† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2643|Trả lời: 0

Nếp Sống Của Người Lãnh Đạo

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 21-7-2011 22:39:17 | Xem tất |Chế độ đọc

Nếp Sống Của Người Lãnh Đạo
Tác giả: Ajith Fernando

Lời nói đầu của Leighton Ford
Lời nói đầu của Jay Kesler
Tựa
Chương 1: Quyền lãnh đạo là quyền làm cha (ITi1Tm 1:2, 3)
Chương 2: Khải tượng về đức tin (1:11-17)
Chương 3: Giáo huấn và sửa trị (1:18-20)
Chương 4: Khát vọng lãnh đạo (3:2, 3, 7)
Chương 5: Cách ăn ở cư xử của người lãnh đạo (3:2, 3)
Chương 6: Sinh hoạt gia đình của người lãnh đạo (3:2, 4-6)
Chương 7: Cách trả lời với tà giáo (4:1-6)
Chương 8: Lòng tin kính của người lãnh đạo (4:7-8)
Chương 9: Một đời sống gương mẫu (4:9-12)
Chương 10: Một chức vụ gương mẫu (4:13-16b)
Chương 11: Các mối liên hệ của người lãnh đạo (5:1-16)
Chương 12: Giám sát các cấp lãnh đạo (5:17-25)
Chương 13: Thái độ của Cơ Đốc nhân đối với của cải (6:5b-10)
Chương 14: Giữ thái độ phải lẽ đối với của cải (6:17-19)
Kết luận
Sách tham khảo

Lời Giới Thiệu
Quyền lãnh đạo luôn luôn là tối quan trọng cho công trình của Hội Thánh khắp thế giới. Nhưng hiện nay, đối với tôi thì dường như quyền lãnh đạo là vấn đề đặc biệt cấp thiết.
Tại phương Tây, thế hệ các cấp lãnh đạo hậu thế chiến thứ II đã bắt đầu và lãnh đạo nhiều phong trào truyền giảng Phúc Âm, truyền giáo, giáo dục, các chức vụ của giới tín đồ thường và quan tâm đến công tác xã hội nổi bật. Trong thập niên sắp tới, nhiều “con người khổng lồ” như thế sẽ phải trao lại chức vụ lãnh đạo cho người khác.
Trong cái gọi là hai phần ba của thế giới còn lại, các cấp lãnh đạo cao tuổi phải thôi thúc các thanh niên nam nữ trẻ hơn tạo thêm nhiều môn đệ là người mới ăn năn quy đạo, mở mang nhiều Hội Thánh và truyền bá Phúc Âm cho một con số đông đảo hơn những người chưa được nghe Phúc Âm.
Mỗi một người lãnh đạo phải tự vấn: “Ai sẽ là người sắp thay thế cho tôi? Ai là người mà Đức Chúa Trời sẽ dứt dấy? Tôi phải làm gì để khích lệ, giúp đỡ cho những người sắp trở thành các cấp lãnh đạo?”
Trong khi đi tìm các cấp lãnh đạo, chúng ta phải chú trọng nhiều hơn là chỉ nhìn vào nhân cách mà thôi. Đức Chúa Trời không hề nhìn vào diện mạo bề ngoài. Chúng ta cũng không nên chỉ trông cậy vào “cách tổ chức những người nam người nữ” có thể giữ cho guồng máy chạy đều mà thôi. Nếu không có khải tượng, thì guồng máy ấy sẽ rỉ sét, băng hoại, chẳng kết quả được.
Chúng ta đang cần các cấp lãnh đạo tin kính đã được chuẩn bị thuộc linh, có nền móng vững chắc về Thánh Kinh và có tinh thần cảnh giác năng động về phương diện thực tế. Vì các lý do ấy,t ôi rất hoan nghênh tác phẩm Nếp sống của người lãnh đạo của Ajith Fernando.
Nó đã có căn cứ vững vàng là một tuyệt tác về phương pháp đào tạo các cấp lãnh đạo. Bức thư của Phao-lô gởi cho Ti-mô-thê là một ânt ứ được linh cảm mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Phao-lô nêu rõ các cấp lãnh đạo phải được tìm kiếm, dạy dỗ, khích lệ, cảnh cáo và hướng dẫn như thế nào.
Nó cũng đã được viết thật hay. Tác giả đã suy nghĩ phân minh, đã đọc nhiều và đã viết rất thực tế.
Điều cũng quan trọng là tác phẩm vốn có kinh nghiệm sống động nữa! Ajith Fernando là một trong số nhiều lãnh tụ thanh niên nổi bật mà tôi từng được gặp. Tôi từng được thấy nhiệt tình của ông trong việc đi tìm lời khuyên bảo về cách thức để ông có thể tăng trưởng trong công tác của mình. Tôi đã thấy ông tôn trọng các cấp lãnh đạo lớn tuổi hơn như thế nào, nhưng cũng khôn khéo không sợ bất đồng ý kiến với họ. Tại Sri Lanka, ông đã nhận Ban trị sự hậu thanh niên vì Chúa Cứu Thế (the Youth for Christ staff) mà ông lãnh đạo làm các Ti-mô-thê của mình.
Tôi cầu nguyện cho quyền nếp sống của người lãnh đạo này sẽ được sử dụng rộng rãi, không những chỉ vì đây là một quyển sách hay, mà còn vì nó bắt nguồn từ một con người đã lấy chính cuộc đời mình để chứng minh cho nó thật sinh động.
Leighton Ford, nhà truyền giảng Phúc Âm
Charlotte, North Carolina.

Lời Nói Đầu
Chẳng có nhan đề nào thích hợp hơn cho tác phẩm. Nếp sống của người lãnh đạo mà ông Ajith Fernando đã viết đây. Ông là loại người đang thực hành những gì mình truyền giảng. Và quyển sách này là một phần trình bày thực hành cái diễn trình ấy, y hệt cách mà Phao-lô đã dùng đối với môn đệ của mình là Ti-mô-thê.
Ajith Fernando đã từ Sri Lanka đến Hoa Kỳ để học hỏi nghiên cứu, và dĩ nhiên là đã hưởng được nhiều lợi ích từ kinh nghiệm về phương Tây của mình. Tuy nhiên, ông đã không trở thành một phiên bản của các Cơ Đốc nhân phương Tây nhưng vẫn giữ được lòng trung thực của một người Châu Á, mà kết quả là ông đã trả lại nhiều hơn là những gì mình tiếp thu được khi đến đây để theo cấp đại học.
Tôi có cảm tưởng rằng đọc các văn phẩm của ông Ajith là một cách quay trở lại với cái diễn trình tinh thần của Do Thái giáo điển hình vào thời đại của Chúa Giê-xu để giúp chúng ta nhìn xa hơn các ảnh hưởng của Hy Lạp và phương Tây vốn đã ảnh hưởng của Hi Lạp và phương Tây vốn đã ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của chúng ta. Đây là một quyển sách phong phú và có giá trị giáo huấn mà tôi tin là sẽ trở thành một công cụ giáo dục chuẩn mực về quyền lãnh đạo và là một trợ vụ có giá trị cho việc nghiên cứu thư ITi-mô-thê.
Jay Kerler, Chủ tịch
Hội Thanh niên vì Chúa Cứu Thế
Wheaton, Illinois.

TỰA
Quyển sách nghiên cứu thư ITi-mô-thê này là kết quả của một yêu cầu của một số các bạn đồng sự của tôi trong Hội Thanh niên vì Chúa Cứu Thế nhầm chuẩn bị một công trình nghiên cứu về phương pháp đào tạo môn đệ. Từ lúc tôi dấn thân đọc Thánh Kinh, xem đó như quyển sách giáo khoa căn bản cho một công tác huấn luyện đào tạo như thế, tôi đã quyết định dùng hai thư I và IITi-mô-thê làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu ấy. Trong hai bức thư này, chúng ta có xem xét việc Phao-lô, một nhà đào tạo môn đệ vĩ đại, đã trang bị cho người con thuộc linh của ông là Ti-mô-thê. Các kho bán hàm chứa trong ITi-mô-thê đã chứng minh được rằng nó rất rộng lớn đến mức tôi đã quyết định dành thì giờ để nghiên cứu về cách đáo tạo môn đệ trong quyển sách đó. Muốn học hỏi cách đào tạo môn đệ của Phao-lô, tôi đã sống theo ITi-mô-thê trong hơn một năm rưỡi.
Sau khi thấy cách nghiên cứu của mình có tiến bộ, tôi đã quyết định hơi mở rộng thêm điều tập trung chú ý của mình để nghiên cứu chủ đề bao quát hơn về quyền lãnh đạo Cơ Đốc giáo, một người làm môn đệ (của Chúa) là một thành phần tối quan trọng. Phương pháp của tôi là học hỏi về quyền lãnh đạo từ hai quan điểm mà cả hai đều được phản ảnh trong quyển sách này.
Thứ nhất, chúng ta sẽ khảo sát phương pháp mà nhà đại lãnh tụ Cơ Đốc giáo là Phao-lô đã thực hiện vai trò lãnh đạo của mình liên hệ với Ti-mô-thê. Từ tấm gương ấy, chúng ta sẽ rút ra các nguyên tắc về phương pháp lãnh đạo. Thứ hai, chúng ta sẽ nghiên cứu những gì Phao-lô đã nói với nhà lãnh đạo trẻ tuổi là Ti-mô-thê về phương pháp để ông chu toàn các trách nhiệm lãnh đạo của mình. Thư Ti-mô-thê thứ nhất phù hợp thật lý tưởng với việc này,v ì đại khái nó là một quyển sách về những lời chỉ giáo liên quan đến quyền lãnh đạo.
Khi làm việc với một văn bản của ITi-mô-thê trước hết tôi tự nghiên cứu mà suy gẫm văn bản ấy rồi ghi lại các nhận xét của mình. Rồi tôi xem những gì mà các nhà giải kinh quan trọng đã nói về văn bản ấy trong sách ITi-mô-thê. Bước đi này nhiều khi đưa tôi đến chỗ sửa lại những cách lý giải sai của tôi và bao giờ cũng giúp cho cách hiểu của tôi phong phú thêm (tôi tri ân sâu xa Hội Thánh bên phương Tây về sự đóng góp lớn lao của nó cho Hội Thánh phổ quát trong các vấn đề khảo cứu giải kinh).
Xuyên suốt tiến trình này, tôi luôn luôn đặt câu hỏi: văn bản muốn nói gì với các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo? Cho nên, một trong cách mục tiêu chủ yếu của tôi là ứng dụng các nguyên tắc ẩn tàng trong ITi-mô-thê vào các hoàn cảnh mà một lãnh đạo Hội Thánh ngày nay cũng đang gặp.
Phần lớn kết quả của công trình nghiên cứu về suy gẫm của tôi được chia sẻ với các thành viên của hội đồng hội Thanh niên vì Chúa Cứu Thế tại Colombo, một nhóm các nhà truyền đạo trẻ đang cùng phục vụ với hội ấy (YFC) với tư cách trợ nguyện hoặc theo khả năng bằng trọn vẹn số thì giờ mà tôi được đặc quyền dạy bảo thường xuyên. Những buổi họp mặt này đều đặc biệt có những cuộc thảo luận sôi động. Tôi rất thường phải duyệt xét và tinh lọc lại số tài liệu của mình vì các nhận xét sâu sắc và những câu hỏi thăm dò của họ. Một số các công trình nghiên cứu ấy đã được thực hiện với các cấp lãnh đạo của nhiều tổ chức Cơ Đốc giáo khác, cả tại Sri Lanka lẫn tại Pakistan. Nhiều phần của chương một đã được đưa vào một bài giảng cho Hội đồng các Nhà Truyền đạo Lưu hành tại Amsterdam năm 1983.
Cuối cùng, tôi đã có thể sắp xếp các công trình nghiên cứu này thành hình thức hiện tại khi gia đình Hội YFC cho phép tôi giảm bớt các trách nhiệm của tôi đối với Hội một thời gian để có thể dành nhiều thì giờ hơn cho việc viết lách.
Quyển sách không có ý hướng của một sách chú giải. Nó nhằm thôi thúc việc khảo cứu các bộ sách chú giải rồi tìm cách ứng dụng cho đời sống và chức vụ của các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo. Nhiều đoạn rất quan trọng trong ITi-mô-thê vẫn chưa được đưa vào công cuộc nghiên cứu của chúng tôi hoặc chỉ được đề cập thoáng qua mà thôi vì chúng được xem là nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của chúng tôi.
Tôi đã viết quyển sách này khi nghĩ đến trước hết là các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo và những người đang được dự kiến để sẽ trở thành lãnh đạo. Nó có thể được sử dụng cho việc nghiên cứu cá nhân hoặc để dạy cho các nhóm ít người (tiểu tổ), hoặc cũng có thể đọc như một quyển sách bồi linh. Phần bài làm ở nhà đưa ra vào cuối các bài học nhằm mục đích giúp người đọc ứng dụng các chân lý mình đã học hỏi được vào sinh hoạt cá nhân.
Tôi đã đề tặng quyển sách này cho bốn nhà lãnh đạo Cơ Đốc giáo đã tạo được ảnh hưởng sâu xa đối với tôi. Vị thứ nhất là vị mục sư của những năm hãy còn niên thiếu của tôi, đã đưa tôi đến với vẻ đẹp của sự tin kính. Vị thứ hai là nhà sáng lập Hôị Thanh niên vì Chúa Cứu Thế tại Sri Lanka, mà đối với tôi vốn giống như Phao-lô đối với Ti-mô-thê vậy. Hai vị kia là các giáo sư chủng viện vốn là những mẫu mực về lòng tin kính và khảo cứu thận trọng, đã dấn thân sâu xa vào cả công tác truyền bá Phúc Âm lẫn phục vụ cá nhân.
Tôi xin tỏ lòng tri ân hai bà Faith Berman và Sakuntala Dayapala, đã đánh máy bản thảo quyển sách này, và vợ tôi, cha tôi và bà Parames Blacker đã đọc giúp bản vẽ.

QUYỀN LÃNH ĐẠO LÀ QUYỀN LÀM CHA
(ITi1Tm 1:23)
Quyền lãnh đạo ngày nay thường chỉ được nhìn vào theo các điều kiện là địa vị và trách nhiệm mà một người nắm giữ trong một tổ chức. Người có địa vị trách nhiệm cao hơn trong một bộ máy tổ chức thì được cho là một lãnh đạo quan trọng hơn. Nhưng khi các Cơ Đốc nhân nhìn vào một chức vụ lãnh đạo, thì họ nhìn vào con người chớ không phải là vào địa vị. Một trong các hình ảnh đẹp đẽ nhất đã được Kinh Thánh dùng để mô tả mối liên hệ của người lãnh đạo với những người mà mình lãnh đạo, là mối liên hệ cha con, là tình phụ tử.
Quyền làm cha thuộc linh có nghĩa gì (1:2)
Phao-lô đã ngỏ lời với Ti-mô-thê nhu “con thật của ta trong đức tin”. Phao-lô là cha thuộc linh của Ti-mô-thê theo nghĩa nào?
Thứ nhất, hầu như chúng ta có thể chắc chắn rằng Phao-lô là cha thuộc linh của Ti-mô-thê qua công tác truyền giảng Phúc Âm. Có lẽ Ti-mô-thê đã ăn năn quy đạo nhân lần Phao-lô đến Lít-trơ đầu tiên. Sự kiện Phao-lô vốn là “công cụ là con người giúp ITi-mô-thê ăn năn quy đạo (Stoot, Guard te Gospel, Inter Varsity, 1973) chắc chắn đã khiến ông có đầy đủ tư cách để tự xem mình là cha của Ti-mô-thê. Điều này đem đến khả năng thứ nhất để dùng hình ảnh người cha áp dụng vào quyền lãnh đạo trong Cơ Đốc giáo. Một lãnh đạo có thể được gọi bằng cha vì đã giúp cho ra đời một đứa con thuộc linh.
Đây dường như là quyền làm ch amà Phao-lô đề cập trong Phi Pl 1:10. Phao-lô viết: “Tôi vì con tôi đã sanh trong vòng xiềng xích, tức là Ô-nê-sim, mà nài xin anh”. Trước kia, tên nô lệ Ô-nê-sim của Phi-lê-môn vốn vô dụng cho ông. Nhưng sự việc đã thay đổi. Anh ta đã trở thành một “anh em yêu dấu” (c.16). Ô-nê-sim đã ăn nan quy đạo nhờ chức vụ của Phao-lô, nên do đó, đã trở thành một người con do Phao-lô sinh ra.
Thứ hai, Phao-lô là cha của Ti-mô-thê nhờ mối quan tâm về tình thương yêu trìu mến. Ý này ẩn tàng trong từ ngự “con” mà Phao-lô dùng ở đây. Thay vì dùng từ ngữ thông dụng hơn, bình thường được dịch ra là “con trai” (hurios, xuất hiện 380 lần trong Tân Ước kinh) ông đã dùng một chữ khác có tính cách yêu thương trìu mến hơn, thường được dịch ra là “con cái” (child, Hy văn teknon, xuất hiện 100 lần), một từ ngữ gợi ý âu yếm, thân thương.
Trong một số các trường hợp khác, khi Phao-lô dùng từ ngữ này để ngỏ lời với các con cái thuộc linh của ông, chúng ta thấy ý niệm về thương yêu trìu mến và quan tâm càng nổi bật rõ rệt hơn. Khi viết cho các Cơ Đốc nhân người Ga-la-ti lạc đường. Phao-lô nói: “Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sanh nở, cho đến chừng nào Đấng Christ thành hình trong các con, ta muốn ở cùng các con và thay đổi cách nói; vì về việc các con, ta rất là bối rối khó xử” (GaGl 4:19-20). Ông viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca “Nhưng chúng tôi đã ăn ở nhu mì giữa anh em, như một người vú săn sóc chính con mình cách dịu dàng vậy. Vậy, vì lòng rất yêu thương của chúng tôi đối với anh em, nên ước ao ban cho anh em, không những Tin Lành Đức Chúa Trời thôi đâu, song cả đến chính sự sống chúng tôi nữa, bởi anh em đã trở nên thiết nghĩa với chúng tôi là bao” (ITe1Tx 2:7-8), viết trong ngoặc đơn sau chưa con (tekna). Sau đó ít lâu, ông nói: “Anh em cũng biết rằng chúng tôi đối đãi với mỗi người trong anh em, như cha đối với con, khuyên lơn, yên ủi, và nài xin anh em ăn ở một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng gọi anh em đến nước Ngài và sự vinh hiển Ngài” (2:11-12) - cũng viết trong ngoặc đơn (tekna) sau chữ con.
Vậy trìu mến và quan tâm là ý niệm thứ hai được Phao-lô nói lên bằng cách dùng hình ảnh của một người cha. Làm cha thuộc linh là thực thi việc yêu thương âu yếm để quan tâm chăm sóc con cái chúng ta. Trong quyển sách nhan đề The Preacher Portrait (London: The Tyndall Press, 1961) của ông, John Stott viết rằng việc gọi nhà truyền đạo bằng cha được dùng chủ yếu, nhằm mô tả tình yêu thương trìu mến và quan tâm chăm sóc của nhà truyền đạo đối với gia đình thuộc linh của mình.
Tình yêu thương trìu mến và quan tâm chăm sóc mà Phao-lô cảm thấy đối với Ti-mô-thê được thấy rõ trong thư tín này. Phao-lô muốn Ti-mô-thê thực hiện điều tốt nhất mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông (ITi1Tm 1:18). Chúng ta thấy ông quan tâm đến sức khoẻ thuộc thể của Ti-mô-thê (5:23) và thuộc linh của Ti-mô-thê nữa (4:12-16; 6:11-16).
Phần lớn thư tín này xuất phát từ một mối quan tâm đến chức vụ của Ti-mô-thê, vì bức thư chứa đựng phần lớn những lời chỉ giáo liên quan đến các trách nhiệm đặc thù của Ti-mô-thê. Có lẽ cái nhìn thoáng qua đẹp đẽ nhất vào tình yêu thương trìu mến giữa Phao-lô và Ti-mô-thê đã được chứng minh trong IITi 2Tm 1:3, 4 “Ta cảm tạ Đức Chúa Trời… cả ngày lẫn đêm ta ghi nhớ con không thôi trong khi cầu nguyện. Vì ta nhớ đến nước mắt con, muốn đến thăm con quá chừng, để được đầy lòng vui vẻ”.
Thứ ba, Phao-lô là cha của Ti-mô-thê qua chức vụ thầy trò đặc biệt. Phao-lô mô tả Ti-mô-thê là “con (trai) thật” của ông, từ ngữ “thật” có nghĩa là “chân thật, chân chính”. Phao-lô cũng dùng từ ngữ này trong mối liên hệ giữa ông với Tít (Tit Tt 1:4). Dường như khi dùng chữ này, Phao-lô ngụ ý nói rằng là một đứa con thật sự của ông, Ti-mô-thê đang sống bằng mối tình cha con thuộc linh thật với ông, tự chứng minh mình thật giống cha mình.
Trong khi dường như Phao-lô xem các Cơ Đốc nhân trong các hội chúng mà ông đã thiết lập là con cái mình theo nghĩa tổng quát, thì Ti-mô-thê và Tít đều là con cái ông theo nghĩa riêng biệt. Ngay sau khi gọi người Cô-rinh-tô là “con cái yêu dấu” của ông (ICo1Cr 4:14), Phao-lô viết: “Vì cớ đó, tôi đã sai bắt chước tôi, là con yêu dấu của tôi, cùng là trung thành trong Chúa, đến cùng anh em; người sẽ nhắc lại cho anh em biết đường lối tôi trong Đấng Christ, và tôi dạy dỗ cách nào trong các hội Thánh khắp các nơi” (4:17). Ở đây, Phao-lô bảo rằng Ti-mô-thê là con trai ông theo một ý nghĩa đặc biệt ở chỗ Ti-mô-thê biết chính xác Phao-lô đã hành động và truyền dạy như thế nào. Ralph Martin nói Phao-lô “xem (Ti-mô-thê) hầu như chính nhân cách (con người) ông được mở rộng ra vậy” (Colossians and Philemon, New Century Bible Commentary, Eerdmans, 1973).
Trước khi có thể tin cậy vào Ti-mô-thê. Phao-lô và Ti-mô-thê đã phát triển một mối tình thầy trò. Dùng ngôn ngữ cha con để diễn tả mối liên hệ thầy trò dường như vốn phổ biến trong thời đại của Phao-lô, Ê-li-sê vốn đã có loại liên hệ như thế với Ê-li. Cho nên ông đã gọi Ê-li là “cha tôi” (IIVua 2V 2:12).
Vậy, căn cứ vào việc quan sát mối liên hệ giữa Phao-lô với Ti-mô-thê và Tít, chúng ta có thể kết luận rằng một người cha thuộc linh huấn luyện đào tạo một vài con cái thuộc linh của mình theo một phương pháp đặc biệt vừa chi tiết vừa bao quát, dành một số thì giờ nhiều hơn cho cá nhân họ. Đây chắc chắn cũng là phương pháp của Chúa Giê-xu nữa. Tuy Ngài đã chẳng bao giờ bỏ qua các khối quần chúng đông đảo, Ngài vẫn tập trung vào việc đào tạo huấn luyện một số ít người sẽ đem bức thông điệp của Ngài đến cho cả thế gian!
Do đó, một người lãnh đão lắm khi được gọi là một người cha thuộc linh vì đã đưa một người khác đến chỗ có được sự hiểu biết Chúa Cứu Thế để được cứu rỗi. Người ấy cũng là một cha thuộc linh đối với tất cả những ai được người ấy lãnh đạo, hướng dẫn vì người ấy liên hệ với họ bằng sự quan tâm chăm sóc đầy tình yêu thương. Cuối cùng, với những người được người ấy chăm sóc, thì người ấy là một người cha thuộc linh theo ý nghĩa là một người đào tạo môn đệ đã đào tạo được nhiều môn đệ mà cá nhân người ấy đã nuôi nấng chăm sóc để đạt mức trưởng thành trong Chúa Cứu Thế và huấn luyện đào tạo để họ trở thành những người phục vụ Chúa Cứu Thế và Ti-mô-thê, cả ba phương diện trên về tình phụ tử dường như đều đã được nghiệm đúng.
Quyền làm cha thuộc linh không có nghĩa là gì
Chúng tôi phải vội vàng thêm một điều cần thận trọng liên quan đến tình phụ tử thuộc linh vì có một số người đã lạm dụng cái vai trò ấy. Do biết rõ các lạm dụng ấy mà Chúa Giê-xu từng phán “Cũng đừng gọi người nào ở thế gian là cha mình; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời” (Mat Mt 23:9). Chúa Giê-xu đang cảnh cáo những người theo Ngài về thói kiêu ngạo và đạo đức giả của người Pha-ri-si, vốn “ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngồi cao nhứt trong nhà hội; muốn người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy!” (23:6, 7). Cách đối xử như thế khiến họ cảm thấy mình cao trọng hơn người khác.
Một số người muốn làm cha thiên hạ vì cần có được cái địa vị và vinh dự mà họ tưởng là tình phụ tử thuộc linh sẽ đem đến cho họ. Họ đã không thấy được rằng một vinh dự như thế vốn chỉ thuộc về một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Chúa Giê-xu từng phán dạy rõ ràng, ngay trước khi truyền lệnh chớ có gọi một ai trên đất này bằng cha, rằng “Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em” (23:8).
Có thể nói là về phương diện địa vị, thì các con cái thuộc linh của chúng ta cũng bình đẳng với chúng ta. Chúng ta đều là anh chị em dưới quyền cùng một người Thầy, người Cha chung.
Liên quan với vấn đề về việc tìm cầu địa vị sai lầm từ tình phụ tử thuộc linh này, là điều mà Lerry Eims mô tả là “nguy cơ phát triển một thái độ chiếm hữu” (Tho Lost Art of Disciple Making, Zondervan, 1978). Eims bảo rằng cái nguy cơ này thường tự bộc lộ nơi người làm cha thuộc linh “sử dụng các lời lẽ như ‘người của tôi’, ‘đội của tôi’, các học viên được tôi huấn luyện đào tạo’”. Ông vạch rõ rằng “trong Tân Ước kinh… tuy Phao-lô và các vị sứ đồ khác cảm thấy mình gần gũi với những người mà mình phục vụ và thỉnh thoảng nói về họ là “các con cái bé mọn” của mình, các vị ấy cũng vội vàng nhắc nhở họ rằng thật ra họ cũng đều thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu cả.
Theo Eims, có một cách khác nữa để bộc lộ thái độ chiếm hữu đối với các môn đệ của mình là khi người đào tạo huấn luyện họ “ngần ngại không giới thiệu họ với nhiều người khác của Đức Chúa Trời cũng có thể có ảnh hưởng đến đời sống của họ”. Họ bị các lãnh tụ kia đe doạ vì ‘chính chức vụ của họ có thể bị mât đi một phần vẻ hào nhoáng của nó dưới con mắt của các thuộc cấp, nếu họ thấy nhiều người khác nữa cũng được ban cho nhiều ân tứ có lẽ cũng có nhiều sức lực và tài năng mà mình không có”.
Thói chiếm hữu này hoàn toàn xa lạ đối với Kinh Thánh. Chúng ta không hề được đặc quyền cầm giữ bất cứ một người nào. Một Phao-lô sẽ gieo hạt, một A-bô-lô sẽ tưới nó. Nhưng chính Đức Chúa Trời mới khiến nó mọc lên (ICo1Cr 3:6). Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới được độc quyền trên đời sống của bất cứ một người nào. Chúng ta nhận trách nhiệm làm cha thuộc linh thật nghiêm túc và đào tạo cho một môn đệ bao lâu Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm như thế, và luôn luôn nhớ rằng người môn đệ ấy không hề thuộc về chúng ta. Cho nên, trong khi người ấy ở dưới quyền chúng ta, chúng ta sẽ vui vẻ giới thiệu người ấy với bất kỳ một ai khác mà người ấy có thể được ích lợi. Và khi đã đến lúc, thì chúng ta sẽ trả tự do để người ấy làm cái công việc mà Đức Chúa Trời đang muốn cho người ấy làm.
Thư Ti-mô-thê thứ hai chứng minh rằng Phao-lô đã thừa nhận không chút phân vân nhiều ảnh hưởng quan trọng khác trên cuộc đời của Ti-mô-thê. Phao-lô viết: “Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra” (ITi1Tm 1:5). Ti-mô-thê là con thuộc linh của Phao-lô. Nhưng ông cũng là con cháu thuộc linh của mẹ và bà ngoại ông nữa. Một chức vụ đào tạo thuộc linh thường có thể gây căng thẳng trong các mối liên hệ gia đình. Các bậc làm cha làm mẹ có thể oán ghét phần ảnh hưởng mới của con người mà họ cho là đã thình lình cướp mất địa vị của người cha người mẹ trong đời sống đứa con của họ. Một sự hiểu lầm tai hại như thế có thể bị suy giảm đến mức tối thiểu nếu người huấn luyện đào tạo môn đệ có nỗ lực thật sự để tránh thái độ chiếm hữu.
Điều chúng ta vừa đề cập không hề hàm ý rằng người đào tạo môn đệ không hề có chút quyền hành gì. Là người đại diện cho Đấng vốn có toàn quyền, người ấy đã đầu tư vào đó một thứ uy quyền thứ ha, từ Đức Chúa Trời mà có. Người ấy cũng giống nhgư một đầy tớ trông nom các con cái cho Chủ mình vậy. Trong IICo 2Cr 4:5. Phao-lô đã tự nhận mình là tôi tớ của các Cơ Đốc nhân tại Cô-rinh-tô. Một tôi tớ không phải là một nhân vật quan trọng, nhưng khi đứa con đi lạc đường, thì kẻ tôi tớ (hay người vú em) cần sửa trị nó.
Cho nên, sau khi bảo với người Cô-rinh-tô rằng “tôi đã dùng Tin lành mà sanh anh em ra” (ICo1Cr 4:15), Phao-lô nói tiếp rằng lần sau khi đến Cô-rinh-tô, rất có thể ông sẽ phải thi hành kỷ lật đối với họ. Ông hỏi: “Anh em muốn điều gì hơn: muốn tôi cầm roi mà đến cùng anh em hay là lấy tình yêu thương và ý nhu mì?” (c.21). Với tư cách một người cha thuộc linh, Phao-lô có thể đến cả như một người sửa phạt lẫn một người khích lệ dịu hiền. Thế nhưng mọi uy quyền của ông với tư cách một người cha thuộc linh đều do Đức Chúa Trời mà có, Ngài là Đấng mà ông chỉ làm đầy tớ mà thôi. Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới là người cha thuộc linh.
Sắp xếp các con cái trong chức vụ (ITi1Tm 1:3)
Một trong những điều quan trọng nhất mà Phao-lô phải làm cho người con thuộc linh của ông là Ti-mô-thê, là đào tạo huấn luyện rồi sắp xếp ông vào chức vụ. Điều này rất hiển nhiên trong 1:3 chỗ mà Phao-lô đã viết “Ta nay nhắc lại mạng lệnh mà ta đã truyền cho con, khi ta đi sang xứ ma-xê-đoan, con phải ở lại Ê-phê-sô, để răn bảo những người kia đừng truyền dạy một đạo giáo khác”.
Công việc được giao cho Ti-mô-thê. Phao-lô để Ti-mô-thê lại Ê-phê-sô với sứ mạng quan trọng là bảo tồn sự thuần khiết của giáo lý, cho Hội Thánh tại đó. Nội dung của thư tín này cho thấy Ti-mô-thê là người lãnh đạo của cả Hội Thánh, có trách nhiệm chẳng những là duy trì sự thuần khiết của giáo lý, mà cả trong vấn đề bổ nhiệm và giám sát các trưởng lão và chấp sự nữa.
Về mặt tôn giáo và chính trị, thì Ê-phê-sô là thành phố chủ yếu của Tiểu Á Châu. Phao-lô đã từng lao động gian khổ hơn hai năm tại đấy. Trong thời gian đó, đã có một trong những phong trào tăng trưởng của Hội Thánh gây kinh ngạc nhất trong lịch sử, khi Phúc Âm được truyền bá cho mọi người ở trong cõi A-si đều được nghe (Cong Cv 19:10), và nhiều Hội Thánh đã được thiết lập trong toàn tỉnh ấy. Đây là chiến thuật điển hình của Phao-lô, tức là thiết lập nhiều Hội Thánh trong các thành phố chủ chốt, để từ đó, công tác chứng đạo được bắt đầu cho các khu vực phụ cận.
Vì tầm quan trọng của Hội Thánh tại Ê-phê-sô, người lãnh đạo Hội Thánh ấy phải là một nhân vật chủ chốt. Ti-mô-thê đã được phó thác công tác ấy. Ti-mô-thê được Phao-lô “truyền lịnh” phải ở lại Ê-phê-sô. Lời lẽ ở đây gợi ý rằng chắc Ti-mô-thê đã phải miễn cưỡng ở lại đó. Ông vốn có bản tính rụt rè nên có lẽ đã muốn thoái thác một trách nhiệm lớn lao như thế. Ngoài ra, ông vẫn còn quá trẻ nữa (ITi1Tm 4:12). Nhưng Phao-lô vốn biết rõ các khả năng của Ti-mô-thê, cho nên bất chấp điều có vẻ như nhiều phẩm cách chưa đạt của ông, Phao-lô vẫn giao cho ông công tác ấy. Bức thư này thuộc vào số những điều mà Phao-lô đã làm nhằm khích lệ Ti-mô-thê để củng cố cho uy quyền của ông. Có lẽ Phao-lô trông mong cho bức thư này sẽ được đọc công khai trong các Hội Thánh tại A-si. Khi nghe đọc bức thư này, mọi người sẽ nhận biết là Ti-mô-thê đã được chính Phao-lô giao cho vai trò quan trọng là lãnh đạo trong Hội Thánh.
Một phần nhiệm vụ của Ti-mô-thê là “răn bảo những người kia đừng truyền dạy các tà giáo” (theo bản Anh văn). Từ ngữ được dịch ra là răn bảo là một danh từ quân sự có nghĩa là “ra lệnh, truyền lệnh cách nghiêm ngặt”. Vì địa vị của Ti-mô-thê là một địa vị có uy quyền, nên ông có thể có hành động đầy uy quyền. Chúng ta có thể thấy những câu giống như thế này sẽ giúp thúc đẩy Ti-mô-thê sử dụng quyền uy như thế nào.
Việc khá tình cờ là ở đây, chúng ta cũng thấy gợi ý thứ nhất trong số nhiều gợi ý mà thư tín này đưa ra liên quan đến thái độ mà Ti-mô-thê phải có đối với tà giáo (xem ITi1Tm 1:3-11, 19, 20; 4:1-16; 6:3-5, 20-21). Ở đây cũng như ở những chỗ khác, Phao-lô đều truyền dạy Ti-mô-thê phải có lập trừng vững vàng. Không thể có thái độ dung hoà đối với một việc nghiêm trọng như thế. Các giáo sư giả sẽ không được cho phép giảng dạy trong Hội Thánh.
Chuẩn bị Ti-mô-thê cho chức vụ. Phao-lô có thể tin cậy giao cho Ti-mô-thê một công tác quan trọng vì ông đã đầu tư đầy đủ vào đời sống của Ti-mô-thê. Một công cuộc chuẩn bị như thế đã không xảy ra chỉ trong đầu hôm sớm mai hay chỉ qua một “khoá đào tạo huấn luyện lãnh đạo” sơ sài mà thôi.
Là người sinh quán tại Lít-trơ, có lẽ Ti-mô-thê đã ăn năn quy đạo trong vòng lưu hành truyền giáo đầu tiên của Phao-lô. Lúc Phao-lô đến đấy nhân lần thăm viếng thứ hai, ông nhận thấy Ti-mô-thê đã được cộng đồng Cơ Đốc giáo đánh giá cao. Cho nên ông đã đem Ti-mô-thê theo để giúp đỡ ông trong các chuyến du hành (Cong Cv 16:1-4).
Suốt nhiều năm tiếp xúc thân mật với Phao-lô đó, Ti-mô-thê đã có cơ hội qua sát thật gần cuộc đời của Phao-lô. Đời sống ấy đã trở thành một tấm gương cho Ti-mô-thê noi theo. Phao-lô viết: “Về phần con, con đã noi theo ta, trong sự dạy dỗ, tánh hạnh, ý muốn, đức tin, nhịn nhục, yêu thương, bền đỗ của ta, trong những sự bắt bớ, và hoạn nạn đã xảy đến cho ta tại thành An-ti-ốt, Y-cô-ni và Lít-trơ. Những sự bắt bớ đó ta đều chịu cả, và Chúa đã cứu ta thoát khỏi luôn luôn” (IITi 2Tm 3:10, 11). Từ ngữ được dịch ra là “noi theo” ở đây hàm ý Ti-mô-thê đã biết rõ và theo gương mà Phao-lô đã nêu, đã cẩn thận chú ý với ý định là sẽ làm theo. Đây là một thuật ngữ, xác định mối liên hệ giữa người môn đệ với sư phụ của mình.
Ti-mô-thê biết chính xác Phao-lô đã tin gì, dạy gì, hành động và phản ứng như thế nào, là số kiến thức chỉ có thể thu thập được khi hai người cùng sống chung, cùng cầu nguyện và chịu khổ chung với nhau. Trong những từng trải có chung với nhau đó, Phao-lô đã mở rộng cuộc đời mình ra cho Ti-mô-thê. Ông đã áp dụng phương pháp phục vụ bằng cách mở rộng tấm lòng mình ra. Từ phương pháp ấy, Phao-lô viết: “Hỡi người Cô-rinh-tô, miệng chúng tôi hả ra vì anh em, lòng chúng tôi mở rộng. Chẳng phải chúng tôi hẹp hòi đãi anh em, nhưng ấy là lòng anh em tự làm nên hẹp hòi” (IICo 2Cr 6:11, 12 cũng xem ICo1Cr 4:9).
Ngày nay, phương pháp mở rộng lòng mình ra để phục vụ này dã không còn là phổ biến nữa. Chức nghiệp chỉ nghĩa đã xâm nhập các phương pháp phục vụ ngày nay đến mức quý vị mục sư và giáo sư đều được khuyến khích phải giữ kín đời sống cá nhân và riêng tư của mình, phân biệt với cuộc đời thi hành chức vụ. Họ đã được dạy bảo là đừng phơi bày đời tư của mình ra cho những người mà họ phục vụ nhìn thấy. Chỉ trong những buổi nhóm họp theo hình thức đã được sắp xếp trước như những buổi họp tổ (nhóm nhỏ ít người), nội bộ, họ mới tỏ ra cởi mở để chia sẻ về đời tư của họ mà thôi. Việc tiếp xúc với tín đồ chỉ giới hạn trong các buổi nhóm lại và những lần hẹn gặp riêng thỉnh thoảng mới có mà thôi. Nhờ giữ kín đời tư của mình, họ sẽ tự cứu được mình khỏi nhiều khổ đau rắc rối - họ được dạy bảo như thế. Những nỗi đau của việc tự bộc lộ, tự phơi bày tấm lòng mình ra là cái giá phải trả cho một chức vụ sâu sát. Phao-lô sẵn sàng chấp nhận cái nguy cơ là chính mình bị tổn thương do tự mở lòng mình ra đối với những người như Ti-mô-thê. Mà chúng ta đều biết rõ cái sự kiện là do liên hệ chặt chẽ mật thiết với các con cái thuộc linh của mình như thế, nên ông đã rất thường bị tổn thương. Nhưng qua tiến trình ấy, ông đã có thể nhân bội chức vụ của mình.
Hồi còn trẻ, tôi được đặc ân chịu ảnh hưởng của hai nhânv ật quan trọng về đào tạo môn đệ, là Sam Sherrard, lãnh đạo của chúng tôi trong Hội Thanh niên vì Chúa Cứu Thế, và Robert Coleman, một giáo sư chủng viện. Nhân cách và phương pháp đào tạo môn đệ của họ rất khác nhau. Nhưng trong nhiều lãnh vực, cách họ phục vụ tôi đều giống nhau. Tôi có nhiều thì giờ thường xuyên cũng cầu nguyện và nghiên cứu Thánh Kinh với họ, thường thường là cùng với một vài người khác nữa. Cả hai đều đưa tôi về nhà riêng cũng cùng với vài người người khác nữa để dành riêng thì giờ với họ và gia đình họ. Chúng tôi đã nhiều lần cùng ăn với nhau và thỉnh thoảng cùng làm việc chung quanh nhà họ. Chúng tôi từng cười đùa với nhau, thảo luận về những việc thông thường nhiều khi tranh luận về những vấn đề mà chúng tôi gặp và rất thường là về những điều liên quan đến Chúa.
Cả hai nhân vật ấy đều đem tôi theo họ khi họ đi ra ngoài, vì những công tác phục vụ được giao phó. Tôi quan sát họ làm chứng đạo, làm công tác tham vấn, hướng dẫn các buổi nhóm lại, truyền giảng và đối phó với những cuộc khủng hoảng. Có khi tôi cũng được dành cho một phần nhỏ trong chương trình của họ. Những lần vui nhất của chúng tôi là khi chúng tôi đi đến một nơi nào đó hay di chuyển từ một nơi này đến nơi khác bằng tàu hoả, xe buýt, mô-tô. Qua những cuộc trò chuyện như thế, họ chia sẻ cho tôi những chân lý đã ăn sâu vào tâm hồn tôi. Chắc chỉ khi lên thiên đàng rồi, tôi mới biết là mình đã học hỏi được bao nhiêu điều nhờ sống chung với những người của Đức Chúa trời như thế.
Cho nên, suốt thời gian ở chung với Phao-lô, Ti-mô-thê đã quan sát cuộc đời của ông để làm gương cho mình noi theo. Vào những thời gian như thế, Phao-lô đã dạy cho Ti-mô-thê các chân lý căn bản của Cơ Đốc giáo, như van bản nổi tiếng về chức vụ đào tạo môn đệ sau đây đã chỉ cho thấy: “Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mắt nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác” (IITi 2Tm 2:2). Ở đây mô tả một bộ phận chân lý cần phải truyền lại qua bốn thế hệ Cơ Đốc nhân. Suốt thời gian ở chung với nhau, Phao-lô đã truyền lại cho Ti-mô-thê trọn vẹn một nền giáo dục thần học. Ông đã làm hiệu trưởng của cả một từng cao đẳng dạy Thánh Kinh trong khi vẫn du hành truyền giáo?
Đó dường như cũng là phương pháp mà nhiều vị mục sư (người phục vụ Chúa) đã được đào tạo, huấn luyện trong những ngày ấy - không phải là trong bối cảnh chính thức của một chủng viện thần học, nhưng là trong bối cảnh của một đoàn người đang phục vụ, cũng là phương pháp mà Chúa Giê-xu từng đào tạo huấn luyện các môn đệ Ngài. Tôi tin rằng đây vẫn còn là phương pháp kiến hiệu nhất để đào tạo huấn luyện các cán bộ Cơ Đốc giáo. Quả đúng là nền giáo dục thần học chính thức là tiếng gọi của Đức Chúa Trời đối với một số người, cho nên tôi không dám đánh giá thấp nó. Nhưng tôi tin rằng chúng ta vốn thường dốc đổ hết mọi việc vào các chủng viện mà đáng lẽ ra chính chúng ta phải tự làm lấy, như việc đào tạo cho các nhà lãnh đạo đạt mức trưởng thành.
Tôi tin rằng môi trường kiến hiệu nhất để đào tạo cán bộ là một đội phục vụ mà bộ phận sinh hoạt chủ yếu đang thu thập kinh nghiệm, và là nơi mà hoạt động phục vụ tích cực, việc giám sát cẩn thận, và việc dạy dỗ đang được thực hiện. Tại đây, các chiến sĩ đang được huấn luyện để chiến đấu ngay ngoài mặt trận. Những chiến binh như thế sẽ là những người giỏi nhất để duy trì cuộc chiến đấu.
Một số các nhà truyền đạo tài giỏi có kết quả nhất tôi từng gặp vốn không hề đượfc đào tạo chính thức về thần học. Lạ lùng thay, dường như tất cả họ đều trông mong mình được huấn luyện đào tạo như thế một phần nào Nhưng chức vụ của họ đã không cho thấy là họ cần đến điều đó. Họ là những con người của Lời Chúa, có nhiệt tâm đối với Chúa Cứu Thế, một gánh nặng đối với người đang bị hư vong, và một ân tứ truyền giảng. Họ đã học tập để nghiên cứu Lời Chúa thật cẩn thận rồi ứng dụng nó thật phải lẽ vào đời sống. Nhưng xin lưu ý là tất cả họ đều nói về một nhà truyền đạo lớn tuổi hơn đã từng dạy Thánh Kinh cho họ, về cách giữ theo đó, và cách truyền giảng nó ra. Họ đã được huấn luyện theo phương pháp của Thánh Kinh do những người đã tin vào chức vụ nhân bội. Có một điều họ hãy còn thiếu là một loại công nhận nào đó trong một số giới người nào đó. Nhưng điều công nhận mà chúng ta tìm cầu hơn hết là trong thiên đàng. Và ở đó, chúng ta được công nhận không phải vì số văn bằng đại học, nhưng là vì phẩm chất của công tác phục vụ Chúa của chúng ta.
Một nét đặc trưng then chốt khác nữa trong việc Phao-lô đào tạo Ti-mô-thê liên quan với việc giao phó một vài chức vụ nào đó của mình cho Ti-mô-thê. Phần ký thuật đầu tiên chúng ta có được về vấn đề này là chuyến du hành truyền giáo đầu tiên mà Ti-mô-thê đã tháp tùng Phao-lô. Tại Bê-rê, nhiều người Do Thái từ Tê-sa-lô-ni-ca đến đã sách động dân chúng nhiều đến nỗi Phao-lô phải rời khỏi thành phố ấy. Ông để Ti-mô-thê ở lại phía sau với một người lớn tuổi hơn là Si-la để hoàn tất những gì cần phải làm tại đấy (Cong Cv 17:14, 15). Về sau, Ti-mô-thê còn được Phao-lô sai đi trong nhiều sứ mạng với tư cách người đại diện cho ông. Trong nhiều bức thư của Phao-lô, tên Ti-mô-thê được nêu ra cùng với phần lý lịch bắt đầu của ông (IICo 2Cr 1:1; Phi Pl 1:1; CoCl 1:1; ITe1Tx 1:1; IITe 2Tx 1:1; Phil Plm 1:1). Sự kiện này chứng minh rằng Phao-lô đã tìm cách khiến cho nhiều Hội Thánh công nhận Ti-mô-thê là một cấp lãnh đạo chủ chốt. Đây là trường hợp của một nhân vật quan trọng muốn công khai chứng minh rằng một người trẻ tuổi hơn đang là sĩ quan liên lạc của riêng mình!
Nhưng vào lúc thư ITi-mô-thê được viết ra, thì Ti-mô-thê dang phụ trách Hội Thánh lớn tại Ê-phê-sô. Hội Thánh này là một trách nhiệm quá lớn lao đối với một người có độ tuổi như Ti-mô-thê, nên dường như Ti-mô-thê chỉ miễn cưỡng chấp nhận nó mà thôi. Cho nên Phao-lô phải ra lệnh cho ông cứ tiếp tục như thế (ITi1Tm 1:3).
Nếu Phao-lô không biết nhân bội chức vụ của mình nhờ những người như Ti-mô-thê, chắc ông đã không thể làm nổi nhiều việc cho Nước Trời đến thế. Lẽ dĩ nhiên, người ta phải trả giá khi muốn giao nhiệm vụ cho những phụ tá trẻ tuổi hơn. Thoạt đầu, chắc họ không thể dám đứng nổi một công tác đòi hỏi phẩm chất cao như một người lãnh dạo. Thật vậy, họ có thể phạm nhiều sai lầm gây trở ngại cho danh tiếng của người lãnh đạo. Mặt khác, một số người còn có thể kết thúc bằng việc kế tục quyền lãnh đạo khi đã trở thành nổi trội. Điều này đã xảy ra với người cựu chiến binh là Ba-na-ba, về sau đã bị người phụ tá trẻ tuổi của ông là Phao-lô “qua mặt”. Nhưng Phúc Âm vẫn tiến lên phía trước. Một công tác tồn tại mãi đã được hoàn thành. Nhiều Hội Thánh đã được thiết lập. Những người có khả năng đã được để lại phía sau để lãnh đạo chúng. Và đó há không phải là điều mà bất cứ một vị mục sư nào cũng muốn nhìn thấy là vốn do chức vụ của mình đã hoàn tất hay sao?
Dành thì giờ để đào tạo môn đệ
Chỉ tập trung chú ý vào một vài người trong một chức vụ đào tạo môn đệ, thì không phải là một công tác hấp dẫn lắm. Đào tạo môn đệ cần đến thì giờ, nên nhiều người lãnh đạo không sẵn sàng trả giá để chính họ phải tự ban ra quá nhiều trong một chức vụ đào tạo môn đệ một cách riêng tư như thế. Nhiều nhà lãnh đạo có quá nhiều cống hiến cho nhiều giới quần chúng đông đảo, nên không tìm được thì giờ để đào tạo cho các cá nhân.
Có khi nhiều cấp lãnh đạo than phiền rằng đang khi thi hành chức vụ, họ không thể đồng thời phát triển bồi dưỡng cấp lãnh đạo, vì chẳng có ai sẵn sàng chịu đào tạo huấn luyện cả. Thế nhưng vấn đề này có thể là do chính người lãnh đạo ấy. Có lẽ người ấy đã tạo cho thiên hạ cái cảm tưởng rằng mình quá bận rộn nên không thể có thì giờ cho việc phát triển việc đào tạo cá nhân. Như Lung Eims viết: “Muốn có người dấn thân đến với bạn, bạn phải dấn thân đến với họ trước”. Eism gọi đó là “một bí quyết, một yếu tố bí mật” trong chức vụ đào tạo môn đệ.
Các cấp lãnh đạo sẽ phải luôn luôn chiến đấu để tạo thế cân bằng giữa chức vụ công khai với công tác đào tạo cá nhân. Thường thường thì sức quyến rủ của chức vụ công khai có thể ngăn trở một cấp lãnh đạo trong việc dành riêng thì giờ để đào tạo môn đệ. Walter Hewichsen đã mô tả rõ ràng điều này trong quyển sách tuyệt vời của ông về chức vụ đào tạo môn đệ:
“Chức vụ đào tạo môn đệ thiếu hấp dẫn và sức thôi thúc của loại chức vụ trên bục giảng hay của những buổi họp đông người. Nhưng chúng ta khó có thể đánh giá quá cao tầm quan trọng của việc đầu tư cho loài người phải lẽ, một cuộc đầu tư có khải tượng và đúng kỷ luật, hoàn toàn tận hiến cho Chúa Cứu Thế Giê-xu sẵn sàng trả bất cứ giá nào để hoàn thành ý chỉ của Đức Chúa Trời trong đời sống mình. Gắn bó với một người nhằm giúp người ấy vượt mọi trở ngại có thể có để trở thành một môn đệ là một nhiệm vụ lâu dài và gian khổ” (Disciples Are Made Not Born, Victor Books, 1974).
Đào tạo môn đệ là một chức vụ mà nhiều người ngày nay đề cập, nhưng thật ra lại có ít người thực thi. Thế nhưng tầm quan trọng của nó là điều không thể phóng đại (cường điệu). Cái thế hệ nổi tiếng hơn hết về công tác truyền bá Phúc Âm cho các khối quần chúng đông đảo này, lại chú trọng vào tầm quan trọng của chức vụ đào tạo môn đệ. Trong một cuộc phỏng vấn được đăng tải trong tạp chí định kỳ (Christianity Today, Tiến sĩ Billy Graham đã được hỏi: “Nếu ông là mục sư của một Hội Thánh lớn trong một thành phố quan trọng, thì kế hoạch hành động của ông sẽ là gì?”. Tiến sĩ Graham đáp:
Tôi nghĩ một trong những điều quan trọng đầu tiên mình sẽ làm là tập hợp một nhóm từ tám, mười hoặc mười hai người chung quanh mình để cùng họp nhau lại vài giờ mỗi tuần và trả giá! Điều đó sẽ khiến họ phải trả một giá nào đó về thì giờ và nỗ lực. Tôi sẽ chia sẻ cho họ tất cả những gì mình có trong một thời gian nhiều năm. Rồi tôi sẽ thật sự có được mười hai vị mục sư trong số các tín đồ thường để đến lượt họ sẽ có thể chọn tám, mười, mười hai hoặc nhiều người hơn nữa để dạy bảo họ. Tôi biết có một hoặc hai Hội Thánh đang làm như thế, vì đó là làm cách mạng trong Hội Thánh. Tôi nghĩ rằng Chúa Cứu Thế đã đặt ra cái mẫu mực ấy. Ngài đã dành phần lớn thì giờ của mình cho một đám quần chúng đông đảo. Thật vậy, mỗi lần Ngài gặp một đám quần chúng đông đảo thì đối với tôi, dường như đã chẳng có kết quả nhiều lắm đâu. Dường như theo tôi thì các kết quả lớn lao là do việc Ngài gặp gỡ riêng tư và trong số thì giờ Ngài dành riêng cho mười hai (môn đệ) của Ngài. (Trích của Coleman, The Master Plan of Evangelism, Revell, 1964).
Ứng dụng cá nhân
Chúng ta phải tự vấn mình đang dành bao nhiêu thì giờ mỗi tuần để đào tạo cho các Cơ Đốc nhân trẻ tuổi trở thành môn đệ của Chúa. Chúng ta có cần sắp xếp lại cho có thứ tự các công việc được xem là có quyền ưu tiên để dành nhiều thì giờ hơn cho chức vụ này không? Chúng ta có cần quyết định ngay bây giờ là phải tìm một người nào đó để đào tạo người ấy trở thành môn đệ hay không? Chúng ta phải cầu nguyện để tự mình có câu trả lời cho vấn đề này.

KHẢI TƯỢNG VỀ ĐỨC TIN
(ITi1Tm 1:11-17)
Chương thứ nhất của chúng ta đã đề cập tình phụ tử thuộc linh. Trong đó chúng ta đã mô tả nỗ lực của con người nhằm mở rộng Nước Trời. Một người bạn của tôi sau khi đọc một quyển sách có một bức thông điệp tương tự, đã than phiền rằng quyển sách ấy nhấn mạnh quá nhiều vào nỗ lực của con người để bồi dưỡng các tín hữu, mà quá ít vào ân điển của Đức Chúa Trời. Phao-lô đã trình bày cho Ti-mô-thê cái ý niệm về ân điển làm nền tảng cho toàn thể chức vụ có kết quả. Và trong phần nghiên cứu khúc sách này của chúng ta, chúng ta sẽ thảo luận các phương pháp khác nhau, theo đó ân điển giữ một phần quan trọng trong đời sống và chức vụ của Cơ Đốc nhân.
Trong 1:3-11 Phao-lô đã trả lời cho tà giáo mà Ti-mô-thê đã phải đương đầu tại Ê-phê-sô (chúng ta sẽ không nghiên cứu khúc sách này bây giờ, nhưng về sau, sẽ nghiên cứu một khúc sách tương tự, là 4:1-5). Ở đoạn kết phần trả lời của Phao-lô, ông có đề cập những điều “trái nghịch với đạo lành…. Là điều đạo Tin Lành vinh hiển của Đức Chúa Trời hạnh phước dạy dỗ, mà sự truyền đạo đó đã giao phó cho ta” (1:10b, 11). Ở đây có đề cập thoáng qua về việc Phao-lô đã được kêu gọi và chức vụ của ông. Khi Phao-lô nghĩ đến tiếng gọi và chức vụ của mình, ông cũng đã suy nghĩ về ân điển ẩn phía sau tiếng gọi và chức vụ đó (1:12-17).
An điển trong việc ăn năn quy đạo và trong chức vụ (1:12-15)
Khi thảo luận về việc ăn năn quy đạo và chức vụ của mình, Phao-lô chỉ dùng từ ngữ ân điển có một lần trong mấy câu này (c.12-15). Thế nhưng ý niệm về ân điển, như một đặc ân của Đức Chúa Trời ban cho mà chúng ta chẳng xứng đáng để được nhận lãnh, đã là mũi nhọn, là sức thúc đẩy chủ yếu của từng câu nói một ở đây.
Được kêu gọi và trang bị (1:12). Phao-lô nêu ra ba lý do khiến ông tri ân Đức Chúa Trời về chức vụ của ông. Ông viết: “Ta cảm tạ Đấng ban thêm sức cho ta, là Đức Chúa Giê-xu Christ, Chúa chúng ta, về sự Ngài đã xét là trung thành, lập ta làm kẻ giúp việc”. Ở đây Phao-lô dùng ba động từ Hy văn để mô tả sự kêu gọi và chức vụ của ông, tất cả đều thuộc thì quá khứ (aorist). Cách dùng thì quá khứ cho thấy Phao-lô đang đề cập một khoảnh khắc nhất định trong chuyến hành hương thuộc linh của mình, lúc ông nhận được tiếng gọi vào chức vụ. Văn cảnh cho thấy việc ấy đã xảy ra cho đời sống Phao-lô lúc ông ăn năn quy đạo.
Trước hết, Phao-lô bảo rằng Chúa Giê-xu “đã an thêm sức cho ta”. Động từ mà Phao-lô dùng có nghĩa đen là đặt sức lực vào bên trong. Lúc Đức Chúa Trời gọi Phao-lô vào chức vụ, Ngài đã đầu tư trong ông đầy đủ sức lực để hoàn thành tiếng gọi ấy. Nhiều tôi tớ Chúa thường cảm thấy mình yếu đuối khi trực diện với các đòi hỏi mình yếu đuối khi trực diện với các đòi hỏi của chức vụ của mình. Nhưng họ có thể quả quyết rằng tuy sức riêng của họ có thể thiếu khiến họ có thể thất bại, nhưng sức lực của Đức Chúa Trời thì không phải thế. Họ có thể chiến đấu dưới sức nặng của trách nhiệm, vùng vẫy để đủ sức đương cự với khối lượng công tác mà họ phải làm, hay không chắc chắn vào các khả năng của riêng họ. Nhưng họ luôn luôn có thể khẳng định rằng: “Đấng đã gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó” (ITe1Tx 5:24) đổi hai chữ (anh em) thành (chúng ta).
Thứ hai, Phao-lô bảo rằng Chúa Cứu Thế “đã xét ta là trung thành”. Từ ngữ được dùng ở đây có khi còn được dịch ra là “đáng tin cậy”. Phao-lô có thể được tin cậy là sẽ hoàn thành các trách nhiệm được giao với các khả năng cao nhất. Lời bình giải của Hiebert về câu này là “Phẩm cách đầu tiên của một người phụ vụ (minister: mục sư) Chúa Cứu Thế không phải là tài năng hay kiến thức, mà là lòng trung thành” (First Timothy Everyman’s Bible Commentary, Moody, 1957). Ở chỗ khác, Phao-lô viết: “Vả lại, cái điều người ta trông mong nơi người quản trị là phải trung thành” (ICo1Cr 4:2).
Phao-lô vốn không có các phẩm chất tự nhiên mà chúng ta kết hợp với một nhà truyền đạo vĩ đại. Ông vốn có một tâmt rí vĩ đại thiên phú, nhưng ông thường bảo mình kém tài hùng biện hơn nhiêù người khác của thời đại mình (ICo1Cr 2:1-5; IICo 2Cr 10:10; 11:6). Diện mạo thể xác của ông có vẻ yếu đuối (IICo 2Cr 10:10). Ông thường đau yếu (12:7-10; GaGl 4:13, 14). Thế nhưng ông rất trung thành và sẵn sàng kiên trì nhẫn nhục, bất chấp khó khăn gian khổ, chống đối và căng thẳng (xem IICo 2Cr 4:7-12; 6:4-10; 11:23-29). Thái độ sẵn sàng này là một trong những bí quyết của tài năng làm được nhiều công tác tồn tại mãi cho Đức Chúa Trời của ông.
Có người thuật lại rằng sau khi William Carey được ca ngợi về những thành tựu vĩ đại của ông, đã trả lời “Tôi chỉ bền lòng mà thôi”. Bền lòng là thái độ sẵn sàng bám vào công tác mà Đức Chúa Trời đã giao cho đến khi hoàn thành nó - là nhờ có lòng tận trung với chức vụ Đức Chúa Trời đã nhìn thấy cái đức tính này trong Phao-lô.
Thế nhưng tự nó, lòng trung thành có thể không dẫn đến thành công. Tuy nhiên, khi được kết hợp với sức lực của Đức Chúa Trời, nó sẽ trở thành một lực lượng mạnh mẽ để phục vụ Nước Trời.
Khẳng định thứ ba trong câu này, là Đức Chúa Trời đã căn cứ vào lòng trung thành của Phao-lô để tin cậy ông, “lập (ông) làm kẻ giúp việc” cho Ngài. Phao-lô đang đề cập một sự sai phái, một tiếng gọi phục vụ mà ông đã nhận được lúc mới ăn năn quy đạo. Tuy đó không phải là một lễ tấn phong chính thức, đó là một lời từ Đức Chúa Trời cho biết Ngài muốn ông phục vụ Ngài.
Trong những năm đầu tiên của cuộc đời làm Cơ Đốc nhân của mình (và cả đến bây giờ nữa) có rất ít chân lý vào lại có nhiều ý nghĩa cho tôi cho bằng cái chân lý là biết rằng Đức Chúa Trời đả kêu gọi tôi phục vụ Ngài. Về lý thuyết, tôi đã biết mình là một con cái của Đức Chúa Trời. Nhưng bản tính của tôi nhận thấy rất khó chấp nhận các hàm ý của địa vị làm con đó. Tôi thường chiến đấu với cái cảm thức rằng mình vốn hèn hạ và vô giá trị. Thế nhưng tôi phải nhìn nhận cái sự kiện mình vốn được Đức Chúa Trời kêu gọi rằng Đức Chúa Trời đã xem tôi là thích hợp với một công tác nào đó của Ngài. Chính sự kiện ấy đã bắt buộc tôi phải chấp nhận, rồi sau đó, là vui vẻ với niềm hân hoan rằng mình được làm con cái Đức Chúa Trời. Về lý thuyết tôi đã tin mình vốn quý báu cho Đức Chúa Trời, nhưng việc kêu gọi tôi vào chức vụ giúp tôi nhận thấy nó một cách thực tế. Cái ý nghĩ này khiến tâm trí tôi hoan hỉ. Chúa Tể của ông trình sáng tạo dang có một việc đặc biệt để tôi làm cho Ngài!
Ba câu khẳng định trên đây của Phao-lô rằng Chúa Giê-xu đã ban cho ông sức lực, đã xem ông là đáng tin cậy và đã bổ nhiệm ông vào chức vụ phục vụ Ngài, cho chúng ta thấy Phao-lô xem chức vụ của ông trước nhất là một hệ quả của việc Đức Chúa Trời đã kêu gọi và trang bị cho ông. Chắc điều này vốn là một nguồn khích lệ lớn lao và là động cơ thúc đẩy ông kiên trì chịu đựng nhiều gian khổ và bắt bớ bách hại mà ông đã gặp. Nếu chính Đức Chúa Trời Toàn năng đã chủ động đi bước trước trong việc kêu gọi Phao-lô cho chính Ngài và để phục vụ Ngài, thì chắc chắn Ngài sẽ tiếp tục ban phước cho ông, trang bị cho ông, và nhờ ông hoàn thành các chủ đích của Ngài. Chẳng hề có sức mạnh, hoàn cảnh hay sự chống đối nào có thể thắng được các kết quả của việc Đức Chúa Trời đã ban quyền năng để ông phục vụ.
Ơn thương xót cho kẻ bắt bớ bách hại (ITi1Tm 1:13). Phao-lô vừa nói việc ông được kêu gọi. Bằng một cách thức đặc biệt, ông thêm ngay vào một điều gì đó về sự không xứng đáng của chính ông. Ông bảo ông đã được gọi “mặc dù ông vốn là người phạm thượng, hay bắt bớ và hung bạo”.
Có một số các Cơ Đốc nhân lấy làm hãnh diện về các công trình tội lỗi trước khi họ trở thành Cơ Đốfc nhân. Khi làm chứng, họ cố tìm cách gậy ấn tượng trên người khác về họ vốn xấu xa như thế nào. Dường như họ muốn nói rằng “Tôi từng là người đứng đầu các tội nhân. Tôi cũng từng tìm kiếm lạc thú”. Việc ăn năn quy đạo của họ như mờ nhạt vô nghĩa trước cuộc đời tội lỗi đầy màu sắc của họ. Những người nghe họ bị bỏ mặc với cái ấn tượng về tội lỗi, chớ không phải là về ân điển.
Phao-lô cũng thường dùng lời lẽ nặng nề để mô tả cách ăn ở cư xử trước ngày ăn năn quy đạo của mình (cũng xem ICo1Cr 15:9; GaGl 1:13, 14). Nhưng ông luôn luôn làm việc ấy từ viễn cảnh của ân điển. Mục tiêu của ông là đề cao ân điển để chứng minh rằng Chúa Cứu Thế thật tuyệt vời như thế nào. Việc đề cập cách ăn ở cư xử trước khi trở thành Cơ Đốc nhân của ông giúp ông hoàn thành cái mục đích ấy, nhưng rồi nó biến mất ngay vào bóng tối, để cho ân điển và lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời toả sáng qua đó.
Phao-lô viết: “Ta đã đội ơn (được) thương xót”. Động từ này là một tiếng nói thụ động, cho nên chúng ta có thể dịch nó theo đúng nguyên văn là “Ta đã được thương xót”. Nhưng bằng cách dùng thể thụ động ở đây, một lần nữa, Phao-lô lại đề cao ân điển. Mọi công lao cho việc ông được cứu rỗi đều từ Đức Chúa Trời đến. Phao-lô vốn là một kẻ phạm thượng vô giá trị, một kẻ bắt bớ bách hại và là một người hung bạo. Nhưng trong tình trạng hư hỏng xấu xa vô phương tự cứu đó, ông đã “được thương xót”.
Từ ngữ “thương xót” (cũng được dùng trong c.16) hàm ý ám chỉ tình trạng khốn khổ của người cần được cứu giúp. Nó có nghĩa tương tự như thương hại và thương cảm. “An điển” trong c.14 hàm ý chúng ta không xứng đáng được giúp đỡ như đã nhận được. Nó là một vật mà người nhận không xứng đáng để tiếp nhận. Cả hai từ ngữ này đều chỉ vào điều mà Đức Chúa Trời đã cho không các tội nhân chẳng có gì xứng đáng cả.
Một lần nữa, chúng ta khẳng định rằng Phao-lô không hề nghĩ đến việc ăn năn quy đạo của ông như một quyết định quan trọng do chính mình đưa ra, mà như một cách đáp lại với ân điển. Phao-lô chẳng bao giờ nói rằng chính ông đã chọn Chúa Cứu Thế, nhưng luôn luôn bảo rằng chính Chúa Cứu Thế đã chọn ông.
Có một thanh niên đã nói: “Cuộc đời làm Cơ Đốc nhân đã không tạo ra tôi. Tôi đã cố gắng, nhưng không thể nào sống đúng theo sự quyết định của mình là phải noi theo Chúa Cứu Thế. Trong tình trạng như thế, tôi đã không thể đạo đức giả mà tự gọi mình là Cơ Đốc nhân, cho nên tôi đã từ bỏ tất cả”. Điểm mà anh ta tập trung chú ý là cái quyết định anh ta đưa ra để trở thành một người theo Chúa Cứu Thế. Với anh ta, cứ làm Cơ Đốc nhân hoàn toàn tuỳ thuộc vào công việc dũng cảm của chính anh ta. Một khi không sống được theo như mình đã quyết định, anh ta đã ra đi và từ bỏ Cơ Đốc giáo.
Nhưng đời sống Cơ Đốc nhân hoàn toàn là việc đáp lại với ân điển. Và điểm nhấn mạnh là trên ân điển, chớ không phải là vào cách đáp ứng hay quyết định của chúng ta. Chính vì thế mà đức tin nhỏ bằng hạt cải đã đủ cho một đời sống quyền năng (LuLc 17:6). Tất cả những gì cần thiết chỉ là một sự đáp lại với ân điển của Đức Chúa Trời.
Cho dù sự đáp ứng ấy có yếu đuối đến đâu, Đức Chúa Trời sẽ nhận lấy nó rồi ứng dụng ân điển quyền năng của Ngài vào đó. Cách nhìn đúng, là xem đời sống làm Cơ Đốc nhân như việc cộng tác giữa ân điển với đức tin. Nhưng ân điển là phần quan trọng hơn, là thành phần chủ động đi bước trước và nâng đỡ cho sự hợp tác ấy.
Cho nên, khải tượng về ân điển và ơn thương xót là một dấu hiệu của Cơ Đốc giáo lành mạnh. Do đó, điều quan trọng là phải chia sẻ khải tượng về đức tin cho các con cái thuộc linh của chúng ta. Các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải thường bảo với các tín hữu non trẻ hơn những điều như “Đừng bỏ cuộc”. “Phải chắc chắn là bạn có dành thì giờ bồi linh (đọc Thánh Kinh và cầu nguyện riêng)” và “chớ nhưỡng bộ sự cám dỗ”. Nhưng những câu khẳng định cần được giữ thăng bằng nhờ những câu như “Đức Chúa Trời sẽ giúp bạn” hay “An điển của Đức Chúa Trời vốn lớn hơn sự cám dỗ”, hoặc “Thánh Linh của Đức Chúa Trời đã ấn chứng cho bạn được sống đời đời rồi”.
Phao-lô có đưa ra một lý do khiến ông được thương xót. Đó là vì “ta đã làm những sự đó đương lúc ta ngu muội, chưa tin” (ITi1Tm 1:13). Đây không phải là một nỗ lực nhằm dạy tôi. Trong những câu trước và sau đó, Phao-lô đã tự giới thiệu mình là kẻ cầm đầu các tội nhân. Ngay trong câu này, dường như Phao-lô đã thừa nhận rằng tội căn bản là vô tín, bởi đó mới nảy sinh ra tất cả các tội khác, như ông đã viết ở nhiều chỗ khác (RoRm 1:18-32). Phao-lô nói trong tình trạng vô tín như thế, ông đã có hành động ngu dốt. Nhưng khi chân lý đã được giãi bày cho ông nhờ sự hiện ra của Chúa Cứu Thế trên con đường Đa-mách, và khi mắt ông đã được mở ra để hiểu được nó rồi, thì ông đã lập tức đáp ứng lại. Về an ninh, địa vị và thành công trên đất này, ông đã phải trả giá đắt. Nhưng ông sẵn sàng trả cái giá ấy để có được các lợi ích của chân lý.
Đã có chỗ khác nhau giữa các tội nhân - thậm chí là kẻ đứng đầu các tội nhân như Phao-lô - đang hành động vì nguy dốt, với những kẻ cố tình chối bỏ Phúc Âm sau khi họ đã biết rõ chân lý của nó rồi. Vì tội này người Pha-ri-si đã bị quở trách khi họ gán cho Bê-ên-xê-bun những gì đã hiển nhiên là công việc của Đức Chúa Trời được Chúa Cứu Thế thực hiện (Mat Mt 12:22-37; Mac Mc 3:20-30). Chúa Cứu Thế bảo họ đã phạm vào cái tội không thể tha thứ là lộng ngôn chống lại Đức Thánh Linh. Đức Chúa Trời không thể ngự vào lòng những người như thế vì họ đã khép chặt tâm trí mình đối với chân lý. Với những kẻ như thế thì chẳng còn có hy vọng gì về sự cứu rỗi nữa. Sở dĩ như thế không phải vì tội của họ là quá nặng, vì ân điển của Đức Chúa Trời vốn lớn hơn mọi tội lỗi của họ, mà vì họ sẽ không cho phép ân điển của Đức Chúa Trời hành động trên họ.
An điển siêu việt vô cùng dư dật (ITi1Tm 1:14a). Phao-lô viết: An điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta, với đức tin cùng sự thương yêu trong Chúa Giê-xu Christ”. “Đã (được đổ xuống) dư dật trong ta” là câu dịch chỉ một từ ngữ Hy văn có nghĩa đen là “siêu dư dật”. Trước đó, Phao-lô đã mô tả số tội lỗi rất nhiều (dư dật) của ông. Ở đây, ông trình bày ân điển siêu dư dật của Đức Chúa Trời. Phao-lô luôn luôn phấn khởi về đặc tính “siêu” đó của ân điển và sự cứu chuộc. Trong RoRm 5:20 ông đã viết: “Nơi nào tội lỗi đã gia thêm, thì ân điển lại càng dư dật hơn nữa” (cũng xem IICo 2Cr 7:4; 12:7-10; Phi Pl 4:7; IITe 2Tx 1:3). Biểu đồ dưới đây cho thấy hai chủ đề về tội lỗi dư dật và ân điển siêu dư dật đan chéo vào nhau như thế nào suốt khúc sách chúng ta đang nghiên cứu đây.
Tội lỗi dư dật
Người phạm thương, hay bắt bớ, hung bạo (ITi1Tm 1:13a)
Kẻ đứng đầu các tội nhân (1:15b)
Kẻ đứng đầu các tội nhân (1:16)
An điển siêu dư dật
Ơn thương xót (1:13b)
An điển dư dật (1:14)
Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến để cứu rỗi tội nhân (1:15a)
Sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời được bày tỏ bằng ơn thương xót, một thí dụ cho mọi người đều nhìn thấy (1:16)
Ý thức song phương về tội lỗi và ân điển này rất quan trọng cho từng trải Cơ Đốc nhân. Nếu thiếu mất ý thức về ân điển siêu dư dật, chúng ta có thể bị nghiền nát khi nhận thức được tính cách to lớn nặng nề của tội lỗi mình. Một ý thức về tính cách trầm trọng của tội lỗi mình mà không có phần ý thức tương ứng về ân điển Đức Chúa Trời, có lẽ chính là điều đã đưa Giu-đa đến chỗ tự sát.
Khi các lực lượng mạnh mẽ của điều ác hãm áp chúng ta, chúng ta sẽ bị mất tinh thần nếu không khẳng định được rằng giữa cơn hỗn loạn đó, thì ân điển sẽ càng dư dật hơn. Một niềmt in quyết vào ân điển như thế sẽ giúp chúng ta kiên trì chịu đựn suốt nẻo đường vâng lời Chúa mà không chịu cúi đầu trước áp lực của điều ác. Chúng ta biết rằng trong Chúa Cứu Thế, Đức Chúa Trời đã giáng cho điều ác một đòn quyết định trí mạng. Tuy dường như điều ác đang tạm thời làm chủ tình hình, đến cuối cùng Chúa Cứu Thế sẽ vượt lên thành người chiến thắng và những ai được dự phần ân điển Ngài sẽ cũng được chia sẻ chiến thắng ấy.
Mặt khác, người nào không ý thức thích đáng về tội lỗi sẽ chẳng bao giờ thấu hiểu vinh quang của sự cứu rỗi. Nhiều người từng lớn lên trong bối cảnh Cơ Đốc giáo đã gặp phải vấn đề như thế. Họ tưởng mình đã được dự phần vào các nghi lễ Cơ Đốc giáo hay cái gọi là các phương tiện của ân điển ấy như phép báp-tem và Tiệc Thánh là họ đã xứng đáng để nhận được ân huệ của Đức Chúa Trời rồi. Nhưng họ chỉ biết quá ít rằng các phương tiện của ân điển chỉ đứng trung gian để đem ân điển đến cho những ai đã hoàn toàn thất vọng về khả năng có thể tự cứu của mình, để biết ăn năn tội mình và chỉ tin cậy vào một mình Chúa Cứu Thế để được cứu rỗi mà thôi.
Chứng cứ hiển nhiên của ân điển (ITi1Tm 1:14b). Phao-lô bảo rằng ân điển đã được đổ ra cho ông “với đức tin cùng sự yêu thương trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (1:14). Đức tin và sự yêu thương được ghép đối với nhau nhiều lần trong các thư tín của Tân Ước kinh (RoRm 5:1-5; ICo1Cr 13:13; GaGl 5:5, 6; Eph Ep 1:15; 4:2-6; CoCl 1:4, 5; ITe1Tx 1:3; 5:8; IITe 2Tx 1:3; Phil Plm 1:4; HeDt 6:10-12; 10:22-24; IPhi 1Pr 1:3-8, 21-22). Đức tin là nương cậy vào Đức Chúa Trời trong mọi hoàn cảnh của đời sống. Đó là việc tự phó thác chúng ta cho Đức Chúa Trời, tin vào những gì Kinh Thánh đã viết về Ngài,v à biết rằng Ngài có thể và chắc chắn sẽ giải cứu, cung cấp cho chúng ta.
Yêu thương là kết quả trực tiếp của đức tin. Khi chúng ta đặt đức tin vào Đức Chúa Trời, thì chúng ta được gia nhập gia đình của Đức Chúa Trời. Hay như Phao-lô đã viết trong câu này, chúng ta được “ở trong Đức Chúa Giê-xu Christ”, nghĩa là chúng ta đã nằm trong phạm vi hoạt động của Ngài. Chừng đó, tình yêu của Đức Chúa Trời được đổ vào lòng chúng ta (RoRm 5:5). Khi chúng ta đã lấy đức tin đặt cả đời sống mình đầu phục Đức Chúa Trời, tình yêu của Ngài sẽ có thể biến đổi bản tính của chúng ta và tự vận hành ngay trong cách ăn ở cư xử của chúng ta và tự vận hành ngay trong cách ăn ở cư xử của chúng ta. Chúng ta trở thành những người yêu thương kẻ khác. Phao-lô dã mô tả tiến trình này là “đức tin hay làm ra (tự bộc lộ) bởi sự yêu thương” (GaGl 5:6). Cho nên tình yêu của cơ Đốc nhân vốn không phải trước hết là những gì chúng ta làm nhằm đáp lại với ân điển của đức Chúa Trời (trong Đức Chúa Giê-xu Christ) và để cho các đức tính ấy trở thành một phần của chúng ta do việc chúng ta đã mở lòng mình ra ohặc đặt đời sống chúng ta đầu phục Ngài.
Sự kiện các thư tín trong Tân Ước kinh rất thường dùng đức tin và tình yêu để mô tả thực chất của Cơ Đốc giáo cho chúng ta thấy rằng đó là các chứng cứ hiển nhiên quan trọng nhất của một người đã ăn năn quy đạo. Không phải tất cả những ai tự xưng họ đặt lòng tin cậy vào Chúa Cứu Thế đều thực thi đức tin để được cứu rỗi. Việc ăn năn quy đạo thật chỉ được chứng minh khi đức tin và tình yêu thương được đem ra trắc nghiệm.
Một người quay trở lại với tôn giáo hay những điều mê tín dị đoan cũ của mình khi gặp bắt bớ bách hại hoặc khủng hoảng chăng? Thế thì đức tin của người ấy vốn không có thật. Một người tìm cách báo thù khi bị xúc phạm chăng? Hay chỉ nghĩ đến phúc lợi riêng mà thôi chăng? Thế thì, tình yêu thương của người ấy vốn không có thật. Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới thật sự biết ai là người đã được cứu còn ai thì không. Nhưng nói chung thì đức tin và tình yêu thương là những chứng cứ hiển nhiên đáng tinc ậy về thực tại của việc ăn năn quy đạo.
Trái tim của Phúc Âm (ITi1Tm 1:15). Phao-lô đã đến với trái tim của Cơ Đốc giáo “Đức Chúa Giê-xu Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu”. Từ trước cho đến đây, ông chỉ đề cập đức tin và lòng nhân từ thương xót. Tới đây ông mới đến với biến cố khiến cho ân điển và ơn thương xót trở thành có giá trị, sẵn sàng đem lợi ích đến cho mọi người.
Chính sự giáng lâm của Chúa Cứu Thế Giê-xu đã khiến cho sự cứu rỗi loài người trở thành khả thi. Phao-lô giải thích thêm vấn đề này khi bảo rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu “đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người” (2:6). Một cái giá đã phải được trả cho sự tự do của chúng ta. Nhờ chịu chết trên thập tự giá, Chúa Giê-xu đã trả cái giá ấy. Nhờ chính hành động ấy, mà ân điển mới trở thành có giá trị cho chúng ta.
Phần tiếp theo của khúc sách này rất có ý nghĩa. Phao-lô đề cập thoáng qua việc ông được kêu gọi rồi nói thêm về ân điển ẩn phía sau tiếng gọi đó. Điều ông suy gẫm về vấn đề ấy đến lượt nó, đưa ông đến cái biến cố nằm ẩn phía sau ân điển, là sự giáng lâm của Chúa Cứu Thế. Suy nghĩ về ân điển ấy làm nảy sinh một thái độ tôn thờ dâng tràn cả tâm trí Phao-lô, khiến ông thốt ra lờ ca tụng Đức Chúa Trời (c.17).
Phao-lô gắn liền Phúc Âm với bản thân ông bằng cách bảo rằng Chúa Cứu Thế đã đến là để cứu rỗi “kẻ đứng đầu tệ hại nhất” trong các tội nhân là chính ông. Phao-lô thường dùng câu “nói quá” để mô tả tình trạng chẳng có gì là xứng đáng của ông (ICo1Cr 15:9; Eph Ep 3:8). Càng hiểu rõ tính cách vĩ đại của ân điển bao nhiêu, Phao-lô càng ý thức nhiều hơn về tính cách đầy dẫy tội lỗi của mình. Với Phao-lô thì đây không phải là một thái độ khiêm tốn để tự trách mình, vì nhân nhiều cơ hội khác nữa, ông đã không ngần ngại tự phê bình về chính sự không vâng lời Đức Chúa Trời của ông, nhưng trong Cong Cv 23:1; 24:16; IICo 2Cr 11:5; 12:11; GaGl 2:6).
Ân điển trong công tác truyền giảng Phúc Âm
Căn cứ vào những câu trên đây, chúng ta có thể nói rằng ân điển phải là một đề mục quan trọng cho công tác truyền giảng Phúc Âm của chúng ta. Chúng ta phải công bố cho mọi người biêt rằng Chúa Cứu Thế đã làm xong mọi điều cần thiết cho sự cứu rỗi của họ rồi, và tất cả những gì họ cần làm chỉ là chịu mở rộng đời sống của họ ra cho các phước hạnh của Đức Chúa Trời, bằng cách xây bỏ đời sống quá khứ của họ rồi để cho Chúa Cứu Thế trở thành vị Cứu Tinh và Chúa Tể của họ.
Thế nhưng ý niệm về ân điển tuy dễ lãnh hội, lại trái với cách suy nghĩ bình thường của con nguời ta. Chẳng hạn như các Phật tử nhận thấy ý niệm về ân điển rất khó chấp nhận. Công đức là ý niệm then chốt của Phật giáo. Con người ta có thể cố công gắng sức để tạo công đức. Như Kinh Dhammapada viết “Thanh sạch hay ô uê là tuỳ ở bản thân ta. Chẳng ai có thể tẩy sạch được cho người khác” (c.165). Trái lại Cơ Đốc giáo khẳng định rằng “huyết Chúa Giê-xu…. Làm sạch mọi tội chúng ta” (IGi1Ga 1:7). Mọi công đức để cứu rỗi chúng ta đều thuộc về Chúa Cứu Thế. Người theo Phật giáo đem sự cứu rỗi như thế là quá rẻ và nó khuyến khích người ta cứ tiếp tục phạm tội.
Người An giáo thì có phần cởi mở hơn đối với ý niệm về ân điển. Trong một vài hình thức của An giáo, thậm chí còn có niềm tin rằng sự cứu rỗi hay giải thoát xảy ra là nhờ ân điển của Đức Chúa Trời (prasada), và Đức Chúa Trời được xem là kết quả bằng con đường đi tắt của karma. Tín ngưỡng này là phổ biến trong phong trào Bhakti của An giáo, nhấn mạnh trên việc kính mến ton thờ và tận hiến cho Đức Chúa Trời.
Mahatma Gandhi là một thí dụ rất hay về một người theo An giáo phải miễn cưỡng chấp nhận giáo lý về ân điển của Cơ Đốc giáo. Gadhi vốn chi chịu ảnh hưởng sâu đậm của cả phong trào Bhakti An giáo lẫn đời sống của Chúa Cứu Thế, mà ông xem là “một tấm gương đẹp đẽ về một con người trọn vẹn”. Gandhi chịu ảnh hưởng sâu xa của Bài giảng trên núi nên đã tìm cách noi theo những lời giáo huấn trong đó. Ông xem Chúa Cứu Thế như “một vị thánh tử đạo, một hiện thân của sự hy sinh”, và sự chết của Ngài là “một tấm gương vĩ đại cho thế gian”. Nhưng ông không chịu đi xa hơn thế. Ông không sẵn sàng “thật sự tin rằng bằng cái chết và máu Ngài, Chúa Giê-xu đã chuộc tội cho cả thế gian”. Ông cho rằng ý niệm về ân điển của Cơ Đốc giáo sẽ là nguồn gốc của sự phóng túng đạo đức (về một bảng tóm tắt quan điểm của Gandhi liên quan đến Chúa Cứu Thế, xin xem quyển sách của M.M.Thomas, The Acknowledged Christ of the Indian Renaissance, London SCM Press, 1969).
Thái độ của Gandhi là điển hình cho các cao điểm mà con người ta có thể đạt tới trong tình trạng sa ngã. Yếu tính của sự sa ngã là nỗ lực mou61n sống độc lập đối với Đức Chúa Trời. Loài người muốn tự quyết định lấy điều gì là thiên và điều gì là ác. Đó là ý nghĩa của trái cấ (SaSt 3:5, 22). Cho nên, thậm chí con người khá nhất trong số loài người sa ngã vẫn muốn tự cứu lấy mình bằng chính các nỗ lực của bản thân, độc lập đối với sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời.
Gandhi đã đi tìm sự cứu rỗi trong việc theo đuổi chân lý bằng thái độ bất bạo động. Phật tử thì tìm sự cứu rỗi hay niết bàn nhờ bát chánh đạo (tám nẻo đường chính, cao thượng). Một người sống trong bối cảnh Cơ Đốc giáo có thể phấn đấu để có được nó nhờ ăn năn sám hối, các nghi lễ, chịu phép báp-tem, đi nhà thờ hoặc thậm chí là sống như một công dân tốt nữa. Người ấy muốn lầm một việc gì đó cho sự cứu rỗi của mình. Cho nên ân điển là một ý niệm mà con người sa ngã muốn sống độc lập đối với Đức Chúa Trời nhận thấy là rất khó chấp nhận.
Trong một môi trường như thế, chúng ta được kêu gọi hãy truyền bá Phúc Âm của ân điển. Và chẳng những chỉ truyền bá, mà còn phải thuyêt phục người ta về chân lý của nó nữa (xem Cong Cv 17:2-4; 18:4, 13; 24:25; 26:28; 28:23, 24; IICo 2Cr 5:11). Thách thức này là một trong nhiều phương diện hấp dẫn nhất của công tác truyền đạo ngày nay. Nhà truyền đạo phải trả lời các phản bác của người ta chống lại ý niệm ấy. Ông ta phải chứng minh được rằng hy vọng của nhân loại chỉ có trong ân điển mà thôi. Ông ta phải dùng lý luận so sánh để giải thích cái ý niệm xa lạ là ân điển của mình có ý nghĩa gì, sử dụng các thí dụ minh hoạ rút ra từ sinh hoạt hằng gnày. Ông ta phải công bố những gì Chúa Cứu Thế đã làm cho nhân loại.
Billy Graham đã làm đúng khi nhấn mạnh rằng bài giảng của một nhà truyền đạo vẫn chưa đầy đủ khi chưa đề cập thập tự giá của Chúa Cứu Thế. Chúng tôi xin thêm rằng một bài giảng như thế vẫn chưa có hiệu quả nếu nó chưa thuyết phục được người nghe rằng những gì Chúa Cứu Thế đã làm trên thập tự giá là hy vọng duy nhất để người ấy có thể được cứu rỗi. Điều này là đúng chẳng những trong các trường hợp truyền giảng, mà cả trong việc chúng ta làm chứng đạo cá nhân cho người chưa tin nữa.
Chúng ta là những tấm gương của ân điển (ITi1Tm 1:16)
Sau khi công bố trái tim của Phúc Âm đã cứu ông, Phao-lô giải thích lý do tại sao, trong số tất cả mọi người, ông đã được dành cho một địa vị như thế trong lịch sử. Ông viết “Nhưng ta đã đội ơn thương xót, hầu cho Đức Chúa Giê-xu Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta là kẻ làm đầy, để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài được sự sống đời đời”. Ông nói là một “tấm gương” về ân điển lớn lao của Đức Chúa Trời. Từ ngữ đã được dịch ra là “làm gương” này nghĩa đen là “phác hoạ”. Trước khi vẽ một bức tranh, thì một hoạ sĩ thường chuẩn bị một phần phác thảo để trình bày các ý chính của mình. Cũng thế, ngay từ buổi đầu tiên của lịch sử Hội Thánh, Chúa Cứu Thế đã dùng Phao-lô “bày tỏ” cho thế gian một “tấm gương” về những gì ông đã làm cho triệu triệu đời sống. Chữ “bày tỏ” cũng có thể được dịch là “phơi bày ra”, cũng là một chữ dễ gây ấn tượng mạnh.
Luận điểm của Phao-lô là nếu một tội nhân xấu xa như ông mà còn có thể được cứu, thì vẫn còn hy vọng cho bất cứ một người nào khác. Sự cứu rỗi tuỳ thuộc vào ơn thương xót của Đức Chúa Trời. Tất cả những gì chúng ta phải làm để nhận được nó là “tin Ngài”.
Phao-lô bảo rằng ơn thương xót tự bộc lộ trong “sự nhịn nhục vô hạn”. Loài người chỉ xứng đáng bị tiêu diệt ngay tức khắc mà thôi. Nhưng Đức Chúa Trời đã nhịn nhục, muốn cho họ ăn năn (xem RoRm 2:4). Bằng cách dùng nhóm từ “mọi sự nhịn nhục (vô giới hạn)”, Phao-lô không ngụ ý nói rằng đến cuối cùng thì rối tất cả mọi người đều sẽ được cứu, vì cùng một câu ấy bảo rằng sự cứu rỗi được dành cho những người tin Chúa Cứu Thế. Sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời là vô hạn ở chỗ chẳng hề có tội nào là quá lớn, quá nặng đến mức Ngài không có thể tha thứ.
Nhưng về phía con người, cần phải có sự ăn năn. Nếu con người không chịu ăn năn, thì không thể nhận được sự tha tội. Cho nên trong bức thư viết cho người Rô-ma, ngay sau khi nói về lòng nhịn nhục của Đức Chúa Trời, Phao-lô viết “Bởi lòng ngươi cứng cỏi, không ăn năn, thì tự chấp chứa cho mình sự giận về ngày thạnh nộ, khi sẽ hiện ra sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời” (RoRm 2:5). Vì lý do ấy, “vô giới hạn” có lẽ không phải là cách dịch sát nghĩa nhất cho từ ngữ Phao-lô đã dùng trong ITi1Tm 1:16 mà nghĩa đen là “tất cả”. Cho nên với ai tin, thì bao giờ cũng có hy vọng. Cho dù họ có tội lỗi đến đâu, họ sẽ đều được sống đời đời.
Bất cứ ai tham gia công tác truyền giảng Phúc Âm chẳng bao lâu đều sẽ nhận thấy rằng thiên hạ tưởng là họ chẳng còn hy vọng gì cả, họ đều đã đi lạc quá xa trong đời sống tội lỗi. Khúc sách này dạy rằng hãy còn hy vọng cho tất cả mọi người. R.A.Torrey có đưa ra thí dụ về một người như thế trong quyển sách đã trở thành Kinh Thánh nhan đề Personal Work của ông (Revell). Sau một buổi nhóm lại sáng Chúa nhật, tiến sĩ Torrey hỏi một người tài ba và thông minh: “Ông có phải là một Cơ Đốc nhân thật sự hay không?”
Ông ta đáp: “Tôi là một tội nhân quá nặng để có thể được cứu”
Ông Torrey nói: “Thế thì câu này được dành cho ông đây”. Người ấy đã nhận thức được rằng vẫn còn hy vọng cho mình. Tiến sĩ Torrey hỏi tiếp là ông ta có sẵn sàng tiếp nhận sự cứu rỗi của Chúa Cứu Thế không, thì người ấy tức khắc quỳ xuống, xưng tội mình, và xin Đức Chúa Trời tha cho. Chẳng bao lâu, ông ta công khai xưng nhận Chúa Cứu Thế. Gia đình đã tan nát của ông ta được vãn hồi, và ông ta trở thành một Cơ Đốc nhân nhiệt thành làm chứng đạo.
Vậy, theo một ý nghĩa, thì tất cả các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo đều là những tấm gương về ân điển cho người khác. Tấm gương của chúng ta có thể không ngoạn mục bằng tấm gương của Phao-lô. Thế nhưng nó đều có ý nghĩa, vì mọi người chúng ta đều là những tội nhân chẳng xứng đáng gì trước khi ăn năn quy đạo. Cũng như Phao-lô thường đề cao ân điển bằng làm chứng của mình, chúng ta cũng phải làm như thế. Khi các con cái thuộc linh quan sát chúng ta, thì ấn tượng lớn lao nhất họ có được phải là tính cách vĩ đại của ân điển Đức Chúa Trời.
Từ ân điển đến ca tụng (ITi1Tm 1:17)
Đến cuối phần suy nghĩ của Phao-lô về ân điển của Đức Chúa Trời, ông đã buột miệng thốt ra một cách hồn nhiên tự phát lời ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời “Nguyền xin sự tôn quý vinh hiển đời đời vô cùng về Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được, tức là Đức Chúa Trời có một mà thôi! A-men!” Bài tán ca này là một trong nhiều bài ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời được tìm thấy trong các bức thư cua Phao-lô (xem 6:16; IITi 2Tm 4:18; RoRm 11:33-36; 16:27; GaGl 1:5; Eph Ep 3:21; Phi Pl 4:20).
Ca tụng là một kết quả tự nhiên khi người ta tập trung chú ý để suy nghĩ về ân điển của Đức Chúa Trời. An điển nhắc nhở chúng ta về tất cả những gì Chúa Cứu Thế đã làm. Nhưng khi chúng ta quá đa mang bận rộn đối với những trách nhiệm trong cuộc đời này, thì rất dễ quên đi những gì Chúa Cứu Thế đã làm. Khi việc ấy xảy ra thì lời ca tụng của chúng ta nghe có vẻ không tự nhiên và bị bó buộc.
Quá sa đà vào công việc của đời này có thể là lý do khiến cho lời ca tụng Chúa của chúng ta không được tự nhiên đối với quá nhiều Cơ Đốc nhân chúng ta. Chúng ta đã bị mất đi phần khải tượn về ân điển vì đã để cho nhiều điều lo lắng của cuộc đời đầy ắp tâm tư ý tưởng của chúng ta. Muốn đưa ân điển trở lại trong bức tranh, chúng ta cần dành thì giờ để suy gẫm về nó, để nhắc lại những điều tốt lành Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta, để đếm lại các phước hạnh của chúng ta. Nếu làm như thế, chúng ta sẽ dễ dàng sống với một thái độ ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời.
Ứng dụng cá nhân
Dùng những điều thấy được trong khúc sách này và ở nhiều chỗ khác, kể ra các cách thức bạn truyền đạt khải tượng về đức tin của mình cho các con cái thuộc linh của bạn

GIÁO HUẤN VÀ SỬA TRỊ
(ITi1Tm 1:18-20)
Lý do chính khiến Phao-lô viết hai bức thư thứ nhất và thứ hai cho Ti-mô-thê là để dạy cho Ti-mô-thê về nhiều nghĩa vụ khác nhau. Có thể tìm thấy trên dưới bảy mươi lăm điều giáo huấn đặc thù trong hai thư tín này. Sự kiện Phao-lô dạy cho người môn đệ Ti-mô-thê của ông ngần ấy lời chỉ giáo đặc thù cho chúng ta thấy một cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo có trách nhiệm dạy bảo những người mà mình lãnh đạo. Thư Ti-mô-thê thứ nhất 1:18-20 cung cấp cơ sở để nghiên cứu cách thức một người phải thi hành chức vụ giáo huấn này như thế nào.
Phương pháp giáo huấn (1:18a)
Phao-lô bắt đầu: “Hỡi Ti-mô-thê, con ta, sự răn bảo mà ta truyền cho con”. Từ ngữ “răn bảo” có khi cũng được dịch là truyền lệnh (truyền dạy, truyền bảo) này vốn được dùng theo nghĩa mạnh trong lãnh vực quân sự nhằm nói lên ý bó buộc khẩn cấp. Danh từ này và động từ tương ứng của nó xuất hiện bảy lần trong ITi-mô-thê (1:3, 5, 18; 4:11; 4:7; 6:13, 17). Phao-lô cũng dùng một từ ngữ khác là “khuyên bảo” hay “răn bảo” ám chỉ việc dạy dỗ trong I và IITi-mô-thê (1:3; 2:1; 5:1; 6:2; IITi 2Tm 4:2). Mấy chữ này nói lên ý niệm về những lời răn dạy đặc thù, đưa ra nhân những cơ hội đặc thù.
Trong thư tín thứ hai, Phao-lô đưa ra cho Ti-mô-thê một số hướng dẫn về phương pháp mà ông phải dạy dỗ: “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (IITi 2Tm 4:2). Trách nhiệm đầu tiên và quan trọng nhất của chúng ta là “giảng đạo (Lời)”. Người dạy không thể hướng dẫn một người khác bằng ý kiến riêng của mình. Trái lại, phải giúp người kia ứng dụng Lời Đức Chúa Trời cho đời sống mình. Dù lời chỉ dạy mà người ấy đưa ra có là gì, thì nó phải khớp đúng với Lời Chúa (Thánh Kinh). Lời Chúa tự nó phải là phần quan trọng nhất của việc chỉ giáo.
Tuy nhiên giảng đạo (Lời) không phải là đã hoàn thành trọn vẹn chức vụ dạy bảo. Bậc làm cha thuộc linh thường nhận thấy rằng coh dù mình có trung tín giảng đạo đến đâu, đứa con thuộc linh của mình cũng vẫn sa vào tội lỗi, sai lầm. Chừng đó, người ấy phải “bẻ trách, nài khuyên, sửa trị”. Từ ngữ “bẻ trách” được dùng ở đây có khi cũng được dịch ra là “dùng lý luận” ám chỉ một phương pháp vạch rõ sự sai lầm tri thức. Nhiều người khác mà sai lầm có tính cách đạo đức hơn là tri thức, thì cần được “sửa trị”. Họ đã phạm tội thì cần phải răn đe. Một số người khác nữa lại còn “nài khuyên”. Từ ngữ này nói lên cái ý là cứ khuyên răn người ta. Ba từ ngữ này đưa ra một bảng tóm tắt rất hay về phương pháp thực tiễn cầnđưa ra khi dạy bảo. Như E.F.Scott từng viết khi bình giải câu này: “Chức vụ đào tạo môn đệ thuộc linh gồm có việc kêu gọi đến lý trí, lương tâm và ý chí” (The Pastoral Epistles, London: Hodder and Stoughton, 1936). Tiếp theo đó, Phao-lô đưa ra thêm hai đức tính nữa cần đi kèm song hành với việc dạy bảo “hãy đem lòng rất nhịn nhục… cứ dạy dỗ chẳng thôi” (IITi 2Tm 4:2). Một huấn luyện viên giỏi cần phải kiên nhận. Nếu thiếu kiên nhẫn, ta có thể làm tổn thương một người nhạy cảm khi bẻ trách người ấy.
Một người đào tạo môn đệ phải truyền dạy, Từ ngữ Hy văn được dịch ra dạy dỗ, là didache, từ ngữ thông dụng nhất chỉ việc dạy bảo. Chỉ nói với một người. “Hãy làm thế này, đừng làm thế kia, thì chưa đủ. Loại dạy bảo như thế sẽ tạo ra một người máy - một kẻ làm theo thói quen đã tập sẵn mà thôi. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một tâm trí mà Ngài muốn cho chúng ta sử dụng trong đời sống làm Cơ Đốc nhân. Người môn đệ linh động cần biết lý do tại sao mình lại làm việc này hay việc kia. Do đó, nếu có bị bẻ trách vì đã làm sai, thì người ấy phải được cho biết tại sao người ấy đã sai.
Một Cơ Đốc nhân biết suy nghĩ sẽ nhận thấy khó chịu bẻ trách, sửa trị, nài khuyên quá lâu, trừ phi khi có việc dạy bảo kèm theo. Những tín hữu mới có thể chịu đựng một thời gian vì nóng lòng muốn tăng trưởng trong đức tin (đạo) mới. Nhưng sau một thời gian, người ấy sẽ có phản ứng; đó là lý do để giải thích tại sao một số người trẻ hay phản lại ông thầy. Họ cần một điều gì đó nhiềun hơn là cách chỉ dẫn cho một người máy. Họ cần biết lý do. Mà quả là có nhiều lý do thật, vì Cơ Đốc giáo là một đạo hợp lý.
Nhưng còn có một sai lầm phổ biến hơn nữa trong việc đào tạo môn đệ,t rái hẳn với sai lầm mà chúng ta vừa mô tả. Ông thầy quá trung tín dạy bảo thường bỏ qua những lời chỉ giáo đặc thù (cụ thể) là chỉ ngay vào chỗ sai lầm trong đời sống các mônđệ thuộc linh của mình. Họ nhìn thấy các khuyết nhược điểm, các quan niệm và ý niệm sai lầm trong đời sống các môn đệ mình, nhưng lại muốn tránh cái công việc chẳng mấy thú vị là chỉ chúng ra. Một số người thậm chí còn bảo rằng công việc của họ chẳng có liên quan gì với công việc của người khác về phương diện đó. Chắc chắn Phao-lô sẽ xem một thái độ như thế là vị kỷ.
Thấy một người sai lầm hay cần được hướng dẫn mà lại chẳng làm gì cả vốn bị Thánh Kinh xem là phạm một tội rất nặng. Đức Chúa Trời từng dạy Ê-xê-chi-ên “Khi ta nói với kẻ dữ rằng: Mầy chắc sẽ chết! - nếu ngươi không răn bảo nó, không nói với nó đặng khuyên nó từ bỏ đường xấu để cứu mạng mình, thì người dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó; nhưng ta sẽ đòi huyết nó nơi tay ngươi” (Exe Ed 3:18)
Dạy bảo với một tinh thần đầy cao vọng (ITi1Tm 1:18b)
Phao-lô nói về những lời tiên tri liên quan đến Ti-mô-thê: “Hỡi Ti-mô-thê, côn ta, sự răn bảo mà ta truyền cho con theo các lời tiên tri đã chỉ về con”. Rõ ràng là Phao-lô có biết một thông điệp đặc biệt từ Đức Chúa Trời đã ban cho Ti-mô-thê lúc ông được tấn phong, hoặc có lẽ là trước đó nữa, khẳng định rằng Ti-mô-thê có một tương lai sáng lạng là một mục sư rất thành công. Lòng tin quyết của Phao-lô vào tương lai của Ti-mô-thê là nền tảng của cao vọng của ông về Ti-mô-thê. Khi Phao-lô dạy bảo Ti-mô-thê,thì ông làm việc ấy bằng cách đặt cái cao vọng liên quan đến Ti-mô-thê đó trước mắt mình. Ông tin rằng những lời dạy bảo của ông sẽ giúp Ti-mô-thê hoàn thành những điều lớn lao mà Đức Chúa Trời đang dành sẵn cho ông.
Một ước vọng cho sự thành công thuộc linh như thế của các con cái thuộc linh của chúng ta là một phương diện quan trọng khác nữa của chức vụ đào tạo môn đệ. Chúng ta phải có cao vọng về các con cái thuộc linh của mình, và các hành động của chúng ta phải nhằm mục đích giúp họ thực hiện tất cả những gì Đức Chúa Trời muốn họ làm. Thật vậy, không phải Phao-lô chỉ miễn cưỡng nhắc nhở Ti-mô-thê về tiềm năng lớn lao của ông mà thôi đâu (cũng xem 4:12-14; IITi 2Tm 1:5-7). Ta có thể tưởng tượng những lời lẽ như thế đã khích lệ được cho một Ti-mô-thê nhút nhát tự giấu mình đi dám phấn đấu vì nhiều điều cao quý hơn như thế nào.
Chẳng có ai trong chúng ta có thể nhận được một lời tiên tri trực tiếp từ Đức Chúa Trời để làm nền tảng cho các cao vọng của các con cái thuộc linh của chúng ta. Nhưng chúng ta có thể có được “một cái nhìn thông tuệ (insight) thuộc linh”, một giấc mơ về những gì có thể nhờ họ làm. Điều này có thể đến với chúng ta bằng cách quan sát hay biện biệt các ân tứ cá biệt mà các cá nhân này có thể đã nhận được từ Đức Thánh Linh. Những lời lẽ có tính cách của “một cái nhìn thông tuệ tiên tri” của ba người lãnh đạo Cơ Đốc giáo có thể đã nâng đỡ rất nhiều và khích lệ tôi trong những năm đầu tiên làm Cơ Đốc nhân của tôi.
Một số người đào tạo môn đệ không phản ảnh trong những lời giáo huấn của họ một cao vọng muốn thấy các môn đệ của mình có sự phát triển cá nhân như thế. Nhiều khi người môn đệ nghĩ rằng ông thầy đang đào tạo mình cho là mình bất tài bất năng đến mức phải nói hết cho mình mọi việc phải làm. Một cách giáo hoá như thế có thể có hại cho một người có tâm trạng bất ổn, khiến người ấy mất hết tin tưởng vào các khả năng của mình. Nhiều người khác sẽ oán ghét vì bị đối xử như trẻ con, nên sau một thời gian, sẽ tìm cách tránh mặt ông thằy.
Nhiều khi người mới tin Chúa căn cứ vào cách mình được giáo ohá để nghĩ rằng ông thầy thiếu quan tâm đến mình. Anh ta bị đưa đến chỗ cảm thấy điều duy nhất khiến mình được xem là quan trọng, là sự kiện sở dĩ anh ta được đào tạo là để giúp đỡ cho tổ chức hay Hội Thánh mà anh ta là thành viên, nhằm đạt một mục tiêu nào đó của tổ chức hay Hội Thánh ấy. Việc giáo hoá quan tâm trước hết là cách thức mà anh ta đang làm cái công việc của mình trong ban trị sự hay một tổ (nhóm) nào đó mà anh ta là thành viên. Lẽ dĩ nhiên, cách giáo hoá như thế sẽ không tạo ra được những môn đệ trưởng thành.
Cho nên chúng ta thấy rõ người đào tạo môn đệ phải có cao vọng đối với những người họ đào tạo là quan trọng như thế nào, những cao vọng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ tiến trình đào tạo môn đệ.
Giáo huấn nhằm giúp người môn đệ đánh trận giỏi (ITi1Tm 1:18c)
Phao-lô nêu rõ mục tiêu tiếp theo của ông: “Sự răn bảo mà ta truyền cho con… tức là phải nhờ những lời đó mà đánh trận tốt lành”. Những lời tiên tri vừa được đề cập ở phần trên sẽ giúp Ti-mô-thê càng thêm vững vàng để chiến đấu cho thật giỏi. Cho nên mục tiêu của Phao-lô làm chiến sĩ của mình.
Đời sống Cơ Đốc nhân là một cuộc chiến tranh chống lại các lực lượng gian ác để bảo vệ Nước Trời. Thế nhưng, một Cơ Đốc nhân rất dễ mất tinh thần của một chiến sĩ để hạ thấp nó thành “một đời sống dân sự tầm thường”. Theo lẽ tự nhiên, chúng ta đều có xu hướng mê muội, biếng nhác. Hầu như có một quy luật huyền bí của tâm hồn, là nếu chúng ta ngưng chiến đấu như một chiến sĩ, thì thói mê muội, lười biếng sẽ len lõi vào. Nó có thể đánh vào sinh hoạt cầu nguyện hoặc nghiên cứu Thánh Kinh của chúng ta, vào cuộc chiến đấu của chúng ta chống lại các tư tưởng xấu, hoặc vào thái độ thận trong của chúng ta trong các mối liên hệ với các thành niên khác giới tính, vào mối bận tâm của chúng ta về gia đình hay vào việc học hỏi nghiên cứu, làm chứng đạo của chúng ta, hoặc việc chúng ta cố tìm cách giữ vững các tiêu chuẩn của Cơ Đốc giáo tại nơi chúng ta làm việc.
Sự thôi thúc của một Cơ Đốc nhân khác có thể là tất cả những gì cần thiết để đảo ngược xu hướng mê muội lười nhác trong đời sống một người. Chỉ cần một câu hỏi như: “Sinh hoạt bồi linh (đọc Thánh Kinh và cầu nguyện) của bạn ra sao rồi?” có thể đủ để thức tỉnh cho người ấy quay trở lại với kỷ luật đọc Thánh Kinh và cầu nguyện. Trước giả thư Hê-bơ-rơ nêu rõ rằng các bạn bè Cơ Đốc nhân với nhau phải từ một vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ những người khác tránh được thói mê muội biếng nhác “Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành” (HeDt 10:24)
Thôi thúc người khác trong cuộc chiến tranh của Cơ Đốc nhân là một trong những giá trị lớn lao nhất của công tác đào tạo môn đệ. Một tín hữu chịu trách nhiệm phải khai trình với một người khác thường khỏi sợ bị sa vào tình mê muội lười nhác hơn. Công tác đào tạo môn đệ cần nuôi dưỡng cái ý thức về trách nhiệm phải khai trình đó. Mục tiêu muốn thôi thúc cho Ti-mô-thê cứ tiến lên dường như vốn luôn luôn có trong tâm trí Phao-lô khi ông viết các bức thư này. Chúng vốn có đầy dẫy những tiếng gọi phải đề cao cảnh giác, hành động tích cực đó trở thành một môn đệ hoàn thiện (ITi1Tm 4:11-16; 6:10-16; IITi 2Tm 1:6-14; 2:1-26; 4:1-5).
Binh giáp cho cuộc chiến đấu (ITi1Tm 1:19a)
Rồi Phao-lô mô tả bộ binh giáp đòi hỏi một Cơ Đốc nhân phải có cho cuộc chiến tranh (1:19a). Ti-mô-thê phải “giữ đức tin và lương tâm tốt” trong khi chiến đấu. Đức tin - tín ngưỡng đúng - là điều thiết yếu. Nếu Ti-mô-thê tin vào những điều sai lầm, ông sẽ không thể chiến đấu đúng mức, phải lẽ được. Rất nhiều lần trong các thư tín này, Phao-lô nhấn mạnh sự cần thiết phải có những niềm tin đúng. Trong chương trước chúng ta đã thấy thế nào niềm tin vào giáo lý về ân điển vốn tối quan trọng cho Cơ Đốc giáo lành mạnhh (chân chính, thuần chánh).
Tiếp theo đây, Phao-lô bảo rằng Ti-mô-thê phải được vũ trang bằng một lương tâm tốt, nghĩa là ông phải mẫn cảm với lời phán của Đức Chúa Trời. Lương tâm của ông phải dễ dàng để cho tiếng phán ấy xâm nhập. Nếu lương tâm ông đã bị thói kiêu ngạo hay một ý thức tự mãn hay tự ái làm cho chai lì, thì sẽ chẳng ai có thể nhờ ông mà được ích lợi gì cả. Ông sẽ không chịu thừa nhận các lội lầm của mình. Ông sẽ không nhìn thấy các lãnh vực cần phải cải thiện của đời sống mình. Sẽ rất khá khuyên bảo ông, lại càng khó bẻ trách ông hơn nữa. Người có lương tậm chai lì như thế thì rất ít hy vọng có thể tiến bộ thuộc linh, vì Đức Chúa Trời không thể xâm nhập tâm trí người ấy. Sự kiện này giải thích lý do tại sao Phao-lô lại mô tả những người đã chối bỏ đức tin (đạo) và không có lương tậm tốt thì “đức tin bị chìm đắm” (1:19b). Giải pháp duy nhất cho người như thế có lẽ là loại biện pháp mạnh, tức là dứt phép thông công mà Phao-lô bảo là phải thi hành với A-léc-xan-đơ và Hy-mê-nê (1:20).
Những người như thế thật tương phản với Ti-mô-thê biết bao! Tuy là một ấp lãnh đạo có địa vị cao, ông vẫn dễ dạy đủ để Phao-lô cảm thấy được tự do dạy bảo ông một phương pháp bao biện như thế trong hai bức thư này.
Quyền lãnh đạo và sửa trị (1:19b, 20)
Phao-lô nêu tên hai người là Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ mà đức tin đã bị chìm đắm vì đã chối bỏ đạo và một lương tâm tốt (1:20),. Phao-lô bảo rằng ông đã “phó” hai người ấy “cho quỉ Sa-tan rồi, hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa”. Từ ngữ “phó cho quỉ Sa-tan” (ICo1Cr 5:5) được dùng để nói lên việc dứt phép thông công. Nó ám chỉ việc “trục xuất một tội nhân khỏi Hội Thánh là lãnh vực mà Đức Chúa Trời quan tâm chăm sóc và bảo vệ, và là việc chính thức giao người ấy coh quyền lực của Sa-tan” (J.N.D.Kelly, A Commentary on the Postoral Epistles, London: Adams & Charles Black 1963).
Loại sửa trị này vốn thường xuyên được thực thi trong Hội Thánh nguyên thuỷ. Phao-lô từng quở trách người Cô-rinh-tô về việc họ chậm chạp hành động chống lại một thành viên đã phạm tội loạn luân: “Anh em cònlên mình kiêu ngạo! Anh em chẳng từng buồn rầu, hầu cho kẻ phạm tội đó bị trừ bỏ khỏi vòng anh em thì hơn! Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ đoán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” (ICo1Cr 5:2, 13). Ở đây, Phao-lô truyền phải dứt phép thông công vì tội tà dâm. Còn A-léc-xan-đơ và Hy-mê-nê thì bị dứt phép thông công vì tội phạm thượng (ITi1Tm 1:20). Khi viết cho Tít, ông lại truyền phải có biện pháp sửa trị khi có người đưa tà giáo vào nhằmg ây chia rẽ. Phao-lô viết: “Nhưng hãy lánh những điều cãi lẽ dại dột, những gia phổ, những sự cạnh tranh nghị luận về luật pháp, vì mấy sự đều là vộ ích và hư khộng. Sau khi mình đã khuyên bảo kẻ theo tà giáo một hai lần rồi, thì hãy lánh họ” (Tit Tt 3:9, 10). Lệnh truyền của Phao-lô có phần nhẹ hơn đối với bất cứ người nào tại Tê-sa-lô-ni-ca không vâng theo những lời chỉ giáo của ông trong thư tín ấy, là “Ví bằng có ai không tuân theo lời chúng tôi nói trong thơ này, thì hãy ghi lấy, chớ giao thông với họ, hầư cho họ nhơn đó biết xấu hổ. Tuy vậy, chớ coi người đó như kẻ nghịch thù, nhưng hãy răn bảo người như anh em vậy” (IITe 2Tx 3:14, 15).
Căn cứ vào mấy câu để tham khảo trên đây, chúng ta thấy cường độ của sự sửa phạt có thể rất khác nhau. Nhưng trong tất cả các trường hợp, rõ ràng là tín ngưỡng và cách hành đạo sai lầm đều bị xem là vô cùng nghiêm trọng đối với Hội Thánh.
Thái độ nghiêm khắc đối với tội lỗi này là thiết yếu nếu muốn có việc ăn năn thật. Thật vậy, có một trong những lý do chính yếu để thi hành việc sửa trị trong Hội Thánh nguyên thuỷ, là mở đường cho sự ăn năn. Cho nên, Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ sở dĩ bị phó cho Sa-tan là để họ “học biết đừng phạm thượng nữa”.
Tội nhân tại Cô-rinh-tô bị phó cho Sa-tan “để huỷ hoại phần xác thịt hầu cho linh hồn được cứu trong ngày của Chúa” (ICo1Cr 5:5). Kẻ không vâng lời tại Tê-sa-lô-ni-ca bị bỏ mặc một mình “hầu cho họ nhơn đó biết xấu hổ” (IITe 2Tx 3:14). Dường như Phao-lô ngụ ý nói rằng không thể có sự ăn năn thật để được chữa lành nếu không chịu thẳng thắn trực diện với tính cách trầm trọng của tội lỗi.
Các Cơ Đốc nhân thường sa vào tội lỗi rồi cố tìm cách che đậy nó hoặc chỉ xưng ra một phần của việc làm sai trái của họ mà thôi - thường là phần mở rộng rõ ràng cho công chúng nhìn thấy và do đó, chẳng có thể chối cãi vào đâu được. John Bunyan từng viết về số người “chỉ xưng nhận đại kái và chỉ có phân nửa tội lỗi mà thôi”. Ông nói điều này rất “nguy hiểm, vết thương sẽ chỉ được chữa lành giả dối mà thôi” (Upon a Penny Loaf, do Royer Palms đúc kết, Bethany Fellow ship 19878). Nhiều Cơ Đốc nhân ngày nay đang mang những vết thương chỉ được chữa lành một cách giả dối. Họ đã phạm tội nhưng vẫn chưa nhận hết trách nhiệm về tội lỗi của họ. Do đó, họ chưa được Đức Chúa Trời tha thứ trọn vẹn. Thế nhưng họ lại được tiếp nhận vào sự thông công và tiếp tục hoạt động trong cộng đồng Cơ Đốc giáo. Nhưng họ chẳng bao giờ có thể có đượ cmột đời sống làm cho Đức Chúa Trời đẹp lòng thật trọn vẹn. Họ dựng lên chung quanh mình một bức rào cản không cho phép họ mở lòng mình ra trọn vẹn cho Đức Chúa Trời và người khác. Chiếc rào cản gây trở ngại coh sự tăng trưởng thuộc linh của họ. Họ sẵn sàng nhượng bộ khi gặp khủng hoảng vì tính mẫn cảm của họ dối với tội lỗi đã bị cùn nhụt, suy giảm. Lương tâm bị mất tính nhạy cảm là một trong những tổn thương nghiêm trọng do hậu quả của việc bỏ qua một biện pháp sửa trị thích đáng. Một lương tâm đã chia lì đóng chặt cánh cửa của việc được chữa lành sau khi phạm tội, và mở cửa cho sự nhượng bộ để thoả hiệp và việc chỉ dấn thân cống hiến có phân nửa mà thôi.
Một trong những nhiệm vụ gian nan nhất của một người lãnh đạo là hướng dẫn những người dưới quyền chăm sóc của mình đã phạm tội thấy được tính cách trầm trọng của tội lỗi họ để trực diện với các hậu quả của nó. Một nhiệm vụ như thế thường chẳng có gì thú vị, nhât là khi người ấy chối tội hay tự bào chữa để mình được trắng án. Dưới một áp lực như thế, nhiều cấp lãnh đạo thường lùi bước, bỏ mặc cho vấn đề nằm nguyên tại chỗ của nó. Nhưng tội lỗi không bị đối phó thích đáng sẽ chẳng chút giữ nguyên vị của nó đâu. Nó sẽ tìm đường thâm nhập đời sống của Cơ Đốc nhân ấy, ngăn trở sự tăng trưởng của người ấy rồi ảnh hưởng (xấu) đến cả cộng đồng.
Người đào tạo môn đệ phải tìm cách nuôi dưỡng một bầu không khí trong đó tội lỗi bị xem là hết sưc nghiêm trọng, và là chỗ mà các tín hữu phải học tập để biết lắng nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời qua lương tâm họ, là nơi để họ biết rằng từ chối trách nhiệm của mình đối với đời sống thánh khiết sẽ đưa đến hậu quả là bị mất đi các phước hạnh của sự thông công. Một bầu không khí như thế sẽ tạo ra được một đời sống có phẩm chết thuộc linh làm vinh cho Đức Chúa Trời thánh khiết của chúng ta.
Phần còn lại của thư ITi-mô-thê chứa đựng những lời chỉ giáo về nhiều đề mục liên quan đến đời sống và chức vụ của Ti-mô-thê được liệt kê dưới đây:
ITi1Tm 2:1-8 Vấn đề cầu nguyện khi thờ phương
2:4-16 Phụ nữ trong buổi nhóm thờ phượng
3:1-13 Phẩm cách của giám mục và chấp sự
3:14-16 Tại sao những lời giáo huấn này lại quan trọng
4:1-11 Cách trả lời với tà giáo
4:12-16 Cách trả lời khi bị chê bai chỉ trích (bằng một đời sống và chức vụ gương mẫu)
5:1, 2 Cách liên lạc với người già và thanh niên nam nữ
5:3-16 Vấn đề chăm lo cho các quả phụ
5:17-25 Vấn đề tguyển chọn và giám sát các trưởng lạo
5:23 Sức khoẻ thuộc thể của Ti-mô-thê
6:1, 2 Tôi tớ phải liên hệ với chủ nuh7 thế nào
6:3-5 ác giáo sư giả là người như thế nào
6:6-10 Thái độ đối với tài sản và tham vọng của Cơ Đốc nhân
6:11-16 Cuộc chiến đấu vì sự thánh khiết của cá nhân Ti-mô-thê
6:17-19 Cách giáo hoá người giàu về tài sản
6:20 Một lời dặn bảo cuối cùng
Thật là một bảng liệt kê rắc rối! Có lời khưyên về sức khoẻ thuộc thể và sinh hoạt thuộc linh, về chức vụ thực tiễn và giáo lý về tín ngưỡng. Đây là một phần suy tư về thế nào một người lãnh đạo phải quan tâm đến mọi phương diện của các con cái thuộc linh của mình.
Ứng dụng cá nhân
Hãy lập một bảng liệt kê các lời giáo huấn liên quan đến nhiều đề mục khác nhau mà bạn cần dạy bảo coh những người mà bạn lãnh đạo. Hãy viết ra bạn mong sẽ dạy những điều cần dạy bảo này lúc nào. Trong khi viết ra fgiấy các sự kiện ấy, rất có thể bạn sẽ được thúc giục phải làm những gì bạn đã viết ra.

KHÁT VỌNG LÃNH ĐẠO
(ITi1Tm 3:1, 2, 7)
Bất cứ ai nghiên cứu về quyền lãnh đạo theo Thánh Kinh đều nêu khảo cứu chương 3 của thư ITi-mô-thê vì nó trình bày thật rõ ràng các phẩm cách của người lãnh đạo Hội Thánh. Nó bàn về ba nhóm lãnh đạo: “các giám mục” (3:1-7) “các chấp sự” (3:8, 10, 12, 13) và “các phụ nữ” làm lãnh đạo (3:11). Nhóm sau cùng này có thể là các nữ chấp sự hoặc vỡ của các chấp sự. Trong quyển sách này, chúng ta sẽ chỉ nghiên cứu phần thảo luận của Phao-lô liên quan đến các giám mục mà thôi, vì nghiên cứu về chức vị này sẽ cho chúng ta một phần mô tả rõ ràng và bao quát về một người lãnh đạo phải như thế nào.
Giám mục và chấp sự
Phần thảo luận của Phao-lô về các giám mục thường được xem như chỉ áp dụng cho một nhóm ưu tú các cấp lãnh đạo hội Thánh cấp bậc hàng đầu mà thôi vì một vài bản dịch Anh văn cổ đã dùng chữ “giám mục cho chức vụ này, trong khi các bản dịch mới hơn lại dùng chữ ‘quản lý’ (hay giám sát, overseer). Đa số Cơ Đốc nhân ngày nay nghĩ rằng một giám mục là một người quản lý một số nhiều Hội Thánh dàn trải trên một khu vực rộng lớn về mặt địa lý hay địa phận thuộc quyền của một giám mục.
Trong các thư tín của Tân Ước kinh, danh hiệu “giám mục” hay quản lý được dùng chỉ những người giám sát các chi hội địa phương về phương diện mục vụ. Từ ngữ Hy văn episkopos có nghĩa là “người quản lý”. Thật vậy, như tại Phi-líp, một vài chi hội địa phương có nhiều hơn là một người quản lý (Phi Pl 1:1). Cho nên cũng có phần nào là đúng khi bản dịch Diễn Ý rất thường dịch cuh74 episkopos là “người lãnh đạo Hội Thánh”
Các quản lý còn được gọi là “trưởng lão” Tit Tt 1:6, 7; Cong Cv 20:17, 28) và “mục sư (Hy văn poimen; Eph Ep 4:11) nữa. “Quản lý” và “mục sư” là các danh xưng liên quan đến chức năng của người lãnh đạo. Ông ta là người quản lý, giám sát và chăn nuôi bằng chiên của Đức Chúa Trời. “Trưởng lão: là một danh xưng liên hệ đến việc ông ta là một người cao tuổi, là bậc tăng trưởng trong Hội Thánh.
Từ ngữ “chấp sự” có nghĩa là một người phục vụ. Vào những ngày đầu tiên của Hội Thánh, như được ghi lại trong Công vụ các sứ đồ, họ có trách nhiệm phân phát lương thực thực phẩm đúng số lượng cho toàn thể mọi người trong Hội Thánh. Trong văn học Cơ Đốc giáo thế kỷ thứ hai, đã có hai chức năng thường được giao cho các chấp sự: việc quản trị ngân quỹ của Hội Thánh, và đi thăm viếng từ nhà này sang nhà kia. Có lẽ đây lẽ loại công tác mà các chấp sự cũng đã thi hành vào thời của Ti-mô-thê.
Khát vọng lãnh đạo (ITi1Tm 3:1a)
Trước khi giới thiệu bảng liệt kê các phẩm cách đòi hỏi với các cấp lãnh đạo của mình, Phao-lô khuyến khích các cơ Đốc nhân cao tuổi nên có khát vọng trở thành người lãnh đạo “Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm”.
Ở đây có ai từ ngữ mô tả một Cơ Đốc nhân ước ao chức vị lãnh đạo. Một là “mong” nguyên văn là “để tâm”, “vươn theo”. Từ ngữ này hàm ý phải có một phần nỗ lực nào đó. Từ ngữ này được dịch ra ở nhiều chỗ khác là “ưa muốn (aspine) nói lên đúng hơn ý nghĩa của nó. Một người ưa muốn, mong ước trở thành lãnh đạo sẽ phấn đấu để chiến thắng các khuyết nhược điểm của mình và đạt được cá tính giống như Chúa Cứu thế được môt ả ở 2:7. Người ấy tăng trưởng trong sự thông biết Lời Chúa và thế gian. Và người ấy phát triển các tài năgn truyền đạt chân lý của Đức Chúa Trời có kết quả cho thế hệ mình.
Từ ngữ thứ hai của Phao-lô chỉ mong muốn, là “ưa muốn” giới thiệu quyền lãnh đạo như một mục tiêu mà một người đặt trước mặt mình với lòng thiết tha mong muốn. Bản New English Bible dịch nó là “tham vọng (ambition). Tuy nhiên tham vọng của Cơ Đốc nhân không giống với tham vọng vị kỷ. Tham vọng của Cơ Đốc nhân nảy sinh từ mong muốn được Đức Chúa Trời tận dụng mình. Mục tiêu đầu tiên mà Cơ Đốc nhân phấn đấu để hướng tới là sẵn sàng để cho Đức Chúa Trời sử dụng mình trọn vẹn nếu Ngài thấy điều đó là thích hợp. Chức vị lãnh đạo là một cách thức để được Đức Chúa Trời sử dụng thật hữu hiệu vì nó tạo ra một lãnh vực rất rộng lớn để gây ảnh hưởng tốt, một viễn cảnh có thể thúc đẩy một Cơ Đốc nhân vươn tới chức vị lãnh đạo.
Một Cơ Đốc nhân cũng biết rằng cốt lõi của chức vụ lãnh đạo là phục vụ. Chúng ta là những người theo một Chúa hay phục vụ (làm tôi tớ) người ta (LuLc 22:27), là Đấng có lòng nhu mì khiêm nhường (Mat Mt 11:29). Chúa Giê-xu từng dạy các môn đệ Ngài “Trong các ngươi thì không như vậy; trái lại, trong các ngươi, kẻ nào muốn làm lớn, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi; còn kẻ nào muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi các ngươi” (Mat Mt 20:26, 27). Một Cơ Đốc nhân chân chính biết rằng đúng lúc mình trở thành kẻ kiêu ngạo, là mình đã thất bại, đã phản bội lại quyền lãnh đạo của mình. Vậy, khi mong ước chức vị lãnh đạo, người ấy cần đề cao cảnh giác đối với thói kiêu ngạo, vốn nằm ngay tại trung tâm của tham vọng vị kỷ.
Một Cơ Đốc nhân có thể mong ước vươn tới chức vị lãnh đạo, thế nhưng ước muốn đầu tiên của người ấy phải là vâng lời Chúa Cứu Thế, người ấy phải hoàn toàn hài lòng cả khi ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với mình không có chức vị lãnh đạo. Sở dĩ người ấy hài lòng là vì mình đang phục vụ Đức Chúa Trời, đang vâng theo ý chỉ Ngài. Một người như thế sẽ vui vẻ, hạnh phúc trong bất cứ nhiệm vụ nào mà Đức Chúa Trời dẫn mình làm.
Một nhiệm vụ cao quý (ITi1Tm 3:1b)
Ý nghĩa của chức vụ. Khi Phao-lô mô tả công tác của người quản lý (giám mục) là “một việc tốt lành” là ông muốn tìm cách nâng cao giá trị của chức vụ ấy, và như thế cũng là thu hút những người tốt tự hiến thân cho chức vụ ấy.
Chức vụ này mang theo nó rất nhiều vấn đề, và nó đòi hỏi phải lao động gian khổ. Nó mở đường cho một người bị thiên hạ nhìn vào để bắt bớ bách hại và chê bai chỉ trích. Các Cơ Đốc nhân tại Ê-phê-sô vào thời của Ti-mô-thê vốn là một thiểu số những người nghèo về phương diện kinh tế. Cho nên, dù họ có lao động gian khổ đến đâu, những người phục vụ trọn vẹn thì giờ cho Hội Thánh vẫn không có nhiều cơ hội để thăng tiến trên các nấc thang xã hội, dù là về mặt kinh tế hay địa vị.
Về sau trong thư tín này, Phao-lô nhấn mạnh rằng các giám mục phải được trả lương đầy đủ (5:17). Nhưng cách Phao-lô định mức trợ cấp đầy đủ vốn không giống như điều mà chúng ta cho là sung túc, giàu có. Ông viết: “Như vậy, miễn là đồ ăn đủ mặc thì phải thoả lòng” (6:8). Bản thân Phao-lô từng có địa vị và giàu có theo đời này trước khi ông ăn năn quy đạo. Nhưng ông đã từ bỏ tất cả khi trở thành một tôi tớ của Chúa Cứu Thế (xem Phi Pl 3:4-8).
Thế nhưng Phao-lô chẳng hề nghi ngờ gì về sự kiện làm người phục vụ Cơ Đốc giáo là một nhiệm vụ cao quý noble, xem bản dịch Diễn Ý. “Cao quý” là một từ ngữ chỉ địa vị. Địa vị của người làm mục sư vốn không do tài sản hay địa vị xã hội. Nó nảy sinh từ ý nghĩa trọng đại của công tác mà người ấy đang thực hiện. Người ấy đang được giao cho cái kho báu quan trọng nhất đời, đó là Phúc Âm đời đời mà chỉ có ở đó, loài người mới có hy vọng để được cứu rỗi. Người ấy là đại sứ của Nhà Vua của cả thế gian. Và Nhà Vua ấy nhờ vị mục sư để qua trung gian của vị ấy mà kêu gọi cả thế gian (IICo 2Cr 5:20).
Chức vụ phục vụ (mụ csư) Cơ Đốc giáo là một công tác cao quý, phải thi hành với thái độ vui vẻ, thậm chí là tự hào bất vị kỷ nữa. Lương bổng và địa vị theo đời này của nó không phải là chủ yếu. Thế nhưng Phao-lô không ngần ngại kêu gọi mọi người hãy mong muốn nó, tự trang bị những phẩm cách cao để bước vào đó, và đòi hỏi phải vô cùng thận trọng khi tuyển chọn các mục sư (cũng xem ITi1Tm 5:22). Những phương pháp tuyển mộ như thế thường áp dụng cho những công tác tối quan trọng. Mà quả thật đây là một công tác quan trọng!
Tại nhiều quốc gia ngày nay, nơi mà các Cơ Đốc nhân vốnlà một thiểu số dân nghèo, thì Hội Thánh đã phải chịu nhiều thiệt hại do số cán bộ thiếu động cơ thúc đẩy nên làm việc với phẩm chất thấp. Một lý do cho sự kiện này, là họ đã đánh mất phần ý thức tự hào về chức vụ của mình. Một người sẽ hăng say tận hiến năng lực và óc sáng tạo của mình cho một công tác mà người ấy cho là có ý nghĩa cao quý. Nhưng có nhiều vị mục sư do bị ảnh hưởng của các tiêu chuẩn xã hội sai lầm, đã đánh mất phần ý thức về tầm quan trọng của chức vụ của họ. Hệ quả là trong phần động cơ thúc đẩy họ có một chút thiếu hụt và thế là phẩm chất của công việc họ làm cũng bị sút kém.
Vì tình hình sự việc là như thế, nhiều thanh niên Cơ Đốc nhân xuất sắc đã quay sang ý niệm xem chức vụ mục sư như một nghề. Mấy tháng trước đây, một thanh niên như thế đã nói với tôi. “Tôi rất muốn bước vào chức vụ với trọn vẹn thì giờ. Nhưng phần đông các vị mục sư trong hệ phái của tôi dường như chẳng mấy hăng hái và thiếu nhiệt tình. Tôi không muốn điều đó cũng xảy đến cho tôi. Cho nên tôi nghĩ sẽ chỉ phục vụ Chúa với tư cách một tín đồ thường mà thôi.
Phải phục hồi vinh quang thuộc về chức vụ (mục sư) thật phải lẽ, là quan trọng biết bao! Nếu chúng ta nắm chắc được ý nghĩa của việc mình đang làm, thì phẩm chất của công tác của chúng ta sẽ tăng lên. Công tác lơ là là điều không thể cùng tồn tại với Phúc Âm vĩ đại mà chúng ta là những người chuyên chở và là các đại sứ về Phúc Âm của Đức Chúa Trời. Nếu phẩm chất của chức vụ chúng ta tăng cao, thì cách đánh giá chức vụ ấy trong Hội Thánh cũng tăng theo. Chẳng bao lâu nữa, có lẽ chúng ta sẽ nhận thấy nhiều thanh niên thanh nữ tài giỏi sẽ đáp lại tiếng gọi của Đức Chúa Trời để bước vào chức vụ với trọn vẹn thì giờ.
Cảm thấy thương hại cho quý vị mục sư. Vì chức vụ mục sư là một tiếng gọi quang vinh, cho nên quý vị mục sư chớ nên trông mong cho thiên hạ (các tín đồ) cảm thấy thương hại mình. Chẳng có gì để mà thương hại cả! Thế nhưng nhiều cán bộ lại thường tìm cách khiến cho những người ở ngoài chức vụ bất nhẫn, thương hại mình. Họ thường làm như thế nhất bằng cách kể lể những khó khăn của họ. Chia sẻ các vấn đề với các Cơ Đốc nhân bạn thì chảng có gì sai trái cả, nhưng làm như thế để người ta không còn nhìn thấy vinh quang của chức vụ ấy nữa là sai. Sở dĩ nó sai là vì chúng ta đã không nói sự thật.
Tại sao trong những cuộc chuyện trò của mình, nhiều vị mục sư lại phóng đại các vấn đề của chức vụ của họ? Có khi họ làm như thế để tạo ấn tượng trên người khác về sự hi sinh của họ, nên chúng ta được, nghe những câu như: “Nếu như tôi cứ tiếp tục cái nghề ngoài đời của mình, chắc bây giờ tôi đã được hưởng lương đến… đô-la”
Nhiều khi các vị mục sư kể lể các vấn đề của họ là để chê bai chỉ trích chức vụ của mình. Một vị mục sư nói: “Bạn nói tôi không làm việc gian khổ đúng mức không? Hãy nhìn xem tôi đang phải sống khó khăn như thế nào!”
Một lý do thứ ba nữa khiến quý vị mục sư kể lể về các vấn đề của họ là cố tìm sự trợ giúp từ các tín đồ thường cho các khó khăn của họ. Giúp đỡ lẫn nhau là một phương diện quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng của Cơ Đốc nhân. Người có đến hai chiếc áo choàng có trách nhiệm phải cho người không có một chiếc (LuLc 3:11). Nhưng quý vị mục sư cần cảnh giác khi cố tìm cách giật dây điều khiển để người khác giúp đỡ mình, đặc biệt là về tiền bạc. Một số các Cơ Đốc nhân giàu có sở dĩ giúp đỡ tiền bạc cho các vị mục sư là hoàn toàn vì mặc cảm phạm tội về sự tương đối thịnh vượng giàu có. Một số người cảm thấy bị bắt buộc phải giúp đỡ vị mục sư khi ông ta kể lể về nhu cầu của mình, khiến họ phải đáp ứng.
Thậm chí làm nảy sinh loại giúp đỡ như thế chẳng bao lâu sẽ trở thành chua chát, và người cho sẽ mất đi lòng kính trọng đối với vị mục sư. Như thế, vị mục sư sẽ bị mất đi cái uy quyền và sự tự do mình cần có để có thể thi hành chức vụ mục sư có kết quả. Ông ta sẽ khó răn bảo hay quở trách những người mà mình cảm thấy một số hàm âm bó buộc vì những gì họ đã làm cho mình.
Một tấm gương tốt về thế nào vinh quang của chức vụ mục sư lấn át được cái giá mà chức vụ ấy phải trả, là đời sống của David Livingstone, một người đã từ bỏ nghề y ở Tô Cách Lan để đi làm giáo sĩ tại Phi Châu. Ông đã lao động gian khổ nhiều năm tại đó, thường là chỉ một mình, giữa rất nhiều khó khăn gian khổ. “Ông từng bị một con sư tử tấn công và cắn, nhà ông bị phá huỷ trong trận chiến tranh của người Boer, thân thể ông thường bị bệnh sốt rét và kiết lỵ hành hại, và vợ ông đã chết tại khu vực truyền giáo” (Elmer Towns, The Christian Hall of Fame, Baker, 1971). Có lần, một mệnh phụ khen ngợi Livingstone về việc ông đã hi sinh rất nhiều cho Phúc Âm. Người ta kể lại rằng vì tức giận về lời khen ngợi đó, Livingstone đã trả lời: “Hi sinh à? Sự hi sinh duy nhất là sống ngoài ý chỉ của Đức Chúa Trời?”
Vinh quang của việc làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời lấn át mọi hi sinh của chúng ta. Theo một ý nghĩa thì nếu vinh quang ấy không hề che lấp các khó khăn và vấn đề của chúng ta, thì cái giá phải trả cho chức vụ (mục sư) sẽ hiện lên rất đồ sộ cho chúng ta. Bước tiếp theo sẽ là hãy cứ sống mãi trong sự hy sinh mà chúng ta đã thực hiện.
Ý thức về vinh quang của chức vụ (mục sư) sẽ chỉ cho chúng ta thấy mình chẳng xứng đáng là một tôi tớ được giao phó, một công tác cao quý, như những chiếc bình bằng đất sét lại được dùng để chứa đựng cả một kho báu vĩ đại. Chúng ta vẫn chưa dâng được bao nhiêu điều gì có ý nghĩa cả. Thật ra là chúng ta đã được nâng lên một địa vị vượt xa những gì chúng ta xứng đáng để nhận được. Cho nên thay vì tự than thân trách phận cho người khác thương hại, chúng ta phải tạ ơn Đức Chúa Trời về các phước hạnh mà chúng ta chẳng xứng đáng để nhận được đó.
Tiếng tốt của người lãnh đạo (ITi1Tm 3:2, 7)
Sau khi đề cập qua vinh quang của nhiệm vụ giám mục, Phao-lô giới thiệu một bảng liệt kê mười lăm phẩm cách cần thiết cho những người nắm giữ chức vị ấy (3:2, 7). Ông bắt đầu với từ ngữ “dei” trong nguyên văn có nghĩa đen là “điều cần thiết là”. Từ ngữ này được dịch ra là “cần phải” trong bản Việt văn. Phao-lô muốn nhấn mạnh rằng địa vị và trách nhiệm của người lãnh đạo, là người mong được trở thành lãnh đạo phải có các phẩm cách cơ bản này.
Trong phần nghiên cứu này của chúng ta, chúng tôi xin sắp xếp bảng liệt kê các phẩm cách đòi hỏi nơi người lãnh đạo theo đề mục. Phao-lô đưa ra hai phẩm cách xã hội liên hệ đến tiếng tốt của người lãnh đạo. Ông chỉ nêu ra một phẩm cách liên quan đến vấn đề phục vụ - là tài dạy dỗ. Tám phẩm cách có liên quan với cách ăn ở ứng xử của một người, ba liên quan với sinh hoạt gia đình, và một liên hệ đến sự trưởng thành thuộc linh (“người mới tin đạo không được làm giám mục”).
1. Tiếng tốt với các Cơ Đốc nhân (3:2). Phẩm cách xã hội đầu tiên là người lãnh đạo “phải không chỗ trách được”. Theo nghĩa đen, câu này có thể dịch là “không để bị tìm thấy là”. Một kẻ thù có thể bới lông tìm vết nơi một người lãnh đạo Cơ Đốc giáo để lợi dụng chống lại người ấy. Mấy câu tiếp theo khuyếch đại câu này bằng cách vạch rõ người lãnh đạo phải không chỗ chê trách ở các lãnh vực nào. Vì câu 7 đề cập “người giám mục phải được người ngoại làm chứng tốt cho”, chúng ta có thể khẳng định rằng ở đây, Phao-lô đang đề cập tiếng tốt của vị ấy với các Cơ Đốc nhân.
Hội Thánh ngày nay dang rất cần có các cấp lãnh đạo được tiếng tốt là không chỗ trách được. Một trong những cơn khủng hoảng lớn nhất mà Hội Thánh đang gặp là vấn đề tin kính. Các tín hữu đang chiến đấu với vấn đề là chẳng hay, thật ra người ta có thể tận hiến cho Chúa Cứu Thế trong thế giới ngày nay không. Vì điều ác đang hoành hành trong xã hội của chúng ta, nhiều Cơ Đốc nhân cảm thấy không thể nào tồn tại được nếu không chịu thoả hiệp với thế gian để hạ thấp một số tiêu chuẩn của Cơ Đốc giáo. Hệ quả là họ đã thu xếp để sống một cuộc đời làm Cơ Đốc nhân dướit iêu chuẩn đòi hỏi.
Nếu các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo cũng thất bại tại điểm này nữa, thì kẻ yếu đuối có thể tìm thấy một cách để bào chữa cho sự thất bại của mình. Tuy không nói toạc ra, nhiều người trong đám họ sẽ thắc mắc đặt câu hỏi: “Nếu các cấp lãnh đạo còn không theo nổi các nguyên tắc của Thánh Kinh, thì làm sao bạn lại trông mong chúng ta có thể theo nổi?” Họ ghi nhận chỗ thất bại của người lãnh đạo, lưu trữ các sự kiện ấy nhằm sử dụng như một vũ khí để tự biện minh cho chính việc thiếu dấn thân tận hiến của họ.
Thế nhưng Chúa Cứu Thế từng dạy: “Hãy nên trọn vẹn như Cha các ngươi ở trên trời vốn trọn vẹn vậy” (Mat Mt 5:48), xem đó như quy phạm cho Cơ Đốc nhân. Lệnh truyền này hàm ý rằng chúng ta được trông mong phải sống bằng một lương tâm không tì vết trước mặt loài người và Đức Chúa Trời. Nó ngụ ý rằng chúng ta phải vâng lời trọn vẹn trong mọi điều mà chúng ta biết đó là ý chỉ Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, nó cũng ngụ ý rằng cho dù tội phạm có nhỏ nhặt đến đâu, một Cơ Đốc nhân cũng không thể tự bào chữa cho mình được. Vào một thời đại mà phần lớn các Cơ Đốc nhân không nghĩ rằng người ta có thể giữ trọn các lệnh truyền như thế, thì các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo được kêu gọi phải chứng minh các chân lý ấy cho Hội Thánh.
Nếu các cấp lãnh đạo sống những cuộc đời gương mẫu, thì các Cơ Đốc nhân yếu đuối bị bắt buộc phải lưu ý. Họ sẽ có trước mắt một người mẫu chứng minh cho họ thấy rằng một người có thể tận hiến cho Chúa Cứu Thế. Rồi đến lượt các Cơ Đốc nhân yếu đuối đó phải quyết định chẳng hay họ có nên tiếp nhận tiếng gọi hãy tận hiến thật nghiêm túc hay không.
2. Tiếng tốt với những người không phải là Cơ Đốc nhân (3:7). Phẩm cách xã hội thứ hai của Phao-lô là một người được dự kiến trở thành lãnh đạo “phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ” (3:7). “Người ngoại” ở đây ám chỉ những người không phải là Cơ Đốc nhân. Từ ngữ được sịch ra là làm chứng tốt là maturia. Cách ăn ở cư xử của một người lãnh đạo phải vượt mức thông thường và mọi người sẽ đều nhận thấy như thế. Chẳng hạn một người láng giềng không phải là Cơ Đốc nhân phải nhận biết người ấy vốn thành thật, chịu khó làm việc, luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác, và như một người xem cả người giàu lẫn người nghèo đều đáng kính trọng, đáng quan tâm ngang nhau.
Nếu các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo không được người khác làm chứng tốt cho họ sẽ “bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ”. Sa-tan sẽ tận dụng sự thất bại đó mà chính nó vốn có phần trong việc sắp xếp để tạo ra. Nó có thể nói xấu chẳng những người lãnh đạo mà cả chính nghĩa mà người ấy là đại diện nữa. Người ngoại nhìn thấy tah61t bại đó sẽ suy diễn rằng Cơ Đốc giáo là một tôn giáo không thiết thực. Khi được kêu gọi dâng đời sống mình cho Chúa, họ sẽ bảo mình chẳng cần đến Cơ Đốc giáo vì nó chẳng có quyền năng gì để thay đổi cuộc đời người ta một cách có ý nghĩa. Họ bảo Cơ Đốc giáo cũng chẳng khác chi chính tôn giáo bất lực vô quyền của riêng họ, cho nên chẳng cần gì phải bận tâm thay đổi tôn giáo mà làm chi.
Ngày nay, chúng ta thấy nhiều thí dụ thêm trọng lượng cho lời tố cáo rằng Cơ Đốc giáo là bất lực vô quyền, chẳng thay đổi gì được đời sống con người ta. Nhiều người công khai làm chứng rằng đời sống họ được Đức Chúa Trời ban phước cho. Một vài người trong số đó được đưa lên các địa vị lãnh đạo hội Thánh. Nhưng vài người trong số họ thỉnh thoảng lại nói dối. Hoặc là họ không phải là những công nhận có lương tâm. Hoặc họ phải nhờ đến những việc làm bất chính trong công cuộc làm ăn kinh doanh. Cũng có thể họ chẳng coi trọng người nghèo. Họ làm chứng rằng Chúa Cứu Thế đã ban phước cho họ, nhưng đã không làm gương tốt bằng cách sống đạo đức như Chúa Cứu Thế. Những kẻ vô tín sẽ kết luận rằng ân điển mà số người ấy rêu rao là một nơi trú ẩn rẻ tiền của kẻ bạc nhược muốn được phúc bằng lợi lộc ích kỷ nhưng không chịu gánh vác trách nhiệm của một đời sống công chính. Hệ quả là Cơ Đốc giáo bị mất uy tín dưới con mắt những kẻ vô tín.
Một người lãnh đạo thực thi điều mình truyền giảng sẽ kích thích được một kẻ vô tín suy xét về Chúa Cứu Thế. Người vô tín kia bị bắt hoặc phải thừa nhận rằng trong Cơ Đốc giáo có một quyền năng giúp người ta sống đúng theo các nguyên tắc của đạo. Điều này đánh lên một hoà âm đầy hi vọng nơi một người đã mệt mỏi chán chường vì đã phá vỡ các nguyên tắc của mình để có thể tồn tại trong một xã hội xấu xa gian ác. Một sự khát khao sẽ nảy sinh trong anh ta, khiến anh ta mong muốn chính mình cũng có được loại đời sống chân thật như thế. Mà Đức Chúa Trời của Cơ Đốc nhân dường như cũng hứa ban một đời sống như thế cho anh ta nữa. Một đời sống ngay thật mở cửa cho một lời làm chứng có hiệu quả. Vì đó là sự thật, cho nên chúng ta có thể thấy một tiếng tốt cho các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo quan trọng như thế nào. Một tiếng xấu sẽ là một lý do rõ rệt để một người bị cho là thiếu phẩm cách, không được làm lãnh đạo.
Nếu một người đã là lãnh đạo rồi mà phạm một tội làm lu mờ tiếng tốt của ông ta một cách có ý nghĩa, thì phải bị cách chức, cho dù ông ta có ăn năn tội đó. Người ấy cần phải được giữ lại trong sự thông công và được đối xử bằng tình yêu thương. Nhưng ông ta không thể được phục chức lãnh đạo trước khi đã có chứng cứ rõ ràng về kết quả của sự ăn năn của mình (Mat Mt 3:8). Nếu không có phần kết quả đó, người ấy sẽ không thể lấy lại được tiếng tốt cho mình.
Tôi dạy dỗ (ITi1Tm 3:2)
Xin lưu ý phẩm cách duy nhất có liên hệ với chức vụ của một giám mục trong bảng liệt kê của Phao-lô, là một người dự kiến trở thành lãnh đạo “phải…khéo dạy dỗ” (3:2). Sự kiện này không gây ngạc nhiên vì chúng ta đã hiểu rằng quyền lãnh đạo cũng là quyền làm cha. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu của những bậc làm cha mẹ là phải nuôi dưỡng con cái mình. Cũng thế, một cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải nuôi dưỡng những người được mình chăm sóc cho bằng chân lý của Đức Chúa Trời. Nhiệm vụ của người ấy là phải dẫn dắt những người thuộc về Chúa nhận thức được ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với họ với tư cách một nhóm người và với tư cách những cá nhân. Phương tiện đầu tiên để làm công việc ấy là dạy dỗ. Cho nên chẳng có gì để lấy làm lạ khi trong ITi-mô-thê có rất nhiều câu đề cập chức vụ dạy dỗ (2:7; 3:2; 4:6, 11, 13; 5:17; 6:1, 3).
Có lẽ trong Hội Thánh, có một số người có được biệt tài dạy dỗ. Những người ấy có thể chuyên tâm dạy dỗ. Nhưng chúng ta không thể trông mong họ sẽ cho toàn trọn vẹn nhu cầu dạy dỗ trong Hội Thánh. Tất cả những người lãnh đạo đều cần làm một công tác dạy dỗ nào đó như một trách nhiệm đầu tiên trong vai trò lãnh đạo của mình. Nếu họ không thể dạy dỗ hay không chịu dạy dỗ, thì không nên đặt họ vào địa vị lãnh đạo.
Chúng tôi phải vội vàng nói thêm rằng tài dạy dỗ không phải là một tài năng tự nhiên bẩm sinh. Dạy dỗ là một tài năng mà tất cả những người lãnh đạo có thể phát triển nhờ chuẩn bị thật đầy đủ. Lẽ dĩ nhiên là có một số người sẽ làm giỏi hơn một số khác. Nhưng tất cả những người lãnh đạo làm công tác ấy đều có thể làm công việc đó đến một mức độ chuyên nghiệp nào đó.
Phao-lô mô tả rất hay chức vụ dạy dỗ trong bảng liệt kê các phẩm cách của cấp lãnh đạo trong thư Tít. Ông viết rằng một trưởng lão “phải hằng giữ đạo thật y như đã nghe dạy” (1:9). Ứng dụng điểm này vào thế kỷ thứ hai mươi, chúng ta có thể khẳng định rằng một trưởng lão phải là một người của (am hiểu) Lời (Chúa - Đạo). Ngày nay, chúng ta tìm thấy “đạo thật y như đã nghe dạy” trong Kinh Thánh. Một lãnh đạo giỏi phải biêt rõ nội dung của Kinh Thánh. Ông ta phải học biết cách học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh cũng như cách dùng lời lẽ trong đó cho đời sống và chức vụ mình. Ở chỗ khác, Phao-lô viết rằng ông đã “cố gắng hết sức để tự trình diện cho Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật” (IITi 2Tm 2:15).
Một người muốn nắm vững được chân lý để giảng dạy nó, thì phải tin chắc vào chân lý của bức thông điệp của mình. Tự do chủ nghĩa đã thâm nhập Hội Thánh từ thế kỷ này, không thể tạo ra được loại lãnh đạo như thế. Nó bỏ mặc Hội Thánh chẳng có một bức thông điệp rõ ràng nào là từ Đức Chúa Trời đến cả. Thánh Kinh quả quyết rằng Đức Chúa Trời đã có một lời phán nhất định cho loài người. Nhưng tự do chủ nghĩa bỏ mặc chúng ta chẳng có gì bảo đảm cho một lời phán như thế. Hệ quả là giáo lý được truyền dạy được đưa ra theo kiểu cách của Hội Thánh. Để thay vào đó là những cuộc tranh luận về các vấn đề thông thường, chẳng có chút uy quyền gì dành cho người truyền bá Lời của Đức Chúa Trời cả. Một thế hệ đã lớn lên, dốt nát về Lời Đức Chúa Trời và các đường lối Ngài.
Phao-lô dạy nhờ nắm vững chân lý, một trưởng lão sẽ “có thể theo đạo lành mà khuyên dỗ (khích lệ, an ủi) người ta” (Tit Tt 1:9). Kiến thức về Thánh Kinh là nền tảng cho việc truyền giảng giáo lý. Ngày nay việc truyền dạy giáo lý thuần chánh đã bị tai tiếng vì nhiều lý do khác hơn là tự do chủ nghĩa nữa. Nhiều Cơ Đốc nhân gắn liền công tác này với những bài diễn thuyết tuy hợp cách (correct), nhưng lại rắc rối (boring) và chẳng hợp thời. Nhiều khi, khi mô tả một người làm giáo sư, các thành viên của Hội Thánh hàm ýchê rằng ông ta không phải là một người giảng hay. Họ nói “Đừng để ông ấy giảng vào buổi nhóm lại ngày Chúa Nhật. Ông ta là một giáo sư chớ không phải là một nhà truyền đạo”. Nhưng buổi nhóm lại Chúa Nhật là nơi quan trọng nhất để nuôi dưỡng bầy chiên bằng chân lý của Đức Chúa Trời. Luận điểm của chúng tôi ở đây là quý vị giáo sư phải trao dồi các kỹ năng truyền đạt của mình.
Làm thế nào để một giáo sư có thể truyền đạt chân lý một cách sinh động? Đòi hỏi thứ nhất là thực tại của bức thông điệp phải được chính vị giáo sư ấy từng trải trong đời sống mình trước đã. Nếu quả đúng như thế thì những gì vị ấy nói ra sẽ không phải chỉ là một cách trình bày chính thống về giáo lý, nhưng là công tác vui vẻ rao truyền những thực tại làm thay đổi được người ta do một người đã được biến đổi rồi. Ngay đến nghệ thuật của một diễn giả xuất sắc cũng sẽ chỉ là một tiếng vang rỗng tuếch nếu đòi hỏi tiên quyết về vấn đề làm biến đổi đời sống người ta không được đáp ứng.
Một diễn giả linh động cũng phải chú ý đến phương pháp làm thế nào để mình có thể trình bày có hiệu quả số tài liệu của mình cho một cử toạ mà mình đang cố tìm cách để dạy dỗ. Ông ta phải chọn những lời lẽ mà họ có thể hiểu được, những thí dụ minh hoạ mà họ có thể tự đặt mình vào đó, những ứng dụng hợp thời đối với sinh hoạt của họ. Người ấy sẽ tìm cách đặt được một thế cân bằng phải lẽ giữa lý thuyết với thực hành. Người ấy phải trình bày tài liệu của mình thế nào để có thể đạt được kết quả thích hợp tiếp ngay sau đó. Các phẩm cách này chỉ có thể đạt được khi ông ta chuyênt âm để saọn bài giảng thật kỹ.
Đặc điểm thứ ba của một giáo sư giỏi là tài “bác lại kẻ chống trả” giáo lý thuần chánh (Tit Tt 1:9). Ông ta phải biết rõ các tà giáo mà những người ở dưới quyền chăm lo săn sóc của mình đã được nghe trình bày và kỹ năng của ông ta là phải chứng minh được rằng chúng vốn sai lầm.
Ứng dụng cá nhân
Xin đưa ra các lý do khiến bạn phấn khởi muốn phục vụ cho Cơ Đốc giáo. Rồi hãy lập một bảng liệt kê các vấn đề bạn đang gặp trong chức vụ của mình. Các vấn đề ấy có lấn át được lòng phấn khởi nhiệt thành của bạn đối với chức vụ không? Nếu có, bạn có thể làm gì để cải thiện tình hình.

CÁCH ĂN Ở CƯ XỬ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
(3:2, 3)
Có tám trong số các phẩm cách mà Phao-lô đòi hỏi nơi một giám mục, có liên hệ với cá tính và cách ăn ở ứng xử của người lãnh đạo. Tất cả dường như đều có liên hệ với tài tự chủ, tự kềm chế khi gặp áp lực. Ap lực có thể đến từ nhiều người khác nhau như nghịch cảnh, cám dỗ hay những người khó tính.
Chúng ta không thể đánh giá đúng cá tính của một người trước khi đã được thấy người ấy bị áp lực. Một người có thể trả lời rất hay khi bị phỏng vấn hay làm một bài viết đó không thể chỉ cho thấy cách anh ta sẽ phản ứng khi mọi việc trở thành khó khăn. Và chỉ trong những tình hình hoàn cảnh như thế, tài lãnh đạo mới thật sự được thử thách.
Một lãnh đạo giỏi biết tiết độ (ITi1Tm 3:2)
Phẩm cách đầu tiên mà chúng ta thảo luậnlà đức tính tiết độ. Từ ngữ được dùng ở đây vốn được dùng liên hệ với rượu mạnh. Nhưng về sau, nó có nghĩa là biết tiết chế hay có điều độ. Một người lãnh đạo phải biết làm mọi việc có chừng mực. Ông ta biết đến đâu thì phải dừng lại.
Một người điều độ biết vui hưởng đời sống, nhưng biết rằng phần hưởng thụ của mình phải chịu sự hạn chế vì quan tâm đến người khác. Thí dụ như người ấy sẽ chẳng gây phiền hà cho hàng xóm láng giềng vì những cuộc hội họp tiệc tùng ồn ào về đêm và không phung phí quá nhiều thì giờ đến một câu lạc bộ nào đó, khiến cho gia đình thiệt thòi. Người ấy biết khuyên lơn người khác, nhưng cũng biết khi nào thì phải lắng nghe. Người ấy cũng quở trách người khác, nhưng biết lúc nào thì thôi quở trách để bắt đầu khích lệ. Người ấy khuyến khích người khác, nhưng cũng biết khi nào thì lời khuyên bảo cần những chỗ cho lời quở trách.
Cũng như nhiều đức tính khác trong bảng liệt kê của Phao-lô, đức tính này nơi một con người sở dĩ phát triển là nhờ thực hành. Phần đông con người ta không phải là biết tiết độ bẩm sinh. Nhưng nếu một người chịu khó tập luyện để có được đức tính này. Đức Chúa Trời sẽ giúp nó trở thành một bản tính thứ hai của người ấy. Sự thay đổi này một phần là nhờ tiến trình trưởng thành. Một người rèn luyện để có được đức tính này cần nhận trách nhiệm mỗi lần không giữ được bình tĩnh. Gặp trường hợp này, người ấy cần tự sửa phạt mình bằng cách nói “không” với cám dỗ cứ tiếp tục khi đã đến lúc phải dừng lại. Khi chúng ta chuyên tâm áp dụng biện pháp này cho bản thân, chúng ta sẽ nhận thấy lần lần đức tính tiết độ sẽ trở thành một phần bản tính của mình. Trước khi một người được bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo, người ấy phải phát triển được đức tính này đến một mức độ tương đối nào đó.
Một lãnh đạo giỏi phải tự chủ (ITi1Tm 3:2)
Tự chủ có phần giống với tiết độ. Y Phao-lô mou61n nói ở đây là tinh thần tự chủ phải lẽ, đúng lúc đáng nơi. Với người Hy Lạp, từ ngữ này mô tả một người trong tình trạng làm chủ được tâm trí mình, không nóng nảy, và không có hành động thái quá. Người tự chỉ khi gặp khủng hoảng, cũng không hành động cực đoan.
Một người lãnh đạo không thể hốt ohảng để rồi hành động vô lý mỗi khi gặp khủng hoảng. Tính cách ổn định của nhóm người mà ông ta lãnh đạo tuỳ thuộc một phần lớn vào tính cách ổn định của chính người ấy. Nếu người ấy muốn tự chủ, sẽ có thể lôi kéo cả nhóm cùng xuống dốc với mình.
Sau khi phản ứng thái quá với một cơn khủng hoảng, một người lãnh đạo có khi muốn tự bào chữa cho cách cư xử của mình bằng những câu nói như: “Tôi không thể nhịn được. Anh ta xấu lắm. Anh ta trêu tức tôi” Nhưng thiệt hại do thiếu tự chủ gây ra hết sức nghiêm trọng đến độ không ai có thể biện bạch cho một cách cư xử như thế.
Thế tại sao người ta lại mất tự chủ khi gặp khủng hoảng? Chúng ta đã từng mô tả một lý do trong phần thảo luận về đức tính tiết độ: có lẽ người ấy vẫn chưa trưởng thành đúng miức. Mà trưởng thành là một đức tính được phát triển dần dần.
Người ta cũng mất tự chủ và hành động thái quá khi có khu vực nhạy cảm trong đời sống bị chạm đến. Một người như thế phải tự vấn tại sao mình lại quá nhạy cảm trong khu vực ấy như vậy, và nó có thể chỉ ra một vấn đề chưa được giải quyết trong nhân cách của mình.
Một người có thể cảm thấy người khác không chấp nhận mình vì một từng trảio hay một khuyết nhược điểm nào đó của đời sống mình. Tuy nhiên càng có thể hơn là sở dĩ một người hành động như thế vì người ấy không chịu tự chấp nhận chính mình vì khuyết nhược điểm ấy. Chung quanh vấn đề của người ấy có một vết thương tình cảm đang phát triển mà không được chữa lành. Đó là một điểm mẫn cảm, nên khi bị chạm đến, thì người ấy sẽ phản ứng thái quá.
Lúc mới bắt đầu chức vụ với Hội Thanh niên vì Chúa Cứu Thế tại Sri Lanka, tôi từng có một từng trải như thế. Tôi đã kế nhiệm một Cơ Đốc nhân là người khổng lồ Sam Sherriard, một nhân vật mà tôi đã hàm ân rất nhiều về sự tăng trưởng của mình, ở chức vụ giám đốc. Nhưng cách lãnh đạo của ông ấy có hơi khác với phương pháp của tôi. Các ưu điểm của ông ấy lại là các nhược điểm của tôi, nhất là trong lãnh vực quản trị hành chính. Lẽ tự nhiên, trong những năm đầu tiên của tôi ở chức vụ này, thiên hạ thường đem tôi ra so sánh với ông ấy. Tôi thường nghe những lời bình luận như: “ông Sam làm việc ấy như thế này”. Những người nói như thế không nhất thiết là muốn chỉ trích tôi. Nhưng những câu ấy gây tổn thương sâu xa cho tôi vì họ đã chạm vào một khu vực nhạy cảm của đời sống tôi - một khu vực làm bộc lộ các nhược điểm của tôi.
Khoảng hai năm sau khi tôi nhận chức vị ấy, ông Sam Sherrard đến thăm viếng Sri Lanka. Với tôi thì dường như mọi người đều nhìn thấy rất nhiều khuyết nhược điểm của tôi. Chúng tôi có một buổi họp công khai với ông Sam và do lập kế hoạch rồi, buổi nhóm lại đã là một tai hoạ. Có một thời gian cái cảm thức xấu về buổi nhóm lại ấy dường như đè nặng trên tôi và che mờ rất nhiều điều mà đáng lẽ ra phải khích lệ được cho tôi. Hành động của tôi thật vô lý. Mấy ngày sau buổi họp, trong một cuộc nhóm lại của an trị sự, tôi đã chê trách các bạn đồng sự của mình theo một cung cách hoàn toàn không phải là của chính tôi. Một số người đã bị tổn thương nặng nề về điều đó. Suốt những ngày ấy, tôi luôn luôn nói đến việc từ chức. Một điểm nhạy cảm trong đời sống tôi đã bị chạm đến, và tôi đã bị mất tự chủ.
Khi chúng ta ý thức được rằng trong đời sống mình có những khu vực bị tổn thương. Chúng ta phải tức khắc bắt đầu một tiến trình chữa bệnh. Nếu không, nó kéo chúng ta xuống và biến chúng ta thành những người lãnh đạo thất bại. Tôi tin có một tiến trình chữa lành từ từ bắt đầu hoạt động trong đời sống tôi. Tôi đã học tập để biết nhìn nhận các khuyết nhược điểm của mình, và quan trọng hơn, là tôi đã học biết phải sống với chúng. Tôi đã học tập để khắc phục cả khuyết nhược điểm của mình bằng cách để cho nhiều người khác giúp tôi về những việc tôi không làm được tốt. Và tôi vẫn còn làm để cải tiến các kỹ năng của mình trong các lãnh vực có khuyết nhược điểm đó.
Người ta mất tự chủ trong nhiều hoàn cảnh. Nhưng thường thường thì đằng sau các “đổ vỡ” ấy đều có những nguyên nhân gốc. Những ai có vấn đề tìm cách loại trừ đi. Vì bao lâu những vấn đề như thế gây ảnh hưởng quan trọng trên cách hành động của một người, người ấy sẽ không sẵn sàng cho chức vụ lãnh đạo.
Một lãnh đạo tốt phải khả kính (ITi1Tm 3:2)
Phẩm cách tiếp theo đòi hỏi người lãnh đạo phải có là đáng được kính trọng. Ngày nay, khi nói về một người khả kính, là chúng ta thường ngự ý rằng người đó đúng đắn, lúc nào cũng đàng hoàng, nhưng cũng nghiêm trang đĩnh đạc, không kiểu cách như muốn cuốn hút người ta.
Ý niệm về đàng hoàng đứng đắn được hàm ý trong từ ngữ Phao-lô dùng ở đây. Nhưng nó không phải là vẻ đứng đắn cứng nhắc, vì từ ngữ này còn hàm ý đẹp đẽ nữa. Phao-lô muốn nói về một vẻ đứng đắn đẹp đẽ. Ở đây ông ngụ ý muốn nói rằng một người lãnh đạo phải có tư cách đàng hoàng, một người luôn luôn được tin cậy là sẽ hành động khôn ngoan và phải lẽ - khiến mọi người đều phải kính trọng.
Một người khả kính biết phải ban tặng như thế nào để khỏi khiến người khác áy náy vì cảm thấy bị bó buộc. Ông ta biết cách đòi hỏi nơi những người dưới quyền mà không hề sỉ nhục họ. Ông ta cũng biết giải quyết một cơn khủng hoảng mà chẳng cần phải sử dụng các phương pháp đáng hổ thẹn như báo thù, ném đá giấu tay hay bạo lực. Khi được yêu cầu lên tiếng, ông ta sẽ không lợi dụng cơ hội ấy để đề cao sở trường hay ưu điểm của mình. Người ta có thể tin cậy là ông ta sẽ giữ lời đã hứa. Một khi đã hứa làm việc gì, thì dù có thế nào đi chăng nữa, ông ta sẽ tìm đủ cách để giữ lời. Đức tính khả kính này cũng là một đức tính có được là nhờ thực hành.
Một người lãnh đạo giỏi không mê rượu (ITi1Tm 3:3)
Một người lãnh đạo biết tự chủ phải tự bộc lộ có trong cách ăn uống nữa. Phẩm cách tiếp theo của Phao-lô là người ấy phải “không mê rượu”. Nghĩa là ông ta không thể là người nghiện rượu mạnh.
Đời xưa, nhu cầu về nước uống thường thiếu hụt và lắm khi nguy hiểm nữa, cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi rượu được xem là thức uống thông thường trong thế giới của Thánh Kinh. Thánh Kinh vẫn xem nó là thức uống đem đến sự vui vẻ (Cac Tl 9:13), có thể uống nếu người ta vẫn ý thức được đầy đủ trách nhiệm của mình. Nó còn được xem như một dược liệu tốt, như Phao-lô từng dặn dò Ti-mô-thê (ITi1Tm 5:23 cũng xem LuLc 10:34). Các ra-bi thường nói: “Rượu là thuốc hay nhất trong các thứ thuốc; nơi nào thiếu rượu thì ma tuý là cần thiết” (do A.C.Schultz trích dẫn trong Zondervan Pictorial Eucyclopedia of the Bible V, p.938).
Thế nhưng có rất nhiều lời cảnh cáo được nhắc đi nhắc lại luôn trong Thánh Kinh về vấn đề sử dụng sai lầm rượu và các loại rượu mạnh như trong ChCn 23:29-35). Các hậu quả đáng xấu hổ của thói say rượu được thấy rõ trong đời sống của Nô-ê (SaSt 9:18-27) và Lót (19:30-38). Trước giả sách Châm ngôn viết: “Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào; Phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan” (ChCn 20:1).
Thái độ của Phao-lô đối với rượu phù hợp với phần còn lại trong Kinh Thánh. Nó có thể được dùng với ý thức trách nhiệm. Nhưng sử dụng nó vô trách nhiệm thì không thể tha thứ được, vì nó làm mất phẩm chất của người lãnh đạo.
Ở một chỗ khác, Phao-lô viết: “Điều thiện ấy là đừng ăn thịt, đừng uống rượu, và kiêng cữ mọi sự chi làm dịp vấp phạm cho anh em mình” (RoRm 14:21).
Lời khuyên hoàn toàn kiêng cữ rượu có thể áp dụng trong phần lớn các trường hợp, khi rượu có thể ngăn trở một lời làm chứng đạo khiến nó không đạt kết quả. Chẳng hạn như trong phần nhiều các nước phương Đông có lẽ tốt nhất là các Cơ Đốc nhân không nên uống rượu. Chúng ta không thể đòi hỏi điều này như một quy luật tuyệt đối đối với toàn thể các Cơ Đốc nhân, vì không có câu Thánh Kinh nào bảo đảm cho việc ấy. Thế nhưng một người uống rượu nó chung sẽ “không được người ngoại làm chứng tốt cho” (ITi1Tm 3:7), nhất là trong các môi trường Phật giáo, Ấn giáo hoặc Hồi giáo. Thói quen ấy có thể cấm cửa đối với việc làm chứng đạo có kết quả.
Phật giáo có một bộ luật đạo đức cơ bản là Kinh Pancha Sila (ngữ giới cấm), ghi năm điều đòi hỏi tối thiểu đối với một Phật tử. Một trong số năm lời chỉ giáo của bộ luật ấy là luật cấm uống các loại rượuy cất hay lên men, gậy nhiễm độc. Một người làm như thế thì không được xem là người đứng đắn. Tôi không bao giờ quên, có một nữ sinh viên đại học là phật tử, một hôm nọ đã nói với tôi: “Cơ Đốc nhân các ông đã đem ba chữ “B” đến Sri Lanka: Thánh Kinh (Bible), vũ điệu Baila (của người Bồ Đào Nha), và người Booze!” Đó là cô ta ngụ ý muốn nói đến những người Bồ Đào Nha đã đến chiếm xứ ấy để làm thuộc địa. Có một điều rất có ý nghĩa là một số áp đảo các Cơ Đốc nhân (thật ra là người Công giáo La Mã) trong nhiều khu vực ở Sri Lanka đều nổi tiếng là những kẻ say rượu. Trong khi An giáo không có luật phổ quát cấm uống rượu, những người Bà La môn và các lãnh tụ An giáo khả kính như Mahatma Gandhi đều có lập trường chống rượu rất mạnh mẽ.
Hồi giáo thì tự hào là đã tiêu diệt được thói xấu khủng khiếp là uống rượu mạnh của “Cơ Đốc giáo” tại các khu vực mà họ đã chinh phục được của các Cơ Đốc nhân. Người Hồi giáo có những luật lệ triệt để nhất liên quan đến rượu, nhưng trong một vài quốc gia Hồi giáo, chỉ có các Cơ Đốc nhân “vô độ” là được phép mua rượu mạnh. Khi một bạn tôi là người hồi giáo bắt đầu cộng tác với các Cơ Đốc nhân, anh ta bị các thành viên trong gia đình cảnh cáo là cuối cùng rồi thì anh ta sẽ trở thành một kẻ nghiện rượu. Mà quả thật là sau một thời gian, anh ta đã uống quá nhiều rượu!
Cho nên, xin khuyên, nhất là các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo đang sống trong các xã hội phi Cơ Đốc giáo là nên hoàn toàn không cữ rượu.
Một người lãnh đạo không thể hung bạo (ITi1Tm 3:3)
Phẩm cách tiếp theo, theo đúng nghĩa đen là “không nên đánh người”. Có lẽ ở đây, Phao-lô đang đề cập những kẻ có cách cư xử xấu trong những đám tiệc ồn ào, có hành động hung bạo do ảnh hưởng của rượu mạnh nên tham gia những vụ ấu đả hay tương tự như thế. Nhưng rất khó có thể rằng những người như vậy lại được xem xét để dành chức vị lãnh đạo. Càng hữu lý hơn là Phao-lô đang đề cập cách đối xử mà một người lãnh đạo Hội Thánh nóng nảy có thể bị cám dỗ sử dụng đối với một thành viên cứng cổ nào đó của Hội Thánh.
Nhiều khi cả đến những người có lương tâm cũng xử sự hung bạo như thế với những người dưới quyền họ phạm sai lầm. Họ không chịu dành thì giờ để soát xét xem đã có gì thật sự xảy ra, và tại sao sự việc ấy lại xảy ra. Họ chỉ đơn giản trút xuống điều mà họ cho là một cơn nghĩa nộ!
Những phản ứng hung bạo như thế đối với các sai lầm của người khác thường ít khi có giá trị xậy dựng. Chúng chẳng đưa đến kết quả là ngưòi kia sẽ thay đổi cách làm của mình. Chúng thường tạo ra thù oán. Do sợ hãi, kẻ làm sai có thể đối xử tốt, nhưng tự thâm tâm, anh ta chất chứa sự cay đắng và bị tổn thương.
Một người lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải mềm mại (ITi1Tm 3:3)
Thay vì nổi giận khi gặp khủng hoảng, một người lãnh đạo cần phản ứng dịu dàng hay nhẫn nhịn. Chính Chúa Cứu Thế đã được mô tả là vốn có đức tính này (IICo 2Cr 10:1). Phao-lô từng dạy các Cơ Đốc nhân tại Phi-líp “Hãy cho mọi người đều biết nết nhu mì của anh em” (Phi Pl 4:5). Từ ngữ chỉ nhu mì ở đây có khi còn được dịch ra là “kiên nhẫn chịu đựng”, nói lên được cho chúng ta một phần ý niệm mà nghĩa Hy văn thật sự muốn nói.
Aristotle từng mô tả đức tính này là đức tính sửa sai được cho sự bất công. R.C.Trench định nghĩa nó là điều “điều chỉnh và vãn hồi các bất công của công lý “(Synonyms of New Testament). Như đã thấy ở phần trên, công lý cứng nhắc có thể là khe khắt êm dịu cho nó. Một người lãnh đạo Cơ Đốc giáo không thể bỏ qua hay biện bạch cho điều sai trái. Trái lại, ông ta phải giải quyết nó thế nào để kẻ làm quấy được khuyến khích phải ăn năn và trở lại với mối thông công yêu thương nồng ấm của Cơ Đốc giáo. Ở chỗ khác, Phao-lô cũng dạy Ti-mô-thê sửa trị và quở trách bằng “lòng rất nhịn nhục” (IITi 2Tm 4:2).
Các cấp lãnh đạo phải luôn luôn được mọi người biết là sẵn sàng lắng nghe lời giải thích của những kẻ đã làm sai, sẵn sàng cảm thông với người yếu đuối lỡ lầm, và tích cực hoạt động nhằm phục hồi địa vị cho những người có hành động sai trái.
Một người lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải hà nhã (ITi1Tm 3:3).
Phẩm cách thứ bảy về cách ăn ở ứng xử mà chúng ta nghiên cứu có nghĩa đen là “từ chối đấu tranh”. Cho nên nó thường được dịch ra là “hoà nhã” hay “chịu hoà giải”. Điều cuối cùng mà một người chịu hoà giải phải làm là đánh nhau. Nhiều khi đánh nhau là việc khôgn thể tránh được, nhưng ta chỉ nên dùng nó sau khi mọi nỗ lực kiến tạo hoà bình đều đã được áp dụng. Và cả đến khi đó nữa, việc đánh nhau cũng phải được thực hiện “theo cách của Cơ Đốc giáo”, nghĩa là không thể bỏ qua các đức tính của Cơ Đốc nhân là yêu thương, nhu mì, và tử tế.
Khi gặp một vấn đề, kẻ hay gây gổ thích đối đầu hơn là nói chuyện với nhau. Chẳng hạn một cuộc thảo luận về phép báp-tem có thể trở thành một trận cãi lộn tay đôi. Một người như thế không chịu thảo luận riêng về một vấn đề nào đó trước đó, nhưng lại đưa nó ra trước một buổi họp hay bằng một bức thư hằn học viết cho người có liên quan hay tệ hại hơn nữa là một bức thư viết cho một người thứ ba. Sở dĩ người đó dùng phương pháp ấy vì không thích trò chuyện thân mật với người “thuộc phe kia” về một vấn đề nào đó. Thói đố kỵ mà người ấy tạo ra vốn không hợp với một cuộc trò chuyện như thế.
Thói đố kỵ đối với người “thuộc phe kia” như thế thường là triệu chúng của thói đố kỵ với chính đời sống. Người hay gây gổ không tin cậy người khác. Anh ta luôn luôn cảm thấy mình bị đối xử bất công, sai lầm. Anh ta nghĩ rằng mình phải vạch trần điều sai lầm của người khác, vì thiên hạ chẳng có ai đáng tin cậy cả. Do thái độ đó đối với tha nhân, anh ta thường đưa ra cách lý giải xấu cho các hành động chân thành và tốt đẹp của người khác. Một người như thế lúc nào cũng sẵn sàng bắt đầu một trận cãi lộn.
Một thái độ đố kỵ như thế thường nảy sinh từ một người đã có nhiều từng trải xấu. Đã có ai đó trong quá khứ từng bỏ rơi anh ta. Hoặc có thể anh ta đã không thật được người khác bày tỏ lòng yêu thương hay chấp nhận. Một từng trải như thế thường khiến một người cay cú hơn. Ký ức về những từng trải ấy đè nặng trên anh ta như một đám mây đen, chận đường của ánh sáng của ân điển, khiến anh ta luôn luôn nhìn đời bằng một cái chau mày.
Huyết Chúa Cứu Thế Giê-xu có thể tẩy sạch mọi ký ức xấu như thế của chúng ta, nhưng trước hết, chúng ta phải thật lòng trao hết các ký ức ấy cho Đức Chúa Trời để Ngài có thể xức loại thuốc cao của Ngài để chữa lành chúng. Phần đông người ta thích chôn sâu các ký ức ấy vào tiềm thức của tâm trí họ vì trực diện với chúng thì thật là đau đớn, hoặc vì họ không sẵn lòng tha thứ cho những người đã gây tổn thương cho họ. Nếu chúng ta chịu làm như thế, thì ân điển của Đức Chúa trời có thể trán vào tận nơi trú ẩn thâm sâu nhất của cuộc đời chúng ta. Chúng ta sẽ vô cùng biết ơn Đức Chúa Trời vì Ngài có thể nâng chúng ta lên khỏi các vực sâu mà chúng ta đang ẩn mình để chiếu rọi ánh sáng diệu kỳ của Ngài trên chúng ta. Anh sáng ấy sẽ xua tan mọi bóng tối trong đời sống chúng ta.
Lòng đố kỵ thù ghét không thể sống chung với một thái độ tri ân như thế. Khi bị một người khác đối xử sai quấy, một người “có ân điển Chúa” có thể tức giận một thời gian về việc ấy. Nhưng cơn giận của người ấy không tồn tại lâu. Chẳng bao lâu, ánh sáng của ân điển của người ta tạo ra. Chừng đó, “người của ân điển” sẽ nói rằng tuy mình có bị người khác đối xử xấu xa gian ác, nhưng ân điển sẽ càng dư dật hơn và biến tình hình trở thành tốt đẹp. Cho nên người ấy sẽ có thể nhìn đời với một nụ cười vì khẳng định rằng nhờ ân điển, cuộc đời thật là tốt đẹp đối với mình. Một người như thế sẽ muốn cho vẻ đẹp mà mình đã từng trải cũng xâm nhập mọi mối liên hệ của mình nữa. Anh ta không thể là một người thích gậy gổ.
Một người lãnh đạo Cơ Đốc giáo không thể tham tiền (ITi1Tm 3:3).
Các vấn đề liên quan đến phẩm cách về cách ăn ở ứng xử thứ tám của Phao-lô - không phải là một kẻ tham tiền - đã được đề cập dài hơn trong hai chương cuối cùng của quyển sách này. Cho nên phần thảo luận của chúng ta ở đây sẽ rất ngắn gọn, vắn tắt.
Cách sử dụng bừa bãi tiền bạc đã khiến cho nhiều người đầy hứa hẹn với chức vụ (mục sư) bị sa bại. Nếu có chút nghi ngờ gì liên quan đến vấn đề hay thái độ tài chính của một người được dự kiến cho chức vị lãnh đạo, thì phải có một cuộc tra xét nghiêm ngặt trước khi bổ nhiệm người ấy vào chức vị đó. Quyền lãnh đạo trong Cơ Đốc giáo cùng mang theo với nó nhiều cơ hội có thể cám dỗ ông ta lạm dụng tiền bạc. Ngay đến một người thật thà nhưng tham tiền vẫn có thể đi đến kết cuộc là bất mãn đối với chức vụ vì cảm thấy mình đã không được cấp lương đủ cho các công tác phục vụ của mình. Những người như thế không thể được bổ nhiệm vào chức vị lãnh đạo. Các cấp lãnh đạo phải phát triển nhiều kỷ luật nghiêm ngặt liên quan đến vấn đề tài chính trước khi được bổ nhiệm vào chức vụ ấy.
Bảng liệt kê các phẩm cách của Phao-lô có thể khiến nhiều người lãnh đạo từ chức. Thật ra, chẳng hề có ai dám nói rằng mình đã hoàn toàn làm chủ được trong bất cứ một lãnh vực nào vừa được thảo luận trong chương sách này. Thế nhưng, đến một giai đoạn nào đó trong chuyến hành hương của mình, một Cơ Đốc nhân sẽ tự nhiên đạt đến một trình độ trưởng thành nào đó, sẽ khiến người ấy có được phẩm cách cho một trách nhiệm lãnh đạo nào đó trong thân thể của Chúa Cứu Thế. Hễ người ấy càng phát triển giống như Chúa Cứu Thế hơn, thì trình độ về trách nhiệm của người ấy có thể cũng sẽ phát triển y như thế.
Nếu một người không phát triển thuộc linh như điều có thể trông mong ở người ấy, thì không nên đề cử anh ta. Nguyên tắc này có thể phải bám sát, thậm chí nếu người liên hệ chứng tỏ được khả năng nắm vững các kỹ năng khác mà chức vụ (mục sư) đòi hỏi. Hơn nữa, trong xã hội của chúng ta, mọi người vẫn trông mong phải càng leo được lên các chức vị cao hơn cùng với thời gian. Thiên hạ cũng ngạc nhiên thắc mắc là tại sao một người lại không được cất nhắc với số thời gian thông thường. Nếu người ấy là một cán bộ Cơ Đốc giáo được trả lương, thì lương bổng của người ấy phải được tăng cho kịp với đà lạm phát, cả khi người ấy không được giao cho những trách nhiệm cao hơn. Nhưng người ấy chỉ có thể được giao các trách nhiệm giám mục khi chứng tỏ được là một người có cá tính giống như chính Chúa Cứu Thế.
Ứng dụng cá nhân
Dưới loại khiêu khích nào bạn bị mát tự chủ và phản ứng thái quá? Có thể đã có một vết thương chưa được chữa lành nào đã tạo ra điều này chăng? Bạn có những biện pháp nào nhằm chữa trị nhược điểm này?

SINH HOẠT GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
(ITi1Tm 3:2, 4-6)
Trong tất cả các bảng liệt kê các phẩm cách cho chức vụ lãnh đạo trong ITi-mô-thê và Tít, đều có đề cập sinh hoạt gia đình của người lãnh đạo. Thánh Kinh trình bày một số nguyên tắc quan trọng liên hệ đến sinh hoạt gia đình Cơ Đốc nhân mà các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải nêu gương.
Ba phẩm cách về sinh hoạt gia đình được đòi hỏi đối với các giám mục. Các câu viết đều dành cho các nam lãnh đạo, nhưng các nguyên tắc ẩn bên dưới đó cũng áp dụng cho các nữ lãnh đạo nữa.
Một người lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải chỉ là chồng của một vợ mà thôi (ITi1Tm 3:2)
Phẩm cách đầu tiên liên quan đến sinh ohạt gia đình của Phao-lô, là một người lãnh đạo phải “là chồng chỉ một vợ mà thôi”. Câu này có thể được lý giải theo ba cách khác nhau. Một số người cho rằng nó có nghĩa là một người lãnh đạo chỉ có thể có một vợ vào một lúc nào đó mà thôi. Vì tục lệ đa thê vốn phổ biến hồi thế kỷ thứ nhất, độc thê chắc là đòi hỏi thích hợp đối với một người lãnh đạo trong Hội Thánh thời Tân Ước kinh.
Câu này cũng có thể có nghĩa rằng Phao-lô cấm các giám mục tái hơn, và một số người hiểu rằng điều này cũng áp dụng cả cho việc kết hôn sau khi người vợ thứ nhất đã chết. Câu này cũng có thể là một cách nói đặc thù nói lên một điều tổng quát hơn, tức là một giám mục phải nêu gương là một người có đạo đức cao nhất.
Cho dù nghĩa đặc thù của câu này có là gì, ý niệm tổng quát của Phao-lô, là các cấp lãnh đạo phải có các nguyên tắc đạo đức cao hơn những người trong xã hội mà họ đang sống. Hồi thế kỷ thứ nhất, mối liên hệ hôn nhân đang bị thử thách nặng nề. Barclay bảo rằng vào thời ấy “hôn nhân hạnh phúc là một ngoại lệ gây ngạc nhiên”. Cơ Đốc giáo dã đến với một xã hội như thế với niềm tin vào “sợi dạy ràng buộc bất khả xâm phạm của hôn nhân và tính cách thánh khiết của gia đình Cơ Đốc nhân” (William Barclay, The Daily Study Bible: The Letters to Timothy, Titus and Philemon, Westminster Press, 1960).
Ngày nay, hôn nhân cũng đang ở trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng. Các cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải chứng minh rằng Cơ Đốc giáo đã có giải đáp cho vấn đề này. Thế nhưng ly dị cũng tấn công cả đến các lãnh tụ cao cấp của Hội Thánh nữa. Cho nên chúng ta phải cẩn thận bảo đảm rằng những người đã được chúng ta bổ nhiệm vào chức vị lãnh đạo đều có sinh hoạt gia đình ổn định, hoàn toàn thoát khỏi mọi liên kết không lành mạnh.
Làm một Cơ Đốc nhân tận hiến không hề tự động tách rời được người ta khỏi các vấn đề của vợ chồng hay sự cám dỗ sống không chung thuỷ. Đụng chạm là điều không thể tránh được khi hai nhân cách khác nhau tìm từng trải sống hợp nhất với nhau. Giải quyết các vấn đề về hôn nhân có thể là một tiến trình lâu dài và khó khăn gồm nhiều đau khổ, trực diện và nhục nhã. Một Cơ Đốc nhân chân chính phải vượt khỏi các từng trải khó khăn đó bằng niềm tin rằng cuối cùng rồi Chúa đã phục sinh cũng sẽ ban cho chiến thắng và sự hợp nhất sậu xa. Vì lý do ấy, các Cơ Đốc nhân phải giữ vững tính cách bất khả xâm phạm của hôn nhân cả khi xã hội ngày nay đã chối bỏ một ý niệm như thế vì cho là không thể thực hành.
Chúng ta đang sống trong một thời đại của các giải pháp cấp tốc, của các loại thuốc an thần và thuốc giảm đau. Chúng ta tưởng rằng nhờ tiến bộ trong học vấn và kỹ thuật, chúng ta có thể tránh được đau đớn và có được phần lớn những gì mình muốn thật nhanh chóng. Xã hội của chúng ta đã quên mất cách phải chịu khổ và chờ đợi. Khi các giải pháp cấp tốc cho các vấn đề vợ chồng không được nhìn thấy ngay trước mắt, nhiều người đã chọn ngay việc kết thúc cuộc hôn nhân của họ. Họ xem việc phấn đấu hướng tới hoà giải là quá đau đớn và tẻ nhạt khó có thể chịu đựng nổi nếu cứ kéo dài.
Tôi tin rằng khủng hoảng trong sinh hoạt gia đình hiện nay là một triệu chứng của một vấn đề sâu xa hơn - chúng ta đã không chịu học tập để biết thế nào là đau khổ. Nhưng đau khổ vốn được đan dệt vào toàn thể những gì đang cấu thành đời sống trong một thế giới đã sa bại. Nếu muốn sống có ý nghĩa trên đời này, chúng ta phải học tập để biết chịu đau khổ mà hôn nhân là một trong những môi trường tốt nhất để học tập điều đó. Cơ Đốc nhân phải có can đảm để trực diện với sự đau khổ này vì tin rằng mặt bên kia của đau khổ là chiến thắng. Sở dĩ họ tin chắc như thế vì đang phục vụ một Cứu Chúa đã phục sinh.
Cho nên, khi điều tra mối liên hệ vợ chồng của một người dự kiến trở thành lãnh đạo, mối quan tâm đầu tiên của chúng ta không phải là chẳng hay người ấy có vấn đề gì hay không. Chúng ta cần biết chẳng hay người ấy có giải quyết được các vấn đề của mình đúng theo đường lối Cơ Đốc giáo hay không. Chúng ta biết rằng nếu người ấy kiên trì chịu đựng, thì một giải pháp sẽ loé lên, và sau khi phấn đấu thì một mối liên hệ sâu xa và vui vẻ sẽ nảy sinh như một lời khẳng định với thế gian rằng là tất nhiên, một người “chỉ làm chồng của một vợ” là chuyện bình thường.
Một người lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải hiếu khách (ITi1Tm 3:2)
Phẩm cách thứ hai của sinh hoạt gia đình của người làm lãnh đạo Cơ Đốc giáo là đức tính hiếu khách. Từ ngữ “hay tiếp khách” theo nghĩa đen là “yêu mến người lạ”. Hiếu khách là một nét đặc trưng quan trọng của Cơ Đốc giáo trong Tân Ước kinh (RoRm 12:13; Tit Tt 1:8; IPhi 1Pr 4:9; Cong Cv 2:46). Các Cơ Đốc nhân đi đây đi đó hồi thế kỷ thứ nhất chắc phải cố tìm cách xa lánh bầu không khí ngoại đạo của các quán trọ công cộng, ở đó người ta phục vụ bằng các thức ăn đã cúng tế cho các thần tượng.
Dức tính hiếu khách cũng có một vai trò quan trọng trong sinh hoạt của Hội Thánh ngày nay. Các nhà truyền đạo lưu hành, các Cơ Đốc nhân cần được khích lệ và sự thông công, và những người có nhu cầu đặc biệt về chăm sóc và nơi trú ẩn có thể được lợi ích nhờ đức tính hiếu khách của Cơ Đốc nhân. Nó có thể có hình thức của một bữa ăn đơn giản, hoặc cho người ta tạm trú một vài ngày, hoặc điều được gọi là “chỗ ở thật sự” dành cho những người không có nhà cửa hay đang có nhu cầu tâm lý hay thuộc linh một nơi tạm trú qua một thời gian dài.
Thế nhưng ngày nay, nhiều Cơ Đốc nhân không thích tiếp đãi người khác. Một mục sư Hoa Kỳ, ông Donald Bubna, nghiên cứu về các Cơ Đốc nhân để tìm lý do cho việc từ chối ấy. Hai lý do chủ yếu ông tìm thấy là một số chủ nhà muốn tiếp khách nhưng lại sợ họ, và một số chủ nhà muốn tiếp khách nhưng lại sợ họ, và một số thì cảm thấy các trang thiết bị trong nhà họ quá khiêm tốn hay thiếu tiện nghi. Nhiều người khác bảo rằng họ quá bận rộn, chi phí để tiếp khách quá lớn, và phải mệt nhọc căng thẳng vì phải dọn sạch nhà cửa và chuẩn bị thức ăn quá sức của họ (Building People Through & Caring Sharing Fellowship, Tyndale House, 1978).
Bubna vạch rõ rằng các lý do thông thường nhất để người ta thoái thác tiếp khách nảy sinh từ thói kiêu ngạo. Ông viết: “Xấu hổ về các trang thiết bị hay sợ phục vụ mà thiếu thức ăn có thể được mô tả đúng hơn là kiêu ngạo”. Người cũng có cùng một quan điểm như thế là Karen Burton Nains trong quyển sách tuyệt vời của bà về vấn đề tiếp đãi khách lạ nhan đề Open Heart - Open House (David C.Cook, 1976). Bà viết: “Đức tính hiếu khách đích thực đi trước thói kiêu ngạo”. Tiếp đãi khách lạ “chẳng có liên quan gì với việc tìm cách gây ấn tượng trên người ta, nhưng tất cả những gì phải làm chỉ là khiến cho họ cảm thấy mình được hoan nghênh và tiếp rước.
Bà Naims là vợ của một mục sư. Nhiều hoạt động của Hội Thánh được tổ chức trong nhà bà. Bà nói rằng có nhiều năm dường như bà “đã chẳng làm việc gì khác ngoài ra việc quét dọn sau khi mọi người đã ra về”. Sau khi mỗi nhóm người như thế ra về, bà phải khổ nhọc đưa nhà mình trở lại với cái dáng vẻ là sẵn sàng cho nhóm người kế tiếp. Thế nhưng bà vốn không có bản tính của một người nội trợ. Nhiều khi bà tạm hoãn việc quét dọn nhà cửa nếu không chờ đợi sẽ lại có đông khách.
Vào một ngày như thế, có người trong Hội Thánh đến viếng nhà bà. Ngôi nhà lúc ấy là một đống hỗn tạp. Xin nghe bà Mains kể lại những gì đã xảy ra:
Đức tính hiếu khách đi trước thói kiêu ngạo….. Tôi nhớ lại là mình đã vô cùng bối rối. Rồi định thần lại, tôi tiếp rước bà ấy thật nồng hầu, mời à ta vào các ăn phòng trông thật khó coi đó, và xin lỗi vì không thể ôm choàng lấy bà ta. Tôi ý thức rằng mình đã bỏ mất thói kiêu ngạo đi rồi (câu trả lời của bà khách khiến bà kinh ngạc) Bà ta nói: “Tôi thường tưởng bà là một người hoàn thiện, nhưng bây giờ thì tôi nghĩ là chúng ta có thể kết bạn với nhau”.
Câu chuyện này vốn không được kể lại với ý định biện bạch cho việc bỏ mặc nhà cửa lộn xộn. Tóm lại, nó muốn chứng minh rằng bí quyết của đức tính hiếu khách không phải là công trình làm nội trợ hay nấu ăn của chúng ta, nhưng là tấm lòng cho người ta cảm thấy họ được hoan nghênh và tiếp đón. Việc thông công bầu bạn mới là chính. Thức ăn chỉ là phụ, như Chúa Giê-xu đã tìm cách chứng minh với bà ma-thê khi bà tiếp đãi Ngài trong nhà mình (LuLc 10:38-42).
Bà Ma-ri so sánh đức tính hiếu khách của Cơ Đốc nhân với việc chiêu đãi khách của người đời. Bà nói: “Cầu toàn, tìm cách tạo ấn tượng… là một nhiệm vụ khắt khe của một ông củ tự biến mình thành nô lệ”. Nhiều người né tránh tiếp đãi khách lạ vì đã nhầm lẫn nó với việc chiêu đãi khách theo phép xã giao (entertainment) chiêu đãi khách theo phép xã giao thường dẫn đến kết quả là thất vọng về các thức ăn không được dọn lên ngay, oán ghét vì số công việc phụ trội phải làm, phải bỏ bê con cái, và gia đình gây gổ. Dường như chúng ta chẳng bao giờ có thể làm giỏi như ý mình muốn. Do đó mà có thất vọng và đụng chạm.
Thế thì, thật là điều quan trọng biết bao để chúng ta quay trở lại với việc làm đơn giản không cầu kỳ, đem đến sự nhẹ nhõm thư giãn là tiếp đãi khách trong bầu không khí thân mật giữa bạn bè với nhau! Có người có thể chê trách chúng ta là sống đạm bạc, thiếu óc tưởng tượng. Nhưng niềm vui được đem phước hạnh đến cho nhiều người có thể bù lại cho những điều không vui.
Bubna có một nhận định quan trọng khác nữa về vấn đề tiếp đãi khách lạ mà chúng ta thường bỏ qua. Ông nhắc cho chúng ta nhớ rằng trong ITi-mô-thê và Tít, chính người đàn ông đã bị đòi hỏi là phải hiếu khách - chớ không phải là vợ ông ta. Ông nói người chồng “phải đi xa hơn là chỉ mời khách đến rồi ngồi trong phòng khách để chiêu đãi họ, trong khi (bà vợ của ông ta) phải làm mọi việc còn lại”. Tiếp đãi khách lạ là một hoạt động trong đó cả gia đình đều phải thủ một vai trò nào đó. Người chông có thể tham gia quyết định nên nấu món ăn nào, vào việc đi mua các món để nấu dọn, quét dọn nhà cửa, và rửa bát đĩa sau khi mọi việc đã xong xuôi. Cả vợ lẫn chồng phải tham gia quyết định nên mời một người nào đó, trừ phi khi gặp trường hợp quá cấp bách.
Chia sẻ gánh nặng với nhau sẽ cất đi được nhiều gánh nặng của người vợ khi tiếp đãi khách. Từng trải cũng góp một phần lý thú cho việc cùng chia sẻ đời sống với nhau. Sinh hoạt gia đình có thể bị mất đi nhiều vẻ đẹp, nếu mỗi thành viên đều đòi phải thực hiện các dự án của mình bất chấp những người khác. Kết hợp các dự án của gia đình lại với nhau có thể siết chặt thêm các sợi dây ràng buộc và đem đến cho cả nhà một niềm vui tươi mới.
Một người lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải khéo cai trị nhà riêng mình (ITi1Tm 3:4, 5)
Phẩm cách thứ ba của sinh hoạt gia đình của người lãnh đạo, là với tư cách chủ (cái đầu của) gia đình, người ấy phải bảo đảm cho mọi việc đều êm xuôi, có trật tự. Khi công tác lãnh đạo bị chểnh mảng hay không khéo, thì gia đình sẽ không được cai trị chu đáo.
Một người lãnh đạo có thể bỏ bê gia đình khi quá bận rộn theo đuổi sự nghiệp, bỏ mặc cho người vợ lo liệu việc nuôi dạy con cái. Vai trò độc nhất vô nhị của người cha là nuôi dưỡng con cái sẽ bị bỏ sót nếu ông ta né tránh trách nhiệm làm chủ gia đình.
Một người phải phấn đấu hoàn thiện sự nghiệp mà phải dành thì giờ và năng lực cho gia đình nữa, thì chẳng phải là dễ dàng gì. Các dự án liên quan đến sự nghiệp thường có những lần sinh tử cấp bách của nó. Các kết quả có thể đo đạc được từ các dự án ấy thường được xem là thước đo khả năng thích ứng của người lãnh đạo với công tác của mình, cho nên người ấy phải chi toàn cho kỳ được. Một áp lực “cấp bách” như thế có thể “hành hạ” một người đến độ ông ta phải chễnh mảng các trách nhiệm thường xuyên mà nhàm chán đối với gia đình. Vấn đề này từng được gọi là “sự đày đoạ của nhữgn điều cấp bách”. Chúng ta có thể phá tan nỗi đày đoạ này bằng cách tự ý cố gắng hết sức mình dành quyền ưu tiên cho các trách nhiệm thường xuyên và nhàm chán đó.
Hãy lấy thí dụ về một người lãnh đạo trở về nhà sau khi đã hoàn thành một dự án đòi hỏi phải cố gắng hết sức mình. Thể xác ông ta rất mệt mỏi mà tình cảm cũng kiệt quệ. Ông ta muốn nghỉ ngơi thư giãn. Đây không phải là lúc mà theo lẽ tự nhiên, ông ta còn muốn chú ý đến các công việc trong gia đình nữa. Nhưng trong lúc ông làm việc ở bên ngoài, thì ở nhà, vợ ông phải chịu cực nhọc một mình để lo cho mọi việc trong gia đình đều tiến hành trôi chảy. Đám con cái rất mong nhớ người cha vắng nhà. Chúng cần được chú ý. Nhưng chỉ khi nào cố tình cố gắng thì ông ta mới có thể có được sự chú ý như thế. Và một gia đình khéo cai trị là phần thưởng cho sự cố gắng chú ý chính đáng ấy.
Một lý do khác nữa của việc không khéo cai trị gia đình là cách lãnh đạo thiếu khôn ngoan. Thí dụ một số cha mẹ vốn quá nghiêm khắc hoặc quá nhiều tự ái. Họ chỉ dành rất ít cơ hội để tự bộc lộ một cách sáng tạo, để lo cho sự tăng trưởng hầu đạt mức trưởng thành, và cho quyền tự do được vui vẻ đan1g lẽ phải là một phần của đời sống gia đình Cơ Đốc nhân. Một số cha mẹ khác lại quá dễ dãi. Họ bỏ qua các lỗi lầm hoặc chẳng xem chúng là nghiêm trọng như đáng lẽ phải có. Việc hướng dẫn, sửa sai và sửa phạt là cần thiết cho một đứa trẻ để nó lớn lên một cách lành mạnh.
Người kháo cai trị không những chỉ dành thì giờ cho gia đình, mà còn sử dụng nó thật khôn ngoan nữa. Ông ta sửa sai, nhưng nó thật khôn ngoan nữa. Ông ta sửa sai, nhưng cũng khen ngợi và khích lệ nữa. Ông ta cùng làm việc cùng vui chơi với các thành viên trong gia đình. Ông ta lập kế hoạch và cùng cầu nguyện với họ. Ông ta cùng khóc cùng cười với họ. Sức lực, tài năng tinh thần hài hước và sáng tạo của ông ta không phải chỉ được dùng cho sự nghiệp của ông ta mà thôi, nhưng cũng còn được sử dụng có kết quả trong gia đình nữa.
Phao-lô đã tiếp tục nêu ra hiệu quả của việc khéo cai trị gia đình: “giữ cho con cái mình vâng phục và ngay thật trọn vẹn”. Phao-lô không bảo rằng con cái của người lãnh đạo phải là các tín hữu cả, tuy đây là phước hạnh cao cả nhât mà một người có thể mong muốn cho con cái mình. Tuy nhiên, quyết định hiến thân cho Chúa Cứu Thế Giê-xu là một chọn lựa cá nhân mà người ta phải tự quyết định lấy. người cha không phải là người chịu trách nhiệm quyết định cho việc ấy. Điểm Phao-lô muốn nói là cách ăn ở cư xử của người cha phải như thế nào để quyền lãnh đạo của ông ta được chính con cái ông ta chấp nhận. Do đó mà chúng “vâng lời” hay theo đúng nguyên văn hơn, là “vâng phục” ông ta.
Nhóm từ “ngay thật trọn vẹn” có thể ứng dụng cả cho người cha lẫn các con cái của ông ta. Nếu áp dụng nó cho người cha, nó có nghĩa là ông ta phải tỏ ra đáng trọng đáng kính trong cách an ở cư xử của mình. Nếu áp dụng cho con cái ông ta, thì nó có nghĩa là chúng phải coi trọng, tôn trọng ông ta đúng mức, phải lẽ. cả hai ý trên đây vốn có liên hệ với nhau, vì con cái sẽ không coi trọng một người cha không có tư cách.
Hendricksen đã hiểu đúng ý nghĩa của câu này. “Uy quyền phải được thực thi… thế nào để sự cương quyết của người cha là một lời khuyên răn con cái phải vâng lời, để sự khôn ngoan của ông ta khiến cho con cái vâng lời ông ta một cách tự nhiên, và tình yêu của ông ta khiến cho con cái ông ta vui vẻ vâng lời” (William Hendricksen, The New Testament Commentary, I&IITimothy vand Titus, Edinburg: The Banner of Truth Trust, 1960).
Câu 5 nêu lý do tại sao Phao-lô dạy rằng khéo cai trị nhà mình là một phẩm cách cần thiết cho chức vị lãnh đạo. Ông viết: “Nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội Thánh của Đức Chúa Trời?” Chức vị lãnh đạo Cơ Đốc giáo nhất thiết có liên quan với các mối liên hệ (giữa người với người). Một gia đình là một nhóm người có liên hệ mật thiết với nhau nhất. Nếu người lãnh đạo không thể liên hệ thật phải lẽ với nhóm người ấy, thì điều đó có nghĩa là ông ta sẽ không hoàn toàn có đủ tư cách trong việc sắp xếp các mối liên hệ giữa nhiều người với nhau. Nếu không làm được việc ấy, ông ta cũng không đủ phẩm cách cho chức vụ lãnh đạo những người thuộc về Đức Chúa Trời.
Một người lãnh đạo Cơ Đốc giáo không phải là người mới tin đạo (ITi1Tm 3:6)
Tứ ngữ được dịch ra là “người mới tin đạo” theo nghĩa đen là “mới trồng”. Nó được dùng chỉ những cây mới trồng. Rễ của những cây như thế chưa được vững chắc. Một người lãnh đạo dân sự (người thuộc về) Đức Chúa Trời phải đã “châm rễ và lập nền” trong Chúa Cứu Thế (CoCl 2:7). Muốn lãnh đạo người ta cho có hiệu quả trong các đường lối của Đức Chúa Trời, bản thân người lãnh đạo trước hết đã phải vững vàng trong các đường lối ấy rồi. Nhờ thường xuyên rèn luyện, thực hành, các đường lối của Đức Chúa Trời phải trở thành một bản tánh thứ hai của người ấy, một đặc điểm cần có thì giờ để phát triển.
Lắm khi chúng ta gặp những người mới tin đạo và nhận ngay ra rằng họ là những “nhà lãnh đạo bẩm sinh”. Ngay trước khi ăn năn quy đạo, họ đã có một số phẩm cách của người lãnh đạo rồi. Nhưng chúng ta không nên nhầm lẫn các phẩm cách ấy với sự trưởng thành thuộc linh, vốn nhờ được gặp gỡ lâu ngày với Đức Chúa Trời và Lời Ngài mới có được.
Hơn nữa, chức vụ (mục sư) có thể ví sánh với một cuộc chạy đua đường trường hơn là một cuộc chạy đua nước rút, một cuộc chạy đua với nhiều thách thức có thể làm suy kiệt năng lực của chúng ta. Muốn kiên trì chịu đựng các thách thức ấy, người ta phải học tập chịu đựng. Chúng ta cần kiên trì chịu khổ mà vẫn hy vọng khi chẳng thấy có kết quả hiện ra trên đường đi, chịu đựng để sống với kẻ chẳng hề có lý tưởng, để cứ cất cao đầu giữa cơn khủng hoảng. Loại kiên trì chịu đựng này chỉ tăng trưởng từ từ, thường thường là trong một trường học bị nhiều cuộc tấn công dữ dội, như cả hai Phao-lô và Gia-cơ từng chứng minh (RoRm 5:3; Gia Gc 1:2-4). Những người mới ăn năn quy đạo thường rất nhiều nhiệt tâm, nhưng như thế không có nghĩa là họ đã có đủ sức kiên trì chịu đựng của chức vị lãnh đạo đòi hỏi. Thế nhưng người ta thường sai lầm nâng lên chức vị lãnh đạo chỉ căn cứ vào các thành tích do nhiệt tâm của họ mà thôi.
Tiếp theo đó, Phao-lô mô tả điều có thể xảy đến cho một người mới ăn năn quy đạo được đặt vào chức vị lãnh đạo: “người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng”. Sa-tan cũng từng được cơ hội lãnh đạo, nhưng nó đã sa vào tội kiêu ngạo để tự phó mình cho sự trừng phạt nghiêm khắc. Đó có thể là số phận của một người chưa được chuẩn bị sẵn sàng, thình lình được nêng lên chức vị lãnh đạo.
Động từ đã được dịch ra “tự kiêu mà sa vào” nguyên văn có nghĩa là “bị khói bao phủ” hay “bị mây che”. Một người như thế không thể nhìn thấy mọi sự vật thật tỏ tường. người như thế tưởng là mình đã thành đạt rồi. Người ấy sẽ không cẩn thận giữ mình khỏi sự cám dỗ, và tuy anh e tưởng là mình vững vàng lắm, nhưng anh ta đang rất dễ bị sa ngã (ICo1Cr 10:12). Dù sao thì một khi đã trở thành người lãnh đạo rồi, sẽ chẳng còn có ai để cảnh cáo hay sửa trị người ấy nữa. Nếu có ai tìm cách sửa sai cho người ấy sẽ tự nghĩ: “Có lẽ anh ta muốn gây sự với mình vì ghen tị với địa vị của mình”. Mọi sự đã sẵn sàng cho một lần sa ngã ngặng nề. Mà sự sa ngã sẽ càng nghiêm trọng hơn khi một người lãnh đạo sa ngã, vì nó kéo theo tiếng xấu cho Chúa Cứu Thế.
Nhiều đặc lợi đặc quyền sẽ cùng đến với chức vị lãnh đạo mà một kẻ kiêu ngạo thường không nắm vững được mà khỏi lạm dụng chúng. Người ấy có quyền trên người khác và có thể lợi dụng họ nhằm đạt các cứu cánh của mình. Người ấy được cơ hội đề cao tên mình và khoe khoang về “cái ta” của mình. Người ấy có quyền giày đạp những ai chống lại mình. Người ấy có quyền tự sắp xếp thời dụng biểu của mình theo ý riêng. Tất cả những việc đó đều là vũ khí nguy hiểm trong tay một kẻ tự phụ tự kiêu.
Rồi còn có lời khen ngợi nữa, một trong những điều nguy hiểm nghề nghiệp của chức vụ (mục sư) Cơ Đốc giáo. Quý vị mục sư thường được đặt vào chỗ có ánh đèn sáng chiếu vào. Người ta sẽ nịnh hót họ nhất là nếu họ là những diễn giả giỏi và có cả một đám cử toạ hấp dẫn tìm đến. Có một số người lẫn lộn những nét thuộc về nhân cách với tính cách thuộc linh và sự tinh kính đạo đức. Chỉ có một người có căn bản tốt lành mới chịu đựng nổi sự thách thức đến từ một lời khen ngợi như thế. Nhưng thường thường thì họ như “bị mây che”, họ tin vào những lời khen ngợi đó, mà bỏ qua nhiều lãnh vực then chốt khác của đời sống mình, như trách nhiệm phải khai trình sổ sách tài chính, nghiên cứu Thánh Kinh và vầu nguyện, trách nhiệm phải trả lời về thân thể của Chúa Cứu Thế, và trách nhiệm đối với gia đình.
Một trong những phương thuốc phòng ngừa, các hậu quả xấu của lời nịnh hót linh nghiệm nhất là sự thông công công khai, thân cận với một vài tín hữu và với các thành viên trong gia đình của chúng ta. Họ vốn biết chúng ta là ai và sẽ yêu chúng ta đủ để làm nổ tung một số bong bóng không có thật mà chúng ta tự tạo ra chung quanh mình. Tuy nhiên, nhiều người tự cao tự phụ lại né tránh các mối liên hệ “làm xẹp cái ta” ấy đi. Rõ ràng là Phao-lô đã rất khôn ngoan khi đưa ra lời dặn dò phải cẩn thận này liên quan đến việc bổ nhiệm những người mới ăn năn quy đạo vào chức vị lãnh đạo.
Làm sao để chúng ta biết khi nào thì một người đã sẵn sàng cho chức vị lãnh đạo? Câu trả lời thay đổi tuỳ theo người và hoàn cảnh tình hình. Thường thường thì những người có ân tứ và tận hiến có thể được đặt vào các vai trò lãnh đạo nhanh hơn những người khác. Trong một cộng đồng Cơ Đốc giáo hoàn toàn mới, chức vị lãnh đạo có thể được bổ nhiệm sớm hơn trong một cộng đồng đã vững vàng rồi như tại Ê-phê-sô, nơi Ti-mô-thê đang phục vụ. Cho nên, khi viết thư cho Tít, là người đang phục vụ tại một Hội Thánh mới mẻ hơn tại Cơ-rít, Phao-lô đã bỏ qua đòi hỏi này đối với chức vị lãnh đạo. Lẽ dĩ nhiên, điều này kèm theo một trách nhiệm chính xác hơn nữa để thẩm định thật cẩn thận sự tận hiến cho Chúa Cứu Thế của một người và tính cách phù hợp của người ấy với chức vị lãnh đạo.
Leroy Eims từng gợi ý một giai đoạn đào tạo bảy năm sau khi ăn năn quy đạo trước khi một người được tạo cho chức vị lãnh đạo. Bảy năm có vẻ như một giai đoạn dài, nhưng Eims vạch rõ rằng cần có ba năm tập trung chú ý trước khi Chúa Cứu Thế chuẩn bị cho các môn đệ Ngài làm lãnh đạo. Các vị ấy đã phải gặp gỡ với Ngài khoảng mười hai giờ mỗi ngày trong giai đoạn ấy. Tổng cộng sẽ là 13.140 giờ, nhiều hơn số thì giờ mà một nhà đào tạo môn đệ thường có thể dành cho một người mà mình huấn luyện (The Lost Art of Disciple Making, Zondervan, 1978). Và phần đông chúng ta đều không làm được loại đào tạo lãnh đạo mà Chúa Cứu Thế đã làm. Chúng ta chỉ trông mong cho những người lãnh đạo xuất hiện từ các Hội Thánh của mình, rồi than phiền khi không thấy họ.
Một thời gian căn bản bảy năm để phát triển quyền lãnh đạo không hề hàm ý rằng một Cơ Đốc nhân đang tăng trưởng phải chẳng hoạt động gì cả suốt bảy năm. Oswald Saners đã có một lời khuyên hay: “Người mới ăn năn quy đạo có hứa hẹn cần được dành cho cơ hội rộng rãi để phục vụ trong các nhiệm vụ thấp và kém quan trọng để phát triển các ân tứ cả tự nhiên lẫn thuộc linh”. Sanders tóm tắt bằng cách nói rằng: “không nên thăng cấp cho người ấy quá nhanh, kẻo e người ấy có thể lên mặt tự kiêu. Cũng không nên chèn ép người ấy, e người ấy chán nản ngã lòng “(Spiritual Leadership, Lodon: Lakeland, 1967).
Trong phần nghiên cứu bảng liệt kê của Phao-lô về các phẩm cách xã hội liên quan đến tiếng tốt của một người. Chúng ta đã thấy nhiều phẩm cách về ăn ở ứng xử liên quan đến tài năng sống một cuộc đời biêt tự chủ của một người. Chúng ta đã thấy một phẩm cách liên quan đến chức vụ (mục sư) tài dạy dỗ. Chúng ta đã thấy ba phẩm cách liên quan đến sinh hoạt gia đình và một phẩm cách liên quan đến sự trưởng thành thuộc linh. Tất cả các phẩm cách trên đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phải cẩn trọng khi chọn những người lãnh đạo.
Ứng dụng cá nhân
Khi học qua bài này, chắc trong tâm trí bạn có nảy sinh nhiều ý niệm về bạn có thể làm gì cho sinh hoạt gia đình của bạn được phong phú hơn. Hãy viết ra đây các ý nghĩ ấy.

CÁCH TRẢ LỜI VỚI TÀ GIÁO
(ITi1Tm 4:1-6)
Tà giáo mà Ti-mô-thê gặp tại Ê-phê-sô luôn luôn nằm trong tâm trí Phao-lô lúc ông viết bức thư này (1:3-11, 19, 20; 4:1-16; 6:3-5, 20, 21). Ngay từ đâù thư, Phao-lô đã nhắc nhở Ti-mô-thê rằng Ti-mô-thê sẽ phải cứ ở lại Ê-phê-sô để chống lại giáo thuyết ấy (1:3). Phao-lô đã đưa ra cho Ti-mô-thê một kiểu mẫu về thế nào thỉnh thoảng một người lãnh đạo cần phải trả lời cho tà giáo (4:1-8). Các tà giáo chúng ta gặp ngày nay có thể khác hơn, nhưng chúng ta có rất nhiều điều để học hỏi từ khúc sách này.
Vạch trần tà thuyết (ITi1Tm 4:1-3a)
Bằng thái độ đặc biệt của ông là không chịu dung nạp điều sai trái, Phao-lô đã vạch trần tà giáo này trong mấy câu 1-3a. Chúng ta nhận thấy Phao-lô đã làm “bài làm ở nhà” của ông là tìm ra những gì đã được truyền dạy và ai đã truyền dạy điều đó. Ông đã có thể sử dụng số thông tin này để viết thành bài trả lời của ông cho tà giáo ấy.
Do đó, một trong các bước đầu tiên để trả lời cho giáo thuyết sai lầm, là tìm hiểu nội dung của nó. Nếu chúng ta cố tìm cách chống đối sai lầm mà chẳng có chứng cứ gì cả, thì những kẻ đối lập với chúng ta sẽ có thể bài bác chúng ta và nói đại khái như: “Đừng cho điều anh ta nói đó là nghiêm túc. Anh ta thậm chí chảng biết mình nói gì nữa”. Phần đông chúng ta đều biết rằng các thành viên tích cực hoạt động cho các tà giáo đều được huấn luyện rất tốt với các sự kiện liên quan đến những lời truyền dạy của họ và các câu hỏi mà người ta sẽ thắc mắc nêu ra. Các Cơ Đốc nhân không có nền tảng vững chắc về Lời Chúa (Thánh Kinh) thường phải e ngại về kiến thức ấy. Cho nên chúng ta cũng phải được vũ trang bằng sự kiện nếu muốn đối mặt với các tà thuyết.
Một tà giáo đã được tiên báo (ITi1Tm 4:1a). Trước hết, Phao-lô viết rằng đã có lời tiên tri báo trước về tà giáo sẽ xuất hiện rồi: “Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo” (4:1a). Lúc Ti-mô-thê thấy sự tăng trưởng của tà giáo bắt đầu, chắc ông đã bị cám dỗ để cảm thấy lo sợ. Nhưng Phao-lô muốn trấn an ông nên nhắc nhở ông rằng Đức Chúa Trời đã biết trước việc sẽ xảy ra. Thật vậy, Ngài đã thấy trước và và báo trước về điều đó rồi. Kiến thức về tà giáo đã được đưa ra thông qua một lời tiên tri đặc thù, nhưng các chi tiết thì chúng ta không được biết.
Sự kiện Đức Chúa Trời đã biết rõ mọi việc đang xảy ra là một nguồn tài nguyên cung cấp cho chúng ta trong bất cứ cuộc chiến đấu nào mà chúng ta phải tham dự. Việc ma quỉ đưa ra điều sai lầm tạm thời có vẻ như nó có quyền năng lớn. Nhưng chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng cầm quyền tể trị, mà các chủ định của Ngài thì đến cuối cùng đều sẽ được hoàn tất. Chúng ta không đang tham dữ một cuộc chiến đấu mà phần thua đã nắm chắc trong tay. Đức Chúa Trời từngthấy trước việc sẽ có sự lệch lạc về chân lý ấy, và đã có kế ohạch để đánh bại nó, nghĩa là chúng ta đang ở về phía chiến thắng. Chúng ta không lâm chiến bằng cách phòng thủ thiếu an toàn, mà bẳng thái độ tin quyết và đầy quyền năng.
Cảm thấy bất an và giữ thế thủ sẽ không giúp được chúng ta chiến đấu cho chân lý. Nó có thể thấy về mặt lý luận, nhưng ít khi chinh phục được người ta cho phía chiến thắng. Người biết suy nghĩ thấy rõ nỗi bất an của kẻ giỏi biện giải. Thái độ thản nhiên đầy uy quyền đi kèm với ý thức phòng thủ sẽ đẩy lui họ. Khi chúng ta đặt lòng tin vào Đức Chúa Trời, thì chúng ta cũng có thể nói cách có quyền. Chúng ta cần độc đoán khi bênh vực cho chân lý. Nhưng sự độc đoán của chúng ta là một độc đoán chủ nghĩa có kiểm soát, sẵn sàng lý luận thật thông minh để bảo vệ chân lý. Một hành động như thế sẽ làm được rất nhiều điều để khuyến khích những người biết suy nghĩ đổi ý để tiếp nhận chân lý.
Phao-lô đã tấn công tà giáo trong khúc sách này bằng chính niềm tin chắc vào Đức Chúa Trời này. Ông đã không viết như một người đang run sợ. Ông có uy quyền của một người giảng đạo với lòng tin quyết, một đại sứ của Vua các vua.
Nguồn gốc và các giáo sư của nó (ITi1Tm 4:1b, 2). Độc đoán chủ nghĩa của Phao-lô được thấy rõ trong hai câu 1b và câu 2 khi ông thỉnh thoảng vạch trần nguồn gốc của tà giáo và những kẻ truyền dạy nó. Ông nói nguồn gốc của nó là từ quỉ dữ. Cho nên ai tin nhận tà giáo thì “sẽ… theo các thần lừa dối và đạo lý của quỉ dữ” (4:1b). Các giáo sư của nó là những kẻ “giả hình…(nói) dối, là kẻ có lương tâm đã lì” (4:2). Họ nói dường như trình bảy chân lý, nhưng tâm trí họ đã chai lì và khép kín đến độ ngay đến chân lý cũng không thể xâm nhập được.
Ngày nay, nhiều nguời trong chúng ta không dám nói thẳng như đã thấy ở đây. Chúng ta bảo rằng con người ta được ban cho quyền tự do tư tưởng và bày tỏ ý kiến của mình cách nào tuỳ thích. Chúng ta tự hào vì có một giáo hội đa thành phần tư tưởng, dành chỗ cho nhiều ý kiến khác nhau. Bất cứ ai chống lại chủ nghĩa đa nguyên đó đều bị tố cáo là quá độc quyền chân lý hay quá hẹp hòi. Nhưng những ai đã tận hiến cho Cơ Đốc giáo của Kinh điển đều nhất trí rằng có một bộ phận chân lý thiết yếu, bất biến là đạo (đức tin) lịch sử của Hội Thánh, chẳng có những lệch lạc nào là phải điều chỉnh cho hợp thời cả.
Thế thì, có phải chúng ta dang bênh vực cho một chính thống giáo đã chết hay không? Chúng ta đang bênh vực cho chính thống giáo theo ý nghĩa là mọi tư tưởng Cơ Đốc giáo đều phải được kiểm soát bằng các ranh giới do Kinh Thánh đặt ra. Cơ Đốc nhân theo Thánh Kinh tin rằng Đức Chúa Trời đã phán một Lời dứt khoát, quyết định cho loài người, và Lời ấy là nền tảng duy nhất cho mọi tư tưởng của mình, nhưng cũng tin rằng Ngài cũng đã đặt ra các ranh giới để “nhốt” tư tưởng của Ngài trong đó. Cơ Đốc nhân theo Thánh Kinh khiêm tốn thừa nhận rằng Đức Chúa Trời là Đấng đã sáng tạo ra vũ trụ này và khiến cho nó hoạt động, nên cũng biết con người có thể làm gì để hiện thực hoá và hoàn thiện trái đất này tốt nhất, và rằng với sự hiểu biết ấy, Đức Chúa Trời đã ban cho loài người một sự mạc khải trọn vẹn - luật lệ, mẫu mực - cho tư tưởng và hành động của họ.
Nhưng khi phó mình cho một mạc khải hoàn tất, trọnv ẹn như thế, thì không phải là chúng ta đang tự động tự buộc mình vào với một chính thống giáo chết cứng. Hàm chứa trong sự mạc khải đó là nhiều kho tàng mênh mông mà sau nhiều thế kỷ khai phá của thần học, nhiệm vụ của chúng ta vẫn chưa xong. Bên cạnh đó, mỗi một thời đại đều mang theo với nó lời thách đố phải truyền đạt cái chân lý bất biến ấy sao cho vừa thích hợp vừa dễ hiểu cho con người đương đại. Cho nên, thần học phải luôn luôn sinh động, bao giờ cũng phải tự diễn tả bằng những hình thức mới mẻ.
Thật vậy, muốn cho thần học luôn luôn thật sự là của Cơ Đốc giáo, thì nó phải có tính chất sáng tạo. Con người đã được tạo dựng theo hình tượng của Đức Chúa Trời, vốn là Đấng sáng tạo. Vậy muốn giảng như Đức Chúa Trời, thì chúng ta cũng phải có (đầu óc và việc làm) sáng tạo. Philip Hughes đã tóm tắt địa vị của chúng ta thật hay:
Nhiệm vụ sáng tạo của thần học phải được thực hiện bằng số “chất liệu” nhất định là lời thành văn của Đức Chúa Trời, mà từ các trang sách ấy, cùng một Đức Thánh Linh đã khiến cho chân lý chiếu toả ra bằng điều kỳ diệu và vẻ đẹp không để cạn kiệt, khiến nó bao giờ cũng còn là một nhiệm vụ chưa hoàn tất, và bao giờ cũng có trước mặt nhiều khả năng vô giới hạn. (Creative Minds in Comtemporary Theology, Eerdmans, 1969).
Cho nên một cách diễn tả và hiểu biết đa dạng trong Hội Thánh là một dấu hiệu của sức khoẻ, một dấu hiệu của sự tươi mới đến từ việc vận dụng ânt ứ của Đức Chúa Trời một cách sáng tạo. Nhưng mỗi một cách diễn tả như thế đều cần phải bắt nguồn và được buộc chặt bởi Lời Đức Chúa Trời. Nếu chúng đi lệch khỏi Lời Chúa, chúng sẽ dẫn người ta đi lạc khỏi đời sống đích thực, và do đó là sẽ làm hại cho họ. Chúng phải bị kết án thẳng thừng, chẳng những vì lợi ích của chân lý (chúng ta không phải chỉ là “những kẻ săn đuổi tà giáo” (mà còn là vì chúng ta phải quan tâm đến sự an vui phúc lợi của người khác nữa. Cho nên việc bảo vệ cho chính thống giáo kèm theo lời kết án thuyết chống lại chính thống giáo, cuối cùng chỉ là một cách bộc lộ tình yêu - tình yêu chân lý và nguồn gốc của nó là Đức Chúa Trời, và tình yêu nhân loại.
Nội dung của nó (ITi1Tm 4:3). Phao-lô trình bày một nét đặc trưng chủ chốt của tà giáo mà Ti-mô-thê đang phải đối đầu: “Họ sẽ cấm cưới gả và biểu kiêng các thức ăn” (c.3a). Các giáo sư giả dạy khắc khổ chủ nghĩa là điều kiện cần để người ta thật sự trở thành người thuộc linh.
Khắc khổ chủ nghĩa hấp dẫn một số Cơ Đốc nhân đang bối rối vì bị thất bại trong đời sống thuộc linh. Họ trông mong một việc làm phụ trội nào đó có thể đẩy nhanh hơn sự tăng trưởng về tin kính đạo đức của mình. Dường như khắc khổ chủ nghĩa đã đưa ra một câu trả lời cho sự tìm kiếm đó. Lý do để Cơ Đốc nhân phấn đấu theo nó là vì các tham dục về những điều thuộc về thế gian này như tính dục, thức ăn, đồ mặc vẫn đưa người ấy đến chỗ phạm tội. Cho nên, người ấy cố tìm cách giải quyết các tham dục xấu xa đó để tham gia đoàn Cơ Đốc nhân cao hơn, đã chọn tận hiến cho Chúa Cứu Thế trọn đời.
Tại sao nó là sai (ITi1Tm 4:3b-5)
Sau khi vạch trần tà giáo, Phao-lô dùng một lý luận thần học để chứng minh tại sao nó là sai. Đạo của chúng ta là một đạo hợp lý, cho nên tính cách đáng tin (chân lý) của các niềm tin mà chúng ta gắn bó đều có thể được chứng minh. Chúng ta có thể biết tại sao mình lại tin. Biết rõ chẳng những niềm tin “là gì”, mà cả đến “lý do tại sao” chúng ta lại tin như thế, sẽ khiến cho đức tin của một người được vững mạnh thêm, và trang bị cho người ấy để chống lại mọi thách thức chống lại đức tin (đạo) của người ấy. Do đó, người lãnh đạo có trách nhiệm phải dạy cả việc phải tin gì, lẫn tại sao người ta phải tin như thế.
Khắc khổ chủ nghĩa chống sáng tạo chủ nghĩa. Phao-lô lý luận rằng khắc khổ chủ nghĩa trái với giáo lý về sáng tạo (4:3b-5). Ông nói rằng các thức ăn mà các giáo sư giả cấm đó vốn do “Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin, và biết lẽ thật tạ ơn mà dùng lấy” (4:3b). Ông viết tiếp: “Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà căn lấy thì được” (4:4). Người khắc khổ bảo chúng ta thôi hưởng thụ các thú vui của đời vì chúng gây trở ngại cho đời sống thuộc linh. Giáo lý về sáng tạo dạy chúng ta rằng các lạc thú trần gian chính là các tặng phẩm (ân tứ) do Đức Chúa Trời an cho chúng ta vui hưởng, miễn là chúng ta biết tạ ơn Ngài.
Chẳng hạn những người theo thuyết khắc khổ bảo rằng hôn nhân sở dĩ được ban cho là để bảo đảm việc lưu truyền mãi mãi nòi giống loài người, và tạo cơ hội cho người ta thoả mãn một cách bình thường các thôi thúc của xác thịt là tình dục và kết bạn. họ nói hễ bạn càng đạt đến trình độ cao trong đời sống thuộc linh bao nhiêu, bạn sẽ càng ít muốn, ít cần phải thoả mãn các thôi thúc đó, và khi đã trưởng thành, bạn sẽ phải hoàn toàn từ bỏ chúng. Giáo lý về sáng tạo thì dạy chúng ta rằng hôn nhân là một phần của kế hoạch tốt đẹp của Đức Chúa Trời cho loài người. Tình dục và tình bạn là các ân tứ (quà tặng) đẹp đẽ được ban cho với ý định để cho loài người vui hưởng và biết tạ ơn Ngài, ngay cả với những người thuộc linh sâu nhiệm nhất.
Người khắc khổ bảo Cơ Đốc giáo là một tôn giáo thuộc linh quan trọng. Với Cơ Đốc nhân theo Thánh Kinh, thì Cơ Đốc giáo là một tôn giáo của cả cuộc đời. Nó có phần thuộc linh, nhưng cũng gồm luôn cả các phương diện thuộc thể và tình cảm của đời sống nữa. Đức Chúa Trời đã sáng tạo ra tất cả những điều đó lúc Ngài sáng tạo ra sự sống.
Trong câu tiếp theo, Phao-lô viết rằng mọi điều vật chất mà Đức Chúa trời ban cho đều tốt lành cả vì “nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh” (4:5). Người khắc khổ bảo chúng ta phải tiêu diệt xác thịt. Người theo khoái lạc chủ nghĩa nói chúng ta phải khoan dung cho xác thịt, do đó anh ta buông mình theo đuổi lạc thú cho dù phải vi phạm các nguyên tắc tự mình đặt ra. Nhưng Cơ Đốc nhân theo Thánh Kinh nói chúng ta phải “biệt riêng xác thịt nên thánh nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện”. Hiến dâng xác thịt để biệt riêng nó nên thánh có nghĩa là đặt mình đầu phục Đức Chúa Trời, để Ngài hướng dẫn mình sử dụng nó theo ý chỉ Ngài. Xác thịt sẽ trở thành một phương tiện hoàn thành ý chỉ Đức Chúa Trời, đó là phương pháp tốt nhất để sử dụng xác thịt, vì ý chỉ Đức Chúa Trời bao giờ cũng “tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn” (RoRm 12:2).
Phao-lô dạy rằng tặng vật của Đức Chúa Trời “nhờ lời cầu nguyện (mà) được nên thánh” nghĩa là khi chúng ta sử dụng các tặng vật (vật chất) mà Đức Chúa Trời ban cho thì phải kèm theo đó lời cầu nguyện. Chúng ta cầu nguyện tạ ơn Chúa trước khi dùng bữa - một tập quán mà chính Chúa Giê-xu từng noi theo, nhưng lại có một số “Cơ Đốc nhân tự xưng là được soi sáng” ngày nay, vì một lý do lạ lùng, lại xem đó là chẳng quan trọng! Hôn lễ của chúng ta luôn luôn được chấm dứt bằng lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện đúng ra còn phải có phần trong hành động làm tình nữa, vì chính Đức Chúa Trời đã thánh hoá hành động ấy. Trong khi hưởng thụ việc bộc lộ sâu xa sự cộng thông giữa vợ chồng đó, chúng ta cũng phải đồng thời hưởng thụ sự cộng thông với Đức Chúa Trời. Sợ dậy ba tao của hôn nhân vẫn là ba cả trong hành động làm tình nữa.
Nhóm từ “vì nhờ lời Đức Chúa Trời” cũng được dùng trong lễ hiến dâng. Có lẽ nó có nghĩa là nhờ nó được hiến dâng cho Đức Chúa Trời, mà vật Đức Chúa Trời ban cho đó bao giờ cũng sẽ được sử dụng đúng theo lời dạy dỗ trong Lời Đức Chúa Trời. Hoặc cũng có lẽ nó có nghĩa là những lời cầu nguyện hiến dâng khi các vật ấy được dâng lên đều có Lời Kinh Thánh trong đó. Trong Hội Thánh nguyên thuỷ, những bài cầu gnuyện đọc trước các bữa ăn và trong các hôn lễ đều tràn ngập những câu trích dẫn Kinh Thánh.
Tầm quan trọng của giáo lý về sáng tạo. Khúc sách này nhắc nhở chúng ta giáo lý về sự sáng tạo quan trọng như thế nào trong tư tưởng Cơ Đốc giáo. Trong Kinh Thánh có rất nhiều câu đề cập công trình sáng tạo. Công trình sáng tạo là khởi điểm cho tất cả các bài tín điều quan trọng của hội Thánh. Cho nên chúng ta phải xem công trình sáng tạo là đề mục then chốt của giáo lý Cơ Đốc. Chúng ta phải nêu nó ra nổi bật hẳn lên trong các giáo trình theo dõi chăm sóc những người mới ăn năn quy đạo. Nhưng dường như trường hợp duy nhất mà đề tài sáng tạo nổi lên trên bề mặt trong công tác giáo dục của chúng ta ngày nay là khi chúng ta thảo luận về các thách thức mà giáo lý ấy gặp phải khi trực diện với những người chủ trương thuyết tiến hoá.
Giáo lý sáng tạo đặc biệt quan trọng cho ngày nay vì nó phản bác thật rõ rệt nhiều ý thức hệ phi Cơ Đốc giáo mà một Cơ Đốc nhân phải trực diện hiện nay. Thánh Kinh dạy ràng Đức Chúa Trời sáng tạo ra thế gian này. Thuyết tiến hoá tự nhiên nói rằng thế gian này tiến hoá nhờ may rủi ngẫn nhiên. Thánh Kinh dạy rằng Đức Chúa Trời phân biệt với công trình sáng tạo của Ngài. Ấn giáo phiếm thần nhất nguyên dạy rằng thế gian này là phần mở rộng ra của thần tính và chủ yếu là một với thần tính ấy, còn sự cứu rỗi hoàn tất là khi người ta đánh mất đi cá tính của mình để trở thành một với vị thần chủ tể (godhead).
Cơ Đốc giáo theo Thánh Kinh khẳng định rằng công trình sáng tạo là vật chất có thật. Ý niệm của Ấn giáo về maya xem vật chất chỉ là ảo tưởng.
Cơ Đốc giáo theo Thánh Kinh dạy rằgn Đức Chúa Trời tạo ra sự sống như chúng ta có ngày nay, là một cái gì tốt lành, còn mọi vật trên đấ đều có thể được hưởng thụ sau khi đã cống hiến (chúng cho Đức Chúa Trời). Khắc khổ chủ nghĩa dạy rằng mọi vật thuộc về đất đều là xấu, là ác, phải tiêu diệt đi.
Vì mọi điều thuộc về đất này đều tốt lành nên các Cơ Đốc nhân nhìn thấy sự cứu rỗi trong các điều kiện của sự cứu chuộc - cứu chuộc cả cái trật tự đã được sáng tạo ra này, cứu chuộc bằng cách biến đổi các ước muốn của con người và cả nhân tính nữa. Phật giáo xem cuộc đời này chỉ toàn là đau khổ. Do đó, sự cứu rỗi (Niết-bàn) được xem như một loại tồn tạo khác hẳn đời sống như chúng ta đang biết đây, một sự tồn tại mà dục vọng đã bị tiêu diệt.
Cơ Đốc giáo theo Thánh Kinh dạy rằng con người là một hữu thể thuộc linh, được dựng nên theo hình tượng của Đức Chúa Trời, một hữu thể sẽ chỉ được hoàn thiện nếu được liên hệ thuận lợi với Đức Chúa Trời. Duy vât chỉ nghĩa, gồm cả Cộng sản chủ nghĩa vô thần, dạy rằng phạm trù duy nhất có ý nghĩa cho con người là những gì chỉ có liên hệ với thế gian này mà thôi.
Cơ Đốc giáo theo Thánh Kinh dạy rằng Đức Chúa Trời giao cho loài người trách nhiệm trông nom thế gian này. Cho nên các Cơ Đốc nhân chuyên tâm dấn thân vào mọi công việc của trần gian. Cô lập chủ nghĩa dạy rằng chỉ có đời sau mới quan trọng, nên trong knhi còn ở trên đất này, con người ta chỉ cần “sống cho qua ngày”, chờ cho đến khi mọi việc đều kết thúc.
Vì loài người có trách nhiệm trông mom thế gian này, cho nên Cơ Đốc nhân theo Thánh Kinh tìm cách bảo tồn các nguồn tài nguyên trên đất, và do đó, bênh vực cho trách nhiệm đối với môi trường sống. Những kẻ ích kỷ lại bóc trần các nguồn tài nguyên trên địa cầu và gây ô nhiễm cho bầu khí quyển. Họ đang bị nguy cơ là sẽ bỏ lại sau lưng mình một thế giới mà các thế hệ nối tiếp sau này sẽ không thể sống được.
Vì tính cách sai lầm của các quan điểm ấy, chúng ta cần đưa giáo lý sáng tạo trở vào chương trình giáo dục của Hội Thánh. Tôi xin gợi ý dùng hai chương đầu của Sáng Thế ký làm nguồn tài nguyên cơ bản, vì tất cả những khẳng định của Thánh Kinh liên quan đến công trình sáng tạo vừa kể trên đều được rút ra từ hai chương sách ấy.
Hướng dẫn các thành viên giữa tà giáo (ITi1Tm 4:6a)
Chúng ta vừa nghiên cứu xong cách Phao-lô đã hướng dẫn Ti-mô-thê những gì ông sẽ phải đối đáp với tà giáo trong Hội Thánh (4:1-5). Chúng ta đã thấy thế nào đây là một kiểu mẫu của lời dạy dỗ tốt lành (đạo lành, giáo lý thuần chánh). Phao-lô bảo Ti-mô-thê phải hướng dẫn cho các thành viên trong Hội Thánh của ông y như thế. Ông viết: “(Nếu) con giãi tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ trở nên kẻ giúp việc (vị mục sư) ngay lành (giỏi) của Đức Chúa Giê-xu Christ” (4:6a). Một mục sư giỏi phải là một giáo sư, một người biết trang bị cho các tín hữu bằng chân lý để họ có thể đối phó với các thách thức mà họphải đương đầu.
Từ ngữ đã được dịch ra là “giãi tỏ” không phải là một từ ngữ có nghĩa mạnh. Nó có ý niệm về “gợi ý”, do đó mà ở những chỗ khác, câu này cũng được dịch ra là “Hãy đặt những lời giáo huấn này trước mặt các anh em”. Thật ra từ ngữ Hy văn được dùng ở đây có nghĩa đen là “đặt bên dưới”. Ti-mô-thê phải đặt trước mặt các tín hữu những chân lý này, để chúng trở thành như những viên đá lót đường mà người ta có thể bước lên đó để vượt qua một vùng đất trơn trợt. Nhiệm vụ của một giáo sư không phải chỉ đơn giản là nuôi dưỡng các Cơ Đốc nhân bằng từng thìa sữa một là luôn luôn bảo họ phải làm gì. Trái lại, ông ta phải đặt chân lý trước mặt họ để họ có thể sử dụng nó mà bước đi trong đức tin, trong khi nhiều tiếng gọi sai lầm khác luôn luôn réo gọi họ hãy chú ý đến chúng.
Ta không nên hiểu sự kiện này theo nghĩa là vị giáo sư chẳng bao giờ nên nói với quyền uy và đưa ra lời chỉ dẫn dứt khoát cho những người mà mình chăm sóc cho. Sau đây một ít, Phao-lô sẽ vạch rõ điều này bắng cách đưa ra mặt trái của chức vụ dạy dỗ “Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ” (4:11). Từ ngữ “rao truyền” có nghĩa mạnh, với giọng to cao của một nhà quân sự và hàm ý rằng Ti-mô-thê phải truyền giảng cách có quyền. Là người truyền đạt chân lý đầy uy quyền của Đức Chúa Trời, vị giáo sư có trách nhiệm phải nhấn mạnh với người tín đồ rằng phải noi theo đường lối của Đức Chúa Trời. Nhưng ông ta phải biết khi nào thì phải nhấn mạnh, còn lúc nào thì chỉ nên gợi ý mà thôi.
Chất dinh dưỡng cho vị giáo sư (4:6c)
Phần thứ nhất của câu 6 trình bày đầu ra của chức vụ dạy dỗ. Phần thứ hai trình bày đầu vào. Một mục sư giỏi “được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo”.
Câu “các lời (chân lý) của đức tin (đạo) và đạo lý (lời giáo huấn) lành” đề cập bộ phận những lời dạy dỗ đã được các sứ đồ truyền lại và tạo thành phần nền tảng của niềm tin Cơ Đốc giáo vào thời của Ti-mô-thê. Ti-mô-thê đã nhận trực tiếp các chân lý ấy từ chính Phao-lô. Ngày nay, chúng ta có được các chân lý ấy như đã ghi chép lại trong Kinh Thánh.
Phao-lô bảo là Ti-mô-thê đã “được nuôi” hay trưởng dưỡng trong các chân lý ấy. Động từ ở thì hiện tại, chỉ rõ một tiến trình liên tục. Bản The Amplifield Bible) dịch câu này là “con đã luôn luôn tự nuôi mình bằng các chân lý của đạo”. Phao-lô muốn nói rằng Ti-mô-thê phải tự nuôi mình bằng các chân lý của Phúc Âm hằng ngày, vì đó là cách mà một lãnh đạo đã trưởng thành luôn luôn tươi mới trong chức vụ.
Có một việc khá phổ biến là một số cấp lãnh đạo Cơ Đốc giáo từng được thấy là “nóng như có lửa” cho Chúa, phục vụ thật tích cực, nhưng nay chỉ còn đó mà không có lòng nhiệt thành của những năm trước đây nữa. Một số lại chẳng tham gia gì vào công tác phục vụ Chúa. Nhiều người khác thì vẫn làm, nhưng làm một cách máy móc, chẳng phấn khởi chút nào. Họ đã bị “cháy tiêu” cả rồi, đã bị suy kiệt thuộc linh, chẳng còn chút năng lực nào để phục vụ hăng say sốt sắng cả. Phải chăng đây là một hiện tượng phổ biến, có thể tha thứ được? Chắc chắn là không! Thánh Kinh mô tả đời sống của một Cơ Đốc nhân bình thường là một diễn tiến nhằm đạt đến mức tăng trưởng và càng tận hiến nồng nhiệt hơn.
Thế tại sao nhiều người lại tàn lụn và cũ mòn đi? Thường thường là vì trong những năm phục vụ tích cực, sốt sắng, họ đã bỏ qua một hoặc nhiều yếu tố của đời sống Cơ Đốc nhân. Có một yếu tố thường bị bỏ qua là sinh hoạt bồi linh. Những người như thế đã quá bận rộn phục vụ Chúa đến độ chẳng còn thì giờ không gấp gáp nào để sống riêng ra với Đức Chúa Trời và Lời Ngài cả. Họ đã không được bồi dưỡng đầy đủ về phương diện thuộc linh, nên tình trạng trống rỗng thuộc linh là hậu quả của sự suy dinh dưỡng đó. Họ chẳng còn gì nhiều hơn nữa để dâng tặng, cho nên họ bỏ chức vụ hay noi theo con đường mòn nhàm chán là hoạt động do Cơ Đốc giáo mà chẳng có chút lòng nhiệt hành nào, nên cũng chẳng có kết quả.
Suy dinh dưỡng thuộc linh không phải là dễ chẩn đoán cho tới khi nó đã đạt đến giai đoạnt rầmt rọng. Nếu một người đang tích cự cphục vụ cho Cơ Đốc giáo, chúng ta tự nhiên cho là người ấy đang có đời sống thuộc linh lành mạnh. Thế nhưng chính sự hoạt động mà chúng ta cho là một dấu hiệu của sức khoẻ đó, có thể được thực hiện để tạo ra sức khoẻ xấu. Một trong những thách thức quan trọng nhất mà một cán bộ Cơ Đốc giáo phải đương đầu, là thách thức tạo thế cân bằng cho đầu ra và đầu vào của đời sống mình, công tác phục vụ với sinh hoạt thờ phượng của mình.
George Mueller là một người mà bất chấp một đời sống phục vụ nhiệt cuồng, vẫn có thể duy trì tình trạng tươi mới qua một thời gian dài đáng kinh ngạc. Đến năm bảy mươi tuổi, sau gần năm mười năm giảng đại, và sau khi thiết lập nhiều cô nhi viện cho nhiều ngàn trẻ con bần cùng, ông còn bắt đầu một chức vụ truyền đạo lưu hành. Suốt mười bảy năm nữa, ông đã cùng với bà đi thăm bốn mươi hai quốc gia và truyền giảng cho một số ước lượng đến ba triệu người. Một lý do ông đã nêu ra cho việc bảo tồn được sức khoẻ đángghi nhận đó của mình, là “tình yêu ông cảm thấy đối với Kinh Thánh, và việc ông thường xuyên biết thu thập phần năng lực mà bộ sách ấy cung cấp cho toàn thể con người của ông” (Miller, George Mueller: Man of Faith Bethany House, 1972). Ông Mueller nhận thấy trong Kinh Thánh có năng lực tái bồi dưỡng. Đó là phương thuốc phòng ngừa bệnh tàn lụn.
Tôi từng được nghe nhiều cuộc lãnh tụ Cơ Đốc giáo mô tả cách họ dành nhiều giờ miệt mài nghiền ngẫm Kinh Thánh trong những năm làm Cơ Đốc nhân đầu tiên. Họ bảo rằng số thì giờ học hỏi nghiên cứu đó đã tạo ra phần nền tảng cho chức vụ hiện tại của họ. Chắc chắn là đối với các Cơ Đôc nhân mới tin Chúa, cần tự dầm mình trong Lời Đức Chúa Trời là điều thiết yếu. Nhưng đã chẳng có chỗ nào dạy rằng một khi đã trưởng thành rồi thì họ có thể giảm bớt cường độ của việc học hỏi nghiên cứu. Tôi sợ rằng một số cựu lãnh tụ được đề cập trên đây dường như đã ngụ ý nói như thế khi kể lại về những năm học hỏi nghiên cứu Thánh Kinh đầu đời của mình.
Nhưng một số Cơ Đốc nhân có tuổi có thể bảo rằng vì họ đã dọc qua Kinh Thánh nhiều lượt rồi nên chẳng cần phải đọc qua Kinh Thánh nhiều lượt rồi nên chẳng cần phải đọc lại số tài liệu ấy nữa. Thế nhưng có rất nhiều lý do để cả đến một Cơ Đốc nhân đã trưởng thành cũng cần phải đọc Kinh Thánh đều đặn, nhiều lượt.
Thứ nhất, cho dù chúng ta có trưởng thành và có am hiểu Kinh Thánh đến đâu đi chăng nữa, chúng ta vẫn phải tiếp tục trực diện với những thách thức do việc chúng ta phải xa lánh cái thế gian đang vây quanh mình để tận hiến cho Chúa, và vì chính bản tính tội lỗi của mình. Thế gian vẫn tiếp tục “pháo kích” chúng ta bằng các nguyênt ắc và giá trị chống lại con đường thập tự giá. Chúng ta có thể bị trôi lạc đến chấp nhận các giá trị ấy mà không hề hay biết. Thí dụ, có thể chúng ta xem sự thành công hoànt oàn theo các điều kiện vật chất, theo cách của người thế gian, mà quên mất đi rằng sự tành công trong Nước Trời vốn được đo băng lòng tận trung với ý chỉ Đức Chúa Trời. Vì những điều nguy hiểm như thế, tư tưởng của chúng ta cần bị thách thức thường xuyên nhờ việc trình bày tương ứng các nguyên tắc và giá trị của Đức Chúa Trời trong Lời Ngài.
Một lý do thứ hai để một Cơ Đốc nhân đã trưởng thành phải đọc Kinh Thánh đều đặn, thường xuyên, là chẳng hề có ai trên đời này dám nói rằng mình đã hiểu biêt toàn bộ Kinh Thánh. Trong Lời Đức Chúa Trời có những kho báu chẳng bao giờ cạn kiệt, các chiều sâu của bộ sách ấy thì chẳng hề có ai dò lường được, cònc ác chiều cao của nó thì chẳng bao giờ có ai đạt tới được khi hãy còn sống trên đời này. Khi chúng ta đọc đi rồi dọc lại nhiều đoạn với tấm lòng và tâm trí mở rộng, càng nhiều báu vật phong phú sẽ được mở ra cho chúng ta. Nhiều khúc sách quen thuộc có lẽ chúng ta đã thuộc lòng rồi, bỗng nhiên trở thành sống động với nhiều điều tươi mới khi Đức Chúa Trời mạc khải (tiết độ, bày tỏ) cho chúng ta một phương diện khác nữa của các chân lý trong đó mà từ trước đến giờ chúng ta vẫn chưa phát giác được.
Thứ ba, cho dù chúng ta có gần như đã hiểu hết các sự kiện đã được đề cập trong Kinh Thánh, chẳng hề có ai trong chúng ta đã theo sát thật trọn vẹn các sự kiện ấy trong đời sống mình. Tôi đã thuộc lòng chương sách và tình yêu thương là ICo1Cr 13:1-42, và đã giảng rất nhiều bài, dã dạy nhiều lớp học về chương sách ấy. Nhưng mỗi lần tôi nghiên cứu nó, tôi đều bị thuyết phục là mình đã tất bại trong vấn đề phải sống ngang tầm với những lời dạy dỗ trong đó. Cho nên bao lâu chúng ta còn đồng thanh với Phao-lô để nói rằng “Không phải tôi đã giựt giải rồi” (tham khảo Phi Pl 3:12, 13), thì chúng ta cần lắng nghe lời phán của Đức Chúa Trời với chúng với thông qua Lời Ngài để thúc giục chúng ta trên con đường theo duổi sự hoàn thiện.
Vậy chúng ta sẽ chẳng ngạc nhiên chút nào khi đọc tháy Phao-lô yêu cầu người cựu chiến binh Ti-mô-thê phải thường xuyên tự nuôi mình bằng Lời Chúa. Chúng ta cũng không ngạc nhiên chút nào khi đọc thấy Đức Chúa Trời truyền cho người cựu chiến binh Giô-suê: “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đệm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong” (Gios Gs 1:8). Giô-suê chắc đã nắm vững quyển sách Luật Pháp rồi. Nhưng ông vẫn cần phải suy gẫm nó cả ngày lẫn đêm. Cho nên chúng ta cũng phải tìm phương tiện để luôn luôn tự soi mình trước toàn bộ Lời Đức Chúa Trời.
Bước đầu tiên của chúng ta phải là dành thì giờ hằng ngày, để có những khoảng khắc không vội vàng không hấp tấp cùng sống riêng với Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Nếu chúng ta không biến được điều đó thành một kỷ luật một thói quen đọc Thánh Kinh, thì chẳng bao lâu, chúng ta sẽ nhận thấy mình không làm được điều đó một cách đều đặn, thường xuyên.
Tôi tin rằng một trong nhiều dấu hiệu báo động về sức khoẻ xấu trong phong trào Tin Lành hiện đại là có quá nhiều các lãnh đạo của nó không đang học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh hằng gnày. Nhiều người bảo rằng họ không có thì giờ để có những thời gian dài chiến đấu với Lời Chúa. Một số thì hài lòng với chút ít thì giờ “tĩnh tâm” để cầu nguyện và đọc một quyển sách bồi linh mỗi ngày. Họ không tìm được thì giờ để dấn thân vào bất cứ một việc gì khác nữa, vì quá bận rộn làm “công việc Chúa”.
Nếu một người lãnh đạo mà không tìm được thì giờ để thông công không gấp gáp với Đức Chúa Trời và Lời Ngài vì quá bận rộn, thì chắc chắn là phải có một yếu tố không vâng lời trong công việc ấy. Người ấy phải tái sắp xếp thứ tự cho các quyền ưu tiên của mình nếu muốn tránh tai nạn bị phá sản thuộc linh. Hoặc là người đó phải thay đổi tình hình ấy, hoặc phải bị tước đoạt các trách nhiệm lãnh đạo.
Bước tiếp theo là phải chọn một kế hoạch để theo đó, chúng ta có thể đọc qua toàn bộ Thánh Kinh trong một thời gian nào đó. Nhiều chương trình đã được lập sẵn để đọc qua Thánh Kinh một lượt trong một năm. Đây vốn là cách thực hành của nhiều tôi tớ vĩ đại của Đức Chúa Trời qua nhiều thế kỷ và mới đây, đã được John Stott và Martyn Lloyd-Jones bênh vực trong các quyển sách nổi tiếng của họ về vấn đề truyền giảng (Stott, I Believe in Preaching, London, Hodder: Stoughton, 1982); (Lloyed-Jones, Preaching and Preachers , Zondervan, 1972). Cả Stott lẫn Lloyd-Jones đều giới thiệu Robert Murray McCheynes trong tác phẩm “Bible Reading Calendar” (có bán ở Banner of Truth Trust, 3 Murray field Road, Edinburgh, Scotland). Quyển sách chỉ nam thông dụng Search the Scriptures đưa độc giả đi xuyên suốt bộ Thánh Kinh trong ba năm. Bạn có thể tự phát triển một chương trình cho riêng mình, như nhiều người đã làm.
Sở dĩ một Cơ Đốc nhân cần đọc qua toàn bộ Thánh Kinh một lượt vì nhiều phần khác nhau trong Kinh Thánh vốn có những điểm nhấn mạnh riêng biệt cho chính người ấy, và mỗi người chúng ta cần tự soi mình với những điểm nhấn mạnh ấy nếu chúng ta muốn suy nghĩ theo cách suy nghĩ của Đức Chúa Trời. Ngày nay, có nhiều người bỏ qua mà không nghiên cứu Cựu Ước kinh, tuy bức thông điệp trong đó đặc biệt thích hợp với xã hội đương thời. Cho nên chương trình đọc Thánh Kinh mà chúng ta chọn phải bảo đảm để chúng ta thường xuyên đối diện với nhiều phần khác nhau của Kinh Thánh (Luật pháp, Sử ký, Văn học, Minh triết, sách Tiên tri, sách Phúc Âm, Công vụ các sứ đồ, các Thư tín và sách Khải Huyền).
Phao-lô kết thúc bằng việc dạy Ti-mô-thê phải “theo… các lời của đức tin vô đạo lý lành” (c.6). Donald Guth nói câu này có thể có nghĩa hoặc là Ti-mô-thê pải cẩn thận tra cứu lời dạy ấy, hoặc là phải noi theo lời dạy đó như một chuẩn mực vậy (The Pastoral Epistles, Lodon: Tyndale Press, 1957). Cả hai cách lý giải đều cho thấy một vai trò tối quan trọng của chân lý Đức Chúa Trời trong đời sống của Ti-mô-thê và tuỳ theo cách ông đáp lời với tà giáo. Phương pháp hay nhất để phản bác nguỵ lý là biết rõ, noi theo và truyền bá chân lý.
Như chúng ta đã thấy, cách đối đáp với tà giáo của chúng ta gồm nhiều phương diện. Thứ nhất, chúng ta phải biết tà giáo đó là gì. Thứ hai, chúng ta đừng sợ kết án nó. Thứ ba, chúng ta phải vạch rõ tại sao nó là sai lầm. Thứ tư, chúng ta phải trung tín hướng dẫn người của chúng ta biết cách trả lời thích đáng với tà giáo ấy. Thứ năm, chúng ta phải chắc chắn là mình vẫn thường xuyên sống trong chính giáo.
Ứng dụng cá nhân
1. Những người mà bạn lãnh đạo đang phải đối đầu với những tà giáo, tà thuyết nào? Bạn có kế hoạch gì để đáp lại chăng?
2. Viết ra chương trình bạn định sẽ sử dụng để học hỏi nghiên cứu toà bộ Thánh Kinh. Phải chắc chắn là chính bạn đã trực diện với nhiêù phần khác nhau của Kinh Thánh.

LÒNG TIN KÍNH CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
(ITi1Tm 4:7-8)
Trong chương trước chúng ta đã bắt đầu nghiên cứu phần mô tả của Phao-lô về một mục sư giỏi của Chúa Cứu Thế. Chúng ta thấy vị mục sư là người phải cảnh giác những người dưới quyền chăm sóc của mình về những điều nguy hiểm và sai lầm của tà giáo, và giúp họ đủ sức đương đầu với tà giáo ấy (4:6a). Rồi chúng ta thấy rằng ông ta là người được thường xuyên nuôi dưỡng bằng Lời Đức Chúa Trời, và là người thực thi những gì Thánh Kinh dạy (4:6b). Phao-lô cũng chỉ ra hai đức tính nữa của một mục sư giỏi (c.7).
Người ấy từ chối liên can với các tà thuyết (4:7a)
Đức tính thứ nhất có liên quan với mối liên hệ giữa người lãnh đạo với tà giáo. Phao-lô viết: “Những lời họ nguỵ phàm tục giống như chuyện bịa các bà già thì hãy bỏ đi” (4:7a). Trước đó, Phao-lô đã chỉ rõ giá trị của nếp sống theo chánh giáo (4:6). Bây giờ, bằng lời lẽ khá nặng nề, ông yêu cầu Ti-mô-thê phải lánh xa tà thuyết.
Tà thuyết được mô tả trước nhất là “những lời hư nguỵ phàm tục”. Từ ngữ “những lời hư nguỵ” có thể dịch đích xác hơn là “các huyền thoại” (myths). Những kẻ kể lại các huyền thoại ấy có thể rêu rao là họ rao giảng đạo đức. Nhưng mấy chữ này đề cập sự phá sản đạo đức của họ. Rồi Phao-lô còn mô tả tà thuyết là “chuyện bị các bà già” nữa. William Hendrhiser mô tả các chuyện ấy là “những điều mê tín dị đoạn ngu xuẩn mà thỉnh thoảng các bà già cố tìm cách truyền bá cho người lối xóm hoặc con cháu họ”.
Phao-lô rất quyết liệt trong luận điểm ông đưa ra ở đây, cho nên ông đã dùng lời lẽ khá nặng nề. Một số người ấu trĩ và nông nổi có thể bị loại tà thuyết này lôi cuốn. Nhưng Ti-mô-thê thì phải “bỏ đi”, chẳng liên can dính dáng gì đến nó cả. Một lần nữa, Phao-lô đã dùng một lời khá nặng nề khác nữa, gợi ý phải quyết liệt từ chối.
Một mục sư giỏi thì chẳng liên can dính dáng gì với tà thuyết, cho dù nó có hấp dẫn đến đâu. Nếu không thấy nó trong Lời Chúa, thì vị mục sư sẽ không truyền dạy nó, cho dù nếu làm như thế, ông ta sẽ có thể thu hút được cả một đám đông đảo người theo.
Tự rèn luyện trong sự tin kính (ITi1Tm 4:7b)
Sau một lệnh truyền tiêu cực là phải chối bỏ tà thuyết, bằng một lề lối đặc biệt nơi ông, Phao-lô đưa ra một lời khuyên tích cực: “(Hãy) tập tành sự tin kính” (4:7b). Một mục sư giỏi là một người tin kính đạo đức.
Nghĩa gốc của “sự tin kính” (godliness) hàm ý một thái độ kính sợ trước hiện diện của một Đức Chúa Trời oai nghiêm. Hệ quả của một thái độ như thế là thật lòng thờ phượng Đức Chúa Trời, phù hợp với nỗi sợ đó. Một hệ quả khác nữa của việclàm đó là thái độ tích cực vâng lời Đức Chúa Trời, cũng phù hợp với lòng kính sợ ấy (trích dẫn của barclay, New Testament Words, Westminster, Press, 1974). người sống bằng thái độ tôn kính như thế mà hậu quả là có thái độ thờ phượng và vâng lời, sẽ lần lần trở nên giống như Đấng mà mình tôn kính. Cho nên, sợ dĩ một người được gọi là tin kính là vì người ấy giống với Đức Chúa Trời. Nhiều người khác nhìn thâý người ấy, thì sẽ nói rằng: “Ông ta trông giống như Đức Chúa Trời vậy”. Cho nên người sống tin kính đạo đức là người giống như Đức Chúa Trời.
Chúng ta không nên quên là trong khúc sách này, Phao-lô đang đề cập cách thức Ti-mô-thê phải trả lời, phải đối đáp với tà giáo. Ông vừa dạy Ti-mô-thê phải chống lại tà giáo ấy bằng cách cẩn thận phản công nó bằng cách truyền dạy chân lý của chính thống giáo (4:1-6). Nhưng chính thống giáo không có sự tin kính đạo đức kèm theo thì vô quyền bất năng trong công cuộc chiến đấu vì Nước Trời. Nó sỉ nhục Nhà Vua vì không sống giống như Ngài và rao truyền những bức thông điệp chính xác về các nguyên tắc của Nước Trời.
Tôi từng học một giáo trình trong chủng viện mà chúng tôi phải dành rất nhiều thì giờ nghiên cứu nhiều lý thuyết thách thức quan điểm chính thống của Cựu Ước kinh. Trong một trong những bài giảng của mình hầu như là một bài giảng ngoại khoá, giáo sư của chúng tôi mô tả thế nào các sinh viên từ các trường cao đẳng Tin Lành sẽ theo học cấp hậu đại học trong các trường đại học của đời sẽ bị một quan điểm đánh giá thấp Thánh Kinh bài bác. Sở dĩ đã có một lực lượng quan trọng như thế trong cách tiếp cận mới mẻ đó đối với Thánh Kinh, là vì đời sống của một số giáo sư dạy các quan điểm ấy dường như được xem như những tấm gương về những gì Thánh Kinh đã dạy về cá tính của một Cơ Đốc nhân. Nhiều sinh viên đã hoang mang đem những cuộc đời đó ra đối chiếu với nhiều thí dụ về cách ăn ở tồi tệ của một số giáo sư tại các trường cao đẳng Tin Lành mà họ từng theo họ. Đã có không ít các sinh viên ấy từ bỏ niềm tin Phúc Âm của họ.
Nhờ sự sắp xếp thần hựu, vị giáo sư Cựu Ước kinh đã đề cao quan điểm chính thống trong Thánh Kinh của chúng tôi đó, vốn vừa là một học giả mà cũng vừa là một thánh đồ. Thiết tưởng chẳng cần chi phải nói là tôi đã học xong khoá học ấy chẳng những với lòng tin quyết vào tính cách xác thực của Cựu Ước kinh, mà còn rất phấn khởi về lãnh vực Cựu Ước kinh nữa.
Cho nên nếp sống tin kính đạo đức là một trong các cũ khí của Ti-mô-thê chống lại tà giáo. vì nó quan trọng như thé cho chức vụ của Ti-mô-thê, cho nên Phao-lô mới dạy ông phải tự mình” tập tành sự tin kính” từ ngữ Hy văn được dịch ra là “tập tành” là một thuật ngữ về điền kinh, do đó mà có từ ngữ Anh văn “gymnasium” (vận động trường). Nó có nghĩa là tự rèn luyện, chịu đựng gian khổ để tập luyện.
Một người có thể tự rèn luyện trong sự tin kính như thế nào? Hendriksen đã đưa ra ba cách so sánh bổ ích giữa việ chuấn luyện thuộc thể và thuộc linh trong phần bình giải câu này của ông.
Thứ nhất, người lực sĩ tại vận động trường tự rèn luyện mình đến mức tối đa. Cũng thế, một Cơ Đốc nhân cũng phải nhờ năng lực của Đức Chúa Trời, để không giữ lại chính nỗ lực nào khi muốn đạt mục đích.
Anh ta nghi ngờ về lãnh vực mình đang cùng bước đi với Đức Chúa Trời chăng? Không chắc chắn về vấn đề mình phải đáp lại với kẻ thù chăng? Về chẳng hay một thói quen riêng nào đó của mình là có đẹp lòng Đức Chúa Trời hay không, chăng? Rằng chẳng hay cô bạn gái mà mình quan tâm có phải là người mà Đức Chúa Trời đã chọn cho mình không? Rằng chẳng hay thái độ hiện tại của mình đối với công tác và tài sản của mình có quá thiên về duy vật chủ nghĩa hay không, chăng? Nếu anh ta có những điểm nghi ngờ, không chắc chắn đó, anh ta sẽ không nên ngơi nghỉ trước khi khám phá ra Đức Chúa Trời đang nghĩ gì về các vấn đề đó. Anh ta sẽ phải hỏi nhiều người khác để được khuyên bảo. Anh ta phải dò tìm tra cứu Thánh Kinh và đọc nhiều sách. Anh ta sẽ phải cầu nguyện nhiều nữa. Đó là thái độ nghiêm túc phải có khi anh ta bắt đầu việc tự rèn luyện trong sự tin kính.
Thứ hai, Hendriksen nói người thanh niên vứt bỏ mọi chướng ngại vật hoặc dánh nặng để có thể tự rèn liuyện dễ dàng tự do hơn. Cũng thế, Cơ Đốc nhân phải tự gỡ mình thoát khỏi tất cả mọi vướng bận ngăn trở sự tiến bộ thuộc linh của mình. Phải chăng đó là một mối liên hệ? Một thói quen? Công việc làm ăn? Hay một tham vọng? Tình yêu của người ấy đối với Đức Chúa Trời và lòng tha thiết muốn vâng lời Ngài của người ấy phải là cho dù có phải khó khăn lắm mới vứt bỏ được một điều gì đó, người ấy sẽ vẫn cứ làm vì ước muốn trên hết là phải sống tin kính đạo đức. Nếu chưa được chắc chắn lắm, người ấy sẽ sẵn sàng tự lột bỏ mọi lạc thú hoặc phần thưởng nếu cần, chớ không chịu liều lĩnh không vâng lời Đức Chúa Trời. Người ấy luôn luôn hỏi Đức Chúa Trời: “Có điều gì trong con chưa làm đẹp lòng Ngài không?”. Ngay khi tìm thấy một điều gì không vừa lòng Đức Chúa Trời, là người ấy chiến đấu tức khắc để từ bỏ nó.
Điều mà nhiều Cơ Đốc nhân ngày nay tìm cầu dường như là tìm xem họ có thể đi xa bao nhiêu vào trong thế gian mà vẫn chưa công nhiên bất tuân các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Họ đã quên mất đi rằng có những gánh nặng tuy chưa có thể được gọi là tội lỗi đặc thù mà chúng ta phải tự vứt bỏ nếu muốn chạy cho giỏi cuộc đua - như ở một khúc sách khác viết về các lực sĩ điền kinh đã gợi ý (HeDt 12:1, 2). Ngày nay có nhiều người đang “bắt bồ” với thế gian, nên họ đang bị rất nhiều gánh nặng vấn vương khiến họ không thể tiến bộ trong đời sống thuộc linh. Những người như thế trông mong một Cơ Đốc giáo vừa hợp pháp hợp lý mà cũng có nhều điều của “thế gian này” để họ có thể nhồi nhét vào đó. Như một câu tục ngữ đã nói, họ “bắt cá hai tay” muốn được cả đời này lẫn đời sau.
Tôi tin rằng tình trạng như thế sở dĩ đã nảy sinh là do họ cứ tiếp tục để cho các tham dục về đời này có được một chỗ đứng vững chắc trong tư tưởng họ. Họ đã dành quá nhiều thì giờ để mặc cho xã hội, với phần ý thức lệch lạc về các giá trị của nó, ảnh hưởng trên họ qua sách báo, vô tuyến truyền hình và phim ảnh. Họ vẫn chưa nghiền ngẫm Thánh Kinh nhiều đủ để phản công lại với phần ảnh hưởng kia trên đời sống mình. Họ vẫn chưa nấn ná lâu đủ với Thánh Kinh để cho các tư tưởng trong đó ăn sâu vào tư tưởng về đời sống của họ. Cho nên, họ đã vô tình để cho các tham dục thống trị phần lón các tư tưởng thiên về đời này của họ. Các tiêu chuẩn của họ là các tiêu chuẩn của thế gian. Họ tìm sự thành công theo cách của người thế gian. Họ thấy là thất bại theo cách mà người đời thấy là thất bại.
Lẽ dĩ nhiên là họ sẽ đứng ngoài các tội lớn. Nhưng họ sẵn sàng cắt bớt “những điều không nên làm” trong sách danh mục của họ được nhiều bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Dường như họ đã lật ngược mọi sự. Thay vì coi chừng các gánh nặng để vứt bỏ đi, họ đang phấn đấu để tìm xem có bao nhiêu khu vực bấp bênh không chắc chắn mà họ có thể giữ lại. Ước muốn hoà mình vào thế gian lấn át cả ước muốn đồng nhất hoá với Chúa Cứu Thế của họ.
Thật tương phản biết bao với Phao-lô! Có một gương tốt của Phao-lô được chép trong ICo1Cr 9:1-27 một chương sách kết thúc cho một trong những khúc sách quan trọng của ông viết về môn điền kinh (ITi1Tm 9:25-27). Ở đầu chương sách ấy, ông đã đề cập các quyền lợi hợp pháp hợp lý của mình - những quyền lợi mà ông có thể đòi hỏi và chẳng ai có thể trách cứ vì ông làm như thế. Nhưng rồi ông viết: “Phần tôi thì chẳng từng dùng quyền ấy chút nào” (9:15). Sau đó ông lại viết: “Tôi đối với ai cũng vẫn là được tự do, mà tôi đành chịu phục mọi người dầu cho tôi được nhiều người hơn” (9:16).
Ở đây chúng ta thấy một người đầy đam mê. ông không hỏi: “Tôi có quyền được hưởng bao nhiêu nhưng tôi đã từ bỏ”. Trái lại, ông nói: “những gì tôi có thể hưởng được một cách hợp pháp hợp lý thì tôi đã từ bỏ cả, vì với tư cách một lực sĩ, tôi đang có một sứ mạng đặc biệt” (9:23). Mặc những y phục hoàn toàn hợp lý hợp pháp đối với nhiều người khác lại không thích hợp cho người lực sĩ khi đấu điền kinh. Anh ta có một cuộc chạy đua mà anh ta phải thắng cuộc. Những bộ y phục bình thường vốn quá nặng nề để mặc trong một cuộc chạy thi. Đôi mắt của người lực sĩ chỉ nhìn chăm vào đích đến (9:24). Cho nên chẳng có gì để lấy làm lạ khi nghe một người như thế nói rằng: “Tôi đãi thân thể tôi cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục” (9:27). Vậy, người tự rèn luyện để trở thành tin kính đạo đức phải bứt bỏ mọi gánh nặng gây trở ngại cho mình trong khi tìm cách tăng trưởng thuộc linh.
Chúng tôi từng đề cập Hendriksen ở điểm này. Ông viết rằng, như một lực sĩ chú mục vào đích đến, chúng ta cũng phải luôn luôn nhằm vào mục tiêu thuộc linh của mình - tức là việc tự hiến thân cho Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế. Chúng ta phải luôn luôn đặt mục tiêu ấy trước mặt mình. Chúng ta muốn trở thành người giống với Chúa Giê-xu. Nếu thành thật, chúng ta cần nhận thức rằng mình vẫn chưa đến đích. Do đó, chúng ta sẽ phải tận dụng mọi cơ bắp thuộc linh của mình để đạt mục tiêu ấy. Phao-lô còn mô tả việc này đầy phấn khích hơn nữa trong một khúc sách quan trọng viết về môn điền kinh là Phi Pl 3:12-14 “Ấy không phải tôi đã giựt giải rồi, hay là đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đã được Đức Chúa Giê-xu Christ giựt lấy rồi. Hỡi anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đã đạt đến mục đích, nhưng tôi cứ làm một điều; quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa trời trong Đức Chúa Giê-xu Christ”.
Pao-lô đã có một cái đích đạt trước mặt mình. Như một lực sĩ điền kinh ngày nay phải có một chiếc đồng hồ đo tốc độ trong khi tập luyện để kiểm soát cách mình đang chạy so với mục tiêu của mình, Phao-lô cũng thường xuyên kiểm soát xem mình đang chạy như thế nào so với mục tiêu. Những phát minh thuộc linh chắc đã phải là một phần đều đặn trong sinh hoạt thuộc linh của ông. Chắc chúng ta biết là ông đã phải tận dung mọi cơ bắp thuộc linh để vươn tới, không chịu nghỉ ngơi thư giãn trước khi đạt mục tiêu của mình.
Các phần thưởng cho sự tin kính (ITi1Tm 4:8)
Tiếp tục việc ví von với phương pháp tự rèn tập, Phao-lô nêu lên giá trị của sự tin kính đạo đức trong đời sống người ta. “Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chơn thật, đều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thanh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhơn đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến” (c.8)
Phao-lô viết rằng tự nó, việc rèn luyện thân thể chẳng có gì xấu cả. Trong phần nghiên cứu về giáo lý sáng tạo của chúng ta trong chương 7, chúng ta đã thấy do thế gian vốn được Đức Chúa Trời tạo dựng, cho nên nó là tốt lành, và chúng ta phải đến với mọi công việc liên quan với thế giới này bằng thái độ của người đang làm việc cho Đức Chúa Trời. Chúng ta cần lao động gian khổ trong mọi công việc thuộc về đời này là một nguyên tắc không những chỉ áp dụng cho các lực sĩ điền kinh mà cả cho các theo đuổi khác nữa của chúng ta trên đất này, như việc học hỏi nghiên cứu, hành nghề, kinh doanh hay làm việc gì khác, sức khoẻ và vẻ đẹp thuộc thể của chúng ta, cũng như các trách nhiệm đối với gia đình của chúng ta.
Tất cả mọi điều đó đều tốt, nhưng lại có nhiều người sống dường như mọi việc cua thế gian này đều là quan trọng nhất. Nhiều khi những người như thế sẵn sàng hy sinh sự tăng trưởng thuộc linh để được thăng tiến trong những việc ấy. Phao-lô đã yêu cầu họ phải giữ một thế cân bằng phải lẽ. Chúng ta thường nghe nhiều người nói, vì quá bận rộn họ không có cả thì giờ cho những công việc như cầu nguyện và học hỏi nghiên cứu Kinh Thánh, nhóm lại với các Cơ Đốc nhân hoặc thờ phượng Đức Chúa Trời vào Chúa nhật. họ đã mất đi phần ý thức về một tỷ lệ phải lẽ. Họ đang theo đuổi những điều có giá trị rất hạn chế mà bỏ qua điều quan trọng nhất - nhiệm vụ nuôi dưỡng mối liên hệ giữa họ với Đức Chúa Trời.
Xin chú ý cách Phao-lô mô tả giá trị của sự tin kính. Ông viết: “Sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời này và về đời sau nữa”. Nó vốn có “ích cho mọi việc”. Sự tin kính chẳng những có ích cho mọi lãnh vực của đời sống. Giá trị của nó không phải chỉ cho đời sau mà thôi, nhưng là cả cho đời này nữa.
Trước đây, chúng tôi từng nói rằng có một số người sở dĩ từ bỏ sự tin kính, vì họ muốn được điều tốt nhất cho cả đời này lẫn đời sau. Nhưng họ không thể được điều đó. Trái lại, họ chỉ được rất ít cho đời này và chẳng được gì cho đời sau cả. Chính Cơ Đốc nhân mới là người có được cả hai. Đức Chúa Trời đã sáng tạo nên thế gian này, coh nên chỉ có người theo Ngài mới có thể được điều tốt nhất trong đời này.
Thoạt đầu, sự việc có thể là không rõ ràng rằng sự tin kính có lời hứa cho đời này. Lẽ dĩ nhiên tội lỗi hiện đang lan tràn, và Sa-tan không có nhiều quyền năng như Phao-lô từng gọi nó là “cho đời này” (IICo 2Cr 4:4). Sự việc trông dường như là người tin kính đạo đức bị mất điều tốt nhất của đời sống mình, rằng họ bị khinh dể và không thể nào thành công trong xã hội vì các nguyên tắc sống của họ. Nhưng chỉ có một mình họ mới hiểu rõ đời sống với tất cả những ý nghĩa đầy đủ nhất của nó (GiGa 10:10), vì Đấng mà họ phục vụ là Đấng đã tạo ra sự sống. Chỉ cần lưu ý một phương diện của sự sống đầy đủ mà chúng ta được hưởng trên đất này - phẩm chất của sự hoà bình. Từ ngữ “sự bình an” trong Thánh Kinh có rất nhiều nghĩa. Nhưng khi chúng ta dùng nó theo nghĩa là ân tứ mà Đức Chúa Trời ban cho loài người, thì nghĩa cơ bản của nó là sự an vui phúc lợi, sự vui vẻ khoẻ khoắn nói chung. Một người sống bình an là người sống hài hoà với Đức Chúa Trời, với bản thân và với thế giới chung quanh. Người ấy biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng cầm quyền tể trị trên mọi tình hình hoàn cảnh của đời sống. Do đó, nhân sinh quan có người ấy tính cách tích cực. Nói khác đi, thì người ấy thật sự cảm thấy hạnh phúc vì mình được sống. Người ấy biết tương lai của mình đã được bảo đảm. Người ấy không còn mặc cảm về các lỗi lầm quá khứ của mình nữa vì tội lỗi mình đều đã được tẩy sạch cả rồi nhờ huyết Chúa Cứu Thế. Người ấy sống bình an. Cho nên chẳng có gì để lấy làm lạ khi John Wesley nói: “Ôi, cấp bậc thấp nhất của sự bình an của Đức Chúa Trời đã là một viên ngọc châu đắt giá lắm rồi!” Thật xứng đáng để chúng ta bán tất cả mà mua nó.
Người không có lòng tin kính thì không thể nào có được sự bình an đó. Họ đã đi tìm sự bình an nơi những điều thuộc về thế gian này. Nhưng Chúa Giê-xu từng phán: “…có sâu mối ten rét làm hư, và kẻ trộm đào gnạch khoét vách mà lấy” (Mat Mt 6:19).Theo cách nói ngày nay, nó có thể được giải nghĩa như thế này: Thị trường thì lên xuống mà buôn bán thì ế ẩm; các điều kiện kinh tế thay đổi luôn còn tiền bạc thì mất giá; các chính sách luôn thay đổi, việc kinh doanh buôn bán nhà đất bị quốc hữu hoá; các điều kiện khí hậu cũng thay đổi, mùa màng thì thất bát. Theo đuổi những việc thuộc về thế gian này, là theo đuổi cái bấp bênh. Do đó, nếu bạn đặt lòng tin cậy vào thế gian này, bạn sẽ bị mất đi sự bình an.
Nhưng Đức Chúa Trời thì bất biến. Qua mọi trải nghiệm chúng ta được lời bảo đảm rằng: “Đức Giê-hô-va sẽ làm xong việc thuộc về tôi (Thi Tv 138:8). Cho nên chúng ta có sự bình an. Chúng ta tin chắc được điều đó vì Đức Giê-hô-va là Đấng Chăn Giữ chúng ta và chúng ta sẽ chẳng thiếu thốn gì (23:1).
Thật đáng buồn khi thấy quá nhiều người từng lao động gian khổ mong được thành công trong đời sống nhưng lại bỏ qua những điều thuộc về Đức Chúa Trời! Đến cuối đời, họ vô cùng hoang mang vì thành công không tạo ra được kết quả mà họ mong muốn. Tin kính đạo đức là điều duy nhât đem đến cho chúng ta điều tốt nhất trên đời này.
Như Phao-lô viết, sự tin kính cũng đem đến cho chúng ta điều tốt nhất trong đời sau nữa. Ba phẩm chất của cuộc đời hầu đến ấy sẽ giải thích cho chúngt a tại sao mọi việc sẽ là đúng như thế. Một là trong đời hầu đến, nhiều điều bí mật sẽ được tiết lộ (LuLc 12:2, 3). Ngày nay, chúng ta làm một số việc và tưởng rằng chẳng có ai biết. Chúng ta ăn hối lộ, nói dối, khoe khoang, tham dự, giật dây điều khiển người khác, tự tung tự tác, và tự nhủ: “chẳng có ai tìm ra mình đã làm mọi việc ấy như thế nào đâu”. Nhưng trong đời sau, mọi hành vi của chúng ta đều bị vạch trần cho ai nấy đều hay biết. Mà đối với nhiều người, thì đây là lúc họ sẽ phải bị xấu hổ.
Mặt khác, các việc làm tội lỗi của người tin kính đều đã được xưng nhận cả rồi. Do đó, chúng đều đã bị xoá bỏ và quên đi. Người tin kính sẽ khỏi bị vạch mặt để rồi phải sợ hãi vì lý lịch của họ thật trong sạch. Những điều sẽ được phô bày là những gì đã được ghi trong quyển Sách Sự Sống, mà đó lại là những việc lành (KhKh 20:11-15).
Phẩm chất thứ hai của đời hầu đếnlà trong thế giới đó, nguyên tắc báo trả sẽ có tác dụng. Ngày nay, trông dường như nó chẳng có tác dụng gì cả, vì nhiều kẻ xấy xa gian ác vẫn bình chân như vại. Họ nhận thấy làm xấu làm ác hoá ra lại hay. Họ tưởng rằng sống chân thật chất phác thì chẳng ích lợi gì cả. Nhưng họ là những kẻ bị cận thị rất nặng, vì trong đời sau, khi nguyên tắc báo trả trở thành có hiệu lực, một số người sẽ nhận được phần thưởng mà họ vẫn chờ đợi, nhưng nhiều kẻ khác lại phải nhận lấy sự trừng phạt xứng đáng.
Những mất mát chúng ta phải chịu trong đời này vì muốn sống itn kính sẽ chẳng là gì cả so với phần thưởng đang chờ chúng ta. Viễn ảnh về phần thưởng đó làm vơi đi nỗi đau khổ hiện tại. Cho nên Phao-lô mới có thể viết rằng: “Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển, cao trọn đời đời, vô lượng vô biên” (IICo 2Cr 4:17). Thật ra thì có hoạn nạn đó của Phao-lô đều vô cùng nghiêm trọng như văn cảnh đã cho thấy (4:8-12). Nhưng so với sự vinh hiển hầu đến, chúng đều vô nghĩa.
Mặt khác, Chúa Giê-xu đã gọi một ông điền chủ hết sức thành công nọ là kẻ dại dột vì ông ta đã có được tất cả những gì mà đời này có thể ban cho, nhưng lại chẳng giàu có trước mặt Đức Chúa Trời (LuLc 12:20, 21). Lúc chết đi, tất cả những gì ông ta còn có được chỉ là sự trừng phạt phải chịu mà thôi.
Phẩm chât thứ ba của thế giới hầu đếnlà niềm vui hay sự hối tiếc bây giờ sẽ đạt đến mức hoàn thiện. Với một số người thì đó sẽ là niềm vui được tham dự chiến thắng hoàn toàn của Chúa Cứu Thế. Sẽ có niềm vui của sự thông công trọn vẹn trong tình yêu. Sẽ có niềm vui là số phận của chúng ta đã hoàn thành khi chúng ta trở thành đúng như điều chúng ta đáng lẽ phải trở thành và chúng ta hiện đang phấn đấu để đạt đến. Hôm nay, chúng ta đang than thở và lao khổ, chờ đợi việc chúng ta được nhận làm con cái Đức Chúa Trời, tức là việc cứu chuộc phần thân thể của chúng ta (RoRm 8:20-23). Đến ngày đó thì mọi sự chúng ta hiện được biết và trải nghiệm một phần đều sẽ được hoànt hiện, kèm theo sự hoàn thiện của số phận chúng ta đó, là niềm vui trọn vẹn.
Nhưng với nhiều người khác, thì đó sẽ là sự hối tiếc hoàn toàn. Sự trừng phạt là trọn vẹn. Sự thật của những lựa chọn sai trái của họ cũng được nhìn thấy thật trọn vẹn. Lẽ tự nhiên, họ sẽ phải trải nghiệm sự hối tiếc hoàn toàn.
Với các sự kiện ấy trước mắt, nên chẳng có gì để lấy làm lạ khi tâm trí Phao-lô lại đầy dẫy các tư tưởng về thiên đàng. Tình yêu của ông đối với thiên đàng cao đến độ có lần ông từng thú nhận là ông mong mình có thể được vào đó ngay (Phi Pl 1:23). Lẽ dĩ nhiên là Đức Chúa Trời vẫn muốn coh ông ở lại. Nhưng trong khi còn sống trên đất này, tâm trí ông vẫn đặt vào những điều ở trên cao đó (CoCl 3:1).
Trong hai bức thư này, Phao-lô đã tìm cách đặt cái viễn cảnh về cõi vĩnh hằng đó vào tâm trí Ti-mô-thê. Cho nên thêm vào với văn bản chúng ta đang nghiên cứu đây, hãy còn nhiều khúc sách khác nữa đề cập cuộc đời hầu đến. Phao-lô dạy Ti-mô-thê phải khuyên những người giàu có thâu trữ của báu cho đời sau bằng cách tỏ ra hào hiệp về sẵn sàng chia sẻ sự giàu có của họ (ITi1Tm 6:18, 19). Khi răn bảo Ti-mô-thê là phải trung tín thi hành chức vụ, Phao-lô nhắc nhở ông về cuộc phán xét mà ông sẽ phải trực diện vào một ngày về sau này, nhằm giục lòng tận trung của ông trong chức vụ (IITi 2Tm 4:1, 2). Câu này nhắc lại IICo 2Cr 5:10, 11 là chỗ mà sau khi đề cập việc thế nào rồi mọi người chúng ta đều sẽ phải ứng hầu trước toà phán xét, Phao-lô đã viết “Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính sợ, nên tìm cách làm (thuyết phục) cho người ta đều tin”. Viễn ảnh về sự phán xét của Đức Chúa Trời đã là động cơ thúc đẩy ông vào chức vụ.
IITi 2Tm 4:6-8 là đoạn tiểu sử tự kể đã trở thành Kinh điển cho viễn ảnh về cõi vĩnh hằng của Phao-lô:
“Về phần ta, ta đang bị đổ ra làm lễ quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. Hiện nay mão triều thiên của sự công bình đã để dành cho ta; Chúa là quan án công bình, sẽ ban mão ấy cho ta trong ngày đó, không những cho ta mà thôi, nhưng cũng cho mọi kẻ yêu mến sự hiện đến của Ngài”.
Một lần nữa, ngay trước khi kết thúc bức thư của mình, Phao-lô viết: “Chúa sẽ giải thoát ra khỏi mọi điều ác và cứu vớt ta vào trong nước trên trời của Ngài. Nguyền xin sự vinh hiển về nơi Ngài muôn đời không cùng! A-men.”
Đây không phải chỉ là một điểm muốn nhấn mạnh của Phao-lô. Nó đã được nhìn thấy ngay xuyên suốt toàn bộ Tân Ước kinh. Thế thì, chỉ có các Cơ Đốc nhân còn non trẻ thấy viễn cảnh về cõi vĩnh hằng là điều tối quan trọng. Nó là động cơ thúc đẩy họ vác lấy thập tự giá và noi theo Chúa Giê-xu trên cả con đường của Ngài. Nó giúp họ nhận biết rằng cái giá phải trả cho sự tin kính đạo đức sẽ được phần thưởng xứng đáng.
Tin kính là một vấn đề quan trọng mà nhiều Cơ Đốc nhân chân thành đang phấn đấu. họ thắc mắc đặt câu hỏi: Hoàn toàn noi theo các nguyên tắc của Chúa Cứu Thế thì có bỏ công không? Cái giá cho việc tận hiến cho Chúa Cứu Thế có được trả xứng đáng không? Phao-lô chắc sẽ trả lời cho câu hỏi ấy bằng một giọng nói vang dội: “Có! Đó là con đường độc chiêu mà đời sống một Cơ Đốc nhân phải noi theo!”
Ứng dụng cá nhân
Một lực sĩ điền kinh chú ý đặc biệt đến việc rèn luyện các khu vực có nhược điểm trong đời sống mình. Cũng thế, chúng ta cần tập trung vào việc chiến thắng các khu vực có khuyết nhược điểm của chúng ta. Những khu vực nào trong đời sống bạn đang cần được chú ý đặc biệt? Bạn có thể điều chỉnh “chương trình huấn luyện” của mình như thế nào để tập trung chú ý vào các lãnh vực ấy?

MỘT CUỘC ĐỜI GƯƠNG MẪU
(ITi1Tm 4:9-12)
Trong hai chương vừa qua, chúng ta đã thấy Phao-lô dạy cho Ti-mô-thê phương pháp đối phó với tà giáo mà ông đang phải đương đầu. Ti-mô-thê phải vạch trần các tà thuyết và chứng minh rằng chúng sai lầm ở chỗ nào (4:1-6). Rồi Ti-mô-thê cũng phải tránh liên can với các tà thuyết ấy nữa (4:7a). Và sau đó, và là điều quan trọng hơn hết, ông phải sống một cuộc đời tốt lành thánh thiện, tin kính đạo đức nữa (4:7b-8). trong chương này và chương tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu thêm về cuộc đời tin kính đạo đức của một người lãnh đạo đặc biệt là nó có ảnh hưởng đến tấm gương mà ông ta nêu ra trước mặt những người thuộc về Đức Chúa Trời.
Đối đáp lại một lời bài bác (ITi1Tm 4:9-10)
Phao-lô viết rằng sự tin kính “có lời hứa về đời này và về đời sau nữa” (c.8). Với một viễn ảnh về phần thưởng cho nếp sống tin kính đạo đức như thế trước mặt mình. Phao-lô viết: “chúng ta khó nhọc và đánh trận” (4:10).
Chắc những kẻ chống đối Phao-lô đã nói: “Đừng có chắc chắn về các phần thưởng đời đời đó!” Vì theo lời dạy của họ, chỉ có những người ưu tú về phương diện thuộc linh, những người đã có từng trải đặc biệt, đã nhận được kiến thức đặc biệt, thì mới có thể chắc chắn là sẽ được cứu rỗi trọn vẹn và tối hậu mà thôi.
Chống lại lời dạy đó, Phao-lô đả khẳng định: “Đây là một lời nói chắc chắn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy: chúng ta đã đặt hy vọng vào Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ” (4:9, 10). Ở đây, Phao-lô muốn nói rằng chúng ta có thể tin chắc vào chiến thắng sau cùng. Chẳng có gì để nghi ngờ về điều này cả, vì Đức Chúa Trời là Đấng mà chúng ta đặt lòng tin cậy, chính là Cứu Chúa của mọi người. Mọi hạng người, giàu, nghèo, có học, vô học, Do Thái, ngoại quốc, đều được bảo đảm về sự cứu rỗi trọn vẹn và tối hậu của Đức Chúa Trời. nếu chúng ta phấn đấu sống tin kính, đặt hy vọng vào Ngài, cho dù chúng ta thuộc thành phần xã hội bối cảnh văn hoá nào, Đức Chúa Trời cũng đều sẽ ban sự cứu rỗi cho chúng ta.
Câu này không dạy rằng tất cả mọi người từng sống trên đất này rồi đều sẽ được cứu cả, như một số người đã cho là như thế. Chính vì lý do ấy mà Phao-lô mới viết thêm “và nhất là của tín đồ”. Sự cứu rỗi của Chúa Cứu Thế có sẵn cho mọi người tiếp nhận, nhưng chỉ có những người tin Ngài thì mới nhận được nó cho mình mà thôi. Trong khi Đức Chúa Trời đang còn tiềm năng của một Cứu Chúa cho mọi người, thì sự kiện là Ngài chỉ là Cứu Chúa của các tín hữu mà thôi.
Bịt miệng kẻ chỉ trích bằng gương tốt (4:12)
Phao-lô răn bảo Ti-mô-thê phải trung tín trong chức vụ dạy dỗ (c.11). Rồi ông tập trung vào đời sống cá nhân của Ti-mô-thê vì nó liên quan đến sự cần thiết phải nêu gương tốt (4:12-16).
Trước hết, Phao-lô viết: “Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi”. Rõ ràng là Ti-mô-thê đã bị một số người chống đối chức vị lãnh đạo vì tuổi tác của ông. Từ ngữ được dịch ra là “trẻ tuổi” được dùng hồi thế kỷ thứ nhất để chỉ những người đến bốn mươi tuổi. Nhiều học giả định tuổi cho Ti-mô-thê lúc các thư tín này được viết ra, là vào khoảng trên ba mươi. Vào độ tuổi ấy, ông vẫn còn bị xem là tương đối trẻ.
Thế nhưng Ti-mô-thê đã đứng đầu một Hội Thánh lớn, có các quản lý lãnh đạo là những người lớn tuổi hơn ông, những người trước đó đã được chính vị đại sứ đồ Phao-lô giám sát. Một số người lãnh đạo như thế chắc chẳng phấn khởi gì khi ở dưới quyền một người trẻ tuổi hơn họ. Có lẽ các giáo sư giả cũng lợi dụng tuổi tác của ông làm vũ khí để phá hoại ngầm uy quyền của ông.
Vấn đề không được coi trọng là một vấn đề mà nhiều Cơ Đốc nhân trẻ tuổi đang gặp. Nó được thắng vượt không phải bằng cách tự cho mình là người có uy quyền. Một phản ứng như thế sẽ chỉ là đổ thêm dầu vào ngọn lửa chê bai chỉ trích chống lại mình, và sẽ được xem như một thí dụ khác nữa về sự ấu trĩ và thiếu chức trách của mình mà thôi.
Vấn đề không được kính trọng cũng không htể thắng vượtg bằng cách nhấn mãnh trên việc phải tuân thủ một vài luật lệ hay nại đến các chính sách về tổ chức của Hội Thánh. Lẽ dĩ nhiên là phải thi hành luật lệ, nhưng cố tìm cách bắt buộc áp dụng chúng trong những trường hợp như thế là một phương pháp thiếu sót không chiếm được lòng tin một khi các tài năng lãnh đạo của ta đã bị thắc mắc đặt vấn đề rồi. Ngoài ra, trong Nước Trời sinh hoạt vốn không do chữ nghĩa của luật pháp thống trị, mà do quyền tự do của Đức Thánh Linh.
Một người lãnh đạo đang bị áp bức chê bai chỉ trích cũng không thể từ bỏ việc khẳng định phải lẽ uy quyền của mình với tư cách lãnh đạo của nhóm. Một số người sẵn sàng nhượng bộ khi uy quyền của họ bị thắc mắc đặt vấn đề, rồi để cho một thứ hệ thống dân chủ ngự trị. Người ta phục tùng đa số. Có những tiểu ban hay một số ít người có ảnh hưởng nắm quyền chỉ huy. Nhưng khi sự việc như thế xảy ra, thì trong nhóm chẳng hề có ý thức rõ ràng về quyền lãnh đạo. Một tình hình như thế hoàn toàn xa lạ với bức tranh theo Thánh Kinh về một cộng đồng dân sự Đức Chúa Trời, khi mọi người đều rõ ràng là phải ở dưới quyền lãnh đạo của các cấp lãnh đạo đại diện cho Đức Chúa Trời. Một cấp lãnh đạo là một người đã được bổ nhiệm để lãnh đạo tín đồ, và người ấy không thể thoái thác trách nhiệm khi mọi việc trở thành khó khăn.
Ở một chỗ khác, Phao-lô từng khuyên Ti-mô-thê chớ nên rụt rè e lệ vì đó là xu hướng tự nhiên của ông, vì vượt trên mọi nhược khuyết điểm của ông, Đức Chúa Trời đã ban cho ông tâm thần mạnh mẽ, có tình thương yêu và tự chủ (IITi 2Tm 1:7).
Thế thì đây là giải pháp cho một người lãnh đạo đang bị công kích? Phao-lô bảo giải pháp là một đời sống minh mẫn: “Phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ”. Phương pháp để bịt miệng những kẻ chê bai chỉ trích là phải chinh phục niềm tin của họ bằng cách khiến họ phải tôn trọng mình bằng một đời sống gương mẫu.
Tiếng tốt của Ti-mô-thê đang bị đe doạ. Phương pháp để thắng vượt vấn đề này không phải là bằng các mối liên hệ công khai mạnh mẽ nhằm cuốn hút thiên hạ mà các lãnh tụ ngày nay sẵn sàng thử làm, nhưng là bằng một đời sống gương mẫu. Khi nào chúngt a quan tâm chăm chút cho cá tính của mình, thì danh tiếng của chúng ta tự nó cũng tốt lên.
Từ ngữ Hy văn được dịch ra là “gương”, là từ ngữ tupos, do đó mà có danh từ Anh văn “type” có nghĩa là kiểu mẫu”. Thế thì, người lãnh đạo Cơ Đốc giáo phải là một “mẫu mực” cho những người khác noi theo.
Phao-lô tiếp tục đề cập hai lãnh vực mà gương tốt của Ti-mô-thê cần phải rõ ràng. Đầu tiên, ông đề cập “lời nói” ám chỉ các nói năng trò chuyện hằng ngày chớ không phải là chức vụ truyền giảng, sẽ được nêu lên trong câu tiếp theo đó.
Thánh Kinh, nhất là hai sách Châm Ngôn và Gia-cơ đã nói khá nhiều về quyền năng của cái lưỡi như một tác nhân tạo được cả điều tốt lẫn việc xấu. Lời ăn tiếng nói đặc biệt quan trọng đối với các cấp lãnh đạo không những chỉ vì các cấp lãnh đạo phải làm gương cho người khác noi theo, mà vì những gì họ nói ra sẽ tạo ảnh hưởng đến cả một khối quần chúng rộng lớn. Những gì một người lãnh đạo nói sở dĩ được cho là nghiêm trọng vì nó từ cái (người cầm) đầu mà ra, do đó là đại diện cho cả tập thể mà người ấy lãnh đạo.
Người lãnh đạo sơ hở, ăn nói bừa bãi về những điều thuộc linh, thì tấm gương của ông ta bị ảnh hưởng xấu rất nhiều. Ông ta phải luôn luôn tự vấn: Lời tôi nói có lên án tội lỗi không? Nó có đề cao sự công chính không? Nó có truyền đạt tình yêu không? Nó có xây dựng không? Nó có kéo được người ta đến với Chúa Cứu Thế không? Người lãnh đạo phải luôn luôn cầu nguyện: “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy giữ miệng tôi, và canh cửa môi tôi” (Thi Tv 141:3).
Lãnh vực thứ hai mà Ti-mô-thê phải nêu gương tốt là điều mà Phao-lô gọi là “nết làm, ám chỉ cách ăn ở ứng xử hay nếp sống. Phao-lô ngụ ý nói rằng cách ăn ở ứng xử, cách làm việc hằng ngày của con phải như thế nào để những kẻ muốn chê bai chỉ trích con, cuối cùng sẽ phải thôi đi, vì thấy rõ tấm gương tốt của con.
Sau khi chỉ ra lãnh vực mà Ti-mô-thê phải nêu gương tốt rõ ràng, Phao-lô chuyển sang việc kể ra các đức tính phải có trong tấm gương ấy.
Ông bắt đầu bằng “sự yêu thương”, là từ ngữ trọng đại mất trong từ vựng của Cơ Đốc giáo. Tình yêu là yếu tố quyết định quan trọng nhất trong toàn thể cách ăn ở cư xử của một Cơ Đốc nhân, cho nên đó là lý do để người ấy phải đặt tình yêu thương làm mục tiêu cho mình (ICo1Cr 14:1).
Lúc Phao-lô viết bức thư này, thì Ti-mô-thê đang bị những ke chống đối gây áp bức. Chắc ông bị cám dỗ sẽ “ăn miếng trả miếng”, sẽ “dạy cho chúng một bài học”, sẽ đưa ra một nhận định sắc bén sẽ khiến chúng phải dừng chân tại chỗ. Thế nhưng, chúng ta không thể thắng trận cho Nước Trời bằng các phương pháp của Sa-tan. Cho nên, dù người khác có làm gì, nói gì với ông, ông vẫn phải chỉ tìm kiếm điều tốt lành cho họ mà thôi. Ông chẳng bao giờ nêu tỏ ra cay cú, oán ghét, báo thù, ông chẳng bao giờ nên thù ghét, chẳng bao giờ nên từ chối không chịu tha thứ cho họ.
Thực hành những nguyên tắc này của tình yêu Cơ Đốc giáo chẳng bao giờ là dễ dàng cả. Cách đáp ứng thiếu tình yêu thương với nhiều tình hình hoàn cảnh khác nhau dường như chỉ tạo được kết quả chóng qua mà thôi. Nhưng rồi có ngày chúng ta sẽ nhận thức được rằng phương pháp kiến hiệu và thích hợp duy nhất phải noi theo trong bất cứ tình hình hoàn cảnh nào chính là nẻo đàng của tình yêu thương, rằng con đường yêu thương thì chẳng bao giờ bị thất bại cả (ICo1Cr 13:8). Có một thí dụ thật đẹp về quyền năng của tình yêu giữa lúc bị chống đối trong cuộc đời của Sadhu Sundar Singh. Xin nhường lời cho bà Rebeca Parker kể lại câu chuyện ấy:
Một buổi sáng nọ, có một nhóm người Sadhu tụ tập trên bờ sông Gonges, tại một nơi gọi là Rishi Kesh, giữa một đám đông những người đi tắm vì tôn giáo, có ông Sadhu Sundar Singh đứng giữa đó, trên tay cầm quyển Thánh Kinh và đang truyền giảng. Một số người ngoan ngoãn chú ý lắng nghe, trong khi nhiều người khác thì bỡn cợt, nhạo cười ông và bức thông điệp của ông. Thình lình có một người trong đám đông hốt một nắm cát ném vào mắt ông, một hành động khiến cho một người đứng đắn khác hết sức bất mãn nên đến báo với một cảnh sát viên. Trong khi chờ đợi, ông Singh thản nhiên xuống mé sông để rửa sạch cát trên mắt mình. Khi trở lại ông đã xin tha cho thủ phạm rồi cứ tiếp tục truyền giảng. Ngạc nhiên vì hành động ấy và cách thức ông Singh tiếp nhận sự sỉ nhục, người kia, tức là Vidyamancha, đã quỳ xuống xin ông tha thứ cho mình và tuyên bố muốn hiểu thêm về những gì ông Singh vừa nói. Người ấy trở thành một người cầu đạo, và về sau, đã theo ông trong chuyến đi của ông, ngoan ngoãn học hỏi từ môi miệng ông câu chuyện về tình yêu cứu chuộc (Sadhu Sundar Singh, Madras: The Christian Litterature Society 1918).
Bên trong mỗi một người nam, người nữ, hết trong những người chống đối người tin kính đạo đức, có một mong ước muốn tìm kiếm Đức Chúa Trời và các đường lối của Ngài, một sự khao khát bẩm sinh (Cong Cv 17:27) mà có lẽ nhiều người khác không chịu thừa nhận. Nhiều người tin rằng họ không thể nào sống một cuộc đời công chính và đầy tình yêu thương, cho dù đó là một cách sống thật lý tưởng. họ cảm thấy rằng trong cái xã hội mà điều ác đang nắm chặt mọi người trong tay của nó này, thì sống như thế là không thực tế cho nên họ từ chối phương pháp ấy. Nhưng họ không thể nào tiêu diệt được nỗi khao khát kia.
Khi một người như thế thấy trong một người khác những đức tính mà người ấy muốn mình cũng có nữa, thì người ấy sẽ trở thành người sẵn sàng tiếp nhận. Một thông điệp của hi vọng đã được gởi đến cho người ấy, trong đó viết rằng: “Thế thì, dù sao thì việc đó không phải là không thực tế, là bất khả thi đâu. Đã có người thử phương pháp ấy và dường như nó đã có kết quả”. Một số người xem thường bức thông điệp ấy. Nhưng có nhiều người khác chú ý và sẽ tìm hiểu thêm, và cánh cửa đã được mở rộng để giới thiệu Phúc Âm cho họ. Thật là một lực lượng đầy uy quyền năng cho điều thiện khi trong một thế giới mà mọi người đều hoài nghi, cay cú đối với lòng chân thành và tôn giáo, nhưng tình yêu Cơ Đốc giáo chân chính đã nhập thể vào một con người chân chính.
Đức tính tiếp theo mà Phao-lô đề cập, là “đức tin”. Lòng tin cậy đặt nơi Đức Chúa Trời của chúng ta là luôn luôn bị thử nghiệm khi chúng ta gặp nhiều vấn đề đủ lạnh. Trong những trường hợp như thế, chúng ta có thể bị cám dỗ đưa ra một cách đáp ứng phi Cơ Đốc giáo vì nó hứa hẹn đem đến một giải pháp nhanh chóng cho vấn đề, hoặc có thể chúng ta sẽ thất vọng. Hoặc chúng ta có thể phản ứng vô lý, thiếu tự chủ vì áp lực đang đè nặng trên chúng ta. Các phản ứng như thế đều nảy sinh do chúng ta thiếu đức tin vào Đức Chúa Trời và các lời hứa của Ngài.
Chính là ở giữa những cơn khủng hoảng như thế mà đức tin của người lãnh đạo bị thử nghiệm. Đức tin của người ấy sẽ giúp người ấy kiên trì trong đường lối của Đức Chúa Trời, tin chắc rằng Ngài sẽ hành động để bênh vực mình. Cho nên người ấy sẽ không chịu thoả hiệp, chán nản thất vọng hay bỏ cuộc. Những người lãnh đạo như thế sẽ giúp cho kẻ ngã lòng cứ tiếp tục tin cậy Đức Chúa Trời giữa những cơn khủng hoảng, do đó, cũng giúp họ kiên trì chịu đựng suốt nẻo đường vâng lời.
Nếu người lãnh đạo mất đức tin và hành động chứng tỏ sự thất bại đó thì thế nào? Ông ta có thể truyền đạt cho những người dưới quyền mình một bức thông điệp viết rằng trong Phúc Âm của Cơ Đốc giáo đã chẳng có những nguồn tài nguyên nào nhằm đối đầu với khủng hoảng để chiến thắng khiến cho những người thuộc về Đức Chúa Trời sống thất bại khi gặp khủng hoảng.
Trong Cong Cv 4:1-36, chúng ta thấy thế nào đức tin của các lãnh tụ của Hội Thánh nguyên thuỷ đã giúp họ vượt qua các cơn khủng hoảng đầu tiên và chiến thắng khải hoàn. Trong chương ấy có phần ký thuật về trường hợp đầu tiên, chính nghĩa của Phúc Âm đã là chính thức chống đối dữ dội. Hai sứ đồ Phi-e-rơ và Giăng đã được lệnh “cấm triệt, chẳng cho nhơn danh Đức Chúa Giê-xu mà nói hay là dạy” (4:18). Rồi cả hai còn bị đe doạ thêm nữa vội thả cho đi (4:21). Hai vị đã trở về với Hội Thánh để thuật lại sự việc xảy ra (4:23). Hội Thánh đã tức khắc bắt đầu cầu nguyện. Nhưng nội dung của lời cầu nguyện của họ thật đáng ngạ cnhiên. họ bắt đầu ngỏ lời với Đức Chúa Trời với tư cách là “Chúa là Đấng Chủ Tể” (4:24).
Họ mô tả chi tiết quyền làm Chúa Tể của Đức Chúa Trời đó đã được biểu hiện trong công trình sáng tạo vũ trụ này như thế nào (4:24) cũng như qua suốt tiến trình của lịch sử (4:25-28). Chỉ đến cuối bài cầu nguyện, các vấn đề của họ mới được đề cập, mà cả việc đó cũng chỉ được nói thoáng qua như khúc đầu cho lời cầu xin của họ là được “rao giảng đạo Ngài một cách dạn dĩ” (4:29).
Đức Chúa Trời đã nhận lời cầu nguyện xin được mạnh dạn giảng đạo của họ. Nhưng những rắc rối của họ cứ gia tăng mà tột đỉnh là cái chết của Ê-tiên và cuộc bắt bớ bách hại tiếp theo đó khiến Hội Thánh phải tan lạc.
Thoạt tiên, trông cơn bắt bớ bách hại khiến họ bị lạc khó có vẻ như một tấn thảm kịch. Nhưng khi nhìn lại, Lu-ca đã thấy quyền năng thần hựu kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Cho nên khi mô tả cuộc tan lạc đó, ông đã không dùng một từ ngữ thông dụng (8:1, 4). Thay vào đó, ông đã dùng từ ngữ diaspeino có nghĩa là “tan lạc như hạt giống được gieo xuống đất vậy”. Nhìn lui lại cuộc tan lạc đó, Hội Thánh đã xem nó là do quyền năng thần hựu, vì nó giúp cho Hội Thánh hoàn tất lời uỷ thác trọng đại của Chúa Cứu Thế là hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người. Cho nên Lu-ca mới viết: “Vậy, những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin Lành” (8:4). Như một tác giả từng viết: “Những người này đã ra đi với tư cách là các nhà truyền giáo hơn là với danh nghĩa dân tị nạn” (Everett Harrison, Acts: The Expanding Church, Moody Press 1975). Lẽ tất nhiên là Đức Chúa Trời đã thực hiện ý chỉ tối cao của Ngài. Đức tin phản ảnh trong bài cầu nguyện ấy của Công vụ đoạn 4 vốn không phải là vô căn cứ. Và lời cầu xin được mạnh dạn do niềm tin vào quyền tể trị đó là câu trả lời thích hợp duy nhất cho cơn khủng hoảng. Nó cho thấy thế nào đức tin đã giúp cho cả một dân tộc biết kiên trì nhẫn nhục khi gặp khủng hoảng.
Đức tính thứ ba mà Ti-mô-thê phải làm tấm gương phản chiếu là “sự tinh sạch”, có lẽ đề cập hai lãnh vực. Một lãnh vực đầu tiên mà chúng ta có thể gọi là sự tinh sạch luân lý đạo đức. Nó liên quan đến những điều như trinh tiết trong vấn đề tình dục. Chúng ta biết hiện nay, các cấp lãnh đạo cần nêu gương tốt trong khu vực này. Xã hội đang pháo kích chúng ta bằng sự ô uế về luân lý đạo đức. Các phương tiện truyền thông, tiểu thuyết, những câu trò chuyện bình thường của mọi người, những câu nói đùa - tất cả dường như đều tiêm vào cho chúng ta cái ý niệm rằng tình dục là độc quyền cho hôn nhân đã là một niềm tin lỗi thời rồi và chẳng có gì để phấn khởi cả. Thiên hạ đang chấp nhận, theo nhiều trình độ khác nhau, cái ý niệm rằng họ có thể hưởng lạc thú tình dục ngoài hôn nhân. Chúng ta thấy điều đó trong sách, phim ảnh, những câu nói đùa trong đó việc đụng chạm và tiếp xúc của thân thể với những người khác phái và điểm cùng cực của nó là liên hệ tình dục ngoài hôn nhân để được xem là vô tội.
Các Cơ Đốc nhân lớn lên trong một xã hội như thế phải chiến đấu để giữ mình tinh sạch, nhất là vì bản thân họ đang phải chiến đấu với phần bản tính tội lỗi vẫn thích lợi dụng các tham dục của loài người một cách bất hợp pháp. Với một bối cảnh như thế, một người lãnh đạo, với đời sống trong sạch và lời dạy dỗ thuần chánh, thật cần thiết biết bao. Người ấy sẽ lót đường cho cả một tiến bộ đang hoang mang lạc lỏng biết sống những đời sống trong sạch. Thật cần thiết biết bao những cấp lãnh đạo vốn là một lời khích lệ hãy sống trong sạch và quở trách sự ô uế, mà đời sống là những tấm gương sinh động về vẻ đẹp và niềm vui của một nếp sống thánh khiết!
Khi vực của sự “tinh sạch” thứ hai là sự trung thực của tấm lòng. Ý muốn nói ở đây là hành động nảy sinh từ các động cơ thúc đẩy trong sạch. Trong một thời đại hỗn tạp như của chúng ta hiện nay, đang có quá nhiều kẻ không ngay thật tại các vị trí lãnh đạo. Nếu nhiều người nhận thấy thật là khó tin nổi là các cấp lãnh đạo sẽ có thể hành động do các động cơ ngay thật, trong sạch.
Tâm trạng cay cú đó cũng thâm nhập cả Hội Thánh nữa. Những người biết biện biệt nhận thấy khó tin được rằng là cấp lãnh đạo chỉ phục vụ vì yêu Chúa và yêu người mà thôi. Họ thấy nỗi hoang mang của nhiều cán bộ Cơ Đốc giáo khi có những người khác đến thu hoạch mùa màng tại nơi mà chính họ đã gieo. Họ nghe một người lãnh đạo lợi dụng mọi cơ hội để khoe khoang về các thành tích của mình. Họ thấy có sự ganh đua thù địch. Họ được đọc các bản báo cáo công tác không hoàn toàn chính xác. Họ nhận thấy có việc giật dây điều khiển phức tạp các sách lượt của Hội Thánh. Họ thấy các cấp lãnh đạo cay cú và giận dữ khi không được tưởng thưởng xứng đáng. Và lần lần thì những gì họ đã được thấy được nghe biến thành: Những người ấy chỉ lo cho lợi ích và vinh quang cá nhân mà thôi.
Thật là một làn gió mát mẻ biết bao khi có một người lãnh đạo với những động cơ thúc đẩy chân thành sẽ có mặt tại một môi trường như thế, một ai đó mà các động cơ duy nhất thúc đẩy đời sống mình là vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và việc phục vụ con người! Một người mà cách ăn ở cư xử không phản lại với các động cơ thúc đẩy tối hậu! Một người lãnh đạo như thé sẽ giúp được nhiều người tin một lần nữa rằng rất có thể là hãy còn những con người chân thành, rằng lẽ tất nhiên, người ta vẫn còn có thể phục vụ Đức Chúa Trời với các động cơ thúc đẩy thành thật. Ở đây một mục tiêu khác nữa đã được đặt trước mặt chúng ta - phải làm gương bằng tình yêu thương, đức tin và sự tinh sạch.
Nếu chúng ta thất bại thì sao?
Tuy nhiên, mọi người chúng ta đều biết rằng chẳng hề có ai trong chúng ta ở cương vị lãnh đạo, lại có thể hoàn toàn theo đúng tiêu chuẩn này của Thánh Kinh. Chúng ta phải trả lời như thế nào cho sự bất toàn của mình? Chắc chắn không phải là bằng cách bào chữa cho nó.
Giữa vòng các Cơ Đốc nhân đang có cái xu hướng nguy hiểm là xem tội lỗi như một điều không thể nào tránh được, và do đó, có thể bào chữa biện minh được. Cho nên chúng ta mới thấy có những lời chống chế làn tràn như “Các Cơ Đốc nhân không phải là những con người hoàn thiện, chỉ cần tha thứ cho họ thôi”, thông báo với cả thế giới rằng phải thông cảm mà tha thứ cho các thiếu sót. Với một người noi theo một Chúa Cứu Thế đã phục sinh và chiến thắng, thì chẳng có một thiếu sót trong việc phải hoàn toàn vâng lời Đức Chúa Trời nào là bình thường cả.
Chắc chắn là cái thiếu sót của một người lãnh đạo có thể gây hậu quả nguy hiểm trong cộng đồng Cơ Đốc giáo. Một số người có thể dùng các sơ sót đó để bào chữa cho tội lỗi của chính mình. Một số khác có thể lợi dụng chúng để bất tín nhiệm quyền lãnh đạo của người ấy. Nhưng tệ hại nhất, là Đức Chúa Trời phải mang tiếng xấu vì người đại diện của Ngài bị thất bại.
Giải pháp duy nhất cho người đó là phải nhìn nhận sự thất bại của mình và ăn năn tội mình. Nếu các tín hữu đã bị ảnh hưởng xấu, thì người ấy sẽ phải thẳng thắn trực diện với nó ngay trước mặt họ.
Một lời biện giải sơ sài có thể chỉ là một cách để trốnt ránh trách nhiệm của các hành động đó của mình mà thôi, chớ không giải quyết được vấn đề. Một số các cấp lãnh đạo tưởng rằng chỉ cần nói: “Nếu tôi có làm gì sai lầm thì tôi xin lỗi”, thì họ đã giải quyết xong mọi thiệt hại đã gây ra. Việc xưng tội trong Cơ Đốc giáo khác hẳn một việc làm như thế. Từ ngữ chỉ việc xưng tội trong Tân Ước kinh (homologeo) có nghĩa là “nói giống như”. Xưng tội là hoànt oàn chấp nhận mọi điều kiện mà vấn đề ấy đòi hỏi để nói y như Đức Chúa Trời, là Đấng biết rõ sự thật, nói về vấn đề ấy.
Thay vì chỉ nói “xin lỗi”, có lẽ người ấy phải nói: “Tôi đã nói một câu không hay. Câu nói đó đã gây tổn thương cho bạn. Tôi không thể nói gì để chữa mình cả. Xin tha thứ cho tôi và hãy tin chắc rằng tôi sẽ làm mọi việc theo khả năng mình có để xoá hết mọi hậu quả xấu do câu nói đó của tôi. Tôi sẽ viết thư cho ông Ba và bảo với ông ấy rằng điều tôi đã nói là sai”.
Loại đáp ứng đại khái như thế đó sẽ khiến cho một người lãnh đạo cảm thấy rất nhục nhã. Nhưng mặc dù ông ta phải chịu nhục, Đức Chúa Trời lại được tôn vinh. Mà vinh quang của Đức Chúa Trời là điều mà người lãnh đạo phải quan tâm trước nhất. Thật vậy, vì người lãnh đạo vốn là một với Đức Chúa Trời, ông ta cũng chia sẻ vinh quang với Ngài. Ông ta vui mừng khi danh Đức Chúa Trời được rửa sạch, khi cá chậu quả của gương xấu của ông ta bị xoá hết, và cánh cửa lại được mở ra một lần nữa cho chức vụ của mình được thành công.
Ứng dụng cá nhân
Hãy nhớ lại lần cuối cùng bạn đã bị chỉ trích nặng nề. Bạn đã đáp ứng như thế nào với lời chỉ trích ấy? Căn cứ vào những gì đã học hỏi được trong bài này, bạn sẽ có đáp ứng khác hơn chăng?

MỘT CHỨC VỤ GƯƠNG MẪU
(ITi1Tm 4:13-16b)
Phao-lô đã dạy Ti-mô-thê cách làm cho kẻ hay chê bai chỉ trích phải im tiếng, là sống một cuộc đời gương mẫu (4:12). Tiếp theo đây, ông chỉ cho Ti-mô-thê thấy là phải có một chức vụ gương mẫu nữa. Phao-lô bảo không những Ti-mô-thê phải có một đời sống gương mẫu, mà còn phải có một chức vụ tuyệt vời nữa (4:13-15). Xuyên suốt phần nghiên cứu này, chúng ta sẽ thấy điểm nhấn mạnh song phương đó.
Có khi chúng ta nghe thiên hạ nói: “Ông ta là một đại thánh đồ, nhưng đã không doạn kỹ bài giảng”. Lần khác, chúng ta nghe thiên hạ nói: “Ông ta là một nhà truyền đạo vĩ đại, nhưng tính tình lại rất khủng khiếp”. Bạn không thể sống ly thân với chức vụ của mình. Và ai không chuyênt âm theo đuổi cả hai lãnh vực ấy.
Trong đoạn sách này, Phao-lô mô tả sáu nét đặc trưng của một chức vụ kiểu mẫu.
Tận hiến cho chức vụ công khai (4:13)
Trước hết Phao-lô viết rằng Ti-mô-thê phải “chăm chỉ (devote: tận hiến) đọc sách (đọc Kininh Thánh trước công chúng), khuyên bảo, dạy dỗ” (4:13). Đây là ba phương diện tối quan trọng của chức vụ công khai, tất cả đều liên quan đến Lời Đức Chúa Trời. Chúng ta đều quen với việc tuyền giảng và dạy dỗ, gồm có việc rao truyền những gì Lời Chúa dạy. Nhưng “đọc sách (Kinh Thánh trước công chúng)” vẫn chưa được chú trọng lắm hiện nay. Tầm quan trọng của nó đã bị đánh giá quá thấp trong các giới Phúc Âm. Nó thường được thực hiện tồi đến độ nhiều Cơ Đốc nhân xem đó như phần ít có ý nghĩa nhất trong buổi nhóm lại thờ phượng.
Từ ngữ đã được dịch ra là “chuyên tâm” ở đây (Anh văn devote; Hy văn prosacho), có nghĩa đen là “chú ý hay quan tâm đến”, hàm ý chuẩn bị trước, nghĩa này cho chúng ta chiếc chìa khoá đầu tiên của một chức vị thành công. Vì vị mục sư gương mẫu chuyên tâm (tận hiến) cho chức vụ công khai của mình, ông ta phải tự chuẩn bị thật đầy đủ trước khi ra trước công chúng với bức thông điệp của mình.
Do nhận thức được điều này quan trọng như thế nào, ông ta phải dành quyền ưu tiên đúng mức cho chức vụ ấy. Trong nhiều giới Cơ Đốc giáo ngày nay, đã có một phản ứng chống lại chức vụ công khai. Chức vụ cá nhân, chức vụ với tổ nhóm nhỏ, chức vụ tư vấn và các chức cụ lợi dụng các phương tiện truyền thông như vô tuyến truyền hình, phim ảnh âm nhạc, và kịch trường đã trở thành ngày càng quan trọng hơn gần đây. Với tình hình này, các chức vụ truyền giảng và dạy dỗ truyền thông dường như đã bị suy giảm về tầm quan trọng.
Lẽ dĩ nhiên, truyền giảng liên hệ một thách thức lớn hơn mấy thế hệ trước đây. Trong quyển sách nhan đề I Believe in Preaching (London: Hoddeer Stoughton 1982) của ông, John Stott có thảo luận về ba nét đặc trưng chủ yếu của xã hội phương Tây hiện đại biến chức vụ công khai thành một nhiệm vụ đặc biệt đầy thách thức. Những gì ông đã nói về phương Tây cùng nghiệm đúng cho nhiều khu vực của phương Đông nữa. Các nét đặc trưng đó là tinh thần chống uy quyền ngày nay, cuộc cách mạng của các ngành tự điều khiển (các thay đổi tận gốc rễ ngành truyền thông, hậu quả của sự phát triển các trng thiết bị điện tử phức tạp) và các Hội Thánh mât niềm tin vào Phúc Âm.
Những ai trong chúng ta từng làm việc với những người không phải là phương Tây, cũng không phải là Cơ Đốc nhân, cũng đều bị thách thức lớn trong việc muốn cho thiên hạ hiểu được bức thông điệp của mình. Lễ phép phương Đông mở đường cho nhiều người chịu nghe chúng ta. Nhưng họ thường không hiểu những gì chúng ta nói. Các phạm trù tư tưởng của chúng ta chịu quá nhiều ảnh hưởng của bối cảnh văn hoá Cơ Đốc giáo khiến khiến cho nếu không được sống trong bối cảnh Cơ Đốc giáo, người ta cảm thấy khó hình dung ra được những gì chúng ta nói. Cho nên, cho dù chúng ta có đến từ phương Đông hay phương Tây, nếu phải tận hiến cho chức vụ công khai, chúng ta đều gặp ở phía trước một thách thức lớn lao.
Thách thức có thể là phải làm sao cho những người không có thói quen lắng nghe hay chẳng quan tâm gì đến chuyện lắng nghe chịu lắng nghe, hoặc cũng có thể là phải làm thế nào cho những người vẫn suy nghĩ khác với ta, hiểu được bức thông điệp của chúng ta. Điều này thách thức chúng ta phải tận hiến một cách mới mẻ cho chức vụ công khai. Chúng ta phải mài sắc các kỹ năng truyền đạt, chỉ có thể có được nhờ lao động gian khổ mà thôi. Với những ai muốn đào sâu thâm vào lãnh vực này, tôi xin giới thiệu quyển sách của Stott, I Believe in Preaching. Với những ai đang làm việc với những người không phải là Cơ Đốc nhân, thì quyển sách hay nhất mà tôi được biết dành cho người không chuyên môn là quyển Tall it W. Communicating the Gospel Across Cultures (Beacon Hill Press, 1981) của John T.Seamond.
Thận trọng về ân tứ của chúng ta (ITi1Tm 4:14)
Sau khi liệt kê các chức vụ công khai mà Ti-mô-thê phải làm, Phao-lô bảo ông: “Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri, nhơn hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy”. Nhân một biến cố đặc biệt nào đó, các trưởng lão đã có lần đặt tay trên Ti-mô-thê. Có lẽ đó là nhân lễ tấn phong cho ông làm một người lãnh đạo của Hội Thánh Ê-phê-sô trước khi Phao-lô từ đó ra đi, nhưng chúng ta không dám chắc về việc này. Lúc việc ấy xảy ra, đã có một bức thông điệp tiên tri, theo đó, ân tứ xảy ra, đã có một bức thông điệp tiên tri, theo đó ân tứ đặc biệt của Ti-mô-thê cho chức vụ của ông đã được xác nhận. Ân tứ đó là gì, chúng ta cũng không được biết.
Tuy nhiên, khúc sách về vai trò của nhiều người khác trong việc khám phá ra các ân tứ thuộc linh của một người. Sau khi công tác điển chế đã xác nhận việc hình thành bộ Kinh Thánh, thì lời tiên tri là những lời trực itếp từ Đức Chúa Trời đến vào một hoàn cảnh cá biệt đã trở thành ít quan trọng hơn cho Hội Thánh. Chúng ta không thể nói là chúng đã bị mất hẳn. Nhưng chắc chắn là phần đông chúng ta ngày nay không thể phát giác ra được các ân tứ của mình bằng lời tiên tri như thế.
Thế nhưng nhiều người khác vẫn có vai trò quan trọng trong việc giúp các Cơ Đốc nhân phát giác ra các ânt ứ của họ. Họ quan sát một người và nhận được từ Đức Chúa Trời cái nhìn thông tuệ (insight) tiên tri do sự hướng dẫn của Ngài về tiềm năng của người ấy để thông báo cái nhìn thông tuệ ấy cho người kia. Qua nguời ấy, một người có thể khám phá ra ân tứ cá biệt của mình. Thánh Kinh dạy rằng tất cả chúng ta đều nhận được các ân tứ cá biệt từ Đức Chúa Trời (ICo1Cr 12:1-31). Một trong nhiều trách nhiệm quan trọng của chúng ta là phải tìm cho ra các ân tứ đó là gì để tận dụng chúng.
Câu này gợi ý rằng người ta có thể bỏ qua mà không biêt lợi dụng ân tứ của mình. Từ ngữ Phao-lô dùng có nghĩa đen là “vô tâm đối với một việc gì đó”. Nhiều nhà truyền đạo có ân tứ có thể kết thúc bằng thất bại sau vài năm chức vụ nếu họ không chịu chuyên tâm nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời và soạn kỹ các bài giảng. Ta cũng có thể để cho nhiều hoạt động khàc tràn ngập lịch làm việc của mình đến nỗi chẳng còn tìm được thì giờ để tậpt rung chú ý vào các ân tứ của mình.
Một trong nhiều điều đáng buồn nhất được nhìn thấy trong Hội Thánh ngày nay, là có người được ban cho thật phong phú ân tứ truyền giảng, dạy dỗ hoặc làm công tác tư vấn, nhưng lại không có thể dành nhiều thì giờ cho ân tứ cá biệt đó vì đã được “nâng” lên tậnđỉnh cao của tổ chức hay Hội Thánh của mình, nên chẳng còn thì giờ cho các chức vụ ấy nữa. ông ta có quá nhiều cuộc họp, quá nhiều các nhiệm vụ quản trị hành chính phải chu toàn. Có lẽ ông ta được tuyền giảng ở nhiều nơi, nhưng khi được nghe ông ta truyền giảng, bạn nhận thức được rằng ông ta đã trở thành lỗi thời. Ông ta đã không thể dành đỉ thì giờ cho việc suy tư mới mẻ, để soạn bài giảng thật công phu. Ông ta cần phải sắp xếp lại các quyền ưu tiên của mình cho dù điều đó có nghĩa là phải bị giáng cấp hoặc giảm lương.
Câu này cho thấy các ân tứ của chúng ta vốn có cả hai mặt liên quan đến Đức Chúa Trời và đến con người của chúng. Chính quyền tể trị của Đức Chúa Trời đã ban chúng cho ta tuỳ ý Ngài. Thậm chí ngài còn có thể lợi dụng nhiều người khác bảo cho chúng ta biết ân tứ ấy là gì nữa. Nhưng nhiệm vụ của chúng ta là phải cẩn thận nuôi dưỡng ân tứ đó.
Chuyên tâm lo cho chức vụ (ITi1Tm 4:15a)
Câu thứ ba Phao-lô nói về một chức vụ gương mẫu trong khúc sách này là “Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó” (4:15a). Từ ngữ được dịch ra là “chuyên” có liên hệ với từ ngữ “bỏ quên” hay “vô tâm” của câu 14. Nó có thể có nghĩa là “chăm chỉ, chuyên cần nghiên cứu tra xét”. Nó nói lên ý niệm phải chịu khó khi thi hành chức vụ.
Thói lười nhác có thể thâm nhập đời sống chúng ta, cho nên chúng ta phải coi chừng, kẻo e có thể hài lòng với một công tác chưa được hoàn thành đến mức toàn hảo. Bất cứ làm việc gì, chúng ta cũng phải tận dụng tới mức tối đa các tài năng của mình, cho dù là đọc một bài học, hát thánh ca, truyền giảng, dạy dỗ thăm viếng, đánh máy chữ soạn một chương trình, sửa phạt, hay làm công tác tư vấn. Nhiều khi người nghe một bài giảng, chúng ta có thể biện biệt mà chẳng cần phải cố gắng gì là nhà truyền đạo đã không soạn kỹ bài giảng. Có lẽ ông ta chỉ “cưỡi ngựa xem hoa” hoặc bài giảng của ông ta bị thiếu nội dung vững chắc. Nhà truyền đạo ấy đã lười biếng. Ông ta đã không chuyên tâm lo soạn bài giảng của mình.
Lười biếng là một vấn đề phổ biến trong chức vụ và các cán bộ Cơ Đốc giáo phục vụ vốn trọn vẹn thì giờ đều đặc biệt có thể mắc phải. Như W.A.Sangster nói, các tín đồ thường lười biếng phải giữ một số giờ tại nơi họ làm việc, bằng không họ sẽ bị đuổi. Trái lại, quý vị mục sư “phần lớn la ông chủ số thì giờ của mình… Chẳng có chiếc đồng hồ nào ghi lại giờ bắt đầu của vị mục sư, cũng chẳng có bộ máy nào có thể đo được nhiệt tâm theo đó ông ta bắt tay làm việc một khi đã bắt đầu” Sangster nói tiếp: “Nếu lương tâm của một người liên quan đến thì giờ đã bị chai lì theo năm tháng, thì điều đáng ngạc nhiên là anh ta lại thấy mình vô cùng bận rộn trong khi chỉ làm rất ít việc mà thôi” (The Approach to Preaching, Baker 1974).
Sangster thấy lời giải đáp cho cái nguy cơ này là “một sinh hoạt tĩnh tâm (bồi linh, tĩnh nguyện) có kỷ luật”. Tôi phải nói rằng đó không phải là câu trả lời mà tôi trông mong từ Sangster. Nhưng điều ông ta nói rất có ý nghĩa: “Một người duyệt xét lại cả ngày của mình mỗi tối với Đức Chúa Trời sẽ không thể cứ hài lòng lâu với việc kể lể cà rà, lười nhác, và phung phí cả nửa ngày của mình”. Ở đây Sangster đã “vào đề” một trong các đề mục tâm đắc của ông - sự cần thiết phải phát triển một hệ thống kiểm soát giúp chúng ta có thể thấy mình đang trả giá như thế nào cho việc chúng ta cùng bước đi với Đức Chúa Trời. Quả thật là ông đã viết một quyển sách nhan đề là A Spiritual Check-up (London: Epwarth Press, 1966), một quyển sách gồm mấy chục câu hỏi mà một Cơ Đốc nhân tự đặt ra cho mình về chính cuộc đời mình.
Cũng thế, người cán bộ Cơ Đốc giáo phải luôn luôn tự vấn chẳng hay mình có chuyên tâm trong những gì mình đã làm hay không.
Miệt mài trong chức vụ (4:15b)
Phao-lô bảo với Ti-mô-thê: “Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó”. Điểm này đưa chúng ta đến nét đặc trưng quan trọng thứ tư của chức vụ Cơ Đốc giáo. Ở đây, chúng ta gặp hai từ ngữ mà theo nghĩa đen, đều có thể dịch ra là “dấn thân, lao vào”. Ý muốn nói là chúng ta bị cái công việc mà chúng ta đang làm đó cuốn hút. Cuộc đời của chúng ta bị chức vụ của chúng ta bao bọc. Chúng ta không thi hành chức vụ của mình một cách nửa vời như hoàn tất một bổn phận phải làm mà thôi.
Nhiều khi chúng ta nghe các nhà truyền đạo nói ra các chân lý môt cách máy móc. Nội dung của họ có thể là tốt. Có lẽ họ đã chuyên tâm soạn bài giảng. Nhưng cách giảng ra của họ thiếu lửa. Họ đặt những người nghe họ vào một trạng thái hoảng sợ tâm lý. Họ không giục giã được các thính giả vùng dậy khỏi giấc ngủ lơ mơ thuộc linh của mình để noi theo Chúa Cứu Thế thật trọn vẹn. Họ cần phải bị thu hút, phải trở nên như bị chân lý của Phúc Âm bắt lấy họ vậy.
Những người được Đức Chúa Trời đại dụng là những người đem mê. Vào một giai đoạn mà dân Y-sơ-ra-ên gặp khủng hoảng và bị nhục nhã nặng nề, lúc Giê-rê-mi bị cám dỗ từ bỏ việc truyền giảng, ông đã thú nhận: “Vì Đức iê-hô-va phán như vầy: Này, ta sẽ phó ngươi làm sự kinh hãi cho chính mình và hết thảy bạn hữu mình nữa; chúng nó sẽ chết bởi gươm của kẻ thù mình, chính mắt ngươi sẽ ngó thấy” (Gie Gr 20:4). Không phải ông đã bị mỏi mòn vì truyềng iảng. Mà ông mệt mỏi kiệt quệ vì không được truyền giảng! Phao-lô nói: “Thế thì phần thưởng của tôi là gì? Ấy là khi giảng Tin Lành, thì giảng nhưng không, chẳng dùgn quyền tôi có như người giảng Tin Lành” (ICo1Cr 9:18). Benjamin Franklin nói sở dĩ ông thường đến nghe Genge Whitefield vì tại đó, trước mặt ông, ông có thể theo dõi một con người bị lửa thiêu đốt (theo Donald E.Demuray trong quyển Preacher Aflame, Baker 1972).
Ta không nên lẫn lộn ngọn lửa này với sự rung động và sôi nổi vốn chỉ là nét đặc trưng riêng của một số người mà thôi. Ngay đến những người không có nhân cách sôi động cũng có thể trở thành sôi động trong chức vụ khi bị Lời Đức Chúa Trời bắt lấy và Đức Thánh Linh nung đốt trong lòng họ. Họ bị nung đốt vì muốn có được một ngọn lửa của tình yêu từ trong lòng họ chảy tràn ra cho chức vụ của họ. Charles Simeon, một mục sư Tin Lành người Anh của Hội Thánh Anh quốc vốn có một chức vụ rộng lớn và lâu dài, là một tấm gương tốt về một con người vốn chẳng có bản tính sôi động, nhưng đã trở thành sôi động trong chức vụ F.W.Boreham đã nói về ông như thế này:
Cách nói của ông không hấp dẫn. Giọng ông yếu và không có nhạc; bài giảng của ông cũng không thể nói là có ơn; và nhìn từ một vài góc độ thì diện mạo của ông có phần thô kệch. Nhưng ngay khi ông đã trở thành sôi nổi, thì chúng ta quên hết mọi điều đó. Giọng ông trở nên nồng nhiệt và thôi thúc, các động tác của ông trở thành tự nhiên hơn vì ông ít tỏ ra ít nóng nảy hơn, diễn tả được một ước muốn thiết tha truyền đạt luận cứ hoặc lối kêu gọi của mình với đầy đủ sức lực của mình; mỗi một lời ông thốt ra đều như đánh mạnh vào bạn khiến bạn cảm động sâu xa, gương mặt ông sáng ngời như có sức hoạt động cao độ và lý thú (Daily Readings from F.W,Boreham, Lodon: Hodder & Stoughton, 1976).
Theo W.E.Sangster, một số bài giảng sở dĩ thiếu quyền năng vì bị thiếu nhiệt tâm (passion). Có thể là nó khả kính về mặt tri thức, các luận điểm được trình bày để cấu thành bài giảng có lẽ đều hay và đáng công, nhưng không thấy có tia sáng trong đó. Mọi người đều khởi động, nhưng nội tâm họ thi2 không chuyển (cảm) động, mà sở dĩ họ không cảm động là vì chính nhà truyền đạo đã không cảm (chuyển) động p.86).
Sangster đề ra bốn phương pháp khiến cho bài giảng của chúng ta có nhiệt tình, và lời khuyên này áp dụng cho tât cả các phương diện khác của chức vụ mục sư. Ông nói: “Cầu nguyện là phương pháp chủ yếu”. Ông mô tả một nhà truyền đạo người da đen nói rằng khi chuẩn bị bước lên toà giảng ông “tự đọc mình thật đầy đủ” và “suy nghĩ về mình thật rõ ràng” và cũng “tự mình cầu nguyện nóng bỏng”. Mọi dấn thân của chúng ta vào công tác Cơ Đốc giáo đều phải được tắm trong lời cầu nguyện. Cầu nguyện giúp chúng ta duy trì một mối liên hệ nồng ấm với Đức Chúa Trời, mà nhiệt tình thì lan tràn ra từ mối liên hệ ấy.
Sangster nói với nhà truyền đạo phải tin vào quyền năng của bài giảng. Ông ta phải có đức tin vào việc mình làm. Ông ta phải biết rằng nó có quyền năng để ảnh hưởng đến một điều gì đó có giá trị dáng kể cho cõi vĩnh hằng.
Thứ ba, ông ta phải giữ được thái độ kinh ngạc đối với Phúc Âm, và các chân lý của Đức Chúa Trời. Ông ta không nên đánh mất thái độ tươi mới của mình đối với Cơ Đốc giáo. Sangster vạch rõ rằng “vẻ quen thuộc là một trong những chứng bệnh nghề nghiệp của chức vụ mục sư”. Khi nào chúng ta đã “trở nên quen thuộc với nỗi sợ hãi và hoan hỉ” là chúng ta đã đánh mất ý thức kinh ngạc trong cái thời đại hoài nghi cay cú này. Bí quyết để suy trì điều này là ở trong điều mà đời sống cá nhân của chúng ta dành cho, như Sangster viết: “Điều giữ được cho cá nhân nhà truyền đạo kinh ngạc về tôn giáo của mình, sẽ giữ được cho thái độ kinh ngạc của ông ta trên toà giảng”. Ngay khoảnh khắc chúng ta cảm thấy mình bị mất đi cái ý thức hoan hỉ đối với Phúc Âm đó, chúng ta phải có biện pháp để quay trở lại mối liên hệ nồng ấm với cái chân lý quang vinh của Phúc Âm này.
Phương pháp thứ tư của Sangster để đi trong nẻo đường đam mê nồng nhiệt là để cho Đức Thánh Linh hà hơi tiếp sức cho chúng ta. trong một quyển sách khác, Sangster gọi đó là “Sự xức dầu” hay “phần phụ trội của Đức Thánh Linh” (The Appoach to Preaching, Baker 1951). Điều ông muốn nói là tình trạng khi ngọn gió tươi mát của Đức Thánh Linh vốn muốn thổi đi đâu thì thổ, còn nhà truyền đạo thì phải giương các cánh buồm của mình ra như thế nào để cho con thuyền của mình tiến tới theo chiều gió.
Ôi, chức vụ của chúng ta sẽ cùng tiến theo ngọn gió của Đức Thánh Linh! Thật phấn khởi biết bao khi được giương buồn trong quyền năng của Ngài để từng trải của chúng ta sẽ trở thành hiển nhiên đối với những người mà chúng ta phục vụ! Họ sẽ nhìn thấy lửa và sẽ bắt lấy nó. Nhiều tấm lòng sẽ được nung đốt để cùng chia sẻ niềm vui và sự phấn khởi với chúng ta!
Tiến triển trong chức vụ (4:15c)
Nét đặc trưng thứ năm của chức vụ trong khúc sách này là kết quả của sự chuyên tâm và miệt mài: Phao-lô viết: “Con cũng phải coi chừng người đó, vì hắn hết sức chống trả lời chúng ta”. Warren Wiersbe nói rằng từ ngữ “tấn tới” này có nghĩa là “đi tiên phong vào vùng đất mới” (Listening to the Giants, Baker, 1980). Người luôn luôn tiến bộ trong chức vụ đang mài sắc các kỹ năng của mình, gia tăng kiến thức của mình, đào sâu thêm sự cống hiến của mình, và mở rộng thêm sự khôn ngoan của mình. Cho nên người theo dõi người ấy sau một thời gian, sẽ nhận thấy người ấy đã tăng trưởng được bao nhiêu.
Sự chuyên tâm và miệt mài trong chức vụ giúp cho sự tiến bộ được dễ dàng như thế nào? Những người đi vào chức vụ với thái độ chuyên tâm và miệt mài sẽ có mong ước làm việc tốt nhất cho Đức Chúa Trời đến mức họ luôn luôn ý thức được các thiếu sót hụt hẫng của mình. Họ không phạm lỗi tự cao tự mãn. Các định mức của họ đều rất cao, khiến họ không hề dám ngừng nghỉ, mà luôn luôn ý thức các nhu cầu của mình. Việc không ngừng nghỉ đó là bối cảnh lý tưởng cho sự tăng trưởng.
Những người tự cảm thấy mình thiếu thốn luôn luôn yêu cầu nhiều người khác đánh giá các thành tựu của mình để chỉ bảo cho mình biết phải làm thế nào cho tốt hơn. Họ luôn luôn tìm cách làm mới tâm trí mình, cải tiến các phương pháp của mình, được hiểu Đức Chúa Trời và thế gian càng rõ hơn vì họ nhận thức rằng mình luôn luôn cần phải hiểu biết càng nhiều hơn.
Vậy tiến bộ là phó phẩm của sự yên tâm. Vị mục sư chuyênt âm có thể không nhận ra điều đó vì ông ta luôn luôn ý thức được các khuyết nhược điểm của mình và phấn đấu để tự cải tiến. Nhưng, như Phao-lô nói, tất cả những người khác đều thấy sự tấn tới của ông ta.
Ở đây, chúng tôi không đề cập sự hoàn thiện, là hướng mà một người phải nhằm vào để đạt tới mà chẳng bao giờ hài lòng với chính mình hay thành tựu của mình. Cầu toàn chủ nghĩa nảy sinh từ ý thức về sự thiếu sót bất cập nội tâm thôi thúc một người. Sự tiến bộ thì nảy sinh từ ước muốn làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Các thiếu sót bất cập mà cầu toàn chủ nghĩa gây ra có thể bị thắng vượt khi Đức Thánh Linh ngữ vào lòng để chữa lành các vết thương của chúng ta. Cái nhu cầu tạo ra tiến bộ trong chức vụ có thể sống chung với lòng bình an và niềm vui được hài lòng từ bên trong. Cơ Đốc nhân có thể hài lòng trong Chúa Cứu Thế để trở thành một người đầy đủ, mãn nguyện. Nhưng đồng thời người ấy vẫn phấn đấu cho một đời sống sâu nhiệm và thành công hơn trong chức vụ. Sự trưởng thành sẽ đạt được khi người ấy có thể để cho sự bình an và niềm vui sống chung cùng với ý thức về nhu cầu và sự hài lòng.
Giữ mình và bền đỗ (4:10).
Phao-lô bắt đầu viết: “Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của mình” (c.16). Ông vừa viết rằng phải bền đỗ trong mọi sự đó thiên hạ sẽ thấy sự tiến bộ của Ti-mô-thê. Nhưng nếu mọi người đã thấy được điều đó, thì Ti-mô-thê càng phải canh chừng đời sống của mình và giáo lý mình truyền dạy càng cẩn thận chặt chẽ hơn nữa. Động từ “giữ ở đây có nghĩa là “nhìn chăm, chú mục vào” một vật gì đó. Nhiều người thấy có sự tiến bộ, và điều đó có thể trông như chẳng cần phải cố gắng nỗ lực chi cả. Nhưng trong thực tế hành động thì tiến bộ là kết quả của một cuộc đời tự xét mình thật nghiêm ngặt.
Những người đi tiên phong trong những cuộc thám hiểm tiến vào một vùng đất mới cần chú ý đặc biệt để giữ mình và giáo lý mình truyền dạy. Trong khi tiến vào các khu vực mới, họ có thể loại bỏ hoặc bỏ qua một vài phương diện nào đó của đức tin và tập tục Cơ Đốc giáo. Thí dụ một tín đồ Tin Lành nhạy cảm với các mối quan tâm xã hội có thể bắt đầu bỏ qua việc truyền giảng Phúc Âm - một việc vốn đã quá thường xảy ra.
Tiến bộ là thêm một điều gì đó mới mẻ vào phần nền móng. Những cái nền cần phá bỏ là những gì không phù hợp với Kinh Thánh. Và dĩ nhiên là có một vài tín ngưỡng và cách hành đạo mà thiên hạ cho là các nền tảng của Cơ Đốc giáo vốn không thấy có trong Kinh Thánh. Nhưng phản bám chặt vào các nền tảng của Kinh Thánh.
Phao-lô mô tả một người có thể tự giữ mình và giáo lý của mình như thế nào trong câu tiếp theo đó: “Phải bền đỗ trong mọi sự đó” Câu này có nghĩa là Ti-mô-thê phải kiên trì trong những điều ông đã được dạy (là phải làm), xem đó là phần căn bản cho niềm tin và cho những việc phải làm.
Hãy thử xét xem việc tự giữ mình và kiên trì đó được áp dụng cho sinh hoạt và giáo lý như thế nào. Cuộc đời Ti-mô-thê gồm có cuộc đời thuộc linh, cuộc đời thi hành chức vụ sinh hoạt trí tuệ, sinh hoạt tình cảm, sinh hoạt gia đình, đời sống thuộc thể và đời sông xã hội. Có một trong những thách thức quan trọng nhất mà một người lãnh đạo phải trực diện là phải nhìn chăm, chú mục vào quá nhiều sinh hoạt như thế thật nghiêm ngặt. Ông ta phải thường xuyên soát xét lại cách thức mình đã sống như thế nào trong từng lãnh vực sinh hoạt như thế.
Có lẽ ông ta cần phải tự vấn: “Sinh hoạt bồi linh của tôi có sâu nhiệm hơn một năm trước đây không. Nếu không, ông ta cần phải tự vấn tại sao và phải có một vài biện pháp sửa chữa. Chẳng hạn ông ta có lẽ phải bỏ bớt một chức vụ hay hoạt động công khai nào đó với tư cách một thành viên của một tiểu ban hay ban trị sự để có thêm thì giờ cho gia đình hay cho những buổi bồi linh cá nhân.
Có lẽ ông ta cần tự vấn: “Tôi có tiến bộ trong công tác chức đạo (truyền đạo Phúc Âm) không?” hoặc “Tôi có dành thì giờ đọc sách đầy đủ không?” hay “Tôi có tập thể dục đủ không?” hoặc “Tôi có ăn uống cân bằng không?” hay “Tôi có áp dụng đầy đủ các nguyên tắc Cơ Đốc giáo vào công việc mình đang làm không?” Nếu câu trả lời là “không”, thì ông ta phải phải sửa chữa lại hoàn cảnh tình hình của mình. Thiết tưởng tôi không hề nhấn mạnh quá đáng vào sự cần thiết phải thường xuyên có những cuộc kiểm kê thuộc linh trong đời sống của một Cơ Đốc nhân.
“Sự dạy dỗ” trong câu này chắc ám chỉ những gì mà một người tin tưởng và tuyền dạy. Chúng ta cũng có thể bị sai lạc trong giáo lý nữa. Khi chúng ta bị một công trình khảo cứu Cơ Đốc giáo hiện tại nào đó thánh thức, chúng ta có thể chuyển hướng đối với một niềm tin để hoàn toàn không còn tin cậy vào Lời của Đức Chúa Trời nữa. Nền văn hoá được đại có thể tạp áp lực khiếkn chúng ta chấp nhận nhữngthái độ trái với Thánh Kinh về các vấn đề như duy vật chủ nghĩa các mối liên hệ với người khác giới tính, lòng tham dục, đồng tính luyến ái và ly dị. Sống trong một xã hội tạp đa, nhấn mạnh trên tính cách không quan trọng của thái độ khoan dung tôn giáo, chúng ta có thể bối rối trước việc Thánh Kinh nằng nặc đòi hỏi Cơ Đốc giáo phải là độc nhất vô nhị. Những lời truyền dạy như thế của Thánh Kinh vốn ít khi được lòng những người không tin Thánh Kinh.
Nhiều người chung quanh chúng ta có thể có những quan điểm sai lạc không đúng theo Thánh Kinh. Nhưng chúng ta thì phải kiên trì. Chúng ta không nên xấu hổ khi bị dán cho cái nhãn hiệu là lỗi thời, là quá khe khắt, là chống xã hội, là dại dột, hoặc ngây thơ hay kiêu ngạo.
Bền đỗ, kiên trì tận trung với chân lý Thánh Kinh không thể bị nhầm lẫn với bảo thủ hẹp hòi. Thánh Kinh là một bộ sách tích cực, sinh động bao giờ cũng có một bức thông điệp cách mạng cho mọi thời đại. Nó luôn luôn đâm thấu trái tim của căn bệnh vị kỷ của loài người và mọi biểu hiệu khác nhau của nó nhằm nâng đỡ cho một sự thánh khiết triệt để và một tình yêu có thể làm cách mạng vào mọi thời đại. Chắc chắn rằng cơ Đốc giáo theo Thánh Kinh, với điểm nhấn mạnh trên sự bình đẳng và mối quan tâm đến các quyền lợi của kẻ nghèo và bị áp bức bóc lột, vốn có một bức thông điệp căn bản cho xã hội với đủ thứ bất bình đẳng nổi bật của chúng ta.
Bản tính sống động của Thánh Kinh (Lời Đức Chúa Trời) cần có ngôn ngữ, âm nhạc và các phương pháp diễn tả Phúc Âm được thay đổi theo mọi thời đại, tuy bức thông điệp của nó vẫn tồn tại bất biến. Một số người bảo thủ chống lại sự thay đổi ấy. Nhưng chính thống giáo của Thánh Kinh đòi hỏi phải có những thay đổi như thế vì Phúc Âm bất biến kêu gào phải được truyền giảng ra cho mọi người ở mọi thời đại đều được nghe. Câu khẩu hiệu xưa của Hội Thanh niên vì Chúa Cứu Thế đã phát biểu ý đó thật hay: “Sang số theo thời gian, nhưng neo chặt vào tảng đá”.
Vậy, có sáu nét đặc trưng cho một chức vụ kiểm nữa:
1. Một mục sư gương mẫu tận hiến cho chức vụ công khai
2. Vị ấy không vô tâm đối với việc tận dụng ân tứ của mình
3. Vị ấy chuyên tâm trong việc thi hành chức vụ
4. Con người toàn diện của vị ấy miệt mài trong công tác thi hành chức vụ
5. Vị ấy luôn luôn tiến bộ hướng thượng nhằm đạt mức thành công và giống với Chúa Cứu Thế hơn hết.
6. Vị ấy cẩn thận kiên trì gìn giữ nếp sống của mình và tận trung với các tín ngưỡng đúng theo các chuẩn mực của Đức Chúa Trời.
Phao-lô kết thúc chương này bằng cách bảo với Ti-mô-thê: “Phải bền đỗ trong mọi sự đó (kiên trì sống một cuộc đời và một chức vụ gương mẫu), vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu” (ITi1Tm 4:16c). Một cuộc đời gương mẫu quan trọng là như thế. Các hậu quả của nó có giá trị vĩnh hằng. Cho nên chúng tôi cảm thấy mình đang khi nói quá nhiều về vấnđề ấy trong một quyển sách đề cập quyền lãnh đạo.
Công tác đọc Kinh Thánh trước công chúng
Việc đọc Kinh Thánh trước công chúng là một thói quen các Cơ Đốc nhân thừa hưởng của hội trường Do Thái. Lúc Chúa Giê-xu vào hội trường tại Na-xa-rét. Ngài đã “đứng dậy và đọc… sách tiên tri Ê-sai” (LuLc 4:16-21). Có một đoạn mô tả giờ thờ phượng trong Hội Thánh nguyên thuỷ khá lý thú trích từ một bài viết bênh vực cho Cơ Đốc giáo của Justin Martyr trước sau năm 170 SC.
Vào ngày gọi là ngày của Mặt Trời, một buổi họp của tất cả những người sống trong các thị trấn hoặc vùng thôn quê xảy ra tại một nơi, các bài ký của các sứ đồ hoặc văn phẩm của các nhà tiên tri được đọc lên bao lâu số thì giờ cho phép. Rồi người đọc dừng lại và người lãnh đạo bằng lời lẽ của miệng mình nói lên những lời gây ấn tượng và khuyên răn nên bắt chước những việc tốt đẹp đó. Rồi chúng tôi cùng đứng lên và thôt ra những lời cầu nguyện (first Apology 1:67).
Vào thời của Phao-lô việc đọc Kinh Thánh trước công chúng vốn quan trọng hơn ngày nay, vì sách rất hiếm hoi và đắt giá, còn dân chúng thì thường không biết được cho nên người ta thu thập được kiến thức của Kinh Thánh là nhờ vào các buổi đọc sách công khai trước công chúng này.
Thế nhưng ngày nay, tập tục này cũng rất quan trọng vì Kinh Thánh là lời vô ngộ duy nhất của Đức Chúa Trời mà chúng ta hiện có. Cho dù một bài giảng có đầy linh cảm đến đâu đi chăng nữa, chỉ có Kinh Thánh mới “được linh cảm” theo nghĩa là việc truyền đạt không sai chạy tâmt rí và ý chỉ của Đức Chúa Trời. Thật vậy, việc truyềng iảng là bày giãi một khúc sách đã đọc. Cho nên điều quan trọng là phải đặt khúc sách ấy trước mặt mọi người trước khi giải nghĩa nó.
Chúng ta nên nhớ rằng việc đọc sách trước công chúng đời xưa đòi hỏi một số kỹ thuật trình diễn. Sở dĩ như thế vì các mẫu tự đều được viết theo lối chữ hoa, ren dày vaò nhau mà chẳng có khoảng cách để phân chia các từ ngữ ra như kiểu sau đây:
Chẳng có khoảng cách để phân chia các từ ngữ ra
Việc đọc chữ ngày nay thì dễ dàng hơn nhiều. Thế nhưng công tác đọc trước công chúng cũng đòi hỏi một số kỹ năng, vì trong việc đọc có dễ hơn, thiên hạ vẫn nhận thấy là khó hiểu. họ vốn đã quan tiếp nhận các thông điệp thánh thị, vừa được nghe vừa nhìn thấy qua các phương tiện thông tin đại chúng như vô tuyến truyền hình, nên nhận thấy khó tập trung khi một người chỉ đọc suông mà thôi.
Chúng ta cần bắt buộc những người nghe mình phải chú ý bằng cách đọc thật sinh động. Một phần dẫn nhập cho khúc sách có thể giúp chuẩn bị khiến người nghe phải chú ý. Người đọc phải cố tìm cách lột tả tinh thần của khúc sách và truyền đạt phần cảm xúc của nó sao cho các thính giả hoà nhập với phần kinh nghiệm ẩn phía sau bài học. hưng không nên lẫn lộn việc làm này với việc “trình diễn kịch tuồng”, vốn có thể gây ấn tượng trên kẻ nghe nhưng vẫn bỏ mặc họ với thái độ lạnh nhạt. Điều chúng ta đang đọc vốn là Lời “sống và linh nghiệm của Đức Chúa Trời, sắc hơn gươm hai lưỡi” (HeDt 4:12). Công tác đọc phải phản ảnh cho kẻ nghe phần tiềm năng đó của Lời húa.
Sự thách thức phải đọc thật hay trước công chúng đòi hỏi vài điểm cần thận trọng. Chúng ta phải thận trọng khi chọn người đọc. Chúng ta quá thường giao việc ấy cho một người không có tài đọc. Đã có chứng cứ gợi ý rằng trong Hội hánh nguyên thuỷ, có một cuh71c vị đặc biệt dành cho người đọc sách, mở ra cho những người ‘có học vấn và được đào tạo” (Ralph Martin, WEorship in the Early church, Lodon Morgan and Scott, 1972). Người đọc cũng phải cầu nguyện nhiều và chuẩn bị cẩn thận cho công tác đọc của mình, cả khi người ấy chỉ được giao công tác mấy phút trước khi buổi nhóm lại bắt đầu.
Ứng dụng cá nhân
Thực hiện một cuộc kiểm kê về cuộc đời, lúc niềm tin và chức vụ của bạn bằng cách dùng sáu nét đặc trưng của một chức vụ kiểu mẫu đã học được trong bài này. Dành được càng nhiều thì giờ bạn có thể có được càng tốt cho công việc ấy. Cố tìm cách mở rộng được càng nhiều khu vực của đời sống, các niềm tin và chức vụ của bạn càng tốt. Hãy tự vấn: “tôi đang trả giá gì cho sinh hoạt bồi linh, đọc sách va v.v… của mình?”

CÁC MỐI LIÊN HỆ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO
(ITi1Tm 5:1-16)
Chúng tôi từng bàn thoáng qua rằng sự kiện các mối liên hệ là một phương diện tối quan trọng cho chức vụ lãnh đạo trong Cơ Đốc giáo. Cho nên chẳng có gì để ngạc nhiên khi trong quyển sách dạy bảo người lãnh đạo trẻ tuổi là Ti-mô-thê, Phao-lô đã dành hơn là trọn một chương cho đề tài các mối liên hệ với nhiều giai cấp người khác nhau trong cộng đồng Cơ Đốc giáo (5:1-6:2).
Liên hệ với những người già cả (ITi1Tm 5:1a)
Hạng người đầu tiên được đề cập là những người già cả. Phao-lô viết: “Chớ quở nặng người già cả, nhưng hãy khuyên dỗ họ như cha” (5:1a).
Vào thời đại của Thánh Kinh tuổi chuyển từ trưởng thành sang già cả được xem là lúc sáu mươi tuổi. Người già được kính trọng vì từng trải vsà sự khôn ngoan của họ. tuổi cao không phải là điều đáng xấu hổ như sách Châm Ngôn đã chứng minh” (ChCn 20:29). Tóc muối tiêu (gray hair) là dấu hiệu của sự tôn trọng! Thánh Kinh cũng đòi hỏi chúng ta phải kính trọng người cao tuổi. LeLv 19:32 chép: “Trước mặt người tóc bạc ngươi hãy đứng dậy, kính người già cả”. Ê-sai chứng minh rằng một phần các triệu chứng của căn bệnh của dân Y-sơ-ra-ên là thiếu tôn trọng người già cả (3:5).
Nếu Thánh Kinh bênh vực cho một thái độ kính trọng các trưởng lão như thế, thì một cấp lãnh đạo trẻ tuổi như Ti-mô-thê đáp ứng như thế nào khi một người cao tuổi phạm sai lầm? Chắc chắn là ông không thể làm ngơ mà chẳng biết tới sự sai lầm ấy, cũng không nên “quở nặng” mà phải khuyên dỗ người ấy như là cha mình vậy.
Từ ngữ được dịch ra “khuyên dỗ” là parakaleo nguyên có nghĩa là gọi đến bên cạnh, hoặc là để khuyến khích, an ủi, khuyên bảo hoặc khuyên răn. Cho nên từ ngữ này có nhiều nghĩa tuỳ theo văn cảnh trong đó nó được sử dụng. ý khuyên răn vượt trội hơn hết trong câu chúng ta đang thảo luận. Vị lãnh đạo trẻ tuổi gọi người lớn tuổi phạm sai lầm đến để khuyên bảo người ấy - nhưng với tư cách là một đứa con chớ không phải như một thượng cấp. Ti-mô-thê phải làm việc ấy bằng thái độ kính nể và thương yêu trìu mến.
Khi một người già cả vốn là một người thành thật được khuyên bảo như thế, ông ta sẽ nhận thấy rằng việc sửa sai vốn không do ý muốn vứt bỏ gánh nặng cho mọi người chung quanh, nhưng là do một động cơ thúc đẩy công bằng và khả kính. Cho nên, ông ta sẽ nghiêm chỉnh nghe lời của người lãnh đạo mà không chối bỏ nó, xem như một trong những trường hợp “sốt sắng quá mức” của một thanh niên mới lớn chưa từng trải.
D.L.Moody và vợ ông, bà Em-ma, là một tấm gương tốt trong việc khuyên bảo. Bà Emma vốn là một con gái được giáo dục tốt của một doanh nhân giàu có. Ông Moody thì chỉ được học hành rất ít và xuất thân từ một fgia đình nghèo. Bà Emma đã giữ một vai trò quan trọng trong việc giáo dục ông Moody cho chức vụ công khai. Bà Emma sửa các lồi văn phạm, đánh vần và nói không rõ cùng với hằng tá những điều khác của ông. Nhưng như Ethel Barrett viết: “bà làm việc ấy thật dịu dàng và trìu mến đến độ ông chẳng bao giờ biế là mình đang bị phê bình” (Will the Real Phony Please Stand up, Regal Books, 1969). Đến cuối đời mình, Moody được kể lại là có nói rằng ông chẳng bao giờ thôi ngạc nhiên vì Đức Chúa Trời lại giao cho ông một chức vụ quan trọng như thế, và Ngài đã ban cho ông một người vợ như thế.
Nếu các chi tiết về Moody và vợ ông không thể ứng dụng cho câu mà chúng ta đang nghiên cứu đây, thì tấm gương của họ cho chúng ta thấy một loại thái độ điển hình phải được nhìn thấy khi một người lãnh đạo sửa sai một người có địa vị xã hội là người tưởng thượng của mình. Đó phải là một thái độ khiêm hạ, tôn kính và yêu mến hoà lẫn với một tình yêu chân lý và sự công chính.
Liên hệ với những người trẻ tuổi (ITi1Tm 5:1b)
Rồi Phao-lô viết: “Còn kẻ trẻ thì (đối xử) như anh em”. Nhận định này có thể lý giải theo một trong hai cách sau đây. Có lẽ Phao-lô vẫn đang tiếp tục chủ đề về khuyên bảo các hạng người làm điều sai trái khác nhau. Hoặc có lẽ ông đã chuyển sang chủ đề về các mối liên hệ hằng ngày của Ti-mô-thê với nhiều hạng người khác nữa. Dù là trường hợp nào thì cả hai cách lý giải đều chỉ vào thái độ đặc biệt của chúng ta trong các mối liên hệ với nhiều hạng người khác nhau.
Phao-lô xem các thanh niên như anh em. Tuy trong Hội Thánh có nhiều chức vị khác nhau, toàn thể các Cơ Đốc nhân đều bình đẳng trước mặt Đức Chúa Trời. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng Ti-mô-thê phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình. Tình bạnv ới các bạn cùng trang lứa không hề ngăn trở ông trong vấn đề lãnh đạo họ. Nhưng ở cương vị lãnh tụ, ông không nhất thiết phải làm bộ làm tịch ra vẻ ta đây, hay cố tìm cách hành động không tự nhiên đối với đám người cùng độ tuổi với mình để “làm chủ” họ.
Liên hệ với các phụ nữ cao tuổi (ITi1Tm 5:2a)
Rồi Phao-lô lại nhắc nhở Ti-mô-thê về sự cần thiết phải kính trọng người tuổi tác. “(Hãy đối xử với) đàn bà có tuổi cũng như mẹ” (c.2).
Ba lời chỉ dẫn trên đây nhắc nhở chúng ta rằng nếu các cấp lãnh đạo vốn có uy quyền (thật ra là uy quyền được Chúa uỷ thác), thì họ phải hành quyền ấy thật thậnt rọng, khiêm hạ và mẫn cảm.
Liên hệ với các thiếu nữ (ITi1Tm 5:2b)
Hạng người thứ tư Phao-lô đề cập là các thiếu nữ “(Đối xử với) bạn thiếu nữ như chị em” (c.2b). Rồi ông lợi dụng cơ hội để đưa ra một lời cảnh cáo thầm lặng bằng cách viết thêm: “mà phải lấy cách thanh sạch trọnv ẹn”. Người thánh thiện nhất trong các cấp lãnh đạo vẫn có thể sai lạc trong các mối liên hệ giữa họ với những người khác phái. Trước giả sách Châm Ngôn giải thích thật sinh động thế nào người ta khó tiên đoán được sẽ có chuyện gì xảy ra khi một người đàn ông gặp một phụ nữ. “Có ba việc lấy làm diệu kỳ cho ta, và bốn điều mà ta chẳng biết được; Là đường chim ưng bay trên trời; Lối con rắn bò trên hòn đá; Lằn tàu chạy giữa biển, và đường người nam giao hiệp với người nữ” (ChCn 30:18, 19).
Lời chỉ bảo này của Phao-lô không hề hàm ý vì những nguy hiểm tiềm ẩn đó mà Ti-mô-thê phải tránh tiếp xúc với các Cơ Đốc nhân khác phái. Các trách nhiệm lãnh đạo khiên cho những cuộc tiếp xúc như thế trở thành cần thiết. Nhưng những cuộc tiếp xúc đó của Ti-mô-thê phải có đặc điểm là “thanh sạch trọn vẹn”.
Phao-lô từng sử dụng từ gnữ “thanh sạch” trước đây ở ITi1Tm 4:12 để mô tả tấm gương mà Ti-mô-thê phải nêu cao. Trong 5:2 ông tăng cường thêm cho những gì ông đã nói rồi bằng cách thêm hình dung từ “hoàn toàn” hay “trọn vẹn”. Trong phần thảo luận của chúng ta ở 4:12 chúng ta đã nói rằng từ ngữ “tinh sạch” nhằm nhấn mạnh hai điểm là sự trong sạch về luân lý đạo đức về sự trung thực ngay thẳng của các động cơ thúc đẩy. Khi giao thiệp với các thành viên khác phái, các hành vi bên ngoài của người lãnh đạo phải thanh sạch, còn các động cơ thúc đẩy bên trong cũng phải chẳng có chút chi mờ ám.
Nhiều khi trong một mối liên hệ thuộc loại như thế các động cơ thúc đẩy chúng ta phải được luôn luôn giữ cho trong sách. Điều có thể bắt đầu như một cuộc gặp gỡ tư vấn vô tội vạ, có thể phát triển thành một mối liên hệ tình cảm không lành mạnh, một tình trạng không được nhận thấy đầy đủ cho đến khi mọi việc đã đi quá xa. Vì lý do ấy mà một người lãnh đạo phải hết sức thận trọng trong lãnh vực này. Khi bản thân người lãnh đạo phát giác được một chút gì đó là không lành mạnh, hoặc được một người bạn có tài biện biệt phát giác được và khuyến cáo, thì vấn đề ấy phải được đối phó ngay tức khắc.
Một số người gặp hoàn cảnh như thế sẽ cố tìm cách biện bạch rằng trường hợp của họ là ngoại lệ. Nhưng người như thế đang đứng trên một mảnh đất nguy hiểm đấy. Như một giám mục hội giám lý Hoa Kỳ có lần vạch rõ, câu chuyện về Hội Thánh vốn có đầy dẫy các thí dụ về vết nhơ của các vị mục sư sa bại cho rằng trường hợp của họlà ngoại lệ trong lãnh vực liên hệ với những người khác phái.
Phúc lợi của các quả phụ (ITi1Tm 5:3-16)
Tiếp theo, chúng ta đến với một đoạn sách dài đáng ngạc nhiên đề cập vấn đề phúc lợi của các quả phụ (5:3-16). Nó cho thấy mối bận tâm mà Hội Thánh nguyên thuỷ dành cho số người kém may mắn. Hạng người này rất dễ bị bỏ qua trong khi Hội Thánh đang bận rộn với nhiều hoạt động khác, như việc đã từng xảy ra trước đó trong Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem. Hội Thánh ấy đã phát triển một hệ thống bởi đó có thể bảo đảm rằng số người nghèo thiếu đều được trông nom chăm sóc (Cong Cv 6:1-15). Một hệ thống như thế cũng đã được phát triển trong Hội Thánh tại Ê-phê-sô nữa. Phao-lô đưa ra cho Ti-mô-thê một số hướng dẫn để phục vụ cho một hệ thống như thế, vì với cương vị lãnh đạo Hội Thánh, Ti-mô-thê có trách nhiệm lo sao cho nhiệm vụ ấy phải được chu toàn.
Tìm ra số người thật sự nghèo thiếu (ITi1Tm 5:3-8). Phao-lô viết: “Hãy kính (hay trợ cấp) cho những người đàn bà goá thật là goá (bản Anh văn thật sự nghèo thiếu)” (c.3). Mấy câu tiếp theo chỉ dẫn phương pháp để tìm ra những người thật sự nghèo thiếu. Nhiều kế hoạch trợ cấp ngày nay vốn quá máy móc và đơn giản. Một thí dụ là một chương trình bảo rằng tất cả các quả phụ đều phải được cấp cho một số tiền nào đó hằng tháng. Nhưng có phân nửa số quả phụ ấy có lẽ chẳng cần được giúp đỡ chi cả. Phân nửa kia có lẽ lại cần nhiều hơn là số tiền đề nghị cho họ. Nhiều chương trình khác lại quá tuỳ tiện, có khi tuỳ thuộc hoàn toàn vào tính khí và cảm tính của các quan chức điều hành. trong một chương trình tuỳ tiện như thế, những người thật sự nghèo thiếu thường chẳng được gì cả. Bất cứ ai được giao cho một trách nhiệm giúp đỡ người nghèo thiếu như thế đều phải phát triển một số chỉ dẫn rõ ràng để tìm cho ra những người thật sự cầnt rợ cấp và trợ cấp bao nhiêu.
Phao-lô loại trừ số người có thể được các thành viên trong gia đình trợ giúp (c.4). Rồi ông đưa ra ba gợi ý về thế nào thì một người có thể được thừa nhận là một goá phụ thật sự nghèo thiếu (c.5). Thứ nhất, người ấy phải “ở một mình”, chẳng còn có gia đình để trợ cấp nữa. Thứ hai, người ấy phải “để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời, dường như gợi ý rằng do chẳng có ai giúp đỡ, người ấy chỉ còn biết trông cậy vào Đức Chúa Trời và những người thuộc về Ngài giúp đỡ mình mà thôi. Thứ ba, người ấy “ngày đêm bền lòng cầu nguyện nài xin”. Cũng như bà nữ tiên tri An-ne vốn là một phụ nữ chuyên tâm cầu nguyện (xem LuLc 2:37).
Tuy các quả phụ này có lẽ đã già cả, yếu đuối, không thể tự lo cho mình và dường như vô dụng cho Hội Thánh, họ vẫn còn có thể làm được cái công tác ấy (vâng, đây quả là một công tác!) mà ẩn phía sau đó là quyền năng của Hội Thánh. Họ còn có thể cầu nguyện! Và chỉ có ở trên thiên đàng, thì chúng ta sẽ mới biết đầy đủ được một hoạt động cầu nguyện trên đất là quan trọng như thế nào. Cho nên số người “già yếu” này vốn có một vai trò tối quan trọng trong Hội Thánh. Họ cũng giống như những cục pin trong cây đèn pin - vốn nằm bên trong, chẳng ai nhìn thấy, nhưng đó là nguồn năng lượng (Thế thì, có ai trong chúng ta dám khinh dể người cao tuổi? Có ai trong chúng ta dám chê cười “các bà già nhỏ bé” là các nữ giáo sĩ của các hội truyền giáo?
Sau các tư tưởng đề cao các quả phụ đang tận hiến để cầu nguyện không ngưng nghỉ đó, Phao-lô tìm xuống tận mặt đất để đề cập một hạng quả phụ khác đang tận hiến cho các “lạc thú” triền miên của trần gian này (ITi1Tm 5:6). Số quả phụ chỉ nghĩ đến thế gian buông lung phóng túng như thế thì không đủ điều kiện để được Hội Thánh trợ cấp.
Tiếp theo, Phao-lô yêu cầu Ti-mô-thê giải thích các nguyên tắc vừa nêu trên cho hội Thánh “hầu cho họ không chỗ trách được” (5:7). Nếu một người đều biết rõ và cẩn thận thi hành theo các nguyên tắc ấy, thì sẽ chẳng còn có tiếng phàn nàn trong Hội Thánh và số người không xứng đáng thì lại được giúp đỡ trong khi số người xứng đáng lại bị bỏ rơi nữa.
Một quyển sổ các quả phụ (ITi1Tm 5:9-10). Dường như Phao-lô đang đề cập số người thuộc về một “ban” các quả phụ đã được thiết lập trong Hội Thánh tại Ê-phê-sô (c.9). Hội Thánh này chẳng những đã phát triển một cơ cấu nhằm trợ giúp cho người cao tuổi mà còn thiết lập một phương tiện theo đó các quả phụ mou61n phục vụ Đức Chúa Trời có thể làm việc ấy.
Do “tinh thần bị kẻ thành đạt ám ảnh”, chúng ta thường cho những người bị xem là vô dụng thôi việc, vì họ không thể sản xuất đúng theo các ý niệm về thành đạt của chúng ta. trong vấn đề này, chúng ta là các Cơ Đốc nhân đã đơn giản chấp nhận các giá trị sai lầm của một xã hội chỉ biết tôn thờ tuổi trẻ mà khinh miệt tuổi già. Trong xã hội truyền thống của phương Đông nơi mà người cao tuổi được dành cho một địa vị vinh dự cao, thì sự việc không phải là như thế.
Đức Chúa Trời đã thiết kế cho cấu trúc của Hội Thánh để có sự tiếnt riển thật sự, và cả người trẻ lẫn người già đều tích cực tham gia. Thánh Kinh dạy rõ ràng rằng trong thân thể của Chúa Cứu Thế, tất cả mọi người đều có ý nghĩa vì họ đều có một vai trò độ cnhất vô nhị phải thủ giữ trong sự phát triển của thân thể (ICo1Cr 12:1-31). Thân thể này bao gòm cả những người già nữa. Một phần trách nhiệm của người lãnh đạo là phải tìm cho ra Đức Chúa Trời đã hoạch định cho người cao tuổi có thể phục vụ trong việc gì,r ồi đưa ra một cơ cấu theo đó họ có thể chu toàn cái kế hoạch đó của Đức Chúa Trời cho đời sống của họ.
Nhưng không phải tất cả mọi người đều có thể gia nhập “ban” đó. Đối với mọi địa vị chính thức trong Hội Thánh đều luôn luôn phải giữ đúng các tiêu chuẩn khác nhau. Ban các quả phụ cũng không có ngoại lệ. Cho nên Phao-lô nêu ra vài phẩm cách nhằm xác định ai là người được thừa nhận vào ban.
“Cho được ghi tên vào sổ đàn bà goá, thì người đàn bà phải đủ sáu mươi tuổi, vốn chỉ có một chồng mà thôi, phải là người được tiếng khen vì việc phước đức mình, như đã nuôi con cái, đãi đằng khách lạ, rửa chơn thánh đồ, cứu giúp kẻ khốn nạn, và làm đủ các việc phước đức” (c.9,10).
Trong bảng liệt kê các đức tính này, có một điểm nổi bật là tính bất vị kỷ. Có một số quả phụ chọn vào một nhà tu kín sau khi mất người bạn đời để chẳng bao giờ còn ra khỏi đó nữa. Lẽ dĩ nhiên, mất đi người bạn đời có thể là kinh nghiệm đau khổ mà người ta gặp trong đời này, như nhiều cộng trình điều nghiên đã cho thấy. Và tôi cũng không muốn đề ra giải pháp cho vấn đề khó giải quyết đó ở đây. Tôi chỉ nói rằng chắc chắn một phương diện quan trọng của giải pháp sẽ là tìm một nơi để phục vụ, một cơ hội để tự quên mình giúp đỡ người khác. Như thế, người quả phụ sẽ tự nhận thức được rằng cuộc đời hữu dụng của mình vẫn chưa phải là bỏ đi. Người ấy có một vai trò để chu toàn trong việc phục vụ Chủ mình. Và người ấy phải tận hiến cho vai trò ấy.
Các quả phụ trẻ (ITi1Tm 5:11-15). Trong khúc sách tiếp theo là c.11-15, chúng ta thấy Phao-lô là một con người thực tế. Do biết rõ tâm lý của các phụ nữ trẻ, ông bảo rằng đòi hỏi ở họ những điều không tự nhiên và trái với các ước vọng thuộc thể của họ là bất công và thiếu khôn ngoan. Cho nên “ban các quả phụ” chỉ mở cửa cho các bà trên sáu mươi tuổi mà thôi. Các quả phụ còn trẻ hơn thì được khuyên là nên tái giá (5:14). Cứ sống độc thân là tự mở đường cho sự cám dỗ không cần thiết.
Chắc mọi người đều mong cho cái thực tế chủ nghĩa kh6n ngoan này được áp dụng trong mọi phong trào Cơ Đốc giáo đề cao đời sống cộng đồng. Trong các cộng đồng thanh niên nam nữ thường có nhiều người đáp lại tiếng gọi hãy sống một cuộc đời cao đẹp hơn cũng nhận cả những người độc tân, để tham gia một loại cộng đồng để sống và phục vụ đặc biệt. Nhưng những câu chuyện đáng buồn về tình trạng bại hoại về luân lý đạo đức trong các cộng đồng như thế phải cảnh cáo chúng ta nên thận trọng trong vấn đề thu nhận những người độc thân hãy còn trẻ và trong tuổi trung niên muốn phục vụ Đức Chúa Trời một cách đặc biệt.
Chăm sóc cho các thành viên cao tuổi trong gia đình (ITi1Tm 5:4, 8, 16)
Ba câu trong đoạn sách này được dành để chứng minh sự cần thiết là các bà con thân nhân phải chăm lo cho các thành viên lớn tuổi của gia đình. Phao-lô dùng một số lời lẽ có phần nặng nề để nhấn mạnh luận điểm của ông. a. Trong câu 4, ông viết “Nhưng nếu bà goá co con hoặc cháu, thì con cháu trước phải học làm điều thảo đối với nhà riêng mình và báo đáp cha mẹ; vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời”. b. Phao-lô xem loại chăm sóc đó là một cách “báo đáp cha mẹ (ông bà)”. c. Rồi ông viết “điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời”. d. Trong câu 8, lời lẽ thậm chí còn nặng hơn “Ví bằng có ai không săn sóc đến bà con mình, nhât là không săn sóc đến người nhà mình, ấy là người chối bỏ đức tin, lại xấu hơn người không tin nữa”. Câu 16 a chép: “Nếu tín đồ nào có đờn bà goá trong nhà mình, thì phải giúp đỡ họ” f. Một lý do để điều này được xem là auan trọng là vì “hầu cho Hội Thánh có thể giúp đỡ những người thật túng thiếu”.
Sáu đề xuất quan trọng đã được nêu ra ở đây, mà mỗi một đề xuất đều có nhiều điều để nói liên quan đến xã hội đương đại. Chăm lo cho cha mẹ già cả vốn là tập quán bình thường của nhiều thế hệ đã qua. Nhưng trong những năm gần đây, nó đã không còn được xem là điều tự nhiên như trước nữa, vì nó kéo theo nhiều rắc rối và thường gây trở ngại cho các mục tiêu cá nhân. Khi con cái cần quyết định về sự nghiệp và nghề nghiệp ngày nay, rất ít khi lời kêu gọi hãy chăm lo săn sóc cho cha mẹ được hình dung nổi bật trong tiến trình đưa ra quyết định.
Loại bổn phận báo hiếu cho cha mẹ như thế thường kéo theo nhiều đau khổ. Thế nhưng ước muốn tránh khổ không thể là lý do để chối bỏ các trách nhiệm của mình. Đau khổ vốn đã được đan dệt vào trong bản chất của cuộc đời trong cái thế giới đã sa bại này. Nếp sống đầy tình yêu thương của Cơ Đốc giáo luôn luôn cùng mang theo một cái chén đắng với nó. Há không phải chúng ta đang theo một Cứu Chúa đã chịu thống khổ đã kêu gọi chúng ta hãy phó mạng sống cho người khác như chính Ngài đã làm (GiGa 15:12-14) hay sao? Há không phải chúng ta đã được dạy bảo rằng Đấng Chủ Tể đã dùng đến sự đau khổ để suy gẫm về một số việc sâu nhiệm vì lợi ích cho cuộc đời chúng ta (1:2-4) hay sao? Cho nên, chúng ta chớ cố tìm cách tránh né đau khổ sở dĩ xảy đến vì chúng ta tận tuỵ với bổn phận của mình. Chúng ta sẽ đương đầu với nó với dự kiến là công tác cung ứng và tể trị của Đức Chúa Trời sẽ lợi dụng nó để tạo ra điều ích lợi cho chúng ta.
Một vấn đề có liên quan vớ đề mục thích gọi Cơ Đốc nhân hãy chăm nom săn cóc cho cha mẹ, là trách nhiệm của những người tiếp theo các đạo khác nhưng nay đã ăn năn theo Cơ Đốc giáo phải có đối với gia đình họ. Phần lớn cha mẹ của những người nay đã ăn năn quy đạo đều oán ghét con cái họ vì đã bỏ đạo của gia đình trừ phi khi chính họ cũng đã đến với Chúa Cứu Thế, là điều vẫn thường xảy ra. Một trong những nỗi lo sợ lớn nhất của họ, là con cái họ sẽ không đảm đương các trách nhiệm đối với gi đình nữa. Thường thường thì nỗi sợ đó của họ vốn không phải là vô căn cứ. Đời sống người mới ăn năn quy đạo bắt đầu xoay quanh gia đình thuộc linh mới thành lập của họ quá nhiều đến mức họ chểnh mảng bỏ bê gia đình thuộc thể của họ. Tôi tin rằng lời lẽ của Phao-lô đề cập việc chối bỏ đức tin cũng áp dụng cho số người này nữa, vì họ làm ô danh Chúa Cứu Thế vì thiếu quan tâm đến gia đình riêng. Chẳng hạn như chúng ta có khuyến khích một thanh niên là Cơ Đốc nhân hoãn lại đám cưới của mình, nếu cần để lo cho đám cưới của các chị (em) cậu ta, hay không? Đó há không phải là việc mở rộng cái nguyên tắc báo hiếu cho cha mẹ (ITi1Tm 5:4) hay sao?
Một thí dụ minh hoạ bổ ích rút ra từ kinh nghiệm của một người thuộc một gia đình ngoan đạo Ba-la-môn tại Ấn Độ, đã trở thành một Cơ Đốc nhân Tin Lành. Anh ta bị gia đình đuổi đi. Suốt nhiều năm, họ chẳng còn liên hệ gì với anh ta nữa cả. Rồi cha anh ta chết. Theo tập quán đã được đạo Bá-la-môn thừa nhận, người tín đồ Tin Lành này bắt đầu gởi tiền đều đặn trợ cấp cho thân mẫu đã trở thành quả phụ của anh. Bà nhận tiền trợ cấp những vẫn từ chối tiếp xúc với anh ta. Sự việc này xảy ra luôn sáu tháng. Cuối cùng việc tiếp xúc đã được tái lập. Khi việc này xảy ra, anh tín đồ Tin Lành càng tỏ ra ngày càng sẵn sàng hơn nữa trong việc nhận trách nhiệm lo cho sự an vui của mẹ mình. Hiện nay, bà ta rất tự hào với mối quan tâm của anh ta, và cửa nhà họ đã được mở cho một người vào, làm chứng đạo cho cả gia đình.
Lời lẽ của Phao-lô nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của các mối liên hệ trong công tác làm lãnh đạo Cơ Đốc giáo. Cơ Đốc giáo là một tôn giáo cộng đồng. Mà các cộng đồng tồn tại là nhờ các mối liên hệ. Khi các mối liên hệ bị tan vỡ, thì các cộng đồng cũng tan rã theo. Cho nên, dù một người lãnh đạo có tài giỏi đến đâu, nếu ông ta không chăm chút cho các mối liên hệ của mình, thì sẽ không thể nào thành công.
Ứng dụng cá nhân
Đánh giá mối liên hệ của bạn với từng nhóm một trong sáu hạng người đã được đề cạp trong bài học này. Viết ra bât luận một thay đổi cụ thể nào mà có lẽ bạn cần phải làm trong các mối liên hệ này.

GIÁM SÁT CÁC CẤP LÃNH ĐẠO
(ITi1Tm 5:17-25)
Phao-lô viết thêm cho Ti-mô-thê nhiều điều giáo huấn đặc thù về cách liên hệ với nhiều hạng người khác nhau trong Hội Thánh. Tiếp tục chủ đề các lời chỉ giáo về các mối liên hệ, ông chuyển sang một trong số các mối liên hệ tế nhị nhất mà Ti-mô-thê sẽ phải gặp, đó là mối liên hệ giữa ông với các cấp lãnh đạo cao nhất trong Hội Thánh, tức là các trưởng lão (5:17-25).
Trả lương cho cán bộ (5:17, 18)
Trước hết, Phao-lô đề cập vấn đề cung lương cho các trưởng lão “Các trưởng lão khéo cai trị Hội Thánh thì mình phải kính trọng bội phần, nhất là những người chịu chức rao giảng và dạy dỗ” (c.17). Hai từ ngữ “kính” và “thừ nhận” được dùng trong câu 3 chỉ là một trong Hy văn (cho nên bản dịch Việt văn chỉ dịch có một chữ là “kính” mà thôi). trong câu 3, nó đã được dùng liên hệ với việc trợ cấp cho các quả phụ. Ở đây, Phao-lô viết các trưởng lão “thì đáng được kính trọng bội phần”. câu này không có nghĩa là họ phải được trả lương gấp đôi, mà phải được cung cấp đầy đủ để được tự do tập trung vào các chức vụ của họ.
Để hậu thuẫn cho luận điểm này, Phao-lô dùng hai câu trích dẫn từ Kinh Thánh (5:19). Câu thứ nhất là từ PhuDnl 25:4 “Ngươi chớ khớp miệng con bò đương đạp lúa”. Đây là một mệnh lệnh được ban hành do coi trọng loài gia súc. Nông dân thỉnh thoảng phải để cho chúng ăn chút ít trong khi lao động đạp lúa. Câu trích dẫn thứ hai là từ lời phán dạy của Chúa Giê-xu. “Người làm công thì đáng hưởng lương”. Đây là lần đầu tiên, lời phán của Chúa Giê-xu được mô tả như một thành phần của Kinh Thánh. Có lẽ bấy giờ đã có những bộ sưu tập lời phán dạy của Chúa Giê-xu đang được lưu hành, và Hội Thánh đã xem các lời truyền phán ấy là có uy quyền của Đức Chúa Trời, y như Kinh Thánh Cựu Ước vậy.
Phao-lô muốn bảo đảm rằng Hội Thánh không lợi dụng các các bộ Cơ Đốc giáo đã bỏ nghề nghiệp làm ăn riêng của họ để tận hiến cho công việc Chúa. Đây là một chứng cứ hiển nhiên cho thấy trong Hội Thánh nguyên thuỷ đã có chức vụ được trả lương. Trước đó Phao-lô có dạy rằng những kẻ tham tiền thì không đủ phẩm cách để thi hành chức vụ (ITi1Tm 3:3). Ông phàn nàn việc các cán bộ Cơ Đốc giáo bị Hội Thánh bóc lột vì không tưởng thưởng cho họ thật đầy đủ.
Tại nhiều nơi trên thế giới, dường như có hai thái cực trong cách cung lương cho các cán bộ Cơ Đốc giáo, với chỉ có một số ít là thuộc tường hợp trung dung mà thôi. Một mặt, có nhiều vị mục sư trong nhiều Hội Thánh hoặc tổ chức đang được trả lương rất kém khiến chức vụ của họ bị nhiều gánh nặng tài chính ngăn trở. Mặt khác, lại có người được cấp lương thật cao.
Tôi tin rằng lương bổng kém trả cho quý vị mục sư của chúng ta là một dấu hiệu nghiêm trọng của sức khoẻ kém của cộng đồng Cơ Đốc giáo. Đó có thể là một dấu hiệu cho thấy Hội Thánh thiếu quan tâm đến vấn đề phúc lợi của các cán bộ của mình. Đó có thể là một dấu hiệu về sự thất bại của Hội Thánh trong việc nuôi dưỡng các Cơ Đốc nhân dã học tập để biết đóng góp quyên tặng đúng theo lời truyền dạy của Kinh Thánh. Đó cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy Hội Thánh thiếu nhiệt thành đối với phẩm chất của chức vụ của các cán bộ của mình. Lẽ dĩ nhiên, đây là một thứ vòng lẩn quẩn, nếu Hội Thánh không công bằng trong vấn đề trả lương cho cán bộ của mình, thì chẳng có gì để lấy làm lạ nếu các cán bộ ấy, do thiếu động cơ thúc đẩy vì bị đối xử bất công như thế, nên hậu quả của nó là họ sẽ bắt đầu thi hành một chức vụ có phẩm chất thấp.
Chủ điểm mà Phao-lô muốn nói ở đây là quý vị mục sư phải được giải thoát khỏi các gánh nặng tài chính để có thể tập trung vào chức vụ. Hội Thánh phải tự xem là mình có trách nhiệm bảo đảm cho vấn đề này.
Sau khi đã nói như thế rồi, chúng tôi sẽ phải nói thêm rằng vì muốn trở thành các nhân chứng tốt giữa vòng đám người nghèo, một số cán bộ Cơ Đốc giáo có lẽ đã được kêu gọi để phải sống tương đối nghèo thiếu. Thí dụ như tại Sri Lanka, một tỷ lệ khá đông dân chúng của chúng tôi vốn nghèo thiếu. Vì Cơ Đốc giáo vốn ít thâm nhập được vào đám dân nghèo, có lẽ nhiều cán bộ Cơ Đốc giáo vốn được kêu gọi để phải sống đơn giản hơn là nếp sống bình thường của số các Cơ Đốc nhân trung bình.
Chúng tôi cũng phải ghi khắc vào tâm trí rằng đối với một số người theo Phật giáo trung bình và đa số người theo Ấn giáo, thì sống đơn gản được xem là một phần cần thiết của người ngoan đạo. Một nếp sống thừa mứa phong phí sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính cách đáng tin của chúng ta và đóng cửa không cho chúng ta làm chứng đạo cho họ. Lẽ dĩ nhiên, có một số người chưa tin Chúa nghèo khổ bị các Hội Thánh, Cơ Đốc giáo có vẻ giàu có cuốn hút, vì họ cảm thấy có thể nhờ vả được vào số của cải kia. Nhưng khổ thay, đã có quá nhiều người đượcgọi ăn năn quay về với Chúa Cứu Thế gần đây và trong quá khứ của lịch sử lại là các thí dụ về những người chỉ đến để nhận trợ cấp kinh tế nếu họ trở thành Cơ Đốc nhân mà thôi. Số người ấy từng được gọi là “tín đồ gạo” chớ không phải là những người thật lòng muốn theo Chúa Cứu Thế.
Giảng và dạy, bí quyết của quyền lãnh đạo (ITi1Tm 5:17).
Phao-lô có một câu nói bóng gió lý thú về vai trò của công tác giảng dạy trong vấn đề điều khiển Hội Thánh. Dường như ông muốn nói rằng “các trưởng lão khéo cai trị (các công việc của) Hội Thánh… đặc biệt là những người làm công tác rao giảng và dạy dỗ” (c.17). Tôi tin rằng chúng tội đã nói đúng khi ngầm hiểu câu này rằng hai công tác truyền giảng và dạy dỗ là các lực lượng hàng đầu trong vấn đề cai trị, điều khiển Hội Thánh. Chính vì lý do ấy mà các sứ đồ trong Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem mới cần được biệt riêng ra khỏi các bổn phận khác để chuyên lo cho chức vụ cầu nguyện và phục vụ Lời Chúa mà thôi (Cong Cv 6:2, 4).
Đức Chúa Trời là Đấng lãnh đạo tối hậu của dân (những người thuộc về) Ngài. Nếu quả đúng như thế, thì trước hết, họ phải được chính Lời Ngài hướng dẫn, lãnh đạo. Vị lãnh đạo là con người hướng dẫn nhóm, người ấy có trách nhiệm truyền đạo Lời đó cho họ. Muốn làm việc này cho chính xác, vị ấy phải dành thì giờ sống riêng ra với Đức Chúa Trời bằng cách cầu nguyện và suy gẫm Lời Ngài. Chỉ có làm như thế, vị ấy mới có thể đại diện được đầy đủ cho Đức Chúa Trời là Lãnh Tụ thật sự của dân (người thuộc về) Ngài.
Vậy quyền lãnh đạo Cơ Đốc giáo thiết yếu phải được thực thi thông qua việc truyền đạt ý chỉ của Đức Chúa Trời cho người thuộc về Ngài. Đến lượt nó, công tác này chủ yếu được thực hiện thông qua hai chức vụ truyền đạt ý chỉ của Đức Chúa Trời cho người thuộc về Ngài. Đến lượt nó, công tác này chủ yếu được thực hiện thông qua hai chức vụ truyền giảng và dạy dỗ. Cho nên nhiệm vụ chủ yếu của một người lãnh đạo là truyền giảng và dạy dỗ.
Ngày nay, dường như có xu hướng trong Hội Thánh muốn chuyển sang một chiều hướng khác hẳn. Joseph Bayly từng trình về xu hướng này như sau: “Dường như các nhà quản lý và quản trị đang thay thế cho các nhà tiền phong và lãnh đạo trong các tổ chức Cơ Đốc giáo của chúng ta. Việc kinh doanh theo lối Mỹ này còn có nhiều cách điều chỉnh tương tự khác kèm theo” (The How to Church” Eternity, January, 1983, p.15). Cái xu hướng mới mẻ này đặt điểm chú trọng đầu tiên của quyền lãnh đạo trên công tác quản lý và auản trị chớ không phải là trên chức vụ (giảng và dạy) Lời Chúa. Cho nên các trách nhiệm lớn của một giám mục hay vị chủ toạ Hội Thánh hay vị giám đốc một tổ chức Cơ Đốc giáo là các trách nhiệm về quản trị hành chánh. Các kỹ năng hàng đầu của ông ta phải là về vấn đề quản lý tổ chức ấy. Đối với họ, hướng dẫn cho người ta nhận thức được về Lời Đức Chúa Trời chỉ là vai trò phụ trong công tác lãnh đạo.
Lẽ dĩ nhiên, tất cả các nhà lãnh đạo đều phải phát triển các kỹ năng quản trị của mình là điều thiết yếu. Nhưng nếu công tác này trở thành chức năng chủ yếu của công tác lãnh đạo, thì Hội Thánh hay tổ chức Cơ Đốc giáo sẽ trở thành giống hệ một tổ chức ngoài đời. Nó sẽ không tiến về phía trước theo tiếng phán của Đức Chúa Trời để đi vào các công trình khai thác mới mẻ của Nước Trời. Nó sẽ bị mất đi vai trò tiên tri của mình cùng với lời phân biệt từ Đức Chúa Trời đến cho hế hệ của chúng ta, nếu công tác lãnh đạo dành quyền ưu tiên quá thấp cho việc được nghe Lời Đức Chúa Trời rồi truyền lại cho Hội Thánh.
Khi môt người lãnh đạo phạm tội (ITi1Tm 5:19-21)
Sau phần đề cập vấn đề trả lương cho các trưởng lão, Phao-lô chuyển sang đề mục khiển trách các trưởng lão. “Đừng chấp một cái đơn nào kiện một trưởng lão mà không có hai hoặc ba người làm chứng”. Không thể phó mặc các trưởng lão cho một kẻ có ác ý nào đó muốn tố cáo là họ dã hành động sai lầm.
Vì các quyết định và hành động của các cấp lãnh đạo ảnh hưởng đến một số đông người, họ có cơ hội rộng rãi để đối xử sai lầm với người khác, nếu một người lãnh đạo có sửa phạt một ai đó hay đem ra một quyết định mà một người nào đó không thích, thì người ấy có thể oán giận người lãnh đạo. Những xúc động như thế có thể khiến cho các phê phán và ý kiến của người ấy đối với vị lãnh đạo trở thành hoàn toàn không chính xác. Ngay đến một người thành thật, thánh thiện cũng có thể sai lầm vì các cảm nghĩ xấu của cá nhân người ấy đối với một người khác, khiến người âý lý giải sai các hành động của người kia, dẫn tới những phê phán sai lầm về người kia. Đặc biệt là các cấp lãnh đạo rất dễ bị hiểu lầm do thiên kiến tự nhiên muốn chống lại quyền lãnh đạo, là điều vốn hết sức phổ biến hiện nay.
Với những khả năng có thể cáo gian đó, Phao-lô khuyên Ti-mô-thê chớ nên có hành động ngay khi có một đơn tố cáo trước khi đã chắc chắn được các sự kiện. Phương pháp tốt nhất để biết chắc chắn, là nhờ nhiều nhân chứng được lập chứng thực cho việc làm sai trái.
Tuy nhiên, nếu lời tố cáo được chứng minh là đúng, thì Ti-mô-thê không nên cố tìm cách dập tắt nó đi. “Kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ.” (c.20). Tôi phải thú nhận rằng đây là câu đã khiến tôi giật mình và bối rối nhất trong cả thư tín này. Nó là chứng cứ hiển nhiên cho việc các cấp lãnh đạo có nhiệt tâm cần phải thù ghét những điều làm ô danh Đức Chúa Trời. Một số các nhà giải kinh đã giảm bớt sức mạnh của câu này bằng cách lý giải từ ngữ “trước mặt mọi người” (publicly: công khai) chỉ là trước mặt các trưởng lạo (xử lý nội bộ!) mà thôi. Nhưng giải nghĩa như thế dường như là không tự nhiên so với văn cảnh. Dường như Phao-lô gợi ý là phải vạch trần tất cả trước Hội Thánh.
Các cấp lãnh đạo phải nêu gương cho người thuộc về Đưc Chúa Trời về vẻ đẹp của đức hạnh. Nhưng khi không làm được như thế, họ lại trở thành những tấm gương xấu vê tội lỗi. Cho nên khi một người lãnh đạo phạm tội, thì điều đó trở thành một mối bận tâm nghiêm trọng cho Hội Thánh. Hội Thánh phải thẳng thắn trực diện với sự kiện một người vốn được trông mong nêu gương tốt, nhưng lại làm trái hẳn lại, cho nên người ấy phải bị khiển trách trước một số người mà ông ta đã nêu gương xấu kia. Trách nhiệm lãnh đạo là điêu đáng sợ biết bao!
Trong phần thứ hai của câu này Phao-lô đưa ra kết quả tích cực sau khi các cấp lãnh đạo Hội Thánh đã bị khiển trách công khai: “Để… cho kẻ khác sợ”. Những người khác trong Hội Thánh sẽ nhận thức được rằng nếu một cấp lãnh đạo đã có thể phạm tội và bị trừng phạt, thì điều đó cũng có thể xảy đến cho chính họ nữa. Họ cũng có thể hiểu rằng các cấp lãnh đạo mà phạm tội, thì làm ô danh Đức Chúa Trời. Họ sẽ được cảnh báo rằng Hội Thánh không thể dung túng cho tội lỗi. Họ sẽ hiểu rằng nếu muốn cộng tác với người thuộc về Đức Chúa Trời thì họ phải xa lánh điều ác. Họ cũng được cảnh cáo là chính họ cũng có thể bị hạ nhục như vị lãnh đạo kia nếu họ cũng phạm tội như ông ta. Sợ bị trừng phạt có vẻ là một động cơ quá thấp kém để người ta biết sống thánh khiết, nhưng do bản tính con người, nhiều khi chúng ta cũng cần những sự thật làm giật mình như thế để giúp chúng ta không nhượng bộ sự cám dỗ.
Phao-lô đã răn bảo Ti-mô-thê thật nghiêm trọng: “Trước mặt Đức Chúa Trời, trước mặt Đức Chúa Giê-xu Christ, và trước mặt các thiên sứ được chọn, ta răn bảo con giữ những điều đó, đứng in trí trước, phàm việc gì cũng chớ tây vị bên nào” (c.21). Do bản tính nhút nhát của Ti-mô-thê, nên Phao-lô mới yêu cầu ông phải àm một việc và rất có thể là Ti-mô-thê sẽ né tránh mà không chịu làm, tức là phải sửa phạt phải thi hành kỷ luật đối với các trưởng lão phạm tội. Cho nên ông đã đưa ra một lời răn bảo nghiêm khắc để tạo ấn tượng mãnh trên Ti-mô-thê về sự cần thiết phải chu toàn cái nhiệm vụ chẳng mấy thích thú đó thật cẩn thận, trước xem như một. Nếu Ti-mô-thê thất bại tại điểm này, ông sẽ mở đường cho Hội Thánh bị tàn hại. Để cho điều đó len lỏi vào, thì hội Thánh sẽ trở thành một tổ chức nhạt nhẽo vô vị, chẳng có lửa của sự thánh khiết của Đức Chúa Trời trong đó.
Trong các vấn đề sửa trị Hội Thánh này, Ti-mô-thê phải hành động “đừng tin trí trước”. Từ ngữ Hy văn được dùng ở đây có nghĩa đen là “thành kiến” cho nên cũng có thể dịch là “thiên kiến”. Ti-mô-thê không nên chấp nhận những lời tố cáo đáng ngờ đối với một người nếu chưa điều tra đầy đủ chỉ vì ông không ưa người kia. Thật là dễ tin những điều xấu mà người ta nói về những người mà mình không ưa!
Tiếp theo đó, Phao-lô viết: “phàm làm việc gì cũng chớ tây vị bên nào”. Từ ngữ được dùng ở đây có nghĩa đen là “thiên vị”. Có nhiều người mà tự nhiên, chúng ta như bị cuốn hút để hướng về phía họ. Khi một lời tố cáo họ đã được chứng minh là đúng, chúng ta có thể biện bạch cho việc làm sai trái kia của họ hoặc tỏ ra khoan dung đối với họ vì ta thích họ, và đó là thái độ tây vị đã đến tình trạng tệ hại. Mọi người chúng ta đều có xu hướng muốn phân loại thiên hạ ra thành hai loại người tốt và người xấu. Khi số người tốt làm sai, ta bào chữa cho họ. Nhưng khi kẻ xấu làm điều tốt, chúng ta lại có xu hướng gán ghép nhiều động cơ thúc đẩy thầm kín cho họ.
Các cấp lãnh đão không nên ưa thích người này mà không ưa người kia. Nhưng phải biết chắc chăm về cả những người mình thích lẫn không ưa, những người mình có thiện cảm và những người mà mình có thành kiến, đừng để cho điều đó ảnh hưởng đến các hành động ở cương vị lãnh đạo của mình. Điều này đặc biệt quan trọng vì Hội Thánh phải có một lập trường khắt khe như thế đối với tội lỗi. Nếu không có thái độ trước sau như một ở đây, hậu quả có thể sẽ là đủ thứ bất cập và lạm dụng.
Tuyển chọn các cấp lãnh đạo (ITi1Tm 5:22-25)
Tiếp tục chủ đề về giám sát các trưởng lão ở đây. Phao-lô viết: “Đừng vội vàng đặt tay trên ai” (c.22a). Ở đây, ông đề cập nghi lễ tấn phong người vào các địa vị lãnh đạo bằng cách đặt tay trên họ. Ti-mô-thê không nên hấp tấp trong vấn đề bổ nhiệm các cấp lãnh đạo. Ông phải điều tra thật thấu đáo về một người trước khi bổ nhiệm. Một khi đã phong chức cho một người, thì thật là khó khăn và phiền toái nếu phải cách chức người ấy nếu ông ta chứng tỏ là không phù hợp, tuy lắm khi đó là việc phải làm. Nhưng trước khi việc ấy xảy ra, sẽ có rất nhiều tổn thất. Cho nên, thì chậm thi hành việc bổ nhiệm còn hơn.
Phao-lô viết tiếp: “Chớ hề nhúng vào tội lỗi kẻ khác”, ám chỉ trách nhiệm cá nhân mà người lãnh đạo phải chịu khi bổ nhiệm một người nào đó vào một chức vị trong Hội Thánh. Nếu Ti-mô-thê bổ nhiệm một người nào đó, thì ông phải chịu trách nhiệm về việc lựa chọn ấy, và về một phương diện nào đó, phải chịu trách nhiệm về cách ăn ơ cư xử của người ấy cũng như bất kỳ một tội lỗi nào mà người ấy có thể phạm phải. Ông không thể đơn giản rửa tay mình trong hoàn cảnh như thế. Ông phải nhận phần mình trong vụ việc gậy tai tiếng ấy. Cho nên ông cần phải hết sức thận trọng khi bổ nhiệm các cấp lãnh đạo.
Nhiều công tác cho Cơ Đốc giáo ngày nay đang được thực hiện theo phương pháp được gọi là “hệ thống dự án”. Một dự án đề xuất được trích lên cho một tác nhân cung cấp ngân quỹ. Khi tác nhân cung cấp ngân quỹ ấy chấp thuận thì tiền bạc được gởi đến. Nhiều khi chính tác nhân cấp ngân quỹ ấy tự quyết định lấy dự án đó là gì và gởi tiền kèm theo những chỉ dẫn phải tiêu tiền như thế nào.
Một khi tiền bạc đã được gởi đến rồi, thì điều thiết yếu là dự án ấy phải được thi hành khôngchậm trễ. Nhưng thường thường thì lại không có người phù hợp để thực hiện công tác ấy, và nhiều người đã được chỉ định một cách sa lầm. Vì phương pháp và các kỹ thuật sử dụng đều có hiệu quả cho nên dự án là một thành công theo phương diện thống kê mà thôi. Nhưng nếu nhìn từ viễn cảnh của thiên đàng thì sao? Một phần lớn công tác ấy sẽ được chứng minh chỉ có phẩm chất của gỗ , cỏ khô và rơm rạ khi các ngọn lửa phán xét của Đức Chúa Trời được đưa đến để thử nghiệm nó (ICo1Cr 3:12). Vì nó đã được thực hiện do các động cơ thúc đẩy sai lầm do những người sai trái, nên nó không được Đức Chúa Trời chuẩn nhận.
Chúng ta thường nghe thiên hạ nói rằng tiền bạc là chiếc chìa khoá của công tác truyền bá Phúc Âm cho cả thế gian. Họ nói chỉ cần chúng ta có đủ tiền chúng ta sẽ có thể đi khiến thế gian này để đưa người ta về với Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên, có nhiều khi như các trường hợp vừa kể trên, tiền bạc lại trở thành lời nguyền rủa chớ không phải là một chiếc chìa khoá. Các cán bộ tận hiến mới là chiếc chìa khoá. Tôi tin rằng nhiều khi chúng ta phải chờ đợi - thậm chí phải kéo chậm tiến độ lại - cho đến khi nào Đức Chúa Trời cung cấp những cán bộ như thế.
Lời kế tiếp của Phao-lô cho Ti-mô-thê là “Hãy giữ mình cho thanh sạch” (ITi1Tm 5:22c). Phải chăng Phao-lô ngụ ý dạy rằng hãy tự giữ mình thánh sạch bằng cách chọn cho đúng các cấp lãnh đạo? Rất có thể. Nhưng càng có lý hơn là ông có ý muốn tạo ấn tượng mạnh trên Ti-mô-thê về sự kiện do ông là người lãnh đạo chủ chốt, cho nên điều rất quan trọng là Ti-mô-thê phải giữ mình trong sạch. Lẽ dĩ nhiên là Ti-mô-thê phải bổ nhiệm các cán bộ trong sạch. Nhưng điều còn quan trọng hơn nữa, là Ti-mô-thê phải quan tậm tự giữ mình cho trong sạch trước đã.
Trong sách này, từ ngữ “thanh sạch” đã xuất hiện ba lần liên quan đến nếp sống của người lãnh đạo (xem 4:12 và 5:2). Như chúng tôi đã nói trước đây từ ngữ này có ý niệm song phương về sự trong sạch luân lý đạo đức và động cơ thúc đẩy trung thực, ngon lành. Chỉ khi nào Ti-mô-thê tự giữ mình trong sạch ông mới có thể áp dụng có hiệp lực các tiêu chuẩn cao trên các cấp lãnh đạo khác của Hội Thánh trước sau như một. Chỉ khi nào ông có đầy đủ tư cách thì ông mới có thể khiển trách và sửa trị những người khác nếu họ phạm tội. Muốn cho Hội Thánh có những người tự hiến trong các địa vị có trách nhiệm, thì các cấp lãnh đạo chủ chốt phải đặt ra tiêu chuẩn là phải hoàn toàn tận hiến cho Chúa Cứu Thế. Nếu sự tận hiến đó bị thiếu đi, thì chất độc sẽ từ từ lan ra như bệnh lở loét trên khắp cơ thể khiến cho toàn thể cộng đồng bị phá sản thuộc linh.
Phao-lô đưa vào đây một nhận xét cá nhân bất thường liên hệ đến sức khoẻ của Ti-mô-thê. Câu đề cập sức khoẻ của Ti-mô-thê này rất điển hình là của Phao-lô và là một luận cứ vững mạnh hậu thuẫn cho sự kiện chính phao-lô đã viết bức thư này. Ông viết: “Đừng chỉ uống nước luôn; nhưng phải uống một ít rượu, vì cớ tì vị con, và con hay khó ở” (c.23). Phao-lô vừa khuyên Ti-mô-thê phải giữ mình trong sạch. Nhưng nói như thế không có nghĩa là bảo rằng Ti-mô-thê phải coi thường sức khoẻ thực tế của mình như những kẻ theo tà giáo khắc khổ tại Ê-phê-sô.
Phương diện thuộc thể của một con người không phải là xấu như các giáo sư giả này vẫn rêu ra. Thân thể vốn có các nhu cầu của nó, cho nên Ti-mô-thê phải trông nom săn sóc cho nó. Ông vốn là một người kém sức khoẻ, mà người ta tin rằng rượu (nho: wine) rất tốt cho sức khoẻ của ông. Trước đây, Phao-lô từng dạy rằng rèn luyện thân thể chẳng được lợi ích bao nhiêu, trong khi sống tin kính có giá trị rất lợi (4:8). Lúc đó, ông đang dạy Ti-mô-thê phải sắp xếp các quyền ưu tiên hành động cho đúng. Thế nhưng nói như thế không có nghĩa là bảo rằng Ti-mô-thê phải lơ là chểnh mảng phương diện thực thể của đời sống ông.
Phao-lô quay trở lại với chủ đề hình thành một cách đánh giá con người ta cho đúng. Ông viết rằng “có người thì tội lỗi bị bày tỏ và chỉ ngồi đó ra trước khi phán xét; còn có người thì sau rồi mới bị bày tỏ ra” (c.24). Một số người phạm tội lộ liễu khiến ai nấy đều biết hậu quả sẽ như thế nào khi họ bị đưa ra xét xử. Nhưng tội lỗi của một số người khác thì kém rõ ràng hơn. Họ vẫn kéo lê chúng sau lưng nhưng không thể phát giác được ngay. Nhưng cuối cùng thì rồi các tội lỗi ấy cùng đều bị đưa ra cùng với họ trong cuộc phán xét.
Một người trung tín nhóm lại và nêu đầy đủ dấu hiệu cho thấy mình là một Cơ Đốc nhân ngoại đạo có thể là một kẻ bất lương trong công việc, không tử tế ở nhà riêng, hãy không thể tin cậy trong các vấn đề liên quan đến tiền bạc. Các tội ấy chỉ hiện rõ sau khi điều tra cẩn thận. Do đó mà Ti-mô-thê không nên hấp tấp đặt người vào địa vị lãnh đạo. trước hết, ông phải cố tìm hiểu xem người đang được chọn vào địa vị ấy thuộc loại người như thế nào đã.
Như tội lỗi của một người vốn không hiện ra rõ ràng trên bề mặt thể nào, thì sự thánh thiện của người ấy có thể cũng không hiện ra ngay (c.25), cho nên một lãnh đạo giỏi phải cẩn thận tìm hiểu các đức tính tốt của người ta.
Qua cả phần nghiên cứu này, tôi đã luôn luôn kinh ngạc về trách nhiệm đáng sợ của một người được giao cho nhiệm vụ lãnh đạo những người thuộc về Đức Chúa Trời. Quyền lãnh đạo không phải là điều có thể xem nhẹ. Quyền lãnh đạo không phải là một địa vị mở rộng và sẵn sàng cho tất cả mọi người. Chỉ có người có phẩm cách thuộc linh mới có thể đảm nhiệm vai trò ấy. Nếu chúng ta bị thiếu tiêu chuẩn ở đây, tức là mở cửa cho sự tàn hại bên trong Hội Thánh.
Ứng dụng cá nhân
1. Các cán bộ phục vụ trọn vẹn thì giờ trong Hội Thánh hay tổ chức của bạn có được trả lương đầy đủ không? Nếu không, bạn phải làm gì cho vấn đề ấy? Các cấp lãnh đạo là tín đồ thường phải tự xem là mình có trách nhiệm quan trọng phải bảo đảm rằng các công nhân của mình đã được trả lương đầy đủ.
2. Vấn đề điều khiển Hội Thánh hay tổ chức của bạn được căn cứ trước nhất vào công tác phục vụ Lời Chúa hay vào việc phục vụ một triết lý nào khác? Nếu không được căn cứ vào việc phục vụ Lời Chúa, bạn có thể làm gì để kéo nó trở lại với viễn cảnh của quyền lãnh đạo theo Kinh Thánh?

THÁI ĐỘ CỦA CƠ ĐỐC NHÂN ĐỐI VỚI CỦA CẢI
(ITi1Tm 6:5c-10)
Một trong những điều lợi ích lớn nhất của việc đọc cả một quyển sách trong Thánh Kinh để nghiên cứu một đề mục cá biệt, là nhiều chủ đề không thường được khảo xét trong một cuộc nghiên cứu như thế lại bất ngờ nổi bật hẳn lên đòi hỏi chúng ta phải quan tâm tra xét. Chúng ta thường không khảo xét chủ đề về thái độ của một người đối với của cải tài sản trong một giáo trình về quyền lãnh đạo. Thế nhưng chủ đề này lại có mặt nổi bật hẳn lên trong ITi-mô-thê.
Kinh nghiệm cho chúng ta biết chủ đề về thái độ của một người đối với của cải rất quan trọng cho bất luận một cuộc thảo luận nào về quyền lãnh đạo, bởi vì thái độ của một người đối với của cải vật chất có ảnh hưởng lớn lao đến mối liên hệ của người ấy với Đức Chúa Trời. Chúng ta đều biết có những Cơ Đốc nhân sẵn sàng dâng hiến mọi sự cho Đức Chúa Trời lúc họ còn trẻ;, nhưng lại trở thành hâm hẩm trong việc cống hiến. Khi đã trở về già. Một nguyên nhân chủ yếu cho sự trược dốc đó là một thái độ phi Cơ Đốc giáo đồi với của cải tài sản. Cho nên những ai muốn hướng dẫn các Cơ Đốc nhân trẻ tiến đến mức trưởng thành cần phải truyền dạy cho họ về thái độ phải có của một Cơ Đốc nhân đối với của cải ngay từ rất sớm trong mối liên hệ đào tạo môn đệ của mình. Thật vậy, bản thân các nhà lãnh đạo Cơ Đốc giáo cũng cần thường xuyên cảnh giác để bảo đảm rằng họ không bị lệch lạc khỏi ý chỉ của Đức Chúa Trời cho đời sống họ trong lãnh vực này. Cho nên, chúng tôi thiết tưởng chẳng cần phải biện bạch gì cho việc đã đưa chủ đề ấy ra khảo xét trong một quyển sách bàn về nếp sống của người lãnh đạo.
Lấy tôn giáo làm phương tiện để trục lợi (ITi1Tm 6:5)
Phao-lô đưa thêm cho Ti-mô-thê một lời cảnh cáo liên quan đến cá cgiáo sư giả. Ông vạch trần thói xấu và các ý đồ bất chính của các giáo sư ấy rồi kết luận rằng “(Họ) coi sự tin kính như là nguồn lợi vậy” (6:5b).
Nhiều học giả nghĩ rằng rất khó có thể là câu này ngụ ý nói rằng các giáo sư này đã truyền giảng loại Cơ Đốc giáo kia như một phương tiện để làm giàu. Ngày nay, chúng ta có nghe nói về các nhà truyền đạo kêu gọi người ta đến với Chúa Cứu Thế và đã trở nên giàu có nhờ làm việc ấy. Nhưng trong Hội Thánh nguyên thuỷ, có rất ít cơ hội để các Cơ Đốc nhân có thể nhanh chóng làm giàu. Điều càng hữu lý hơn là các giáo sư giả ấy đã lợi dụng chức vụ của họ như một phương tiện để kiếm tiền. Có lẽ họ đòi chi phí cao cho công tác giảng dạy “sự tin kính” của họ như nhiều giáo sư triết học khác đồng thời với họ vậy.
Tuy chúng ta thấy là trong các thư tín của mình. Phao-lô đã nhấn mạnh rằng các cán bộ Cơ Đốc giáo phục vụ trọn vẹn thì giờ cần được trả thù lao đầy đủ (xem ICo1Cr 9:7-14; ITi1Tm 5:17-18) ông vẫn không tán thành việc sơ hở để tạo cho người thế gian cảm tưởng rằng các Cơ Đốc nhân đang lợi dụng chức vụ của họ để làm tiền. Một việc làm như thế sẽ làm ô danh Chúa Cứu Thế và bán rẻ Phúc Âm. Ở nhiều chỗ khác, bản thân ông đã từ chối nhận tiền trợ cấp cho các công tác phục vụ của mình, tuy ông có quyền làm như thế và thậm chí khi có người sẵn sàng tự nguyên giúp đỡ ông nữa. Trái lại, ông đã tự hành nghề may trại để mưu sinh (xem IICo 2Cr 9:12, 15; ITe1Tx 2:3-10). Phao-lô muốn cẩn thận gấp đôi trong lãnh vực này, nhưng vẫn khuyến khích các Hội Thánh trẻ hướng đầy đủ cho các cán bộ của mình. Tuy nhiên, số cán bộ này không bao giờ nên đặt tiền bạc làm chuẩn điểm cho chức vụ của họ. Thật vậy, Phao-lô nhấn mạnh rằng không nên bổ nhiệm “kẻ ham tiền bạc” vào chức vụ (ITi1Tm 3:3).
Nếu chúng ta áp dụng câu này của Phao-lô cho Hội Thánh ngày nay, tôi cho rằng ý nghĩ đầu tiên đến với chúng ta là các nhà truyền đạo Phúc Âm đã giật dây điều khiển thiên hạ và đã lợi dụng các của dâng cho công tác truyền giảng của họ để làm giàu. Tạ ơn Đức Chúa Trời về những người như Billy Graham, nhờ rất cẩn trọng trong các vấn đề liên hệ đến tài chính, nên đã giữ được tiếng tốt cho chức danh nhà truyền đạo. Tại một vài nơi trên thế giới, các ủa dâng rất ít khi đầy đủ để trang trải chi phí. Nhưng các nhà truyền đạo thường trở nên giàu có nhờ tiền dâng của các nhà hảo tâm ở ngoài nước. Lợi tức cao của họ cho phép họ sống cao hơn mức sống kinh tế của những người mà họ phục vụ một việc làm mà chắc chắn là Phao-lô đã phản đối.
Câu này cũng nhắc nhở về số các nhà truyền đạo và diễn giả là Cơ Đốc nhân, vẫn theo thói quen ngoài xã hội, là ấn định các chi phí cho “sự xuất hiện” của họ. Nhà truyền đạo càng nổi tiếng, thì chi phí sẽ càng cao. Lẽ dĩ nhiên là những diễngiả, giảng viên như thế đã loại trừ rất thành công những người nghèo, khiến họ không thể được lợi gì từ sự khôn ngoan của diễn giả, giảng viên ấy. Các Hội Thánh nghèo sẽ không đủ tiền trả cho những chi phí cao như thế. Thánh Kinh dạy rằng chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến người nghèo. Điều đó há không phải có nghĩa rằng ít ra, một số các nhà truyền đạo giỏi nhất của chúng ta phải phục vụ cho số người nghèo trong các vùng phụ cận với tư cách là các nhà truyền đạo và mục sư của họ hay sao? Nhưng các nhà truyền đạo tài giỏi vẫn còn phải trèo cao nữa! Mà phục vụ cho số người như thế thì có nghĩa là họ đang xuống thang về phương diện đẳng cấp trong tổ chức của giáo hội (và về mặt tiền bạc nữa).
Than ôi, như các giáo sư giả vào thời của Phao-lô đã dùng hệ thống thu chi phí của người ngoại đạo cho chức vụ của họ nhiều nhà truyền giáo Phúc Âm cũng đã dùng một số ý niệm ngoại đạo về thành công ấy trong chức vụ của họ. Các ý niệm về thành công của họ vốn có liên hệ chặt chẽ với các ý nghĩ đến tiền bạc.
Sự tin kính và sự hài lòng (ITi1Tm 6:6)
Sau khi nói về loại trục lợi sai trái do chức vụ (nghĩa là lợi lộc về tài chính), Phao-lô tiếp tục mô tả điều mà một Cơ Đốc nhân phải xem là có lợi thật sự “Vả, sự tin kính cùng sự thoả lòng, ấy là một lợi lớn” (c.6). Xin chú ý việc kết hợp sự tin kính và sự thoả lòng, mà chúng ta vốn không thường thấy cùng tồn tại với nhau. Đi tìm một người “ngoan đạo” nhưng không thoả lòng thì chẳng phải khó khăn gì lắm. Về những người như thế, chúng ta có thể căn cứ vào câu nói ở đây của Phao-lô để đưa ra hàm ý rằng: sự tin kính mà không có sự thoả lòng là một mất mát lớn lao.
Tôn kính mà không hài lòng. Một người cần phải trả giá cho việc mình đã chọn nẻo đường tin kính. Chúa Cứu Thế đã gọi cái giá ấy là “thập tự giá” (Mat Mt 10:38; 16:24; Mac Mc 8:34; LuLc 9:23; 14:27). Một số người quyết định trả cái gaí ấy lại chẳng vui vẻ gì về các hậu quả của quyết định ấy. Thập tự giá có nhiều hình thức khác nhau đối với nhiều Cơ Đốc giáo khác nhau. Nó có thể có hình thức của sự mệt mỏi, sự nghèo khó, mất lòng người ta, bắt bớ bách hại, thiếu thì giờ rỗi rãnh, hay thất bại trong kinh doanh vì từ chối một số phương pháp trái với Cơ Đốc giáo. Nếu một Cơ Đốc nhân oán ghét thập tự giá, thì hậu quả sẽ là sự không hài lòng. Việc kết hợp “sự tin kính” với sự không hài lòng này - điều được nhìn thấy nơi những người vâng giữ nhiều nguyên tắc của Đức Chúa Trời nhưng không hài lòng về các hậu quả của việc làm như thế, là một mất mát lớn lao cho Nước Trời.
Những người vâng lời nhưng không hài lòng đó truyền đạt cho thế gian cái ý niệm là người tin kính thật đáng thương hại. Những người theo dõi quan sát họ có ấn tượng mạnh mẽ về việc họ tận tuỵ với bổn phận nhưng không bị cuốn hút vào hình thức tin kính mà họ thực hành kia. Họ thấy sự tin kính có nguyên nhân của một cuộc đời không hoàn thiện. Nhưng cuộc đời của Chúa Giê-xu là tấm gương duy nhất chỉ cho chúng ta thấy về từng trải của một người đã sống tin kính đạo đức, lại là “sự sống dư dật - một đời sống đầy đủ, hoàn thiện (GiGa 10:10). Một cuộc đời hoàn thiện như thế phải bao gồm cả sự hoàn thiện lẫn sự hài lòng. Nếu người được cho là tin kính (ngoan đạo) mà lại không hài lòng và không hoàn thiện (đầy đủ, dư dật) thì đó là do đời sống họ hãy còn thiếu một số thánh tổ thiết yếu của sự tin kính theo Thánh Kinh.
Không hài lòng là một lý do của điều đã được gọi là “các con cái phản loạn ngay trong gia đình các vị mục sư”. Những đứa con ấy thường được nghe các cha mẹ chúng làm mục sư tỏ ra không hài lòng, phàn nàn lằm bằm về các vấn đề họ đang gặp vì cớ chức vụ (mục sư) của họ. họ có thể phàn nàn về lương bổng thấp kém, hoặc vì một người cha hoặc người mẹ phải vắng nhà lâu ngày vì phải hoạt động theo chức vụ, hoặc vì sinh hoạt gia đình thiếu tính cách riêng tư do có quá nhiều người đến viếng thăm họ. Đám con cái bắt đầu oán ghét cái tôn giáo đã gây ra những điều không vui như thế cho đời sống của chúng. Bước tiếp theo của chúng ta nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời của cái tôn giáo đó.
Không hài lòng cũng gây ảnh hưởng xấu trên các Cơ Đốc nhân bạn. Ở một chỗ khác, Phao-lô có nói rằng khi một chi thể của thân thể bị đau, thì tất cả mọi người cùng cảm thấy đau như người ấy vậy (ICo1Cr 12:26). Vì bản tính củ đời sống của thân thể Cơ Đốc giáo là như thế, nên khi một thành viên không hài lòng, thì nỗi âu sầu đó tiêu hao khắp cơ thể, cất đi niềm vui làm Cơ Đốc nhân của tất cả mọi người. Nỗi bồn chồn bất an đó càng trở thành sắc bén hơn nếu người không hài lòng đó lại là một thành viên trung tín, chịu khó lao động, tin kính đạo đức, vì một người như thế là một phần đóng góp quan trọng cho sinh hoạt nội bộ của cả cộng đồng.
Cho nên tin kính mà không hài lòng là một mất mát lớn lao. Nhưng sự tin kính kết hợp về sự hài lòng là một lợi lớn, như nó đã được phản chiếu rõ ràng không nhầm lẫn vào đâu được, trong vẻ đẹp của kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại. Nó nói với thế gian rằng cuộc đời của Chúa Cứu Thế là dư dật và hoàn thiện. Quyền năng của nó là một thách thức đối với những người tôn thờ khoái lạc chủ nghĩa, vẫn bảo rằng thật sự hưởng thụ đời sống là cần thiết để dung dưỡng cho điều mà các Cơ Đốc nhân gọi là tội lỗi. Các tín hữu được khích lệ hãy cùng bước đi với Đức Chúa Trời. Những kẻ vô tín được thách thức hãy nhìn chăm vào Chúa Cứu Thế. Và thế là Đức Chúa Trời được tôn vinh.
Bản tính của tự hài lòng. Sự hài lòng của Cơ Đốc nhân có nghĩa gì? Thái độ hài lòng thường nảy sinh từ số phận của một người trong đời sống. Thật vậy, nhiều khi có thể nói rằng cả đến sự tin kính cùng trực tiếp có liên hệ với số phận của một người. Cho nên chúng ta mới nghe có người với đại ý: “Cứ đề cao anh ta một chút, anh ta sẽ trung tín và vui vẻ phục vụ Hội Thánh cho mà xêm!” hoặc “Nếu bà ta được chữa lành, bà ta sẽ quay trở lại với Chúa và sẽ lại vui vẻ trong mối thông công với Chúa”. Nhưng một sự tin kính và hài lòng như thế với xxxxthuộc vào các nguyên nhân quá bấp bênh. Nếu nguyên nhân được cất đi, thì sự hài lòng sẽ ra đi trước, rồi sau đó, cả sự tin kính cũng có thể sẽ nối gót theo sau.
Từ ngữ Hy văn Phao-lô dùng chỉ sự hài lòng nguyên có nghĩa là tự mãn hoặc tự chủ. Đức tính này vốn được các triết gia Khắc kỷ vào thời của Phao-lô đề cao. Họ cố tìm cách tự làm chủ bản thân đến mức có thể thản nhiên chấp nhận đương đầu với bất luận kinh nghiệm, từng trải nào.
Ý niệm hài lòng của Cơ Đốc giáo có phần giống với ý niệm tự làm chủ bản thân của người Khắc kỷ. Phao-lô viết:
“Không phải là tôi muốn nói đến sự cần dùng của tôi; vì tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thoả lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được”. (Phi Pl 4:11, 12)
Tuy nhiên, ý niệm hài lòng của Cơ Đốc giáo còn thêm vào sự vui vẻ cho ý niệm tự làm chủ bản thân của người Hy Lạp nữa. Cơ Đốc nhân tin rằng một Đức Chúa Trời tốt lành thiện hảo đang cai trị đời sống mình. Trong mọi hoàn cảnh, Đức Chúa Trời đều vận hành để mọi sự rút cục đềy đem đến điều tốt lành cho những người yêu mến Ngài (RoRm 8:28). Do đó, Cơ Đốc nhân rất hạnh phúc với số phận của mình. Người ấy biết rằng trong mọi tình hình hoàn cảnh, Đức Chúa Trời đều vận hành để mọi sự đều xảy ra theo đúng với các chủ đích của Ngài. Cho nên, sự hài lòng của Cơ Đốc nhân vượt xa đức tự chủ của người Khắc kỷ. Nó là thái độ vui vẻ chấp nhận mọi hoàn cảnh của cuộc đời.
Người Khắc kỷ chấp nhận mọi tình hình hoàn cảnh với quyết tâm “làm chủ” chúng. Còn có nhiều người khác nữa chấp nhận hoàn cảnh của họ với thái độ tiêu cực chấp nhận định mệnh. Khi có chuyện không may xảy ra, họ nói: “Tôi còn làm gì được nữa? Dù sao thì nó cũng đã xảy ra rồi. Bây giờ tôi chỉ còn có cách là học tập để sống chung với nó mà thôi”. Một người Ấn giáo có thể nói: “Đó là Karma (hay số phận nghiệp chướng) của tôi” hoặc “Đó là ý chỉ của Shiva”. Một người Hồi giáo thì có thể nói: “Đó là ý chỉ của Allah”.
Với Cơ Đốc nhân thì không phải thế. Đời sống người ấy được đặt trên nền tảng là cái tiền đề rằng một Đức Chúa Trời thiện hảo và yêu thương đang cai trị kiểm soát cuộc đời mình. Sở dĩ chúngt a làm chủ được mọi hoàn cảnh tình hình vì Đức Chúa Trời là Chủ tể mọi sự khi chân lý này đã thâm nhập chúng ta, nó sẽ giải phóng chúng ta khỏi mọi âu lo và bất mãn không hài lòng. Cho nên sự hài hoà của chúng ta chủ yếu là hài lòng. Cho nên sự hài hoà của chúng ta chủ yếu là hài lòng trong Ngài.
Khi gặp khó khăn, quan điểm của chúng ta về Ngài có thể tạm thời bị các đám mây nghi ngờ che mờ. Thế là chúng ta bất mãn, không hài lòng. Nhưng một khi đã nắm chặt được một số rất nhiều lời hứa của Ngài trong Thánh Kinh, để cho Đức Thánh Linh ứng dụng chúng vào đời sống mình, ánh sáng của quyền năng thần hựu sẽ xuyên thủng tất cả. Chúng ta nhìn thấy mọi sự như chúng nếu có vậy. Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị trên cả lịch sử. Ngài vốn thiện hảo. Tôi là con cái Ngài. Ngài đã hứa là sẽ chăm nom săn sóc tôi. Cho nên Ngài sẽ làm một điều kỳ diệu cho tình hình hoàn cảnh của tôi. Khi một Cơ Đốc nhân gặp hoàn cảnh khó khăn, người ấy có thể trực diện với nó, không phải chỉ là bằng một quyết tâm lạnh lùng khắc khổ, bằng thái độ tiêu cực chấp nhận một định mệnh không tránh né vào đâu được, nhưng là bằng một niềm hy vọng vui vẻ vào Đấng Chủ Tể mọi tình hình hoàn cảnh, là Cha yêu thương chúng ta.
Sự hài lòng và sự bất công. Nếu một Cơ Đốc nhân phải hài lòng với số phận của mình và biết chắc rằng Đức Chúa Trời đang vận hành để đem điều lợi ích đến cho mình, thì phải chăng là người ấy sai lầm khi bất mãn với những hoàn cảnh cần được thay đổi? Sự hài lòng có ru ngủ người ấy để đưa người ấy đến chỗ thụ động chấp nhận điều bất công bất bình đẳng hay không? Nếu là như thế thì phải chăng Karl Marx đã nói đúng khi đánh giá tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng? Nhưng câu này hãy còn rất xa với sự thật.
Sự hài lòng của Cơ Đốc nhân là một phần của cuộc đời hoạt động tích cực của người ấy. Nó được kết hcặt bất khả phân ly với việc vâng lời Đức Chúa Trời. Một phần của sự vâng lời của Cơ Đốc nhân là tiếng gọi của Đức Chúa Trời để phục hồi vinh quang cho Ngài trong một thế giới đang bị tội lỗi phá hại. Vì bất công là một trong số các tội lỗi đó, cho nên Cơ Đốc nhân phải chiến đấu chống lại nó. Thay vì là chất thuốc phiện, Cơ Đốc giáo là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy chúng ta dấn thân thay đổi các tình hình hoàn cảnh, cả thuộc linh lẫn vật chất, trái với ý chỉ Đức Chúa Trời. Thật vậy, nếu Cơ Đốc nhân nào từ chối tham gia một công tác như thế, thì người ấy sẽ bị mất đi sự hài lòng của mình. Thí dụ như Phao-lô vốn không chịu ngơi nghỉ khi vẫn chưa hoàn thành công tác đánh bại lòng vô tín (xem Cong Cv 17:16, 17; ICo1Cr 9:16).
Với một bối cảnh như thế, chúng ta đang ở một vị trí sẵn sàng để đặt ra một câu hỏi cũng rốt ráo hơn. Chúng ta nhất trí rằng các Cơ Đốc nhân cần phải đấu tranh vì quyền lợi của những kẻ bị áp bức, nhưng sự việc sẽ như thế nào nếu chúng ta chính là những người bị đối xử sai trái? Thí dụ, một cán bộ Cơ Đốc giáo than phiền về tiền lương của mình thì có đúng hay không?
Cứ nhìn vào cuộc đời của Phao-lô, chúng ta sẽ thấy thỉnh thoảng ông cũng có phản đối những bất công mà người ta đã làm cho ông. Tại Phi-líp ông đã cho các quan chức biết rằng họ đã đối xử sai trái với ông và yêu cầu một vài sửa chữa (Cong Cv 16:37-39). Trong các bức thư gởi cho người Cô-rinh-tô và người Ga-la-ti, chúng ta thấy ông tự biện hộ cho mình khi bị chỉ trích một cách bất công.
Thế nhưng quan sát cuộc đời của Phao-lô, chúng ta thấy rằng động cơ tối hậu thúc đẩy ông là ước muốn làm vinh danh Chúa Cứu Thế, mà ông là người đại diện. Bất công làm ô danh Chúa Cứu thế. Và khi có người đối xử bất công với chúng ta hay người khác, chúng ta sẽ chiến đấu với nó để bảo vệ cho danh dự của Chúa Cứu thế. Cho nên khi Phao-lô tự biện hộ trước mặt người Ga-la-ti, thì vấn đề đang bị đe doạ là Phúc Âm của Chúa Cứu Thế.
Hãy lấy trường hợp người cán bộ của Hội Thánh không được trả lương đầy đủ. Bất công này sẽ ảnh hưởng ngược đến sức khoẻ của Hội Thánh. Nó đối xử sai lầm với một trong số các án bộ chủ chốt của Hội Thánh và do đó, mở cửa cho một sự sa sút về phẩm chất của sự phục vụ của người ấy. Nó cũng khiến cho Hội Thánh phạm tội là đối xửbất công với người của mình. Vì biết rằng tất cả những điều đó sẽ làm ô danh Chúa Cứu Thế, người cán bộ ấy sẽ cố tìm cách làm thay đổi tình hình.
Một công nhân được trả lương không đúng mức trong một tổ chức “ngoài đời” có động cơ thúc đẩy có phần hơi khác hơn một chút. Nhưng chính người ấy cũng có thể phấn đấu cho quyền được trả lương phải lẽ của mình. Cơ Đốc nhân cố tìm cách nhìn thấy quyền làm chủ, làm Chúa của Chúa Cứu Thế trong các cấu trúc xã hội. vì tổ chức mà người ấy làm việc là một trong số các cấu trúc đó người ấy có thể đấu tranh để đem công lý đến cho nó. Sự bất công đó làm ô danh Đấng Tạo Hoá của cái xã hội mà tổ chức ấy là một thành phần.
Nhưng khi một Cơ Đốc nhân sách động, việc đấu tranh cho các quyền lợi (của con người), người ấy phải luôn luôn cẩn thận đặt trước mặt mình một số những điều cần bảo toàn. Một là, vì người ấy đã tận hiến cho việc tôn vinh Chúa Cứu Thế , người ấy phải luôn luôn trong sạch, không dùng bất kỳ một phương pháp nào có thể làm ô danh Chúa Cứu Thế. Thí dụ người ấy sẽ không đưa các vụ đấu tranh trong Hội Thánh ra trước các toà án ngoài đời, là điều làm ô danh Chúa Cứu Thế trước người thế gian (xem ICo1Cr 6:1-6). Tôi rất xấu hổ khi nhớ lại vụ kiện giữa hai nhóm Cơ Đôc nhân Kháng cách tại Sri Lanka về một kế hoạch thống nhất Hội Thánh. Vụ kiện do một vị thẩm phán người Hồi giáo chủ toạ. Tuy các tín đồ Kháng cách chưa có đến một phần trăm trong dân số, vụ kiện đã được đưa lên trang bìa của các nhật báo trên toàn quốc.
Phương pháp mà Cơ Đốc giáo vận dụng để đấu tranh với bất công phản ảnh một sự kết hợp bất khả phân ly giữa công lý và tình yêu. Nhiều người cho rằng phương pháp này là quá lâu trong việc đem đến sự thay đổi, nên họ đã chọn một phương pháp nhanh hơn và dùng một số phương tiện phi Cơ Đốc giáo như bạo động, hận thù, và báo thù. Như các phương pháp tuy có khi tạo được các kết quả nhanh chóng, chỉ làm tăng thêm sự nghèo khổ cho cái thế giới này mà thôi, vì nó đi ngược với các nguyên tắc dành cho một xã hội tốt đẹp mà Đức Chúa Trời là Đấng tạo Hoá của cái xã hội ấy, đã áp dụng.
Lực lượng quan trọng nhất để đưa điều tốt lành đến cho thế giới ngày nay là tình yêu thánh khiết Cơ Đốc nhân, đã chủ trương một điều rất gần với điều đó, và ông đã chứng minh cho thế giới thấy quyền năng của của nó trong việc tạo ảnh hưởng trên dân chúng theo hướng thánh thiện. Nhưng cái lực lượng ấy lại rất ít khi được đem ra sử dụng ngày nay. Chúng ta đang thật sự cần đến các chiến sĩ là Cơ Đốc nhân đấu tranh cho công lý - cần những người với tất cả các phương pháp đều được rút ra từ các nguyên tắc của Chúa Cứu Thế!
Rút cục thì vấn đề chủ yếu tô màu cho đời sống một người là cách nhìn đời của người ấy vào một lúc nào đó. Anh ta có thể bị mất bình an và giao động xao xuyến vì một hoàn cảnh tình hình trên đất này, như Phao-lô đối với tà giáo trong Hội Thánh Ga-la-ti vậy (GaGl 4:19, 20). Nhưng sự bình an mà ông cần ấy đánh mất trong những trường hợp như thế không hề chạm được đến đến nguồn mạch sâu xa nhất của sự bình an và hoàn thiện của người ấy, vốn là mối liên hệ giữa người ấy với Đức Chúa Trời. trong cùng một bức thư viết cho người Ga-la-ti ấy, Phao-lô đã có thể viết về niềm vui và sự bình an là trái của Thánh Linh vận hành trong đời sống một người (GaGl 5:22).
Cả khi một Cơ Đốc nhân có thể đánh mất sự bình an của mình trong một hoàn cảnh tình hình nào đó, người ấy cũng không nên đầu hàng lòng thù hận. Điều như thế có thể xảy ra nếu chúng ta quên mất cái sự kiện rằng một Đức Chúa Trời thiện hảo đang nắm quyền kiểm soát vận mệnh của chúng ta, hoặc chúng ta từ chối tha thứ, và do đó, là làm tắc nghẽn dòng chảy của ân điển của Đức Chúa Trời vào trong đời sống chúng ta, hay nếu cuh1ng ta từ chối các nguyênt ắc của Ngài bằng cách nhượng bộ, dầu hàng sự ghen ghét và báo thù. Nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục tin cậy vào Đức Chúa Trời và lời hứa của Ngài, chúng ta sẽ có thể chấp nhận cả điều xấu điều ác của loài người để sử dụng nó cho một chủ đích tốt lành của Đức Chúa Trời. Gia-cốp đã rao giảng một niềm tin như thế cho anh em mình, là những kẻ đã ngược đãi ông. Đức Chúa Trời đã dùng các mưu kế gian ác của họ để biến thành một điều tốt lành lớn lao, cứu được rất nhiều sinh mạng (SaSt 50:20).
Tuy một Cơ Đốc nhân có thể bị giao động vì điều bất công, người ấy vẫn tiếp tục tin vào một Đức Chúa Trời đang cầm quyền tể trị để thử nghiệm một đời sống liên hệ với Đức Chúa Trời. Làm như thế, thì người ấy sẽ không đầu hàng sự oán ghét thù hận, mà có được sự hài lòng sâu nhiệm hơn, cơ bản hơn cho đời sống người ấy, hơn hẳn sự giao động vì điều bất công.
Việc kết hợp giữa sự bình an nội tâm hay thái độ hài lòng với sự giao động vì điều bất công khiến một người có được đầy đủ các phẩm cách để trở thành một nhà cải cách lý tưởng. Trong việc làm thay đổi các hoàn cảnh tình hình bất công ngoại tại trên đất này, một người như thế sẽ không sử dụng bất cứ một phương tiện nào mâu thuẫn với phần thực tại sâu sắc nhất trong nội tâm mình, vốn là chính mối liên hệ giữa người ấy với Đức Chúa Trời. Chắc chắn rằng đây mới là nhà cải cách sử dụng các phương pháp của Đức Chúa trời, và là người duy nhât có thể tạo được ảnh hưởng tồn tại mãi để xã hội được lợi ích, tốt đẹp.
Đặt của cải vào đúng vị trí của nó (ITi1Tm 6:7)
Sau khi bàn về tầm quan trọng của sự hài lòng, Phao-lô nối kết sự hài lòng vào với vấn đề của cải vật chất, là nguyên nhân phổ biến của thái độ bất mãn trong đuời sống người ta. Phương pháp của ông nhầm chứng minh cho chúng ta thấy cách phải nhìn vào vật chất, cách phải đặt nó vào đúng vị trí của nó. “Vì chúng ta ra đời chẳng hề đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được”.
Phao-lô nói của cải vật chất chỉ liên quan với đời này mà thôi. Chúng ta đều ra đời mà chẳng có đem gì theo cả, mà cũng chẳng có thể mong được gì theo khi phải lìa bỏ nó. Cho nên, chúng chẳng có liên quan gì với phần cốt lõi của đời sống chúng ta cả.
Chúa Cứu Thế cũng từng trình bày một nguyên tắc y như thế khi Ngài phán: “Đoạn, Ngài phán cùng chúng rằng: hãy giữ cẩn thận chớ hà tiện gì hết; vì sự sống của người ta không phải cốt tại của cải mình dư dật đâu” (LuLc 12:15). Chính lòng tham của cải vật chất là nguyên nhân của sự bất mãn. Nhưng người có lòng tin kính đạo đức thì chẳng gặp vấn đề ấy, vì của cải vật chất không phải là một điều gì quan trọng trong đời sống của người ấy cả. Mối quan tâm chính của người ấy liên quan đến các thực tại vĩnh hằng, vốn là điều cấu thành “sự sống thật của người ấy. Với người ấy thì mức thành tựu vốn được đo trước hết theo các điều kiện của cõi vĩnh hằng.
Cơ Đốc nhân có thể vui mừng vì sự thành công về vật chất. Thật vậy, người ấy có thể thật sự lo buồn vì sự sa sút về của cải vật chất. Vật chất là tạo vật của Đức Chúa Trời, cho nên Cơ Đốc nhân phải coi trọng nó. Thế nhưng người ấy không coi trọng nó đến mức để cho việc có hay không có nó cai trị kiểm soát mình.
Có một phương pháp hay để kiểm soát thái độ của chúng ta đối với tài sản vật chất, là ghi nhận phản ứng của mình khi các thực tại vật thể và thuộc linh bị đụng chạm đến. Một người cha sẽ lo lắng hơn khi con trai mình từ chối một cơ hội được một việc làm có lương cao, hay khi nó nhận một việc làm vi phạm nguyên tắc thuộc linh, là nói dối khi chịu phỏng vấn? Nhiều bậc làm cha mẹ không hề lo lắng vì sự vi phạm kia nếu phần thưởng vật chất là điều rất có ý nghĩa. Một bà mẹ sẽ lo lắng hơn về một đứa con gái không tìm được một người bạn đời, hay khi nó không còn cầu nguyện và đọc Thánh Kinh hàng ngày nữa?
Những người sống lệ thuộc vào các đồ vật vật chất để hài lòng, thì sẽ chẳng bao giờ được thật sự hài lòng cả, vì của cải vật chất bao giờ cũng bấp bênh. Vì của cải vật chất không phải là căn cơ nền tảng của đời sống (c.7), nó phải được đặt vào đúng vị trí của nó nếu chúng ta biết quan tâm đến các quyền ưu tiên của mình. Hãy còn có nhiều thực tại vĩnh hằng khác nữa mà chúng ta phải quan tâm chú ý, tức là những điều mà chúng ta biết chắc là sẽ đem đến cho chúng ta một nguồn mạch bất biến để hài lòng.
Chúng ta hài lòng với những điều gì (ITi1Tm 6:8)
Phao-lô đưa ra các nhu cầu cơ bản để một người có thể hài lòng: “Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thoả lòng”. Thánh Kinh thường gộp chung cái ăn và cái mặc vào nhau, xem đó như những đòi hỏi tối tăm cho đời sống (PhuDnl 10:18; EsIs 3:7; Mat Mt 6:25). Từ ngữ Hy văn được dịch ra là ‘cái mặc” có nghĩa là những gì cần thiết để che đậy thân thể, cho nên nó có thể bao gồm cả nơi trú ẩn nữa. Những điều thiết yếu cơ bản đó, thì Đức Chúa Trời đã hứa ban cho con cái Ngài rồi. Chúa Giê-xu Phán: “Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa” (Mat Mt 6:33) “(cái ăn và cái mặc)”.
Có khi, vì một chủ đích hay sứ mạng đặc biệt nào đó, Đức Chúa Trời có thể cho phép chúng ta bị thiếu một vài nhu yếu phẩm, như trong giai đoạn bị bắt bớ bách hại. Có khi chúng ta có thể tránh né cái nghèo, nhưng nó chỉ được chấp nhận danh một chủ đích quan trọng hơn của Đức Chúa Trời, như không phải tôn vinh Ngài bằng cách chịu khổ. Nhưng đó là những trường hợp đặc biệt phải chịu khổ có chủ đích và là một trong những trường hợp ngoại lệ.
Tuy nhiên, trên thế giới ngày nay, có nhiều người đang bị cất đi các phần nhu yếu phẩm của mình mà không phải do chính họ tự chọn. Chúng ta gọi đó là sự nghèo khổ không tự nguyện. Một sự nghèo khổ như thế làm ô danh Đức Chúa Trời mà chúng ta phải phấn đấu để giảm nhẹ đi. Chúng ta không nên trông mong người ta hài lòng với một cuộc đời thiếu các thức ăn, quần áo hay nhà ở cơ bản.
Chúng ta phải làm gì, nếu Đức Chúa Trời cho phép chúng ta có nhiều hơn là những gì cần thiết cơ bản? Chúng ta sẽ tiếp nhận và tri ân như một phước hạnh Ngài ban, và tìm cách sử dụng nó như một trách nhiệm. Nhưng chúng ta vẫn phải hài lòng nếu chỉ có các nuh yếu phẩm cơ bản mà thôi.
Tuy nhiên, thật đáng buồn là danh mục các nhu yếu phẩm cơ bản của chúng ta lại thường không khớp với danh mục các nhu yếu phẩm cơ bản của Đức Chúa Trời. Chúng ta vốn có cách riêng để tự thuyêt phục rằng nhiều xa xí phẩm thật ra là nhu yếu phẩm, nhất là nếu nhiều bạn bè và người láng giềng của chúng ta có chúng.
Khi một người tự đánh igá các nhu cầu thật sự của mình và cách Đức Chúa Trời đánh giá các nhu cầu của người ấy không nhât trí với nhau, thì hậu quả là có bất mãn. Người như thế sẽ không vui về những gì Đức Chúa Trời đã cung cấp cho mình vì nghĩ rằng như thế là chưa đủ cho mình. Thậm chí, người ấy còn cố tìm cách thủ đắc càng nhiều hơn những gì Đức Chúa Trời muốn cho mình có được, và có lẽ cũng thành công trong việc ấy nữa. Đức Chúa Trời đã cho người ấy quyền tự do để không vâng lời Ngài. Nhưng chẳng hề có ai không vâng lời Đức Chúa Trời mà lại khỏi bị mất đi sự bình an của mình, và do đó mà có bất mãn.
Cái ý niệm về hài lòng với các như cầu thiết yếu cơ bản vốn không được thực hành lắm ngày nay. Thành công và phước hạnh của Đức Chúa Trời thường được đánh đồng với sự thịnh vượng vật chất. Chúng ta càng được nhiều của cải bao nhi]êu, thì thiên hạ càng nói là chúng ta được phước nhiều bấy nhiêu. Chúng ta xem một số người là thiếu thốn và bất hạnh nếu không được hưởng những điều như nước máy, điện khí, nhiều bộ y phục thừa thải, máy thu hình màu và ô tô. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng lúc Chúa Cứu Thế là con người hoàn thiện từng có mặt trên đời này là sống tại thế, Ngài chỉ được hưởng các nhu cầu thiết yếu suông mà thôi.
Như Ron Sider viết:
Lúc Đức Chúa Trời mặc lấy hình hài thân xác con người, Ngài đã không đến với tư cách một nhân vật giàu có của hoàng gia La Mã hay một nhà tri thức Hy Lạp bệ vệ. Ngài đã được sinh ra trong một tỉnh nhỏ, bị áp bức do Đế quốc La Mã cai trị. Do quá nghèo không mua nổi một chiên con, là của lễ bình thường cho việc tẩy sạch, cha mẹ Ngài đã đem hai con chim bồ câu đến đền thờ. Thợ mộc vốn không được cho là dân nghèo nhất trong xã hội người Ga-li-lê, nhưng họ cũng khó có thể được gọi là giàu có. Khi bước vào chức vụ công khai, Ngài đã từ bỏ luôn các tiện nghi của nhà thợ mộc (trích An Evangelical Commitment to SimpleLife-style, của Alan Nicholas, Lausanne Committer for World Evangelism, 1980).
Thế nhưng Chúa Cứu Thế vốnlà một nhân vật hoàn thiện trọn vẹn, không hề gặp trở ngại hay mặc cảm gì. Ngài có của cải là sự hài lòng nộit âm khiến một người được tự do tận hưởng đời sống. Đây là một kho báu lớn hơn sự giàu có của cải vật chất và xa xỉ nhiều. Cho nên Ngài vốn là một con người hoàn thiện, nhận được mọi sự thật đầy đủ trọn vẹn từ chính Đấng Tạo Hoá là Đấng ban cho sự sống. Cũng tương tự như thế, nếu chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời, chúng ta cũng sẽ được giải thoát khỏi âu lo xao xuyến để có thể vui hưởng một đời sống thật vui vẻ, hài lòng.
F.Stanley Jones viết: “Có hai hạng người suy nghĩ quá nhiều đến vật chất: những người có quá nhiều và những người có quá ít. Chúng ta cần dung hoà các nhu cầu của mình - chúng ta chỉ cần có vừa đủ phần vật chất để có thể quên nó đi và tiến lên với vấn đề của sự sống” (The World Became Flash 1963).
Lòng tham tiền (ITi1Tm 6:9, 10)
Sau khi nêu ra các nguyên tắc về phương pháp để nghĩ về của cả, Phao-lô tiếp tục chứng minh các Cơ Đốc nhân có thể bị suy nghĩ sai lầm trong lãnh vực này dẫn đi sai lạc như thế nào. Trước hết, ông đề cập những “kẻ mốn nên giàu có” (c.9). Đây quả nhiên là một phần mô tả thật hay số đông người trên thế gian này cả trong các quốc gia được gọi là gnhèo, nơi chỉ có một số người ưu tú mới có thể làm giàu, nhưng hiện nay thì ngay đến người vốn nghèo cũng có thể trở nên giàu có nữa.
Vì số người giàu có thể tăng nhanh, cho nên nỗi khao khát muốn làm giàu cũng thế. Những nỗi khát khao đó cũng mở đường cho nhiều người gặp nguy cơ vứt bỏ các nguyên tắc sống của mình để vơ vét được những gì họ muốn. Phao-lô viết “còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại” (c.9). Hai động từ “sa” và “mắc bẫy dò” ở đây mô tả một sự sa sút bất ngờ và không được hoạch định trước. Hồi mới khao khát làm giàu, họ không ngờ rằng mình sẽ không vâng lời Đức Chúa Trời đến độ phải gặp rắc rối về phương diện thuộc linh. Nhưng vấn đề là họ đang noi theo một nẻo đường quá gập ghềnh trơn trợt - một nẻo đường đầy dẫy cạm bẫy nguy hiểm. Trong số bẫy dò mà những kẻ tham lam sa vào có “nhiều sự tham muốn vô lý (dại dột) thiệt hại”. Họ đã bắt đầu với ước muốn làm giàu mà tự thân trông có vẻ như vô hại. Nhưng ước muốn đó đưa họ đến nhiều sự “tham muốn thiệt hại” hay tham dục. Tham dục là các dục vọng không được kiềm chế, không bị nguyên tắc nào cai trị kiểm soát cả. Phao-lô nói các tham muốn đó là “vô lý vì không thể đem đến sự thoả mãn nmà họ trông mong. Phao-lô cũng bảo chúng gây “thiệt hại” vì hậu quả của chúng là tiêu diệt cá tính của người ta. Do ảnh hưởng của lòng tham muốn làm giàu của mình, họ hành động hoàn toàn xa lạ với con người mà chúng ta vốn biết trước. Phao-lô viết là các tham muốn ấy “làm đắm người ta vào sự huỷ diệt hư mất” (c.9). Từ ngữ được dịch ra là “đắm” có ý là “nhận chìm” hay “bị chìm ngập”. Một người như thế không còn kiểm soát được hoàn cảnh của mình nữa. Anh ta không còn có thể tự cứu lấy mình nữa.
Phao-lô giải thích: “bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác” (c.10a). Tiền bạc tự nó vốn được định dùng làm phương tiện nâng đỡ cho đời sống, nhưng lại trở thành cứu cánh của chính nó. Chính tiền bạc là động cơ thúc đẩy một người như thế hành động. Các nguyên tắc đạo đức đã trở thành không quan trọng vì tiền bạc trở thành quan rọng hơn, do đó mà hậu quả là đủ thức điều xấu xa gian ác nảy sinh. Câu này không dạy rằng tất cả những gì là xấu xa gian ác đều do thói tham tiền mà ra, mà dạy rằng nếu chịu khó phăng lui tìm kiếm, thì người ta sẽ tìm thấy rằng nhiều loại điều xấu việc ác đều có gốc rễ là lòng tham tiền. Từ ngữ “điều ác” ở đây có số nhiều, nên có thể dịch chính xác hơn là “đủ loại điều ác”
Các thí dụ về lòng tham tiền dẫn tới điều ác có rất nhiều. Có sự bất lương lan tràn và thói tham nhũng gây tai hoạ cho các quốc gia gọi là thế giới thứ ba. Hoặc cứ xét đến tội vị kỷ khi thiên hạ không tìm thì giờ để giúp đỡ người khác và phục vụ Đức Chúa Trời vì họ quá bận rộn lo kiếm tiền. Hay hãy xét cái tội bóc lột khi các chủ nhân ông trả lương thấp cho công nhân để thu lợi nhiều hơn. Hoặc tội ghen tị, ganh ghét sự giàu có của người khác. Hay tội gây bất hoà trong gia đình vì phân chia gia tài.
Tất cả các tội ấy đều do lòng tham tiền bạc mà ra. Ước muốn trở nên giàu có đã tiếm ngôi của ước muốn vâng theo ý chỉ Đức Chúa Trời. Thần tài đã trở thành chúa tể. Thiện ác không còn được các tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời định đoạt nữa, nhưng là do bất cứ hành động mà giúp được người ta thành công để thu gom càng nhiều của cải hơn mà thôi.
Cho nên chẳng có gì đáng lấy làm lạ khi Phao-lô viết thêm câu “có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn” (c.10b). Họ đã theo một khúc quanh sai lầm tại một điểm nào đó của đời sống, để rồi từ đó trở đi, đã noi theo một nẻo đường cứ ngày càng đưa họ đi xa hơn khỏi đức tin (đạo), Họ bị bắt buộc phải làm nhiều điều trái với đức tin (đạo) nên họ không thể giữ đức tin (đạo) được nữa.
Động từ “bội” có giọng thụ động, gợi ý rằng họ vô phương tự cứu, không còn tự chủ được nữa vì đã bị lường gạt. Họ đã quyết định noi theo con đường của Thần tài. Giờ đây, cuộc đời họ đã bị các nguyên tắc của Thần tài cai trị kiểm soát. Họ chẳng còn sức lực để chống trả nữa. Họ đã bị thần tài “xỏ mùi” như con cá mắc câu vậy. Nhóm từ tiếp theo đó của Phao-lô lại có giọng tích cực, chủ động. Họ tự “chuốc lấy nhiều điều đau đớn”, cho thấy họ phải chịu trách nhiệm về tình trạng đáng thương đó của mình. Ngay từ đầu, chính họ đã cố ý chọn lấy Thần tại thay vì Đức Chúa Trời. bây giờ thì chính họ phải trả giá. họ đã theo đuổi sự giàu có bằng bất cứ giá nào, và giờ đây họ đã có đuổi nó, nhưng họ nhận biết cái giá phải trả thật chẳng xứng đáng chút nào. Của cải chẳng đem đến được điều gì tốt lành cả. Nó chỉ đem đến chán nản hoang mang mà thôi.
Phao-lô đã dùng loại ngôn gnữ thật sinh động trong khúc sách này để nhấn mạnh luận điểm của ông. Chúng ta được bảo cho biết duy vật chủ nghĩa là một tội nào như thế nào. Chúng ta hãy cảnh giác và cảnh cáo nhiều người khác nữa về các nguy cơ của nó. Chúng ta đã thấy nhiều người đã bị vướng mắc vào duy vật chủ nghĩa sau một bước ngoặt sai lầm đầu tiên. Nếu chúng ta thấy những người thuộc quyền chăm lo săn sóc của mình đang tiến đến gần bờ vực để có thể có một bước ngoặt như thế, thì trách nhiệm của chúng ta với tư cách người lãnh đạo là phải dẫn họ thoát khỏi nẻo đường ấy.
Bây giờ, sau khi đã biết cảnh giác đối với các nguy cơ của duy vật chủ nghĩa rồi, chúng ta chớ nên quên đi vẻ đạp của sự tin kính đạo đức đích thực. Xin chúng ta hãy trung tín chỉ nó ra, chứng minh nó bất chính đời sống của chúng ta, rằng noi theo Đức Chúa Trời và các đường lối của Ngài mới là sự hài lòng thật sự. Và há không phải do đi tìm sự hài lòng mà người ta bắt đầu tham muôn của cải đó sao? Họ đã nhìn vào chỗ sai lầm. Ước vọng hài lòng vốn nằm sậu trong chính con người của mỗi chúng ta. Một vật ngoại tại như sự giàu có không thể nào ăn sâu vào trong chúng ta để thoả mãn các ước vọng ấy. Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới làm được việc đó mà thôi.
Ứng dụng cá nhân
Khi nhìn vào chính cuộc đời mình, bạn có thể nào nói được rằng “Tôi rất hài lòng với số phận của mình” hay không? Nếu được, tôi gợi ý bạn hãy dừng lại trong giây lát để ca tụng Đức Chúa Trời vì ân điển Ngài”. Nếu bạn không thể nói như thế, hãy tìm các nguyên nhân của sự không hài lòng đó và tìm cách quyết định bạn phải làm thế nào để loại bỏ các nguyên nhân ấy đi.

GIỮ THÁI ĐỘ PHẢI LẼ ĐỐI VỚI CỦA CẢI
(ITi1Tm 6:17-19)
Khúc sách trước đây là lời khuyên những người muốn làm giàu của Phao-lô (6:6-10). Tiếp theo, ông đưa ra lời khuyên đặc biệt cho những người đã giàu có rồi (c.17-19). Giữa hai khúc sách ấy là một đoạn chuyển mục điển hình của Phao-lô. Đó là một lời khuyên bảo Ti-mô-thê về một vài lãnh vực trong sinh hoạt cá nhân của ông (c.11-16).
Những điều ông nêu ra đại khái là hai mệnh lệnh. Một là cách đối phó với thái độ của kẻ giàu (c.17) và ai là với các hành động của họ (c.18,19).
Thái độ khiêm hạ và hưởng thụ có trách nhiệm (ITi1Tm 6:17)
Phao-lô khuyến giục Ti-mô-thê “Hãy khuyên bảo kẻ giàu ở thế gian này đừng kiêu ngạo và đừng để lòng trông cậy nơi của cải không chắc chắn, nhưng hãy để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời” (c.17a).
Giá trị có giới hạn của cải. Ngay từ đầu, Phao-lô đã đề cập thái độ tiếp cận với sự giàu có của ông bằng cách mô tả kẻ giàu với sự giàu có của ông bằng cách mô tả kẻ giàu là “kẻ giàu ở thế gian này”. Ông đang ám chỉ cái sự kiện là hãy còn một loại giàu có khác, cao quý và quan trọng hơn nhiều. Sự giàu có vật chất chỉ tồn tại trên đời này mà thôi, mà đời này thì chẳng bao lâu sẽ kết thúc. Cho nên sự giàu có chỉ là một phước hạnh tạm thời, y như vẻ đẹp thể hình hay tài năng âm nhạc vậy, tức là những phước hạnh không cơ bản cho một đời sống thánh thiện, viên mãn. Một số người tuy không giàu có về của cải vật chât, nhưng lại rất giàu có theo viễn cảnh vĩnh hằng, vốn là điều quan trọng đáng kể cuối cùng.
Từ khúc sách này, chúng ta thấy Phao-lô không đòi hỏi người giàu phải hoàn toàn từ bỏ của cải của họ. Nhưng ông chứng minh rằng hãy còn có một hệ thống về giá trị cao hơn, theo đó sự giàu có vật chất không được xem là có ý nghĩa nhiều lắm.
Khiêm hạ và trông cậy Đức Chúa Trời. Lệnh truyền của Phao-lô về thái độ của người giàu có gồm ba phần. Một là, họ không nên “tự phụ tự mãn”. Những người giàu có thể sai lầm tự cho rằng họ cao trọng hơn người khác, do đó, trông mong được đối xử như những nhân vật đặc biệt. Thánh Kinh đã kịch liệt phản đối thái độ này. Thí dụ như Gia-cơ dạy rằng chúng ta không nên dành chỗ ngồi cao nhất trong nhà thờ cho kẻ giàu (Gia Gc 2:1-4).
Chúng ta đều biết rằng có nhiều người giàu có đã có lối kiểm soát không lành mạnh trên các ban trị sự và các Hội Thánh Cơ Đốc giáo. Họ lợi dụng sự giàu có của mình để gây áp lực, đòi hỏi mọi người phải vâng lời họ, kẻo e họ sẽ cắt phần tài trợ của họ. Theo một ý nghĩa thì Hội Thánh đã tự chuốc lấy rắc rối cho mình khi bổ nhiệm những người như thế vào các chức vị có trách nhiệm. Sở dĩ họ được bổ nhiệm, trước hét sẽ vì bề thế tài chính và xã hội của họ, chớ không phải là vì vóc dáng thuộc linh của họ.
Trong Nước Trời thì giống như Chúa Cứu Thế thì chẳng có dính dáng gì với của cải của người ta cả. Chúa Cứu Thế là một Chúa làm tôi tớ, và Ngài dạy rằng tính cách trọng đại trong Nước Trời được đo bằng công tác làm tôi tớ (Mat Mt 20:25-28), là điều trái ngược hẳn với thói kiêu ngạo, tự phụ tự mãn.
Hai là, kẻ giàu “đừng để lòng trông cậy nơi của cải không chăc chắn”. Một số người giàu có lẽ tự phụ tự mãn vì cảm thấy mình được an toàn hơn người khác nhờ sự thịnh vượng của mình. Nhưng sự giàu có không phải là một nền móng tốt cho sự an ninh, vì nó có thể bị tiêu tan chỉ trong khoảnh khắc. Trước giả sách Châm Ngôn viết: “Con há liếc mắt vào sự giàu có sao? Nó đã chẳng còn nữa rồi; Vì nó quả hẳn có mọc cánh. Và bay lên trên trời như chim ưng vậy” (ChCn 23:5).
Ba là, kẻ giàu “hãy để lòng trông cậy nơi Đức Chúa Trời” là điều mà kẻ giàu thường cảm thấy rất khó khăn. họ tưởng họ chẳng cần gì đến Đức Chúa Trời cả, vì bản thân họ đã đầy đủ lắm rồi, mà không nhận thấy nguồn gốc của sự an ninh của họ thật ra vốn bấp bênh như thế nào.
Người tin cậy Đức Chúa Trời thì không được bảo đảm rằng củ cải vật chất của họ sẽ được an toàn. Nó có thể bị cất đi thình lình như Gióp vậy. Nhưng sự mất mát của Gióp vẫn chưa cạm đến phần cốt lõi của đời sống ông. Nhưng điều quan trọng tối hậu đối với ông vốn có liên quan với Đức Chúa Trời. Và khi cũng như Gióp, chúng ta biết đặt lòng trông cậy Đức Chúa Trời, thì chúng ta cũng có thể đồng thanh với Đa-vít để tuyên bố giữa mọi hoàn cảnh trông có vẻ như đáng thất vọng rằng: “Đức Giê-hô-va sẽ làm xong việc thuộc về tôi. Hỡi Đức Giê-hô-va, sự nhơn từ Ngài còn đến đời đời. Xin chớ bỏ công việc của tay Ngài” (Thi Tv 138:8). “Đó là niềm tin quyết của một người khi đã đặt lòng trông cậy của mình vào Đức Chúa Trời. Ê-sai từng viết “Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài” (EsIs 26:3).
Vui hưởng sự trợ cấp của Đức Chúa Trời. Phao-lô tiếp tục nhấn mạnh sự an ninh khi người ta biết trông cậy vào Đức Chúa Trời khi ông viết rằng Đức Chúa Trời “mỗi ngày ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng”. Là Cơ Đốc nhân chúng ta đang có trong tầm tay một sự giàu có vô giới hạn, nhưng câu này không phải là một giấy phép cho mọi người được tự do thu gom của cải cho riêng mình. Nếu chúng ta muốn biết mình phải giữ lại bao nhiêu cho riêng mình, và phải ban phát bao nhiêu cho những người khác, thì hãy còn nhiều câu Kinh Thánh khác nữa để suy xét. Điều mà câu này dạy, là nếu chúng ta đi theo Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ có được mọi điều mà Đức Chúa Trời biết là tốt cho chúng ta, và những gì Ngài cung cấp cho chúng ta đều với ý định là chio chúng ta vui vẻ thụ hưởng.
Những kẻ theo tà giáo khổ hạnh tại Ê-phê-sô từng nhấn mạnh rằng người thật sự thuộc linh phải hoàn toàn chối bỏ của cải vật chất - một lập trường rất phản Thánh Kinh. Theo giáo lý về sáng tạo của Thánh Kinh, thì Đức Chúa Trời đã dựng nên thế gian này thật tốt lành, nghĩa là mọi nguồn tài nguyên vật chất trong đó cũng đều tốt lành cả. Nếu muốn sử dụng chúng một cách có trách nhiệm theo đúng các chủ đích của Đức Chúa Trời, thì chúng ta có thể vui vẻ thụ hưởng chúng một cách hợp lý, hợp pháp. Từ ngữ được dùng chỉ việc “hưởng” ở đây vốn có nghĩa mạnh. Cơ Đốc nhân đã được Đức Chúa Trời ban cho niềm vui, ân tứ được sống vui vẻ, và một phần của niềm vui mà Cơ Đốc nhân được hưởng đó, là niềm vui được trải nghiệm khi các Cơ Đốc nhân sử dụng mọi điều thuộc về vật chất một cách có trách nhiệm.
Sự hưởng thụ có trách nhiệm của một Cơ Đốc nhân không thể là lãng phí hay vị kỷ. Chắc chắnlà chúng ta có thể thay đổi thói quen bình thường là cứ ăn cơm nhà, nhưng cuh1ng ta chẳgn cần chi phải đến nhà hàng ăn uống dắt tiền nhất thành phố. Sở dĩ chúng ta thích đến một nhà hàng ăn uống khang trang vì nó cho chúng ta cái cảm giác thoải mái và có được cái ý thức mới mẻ rằng mình là con người quan trọng. Số tiền đáng lẽ phải quyên góp cho công tác thuộc linh, nhưng bị cắt bớt để phung phió nhằm khoe khoang cái ta hoà nhoáng để trông mong được thừa nhận là đang có một địa vị rỗng tuếch - một địa vị chẳng dính dáng gì đến trái tim của Cơ Đốc giáo.
Nguyên tắc chống hoang phí khôntg cầnt hiết cũng áp dụng cho các biến cố như lễ cưới, các tiệc tùng để chiêu đãi khách. Nhiều số tiền lớn thường được tiêu phí nhân các cơ hội ấy chỉ là vì cái địa vị xã hội mà thiên hạ gán cho việc phung phí đắt giá như thế.
Thật quan trọng biết bao cho một Cơ Đốc nhân, là phải biết học tập tự cho phép mình hưởng thụ những gì không phải trả giá đắt mà không xem đó là cách hưởng thụ rẻ tiền! trong Nước Trời, chỉ có cái địa vĩ xã hội rỗng tuếch mới là thứ rẻ mà thôi - chớ không phải là vẻ đẹp đơn sơ. Hiện đang có rất nhiều cơ hội cho các Cơ Đốc nhân thụ hưởng vẻ đẹp đơn sơ và lành mạnh, giúp họ tự hoàn thiện và được vui vẻ hơn hẳn hằng lô những biểu tượng về địa vị rất lãng phí kia.
Còn một điểm nữa thiết tưởng cần nhấn mạnh về vấn đề hưởng thụ. Việc hưởng thụ của các Cơ Đốc nhân luôn luôn nằm bên trong các giới hạn của tình yêu Cơ Đốc giáo. Một Cơ Đốc nhân có thể thình lình trực diện với một nhu cầu cấp thiết mà nguyên tắc về tình yêu bảo người ấy đáp ứng. Nhưng số tiền duy nhất mà người ấy có là tiền dành cho một sự hưởng thụ khác, như cho một ngày nghỉ lễ hay một bữa ăn đặc biệt. Nếu người ấy cảm thấy Đức Chúa Trời muốn mình tặng số tiền ấy, thì người ấy có thể làm như thế và bỏ qua khoản hưởng thụ của mình. Thế nhưng đây không phải là một sự hi sinh gì lớn lao, vì để dáp lại, Đức Chúa Trời sẽ cung cấp cho chúng ta niềm vui mà chúng ta có cần, còn nhiều hơn là chỉ bù đấp cho sự “hi sinh” đã có của chúng ta. Đức Chúa Trời vẫn cung ứng dư dật cho chúng ta thụ hưởng. Nhưng tình yêu là mục tiêu hàng đầu trong đời sống chúng ta - chớ không phải là việc hưởng thụ (ICo1Cr 14:1).
Lòng hào hiệp (ITi1Tm 6:18).
Sau một mệnh lệnh về các thái độ phải có của người giàu, Phao-lô đưa ra mấy lời chỉ giáo về hành động của họ “Hãy răn bảo họ làm điều lành, làm nhiều việc phước đức, kịp ban phát và phân chia của mình có”. Lệnh truyền này cũng có ba phần:
Điều lành. Đòi hỏi đầu tiên đối với người giàu là “làm điều lành, làm nhiều việc phước đức”. Trước đây, Phao-lô đã mô tả một loại giàu có, là của cải vật chất, rồi giảm bớt giá trị của chúng đi bàng cách thêm vào chữ “kẻ giàu” mấy chữ “ở thế gian này”. Tiếp theo đây, ông nêu ra một loại giàu có có giá trị hơn, là những điều lành, một đề mục tâm đắc củ các Giáo mục thư. Điều lành được đòi hỏi đối với tất cả các thành viên của Hội Thánh (Tit Tt 2:14; 3:8, 14), các phụ nữ là Cơ 9ốc nhân (ITi1Tm 2:10; 5:10) các cấp lãnh đạo (Tit Tt 2:7) và ở đây, là những người giàu. Những việc lành này thường mặc lấy hình thức của những việc nhỏ nhặt làm cho người ta để đem niềm vui đến cho họ hoặc làm với bớt gánh nặng của họ.
Ban và nhận những việc làm tử tế như thế là một phần quan trọng là một phần quan trọng của một đời sống khoẻ mạnh và viên mãn. Thế nhưng thiên hạ thường tưởng rằng những hành động tử tế như thế chẳng có vai trò gì trong đời sống của các cấp lãnh đạo và người giàu có. Họ tin rằng họ có quá nhiều nghĩa vụ và khiến họ được miễn trừ các hoạt động thông thường như thế. Nhiều khi các việc làm gọi là vô nghĩa như thế còn bị những người có tham vọng chiếm các mục tiêu “cao” khinh dể nữa.
Tôi rât tiếc về một bài giảng của một nhà truyền đạo từ một nước ngoài đến, giảng tại một buổi họp tại Sri Lanka. Ông ta bảo rằng việc tận hiến cho Chúa Cứu Thế chẳng dính dáng với một hành động như giúp đỡ các cụ bà già yếu băng qua đường phố. Ông ta nhắc đi nhắc lại câu nói ấy nhiều lần như có ý khiêu khích vậy. Tôi vẫn mong sao cho các Phật tử và tín đồ Ấn giáo trong buổi họp đó không cảm thấy bị xúc phạm vì câu phát biểu ấy, và do đó sẽ xa lánh Phúc Âm. Những hành động như thế vốn được các tôn giáo khác đánh giá cao. Mà trong Cơ Đốc giáo cũng thế - vì tuy đó không phải là một phương tiện để tu đức lập công, chúng vẫn là cách bộc lộ việc chúng ta là các tôi tớ Chúa biết vâng lời Ngài trước khi phao-lô yêu cầu kẻ giàu có nên ban phát phân chia của cải mình có, ông bảo họ phải làm điều lành. Với họ thì lập các quỹ cứu trợ riêng rẽ vẫn chưa đủ. Họ còn phải tham gia các việc lành nữa. Nó sẽ giúp ích cho nhiều người khác mà cũng giúp chính họ sống được những cuộc đời đầy đủ, trọn vẹn.
Lòng hào hiệp. Tiếp theo, Phao-lô dạy người giàu phải tỏ ra hào hiệp. Có một số người rất hào phóng về công việc lành, nhưng các Cơ Đốc nhân còn phải hào phóng trong cách thức ban tặng cho tha nhân nữa.
Động cơ thúc đẩy Cơ Đốc nhân tỏ lòng hào hiệp. Có một số người rất hào phóng về công việc lành, nhưng các cơ Đốc nhân còn phải hào phóng trong cách thức ban tặng cho tha nhân nữa.
Động cơ thúc đẩy Cơ Đốc nhân tỏ lòng hào hiệp gồm nhiều phương diện: 1. Người ấy noi gương Chúa Cứun Thế Giê-xu, Đấng vốn giàu nhưng vì chúng ta mà đã tự làm nên nghèo (IICo 2Cr 5:9). 2. Người ấy có tình thương yêu từ bên trong thúc giục - ép buộc - mình chia sẻ những gì mình có với người khác (IICo 2Cr 5:14). 3. Người ấy đang bị bao vây bởi một thế gian đầy dẫy bất công, bất bình đẳng - một thế gian nguyện được Đức Chúa Trời dựng nên thật tốt lành, nhưng rồi đã bị tàn hại vì những gì loài người làm không chứng tỏ được trách nhiệm của họ là quản lý nó thật đứng đắn, phải lẽ. Phao-lô từng giải thích thế nào ước vọng được sống bình đẳng là động cơ thúc đẩy công tác quyên trợ của Cơ Đốc nhân (IICo 2Cr 8:13). Tôi tin rằng chúng ta đã quá vội vàng khi bỏ qua câu nói của Giăng Báp-tít xem đó là không hợp thời, khi ông giải thích “kết quả xứng đáng với sự ăn năn” (LuLc 3:8) có nghĩa là gì. Giăng nói “Người đáp rằng: Ai có hai áo, hãy lấy một cái cho người không có, và ai có đồ ăn cứng nên làm như vậy” (3:11).
Trong thế giới ngày nay, mỗi ngày có mười ngàn người chết đói - hoặc còn nhiều hơn thế nữa - mà chẳng được biết đến Phúc Âm của Chúa Cứu Thế. Thế thì tiếng gọi mọi người hãy tỏ lòng hào hiệp là quan trọng biết bao trong xã hội ngày nay! Giao ước Lausanne lịch sử đã tìm cách nhấn mạnh các hàm ý của đời sống trong một thế giới đang dói khi tuyên bố rằng: “Những người trong chúng ta đang sống trong hoàn cảnh dại dột phải thừa nhận rằng mình có bổn phận phải sống một nếp sống đơn giản để đóng góp hào phóng hơn cả cho công tác cứu tế lẫn công tác truyền bá Phúc Âm”. Nếu chúng ta tự hiến lòng hào hiệp thành một khát vọng cá nhân, thì một kết quả không tránh né vào đâu được sẽ phải là một nếp sống giản dị.
Tuy nhiên, đáng buồn thay, khi người ta càng giàu có hơn, thì danh mục các “thiết yếu phần” cho đời sống cũng thường trở thành rộng lớn hơn nhiều. Nhiều khoản chi tiêu “hợp lý, hợp lý” mới xuất hiện trong ngân quỹ. Điều vốn là xa xí phẩm trước đây, bây giờ đã trở thành nhu yếu phẩm. Họ bắt đầu so sánh mình với một hạng người mới. Và họ phát triển một nếp sống mới cho phù hợp với địa vị mới đó của họ.
Ngành truyền thông đại chúng cũng chẳng giúp ích được gì trong lãnh vực này. Như Ron Sidu viết: “Quảng cáo luôn luôn thuyết phục chúng ta rằng chúng ta thật sự cần một xa xí phẩm không cần thiết này tiếp sau một xa xí phẩm khôntg cần thiết khác. Tiêu chuẩn sống là vị thần (Đức Chúa Trời) của thế kỷ thứ hai mươi, còn người làm quảng cáo là nhà tiên tri của nó” (The Graduated Title, Intervarsity 1978). Than ôi, điều Sidu nói về nước Mũ cũng ngày càng trở thành sự thật cho nhiều xã hội khác khắp thế giới.
Nhiều người nghĩ rằng họ không thể “trở thành” hào hiệp được. Khi bạn hỏi tại sao họ chẳng quyên góp gì cả, họ bảo rằng họ không có tiền. Mà quả đúng như thế, vì họ có quá nhiều khoản chi phí mới khác nữa kia!
Nếp sống của một người lệ thuộc vào cách người ấy quyết định mình sẽ tiêu tiền vào việc gì.Cơ Đốc nhân phải lu6n luôn dành quyền ưu tiên cao cho việc dâng tiền (cho Chúa) khi quyết định các khoản chi phí của mình. Phần đông các tín đồ chọn một nếp sống gồm có việc chi tiêu cho nhiều việc khác, khiến họ rất khó còn được gì để dâng (cho Chúa). Họ chỉ dâng tiền (cho Chúa) khi còn thừa tiền mà thôi - nghĩa là nếu còn thừa tiền! Cơ Đốc nhân chân chính nghĩ ngay đến việc dâng tiền (cho Chúa) khi quyết định cách tiêu tiền của mình, chớ không phải là sau khi đã quyết định rồi. Dành một quyền ưu tiên như thế cho lòng hào hiệp trong đời sống chúng ta là một kỷ luật cần phải nuôi dưỡng, nhất là vì thật là quá dễ dàng để chúng ta tự thuyết phục là mình phải tiêu bao nhiêu cho các nhu cầu cá nhân, mà hậu quả là chúng ta sẽ chẳng còn gì để dâng (cho Chúa) cả.
Thánh Kinh có nhiều lời cảnh cáo nặng nề hết sức bất ngờ dành cho kẻ giàu. Chúng ta thường bỏ qua câu chuyện về chàng thanh niên làm quan bằng cách chống chế rằng của cải là vấn đề của riêng anh ta, chớ không phải là của tất cả mọi người. Thế nhưng đến cuối câu chuyện ấy, sau khi càng thanh niên kia chán nản lìa khỏi Chúa Cứu Thế, Chúa Giê-xu đã phán rằng kẻ giàu thật khó vào được Nước Trời. Lẽ dĩ nhiên Ngài có tiếp tục phán rằng điều bất khả thi đối với loài người vẫn khả thi cho Đức Chúa Trời. Nhưng nói như thế không hề giảm nhẹ sức mạnh của lời cảnh cáo của Chúa Cứu Thế. Theo như chúng ta được biêt, thì chàng thanh viên giàu có này đã chẳng bao giờ được cứu. Như Peter Davids đã vạch rõ, truyện tích này dạy cho cuh1ng ta rằng “của cải là một trong số các chướng ngại vật quan trọng nhất cho sự tận hiến, có lẽ là chướng ngại vật to lớn nhất” (Living More Simply, Intervarsity, 1980).
Làm thế nào để một người tìm ra được mình phải giữ lại bao nhiêu cho riêng mình và phải dâng (cho Chúa) bao nhiêu, và đâu là lằn ranh giữa các nhu cầu thiết yếu vớ các xa xí phẩm? Tôi xin gợi ý một vài chỉ dẫn:
1. Người ấy phải cầu nguyện nhiều trước khi quyết định vấn đề này, phải nghiêm chỉnh tra xét xem Thánh Kinh dạy gì về cách sử dụng và lạm dụng tiền bạc.
2. Người ấy phải chia sẻ điều này với những người khác thân cận với mình và trong cộng đồng Cơ Đốc giáo cũng như các thành viên trong gia đình mình. Lời khuyên khách quan của họ sẽ giúp ích được rất nhiều. Thí dụ là họ sẽ giúp người ấy tránh được các quyết định thiếu suy xét về vấn đề tiêu tiền hoặc dâng tiền (cho Chúa). Họ có thể nhìn thấy thấu đáo những cách bào chữa và hợp lý hoá của người ấy. Tuy nhiên, tài chính riêng là một lãnh vực mà phần đông người ta không thích đem ra thảo luận tự do với người khác. Thậm chí số người cống hiến nhiều cho sinh hoạt cộng đồng cũng thích giữ riêng lãnh vực tài chính cho một mình mình mà thôi.
3. Chắc chắn rằng Đức Chúa Trời sẽ phán dạy một người có ước mou61n chân thành để tìm biết ý chỉ Ngài về cách sử dụng của cải riêng. Người ấy phải chờ đợi Đức Chúa Trời hướng dẫn mình mà khôntg có các quyết định khinh suất.
4. Rồi khi Đức Chúa Trời đã chỉ đường cho, thì người ấy phải noi theo đó, cho dù phải trả giá nào.
Sẵn sàng chia sẻ. Phần cuối cùng của lệnh truyền thứ hai của Phao-lô cho kẻ giàu là tiếng gọi “hãy sẵn sàng chia sẻ”. Từ ngữ Hy văn được dịch ra là “phân chia” ở đây vốn từ từ ngữ “thông công” mà ra. Nó nhấn mãnh trên mối thông công mà người cho tiền phải có đối với những người nhận tiền. Phao-lô nhắc nhở chúng ta rằng những người Ma-xê-đoan hào hiệp, quyên trợ cho Hội Thánh Giê-ru-sa-lem, đã tự hiến thân trước hết (IICo 2Cr 8:1-5). Tình yêu Cơ Đốc giáo đòi hỏi cả hai, và dâng tiền không thể thay thế cho việc tự hiến dâng được.
Nhiều hàm ý hợp thời có thể được rút ra từ tiếng gọi hãy tự chia sẻ khi quyên trợ (dâng tiền) này. Nó có ý muốn nói về mối liên hệ giữa các tổ chức cứu trợ của Cơ Đốc giáo với những người nhận sự trợ giúp của họ. Một mặt, người cho không nên đặt điều kiện cho kẻ nhận và đối xử với họ như những người thấp kém. Mặt khác, người cho không nên hoàn toàn thoái thác mọi trách nhiệm đối với người nhận sau khi đã cứu trợ rồi. Tôi tin rằng câu trả lời cho vấn đề này nằm trong ý niệm về chia sẻ. Điều cần thiết là một mối liên hệ giữa người cho và kẻ nhận. Họ được kết chặt vào với nhau bằng một nmối liên hệ có một không hai bao hàm trong công tác quản lý tiền bạc của Đức Chúa Trời (chớ không phải là của nguời cho). Người cho chỉ đứng trung gian để Đức Chúa Trời khiến cho tiền bạc đến được với người nhận. Người nhận phải dùng số tiền này để tôn vinh Đức Chúa Trời.
Cũng như trong mọi mối liên hệ phải lẽ, ở đây cũng có các trách nhiệm và bó buộc, nhất là khi tiên bạc hoặc các nguồn tài nguyên vật chất khác được sử dụng. Các hướng dẫn hai chiều khả dĩ chấp nhận được có thể được đặt ra để giữ cho mối liên hệ được lành mạnh. Nhưng phần nền tảng của mối liên hệ này phải luôn luôn là một tình bạn thuộc linh, nảy sinh từ ý niệm chia sẻ.
Một hàm ý khác nữa của sự chia sẻ là người cho tự đồng nhất hoá với kẻ nhận các tặng vật của mình. Nếu Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta ban tặng cho người nghèo, thì chúng ta cũng phải sẵn lòng tự đồng nhất hoá với họ. Nếu không, sẽ chẳng có việc chai sẻ. Sự đồng nhất hoá này có thể áp đặt trên chúng ta một số bó buộc thậm chí còn có tính cách đòi hỏi nhiều hơn các đòi hỏi kết hợp với các tặng phẩm vật chất nữa. Khi chúng ta tìm cách cất bớt nỗi khổ của người nghèo bằng các tặng phẩm của mình, thì Đức Chúa Trời có lẽ cũng kêu gọi chúng ta tìm giải pháp cho một vấn đề sâu xa hơn - tức là nguyên nhân của nỗi khổ đó. Có lẽ chúng ta phải giải quyết các vấn đề như thới tiết, hay số người ấy sở dĩ nghèo vì thiếu các cơ hội hợp lý để thăng tiến. Số người ấy có nhận được mọi lợi ích mà hiến pháp quy định là quyền lợi của họ không? Trong cái hệ thống tất nhiên dẫn tới các hậu quả đó, có sự bất công hay kỳ thị nào chống lại họ không? Số người ấy có biết rằng chỉ có một Cứu Chúa duy nhất là có lời giải đáp cho các nhu cầu sâu xa nhất của họ mà thôi, hay không? Các câu hỏi này liên quan đến các nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo khổ thuộc linh và kinh tế. Mà chia sẻ với người nghèo phải gồm luôn một nỗ lực làm nhẹ bớt các nguyên nhân gây nghèo khổ kia.
Đồng nhất hoá thường khiến chúng ta soát xét lại chính nếp sống của chúng ta. Làm thế nào để chúng ta có thể đồng nhất hoá với những người chẳng có chi cả, trong khi chúng ta tiêu pha hoang phí những gì mình có bằng cách “xài sang?” Người nghèo chẳng bao giờ hiểu nổi chuyện lãng phí như thế, nên nó sẽ trở thành một rào cản cho một mối liên hệ có ý nghĩa - một chướng ngại vật phải cất bỏ đi nếu muốn cho một mối liên hệ thật sự được thiết lập.
Chia sẻ có thể là một hoạt động nhiều đòi hỏi. Vì thế mà có nhiều người thích quyên trợ cho người nghèo nhưng lại giữ một khoảng cách an toàn. Thí dụ, một Cơ Đốc nhân người thành phố người nghèo ở thôn quê bằng các tặng phẩm và thỉnh thoảng đến thăm viếng họ. Trong những lần thăm viếng đó, người ấy cố thử sống như họ sống. Nhưng rồi người ấy sẽ trở về nhà mình, và sống một nếp sống khác hẳn. và có một xóm dân dân nghèo sống chỉ cách nhà người ấy vài mét mà thôi. Người ấy nhìn thấy họ hằng ngày, nhưng không hề thử tìm cách đồng nhất hoá với họ. người ấy xây một bức tường cao quanh mình và gia đình mình (có khi là đúng theo nghĩa đen nữa!) để tự cô lập khỏi “các thành phần nguy hiểm” kia. Bất cứ một cố gắng đồng nhất hoá với họ nào cũng sẽ bao hàm một mối đe doạ cho nếp sống đầy đủ tiện nghi hiện tại của người ấy, quá khó khăn để có thể giải quyết. Cho nên người ấy tự trấn an lương tâm mình bằng cách chỉ tạm thời đồng nhất hoá với những kẻ nghèo ở xa nhà mình mà thôi.
Vấn đề động cơ thúc đẩy và thái độ ban tặng thường nổi hẳn lên trên bề mặt trong phần thảo luận này. Chúng tôi đã trình bày một số động cơ thúc đẩy và thái độ cả tốt lẫn xấu, gắn liền với công tác phước thiện. Phần thảo luận này sẽ chưa đầy đủ nếu tôi không đề cập thêm hai động cơ thúc đẩy phi Cơ Đốc giáo nữa trong vấn đề làm công tác phước thiện.
Một số người làm phước thiện với ước muốn tự đề cao. Khi người ấy quyết định nên cho tiền nơi nào, thì có xu hướng tìm những địa điểm nào mà việc làm ấy sẽ được công chúng biết về của bố thí ấy rõ ràng nhất. Nhiều Hội Thánh và tổ chức Cơ Đốc giáo đã thường mắc bẫy Sa-tan trong lãnh vực này. Họ cho biết là các tặng vật bố thí phải được công chúng nhận thấy. Họ tuyên bố trực tiếp hoặc gián tiếp. “Hãy quyên trợ, rồi tên của các bạn sẽ được nêu trên các tạp chí” hoặc “Hãy quyên trợ, và dán lên đó bảng tên của bạn”. Những tặng phẩm như thế có rất ít năng lực thuộc linh theo sau. Qua tặng vật của mình, kẻ cho trở thành một bạn đồng công với chức vụ (tổ chức) nhận các tặng phẩm ấy. Nhưng vì tấm lòng cằn cõi thuộc linh của người cho, mà chức vụ có người ấy góp phần cũng bị vấy sự cằn cõi vô sinh (barrenness: không kết quả) ấy.
Các chương trình được bảo trợ theo cách ấy có thể phát triển mạnh và chứng tỏ là có nhiều kết quả khả dĩ nhìn thấy, sờ nắn được. Các phương pháp đo đạc sự thành công của chúng ta thường có liên hệ trực tiếp với độ lớn của một chương trình. Với nhiều tiền chúng ta có thể có một chương trình thật lớn. Nhiều bảng thống kê gây ấn tượng có thể được đưa ra. Nhưng đến ngày sau rốt, khi các ngọn lửa phán xét của Đức Chúa Trời được áp dụng cho các chương trình ấy, lửa sẽ cho thấy chúng chỉ được xây trên gỗ, cỏ khô và rơm rạ mà thôi.
Một loại bố thí khác, nảy sinh từ các động cơ thúc đẩy sai lầm là việc làm sống lại điều mà các thế kỷ vừa qua đã gọi là mua “bùa xá tội”. Một số người đã trở nên giàu có hoặc dang duy trì của cải của họ bằng các phương tiện phi Cơ Đốc giáo. Họ bóc lột ngưòi nghèo. Họ thanh toán những người cạnh tranh với họ một cách tàn bạo. Lẽ dĩ nhiên, số người này bị lương tâm bất ổn của họ cắn rứt, nhất là khi họ vốn xuất thân từ một bối cảnh tôn giáo. Việc bố thí của họ có thể là một cố gắng nhầm bù lại các bất công mà họ vẫn tiếp tục làm để xoa dịu lương tâm bất ổn của họ. Loại công tác phước thiện đó của họ hoàn toàn xa lạ với tinh thần hào hiệp và chia sẻ mà Phao-lô bênh vực ở đây.
Của báu ở trên trời (ITi1Tm 6:19)
Một cách đầu tư khôn ngoan. Phao-lô mô tả các phần thưởng cho lòng hào hiệp của Cơ Đốc nhân. “vậy thì dồn chứa về ngày sau một cái nền tốt và bền vững cho mình, để được cầm lấy sự sống thật mình, để được cầm lấy sự sống thật” (c.19). Người hào hiệp không chỉ giúp đỡ người khác mà thôi. Họ thật sự tự giúp chính họ qua tiến trình bố thí. Điểm nhấn mạnh trong câu này là trên mẫu chữ “cho mình”.
Mọi tặng vật ban ra theo cách của Cơ Đốc giáo đều là một cách đầu tư khôn ngoan vào điều mà John Wesley từng gọi là “ngân gàng trên thiên đàng”. Để hậu thuẫn cho lời nói này, Wesley đã trích dẫn ChCn 19:17 “Ai thương xót kẻ nghèo, tức cho Đức Giê-hô-va vay mượn; Ngài sẽ báo lại việc ơn lành ấy cho người”, và Mat Mt 25:40 “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy”. Mấy câu này vạch rõ khi chúng ta bố thí cho kẻ nghèo, là thật ra chúng ta đang dâng tặng cho Đức Chúa Trời. Cho nên Wesley mới nói: “Hãy bố thí cho người nghèo bằng một con mắt đơn sơ, bằng một tấm lòng ngay thẳng, rồi viết rằng ‘(mìn) đã dâng cho Đức Chúa Trời nhiều rồi’” (Forty-fem Sermons, London: Epworth Press, 1967).
Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giê-xu kể về những kẻ “đã được phần thưởng của mình” trên đất này rồi (Mat Mt 6:2, 5, 16). Sau đó một ít, Ngài dạy rằng phần thưởng của Cơ Đốc nhân là ở trên trời (Mat Mt 6:19-21). Chủ điểm của khúc sách này, và trong câu ITi1Tm 6:19 của Phao-lô, là sự khôn ngoan trong việc sử dụng của cải theo các nguyên tắc của Đức Chúa Trời. Những người bố thí không theo cách của Cơ Đốc giáo có thể được phần thưởng ngay trên thế gian này. Nhưng phần thưởng ấy cũng hoàn toàn tiêu tan ngay trên đất này. Nhưng với các công tác phục vụ theo cách của Đức Chúa Trời thì không phải là như thế. Cho nên cách bố thí đúng, phải lẽ, là một cách đầu tư khôn ngoan.
Khi một người khôn ngoan có được ít tiền, người ấy đặt câu hỏi: “Tôi sẽ làm được gì nhiều người nhất với số tiền này?” Người ấy có thể quyết định gởi nó vào một tương mục cố định trong ngân hàng hay một công tuy tài chính để được hưởng chút ít tiền lời. Hoặc người ấy có thể quyết định đầu tư vào một xí nghiệp kinh doanh, xây một ngôi nhà mua một vài trang thiết bị nào đó. Tuy nhiên, Thánh Kinh dạy rằng cách đầu tư tồn tại lâu nhất là cách đầu tư vào thiên đàng. Nó được đem ra sử dụng cho công tác của Nước Trời. Vì Nước ấy là Nước Vĩnh Hằng, kết quả của công tác của chúng ta cũng sẽ tồn tại miên viễn. Mấy chữ “cái nền bần nông” mà Phao-lô dùng, là nhằm vào tính an toàn của cách đầu tư ấy.
Thiên hạ rất ít khi xem việc bố thí là một cách đầu tư. Họ tưởng đó chỉ là một bổn phận hay một cách phục vụ thực hiện bằng việc phải trả một cái giá nào đó, có thể làm được bằng tiền. Họ không nghĩ rằng dâng tiền là đầu tư tiền bạc vào công tác phát triển một kế hoạch sẽ cứ ngày càng tăng trưởng thêm cho đến khi nó đi vào lãnh vực của cõi vĩnh hằng. Nhưng đó chính là điều mà Cơ Đốc nhân dâng vào.
Phao-lô kết thúc câu này bằng cách viết rằng Cơ Đốc nhân nào bố thí, sẽ “được cầm lấy sự sống thật”. Những người chỉ sống cho riêng mình chẳng bao giờ có được sự an ninh và hoàn thiện mà họ theo đuổi. Của cải không thoả mãn được các nhu cầu sâu sắc nhất của con người ta. Một người có thể giàu ở mặt ngoài, nhưng là một kẻ nghèo mạt trong nội tâm. Người nào tin cậy và vâng lời Chúa Cứu Thế thì được sự sống dư dật (sung mãn) trong đời này (GiGa 10:10). Mà chúng ta biết rằng đời này nhờ có Đức Thánh Linh ngự trong lòng chúng ta chỉ là một phần nếm trước một cuộc đời càng sung mãn hơn nhiều đang chờ đợi chúng ta trong đời sau (IICo 2Cr 1:22; 5:8; Eph Ep 5:14).
Phải chăng phần thưởng trên trời đang là một động cơ thúc đẩy vị kỷ cho việc phục vụ của chúng ta? Khi Phao-lô và Chúa Giê-xu đề cập các phần thưởng trên thiên đàng, thì phải chăng đó là lời kêu gọi người ta hãy có những ước muốn vị kỷ? Phải chăng chúng ta chỉ làm điều thiện vì rồi chúng ta sẽ được phần thưởng trên thiên đàng? Tôi tin rằng những lời đề cập phần thưởng trên thiên đàng chỉ được đưa ra như một lời khuyến khích đức tin, một sự bảo đảm cho nếp sống khôn ngoan từ bên ngoài, bảo rằng chúng ta đang làm điều dại dột.
Chẳng có ai thích xuất hiện như một kẻ dại dột trước mặt người khác. Giúp đỡ người thật sự nghèo thiếu thường chẳng được địa vị gì có giá trị trên đất này. Những người thật sự nghèo thiếu vốn bất năng bất lực, đến độ lòng tri ân của họ ít khi tạo được ảnh hưởng gì trên xã hội. Cho nên thiên hạ chẳng cần biết bạn đã giúp cho những người bât năng bất lực đó được bao nhiêu. Ngoài ra, Cơ Đốc nhân hành động do quyết tâm không để cho tay trái biết việc tay phải đang làm (Mat Mt 6:3). Cho nên đức tính hào hiệp chân chính của Cơ Đốc nhân rất ít khi được các trang bìa của báu chí đề cập, cũng ít khi đểy mạnh được sự tiến bộ trong xã hội.
Rồi lại còn có cái nhục bị cho là “thích phô trương” mà chẳng chóngthì chầy cũng xảy ra, cho dù chúng ta có cẩn thận đến đâu. Nhiều người khác thường lấy làm thích thú khi trò chuyện với nhau về nỗi nhục đó.
Rồi còn có sự kiện các tặng phẩm do sự hy sinh của một số Cơ Đốc nhân tương đối giàu có thường ít khi được người khác tán thưởng. Họ tưởng đó chỉ là những điều thừa thải mà toh6i. họ bảo nhau “Bọn họ giàu quá mà, chừng đó chẳng là gì cả đối với bọn họ”. Do không công khai hoá việc bố thí của mình, họ không biết là mình đã bố thí nhiều tặng phẩm tương tự cho nhiêù người khác nhau. Điều mà với một người vốn là một sự hy sinh nhưng lại bị nhiều người khác xem chỉ là những mẩu bánh vụn từ bàn ăn của người ấy, và đó là số phận của nhiều công tác bố thí hiện nay. Cơ Đốc nhân thật sự hào hiệp cũng bị lẫn lộn với mọi ngưòi khác, một sự kiện đang khiến cho Cơ Đốc nhân giàu có thật sự hào hiệp trở thành một con người cô độc.
Tất cả điều nhục nhã và cô độc đó có đáng phải bỏ công hay không? Đây là một câu hỏi mà nhiều người đang phải chiến đấu với nó. Do cái giá phải trả đó, mà nhiều người đã chọn bỏ hẳn phương pháp theo Cơ Đốc giáo ấy, và chọn thay vào đó là noi theo con đường dễ đi. Có lẽ họ vẫn còn quyên trợ cho hoạt động Cơ Đốc giáo, Nhưng họ không quyên trợ đúng theo nguyên tắc Cơ Đốc giáo mà đối với họ đã trở thành quá đắt giá để noi theo. Với người trung tín đang chiến đấu với nỗi cô đơn và với việc có vẻ như dại dột trước mặt thiên hạ, thì Chúa Giê-xu và Phao-lô có lời khích lệ bằng cách chỉ vào phần thưởng trên thiênđàng. Đây không phải là dại dột mà là cách đầu tư khôn ngoan nhất mà một người có thể làm.
Từ ngữ “răn bảo” (truyền dạy) xuất hiện hai lần trong khúc sách này. Nó chứng minh rằng nếu Ti-mô-thê muốn trung tín trong công tác lãnh đạo các Cơ Đốc nhân tại Ê-phê-sô, ông phải truyền dạy cho họ thật cẩn thận về thái độ của Cơ Đốc nhân đối với của cải. Ngày nay, chúng ta nhận thấy có quá nhiều Cơ Đốc nhân không thành công trong công tác phục vụ Cơ Đốc giáo hoặc ohàn toàn phản lại với đức tin (bội đạo) chỉ vì họ bị sự mê đắm về của cải đời này lừa dối, làm cho nghẹt ngòi (Mat Mt 13:22). Thế nhưng, hiện nay rất hiếm khi chúng ta được nghe giảng dạy về đề mục tài sản, của cải. Thế thì, thật là điều quan trọng biết bao để các cấp lãnh đạo bắt đầu truyền dạy thật kỹ cho các Cơ Đốc nhân về thái độ của Thánh Kinh đối với sự giàu có!
Ứng dụng cá nhân
Mỗi một Cơ Đốc nhân phải phát triển một tính lý cá nhân và một kế hoạch để dâng tặng (dâng tiền cho Chúa và quyên trợ cho các công tác phước thiện). hãy viết ra kế hoạch hay kế hoạch mà bạn dự định sẽ thi hành, trong khoảng chỉ ba bốn câu mà thôi.

KẾT LUẬN
Một tạp chí định kỳ mới ấn hành tại Ca-na-đa, tờFaith Alive đã chọn đề mục quyền lãnh đạo để nhấn mạnh trong số ra mắt (Faith Alive, Z,1,1983). Bài viết mở đầu của Brian Stiller có tựa đề là: “Leaders: A Vanishing Breed?” (Cấp lãnh đạo: phải chăng đó là một dòng giống đang tan biến). Bài này và nhiều bài viết khác nữa khẳng định rằng trong Hội Thánh tại Ca-na-đa hiện có một cơn khủng hoảng về lãnh đạo. Neil Snider đề cập: “Vấn đề khan hiếm người lãnh đạo” và nhận xét rằng “không có những thanh niên đáng lẽ phải vượt lên để đảm nhận các vai trò lãnh đạo” (“Leadership, in Crisis”, tt 14,15).
Cơn khủng hoảng này không chỉ giới hạn cho Ca-na-da mà thôi. Hội Thánh tại Á Châu cũng dang chiến đấu với cùng một vấn đề này. Và tôi tin rằng đây cũng là một vấn đề cho các châu lục khác nữa. Quyển sách này là một nỗ lực khiêm tốn nhằm đóng góp vào việc trưởng dưỡng một thế hệ người lãnh đạo mới cho Cơ Đốc giáo.
Snider có nóir ằng một vấn đề liên quan đến cơn khủng hoảng người lãnh đạo là “thiên kiến chống lãnh tụ hiện đang thống trị trên phần lớn tư duy về xã hội của chúng ta”. Một phần trách nhiệm của thiên kiến này là sự kiện “chúng ta sợ người lãnh đạo mạnh mẽ. Chúng ta đã thấy các lãnh tụ tồi” Cho nên thiên hạ chẳgn còn muốn tin cậy vào các cấp lãnh đạo mạnh mẽ nữa. Snider nói rằng vì sự không tin cậy ấy, nên “Nếu như có một lãnh tụ nổi bật hẳn lên trong các giới Cơ Đốc nhân của chúng ta chắc chắn chúngt a sẽ vội vàng kéo ông ta xuống để ông ta chẳng làm được gì cả”.
Tôi tin rằng một trong những nhu cầu lớn nhất trong Hội Thánh hiện nay là một muà gặt các cấp lãnh đạo, mà nhờ đời sống, gương mẫu của họ, sẽ giúp vãn hồi trong tâm trí người ta (các tín hữu). Cách đánh giá mà công tác lãnnh đạo xứng đáng phải nhận được. Cho nên tôi thiết tưởng là chẳng cần gì phải xin lỗi vì đã dành quá nhiều chỗ trong quyển sách này cho việc thảo luận về cá tính và tấm gương tốt của một người lãnh đạo. Thật vậy, đây có thể được xem là điểm then chốt cần nhấn mãnh trong quyển sách này.
Một yếu tố khác nữa góp phần vào cơn khủng hoảng lãnh đạo là điều mà Brian Stiller mô tả là một kiểu lãnh đạo mới đã nổi bật hẳn lên trong Hội Thánh. Stiller nói các cấp lãnh đạo của chúng ta ngày nay chủ yếu là những nhà quản trị. Chúng ta đã phát triên và thiết lập các cấu trúc Cơ Đốc giáo của mình khiến hiện nay, chúng ta cần có những người để giữ sao cho chúng cứ chạy đều êm xuôi mà thôi. Như Stiller nói: “Các phong trào cần có các cấp lãnh đạo để chỉ hướng đi, trong khi các đế quốc thì đòi hỏi các nhà lập kế hoạch”.
Chúng ta từng mô tả người lãnh đạo không phải như một nhà quản lý, mà như một người cha, một nhà đào tạo môn đệ, hay một sư phụ. Đó là điểm then chốt thứ hai được nhấn mãnh trong quyển sách này. Mối liên hệ giữa người lãnh đạo với những người mà mình lãnh đạo, thiết yếu là mối liên hệ của tình yêu thương. Như tình yêu vốnlà nét đặc trưng quan trọng nhất trong cách ăn ở ứng xử của Cơ Đốc nhân thế nào, điều thiết yếu là tình yêu cũng phải thâm nhập phần cốt lõi của chức vụ lãnh đạo Cơ Đốc giáo nữa. Phương pháp làm người cha, nhà đào tạo môn đệ, bậc sư phụ trong công tác lãnh đạo phải cho phép tình yêu làm như thế.
Mục tiêu do tình yêu thương của một lãnh tụ Cơ Đốc giáo là phải lãnh đạo dân sự (những người thuộc về) Đức Chúa Trời, và tổ chức mà họ là thành viên, đến chỗ nhận thức được đầy đủ ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với họ. Người ấy phải tìm cách đẩy cho những người thuộc về Chúa tiến lên, nắm tay họ để dẫn vào các công cuộc khám phá, các công trình khai thác mới mẻ cho Đức Chúa Trời - như sự việc xưa nay vốn vẫn là như htế. Muốn chu toàn việc ấy, người lãnh đạo phải chăm só cbầy mình, bảo đảm rằng mọi nhu cầu của họ đều được đáp ứng. Người ấy phải dạy dỗ bầy chiên. Người ấy khích lệ mà khiển trách họ. Người ấy trang bị cho họ để họ có thể tận dụng các ân tứ của mình. người ấy thúc giục họ cứ chiến đấu cho Nước Trời, và cứ tiến mãi vaò các vùng đất mới để chinh phục tất cả. Nếu người ấy giúp được cho toàn thể Hội Thánh (là thân thể Hội Thánh sẽ cùng với người ấy tiến lên để trải nghiệm mọi khả năng không bao giờ cạn kiệt hàm chứa trong ý chỉ của Đức Chúa Trời.
Tôi cầu nguyện, xin cho quyển sách này sẽ giúp được quý độc giả vượt được nẻo đường lãnh đạo theo Kinh Thánh dạy này, để quý vị sẽ đặt tối đa vào các hoài bão của mình lời kêu gọi song phương là phải làm kiểu mẫu và là những người cha thuộc linh.


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 21-2-2018 05:31 PM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách