† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2840|Trả lời: 0

Nghi Ngờ

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 21-7-2011 22:49:04 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Nghi Ngờ
Tác giả: Alister McGrath

Lời tựa
1 Nghi ngờ là gì?
2 Nghi ngờ Phúc Âm
3 Nghi ngờ chính mình
4 Nghi ngờ Chúa Giê-xu
5 Nghi ngờ Thượng Đế
6 Làm sao xử lý

Lời Tựa
"Tôi tin! Xin Thầy thêm đức tin cho tôi" (Mac Mc 9:24). Chúng ta không biết tên của người đã nói với Chúa Giê-xu những lời đáng ghi nhớ này. Dù là ai thì những lời ông ta nói đã diễn tả đầy trọn những lo âu của nhiều Cơ Đốc nhân. Họ đã khám phá ra trong Chúa Cứu Thế một điều gì tuyệt vời hơn điều họ từng hy vọng. Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn còn những nỗi nghi ngờ phiền toái. Tôi có thực sự tin Phúc Âm không? Chắc chắn điều gì tốt quá khó có thật được! Thượng Đế có thật sự yêu tôi không? Tôi có thể giúp ích được gì cho Chúa? Trong thâm tâm nhiều Cơ Đốc nhân đã lo lắng về những vấn đề tương tự và họ thường xấu hổ vì cảm thấy thế. Do đó, họ đã đè nén những nỗi nghi ngờ với hy vọng rằng chúng sẽ tan biến. Cũng có khi chúng biến đi nhưng thường thì không.
Cuốn sách này giải thích nghi ngờ là gì và do đâu mà có. Nó cũng đề cập một loạt đến những nghi ngờ đặc trưng và những lo lắng mà Cơ Đốc nhân thường gặp trong những năm đầu của đời sống tín đồ. Nó cũng nêu những gợi ý để đối phó với sự nghi ngờ và giúp cho đức tin của bạn ít bị lung lay. Chủ đề của sách rất đơn giản: Nghi ngờ là một lời mời gọi để đức tin và hiểu biết tăng trưởng hơn là điều khiến chúng ta hoảng sợ hay lo lắng. Tất cả chúng ta phải học cách thức nắm lấy cũng như đánh giá cao 'Khía cạnh tích cực của sự nghi ngờ' (Tennyson)
Alister McGrath
Nghi ngờ là gì?

Rất nhiều Cơ Đốc nhân không muốn đề cập đến sự nghi ngờ. Một số người lại còn không muốn nghĩ đến nữa. Vì thừa nhận mình nghi ngờ dường như có nghĩa là sỉ nhục Chúa và ngờ vực sự trọn vẹn của Ngài. Nếu bạn nghĩ thế cũng dễ hiểu thôi, về phần bạn, có thể bạn cho rằng thừa nhận những nghi ngờ là dấu hiệu của sự yếu đuối về tâm linh hay trí tuệ; mặt khác, có thể bạn không muốn thừa nhận những nỗi nghi ngờ đó với bạn bè, vì biết đâu điều đó làm họ rối trí hoặc đức tin của họ bị tổn hại.
Do đó, nhiều Cơ Đốc nhân đã giấu kín những nỗi ngờ vực vì cho rằng thừa nhận những điều đó là sai lầm. Họ sợ bị coi là ngu dốt, và cảm thấy lòng tự trọng sẽ bị tổn thương. Một trong những lý do khiến một số Cơ Đốc nhân gặp khó khăn khi đối phó với sự nghi ngờ là lầm lẫn giữa hai ý tưởng riêng biệt mà thoạt đầu dường như tương đồng nhưng thật ra lại khác nhau. Thứ nhất, sự nghi ngờ không phải là chủ nghĩa hoài nghi , là quyết định cố ý nghi ngờ mọi việc như một nguyên tắc. Thứ hai, nghi ngờ không phải là vô tín , nghĩa là quyết định không tin nơi Chúa. Vô tín là hành động của ý chí hơn là sự khó khăn trong việc tìm hiểu. Nghi ngờ thường có nghĩa là đặt câu hỏi hoặc nêu những điều không biết chắc trên quan điểm đức tin. Bạn có đức tin nhưng bạn gặp khó khăn hay băn khoăn về một khía cạnh nào đó của đức tin. Đức tin và nghi ngờ không loại trừ nhau như đức tin và vô tín.
Nghi ngờ có lẽ là một đặc điểm thường xuyên của đời sống Cơ Đốc. Nó giống như một cơn sốt vỡ da (cơn sốt do sự phát triển cơ thể) về tâm linh. Có lúc lui đi, có lúc bộc phát dữ dội. Một bác sĩ đã từng nhận xét rằng cuộc đời là một cuộc chiến đấu thường xuyên chống lại mọi thứ bịnh tật. Sức khỏe tốt chỉ hơn khả năng chận đứng bịnh tật một chút. Về nhiều phương diện, đời sống đức tin cũng giống như một cuộc chiến đấu thường xuyên chống lại sự nghi ngờ. Xem nghi ngờ là dấu hiệu yếu đuối của con người, hay của sự không sẵn lòng tin cậy Chúa cũng giúp ích cho chúng ta. Chúng ta hãy triển khai tư tưởng này bằng cách tìm hiểu xem người ta đã đến với đức tin như thế nào.
Đến với đức tin từ những nỗi nghi ngờ chưa được giải quyết
Có một cách hiểu sự quy đạo như sau. Nghi ngờ ngăn chận người ta đến với đức tin nơi Chúa. Sau khi đã tranh chiến với những nỗi nghi ngờ khác nhau và đã thắng hơn thì con đường dẫn đến đức tin được mở rộng. Việc đến với đức tin xảy ra khi mọi nỗi nghi ngờ được xua tan. Đức tin loại trừ nghi ngờ. Có thể một số người đã đến với đức tin bằng cách này, tuy nhiên, hầu hết không như vậy. Kinh nghiệm cho thấy có một cách khác để hiểu sự quy đạo đáng tin hơn.
Nhiều người cảm thấy Lời Chúa lôi cuốn mạnh mẽ bất chấp mọi nghi ngờ. Một mặt những nghi ngờ của họ có thật và ngăn họ đến với đức tin; mặt khác, Lời Chúa lôi cuốn mạnh mẽ và kéo họ đến với đức tin. Cuối cùng họ quyết định đặt lòng tin nơi Thượng Đế và Chúa Cứu Thế Giê-xu dù những băn khoăn, lo lắng vẫn chưa được giải quyết. Họ vẫn còn do dự và hy vọng rằng những nghi ngờ và khó khăn sẽ được giải quyết khi đức tin họ lớn lên. Francis Bacon, triết gia của thế kỷ 17 trong tác phẩm Advancement of Learning đã khen ngợi cách này như sau: 'Nếu một người bắt đầu với sự đoan chắc, cuối cùng anh ta sẽ nghi ngờ; nhưng nếu anh ta bằng lòng khởi sự với sự nghi ngờ, cuối cùng anh ta sẽ biết chắc'.
Thí dụ minh họa điều này. Giả sử đang dự một bữa tiệc tẻ nhạt, bạn gặp một người và cảm thấy bị người ấy thu hút. Bạn làm quen với người ấy và rồi theo thời gian bạn nhận ra mình đang yêu người ấy. Tuy nhiên, bạn khựng lại và không để cho tình cảm ấy tiến xa hơn. Dù sao, bạn cũng không biết rõ người ấy mà; biết đâu người ấy có một tính xấu nào đó; bạn có thể tin tưởng được người ấy không? Và giống như nhiều người, bạn có thể mặc cảm về chính mình. Bạn tự hỏi không biết người kia thấy gì nơi bạn; có thể nào người ấy yêu bạn không? Bạn thật sự đã cảm thấy thích người ấy nhưng bạn đã khựng lại. Bạn nghi ngờ. Bạn không nhất quyết.
Trong trường hợp này bạn có hai sự lựa chọn. Có thể bạn vẫn còn khựng lại và bị giam hãm trong những nỗi nghi ngờ, do dự. Nếu lúc nào chúng ta cũng làm vậy, chúng ta sẽ bỏ lỡ những cuộc phiêu lưu và những bất ngờ của cuộc sống như là tình yêu và tìm được đức tin Cơ Đốc. Hoặc bạn có thể liều. Bạn có thể tự nhủ: 'Mình cứ thử xem và hy vọng mọi nỗi nghi ngờ lo lắng của mình sẽ tan biến dần', và bạn cho phép mối quan hệ đó phát triển.
Nhiều người đã trở thành Cơ Đốc nhân trong tinh thần đó. Nhận biết sức thu hút mãnh liệt của Lời Chúa, họ cảm động sâu xa khi nghĩ Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chết vì tội lỗi của họ, họ cảm thấy phấn khởi trước những lời hứa tha tội và ban đời sống mới. Họ quyết định vươn đến đức tin và sở hữu những điều đó. Còn các nỗi nghi ngờ, lo lắng, họ hy vọng chúng sẽ được giải tỏa và đặt vào đúng chỗ khi quan hệ của họ với Chúa được phát triển. "Tôi tin! Xin Thầy thêm đức tin cho tôi" (Mac Mc 9:4).
Nếu bạn đang ở trong tình trạng này thì việc vật lộn với nghi ngờ là rất quan trọng trong cuộc đời Cơ Đốc của bạn. Cách mà bạn đến với đức tin sẽ đưa ra cho bạn những việc cần phải làm. Phải quyết định cần lựa chọn, sắp xếp những điều gì. Bạn sẽ muốn suy nghĩ đến một số câu hỏi thường xảy ra trong bất cứ mọi mối liên hệ cá nhân. Tôi có thể thật sự tin cậy Thượng Đế không? Ngài có thật sự yêu thương tôi không? Còn về những sự bất xứng riêng tư của cá nhân tôi thì sao? Ngài có biết con người thật của tôi là gì không? Và có thể có những sự nghi ngờ khác về Phúc Âm, về chính bạn, về Chúa Cứu Thế, và về chính Thượng Đế. Quyển sách này nhằm mục đích xử lý những vấn đề đó. Nhưng những sự nghi ngờ của bạn không hề làm mất hiệu lực kinh nghiệm trở lại tin Chúa của bạn - bạn thật sự là một Cơ Đốc nhân!
Nghi ngờ - điều nhắc nhở sự yếu đuối và tội lỗi của con người.
Kinh Thánh nói về sự cứu chuộc. Chúng ta đã được giải phóng khỏi tội lỗi qua sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Tuy nhiên sự cứu chuộc không phải được hoàn tất trong giây lát. Có một bé gái đã hỏi một giám mục rằng ông đã được cứu chưa. Ông đáp: "Tôi đã được cứu khỏi án phạt của tội lỗi, tôi đang được cứu khỏi quyền lực của tội lỗi và một ngày kia tôi sẽ được cứu khỏi sự hiện diện của tội lỗi". Sự cứu rỗi đòi hỏi thời gian! Đó là một quá trình, qua đó đức tin chúng ta trưởng thành giống như một hạt giống lớn lên thành cây. Phân biệt rõ ràng sự xưng nghĩa và sự nên thánh rất hữu ích. Trong sự xưng nghĩa chúng ta được nhận làm con cái của Chúa; được ban cho Thánh Linh như là một ấn chứng hay sự xác nhận chúng ta là Cơ Đốc nhân. Còn nên thánh là một quá trình lâu dài, qua đó càng ngày chúng ta càng trở nên giống Chúa Cứu Thế hơn. Điều đó không xảy ra lập tức được. Sự kiện đòi hỏi thời gian không nói lên sự thất bại về phía Thượng Đế nhưng cho thấy rằng tội lỗi đã ăn sâu trong chúng ta như thế nào.
Martin Luther đã sử dụng những từ rất thích hợp khi gọi Cơ Đốc nhân là những người đồng thời 'vừa công chính vừa tội lỗi' (simul iustus et peccator ). Ông muốn nói rằng Cơ Đốc nhân công chính vì ở trong mối quan hệ đúng đắn với Thượng Đế, nhưng tội lỗi vì chưa được xóa sạch khỏi bản chất tội. Cũng như một trận chiến quân sự, thắng lợi có tính cách quyết định đối với tội lỗi được hoàn tất trong sự quy đạo của chúng ta, nhưng cuộc tảo thanh vẫn còn phải tiếp tục để tiêu diệt những ổ đề kháng lẻ tẻ. Chúng ta tự lừa dối nếu nói mình không có tội chi hết (IGi1Ga 1:8). Làm ngơ trước tội lỗi hay cho rằng không có tội lỗi là một hiểu biết sai lạc về tình trạng tội lỗi nghiêm trọng của con người. Đối với Phao-lô, ân điển và tội lỗi giống như hai quyền lực đang tranh chiến trong chúng ta. Chúng ta biết kết quả tối hậu của trận chiến ra sao, nhưng khi còn tiếp diễn, chúng ta không thể làm ngơ ảnh hưởng của nó. Một trong những ảnh hưởng đó là sự nghi ngờ.
Nghi ngờ nói lên sự hiện diện thường xuyên và quyền lực của tội lỗi trong chúng ta, nhắc chúng ta nhớ rằng chúng ta cần ân điển, và ngăn cản chúng ta khỏi sự tự mãn về mối quan hệ chúng ta với Thượng Đế. Tất cả chúng ta đều là tội nhân và tất cả chúng ta đều có những nghi ngờ ở những mức độ khác nhau. Chúng ta cần vun đắp mối quan hệ với Thượng Đế, và ý thức rằng khi làm điều này, chúng ta đang làm với Chúa chứ không phải bằng sức mình (Phi Pl 2:12,13). Tội lỗi khiến chúng ta không tin cậy những lời hứa của Chúa và nghi ngờ Ngài. (Chính sự không tin cậy Chúa là 'nguyên tội' ở SaSt 3:1-5). Tội lỗi chỉ cầm quyền trên chúng ta bằng cách làm chúng ta xây khỏi Thượng Đế. Đức tin không chỉ là quyết tâm và khả năng tin cậy mà còn là ống dẫn ân điển của Chúa, là đường dây dẫn sự sống Chúa vào chúng ta. Đức tin cũng giống như một thân cây chuyển nhựa sống từ rễ đến cành để vừa chống đỡ vừa nuôi dưỡng chúng. Cắt đứt ống dẫn nhựa, cành cây sẽ khô héo (GiGa 15:1-8). Sau khi quy đạo nếu tội lỗi có chiếc lược gì với bạn thì chiến lược đó chính là cắt đứt ống dẫn này để bạn không đến gần được những lời hứa và quyền năng của Thượng Đế và để tội lỗi trở lại cầm quyền trên đời sống bạn.
Thế nên, cần phải nhìn sự nghi ngờ ở đúng chỗ của nó, đó là trong cuộc chiến chống lại tội lỗi (HeDt 12:4). Nghi ngờ không phải là một hiện tượng tách rời nhưng là một phần khắng khít của quá trình tăng trưởng trong đức tin, quá trình đọ sức kháng cự của bản chất cũ trong chúng ta.
Tuy nhiên, cũng không hoàn toàn đúng khi mô tả nghi ngờ là do tội lỗi con người mà ra. Nghi ngờ cũng nói lên sự yếu đuối của con người. Những giới hạn khắc nghiệt đặt trên khả năng của con người do sự kiện chúng ta là tạo vật chứ không phải là Thượng Đế đã là một đề tài chính của Thần học Cơ Đốc qua nhiều thế kỷ. Để phản đối những ý niệm quá dễ dãi về Thượng Đế của thế kỷ 15, Augustine đã nhận xét nỗi bất lực của con người trong việc nhận thức về Thượng Đế cách trọn vẹn. Nếu bạn có thể hiểu được Ngài thì Ngài không còn là Thượng Đế nữa. Thế kỷ 13 Thomas Aquinas đã nhấn mạnh rằng Chúa đã phải dùng hình ảnh và thí dụ để nói với chúng ta. Tại sao vậy? Vì sự yếu kém của trí tuệ chúng ta. Chúng ta không thể hiểu biết Chúa và đường lối Ngài cách trọn vẹn, do đó Ngài đã phải tự bày tỏ tuy không trọn vẹn để thích hợp với khả năng giới hạn của chúng ta, nhưng đó là sự bày tỏ rất chính xác và thỏa đáng. Điều này nói lên sự giới hạn của chúng ta chứ không phải của Ngài. Thế kỷ 16, John Calvin đã đưa ra câu châm ngôn nổi tiếng 'Chúa tự hạ xuống để thích hợp với sự yếu đuối của chúng ta'. Nói một cách khác, Chúa biết giới hạn của chúng ta và Ngài đã tự hạ xuống cho thích ứng với chúng ta. Chúng ta không thể xem toàn thể bức tranh vì vậy Chúa cho chúng ta một bản hướng dẫn đáng tin cậy chỉ rõ những điểm quan trọng về nội dung của nó. Không thể làm gì hơn được nữa vì những giới hạn của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta gặp trở ngại khi cố hiểu về Chúa và thế giới, nhưng điều đó không có nghĩa là đức tin của chúng ta bị đặt sai chỗ.
Một ví dụ về sự yếu kém của con người tác động đến cách nhìn sự vật giúp chúng ta hiểu rõ điều trên hơn: Giả sử, bạn muốn nhìn những ngôi sao hay dãi ngân hà. Bạn không thể làm điều này giữa ban ngày mà phải đợi trời tối. Ban ngày các vì sao vẫn có đó nhưng bạn không thể nhìn thấy. Các ngôi sao không cần bóng tối để hiện hữu nhưng chúng ta cần bóng tối nếu muốn nhìn thấy và biết chắc rằng chúng hiện hữu. Đối với Chúa cũng vậy, cũng như mắt chúng ta không thể thấy các ngôi sao vào ban ngày, trí chúng ta cũng không thể hiểu biết trọn vẹn về Ngài. Vấn đề nằm ở chỗ cách chúng ta kinh nghiệm sự vật hơn là thực trạng của sự vật. Vì là người nên chúng ta có những giới hạn trong việc nhìn, biết và hiểu các sự vật. Sẵn sàng chấp nhận những giới hạn này là phần thiết yếu cho đức tin được tăng trưởng.
Tự nhiên chúng ta muốn thấy và biết nhiều hơn. Nhưng chẳng khác gì muốn nhìn thấy những ngôi sao lúc ban ngày, điều đó vượt quá khả năng của đôi mắt chúng ta. Nếu chúng ta nói: 'Vì tôi không nhìn thấy những ngôi sao trong ánh sáng ban ngày nên những vì sao không có thật' thì ta đã lầm lẫn giữa cách nhận thức sự vật với thực trạng của sự vật. Nghi ngờ thường phản ánh sự băn khoăn, lo lắng về mối liên hệ giữa kinh nghiệm lý trí, tình cảm và đức tin. Có lúc những điều này dường như trái ngược nhau. Vậy chúng ta tin vào điều gì? Cái nào đúng? Sự hiểu biết đúng đắn ở đây là sự yếu kém của ta đã khiến ta không hiểu đầy đủ những điều đó liên hệ với nhau như thế nào. George MacDonald đã nói rằng 'Bất cứ điều gì khó khăn đều dẫn đến một điều cao hơn lý thuyết của cuộc sống chúng ta'. Đức tin đảm bảo rằng dù chưa thấy được một cách trọn vẹn thì chúng ta vẫn thấy được một cách chắc chắn (ICo1Cr 13:12).
Tìm kiếm sự chắc chắn là điều vô vọng
Sâu xa trong mỗi chúng ta là niềm mong ước có được sự an toàn tuyệt đối, khả năng nhận biết sự chắc chắn tuyệt đối. Nhưng sự chắc chắn tuyệt đối chỉ dành cho một số ít niềm tin. Thí dụ những điều hiển nhiên hay có thể chứng minh một cách lô-gíc. Cơ Đốc giáo không liên quan đến những chân lý hiển nhiên như 2+2=4. Ta có thể biết chân lý này một cách chắc chắn tuyệt đối, nhưng những điều này liên quan gì đến cuộc sống? Biết 2+2=4 chẳng cho ta biết gì về ý nghĩa cuộc sống. Thành thật mà nói, những điều bạn có thể biết chắc chắn lại thật sự không quan trọng mấy.
Tennyson đã nói rõ như vậy trong The Ancient Sage
Vì chẳng có điều gì đáng chứng minh,
Có thể được chứng minh hay bác bỏ ;
Do đó hãy khôn ngoan bám chặt
Khía cạnh lạc quan của sự nghi ngờ.
Những điều tin tưởng thật sự quan trọng trong đời sống liên quan đến những sự việc như: Có Đấng Thượng Đế không và Ngài ra sao? hay: Bí mật của bản chất con người và định mệnh. Những niềm tin đó và những niềm tin quan trọng khác có hai đặc điểm căn bản. Trước hết, chúng liên quan đến cuộc sống. Chúng đã ảnh hưởng đến cách chúng ta suy nghĩ, sống, hy vọng và hành động. Thứ hai, chúng không thể được chứng minh là đúng hay sai một cách hoàn toàn chắc chắn. Từ bản chất chúng đã mang ý nghĩ nội tại là không thể biết được một cách chắc chắn tuyệt đối. Cách tốt nhất là chúng ta chỉ hy vọng rằng những điều đó có thể đúng. Yếu tố nghi ngờ luôn luôn có trong bất cứ sự bày tỏ nào vượt quá thế giới của luận lý và của mệnh đề hiển nhiên. Cơ Đốc giáo ở cùng tình trạng này, và không phải duy chỉ có Cơ Đốc giáo, một người vô thần hay một người Mác-xít cũng phải đối diện với chính tình trạng khó xử này. Bất có ai muốn nói về ý nghĩa của cuộc sống phải đưa ra những lời phát biểu dựa trên đức tin chứ không trên sự chắc chắn. Dù sao đi nữa Thượng Đế không phải là một mệnh đề, Ngài là một Thân vị.
Chúng ta không thể nhìn thấy và sờ thấy Chúa, chúng ta không thể đòi hỏi Ngài chứng minh về sự hiện hữu hay tính tình của Ngài. Chúng ta chỉ biết Ngài qua đức tin. Nhưng tâm trí con người đòi hỏi nhiều hơn "Hãy cho chúng tôi một dấu lạ, hãy chứng minh", đây là một vấn đề muôn thuở. Những người nghe Chúa Giê-xu dạy đã muốn thấy dấu lạ (Mat Mt 12:38) - điều để xác nhận uy quyền của Ngài, điều để thuyết phục họ không nghi ngờ nữa.
Tin cũng như quyết định không tin Chúa đều đòi hỏi hành động của đức tin. Cả hai đều không đặt căn bản trên sự chắc chắn tuyệt đối và cũng không thể được. Chấp nhận Chúa Giê-xu, đòi hỏi một bước nhảy vọt trong đức tin mà chối bỏ Chúa Giê-xu cũng vậy. Không ai có thể chứng minh rằng Giê-xu là Con Thượng Đế, là Đấng Cứu Thế của nhân loại cũng như không có ai có thể chứng minh ngược lại. Mọi thái độ đối với Chúa Giê-xu ngoại trừ quyết định không có thái độ nào cả - đều dựa trên đức tin chứ không phải trên sự chắc chắn.
Tác giả người Mỹ, Sheldon Vanauken, đã làm sáng tỏ điều này khi mô tả cuộc chiến trong trí khi ông quy đạo tại Oxford:
"Có một khoảng cách giữa điều có thể và điều đã được chứng minh. Làm thế nào tôi có thể vượt qua được? Nếu phải đặt cả cuộc đời trên nền tảng Chúa Cứu Thế Phục sinh thì tôi muốn có bằng cớ. Tôi muốn có sự chắc chắn, muốn thấy Ngài ăn một miếng cá, muốn những chữ lửa xẹt ngang bầu trời. Nhưng tôi chẳng có được gì cả... Vấn đề tôi sẽ tin nhận hay chối bỏ Ngài. Sau lưng tôi cũng có một khoảng trống nữa, Chúa ơi! Có lẽ bước nhảy vọt đến sự tin nhận là một sự liều lĩnh khủng khiếp, nhưng còn bước nhảy vọt đến sự chối bỏ thì sao? Không có gì chắc chắn rằng Chúa Cứu Thế là Thượng Đế - nhưng Chúa ôi! - cũng chẳng có gì để khẳng định rằng Ngài không phải là Thượng Đế. Không thể chịu nổi được nữa. Tôi không thể chối bỏ Chúa Giê-xu. Chỉ còn một điều tôi cần phải làm ngay lập tức khi đã nhìn thấy khoảng trống sau lưng. Tôi đã xây lưng khỏi đó, nhảy qua khoảng cách đến với Chúa Giê-xu".

Thật sự có một bước nhảy vọt đức tin trong Cơ Đốc giáo nhưng kinh nghiệm Cơ Đốc là được chào đón một cách an toàn bởi một Thượng Đế hằng sống và yêu thương đã dang tay đợi chờ. Martin Luther đã nói về điều đó như sau: 'Đức tin là sự đầu hàng tự nguyện, và là sự đánh cuộc đầy vui mừng trên sự tốt lành mà ta không thấy được, không thử được và không biết được về Thượng Đế'.
Mọi quan điểm về cuộc sống, mọi lý thuyết về ý nghĩa sự hiện hữu của con người đều đặt trên đức tin, trên điều không thể chứng minh cách chắc chắn tuyệt đối. Nhưng điều này không có nghĩa là mọi quan điểm và lý thuyết đó đều có khả năng được chấp nhận như nhau. Chúng ta hãy thử lấy 3 lý thuyết về Chúa Giê-xu để minh họa điểm này:
1. Chúng ta đã được cứu chuộc khỏi tội lỗi bởi sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu.
2. Chúa Giê-xu và các môn đệ của Ngài thực sự là đội quân tiên phong thuộc về lực lượng xâm lăng của sao Hỏ a, do lạc đường đã lầm tưởng trái đất là sao Kim.
3. Chúa Giê-xu không hẳn là một người mà là một chất men gây ảo tưởng.
Mặc dù cả ba lý thuyết này không thể được chứng minh hay bác bỏ cách chắc chắn tuyệt đối, nhưng rõ ràng không thể xét chúng với mức độ nghiêm túc ngang nhau.
Không ai có thể chứng minh Cơ Đốc giáo bằng sự khẳng định, nhưng đó không phải là vấn đề. Những vấn đề quan trọng liên quan đến sự đáng tin cậy có cơ sở lịch sử, sự hữu lý, năng lực biến cải, cũng như mối liên quan đến đời sống con người của Cơ Đốc giáo. Như C. S. Lewis đã nhấn mạnh trong Mere Christianity , Cơ Đốc giáo có những phẩm chất ưu việt khác thường về mọi mặt. Hãy xem xét đi. Bạn có thể hoàn toàn tin cậy vào Phúc Âm như là lời giải đáp có quyền năng, đáng tin cậy và thỏa đáng sâu xa cho bí mật của đời sống con người. Đức tin, cơ bản là quyết tâm sống một cuộc đời dựa trên sự thừa nhận rằng có một số điều đúng và đáng tin cậy, trong niềm tin chắc rằng những điều đó là thật và đáng tin cậy, và tin rằng một ngày kia chúng ta sẽ biết một cách hoàn toàn chắc chắn những điều thật và đáng tin cậy.
Đức tin nông cạn là đức tin dễ bị lung lay
Nông cạn là tai họa của thế kỷ XX. Đòi hỏi phải có sự thỏa lòng ngay dẫn đến những quan hệ riêng tư nông cạn và một đức tin Cơ Đốc nông cạn. Nhiều sinh viên lần đầu tiên khám phá ra Cơ Đốc giáo khi đang học tại đại học. Khám phá này thường xảy ra cùng lúc với những biến cố quan trọng khác như là việc rời mái ấm gia đình, cảm thấy yêu ai hay có được sự độc lập về suy nghĩ và hành động. Kết quả là ấn tượng đầu tiên thường được đặt trên những khía cạnh cảm xúc và kinh nghiệm của Cơ Đốc giáo. Điều này không có gì sai. Cơ Đốc giáo có những nguồn mạch phong phú cho những ai muốn nhấn mạnh đến vai trò kinh nghiệm trong đời sống đức tin. Nhưng đức tin không chỉ có thế.
Đức tin có ba yếu tố chính. Trước tiên, đó là sự tin cậy vào Chúa. Đó là niềm vui mừng trong sự hiện diện và quyền năng của Ngài vì nhận được sự nhắc nhở, hướng dẫn của Ngài qua sự cầu nguyện và kinh nghiệm được Đức Thánh Linh thôi thúc và yên ủi. Đó là ước muốn sâu xa được gần gũi với Ngài, được ca ngợi danh Ngài và nhận biết sự hiện diện của Ngài. Trong nhiều phương diện, đức tin Cơ Đốc ở khía cạnh này giống như ta đang yêu một người nào đó. Đức tin này liên quan đến con tim hơn lý trí, thuộc về cảm xúc hơn là trí tuệ. Đó là nguồn năng lực của đời sống Cơ Đốc, giữ vững ta trong giai đoạn khó khăn và gây hứng khởi cho ta trong những thời kỳ thuận lợi.
Điều trở ngại rất nhiều người dường như không vượt xa hơn giai đoạn này. Đức tin của họ không có gì ngoài cảm xúc, nó trở nên cạn cợt, thiếu chiều sâu, không thật sự đâm rễ và dễ bị lung lay. Đức tin chỉ có thể phát triển khi đâm rễ sâu. Đức tin không chỉ có cảm xúc, kinh nghiệm về tình cảm, dù những điều này có thể quan trọng đối với bạn. Cơ Đốc giáo không chỉ là kinh nghiệm Chúa mà còn là bám chặt lấy Ngài. Một đức tin vững vàng là điều yên ổn, vững chắc để bạn nương dựa vào. Nếu đức tin của bạn không đâm rễ sâu, bạn sẽ bị cám dỗ để tìm sự yên ổn ở một điều nào khác để rồi thất vọng (Mat Mt 7:24-27).
Yếu tố thứ hai của đức tin là hiểu biết hơn về Thượng Đế, về Đức Chúa Giê-xu và về bản chất cũng như số phận con người. Tự bản chất, đức tin đòi hỏi sự hiểu biết, nó tìm cách đâm rễ sâu vào lý trí chúng ta khi chúng ta suy nghĩ về những ẩn ý trong kinh nghiệm của chúng ta đối với Chúa Cứu Thế Phục sinh. Trở thành một Cơ Đốc nhân có nghĩa là gặp gỡ một Thượng Đế thực hữu và trở nên một môn đồ là để sự gặp gỡ này hình thành cách suy nghĩ và hành động của chúng ta. Yếu tố thứ ba của đức tin là sự đầu phục . Phao-lô nói đến "sự vâng phục của đức tin" (RoRm 1:5) để nói rằng đức tin phải bày tỏ ra bằng việc làm. "Đức tin được giữ sống động trong chúng ta và có được sức mạnh từ việc làm nhiều hơn là từ sự nghiên cứu" (Joseph Addison).
Có lẽ lá thư thực dụng nhất trong thư tín Tân ước là thư Gia-cơ viết. Suốt lá thư này, chúng ta thấy một điểm được nhấn mạnh nhiều lần (Gia Gc 2:14-26): Đức tin thật bày tỏ qua việc làm. Chúng ta không được lấy việc nghe lời Chúa là đủ mà phải để lời Chúa tác động đến cách cư xử của chúng ta (Gia Gc 1:22-25).
Là Cơ Đốc nhân trách nhiệm của chúng ta là suy nghĩ về kết quả của đức tin thể hiện qua cách suy nghĩ và cư xử. Điều đó không hề có nghĩa là mỗi Cơ Đốc nhân phải lấy cho được một chứng chỉ đại học về môn thần học, hay bắt đầu nghiên cứu sách vở về đạo đức Cơ Đốc nhưng là để đức tin chúng ta đâm rễ vào từng chi tiết của đời sống. Cần lưu ý là các thư tín của Tân ước xem độc giả là những người đã tin Đức Chúa Giê-xu. Điều mà những lá thư này quan tâm là giúp đỡ rõ hơn về đức tin này và giải thích ý nghĩa đích thực của đức tin trong quan hệ giữa họ với các Cơ Đốc nhân khác hay với những người không thuộc cộng đồng Cơ Đốc. Bạn phải đủ sức giải thích đức tin của bạn cho người khác, với những người có thể quan tâm đến những điều bạn tin và lý do bạn tin (IPhi 1Pr 3:15). Nếu không suy nghĩ kỹ về những điều mình tin và lý do tại sao, bạn sẽ không giải thích được.
Nghi ngờ có thể bước vào chính ở điểm này, đơn giản chỉ vì bạn đã đặt đức tin mình ở mức độ nông cạn. Tân ước so sánh đức tin với một cây đang lớn. Nhổ một cây con rất dễ nhưng một khi cây đã bén rễ thì nhổ lên khó hơn nhiều. Vì không để đức tin bám rễ nên một số Cơ Đốc nhân đã bị những nghi ngờ lung lạc dễ dàng. Họ không suy nghĩ gì về đức tin của họ. Nếu có ai hỏi bằng cớ lịch sử về hiện hữu của Chúa Giê-xu, họ không biết trả lời. Thế là nghi ngờ len lỏi vào, và phải nói ngay rằng thường thường đó là những nghi ngờ không cần thiết.
Nếu điều này xảy đến cho bạn, hãy nhìn vấn đề một cách đúng đắn. Phúc Âm không phải là một ảo tưởng mà những câu hỏi khó làm lộ ra nguyên hình như những bộ quần áo của vị hoàng đế trong câu chuyện nổi tiếng của Hans Christian Aderson. Việc bạn không thể trả lời chính xác những câu trả lời của ai đó không có nghĩa là Cơ Đốc giáo sẽ sụp đổ hoàn toàn khi người ta bắt đầu nêu những câu hỏi khó. Điều đó không có nghĩa là khi trở thành Cơ Đốc nhân bạn đã tự sát về mặt trí tuệ, và cũng không có nghĩa là sự tin tưởng của bạn vào Phúc Âm bị sụp đổ như một quả bóng bị xì hơi chỉ vì bạn không thể trả lời một câu hỏi nào đó.
Tuy nhiên điều đó có nghĩa là bạn đã không suy xét kỹ về những điều bạn tin. Đức tin của bạn là thật nhưng nông cạn. Khuyết điểm không nằm ở Phúc Âm nhưng trong bản chất và chiều sâu của việc bạn đáp ứng với Phúc Âm. Phúc Âm chỉ thu hút trí tưởng tượng của bạn chứ không phải tâm trí. Đức tin của bạn cạn cợt mà đáng ra nó phải và có thể sâu xa. Thất bại của bạn phải thúc đẩy bạn đọc nhiều hơn, kỹ hơn hay bàn luận với những Cơ Đốc nhân có nhiều kinh nghiệm về vấn đề đó. Làm điều này không những bạn sẽ hiểu sâu xa hơn mà còn trở nên có ích hơn cho những người muốn tìm hiểu Cơ Đốc giáo. Điều này không có nghĩa là bạn phải gắng sức để tin nhưng bạn công nhận rằng sự nghi ngờ chứng tỏ đức tin của bạn đã đặt trên những nền tảng không vững vàng. Cần lưu ý những nền tảng đó. Đức tin nông cạn là đức tin dễ lung lay khi đụng phải các chất vấn hay những lời chỉ trích.
Đức tin cũng giống như bê-tông cốt thép. Bê-tông được tăng cường thêm sườn thép có thể chịu đựng được một ứng xuất và một sức căng lớn hơn bê-tông thường rất nhiều. Kinh nghiệm được sự hiểu biết tăng cường thì không dễ dàng bị sụp đổ trước áp lực. Đức tin cũng giống như thịt và xương của thân thể. Bộ xương chống đỡ thịt, cho thịt hình dáng và sức mạnh như thế nào thì sự hiểu biết cũng chống đỡ và làm cho kinh nghiệm Cơ Đốc có hiệu quả. Không có bộ xương, cơ thể con người sẽ là một đống lắc lư. Không có thịt, bộ xương chỉ là một vật chết và trống rỗng; không có xương, thịt không có hình dáng và vật chống đỡ. Cả thịt và xương đều cần để cơ thể lớn lên và mỗi phần phải thực hiện chức năng một cách đúng đắn. Đức tin cần sự sinh động của kinh nghiệm để sống và sự hỗ trợ của hiểu biết để tiếp tục sống còn . Hãy tăng cường đức tin của bạn bằng sự hiểu biết.
Tại đại học các bạn dành biết bao nhiêu thì giờ miệt mài học những môn mình đã chọn. Hãy đầu tư một số thì giờ nào đó để học 'môn đức tin' của bạn nữa.
Nghi ngờ và cá tính
Tất cả chúng ta đều khác nhau. Người ta thường đề cập đến 'những cá tính' hay 'các loại cá tính', điều này có thể hữu ích, thí dụ như một số người nhấn mạnh đến sự hiểu biết, số khác nhấn mạnh đến kinh nghiệm. + niệm về 'cá tính' cho là cá nhân thì không thay đổi và không hề quan tâm đến việc biến dịch, thay đổi và phát triển để đáp ứng với các tình thế. Con người bị những hoàn cảnh mà họ đã trải qua tác động đến. Một trong những lý do chính chúng ta khác nhau vì đã trải qua những tình cảnh khác nhau. Bạn là ai và những kinh nghiệm bạn trải qua có thể có một hậu quả nhất định đối với những lo âu và nghi ngờ liên quan đến đức tin Cơ Đốc của bạn. Sau đây là vài điển hình làm sáng tỏ quan điểm này.
1. Khi còn nhỏ Ann đã gặp nhiều khó khăn trong quan hệ với cha cô vì mẹ cô đã chết sớm. Những kỷ niệm rõ nét của Ann về người cha là tính độc đoán và sự vô tình của ông. Cô không thể nhớ được một điều gì cha cô từng làm để chứng tỏ là ông yêu cô. Cô nhớ lại ngày rời khỏi nhà để vào trường đại học như là ngày cô được giải phóng, được thoát sự hiện diện nặng nề của ông. Hậu quả là đối với cô danh từ 'cha' chỉ có những liên tưởng tiêu cực. Do đó Ann gặp khó khăn rất lớn khi nghĩ về Thượng Đế là một người 'cha' và cô thật sự nghi ngờ việc Chúa có thể 'yêu' cô.
2. Bill thất bại liên miên cả về học vấn lẫn quan hệ cá nhân. Gia đình anh rất chú trọng đến thành công và địa vị nên tỏ ra thất vọng về anh. Anh không đạt được những tiêu chuẩn của cha mẹ anh, những người đã thành công lớn. Hậu quả là anh có một mặc cảm sâu xa về sự thất bại và thiếu khả năng của mình. Do đó Bill cảm thấy sợ Phúc Âm vì dường như Phúc Âm đòi hỏi những điều mà anh không thể đáp ứng, anh sợ lại thất bại với Chúa. Anh lo âu và thật sự nghi ngờ rằng anh khó có thể trở nên một Cơ Đốc nhân thật.
3. Clare đã trải qua hàng loạt những đổ vỡ trong mối quan hệ cá nhân, cô bị tổn thương sâu xa. Cô đã bị lợi dụng trong các quan hệ, những kinh nghiệm cay đắng của đời khiến cô không thể tin tưởng được ai. Cô không còn muốn dính dấp đến ai nữa vì sợ hậu quả. Kinh nghiệm từ những mối quan hệ khiến cô nghĩ rằng tin tưởng người khác hay trở nên thân mật với họ chỉ làm cô yếu đuối và dễ bị tổn thương mà thôi. Kết quả là cô thấy khó mà phó thác cho Chúa, khó có thể tin Ngài được. Cô không muốn có liên hệ gì với Ngài.
Có rất nhiều ví dụ về điều này, nhưng ý chính đã rõ ràng: Quá khứ của bạn ảnh hưởng đến đức tin của bạn. Tình cảnh bạn từng trải qua có thể gây ảnh hưởng đến đức tin của bạn. Hoàn cảnh quá khứ của bạn có thể là nguyên nhân những lo âu trong đức tin của bạn. Nói cách khác, những nghi ngờ bạn đang có phản ánh ảnh hưởng liên tục các hoàn cảnh trong quá khứ của bạn. Nhiều người thấy ích lợi trong việc xem xét quá khứ đã ảnh hưởng thế nào trên hiện tại của họ, đặc biệt là khi ảnh hưởng ấy có hại. Bạn có thể làm việc này với một người bạn biết thông cảm hay một người hướng dẫn.
Tuy nhiên, điểm chính ở đây rất đơn giản: những nghi ngờ, lo âu và khó khăn của chúng ta thường phản ánh cá tính chúng ta. Bạn có thể nhìn sự việc khác với bạn bè mình chỉ vì bạn là bạn. Bạn có thể lo lắng về điều mà người khác không thấy bận tâm. Bạn cảm thấy khó hiểu vì người bạn thân nhất của bạn gặp những vấn đề mà bạn không gặp. Điều này nói lên sự kiện bạn và người ấy là những người khác nhau, đã trải qua hoặc bị những hoàn cảnh khác nhau tác động đến. Những nghi ngờ của chúng ta thường phản chiếu tình trạng của chúng ta và giúp chúng ta ý thức rõ hơn về chính mình. Nếu bạn muốn giúp ai trong những khó khăn, lo lắng của họ về đức tin, bạn sẽ thấy cần hiểu họ như là những cá nhân riêng biệt trước khi có thể giúp họ được điều gì. Bạn không thể đưa cùng một câu giải đáp có tính cách sách vở cho tất cả mọi người. Hãy nhạy cảm với cá tính của bạn và của người khác nữa. Nó có thể ảnh hưởng đến đức tin và những điều bạn nghi ngờ.
Có một số người thấy khó chấp nhận được rằng Chúa yêu họ. Lý do của các trở ngại này thường phản ánh quá trình và những giá trị mà gia đình họ đã truyền vào tâm trí họ. Thí dụ có thể họ là những người cầu toàn và cảm thấy cần phải làm hay thành đạt một điều gì trước khi được Chúa yêu. Với những người này thật khó chấp nhận lời tuyên bố trong Phúc Âm về tình yêu không điều kiện của Thượng Đế đối với con người, vì trái với tiêu chuẩn của thế gian. Hoặc được dạy lệ thuộc làm nhục chí. Có một số người hằng tin tưởng mạnh mẽ vào sự độc lập: Thành tựu cá nhân không được tùy thuộc vào bất cứ ai hay bất cứ điều gì. + niệm Chúa yêu chúng ta là lời mời gọi học cách tùy thuộc vào Ngài. Điều này ngược lại với những giá trị mà gia đình đã dạy cho họ vì muốn họ có chỗ đứng trong thế gian này hoàn toàn do sự độc lập. Trong cả hai trường hợp trên cần đặt vấn đề xem những giá trị này thích hợp ra sao và chúng ta có áp dụng trong mối quan hệ của chúng ta với Thượng Đế không. Nhưng vấn đề căn bản vẫn là: Quá khứ của bạn có thể ảnh hưởng đến phản ứng của bạn đối với Phúc Âm và những khó khăn liên quan đến Phúc Âm mà bạn đối diện.
Trường hợp Clare nêu lên một điểm thường bị bỏ qua. Từ 'nghi ngờ' có thể có hai ý nghĩa khác nhau. Nghĩa thứ nhất là 'nghi ngờ điều gì' và nghĩa thứ hai là 'nghi ngờ người nào' . Chúng ta hãy xem theo từng nghĩa một.
Tân ước cho chúng ta một dẫn chứng đặc sắc về loại nghi ngờ này. Sau khi sống lại, Chúa Giê-xu hiện ra cho các môn đồ ở phòng cao, họ rất ngạc nhiên và vui mừng (GiGa 20:19-20). Tuy nhiên, Thô-mai không có ở đó. Ông đã bỏ lỡ kinh nghiệm về sự hiện diện của Chúa Cứu Thế Phục sinh và khi nghe những môn đồ khác kể lại ông khó chấp nhận được. Ông nghi ngờ việc đó "Nếu mắt tôi không thấy dấu đinh trên bàn tay Chúa, nếu ngón tay tôi không sờ vết thương, nếu bàn tay tôi không đặt vào sườn Chúa, thì tôi không tin!" (GiGa 20:25). Thô-mai nghi ngờ lòng tin tưởng của các môn đồ về việc Giê-xu đã sống lại. Sự nghi ngờ này được giải quyết khi ông gặp Chúa Phục sinh và Ngài phán "Đừng hoài nghi nhưng hãy tin!" (GiGa 20:27).
Loại nghi ngờ thứ hai hơi khác một chút, Thô-mai nghi ngờ một điều , bạn có thể nghi ngờ một người . Nghi ngờ một người nào là không tin người ấy và lời người ấy nói. Thí dụ tôi cho một đồng nghiệp mượn một món tiền lớn và anh ta không trả lại. Anh ta đã hứa nhưng không thực hiện. Nếu anh ta hỏi mượn thêm một ít tiền nữa tôi sẽ do dự. Tôi nghi ngờ lời nói của anh ta. Tôi không tin lời hứa của anh ta. Tôi không tin anh ta. Clare là trường hợp điển hình của một người thấy vô cùng khó khăn để tin cậy Chúa như một con người. Cô không muốn phó thác chính mình vì kinh nghiệm quá khứ cô đã thấy không thể tin được những người cô từng quan hệ. Có thể cô không nghi ngờ sự hiện hữu của Chúa, tuy nhiên cô nghi ngờ Ngài như nghi ngờ một con người.
Clare tiêu biểu cho những người không biết Chúa có đáng tin không? Ngài có giữ lời hứa không? Ngài có thực sự yêu chúng ta không? Loại nghi ngờ này có thể tạo ra sự tối tăm to lớn khiến mọi thứ khác không còn nữa. Việc gì phải quan tâm đến những nỗi ngờ vực hay khó khăn liên quan đến niềm tin Cơ Đốc nếu Chúa không đáng cho chúng ta tin cậy. Việc gì phải quan tâm đến những vấn đề đức tin nếu bạn không dám phó thác chính mình cho Chúa. Đây là vấn đề 'nghi ngờ con người'. Phúc Âm tập trung vào sự đáng tin tuyệt đối, sự trọn lành và sự thành tín của Thượng Đế như chúng ta thấy Ngài và biết Ngài qua Chúa Giê-xu. Do đó chúng ta phải giải quyết một số vấn đề liên quan đến sự đáng tin của chính Thượng Đế, và hy vọng điều này có thể giúp cho những người có loại âu lo đó.
Rõ ràng có sự liên hệ giữa nghi ngờ và đức tin. Cái nào cũng có hai mặt. Tôi có thể tin một số điều là thật, cũng như có thể nghi ngờ một số điều là không thật. Điều này phản ảnh phần nào bản chất của Phúc Âm. Phúc Âm tuyên bố rằng một số điều là thật . Thí dụ Phúc Âm nhấn mạnh rằng Chúa Giê-xu thật đã sống lại từ kẻ chết (ICo1Cr 14:3-5). Phúc Âm cũng xác quyết một số vấn đề về chính Chúa. Thượng Đế đáng tin cậy, Ngài thành tín (RoRm 3:3 ITe1Tx 24). Nghi ngờ Chúa là nghi ngờ sự thành tín đáng tin cậy của Ngài. Chúng ta tin lời tuyên bố Giê-xu sống lại từ kẻ chết - chúng ta tin con người Thượng Đế. Dĩ nhiên có một liên hệ mật thiết giữa hai ý tưởng này. Một trong những lý do khiến chúng ta có thể tin tưởng Thượng Đế là Ngài đã khiến Chúa Giê-xu sống lại. Điều đó chứng tỏ Ngài thành tín. Tuy nhiên, phân biệt hai khía cạnh 'nghi ngờ' và 'đức tin' ở giai đoạn này thật ích lợi.
Điều quan trọng là biết rõ ràng nghi ngờ liên quan đến nhiều vấn đề khác hơn là Thượng Đế. Nhiều Cơ Đốc nhân nghi ngờ chính họ (do quá trình riêng) và điều này ảnh hưởng đến suy nghĩ của họ về Thượng Đế. Đó là lý do tôi cố gắng đưa vào cuốn sách này một số điều nghi ngờ thông thường nhất của Cơ Đốc nhân và sắp xếp chúng thành bốn loại: Nghi ngờ về Phúc Âm, về chính chúng ta, về Chúa Giê-xu và về Thượng Đế. Trước khi đi sâu thêm, chúng ta hãy xem xét kỹ về sự nghi ngờ.
Từ ngữ chỉ sự nghi ngờ trong Thánh Kinh
Tân ước không dùng một từ để nói sự nghi ngờ mà dùng cả một loạt từ, và mỗi từ làm sáng tỏ một khía cạnh đặc biệt của sự nghi ngờ. Mỗi từ giống như một bức ảnh chụp nhanh một phong cảnh hay một tòa nhà. Một tấm ảnh thì không đủ để thấy toàn cảnh nhưng cho ta ý tưởng rõ ràng về một khía cạnh, và một loạt các bức ảnh tổng hợp lại sẽ đưa ra một khung cảnh toàn thể. Có bốn từ ngữ chính dùng trong Tân ước, mỗi từ làm sáng tỏ một khía cạnh của ý niệm nghi ngờ.
1. Sự do dự: Sau khi sống lại, Chúa xuất hiện trước các môn đồ trên núi. Mã-thi mô tả cảnh tượng đó như sau "Vừa thấy Chúa, họ đều quỳ xuống thờ lạy Ngài, nhưng một vài người còn nghi ngờ" (Mat Mt 28:17). Mặc dù tất cả các môn đồ đều gặp Chúa Cứu Thế Phục sinh nhưng rõ ràng có một số thấy khó chấp nhận việc đã xảy ra. Có lẽ họ cảm thấy sự kiện đó tuyệt quá nên không thể có thật được. Có lẽ họ sợ hãi và bị xúc động mạnh. Từ ngữ dùng ở đây là (tiếng Hy-lạp là distazõ ) có nghĩa là 'khựng lại' hay 'do dự'. Chúng ta có thể thấy từ ngữ này và ý niệm này trong Mat Mt 14:3 khi ký thuật cơn bão trên biển. Ở đây sự thiếu đức tin của Phê-rơ thể hiện trong việc ông do dự không đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu. Do dự nói lên sự thiếu đức tin. Nếu do dự trước một lời đề nghị nào, đó là vì bạn còn những nghi ngờ. Có thể bạn không tin cậy người đưa ra đề nghị. Có thể bạn không thể hiểu rõ nó hàm ý gì. Có thể bạn nghi ngờ có điều sai trái gì chăng. Sự kiện chúng ta không hết lòng chấp nhận Phúc Âm với nhiệt tình của con trẻ nói lên lòng thiếu tin cậy nơi Thượng Đế và lời hứa của Ngài. Chúng ta do dự không nhận lấy. Chúng ta khựng lại.
2. Sự không nhất quyết : Khi nhấn mạnh tầm quan trọng của đức tin đối với một tín đồ, Chúa Giê-xu đã cho biết rằng không nghi ngờ là yếu tố cần thiết (Mat Mt 21:21). Phao-lô ghi lại Áp-ra-ham đã tin vào lời hứa Chúa như thế nào và ông đã không 'lưỡng lự' hoặc 'hồ nghi' (RoRm 4:20). Từ Hy-lạp sử dụng ở đây nguyên nghĩa là tranh luận, tranh cãi với ai, như dùng ở Cong Cv 11:2 ghi lại việc Phê-rơ tranh luận với những người Do-thái tại Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên, một ý nghĩa rộng hơn có thể được thấy trong tư tưởng đó là: tranh luận với chính mình . Đó là cuộc tranh luận trong tư tưởng phản ánh sự không nhất quyết và thiếu tin tưởng. + niệm và từ ngữ này được nhắc đến trong Gia Gc 1:6 với một hình ảnh mạnh mẽ, sóng biển bị gió xao động. Bạn phân vân không biết chắc phải làm gì.
Trong các thư tín, Phao-lô thường nói đến 'đóng đinh người cũ' khi trở thành Cơ Đốc nhân (RoRm 6:6 Eph Ep 4:22). Vấn đề là người cũ của chúng ta dường như cứ tiếp tục sống. Dường như có một cuộc tranh chiến giữa 'người cũ' và 'người mới'. Người cũ rất hoài nghi những lời hứa của Thượng Đế trong khi người mới lại muốn hết lòng tin tưởng. Kết quả là gì? Không nhất quyết, do dự, lưỡng lự, thiếu tin tưởng nơi Thượng Đế. Chính sự nghi ngờ hiện hữu cho thấy không dễ gì để Chúa làm chủ mọi lãnh vực của đời sống chúng ta. Chúng ta không muốn để Chúa kiểm soát mình. Cũng giống như chúng ta đã mở cửa lòng đón nhận Chúa Phục sinh (KhKh 3:20), nhưng chỉ cho Ngài một chỗ đủ để đặt chân vào nhà. Chúng ta đã đối xử với Ngài như một người khách trong khi lẽ ra Ngài phải là chủ. Nghi ngờ là triệu chứng của việc không phó thác chính mình cho Chúa.
Nghi ngờ là cách Chúa dùng để giúp đức tin chúng ta tăng trưởng vì qua đó Ngài cho ta nhận thức rằng mình thiếu đức tin . Sự hiện hữu của nghi ngờ là một tấm bảng cho ta thấy còn phải trải qua rất nhiều trước khi ta phó thác hoàn toàn cho Chúa. Nó cũng chỉ ra rằng bất cứ nỗ lực nào của chúng ta dựa vào sức mình hơn là sức Chúa chỉ là ảo tưởng. Vì vậy chúng ta thật an tâm khi đọc RoRm 3:3,4, qua đó Phao-lô nhắc rằng đức tin yếu đuối của chúng ta không ảnh hưởng gì đến sự thành tín của Chúa đối với chúng ta. Chúng ta luôn luôn có thể đến với Ngài trong sự cầu nguyện và xin Ngài giúp cho sự không tin của chúng ta, giống như một người đã đến với Chúa Giê-xu, chúng ta có thể cầu nguyện "Tôi tin! Xin Thầy thêm đức tin cho tôi!" (Mac Mc 9:24).
3. Tình trạng hai lòng: Người nghi ngờ được mô tả là kẻ 'hai lòng' (dipsychos) (Gia Gc 4:8). Nghi ngờ là ở trạng thái hai lòng về một điều gì. Nó hàm ý không nhất quyết, do dự và kết quả là thiếu sự tấn tới. Khi học môn Triết học Trung cổ tại đại học, tôi nhớ đã phải suy nghĩ về vấn đề 'Con lừa của Buridan' (thật sự Buridan kể về con chó hơn là con lừa). Giả sử đặt con lừa đói giữa hai đống thức ăn, nếu muốn sống con lừa phải quyết định ăn một trong hai đống này. Nhưng việc gì sẽ xảy ra nếu nó không thể quyết định? Cuối cùng con lừa vô phúc chết vì không thể quyết định được là ăn đống thức ăn nào.
Rõ ràng ở đây là có một điểm tương đồng với sự nghi ngờ. Chúng ta phải đối diện với hai ý kiến khác nhau: tin hoặc không tin. Thật khó mà trì hoãn quyết định về vấn đề này. Mỗi quyết định có những phần thưởng riêng của nó, tuy nhiên chỉ có thể đạt được phần thưởng bằng sự phó thác. Thí dụ một người nếu tin một nửa vào sự sống lại và sự phán xét trong tương lai thì khó có thể có thái độ 'hãy ăn, uống và vui vẻ vì ngày mai ta sẽ chết'. Cũng vậy, một Cơ Đốc nhân nếu chỉ tin một nửa là không có gì sau khi chết cả thì khó mà chấp nhận lời hứa sống lại và sự sống đời đời trong Phúc Âm. Những người này ở tình trạng hai lòng, chân trong, chân ngoài. Họ cùng hoàn cảnh với con lừa của Buridan - không nhận được gì của đống thức ăn này hay đống thức ăn kia.
Nghi ngờ có nghĩa là không giải quyết cuộc tranh chiến nội tâm giữa không tin và tin quyết. Có nghĩa là vẫn bỏ lửng sự lựa chọn mà lẽ ra phải giải quyết dứt điểm từ lâu. Chúa Giê-xu bảo các môn đồ rằng họ ở trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian (GiGa 17:6-16). Sống trong thế gian nhưng hy vọng của họ nằm ở chỗ cao hơn. Họ không làm theo những tiêu chuẩn và sự vô tín của thế gian. Luôn luôn có một tình trạng căng thẳng giữa một Cơ Đốc nhân và thế gian. Một phần sự nghi ngờ sẽ nổi lên khi Cơ Đốc nhân ở trong tình trạng nửa theo thế gian nửa theo Chúa. Vì đối với nhiều người dù không vừa ý về những gì được biết họ cũng cảm thấy an toàn, nhưng họ luôn cảm thấy không an tâm khi phải đối diện với điều chưa biết. Phương châm của nhiều người là 'cho chắc ăn!'. Một số người không muốn theo Phúc Âm cách triệt để vì dường như nó trái hẳn với thế gian. Nhưng Tân ước cho biết rằng hoàn toàn vâng theo Phúc Âm là bước đầu cần thiết để có được thái độ đúng đắn đối với thế gian. Chúng ta không còn sợ chết nữa, không còn bị sự giàu sang làm mờ mắt nữa (Mat Mt 6:19-21). Chúng ta có khả năng sống trong thế gian mà không cần theo những tiêu chuẩn cũng như vướng mắc những lo lắng của thế gian.
4. Nghi ngờ là trạng thái của tâm trí: Thô-mai thấy khó tin việc Chúa từ kẻ chết sống lại. Biết vậy, Chúa Giê-xu phán cùng ông 'Đừng hoài nghi nhưng hãy tin'. Từ ngữ Hi-lạp ở đây rất khó dịch. Động từ Hi-lạp có hai thể mệnh lệnh cách. Nói cách khác, có hai cách để bạn bảo người nào làm một điều gì. Cách thứ nhất là 'Hãy làm điều đó ngay lập tức'. Nếu tôi bảo ai mở cửa sổ, tôi sẽ dùng thể cách này. Cách thứ hai là 'Hãy tiếp tục làm điều này, đừng chỉ làm một lần'. Cách này được sử dụng trong GiGa 20:27 không có nghĩa là 'trước trường hợp này đừng nghi ngờ mà hãy tin', mà là 'Hãy chấm dứt ngay sự nghi ngờ cho lần này và mãi mãi về sau. Và hãy tiếp tục tin tưởng'. Nói cách khác, nghi ngờ và đức tin cả hai đều là những trạng thái tâm trí và hành vi. Nghi ngờ là thái độ tra vấn thường xuyên về Thượng Đế trong khi đức tin là một thái độ tin tưởng thường xuyên . Chúng ta được yêu cầu phát triển thái độ tin tưởng và cởi mở đối với Thượng Đế một cách liên tục chứ không chỉ vào dịp nào. Và như đã đề cập, điều này thỉnh thoảng đưa đến sự tranh chiến, vì khuynh hướng nghi ngờ Chúa trong chúng ta biểu lộ và càng làm cho ta thấy rõ cần thiết phó thác cho Ngài cách trọn vẹn.
Hình ảnh về sự nghi ngờ trong Kinh Thánh
Có hai hình ảnh đặc biệt giúp chúng ta suy nghĩ về bản chất và hậu quả của sự nghi ngờ cũng như nghĩ đến cách đối phó.
Đi trong đêm tối.
"Hơn nữa, đã đến lúc anh em phải thức tỉnh, vì ngày hoàn thành sự cứu rỗi gần đến, gần hơn lúc ta mới tin Chúa. Đêm sắp qua, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy từ bỏ việc xấu xa trong đêm tối để làm việc công chính dưới ánh sáng" (RoRm 13:11,12). Những câu nói này của Phao-lô khiến chúng ta nghĩ đến đời sống Cơ Đốc giống như đi trong đêm tối. Bình minh bây giờ gần hơn lúc chúng ta mới bắt đầu bước đi nhưng cũng chưa xuất hiện. Trong khi chờ đợi chúng ta phải băng qua một khung cảnh xa lạ và hy vọng sẽ đến nơi cách an toàn. Chúng ta không thấy hết được con đường phía trước mình, tuy nhiên chúng ta tin tưởng Chúa sẽ dẫn chúng ta về nhà. "Chúng ta tiến bước nhờ đức tin chứ không nhờ mắt thấy" (IICo 2Cr 5:7).
Hãy tưởng tượng bạn là một du khách ở nước Anh thời trung cổ. Bạn quyết định đi Oxford từ làng Witney gần đó. Khi đến gần Oxford thì màn đêm buông xuống, vì vậy bạn không nhìn thấy quang cảnh chung quanh. Bạn tiếp tục đi dù trời rất tối. Tất cả những gì bạn thấy được là con đường mà bạn biết có bảng chỉ dẫn hướng về Oxford. Có nhiều điều về con đường khiến bạn ngỡ ngàng. Có một chỗ con đường bất ngờ rẽ sang trái. Tại sao vậy? Bạn tự hỏi. Ở một chỗ khác con đường lại đầy bùn. Bạn lại thắc mắc, không biết tại sao. Bạn không thấy được toàn cảnh. Bạn đang ở trong đêm tối.
Dĩ nhiên khi bình minh đến bạn có thể thấy rõ khung cảnh và tình trạng thật của sự việc hiện ra. Bạn thấy con đường rẽ sang trái là để tránh lối vào một hầm mỏ không có nắp đậy mà bạn không thể thấy được trong bóng đêm. Bạn có thể thấy có một nơi con đường cặp sát một dòng thác chảy mạnh, nếu con đường không hướng bạn tránh xa bạn có thể bị cuốn trôi, và vì vậy chân bạn dính bùn. Dù không hiểu nổi những gì đã xảy ra nhưng điều bạn nhận được là con đường đã dẫn bạn qua một loạt nguy hiểm cách an toàn trong bóng tối. Sự ngỡ ngàng lúc ban đầu biến thành tiếng thở phào nhẹ nhõm.
Nhà văn P. G. Wodehouse kể rằng nhờ người đầy tớ trung thành Jeeves mà Bertie Wooster được cứu khỏi một cuộc hôn nhân bất hạnh với Honoria Glossop (con gái của nhà phân tâm học nổi tiếng, người cho là Wooster bị tâm thần). Jeeves có những thái độ mà Wooster không hiểu nổi khiến ông nghi ngờ sự bất trung của Jeeves. Nhưng đến lúc ông hiểu ra.
Tôi chợt nhận ra là đã xử bất công với con người trung thành đó như thế nào. Đã có lúc tôi cho rằng anh ta đưa tôi vào tình trạng khó khăn trong khi anh ta thật sự kéo tôi ra khỏi. Cũng giống như câu chuyện người ta thường đọc cho trẻ nghe về một du khách đi trong đêm tối. Khi con chó cắn níu ống quần của ông thì ông bảo nó 'Nằm xuống, làm gì vậy Rover?', nhưng con chó cứ cắn chặt, ông bắt đầu nổi nóng và mắng chưởi nó nhưng nó không buông ra. Rồi thình lình trăng nhô khỏi mây và ông thấy mình đang đứng trên bờ một vực thẳm, chỉ cần một bước là...

Điểm căn bản ở đây là chúng ta không thấy hết được mọi việc. Chúa thấy chứ chúng ta thì không. Như Phao-lô đã nói "Ta thấy sự vật phản chiếu qua tấm gương mờ" (ICo1Cr 13:12). Cũng giống như chúng ta ngồi trong một chiếc xe chạy trong đêm tối và những cửa kính xe bị mờ đi vì sương khiến chúng ta không nhìn được rõ ràng. Có nhiều điều trong đời sống Cơ Đốc làm ta ngỡ ngàng bối rối. Tuy nhiên chúng ta phải học để sống với sự kiện là sẽ chẳng bao giờ chúng ta nhìn thấy hết mọi sự, đó là lý do tại sao chúng ta phải trải qua kinh nghiệm dường như trái ngược nhau và lẫn lộn, mơ hồ. Sự nghi ngờ nổi lên một phần vì chúng ta cảm thấy thất vọng khi không thể hiểu mọi sự. Chúng ta muốn đứng vào chỗ của Chúa để quan sát khung cảnh con đường đức tin sẽ đi qua. Thế nhưng chúng ta không thể. Thật sự chúng ta chỉ không nhìn xa hơn lỗ mũi của mình. Chúng ta hết lòng tin tưởng đúng đắn rằng có một con đường ở đó sẽ dẫn chúng ta an toàn đến đích và Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đi qua con đường trước chúng ta như là người tiên phong mở đường cho chúng ta (HeDt 12:1-3). Chúng ta không hiểu rõ điều gì đang xảy ra ở một vài địa điểm trên con đường. Chỗ của chúng ta là ngay trên đường chứ không phải ở trên cao hơn. Chúng ta tin chắc rằng ngày nào đó mọi sự sẽ rõ ràng - điều này có được vào lúc chúng ta sống lại. Hiện tại chúng ta phải đi trong đêm tối bằng đức tin và hy vọng.
Tuy nhiên cảnh vật không hoàn toàn đen tối đâu. Những trước giả của Kinh Thánh vẫn sử dụng hình ảnh của ánh sáng để nhắc rằng Chúa không để chúng ta hoàn toàn đi trong đêm tối. Chính Kinh Thánh hướng dẫn chúng ta khi chúng ta bước đi 'Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, ánh sáng cho đường lối tôi'. Hình ảnh này đưa đến ý niệm có những khoảng sáng chung quanh khi chúng ta bước đi. Cũng như chiếc xe chạy trong đêm tối có đèn rọi sáng một khoảng phía trước. Điều quan trọng là chúng ta tìm được đường về nhà chứ không phải là hiểu chính xác những gì xảy ra tại từng địa điểm trên con đường. Con đường thật sự có đó và đã được bao thế hệ trước thử qua rồi. Trong bài thơ 'Ánh sáng tốt lành, xin dẫn đưa tôi'. John Henry Newman đã diễn tả mạnh mẽ ý niệm Chúa Cứu Thế Giê-xu là ánh sáng dẫn đưa tội nhân về nhà cách an toàn:
Ánh sáng tốt lành, xin dẫn đưa tôi
Giữa những bóng tối vây quanh
Xin dẫn tôi đi
Trời đêm đen tối mà tôi thì xa nhà
Xin dẫn tôi đi
Xin giữ bước tôi chân tôi
Tôi không đòi thấy những gì ở xa
Thấy từng bước một đủ cho tôi rồi.
Hình ảnh nổi tiếng của một thành phố trên ngọn đồi (Mat Mt 5:14-16) cũng nói lên ý tưởng trên: Một ánh sáng soi ra trong bóng tối có thể dẫn chúng ta về nhà. Hãy bước từng bước một và đừng sợ hãi vì ý nghĩ cuộc hành trình sẽ kéo dài và gian khổ. Chúa sẽ ở cùng bạn, đi bên bạn và soi sáng lối đi khi Ngài cùng đi với bạn trên đường.
Cũng có lý do dễ hiểu vì chúng ta không nắm được hoàn toàn tình thế nên nảy ra nghi ngờ. Nhưng việc này có gì quan trọng? Điều thật sự quan trọng không phải là Chúa hứa thành tín với chúng ta luôn ở cùng chúng ta trong cuộc hành trình, hướng dẫn và nâng đỡ chúng ta sao? Và rằng Chúa Cứu Thế đã đi trước để sắm sẵn một chỗ cho chúng ta sao? Phúc Âm không có ý muốn giải thích mọi khía cạnh của đời sống tín đồ nhưng Phúc Âm hứa Chúa sẽ luôn ở cùng chúng ta trong suốt cuộc đời (Thi 23). Cuối cùng thì sự hiện diện của Thượng Đế trong đời sống những người tin Ngài quan trọng hơn rất nhiều việc giải thích thấu đáo về tình trạng của sự việc. Dù sao đi nữa, làm thế nào những con người hữu hạn như chúng ta lại hy vọng hiểu được hoàn toàn tình trạng của mình.
Biển động.
"Vì tâm trạng kẻ hoài nghi giống như sóng biển bị gió dập dồi" (Gia Gc 1:6). Đây là một hình ảnh rất mạnh mẽ, đặc biệt đối với những người đã từng bị say sóng dữ dội. Hình ảnh Gia-cơ nêu ra nói lên sự thiếu ổn định. Biển và bất cứ vật vì nổi lên trên biển bị gió đùa lên, đánh xuống không thể đứng yên được. Say sóng là tình trạng mất thăng bằng của con người khi biển động mạnh. Bạn lạc mất phương hướng. Cuộc sống thật khốn khổ và bạn mong mỏi chiếc tàu lấy lại được sự vững vàng. Trong đời sống Cơ Đốc sự nghi ngờ cũng giống như thường bị say sóng trong một cuộc hành trình dài. Làm thế nào để lấy lại sự vững vàng.
Sự thành tín của Chúa giống như một cái neo (HeDt 6:18,19). Ngài luôn giữ vững lời hứa và ban cho chúng ta một điều gì để chúng ta có thể nắm chặt. Cũng như chiếc tàu khi bị thổi lạc hướng có thể thả neo xuống, đức tin vào Chúa cho chúng ta phương hướng và sự vững vàng trong đời sống. Đức tin giống như chiếc dây cứu nguy quăng cho chúng ta khi biển động mạnh. Ở giữa cơn bão chúng ta tìm thấy sự bình an nơi lời hứa đáng tin cậy của Chúa. Đức tin cho chúng ta sự vững vàng và sự an toàn. Cái chết của Chúa Cứu Thế Giê-xu trên thập tự giá chứng minh cả tình yêu tràn đầy của Ngài vì chúng ta. Không điều gì có thể ngăn trở Ngài thành tín với chúng ta. Giống như bến cảng, Ngài là nơi trú ẩn cho chúng ta giữa những cơn bão tố của cuộc đời. Sự nghi ngờ chẳng có gì để nắm lấy khi lâm hoàn cảnh này. Nó có nghĩa là sự thiếu tin cậy vào những phương tiện an toàn mà Chúa đang ban cho chúng ta. Trong khi đó đức tin nghĩa là tin vào sự thành tín của Chúa và sự giúp đỡ đáng tin cậy mà Ngài ban cho chúng ta (Thi Tv 119:35-40).
Cuốn sách này dành cho ai?
Có hai loại người có thể chọn cuốn sách này. Chính bạn có thể đang bị những nổi ngờ vực làm lo lắng. Có thể bạn không muốn thừa nhận điều này nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, bạn biết là bạn hy vọng cuốn sách này sẽ giúp ích cho mình. Hãy đọc một phần tiếp sau đây trước khi đi xa hơn. Điều này rất có ích cho bạn.
Mặt khác một người bạn của bạn có thể đang lo lắng về điều gì đó, bạn hy vọng có thể giúp được người ấy. Phần hai dưới đây là dành cho bạn. Trong chương sau cùng chúng ta sẽ trở lại để xem xét một số cách thức khác hơn để đối phó với sự nghi ngờ. Tuy nhiên, ở giai đoạn này có một số lời giới thiệu rất thích hợp.
Đó là vấn đề của tôi
Nhiều Cơ Đốc nhân cảm thấy mình phạm tội khi có những sự nghi ngờ. Cách này hay cách khác họ cảm thấy họ đã bỏ Chúa. Đôi khi họ còn cố giấu Chúa sự kiện này. Kết quả là bạn thấy Chúa ở quá xa và Ngài không đáng cho chúng ta khẩn cầu nữa. Có khi bạn bị cám dỗ thôi không tin Chúa nữa. Nếu đó là trường hợp hiện tại của bạn, bạn có thể được an ủi vì những ý tương tự thế cũng đã được ghi lại trong Kinh Thánh. Môi-se, Giê-rê-mi và tác giả Thi thiên là điển hình cho những người đầy đức tin cũng chiến đấu với sự nghi ngờ. Không thể kể hết những con người của bao thời đại đã phải đối diện với cuộc tranh chiến này.
1. Hãy đọc Thi thiên 42 cẩn thận và chậm rãi. Hãy để ý xem tác giả Thi thiên thành thật đến đâu. Ông nói với Chúa ông có những suy nghĩ gì. Ông nhớ lại những lúc cảm thấy gần gũi với Chúa (c.4). Ông nghĩ rằng Chúa đã quên ông (c.9). Bạn bè ông đang chế nhạo ông về những sự nghi ngờ của ông (c.10). Ông cảm thấy xa cách Chúa. Có lẽ khi đọc Thi thiên này bạn có cùng những suy nghĩ ấy. Hãy an tâm vì bạn không phải là người đầu tiên suy nghĩ như vậy. Nhưng hãy lưu ý là tác giả Thi thiên đã trình dâng tất cả lên cho Chúa trong lời cầu nguyện. Ông ta không giấu Chúa những điều này. Và chính vì ông cứ tiếp tục giữ giờ cầu nguyện mà kinh nghiệm về Chúa của ông đã được khôi phục và làm cho mới mẻ hơn. Thi thiên 42 đã chấm dứt bằng một câu tuyệt vời tràn trề hy vọng 'Tôi sẽ còn ngợi khen Ngài nữa' (c.11). Hãy biến hy vọng này thành của bạn.
2. Hãy đọc Thi Tv 139:1-12. Hãy để ý đến chủ đề lặp đi lặp lại. 'Chúa biết tôi'. Tư tưởng của bạn không có gì bí mật đối với Ngài. Vì vậy, hãy thành thật trong lời cầu nguyện. Hãy nói với Ngài bạn cảm thấy thế nào và điều đó khó cho bạn ra sao. Bạn có thể cảm thấy cách xa Chúa nhưng hãy xem tác giả Thi thiên đã xác quyết rằng dù ông có đi xa ở đâu Chúa vẫn ở cùng ông (c.8-12). Có một điều gì đó có thể xảy ra giữa bạn với Chúa như một đám mây che khuất mặt trời khiến đất bị tối sầm. Nhưng Ngài vẫn còn đó dù bạn cảm thấy thế nào đi nữa. Hãy xem hai câu chót (c.23,24). Tác giả Thi thiên tỏ cho Chúa những lo lắng của ông; nói một cách khác Ngài giúp đỡ ông tìm xem vấn đề là gì. Giống như Thi thiên 42, câu kết rất tích cực nói lên lòng tin chắc vào sự thành tín của Chúa. Một chủ đề mạnh mẽ của Tân ước lẫn Cựu ước là đặc tính thường xuyên của kinh nghiệm Cơ Đốc trải qua nhiều thời đại (HeDt 10:23).
Sự kiện lòng thành tín của Chúa không hề mâu thuẫn với cảm tưởng Chúa không hiện diện được nêu ra trong tiểu phẩm 'Dấu chân trên cát' .
Đêm nọ tôi nằm mơ, thấy cùng Chúa đi dọc theo bờ biển, và trên bầu trời hiện ra những cảnh tượng trong đời sống tôi. Trong mỗi cảnh tượng có hai dấu chân trên cát; một dấu chân tôi và một là của Chúa. Khi cảnh tượng cuối cùng của đời tôi hiện ra, tôi quay lại nhìn các dấu chân trên cát. Tôi để ý, có những lúc trên con đường đời chỉ có một dấu chân.
Tôi cũng để ý là điều ấy xảy ra vào những lúc tôi buồn bã nhất, mất tinh thần nhất. Điều này thật sự làm tôi ưu tư và tôi hỏi Chúa: "Chúa ơi, Ngài hứa rằng một khi con đã quyết định theo Ngài thì Ngài sẽ đi cùng con suốt đường đời, nhưng con nhận thấy rằng suốt những lúc trong đời con gặp nguy nan nhất thì chỉ có một dấu chân. Con không hiểu sao những lúc con cần Ngài nhất thì Ngài lại bỏ con?" Chúa trả lời rằng: "Con yêu quí của ta. Ta yêu con và ta không bao giờ rời con trong suốt những lúc con gặp thử thách và đau khổ. Khi con thấy chỉ có một dấu chân thì đó là lúc ta bồng ẵm con".
3. Đừng ngưng đi nhà thờ hay thông công với các Cơ Đốc nhân khác khi bạn cảm thấy mình khô hạn. Sự nâng đỡ của họ sẽ giúp bạn đứng được. Chúa có thể nói với bạn qua một bài giảng, một đoạn Kinh Thánh và đoan chắc với bạn một lần nữa về tình yêu Ngài đối với bạn. Đức tin của bạn có thể được phục hồi qua lời của những bài thánh ca hay qua cảm nhận sự hiện diện của Chúa. Đừng ngăn trở Chúa an ủi bạn và làm cho bạn lại vững tin. Hãy cho Ngài cơ hội. Đó là lý do vì sao chúng ta cần giữ thói quen cầu nguyện đều đặn.
Hãy cố gắng nghĩ đến điều bạn làm trong khi cầu nguyện. Nhiều người đã biến sự cầu nguyện thành một việc máy móc, một loạt những lời cầu xin quen thuộc. Cầu nguyện như vậy thiếu sót. Hãy khám phá tính phong phú của sự cầu nguyện. Bạn hãy đọc vài tác phẩm để thấy rõ sự thỏa lòng và phong phú của sự cầu nguyện là thế nào.
Các Thi thiên thường nói đến "trông đợi Giê-hô-va một cách bền chí" (Thi Tv 27:14 33:20 130:5,6). Đọc những đoạn này bạn có thể thấy tác giả Thi thiên lúc đó nhận biết sự vắng mặt của Chúa nhưng vẫn tin chắc rằng Thượng Đế, Đấng thành tín với lời hứa của Ngài, sẽ đến với người hết lòng tin cậy Ngài. Lý do những Thi thiên có mặt trong Cựu ước là để an ủi và làm vững lòng những ai có tâm trạng giống như vậy. Lòng tin của họ đối với sự thành tín của Chúa cũng có thể là lòng tin của chính bạn.
Đó là vấn đề của người khác
Hãy cố gắng tỏ ra dịu dàng, nhạy cảm và yêu thương. "Hãy tỏ lòng thương xót những người phân tâm dao động " (Giu Gd 1:22). Rất dễ bạn làm cho bạn bè tưởng rằng bạn chỉ muốn 'ăn tươi nuốt sống' họ. Nếu bạn thiếu nhạy cảm, bạn bè của bạn có thể nghĩ rằng bạn đang có những hành động giống như Tòa án Tôn giáo Tây ban nha. Có một khoảng khác biệt một trời một vực giữa việc đòi hỏi bạn bè của bạn phải theo đúng mọi ý niệm về đức tin với sự quan tâm thật lòng đến hạnh phúc và sự phát triển tâm linh của họ. Lòng ước muốn giúp đỡ bạn bè của bạn phải bày tỏ một tình yêu thương chân thật đối với con người của họ, cũng như tình yêu thương của Chúa và lòng tin vào tầm quan trọng thiết yếu của Phúc Âm. Những lời khuyên nhủ phải tập trung vào con người và vào vấn đề. Như tôi sẽ nhấn mạnh ở chương cuối, sự nghi ngờ có thể xuất hiện vì những khó khăn cá nhân. Lo lắng về tiền bạc, công việc, gia đình và các quan hệ riêng tư có thể tràn vào đời sống đức tin. Hãy nhớ Chúa Giê-xu đã nói đến những sự lo lắng của đời này, sự lừa dối của giàu có và sự ham muốn các điều khác (Mac Mc 4:19). Bạn bè của bạn có thể nói đến nghi ngờ Chúa nhưng rất có thể vấn đề thực sự nằm ở chỗ khác. Hãy thử tìm điều ấy qua những điểm gợi ý của chương cuối.
Hãy nhớ, đức tin là một cái gì rất mong manh và dễ bị tổn hại, đặc biệt khi lòng mới tin. Tân ước đã đưa ra một loạt hình ảnh để diễn tả ý này. Và cũng không phải chỉ những người mới tin Chúa cần lớn lên trong đức tin. Hãy nhớ Chúa Giê-xu đã gọi các môn đồ là 'những kẻ ít đức tin' Mat Mt 8:26 14:31, và các môn đồ cũng xin Ngài thêm đức tin cho họ (LuLc 17:5). Vậy, đức tin giống cái gì?
Đức tin giống một cây nhỏ (Mac Mc 4:30-32). Khởi đầu chỉ là một hột nhỏ , và lớn lên. Khi còn nhỏ rất non nớt và dễ chết. Khi người làm vườn gieo hạt ở mảnh đất, ông ta sẽ cắm rào chung quanh để người ta không dẫm lên những cây non. Sau này thì chúng có thể chịu đựng được, nhưng ở giai đoạn đầu cần được che chở. Có thể bạn đã thấy một miếng đất mới được gieo hạt giống cỏ , bạn có thể đi trên mảnh đất có cỏ này nhưng lúc đầu nó cần được bảo vệ để cỏ có thể mọc lên. Với đức tin, cũng vậy.
Những khó khăn thuộc lãnh vực này hay lãnh vực khác là điều rất thông thường trong giai đoạn đầu của đời sống Cơ Đốc. Chúng cũng như cơn sốt vỡ da về tâm linh. Bạn thường nghe nói đức tin đến do trực giác chứ không do giáo dục. Khi những Cơ Đốc nhân non trẻ có thêm kinh nghiệm, bạn sẽ thấy họ vượt qua được những nan đề ban đầu. Nhưng đức tin không chỉ là tin cậy Chúa - nó là tin một số điều nhất định về Thượng Đế, về Đức Chúa Giê-xu và về chính chúng ta. Và khi những Cơ Đốc nhân non trẻ bắt đầu tìm hiểu về đức tin của họ, rất có thể vào một thời điểm nào đó họ sẽ gặp một số khó khăn. Thế kỷ 11 tác giả Anselm of Canterbury, đã nói đến 'đức tin tìm kiếm sự hiểu biết'. Ông nói rằng một cá nhân đến với đức tin, và rồi phải tìm hiểu xem đức tin đó liên quan đến những điều gì. Sự tin cậy vào Chúa đến trước, sự hiểu biết về đức tin Cơ Đốc giáo đến tiếp theo. Và bạn phải có đủ khả năng để giúp đỡ những Cơ Đốc nhân non trẻ vượt qua một số vấn nạn họ sẽ gặp khi cố gắng tìm hiểu đức tin của họ, qua những điều gợi ý trong bốn chương tiếp theo.
Nhưng điều này không thật sự là sự nghi ngờ, nó là một quá trình học hỏi, trong đó những Cơ Đốc nhân trưởng thành có thể đóng vai trò tích cực và ích lợi. Bạn có thể nhớ lại những khó khăn mình đã gặp khi mới tin Chúa, và có thể dựa vào kinh nghiệm đó để giúp đỡ bạn bè. Tân ước luôn nói đến đức tin năng động hơn bất động: đức tin là một cái gì phát triển. Những Cơ Đốc nhân mới có thể chẳng nghi ngờ điều gì - có thể họ chỉ chưa sẵn sàng ở vào giai đoạn đầu. Tân ước có đưa ra một hình ảnh tương tự để minh họa điều này (ICo1Cr 3:12 HeDt 5:12 IPhi 1Pr 2:2). Các em bé không thể tiêu hóa được thức ăn cứng nên uống sữa. Đến một lúc nào đó thì các em có thể chuyển sang thức ăn cứng và có thể được cai sữa. Vì vậy nếu một Cơ Đốc nhân non trẻ có những vấn đề về một khía cạnh nào đó của đức tin Cơ Đốc thì đừng nghĩ rằng họ bị nhiễm dịch nghi ngờ. Có thể họ chưa sẵn sàng đối với khía cạnh này của đức tin. Giai đoạn này họ chưa tiêu hóa nổi. + niệm mà họ thấy là khó cũng giống như thức ăn cứng mà em bé chưa ăn được. Không có vấn đề gì về thức ăn hay về đứa bé, chỉ có điều là đứa bé chưa đến giai đoạn có thể ăn loại thức ăn đó.
Vì vậy, hãy nhạy cảm với các nhu cầu của các Cơ Đốc nhân non trẻ. Như các hạt giống, họ đang lớn lên và cần được che chở, nâng đỡ. Giống như những em bé, họ chưa sẵn sàng với chế độ ăn uống của người lớn. Bạn nghĩ là sự nghi ngờ có thể chỉ là một phần của sự lớn lên. Bạn có thể giúp ích cho họ, chia xẻ những kinh nghiệm của bạn và giới thiệu những cuốn sách có ích. Giống như Phao-lô nói đến việc tưới mảnh đất mà hạt giống đang mọc (ICo1Cr 3:6-8), bạn có thể giúp cho mảnh đất không bị khô hạn. Bạn cầu thay cho họ và giúp họ cách cụ thể. Như câu chuyện về người gieo giống đã nói rõ, các áp lực bên ngoài thường gây ra các vấn đề của đức tin (Mac Mc 4:18,19). Để giảm thiểu các áp lực này, bạn có thể giúp bạn bè có một đức tin sâu nhiệm hơn. Chúng ta sẽ bàn về vấn đề này nhiều hơn trong chương cuối. Và hãy khuyên các bạn này gặp gỡ và trò chuyện với những Cơ Đốc nhân trưởng thành, những người bạn tin cậy được - có thể là một vị Mục sư hay vị Truyền đạo.
Một số khó khăn khác có thể do những mong đợi thiếu thực tế gây ra. Những Cơ Đốc nhân trẻ thường dễ dàng thay thế những điều họ mong đợi Chúa sẽ làm vào chỗ những điều Chúa muốn làm. Thí dụ họ có thể mong đợi Chúa sẽ khiến cho bố mẹ họ tin Chúa vào kỳ nghỉ hè tới. Điều này dễ dàng dẫn họ đến sự nghi ngờ khi Chúa không làm điều họ nghĩ Chúa phải làm hay điều họ muốn Chúa làm. Giải thích sự cần thiết phải kiên nhẫn chờ đợi và tin tưởng vào thời điểm của Chúa hơn là áp đặt ý muốn của chúng ta trên Ngài là một điều rất quan trọng (IIPhi 2Pr 3:8).
Nhưng có một số người có thể thật sự nghi ngờ về một số vấn đề riêng biệt. Tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ giúp bạn cách thức bạn có thể giúp đỡ mọi người giải quyết những nghi ngờ đó. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng một loạt những điều người ta nghi ngờ về Phúc Âm.
Câu hỏi thảo luận
1. Làm sao bạn quan niệm được ba ý niệm khác nhau này: nghi ngờ, không đoan chắc, vô tín?
2. Nghi ngờ có thể làm bại liệt đức tin của bạn theo những cách nào?
3. Những nghi ngờ thông thường nhất mà người ta có đối với Cơ Đốc giáo là gì?
4. Những yếu tốt nào trong hoàn cảnh riêng tư làm bạn thường có sự nghi ngờ đặc biệt nào đó không?
Nghi ngờ Phúc Âm

Chúng ta bắt đầu xem xét hai nỗi lo ngại về Phúc Âm. Một số Cơ Đốc nhân trẻ, đặc biệt những sinh viên có nỗi băn khoăn thầm kín về tương lai của Cơ Đốc giáo. Cơ Đốc giáo sẽ bị lỗi thời chăng? Họ đang phó mình cho một điều có thể không còn thích hợp khi họ già chăng? Nỗi băn khoăn thứ hai liên quan đến hậu quả của Phúc Âm. Một số Cơ Đốc nhân cảm thấy ngã lòng vì đã cố gắng rao truyền Phúc Âm nhưng không kết quả. Đôi khi họ tự hỏi phải chăng trong Phúc Âm bày tỏ một sự yếu kém căn bản và liệu có sai lầm tai hại nào chăng?
Chắc chắn Cơ Đốc giáo sẽ bị lỗi thời vào một lúc nào đó chứ?
Chúng ta sống trong thời đại mà mọi thứ dường như lỗi thời rất nhanh. Kỹ thuật tiên tiến đã khiến những phương pháp và trang bị cũ trở nên lỗi thời với một tốc độ đáng lo ngại. Không những chỉ có hàng ngũ kim khí lỗi thời mà cả những tư tưởng cũng nhanh chóng trở nên lỗi thời. Nhiều người cho rằng thập niên 1960 là thời kỳ thế giới phương Tây trải qua một cuộc cách mạng. Những tiêu chuẩn và tư tưởng cũ bị vất bỏ vì không hợp thời nữa. Người ta nói nhiều đến 'cái chết của Thượng Đế', trong các trường đại học ở Bắc Mỹ cũng như ở nhiều nơi khác. Cơ Đốc giáo bị xem là lỗi thời, không thích hợp với nhu cầu của thế giới mới mẻ và dũng cảm này.
Lẽ dĩ nhiên, thập niên 1960 cách đây lâu rồi, nhưng giờ đây (vào thập niên 1990) khi nhìn lại thì chính những tư tưởng của thập niên ấy đã bị lỗi thời. Thay vì là một đặc điểm thường xuyên trong tư tưởng chúng ta thì những ý tưởng đó chỉ đáp ứng cho nhu cầu nhất thời mà thôi. Theo thời gian và với tình thế thay đổi, chúng không đáng tin cậy nữa. Chúng được dùng khoảng một thập niên trước khi trở thành 'không thể tiêu thụ nổi'. Cơ Đốc giáo là một năng lực vững mạnh trên thế giới trong gần hai ngàn năm nay và chưa hề có một dấu hiệu mất đi sức thu hút của nó.
Chủ nghĩa Mát-xít nói rằng khi cách mạng xảy ra thì Cơ Đốc giáo sẽ bị loại bỏ vì lỗi thời và vô vị, thế nhưng điều ngược lại đã xảy ra. Trong các quốc gia Mát-xít có một sự quan tâm mới mẻ về niềm tin Cơ Đốc mặc dù nhà nước có nhiều kế hoạch để tiêu diệt nó. Tại Mỹ vào thập niên 1960, do quan điểm mới mẻ về đời sống đã có ý kiến rằng có một nhu cầu cấp bách về một tôn giáo phù hợp đang phát triển trong nền văn minh phương Tây. Nhưng lịch sử đã chứng minh, chính quan điểm 'mới mẻ' về đời sống này - chứ không phải Cơ Đốc giáo - đã bị xem là không thích hợp với nhu cầu và khát vọng của con người.
Và điều này làm nảy sinh một vấn đề quan trọng: Phải chăng Cơ Đốc giáo rồi cũng sẽ lỗi thời? Theo thời gian và những biến thiên con người, Phúc Âm có còn thích hợp nữa không? Nói cho cùng, ngày nay chẳng còn ai tin vào các thần La-mã và Hi-lạp nữa, dù những thần này dường như đã có nhiều ảnh hưởng trong quá khứ. Đây là lý do khiến các sinh viên đại học đặc biệt quan tâm. Phúc Âm Cơ Đốc mà họ hết lòng tin tưởng (hay đang suy nghĩ xem có nên tin tưởng không) liệu có thể giữ vững được suốt những ngày còn lại trong đời sống họ? Hay sau một thập niên cũng sẽ lỗi thời? Những loại nghi ngờ này thường làm một số Cơ Đốc nhân trẻ tuổi băn khoăn và khiến những người khác do dự trước khi phó thác chính mình. Vì vậy xem xét vấn đề cách đầy đủ là điều rất quan trọng.
Có hai câu trả lời cho loại nghi ngờ này. Một là, Phúc Âm nói bản chất con người không hề thay đổi. Hai là Phúc Âm không thể mất đi quyền năng và sức thu hút. Chúng ta hãy xem xét riêng từng vấn đề.
Con người vẫn luôn có cùng một nan đề.
Phúc Âm không phải do sự khôn ngoan của con người để rồi sau một thời gian bị lỗi thời, nhưng là sứ điệp đời đời liên quan đến Thượng Đế và chúng ta; đặc biệt là mối quan hệ được thiết lập qua sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Con người trong quá khứ, hiện tại và mãi mãi về sau cũng chỉ có cùng một nan đề, đó là nhu cầu được yêu thương, nhu cầu được hy vọng khi đối diện với cái chết, nhu cầu được giải thoát khỏi tội lỗi. Phúc Âm nhận biết những khao khát sâu xa cùng những nhu cầu tự nhiên của con người.
Phúc Âm không chỉ chẩn đoán tình trạng của con người mà còn đề nghị biến đổi nó. Không những nêu lên vấn đề của chúng ta mà còn đưa ra giải pháp. Phúc Âm xác quyết tình yêu của Thượng Đế đối với chúng ta là những tội nhân, khiến chúng ta từ chú ý đến kinh ngạc về mức độ Ngài đạt đến để chứng tỏ tình yêu của Ngài. Phúc Âm cũng đề nghị bẻ gãy cái thòng lọng của tội lỗi để chúng ta được tự do sống với Chúa. Phúc Âm cũng cho chúng ta một hy vọng không gì lay chuyển được trước sự chết. Khi nào loài người còn sống trên đất này và họ vẫn phải chết thì Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Phục sinh vẫn tiếp tục nói về nhu cầu căn bản của con người.
Trong cuốn sách mới đây Khước từ cái chết (The Denial of Death), Ernest Becker nêu rõ con người đã đặt các sinh hoạt của mình trên căn bản ảo tưởng. Không giống loài vật, con người biết họ sẽ chết và không thể đối phó được với cái chết. Họ đã bỏ rất nhiều thì giờ để cố gắng khước từ điều không thể tránh né được của sự chết, tạo ra ảo tưởng là cái chết xảy đến cho ai đó chứ không phải họ. Chết là một đề tài người ta không thích nói đến vì nó gây ra những lo âu. Và vì vậy đời sống trở nên sự khước từ tuyệt vọng về cái chết của con người. Sự lành mạnh tinh thần của nhiều người hoàn toàn tùy thuộc vào sự khước từ này. Có người đã nhận xét một cách tàn nhẫn, chết là thống kê cuối cùng.
Làm thế nào người ta lại có thể đặt cuộc đời họ trên sự giả dối hoàn toàn được? Trốn chạy thực tế chẳng thay đổi được tình thế. Cũng dễ hiểu nếu người ta sợ chết, nhưng đó cũng chính là lý do vì sao Phúc Âm lại quan trọng và thích hợp đến thế! Qua sự chết và sống lại của Ngài, Chúa Giê-xu "giải cứu những người vì sợ chết, buộc lòng làm nô lệ suốt đời" (HeDt 2:15). Quyền năng giải thoát con người khỏi nỗi sợ sự chết không phải là lời giải thích đến sau nhưng là chủ đề trung tâm của Phúc Âm.
Phúc âm là tác phẩm của Thượng Đế, không phải là sáng tác của con người.
Khi rao giảng Phúc Âm tại Cổ-linh, Phao-lô đã nhạy bén thấy rõ những khuyết điểm của ông trong tư cách một nhà truyền giáo. Dầu vậy lời Chúa đã đâm rễ tại thành phố này. Sau đó ông viết thư cho Hội-thánh ở Cổ-linh nói về sự kém cỏi của mình (ICo1Cr 2:1-5):
Thưa anh em, khi đến thăm anh em, tôi không dùng lời lẽ hoa mỹ hay triết lý cao xa để truyền giảng Huyền nhiệm của Thượng Đế. Vì tôi đã quyết định không nói gì với anh em ngoài Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng chịu đóng đinh trên cây thập tự. Tôi có vẻ yếu đuối, sợ sệt và run rẩy khi đến thăm anh em. Lời giảng dạy của tôi chẳng do tài biện luận khôn khéo nhưng thể hiện Thánh Linh và quyền năng. Như thế, đức tin của anh em không dựa vào khôn ngoan loài người, nhưng xây dựng trên quyền năng Thượng Đế.

Bạn có hiểu điều Phao-lô nói tại đây không? Phúc Âm mà ông rao giảng và Phúc Âm đã chinh phục lòng và trí người Cổ-linh không phải là tác phẩm của con người nhưng là của chính Thượng Đế.
Ở những nơi khác của Tân ước chúng ta cũng thấy rõ điểm này "Khi chúng tôi giải thích cho anh em quyền năng của Chúa Cứu Thế Giê-xu và sự tái lâm của Ngài, không phải chúng tôi kể chuyện thần thoại đâu. Chính mắt chúng tôi đã trông thấy vinh quang rực rỡ của Ngài" (IIPhi 2Pr 1:16). Nói cách khác Phúc Âm không đặt căn bản trên sự khôn ngoan hay sáng tác của con người mà dựa trên mặc khải của Thượng Đế trong lịch sử, được nhiều người đích thân chứng kiến và làm chứng lại. Sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-xu không phải là một truyện hư cấu hay một truyền thuyết mà chính là những biến cố trong lịch sử được nhìn thấy và rao ra bởi những Cơ Đốc nhân đầu tiên (ICo1Cr 15:3-8).
Nếu chấp nhận Phúc Âm, bạn có thể yên tâm rằng bạn đã không tự sát về trí tuệ vì trở thành nạn nhân của vài tư tưởng mà chỉ ít năm sau sẽ nằm trong phần chú thích ở trang cuối của các sách lịch sử. Phúc Âm không giống như một sự sùng bái, một nỗi ham mê hay một thời trang để bị loại bỏ khi có một điều gì khác chiếm chỗ. Sao vậy? Vì chúng ta không đối diện với một sản phẩm của con người, hay với những tư tưởng do người nào đó nghĩ ra nhưng là với sự bày tỏ nhân từ của chính Thượng Đế, sự bày tỏ vừa nêu lên, vừa đáp ứng được những nhu cầu tâm linh của con người. Đây chính là Phúc Âm của Thượng Đế, Phúc Âm mà Ngài bày tỏ ra và vì Phúc Âm Con Ngài đã chết trên thập tự giá.
Nếu Chúa thật sự ở phía sau Phúc Âm thì Phúc Âm không thể thất bại. Trong sự khôn ngoan và tình yêu của Ngài, Thượng Đế đã ban cho chúng ta tin mừng về sự tha thứ của Ngài qua sự chết của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Nếu Thượng Đế không thể xem xét điều gì thích hợp với chúng ta thì còn ai có thể làm được? Đức tin của bạn không đặt trên sự khôn ngoan của con người (có thể bị các thế hệ sau vứt bỏ ) mà trên quyền năng của Thượng Đế, Đấng đã khiến Chúa Cứu Thế Giê-xu từ kẻ chết sống lại và biến đổi cảnh tượng đầy tuyệt vọng, bất lực thành cảnh tượng đầy hoan lạc và chiến thắng. Đây là Thượng Đế chúng ta tin tưởng được. Bạn bè có thể cho rằng đức tin của bạn là rồ dại, những người khác cũng đã nghĩ như thế về Phao-lô, nhưng bạn có thể an tâm như Phao-lô đã an tâm, Phúc Âm đụng đến lòng bạn ngày nay không phải của con người mà là của Thượng Đế và Phúc Âm ấy sẽ tiếp tục loan báo tình yêu cứu chuộc của Thượng Đế trong Chúa Cứu Thế cho đến khi Ngài trở lại.
Phúc Âm dường như ít tác động đến bạn bè của tôi
Chúng ta hãy bắt đầu bằng cách đặt điều này đúng vào vị trí. Đây là một quyết định quan trọng bạn yêu cầu nơi bạn bè. Bạn yêu cầu họ giao thác đời sống họ cho Thượng Đế, yêu cầu họ dâng hiến cuộc đời cho Chúa Cứu Thế Giê-xu. Theo bất cứ tiêu chuẩn nào thì đòi hỏi họ như vậy là nhiều quá. Đúng ra bạn phải chờ đợi nơi họ một sự do dự ở mức độ nào đó. Họ cần cân nhắc những hậu quả, cần suy nghĩ vấn đề. Họ sẽ không chấp nhận ngay đâu. Điều đó rất hợp lý.
Thật sự đây là một quyết định quan trọng đến nỗi nhiều người muốn tiến từng bước nhỏ thôi. Hãy nghĩ về từng cá nhân và con đường đến với đức tin của riêng họ. Mỗi người có nhu cầu và vấn đề khác nhau nên rất khó dự kiến một 'mẫu' quy đạo điển hình. Với một số người con đường ấy tương đối ngắn và dễ dàng, với những người khác thì đây là con đường dài và khó khăn. Bạn hãy nghĩ đến việc giúp họ tiến thêm một chút trên con đường đó hoặc giúp họ tránh những chướng ngại rải rác trên đường. Có thể không giúp họ đến tận nơi nhưng bạn có thể đưa họ đến gần đích. Cuối cùng, có thể qua bạn họ cảm thấy có nhiều cảm tình đối với Cơ Đốc giáo và với Cơ Đốc nhân. Có thể nhờ chuyện trò với bạn, họ thấy có ít khó khăn hơn với một số tư tưởng Cơ Đốc. Có thể bạn gieo một số hạt giống mà sau đó sẽ nẩy mầm. Cũng rất có thể họ sẽ không chấp nhận để rồi bạn không hiểu được ra sao nữa, và vì thế bạn thấy nản lòng.
Về điều này Chúa Giê-xu có một số thí dụ rất có ích và thích hợp. Mac Mc 4:26-29 kể về một người gieo giống rồi bỏ đó. Hột giống âm thầm lớn lên, cuối cùng vượt lên mặt đất và thành cây. Hầu hết các nhà phê bình giải thích rằng đoạn này nói đến công việc kín dấu của nước Thượng Đế trong thế gian. Thoạt đầu không thể thấy hiệu quả, như hạt giống dưới lòng đất âm thầm lớn lên. Người ta không thể thấy được hạt giống nhưng như thế không có nghĩa là không có hạt giống. Ẩn dụ nêu rõ tầm quan trọng của việc gieo giống (TrGv 11:6), đó là trách nhiệm của chúng ta nhưng chính Thượng Đế là Đấng làm cho hạt giống lớn lên (ICo1Cr 3:6,7), cho dù quá trình lớn lên của hạt giống không thể thấy được cho đến khi cây mọc lên mặt đất.
Một trong những cuốn sách tôi thích nhất là cuốn Nhật ký của kẻ tầm thường (The Diary of a Nobody). Đây là nhật ký tưởng tượng ghi lại những vấn đề và những khát vọng của một người thuộc giới 'thường thường bậc trung' (ông Pooter) và gia đình sống ở Luân-đôn vào cuối thời Victoria. Một chỗ trong nhật ký ông Pooter đã gieo một số hạt giống trong vườn vào một buổi chiều tối. Những ngày tiếp theo ghi lại nỗi thất vọng ngày càng tăng của ông. Mỗi ngày ông ta xem xét những hạt giống và chẳng thấy xảy ra gì cả. Tất cả chúng ta đều có một điều giống ông Pooter: Chúng ta muốn nhìn những kết quả tức thời khi làm chứng đạo cho bạn bè. Sự quy đạo phải xảy ra trong thời gian ngắn. Nhưng với nhiều người quy đạo là một kinh nghiệm kéo dài. Những đóng góp của bạn có thể khiến họ tiến xa hơn trên đường đức tin nhưng không thể đem họ đến mục đích.
Bạn có để ý Chúa Giê-xu thường trở lại chủ đề về hạt giống tốt không? Ẩn dụ về người gieo giống ở Mac Mc 4:3-8 nhấn mạnh là cùng một loại giống tốt nhưng gieo trên những loại đất khác nhau. Không có khuyết điểm gì về phía hạt giống - sự khác biệt là do đất. Điều quan trọng của bạn là gieo hạt, bạn không thể biết chắc là giống sẽ rơi trên loại đất nào. Một số hạt giống có thể được gieo mà không đem lại kết quả gì (có thể chúng bị chim ăn) nhưng điều đó không có nghĩa là những hạt giống bạn gieo tiếp theo sẽ không lớn lên được. Hạt giống dường như không lớn lên (Mac Mc 4:26-29), nhưng như ông Pooter cuối cùng nhận ra, điều này không có nghĩa là trong hạt giống có khuyết điểm. Điều quan trọng là phải tin cậy vào quyền năng của Phúc Âm và tin tưởng rằng Thượng Đế sẽ làm hết sức của Ngài với những hạt giống đâm rễ bởi lời làm chứng của chúng ta. Nếu hạt giống không tốt thì từ lâu Cơ Đốc giáo đã không tồn tại.
Hãy nghĩ đến Phao-lô và hình dung xem Hội-thánh ban đầu đã nghĩ về Sau-lơ là một trong những người nhiệt thành bách hại Cơ Đốc giáo (Cong Cv 8:1 9:1-2). Trong một thư tín sau đó, ông nhắc lại việc ông bắt bớ dữ dội Hội-thánh thế nào, và ông đã cố gắng phá tan Hội-thánh ra sao (GaGl 1:13). Những Cơ Đốc nhân đầu tiên được tha thứ khi nghĩ rằng Sau-lơ là một trường hợp bất trị. Chắc chắn đây là một người cứng đầu cứng cổ. Rõ ràng Phúc Âm chẳng có tác dụng gì đến ông ta cả. Chắc hẳn những Cơ Đốc nhân ấy rất nản lòng về Sau-lơ.
Câu chuyện đặc biệt về sự quy đạo của Phao-lô qua việc ông gặp Chúa Cứu Thế Phục sinh (Cong Cv 9:1-19 22:2-16 26:12,13) nhắc chúng ta hai điều. Thứ nhất, chính Thượng Đế làm việc trong quá trình quy đạo. Không phải người nào đó quy đạo do tài hùng biện khôn ngoan hay lý luận của chúng ta mà chính Thượng Đế làm việc kín nhiệm trong lòng con người. Cuối cùng của sự quy đạo là sự biến đổi và cứu chuộc trong sự gặp gỡ giữa cá nhân với Thượng Đế hằng sống. Chúng ta có thể giúp để đưa điều đó đến nhưng cuộc gặp gỡ là công việc của Thượng Đế chứ không phải của chúng ta. Thứ hai, câu chuyện này nhắc chúng ta rằng những bề ngoài không chút hứa hẹn có thể che giấu những biểu hiệu của công việc Ngài. Đừng lo lắng, thay vào đó hãy tin tưởng vào Phúc Âm và vào Đấng đứng phía sau Phúc Âm.
Để đối phó với hai nỗi lo âu này bạn có thể nhớ lại câu chuyện rất ích lợi ở phòng cao (GiGa 20:19-31). Từ căn phòng đó một nhóm người rất nhỏ đã ra đi để Cơ Đốc hóa thế giới - một nhiệm vụ dường như không thể hoàn thành. Đức tin của bạn có thể lùi lại căn phòng cao ấy. Có một phả hệ tâm linh nối liền bạn với một người nào đã ở trên phòng cao vào giờ phút quan trọng này. Bởi sự trung tín của người đó và những người theo sau mà bạn đã đến với đức tin. Sự kiện đặc biệt này chỉ rõ quyền năng của Phúc Âm đã truyền qua các thời đại, qua bao thời gian lẫn không gian. Điều này phải làm bạn yên tâm về tính chất thích hợp và sự sống động của Phúc Âm nhưng đồng thời cũng đặt trước bạn một câu hỏi rất quan trọng. Sợi dây liên kết đem đến kết quả to lớn từ phòng cao đó đến với bạn rồi sẽ đi tới đâu? Bạn sẽ chuyển tiếp cho ai rao giảng về Phúc Âm? Hay bạn sẽ là mắc xích mỏng manh của sợi dây này?
Suy nghĩ đúng đắn này sẽ đem chúng ta đến loạt lo âu tiếp theo của nhiều Cơ Đốc nhân tập trung vào vấn đề họ có xứng đáng là Cơ Đốc nhân không.
Câu hỏi thảo luận
1. Có bao nhiêu phong trào tôn giáo đã phát triển gần đây mà bạn biết đến và bây giờ được xem như là không thích hợp nữa?
2. Bằng cách nào bạn có thể phân biệt ảnh hưởng của Thượng Đế trên hành trình đức tin của riêng bạn?
3. Tại sao có nhiều người suy nghĩ rằng Phúc Âm là sự rồ dại?
4. Những ẩn dụ về hạt giống để giúp chúng ta hiểu cách Phúc Âm hành động trong thế giới này như thế nào?
Nghi ngờ chính mình

Một loạt những nỗi lo âu kế tiếp tập trung vào mối quan hệ riêng tư giữa chúng ta với Thượng Đế, đặc biệt là nỗi băn khoăn chúng ta có xứng đáng là Cơ Đốc nhân không. Một số Cơ Đốc nhân thấy khó để tin tưởng vào chính mình. Kết quả là thật khó để họ bước vào đời sống Cơ Đốc phong phú với những đặc ân và trách nhiệm. Nỗi băn khoăn liệu mình có thật sự là Cơ Đốc nhân không, việc không chắc chắn về những khả năng, nỗi lo âu về những sự bất xứng của bạn - tất cả những điều đã làm trí tuệ và tâm linh bạn bị tê liệt, khiến bạn không thể phát triển, tăng trưởng trong đức tin và sự vâng phục được. Tôi hy vọng rằng qua chương này một số trong những nỗi lo âu sẽ vơi đi.
Tôi không chắc tôi là một Cơ Đốc nhân.
Những người mới trở thành Cơ Đốc nhân thường có nghi ngờ này: Làm thế nào họ có thể biết chắc họ là Cơ Đốc nhân, điều gì chứng tỏ họ đã được Thượng Đế chấp nhận? Dấu hiệu rõ rệt nào xác nhận họ đã bước vào Nước Trời? Giai đoạn đầu của đức tin là thời kỳ rất dễ bị tổn hại, và là điều rất bình thường khi các Cơ Đốc nhân trong thời kỳ đầu này thường cảm thấy lo lắng về quan hệ của họ với Thượng Đế.
Đừng dựa vào cảm xúc của bạn. Trong phần sau, chúng ta sẽ đào sâu hơn về những cảm xúc đôi khi là những hướng dẫn không đáng tin cậy trong quan hệ giữa bạn với Thượng Đế. Cảm xúc của bạn cũng như mối tương giao giữa bạn với Thượng Đế bị nhiều điều ràng buộc. Bạn cảm thấy mình xa Chúa vì đã lo lắng về sự nghiệp, công việc, một mối quan hệ riêng tư nào đó hay những khó khăn tài chính. Tất cả những điều ấy rất dễ nhận chìm sự nhận biết của bạn về mối tương giao với Thượng Đế.
Hãy dựa trên những lời hứa của Thượng Đế. Những lời hứa này ở ngoài bạn, không lệ thuộc vào cảm xúc và lo âu của bạn. Cảm xúc của bạn thì chủ quan; lời hứa của Thượng Đế thì khách quan. Thí dụ hãy xem Chúa hứa với Giô-suê rằng Ngài sẽ ở cùng ông (Gios Gs 1:9). Ngài không hứa sẽ ở cùng Giô-suê với điều kiện là ông cảm thấy sự hiện diện của Ngài! Lời hứa về sự hiện diện của Ngài là lời hứa vô điều kiện. Về vấn đề này đừng tin những cảm xúc của bạn "Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Thượng Đế"(Thi Tv 46:10). Chúng ta phải đặt đức tin mình trên lời hứa của Chúa trong Kinh Thánh và được xác nhận trong Đức Chúa Giê-xu, chứ không phải trên những điều chúng ta cảm thấy.
Những lời hứa đó là lời hứa nào? Giờ đây chúng ta hãy suy xét đến ba loại lời hứa. Về một phương diện, những lời hứa này có điều kiện : chúng tùy thuộc vào việc bạn đã ăn năn tội và trở lại tin nhận Chúa. Đức tin là nói 'Vâng' với Chúa và học cách tin cậy Ngài, hiểu biết Ngài rõ hơn và vâng phục Ngài. Bạn có đang làm điều đó không? Hãy nhớ tiếng Hy-lạp từ ăn năn có nghĩa căn bản là quay lại. Bạn phải quay lại để đối diện với Chúa (có biết bao người suốt đời chạy trốn Chúa), thừa nhận tội lỗi mình và đón nhận sự tha thứ cùng sự sống đời đời mà Chúa muốn ban cho. Điều này có thể rất đau đớn và khó khăn, vì có nghĩa là thừa nhận chúng ta cần Chúa. Thử nghĩ xem Chúa tặng chúng ta một một món quà. Để có quà, bạn phải đưa tay ra và nhận. Hành động tặng và quà tặng là có thật, hành động nhận quà tặng cũng phải là thật nữa. Và nếu bạn nhận tặng phẩm này thì bạn là một Cơ Đốc nhân. Những lời hứa của Thượng Đế là của bạn.
Trước hết, có lời hứa rằng Thượng Đế yêu tội nhân nhưng ghét tội lỗi. "Nhưng Thượng Đế chứng tỏ tình yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi Chúa Cứu Thế chết thay chúng ta là người tội lỗi" (RoRm 5:8). Mức độ tình yêu đó đã được bày tỏ trên thập tự giá của Chúa Cứu Thế. Chúa Giê-xu đã chết để thuyết phục và bảo đảm với chúng ta về tình yêu nhân từ của Thượng Đế với chúng ta là những tội nhân (GiGa 3:16), nhờ đó đem chúng ta về với Thượng Đế. Một số người cảm thấy họ quá chìm đắm trong tội lỗi nên Chúa không thể yêu họ được. Tân ước có một quan điểm hoàn toàn khác khi xác định rằng không có gì ngăn cách chúng ta khỏi tình yêu của Thượng Đế trong Chúa Cứu Thế (RoRm 8:31-39). Mục đích và quyền năng chiến thắng tội lỗi của Thượng Đế được bày tỏ tại thập tự giá. Suy nghĩ hay tưởng tượng rằng tội lỗi của bạn xấu xa hơn bất cứ ai khác là từ chối không cho Thượng Đế cơ hội để phá đổ quyền lực tội lỗi trong đời sống bạn. Hãy nghĩ đến Phao-lô, làm sao Chúa có thể yêu ông khi ông bắt bớ Hội-thánh của Ngài. Nếu có ai ý thức rõ ràng về tội lỗi và sự bất xứng thì người đó chính là Phao-lô. Thế nhưng Phao-lô vẫn có thể đem sự tha thứ nhân từ của Thượng Đế đến các tội nhân và nói về những kết quả kỳ diệu của ân điển Chúa trên đời sống ông (ICo1Cr 15:9-10).
Có một câu chuyện về John Duncan một mục sư và cũng là một văn sĩ người Tô-Cách-Lan liên quan đến vấn đề này. Duncan cử hành Tiệc thánh cho một Hội-thánh địa phương ở Tô-Cách-Lan. Khi ông đem nước nho đến cho các tín đồ thì có một cô gái 16 tuổi từ chối không uống. Cô khoác tay tỏ ý rằng cô không thể uống chén ấy. Nhận biết cô gái cảm thấy không xứng đáng dự Tiệc thánh, Duncan đặt tay lên vai cô và nói 'Con cứ uống đi, nước này dành cho chúng ta, những tội nhân'. Nước nho tượng trưng cho ơn tha thứ của Thượng Đế đối với tội lỗi qua sự chết của Chúa Giê-xu - sự tha thứ đối với những tội lỗi thật. Nhận biết mức độ tội lỗi của bạn không phải là bạn không xứng đáng với ân điển của Chúa mà là hiểu rằng bạn cần ân điển ấy nhiều đến chừng nào.
Thứ hai, Chúa hứa rằng chúng ta được tha thứ khỏi tội lỗi (IGi1Ga 1:9). Trở thành Cơ Đốc nhân có nghĩa là bỏ quá khứ lại sau lưng và tiến đến cuộc sống đời đời trong sự hiện diện của một Thượng Đế yêu thương, đã ban Con Một của Ngài để chuộc tội chúng ta. Qua thập tự giá, gánh nặng của tội lỗi của chúng ta được Chúa Cứu Thế cất đi và sự công bình của Ngài trở thành sự công bình của chúng ta (IICo 2Cr 5:21). Lời hứa tha tội không chỉ liên quan đến giai đoạn khi bạn mới tin nhận Chúa. Bạn vẫn còn phạm tội sau khi trở thành Cơ Đốc nhân. Bạn bắt đầu một cuộc tranh chiến lâu dài và khó khăn với tội lỗi, đôi khi rất khó khăn. Bạn sẽ thường cảm thấy mình phản bội Chúa. Nhưng hãy học cách tin cậy vào sự nhân từ to lớn của Ngài: Hãy xin Ngài tha thứ những tội lỗi này và lại bắt đầu trở lại. Như Tân ước có nhấn mạnh làm một Cơ Đốc nhân không phải suôn sẻ, dễ dàng. Tất cả chúng ta đều có những lúc rất gay go, đó là lý do tại sao tin Thượng Đế tha thứ những khuyết điểm và yếu đuối của chúng ta lại là một tin tốt lành đến thế.
Thứ ba, chúng ta được Thượng Đế hứa sẽ ở cạnh chúng ta trong đời sống Cơ Đốc nhân của chúng ta. Ngài sẽ chẳng bao giờ bỏ hoặc quên chúng ta (GiGa 10:28), Ngài luôn luôn ở với chúng ta (Mat Mt 28:20). Dù chúng ta cảm thấy thế nào đi nữa, Thượng Đế hứa luôn ở với chúng ta. Ngài là Đấng chăn giữ chúng ta, cùng đi với chúng ta bằng sự hiện diện của Ngài (Thi 23). Chính Thượng Đế hứa với tất cả những ai tìm đến Ngài bằng đức tin.
Bạn đã ăn năn quay lại tin nhận Chúa chưa? Nếu có thì những lời hứa này liên quan đến bạn. Bạn có thể cảm thấy đức tin mình rất yếu. Nhưng như chúng tôi đã nhấn mạnh đức tin giống như một cái cây, một vật phát triển. Sự yếu đuối và mong manh của giai đoạn đầu nhường chỗ cho mạnh mẽ và chín chắn ở giai đoạn sau. Có một số hạt giống nẩy mầm chóng hơn những hạt giống khác cũng như có những cây mọc nhanh hơn những cây khác. Hãy kiên nhẫn! Một căn nhà xây cất nhanh chóng thường là những căn nhà xây cất dở - nó sẽ tồn tại không được lâu. Nói cho cùng La-mã đâu được xây dựng trong một ngày. Sự phát triển chậm chạp và từ từ của đức tin nói lên sự yếu đuối và mong manh của con người chứ không nói lên bất cứ khuyết điểm nào của Thượng Đế. Chúa biết chúng ta ra sao và đối xử với chúng ta cách nào là tốt nhất. Như Phao-lô nhấn mạnh (ICo1Cr 3:10-13), đời sống Cơ Đốc được xây dựng an toàn trên một nền tảng đáng tin cậy. Nếu hạt giống đức tin được trồng cách vững vàng, nó sẽ lớn lên bất kể sự mong manh yếu đuối lúc ban đầu. Vấn đề quan trọng không ở chỗ đức tin bạn mạnh mẽ mà là bạn có đức tin hay không? Giống như Phao-lô, bạn có thể tin chắc rằng Chúa đã bắt đầu làm việc tốt lành trong anh em nên Ngài sẽ tiếp tục hoàn thành công tác cho đến ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại (Phi Pl 1:6 IIPhi 2Pr 1:3-4).
Hãy yên tâm, Thượng Đế đã làm mọi sự cần thiết để cứu bạn và Ngài đã làm rất tốt điều này. Sự cứu rỗi của bạn không tùy thuộc sự xứng đáng riêng hay sinh hoạt của bạn. Thượng Đế ban cho bạn sự cứu rỗi của Ngài - sự cứu rỗi thật - như một tặng phẩm. Bạn được yêu cầu nhận tặng phẩm này và biến nó thành của riêng bạn. Julian NorWich, một nữ tu người Anh thời trung cổ, tác giả cuốn sách rất hay tựa đề Mặc khải về tình yêu Thiên Thượng (Revelations of Divine Love) đã viết: "Điều quan trọng duy nhất là chúng ta luôn luôn nói 'Vâng!' với Thượng Đế khi chúng ta kinh nghiệm Ngài". Khi nói 'Vâng', rồi tất cả những gì thuộc về chính Ngài và những gì Ngài định ý cho bạn đều có thể thuộc về bạn. Hai thí dụ sau đây sẽ ích lợi cho chúng ta.
Hãy tưởng tượng bạn đang ở trong một căn phòng tối và bên ngoài ánh sáng mặt trời đang chói rọi. Tuy nhiên có cánh cửa chớp tại cửa sổ nên ánh sáng không lọt vào. Bạn có thể mở cánh cửa chớp. Khi làm vậy bạn sẽ cất bỏ chướng ngại vật duy nhất và ánh sáng sẽ tràn vào phòng. Bạn không buộc phải thực hiện công tác vĩ đại là phát ra sức sống và ánh sáng mặt trời - tất cả những điều này đã làm sẵn cho bạn rồi. Công việc duy nhất của bạn - và cũng là công việc mà chỉ bạn mới có thể làm - là cất bỏ chướng ngại vật trên đường đi. Công việc này tương đối nhỏ nhưng rất cần thiết. Nếu bạn lo lắng không biết mình có phải là một Cơ Đốc nhân không thì hãy tự hỏi xem có còn chướng ngại vật nào ngăn trở bạn đến với Chúa không? Bạn có khựng lại mà không đến với Ngài không? Hãy xin Thượng Đế chiếu sáng đời sống bạn bằng sự sáng của Ngài và mở toang cửa lòng bạn. Bạn hãy mời Ngài bước vào và đón tiếp Ngài như một vị khách và một chủ nhân.
Bạn hãy tưởng tượng một hệ thống thủy điện vĩ đại giống như đập Hoover với nguồn năng lượng to lớn của hàng triệu thước khối nước tuôn đổ để những máy phát điện lớn cung cấp điện cho các thành phố quanh vùng. Nguồn điện chỉ có thể sử dụng được khi bạn bấm nút. Bạn không cần phải làm ra điện, người ta đã làm sẵn cho bạn. Bạn có thể tin được việc đó. Nhưng đường dây của bạn phải được nối liền với dòng điện này. Ín năn và chấp nhận sự tha thứ của Thượng Đế cũng thế, giống như mở công tắc cho quyền năng tràn vào đời sống bạn. Bạn đã mở công tắc chưa? Nếu có thì tất cả những điều khác đã được thực hiện cho bạn, và bạn có thể yên tâm là Thượng Đế đang làm việc trong đời sống bạn, tuy chậm nhưng chắc. Là Cơ Đốc nhân có nghĩa là tin cậy những lời hứa của Thượng Đế và vâng phục Ngài. Bạn có thể cảm thấy dường như Chúa không hiện diện nhưng những cảm xúc của bạn không nhất thiết đáng tin cậy. Điều này quan trọng đến độ chúng ta cần xem xét cách chi tiết hơn.
Tôi không kinh nghiệm sự hiện diện của Chúa trên đời sống tôi.
Nhiều Cơ Đốc nhân, đặc biệt là những người kinh nghiệm sự quy đạo đầy cảm xúc, khởi đầu với một cảm giác rõ ràng về sự gần gũi của Chúa, dường như Chúa rất gần và rất thật. Cả thế giới dường như sinh động bởi sự hiện diện của Ngài, có một cảm giác là mọi tạo vật rộn ràng náo nức với vinh hiển của Thượng Đế. Tuy nhiên sau một thời gian, kinh nghiệm về sự hiện diện của Chúa bắt đầu phai dần. Đối với một số Cơ Đốc nhân Chúa không còn hiện hữu nữa. Sự nghi ngờ bắt đầu len vào. Có lẽ bạn cảm thấy lo lắng về giá trị của kinh nghiệm ban đầu này. Phải chăng tất cả điều này chỉ là cảm xúc mà không có chút thực chất nào?
Cần phải nói nhiều điều để trả lời cho một nỗi lo âu như vậy. Để bắt đầu chúng ta xem một số biến cố vĩ đại trong Kinh Thánh minh họa rất rõ ràng cho những điểm nêu trên. Hãy nghĩ đến việc rời khỏi Ai-cập, khi Y-sơ-ra-ên thoát khỏi ách nô lệ của xứ này, họ băng qua Biển Đỏ và bắt đầu một cuộc hành trình dài đến miền đất hứa. Trong những ngày đầu tiên của cuộc ra đi Chúa hiện diện và hoạt động cách rõ ràng. Những trụ mây và lửa là những dấu hiệu thấy được nhắc nhở sự hiện diện và quyền năng của Thượng Đế giữa vòng dân sự Ngài (XuXh 13:20-21). Việc băng qua Biển Đỏ xác nhận điều này (XuXh 14:1-31). Nhưng chẳng bao lâu, sự bất mãn len vào. Những người đã được giải thoát khỏi ách nô lệ bắt đầu nghi ngờ Chúa và đòi thử nghiệm Ngài. Ngài thật có ở đó không? Cuộc hành trình có xứng đáng với công sức đổ ra không? Chúa có biết Ngài đang làm gì không? Khi cuộc hành trình nơi đồng vắng kéo dài năm này qua năm khác thì những nghi ngờ cũng gia tăng. Người ta không còn kinh nghiệm sự hiện diện của Chúa nữa.
Dĩ nhiên bất cứ ai đọc phần còn lại của Cựu ước thì không thể không nhận thấy Thượng Đế vẫn hiện diện trong suốt thời kỳ dân Chúa đi trong đồng vắng. Khi bước vào đất hứa trong chiến thắng thì lòng tin cậy Thượng Đế của dân sự được hoàn toàn khôi phục và bản chất những nghi ngờ trong đồng vắng đã lộ rõ ra. Khởi đầu Chúa rất gần. Họ không thể không thấy sự hiện diện của Ngài. Nhưng với thời gian, ký ức về giai đoạn đầu này dường như không đáng tin cậy. Có lẽ đó chỉ là sản phẩm của tưởng tượng. Chúa dường như không còn hiện diện nữa. Bạn có thể hiểu họ đã cảm thấy ra sao và sự cảm thấy đó thật không đáng tin cậy như thế nào. Thượng Đế hứa luôn luôn ở cùng dân sự Ngài trong mọi nơi họ đi. Lời hứa này dựa trên sự thành tín của Thượng Đế chứ không trên những cảm tưởng chủ quan về sự hiện diện của Chúa.
Trong những ngày đầu tin Chúa có thể bạn đã có một kinh nghiệm tâm linh tương đương với những trụ mây và trụ lửa - kinh nghiệm này hay cảm giác về sự hiện diện và quyền năng của Chúa. Cũng có thể có một điều gì đó giống như việc Biển Đỏ rẽ ra, qua đó Chúa xác nhận rằng Ngài thật sự hiện diện và hành động trong đời sống bạn - một lời cầu nguyện được nhậm hay một dấu hiệu nào đó. Có thể việc đó xảy ra lâu rồi và bây giờ bạn nghi ngờ những cảm giác ban đầu ấy. Nhưng bạn có biết những cảm giác ấy không đáng tin cậy như thế nào không? Không thể nào dựa vào cảm giác để biết Chúa có hiện diện hay không, hoặc Ngài có yêu bạn hay không, hoặc Ngài biết Ngài đang làm gì không? Cơ Đốc giáo đặt nền tảng vững chắc trên những lời hứa thành tín của Thượng Đế chứ không trên cảm xúc của chúng ta. Giống như dân Y-sơ-ra-ên, kinh nghiệm của bạn về sự hiện diện của Chúa lại được phục hồi khi bạn dựa vào điều nào đó xảy ra.
Trạng thái tinh thần của bạn và tình trạng thật của sự vật cũng ảnh hưởng đến kinh nghiệm như nhau. Hai lời sau đây có thể hoàn toàn đúng vào cùng một thời điểm.
1. Thượng Đế ở đó.
2. Tôi không cảm thấy Thượng Đế ở đó.
Không có chút mâu thuẫn nào. Một trong những lời bày tỏ cảm động nhất về cảm giác Chúa không hiện diện được tìm thấy trong Thi thiên 42. Tác giác Thi thiên này nói như một người chìm đắm trong nỗi tuyệt vọng tâm linh. Ông ta chán nản, lo âu. Ông cảm thấy cách xa Chúa. Bạn bè ông ta nhận ra điều này và họ hỏi để chế nhạo ông 'Chúa của ông ở đâu?'. Dầu vậy, ông biết Chúa vẫn còn đó. Ông nhớ lại những thời kỳ phước hạnh, những thời kỳ ông từng nhận biết mình gần Ngài và ông cảm thấy được an ủi vô cùng, vì lòng tin của ông dựa trên sự thành tín và sự đáng tín nhiệm tuyệt đối của Thượng Đế, ông biết rằng thời kỳ chán nản và tuyệt vọng này sẽ qua đi. Vì vậy Thi thiên đã chấm dứt với một giọng điệu tin tưởng và đắc thắng "Hãy trông cậy nơi Thượng Đế; ta sẽ còn khen ngợi Ngài nữa" (Thi Tv 42:11).
Hãy lưu ý đến điều tác giả Thi thiên không làm. Ông không giả tảng như thể mình không có những lo âu và nghi ngờ. Ông thừa nhận chúng và dâng trình lên Chúa. Ông biết rằng dù ông cảm thấy thế nào thì Chúa cũng vẫn ở đó, như đám mây chỉ che khuất ánh sáng mặt trời trong chốc lát. Mây sẽ bay đi và mặt trời lại sẽ hiện ra.
Hãy nhớ rằng không phải chỉ có bạn mới có kinh nghiệm này. Đây không phải là một điều mới lạ hay chưa từng xảy ra. Và điều đó cũng không có nghĩa rằng bạn là một Cơ Đốc nhân xấu xa. Đây là một chủ đề quen thuộc trong các tác phẩm của Martin Luther (nhà cải cách vĩ đại người Đức) và John of the Cross (tác giả thần học người Tây ban nha) vào thế kỷ 16. Bạn có thể được giúp đỡ bởi các tác phẩm này, những người từ kinh nghiệm riêng và kinh nghiệm của những người họ từng khuyên nhủ, khẳng định sự thành tín trọn vẹn của Chúa dù họ cũng có cảm giác nhất thời về sự vắng mặt của Ngài. Hãy được an ủi vì có nhiều Cơ Đốc nhân khác đã có những cảm nghĩ này trước bạn và họ cũng đã nói ra cách giải quyết.
Thi thiên 13 cho chúng ta một thí dụ điển hình. Mở đầu, tác giả bày tỏ một sự nhận biết rõ ràng đầy chán nản về sự vắng mặt của Chúa "Đức Giê-hô-va ôi! Ngài sẽ hằng quên tôi cho đến chừng nào? Ngài ẩn mặt cùng tôi cho đến bao giờ? Tôi phải lo lắng nơi linh hồn tôi, hằng ngày buồn thảm nơi lòng tôi cho đến bao giờ?" (câu 1,2). Có lẽ bạn đồng cảm với tác giả trong nỗi buồn của ông ta khi cảm thấy Chúa vắng mặt. Có thể bạn cũng đang có những cảm nghĩ như vậy. Tuy nhiên, thay vì ngày càng hướng về nội tâm trăn trở với nỗi lo âu của mình, tác giả Thi thiên đã quay sang suy gẫm về bản tính của Thượng Đế: sự đáng tin cậy, lòng thành tín và tình yêu thương nhân từ của Ngài. Thi thiên chấm dứt với cảm giác hy vọng và mong đợi "Nhưng tôi đã tin cậy nơi sự nhân từ Chúa. Lòng tôi khoái lạc về sự cứu rỗi của Chúa. Tôi sẽ hát ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã làm ơn cho tôi" (câu 5,6).
Hãy lưu ý: tác giả Thi thiên quay ra ngợi khen. Sự ngợi khen có thể giúp loại bỏ cảm giác buồn nản đôi khi đi đôi với sự nghi ngờ. Cần quyết định quay khỏi những cảm xúc để hướng về bản tính và lời hứa của Chúa. Bạn rất dễ lún sâu vào sự buồn nản nếu cứ hướng nội, xem xét tình cảm và cảm xúc của mình để những điều này quyết định tình trạng tâm linh của mình. Thay vì làm vậy bạn nên hướng ngoại, tách rời khỏi những tình cảm của mình và suy gẫm những lời đáng tin cậy và thành tín của Thượng Đế đã đạt đến đỉnh cao trọng sự chết và sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-xu "Cầu xin Thượng Đế, Cha chúng ta và Chúa Cứu Thế Giê-xu ban ân phúc và bình an cho anh em" (IICo 2Cr 1:2). Hãy hướng về những người nào có thể giúp bạn đặt những lo âu của bạn vào đúng vị trí của chúng.
Cuối cùng hãy nhớ lời khuyên của 'Con quỷ già' gửi cho 'Con quỷ nhỏ ' trong chương thứ sáu của tác phẩm Thư quỷ (Screwtape letter). Cách tốt nhất để biến các Cơ Đốc nhân thành những người vô thần là làm cho họ thôi không nghĩ về Chúa nữa mà cứ nghĩ về trạng thái tinh thần của họ đối với Chúa ! Hãy làm cho họ bận rộn cách tuyệt vọng với những tình cảm và nỗi ngờ vực, ngăn cản không cho họ hướng về Chúa. Hãy khiến họ đắm mình trong sự ngờ vực để họ thất vọng và nản lòng. C. S. Lewis biết rằng khi bạn tập trung chú ý vào trạng thái tinh thần của mình hơn là chú ý chính Chúa thì rất dễ cho sự nghi ngờ chiếm mất chỗ chắc chắn và an toàn của sự hiện diện của Thượng Đế.
Tôi cảm thấy không xứng đáng là một Cơ Đốc nhân
Ai trong chúng ta lại không cảm thấy như vậy nhỉ? Khi nghĩ đến trách nhiệm to lớn cũng như những công việc khó khăn của một Cơ Đốc nhân nếu bạn cảm thấy bị choáng ngợp thì không có gì đáng ngạc nhiên. Một mặt có công tác rao giảng Phúc-Âm cho thế gian; mặt khác có trách nhiệm bày tỏ tình yêu của Chúa qua cách sống, các chương trình hoạt động xã hội và chính trị. Tình yêu của Chúa kéo chúng ta ra khỏi thế gian chỉ nhằm đưa trả chúng ta vào thế gian khi chúng ta cố gắng biến đổi thế gian theo ánh sáng của Phúc-Âm.
Có lẽ chúng ta cũng cảm thấy như Giô-suê khi ông đứng ở biên giới đất hứa suy gẫm về trách nhiệm đáng sợ vừa đặt trên vai. Môi-se, con người vĩ đại đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập và đi qua đồng vắng đã qua đời; và chính ông - Giô-suê - đã được Thượng Đế chọn và giao trách nhiệm hướng dẫn dân sự vào đất hứa (Gios Gs 1:1-5). Giô-suê ắt hẳn cảm thấy mình không xứng đáng trước một công tác khó khăn như thế. Nhưng Chúa giao trách nhiệm kèm theo lời hứa là Ngài trợ giúp. Chúa không hề bỏ mặc chúng ta làm bằng sức riêng mình khi Ngài giao cho chúng ta một công việc khó khăn không thể tưởng tượng nổi. Những ân tứ của Chúa xứng đáng với những đòi hỏi của Ngài. Dù sao đi nữa Chúa biết những yếu đuối và khả năng của chúng ta, và Ngài khiến những đòi hỏi của Ngài phù hợp với khả năng của chúng ta. Những lời Chúa phán với Giô-suê chứa đựng một mệnh lệnh lẫn một lời hứa - Mệnh lệnh là Giô-suê hướng dẫn dân sự Ngài vào đất hứa và lời hứa là chính Ngài, Thượng Đế hằng sống ở cùng Giô-suê gìn giữ và nâng đỡ ông trong mọi nơi ông đi "Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng vì Giê-hô-va Thượng Đế ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi" (Gios Gs 1:9).
Hãy nhớ đến các sứ đồ trong những ngày sôi nổi sau khi Chúa Giê-xu sống lại. Chỉ có số lượng 11 người họ đã được long trọng giao cho nhiệm vụ khiến muôn dân trở nên môn đồ của Chúa (Mat Mt 28:18-20). Hãy tưởng tượng 11 người được lệnh phải đi ra và Tin Lành hóa toàn thể thế gian! Bạn có thể thông cảm họ nếu họ cảm thấy thất vọng và ngỡ ngàng vì hoàn toàn không đủ khả năng 'Mười một người chúng tôi chống lại cả thế giới ư? Ngài không đang nói đùa đấy chứ?'. Nhưng tình thế thật sự hơi khác một chút: đó là mười một người trong bọn họ và Thượng Đế hằng sống chống lại cả thế giới. Chúa Giê-xu bảo các sứ đồ đừng làm bất cứ điều gì trước khi nhận lãnh "điều mà Cha đã hứa" (Cong Cv 1:4 GiGa 16:33). Công tác của họ đòi hỏi một sự trợ giúp Thiên Thượng đặc biệt, đã được ban cho đúng thời hạn vào dịp lễ Ngũ tuần đầu tiên, khi Thượng Đế đổ Thần ban sự sống và quyền năng trên các sứ đồ (Cong Cv 2:1-12). Một lần nữa Thượng Đế đã đáp ứng nhu cầu bằng các ân tứ của Ngài.
Điều căn bản rút ra từ đấy là Thượng Đế ban khả năng cho những người tầm thường, kém cỏi để họ có thể làm trọn công tác. Điều này được lặp đi lặp lại trong đời sống các Cơ Đốc nhân qua nhiều thế kỷ, cũng như có thể được lặp đi lặp lại trong đời sống bạn. Hãy đọc truyện của một số giáo sĩ và nhà truyền giáo vĩ đại. Hãy đọc tiểu sử của các Cơ Đốc nhân nổi tiếng để thấy Chúa đã hành động trên đời sống họ như thế nào. Chúa ban những ân tứ để họ có thể đáp ứng với những công tác khó khăn cũng như những cơ hội hầu việc Ngài. Khi xem xét những công tác vĩ đại mà Hội-thánh ngày nay phải đối diện và thử tìm xem chúng ta có thể đóng góp được gì, điều quan trọng mà chúng ta phải nhận thức là chúng ta không làm việc đơn độc thiếu sự trợ giúp. Như Phao-lô đã nói rất hay, chúng ta là những người đồng công với Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên, không phải gánh nặng được chia xẻ đồng đều: chính Chúa giữ vai trò chính. Hãy hết sức của bạn và hãy tin cậy Chúa làm phần còn lại. "Đấng cứu rỗi anh em sẽ thực hiện điều ấy, vì Ngài thành tín" (ITe1Tx 24).
Chúa sử dụng bạn nhưng cuối cùng Ngài không tùy thuộc vào bạn. Các nghĩa trang trên thế giới đầy dẫy những người đã tưởng tượng rằng Phúc âm thành công là tùy thuộc vào họ nhưng mồ mả đã không giữ nổi Con người mà sự thành công đã thực sự tùy thuộc vào Ngài. Không phải chúng ta mà là Chúa Cứu Thế Phục sinh đã gìn giữ Phúc-Âm mà chúng ta rao giảng. Hãy xem bạn như một ống dẫn quyền năng và hoạt động của Chúa Cứu Thế Phục sinh được truyền qua để đến thế giới. Điều quan trọng không phải con người bạn như thế nào mà là bạn đã để Chúa làm gì với bạn, và qua bạn.
Một số Cơ Đốc nhân bị mặc cảm mình là người vô dụng làm tê liệt và chán nản. Họ cảm thấy không có giá trị gì. Nhưng tình yêu của Chúa khẳng định giá trị của chúng ta, tuy không tùy thuộc vào sự xứng đáng riêng của chúng ta. 'Những tội nhân đáng yêu vì họ được yêu; chứ không phải họ được yêu vì họ đáng yêu' (Martin Luther). Hãy nghĩ đến tình yêu tràn đầy của Thượng Đế tỏ ra cho bạn trong sự chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá. Hãy xem Chúa đã khẳng định giá trị cá nhân của bạn ra sao. Bạn quan trọng đối với Thượng Đế đến nỗi Chúa Cứu Thế đã chết vì bạn. Bạn quan trọng đối với Chúa - đó là lý do Ngài đã chọn và gọi bạn.
Tuy nhiên một số Cơ Đốc nhân khác lại bị tính kiêu ngạo thuộc linh dẫn họ đến chỗ ngày càng tin tưởng nhiều vào khả năng riêng của họ và nhờ cậy Chúa càng ít đi. Trong trường hợp này nhận biết mình thiếu khả năng là một ưu điểm. Nếu tự biết mình không có khả năng, bạn sẽ có ít ảo tưởng hơn về việc bạn có thể tự xoay xở và nhờ thế bạn sẽ chịu học để trông cậy Chúa trong sự cầu nguyện và chờ đợi. Bạn sẽ trông cậy Ngài ban cảm hứng, sự hướng dẫn và năng lực. Cơ Đốc nhân cũng giống như một mô tơ điện: cần một nguồn năng lượng từ bên ngoài. Nếu tách rời khỏi nguồn năng lượng này, bạn sẽ trở nên vô dụng.
Chúa Giê-xu sử dụng một thí dụ mạnh mẽ hơn để nêu ra cùng một ý: Cơ Đốc nhân giống như những nhánh nho (GiGa 15:1-8), nếu bị cắt khỏi cây nho, nó sẽ héo đi. Nhánh chỉ có thể sống và kết trái nếu được dính chặt với cây nho được từ cây nuôi sống nó. Nhánh nho không đứng tách rời nhưng hoàn toàn dính liền vào cây nho để sống và kết quả. Ngoài Chúa Cứu Thế chúng ta không làm gì. Và nhận biết sự bất lực sẽ ngăn chúng ta nghĩ rằng mình có thể làm bất cứ điều gì không cần Ngài giúp đỡ. Phúc-Âm nhấn mạnh rằng chúng ta phải có tinh thần tiếp nhận, chờ đợi những ân tứ Ngài ban để trang bị chúng ta cho những công tác.
Vì vậy, đối với một Cơ Đốc nhân khiêm tốn là một đức tính quan trọng. Nhưng khiêm tốn rất dễ bị hiểu lầm. Nếu vờ nói rằng mình không có một ân tứ hay khả năng đặc biệt nào thì đó không phải là khiêm tốn. (Qua RoRm 12:3-8 hay ICo1Cr 12:4-11) bạn có thể cầu nguyện một mình hay với một người bạn để xin Chúa hướng dẫn cho biết bạn có những ân tứ nào). Một số Cơ Đốc nhân cho rằng phải chối mình không có khả năng nào mới là khiêm tốn: điều đó là giả vờ khiêm tốn. Khiêm tốn là nhận biết rằng những ân tứ và tài năng của chúng ta dù nhiều đến đâu cũng là những tặng phẩm của Thượng Đế. Những ân tứ này đều hoàn toàn do lòng quảng đại và tình yêu thương nhân từ của Ngài chứ không do bất cứ sự xứng đáng nào của chúng ta cả. "Ngươi há có điều chi mà chẳng đã nhận lãnh sao?" (ICo1Cr 4:7)
Câu chuyện những ta lâng (Mat Mt 25:14-30) nói rõ điều này. Chuyện kể về một người chủ giao tiền cho vài người đầy tớ khi ông đi vắng, và những cách thức khác nhau của những người đấy tớ sử dụng tiền ấy. Có ba điểm chính được nêu ra trong câu chuyện này.
1. Tài năng chúng ta là tặng phẩm của Chúa . Những người đầy tớ không có quyền gì trên món tiền: tiền là của chủ giao cho họ khi ông vắng mặt. Trong một ý nghĩ đó là tặng phẩm của họ, nhưng là một tặng phẩm mà cuối cùng họ phải trả lại. Họ là người quản lý hơn là chủ nhân món tiền. Họ chịu trách nhiệm sử dụng tiền cách khôn ngoan khi chủ đi vắng. Cũng thế, chúng ta được sử dụng giao cho một số ân tứ, không phải dựa trên sự xứng đáng riêng nhưng trên những công việc và trách nhiệm Chúa định sẵn cho chúng ta. Không ai trong chúng ta lại hoàn toàn không có chút tài năng dù chúng ta có khiêm tốn về điều này đến đâu. Vấn đề quan trọng là nhận ra được những ân tứ đặc biệt của bạn, đây là bước đầu tiên trong việc sử dụng chúng để hầu việc Chúa. Nhiều người cầu nguyện để biết ý chỉ của Chúa trên đời sống mình mà không nhận ra rằng những ân tứ ban cho có thể bày tỏ ý chỉ của Ngài. Nếu những ân tứ của bạn đáp ứng được nhu cầu thực sự nào trên thế giới, rất có thể đó là nơi Chúa muốn bạn đến. Nhận ra những ân tứ Chúa ban cho bạn là cách để hiểu được ý chỉ của Chúa trên đời sống bạn.
Bạn có thể làm điều này bằng cách nào? Một số tài năng rất rõ ràng - thí dụ: bạn có thể là một người tổ chức có năng lực, một người kiên nhẫn biết lắng nghe hay một nhạc sĩ có tài. Chính bạn biết rõ tài năng này và cố gắng suy nghĩ sử dụng chúng thế nào để mở rộng vương quốc của Thượng Đế. Tuy nhiên thường thì những ân tứ và tài năng cá nhân dễ được người khác nhận thấy hơn. Như thế bạn càng đáng dành thời giờ để thảo luận kỹ về điều này với người bạn thân có thể nói thành thực về bạn, bạn sẽ khám phá bạn tốt về phương diện nào, và chưa tốt về phương diện nào. Đừng hổ thẹn nếu những ân tứ của bạn rất tầm thường, không có gì nổi bật. Như Phao-lô đã nhấn mạnh, thân thể một Cơ Đốc nhân cũng như Hội-thánh của Chúa Cứu Thế cần nhiều chi thể và ân tứ mới hoạt động được (ICo1Cr 12:12-31). Điều quan trọng không phải là tại sao chúng ta có ân tứ đó, mà là chúng ta có thể làm gì với ân tứ đó để hầu việc Chúa. Không phải những gì bạn có là quan trọng mà là bạn để Chúa làm gì với điều bạn có. Bạn như thế nào, đó là món quà Chúa tặng bạn; bạn trở nên như thế nào, đó là món quà bạn tặng Chúa.
2. Ân tứ Chúa ban cho là để sử dụng . Bạn không được nghĩ rằng những ân tứ của Chúa như những món trang sức chỉ để trang điểm cho bạn trở nên duyên dáng hơn. Những ân tứ này phải được sử dụng trong việc gây dựng con dân của Chúa và mở rộng vương quốc Ngài. Trong câu chuyện, người chủ trở về đã nổi giận với người đầy tớ đem chôn ta lâng và không sử dụng. Một số Cơ Đốc nhân đã có thái độ với ân tứ và khả năng của họ giống như con đà điểu: họ không biết đến hay không sử dụng chúng. John Henry Newman, một tác giả người Anh vào thế kỷ 19 gợi ý rằng mỗi chúng ta nên nghĩ mình phải làm một điều gì cho Chúa mà không ai khác có thể làm được. Đây là một suy nghĩ rất có ích. Nhận biết những ân tứ và tài năng của chúng ta là một trong những bước đầu để tìm xem 'điều ấy' là gì. Nhưng được chuẩn bị để sử dụng những ân tứ đó mới là điều chủ yếu. Những ân tứ được dành cho mục đích nào và cho công việc nào. Ân tứ này là những gì chúng ta mượn, chúng ta có trách nhiệm sử dụng cho hết và sẽ phải giải thích về cách chúng ta sử dụng chúng.
3. Những ân tứ của Chúa được gia tăng khi sử dụng . Câu chuyện ba người đầy tớ kể rằng, hai người dùng ta lâng của họ còn người thứ ba thì chôn xuống đất. Ta lâng sau cùng vẫn y nguyên. Nó không được sử dụng và vì vậy không phát triển. Số tiền được giao cho hai người đầy tớ kia tăng lên vì được họ sử dụng khôn ngoan. Những ân tứ Chúa ban cho chúng ta cũng vậy - ân tứ cũng như chính đức tin. Đức tin cũng gia tăng do được sử dụng, được biến thành việc làm để hầu việc Chúa. Đức tin không trở nên mạnh mẽ, sâu đậm nhờ ứ đọng lại, mà là nhờ ứng dụng thực hành nó.
Về phương diện này, nghi ngờ là một nhân tố tích cực. Nó có tác dụng kích thích cho đức tin lớn lên. Nó kéo chúng ta ra khỏi sự tự mãn. Giống như một hồi chuông báo động, nó chỉ ra điều bất ổn. Có lẽ chúng ta cũng giống như người đầy tớ thứ ba chôn đức tin của mình xuống đất, không sử dụng nó. Đức tin giống như một cái cây, là một vật phát triển. Vì vậy, hãy sử dụng đức tin của bạn. Hãy để cho đức tin ảnh hưởng đến cách suy nghĩ và cách sống của bạn. Đừng để đức tin trong tình trạng bị bỏ mặc vì không được sử dụng đến.
Tôi thất bại: tôi có thể làm được gì cho Chúa ?
Tất cả chúng ta đều không đáp ứng nổi những đòi hỏi của Chúa, tuy nhiên không phải ai nấy đều sẵn sàng thừa nhận điều này đâu. Vì vậy chúng ta hãy khởi đầu với một yếu tố tích cực: ý thức về sự thất bại của bạn là nói lên sự thành thật và sáng suốt của bạn. C. S. Lewis từng lưu ý chúng ta về một trong những nghịch lý lớn nhất của đời sống con người ấy là chúng ta có những lý tưởng vô cùng cao đẹp mà chúng ta không thể đáp ứng được. Biết điều đúng và tốt nhưng dường như chúng ta không thể thực hiện những lý tưởng này. Nhiều Cơ Đốc nhân thấy nghịch lý này trong đời sống họ: đức tin họ càng sâu đậm, thì nhận thức về tình trạng tội lỗi và bất xứng của họ lại càng rõ ràng. Kết quả là càng đến gần Chúa họ lại càng cảm thấy xa Ngài. Càng biết rõ tình yêu tràn đầy của Thượng Đế đối với họ thì càng thấy họ đã yêu Ngài quá ít. + thức sự bất xứng và thất bại thường phát sinh khi nhận biết sâu xa sự thánh khiết và công bình của Đấng đã gọi chúng ta, điều này cho chúng ta một ấn tượng rõ rệt về vực sâu thẳm ngăn cách chúng ta với Thượng Đế.
Chắc chắn rằng theo tiêu chuẩn của thế gian thì nhiều Cơ Đốc nhân đã thất bại. Phao-lô nhấn mạnh điểm này khi viết cho Hội-thánh Cổ-linh "Thưa anh em là người được Chúa kêu gọi, trong anh em không có nhiều người thông thái, chức trọng quyền cao hay danh giá vọng tộc; nhưng Thượng Đế đã lựa chọn người bị coi như khờ dại để làm cho người khôn ngoan hổ thẹn. Thượng Đế đã lựa chọn người yếu ớt để làm cho người mạnh mẽ phải bó tay...Thân thể yếu đuối của Chúa đã bị đóng đinh trên cây thập tự, nhưng Ngài đang sống với quyền năng vạn năng của Thượng Đế. Thân thể chúng tôi vốn yếu đuối như thân thể Ngài khi trước, nhưng nay chúng tôi sống mạnh mẽ như Ngài và dùng quyền năng Thượng Đế để đối xử với anh em" (ICo1Cr 1:26,27 IICo 2Cr 13:4). Thành công trong thế gian thường có được do tính quyết đoán, xông xáo, năng nổ và do quyết dành phần thắng trong bất cứ xung đột nào, và do việc hạ uy tín các đối thủ. Tiền bạc và quyền lực được xem là những mục đích hợp lý. Người yếu là nạn nhân hợp pháp của kẻ mạnh. Tuy nhiên Phúc Âm lại nêu một cách sống khác hơn; cách sống mà theo tiêu chuẩn thế gian kể như hoàn toàn ngu dại. Tình yêu và lòng thương xót người khác, đặc biệt là những người yếu, được đặc biệt nhấn mạnh. Những cử chỉ và thái độ ích kỷ không được tán thành. Yên vui của người khác được đặt trên thành công cá nhân. Chúng ta không thể đọc Bài Giảng Trên Núi (Mã 5-7) mà không thấy rõ những lãnh vực xung đột giữa những lời giảng của Chúa Cứu Thế và việc kinh doanh hiện đại ở phương Tây cũng như những giá trị đạo đức xã hội tại đó.
Có lần đi từ London đến Geneva tôi phải chờ khá lâu tại phi trường Heathrow London, vì trời đầy sương mù chuyến bay phải đình lại. Phải công nhận rằng phi trường là nơi đáng chán, và để quên sự chán nản này, tôi ngồi đọc một tạp chí địa phương để ở phi trường. Một trong những bài báo khiến tôi chú ý 'Làm thế nào bạn có thể trở thành cấp lãnh đạo kinh doanh thành công?'. Bài báo chủ yếu đề cập kỹ thuật vận động bằng mánh lới và đưa ra hình ảnh một người muốn làm chủ có đầy năng lực. Bài báo có một phần là bảng câu hỏi 'Khi dự một cuộc họp mục đích của bạn đi đến một quyết định là gì?' Tôi xem các câu trả lời khác nhau và chọn câu 'Đi đến quyết định nào khiến người khác được lợi nhất', thì câu trả lời lại là 'đạt chỗ đứng cao nhất'. Sau một lúc tôi nhận ra rằng mình không có đặc điểm cần thiết nào để trở thành cấp điều khiển kinh doanh thành công và cảm thấy thành thực vui mừng về điều này. Một cấp lãnh đạo kinh doanh thực sự thành công và có quyền lực dường như phải chinh phục được cả thế gian, trong khi thật ra chính người ấy đã bị thế gian chinh phục.
Nhiều Cơ Đốc nhân đã dại dột đem theo những tiêu chuẩn thành công thế tục này vào đời sống tín đồ của họ. Họ vẫn còn nghĩ đến 'thành công' theo tiêu chuẩn trần gian. 'Thành công' có nghĩa là khả năng, thống trị và điều khiển người khác, là đạt được địa vị cao nhất bằng tất cả những phương tiện có thể có để đạt địa vị và quyền lực. Hậu quả là họ đánh giá chính họ và những Cơ Đốc nhân khác là thất bại. Điều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng tiêu chuẩn nào đã được dùng tại đây? Phúc Âm đưa ra một thách thức đối với các giá trị của thế gian. Phúc Âm khẳng định sự hiện hữu và tầm quan trọng của một loạt giá trị đạo đức khác - những giá trị của vương quốc Thượng Đế. Những giá trị này được phản chiếu trong đời sống những Cơ Đốc nhân. Chắc chắn những Cơ Đốc nhân không thể tránh được sự xung đột với ít nhất một số tiêu chuẩn và giá trị của thế gian. Thế gian nói 'Hãy tìm kiếm tiền bạc, địa vị và tài sản', Phúc Âm nói 'Trước hết hãy tìm kiếm sự công bình của Thượng Đế'. Trở thành một Cơ Đốc nhân là theo một cách sống mới và theo một loạt các giá trị mà thế gian có thể gọi là sự thất bại. Nhưng những gì thế gian nghĩ có thực sự quan trọng không?
Tuy nhiên, một số Cơ Đốc nhân cảm nhận rõ ràng đã bị thất bại ở một lúc đặc biệt nào đó hay là nhiều lúc. Có lẽ bạn cảm thấy phạm tội vì bạn biết mình đã có thể hầu việc Chúa tốt hơn hay đã không nói được Phúc Âm cho ai đó. Có lẽ bạn đã làm tổn thương một người nào đó bởi lời nói hay hành động của mình, hoặc bạn đã làm một điều mà bạn biết là sai trật. Bạn cảm thấy mình thất bại trước mặt Chúa. Ngài có thể làm gì cho bạn được.
Câu trả lời thật đơn giản: Rất nhiều! Thí dụ cổ điển về sự thất bại là Phê-rơ. Phê-rơ là một môn đồ hoàn toàn thất bại đối với Chúa Giê-xu khi tình thế trở nên gây cấn. Tại Ghết-sê-ma-nê Phê-rơ đã khẳng định rằng không bao giờ ông bỏ Chúa: "Con thà chết còn hơn chối Thầy!" (Mat Mt 26:35). Những lời nói hùng hổ nhưng trống rỗng khi đụng chuyện. Không lâu sau đó, khi Chúa Giê-xu bị bắt, một người tớ gái trong sân thầy tế lễ thượng phẩm đến gần Phê-rơ và nói: "Anh cũng là đồ đệ của Giê-xu, người Ga-li-lê, chứ gì!". Đây là một cơ hội để Phê-rơ chứng tỏ lòng trung thành với Chúa Giê-xu. Tuy nhiên Phê-rơ hốt hoảng. Nếu có lời diễn tả một sự thất bại hoàn toàn thì đó là những lời của Phê-rơ: "Chị nói gì, tôi không hiểu!" (Mat Mt 26:69-75).
Tuy nhiên chủ đề trung tâm của Phúc Âm là sự tha thứ và sự đổi mới. Thượng Đế tha thứ những tội lỗi đã qua của chúng ta và ban năng lực cho chúng ta bắt đầu lại. Martin Luther đã mô tả đời sống Cơ Đốc nhân như là 'một sự bắt đầu lại tất cả mọi sự'. Quá khứ có thể đặt ở sau ta vì Chúa tha thứ mọi tội lỗi đã phạm của chúng ta và ban năng lực để chúng ta có thể đắc thắng trong tương lai. Sau sự sống lại của Chúa Giê-xu, là một người được biến đổi, ông không còn là một con người hèn nhát chối Chúa Giê-xu nhưng là một nhà tuẫn đạo đầy năng lực sẵn sàng nói về Chúa Cứu Thế cho đến cùng trái đất. Người ta thường kể rằng cuối cùng Phê-rơ đã bị đóng đinh tại La-mã trong thời Nero bách hại Hội-thánh năm 65 SC. Cuối cùng ông đã chung số phận với Chúa vinh quang.
Hãy xem xét những thất bại của bạn dưới ánh sáng những thất bại của Phê-rơ. Có lẽ bạn nghĩ mình có thể đương đầu được với những đòi hỏi của tình thế để rồi khám phá ra rằng mình không thể. Và bạn cảm thấy mình đã làm Chúa thất vọng. Cũng không phải lần đầu điều đó xảy đến cho một người nào. Phê-rơ ắt hẳn cũng đã cảm thấy như bạn: Ông đã khóc lóc đắng cay khi nhận ra rằng mình đã thất bại (Mat Mt 26:75). Nhưng đó không phải là đoạn kết câu chuyện Phê-rơ, cũng không nên là đoạn kết câu chuyện của bạn. Nếu bạn cảm thấy đã làm Chúa thất vọng hãy nói điều đó với Ngài. Hãy trình dâng lên Ngài khi cầu nguyện. 'Hãy giao phó quá khứ cho sự thương xót của Thượng Đế, hiện tại cho tình yêu của Ngài và tương lai cho sự lo liệu của Ngài' (thánh Augustine). Không cần phải nói cho bất cứ ai khác. Hãy nhớ rằng Chúa đã biết những gì bạn làm và những suy nghĩ của bạn về việc đó (Thi Tv 139:1-6), vì vậy bạn không cần che giấu Ngài những nỗi lo lắng sợ hãi của bạn. Hãy xin Ngài tha thứ và ban cho sự khôn ngoan, sức mạnh để đối phó với những tình thế như vậy. Và khi bạn quỳ gối hãy có lòng tin của một người đã được tha thứ và sẵn sàng đối diện với những thử thách và những cơ hội đang chờ bạn.
Dù dân Chúa có bất trung và bất toàn đến đâu, Thượng đế vẫn sẵn sàng sử dụng và thi thố những việc lớn lạ qua họ. Thật ra khó nói được điều nào lạ hơn điều nào giữa hai điều này: Dân Chúa sao quá bất trung và sao Ngài có thể làm việc cách tuyệt diệu như vậy qua sự bất trung của họ. Tình trạng tội lỗi và nhỏ nhen của các cá nhân, sự ích kỷ mù quáng của các Hội-thánh, sự dâng giúp keo kiệt cho việc truyền giảng Phúc Âm, những lỗi lầm đã phạm - tất cả nói lên sự yếu đuối và thất bại của những con người như chúng ta. Thế nhưng Hội-thánh vẫn tồn tại - Hội-thánh Chúa, phép lạ của lịch sử - thân thể của Chúa Cứu Thế ở khắp mọi nước là nơi Thượng Đế hằng sống qua Thánh Linh Ngài rất vui lòng ngự trong. Chúa có khả năng làm việc qua sự thất bại của con người kể cả sự thất bại của bạn. Thật vậy, sự thất bại khiến chúng ta ít tin cậy vào những phán đoán và khả năng riêng để thay vào đó tin cậy vào Thượng Đế. Nhận thức này là điều chính yếu của Phao-lô về đời sống Cơ Đốc nhân. Chúa phán rằng "Con chỉ cần Ta ở với con là đủ. Càng biết mình yếu đuối, con càng kinh nghiệm quyền năng Ta đến mức hoàn toàn" (ICo1Cr 12:9).
Vậy đừng lo lắng nếu bạn cảm thấy mình thất bại hay hoàn toàn không xứng đáng là một Cơ Đốc nhân. Vấn đề thực sự bắt đầu khi bạn nghĩ mình thành công hay mình có khả năng sống một đời sống Cơ Đốc thành công rực rỡ dựa vào sức riêng của bạn. Đấng đã gọi bạn là Đấng khiến sức mạnh Ngài trọn vẹn qua sự yếu đuối của con người. Chúng ta hãy thành thực: Tất cả chúng ta đều thất bại khi sống cuộc sống Cơ Đốc. Đó là lý do tại sao sự kiện Chúa có khả năng hành động qua những thất bại của chúng ta, đã an ủi và giúp chúng ta yên tâm trước khi sai phái chúng ta tiếp tục công tác là tin tức tuyệt vời.
Câu hỏi thảo luận
1. Sự nghi ngờ được nối kết với một cảm xúc bất xứng về cá nhân theo những cách nào?
2. Làm thế nào bạn nhận ra được những ân tứ và những tài năng của bạn?
3. Bạn cảm thấy những nhược điểm chính của bạn là gì? Chúng là một sự cản trở đối với Thượng Đế, hay lại là một cơ hội cho Ngài?
4. Sự 'thành công' theo tiêu chuẩn nào là thích đáng đối với Cơ Đốc nhân?
Nghi ngờ Chúa Giê-xu

Những nghi ngờ Chúa Giê-xu thường hướng về các sự kiện có thật. Thỉnh thoảng trên truyền thanh truyền hình lại xuất hiện những chương trình đưa ra bằng chứng mới mẻ nhằm đánh đổ hoàn toàn quan điểm Cơ Đốc về Chúa Giê-xu. Những sự kiện giật gân như vậy có thể lôi cuốn đông đảo khán thính giả nhưng nội dung rất nghèo nàn và chỉ sau vài tuần người ta quên hết những kết luận. Tuy nhiên trong đầu óc một số Cơ Đốc nhân lại nổi lên những điều nghi ngờ nghiêm trọng. Họ không có cách nào để có mọi tư liệu chuyên sâu mà những chương trình này được tự xưng là dựa trên cơ sở đó, và vì có khuynh hướng xem những lời công xưng đó là đáng tin cậy. Những chương sách này bàn đến những mối nghi ngờ chính thường xảy ra quan hệ đến lịch sử Chúa Giê-xu.
Phải chăng Cơ Đốc nhân hiểu sai về Chúa Giê-xu?
Thỉnh thoảng những cuốn sách với tựa đề rất giật gân rêu rao rằng đã tìm ra những 'chứng cớ đã bị ém nhẹm' có liên quan đến Chúa Giê-xu. Người ta cho là Cơ Đốc nhân đã che giấu những sự kiện về Chúa Giê-xu không phù hợp với quan điểm của họ. Đôi khi những lời tuyên bố làm các Cơ Đốc nhân lo lắng nhưng chúng tôi sẽ giải tỏ sau đây rằng những lời tuyên bố ấy là thừa.
Một trong những nghi ngờ loại đó là Chúa Giê-xu có thật sự hiện hữu không. Thật ra ý kiến cho rằng Ngài không có thật dựa trên những cơ sở hết sức mong manh, hời hợt. Chỉ người nào đã mang định kiến Giê-xu không phải là một nhân vật lịch sử mới có thể nghiên cứu bằng cớ đó và đi đến kết luận rằng Ngài không có thật. Nếu căn cứ trên các bằng cớ có thể được để chối bỏ sự hiện hữu của Chúa Giê-xu thì chúng ta buộc phải chối bỏ sự hiện hữu của các nhân vật lịch sử với một con số đông báo động. Dù bạn bè của bạn hay những nhà phê bình chống đối Cơ Đốc giáo có đưa ra các nghi ngờ về vấn đề này thì bằng cớ chứng minh hoàn toàn ngược lại. Như cuốn sách do John Allegro viết. Ông là một học giả được nể vì. Ông đã lý luận rằng 'Giê-xu' chẳng là gì khác hơn là một mật mã chỉ một loại nấm linh thiêng tạo ra những ảo giác khi người ta ăn. Ông nói rằng những Cơ Đốc nhân đầu tiên chẳng hề là người thờ phượng Chúa Giê-xu mà chỉ là những người ăn nấm đó cách bí mật.
Bằng chứng đưa ra hoàn toàn không thỏa đáng. Ngoài việc tiếng tăm học giả đứng đắn của Allegro bị sụp đổ, cuốn sách còn làm được việc là: khiến công chúng chú ý đến một lý thuyết cho là Giê-xu không đúng như những gì Cơ Đốc nhân nói về Ngài là điều rất dễ thôi, và thật là khó có thể làm họ để ý đến những lời phản bác các lý thuyết do Cơ Đốc nhân đưa ra. Tuyên bố rằng có những bằng cớ mới giật gân để bác bỏ Cơ Đốc giáo chỉ giúp ích cho việc quảng cáo cho chương trình truyền hình nói về vấn đề này. Nhưng những lý lẽ về phía Cơ Đốc giáo thì người ta thường ít chịu nghe vì thiếu mới mẻ và giật gân.
+ kiến cho là Cơ Đốc giáo hiểu sai về Chúa Giê-xu đã được khảo sát tỉ mỉ trên 200 năm qua. Người ta đã cân nhắc từng giả thuyết một. Giê-xu đã có thể là một người bị thất bại, một tiên tri lầm đường hay chỉ là một giáo sư tôn giáo biết lẽ phải. Những Cơ Đốc nhân đầu tiên đó có thể đã cố bóp méo hình ảnh của Ngài ở một số điểm. Tất cả những ý kiến này đã được xem xét rất kỹ lưỡng nhưng chẳng có ý kiến nào minh chứng được là đáng tin cậy cả.
Vào thế kỷ 19, một phong trào gọi là 'Cuộc Tìm Kiếm Nhân Vật Lịch Sử Giê-xu' nổi lên với mục đích chỉ ra rằng Tân ước đã che giấu hình ảnh về Chúa Giê-xu không được Cơ Đốc nhân ưa thích. Mặc dầu ngày nay phong trào đó vẫn còn nhưng nó đã mất gần hết sự đáng tin cậy về mặt tri thức. Phong trào đã được các học giả dành cho sự quan tâm toàn vẹn và đã bị họ đánh giá là thiếu sót. Đằng sau những điều gọi là 'Xây Dựng Lại Nhân vật Giê-xu' người ta có thể thấy một mớ kiến thức lịch sử đáng nghi ngờ cũng như những món lợi riêng tư, béo bổ. Những 'nhân vật Giê-xu' được phát hiện ra đó cũng giống như những kẻ đã khám phá ra chúng. Trong bài tiểu luận Fern-seed and Elephants C. S. Lewis đã viết như sau về 'Nhân Vật Giê-xu Được Tái Phát Hiện' này.
Tất cả thần học có khuynh hướng tự do liên quan đến một điểm nào đó - và thường là từ đầu đến cuối - liên quan đến luận điệu là tư cách đạo đức thật, mục đích và sự giảng dạy của Chúa Cứu Thế đã bị các môn đồ hiểu vội vàng rồi mô tả lại sai và chỉ được tìm ra hay khai quật lại bởi các học giả hiện đại. Rất lâu, trước khi tôi quan tâm đến thần học tôi đã thấy loại giả thuyết này ở lãnh vực khác. Người ta được dạy dỗ để tin rằng ý nghĩa thực sự của Plato bị Aristotle hiểu sai, bị các học giả Tân Plato biến thành trò đùa, và chỉ được học giả hiện đại phát hiện lại. Và khi được tái phát hiện thì (may mắn thay) lại hóa ra rằng Plato từ lâu rồi đã là một người Anh theo thuyết Hêgen, giống như T. H. Green. Tôi đã nhận ra điều này lần thứ ba trong khi nghiên cứu về chuyên môn: Cứ mỗi tuần có một sinh viên thông minh, và cứ mỗi hai tuần thì có một giáo sư đại học Mỹ tầm thường lại khám phá ra lần đầu tiên ý nghĩa thật sự của một vở kịch nào đó của Shakespeare.
Sự sống lại có phải là một việc được dựng đứng không?
Một nghi ngờ khác thường nổi lên là sự sống lại đã thực sự xảy ra hay đó chỉ là một việc được dựng lên để che giấu số phận thật của Chúa Giê-xu. Giả thuyết này thường xuyên được nêu ra ở thế kỷ 18 và ngày nay vẫn còn. Từ những giả thuyết này lại nảy sinh ra những nỗi nghi ngờ về sự sống lại, kèm theo ý tưởng sâu kín trong một số Cơ Đốc nhân rằng sự sống lại là một điều quá tốt nên không thể là sự thật được!
Một số Cơ Đốc nhân băn khoăn về sự sống lại do một cảm tưởng có thể diễn tả như sau: Đối với Cơ Đốc nhân đầu tiên việc tin Chúa Giê-xu sống lại là điều rất dễ dàng. Nói cho cùng, niềm tin vào sự sống lại rất phổ biến vào thời đó. Những Cơ Đốc nhân đầu tiên có thể vội vã kết luận rằng Chúa Giê-xu đã sống lại từ kẻ chết trong khi thật sự có một điều khác hơn thế đã xảy ra. Tuy nhiên, cả hai niềm tin của thời đó thật ra không hề giống với sự sống lại của Chúa Giê-xu chút nào. Người Sa-đức (Sa-đu-sê) không chấp nhận tư tưởng về sự sống lại (là sự kiện mà Phao-lô đã có thể khai thác vào một lúc khó xử Cong Cv 23:6-8), trong khi trông đợi của đa số là sự sống lại chung toàn thể vào ngày cuối khi lịch sử chấm dứt.
Ngày nay, ít khi người ta nhận thấy sự vô cùng kỳ lạ trong lời tuyên bố về sự sống lại của Chúa Giê-xu trong lịch sử con người vào một thời điểm và nơi chốn nhất định, mặc dù điều này vào thời đó là hiển nhiên. Điều không thể tưởng tượng nổi dường như đã xảy ra và vì lý do đó đòi hỏi một sự tra xét kỹ lưỡng. Không những không khớp với sự mong đợi phổ biến về sự sống lại, điều xảy ra cho Chúa Giê-xu thực sự còn trái ngược hẳn. Quan điểm Cơ Đốc hoàn toàn mới mẻ vào thời đó đã bị kinh nghiệm hai ngàn năm của tri thức Cơ Đốc về sự sống lại làm mờ nhạt đi. Vì chúng ta đã quen với ý nghĩ Chúa Giê-xu từ kẻ chết sống lại, chứ vào thời điểm đó là một quan điểm hoàn toàn không chính thống và rất cấp tiến. Sự sống lại của Chúa Giê-xu không phù hợp với sự mong đợi của thời kỳ đó. Đó là điều không hề được mong đợi. Thật vậy, đây là một tư tưởng kỳ lạ đến độ chúng ta phải đưa ra một lời giải thích có tính thuyết phục: Sự sống lại có tính cách một biến cố lịch sử.
Lẽ dĩ nhiên, một số nhà phê bình dựa trên học thuyết của Freud cho rằng sự sống lại của Chúa Giê-xu là sự đáp ứng lòng mong mỏi của các môn đồ Ngài. Điều này bắt trí tưởng tượng làm việc khá căng. Tại sao trước tai họa xảy đến cho Chúa Giê-xu các môn đồ của Chúa lại đưa ra giả thuyết chưa từng có là Ngài sẽ được sống lại từ kẻ chết? Lịch sử Y-sơ-ra-ên không thiếu xác những nhà tuẫn đạo Do-thái và chưa hề có một người nào được ai nghĩ rằng đã sống lại từ kẻ chết. Thêm vào đó nhiều môn đồ (trong đó có Phao-lô và Phê-rơ) đã bị hành hình vì đức tin của họ. Tại sao họ lại chịu chết cho một sự dối trá?
Nếu băn khoăn về sự sống lại, bạn có thể cảm thấy những điểm sau đây rất có ích. Những điều này không phải là toàn bộ bằng cớ về sự sống lại, bạn có thể xem thêm những tác phẩm có liên quan liệt kê ở cuối sách. Tuy nhiên, đây là những chỉ dẫn ích lợi cho suy nghĩ của bạn.
1. Hãy để ý đến tầm quan trọng của sự kiện lịch sử cùng được nhắc đến trong bốn sách Phúc Âm: ngôi mộ trống (Mat Mt 28:1-10 Mac Mc 16:1-8 LuLc 24:1-11 GiGa 20:1-9). Điều này không chứng minh cho sự sống lại nhưng rất phù hợp với nó. Các sách Phúc Âm dựng lại toàn bộ khung cảnh các biến cố của Ngày Phúc Sinh đầu tiên, mỗi biến cố như một mảnh trong trò chơi lắp hình ráp đúng vào vị trí, phù hợp với những biến cố khác và cho thấy toàn bộ những gì đã xảy ra.
2. Tục lệ 'tôn trọng mồ mả' rất thông dụng vào thời Tân ước. Nói cách khác, ngôi mộ của tiên tri được các môn đồ của mình dùng làm nơi thờ phượng. Sách Mat Mt 23:29-30 chắc chắn nói đến tục lệ này mà ngày nay vẫn còn: ngôi mộ của Đa-vít tại Giê-ru-sa-elm vẫn được rất nhiều người Do-thái tôn trọng. Nhưng không hề thấy ghi lại một sự tôn kính nào của môn đồ đối với ngôi mộ Chúa Giê-xu. Tại sao vậy? Đơn giản là vì xác Chúa Giê-xu không có trong mộ Ngài.
Dường như lúc đó không hề có sự tranh cãi nào về vấn đề này. Nguồn tin Chúa Giê-xu sống lại có thể bị nhà cầm quyền dập tắt không chút khó khăn bằng cách trưng xác của Ngài ra trước công chúng. Và điều hết sức quan trọng là Tân ước không hề chứa đựng một chút cố gắng nào để giải thích bác bỏ ý kiến là có thi thể Chúa Giê-xu. Và cũng không hề có dấu hiệu gì về việc giới chức cầm quyền Do-thái hoặc đã đưa ra hoặc đã cố gắng để đưa ra xác chết này. Nếu điều này được thực hiện thì những lời giảng dạy của Hội-thánh đầu tiên đã mất giá trị ngay tức khắc. Nhưng đã không hề có chuyện đó. Tất cả bằng cớ đều chỉ ra rằng ngôi mộ thì trống vào ngày thứ ba. Cuộc tranh luận vào thời đó không nhắm về sự kiện ngôi mộ trống nhưng về cách giải thích tại sao ngôi mộ lại trống.
3. Chỉ một thời gian rất ngắn sau khi chết, Chúa Giê-xu đã được các môn đồ nói đến bằng những danh xưng hết sức cao quý. Chúa Giê-xu không được tôn trọng như là một tiên tri hay là một ra-bi đã chết mà được thờ phượng như là một Đấng sống và sống lại. Ở một số điểm trong Tân ước, rõ ràng Chúa Giê-xu được coi như là chính Thượng Đế. Tại nhiều nơi trong Tân ước, những từ nguyên dùng cho chính Thượng Đế đã được dùng cho Chúa Giê-xu. Thí dụ trong RoRm 10:13, Phao-lô nói "Vì tất cả những người kêu danh Chúa đều được cứu rỗi". Nguyên câu này trong Gio Ge 2:32 là nói đến danh Thượng Đế.
Nhưng do đâu có được sự biến đổi kỳ lạ trong sự nhận biết địa vị của Chúa Giê-xu? Ngài chết như một tử tội bình thường, có thể như một đấng tiên tri hay một nhà tuẫn đạo, nhưng nếu vậy thì cũng chỉ đáng được hưởng sự tôn trọng đối với ngôi mộ của Ngài (Mat Mt 23:2). Tại sao những Cơ Đốc nhân đầu tiên nói về một ra-bi đã chết như thể người là Thượng Đế được? Và lại còn khó hiểu hơn nữa, tại sao họ lại bắt đầu nói về Ngài như thể Ngài còn sống, cầu nguyện với Ngài và thờ phượng Ngài. Nếu chỉ xét riêng điều này, nó cũng không chứng tỏ được đầy đủ nhưng nếu xét chung với những điều khác đã nêu ra thì điều này đã giúp dựng nên một hình ảnh thích hợp và rất thích hợp về biến cố 'sống lại'.
Làm thế nào một người sống cách đây 2000 năm lại liên quan đến tôi?
Vấn đề này thực sự đã gây nhiều khó khăn cho một số Cơ Đốc nhân. Để giải quyết nỗi ưu tư này, hãy nghĩ đến Chúa Giê-xu như một biến cố hơn là một con người . Qua Chúa Giê-xu, một điều gì đó đã xảy ra . Qua Chúa Giê-xu, Thượng Đế có thể thực hiện một điều nào đó. Hãy nghĩ đến Chúa Giê-xu như là một sự thiết lập một nền tảng cho một mối quan hệ được đổi mới lại với Thượng Đế - một thái độ đổi mới đối với cuộc sống và một niềm hy vọng với Chúa Giê-xu thì không phải chúng ta quan hệ với một con người như chúng ta, mà là với chính Thượng Đế hành động trong lịch sử để cứu chuộc chúng ta. Thượng Đế đã chọn để hành động qua Chúa Giê-xu đặc biệt là qua sự chết và sự sống lại của Ngài để chúng ta có thể nhận được một điều mà chúng ta không thể nhận được bằng cách nào khác. Bạn có thể thấy phấn khởi này trong IPhê-rơ "Tôn vinh Thượng Đế, Cha của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta! Bởi lòng nhân từ vô biên, Thượng Đế đã cho chúng ta niềm hy vọng được tái sinh để làm con cái Ngài. Do đó, niềm hy vọng của chúng ta tràn trề sức sống vĩnh cửu vì Chúa Cứu Thế đã từ cõi chết sống lại. Thượng Đế đã dành sẵn cho con cái Ngài một cơ nghiệp vô giá trên trời, không gì có thể làm nhơ bẩn, ô nhiễm, biến chất hay mục nát được" (IPhi 1Pr 1:3,4).
Vậy thì trước hết Chúa Giê-xu quan trọng đối với đức tin Cơ Đốc ở chỗ qua sự chết và sự sống lại của Ngài, Ngài đã khiến một lối sống hoàn toàn mới có thể thực hiện được. Chúa Giê-xu là nền tảng của đức tin: chính do sự vâng phục ý chỉ của Đức Chúa Cha thể hiện rõ ràng trong sự chịu khổ và sự chết trên thập tự giá mà chúng ta mới có được mối quan hệ mới với Thượng Đế. Thập tự giá không chỉ là một biến cố trong lịch sử đã xảy ra cách đây hai ngàn năm mà chính là nền tảng của đức tin chúng ta hiện nay . Qua chính sự chết của Chúa Giê-xu mà sự sống mới của chúng ta có thể được thực hiện "Khi chịu chết trên cây thập tự, Ngài đã gánh hết tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài, để chúng ta có thể dứt khoát với tội lỗi và sống cuộc đời công chính. Vết thương Ngài chịu đã chữa lành thương tích chúng ta" (IPhi 1Pr 2:24). Nếu không có sự hoàn tất nhiệm vụ tại thập tự giá thì ngày nay chúng ta không thể nhận được sự cứu chuộc. Chúa Giê-xu quan trọng vì qua Ngài Thượng Đế thực hiện sự cứu chuộc nhân loại. Ngài là tác nhân của sự cứu chuộc, Thượng Đế đã làm việc và vẫn còn làm việc qua Ngài.
Thứ hai, Chúa Giê-xu thúc giục người ta đặt câu hỏi, và bắt đầu suy nghĩ về Thượng Đế và về chính họ. Có lần Chúa Giê-xu đã hỏi các môn đệ: "Các con biết ta là ai không?" (Mac Mc 8:29). Kể từ đó, câu hỏi này đã khiến nhiều người phải suy nghĩ và tự hỏi. Vì Cơ Đốc giáo không chỉ là những lời dạy của Chúa Giê-xu như chủ nghĩa Mác-xít là quan điểm của Karl Marx, hay chủ nghĩa Thatcher là dựa trên quan điểm của Margaret Thatcher. Phúc Âm không chỉ về Chúa Giê-xu. Phúc Âm là Chúa Giê-xu. Cơ Đốc giáo không chỉ là những tư tưởng mà chính là về một con người . Đối với nhiều người trở thành Cơ Đốc nhân, Chúa Giê-xu hành động như một chất xúc tác hay chất kích thích vào suy nghĩ của họ. Chuỗi dài trong suy nghĩ mà đỉnh cao là sự ăn năn và tiếp nhận sự tha thứ thường khởi đầu bằng sự quan tâm vào con người Chúa Giê-xu.
Có một điều hết sức lôi cuốn về Chúa Giê-xu, một điều có thể vượt qua được khoảng cách lịch sử và vẫn còn khiến người ta thắc mắc cho đến ngày nay. Những câu hỏi về Chúa Giê-xu đã nhanh chóng trở thành những câu hỏi về Thượng Đế và sự cứu chuộc. Câu "Chúa Giê-xu là ai?" dễ dàng trở thành 'Làm thế nào để tôi tìm được một Thượng Đế nhân từ?' và câu hỏi 'Tại sao Chúa Giê-xu phải chết?' nhường chỗ cho 'Tôi phải làm gì để được cứu?'. Mối quan tâm đến con người Chúa Giê-xu thường là khởi đầu cho một quá trình suy nghĩ dài và âm thầm mà cuối cùng là sự tiếp nhận Ngài làm Chúa và Đấng Cứu Chuộc.
Cuối cùng, Chúa Giê-xu chỉ cho biết thế nào là đời sống được cứu chuộc. Không những Ngài là nền tảng cho đời sống đức tin mà qua đời sống của Ngài còn cho thấy đời sống Cơ Đốc phải như thế nào. Ngài đưa ra một lối sống thích hợp cho các tín đồ. Những lời giảng của Chúa Giê-xu cho thấy cần phải quí trọng Thượng Đế, vâng lời Ngài và đảm bảo rằng không có gì quí hơn Ngài. Qua tấm gương của Chúa Giê-xu, Ngài giúp chúng ta hiểu vâng phục Thượng Đế hàm ý gì. Ngài là mẫu mực của tình yêu mà các Cơ Đốc nhân phải có đối với nhau. Phao-lô viết cho những tín đồ ở Tê-sa-lô-ni-ca rằng qua sự quy đạo họ trở thành những người "đã theo gương chúng tôi và theo gương Chúa" (ITe1Tx 6). Là Cơ Đốc nhân có nghĩa là "trở nên giống như Con Ngài" (RoRm 8:29), một quá trình mà qua đó Thượng Đế, một cách đầy nhân từ, khiến chúng ta càng giống Chúa Giê-xu khi chúng ta lớn lên trong đức tin và trong sự vâng phục.
Vậy thì sự kiện Chúa Giê-xu sống cách đây hai ngàn năm không hề làm suy giảm tầm quan trọng của Ngài đối với đời sống đức tin. Nếu không có những gì Chúa Giê-xu đã làm, đời sống và tất cả ý nghĩa của nó sẽ không thể có được. Đức tin, niềm hy vọng và tất cả những gì quan trọng đối với chúng ta đều là kết quả của những gì Thượng Đế làm cho chúng ta qua Chúa Giê-xu. Ngày nay người ta có thể có được đời sống mới vẫn đặt trên căn bản vững chắc là Chúa Giê-xu. Khi truyền bá Phúc Âm, chúng ta rao giảng rằng sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu khiến có thể có và thực hiện được một lối sống mới, một lối sống đầy hiểu biết về sự tha thứ, về niềm hy vọng của sự sống lại và sự sống đời đời. Quá trình có thể được mô tả là 'trở nên giống Chúa Giê-xu'. Cả nền tảng lẫn kiểu mẫu của đời sống được cứu chuộc đều được đặt trên Chúa Giê-xu - cả vào thời Tân ước lẫn bây giờ. Qua quyền năng của Đức Thánh Linh, Thượng Đế làm chúng ta ngày nay càng giống con Ngài đang sống và cầm quyền trong chúng ta - không phải như một nhân vật từ quá khứ mờ nhạt xa xôi mà là một Đấng sống lại và đang hiện diện.
Câu hỏi thảo luận
1. Tại sao những khám phá về Chúa Giê-xu thường phản ảnh chính người khám phá những điều ấy?
2. Bạn có thể minh chứng Chúa Giê-xu phục sinh từ kẻ chết bằng cách nào?
3. Tại sao Chúa Giê-xu lại vô cùng quan trọng đối với niềm tin Cơ Đốc?
Nghi ngờ Thượng Đế

Cuối cùng chúng ta xem xét một số băn khoăn về chính Thượng Đế. Trong một xã hội thế tục khủng khiếp như Tây Âu hay Bắc Mỹ thì một Cơ Đốc nhân, đặc biệt là một người mới đến với đức tin, dễ cảm thấy dao động và bị đe dọa. Trong khi có quá nhiều người chối bỏ , Thượng Đế có thật hiện hữu không? Đức tin của tôi có dựa trên một ảo tưởng hay một sự sai lầm không? Băn khoăn về những vấn đề ấy là điều tự nhiên. Ơớc mong rằng câu trả lời đưa ra đây có thể giúp ích bạn.
Tuy nhiên, những băn khoăn về Thượng Đế không chỉ liên quan đến sự hiện hữu của Ngài. Ngài có thành tín với những lời hứa của Ngài không? Ngài có thật sự yêu tôi, một tội nhân không? Những câu hỏi này thật sự làm nhiều Cơ Đốc nhân lo lắng, nhất là khi họ đang bị khô hạn về tâm linh (thường rất hay xảy ra, xem Thi Tv 63:1). Mặc dù chúng ta đã xem xét một số nghi ngờ về Thượng Đế (thí dụ khi bạn không kinh nghiệm sự hiện diện của Ngài trong đời sống), những điều trình bày sau đây sẽ giúp bạn suy nghĩ và cầu nguyện để vượt qua những nỗi lo lắng.
Thật sự có Chúa không?
Không có những lý lẽ không thể đánh đổ để biện minh cho sự hiện hữu của Thượng Đế cũng như không có lý lẽ nào để bác bỏ hoàn toàn điều này. Tin hay không tin Chúa đó là vấn đề của đức tin chứ không phải của sự kiện. Có thể với nhiều người, Chúa không liên quan gì đến họ, cũng như nhiều người không tin Chúa, nhưng điều này không có nghĩa Chúa không hiện hữu.
Nhưng đức tin vào Chúa không tùy thuộc vào một lý lẽ nào. Triết gia Ludwig Wittgenstein nhận xét rằng ông chưa gặp bất cứ ai đến với đức tin chỉ vì một lý lẽ. Thật ra những lý lẽ về sự hiện hữu của Chúa được đưa ra là để ủng hộ cho Phúc Âm, vì có một số người nghĩ rằng điều đó quan trọng. Có một số người cần được tái xác quyết Cơ Đốc giáo thật sự có ý nghĩa. Những lý lẽ về sự hiện hữu của Chúa cho thấy có thể có chứng cớ hợp lý để tin Ngài. Tất nhiên sự hiện hữu của Chúa không hề tùy thuộc những lý lẽ đó, nhưng cũng rất ích lợi nếu biết rằng người ta có thể đưa ra được chứng cớ.
Tuy nhiên, sau cùng chúng ta biết là Chúa hiện hữu (Ngài là ai và Ngài là gì) vì Ngài đã tự bày tỏ . Những lý lẽ bênh vực cho sự hiện hữu của Ngài có thể chuẩn bị cho sự mặc khải này (RoRm 1:18-20) nhưng không thể thay thế cho sự mặc khải được. Nếu Cơ Đốc giáo là sự tìm kiếm Chúa của chúng ta thì sẽ luôn luôn có nhiều khó khăn để đồng ý với nhau về việc Ngài là ai, chưa kể đến việc Ngài có thật sự hiện hữu không. Những nhóm người tìm kiếm khác nhau sẽ trở về từ những chuyến đi khảo sát của họ với những bản tường trình khác nhau và không thể đồng ý với nhau về kết quả.
Tuy nhiên, Cơ Đốc giáo xác định rằng Thượng Đế đã đến tìm chúng ta. Sự hiện hữu của Ngài được bày tỏ qua việc Ngài tìm kiếm và gặp gỡ chúng ta. C. S. Lewis đã viết thật mạnh mẽ về sự ngớ ngẩn kinh khủng của tư tưởng 'Chúng ta tìm kiếm Chúa' trong tác phẩm Miracles :
Thượng Đế của chủ nghĩa phiếm thần không làm điều gì và không đòi hỏi điều gì. Ngài ở đó nếu bạn mong ước Ngài, giống như một cuốn sách ở trên kệ, Ngài không đuổi theo bạn. Sự sửng sốt đến vào đúng lúc sự sống sinh động được truyền vào chúng ta theo dòng suy nghĩ chúng ta đang theo đuổi. Gặp được sự sống khi chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ có một mình luôn luôn là sự bất ngờ sửng sốt...Và vì đây chính là điểm mà tại đó nhiều người đã rút lui - nếu được tôi cũng đã làm như vậy - và thôi không dấn bước vào Cơ Đốc giáo nữa. Một 'Thượng Đế chung chung' - rất tốt. Một Thượng Đế khách quan của Chân Thiện Mỹ trong tâm trí chúng ta, còn tốt hơn nữa. Một sức sống vô hình tràn dâng qua chúng ta, một năng lực to lớn mà chúng ta có thể có được - điều này tốt hơn cả. Nhưng chính Thượng Đế sống động, đang kéo ở đầu kia của sợi dây và đang đến gần với một tốc độ vô hạn, người tìm kiếm, một ông vua, một ông chồng - đó lại là vấn đề khác. Có một lúc những đứa trẻ đang chơi trò chơi bắt trộm thình lình ngừng lại: Có tiếng bước chân thật ở ngoài phòng lớn không? Có một lúc mà những con người đang mày mò trong tôn giáo (cuộc tìm kiếm của con người) bất ngờ lùi lại. Giả sử chúng ta thật sự thấy Ngài thì sao nhỉ? Chúng ta có ý định này đâu! Và tệ hại hơn nữa, giả sử Ngài tìm thấy chúng ta thì sao?
Trong tác phẩm Surprised by Joy , Lewis còn nói thêm rằng điều gọi là sự tìm kiếm Chúa chúng ta cũng giống như một con chuột nhắt đi tìm con mèo. "Sa vào tay Thượng Đế hằng sống thật là kinh khiếp" (HeDt 10:31). Điều này đòi hỏi sự vâng phục, sự quy đạo và sự đổi mới của đời sống!
Đối với nhiều Cơ Đốc nhân, sự quy đạo thình lình của bạn bè và của chính họ tỏ ra sự hiện hữu của Thượng Đế. Một cá nhân mà cho đến thời điểm đó luôn luôn thù nghịch với Thượng Đế đã thình lình thay đổi. Thượng Đế trở nên có ý nghĩa và hiện hữu với họ. Điều gì đã xảy ra. Nhưng điều gì? Và như thế nào? Xuyên suốt Kinh Thánh người ta thấy đầy dẫy những ý tưởng và hình ảnh làm sáng tỏ cho biến cố này, tất cả đưa đến ý tưởng một Thượng Đế hành động, bày tỏ sự hiện hữu của Ngài không phải qua lý lẽ nhưng là qua hành động. Sự kiện Sau-lơ gặp Chúa là một thí dụ cổ điển về điều này. Thượng Đế thình lình trở nên thực hữu trong kinh nghiệm chúng ta.
Thật thú vị khi nhận thấy rằng không có trước giả Kinh Thánh nào lại cảm thấy rằng cần chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế. Thượng Đế hiện hữu là điều tất yếu. Làm sao người ta có thể nghĩ khác được. Người ta đã kinh nghiệm và gặp gỡ Ngài. Ngài đã đưa ra những yêu cầu với những cá nhân và những cộng đồng; Ngài hứa ở với con dân Ngài bất cứ nơi nào họ đến. Vì vậy sự sống lại của Chúa Giê-xu không được các tác giả Tân ước xem như là bằng cớ chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế mà được hiểu là sự đem lại cho Chúa Giê-xu một địa vị bằng với địa vị của Thượng Đế. Bất cứ ai đã kinh nghiệm quyền năng và sự hiện diện của Thượng Đế khó có thể nghi ngờ rằng Ngài không có thật.
Đức Chúa Trời có thành tín với những lời Ngài hứa không?
Cả Cựu lẫn Tân ước đều quả quyết rằng Chúa có những lời hứa với chúng ta. Trong số này có nhiều lời hứa rất mạnh mẽ và hết sức cảm động. Lời hứa lớn lao của Thượng Đế dành cho Giô-suê là niềm cảm hứng cho nhiều Cơ Đốc nhân: "Hãy vững lòng bền chí, chứ run sợ, chớ kinh khủng, vì Giê-hô-va Thượng Đế ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi" (Gios Gs 1:9). Là Cơ Đốc nhân chúng ta phải học để tin cậy những lời hứa đầy nhân từ của Thượng Đế, như những lời hứa với Giô-suê - và qua ông - với chúng ta. Nhưng những lời hứa ấy đáng tin cậy như thế nào? Cơ Đốc giáo nhấn mạnh đến sự thành tín trọn vẹn và đáng tin cậy của Thượng Đế, nhưng lòng tin của chúng ta đặt có đúng chỗ không? Thượng Đế có thành tín với những lời hứa của Ngài không?
Đây là một câu hỏi đã làm nhiều người Do-thái băn khoăn ngay trước thời Chúa Giê-xu. Thượng Đế đã hứa ban cho một Đấng Cứu Thế. Ngài đã hứa sẽ ngự đến đền thờ Ngài. Ngài đã hứa sẽ gửi một sứ giả đến trước Ngài để chuẩn bị cho việc Ngài đến (Mal 3:1). Nhưng không có điều gì xảy ra. Giu-đa bị La-mã đô hộ. Lời tiên tri mất hẳn. Lời Thượng Đế hiếm được nghe (như trong thời Ế-li, ISa1Sm 3:1). Dường như những lời hứa vĩ đại của Thượng Đế chẳng đi đến đâu cả.
Rồi Giăng Báp-tít xuất hiện ở miền đồng vắng quanh xứ Giu-đê (Mac Mc 1:1-8). Độc giả ngày nay khó có thể hiểu được sự kiện này đã khơi động một niềm phấn khởi và mong đợi ra sao. Giăng ăn mặc giống tiên tri Ế-li (Mac Mc 1:6 đối chiếu IIVua 2V 1:8), vị tiên tri lớn nhất thời Cựu ước. Ông dạy dỗ với uy quyền và tuyên bố rằng ông đến để dọn đường cho Thượng Đế. Chắc chắn những lời tiên tri trong Cựu ước đã lại trở nên sống động khi người ta kéo nhau băng qua xứ Giu-đê đến đồng vắng để nghe con người đặc biệt này và ước đoán xem ai sẽ đến sau ông ta. Ông ta dọn đường cho ai?
Tôi nhớ có lần trải qua một buổi chiều Chúa nhật trong mùa đông ẩm ướt để đợi một chuyến xe lửa ở gần nhà ga Nottingham, miền đông vùng trung du nước Anh. Vợ và con trai tôi đi thăm họ hàng ở Chester và chiều hôm đó sẽ trở về. Xe lửa phải đến lúc 3g30. Sự tin tưởng của tôi đối với hỏa xa Anh quốc vốn không được vững chắc lắm, và chiều hôm đó lại càng suy giảm. 4g10 xe lửa vẫn chưa đến. Cuối cùng có một thông báo. Một giọng nữ chán nản và không chút sinh khí thông báo rằng hỏa xa Anh quốc rất tiếc vì việc chậm trễ và tàu sẽ đến trong 20 phút nữa. Khoảng 50 người khác nhau và tôi đợi thêm 20 phút. Trời tối dần, sương mù từ con kênh gần đó bao phủ lên sân ga. Người ta bắt đầu túm tụm vào nhau cho ấm. Không có gì xảy ra. Mười phút sau một thông báo khác. Một giọng nói buồn bã báo cho chúng tôi rằng hỏa xa Anh quốc rất tiếc nhưng phải khoảng nửa giờ nữa xe lửa mới đến được. Cuối cùng lúc 5g55 phút một giọng nói rõ ràng và vui vẻ hơn báo tin chuyến xe lửa chậm trễ đó đang tiến gần sân ga số 5. Nói cách khác, người ta có thể nhìn thấy và nó có thể đến bất cứ lúc nào. Đám đông mà chắc chắn cũng chung tâm trạng chán nản giống tôi vì phải trải qua phần tốt nhất của một buổi chiều Chúa nhật cách khốn khổ như vậy, bỗng vui vẻ hẳn lên.
Tôi nghĩ rằng Y-sơ-ra-ên chắc đã cảm thấy nhẹ nhõm khi Giăng Báp-tít xuất hiện. Ông cũng giống như giọng nói báo tin chiếc xe lửa chậm trễ sắp đến. Một điều gì đang xảy ra và mọi sự đang biến chuyển. Đấng Mết-si-a mong đợi từ lâu sắp đến. Và cũng như đám người chạy ra phía sân ga để có thể nhìn thấy chiếc xe lửa đang đến; những người Do-thái cũng kéo nhau ra đồng vắng để có thể nhìn thấy Đấng Mết-si-a họ mong đợi từ lâu.
Đối với các trước giả Tân ước, việc Đấng Mết-si-a đến với dân sự Ngài là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất về sự thành tín của Thượng Đế với những lời Ngài hứa. Chẳng hạn khi đọc sách Mã-thi, chúng ta dễ nhận ra niềm phấn khởi của ông mỗi khi chỉ ra rằng những lời hứa và tiên tri ở Cựu ước đã được ứng nghiệm trong Chúa Giê-xu. Niềm phấn khởi đó và ngay cả sự nhẹ nhõm có thể thấy trong phản ứng hết sức vui mừng của Si-môn khi thấy Chúa Giê-xu "...Lạy Chúa, theo lời hứa của Ngài, bây giờ con có thể an vui qua đời..." (LuLc 2:28-32). Thượng Đế thành tín làm trọn lời hứa của Ngài với con dân Ngài.
Đối với Phao-lô, sự thành tín của Thượng Đế có tầm quan trọng chủ yếu. Sự thành tín này được chứng tỏ trong đời sống, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu, qua Ngài, những lời hứa trong Cựu ước được ứng nghiệm "Ngài đã thực hiện mọi lời hứa của Thượng Đế; nhờ Ngài, chúng ta cùng nói: Thành tâm sở nguyện!" (IICo 2Cr 1:20). Sự kiện Chúa Cứu Thế đến được xem như ứng nghiệm lời tiên tri trong Cựu ước về việc Thượng Đế đến ở giữa dân sự Ngài cũng như sự sống lại được xem như ứng nghiệm lời hứa của Thượng Đế về sự cứu chuộc. Và dựa trên sự thành tín của Ngài đối với những lời hứa trong quá khứ, chúng ta có thể tin tưởng được những lời hứa vẫn còn chờ để được ứng nghiệm, những lời hứa của Tân ước về sự đổi mới và sự sống đời đời.
Suy nghĩ đến đức tin của các thánh đồ trong Cựu ước về điểm này là điều rất bổ ích. Họ tin tưởng hết lòng vào quyền năng của Thượng Đế để cứu chuộc họ. Nhưng cho đến khi Chúa Cứu Thế Giê-xu đến, thì những lời hứa Thiên thượng về sự cứu chuộc dường như không ứng nghiệm. Nhưng chúng ta có thể nhìn lại thời kỳ Cựu ước để thấy rằng những lời hứa lớn lao này đã được ứng nghiệm qua việc Chúa Giê-xu đến. Trong đời sống, sự chết và sự sống lại của Ngài, Chúa Giê-xu đã minh chứng sự thành tín của Thượng Đế đối với lời Ngài hứa. Chúng ta tin những lời hứa của Thượng Đế thì dễ hơn là các thánh đồ thời Cựu ước rất nhiều vì họ chưa từng thấy những lời hứa được ứng nghiệm trong Chúa Giê-xu. Qua Chúa Giê-xu chúng ta càng tin lời các đấng tiên tri chắc chắn hơn (IIPhi 2Pr 2:19); nói cách khác, những lời hứa lớn lao trong Cựu ước bởi sự đến của Chúa Giê-xu đã trở nên đáng tin cậy hơn.
Một trong những chương trong Tân ước mạnh mẽ nhất mô tả bản chất đức tin vào Thượng Đế là HeDt 11:1-12:3. Trong chương này chúng ta được nhắc nhở về hành động của nhiều khuôn mặt lớn trong Cựu ước. Đức tin của họ nơi Thượng Đế và những lời hứa nhân từ của Ngài được bày tỏ ở trong hành động của họ. Áp-ra-ham tin ở Chúa và đã rời bỏ quê hương mình để đi đến nơi Thượng Đế đã chọn cho ông. Mai-sen rời bỏ Ai-cập trong đức tin, tin tưởng vào lời hứa cứu chuộc. Và trong những lời hứa đó, việc Chúa Giê-xu đến để cứu chuộc dân tộc của Ngài là điều họ mong đợi, tuy không một ai trong những anh hùng đức tin của Cựu ước thấy Chúa Giê-xu đến, nhưng họ đặt lòng tin nơi những lời hứa của Thượng Đế "Tất cả những người ấy đã sống bởi đức tin cho đến ngày qua đời, dù chưa nhận được điều Chúa hứa. Nhưng họ đã thấy trước và chào đón những điều ấy từ xa, tự xưng là kiều dân và lữ khách trên mặt đất" (HeDt 11:13). Còn chúng ta đã nhận lãnh điều đã được hứa của họ - Đấng Cứu chuộc, Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến. Chúng ta chia xẻ đức tin của họ đối với cùng một Thượng Đế, nhưng chúng ta có thể có niềm tin lớn hơn vào những lời hứa của Ngài.
Có lẽ tốt hơn, chúng ta hãy xem xét những gì chúng ta viết về thuộc tính và mục đích của Thượng Đế qua sự chết của Chúa Cứu Thế Giê-xu trên thập tự giá để cứu chuộc chúng ta. Trong sự chết của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá, chúng ta biết được Thượng Đế yêu thương những tội nhân chúng ta và Ngài đã phó mạng sống để chuộc chúng ta "Nhưng Thượng Đế đã chứng tỏ tình yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi Chúa Cứu Thế chịu chết thay chúng ta là người tội lỗi" (RoRm 5:8). Đây chính là Thượng Đế mà chúng ta đang giao tiếp - Đấng đã ban cho tất cả mọi sự thuộc về Ngài để chứng minh tình yêu kỳ diệu của Ngài đối với chúng ta và đem chúng ta trở lại với Ngài. Thật khó có thể tin tưởng nổi Thượng Đế đã đầu tư quá nhiều cho hạnh phúc chúng ta, đã phó chính mình Ngài cho chúng ta trong lời nói cũng như trong hành động, lại có thể bỏ rơi chúng ta hay không thành tín với chúng ta. Thập tự giá của Chúa Cứu Thế chứng minh sự kiện hết sức quan trọng là Thượng Đế giữ đúng lời hứa của Ngài dù Ngài phải trả giá đắt như thế nào, và Ngài muốn chúng ta đón nhận, tin tưởng những lời hứa đó để rồi được vào sự sống đời đời với Ngài, một sự sống mà không có gì - kể cả cửa âm phủ - phân rẽ chúng ta ra khỏi được.
Thượng Đế đang thực hiện mục đích của Ngài - một phần của mục đích này là sự cứu chuộc những con người tội lỗi, những người như bạn và tôi "Nếu Thượng Đế vừa giúp chúng ta thì còn ai nghịch cùng chúng ta?" Hay là như phương châm của đại học Oxford, trích trong Thi Tv 27:1 "Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai?". Hãy nhớ những lời của Chúa Giê-xu đoan chắc với Ni-cô-đem "Vì Thượng Đế yêu thương nhân loại đến nỗi hy sinh Con Một của Ngài, để tất cả những người tin nhận Con Thượng Đế đều không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh viễn" (GiGa 3:16). Bạn có thể an tâm rằng Thượng Đế yêu bạn bằng cách đặt niềm tin nơi Ngài, bạn bước vào mối thông công với Ngài. Phúc Âm không nói gì về một cuộc dạo chơi thoải mái trong cuộc sống; Phúc Âm đưa ra những đòi hỏi nghiêm nhặt và khó khăn cho chúng ta. Nhưng Phúc Âm cũng cho chúng ta một lời hứa - lời hứa về sự hiện diện và an ủi của Chúa trong khi chúng ta theo ý chỉ của Ngài trong thế gian. Niềm an ủi khi biết Chúa luôn đứng bên chúng ta ngay những lúc đen tối nhất là điều mà tôi không bao giờ có thể diễn tả đầy đủ được.
Làm sao tôi có thể biết là Chúa yêu tôi?
Đây là câu hỏi làm băn khoăn nhiều Cơ Đốc nhân, đặc biệt là những người biết rõ ràng về tội lỗi của mình. Cách này hoặc cách khác, dường như Chúa chỉ có thể yêu chúng ta nếu Ngài không biết gì về tội lỗi chúng ta hay giả vờ cho rằng chúng ta thật sự không phải là những tội nhân. Kinh nghiệm, lương tâm và đức tin dường như không thích hợp ở đây. Làm thế nào Chúa có thể yêu những người như chúng ta?
Đây là điểm mà Phao-lô đã nêu ra. Thật không thể tưởng tượng nổi là trong trường hợp nào bạn lại có thể phó sự sống của mình vì người khác được. Lẽ dĩ nhiên, người đó sẽ phải là một người khá tuyệt vời, một người thật sự tốt. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này thì chết vì một người khác cũng vẫn là một điều khác thường. "...Thượng Đế đã chứng tỏ tình yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi Chúa Cứu Thế chịu chết thay chúng ta là người tội lỗi" (RoRm 5:6-8). Ngài làm những điều đó cho thế gian để làm gì? Tại sao Thượng Đế lại yêu thương tội nhân nhiều như vậy. Ngay cả trước khi chúng ta quay trở lại, ăn năn thì Chúa đã yêu chúng ta. Thật kỳ diệu, Chúa đã yêu chúng ta rất lâu trước khi chúng ta yêu Ngài (IGi1Ga 4:10,11).
Sở dĩ chúng ta không tin được rằng Chúa yêu mình vì chúng ta vẫn dựa trên ý nghĩ là tình yêu của Thượng Đế tùy thuộc vào sự lôi cuốn của chúng ta. Chúng ta khó tìm một điều gì đặc biệt về chính mình xứng hợp với tình yêu hết sức kỳ diệu từ nơi Thượng Đế. Nhưng tình yêu của Thượng Đế đối với chúng ta hoàn toàn dựa vào thuộc tính của tình yêu nhân từ của Thượng Đế đối với chúng ta. Chúng ta có đặc ân đã được dựng nên theo hình ảnh của chính Ngài (SaSt 1:26,27). Thập tự giá của Chúa Cứu Thế bày tỏ bản chất và tầm sâu rộng trọn vẹn của tình yêu dịu dàng của Thượng Đế dành cho chúng ta, bảo đảm cho chúng ta là chúng ta quí báu đến mức nào trong cái nhìn của Ngài. Người ta vẫn thường nói 'Sắc đẹp tùy thuộc vào con mắt nhìn'. Tại sao Thượng Đế lại chẳng thấy chúng ta xứng đáng với tình yêu của Ngài? Không phải vì bất cứ điều gì chúng ta đã làm hay bất cứ ưu điểm gì chúng ta có nhưng dựa trên bản chất của Ngài và những gì Ngài đã làm cho chúng ta qua Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Chúng ta thấy khó chấp nhận tình yêu của Chúa một phần là do mặc cảm tội lỗi. Hầu hết chúng ta cảm thấy không xứng đáng chút nào với tình yêu của Thượng Đế vì chúng ta biết quá rõ sự ích kỷ và tội lỗi của mình. Tội lỗi tác động sâu xa trên chúng ta trong suy nghĩ, lời nói và hành động. Tội lỗi khiến chúng ta hoài nghi, không vâng phục và không muốn tin cậy Ngài. Nhưng Thượng Đế phân biệt giữa tội lỗi và tội nhân. Tội lỗi là một sức mạnh giam giữ chúng ta bất chấp ý chí của chúng ta; Thượng Đế nhìn thấy chúng ta như những tù nhân đang chiến đấu để thoát ra và Ngài thương xót chúng ta. Tội lỗi giống như trí nhớ cùn nhụt bóp méo hình ảnh Thượng Đế trong chúng ta; Thượng Đế thúc đẩy sự đổi mới và khôi phục lại hình ảnh đó. Tội lỗi giống như một vết thương làm chúng ta bị biến dạng, xấu xí. Thượng Đế trông đợi thời điểm mà bởi ân điển Ngài chúng ta sẽ được chữa lành. Tội lỗi giống như lớp rác rưởi biến chúng ta thành vật xấu xa, không xứng đáng; Thượng Đế nhìn thấy chúng ta được rửa sạch, đẹp đẽ trở lại như thuở ban đầu chúng ta được tạo dựng.
Vào cuối thế kỷ 15, nhà điêu khắc Florentine là Agostino d'Antonio bắt đầu làm việc trên một khối cẩm thạch khổng lồ với ý định tạo nên một bức tượng ngoạn mục. Sau vài cố gắng để có thể tạo ra được một cái gì từ khối đá ấy, ông đã bỏ cuộc vì thấy nó vô dụng. Khối đá cẩm thạch - bấy giờ đã trở nên xấu xí - nằm đó vô dụng trong bốn mươi năm. Thế rồi Michelangelo quan tâm đến nó. Qua khối cẩm thạch xấu xí này, ông nhìn thấy một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời mà ông biết mình có thể thực hiện được. Ông bắt đầu làm. Pho tượng hoàn tất - pho tượng Đa-vít nổi tiếng - khắp nơi xem như một thành tựu nghệ thuật nổi bật nhất của mọi thời đại.
Qua bề ngoài xấu xí của khối cẩm thạch Michelangelo đã nhìn ra điều mà ông có thể thực hiện. Cũng thế, Thượng Đế có thể nhìn xuyên qua tình trạng tội lỗi của chúng ta và những hậu quả của nó và biết điều gì Ngài có thể làm được với chúng ta khi Ngài phá đổ quyền lực của tội lỗi và khiến chúng ta trở lại giống hình ảnh của Ngài. Trong mỗi chúng ta, hình ảnh của Chúa (SaSt 1:26,27) phải được tìm thấy dù có bị biến dạng và hư hỏng bởi tội lỗi như thế nào. Chúa có thể tìm lại được hình ảnh này qua ân điển khi chúng ta được trở nên giống như Chúa Cứu Thế. Cũng như đường nét pho tượng Đa-vít bị giấu trong khối cẩm thạch mà chỉ con mắt của người tạo ra nó có thể nhìn thấy, hình ảnh Thượng Đế (dù có bị tội lỗi làm mờ nhạt đến đâu) nằm trong chúng ta chỉ có thể được nhìn thấy và nhận biết bởi Thượng Đế. Thượng Đế yêu chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân, Ngài không cần đợi cho đến khi chúng ta thôi không phạm tội nữa. Nhưng đối với chúng ta, tiếp nhận tình yêu đó của Thượng Đế là một bước quan trọng trên con đường dẫn chúng ta đến chỗ thoát khỏi quyền lực của tội lỗi.
Cuối cùng, làm thế nào chúng ta có thể được bảo đảm về tình yêu của Chúa với mình? Có lẽ một trong những phương cách tốt nhất là phản chiếu hình ảnh Chúa Cứu Thế chết trên thập tự giá vì chúng ta. Hãy cố gắng hình dung ra cảnh tượng này, hoặc tốt hơn, tìm vài bức tranh về cảnh tượng này, những bức họa cổ điển trong lịch sử nghệ thuật. Hoặc bạn đọc những lời kể lại sự chịu khổ của Chứa Cứu Thế (Mat Mt 27:11-65 Mac Mc 15:1-47 LuLc 23:1-56 GiGa 18:28-19:24) và hình dung ra những biến cố của ngày thứ sáu thương khó đầu tiên đó. Suy nghĩ kỹ về sự cô đơn, những nỗi đau đớn, khổ sở, tuyệt vọng và bất lực của cảnh tượng này. Nghĩ đến gương mặt buồn rầu, cao quý bị những cơn đau làm nhăn nhúm lại. Hãy để cho toàn thể sự khủng khiếp của cảnh tượng này in sâu vào tâm trí bạn. Tất cả những điều này đã xảy ra chỉ vì Thượng Đế yêu bạn và ban Con Một của Ngài cho bạn.
Đối với nhiều Cơ Đốc nhân, một trong những cách mạnh mẽ nhất để gợi nhớ và hiểu rõ sự liên quan cảnh tượng này đối với chúng ta là cùng dự chung tiệc thánh. Bánh và chén là những vật thấy được, những vật nhắc nhớ hữu hình về cảnh tượng đó. Bánh và chén tượng trưng cho những nỗi đau đớn của Chúa Cứu Thế. Chúng là 'những kỷ vật yêu dấu về sự chịu khổ của Ngài' (Charles Wesley). Khi ăn bánh và uống chén, bạn được nhắc nhở về cái giá cứu chuộc khổng lồ đã trả vì bạn và tầm quan trọng của bạn đối với Chúa to lớn đến nỗi Ngài phải làm mọi sự để tìm được bạn. Hãy để những điều này có công dụng như những cò súng đối với trí nhớ của bạn, làm khởi động những con tàu của sự suy nghĩ và hướng về sự đóng đinh Chúa Giê-xu trên thập tự. "Nhìn hành động đó, chúng ta hiểu đâu là tình yêu đích thực: không phải chúng ta yêu Thượng Đế trước, nhưng Thượng Đế đã yêu chúng ta, sai Con Ngài đến hy sinh chuộc tội chúng ta" (IGi1Ga 4:10).
Cách đây ít lâu bà dì 80 tuổi của tôi qua đời. Bà không hề lập gia đình. Khi thu dọn những vật dụng của bà, chúng tôi thấy một bức ảnh đã cũ của một thanh niên. Thì ra khi còn trẻ dì chúng tôi đã yêu một cách tuyệt vọng. Cuộc tình đã kết thúc một cách bi thảm. Dì đã không yêu ai khác nữa và đã giữ tấm ảnh của người dì yêu trong suốt quãng đời còn lại của mình. Tại sao vậy? Một phần để nhớ rằng đã có lần dì cũng được yêu. Khi dì càng già, dì biết sẽ khó mà tin được rằng có một thời điểm trong cuộc đời của mình dì thật sự có ý nghĩa đối với một người nào đó, và người đó đã thật sự yêu dì và cho rằng dì là tất cả. Tất cả như một giấc mơ, một ảo tưởng hay một điều gì mà dì đã tưởng tượng trong tuổi già để tự an ủi mình nếu không có bức ảnh ấy để chứng minh ngược lại. Tấm hình nhắc cho dì nhớ đó không phải chuyện bịa đặt, dì đã thật sự yêu người đó và đã được yêu lại. Tấm hình là sợi dây duy nhất nối liền dì với một thế giới trong đó dì đã được đánh giá cao.
Bánh và chén trong tiệc thánh cũng giống như bức ảnh. Chúng bảo đảm cho chúng ta rằng một điều gì đó dường như quá tốt nên không thể xảy ra - một điều có thể bị chúng ta nghi ngờ là bịa đặt ra - là điều thật sự xảy ra. Bánh và chén là những vật nhắc chúng ta về cái ngày trong quá khứ khi Con Thượng Đế phó chính mình vì tội chúng ta để đoan chắc với chúng ta rằng mặc dù những tội lỗi của chúng ta, chúng ta có một tầm quan trọng to lớn đối với Thượng Đế. Bánh và chén là những kỷ vật của thời điểm quý báu trong lịch sử khi tình yêu mang lấy một ý nghĩa và một sự sâu sắc mới mẻ. Bánh và chén mời gọi chúng ta nhớ lại và yêu mến - và trên hết mọi sự là cảm thấy yên tâm - về tình yêu tuyệt vời của Thượng Đế cho những tội nhân như chúng ta.
Câu hỏi thảo luận
1. Một người vô thần có thể có nghi ngờ không?
2. Thượng Đế có thành tín đối với những lời hứa của Ngài không?
3. Làm sao bạn có thể bảo đảm và nhắc nhở chính mình về tình yêu của Thượng Đế dành cho bạn?
Làm sao xử lý

Bốn chương trước đã đề cập đến những nỗi nghi ngờ và lo âu đặc biệt liên quan đến nhiều Cơ Đốc nhân. Vì tác phẩm này chủ yếu nhằm vào những sinh viên và những Cơ Đốc nhân trẻ nên những chương trước đã tập trung vào những nghi ngờ thường xảy ra trong những giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng đức tin. Nhưng nghi ngờ là điều mà tất cả Cơ Đốc nhân, trưởng thành cũng như non trẻ đều kinh nghiệm. Trong chương sau đây chúng tôi sẽ bàn về một số chiến lược có tính cách tổng quát hơn để đối phó với sự nghi ngờ trong suốt đời sống đức tin.
Đức tin và nền văn hóa thù nghịch.
Năm 1942 C. S. Lewis đã mô tả 'đức tin đang ở trong vùng địch'. Sáng tác trong thời đệ nhị thế chiến khi rất nhiều quốc gia Châu Âu bị quân đội Nazi chiếm đóng, Lewis đã cố gắng diễn tả ý tưởng là đức tin giống như một phong trào kháng chiến chống lại lực lượng xâm lăng. Lực lượng chiếm đóng đó quyết tâm dẹp tan bất cứ sự chống cự nào. Rồi thì, nền văn hóa phương Tây đã mang tính thế tục một cách khủng khiếp. Những người chạy theo những giá trị thế tục có những lợi lộc riêng khi phá hủy uy tín của đức tin Cơ Đốc - có nghĩa là chính đức tin của bạn . Cơ Đốc nhân thấy mình bị cô lập trong công việc hoặc bị chế nhạo vì đức tin của mình. Họ nhận biết rõ ràng vì cớ đức tin họ bị bạn bè đồng nghiệp coi như những 'kẻ bất lương'. Gần như bạn phải xin lỗi vì đã tin Chúa. Những giá trị và những tiền đề Cơ Đốc dần dần bị đẩy ra khỏi mọi lãnh vực của nền văn hóa hiện đại. 'Cơ Đốc giáo là một tôn giáo chiến đấu' (C. S. Lewis). Đức tin, giống như một phong trào kháng chiến, phải được tồn tại trong một môi trường thù nghịch. Và nó có thể tồn tại được.
Nhiều Cơ Đốc nhân đã thật sự bối rối, chán nản, dường như nền văn hóa thế tục đáng sợ và đầy thù nghịch này buộc họ phải đặt lại vấn đề đức tin của mình. Thái độ thù địch trong nhiều xã hội tiến bộ phương Tây mang tính đe dọa rất nhiều. Nó khiến cho nhiều Cơ Đốc nhân trở nên ngã lòng thối chí. Ở mức độ tốt nhất thì thế gian dửng dưng với đức tin của họ, còn ở mức độ xấu nhất thì thế gian cho đức tin là phi lý. Những nỗi nghi ngờ có thể nảy sinh từ cảm giác hoang mang, chán nản trước thái độ thù nghịch của thế gian - trong đó có cả bạn bè và người thân - đối với Phúc Âm. Làm sao tôi có thể tin tưởng Phúc Âm khi gặp biết bao sự thù nghịch và chống đối dường ấy?
Có ba quan điểm nêu ra sau đây, một số của các học giả, một số của giới mục sư, nhưng chủ đề căn bản thì giống nhau. Nền văn hóa hiện đại phương Tây đang trải qua một giai đoạn không chỉ phi Cơ Đốc mà còn thật sự chống đối Cơ Đốc giáo. Điều này có nghĩa là bạn phải tỏ ra thực tế về thái độ thù nghịch đối với Cơ Đốc giáo mà bạn có thể gặp ở mọi lãnh vực. Thái độ này không liên quan đến việc Cơ Đốc giáo đúng hay sai, nhưng chắc chắn là vì đức tin của bạn, bạn phải chịu đựng một sức ép. Vì vậy bạn phải thực tế về nguồn gốc và mục đích của chiến dịch chống Cơ Đốc giáo và học cách đối phó. Chúng ta hãy xem xét những quan điểm này với sự kiện nêu trên.
Thứ nhất, phản ứng đại chúng đối với một tư tưởng không hề liên quan đến việc tư tưởng đó đúng hay sai. Người ta có thể chế nhạo đức tin nơi Chúa của bạn nhưng điều này không có nghĩa là đức tin đó sai. Hầu hết mọi người đều hiểu rất ít về Cơ Đốc giáo. Người ta thường không chấp nhận những phóng đại quá đáng về Phúc Âm chứ không phải chính Phúc Âm. Khi bạn bắt đầu giải thích những gì Cơ Đốc nhân tin (và tại sao họ tin) thì một phần nào thái độ chống đối và sự thiếu hiểu biết cũng bắt đầu biến đi. 'Chúng ta đã quen với sự kiện là người ta chế nhạo những điều họ không hiểu' (Goethe). Không phải tất cả mọi người đã 'thử' Cơ Đốc giáo và thấy là không tốt, hay đã suy nghĩ về Cơ Đốc giáo và phán quyết rằng nó không thể đúng được, nhưng hầu hết người ta ít suy nghĩ về Cơ Đốc giáo và lại rất thường căn cứ vào những quan điểm sai lầm. Bạn có thể thấy mình có được đặc ân để giúp người khác đến với đức tin bằng cách xóa bỏ những quan điểm, những hiểu biết sai lạc về Phúc Âm.
Thứ hai, hãy đứng vào địa vị hoàn cảnh những Cơ Đốc nhân đầu tiên của thời Tân ước phải đối phó. Họ phải đương đầu với sự chống đối từ mọi phía. Họ bị chế nhạo là điên khùng (một bức tranh cổ chống lại Cơ Đốc nhân được khắc trên tường vẽ một người quỳ xuống thờ lạy một người đang bị đóng đinh - mà cái đầu là đầu một con lừa). Những Cơ Đốc nhân bấy giờ rất là ít ỏi, và để có thể loan truyền Phúc Âm họ phải vượt qua những hàng rào khổng lồ về văn hóa và ngôn ngữ. Hãy thử tự đặt bạn vào hoàn cảnh của họ và tưởng tượng xem bạn đã phải cảm thấy chán nản mức nào. Thế nhưng những Cơ Đốc nhân đầu tiên không hề lo âu quá đáng về vấn đề này. Họ không hề bị sự thù nghịch vây quanh áp đảo. Sự sống lại của Chúa Giê-xu đã đặt những khó khăn này vào đúng vị trí của chúng. Thượng Đế, Đấng đã khiến Chúa Giê-xu từ kẻ chết sống lại ở với họ, đứng về phía họ. Và chúng ta cũng không nên cảm thấy bị đe dọa. Thật vậy, sự chống đối của nền văn hóa thế tục đối với Phúc Âm giúp chúng ta dễ dàng đồng cảm với những cộng đồng Cơ Đốc mà chúng ta đọc trong những thư tín Tân ước. Về nhiều phương diện, hoàn cảnh của họ rất giống hoàn cảnh của chúng ta. Vậy hãy để kinh nghiệm của những Cơ Đốc nhân đầu tiên an ủi bạn, hãy để cho những lời nói, việc làm của họ gây cảm hứng và khích lệ bạn.
Thứ ba, hãy hiểu rõ giá trị của sự nâng đỡ trong các nhóm. Hãy chắc chắn rằng bạn không bị cô lập và phải đương đầu một mình với những áp lực xã hội. Bạn cần được các Cơ Đốc nhân khác khích lệ. Bạn cần có những thời giờ ở chung với những người đồng quan điểm với mình. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những sinh viên Cơ Đốc tại đại học, nơi mà áp lực của những tư tưởng và giá trị thế tục rất đáng kể. Thế gian muốn cô lập bạn, làm bạn chán nản và làm sụp đổ lòng tin của người khác vào chính bạn và vào Phúc Âm (GiGa 17:14-1). Bạn cần thảo luận chung trong nhóm về những vần đề của bạn như: làm thế nào để đối phó với áp lực của xã hội nói chung, các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè của bạn nói riêng. Nghi ngờ có thể là dấu hiệu của sự thiếu chăm sóc và nâng đỡ. Đừng chỉ đi nhà thờ suông - hãy tham gia những nhóm tư gia, nhóm học Kinh Thánh, những nhóm chuyên trách công việc nào đó, những buổi thông công và những kỳ trại. Hãy khích lệ những người đồng đức tin với bạn và hãy để họ khích lệ bạn.
Đừng lo lắng về những nỗi nghi ngờ của bạn.
Đừng quá lo lắng về những nỗi nghi ngờ. Sự nghi ngờ tập trung chú ý vào chính bạn, những lo âu của bạn và khiến bạn thôi tin cậy Chúa. Bận tâm về sự nghi ngờ cũng vô ích, như bận tâm về sự chết, nó không làm thay đổi tình thế lại khiến bạn không lưu tâm đến những cơ hội do đời sống đức tin đem đến. Bận tâm đến sự nghi ngờ cũng giống như người mắc bệnh nội quan thường trực: bạn dùng tất cả thì giờ để hướng nội, xem xét những cảm giác và nghi ngờ của chính mình, trong khi lẽ ra bạn phải hướng ngoại, hướng về Thượng Đế hằng sống, Đấng đã khiến đức tin của bạn thành sự thực và đã hứa sẽ nuôi dưỡng, nâng đỡ đức tin đó qua những lúc khó khăn. Bận tâm với sự nghi ngờ làm suy yếu và có khi còn cắt đứt mối tương giao giữa bạn với Thượng Đế, nó khiến bạn xao lãng đời sống cầu nguyện tin kính. Sự bận tâm vô ích này làm tê liệt sự phát triển tâm linh. Bạn bị trì trệ vì thiếu động cơ thúc đẩy sự phát triển.
Nghi ngờ giống như một đứa bé đòi hỏi sự chú ý: khi bạn quan tâm đến nó thì nó lại đòi hỏi quan tâm nhiều hơn. Bạn bị lọt vào vòng lẩn quẩn khó lòng thoát ra khỏi. Nếu bạn nuôi dưỡng những nỗi nghi ngờ, chúng sẽ lớn lên. Tuy nhiên, sự nghi ngờ có thể khiến ta nhận rõ đức tin quí báu như thế nào. Nó khiến ta nhận rõ rằng không thể nào tưởng tượng nổi một đời sống mà không có sự hiện diện đầy an ủi của Thượng Đế. Nghi ngờ đưa chúng ta từ thế giới đức tin bước sang thế giới vô tín, trong chốc lát thôi cũng đủ nhận biết đó là nơi đáng ghét và đáng sợ dường nào. Cỏ ở phía bên rào không phải lúc nào cũng xanh hơn. Vậy hãy xem sự nghi ngờ như là lời kêu gọi nuôi dưỡng đức tin của bạn và đừng dành cho nó sự chú ý mà nó đang cần để lớn dần. Bằng mọi cách, hãy học cách nhìn sự nghi ngờ theo hướng tích cực. Đừng buồn rầu, cũng đừng để nó thắng hơn bạn. Hãy xem nó như một cơ hội lớn lên trong đức tin hơn là dấu hiệu của sự suy sụp. Đức tin của bạn sẽ chỉ suy sụp khi bạn để cho nghi ngờ tràn ngập lòng bạn.
Nghi ngờ cũng là một sự mời gọi để phát triển tâm linh vì có thể đó là dấu hiệu của một đức tin bị bỏ bê - một đức tin được xem như điều hiển nhiên, không được nuôi dưỡng cũng như cho phép phát triển. Nó chỉ ra một đức tin dễ bị tổn hại. Chúng ta cần cố gắng liên tục để củng cố những mối quan hệ của chúng ta thêm đậm đà và điều này cũng áp dụng cho mối quan hệ của chúng ta với Chúa. Nghi ngờ là một dấu hiệu tỏ ra chúng ta đã xao lãng mối quan hệ với Thượng Đế. Triệu chứng thì không quan trọng, điều quan trọng là căn bệnh chỉ cho thấy. Nghi ngờ báo hiệu nhu cầu đổi mới, tăng trưởng và củng cố về tâm linh. Vì vậy đừng bận tâm đến những nghi ngờ của bạn: thay vào đó, hãy bắt đầu đổi mới, đào sâu và củng cố đức tin của bạn nơi Thượng Đế. Một người suy dinh dưỡng rất dễ bị bệnh ra sao thì một đức tin bị bỏ mặc và thiếu 'dinh dưỡng' cũng đặc biệt rất dễ bị mắc 'bệnh nghi ngờ'. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Điều này cũng đúng cho sự nghi ngờ như bất cứ điều nào khác.
Vì vậy triển khai những chiến lược giúp cho đức tin tăng trưởng là điều rất quan trọng. Điều này không có nghĩa là cố gắng hơn để tin nhưng là để đức tin của bạn đặt trên những nền tảng cá nhân và học thuyết vững vàng hơn. Chúng tôi đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải đào sâu hiểu biết của bạn về học thuyết Cơ Đốc (chương I): bạn hiểu rõ đức tin của mình thì bạn càng tin cậy vào những tư tưởng của đức tin này. Nhưng còn những nền tảng đức tin cá nhân thì sao? Phát triển 'nền tảng đức tin cá nhân' có nghĩa gì? Giải thích thí dụ về người gieo giống sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách thức quan trọng nói trên để đối phó với sự nghi ngờ.
Ẩn dụ về người gieo giống.
Một trong những tính cách tích cực nhất để đối phó với sự nghi ngờ là đọc và suy gẫm cẩn thận về những ý nghĩ trong ẩn dụ về người gieo giống (Mac Mc 4:1-20). Đó là một trong những ẩn dụ mạnh mẽ nhất truyền đạt thật sinh động một số điểm quan trọng. Một trong những điểm được nhấn mạnh là sự tốt lành của hạt giống. Kết quả dù thế nào thì đó là do mảnh đất mới hạt giống rơi vào chứ không hề do phẩm chất của hạt giống. Như Chúa Giê-xu nhấn mạnh, hạt giống là Lời Thượng Đế. Lời của Chúa thật sự có khả năng thực hiện việc biến cải đời sống chúng ta. Cũng như Lời Thượng Đế sáng tạo nên muôn loài vạn vật (SaSt 1:1-27), những lời sáng tạo này có khả năng biến đổi đời sống tội lỗi của chúng ta, tạo dựng lại chúng ta theo hình ảnh của Thượng Đế.
Thế nhưng, nếu chúng ta đưa hạt giống này vào đất không thích hợp? Và khi tiếp nhận hạt giống, nếu chúng ta khiến hạt giống không thể đâm rễ và lớn lên? Nghi ngờ là triệu chứng của đất đai khô cằn đã bị bỏ bê và thiếu chất nuôi dưỡng. Ẩn dụ về người gieo giống là lời kêu gọi chúng ta xem xét lại loại đất chúng ta đang cung cấp cho hạt giống - có thể lớn lên và kết quả được không? Bằng cách để hạt giống Phúc Âm mọc lên mạnh mẽ trên miếng đất đời sống của bạn, những nghi ngờ hiện tại có thể được giải quyết và những nghi ngờ tương lai sẽ hiếm có khả năng xuất hiện (OsHs 10:12). Miếng đất đó cần được chăm bón thêm màu mỡ là điều bạn có thể làm được. Xem xét hai loại đất sẽ giúp chúng ta hiểu rõ vấn đề nêu ra.
Hạt giống rơi trên đất đá sỏi (câu 5-6;16-17;)
Hạt giống rơi trên đất đá sỏi. Điều này không có nghĩa là mặt đất đầy những đá nhưng là chỉ có một lớp đất mỏng trên mặt đá cứng. Hạt giống có thể nẩy mầm cách dễ dàng, tuy nhiên, khi muốn đâm rễ thì không có đủ chất. Không thể mọc được một cái rễ để cung cấp đầy đủ nước và khoáng chất cho cây đứng vững được. Hậu quả là nó không thể sống được.
Một số người có đức tin rất nông cạn vào Phúc Âm, một đức tin không đâm rễ vững vàng. Thường thì đức tin này có tính chất cảm xúc, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm về sự hiện diện của Thượng Đế hay một sự hiểu biết thiếu quân bình về công việc của Đức Thánh Linh. Một đức tin như vậy thoạt đầu đầy phấn khởi nhưng thiếu thực chất. Nó giống như cái nhà xây trên cát thiếu một nền tảng vững chắc vì quá tùy thuộc vào những trạng thái tình cảm của con người mà không dựa trên những lời hứa của Thượng Đế. Hậu quả là đức tin này rất dễ bị sự nghi ngờ gây tác hại. Ngay khi không còn kinh nghiệm sự hiện diện của Thượng Đế nữa là có ngay cám dỗ để nghĩ rằng Ngài chẳng hề hiện diện.
Để đổi tình thế, bạn cần thay thế đất đá sỏi bằng thứ đất tốt để hạt giống có thể đâm rễ được. Đừng dựa trên cảm xúc và tình cảm của bạn nữa và hãy để cho đức tin của bạn được nuôi dưỡng bằng những lời hứa của Thượng Đế. Suy gẫm về những lời hứa của Thượng Đế, sự sống động và xác đáng của những lời hứa này là điều rất ích lợi, chịu khó đọc những sách giúp bạn hiểu sâu hơn về niềm tin Cơ Đốc, nói cách khác - giúp bạn thấy Cơ Đốc giáo vững mạnh và có thực chất như thế nào. Bạn không cần đọc thật nhiều và bạn không cần đọc thật nhanh.
Cơ Đốc nhân thường đọc những tiểu sử về cuộc đời và kinh nghiệm của các Cơ Đốc nhân khác. Dĩ nhiên điều này rất ích lợi về nhiều phương diện. Nó cho bạn thấy những người khác đã đối diện với thử thách tương tự của bạn như thế nào. Nó cũng giúp bạn một số gương để bạn có thể phát triển cách sống riêng của bạn. Nó gợi ra nhiều điều mà nếu bạn không đọc, có thể bạn chưa nghĩ đến. Và thường thì những sách này dễ đọc. Mặc dù có những ưu điểm rõ ràng như đã nêu thì vẫn còn một sự khó khăn nghiêm trọng. Những cuốn sách đó có thể nói cho bạn nhiều điều về tác giả hay về những nhân vật được đề cập đến, nhưng không nhất thiết chúng dạy bạn nhiều điều về Thượng Đế, cũng không nhất thiết khiến bạn sâu hơn về đức tin Cơ Đốc.
Vì vậy, hãy cố gắng dành thì giờ để tăng thêm sự hiểu biết và kiến thức về đức tin Cơ Đốc. Chính bằng cách nuôi dưỡng đức tin bạn có thể làm những nghi ngờ của bạn phải 'chết đói'. Chính bằng cách giúp cho đức tin lớn lên mà những nỗi nghi ngờ bị bóp chẹt. Một số gợi ý sau đây có thể tỏ ra ích lợi cho bạn mặc dù các gợi ý này đặc biệt nhắm vào giới sinh viên, nhưng cũng thích hợp cho những tầng lớp độc giả rộng lớn hơn.
1. Hãy đọc Kinh Thánh thường xuyên theo một chương trình học hằng ngày. Ghi lại những câu Kinh Thánh ích lợi và thích hợp. Hãy cố gắng học thuộc lòng những câu ấy. Sử dụng một sách giải kinh để giúp bạn nắm vững được ý nghĩa của những đoạn Kinh Thánh. Và đừng để việc học của bạn chỉ đơn thuần về tri thức: đức tin của bạn ảnh hưởng đến cách bạn hành động, đến những gì bạn cho là giá trị, đến những ước vọng cũng như những tư tưởng của bạn. Hãy cố gắng nhận ra những lãnh vực trong đời sống mà bạn cảm thấy có tiến bộ qua việc bạn học Kinh Thánh. Hãy để đức tin trở nên sự vâng phục. Hãy để lý trí và tình cảm của bạn có tác động hỗ tương.
Và đừng thường xuyên đóng khung trong cách đọc Kinh Thánh và cầu nguyện vì điều đó phản ánh nhịp độ của đời sống sinh viên. Bạn phải được chuẩn bị để có thể thích ứng được. Là sinh viên, bạn có thể dành riêng một khoảng thời gian lúc sáng sớm và vào buổi tối khuya để học Kinh Thánh và cầu nguyện. Rồi sẽ ra sao nếu bạn có gia đình và có con nhỏ khiến bạn không thể ngủ ngon giấc ban đêm được? Hay một công việc bạn làm lại đúng vào ngay thời gian bạn dành riêng để cầu nguyện. Hãy chuẩn bị để thích ứng. Hãy có một thời khóa biểu mới để cầu nguyện và nếu cần hãy nắm lấy bất cứ lúc nào có thể được. Đọc Kinh Thánh và cầu nguyện quan trọng hơn việc dành thì giờ để làm những điều đó. Hãy có một cách thức cầu nguyện thực tế, thích hợp với hoàn cảnh hiện tại của bạn, chứ không phải thích hợp với hoàn cảnh cách đây 10 hay 20 năm của bạn.
2. Hãy đọc một số sách khích lệ bạn suy nghĩ về nội dung đức tin của bạn. Điều này không chỉ giúp bạn phát triển tâm trí mà còn khiến bạn có thể giúp người khác suy nghĩ về những vấn đề tương tự. Một trong những tác giả có ích về phương diện này là C. S. Lewis, giờ đây coi như là tác giả Cơ Đốc quan trọng và được ưa thích nhất của thế kỷ 20. Mere Christianity , The Problem of Pain và Miracles là những tác phẩm xuất sắc mà chúng ta có thể bắt đầu suy nghĩ về một loạt những vấn đề quan trọng. Bộ sách The Chronicles of Narnia đặc biệt là The Lion , The Witch and The Wardrobe đưa ra nhiều tư tưởng Cơ Đốc chủ yếu dưới dạng một câu chuyện trẻ em, đã trở thành một tác phẩm hiện đại xuất sắc. Qua những tác phẩm này, có thể hiểu biết nhiều hơn về thần học và đồng thời cũng được thích thú.
Nếu bạn đang có sự nghi ngờ, bạn sẽ thấy tác phẩm The Screwtape Letters đặc biệt rất lôi cuốn. Trong tác phẩm này, Lewis đưa ra ý kiến về những chiến lược và chiến thuật của một quỷ già và con quỷ nhỏ nhắm mục đích biến Cơ Đốc nhân thành người vô thần. Và bạn có thể nhìn thấy sự nghi ngờ và sự cám dỗ dưới một ánh sáng mới. Theo Lewis, nghi ngờ là điều bạn phải chờ đợi sẽ xảy ra. Đức tin bạn càng mạnh, thì bạn càng có thể bị sự nghi ngờ tấn công. Nghi ngờ là một phần trong chiến lược của Screwtape để làm tê liệt và phá hoại đức tin của bạn, ngăn trở bạn ích lợi cho Chúa. Nghi ngờ cũng như cám dỗ là điều mà Screwtape dùng để khiến bạn cách xa Chúa. Nếu những điều nêu trên dường như ích lợi thì còn nhiều điều nữa tương tự thế trong tác phẩm The Screwtape Letters .
3. Hãy đọc một số sách khích lệ bạn suy nghĩ về sự cầu nguyện, và sự tin kính Cơ Đốc. Hãy nhớ rằng người ta đặt niềm tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu trong hai ngàn năm qua và nhiều người đã viết lại những kinh nghiệm của họ trong những tác phẩm đã trở thành những tác phẩm bồi linh xuất sắc. Những sách này rất dễ tìm: chỉ cần đọc lướt qua bạn cũng có thể tự giúp mình tăng trưởng trong sự cầu nguyện và đời sống tin kính. Có nhiều Cơ Đốc nhân cảm thấy mình đang trải qua một sự khô hạn tâm linh và rất khó cầu nguyện (xem Thi Tv 63:1 146:6). Nếu đây là vấn đề của bạn thì đừng chấp nhận nó một cách thụ động, hãy sử dụng nó một cách tích cực. Hãy để Chúa làm việc qua điều này. Đọc những tác phẩm kinh điển về cầu nguyện và sự tin kính có thể giúp bạn vượt những thời khó khăn đó cũng như đem đến sự khích lệ lớn cho những thời kỳ khác.
Năm 1418 tác phẩm The Imitation of Christ do Thomas à Kempis viết bắt đầu được đọc cách rộng rãi và chẳng bao lâu trở thành một tác phẩm kinh điển. Sách được chia làm 114 chương ngắn, mỗi chương không dài hơn một trang chứa đựng nhiều câu trích trong Kinh Thánh nói về một chủ đề, thí dụ 'Yêu Chúa Giê-xu hơn mọi sự'. 'Tương giao mật thiết với Chúa Giê-xu', 'Vâng phục theo gương Chúa Cứu Thế', 'Cầu xin sự trợ giúp của Chúa và Ân điển Ngài là điều chắc chắn'. Mặc dù sách được một tu sĩ viết cho những tu sĩ khác nhưng nội dung sách có sự tươi mới sâu sắc và mạnh mẽ đã khích lệ hàng bao thế hệ tín đồ. Đó là một tác phẩm mà bạn có thể thỉnh thoảng xem qua hay đọc cách đều đặn. Sau đây là một số suy nghĩ của tác giả về sự nghi ngờ, trích từ chương 'Chống lại cám dỗ'.
Khởi đầu của bất cứ sự cám dỗ vào tội ác nào là một tinh thần bất định và sự thiếu tin cậy vào Chúa. Giống như một con tàu không có bánh lái bị sóng xô qua đẩy lại, một người cẩu thả đã bỏ con đường đúng của mình bị cám dỗ đủ mọi cách...Vì vậy, chúng ta đừng thất vọng khi bị cám dỗ, nhưng hãy hết lòng cầu xin Chúa ban cho chúng ta sự trợ giúp của Ngài trong mọi nhu cầu. Vì như Phao-lô đã nói, khi chúng ta bị cám dỗ, Chúa sẽ cho chúng ta cách thắng hơn hầu chúng ta có thể chịu đựng được sự cám dỗ. Vì thế hãy tự hạ mình xuống dưới tay của Chúa trong mọi thử thách, khó khăn vì Ngài sẽ cứu và nhắc lên những kẻ có lòng khiêm nhường.

Xem những tác phẩm như vậy, chúng ta có thể tiếp thu được những 'tư tưởng bổ ích mỗi ngày'. Hẳn nhiên còn nhiều tác giả khác ngoài Thomas à Kempis, nhưng đây là điểm khởi đầu xuất sắc cho những người còn xa lạ với lối viết này. Bạn cũng có thể đọc cuốn Practice of the Presence of God của sư huynh Laurence, cần nhớ vấn đề tâm linh tùy thuộc rất nhiều vào sở thích cá nhân, vì thế, nếu bạn không thích một tác giả đặc biệt nào hãy thử đọc một tác giả khác.
4. Hãy ghi một cuốn nhật ký tâm linh trong đó bạn có thể ghi những câu Kinh Thánh thích hợp với nhu cầu của bạn hay những câu trích từ những cuốn sách mà bạn đã đọc, những câu đã giúp bạn tìm ra giải đáp cho một vấn đề hay đã soi sáng cho vài điều khó hiểu. Bạn có thể chỉ ghi số trang của sách để tham khảo nếu thấy có những đoạn phù hợp với nhu cầu của bạn. Sau đó bạn có thể đọc suốt cuốn nhật ký và hưởng ích lợi từ những sự hiểu biết thu thập được. Chúng ta đều biết mình dễ quên không biết tìm đâu một đoạn ích lợi ngay lúc chúng ta cần.
Hạt giống rơi nhằm buị gai (câu 7,18-19;)
Một số rơi trên đất đã có những cây khác (bụi gai) mọc. Sẽ có một sự tranh giành ráo riết để chiếm lấy nước, ánh sáng, và chỗ để có thể mọc lên. Bất cứ người làm vườn nào cũng biết rõ vấn đề này: Trước khi gieo giống, việc đầu tiên là phải nhổ sạch cỏ . Nếu không, cỏ sẽ bóp nghẹt hạt giống không để nó lớn lên. Hạt giống Phúc Âm đã được trồng trong đời sống bạn, nó đang mọc nhưng sự tăng trưởng của nó có thể bị đe dọa.
Hãy tưởng tượng xem một người làm vườn chuyên nghiệp trồng những hạt giống quý như thế nào. Ông ta sẽ không ném chúng trên đất chưa được dọn sạch, nơi những cây khác có thể cướp lấy ánh sáng mặt trời, sự ẩm ướt cần thiết để hạt giống nẩy mầm và phát triển. Ông sẽ tạo những điều kiện tăng trưởng thuận lợi nhất mà ông có thể có và bảo đảm là không có gì ngăn cản hạt giống lớn lên. Ông sẽ trồng chúng với phân bón, cách xa những giống hoặc cây khác. Ông sẽ bảo đảm rằng chúng sẽ nhận được sức ấm, ánh sáng và nước thích hợp.
Thượng Đế đã trồng hạt giống Phúc Âm trong lòng và trí bạn. Hạt giống đang lớn lên. Bạn có thể chắc chắn về điều này. Và bây giờ sự tăng trưởng của hạt giống tùy vào bạn. Điều này có nghĩa là bạn phải nhổ những cây gai và những cây khác để chúng không ngăn cản hạt giống Phúc Âm mọc lên. Nếu bạn không làm điều này hạt giống sẽ không có nhiều cơ hội. Nó sẽ bị những cây đã có chèn ép cho không lớn lên được. Đức tin không thể lớn được trong tình trạng này và sẽ rất dễ bị sự nghi ngờ tấn công. Để giúp đức tin tăng trưởng và có thêm sức chống cự với sự nghi ngờ, bạn phải loại bỏ mọi sự tranh giành chiếm lòng và trí bạn. Bạn phải giúp hạt giống lớn lên bằng cách loại bỏ những chướng ngại vật.
Những loại chướng ngại vật nào? Thí dụ có nêu ra nhiều loại: Những lo lắng về đời này, sự mê đắm về giàu sang và các tham muốn khác (câu 19). Tham vọng căn bản của con người, ước muốn được giàu sang và nổi tiếng, khao khát muốn thắng hơn những đối thủ của mình, những nỗi lo lắng về tiền bạc, địa vị - Tất cả những điều này đang tranh giành để chiếm chỗ của Phúc Âm trong đời sống chúng ta. Nói cách khác, chúng đang giành sự trung thành của chúng ta "Các con không thể làm tôi hai chủ, vì sẽ ghét chủ này yêu chủ kia, trọng chủ này khinh chủ khác. Các con không thể phụng sự cả Thượng Đế lẫn Thần Tài" (Mat Mt 6:24). Điều này được đề cập rất rõ trong ITi1Tm 6:8-10, nhấn mạnh đến hậu quả tai hại của việc chạy theo của cải vật chất.
Một đức tin chịu áp lực như vậy rất dễ bị nghi ngờ gây tác hại. Những lo lắng về địa vị, sự an toàn, quyền lực hay tiền bạc rất dễ xâm nhập vào mối tương giao giữa bạn với Thượng Đế. Chúa Giê-xu nói rất mạnh mẽ về hậu quả của những mối lo lắng về đời này đối với đức tin và Ngài bảo chúng ta hãy xem những con chim trên trời và những hoa huệ ngoài đồng như tấm gương về sự bình an trong đức tin (Mat Mt 6:25-34). Hãy để ý đến sự nhấn mạnh: đừng lo lắng. Đừng lo lắng. Hãy tin cậy Chúa và rồi mọi sự khác sẽ ổn thỏa cả. Chính là sự tìm kiếm nước Thượng Đế và sự công bình của Ngài hơn là những địa vị, của cải vật chất mà sự bình an của tâm hồn, sự tăng trưởng của đức tin mới có thể đến với chúng ta và đem theo những gì chúng ta cần trong đời sống hằng ngày.
Phần này trong ví dụ người gieo giống đưa ra một hướng hành động rõ ràng cho chúng ta. Chúng ta đang được yêu cầu tự xét mình xem những ưu tiên hàng đầu của chúng ta là gì. Đối với hầu hết chúng ta, việc lập một danh sách như thế là một công việc giúp chúng ta nhận thức rõ rằng chúng ta đã lo lắng về những điều chẳng liên quan trực tiếp gì đến đời sống Cơ Đốc của chúng ta. Nếu chúng ta không chăm sóc đức tin thì tại sao lại ngạc nhiên khi nó bị dao độngg? Nếu chúng ta tập trung nỗ lực vào những mục tiêu khác thì chúng ta sẽ có ít thì giờ và sự ham thích để phát triển mối tương giao với Chúa. Thật vậy, khi tập trung chú ý vào những vấn đề liên quan đến địa vị, giàu có và quyền lực là chúng ta đang thực sự khích lệ cho gai góc phát triển và chúng sẽ làm nghẹt ngòi hạt giống Phúc Âm.
Sự nghi ngờ có thể là dấu hiệu của một đức tin bị xao lãng, một đức tin không được chăm sóc. Tuy nhiên, có thể sửa đổi được điều này. Những bụi gai lúc này đang làm đức tin bạn nghẹt ngòi có thể được nhổ đi dần dần hay ngay tức khắc. Từng bước một, bạn có thể loại bỏ những lo lắng thường làm nảy sinh những nghi ngờ. Giai đoạn đầu trong quá trình này là nhận biết những lo lắng này và cố gắng tìm ra nguyên nhân. Bạn có thể tự mình làm điều này hoặc hỏi một người bạn hoặc một Cơ Đốc nhân trưởng thành hơn. Chúng ta đang nói về những nỗi lo lắng nào?
Chính bạn có thể cố gắng trả lời câu hỏi này. Hãy ghi ra trên giấy những tư tưởng chiếm vị trí quan trọng nhất trong tâm trí bạn. Những tư tưởng nào đang thống lĩnh trong tâm trí bạn ngay giờ phút này? Người nào hoặc điều gì đứng đầu trong danh sách những điều ưu tiên trong tâm trí bạn? Người nào và những điều gì đang ở đầu bảng liệt kê này? Một số lớn Cơ Đốc nhân, nếu thành thật, sẽ thấy Thượng Đế thường chiếm vị trí khá thấp trong bảng liệt kê đó. Những vấn đề khác chiếm vị trí quan trọng hơn. Lập bảng liệt kê này là cách tốt nhất nhắc chúng ta nhớ đến Chúa. Martin Luther đã có lần nhận xét rằng 'Lòng bạn ở đâu thì Chúa bạn cũng ở đó'. Nói cách khác chúng ta dành ưu tiên cho vấn đề gì trong tâm trí chúng ta thì điều đó là Chúa chúng ta - thật là một ý nghĩ đáng sợ. Do đó, những lo lắng của chúng ta sẽ giúp chúng ta thấy mình đang kể điều gì là quan trọng nhất và chỉ cho chúng ta thấy việc để cho Chúa tuột xuống vị trí thứ yếu trong bảng liệt kê là điều quá dễ dàng.
Đức tin của bạn ảnh hưởng tới đời sống hằng ngày của bạn nhưng đức tin đó cũng bị ảnh hưởng bởi đời sống hằng ngày. Đức tin của bạn không giống như hồ đầy nước và cách ly hoàn toàn với mọi thứ khác. Những gì bạn tin về Thượng Đế ảnh hưởng đến cách bạn sống - những điều bạn hy vọng, những tiêu chuẩn đạo đức của bạn và quan điểm chung của bạn về cuộc sống. Nhưng đây là một phản ứng hai chiều. Những gì xảy đến cho bạn trong đời sống hằng ngày cũng ảnh hưởng đến phẩm chất đức tin của bạn. Nếu bạn buồn rầu về sự nghiệp hay gia đình của bạn, nếu có một mối quan hệ nào không tốt, hay nếu bạn lo lắng về tiền bạc thì đừng ngạc nhiên nếu những ưu tiên này làm đời sống đức tin của bạn giảm sút.
Đối với hầu hết mọi người thì phần nhiều những lo âu trong cuộc sống thường nhật có thể làm phát sinh những nghi ngờ hơn là phát xuất từ thế giới quyền lực, chính trị hay kinh tế. Chúng ta hãy xem một số thí dụ cụ thể. Mặc dù những thí dụ này liên quan đến giới sinh viên nhưng cũng có thể áp dụng cho những tình thế khác.
1. Mối quan hệ với người khác . Điều rất thường xảy ra là hai người đang có mối quan hệ với nhau thì một trong hai người trở thành Cơ Đốc nhân. Điều này có thể tạo ra những khó khăn và căng thẳng vô cùng. Thứ nhất là khi một người trở thành Cơ Đốc nhân thì có mối quan tâm đến Thượng Đế cách mới mẻ, và sự quan tâm này bộc lộ cách rõ ràng như thích thú trong việc đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, đi nhà thờ, tham gia các nhóm Cơ Đốc... Thay đổi này có thể làm người kia rất đau buồn vì có lẽ người ấy không sao hiểu nổi điều gì đã xảy ra, chứ đừng nói chi đến việc chia xẻ quan điểm mới mẻ này. Thứ hai, trở thành Cơ Đốc nhân có nghĩa là bước vào mối quan hệ với một nhóm người mới tại nhà thờ, tại trường đại học hay tại trại Cơ Đốc hoặc tư gia. Người kia sẽ cảm thấy bị ra rìa.
Thật rất khó cho người mới trở thành Cơ Đốc nhân tránh được tình trạng căng thẳng trong mối quan hệ với người khác; và tân tín hữu này dễ trở nên buồn rầu, lo lắng. Điều rất đáng buồn là mối quan hệ này cuối cùng thường bị đổ vỡ. Nhưng trong khi mối quan hệ đó vẫn còn thì sự căng thẳng giống như một bụi gai gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tăng trưởng và phát triển của đức tin Cơ Đốc. Nếu bạn ở trong tình thế này và thấy nghi ngờ là một vấn đề thì hãy cố gắng giải quyết những khó khăn trong phạm vi của mối quan hệ (bằng cách chia xẻ đức tin bạn vừa tìm được và những ý nghĩa của đức tin này đối với bạn). Có thể người kia cảm thấy chấp nhận được và còn có thể chia xẻ được nữa. Tuy nhiên có một thực tế đau lòng: điều thường xảy ra là mối quan hệ đó bị đổ vỡ. Vì vậy có một lời khuyên đơn giản: hãy dành những mối quan hệ đúng đắn của bạn cho những Cơ Đốc nhân.
Vào giai đoạn này, hầu hết những mối quan hệ giữa sinh viên nam nữ đều có tính cách thăm dò chứ chưa nhất thiết dẫn tới hôn nhân. Vết thương do sự đổ vỡ này gây ra không đến nỗi nghiêm trọng như trong trường hợp kia. Tất nhiên, trong hôn nhân khi một người đến với đức tin và để người kia trong tình trạng không tin thì gặp khó khăn nghiêm trọng hơn nhiều. Những căng thẳng gây ra có thể rất lớn và đòi hỏi được xử trí một cách hết sức tế nhị và nhân từ. Trong khuôn khổ giới hạn của tác phẩm không thể nào đưa ra một sự giải đáp đầy đủ, tuy nhiên đọc thêm nhiều sách có những gợi ý rất ích lợi giúp đối phó và có thể giải quyết một tình thế như vậy.
2. Việc học . Một số sinh viên thấy thật sự không theo kịp chương trình học do bệnh tật, do thiếu khả năng tiếp thu, do lười biếng hay thiếu kỷ luật cá nhân. Việc học gây áp lực rất đáng kể và có thể hoàn toàn chi phối tâm trí của sinh viên. Hậu quả của áp lực này là sinh viên dễ bị bù đầu với việc học và rơi vào trạng thái tuyệt vọng. Tất cả sức lực của sinh viên dồn vào cuộc đấu tranh để đuổi kịp bài vở. Trong tình thế đó không có gì đáng ngạc nhiên nếu có khuynh hướng loại bỏ Thượng Đế ra ngoài. Nếu điều này đang xảy ra đến cho bạn, điều quan trọng là bạn cần biết điều gì đang xảy ra. Có những cách để đối phó với công việc và sự căng thẳng do việc gây ra được bàn đến trong những sách đề nghị bạn đọc thêm.
Những vấn đề do việc học gây ra thường là vì lười biếng và thiếu kỷ luật cá nhân. Đó là những khuyết điểm có thể ảnh hưởng đến đức tin của bạn. Nếu thiếu kỷ luật trong việc học, có thể bạn sẽ thiếu kỷ luật trong sự cầu nguyện và học Kinh Thánh. Nếu có thái độ trễ nãi trong việc học, có thể bạn cũng có thái độ như thế trong đức tin. Tại sao không tiến tới một ý thức kỷ luật cá nhân trong cả việc học lẫn đức tin của bạn?
3. Những lo lắng về tương lai . Thật hoàn toàn dễ hiểu nếu bạn lo lắng về tương lai, đặc biệt khi bạn đang học năm học cuối ở đại học. Những quyết định của bạn có tầm quan trọng đáng kể tác động đến nghề nghiệp tương lai và có những ý nghĩa thật rộng lớn đối với phần còn lại của đời sống bạn. Có một số sinh viên vì những lo lắng này tràn ngập khiến họ càng dễ bị sự nghi ngờ gây tác hại. Điều quan trọng là bạn hãy giao thác những quyết định này cho Chúa, hãy xin Ngài hướng dẫn và bạn được khôn ngoan, can đảm; nhưng trên hết mọi sự, hãy cầu xin sự bình an cho tâm trí khi suy nghĩ về những điều có thể xảy ra trong tương lai. Trong Cựu ước, từ ngữ chỉ đức tin có thể dịch là 'mạnh mẽ trong Chúa': hãy học cách để tin cậy Ngài, giao thác tương lai bạn chưa biết được cho sự chăm sóc mà bạn đã từng biết của Thượng Đế. Hãy tự coi mình như Áp-ra-ham hay Giô-suê, bước đi đến tương lai không biết trước mà vẫn yên lòng vì biết rằng dù đi đến đâu hay bất cứ điều gì xảy đến thì Thượng Đế vẫn ở bên cạnh họ (SaSt 12:1,2 Gios Gs 1:1-9).
Những điều nêu trên là một số cách mà đức tin có thể bị yếu tố bên ngoài làm suy yếu. Hãy nhớ điều này khi bạn cảm thấy sa sút, chán nản hay cách xa Chúa. Bạn không được miễn nhiễm đối với những ảnh hưởng bên ngoài - thật ra tất cả chúng ta đều rất dễ bị chúng tác hại. Hãy cố gắng tìm xem điều gì đang làm bạn lo lắng và bạn có thể làm được điều gì đối với nỗi lo lắng này. Hãy cố gắng phát triển một ý thức kỷ luật tâm linh như gợi ý sau đây và hãy cố gắng không để hoàn cảnh ảnh hưởng một cách quá mức.
Phát triển kỷ luật tâm linh.
Nhiều Cơ Đốc nhân không chấp nhận ý kiến về kỷ luật tâm linh. Họ cho rằng điều này không phù hợp với sự tự do của Phúc Âm. Họ xem điều này như một sự sa vào hình thức luật pháp. Thật ra, không phải thế. Đó là phương tiện mà qua đó Thượng Đế làm cho đức tin chúng ta, sự hiểu biết về Ngài của chúng ta, cũng như sự vâng phục Ngài được sâu xa hơn. Điều này có nghĩa chúng ta tôn trọng Chúa đủ để cố gắng và đảm bảo rằng chúng ta sẽ dành thì giờ cho Ngài dù mọi áp lực đè nặng trên chúng ta. Điều này có nghĩa chúng ta nhận biết rằng không thể hy vọng sống như một Cơ Đốc nhân nếu không được sự trợ giúp liên tục của Thượng Đế và do đó chúng ta sắp xếp đời sống để trợ giúp này đạt hiệu quả trọn vẹn. Đây không phải là luật pháp, một thủ tục chiếu lệ mà chính là dấu hiệu của sự vâng phục và phó thác nhiều hơn, biểu hiệu một đức tin đang trưởng thành.
Giả sử bạn đảm nhận một công việc trong một công ty quốc tế lớn đòi hỏi rất nhiều thì giờ và năng lực. Bạn quá bận rộn, và phải quan tâm nhiều đến vô số vấn đề nên thật khó dành thì giờ tương giao với Chúa. Mọi việc khác dường như cứ xen vào chiếm hết thì giờ của bạn. Nhiều người đã nuối tiếc thời sinh viên và ước chi bây giờ có nhiều thì giờ rảnh rỗi như thời ấy. Phát triển kỷ luật tâm linh có nghĩa là để dành thì giờ ra như là một quyết tâm cao để tương giao với Chúa.
Bạn có thể thấy mình đang trải qua một thời kỳ khô hạn và con đường đức tin thì quá gồ ghề vì tất cả áp lực của công việc, của gia đình đang đè nặng khiến bạn khó tìm được thì giờ ở riêng với Chúa. Thế nhưng sự tăng trưởng đức tin tùy thuộc vào khả năng có thể dành thì giờ cho việc ấy. Và nếu bạn không đủ khả năng để có thì giờ ở riêng với Chúa, để cầu nguyện và chiêm ngưỡng Ngài, bạn sẽ thấy đức tin của bạn rất dễ bị dao độngg. Bạn đang chịu áp lực và lại không thể nhận được nguồn năng lực tâm linh để đối phó với áp lực này. Hãy dành cho Chúa cơ hội bằng cách dành chỗ cho Ngài đi với chúng ta.
Bằng cách phát triển kỷ luật tâm linh, bạn có thể tạo ra một thói quen dành riêng thì giờ cho Chúa - chứ không cho bất cứ điều gì hay bất cứ ai khác. Nếu bạn bắt đầu phát triển một kỷ luật như vậy khi còn là sinh viên, bạn sẽ thấy thói quen này sẽ còn lại mãi về sau. Thì giờ nào là thuận tiện? Một số người thích dành thì giờ lúc sáng sớm trước khi bắt đầu công việc hằng ngày. Điều này cho phép bạn giao thác một ngày sắp trải qua cho Chúa và cầu xin sức mạnh, sự hướng dẫn của Ngài để đối phó với những gì sẽ xảy ra trong ngày đó. Một số người thấy rất có ích khi cầu nguyện với cuốn nhật ký mở ra trước mắt. Đối với những người khác, thì giờ tốt nhất là vào ban đêm khi tất cả những áp lực của ban ngày được giải tỏ a, công việc đã làm xong, con cái đã ngủ yên, bốn bề yên lặng: bạn có thể dành thì giờ để đọc, để suy gẫm và cầu nguyện trong sự yên tĩnh. Và hãy cố gắng giữ ngày Chúa nhật đặc biệt dù có nhiều công việc đến đâu vào ngày cuối tuần. Nếu quá bận rộn đến nỗi không thể dành thì giờ cho Chúa thì bạn đã bận rộn hơn mức độ Chúa định cho bạn rồi đấy.
Điều tệ hại nhất bạn có thể làm trong thời kỳ khô hạn là thôi không đi nhà thờ, thôi không quan hệ với những bạn bè và đồng nghiệp Cơ Đốc, và thôi không đọc Kinh Thánh nữa. Những điều này có thể giữ vững được bạn khi đời sống cầu nguyện của bạn dường như khô hạn. Chúng giống như những rễ cây đang tìm kiếm chất ẩm quí báu trong mảnh đất khô cằn. Giê-rê-mi ví một người tin cậy Thượng Đế như một cây trồng gần dòng nước (Gie Gr 17:7,8).
Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va và lấy danh Đức Giê-hô-va làm sự trông cậy mình. Nó giống như cây trồng gần dòng suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng chẳng hề sợ hãi mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì, mà cứ ra trái không dứt.
Vì vậy hãy giữ gốc rễ của bạn ở đúng chỗ chờ đợi nước trở lại và chắc chắn nước sẽ trở lại: "Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va. Hãy vững lòng bền chí. Phải hãy trông đợi Đức Giê-hô-va" (Thi Tv 27:14).
Kỷ luật tâm linh giúp bạn đối phó với sự nghi ngờ. Đầu tiên, giúp đức tin của bạn ít bị dao động. Sắp xếp thì giờ để học Kinh Thánh, để cầu nguyện, để chờ đợi ý Chúa, dù trong một thời khóa biểu hết sức là bận rộn. Đảm bảo rằng bạn không bị tách rời khỏi sự sống của Chúa. Giúp bạn nhận được những nguồn năng lực tâm linh mà bạn cần để đối phó với những áp lực của đời sống.
Khi học môn sinh vật tại trường, tôi nhớ có học về con nhện nước. Con nhện này sống ở dưới đáy hồ trong một cái bọc nhỏ giống như cái đê thợ may. Ở đáy bọc có một lỗ hổng qua đó con nhện có thể ra vào. Khi lên mặt hồ, con nhện dùng những lông có hình lưỡi câu để chụp lấy những bọt không khí rồi nó lặn xuống dưới đáy hồ, nhả bọt không khí đó vào bọc. Sau vài chuyến đi như vậy, con nhện tích lũy được đủ số không khí để có thể sống một thời gian trong bọc ở dưới nước. Mặc dù môi trường quanh xa lạ và thù nghịch, con nhện vẫn tồn tại được nhờ nguồn dự trữ không khí đã lấy từ bên trên. Tuy nhiên, cuối cùng thì nguồn oxy trong nguồn dự trữ đó cũng cạn. Lúc ấy con nhện lại bị bắt buộc trở lên mặt nước thu nhận thêm không khí. Không có không khí, nó không thể tồn tại được ở phía dưới mặt nước.
Là Cơ Đốc nhân chúng ta cũng ở trong cùng tình thế giống con nhện nước. Chúng ta sống trong một môi trường thù nghịch nhưng được nuôi dưỡng và nâng đỡ bởi những nguồn năng lực từ trên cao. Nhưng nguồn năng lực chúng ta cần được đổi mới và được bổ sung thêm nếu không chúng sẽ cạn. Đời sống tâm linh đòi hỏi chúng ta tiếp xúc thường xuyên, liên tục với nguồn năng lực. Những chuyến đi lên mặt của con nhện nhắc chúng ta về sự cần thiết phải tương giao đều đặn với Thượng Đế, để bình ắc quy của chúng ta có thể được nạp điện lại và nguồn năng lực của chúng ta tươi mới lại. Chúng ta không thể để nguồn năng lực này ở mức báo động vì chúng ta đâu biết khi nào mình sẽ phải cần sử dụng rất nhiều. Giống như những cô gái đồng trinh dại dột đã để dầu trong đèn bị cạn khiến họ đã lỡ cơ hội đón chàng rể (Mat Mt 25:1-13). Chúng ta cũng phải được đưa vào kỷ luật để gìn giữ nguồn năng lực tâm linh của chúng ta. Bạn không bao giờ biết được khi nào sẽ phải dùng đến hay là cần khẩn cấp như thế nào.
Thứ hai, kỷ luật tâm linh giúp bạn không lâm vào cảnh bế tắc (thường do tình cờ hơn là chủ ý) khi bạn thật sự ở trong sự nghi ngờ. Những Cơ Đốc nhân trẻ thường bị cám dỗ để thôi đọc Kinh Thánh, cầu nguyện khi họ không còn kinh nghiệm sự hiện diện của Chúa trong đời sống họ. Không những kinh nghiệm là một chỉ dẫn thiếu tin cậy về sự thực hữu và sự hiện diện của Chúa nhưng khi phản ứng như vậy bạn lại làm cho Chúa khó có thể đến gần bạn được. + thức trông đợi Chúa bị mất đi. Khi vừa thấy sự nghi ngờ, nhiều Cơ Đốc nhân non trẻ đã hoảng lên và bỏ đức tin của mình một cách không cần thiết. Nếu bạn đã phát triển một ý thức kỷ luật tâm linh, bạn sẽ gặt hái được những phần thưởng của sự kiên nhẫn. Vì Cơ Đốc giáo không phải là một cuộc dạo chơi thoải mái trong đời sống mà chính là một tranh đấu chống lại tội lỗi, sự không vâng phục và nghi ngờ, tất cả những gì đang cố tách chúng ta khỏi Thượng Đế. Đó là một cuộc chiến đấu mà kỷ luật sẽ thêm sức mạnh cho những nguồn năng lực tâm linh của bạn, và sẽ cho bạn có thể ngày càng nhận được nhiều hơn từ nguồn năng lực của Chúa.
Những điều nêu trên là một số chiến lược đối phó với sự nghi ngờ và khiến đức tin bạn thêm vững vàng. Hãy nhớ rằng đức tin nông cạn là một đức tin dễ bị dao động, giống như một rễ cây đâm không sâu thì dễ nhổ. Tuy nhiên, để chuẩn bị kết thúc cuốn sách này thì xem lại vấn đề nghi ngờ cách kỹ càng là điều đáng phải làm. Trong những chương trước, chúng ta đã thấy sự nghi ngờ phát sinh là do không hiểu trọn vẹn tình thế. Những dẫn chứng cổ điển về điều này là việc dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập và việc đóng đinh Chúa Giê-xu để đặt nghi ngờ vào đúng vị trí của nó.
Nghi ngờ trong bối cảnh - ra khỏi Ai-cập
Chuyến đi ra khỏi Ai-cập là một trong những câu chuyện mạnh mẽ nhất và đáng ghi nhớ nhất trên thế giới. Truyện thuật lại việc giải phóng dân tộc Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ ở Ai-cập. Truyện kể lại cuộc đấu tranh lâu dài và khó khăn để có thể đến được miền đất hứa. Câu chuyện cũng giúp chúng ta hiểu do đâu sự nghi ngờ phát sinh và chỉ ra một số manh mối để chúng ta nhìn sự nghi ngờ ở đúng vị trí của nó. Ba điểm sau đây đặc biệt quan trọng trong việc ra khỏi Ai-cập.
1. Để sự an toàn lại sau lưng. "Tại sao chúng ta lại lìa bỏ Ai-cập, ở đó đâu đến nỗi tệ?" Đối với một số người Y-sơ-ra-ên, những thực tế của đời sống khi đi từ Ai-cập qua đất hứa là những điều không thể nào chịu nổi (Dan Ds 11:1-20). Họ bắt đầu nhìn lại những ngày ở Ai-cập với tâm trạng tiếc nuối. Họ đã nghĩ rằng được giải phóng khỏi Ai-cập thì mọi nan đề của họ sẽ kết thúc, nhưng thay vào đó họ đã thấy mình phải đối diện với một loạt nan đề mới!
Một số người bắt đầu đời sống Cơ Đốc nhân với ý nghĩ sai lầm là sau đó mọi sự sẽ rất tốt đẹp. Khi mọi việc trở nên khó khăn, họ bắt đầu nghi ngờ. Điều Phúc Âm hứa với chúng ta không phải là một chuyến rong chơi thoải mái trong đời sống. Đời sống Cơ Đốc là một đời sống khó khăn và nhiều yêu cầu: Sự giải phóng ra khỏi ách tội lỗi và nỗi sợ chết mở ra triển vọng cho một đời sống mới và một cách sống mới - nhưng đây không phải là những lựa chọn dễ dàng. Trách nhiệm của chúng ta đối với Chúa rất lớn và những công tác Ngài đặt trước chúng ta cũng rất đáng kể. Nhưng chúng ta đã được hứa rằng dù bất cứ điều gì xảy ra đến cho đời sống chúng ta trong cuộc đời này, Chúa vẫn luôn ở cùng và nâng đỡ chúng ta. Tôi không thể nào diễn tả một cách đầy đủ rằng điều này rất quan trọng và là niềm an ủi lớn như thế nào đối với chúng ta.
2. Đi qua đồng vắng. Người Y-sơ-ra-ên khởi hành từ Ai-cập trong một tâm trạng phấn khởi. Sự hiện diện và quyền năng của Thượng Đế thể hiện rõ ràng và thực sự qua các dấu kỳ, phép lạ. Thượng Đế dường như rất gần và rất thực trong suốt những ngày đầu tiên này. Và rồi, cuộc hành trình lâu dài, gian khổ bắt đầu. Đời sống bắt đầu khó khăn. Ký ức về sự hiện diện và quyền năng Thượng Đế mờ nhạt đi. Những dấu kỳ, phép lạ dường như quá xa xôi. Sự vô tín và nghi ngờ bắt đầu len lỏi vào tâm trí một số người. Lẽ dĩ nhiên, lời hứa về sự hiện diện của Chúa không hề bị hủy bỏ , cũng như Đất hứa không hề bị bỏ qua một bên, nhưng những lời hứa dường như không thực trong tình trạng tại đồng vắng.
Một số Cơ Đốc nhân đã gặp cùng kinh nghiệm này. Họ cảm thấy đang chiến đấu trong một đồng vắng tâm linh. Sự sôi nổi, khích động của những ngày đầu tin Chúa dường như đã mãi mãi qua đi. Họ đang chịu đựng tình trạng khô hạn, đói khát về tâm linh và không thể nào thỏa mãn được nhu cầu của họ. Nghi ngờ bước vào. Chính vào thời điểm này mà kỷ luật tâm linh trở nên tối cần thiết. Đừng lùi bước. Hãy học cách sử dụng những nguồn năng lực có được trong tình trạng này. Dù sao đi nữa thì dân Y-sơ-ra-ên cũng được cung cấp ma-na từ trời giúp họ cứ tiếp tục đi trong đồng vắng cho đến khi vào đến Đất hứa.
Hãy nhìn quanh và xem Chúa đã dự bị cho bạn những gì. Có những người mà bạn có thể đến trò chuyện, những người đã từng trải việc đi qua đồng vắng này và có thể nói về những thử thách, hoạn nạn của nó. Họ có thể kể cho bạn về niềm vui khi ra khỏi đồng vắng và những bài học thuộc linh họ đã nhận được. Có nhiều sách bạn có thể đọc được. Nhưng trên hết mọi sự đó, hãy xem kinh nghiệm đi qua đồng vắng như là một thời kỳ để tăng trưởng - một thời kỳ mà bạn có thể học biết nhiều hơn về chính mình, về Thượng Đế. Kinh nghiệm đồng vắng là một thời kỳ thử thách. Đức tin của bạn đang được thử thách và những nhược điểm của bạn đang được chỉ ra cho bạn và vì bạn.
Sau đây là một minh họa để làm rõ nghĩa hơn. Tôi sinh ra ở Belfast, thủ đô của miền Bắc Ái nhĩ lan. Một trong những sự kiện lớn nhất trong lịch sử của thành phố là việc hạ thủy chiếc du thuyền Sao Trắng Titanic nào năm 1911. Đó là chiếc tàu lớn nhất đã được chế tạo, và nó được dành cho công việc nguy hiểm là vượt Đại tây dương. Nhưng liệu nó có thể chịu nổi những điều kiện vượt biển không? Nó có vượt qua nổi những vùng biển hiểm nghèo, những vùng băng ở bờ biển Ca-na-đa không? Trong quá trình vượt đại dương, nó sẽ gặp nhiều thử thách nghiêm trọng, liệu nó có thể đương đầu nổi không?
Để trả lời câu hỏi này, tàu Titanic được đưa ra thử nghiệm. Trên nguyên tắc, tàu sẽ được thử nghiệm đến mức tối đa để chỉ ra những nhược điểm. Một khi đã phát hiện được những nhược điểm, chúng sẽ được kiện toàn ngay và lúc đó những cuộc hành trình thật sự nguy hiểm có thể được thực hiện. Điều đáng buồn là những sự thử nghiệm chưa đúng đắn, đúng mức mà con tàu lại được coi như đủ điều kiện vượt biển. Sự thật phũ phàng được phơi bày: trong chuyến đi đầu tiên vào năm 1912 tàu bị chìm gây tổn thất sinh mạng nặng nề.
Đời sống Cơ Đốc giống một cuộc hành trình dài và nguy hiểm, trong đó những nguồn năng lực của bạn có thể bị thử thách đến tận cùng. Chúng có đủ sức chịu đựng không? Đức tin của bạn có đủ sâu sắc và lòng tin cậy Chúa của bạn có đủ mạnh mẽ không? Hãy kể sự nghi ngờ như là một thử nghiệm ở biển, nhẹ nhàng chỉ cho chúng ta thấy nhược điểm của chúng ta. Một khi biết những nhược điểm đó rồi bạn có thể làm được một điều gì đó về chúng ta để nếu thật sự có những khó khăn xảy đến cho bạn trong đời sống, bạn sẽ có thể đối phó với chúng. Tất cả chỉ là một phần trong quá trình tăng trưởng đức tin của bạn (ICo1Cr 10:13 IPhi 1Pr 5:10).
Vậy, nghi ngờ có thể là một kinh nghiệm đồng vắng. Nếu bạn cảm thấy mình đang trải qua kinh nghiệm này hãy sử dụng nó một cách tích cực. Hãy nhớ rằng Chúa Giê-xu cũng đã trải qua một thời kỳ thử thách trong đồng vắng khi Ngài được Thượng Đế chuẩn bị cho một công tác vĩ đại (Mat Mt 4:1-11). Bạn có đang được chuẩn bị cho một công tác không? Những Cơ Đốc nhân đầu tiên thường đi vào đồng vắng để tránh xa những điều khiến họ không thể tập trung vào Thượng Đế. Hãy nói với Chúa về những nỗi nghi ngờ, nỗi cô đơn, nỗi trống trải của bạn. Hãy giao thác chúng cho Ngài. Hãy tương giao mật thiết với Ngài và dành cho Ngài những cơ hội. Hãy tin cậy Ngài. Đất hứa vẫn còn đó đợi bạn bước vào - với Chúa đi bên cạnh.
3. Tin cậy lời hứa của Thượng Đế. Thượng Đế hứa cho dân Y-sơ-ra-ên "một xứ đượm sữa và mật" (XuXh 13:5). Thế nhưng trong lúc họ đi lang thang trong đồng vắng, họ không biết gì ngoài mảnh đất khô cằn. Đất hứa là một cái gì đưa ra phía trước họ như củ cà rốt đưa ra trước mũi con thỏ . Suy nghĩ đó khiến họ cứ tiến bước. Nhưng có một số người thấy rằng đây là một niềm hy vọng quá xa vời, thuộc về tương lai diệu vợi. Họ muốn được thỏa lòng ngay. Họ đã bỏ lại sau lưng đời sống an toàn và tiện nghi biết rõ, và đang được yêu cầu tiếp tục đến một tương lai chưa biết, trên những lời hứa của Thượng Đế. Đối với một số người đây là một sự liều lĩnh quá lớn, họ nghi ngờ.
Nhìn lại, chúng ta có thể thấy họ đã sai lầm. Cuối cùng, việc đi vào Đất hứa trong chiến thắng đã chứng minh sự thành tín của Thượng Đế đối với lời hứa của Ngài. Nhưng bạn có thể hiểu được suy nghĩ của dân Y-sơ-ra-ên thời đó. Đất hứa dường như xa xôi một cách vô vọng. Và đối với một Cơ Đốc nhân, những lời hứa về sự sống đời đời cũng quá xa vời. Nếu đây là trường hợp của bạn, hãy đặt mình vào địa vị dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa. Hãy tưởng tượng xem tin cậy vào lời hứa về cùng đất đượm sữa và mật trong khi chung quanh chỉ toàn là đồng vắng cô quạnh thì khó đến mức độ nào. Rồi hãy hướng tâm trí bạn vào thời điểm lịch sử khi dân Y-sơ-ra-ên băng qua sông Giô-đanh để bước vào đất hứa. Bạn có thấy cuộc ra đi về miền đất hứa khiến cho chúng ta hiểu rõ hơn tình trạng của chúng ta không? Nó nhắc chúng ta rằng dù những lời hứa của Thượng Đế dường như rất xa vời, nhưng chúng sẽ được làm trọn. Và khi chúng ta tin cậy thì không phải không có niềm an ủi: Thượng Đế ban Đức Thánh Linh cho chúng ta để an ủi, để giúp chúng ta yên lòng và để thúc đẩy chúng ta đang khi chúng ta thực hiện cuộc hành trình trong đức tin.
Nghi ngờ trong bối cảnh - ngày thứ sáu thương khó đầu tiên.
Hãy cố gắng tưởng tượng tình cảnh của các môn đồ vào ngày Thứ Sáu thương khó đầu tiên. Họ đã bỏ mọi sự để theo Chúa Giê-xu. Toàn thể lẽ sống của họ tập trung vào Ngài. Thế mà, Ngài bị bắt trước mắt họ. Ngài lại sẽ bị hành quyết cách công khai. Bạn có thể cảm thấy một nỗi tuyệt vọng vô cùng não nề khi đọc Phúc Âm kể lại sự chết của Chúa Giê-xu. Có lẽ những môn đồ đang hy vọng một phép lạ. Chắc chắn có những người trong đám đông đang chờ đợi Thượng Đế can thiệp. Những người thì tỏ vẻ hoài nghi "Nó tin cậy Thượng Đế, lại tự xưng là Con Thượng Đế, nếu Ngài nhìn nhận nó, hẳn Ngài phải cứu nó!" (Mat Mt 27:43). Dường như không có dấu hiệu gì của sự hiện diện và hoạt động của Thượng Đế tại Gô-gô-tha. Khi Chúa Giê-xu trở nên yếu dần, những môn đồ càng trở nên chán nản. Không có dấu hiệu nào cho thấy Thượng Đế can thiệp để thay đổi tình thế cả.
Cuối cùng, Chúa Giê-xu chết. Ìt hẳn đó là lúc đen tối nhất trong đời sống của các môn đồ. Họ đã thật sự chán nản như chúng ta thấy qua sự kiện Phê-rơ chối Chúa Giê-xu. Bây giờ khi họ đứng chứng kiến quang cảnh từ xa thì dường như thế giới của họ đã hoàn toàn sụp đổ, lộ ra một sự gian lận, ảo tưởng. Những tư tưởng nào đã hiện lên trong tâm trí họ lúc đó? Có lẽ Chúa Giê-xu chẳng hơn bất cứ một con người nào khác. Có lẽ Thượng Đế không có ở đó, hay là nếu có thì Ngài chẳng hề quan tâm đến số phận của Chúa Giê-xu?
Lẽ dĩ nhiên chúng ta biết kết quả câu chuyện. Chúng ta biết nỗi buồn của môn đồ đã biến thành niềm vui mừng, kinh ngạc khi tin Chúa Giê-xu sống lại được loan truyền. Các tác phẩm của Phao-lô nói rất nhiều về sự sống lại của Chúa Cứu Thế bị đóng đinh và đây cũng là quan điểm mà Phao-lô dựa vào để giải thích sự kiện đóng đinh. Thập tự giá phải được nhìn như một giai đoạn chủ yếu trong sự sống lại và sự vinh hiển chứ không phải là một sự kết thúc. Khi đọc Phúc Âm về sự chịu khổ và sự chết của Chúa Giê-xu chúng ta không thể không nghĩ trước đến sự sống lại của Ngài. Chúng ta biết trước rằng có một kết thúc tốt đẹp cho cái dường như là bi kịch này.
Bây giờ hãy thử tưởng tượng là bạn đang đứng giữa các môn đồ, trong khi họ nhìn Chúa Giê-xu chịu khổ và chịu chết mà không biết rằng Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết. Hãy để riêng ra những diễn biến bạn biết, và cứ thử tưởng tượng xem sự thể ra sao khi nhìn Chúa Giê-xu chết trên thập tự. Những nỗi khổ của Ngài dường như hoàn toàn vô ích. Ngài có thể làm được gì qua sự kiện này? Và trong tất cả mọi sự ấy thì Thượng Đế ở đâu? Tại sao Ngài lại không can thiệp? Tất cả những điều này quá đủ để bất cứ ai cũng có thể nghi ngờ sự hiện hữu của Thượng Đế. Và nếu Thượng Đế đã có thật thì dường như Ngài hoàn toàn dửng dưng trước những nỗi khổ của Chúa Giê-xu. Và nếu Thượng Đế đối xử với Chúa Giê-xu theo cách ấy thì còn hy vọng nào cho bất cứ ai khác. Thật cũng dễ thất vọng ngỡ ngàng vào cái ngày buồn thảm đó phải không bạn?
Tất cả những nghi ngờ này được giải quyết bằng sự sống lại. Những nỗi khổ dường như vô ích của Giê-xu được cho thấy chính là phương tiện Thượng Đế dùng thực hiện sự cứu chuộc tội lỗi của nhân loại. Thượng Đế không hề vắng mặt: Ngài đang làm việc để biến đổi quang cảnh đau buồn và tuyệt vọng này thành quang cảnh vui mừng và tràn trề hy vọng. Tình yêu của Thượng Đế được cái chết của Con Một Ngài chứng minh chứ không phải phủ nhận (GiGa 3:16 RoRm 5:8). Chúa Giê-xu sống lại làm thay đổi cách hiểu của các môn đồ về phương thức Thượng Đế hiện diện và hoạt động trong thế giới của Ngài.
Hãy ứng dụng xem điều này đem đến cho chúng ta sự hiểu biết nào. Trước tiên, điều này giúp chúng ta hiểu rằng kinh nghiệm và tình cảm không đáng tin cậy để chỉ cho chúng ta biết về sự hiện diện của Chúa. Những người đứng quanh thập tự giá không kinh nghiệm về sự hiện diện của Chúa, vì vậy họ kết luận là Ngài vắng mặt. Sự sống lại đảo lộn suy nghĩ ấy: Thượng Đế hiện diện một cách kín giấu mà kinh nghiệm đã sai lầm khi cho rằng Ngài vắng mặt. Bạn có cảm thấy Thượng Đế vắng mặt trong đời sống mình trong một vài tình thế khó khăn không? Bạn có cảm thấy ngỡ ngàng trước những biến cố hay cảm thấy tuyệt vọng về diễn tiến của mọi sự? Thế thì hãy nghĩ đến ngày Thứ Sáu ấy khi Thượng Đế dường như cũng vắng mặt để rồi sau đó được nhận ra là Ngài đã đang làm việc một cách kín giấu nhằm biến đổi hoàn toàn ngày Thứ Sáu đó theo một cách không thể ngờ được. Lời hứa sống lại có đó: Giê-xu đã đảm bảo với các môn đồ rằng Ngài sẽ sống lại ba ngày sau khi bị đóng đinh (Mat Mt 20:17-19). Thế nhưng trong nỗi tuyệt vọng của giờ phút quan trọng này, lời hứa đó bị lãng quên và có thể đã bị nghi ngờ. Kinh nghiệm dường như bảo điều đó không thể làm trọn được. Ngày Thứ Sáu ấy nhắc chúng ta sự cần thiết phải tin cậy vào những lời hứa Thiên thượng dành cho chúng ta hơn là dựa trên những tình cảm và kinh nghiệm của chúng ta.
Thứ hai, điều này chúng ta hiểu bí mật về những nỗi khổ đau của con người. Nếu không biết gì về sự sống lại thì những nỗi khổ của Chúa Cứu Thế dường như vô ích và vô nghĩa. Nhưng biết có sự sống lại và những đặc ân vô giá của sự cứu chuộc và sự tha thứ tuôn tràn ra từ đó thì người ta nhìn những nỗi đau khổ này dưới một ánh sáng mới. Ngài chịu đau khổ vì chúng ta hầu cho qua sự đau khổ của Ngài, tội lỗi của chúng ta có thể được tha thứ và bản chất con người của chúng ta được chữa lành. "Thật Ngài đã mang sự đau ốm của chúng ta, người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết" (EsIs 53:4,5).
Chủ đề này được bàn đến nhiều cách trong Tân ước. Có lẽ ý nghĩa về những nỗi khổ của tín đồ thì thích hợp nhất với những gì chúng ta đang bàn ở đây. Với Phao-lô, Cơ Đốc nhân là những người con nuôi của Thượng Đế bởi Chúa Cứu Thế Giê-xu (Eph Ep 1:4,5 RoRm 8:12-21). Họ có quyền được hưởng cùng cơ nghiệp với Con Thượng Đế là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Cơ nghiệp đó là gì? Như thập tự giá và sự sống lại đã nói rõ, cơ nghiệp của tín đồ là vinh hiển nhận được qua sự chịu khổ. "Chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài". Chịu khổ, do đó là một dấu hiệu của đức tin, là bằng chứng của vinh hiển hầu đến. Đây là một điều không thể né tránh.
Suy nghĩ về ngày Thứ Sáu ấy giúp chúng ta đặt những nghi ngờ của mình vào một khung cảnh. Nó giúp chúng ta nhìn sự nghi ngờ với một ý nghĩa mới mẻ và đúng đắn. Chúng ta học để nhìn hoàn cảnh, và những nghi ngờ, lo lắng của chúng ta là quang cảnh tại Gô-gô-tha. Người ta đặt ra những câu hỏi không thể trả lời được: Họ nêu lên những nghi ngờ không thể dập tắt được. Thật khó có thể tin cậy Thượng Đế. Nhưng những câu hỏi và những nghi ngờ đó được nhìn dưới ánh sáng mới vì sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Như chúng ta có thể nhìn thấy Thượng Đế đã làm toàn thể thế giới ngạc nhiên vào ngày Phục Sinh đầu tiên. Đây chính là kiểu mẫu cung ứng một lời giải đáp cho những vấn nạn, những nghi ngờ và những lo lắng của chúng ta.
Nghi ngờ phát sinh một phần do chúng ta không có khả năng nhìn được mọi sự hay hiểu được những yếu tố khác nhau của kinh nghiệm chúng ta cần phối hợp như thế nào. Cũng như đức tin nhìn qua sự đóng đinh thấy được sự sống lại, chúng ta cũng phải nhìn những rắc rối của thế giới dưới ánh sáng, sự biến đổi tương lai của Giê-ru-sa-lem mới (KhKh 21:1-5). Sự tuyệt vọng và sự bất lực của ngày thương khó đầu tiên đã mang một ý nghĩa mới dưới ánh sáng của ngày Phục Sinh; cũng vậy, sự mơ hồ và sự đau đớn của ngày hôm sau sẽ được nhìn dưới một ánh sáng mới khi Thượng Đế đưa lịch sử đến chỗ kết thúc. Thứ Sáu Tốt Lành đó và ngày Phục Sinh là kiểu mẫu để hiểu cách Thượng Đế hiện diện và hành động trong thế giới của Ngài: Cũng như ngày Thứ Sáu Tốt Lành có được ý nghĩa qua ngày Phục Sinh thì sự đau khổ và những nan đề của ngày hôm nay sẽ mang một ý nghĩa mới vào lúc cuối cùng. Sự nghi ngờ của ngày Thứ Sáu Tốt Lành đã nhường chỗ cho đức tin của ngày Phục Sinh. Chúng ta không thể hiểu trọn vẹn Chúa đang thực hiện chương trình của Ngài trên thế giới cách nào, nhưng điều chúng ta biết là Thượng Đế xác định sự thành tín trọn vẹn của Ngài với chúng ta bằng cả lời nói lẫn hành động. Ngài là Đấng chúng ta có thể tin cậy "Hãy trao mọi lo âu cho Chúa, vì Ngài luôn luôn chăm sóc anh em" (IPhi 1Pr 5:7). Nếu chúng ta không thể tin cậy Chúa thì còn có thể tin ai?
Có lẽ một số người cho rằng chúng ta nên dựa trên những điều chính chúng ta nhận được từ tình thế dường như đã gây khó khăn cho đức tin. Nhưng như những việc đã xảy ra tại Gô-gô-tha cho thấy, những nhận định của chúng ta về tình thế có thể hết sức sai lầm và thiếu chính xác: dù sao nó cũng chỉ là một nhận định từng phần vì chúng ta không có đủ dữ kiện cần thiết để hình thành một sự phân tích đầy đủ của tình hình. Thượng Đế bị kể là vắng mặt ở Đồi Sọ cho đến khi sự sống lại chứng minh Ngài vẫn hiện diện và làm việc cách kín nhiệm để cứu chuộc nhân loại và để làm vinh hiển Con Ngài.
Có lẽ một số người khác cho rằng chúng ta cũng nên dựa trên những tình cảm và cảm xúc. Nếu chúng ta không cảm thấy Thượng Đế thực có thì đó là Ngài không có thực. Nếu chúng ta không kinh nghiệm sự hiện diện của Ngài thì đó là Ngài không hiện diện. Nhưng những cảm xúc của chúng ta không đáng tin cậy chút nào. Vô số yếu tố có thể tác động đến chúng: sức khỏi e, thời tiết, quyết toán ngân hàng, những mối quan hệ riêng tư, công việc hay sự nghiệp - đó là chỉ kể những yếu tố rõ ràng nhất. Thượng Đế không phải không hiện hữu nữa chỉ vì bạn đã có một ngày không vui tại sở làm hay đã cãi nhau với một người bạn. Những cảm xúc của bạn bị những nỗi lo lắng quấy rầy hay làm rối loạn có thể nói với bạn rằng Thượng Đế không có đó - nhưng đó không phải là một nhận định đặc biệt đáng tin cậy hay đầy đủ.
Sau hết, Cơ Đốc giáo đứng vững hay sụp đổ là do sự đáng tin của một Thượng Đế đã cho Chúa Cứu Thế Giê-xu sống lại từ kẻ chết. Bằng cách suy gẫm về ngày Thứ Sáu Tốt Lành, một mặt chúng ta có thể được nhắc nhở để nhớ những nhận định riêng của chúng ta không đáng tin cậy, mặt khác, chúng ta có thể đặt sự nghi ngờ vào đúng vị trí của nó. Vì thế nhìn cách đúng đắn, nghi ngờ không phải là một sự đe dọa đối với đức tin nhưng là một điều nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta biết quá ít về Thượng Đế, và Thượng Đế đã nhân từ biết bao khi tự bày tỏ Ngài cho chúng ta. Vì nếu không có sự bày tỏ của Thượng Đế về chính Ngài thì chúng ta hoàn toàn không biết gì về Ngài và về tình yêu của Ngài đối với chúng ta. Thượng Đế không thất thường, hay thay đổi hoặc Ngài không giữ trọn lời hứa hay không làm theo bản chất và thuộc tính của Ngài như chúng ta biết được qua Kinh Thánh và qua Chúa Giê-xu. Thay vào đó, chúng ta biết một Thượng Đế thành tín với giao ước của Ngài, đã hứa ban sự thương xót và tha thứ cho những kẻ đặt lòng tin nơi Ngài. Thay vì tin cậy vào những nhận định của chúng ta về tình thế hay dựa trên những cảm xúc và tình cảm của mình, chúng ta nên học để tin cậy sự thành tín và bất biến của Thượng Đế.
Kết luận
Nghi ngờ là một đề tài mà nhiều Cơ Đốc nhân thấy vừa khó khăn vừa tế nhị. Họ có thể xem đó như một điều đáng xấu hổ, một sự bất trung giống như sự vô tín vậy. Kết quả là họ không hoặc không chịu bàn đến. Họ có thể đè nén chúng xuống. Những người khác thì rơi vào một tình thế ngược lại. Họ bị những nghi ngờ tràn ngập. Họ không còn thấy Chúa nữa vì bận tập trung vào chính họ. Nhưng nghi ngờ là một vấn đề rất quan trọng nên không thể đối xử bằng một trong hai cách trên. Xem xét cách tích cực, nghi ngờ đem đến cơ hội để tăng trưởng tâm linh. Nghi ngờ thử nghiệm đức tin của bạn chỉ cho bạn thấy đức tin bị yếu chỗ nào. Nghi ngờ bắt bạn suy nghĩ về đức tin của mình chứ không thể cho đó là điều dĩ nhiên. Nghi ngờ thúc đẩy bạn làm vững mạnh hơn nền tảng mối quan hệ giữa bạn với Thượng Đế.
Tôi hy vọng cuốn sách này không chỉ giúp bạn đối phó với sự nghi ngờ nhưng cũng giúp bạn rút ra phương cách để có được kỷ luật cũng như sự tăng trưởng tâm linh, đồng thời phát triển đức tin của bạn ở cả hai phương diện, cá nhân và học thuyết. Nhìn một cách tích cực, nghi ngờ có thể là cách để tìm lại chiều sâu trọn vẹn của đức tin và sự giao thác ngày càng nhiều hơn cho Phúc Âm. "Đấng cứu rỗi anh em sẽ thực hiện điều ấy, vì Ngài thành tín" (ITe1Tx 5:24).
Câu hỏi thảo luận
1. Bằng những cách nào bạn có thể làm đức tin mạnh mẽ chống lại những nỗi nghi ngờ?
2. Tại sao đức tin nông cạn rất dễ bị sự nghi ngờ tấn công?
3. Nghi ngờ có xúc phạm đến Thượng Đế không?
4. Chính bạn và các bạn hữu đã tìm thấy những quyển sách nào để giúp đỡ trong việc khiến cho đức tin được mạnh mẽ và sâu đậm hơn?
5. Những điều sau đây có ích thế nào trong việc chống lại sự nghi ngờ: thông công, ngợi khen, sửa phạt, cảm thông?


† Welcome - nguonsusong.com

GMT+8, 16-11-2018 01:04 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách