† Welcome to nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2607|Trả lời: 0

Liệu Pháp Agape 1

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 21-7-2011 23:02:49 | Xem tất |Chế độ đọc

Dâng hiến cho công việc Chúa

Liệu Pháp Agape
Tác giả: A. C. George

Giới Thiệu Khoá Trình
Liệu Pháp Agape: Một phương pháp tiếp cận với công tác cố vấn của giới Cơ Đốc.
Liệu pháp Agape là một phương pháp tiếp cận bán chuyên nghiệp đối với việc cố vấn trong giới Cơ Đốc. Con người được xem như là tạo vật của Đức Chúa Trời có khả năng hiểu biết và tương giao với Ngài. Sự trọn vẹn trong tâm lý và trong tâm linh đều bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người với chính Đức Chúa Jesus Christ. Phương pháp cố vấn nầy tìm cách vận dụng những nguyên tắc Kinh Thánh có liên quan đến những mối tương quan của con người với khoa tâm lý học.
Tín hữu Cơ Đốc dự phần vào công tác cố vấn Agape là thể hiện tình yêu của Đấng Christ (GiGa 13:34-35, Mat Mt 22:34-40) thể hiện chức vụ của họ như là thầy tế lễ trong nước Đức Chúa Trời (IPhi 1Pr 5:9-10), và vai trò của họ như là các chi thể trong thân thể của Đấng Christ (ICo1Cr 12:12).
Một sự hiểu biết về phương pháp tiếp cận của Liệu pháp Agape đối với công tác cố vấn sẽ giúp cho Cơ Đốc nhân vâng theo mạng lệnh của Đấng Christ "Hãy yêu thương lẫn nhau". Bạn có thể thực hiện điều ấy trong vai một nhà cố vấn bán chuyên nghiệp. Phương pháp tiếp cận tình yêu thương nầy sẽ đưa vào trong mỗi một mối tương quan riêng tư của bạn. Khóa học nầy không phải là một phương pháp tiếp cận công tác cố vấn Cơ Đốc theo lý thuyết mà là một phương tiện của công tác cố vấn.
Mô Tả Khóa Học
Công tác cố vấn Cơ Đốc: Liệu pháp Agape (CA 3153, thời hạn: 3 giờ)
Liệu pháp Agape là chức vụ cố vấn của một tín hữu bán chuyên nghiệp, đó là một cách thể hiện tình yêu để giải quyết các nan đề của những người gặp khó khăn theo quan điểm thuộc linh. Đây là một khóa học thực tiễn, chuẩn bị cho một tín hữu đang trong ngành hay tham gia vào ngành có liên quan đến công tác cố vấn.
Các Mục Tiêu của Khóa Học
Kết thúc khóa học nầy bạn sẽ có thể:
1. Giải thích được những giả thuyết và những nguyên tắc cơ bản của công tác cố vấn Cơ Đốc.
2. Mô tả vai trò mà người tín hữu Cơ Đốc có thể làm trong công tác cố vấn bán chuyên nghiệp tại hội thánh địa phương.
3. Tìm ra và sử dụng một số những nguồn cung ứng sẵn có sành cho người cố vấn Cơ Đốc.
4. Đánh giá sự tăng trưởng cá nhân của bạn và những nhu cầu tăng trưởng khi chúng liên hệ đến việc thực hiện chức năng của nhà cố vấn bán chuyên nghiệp.
Sách Giáo Khoa
Bạn sẽ dùng quyển Công Tác Cố Vấn Cơ Đốc: Liệu Pháp Agape, sách giáo khoa nghiên cứu độc lập của Jack V. Rozell vừa làm sách giáo khoa vừa làm sách hướng dẫn nghiên cứu cho khóa học nầy. Kinh Thánh (Bản NIV) là quyển sách duy nhất khác được yêu cầu. Trong một số trường hợp có dùng bản King James (KJV).
Thời Gian Học Tập
Chúng tôi khuyên bạn nên có thời gian nghiên cứu định kỳ. Dĩ nhiên là bạn có thể tận dụng thời gian rãnh để nghiên cứu, nhưng không thể thay thế cho thời gian nghiên cứu định kỳ. Bạn hãy cố gắng hoàn tất ít nhất mỗi tuần một bài. Trong một lớp học, bình thường có từ hai đến ba buổi học dành cho mỗi bài học. Nghiên cứu một cách độc lập, bạn có thể cần phải để ra từ ba đến sáu giờ cho một bài học.
Bạn cần thực sự là bao nhiêu thời gian để nghiên cứu mỗi bài học, còn tùy thuộc vào kiến thức của bạn về chủ đề và sức học của bạn trước khi bạn bắt đầu khóa học. Thời gian bạn sử dụng cũng còn lệ thuộc vào việc bạn tuân theo sự hướng dẫn và phát huy những kỷ năng cần thiết cho việc tự học. Hãy lập thời gian biểu học tập để bạn có đủ thời giờ đạt được các mục tiêu cho tác giả môn học đề ra, cũng như các mục tiêu riêng của bạn.
Phương Pháp Học Tập
Phải đảm bảo là bạn đã đọc cẩn thận những lời đề nghị về phương pháp học tập trong tập bài dành cho học viên. Chúng sẽ giúp bạn hiểu được cách ICI mong bạn nghiên cứu bài học ôn tập dành cho phần đáng giá sự tiến bộ đơn vị (bài kiểm tra) dựa trên một nhóm các bài học, và chuẩn bị cho ký thi cuối khóa gồm tất cả các bài học. Nếu bạn không thường xuyên học tập như điều ICI đề nghị, thì bạn cần phải sửa đổi phương pháp học tập của mình để đạt được thành quả cao nhất trong môn học.
Những Phương Cách Học Tập Môn Học nầy.
Nếu bạn tự học môn học hàm thụ I.C.I nầy, thì mọi công việc của bạn ngoại trừ kỳ thi cuối khóa đều có thể hoàn tất bằng đường bưu điện. Mặc dầu văn phòng ICI đã soạn thảo môn học nầy để bạn tự nghiên cứu, bạn vẫn có thể học chung trong một nhóm hoặc một lớp. Nếu bạn học tập môn học nầy trong một nhóm hoặc một lớp thì người hướng dẫn có thể chỉ thêm cho bạn.
Nếu vậy, phải bảo đảm tuân theo những chỉ dẫn của người hướng dẫn.
Tổ Chức Bài Học và Phương Cách Học Tập
Mỗi bài học bao gồm:
1. Tựa đề 2. Nhập đề 3. Dàn bài 4. Những mục tiêu của bài học 5. Những hoạt động học tập 6. Những từ chìa khóa. 7. Triển khai bài học, bao gồm những câu hỏi nghiên cứu 8. Bài tự trắc nghiệm 9. Giải đáp những câu hỏi nghiên cứu.
Làm bài và những mục tiêu bài học sẽ cho bạn một cái nhìn khái quát về chủ đề, giúp bạn tập trung sự chú ý của mình vào những điểm quan trọng nhất khi bạn học tập và cho bạn biết điều bạn phải học hỏi.
Phần triển khai bài học trong môn học nầy khiến bạn dễ dàng học tập xuyên suốt tài liệu. Bởi việc nghiên cứu từng bước một, bạn có thể sử dụng tất cả các giai đoạn học tập ngắn hạn bất cứ khi nào bạn có thời gian, thay vì phải đợi cho đến khi bạn có thời gian để thực hiện toàn bộ bài học một lúc những lời bình, phần bài tập và các câu trả lời, tất cả đều được soạn thảo để giúp bạn đạt được các mục tiêu của bài học.
Một số các câu hỏi nghiên cứu trong phần triển khai bài học có thể được trả lời trong khoảng trống dành sẵn trong sách giáo khoa tự học của bạn, trong khi có một số câu kỏi khác đòi hỏi bạn phải viết câu trả lời vào vở của mình. Khi viết câu trả lời vào vở, bạn phải đoán chắc là đã ghi chép lại số thứ tự và tựa đề của bài học. Hãy viết những câu trả lời dành cho những câu hỏi nghiên cứu theo đúng thứ tự. Điều nầy sẽ giúp bạn khi ôn lại phần đánh giá.
Đừng xem phần giải đáp trước khi bạn tự trả lời các câu hỏi. Nếu bạn tự trả lời, bạn sẽ nhớ điều mình học hơn. Sau khi bạn đã trả lời những câu hỏi học tập, hãy kiểm tra lại các câu trả lời của bạn với những câu giải đáp được cho ở cuối bài. Sau đó hãy sửa lại những câu nào đã bị sai.
Những câu hỏi nầy rất quan trọng, chúng sẽ giúp bạn phát triển và hoàn thiện những kiến thức và sự hầu việc Chúa của bạn. Cũng vậy, những hoạt động được đề nghị nhằm để giúp bạn phát triển và hoàn thiện những kiến thức của bạn theo những phương cách thực tiễn.
Xếp Hạng Cho Khóa Trình
Việc xếp hạng của bạn đặt cơ sở trên kỳ khảo hạch được giám sát ở cuối khóa. Việc xếp hạng khóa trình của bạn được ghi là A nếu xuất sắc; trên trung bình là B; trung bình là C; dưới trung bình là D; không được cấp chứng chỉ là U; chưa hoàn tất là Inc; Wp là cho phép rút lại kỳ thi; Wv là không cho phép rút lại kỳ thi.
Tập Tài Liệu Dành Cho Học Viên
Tập tài liệu dành cho học viên mà bạn nhận được kèm theo khóa trình nầy gồm có: Những phần chỉ dẫn để làm các phần đánh giá tiến bộ học tập từng đơn vị và kỳ sát hạch cuối khóa. Và cũng gồm cả những câu giải đáp dành cho phần bài làm tự trắc nghiệm, phần đánh giá tiến bộ học tập từng đơn vị và những tờ trả lời, cũng như các biểu mẫu quan trọng khác. Bạn hãy dùng bảng danh sách kiểm nằm ở bìa tập tài liệu để quyết định xem phải nộp các tài liệu nào cho giảng viên và khi nào phải nộp.
Phần Đánh Giá Tiến Bộ Đơn Vị và Kỳ Thi Cuối Khóa.
Mặc dầu điểm ghi của bạn về phần câu hỏi của bài học, phần bài làm tự trắc nghiệm và phần đánh giá tiến bộ đơn vị không được dùng để tính vào việc xếp hạng của bạn trong khóa học, nhưng bạn cũng phải gởi các tờ trả lời của bạn dành cho phần đánh giá tiến bộ đơn vị về cho giảng viên để họ sửa bài và có phần đề nghị cho bài làm của bạn. Sau đó, bạn có thể xem lại tài liệu trong sách Giáo Khoa Độc Lập của mình với Kinh Thánh liên quan đến những điểm bạn thấy khó. Việc xem lại phần mục tiêu bài học, phần bài làm tự trắc nghiệm và phần đánh giá tiến bộ từng đơn vị, sẽ giúp bạn chuẩn bị cho kỳ thi cuối khóa.
Chứng Chỉ dành cho Khóa Trình Nầy.
Để được cấp chứng chỉ ICI của khóa trình nầy, bạn phải trải qua kỳ thi cuối khóa. Bài thi nầy được thực hiện với sự chứng kiến của một giám thị kỳ thi được ICI chấp nhận. Vì chúng tôi có nhiều giám thị kỳ thi ở nhiều quốc gia nên có lẽ không khó để bạn gặp được một vị trong khu vực của bạn. Giảng viên của bạn sẽ cho biết thêm chi tiết.
Khóa trình nầy cũng có thể được sử dụng chỉ vì những giá trị thực tiễn của nó không cần phải lấy chứng chỉ. Trong trường hợp đó, bạn không cần phải gởi các bài làm hoặc dự kỳ thi cuối khóa. Việc học tập khóa trình nầy sẽ làm phong phú đời sống bạn dầu bạn học để lấy chứng chỉ hay là không.
Chứng Chỉ Qua Kỳ Thi.
Bạn vẫn có thể nhận được chứng chỉ của khóa học nầy mà không cần phải theo học tài liệu của khóa trình. Việc cấp chứng chỉ nầy được thực hiện bằng việc phải trải qua kỳ thi cuối khóa. Tuy nhiên, vì những bài tập cũng như bài trắc nghiệm của tài liệu học tập độc lập nầy được phác thảo để chuẩn bị cho kỳ thi cuối khoá nên có lẽ bạn cần phải học các tài liệu nầy. Bạn hãy hỏi ý kiến Giám đốc văn phòng ICI ở tại quốc gia mình để biết thêm chi tiết.
Các Chuyên Viên Soạn Nội Dung Tập Tài Liệu Học Tập Độc Lập
Tác giả của tài liệu học tập độc lập nầy là Tiến sĩ Jack V.Rozell, đã từng phục vụ với tư cách trưởng Tu viện của các sinh viên ở tại trường Đại Học NorthWest của Hội Thánh Ngũ Tuần ở tại Kirkland, Washington. Từ năm 1967 đến năm 1972, ông cũng đã từng là giảng viên làm việc không trọn ngày (part time) trong công tác cố vấn dành cho chức vụ chăn bầy và trong khoa tâm lý học ở Trường Đại Học miền Nam Bang California của Hội Thánh Ngũ Tuần, 1972- 1973. Sau đó ông đã trở về Đại Học NorthWest với tư cách là Giáo sư phụ tá của khoa chuyên trách về chức vụ chăn bầy và là người phụ trách công tác cố vấn. Ông phục vụ với tư cách là một Mục sư thâm niên của Hội Thánh Neighborhood ở tại Bellevue Washington, từ năm 1977 đến 1988. Đó cũng là nơi ông thành lập Chức Vụ Cố Vấn của Những Người lân Cận có Công Quan Tâm. Ông và vợ mình, bà Adel hiện nay là một trong các nhà truyền giáo của Hội Thánh Ngũ Tuần đang công tác tại Trường Thần Học Viễn Đông.
Giấy tờ uỷ nhiệm của ông gồm có: Bằng Cử Nhân văn chương khoa tâm lý học ở tại Đại Học Whitworth, 1959. Bằng Cao Học Thần Học Chủng Viện Thần học Fuller, Padadena, California 1964, Cao học Văn chương Seattle ở Seattle Washington 1970; và bằng P.Min Chủng Viện Thần Học Fuller, Pasadena, California 1973. Ngoài ra với công tác của mình trong tư cách là Mục sư và người làm công tác giáo dục chuyên nghiệp, Tiến sĩ Rozell còn là tác giả của nhiều sách báo khác của ICI và những tổ chức khác.
Những vị đóng góp cho khóa trình của ICI nầy gồm có Tiến sĩ Raymond E.Vath, Bác sĩ chuyên khoa điều trị tâm thần ở tại bịnh viện tư Seattle, Washington, người đã đóng góp trong nội dung của bài học 3, 10, 13. Mục sư Tuyên úy Milton O. Whitaker là Giáo sĩ của bệnh viện Administration của Veteran ở tại Seattle, Washington người đóng góp trong các bài học 11 và 12.
Giảng Viên ICI của Bạn
Giảng viên ICI của bạn rất vui được giúp bạn bằng bất cứ cách nào có thể được. Hãy hỏi ý kiến Giảng viên bất cứ thắc mắc nào bạn cần biết để sắp xếp cho kỳ thi cuối khóa. Bạn phải biết chắc để sắp xếp đủ thời gian để có thể theo chương trình học. Nếu có một số người muốn cùng học khóa trình, bạn hãy hỏi ý kiến giảng viên để có thể dàn xếp đặc biệt cho việc học tập theo nhóm.
Nguyện Chúa ban phước cho bạn khi bạn bắt đầu nghiên cứu quyển Công Tác Cố Vấn Cơ Đốc Liệu Pháp Agape. Chúng tôi mong quyển sách nầy sẽ làm phong phú thêm cho đời sống và chức vụ của bạn và giúp bạn hoàn thành phần việc của mình trong thân thể Đấng Christ một cách hiệu quả hơn.


PHƯƠNG PHÁP AGAPE LIỆU PHÁP
Có một nhu cầu cụ thể về cách tiếp cận công tác Cố Vấn Cơ Đốc cho những tín hữu trong cộng đồng Cơ Đốc có thể sử dụng một cách hữu hiệu.
Đây không phải là những người hầu việc Chúa đã được huấn luyện của Hội Thánh. Chúng ta gọi họ là những "tín hữu". Hầu hết các tín hữu đều có một khao khát mãnh liệt muốn giúp đỡ những người khác. Bởi vì họ không phải là những mục sư và họ đã không có được sự huấn luyện đặc biệt trong công tác cố vấn, nên họ đã xác định sai lầm rằng, họ không thể là những người cố vấn hữu hiệu, và vì vậy, họ nhường các nan đề trong công tác cố vấn cho vị Muc sư. Nhưng Agape liệu pháp là một phương pháp đặc biệt dành cho các tín hữu bình thường, tập trung vào việc huấn luyện họ trở thành những tín hữu Cố Vấn cùng hợp tác làm việc với những nhà Cố vấn chuyên nghiệp được huấn luyện ở trình độ cao hơn. Những tín đồ nầy sau đó trở thành những người bán chuyên nghiệp làm việc với những người cố vấn chuyên nghiệp khác như là: Các Mục sư, các nhà Cố vấn đã được huấn luyện Agape liệu pháp, cũng cung ứng một nền tảng về Thánh Kinh, lý thuyết và thực hành dành cho những nhà cố vấn chuyên nghiệp để sử dụng cho chức vụ cố vấn của họ .
Liệu pháp Agape là một phương pháp chánh đáng theo Thánh Kinh và khoa tâm lý học. Nó có thể được dùng trong việc giải quyết những nan đề rắc rối mà con người đối diện. Hoặc bạn đang chuẩn bị cho chức vụ hầu việc Chúa hoặc bạn hiện đang trong chức vụ, chẳng bao lâu nữa bạn sẽ nhận biết sự thích ứng của Liệu Pháp Agape cho mỗi chức vụ của Mục sư và tín hữu, nó sẽ gây cho bạn ấn tượng là bạn cũng có thể trở thành một nhà Cố Vấn Cơ Đốc bán chuyên nghiệp hữu hiệu.
Liệu pháp Agape là gì?
Một Số Những Giả Thiết Căn Bản
Sự Hòa Nhập
Những Định Nghĩa và Những Khái Niệm.
Những Hàm Ý
Liệu Pháp Agape: Ai có thể thực hiện được?
Chứng Cớ về Thánh Kinh
Nghiên Cứu
Những Nguồn Cung Ứng Vô Hạn
Khi học xong bài này, bạn có thể:
- Giải thích những khái niệm và những hàm ý của Liệu Pháp Agape
- Cho thấy sự nghiên cứu của thế tục và những lời Kinh Thánh đều xác nhận rằng các thành viên trong thân thể Đấng Christ có thể được huấn luyện để giúp đỡ những người khác.
- Nhận biết những nguồn cung ứng từ thiên thượng và từ con người sẵn dành cho người tín hữu làm công tác cố vấn.
- Đánh giá đúng vai trò của bạn trong thân thể Đấng Christ là làm một nhà cố vấn.
1. Đọc phần giới thiệu của sách giáo khoa tự học nầy. Lưu ý đặc biệt đến phần Tổ Chức Bài Học và Kiểu Cách Học Tập. Phần nầy gồm những chỉ dẫn quan trọng cho việc thành công của bạn trong khóa học nầy. Lưu ý các mục tiêu chung dành cho việc nghiên cứu bài học của bạn. Tất cả những điều đó quan trọng, song có thể có một số điểm là nổi bật đối với bạn.
2. Nghiên cứu phần dàn bài và những mục tiêu của bài học. Chúng sẽ giúp bạn nhận ra những điều bạn phải tìm học khi nghiên cứu bài học nầy.
3. Nghiên cứu hết phần triển khai bài học trong sách giáo khoa tự học nầy. Phải bảo đảm đã đọc tất cả những câu Kinh Thánh trưng dẫn, làm phần bài tập theo yêu cầu và kiểm tra lại các câu trả lời của bạn.
4. Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài học và kiểm tra cẩn thận các câu trả lời của bạn với phần dành sẵn trong tập tài liệu dành cho học viên. Xem lại bất cứ những khoản nào bạn trả lời chưa đúng.
Hiểu được từ chìa khóa chúng tôi liệt kê ở đầu mỗi bài học sẽ giúp bạn khi học tập. Bạn sẽ tìm thấy những chữ chìa khóa được liệt kê và được định nghĩa ở phần Ngữ Vựng theo thứ tự ABC ở cuối sách giáo khoa nầy. Nếu bạn có thắc mắc về ý nghĩa của bất cứ từ ngữ nào trong bản liệt kê, thì có thể tìm xem chúng ngay bây giờ hoặc khi bạn đọc đến những từ ấy trong bài.
Sự cảm thông đúng
Liệu Pháp Agape
Người cố vấn
Lựa chọn
Sự chân thật
Ân điển

Liệu pháp Agape là gì?
Một Số Những Giả Thiết Cơ Bản
Xem xét kỹ lưỡng Mục Tiêu 1 và nhận ra mục tiêu phần nầy là xem xét đến sáu giả thiết chính của Liệu Pháp Agape để bạn hiểu biết tốt hơn về toàn bộ khóa học. Cũng lưu ý rằng Liệu Pháp Agape là một loại kiểu công tác cố vấn đặc biệt, một phương cách riêng biệt để tìm đến và chăm sóc cho những con người bị tổn thương.
LƯU Ý : Phần dưới đây trình bày phỏng theo tài liệu thuyết trình. Trong suốt quyển sách giáo khoa nầy, những ghi nhận trích từ những bài thuyết trình đó đều được đánh dấu ở đầu và ở cuối đoạn bằng ký hiệu ** để phân biệt nội dung của chúng với phần còn lại của mục triển khai bài học. Tất cả những trường hợp phỏng theo tài liệu thuyết trình đều là của Tiến sĩ Jack Rozell trừ phi được đánh dấu khác đi
* * Cá nhân tôi tin vào nhu cầu huấn luyện tín hữu là những người không thuộc trong hàng giáo phẩm, để họ giúp vào việc cố vấn bằng tình yêu cho người khác. Chúng tôi tin rằng những tín hữu chưa được đào luyện ấy có thể được đào luyện để trở thành những nhà Cố vấn bán chuyên nghiệp, tức là họ có thể được huấn luyện để làm việc hữu hiệu trong chức vụ cố vấn và trong việc cộng tác với những người chuyên nghiệp khi có cần và khi họ đã được sẵn sàng. Tôi tin rằng phương pháp nầy vừa đặt cơ sở trên Thánh Kinh vừa hợp lý về mặt tâm lý học. Mặc dầu tôi không cho rằng đó là phương pháp cố vấn duy nhất mà một Cơ Đốc nhân có thể dùng, song đó là một phương pháp tôi đã nhận thấy là rất hữu hiệu.
Chúng ta đưa ra một vài giả thiết cơ bản trong Công tác Cố vấn bằng tình yêu Agape hoặc Liệu pháp Agape. Một trong những giả thiết nầy là "chân lý là trọn vẹn" như đã bày tỏ trong khung 1.1. Chân lý là duy nhất, nó hoàn toàn. * * Câu nầy có nghĩa gì? nó có nghĩa là mọi lẽ thật đều thống nhất, bởi vì mọi lẽ thật đều đến từ Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta bảo điều gì đó là "thật" thì chúng ta hàm ý rằng nó phản ánh một sự nhận thức thành thật về cách thế giới của Đức Chúa Trời vận hành. Nhận thức ấy, sau đó có thể được sử dụng để đặt cơ sở cho lý thuyết và hành động tiếp theo, bởi vì nếu nó là thật, thì nó sẽ luôn luôn đúng và hoàn toàn đúng.
Cuối cùng thì sự thật hoàn toàn được khám phá ở một chỗ: Nguồn cội của mọi lẽ thật là Đức Chúa Trời. Tuy nhiên trong kinh nghiệm, ta có thể tìm thấy những khía cạnh của chân lý trong những chỗ khác nhau. Ví dụ chúng ta tin rằng mọi điều trong Thánh Kinh đều đúng, nhưng chúng ta không thể bảo rằng tất cả đều gì đúng đều được tìm thấy trong Kinh Thánh. Nhiều chân lý đã không được viết ra cho chúng ta trong Kinh Thánh như là, điểm sôi của nước hay là cách nướng bánh, hai chân lý cần thiết cho sự sống còn. Tuy nhiên, có nhiều chân lý không được diễn giải ra trong Kinh Thánh song đã được Kinh Thánh xác minh là đúng. Đó là những chân lý chúng ta đang đề cập đến khi chúng ta nhìn xem các kiểu mẫu thế tục về thuyết tâm lý. Chúng ta mượn từ những kiểu mẫu nầy, những phần đúng và xác nhận những lẽ thật ấy với Lời Đức Chúa Trời.
Chân lý... là duy nhất (Một)
Trọn vẹn và Bất Biến
và được ban xuống bởi
Sự Mặc Khải và Sáng Tạo (Thiên Nhiên)
Giả thiết thứ nhất: Chân Lý là Một, trọn vẹn và hoàn toàn. Bạn hãy lưu ý rằng trong bảng ngữ vựng, chúng ta định nghĩa lẽ thật là "tình trạng thực tế về sự xuất hiện của sự việc" (lẽ thật khách quan) hay là "sự chân thật và trung thực của tính chất" (lẽ thật chủ quan)
1. Nếu việc gì đó không đúng với điều nó phải xuất hiện, chúng ta sẽ bảo là việc đó thiếu
a. Lẽ thật khách quan
b. Lẽ thật chủ quan
Giả thiết thứ hai: Chân lý được Đức Chúa Trời mặc khải cho con người qua thiên nhiên, qua Thánh Kinh và qua Con Ngài, là Đức Chúa Jesus Christ. Kinh Thánh đã tỏ rõ rằng con người không thể bào chữa cho chính mình mà bảo rằng "Tôi không biết chân lý là gì" Hãy xem xét cẩn thận một số những câu Kinh Thánh nói về chân lý.
* * Đức Chúa Trời đã bày tỏ chân lý cho chúng ta bằng nhiều cách. Trước hết, chúng ta biết rằng Ngài đã bày tỏ chân lý cho chúng ta qua Lời Đức Chúa Trời bởi vì Kinh Thánh phán rằng Lời Ngài là lẽ thật (GiGa 17:17). Thứ hai, chân lý đã được mặc khải cho chúng ta qua thân vị của Đức Chúa Jesus Christ. Ngài chính là hiện thân của chân lý, nghĩa là Ngài đã bày tỏ chân lý cho chúng ta qua đời sống của Ngài. Ngài là Đấng duy nhất từng sống và sẽ sống mãi mãi. Đấng có thể phán rằng chân lý được giải bày cho chúng ta bởi Đức Thánh Linh. Theo 16:7-13 Thánh Linh là Thần lẽ thật, là Đấng dẫn dắt chúng ta vào mọi lẽ thật. Sau cùng, Đức Chúa Trời đã mặc khải lẽ thật cho chúng ta qua thiên nhiên. Dĩ nhiên, chúng ta có đoạn Kinh Thánh (trong RoRm 1:18-20) phán rằng "bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy". Đây là lý do chúng ta không sợ khi xem xét nội dung của bất cứ môn khoa học nào đang săn đuổi chân lý. Tuy nhiên, chúng ta phải luôn luôn phân biệt chân lý với lý thuyết. Tâm lý học và việc cố vấn là những môn nghiên cứu nhằm cố gắng hiểu được con người qua cách cư xử của người ấy và giúp người ấy cư xử tốt hơn.
Giả thiết nầy về lẽ thật là cần yếu cho việc nghiên cứu của chúng ta. Tóm lại có thể nói như vầy "Lẽ thật là một, lẽ thật là trọn vẹn. Lẽ thật được Đức Chúa Trời mặc khải cho chúng ta qua nhiều cách khác nhau" * *
2. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu đúng dựa theo 1:18-20
a. Bởi vì loài người chọn không nhận biết về sự mặc khải của Đức Chúa Trời dành cho con người, cho nên điều mặc khải ấy không phải là chân lý.
b. Sự hiểu biết về Đức Chúa Trời đã được mặc khải rõ ràng.
c. Từ khi thế gian được tạo dựng, những sự trọn lành của Đức Chúa Trời mắt không thấy được, vẫn sờ sờ như mắt xem thấy.
d. Loài người đã khống chế lẽ thật bởi sự gian ác của họ.
e. Loài người có lý do để bào chữa cho việc không biết lẽ thật.
3. Giải thích lời cầu nguyện của Chúa Jesus cho các môn đồ của Ngài "Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh, Lời Cha chính là lẽ thật" (GiGa 17:17)
...
Trong 14:4 Chúa Jesus phán "Ta là đường đi, lẽ thật và sự sống". Vì vậy, khi chúng ta ngã lòng hoặc khi có những người cần sự giúp đỡ, chúng ta có thể tìm thấy chân lý bằng cách trình dâng mọi nhu cầu của chúng ta cho Chúa Jesus là chân lý, và là con đường duy nhất để đến cùng Cha.
Giả thiết Thứ Ba: Thánh Kinh là nguyên tắc có thẩm quyền của đức tin và sự chỉ dẫn. Giả thiết nầy là nền tảng cho mọi mối tương quan của chúng ta. Nếu mỗi chúng ta công nhận điều nầy là nền tảng chung, chúng ta sẽ có nơi để giải quyết các nan đề của mình.
4. Phao Lô nói với Timôthê trong IITi 2Tm 3:15-17 rằng Kinh Thánh được sử dụng cho ba mục đích đặc biệt. Đó là những điều nào?
...
ITe1Tx 2:13 nói Lời của Đức Chúa Trời hành động trong đời sống của những người tin Ngài. Bạn có thể nhìn thấy sự liên hệ giữa câu Kinh Thánh nầy với công tác cố vấn Cơ Đốc không? Tôi tin rằng một khi Lời Chúa ứng dụng cho nhu cầu trong đời sống của kẻ tin Ngài thì Lời Chúa sẽ bắt đầu chữa lành kẻ bị thương tổn.
5. IIPhi 2Pr 1:2 công bố những lời chắc chắn nhất về thẩm quyền của Kinh Thánh. Khoanh tròn mẫu tự bên dưới dành cho câu nào tuyên bố ý nghĩa câu Kinh Thánh ấy đúng nhất.
a. Những lời tiên tri là các phần có thẩm quyền lớn nhất trong Kinh Thánh bởi vì Đức Thánh Linh đã coi đến những lời đó.
b. Thánh Kinh được con người ghi chép, nhưng thật sự chính Thánh Linh là Đấng soi dẫn họ chép ra.
c. Các tác giả của Kinh Thánh đã không muốn ghi chép, nhưng Đức Thánh Linh khiến họ phải viết.
d. Phierơ đang nói rằng ông là một người thánh khiết nhất trong các môn đồ và vì vậy đã được Đức Thánh Linh chọn để viết Kinh Thánh.
Bạn có thể suy nghĩ đến một lãnh vực nào trong đời sống mình mà bạn hiện chưa ứng dụng lời Kinh Thánh như là nguyên tắc có thẩm quyền của đức tin và của sự chỉ dẫn không? Đó là lãnh vực nào? Hãy ngừng lại giây lát và để thì giờ đến với Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus, Con Ngài và Lời Thánh Kinh của Ngài và tiếp nhận lẽ thật. Hãy để cho Lời Kinh Thánh chỉ dẫn nan đề của bạn và cầu nguyện xin Thánh Linh khiến bạn mạnh mẽ.
6. Lời Chúa mang lại:
a. Những chi tiết để ta hiểu được việc tạo dựng thế gian.
b. Các ý tưởng chung nhưng không phải là một bộ luật nói về cách chúng ta phải sống thế nào
c. Những nguyên tắc nhằm giúp chúng ta có được sự chỉ dẫn để sống cách phải lẽ.
d. Sự giúp đỡ chút ít cho việc quyết định các vấn đề hằng ngày của cuộc sống.
Giả thiết Thứ Tư: Loài người được Đức Chúa Trời tạo dựng theo hình ảnh của Ngài, song vì cố tình vi phạm, họ đã phạm tội và bị phân cách với Đức Chúa Trời. Từ một vài đoạn đầu trong sách Sáng Thế Ký cho đến sách cuối cùng là Khải Huyền, chúng ta nhìn thấy hình ảnh con người vi phạm luật lệ của Đức Chúa Trời, và vì vậy, con người tự phân cách với Đức Chúa Trời. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, chúng ta hiện có một con đường để trở lại, qua sự ăn năn và tiếp nhận sự hy sinh của Chúa Jesus.
7. Theo SaSt 1:26-27, Đức Chúa Trời quyết định dựng nên con người theo cách nào?
...
8. Đọc lại RoRm 5:12-19 và trả lời những câu hỏi sau:
a. Tội lỗi đã xâm nhập vào thế gian như thế nào?
...
b. Kết quả của tội lỗi đó là điều gì?
...
c. Ân điển của Đức Chúa Trời đã vào thế gian như thế nào?
...
d. Kết quả của ân điển đó là gì?
...
5:12-19 đưa ra một lời mô tả sống động về sự chết đã đến trên hết thảy loài người bởi tội lỗi của Ađam và Êva. Đoạn Kinh Thánh nầy cũng giải tỏ công việc của Chúa Jesus Christ trong việc bày tỏ ân điển của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sự sống nhưng không qua sự chết của Ngài.
Giả thiết Thứ Năm: Đức Chúa Jesus Christ đã cung ứng cho loài người sự tha tội và sự hòa giải với Đức Chúa Trời bởi sự chết và sự sống lại của Ngài. Trong IICo 2Cr 5:17-19 Phao Lô viết rằng "Nếu ai ở trong Đấng Christ thì nấy là người được dựng nên mới, những sự cũ đã qua nầy mọi sự đều trở nên mới". Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. Điều đó há không đáng vui mừng sao? Chức vụ giảng hòa ấy chính là chức vụ cố vấn! Nhưng chúng ta phải được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời qua Đấng Christ trước đã.
9. Đọc GiGa 3:16-17, RoRm 10:9-10 và Eph Ep 2:8-9. Những đặc điểm chung trong các đoạn Kinh Thánh nầy đề xuất sự chữa lành hoàn toàn trong khuôn khổ của cống tác cố vấn đó là:
a. Sự xưng nghĩa và sự cứu chuộc.
b. Sự báo thù và sự trừng phạt.
c. Sự giải hòa và sự công bình.
d. Sự phán xét và sự tha thứ.
Chúa Jesus là hiện thân của tìnmh yêu thiên thượng mà chúng ta gọi là tình yêu Agape. Bởi vì, Ngài chính là gương mẫu trọn vẹn của chúng ta, mẫu mực toàn hảo của chúng ta. Ngài đã cố vấn cho kẻ khác khi còn ở trên đất, và chúng ta cần học tập gương mẫu ấy của Ngài để thấy chúng ta có thể hữu hiệu ra sao nhờ vào sự sống, sự chết của Ngài.
10: Đọc IGi1Ga 4:7-12. Ở đây cho chúng ta nhìn thấy tình yêu thiên thượng (Agape) của Chúa Jesus là gương mẫu của chúng ta. Bởi vì Ngài đã ban chính Ngài cho chúng ta, chúng ta phải:
a. Chỉ nhận tình yêu của Ngài.
b. Chỉ tập trung tình yêu của chúng ta vào Ngài mà thôi.
c. Yêu thương lẫn nhau
d. Yêu chính mình.
Giả thiết Thứ Sáu: Chúa Jesus mặc khải chân lý cho chúng ta theo một phương thức liên tục qua công việc và thân vị của Đức Thánh Linh. Ngài là Thần lẽ thật sẽ dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật. Trong GiGa 16:13 Chúa Jesus phán: "Khi nào Thần lẽ thật đến, Ngài sẽ dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật. Ngài sẽ làm sáng danh Ta vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về Ta mà rao bảo cho các ngươi"
11. Trong 16:5-6 chúng ta thấy Đức Thánh Linh là mẫu mực của một nhà cố vấn toàn vẹn trong việc Ngài cáo trách thế gian về ... ,về ... và về ...
Cáo trách là vai trò của Đức Thánh Linh, bởi vì đó chính là một trong những lý do Chúa Jesus ban Đấng ấy cho chúng ta. Vì vậy, vai trò của chúng ta là tạo một môi trường sao cho Thánh Linh có thể vận hành trong đời sống người được cố vấn và cáo trách người ấy nếu cần.
12. Ôn lại vắn tắt sáu giả thiết cơ bản, nền tảng cho Công Tác Cố Vấn Agape. Xem xét giả thiết nào mà bạn cảm thấy mình phải chú ý chuyên cần hơn trong chức vu cố vấn và triển khai một số các bước bạn có thể hoàn thiện trong lãnh vực nầy. Hãy viết điều nầy vào vở của bạn.
13. Nhằm hiểu được Agape Liệu pháp, chúng ta phải chú trọng sáu giả thiết cơ bản. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG liên quan đến các giả thiết ấy.
a. Thật khó hiểu lẽ thật về sự mặc khải của Đức Chúa Trời.
b. Chúa Jesus, bởi sự chết và sự sống lại của Ngài đã hòa giải chúng ta với Đức Chúa Trời.
c. Lẽ thật được mặc khải qua thiên nhiên, Kinh Thánh và Đấng Christ.
d. Lẽ thật có thể thay đổi và có nhiều phần rời rạc.
e. Lẽ thật là một, toàn vẹn và hoàn toàn.
f. Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời nhưng tội lỗi đã phá hoại mối tương giao.
g. Thánh Kinh cung ứng những nguyên tắc của đức tin và của sự chỉ dẫn.
h. Sự cáo trách là vai trò của cố vấn.
i. Đức Thánh Linh được Chúa Jesus ban xuống để tỏ bày lẽ thật cho chúng ta.
Sự Phối Hợp
Liệu pháp Agape coi chân lý là điều phải hòa hợp với lẽ thật của thánh Kinh. Phương pháp chữa trị bằng tình yêu thương nhận biết hầu hết các hệ thống cố vấn đều đặt nền tảng trên một số những lẽ thật của Thánh Kinh, nhưng không có hệ thống nào hoàn toàn nằm trong phạm vi của lẽ thật. Vì thế những nhà cố vấn cố gắng sử dụng những lẽ thật trong các hệ thống nghiên cứu khác nhau nầy bằng bất cứ cách nào có thể được. Bằng cách sử dụng những lẽ thật nầy, Liệu pháp Agape kết hợp kiến thức về thần học và tâm lý học nhằm cố gắng đáp ứng được những nhu cầu của con người.
Trong phần nầy, chúng ta sẽ xem xét các phương pháp khác nhau tiếp cận với công tác cố vấn. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng mỗi phương pháp đều có giá trị đặc biệt nào đó đối với người cố vấn Cơ Đốc. Khung 1.2 diễn tả lẽ thật là vòng tròn lớn còn mỗi vòng trò nhỏ hơn tượng trưng cho mỗi phương pháp cố vấn mà có phối hợp với ít nhiều lẽ thật.
LẼ THẬT LÀ GÌ?
LẼ THẬT
LÀM SAO CHÚNG TA BIẾT LẼ THẬT?
* * Điều độc nhất mà người cố vấn Cơ Đốc đang có gắng thực hiện, khi đem so sánh nó với một phương pháp cố vấn của nhà cố vấn thế tục, đó là Cơ Đốc nhân sử dụng những khái niệm và những nguyên tắc từ những kiểu mẫu trị liệu. Những loại phương pháp khác nhau mà thế gian đã dùng trong công tác cố vấn được trình bày bằng những vòng tròn nhỏ trong khung 1.2 gối lên vòng tròn lớn.
Những chữ đầu viết tắt nhằm để nhận biết mỗi kiểu mẫu cố vấn được biểu thị trong khung 1.2. Bạn sẽ để ý rằng những vòng tròn có dán nhãn hiệu đó đại diện cho mỗi kiểu mẫu đều có một phần riêng gối lên vòng tròn của lẽ thật. Những phần nằm trong vòng tròn lớn biểu thị cho những phần có giá trị về mặt tâm lý học và giá trị về Thánh Kinh của mỗi một kiểu cố vấn. Nói cách khác, những phần nằm ở bên trong của các vòng tròn tượng trưng cho sự hòa nhập. Sự phối hợp có nghĩa là "chúng ta kết hợp các phần nhiều của kiểu mẫu tâm lý học vào trong việc cố vấn của chúng ta", một quan điểm có chọn lọc. Nhiều trong số các lý thuyết nầy được giải thích chi tiết hơn trong phần Phụ lục A.
Lý thuyết của trường phái Freud hay là khoa Phân Tâm Học được đặc trưng bằng vòng tròn có chữ PA. Ông William Glasser đã viết một quyển sách được nhiều người ưa chuộng, là quyển Liệu Pháp Thực Tế (Reallity Therapy) tượng trưng bằng chữ RT. TA là chữ viết tắt của Phép Phân Tích Trao Đổi và quyển sách được ưa chuộng, đó là quyển Tôi Tốt, Bạn Tốt (I'm OK, You're OK) của Thomas Harris.
Liệu pháp Trung Thực (Integrity Therapy) được gán cho chữ IT được O.Hobart Mowrer khởi xướng và John Drakeford hệ thống hóa. Liệu pháp Xúc Cảm Duy Lý (Rational Emotive Therapy) được gán cho chữ RET do Albert Ellis thành lập.
Tất cả những phương pháp nầy đều phần nào có giá trị hoặc có một lẽ thật trong chúng. Nhưng không có phương pháp nào hoàn toàn nằm trong phạm vi lẽ thật. Công tác Cố vấn Agape hay là Liệu Pháp Agape được đặc trưng bằng chữ AT, chúng ta phải đặt nó một phần lớn bên trong vòng tròn và một phần bên ngoài vòng tròn, bởi vì chúng ta hiểu rằng mình cũng chưa hoàn toàn hiểu rõ toàn bộ lẽ thật. Tuy nhiên, đây là mục tiêu để chúng ta vươn đến.
Mỗi một phương pháp kể trên chỉ có giá trị ở một mức hạn chế tùy theo mức độ nó gối lên vòng tròn của lẽ thật. Khi nó gối vào trong vòng tròn ấy, chúng ta gọi đó là sự hòa nhập Phối Hợp là vì sự hiểu biết của chúng ta về lẽ thật không chỉ có giá trị về mặt tâm lý, mà còn có giá trị về mặt Thánh Kinh. Hãy xem xét một số những hàm ý mà nó dành cho chúng ta. Có một điều, đó là không phải chúng ta sợ phải nghiên cứu tâm lý học cũng không phải chúng ta đề phòng nói về công tác cố vấn cũng như vậy. Thay vì hoàn toàn chối bỏ điều mà các nhà tâm lý và các nhà cố vấn thế tục đang phát biểu, chúng ta hãy đến với một tâm trí cởi mở và tự hỏi "Hệ thống có cống hiến phần lẽ thật gì cho chúng ta?"
Phối Hợp có nghĩa là chúng ta thật sự có một cái nhìn chọn lọc, tức là chúng ta kết hợp các phần đúng của các kiểu mẫu chữa trị khác nhau trong khi tìm cách khám phá xem mỗi một phương pháp trong các kiểu mẫu nầy có thể được sử dụng như thế nào vào một mục đích đặc biệt. Để minh họa, chúng ta hãy bảo một người thợ mộc đang ở tại bàn thợ rằng cần phải đóng một cây đinh, anh ta lấy chiếc búa và đóng cây đinh. Anh ta không lấy cái cưa để đóng cây đinh. Mặc khác nếu anh ta cố gắng xẻ tấm ván bằng một cái búa thì anh ta có nan đề thật sự. Cũng vậy, chúng ta hãy tìm cách sử dụng phần đúng của mỗi kiểu cố vấn vào một mục đích riêng biệt. Chúng ta hãy nhìn sơ qua một số các kiểu mẫu nầy.
Liệu Pháp Trung Thực (Integrity Therapy) có liên hệ đến lương tâm. Sự thú tội và sự bồi thường. Nó chứa đựng một số những ý niệm và những nguyên tắc thuần túy thuộc về Thánh Kinh. Đó là một công cụ tốt đặc biệt trong việc cố vấn khi xử lý vấn đề phạm tội.
Liệu Pháp Xúc Cảm Duy Lý (Rational Emotive Therapy) là một kiểu mẫu do Albert Ellis triển khai. Theo sự hiểu biết của tôi, ông ta không định khoe khoang việc mình là một Cơ Đốc nhân. Nhưng phương pháp của ông đã được xây dựng trên một tiên đề của Kinh Thánh khá vững chắc. Bằng những lời đơn sơ, ông nói: "Nếu bạn suy nghĩ không hợp lý, bạn sẽ cảm thấy khủng khiếp và cư xử vô trách nhiệm". Điều đó, theo phán đoán của tôi là điều mà Kinh Thánh đề cập đến trong Philíp 4:8; khi Phao Lô nói rằng Cơ Đốc nhân phải nghĩ đến những điều "chân thật", "đáng tôn", "công bình", "thanh sạch", "đáng yêu chuộng", và "đáng khen". Điều con người suy nghĩ sẽ ảnh hưởng đến những cảm giác và cách cư xử của người ấy. Ellis trong công tác cố vấn cũng nói rằng "Nếu bạn thay đổi cách suy nghĩ, bạn sẽ thay đổi cảm giác và cảm giác đổi thay đó sẽ dẫn đến một tâm tánh được thay đổi". Một phương pháp mới mẻ hơn, đi theo đường lối căn bản tương tự như vậy, là Liệu Pháp Nhận Thức (Cognitive Therapy) được triển khai do Aaron T.Beck.
Một kiểu mẫu khác, Liệu Pháp Thực Tế (Reality Therapy) của William Glasser, nói rằng nhu cầu cơ bản của con người là yêu thương và được yêu. Điều nầy cũng nằm trong Kinh Thánh. Hãy xem xét, ví dụ mạng lệnh quan trọng và lớn thứ nhì, được Chúa Jesus ban truyền trong Mac Mc 12:29-31 há không phải là những mạng lệnh nầy có liên hệ đến tiền đề về "nhu cầu yêu thương" ấy của Glasser sao?
Tôi còn nhớ một lần nọ khi đang ngồi trong một buổi hội thảo nơi ông William đang giảng dạy. Sau khi ông đã nói chuyện một lúc khá lâu, có người hỏi ông "Thưa Tiến sĩ Glasser, ông dùng những ngôn từ và khái niệm có vẻ như là một Cơ Đốc nhân. Thế vì sao ông không hề đề cập đến Chúa Jesus Christ và Kinh Thánh?" Ông đã trả lời ngay: "Nếu điều tôi nói khớp với nhận thức của bạn về Cơ Đốc giáo thì hãy nhận lấy và sử dụng. Lý do tôi không nói về Cơ Đốc giáo là vì tôi chưa hề kinh nghiệm điều đó". Tôi thật hết sức khâm phục sự chân thật của ông. Chắc chắn là có một số những khái niệm và nguyên tắc trong Phép Liệu Pháp Thực Tế hợp với Thánh Kinh. Một khái niệm khác mà ông nói đến là tinh thần trách nhiệm. Thật ra, ông nói rằng vấn đề cơ bản của con người có liên quan đến tinh thần trách nhiệm. Thậm chí ông tuyên bố rằng không có bệnh tâm thần, mà chỉ là các mức độ khác nhau về tinh thần vô trách nhiệm. Mặc dầu tôi tin đó là một lời phát biểu hơi quá, song tôi cũng nghĩ Kinh Thánh dạy rằng con người phải chịu trách nhiệm về cách cư xử của họ và rằng tinh thần vô trách nhiệm sẽ khiến người ta bệnh tật.
Ngay cả phương pháp của trường phái Freud trong công tác cố vấn có một số lẽ thật trong đó. Song hiện nay tôi nhất định không đồng ý hoàn toàn với lý thuyết của Freud, nhưng Freud cha đẻ của ngành Phân Tâm Học là ngành đã gia tăng sự nhận thức của lương tâm và tầm quan trọng của nó. Tôi phải nói rằng Tân ước cũng đã nói giống như vậy, nhưng đã nói từ rất lâu, trước ông Freud. Tân ước có ba chục lần nhắc đến lương tâm. Ông Freud cũng đưa ra một phương pháp hệ thống về nhân tánh, và mặc dầu người ta có thể không đồng ý với tất cả những ý tưởng hoặc những kết luận của ông, thì ông cũng đã giúp khởi đầu một sự nghiên cứu quan trọng về nhân cách.
Thomas Harris, người viết quyển "Tôi tốt, Bạn tốt" (I'm OK, You're OK), đó là một chỉ dẫn thực tiễn đối với phép Phân Tích Trao Đổi. Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vấn đề con người là gì. Ông tin rằng con người được tự do để thay đổi hoặc không thay đổi. Ông nhìn thấy ảnh hưởng của môi trường sống trong quá khứ, tuy nhiên, ông tin một người vẫn có thể ở trong tiến trình thay đồi và tăng trưởng. Chúa Jesus đã công nhận quyền của con người là thuộc về cá nhân người ấy khi Ngài khuyên giục chúng ta hãy yêu thương chính mình. Rõ ràng sự thay đổi và sự tăng trưởng là những chủ đề chính của Tân ước.
Vậy thì, tóm lại, các Cơ Đốc nhân không cần phải lo lắng về những gì mà giới cố vấn thế tục đang phát biểu. Họ không cần phải rút lui. Họ không cần phải lo sợ. Họ có thể vươn tới lẽ thật và biết chắc rằng khi lẽ thật được khám phá, nó sẽ không xâm phạm đến Lời Đức Chúa Trời, bởi vì Lời Chúa là ngay thật. Tuy nhiên, họ phải thận trọng phải rất chuyên chú và có hệ thống trong việc kiểm tra mỗi một phương pháp qua lẽ thật và loại bỏ những gì chỉ là lý thuyết. Điều nầy giải phóng cho những tư tưởng hẹp hòi và cứng nhắc. Một lần nữa, hãy nhớ rằng chúng ta gọi việc tìm kiếm lẽ thật nầy là sự phối hợp. * *
14. Sắp xếp kiểu công tác cố vấn (bên phải) sao cho phù hợp với đặc điểm chủ yếu của nó (bên trái)
... a. Người ta phải xưng tội và bồi thường.
... b. Những tư tưởng trở thành cảm giác và sau đó trở thành những hành động.
... c. Người ta nhận biết nhu cầu để yêu, được yêu và cư xử một cách có trách nhiệm.
... d. Lương tâm được nhấn mạnh đến trong nhân cách.
... e. Người ta chấp nhận cái tôi của mình.
... f. Những mối tương quan được xây dựng trên tình yêu thiên thượng.
15. Định nghĩa sự phối hợp
...
Người cố vấn bán chuyên nghiệp đang tìm kiếm lẽ thật và những kiểu chữa trị được liệt kê ở trên chỉ là đơn thuần là những công cụ để chúng ta khám phá lẽ thật của Đức Chúa Trời.
Khi áp dụng nó cho người được cố vấn. Bạn đừng bỏ qua các phương thức chữa trị đa dạng nầy chỉ vì chúng có những phần không giá trị, nhưng hãy nghiên cứu chúng và lựa chọn sử dụng các phần có giá trị, phù hợp với những lẽ thật của Thánh Kinh.
16. Khoanh tròn mẫu tự ở trước mỗi câu ĐÚNG
a. Người cố vấn bán chuyên nghiệp nên bỏ qua các lý thuyết khác nhau của khoa tâm lý học.
b. Tác giả của bạn tin rằng chỉ có Liệu Pháp Agape là nằm hoàn toàn trong vòng lẽ thật.
c. Sự phối hợp bao gồm việc sử dụng những phần đúng của các kiểu cố vấn khác nhau.
d. Liệu Pháp Agape có một số điểm chung với từng lý thuyết cố vấn đã được thảo luận.
e. Người Cơ Đốc không nên dè dặt trong việc áp dụng một lý thuyết về tâm lý học của thế tục.
Các Định nghĩa và Các Khái Niệm
Kiểu mẫu cho công tác cố vấn Cơ Đốc hay là Liệu Pháp Agape của chúng ta là một mối tương quan trong tình yêu Agape. Phần liệt kê dưới đây là một số các định nghĩa có ích cho người cố vấn Cơ Đốc bán chuyên nghiệp.
Những điều nầy được đưa vào đây thay vì để trong bảng chú giải thuật ngữ, bởi vì đó là cơ sở để chúng ta hiểu được Liệu Pháp Agape.
1 Tình Yêu Agape là tinh thần nói rằng: "Dầu cho có ai làm bất cứ điều gì đó cho tôi, tôi cũng sẽ không bao giờ tìm cách làm hại người ấy, tôi cũng không bao giờ tính chuyện trả thù, tôi sẽ luôn luôn không tìm kiếm điều gì ngoài điều tốt nhất cho người ấy. Nghĩa là bảo rằng, tình yêu Cơ Đốc, tình yêu Agape là lòng từ thiện không thể bị khuất phục, là thiện chí vô song không gì lay chuyển nổi". Đó là một nguyên tắc để sống kiên định, tức là một nguyên tắc có chủ đích của tâm trí và một sự chinh phục có mục đích và là một thành tựu của ý chí. "Nó không đơn giản chỉ là một sự rung động của cảm xúc, nhưng là một sự xác quyết của tâm trí bắt nguồn từ một thành tựu kiên địng, sự chinh phục và sự đắc thắng của ý chí". Nó được gọi là "Một sự lựa chọn gắn liền với những lập luận".
2. Liệu Pháp Agape hay Công Tác Cố Vấn Agape là "Một mối tương quan Agape giữa hai người hoặc nhiều hơn nữa, trong đó vị Mục sư hoặc người cố vấn tìm cách sử dụng những nguồn cung cấp từ con người và từ thiên thượng mà mình sẵn có để mang lại sự đổi mới, sự chữa lành, sự toàn diện và sự trưởng thành cho người được cố vấn.
* * Chúng ta nói rằng công tác cố vấn bắt đầu bằng một mối tương quan yêu thương Agape. Vậy thì, tình yêu Agape là gì? Agape là tình yêu. Nhưng tình yêu là một từ ngữ mà tôi thấy nhiều người không thật sự hiểu được, bởi vì thế giới đã làm đảo lộn ý nghĩa của nó. Thế gian gọi một số điều là tình yêu song thực sự điều đó chẳng có yêu thương gì cả. Chúng ta dùng từ yêu thương theo quá nhiều cách khác nhau, phải vậy không? Nó có nhiều ý nghĩa khác nhau. Giá trị của việc sử dụng từ Hylạp nầy, Agape, đó là nó có một ý nghĩa rất chính xác.
Nếu bạn tra xem chữ Agape trong một từ điển Hylạp hoặc một cuốn sách nghiên cứu từ ngữ, bạn sẽ tìm được một lời định nghĩa như sau: "Đó là một hành động tự nguyện hay là một hoạt động có chủ đích, một quyết định để quan hệ với người khác sao cho người kia có ích lợi nhiều nhất" Đó không phải chỉ đơn giản là một sự rung động cảm xúc. Đây là một cách minh họa khá dễ hiểu.
Ví dụ, hãy liệt kê những phẩm chất và những đặc điểm của tình yêu trong ICo1Cr 13:4-7. Bắt đầu như vầy: "Tình yêu thương hay nhịn nhục". Vậy khi nào thì bạn phải nhịn nhục hơn hết? Khi bạn cảm thấy thích nhịn nhục ư? Không! Đó chính là lúc bạn cảm thấy không thích nhịn. Khi bạn đang cảm thấy thiếu kiên nhẫn nhất, thì bạn cần phải nhịn nhục.
Khi nào thì bạn cần tỏ ra nhân từ nhất? Khi bạn có cảm giác tốt đẹp về một người nào đó và bạn chỉ muốn bày tỏ lòng nhân từ với họ chăng? Không! Đó chính là lúc họ làm điều xấu cho bạn bằng cách nào đó hoặc nói xấu bạn.
Vì vậy, Agape là một loại tình yêu tự nguyện. Đó là một hành động được quyết định, một cách cư xử được quyết định về phía của bạn. "Tôi chọn cách liên hệ có ích lợi nhất cho bạn, theo điều tốt nhất mà tôi hiểu biết trong quyết định mà tôi thực hiện và những điều tôi nói, tôi muốn giúp đỡ bạn. Nếu tôi chưa giúp được cho bạn thì tôi muốn bạn hãy bảo cho tôi biết và tôi sẽ làm ngay". Tình yêu Agape là như thế đấy! Chúng ta nói đặc trưng lớn nhất của sự chữa lành hay nguồn cung ứng dành cho sự chữa lành trong một mối tương quan là đặc trưng của tình yêu thương nầy. Bây giờ, chúng ta hãy củng cố suy nghĩ của mình.
Agape là một loại tình yêu rất đặc biệt, loại tình yêu của Đức Chúa Trời, tình yêu ấy bảo rằng "Tôi sẽ luôn không tìm điều gì ngoài điều ích lợi nhất cho bạn". Đây là một nguyên tắc kiên định của tâm trí. Nó đòi hỏi tất cả những gì thuộc về một con người để đạt được tình yêu Cơ Đốc. Nó không những chỉ đòi hỏi tấm lòng người ấy, mà còn chiếm luôn cả tâm trí và ý chí của người ấy nữa.
Thánh Kinh nhấn mạnh đến loại tình yêu nầy. Ví dụ Mat Mt 22:34-40 chép rằng " Hãy hết lòng yêu kính Chúa là Đức Chúa Trời ngươi... Hãy yêu kẻ lân cận như mình". Chúa Jesus đã chọn đặc trưng yêu thương nầy như là mục tiêu đầu tiên và là sự diễn tả về một đời sống ý nghĩa.
GiGa 13:34-35 phán rằng "Nếu các ngươi yêu thương (Agape) nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta".
ICo1Cr 13:1-13 là một đoạn điển hình khác về tầm quan trọng mà Kinh Thánh dành cho tình yêu thương Agape. Thật vậy, ba câu đầu của đoạn Kinh Thánh nầy cho bạn biết rằng bạn sẽ có thể có tất cả mọi loại chức vụ, mọi thứ khả năng, mọi thứ ân tứ, bạn có thể thậm chí đổ xăng tưới khắp chính mình và quẹt diêm thiêu đốt chính mình như một kẻ tuận đạo. Nhưng nếu bạn không có tình yêu thương, thì tất cả những điều đó sẽ chẳng có giá trị gì. Song tình yêu thương, chúng ta được cho biết ở cuối đoạn, đặc điểm Agape của tình yêu thương ấy còn đến đời đời.
Khi bạn tiếp tục học qua những lời dạy dỗ của Chúa Jesus trong Tân ước, rồi qua các thư tín của Phao Lô cho đến sách cuối cùng của Kinh Thánh, thì thấy loại tình yêu Agape nầy luôn được nhấn mạnh. Đức Chúa Trời được mặc khải cho chúng ta là tình yêu. IGi1Ga 4:8 và câu 16 phán rằng: "Đức Chúa Trời là tình yêu thương". Sự mô tả tốt nhất về đời sống Cơ Đốc là tình yêu thương.
Sự thật đáng buồn là hội thánh không luôn dạy dỗ về loại tình yêu nầy hoặc tầm quan trọng của nó. Đôi khi hội thánh đã bỏ qua sự nhấn mạnh thật sự của Kinh Thánh trong những lời giảng dạy về tình yêu. Mục tiêu của chức vụ cố vấn chuyên biệt nầy chỉ là nhận lấy Lời Chúa đúng như lời ấy được truyền phán và học hỏi cách để yêu thương người khác tốt hơn, tức là để tương quan với họ vì cớ điều ích lợi nhất cho họ với niềm tin tưởng rằng mối liên hệ đó sẽ trở thành cách chữa trị cho họ.
Một vấn đề thật sự nẩy sinh đó là chúng ta không thật sự tốt trong tình yêu. Nhựng ham muốn xác thịt của chúng ta xen vào. Chúng ta còn phải học hỏi nhiều hơn.
17. Tình yêu Agape được bàn luận trong mỗi câu Kinh Thánh sau. Sắp xếp mỗi câu Kinh Thánh (trái) cho phù hợp với sự trưng dẫn tương ứng (phải)
a. Tình yêu thương hay nhịn nhục.
b. "Ai ở trong Sự Yêu Thương là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy".
c. "Hãy yêu mến lẫn nhau, như Ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy".
d. "Hãy yêu kẻ lân cận như mình".
Chúng ta nhận biết Đấng Christ đã phó chính Ngài trên thập tự vì cớ Ngài đã yêu chúng ta bằng loại tình yêu Agape. Đức Chúa Trời cũng đã yêu chúng ta đến nỗi ban Con Một của Ngài, dầu biết rõ rằng Con Ngài phải chịu chết cho tội lỗi của nhân loại. Đây không phải là loại tình yêu vị kỷ, nhưng là tình yêu thiên thượng ban cho vì cớ Ngài sẵn sàng ban cho.
18. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi câu ĐÚNG liên quan đến các khái niệm của tình yêu Agape.
a. Theo Liệu Pháp Agape, người ta có thể lựa chọn để đáp ứng cho những người khác bằng cách yêu thương.
b. Nếu liên hệ với một người khác vì tình yêu Agape, thì người ấy sẽ chọn làm điều tốt nhất cho người kia.
c. Tâm trí là một nguồn cung ứng lớn nhất của người ta trong việc chữa lành.
d. Tình yêu là một trong nhiều đặc trưng của chức vụ.
e. Thánh Kinh dạy rằng yêu thương lẫn nhau là sự thể hiện nếp sống Cơ Đốc cao nhất.
f. Sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá là một hành động gương mẫu của tình yêu Agape.
Đọc ICôrinhtô 13 nhiều lần để có một hình ảnh rõ ràng hơn về loại tình yêu Agape nầy.
19.
a. Theo ICôrinhtô 13, tình yêu Agape bao gồm bảy đặc điểm sau
...
b. Theo ICôrinhtô 13, tình yêu Agape KHÔNG gồm chín đặc điểm sau
...
20. Xem xét phần liệt kê bảy đặc điểm của tình yêu Agape đối với từng đặc điểm. Hãy viết vào vở của bạn từng cách có thể ứng dụng đặc biệt vào chức vụ của bạn trong vai một nhà cố vấn bán chuyên nghiệp.
Khi bạn nghiên cứu phần triển khai bài học dưới đây, hãy xem xét khung 1.3. Hai nhân vật lớn trong hình, tượng trưng cho người cố vấn và người được cố vấn. Hình vẽ cho thấy họ có một mối tương quan với nhau và mỗi người đều có mối tương quan với Chúa. Hãy nghiên cứu kỹ lương phần triển khai bài học để xác định xem những hình nhỏ tượng trưng cho điều gì và toàn thể bức tranh có ý nghĩa gì đối với chúng ta là những người cố vấn.
* * Chúng ta nói rằg công tác cố vấn Agape là một mốitương qua Agape. Vậy thì nó phải có liên hệ đến một mối tương quan. Bây giờ bạn hãy lưu ý chúng ta cũng bảo rằng người cố vấn "sử dụng mọi nguồn cung ứng sẵn có".
Xem xét kỹ lưỡng khung 1.3. Hình tam giác tượng trưng cho Đức Chúa Trời. Chúng ta nghĩ đến công tác cố vấn Cơ Đốc như một mối tương quan ba chiều giữa ít nhất là hai người và Đức Chúa Trời.
Vì vậy mối tương quan nầy là một mối tương quan bộ ba. Có nghĩa là người cố vấn Cơ Đốc nhờ vào những nguồn cung ứng theo chiều dọc hay nguồn cung ứng thiên thượng, đó là sự cầu nguyện, Kinh Thánh, sự kiêng ăn, thân vị cùng công tác của Chúa Jesus Christ, và Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh giúp người ấy biết điều phải nói. Nhưng người ấy phải sử dụng tất cả mọi nguồn cung ứng sẵn có, từ con người cũng như thiên thượng. Rồi sau đó người ấy sử dụng con người và những điều khác, cũng như chính mình nữa, những người nam, người nữ, những gia đình, những nhà chuyên môn và bất cứ ai trong mối tương quan theo chiều ngang. Nghĩa là thỉnh thoảng nguồn ấy phải đang làm việc với một người, mời gia đình hoặc cả bạn bè tham dự. Bằng việc đưa những người từ bên ngoài vào, như vậy, người ấy tạo được một cơ cấu môi trường xung quanh.
Ví dụ, một lần nọ tôi ngồi cùng với Bác sĩ tâm thần là một vị tư vấn trong công tác cố vấn của chúng tôi. Chúng tôi thảo luận những khía cạnh khác nhau của vấn đề. Những Người lân Cận có Quan tâm là chức vụ công tác cố vấn của hội thánh chúng tôi. Với sự cho phép của một số người nào đó trong hội chúng tôi, ông ta đưa ra phép điều trị theo y học, chúng tôi bàn về những cách để có thể yêu thương họ tốt hơn. Chúng tôi thảo luận cách làm thế nào ở tại nhà thờ, chúng tôi có thể giảng dạy những nguyên tắc thuộc linh để giúp cho những người nầy. Chúng tôi chỉ hỏi xem làm thế nào chúng tôi có thể yêu thương họ. Chúng tôi xem mình như là một đội ngũ. Chúng tôi không tranh đua với bất cứ ai, nhưng tin rằng mỗi người một nguồn cung ứng sẵn có đều phải đươc sử dụng để giúp đỡ cho những người bị thương tổn. Vì vậy chúng tôi cũng sử dụng các tín hữu, tức là những người không thuộc trong hàng giáo phẩm nhằm cố gắng đưa những người được cố vấn đến chỗ được chữa lành hoàn toàn.
Mục tiêu của Agape Liêu Pháp là chữa lành, làm đổi mới, tức là nói về sự sanh lại, sự toàn diện và sự trưởng thành. Chúng tôi nhìn vào toàn bộ con người, về thuộc thể, về tâm lý và về thuộc linh. Điều xảy đến cho một người trong bất cứ lãnh vực nào đều ảnh hưởng đến người ấy về mặt thuộc linh. Hết thảy chúng ta đều là con người toàn diện. Chúng ta không thể bỏ qua một lãnh vực nào trong đời sống một người.
Chúng tôi muốn giúp đỡ cho toàn bộ thân vị con người. Khi một người đang bị thương tổn nặng nề trong một lãnh vực nào của đời sống, chúng ta không để người đó đi và bảo rằng chúng ta không thể giải quyết được nhu cầu ấy. Hơn nữa, chúng ta phải tự hỏi "Chúa muốn chúng ta giải quyết nhu cầu ấy như thế nào?" . Chúng ta muốn giúp đỡ cho con người và đưa họ đến sự toàn diện và hoàn toàn và trưởng thành.
21.
a. Kể tên những nguồn cung ứng từ thiên thượng trong một mối tương quan bộ ba.
...
b. Kể tên những nguồn cung ứng khác trong mối liên hệ bộ ba.
...
22. Mục đích của Agape Liêu Pháp là
...
Những Hàm Ý
* * Những hàm ý của Liệu Pháp Agape rất có ý nghĩa. Chúng ta hãy nhìn xem mười hàm ý, mỗi lúc một điều. * *
Những hàm ý của phương pháp chữa trị bằng tình yêu vô kỷ
1. Sự Toàn Hảo
2. Việc Chữa Lành hay là Mối Tương Quan Trị Liệu
3. Trọng Tâm Con Người
4. Trách Nhiệm
5. Những Trách Nhiệm về Đạo Đức
6. Những Mặt Hạn Chế
7. Sự Thuận Lợi
8. Có Hành Động
9. Toàn Thể Con Người
10. Sự Tăng Trưởng
* * Hàm ý thứ nhất của Liệu Pháp Agape là sự toàn hảo. Một người cố vấn Cơ Đốc liên hệ với người được khải đạo theo cách để người kia được ích lợi nhất. Có nghĩa là người khải đạo phải ràng buộc với sự toàn hảo. Điều tốt thứ nhì không tốt đủ trong tình yêu Agape.
Một hàm ý khác đó là sự chữa lành hay là mối tương quan trị liệu. Tôi có thể mô tả điều nầy cho bạn. Hãy xem khung 1.5. Thế giới cố vấn có cái gọi là "bộ ba trong phép chữa trị gồm ba đặc điểm: Sự thông cảm, sự chân thật, và sự chấp nhận vô điều kiện. Chúng ta đã khám phá rằng tình yêu Agape bao gồm tất cả những điều đó, và khi một người yêu thương người khác, người ấy có một ảnh hưởng chữa lành trên họ. Sự quan tâm và khao khát của tôi dành cho các học viên học môn học nầy, cũng như cho chính tôi, đó là mỗi khi có cuộc gặp gỡ với con người thì đều là một dịp tiện để yêu thương và chữa trị. Hãy nghĩ đến ảnh hưởng mà chúng ta có nếu chúng ta học hỏi cách để yêu thương một cách hiệu quả trong ý thức của tình yêu Agape. Khi chúng ta đi lại ở giữa các cộng đồng mình sống trong suốt các hoạt động của một ngày. Chúng ta phải đụng chạm đến con người và có một ảnh hưởng chữa lành trên đời sống họ. Tôi tự hỏi, đây có phải là lý do Chúa Jesus đã phán bảo trong GiGa 13:35 rằng "Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ biết rằng các ngươi là môn đồ ta" * *
Tình yêu Agape gồm có
Bộ Ba Trị Liệu
Sự Chân Thật
Sự Chấp Nhận Vô Điều Kiện
Sự Cảm Thông Đúng
* * Điều quan trọng trong Liệu Pháp Agape nầy là trọng tâm của nó đặt nơi con người. Sự chú trọng của nó là ở con người. Một số các phương pháp chú trọng đến cách cư xử trong quá khứ hay những điều đa dạng khác, nhưng điều chúng ta quan tâm là con người. Chúng ta quan tâm sao cho con người được yêu thương và sao cho mỗi một nguồn cung ứng khả dĩ đều được sử dụng đem lại sự toàn diện trong đời sống họ. Thế gian thì thường hay nhắm vào việc sử dụng con người chỉ để thỏa mãn điều họ muốn mà thôi.
Một minh họa mà tôi thích dùng là điều mà tôi nghĩ là có nhiều ý nghĩa, đó là "Yêu thương con người và Sử dụng đồ vật", bởi vì con người, duy con người, là có tấm lòng bị tan vỡ. Nhiều khi con người sử dụng con người. Họ lợi dụng con người để được lợi về vật chất. Tôi phải nói rằng, nhiều khi có những người hầu việc Chúa, những Mục sư đã từng làm chức vụ suốt gần 20 năm trong hội thánh, mà vì cớ thiếu yêu thương, con người đã lợi dụng con người để kiếm lợi vật chất. Kết quả, họ đã gây cho những tấm lòng bị tan vỡ và những tâm hồn bị thương tổn.
Mọi phương pháp, ở một mức độ nào đó đều có liên quan đến con người. Nhưng chúng ta yêu thương con người đó là phương pháp đòi hỏi trách nhiệm. Người ta không thể yêu thương mà không có trách nhiệm. Nghĩa là người ấy phải chịu trách nhiệm trong những quyết định của mình về cách người ấy trò chuyện với những người khác, cách người ấy suy nghĩ, điều người ấy nói và việc người ấy làm. Mỗi người đều chịu trách nhiệm với chính mình trong một mối tương quan. Điều nầy đưa chúng ta đến một hàm ý rất quan trọng khác đó là Những Trách Nhiệm Đạo Đức.
Có một cơ sở những trách nhiệm về đạo đức liên hệ đến phương pháp tiếp cận của Liệu Pháp Agape với công tác cố vấn. Một bài học sau nầy sẽ giải quyết đến vấn đề đạo đức. Bạn thấy đấy, nếu tôi lập một cam kết về tình yêu Agape, tôi sẽ không làm hại cho người ấy, trong cách liên hệ của mình tôi sẽ không dùng mối quan hệ đó để giải quyết những nhu cầu riêng của mình. Đó là lý do vì sao tôi cần đến một chức vụ bán chuyên nghiệp để làm công tác cố vấn. Người ấy thật sự bị ràng buộc để yêu thương trong nhận thức về tình yêu Agape. Một người sẽ không là nhà cố vấn có trách nhiệm nếu người ấy liên hệ với người ta theo bất cứ một cách nào khác ngoài lý do vì cớ ích lợi lớn nhất của người ta.
Sự kết ước của tình yêu Agape nầy cũng mang những hàm ý về đạo đức có liên quan đến người cố vấn. Điều đó có nghĩa là người ấy sẽ không làm bất cứ điều gì phương hại đến chính mình, là nếp sống của người ấy sẽ được xây dựng trên những nguyên tắc có giá trị và vững chắc của Thánh Kinh và của tâm lý học. Người ấy sẽ không phó mình cho tội lỗi để vì cớ đó mà xúc phạm đến sự dẫn dắt của Thánh Linh Đức Chúa Trời, là sự tự sát về mặt thuộc linh và về tâm hồn. Điều đó có nghĩa là người ấy không để cho người khác lợi dụng mình.
Nó cũng có nghĩa là người ấy trung thực. Người ấy không trình bày sai về chính mình. Người ấy không tuyên bố rằng mình có khả năng làm điều mà mình không thể làm được. Người ấy không hứa hão. Điều đó có nghĩa là người ấy cũng không xem thường những nhà chuyên nghiệp hoặc những nhà cố vấn khác.
Nguyên tắc của tình yêu Agape còn cónhiều hàm ý rõ rệt hơn về đạo đức. Nó có nghĩa là một người có thể đưa cơ cấu tổ chức vào trong công tác cố vấn, bởi vì con người ta cần phải học hỏi về tổ chức và về kỷ luật. Điều nầy đem lại sự ích lợi lớn nhất cho họ. Có nghĩa là người ấy buộc người ta có cơ hội đối đầu với lẽ thật, bởi vì nếu họ để tiếp tục đi như vậy thì sẽ dẫn đến chỗ bị hủy diệt. Có nghĩa là người ấy nói "không" khi tin rằng nó nằm trong điều ích lợi nhất của mọi mối quan tâm.
Điều đó có nghĩa là nếu người cần được cố vấn dọa sẽ tự tử thì người cố vấn phải phá vỡ suy nghĩ ấy và bảo cho người ấy biết như vậy. Người cố vấn phải nói rằng "tôi yêu bạn, đến nỗi không thể để bạn làm điều đó được. Tôi có thể làm bất cứ điều gì có thể làm để giữ bạn khỏi tự hại mình. Bạn là đáng qúy. Bạn thật đáng quý trọng đối với Con Đức Chúa Trời". Chúng ta tiếp tục nói về những hàm ý về mặt đạo đức. Nhưng bây giờ nói vậy là đủ rồi.
Phương pháp Agape trong công tác cố vấn cũng mang hàm ý một sự giới hạn. Giới hạn đó là người tín đồ làm chức vụ cố vấn không được đi quá khả năng của mình để bày tỏ tình yêu. Một trong những điều tôi thấy chính mình cần phải làm, đó là nhắc nhở cho người ta biết rằng tôi không phải là một nhà tâm lý. Tôi không phải là một Bác sĩ y khoa. Tôi là một nhà cố vấn giữ chức vụ mục sư. tôi không phải là một vị cố vấn chuyên về hôn nhân gia đình có bằng cấp. Tôi đã không muốn làm như vậy. Tôi là một Mục sư và công tác cố vấn là một phần trong chức vụ của tôi. Nếu người được cố vấn cần những ý kiến về thuốc men, người ấy phải đến gặp một Bác sĩ y khoa. Tôi có thể đề nghị một số những ông bà là những người chuyên môn trong lãnh vực đó, nhưng đó không phải là lãnh vực của tôi. Vì thế người làm chức vụ không chuyên nghiệp cần phải nói mình là ai và giới hạn của mình là gì.
Phương pháp Agape cũng có ưu thế hơn so với những kiểu cố vấn khác. Chúng ta dùng một nguồn cung ứng mà không một phương pháp nào khác có được là tình yêu Agape là một tình yêu thánh khiết được Đức Thánh Linh đem vào lòng chúng ta. Tình yêu Agape với tiềm năng lớn lao nhất của nó, chỉ có thể được khi chúng ta liên lạc với Đức Chúa Trời. Ngài là tình yêu. Đức Chúa Trời đã bày tỏ tình yêu cho chúng ta trong Con Ngài là Cúa Jesus. Trong IGi1Ga 4:10 chúng ta thấy: "Nầy tình yêu thương ở tại đây, ấy chẳng phải chúng ta đã yêu Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu chúng ta". RoRm 5:5 nói rằng Đức Chúa Trời đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh.
Tình yêu thương phải có hành động. Nếu bạn xem lời mô tả tình yêu thương trong ICo1Cr 13:4-7, bạn sẽ thấy có 14 động từ ở đó. Tình yêu thương được mô tả trong ICôrinhtô đoạn 13 là tình yêu thương có hành động. Có nghĩa là nó khiến người ta hành động. Ví dụ người cố vấn Agape giao những công việc phải chuẩn bị ở nhà khá nặng cho người được cố vấn. Hẳn phải là một điều khá ngạc nhiên khi nếu người ấy nói với người được cố vấn đã bỏ qua công việc được giao như vầy: "Nếu anh chưa làm công việc được giao ở nhà cho tuần lễ tới thì hãy về đi, và đừng trở lại đây cho đến khi nào anh đã làm xong! Tôi quá yêu thương anh đến nỗi phải tiếp tục cho đến khi nào chúng ta thực hiện được một điều gì đó về công việc nầy".
Người cố vấn Agape cũng làm việc theo điều gọi là phương pháp thỏa thuận hay giao ước. Người ấy đề ra một số các mục tiêu và thỏa thuận gặp nhau trong ba buổi. Nếu không đạt được mục tiêu trong ba buổi đó, sau đó người ấy cố gắng tìm cách khác. Nhưng nếu đã giải quyết được các mục tiêu, hoặc đạt được một tiến bộ nào đó, thì người ấy có thể lại gặp gỡ với người được cố vấn.
Những người dùng Liệu Pháp Agape quan tâm đến hoạt động và thảo luận hành động. Họ không thích thú với mối tương quan cố vấn cứ tiếp diễn mà không đi đến một mục tiêu.
Yêu thương con người bằng tình yêu Agape có nghĩa là quan tâm đến thân thể con người. Và hẳn nhiên nó cũng có nghĩa là người ấy quan tâm đến mặt tăng trưởng, bởi vì tăng trưởng trong sự yêu thương là đang trở nên giống như Đức Chúa Trời. như Mat Mt 5:47 chép: "Hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi trên trời là trọn vẹn". Văn cảnh của câu Kinh Thánh nầy là tình yêu thương. Đức Chúa Trời yêu kẻ có tội cũng như người công bình, và ngài phán rằng "Hãy nên giống như Cha các ngươi. Hãy nên trọn vẹn. Hoàn toàn trong sự yêu thương. Lớn lên trong tình yêu.* *
23. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG sau đây
a. Kết ước với sự toàn hảo nghĩa là liên hệ với người khác sao cho điều đó có ích lợi nhất cho người ấy.
b. Bộ ba trị liệu gồm có sự thông cảm, sự chấp nhận vô điều kiện và kỷ luật gắt gao.
c. Phép trị liệu Agape chú trọng vào đồ vật chứ không phải vào con người
d. Một người không thể yêu thương mà không có trách nhiệm
e. Một hàm ý về đạo đức của liệu Pháp Agape tuyên bố rằng người ta không được làm điều gì hủy hoại chính mình.
f. Không có giới hạn gì trong phương pháp cố vấn Agape cả.
g. Ưu thế của Liệu Pháp Agape so với các hình thức cố vấn khác đó là nó sử dụng được các nguồn cung ứng từ gia đình, các Bác sĩ và các nhà tâm lý.
h. Sự tăng trưởng trong việc cố vấn là phải tăng trưởng trong tình yêu thương và trở nên giống như Chúa.
i. Một người có lòng yêu thương thật sẽ không quan tâm đến việc người khác lợi dụng mình.
j. Liệu Pháp Agape đòi hỏi một sự đáp ứng đáng kể từ nơi người được giúp đỡ.
Ai có thể thực hiện liệu pháp Agape?
Bằng Cớ của Thánh Kinh
Rất nhiều bằng cớ trong Kinh Thánh cho thấy chúng ta có thể tham dự và phải tham dự vào một tiến trình mang lại sự chữa lành Agape.
Chúng ta đã thấy chủ đề chính của Tân ướv là tình yêu Agape. Dựa vào kinh nghiệm quá khứ của tôi trong các chức vụ khác nhau ở các hội thánh khác nhau, tôi tin rằng các hội thánh rất thường xuyên nhấn mạnh đến các vấn đề ít quan trọng mà bỏ qua những chủ đề quan trọng trong Lời Đức Chúa Trời. Chủ đề quan trọng của Lời Chúa là Agape - Tình yêu thiên thượng. Chủ đề ấy đòi hỏi chúng ta chú trọng đến nó! Điều đó có nghĩa là chúng ta phải sống bằng tình yêu, giảng dạy về tình yêu và phục vụ gây dựng trong tình yêu thương dầu cho ở trong dạng chức vụ nào.
24. ICo1Cr 12:31-14:1 cho ta một hình ảnh đẹp đẽ về nếp sống Agape. Xem xét kỹ lưỡng mỗi một câu Kinh Thánh đã được bày tỏ và tìm cách xác định trọng tâm. Trọng tâm nhắm vào mối quan hệ với Chúa, với chính người ấy hay với những người khác? Sau đó hãy sắp xếp câu Kinh Thánh (phải) với trọng tâm (trái)
... a. Tính Toàn Hảo của tình yêu Agape
... b. Tính Ưu Việt của Tình Yêu Agape
... c. Tính Thực Tiễn của Tình Yêu Agape
... d. Những Giá Trị Bền Vững của Tình Yêu Agape
25. Những câu Kinh Thánh sau đây chú trọng đến tính tòan hảo của tình yêu Agape. Hãy đọc mỗi câu Kinh Thánh (phải) rồi sắp xếp cho phù hợp với trọng tâm của nó (trái)
... a. Tính Duy Nhất
... b. Giống Đức Chúa Trời
... c. Sự Lớn Lao còn đến đời đời
... d. Ông Hoàng của sự sống
... e. Sự bày tỏ lớn nhất của đời sống tin kính.
... f. Sự An Ninh
... g. Sự chữa lành
Tôi tin rằng bằng cớ của Thánh Kinh là đầy dẫy. Không có một thắc mắc nào về bản chất của mối quan hệ phải có giữa chúng ta với nhau.
26. Theo Kinh Thánh, sứ điệp cơ bản cho người cố vấn trong công tác cố vấn của mình là chúng ta phải
...
Thăm Dò
Trước khi đọc tiếp, hãy nghiên cứu các Hình 1.5 và 1.6
Việc cố vấn: Bằng cớ của thế tục
Poser
Truax
Carkoff
Carl Rogers
Khung 1.6
* * Một số các nhà tâm lý ( ví dụ như: Truax, Carkoff, Poser và Carl Rogers) quá nhiều nghiên cứu khác nhau, đã nhận ra rằng đôi khi những tín hữu lại hiệu quả hơn các nhà cố vấn chuyên nghiệp trong công tác cố vấn. Họ cũng nhận thấy các đặc điểm trong mối quan hệ cố vấn có ảnh hưởng đáng kể trong việc giúp đỡ con người cải thiện. Những đặc điểm nầy dầu đôi khi được viết ra bằng các nhóm từ khác nhau, vẫn có thể được nhận ra trong khung 1.5 là sự cảm thông đúng, sự chấp nhận vô điều kiện và sự chân thật. Bạn đã có những lời định nghĩa các từ nầy trong phần ngữ vựng. * *
Các nhà nghiên cứu không những nói rằng họ đã có bằng chứng cho thấy các tín hữu có thể cũng hữu hiệu như các nhà cố vấn, mà họ còn nhận ra rằng những đặc điểm cơ bản trong mối quan hệ cố vấn ảnh hưởng đáng kể trên những người mà các tín hữu đã làm việc với.
Bạn hãy xem kỹ trong khung 1.5 một lần nữa nơi các đức tính nầy được xem như bộ ba trị liệu, tức là ba đức tính nầy đem lại sự chữa lành. Hãy lưu ý xem thế nào mà ba phẩm tính ấy lại cũng là những lẽ thật của Kinh Thánh.
* * Về cơ bản, cảm thông đúng tức là " có thể cảm nhận điều người khác cảm nhận".
Chấp nhận vô điều kiện có liên hệ với "việc chấp nhận người khác mà không cần những điều kiện, tức là chấp nhận họ như họ vốn có"
Chân thật tức là " thành thật và trong sáng trong mối quan hệ".
Những người ấy thấy rằng những người có liện hệ đến các phẩm tính ấy đều có một khả năng chữa lành hoặc một ảnh hưởng chữa trị trên người khác, dầu cho họ không có các trình độ về giáo dục. Điều đó không đáng thú vị sao? Họ thật sự khám phá được rằng những người không được huấn luỵện ở mức độ chuyên nghiệp hoặc được huấn luyện rất ít, nhiều khi lại là những nhà cố vấn hiệu quả hơn cả những người đã được đào luyện, bởi vì họ đã tỏ ra có các phẩm tính kể trên trong những mối tương quan.
Bây giờ, đó chính là nền tảng của Liệu Pháp Agape. Tôi tin chắc rằng những nghiên cứu của các vị Poser, Truaax, Carkoff và Carl Rogers đã công nhận giá trị của việc sử dụng những tín đồ bình thường vào công tác cố vấn. Người tín hữu có thể có hiệu năng bằng hoặc nhiều khi hơn cả các nhà chuyên nghiệp, nếu như họ biết cách yêu thương.
Điều đáng chú ý là có một khái niệm về thần học hoặc theo Thánh Kinh tương ứng với mỗi một phẩm tính trong ba phẩm tính đem lại sự chữa lành ấy.
Nếu bạn tra xem Kinh Thánh và nghiên cứu từ ngữ Nhân Từ, bạn sẽ khám phá rằng chữ ấy có nghĩa là "cảm nhận điều người khác cảm nhận". Điều đó bao gồm cả sự thông cảm đúng đắn. Thật ra, từ ngữ Hy bá lai nói về sự nhân từ là "hesed" theo nguyên văn có nghĩa là "vào được tận ruột người khác". Chúa Jesus được gọi là Thấy Tế lễ thượng phẩm đầy lòng nhân từ, vì sao? Bởi vì Ngài đã từng trải sự thương khó, sự cám dỗ và những nỗi lo lắng chúng ta phải trải qua. Ngài thật sự đã vào trong thịt và huyết để làm một với chúng ta.
Ân điển là sự dạy dỗ chính yếu của Thánh Kinh, bao gồm cả ý niệm chấp nhận vô điều kiện. Ân điển là gì? Ân điển thường được định nghĩa là " đặc ân của Chúa không ai tự kiếm được". Tức là tôi không xứng đáng, nhưng Ngài yêu tôi và tỏ lòng nhân từ đối với tôi. Ngài không bảo " Nầy Jack, hãy thay đổi đi, rồi ta sẽ yêu con". Song Ngài bảo "Jack, ta yêu con, vì vậy con hãy thay đổi đi". Điều ấy thật là dễ chịu. Ngài không đặt điều kiện cho mối tương quan. Ngài đã chịu chết thay tôi khi tôi muốn có mối tương quan ấy. Đó là ân điển, ân điển lạ lùng của Đức Chúa Trời.
Kinh Thánh cũng nói đến lẽ thật. Có lẽ thật khách quan, tức là cách thức mọi vật thật sự tồn tại và lẽ thật chủ quan, là cách mà tôi hiện hữu. Lẽ thật chủ quan có nghĩa là tôi thực hữu. Tôi chân thật. Tôi không phải mang mặt nạ để liên hệ với người khác. Đó là, tôi có thể nói thật với những người khác. Tôi không phải che dấu những cảm xúc thật của mình.
Nhiều khi con người đã mắc bẫy do ý tưởng cho rằng họ không thể thật sự là chính họ được chung quanh những người khác, bởi vì như vậy có thể họ không được chấp nhận. Song tôi khám phá ra rằng điều người ta thường không chấp nhận chính là chiếc mặt nạ của tôi. Người ta sẽ thật sự ưa thích tôi nếu như tôi bằng lòng bày tỏ con người thật của tôi.
Người ta cũng có những định kiến về cảm xúc khiến cho họ không được thành thật. Họ cho rằng Cơ Đốc nhân thì không thể nóng giận. Nhưng họ làm thế nào khi Eph Ep 4:26 bảo rằng "Ví bằng anh em đương cơn giận thì chớ phạm tội" ?. Và còn về Chúa Jesus? Có lần Ngài đã nổi giận. Ngài đã trở nên tức giận. Thật vậy, Ngài đã giận dữ đến nỗi lần nọ Ngài đã bện chiếc roi và đuổi hết thảy những kẻ đổi tiền ra khỏi đền thờ.
Cơ Đốc nhân cần học cách biểu lộ sự nóng giận trong đường lối yêu thương. Thật ra, họ cần biết cách để sử dụng cơn nóng giận để làm ích. Họ phải nổi giận trước tội lỗi. Họ phải nổi giận trước điều sa tan đang làm. Họ phải ghét bỏ tội lỗi. Nếu làm vậy, họ hẳn sẽ không bị cám dỗ đến nỗi miệt mài trong tội lỗi. Nhưng họ không bao giờ được ghét bỏ tội nhân. Đấng Christ đã chịu chết với những lời tha thứ trên môi Ngài đối với những kẻ có tội.
Điều quan trọng đó là: Tất cả những phẩm tính nầy: Cảm thông đúng, chấp nhận người khác vô điều kiện, và chơn thật đều được kể vào tình yêu Agape* *
27. Những nhà nghiên cứu đã khám phá rằng các tín hữu có thể có khả năng vượt xa các nhà khải đạo nếu có các phẩm tính ... và,...
28. Kể tên ba phẩm tính của người cố vấn theo các từ ngữ của Kinh Thánh.
29. Ghép cặp đức tính của một người cố vấn tốt (bên phải) với lời mô tả nó (bên trái)
... a. "Tôi chẳng xứng đáng, nhưng Ngài yêu tôi và tỏ lòng nhân từ đối với tôi"
... b. "Tôi cảm nhận được điều bạn cảm nhận"
... c. "Ngài đã từng trải sự thương khó, sự cám dỗ cùng những nỗi lo lắng mà tôi phải trải qua"
... d. "Tôi thực hữu, Tôi chân thật. Tôi có thể là chính mình"
... e. " Ngài không đặt ra những điều kiện trong mối tương quan"
Các Nguồn Cung Ứng Vô Hạn
Tôi muốn nhắc lại cho bạn những nguồn cung ứng sẵn sàng dành cho chúng ta, cả nguồn cung ứng thiên thượng lẫn con người sẵn có. Bạn hãy xem khung 1.7
Các nguồn cung ứng vô hạn dành cho công tác cố vấn hữu hiệu
I. Từ Thiên Thượng
A, Đức Chúa Jesus Christ
B. Đức Thánh Linh
C. Những lời Thánh Kinh
II. Từ Con Người
A. Người Cố Vấn (Người Đy Như Thế Nào / Điều Người Đy Làm)
1. Khung cảnh
2. Diễn trình
3. Cộng đồng
B. Người được Cố Vấn
C. Những Người Quan Trọng Khác
D. Đội ngũ Chuyên Nghiệp
khung 1.7
Đức Chúa Trời, trong sự khôn ngoan của Ngài, đã chọn lựa để làm việc qua đời sống chúng ta. Ngài đã tuôn đổ tình yêu của Ngài vào tấm lòng chúng ta. Hãy xem xét ví dụ về người Samari nhơn lành được chép trong LuLc 10:25-37. Trước hết, chúng ta thấy Chúa Jesus và thầy dạy luật bàn luận với nhau về tầm quan trọng của lời tuyên bố "Hãy yêu kẻ lân cận như mình". Sau đó Chúa Jesus đã tỏ cho thầy dạy luật cách tuân giữ mạnh lịnh ấy bằng việc giúp đỡ những người có cần như câu chuyện trên đã bày tỏ. Người Samari nhơn lành đã tỏ lòng yêu thương đối với người khác, và ông ta đã đem lại sự chữa lành. Đây chính là điều mà ngày nay Chúa Jesus muốn chúng ta thực hiện và đó cũng chính là mục tiêu của Liệu Pháp Agape, tức là những con người có lòng quan tâm giúp đỡ cho người khác mà không màng đến địa vị khác biệt của họ trong đời sống.
Khi xem lại Mat Mt 9:35-36, chúng ta thấy một cái nhìn khái quát vắn tắt về cuộc đời của Chúa Jesus. Chúng ta đọc thấy rằng CHúa Jesus đã đi khắp các làng, các thành "chữa lành mọi kẻ đau ốm và tật bệnh. Khi Ngài nhìn thấy đoàn dân đông, thì Ngài động lòng thương xót họ, vì họ khốn cùng và tan lạc như chiên không có người chăn". Bản Kinh Thánh Tiêu Chuẩn Mới thì dịch từ ngữ "cùng khốn" và "tan lạc" là "khốn khó" và "thất vọng". Có ba điều cho chúng ta biết rằng Ngài quan tâm đến các phương diện thuộc thể, tâm hồn và tâm linh của đời sống chúng ta. Hãy xem khung 1. 8
Liệu pháp Agape
CHÚA JESUS LÀ GƯƠNG MẪU CỦA CHÚNG TA
1. Ngài nhìn thấy thực trạng của con người
... cùng khốn thất vọng và không có người chăn
2. Ngài mang lấy kinh nghiệm của họ... Ngài đã động lòng thương xót.
3. Ngài đã sử dụng tất cả các nguồn cung ứng.
Khung 1.8
Chữ cùng khốn hay khốn khó bày tỏ những nan đề về mặt thuộc thể, có nhiều kẻ đau ốm ở chung quanh. Chữ thất vọng hoặc tan lạc liên hệ đến những khó khăn về mặt tâm hồn, về nỗi đau khổ và sự nản lòng. Cụm từ "chiên không có người chăn" nói đến những người sống không có mục đích hoặc ý nghĩa tức là họ có nan đề về mặt tâm linh. Chúa Jesus thấy con người ta đúng như hiện trạng của họ.
Trong những mối tương quan với con người, chúng ta cần nhìn thấy họ như chính họ thật sự có. Chúng ta cần nhìn thấy họ bằng đôi mắt của Chúa Jesus trong những điều kiện về những nhu cầu thuộc thể, tâm hồn và tâm linh của họ.
Khi nhìn thấy những con người khốn khó ấy, Chúa Jesus đã làm điều gì khác nữa? Chúng ta đọc thấy trong Mat Mt 9:36 "Ngài động lòng thương xót họ". Thương xót là một từ đáng chú ý. Cho chúng ta biết rằng Chúa Jesus đã bước vào từng trải của họ. Chúng ta có lẽ đều sẽ có cảm nhận ấy, khi trông thấy một người nào đó bị tổn thương. Khi nhìn những con người bị tổn thương thì những hệ thần kinh và sinh lý của chúng ta có phản ứng. Chúa Jesus cũng đã phản ứng như vậy, và Ngài đã đáp ứng với tất cả mọi người bằng tình yêu thương.
Vậy, Chúa Jesus đã thấy nhu cầu, đã bước vào từng trải của họ, và rồi Ngài đã sử dụng tất cả những nguồn cung ứng sẵn có đối với Ngài. Ngài quay sang các môn đệ của mình (nguồn cung ứng từ con người), và bảo họ hãy cầu nguyện (nguồn cung ứng từ thiên thượng) với Cha Ngài, rằng Ngài sẽ sai các con gặt đi vào mùa gặt bởi vì mùa gặt thì lớn , nhưng các con gặt thì lại ít (9:37-38). Ngài kêu họ sử dụng cả nguồn cung ứng thiên thượng lẫn con người.
Bây giờ, nếu như Chúa Jesus đã sử dụng tất cả các nguồn cung ứng, nếu Chúa Jesus đã động lòng vì sự thương xót và tình yêu thương, và nếu Ngài đã nhìn thấy được những nhu cầu của con người về mặt tâm hồn, thuộc thể và thuộc linh, mà chúng ta lại không thể đáp ứng cho họ bằng tình yêu Agape bởi vì Chúa Jesus hiện sống trong chúng ta và qua chúng ta sao?
30. Nhận biết một số các nguồn cung ứng thiên thượng sẵn có đối với người cố vấn Cơ Đốc.
...
31. Hãy kể tên ít nhất năm nguồn cung ứng là "những sự giúp đỡ sẵn dành cho người Cơ Đốc
...
"Rõ ràng là chúng ta không bao giờ có thể liệt kê hết tất cả những nguồn cung ứng sẵn có đối với chúng ta trong tiến trình cố vấn. Mỗi một người trong chúng ta phải cân nhắc điều gì có sẵn trong hoàn cảnh của mình. Thậm chí chúng ta chưa nhắc đến những điều như sách vở tốt, gia đình, những người lân cận, những thầy giáo, các bài báo và những người làm việc. Tất cả những nguồn cung ứng ấy đều có thể giúp chúng ta hiểu biết về những con người được. Cố vấn hoặc để giúp đỡ cho người ấy hiểu được chính họ và các nan đề của mình, nhờ đó đem lại sự chữa lành.
Vậy thì, Công Tác Cố Vấn Agape là gì? Công tác Cố Vấn Agape đang tìm cách liên hệ với con người bằng một tình yêu có phẩm chất giống như tình yêu của Đức Chúa Trời. Chúng ta sẽ liên hệ với họ sao cho gây dựng được họ, đem đến mọi mối tương quan, mọi nguồn cung ứng nào mà chúng ta biết được cả từ con người lẫn thiên thượng.
Ai có thể thực hiện được công tác cố vấn nầy? Mọi ngườo đã từng kinh nghiệm tình yêu của Đức Chúa Trời đều có thể yêu thương ! Những người được CHúa kêu gọi vào một chức vụ có liên quan đến công tác cố vấn theo một phương cách hoàn toàn chuyên biệt.
32. Tất cả những người Cố Vấn theo Phép Trị Liệu Agape phải yêu thương và phải có tình yêu mà trước hết họ phải:
a. Yêu chính mình
b. Kinh nghiệm tình yêu của Đức Chúa Trời
c. Dựa vào tình yêu của những người khác.

Bài Làm Tự Trắc Nghiệm
Sau khi bạn đã ôn lại bài học nầy, hãy làm bài tự trắc nghiệm. Sau đó kiểm tra lại những câu trả lời của bạn với những câu sẽ được tìm thấy trong tập tài liệu dành cho học viên. Ôn lại bất cứ những câuhỏi nào đã trả lời chưa đúng.
Câu Hỏi ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ trước câu nào ĐÚNG và chữ S nếu là câu SAI
... 1. Chân lý được bày tỏ cho con người qua sự hiểu biết của người ấy về sự tồn tại của mình.
... 2. Chân lý (lẽ thật) là một, trọn vẹn, và hoàn toàn.
... 3. Cách chúng ta nhận biết sự sống trong thế giới của Đức Chúa Trời là nguyên tắc qyết định đức tin và phẩm hạnh.
... 4. Mục Sư là mẫu người Cố Vấn hoàn hảo.
... 5. Con người cố ý phạm tội nghịch cùng Đức Chúa Trời. Vì vậy con người bị phân cách khỏi Đức Chúa Trời.
... 6. Cách duy nhất đến với Đức Chúa Cha để nhận được sự tha thứ là nhờ lời Cầu nguyện.
... 7. Bất cứ kiểu mẫu trị liệu nào cũng có thể có giá trị, nếu được thực hiện trong một môi trường Cơ Đốc.
... 8. Các khía cạnh của phép chữa theo trường phái Freud hoặc của phép Phân Tích Tâm Lý đều có thể có một vị trí thích hợp trong công tác cố vấn Cơ Đốc khi nó có liên hệ đến lẽ thật.
... 9. Liệu Pháp Agape là mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều người, sử dụng các nguồn cung ứng thiên thượng và con người, để đem lại sự chữa lành trong mọi lãnh vực của đời sống người được cố vấn.
... 10. Việc làm cho con người thay đổi là chủ đề trung tâm của Liệu Pháp Agape.
... 11. Nhiều khi chúng ta sử dụng con người và lại yêu mến đồ vật nhưng đáng ra chúng ta phải yêu con người và sử dụng đồ vật.
... 12. Các nhà tâm lý nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng các mục sư nhiều khi hữu hiệu hơn cả những nhà Cố Vấn chuyên nghiệp.
... 13. Nhà Cố Vấn Cơ Đốc không chuyên, có các nguồn cung ứng vô hạn sẵn có để người ấy dùng.
Câu LỰA CHỌN XEN KẼ. Trong bài Học nầy, chúng ta đã thảo luận mười hàm ý của Liệu Pháp Agape. Hãy viết chữ A vào khoản trống nếu đó là một trong mười hàm ý. Hãy viết chữ B nếu nó không phải là một trong các hàm ý ấy
... 14. Chữa lành hay là mối tương quan trị liệu
... 15. Thất bại
... 16. Trọng tâm là con người
... 17. Trách nhiệm
... 18. Sự Công Nghĩa

Giải Đáp Các Câu Hỏi Của Bài Học
Những câu giải đáp nầy được sắp xếp lẫn lộn để cho bạn không tình cờ nhìn thấy câu giải đáp dành cho câu hỏi tiếp theo của mình trước khi viết câu trả lời của mình. Xin bạn đừng xem câu giải đáp trước. mà hãy viết câu trả lời của bạn dành cho mỗi câu hỏi trước khi đối chiếu nó với câu giải đáp mà chúng tôi đã cho. Điều nầy sẽ giúp bạn ghi nhớ điều mình đã học tập.
1. a. Lẽ thật khách quan
2 b, c và d là những câu đúng
3. Bởi vì định nghĩa của sự nên thánh là "được thanh tẩy về mặt tâm linh và được biệt riêng ra cho công việc của Chúa", vì vậy Ngài thật sự bảo rằng Lời Ngài tẩy sạch chúng ta và biệt riêng chúng ta ra.
4. 1) Dạy dỗ
2) Quở trách
3) Sửa dạy
4) Rèn tập trong sự công bình
5. b) Thánh Kinh do loài người viết, nhưng thật sự Đức Thánh Linh đã cảm động họ để viết ra.
6. c) Những nguyên tắc giúp chúng ta có được phương hướng sống phải lẽ
7. Theo hình ảnh của Ngài
8. a. Bởi tội lỗi của Ađam và Êva
b. Sự chết
c. Qua Chúa Jesus
d. Sự sống
9. a. Sự xưng nghĩa và sự cứu chuộc
10. Yêu thương lẫn nhau
11. Tội lỗi, sự phạm tội, sự công bình và sự đoán xét
12. Câu trả lời của bạn
13 b, c, e, f, g và i là những câu đúng
14. a. 2) Liệu pháp trung thực
b. 6) Liệu Pháp Xúc cảm duy lý
c. 3) Liệu Pháp Thực tế
d. 4) Phân tâm học hay là Liệu Pháp Freud
e. 1) Liệu pháp phân tích trao đổi
f. 5) Liệu Pháp Agape
15. Việc sử dụng các phần của bất cứ một kiểu trị liệu nào có giá trị về mặt Thánh Kinh và về mặt tâm lý học.
16. c và d là những câu đúng.
17. a. 3) ICo1Cr 13:4
b. 4) IGi1Ga 4:16
c. 2) GiGa 13:34
d. 1) Mat Mt 22:39
18. a và b, e và f là những câu đúng
19. a. 1. Nhịn nhục,
2. Nhơn từ
3. Vui trong lẽ thật
4. Khoan dung
5. Tin cậy
6. Hy vọng
7. Nín chịu
b. 1. Ghen tị
2. Khoe mình
3. Kiêu ngạo
4. Khiếm nhã
5. Kiếm tư lợi
6. Dễ nóng giận
7. Nghi ngờ sự dữ
8. Vui về điều ác
9. Hư mất
20. Câu trả lời của bạn
21. a. Cầu nguyện, kiêng ăn, Kinh Thánh, Chúa Jesus Christ và Đức Thánh linh
b. Những người chuyên nghiệp, các gia đình, những người nam và những người nữ.
22. Sự chữa lành, sự đổi mới, sự toàn diện và sự trưởng thành.
23. a, d, e, h và j là những câu đúng
24. a. 2) ICo1Cr 12:31
b. 3) 13:1-3
c. 1) 13:4-7
d. 413:8-14:1
25. a. 3) ICo1Cr 12:31
b. 7) IGi1Ga 4:8, 16
c. 4) ICo1Cr 13:13
d. 6) GiGa 3:16
e. 1) Mat Mt 22:27-39
f. 2) RoRm 8:38-39
g. 5) IGi1Ga 4:18
26. Yêu thương con người
27. Theo bất cứ thứ tự nào cũng được; sự chân thật, sự chấp nhận vô điều kiện, sự cảm thông đúng
28. Lẽ thật, ân điển, lòng thương xót
29. a. 2) Chấp nhận vô điều kiện
b. 3) Cảm thông đúng
c. 3) Cảm thông đúng
d. 2) Chơn thật
e. 2) Chấp nhận vô điều kiện
30. Chúa Jesus, Đức Thánh Linh, Thánh Kinh, sự cầu nguyện, sự kiêng ăn và một mối quan hệ Agape (bạn có thể có nhiều hơn)
31. Xem lại câu trả lời của bạn với khung 1.8. Bạn có thể kết luân: Các nhà Tâm lý, các Mục sư và những người lân cận.
32. Kinh nghiệm tình yêu của Chúa.

ĐỐI TƯỢNG: CON NGƯỜI
Trong bài 1 bạn đã nghiên cứu tổng quát về liệu pháp Agape. Chúng ta đã bàn đến liệu pháp Agape là gì và ai có thể thực hiện nó. Trong bài này chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu về đối tượng của liệu pháp Agape: Đó là con người. Phần này rất quan trọng vì nó giúp bạn hiểu được bản chất của con người, sự duy nhất đặc biệt của họ trong công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời, và những vấn đề cơ bản của con người.
Tôi là ai? Tôi quan trọng như thế nào? Tại sao tôi tồn tại? Đây là tất cả những câu hỏi mà mỗi chúng ta cần phải trả lời. Khi chúng ta đọc Kinh Thánh chúng ta vui sướng khi biết rằng Đức Chúa Trời đã tạo nên chúng ta theo hình ảnh của Ngài. Ngài không chỉ sáng tạo chúng ta thôi, mà Ngài còn theo dõi chúng ta. Ngài biết cả số tóc trên đầu chúng ta nữa.
Bài này trình bày những phương pháp căn bản trong công tác cố vấn Cơ đốc theo một quan điểm riêng. Giúp bạn hiểu rõ hơn về người cần được cố vấn, hơn nữa sẽ giúp bạn gần gũi và yêu thương họ, hiểu được những nhu cầu của họ. Bạn đang thi hành chức vụ hay chuẩn bị chức vụ trong tương lai, thì bài học này cũng giúp ích cho bạn. Với nhiệm vụ mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho bạn, dù là một tín đồ hay là một người trong hàng giáo phẩm, thì bài học này cũng giúp đỡ bạn hiểu biết rõ ràng hơn về con người.
Chúng ta phải công nhận rằng có hai quan điểm khác nhau về bản chất của con người. Quan điểm thứ nhất được gọi là quan điểm "thuộc chủ nghĩa nhân bản" (Humanistic) và quan điểm thứ hai là quan điểm Cơ đốc (Christian view point). Hãy lưu ý trong bài học này cách của những quan điểm khác nhau này đã ảnh hưởng đến thái độ và giá trị của con người
Con người là gì
Theo quan điểm của chủ nghĩa nhân bản.
Theo quan điểm Cơ đốc.
Những nét đặc trưng cơ bản của bản chất con người
Những thành phần của cá tính.
Khi kết thúc bài học này bạn có thể:
- Nhận biết khoa thần học và khoa tâm lý học đã trả lời rõ ràng những câu hỏi: "Tôi là ai?" và "con người là gì?"
- Giải thích bảy đặc trưng cơ bản của bản chất con người
- Nhận biết được những thành phần cơ bản của cá tính con người.
- Hiểu được tầm quan trọng của việc kết giao ước yêu thương con người theo cách sao cho người đó được ích lợi nhất.
1. Nghiên cứu bài học theo cách đã chỉ ra trong bài 1.
2. Nhớ viết câu trả lời của bạn theo những câu hỏi bài học trước khi đối chiếu với phần trả lời câu hỏi nghiên cứu ở cuối bài. Điều này sẽ giúp bạn học những phần quan trọng nhanh hơn.
3. Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài học, rồi đối chiếu với phần giải đáp. Kiểm tra lại phần bạn trả lời sai.
Khái niệm hóa.
Lương tâm
Bản ngã
Chủ nghĩa nhân bản
Bản năng vô thức
Thuộc về bản năng
Con người là gì?
Câu hỏi "con người là gì?" sẽ trở nên cụ thể và cá nhân hơn khi chúng ta thay đổi nó thành câu hỏi "tôi là ai?". Người cố vấn phải trả lời câu hỏi mang nhiều ý nghĩa quan trọng này như thế nào cho người được cố vấn.
Xem lại phần phụ lục A phía sau tài liệu giáo khoa học tập độc lập này và để ý kĩ bốn quan điểm khác nhau của những người có học vấn thông hiểu rộng rãi. Mặc dù, chúng tôi không hoàn toàn đồng ý với những quan điểm này, nhưng trong mỗi quan điểm đò đều có những điểm đúng và cũng có ý nghĩa quan trọng cho người cố vấn.
Chúng ta nói cố vấn bằng tình yêu thương là một mối tương giao yêu thương giữa hai hay nhiều người. Trong đó người cố vấn dùng tất cả mọi nguồn cung ứng hữu ích, bao gồm những nguồn cung ứng từ Thiên thượng và từ con người, như là đội ngũ giúp đỡ, người có ý nghĩa trong cuộc sống của người đang bị đau khổ, cũng như tất cả những thành viên khác trong hội thánh. Xem bảng 2.1 và 2.2
Định nghĩa công tác cố vấn Cơ đốc
Cố vấn Cơ đốc, hay liệu pháp Agape, là một mối tương giao của hai hay nhiều người mà trong đó vị Mục sư hay người cố vấn tìm và sử dụng tất cả mọi nguồn cung ứng hữu ích từ con người và Thiên thượng nhằm đem đến sự đổi mới, sự chữa lành, sự trọn vẹn và sự chữa lành cho người được cố vấn.
Bảng 2.1
Định nghĩa tình yêu Agape
Agape hay tình yêu thương thượng, là tinh thần nói lên rằng, "dù cho người khác làm gì cho tôi; Tôi sẽ không bao giờ tìm cách làm hại họ; Tôi sẽ không bao giờ tìm cách trả thù họ, tôi luôn luôn không tìm kiếm điều gì khác hơn là làm điều ích lợi nhất cho họ". Agape là "lòng từ thiện không thể khuất phục, là thiện chí vô song". Nó là một nguyên tắc mà theo đó chúng ta sống một cách có suy nghĩ chín chắn. Nói một cách khác, nó là một nguyên tắc có suy nghĩ chín chắn của tâm trí, một sự chinh phục có suy nghĩ và là sự hoàn thành của ý chí.
Nó không chỉ là cảm xúc đơn thuần. Nó là sự tin chắc của tâm trí xuất phát từ một sự hoàn thành và chinh phục có suy nghĩ kỹ càng và sự chiến thắng của ý chí. Nó là một sự lựa chọn ràng buộc và hợp lý.
-Barday, New Testament Words, trang 21
Bảng 2.2
Trong công tác cố vấn Agape, người cố vấn làm cho chính mình hữu dụng đối với sức sống và nguồn sống mà Đức Thánh Linh đã ban cho, và cố gắng giúp đỡ người được cố vấn cũng có thể phù hợp với kinh nghiệm về quyền năng và sự sống của Đức Thánh Linh.
Một điều mà tôi muốn nhấn mạnh trong bài học này là Chúa Jesus là một mẫu mực cho chúng ta công tác cố vấn và trong cuộc sống. Ngài nêu gương cho chúng ta và Ngài cũng sẵn sàng ban phước cho chúng ta. Chúng ta thật chẳng thiếu thốn gì!
Trước hết, chúng tôi sẽ bàn về nền tảng cho quan điểm của chúng tôi về công tác cố vấn Cơ đốc. Điều này liên quan đến việc trả lời câu hỏi "con người là gì?". Đây là một vấn đề quan trọng, vì cách mà chúng tôi nhận biết người khác và nhận biết chính tôi sẽ xác định tôi liên hệ như thế nào với người xung quanh.
Người cố vấn phải trả lời cho câu hỏi, "con người là gì?" hoặc trong một ý nghĩa cụ thể hơn, "tôi là ai". Câu trả lời có thể là theo quan điểm của chủ nghĩa nhân bản hoặc là theo quan điểm Thiên thượng. Cách mà người cố vấn trả lời cho câu hỏi này, sẽ xác định người cố vấn đang theo quan điểm nào. Công tác cố vấn Agape của chúng tôi xem xét con người theo quan điểm Thiên thượng. Chúng ta thấy con người là ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Quan điểm này nói rằng "Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo con người, Ngài thực hiện công cuộc cứu rỗi của Ngài qua Chúa Jesus Christ - Đấng cứu chuộc chúng ta." Chúng ta nhận thấy rằng con người chính là đối tượng tình yêu của Đức Chúa Trời.
Câu hỏi "Con người là gì?" được trả lời như thế nào sẽ tác động đến mối tương giao trên cơ sở một đối một cũng như trên cơ sở giao lưu văn hóa. Các xã hội khác nhau đặt ra những xã hội khác nhau về con người. Tới phiên nó tác động đến cách cá nhân được đối xử như thế nào. Điều tuyệt đối cần thiết là tất cả các Cơ đốc nhân đều phải quan tâm đến con người như Đức Chúa Trời đã quan tâm đến họ. Chúng ta phải nhìn con người từ quan điểm của Đức Chúa Trời.
1. Giá trị của con người phụ thuộc vào cách trả lời câu hỏi "con người là gì?" hoặc theo quan điểm của... hoặc theo quan điểm của...
2. Mục đích chính của công tác cố vấn Cơ đốc, khi nó liên hệ đến nhận thức của người được cố vấn là chúng ta phải thấy con người như... .
3. Trong hai phương pháp cố vấn cơ bản, công tác cố vấn Agape dựa trên phương pháp...
4. khoanh tròn những mẫu tự đứng trước những câu đúng sau đây:
a. Công tác cố vấn Agape là một liên hệ ba chiều giữa người cố vấn, người được cố vấn và Mục sư.
b. Tình yêu Agape là một nguyên tắc có suy nghĩ kĩ của tâm trí và ý chí.
c. Cách mà chúng ta nhận biết người khác sẽ có một ý nghĩa lớn trong công việc chúng ta quan hệ thế nào với họ.
d. Công tác cố vấn Agape là việc làm tất nhất của phương pháp của chủ nghĩa nhân bản.
e. Mục đích chính của công tác cố vấn Cơ đốc là làm cho người được cố vấn yêu mến người cố vấn.
f. Phương pháp cố vấn hữu thần xem xét con người theo quan điểm của Đức Chúa Trời.
g. Quan điểm của chủ nghĩa nhân bản nói rằng "Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo con người, Ngài đã thực hiện công cuộc cứu rỗi thông qua Chúa Cứu thế Jesus"
Quan điểm điển hình của chủ nghĩa nhân bản.
. Rất nhiều ý kiến nêu lên cách chúng ta xác định một con người và cách để chúng ta cố vấn cho họ. Tôi sẽ minh họa vấn đề này theo quan điểm học thuyết của Freud. Lưu ý quan điểm lương tâm (Integration) mà chúng ta đã bàn đến trong bài học trước. Nó sẽ giúp chúng ta hiểu rõ ràng hơn khi học bài này.
Xem kỹ hình 2.3, đó là quan điểm về con người theo học thuyết của Freud. Con người ở đây được so sánh như một tảng băng. Chỉ một phần nhỏ phía trên của tảng băng lộ ra trên mặt nước thì có nghĩa là tảng băng đó đang nổi lềnh bềnh, và cũng vậy con người được nhận biết chỉ cần qua một phần nhỏ của họ.
Freud chứng minh rằng thành phần của cá tính con người gồm ba phần: Bản năng vô thức (the id) bản ngã (the ego), và siêu ngã (the superego). Siêu ngã là phần tương đương với phần mà chúng ta gọi là "lương tâm". Đó là nguồn gốc phát sinh đạo đức của con người, nó bảo cho chúng ta cái gì đúng và cái gì sai.
Bản ngã, hay còn gọi là cái tôi(Self), nó được minh họa ở phần đỉnh của hình 2.3, là phần liên hệ với thế giới bên ngoài. Đây là nguồn gốc phát sinh thực tế, có nhiệm vụ quyết định cá tính của con người.
Bản năng vô thức, được minh họa ở phần cuối của hình 2.3, nó là nguồn gốc lạc thú. Bản năng vô thức cố gắng để thỏa mãn những nhu cầu và những dục vọng thông qua bản ngã. Freud cho rằng bản năng vô thức có một sức mạnh. Và ông đã chứng minh sức mạnh này thuộc về giới tính.

Bản năng vô thức cố gắng bộc lộ chính nó, nhưng do ảnh hưởng của gia đình hoặc xã hội, siêu ngã (nguồn gốc phát sinh đạo đức), Có sức mạnh tuyệt đối ngăn cản bản ngã thỏa mãn dục vọng của bản năng vô thức. Siêu ngã, hay còn gọi là lương tâm, được huấn luyện và qui định bởi gia đình và xã hội, khi nó nói "không! bạn không thể làm vậy". đó là bản ngã kiềm chế bản năng vô thức. Freud nói rằng điều này dẫn đến sự lo lắng, mà ông ta cho rằng đó là một nan đề chính của con người.
Đây là một cách đơn giản hóa vấn đề. Nhưng điều cơ bản là Freud nói. "Con người sẽ giải quyết được nan đề của họ nếu cứ để cho bản năng vô thức làm bất cứ điều gì nó muốn, bởi việc giảm đi sức mạnh của siêu ngã để cho siêu ngã có thể nói với bản năng vô thức rằng "Được, bạn có thể làm điều đó."
Học thuyết của Freu về con người đã xác định ông có liên hệ như thế nào với con người. Theo quan điểm của tôi và quan điểm của lời Chúa thì một vài kết luận của Freud là không thích hợp và sai lầm. Chẳng hạn như, việc giảm đi sức mạnh của siêu ngã, (lương tâm) có thể hủy phá nặng nề một con người. Kinh Thánh nhấn mạnh tầm quan trọng trong cả sự nhận biết tội lỗi đem con người đến chổ ăn năn (IICo 2Cr 7:8-11). Con người có những động lực, những dục vọng và bản năng là điều tất nhiên, nhưng không có nghĩa là con người phải được biểu hiện những cái đó một cách tự do và như vậy sẽ giải quyết được những nan đề của họ. Nhưng trên thực tế chính sự tự do này đã nảy sinh thêm nhiều nan đề.
Phương pháp của FReud cũng đã quan tâm đến những ảnh hưởng của quá khứ. Ông ta tin rằng cá tính được hình thành từ quá khứ, đặc biệt là từ những năm thơ ấu. Freud cho rằng những từng trải của tuổi thiếu thời sẽ quyết định những đặc tính cá nhân trong con người trưởng thành. Mục đích của Freud là tìm hiểu và khám phá quá khứ. Ông cho đó là bí quyết của hiện tại và tương lai. Một mục đích nữa của ông là giảm đi sức mạnh của siêu ngã, tăng sức mạnh của bản ngã, và cho bản năng vô thức được biểu hiện nhiều hơn.
Tôi tin rằng chúng ta có thể thấy trong phương pháp của Freud, quan điểm của ông về con người có ảnh hưởng như thế nào đến học thuyết của ông. Freud thấy lương tâm như một ảnh hưởng tiêu cực vì ông không thể đề ra một phương cách để loại bỏ nguyên tội, khi họ đã cảm thấy họ đã phạm luật pháp của Đức Chúa Trời và lương tâm học kết án họ. Bởi vì Freud đã không nhìn nhận con người chính là con cái của Đức Chúa Trời, ông không tìm ra câu phương cách nào cho tình trạng tội lỗi của con người, ngoại trừ cách giảm đến mức tối thiểu sức mạnh của lương tâm. Ngược lại, Cơ đốc nhân biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tẩy sạch tội lỗi của chúng ta trong Đấng Christ. Và lương tâm như là phương tiện của Đức Chúa Trời dùng để giúp chúng ta làm thể nào để đẹp lòng Ngài.
Quan điểm trên của Freud được nêu ra như một minh họa cho người cố vấn hiểu và quyết định phương cách cố vấn cho người khác.
5. Trình bày ba phần chính của cá tính con người theo Freud
...
6. Xếp đặt cho phù hợp những thuật ngữ (bên phải) với những định nghĩa, mô tả nó (bên trái).
... a. Nguồn gốc phát sinh đạo đức
... b. Liên hệ với thế giới bên ngoài
... c. Nguồn gốc phát sinh lạc thú
... d. Nguồn gốc phát sinh thực tế
... e. Lương tâm
... f. Sự nhận thức
... g. Sức mạnh hoạt động lực
... h. Chế ngự ý thức
7. Kể tên hai nan đề cơ bản của con người theo Freud
...
8. Trình bày phương cách của Freud khi gặp những nan đề cơ bản của con người về siêu ngã, bản ngã và bản năng vô thức
...
9. Một lý do khiến cho Cơ đốc nhân hoàn toàn không thể chấp nhận học thuyết của Freud là vì ông ta cho rằng:
a. Con người không thể cảm nhận tội lỗi
b. Con người không có lương tâm
c. Sức mạnh của lương tâm phải bị giảm đi
d. Lo lắng là không có thực
e. Bản năng vô thức phải được điều khiển cẩn thận
10. Đọc kỹ những câu sau đánh dấu + vào chỗ trống trước những câu theo quan điểm Freud, đánh dấu Ủ vào chỗ trống trước những câu không theo quan điểm của Freud
... a. "Tôi không tin ông Ward có thể có khả năng nhận biết tội lỗi"
... b. "Tôi biết anh nghĩ rằng, cô ấy sai lầm khi làm như vậy nhưng cô ta cần làm bất cứ điều gì cô ta muốn, thì cô ta sẽ thấy dễ chịu hơn"
... c. Con người phải được tự do bộc lộ những dục vọng và bản năng của họ mà không có gì là tội lỗi và lo lắng cả
... d. Cảm biết tội lỗi là điều tốt, vì do đó con người sẽ ăn năn và kiềm chế cuộc sống của họ.
... e. Sự lo lắng là có thực, nó cần được giải quyết và hạn chế.
11. Theo Freud, quá khứ liên hệ như thế nào đến hiện tại và tương lai.
...
Quan điểm Cơ đốc giáo.
Mục tiêu 3 : Công nhận Thi Tv 23:1-6 phản ánh một quan điểm Thánh Kinh về cá tính con người.
Liệu pháp Agape là một gương mẫu trong công tác cố vấn theo quan điểm Cơ đốc. Liệu pháp Agape cho rằng: Cá tính là "một tổ chức năng động trong con người, đó là những hệ thống tâm lý, thuộc thể, thuộc linh nó xác định những hành vi và suy nghĩ riêng biệt". Con người được mô tả như là một hữu thể được Đức Chúa Trời thiết kế họ có nhu cầu, có lý trí, có trách nhiệm, có đạo đức, có mục đích và có khả năng thay đổi. Tuy vậy, những đặc điểm này đã bị phá hủy và làm cho sai lạc. Do đó mục đích cố vấn theo quan điểm Cơ đốc là người cố vấn phải triển khai mối quan hệ yêu thương với người được cố vấn bằng cách vận dụng tất cả nguồn cung ứng hữu dụng từ Thiên thượng và từ con người để đem đến sự đổi mới, sự chữa lành, sự trọn vẹn và sự tăng trưởng cho người được cố vấn.
Theo định nghĩa của chúng tôi về cá tính, cá tính là một tổ chức năng động bên trong con người, đó là những hệ thống tâm lý, thuộc thể và thuộc linh, nó xác định lối cư xử và suy nghĩ riêng biệt của con người.
Lưu ý rằng chúng tôi đã bao gồm luôn phương diện thuộc linh như một mặt đặc biệt trong bản chất con người. Cũng phải lưu ý rằng cá tính là một tổ chức năng động, vì vậy có mối quan hệ qua lại giữa những phương diện của cá tính. Điều xảy ra cho thuộc thể của tôi có ảnh hưởng đến thuộc linh của tôi. Điều xảy ra cho thuộc linh của tôi sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của tôi. Điều này được minh họa trong Kinh Thánh qua Thithiên 32. Hãy cẩn thận đoạn Thithiên này.
Nếu tôi con người như một cái máy chỉ biết trả lời các kích thích, hoặc như một cái máy tự động, thì tất cả những gì tôi phải làm là tìm cách kích thích phù hợp, và nhận những trả lời phù hợp từ phía người khác. Nhưng nếu tôi nhìn nhận con người là một hữu thể thuộc linh, được sáng tạo theo hình ảnh của Đức Chúa Trời thì tôi phải liên hệ với họ theo một cách hoàn toàn khác.
Thithiên 32 không phát họa con người như một cái máy, nhưng trình bày mối quan hệ qua lại năng động nhiều phương diện khác nhau của cá tính. Bắt đầu từ câu 3, tác giả Thithiên nói "khi tôi tín lặng (về tội lỗi tôi) các xương cốt tôi tiêu tàn và tôi rên xiết trọn ngày". Phải chăng tác giả đang muốn nói về phương diện tâm linh? Khi tôi không ăn năn tội lỗi của tôi, khi tôi để cho tội lỗi tích trữ trong cuộc đời tôi thì "xương cốt tôi tiêu tàn", đó là thuộc về phương diện thể xác.
Trong câu 3. "Tôi rên xiết trọn ngày... ", rõ ràng ở đây tác giả đang đau đớn về linh hồn và tâm lý. Tôi đã nghe tiếng than vãn rên rĩ của con người khi họ đau đớn, nặng nề về thể xác lẫn tâm linh. Đó là nỗi đau đớn của chúng ta cảm nhận được trong sâu thẳm, đó là tiếng rên xiết từ bên trong. Tôi tin chắc rằng họ đang đau khổ cùng đường.
Câu 4 bắt đầu bằng "vì ngày và đêm tay Chúa đè nặng trên tôi". Theo tôi nghĩ, câu này không có nghĩa là tay của Chúa đè nặng lên tác giả. Nhưng có nghĩa là tác giả buồn bã chán nản cùng cực vì tội lỗi. Tác giả cảm thấy một cảm giác nặng nề, một gánh nặng đè lên cuộc sống của mình. Tôi nghĩ đây là gánh nặng thuộc về tâm lý và tâm linh. Rồi trong phần cuối của câu 4, "sức lực tôi tiêu hao". Tác giả không còn một sức lực nào nữa, cảm thấy kiệt sức. Sức lực như bị tiêu tan bởi cơn sốt khô cạn của mùa hè. Đây là nỗi đau về thể xác. Một lần nữa chúng ta lại thấy tình trạng tâm linh của tác giả đã ảnh hưởng đến tâm lý lẫn thuộc thể của ông.
Trong câu 5 tác giả tìm được câu trả lời, ông nói "Tôi đã thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác tôi. Tôi nói tôi sẽ xưng các vi phạm tôi cùng Đứcgiêhôva còn Chúa tha tội ác của tôi". Trong câu 1 và câu 2 ta thấy kết quả của sự tha thứ. Đavít đã thốt lên "phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình. Phước thay cho người nào mà Đứcgiêhôva không kể gian ác cho và trong lòng không có sự giả dối". Quan điểm về sự phước hạnh thao Kinh Thánh không phải chỉ là được hạnh phúc, mọi chuyện suông sẻ, hoàn cảnh tiện lợi, nhưng cũng có ý nghĩa là không bị lệ thuộc vào số phận, vượt lên mọi hoàn cảnh. Đây là ơn phước Thiên thượng của Đức Chúa Trời dành cho Đavít.
Chỉ một vài câu ngắn gọn trong Thi Tv 32:1-11 mà chúng ta vừa xem xét ở trên, nó đã trình bày được đặc tính năng động của cá tính. Điều xảy ra cho tâm linh của tác giả đã ảnh hưởng đến thuộc thể và tâm lý của ông. Trong trường hợp đặc biệt này gốc rễ của nan đề thuộc về phương diện tâm linh. Điều này không phải lúc nào cũng đúng. Bởi vì Cơ đốc nhân cũng có thân thể đau ốm, và nó cũng không phải luôn luôn có nghĩa là họ bệnh tật vì tội lỗi. Nhưng điều này cũng có thể xảy ra vì phương diện này ảnh hưởng đến phương diện khác.
12. Đọc lại 32:1-5. Xếp đặt cho phù hợp phần Kinh Thánh (bên trái) với những phương diện của cá tính (bên phải).
... a. "Khi tôi nín lặng... "
... b. "Các xương cốt tôi tiêu tàn"
... c. "Tay Chúa đè nặng trên tôi"
... d. "Sức lực tôi tiêu hao"
... e. "Tôi đã thú tội cùng Chúa"
13. Theo 32:5. Con người nhận được điều gì khi xưng tội cùng Chúa?
...
Bạn có thấy sự trái ngược giữa quan điểm của chủ nghĩa nhân bản và quan điểm Cơ đốc giáo? Freud nói để loại bỏ tội lỗi chỉ có một cách là con người phải cảm thấy tự do làm điều mình muốn. Quan điểm Cơ đốc giáo lại nhấn mạnh rằng, chỉ một mình Đức Chúa Trời mới có thể giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và chúng ta chỉ được sự tự do khi biết ăn năn và xưng tội. Chẳng những được tha tội thôi mà còn được khỏa lấp tội lỗi, được Đức Chúa Trời Đấng yêu thương con người ban phước. Chúng ta hãy mau đem thông điệp này đến cho những người đang trong tội lỗi, cuộc đời của họ đang chìm trong đau khổ.
Những điểm đặc trưng cơ bản của bản chất con người.
Theo quan điểm Cơ đốc, chúng ta tin chắc rằng con người được Đức Chúa Trời sáng tạo theo hình ảnh của Ngài. Có bảy điểm đặc trưng cơ bản của con người mà chúng ta cần lưu ý. Con người có lý trí, có nhu cầu, có tinh thần trách nhiệm, có đạo đức, có mục đích, và có khả năng thay đổi.
Một vài những đặc điểm trên đối lập với học thuyết Freud ông ta cho rằng con người không có lý trí và bị thúc đẩy bởi những động lực xuất phát từ bản năng của họ.
Bảy đặc tính của con người
1. Tạo vật của Đức Chúa Trời
2. Có nhu cầu
3. Có lý trí
4. Có trách nhiệm
5. Có đạo đức
6. Có mục đích
7. Có khả năng thay đổi
Bảng 2.4
Xem bảng 2.4, toàn bộ phần Kinh Thánh dùng để tham khảo có liên hệ tới những đặc tính căn bản của con người. Chúng ta sẽ nghiên cứu từng đặc tính một cách chi tiết.
Con người sáng tạo theo hình ảnh của Đức Chúa Trời trong SaSt 1:26-27 Chúa phán "Chúng ta hãy làm nên hình người như hình ta" và tiếp theo Kinh Thánh chép "Đức Chúa Trời dựng nên loài người theo hình Ngài", câu 31 thì cho chúng ta biết "Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành". Ở đây có nhiề hàm ý có liên hệ đến phương diện tâm linh, đạo đức và bản chất lý trí của con người. Tuy nhiên, điều quan trọng là Đức Chúa Trời đã sáng tạo con người theo hình ảnh của Ngài. Vì vậy, khi tôi xem xét và đặt liên hệ với một con người, không phải khi tôi xem xét một con vật hoặc một tín đồ, hoặc như một đối tượng để tôi điều khiển, sở hữu và sử dụng cho lợi ích của tôi. Nhưng tôi đang xem xét một con người, và con người đó mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là con người chúng ta vô cùng quí giá, và hẳn có một giá trị thiêng liêng trước mặt Đức Chúa Trời.
Tôi muốn dùng những viên kim cương để minh họa cho bản chất của con người. Một lần nọ, khi tôi đang ở Hà lan, và tôi đã có dịp để quan sát một người thợ cắt kim cương. Tôi đã bị mê hoặc khi nhìn anh ta lấy những viên kim cương đẹp đẽ, sáng rực ra từ những miếng vải xấu xí, không thể tưởng tượng được. Tôi chắc rằng nếu có một viện kim cương ở trước mặt tôi, hay tôi đang ở giữa mỏ kim cương tôi cũng không sao nhận ra được nó được, còn đối với người thợ mỏ thì khác, anh ta sẽ nhặt viên kim cương lên ngay vì anh ta biết giá trị của nó. Rồi anh ta đưa nó cho người thợ mài ngọc, người thợ này có nhiệm vụ làm lộ vẻ đẹp của viên kim cương bằng việc cắt, mài giũa và đánh bóng. Như vậy viên kim cương mới có giá trị. Người thợ mài ngọc Hà lan đã làm lộ phẩm chất độc nhất của viên kim cương, đó là hình ảnh độc nhất của viên kim cương, mà mọi người khi nhìn đều thấy vẻ hấp dẫn đẹp đẽ của nó.
Viên kim cương đó giống như đời sống của con người. Đời sống có thể có nhiều rách nát, trầy trụa, nhiều góc cạnh lởm chởm, nhưng Đức Chúa Trời với sự thương xót và ân điển của Ngài sẵn dành cho người đó qua công cuộc cứu chuộc của con Ngài, Ngài đã đem người đó lên từ vũng bùn ô nhơ của tội lỗi. Và cũng như người thợ mài ngọc kia, Ngài bắt đầu làm việc qua cuộc đời của người đó. Ngài dùng những công cụ những người như bạn và tôi, những hoàn cảnh. Mục tiêu của Ngài là làm nổi bật vẻ đẹp hình ảnh con Ngài qua cuộc đời của người đó để mọi người nhìn vào đều thấy.
Vì vậy, khi tôi đang cố vấn cho một người, một nhóm người hoặc ở trong một môi trường cố vấn. Tôi phải biết rằng mỗi con người đều phải mang hình ảnh của Đức Chúa Trời, và tôi có ảnh hưởng cho từng cuộc đời của họ. Tôi có trách nhiệm nâng cao vẻ đẹp vốn có của mỗi con người và phải làm cho nó bộc lộ ra theo cách Đức Thánh Linh hướng dẫn tôi.
Nên nhớ chúng ta đã phác họa mối tương giao trong công tác cố vấn có liên quan đến Đức Thánh Linh. Ngài đang hiện diện mặc dầu chúng ta không thấy, nhưng Ngài là Đấng cảm nhận, Đấng tham dự thứ tha vào mối tương giao trong công tác cố vấn. Ngài là Đấng hoàn tất kế hoạch, là người thợ mài ngọc đại tài.
14. Tại sao, theo 1:23-31. Con người là tạo vật đặc biệt duy nhất của Đức Chúa Trời.
...
15. Bởi ta hiểu rằng con người được sáng tạo theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, vì vậy trong mọi trường hợp cố vấn tôi phải cư xử với người cố vấn như.
a. Một đối tượng để điều khiển và sở hữu
b. Một món đồ
c. Một hữu thể cần được quan tâm nhưng không cần được yêu thương.
d. Một hữu thể đáng để yêu thương, thông cảm và kết bạn
Con người có nhu cầu. Con người được sáng tạo với nhiều nhu cầu căn bản. Xem hình 2.5, hình này trình bày những nhu cầu được sắp xếp theo thứ bậc quan trọng theo quan điểm của Apraham Maslow. Lưu ý maslow đã đặt những nhu cầu thuộc về sinh lý hay thuộc thể là những nhu cầu cơ bản quan trọng nhất. Tuy nhiên, theo tôi có một nhu cầu khác quan trọng hơn rất nhiều những nhu cầu này.

(Nhu cầu thuộc linh) Rozell
NHU CẦU
THỰC TẾ CÁ NHÂN
NHU CẦU TÔN S]NG
NHU CẦU YÊU THƯƠNG
VÀ THUỘC VỀ NGƯỜI KHÁC
NHU CẦU AN TOÀN
NHU CẦU THUỘC VỀ SINH LÝ
(Nhu cầu thuộc linh) Rozell
Như bạn có thể thấy, tôi hoàn toàn không đồng ý với Maslow,nhưng tôi đã đặt tên cho ba nhu cầu mà tôi cảm thấy quan trọng đáng để quan tâm, bởi Kinh Thánh đã xác định nhu cầu này của con người.
1. Nhu cầu thuộc linh nhà triết học và lý học người Pháp-Pascal đã nói rằng: "Trong trái tim của mỗi con người đều có một khoảng chân không dành cho hình ảnh của Đức Chúa Trời và nó chỉ được lấp đầy bởi con Ngài là Chúa Jesus Christ". 3:8 nói rằng Ngài sáng tạo nên con người để làm bạn và tâm giao với Ngài. 1:8 lại nói về những ơn phước mà Đức Chúa Trời ban cho con người.
Có một số câu Kinh Thánh đã trình bày nhu cầu thuộc linh của con người và chỉ ra một thực tế là khi con người phạm tội, sự tương giao và mối liên hệ giữa họ với Đức Chúa Trời bị bẻ gãy. Con người thất vọng vì nhu cầu tâm linh của họ không được thỏa mãn. Cảm ơn Chúa, trong ân điển và sự thương xót của Ngài, Ngài giải quyết nhu cầu tâm linh cho chúng ta trong con Một của Ngài là Chúa Jesus. Phương cách Đức Chúa Trời giải quyết tội lỗi được nhắc đến lần đầu tiên trong 3:15. Đây là lời tiên tri về con Đức Chúa Trời đến thế gian chịu chết trên cây thập tự và chiến thắng Satan.
2. Nhu cầu tâm sinh lý. Con người cần được yêu thương, cần được thuộc về người khác, bởi vì con người không thích sống cô độc. 2:18 ghi lại lời Đức Chúa Trời phán "loài người ở một mình không tốt". 3:5-7 chúng ta thấy con người tiến đến tự tôn và kiêu ngạo.
Trong 2:8 chúng ta đọc thấy Kinh Thánh đề cập đến những nhu cầu tâm sinh lý của con người. Ví dụ, Kinh Thánh ghi lại Đức Chúa Trời thiết lập vườn Ê-đen và đặt con người trong đó để cai trị mọi vật. Tiếp theo Kinh Thánh chép Đức Chúa Trời lấy làm vừa lòng về những gì Ngài đã làm, cuối cùng trong đoạn 2:18 Ngài nói "loài người ở một mình không tốt". Sự cô đơn đã làm cho con người có nhu cầu kết bạn. Đây là một nhu cầu tâm sinh lý. Ađam không thỏa lòng khi ông sống một mình. Vì vậy, Đức Chúa Trời thấy được nhu cầu tâm sinh lý của Ađam và thấy cần làm nên một người bạn cho ông.
3. Đức Chúa Trời đã tạo nên cây cối, cây cối sinh sản ra trái để con người ăn (2:9). Con người cần sự gần gũi mật thiết về thuộc thể và làm trọn bổn phận giới tính (1:28).
Chúng ta lưu ý rằng ở trong vườn Êđen con người đã có những nhu cầu thuộc thể. Ađam và Êva cần thức ăn. Và chính nhu cầu này, đã trở thành một yếu tố của sự cám dỗ, như đã được ghi trong 3:1-24. Tất nhiên con người là một tạo vật có định hướng trong nhu cầu, được sáng tạo theo hình ảnh của Đức Chúa Trời.
Maslow dựa vào khía cạnh trong bản chất con người. Ông ta khai triển khái niệm về những mức độ của nhu cầu, được gọi là "hệ thống nhu cầu Maslow" (Maslow's Hcerarchy of needs). Hình 2.5 trình bày thứ bậc của các nhu cầu, Maslow sắp xếp nhu cầu theo những mức độ ưu tiên có hệ thống. Ông ta cho rằng chúng ta sẽ tiến đến mức độ cao hơn của hệ thống này, khi mỗi mức độ của nhu cầu thấp hơn được giải quyết. Maslow sắp xếp những nhu cầu thuộc thể như không khí, nghỉ ngơi, thực phẩm ở cuối các thứ bậc. Rồi sau đó ông ta nói những vấn đề tâm sinh lý như sự an toàn, tình yêu, nhu cầu được thuộc về người khác, và tôn sùng. Khi chúng ta trưởng thành và phát triển như một cá nhân, chúng ta sẽ có nhu cầu thực tế cá nhân. Nếu đặt vấn đề này theo quan điểm Thánh Kinh, chúng ta hẳn sẽ nói rằng nhu cầu thực tế cá nhân của con người là "hoàn hảo" "trọn vẹn" hoặc là "sự nhận biết về tiềm năng của mình"
Tôi nghĩ rằng Maslow đã nhận ra một phần rất quan trọng trong bản chất con người. Nhưng ông đã coi nhẹ một phương diện, đó là phương diện tâm linh. Nếu không quan tâm đến phương diện này một cách đầy đủ thì ít ra ông đã không rõ ràng trong việc sắp xếp thứ bậc của nó, mặc dầu ông có thể đề cập đến. Tôi đang trình bày về nhu cầu thuộc linh trong hình 2.5 nhu cầu này được minh họa ở cả phần đỉnh và mở rộng của đáy tam giác (hàng gạch nối).
Chúng ta đặt nhu cầu thuộc linh ở phần đáy của tam giác bởi vì Chúa Jesus đã xác nhận rằng nhu cầu tâm linh của con người là phần quan trọng nhất. Nếu bạn muốn hiểu rõ điều này xin đọc Mat Mt 6:19 đến hết đoạn, trong đó Chúa Jesus đã nói về thứ bậc của các nhu cầu trong cuộc sống con người. Ngài nói rằng khi những nhu cầu của chúng ta không được đáp ứng, chúng ta sẽ lo lắng. Ít nhất là năm lần trong phân đoạn Kinh Thánh này Chúa nói về sự lo lắng. Ngài nói phương cách để giải quyết sự lo lắng không phải là tìm cách để giải quyết nỗi lo lắng đó, nhưng trước hết phải tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và rồi Ngài sẽ cho chúng ta thêm mọi sự khác nữa. Đây là lý do khiến chúng ta đặt nhu cầu tâm linh là quan trọng trên hết thảy mọi nhu cầu khác. Chúng ta đặt nhu cầu tâm linh ở đỉnh tam giác, ở hàng đầu tiên, bởi vì mục đích sự tăng trưởng của chúng ta là trở nên giống như Đức Chúa Trời, trong mọi phương diện tâm linh. Trong phân đoạn Mathiơ này Chúa Jesus nói về giá trị thật của bản thân, nhu cầu thuộc thể của con người (ăn mặc), tương lai và mục đích của cuộc đời. Ngài định nghĩa rằng con người đã được sáng tạo cùng với hướng giải quyết các nhu cầu này.
Khi cố vấn, tôi phải nhận biết rằng người tôi đang cố vấn có những nhu cầu gì. Đáp ứng được nhu cầu của họ sẽ ảnh hưởng đến cách người ấy liên hệ với những người khác và những nan đề của họ.
Ví dụ như không có gì phá vỡ một cuộc hôn nhân nhanh chóng hơn là một hoặc cả hai vợ chồng thiếu sự thỏa mãn nhu cầu cần thiết. Con người cần thiết phải biết đặt mối quan hệ trong sự hài hòa với nhu cầu của người khác. Chúng ta phải học cách giải quyết nhu cầu của mình và không được tước đoạt nhu cầu của người khác, bởi vì con người có định hướng trong nhu cầu.
16. Đọc 6:19-34 kể ra những nhu cầu đặt biệt mà Chúa Jesus đã nêu trong đoạn Kinh Thánh này.
...
17. So sánh câu trả lời của bạn trong câu hỏi 16 với hình 2.5 có bao nhiêu nhu cầu căn bản trong hình 2.5 đã được tìm thấy trong bài tập 16.
Con người có lý trí. Kinh Thánh bày tỏ rõ ràng rằng con người có lý trí. Xem những phân đoạn Kinh Thánh tham khảo sau đây:
Đức Chúa Trời để cho con người cai quản mọi vật (SaSt 1:26), Đức Chúa Trời giao cho con người trách nhiệm đặt tên mọi loài (2:19-20), Đức Chúa Trời giao trách nhiệm cai quản vườn Êđen cho con người (2:15). Nhưng tội lỗi khiến con người thành không có lý trí (3:4-13). Thực chất của sự cám dỗ đó là sự gây cho lẫn lộn về thực tế.
Đến đây chúng ta đã nhận biết rằng con người được sáng tạo theo hình ảnh của Đức Chúa Trời và có định hướng trong nhu cầu. Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu phần con người có lý trí. Điều này có thể làm nẩy sinh một vài câu hỏi. Bạn có thể thắc mắc "Nếu con người có lý trí, tại sao họ không hành động theo lý trí?". Theo tôi bởi vì con người phạm tội. Tội lỗi đã làm họ mất đi lý trí.
Con người vốn được tạo nên có lý trí. Và điều quan trọng nhất của lý trí con người là công nhận rằng họ được sáng tạo theo hình ảnh của Đức Chúa Trời trong sự vinh hiển của Ngài, và vì vậy con người nên chọn sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời, sống theo lý trí tốt đẹp mà Ngài ban cho họ. Nhưng họ đã chọn tội lỗi làm mất lý trí vốn có của họ. Phải chăng chọn lựa của Êva là vô lý trí? Bà ta có khả năng nhận thức, nhưng bà đã hành động sai trái và chọn lựa tội lỗi. Bà đã đầu phục sự cám dỗ.
Một nhà văn đã ví cuộc đời như một dòng sông, và tội nhân được ví sánh với người đang bơi, anh ta cố gắng bơi ngược lại với dòng nước đang chảy mạnh. Tôi nhớ khi tôi còn là một cậu bé, tôi thường hay đi chơi với ông nội của tôi ở Montana. Chúng tôi đi đến một nơi đặc biệt dọc theo con sông Missouri, nơi đây có nhiều nhánh đổ về sông. Chúng tôi rất thích bơi trên những sông đó, tôi đã học bơi ở dòng nước đó. Tôi biết rằng nếu tôi cố để bơi ngược lại với dòng nước mạnh đang đổ về sông, tôi sẽ mệt mỏi và kiệt sức. Vì cứ ba sải mà tôi cố gắng để vượt lên phía trước, tôi chỉ tiến lên được một sải.
Đây là bức tranh có thể dùng để minh họa cho con người đang cố sống ngược lại với luật pháp của Đức Chúa Trời. Họ đang gắng sức để bơi ngược lại với dòng chảy cuộc đời và hoàn toàn vô ích. Hãy sống một cuộc sống trong Chúa Cứu thế để cho Ngài trở thành động cơ chính trong cuộc đời của chúng ta, đó là điều hợp lý nhất mà chúng ta có thể làm. Đây là sự chuyển động theo dòng chảy của cuộc đời. Lối sống Cơ đốc nhân là lối sống duy nhất mà trong đó nhu cầu của con người sẽ được giải quyết hoàn toàn, được hưởng sự vinh hiển của cha trên trời.
Con người đã biệt riêng là một hữu thể có lý trí. Nhưng khi Đức Chúa Trời đặt để họ trong vườn Êđen, họ đã chọn để hành động một cách không có lý trí. Một bằng chứng khác của bản chất lý trí con người là họ được giao cho cai quản vườn Êđevà được đặt tên cho mọi loài động vật. Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người với bản chất có lý trí.
18. Sắp xếp cho phù hợp phần diễn tả (bên trái) với những đặc tính của con người (bên phải).
... a. Có mối quan hệ tốt đẹp với Đức Chúa Trời
... b. Sống dưới ách nô lệ của tội lỗi
... c. Cố sống chống lại với luật pháp của Đức Chúa Trời
... d. Chọn sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời
... e. Để cho tình yêu trở thành động cơ chính trong cuộc đời.
Con người được dựng nên để có trách nhiệm. Đức Chúa Trời ban cho con người có trách nhiệm để phân biệt điều thiện và điều ác (2:17). Ngài ban cho con người quyền cai trị trên mọi loài (1:26). Khi con người phạm tội họ đã hành động một cách không có tinh thần trách nhiệm (RoRm 1:17-18).
Trong phần trước tôi đã trình bày con người được đặt để cai trị vườn Êđen (SaSt 2:15). Cũng lưu ý rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên con người có trách nhiệm với chính họ. Kinh Thánh ghi lại điều này ở phần đầu Sáng thế ký đoạn 3.
Một trong những phương pháp cố vấn mới rất có kết quả là phép chữa trị thực tế của William Glasser. Ông ta đã trình bày một phương pháp công nhận phần trách nhiệm trong bản chất con người. Ông ta nhấn mạnh rằng trách nhiệm là phần quan trọng hơn hết. Trong một số bài viết của ông, ông cho rằng không có điều gì như là sự đau yếu tinh thần, nhưng chỉ có mức độ khác nhau của sự thiếu trách nhiệm. Tôi nghĩ đây là một ý kiến cực đoan, nhưng về nguyên tắc thì đúng. Con người có trách nhiệm. Tôi có trách nhiệm với chính bản thân tôi, có trách nhiệm để quản lý tốt tất cả những gì mà Đức Chúa Trời ban cho tôi như: Sức khoẻ, tiền bạc, của cải và cả cuộc sống.
Ý kiến của Glasser có ý nghĩa đối với người cố vấn và người được cố vấn. Nếu chúng ta đồng ý với Glasser thì có nghĩa là người cố vấn không thể cho rằng trách nhiệm chọn lựa và quyết định là của người được cố vấn, vì người cố vấn chỉ có trách nhiệm yêu thương. Mặt khác, người được cố vấn có trách nhiệm chọn lựa và sống theo kết quả của sự chọn lựa đó.
Tôi phải cẩn thận kẻo tự mình gánh lấy trách nhiệm không thuộc về mình. Tôi có trách nhiệm yêu thương, có trách nhiệm liên hệ với con người sao cho họ được ích lợi nhất, nhưnng tôi không phải chịu trách nhiệm về họ. Nếu họ vô trách nhiệm đến mức đe dọa đến cuộc sống của họ, hoặc của một ai đó, thì tôi phải thực hiện trách nhiệm ở mức độ lờn hơn. Tôi có trách nhiệm lớn hơn bởi tình yêu Agape, tôi cố gắng giữ họ khỏi mọi hành động sai trái tệ hại. Tuy vậy, tóm lại tôi nghĩ họ phải chịu trách nhiệm về quyết định riêng của họ và sống theo những kết quả của những sự lựa chọn đó.
Giống như một người đứng trên mái của một tòa nhà lớn hơn và nói "Tôi sẽ nhảy băng qua mái của tòa nhà bên kia. Qui luật của lực hấp dẫn không có tác dụng đối với tôi. Hãy xem tôi nhảy đây". Bấy giờ, tôi có thể đưa ra lý lẽ để ngăn cản anh ta. Tôi sẽ với anh ta về hậu quả khủng khiếp khi anh ta bị té rơi từ trên cao xuống. Tôi có thể làm hết sức ngăn anh ta khỏi quyết định này. Nhưng cuối cùng anh ta chịu trách nhiệm của chính anh ta, và nếu anh ta băng mình ra khỏi mái của tòa nhà cao đó, anh ta sẽ sống hoặc chết tùy theo kết quả của sự chọn lựa và quyết định đó.
Bác sĩ Vath, người đóng góp cho quyển sách giáo khoa học tập độc lập này nói rằng: Người cố vấn phải là nhân chứng thật sự. Anh ta phải làm chứng về những điều mình thấy xảy ra hoặc những điều có thể xảy ra trong hành vi của người được cố vấn. Tôi có thể nói với người muốn nhảy trên không đó rằng: "Tôi là một nhân chứng vì những gì tôi đã thấy xảy ra cho người khác. Nếu anh bước ra khỏi tòa nhà, anh sẽ té từ cao xuống và rất đau đớn. Đó là một qui luật, luật hấp dẫn mọi vật. Nếu anh không lưu ý điều này, anh sẽ bị té ngã đau đớn, thậm chí có thể chết. Anh phải chịu trách nhiệm về điều đó".
Đức Chúa Trời dựng nên con người có trách nhiệm. Tội lỗi là hành vi không có trách nhiệm. Nó làm cho con người đau đớn, sầu khổ và hủy diệt họ.
19. Khoanh tròn trước những câu đúng sau đây:
a. Tội lỗi phá hủy lý trí.
b. Tôi là tạo vật của Đức Chúa Trời, Ngài tạo lập tôi có bản chất trách nhiệm
c. Tôi có trách nhiệm với những quyết định mà tôi thích
d. Đức Chúa Trời dựng nên con người để họ có trách nhiệm
e. Phục hồi sự thông công với Đức Chúa Trời sẽ giúp phục hồi tính trách nhiệm trong con người
f. Mỗi người chịu trách nhiệm về chính sự lựa chọn của mình
g. Người cố vấn là nhân chứng thật sự đối với những gì ta thấy trong người được cố vấn.
h. Tôi có thể nói thật rằng "Tôi không chịu trách nhiệm về những lựa chọn mà tôi quyết định"
Con người là một hữu thể có đạo đức. Con người vốn được sáng tạo có đạo đức và ngay thẳng. 1:31 nói rằng Đức Chúa Trời lấy làm đẹp lòng về sự sáng tạo của Ngài, hẳn nhiêm điều đó bao gồm con người. Ngài đã chúc phước cho họ. Trong đoạn 3 chúng ta thấy con người đứng trước một sự lựa chọn, điều đó mang những hàm ý về đạo đức. Con người không có lý do gì để bị hổ thẹn cho đến sau khi họ phạm tội (3:10-11). Tội lỗi đã khiến Ađam và Êva trở thành không có đạo đức. Họ chọn lựa con đường hủy diệt dẫn đến sự xa cách Đức Chúa Trời.
Khi tôi nhận biết rằng tôi vốn được tạo nên để yêu thương và được yêu thương, thì tôi sẽ chọn lựa sống một cuộc sống yêu thương. Điều đó có nghĩa là tôi sẽ không liên hệ với người khác, với Đức Chúa Trời và với chính tôi theo cách sẽ dẫn đến sự phá hoại hoặc làm thương tổn, hoặc xúc phạm. Đây là một lối sống Agape.
Khi tôi nhìn một con người, tôi cần nhìn thấy họ theo cách nhìn của Đức Chúa Trời, là họ đã được dựng nên để sống một cuộc đời đạo đức.
Đừng quên đã có tội lỗi và lối sống vô đạo đức, nhưng nó phải được giải quyết. Có những phương pháp cố vấn cho rằng đừng công nhận yếu tố tội lỗi của con người. Trên thực tế, phương pháp cực đoan của Freud cho phép con người làm bất cứ điều gì họ muốn. Phương pháp này có thể dẫn đến sự thông dâm, ngoại tình và đủ mọi tội lỗi khác. Những người đó ứng dụng học thuyết này và nói rằng: "Hãy làm bất cứ điều gì bạn muốn". Nhưng Kinh Thánh, lời Đức Chúa Trời nói rằng "không được!". Con người có đạo đức chỉ khi con người nhận ra bản chất đạo đức của mình và sử dụng những nguồn cung ứng Thiên thượng mà Đức Chúa Trời đã ban cho,con người sẽ tìm được sự trọn vẹn và hoàn toàn.
20. So sánh kết quả của một cuộc sống đạo đức và kết quả của cuộc sống vô đạo đức.
...
Con người được tạo dựng để sống có mục đích: Con người biết suy lý về cuộc sống, con người tìm kiếm ý nghĩa cho cuộc đời của mình và họ nhận biết giá trị của họ. Tuy nhiên, con người đã vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, và ở trong tình trạng tội lỗi, họ lúng túng không tìm được sự hướng dẫn. Đức Chúa Trời đã ban lời Ngài cho chúng ta để hướng dẫn chúng ta đến một cuộc sống tốt đẹp với những mối tương giao đẹp lòng Ngài và một mục đích đúng đắn.
Đôi lúc người cố vấn nên hỏi người được cố vấn về mục tiêu hoặc mục đích cuộc đời của họ. Tôi có thể hỏi như vầy "bạn đang ở đâu?" "tại sao bạn tồn tại?" và "bạn là ai?"
Trong Sáng thế ký đoạn 3. Chúng ta thấy Ađam bởi vì không vâng lời Đức Chúa Trời nên đã trốn khỏi mặt Ngài. Ở đây, Đức Chúa Trời đã trở thành một cố vấn khi Ngài hỏi "Ađam, ngươi ở đâu?" Ađam đáp lại là bởi vì ông sợ nên trốn tránh. Ađam đã không vâng lời đã mất đi mục đích cuộc đời mình, và không thể sống trong sự vinh hiển của Đức Chúa Trời nữa.
Con người bởi tội lỗi đã đánh mất đi ý nghĩa cuộc đời và lý do để tồn tại.
21. Bạn nên hỏi người được cố vấn 3 câu hỏi nào, nếu dường như họ đã mất tất cả mục đích của cuộc đời.
...
Ba câu hỏi này sẽ đáp ứng được nhu cầu của từng cá nhân nhằm tập trung vào những nan đề quan trọng trong cuộc sống.
22. Tại sao con người mất đi ý thức về mục đích và lý do sự tồn tại của họ, điều mà Đức Chúa Trời đã định từ buổi ban đầu cho họ.
...
Con người có khả năng thay đổi. Đức Chúa Trời đã đặt Ađam và Êva trong vườn địa đàng Êđen với khả năng thay đổi được mọi vật mà Ngài sáng tạo. Họ có thể cày xới vườn, cai trị mọi loài động vật, chọn lựa để sử dụng cái gì để làm mọi vật thay đổi. Con người không phải là một cái máy để mà đi theo sự điều hành của người sử dụng. Tuy nhiên, có người thay đổi theo chiều hướng tích cực, có người thay đổi theo chiều hướng tiêu cực. Đức Chúa Trời có rất nhiều nguồn cung ứng hữu dụng để giúp chúng ta thay đổi theo chiều hướng tích cực.
Nếu thật sự con người không có khả năng thay đổi thì chúng ta sẽ không có lý do nào để mà cố vấn. Trong Sáng đoạn 1-3, chúng ta đã thấy con người thay đổi như thế nào. Họ thay đổi từ một cuộc sống có lý trí, có trách nhiệm, có đạo đức sang một cuộc sống không có lý trí, vô trách nhiệm và vô đạo đức. Trong đoạn 1 và đoạn 2, Ađam có ý thức về mục đích và lý do sự tồn tại của mình. Ông sống để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và làm vinh hiển danh Ngài, Đấng đã sáng tạo nên ông. Nhưng trong đoạn 3, ông cố che dấu và dối trá với Đức Chúa Trời. Sự tương giao mật thiết của Ngài lập tức bị phá vỡ. Con người hư hoại và rơi vào tình trạng tối tăm, thiếu sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (RoRm 3:23).
Trong SaSt 3:15. Tạ ơn Chúa chúng ta tìm thấy một nguồn cung ứng được Đức Chúa Trời công nhận là sẽ đem đến sự thay đổi, khi chúng ta quyết định sống xa cách tội lỗi. Nguồn cung ứng đó chính là Cứu Chúa Jesus Christ. Công tác cứu chuộc của Ngài mang đến sự thay đổi cuộc đời của toàn thể nhân loại. Cố vấn là một cách mà Đức Thánh Linh dùng để bày tỏ sự thay đổi này.
Điều quan trọng là chúng ta có thể thay đổi. Chúng ta không thể nhốt trong một cái thùng. Chúng ta có thể quyết định mở cuộc đời của chúng ta ra tiếp nhận nguồn cung ứng từ Thiên thượng này. Ngài sẽ dẫn chúng ta đến sự tự do, sự đổi mới, sự chữa lành và sự trọn vẹn.
Sự thay đổi mà tôi đang nhấn mạnh ở đây là sự thay đổi xảy ra bên trong lẫn bên ngoài con người. Có một vài phương pháp trị liệu chỉ tập trung về sự thay đổi bên ngoài, nhưng điều quan trọng nhất là tôi không tìm thấy kết quả của sự thay đổi nào, nếu chúng ta chỉ cố gắng thay đổi thái độ đạo đức của chúng ta thì tôi nghĩ ngay trong việc này cũng có giới hạn.
Phương pháp thay đổi hành vi (The behavior Modification Approach) là một ví dụ. Đây là một phương pháp tập trung vào việc thay đổi hành vi thái độ bằng cách bắt con người phải làm những việc theo một lối sống đặc biệt. Theo phương pháp cố vấn Agape chúng ta có thể sử dụng một vài ứng dụng của phương pháp thay đổi hành vi như cho người được cố vấn làm việc và phát huy những hành vi tốt của họ. Nếu chúng ta muốn sự thay đổi từ bên trong nhất của con người đó, rồi sự thay đổi bên trong này sẽ bộc lộ ra bên ngoài.
RoRm 12:1-2. Là đoạn Kinh Thánh nói kỹ về điều này đặc biệt là câu 2. "Đừng làm theo đời này, nhưng hãy biến hóa... " Theo bản dịch của J.B Philip thì "đừng để cho thế gian đẩy bạn vào khuôn mẫu của nó, nhưng hãy biến hóa" sự thay đổi bên trong lẫn bên ngoài chỉ bắt đầu bằng sự thay đổi của tâm thần.
Trong Mat Mt 15:18-19 Chúa Jesus nói cách sống của mỗi người tùy nơi lòng họ mà ra. Ngài nói nếu không có sự thay đổi từ trong lòng sẽ dẫn đến cuộc sống với những hành vi không có lý trí, vô trách nhiệm, mất đạo đức và vô ý nghĩa. Vì vậy, tôi khẳng định rằng sự thay đổi thật sự, hữu hiệu và lâu dài phải bắt đầu từ bên trong của con người.
23. Theo những sự kiện được ghi trong Sángthếký đoạn 1 và 2. Con người thay đổi.
a. Từ vô lý trí, đến có lý trí, đến được cứu rỗi
b. Không thay đổi gì cả
c. Từ được sáng tạo, đến được cứu rỗi, đến mất lý trí
d. Từ có lý trí, đến vô lý trí, đến được cứu rỗi
24. Con người có thể thay đổi tốt nhất cuộc sống của họ bởi.
a. Làm những việc đặc biệt để dẫn đến hành vi tốt.
b. Áp dụng những nguồn cung ứng từ Thiên thượng sẽ giúp mang đến sự thay đổi
c. Thay đổi vị trí, nơi ở và nghề nghiệp
d. Quyết định để sống có lý trí, có trách nhiệm và có đạo đức.
25. Trong RoRm 12:1-2 Kinh Thánh nhắc chúng ta rằng chúng ta không phù hợp với khuôn mẫu của thế gian, Phaolô nói chúng ta phải được biến hóa như thế nào?
...
26. Xem kỹ những câu sau đây. Điền chữ N vào chỗ trống trước những câu được cho là quan điểm của chủ nghĩa nhân bản. Điền chữ T trước những câu được cho là quan điểm hữu thần về con người.
... a. Con người không có lý trí
... b. Bản năng điều khiển con người
... c. Con người vốn có lý trí và trách nhiệm
... d. Quá khứ của con người chỉ ra hiện tại và tương lai
... e. Con người có khả năng thay đổi
... f. Đức Chúa Trời sáng tạo con người để sống có mục đích
27. Xếp đặt cho phù hợp những bản chất đặt trưng của con người (bên phải) với sự mô tả nó theo Kinh Thánh (bên trái).
... a. "Con người đặt tên cho mọi loài động vật loài chim trên biển và cả loài thú trên đất" (SaSt 2:20)
... b. "Đức Chúa Trời làm nên những cây đẹp mắt và có trái ăn ngon" (2:9)
... c. "Đức Chúa Trời ... đặt để con người trong vườn Êđen để giữ vườn" (2:15)
... d. "Nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến" (2:17)
... e. "Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài" (1:27)
... f. "Đoạn mắt hai người đều mở ra" (3:7)
... g. "Hãy sinh sản thêm nhiều" (1:28)
Những thành phần của cá tính con người
Có những phương diện khác nhau trong cấu trúc của cá tính con người, đó là một quan niệm khác nữa mà tôi muốn trình bày trong bài học này. Tuy vậy, chúng ta phải thận trọng ở điểm này, vì tôi không nghĩ rằng cá tính của con người thật sự có thể phân chia được. Điều này có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng khác. Bên cạnh đó, việc nhận dạng những thành phần khác nhau hoặc những phương diện trong cá tính của con người. Như chúng tôi đã trình bày cá tính là "một tổ chức năng động của tâm lý, thuộc thể tâm thần và những mối liên hệ xã hội trong một con người nó quyết định những tính chất hành vi và suy nghĩ của con người đó".
Xem xét cẩn thận hình 2.6 và lưu ý ba thành phần (hoặc ba phương diện) của cá tính. Bạn sẽ thấy rằng ba thành phần này có mối liên hệ hỗ tương rõ ràng, sự tác động lẫn nhau của mỗi thành phần có ảnh hưởng đến những thành phần khác.

Thành phần đầu tiên là vòng tròn gạch nối ở phía ngoài, nó thể hiện bản chất thuộc thể của con người, đó là thân thể. Phaolô trong thư gởi cho hội thánh Têsalônica, ông nói rằng chúng ta phải được thánh hóa trong thân thể mình. Thân thể của chúng ta là phần rất quan trọng.
Thành phần thứ hai là tâm lý. Đó là tâm hồn của con người. Phải lưu ý rằng từ ngữ soul trong tiếng Hylạp là chữ psyche (cái tâm). Đây là căn ngữ mà từ đó chúng ta có được những chữ như là psyche hoặc psychology. Tôi nhận thấy rằng hai chữ này có tương đương với nhau về âm vận. Tôi cũng thấy rằng, trong Kinh Thánh từ ngữ Hylạp chữ kardia (được dịch là trái tim hay tấm lòng) được dùng như là một chữ đồng nghĩa với từ psyche hoặc tâm hồn. Bạn có nhận thấy từ kardia đó không? Nó được sử dụng trong ngành y, những chữ như cardiac (có nghĩa là có liên hệ đến trái tim hay đau tim) và chữ (ardiovascular cũng có nghĩa là thuộc về tim và mạch máu) điều đó xuất phát từ cái gốc của nó (từ kardia).
Hai từ spyche và Kardia đều được dùng để chỉ đến tư duy, trí tuệ, ý chí và cảm xúc của con người. Tôi sẽ đưa ra một vài câu Kinh Thánh để kham khảo trình bày vấn đề này. Trong RoRm 1:21, chúng ta thấy rằng loài người đã trở nên hư không trong ý tưởng mình, lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. Từ ngữ lòng ở đây là kardia theo câu Kinh Thánh này. Sự suy nghĩ được thực hiện ở trong lòng. Rồi trong 1:24, chữ lòng bao gồm cả ý nghĩa ý niệm về cảm xúc. Câu Kinh Thánh trên nói rằng Đức Chúa Trời đã phó họ sa vào sự ô uế, theo lòng ham muốn của họ. Vì vậy cảm xúc đó ngự trị và đâm rễ trong lòng. Đây không phải là trái tim thuộc thể nhưng mà là trái tim như cốt lõi của cá tính con người.
Cuối cùng trong 2:5, chúng ta thấy rằng lòng cứng cỏi và không ăn năn là một. Nó không chịu chọn sự thuận phục ý muốn của nó theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Ở đây quan niệm về ý nghĩa của tấm lòng bao gồm cả ý chí của con người. Lòng là phần bên trong của bản chất tâm lý bao gồm suy nghĩ tình cảm và ý chí của con người.
Thành phần thứ ba của cá tính là bản chất tâm linh. Nó được minh họa bằng vòng tròn chính giữa tam giác trong hình 2.6, để diễn tả sự quan trọng xứng đáng của phương diện tâm linh trong con người. Vòng tròn này có thể mở rộng ra thêm. Bản chất tâm linh của con người không thể đứng tách riêng ra khỏi những yếu tố khác, nó bao gồm nhiều mặt trong một con người. Tâm linh con người được nhấn mạnh là một khối trọn vẹn. Điều này rất khó để khái niệm hóa, con người là một hữu thể có tâm linh. Trước khi được cứu tâm linh họ chết. Nhưng khi biết Đấng Christ là Đấng cứu rỗi, tâm linh của họ được tái sinh bởi thần linh của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh làm việc trong cuộc đời của họ và tâm linh họ sống với Chúa. Bản chất tâm linh này là chiếc ngai của lương tâm mà chúng tôi định nghĩa là "chức năng đạo đức phổ quát trong con người, nó làm chứng về con người sống như thế nào và về hệ thống giá trị đạo đức của họ".
Ba thành phần của cá tính đã nêu ra ở trên, cùng với những khía cạnh như suy nghĩ, cảm xúc, ý chí và lương tâm cấu thành cá tính con người. Chúng có mối liên hệ năng động, hổ tương và ảnh hưởng lẫn nhau. Cách duy nhất để chúng ta trình bày sự liên hệ này trong hình 2.6 là vẽ những mũi tên từ một thành phần này đến tất cả những thành phần khác. Bạn không phải vẽ như vậy, nhưng tôi nghĩ bạn có thể ngầm hiểu điều này.
Khi chúng ta đọc Thi Tv 32:1-11, chúng ta thấy bản chất tâm linh của một con người ảnh hưởng đến tâm lý và thuộc thể của anh ta. Điều xảy ra cho thuộc thể ảnh hưởng đến tâm lý và tâm linh và ảnh hưởng đến những giao tiếp xã hội căn bản, bởi vì hành động và phản ứng thuộc thể đến thái độ và thái độ ảnh hưởng đến mối quan hệ xã hội. Một trong những điều mà chúng ta cần làm khi cố vấn là quan sát thái độ, suy nghĩ, tình cảm, ý chí và cuộc sống tâm linh của người được cố vấn để thấy đâu là chỗ cần được chữa lành, đổi mới, khuyên bảo.
28. Ba thành phần của cá tính con người được xác định trong ITe1Tx 5:23 là gì?
...
Theo hình 2.6 phương diện tâm lý của cá tính con người có ba mặt : 1. Lý trí hay còn gọi là trí tuệ 2. Xúc cảm 3. Ý chí hay còn gọi là ý muốn.Trong bài tập tới chúng sẽ xem xét những phần Kinh Thánh trình bày mỗi phần.
29. Xếp đặt cho phù hợp mỗi phần của phương diện tâm lý của cá tính con người (bên phải) với phần Kinh Thánh diễn tả (bên trái).
... a. RoRm 1:24
... b. Eph Ep 6:6
... c. RoRm 1:21
... d. 2:5
... e. CoCl 3:23
Khi bạn học những câu Kinh Thánh nêu trên, bạn có thấy chữ tấm lòng (heart) được đề cập đến nhiều lần, và chúng ta chưa kể đến nó như một trong những thành phần của cá tính phải không? Nếu bạn thắc mắc về phần này, xin đọc lại phần triển khai bài học này, bạn sẽ nhận thấy rằng tấm lòng là "phần bên trong của bản chất tâm lý nó bao gồm cả suy nghĩ, tình cảm và ý chí của con người".
30. Khoanh tròn mẫu tự trước những câu đúng sau đây.
a. Điều xảy ra cho tâm linh của con người ảnh hưởng đến tâm lý của họ
b. Phương diện thộc thể của cá tính con người không ảnh hưởng đến phương diện xã hội
c. Thái độ là biểu hiện chính xác nhất của tình trạng tâm linh của con người.
d. Sự hiểu biết về con người là gì sẽ giúp người cố vấn
e. Lương tâm là chức năng then chốt của phương diện tâm linh trong cá tính con người
Cá tính con người rất năng động. Điều hết sức quan trọng là chúng ta phải nhìn con người như Chúa Jesus nhìn họ. Hãy đọc Mat Mt 9:35-39. Chúng ta thấy phải nhìn trong ánh mắt của họ để thấy được những nhu cầu thuộc thể (tình trạng kiệt sức, cảnh gieo neo khốn cùng), thấy được nhu cầu tâm lý (tình trạng thất vọng, chán ngán) và cả nhu cầu tâm linh của họ nữa (như Chiên không có người chăn). Rồi chúng ta phải giao kết yêu thương họ theo cách mà họ được ích lợi nhất. Chúng ta biết nhu cầu chính yếu của con người là tình yêu thương. Nếu chúng ta yêu thương họ, việc đó sẽ buông tha họ để họ yêu thương chúng ta. Rồi họ sẽ bắt đầu được yêu và yêu thương người khác. Đời đó các tác dụng chữa lành cuộc đời của họ
31. Dùng từ của bạn ghi vào vở ba cấu trúc cá tính mà chúng ta đã học, giải nghĩa ngắn gọn chức năng và mối liên hệ lẫn nhau giữa chúng

Bài Làm Tự Trắc Nghiệm
CÂU HỎI LỰA CHỌN Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng nhất.
1. Liệu pháp Agaoe có liên hệ đến những phương pháp nào khi trả lời câu hỏi "con người là gì?".
a. Tự nhiên thần giáo
b. Nhân bản chủ nghĩa
c. Thực tế
d. Hữu thần
2. Theo Freud điều gì là cơ bản của con người?
a. Lo lắng, tội lỗi
b. Cảm năng giới tính
c. Vô đạo đức
d. Tìm kiếm lạc thú
3. Chức năng then chốt nào có liên quan đến phương diện tâm linh của cá tính con người.
a. Ý chí
b. Lương tâm
c. Xúc cảm
d. Trí tuệ
4. Giải pháp nào KHÔNG phải là của Freud về nan đề cơ bản của con người?
a. Để cho bản năng vô thức thể hiện
b. Tăng sức mạnh của bản ngã
c. Giảm sức mạnh của siêu ngã
d. Nhấn mạnh sức mạnh của siêu ngã.
5. Những thành phần nào sau đây mà Freud gán cho các tính của con người.
a. Bạn thân, bản ngã, và bản năng vô thức
b. Bản ngã, siêu ngã, và bản thân vô thức
c. Bản năng vô thức, siêu ngã, và bạn thân
6. Quan điểm Cơ đốc về những đặc tính của con người như một hữu thể.
a. Có lý trí, có trách nhiệm,và có mục đích
b. Có trách nhiệm, trọn vẹn,và có mục đích
c. Trọn vẹn, có lý trí, và có trách nhiệm
d. Có mục đích, trọn vẹn, và có lý trí
7. Những thành phần căn bản của cá tính là.
a. Thuộc thể,giao tiếp xã hội, và tâm lý
b. Tâm lý, tâm linh, và giao tiếp xã hội.
c. Giao tiếp xã hội, tâm linh, và thuộc thể
d. Tâm linh,thuộc thể,và tâm lý
TRẢ LỜI NGẮN: Trả lời câu sau đây càng ngắn gọn càng tốt
8. Một mục tiêu chính của công tác cố vấn Cơ đốc có liên hệ đến nhận thức về người được cố vấn là gì?
...
CÂU HỎI ĐÚNG SAI Viết chữ Đ vào chỗ trống trước những câu đúng. Viết chữ S nếu câu sai.
... 9. Con người là đối tượng tình yêu thương của Đức Chúa Trời
... 10. Thật nguy hiểm khi cho rằng có một mối quan hệ qua lại giữa những hệ thống thuộc thể, tâm lý, thuộc linh và xã hội trong con người.
... 11. Freud nói rằng con người có lý trí và bị điều khiển bởi những nghị lực của bản năng.
... 12. Thái độ biểu thị tấm lòng của con người
... 13. Điều xảy ra cho tâm linh của con người sẽ ảnh hưởng đến hành vi giao tiếp của họ
CÂU GHÉP CẶP: Xếp đặt cho phù hợp những câu thuật ngữ (bên phải) với những định nghĩa hoặc mô tả (bên trái).
... 14.Lương tâm.
... 15. Liên hệ với thế giới bên ngoài.
... 16. Nguồn gốc lạc thú.
17-23 Xếp đặt cho phù hợp mỗi câu với mỗi câu trong bảy đặt tính cơ bản của con người
a. Là hình ảnh của Đức Chúa Trời
b. Có định hướng trong nhu cầu
c. Có lý trí
d. Có trách nhiệm
e. Có đạo đức
f. Có mục đích
g. Có khả năng thay đổi.
... 17. Sự biến đổi xảy ra từ sự đổi mới tâm linh
... 18. Đức Chúa Trời cho con người quyền cai trị mọi loài Ngài sáng tạo
... 19. Con người không có lý do gì để hổ thẹn cho đến sau khi họ phạm tội
... 20. Người được cố vấn phải chịu trách nhiệm về quyết định và sự lựa chọn của mình.
... 21. Thiếu sự thỏa lòng ở mức độ có thể dẫn đến những khó khăn ở những mức độ khác.
... 22. Con người tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời bởi vì họ nhận biết giá trị cá nhân của họ.
... 23 Kim cương được dùng để minh họa cho khái niệm này

GIẢI ĐÁP CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1. Nhân bản chủ nghĩa, Thiên thượng (hữu thần)
2. Chúa Jesus nhìn họ
3. Hữu thần (Thiên thượng)
4 b,c và f là những câu đúng
5 1. Bản năng vô thức
2. Bản ngã
3. Siêu ngã
6. a 2. Siêu ngã
b. 1 Bản ngã
c. 3. Bản năng vô thức
d. 1. Bản ngã
e. 2. Siêu ngã
f. 1. Bản ngã
g. 3. Bản năng vô thức
h. 2. Siêu ngã
7. 1. Lo lắng
2. Tội lỗi
8. Ông cho rằng con người cần giảm sức mạnh của siêu ngã, tăng cường sức mạnh bản ngã và bộc lộ bản năng vô thức.
9 c. Sức mạnh của lương tâm phải bị giảm đi
10. a. Ủ
b. +
c. +
d. Ủ
e. +
11. Quá khứ là bí quyết để hiểu hiện tại và tương lai
12 a. 2. Thuộc về tâm lý
b. 1. Thuộc thể
c. 3. Thuộc linh
d. 1. Thuộc thể
e. 3. Thuộc linh
13. Ơn phước từ Đức Chúa Trời
14. Bởi vì chỉ có con người mới được sáng tạo theo hình ảnh của Đức Chúa Trời
15. d Là một hữu thể đáng để yêu thương, cảm thông và kết bạn.
16. Tâm giao với Đức Chúa Trời, giá trị thật của con người, thức ăn, quần áo, cuộc sống lâu dài, mụch đích của cuộc đời (và có thể nhiều thứ khác nữa).
17. Tôi cho rằng tất cả mọi nhu cầu căn bản được trình bày ở đây.
18. a. 1. Con người có lý trí
b 2. Con người vô lý trí
c 2. Con người vô lý trí
d 1. Con người có lý trí
e 1. Con người có lý trí
19. a, d, e, f và g là những câu đúng
20. Cuộc sống đạo đức là cuộc sống tương giao với Đức Chúa Trời, với người khác, với chính mình bằng tình yêu, cuộc sống vô đạo đức là cuộc sống phá hoại và làm thương tổn
21. 1. "Bạn là ai?"
2. "Bạn ở đâu?"
3. "Tại sao bạn tồn tại?"
22. Bởi vì tội lỗi
23. d. Từ có lý trí, đến không có lý trí, đến được cứu rỗi
24. b. Áp dụng những nguồn cung ứng Thiên thượng sẽ giúp mang đến sự thay đổi.
26. a. N
b. N
c. T
d. N
e. T
f. T
27. a. 3. Có lý trí
b. 2. Có định hướng trong nhu cầu
c. 4. Có trách nhiệm
d. 5. Có đạo đức
e. 1. Là hình ảnh của Đức Chúa Trời
f. 7. Có khả năng thay đổi
g. 6. Có mục đích
28. Thân thể, linh hồn, tâm thần
29 a. 2. Xúc cảm
b. 3. Ý chí hay ý muốn
c. 1. Lý trí hay trí tuệ
d. 3. Ý chí hay ý muốn
e. 2. Xúc cảm.
30. a, b, d và e là những câu đúng.
31. 1. Phương diện thuộc thể, là những chức năng của thân thể
2. Phương diện tâm lý, bao gồm lý trí, xúc cảm và ý chí
3. Phương diện tâm linh bao gồm lương tâm.
Ba phương diện này có một mối liên hệ năng động có nghĩa là nó không thể hoạt động một cách độc lập được nhưng tác động lẫn nhau.


ĐỘI NGŨ BÁN CHUYÊN NGHIỆP VÀ ĐỘI NGŨ GIÚP ĐỠ

Bài học nầy kết thúc đơn vị thứ nhất của chúng ta nghiên cứu về Liệu Pháp Agape. Ở đây chúng ta sẽ mô tả đội ngũ giúp đỡ và các chức năng của nó. Đội ngũ giúp đỡ là nhóm hành động thức đẩy Liệu Pháp Agape hướng đến đối tượng của nó, là con người.
Hàng năm, có hàng triệu người lâm vào nỗi đau buồn sâu xa. Trong số nầy chỉ có ba phần trăm tìm đươc sự trợ giúp cần thiết, chín mươi bảy phần trăm thì tự mình giải quyết lấy. Người ta tự giải quyết bằng cách sử dụng rượu hoặc những chất kích thích khác, một số người thì chỉ rút lui khỏi sinh hoạt xã hội, rồi bỏ gia đình và việc làm, tìm cách gây dựng một đời sống mới ở một nơi khác. Một số người thậm chí phạm tội tự tử. Ở tại một quốc gia nọ, người ta cho biết có đến 30 đến 40 trong số 100 cuộc hôn nhân kết thúc bi đát bằng sự li dị. hai mươi phần trăm các đứa bé sinh ra là con của các bà mẹ không được cưới hỏi, và rất nhiều em bé trong số đó không được chăm sóc và ăn uống đầy đủ. Công tác đến với những con người đang có nhu cầu ấy không thể bị phó mặc cho một mình vị Mục sư, mà hội thánh cũng không nên trút trách nhiệm nầy cho xã hội.
Nếu trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của những con người bị thương tổn chỉ được phó mặc cho vị Mục sư, thì sẽ chỉ có rất ít các nhu cầu được giải quyết. Khuynh hướng thông thường của người ta là ngồi yên để mặc cho vị mục sư làm tất cả mọi việc. Chúng ta cần có một triết lý về sự hợp tác và cùng nhau làm việc. Phép Trị Liệu Agape đòi hỏi chúng ta phải công tác như trong một thân thể của Đấng Christ. Trong phương pháp ấy, mỗi chi thể trong thân hoạt động cách phải lẽ, tùy theo ân tứ, khả năng và mục đích dành cho nó. Bài học nầy sẽ giúp bạn khám phá được những khả năng của Hội thánh trong việc giúp đỡ cho một xã hội bị thương tổn, nếu như mỗi thành viên chịu cùng làm việc với các thành viên khác, mỗi một người làm phần việc của mình hầu đem lại sự chữa lành và sự hồi phục.
Việc Xem Xét Các Vai Trò của Giới Tín Hữu và Hàng Giáo Phẩm
Những Trở Ngại đối với việc Các Tín Hữu Tham Gia Vào Chức Vụ
Kiểu Mẫu Chức Vụ của Đấng Christ
Ứng Phó với những Ưu Điểm và Khuyết Điểm của Chúng Ta.
Ba Công Tác của Chức Vụ Hữu Hiệu
Theo Dõi Người Được Cố Vấn
Khi học xong bài học nầy bạn có thể:
. Mô tả cách những tín hữu có thể giúp đỡ cho những người đang bị thương tổn.
. Nhận biết những trở ngại đối với việc người tín đồ tham gia vào chức vụ và nói rõ những cách giải quyết dành cho các trở ngại nầy.
. Nhận biết kiểu mẫu mà Chúa Jesus đã thiết lập cho hội thánh trong việc gây dựng, giúp đỡ những người gặp khốn khó.
. Thảo luân những gì một người cần phải biết và điều người ấy có thể làm ngõ hầu giúp đỡ cho những con người đang có các nan đề.
1. Nghiên cứu bài học theo phương cách đã được cho ở Bài Học 1
2. Hãy đọc bảng liệt kê từ ngữ chìa khóa và tìm xem ý nghĩa của các từ ấy trong phần từ vựng thuộc Bài Học 3
3. Ôn lại các Bài Học từ 1 đến 3 để chuẩn bị cho phần đánh giá tiến bộ đơn vị của bạn. Hãy đọc trong chỉ dẫn trong tập tài liệu dành cho học viên, sau đó hãy lấy ra Phần Đánh Giá Tiến Bộ Đơn Vị 1 và tờ trả lời trong tập tài liệu dành cho học viên của bạn. Điền vào tờ trả lời theo các chỉ dẫn và sau đó nộp cho Giảng viên ICI của bạn. Người ấy sẽ kiểm tra các câu trả lời của bạn và sẽ cho bạn biết kết quả sau.
4. Chú ý các phần có đánh dấu * * trong bài học nầy, trình bày những ghi nhận phỏng theo bài thuyết trình do Tiến Sĩ Raymond D.Vath, chuyên gia chữa trị bệnh tâm thần ở Seattle, Wasington, Hoakỳ
Hàng Giáo Phẩm
Nỗi buồn chán
Trưởng lão
Giới tín đồ
Kiểu mẫu
Xem xét vai trò của tín hữu và hàng giáo phẩm
Nhiều năm trôi qua, tôi đã từng nghe nhiều bài giảng về vấn đề " Làm Thế Nào để Yêu người Lân Cận Mình". Những bài giảng ấy thường làm tôi cảm thấy phạm tội. Tôi cũng đồng ý với người giảng luận rằng tôi không phải lúc nào cũng cư xử thân thiện. Thật ra, tôi cũng đã không trò chuyện nhiều với họ. Tôi có hơi ưa thích những người láng giềng môt chút, nhưng tôi không thể nào bảo: "Tôi yêu bạn, có lẽ tôi đã có những suy nghĩ tốt về họ, hoặc khi nào có dịp gặp gỡ họ thì tôi cũng đã nói những lời dễ chịu với họ. Nhưng rất hiếm khi tôi đi quá mức độ. Bạn có từng có kinh nghiệm điều gì giống như vậy không?
Vì sao khi mục sư giảng về vấn đề nầy, tôi lại cảm thấy mình có tội và ông ta cảm thấy nản lòng vì không thấy hội chúng có sự thay đổi nào. Có lẽ vấn đề ở chỗ cách chúng ta nhìn xem các vai trò của vị mục sư và người tín đồ.
* * Trong lịch sử, đôi khi hội thánh phân biệt giữa các chức năng của hàng giáo phẩm với các tín đồ, tín đồ tức là những thành viên ở trong hội thánh song không thuộc hàng giáo phẩm. Hội thánh đã gặp phải những khó khăn gia tăng với những giáo phái nhỏ hoặc các nhóm phụ mọc lên nhanh chóng ở khắp nơi. Để làm giảm thiểu những sự khác biệt ấy, họ đã quyết định cần phải có một nhóm người đặc biệt được huấn luyện đầy đủ về thần học và giáo lý. Bằng cách giao nhiều công việc hội thánh cho những người được huấn luyện đó, hội thánh coi như sẽ tránh được sự dị giáo và những lỗi lầm. Dường như mục đích của hàng giáo phẩm là phải làm tất cả các công việc phục vụ, còn mục đích của tín đồ là phải được người ta phục vụ.
Câu hỏi nên đặt ra là: "Liệu đây có thực là phương cách mà Đấng Christ đã chỉ định cho hội thánh Ngài thực hiện chăng?" Có lẽ đây là lý do khiến nhiều tín đồ thấy khó mà hoạt động trong hội thánh.
Đôi khi tôi đã hỏi các vị mục sư một câu hỏi gây lúng túng: "Thưa mục sư, hội thánh của ông sẽ làm gì nếu như có hai ngàn người được thêm vào hội thánh chỉ trong một ngày?" Dĩ nhiên là ông ấy sẽ liền nhớ lại điều đã xảy ra trong sách Công vụ, và thường người ấy sẽ bảo "Ôi thật ngợi khen Chúa". Và rồi người ấy nhận ra rằng mình sẽ bị vùi lấp. Tôi để ý người ấy đang tranh chiến với ý tưởng về hai ngàn người hoặc nhiều hơn đang thêm vào hội thánh của mình, thế rồi tôi bảo: "Hãy để tôi cho biết điều mà hội thánh của ông phải làm. Ông hẳn sẽ làm một trong hai điều; hoặc là ông sẽ bị hết thảy số người ấy áp đảo đến nỗi ông sẽ đối xử quá tệ với họ khiến cho họ bỏ đi, hoặc là ông sẽ phải bắt đầu bằng một sự sốt sắng và năng nổ lớn để xây dựng một hội thánh mới. Ông sẽ phải chồng hết viên gạch nầy đến viên gạch khác đến khi kiệt sức.
Liệu bạn có trông mong một mình vị mục sư mà phải chăm sóc hơn hai ngàn người không? Điều đó không thể nào thực hiện được. Ông ấy cần những nhân sự từ trong tín đồ! " * *
Ngày nay chúng ta tự hỏi: "Chẳng lẽ không thể có một phương cách nào khác nhằm đạt đến mục tiêu ngăn ngừa những sự phân hóa trong hội thánh mà không cần phải phân rẻ hàng giáo phẩm và tín đồ sao?". Tôi cho rằng, với sự dạy dỗ đúng đắn lành mạnh; những nguyên tắc và sự chỉ dẫn yêu thương, chúng ta có thể tránh được những sự phân hóa ấy.
Theo khả năng của con người thì không thể nào các mục sư có thể đơn độc thân hành mà làm tròn sứ mệnh của hội thánh, và có nhiều vị mục sư đã không thể nào đảm đương rất nhiều công tác mà họ phải chịu trách nhiệm. Hơn nữa, chúng ta biết rằng những người làm chức vụ có thể tự hoàn thiện mình bằng cách học hỏi để trở thành những người lãnh đạo có năng lực hơn, bởi việc môn đệ hóa người khác và bằng việc cung ứng một kế hoạch và một tầm nhìn cho những người chung quanh mình tuân theo. Vậy thì vì sao không huấn luyện các tín đồ trở thành những người hầu việc Chúa? Dù sao, họ cũng được ban cho các ân tứ, và Chúa cũng đã kêu gọi họ, vậy tại sao không giao cho họ các phận sự nầy, là những điều Đức Chúa Trời đang chuẩn bị cho họ?
1. Về những điểm khác nhau giữa giới tín đồ và hàng giáo phẩm.
a. Hàng giáo phẩm là nói đến những người lớn tuổi trong hội chúng.
b. Giới tín đồ là nhóm người không có một nền giáo dục.
c. Hàng giáo phẩm bao gồm những người nam và tín đồ bao gồm những người nữ.
d. Hàng giáo phẩm thường gồm những người trong hội thánh công nhận như là những người làm chức vụ, còn giới tín đồ thì không thuộc trong những người làm chức vụ đó.
e. Những thành viên của giới tín đồ được huấn luyện đầy đủ về thần học và giáo lý, còn hàng giáo phẩm thì không.
2. Từ ban đầu, hàng giáo phẩm và giới tín đồ được nhận biết là các nhóm phân biệt để:
a. Quyết định những ai thuộc nhóm được đào tạo đầy đủ và những ai không được.
b. Đem lại một sự sắp xếp cho sinh hoạt của các nhóm nhỏ.
c. Có một nhóm người được huấn luyện đầy đủ về thần học mục đích là để chống lại sự phát triển của các nhóm dị giáo hoặc các nhóm phụ thuộc của nó.
d. Thực hiện những mạng lệnh của Kinh Thánh.
e. Trở lại với kiểu mẫu dành cho sự tăng trưởng hội thánh theo như Chúa Jesus đã chỉ dẫn khi Ngài còn ở chung với các môn đệ.
3. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG, có liên quan đến sự phát triển của các nhóm được gọi là hàng giáo phẩm là để được gây dựng, phục vụ.
b. Mục đích của giới tín đồ là để có người làm tất cả mọi công việc.
c. Mục đích việc phân chia giới tín đồ với hàng giáo phẩm là để cung cấp cho việc thống kê của các Cơ Đốc nhân.
d. Bởi vì những sự phân hóa trong hội thánh, nên đã nổi lên một nhu cầu để phân biệt giữa nhân sự làm chức vụ là những người được huấn luyện đầy đủ về thần học với những người khác có ít kiến thức về Kinh Thánh.
e. Đã có ý định rằng hầu hết công việc hội thánh là do hàng giáo phẩm thực hiện.
4. Về các công tác trong hội thánh, sau sự phân biệt giữa tín đồ và hàng giáo phẩm, ... có nhiệm vụ đưa ra chính sách và chỉ đạo, còn... thì có nhiệm vụ phải vâng phục và tuân theo.
5. Đọc RoRm 12:1-8 và ICo1Cr 12:1-31. Mỗi một câu Kinh Thánh ấy cho biết hoặc các thành viên trong thân thể Đấng Christ có được làm chức vụ hay không. Viết vào mỗi khoảng trống bên dưới phần Kinh Thánh cho ta một chứng cớ.
a. RoRm 12:4 ...
b. 12:5-6 ...
c. ICo1Cr 12:6 ...
d. 12:11 ...
e. 12:14 ...
f. 12:20 ...
g. 12:25 ...
Từ phần phân tích trên chúng ta hẳn đã thấy rõ ràng là tất cả các chi thể trong thân thể Đấng Christ đều có nhiệm vụ phải được dự phần vào sự hầu việc của hội thánh. Vậy chúng ta phải làm gì? Tiến sĩ Vath đề xuất một câu hỏi như vầy, chúng ta sẽ làm thế nào để quản lý hàng ngàn tân tín hữu thì ồ ạt tràn vào hội thánh trong một thời gian ngắn? Như hội thánh đầu tiên đã từng trải? Câu trả lời chỉ nằm trong một từ ngữ, đó là môn đệ hóa - Con người, tất cả mọi người trong hội thánh, đều có thể được huấn luyện để làm những việc hợp với khả năng họ nhất. Đó há không phải là điều Chúa Jesus đang cố gắng thực hiện khi Ngài còn ở trên đất sao?
Những trở ngại trong việc các tín hữu tham gia vào chức vụ
Bạn đã thật sự suy xét câu hỏi: "Vì sao chúng ta gặp phải nhiều rắc rối trong việc yêu kẻ lân cận mình như vậy chưa?" Khi suy nghĩ đến câu hỏi nầy, tôi đã tìm được ít nhất là năm câu trả lời. Người ta thường sợ những điều sau đây: Thất bại, sợ sự bị phơi bày, sợ sự gần gũi, sợ sự tổn hại, và sợ sự truyền thống.
Sợ Thất Bại
* * Người ta đã trả lời nhiều cách khác nhau, khi tôi hỏi họ lý do vì sao họ gặp khó khăn trong việc yêu kẻ lân cận và gây dựng, giúp đỡ cho những người ấy.
Một số người bảo rằng: "Nếu như người hàng xóm kế bên tôi, gặp khó khăn, ví dụ như các con của họ đang xô xát, chúng nó đang có vấn đề về vật chất, hoặc là bất cứ chuyện gì đó, thì tôi không biết phải làm gì. Bạn biết đấy, tôi đã cố gắng để trở thành một người làm chứng về Chúa. Tôi đã phát các tờ truyền đạo đơn. Tôi đã nói về Chúa cho người ta. Nhiều khi thành công, nhưng thường thì tôi phải đối diện với sự không hứng thú gì của họ. Song khi họ có những vấn đề thực tế, tôi muốn nói vấn đề thực sự ở đây có ý nghĩa là ví dụ như khi người phụ nữ ở cạnh nhà tôi bị thâm tím mặt mũi vì ông chồng say rượu đánh, thì tôi thật không biết phải làm gì.
Dầu sao, nói rằng "chúng ta hãy cầu nguyện cho họ" thì dường như không hoàn toàn đầy đủ. Chúng ta sợ rằng một ngày nào đó chúng ta sẽ phải đối diện với một vấn đề mà chúng ta không biết cách để xử lý. Vì vậy khi chúng ta đến với vấn đề thứ nhất là vấn đề đòi hỏi phải tham gia vào việc giúp đỡ kẻ lân cận, chúng ta đã cảm thấy rằng mình sẽ thất bại. Hơn nữa chúng ta cảm thấy điều đó sẽ bày tỏ ra một số những yếu điểm trong chính mình, và như vậy có lẽ sẽ không làm chứng tốt cho Đấng Christ. * *
Gần như mỗi ngày chúng ta đều thấy có ai đó ở trong sự khốn khó và chúng ta tự nhủ "Sao không có ai giúp đỡ người ấy nhỉ?". Nhưng tại sao ai đó lại không phải là chính bạn? Nhiều người trong chúng ta cứ phải chịu đựng nỗi sợ hãi ấy. Song thường chúng ta sẽ đưa ra những lời bào chữa như sau: 1) "Tôi sợ phải làm chứng cho Chúa hoặc phải bày tỏ tình yêu vì cớ Chúa" 2) Tôi không được tốt lắm trong việc làm chứng hoặc có tình yêu thương. Vì vậy, tôi sẽ không làm công tác đó đâu, vì cớ tôi không muốn để người ta thấy một hình ảnh tôi về Đấng Christ. Hoặc là 3) "Tôi sợ rằng mình có thể bị từ chối hoặc bị thất bại"
Bạn hẳn sẽ ngạc nhiên về nhiều vị anh hùng trong Kinh Thánh là những người cũng đã từng đưa ra những lời bào chữa tương tự bởi vì họ cũng vậy, rất sợ thất bại. Dầu vậy, họ đã tiếp tục đi đến chỗ thành công.
6. Đọc những câu Kinh Thánh trưng dẫn sau đây và nhận biết câu trả lời của Đức Chúa Trời dành cho vấn đề sợ thất bại là gì.
a. XuXh 4:12 ...
b. EsIs 50:4 ...
c. 51:16 ...
d. Gie Gr 5:14 ...
e. Mat Mt 10:19 ...
f. LuLc 21:15 ...
g. ICo1Cr 2:13 ...
Sau đó, chúng ta có thể thấy rằng sợ hãi tức là không tin chắc vào khả năng trợ giúp của Chúa Jesus đối với chúng ta. Tưởng rằng mình mang một hình ảnh tồi chỉ là một sự bào chữa. Nếu bạn chỉ vâng lời để đi ra và làm theo như Ngài mong muốn, thì Đức Chúa Trời sẽ ban lời cho chúng ta để nói.
Sợ Bị Phơi Bày
Nếu tôi giúp đỡ, gây dựng cho bạn trong lúc bạn có cần, để rồi bạn khám phá ra rằng tôi không được toàn hảo, đây là một suy nghĩ đáng sợ, có phải vậy không? Bằng cách nầy hay cách khác, có nhiều Cơ Đốc nhân đã cho rằng: Là Cơ Đốc nhân thì phải lập tức toàn hảo, trọn vẹn và không bao giờ vi phạm một lỗi lầm nào khác. Vì vậy không bao giờ được để cho người khác nhìn thấy những lỗi lầm của họ. Nhưng đó không phải là ý tưởng của Thánh Kinh.
* * Nhiều người thấy khó để mà đi ra và gây dựng hầu việc Chúa với những người khác bởi vì họ có cảm giác rằng Cơ Đốc nhân phải là những con người trọn vẹn. Họ nghĩ rằng khi một người trở thành Cơ Đốc nhân là người ấy phải lập tức đạt đến sự toàn hảo, và không bao giờ còn phạm một lỗi lầm khác nữa. Ý tưởng ấy khiến cho người ta sợ rằng nếu người khác đến quá gần họ, người ta sẽ chỉ tay vào họ và nói rằng: "Tôi đã thấy sự thiếu kiên trì trong đời sống bạn. Bạn là một kẻ giả hình. Bạn không trọn vẹn". Thế là người ấy có thể bỏ đi với một câu thật chán nản: "Điều đó đã bày tỏ ra. Mình đã nghĩ là sẽ như vậy mà". Và rồi người ấy cảm thấy dường như mình đã thất bại để sống một đời sống Cơ Đốc nhân. Đó là một trong những lý do khiến người ta không muốn liên can vào việc giúp đỡ những người lân cận mình. Họ sợ rằng rồi những sự bất toàn của mình sẽ bị phơi bày ra.
Lần nọ, tôi thấy một tấm bảng có ghi rằng "Cơ Đốc nhân không phải là người hoàn toàn, họ chỉ là những người được tha thứ". Chúng ta cần hỏi xem sự Cứu Rỗi của chúng ta đặt nền tảng trên điều gì. Trên sự toàn hảo hay là trên sự tha thứ của Đức Chúa Trời đối với những khiếm khuyết và sự thiếu kém của chúng ta.?" * *
7. Đọc Eph Ep 4:13, HeDt 6:1 và Gia Gc 1:4, xét đặc trưng chung của mỗi khúc Kinh Thánh cho thấy người Cơ Đốc đang phát triển đến mức độ gì?
...
8. Hàm ý trong câu hỏi học tập 7 dành cho người tín đồ sợ sự phô bày trong chức vụ là gì?
...
Sợ Sự Gần Gũi
* * Sợ sự gần gũi với con người là lý do thứ ba khiến người ta thấy khó yêu thương và giúp đỡ cho những người lân cận. Tôi tin rằng mọi người trên thế gian đều thật lòng trông mong sự thân cận. Hết thảy chúng ta đều muốn được yêu. Hãy mở radio hoặc tivi, bạn sẽ thấy TÌNH YÊU có ở đấy. Cứ mỗi một vài phút trôi qua là bạn lại nghe thấy từ ngữ ấy. Điều nầy cho thấy con người mong mỏi sự thân mật và sự gần gũi.
Nhiều người trong chúng ta sợ sự thân mật và sự gần gũi vì nhiều lý do. Nếu có một người nào quá thân mât với một người khác, thì người kia sẽ nhìn thấy người ấy rất rõ, người kia sẽ khám phá một số khuyết điểm của người ấy. Người bạn "yêu thương" nầy là người "thành thật", sau đó có thể sẽ chia xẻ điều mình quan sát được. Thế rồi, người ta xử lý tình huống ấy bằng cách làm người khôn ngoan, ưa thích việc quở trách người khác.
Khi người hàng xóm bên cạnh bảo bạn: "Anh thật chẳng trước sau như nhất gì cả, anh là kẻ giả hình". Bạn hãy nói: "Phải tôi biết điều đó, bởi vì Chúa chưa hoàn tất công việc Ngài trên tôi, thậm chí cũng còn nhiều điều trong đời sống tôi chưa được trung tín, trước sau như nhất, mà tôi hiện đang tiếp tục làm việc với chúng nhờ sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời. Bạn cũng có thể tham gia đóng góp nữa. Nếu như bạn để ý thấy có những sự không trung tín, thì hãy chỉ cho tôi biết, và nhờ đó tôi sẽ tăng trưởng. Tôi rất hoan nghênh cách đối chất ấy". Tôi thấy rằng đó là một cách để thành thật bỏ qua một số những cảm giác mình bị chỉ trích. * *
9. Nêu lên hai lý do chính khiến người ta sợ sự gần gũi
...
10. Bạn hãy cho một lời khuyên để đắc thắng nỗi sợ hãi bị người khác tìm thấy sự không kiên định hoặc bất toàn của mình.
...
Những lý do khác khiến chúng ta sợ sự thân cận có thể bao gồm việc chúng ta sợ những điều có khả năng sau đây: 1) Những tấn công về mặt thuộc thể 2) Thiếu thời gian trong thời khóa biểu của mình. Và 3) Về phần chúng ta không vững vàng lắm.
11. Kinh Thánh nói gì về việc trở nên thân cận với một người khác?
a. PhuDnl 10:19 ...
b. Mat Mt 22:39 ...
c. GiGa 13:35 ...
d. 15:12 ...
e. RoRm 12:10 ...
f. ITe1Tx 3:12 ...
g. IPhi 1Pr 1:22 ...
12. Từ ngữ chủ yếu trong việc đắc thắng nỗi sợ phải gần gũi người khác là từ
Sợ Tổn Hại Về Thuộc Thể
* * Lý do thứ tư khiến chúng ta không muốn dính líu với những người hàng xóm là vì chúng ta sợ điều họ sẽ làm cho mình về mặt thuộc thể.
Con người ta khác nhau hoàn toàn. Họ không phải đều hành động như nhau. Một số người có phản ứng rất chậm, trong khi một số khác có thể dễ dàng hiểu nhầm những cố gắng giúp đỡ của bạn, và nóng nảy quật trả lại bạn. Sách Công vụ có nói đến câu chuyện bảy anh em muốn giúp một người bị quỷ ám, nhưng ma quỷ đã quay sang họ, xé rách áo quần họ và đuổi họ ra đường phố. Vì vậy, nhiều khi chúng ta cũng không thật sự bảo đảm hoàn toàn rằng chúng ta cần phải tham gia vào việc giúp đỡ người hàng xóm, đặc biệt như anh chàng say rượi đánh vợ và đuổi cô ta, rồi cô ta đến gõ cửa nhà người bạn. Tôi cũng không quả quyết lắm rằng bạn muốn dính líu với anh ta, đúng không nào? Bởi vì anh ta có thể sẽ làm hại cho bạn. * *
Tuy nhiên, bạn có khi nào kinh nghiệm bị làm hại về thuộc thể vì đã giúp đỡ người khác không? Rất ít người có kinh nghiệm ấy, nhưng nỗi sợ tổn hại về mặt thuộc thể thì thường có. Sợ hãi là một sức mạnh kềm hãm thật sự. Thường chúng ta sợ một con người hung dữ và vì vậy chúng ta thường tránh anh ta hoặc chị ta. Đối với nỗi sợ hãi đó chúng ta có thể làm gì?
13. Nhận biết điều Thánh Kinh phán về điều phải làm đối với việc sợ con người và những tổn hại thuộc thể có thể có
a. PhuDnl 1:17 ...
b. ChCn 29:25 ...
c. Gie Gr 38:20 ...
d. Mat Mt 5:44 ...
e. LuLc 12:4 ...
f. RoRm 12:20 ...
14. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG dưới đây
a. Người sợ hãi là người thiếu lòng tin cậy
b. Thánh Kinh cũng đồng ý rằng chúng ta không cần phải yêu những kẻ có thể làm hại chúng ta.
c. Chúng ta phải luôn tìm cách làm điều tốt cho mọi người, dù cho đó là người có thể làm hại chúng ta đi nữa.
d. Chúa hứa giữ gìn hết thảy những kẻ tin cậy Ngài.
e. Sợ loài người là có đức tin nơi Đức Chúa Trời.
f. Sự phán xét thuộc về Đức Chúa Trời, vậy hãy tin cậy Chúa và yêu kẻ thù nghịch mình.
Sợ Vi Phạm Truyền Thống
* * Sau cùng, chúng ta thường sợ vi phạm truyền thống. Một số người có thể nghĩ rằng quy luật theo truyền thống quy định rằng tín đồ không hiểu biết nhiều về thần học. Vì vậy, không được giao trách nhiệm cho họ nhiều. Người tín đồ có thể hướng dẫn trong buổi nhóm hội thánh hoặc hát trong ban hát, hoặc đưa một người hàng xóm đến nhà thờ để người ấy nghe mục sư giảng. Những điều đó cho thấy những vai trò của giới tín đồ đã bị giới hạn theo truyền thống.
Chúng ta muốn nói gì khi dùng chữ truyền thống. Từ ngữ nầy được định nghĩa là: "Việc lưu truyền các tin tức, các niềm tin và những tục lệ bằng lời truyền khẩu hoặc bằng gương mẫu từ thế hệ nầy qua thế hệ khác mà không có kiến thức truyền cho bằng chữ viết". Ngày nay có nhiều truyền thống tốt đẹp và cần thiết dùng để ràng buộc con người vào một xã hội chung, nhằm giúp họ cùng làm việc và chung sống một cách hữu hiệu hơn.
Tuy vậy, cũng có nhiều truyền thống thật vô dụng chỉ đem đến những bức tường hoặc những ranh giới giữa những người lân cận, thậm chí giữa những người bạn. Hãy nghĩ đến những truyền thống thật vô ích trong thời Chúa Jesus. Trong câu chuyện về Người Samari nhơn lành, chúng ta nhìn thấy một con người đã mở ra một lối đi bằng cách cắt ngang tất cả những truyền thống đang thời đó để giúp đỡ một con người khác đang gặp khó khăn vô cùng. Ông đã làm điều đó, dẫu rằng ông xuất thân từ một nền văn hóa khác, nền văn hóa ấy bảo rằng "Người Giu đa và Người Samari không quan hệ với nhau. Họ là những kẻ thù không đội trời chung. Cả hai sẽ không bao giờ gặp mặt nhau và giúp đỡ nhau". Dầu vậy người Samari đã nhìn thấy kẻ khốn khó và biết rõ những truyền thống, song ông đã áp tới bằng tình yêu và đã giúp đỡ kẻ khốn cùng. Những truyền thống nào đang ngăn trở bạn không giúp được những người khốn khó?
Có nhiều lúc những người trong hội thánh, những tín đồ nhìn thấy những nhu cầu thật sự mà họ cần phải giúp đỡ cho những người khác, nhưng rồi những ảnh hưởng của truyền thống nổi lên, và người ấy tự bảo mình "Thôi, tốt hơn là hãy nói cho mục sư để ông ấy có thể đến và giúp đỡ cho người ta". Truyền thống đã nói quá lâu rồi, rằng "những người giảng dạy phải làm công tác phục vụ và những thành viên khác trong hội thánh chỉ phải làm khi nào người ấy biểu mà thôi". Bạn đừng tin vào điều đó! Nó là một truyền thống cần bị xóa bỏ.
Có một truyền thống khác tồn tại trong nhiều hội thánh, nó bảo rằng: "Nếu bạn muốn được cứu, bạn phải đi nhà thờ và cầu nguyện". Truyền thống ấy đã ngăn trở nhiều người khỏi sự hầu việc Chúa trên cơsở một dẫn một. Điều đó dựa trên thái độ "Hãy để cho người được huấn luyện tốt hơn là làm công việc Chúa"
Chúng ta có thể cho rằng những nhân sự tín đồ thường bị giao cho những chức vụ tôi tớ, bởi vì hàng giáo phẩm hoặc những người chuyên nghiệp sợ đánh mất quyền điều khiển hay thẩm quyền hoặc là mong muốn không thật của họ đối với người ta.
Nhưng dần dần, qua việc gây dựng, trang bị và đem giới tín đồ quay trở lại khuôn mẫu chức vụ càng giống với Tân ước, thì những truyền thống ấy sẽ bị hủy bỏ.
15. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG dưới đây
a. Mọi truyền thống đều phải được phá vỡ.
b. Kiểu mẫu dành cho sự hầu việc được giải thích rõ ràng trong Tân ước, kiểu mẫu ấy đòi hỏi mỗi một Cơ Đốc nhân ở trong Đấng Christ đều phải hầu việc. Chúa.
c. Một số các truyền thống nhằm vào một mục đích tốt đẹp nhưng các truyền thống của hội thánh đều phải đặt nền tảng trên Thánh Kinh.
d. Theo Tân ước, hết thảy những người tin Chúa đều được kêu gọi đến một đời sống hầu việc.
16. a. Bạn hãy kể tên và giải thích ngắn gọn bằng lời lẽ của bạn, năm lý do khiến người ta gặp thất bại để gây dựng giúp đỡ người khác.
...
b. Làm thế nào để vượt qua những ngăn trở nầy?
...
Kiểu mẫu chức vụ của Đấng Christ
Tại điểm nầy, chúng ta hãy quay sang Thánh Kinh để xem kiểu mẫu chức vụ đã được Chúa Jesus thiết lập là như thế nào
Ngài Kêu Gọi Các Môn Đồ
* * Khi chúng ta chăm xem gương mẫu của Chúa Jesus, chúng ta thấy rằng trước hết Ngài đã tụ tập mười hai người quanh Ngài. Các nhà tâm lý thời nay cho chúng ta biết mười hai người là số lượng tối đa của một tập thể để một Bác sĩ chuyên khoa tài năng có thể điều khiển được. Chúa Jesus đã nhóm họp mười hai người lại với Ngài, và họ đã đi theo Ngài trong một thời gian. Thoạt đầu Ngài đã không trông mong gì nhiều nơi họ vì họ cũng chẳng đi theo Ngài trọn thời gian. Nhiều khi họ lại trở về với nghề nghiệp lúc trước. Ngài biết rằng phải dành ra một thời gian để họ học theo gương mẫu của Ngài, qua đó Ngài khiến họ trở thành những môn đồ. Đang khi làm những công việc đó, tôi thấy Đấng Christ đã không có giảng nhiều bài giảng lắm, mà thay vào đó, Ngài bắt đầu đàm đạo với các môn đồ của mình và với những người Ngài đã gây dựng. Ví dụ, khi kết thúc Bài Giảng Trên Núi, Ngài nhóm các môn đồ lại và hỏi rằng "Các ngươi có hiểu những điều ta phán chăng?". Họ trả lời "Thưa không". Vậy, Ngài ngồi xuống và giải bày bằng một vài thí dụ và các ý tưởng nữa. Đoạn Ngài bàn luận với họ ý nghĩa của nhiều nguyên tắc mà Ngài đã chia xẻ với họ trong bối cảnh đó.
Ngài Dạy Dỗ Họ
Hãy đọc tin lành Mác và bạn sẽ thấy nhiều phương pháp Đấng Christ đã sử dụng để dạy dỗ môn đồ. Nếu đọc kỹ sách nầy, bạn sẽ thấy rằng Chúa Jesus đã đem các môn đồ theo với Ngài và đã chỉ cho họ cách gây dựng người khác. Ngài đã dùng lối đối thoại, vấn đáp, kể chuyện và sự thử nghiệm trong suốt thời gian chỉ dạy họ, Ngài sai họ ra đi làm những công tác thử nghiệm ngắn hạn (huấn luyện tập sự), và sau đó Ngài đã nghe những lời làm chứng của họ khi họ trở về, và Ngài cùng vui mừng với họ.
17. Các môn đồ được truyền dạy làm hai mạng lệnh gì trong Mat Mt 5:19
...
Ngài Sai Phái Họ
Sau khi các môn đồ đã được dạy về những nền tảng của đời sống Cơ Đốc, Chúa Jesus đã sai họ ra đi gây dựng cho người khác.
* * Khi Đấng Christ cảm thấy họ đã sẵn sàng, Ngài sai họ ra đi từng đôi một. Họ ra đi thực hiện những điều Ngài đã dạy họ. Nhiều người đã trở về vui mừng thuật lại rằng "Chúng tôi đã thấy kẻ đau được lành, những cuộc đời được đổi mới". Đấng Christ cùng vui mừng với họ qua những điều họ đã học hỏi và áp dụng.
18. Đọc Mac Mc 6:7 là phần ghi chép về Chúa Jesus sai phái các môn đệ Ngài ra đi.
a. Chúa sai họ ra đi theo từng ...
b. Để hoàn thành tốt công tác, Ngài ban cho họ ...
...
Chúng phải được nhắc nhở rằng mạng lệnh ra đi và gây dựng cho những người khác đó cũng được ban cho hết thảy những người tin Chúa, ngay cả ngày nay cũng vậy. Chúng ta cũng phải nhớ rằng ngày nay, Chúa Jesus vẫn còn thẩm quyền y như vậy trên các tà linh và hãy nhớ rằng thái độ của Ngài vẫn không thay đổi đối với các con cái Ngài. Chúng ta phải ra đi trong Danh Ngài và trong quyền năng của Ngài.
Ngài Theo Dõi Họ
* * Một số người hẳn sẽ trở về mà thưa rằng "Lạy Chúa, chúng tôi đã cố gắng làm công việc nầy, chúng tôi đã cố gắng chữa lành cho nó, song không được. Ngài có thể cho chúng tôi biết có điều gì xảy ra? Sau đó có lẽ Chúa Jesus sẽ dạy cho họ biết bản chất của vấn đề riêng biệt ấy. Vì vậy chúng ta thấy Ngài đã theo dõi họ bằng lời phán: "Các ngươi sẽ làm điều nầy, điều nọ" không phải trong ý nghĩa độc tài, mà là trong ý nghĩa nâng đỡ, giáo dục.
Từ kiểu mẫu ấy, hội thánh Cơ Đốc nhân đã châm rễ và bắt đầu mang sứ điệp đi khắp thế gian.
Nói một cách chính xác, thì hội thánh không thể được xem như chỉ là một nhóm người nhóm với nhau trong một tòa nhà riêng biệt vào những thời điểm nhất định. Hội thánh chính là những con người mà chính họ tương tác với những người khác, cả bên trong lẫn bên ngòai cộng đồng, những kẻ tin là những người đã hợp thành một hội chúng. Bên trong cộng đồng của những người tin Chúa, mỗi người đều có thể đi ra và gây dựng cho những người khác khi họ có cần, do đó gây dựng cho tập thể dường như đó là kiểu mẫu mà Đấng Christ đã thiết lập cho hội thánh.
Các môn đồ có hoàn thành thành công chăng? Không, nhưng mỗi một thành công và mỗi một thất bại đều được Vị Thầy của họ xem xét và Ngài đã giúp họ nhìn thấy làm cách nào để cải thiện. Ngài cũng nhắc họ đừng trở nên kiêu ngạo vì những thành tựu họ đạt được trong Danh Ngài, song hãy hãnh diện vì tên họ được ghi ở trên trời (LuLc 10:20)
Ngài cũng làm những điều đó cho chúng ta. Ngài sẽ không để chúng ta một mình. Sức mạnh và sự can đảm của chúng ta ở nơi Ngài. Ngài sẽ chuẩn bị chúng ta cho công tác và sẽ giúp chúng ta mỗi bước trên con đường.
19. Ghép cặp mỗi câu Kinh Thánh được trưng dẫn dưới đây (trái) với những tiêu đề (phải) nào thích hợp.
a. "Ngài... ban cho họ uy quyền trên các tà linh"
b. "Đừng mừng vì quỉ phục các ngươi"
c. "Những ai thực hành và dạy dỗ các mạnh lệnh ấy sẽ được gọi là lớn trong nước thiên đàng"
d. "Hãy mừng vì tên các ngươi đã được ghi trên thiên đàng"
Ứng phó với những ưu điểm và khuyết điểm của chúng ta
Điều chúng ta cần biết để có thể liên hệ giúp đỡ những người đang gặp khó khăn là gì? Có phải chúng ta cần phải có một trình độ trung cấp về thuốc men về cố vấn hoặc về tâm lý học... thì mới có thể giúp đỡ những người lân cận mình không?
* * Tôi tin chắc rằng, để trở thành một người giúp đỡ người khác, bạn không cần phải đi học trường Ydược. Bạn có biết một số các bà mẹ đã chữa trị các bệnh tật tốt hơn cả nhiều vị bác sĩ không? Bạn có biết những người cảnh sát giúp cho những tay nghiện rượu được nhiều hơn cả hội Aleoholies Anonymous, là một tổ chức rộng lớn chuyên về chữa trị cho người nghiện rượu không? Bạn có biết rằng bạn đã phải học hỏi một số những kỷ năng để còn sống sót, nếu không, bạn đã không còn theo học được khóa học nầy không? Tôi cho rằng cần phải có một sự hiểu biết khá phong ohú trong trí óc mình mà một người nào ở đâu đó có thể cần đến bạn.
Tôi xin đưa ra một thí dụ, cách đây nhiều năm, một phụ nữ trẻ đến gặp tôi. Cô ta bị bệnh trì độn. Chúng tôi cũng khám phá ra được cô ta bị bệnh tiểu đường. Bây giờ, một thầy thuốc phải làm gì với một bệnh nhân bị tiểu đường và bị bệnh trì độn. Người mắc bệnh tiểu đường phải được dạy cách ăn uống một cách riêng biệt. Còn nan đề của người bệnh trì độn là họ học hiểu rất chậm. Dạy họ một điều gì đó rất là khó khăn. Tôi không thể gởi cô ta đến một lớp điều trị chuyên khoa nơi người ta chuyên chăm sóc cho những người bị tiểu đường được. Những chuyên gia điều trị bệnh nầy thì rất am tường về bệnh tiểu đường, nhưng họ lại chẳng có chương trình gì cho những người chậm hiểu cả.
Tôi biềt điều gì sẽ xảy ra nếu như tôi gởi cô ta đến chuyên khoa ấy. Người ta sẽ đưa cho cô tất cả những tài liệu và sách vở rồi họ sẽ bảo: "Bây giờ cô đã hiểu điều đó chưa?" Và sau hai mươi năm rèn luyện, cô ta học được việc cứ yên lặng gật đầu, bởi vì nếu cô ta nói "không ạ, tôi không hiểu được điều đó", thì cô biết họ sẽ vung tay một cách tuyệt vọng và lên án cô. Nhưng đấy là một tiến trình mà cô không được phép thất bại. Vì thất bại có nghĩa là phải chết.
Bấy giờ tôi có ở đấy. Tôi phải làm gì? Chẳng lẽ tôi phải dạy cô ấy nướng bánh mì ở trong văn phòng của tôi sao? Không, không phải vậy. Vì thế tôi nhấc điện thoại lên và gọi cho mẹ tôi, một cụ bà nhỏ nhắn năm nay đã 82 tuổi. Tôi nói: Mẹ à, ở đây chúng con có một cô gái rất chậm hiểu. Cô ta bị bệnh tiểu đường và chúng con cần phải bày cho cô ấy nướng loại bánh mì ngon, giàu Protein mà mẹ từng nướng với bột đậu nành và đường đã được rút bớt chất ngọt với tất cả những thứ như vậy. Mẹ ơi, mẹ có thời gian để làm công việc đó không?
Mẹ tôi trả lời: "Được, mẹ làm được con à!". Thế là chúng tôi đưa người phụ nữ ấy đến gặp mẹ tôi. Sau vài năm, mẹ tôi đã dạy cho người phụ nữ nầy cách nướng bánh, đan tất, và làm nhiều công việc khác nữa. Hiện người phụ nữ trẻ tuổi ấy đang ngồi trên xe buýt, đan những chiếc áo khoác rộng và các thứ khác nữa. Có người sẽ bảo: "Ôi cô đan những thứ đẹp quá. Cô có khi nào bán chúng chưa?", thì cô sẽ trả lời "Có ạ". Vâng, cô ta có thêm lợi tức của mình bằng cách đan áo khóac, vớ và những thứ tương tự.
Bây giờ bạn có nghĩ rằng mẹ tôi đang thi hành một chức vụ Cơ Đốc khi bà dạy người phụ nữ ấy cách nướng bánh mì không? Tôi tin chắc bà đã thi hành chức vụ ấy! Chúng ta phải gây dựng, giúp đỡ cho toàn thể con người và những nhu cầu của con người đó.
Một lần nọ, khi Đấng Christ đang giảng dạy cho một đoàn dân đông đang đói. Bạn còn nhớ câu chuyện đó không? Ngài đã cho họ ăn phải không. Ngài đã phán những lời gần giống như vầy "Các ngươi có biết nói chuyện với một người đang đói là điều khó khăn dường nào không? Người ấy không thật sự nghe nổi điều chúng ta cần phải nói, bởi vì cái bụng của người ấy đang than phiền ầm ỉ". Chúng ta phải giúp đỡ toàn thể con người ấy, và việc ấy bao gồm cả việc dạy dỗ người ấy cách sống.
Tôi tin nếu bạn thật sự trở thành một người lân cận khỏe mạnh có lòng quan tâm, thì bạn phải biết đâu là những ưu điểm của mình và có một số lưu ý nào đó về vấn đề đó. Hẳn là rất thú vị để bạn ngồi mà ghi ra những ưu điểm của mình, tức là những điều mà bạn có thể thực hiện khá tốt. Bạn thấy đấy, dường như có nhiều nền văn hóa dạy rằng bạn không bao giờ được thừa nhận bất cứ điều gì mình làm được là tốt cả. Nhiều ông chồng để ý thấy các cô vợ của mình làm được một chiếc bánh Gatô kem rất đẹp, nổi phồng, đặt ở trên bàn, thế mà cô vợ ấy bảo "Ôi, chiếc bánh không được thành công lắm". Với vẻ lấp láy trên ánh mắt, ông chồng hiểu ngay rằng cô ta không nói thật. Ông ta biết chiếc bánh được làm ra hoàn toàn tốt đẹp, nhưng có lẽ cô ta đã được dạy rằng không bao giờ được nhận những lời khen vì bất cứ điều gì đã diễn ra tốt đẹp, vì làm như thế là khoe khoang.
Tôi tin rằng Cơ Đốc giáo ủng hộ sự thành thật. Vì vậy, tôi nghĩ rằng hoàn toàn đáng phải lẽ khi chúng ta nói "Vâng, tôi biết cách nướng bánh ngọt". Song hết thảy chúng ta đều có những khuyết điểm. Vấn đề là càng thực hành một điều gì đó, thì dường như chúng ta càng làm việc đó tốt hơn và càng kiên trì thì công việc diễn ra sẽ tốt đẹp.
Đồng ý là chúng ta có những ưu điểm. Vậy hãy đồng ý để tôi tự đánh giá chính mình và bảo "Chúng ta hãy nhận xét về tôi xem tôi làm được điều gì tốt?". Dầu vậy, tôi biết mình không bị bắt buộc phải làm mọi việc đều tốt cả. Bạn có đồng ý với triết lý ấy không? Nếu không, tôi cam đoan người ta sẽ gặp rắc rối khi mời tôi làm một cầu thủ bóng đá cho một đội bóng nổi tiếng của thế giới, bởi vì thân hình nặng 72 ký lô của tôi sẽ không phục vụ bóng đá tốt lắm.
Nếu tôi có thể hiểu rõ các ưu điểm của mình, thì tôi sẽ hiểu được những khuyết điểm của mình dễ dàng hơn rất nhiều. Ví dụ, trở lại thời trung học, tôi đã bị gẫy một cánh tay trong khi trượt băng. Cánh tay ấy không bao giờ thật sự duỗi thẳng được, bởi vì tôi đã bị gãy ở ngay cùi chõ, và vì dây thần kinh đã bị thương tổn, cánh tay ấy có hơi yếu. Điều đó không gây trở ngại chút nào đến đời sống của tôi. Nhưng có lẽ đó là một trong những lý do đã khiến tôi không trở thành một nhà phẫu thuật, mà thay vào đó, tôi đã sử dụng mặt mạnh nhất của mình, là khả năng của tôi trong lời nói.
Bây giờ, bạn thấy đấy, thật bất hạnh nếu chúng ta tự cho rằng là những Cơ Đốc nhân, thì phải trọn vẹn trong mọi phương diện, chúng ta không thể thừa nhận rằng mình có những khiếm khuyết. Điều đó khiến chúng ta bị tổn hại, bởi vì người mà không biết những nhược điểm của mình thì thật sự gặp rắc rối. Salômôn, một con người khôn ngoan trong Kinh Thánh, đã nói rằng có những người khôn ngoan đến nổi bảo rằng họ nghĩ mình đã biết hết mọi điều, song họ thật sự đã không biết. Điều đó cho tôi thấy rằng người ta có thể sống rất thành công, rất có ý nghĩa mà không cần phải biết hết mọi sự. Chúng ta không bị bắt buộc phải có khả năng để hoàn thành tất cả mọi việc.
Vì vậy, điều quan trọng dành cho mỗi người trong chúng ta là hãy nhìn vào chính mình một cách thành thật và nói "Đâu là những ưu điểm của tôi? Đâu là những khuyết điểm của tôi?" Và chúng ta phải thừa nhận một số những đánh giá đó, nếu không chúng ta có thể tự chuốc lấy rắc rối. Kinh Thánh phán rằng nếu kẻ mù dẫn kẻ mù, cả hai sẽ ngã xuống hố (Mat Mt 15:14). Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc hiểu biết chính mình một cách thực tế.
Vậy thì, hiểu rõ chính mình là điều quan trọng hơn hết khi chúng ta làm việc chung với những người lân cận mình. Chúng ta cần phải biết điều gì mình làm tốt và điều gì mình làm không tôt được, để chúng ta có thể đáp ứng nhu cầu của người lân cận mình. Nếu có một lãnh vực nào đó mà bạn không am tường, chẳng hạn như bạn không biết gì về chứng nghiện rượu mà người hàng xóm của bạn là một tay nghiện rượu, thì tôi đề nghị bạn nên tìm gặp một người nào đó trong hội thánh của Đấng Christ thật sự hiểu biết về những người say rượu, có thể có rất nhiều người đã từng là những người nghiện rượu trong bất cứ một hội thánh nào. Những người đã thoát khỏi tình trạng say sưa ấy, mà nay đã được khôi phục lại, là những người biết rõ cách để thoát khỏi chứng nghiện rượu hơn bất cứ một người nào khác. Kinh Thánh phán rằng Đức Chúa Trời yên ủi chúng ta trong trong mọi hoạn nạn hầu cho chúng ta có thể yên ủi người khác y như Đức Chúa Trời đã ban sự yên ủi cho chúng ta (IICo 2Cr 1:34)
Trong thân thể của Đấng Christ bạn sẽ tìm thấy những người đã từng lạm dụng ma túy, đã có những vấn đề với rượu chè, đã tranh chiến với vấn đề li dị và có lẽ đã tái kết hôn, đã chăm lo cho những đứa con ngỗ nghịch hoặc quá hiếu động, và họ đã kinh nghiệm những nan đề có liên quan đến người khác vì cớ họ đã nhận được sự trợ giúp từ thiên thượng trong các nan đề ấy, hoặc là họ đã được giải cứu khỏi các tình trạng ấy. Chúng ta hẳn sẽ tìm thấy nhiều vấn đề khác nhau, có lẽ suy nghĩ của tôi có phần hơi đơn giản, nhưng tôi tin rằng nếu mái nhà của tôi bị dột thì tôi không cần sự giúp đỡ của một nhà phẫu thuật về tim, mà tôi cần một người chuyên sửa mái dột. Trong nhà của Chúa cũng vậy, khi một người trong gia đình có một vấn đề riêng biệt nào đó, thì chúng ta cần có ai đó giúp đỡ mà hiểu rõ vấn đề và đã có kinh nghiệm từng được giải thoát khỏi nan đề đó.
20. Khoanh tròn mẫu tự nằm trước mỗi câu ĐÚNG dưới đây
a. Nhất thiết phải là một nhà chuyên nghiệp thì mới giúp đỡ được người khác
b. Để phục vụ một cách hữu hiệu, chúng ta phải có tình yêu thiên thượng
c. Giúp đỡ toàn thể con người liên quan đến việc tìm cách đáp ứng bất cứ nhu cầu nào và đáp ứng tất cả các nhu cầu của con người đó.
d. Tôi phải biết những những nhược điểm của mình, nhưng không được thừa nhận những ưu điểm của mình.
e. Nếu tôi không có khả năng để giúp đỡ cho mỗi một nhu cầu trong nhu cầu của con người, thì tôi không nên cố gắng giúp đỡ bất cứ một nhu cầu nào.
21. Khi làm việc với những người lân cận mình, điều quan trọng hơn hết là chúng ta cần biết về:
a. Chính mình, những điều chúng ta thực hiện tốt, và những điều chúng ta thực hiện không được tốt.
b. Những người lân cận mình, những ưu điểm và khuyết điểm của người ấy.
c. Những ưu điểm của chính mình, mà không cần biết những khuyết điểm của mình.
d. Những khuyết điểm của người lân cận mà không cần biết những những ưu điểm của người ấy.
e. Những ưu điểm của chúng ta lẫn ưu điểm của người lân cận mình đều không cần được biết đến.
22. Đọc ICo1Cr 12:12-31. Khoanh tròn mẫu tự nằm trước mỗi câu trả lời ĐÚNG theo đoạn Kinh Thánh.
a. Nhận biết các ưu điểm của mình như là một phần chi thể trong thân thể Đấng Christ giúp chúng ta nhận ra tầm quan trọng của phần mình là thể nào đối với sự hoạt động của toàn thân.
b. Tôi phải nhớ rằng phần của tôi trong thân thể là phần quan trọng hơn hết.
c. Nếu chúng ta nhận biết những ưu điểm của mình, chúng ta sẽ trở nên tự phụ hoăc kiêu hãnh quá đáng.
d. Nhận biết những ưu điểm của mình giúp chúng ta đánh giá đúng ưu điểm của người khác.
e. Mỗi một phần trong thân thể đều phải được sự quan tâm bằng nhau so với các phần chi thể khác.
f. Bởi vì những ưu điểm của mình hoặc vì phần việc của mình trong thân thể tôi là phần chính yếu đối với những phần còn lại trong thân thể.
23. Nếu như tôi biết rõ những ưu điểm và nhược điểm của mình khi có ai đến với tôi vì cần sự giúp đỡ trong một lãnh vực đặc biệt nào đó mà tôi yếu kém, thì tôi nên
a. Giải quyết vấn đề của người ấy bằng bất cứ cách nào.
b. Bỏ đi và bảo rằng đó không phải là phận sự của mình.
c. Lắng nghe người ấy và sau đó giúp người ấy tìm được sự trợ giúp cần thiết.
d. Hành động để đắc thắng nhược điểm của mình hầu có thể trở thành một người giúp đỡ.
24. Một khi đã nhận ra những khuyết điểm của mình, thì tôi nên:
a. Quên những nhược điểm ấy đi và đừng để ý đến chúng
b. Nhìn nhận những nhược điểm ấy trước những người khác nếu cần thiết. Song vẫn nhận thấy những ưu điểm của mình.
c. Khoe khoang về những ưu điểm của mình, và không bao giờ chịu thừa nhận những khiếm khuyết của mình.
d. Cầu xin Chúa khiến những yếu điểm ấy trở thành những ưu điểm hầu cho tôi được nên trọn vẹn.
e. Thận trọng khi thừa nhận dẫu chỉ một nhược điểm bởi vì đó là dấu hiệu của sự bất toàn.
Tôi mong bạn sẽ đi đến chỗ nhận biết rằng bất cứ một con người nào cũng đều có những ưu điểm lẫn những khuyết điểm. Chúng ta hãy công khai thừa nhận mình không mạnh mẽ trong tất cả mọi lãnh vực. Song một khi chúng ta đã đến chỗ nhận biết những khả năng của mình, chúng ta có thể tự tin hơn trong trong việc tự mình giúp đỡ cho những người có cần hoặc trong việc đưa họ đến với người nào thật sự có những ưu điểm hoặc những khả năng cần thiết. Chúng ta cũng phải nhìn biết rằng khiếm khuyết không phải là bất toàn.
Ba công việc của một chức vụ hữu hiệu
Sau khi đã nhận biết mình là ai và những ưu điểm cùng khuyết điểm của mình là gì, chúng ta cần học hỏi cách chỉ dẫn cho những người được mình cố vấn, cách để làm chứng cho họ, và cách để sống một đời sống được tể trị bởi những nguyên tắc của tình yêu thiên thượng.
Đưa Ra Những Chỉ Dẩn
Một trong những công việc của người cố vấn là đưa ra sự chỉ dẫn cho những người được cố vấn. Tuy nhiên, ít khi nào làm công việc nầy dính líu đến việc đưa ra một lời khuyên trực tiếp hoặc bảo người được cố vấn điều anh ấy hoặc cô ấy phải làm. Không phải là chuyện chúng ta truyền bảo họ phải làm. Song công việc ấy đòi hỏi chúng ta phải giúp đỡ để người ấy có những quyết định khôn ngoan dựa trên những nguyên tắc Agape. Đưa ra những cách hành động mà người ấy có thể thực hiện và giúp người ấy đánh giá các khả năng ấy trong ánh sáng của những sự dạy dỗ theo Kinh Thánh. Câu hỏi nảy sinh ra là: "Trong mọi tình huống cố vấn, chúng ta phải chỉ dẫn cho người khác tới mức độ nào?". Có lời hướng dẫn nào dành cho những trường hợp như vậy? Tôi tin rằng khi đời sống Cơ Đốc của bạn trưởng thành vượt hơn sự trưởng thành của phần đông những người trong thân thể Đấng Christ, mà bạn là một thành viên thì bạn có thể đưa ra lời chỉ dẫn an toàn hơn, cùng với sự giúp đỡ của Chúa. Sự trưởng thành dựa trên nhiều vấn đề khác hơn là số tuổi. Đức Thánh Linh sẽ giúp đỡ bạn và dẫn dắt bạn trong việc đưa ra lời chỉ dẫn, để rồi bạn hành động cũng sẽ như Đấng Christ hành động.
* * Tình yêu thương được định nghĩa là một tình trạng thực hữu khi sự khang kiện và an toàn của người khác được coi trọng như là của chính bạn.
Nhiều khi chúng ta cố gắng để yêu thương, cố gắng ban cho người khác. Thế mà điều đó lại trở thành việc tệ hại nhất chúng ta đã làm cho họ. Điều hệ trọng chúng ta phải hiểu rằng: Chúng ta không phải là người có toàn quyền trên đời sống của người khác. Chúng ta không được giành lấy quyền kiểm soát trên những gì họ thực hiện hoặc không được phép truyền bảo họ phải làm điều gì.
Đấng Christ đã không làm thế khi Ngài ở trên trần gian nầy. Ngài phán: "Ta ban cho các ngươi một điều răn mới: Đy là các ngươi phải yêu thương nhau" (GiGa 13:34). Ngài truyền bảo chúng ta hãy làm điều gì và hãy trở nên như thế nào. Nhiều khi chúng ta đã quên mất điều đó.* *
25. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG
a. Người cố vấn phải đem đến sự chỉ dẫn rõ ràng và chính xác cho người được cố vấn.
b. Người được cố vấn cần sự chỉ dẫn nếu không người ấy đã chẳng đi tìm lời khuyên.
c. Người cố vấn phải giúp cho người được cố vấn thực hiện các quyết định khôn ngoan.
d. Người thực hiện quyết định chính là người cố vấn bởi vì người ấy có khả năng hiểu biết nhiều hơn.
e. Càng chín chắn, người cố vấn Cơ Đốc càng có thể đưa ra những chỉ dẫn hữu hiệu hơn cho người được cố vấn.
Làm Chứng
* * Chúa Jesus kêu gọi chúng ta làm chứng cho Ngài. Vậy làm chứng là thế nào? Có phải là đứng ở các góc đường và phân phát truyền đạo đơn chăng? Không phải, song còn hơn thế nữa, bởi vì theo ý nghĩa của điều đó, bạn đang nói lời làm chứng tức là bạn là người bán rao hàng, một người bán rao, đi từ nhà nầy sang nhà khác để rao báo về Đấng Christ. Người làm chứng là người quan sát sự việc và tường thuật lại những sự quan sát của mình.
Khi tôi phục vụ tại "Youth With A Misson", một tổ chức tryền giáo ở tại Thụy sĩ, tôi đã tình cờ gặp gỡ một người mà trước kia từng là thành viên của tổ chức Mafia, ông ta đã được chinh phục về cho Chúa bởi một thiếu nữ trẻ tuổi. Cô ta đã đến thành phố Luân đôn, thuộc nước Anh để làm chứng. Cô ta đang làm chứng, làm chứng thực sự. Cô ta đi ra phố và nhìn thấy người đàn ông nầy. Cô ta tiến đến chỉ ông và nói: "Thưa ông, trông ông có vẻ buồn. Ông có vẻ đau khổ lắm. Hãy để tôi gọi cho ông một cốc cà phê. Đó là người đàn ông có hơn mười lăm triệu Mỹ kim thế mà cô ta bảo: "Để tôi mua cho ông một tách cà phê"
Điều cô ta nói khiến ông tò mò, quan tâm, ông nói: "Được, chúng ta hãy cùng đi uống cà phê". Thế là họ đi, trước hết, cô bắt đầu nói về tình trạng hiểm nghèo của chính ông ta. Ông ta không chắc chắn lắm về tất cả những sự thân thiện và quan tâm ấy. Nhưng rồi cô ta nói thêm về chút ít về điều cô ta đang làm. Cô bảo cô đi đến đây là để làm một số công việc cho Chiến Dịch Tryền Giảng Tin Lành của mục sư Billy Graham. Thế là ông ta bắt đầu chú ý và đã đi đến buổi truyền giảng đó. Cô gái ấy đã chạm đến cuộc đời của người đàn ông đó, và trong buổi truyền giảng ấy, ông ta đã bước ra khỏi hàng ghế tiến lên tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa.
Có ai đi làm chứng nhân mà lại nói "Thưa ông, tôi thấy ông đang khổ sở, tôi không biết có thể làm được gì không, nhưng tôi rất muốn làm bạn của ông". Một tách cà phê đã chạm đến người ấy nghe thật khó tin, vậy mà điều đó đã xảy ra.* *
Chúa Jesus đã cung cấp kiểu mẫu vĩ đại nhất để trở thành một chứng nhân hiệu năng. Ngài đã bày tỏ Đức Chúa Cha ở trên trời và tình yêu của Ngài cho chúng ta qua một cuộc đời chức vụ tại trên đất, điều đó đã khiến chúng ta muốn "theo dấu chơn Ngài"
26. Theo Mac Mc 16:15 và Mat Mt 22:34-39, Chúa Jesus muốn chúng ta trở thành những ai và làm gì?
...
Chúng ta phải biết rằng chúng ta đã quan sát và kinh nghiệm được tình yêu của Đấng Christ, vậy chúng ta phải nói cho người khác biết tin mừng ấy. Đó là làm chứng. Người bán rao; rao bán một sản phẩm; là thứ khách hàng của họ có quyền lựa chọn, hoặc tiếp nhận hoặc từ khước. Còn chúng ta, những Cơ Đốc nhân làm chứng về một kinh nghiệm, là điều khuyến khích người khác đáp ứng và tiếp nhận. Chúng ta nói điều chính mình đã kinh nghiệm.
27. Ghép cặp những đặc điểm (bên trái) với nhân vật (bên phải)
... a. Có quan hệ làm ăn với những thứ người ấy có thể không hề biết gì cả.
... b. Chia xẻ những gì thuộc về cá nhân
... c. Chỉ suy nghĩ đến lợi lộc của riêng cá nhân
... d. Quan tâm đến những nhu cầu của người khác.
... e. Quan sát và chia xẻ lại
Thực Hành Tình Yêu Thương
* * Lời mô tả của chúng ta về một chứng nhân thật là một lý tưởng kỳ lạ, nhưng nó sẽ hoạt động tốt nếu như triết lý hành động của chúng ta là lời định nghĩa tình yêu mà tôi đã đưa ra ở phần trước, tức là một tình trạng thực hữu khi sự khang kiện và an toàn của người khác được ta xem trọng như của chính mình. Chúng ta phải thực hành tình yêu thương. Tình yêu, theo quan niệm của tôi không phải là một cảm xúc hay cảm giác mà chúng ta thường có. Tình yêu cũng có thể được định nghĩa là một điều kiện mà bạn có thể tạo ra bởi sự lựa chọn khi tình trạng khang kiện và sự an toàn của người khác được bạn xem trọng như của chính mình. Đó là một chiếc thước đo. Bạn có thể đo các hành động của mình với điều đó.
Chúng ta nhìn con cái mình và bảo "Nầy, trông con có vẻ giận dữ lắm. Trông con có vẻ buồn bã, Con có thể nói cho Bố nghe được không?" thì thật dễ dàng biết bao.
Chúng ta hãy thử đo với chiếc thước đo nầy. Nếu có một người bị chìm ở giữa hố nước, thì giúp cho người ấy một ly nước lạnh có phải là yêu thương không? Không đâu! Nếu như người ấy vừa ra khỏi sa mạc và bị mất nước hoàn toàn, thì cho người ấy một ly nước lạnh, ấy có phải là yêu thương không? Dĩ nhiên là phải.
Bạn có thấy cách tình yêu hành động không? Đôi khi phải ban cho một sự chỉ dẫn, đôi khi lại phải có một hành động yêu thương.**
Từ những điều bàn luận trên, chúng ta thấy rằng chúng ta phải sống và thực hành sự yêu thương theo như cách Chúa Jesus đã sống và thực hành điều đó. Chúng ta có thể gây dựng hay hủy phá. Với tình yêu thiên thượng, tình yêu vô kỷ, chúng ta sẽ giúp gây dựng các đời sống.
28. Hãy định nghĩa tình yêu theo sự định nghĩa đã được cho trong bài học
...
Theo dõi người được cố vấn
Vì cớ phần nầy thuộv trong bài học, hãy xem xét kỹ lưỡng đoạn Kinh Thánh trong ChCn 11:14 "DÂN SỰ SA NGÃ TẠI KHÔNG CÓ SỰ CHỈ DẪN, NHƯNG CÓ NHIỀU MƯU SĨ, BẢO ĐẢM CHIẾN THẮNG".
Ở đây chúng ta sẽ bàn thảo về phương pháp và mục đích của việc theo dõi. Có khi người ta cần nói với một người nào đó về những vấn đề của mình. Khi một người gặp phải vấn đề khó khăn, người ấy thường tìm kiếm một người nào đó mà mình có thể chia xẻ nan đề. Phương pháp và mục đích của việc theo dõi là để cung cấp khoảng cách cảm xúc đem lại sự hiểu biết rộng hơn, và chạm đến sự ủng hộ có liên quan đến những vấn đề cụ thể.
Khoảng Cách Trong Cảm Xúc
* * Có nhiều khi, chúng ta kề cận với một vấn đề nào đó đến nỗi mất cả tính khách quan. Tôi xin minh họa. Khi đứa con nhỏ của tôi bị bệnh và lên cơn sốt cao, vì sự hiểu biết về y khoa, tôi bắt đầu suy nghĩ: "Có thể đây là triệu chứng của bệnh bạch cầu, bệnh viêm màng não, hay là một khối u ác tính?". Có thể chỉ do sự nhiễm trùng tai mà thôi, bạn biết đấy, nhưng tôi lại không nghĩ như vậy. Tôi chỉ toàn nghĩ đến những điều khủng khiếp khác. Vì vậy, đôi khi, càng hiểu biết nhiều, lại càng hay trở nên rắc rối. Đó là một trong những lý do khiến cho mỗi người trong chúng ta cần có một ai đó để chúng ta có thể tìm đến.
Khi chúng tôi hỏi người ta rằng: "Tại sao chúng ta không yêu thương lẫn nhau được?". Câu trả lời thường là "Tôi sợ tôi phải lâm vào một tình huống mà tôi không đủ khả năng xử lý. Tôi nói: "Còn nếu như chúng ta có được một người nào đó hoặc một nơi nào đó để bạn có thể đến và nói với người đó rằng việc nầy vượt quá khả năng xử lý của tôi, thì theo bạn việc đó sẽ dễ dàng hơn không?. Câu trả lời lúc nào cũng là "Vâng!"
Có nhiều khi cha mẹ cần phải bắt những nhịp cầu cho con cái họ. Không có gì bất thường khi con cái tranh cãi với nhau về những điều chúng không biết cách giải quyết. Một đứa có thể bảo "Thằng em con làm con phát khùng". Còn đứa kia thì bảo "Con sẽ để chị ấy yên nếu chị ấy đừng xen vào những chuyện của con". Những bậc cha mẹ hiểu biết sẽ thấy cần phải giữ sự khách quan bằng cách đừng đứng về phía đứa nào cả, và để cho đứa trẻ nhìn nhận trách nhiệm về cách cư xử của chính mình trong cuộc tranh cãi. Bằng cách đó, các bậc cha mẹ có thể giúp cho con cái họ giải quyết các xung đột và quay trở lại một mức sống hoà thuận dễ chấp nhận hơn.
Tác giả sách Châm ngôn đã nhận thấy rằng nhiều người trong chúng ta cần một người bạn giúp đỡ để chạy đến khi mọi sự sắp trở nên khó khăn đối với chúng ta. Ông ta hẳn sẽ đồng ý với những ví dụ mà tôi đã đưa ra cho bạn, bởi vì chúng ta đọc thấy trong ChCn 11:14 rằng "Vì thiếu chánh trị mà dân sự sa ngã, nhưng nếu có nhiều mưu sĩ, bảo đảm sẽ có chiến thắng". Bảng Kinh Thánh King James thì viết rằng "Ở đâu không có cố vấn, thì dân sự thất bại, nhưng nếu có nhiều vị cố vấn thì sẽ được yên ổn"
Tôi muốn nói rằng một chức năng rất quan trọng trong việc cố vấn là phải có được một vị cố vấn không phải chỉ ra lệnh phải làm điều nầy hay phải làm điều kia, mà người cố vấn cứ đừng dính dáng gì về mặt xúc cảm của vấn đề ấy và có thể nhìn cả hai bên bằng một cái nhìn khách quan trong sáng hơn. * *
29. Viết số 1 vào khoảng trống mỗi câu nào cho thấy như vầy: "Khi người nào gần kề với một vấn đề quá, người ấy sẽ đánh mất tính khách quan của mình". Viết số 2 nếu như câu ấy không nói lên vấn đề ấy.
... a. Nếu khoảng cách vật lý giữa bạn và người cố vấn quá ngắn (Bạn đứng quá gần), thì bạn không thể giúp người ấy được
... b. Bạn thiên vị trong những cảm nhận của mình về một người mà bạn yêu mến và biết rất rõ.
... c. Rất khó để khuyên bảo cho một người thân trong gia đình mình, bởi vì bạn có dính líu quá nhiều về mặt cảm xúc trong vấn đề đang được xem xét
... d. Bạn không nên cố vấn, vì sớm muộn gì rồi bạn cũng sẽ biết tường tận về người được cố vấn.
... e. Bởi vì bạn là người biết rất rõ con cái mình, nên bạnlà người chủ yếu giúp được chúng sắp xếp các quyết định trong đời sống chúng.
... f. Những ràng buộc thân cận về tình cảm khiến chúng ta không nhìn thấy toàn bộ vấn đề một cách công bằng.
Dĩ nhiên, chúng ta không thể xử lý với một số các vấn đề bởi vì chúng ta đã có liên hệ quá nhiều về mặt tình cảm. Trong những trường hợp đó, chúng ta phải đưa người nào ít có liên hệ để người ấy làm chứng điều họ thấy trong vấn đề ấy và để giải quyết vấn đề đó. Người nào đã được thoát ra khỏi một vấn đề thì có thể nhìn rõ hơn những ý kiến hoặc những sự lựa chọn có thể sử dụng được nhằm cứu chữa tình trạng ấy mà giảm thiểu được sự khó khăn.
Đem Đến Sự Hiểu Biết Rộng Lớn Hơn
* * Nhiệm vụ thứ hai của việc giám sát hoặc cố vấn là đem đến một sự hiểu biết rộng hơn về những sự lựa chọn và về những phương cách xử lý các vấn đề. Tôi tin rằng giáo dục có thể được định nghĩa là "mở rộng sự quan tâm, hiểu biết của một người về sự chọn lựa để xử lý các nan đề trong đời sống". Không ai là người hoàn toàn không cần đến một người nào đó để giải bày tâm sự khi gặp phải nan đề. Ai cũng cần có một người nào đó để mà chạy đến và nói. "Vấn đề nầy đối với tôi thật khó khăn quá. Có thể bạn biết cách lựa chọn nào đó biết một số những quy luật tự nhiên, hoặc những lời hứa trong Kinh Thánh mà tôi thật không quen thuộc. Bạn làm ơn chia xẻ cho tôi với.
Theo tôi, chia xẻ những điều Chúa ban cho mình là phù hợp với Thánh Kinh. Kể cả những ta lâng và những tài khéo của chúng ta. Bằng cách ấy, chúng ta có thể tìm thấy giải pháp cho các vấn đề trong đời sống của những người lân cận và của chính mình.
Hãy ghi nhớ lời định nghĩa về sự giáo dục được nêu ở phần trên và áp dụng nó vào vai trò của bạn là một người cố vấn và một người giám thị. Đây là phần then chốt để hiểu được công việc và trách nhiệm của một nhà cố vấn hiệu năng.
30. Hãy định nghĩa sự giáo dục như đã trình bày trong bài học nầy
...
Lưu ý rằng, vị cố vấn không cần phải có tất cả mọi câu trả lời, nhưng người ấy phải biết những con đường phải biết những con đường nào tìm được câu giải đáp cho các nan đề của đời sống.
31. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG
a. Chỉ có người cố vấn được đào tạo đầy đủ mới có khả năng đưa ra những lời giải đáp cho các vấn đề khác nhau mà người ta yêu cầu.
b. Nhà cố vấn hiệu năng sẽ tìm kiếm sự giúp đỡ từ nơi những người khác, là những người có thể có những câu trả lời cho các vấn đề người ấy đang đối diện trong một tình huống cố vấn.
c. Nếu như tôi nhìn thấy một nhà cố vấn khác đang cố vấn cho một người cần sự giúp đỡ trong lãnh vực sở trường của tôi, thì tôi không được đề xuất sự giúp đỡ, nếu không người ta sẽ nghĩ rằng nhà cố vấn kia không có khả năng.
d. Dự phần trong một đội ngũ cố vấn có nghĩa là mỗi người trong chúng ta đều phải tận dụng những ưu điểm mình có trong bất cứ trường hợp cố vấn có cần và được yêu cầu
e. Có một số người trong chúng ta có khả năng và được đào tạo đầy đủ đến nỗi chúng ta sẽ không bao giờ phải kêu cầu đến bất cứ ai giúp mình trong việc cố vấn.
32. Nhận ra câu nào trong những câu sau mô tả vai trò của người cố vấn Cơ Đốc trong một tình huống cố vấn. Viết chữ Phải vào chỗ trống trước câu nào mô tả vai trò của người cố vấn Cơ Đốc. Viết chữ Không nếu như câu ấy không mô tả về người cố vấn Cơ Đốc.
... a. Người ấy phải chăm chú lắng nghe.
... b. Chỉ được đề nghị cho người được cố vấn một đường lối hành động mà thôi, để người ấy biết chắc phải làm điều đúng.
... c. Người được cố vấn nên được phép để thực hiện những sự lựa chọn từ nhiều giải pháp khả dĩ.
... d. Một khi người được cố vấn đã chấp nhận một giải pháp, thì người cố vấn có trách nhiệm trông xem giải pháp ấy có chứng tỏ được là một giải pháp có thể chấp nhận được không.
... e. Người cố vấn chịu trách nhiệm về những hành động và những quyết định của người được cố vấn.
Đem Lại Sự Ủng Hộ
* * Sau cùng, việc theo dõi hoặc cố vấn là đem đến sự ủng hộ. Tôi cần sự nâng đỡ trong đời sống hàng ngày của mình từ nơi gia đình tôi, hội thánh của tôi, những người cùng làm việc với tôi, sự thực tập của tôi và thậm chí, từ những bệnh nhân của tôi. Tôi không thể sống nếu thiếu sự nâng đỡ ấy, bởi vì tôi chỉ có thể ban cho điều mình nhận lãnh. Nếu bạn ban cho mà không nhận, chẳng bao lâu bạn sẽ trống rỗng.
Các giếng nước cũng cần được cung cấp. Nếu không có những mạch nước chảy vào thì chẳng bao lâu giếng sẽ khô. Con người cũng giống như vậy, đó là lý do vì sao chúng ta cần đến nhau. Đó là lý do liệu pháp Agape bắt đầu đến với nhau, tức là giữa chồng với vợ, hội thánh và gia đình với nhau. Tôi tin chắc rằng khi chúng ta mang lấy những gánh nặng của người khác thì gánh nặng sẽ chỉ còn nặng một nửa. Đó là điều toàn bộ Liệu Pháp Agape hướng đến. * *
Mỗi người trong chúng ta đều cần sự nâng đỡ bằn cách nầy hay cách khác từ nơi một người đó. Sự ủng hộ nầy không nhất thiết phải thuộc về mặt tài chánh hay vật chất, mà là về mặt tâm lý. Chúng ta cần có một người nào đó để chạy đến trong những giờ khốn khó hoặc bối rối. Phải, chúng ta có Chúa, nhưng Chúa Jesus bày tỏ rõ ràng cho chúng ta thấy rằng chúng ta cần đến nhau. Có nhiều câu Kinh Thánh xác nhận ý tưởng đó (Mat Mt 19:19; 22:39; Mac Mc 12:31-33; LuLc 10:27; GiGa 13:34-35; ICo1Cr 12:1-31)
Câu hỏi đến với chúng ta là: "Làm thế nào chúng ta có thể đem lại sự nâng đỡ cho người được cố vấn?". hãy xem xét những câu trả lời được tìm thấy trong những câu Kinh Thánh được trưng dẫn trong phần câu hỏi học tập kế tiếp.
33. Đấng Christ đã làm gương cho chúng ta cũng như các tác giả Kinh Thánh cũng đã đưa ra những mạng lệnh truyền bảo điều chúng ta phải làm khi nhận biết những nan đề nơi những người khác. Trong phần câu hỏi học tập nầy, vấn đề được nhận biết cũng giống như những câu Kinh Thánh trưng dẫn. Từ mỗi câu Kinh Thánh sau, bạn hãy nhận biết cách vắn tắt, những cách mà chúng ta có thể đem sự nâng đỡ đến cho những người được cố vấn đang có cần hoặc đang bị tổn thương.
a. Sợ hãi hoặc mất tinh thần, EsIs 41:10 ...
b. Đói, Mat Mt 14:16 ...
c. Sợ hãi, 14:27 ...
d. Sợ hãi, 17:7 ...
e. Không yêu thương, 22:39 ...
f. Phạm tội, LuLc 17:3 ...
g. Ăn năn, 17:3 ...
h. Yếu đuối, RoRm 15:1 ...
i. Đau đớn, IICo 2Cr 1:7 ...
j. Đau đớn, HeDt 13:3 ...
k. Kẻ khốn khó, 13:16 ...
Bây giờ chúng ta đã kết thúc Bài học 3, tóm tắt công việc của người không chuyên. Tôi mong bạn sẽ nhận ra không có một con người nào có thể làm hết thảy mọi công tác trong việc cố vấn. Ngay cả người cố vấn được huấn luyện rất kỹ lưỡng cũng phải công nhận rằng công tác cố vấn bao trùm nhiều lãnh vực, và không một người nào tự mình có khả năng để quản lý mọi vấn đề được. Hãy mạnh dạn trong việc thừa nhận chúng ta là những thành viên trong thân thể Đấng Christ, chúng ta có thể kêu gọi và phải kêu gọi những người khác giúp đỡ mình. Trên hết mọi sự, chúng ta phải kêu cầu Chúa để Ngài ban thêm cho chúng ta sự khôn ngoan và sự chỉ dẫn có cần khi chúng ta giúp đỡ người khác thực hiện những quyết định quan trọng.
Bài Tập Tự Trắc Nghiệm
CÂU LỰA CHỌN: khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất.
1. Câu nào sau đây là câu đúng?
a. Hàng giáo phẩm đề ra đường lối và lãnh đạo.
b. Những tín đồ vâng phục và tuân theo sự lãnh đạo của hàng giáo phẩm.
c. Tân ước phân biệt rõ ràng giữa hàng giáo phẩm và tín đồ.
d. Khái niệm của Tân ước về hội thánh cho thấy rằng mỗi một Cơ Đốc nhân đều vừa là thành viên vừa là người hầu việc.
2. Phần lớn những câu trả lời đối với câu hỏi: "Vì sao chúng ta không phục vụ cho những người khác được?" Bao gồm những sự e ngại về
a. Thất bại, tổn hại, sự phân cách và sự phô bày mình.
b. Sự thân cận, truyền thống, sợ bị phơi bày và sự không vâng phục.
d. Sự sợ bị phơi bày; sợ thất bại, sự phân cách và truyền thống.
3. Đấng Christ đã đem lại một kiểu mẫu cho hội thánh bao gồm:
a. Sai phái, giám sát và dạy dỗ cho các môn đồ của Ngài.
b. Sai phái họ, giảng truyền cho họ, và truyền bảo họ.
c. Dạy dỗ, sai phái và giảng truyền cho các môn đồ của Ngài.
d. Rút lại tình yêu thương đối với các môn đồ của Ngài khi họ thất bại.
4. Chúng ta cần hiểu biết những ưu điểm của mình vì chúng giúp cho chúng ta biết
a. Công việc nào là của chúng ta trong cộng đồng và cách thực hiện công việc ấy.
b. Những phần nào chúng ta có thể khoe ra.
c. Rằng chúng ta thuộc về thiểu số mạnh mẽ trong cộng đồng.
d. Chúng ta thuộc về nhóm người nào.
5. Việc làm chứng được định nghĩa là:
a. Bán một sản phẩm mà chúng ta chỉ nghe nói đến mà thôi
b. Áp đặt chân lý lên người khác.
c. Nói cho người khác biết rằng họ phải sửa đúng lại thái độ đối với Đức Chúa Trời và rằng thì giờ đã gần rồi.
d. Thuật lại những thông tin thu thập được về điều mình đã kinh nghiệm.
e. Cố gắng để làm cho một người nào đó chấp nhận lối sống của một con người.
6. Người cố vấn Cơ Đốc phải:
a. Truyền bảo người được cố vấn điều người ấy phải làm.
b. Đưa ra sự chỉ dẫn bằng cách giúp người ấy chọn lựa cách khôn ngoan.
c. Cung cấp những chỉ dẫn rõ ràng, chính xác cho người được cố vấn.
d. Bảo đảm rằng mình đã làm rõ tất cả những quyết định trước khi người được cố vấn có hành động.
7. Đem lại khoảng cách về mặt cảm xúc đòi hỏi.
a. Phải đứng cách xa người được cố vấn ít nhất là 1m.
b. Phải cẩn thận để đừng trở nên bị can dự nhiều về mặt tình cảm trong vấn đề của người được cố vấn.
c. Nhận biết rằng người kề cận bạn có lẽ cần một người cố vấn có thể nhìn mọi sự lựa chọn mà không có thành kiến.
d. Đừng bàn luận bất cứ vấn đề gì với con cái bạn cả, bởi vì bạn đã có can dự với chúng về mặt tình cảm.
8. Đem lại sự hiểu biết rộng lớn hơn đòi hỏi phải có công tác giáo dục là điều được định nghĩa là.
a. Hiểu biết tất cả những câu giải đáp cho các nan đề của cuộc sống trước khi làm bất cứ công tác cố vấn nào.
b. Xem xét và thấy được tất cả những gì một người có thể thấy, mặc dầu chưa hiểu được điều đó.
c. Ngày càng có thêm nhiều sự giáo dục ở tại càng nhiều trường học càng tốt.
d. Mở rộng sự nhận thức, sự quan tâm của một người về những sự lựa chọn để xử lý được các vấn đề trong cuộc sống.
9. Để đem lại sự nâng đỡ cho người có cần, chúng ta có thể phải thực hiện những công việc như
a. Quở trách chia xẻ kinh nghiệm , ban cho thức ăn hoặc sự khích lệ.
b. Giúp đỡ, thông cảm những cảm nhận của họ, hoặc đứng xa họ hoàn toàn.
c. Không quan tâm đến những vấn đề chủ yếu của họ bởi vì chúng quá khó.
d. Tỏ ra không ưa người ấy vì họ đang ở trong sự rắc rối đáng sợ như vậy.
e. Hãy bỏ qua nhu cầu mà chỉ cầu nguyện cho họ thôi.
CÂU ĐÚNG SAI: Bạn hãy viết chữ Đ nếu là câu ĐÚNG, viết chữ S nếu là câu SAI
... 10. Việc trở thành một Cơ Đốc nhân phải lập tức khiến chúng ta nên trọn vẹn và được giải phóng khỏi những lỗi lầm.
... 11. Người ta sợ sự gần gũi người khác vì e rằng họ sẽ nhìn thấy những bất toàn của mình và từ chối mình.
... 12. Nhất thiết phải là một nhà chuyên nghiệp đã được huấn luyện trước khi muốn giúp đỡ người khác.
... 13. Nếu tôi thừa nhận những ưu điểm của mình, thì dễ nhìn biết những nhược điểm của mình.
... 14. Trưởng lão trong hội thánh là người đã sống lâu năm để rút ra những kinh nghiệm về những khó khăn mà người ta sẽ phải trải qua.
... 15. Việc ban cho có thể là một hành động có hại hoặc là một hành động yêu thương.
... 16. Càng gần gũi với đương sự, người ta càng có cái nhìn khách quan hơn.
... 17. Sự theo dõi có thể giúp đỡ một người được cố vấn bằng cách đem lại sự hiểu biết lớn lao hơn cho người ấy.
... 18. Một khi chúng ta biết được những ưu điểm và những khuyết điểm của mình thì chúng ta được nhẹ nhàng trong việc đưa ra những chỉ dẫn, những lời làm chứng và trong việc thực hiện tình yêu thương.
... 19. Việc theo dõi sẽ giúp cho người được cố vấn bằng cách không đưa ra sự nâng đỡ, ủng hộ,
... 20. Người giám sát phải là người bà con gần gũi với người được cố vấn để có thể mang lại khoảng cách về mặt tình cảm.
Đánh giá tiến bộ
Đến nay bạn đã hoàn tất các Bài Học từ 1 đến 3, bạn hãy ôn lại các bài học ấy để chuẩn bị cho phần Đánh Giá Tiến Bộ Đơn Vị 1. Bạn sẽ tìm thấy nó và tờ trả lời dành cho nó trong tập tài liệu dành cho học viên của bạn. Hãy trả lời tất cả những câu hỏi mà đừng xem lại sách giáo khoa, vở ghi chép, hoặc là Kinh Thánh của bạn. Gởi tờ trả lời của bạn cho giảng viên ICI của bạn kèm với bất cứ những tài liệu nào khác đã được ghi rõ ngoài bìa tập tài liệu học viên của bạn. Sau đó hãy tiếp tục nghiên cứu bài học.
Giải Đáp Những Câu Hỏi Của Bài Học
1. d. Hàng giáo phẩm gồm những người được hội thánh chấp nhận phải là những người làm chức vụ, còn giới tín đồ là những người không thuộc vào những người làm chức vụ đó.
2. c. Có một nhóm người được huấn luyện đầy đủ về thần học mục đích là để chống lại sự phát triển của các nhóm dị giáo hoặc các nhóm phụ thuộc.
3 d và c là những câu đúng
4. Hàng giáo phẩm, giới tín đồ.
5. a. "Các chi thể không làm một phận sự giống nhau"
b. "Hết thảy chúng ta đều là các phần chi thể của nhau, vì chúng ta có các sự ban cho khác nhau"
c. "Đức Chúa Trời là Đấng làm mọi việc trong mọi người"
d. "Ngài phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người"
e. "Thân cũng chẳng phải có một chi thể, bèn là nhiều chi thể"
f. "Có nhiều chi thể, song chỉ có một thân"
g. "Các chi thể phải đồng lo tưởng đến nhau"
6. a "Ta sẽ giúp ngươi nói năng" hay là "Ta sẽ dạy ngươi những lời phải nói"
b. "Chúa đã ban cho ta cái lưỡi của người được dạy dỗ"
c. "Ta đã để lời nói ta trong miệng ngươi."
d. "Ta sẽ khiến lời ta nên như lửa trong miệng ngươi".
e. "Ngươi sẽ được ban cho điều phải nói".
f. "Ta sẽ ban cho ngươi những lời khôn ngoan".
g. "Chúng ta nói... cậy sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh đã dạy".
7. Trưởng thành hoặc trọn vẹn.
8. Sự trọn vẹn ở đây là nổ lực hướng đến, nhất là khi chúng ta tiến gần đến ngày mà mình sẽ được ở cùng với Chúa trong nước thiên đàng.
9. 1. Tôi không thực hiện được điều những người khác muốn tôi làm.
2. Tôi có một số khuyết điểm hoặc sự không nhất quán.
11. a. "Các ngươi phải thương người khách lạ".
b. "Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình".
c. "Hãy yêu thương nhau".
d. "Các ngươi hãy yêu nhau như ta đã yêu các ngươi".
e. "Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau... hãy lấy lẽ kính nhường nhau".
f. "Nguyền xin Chúa làm cho anh em thêm và đầy lòng yêu thương đối với nhau cùng với mọi người".
g. "Có lòng yêu thương anh em cách thật thà, hãy yêu thương nhau sốt sắng hết lòng".
12. Tình yêu thương
13a. Đừng sợ bất kỳ ai, vì sự xét đoán thuộc về Đức Chúa Trời.
b. "Sự sợ loài người gài bẫy, nhưng ai nhờ cậy Đức Giêhôva được yên ổn vô sự".
c. "Hãy vâng theo Đức Giêhôva... thì vua sẽ được ích và được sống".
d. "Hãy yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi".
e. "Đừng sợ kẻ giết xác rồi sau không làm gì được nữa".
f. "Nếu kẻ thù nghịch mình có đói, hãy cho ăn, có khát hảy cho uống."
14. a, c, d, và f là những câu đúng.
15. b, c và d là những câu đúng.
16. a. 1) Sợ thất bại
2) Sợ bị phơi bày
3) Sợ sự thân gần
4) Sợ sự tổn hại về thuộc thể.
5) Sợ truyền thống
Kiểm tra lại những đánh giá của bạn về những điều đó trong sách giáo khoa nghiên cứu độc lập.
b. Bằng việc nhận biết rằng Kinh Thánh dạy chúng ta rằng mỗi người tin Chúa đều phải tham gia vào việc phục vụ người khác.
17. 1) Sống theo những điều răn và 2) dạy người ta những điều răn ấy.
18. a Đôi một
b. Uy quyền trên các tà linh.
19. a. 2) Sai phái.
b. 3) Theo dõi.
c. 1) Dạy dỗ
d. 3) Theo dõi
20. b và c là những câu đúng
21. a. Chính mình, những điều chúng ta thực hiện tốt và những điều chúng ta thực hiện không được tốt.
22. a, d, e và f là những câu đúng.
23. c. Lắng nghe người ấy và sau đó giúp người ấy tìm được sự trợ giúp có cần.
24. b. Nhìn nhận các khuyết điểm của mình trước mặt người khác nếu cần thiết mà vẫn nhận ra những ưu điểm của mình.
25. c và e là những câu đúng.
26. Ngài muốn chúng ta trở thành chứng nhân cho cả thế gian và yêu người lân cận như mình.
27. a. 2) Người bán rong
b. 1) Người làm chứng.
c. 2) Người bán rong.
d. 1) Người làm chứng.
e. 1) Người làm chứng.
28. Một tình trạng thực hữu, khi tình trạng khang kiện và an toàn của người khác được coi trọng như là của chính mình.
29. a. 2
b. 1
c. 1
d. 2
e. 2
f. 1
30. Mở rộng sự hiểu biết về những sự lựa chọn để xử lý các vấn đề của cuộc sống.
31. b và d là những câu đúng.
32. a. Phải.
b. Không.
c. Phải.
d. Không.
e. Không.
33. a. Nâng đỡ và giúp đỡ.
b. Ban thức ăn.
c. Khuyến khích
d. Rờ đến họ
e. Yêu thương họ.
f. Quở trách.
g. Tha thứ.
h. Mang lấy những cảm tưởng của họ.
i. Chia xẻ từng trải.
f. Chia xẻ sự đau đớn.
k. Làm lành, chia xẻ cho người khác.


VAI TRÒ CỦA LƯƠNG TÂM
Các nguyên tắc có liên quan đến lương tâm mang tính quan trọng vì tội lỗi là căn nguyên của nhiều nan đề cơ bản của con người, và tội lỗi tác động đến lương tâm con người. Lương tâm có thể cáo trách một người vi phạm tội thực sự hay vì một phạm tội phi lý. Khi lương tâm bị cáo trách vì một lỗi lầm thực sự, nó tác động đến mối tương quan giữa con người với Đức Chúa Trời.
Phạm tội là một cảm giác nảy sinh từ hành động trái với lẽ thật. Nhưng câu hỏi đặt ra ấy là: Điều nào là lẽ thật. Trong hình vẽ 1,2, chúng ta bàn về lẽ thật, ở đó vòng tròn lớn hơn tượng trưng cho lẽ thật. Lẽ thật có một, trọn vẹn và bất biến. Khi nhìn các phương pháp cư xử khác nhau của con người, chúng ta thấy mỗi phương pháp áp dụng hai phần, một phần là lý thuyết và một phần lẽ thật. Mục tiêu của chúng ta là phải lấy điều nào chân thật trong từng phương pháp ấy để sử dụng nó như một công cụ, và loại bỏ điều nào chỉ là lý thuyết.
Các nhà tâm lý học và thần học cũng thừa nhận như nhau về cách một người định nghĩa lương tâm quan trọng thiết yếu cho sức khỏe và lối sống của người ấy. Khái niệm của người cố vấn về lương tâm ảnh hưởng đến cách quan niệm về con người và về cách người ấy giao tiếp với tha nhân. Nó cũng quyết định cách hiểu và cách giải quyết sự phạm tội. Cuối cùng, khái niệm của người cố vấn về lương tâm quyết định các phương tiện, kỹ thuật và các phương pháp để sử dụng trong tiến trình cố vấn.
Lương tâm là gì?
Các định nghĩa và khái niệm
Hai kiểu mẫu tâm lý.
Kiểu mẫu của Thánh Kinh.
Những hàm ý của khái niệm lương tâm.
Mục tiêu của liệu pháp
Các nguyên tắc cơ bản
Khi hoàn tất bài nầy, bạn sẽ có thể:
- Định nghĩa lương tâm và nhận ra chức năng của nó cũng như các đặc tính cơ bản.
- Mô tả được cách phân loại lương tâm khác nhau của Kinh Thánh.
- Thảo luận các nguyên tắc mà người cố vấn Cơ Đốc bán chuyên nghiệp sử dụng khi giúp một người từng trải sự đổi mới, sự chữa lành và sự tăng trưởng.
- Giải thích tầm quan trọng của quan điểm Cơ Đốc đối với lương tâm.
1. Nghiên cứu bài nầy theo các chỉ dẫn ở bài 1.
2. Đọc tất cả các khúc Kinh Thánh trưng dẫn.
3. Kiểm tra phần từ vựng đối với bất cứ từ ngữ then chốt nào bạn chưa biết.
4. Làm bài kiểm tra cá nhân ở cuối bài học. Kiểm tra các câu trả lời của bạn với phần trong tập tài liệu học viên và ôn lại bất cứ câu trả lời nào chưa đúng.
Thuộc về Hóa Sinh
Sự phù hợp
Sắp xếp kế tiếp nhau
Không phù hợp
Dục vọng
Thuộc về tâm trí
Lương tâm là gì?
Như bạn sẽ hiểu, lương tâm bao gồm nhiều vấn đề và ảnh hưởng của nó rất rộng lớn. Lương tâm ảnh hưởng đến nhân cách, mức độ trưởng thành, và mức chuẩn về tội của một con người.
Lương tâm: Phần chức năng của nhân cách.
Nhân cách được định nghĩa là "toàn bộ những khuynh hướng về cách cư xử và cảm xúc của một con người". Nhưng định nghĩa mà tôi thích nhất nói rằng nhân cách là "sự tổ chức năng động của hệ thống tâm lý, sinh lý và tâm linh thôi thúc từ bên trong một con người, nó quyết định cách cư xử và suy nghĩ của riêng người ấy". Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng mọi khía cạnh trong bản tánh con người đều bị ràng buộc linh hoạt với nhau. Bởi đó, lương tâm của một con người tác động đến mọi phương diện trong đời sống của người ấy. Ngược lại, những hành động và sự hiện diện của một con người trong mỗi một phương diện của nhân cách tác động đến lương tâm người ấy. Tuy nhiên, lương tâm thiên về bản chất thiêng liêng của một con người. Chính vì vậy, lương tâm ảnh hưởng sâu sắc đến tấm lòng của một con người - Lý trí, Ý chí, và Cảm xúc của người ấy.
Chúng ta phải luôn tự nhủ rằng định nghĩa nhân cách của chúng ta, "sự tổ chức thôi thúc từ bên trong một con người", muốn nói đến cốt lõi nội tâm của một đời sống - cái tôi hay là bản ngã. Chúng ta đã thấy hình vẽ diễn tả khái niệm này trong Bài 2 khi bàn về "các cấu trúc của nhân cách" (hình vẽ 2,6)
Trong Bài 2, chúng ta nhìn nhận phương diện sinh lý trong bản chất của con người phần thuộc thể như là vòng tròn bên ngoài cùng. Rồi chúng ta bàn đến phương diện tâm hồn, the psyche, hay phương diện tấm lòng, the kardia trong bản chất của con người. Nó là trung tâm của lý trí, cảm tình và ý chí của con người đã diễn tả theo khái niệm tấm lòng được chia ra làm ba phần. Sau đó, chúng ta bàn về bản chất tâm linh của con người và nói rằng bản chất tâm linh là chiếc ngai của lương tâm con người.
Toàn bộ các cấu trúc đó trong bản chất con người ràng buộc linh hoạt với nhau. Cách cư xử của con người phát xuất từ tấm lòng, từ cuộc sống nội tâm của người đó. Chúa Jesus có nói như thế không? Trong Mat Mt 12:35, Ngài phán: "Người lành do nơi đã chứa điều thiện mà phát ra điều thiện, những kẻ dữ do nơi đã chứa điều ác mà phát ra điều ác". Nếu một người suy nghĩ điều ác, người ấy sẽ có cách cư xử ác, và sẽ quyết định làm điều ác.
Lương tâm con người tác động đến lý trí. Nó cũng tác động đến ý chí và cảm xúc. Ví dụ, nếu bạn xúc phạm đến lương tâm của bạn, điều gì sẽ xảy ra trong lý trí của bạn? Bạn sẽ bắt đầu suy nghĩ "Tôi thật không xứng đáng, tôi thật vô giá trị". Rồi bạn cảm thấy bối rối. Bạn có mặc cảm phạm tội hoặc đau đớn trong tâm hồn khi bạn để cho tội lỗi phát triển, nó có thể trở nên nặng nề đến nỗi bạn trở nên người có cảm xúc đã bị chai lì. Thế là bạn không thể hành động hợp lý. Dĩ nhiên điều nầy tác động đến lối cư xử của bạn.
Từ kinh nghiệm, chúng ta biết thường khi chúng ta phạm quá nhiều tội trong một mối tương quan nào đó, chúng ta tránh luôn mối tương giao ấy. Chúng ta không muốn nhìn người đó, chúng ta muốn đi tránh qua lề đường bên kia để tránh mặt. Những điều nầy xảy ra vì lương tâm chúng ta đang đau đớn thét lên "Anh phạm tội! Anh phạm tội!".
1. Điều nào sau đây KHÔNG PHẢI là bằng chứng của một lương tâm bị xúc phạm?
a. Tội lỗi
b. Những tư tưởng tự ti.
c. Sự nhân lành.
d. Thái độ vô trách nhiệm.
2. Mỗi câu Kinh Thánh sau mang một sự dạy dỗ trong phương diện của tấm lòng của nhân cách con người. Đọc mỗi câu Kinh Thánh sau và mô tả một lương tâm tốt sẽ ảnh hưởng thế nào đến từng công cụ của tấm lòng đó.
a. 15:19 ...
b. LuLc 6:45 ...
c. RoRm 10:10 ...
Lương tâm: Liên quan với sự trưởng thành.
Một người có lương tâm yếu đuối hoặc non nớt, nhân tính sẽ bị cằn cỗi, không phát triển. Nếu người ấy phạm tội và biết tội đó, nó sẽ tranh chiến với người ấy trong các mối tương quan của người. Cuối cùng, nó sẽ ngăn cách người ấy với mọi người và với ĐCT. Tội lỗi có thể sai khiến một con người làm điều mình không muốn. Nó cũng có thể làm tê liệt một người và ngăn cản người ấy làm tròn trách nhiệm của mình. Những điều đó xáo trộn mức cân bằng giữa các phương diện khác nhau trong đời sống của người ấy và vì vậy, càng làm cằn cỗi sự phát triển của người đó.
Nếu lương tâm không còn làm đúng chức năng, một người sẽ không còn cảm biết tội lỗi khi mình vi phạm, người ấy sẽ tự đánh mất thiện cảm của người khác và sẽ không thể thỏa lòng về các nhu cầu của chính mình. Tình trạng bị tước đoạt các nhu cầu như vậy sẽ chặn đứng sự phát triển và sự trưởng thành của một con người. Vậy, chúng ta thấy lương tâm bị ảnh hưởng sâu sắc đến mức độ trưởng thành của con người.
Nhưng, trưởng thành là gì? Hãy xem xét định nghĩa về sự trưởng thành trong khung 4.1
SỰ TRƯỞNG THÀNH: Là tiến trình năng động nhận thức ý nghĩa của đời sống và thực thi sự quân bình giữa các phương diện sinh lý, xã hội, tâm lý và tâm linh trong đời sống đó. Điều nầy cho phép một người ý thức rõ ràng sự thỏa lòng về các nhu cầu của mình, sống hài hòa với chính mình, với hoàn cảnh xung quanh, với những người xung quanh, với Đấng Tạo Hóa, và góp một phần đầy ý nghĩa vào cuộc sống của những người khác và vào Nước Đức Chúa Trời.
Định nghĩa Allport, 1961
Khung 4.1
Một lương tâm mạnh mẽ, một lương tâm trưởng thành là bí quyết để làm một người trưởng thành. Trong khung 4.1, chúng tôi dùng định nghĩa của Allport, phát biểu: "Trưởng thành là tiến trình năng động về nhận thức ý nghĩa của đời sống". Định nghĩa nầy mang những hàm ý sâu sắc liên quan đến lương tâm. Lương tâm tác động đến hệ thống giá trị luân lý của một người , và hệ thống giá trị luân lý của người ấy được hình thành từ điều người ấy xác định cuộc sống được dựng nên để làm gì.
Sự trưởng thành phải được thực hiện quân bình giữa các phương diện sinh lý, xã hội, tâm lý và phương diện tâm linh của đời sống. Con người xây dựng đời sống mình bằng một hệ thống ưu tiên. Hệ thống ưu tiên nầy bị tội lỗi ảnh hưởng, bởi vì tội lỗi thường bắt buộc một người phải hành động. Cũng nên nhớ rằng tội lỗi có thể là tội lỗi thực sự phạm hoặc là tội lỗi phạm do tâm trí.
Khi giải thích định nghĩa sự trưởng thành, chúng ta thấy sự quân bình giữa các phương diện khác nhau đem lại sự thỏa lòng về các nhu cầu. Một lương tâm non nớt, không thanh sạch, hoặc một lương tâm xấu theo ý nghĩa của Kinh Thánh sẽ gây ra những nhu cầu không giải quyết được vì các mối tương giao đã bị phá vỡ. Nó ngăn cản chúng ta yêu thương đầy trọn ý nghĩa hoặc tiếp nhận tình yêu. Dĩ nhiên điều nầy quan hệ đến lối sống hài hòa.
Một trong những hậu quả của tội lỗi là sự mất thiện cảm. Thật khó mà sống hòa thuận (nếu không nói là không thể) với những người xung quanh, với Đấng Tạo Hóa, hoặc với chính chúng ta khi đã đánh mất thiện cảm. trong trường hợp đó, chúng ta không thể hợp lực với những người khác họăc góp phần trong nước Đức Chúa Trời.
Qua sự định nghĩa của chúng ta về nhân cách và sự trưởng thành với những chức năng của chúng, rõ ràng là một lương tâm mạnh mẽ và trưởng thành là tình trạng tuyệt đối cần thiết cho mỗi đời sống của chúng ta.
3. Lương tâm tác động đến nhận thức của chúng ta về ý nghĩa cuộc sống bởi vì nó liên quan đến:
a. Tấm lòng.
b. Các bạn hữu.
c. Hệ thống giá trị luân lý.
d. Các câu Kinh Thánh.
e. Cấu tạo tâm lý của một con người.
4. Định nghĩa sự trưởng thành của chúng ta bao gồm các khái niệm về:
a. Sự tự lập, hài hòa, hạnh phúc, và đời sống (xã hội)
b. Các mối tương giao tốt, ban cho, thỏa lòng, và sự quân bình.
c. Hạnh phúc, tự tin, sự quân bình và hài hòa.
d. Đời sống xã hội, hạnh phúc, uy quyền và hoàn cảnh xung quanh.
e. Đời sống, hạnh phúc, sự tin kính và sự quân bình.
5. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu đúng liên quan đến lương tâm và sự trưởng thành.
a. Tội lỗi có thể xáo trộn mức quân bình giữa các phương diện tâm lý, tâm linh, xã hội và sinh lý trong đời sống bằng tác động đến hệ thống ưu tiên của con người đó.
b. Tội lỗi ngăn cản một người thỏa mãn các nhu cầu bằng cách ngăn cản người ấy tương giao mật thiết với các người thân.
c. Có thể đạt đến mức trưởng thành mà không cần có một lương tâm mạnh mẽ.
d. Một lương tâm xấu hoặc non nớt dẫn tới các mối tương giao bị phá vỡ.
e. Trưởng thành là một mức độ tăng trưởng mang tính cách cá nhân.
6. Lương tâm liên quan thế nào với nhân cách và sự trưởng thành?
...
Lương tâm: Được định nghĩa như là một nhân chứng.
Lưu ý là hình 4.2 đưa ra định nghĩa về lương tâm dựa trên lẽ thật Kinh Thánh và sự thật về tâm lý. Lưu ý rằng một lương tâm mạnh mẽ được căn cứ trên thái độ phù hợp với hệ thống giá trị luân lý của một con người.
LƯƠNG TÂM: Là một cơ quan đạo đức phổ thông trong con người nhằm làm chứng phù hợp với thái độ và hệ thống giá trị luân lý của người ấy. Không phù hợp với hệ thống giá trị luân lý hoặc vi phạm nó, đó là từng trải phạm tội hoặc bị dằn vặt trong tâm hồn.
(hình 4.2)
Từ ngữ lương tâm không có trong ngôn ngữ Hêbơrơ, Dân tộc Do thái muốn nói đến cơ quan đặc biệt nầy trong bản chất con người bằng từ ngữ "tấm lòng con người". Tuy nhiên, hơn 30 lần Tân ước nhắc đến lương tâm. Sau khi nghiên cứu nhiều về các câu Kinh Thánh đó, cũng như nghiên cứu các kiểu mẫu tâm lý khác nhau, tôi đã rút ra một định nghĩa.
Hãy xem lại Hình 4.2. Lương tâm là "Một cơ quan đạo đức phổ thông trong con người". Với chữ phổ thông, chúng tôi muốn nói là mỗi người có một lương tâm. Thánh Kinh dạy cho chúng ta điều đó. Chức năng của nó nằm trong lĩnh vực luân lý. Nó bảo cho chúng ta điều nào đúng và điều nào sai. Lương tâm thực hiện điều nầy qua cách làm chứng thích hợp giữa thái độ của một con người với hệ thống giá trị luân lý của người ấy. Thái độ không phù hợp hoặc vi phạm nó, tức là phạm tội hoặc bị dằn vặt trong tâm hồn.
Hãy xem hình 4.3. Trong chức năng làm chứng. lương tâm quan sát hai vấn đề nó nhìn về hệ thống giá trị luân lý, và nhìn về lối cư xử. Khi lối cư xử và hệ thống giá trị luân lý không phù hợp với nhau, khi mà những điều một con người tin tưởng là đúng lại không xứng hợp với cách người ấy đang sống, người ấy phạm tội hoặc bị dằn vặt trong tâm hồn. Điều nầy gây ra những ý tưởng và những cảm giác không xứng đáng, sợ hãi bị mất thiện cảm, v.v... Đến lượt các ý tưởng đó lại tác động đến thái độ của người ấy.

Hình 4.3
Hệ thống giá trị luân lý của chúng ta phát triển theo nhiều cách. Một trong những cách ấy là nó được thiết lập ngay trong chính bản chất của chúng ta. Điển hình như RoRm 2:14-15 nói rằng người ngoại bang có luật pháp cho riêng họ. Ví dụ con người đã có sẵn niềm khao khát bảo tồn cuộc sống của mình. Đối với tôi, dường như điều nầy có sẵn trong chính bản chất con người. Phải nổ lực nhiều lắm, một người mới có thể trấn áp lương tâm mình để xác định rằng mình có thể giết ai đó mà không phạm tội. Có thể có người được rèn luyện hoặc bị bó buộc trong hoàn cảnh nầy, nhưng luật pháp có sẵn trong bản chất người hẳn phải bị vi phạm để người ấy không thấy bị phạm tội. Phao Lô đã nói ngay cả những người không có luật pháp thành văn thì họ cũng có luật pháp cho chính họ; "Chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình".
Một nguồn gốc khác nữa của hệ thống giá trị luân lý là do nơi những người khác. Điều nầy nhấn mạnh tầm quan trọng của các mối tương giao giữa chúng ta với những người khác như là những người thân thiết với chúng ta, qua đó, chúng ta được dạy dỗ về một hệ thống giá trị luân lý căn bản và chân thực. Sự dạy dỗ về hệ thống tại trường học cũng rất quan trọng. Đôi lúc, trẻ em bị nhồi sọ, cho rằng điều sai trái thật sự là điều đúng. Khi đó, hệ thống giá trị luân lý bị bóp méo và điều nầy tác động đến lương tâm con người.
Lương tâm chúng ta cũng hình thành từ Lời Đức Chúa Trời. Cách nầy cũng bao gồm cả những ngươì dạy dỗ Lời Đức Chúa Trời. Đôi lúc, các hệ thống giá trị luân lý được dựa trên sự dạy dỗ của họ. Nó cũng gồm cả Thân vị và công tác của Thánh Linh, vì Ngài bày tỏ chân lý cho chúng ta.
7. Theo hình 4.3, khi thái độ không phù hợp với hệ thống giá trị luân lý, chúng ta từng trải:
a. Sự sợ hãi, phạm tội, và bị mất thiện cảm.
b. Có thái độ tồi, giận dữ, ganh tị.
c. Dằn vặt trong tâm hồn, đố kỵ, khốn khổ.
d. Khốn khổ, mất thiện cảm, bị dồn nén.
e. Một lương tâm xấu, phạm tội và một đạo đức kém.
8. Theo hình 4.3, khi chúng ta biết mình phạm tội hay tâm linh bị dằn vặt, chúng ta có khuynh hướng tự nhủ:
a. "Tôi mệt mỏi".
b. "Đức Chúa Trời ở đâu rồi".
c. "Tôi thấy ổn thôi".
d. "Tôi không tốt chút nào".
9. Gọi tên và mô tả vắn tắt ba nguồn gốc của hệ thống giá trị luân lý của con người.
...
10. Hãy kể cách mà lương tâm hành động trong vai trò nhân chứng.
...
Hai kiểu phạm tội
Một người có thể phạm tội theo hai cách, và lương tâm can dự đến cả hai cách ấy.
Chúng ta hãy xem xét sự khác biệt giữa điều mà các nhà tâm lý học gọi là "phạm tội thực sự" và "phạm tội do tâm trí". Phạm tội thực sự là phạm tội mang tính khách quan. Đó là tội chúng ta phạm trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta phạm tội và chúng ta biết rõ tội đó, và chúng ta thực sự có tội.
Phạm tội do tâm trí là cảm giác phạm tội trong một vài vấn đề nào đó mà thực sự, nó không phải là điều sai trái. Nếu từ trước, tôi được dạy bảo rằng mang theo dù là chuyện sai trái, và khi tôi đến vùng đang mùa mưa, bắt đầu sử dụng dù, tôi sẽ cảm thấy có tội, nhưng nó không phải là phạm tội thực sự. Nó là phạm tội do tâm trí, bởi vì chính lúc đó, hệ thống giá trị luân lý của tôi đã không hoàn chỉnh, tôi đã bị dạy bảo sai lầm từ trước đó.
Một hệ thống giá trị luân lý không thích đáng hoặc bị dạy bảo sai lầm sẽ gây cho chúng ta những cảm giác tội lỗi dù xét theo khách quan, chúng ta không phạm tội. Chúng ta chỉ thấy có tội bởi vì chúng ta tin thái độ đó là điều quấy, mặc dù thực ra, nó không phải là điều sai trái.
Phạm tội khách quan là phạm tội thực sự (gây ra bởi việc tự chọn lấy sự vi phạm), hoặc cả nhân loại vi phạm vì cớ bản chất sa ngã của con người hoặc một cá nhân vi phạm. Đó là hậu quả của tội chống lại Đức Chúa Trời, và nó hợp lý.
Cả phạm tội khách quan và phạm tội do tâm trí đều có thể bị phạm như là phạm tội chủ quan. Phạm tội chủ quan muốn nói đến cảm giác phạm tội của con người. Đó là ý thức về tội chống lại lương tâm. Nó gồm cả sự dằn vặt trong tâm hồn.
Có thể có người phạm tội cách khách quan trước mặt Đức Chúa Trời mà không biết mình phạm tội chủ quan nào. (Chúng ta sẽ nghiên cứu điều nầy sau, khi chúng ta xét về một lương tâm "xấu" trong bài nầy). Cũng có thể có người cảm biết tội và có những cảm xúc và tư tưởng tiêu cực phù hợp với tội lỗi chủ quan ngay cả khi người ấy KHÔNG phạm tội cách khách quan trước mặt Đức Chúa Trời. Điều nầy xảy ra khi một người vi phạm các luật lệ hoặc các giá trị mà người ấy tin tưởng là đúng nhưng nó không được căn cứ trên lẽ thật của Đức Chúa trời. Trong trường hợp nầy, người ấy có một hệ thống giá trị luân lý không thích hợp. Các nhà tâm lý học gọi từng trải phạm tội kiểu nầy là "phạm ngụy tội, phạm tội cục bộ hay là do tâm trí". Theo cách nói của Thánh Kinh, người ấy có một lương tâm "yếu đuối".
11. Có sự phạm tội khác hơn là phạm tội thực sự, được các nhà tâm lý học gọi là phạm tội do tâm trí hoặc là phạm ngụy tội nhưng ICo1Cr 8:10 gọi nó là:
...
12. Đọc từng câu Kinh Thánh sau và diễn tả mỗi người cảm thấy thế nào khi phạm tội.
a. SaSt 42:21 ...
b. Exo Er 9:6 ...
c. Thi Tv 38:4 ...
d. 40:12 ...
13. Kể lại điều Thánh Kinh nói về tội của chúng ta
a. EsIs 53:6 ...
b. 64:6 ...
c. RoRm 3:23 ...
d. IGi1Ga 1:8 ...
14. Điều nào là sự khác nhau chủ yếu giữa phạm tội khách quan và phạm tội chủ quan?
...
15. Các tình huống sau đây là các ví dụ về những người phạm tội chủ quan. Hãy viết K vào trước ví dụ về một người phạm tội khách quan, và viết T trước ví dụ phạm tội do tâm trí.
... a. Một người cảm thấy không xứng đáng vì mới nhân danh Chúa cách vô ích.
... b. Một cậu bé được dạy bảo rằng con trai mà khóc là điều sai quấy. Nó khóc và cảm thấy có tội và xấu hổ.
... c. Một thiếu niên cảm thấy sợ vì vừa mới đánh cắp một chiếc áo sơmi.
... d. Một người hầu việc Chúa không chịu tha thứ cho người hầu việc Chúa khác và muốn rằng mình không phải gặp mặt người ấy trong tuần tới.
... e. Một cô gái cảm thấy phạm tội vì đã uống sữa bằng bát sau khi được bảo cho biết rằng đó là cách uống của cô gái không đứng đắn.
... f. Một cậu bé dối mẹ vì chuyện cậu đã đi đâu và cảm thấy hổ thẹn.
16. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu đúng.
a. Nhân cách quyết định thái độ và tư tưởng.
b. Phương diện ý chí trong nhân cách so sánh các hành động của một người với hệ thống giá trị luân lý của người ấy.
c. Phạm tội do tâm trí là phạm tội khách quan.
d. Cơ thể tráng kiện là bí quyết để trưởng thành.
e. Trưởng thành là một tiến trình, cho phép một người có khả năng hiểu biết được ý nghĩa của cuộc sống.
f. Mỗi người được sinh ra có một giác quan luân lý được gọi là lương tâm.
g. Nhân cách quyết định đặc tính.
h. Tội lỗi khiến cho các mối tương quan được cải thiện.
i. Sự trưởng thành đem lại sự thỏa lòng trong các nhu cầu của con người.
j. Một hệ thống giá trị luân lý không thích hợp hoặc bị bóp méo dẫn đến một lương tâm yếu đuối.
k. Phạm tội chủ quan giống với phạm tội tâm trí.
Hai kiểu mẫu tâm lý
Trong phần nầy, chúng ta sẽ xem xét hai lý thuyết khác nhau của Sigmund Freud và O.Hobart Mowrer, giải thích tại sao con người phạm tội chủ quan. Thật lý thú vì trên cơ bản, kiểu mẫu của Mowrer lại trái ngược với kiểu mẫu của Freud.
Sigmund Freud gây được một ảnh hưởng quan trọng trong xã hội chúng ta. Tuy rằng chúng ta không thể đổ cho Freud các thất bại của chúng ta, tôi nghĩ rằng chắc Freud đã tăng cường các yếu tố trong bản chất tội lỗi của con người mà chúng đã khiến chúng ta cư xử theo những cách không thích đáng và những cách "bịnh hoạn".
Kiểu mẫu nhân cách theo Freud giống như một tảng băng (Hình 2.3), hầu hết phần nhân cách bị ngập dưới mặt nước, và vì vậy, nằm ở dạng vô ý thức. Ngay phía trên phần nầy là vùng tiềm thức gồm có ký ức, có thể đánh giá ý thức của chúng ta. Rồi đến phần đỉnh là phần có ý thức, là phần giao tiếp với thực tế.
Freud khám phá ra ba phần cấu thành nhân cách. Phần thứ nhất là bản ngã mà Freud nói là nguồn gốc phát sinh thực tế. Miền liên lạc với thế giới bên ngoài (ngoại giới). Bản ngã giống như một người trưởng phòng, là người chỉ định công việc và ra quyết định. Rồi đến phần Siêu ngã (Superego), tương đương với phần chúng ta gọi là "lương tâm". Siêu ngã, theo Freud, phần lớn đã bị ảnh hưởng bởi gia đình và xã hội. Cuối cùng đó là bản năng vô thức là nguồn gốc phát sinh lạc thú. Nó có dục vọng hoặc nghị lực, căn cứ trên bản chất phái tính. Nó cố gắng tự bày tỏ qua điều mà chúng ta cảm thấy như là những dục vọng được tích lũy dần và các sự thôi thúc thuộc về bản năng.
Hãy xem Hình 4.4. Ở đây, bản năng vô thức muốn được bày tỏ nghị lực. Điều xảy ra ấy là Siêu ngã hoặc lương tâm đã trở nên lớn mạnh hoặc có năng lực phi thường. Nó đã bị nhiều tác động từ gia đình và xã hội đến nỗi nó đang kiềm chế bản ngã. Rồi bản ngã nói với bản năng vô thức "Anh không thể làm điều đó", và kết quả là phạm tội và lòng sợ hãi.
Hình 4.4
Freud hiểu sự phạm tội như là hậu quả gây ra bởi Siêu ngã hay lương tâm bành trướng đang kiềm chế chức năng của bản ngã để nó hạn chế bản năng vô thức (hay là nguồn gốc) bằng cách làm những điều nó muốn. Thế là tạo ra giữa bản ngã và bản năng vô thức một vùng tranh chiến (đường dợn sóng) khi bản ngã tiếp tục trấn áp các nghị lực bản năng của bản năng vô thức, sự phạm tội xảy ra ấy chính là nỗi sợ hãi vô ý thức mà bản năng vô thức sẽ ức chế bản ngã và thỏa mãn các ham muốn của bản năng vô thức
17. Theo Freud, một người phạm tội khi:
a. Siêu ngã hoặc lương tâm của người ấy bị phớt lờ.
b. Bản năng vô thức của người ấy ức chế bản ngã
c. Bản ngã của người ấy trấn áp lương tâm (Siêu ngã).
d. Bản năng vô thức bị trấn áp.
e. Lương tâm của người ấy khuyến khích bản năng vô thức bày tỏ ra.
18. Nếu bạn đồng ý về kiểu mẫu nầy của Freud, khi cố vấn về sự phạm tội của con người bạn sẽ
a. Khuyến khích quyền lực của lương tâm.
b. Trấn áp bản năng vô thức và bản ngã.
c. Trấn áp lương tâm và bản năng vô thức.
d. Trấn áp lương tâm và khuyến khích nghị lực để hưởng lạc thú.
Cách chúng ta lý giải về lương tâm và chức năng của nó sẽ quyết định cách chúng ta góp ý và cách chúng ta tương giao với người khác. Hàm ý trong việc giải tỏ theo kiểu mẫu của Freud ấy là chúng ta cần phải hạn chế quyền lực của siêu ngã. Đy là cất bỏ quyền lực của lương tâm, giải tỏa bản ngã để nó có thể đáp "được" cho bản năng vô thức và rồi chúng ta sẽ có thể thực hiện bất cứ điều gì chúng ta thích. Theo Freud, như vậy chúng ta sẽ không cảm thấy phạm tội.
Tuy nhiên, Freud không nhận ra các nguyên tắc về lương tâm trong Thánh Kinh. Lời của Đức Chúa Trời phán rằng nếu một người làm bất cứ điều gì mình thích, người ấy sẽ làm cho lương tâm mình bị chai lì (ITi1Tm 4:2). Rồi người ấy sẽ không còn cảm thấy mình bị phạm tội, và sẽ kết luận một cách sai lầm rằng "mọi sự đều tốt cả". Nhưng thực ra, người ấy càng trở nên tồi tệ hơn, bởi vì theo khách quan mà nói, người ấy sẽ vẫn cứ phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời, dù là người ấy không cảm biết mình phạm tội. Cũng vậy, một người phớt lờ lương tâm, cũng sẽ phớt lờ chính chức năng Đức Chúa Trời đặt trong con người để đem lại sự khỏe mạnh. Đức Thánh Linh muốn sử dụng lương tâm để khiến con người biết mình cần phải đến với Đức Chúa Trời, cần xưng tội và cần bồi thường.
O. Hobart Mowrer, một môn đệ của Freud, vừa được đề cử làm chủ tịch Hội Tâm Lý Hoa kỳ (American Psychological Association). Theo bài diễn văn ông đọc trong buổi lễ nhậm chức, như tôi được biết, trước đó ông đã bị suy nhược thần kinh và được vào bệnh viện. Qua những việc đang xảy ra trong chính đời sống mình, ông hiểu ra ông đang có một mối liên hệ vô hiệu quả với chính lương tâm của mình. Rốt cuộc, ông đã nhận thức về lương tâm theo một cách khác hơn Freud. * *
Mowrer thay đổi hoàn toàn kiểu mẫu của Freud và minh họa nó như hình vẽ 4.5
* * Mowrer nói rằng trên thực tế, đều xảy ra ấy là bản năng vô thức, bằng sự thôi thúc theo bản năng của nó ức chế bản ngã để một người không thực hiện ngay cả điều người ấy biết là mình đáng phải làm. Người ấy làm điều mình cảm thấy thích, là điều người ấy biết rằng nó không đúng, vì thế người đó xúc phạm đến lương tâm hay siêu ngã của mình. Mowrer bảo rằng đó là lý do tại sao con người phạm tội. Điều lý thú tôi khám phá được khi đọc về Mowrer và John Drakeford, môn đệ của ông, ấy là dù Mowrer dùng những thuật ngữ khác, điều ông phát biểu rất giống điều chúng ta đọc được qua Kinh Thánh. Điển hình là điều Sứ đồ Phao Lô nói trong RoRm 7:15, 17 "Tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét... Bấy giờ, chẳng phải tôi làm điều đó nữa nhưng ấy là tội lỗi ở trong tôi". Khi đã khám phá ra và bắt đầu làm theo những nguyên tắc nầy, Mowrer đã phải xưng tội và bồi thường, và một vài mối tương giao của ông đã được phục hồi. Bạn có thể đọc được điều nầy qua các tác phẩm của ông. Ông đã khám phá ra được tình yêu thương vì đã tương quan với lương tâm bằng cách vâng theo các nguyên tắc trong Thánh Kinh. * *
Nhận thức của người cố vấn về lương tâm và sự phạm tội có ảnh hưởng trực tiếp đến phương cách người ấy giải quyết cho người cần sự giúp đỡ khi phạm tội. Trước khi hoàn tất các câu hỏi nghiên cứu sau đây, hãy xem lại Bài 2, Mục tiêu 5 và ôn lại các câu hỏi nghiên cứu từ câu 5 đến câu 11 về phương pháp tiếp cận tâm lý học của Freud.
19. Theo Mowrer, một người phạm tội khi
a. Bản năng vô thức của người ấy ức chế bản ngã và xúc phạm đến lương tâm người ấy.
b. Lương tâm (siêu ngã) của người ấy ức chế bản ngã đè nén bản năng vô thức
c. Lương tâm người ấy khích lệ bản năng vô thức bày tỏ.
d. Bản năng vô thức bị xúc phạm do sự bày tỏ của siêu ngã.
20. Nếu bạn đồng ý với kiểu mẫu của Mowrer, khi cố vấn về sự phạm tội của con người bạn sẽ
a. Cất bỏ quyền lực của lương tâm để gây nên sự phạm tội.
b. Khuyến khích người cần được góp ý cứ thỏa mãn những khao khát của mình để được thỏa lòng.
c. Nhấn mạnh nhu cầu xưng nhận điều sai trái và bồi thường.
d. Củng cố bản ngã để người cần được sự góp ý sẽ không còn bị lương tâm quấy rầy.
e. Sử dụng cả hai câu trả lời a và b.
21. Nếu bạn sử dụng giải pháp của Freud để giải quyết nan đề phạm tội, kết quả sẽ làm cho một người
a. Khỏe mạnh hơn.
b. Trở nên bịnh hoạn hơn
c. Buồn bã hơn.
d. Ít phạm tội khách quan hơn.
e. Trưởng thành hơn
22. Liệu pháp riêng của Mowrer trong đời sống ông đối với sự phạm tội, đã đưa đến
a. Phạm tội nhiều hơn
b. Chứng bệnh tâm lý.
c. Các mối tương giao được phục hồi
d. Sự tự do để làm điều mình muốn.
e. Ít bị áp chế hơn
23. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu ĐÚNG
a. Điều Freud nói về sự phạm tội cũng giống như điều Thánh Kinh tuyên bố
b. Phương cách giải quyết cho một lương tâm phạm tội của Freud đem lại một lương tâm mạnh mẽ hơn.
c. Mowrer mô tả sự phạm tội tương tự của Sứ Đồ Phao Lô mô tả về sự phạm tội trong Rôma 7:7-25;
d. Việc phớt lờ lương tâm dẫn đến sự khỏe mạnh.
e. Dù bạn có cảm thấy mình phạm tội cách chủ quan hay không, khi phạm tội, bạn vẫn phạm tội cách khách quan trước mặt Đức Chúa Trời.
Điều Mowrer mô tả giống như điều Thánh Kinh mô tả về sự phạm tội. Chúng ta không làm được điều mình muốn làm (điều chúng ta vốn biết là điều phải). Và điều chúng ta biết là điều quấy, chúng ta lại làm! Theo kiểu mẫu của Mowrer về sự phạm tội, bản năng vô thức tác động đến con người để người ấy vi phạm luật lương tâm của chính mình. Thánh Kinh nói rằng bản chất tội lỗi của chúng ta tác động đến chúng ta, khiến chúng ta vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời. Mowrer đồng ý với Thánh Kinh rằng không được bỏ qua luật của lương tâm.
Theo kiểu mẫu của Freud, một lương tâm mạnh mẽ sẽ ngăn cản một người khỏe mạnh. Vì vậy, để chữa trị cho một người phạm tội, ông hạn chế quyền lực của lương tâm. Ngay cả khi một người không còn cảm biết mình phạm tội, nếu đang làm điều sai quấy, người đó vẫn cứ đang phạm tội cách khách quan trước mặt Đức Chúa Trời. Người đó đang xử sự vô trách nhiệm đối bản thân và đối với những người khác. Hơn thế nữa, người ấy đã trấn áp chính phương tiện Đức Chúa Trời đã đặt trong người để đem người đến với sự khỏe mạnh và toàn diện. Thực ra, người đó càng trở nên bịnh hoạn hơn.
Kiểu mẫu của Thánh Kinh
Chức năng và các đặc tính tổng quát.
Lương tâm là một phương diện phổ thông của nhân cách. Nó ảnh hưởng trên phương diện luân lý của mỗi người và luật pháp ghi trong tấm lòng của họ (hệ thống giá trị luân lý). Lương tâm khiến người ta đau đớn dằn vặt trong tinh thần khi họ vi phạm các luật lệ trong nội tâm.
Thánh Kinh chú trọng nhiều vào vai trò của lương tâm. Thánh Kinh dạy chúng ta tránh sự dằn vặt của lương tâm, ngoài ra còn tránh làm việc gì xúc phạm đến lương tâm của những người biết về những hành động của chúng ta nữa.
Xem kỹ hình 4.6 và 4.7. Chúng liệt kê các câu trưng dẫn về lương tâm trong Tân ước, được trình bày theo loại và các điểm nhấn mạnh. Từ các câu kinh Thánh trưng dẫn và những điều học được từ Mowrer và Drakeford, tôi triển khai định nghĩa của chúng ta về lương tâm. Mười một câu trưng dẫn đầu tiên (Hình 4.6) có thể được xếp loại như là việc phải làm theo chức năng và các đặc tính tổng quát của lương tâm.
SốTT KT trưng dẫn
1. IICo 2Cr 1:12
2. RoRm 2:15
3. 9:1
4. 13:5
5. ICo1Cr 10:25

6. 10:27
7. 4:4
8. 10:28
9. 10:29
10. 5:11
11. 4:2
Hình 4.6
Các câu kinh Thánh RoRm 2:15 và 9:1 nói về việc lương tâm làm chứng bởi Thánh Linh. ICôrinhtô 10 cũng trình bày về lương tâm như là một chứng nhân. Từ các câu Kinh Thánh đó, chúng ta rút ra kết luận lương tâm có liên hệ với lối cư xử hay là thái độ. Đặc biệt trong ICôrinhtô 10, chúng ta thấy nó liên quan với thái độ ăn thịt cúng thần tượng và việc xúc phạm đến lương tâm đã đưa đến sự dằn vặt. Chúng ta cũng kết luận lương tâm là cơ quan đạo đức bên trong con người và khi con người có thái độ xúc phạm đến lương tâm, người ấy bị dằn vặt hoặc phạm tội (13:5, ITi1Tm 1:5). Có vài câu Kinh Thánh nói đến chức năng phổ thông của lương tâm (RoRm 2:14-15, IICo 2Cr 4:2).
Khái niệm lương tâm trong Thánh Kinh Tân ước bày tỏ rằng nó hoạt động như một cơ quan làm chứng cho luân lý trong con người và gây ra sự dằn vặt khi thái độ của người đó trái ngược với mẫu mực luân lý được ghi trong bản chất của người đó. Nó gây ra sự dằn vặt, nó là nỗi đau đớn và nó cảm biết sự đau đớn.
Lương tâm phải được tẩy sạch nhờ huyết Đấng Christ nếu nó muốn thoát khỏi dục vọng đồi bại và sự phạm tội. Nó phải tốt lành từ trong bản tính và có hiệu quả. Nó phải không bị trách móc và càng thoát khỏi bị dằn vặt.
Lương tâm bị chai lì và ô uế nếu con người cứ tiếp tục chối bỏ đức tin, Chân lý và sự ngay thẳng, thậm chí tiến trình nầy đưa tới chỗ tự hủy hoại.
24. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG.
a. Khi một người xúc phạm đến lương tâm, người ấy từng trải sự tự do.
b. Lương tâm có ảnh hưởng trên thái độ.
c. Khi lương tâm đối chiếu thái độ với hệ thống giá trị luân lý, nó đang làm tròn chức năng xét đoán.
d. Thánh Kinh nói rằng trong một vài trường hợp, bạn hoàn toàn có thể xúc phạm đến lương tâm.
e. Thánh Linh tác động đến lương tâm.
f. Thánh Kinh bảo rằng mỗi người đều có lương tâm.
25. Cuối cùng, giải pháp duy nhất cho một lương tâm phạm tội là:
...
Các tình trạng của lương tâm
Các câu Kinh Thánh liệt kê trong hình 4.7 cho chúng ta thấy ba tình trạng khác nhau của lương tâm. Các từ ngữ mà Kinh Thánh dùng mô tả các tình trạng của lương tâm ấy là: Lương tâm tốt, lương tâm yếu đuối và lương tâm xấu. Tôi muốn bàn luận trước tiên về lương tâm xấu (từ số 26-29, hình 4.7).
Bốn câu Kinh Thánh trưng dẫn nói về lương tâm xấu đó là Tit Tt 1:15, ITi1Tm 4:2; HeDt 9:9 và HeDt 10:22. Khi xem các câu Kinh Thánh nầy, bạn sẽ thấy lương tâm xấu là một lương tâm không thanh sạch, bị ô uế vì tội lỗi. chai lì vì đã trở thánh cứng cỏi khi cứ liên tiếp vi phạm. Các câu trong sách Hêbơrơ nói rằng một lương tâm xấu không được sửa soạn và không xứng đáng để thờ phượng hoặc hầu việc Đức Chúa Trời.
Một trong những câu trưng dẫn mẫu mực là ITi1Tm 4:2. Câu ấy nói rằng "Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt sẽ có mấy kẻ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của kẻ dữ, bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì" (ITi1Tm 4:1-2). Lương tâm nầy như được miêu tả ở đây, được nuôi dưỡng bằng sự dối trá, "các thần lừa dối và đạo lý của quỷ dữ, bởi sự giả hình của giáo sư dối." Điều nầy mô tả một lối sống không vững vàng, hậu quả đem đến là những người đó có "lương tâm đã lì" chữ "lì" được dịch ở đây chính là chữ kausteriazo. Có lẽ chữ nầy bạn nghe khá quen. Từ chữ đó, chúng ta có chữ "Cauterized" (bị đốt bằng sắt nung đỏ để chữa trị vết thương), từ nầy có thể được dùng để chỉ các nốt chai trên bàn tay.
Khi bạn làm việc nặng bằng đôi bàn tay, tay bạn sẽ bị các nốt chai và việc ấy khiến tay bạn bị chai cứng. Tôi nhớ đến công việc đồng áng, khi quăng các kiện hàng hay cỏ khô lên xe. Tay bạn phải bị chai cứng trong mấy ngày đầu. Đã lì hay kausteriazo là từ đã được sử dụng trong thời đại của Kinh Thánh nhằm nói đến việc đóng dấu bằng sắt nung lên người nô lệ. Đốt bằng sắt nung để khiến cho bị chai lì. Thánh Kinh bảo rằng chúng ta có thể xúc phạm đến lương tâm nhiều đến nỗi nó trở nên chai lì hay là trở nên như bị đốt bằng sắt nung. Tôi nghĩ đây là sự giải thích của Thánh Kinh về điều mà các Nhà tâm lý học gọi là "bệnh tinh thần" (psychopath) và "bệnh xã hội" (Sociopath). Trong ngành Tâm Lý Học thế tục, những người nầy có lẽ được gọi là những người vô lương tâm. Họ không cảm thấy mình có tội gì khi làm điều sai quấy. Tôi nghĩ rằng họ có lương tâm, nhưng là một lương tâm chai lì, hay là lương tâm đã bị đốt bằng sắt nung. Nó đã bị cảm giác trước điều phải cũng như điều quấy. Và đây là hình ảnh của một lương tâm xấu.
Bây giờ chúng ta hãy xét đến một thái cực khác. Lương tâm tốt. Chúng ta được dạy qua Kinh Thánh rằng, lương tâm tốt chỉ có thể được trở nên tốt nhờ huyết của Chúa Jesus Christ. Nó phải được tẩy sạch tội lỗi. Điều nầy được trình bày đặc biệt trong bản Kinh Thánh King James Version (HeDt 9:14, 10:2;). Một lương tâm tốt được đề cập đến như là "thanh sạch" (Pure) (ITi1Tm 3:9), "tử tế" trong Cong Cv 23:1, khi Phao Lô tuyên bố: "Trước mặt Đức Chúa Trời, tôi đã ăn ở trọn lương tâm tử tế... " (Good Conscience) và trong 24:16 khi ông nói mình có "một lương tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người". ("A conscience void of offense toward God, and toward man" (KJV).
Và một lương tâm tốt là một lương tâm được tẩy sạch tội nhờ huyết Chúa Jesus Christ. Nó đã được tinh sạch, được tái tạo nhờ Ân điển của Đức Chúa Trời để trình diện trước mặt Ngài và loài người mà không bị một lời trách móc nào.
Một trong những câu lý thú nhất là HeDt 18:18. Đây là chỗ duy nhất dùng chữ "tốt" đặc biệt trong tiếng Hylạp. Nó khác với chữ "tốt" được dùng trong các câu ở sách Công vụ. Đó là từ ngữ có thể nói là "tốt từ trong bản tính". Tôi nghĩ rằng đây cũng là điều Phao Lô nói trong IICo 2Cr 5:17 "Nếu ai ở trong Đấng Christ thì nấy là người dựng nên mới." Bởi Ân điển Đức Chúa Trời ban cho tôi một lương tâm mới.
Nếu có người nào đó bảo tôi "nầy Jack, Anh biết đấy, sự Cứu rỗi, sự được Tái sanh chỉ là một từng trải tâm lý hay là cảm xúc mà thôi". Tôi đáp lời họ ngay: "Đúng, nó là từng trải tâm lý và cảm xúc, và tạ ơn Ngài về điều đó! Nhưng còn hơn thế nữa. Nó còn gồm cả việc Đức Chúa Trời khiến tôi trở nên một người mới. Ngài đã ban cho tôi một lương tâm mới, và điều đó cảm động biết dường nào!".
Hãy nhớ rằng, cách duy nhất để điều nầy xảy ra ấy là nhờ huyết Chúa Jesus Christ. Không được huyết Ngài rửa sạch thì không được tha thứ tội lỗi. Chúng ta có thể cố gắng dẹp bỏ sự phạm tội thực sự, nan đề của lương tâm, nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra khi chúng ta đến với Chúa Jesus.
Một lần nọ, một văn sĩ nói đến lương tâm và tả nó như là một chú lùn tí hon ngồi trên vai một người đàn ông, chỉ thẳng vào mặt người ấy tuyên bố rằng: "Ngươi phạm tội rồi, ngươi làm điều sai quấy". Chú lùn lương tâm cứ quấy rầy người đàn ông nầy hoài, cho đến cuối cùng người nầy quyết định "Đủ lắm rồi! Ta sẽ khử thằng nhóc nầy!" Thế là ông ta đi vào rừng và giết chết chú lùn đó, nhưng chỉ khám phá ra rằng ông ta đang tự giết chính mình. Câu chuyện nầy minh họa một sự thực. Hoặc là bạn lắng nghe lương tâm của mình và đối xử với nó cách thực tế, sử dụng các nguồn cung ứng Đức Chúa Trời đã dành sẵn cho bạn, hoặc là bạn tự giết chết phần tinh thần, tâm linh và đôi khi cả phần thuộc thể của chính bạn nữa.
Khi tôi giao tiếp với những người đang bị thôi thúc đi tự tử, tôi thường nhận thấy sự phạm tội ít ra cũng là một phần của điều đang thúc bách họ. Sự phạm tội không phải luôn luôn là phạm tội thực sự, đôi khi nó là phạm tội do tâm trí, nhưng nó phải được giải quyết triệt để.
Bây giờ, chúng ta cần bàn đến lương tâm yếu đuối. Loại lương tâm đặc biệt nầy được nói đến trong ICôrinhtô 8.
Chúng ta sẽ hiểu đoạn Kinh Thánh nầy tốt hơn nếu biết sơ qua nền văn hóa tại Hội thánh Côrinhtô. Nhiều người tại Côrinhtô bị lôi cuốn vào lối sống của người ngoại, cứ tham gia đều đặn vào việc thờ lạy hình tượng. Trong các ngôi đền thờ của người ngoại đạo, họ thường dâng thịt làm của cúng thần tượng. Sau đó số thịt nầy được bày trên bàn thờ, nó sẽ được sử dụng vào một số việc. Đôi khi một phần được đem cho các thầy tư tế. Đôi khi được hạ xuống và đem bán ngoài chợ, chắc là bán với giá rẻ. Đôi khi, một phần thịt đó được phân phát lại cho người đến cúng tế, người đó sẽ đem về nhà, mở tiệc mời các bạn hữu đến dự bữa.
Khi người Côrinhtô đến với Đấng Christ, họ tiếp nhận một lương tâm mới. Đó là lương tâm tốt, có công hiệu và sống động. Khi họ được mời đến nhà người nào đó và được mời ăn thịt đã cúng cho thần tượng, họ cảm thấy phạm tội vì hệ thống giá trị luân lý của họ, vốn được hình thành từ trước, đã bảo rằng đó là điều sai quấy. Có lẽ chủ nhà là bạn thân của họ không biết đến Chúa, hoặc có lẽ là một người bạn đã tin Chúa và muốn tiết kiệm, nên người ấy đã mua thịt đó ngoài chợ. Khi dọn thịt nầy lên, có lẽ một vài người đã nói: "Thịt nầy ngon quá, anh mua ở đâu vậy?" có lẽ chủ nhà đáp: "Tôi đã mua nó với giá rẻ, mua ở chợ bán của cúng". Hoặc là "nó được để dành lại từ bữa tiệc đó". Chắc chắn hệ thống giá trị luân lý của Cơ Đốc nhân nầy sẽ lên tiếng: "Ăn thịt nầy là làm điều quấy. Thịt nầy đã bị dâng cho thần tượng". Và Phao Lô dạy rằng, khi ăn họ sẽ xúc phạm đến lương tâm, và họ sẽ phạm tội dù rằng thịt nầy tự nó không phải là điều xấu.
Vấn đề ở đây là hệ thống giá trị luân lý nói rằng đó là điều sai quấy và vì thế, ăn thịt đó tức là phạm tội. Chắc có lẽ người Côrinhtô đang thắc mắc: "Tôi xử sự thế nào với người nghĩ rằng ăn thịt cúng thần tượng là điều sai quấy? Tôi có nên dọn thịt đó cho họ không? Chính tôi có nên ăn không? dù là tôi biết thịt nầy chẳng có gì sai trái cả".
Phao Lô nói: "Hãy để sự yêu thương (Agape) hướng dẫn anh em. Đừng ăn thịt nếu việc ấy sẽ xúi họ cũng ăn và xúc phạm đến lương tâm yếu đuối của họ". Khi ăn họ làm tổn thương đến lương tâm của họ. Ông cũng nói rằng gây thương tổn lương tâm của họ tức là phạm tội cùng anh em mình, cũng là phạm tội cùng Đấng Christ nữa.
Vậy, lương tâm yếu đuối là một lương tâm đang hoạt động theo một hệ thống giá trị luân lý không hoàn chỉnh, hay là được chỉ bảo không đúng. Tin rằng thịt cúng cho thần tượng là tội lỗi và ăn vào sẽ phạm tội, không phải vì nó thực sự vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời, nhưng đúng hơn là vì họ tin rằng đó là điều sai quấy. Đây là sự phạm tội do tâm trí hay là ngụy tội, nhưng nó tác hại cũng như là phạm tội thực sự, phạm tội do vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời. Điều nầy đặt cho tôi một trách nhiệm nặng nề trong cương vị một cố vấn hay trong cương vị một con người giao tiếp với một con người có lương tâm yếu đuối. Tôi không được phép khuyến khích người ấy làm điều gì người ấy tin là sai trái, dù cho tôi biết rằng chúng toàn là điều tốt cả. Trong tình yêu thương, tôi sẽ phải tôn trọng người ấy và sẽ không gây thương tổn cho lương tâm của người ấy.
Phương pháp làm việc với một lương tâm yếu đuối là phải dạy cho họ một hệ thống giá trị luân lý thích đáng. Điều nầy giải thoát người đó khỏi sự định tội sai lầm. Lẽ thật sẽ buông tha người ấy. Người ấy sẽ không còn cảm thấy phạm tội do tâm trí hay phạm ngụy tội khi làm điều gì không phải là điều thực sự sai quấy. Dĩ nhiên, lẽ thật chúng ta dạy, phải được ban ra từ Lời Đức Chúa Trời.
Ở đây, có một vài hàm ý cho công tác cố vấn và đời sống Cơ Đốc mà tôi nghĩ là quan trọng. Điều trước hết, chúng ta phải xem xét chính hệ thống giá trị luân lý của chúng ta để xác quyết rằng nó đã được căn cứ trên lẽ thật của Đức Chúa Trời. Điều thứ hai, chúng ta không được phép áp đặt hệ thống giá trị luân lý của chính chúng ta cho một ai khác.
Cuối cùng, chúng ta không được phép khuyến khích một ai (vốn có lương tâm yếu đuối, có một hệ thống giá trị luân lý không hoàn chỉnh) xúc phạm đến lương tâm của họ. Điều nầy gây cho họ phạm tội và chính chúng ta cũng phạm tội nữa. Đúng ra, chúng ta phải kiên nhẫn, dùng tình yêu thương mà dạy cho họ biết về lẽ thật. Dĩ nhiên, yếu tố chỉ đạo là lời giao kết của bạn đối với người khác: "Tôi sẽ luôn giao tiếp theo cách ích lợi nhất cho bạn. Tôi sẽ không xúc phạm đến bạn trong cương vị một con người.
26. Thánh Kinh chia các loại lương tâm khác nhau thành ba loại:
a. Mạnh mẽ, yếu đuối, xấu.
b. Yếu đuối, mạnh mẽ, tốt.
c. Hướng thượng, xấu, yếu đuối.
d. Chai lì, tốt, xấu.
e. Xấu, yếu đuối, tốt.
27. ITi1Tm 4:2 dạy gì cho chúng ta về đều có thể xảy ra cho lương tâm.
...
28. Theo HeDt 9:14, một lương tâm có thể được khiến trở nên tốt nhờ vào
a. Việc lắng nghe tiếng Thánh Linh.
b. Làm điều chi tốt để bù lại cho điều xấu.
c. Bố thí cho người nghèo.
d. Nhờ huyết Đấng Christ.
e. Quyết tâm không làm các "công việc chết" nữa.
29. Trong ẩn dụ về chú lùn tí hon, khi người đàn ông cố giết chú lùn, đã giết luôn chính mình. Ẩn dụ nầy dạy dỗ điều gì?
...
30. Sắp xếp các ví dụ (bên trái) tương xứng với các loại lương tâm (bên phải)
... a. Một người đàn ông bị buộc tội ăn cắp, nhưng chẳng bao lâu sau được chứng minh là vô tội. Trong mọi sự, thái độ của người không thể chê trách được và xứng hợp với lời chứng Cơ Đốc của người ấy.
... b. Một cô gái đã làm những điều sai quấy nhiều lần, đến nỗi cô ta không còn biết xấu hay lo sợ mỗi khi cô ăn cắp hay nói dối.
... c. Một người đàn ông bị gây áp lực để phải gian lận trong công việc, nhưng ông ta không chịu và tin cậy rằng Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ ông.
... d. Một chàng trai cảm thấy phạm tội về chuyện cậu đi học bởi vì bà của cậu bảo cậu phải tránh xa nước.
31. Các câu sau đây có liên quan đến những hàm ý một kiểu mẫu lương tâm theo Kinh Thánh dành cho các tình huống khuyên bảo. Hãy khoanh vòng các mẫu tự đứng trước mỗi câu đúng.
a. Một người phạm tội cần phải được huyết Chúa Jesus tẩy sạch để tha thứ.
b. Một người muốn tự tử chắc có lẽ là người đang phạm tội.
c. Không cần tập trung vào tội phạm do tâm trí, bởi vì phạm tội này không gây tác hại như là phạm tội thật sự.
d. Một cách giúp đỡ cho người phạm tội do tâm trí ấy là khuyến khích họ làm điều nào mà họ tin là điều sai quấy.
e. Một người có thể giữ được một lương tâm tốt mà không cần tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa.
f. Một người có lương tâm yếu đuối có một hệ thống giá trị luân lý không hoàn chỉnh hoặc đã bị chỉ bảo sai lầm.
Mục tiêu của liệu pháp
Mục tiêu trị liệu thứ nhất của người cố vấn là giúp một con người kinh nghiệm được sự thay đổi của lương tâm qua sự xưng tội, bồi thường, và sự tha thứ trong mối tương giao giữa người ấy với Đức Chúa Trời và với con người.
Mục tiêu thứ hai là giúp một con người sống vâng phục, lương tâm đã được tẩy sạch, là lương tâm thực hiện chức năng theo hệ thống giá trị luân lý đã được căn cứ trên lẽ thật.
32. Xếp các kinh nghiệm (bên phải) vào câu Kinh Thánh phù hợp (bên trái).
... a. LeLv 6:4-5
... b. Mat Mt 6:12
... c. Gia Gc 1:25
... d. IGi1Ga 1:9
Các nguyên tắc cơ bản
Có bảy nguyên tắc cơ bản dành cho người cố vấn ghi nhớ lúc giải quyết về vấn đề lương tâm.
1. Bản chất trong chức năng của lương tâm. Mỗi người đều có lương tâm hành động vì sự tốt lành của chính người ấy. Nó làm nhân chứng cho sự hài hoà giữa thái độ và hệ thống giá trị luân lý của người ấy khi nó liên hệ với cá nhân, với người khác và với Đức Chúa Trời.
2. Các sự phân loại lương tâm: Tình trạng của một lương tâm có thể được phân loại kế tiếp nhau bởi các đặc tính của nó: Tốt (bình thường) Yếu đuối (do tâm trí) Hay là Xấu (thuộc về bịnh xã hội Sociopathie)
3. Sự xúc phạm lương tâm: Một lương tâm bị xúc phạm gây ra sự phạm tội và các triệu chứng khác.
4. Việc chữa lành lương tâm: Một lương tâm bị xúc phạm có thể hoàn toàn được kinh nghiệm sự chữa lành trong tâm lý lẫn trong tâm linh, chỉ nhờ vào việc xưng nhận thái độ vô trách nhiệm và bồi thường đúng đối tượng. Đối tượng đó có thể chỉ là một mình Đức Chúa Trời, có thể là con người hoặc có thể là cả Đức Chúa Trời và con người.
5. Các nguyên nhân khác thuộc về bịnh lý. Bởi vì bịnh lý có thể do các yếu tố khác gây ra chớ không phải chỉ do lương tâm bị xúc phạm mà thôi (ví dụ như các yếu tố di truyền, các yếu tố Hoá sinh). Người cố vấn không nên cho rằng một lương tâm bị xúc phạm luôn luôn là nguyên nhân (hay cho là nguyên nhân duy nhất) của bịnh lý.
6. Hệ thống giá trị luân lý: Hệ thống giá trị luân lý là kết quả do chức năng của lý trí. Nó được hình thành trong tiến trình phối hợp các thông tin nhận được từ gia đình, xã hội và các môi trường giáo dục khác (ví dụ như tại Hội Thánh). Nó là tiêu chuẩn cho lương tâm sử dụng để làm chứng cho phẩm cách của một cá nhân.
7. Chức năng của lý trí: Lý trí cũng giống như lương tâm, có thể bị tội lỗi làm tổn hại. Vì vậy, nếu nó phải thực hiện chức năng chính yếu và đầy đủ cho hệ thống giá trị luân lý của một cá nhân, thì điều quan trọng nhất là lý trí phải được thanh tẩy.
33. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG
a. Lý trí của một người phải được thanh tẩy để cho người ấy đánh giá chính xác và tuân theo hệ thống giá trị luân lý của mình.
b. Hệ thống giá trị luân lý mang tính di truyền.
c. Người cố vấn nên đoán định rằng một lương tâm bị xúc phạm là nguyên nhân khiến người cần được góp ý cảm thấy phạm tội.
d. Thời gian có thể chữa lành lương tâm.
e. Khi một người xúc phạm đến lương tâm, chắc có lẽ người ấy phạm tội và chắc cũng có những triệu chứng khác nữa.
f. Chúng ta xếp lương tâm thành các loại: Hoặc loại tốt, yếu đuối, hoặc là loại mạnh mẽ.
g. Một căn bệnh xã hội (Sociopath) không ám ảnh lương tâm.
h. Những quan điểm về lương tâm của giới phi Cơ Đốc là một nền tảng đầy đủ cho công tác cố vấn.
Để giải đáp cho các câu sai trong câu hỏi nghiên cứu số 33, hãy xem lại bảy nguyên tắc giải quyết về vấn đề lương tâm. Mục h khá quan trọng. Nó đòi hỏi người cố vấn phải có quan điểm về lương tâm theo sự dạy dỗ của Kinh Thánh, bởi vì con người là một tạo vật thiêng liêng và các vấn đề liên quan đến lương tâm, là các vấn đề nằm trong lĩnh vực luân lý và lĩnh vực thuộc linh.
34. Liệt kê các nguồn cung ứng ích lợi cho người cố vấn đang chăm sóc một người có nan đề trong lương tâm. Xem Hình 1.8 để ôn lại.
...
Người cố vấn Cơ Đốc bán chuyên nghiệp phải có một kiến thức tạm đủ (dựa vào sự dạy dỗ của Thánh Kinh và ngành Tâm Lý Học) về chức năng của lương tâm, nếu người ấy sẽ giúp một người đang cần sự góp ý, kinh nghiệm được sự chữa lành, đổi mới, trọn vẹn và sự trưởng thành. Quan điểm của người cố vấn về lương tâm sẽ quyết định các nguồn cung ứng, kỹ thuật, và phương pháp mà người đó sử dụng.
Bài Tập Tự Kiểm Tra
CÂU CHỌN LỰA: Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất.
1. Điều nào mô tả một lương tâm yếu đuối?
a. Vô hại
b. Không thanh sạch.
c. Thanh sạch.
d. Yếu đuối.
2. Điều nào mô tả một lương tâm xấu?
a. Không xứng đáng
b. Chai lỳ
c. Yếu đuối
d. Hẹp hòi.
3. Điều nào mô tả môt lương tâm tốt?
a. Không xứng đáng.
b. Không sửa soạn để thờ phượng Chúa.
c. Không cáo trách.
d. Thoát khỏi sự phạm tội.
4. Một lương tâm bớt nhạy bén và bị ô uế nếu một người cứ tiếp tục:
a. Ghen ghét
b. Yêu thương
c. Phạm tội.
d. Nói chuyện.
5. Những yếu tố then chốt trong sự trưởng thành gồm có:
a. Sự tổ chức, sự suy nghĩ, sự thỏa lòng, sự đóng góp.
b. Sự quân bình, sự đóng góp, sự hài hòa và sự thỏa lòng.
c. Tình trạng luân lý, nhận thức, sự hài hòa và các giá trị.
d. Sự đóng góp, làm chứng, sự hài hòa và ngoại cảnh.
6. Hệ thống giá trị luân lý của chúng ta xuất phát từ
a. Sự di truyền, Lời Đức Chúa trời, và bạn bè của chúng ta.
b. Những người dạy dỗ chúng ta, năng lực và kinh nghiệm của chúng ta.
c. Lời Đức Chúa Trời, vị Mục sư và sự di truyền.
d. Chính bản chất của chúng ta, từ những người khác, và từ Lời Đức Chúa Trời.
7. Ngoài việc nhờ quyền năng thanh tẩy của Huyết Đấng Christ, một lương tâm bị xúc phạm còn có thể kinh nghiệm được sự chữa lành trong tâm lý và trong tâm linh nhờ vào việc:
a. Xưng nhận thái độ vô trách nhiệm, và bồi thường cho những ai đã bị thiệt hại.
b. Ức chế lương tâm để nó ít gây dằn vặt hơn.
c. Tập trung vào các phương diện khác quan trọng hơn trong đời sống.
d. Cầu nguyện với Chúa nhiều hơn.
8. Mục tiêu của liệu pháp trong việc khuyên bảo một người có nan đề trong lương tâm bao gồm các kinh nghiệm.
a. Xưng tội, buồn rầu, vâng phục, bồi thường
b. Bồi thường, tự sửa phạt, vâng phục, xưng tội.
c. Tha thứ, vâng phục, bồi thường và xưng tội.
d. Buồn rầu, bồi thường, xưng tội, vui mừng.
9. Hậu quả cuối cùng của việc từ chối không giải quyết sự dằn vặt của lương tâm gây ra trong tâm hồn ấy là sự
a. Dốt nát
b. Tự hủy hoại
c. Hạnh phúc.
d. Tự do.
10. Lương tâm phải được thanh tẩy nhờ
a. Những việc lành.
b. Suy gẫm Kinh Thánh.
c. Huyết Đấng Christ
d. Kỷ luật.
11. Một người có lương tâm yếu đuối sẽ có những nan đề về:
a. Sự phạm tội khách quan
b. Thẩm quyền.
c. Thái độ vô trách nhiệm.
d. Phạm tội do tâm trí.
12. Sự phạm tội thường phổ biến trong những người muốn:
a. Trở thành các nhà tâm lý học.
b. Ngủ nhiều hơn mức bình thường.
c. Tự tử.
d. Làm giàu.
ĐÚNG - SAI. Viết chữ Đ vào khoảng trống trước câu ĐÚNG. Viết chữ S vào khoảng trống trước câu SAI và sửa các câu sai cho đúng.
... 13. Phương diện tâm linh trong bản chất của con người là chiếc ngai của nhân cách con người.
Phương diện tâm linh trong bản chất của con người là chiếc ngai của con người. ...
... 14. Nếu bạn xúc phạm đến lương tâm của bạn, bạn có thể bắt đầu nghĩ rằng bạn không xứng đáng.
Nếu bạn xúc phạm đến lương tâm của bạn, bạn có thể bắt đầu nghĩ rằng
... 15. Phạm tội chủ quan có thể gồm cả phạm tội thực sự, hoặc phạm ngụy tội, trong khi phạm tội cách khách quan là phạm tội do tâm trí.
Phạm tội chủ quan có thể gồm cả phạm tội thực sự hoặc phạm ngụy tội, trong khi phạm tội cách khách quan là ...
... 16. Lương tâm là môt cơ quan đạo đức. Lương tâm là
... 17. Chúng ta có thể xúc phạm lương tâm của chúng ta đến mức nó trở thành chai lì
Chúng ta có thể xúc phạm lương tâm chúng ta đến mức ...
... 18. Mỗi người đều có lương tâm hành động vì sự tốt lành của chính người ấy.
Mỗi người đều có lương tâm hành động vì ...
... 19. Lương tâm có thể được phân ra thành loại bình thường, do tâm trí, hoặc là loại mang tính xã hội.
Lương tâm có thể được phân ra thành loại ...
... 20. Một lương tâm bị xúc phạm tạo ra tánh tốt.
Một lương tâm bị xúc phạm tạo ra tánh ...
... 21. Bịnh lý có thể do các nguồn gốc khác gây ra ngoài nguồn gốc do lương tâm bị xúc phạm.
Bịnh lý có thể do ... gây ra.
... 22. Hệ thống giá trị luân lý được đặt trong lý trí
Hệ thống giá trị luân lý được đặt trong ...
... 23. Lý trí, cũng giống như lương tâm có thể bị tội lỗi làm tổn hại, khi đang thực hiện chức năng của nó.
... 24. Một lương tâm đã bị xúc phạm không thể nào được chữa lành hoàn toàn.
Một lương tâm đã bị xúc phạm ...
...
25-29 CÂU GHÉP CẶP: Mỗi mục dưới đây nói đến các khái niệm về sự phạm tội do Freud và Mowrer chủ trương. Nối kết khái niệm (bên trái) với tên người đề ra khái niệm đó (bên phải). Viết mẫu tự chính xác vào khoảng trống trước mỗi câu
... 25. Siêu ngã ức chế bản ngã.
... 26. Bản năng vô thức ức chế bản ngã.
... 27. Một người sẽ làm điều mình cảm thấy thích.
... 28. Bản ngã ức chế bản năng vô thức.
... 29. Mô tả gần đúng như điều Thánh Kinh mô tả về lương tâm.
Giải Đáp Những Câu Hỏi Của Bài Học
1. c. Sự nhân lành.
2. a. Nó sẽ hạn chế điều xấu.
b. Nó sẽ giữ cho lời nói trong sạch.
c. Nó sẽ khích lệ đức tin.
3. c. Hệ thống giá trị luân lý.
4. b. Các mối tương giao tốt, ban cho, thỏa lòng và sự quân bình.
5. a. b. d. và e. là các câu trả lời đúng.
6. Lương tâm là phần trọng tâm của nhân cách và là điều tuyệt đối cần thiết cho sự trưởng thành.
7. a. Sự sợ hãi, phạm tội và bị mất thiện cảm.
8. d. Tôi không tốt chút nào.
9. 1. Được đặt vào trong các bản chất của chúng ta.
2. Đến từ những người khác, như là bạn bè, người trong gia đình, bạn học và hình thành từ Lời Đức Chúa Trời.
10. Lương tâm nhìn về hệ thống giá trị luân lý và đối chiếu với thái độ. Nếu thái độ không phù hợp với hệ thống luân lý, cá nhân đó sẽ từng trải sự dằn vặt trong tâm hồn hoặc phạm tội.
11. Lương tâm yếu đuối.
12. a. Họ cảm thấy đang bị trừng phạt.
b. Họ cảm thấy xấu hổ và nhục nhã.
c. Ông cảm thấy mình mang gánh quá nặng.
d. Ông không thể nhìn lên và lòng thất kinh.
13. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc.
b. Chúng tôi hết thảy đã trở nên vật ô uế.
c. Vì mọi người đều đã phạm tội thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
d. Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình.
14. Câu trả lời của bạn. Tôi thì nói rằng phạm tội khách quan là sự kiện phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời cũng giống như hậu quả của tội lỗi. Phạm tội chủ quan là một ý thức về việc làm điều sai quấy, và chúng ta có thể nói rằng đó là kinh nghiệm về sự dằn vặt trong tâm hồn, nó có thể xảy ra ngay cả khi một người không phạm tội khách quan trước mặt Đức Chúa Trời.
15. a. K
b. T
c. K
d. K
e. T
f. K
16. a, e, f, g, i và j là các câu đúng. Phần giải nghĩa cho các câu sai như sau:
1. Câu b sai vì: Đó là chức năng của lương tâm (không phải của ý chí) để đối chiếu hành động của một người với hệ thống giá trị luân lý.
2. Câu c sai vì phạm tội khách quan là phạm tội thực sự trước mặt Đức Chúa Trời, vì vậy, không thể là phạm tội do tâm trí hay là phạm ngụy tội.
3. Câu d sai vì một lương tâm lành mạnh là bí quyết để trưởng thành.
4. Câu h sai vì khi người ta phạm tội, họ có thể đánh mất thiện cảm của người khác.
5. Câu k sai vì từng trải phạm tội cách chủ quan có thể gồm cả sự phạm tội khách quan hoặc phạm tội do tâm trí.
17. d. Bản năng vô thức bị trấn áp.
18. d. Trấn áp lương tâm và khuyến khích nghị lực để hưởng lạc thú.
19. a. Bản năng vô thức của người ấy ức chế bản ngã và xúc phạm đến lương tâm người ấy.
20. c. Nhấn mạnh nhu cầu xưng nhận điều sai trái và bồi thường.
21. b. Trở nên bịnh hoạn hơn.
22. c. Các mối tương giao được phục hồi.
23. c. và e là các câu đúng.
24. b, c và f là các câu đúng.
25. Được Huyết Đấng Christ thanh tẩy tội lỗi.
26. e. Xấu, yếu đuối, tốt.
27. Chúng ta có thể xúc phạm lương tâm đến mức nó trở thành chai lì.
28. d. Nhờ Huyết Đấng Christ.
29. Nếu một người không chịu lắng nghe lương tâm và giải quyết cách triệt để với nó, người đó sẽ tự hủy hoại phần tâm linh, tinh thần hoặc thậm chí cả phần thuộc thể của người đó.
30. a. 1. Tốt.
b. 3. Xấu.
c. 1. Tốt
d. 2. Yếu đuối.
31. a. b. và f là các câu đúng.
32. a. 4. Bồi thường
b. 2. Tha thứ.
c. 3. Sống vâng phục.
d. 1. Xưng tội
33. a và e là các câu đúng
34. Các nguồn cung cấp từ thiên thượng: Đức Thánh Linh, Thánh Kinh, sự cầu nguyện, Đấng Christ, kiêng ăn và mối tương quan yêu thương.
Các nguồn cung ứng từ con người chính bản thân, người cần được góp ý, những người có liên quan đáng kể, những chuyên gia, v.v...


TÌNH YÊU AGAPE VÀ CÁC MỤC TIÊU CỦA CÔNG TÁC CỐ VẤN CƠ ĐỐC
Trước khi đề ra mục tiêu, chúng ta cần phải thừa nhận các nan đề cơ bản của nhân loại. Chúng ta đã xác định các vấn đề nầy, để rồi đề ra được các mục tiêu cần thiết cho công tác cố vấn. Trong Bài 4, chúng ta đã bàn đến một lương tâm bị xúc phạm là nan đề cơ bản của nhân loại. Nan đề nầy dẫn đến sự phạm tội, mất thiện cảm và các kiểu suy nghĩ không xứng đáng. Chúng ta cũng biết được lời giải đáp của Đức Chúa Trời cho nan đề lương tâm của nhân loại.
Chúng ta đang cố gắng làm tròn điều gì khi trở thành các người cố vấn? Các người cố vấn cho giới Cơ Đốc cần biết có phải là các mục tiêu của họ khác hẳn các mục tiêu của các cố vấn cho các giới khác hay không. Khi một người nghĩ đến mục tiêu rõ ràng, lâu dài và bao quát cho mọi loại nan đề, người đó mới ý thức được phương hướng.
Người cố vấn Cơ Đốc bán chuyên nghiệp không những chỉ tin quyết rằng lời giải đáp của Đức Chúa Trời có hiệu lực cho nan đề của con người, nhưng còn phải biết cách truyền đạt câu giải đáp đó cho người đang đau khổ. Những người đang đau khổ cần được từng trải sự đổi mới, sự chữa lành và sự toàn vẹn. Họ cần được đạt đến sự trưởng thành, nếu công tác cố vấn có tình yêu chân thành và hiệu quả.
Định nghĩa liệu pháp Agape
Tầm quan trọng của tình yêu thương
Điểm nhấn mạnh trong Kinh Thánh.
Điểm nhấn mạnh trong Tâm Lý Học.
Phân tích các mục tiêu của công tác cố vấn.
Tình yêu thương hay là mối tương giao trị liệu.
Đẳng thức Agape.
Quyền năng chữa lành của Chúa Jesus
Khi hoàn tất bài học nầy, bạn sẽ có thể:
- Diễn tả mục tiêu của công tác cố vấn Cơ Đốc.
- Nhận ra điểm nhấn mạnh vào tình yêu thương của Thánh Kinh và của Tâm Lý Học.
- Bàn luận đến các đặc tính của tình yêu thương hay là dùng các mối tương giao trị liệu.
- Áp dụng các nguyên tắc cố vấn trong mối tương giao của bạn với những người đang đau khổ và có nhu cầu.
1. Nghiên cứu bài học theo thường lệ
2. Đọc phần từ ngữ chìa khóa và xem ý nghĩa trong phần từ vựng
3. Làm bài kiểm tra cá nhân và kiểm tra các câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tập học viên của bạn.
Trung thực
Thuộc về sinh lý
Hiện thực
Bộ ba trị liệu
Thần học
ĐỊNH NGHĨA LIỆU PHÁP AGAPE
Khi bắt đầu học phần nầy, bạn hãy quay lại Bài 1 và Bài 2, ôn lại các định nghĩa về Agape. Trong bài nầy, chúng ta sẽ định nghĩa đầy đủ hơn về các từ liệu pháp và công tác cố vấn. Kết hợp ba định nghĩa này bạn sẽ có được một định nghĩa về liệu pháp Agape.
Tôi thường nghe nhiều người cho rằng tình yêu đồng nghĩa với cảm tình. Một cặp vợ chồng đến và bảo tôi: "Chúng tôi muốn ly dị, chúng tôi chán nhau rồi". Tôi hỏi họ: "Tại sao vậy? điều gì đang xảy ra?". Câu trả lời thường là "Tôi không còn chút cảm tình nào với người bạn đời của tôi nữa!".
Đôi lúc, nhiều người bảo với tôi rằng: Thực ra, yêu là cất bỏ những ngăn trở của họ và làm bất cứ điều gì họ cảm thấy thích thực hiện. Họ nghĩ rằng cách để có tình yêu là không hạn chế chính họ. Còn có nhiều định nghĩa xuyên tạc khác nữa về tình yêu. Hậu quả là người ta rất bối rối, không còn biết thực ra tình yêu là gì nữa.
Chúng ta đang bàn đến một loại tình yêu đặc biệt. Tình yêu Agape (Agape Love). Đó là loại tình yêu nói rằng: "Tôi chọn phương cách tương giao với bạn sao cho bạn sẽ được ích lợi nhiều nhất".
Tình yêu này buộc chúng ta rao truyền đầy đủ ý nghĩa của chân lý. Chúng ta đã bàn đến tình yêu thương (Agape) vốn là tình yêu Thiên thượng dựa trên nghĩa của từ Hylạp. Chúng nói rằng: "Đó là một sự lựa chọn, gắn bó có suy luận với một tinh thần, tôi sẽ không tìm kiếm điều gì ngoài ra việc luôn luôn tìm kiếm điều tốt nhất cho anh ấy hoặc cô ấy!".
Agape, tình yêu thiên thượng, là một nguyên tắc có dụng ý của lý trí, một sự thực hành của ý chí và không đơn thuần là một sự rung cảm. Nó là một khế ước có chủ ý của đời sống.
Hãy cùng tôi xem xét lại vì sao mà tình yêu thương quá quan trọng như vậy. Điều quan trọng là chúng ta xem xét lại điểm khắc ghi điều nầy vào tâm trí của chúng ta. Chúa Jesus đã gồm tóm cả đời sống vào khái niệm tình yêu (Agape), khi Ngài phán trong Mat Mt 22:34-40: "Hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi" và "Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình".
GiGa 13:34-35 cũng ghi lại Lời Chúa Jesus phán rằng: "Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhìn biết các ngươi là môn đồ ta".
Trong ICo1Cr 13:1-13, chúng ta lại thấy khái niệm về tình yêu thiên thượng, Agape, cùng với tầm quan trọng của nó. Câu 31 của đoạn 12 nói rằng: "Tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường tốt lành hơn". Phao Lô đang nói về Ân tứ của Thánh Linh và sự bày tỏ của các ân tứ qua từng chi thể và ông đang dạy rằng: Các chức vụ Thánh Linh ban cho sẽ không có giá trị nào cả nếu động cơ thúc đẩy chúng ta cũng như các mối tương giao giữa chúng ta với Đức Chúa Trời và với những người khác không dựa trên tình yêu thiên thượng. Ông nói rằng, ông chỉ dẫn cho chúng ta con đường tốt lành hơn, rồi ông để lại cho chúng ta bài ca tuyệt diệu về tình yêu thương trong 13:1-13. Kế đó, trong 14:1, chúng ta được dạy bảo phải theo đuổi hay là "Hãy nôn nả tìm kiếm tình yêu thương".
Khi xem tiếp Tân ước, trong GaGl 5:22-23, chúng ta thấy trái đầu tiên của Thánh Linh là tình yêu thương (Agape). Rồi đến Eph Ep 5:21-23, chúng ta đọc lời dạy dỗ của Phao Lô về hôn nhân, ông nói rằng, trong cái nhìn của Đức Chúa Trời, phẩm chất của tình yêu (Agape) là điều cần yếu trong hôn nhân. Cũng như Đấng Christ đã yêu hội thánh, chồng cũng phải yêu vợ mình. Người vợ cũng phải đáp lại bằng cách ấy. Trong IIPhi 2Pr 1:3-11, chúng ta khám phá được ân điển của Thánh Linh, và điều ưu tiên trong các điều ấy là tình yêu thương thiên thượng, Agape. Trong IGiăng 3 và IGiăng 4, chúng ta thấy câu "Đức Chúa Trời là tình yêu thương" xuất hiện hai lần.
Các câu Kinh Thánh trên và nhiều câu khác nữa nhấn mạnh rằng : Chủ đề xuyên suốt của Tân ước là tình yêu, và tình yêu đó là tình yêu thiên thượng, Agape. Đó là điều tóm tắt toàn bộ cuộc sống, và tình yêu nầy được tìm thấy và kinh nghiệm được qua chính Chúa Jesus Christ.
Liệu pháp là một từ ngữ có nghĩa là "quan tâm đến, chú ý đến, hoặc chữa trị cho một người nào đó đang bịnh hoạn hoặc đang đau đớn". Công tác cố vấn theo ý một vài người có nghĩa đơn thuần là "đưa ra một lời khuyên". Tuy nhiên, tôi dùng hai từ nầy, liệu pháp và công tác cố vấn có thể được thay thế nhau trong tập tài liệu nầy, tùy thuộc vào mạch văn.
Vì vậy, khi chúng ta cùng đồng ý về hai từ nầy, Liệu pháp Agape hay là Công tác cố vấn Agape, chúng ta cùng đi đến định nghĩa.
Bạn hiểu đấy, Liệu pháp Agape là "mối tương quan" - Bởi vì bạn không thể có được tình yêu thương mà không có mối tương quan nào cả "giữa hai hay nhiều người, trong đó, người cố vấn sử dụng nguồn cung cấp có sẵn cho mình". Bằng điều đó, chúng tôi muốn nói đến các nguồn từ thiên thượng. Các nguồn cung cấp nầy được sử dụng "để đem lại sự chữa lành, sự đổi mới, sự toàn thiện, và sự trưởng thành đến cho người cần được góp ý". Tôi muốn nhấn mạnh đến các nguồn cung cấp, rồi chúng ta sẽ tiếp tục.
Dĩ nhiên, nguồn tình yêu thiên thượng phát nguồn từ chương trình Đức Chúa Trời ban Con Ngài cho nhân loại. Sự bày tỏ sau cùng của tình yêu thiên thượng chính là lúc Đức Chúa Trời ban Con Ngài. Tình yêu nầy đã tuôn huyết trên Gô Gô Tha. Điều đó không phải chỉ là điều mà Ngài nói, nhưng là điều Ngài đã chủ tâm thực hiện. Ngài đã yêu thương. Đó là điều quan trọng khi chúng ta suy nghĩ đến các ngôn từ chúng ta dùng để truyền đạt về tình yêu.
Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu của Ngài đối với chúng ta theo chiều đứng. Chúng ta phải chia xẻ tình yêu ấy cho người khác theo chiều ngang. Chúng ta yêu thương người, xây dựng những tâm hồn, hàn gắn những đời sống tan vỡ, và sử dụng vật chất. Đôi lúc, trong thế giới hiện tại, phải chăng chúng ta làm lẫn lộn tất cả mọi thứ? Chúng ta yêu mến vật chất và sử dụng con người. Dĩ nhiên, điều đó khiến chúng ta sa vào nhiều nan đề.
Vì vậy, là những người cố vấn Cơ Đốc, chúng ta được giao phó cho công tác yêu thương, chữa trị và giúp đỡ một người đang đau khổ. Yêu thương có nghĩa là săn sóc người chúng ta yêu mến. Chúng ta đã hưởng được tình yêu của Đức Chúa Trời, và chúng ta chia xẻ điều đó với người khác.
Thỉnh thoảng, khi nói đến "việc rao giảng Phúc Âm", tôi thường thích những câu nói "Rao giảng Phúc Âm, thực ra chính là việc một người hành khất báo cho một hành khất khác biết nơi đâu có bánh". Theo tôi, đó là định nghĩa tốt đẹp cho công tác cố vấn Cơ Đốc. Đó chỉ là việc một "kẻ hành khất" báo cho một "hành khất" khác biết nơi nào có thể tìm được bánh. Tôi đã hưởng được tình yêu. Có thể bạn cũng hưởng được tình yêu ấy, nhưng tôi chia sẻ tình yêu nhiều hơn là chỉ nói "Tôi yêu thương anh em". Tôi chia xẻ tình yêu bằng những hành động của mình.
1. Xem xét điểm khác nhau giữa cảm tình và tình yêu thương. Viết Y vào khoảng trống trước câu diễn tả về tình yêu thương. Viết C trước câu diễn tả về cảm tình.
... a. Tự lập
... b. Là một hành động hướng về người khác.
... c. Là niềm tin quyết
... d. Là một cảm xúc.
2. Xem hình 2. 2 có tiêu đề định nghĩa tình yêu Agape. Bạn hãy ghi ra bảy điều rõ ràng được kể trong tình yêu Agape hay là tình yêu thiên thượng.
3. Đọc từng đoạn Kinh Thánh sau đây và tìm ra bí quyết để sống theo nếp sống yêu thương Agape, theo như đoạn Kinh Thánh bày tỏ. Các câu trả lời của bạn sẽ khác nhau.
a. Mat Mt 22:34-40 ...
b. GiGa 13:34-35 ...
c. ICo1Cr 13:13 ...
d. 14:1 ...
e. GaGl 5:22-23 ...
f. Eph Ep 5:21-23 ...
g. IGi1Ga 4:15-21 ...
4. Hãy viết một định nghĩa đầy đủ về liệu pháp Agape bằng cách kết hợp các định nghĩa về Agape, liệu pháp và công tác cố vấn
...
TẦM QUAN TRỌNG CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG
Điểm nhấn mạnh trong Kinh Thánh.
Kinh Thánh định nghĩa tình yêu thương Agape là phẩm chất căn bản trong đời sống liên quan đến các mối tương giao và nếp sống (Mat Mt 22:34-40; GiGa 13:34-35; ICo1Cr 12:1-31 và IGi1Ga 3:1-4:21). Khái niệm nầy cũng có nhiều nguyên tắc thực tiễn và thích ứng cho mọi phương diện của chức vụ cố vấn. Các phương diện của chức vụ cố vấn đó là động cơ thúc đẩy mối liên hệ theo chiều đứng và chiều ngang, các mối tương giao, các nguồn cung cấp, luân lý học, sự truyền đạt, và các mục tiêu.
5. Xem hình 5.1. Hãy điền vào các khoảng trống dựa theo đoạn Kinh Thánh để hoàn tất câu nói "Công tác cố vấn Agape gồm có... "
CÁC PHƯƠNG DIỆN THEN CHỐT ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT CHỨC VỤ CỐ VẤN HIỆU QUẢ
Bạn đã thực hiện câu hỏi nghiên cứu này như thế nào? Tôi mong bạn cảm nhận nhiều hơn nữa về tầm quan trọng của tình yêu thiên thượng thể hiện qua các câu Kinh Thánh trên.
Điểm nhấn mạnh trong tâm lý
1. Liệu pháp Agape bao gồm toàn bộ thân vị, mọi mối tương giao và toàn bộ đời sống người đó.
Tôi chứng minh để chúng ta tin Thánh Kinh nhấn mạnh rằng chúng ta đang ban phát tình yêu. Bây giờ, tôi muốn nói đến hiệu lực tâm lý của tình yêu này. Hiệu lực tâm lý của Liệu Pháp Agape được diễn tả qua sự nhấn mạnh của nó trên toàn bộ thân vị. Theo Tâm lý học, có một điểm nhấn mạnh trên toàn bộ thân vị và mọi mối tương giao của người đó. Có một mối liên quan về toàn bộ lối sống, và sự sung mãn trong tâm sinh lý. Theo Tâm lý học, điểm nhấn mạnh nầy được gọi là tính toàn phần (holistic). Nó phải xem xét con người một cách toàn diện. Tình yêu Agape có điểm nhấn mạnh tương tự, có thể chứng minh qua Kinh Thánh. Trong Mat Mt 22:37, 39 chúng ta thấy "Ngươi hãy hết lòng yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi" và "Hãy yêu kẻ lân cận như mình". Giăng nêu cho chúng ta cách ứng dụng lẽ thật nầy trong IGi1Ga 3:18 và ông nói rằng nếu chúng ta yêu mến bằng lời nói chứ không bằng hành vi và lẽ thật, thì chúng ta không yêu mến chi cả. Yêu thương là một lối sống hòa mình với những người khác. Điều nầy tin cậy vào giá trị tâm lý của tình yêu thiên thượng, bởi vì nó đòi hỏi một kinh nghiệm và sự bày tỏ của toàn bộ thân vị.
6. Theo Mat Mt 22:34-40, người cố vấn phải thi hành chức vụ bằng toàn bộ thân vị của mình vì người ấy phải yêu thương bằng
...
7. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu ĐÚNG.
a. Phương pháp tâm lý có nghĩa là chúng ta nhấn mạnh đến toàn bộ thân vị và mọi mối tương giao của người ấy.
b. Liệu pháp Agape nhắm vào phương diện tâm linh trước tiên, bởi vì khi phương diện nầy được chữa lành, tự nhiên mọi phương diện kia đều được chữa lành.
c. Yêu thương là một lối sống hòa mình với những người khác.
2. Tình yêu thương biến đổi đời sống.
Điều thứ nhì, hiệu lực tâm lý của tình yêu Agape thể hiện qua việc tình yêu đó biến đổi đời sống. Hãy dành ít thời gian suy nghĩ về một vài bài học trước. Trong một bài, chúng ta nói về bộ ba trị liệu.
Phẩm chất của sự chân thật, sự nhiệt tình vô tư, và sự cảm thông chính xác. Chúng tôi đã nói rằng chân thật nghĩa là rõ ràng và chân tình trong cách chúng ta giao tiếp. Sự nhiệt tình vô tư bao gồm việc chấp nhận ai đó mà không đặt ra một điều kiện gì trong mối tương quan ấy, trong khi sự cảm thông chính xác bao gồm việc thu phục cảm tình của một người nào đó và biết được họ đang nghĩ gì và đang cảm biết điều gì. Chúng ta đã nói rằng điều đó được thể hiện trong việc nghiên cứu về tâm lý, để khi ba phẩm chất đó hiện diện trong mối tương quan của công tác cố vấn, sẽ đem lại sự chữa lành, và một người sẽ được giúp đỡ. Hơn nữa, cần lưu ý rằng tình yêu Agape bao gồm cả ba phẩm chất đó của liệu pháp và nhiều điều nữa.
Tình yêu Agape tự thể hiện qua ân điển hay là lòng tốt mà không đáng để được hưởng. Điều nầy bao gồm sự chấp nhận vô điều kiện. Tình yêu Agape cũng tự thể hiện qua sự nhân từ để cảm thông người khác đang đau khổ. Do định nghĩa, điều nầy bao gồm sự cảm thông chính xác. Cuối cùng tình yêu Agape cũng sử dụng lẽ thật. Đặc biệt, nó nhắm vào các lẽ thật chủ quan, gồm có các tình trạng thực tế, rõ ràng hoặc là ngay thật, do đó, là sự chân thật.Tình yêu thiên thượng Agape bao trùm cả bộ ba phẩm chất nầy của liệu pháp. Loại tình yêu nầy mang lại sự chữa lành về tâm lý và sự toàn vẹn. Điều nầy thể hiện hiệu lực tâm lý của công tác cố vấn Agape.
8. Sắp xếp từng phần của bộ ba trong liệu pháp (bên phải) cho hợp với định nghĩa hoặc sự thể hiện của nó (bên trái)
... a. Lòng nhân từ
... b. Lẽ thật
... c. Ân điển
... d. Chấp nhận mối tương quan với ai đó mà không đặt ra điều kiện gì.
... e. Thu phục cảm tình của ai đó và biết được họ đang nghĩ gì và đang cảm biết điều gì.
... f. Lòng tốt mà không đáng để được hưởng.
... g. Chân tình trong cách chúng ta giao tiếp.
9. Đọc thật cẩn thận ICôrinhtô 13:4-7; và hoàn tất các câu sau:
a. Hành động yêu thương gồm có ...
b. Hành động yêu thương không có ...
Suy nghĩ cẩn thận về câu bạn trả lời câu hỏi số 9. Qua phân đoạn nầy, rõ ràng là tình yêu thiên thượng hay tình yêu Agape tạo ra những hành động khác biệt lớn lao trong bản thể của con người. Phân đoạn nầy thể hiện sự khác biệt lớn lao giữa hành động có tình yêu thiên thượng và không có tình yêu thiên thượng. Tình yêu thiên thượng biến đổi đời sống! Hãy thử áp dụng các nguyên tắc nầy vào mọi mối tương quan, chúng sẽ biến đổi nếp sống của bạn.
3. Tình yêu Agape tuy rằng bắt nguồn từ thiên thượng, cũng đặt trách nhiệm trên những con người có liên quan, có nghĩa là cả người cố vấn lẫn người cần được góp ý.
Điều thứ ba, tình yêu Agape thể hiện hiệu lực tâm lý bởi vì nó trao trách nhiệm cho cả người cố vấn lẫn người cần được góp ý. Đó là con người yêu mến con người. Về mặt tâm lý, điều nầy nhắm vào trách nhiệm và rất lành mạnh.
Liệu pháp thực tế của William Glasser là một kiểu của người đời chữa trị bằng tâm lý, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của trách nhiệm. Ông xem cội rễ của các nan đề trong cảm xúc của chúng ta như là thái độ vô trách nhiệm. Ông nói rằng khi chúng ta nhận trách nhiệm đối với thái độ với nếp sống của chính chúng ta, điều đó đem đến sự khỏe mạnh. Tình yêu Agape buộc mỗi người phải có trách nhiệm đối với thái độ của chính bản thân.
10. Xem xét các câu sau theo điều bạn biết về tiên đề cơ bản của Liệu pháp Hiện thực. Hãy viết G vào khoảng trống trước câu nói đúng theo ý Glasser. Viết A nếu câu đó đúng với các nguyên tắc của liệu pháp Agape. Hãy lưu ý là dữ kiện có thể đúng cho cả hai nhóm nguyên tắc.
... a. Nhận trách nhiệm đối với thái độ bản thân sẽ cải thiện sức khỏe.
... b. Mọi người đòi hỏi phải có trách nhiệm đối với họ bởi vì tôi có trách nhiệm yêu thương họ.
... c. Không có một điều nào là bịnh tâm thần cả, nhưng chỉ có nhiều mức độ khác nhau về thái độ vô trách nhiệm.
... d. Trong mối tương quan, mỗi người chịu trách nhiệm thể hiện tình yêu thương đối với người khác.
... e. Trong mối tương quan, mỗi người phải tương quan đối với Đức Chúa Trời.
Khi làm xong câu hỏi nầy, bạn có lưu ý đến những điểm tương đồng và dị biệt khi so sánh lý thuyết của Glasser và của Liệu pháp Agape không? Cả hai lý thuyết đều nhấn mạnh đến trách nhiệm. Tuy nhiên, Liệu pháp Agape nhấn mạnh đến trách nhiệm và lòng yêu thương. Dĩ nhiên, đây là tình yêu thiên thượng chỉ đến từ Đức Chúa Trời.
11. Sắp xếp các nguồn cung ứng mà một người có trách nhiệm sử dụng (bên trái) thích hợp với phân đoạn Thánh Kinh bảo chúng ta sử dụng nguồn đó (bên phải). Có thể có nhiều câu trả lời cho một nguồn cung ứng.
... a. Trung tín
... b. Sự tin kính
... c. Hiền lành
... d. Trông cậy
... e. Vui mừng
... f. Nhân từ
... g. Học thức, hiểu biết
... h. Lòng yêu thương
... i. Nhịn nhục
... j. Bình an
... k. Quyền phép
... l. Giàu có
... m. Tiết độ
... n. Mềm mại
Hãy ôn lại câu hỏi nghiên cứu số 11 và tự hỏi bạn đã sử dụng các nguồn nầy chưa? Bạn phải có trách nhiệm thực hành! Bạn có trung tín không? Bạn có đang sống trong sự tin kính và hiền lành không? Bạn có thái độ trông cậy hay là cứ luôn nhìn vào mặt tiêu cực của mọi vấn đề. Đức Chúa Trời truyền bạn phải dùng các nguồn cung ứng Ngài đã sắm sẵn cho chúng ta!
4. Tình yêu Agape là sự thể hiện căn bản của sự trưởng thành.
Cuối cùng, phương pháp Agape có hiệu lực tâm lý qua việc tình yêu Agape là sự thể hiện căn bản của sự trưởng thành. Trong Bài 4, (Hình 4), từ định nghĩa, chúng ta có năm phương diện của sự trưởng thành. Các phương diện nầy hoàn toàn công nhận giá trị tâm lý của tình yêu thiên thượng.
Phương diện thứ nhất, Sự trưởng thành là một tiến trình khám phá ý nghĩa cuộc sống. Lòng yêu thương ấy là ý nghĩa cuộc sống. Khi chúng ta tương giao với Chúa và với con người bằng loại tình yêu nầy, chúng ta tìm được ý nghĩa cuộc sống.
Phương diện thứ hai, là Sự quân bình. Tình yêu thiên thượng đòi hỏi sự quân bình giữa các phương diện tâm lý, xã hội, sinh lý và tâm linh trong nếp sống của tôi. Nếu tôi mất quân bình, tôi không còn liên hệ với chính tôi bằng tình yêu trưởng thành nữa. Quân bình trong cuộc sống có nghĩa là tôi nhấn mạnh cách thích hợp đối với mỗi phương diện trong cuộc sống của tôi. Sự thích hợp nầy được Lời Đức Chúa Trời quyết định.
Sự trưởng thành là sự thỏa mãn nhu cầu của đời sống. Nếu nhu cầu sâu kín nhất của nhân loại là yêu và được yêu, thì tình yêu Agape thỏa mãn nhu cầu ấy ở mức độ sâu sắc nhất.
Sự trưởng thành cũng đưa đến một đời sống hòa hợp trong mối tương giao với Đức Chúa Trời theo chiều dọc và tương giao với nhau theo chiều ngang. Điều nầy làm sao có thể thực hiện tốt hơn lòng yêu thương Agape.
Cuối cùng, sự trưởng thành khiến chúng ta góp phần vào đời sống người khác. Tôi xin hỏi bạn: "Có sự đóng góp nào lớn hơn là thể hiện lòng yêu thương? Có cách nào tốt hơn là chính cách thực hiện điều mình cho là quí giá?"
Vì vậy, với mọi lý do trên, chúng ta tin rằng phương pháp Agape là một phương pháp có hiệu lực tâm lý cho công tác cố vấn hay là cho liệu pháp.
12. Ôn lại định nghĩa về sự trưởng thành ở bài 4 (Hình 4.1) và xem phần bàn luận. Hãy viết ra năm kết luận cho câu "Nếu tôi trưởng thành, tôi sẽ... "
13. Hãy xem xét các nguyên nhân tại sao chúng ta tin Liệu pháp Agape có hiệu lực tâm lý. Hãy viết N trước câu nào là một trong bốn nguyên nhân nầy. Viết K nếu câu đó không đúng là nguyên nhân.
... a. Liệu pháp Agape bao gồm toàn bộ con người, các mối tương quan và toàn bộ cuộc sống của người ấy.
... b. Tình yêu Agape biến đổi đời sống.
... c. Tình yêu Agape là tình yêu thiên thượng.
... d. Tình yêu Agape bắt nguồn từ thiên thượng, tuy vậy, nó đặt trách nhiệm trên những con người có liên quan.
... e. Liệu pháp Agape phải dùng kèm với các kiểu cố vấn của người đời.
... f. Tình yêu Agape là sự thể hiện cơ bản của sự trưởng thành.
PHÂN TÍCH CÁC MỤC TIÊU CỦA CÔNG TÁC CỐ VẤN
Chúng ta đã định nghĩa công tác cố vấn Agape là "một mối tương quan yêu thương theo chiều đứng lẫn chiều ngang. Đó là mối tương quan giữa hai người hoặc hơn hai người. Nó luôn luôn thuộc về ba phía, bao gồm cả phía Đức Chúa Trời. Trong mối tương quan nầy, người cố vấn tìm cách sử dụng các nguồn cung ứng từ thiên thượng và từ phía con người để đem lại sự đổi mới, sự chữa lành, sự toàn vẹn và sự trưởng thành cho người cần được góp ý". (Hình 2.1)
Hãy lưu ý trong định nghĩa, chúng ta nói rằng công tác cố vấn "đem lại sự đổi mới, sự chữa lành, sự toàn vẹn và sự trưởng thành". Nhưng nói như vậy có nghĩa gì? Hãy xem kỹ từng định nghĩa sau đây:
1. Sự đổi mới: Mang nguồn gốc Hylạp từ chữ ana nghĩa là "lui trở lại" hoặc là "lần nữa" và kainow nghĩa là "khác thường". Vì vậy, nó có nghĩa là "tạo ra một tâm linh mới hay là khôi phục lại hiện trạng trước đây".
Từ ngữ được đổi mới, được dùng trong IICo 2Cr 4:16 "Dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn". Công tác nầy chính là công tác của Thánh Linh, công tác của ân điển Đức Chúa Trời. Khi cố vấn, chúng ta đem người cần được góp ý đến chỗ nội tâm họ được đổi mới.
Từ những điểm bàn luận trước đây, chúng ta biết sự đổi mới phải thực hiện không những chỉ trong tâm linh con người mà còn trong cả tâm lý và thể xác nữa. Hãy nhớ lại trong Thi Tv 32:1-11, tác giả tả lại sự thất bại và nỗi lo sợ vì không có sự đổi mới ở đâu? Ông nói "Khi tôi nín lặng, các xương cốt tôi tiêu tàn, và tôi rên siết trọn ngày". Ông tả lại tình trạng của mình như là bị tay Chúa "đè nặng trên tôi". Ông đã phạm tội và chắc đã ngã lòng. Chừng nào mà ông xưng tội mình, thừa nhận thái độ vô trách nhiệm của mình, chừng nào mà ông bắt đầu suy nghĩ cho đúng và nhận ra mình không thể trốn khỏi mắt của Đấng Tòan Tri. Khi đối diện với hiện thực, thì ông khám phá ra sự đổi mới. Thi Thiên nầy đưa ra cho chúng ta một quan niệm: "Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình".
14. Công tác đổi mới đời sống một người được thực hiện bởi ...
Trong 32:1-11, chúng ta thấy để được đổi mới, một người đang đau khổ cần phải trải qua các bước: 1. Xưng tội mình 2. Thừa nhận thái độ vô trách nhiệm. 3. Có suy nghĩ đúng. 4. Nhận biết con người không thể trốn khỏi Đức Chúa Trời.
15. Hãy đọc IICo 2Cr 4:16-18. Đoạn nầy nêu lên hình ảnh một người đang cần được đổi mới. Hãy tìm hai điều Phao Lô yêu cầu người bị ngã lòng không được làm.
...
16. Hãy gọi tên ba phần của con người cần được đổi mới
...
2. Sự chữa lành: Phát nguồn từ chữ Hylạp therepeia nghĩa là "Công hiệu của sự chăm sóc, lưu tâm hay của cách chữa trị đối với một căn bệnh, hoặc là sự khỏe mạnh"
Chúng ta hãy xem xét chữ chữa lành theo mạch văn trong định nghĩa về công tác cố vấn. Chúng ta cố gắng đem lại sự chữa lành cho người cần được góp ý. Chúng ta có chữ liệu pháp (therapy) bắt nguồn từ chữ Hylạp trên đây. Trong tiếng Hylạp, chữ chữa lành phải là việc thực hiện có hiệu quả để săn sóc chúng ta bằng cách chữa trị cho, hoặc là khôi phục sức khỏe. Đó là công hiệu của Liệu pháp. Đây là công tác Chúa Jesus đã thực hiện. Trong Mat Mt 9:35, chúng ta thấy Ngài chữa lành mọi thứ bệnh tật. Ngài quan tâm đến mọi mặt của con người. Ngài quan tâm đến tâm linh, tâm lý và thuộc thể con người. Ngài làm những công việc nhằm đem lại sự chữa lành cho con người. Ngài đã chữa lành.
17. Hãy đọc Mat Mt 9:35-10:1. Trong đoạn nầy, Chúa Jesus đã chữa lành những loại bệnh tật nào?
...
3. Sự Toàn vẹn: Ra từ chữ Hylạp holokeros nghĩa là "hoàn toàn trọn vẹn" và cũng từ chữ hugies nghĩa là "người bịnh được chữa lành hay là phục hồi sức khỏe hay trạng thái bình thường". Nó cũng có nghĩa là "một bản tánh trọn vẹn hay là sự phát triển của một người".
Chữ Toàn vẹn cũng là chữ đáng chú ý trong mạch văn của công tác cố vấn. Nó nói đến sự trọn vẹn hay sự hoàn toàn. Được đem lại sự toàn vẹn là khái niệm của sự phục hồi. ITe1Tx 5:23 nói rằng: "Nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được". Là người trong gia đình của Chúa, chúng ta có quan niệm nầy. Chúng ta có thể từng trải được sự toàn vẹn trong một thế giới suy đồi. Mục tiêu của công tác cố vấn là chúng ta phải đem một người đến một mức độ toàn vẹn hơn.
Hãy lưu ý phân đoạn nầy đã định nghĩa từng phần của con người chúng ta: Thân thể, linh hồn và tâm thần. Chúa muốn chúng ta phải trọn vẹn. Ngài muốn chúng ta được chữa lành. Ngài muốn chúng ta được phục hồi.
Trong Mat Mt 12:13, Chúa Jesus chữa lành người teo tay. Điều nầy có nghĩa là bàn tay người đó được phục hồi như người khác và chữ bình thường là chữ chúng ta đang nhắm vào, được chữa lành, được khôi phục, được phục hồi sự trọn vẹn, được phục hồi sức khỏe.
18. Theo ITe1Tx 5:23, ba điều nào cần được giữ vẹn?
...
4. Sự trưởng thành ra từ chữ Hylạp telios nghĩa là "tăng trưởng hoàn toàn hay là trọn vẹn". Nó cũng có nghĩa là "đạt được tình trạng mong ước"
Sự trưởng thành có tầm quan trọng đặc biệt vì tính bao quát của nó. Các chữ kia trùng lặp về ý nghĩa, nhưng sự trưởng thành bao gồm luôn các chữ kia. Trưởng thành là một tiến trình đến từ sự đổi mới, sự chữa lành và sự toàn vẹn. Định nghĩa sự trưởng thành do Gordon Allport (Hình 4.1). Chúng ta đang nói về từ trong Kinh Thánh thường dịch là "trọn vẹn". Nó là chữ mang ý nghĩa "tăng trưởng hoàn toàn hay là trọn vẹn". Nó phải phát huy đầy đủ tiềm năng của một con người.
Chúng ta hãy xem Mat Mt 5:43-48. Chúng ta thường gọi phần nầy là "Bài giảng trên núi". Chúa Jesus dạy dỗ, đưa ra một loạt các điểm đối chiếu với nhau. Ngài so sánh điều mọi người đã được dạy dỗ về luật pháp với điều Ngài đang phán: "Các ngươi có nghe", hay là "Có lời phán rằng, song ta phán cùng các ngươi... "
Chúng ta thấy câu 43 nói rằng: "Các ngươi có nghe lời phán rằng: "Hãy yêu người lân cận và ghét kẻ thù nghịch mình, song ta nói cùng các ngươi: Hãy yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi". Rồi Ngài đưa ra một ví dụ minh họa ý nghĩa điều đó.
Chúa Jesus nói về cách Đức Chúa Trời yêu thương mọi người. Ngài phán: "Cha các ngươi ở trên trời... khiến mặt trời mọc lên soi cho kẻ dữ cùng người công bình, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác" (Câu 45). Ngài chỉ ra rằng, nếu chỉ yêu kẻ yêu mình thì không đáng được thưởng. Bạn hiểu đấy, đây là điều rất dễ làm. Điều Ngài phán đó là chúng ta phải yêu giống như Cha chúng ta đã yêu. Ngài yêu kẻ công bình cũng như yêu kẻ gian ác.
Câu 48 tóm tắt sự dạy dỗ của Ngài: "Hãy nên trọn vẹn". Trọn vẹn liên quan đến sự hoàn chỉnh và tiềm năng. Ngài đang phán: "Các ngươi phải trưởng thành trong tình yêu. Hãy sống đúng theo tiềm năng của các ngươi. Hãy yêu thương như Cha các ngươi". Ngài không nói về sự trọn vẹn của đạo đức. Đúng hơn, Ngài đang nói về việc sống đúng với khả năng của mỗi người để chứng tỏ và thể hiện tình yêu bạn hữu và kẻ thù. Ngài đang nói về khả năng Chúa ban cho con cái của Ngài để sống theo nếp sống yêu thương. "Hãy trọn vẹn trong tình yêu". Hãy để tình yêu nở rộ lên. Hãy để tình yêu của Ngài làm phỉ phu tiềm năng trong bạn và qua đời sống của bạn.
Ngay đến chữ con (câu 45) ở đây có ý nói lên sự thừa hưởng, khi nhìn con người ta thấy được đôi điều về Cha. Con cái có một vài điểm nào đó giống Cha đó là điều bắt buộc.
Ở chỗ khác, Chúa Jesus bảo chúng ta "Đời sống các ngươi hãy làm trọn các công việc lành hầu cho người ta thấy chúng và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời". Khái niệm sự trưởng thành trong Kinh Thánh là "Sống đúng với tiềm năng đầy trọn của anh em". Trong hình 4.1, chúng ta có khái niệm sự trưởng thành theo ngôn từ của tâm lý học. Ở đó chúng ta giải thích sự trưởng thành là "một tiến trình nhận thức ý nghĩa cuộc sống". Ý nghĩa cuộc sống là gì? Tôi nghĩ ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa tối hậu của cuộc sống là yêu và được yêu bằng tình yêu Agape. Điều nầy chỉ có thể nhận thức được cách đầy trọn khi một người nếm biết tình yêu của Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ.
Chủ đề chính của Tân ước là gì? Hãy cùng tôi suy nghĩ qua cả Tân ước. Trong các sách Phúc âm, Chúa Jesus định nghĩa toàn bộ đời sống bao gồm việc yêu mến Chúa hết lòng và yêu kẻ lân cận như mình (Mat Mt 22:34-40). Tình yêu nầy là tình yêu Agape. Ngài nói với môn đồ rằng điều đang biệt riêng họ và khiến thế gian nhìn biết họ là môn đồ của Ngài ấy là tình yêu thương của họ (GiGa 13:34-35)
Chúng ta hãy quay sang bài ca tình yêu tuyệt diệu trong ICo1Cr 13:1-13. Trong ba câu đầu, bạn thấy dù bạn có nói được mọi thứ tiếng có mọi ân tứ, làm nhiều chức vụ chăm sóc khác nhau, hiến chính thân mình, nhưng không có tình yêu Agape nầy, điều bạn đã làm không có giá trị gì cả.
Bạn cũng hãy xem các phân đoạn sau, xem chúng nói gì về lòng yêu thương. Theo GaGl 5:22-23, lòng yêu thương là trái đầu tiên của Thánh Linh. Trong Eph Ep 5:22-23, tình yêu là phẩm chất then chốt trong hôn nhân. Trong IIPhi 2Pr 1:3-11, lòng yêu thương là đức hạnh cao nhất của các đức hạnh Cơ Đốc. Trong IGi1Ga 4:8 và 16 Đức Chúa Trời là tình yêu thương. Chủ đề chính của Tân Ước là tình yêu, yêu và được yêu để khám phá ý nghĩa của cuộc sống. Điều nầy dường như quá đơn giản, nhưng tôi nghĩ không phải vậy. Tôi tin Thánh Kinh dạy rằng chức vụ cố vấn, cũng như bất cứ chức vụ nào trong thân Đấng Christ, là chức vụ dạy dỗ về lòng yêu thương. Mục tiêu của công tác lãnh đạo và cố vấn là phải dạy dỗ và làm gương thế nào để con người yêu mến nhau tốt hơn và được yêu trong ý nghĩa tình yêu Agape.
Sự trưởng thành cũng khiến con người có thể đóng góp những phần đầy ý nghĩa cho cuộc sống của người khác và cho nước Đức Chúa Trời. Có sự góp phần nào lớn hơn là dẫn đưa một người đến nếm biết tình yêu của Đức Chúa Trời, là điều khiến họ có thể chia xẻ tình yêu ấy cho người khác?.
Đây là lý do tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của khái niệm yêu thương và các nguyên tắc sống yêu thương. Chúng ta sẽ bàn đến nó trong bài 6. Biết cách sống theo nếp sống được chỉ đạo bởi tình yêu Agape (theo như Thánh Kinh và Thánh Linh bày tỏ cho chúng ta, và chính Chúa Jesus đã thể hiện và làm gương cho chúng ta), đó chính là câu giải đáp của Đức Chúa Trời cho nan đề của con người.
19. Trong Mat Mt 5:48, Chúa Jesus nhấn mạnh những kẻ theo Ngài phải thế nào?
...
Bây giờ, bạn có hiểu được mối liên hệ giữa ý nghĩa của sự đổi mới, sự chữa lành, sự toàn vẹn và sự trưởng thành không? Rõ ràng là chúng liên hệ với nhau và rất giống nhau. Và công tác cố vấn tìm cách đem lại sự trọn vẹn mà mỗi điều trên mô tả.
20. Sắp xếp từ ngữ bên phải theo định nghĩa của nó ở bên trái.
a. Tâm linh mới hay là khôi phục lại hiện trạng trước đây
b. Phát triển hoàn toàn hay trọn vẹn.
c. Mục tiêu của công tác cố vấn.
d. Bản tánh trọn vẹn hay là sự phát triển của một người.
e. Khôi phục lại tình trạng trong sạch hay tình trạng nguyên vẹn lúc ban đầu
f. Đạt được tình trạng mong ước
21. Liệt kê bốn mục tiêu của liệu pháp Agape vào vở của bạn và giải thích vắn tắt mỗi mục tiêu ấy bằng lời của bạn.
TÌNH YÊU AGAPE HAY LÀ MỐI TƯƠNG QUAN TRỊ LIỆU
Đẳng thức Agape
Trước tiên, chúng ta hãy đối chiếu ý nghĩa mối tương quan Agape và mối tương giao trị liệu. Chúng ta sẽ nhận thấy đó là các tên gọi khác nhau cơ bản cho cùng một vấn đề. Chúng ta đã định nghĩa trị liệu là phải dùng để chữa lành, và chúng ta biết rằng trong các mối tương quan, tình yêu Agape hay là tình yêu thiên thượng đem lại sự chữa lành. Tuy nhiên hãy nghiên cứu cẩn thận Hình 5.2 và xem sự khác biệt chủ yếu đó ra sao vì Agape là ngôn từ thần học, trong khi trị liệu là ngôn từ tâm lý học.
Quyền năng chữa lành của Chúa Jesus.
Mat Mt 9:35-38
Chúa Jesus đã nêu gương như đẳng thức Agape trong hình 5.2. Ngài thể hiện đức nhân ái, ân điển, và lẽ thật khi Ngài chăm sóc những người cùng khốn. Khi đọc 9:35-38, bạn sẽ thấy rõ những phẩm chất nầy trong Ngài. Thực vậy, đi đến đâu Ngài đều thấy những người cùng khốn. Ngài cảm biết nhu cầu của họ, Ngài đem cho họ sự tha thứ và Ngài chăm sóc họ bằng lẽ thật.
Chúa Jesus đã thấy thực trạng của con người.
9:35 là hình ảnh Chúa thực hiện liệu pháp. Ngài đi khắp các làng và các thành, chữa lành các thứ bệnh tật. (Chữ "Chữa lành" trong tiếng Hylạp là gốc của chữ liệu pháp)
Câu 36 nói rằng: "Khi Ngài thấy những đám dân đông", Ngài đã thấy thực trạng của họ. Ngài thấy họ trong tình cảnh khốn cùng. Ngài thấy họ bị quấy rầy và kiệt sức. Chữ bị kiệt sức là thể xác phải bị dày vò và bị phơi bày ra, từ đó có thể được dùng cho một con thú bị xả ra và đặt trên bàn thờ.
Chúa Jesus thấy những đám dân đông bơ vơ và tuyệt vọng. Theo nguyên nghĩa, điều nầy là "bị vứt xuống". Nó do kết hợp hai từ: "Vứt" (cast hay throw) và "đi xuống" (down). Điều nầy không mang ý nghĩa thuộc thể, không phải là họ bị vứt xuống đến bụi đất, nhưng tôi nghĩ đúng hơn là nó mang ý nghĩa tâm lý. Ngài thấy tấm lòng chán nản thất vọng, tan vỡ mà không chút hy vọng nào của họ. Rồi câu Kinh Thánh nói rằng Ngài thấy họ như "chiên không có người chăn". Điều nầy nói lên cho chúng ta biết nhu cầu tâm linh của họ. Họ không có ai hướng dẫn, không có ai quan tâm, không có ai chăm sóc họ cả. Nó khắc họa tình trạng hư mất của đời sống không có Chúa. Đây là điều Ngài thấy khi Ngài nhìn đám dân đông.
Bạn cũng hãy lưu ý rằng Ngài nhìn thấy toàn bộ nhu cầu của nhân loại trong ý nghĩa toàn bộ thân vị con người. Ngài nhìn thấy những nhu cầu về thuộc thể, tâm lý và trong tâm linh của họ. Hơn thế nữa, không phải chỉ là một người, hay là một số ít người, nhưng là một đám đông. Phải chăng ngày nay nhu cầu ấy vẫn không thay đổi.
22. Chúng ta biết Chúa Jesus nhìn thấy thực trạng của nhân loại. Chúng ta thấy những câu Kinh Thánh trong Mathiơ 9, nêu lên những nhu cầu khác nhau của họ. Sau mỗi câu, hãy tìm những từ trong Mathiơ dùng để diễn tả ba loại nhu cầu cơ bản đó.
a. Thuộc thể, câu 34...
...
b. Tâm lý, câu 36...
...
c. Tâm linh, câu 36...
...
Chúa Jesus đã mang lấy nỗi đau khổ của họ.
Điều xảy ra với Chúa Jesus cũng xảy đến cho chúng ta. Ngài đã mang lấy từng trải của họ. Thánh Kinh nói rằng: "Khi Ngài thấy những đám dân đông thì động lòng thương xót". Động lòng thương xót là một từ ngữ thú vị trong Tân ước, chữ nầy thường được dùng cho Chúa Jesus cả theo cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Các Ẩn dụ nêu cho chúng ta hình ảnh lòng thương xót của Ngài. Một ví dụ về lòng thương xót là lòng thương xót của người Samari nhân lành đối với người bị đánh gần chết.
Chữ "động lòng thương xót" được dùng trực tiếp cho Chúa Jesus ở một số chỗ, gồm có 14:14, nơi Ngài nhìn thấy đoàn dân đông đang đói; khi Ngài gặp người phung (Mac Mc 1:41) và khi Ngài gặp hai người mù (Mat Mt 20:34). Trong mỗi trường hợp đó Ngài đã động lòng thương xót.
Một câu chuyện thú vị khác là chuyện người đàn bà góa đang đưa tang con trai mình. Bà đã đưa tang chồng mình rồi và giờ đây, đang đưa tang con trai mình. Khi Ngài thấy bà, Ngài động lòng thương xót (LuLc 7:13).
Từ ngữ động lòng thương xót nói lên lòng nhân ái và ân điển. Người Hylạp tin rằng những cảm xúc sâu sắc nhất mà chúng ta cảm nhận được tập trung ở cơ quan của cơ thể. Ngôn ngữ thực sự gợi lên rằng, khi Ngài thấy các đám dân đông có nhu cầu về thuộc thể, tâm lý, tâm linh, Ngài đã đáp lại bằng cơ quan bên trong cơ thể Ngài. Bụng Ngài (Stomach) quặn thắt và đau đớn, vì Ngài cảm biết rất sâu xa nỗi đau đớn, dằn vặt và sự hư mất của cuộc sống con người.
Bạn hãy nhớ lại, nhân ái là chữ Hêbơrơ, nghĩa là mặc lấy cuộc sống của người khác và cảm nhận điều người đó cảm nhận. Và ân điển là việc thể hiện lòng nhân từ hoặc ân huệ, cho dù người nhận không xứng đáng được hưởng. Chúa Jesus đã cảm biết các điều đó khi Ngài động lòng thương xót.
Đối với chúng ta, sự động lòng thương xót nầy mang những hàm ý sâu sắc. Một trong những vấn đề đó là tôi phải xét mình đã trở thành vô tình như thế nào. Tôi phải tự hỏi mình lần cuối cùng tôi đã khóc cho một người đau khổ là khi nào. Lần cuối cùng tôi đã cầu nguyện thâu đêm hay thậm chí một canh của đêm là khi nào? Lòng thương xót buộc chúng ta xem con người là đối tượng tình yêu của Đức Chúa Trời, con người trông đợi được buông tha để thể hiện hình tượng mà họ được tạo nên. Đức Chúa Trời, Đấng yêu thương, đã động lòng thương xót và chúng ta cần phải thương xót, nếu chúng ta muốn càng được giống như Ngài hơn và giống như những ống dẫn truyền tình yêu của Ngài.
Chúa Jesus đã động lòng thương xót. Bạn đã từng động lòng thương xót ai chưa? Bạn có cảm thấy đau lòng khi nhìn thấy người đang đau khổ? Bạn có thực lòng muốn khóc khi thấy người ta đang kêu khóc? Chúng ta biết Chúa Jesus thực hiện điều đó cách thực tế, và chúng ta cần phải noi gương Ngài.
23. Thánh Kinh ghi lại rất nhiều lần để diễn tả việc động lòng thương xót, cho dù không dùng trực tiếp chữ đó.
Hãy đọc mỗi khúc Kinh Thánh sau và chỉ ra bằng chứng của lòng thương xót.
a. Mat Mt 18:27 ...
b. LuLc 1:58 ...
c. 7:13 ...
d. 10:37 ...
e. 10:34 ...
f. RoRm 9:15 ...
g. IPhi 1Pr 3:8 ...
24. Hãy đọc các câu Kinh Thánh sau và tìm nhân vật Chúa Jesus đã thương xót và điều Ngài đã làm cho người khốn cùng.
a. Mat Mt 14:14 ...
b. 15:32 ...
c. Mac Mc 6:34 ...
d. LuLc 7:11-15 ...
Vì vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, chính Thánh Kinh nói lên nan đề của những người khốn cùng. Thánh Kinh đề cao giá trị của việc giúp đỡ những người ấy trong cơn phiền muộn hoặc trong thân thể, trong tâm linh hoặc về mặt tâm lý. Khi thi hành chức vụ trên đất nầy, Chúa Jesus đã động lòng thương xót và cứu giúp những kẻ có nhu cầu. Tấm gương của Ngài mà chúng ta phải noi theo, đó là nhắm vào Liệu pháp Agape. Chúng ta phải nhớ rằng con người là đối tượng tình yêu của Đức Chúa Trời, và với tình yêu thiên thượng của Ngài trong lòng chúng ta, tình yêu Agape chúng ta sẽ noi theo Ngài.
Chúa Jesus đã dùng những nguồn cung cấp từ con người và từ thiên thượng.
Trước khi rời Mat Mt 9:35, chúng ta hãy xem điều Chúa Jesus đã thực hiện vì lòng thương xót của Ngài. Câu 37 nói rằng, Ngài quay lại phán cùng môn đồ: "Mùa gặt thì thật trúng, song con gặt thì ít". Rồi Ngài phán: "Hãy cầu xin Chủ mùa gặt sai con gặt đến trong mùa mình".
Ngài chỉ cho môn đồ thấy sự lớn lao của nhu cầu, và Ngài chọn cách giải quyết nhu cầu đó qua những nguồn cung cấp từ con người và từ thiên thượng. Ngài phán cùng môn đồ "Các ngươi hãy cầu xin Cha sai đến nhiều người hơn". Nguồn cung cấp từ con người là con người, cung nguồn cung cấp từ thiên thượng là cầu nguyện và sự sai phái từ Cha.
Hãy lưu ý: Mùa gặt là của Đức Chúa Trời. Đó là công tác của Ngài chứ không phải của chúng ta. Nó thuộc về Ngài. Đó là trách nhiệm của Ngài. Nếu bạn xem sang Mthiơ 10, bạn xẽ thấy nhiều lời dạy dỗ ích lợi hơn về cách dùng các nguồn cung ứng từ con người và thiên thượng.
Vẻ đẹp hơn hết của điều đó ấy là khi còn tại thế, Ngài bị giới hạn trong thân xác con người, giống như bạn và tôi vậy, vì Ngài là một con người. Nhưng hiện nay, Ngài đã trở nên Chúa của muôn loài, Đấng Christ đã phục sinh, Đấng sai Thánh Linh đến đầy dẫy và ban quyền năng cho thân thể Ngài, Hội Thánh để tiếp tục công tác Ngài. Thân thể được tạo nên bởi nhiều chi thể, giống như bạn và tôi, ở khắp mọi nơi trên thế giới nầy để thi hành công tác chữa trị. Điều nầy chính là công tác của Hội Thánh. Vì vậy, chúng ta phải noi gương Ngài thực hiện công tác của Ngài.
Trong công tác cố vấn, chúng ta đang làm tròn sứ mạng của Hội Thánh theo một cách đặc biệt, trong thời gian, địa điểm và mục đích đặc biệt. Nhưng chúng ta không được phép quên rằng cũng có nhiều giáo sư, người quản lý, người phụ tá, người bố thí v.v... Tất cả đều thực hiện công tác yêu thương và chia xẻ ân điển của Đức Chúa Trời theo cách của họ. Chúng ta chỉ thực hiện nó theo cách tổ chức được đặt dưới cái tên "công tác cố vấn". Mọi điều chúng ta đang làm chính là công tác của Chúa Jesus.
25. Hãy đọc 9:37-38 và tìm ra các nguồn cung ứng được đề cập đến trong phân đoạn nầy
a. Nguồn từ con người là ...
b. Nguồn từ thiên thượng là ...
26. Ghi vắn tắt vào vở của bạn. Tại sao mối tương quan Agape có thể được xem là mối tương quan trị liệu.
27. Liệt kê và mô tả vắn tắt vào vở ba phương cách Chúa Jesus nêu gương yêu thương trong chức vụ của ngài.
28. Có một câu hỏi: "Chúng ta có quyền năng giống như nhau để đem lại sự chữa lành và liệu pháp giống nhau đến cho đời sống nhiều người khác không?" Câu trả lời ở trong 10:1. Chúa Jesus đã làm gì?
...
29. Hãy dừng lại và suy nghĩ: Lĩnh vực đặc biệt nào trong đời sống tăng trưởng của bạn mà Thánh Linh đã nhắc nhở bạn? Hãy viết vào sổ tay của bạn điều đó. Sau đó, bạn hãy liệt kê ra ba bước bạn sẽ thi hành cho trọn điều đó. Hãy cầu xin sự dẫn dắt, lòng tin quyết và quyền năng để bắt đầu thực hiện điều ấy.
Tâm lý học và Thần học đều xác nhận rằng tình yêu thương có năng lực chữa lành mạnh mẽ nhất mà con người biết được. Một mối tương giao trong tình yêu thương là để trị liệu. Câu giải đáp của Đức Chúa Trời cho nan đề của con người, tình yêu thiên thượng: Tình yêu Agape. Sống một nếp sống yêu thương, xác nhận giá trị của một con người và khiến con người ấy khám phá không ngừng tiềm năng của mình.
Bài Tập Tự Kiểm Tra
CÂU CHỌN LỰA: Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất.
1. Những đặc điểm cụ thể của tình yêu Agape hay là tình yêu thiên thượng là:
a. Tìm kiếm điều tốt nhất cho người khác, xúc cảm, và nguyên tắc của lý trí.
b. Thiện chí vô song, tiềm kiếm điều tốt nhất cho người khác và xúc cảm.
c. Nguyên tắc của lý trí, thiện chí vô song, và tìm kiếm điều tốt nhất cho người khác.
d. Thiện chí vô song, xúc cảm và nguyên tắc của lý trí.
2. Tình yêu Agape hay tình yêu thiên thượng bao gồm:
a. Yêu mến Chúa hết lòng, đời sống có kết quả, làm một môn đồ thật.
b. Yêu mến Chúa trọn vẹn, tự lập và làm một môn đồ thật.
c. Làm môn đồ thật, sống bằng cảm xúc, hết lòng yêu mến Chúa.
d. Tự lập, sống bằng cảm xúc, và đời sống có kết quả.
3. Liệu pháp Agape có hiệu lực tâm lý vì nó:
a. Đòi hỏi phải có trách nhiệm. có liên hệ với sự truyền đạt, biến đổi đời sống, và liên hệ với cảm xúc.
b. Từ thiên thượng, là sự thể hiện căn bản của sự trưởng thành, liên hệ đến toàn bộ thân vị, và liên hệ đến cảm xúc.
c. Đòi phải có trách nhiệm, biến đổi đời sống liên hệ với cảm xúc và từ thiên thượng.
d. Liên hệ đến toàn bộ thân vị, đòi phải có trách nhiệm, biến đổi đời sống, và là sự thể hiện cơ bản của sự trưởng thành.
4. Mục tiêu cơ bản của liệu pháp Agape bao gồm:
a. Đời sống tràn ngập hạnh phúc.
b. Sự trưởng thành, sự chữa lành và sự toàn vẹn.
c. Thoát khỏi tội lỗi và sự phạm tội.
d. Khỏe mạnh, hạnh phúc, sự trọn vẹn.
e. Sự toàn vẹn và hoàn toàn hạnh phúc
5. Một trong những bước dẫn đến sự đổi mới là phải:
a. Từ bỏ mọi vật sở hữu.
b. Nhận biết mình không thể trốn khỏi Đức Chúa Trời.
c. Dừng lại và so sánh đời sống mình với đời sống của người khác.
d. Biến đổi không bao giờ làm điều quấy.
e. Giấu mọi vấn đề gây ra rắc rối.
6. Chúa Jesus đã nêu gương tình yêu thương hay là những mối tương giao để trị liệu khi Ngài:
a. Chỉ chữa lành những người kêu cầu sự tha thứ.
b. Lánh khỏi đám đông và tìm cách ở riêng một mình.
c. Tránh mặt người nào phạm tội.
d. Nhìn thấy thực trạng của con người và mang lấy nỗi đau khổ của họ.
CÂU ĐÚNG SAI: Hãy viết chữ Đ vào khoảng trống trước câu đúng và viết chữ S nếu câu đó sai.
... 7. Tình yêu Agape là sự chinh phục và làm thành ý muốn đó.
... 8. Hiệu lực tâm lý không minh chứng cho Liệu Pháp Agape.
... 9. Thánh Kinh định nghĩa tình yêu Agape là phẩm chất cơ bản trong đời sống có liên hệ với các mối tương quan và nếp sống.
... 10. Tình yêu Agape chữa lành tâm lý.
... 11. Lời khuyên dạy của Chúa Jesus "Hãy trọn vẹn", muốn nói rằng chúng ta có thể trở nên hoàn toàn, không tì vít.
... 12. Lòng thương xót buộc chúng ta xem con người là đối tượng của tình yêu của Đức Chúa Trời.
CÂU GHÉP CẶP: Sắp xếp từ ngữ ( bên phải) phù hợp với định nghĩa của nó ( bên trái)
... 13. Giống như Đấng Christ.
... 14. Lui lại lần nữa.
... 15. Phục hồi sức khỏe
... 16. Khiến tâm linh nên mới
... 17. Chữa trị một căn bệnh.
18-22. Hãy sắp xếp các ngôn từ thần học (bên phải) tương đương với ngôn từ trong tâm lý học của nó (bên trái)
... 18. Cảm thông chính xác.
... 19. Chân thật.
... 20. Chấp nhận vô điều kiện.
... 21. Bộ ba trị liệu pháp.

Giải Đáp Những Câu Hỏi Của Bài Học
1. a. C
b. Y
c. Y
d. C
2. 1, Luôn tìm kiếm đều tốt nhất cho người khác
2, Lòng từ thiện không thể chế ngự được.
3, Thiện chí vô song.
4, Nguyên tắc để sống.
5, Nguyên tắc của lý trí
6, Sự chinh phục và làm thành ý muốn đó.
7, Sự tin quyết của lý trí.
3. a. Yêu mến Chúa, người lân cận và chính mình.
b. Yêu thương là dấu hiệu làm môn đồ của Chúa.
c. Tình yêu thiên thượng là trọng hơn hết.
d. Tìm kiếm tình yêu thương.
e. Tình yêu là nền tảng cho đời sống có kết quả
f. Yêu mến Chúa được chứng minh bởi lòng yêu mến người khác.
4. Định nghĩa của bạn. Tôi muốn nói rằng Liệu Pháp Agape là mối tương giao giữa hai người hoặc hơn nữa, sử dụng các nguồn cung cấp sẵn có đem đến sự chữa lành cho người cần được góp ý.
5. a. Tình yêu; tình yêu; tình yêu; tình yêu.
b. Yêu mến Chúa, người lân cận, chính mình; Yêu như Chúa Jesus yêu chúng ta; nhịn nhục, nhân từ, lẽ thật, dung thứ, tin cậy, trông cậy, nín chịu; có trách nhiệm (câu kết luận).
c. Mỗi người; mỗi người; mỗi người; mỗi người.
d. Yêu mến Chúa, người lân cận và chính mình; yêu lẫn nhau; thể hiện lòng nhịn nhục, nhân từ, vui trong lẽ thật, dung thứ, tin cậy, trông cậy, nín chịu; yêu mến lẫn nhau.
e. Vâng phục Chúa; vâng giữ điều răn; bản chất yêu thương minh chứng rõ ràng đặc tính của Cơ Dốc nhân hơn là các ân tứ thuộc linh; Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta.
f. Yêu người khác như chính mình; yêu mến lẫn nhau như Chúa Jesus đã yêu chúng ta; tình yêu thương hay nhịn nhục, nhơn từ, không ghen tị, khiêm nhường, tế nhị, đem ích lợi đến cho người khác, không dễ nổi giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, dung thứ, tin cậy, trông cậy, nín chịu.
Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta.
6. Tấm lòng, linh hồn, tâm trí.
7. a và c là các câu đúng.
8. a. 3) Cảm thông chính xác.
b. 1) Sự chân thật.
c. 2) Sự nhiệt tình vô tư.
d. 2) Sự nhiệt tình vô tư.
e. 3) Cảm thông chính xác.
f. 2) Sự nhiệt tình vô tư.
g. 1) Sự chân thật.
9. a. Nhịn nhục, nhân từ, vui trong lẽ thật, dung thứ, tin cậy, trông cậy, nín chịu.
b. Ghen tị, khoe mình, lên mình kiêu ngạo, thô lỗ, kiếm tư lợi, nghi ngờ sự dữ, làm điều trái phép.
10. a. G.
b. A
c. G
d. A
e. A.
11. a. 2) GaGl 5:22-23
b. 4) IIPhi 2Pr 1:5-11
c. 2) GaGl 5:22-23; 4) IIPhi 2Pr 1:5-11.
d. 1) RoRm 5:5
e. 2) GaGl 5:22-23
f. 2) 5:22-23; 4) IIPhi 2Pr 1:5-11
g. 3) Eph Ep 3:16-21; 4) IPhi 1Pr 1:5-11.
h. 1) RoRm 5:5; 2) GaGl 5:22-23.
3) Eph Ep 3:16-21; 4) IIPhi 2Pr 1:5-11
i. 2) GaGl 5:22-23
j. 2) 5:22-23
k. 3) Eph Ep 3:16-21
l. 3) 3:16-21
m. 2) GaGl 5:22-23; 4) IIPhi 2Pr 1:5-11
n. 2) GaGl 5:22-23
12. Câu trả lời của bạn sẽ gồm có:
1. Khám phá ý nghĩa của cuộc sống.
2. Duy trì sự quân bình giữa bốn phương diện của đời sống.
3. Thỏa lòng về nhu cầu của bạn.
4. Từng trải đời sống hài hòa.
5. Có thể góp phần vào cuộc sống của người khác.
13. a. N
b. N
c. K
d. N
e. K
f. N
14. Thánh Linh
15. Không ngã lòng. Không chăm về sự không thấy được
16. 1, Tâm linh, 2, Thể xác, 3, Tâm lý.
17. Ngài chữa lành mọi thứ tật bịnh.
18. 1, Tâm thần
2, Linh hồn.
3, Thân thể.
19. Trọn vẹn hay trưởng thành.
20. a. 3) Sự đổi mới
b. 4) Sự toàn vẹn
c. 5) Cả bốn điều trên
d. 4) Sự toàn vẹn
e. 1) Sự chữa lành.
f. 2) Sự trưởng thành
21. 1. Sự đổi mới, khôi phục sự lành mạnh trước đây.
2. Sự chữa lành, kết quả của sự quan tâm và chăm sóc.
3. Sự toàn vẹn, đem lại tình trạng hoàn toàn bình thường.
4. Sự trưởng thành, đạt đến tình trạng phát triển trọn vẹn hay hoàn toàn.
22. a. "Bịnh tật"
b. "Bị quấy rầy và bơ vơ"
c. "Chiên không có người chăn"
23. a. Tha nợ.
b. Bạn hữu chia vui với bà.
c. Ngài động lòng thương xót bà.
d. Động lòng thương xót người bị nạn.
f. Đức Chúa Trời có lòng nhân ái.
g. Đầy lòng thương xót.
24. a. Đoàn dân đông chữa bịnh cho họ
b. Đoàn dân đói cho họ ăn.
c. Đoàn dân đông dạy dỗ họ.
d. Bà góa đang khóc cứu sống con trai bà đã bị chết.
25. a. Những con người.
b. Cầu nguyện với Cha trên trời.
26. Bởi vì mối tương giao Agape sử dụng các nguồn cung ứng tùy theo trường hợp để đem lại sự chữa lành và sự trưởng thành cho người cần được góp ý.
27. Câu trả lời của bạn. Hãy tham khảo phần khai triển bài học để kiểm tra câu trả lời của bạn.
28. Ngài "gọi mười hai sứ đồ đến, ban quyền phép trừ tà ma và chữa các thứ bệnh tật".
29. Câu trả lời của bạn.


NẾP SỐNG AGAPE
Nếu tình yêu Agape là tất cả những gì Kinh Thánh nói đến và chúng ta tin điều đó, thì người cố vấn Cơ Đốc bán chuyên nghiệp là người tín đồ, cần phải đáp ứng theo hai cách. Trước hết người ấy cần kinh nghiệm tình yêu Agape trong chính con người của mình và trong nếp sống của mình. Thứ hai, người ấy còn có khả năng chia xẻ kinh nghiệm và nếp sống Agape với những người đang bị thương tổn. Đó là điều cơ bản của công tác cố vấn Cơ Đốc hay là liệu pháp Agape. Trong thể loại cố vấn nầy, người ta phải tìm được sự đổi mới, sự chữa lành, và sự trưởng thành như đã nói ở bài trước.
Ở đây chúng ta sẽ xem những mô tả về các lối sống được xây dựng trên tình yêu Agape. Chúng ta sẽ hiểu những chi tiết của mục đích chính yếu cho cả người cố vấn lẫn người được cố vấn trong nếp sống Agape. Điều nhấn mạnh nầy chính là thực chất của Liệu Pháp Agape
Đây là bài cuối trong đơn vị 2 nói về các mục tiêu của Liệu Pháp Agape. Bài học nầy sẽ giúp cho bạn có một quan niệm thích đáng về việc sống và phục vụ trong mối tương quan theo nếp sống Agape là gì?
Những Mối Quan Tâm Về Nếp Sống Agape
Khái Niệm Về Mặc Cảm Tội Lỗi
Khái Niệm Về Đức Chúa Trời.
Khái Niệm Về Bản Thân.
Khái Niệm Về Xác Thịt Chống Lại Thánh Linh.
Khái Niệm Về Sự Cung Ứng của Thiên Thượng
Sự Tuyệt Hảo
Khái Niệm Về Đời Sống Có Nguyên Tắc.

Khi học xong bài nầy, bạn sẽ có thể:
- Nhận biết những nguyên tắc liên hệ đến những khái niệm khác nhau của nếp sống Agape.
- Thảo luận cách những khái niệm và những nguyên tắc Agape có thể được áp dụng vào những thời điểm cố vấn cụ thể,
- Sống bày tỏ nếp sống Agape và chia xẻ những giá trị chữa lành của nó cho người khác.
1. Nghiên cứu bài học theo như thủ tục đã cho trong Bài Học 1
2. Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài học và xem lại các câu trả lời của bạn như thường lệ.
3. Ôn lại các Bài Học từ 4 đến 6 để chuẩn bị cho phần đánh giá tiến bộ đơn vị của bạn. Hãy đọc lời chỉ dẫn trong tập tài liệu dành cho học viên, sau đó lấy ra phần Đánh Giá Tiến Bộ Đơn Vị 2 và tờ trả lời từ trong tập tài liệu dành cho học viên của bạn, tuân theo những chỉ dẫn để điền vào tờ trả lời, rồi nộp nó cho giảng viên ICI của bạn, là người sẽ kiểm tra những câu trả lời của bạn và cho bạn kết quả.
Sự Công Nhận
Mặt Nạ
Giới Hạn
Sự Đền Bồi
Sự Quá Phạm

NHỮNG MỐI QUAN TÂM VỀ NẾP SỐNG VÀ NẾP SỐNG AGAPE
* * Hãy xem lại bảy đặc điểm của con người là những điều chúng ta đã tìm ra trong Bài Học 2 (khung 2.4) khi chúng ta trả lời câu hỏi "Con người là gì?". Những đặc điểm ấy bao gồm: Con người được Đức Chúa Trời phác họa có khuynh hướng, có nhu cầu, con người có lý trí, con người có trách nhiệm, con người có đạo đức, con người có mục đích, con người có khả năng thay đổi. Tất cả những đặc điểm ấy đều được liệt kê trong cột bên phải của khung 6.1, không phải là các từ đúng y như điều tôi vừa nêu ra, song cũng gần giống trong cách diễn tả. Trong cột bên tay trái là những lời phủ nhận của các đặc điểm ấy.
Khung 6.1
* * Tội lỗi dẫn đến tình trạng con người bị xa lạ với Đức Chúa Trời, với chính mình, và với người khác. Sự kết ước với nếp sống Agape giúp con người ngày càng nhận biết tiềm lực ban đầu của mình.
Khi con người vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, con người đã xúc phạm đến bản tánh căn bản của mình đó là ý định của Đức Chúa Trời, là hình ảnh của Đức Chúa Trời trong bản thể của mình, và điều đó đã ảnh hưởng đến suy nghĩ và cảm nhận của con người về giá trị và sự xứng đáng của mình, bởi vì rõ ràng nó mang lại một mặc cảm phạm tội. Đó là một sự xâm phạm đối với mối quan hệ yêu thương. Con người đã ra khỏi mối quan hệ yêu thương với Đức Chúa Trời và bước vào một mối quan hệ mà mình không còn có thể yêu chính mình và người khác nữa.
Bạn còn nhớ câu chuyện xảy ra trong vười Eđen được chép trong Sáng thế ký chăng? Những mối quan hệ đã bị gián đoạn ngay thời điểm họ phạm tội, và Ađam cùng Êva đã trốn khỏi Đức Chúa Trời. Họ tìm cách che đậy mình bằng những chiếc lá vả. Đức Chúa Trời đã đi tìm họ, Ngài tìm kiếm họ. Ngài biết họ đang ở đâu, song Ngài muốn đối diện với họ xem họ là ai và họ đang ở đâu trong lãnh vực tâm linh. Ngài phán: "Ađam, ngươi ở đâu?". Khi Ađam đáp lời, Chúa phán:" Ađam, ngươi có phạm tội chăng? Ngươi có ăn trái cây ta cấm đó chăng?". Và Ađam đáp rằng "Êva đã ăn rồi". Đó là điều vẫn thường xảy ra, phải không bạn? Chúng ta đổ lỗi cho người khác trong những sự thất bại hoặc lầm lỗi của mình. Đoạn, Đức Chúa Trời phán hỏi Êva, và Êva nói gì! Bà ta bảo Satan đã khiến bà ăn trái cấm ấy. Những mối tương quan bị gián đoạn luôn luôn bắt đầu khi con người vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời. Sự vi phạm ý định của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta là sự vi phạm bản tánh cơ bản của con người. A đam và Êva đã phải tiếp xúc với nó, và ngày nay chúng ta vẫn còn đang tranh chiến với nó.
1. Đức Chúa Trời đã cung ứng một phương cách để con người được phục hồi trở lại ý định ban đầu của Chúa dành cho họ. Theo Mat Mt 22:34-40, ý định đó là gì?
...
* * Một trong những câu hỏi quan trọng hơn mà chúng ta thường hỏi là "Tôi có gì là xứng đáng?". Chúng ta muốn che dấu điều mình thật sự có. Chúng ta muốn mặc những lá cây vả của mình, những chiếc mặt nạ của mình. Chúng ta không muốn để cho ai biết cả.
Chúng ta kinh nghiệm điều đó trong sự cầu nguyện. Nếu chúng ta nói với Chúa hoặc thừa nhận với Ngài con người thật của mình hoặc điều thật có bên trong chúng ta thì dẫu thế nào chúng ta cũng có cảm giác giống như là mình sẽ bị ghét bỏ. Rằng Ngài sẽ không thể nào yêu chúng ta được. Điều chúng ta quên mất đó là Ngài biết điều gì có ở bên trong chúng ta, và dẫu thế nào Ngài vẫn yêu chúng ta bằng tình yêu Agape. Đang khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ đã chịu chết thay cho chúng ta. Đã đến lúc chúng ta lột bỏ những chiếc mặt nạ của mình, là những điều che đậy con người thật của mình.
Theo lời Đức Chúa Trời chúng ta có thể khẳng định giá trị của mình. Chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Thực sự, ngay khi điều đó được ban xuống, tôi mang giá trị của Con Đức Chúa Trời là Đức Chúa Jesus Christ. Vì cớ Ngài, tôi được thừa hưởng sự quý giá. Tôi được yêu thương, và tôi có thể chia xẻ tình yêu thương. Khi tôi nhận biết và đánh giá đúng điều đó, tôi trở nên trọn vẹn hơn, trưởng thành hơn hoặc hoàn toàn hơn. Tôi đang ngày càng trở nên giống Cha mình (Mat Mt 5:45), tôi đang làm trọn tiềm năng của mình, ý định cơ bản mà bởi đó tôi đã được tạo dựng.
Bạn hãy xem lại mục 2 trong khung 6.1. Bị tước đoạt những nhu cầu thuộc linh, về tâm lý, hoặc những nhu cầu thuộc thể đã gây ra những nan đề đó. Về nhu cầu thuộc linh, chúng ta cần được tha thứ và được hòa thuận lại. Về nhu cầu tâm lý, chúng ta cần có một nhận thức bên trong về trọn vẹn và sự bình an xảy đến vì cớ tôi có mục đích và một chân lý vững chắc, tôi biết mình đã được chấp nhận, có một sự hòa hợp nơi con người bề trong. Sự phục hồi đang diễn ra. Về thuộc thể, tôi cần nhận thức rằng tình trạng khang kiện và thỏa lòng chỉ xảy đến khi tôi được buông tha khỏi sự lo lắng bằng cách tin cậy Cha mình (6:19 trở đi) * *
2. Tìm các nhu cầu cơ bản mà nó được thỏa mãn khi con người quay lại với Đức Chúa Trời và với nếp sống Agape
a. RoRm 10:9-10 ...
b. Phi Pl 4:6-7 ...
c. 4:10-13 ...
* * Bây giờ bạn hãy xem xét mục 3, 4 và 5 trong khung 6.1. Chúng ta đã suy nghĩ một cách phi lý, chối bỏ chân lý và sự thực tế. Khi làm điều nầy, chúng ta đã quyết định không thích đáng và trở thành người vô trách nhiệm trong cách cư xử của mình. Chính vì lối xử sự vô trách nhiệm mà chúng ta đã làm tổn thương người khác và chính mình. Vì vậy, thái độ vô trách nhiệm của chúng ta đã trở thành nếp sống của chúng ta. Sống như vậy, dĩ nhiên là sống đời sống vô đạo đức, bởi vì đã vi phạm tới chính mình, người khác và trên hết chúng ta đã xúc phạm đến Đức Chúa Trời bởi cách cư xử của mình.* *
3. Trong GiGa 8:32, Chúa Jesus ngụ ý rằng con người không còn có lý trí trong sự suy nghĩ của họ và đang chối bỏ chân lý và lẽ thật, nhưng Ngài phán làm thế nào để con người được buông tha?.
...
4. Eph Ep 4:14-16 đưa ra sự tương phản giữa người thiếu suy nghĩ và người Cơ Đốc. Hãy khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG
a. Người Cơ Đốc nói ra lẽ thật trong sự yêu thương.
b. Người thiếu lý trí không còn là trẻ con nữa.
c. Người Cơ Đốc sẽ "lớn lên" đến mức trở nên giống như Đấng Christ
d. Người suy nghĩ thiếu lý trí được ví sánh với sóng biển bị day động theo chiều gió.
5. Theo Phi Pl 2:13, người vô trách nhiệm trong các quyết định và hành động phải nhận ra nguyên tắc nào?
...
* * Ađam và Êva cũng vậy, trong tiến trình quá phạm ấy, đã đánh mất ý nghĩa phong phú của đời sống (Mục thứ 6 trong khung 6.1). Họ đã thay đổi điều Đức Chúa Trời gọi là "tốt lành" sang tình trạng tội lỗi đến nỗi cuối cùng đã cướp mất ý nghĩa sống của con người và đưa con người đến chỗ chết. Tuy nhiên, vì Đức Chúa Trời đã yêu thương loài người qua Con Ngài, nên ý nghĩa của đời sống đã được phục hồi, vì cớ con người sau đó đã được yêu thương và có thể hoàn thành ý định của Ngài.
Tựa đề nằm trên cùng bên cột tay phải của khung 6.1 truyền đạt ý tưởng cho thấy tình yêu Agape sẽ giúp cho con người phát huy một nếp sống Agape, là nếp sống khẳng định giá trị và sự xứng đáng của người ấy, nhận biết lẽ thật và giúp người ấy hòa hợp với chính thực tế. Ngoài ra, đó còn là một nếp sống xây dựng trên việc sống bày tỏ những nguyên tắc của Đức Chúa Trời bằng cách kiên trì đóng đinh xác thịt. Điều đó buông tha chúng ta khỏi việc phạm tội hoặc sống một cách bại hoại mà giúp chúng ta bước đi trong Thánh Linh. Đó mới thật sự là một đời sống phong phú.
Hãy suy xét những điều mà Đức Chúa Trời bởi tình yêu thương của Ngài, đã dành sẵn cho chúng ta, Ngài nói cho chúng ta biết thể nào qua lời Kinh Thánh. Ngài bày tỏ tình yêu Agape qua Con Ngài trên thập tự giá, và Ngài để cho chúng ta kinh nghiệm tình yêu Agape qua thân vị và việc làm của Đức Thánh Linh, là Đấng đổ tình yêu thương của Ngài vào trong đời sống chúng ta. Đó là lý do khiến chúng ta gọi phương pháp phục vụ nầy là "Phép Trị Liệu Agape" bởi vì nó là mục tiêu tối hậu trong đời sống và chức vụ. * *
6. Hãy khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG khi nói về đời sống có mục đích theo RoRm 6:15-23
a. Một người không có Chúa là người sống nô lệ cho tội lỗi
b. Những người làm nô lệ cho tội lỗi là vẫn thuộc dưới quyền kiểm soát của sự công bình.
c. Một người có Chúa là người làm tôi tớ Đức Chúa Trời.
d. Cơ Đốc nhân có thể phạm tội tùy thích bởi vì người ấy thuộc dưới ân điển.
e. Tội lỗi dẫn đến sự chết.
f. Bởi Đấng Christ, Cơ Đốc nhân có thể được buông tha khỏi tội lỗi.
7. GiGa 15:1-17 cho thấy sự tương phản giữa đời sống phân rẽ khỏi Đấng Christ. Đời sống của người có Chúa có ÍT NHĐT ba điều gì mà đời sống của người phân rẽ khỏi Chúa không có?.
...
8. 15:1-17 cũng mô tả những thuộc tính cụ thể của một người sống lệ thuộc vào Chúa Jesus, thể hiện sự thay đổi khác với khi người ấy sống tách biệt khỏi Chúa Jesus. Hãy kể ra ít nhất năm điều.
...
Để tóm tắt những điều đã được nói đến trong phần ầy, chúng ta phải nhận biết rằng một nếp sống đặt cơ sở trên khái niệm Agape sẽ là một nếp sống mà trong đó cá nhân ấy 1) khẳng định được giá trị và sự xứng đáng của mình, 2) Có các nhu cầu của mình được đáp ứng, 3) Nhận biết lẽ thật, 4) Xây dựng đời sống trên những nguyên tắc của Đức Chúa Trời, 5) Kiên trì đóng đinh xác thịt, 6) Sống một đời sống kết quả, và 7) Có kinh nghiệm về một khả năng lâu bền để thay đổi theo sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời.
NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ NẾP SỐNG AGAPE
Là những cố vấn Cơ Đốc nhân, chúng ta phải sống nếp sống Agape. Song để sống nếp sống ấy, chúng ta phải biết những nguyên tắc có liên quan. Và bởi vì chúng ta cũng phải gây dựng cho những người được cố vấn để họ cũng sống nếp sống ấy, cho nên, họ cũng phải hiểu những nguyên tắc nầy.
Có liên hệ với nếp sống Agape và sống theo những nguyên tắc của tình yêu Agape sẽ khiến đời sống cá nhân được chữa lành và được tăng trưởng. Kinh thánh đặt nền tảng trên những nguyên tắc yêu thương, vì vậy chính tại điểm đó chúng ta sẽ có cái nhìn kỹ càng hơn về bảy khái niệm của nếp sống Agape, là mấu chốt cho việc gây dựng cá nhân. Đối với mỗi khái niệm về nếp sống Agape, chúng ta sẽ sử dụng các nguyên tắc cần yếu được rút ra từ Kinh Thánh để bổ sung cho khái niệm ấy.
Khái Niệm Phạm Tội (Thi thiên 32; IGiăng 1:5-10 )
Một người sống theo nếp sống Agape xử lý đích đáng sự phạm tội và những mối quan hệ bị rạn vỡ bằng sự xưng tội, bằng sự bồi thường, và bằng việc công nhận một hệ thống giá trị đạo đức thích đáng. Đây là ba nguyên tắc để giúp một người xử lý khái niệm phạm tội.
Nguyên tắc 1: Sự đau đớn trong tâm hồn vì phạm tội thật sự và phạm tội khách quan trước mặt Đức Chúa Trời chỉ có thể được xoa dịu nhờ vào kinh nghiệm tình yêu của Đức Chúa Trời qua sự xưng tội và có khi bởi sự đền bồi. Đavít đã nhận biết điều đó trong Thi Thiên 32 là điều chúng ta đã thảo luận trong Bài Học 2. Bạn còn nhớ, ông nói rằng người nào xưng tội lỗi mình với Chúa thì được "phước" (câu 1-2). Sau đó ông đã mô tả kinh nghiệm của chính mình khi ông đã thất bại để xưng tội mình với Chúa (câu 3-4) và kết quả nhẹ nhàng khi ông đã xưng ra (câu5)
IGi1Ga 1:5-10 cũng nhấn mạnh nhu cầu xưng tội theo Kinh Thánh. Đặc biệt câu 6 tỏ rõ rằng sự xưng tội là phương tiện để được tha thứ và thanh tẩy.
Nguyên tắc 2. Chúng ta có thể thóat khỏi nỗi đau đớn trong tâm hồn về sự phạm tội do tâm trí bằng cách sống một nếp sống Agape và bằng cách làm cho hệ thống giá trị đạo đức trưởng thành hơn. Một hệ thống đạo đức trưởng thành, giá trị sẽ có khả năng phân biệt được ngụy tội với sự phạm tội ở trước mặt Chúa, và do đó sẽ giảm bớt được nỗi đau đớn gây ra bởi sự phạm tội do tâm trí.
Nguyên tắc 3. Những phương cách để luôn thoát khỏi sự phạm tội thực sự do lương tâm bị xúc phạm, là những cách sau đây: 1. Sống một nếp sống không xúc phạm đến hệ thống đạo đức giá trị Agape. 2. Tiếp tục phát huy hệ thống đạo đức giá trị của một người dựa trên những khái niệm về tình yêu Agape. Để luôn được thoát khỏi sự phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời. Một người chỉ cần duy trì nếp sống mình theo những sự hướng dẫn của Thánh Kinh. Nếu người ấy tránh làm những điều sai trái đối với Đức Chúa Trời, thì người ấy sẽ tránh được nỗi đau vì tội lỗi.
9. Đọc những đoạn Kinh Thánh sau và viết thành những câu để tỏ rõ cách giữ cho lương tâm trong sạch.
a. HeDt 13:18 ...
b. Cong Cv 23:1 ...
10. Ghép cặp số thứ tự của nguyên tắc (bên phải) với lời giải thích của nguyên tắc ấy (bên trái)
a. Nếu người nào tuân theo điều mình biết là đúng với Kinh Thánh, người ấy sẽ không chịu nỗi đau đớn trong tâm hồn vì phạm tội.
b. Hệ thống giá trị đạo đức cần phải được kết hợp với những nguyên tắc Agape nhằm giải thoát con người khỏi nỗi đau trong tâm hồn vì phạm tội.
c. Nếu một người tránh đừng vi phạm những luật pháp của Đức Chúa Trời, người ấy sẽ không phạm tội, hoặc thực tội hoặc hoặc tội do tâm trí.
d. Một người phải thú nhận việc mình đã vi phạm các luật lệ của Đức Chúa Trời để chính mình được buông tha khỏi sự phạm tội.
e. Bồi thường vì sự quá phạm khi cần thiết sẽ làm giảm bớt nỗi đau đớn trong tâm hồn vì phạm tội.
Bây giờ làm thế nào để các nguyên tắc ấy phù hợp với một tình trạng cố vấn thật sự? Giả sử bạn đang cố vấn cho một người đang tranh chiến với sự phạm tội hoặc tội thật sự hoặc do tâm trí, thì đây là một số những đề nghị.
Trước hết, hãy xác định xem đó có phải là thực tội hay là tội do tâm trí. Phạm thực tội là hậu quả của việc vi phạm các luật lệ của Đức Chúa Trời. Tội do tâm trí là sự vi phạm chính hệ thống giá trị của mình lập nên. Nếu là phạm thực tội, người ấy cần phải suy xét việc xưng tội với Đức Chúa Trời và có thể phải bồi thường (nguyên tắc 1). Nếu là phạm ngụy tội, thì người được cố vấn cần phải sửa lại hệ thống giá trị đạo đức (chức năng), tức là sự hiểu biết của người ấy phải được thay đổi. Người ấy cần phải sửa đổi hệ thống giá trị của mình theo đường lối của Lời Đức Chúa Trời (nguyên tắc 2). Cuối cùng cần phải đưa ra những công việc về nhà, là nơi người ấy buộc phải làm hoặc nói những điều cần thiết để được buông tha khỏi sự phạm tội. Người ấy cũng phải thực hành một số những công việc để bày tỏ lòng yêu mến Đức Chúa Trời, yêu người khác và yêu chính mình (nguyên tắc 3)
Khái Niệm Về Đức Chúa Trời (Giăng 14:1-12)
Khi nói đến khái niệm về Đức Chúa Trời là chúng ta đang nói đến "ý nghĩa riêng của một người về Đức Chúa Trời là Đấng nào, Ngài có thể làm gì và Ngài như thế nào". Một số người thậm chí không tin rằng Ngài hiện hữu, người khác coi Ngài như một người Cha yêu thương không quan tâm đến những điều chúng ta làm, còn những người khác nữa thì xem Ngài như là một Đấng toàn quyền và hay xét đoán. Còn bạn thì nghĩ gì về Đức Chúa Trời? Theo bạn, thực sự Ngài là ai? Bạn có cảm thấy Ngài yêu thương bạn và mong muốn đem chính điều tốt lành nhất cho bạn không? Bạn hãy nhớ rằng, một khái niệm lành mạnh về Đức Chúa Trời là khởi điểm của nếp sống Agape. Điều đó khiến người tin cậy và buông tha người để kinh nghiệm tình yêu của Đức Chúa Trời. Trong Liệu Pháp Agape, là người cố vấn , chúng ta phải đánh giá khái niệm của chính mình về Đức Chúa Trời và phải hiểu được khái niệm về Đức Chúa Trời của người được cố vấn.
Lối sống Agape tùy thuộc vào một khái niệm thỏa đáng về Đức Chúa Trời. Chúng ta biết rằng một khái niệm về Đức Chúa Trời không thỏa đáng hoặc bị giới hạn, sẽ khiến người ta không nhận ra tiềm năng của mình và không biết nhờ cậy vào nguồn tình yêu Agape, là chính Đức Chúa Trời. Trong Liệu Pháp Agape, người cố vấn tìm cách để giới thiệu người được cố vấn với Đức Chúa Trời yêu thương của người ấy. Người cố vấn cũng giúp người ấy thể hiện tình yêu Agape hoặc những đức tính giống như Chúa qua đời sống của họ.
Nguyên tắc 1. Khái niệm về Chúa của một người là sự bày tỏ lòng khao khát tự nhiên của mình để hiểu biết Đức Chúa Trời.
Trong GiGa 14:8. Philíp nói rằng "Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi là đủ rồi". Câu nói ấy tiết lộ điều gì về những khao khát trong Phi líp? Nó cũng bày tỏ rằng ông sẽ được thỏa mãn khi biết Đức Chúa Trời. Lòng khao khát của ông là biết về Chúa, vì vậy khái niệm của ông về Chúa đó là Ngài là Đấng có thể hiểu biết được.
Nếu bạn tin rằng nỗi khao khát cơ bản của con người là được biết về Đức Chúa Trời, thì niềm tin ấy phải ảnh hưởng đến phương pháp cố vấn của bạn, bất kể người được cố vấn là ai. Bạn phải bảo đảm rằng mỗi một người được cố vấn đều được giới thiệu về Chúa Jesus như là Cứu Chúa của riêng người ấy. Sau đó bạn phải làm cho người ấy khao khát hiểu biết Đức Chúa Trời một cách riêng tư, là điều sẽ phát huy khái niệm của người ấy về Đức Chúa Trời theo hướng tích cực.
Nguyên tắc 2. Khái niệm về Đức Chúa Trời của một người quyết định cách người ấy liên hệ với Đức Chúa Trời cách hình thành nếp sống của người ấy.
Theo 14:6-7, một người chỉ có thể có được mối quan hệ với Đức Chúa Trời bởi việc nhận biết Con Ngài là Chúa Jesus. Qua việc nhận biết Chúa Jesus, người ấy khám phá được thân vị của Đức Chúa Trời, thần tính của Ngài và đặc biệt là tình yêu Agape của Ngài.
* * Trong 6:5-7, Chúa Jesus đã thử thách đức tin của Phi líp. Khi Ngài chuẩn bị cho đoàn dân đông bánh ăn, Ngài đã phán cùng Philíp rằng: "Chúng ta phải mua bánh ở đâu cho đoàn dân nầy ăn?". Philíp đã cân nhắc rồi trả lời một cách thực tế "Thưa thầy, chúng ta không có đủ tiền để mua bánh mì". Ông thưa với Chúa rằng phải có một số lượng tiền bằng khoảng 2/3 số lượng trong một năm. Philíp là một người bi quan hoặc có lẽ, theo cái nhìn của con người, ông ta là một người thực tế, ông đã không biết rằng Chúa Jesus là Đức Chúa Trời và Ngài có thể làm ra bánh để nuôi cho đoàn dân đông nầy. Philíp thưa rằng "Lạy Chúa, chúng ta không có đủ tiền" * * Khái niệm của Philíp về Chúa lúc nầy dường như là không thích đáng bởi vì ông đáp ứng theo cách tự nhiên và không thừa nhận khả năng thực hiện phép lạ của Ngài. Việc không nhận biết khả năng thực hiện phép lạ của Chúa cho thấy Philíp đã giới hạn Chúa do khái niệm không đầy đủ về Ngài.
Trong việc cố vấn, khám phá được khái niệm của người được cố vấn về Đức Chúa Trời là điều thật quan trọng. Sau đó nếu thấy khái niệm của họ chưa thỏa đáng, cũng giống như của Philíp, thì bạn có thể tìm cách để sửa đổi họ. Nếu bạn muốn tìm xem thử người ấy có tin cậy Chúa hay không, bạn có thể sử dụng gương mẫu của Chúa Jesus khi Ngài thử đức tin của Philíp. Hãy để người ấy đề nghị những giải pháp khả dĩ cho những vấn đề, và xem thử người ấy có đề nghị việc sử dụng nguồn cung ứng thiên thượng từ quyền năng thực hiện phép lạ của Đức Chúa Trời hay không. Nếu người ấy bỏ qua điều ấy thì có thể xem như người ấy đang tỏ ra những thiếu sót trong khái niệm về Đức Chúa Trời.
Nguyên tắc thứ 3. Khái niệm về Chúa của một người có thể bắt đầu từ niềm tin hoặc sự vô tín.
Qua câu trả lời của Chúa Jesus dành cho Philíp trong 14:9 chúng ta thấy rằng mặc dầu khái niệm của Philíp về Chúa được xuất phát từ lòng tốt, song vẫn có điều gì đó chưa được đầy đủ bởi vì ông dã xin Chúa Jesus chỉ Cha cho mình. Chúa Jesus đã bảo Philíp hãy tin Ngài, hoặc qua những điều Ngài phán, hoặc qua bằng chứng của các phép lạ
* * Chúng ta phải lựa chọn khái niệm về Đức Chúa Trời. Hãy suy nghĩ đến một số cách chúng ta đã nghĩ về Chúa (xem các hình 6.2-7). Đôi khi chúng ta xem Ngài như một Nhà Độc Tài Chuyên Chế, trong hình 6.2 . Nêú bạn nghĩ Ngài là một nhà độc tài thì bạn sẽ cư xử và cảm tưởng thế nào về Ngài.
Đôi khi chúng ta nghĩ đến Đức Chúa Trời như là một Đấng Che Chở Vĩ Đại (Hình 6.3). Thật ra đó chính là một sự cám dỗ đã đến với Chúa Jesus khi ma quỉ bảo qua những lời lẽ: "Này Jesus, hãy gieo mình xuống đi, Cha sẽ sai thiên sứ" (Mat Mt 4:4-11). Kiểu tư tưởng ấy sẽ khiến bạn sống một cách liều lĩnh. Bạn kết luận rằng mình không phải trở thành một người quản gia tốt về thời giờ, về thân thể hoặc những gì thuộc về bạn, bởi vì Đức Chúa Trời sẽ chăm sóc chúng.
Nhiều khi Đức Chúa Trời cũng được coi như một Vị Mạnh Thường Quân vĩ đại ở trên trời (Hình 6.4). Một số người có lẽ gọi Ngài là "Ông già Nôel" của vũ trụ. Lời cầu nguyện của họ lúc nào cũng là "xin hãy ban cho tôi. Hãy ban cho tôi - lạy Chúa, hãy cho tôi"
Hình 6.7
Theo quyển "Man the Manipulator" trang 12 của Everett L. Shostrom.
* * Tôi có thể tìm thấy một khái niệm khác về Đức Chúa Trời được bày tỏ trong hình 6.5. Có một lúc trong kinh nghiệm của mình, tôi đã xem Chúa như một nhân vật khá yếu đuối. Thật vậy, suốt một thời gian dài, tôi đã không hề nói với Chúa rằng tôi đã nóng giận hoặc đã buồn bực vì tôi nghĩ rằng Ngài có thể giải quyết được điều đó. Tôi đoán mình đã nghĩ rằng có lẽ Ngài mất khỏi ngôi hoặc mất đi điều gì đó. Thái độ đó phủ nhận đức tin, bởi vì chúng ta không nói với Chúa các nhu cầu lớn lao của mình. Chúng ta đoán chắc rằng Ngài không thể giải đáp những điều đó.
Những người khác thì xem Ngài như vị Quan tòa (hình 6.6) và vì vậy, họ luôn phải sống dưới mặc cảm phạm tội không dứt. Ngài thật sự chính là một quan án, song là một Quan án công bình và yêu thương.
Bạn có thể tiếp tục và tiếp tục nữa. Có lẽ chúng ta xem Ngài như một kẻ bắt nạt (hình 6.7). Lối suy nghĩ nầy cho thấy lý do người ta bệnh tật là vì Đức Chúa Trời đang trả thù người ấy. Đấy không phải là Đức Chúa Trời mà chúng ta biết phải không bạn?
11. Lối sống của Giu Đa cho thấy ông đã phản bội Chúa Jesus, bảo đảm rằng khái niệm của ông về Đức Chúa Trời bắt nguồn từ ...
Nguyên tắc 4. Một khái niệm về Đức Chúa Trời bắt nguồi từ sự vô tín sẽ dẫn đến những tư tưởng bất hợp lý về Đức Chúa Trời, tức là cảm giác rằng Ngài không yêu thương hoặc quan tâm và một mối liên hệ lạnh lùng, chai lì và không thỏa đáng.
Như bạn đã thấy trong hình 6.8, khi khái niệm về Đức Chúa Trời bắt nguồn từ lòng vô tín, thì tâm trí, tình cảm và ý chí hết thảy đều bị ảnh hưởng. Trong tâm trí, các ý tưởng nổi lên gây cho lẫn lộn và xuyên tạc, khiến cho Đức Chúa Trời bị xem như là Đấng Bất toàn. Tình cảm khuấy động những cảm giác về Đức Chúa Trời khiến cho người ấy cảm thấy không yêu thương và hờ hững bởi người ấy hiểu Ngài như là một Đức Chúa Trời vô tình. ý chí bị tác động bởi cách khiến cho những quyệt định người ấy đưa ra đều dựa vào ý tưởng cho rằng Đức Chúa Trời là Đấng lạnh lùng, vô tình và bất toàn.
KHÁI NIỆM VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI BẮT NGUỒN TỪ SỰ VÔ TÍN
NHỮNG Ý TƯỞNG TÂM TRÍ - Khái niệm về Chúa là không đầy đủ, méo mó và bị lẫn lộn.
NHỮNG CẢM GIÁC TÌNH CẢM -Đức Chúa Trời dường như không yêu thương, hờ hững và vô tình.
NHỮNG QUYẾT ĐỊNH Ý CHÍ - Các mối quan hệ với Đức Chúa Trời bị điều động như thể Ngài là Đấng lạnh lùng, vô tình và bất toàn.
khung 6.8
12. Ghép cặp mỗi cụm từ (bên trái) với hậu quả của sự vô tín mà nó đã mô tả (bên phải)
... a. "Ta ở cùng các ngươi đã lâu thay mà ngươi chưa biết ta?"
... b. "Tôi không nghĩ rằng Chúa thật sự yêu tôi, nếu vậy tôi lệ thuộc Ngài bằng cách nào?"
... c. "Tôi không tin rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên thế gian, phải có một Đấng nào đó dựng nên Ngài"
... d. "Người ta phải đi mà tự làm lấy mọi việc. Không có Đức Chúa Trời nào mà thông cảm và lo cho một cá nhân nào đâu"
Nguyên tắc 5. Khái niệm của một người về Đức Chúa Trời có thể được thay đổi.
Người được cố vấn có một khái niệm kém cõi hoặc không đầy đủ về Đức Chúa Trời có thể thay đổi được bằng cách tuân theo các bước được phác họa trong khung 6.9
CÁC BƯỚC ĐỂ HOÀN THIỆN KHÁI NIỆM CỦA CHÚNG TA VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI
BƯỚC 1: THÔI giới hạn Đức Chúa Trời trong những ý tưởng, cảm nhận và ý muốn của mình.
BƯỚC 2: HÃY NHÌN vào thực tế để khám phá xem Đức Chúa Trời ra sao
a. Những công việc của ngài GiGa 14:11
b. Lời Ngài 14:10
c. Con Ngài 14:9
BƯỚC 3: LẮNG NGHE tiếng của Thánh Linh trong đời sống của bạn. 14:26
khung 6.9
* * Bước 1: Thôi giới hạn Đức Chúa Trời trong những ý tưởng cảm giác và ý muốn của chính mình. Chuyển từ chỗ vô tín đến lòng tin.
Bước 2: Hãy nhìn vào tực tế để khám phá xem Đức Chúa Trời như thế nào. Trong 14:11, Chúa Jesus phán cùng Philíp rằng "khi ta nói rằng Ta ở trong Cha và Cha ở trong ta, thì hãy tin ta, bằng chẳng, hãy tin bởi công việc ta". Nếu bạn muốn biết Đức Chúa Trời như thể nào thì hãy nhìn xem những việc Ngài làm. Sứ đồ Phao lô tuyên bố "Bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy" (RoRm 1:20). Trong GiGa 14:10 Chúa Jesus đã phán cùng Phi líp: "Ngươi há không tin rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong ta sao? Những lời nói với các ngươi, chẳng phải ta tự nói, ấy là Cha ở trong ta, chính Ngài làm trọn việc riêng của Ngài". Chúa Jesus đang khẩn khoản yêu cầu Philíp hãy tin Ngài vì cớ những công việc Ngài làm.
Hãy lắng nghe những lời lẽ của Ngài. Ngày nay chúng ta có Lời Chúa trong một ý nghĩ độc nhất vô nhị, Philíp đã có những lời được Chúa Jesus phán ra, còn chúng ta có Lời được ban cho mình ở trong Kinh Thánh qua Đức Thánh Linh. Hãy nhìn vào Lời Ngài và tìm xem Đức Chúa Trời như thế nào? Có chỗ nào nói rằng Đức Chúa Trời là một Kẻ Bắt Nạt? hay là một Kẻ Vô Cảm và Tàn Nhẫn? Những câu tôi đã tìm được đều nói như vầy "Đức Chúa Trời là thành tín. Đức Chúa Trời là tình yêu thương. Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu Ngài qua Con Ngài". Sau cùng, bạn có thể nhìn vào thực sự qua Con Ngài.
Chúa Jesus phán: "Hỡi Philíp, ta ở cùng ngươi đã lâu thay mà ngươi chưa biết ta? Ai đã thấy ta tức là đã thấy Cha. Sao ngươi lại nói rằng: Xin chỉ Cha cho chúng tôi?" (GiGa 14:9). Phãi nếu bạn muốn biết Đức Chúa Trời như thế nào thì hãy nhìn xem Con Ngài. Con Ngài là Đức Chúa Jesus Christ, Ngài là Đường Đi, Lẽ Thật và Sự Sống (14:6) Đức Chúa Cha giống như Chúa Jesus vậy.
Khi nhìn xem những danh hiệu của Chúa Jesus, bạn sẽ thấy được những thuộc tính của Đức Chúa Trời. Bạn hãy suy xét những danh hiệu nầy: Đấng Chăn Chiên Hiền Lành, Cứu Chúa, Đấng Khuyên Bảo. Đấng Chân Thật, Chúa Jesus là Đường Đi, Lẽ Thật và Sự Sống, là Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Kỳ Diệu, Chiên Con đã chịu giết trước buổi sáng thế, Đấng Cứu Chuộc và Con Người. Đó là những danh xưng đã được ban cho Con để bày tỏ các khía cạnh của bản tánh Đức Chúa Trời. Hãy nhìn xem Con và bạn sẽ hiểu biết Đức Chúa Cha.
Bước 3: Hãy nghe điều Đức Thánh Linh phán với đời sống bạn. Lần nọ có một cô bé đã viết cho Đức Chúa Trời một bức thư vì cớ nỗi bối rối do các sứ điệp khác nhau cô đã nhận được về Đức Chúa Trời. Cô viết dòng chữ nầy: "Nếu Ngài thật sự là Ông Trời, xin hãy bênh vực đi". Tôi xin cho bạn biết rằng Ông Trời thật đã đứng lên rồi. Danh Ngài là Jesus, Ngài là hiện thân và sự bày tỏ tối hậu của tình yêu Agape, tình yêu thiên thượng. Khi tôi biết Ngài, tôi yêu được chính mình và phát huy được lối sống Agape là nếp sống sẽ mang lại sự chữa lành và sự toàn vẹn cho người khác.
13. Xem xét các bước được được cho trong khung 6.9 để hoàn thiện quan niệm của chúng ta về Chúa. Khái niệm về Đức Chúa Trời có thể trở nên tồi tệ hơn. Người bội nghịch hoặc vô tín sẽ có quan niệm xấu hơn về Chúa khi người ấy
a. Bước 1
...
b. Bước 2
...
c. Bước 3
...
14. Trong phần nầy, chúng ta đã tìm được năm nguyên tắc có liên quan đến khái niệm của một người về Đức Chúa Trời. Hãy ghép cặp mỗi câu bên dưới nguyên tắc nào phù hợp, bằng cách viết chỉ số đúng của nguyên tắc ấy vào khoảng trống nằm trước mỗi câu
... a. Suy nghĩ về Đức Chúa Trời một cách hợp lý là hậu quả của một khái niệm thiếu đức tin với Chúa.
... b. Về cơ bản, hết thảy chúng ta đều ao ước muốn hiểu biết Đức Chúa Trời, song khái niệm về Chúa của chúng ta tùy thuộc vào cách chúng ta thành thật ao ước như thế nào.
... c. Tôi sẽ không có một khái niệm giống nhau về Đức Chúa Trời từ lúc tôi mới sinh ra cho đến lúc qua đời, bởi vì khái niệm ấy có thể trở nên tốt hơn hoặc xấu hơn.
... d. Nếu tôi có một ý tưởng rõ ràng về Đức Chúa Trời để biết Ngài như thế nào, và cảm nhận rằng Ngài có khả năng làm được mọi việc, thì tôi sẽ lệ thuộc nhiều hơn vào Ngài và tôi sẽ sống bày tỏ lòng tin cậy Ngài.
... e. Trong Sáng thế ký, chúng ta được thấy một hình ảnh về Gia cốp, đang sợ hãi và chạy trốn cho đến khi ông vật lộn với thiên sứ, và sau đó chúng ta thấy có một sự thay đổi trong Gia cốp. Trước kia ông chưa có đức tin, nhưng sau đó ông đã phát triển một đức tin sâu nhiệm.
15. Ôn lại năm nguyên tắc nhắc đến khái niệm về Đức Chúa Trời. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG.
a. Khái niệm về Đức Chúa Trời không thể thay đổi được.
b. Mọi người khái niệm về Đức Chúa Trời đều có đức tin.
c. Người ao ước muốn biết về Chúa sẽ có được một khái niệm hoàn thiện về Chúa.
d. Cách một người quan hệ với Chúa bị ảnh hưởng bởi khái niệm của người ấy về Chúa.
e. Một người có thể có một khái niệm lành mạnh về Đức Chúa Trời song không sống theo những nguyên tắc của Ngài.
f. Lòng vô tín dẫn đến một suy nghĩ rõ ràng, khôn ngoan.
g. Khái niệm về Đức Chúa Trời của một người theo kiểu nào sẽ đeo đuổi người ấy suốt đời như vậy.
Khái Niệm Về Bản Thân
LuLc 15:11-31;RoRm 12:1-3
Khái niệm về bản thân có nghĩa là "sự hình dung trong tâm trí mà một người có được về chính mình". Vì vậy, khi chúng ta hỏi "Khái niệm của bạn về bản thân là như thế nào?" là chúng ta thật sự muốn hỏi "sự hình dung trong tâm trí mà bạn có được về chính mình là gì?"
* * Khi chúng ta nói đến khái niệm về bản thân, có một số những câu hỏi sẽ nảy sinh đó là: "Tôi có xứng đáng chăng? Tôi có giá trị chăng? Tôi có được chấp nhận không?". Chúng ta đang nói đến thái độ hướng về chính mình, mà đôi khi vì có những tư tưởng tội lỗi và tiêu cực đã khiến chúng ta mang một chiếc mặt nạ và che giấu đi. Chúng ta không muốn để cho người ta biết con người thật của mình.
Lối sống Agape mang sự dạy dỗ nghiêm túc của Thánh Kinh về tình yêu Agape đối với bản thân. Chúng ta không buộc phải phủ nhận chính mình hoặc đề cao chính mình. Chúng ta chọn một lối sống đem chúng ta đến chỗ nhìn biết tiềm lực và mục đích mà Chúa đã dựng nên chúng ta. Làm điều đó là sự ích lợi nhất cho chúng ta và làm vinh hiển Danh Ngài.
Nếu chúng ta chuẩn bị tham gia vào việc gây dựng, giúp đỡ người, chúng ta cần phải nói được rằng chúng ta yêu chính mình. Trong 12:1-2, Phao lô khuyên mời chúng ta hãy dâng thân thể mình như là của lễ sống và thánh cho Đức Chúa Trời, đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi việc làm mới lại trong tâm chí mình.
Bây giờ chúng ta biết rằng ý muốn của Đức Chúa Trời là để yêu thương. Chúng ta được cho biết như vậy trong đại mạnh lịnh. Chúng ta phải được biến hóa để có thể chứng minh và bày tỏ ý muốn của Đức Chúa Trời, là điều tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn, hoặc là trưởng thành và hoàn toàn. Ý nghĩa thực sự ở đây là người ta sẽ nhìn vào lối sống của bạn và bảo: "Đấy là cách sống tốt đẹp, cách sống của họ là cách sống tốt lành. Đó là một lối sống trưởng thành". Điều đó sẽ khiến họ nói về bạn như vầy: "Người ấy giống Cha mình ở trên trời"
Mỗi người đều phải nhận thức rằng mình xứng đáng trong cái nhìn của Đức Chúa Trời và rằng người ấy có khả năng để nhận lãnh và ban ra tình yêu Agape. Một khi đã hiểu biết như vậy, người ấy sẽ tìm được sự chữa lành cho chính mình, và sẽ có một ảnh hưởng chữa lành trong các mối tương quan nữa.
Trong câu 3 của Rôma đoạn 12, chúng ta đọc thấy như vầy: "Vậy, nhờ ơn Đức Chúa Trời đã ban cho tôi, tôi nói với mỗi người trong anh em, chớ có tư tưởng cao quá lẽ, nhưng phải có tâm tình tầm thường, y theo lượng đức tin mà Đức Chúa Trời đã phú cho từng người". Theo câu Kinh Thánh nầy, ta phải nghĩ về mình một cách khiêm nhường, với sự trong sáng, cách phải lẽ và với đức tin. Câu Kinh Thánh nầy dạy chúng ta đừng coi mình theo cách phủ nhận hoặc tự tôn cao song phải đúng với con người thật của mình.
Nguyên tắc 1 : Khái niệm tiêu cực về bản thân thường khiến cho người ta phải chịu đựng ít nhất một điều sau đây : sự đổ vỡ trong những mối tương quan, cảm giác an toàn giả tạo, lệ thuộc vào cảm xúc, thiếu nhạy cảm đối với những người khác, và xuyên tạc thực tế.
Hết thảy chúng ta đều có quyền lựa chọn một thái độ sống liên quan đến chính mình hoặc người khác. Bạn nhìn xem chính mình như thế nào ?
Thành thật mà nói, tôi thấy có rất nhiều người trong thân thể Đấng Christ quan niệm rằng "Tôi không Tốt" Chúng ta thường hờ hững với chính mình và ngăn không cho mình kinh nghiệm được sự sống và yêu thương của Chúa tuôn chảy qua đời sống chúng ta.
Trong Kinh Thánh chúng ta thấy có một số hình ảnh về những con người nhìn về bản thân một cách tiêu cực hoặc những người tự tâng bốc mình. Cả hai quan niệm này bày tỏ thái độ tiêu cực đối với bản thân.
Bạn còn nhớ câu chuyện trong LuLc 15:11-31 không ? Chúng tôi muốn nói đến câu chuyện "Người con trai hoang đàng". Trong câu chuyện ấy, người con thứ hai đã nói rằng "Hãy chia cho tôi phần gia tài của tôi. Tôi sẽ cho thế giới biết tay" Nếu bạn quan sát điều đã xảy đến cho cuộc đời của người con trai nầy, bạn sẽ thấy anh ta đã cảm thấy một sự an toàn giả tạo đã kinh nghiệm những mối quan hệ bị đỗ vỡ, lệ thuộc mù quáng vào sự tự tưởng tượng, tình trạng phi lý và vô trách nhiệm của mình. Tất cả những điều đó là hậu quả của việc tự tâng bốc chính mình. Anh ta muốn nói rằng "Ta sẽ tỏ cho chúng biết mình là ai"
Khi anh ta tỉnh ngộ và trở về với cha mình, anh đã kinh nghiệm được sự an toàn và sự chữa lành cho các mối tương quan. Anh được tự do để làm chính mình, được đối diện với thực trạng của cuộc sống. Nhờ đó, anh được hưởng sự giàu có và vui thỏa vốn hoàn toàn thuộc về anh. * *
* * Người anh của anh ta cũng là một nhân vật đáng chú ý. Tôi nghĩ anh ta là một hình ảnh về sự tiêu cực. Hãy xem Hình 6.10. Nó diễn tả sự tiêu cực giống như một hình ảnh khác mà tôi đã thấy. Điều gì đã xảy ra cho người anh nầy ? Há không phải là điều thú vị khi được sống trong nhà cha mình và làm mọi điều anh cho là được mong đợi sao ? Nhưng anh đã không hề kinh nghiệm được tình yêu mà anh mong muốn. Anh ta đã không hề cho phép mình kinh nghiệm điều đó. Anh đã nói một điều tương tự như vậy "Nếu như tôi thực hiện tốt, thì họ mới nghĩ rằng tôi xứng đáng" (15:29). Khi người em trở về, người cha nài nỉ người anh vào và dự tiệc, nhưng người con nầy đã từ chối. Anh đã giận dỗi bỏ ra ngoài và tự mình từ chối chính điều anh muốn vì cớ sự tự hình dung của mình. Anh cũng đã có một cảm giác an toàn giả tạo, nhưng mối quan hệ bị đỗ vỡ, lệ thuộc mù quáng vào sự tự hình dung của mình, phi lý và thiếu trách nhiệm. * *
Nhiều khi chúng ta cũng đã làm những điều như vậy, có phải không? Chúng ta tự bảo mình "Nếu như tôi thực hiện cho tốt, thì tôi mới thực sự là xứng đáng"
16 Nếu chúng ta phải gây dựng cho người khác, thì chúng ta phải yêu chính mình bằng tình yêu agape, bởi vì theo Mat Mt 10:24, .
...
17 Ôn lại LuLc 15:11-32. Hãy viết chữ Đ trước câu nào đúng với người con hoang đàng. Viết chữ C nếu đúng với người anh Cả. Viết chữ H nếu đúng cho cả hai anh em.
... a Anh ta đã kinh nghiệm một sự an toàn giả tạo
... b Những mối quan hệ bị đỗ vỡ vì anh ta từ chối nguồn yêu thương mà anh vốn có.
... c Anh ta đã không hề công nhận mình được yêu thương.
... d Tự tâng bốc là vấn đề của anh ta
... e Nan đề của anh ta là tự phủ nhận mình
... f Thực tế đã bị xuyên tạc đối với anh.
18 Khi một người có những suy nghĩ tiêu cực đối với bản thân mình, là người ấy đã đáp ứng bằng lối cư xử
19 Hãy xem xét trường hợp dưới đây :
Một thiếu nữ được đưa đến vị cố vấn vì cô ta muốn bỏ học và tìm một việc làm. Cô nói với vị cố vấn rằng cô chán ghét mọi người; và ghét đặc biệt ngôi trường học mà cô phải theo học. Cô ta thấy chẳng có ý nghĩa gì trong việc đến trường vì tất cả những gì trong các lớp học của cô đều vô nghĩa. Cô biết mình có thể tìm được một việc làm tốt tại một nhà hàng tại địa phương và thậm chí kiếm được tiền để tậu một căn hộ nữa. Theo như điều cô suy nghĩ, thì cha mẹ cô không yêu cô, mà tất cả tình yêu của họ đều dồn cho người em trai của cô. Cô cảm thấy chăng ai quan tâm đến mình, nếu như cô bỏ học hoặc bỏ nhà ra đi.
Từ trường hợp mẫu trên, hãy tìm ra những bằng chứng do năm hậu quả của một khái niệm tiêu cực về bản thân như đã nêu lên trong Nguyên tắc 1. Hãy viết xuống các bằng chứng của mỗi hậu quả.
a Những mối quan hệ bị đỗ vỡ
...
b Một cảm giác an toàn giả tạo
...
c Lệ thuộc mù quáng vào cảm xúc
...
d Vô tình đối với người khác
...
e Xuyên tạc sự thật
...
Là người cố vấn, nếu bạn nhìn thấy các bằng cớ của khái niệm tiêu cực về bản thân như vậy thì bạn phải cố gắng để chữa lành cho mối tương quan đã bị đỗ vỡ. Bạn phải tin cậy rằng nhờ Chúa sự chữa lành sẽ xảy ra. Bạn phải có thái độ của người phục vụ :"Tôi sẽ làm điều ích lợi nhất cho người đó". Sau cùng bạn không bao giờ được đoán xét những người ấy, là người thật sự thấy chính họ không ra gì.
Nguyên tắc 2 : Một khái niệm tích cực về mình là một khởi điểm quan trọng cho sự trưởng thành, là điều đem cho người ta một ý thức về sự xứng đáng với sự tự do để tăng trưởng và yêu thương.
20 Đọc những câu Kinh Thánh sau và nêu lên những phần bày tỏ cảm nhận tốt về chính mình, hoặc đưa ra những bằng cớ về cách để nhận được sự bảo đảm cho bản thân.
a Thi Tv 91:2
...
b Phi Pl 1:6
...
c 4:13
...
d IGi1Ga 3:2
...
Một điểm đáng lưu ý: thật khó để phân biệt giữa một khái niệm tích cực về bản thân với một khái niệm tự đề cao bản thân, như trong trường hợp người con trai hoang đàng. Chúng ta cần phải nhạy cảm đối với sự dẫn dắt của Chúa, và cần được nhắc nhở rằng sức mạnh và sự xứng đáng của mình đến từ Đấng Christ, là Đấng đã thay đổi chúng ta và ban cho chúng ta điều chúng ta hiện có.
Nguyên tắc 3 : Khái niệm về bản thân là sản phẩm của những ý tưởng, những thông tin (thật hoặc không thật) mà chúng ta tin về chính mình.
Hãy nhìn một vòng quanh một số các gia đình khác nhau. Ở tại một gia đình nọ, bạn có thể thấy bậc cha mẹ và những người thân đưa ra những lời bình phẩm tích cực về con cái họ và để cho chúng biết chúng đang làn điều tốt, tuy nhiên vẫn khuyên giục chúng hãy làm tốt hơn nữa khi vẫn còn những chỗ phải sửa đổi. Trong trường hợp đó, những đứa trẻ thường chấp nhận một cách lành mạnh. Ở một gia đình khác, các bậc cha mẹ có lẽ không ngừng khoe khoang về con cái họ cho đến khi họ chỉ còn biết nói về điều đó thôi. Trong một gia đình như vậy, các đứa trẻ có thể trở nên tự phụ đến nỗi chúng có thể tự tôn mình là "siêu đẳng" hơn những đứa trẻ đồng lứa. Trong gia đình khác nữa thì cha mẹ và những người trong gia đình lại không bao giờ khoe những điểm tốt mà con cái mình đã làm được mà thay vào đó cứ luôn bảo rằng chúng không xứng đáng gì cả. Những đứa trẻ trong các gia đình như vậy thường tự bảo mình rằng chúng thật sự không có giá trị gì và không có gì để đóng góp. Chúng ta phải duy trì một sự quân bình qua tình yêu thương, sự khôn ngoan và lời cầu nguyện.
Những vấn đề khác cũng có thể truyền thông tin đến cho chúng ta. Hết thảy chúng ta đều từng thấy một người khi đã cố gắng thực hiện một dự án khó khăn mà đã thành công mỹ mãn, con người ấy trở nên rất tự hào về thành tựu ấy đến nỗi điều đó ảnh hưởng đền toàn bộ cách sống của người ấy. Mặt khác, một sự thất bại có thể đẩy một người khác đến chỗ cảm thấy mình hoàn toàn vô giá trị. Trong mỗi trường hợp, thành công hay thất bại có thể thật sự đã xảy đến cho một biến cố khác hoặc một con người nào đó, tuy nhiên sự phá hại vẫn xảy ra. Chúng ta cần phải biết những thông tin và xem chúng từ đâu đến khi liên hệ đến khái niệm về bản thân.
Hãy xem phần ký thuật về Phao lô, Ba na ba và Giăng Mác được chép trong Cong Cv 15:35-40 và IITi 2Tm 4:11. Trong Cong Cv 15:38 chúng ta thấy Mác đã thất bại trong cái nhìn của Phao lô khi anh ta lìa Phao lô và Ba na ba. Tuy vậy trong 15:37, Ba na ba đã đưa ra thông tin về tiềm năng thàng công của Mác, bằng cách đã nói chủ yếu là như vầy "Tôi muốn đem Mác theo. Anh ấy sẽ giúp ích". Rõ ràng là sứ điệp về khả năng thành công của Mác đã đến với Mác vì trong IITi 2Tm 4:11, Phao lô viết :"Con nên đem Mác theo, vì Mác có ích cho ta trong chức vụ". Ví dụ trên cho thấy cách một người có thể vượt qua những thất bại nhờ lắng nghe sự hồi đáp tích cực từ nơi một người bạn như Ba na ba.
* * Hãy suy nghĩ đến thứ đá kim cương trong chốc lát. Gia đình tôi có dịp tiện được sống tại Hòa Lan, và tôi được xem những người cắt kim cương. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ cho rằng đây là một sự minh họa đẹp đẽ để dạy chúng ta một điều gì đó về ý nghĩa của cuộc sống. Vì sao người ta lấy một viên kim cương ra khỏi mỏ và giao nó vào tay người thợ lành nghề để được cắt, dũa và trau chuốt ? Bởi vì viên đá ấy rất có giá trị. Phải không nào ? Mặc dầu viên đá ấy có lẽ chưa đều về hình dáng và chưa hoàn toàn về nhiều mặt, song người ta đã giao chúng vào tay của những người thợ điêu luyện để họ cắt, dũa và đánh bóng nó ngõ hầu mang lại vẻ đẹp của nó, giá trị vốn có của nó. Điều đó dạy tôi biết một vài điều trong đời sống mình
Tôi thấy Đức Chúa Trời đã đem đời sống tôi ra khỏi sự nhơ bẩn của tội lỗi. Ngài đã nhìn thấy tôi xứng đáng và quý giá. Ngài phán "Nầy Jack, con rất quý giá". Thánh Kinh phán rằng đang khi tôi còn ở trong tình trạng kinh kiếp, thì Đấng Christ đã tỏ lòng yêu thương của Ngài đến cùng tôi, và Ngài đã chấp nhận tôi (RoRm 5:8) Ngài nay là Người Thợ Lành Nghề làm phát lộ vẻ tươi đẹp trong đời sống tôi. Vì vậy tôi có thể nói :"Không phải vì tôi chọn vẹn, không phải vì tôi đã thực hiện được điều gì, không phải vì tôi tốt đẹp, song vì sự quý giá vốn có của tôi ấy là tôi có Con của Đức Chúa Trời. Ngày nay tôi có thể nói một cách thành thật và công khai rằng "Tôi là xứng đáng. Tôi là quý giá. Tôi được yêu thương và tôi có khả năng ban ra tình yêu thương".
Khung 6.11 minh họa một chu trình của sự tự hình dung. Tôi nghĩ nó diễn tả được điều tôi muốn nói * *
* * Một số người trong chúng ta, qua những kinh nghiệm và qua những quan hệ, đã tiếp nhận những tiêu cực :"Anh không được Tốt" Thế là chúng ta tiếp nhận điều đó, rồi tự suy nghĩ "Mình không tốt. Mình chẳng được ai yêu mến. Mình chẳng ra gì cả" Khi một người cứ để cho ý tưởng ấy lặp đi lặp lại mãi trong suy nghĩ của mình, như một cuộn băng, người ấy nghe mãi đến nỗi bắt đầu tin như thế. Tin rồi, người ấy bắt đầu cảm thấy điều đó. Người ấy cảm thấy thật kinh kiếp, không được yêu, và bất mãn. Người ấy cảm thấy không ai quan tâm đến mình. Rồi khi cảm thấy như thế, người ấy sẽ cư xử như thế nào ? Có lẽ là thái độ vô trách nhiệm, và rối người ấy kết luận "Ôi, tôi không Tốt" và người ấy làm vững thêm ý tưởng lúc đầu đó, rồi cứ lẩn quẩn như vậy. Đó là một "vòng đu quay" tiêu cực, một hệ thống khép kín với cái nhìn tiêu cực về bản thân. Nguyên tắc của Thánh Kinh trong ChCn 23:6, nói rằng một người suy tưởng thế nào thì sẽ trở nên thế ấy. Điều người ta làm là kết quả của cách người ấy cảm nhận và cư xử * *
Nguyên tắc 4 : Một người có thể phát triển một khái niệm lành mạnh về bản thân và yêu chính mình bằng tình yêu agape, hoặc tình yêu thiên thượng, bằng cách thực hiện các bước được bày tỏ trong khung 6.12.
Bước 1 : Nhận ra những ý kiến không đúng về chính mình mà bạn đã tin và thay thế bằng những ý kiến thật tế về chính mình.
Bước 2 : Xưng nhận mình là ai trong mối quan hệ với Chúa trong các quá trình suy nghĩ của tâm trí và trong lời nói
Bước 3 : Khẳng định giá trị mà Chúa đã đặt trên đời sống bạn và khả năng nhận và ban tình yêu agape của mình bởi lối sống mà bạn chọn.
Khung 6.12
* * Bước 1 : Tôi phải nhận biết những ý kiến sai và thay vào bằng những ý tưởng đúng. Những tư tưởng tích cực ấy là gì ? Một tư tưởng tích cực đó là "tôi xứng đáng là con Đức Chúa Trời". Điều đó đã được bày tỏ qua sự chết của Chúa Giê xu trên thập tự giá. Tôi xứng đáng là con Đức Chúa Trời. Bởi vì tôi được yêu thương, do đó tôi có khả năng để ban cho tình yêu thương. Tôi cần phải bắt đầu nghĩ về mình như Chúa đã nghĩ về tôi.
Bước 2 : Tôi phải xưng nhận bằng tâm trí và bằng lời nói xác định tôi là ai trong mối tương quan với Đức Chúa Trời, dầu cho tôi có cảm thấy như thế nào đi nữa. Điều này có nghĩa là tôi phải vượt qua những cảm giác của mình và chọn lựa cách cư xử dựa trên nền tảng của sự thật - là điều tôi thật sự biết là đúng - hơn là trên cơ sở của cảm giác - tiếc là tôi cảm thấy như thế nào về điều gì đó. Những cảm giác của tôi có lẽ là sự thử nghiệm ít xác thực nhất về tính thực tế. Chỉ vì khi tôi cảm thấy điều gì đó thì không có nghĩa điều đó là thật.
Bước 3 : Tôi phải khẳng định giá trị mà Chú đã đặt để trên cuộc đời tôi và khả năng để ban cho à nhận lãnh tình yêu agape của tôi qua hành động hoặc cách cư xử. Đó là điều tôi ần phải lập đi lập lại mãi hầu cho tôi củng cố được ý tưởng tích cực về giá trị của mình * *
GIÁ TRỊ CỦA TÔI LÀ GÌ ?
TÔI CÓ QUYỀN LỰA CHỌN - TÔI SẼ CHỌN ĐIỀU NÀO ?
TÔI TỐT - TÔI KHÔNG TỐT
1 Cảm biết mình quý giá
2 Thành công
3 Thật tế
4 Thõa lòng
5 Ý nghĩa
6 Tin cậy
7 Chân thật
8 hầu việc
9 Yêu thương
10 Vâng lời
* Chữ " TỐT " sử dụng trong bài học ngụ ý rằng "vì có Chúa Giê xu,... tôi xứng đáng, tôi có giá trị. Tôi được yêu thương và có thể ban cho tình yêu"
Khung 6.13
* * Hãy xem xét khung 6.13 đối chiếu những cảm giác tương phản của một người cảm thấy những điều tốt của mình - tức là có một khái niệm tích cực đối với bản thân - với một người không thấy mình có gì tốt - tức là có một khái niệm tiêu cực về bản thân.
Khi chúng ta phủ nhận chính mình, là chúng ta từ chối các chức vụ của Thánh linh trong đời sống mình Ngài thúc đẩy chúng ta tham dự vào một loại chức vụ nào đó, song chúng ta bảo "Tôi không làm được công việc ấy" Kinh Thánh phán thể nào ? Trong Phi Pl 4:13, Kinh Thánh bảo rằng "Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi" Chúng ta cần phải cẩn thận đừng phủ nhận chính mình cũng đừng tôn cao chính mình, song phải nghĩ về mình với lòng khiêm nhường bằng tư tưởng rõ ràng và một sự phán đoán không thiên vị, bằng đức tin. Tôi xứng đáng là con cái Đức Chúa Trời. Tôi được Ngài yêu thương, vì vậy, tôi có điều để ban cho bạn. Tôi yêu thương bạn !
Nếu bạn bắt đầu suy nghĩ một cách tích cực về mình, bạn sẽ có sự thay đỗi trong lối sống, và bạn sẽ không những nhận biết mình được yêu mà còn có khả năng để ban cho tình yêu thương, đó là sự hầu việc * *
21 Liên hệ đến khung 6.13 và nhận biết các bước để phát triển một khái niệm lành mạnh về bản thân. Xem xét các câu sau về một người được cố vấn và viết số 1, 2 hoặc 3 tùy theo bước cải thiện mà nó mô tả.
... a "Tôi biết mình là con cái của Đức Chúa Trời. Ngài đã thâu nhận tôi vào trong gia đình của Ngài"
... b "Tôi quý giá hơn bất cứ tạo vật nào của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu tôi, vì vậy tôi sẽ bày tỏ tình yêu đối với những người khác"
... c "Tôi luôn suy nghĩ về điều kỳ diệu bởi được làm anh em với Chúa Giê xu ! Ngài gọi tôi là anh em của Ngài"
... d "Tôi còn nhớ cha tôi luôn luôn bảo tôi là một thằng đần độn không biết tính toán gì cả, nhưng tôi biết mình được Đức Chúa Trời tạo dựng, và Ngài làm mọi việc đều tốt lành"
22 Hãy xem lại câu chuyện Người Con Trai Hoang đàng trong LuLc 15:11-32. Anh ta chắc chắn đã có cảm giác rằng "mình không tốt". Theo bạn anh ta đang nghe những điều sai lầm nào trong khung 6.13
...
23 Hãy đọc lại LuLc 15:11-32 Người con trai lớn chắc chắn đã có cảm giác rằng "mình không TỐT". Theo bạn anh ta đã nghe theo những điều sai lầm nào trong khung 6.13
...
Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng không thể nào sống theo nếp sống agape được nếu chúng ta chưa yêu thương mình như cách Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta. Khi chúng ta chấp nhận mình như Chúa chấp nhận chúng ta thì chúng ta mới có một khái niệm tích cực về bản thân nói như vầy "Tôi là một người rất đặc biệt. Tôi được dành riêng cho một mục đích. Mục đích dành cho tôi ấy là trách nhiệm của Đức Chúa Trời. Tôi nhận thấy, bạn cũng rất là đặc biệt và chúng ta sẽ cùng nhau làm việc để cả hai chúng ta cùng lớn lên trong việc sống theo nếp sống agape." Người mà không ngớt tự bảo mình rằng "Tôi chẳng có gì tốt đẹp. Đức Chúa Trời chẳng quan tâm đến tôi" là người không sống bằng đức tin và không thể giúp đỡ người khác mà đúng ra đã có thể giúp nếu người ấy nhận biết mình là một trong những con cái đặc biệt của Chúa.
Khái Niệm : Xác Thịt Chống Lại Thánh Linh
RoRm 6:1-23;GaGl 5:16-6:10
Trong môn học này chúng ta nói rằng tình yêu agape dành cho bản thân là "có một tình yêu thiên thượng đối với chính mình" Có nghĩa là "liên hệ với bản thân theo cách lợi ích nhất cho chính người đó, và điều ích lợi nhất đó được nhìn theo quan điểm của Đức Chúa Trời" Vì vậy, tình yêu agape dành cho bản thân đòi hỏi phải đóng đinh xác thịt và thường xuyên sống theo Thánh linh của Đức Chúa Trời. Bằng cách ấy, xác thịt đây có nghĩa là "bản tánh tội lỗi của con người hoặc là con người khi người ấy cho phép chính mình trở nên mâu thuẫn với con người mà Chúa muốn người ấy trở thành" Xác thịt là "con người mà không có Đấng Christ và Thánh linh của Ngài" Xem Khung 6.14 để biết những điều Kinh Thánh nói về xác thịt.
KINH THÁNH NÓI VỀ XÁC THỊT
1. Không có Điều Lành - RoRm 7:18
2. Làm Nô Lệ cho Tội Lỗi - 7:25
3. Phá Hủy Những Mối Liên Hệ - ICo1Cr 3:1-3
4. Thù Nghịch với Đức Chúa Trời - RoRm 8:7
5. Không Thể Đẹp Lòng Đức Chúa Trời - 8:8
6. Chối Bỏ Quyền Thừa Kế - GaGl 5:19-21
7. Chiến Tranh, Xung Đột với Thánh Linh - 5:16-17
8. Mất Sự Kiểm Soát của Thánh linh Đức Chúa Trời - RoRm 8:9-12
9. Dẫn đến Sự Chết - 8:13
10. Phải Bị Đóng Đinh - GaGl 5:24
Khung 6.14
Nguyên tắc 1 : Lối sống theo kiểu mẫu của xác thịt là tự hủy diệt và vì vậy vi phạm đến khái niệm yêu thương.
Theo RoRm 6:1-2, 15-23, con người sẽ trung thành với người vâng phục. Người ấy có thể làm nô lệ hoặc cho tội lỗi, hoặc cho sự công bình. Hậu quả của việc làm nô lệ cho tội lỗi là sự chết. Kết quả của việc làm nô lệ cho sự công bình dẫn đến sự thánh khiết và sự sống đời đời
Thư Ga la ti cũng nêu lên sự tương phản giữa xác thịt với Thánh linh. Mối liên hệ giữa bản tánh tội lỗi với một đời sống được Thánh linh kiểm soát được đặt trưng bởi sự xung đột. Những hành động rõ rệt của bản tánh tội lỗi hoặc của tội lỗi bao gồm : sự bại hoại về tình dục, sự ô uế, trụy lạc, thờ hình tượng, tà thuật- thù ghét, bất hòa ghen tị, những cơn thịnh nộ, tham muốn tư kỷ, những sự chia rẽ, những bè phái, đố kỵ, say sưa, điên cuồng và những việc giống như vậy. Theo GaGl 5:16-26, giải pháp của việc không chìu theo xác thịt là phải sống theo Thánh linh. Bông trái của Thánh linh được đặc trưng bởi : lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm mại và tiết độ. Vì vậy, nếu chúng ta lựa chọn để sống theo Thánh linh và luôn bước đi với Thánh linh của Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ giải quyết được sự xung đột và cứu mình khỏi sự hủy diệt của lối sống theo xác thịt.
Chúng ta có thể tóm lược Nguyên tắc 1 bằng cách nói rằng nếp sống agape và tình yêu thiên thượng là một. Và chúng ta khám phá rằng không Có lòng yêu thế gian trong những kẻ yêu mến Đức Chúa Trời. Yêu mình hay là việc sống theo lối sống agape dựa trên điều ích lợi nhất cho chúng ta (theo cái nhìn của Đức Chúa Trời) Và chúng ta biết rằng đời sống theo xác thịt là đời sống bị hủy hoại ! Cuộc đời của chúng ta phải bắt chước theo kiểu mẫu của Thánh linh Đức Chúa Trời.
Nguyên tắc 2 : Đời sống agape dựa trên sự hiểu biết những yếu tố sau đây : 1) con người cũ của mình là xác thịt đã chết của Đấng Christ chịu chết; 2) bởi vì Đấng Christ đã sống lại, con người mới hoặc bản tính mới của tôi cũng sống lại; và vì vậy 3) hiện nay, tôi không còn là nô lệ cho tội lỗi nữa.
Theo RoRm 6:6, con người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh với Đấng Christ, do đó, thân thể của tội lỗi bị vô hiệu hóa. Khi Đấng Christ chịu chết, tôi cũng chịu chết đối với bản ngã hoặc bản tánh tội lỗi cũ. Nay Đấng Christ sống, nên tôi cũng được sống. Vì vậy, chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa, nhưng cho sự công bình
Nguyên tắc 3 : Việc đóng đinh xác thịt được kinh nghiệm bởi việc kể như xác thịt (bản tánh tội lỗi cũ) đã 1) chết đối với tội lỗi cũ, và 2) sống đối với Đức Chúa Trời, bởi việc chúng ta hiểu được các sự kiện và việc làm kể mình làm một với Ngài.
Nguyên tắc 4 : Chúng ta được buông tha khỏi xác thịt qua việc dâng các chi thể trong thân thể mình cho Chúa để sống phải lẽ hoặc sống theo sự công bình. Theo 6:13 một người không thể nào vừa dâng chi thể mình cho tội lỗi như là đồ dùng về sự gian ác lại vừa dâng thân thể mình cho Chúa như là đồ dùng về sự công bình.
Nguyên tắc 5 : Công trái thuộc linh là kết quả của việc thường xuyên bước đi trong Thánh linh, và điều đó có nghĩa là phải chịu trách nhiệm đối với Ngài, được Ngài kiểm soát, được Ngài hướng dẫn.
24 GaGl 5:16-6:10 đưa ra một số những kết quả của việc thường xuyên bước đi trong Thánh linh. Hãy viết ra những kết quả được bày tỏ trong mỗi câu sau đây :
a 5
...
8 c 5:22-23
...
d 5:24
...
e 6:8
...
f 6:9
...
Hãy luôn ghi nhớ các nguyên tắc ấy. Khi bạn cố vấn cho người khác, bạn sẽ nhìn thấy những con người ấy bày tỏ bản tánh tội lỗi của họ. Khi đó, trách nhiệm của bạn là giúp họ nhìn thấy họ đang sống trong xác thịt và họ cần phải chết đối với tội lỗi và sống cho Đức Chúa Trời trong Dức Chúa Giê xu Christ.
25 Ghép cặp mỗi nguyên tắc (phải) với sự giải thích của nó (trái)
... a Mỗi một chi thể trong đời sống của người tin Chúa đều được dâng cho Đức Chúa Trời để dùng vào việc tốt lành
... b Nhận thức của Cơ Đốc Nhân về cuộc sống đặt nền tảng trên việc nhận biết rằng, bởi Đấng Christ đã chịu chết và đã sống lại, nên người ấy không còn bị trói buộc vào những luật lệ của tội lỗi nữa.
... c Tội lỗi không còn hấp dẫn đối với người tin Chúa nữa bởi đời sống người ấy đang bắt chước theo kiểu mẫu của Chúa Giê xu.
... d Đóng đinh xác thịt dẫn đến một lối sống kết quả về mặt thuộc linh.
... e Một người phải nhận biết rằng người ấy chịu ơn Chúa để sống theo lối sống agape vì cớ sự chết và sự sống lại của Đấng Christ.
... f Đời sống xác thịt hủy hoại khả năng yêu mình bằng tình yêu agape.
Khái Niệm Về Sự Cung Ứng từ Thiên Thượng
IITi 2Tm 3:16-17; IPhi 1Pr 1:3-4; GiGa 14:21
Một người trưởng thành nhận biết sự phụ thuộc của mình vào những điều đã được ban cho để có thể sống nếp sống agape. Những điều đã được ban cho ấy theo quan điểm của lẽ thật gồm có : Lời Chúa, quyền năng phục sinh, quyền năng của Đức Thánh linh, và gương mẫu của Chúa Giê xu.
Nguyên tắc 1: Đức Chúa Trời là nguồn gốc của tình yêu, và vì cớ tình yêu, Ngài đã lựa chọn để mặc khải chân lý cho mọi người hầu cho người có thể hiểu và liên hệ với thực tế bằng tình yêu agape
Trong IITi 2Tm 3:16-17. Phao lô đưa ra năm mục đích của lời Kinh Thánh. Những mục đích ấy là dạy dỗ, quở trách, sửa trị, tập rèn người trong sự công bình và trang bị người tin Chúa cho mọi công việc tốt lành. Vì vậy, Kinh Thánh là một trong những sự cung ứng chính từ thiên thượng mà Chúa đã sắm sẵn cho con người để giúp con người sống theo lối sống agape.
26 Đọc IIPhi 2Pr 1:20-21. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG
a Lời tiên tri trong Kinh Thánh đến từ sự diễn giải riêng của vị tiên tri
b Lời tiên tri bắt nguồn từ ý muốn của con người
c Người ta đã nói và viết ra theo sự chỉ dẫn của ĐTC
d Đức Thánh Linh đã giúp con người trong khi họ viết ra
Bạn có trách nhiệm phải giúp cho người được cố vấn hiểu rằng Đấng Tạo Hóa của người ấy đã cung ứng cho người ấy một cẩm nang hoạt động, hầu cho người ấy có thể sống theo như ý định của Đức Chúa Trời. Có thể bạn cần phải để cho người ấy tra xem những câu Thánh Kinh nói về giá trị, bản chất và sự soi dẫn của Thánh Kinh. Bạn nên cố gắng thuyết phục người được cố vấn hãy sống trong những quyển cẩm nang này, bởi vì đó là vì cớ ích lợi tốt nhất của người ấy.
Nguyên tắc 2: Đức Chúa Trời, Đức Thánh linh, ban cho con người quyền năng để sống nếp sống agape trong tiềm năng đầy trọn nhất của nó.
Theo RoRm 5:5, một trong những lợi ích của Đức Thánh linh là để chúng ta nhận được tình yêu của Đức Chúa Trời vào lòng mình. Một ích lợi khác của việc Đức Thánh linh sống trong chúng ta đó là hiện nay chúng ta có thể kinh nghiệm được bông trái của Thánh linh trong đời sống mình (GaGl 5:22). Ba điều mà chúng ta có thể trông đợi theo IIPhi 2Pr 1:3-4, bởi quyền năng thiên thượng của Đức Thánh linh đó là 1) cung ứng mọi điều chúng ta có cần thuộc về sự sống và sự tin kính, 2) có thể dự phần bổn tánh thiên thượng, và 3) thoát khỏi sự hư nát của thế gian.
Nguyên tắc 3: Một người mở đời sống mình ra đón nhận những nguồn cung ứng về tình yêu agape của Đức Chúa Trời bằng lời cầu nguyện và sự vâng lời.
Trong Eph Ep 3:14-21 và Phi Pl 1:9-11, Phao lô thừa nhận sự lệ thuộc của ông vào nguồn Cung Ứng thiên thượng của sự cầu nguyện trong GiGa 14:21, Chúa Giê xu đã tuyên bố ba lợi ích dành cho kẻ tin, là người vâng lời Đức Chúa Trời. Ba lợi ích đó là: 1) Đức Chúa Trời sẽ yêu mến kẻ vâng lời, 2) Chúa Giê xu cũng sẽ yêu người ấy và 3) Chúa Giê xu sẽ tỏ cho người ấy biết Chính Ngài.
Theo IGi1Ga 5:1-3, bằng cớ trước tiên của lòng yêu mến Chúa là phải vâng lời các điều răn của Ngài. Điều đó bao gồm cả mạng lệnh cầu nguyện với Đức Chúa Cha không thôi.
Nguyên tắc 4: Đức Chúa Trời đã cung ứng một gương mẫu về lối sống agape trong thân vị của Chúa Giê xu. Chúng ta phải sống đời sống để Đấng Christ làm trung tâm ngõ hầu noi theo gương mẫu mà Đức Chúa Trời đã ban cho.
* * Trong GiGa 15:5 Chúa Giê xu phán :"Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Nếu ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sẽ sinh ra lắm trái, vì ngoài ta các ngươi chẳng làm chi được" Chúa Giê xu chính là nguồn Cung Ứng của chúng ta và là kiểu mẫu để chúng ta sống lối sống agape * *
Chúng ta phải nhận biết rằng lối sống agape là một kiểu sống có mối tương quan được định hướng. Bởi vì kiểu sống này bắt chước theo kiểu mẫu của Giê xu và nguồn Cung Ứng của nó là Chính mình Đấng Christ, vì vậy nó là một lối sống kiên trì, quân bình, được Thánh linh thúc giục và lối sống có kết quả. Liệu pháp agape giúp con người khám phá và sử dụng các nguồn cung ứng nầy vào đời sống họ. Tất cả các nguồn cung ứng nầy đều phải thực hiện cùng với việc nhận và ban tình yêu agape. Không có Chúa Giê xu, chúng ta không thể sống được lối sống agape
27 Trong Giăng đoạn 15, Chúa Giê xu phán "Ta là gốc nho các ngươi là nhánh" Mỗi một nguồn cung ứng mà Đấng Christ cung ứng đều đã được liệt kê bên dưới, cũng như câu Kinh Thánh nói rõ chỗ nguồn cung ứng ấy được tìm ra. Hãy viết xuống phần Kinh Thánh giải thích nguyên tắc ấy.
a Lời Chúa, c.3
...
b Mối thông công, c.4
...
c Đấng Christ là trung tâm, c.4
...
d Kết quả, c.5
...
e Cầu nguyện, c.7
...
f Yêu thương, c.10
...
g Đời sống Vâng lời, c.10
...
h Vui mừng, c.11
...
i Làm chứng, c.16
...
j Đức Thánh linh, c.26
...
28 Ghép cặp các nguyên tắc (phải) với sự giải thích nó (trái)
... a Con người có thể noi theo kiểu mẫu của Con Đức Chúa Trời để sống nếp sống agape thật sự
... b Nếu một người thật lòng muốn sống lối sống agape, người ấy sẽ dành thì giờ để giao thông với Cha mình ở trên trời.
... c Khi một người quyết định tuân theo những sự cung ứng của Đức Chúa Trời, người ấy khám phá được nếp sống agape.
... d Con người có thể sống theo nếp sống yêu thương bởi vì Đức Chúa Trời ban cho người ấy lẽ thật để sống theo như vậy.
... e Qua Thánh linh của Chúa, người ta có thể sống một lối sống yêu thương trọn vẹn và vui mừng
... f Thánh Kinh là nguồn trợ giúp chính để sống nếp sống agape.
Sự Toàn hảo
ICo1Cr 12:31-14:1
Khái niệm agape, như đã được triễn khai trong Tân ứơc, đem cho con người một kiểu sống toàn hảo, có ý nghĩa và lâu bền. Khi chúng ta nói đến sự toàn hảo, chúng ta muốn nói những "phẩm chất cao nhất, sự trưởng thành được đề xuất". Liệu pháp agape được dùng để dạy dỗ và giải thích kiểu sống toàn hảo ấy.
Nguyên tắc 1: Biết được điều mà kiểu sống toàn hảo đòi hỏi.
* * I Cô rinh tô 13, như chúng ta đã lưu ý ở phần trước được bắt đầu bằng câu 31 của đoạn 12, phán rằng "Bây giờ tôi sẽ chỉ dẫn cho anh em con đường toàn hảo nhất". Trong đoạn 13, Phao lô đưa ra nhiều nguyên tắc agape rất quan trọng. Bạn hãy lưu ý các câu từ 1 đến 3, ông nói đến một nguyên tắc, đó là tình yêu thương là điều quan trọng nhất mà chúng ta thực hiện. Những điều chúng ta nói ra sẽ chẳng có giá trị gì cả nếu chúng ta không có tình yêu thiên thượng. Chúng ta có thể có các ân tứ, và nhiều sự bày tỏ về các ân tứ ấy, như sự thông biết và đức tin nhưng nếu chúng ta không có tình yêu thiên thượng, thì những điều ấy chẳng còn giá trị gì. Trong câu 3 chúng ta đọc :"Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi" * *
Nguyên tắc 2 : Đặt ưu tiên hàng đầu vào nếp sống agape.
* * Hơn nữa, chúng ta thấy rằng chức vụ hầu việc mà không có tình yêu agape thì chẳng ích lợi gì cả. Tóm lại, mọi lời nói của tôi, mọi ân tứ hoạt động của tôi, mọi sự hầu việc của tôi và tất cả những sự ban phát của tôi đều vô giá trị nếu không có tình yêu agape. Ngược lại, mọi điều chúng ta làm đều có giá trị, ích lợi vá ý nghĩa nếu động cơ của những điều đó là bởi tình yêu tình yêu agape và bởi mối giao thông agape. * *
Nguyên tắc 3 : Thực Hành nếp sống agape
* * Nếu bạn xem 13:4-7, bạn sẽ tìm được một bảng liệt kê mười bốn mục khác nhau, gồm bảy cặp khác nhau. Bạn hãy lưu ý, một nửa là tốt và nửa kia là xấu, hếy thảy đều là những cư xử tích cực. Nguyên tắc được truyền đạt ở đây là tình yêu là tích cực và phải được rèn tập. Vì vậy, trong công tác cố vấn, chính sự yêu thương sẽ giao trách nhiệm cho việc cư xử. Bài tập và sự trách nhiệm đêu là thích hợp. Sự thực hành sẽ làm cho tình yêu sống động.
Nhiều khi người ta sẽ hỏi "Được, vậy làm thế nào để tôi bày tỏ loại tình yêu ấy ?" Sự thực hành của tôi quay sang I Cô rinh tô đoạn 13 và có thể sử dụng một sự giải thích. Ví dụ, để giải thích cho mục thứ nhất là sự nhịn nhục, sẽ là như vầy "Bởi vì Chúa yêu Jack nên Ngài đã nhịn nhục đối với Jack". Bây giờ chúng ta hãy đem sự giải thích ấy vào mối liên hệ theo chiều ngang. Hãy nói về Jack và Adel, vợ tôi nói : "Vì Jack yêu thương Adel bằng tình yêu agape, nên anh ta nhịn nhục đối với Adel". Sau đó tôi bảo "Hãy nghĩ đến ba cách mà ngày hôm nay Jack có thể làm để bày tỏ sự nhịn nhục. Có một cách để nhận ra những điều đó là hãy hỏi : "Bạn hãy kể ra ba điều mà người ấy hay làm bạn nổi giận ?". Hãy viết những điều ấy ra. Trở về nhà và hãy kiên nhẫn trong các lãnh vực ấy. Để làm điều đó, bạn phải nhờ cậy các nguồn trợ giúp thiên thượng. Công việc của Thánh linh là điều cần yếu. Hãy thực hành đi.
Bạn biết không, khi tôi bảo người ta hãy làm công việc ấy, thì một tuần sau họ trở lại và cho biết họ đã thật sự thay đổi. Khi bạn cư xử với con người bằng tình yêu thương thì bạn sẽ nhận lại được tình yêu thương. Chúa Giê xu đã nói rồi, phải không ? Hãy đối đãi với người ta như cách các ngươi muốn được người ta đối đãi với mình. * *
Nguyên tắc 4 : Kinh nghiệm giá trị bền vững của nếp sống agape
* * Phần cuối trong 13:8-13 dạy dỗ một nguyên tắc đó là tình yêu agape có giá trị đến lâu dài. Khúc Kinh Thánh đó bảo rằng chỉ tình yêu còn đến đời đời, còn mọi điều khác đều là tạm thời. Một lối sống được đặc trưng bằng tình yêu agape sẽ thể hiện được những đóng góp có ý nghĩa, không những cho người khác, mà con cho cả vương quốc của Đức Chúa Trời và đó là đặc tính còn đến đời đời. Giá trị của nó còn mãi. Khi yêu thương người khác bằng tình yêu agape tôi đang bày tỏ một phẩm tính còn đến đời đời. * *
29 Định nghĩa Sự toàn hảo
...
30 Bạn có thể mô tả như thế nào về một kiểu sống toàn hảo ?
...
31 Hãy tìm ra bảy điều trong 13:1-3 bày tỏ những phân tích kém quan trọng hơn là đời sống có tìn yêu agape.
...
32 Theo 13:1-3, tất cả bảy điều kể trên đều là quý báu nếu như chúng được thúc đẩy bởi
...
33 Đọc 13:4-7, điều nào nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thực hành đời sống agape. Hãy chọn ra ba trong số mười lăm đặc trưng đồng giá trị với một đời sống agape hiện nay đang cần được bạn lưu ý hơn hết trong đời sống mình. Hãy lấy ra một điều mà bạn ao ước bắt đầu cải thiện ngay hôm nay. Viết ra ba bước bạn có thể làm được để bắt đầu thực hiện sự cải thiện ấy bây giờ. Hãy cầu nguyện xin Đức Thánh Linh ban cho bạn sự can đảm và quyền năng để bắt đầu.
...
34 Đời sống agape là một đời sống có giá trị lâu bền, theo 13:8-13
a. Kể tên những điều tạm thời hoặc chóng qua.
...
b. Kể tên những điều còn lại đời đời hoặc lâu bền.
...
c. Trong tất cả những điều đó, điều gì là lớn hơn hết ?
...
Cúng ta phải biết rằng nếu agape hoặc tình yêu thiên thượng là bất diệt và là điều lớn hơn hết, thì chúng ta cân phải cân nhắc cẩn thận cách chúng ta sẽ áp dụng loại tình yêu này vào đời sống hàng ngày. Chúng ta phải suy xét vấn đề ấy mỗi ngày !
35 Hãy xem xét những điểm chủ yếu của một kiểu sống toàn hảo. Hãy viết chữ C vào chỗ trống trước câu nào nói lên một trong những điểm chủ yếu ấy. Viết chữ K nếu câu đó không nói lên một trong những điểm chính ấy.
... a Kinh nghiệm được giá trị lâu bền của đời sống agape
... b Vâng phục lẫn nhau
... c Đặt ưu tiên cao nhất vào đời sống agape
... d Hiểu biết điều mà kiểu sống toàn hảo đòi hỏi phải có.
... e Tuân theo những kiểu cố vấn về tâm lý học.
... f Thực hành đời sống agape.
Khái niệm về Một Đời Sống Có Nguyên Tắc
LuLc 22:19, 41-44
Lối sống agape hoặc đời sống trưởng thành đòi hỏi sự lựa chọn tự nguyện và hợp lý để sống theo những nguyên tắc agape, tức là việc kiểm soát những suy nghĩ, cảm giác và xúc cảm. Những nguyên tắc về tình yêu agape này sẽ buông tha con người khỏi nỗi lo bị hủy hoại hầu cho sự tăng trưởng chữa lành có thể xảy ra.
Nguyên tắc 1: Agape là một nguyên tắc chúng ta lựa chọn để yêu thương. Có lẽ nó có quan hệ đến tình cảm và những cảm giác, tuy nhiên một người phải có quyết tâm lựa chọn để sống lối sống agape. Người ấy có Đức Thánh linh hành động trong đời sống mình để giúp người ấy muốn mình sống theo những tiêu chuẩn agape.
Nghiên cứu Khung 6.15 kỹ lưỡng để hình dung được năm khía cạnh cơ bản về việc sống theo lối sống agape. Hãy ghi nhớ những khía cạnh ấy và áp dụng vào đời sống hàng ngày của bạn. Bạn nên lưu ý rằng những mẫu tự bắt đầu mỗi từ trong từ khía cạnh đã họp thành từ ngữ AGAPE. Chữ đầu dòng đó được mô tả trong kinh nghiệm ở tại vườn Ghết sê ma nê của Chúa chúng ta. Từng trãi đặc biệt đó của Chúa Giê xu là một phần của sự kiện thập tự giá, là sự biểu lộ tận cùng của tình yêu agape. Lối sống của Ngài luôn luôn bày tỏ rằng Ngài đã sống theo những nguyên tắc của tình yêu agape.
NHỮNG KHÍA CẠNH CỦA ĐỜI SỐNG AGAPE
A (Acknowlege) Thừa nhận Đức Chúa Trời trong mọi sự (LuLc 22:42)
G (Give) Ban cho hết thảy mọi người bằng cách rộng rãi và công bằng, không đòi hỏi gì cả (22:19)
A (Act) Hành động dựa theo Nguyên tắc chứ không theo Cảm giác (22:41, 43)
P (Pray) Cầu nguyện để tình yêu luôn tuôn chảy không ngừng (22:41, 43)
E (Empathize) Cảm thông Sự thương tổn và Đau đớn - Nhân từ và Sự tha thứ (22:44) Giảng Tin lành cho người bị thương tổn, hư mất về mặt thuộc linh
Khung 6.15
* * Khía cạnh thứ nhất dành cho chúng ta trong việc điều chỉnh lối sống của mình là phải "thừa nhận Đức Chúa Trời trong mọi sự". Tại vườn Ghết sê ma nê, Chúa Giê xu đã cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời rằng :"... xin ý Cha được nên, chớ không theo ý tôi" (LuLc 22:42). Khía cạnh thứ nhì của đời sống agape đó là chúng ta phải "ban cho mọi người một cách nhưng không và bằng nhau, không đòi hỏi sự đáp trả gì nơi họ cả" 22:44 cho chúng ta biết rằng Chúa Giê xu đã ở trong cơn rất đau thương. Ngài đã dốc đổ Chính mình thậm chí còn tha thiết hơn nữa trong sự cầu nguyện, ngay cả khi các môn đồ lìa bỏ Ngài. Ngài đã bày tỏ sự tột cùng trong sự cầu nguyện. Rồi Ngài bước lên thập tự giá và phó Chính Mình cho tất cả mọi người. Chúng ta được dạy phải yêu thương theo cách giống như vậy (Eph Ep 5:1-2). Thành phần xã hội, màu da, và giá trị của quần áo không liên quan gì đến sự lựa chọn của chúng ta. Chúng ta phải ban cho mọi người cách công bằng.
Một phương diện khác của lối sống agape đó là nó lựa chọn để "hành động dựa theo nguyên tắc chứ không theo cảm giác". Nếu Chúa Giê xu hành động dựa trên cảm xúc, thì Ngài hẳn đã bước ra khỏi vườn Ghết sê ma nê. Nỗi đau buồn và sự thống khổ to lớn đến nỗi mồ hôi Ngài đã trở nên như giọt máu. Gánh nặng tội lỗi của chúng ta đè trên Ngài, nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời. Ngài đã không hành động theo cảm giác. Ngài đã hành động theo nguyên tắc. Ngài biết điều ích lợi nhất đối với Cha Ngài, và Ngài đã bằng lòng chọn theo ý muốn Cha mình. Ngài chọn điều mà Ngài biết sẽ ích lợi nhất cho hết thảy chúng ta và cho Chính Ngài. Hãy nhớ rằng bởi yêu thương chúng ta, Ngài cũng đã làm trọn nhu cầu sâu xa của Ngài, đó là phải yêu thương và Ngài đã được đền đáp lại. 5:27 cho chúng ta biết điều đó khi bảo rằng Đấng Christ đã ban Chính mình Ngài cho hội thánh để rồi chính Ngài được trao tặng lại một cô dâu không vết, không nhăn. Tình yêu agape là một tình yêu lẫn nhau. Khi chúng ta sống theo cách ấy, là chúng ta đã yêu chính mình.
Khía cạnh thứ tư là phải "cầu nguyện để có một lượng tình yêu ngày càng tăng". Điều đó nhắm vào nguồn cung ứng thiên thượng. Khi Chúa Giê xu đang cầu nguyện ở tại vườn Ghết sê ma nê, một thiên sứ đã đến để thêm sức mạnh cho Ngài. Tôi không biết vị thiên sứ ấy đã làm gì. Tôi thật sự không biết, nhưng tôi thích hình dung ra nhiều điều khác nhau. Tôi tự hỏi không biết có phải vị thiên sứ vòng tay ôm lấy Chúa Giê xu và bảo "Giê xu nầy, tôi muốn Ngài biết rằng Đức Chúa Cha yêu Ngài" không , hay là vị thiên sứ lấy một chiếc khăn mà thấm mồ hôi trên trán của Cứu Chúa. Điều quan trọng là Đức Chúa Cha đã ban cho Chúa Giê xu sức mạnh để yêu thương. Chúng ta cũng cần phải cầu nguyện để cho sức mạnh của tình yêu - tình yêu agape hoặc tình yêu thiên thượng. Đó là điều Đức Thánh linh sẽ làm.
Khái niệm cuối cùng về tình yêu agape dành cho lối sống của chúng ta là, chúng ta phải "cảm thông với sự tổn thương và nỗi đau đớn" của người khác bằng việc bày tỏ lòng nhân từ và sự tha thứ, mặc dầu người ấy đáng phải chịu đoán xét. Chúa Giê xu đã cảm thông tột độ ở tại vườn Ghết sê ma nê. Đó là lý do vì sao Ghết sê ma nê trở thành một biểu tưởng đẹp đẽ và ý nghĩa như vậy đối với việc sống theo nguyên tắc agape. Ngài đã mang nỗi đau khổ, thương tổn của chúng ta, sự bại hoại vì tội lỗi và sự quá phạm cùng sự xa cách đối với Đức Chúa Trời Ngài đã chịu điều đó vì cớ chúng ta !
Sự đồng cảm cần phải được bày tỏ theo hai cách. Trước hết chúng ta phải muốn tha thứ người khác, ngay cả khi họ không cầu xin sự tha thứ. Chúng ta gọi đó là "Sự tha thứ đồng cảm". Bạn cầu nguyện điều trong Bài Cầu nguyện Chung. Bạn nói "Xin tha tội lỗi cho chúng tôi như chúng tôi tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi". Chúng tôi được sự giải bày về sự tha thứ đó ở tại thập tự giá khi Chúa Giê xu nói "Lạy Cha, xin tha thứ cho họ, vì họ không biết điều mình làm". Còn một sự minh họa khác trong đời sống của Ê tiên khi những người được nghe ông giảng Tin lành đã ném đá ông, song ông vẫn cầu nguyện rằng "Lạy Cha, xin đừng đổ tội nầy trên họ". Vì vậy chúng ta phải cầu nguyện rằng "Tha thứ là trách nhiệm của con. Trong tình yêu agape, con bằng lòng tha thứ cho mọi người. Nếu con không chịu tha thứ, con sẽ mở đường cho sự cay đắng và sự thù hằn phát triễn"
Một sự ứng dụng khác của phương diện "tha thứ đồng cảm" nầy là nguyên tắc "tìm kiếm sự tha thứ". Nói cách khác, tôi phải thông cảm đến nỗi biết được tôi đã làm điều gì thương tổn người khác. Tôi phải bằng lòng đến gặp người ấy - nhận biết lỗi lầm hoặc sự vi phạm của mình và xin sự tha thứ. Tôi cần phải cẩn thận và cầu nguyện trong việc dùng những lời mình nói ra trong khi xin sự tha thứ. Tôi có thể nói như vầy :"Người anh em của tôi ơi, tôi đến đây vì biết rằng tôi có sai lầm đối với bạn và tôi đã làm bạn đau buồn nhiều lắm ! Tôi xin bạn hãy tha thứ cho tôi, bạn có vui lòng tha thứ cho tôi không ?" Kinh Thánh đồng tình với điều đó khi phán rằng :"Nếu khi nào ngươi đem dâng của lễ nơi bàn thờ, mà nhớ lại anh em có điều gì nghịch cùng mình, thì hãy để của lễ trước bàn thờ. Trước hết trở về giảng hòa với anh em mình, rồi hãy đến" dâng của lễ (sự nhấn mạnh được thêm vào, Mat Mt 5:23-24)
Vì vậy, sống nếp sống agape có nghĩa là tôi muốn sống theo một lối sống có những nguyên tắc đặt cơ sở trên Kinh Thánh để dẫn đến sự trưởng thành * *
36 Hãy đọc từng câu Kinh Thánh sau và viết ra điều câu Kinh Thánh đó nói về sự vâng phục ý muốn của Đức Chúa Trời.
a Mat Mt 6:10
...
b 26:39
...
c LuLc 1:38
...
d RoRm 6:13
...
e Gia Gc 4:7
...
37 Đọc từng câu Kinh Thánh sau và cho biết điều Chúa Giê xu làm trong mỗi trường hợp tiêu biểu cho việc ban phát một cách rời rộng mà không đòi hỏi sự đáp trả.
a GiGa 15:13
...
b GaGl 1:4
...
c Eph Ep 5:2
...
d Tit Tt 2:14
...
e IGi1Ga 3:16
...
f KhKh 1:6
...
38 Ghép cặp mỗi khía cạnh của tình yêu agape (phải) với một hành động của Chúa Giê xu (trái)
... a Chúa Giê xu cầu nguyện rằng :"Lạy Cha, không phải theo ý con, nhưng xin ý Cha được nên (LuLc 22:42)
... b Đang lúc Chúa chịu đau đớn, thì Ngài cầu nguyện "càng tha thiết" (22:44)
... c "Mồ hôi của Ngài như giọt máu rơi xuống đất" (22:44)
... d Chúa Giê xu bỏ đi ra xa, qùy gối xuống, và cầu nguyện; Ngài tiếp tục cầu nguyện để ý Cha được nên.
... e Ngài bảo các môn đồ hãy nhận lấy bánh đã bẻ ra và phán rằng "Nầy là thân thể ta vì các ngươi mà phó cho" (22:19)
Nguyên tắc 2 : Việc sống theo lối sống agape đòi hỏi một người phải kiểm soát tư tưởng, cảm xúc của mình một cách tự nguyện và cư xử theo những nguyên tắc của tình yêu agape. Nhưng nguyên tắc agape là những điều gì ? Làm thế nào để quyết chí suy nghĩ theo cách tích cực để những sự việc dường như quá tồi tệ ? Có một câu nói như vầy :"Hai người cùng đứng sau các song sắt của một nhà tù và ngó ra ngoài. Một người chỉ thấy bùn đất, người kia thấy những ngôi sao !" Kinh Thánh nói gì về những sự khác biệt như vậy ?
39 Gia Gc 1:2-5 và IPhi 1Pr 4:11-12 đưa ra một số những lời đề nghị cho việc đặt những ý nghĩa tích cực trong những sự kiện khó khăn. Hãy viết điều mà mỗi câu Kinh Thánh bảo chúng ta hãy làm hoặc thái độ chúng ta phải có trong những lúc khó khăn
a. Gia Gc 1:2
...
b. 1:3
...
c. 1:5
...
d. IPhi 1Pr 4:11 và e. 4:12
...
f. 4:13
...
Nguyên tắc 3 : Sống theo nếp sống agape là muốn liên hệ với những người khác theo đúng với các nguyên tắc của tình yêu agape.
40 Ghép cặp những cách yêu thương người ta (bên trái) với lời khuyên bảo của Kinh Thánh dành cho điều đó (bên phải)
... a Yêu kẻ thù nghịch mình.
... b Hãy tha thứ
... c Hãy rộng rãi và ban phát
... d Hãy thánh sạch
... e Hãy có đầy lòng hy vọng
... f Hãy cư xử tốt
... g Yêu người lân cận
... h Hãy nhịn nhục
... i Hãy luôn bền chí
... j Cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình
... k Hãy khoan dung
... l Hãy vui lòng trong lẽ thật
... m Hãy tin cậy
Nguyên tắc 4 : Nếp sống agape giúp con người thoát khỏi nỗi lo lắng bị hủy hoại bởi vì nó đặt nền tảng trên những nguyên tắc thiên thượng mang lại sức sống và sự tăng trưởng.
Mat Mt 6:19-34 bàn đến một số những điều đem đến sự lo lắng. Và sau đó có một nguyên tắc căn bản được đề xuất nhằm đưa ra những chỉ dẫn cho nhiều vấn đề hoặc sự việc rắc rối khác nhau. Nguyên tắc đó là tin cậy Đức Chúa Trời và đặt ý chỉ của Ngài và sự mong muốn của Ngài dành cho đời sống bạn lên trên bất cứ điều gì khác trong đời sống mình.
Bởi vì người ta hay lo cho tương lai và cho mối quan hệ của họ với Đức Chúa Trời, nên Phao lô, trong thư gởi cho người Rô ma ở đoạn RoRm 8:37-38 nói rằng không có điều gì trong thế gian nầy có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đức Chúa Trời cả.
Trong IGi1Ga 4:7-21, Giăng đã viết về tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Ông nói rằng :"Ai ở trong sự yêu thương là ở trong Đức Chúa Trời". Ông cũng nói :"Chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương. Nhưng sự yêu thương trọn vẹn thì cất bỏ sự sợ hãi"
Bây giờ bạn đã có thể nhìn thấy rõ rằng nếp sống agape khiến chúng ta thoát khỏi nỗi lo lắng bị hủy hoại chưa ?
Nguyên tắc 5 : Chọn lựa để sống theo nếp sống agape là sự lựa chọn toàn hảo, theo ICo1Cr 13:1-13.
Là người cố vấn bạn có thể khuyến khích người được cố vấn thực hiện một sự lựa chọn tình nguyện để sống lối sống agape bằng cách đề nghị họ theo ba bước sau đây :
Bước 1 : Hãy liệt kê ra những điều cụ thể người ấy có thể thực hiện trong một tình huống hoặc một mối tương quan cụ thể, để thi hành những nguyên tắc agape. (Nhiều điều trong số những điều nầy có thể trái ngược với cách người ấy cảm thấy vào lúc đó)
Bước 2 : Hãy cầu nguyện đặc biệt để có được sự khôn ngoan để thực hiện những điều đã liệt kê.
Bước 3 : Giao cho người được cố vấn để làm một hoặc hai công việc về nhà làm và sau đó tường thuật lại trong bài kế tiếp.
Ôn lại năm nguyên tắc để sống theo khái niệm về một đời sống có nguyên tắc. Ở đây chúng ta thấy rằng sự nhấn mạnh được đặt vào việc làm theo những điều nhất định vì cớ chúng ta biết đó là những điều phải lẽ mà mình phải làm, bất kể chúng ta cảm thấy thế nào vào lúc ấy.
41 Tóm lược vắn tắt trong vở ghi chép của bạn về năm nguyên tắc đã được trình bày trong phần nầy.
Khi kết thúc bài học này, chúng ta cần nhận biết rằng chúng ta phải biết và hiểu rõ những nguyên tắc giúp chúng ta sống nếp sống agape. Chúng ta không được chỉ biết và hiểu rõ những nguyên tắc ấy mà thôi, mà còn phải sống theo những nguyên tắc đó và dạy dỗ chúng cho những người khác nữa. Trong bài học nầy, chúng tôi đã cố gắng làm cho bạn nhận thấy rõ nhiều nguyên tắc cơ bản, là những điều chính yếu trong công tác cố vấn. Còn có nhiều khái niệm khác có thể vẫn còn bị che khuất, nhưng bạn sẽ được học hỏi nhiều hơn nữa khi bạn lớn lên và trưởng thành trong Đấng Christ.
Nếp sống agape là kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho đời sống con người. Sự ích lợi của nó không thể đếm hết được. Nó đem lại sự đỗi mới, sự chữa lành, sự toàn diện, và sự trưởng thành. Người cố vấn Cơ Đốc sống theo các nguyên tắc ấy là một người đang tăng trưởng. Khi người ấy học hỏi để sử dụng tất cả những nguồn cung ứng sẵn có dành cho mình, thì người ấy sẽ có thể truyền đạt những điều đó cho những người khác, và họ sẽ được chữa lành.

Bài Làm Tự Trắc Nghiệm
CÂU LỰA CHỌN. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước một câu nào đúng nhất.
1 Khái niệm phủ nhận bản thân sẽ khiến người ta kinh nghiệm
a) sự tin cậỵ
b) sự thõa mãn
c) hạnh phúc
d) ảo tưởng
2 Một người đề cao chính mình sẽ kinh nghiệm một tư tưởng sai lầm về
a) sự thõa mãn
b) niềm tin
c) sự trống rỗng
d) tình yêu thương
3 Điều gì là nguyên tắc của khái niệm về tội lỗi ?
a) Một người phải kinh nghiệm tình yêu thương của Đức Chúa Trời bởi sự xưng tội và sự đền tội.
b) Điều đó có thể bắt nguồn từ lòng tin hoặc lòng vô tín.
c) Một người phải chịu trách nhiệm với Đức Thánh linh, được kiểm soát và hướng dẫn bởi Thánh linh.
d) Một người phải nhận biết rằng mình chết đối với tội lỗi và mình sống cho Đấng Christ.
4 Điều nào là nguyên tắc của khái niệm về Đức Chúa Trời ?
a) Sự biểu lộ của nó là một sự khao khát tự nhiên để biết Đức Chúa Trời.
b) Đó là một dấu hiệu của sự trưởng thành.
c) Người đã kinh nghiệm được điều nầy là do sự vâng phục hoặc do việc dâng các chi thể trong thân thể mình cho Chúa để sống phải lẽ.
d) Nếp sống agape buông tha chúng ta khỏi nỗi lo lắng bị hủy hoại bởi vì nó đặt nền tảng trên những nguyên tắc của thiên thượng là điều mang lại sự sống.
5 Điều nào là nguyên tắc của khái niệm về bản thân ?
a) Lòng vô tín dẫn đến những suy nghĩ bị lẫn lộn, những cảm giác cô độc, thiếu tình yêu, và một mối liên hệ không thõa đáng.
b) Nó có thể bắt nguồn từ lòng tin hoặc lòng vô tín.
c) Một khái niệm kém cõi có thể dẫn đến sự gẫy đỗ trong các mối quan hệ, một nhận thức về sự an toàn sai trật, làm nô lệ về mặt tình cảm, vô tình đối với người khác, và bóp méo sự thật.
d) Nó chỉ có thể được thư nhẹ qua việc kinh nghiệm tình yêu agape của Đức Chúa Trời.
6 Điều nào là một nguyên tắc của khái niệm xác thịt chống lại Thánh linh ?
a) Khái niệm nầy có lẽ bắt nguồn từ lòng tin hoặc lòng vô tín.
b) Nó là một sản phẩm của những tư tưởng mà chúng ta tin về mình.
c) Một kiểu sống bắt chước theo khuôn mẫu của khái niệm ấy có thể bị tự hủy hoại, và vì thế, có thể vi phạm đến khái niệm về tình yêu agape.
d) Sống theo nếp sống agape là lựa chọn để liên hệ với người khác theo những phương cách nhất quán với những nguyên tắc agape.
7 Điều nào là nguyên tắc của khái niệm về đời sống có nguyên tắc?
a) Nó có thể là một sản phẩm của những tư tưởng mà chúng ta tin về mình.
b) Nó có thể bắt nguồn từ lòng tin hoặc lòng vô tín.
c) Người đó phải hiểu được các sự kiện và làm một với Thánh linh.
d) Agape là một nguyên tắc theo đó chúng ta lựa chọn một cách tự nguyện và hợp lý để sống.
8 Điều nào là một nguyên tắc của khái niệm về sự cung ứng thiên thượng ?
a) Được giải phóng khỏi nỗi đau đớn trong tâm hồn về mặc cảm phạm tội có thực hoặc do ảo tưởng, sẽ đưa hệ thống giá trị đạo đức đến chỗ trưởng thành.
b) Đó là một cách biểu lộ nỗi khao khát tự nhiên của con người muốn biết về Đức Chúa Trời.
c) Sống theo lối sống agape là kiểm soát các tư tưởng của mình một cách tự nguyện.
d) Đức Chúa Trời quyết định bày tỏ chân lý cho con người để con người có thể liên hệ thực tế bằng tình yêu agape.
9 Chúng ta hãy bỏ qua điều nào sau đây để phát triễn được một khái niệm lành mạnh về bản thân
a) Hành động
b) Cảm giác
c) Tư tưởng
d) Sự củng cố
CÂU ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào chỗ trống ở trước mỗi câu ĐÚNG. Viết chữ S nếu SAI.
... 10 Sự vượt trội được định nghĩa là "có giá trị cao nhất" và nó ám chỉ đến "sự tăng trưởng và sự trưởng thành".
... 11 Khái niệm của con người về Đức Chúa Trời là sự bày tỏ tự nhiên của lòng khao khát của con người muốn biết về Đức Chúa Trời
... 12 Khái niệm về Đức Chúa Trời của con người không thể nào bắt nguồn từ sự vô tín
... 13 Thánh Kinh xem tình yêu agape như là giá trị tột bực trong đời sống khi liên hệ đến các mối liên hệ và lối sống.
... 14 Sự chữa lành đến do sự xưng tội và sự đền bồi.
... 15 Việc thừa nhận một hệ thống giá trị đạo đức hợp lẽ là một nguyên tắc của khái niệm về bản thân.
... 16 Một khái niệm lành mạnh về Đức Chúa Trời đem cho chúng ta lòng tin cậy và cho chúng ta tự do để kinh nghiệm tình yêu agape.
... 17 Khái niệm của bạn về Đức Chúa Trời có thể bắt nguồn từ lòng tin hoặc sự vô tín.
... 18 Tự phủ nhận bản thân và tự đề cao bản thân đều là những cách bày tỏ của một khái niệm tiêu cực về bản thân.
CÂU LỰA CHỌN XEN KẼ. Bảy khái niệm về nếp sống agape đã được nêu lên trong bài học nầy. Viết chữ N vào chỗ trống nếu từ ngữ hoặc cụm từ ấy nói lên một trong những khái niệm đó. Hãy viết chữ K nếu câu đó không phải là một trong những khái niệm đó.
... 19 Đức Chúa Trời đã ban cho các nguồn phương tiện để sống nếp sống agape
... 20 Sự nhận biết Chúa là tình yêu agape.
... 21 Sống tốt hơn những người khác.
... 22 Tình yêu agape đối với bản thân là điều cần thiết cho chức vụ.
... 23 Không sẵn lòng để tha thứ.
... 24 Đời sống có giá trị cao nhất.
... 25 Đóng đinh những dục vọng của xác thịt.
... 26 Cần thiết cho sự xưng tội và sự đền bồi.
GHÉP CẶP. Một nhà cố vấn giỏi sẽ nhận biết và xử trí được các khái niệm của lối sống agape. Hãy xem xét những câu sau (bên trái) và sắp xếp cho phù hợp đúng với khái niệm agape (bên phải)
a) Khái niệm về mặc cảm phạm tội.
b) Khái niệm về Đức Chúa Trời.
c) Khái niệm về bản thân.
d) Khái niệm Xác Thịt Chống lại Thánh linh.
e) Khái niệm về sự Cung Ứng Thiên Thượng.
f) Sự Toàn Hảo.
g) Khái niệm về một đời sống có nguyên tắc.
... 27 Người cố vấn có thể yêu cầu người được cố vấn đề xuất những giải pháp cho vấn đề và lắng nghe người ấy để đưa quyền năng siêu nhiên của Đức Chúa Trời vào như là một phần trong cách giải quyết.
... 28 Người cố vấn có thể hướng dẫn người được cố vấn trong sự xưng tội và sự đền bồi.
... 29 Người cố vấn phải tự nhắc nhở mình và người được cố vấn hãy thực hành hàng ngày các nguyên tắc về tình yêu thiên thượng.
... 30 Người cố vấn phải nhấn mạnh rằng nếp sống agape là một sự lựa chọn của người được cố vấn và nó được củng cố bởi việc người đó liệt kê ra những hành động mình phải thực hiện, cầu nguyện luôn cho những hàng động đó và phải thực hành những điều đó.
... 31 Người cố vấn phải nêu rõ giá trị của việc giữ theo những mạng lệnh của Chúa Giê xu bởi quyền năng của Đức Thánh linh để hoàn thành tốt việc sống theo lối sống agape.
... 32 Người cố vấn có thể đề nghị người được cố vấn có thể sử dụng việc giải thích mà thực hành một khía cạnh của tình yêu trong I Cô rinh tô 13.
... 33 Người cố vấn nên hướng dẫn cho người được cố vấn nhận biết sự cần thiết của người ấy là phải chết đối với tội lỗi và sống cho Đấng Christ.
... 34 Người cố vấn phải xác định được nỗi đau khổ trong tâm hồn người được cố vấn là do một nguyên nhân có thực hay chỉ do suy tưởng.

ĐÁNH GIÁ TIẾN BỘ ĐƠN VỊ 2
Bây giờ bạn hãy ôn các bài học từ 4 đến 6 để chuẩn bị cho Phần Đánh Giá Tiến Bộ Đơn Vị 2. Bạn sẽ tìm thấy nó và tờ trả lời dành cho nó trong tập tài liệu dành cho học viên. Hãy trả lời tất cả những câu hỏi song xin đừng xem lại sách giáo khoa của bạn. Hãy gởi tờ trả lời của bạn cho giảng viên ICI của bạn, kèm với bất cứ các tài liệu nào đã được nêu ra ngoài bìa của tập tài liệu dành cho học viên. Sau đó bạn hãy tiếp tục nghiên cứu Bài học 7.
Giải Đáp các câu hỏi của Bài Học
1. "Hãy hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn mà yêu kính Chúa là Đức Chúa Trời ngươi... và hãy yêu kẻ lận cận như mình"
2. a. Con người được cứu và được xưng công bình - một nhu cầu thuộc linh
b. Con người có bình an một nhu cầu về tâm lý
c. Con người có một nhu cầu về thuộc thể được đáp ứng
3. Bằng cách biết lẽ thật, bởi vì chính lẽ thật sẽ buông tha người ấy.
4. a, c, và d là những câu đúng.
5. Rằng Đức Chúa Trời ao ước làm việc trong chúng ta "để vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài"
6. a, c, e, và f là những câu đúng.
7. Hãy chọn từ trong những điều nầy : 1) Kết quả 2) Sự yêu thương của Đức Chúa Cha 3) Nối thông công với Đức Chúa Trời 4) được nhậm lời cầu nguyện.
8. Hãy chọn lấy những điều nầy : 1) sống trong sạch 2) cứ ở trong Đấng Christ 3) bày tỏ người ấy là một môn đệ 4) kết quả 5) có sự vui mừng trọn vẹn 6) yêu thương kẻ khác 7) vâng giữ các điều răn của Ngài
9. a Khao khát sống xứng đáng trong mọi sự.
b. Làm trọn bổn phận đối với Chúa.
10. a 3) Nguyên tắc 3
b 2) Nguyên tắc 2
c 3) Nguyên tắc 3
d 1) Nguyên tắc 1
e 1) Nguyên tắc 1
11. Tấm lòng vô tín
12. a 3) Mối quan hệ không thõa đáng
b 2) Những cảm giác cô đơn
c 1) Sự suy nghĩ bị lẫn lộn
d 3) Mối quan hệ không thõa đáng.
13. a giới hạn Đức Chúa Trời trong những ý tưởng, cảm nhận và ý muốn của riêng mình.
b từ chối nhìn vào thực tế để thấy Đức Chúa Trời thật sự như thế nào. Người ấy hẳn đã bỏ qua Sự Sáng Tạo của Đức Chúa Trời; Lời Ngài và Chúa Giê xu.
c từ chối lắng nghe tiếng phán của Đức Thánh Linh.
14. a 4) Hậu quả của những suy nghĩ bất hợp lý.
b 1) Sự bầy tỏ tự nhiên của con người do lòng khao khát muốn biết về Đức Chúa Trời.
c 5) Có thể được thay đỗi.
d 2) Quyết định cách người ấy liên hệ với Đức Chúa Trời.
e 5) Có thể được thay đỗi.
15 c và d là những câu đúng.
16 Câu trả lời của bạn, nhưng có ý như vầy "Chúng ta không thể đưa người nào khác đến chỗ vượt hơn mình"
17 a Đ b H c C d Đ e C f H
18 vô trách nhiệm
19 a. Cô ta chán ghét mọi người. Cha mẹ không yêu cô ta.
b. Cô nghĩ rằng sẽ kiếm được một việc làm tốt và để dành được nhiều tiền.
c. Cô chán ghét mọi người và chán ghét trường học.
d. Cô nghĩ chẳng ai thèm quan tâm.
e. Cô bảo rằng đến trường chẳng có được sự hiểu biết gì và những lớp học của cô cũng đều vô nghĩa. Cô nghĩ rằng cha mẹ không yêu cô, mà chỉ yêu em trai cô.
20 a "Ngài là nơi nương náu tôi và là đồn lũy tôi, cũng là Đức Chúa Trời tôi, tôi tin cậy nơi Ngài".
"Đấng đã khởi làm việc lành... sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Giê xu Christ".
"Chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời".
21. a 2 b 3 c 2 d 1
22. Không vâng lời, không thõa lòng, thất bại, thiếu yêu thương, ảo tưởng.
23. Thiếu yêu thương, thiếu tin cậy, có ảo tưởng, lo phòng thủ cho mình, sự trống rỗng.
24. a. Chúng ta sẽ không chìu theo những sự tham muốn của bản tánh tội lỗi. b. Chúng ta không ở dưới pháp luật. c. Bông trái của Thánh linh sẽ là những bằng cớ. d. Con người tội lỗi cũ bị đóng đinh. e. Gặt được sự sống đời đời. f. Gặt lấy một mùa gặt khi đếm kỳ.
25. a 4) Nguyên tắc 1 b 2) Nguyên tắc 2 c 3) Nguyên tắc 3 d 5) Nguyên tắc 5 e 2) Nguyên tắc 2 f 1) Nguyên tắc 1
26. c và d là những câu đúng
27. a. "Bạn đã được trong sạch bởi lời Chúa"
b. "Hãy cứ ở trong ta, thì ta sẽ ở trong các ngươi"
c. "nếu các ngươi chẳng cứ ở trong ta, thì cũng không kết quả được"
d. "Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái"
e. "Hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó"
f. "Nếu các ngươi vâng giữ những điều răn ta, thì sẽ cứ ở trong sự yêu thương ta"
g. "Nếu các ngươi vâng giữ những điều răn ta, thì sẽ cứ ở trong sự yêu thương ta"
h. "Ta nói cùng các ngươi những điều đó hầu cho sự vui mừng của ta ở trong các ngươi, và sự vui mừng của các ngươi được trọn vẹn"
i. "Ta đã chọn các ngươi để các ngươi đi và kết quả"
j. "Khi nào Đấng An Ủi sẽ đến... Ngài sẽ làm chứng về ta"
28. a 4) Nguyên tắc 4 b 3) Nguyên tắc 3 c 3) Nguyên tắc 3 d 2) Nguyên tắc 2 e 1) Nguyên tắc 1 f 1) Nguyên tắc 1
29. Có chất lượng cao nhất, hàm ý về sự trưởng thành.
30. Câu trả lời của bạn. Tôi có thể nói như vầy "biết các nguyên tắc của tình yêu agape và sống theo những nguyên tắc ấy trong đời sống hàng ngày"
31. Nói các thứ tiếng , ơn nói tiên tri, biết các sự mầu nhiệm, mọi sự hiểu biết, đức tin dời núi, phân phát hết gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, bỏ thân mình để chịu đốt
32. Tình yêu thiên thượng hoặc agape.
33. Câu trả lời của bạn. Hãy nhớ lời giải thích nầy "Vì Đức Chúa Trời yêu Jack, nên Ngài nhịn nhục đối với Jack" Vậy thì, "Vì cớ Jack yêu Adel, cậu ta phải nhịn nhục đối với Adel". Và sau đó hãy liệt kê ra ba lãnh vực mà bạn cần phải nhịn nhục.
34. a những lời tiên tri, nói các thứ tiếng và sự hiểu biết
b đức tin, sự trông cậy và tình yêu thương
c tình yêu thiên thượng hay là agape
35. a C b K c C d C e K f C
36. a "Ý Cha được nên ở đất như trời"
b "Cha ơi,... sông không theo ý muốn con, mà theo ý Cha"
c "xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời Người truyền"
d "Phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời... như là đồ dùng về sự công bình"
e "Vậy, anh em hãy phục Đức Chúa Trời"
37. a "Phó sự sống mình vì bạn hữu"
b "Chúa Giê xu đã phó chính mình vì tội lỗi chúng ta"
c "Đấng Christ... vì chúng ta phó chính mình Ngài"
d "Đấng liều mình vì chúng ta để chuộc chúng ta"
e "Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống, chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy"
f "Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta"
38. a. 1) Thừa nhận Đức Chúa Trời trong mọi sự
b. 3) Hành động theo nguyên tắc chứ không theo cảm xúc
c. 5) Đồng cảm với nỗi đau đớn và sự tổn thương
d. 4) Cầu nguyện để có lưu lượng tình yêu ngày càng tăng
e. 2) Phó hết thảy cho mọi người.
39. a. Coi điều đó như là sự vui mừng trọn vẹn
b. Sự thử thách sinh ra sự nhịn nhục
c. Cầu xin sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời
d. Giảng ra lời của Đức Chúa Trời và sử dụng sức mạnh Chúa
e. Đừng lấy làm lạ
f. Vui mừng.
40. a. 1) Mat Mt 5:43-48
b. 2) LuLc 6:37-38
c. 2) 6:37-38
d. 1) Mat Mt 5:43-48
e. 3) ICo1Cr 13:4-7
f. 3) 13:4-7
g. 1) Mat Mt 5:43-48
h. 3) ICo1Cr 13:4-7
i. 3) 13:4-7
j. 1) Mat Mt 5:43-48
k. 3) ICo1Cr 13:4-7
l. 3) 13:4-7
m. 3) 13:4-7
41. Câu trả lời của bạn. Bạn nên đưa thêm vào những khái niệm về sự lựa chọn. 1) tình yêu thương 2) tự kiểm soát 3) sự nhất quán 4) tự do khỏi sự lo lắng, và 5) sự toàn hảo.

NHỮNG NGUỒN CUNG ỨNG TỪ CON NGƯỜI VÀ THIÊN THƯỢNG
Làm thế nào để chúng ta thật sự cố vấn được cho những người bị thương tổn? Có điều gì trong Liệu Pháp Agape khiến chúng ta có thể lao vào tiến trình cố vấn? Mỗi chúng ta đều nhìn nhận rằng một mình chúng ta không thể nào đảm đương nổi công tác cố vấn, nhưng chúng ta thật có những nguồn cung ứng có sẵn dành cho chúng ta sử dụng. Trong bài học nầy chúng ta sẽ xem xét đến các nguồn cung ứng dành cho Liệu pháp Agape. Những nguồn cung ứng nầy đã được nhấn mạnh đến trong Bài Học 1 như là những nguồn cung ứng thiên thượng lẫn nguồn cung ứng từ con người. Chúng ta sẽ xem xét chúng một cách chi tiết hơn trong bài học nầy.
Hãy nhớ rằng Liệu Pháp Agape tìm cách để sử dụng tất cả những nguồn cung ứng sẵn có hầu đem lại sự mới, sự chữa lành, sự toàn vẹn và sự trưởng thành - Một mặt, chúng ta tin rằng con người không thể "tự cứu mình", nhưng mặt khác, chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời đã muốn sử dụng những ống dẫn con người và thiên thượng để chia xẻ tình yêu của Ngài. Con người hữu hạn, nhưng Đức Chúa Trời là vô hạn. Nhận thức và hiểu rõ về các nguồn cung ứng là bước đầu tiên để kinh nghiệm được những ích lợi của nó.
Nhiều chủ đề trong bài học nầy sẽ có giá trị thực tiễn đối với bạn khi bạn bắt đầu tập trung vào tình huống cố vấn một cách chuyên biệt. Tôi mong rằng bạn sẽ học hỏi để nhờ cậy vào những nguồn cung ứng thiên thượng và con người sẵn sàng trong việc cố vấn cho người khác và cả cho việc tăng trưởng của chính bạn.
Những Nguồn Cung Ứng Sẵn Có trong Công Tác Cố Vấn Agape
Những Nguồn Cung Ứng từ Con Người : Sự Phát Triển và Công Dụng của Chúng.
Người Cố Vấn
Người Được Cố Vấn
Những Người Đáng Kể Khác
Đội Ngũ Không Chuyên
Các Nguồn Cung Ứng Thiên Thượng và Tầm Quan Trọng của Đức Chúa Giê xu Christ
Đức Thánh linh - Đấng Yên Ủi
Lời của Đức Chúa Trời
Sự Cầu Nguyện
Mối Tương quan Agape
Việc Kiêng Ăn
Khi học xong bài học nầy, bạn có thể :
- Mô tả các nguồn cung ứng từ thiên thượng và từ con người sẵn sàng cho người cố vấn, là người tín đồ Cơ Đốc.
- Nhận biết bốn nguồn cung ứng từ con người, có thể được phát huy và được sử dụng trong tiến trình cố vấn.
- Kể tên sáu nguồn cung ứng thiên thượng sẵn sàng cho người cố vấn tín đồ Cơ Đốc, và giải thích được vì sao chúng là quan trọng.
- Sử dụng được các nguồn cung ứng thiên thượng và từ con người trong khi tham gia vào công tác cố vấn Agape.
1. Nghiên cứu kỹ các mục tiêu của bài học trước khi bắt đầu phần khai triển bài học sẽ giúp bạn hiểu thấu điều mình sẽ học hỏi trong bài học nầy nhanh chóng hơn.
2. Nghiên cứu suốt phần khai triển bài học, trả lời các câu hỏi, và xem lại các câu trả lời của mình theo thủ tục bình thường của bạn.
3. Xem lại phần ngữ vựng để giải thích bất cứ những từ ngữ chìa khóa nào mà bạn chưa biết.
4. Bảo đảm đã đọc những phần Kinh Thánh trưng dẫn được nêu lên trong phần khai triển bài học trước khi trả lời các câu hỏi của bài học.
5. Nhớ rằng phải viết câu trả lời của chính bạn dành cho mỗi câu hỏi của bài học trước khi tìm xem câu giải đáp ở cuối bài học. Thủ tục nầy sẽ giúp bạn học hiểu tài liệu nhanh chóng hơn.
6. Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài học nầy. Kiểm tra lại các câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tập tài liệu dành cho học viên và xem lại những câu nào đã trả lời chưa đúng.
- sự xác quyết
- Những người đáng kể khác
- theo chiều ngang
- theo chiều dọc
NHỮNG NGUỒN CUNG ỨNG SẴN CÓ TRONG CÔNG TÁC CỐ VẤN AGAPE
Trong Khung 7.1 chúng ta thấy một hình ảnh minh họa về các nguồn cung ứng khác nhau có sẵn trong tiến trình của công tác cố vấn. Ở giữa Khung chúng ta thấy các nguồn cung ứng của Đức Chúa Trời và mối liên hệ agape. Những nguồn cung ứng được minh họa theo những cách sau: 1) người cố vấn và người được cố vấn trong mối quan hệ của họ; 2) đội ngũ chuyên nghiệp, kể cả các người như bác sĩ, những bác sĩ tâm thần và các luật sư; và 4) những vòng tròn nhỏ hơn tượng trưng cho các phần của những lý thuyết cố vấn có thể sử dụng được trong tiến trình cố vấn.
* * Trong khuôn khổ của công tác cố vấn, chúng ta đặt việc định nghĩa công tác cố vấn bằng một hình ảnh dựa trên các khái niệm. Trước hết, chúng ta có người cố vấn và người được cố vấn cùng ở trong một mối quan hệ. Chúng ta nói rằng mối quan hệ của họ mang đặc trưng của tình yêu agape. Vì thế người cố vấn và người được cố vấn là khởi điểm cho các nguồn cung ứng của chúng ta ở mức độ con người.
Sau đó chúng ta bảo rằng có "những người đáng kể khác". "Những người đáng kể đó là những người mang tầm quan trọng đối với đời sống của người được cố vấn. Có thể đó là một người mẹ, một người cha, một người chồng, người vợ, một người con, hay là một người nào đó mà họ có một ảnh hưởng đáng kể trên đời sống người ấy, dầu là một ảnh hưởng không tốt. Bất cứ một con người nào có tác động mạnh đến sự trưởng thành và sự tăng trưởng của người được cố vấn thì đều được xem như là một nhân vật đáng kể.
Khi nói đến các nguồn cung ứng từ con người , chúng ta nghĩ tới "Đội ngũ giúp đỡ". Đây là những người chuyên nghiệp ví dụ như, một vị bác sĩ, một bác sĩ tâm thần, hoặc có thể là những vị cố vấn khác; và những người không chuyên, như : các cố vấn tín đồ và các thành viên trong thân thể Đấng Christ, là những người có thể giúp đỡ trong nhiều cách khác nhau.
Nguồn cung ứng thiên thượng bắt đầu từ Đức Chúa Trời. Ngài luôn luôn tham gia vào mối liên hệ nầy. Qua thân vị của Đức Thánh linh, Ngài luôn cùng tham gia một cách tích cực với người cố vấn, người được cố vấn, đội ngũ giúp đỡ, và những người khác. Đức Chúa Trời cũng ban lời Ngài cho chúng ta, là lời được soi dẫn bởi Thánh linh Ngài. Trong Khung 7.1, mũi tên từ chúng ta đến Đức Chúa Trời tượng trưng cho việc chúng ta có mối thông công với Ngài tức là Ngài phán với chúng ta bằng lời Ngài và chúng ta tương giao với Ngài bằng sự cầu nguyện.
Sau nữa, dĩ nhiên là chúng ta có Chúa Giê xu Christ. Ngài là Kiểu Mẫu của chúng ta cũng là Sự Sống của Chúng ta. Hết thảy những điều nầy đều hoạt động trong một bầu không khí của tình yêu agape, là điều mà tự nó đã là một nguồn cung ứng thiên thượng.
Khi chúng ta xem xét các khía cạnh ấy của việc cố vấn, thì sự nhận biết lớn lao về sự bảo đảm, sự an toàn và sự yên nghỉ xảy đến. Thành thật mà nói, có nhiều lúc, tôi không biết phải nói gì, và không biết phải làm gì. Song khi tôi nương dựa nơi Thánh linh và Lời Đức Chúa Trời, thì người ta được giúp đỡ và được lành. Trong quan hệ cố vấn, chúng ta có Một Đấng biết tất cả mọi sự, Đấng Toàn năng và là Đấng bất biến. Ngài không hề thay . Ngài là Đấng đã dựng nên tôi và dựng nên người mà tôi đang quan hệ. Ngài là Đấng đã bày tỏ một tình yêu sâu xa và mãnh liệt đến nỗi đã phó chính mạng sống của Ngài cho con người đó. Khi chúng ta cố vấn theo phương cách ấy thì Đức Chúa Trời cùng tham gia với chúng ta * *
1 Hãy kể tên bốn nguồn phương tiện về người sẵn có dành cho tiến trình cố vấn agape bổ sung cho các lẽ thật có được từ các học thuyết khác nhau về vấn đề cố vấn.
...
2 Kể tên sáu nguồn cung ứng thiên thượng sẵn có đối với tiến trìng cố vấn agape.
...
3 Ghép cặp mỗi nguồn phương tiện (bên trái) với sự phân loại thích hợp của nó (bên phải)
... a Các bác sĩ y khoa
... b Cộng đồng Cơ Đốc
... c Gia đình
... d Các luật sư
... e Các nhà cố vấn chuyên nghiệp
... f Những Bạn Bè
... g Các bác sĩ tâm thần
4 Một số người cảm thấy rằng chỉ có nguồn cung ứng thiên thượng là nên được sử dụng trong việc cố vấn. Bạn sẽ đáp ứng thế nào trước thái độ ấy. Hãy viết điều đó vào vở ghi chép của bạn.
NGUỒN PHƯƠNG TIỆN VỀ CON NGƯỜI : SỰ PHÁT TRIỄN VÀ CÔNG DỤNG CỦA NÓ
Người Cố Vấn
Chúng ta nêu vấn đề "Làm thế nào để nguồn cung ứng từ con người có thể được phát và được sử dụng hiệu quả hơn trong tiến trình cố vấn ?" Nguồn cung ứng từ con người đầu tiên mà chúng ta phải kể đến là người cố vấn, bởi vì đây chính là vai quan trọng nhất trong tiến trình cố vấn. Chúng ta hãy nhận biết bốn đức tính quan trọng sau đây trong đời sống của người cố vấn :
1 * * Thứ nhất chính người cố vấn cần phải kinh nghiệm được tình yêu agape. Người ấy cần phải kinh nghiệm được tình yêu thiên thượng là mang lại sự mới, sự chữa lành và sự toàn vẹn. Cách để người cố vấn kinh nghiệm được tình yêu agape là chủ đề của Đơn vị 2. Người cố vấn phải hiểu biết thấu đáo các khái niệm nầy trong chính đời sống mình trước khi có thể xây dựng cho người khác một cách hiệu quả * *
2 * * Thứ hai, người cố vấn cần phải sống nếp sống agape. Muốn có suy nghĩ đầy ý nghĩa về điều đó, chúng ta hẳn phải trở lại lời định nghĩa mình đã đúng để định nghĩa sự trưởng thành (Khung 4.1). Những phương diện được in nghiêng là những kinh nghiện trong sự trưởng thành mà người cố vấn cần phải có nếu người ấy muốn được hiệu quả trong chức vụ của mình. Chính mình người cố vấn phải được tăng trưởng, kinh nghiệm được tình yêu của Đức Chúa Trời, và hiểu biết ý nghĩa của đời sống.
Có bao giờ bạn ngồi xuống, suy ngẫm Lời của Đức Chúa Trời trong khi tinh thần cầu nguyện và viết ra những mục tiêu cho lối sống của mình chưa ? Tôi đã cách đây nhiều năm - một năm trước khi trở thành mục sư. Trong suốt năm đó, tôi nhận được nhiều lời mời để chuyển đến hầu việc trong các công tác chức vụ khác nhau ở cách xa trường đại học, là nơi tôi đang dạy. Mỗi lời mời gọi đều đưa ra một sự thách thức. Có nhiều trường đại học và nhiều hội thánh đã gặp gỡ tôi. Tôi khám phá ra rằng : tôi đã tự đáng giá lại đời sống mình mỗi khi tôi được mời. Ngay vào lúc tôi đã giải quyết xong lời mời đó trong tâm trí mình và bảo : Đó chưa phải là điều Chúa muốn trong đời sống mình ngay lúc nầy thì một lời mời khác đến, và tôi lại bắt đầu đánh giá mình một lần nữa.
Tất cả những điều đó cuối cùng đã khiến tôi phải ngồi lại với Lời Kinh Thánh và phác thảo ra trong tinh thần cầu nguyện những mục tiêu dành cho lối sống của mình. Nó đã là sự đáp lời của chính cá nhân tôi đối với những câu hỏi "Tôi sẽ nói với Chúa điều gì về đời sống của mình sau hai mươi năm, ba mươi năm hoặc bốn mươi năm nữa, nếu như Đức Chúa Trời cho tôi sống được từng ấy năm ?". Tôi đã không nhận ra những mục tiêu mới mẽ lớn lao nào cả. Các mục tiêu mà tôi chọn là những điều mà có lẽ tôi đã từng nói và nghĩ đến nhiều lần rồi, nhưng tôi chưa hề làm trọn theo cách mình đã nói hoặc nghĩ. Tôi chưa hề cam kết gì với chúng. Tôi đã đi đến chỗ hiểu được rằng những điều đó đã là mục tiêu của lối sống mình, vì vậy tôi cần phải thực hiện những quyết định hàng ngày để đạt đến được những điều đó. Rốt lại, nếu bạn sắp sửa phải đi bộ một ngàn dặm thì cách tốt nhất để đi đến đích là hãy bước bước thứ nhất. Ngày nay tôi cần phải quyết định hướng đến các mục tiêu đó. Nó buông tha tôi và khích lệ tôi, cũng là kỷ luật tốt giúp tôi vượt qua.
Người cố vấn cũng cần phải phấn đấu hướng đến một sự quân bình trong lối sống của mình, bởi vì người ấy sắp sửa liên hệ với những con người đang tìm kiếm sự quân bình. Người ấy cần có khả năng để nói lên kinh nghiệm của chính mình một cách mạnh mẽ.
Khi tôi nói đến "sự quân bình", tôi muốn bạn hiểu rằng chúng ta không nói đến chuyện phải nhấn mạnh như nhau về các phương tiện thuộc thể, xã hội, tâm lý và tâm linh. Chúng ta đang nói đến việc thiết lập những điều trên và luôn giữ theo các sự ưu tiên đó. Đó là việc nhấn mạnh phải lẽ và thích đáng đối với mỗi một phương diện.
Thỏa lòng đối với các nhu cầu là một phương diện khác của sự trưởng thành mà người cố vấn cần phải kinh nghiệm nếu người ấy muốn giúp người khác giài quyết được các nhu cầu của họ. Một trong những nguy hiểm trong việc cố vấn là nếu các nhu cầu của người cố vấn chưa được thỏa mãn thì người ấy thường có khuynh hướng sử dụng người khác để đáp ứng các nhu cầu của riêng mình. Ví dụ, nếu bạn có một nhu cầu cấp bách muốn dẫn người ta vào một kinh nghiệm thuộc linh nhất định nào đó, thì sự nguy hiểm ở đây là bạn có thể lúc nào cũng lôi kéo người được cố vấn vào trong kinh nghiệm đó, bất cần điều đó có phải là nhu cầu của người ấy hay không. Tôi đã từng làm như vậy. Tôi biết rằng điều đó có thể xảy ra. Tôi đã từng cứng ngắc trong suy nghĩa của mình đến nỗi cho rằng mọi người đều phải trãi qua những bước thuộc linh như nhau. Tôi có thể phớt lờ những nhu cầu của người khác để giải quyết các nhu cầu riêng - buộc họ thực hiện theo một phương cách nào đó. Vì vậy, người cố vấn cần phải biết cách để làm thỏa mãn các nhu cầu của mình mà không tước đi những nhu cầu của người khác.
Hòa thuận với chính mình có liên hệ đến khái niệm về bản thân. Khái niệm về bản thân là sự chấp nhận bản thân ảnh hưởng đến sự hòa thuận của người ấy với môi trường sống và những người xung quanh mình. Dĩ nhiên trong một công tác hầu việc như công tác cố vấn thì điều nầy rất là quan trọng. Trong hội thánh, chúng ta yêu cầu những tín đồ làm công tác cố vấn phải viết những lời tuyên bố hoặc những cam kết có liên hệ đến khía cạnh riêng biệt nầy. Chúng ta muốn bảo đảm rằng họ đồng ý làm việc dưới sự kiểm soát, họ phải chịu học hỏi, và ràng buộc chính mình vào việc huấn luyện liên tục. Tất cả mọi công việc đó đều có liên hệ đến sự hòa hợp. Sự hòa hợp là cách bày tỏ sự hợp tác trong chức vụ của họ, hòa thuận với các anh em, hòa thuận với Đấng Tạo Hóa.
Và sau cùng, người trưởng thành là người đang góp phần đầy ý nghĩa vào đời sống của những người khác và vào nước Đức Chúa Trời. Trong sự trưởng thành, dường như chúng ta đều đi đến một chỗ, ở đó chúng ta thật sự muốn tạo được một ấn tượng có giá trị đời đời trên đời sống của những người khác. * *
5 Sự quân bình, khi liên hệ đến lối sống của một người, đòi hỏi :
a) việc thiết lập và giữ vững những sự ưu tiên.
b) phải bảo đảm rằng nhấn mạnh cách quân bình đối với mỗi một lĩnh vực trong đời sống.
c) bảo đảm rằng bạn phải làm việc với những người có ảnh hưởng trên người khác giống như bạn.
d) phải làm việc với những người có suy nghĩ giống bạn.
6 Người cố vấn phải ở hòa thuận với :
a) chính mình mà thôi, vì đó là tất cả những gì người ấy chịu trách nhiệm.
b) một mình Đức Chúa Trời mà thôi, như thế là đủ rồi.
c) môi trường chung quanh mình, bởi vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến tất cả những lãnh vực khác.
d) chính mình, môi trường chung quanh mình, những người lân cận và với Đức Chúa Trời.
7 Người cố vấn sống theo lối sống agape nhờ :
a) áp dụng các nguyên tắc trưởng thành trong đời sống hàng ngày.
b) nói cho mọi người biết rằng sống theo lối sống agape có ý nghĩ như thế nào.
c) tỏ rõ rằng những sứ đồ Giăng đã hoàn toàn viết về tình yêu.
d) chú trọng đến từ ngữ "yêu thương" trong tất cả những cuộc trò chuyện.
8 Khoanh tròn những mẫu tự đứng trước câu nào ĐÚNG.
a Người cố vấn phải được tăng trưởng và kinh nghiệm tình yêu của Đức Chúa Trời một cách cá nhân.
b Không nhất thiết phải hiểu biết ý nghĩa của đời sống khi giúp đỡ người khác.
c Người cố vấn và người được cố vấn đều phải nói lên được những mục tiêu của nếp sống của mình.
d Sự quân bình trong đời sống có nghĩa là những khía cạnh về thuộc thể, về xã hội, về tâm lý và về thuộc linh trong đời sống đều được chú trọng ở một mức độ như nhau.
e Người cố vấn có những nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng thường có khuynh hướng sử dụng người khác nhằm đạt được những nhu cầu ấy.
f Người cố vấn cần nhiều sự nâng đỡ từ nơi người khác sẽ có khuynh hướng đòi hỏi người được cố vấn phải cung cấp sự nâng đỡ đó.
g Điều quan trọng là phải loại đi nhu cầu của người khác thì mới thỏa mãn những nhu cầu của chính mình.
h Cách một người chấp nhận chính mình ảnh hưởng đến sự hòa hợp của người ấy đối với môi trường mình sống và với những người lân cận.
i Một người hòa hợp với chính mình sẽ dễ phù hợp hơn làm việc dưới sự kiểm soát, được dạy dỗ và được huấn luyện liên tục.
3. Điều thứ ba mà người cố vấn cần phải kinh nghiệm đó là khả năng để truyền đạt tình yêu agape một cách hữu hiệu. Điều nầy đòi hỏi phải có những mối liên hệ của tình yêu agape thật, sử dụng những kỹ năng cần thiết, được thể hiện qua lời nói và việc làm. Điều đó là chủ đề của Bài Học 8, vì vậy mọi điều chúng ta sẽ làm tại đây là nêu bật được điều nầy cần yếu như thế nào cho một người cố vấn hiệu năng * *
4. Người cố vấn phải khai một kế hoạch chữa trị. Những bước dứt khoát phải được thực hiện để đem lại sự chữa lành, sự toàn vẹn và sự mới trong đời sống của người được cố vấn.
* * Trong việc khai một kế hoạch hay một phương pháp trị liệu, việc hoạch định, sắp xếp, là điều rất quan trọng. Chúng ta sẽ nói nhiều về vấn đề nầy trong khi bàn về cuộc phỏng vấn đầu tiên, nhưng việc sắp đặt gồm cả những câu trả lời cho các câu hỏi như :"Công tác cố vấn sẽ được thực hiện ở tại đâu ? Căn phòng sẽ trông giống như thế nào ? Sẽ phải đặt những chiếc ghế ở chỗ nào ?" và "Ai sẽ ngồi vào chiếc ghế nào ?" Đó là những câu hỏi quan trọng.
Việc sắp đặt cũng đòi hỏi luôn cả những khoản thời gian. Thông thường, từ 45 đến 50 phút cho một buổi cố vấn là phải lẽ. Nếu không hoạch định trước thì giờ, chúng ta thường có khuynh hướnh dời những vấn đề quan trọng hơn vào cuối giờ. Việc sắp đặt làm cho những điều quan trọng sẽ được nói ra sớm trong buổi gặp mặt đó.
Tiến trình thâu nhặt những nguồn thông tin cũng là một phần của việc sắp đặt. Điều nầy bao gồm việc khám phá được hoàn cảnh của người ấy, những cảm nhận, những mối bận tâm, những con người liên quan đáng kể trong đời sống người ấy và những nguồn cung ứng sẵn có cho người ấy.
Việc sắp đặt cũng bao gồm cả thời khóa biểu cố vấn. Tôi thường sắp xếp ba buổi, thường lập một thỏa ước hoặc một giao kèo với người được cố vấn. Chúng tôi đề ra các mục tiêu, và bảo rằng sẽ sẵn sàng cùng cam kết để làm việc theo các mục tiêu đó trong ba buổi. Vào cuối ba buổi đó, chúng tôi đánh giá các mục tiêu. Tôi yêu cầu người được cố vấn hãy thành thật với tôi và tôi hứa cũng sẽ thành thậy với người ấy. Nếu chúng tôi không đạt đến được một mục tiêu nào trong số đó, thì chúng tôi cần phải tìm một điều khác. Nếu đã đạt được những điều đó, chúng tôi dâng lời cảm tạ Chúa và tiếp tục. Mặt khác, nếu thấy mình có sự tranh chiến, chúng tôi có lẽ cần phải tìm những nguồn cung ứng khác.
Những nguồn cung ứng khác, kể cả băng cassette và sách vở cũng có thể được sắp xếp trong khung cảnh cố vấn nhằm đáp ứng cho những nhu cầu cụ thể * *
Việc cố vấn trong Liệu Pháp Agape đòi hỏi phải có sự chuẩn bị và sự cam kết về phần người cố vấn.
9 Việc khai một kế hoạch hoặc một phương pháp trị liệu gồm cả việc sắp đặt, điều đó có nghĩa là :
a) phải bảo đảm rằng mọi lời sắp được nói ra của người cố vấn phải được viết ra trước.
b) xây dựng một mối liên hệ thân cận với người được cố vấn.
c) đưa ra một giới hạn hầu cho sự thông công đừng trở nên quá riêng tư.
d) Quyết định, sắp xếp một buổi gặp gỡ, diễn tiến hoặc những phương pháp kỹ thuật nào sẽ được dùng, cách mà sự thông công sẽ được diễn ra, và cách thâu nhặt nguồn thông tin.
10 Liệt kê trong vở ghi chép bốn điều cần thiết dành cho người cố vấn trong Phép Trị Liệu Agape và đưa ra một lời giải thích ngắn gọn về từng điều bằng chính lời lẽ của bạn.
Bằng cớ chứng tỏ một người đang sống theo định nghĩa về sự trưởng thành của Cơ Đốc Nhân, như đã được bày tỏ trong Khung 4.1, chính là việc sống theo lối sống agape. Người Cơ Đốc trưởng thành, với một sự hiểu biết cơ bản về công tác cố vấn, có thể đóng góp nhiều cho việc cố vấn và việc giúp đỡ những người bị thương tổn. Đó chính là một sự thách thức để mỗi người trong chúng ta đều phải công nhận và chuẩn bị.
Người Được Cố Vấn
Bây giờ chúng ta hãy xem những điều cần thiết và những mục tiêu dành cho người cố vấn.
* * Người được cố vấn cũng là một nguồn cung ứng đối với chính mình, và người ấy cần phải kinh nghiệm tình yêu agape. Người ấy cần phải thừa nhận lối sống agape và sống theo nguyên tắc agape. Khi đó, người ấy sẽ bắt đầu kinh nghiệm mục đích của việc mình đã được tạo dựng. Mục đích đó là yêu và được yêu trong cả mối quan hệ theo chiều ngang - tức là với người lân cận - lẫn mối quan hệ theo chiều dọc - tức là với Đức Chúa Trời - Khi người ấy ngày càng có kinh nghiệm trong việc được yêu thương và ban phát tình yêu, người ấy sẽ được chữa lành và sẽ lớn lên.
Người cố vấn phải quan tâm xem người được cố vấn có đang xử lý sự phạm thực tội theo cách thực tế hay không.
Hằng ngày, người ấy bày tỏ lối sống của mình như thế nào, cũng là điều quan trọng. Người ấy có đang tiếp tục sống theo cảm giác hoặc sự bốc đồng chăng ? Người ấy có sống theo những nguyên tắc được bắt đầu từ những khái niệm của Thánh Kinh không? Tư tưởng, ý muốn, khả năng của người ấy để thực hiện những quyết định, và khả năng để nói lên những nhu cầu của người ấy và công nhận người khác có trách nhiệm giúp mình giải quyết các nhu cầu đó, tất cả đều đem lại một nguồn cung ứng năng động trong chính người đó.
Khi chúng tôi nói về bản tánh con người - nếu bạn còn nhớ - là chúng tôi muốn nói rằng con người được dựng lên với những khả năng để suy nghĩ một cách hợp lý, có trách nhiệm, có đạo đức, có khả năng để thay ... giữa vòng một số những khả năng khác nữa. Mỗi một khả năng ấy ám chỉ đến một nguồn cung ứng mà chính mình người được cố vấn đã có sẵn. Hiển nhiên là cũng có những nguồn cung ứng ở trong người cố vấn nữa. Thật vậy, sự trưởng thành và sự rèn luyện của người ấy là những nguồn cung ứng có giá trị dành cho người được cố vấn * *
11. Xem xét những đặc trưng của các nguồn cung ứng mà người cố vấn và người được cố vấn đều phải phát huy trong nếp sống của họ. Hãy viết chữ H vào khoảng trống nếu đó là điều cần thiết cho cả người cố vấn lẫn người được cố vấn. Hãy viết chữ V nếu điều đó chỉ cần thiết cho người cố vấn.
... a Kinh nghiệm tình yêu agape
... b Hoạch định và triển khai kế hoạch trị liệu
... c Sống theo nếp sống agape
... d Học hỏi và thực hành kỹ năng truyền đạt tình yêu agape
... e Cung cấp những tài liệu đánh giá cho tiến trình cố vấn
12. Xem xét những điều đáng phải quan tâm về người được cố vấn. Hãy viết chữ Q vào chỗ trống nếu câu văn mô tả một điều chúng ta cần phải quan tâm về người được cố vấn. Hãy viết chữ K nếu đó không phải là một sự đáng quan tâm.
... a Cách người ấy xử lý sự phạm tội thực sự
... b Tuổi tác và màu da của người ấy
... c Hệ thống giá trị luân lý hay là những tiêu chuẩn của người ấy
... d Người ấy được đối xử như thế nào trong buổi thiếu thời
... e Lối sống của người ấy, cách sống hàng ngày của người ấy
... f Cách người ấy lắng nghe những điều người khác nói
Lưu ý rằng người được cố vấn là một nguồn cung ứng trong chính mình, nghĩa là, người ấy có quá trình suy nghĩ của riêng mình có ý chí của mình, khả năng của mình để quyết định, và khả năng để nói lên những nhu cầu của mình và sau đó cho phép người nào đó chịu trách nhiệm để giúp đỡ người ấy giải quyết các nhu cầu ấy. Người ấy là một nguồn cung ứng năng động bên trong người ấy.
Những Người Đáng Kể Khác
"Con người cần đến con người" là một câu nói thông thuờng ở nhiều vùng. Vì vậy chúng ta tin rằng phải kể luôn những người khác vào trong tiến trình cố vấn. Khi có một người nào đó, đã lập gia đình, hoặc đang sống trong một gia đình, bị tổn thương, thì cuộc hôn nhân đó hoặc gia đình đó cũng bị đau khổ. Sự chữa lành và sự tăng trưởng có thể xảy ra nhanh chóng hơn khi những người liên quan đáng kể khác ở chung quanh đáp ứng lại bằng tình yêu agape.
* * Những nguồn cung ứng từ con người cũng gồm luôn những người đáng kể khác như gia đình, Hội Thánh của Đấng Christ, hoặc những người đáng kể khác có liên quan đến đời sống của người ấy. Khi làm việc với một người được cố vấn, bạn sẽ thấy rằng bạn sẽ không có đủ thì giờ lẫn năng lực để luôn ở bên người ấy trong mọi thử thách hoặc cám dỗ trong đời người ấy. Nhưng khi bạn nhận biết có những người có ý nghĩa trong cuộc đời của người ấy, thì bạn sẽ tìm được sự hỗ trợ. Bạn có thể khám phá rằng lôi kéo người vợ và những đứa con thỉnh thoảng vào trong các buổi cố vấn, để họ hiểu vấn đề là như thế nào và họ cần hợp tác với nhau để giải quyết vấn đề là quan trọng dường nào.
Mặt khác, bạn có thể đang cố vấn cho một người rất cô độc, không hề có bạn bè trong cộng đồng. Hãy tìm xem những điều người ấy quan tâm là gì, rồi sau đó đưa người ấy tham dự vào một tập thể hoặc với một người trong cộng đồng Cơ Đốc có cùng những mối quan tâm ấy hoặc đã từng trãi qua nan đề giống như kinh nghiệm của người được bạn cố vấn. Qua những lần tiếp xúc đó, cả người được cố vấn lẫn những bạn bè mới của người ấy đều sẽ lớn lên khi họ trở nên thân quen và cùng nhau chia sẻ những nan đề của họ. Đó há không phải là điều Kinh Thánh muốn nói khi bảo chúng ta hãy mang lấy gánh nặng cho nhau và nhờ đó làm trọn luật pháp của Đấng Christ sao (GaGl 6:2) ?
Cũng vậy có thể người được bạn cố vấn có những bạn bè trong cộng đồng có thể đem lại sự trợ giúp mà người ấy cần. Bạn hữu có sự tinh nhạy đặc biệt hoặc sự quan tâm đặc biệt có thể ích lợi nhiều cho cá nhân ấy khi làm việc suốt quá trình tăng trưởng đến chỗ trưởng thành * *
13 Liệt kê những người có thể được kể trong phạm vi của "những người đáng kể khác"
...
14 Hãy xem xét những tình huống sau đây, và ghép cặp những tình huống cố vấn (trái) với một nhân vật đáng kể khác (phải) mà có thể có khả năng giúp đỡ nhiều nhất.
... a Một phụ nữ trẻ trong hội thánh rất cô độc và cần có những người bạn thân, nhưng cô ta không có gia đình hoặc những bạn hữu ở gần.
... b Một thanh niên đang nản lòng, nhưng bạn không thể xác định được nan đề thật sự của người ấy là gì. Anh ta không có gia đình để bàn luận nan đề.
... c Một cặp vợ chồng mới bắt đầu đến nhóm lại tại hội thánh và đang nóng lòng muốn hiểu biết thêm về việc sống theo nếp sống agape.
... d Một em thiếu niên đang bắt đầu nản lòng trước những điều dường như bất nhất trong những quy định và phép tắc ở tại gia đình, và em đang tìm kiếm sự chỉ dẫn.
Đừng bao giờ đánh giá thấp sự liên quan của những con người đáng kể ấy. Họ là những người sẽ hậu thuẫn liên tục cho người được cố vấn sau khi bạn đã làm xong công tác cố vấn. Họ là những người sẽ còn ở với người được cố vấn trong những giờ phút đen tối trong cuộc đời người ấy, họ phải hiểu và đem được tình yêu agape đến cho người ấy khi bạn không có ở đó hoặc không thể giúp đỡ được.
Đội Ngũ Chuyên Nghiệp
Như đã nêu lên ở phần trước, đội ngũ chuyên nghiệp làm việc với những người cố vấn là tín đồ có thể gồm cả những nhà chuyên nghiệp như các bác sĩ y khoa, các bác sĩ tâm thần, và những nhà cố vấn chuyên nghiệp. nhưng chúng ta phải đối xử với họ như là những nhà chuyên nghiệp, và phải sắp xếp chương trình của mình sao cho chúng ta dành được sự phải lẽ để được họ lắng nghe. Xem xét kỹ Khung 7.2, trong đó đưa ra ba sự chỉ dẫn quan trọng cho việc làm việc với đội ngũ chuyên nghiệp.
NHỮNG CHỈ DẪN ĐỂ LÀM VIỆC VỚI ĐỘI NGÝ CHUYÊN NGHIỆP
1. Thiết lập tình bạn
2. Hiểu biết phương pháp của họ
3. Phát triển một mối quan hệ trong công việc
Khung 7.2
* * 1. Người cố vấn tín đồ phải thiết lập những mối quan hệ bạn hữu với những nhà chuyên nghiệp trong cộng đồng. Người ấy phải giành được quyền để những người đó chịu nghe mình. Rất thành thật mà nói, chúng ta đã sắp đặt chức vụ cố vấn của Những Người Lân Cận Có Lòng Quan Tâm với một mục tiêu đó là chúng ta muốn giành được quyền để được lắng nghe. Đó là lý do chúng ta có một bác sĩ tâm thần được xem như nhà tư vấn. Đó là lý do chúng ta đã gọi chíng mình là "những người không chuyên" hoặc là những người "bán chuyên nghiệp". Đó là lý do chúng ta đề ra một tiêu chuẩn để đặt chúng ta vào một mức độ toàn hảo có thể so sánh với một chức vị chuyên nghiệp. Đó là lý do chúng ta đã tìm kiếm (qua sự cố vấn hợp pháp của Hiệp Hội Tâm Thần Quốc Gia) những sự chỉ dẫn liên quan đến trách nhiệm pháp lý và sự tin cậy, những hình thức bên ngoài của việc xử lý và tất cả những gì liên quan. Đó là lý do chúng ta yêu cầu những người cố vấn tín đồ của mình phải ký một lời cam kết về mặt đạo đức - là sự sửa đổi của lời cam kết về mặt đạo đức của Hiệp Hội Hoa Kỳ dành cho những Mục Sư Cố Vấn (American Association of Pastoral Counselors). Chúng ta đã làm tất cả điều đó để đem lại và duy trì một cương vị trong giới chuyên nghiệp, khiến chúng ta giành được quyền để họ chịu nghe chúng ta.
Chúng ta cố gắng để không bao giờ hạ thấp hoặc chỉ trích bất cứ một người nào. Chúng ta cố gắng liên hệ với người ta với khả năng chuyên nghiệp, mặc dầu chúng ta là những người không chuyên. Đó là lý do chúng ta có một người tiếp khách để chào đón mọi người. Đó là lý do chúng ta sắp xếp người vào chương trình cố vấn. Nhưng phương tiện dành cho công tác cố vấn đều được sắp xếp phần nhiều rất giống với một văn phòng cố vấn chuyên nghiệp.
2. Người cố vấn tín đồ phải hiểu biết phương pháp của đội ngũ chuyên nghiệp. Tôi tin một cách mạnh mẽ rằng mỗi một người Cơ Đốc làm công tác cố vấn không phải đều là một nhà cố vấn Cơ Đốc. Biết Chúa và làm công tác cố vấn không làm cho tôi trở thành một nhà cố vấn Cơ Đốc. Công tác cố vấn Cơ Đốc là công tác cố vấn đặt cơ sở trên những lẽ thật của Kinh Thánh và có giá trị hợp lý về mặt tâm lý. Đó là một công tác mà trong đó những khái niệm của Kinh Thánh và những lẽ thật thuộc về tâm lý được hòa nhập thành một triết lý, một phương pháp, một tiến trình có ý nghĩa để giúp con người bằng phương cách chữa trị.
Rất có thể người Cơ Đốc làm công tác cố vấn theo chủ nghĩa nhân bản, điều đó, theo ý kiến của tôi có thể gây nhiều tác hại.
Nếu bạn đồng ý với điều tôi đang nói đây, thì tôi muốn bạn hãy cẩn thận với điều gì bạn đọc. Đừng nhìn nhận sự dạy dỗ chỉ vì điều đó đến từ một quyển sách về cố vấn hoặc ngay cả đó là một cuốn sách về công tác cố vấn Cơ Đốc. Điều đó không làm cho quyển sách trở thành chân lý. Tác giả quyển sách là ai thì tôi không quan tâm, dầu người ấy có là một Cơ Đốc nhân hay không, thì bạn cũng cần phải đánh giá điều mình đọc được.
Đừng chấp nhận mọi kỹ thuật cố vấn mà bạn tình cờ đọc được. Bạn cần phải đánh giá kỹ thuật ấy trong công tác cố vấn. Hãy tự hỏi mình "Kỹ thuật nầy sẽ có tác động gì đến người ta. Loại động cơ nào nằm đằng sau phương pháp ấy?". Có những kỹ thuật điều khiển con người ta và xâm phạm đến ý chí của người ấy, mà theo tôi điều đó rất thiếu yêu thương.
Nhiều khi giới Cơ Đốc thừa nhận một điều gì đó rồi đem áp dụng mà không suy nghĩ cho thấu đáo. Theo tôi, môt trong những nan đề của chúng ta, đó là chúng ta đã để cho những điều thuộc về thế gian thâm nhập quá nhiều vào cộng đồng Cơ Đốc. Chúng ta phải có trách nhiệm thẩm tra mọi điều qua Lời Đức Chúa Trời.
3. Điều quan trọng dành cho người cố vấn không chuyên là hãy phát triển một mối quan hệ cộng tác với những nhà chuyên nghiệp trong cộng đồng của mình. Chúng tôi thấy đây là một kinh nghiệm hứng thú và dễ chịu. Một số những nhà chuyên nghiệp mà chúng tôi công tác là những thành viên trong thân thể Đấng Christ, một số khác thì không phải. Sự quan tâm đầu tiên là chúng tôi có cùng một triết lý để có thể tán thành được, trong điều kiện công tác cố vấn và giúp đỡ người khác, điều đó giúp chúng ta công tác với nhau như là một đội ngũ. * *
Có một điều chúng ta cần phải làm sáng tỏ. Trong Phép Trị Liệu Agape, đội ngũ chuyên nghiệp là một tập thể gồm những người chuyên môn, họ cung cấp những sự giúp đỡ về tư vấn và việc tham khảo những ý kiến. Trong chương trình cố vấn "Những Người Lân Cận Có Lòng Quan Tâm" của chúng ta, một số các nhà chuyên nghiệp nầy phục vụ trong hội đồng tư vấn, là cơ quan đề ra những chính sách và những thủ tục điều phối quá trình tham khảo ý kiến. Chúng ta biết rằng có nhiều người đến với chương trình cố vấn của các tín hữu không chuyên nầy để được giúp đỡ, song những nan đề của họ nghiêm trọng đến nỗi chúng ta không xử lý nỗi. Vì vậy, chúng ta phải chuyển những người có các nan đề nghiêm trọng ấy đến nhà chuyên nghiệp đặc biệt, là người có thể đưa ra sự giúp đỡ đặc biệt có cần. Nếu đó là một vấn đề về mặt pháp lý, thì vị luật sư sẽ tiếp nhận đương sự ấy, nếu là vấn đề về sức khỏe thì đương sự sẽ được giao cho một vị bác sĩ là người chuyên môn trong lãnh vực ấy, và nếu như đó là vấn đề của sự khủng hoảng về mặt tâm lý thì đương sự sẽ được chuyển đến bác sĩ tâm thần là người có thể giúp đỡ.
Chúng ta cũng đảo ngược thủ tục nầy. Một trong những nhà chuyên nghiệp có thể có một thân chủ cần được sự nâng đỡ ở một mức độ thường xuyên hơn hoặc kém chuyên biệt hơn mức mà nhà chuyên nghiệp ấy có thể chuyển thân chủ đó cho chúng ta để giới thiệu cho một trong các nhà cố vấn.
15. Hãy xem xét những nguyồn cung ứng khác nhau từ con người trong công tác cố vấn. Đội ngũ chuyên nghiệp được tạo thành bởi những người chuyên nghiệp như:
a. Những người lân cận, bè bạn, bác sĩ và những luật sư.
b. Các bác sĩ, gia đình, người lân cận và những bác sĩ tâm thần.
c. Các bác sĩ, những người bà con và những bác sĩ tâm thần.
d. Các bác sĩ, các bác sĩ tâm thần, những nhà cố vấn chuyên nghiệp và các luật sư,
e. Gia đình, các bác sĩ, các luật sư và các bác sĩ tâm thần.
16. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu nào ĐÚNG theo Phép Trị Liệu Agape.
a. Tình bạn hữu phải được thiết lập với những nhà chuyên nghiệp trong cộng đồng.
b. Những người không chuyên tìm cách liên hệ với những nhà chuyên nghiệp là một điều thiếu đạo đức.
c. Việc sắp xếp một công tác cố vấn bao gồm việc lập chương trình cho một người tiếp đón, là người lên bảng giờ giấc để những người được cố vấn có thể gặp gỡ các nhà cố vấn.
d. Mỗi Cơ Đốc nhân khi cố vấn đều là một nhà cố vấn Cơ Đốc.
e. Liệu Pháp Agape là công tác cố vấn Cơ Đốc.
f. Công tác cố vấn Cơ Đốc là công tác cố vấn đặt cơ sở trên những chân lý có giá trị theo Thánh Kinh lẫn tâm lý học.
g. Mỗi một thành viên trong đội ngũ chuyên nghiệp đều phải là một Cơ Đốc nhân.
h. Sự giúp đỡ của những nhà chuyên nghiệp, là những con người sáng suốt đều phải theo một triết lý cố vấn đồng tình với Liệu Pháp Agape.
i. Có một số những vấn đề nghiêm trọng đến nỗi những người cố vấn tín đồ không dự phần được.
17. Kể tên ba sự chỉ dẫn quan trọng để làm việc với một đội ngũ chuyên nghiệp.
...
NHỮNG NGUỒN CUNG ỨNG THIÊN THƯỢNG VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA NÓ.
Đức Chúa Jesus Christ
Trong phần nầy chúng ta sẽ thấy đời sống cứu chuộc của Chúa Jesus, công việc và sự dạy dỗ của Ngài đều hoàn toàn cần thiết cho chương trình cố vấn vì những lý do sau đây:
1. Chúa Jesus đã mang lại phương thuốc cứu chữa cho tội lỗi và mặc cảm phạm tội.
2. Chúa Jesus là kiểu mẫu của một lối sống Agape.
3. Chúa Jesus đã ban cho chúng ta những nguyên tắc dành cho những mối tương quan Agape và nếp sống Agape.
4. Chúa Jesus là hy vọng của hiện tại và tương lai.
Khi nghiên cứu đến phần nầy, bạn hãy thử hình dung xem chúng ta sẽ ở vào chỗ nào trong chương trình cố vấn của mình nếu như chúng ta không có Chúa Jesus ở với mình.
* * Vì sao những nguồn cung ứng thiên thượng lại quan trọng như vậy? Hãy trở lại những suy nghĩ của bạn về khúc Kinh Thánh trong Mat Mt 9:35. Ở đây chúng ta đọc về Chúa Jesus. Ngài nhìn thấy những nhu cầu về thuộc thể, tâm lý và về tâm linh của chúng ta. Không những Chúa Jesus chỉ nhìn thấy con người thôi mà Ngài còn gánh lấy từng trãi của họ nữa, bởi vì "Ngài động lòng thương xót họ".
Cũng vậy, chúng ta biết rằng Chúa Jesus đã sử dụng các nguồn cung ứng thiên thượng và từ con người để đến với họ và yêu thương họ.
Chúa Jesus cũng ban cho chúng ta quyền năng và trách nhiệm để đem đến sự chữa lành giống như vậy đến cho người khác. Đó là lý do vì sao việc sử dụng nguồn cung ứng thiên thượng thật là quan trọng. Đời sống và sự dạy dỗ của Ngài là những kiểu mẫu duy nhất mà chúng ta có để dạy chúng ta cách phải sống theo lối sống Agape. Ngài đã cung ứng cho chúng ta phương thuốc cứu chuộc duy nhất cho vấn đề tội lỗi và sự mặc cảm phạm tội. Bởi đời sống và sự giảng dạy của Ngài, chúng ta nhận được những nguyên tắc và sự chỉ dẫn dành cho những mối quan hệ với Đức Chúa Cha và với nhau. Chúng ta thật sự không hiểu được làm thế nào để sống theo mạng lịnh lớn lao, đó là "phải hết lòng kính mến Chúa và yêu kẻ lân cận như mình". Nếu không nhìn xem đời sống của Chúa Jesus và sự dạy dỗ của Ngài.
Liệu còn có hy vọng gì khi chúng ta phân rẽ khỏi nguồn cung ứng thiên thượng chăng? Tôi thường tự hỏi mình hoặc nhiều khi tôi cũng đã nói với người khác rằng "Người ta sẽ làm gì nếu không có Chúa Jesus ? Người ta làm thế nào để vượt qua những sự thương tổn, những lần khủng hoảng, những khó khăn, những điều rối rắm trong cuộc đời khi không có Chúa Jesus? Ngoài Chúa Jesus còn có hy vọng nào chăng?". Thật vậy, tôi không nghĩ rằng người ta có thể đạt đến mức sống trưởng thành hoặc nhận biết tiềm lực của mình nếu không có Chúa Jesus. Nhiều khi những người không phải là Cơ Đốc nhân dường như vượt xa một số các Cơ Đốc nhân, song tôi nghĩ đó là vì người Cơ Đốc chưa sử dụng các nguồn cung ứng một cách thích đáng.
Tôi nhớ một việc xảy ra cho tôi liên quan đến vị huấn luyện viên bóng rỗ của tôi ở tại trường trung học. Có một đội bóng gần thành phố mà chúng tôi thường xuyên đấu giao hữu với họ. Sau cùng chúng tôi đấu với họ để tranh giải vô địch hạt và giải vô địch vùng, và sau đó chúng tôi gặp họ trong trận thi đấu vòng loại của tiểu bang. Điều thật sự làm các thành viên trong đội bóng của chúng tôi khó chịu là vì huấn luyện viên của chúng tôi cực kỳ khắt khe khi rèn luyện. Lúc bấy giờ chúng tôi mới chỉ là một đội bóng của trường trung học, thế mà ông ta lại bảo: "Tất cả các anh đều phải đi ngủ vào lúc 9 giờ 30 tối". Ông ta yêu cầu các vận động viên đều phải hớt tóc ngắn. Thật sự nhiều khi các vận động viên thậm chí không được gặp gỡ các cô bạn gái của họ sau trận đấu nữa. Họ phải về nhà và đi ngủ.
Những anh chàng trong đội bóng kia thì thật nổi tiếng trong việc thiếu kỷ luật. Tôi muốn nói rằng họ được gặp nhau bên ngoài sân sau những giờ tập bóng, một số thì uống rượu, và làm nhiều điều mà đáng lẽ một vận động viên không được làm. Dầu vậy, các anh chàng ấy đã thắng chúng tôi trong hai trận. Đồng đội của chúng tôi hỏi nhau "Thế nào? Chúng ta rèn tập, thế mà lại thua, còn họ chẳng kỷ luật gì cả, lại thắng? ". Tôi không bao giờ quên câu trả lời mà huấn luyện viên đã nói. Điều đó đã ảnh hưởng sâu xa đến suy nghĩ của tôi. Ông ta đã nói như vầy: "Hãy nghĩ đến điều mà đáng lẽ họ đã có thể đạt được"
Chúng ta có những nguồn cung ứng rất quan trọng. Nếu thế gian làm chúng ta phải ngừng, thì tôi cho rằng điều đó là bởi vì chúng ta đã không sử dụng những nguồn cung ứng mà đáng ra chúng ta phải sử dụng. * *
18. Sự hiện diện của Đức Chúa Jesus Christ là tuyệt đối cần thiết cho sự chữa lành tội lỗi và sự phạm tội. Đọc mỗi câu Kinh Thánh dưới đây và cho biết Chúa Jesus là ai, theo câu Kinh Thánh đó. Ngài là
a. LuLc 9:11...
b. 23:34 ...
c. GiGa 17:3 ...
d. Cong Cv 4:12 ...
e. 10:38 ...
f. ICo1Cr 3:11 ...
g. GaGl 3:13 ...
Vì Chúa Jesus là tất cả mọi điều kể trên, thì chắc chắn Ngài là phương thuốc chữa trị tội lỗi và sự phạm tội. Vì sao chúng ta còn phải suy nghĩ, thậm chí cố gắng làm mọi điều mà Ngài đã làm? Thật là một nguồn cung ứng quyền năng thiên thượng tuyệt vời sẵn dành cho chúng ta!
19. Chúa Jesus đã ban cho chúng ta những nguyên tắc căn bản dành cho những mối liên hệ Agape và đời sống Agape. Tìm ra những nguyên tắc ấy trong các phần Kinh Thánh trưng dẫn dưới đây đưa ra cho chúng ta những sự chỉ dẫn dành cho đời sống.
a. Mat Mt 4:4 ...
b. 5:44 ...
c. 22:37 ...
d. GaGl 6:2 ...
20. Chúa Jesus là hy vọng cho hiện tại và cả tương lai. Hy vọng trong Chúa Jesus khiến chúng ta phải thực hiện những công việc cụ thể.
a. IGi1Ga 3:3. Ai có sự trông cậy trong Chúa Jesus .
...
b. Tit Tt 2:12-13. Ai có sự trông cậy trong Chúa Jesus.
...
Chúa Jesus đã ban cho chúng ta những nguồn cung ứng có cần trong tiến trình cố vấn nầy. Tuy nhiên, còn có những nguồn cung ứng thiên thượng khác mà chúng ta cũng cần xem xét.
Đức Thánh Linh - Đấng Yên Ủi
Đức Thánh Linh có nhiều tên gọi, như Kinh Thánh đã mô tả, và những danh xưng ấy cho thấy những thuộc tính của Ngài. Trong phần nầy, chúng ta sẽ xem xét lý do tại sao Đức Thánh Linh là quan trọng và cách Ngài hành động trong công tác cố vấn. Hãy xem kỹ khung 7.3 là khung bày tỏ rõ khái lược của phần nầy trong bài học.
ĐỨC THÁNH LINH LÀ QUAN TRỌNG
Bởi vì:
* Ngài là Đức Chúa Trời
* Ngài là một Đấng có Thân vị
* Ngài Biến Đổi Đời Sống.
Đức Thánh Linh Thực Hiện Công Việc Yêu Thương Agape bằng cách:
* Cáo trách
* Đổi mới
* Chữa lành
* Hướng dẫn
* Phát triển
Đức Thánh Linh Làm Việc Qua Con Người.
Khung 7.3
* * Hãy nghĩ đến thân vị của Đức Thánh Linh. Vì sao Ngài quan trọng? Hãy để tôi đề xuất một số điều. Xem lại khung 7.3, bạn sẽ thấy Đức Thánh Linh quan trọng bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời. Thật là một sự bảo đảm khi có Đức Chúa Trời ngự trị tại đó trong mối quan hệ cố vấn! Hãy nghĩ đến điều đó. Ngài luôn ở cùng mỗi khi tôi bước vào một mối quan hệ trong vấn đề cố vấn hay bất cứ mối liên hệ nào về vấn đề đó. Đức Chúa Trời hiện diện bởi vì Ngài sống trong tôi. Ngài đầy dẫy tôi.
Khi chúng ta nghĩ về Đức Thánh Linh như là Đức Chúa Trời, thì điều đó cũng quan trọng để nhớ rằng Ngài có một thân vị. Ngài có tâm trí, tình cảm và ý chí. Nhiều câu Kinh Thánh dạy về thân vị của Đức Thánh Linh. Những hành động của Ngài cho chúng ta biết Ngài là một thân vị. Ngài có thể bị đau buồn. Ngài có thể bị từ chối. Ngài nói, Ngài chỉ dẫn, Ngài dạy dỗ, và vân vân. Đó là lý do tại sao Ngài là quan trọng. Ngài là nhân vật Thứ Ba trong mối quan hệ cố vấn nầy.
Kế đó, Đức Thánh Linh biến đổi những cuộc đời. Ngài làm những điều ấy vì cớ Ngài là Thánh Linh của tình yêu thương (RoRm 15:30). Ngài bắt đầu bằng cách cáo trách chúng ta về tội lỗi. Sau đó Ngài ứng dụng công lao của thập tự giá vào đời sống chúng ta và đem lại sự đổi mới. Ngài chữa lành những linh hồn bị thương và những tấm lòng bị tan vỡ. Ngài hướng dẫn. Ngài tham dự một cách tích cực trong đời sống chúng ta, phát triển chúng ta và đem chúng ta đến chỗ trưởng thành.
Có điều xảy ra cho tôi khi tôi am hiểu thật hết sức sâu xa về Đức Thánh Linh. Ngài đã ban cho tôi lời cầu nguyện bằng tiếng lạ. Theo 8:26-27, tôi yếu đuối và không biết phải cầu nguyện thế nào cho xứng đáng, nhưng Đức Thánh Linh cầu nguyện thế cho tôi, Ngài gây dựng và kiến tạo tôi. Kinh Thánh trong ICôrinhtô 14 nói rằng, khi tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ, ấy là tôi đang nói với Đức Chúa Trời, nói những sự mầu nhiệm, và tôi giao thông bằng tâm thần của mình theo như Đức Thánh Linh chỉ dẫn. Tôi khám phá ra rằng đấy là một nguồn cung ứng lớn lao.
Sự cầu nguyện tiếng lạ ấy đưa ra sự hiện diện và công việc của Đức Thánh Linh vào trong môi trường cố vấn.
Nhiều khi chúng ta thắc mắc "Làm thế nào mà chúng ta, là những người cố vấn lại có thể khiến cho những người được cố vấn cảm nhận họ phạm tội trong những điều họ đang sai trái?". Câu trả lời là: Chúng ta không làm được. Đó là công việc của Đức Thánh Linh. Chỉ một mình Ngài cáo trách con người về tội lỗi. Điều tôi làm là nói ra lẽ thật trong sự yêu thương, và Đức Thánh Linh sẽ cáo trách tội lỗi. Tôi không cứu được ai cả. Đức Thánh Linh mới đem họ đến sư cứu rỗi. Tôi không biến đổi đời sống của ai được cả. Chính Ngài thay đổi đời sống của con người. Tôi chỉ chia xẻ lại những nguyên tắc và chỉ rõ những nguồn cung ứng. * *
21. Đọc mỗi câu Kinh Thánh sau đây và hãy viết ra mỗi thuộc tính giống như Đức Chúa Trời đã được nhắc đến trong mỗi câu Kinh Thánh ấy để hậu thuẫn cho lời tuyên bố "Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời".
a. Thi Tv 139:7-10 ...
b. LuLc 1:35-37 ...
c. GiGa 3:5 ...
d. 15:26 ...
e. 16:7 ...
f. RoRm 8:9 ...
g. 8:11 ...
h. ICo1Cr 2:10 ...
i. 6:19 ...
j. HeDt 9:14 ...
22. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu nào ĐÚNG khi nói đến công việc và thân vị của Đức Thánh Linh.
a. Đức Thánh Linh là một thân vị có tâm trí và có lý trí.
b. Chúa Jesus thay đổi những cuộc đời, vì thế không phải Đức Thánh Linh đã thực hiện vai trò đó.
c. Việc cáo trách, đổi mới, chữa lành, hướng dẫn và làm cho phát triển, hết thảy đều là những công việc của Đức Thánh Linh.
d. Đức Thánh Linh thấp hơn Đức Chúa Trời một bậc trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời vì Ngài do Đức Chúa Trời dựng nên.
e. Việc phát triển và việc đem chúng ta đến chỗ trưởng thành đều là những hoạt động của Đức Thánh Linh.
f. Người cố vấn lệ thuộc sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh bởi vì công việc của Đức Thánh Linh là cố vấn, khuyên bảo.
g. Người cố vấn dễ dàng cáo trách con người về tội lỗi. Vì vậy trong những trường hợp đó, người cố vấn không cần nhờ vào những công việc của Đức Thánh Linh.
Lời Của Đức Chúa Trời
Nguồn cung ứng thứ ba trong tiến trình cố vấn là Lời Đức Chúa Trời đó là Kinh Thánh. Sứ đồ Phao lô khi viết thư cho Timôthê, đã nói rằng "Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành" (IITi 2Tm 3:16-17)
Chỉ hai câu Kinh Thánh trên là những lý do rõ ràng để sử dụng Lời Chúa vào trong chức vụ cố vấn mà thôi. Đó chính là rường cột cho chương trình của chúng ta. Những nguyên tắc của Kinh thánh đều là lẽ thật. Liệu Pháp Agape đặt nền tảng trên lẽ thật.
Bạn có thể hỏi "Vì sao chúng ta phải sử dụng Kinh Thánh trong việc cố vấn? Lời Kinh Thánh được dùng như thế nào?". Mục tiêu của phần nầy nhắm vào việc trả lời cho hai câu hỏi trên. Bạn hãy xem kỹ khung 7.1 để cho chúng ta một khái lược cơ bản về những vấn đề "tại sao" và "làm thế nào" trong việc sử dụng Kinh Thánh trong việc cố vấn.
VIỆC SỬ DỤNG KINH THÁNH TRONG CÔNG TÁC CỐ VẤN.
Vì Sao Chúng Ta Sử Dụng Kinh Thánh:
1. Kinh Thánh là nguồn uy quyền quyết định và tối thượng trong những vấn đề liên quan đến đời sống và sự tin kính.
2. Kinh Thánh chứa đựng tất cả mọi nguyên tắc cần thiết cho đời sống.
3. Kinh Thánh đòi hỏi sự chân thật trong thực tế.
4. Kinh Thánh giải quyết mọi lĩnh vực của đời sống.
5. Kinh Thánh là sự ban cho của Đức Chúa Trời được viết cho con người.
6. Kinh Thánh dùng để chữa trị.
7. Kinh Thánh ban cho chúng ta một tiêu chuẩn sống.
Chúng Ta Sử Dụng Kinh Thánh Như Thế Nào:
1. Giữ theo mục đích của Kinh Thánh.
2. Trong tình yêu thương
3. Như là một lời chứng, chứ không phải một công cụ.
4. Như là Lời của Đức Chúa Trời... đồ ăn cho sự sống.
5. Sử dụng Kinh Thánh dưới sự chỉ dẫn bén nhạy, có cầu nguyện và cẩn thận của Đức Thánh Linh.
Khung 7.4
* * Chúng ta sử dụng Thánh Kinh vì đó là nguồn uy quyền quyết định và tối thượng cho những vấn đề có liên quan đến đời sống và sự tin kính. Nếu bạn quay trở lại khung 1.2, bạn hẳn sẽ thấy vòng tròn lẽ thật của chúng ta. Hãy nhớ rằng chúng ta coi Lời Đức Chúa Trời là một trong những phương cách chính yếu được Đức Chúa Trời chọn lựa để truyền thông lẽ thật cho chúng ta. Chúng ta tin như vậy. Vì vậy, Kinh Thánh tốt hơn bất cứ một quyển sách giáo khoa nào về vấn đề cố vấn. Bạn còn nhớ những vòng tròn nhỏ trong khung 1.2 và việc chúng ta liên hệ đến Phép Phân Tích Trao Đổi, Liệu Pháp Trung Thực, Liệu Pháp Xúc Cảm Duy Lý, và tất cả những phương pháp khác nhau về vấn đề cố vấn và các kiểu chữa trị chăng? Trong phép Phân Tích sau cùng, Lời Đức Chúa Trời là uy quyền tối hậu của chúng ta.
2. Chúng ta sử dụng Kinh Thánh vì trong đó chứa đựng tất cả những nguyên tắc cần thiết cho đời sống. Một trong những lời cầu nguyện tôi thường xin cho đời sống mình và cho sức sống của hội thánh đó là chúng tôi sẽ trở nên những người nam người nữ của Lời Đức Chúa Trời.
Được hiểu biết Lời Chúa, đó là một trong những mục tiêu của nếp sống tôi. Mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm nữa, tôi muốn mình có thể nhìn lại và nói rằng tôi đã trở thành người tấn tới không ngừng trong việc ứng dụng Lời Chúa vào đời sống thực tế của tôi. Mục tiêu của tôi là tấn tới không ngừng trong sự thông biết Lời Chúa và ứng dụng Lời Ngài vào đời sống mình.
3. Kinh Thánh đòi hỏi sự chân thật. Làm sao mà bạn có thể tranh cãi với uy quyền tối thượng được? Bạn có thể làm gì khi Đức Chúa Trời phán rằng đây mới chính là phương cách Thánh Kinh cũng giải quyết mọi phương diện của đời sống. Hãy lấy một khúc tiêu biểu như Bài Giảng Trên Núi, đặc biệt là Mathiơ đoạn 6, là chỗ Chúa Jesus nhắc đến "sự lo lắng" đến năm lần. Trong khúc Kinh Thánh đó, Chúa Jesus đã đề cập đến những nhu cầu về thuộc linh, thuộc thể và tâm lý của con người.
4. Kinh Thánh cũng nói đến mọi khía cạnh trong đời sống của con người. Về cơ bản, Thánh Kinh là toàn diện. Trong đó đề cập đến thân thể, tâm hồn và linh hồn. Kinh Thánh được Đức Chúa Trời ban và được viết cho con người.
5. Kinh Thánh cũng dùng để chữa trị. Việc áp dụng Lời Đức Chúa Trời vào đời sống đem lại sự chữa lành. Cũng như lẽ thật, nó đem đến sự tự do, yên ủi và ban cho niềm hy vọng. Đó chính là lẽ thật được ban cho trong sự yêu thương. Kinh Thánh phán rõ rằng Đức Chúa Trời đã đưa Lời Ngài đến và chữa lành cho họ.
Một phương pháp để sử dụng tốt Kinh Thánh như là một nguồn cung ứng là bằng cách dạy cho người ta cách suy gẫm. Tôi thường dùng một sự phác họa được sửa đổi do Bill Gothard. Các bước trong việc suy gẫm là như sau:
1. Học thuộc lòng, tức là viết một đoạn Kinh Thánh vào lòng mình.
2. Hình dung, hoặc tìm một hình ảnh thấy được về điều đó. Ví dụ, khi tôi suy nghĩ về Thi Thiên 23, tôi tìm một hình ảnh về người chăn và bầy chiên.
3. Cá nhân hóa, tức là đặt mình vào trong hình ảnh đó với Chúa Jesus. Tôi thích được làm con chiên trong tay Ngài, sau cùng,
4. Hài hòa, tức là, nói lại điều đó với Chúa, cầu nguyện trở lại điều đó với Chúa, hát lại lời đó cho Chúa hoặc xưng ra điều đó với người khác. Hài hòa với Kinh Thánh tức là làm cho môi miệng của mình và cách cư xử của mình hòa hợp với Lời Chúa như thể điều đó đã được viết trong tấm lòng của bạn.
Khi bạn đang suy gẫm. Là bạn đang nghĩ đến những ý tưởng của Đức Chúa Trời đối cùng bạn, và bạn nghĩ thế nào, bạn sẽ trở nên thể ấy. Đó là một nguồn cung ứng năng động. Tôi phải lưu ý bạn, bởi vì đó chính là kinh nghiệm của tôi và tôi nghĩ ông Bill Gothard cũng đề cập đến điều đó. Tức là nếu bạn bắt đầu suy gẫm, có thể bạn sẽ có những giấc mơ kỳ diệu.
Đó là tiềm thức của bạn sẽ bắt đầu được tẩy sạch và đẩy ra những điều ô uế ghê tởm khi nó được rửa bởi nước của Lời Chúa.
Thực tế, tôi đã ra cho người ta công việc phải làm ở nhà trong việc suy gẫm Lời Chúa và đã khám phá rằng chính những lời đó đã chữa lành người ta. Tôi yêu cầu họ hãy suy gẫm Lời Chúa từ ba đến bốn lần trong một ngày, mỗi lần năm phút. Chúng tôi chọn một đoạn Kinh Thánh như Thi Thiên 23 hoặc Thi Thiên 1. Lời Chúa phán rằng nếu bạn suy gẫm Lời Chúa, bạn sẽ giống như cây trồng gần dòng nước, rễ đâm sâu, và lá sẽ chẳng hề tàn héo. Cây sẽ ra trái và thạnh vượng.
Khi bạn bắt đầu suy nghĩ như vậy về chính mình, điều đó bắt đầu xảy ra! Bạn đang ứng dụng trực tiếp Lời Chúa vào đời sống nội tâm vào lối sống của bạn. Kinh Thánh là Lời chữa trị.
6. Thánh Kinh cũng cho chúng ta một tiêu chuẩn. điều nầy liên hệ tới những điều chúng ta được dạy dỗ về lương tâm. Lương tâm như bạn còn nhớ, là một cơ quan đạo đức phổ thông trong mỗi con ngưới, làm chứng về hai điều: Cách cư xử và hệ thống giá trị đạo đức không phù hợp với nhau thì chúng ta phạm tội. Vì vậy sau khi chúng ta được tẩy sạch, điều quan trọng là hệ thống giá trị đạo đức của chúng ta phải theo đúng với lẽ thật hầu cho lương tâm chúng ta không cách nào ngăn trở mình. Vì vậy, đó là một số những lý do cho việc sử dụng Kinh Thánh vào công tác cố vấn.
Bây giờ hãy để tôi nêu cho bạn một số ý về cách sử dụng Kinh Thánh.
1. Chúng ta sử dụng Kinh Thánh đúng theo chủ đích của Kinh Thánh. Chúng ta không được sử dụng Kinh Thánh một cách tùy tiện. Không theo văn mạch. Nếu làm vậy, chúng ta đã buộc Kinh Thánh nói điều chúng ta muốn Kinh Thánh phán hơn là để cho Kinh Thánh phán điều Kinh Thánh thật muốn phán với đời sống chúng ta.
2. Chúng ta sử dụng Kinh Thánh trong tình yêu thương. Kinh Thánh là lẽ thật, vì vậy, dùng lời Kinh Thánh trong tình yêu thương là điều thật quan trọng. Nếu bạn sử dụng Kinh Thánh mà không có tình yêu thương thì có thể bạn đã dùng Kinh Thánh để hủy hoại và làm ngã lòng người ta.
3. Chúng ta sử dụng Kinh Thánh như một lời làm chứng chứ không phải như một dụng cụ. Chúng ta phải sử dụng Lời Chúa như là một điều mà chúng ta đã kinh nghiệm được. Chúng ta không dùng Kinh Thánh để điều khiển người khác.
Tôi không có ý nói rằng chúng ta phải đạt đến sự trọn vẹn và hoàn toàn hoặc trưởng thành trước khi làm công tác cố vấn. Nếu thật vậy, thì chẳng ai trong chúng ta dám làm công tác đó, phải không? Tuy nhiên, ý tôi muốn nói và muốn khuyên giục mạnh mẽ đó là chúng ta phải có kinh nghiệm và cố gắng sống theo điều mình nói. Vì vậy Kinh Thánh là một lời chứng, chứ không phải là một công cụ.
4. Chúng ta cần phải nhận ra rằng Kinh Thánh là thức ăn cho đời sống. Kinh Thánh là thức ăn thuộc linh. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải giúp người ta ăn suốt những lời ấy. Có ít nhất năm cách để tiếp nhận Lời Chúa vào cho đời sống mình. Đó là nghiên cứu, lắng nghe, ghi nhớ, suy gẫm và đọc. Tất cả những điều đó cần phải thực hiện một cách đều đặn.
5. Kinh Thánh nên được dùng sau khi chúng ta đã có sự chỉ dẫn bén nhạy, trong tinh thần cầu nguyện bởi Đức Thánh Linh. Nói cách khác, Ngài đưa câu Kinh Thánh vào tâm trí chúng ta và ban cho sự chỉ dẫn theo cách mà chúng ta phải dùng lời ấy.**
23. Liên hệ đến khung 7.4 để xem bảy lý do để sử dụng Kinh Thánh trong công tác cố vấn. Ghép cặp mỗi câu sau đây với mỗi lý do đã được diễn tả trong khung 7.4 bằng cách viết số thứ tự của lý do đó.
... a. "Bạn bảo bạn chỉ là một người nô lệ và những điều bạn quan tâm không có trong Kinh Thánh. Bạn cho rằng Kinh Thánh chỉ được viết ra cho những giai cấp giàu có mà thôi. Vì vậy, vì sao chúng ta không thử xem xét qua những câu Kinh Thánh để thấy rằng Kinh Thánh quan tâm đến tất cả mọi người ở khắp mọi nơi.
... b. "Nếu bạn tra xem Kinh Thánh một cách cẩn thận, bạn sẽ thấy những sự chỉ dẫn cho mỗi tình huống.
... c. "Nhưng các luật lệ của Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Đức Chúa Trời hiện luôn và sẽ luôn trông mong chúng ta yêu kính và hầu việc Ngài và đó là nguyên tắc bất di bất dịch dầu bạn đang ở đâu"
... d. "Nhưng Kinh Thánh là những bức thư của Đức Chúa Trời, và chúng ta phải nhận biết rằng uy quyền Ngài vượt trên cả mọi sự và không có các nguyên tắc nào khác có thể thay thế các nguyên tắc của Ngài".
... e."Đó chính là phương cách. Tôi xin lỗi phải nói điều đó với bạn, nhưng Kinh Thánh là để dành cho con người và chúng ta phải tiếp nhận điều đó".
... f. "Đó là Lời của Đức Chúa Trời. Ngài đã ban điều đó vì biết rõ rằng chúng ta thế nào cũng sẽ thất bại nên Ngài đã cung ứng một phương cách cho chúng ta"
... g. "Tôi biết bạn đang bị thương tổn. Tôi lấy làm buồn vì sự việc đã xảy ra như vậy, nhưng bạn hãy đọc những câu Kinh Thánh nầy đi, nó sẽ giúp đỡ cho bạn".
24. Bạn hãy xem phần thứ hai trong khung 7.4, là phần đưa ra những lời chỉ dẫn về cách sử dụng Lời Kinh Thánh trong việc cố vấn. Mỗi câu sau đây cho thấy việc sử dụng Kinh Thánh chưa đúng. Hãy viết số thứ tự của từng lời chỉ dẫn đáng lẽ phải được dùng trong mỗi trường hợp.
... a. "Tôi biết bạn không thích làm việc, và thật sự là con cái bạn thường bị đói, nhưng theo tôi, bạn không nên lo lắng. Há không phải Đức Chúa Trời đã phán với chúng ta rằng hãy để ngày mai lo việc ngày mai".
... b. "Tôi thật không biết phải giúp đỡ bạn như thế nào. Tôi biết bạn gặp nhiều nan đề và tôi biết bạn không hiểu được điều Kinh Thánh phán về những điều đó, nhưng bạn phải tìm ra những điều đó".
... c. "Tôi nghe bạn nói vợ bạn đang ốm và cần được giúp đỡ. Bạn có vui lòng bảo cô ấy hãy chổi dậy và thôi cảm thấy buồn phiền về chính mình nữa chăng? Vì Kinh Thánh phán rằng nếu cô ấy có đức tin cô ấy sẽ được lành bệnh".
... d. "Tôi biết bạn đang gặp khó khăn trong việc kiểm soát con cái, nhưng trong EsIs 11:6 chúng ta đọc thấy "Một đứa trẻ sẽ dẫn dắt họ". Vì vậy tôi nghĩ bạn nên nhịn nhục thì hơn".
... e. "Tôi lấy làm tiếc vì đã nói đã làm trong hoàn cảnh của bạn. Tôi tưởng đó chì là một vấn đề đơn giản về bệnh tật, nên tôi đã chỉ cho bạn những câu Kinh Thánh nói về việc cầu nguyện cho người bệnh. Bây giờ tôi mới thấy là bạn đang gặp phải những vấn đề rất nặng nề về phần thuộc linh.
... f. "Tôi cũng vậy, tôi đang có sự tranh chiến khủng khiếp về vấn đề không tha thứ. Tôi cũng không thể nào tha thứ được cho người ấy. Nhưng Kinh Thánh phán bạn phải tha thứ, nếu không Đức Chúa Trời sẽ chẳng tha thứ bạn, vì vậy tôi muốn đến gặp người ấy ngay tức khắc để xin tha thứ"
Phải, Lời Chúa là cần thiết trong mọi giai đoạn trong chương trình cố vấn. Hãy luôn tự nhắc mình về bảy lý do dành cho việc sử dụng Lời Kinh Thánh trong công tác cố vấn và năm chỉ dẫn về cách sử dụng Lời Chúa như đã bày tỏ trong khung 7.4
Cầu Nguyện
Cầu nguyện là một trong những nguồn cung ứng thiên thượng rất quan trọng sẵn có đối với người cố vấn Cơ Đốc. Người Cơ Đốc khôn ngoan có được nhiều sự trợ giúp thiên thượng, vì vậy, với sự huấn luyện thích đáng trong việc sử dụng những nguồn phương tiện đó, người ấy có thể thành công. "Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi" (Phi Pl 4:13). Chúng ta phải biết vì sao chúng ta sử dụng lời cầu nguyện như là một nguồn cung ứng, và chúng ta phải biết cách để sử dụng lời cầu nguyện cho đúng đắn.
Tôi mong rằng, ngay bây giờ có thể cho bạn một bài kiểm ngắn trước khi bạn đi xa hơn. Tôi muốn bạn có thể viết ra những lý do của bạn để cầu nguyện trong tình huống cố vấn của bạn. Sau đó tôi muốn bạn kể ra một số những phương cách sử dụng lời cầu nguyện trước khi, trong khi và sau khi cố vấn. Tôi muốn so sánh những suy nghĩ của bạn với những suy nghĩ của tôi. Há không phải thật là khủng khiếp nếu như chúng ta không thể sử dụng được nguồn cầu nguyện sao? Riêng tôi, sẽ phải trở thành một người bất lực, bởi vì trong sự cầu nguyện, tôi kêu cầu được mọi nguồn cung ứng từ nơi thiên đàng.
SỬ DỤNG LỜI CẦU NGUYỆN TRONG CÔNG TÁC CỐ VẤN
Vì Sao Sự Cầu Nguyện Lại Được Sử Dụng Trong Công Tác Cố Vấn.
1. Nó có ảnh hưởng tới sự thay đổi tức là sự biến đổi.
2. Mang lại sự bày tỏ thích đáng.
3. Làm tuôn đổ nguồn cung ứng của Đức Chúa Trời.
4. Nó là một sự xác quyết.
Sự Cầu Nguyện được sử dụng như thế nào trong Công Tác Cố Vấn.
1. Dưới nhiều hình thức về thời gian cũng như về phương cách
2. Để thừa nhận những sự giới hạn của mình ở trước mặt Chúa, sự xưng nhận.
3. Cách riêng tư và đúng đắn với thực tế
4. Tích cực đối với công tác của Đức Thánh Linh
5. Theo cách phản ứng một khái niệm lành mạnh trưởng thành về Đức Chúa Trời
6. Để đem lại sự đổi mới, sự chữa lành, sự toàn diện và sự trưởng thành.
Khung 7.5
Hãy xem kỹ khung 7.5 để thấy bốn lý do dành cho việc sử dụng lời cầu nguyện và sáu phương cách dùng lời cầu nguyện trong công tác cố vấn. Thỉnh thoảng chúng ta còn phải liên hệ đến khung nầy.
* * Vì sao chúng ta dùng lời cầu nguyện như là một nguồn cung ứng thiên thượng? Hãy xem khung 7.5 để thấy những lý do sau:
1. Chúng ta sử dụng lời cầu nguyện bởi vì nó làm thay đổi. Nó đem lại sự biến cải. Lời cầu nguyện làm thay đổi bạn.
2. Nó cung ứng một cách bày tỏ thích đáng của con người bề trong. Đó là một phương cách để tâm linh con người cũng như tâm hồn con người có thể tương giao với Đức Chúa Trời. Sự cầu nguyện cho phép chúng ta bày tỏ những nhu cầu và những cảm giác sâu xa nhất của mình. Chúa dạy chúng ta phải cầu nguyện cho có bánh ăn hàng ngày. Tôi nghĩ rằng bánh ấy nói đến những nhu cầu của chúng ta về mặt thuộc thể, tinh thần và tâm linh. Bài cầu nguyện chung liên hệ đến tất cả những mặt ấy.
3. Cầu nguyên, thật là một ngạc nhiên lớn đối với chúng ta, làm tuôn đổ sự cung ứng của Đức Chúa Trời. Vì sao một Đức Chúa Trời toàn tri, toàn năng, yêu thương lại hạn chế chính mình Ngài trước những lời cầu nguyện của chúng ta? Tôi không biết được, ngoại trừ một điều đó là Ngài muốn dạy chúng ta tinh thần trách nhiệm và cách để đáp ứng đối với tình yêu Thánh Kinh thật đã tuyên bố chúng ta chẳng được chi vì không cầu xin. Có nhiều điều đã không xảy đến trong đời sống chúng ta cũng như trong đời sống của những người chúng ta đang cố vấn cho họ, chỉ vì chúng ta đã không cầu nguyện cho những điều đó.
4. Cầu nguyện là một sự xác quyết. Chúng ta đã có thể nói rằng cẩu nguyện là một sự xưng nhận hay là một phương cách để xác quyết sự thật. Đó là cách để nói sự thật ở trước mặt Đức Chúa Trời. Từ ngữ xưng nhận trong Tân ước được tạo thành do hai từ ngữ Hy lạp mang ý nghĩa "nói lên cùng một điều". Xưng nhận là nói lên sự việc thật sự như thế nào. Khi tôi tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa mình, là tôi đã xưng nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, rằng Ngài đã chịu chết trên thập tự giá vì tội lỗi của tôi và đã sống lại từ kẻ chết. Cầu nguyện là một sự xác quyết. * *
25. Bạn hãy định nghĩa sự xác quyết khi liên hệ đến sự cầu nguyện
...
26. Hãy xem xét bốn lý do để sử dụng lời cầu nguyện trong công tác cố vấn. Ghép cặp mỗi câu dưới đây với lý do đã được mô tả trong khung 7.5 bằng cách viết vào chỗ trống số thứ tự của lý do đó.
... a. "Lạy Chúa yêu thương, con biết con đã làm hỏng cuộc sống của mình. Con đã làm tổn thương những người mà con yêu quý nhất. Con đã lỡ uống quá nhiều rượu. Bây giờ, Ngài đã nhìn thấy rõ sự việc. Con thật ân hận về những điều mình đã làm. Xin Ngài giúp con sửa sai những vấn đề nầy".
... b. "Lạy Chúa con đang hết sức phiền não, tuyệt vọng và chán nản. Con thật không biết mình có thể làm gì hoặc phải làm gì bây giờ. Xin Ngài hãy cai quản cuộc đời con chỉ con điều phải làm".
... c. "Ôi, ngày hôm nay con cảm thấy khá hơn rất nhiều. Thì giờ hiệp nguyện tuần rồi của chúng con đã là một bước ngoặt trong đời con. Một gánh nặng đã được trút bỏ. Ngợi khen Chúa Jesus".
... d."Tôi biết anh cần có một việc làm, và anh đang tuyệt vọng! Tôi không trách anh như mọi người. Chúng ta hãy hiệp nhau hết lòng cầu nguyện để xin Chúa đem đến cho anh công việc mà anh đang cần! Ngài hứa cung ứng mọi nhu cầu cho chúng ta, tôi tin Ngài sẽ làm"
... e. Gia Gc 4:2 "Các ngươi chẳng được chi vì không cầu xin Đức Chúa Trời".
... f. CoCl 4:17 người đờn bà Samari thưa cùng Chúa Jesus rằng "Tôi không có chồng".
... g. Thi Tv 130:1-2 "Đức Giêhôva ôi, từ nơi sâu thẳm, tôi cầu nguyện cùng Ngài. Chúa ôi, xin nghe tiếng tôi. Nguyện tai Chúa lắng nghe tiếng nài xin của tôi".
... h. LuLc 18:35 "Có một người mù kêu lên rằng "Lạy Jesus con Vua Đavít, xin thương xót tôi cùng!"... Đức Chúa Jesus dừng lại... Tức thì, người được sáng mắt".
Những câu trả lời của bạn có lẽ sẽ khác với tôi, bởi vì có một số các câu có thể áp dụng cho nhiều lý do. Dầu vậy, hãy cố gắng để nghĩ xem vì sao tôi đã chọn lý do ấy cho mỗi một lời cầu nguyện.
* * Trong nửa phần sau cùng của khung 7.5, chúng ta thấy lời cầu nguyện được sử dụng theo nhiều cách khác nhau. Đôi khi người ta hỏi tôi "Có phải ông luôn luôn bắt đầu buổi cố vấn bằng sự cầu nguyện?"
"Có phải ông luôn luôn kết thúc bằng lời cầu nguyện?"
"Không, tôi không luôn kết thúc bằng lời cầu nguyện"
"Vậy ông cầu nguyện vào lúc nào?"
Bất cứ khi nào có những nhu cầu cần phải được cầu nguyện thì tôi cầu nguyện. Tôi cầu nguyện khi được Đức Thánh Linh thúc giục. Nhiều khi tôi cầu nguyện lúc bắt đầu buổi cố vấn, có khi giữa buổi, hoặc cuối buổi. Có một vài buổi tôi không cầu nguyện gì cả, nhưng tôi có thể cầu nguyện trước đó hoặc sau đó. Điều tôi quan tâm là luôn cầu nguyện theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh chứ không bao giờ để điều đó thành ra một nghi lễ.
Chúng ta đã thảo luận về lý do chúng ta dùng sự cầu nguyện trong công tác cố vấn, bây giờ hãy xem xét lời cầu nguyện phải được dùng như thế nào trong công tác cố vấn.
1. Chúng ta cầu nguyện vào những lúc khác nhau theo những cách khác nhau. Đôi khi đó là sự cầu nguyện trò chuyện với Chúa. Trong trường hợp đó, chúng ta kéo ra một chiếc ghế trống và tâm linh chúng ta nhìn thấy được sự hiện diện của Chúa Jesus và chúng ta trò chuyện với Ngài bằng tiếng lạ. Đôi khi chúng ta cầu nguyện đặt tay cho họ. Đôi khi chúng ta qùy gối. Có rất nhiều cách cầu nguyện khác nhau.
2. Chúng ta dùng lời cầu nguyện để thừa nhận những hạn chế của mình và để bày tỏ điều đó với Đức Chúa Trời.
3. Chúng ta cầu nguyện cách cá nhân đúng với sự thật. Chúng ta không được dùng lời cầu nguyện để điều khiển người khác hoặc che dấu chính mình. Lời cầu nguyện của chúng ta phải ra từ tấm lòng, thừa nhận những nhu cầu và những hạn chế của riêng mình. trên hết mọi sự, lời cầu nguyện của chúng ta phải chân thật. Chúng ta cần phải cầu nguyện theo kinh nghiệm riêng của mình và đúng với thực tế.
4. Chúng ta phải cầu nguyện một cách tích cực trong đức tin để Đức Thánh Linh làm việc, tin cậy Ngài và lệ thuộc Ngài theo một khái niệm lành mạnh và trưởng thành về Đức Chúa Trời. Điều nầy thật quan trọng. Bạn thấy cách bạn nghĩ về Chúa sẽ quyết định bạn thưa chuyện với Ngài. Chúng ta cần cầu nguyện trong một khái niệm lành mạnh về Đức Chúa Trời.
5. Cuối cùng, chúng ta cần phải cầu nguyện hướng về sự đổi mới, sự chữa lành sự toàn diện và sự trưởng thành.
27. Hãy xem xét sáu cách dùng lời cầu nguyện trong công tác cố vấn, như đã được mô tả ở nửa phần còn lại trong khung 7.5. Ghép cặp mỗi lời cầu nguyện bên dưới và cách mà lời cầu nguyện được dùng như đã mô tả trong khung 7.5, bằng cách viết số thứ tự của lý do đó.
a. "Lạy Chúa, con xưng nhận sự quá phạm của con. Con thật hối hận. Con biết chỉ một mình Ngài hiểu được và Ngài sẽ tha thứ cho con".
b. "Lạy Chúa, con biết Ngài nhìn thấy con cần thức ăn, Ngài biết con thực sự không có gì xứng đáng, nhưng Ngài đã khiến con nên xứng đáng. Giờ đây con đến mong chờ Ngài đáp ứng nhu cầu nầy. Con cảm tạ Ngài, con biết Ngài làm mọi sự".
c. "Con thật không biết phải làm gì hoặc quay trở về đàng nào. Con cần Đấng Khuyên Bảo hướng dẫn con vào mọi lẽ thật. Con trông đợi sự giúp đỡ của Đấng ấy khi con bước đi bởi đức tin".
d. "Lạy Chúa, Ngài nhìn thấy con. Ngài đã thấy con cư xử nóng nẩy như thế nào với người hàng xóm. Ngài cũng biết con không muốn mình cư xử như vậy. Xin hãy chỉ cho con điều sai trái và hãy giúp con".
e. "Lạy Chúa, con cảm thấy cuộc sống của mình đã bị sụp đổ. Con đã thất bại quá nhiều lần. Con cảm thấy buồn chán. Con thiếu đức tin. Gia đình con dường như xa cách quá. Xin hãy giúp con làm người mẹ và người vợ Cơ Đốc xứng đáng".
f. "Lạy Chúa, đêm qua khi quỳ gối thưa chuyện với Ngài, con biết con cần phải biết thêm về Ngài. Buổi sáng hôm nay khi ngồi đây suy gẫm về tình yêu cao cả của Ngài, con thật kinh ngạc".
Một lần nữa, những câu trả lời của bạn có thể khác với tôi, nhưng hãy nghĩ đến những cách khác nhau đó khi sử dụng lời cầu nguyện trong công tác cố vấn. Điều quan trọng hơn hết phải được nhận biết đó là sự cầu nguyện, khi được dùng một cách thích đáng cho những lý do phù hợp, sẽ là một nguồn cung ứng thiên thượng, năng động hơn hết. Hãy tích cực, sốt sắng và yêu thương trong lúc dùng lời cầu nguyện của bạn. Hãy giữ những ghi chép việc sử dụng lời cầu nguyện và những mục đích của các lời cầu nguyện khác nhau. Sau đó hãy tiếp tục ghi lại những điều đã được nhậm lời. Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho bạn.
Mối Tương Quan Agape
Nguồn cung ứng thiên thượng rất quan trọng. Mối tương quan Agape trong công tác cố vấn là mối tương quan sâu đậm hiện hữu giữa người cố vấn và người được góp ý khi cả hai bên đều kết ước với tình yêu Agape. Đó là một mối tương quan mà trong đó cả hai người đều xác định rằng họ sẽ làm điều tốt nhất cho nhau và sẽ quan hệ với nhau bằng tình yêu Agape hoặc tình yêu thiên thượng.
Xem xét những lý do sau đây để thấy vì sao mối quan hệ Agape là một nguồn cung ứng từ thiên thượng quan trọng.
1. Đức Chúa Trời đã truyền dạy điều đó. Trong GiGa 15:17, Chúa Jesus đã phán rằng chúng ta phải yêu mến lẫn nhau. Phao Lô đã viết trong GaGl 5:13 rằng. chúng ta hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau. Ý muốn nói chúng ta hãy yêu thương bằng tình yêu Agape hoặc tình yêu thiên thượng.
2. Đó là Phép Chữa Trị. Phép Trị Liệu Agape là công tác cố vấn trong tình yêu thương và trong mối quan hệ. Như chúng ta đã học ở phần đầu, những mối quan hệ Agape bao gồm lòng nhân từ, ân điển và lẽ thật. Ba đặc điểm ấy là bộ ba trị liệu được gọi là sự thông cảm chính xác. Sự chấp nhận vô điều kiện và sự chơn thật.
3. Đem Lại Niềm Hy Vọng. Có khi nào bạn cảm thấy chán nản, thế rồi có người đến, người ấy yêu bạn và làm cho bạn hiểu rằng họ thật sự quan tâm đến bạn không?. Hãy xem LuLc 10:30-37, chép về câu chuyện của người Samari Nhơn Lành, một hành khách bị đánh trọng thương. Anh ta không còn hy vọng, vì chẳng ai thèm dừng lại để cứu giúp anh ta. Thế rồi, có một người Samari đi đến, nhìn thấy tình cảnh của người nầy, bèn cứu giúp, đưa người nầy đến chỗ trọ và chăm sóc cho. Không những chỉ có sự chữa lành xảy đến, mà còn có cả niềm hy vọng. Một lần nữa được sinh ra trong cuộc sống của người nầy. Những mối tương quan trong công tác cố vấn được đặt cơ sở trên tình yêu Agape sẽ đem lại hy vọng.
4. Động Cơ thúc đẩy được phát khởi. Hy vọng và động cơ thúc đẩy thường đi đôi với nhau. Theo GiGa 5:2-9, người đàn ông nằm bên hồ Bêtếtđa đã mất hết hy vọng được chữa lành. Động cơ thúc đẩy anh đã tiêu tan. Ông chẳng thấy có lý do gì để cố gắng nữa. Nhưng Chúa Jesus đã khích lệ ông bằng mối tương quan yêu thương, và kết quả ông ta được chữa lành, và ông được thúc đẩy để đứng lên và bước đi. Chúng ta có thể liên hệ với người ta bằng tình yêu thương để khiến họ được khích lệ mà tiến lên phía trước.
5. Nó tạo được những cấu kết trong tiến trình cố vấn. Một mối tương quan được xây dựng trên tình yêu thiên thượng là một mối tương quan của sự tin cậy và sự hiểu biết, vì vậy cả người cố vấn lẫn người được góp ý đều biết rằng người kia sẽ thực hiện đúng theo những nguyên tắc và những phương cách đã được lập lên. Cả hai đều đang ở trên cùng một nền tảng, và họ đều sẽ trung thành với những nguyên tắc của Đức Chúa Trời.
6. Nó xây dựng trên lòng tin cậy. Chúa Jesus thường hay nhấn mạnh đến khái niệm ấy. Ngài thấy hai người nên làm việc chung với nhau. Hãy xem Mat Mt 18:19, trong câu ấy, Chúa Jesus bảo "Nếu hai người trong các ngươi ở dưới đất đồng ý với nhau... điều đó sẽ được thành". Trong câu kế tiếp, một lần nữa Ngài phán "Nơi nào có đôi ba người nhơn danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ". Trong Mac Mc 6:7 chúng ta tìm thấy phần ký thuật về việc Chúa Jesus sai các môn đồ ra đi từng đội một để thi hành chức vụ. Chắc chắn Ngài biết rằng sự tin cậy đều do việc nhờ sự ủng hộ của người kia. Chúa Jesus cũng đã từng trách Phierơ, Gia cơ và Giăng vì đã không tỉnh thức và nâng đỡ Ngài suốt trong đêm tối tăm ở vười Ghết sêmanê. Ngài cần tìm được lòng tin cậy từ nơi một người hoặc nhiều người khác.
7. Nó đem lại sự chỉ dẫn về mặt đạo đức. Trong mối tương quan của tình yêu thiên thượng, chúng ta sẽ quan hệ với nhau khi chúng ta tương quan với Chúa và Ngài đối với chúng ta. Chúng ta sẽ sống theo những nguyên tắc của Ngài, điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời và cả hai chúng ta đều có chung một mẫu mực đạo đức. Chúng ta không phải lập nên những quy tắc mới về cách cư xử mà hẳn sẽ là hàng loạt những sự thỏa hiệp. Mà chỉ cần đồng ý rằng những nguyên tắc của Đức Chúa Trời chính là những nguyên tắc dành cho đời sống của chúng ta.
28. Ôn lại bảy lý do vì sao mối quan hệ Agape là một nguồn cung ứng quan trọng. Ghép cặp mỗi câu dưới đây với mỗi lý do đã được mô tả. Viết số thứ tự của lý do đó vào chỗ trống.
... a. Thánh kinh nhấn mạnh tầm quan trọng của nó.
... b. Một con người nản lòng thể hiện thái độ nầy: "Tôi biết nếu tôi kiên nhẫn, tôi sẽ kinh nghiệm sự đắc thắng".
... c. Người cố vấn và được cố vấn sẽ được khích lệ để tiến lên phía trước.
... d. Cả hai bên đều rõ hơn các luật lệ căn bản và có được sự tán thành tốt hơn về những thủ tục và về các mục tiêu.
... e. Thái độ "Tôi không nghĩ mình làm được", từ từ sẽ trở thành thái độ "Tôi làm được".
... f. Sự chữa lành xảy ra một cách dễ dàng hơn.
... g. Những mẫu mực về cách cư xử được xác định và được tán thành một cách dễ dàng.
Vì vậy chúng ta có thể thấy rằng Liệu Pháp Agape cung ứng được một tình huống cố vấn khi có hai hoặc nhiều người đều ở trong một mối quan hệ mà mối quan hệ đó được đặt nền tảng trên tình yêu thiên thượng hoặc tình yêu Agape. Nó được đặt cơ sở trên những nguyên tắc của Kinh Thánh, là những nguyên tắc phải được đem áp dụng.
Việc Kiêng Ăn
Nhu cầu về thức ăn là một trong những nhu cầu sinh lý cơ bản của con người. Khi một người kiêng ăn, là người ấy tự từ chối việc thỏa mãn nhu cầu ấy trong một thời gian đặc biệt nào đó, để tập trung vào việc làm thỏa mãn những nhu cầu cao hơn. Việc kiêng ăn bày tỏ rằng người ấy kiểm soát được những nhu cầu cơ bản của mình về mặt tâm lý và tâm linh. Đó cũng là một cách để tập trung đúng mức hơn vào những nhu cầu thuộc linh của đời sống người ấy. Trong thời gian kiêng ăn, người ta thường dùng thời gian cầu nguyện để thay thế cho thời gian họ thường dùng vào việc ăn uống. Trong trường hợp đó, việc kiêng ăn trở nên có ý nghĩa hơn cả một sự bày tỏ của sự tự chế mà nó trở thành một nguồn cung ứng thiên thượng mà phải được sử dụng cùng với sự khôn ngoan và sự khiêm nhường. Có người muốn kiêng một bữa, cũng có người có thể quyết định kiêng ăn vài ngày. Những nguyên tắc căn bản về việc kiêng ăn rất đáng để chúng ta hiểu biết khi sử dụng nguồn nầy trong công tác cố vấn.
1. Khi bạn kiêng ăn, bạn là một môn đồ đang bắt chước Chúa Jesus .
29. Đọc Mat Mt 4:1-11. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu nào ĐÚNG.
a. Chúa Jesus đã đi vào đồng vắng theo sáng kiến của chính Ngài.
b. Đức Thánh Linh đã đưa Chúa Jesus đi vào đồng vắng
c. Mục đích của việc vào đồng vắng, theo Mathiơ là để chịu ma quỷ cám dỗ.
d. Tại đây satan đã chứng tỏ quyền năng của nó trên Chúa Jesus.
e. Sau sự cám dỗ, các thiên sứ đến hầu việc Chúa Jesus
2. Việc kiêng ăn bày tỏ những ưu việt thuộc linh.
30. Đọc từng câu Kinh Thánh sau đây và cho biết người nào hoặc những người nào đang kiêng ăn và vì sao họ kiêng ăn.
a. XuXh 34:28...
b. ISa1Sm 7:6 ...
c. Exo Er 10:6...
d. DaDn 10:3 ...
e. Cong Cv 13:2 ...
f. 14:23 ...
Khi ôn lại câu hỏi nghiên cứu số 30, chúng ta thấy có một số những nguyên tắc tuần tự được đề ra. Về cơ bản, người ta kiêng ăn vì họ đang bận rộn tương giao với Đức Chúa Trời, họ cần sự giải phóng, họ đau buồn vì tội lỗi, hoặc họ cần sự chỉ dẫn để chọn những vị lãnh đạo tốt. Tất cả đều có liên hệ đến một sự nặng nề hoặc một kinh nghiệm cao độ vượt qua hơn kinh nghiệm ăn uống hay cảm giác đói.
3. Chúa Jesus trông đợi các môn đồ Ngài kiêng ăn.
Theo Mat Mt 6:16-26, rõ ràng là Chúa Jesus đã coi như những người tin Ngài hẳn sẽ kiêng ăn, vì ở đầu câu 16 và 17 Ngài đều nhắc lại câu "Khi các ngươi kiêng ăn". Trong 9:14 các môn đồ của Giăng đã thắc mắc về việc các môn đồ của Chúa Jesus đã không kiêng ăn. Trong câu 15 Chúa Jesus quả quyết rằng sau khi Ngài ra đi, họ ắt sẽ kiêng ăn.
Từ sự kiện đó, chúng ta có thể thấy rằng Chúa Jesus trông đợi các môn đồ Ngài kiêng ăn. Tôi không thấy Ngài truyền dạy về điều đó, nhưng tôi thật đã thấy Ngài nói về điều đó như thể đó là một điều mà họ sẽ tự nhiên thực hiện.
4. Sự kiêng ăn thật được Đức Chúa Cha nhìn thấy và ban thưởng.
Theo 6:16-18. Đức Chúa Trời nhìn thấy và ban thưởng cho sự kiêng ăn. Ở đây, Chúa Jesus đã phán cùng các môn đồ của Ngài rằng đừnglàm cho người ta thấy họ đang kiêng ăn. Mà thay vào đó phải xức dầu trên đầu và rửa mặt. Có nghĩa là trông họ phải như là không kiêng ăn. Nói khác đi, Chúa Jesus không muốn các môn đồ Ngài thu hút sự chú ý về mình trong lúc kiêng ăn. Để cho Đức Chúa Trời nhìn thấy là đủ rồi, vì vậy họ không cần được loài người cũng biết việc họ kiêng ăn.
31. Khoanh tròn mẫu tự nằm trước câu nào ĐÚNG theo 6:16-17.
a. Chúng ta phải để cho người khác biết việc mình đang kiêng ăn.
b. Việc kiêng ăn phải được thực hiện với Đức Chúa Trời mà không cần người khác phải biết đến.
c. Một phần thưởng đang chờ đợi những người kiêng ăn cách kín nhiệm.
d. Có một số việc kiêng ăn được thực hiện với mục đích để cho người khác biết sự thiêng liêng của cá nhân.
e. Câu "xức dầu trên đầu ngươi" và "hãy rửa mặt ngươi", ở đây có lẽ ám chỉ một nghi thức đặc biệt thật trái ngược với những kẻ đang kiêng ăn.
32. EsIs 58:6-7 tỏ rõ những thái độ và cách xử sự đáng phải có khi kiêng ăn. Hãy kể ít nhất năm điều
...
5. Kiêng ăn là một cách bày tỏ sự tận tâm của người tin Chúa đối với Ngài.
33. Đọc từng câu Kinh Thánh sau đây và cho biết cách để bày tỏ sự thờ phượng Chúa Sau khi kiêng ăn theo như đã được mô tả trong mỗi câu.
a. Thi Tv 35:13 ...
b. 109:24 ...
c. Cong Cv 13:2 ...
6. Việc kiêng ăn chuẩn bị chúng ta cho chức vụ. Nó giúp chúng ta trở thành những ống dẫn của quyền năng.
34. Đọc mỗi câu Kinh Thánh sau đây và cho biết quyền năng có được qua việc kiêng ăn.
a. 13:2 ...
b. 14:23 ...
Sự cân nhắc cẩn thận khung cảnh và tiến trình của Liệu Pháp Agape thuyết phục chúng ta nhận biết những nguồn phương tiện vô hạn sẵn dành cho người cố vấn bán chuyên nghiệp, là tín đồ Cơ Đốc. Sự hiểu biết nầy sẽ giúp cho người cố vấn tin cậy, có được một ý thức sâu xa về sự lệ thuộc vào Đức Chúa Trời, và quyết định thể hiện lối sống và phương pháp cố vấn nhằm khích lệ sự tuôn đổ và tác dụng của mọi nguồn cung ứng.


† Welcome you to nguonsusong.com

GMT+8, 28-5-2018 03:39 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách