xin ngắn ngủi trong Bài cầu nguyện của Chúa. Vì thế, tất cả những lời cầu nguyện của chúng ta thật ra chỉ là Bài cầu nguyện của Chúa. Nếu càng đi sâu vào các Thi thiên, chúng ta sẽ càng cầu nguyện bằng các Thi thiên thường xuyên hơn, và lời cầu nguyện của chúng ta sẽ càng giản dị hơn, càng phong phú hơn.
Đọc Kinh Thánh
Sau phần cầu nguyện bằng Thi thiên - có một bài ca xen kẽ - là phần đọc Kinh Thánh . “Hãy chăm chỉ đọc sách” (ITi1Tm 4:13).
Chúng ta phải vượt qua một vài thành kiến mới có thể cùng nhau nghiêm túc đọc Kinh Thánh được. Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng, đọc Kinh Thánh là đọc Lời Chúa dành cho ngày hôm đó. Vì thế nhiều người chỉ đọc một vài câu Kinh Thánh chọn lọc ngắn ngủi làm câu gốc của ngày hôm đó. Chúa gia ân ban cho chúng ta các sách chú giải Kinh Thánh. Đặc biệt là trong những giai đoạn Hội Thánh phải chiến đấu chống lại những khó khăn, các sách chú giải đã từng giúp đỡ cho nhiều người. Nhưng những câu gốc và những lời chú giải không thể thay thế cho Kinh Thánh được. Lời chú giải trong ngày không phải là Lời Kinh Thánh còn lại mãi mãi cho đến ngày Chúa đến. Kinh Thánh trọng hơn chú giải. Kinh Thánh cũng trọng hơn “cơm canh hằng ngày”. Kinh Thánh là Lời Mạc khải của Đức Chúa Trời dành cho tất cả mọi người trong tất cả mọi thời đại. Kinh Thánh không gồm từng câu gốc một, nhưng là một toàn bộ có giá trị toàn bộ. Toàn bộ Kinh Thánh là Lời Mạc khải của Đức Chúa Trời. Chỉ trong mối tương quan mật thiết của Cựu ước và Tân ước, của Lời Hứa và sự ứng nghiệm, của của lễ và luật pháp, của luật pháp và Phúc Âm, của cây thập tự và sự phục sinh, của đức tin và vâng lời ta mới có thể cảm nhận được toàn bộ Lời Chứng về Chúa Giê-xu Cứu Thế mà thôi. Vì thế trong giờ tĩnh nguyện, ngoài phần cầu nguyện bằng Thi thiên phải có phần đọc Kinh Thánh Cựu và Tân ước.
Mỗi sáng và mỗi tối mỗi gia đình cần phải nghe và đọc một chương Kinh Thánh Cựu ước và ít nhất nửa chương Tân ước. Dĩ nhiên lúc đầu sẽ có những ý kiến phản đối. Có người sẽ cho rằng, không ai có thể tiếp thu và ghi nhớ nhiều ý tưởng và những mối tương quan trong một chương Kinh Thánh dài được; hoặc, đọc nhiều mà không thể thực sự hấp thụ là khinh thường Lời Chúa. Từ ý kiến chống đối này ta sẽ dễ trở về và thoả lòng với những câu gốc trong các sách chú giải hằng ngày. Nhưng thực ra chủ trương này phạm một lỗi rất lớn. Phải chăng chúng ta là những tín hữu trưởng thành mà thực sự không thể hiểu được mối liên hệ thượng hạ văn của một chương Kinh Thánh Cựu ước? Nếu thực sự như vậy thì điều này nói lên kiến thức Kinh Thánh quá hạn hẹp và mức độ đọc Kinh Thánh hằng ngày quá ít ỏi của chúng ta. Nếu chúng ta đã quen biết Kinh Thánh thì cùng nhau đọc một chương không phải là điều khó thực hiện, nhất là khi mỗi người đều có Kinh Thánh trên tay để dò theo. Nhưng nếu phải thú nhận rằng Kinh Thánh đối với mình còn rất xa lạ, chúng ta có quyền để lỗi lầm thiếu kiến thức Kinh Thánh này sinh ra thêm một hậu quả khác nữa không? Hoặc tốt hơn, chúng ta phải cần cù và kiên nhẫn bù đắp lại thiếu sót của mình? Ở điểm này các nhà thần học cần phải thực hành trước nhất. Chúng ta đừng nghĩ rằng, mục tiêu của giờ tĩnh nguyện chung không phải là làm quen với Kinh Thánh; đừng cho rằng, chúng ta chỉ nên nghĩ đến mục tiêu này khi đọc Kinh Thánh vào những lúc khác ngoài giờ tĩnh nguyện. Người nào nghĩ như vậy là hiểu lầm giờ tĩnh nguyện chung. Mọi người đều cần tiếp thu Lời Chúa theo phương cách và kiến thức của mình. Trong giờ tĩnh nguyện các em thiếu nhi có thể nghe và học lần đầu tiên các câu chuyện trong Kinh Thánh, người trưởng thành học những câu chuyện này lại và kỹ hơn, và không ai có thể học xong Kinh Thánh được.
Chẳng những tín hữu chưa trưởng thành nhưng nhiều tín hữu đã trưởng thành cũng thường than phiền rằng phần đọc Kinh Thánh quá dài, không thể nào tiếp thu nổi. Thật ra, đối với tín hữu trưởng thành phần đọc Kinh Thánh nào cũng “quá dài” hết, kể cả khi đọc khúc Kinh Thánh ngắn nhất. Tại sao? Kinh Thánh là một toàn bộ, và mỗi chữ, mỗi câu đều liên hệ chặt chẽ với nội dung của toàn bộ Kinh Thánh đến nỗi chúng ta không thể tách rời một chữ, một câu ra khỏi toàn bộ Kinh Thánh để suy niệm được. Mỗi chữ trong Kinh Thánh đều bao la rộng rãi hơn kiến thức của chúng ta. Mỗi ngày, khi đối diện với thực tế này, chúng ta nên hướng về Chúa Giê-xu Cứu Thế, là Đấng “mà trong Ngài đã giấu kín mọi điều quí báu về sự khôn ngoan thông sáng” (CoCl 2:3). Như vậy mỗi phần đọc Kinh Thánh đều phải luôn luôn “quá dài” để không trở thành những câu châm ngôn, nhưng là Lời Mạc khải của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu Cứu Thế.
Vì Kinh Thánh là một Corpus, một toàn bộ sống động, nên phần đọc Kinh Thánh trong gia đình phải là lectio continua, nghĩa là phải theo thứ tự từ đầu đến cuối. Chúng ta phải đọc và nghe theo thứ tự các sách Lịch sử, các sách Tiên tri, các Phúc Âm, các Thư tín và sách Khải thị. Nhờ đó Hội Thánh được đưa dẫn vào thế giới Mạc khải của dân tộc Do thái với các Tiên tri, các Quan xét, các Vua và các thầy Tế lễ, các cuộc chiến, các lễ, các của lễ và các sự khổ nạn. Hội Thánh được hướng dẫn vào các câu chuyện Giáng sinh, vào Lễ Báp tem, vào các phép lạ và bài giảng luận, vào sự thương khó, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Nhờ đó Hội Thánh thấu đáo được sự cứu rỗi của Chúa dành cho nhân loại trên trần thế này và tiếp nhận sự cứu rỗi đó cho chính mình. Cách đọc Kinh Thánh theo thứ tự từ đầu đến cuối đòi hỏi người nghe phải dấn thân đến chỗ mà Chúa đã một lần dấn thân để cứu rỗi con người.
Chính nhờ phần đọc Kinh Thánh này mà những sách Lịch sử đối với chúng ta sẽ trở thành mới mẻ. Chúng ta được tham dự vào những sự cố đã một lần xảy ra cho mình. Chúng ta sẽ quên mình và đánh mất bản thân để dấn thân ra đi, xuyên qua Biển Đỏ, lưu lạc trong sa mạc, rồi vượt sông Giô-đanh tiến vào Đất Hứa. Chúng ta sẽ cùng với dân Do Thái nghi ngờ và vô tín, rồi sau khi bị sửa phạt chúng ta sẽ ăn năn, sẽ kinh nghiệm một lần nữa sự giúp đỡ và đức thành tín của Chúa. Tất cả những sự kiện này không phải là giấc mơ, nhưng là những sự cố thiêng liêng. Chúng ta sẽ được đem ra khỏi hoàn cảnh sống của mình và được đặt vào Lịch sử thánh của Chúa trên trần thế. Trong Lịch sử này, Chúa đã và hôm nay vẫn còn đang tác động qua chúng ta, qua những nan đề và tội lỗi của chúng ta, vì cớ sự công chính và ân sủng của Ngài. Quan trọng không phải Chúa là khán giả, là người tham dự vào cuộc sống của chúng ta, nhưng quan trọng là chúng ta là thính giả, là người tham dự vào công trình của Chúa trong lịch sử cứu rỗi. Đó là lịch sử của Chúa Cứu Thế trên trần thế. Và chỉ khi nào lúc đó chúng ta ở trong lịch sử đó, hiện nay Chúa mới ở với chúng ta.
Ở đây có một quá trình hoàn toàn nghịch đảo. Quan trọng không phải sự giúp đỡ và sự hiện diện của Chúa còn phải được thể hiện trong cuộc đời của chúng ta trước đã, nhưng sự hiện diện và sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta đã được thể hiện trong cuộc đời của Chúa Giê-xu Cứu Thế rồi. Thực vậy, đối với chúng ta, thấu đáo những việc Đức Chúa Trời đã thực hiện qua dân Do Thái, thấu đáo những việc Đức Chúa Trời đã làm qua Con của Ngài quan trọng hơn là tìm hiểu những điều Đức Chúa Trời đang sắm sẵn cho mình trong ngày hôm nay. Chúa Giê-xu đã chết quan trọng hơn là tôi sẽ chết. Và Chúa đã phục sinh là lý do duy nhất khiến tôi tin chắc rằng tôi được sống lại trong ngày tận thế. Sự cứu rỗi của chúng ta đến từ “ngoài chúng ta” (extra nos). Sự cứu rỗi không ở trong lịch sử của đời tôi nhưng ở trong lịch sử của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Nếu đặt mình vào Chúa, vào sự nhập thể làm người của Chúa, vào cây thập tự và vào sự phục sinh của Ngài, tôi sẽ ở với Chúa và Chúa với tôi.
Khi thấu đáo như vậy, phần đọc Kinh Thánh hằng ngày sẽ trở thành có ý nghĩa và ích lợi hơn. Những điều chúng ta gọi là cuộc đời, nan đề, tội lỗi của chúng ta chưa đích thực là cuộc đời, nan đề, tội lỗi của chúng ta đâu. Chỉ trong Kinh Thánh mới có cuộc đời, nan đề, tội lỗi và sự cứu rỗi đích thực của chúng ta. Chúa đã vui lòng hành động cho chúng ta ở chỗ nào, chỉ ở chỗ đó Chúa mới giúp đỡ chúng ta. Chỉ nhờ Kinh Thánh chúng ta mới biết được cuộc đời của chúng ta. Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, I-sác và Gia-cốp là Đức Chúa Trời và Cha của Chúa Giê-xu Cứu Thế, và là Đức Chúa Trời của chúng ta.
Chúng ta cần phải gần gũi Kinh Thánh, noi gương các Nhà Cải Chánh và các bậc cha ông của mình. Khi đọc Kinh Thánh, chúng ta không có phép sợ mất thời gian hoặc lo tốn công. Sở dĩ chúng ta cần đọc Kinh Thánh trước hết vì cớ sự cứu rỗi của chúng ta. Nhưng ngoài ra còn có nhiều lý do quan trọng khác nữa. Thí dụ như: Nếu không thấu đáo căn bản của Kinh Thánh, làm sao chúng ta có thể vững tin trong những hoạt động cho Hội Thánh hoặc cho cá nhân mình? Không phải tâm hồn của chúng ta, nhưng Lời Chúa quyết định con đường chúng ta đi. Ngày nay có bao nhiêu người còn nhận thức được rõ ràng vai trò quan trọng của Kinh Thánh? Để đi đến những quyết định quan trọng chúng ta thường dựa vào vô số những yếu tố “từ cuộc đời”, từ “kinh nghiệm”, nhưng không hề dựa vào Kinh Thánh, nhất là trong những trường hợp nếu lấy Kinh Thánh làm chuẩn thì chắc chắn chúng ta đã có quyết định ngược lại! Những người khinh thường Kinh Thánh thường là những người không đọc, không biết, không thành tâm nghiên cứu Kinh Thánh. Và ai không học tập tự sử dụng Kinh Thánh, người đó không phải là một tín hữu Tin Lành.
Ngoài ra chúng ta cũng cần tự hỏi: Nếu không nhờ Lời Chúa làm sao chúng ta có thể giúp đỡ các anh chị em của mình đang gặp khó khăn hoặc đang bị cám dỗ? Tất cả những lời nói của chúng ta đều sẽ vô ích. Nhưng nếu ai giống như “một chủ nhà kia, đem những vật mới và cũ ở trong kho mình ra” (Mat Mt 13:52), nếu ai có thể dùng Lời Chúa, nói ra vô số những mạng lịnh, những lời cáo trách, an ủi của Kinh Thánh, người đó sẽ nhờ Lời Chúa đánh đuổi ma quỉ và giúp đỡ anh chị em của mình. “Vì từ khi con còn thơ ấu đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan” (IITi 2Tm 3:15).
Chúng ta nên đọc Kinh Thánh như thế nào? Trong các gia đình tín hữu, tốt nhất mọi người nên thay phiên nhau đọc Kinh Thánh từ đầu đến cuối. Chúng ta sẽ nhận thấy đọc Kinh Thánh không phải dễ. Nếu tâm hồn chúng ta càng giản dị, càng khiêm cung trước Lời Chúa chừng nào, cách đọc của chúng ta sẽ càng tương xứng với Lời đọc chừng nấy. Sự khác biệt giữa một tín hữu trưởng thành và một tín hữu chưa trưởng thành biểu lộ trong khi đọc Kinh Thánh. Một nguyên tắc căn bản là người đọc không bao giờ được đồng hoá mình với từ “Ta” của Chúa. Không phải tôi quở trách nhưng Chúa quở trách. Không phải tôi an ủi nhưng Chúa an ủi. Không phải tôi khuyên bảo nhưng Chúa khuyên bảo. Tuy nhiên, khi đọc Chúa quở trách, an ủi, khuyên bảo, tôi không đọc một cách bàng quan, nhưng đọc với tất cả tâm hồn. Như thế, tôi sẽ không lầm lẫn tôi với Chúa nhưng sẽ thành tâm phục vụ Ngài. Nếu không tôi sẽ đọc một cách hùng biện, văn hoa, ướt át hoặc truyền cảm, nghĩa là tôi hướng sự chú ý của người nghe về tôi thay vì về Lời Chúa; đó là tội trong cách đọc Kinh Thánh. Đọc Kinh Thánh cũng tượng tự như khi đọc thư của một người bạn cho người khác nghe. Chúng ta không thể đọc bức thư của bạn như thể chính mình là người viết bức thư đó, nhưng chúng ta cũng không thể đọc như thể bức thư đó không liên hệ gì đến mình; chúng ta phải chú tâm đọc bức thư và đọc với tình cảm của mình dành cho người bạn. Cách đọc Kinh Thánh nghiêm túc không tuỳ vào sự luyện tập về phần kỹ thuật nhưng tuỳ vào trình độ thuộc linh mỗi người. Nhiều tín hữu già dặn tuy đọc Kinh Thánh khó khăn, vụng về nhưng thường vượt xa hơn cả cách đọc Kinh Thánh lưu loát nhất của một Mục sư. Trong một gia đình tín hữu chúng ta có thể giúp đỡ lẫn nhau về phương diện này.
Ngoài phần đọc Kinh Thánh theo thứ tự từ đầu đến cuối chúng ta cũng không nên quên vai trò của các sách chú giải Kinh Thánh. Trong chương trình của giờ tĩnh nguyện, chúng ta có thể đọc sách chú giải ở phần đầu hoặc ở một phần thích hợp nào đó để có một câu gốc cho cả tuần hoặc ngày hôm đó.
Ca bài ca mới
Bên cạnh lời cầu nguyện bằng Thi thiên và Lời Kinh Thánh là Bài ca cộng đồng , tức là lời tôn vinh, cảm tạ, cầu xin của Hội Thánh.
Thi thiên kêu gọi chúng ta “hãy hát cho Đức Gia-vê một Bài ca mới” (Thi Tv 98:1). Mỗi buổi sáng sớm, gia đình tín hữu ca Bài ca mới ca tụng Chúa Cứu Thế. Đó là Bài ca mới mà toàn thể Hội Thánh của Chúa ở trên trời dưới đất hoà ca tôn vinh Chúa, và chúng ta được mời gọi đồng ca Bài ca đó. Đó là Bài ca tôn vinh vĩ đại duy nhất mà Đức Chúa Trời đã sáng tác trong cõi vĩnh hằng. Ai bước vào Hội Thánh của Chúa, người đó sẽ đồng ca Bài ca này. Đó là Bài ca tôn vinh mà “các sao mai đồng hát hoà nhau, và các con trai Đức Chúa Trời cất tiếng reo mừng” (Giop G 38:7) trước khi sáng thế. Đó là Bài ca chiến thắng của dân Do Thái sau khi vượt Biển Đỏ, là Bài ca của Ma-ri sau khi nhận được tin mừng, là Bài ca của Phao-lô và Si-la ca giữa đêm khuya trong ngục tù. Đó là “Bài ca Môi se” của một ca đoàn đồng ca bên biển pha ly sau khi được giải cứu (KhKh 15:3). Đó là Bài ca của Hội Thánh trên trời. Mỗi sáng và mỗi tối Hội Thánh dưới đất đồng ca Bài ca này để ca tụng Đức Chúa Trời Ba Ngôi và công việc của Ngài. Ở dưới đất Bài ca này nghe khác, ở trên trời Bài ca này nghe khác. Ở dưới đất Bài ca này là Bài ca của những người tin, ở trên trời Bài ca này là Bài ca của những người thấy; ở dưới đất Bài ca này là Bài ca trong ngôn ngữ nghèo nàn của con người, ở trên trời Bài ca này là Bài ca trong ngôn ngữ “không thể nói, mà không có phép cho người nào nói ra” (IICo 2Cr 12:4). Đó là “Bài ca mới”, “không ai học được Bài ca đó, hoạ chăng chỉ có mười bốn ngàn người” (KhKh 14:3) hoà ca, có “đờn cầm của Đức Chúa Trời ” đệm theo (KhKh 15:2). Chúng ta biết gì về Bài ca mới và đờn cầm của Chúa? Bài ca mới của chúng ta là Bài ca của con người, của những khách hành hương có Lời Chúa bừng sáng lên soi sáng con đường mình đang đi. Đó là Bài ca giản dị của những người con của trần thế, đã được kêu gọi làm những người con của Chúa, hoà ca, không phải trong hôn mê, không như mất thần, nhưng tỉnh táo, cảm tạ, suy niệm Lời Chúa mạc khải..
“Hãy thành tâm hát mừng tôn vinh Chúa” (Eph Ep 5:19). Trước hết chúng ta phải ca Bài ca mới từ trong lòng, nếu không chúng ta sẽ không thể nào ca Bài ca này được. Tấm lòng ca, vì tràn đầy Chúa Cứu Thế. Vì thế ca hát trong Hội Thánh là một sinh hoạt thiêng liêng. Dấn thân vào Lời Chúa, ghép mình vào cộng đồng, khiêm cung và tự chế, đó là những điều kiện tiên quyết để hoà ca ca tụng Chúa. Nếu tấm lòng không ca, sẽ chỉ có tiếng hỗn độn tự ca tụng bản thân con người. Nếu không ca tụng Chúa, chúng ta chỉ ca tụng bản thân hoặc ca tụng âm nhạc, và rồi Bài ca mới sẽ trở thành bài ca tà thần.
“Hãy dùng ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau” (Eph Ep 5:19). Bài ca của chúng ta trên trần thế là lời nói. Bài ca là Lời được ca. Tại sao những người tin Chúa ca hát mỗi khi hội họp lại với nhau? Trước hết, lý do rất giản dị là nhờ ca chung chúng ta có thể nói, có thể cầu xin cùng một lời cùng một lượt, nghĩa là ca vì muốn nối kết lời. Tất cả những lời chia sẻ, những lời cầu nguyện đều hội lại trong lời ca. Sự kiện chúng ta không thể nói chung mà chỉ có thể ca chung giúp ta nhận thức rằng lời nói không đủ để diễn tả những điều chúng ta muốn trình bày, rằng đối tượng chúng ta ca tụng vượt lên trên tất cả lời nói của con người. Tuy nhiên chúng ta không nói bập bẹ, nhưng ca hát tôn vinh Chúa, để cảm tạ, để xưng nhận, để cầu nguyện. Như vậy nhạc phải tuyệt đối phục vụ lời, phải diễn tả lời ca mà chính nhạc cũng không thấu triệt được.
Vì lời ca quan trọng, nên bài ca của Hội Thánh, nhất là bài ca của gia đình tín hữu, nhất thiết là bài đồng ca. Ở đây lời và nhạc đặc biệt nối kết chặc chẽ với nhau. Khi đồng ca với nhau, chúng ta có thể diễn tả nghiêm túc nội dung của lời ca mà không cần một giọng ca nào khác đệm theo. Các anh chị em vùng Boehmen ca rằng: “Hôm nay chúng ta đồng ca, bằng một lưỡi, trong thuận hoà, tự đáy tim.” “Anh em lấy một lòng một miệng mà ca ngợi Đức Chúa Trời, là Cha của Chúa Giê-xu Cứu Thế chúng ta” (RoRm 15:6). Bản chất của những bài đồng ca của Hội Thánh dưới trần thế là sự tinh ròng của giọng ca, không bị đối tượng của âm nhạc làm vẩn đục, trong sạch, không để những đòi hỏi đen tối làm dơ bẩn, nhưng giản dị, bình thản và ấm cúng. Tuy nhiên điều này đòi hỏi tai của chúng ta phải kiên nhẫn học tập nghe. Vấn đề thuộc linh ở đây là Hội Thánh có thể nghiêm túc đồng ca không, nghĩa là ca bằng lòng, ca tụng Chúa, ca lời ca, hoà thuận ca.
Sự đồng ca thường gặp khó khăn vì một vài tệ nạn trong Hội Thánh mà chúng ta nên tránh. Trong Lễ Thờ Phượng phần ca hát là phần dễ bị tính khoe khoang và cách thưởng thức nghệ thuật của cá nhân thâm nhập vào nhất. Trước hết, trong khi toàn thể Hội Thánh đang đồng ca bỗng có một giọng nhì trổi lên. Giọng nhì này muốn đệm cho tiếng ca của Hội Thánh, nhưng cũng giết chết cả lời lẫn nhạc. Rồi có giọng ba xuất hiện ở đằng trước hoặc giọng tư ở đằng sau. Rồi để tất cả mọi người đều phải chú ý đến khả năng ca từ cao xuống thấp của mình, có người luôn luôn ca một âm giai thấp hơn. Rồi có thêm giọng đơn ca thét ra từ một lồng ngực tràn đầy sinh lực, lấn át giọng ca của tất cả mọi người để mọi người có thể trầm trồ khen tặng.
Ngoài ra còn một tệ nạn có phần kém nguy hiểm hơn, đó là những người tự cho mình “không có khả năng âm nhạc” nên không ca hát được. Và cuối cùng là những người vì cớ một lý do nào đó hoàn toàn không muốn ca hát chung với Hội Thánh, và như vậy mối tương giao trong Hội Thánh không được trọn vẹn.
Cái khó của sự đồng ca không phải là cái khó âm nhạc, mà là cái khó thuộc linh. Dù không có nhiều khả năng về âm nhạc, nhưng nếu chúng ta có tấm lòng sẵn sàng tĩnh nguyện chung với Hội Thánh và biết tự chế trong sinh hoạt với cộng đồng, chúng ta sẽ sung sướng đồng ca với toàn thể Hội Thánh.
Cộng đồng gia đình nên chọn và cố gắng học thuộc lòng một số bài ca, tạm gọi là những “bài ruột”. Trong giờ tĩnh nguyện, ngoài những bài ca trong chương trình chúng ta có thể thêm vào những “bài ruột” đó.
Nhưng chúng ta không chỉ ca hát trong giờ tĩnh nguyện mà còn thường xuyên ca hát, ca suốt ngày, suốt tuần. Càng ca nhiều chừng nào, chúng ta sẽ càng vui thích chừng nấy. Và càng vui thích đồng ca chừng nào, ân phước trong nếp sống cộng đồng sẽ càng dồi dào, càng phong phú chừng nấy.
Khi chúng ta đồng ca, đó là lúc Hội Thánh ca giọng ca của Hội Thánh. Không phải tôi ca, nhưng Hội Thánh ca, còn tôi với tư cách là một phần tử của Hội Thánh dự phần vào Bài ca của Hội Thánh. Vì thế chúng ta phải nghiêm túc đồng ca để cái nhìn thuộc linh của chúng ta nới rộng ra, để chúng ta nhận thấy cộng đồng nhỏ bé của chúng ta là một phần trong đại cộng đồng tín hữu của Chúa trên trần thế, để chúng ta vui lòng và sung sướng hoà giọng ca của mình vào Bài ca của toàn thể Hội Thánh.
Cầu nguyện chung
Lời Chúa, Bài ca của Hội Thánh và lời cầu nguyện của chúng ta liên hệ mật thiết với nhau. Sau đây chúng ta bàn đến phần cầu nguyện chung . “Nếu hai người trong các con thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ” (Mat Mt 18:19).
Đối với chúng ta, không có phần nào trong giờ tĩnh nguyện khó bằng cầu nguyện; vì trong phần này chính chúng ta phải nói. Chúng ta đã nghe Lời Chúa, đã ca Bài ca của Hội Thánh. Bây giờ chúng ta, toàn thể cộng đồng, cầu nguyện với Chúa. Lời cầu nguyện phải thực sự là lời của chúng ta , phải là lời cầu nguyện của chúng ta cho ngày hôm đó, cho công ăn việc làm của chúng ta, cho cộng đồng của chúng ta, cho những nhu cầu và tội lỗi đang đè nặng trên tất cả chúng ta, và cho những người xin chúng ta cầu thay cho họ. Chúng ta không nên cầu nguyện cho mình sao? Hoặc chúng ta không có quyền cầu nguyện chung bằng chính miệng lưỡi của mình và với lời riêng của mình? Nếu thực sự muốn tương giao với nhau trong Lời Chúa, các tín hữu phải cầu nguyện chung với nhau. Chúng ta đồng tâm cầu nguyện với lời cầu xin chung, lời cảm tạ chung, lời cầu thay chung, vui mừng và tin tưởng đem tất cả đến trước mặt Chúa. Chúng ta nên tránh tất cả những nỗi sợ hãi, ngại ngùng cầu nguyện trước mặt người khác. Một anh chị em điềm tĩnh, giản dị dâng lời cầu nguyện chung của tất cả anh chị em lên cho Chúa. Chúng ta nên tránh nhận xét và phê bình khi có người nhân danh Chúa Giê-xu Cứu Thế cầu nguyện một cách ngập ngừng, yếu ớt. Thực ra cầu nguyện chung trong một cộng đồng tín hữu là một sinh hoạt rất bình thường; cho dù những ngại ngùng của chúng ta tốt đẹp và hữu ích như thế nào đi nữa, chúng ta phải cùng nhau cầu nguyện, mỗi người bằng lời lẽ riêng của mình để lời cầu nguyện được trong sáng và phù hợp với Kinh Thánh. Như vậy chúng ta mới nhận được Lời Hứa lớn mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã hứa.
Trước khi chấm dứt người trưởng của cộng đồng, gia trưởng cầu nguyện; tốt nhất nên để một anh chị em cầu nguyện kết thúc tất cả các giờ tĩnh nguyện. Đó là một bổn phận rất quan trọng. Để tránh có những nhận xét sai lầm và sự chủ quan nên có một người duy nhất luôn luôn cầu nguyện cho tất cả trước khi chấm dứt.
Điều kiện tiên quyết để một cá nhân có thể cầu nguyện trong cộng đồng là tất cả mọi người đều cầu thay cho cá nhân đó và cho lời cầu nguyện của người đó. Cá nhân chỉ có thể cầu nguyện trong cộng đồng nếu cộng đồng cầu nguyện và nâng đỡ cá nhân đó. Những lời chỉ trích nên đổi thành những lời cầu thay và nâng đỡ trong tình anh chị em. Nếu không, mối tương giao sẽ bị sứt mẻ chính vì cớ điểm này.
Lời cầu nguyện của mỗi cá nhân trong giờ tĩnh nguyện chung thực ra không phải là lời cầu nguyện riêng của cá nhân người đang cầu nguyện, nhưng là lời cầu nguyện chung của toàn thể cộng đồng. Vì lãnh trách nhiệm cầu nguyện cho cộng đồng, người cầu nguyện phải sinh hoạt với những sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng, phải thấu đáo những nỗi lo âu, việc khó khăn, niềm vui mừng, lời cảm tạ, điều cầu xin và nguồn hi vọng của cộng đồng. Người đó phải biết rõ công tác của cộng đồng. Người đó cầu nguyện với tư cách của một người anh chị em sống giữa các anh chị em khác. Người đó cần tự kiểm thảo và cảnh giác, nếu không, người đó sẽ lầm lẫn tâm hồn mình với tâm hồn của cộng đồng. Nhờ vậy người đó mới có thể nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ cầu nguyện cho cộng đồng. Vì lý do này, người cầu nguyện thường xuyên cần lời khuyên bảo và sự giúp đỡ của cộng đồng. Cộng đồng nên chỉ dẫn và yêu cầu người đó cầu nguyện cho nan đề này hoặc công tác kia hoặc cho một người nào đó. Như thế, lời cầu nguyện của người đó sẽ càng ngày càng trở thành lời cầu nguyện chung của tất cả mọi người.
Nhưng cầu nguyện tự do cũng phải có thứ tự lớp lang, phải là lời cầu nguyện của một cộng đồng có trật tự, chứ không được lộn xộn, đụng đâu nói đó! Một số vấn đề cầu nguyện có thể được lập đi lập lại mỗi ngày dưới nhiều dạng thức khác nhau. Lúc đầu, những lời cầu xin lập đi lập lại của cộng đồng làm chúng ta cảm thấy nhàm chán, nhưng với thời gian vấn đề này chắc chắn sẽ được giải quyết nhờ hình thức cầu nguyện tự do của mỗi cá nhân. Nếu có thể, bên cạnh những lời cầu xin lập đi lập lại hằng ngày chúng ta có thể thêm những vấn đề khác. Chúng ta cũng có thể liệt kê các vấn đề cầu nguyện và sắp xếp thành một lịch cầu nguyện. Nếu không thể thực hiện lịch cầu nguyện cho giờ tĩnh nguyện chung, lịch cầu nguyện chắc chắn sẽ giúp ích ta rất nhiều trong giờ tĩnh nguyện riêng. Ngoài ra, để tránh tính chủ quan độc đoán của hình thức cầu nguyện tự do, người cầu nguyện nên cầu nguyện theo sự dạy dỗ của lời Kinh Thánh mới đọc. Nhờ đó lời cầu nguyện có một nền tảng vững chắc.
Thỉnh thoảng có người, sau khi lãnh nhiệm vụ cầu nguyện cho cộng đồng, tự nghĩ mình không thể cầu nguyện và muốn giao nhiệm vụ ngày hôm đó cho người khác. Ta không nên hành động như thế. Bầu không khí trong cộng đồng thường không liên hệ đến tình trạng thuộc linh nhưng rất dễ ảnh hưởng trên lời cầu nguyện của cộng đồng. Khi ta muốn tránh nhiệm vụ vì cảm thấy tâm hồn trống rỗng, mệt mỏi, hoặc đang nặng lòng vì một tội lỗi nào đó, chính lúc đó ta càng nên học hỏi ý nghĩa của nhiệm vụ mà Hội Thánh giao cho mình; và các anh chị em trong Chúa nên nâng đỡ người cảm thấy yếu đuối không thể cầu nguyện đó. Nhờ đó, lời dạy của Thánh Phao lô có thể sẽ trở thành cụ thể: “Chúng ta chẳng biết sự mình phải xin để cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta” (RoRm 8:26). Quan trọng là cộng đồng tín hữu nhận thức được rằng lời cầu nguyện của người anh chị em chính là lời cầu nguyện của mình và đồng tâm cầu nguyện với người anh chị em đó.
Những bài cầu nguyện viết sẵn trong một vài trường hợp có thể rất hữu dụng đối với một gia đình nho nhỏ, nhưng thường làm cho ta không nói lên được lời cầu nguyện đích thực của mình. Những bài cầu nguyện soạn sẵn của Hội Thánh có bố cục rất chặt chẽ, có ý tưởng rất phong phú, nhưng làm ta dễ quên đi lời cầu nguyện của riêng mình. Những bài cầu nguyện này rất phong phú và sâu sắc, nhưng không thật. Những bài cầu nguyện của Hội Thánh giúp ta học tập cầu nguyện, nhưng không thể thay lời cầu nguyện mà ngày hôm nay ta phải dâng lên cho Đức Chúa Trời. Lời cầu nguyện lắp bắp hôm nay của ta tốt hơn là bài cầu nguyện viết sẵn tốt nhất. Dĩ nhiên Lễ Thờ Phượng công cộng là trường hợp khác, khác với sự thờ phượng hằng ngày trong gia đình; điểm này chúng ta không cần phải bàn ở đây..
Ngoài sự cầu nguyện hằng ngày trong giờ tĩnh nguyện chung, cộng đồng tín hữu thường có nhu cầu thành lập các tổ cầu nguyện đặc biệt. Trong trường hợp này chúng ta không có một nguyên tắc nào ngoài nguyên tắc này: chỉ khi nào chắc chắc tất cả mọi người đều mong ước và tham dự một giờ cầu nguyện chung đặc biệt, chúng ta mới nên tổ chức một giờ cầu nguyện chung đặc biệt như thế. Nếu dự định riêng rẽ, chúng ta sẽ vô tình gieo mầm chia rẽ trong cộng đồng. Chính trong phạm vi này chúng ta phải thực hành nguyên tắc người mạnh dìu dắt người yếu và người yếu không kết án người mạnh. Kinh Thánh Tân ước dạy rằng cầu nguyện chung là một việc rất bình thường và rất tự nhiên, chúng ta không có phép nghi kỵ. Nhưng nếu có ngờ vực và lo sợ, chúng ta cần kiên nhẫn dìu dắt nhau. Chúng ta không nên thực hiện một điều gì bằng cách ép buộc, nhưng trong sự tự do và tình yêu.
Tương giao bên bàn ăn
Chúng ta đã bàn về phần tĩnh nguyện buổi sáng. Chúng ta bắt đầu một ngày mới với Lời của Đức Chúa Trời, với Bài ca của Hội Thánh và lời cầu nguyện của cộng đồng tín hữu. Sau khi đã được trang bị và bồi dưỡng bằng thức ăn vĩnh cữu, cộng đồng họp lại để nhận nơi Chúa thức ăn thuộc thể cho sự sống của thể xác. Mọi người cảm tạ nhận nơi Chúa thức ăn hằng ngày và cầu xin Ngài chúc phước. Kể từ khi Chúa Giê-xu Cứu Thế ăn chung với các môn đệ của Ngài, các tín hữu được phước hạnh qua sự hiện diện của Chúa mỗi khi ngồi lại tương giao bên bàn ăn . “Đang khi ngồi ăn với hai người, Ngài lấy bánh, chúc tạ, rồi bẻ ra cho họ. Mắt họ được mở ra và nhận biết Ngài” (LuLc 24:30). Kinh Thánh nhấn mạnh đến ba điểm về sự tương giao trong Chúa bên bàn ăn: sự tương giao trong mỗi bữa ăn hằng ngày, sự tương giao trong Lễ Tiệc Thánh và sự tương giao trong bữa Tiệc cuối cùng trong Nước Trời. Trong cả ba bữa ăn đều có một điểm chung: “Mắt họ được mở ra và nhận biết Ngài.” Nhận biết Chúa qua sự ban cho của Ngài. Điều này nghĩa là gì?
Thứ nhất : Nhận biết Chúa là Đấng ban cho tất cả mọi sự, là Chúa và là Đấng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Linh sáng tạo thế giới của chúng ta. Trước khi dùng bữa chúng ta cầu nguyện: “Xin Chúa chúc phước trên thức ăn mà Chúa đã ban cho chúng con!”. Với lời cầu nguyện này chúng ta xưng nhận thần tính vĩnh hằng của Chúa Giê-xu Cứu Thế.
Thứ hai , cộng đồng tín hữu nhận thức được rằng Chúa ban cho mình tất cả mọi điều trong phần thuộc thể là vì cớ Chúa, cũng như toàn bộ thế giới này được bảo trì vì cớ Chúa Giê-xu Cứu Thế, Lời của Ngài và sứ điệp của Ngài. Chúa là thức ăn đích thực của sự sống. Chúa chẳng những là Đấng ban cho, nhưng cũng là điều được ban cho chúng ta. Tất cả những vật chất thuộc thể được ban cho chúng ta đều vì cớ sự ban cho này. Đức Chúa Trời thành tín ban cho chúng ta những báu vật của Ngài vì Lời của Chúa Giê-xu Cứu Thế phải được truyền bá ra cho mọi người. Vì thế, khi cộng đồng tín hữu dùng bữa chung với nhau có nghĩa là, như Luther cầu nguyện, “Lạy Đức Chúa Trời, Cha chúng con ở trên trời, xin chúc phước cho chúng con và thức ăn mà chúng con nhận được từ nơi sự nhân từ của Ngài qua Chúa Giê-xu Cứu Thế , Chúa của chúng con . A-men.”. Với lời cầu nguyện này chúng ta xưng nhận Chúa Giê-xu Cứu Thế là Đấng trung bảo và là Cứu Chúa.
Thứ ba , cộng đồng tín hữu của Chúa tin rằng Chúa hiện diện khi cộng đồng cầu xin. Vì thế trước bữa ăn chúng ta thường cầu nguyện: “Lạy Chúa Giê-xu, xin mời Chúa đến làm người khách của chúng con!”. Với lời cầu nguyện này cộng đồng tín hữu xưng nhận rằng Chúa hiện diện ở tất cả mọi nơi. Sự tương giao trong mỗi bữa ăn làm cho tâm hồn người tín hữu sung sướng cảm tạ Đấng đang hiện diện là Chúa Giê-xu Cứu Thế. Không phải vì thế mà người tín hữu thần linh hoá một cách bệnh hoạn những sự ban cho thuộc thể, nhưng qua sự ban cho thuộc thể này người tín hữu hân hoan nhận thức rằng chính Chúa của mình là Đấng ban cho tất cả mọi sự tốt đẹp, và hơn nữa, chính Chúa của mình là sự ban cho đích thực, là thức ăn của sự sống, và cuối cùng, Chúa của mình là Đấng mời gọi mình đến dự bữa Tiệc liên hoan trong Nước Trời. Như vậy, sự tương giao hằng ngày bên bàn ăn nối kết người tín hữu với Chúa của mình và với nhau một cách đặc biệt. Bên bàn ăn chúng ta nhận ra được Chúa là Đấng bẻ bánh cho chúng ta, rồi mắt đức tin chúng ta được mở ra.
Sự tương giao bên bàn ăn rất thiêng liêng. Giữa lúc chúng ta đang làm việc, Chúa ban cho chúng ta có cơ hội nhớ lại sự an nghỉ của Đức Chúa Trời sau khi Ngài tạo dựng vũ trụ, nhớ lại ngày Sa-bát là ý nghĩa và mục tiêu của một tuần lễ làm việc lao khổ. Cuộc đời của chúng ta không chỉ gồm có việc làm lao khổ, nhưng cũng có thời gian giải lao và hân hoan về đức nhân từ của Đức Chúa Trời. Chúng ta lao động, nhưng Đức Chúa Trời nuôi dưỡng và bảo tồn chúng ta. Đó là lý do chúng ta ăn mừng. Chúng ta không nên ăn với nỗi lo âu (Thi Tv 127:2), nhưng “ăn bánh cách vui mừng” (TrGv 9:7), “Ta khen sự vui mừng, bởi vì dưới mặt trời chẳng có điều gì tốt cho loài người hơn là ăn, uống, và vui sướng” (TrGv 8:15), nhưng “ai là người được ăn và hưởng sự vui sướng hơn ta?” (TrGv 2:25). Bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên cùng với Môi-se và A-rôn lên núi Si-na-i, khi “họ ngó thấy Đức Chúa Trời, thì ăn uống” (XuXh 24:11). Đức Chúa Trời không chấp nhận những người vừa ăn vừa thở dài, vừa lăng xăng làm việc như thể rất quan trọng, hoặc vừa ăn vừa hổ thẹn. Qua mỗi bữa ăn, Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta hân hoan, ăn mừng giữa lúc chúng ta đang làm việc lao khổ trong ngày.
Sự tương giao bên bàn ăn là một nhiệm vụ của tín hữu. Thức ăn hằng ngày mà chúng ta ăn là của chúng ta , không phải thức ăn của riêng tôi. Chúng ta chia sẻ với nhau thức ăn của chúng ta. Như thế chúng ta tương giao mật thiết với nhau không chỉ trong tinh thần nhưng với toàn bộ bản chất thể xác của chúng ta. Thức ăn duy nhất , do Chúa ban cho toàn thể cộng đồng chúng ta, hợp nhất chúng ta lại trong một giao ước vĩnh hằng. Không ai phải chịu đói khát trong khi người khác còn có thức ăn, và người nào phá hại mối tương giao về phần xác, người đó đồng thời cũng phá hại mối tương giao trong tinh thần. Hai mối tương giao này liên quan mật thiết với nhau. Hãy “chia bánh cho kẻ đói” (EsIs 58:7), “đừng khinh rẻ người đói” (Si-rách 4:2;), vì Chúa đến với chúng ta trong những người đói khát (Mat Mt 25:37)! “Nếu có anh em hoặc chị em nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày, mà một người trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng” (Gia Gc 2:15)? Hễ khi nào chúng ta ăn chung thức ăn của chúng ta, thì dù thức ăn rất ít chúng ta cũng có đủ ăn. Chỉ khi nào một người muốn giữ thức ăn của mình cho riêng mình, lúc đó bắt đầu có nạn đói. Đó là một nguyên tắc kỳ lạ của Đức Chúa Trời. Phải chăng bên cạnh nhiều câu chuyện khác, câu chuyện Chúa dùng hai con cá và năm cái bánh nuôi năm ngàn người cũng có ý nghĩa này?
Sự tương giao bên bàn ăn dạy cho người tín hữu biết rằng hiện nay, trong cuộc hành trình trên trần thế này, chúng ta còn dùng thức ăn tạm thời. Nay nếu chúng ta chia sẻ cho nhau thức ăn tạm thời thì rồi đây trong Nhà Cha, chúng ta sẽ cùng nhau tiếp nhận thức ăn vĩnh hằng. “Phước cho người sẽ được ăn bánh trong nước Đức Chúa Trời!” (LuLc 14:15).
Công tác trong ngày
Hừng đông trôi qua, ngày lao động bắt đầu; một ngày của người tín hữu là một ngày lao động . “Bấy giờ con người đi ra, đến công việc mình, và làm cho đến chiều tối” (Thi Tv 104:23). Trong các gia đình tín hữu, hầu hết mỗi người đều ở một nơi trong suốt thời gian lao động. Cầu nguyện và lao động là hai sinh hoạt khác nhau. Lao động không được cản trở cầu nguyện, nhưng cầu nguyện cũng không được cản trở lao động. Theo ý muốn của Đức Chúa Trời, con người lao động trong sáu ngày, đến ngày thứ bảy nghỉ và thờ phượng Ngài. Cũng theo ý muốn Đức Chúa Trời, một ngày của người tín hữu phải là một ngày cầu nguyện và lao động. Cầu nguyện cũng cần phải có giờ có giấc, thời gian trong ngày phải dùng để lao động. Chỉ khi nào ta sắp xếp thì giờ cầu nguyện và lao động một cách hợp lý, sự tương quan mật thiết của hai sinh hoạt này mới được biểu lộ rõ ràng. Lời cầu nguyện sẽ không phải là lời cầu nguyện nếu không có công việc lao khổ trong ngày, còn công việc sẽ không phải là công việc nếu không có lời cầu nguyện. Chỉ có người tín hữu mới có thể biết rõ điểm này. Hai sinh hoạt này hợp nhất chính ở chỗ hai sinh hoạt này hoàn toàn khác biệt nhau.
Công việc đưa đẩy con người đi vào thế giới vật chất. Thế giới vật chất đòi hỏi công trình nơi con người. Từ thế giới của tình anh chị em người tín hữu đi ra, bước vào thế giới không có tình người, thế giới của vật chất, và trở thành thực tế; vì thế giới vật chất chỉ là một công cụ trong bàn tay của Đức Chúa Trời để tẩy sạch người tín hữu khỏi tính vị kỷ và ích kỷ. Ta chỉ có thể hoàn thành công tác trong xã hội khi ta quên mình, dấn thân vào công việc, vào thực tế, vào bổn phận, vào thế giới vật chất. Qua công việc làm, người tín hữu học hỏi được rằng khả năng con người có giới hạn. Vì thế đối với người tín hữu công việc trở thành liều thuốc chữa trị bệnh lười biếng và uể oải của xác thịt. Trong thế giới vật chất những đòi hỏi của xác thịt chết đi. Nhưng điều này chỉ xảy ra khi người tín hữu vượt qua được công việc để đến với Đức Chúa Trời là Đấng giao phó công việc và thành quả cho mình và cho phép mình dùng công việc và thành quả làm phương tiện giải phóng mình khỏi chính mình.
Như thế, đối với người tín hữu công việc chẳng những vẫn cứ tiếp tục là công việc, nhưng vì biết rằng công việc là một phương tiện phục vụ mình nên người tín hữu càng cần cù và vất vả làm việc nhiều hơn. Dĩ nhiên cuộc tranh chiến dai dẳng với công việc vẫn còn đó. Nhưng đồng thời ta chiến thắng, ta tìm thấy được sự hợp nhất giữa lời cầu nguyện và công việc làm, một sự hợp nhất suốt ngày. Vì đằng sau công việc trong ngày ta tìm thấy Đức Chúa Trời; đó chính là sự kiện mà Phao-lô gọi là “cầu nguyện không thôi” (ITe1Tx 5:17). Như thế trong sinh hoạt của người tín hữu, sự cầu nguyện vượt ra ngoài thì giờ cầu nguyện và đi vào công việc làm. Sự kiện này xảy ra suốt ngày, nhưng không làm đình trệ công việc, trái lại, khuyến khích làm việc, tán thưởng việc làm, giúp ta nghiêm chỉnh và vui vẻ lao động. Như thế, mỗi lời nói, mỗi việc làm, mỗi công tác của người tín hữu đều trở thành một lời cầu nguyện, không phải là lời cầu nguyện không đích thực thường xuyên làm ta xao lãng công việc, nhưng là lời cầu nguyện của một người đích thực vượt qua được công việc lao khổ để đến với Đức Chúa Trời nhân lành. “Dù anh em nói hoặc làm cũng phải nhân danh Đức Chúa Giê-xu mà làm mọi điều” (CoCl 3:17).
Nhờ có một ngày hợp nhất, ta có thứ tự và kỷ luật suốt ngày. Ta tìm và tìm thấy thứ tự và kỷ luật trong lời cầu nguyện vào buổi sáng sớm, rồi ta giữ thứ tự và kỷ luật trong công việc làm. Lời cầu nguyện vào buổi sáng sớm quyết định mọi việc trong ngày. Thời gian phung phí làm ta hổ thẹn, những sự cám dỗ làm ta vấp ngã, những yếu đuối và thối chí trong công việc, tình trạng vô trật tự và vô kỷ luật trong ý nghĩ và thái độ đối với người khác thường bắt nguồn từ chỗ ta xao lãng cầu nguyện vào buổi sáng sớm. Ta sẽ giữ đúng kỷ luật hơn, sẽ phân phối thời gian hợp lý hơn nếu kỷ luật và sự phân phối thời gian đến từ lời cầu nguyện. Nhờ đến cùng Đức Chúa Trời, ta sẽ chiến thắng những sự cám dỗ mà một ngày làm việc đem lại cho ta. Khi công việc đòi hỏi ta phải quyết định, ta sẽ quyết định một cách giản dị và dễ dàng hơn nếu ta không sợ hãi người nhưng kính sợ Đức Chúa Trời. “Hễ làm việc gì, hãy thành tâm mà làm, như làm cho Chúa, chứ không phải làm cho người” (CoCl 3:23). Kể cả những công việc máy móc nhàm chán ta cũng sẽ làm một cách kiên nhẫn hơn nếu ta làm với sự nhận biết Đức Chúa Trời và theo mệnh lệnh của Ngài. Khả năng làm việc sẽ gia tăng nếu ta cầu xin Đức Chúa Trời ban cho ta ngày hôm nay có đủ sức để hoàn tất công việc của mình.
Buổi trưa và buổi tối
Đối với một gia đình tín hữu, nếu có thể, buổi trưa là cơ hội dừng chân tạm nghỉ trong cuộc hành trình của một ngày. Nửa ngày đã trôi qua. Chúng ta cảm tạ Đức Chúa Trời và cầu xin Ngài gìn giữ chúng ta cho đến tối. Chúng ta dùng bữa và cầu nguyện với tinh thần của bài ca cải chánh: “Lạy Cha, xin nuôi dưỡng chúng con, con cái của Cha, và xin an ủi chúng con, những tội nhân đau khổ!” Đức Chúa Trời nuôi dưỡng chúng ta. Chúng ta không thể và không có quyền ăn một bữa ăn nào hết, vì chúng ta là những tội nhân hèn hạ không xứng đáng được hưởng đặc ân này; vì thế bữa ăn mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta là một niềm an ủi đối với những người đang đau khổ; vì bữa ăn biểu lộ ân sủng và đức thành tín của Đức Chúa Trời dành cho con cái của Ngài. Kinh Thánh dạy rằng: “Ai không muốn làm việc, thì cũng không nên ăn” (IITe 2Tx 3:10); như vậy, muốn được phép ăn thì phải làm việc. Nhưng Kinh Thánh không dạy rằng người làm việc có quyền đòi hỏi thực phẩm nơi Đức Chúa Trời. Con người phải làm việc, nhưng thực phẩm là tặng phẩm mà Đức Chúa Trời tự nguyện và gia ân ban cho con người. Công ăn việc làm không đương nhiên đem lại cơm no áo ấm cho chúng ta, nhưng đó là trật tự nhân từ của Đức Chúa Trời.
Ngày thuộc về Đức Chúa Trời, của một mình Ngài mà thôi. Vì thế vào buổi trưa - vào lúc nửa ngày - cộng đồng tín hữu hội họp lại và được Chúa mời ngồi vào bàn. Buổi trưa là một trong bảy thì giờ cầu nguyện của Hội Thánh và của các trước giả Thi thiên. Vào lúc ngày đạt đến cao điểm, lúc đó Hội Thánh thờ phượng Đức Chúa Trời Ba Ngôi bằng lời ca ngợi các phép lạ của Ngài, bằng lời cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ và giải cứu. Vào giữa trưa bầu trời trên cây thập tự của Chúa Giê-xu trở nên tối đen. Vào giữa trưa công trình hoà giải của Chúa hoàn tất. Vào thì giờ này, gia đình tín hữu sẽ được phước hạnh nếu có thể họp lại để thờ phượng ngắn, ca hát và cầu nguyện.
Một ngày làm việc kết thúc. Người tín hữu hiểu rằng công việc khó nhọc và lao khổ, cũng hiểu bài ca của Paul Gerhardt:
Đầu ta và chân tay
mừng vui vì xong việc.
Lòng ta! Hãy hoan ca
vì ta sẽ thoát khỏi
nỗi khổ của trần gian
và ta sẽ thoát khỏi
tội lỗi của cuộc đời!
Một ngày như thế là dài, dài vừa đủ để giữ vững đức tin. Ngày mai sẽ có nỗi lo của ngày mai.
Một lần nữa gia đình tín hữu quây quần lại. Bữa ăn tối và Lễ Thờ Phượng ngắn mỗi tối nối kết mọi người lại với nhau. Mọi người đồng lòng cầu nguyện chung với các môn đệ Em-ma-út: “Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con; vì ngày đã xế chiều và trời gần tối rồi” (LuLc 24:29). Lễ Thờ phượng ngắn vào buổi tối phải là sinh hoạt cuối cùng trong ngày để Lời Chúa sẽ là lời cuối cùng trước khi chúng ta an giấc. Khi màn đêm buông xuống, ánh sáng chân thật của Lời Chúa soi rọi Hội Thánh sáng chói hơn. Để kết thúc một ngày, cũng như khi bắt đầu một ngày, chúng ta dùng Thi thiên làm lời cầu nguyện, chúng ta đọc Kinh Thánh, đồng ca tôn vinh Chúa và cầu nguyện với Ngài. Trong Lễ Thờ Phượng ngắn vào buổi tối có một đặc điểm là: chúng ta cầu thay cho nhau. Sau một ngày làm việc chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời ban ân phúc, bình an và sự che chở của Ngài cho toàn bộ cộng đồng tín hữu, cho Hội Thánh của chúng ta, cho các vị Mục sư tại chức, cho tất cả những người nghèo khổ, đáng thương, cô đơn, cho những người bệnh tật và hấp hối, cho láng giềng, cho những người thân yêu và cho cộng đồng tín hữu của chúng ta. Lúc nào chúng ta có thể cảm nghiệm được quyền năng và tác động của Đức Chúa Trời bằng lúc chúng ta giao phó công tác của mình vào bàn tay thành tín của Chúa? Lúc nào chúng ta năng nổ cầu nguyện xin Chúa ban ân phúc, bình an và sự che chở của Ngài hơn là lúc chúng ta hoàn tất công tác của mình? Khi chúng ta mệt mỏi, lúc đó Đức Chúa Trời thực hiện công trình của Ngài. “Đấng gìn giữ Y-sơ-ra-ên không nhắp mắt cũng không buồn ngủ”. Tiếp theo, trong lời cầu nguyện buổi tối của cộng đồng tín hữu, chúng ta cầu xin Chúa tha thứ tất cả những lỗi lầm mà mình đã phạm với Đức Chúa Trời và với anh chị em của mình, cầu xin Chúa cho các anh chị em của mình sẵn sàng tha thứ và cầu xin Chúa cho chúng ta sẵn sàng tha thứ tất cả những bất công đã xảy đến cho chính mình. Trong chương trình Lễ Thờ Phượng buổi tối của các tu viện cổ có mục xin ân tha thứ: Vị tu viện trưởng xin tất cả các tu sĩ trong tu viện tha thứ những lỗi lầm và khuyết điểm mà mình đã phạm trong ngày; về phần các tu sĩ trong tu viện, sau khi đọc lời tha thứ cho vị tu viện trưởng, họ xin vị tu viện trưởng tha thứ tất cả những lỗi lầm và khuyết điểm mà mình đã phạm và cũng được vị tu viện trưởng tha thứ. “Chớ căm giận cho đến khi mặt trời lặn” (Eph Ep 4:26)! Nguyên tắc chính của mỗi cộng đồng tín hữu là tất cả mầm mống chia rẽ đã nảy sinh trong ngày phải được dẹp bỏ vào buổi tối. Đối với người tín hữu, đi ngủ với một tấm lòng bất hoà là một việc rất nguy hiểm. Vì thế, trong lời cầu nguyện mỗi tối, chúng ta nên đặc biệt cầu nguyện xin sự tha thứ giữa các anh chị em, để hoà giải và xây dựng cộng đồng mới. Cuối cùng, như chúng ta thấy trong tất cả những bài cầu nguyện vào buổi tối của người thời xưa, họ thường xuyên cầu nguyện xin Chúa bảo vệ mình truớc ma quỉ, sự sợ hãi, cái chết đau đớn và bất ngờ trong đêm tối. Người xưa biết rằng con người bất lực trong khi ngủ, rằng giấc ngủ và cái chết liên hệ mật thiết với nhau, rằng ma quỉ quỉ quyệt hãm hại con người lúc con người vô phương tự vệ. Vì thế người xưa cầu nguyện xin Chúa cho Thiên sứ bảo vệ mình, xin thiên binh của Đức Chúa Trời hiện diện trong lúc Sa-tan tìm cách hãm hại mình. Điểm đặc biệt và sâu sắc là trong các bài cầu nguyện của Hội Thánh thời xưa có lời cầu nguyện xin Chúa cho tâm hồn được tỉnh thức trong khi ngủ. Đó là lời cầu nguyện xin Đức Chúa Trời ở với và trong chúng ta, dù chúng ta không cảm thấy, không biết gì hết, xin Đức Chúa Trời cho tâm hồn chúng ta được trong sáng và thánh khiết trước tất cả những nỗi lo sợ và sự cám dỗ của đêm tối, xin Ngài sửa soạn tâm hồn chúng ta để chúng ta luôn luôn sẵn sàng nghe tiếng gọi của Ngài, và cũng sẵn sàng trả lời như thiếu niên Sa-mu-ên: “Lạy Chúa, xin hãy phán, kẻ tôi tớ của Ngài đang nghe” (ISa1Sm 3:10)! Kể cả trong giấc ngủ, chúng ta hoặc ở trong bàn tay Đức Chúa Trời hoặc trong quyền lực của ác quỉ. Kể cả trong giấc ngủ, Đức Chúa Trời có thể làm phép lạ trên chúng ta hoặc ác quỉ có thể hủy hoại chúng ta. Vì thế buổi tối chúng ta cầu nguyện:
Mắt chúng con chừ phải ngủ,
xin cho tim tỉnh thức ở với Ngài,
xin giang tay và che chở,
cứu chúng con khỏi tội lỗi đọa đày. (Luther)
Khi suy niệm về buổi sáng và buổi tối, trước giả Thi thiên khẳng định rằng: “Ngày và Đêm thuộc về Chúa” (Thi Tv 74:16).


Một Ngày Cô Đơn
“Hỡi Đức Chúa Trời tại Si-ôn, người ta yên lặng ca tụng Chúa” (Thi Tv 65:2).
Nhiều người tìm đến cộng đồng vì sợ cô đơn. Vì không thể sống một mình nên họ đến với người khác. Cũng có tín hữu tự mình không chịu đựng nổi chính mình, tự biết mình là người xấu, hi vọng rằng sinh hoạt cộng đồng có thể giúp đỡ mình. Thường thường họ sẽ thất vọng, rồi phê bình cộng đồng về những lỗi lầm thực ra do chính họ gây ra. Cộng đồng tín hữu không phải là một dưỡng đường thuộc linh. Nếu ta đang trên đường chạy trốn chính mình rồi tìm đến cộng đồng, ta chỉ lợi dụng cộng đồng để ngồi lê đôi mách và giải trí mà thôi, dù cách ngồi lê đôi mách và giải trí của ta có vẻ rất thiêng liêng. Thực ra ta không tìm cộng đồng, nhưng tìm một cơn say để quên nỗi cô đơn trong giây lát, và chính vì thế nên ta gây ra một tình trạng cô đơn cực kỳ nguy hiểm. Hậu quả của những nỗ lực trị liệu này là phá huỷ Lời và tất cả những kinh nghiệm đích thực, rồi cuối cùng là thái độ buông xuôi và cái chết thuộc linh.
Cô đơn và nín lặng
Ai không thể sống một mình , người đó nên tránh cộng đồng .
Nếu không, người đó chỉ làm hại chính mình và cộng đồng mà thôi. Khi Đức Chúa Trời kêu gọi ta, ta đứng một mình trước mặt Ngài, ta phải đơn thân đi theo tiếng gọi, phải đơn thân vác cây thập tự của mình, phải đơn thân chiến đấu và cầu nguyện, rồi ta sẽ đơn thân chết và khai trình trước mặt Ngài. Ta không thể nào tránh chính mình được; vì chính Đức Chúa Trời đã biệt riêng ta. Nếu ta không muốn sống một mình tức là ta từ khước tiếng gọi của Chúa Cứu Thế và không thể dự phần vào cộng đồng của những người được gọi. “Tất cả chúng ta đều bị đòi đến cái chết. Không có ai sẽ chết cho người khác, nhưng mỗi người sẽ tự chiến đấu với cái chết trong chính bản thân mình... lúc đó tôi sẽ không ở với bạn, mà bạn cũng sẽ không ở với tôi” (Luther).
Nhưng nguyên tắc này cũng có thể đảo ngược lại:
Ai không sống trong cộng đồng , người đó nên tránh cô đơn .
Ta được kêu gọi trong cộng đồng tín hữu. Tiếng gọi không chỉ gọi một mình ta. Ta vác cây thập tự, ta chiến đấu, ta cầu nguyện trong cộng đồng. Ta không một mình, kể cả khi ta chết, và trong ngày Chúa tái lâm ta cũng sẽ là một phần tử trong toàn thể cộng đồng tín hữu của Chúa Cứu Thế. Nếu ta khinh thường mối tương giao của anh chị em trong Chúa tức là ta khước từ tiếng gọi của Chúa Giê-xu Cứu Thế, và như thế tình trạng cô đơn của ta sẽ là một sự bất hạnh cho ta mà thôi. “Nếu tôi chết, tôi sẽ không cô đơn trong cái chết, nếu tôi chịu khổ, cộng đồng tín hữu cùng chịu khổ với tôi” (Luther).
Như vậy chúng ta có thể khẳng định: Nếu chúng ta sinh hoạt trong cộng đồng, chúng ta mới có thể sống cô đơn, và chỉ những người cô đơn mới có thể sống trong cộng đồng. Hai điều này liên hệ mật thiết với nhau. Chỉ ở trong cộng đồng chúng ta mới thực sự học tập sống một mình và chỉ khi nào sống một mình chúng ta mới thực sự học tập sống trong cộng đồng. Hai điều này, không có điều nào có trước điều nào có sau, nhưng cả hai đều bắt đầu đồng thời, bắt đầu trong tiếng gọi của Chúa Giê-xu Cứu Thế.
Nếu tách hai điều này ra, ta sẽ đối diện với một vực thẳm nguy hiểm. Ai muốn có cộng đồng mà không muốn cô đơn, người đó sẽ rơi vào sự hư không của lời nói và cảm giác. Ai tìm cô đơn mà không có cộng đồng, người đó sẽ chết trong vực thẳm kiêu căng, vị kỷ và tuyệt vọng.
Ai không thể sống một mình, người đó nên tránh cộng đồng. Ai không ở trong cộng đồng, người đó nên tránh cô đơn.
Một ngày sống chung của cộng đồng tín hữu song song với một ngày cô đơn của cá nhân. Điều này rất cần thiết. Một ngày sống chung mà không cô đơn sẽ trở thành một ngày không có kết quả đối với toàn thể cộng đồng cũng như đối với mỗi cá nhân.
Đặc điểm của cô đơn là nín lặng, cũng như đặc điểm của cộng đồng là lời nói. Nín lặng và lời nói liên hệ và khác biệt với nhau như cô đơn và tương giao. Nếu không có yếu tố này thì sẽ không có yếu tố kia. Lời nói chân chính phát ra từ nín lặng, và nín lặng chính đáng phát xuất từ lời nói.
Nín lặng không có nghĩa là câm nín, cũng như lời nói không có nghĩa là lảm nhảm. Câm nín không gây ra cô đơn và lảm nhảm không tạo ra tương giao. “Nín lặng là tình trạng thặng dư lời, say sưa lời, là của lễ của lời. Nhưng câm nín thì ô-uế, như con vật què quặt mà ta không dâng hiến được... Xa-cha-ri câm, thay vì nín lặng. Phải chi Xa-cha-ri tiếp nhận sự Mạc khải của Chúa, có lẽ Xa-cha-ri đã không câm, nhưng nín lặng đi ra khỏi Đền thờ” (Ernest Hello). Lời nói xây dựng và nối kết mối tương giao, có sự nín lặng đi kèm. “Có kỳ nín lặng, có kỳ nói ra” (TrGv 3:7). Trong một ngày của người tín hữu, có thời gian đặc biệt dành cho Lời, đặc biệt nhất là lúc ta thờ phượng và cầu nguyện chung với nhau, nhưng cũng có thời gian đặc biệt để nín nặng trước Lời và từ Lời, nhất là nín lặng trước và sau khi nghe Lời. Lời không đến với người ồn ào, nhưng đến với người nín lặng. Sự yên tĩnh trong Đền thờ là dấu hiệu Đức Chúa Trời linh thiêng đang hiện diện trong Lời của Ngài.
Có người yên lặng vì thờ ơ lãnh đạm, có thể nói là từ khước, khinh thường sự Mạc khải của Đức Chúa Trời. Trong trường hợp này yên lặng thường được hiểu lầm là một cung cách trang nghiêm, một thái độ thần bí muốn vượt ra ngoài Lời. Yên lặng ở đây sẽ không còn ở trong mối liên hệ căn bản với Lời nữa, tức là thái độ khiêm cung nín lặng của mỗi cá nhân trước Lời của Đức Chúa Trời. Sở dĩ chúng ta nín lặng trước khi nghe Lời vì ý tưởng của chúng ta đã hướng về Lời, như một em nhỏ nín lặng khi em bước vào phòng của cha mình. Chúng ta nín lặng sau khi nghe Lời vì Lời còn tiếp tục nói, còn sống động trong chúng ta. Sáng sớm chúng ta nín lặng vì lời đầu tiên trong ngày phải là Lời của Đức Chúa Trời, và chúng ta nín lặng trước khi đi ngủ vì lời cuối cùng cũng phải là Lời của Ngài. Chúng ta nín lặng chỉ vì cớ Lời, không phải để bất kính đối với Lời nhưng để thành kính tiếp nhận Lời. Cuối cùng, nín lặng không gì khác hơn là chờ đợi Lời của Đức Chúa Trời, rồi được phước hạnh nên phát xuất ra từ Lời của Ngài. Như mọi người đều biết, trong thời đại này thói quen nói chuyện nhảm nhí rất phổ biến. Vì thế chúng ta cần phải học nín lặng thực sự, yên lặng thực sự. Thường xuyên cầm giữ miệng lưỡi là kết quả cụ thể của sự nín lặng thuộc linh.
Sự nín lặng trước Lời sẽ tác động trong chúng ta suốt ngày. Như chúng ta học tập nín lặng trước Lời, chúng ta cũng phải học tập nín lặng và học tập nói suốt ngày. Có loại nín lặng phi pháp, vị kỷ, kiêu ngạo, xúc phạm. Chúng ta nín lặng không phải để nín lặng. Sự nín lặng của người tín hữu là một thái độ nín lặng lắng nghe, nín lặng khiêm nhường, một sự nín lặng mà vì cớ khiêm nhường nên bất cứ lúc nào cũng có thể phát ra lời. Đó là một sự nín lặng có liên hệ mật thiết với Lời. Cũng với ý này, Thomas a Kempis nói: “Không có người nào nói chính xác hơn là người thích nín lặng.”
Trong sự yên lặng có một sức mạnh kỳ diệu để lý giải, thanh lọc, tập trung vào những điểm chính yếu. Đó là một sự thực hiển nhiên đối với con người phàm tục. Nhưng sự nín lặng trước Lời dẫn đưa ta đến sự lắng nghe và nói ra Lời của Đức Chúa Trời đúng lúc. Ta sẽ không nói một lời vô ích. Ta chỉ nói những điều chính yếu và hữu ích bằng một vài lời.
Trường hợp một gia đình phải sống với nhau trong ngôi nhà chật hẹp đến nỗi mỗi cá nhân đều không thể có được sự yên tĩnh cần thiết, mọi người cần dành một thời gian yên lặng chung. Sau thời gian yên lặng ta sẽ gặp gỡ người khác mới hơn và khác hơn. Nhiều gia đình cần ấn định một thời gian đặc biệt như vậy để mỗi cá nhân có được thì giờ yên tĩnh cho riêng mình và như vậy mới duy trì được hạnh phúc gia đình..
Ở đây chúng ta không thể đề cập đến tất cả những lợi ích kỳ diệu mà sự cô đơn và nín lặng đem lại cho người tín hữu. Ở điểm này chúng ta rất dễ sai lầm một cách nguy hiểm; chúng ta cũng có thể liệt kê rất nhiều hậu quả do sự nín lặng gây ra. Nín lặng có thể là một sa mạc rất kinh khủng, hiu quạnh và ghê rợn. Nín lặng cũng có thể là một thiên đàng đầy cảnh tự lừa dối mình. Cả hai, sa mạc và thiên đàng kiểu này, không có cái nào tốt cả. Vì thế, dù thế nào đi nữa: Ta không được kỳ vọng nơi sự nín lặng một điều gì khác hơn là được đối diện với Lời của Đức Chúa Trời một cách giản dị; chính vì cớ muốn gặp gỡ Lời Chúa nên ta nín lặng. Nhưng sự gặp gỡ này do Chúa ban cho. Người tín hữu không đặt điều kiện, không chờ đợi và hi vọng sự gặp gỡ này sẽ như thế nào, nhưng chấp nhận tất cả những điều Chúa ban cho mình qua sự gặp gỡ này, rồi sự nín lặng của mình sẽ được ban thưởng xứng đáng.
Người tín hữu cần dành thì giờ riêng mỗi ngày cho ba mục đích, đó là:
suy niệm lời Kinh Thánh ,
cầu nguyện ,
cầu thay .
Cả ba đều nằm trong giờ tĩnh nguyện riêng hằng ngày. Ta không nên ngại từ “tĩnh nguyện”, vì từ này - mà chúng ta dùng ở đây - là một từ cũ của Hội Thánh và của cuộc cải chánh.
Tĩnh nguyện cá nhân
Ta có thể thắc mắc rằng, có tĩnh nguyện chung rồi, tại sao cần phải thêm giờ tĩnh nguyện riêng. Sau đây là câu trả lời.
Tĩnh nguyện riêng là thời gian để mỗi cá nhân suy niệm Lời Kinh Thánh, cầu nguyện và cầu thay; ngoài ra không có một mục đích nào khác. Đây không phải là môi trường để thí nghiệm thuộc linh. Nhưng muốn đạt được ba mục đích này ta cần dành một thời gian riêng, vì chính Đức Chúa Trời đòi hỏi ta phải có những sinh hoạt này. Nếu lúc đầu giờ tĩnh nguyện riêng đối với ta chỉ là một bổn phận mà ta phải chu toàn trước mặt Đức Chúa Trời thì đó cũng đã là một lý do ta phải tĩnh nguyện riêng rồi.
Giờ tĩnh nguyện riêng không làm ta đắm mình vào một khoảng không trống rỗng hoặc rơi vào một vực thẳm cô đơn, nhưng tạo cho ta cơ hội một mình đối diện với Lời Kinh Thánh. Như thế, giờ tĩnh nguyện riêng giúp ta có một nền tảng vững chắc để đứng vững và một bản chỉ đường rõ ràng để tiến bước.
Trong giờ tĩnh nguyện chung chúng ta tuần tự đọc từng khúc Kinh Thánh dài. Trong giờ tĩnh nguyện riêng, để suy niệm Lời Kinh Thánh ta có thể đọc những khúc Kinh Thánh ngắn đã được chọn cho suốt cả tuần mà không cần thay đổi. Nhờ đọc Kinh Thánh chung chúng ta có thể đi xa và đọc trọn quyển Kinh Thánh, ở đây ta có thể đi sâu vào từng câu, từng chữ. Cả hai đều rất thiết yếu “Để anh em khi đã đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, được hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào” (Eph Ep 3:18).
Trong giờ tĩnh nguyện riêng, ta đọc khúc Kinh Thánh đã được chọn căn cứ trên Lời Hứa, rằng ngày hôm đó Lời Chúa muốn nhắn nhủ với riêng ta để dạy dỗ ta về nếp sống của người tín hữu, rằng Lời Chúa không chỉ dành cho Hội Thánh nhưng cũng dành cho cá nhân ta. Ta cần lắng lòng trước từng câu, từng chữ cho đến khi gặp gỡ Lời Chúa một cách riêng tư. Ta cần đọc Lời Chúa như thế, đọc như một người tín hữu ít học nhất, chất phác nhất đọc Lời Chúa hằng ngày; ta đọc Lời Chúa vì Lời Chúa dành riêng cho ta.
Như vậy ta không tự hỏi, khúc Kinh Thánh này muốn nói gì với người khác. Nếu có bổn phận chia sẻ Lời Chúa, ta cũng không đặt câu hỏi sẽ chia sẻ khúc Kinh Thánh này như thế nào, nhưng tự hỏi khúc Kinh Thánh này muốn nói gì với riêng cá nhân ta. Dĩ nhiên trước hết ta phải hiểu nội dung của khúc Kinh Thánh, nhưng ở đây ta không giải Kinh, không chuẩn bị Bài giảng, không nghiên cứu Kinh Thánh theo bất cứ phương pháp nào. Ta chờ đợi Lời Chúa đến với mình. Ta không chờ đợi một cách vô nghĩa, nhưng chờ đợi dựa vào Lời Hứa của Chúa. Ta thường xuyên bị những lo âu, ý tưởng và hình ảnh khác đè nặng trên ta nên Lời Chúa cần có thời gian thanh tẩy tất cả rồi thấm nhuần vào ta. Nhưng chắc chắn Lời Chúa sẽ đến với ta, như chính Chúa đã đến với con người và sẽ đến một lần nữa. Vì thế ta bắt đầu giờ tĩnh nguyện riêng bằng lời cầu nguyện, xin Đức Chúa Trời ban cho ta Chúa Thánh Linh của Ngài qua Lời Ngài, mạc khải và soi sáng Lời Ngài cho mình.
Ta không nhất thiết phải suy niệm toàn bộ khúc Kinh Thánh trong giờ tĩnh nguyện riêng. Nhiều khi ta dừng lại ở một câu hoặc một chữ rất lâu vì câu đó, chữ đó giữ ta lại, tra vấn ta đến nỗi ta không đi tiếp được. Những từ như “Cha”, “tình yêu”, “sự thương xót”, “cây thập tự”, “nên thánh”, “sự sống lại” thường buộc ta phải suy niệm suốt giờ tĩnh nguyện riêng ngắn ngủi.
Ta không nhất thiết phải cố gắng suy niệm và cầu nguyện ra lời trong giờ tĩnh nguyện riêng. Sự suy niệm và cầu nguyện không ra lời - phát xuất từ sự lắng nghe - nhiều khi rất cần thiết.
Ta cũng không nhất thiết phải tìm ra những ý tưởng mới trong giờ tĩnh nguyện riêng. Điều này thường làm ta phân tâm và chỉ làm thoả mãn tính kiêu căng của mình mà thôi. Quan trọng là: khi ta đọc và hiểu Lời Chúa, Lời Chúa thấm nhuần vào trong ta và chiếm hữu ta. Như Ma-ri nghe lời các anh chăn chiên nói thì “suy niệm trong lòng” (LuLc 2:19), như lời của một người nào đó còn văng vẳng trong ta một thời gian rất dài, chiếm hữu ta, tác động ta, làm ta băn khoăn hoặc vui sướng đến nỗi ta không thể phản ứng theo ý riêng mình được, trong giờ tĩnh nguyện riêng Lời Chúa cũng muốn đi vào ta, ở trong ta, sinh hoạt trong ta, hành động trong ta, tác động ta, đến nỗi suốt ngày ta không thoát khỏi Lời được, rồi Lời sẽ xây dựng công trình của mình trong ta, mà ta thường không biết gì hết.
Điểm quan trọng là ta không nhất thiết sẽ có một kinh nghiệm đặc biệt, bất thường nào đó trong giờ tĩnh nguyện riêng. Có thể ta sẽ có, hoặc sẽ không có một kinh nghiệm đặc biệt nào, nhưng không vì thế mà giờ tĩnh nguyện riêng trở thành vô ích. Thỉnh thoảng, chứ không phải chỉ trong thời gian đầu, ta lâm vào nạn hạn hán và lãnh đạm thuộc linh. Ta cảm thấy không còn thích thú, không có khả năng để tĩnh nguyện nữa. Tuy thế, ta không nên dừng lại ở tình trạng này, nhất là không để cho tình trạng này ngăn trở mình tĩnh nguyện, trái lại ta nên tiếp tục trung tín và kiên nhẫn giữ giờ tĩnh nguyện riêng.
Vì thế ta không nên quá bận tâm về phản ứng của mình trong giờ tĩnh nguyện riêng. Có thể tính kiêu căng của con người cũ và những đòi hỏi cực đoan của ta đối với Chúa đang tìm cách len lỏi vào bằng con đường thiêng liêng, làm như thể ta có quyền có những kinh nghiệm nổi bật, ồn ào, còn những kinh nghiệm về sự nghèo nàn thuộc linh của ta không xứng đáng với ta. Với thái độ này ta sẽ không đi đến đâu hết. Qua sự thiếu kiên nhẫn và tự phê bình ta chỉ làm thoả mãn tính tự phụ của mình và càng ngày ta càng mắc kẹt vào mảng lưới tự quan sát. Nhưng trong giờ tĩnh nguyện riêng cũng như trong cuộc sống của người tín hữu, ta không có thì giờ để tự quan sát mình. Ta chỉ quan sát Lời mà thôi rồi tin tưởng để cho Lời tác động. Đức Chúa Trời không có quyền để cho ta lâm vào nạn hạn hán và cảnh thiếu thốn để ta sẽ lại chỉ kỳ vọng nơi Lời mà thôi sao? “Hãy tìm kiếm Đức Chúa Trời, đừng tìm kiếm sự vui mừng” là nguyên tắc căn bản của giờ tĩnh nguyện riêng. Chỉ tìm kiếm Đức Chúa Trời mà thôi, rồi ta sẽ nhận được sự vui mừng. Đó là Lời Hứa dành cho tất cả giờ tĩnh nguyện riêng.
Cầu nguyện
Phần suy niệm lời Kinh Thánh hướng dẫn ta vào sự cầu nguyện. Như đã nêu ở trên, con đường hứa hẹn nhất đưa ta đến sự cầu nguyện là để cho Lời Kinh Thánh hướng dẫn, là cầu nguyện trên căn bản của Lời Kinh Thánh. Nhờ đó ta không bị rơi vào khoảng không trống rỗng của chính mình. Cầu nguyện chính là thành tâm chấp nhận Lời làm lời của mình, cho mình trong hoàn cảnh riêng của mình với những trách nhiệm, quyết định, tội lỗi và sự cám dỗ cá biệt của mình. Những điều ta không thể thốt nên lời khi cầu nguyện ở giữa cộng đồng, bây giờ trong thì giờ yên tĩnh ta có thể trình ra lớn tiếng trước mặt Đức Chúa Trời. Trên căn bản của Lời Kinh Thánh, ta cầu nguyện xin Chúa ban cho ta một ngày tươi mới, gìn giữ ta trước tội lỗi, thanh tẩy ta để ta nên thánh, trung tín và có năng lực để làm việc. Ta tin chắc rằng Chúa sẽ nhậm lời cầu nguyện của mình, vì lời cầu nguyện của ta đến từ Lời và Lời Hứa của Đức Chúa Trời. Vì Lời của Đức Chúa Trời được ứng nghiệm trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, nên chắc chắn Chúa lắng nghe và chấp nhận tất cả những lời cầu nguyện dựa trên Lời này, trong Chúa Giê-xu Cứu Thế.
Trong giờ tĩnh nguyện riêng có một nguy cơ là: ta dễ bị phân tâm và tâm trí của ta dễ lang thang nghĩ đến những người hoặc việc khác trong cuộc đời của mình. Dù phải thường xuyên đối diện với nguy cơ này, ta không nên khiếp nhược và sợ hãi, cũng không nên suy luận rằng, giờ tĩnh nguyện riêng không có ý nghĩa gì hết đối với mình. Để đối phó với tình trạng phân tâm này, thỉnh thoảng ta cũng không cần miễn cưỡng cắt ngang dòng tư tưởng, nhưng thà cứ nghĩ ngợi về những người và những điều đang làm mình bận tâm rồi cầu nguyện cho họ và cho những biến cố đó. Như thế từ từ ta có thể trở về với nội dung của giờ tĩnh nguyện của mình.
Cầu thay
Cũng như lời cầu nguyện riêng, ta dâng lời cầu thay sau phần suy niệm Lời Chúa. Trong giờ tĩnh nguyện chung, ta không thể cầu thay cho tất cả mọi người mà chỉ có thể cầu thay cho những người được nêu danh. Mỗi tín hữu đều có một số người xin mình cầu thay cho, hoặc hứa nguyện cầu thay cho một vài người vì những lý do đặc biệt nào đó. Trước hết, đó là những người sống chung với mình mỗi ngày.
Đây là điều kiện sống còn của tất cả các cộng đồng tín hữu. Mỗi cộng đồng tín hữu sống còn nhờ các phần tử trong cộng đồng cầu thay cho nhau, hoặc bị suy vong. Nếu tôi cầu thay cho một người, tôi sẽ không thể lên án hoặc ghen ghét người đó nữa, dù người đó làm tôi khổ đủ điều. Khi tôi cầu thay, bộ mặt của người đó, vốn là một bộ mặt rất xa lạ đối với tôi và làm tôi rất khó chịu, biến thành gương mặt của người anh chị em mà Chúa Cứu Thế đã chết thay, biến thành nét mặt của một tội nhân được ân xá. Đó là một khám phá phước hạnh khi người tín hữu bắt đầu cầu thay. Nhờ cầu thay, không có một mối ác cảm nào, không có một sự mâu thuẫn cá nhân nào, và không có một sự chia rẽ nào mà ta không vượt qua được. Mỗi cá nhân và toàn thể cộng đồng phải cầu thay hằng ngày để giải quyết tất cả mọi vấn đề của mình. Trong khi cầu thay, có thể ta phải tranh đấu kịch liệt với người anh chị em, nhưng đồng thời cũng có Lời Hứa là ta sẽ đạt đến mục tiêu.
Cầu thay như thế nào? Cầu thay là trình dâng người anh chị em lên trước mặt Đức Chúa Trời, là nhìn người anh chị em đó, một con người và một tội nhân đau khổ đang cần ân sủng của Chúa, dưới cây thập tự. Lúc đó tất cả những điều làm tôi ghê tởm nơi người đó biến mất. Tôi thấy người đó đang khốn khổ và cần được giúp đỡ. Lúc đó tôi nhận thấy nhu cầu và tội lỗi của người đó lớn quá, nặng quá, như thể là nhu cầu và tội lỗi của riêng tôi, rồi tôi không thể làm gì khác hơn là thành khẩn: Thưa Chúa, xin chính Chúa hành động, chỉ Chúa mới có thể giúp người anh chị em này, tuỳ theo vinh quang và nhân đức của Chúa. Cầu thay nghĩa là: cho người anh chị em có đồng một quyền mà ta đã nhận được, tức là quyền đứng trước mặt Chúa Cứu Thế và được dự phần vào ân sủng của Ngài.
Như thế cầu thay rõ ràng là một trách nhiệm của ta đối với Đức Chúa Trời và đối với anh chị em của mình, một trách nhiệm mà ta phải chu toàn mỗi ngày. Ai không cầu thay cho người lân cận, người đó không chu toàn nhiệm vụ của người tín hữu đối với người lân cận. Ngoài ra, ta cũng thấu đáo rằng cầu thay không phải là một việc làm khái quát, mập mờ, nhưng là một việc làm rất cụ thể. Khi cầu thay cho một người, ta trình ra những vấn đề khó khăn của người đó và vì thế cũng cầu xin cụ thể. Cầu thay càng rõ ràng bao nhiêu, càng đầy hứa hẹn bấy nhiêu..
Cuối cùng, ta nhận thức rằng nhiệm vụ cầu thay đòi hỏi thì giờ của một tín hữu, đòi hỏi phần lớn thì giờ của Mục sư là người có trách nhiệm chăm sóc toàn thể cộng đồng. Nếu ta cầu thay nghiêm túc, giờ tĩnh nguyện riêng sẽ phong phú. Sự cầu thay là một tặng phẩm của Đức Chúa Trời ban cho mỗi cộng đồng tín hữu và mỗi người tín hữu. Ta nên hân hoan tiếp nhận tặng phẩm quí giá này. Chính thời gian mà chúng ta dành riêng ra để cầu thay sẽ trở thành nguồn vui mừng mỗi ngày cho Đức Chúa Trời và cho cộng đồng.
Vì đọc Kinh Thánh, cầu nguyện và cầu thay là nhiệm vụ, và vì nhiệm vụ này là ân sủng của Chúa ban, nên ta phải dành thời gian đặc biệt trong ngày để chu toàn nhiệm vụ này, như ta dành thời gian để chu toàn những nhiệm vụ khác. Đây không phải là “luật pháp”, nhưng là kỷ luật và trung tín. Đối với hầu hết mọi người, sáng sớm là thời gian thuận tiện nhất. Đây là thời gian của riêng ta trước khi ta sử dụng thời gian còn lại cho người khác. Ta nên cố gắng vượt qua tất cả những khó khăn ngoại diện, phấn đấu để thời gian này được yên tĩnh. Đối với Mục sư đây là một nhiệm vụ thiết yếu. Toàn bộ chức vụ của Mục sư tuỳ thuộc vào nhiệm vụ này. Ai là người thực sự muốn trung tín trong những việc lớn mà không học tập trung tín trong những việc hằng ngày?
Thử thách
Mỗi ngày người tin Chúa chịu cô đơn nhiều tiếng đồng hồ khi sinh hoạt trong một xã hội ngoại đạo. Thời gian này là thời gian thử thách . Trong thời gian này, giờ tĩnh nguyện riêng và cộng đồng tín hữu sẽ được thử nghiệm. Cộng đồng có thực sự giúp cho cá nhân được tự do, mạnh mẽ và trưởng thành, hoặc cộng đồng làm cá nhân thiếu tự chủ và lệ thuộc? Cộng đồng có cầm tay hướng dẫn cá nhân học tập tự bước đi, hoặc cộng đồng làm cá nhân sợ hãi và do dự? Đó là một trong những câu hỏi nghiêm túc và quan trọng nhất đặt ra cho mỗi cộng đồng tín hữu. Ngoài ra, vấn đề quan trọng ở đây là phải chăng giờ tĩnh nguyện riêng đã đưa người tín hữu đi vào một thế giới không tưởng để rồi người đó sợ hãi bừng tỉnh khi đi ra lao động trong thế giới phàm tục, hoặc giờ tĩnh nguyện riêng đã dẫn người đó vào một thế giới đích thực của Đức Chúa Trời để người đó hăng hái và được tinh tuyền đi vào một ngày lao động? Phải chăng giờ tĩnh nguyện riêng làm cho cá nhân say sưa thuộc linh trong một thời gian ngắn, rồi cơn say thuộc linh sẽ biến mất khi ngày lao động bắt đầu, hoặc giờ tĩnh nguyện riêng làm cho Lời của Đức Chúa Trời thấm nhuần vào lòng ta để giữ gìn và thêm sức cho ta, giúp ta yêu thương cụ thể, vâng lời và làm việc nhân lành? Chỉ khi sinh hoạt trong xã hội ta mới có thể trả lời những câu hỏi này. Đối với mỗi cá nhân, phải chăng cộng đồng tín hữu thực sự hiện diện vô hình bên ta và giúp đỡ ta? Phải chăng sự cầu thay của các anh chị em tín hữu khích lệ ta sinh hoạt suốt ngày? Phải chăng Lời của Đức Chúa Trời là niềm an ủi và là nguồn năng lực cho ta? Hoặc ta lạm dụng sự cô đơn để chống lại cộng đồng, chống lại Lời Chúa và sự cầu nguyện? Mỗi cá nhân cần biết rằng thời gian cô đơn của mình cũng ảnh hưởng đến cộng đồng. Trong thời gian cô đơn ta có thể chia rẽ và làm ô danh cộng đồng, hoặc làm cho cộng đồng mạnh mẽ và nên thánh. Sự tự chế của mỗi tín hữu cũng là một cách phục vụ cộng đồng. Nếu không tự chế, tư tưởng, lời nói và việc làm sẽ trở thành tội lỗi, tuy riêng tư và bí mật nhưng vẫn làm hại cho toàn thể cộng đồng. Như vi trùng gây bệnh đã nhiễm vào cơ thể, có lẽ ta chưa biết nó đến từ đâu hoặc đang nằm trong chi thể nào, nhưng cơ thể đã nhiễm bệnh. Đó là hình ảnh của cộng đồng tín hữu. Vì chúng ta là những chi thể trong một thân, nên dù muốn dù không, mỗi chi thể đều dự phần vào tình trạng khoẻ mạnh hoặc đau yếu của thân. Đó không phải là lý thuyết, nhưng là một sự cố tâm linh mà ta có thể kinh nghiệm cụ thể - làm cho cộng đồng tan rã hoặc phước hạnh - trong cộng đồng tín hữu.
Sau một ngày sinh hoạt hữu ích trong xã hội, ta trở về với cộng đồng tín hữu, ta đem theo phước hạnh của sự cô đơn, nhưng chính ta cũng nhận được phước hạnh mới từ cộng đồng. Phước cho người cô đơn trong sức mạnh của sự tương giao, phước cho người có sự tương giao trong sức mạnh của cô đơn. Nhưng sức mạnh của sự cô đơn và sức mạnh của sự tương giao là sức mạnh của Lời Đức Chúa Trời, Lời có giá trị đối với mỗi cá nhân trong cộng đồng.

Nhiệm Vụ
“Trong họ có sự suy nghĩ, ai là người lớn nhất giữa vòng họ.” (LuLc 9:46) Chúng ta biết ai trong cộng đồng tín hữu có suy nghĩ này. Không có một cộng đồng tín hữu nào mà không có suy nghĩ này, một sự suy nghĩ làm mầm mống chia rẽ. Mỗi khi ngồi lại với nhau, con người quan sát nhau, phê phán nhau, phân loại nhau. Vì thế, khi cộng đồng tín hữu hình thành, lúc đó bắt đầu có tranh cãi, tranh cãi chí tử, một sự tranh cãi vô hình, thường trong vô thức và rất kịch liệt. “Trong họ có sự suy nghĩ...”. Như vậy là đủ để phá đổ cộng đồng.
Cho nên mỗi cộng đồng tín hữu không nên chần chờ, nhưng cần nhận diện và tiêu diệt kẻ thù này ngay từ buổi đầu. Vì ngay khi vừa mới gặp gỡ người khác, con người đã giữ tư thế chiến đấu. Người mạnh gặp người yếu. Người yếu lấy quyền của người yếu chống lại người mạnh. Người có năng khiếu gặp người không có, người dễ tính gặp người khó tính, người sùng đạo gặp người ít sùng đạo, người thích sống cộng đồng gặp người lập dị. Phải chăng người không có tài năng cũng giữ một vai trò như người có tài năng, người khó tính như người dễ tính? Tôi không có tài năng thực, nhưng biết đâu tôi là người sùng đạo, hoặc tôi không sùng đạo thực, nhưng tôi cũng chả muốn làm người sùng đạo. Phải chăng người có tinh thần cộng đồng khó được mọi người quí mến hơn người thích sống một mình? Và phải chăng người thích sống một mình là kẻ thù không bao giờ thất thế và cuối cùng sẽ là người có ưu thế hơn người có tinh thần cộng đồng?
Để tự vệ, mọi người đều đi tìm một chỗ đứng, một chỗ mà mình sẽ không bao giờ nhường lại cho người khác nhưng sẽ chiến đấu với toàn bộ bản năng sinh tồn để giữ chỗ đó.
Tất cả những sự cố này đều có thể xảy ra dưới những hình thức rất phàm tục hoặc rất thiêng liêng, nhưng vấn đề quan trọng là cộng đồng tín hữu cần biết rằng, chắc chắn “trong họ có sự suy nghĩ, ai là người lớn nhất giữa vòng họ.” Đó là một cuộc chiến đấu của con người thiên nhiên để tự vệ. Con người tự biện hộ bằng cách so sánh mình với người khác, bằng cách kết án, xét xử người khác. Tự biện hộ và lên án liên hệ với nhau, cũng như sự xưng công chính bởi ân sủng và phục vụ liên hệ với nhau.
Bổn phận tự chế miệng lưỡi
Phương cách hữu hiệu nhất để chống lại những ý tưởng xấu xa là tuyệt đối không để những ý tưởng đó phát biểu thành lời nói. Cũng như ta chỉ có thể thắng được tinh thần tự biện hộ nhờ tinh thần độ lượng, ta chỉ có thể hạn chế và tiêu diệt ý tưởng lên án bằng cách không bao giờ cho những ý tưởng này có quyền phát biểu, ngoại trừ khi xưng tội (sẽ bàn sau). Ai cầm giữ miệng lưỡi, người đó trị phục được linh hồn và thân thể mình (Gia Gc 3:3). Vì thế qui tắc tối quan trọng của cộng đồng tín hữu là mỗi cá nhân không được lén lút nói xấu một người anh chị em khác. Như thế không có nghĩa là ta không có quyền khuyên bảo riêng người khác. Nhưng ta không có phép lén lút nói về người khác, kể cả khi ta làm như có ý tốt và muốn giúp đỡ người khác; vì tinh thần ghen ghét luôn luôn đội lốt này để làm hại người khác. Trong khuôn khổ ở đây, chúng ta không thể bàn từng chi tiết về phạm vi của qui tắc này. Phạm vi của qui tắc này tuỳ thuộc vào từng quyết định một. Nhưng theo Kinh Thánh vấn đề này rõ ràng là: “Ngươi ngồi nói chuyện hành anh em ngươi, gièm chê con trai của mẹ ngươi... Nhưng ta sẽ trách phạt ngươi, trương các điều đó ra trước mắt ngươi” (Thi Tv 50:20). “Hỡi anh em, chớ nói hành nhau. Ai nói hành anh em mình hoặc lên án anh em mình, tức là nói xấu luật pháp, và lên án luật pháp. Nếu ngươi lên án luật pháp thì ngươi không phải là người vâng giữ luật pháp, nhưng là người lên án luật pháp vậy. Chỉ có một Đấng lập ra luật pháp và một Đấng lên án, tức là Đấng cứu được và diệt được. Nhưng ngươi là ai mà dám lên án người lân cận” (Gia Gc 4:11) “Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành để xây dựng và để người nghe được phước” (Eph Ep 4:29).
Nếu khắc phục được miệng lưỡi, ta sẽ có được một kinh nghiệm rất quí. Ta sẽ chấm dứt, không còn thường xuyên quan sát người khác để phê phán, lên án, phân loại, tức là để đối xử với người khác bằng bạo lực. Nhưng ta sẽ hoàn toàn chấp nhận người anh chị em như Đức Chúa Trời chấp nhận người anh chị em. Tầm mắt ta sẽ mở rộng, và lần đầu tiên ta sẽ ngạc nhiện nhận ra rằng người anh chị em là một tạo vật quí giá do Đức Chúa Trời vinh quang sáng tạo. Đức Chúa Trời tạo nên người khác không theo ý tôi. Ngài cho phép người khác trở thành anh chị em của tôi không phải để tôi khống chế, nhưng để tôi tìm thấy Đấng Tạo Hoá qua người đó. Sự tự do mà Đức Chúa Trời sáng tạo cho người khác sẽ trở thành lý do làm tôi vui mừng, chứ không còn là lý do làm tôi khổ sở như trước nữa. Đức Chúa Trời không muốn tôi uốn nắn người khác theo ảnh tượng mà tôi yêu thích, tức là theo ảnh tượng riêng của tôi, nhưng Đức Chúa Trời với sự tự do của Ngài - Ngài không lệ thuộc vào tôi - đã tạo dựng người khác theo như ảnh tượng của Ngài. Tôi không bao giờ có thể biết trước ảnh tượng của Đức Chúa Trời trong người khác như thể nào; ảnh tượng của Đức Chúa Trời trong người khác luôn luôn mới mẻ, hoàn toàn tuỳ thuộc vào công trình sáng tạo với sự tự do của Ngài.
Ảnh tượng của Đức Chúa Trời trong người khác có thể khác lạ đối với tôi, cũng có thể rất là phàm tục. Nhưng Đức Chúa Trời tạo dựng nên người khác theo như ảnh tượng của Con Ngài, Đấng chịu đóng đinh trên cây thập tự; ngay cả ảnh tượng này đối với tôi, khi tôi chưa thấu đáo, cũng rất xa lạ và phàm tục.
Tất cả những khác biệt của cá nhân trong cộng đồng, mạnh hoặc yếu, khôn ngoan hoặc dại dột, có tài hoặc bất tài, sùng đạo hoặc ít sùng đạo, không còn là lý do để ta bàn bạc, xét xử, lên án, tức là để tự biện hộ nữa, nhưng sẽ trở thành lý do để ta mừng cho nhau và phục vụ nhau. Giờ đây, mỗi phần tử trong cộng đồng đều có một chỗ đứng, không phải để tự vệ tốt nhất, nhưng để phục vụ hiệu quả nhất.
Trong một cộng đồng tín hữu, điểm quan trọng là mỗi một cá nhân đều là một móc xích không thể thiếu trong một sợi dây xích dài. Chỉ khi nào mỗi một móc xích, kể cả móc xích nhỏ nhất, bắt khớp chặt chẽ, dây xích mới không đứt đoạn. Một cộng đồng bỏ mặc các phần tử vô dụng sinh hoạt trong cộng đồng sẽ bị suy vong vì cớ những phần tử đó. Vì thế mỗi cá nhân đều phải nhận một công tác để xây dựng cộng đồng; nhờ đó khi hoài nghi mỗi người đều biết rằng mình không phải là người vô dụng và vô ích. Mỗi cộng đồng tín hữu nên biết rằng không phải chỉ người yếu cần người mạnh nhưng người mạnh cũng không thể hiện hữu nếu không có người yếu. Cộng đồng sẽ chết nếu gạt bỏ những người yếu. Trong một cộng đồng tín hữu ta không thể sống nếp sống tự biện hộ - nên cưỡng bức người khác, nhưng phải sống nếp sống của người được xưng công chính bởi ân sủng - nên chuyên tâm phục vụ. Ai kinh nghiệm ân sủng của Đức Chúa Trời, người đó sẽ chỉ lo phục vụ. Vai trò kiêu hãnh của người chánh án không còn quyến rũ người đó được nữa, nhưng người đó muốn hạ mình xuống chỗ thấp hèn để hoà mình với những người đáng thương và tầm thường, vì Đức Chúa Trời đã từng tìm thấy mình ở chỗ thấp hèn đó. “Đừng ước ao những sự cao sang, nhưng hãy hoà mình xuống với những sự thấp hèn!” (RoRm 12:16)
Bổn phận khiêm tốn
Ai muốn học phục vụ, người đó trước nhất phải học suy nghĩ khiêm tốn về bản thân mình. “Mỗi người trong anh em chớ có tư tưởng cao quá lẽ” (RoRm 12:3). “Bổn phận tối cao và hữu ích nhất là tự biết thấu đáo về mình và học tập suy nghĩ khiêm tốn về mình. Sự khôn ngoan và hoàn hảo vĩ đại là tự cho mình tầm thường, ngược lại luôn luôn có quan điểm tốt về người khác “ (Thomas a Kempis). “Chớ cho mình là khôn ngoan” (RoRm 12:16)!
Ai sống nhờ sự tha tội trong Chúa Giê-xu Cứu Thế, chỉ người đó mới thành thật suy nghĩ khiêm tốn về mình. Người đó biết rằng khi Chúa Cứu Thế tha thứ cho mình, lúc đó sự khôn ngoan của mình đang giẫy chết. Người đó nhớ lại sự khôn ngoan của những con người đầu tiên muốn biết điều thiện và điều ác và rồi chết trong sự khôn ngoan này. Còn người sinh ra đầu tiên trên trái đất này, Ca-in, là người giết em mình. Đó là hậu quả của sự khôn ngoan của con người. Khi không còn tự coi mình là khôn ngoan nữa, người tín hữu sẽ suy tư khiêm tốn về những chương trình và ý định của mình. Người đó biết rằng trong khi sinh hoạt với người lân cận, nếu ý muốn riêng của mình không được thực hiện thì vẫn là điều tốt. Người tín hữu sẵn sàng coi ý muốn của người lân cận quan trọng hơn và cấp thiết hơn ý muốn của mình. Nếu chương trình riêng của mình bị phá hỏng thì có hại gì? Tuy ý muốn của mình bị phá hỏng nhưng lại được phục vụ người lân cận, như thế không đáng quí hơn sao?
Chẳng những ý muốn của người khác mà cả vinh dự của người khác cũng quan trọng hơn vinh dự của riêng tôi. “Các ngươi vẫn nhận vinh quang từ nơi nhau, không tìm kiếm vinh quang từ nơi một mình Đức Chúa Trời, thì thể nào các ngươi tin được?” (GiGa 5:44). Niềm khao khát vinh dự cho riêng mình ngăn trở đức tin. Ai tìm vinh dự cho riêng mình, người đó không còn tìm Đức Chúa Trời và người lân cận nữa. Khi tôi bị thiệt thòi thì có hại gì? Nếu Đức Chúa Trời không đối xử với tôi bằng tình thương của Ngài, phải chăng tôi không đáng bị Ngài hình phạt nặng hơn sao? Trong khi chịu nỗi bất công, phải chăng tôi không được đối xử hàng ngàn lần công bằng sao? Học tập chịu đựng những điều bất công nho nhỏ này trong yên lặng và kiên nhẫn phải chăng không ích lợi và tốt đẹp cho tính khiêm nhường sao? “Lòng kiên nhẫn hơn lòng kiêu ngạo” (TrGv 7:8).
Ai sống nhờ sự xưng công chính bởi ân sủng, người đó cũng sẵn sàng cam chịu nhục mạ và xúc phạm, không phản đối nhưng chấp nhận tất cả từ bàn tay sửa phạt và ân sủng của Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao-lô đã từng cương quyết đòi hỏi những quyền lợi dành cho một công dân La-mã, và Chúa Giê-xu đã từng trả lời với người đánh Ngài rằng: “Tại sao ngươi đánh ta” (GiGa 18:23). Nhưng chúng ta sẽ không thể thực sự xử sự giống như Chúa Giê-xu và Sứ đồ Phao-lô nếu trước hết không học tập yên lặng như Chúa và Sứ đồ Phao-lô đã yên lặng khi bị xúc phạm và sỉ nhục. Tội tự ái, một tội ta thường và dễ phạm trong sinh hoạt cộng đồng, cho ta thấy trong cộng đồng còn có rất nhiều tham vọng sai lầm, tức là còn có rất nhiều sự vô tín.
Cuối cùng, ta cần đề cập đến một điểm rất đặc biệt. Không tự cho mình khôn ngoan, nhưng hạ mình xuống với những người thấp hèn có nghĩa là nghiêm túc - chứ không phải khách sáo - coi mình là một người phạm tội nặng nhất. Điều này chẳng những hoàn toàn mâu thuẫn với con người thiên nhiên, nhưng cũng xung khắc với những tín hữu tự tin. Điều này có vẻ cực đoan, không thành thật. Nhưng chính Phao-lô, khi đề cập đến chức vụ Sứ đồ của mình, cũng tự cho mình là một tội nhân phạm tội nặng nhất (ITi1Tm 1:15). Ta không thành tâm xưng tội nếu không hạ mình xuống đáy sâu này. Nếu ta so sánh với tội lỗi của người khác và thấy tội lỗi của mình còn nhỏ, còn ít, tức là ta chưa thực sự nhận thức được tội lỗi của mình. Tội lỗi của tôi phải là tội lớn nhất, nặng nhất, gian ác nhất. Trong tình yêu anh chị em, tôi thấy có nhiều lý do để tha thứ tội lỗi của người khác, nhưng tội lỗi của tôi thì không thể nào tha thứ được. Vì thế tội lỗi của tôi nặng nhất. Ai muốn phục vụ anh chị em mình trong cộng đồng, người đó phải hạ mình xuống đáy sâu. Nếu còn thấy tội của người khác nặng hơn tội của tôi, làm sao tôi có thể thành thực - không giả dối - hạ mình phục vụ người đó? Nếu không khá hơn người khác, làm sao tôi có thể giúp đỡ người khác được? Phục vụ với một thái độ như thế là phục vụ giả dối. “Đừng nghĩ rằng bạn sẽ đi được một bước trên con đường nên thánh nếu bạn không cảm biết sâu xa rằng bạn nhỏ bé hơn tất cả mọi người khác” (Thomas a Kempis)!
Anh chị em trong cộng đồng tín hữu có những nhiệm vụ nào để phục vụ lẫn nhau? Ngày nay ta thường có khuynh hướng vội vã trả lời rằng, nhiệm vụ chân chánh duy nhất phục vụ người lân cận là nhiệm vụ phục vụ bằng Lời Đức Chúa Trời. Thực đúng như vậy. Không có nhiệm vụ nào có thể so sánh với nhiệm vụ này; tất cả các nhiệm vụ đều được thực hiện dựa vào nhiệm vụ này. Tuy nhiên, một cộng đồng tín hữu không chỉ gồm các vị Truyền đạo truyền bá Lời. Ta có thể sai lầm nếu ta không nhắc đến những nhiệm vụ khác.
Nhiệm vụ lắng nghe
Nhiệm vụ thứ nhất mà mỗi người trong cộng đồng đều phải thực hiện để phục vụ người khác là lắng nghe anh chị em của mình. Ta bắt đầu yêu Đức Chúa Trời khi lắng nghe Lời Ngài. Cũng thế, ta bắt đầu yêu thương anh chị em trong cộng đồng khi học tập lắng nghe họ. Vì yêu thương ta nên Đức Chúa Trời chẳng những ban Lời Ngài cho ta nhưng cũng cho ta mượn tai của Ngài. Vì thế công việc của Ngài mà ta phải thực hiện đối với anh chị em của mình là lắng nghe. Các tín hữu, nhất là các vị Truyền đạo, thường tưởng rằng nhiệm vụ duy nhất của mình là phải thường xuyên “cống hiến” cho người khác một cái gì đặc biệt, nhất là khi sinh hoạt chung với họ. Ta quên rằng, nghe có thể là một nhiệm vụ quan trọng hơn nói. Nhiều người đi tìm một lỗ tai sẵn sàng nghe, nhưng trong vòng các tín hữu họ không tìm được một lỗ tai nào sẵn sàng nghe, vì các tín hữu thường nói vào những lúc đáng lẽ họ phải nghe. Ai không thể lắng nghe anh chị em của mình, người đó cũng sẽ không lắng nghe Đức Chúa Trời mà chỉ muốn nói trước mặt Ngài mà thôi. Đó là lúc sự sống thuộc linh bắt đầu chết, và cuối cùng chỉ còn lại những chuyện “thuộc linh” nhảm nhí, những giáo điều giả dối, được thêu dệt bằng những lời lẽ thiêng liêng. Ai không thể kiên nhẫn lắng nghe, người đó sẽ nói mà không hiểu người khác, cũng không nhận thấy chính mình không hiểu gì hết. Ai nghĩ, thời gian của mình quá quí nên không thể dành thời gian để lắng nghe, người đó sẽ không bao giờ thực sự có thời gian cho Đức Chúa Trời và cho anh chị em mình, nhưng luôn luôn có thời gian cho mình, cho lời nói và chương trình của riêng mình.
Công tác chăm sóc đời sống thuộc linh của các anh chị em trong cộng đồng khác công tác giảng luận ở điểm này: ngoài nhiệm vụ chia sẻ Lời còn có thêm nhiệm vụ lắng nghe. Có loại lắng nghe bằng nửa lỗ tai, nghĩa là nghe với ý nghĩ đã biết tất cả những điều người khác sẽ nói. Đó là loại lắng nghe thiếu kiên nhẫn, thiếu chú ý, khinh thường người anh chị em và chỉ chờ đến phiên mình nói để nói cho người khác cút đi. Với thái độ đó chúng ta sẽ không bao giờ hoàn thành nhiệm vụ của chúng ta, và ở đây, thái độ của chúng ta đối với anh chị em mình cũng phản ảnh lại mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời. Nếu không lắng tai nghe những chuyện nho nhỏ của anh chị em, chắc chắn chúng ta cũng không thể thực hiện nhiệm vụ nghe lời xưng tội của anh chị em mình, một nhiệm vụ lắng nghe quan trọng nhất mà Đức Chúa Trời giao cho chúng ta. Con người phàm tục trong xã hội ngày nay biết rằng mình có thể giúp đỡ người khác rất nhiều bằng cách chỉ thành tâm lắng nghe. Con người đã dùng kiến thức này để khám phá ra phương pháp tâm trị, một phương pháp thu hút rất nhiều người, kể cả các tín hữu. Nhưng người tín hữu quên rằng Đấng lắng nghe vĩ đại đã giao cho mình nhiệm vụ lắng nghe và cho phép mình dự phần với Ngài trong công tác này. Chúng ta cần nghe với lỗ tai của Đức Chúa Trời để có thể nói bằng Lời của Ngài.
Nhiệm vụ giúp đỡ
Nhiệm vụ thứ hai mà ta phải thực hiện trong cộng đồng tín hữu để phục vụ người khác là giúp đỡ cụ thể. Đó là những việc làm đơn giản để đáp ứng những nhu cầu nho nhỏ. Tất cả các cộng đồng đều có rất nhiều nhu cầu này. Không có một người nào quá tài năng đến nỗi không nên làm một việc quá nhỏ. Ta sợ mất thì giờ khi làm những công việc giúp đỡ nho nhỏ này vì ta thường coi công việc của mình quá quan trọng.
Chúng ta cần sẵn sàng để Đức Chúa Trời gián đoạn công việc của chúng ta. Chúa thường xuyên - mỗi ngày - làm hỏng chương trình và kế hoạch của chúng ta bằng cách sai những người cần được giúp đỡ đến với chúng ta. Có thể chúng ta đã tránh họ, bỏ đi, bận rộn với những công việc quan trọng hằng ngày của mình, giống như thầy tế lễ tránh người bị cướp, bỏ đi, có lẽ vừa đi vừa đọc Kinh Thánh. Chúng ta tránh cây thập tự được dựng lên cụ thể trong cuộc đời của chúng ta; cây thập tự này nhằm chỉ cho chúng ta thấy rằng con đường của chúng ta không có giá trị nhưng con đường của Đức Chúa Trời mới có giá trị. Một sự thật khó tin là: chính các tín hữu và các nhà thần học là những người thường coi công việc của mình quan trọng, cấp bách, và không muốn bị gián đoạn vì cớ bất cứ lý do gì. Họ tưởng như vậy là phục vụ Đức Chúa Trời và khinh thường “con đường vòng nhưng thẳng” của Ngài (Gottfried Arnold). Họ không muốn sinh hoạt hằng ngày của mình bị phá rối. Nhưng đức khiêm nhường dạy rằng chúng ta không nên ngại bẩn tay khi bàn tay của mình có thể phục vụ, rằng chúng ta không được quản lý thì giờ của chúng ta, nhưng Đức Chúa Trời sử dụng thì giờ của chúng ta. Trong các tu viện, khi người tu sĩ thề nguyện vâng lời có nghĩa là sẵn sàng để vị tu viện trưởng sử dụng thì giờ của mình.
Trong các cộng đồng Tin Lành, công tác tình nguyện phục vụ anh chị em thay thế lời thề này. Chỉ khi nào bàn tay của chúng ta sẵn sàng thực hiện những công việc của tình yêu và sự thương xót qua những hành động giúp đỡ hằng ngày thì môi miệng của chúng ta mới có thể truyền bá Lời của tình yêu và sự thương xót của Đức Chúa Trời một cách vui mừng và đáng tin.
Nhiệm vụ mang vác
Chúng ta bàn đến nhiệm vụ thứ ba , nhiệm vụ mang vác người khác. “Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Chúa Cứu Thế” (GaGl 6:2)! Như vậy, luật pháp của Chúa là luật pháp mang vác. Mang vác là chịu đựng. Đối với một tín hữu - nhất là đối với một tín hữu - người anh chị em là một gánh nặng. Đối với người ngoại giáo tha nhân không phải là gánh nặng. Người ngoại giáo tránh tất cả mọi gánh nặng, nhưng người tín hữu phải mang vác gánh nặng anh chị em mình.
Người tín hữu phải chịu đựng anh chị em mình. Chỉ khi nào người khác là gánh nặng, người khác mới là anh chị em của ta, chứ không phải là một đối tượng để ta chế ngự. Đối với chính Đức Chúa Trời, con người là gánh nặng nặng trĩu đến nỗi Ngài phải mang vác đến cây thập tự.
Đức Chúa Trời đã thực sự chịu đựng con người qua thân thể của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài đã mang vác con người, như người mẹ bồng ẵm con mình, như người chăn mang vác con chiên đi lạc. Đức Chúa Trời chấp nhận con người; con người đè nặng trên Ngài, nhưng Đức Chúa Trời vẫn ở với con người và con người với Ngài. Trong khi chịu đựng con người, Đức Chúa Trời giữ mối tương giao với con người. Đó là luật pháp của Chúa Cứu Thế, đã được chấp hành trên cây thập tự. Người tín hữu được dự phần vào luật pháp này. Người tín hữu cần mang vác và chịu đựng anh chị em của mình, nhưng quan trọng hơn là, hiện nay người tín hữu có thể mang vác anh chị em mình đúng theo luật pháp mà chính Chúa đã chấp hành.
Điểm đặc biệt là Kinh Thánh thường đề cập đến mang vác. Có thể nói, Kinh Thánh dùng từ này để diễn tả toàn bộ công lao của Chúa Giê-xu Cứu Thế. “Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta” (EsIs 53:4). Vì thế Kinh Thánh cũng có thể gọi toàn bộ cuộc đời của tín hữu là cuộc đời vác cây thập tự. Vác cây thập tự là thực hiện mối tương giao trong thân thể của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Trong mối tương giao của cây thập tự mỗi người đều mang vác gánh nặng cho nhau. Nếu mỗi người không có kinh nghiệm mang vác, cộng đồng tín hữu đó sẽ không tồn tại. Ai từ chối mang vác gánh nặng anh chị em mình, người đó cũng từ chối luật pháp của Chúa Cứu Thế.
Trước nhất, sự tự do của người khác là gánh nặng của người tín hữu. Sự tự do của người khác mâu thuẫn với tính độc tài của ta, nhưng ta phải công nhận sự tự do của người khác. Ta có thể cất bỏ gánh nặng này bằng cách không cho người khác tự do, bằng cách cưỡng bức người khác, ép buộc người khác phải có ảnh tượng của mình. Nhưng nếu ta để Đức Chúa Trời tạo dựng ảnh tượng của Ngài trong ta, ta cũng phải để Ngài tự do tạo dựng ảnh tượng của Ngài trong người khác và phải mang vác gánh nặng tự do của những tạo vật khác. Sự tự do của người khác gồm những yếu tố mà ta gọi là bản chất, đặc tính, năng khiếu, cũng gồm những khuyết điểm và tính tình bất thường là những yếu tố đòi hỏi ta phải rất kiên nhẫn mới chịu đựng được, cũng gồm tất cả những yếu tố thường phát sinh ra xích mích, mâu thuẫn và xung đột giữa ta với người. Ở đây, mang vác gánh nặng người khác có nghĩa là chấp nhận và tán đồng sự kiện Đức Chúa Trời tạo dựng người khác, rồi từ chỗ chịu đựng người khác ta đổi thành vui mừng về người khác.
Trong một cộng đồng tín hữu, gánh nặng trở thành nặng hơn vì có người mạnh và người yếu trong đức tin. Người yếu không nên kết án người mạnh, người mạnh không nên khinh thường người yếu. Người yếu nên tránh tính kiêu căng, người mạnh nên tránh tính lãnh đạm. Không ai đòi hỏi quyền riêng. Nếu người mạnh vấp ngã, người yếu không vui sướng trên sự đau khổ của người mạnh; nếu người yếu vấp ngã, người mạnh chân thành giúp đỡ người yếu đứng dậy. Mọi người đều kiên nhẫn với nhau. “Nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên” (TrGv 4:10)! Khi đề cập đến đức chịu đựng sự tự do của người khác, Kinh Thánh dạy rằng: “Hãy nhường nhịn nhau” (CoCl 3:13), “hãy bước đi trong sự khiêm nhường, hiền lành, kiên nhẫn, hoà thuận với nhau trong tình thương” (Eph Ep 4:2)!
Bên cạnh sự tự do của người khác còn có sự lợi dụng sự tự do trong tội lỗi ; đó cũng là gánh nặng của anh chị em trong cộng đồng mà người tín hữu phải mang vác. Tội lỗi của người khác còn nặng nề khó mang hơn là sự tự do của người khác; vì tội lỗi phá hỏng mối tương giao với Đức Chúa Trời và với các anh chị em. Ở đây, trong mối tương giao do Chúa Giê-xu Cứu Thế ban cho, người tín hữu cần chịu đựng sự đổ vỡ với người khác.
Nhưng ở đây ân sủng vĩ đại của Đức Chúa Trời cũng sẽ được thể hiện rõ ràng nếu ta sẵn sàng mang vác. Ta không khinh thường nhưng mang vác người khác, nghĩa là không bỏ rơi nhưng chấp nhận người đó, dùng sự tha thứ săn sóc người đó trong cộng đồng. “Hỡi anh em, nếu có người nào tình cờ phạm lỗi gì, anh em là người có Chúa Thánh Linh, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại” (GaGl 6:1) ! Như Chúa Cứu Thế mang vác và chấp nhận ta là những con người tội lỗi, ta cũng phải chấp nhận người có tội qua mối tương giao với người đó và mang vác người đó đến với mối tương giao của Chúa Giê-xu Cứu Thế qua sự tha tội. Ta phải chịu đựng tội lỗi của người anh chị em, không cần phải kết án. Đó là ân sủng dành cho người tín hữu. Khi tội lỗi xảy ra trong cộng đồng, mọi người cần tự kiểm thảo và tự buộc tội vì đã không trung tín cầu nguyện và cầu thay cho người phạm tội, vì mình thiếu phục vụ người anh chị em đó, thiếu sửa sai và an ủi trong tinh thần anh chị em, vì đó chính là tội lỗi riêng của mình, vì sự vô kỷ luật của mình đã phương hại đến cộng đồng và các anh chị em trong cộng đồng. Vì mỗi tội lỗi của mỗi cá nhân tố cáo và buộc tội toàn thể cộng đồng, nên toàn thể Hội Thánh đều đau đớn vì cớ tội lỗi của người anh chị em gây ra cho Hội Thánh, sẵn sàng mang vác gánh nặng tội lỗi và tha thứ cho người phạm tội. “Này, bạn mang vác tất cả mọi người, tất cả mọi người cũng mang vác bạn, và tất cả mọi việc, việc lành lẫn việc dữ, đều là của chung” (Luther).
Ta phải thực hiện nhiệm vụ tha thứ mỗi ngày. Ta tha thứ - không cần nói ra lời - khi cầu thay cho nhau; khi thành tâm thực hiện nhiệm vụ này, mỗi phần tử trong cộng đồng đều phải tin tưởng rằng tất cả các anh chị em của mình trong cộng đồng cũng thực hiện nhiệm vụ này cho mình. Người nào mang vác người khác mới kinh nghiệm được rằng mình cũng được mang vác, và chỉ nhờ sức mạnh này người đó mới có thể mang vác.
Chỉ khi nào ta thành tâm thực hiện nhiệm vụ lắng nghe, nhiệm vụ giúp đỡ cụ thể, nhiệm vụ mang vác, lúc đó ta mới có thể thực hiện nhiệm vụ cuối cùng và cao cả nhất: nhiệm vụ thực hiện bằng Lời Đức Chúa Trời.
Nhiệm vụ truyền bá
Nhiệm vụ mà chúng ta bàn ở đây là con người dùng lời tiếp xúc với con người, tiếp xúc một cách tự nguyện, không câu nệ có chức vị hay không, không lệ thuộc vào thời gian và không gian. Đây là một cơ hội đặc biệt trên trần thế: con người dùng lời của con người làm chứng với người khác về ân an ủi, lời khuyến cáo, lòng nhân từ và đức nghiêm minh của Đức Chúa Trời. Có rất nhiều nguy cơ đe doạ lời này. Trước khi nói, nếu ta không nghiêm túc nghe Lời thì lời nói của ta có nghiêm túc không? Nếu lời nói và việc làm mâu thuẫn với nhau thì lời nói có đáng tin và xác thực không? Nếu lời nói không xuất phát từ tinh thần mang vác, nhưng từ sự nóng nảy và tinh thần ép buộc, làm sao lời nói có thể giải cứu và chữa lành được?
Ngược lại, môi miệng ta rất dễ câm lặng khi người khác cần nghe, khi ta phải phục vụ và mang vác. Con người không tin tưởng vào “lời nói mà không có việc làm”; điều này thường làm ta ngại tâm tình riêng với các anh chị em ta. Ta thường tự nhủ, lời nói bất lực của con người có thể giúp gì cho người khác? Ta có nên lải nhải những lời vô ích không? Ta có nên nói như những người đạo đức giả nhà nghề, thao thao bất tuyệt bất chấp nhu cầu của người khác không? Còn gì nguy hiểm hơn là thêm thắt vào Lời Đức Chúa Trời? Nhưng ngược lại, ai sẽ chịu trách nhiệm nếu ta nín lặng khi cần nói? Phải chăng nói từ toà giảng những lời đã được soạn sẵn dễ hơn là nín lặng hoặc nói ra những lời thích hợp trong sinh hoạt hằng ngày?
Ngoài việc sợ chịu trách nhiệm về lời nói của mình, ta còn sợ người khác. Ta thường ngại mở miệng nói về Chúa Giê-xu Cứu Thế cho một người anh chị em của mình. Ở đây giữa “Đúng” và “Sai” cũng dễ lẫn lộn với nhau. Ai có quyền xen vào việc riêng của người lân cận? Ai có quyền sửa sai, xúc phạm và bàn bạc với người lân cận về những việc riêng tư của người đó? Ở đây nếu ta vội vã trả lời rằng mọi người đều có quyền này, hoặc đúng hơn: mọi người đều có bổn phận này, thì ta chưa nói lên được tinh thần của người tín hữu. Trong trường hợp này, tinh thần ép buộc có thể nảy mầm một cách rất thâm độc. Vì thực ra, người khác có quyền, có trách nhiệm và cũng có bổn phận chống lại sự can thiệp từ bên ngoài vào đời tư của họ. Người khác có những bí mật mà ta không được đề cập đến và làm tổn thương, và người khác cũng không được “bật mí” mà tự làm hại chính mình. Đó không phải là những bí mật về kiến thức hoặc về cảm xúc, nhưng là bí mật về sự tự do, về ân cứu rỗi, về sự sinh tồn của người đó. Nhưng ta cũng rất dễ cực đoan, đi đến chỗ lập lại lời nói sát nhân của Ca-in: “Tôi là người giữ em tôi sao?” (SaSt 4:9). Kính trọng sự tự do của người khác một cách thiêng liêng giả tạo có thể gặt hái lời nguyền rủa của Đức Chúa Trời: “Ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi” (Exe Ed 3:18).
Khi các tín hữu sinh hoạt cộng đồng với nhau, có những trường hợp ta phải tâm tình riêng với một người khác về Lời phán và Ý chỉ của Đức Chúa Trời. Ta phải chia sẻ với nhau trong tình anh chị em. Ta sẽ không xử sự đúng tinh thần của người tín hữu nếu ta không thực hiện nhiệm vụ quan trọng này đối anh chị em của mình. Nếu không mở miệng chia sẻ được Lời nào, ta phải tự kiểm thảo lại xem phải chăng ta chỉ nhìn thấy danh dự con người nơi người anh chị em nên không dám xúc phạm đến, và phải chăng ta quên điểm quan trọng nhất: người anh chị em dù lão niên, dù có chức vị, dù quan trọng đến đâu, cũng là một người như ta, một tội nhân đang khao khát ân sủng của Đức Chúa Trời, cũng đang có những vấn nạn to lớn như ta, đang cần sự giúp đỡ, an ủi và tha thứ như ta.
Nền tảng để các tín hữu có thể tâm tình riêng với nhau là mỗi người đều nhận thức rằng người khác cũng là một tội nhân, tuy đáng kính nhưng bị bỏ, bị hư mất nếu không được giúp đỡ. Nói như vậy không có nghĩa là ta khinh thường, bất kính người khác, trái lại, ta kính trọng người khác bằng một sự tôn kính đích thực, tức là sự tôn kính dành cho tội nhân được dự phần vào ân sủng và vinh quang của Đức Chúa Trời, tức là sự tôn kính dành cho con cái của Ngài. Với nhận thức này ta có thể tự do và cởi mở tâm tình riêng với anh chị em ta. Chúng ta đề cập đến sự giúp đỡ mà cả hai đều cần. Chúng ta khuyến cáo nhau đi trên con đường mà Chúa Cứu Thế dành cho chúng ta. Chúng ta cảnh cáo nhau về sự bất tuân đang làm chúng ta truỵ lạc. Chúng ta mềm mỏng và nghiêm minh với nhau, vì chúng ta biết Đức Chúa Trời nhân lành và nghiêm minh. Tại sao chúng ta lại sợ nhau trong khi hai chúng ta chỉ phải kính sợ Đức Chúa Trời mà thôi? Tại sao ta nghĩ rằng người anh chị em sẽ không hiểu mình trong khi ta sẽ hiểu ngay nếu có ai nói - có thể bằng những lời nói rất vụng về - với mình về lời an ủi hoặc khuyến cáo của Đức Chúa Trời? Phải chăng ta nghĩ rằng trên đời này có một người không cần được giúp đỡ và khuyến cáo? Vậy tại sao Đức Chúa Trời lại ban cho ta tình anh chị em trong Chúa?
Nếu càng để cho người khác chia sẻ Lời Chúa cho mình, càng chấp nhận những lời khiển trách và khuyến cáo nghiêm khắc của người khác, ta sẽ càng tự do và khách quan nói ra lời của mình. Ai vì tự ái và kiêu căng từ chối nghe lời nói chân thành của anh chị em mình, người đó không thể khiêm nhường nói ra sự thật với người khác, vì sợ người khác không nghe và mình sẽ bị tổn thương. Người tự ái luôn luôn sẽ là người nịnh hót và rồi chẳng chóng thì chầy trở thành người khinh thường và vu cáo anh chị em mình. Nhưng người khiêm nhường trung thành với sự thật và tình yêu. Người khiêm nhường sống bằng Lời Đức Chúa Trời và để Lời Đức Chúa Trời dắt dẫn mình đến với anh chị em mình. Vì không tìm gì cho mình và không sợ gì, người khiêm nhường có thể dùng Lời Chúa giúp đỡ người khác.
Lời Chúa dạy, khi một người anh chị em hiển nhiên phạm tội, người đó cần được khiển trách. Sự thi hành kỷ luật nên bắt đầu thực hiện trong một nhóm ít người. Nếu ai xa rời Lời Đức Chúa Trời, qua giáo lý hoặc trong nếp sống, làm tổn hại gia đình và toàn thể Hội Thánh, người đó phải được khuyến cáo và trách phạt. Không có điều gì tàn nhẫn hơn là sự khoan dung để rồi phó mặc người khác cho tội lỗi, không có gì nhân từ hơn là sự sửa phạt nghiêm minh để rồi kêu gọi người anh chị em lìa bỏ con đường tội lỗi. Nhiệm vụ của lòng nhân từ, hành động của mối tương giao chân thật là chỉ để Lời của Đức Chúa Trời, Lời tuyên án và giúp đỡ, tác động ở giữa chúng ta. Để rồi không phải chúng ta nhưng Đức Chúa Trời kết án, và Lời kết án của Đức Chúa Trời giúp đỡ và giải cứu. Chúng ta chỉ có thể phục vụ người anh chị em cho đến cuối cùng nếu chúng ta không tự nâng mình lên cao hơn người đó. Chúng ta cũng phục vụ khi chúng ta nói với người anh chị em Lời kết án và phân rẽ của Đức Chúa Trời, khi chúng ta vâng lời Đức Chúa Trời cắt đứt mối tương giao với người đó. Chúng ta biết rằng chúng ta trung thành với nhau không bằng tình thương yêu của con người phàm tục, nhưng bằng tình thương yêu của Đức Chúa Trời, tức làm tình thương yêu đến với con người qua sự xét xử. Lời Đức Chúa Trời phục vụ con người bằng cách xét xử con người. Ai để sự xét xử của Đức Chúa Trời phục vụ mình, người đó sẽ được giúp đỡ. Tất cả nỗ lực của con người để phục vụ anh chị em mình đều có giới hạn; giới hạn đó nằm ở đây: “Chẳng có người nào chuộc được anh em mình, hoặc đóng giá chuộc người nơi Đức Chúa Trời. ...Vì giá chuộc mạng sống họ thật mắc quá, người không thể làm được đến đời đời” (Thi Tv 49:7).
Khi nhận thức được sự bất lực của mình, lúc đó chính là lúc ta tạo điều kiện cho ân cứu giúp của Lời Đức Chúa Trời; lúc đó là lúc ta thừa nhận rằng chỉ có Lời Đức Chúa Trời mới có thể cứu giúp người anh chị em mà thôi. Con đường của người anh chị em không nằm trên tay ta. Ta không thể hàn gắn những gì đổ vỡ. Ta không thể cứu sống những gì muốn chết. Chỉ có Đức Chúa Trời có thể hàn gắn trong sự đổ vỡ, xây dựng mối tương giao trong sự phân rẽ, ban ân sủng qua sự xét xử. Nhưng Đức Chúa Trời đặt Lời Ngài trong môi miệng của chúng ta. Chúa muốn phán dạy qua chúng ta. Nếu chúng ta ngăn trở Lời Ngài, huyết của người anh chị em phạm tội sẽ đổ trên chúng ta. Nhưng nếu chúng ta trung tín chuyển đạt Lời Ngài, Đức Chúa Trời sẽ cứu người anh chị em của chúng ta. “Người làm cho người có tội trở lại, đó là cứu linh hồn người khỏi sự chết và che đậy vô số tội lỗi” (Gia Gc 5:20).
Thẩm quyền của nhiệm vụ
“Hễ ai muốn làm lớn trong các ngươi thì hãy làm đầy tớ” (Mac Mc 10:43). Chúa Giê-xu ban thẩm quyền cho mỗi nhiệm vụ trong cộng đồng. Ta chỉ thực sự có thẩm quyền thuộc linh khi ta thực hiện các nhiệm vụ lắng nghe, giúp đỡ, mang vác và truyền bá. Tất cả những sự tôn sùng cá nhân, bao gồm sự tôn sùng cá tính, khả năng, quyền lực, năng khiếu của một người khác - kể cả những sự tôn sùng có tính cách thuộc linh - đều phàm tục và không thể có trong một cộng đồng tín hữu; sự tôn sùng cá nhân đầu độc cộng đồng tín hữu. Ngày nay nhiều người đòi hỏi Hội Thánh phải có những chức vị “cỡ Giám mục”, phải có “giới tăng lữ”, phải có “những nhà lãnh đạo có đầy đủ quyền hành”. Những đòi hỏi này phát xuất từ một nhu cầu tinh thần bệnh hoạn: nhu cầu thán phục, nhu cầu thiết lập những quyền hành cụ thể của con người, vì thẩm quyền đích thực của nhiệm vụ có vẻ quá yếu ớt. Khi đề cập đến chức vụ giám mục (ITi1Tm 3:1), Kinh Thánh Tân ước không chấp nhận những nhu cầu này. Ở đây ta không thấy nói đến những khả năng của con người, hoặc những cá tính xuất sắc của một thánh nhân. Vị giám mục là một người giản dị, trung tín trong đức tin và nếp sống, một người thi hành chu đáo nhiệm vụ của mình cho Hội Thánh. Thẩm quyền của vị giám mục phát xuất từ sự thi hành nhiệm vụ. Bản thân con người của vị giám mục không có gì để ta phải thán phục.
Người đi tìm thẩm quyền giả tạo muốn tái lập mối liên hệ cá nhân, trực tiếp giữa người và người trong Hội Thánh. Nhưng thẩm quyền chân chính biết rằng tất cả mối liên hệ trực tiếp, nhất là trong vấn đề thẩm quyền, đều rất nguy hiểm, rằng thẩm quyền chỉ có thể có khi phục vụ Đấng duy nhất có thẩm quyền. Người có thẩm quyền chân chính biết rằng mình có trách nhiệm với Lời mà Chúa Giê-xu đã phán, rằng: “Các con chỉ có một Thầy, và tất cả các con đều là anh em” (Mat Mt 23:8). Hội Thánh không cần có những cá nhân xuất sắc, nhưng cần những tôi tớ của Chúa trung thành phục vụ Ngài và anh chị em mình. Hội Thánh không thiếu những cá nhân xuất sắc, nhưng thiếu những tôi tớ phục vụ. Hội Thánh chỉ tín nhiệm người tôi tớ giản dị của Lời, vì Hội Thánh biết rằng Hội Thánh được hướng dẫn không nhờ sự khôn ngoan và tính kiêu ngạo của con người, nhưng bằng Lời của người chăn nhân lành. Trong phạm vi thuộc linh, sự tín nhiệm liên hệ mật thiết với thẩm quyền và lệ thuộc vào sự trung tín phục vụ Chúa Giê-xu chứ không bao giờ lệ thuộc vào khả năng đặc biệt của con người. Người tôi tớ của Chúa Giê-xu chỉ tìm thấy thẩm quyền trong nhiệm vụ của mình, khi không đi tìm thẩm quyền riêng cho mình, nhưng chính mình hạ mình trước thẩm quyền của Lời và làm một người anh chị em sinh hoạt hoà mình với tất cả các anh chị em khác.

Xưng Tội Và Tiệc Thánh
“Vậy hãy xưng tội cùng nhau...” (Gia Gc 5:16) ! Ai cô đơn với tội lỗi của mình, người đó hoàn toàn cô đơn. Người tín hữu, tuy có giờ tĩnh nguyện chung, cầu nguyện chung, có tương giao trong khi phục vụ, nhưng vẫn cô đơn, chưa thực sự hoà mình vào cộng đồng vì sinh hoạt trong cộng đồng với tư cách là một người tin, một người sùng đạo, chứ không sinh hoạt với tư cách là một người phàm tục, tội lỗi. Một cộng đồng sùng đạo không cho phép cá nhân trong cộng đồng làm người tội lỗi. Vì thế mỗi người đều phải giấu kín tội lỗi của mình, giấu mình và giấu cộng đồng. Ta không được phép làm người tội lỗi. Nhiều tín hữu kinh ngạc khi thấy trong hàng ngũ những người sùng đạo có một người tội lỗi. Vì thế ta cô đơn với tội lỗi của mình, cô đơn trong sự dối trá và trong sự giả hình, vì tất cả chúng ta đều là những người tội lỗi.
Nhưng ân sủng của Phúc Âm - rất khó hiểu đối với một người sùng đạo - là đặt ta đối diện với chân lý và nói: Bạn là một tội nhân, một người phạm tội đại ác, nhưng bây giờ với tư cách là một tội nhân bạn hãy đến với Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương bạn. Dù bạn là người thế nào đi nữa, Đức Chúa Trời vẫn yêu thương bạn. Chúa không kỳ vọng điều gì nơi bạn, không của lễ, không công quả, nhưng chỉ kỳ vọng chính bản thân bạn mà thôi. “Hỡi con, hãy dâng lòng con cho Cha” (ChCn 23:26)! Đức Chúa Trời đã đến với bạn để làm cho người có tội được phước. Bạn hãy vui mừng! Đó là Phúc Âm giải phóng qua chân lý. Bạn không thể trốn Đức Chúa Trời được. Trước mặt Ngài, mặt nạ mà bạn mang trước mặt mọi người trở thành vô ích. Ngài muốn thấy bạn trong con người thật của bạn, và Ngài muốn gia ân cho bạn. Bạn không cần dối trá với chính mình và với các anh chị em của mình nữa. Đừng làm như thể bạn không có tội! Bạn có quyền là một người có tội. Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời về điều này; vì Ngài yêu thương tội nhân, và ghét tội lỗi!
Chúa Cứu Thế trở thành Người Anh của chúng ta trong xác thịt để chúng ta tin nhận Ngài. Qua Ngài tình thương của Đức Chúa Trời đến với tội nhân. Trước mặt Ngài con người được quyền làm người có tội và chỉ khi làm người có tội con người mới có thể được cứu giúp. Trước mặt Chúa Cứu Thế tất cả mọi hào quang bề ngoài đều không còn nữa. Chân lý của Phúc Âm trong Chúa Giê-xu Cứu Thế là nỗi đau khổ của tội nhân và đức từ bi của Đức Chúa Trời. Cộng đồng tín hữu phải sống trong chân lý này. Vì thế Chúa ban cho các môn đệ của Ngài thẩm quyền để nghe lời xưng tội và nhân danh Ngài để tha tội. “Các con tha tội cho người nào, người đó sẽ được tha; còn các con cầm tội người nào, người đó sẽ bị cầm” (GiGa 20:23).
Như thế, Chúa Cứu Thế đã tạo dựng Hội Thánh cho ta, và ban cho chúng ta người anh chị em trong Hội Thánh để làm một nguồn phước cho ta. Khi ta xưng tội, người anh chị em thay thế Chúa đối diện với ta. Trước mặt người anh chị em ta không cần phải giả nhân giả nghĩa nữa. Trước mặt toàn thế giới này ta không thể sống thực, ta chỉ có quyền sống thực, làm một tội nhân trước mặt người anh chị em mà thôi; vì ở đây có chân lý và đức từ bi của Chúa Giê-xu Cứu Thế.
Chúa Cứu Thế trở thành Người Anh của ta để cứu giúp ta; bây giờ qua Chúa và với thẩm quyền của Ngài người anh chị em của chúng ta trở thành như Chúa trước mặt ta. Người anh chị em ở trước mặt ta là một dấu hiệu về chân lý và ân sủng của Đức Chúa Trời. Người đó được ban cho ta để giúp đỡ ta. Người đó đại diện cho Chúa nghe lời xưng tội của ta, và người đó nhân danh Chúa tha tội cho ta. Cũng như Đức Chúa Trời, người đó giữ kín lời xưng tội của ta. Khi ta xưng tội với người anh chị em tức là ta xưng tội với Chúa.
Như thế, trong cộng đồng tín hữu có tiếng kêu gọi chúng ta xưng tội với nhau và tha thứ cho nhau; đó là ân sủng vĩ đại của Đức Chúa Trời trong cộng đồng.
Mở đường đến với cộng đồng
Sự xưng tội mở đường đến với cộng đồng . Tội lỗi làm con người cô đơn. Tội lỗi lôi kéo con người ra khỏi cộng đồng. Con người càng cô đơn bao nhiêu, quyền lực của tội lỗi càng tàn phá con người bấy nhiêu. Ta càng lâm vào hố sâu tội lỗi bao nhiêu, nỗi cô đơn càng vô phương cứu chữa bấy nhiêu. Ta không muốn ai biết tội lỗi của mình. Tội lỗi sợ ánh sáng. Trong bóng tối của nín lặng tội lỗi đầu độc toàn bộ bản chất của con người. Điều này cũng có thể xảy ra trong một cộng đồng sùng đạo. Nhưng qua sự xưng tội, ánh sáng của Phúc Âm chiếu vào trong tâm can đen tối và bí mật của con người. Tội lỗi phải bị phơi ra ánh sáng. Điều ta giữ kín sẽ được công bố cho mọi người đều biết. Tất cả mọi điều bí mật và giấu kín sẽ bị bật mí. Đó là một cuộc chiến đấu cam go cho đến khi miệng lưỡi nói ra lời xưng nhận tội lỗi. Nhưng Đức Chúa Trời phá cửa và xích sắt của chúng ta (Thi Tv 107:16).
Khi xưng tội mình ra với người anh chị em trong Chúa, ta sẽ không còn tự bào chữa nữa. Người có tội tự nộp mình, tự thú tất cả những lỗi lầm của mình, và dâng tâm hồn của mình lên cho Đức Chúa Trời. Người có tội được tha tất cả những tội lỗi của mình trong mối tương giao với Chúa Giê-xu Cứu Thế và với người anh chị em đó. Tội lỗi mà ta xưng ra sẽ không còn có quyền lực gì nữa. Tội lỗi đó đã bị tố cáo và bị lên án. Tội lỗi đó không còn có thể phá hại mối tương giao được nữa. Bây giờ mối tương giao mang vác tội lỗi của ta. Ta không còn cô đơn với tội lỗi của mình, nhưng qua sự xưng tội ta đã “cởi bỏ” sự gian ác của ta và giao phó cho Đức Chúa Trời. Chúa đã cất tội lỗi của ta đi. Bây giờ ta ở trong cộng đồng của những người có tội, gồm những người sống nhờ ân sủng của Đức Chúa Trời trên cây thập tự của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Bây giờ ta có quyền làm một người tội lỗi, nhưng là một người vui mừng trước ân sủng của Chúa. Ta có quyền xưng tội lỗi của mình ra và nhờ đó mà ta tìm được sự tương giao. Tội lỗi giấu kín cách ly ta với cộng đồng, làm cho tất cả mối tương giao cụ thể trở thành mù mờ, nhưng tội lỗi xưng ra giúp ta tìm đến với mối tương giao với các anh chị em trong Chúa Giê-xu Cứu Thế.
Ở đây chúng ta đang bàn đến sự xưng tội giữa hai người tín hữu. Để người có tội có thể tìm lại được mối tương giao trong cộng đồng, ta không cần phải xưng tội ra trước tất cả mọi người. Qua người anh chị em mà ta xưng tội - người đã tha tội cho ta - ta gặp gỡ toàn thể cộng đồng. Qua mối tương giao mà ta tìm được nơi người anh chị em ta nhận được mối tương giao của toàn thể cộng đồng; vì ở đây không có một người nào xử sự theo ý riêng mình và với thẩm quyền của chính mình, nhưng xử sự theo mệnh lệnh mà Chúa Giê-xu Cứu Thế đã ban cho cộng đồng, và mỗi phần tử trong cộng đồng đều được kêu gọi thực thi mệnh lệnh đó. Khi một tín hữu sinh hoạt trong cộng đồng biết xưng tội trước mặt một người anh chị em khác, người đó không bao giờ bị cô đơn.
Mở đường đến với cây thập tự
Sự xưng tội mở đường đến với cây thập tư . Căn nguyên của tất cả mọi tội lỗi là sự kiêu ngạo, là superbia. Tôi muốn sống cho tôi, tôi có quyền trên chính bản thân tôi, có quyền ghen ghét và thèm muốn, có quyền trên sự sống và cái chết của tôi. Sự kiêu ngạo làm cho tinh thần và thể xác của con người bệnh hoạn; vì trong sự gian ác của mình con người muốn giống như Đức Chúa Trời. Sự xưng tội với người anh chị em trong Chúa là một điều rất nhục nhã, làm ta đau đớn, mất giá trị, và đánh gục ngã sự kiêu ngạo của ta. Ta phải làm một người tội lỗi đứng trước mặt anh chị em của mình! Đó là một điều sỉ nhục vô cùng đối với ta. Khi xưng những tội lỗi cụ thể ra, lúc đó con người ta bị chết đau đớn trước mặt người anh chị em. Vì khó lòng chịu nổi nhục nhã này, nên ta thường tưởng mình có thể tránh né, không cần phải xưng tội trước mặt một người anh chị em trong Chúa. Ta bị chói mắt đến nỗi không thể thấy được Lời Hứa và vinh quang của sự nhục nhã này. Chính Chúa Giê-xu Cứu Thế, chứ không ai xa lạ, đã công khai chịu sự nhục nhã của tội nhân thay thế chúng ta, đã không hổ thẹn chịu đóng đinh trên cây thập tự như một người có tội. Sự tương giao với Chúa Giê-xu Cứu Thế dẫn đưa ta vào cái chết nhục nhã của sự xưng tội để ta dự phần vào chân lý trên cây thập tự. Cây thập tự của Chúa Giê-xu Cứu Thế tiêu diệt tất cả mọi sự kiêu ngạo. Ta không thể nào tìm thấy cây thập tự của Chúa nếu ta ngại không đi đến chỗ Chúa đã công khai chết cái chết của tội nhân. Nếu ta hổ thẹn, không chấp nhận chịu cái chết nhục nhã của tội nhân qua sự xưng tội, tức là ta từ khước vác cây thập tự. Qua sự xưng tội, ta thực sự tương giao với Chúa Giê-xu Cứu Thế trên cây thập tự. Xưng tội là chấp nhận cây thập tự. Trong cái đau đớn cực độ của tâm linh và thể xác vì cớ bị nhục nhã trước mặt người anh chị em, tức là trước mặt Chúa, ta kinh nghiệm cây thập tự của Chúa Giê-xu là sự cứu rỗi và phước hạnh của mình. Con người cũ chết, nhưng Đức Chúa Trời đã chiến thắng cái chết. Bây giờ ta dự phần vào sự sống lại và sự sống đời đời của Chúa Cứu Thế.
Mở đường đến với sự sống mới
Sự xưng tội mở đường đến với sự sống mới . Khi ta ghét tội, xưng ra và được tha thứ, lúc đó là lúc ta đoạn tuyệt với quá khứ. “Mọi sự cũ đã qua đi.” Hễ ở đâu có sự đoạn tuyệt với tội lỗi, ở đó có sự hoán cải. Xưng tội là hoán cải. “Kìa, mọi sự đều trở nên mới” (IICo 2Cr 5:17). Chúa Giê-xu Cứu Thế ban cho ta một cơ hội mới để ta có thể bắt đầu. Như các môn đệ đầu tiên khi nghe tiếng Chúa gọi đã từ bỏ tất cả để theo Ngài, khi xưng tội người tín hữu cũng từ bỏ tất cả đi theo Chúa. Xưng tội là đi theo Chúa. Sự sống với Chúa Giê-xu Cứu Thế và với Hội Thánh của Ngài bắt đầu. “Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn; nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó sẽ được thương xót” (ChCn 28:13). Khi xưng tội, lúc đó là lúc người tín hữu bắt đầu bỏ tội. Quyền lực của tội lỗi bị tiêu diệt. Bắt đầu từ nay người tín hữu thắng hết trận này đến trận khác. Điều ta kinh nghiệm trong Lễ Báp-tem, nay ta lại được kinh nghiệm một cách mới mẻ. Ta được giải cứu khỏi bóng tối và bước vào Nước Chúa Giê-xu Cứu Thế. Đó là Tin Lành. Sự xưng tội tái lập niềm vui báp-tem. “Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, nhưng buổi sáng có sự vui mừng” (Thi Tv 30:6).
Mở đường đến sự tin chắc
Sự xưng tội mở đường cho ta đến sự tin chắc . Tại sao xưng tội trước mặt Chúa thường dễ hơn xưng tội trước mặt anh chị em trong Chúa? Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết và vô tội. Ngài là vị chánh án công chính xét xử tội lỗi và là kẻ thù của tất cả mọi sự bất tuân. Còn người anh chị em cũng tội lỗi như ta, cũng thấu đáo đêm tối của những tội lỗi lén lút qua kinh nghiệm của mình. Vậy đáng lẽ xưng tội trước mặt người anh chị em dễ hơn xưng tội trước mặt Đức Chúa Trời thánh khiết chứ? Nhưng tại sao ta lại cảm thấy ngược lại? Ta nên tự hỏi, phải chăng khi xưng tội trước mặt Đức Chúa Trời ta thường tự lừa dối mình, phải chăng thay vì xưng ra ta chôn giấu tội lỗi của mình. Và phải chăng ta thường tái phạm, bất tuân nhiều lần chính là vì ta sống dựa vào sự tự tha chứ không phải thực sự Chúa tha thứ tội lỗi cho ta? Tự tha tội không bao giờ giúp ta thoát được tội lỗi. Muốn thoát khỏi tội lỗi chỉ nhờ lời kết án và gia ân của Đức Chúa Trời mà thôi. Ai có thể giúp ta tin chắc rằng ta đã xưng tội trước mặt Chúa và chính Chúa hằng sống đã tha tội cho ta chứ không phải ta xưng tội với chính mình và tự tha tội cho mình? Đức Chúa Trời ban cho ta sự tin chắc này qua người anh chị em của ta. Người anh chị em giúp ta không còn tự lừa dối mình nữa. Ai xưng tội trước mặt anh chị em mình, người đó biết rằng bây giờ mình không còn một mình, người đó kinh nghiệm được sự hiện diện của Đức Chúa Trời qua sự hiện diện của một người khác. Hễ khi nào tôi còn xưng tội với một mình tôi, tất cả tội lỗi còn ở trong bóng tối, nhưng khi xưng tội trước mặt người anh chị em, tất cả tội lỗi bị phơi ra ánh sáng. Vì sớm muộn gì rồi tội lỗi cũng sẽ bị phơi ra ánh sáng, nên tốt hơn hiện nay ta xưng ra với một người anh chị em, còn hơn là chờ đến sau này, khi tội lỗi ta bị vạch trần trong ngày tận thế giữa thanh thiên bạch nhật trước toà án cuối cùng. Như thế, cơ hội xưng tội trước mặt anh chị em trong Chúa là một ân sủng. Nhờ đã xưng tội, ta không còn lo sợ về toà án của Chúa nữa. Chúa ban người anh chị em cho ta để ta qua người đó hiện nay đã có thể tin chắc rằng Đức Chúa Trời sẽ kết án nhưng cũng sẽ tha tội cho ta trong toà án của Ngài. Khi xưng tội trước sự hiện diện của một người anh chị em trong Chúa, chẳng những ta không thể tự lừa dối mình, nhưng cũng tin chắc vào Lời Hứa tha tội của Đức Chúa Trời khi người anh chị em thừa hành sự uỷ nhiệm của Ngài và nhân danh Ngài tha tội cho ta. Đức Chúa Trời ban cho ta cơ hội xưng tội trước mặt anh chị em để ta tin chắc vào sự tha tội của Đức Chúa Trời.
Chính vì cớ sự tin chắc này nên khi xưng tội ta phải xưng những tội lỗi cụ thể . Ta thường có thói quen tự bào chữa bằng cách xưng tội tổng quát. Ta kinh nghiệm - trong giới hạn mà chúng ta kinh nghiệm được - sự hư mất hoàn toàn và sự gian ác của con người xác thịt qua những tội lỗi cụ thể của ta. Vì thế, để chuẩn bị chu đáo cho sự xưng tội, ta nên dùng mười điều răn để tự kiểm điểm. Nếu không, rất có thể trong khi xưng tội trước mặt người anh chị em ta sẽ trở thành người đạo đức giả và rồi không nhận được sự an ủi của Chúa. Chúa Giê-xu tiếp xúc với những người thâu thuế và đĩ điếm, những người phạm tội công khai. Họ biết họ cần sự tha tội và họ tiếp nhận sự tha thứ cho những tội lỗi cụ thể của họ. Chúa Giê-xu hỏi anh mù Ba-ti-mê: “Anh muốn tôi làm chi cho anh” (Mac Mc 10:51)? Trước câu hỏi này, ta phải trả lời rõ ràng cụ thể trong khi xưng tội. Khi ta xưng tội, Chúa tha thứ cho ta những tội lỗi cụ thể mà ta xưng ra, và đồng thời Ngài cũng tha tất cả tội lỗi của ta, những tội lỗi mà ta nhận biết và không nhận biết.
Như vậy có phải sự xưng tội với anh chị em trong Chúa là một luật lệ của Chúa không? Sự xưng tội không phải là một luật lệ, nhưng là một lời mời của Chúa mời người có tội. Có thể có người tuy không xưng tội trước mặt người khác nhưng vẫn tin chắc rằng qua ân sủng của Chúa mình được bước vào sự sống mới, được đến cây thập tự và mối tương giao với Chúa. Có người, khi xưng tội một mình trước mặt Đức Chúa Trời, tin chắc mình xưng tội thực sự và được Chúa tha tội thực sự. Ở đây chúng ta đề cập đến những người không thể một mình xưng tội với Đức Chúa Trời được. Luther cho rằng sự xưng tội trước mặt anh chị em trong Chúa là một sinh hoạt trong nếp sống của người tín hữu. Trong quyển “Phúc Âm Căn Bản” (Grosser Katechismus), Luther viết rằng: “Vì thế, khi tôi khuyến khích xưng tội tức là khuyến khích làm người tín hữu.” Đối với những người tuy đã tìm kiếm và đã nỗ lực nhưng vẫn chưa tìm được niềm vui lớn trong mối tương giao, của cây thập tự, của sự sống mới và của sự tin chắc, người đó nên nhận lời mời xưng tội trước mặt anh chị em mình. Sự xưng tội là một sinh hoạt tự do của người tin Chúa. Nhưng ai từ khước sự giúp đỡ của Chúa mà không bị mất mát?
Xưng tội với ai?
Chúng ta phải xưng tội với ai? Dựa vào Lời Hứa của Chúa Giê-xu, mỗi người anh chị em trong Chúa đều có thể là người nghe lời xưng tội của các anh chị em khác. Nhưng liệu người đó có hiểu ta không? Phải chăng người đó trong nếp sống đạo cao hơn ta, quá cao đến nỗi không thể hiểu được những tội lỗi riêng tư của ta và rồi sẽ quay mặt bỏ đi? Ai sống dưới cây thập tự của Chúa Giê-xu, ai qua cây thập tự của Chúa Giê-xu nhận thức được tình trạng vô đạo của tất cả mọi người và của chính tâm linh mình, đối với người đó không có tội lỗi nào là xa lạ; ai đã từng kinh hãi trước những tội lỗi xấu xa của mình mà Chúa Giê-xu đã đóng đinh trên cây thập tự, người đó sẽ không còn kinh hãi trước những tội lỗi của anh chị em mình nữa. Người đó thông cảm tâm hồn con người từ cây thập tự của Chúa Giê-xu. Người đó biết rằng con người hoàn toàn hư mất trong tội lỗi và sự yếu đuối của mình, rằng con người lầm lạc trên con đường tội lỗi, và người đó cũng biết rằng, con người được Chúa tiếp nhận chỉ trong ân sủng và sự từ bi của Ngài mà thôi. Chỉ có người anh chị em nào sống dưới cây thập tự của Chúa mới có thể nghe lời xưng tội của ta. Không phải kinh nghiệm cuộc đời, nhưng kinh nghiệm thập tự làm một người trở thành người nghe lời xưng tội. Một tín hữu giản dị nhất nhưng sống dưới cây thập tự của Chúa Giê-xu thấu đáo tâm hồn con người nhiều hơn một người giàu kinh nghiệm về cuộc đời nhất. Kiến thức tâm lý uyên bác nhất, năng khiếu và kinh nghiệm không thể giúp ta hiểu được tội lỗi. Dựa vào những điều này ta có thể biết về nhu cầu, sự yếu đuối và thất bại của con người, nhưng không nhận biết được tình trạng vô đạo của con người. Vì thế, nếu chỉ dựa vào những điều này ta cũng không biết rằng con người bị hư mất chỉ vì tội lỗi của mình và có thể được cứu rỗi chỉ nhờ sự tha tội. Chỉ có người tín hữu mới biết được điều đó. Trước mặt một nhà tâm lý học tôi chỉ có quyền bệnh mà thôi, trước mặt người anh chị em trong Chúa tôi có quyền làm một người phạm tội. Nhà tâm lý học trước hết phải nghiên cứu tâm hồn của ta nhưng rồi không bao giờ tìm được căn nguyên sâu thẳm nhất; người anh chị em trong Chúa biết rằng: đây là một người tội lỗi như mình, một người vô đạo muốn xưng tội và khao khát ân tha thứ của Chúa. Nhà tâm lý học nhìn tôi, làm như thể không có Đức Chúa Trời, còn người anh chị em trong Chúa nhìn tôi trước mặt Đức Chúa Trời kết án và từ bi qua cây thập tự của Chúa Giê-xu. Nếu ta không xứng đáng và không có khả năng nghe lời xưng tội của người khác, không phải vì ta thiếu kiến thức tâm lý, nhưng vì ta thiếu tình thương đối với Chúa Giê-xu là Đấng đã chết trên cây thập tự. Người tín hữu hằng ngày sống nghiêm túc dưới cây thập tự, người đó không còn tinh thần kết án của xác thịt, cũng không khoan dung một cách nhu nhược. Người đó có tinh thần nghiêm túc và tình yêu Thiên Chúa. Cái chết của con người tội lỗi trước mặt Đức Chúa Trời và sự sống từ cái chết nhờ ân sủng của Chúa đối với người đó là một sự cố xảy ra hằng ngày. Nhờ thế người đó yêu thương anh chị em mình với tình yêu từ bi của Đức Chúa Trời, một tình yêu đã dẫn đưa mình từ cái chết của con người có tội đến sự sống của con cái Đức Chúa Trời. Ai có thể nghe lời xưng tội của ta? Đó là người sống dưới cây thập tự. Hễ Lời của Đấng chết trên cây thập tự sống động ở đâu, ở đó cũng sẽ có sự xưng tội.
Hai mối nguy hiểm
Khi xưng tội trước mặt nhau, anh chị em tín hữu cần đề phòng hai mối nguy hiểm. Mối nguy hiểm thứ nhất nằm ở nơi người nghe lời xưng tội. Một người duy nhất chịu trách nhiệm nghe lời xưng tội của tất cả mọi người là điều không tốt. Người đó rất khó chu toàn được nhiệm vụ của mình. Sự xưng tội đối với người đó sẽ trở thành một hành động vô nghĩa, rồi sẽ bị lạm dụng, sẽ trở thành sự thi hành giáo quyền trên linh hồn người khác. Để tránh mối nguy hiểm này ta không nên xưng tội với người không xưng tội. Chỉ người nào từng chịu nhục nhã mới có thể nghe lời xưng tội của anh chị em mình mà không bị tổn thương.
Mối nguy hiểm thứ hai liên hệ đến người xưng tội. Vì cớ sự cứu rỗi của linh hồn mình, người xưng tội phải tránh biến sự xưng tội của mình trở thành một việc làm đạo đức giả. Nếu xưng tội trở thành việc làm đạo đức giả thì xưng tội là bán rẻ tâm hồn một cách ghê tởm nhất, tệ hại nhất, gian ác nhất; xưng tội sẽ trở thành thú nói tầm phào. Xưng tội là một việc làm đạo đức giả là ý tưởng của ma quỉ. Chúng ta được quyền xưng tội chỉ nhờ vào ân sủng của Đức Chúa Trời mà thôi, nhờ sự giúp đỡ và ân tha tội của Ngài dựa vào Lời Hứa tha tội. Xưng tội giả dối là sự chết tâm linh, xưng tội dựa vào Lời Hứa là sự sống. Sự tha tội là lý do và là mục tiêu duy nhất của sự xưng tội.
Thánh Lễ vui mừng
Tuy xưng tội là một hành động tự tại trong danh Chúa Giê-xu Cứu Thế và trong cộng đồng tín hữu, được thực hiện thường xuyên tuỳ theo nhu cầu, nhưng xưng tội cũng là để chuẩn bị toàn thể cộng đồng dự Tiệc thánh . Vì đã hoà thuận với Đức Chúa Trời và với người khác nên người tín hữu cũng muốn tiếp nhận thân và huyết của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Mệnh lệnh của Chúa Giê-xu là ta không được đến trước bàn thờ thờ phượng Chúa với một tâm hồn bất hoà. Ta phải thực hiện mệnh lệnh này mỗi khi ta dự Lễ Thờ Phượng, mỗi khi ta cầu nguyện và nhất là mỗi khi ta dự các Thánh Lễ. Trước khi dự Tiệc thánh, các anh chị em trong Chúa họp lại, mỗi người xin người khác tha thứ cho mình những lỗi lầm mà mình đã phạm. Nếu ai không đi trên con đường này đến với anh chị em mình, người đó chưa dọn lòng nghiêm túc để đến bàn tiệc thánh. Chúng ta phải chấm dứt tất cả những giận dữ, cãi lẫy, tranh cạnh, nói xấu và cách xử sự ngoài tình anh chị em nếu chúng ta muốn cùng nhau tiếp nhận ân sủng của Đức Chúa Trời qua Thánh Lễ này. Nhưng xin lỗi chưa phải là xưng tội; và chỉ khi ta xưng tội, ta mới vâng theo mệnh lệnh mà Chúa Giê-xu đã truyền. Để chuẩn bị dự Tiệc thánh, ta muốn biết chắc rằng những tội lỗi cụ thể nào đó - những tội lỗi đang dày vò tâm can của mình, đang làm mình sợ hãi và chỉ có Chúa biết mà thôi - đã được tha thứ rồi. Sự xưng tội và Lời Hứa tha tội giữa ta và người anh chị em trong Chúa đáp ứng nhu cầu này. Hễ ở đâu có sự sợ hãi và lo âu về tội lỗi, hễ ở đâu con người khao khát sự tha thứ, ở đó cần có sự xưng tội trước mặt anh chị em trong Chúa trong danh Chúa Giê-xu Cứu Thế. Khi chúng ta xưng tội trước mặt nhau, lúc đó Lời Chúa Giê-xu Cứu Thế - dạy lúc Chúa tha thứ cho những người có tội và bị lên án phạm thượng - ứng nghiệm trong cộng đồng tín hữu qua quyền năng của sự hiện hiện của Ngài. Khi chúng ta nhân danh Chúa Giê-xu của Ba Ngôi hiệp một tha thứ cho nhau tất cả tội lỗi của nhau, lúc đó các Thiên sứ trên trời vui mừng về những người có tội ăn năn trở về. Như thế, chúng ta chuẩn bị dự Tiệc thánh với những lời khuyên bảo, an ủi, cầu nguyện, với những nỗi lo sợ và niềm vui mừng của các anh chị em trong Chúa.
Ngày dự Tiệc thánh là một ngày vui mừng đối với toàn thể cộng đồng tín hữu. Cộng đồng - trong tâm hồn đã hoà thuận với Đức Chúa Trời và với nhau - cùng nhau tiếp nhận thân và huyết của Chúa Giê-xu Cứu Thế, và qua đó tiếp nhận được sự tha tội, sự sống mới và ân cứu rỗi.
Cộng đồng được Chúa ban cho một mối tương giao mới với Đức Chúa Trời và với con người. Sự tương giao trong Tiệc thánh thể hiện rõ ràng sự tương giao của các tín hữu. Các phần tử của cộng đồng trở thành một trong thân và huyết Chúa bên bàn Tiệc thánh, và cũng sẽ trở thành một trong cõi vĩnh hằng. Ở đây cộng đồng đạt đến mục tiêu. Ở đây niềm vui mừng trong Chúa Cứu Thế và trong cộng đồng của Ngài trọn vẹn. Nếp sống cộng đồng của các tín hữu sống theo sự hướng dẫn của Lời Chúa được thể hiện trong Thánh Lễ này.

Lời Giới Thiệu Về Tác Giả
Dietrich Bonhoeffer sinh năm 1906 tại Breslau, Đức, trong một gia đình danh y.
Bonhoeffer quyết định học Thần học rất sớm, mới 21 tuổi đã trình luận án tiến sĩ. Năm 1930, sau một năm làm Truyền đạo tại Barcelona, Bonhoeffer thi đậu bằng Giảng sư Đại học (hậu tiến sĩ) và được làm giảng sư trường Đại học Bá Linh. Những năm sau đó Bonhoeffer dành trọn thì giờ để nghiên cứu và giảng dạy.
Năm 1933, khi Hitler nắm chính quyền, Bonhoeffer quyết định phục vụ Chúa trong Hội Thánh. Trước nhất Bonhoeffer qua Luân Đôn làm Mục sư cho Hội Thánh Đức kiều tại đó và hoạt động đại kết với với các giáo phái khác. Năm 1935 Bonhoeffer trở về Đức lãnh trách nhiệm điều hành Chủng viện Thần học ở Finkenwalde, thuộc Stettin, của Hội Thánh Bekennende Kirche, một Hội Thánh đối lập với chính quyền Đức quốc xã.
Năm 1936 chính quyền Đức quốc xã rút giấy phép làm giảng sư trường Đại học Bá-linh, tiếp theo là lệnh cấm dạy, cấm viết và cuối cùng là lệnh trục xuất.
1939 Bonhoeffer được mời qua Mỹ giảng dạy, nhưng khi chiến tranh bùng nổ liền trở về Đức ngay.
Tháng tư 1943 Bonhoeffer bị bắt. Những bức thư viết trong tù của Bonhoeffer đã trở thành những lời di chúc bất hủ làm xúc động hậu thế. Hai năm sau, tháng tư 1945, Bonhoeffer bị tử hình trong trại tập trung Flossenbuerg.
Bonhoeffer là một nhà thần học lớn của thế kỷ hai mươi, đã để lại nhiều tác phẩm rất có giá trị như “Ethic ”, “Nachfolge ”, “Christologie ”...
Bonhoeffer viết “Gemeinsames Leben ” vào mùa thu 1938, một năm sau khi cơ quan an ninh Gestapo giải thể Chủng viện ở Finkenwalde. Trong lúc tính mạng bị đe doạ, Bonhoeffer đã chia sẻ lại kinh nghiệm sống tập thể của mình trong cộng đồng của những người tin Chúa tại Finkenwalde. Với ngôn ngữ của Thánh Kinh và lời văn giản dị, Bonhoeffer bàn về vai trò quan trọng của Lễ Thờ Phượng chung, giờ tĩnh nguyện riêng, công tác lao động hằng ngày, các bổn phận và nhiệm vụ của người tín hữu đối với anh chị em của mình ...
Quyển sách này được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau và hiện nay, sau 60 năm, vẫn còn lôi cuốn hàng triệu độc giả trên toàn thế giới.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 22-7-2018 08:54 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách