nguonsusong.com

Tìm
Trở lại danh sách Đăng bài -----
Xem: 2429|Trả lời: 0

Liệu Pháp Agape 2

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 21-7-2011 23:04:04 | Xem tất |Chế độ đọc

Liệu Pháp Agape 2

Bài Làm Tự Trắc Nghiệm

CÂU LỰA CHỌN: Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất.
1. Điều nào được xếp vào nguồn cung ứng từ con người:
a. Một mối liên hệ Agape
b. Lời Chúa
c. Những người đáng kể khác
d. Đức Chúa Jesus Christ
2 Điều nào được xếp vào nguồn cung ứng thiên thượng.
a. Cầu nguyện
b. Người Cố Vấn.
c. Người Được Góp Ý .
d. Đội ngũ không chuyên.
3. Điều nào là một chỉ dẫn quan trọng cho việc thiết lập một mối quan hệ công tác với một người chuyên nghiệp
a. Họ là người chữa trị.
b. Họ giải quyết mọi lãnh vực của công tác cố vấn
c. Chúng ta phải hiểu biết phương pháp của họ.
d. Họ có thể đưa ra cho chúng ta những tiêu chuẩn.
4. Đâu là một cách để người cố vấn tín đồ được lệ thuộc vào công lao cưú chuộc của Đấng Christ?
a. Nhu cầu chỉ được nhận biết bởi Chúa Jesus .
b. Chúa Jesus là thần
c. Cáo trách là công việc của Chúa Jesus.
d. Chúa Jesus là hy vọng cho hiện tại và tương lai.
5. Sự cầu nguyện được sử dụng trong công tác cố vấn bởi vì nó:
a. Đưa ra sự sắp xếp cho tiến trình cố vấn
b. Cung cấp những chỉ dẫn về đạo đức.
c. Bày tỏ những lẽ thật.
d. Là một lời xác quyết.
6. Trong Phép Trị Liệu Agape, người cố vấn phải
a. Kinh Nghiệm tình yêu Agape, sống theo nếp sống Agape và triển khai một kế hoạch chữa trị.
b. Kinh nghiệm tình yêu Agape, kinh nghiệm sự thương tổn, và sống theo nếp sống Agape.
c. Biết Mười Điều Răn, kinh nghiệm tình yêu Agape và hoạch định việc chữa lành.
d. Sống theo nếp sống Agape, kinh nghiệm tình yêu Agape và là một mục sư đã được phong chức.
7. Những người đáng kể khác là.
a. Người cố vấn chi thể của Đấng Christ và các bạn hữu.
b. Chi thể của Đấng Christ, các bác sĩ tâm thần, và các bạn hữu.
c. Gia đình, chi thể Đấng Christ và các bạn hữu.
d. Gia đình, người cố vấn và các bạn hữu.
8. Đức Thánh Linh thật quan trọng đối với công tác cố vấn bởi vì Ngài
a. Là Đức Chúa Trời, Ngài xét đoán và không nhịn nhục
b. Thay đổi đời sống, cáo trách tội lỗi và xét đoán.
c. Là một thân vị, Đấng làm thay đổi những đời sống và những nguyên tắc. d. Là Đức Chúa Trời, Ngài làm thay đổi đời sống và Ngài là một thân vị.
9. Trong việc cố vấn, Lời Kinh Thánh phải được sử dụng
a. Như một công cụ, tuân theo các mục đích của nó và sử dụng trong tình yêu thương.
b. Trong tình yêu thương, như là một lời chứng, và như thức ăn cho đời sống.
c. Như thức ăn cho đời sống để mang lại sự chỉ dẫn và như là những bảng kế hoạch để chúng ta lấy ra những ý tưởng bất chợt.
d. Như một lời chứng, như một công cụ và như là thức ăn cho đời sống.
CÂU ĐÚNG - SAI. Nếu là câu ĐÚNG, hãy viết chữ Đ vào chỗ trống, nếu là câu SAI, viết chữ S.
... 10. Nếu các nhu cầu của người cố vấn chưa được thỏa mãn, người ấy có thể có khuynh hướng sử dụng người khác để làm thỏa mãn những nhu cầu của riêng mình.
... 11. Một đặc tính mà người cố vấn hẳn cần phải có mà không nhất thiết người được góp ý phải có, đó là học tập cách để truyền đạt tình yêu Agape.
... 12. Người được góp ý có thể trở thành nguồn cung ứng cho chính mình trong phép chữa trị.
... 13 Theo nhiều cách, khi một người đã kết hôn hoặc đang sống trong một gia đình, mà bị thương tổn, thì cuộc hôn nhân đó hoặc gia đình đó cũng bị đau buồn.
... 14. Một Cơ Đốc nhân làm công tác cố vấn là một nhà cố vấn Cơ Đốc.
... 15. Hy vọng trong Chúa Jesus sẽ khiến chúng ta tự làm sạch chính mình hàng ngày cũng như Chúa Jesus là thanh sạch.
... 16. Chúng ta phải lệ thuộc vào Đức Thánh Linh trong mỗi một buổi cố vấn.
... 17. Lời Chúa dùng để chữa trị.
... 18. Lời Chúa phải được dùng như một công cụ trong công tác cố vấn.
... 19. Rất có thể chúng ta làm hỏng người khác bởi việc sử dụng Lời kinh Thánh trong công tác cố vấn.
... 20. Lời cầu nguyện trò chuyện là một phương pháp tốt nhất trong công tác cố vấn.
... 21. Sự kiêng ăn thật vừa được Đức Chúa Trời nhìn thấy, vừa được Ngài ban thưởng.
... 22. Sự kiêng ăn giúp chúng ta trở thành những ống dẫn quyền năng tốt hơn.
... 23. Một lý do chính khiến Đức Chúa Trời thiết lập sự cầu nguyện đó là để truyền đạt khi có cần.

Giải Đáp Những Câu Hỏi Của Bài Học.
1. Người Cố vấn, người được góp ý, những người đáng kể khác và đội ngũ chuyên nghiệp.
2. Đức Chúa Jesus Christ, Thân vị của Đức Thánh Linh Lời Đức Chúa Trời, sự cầu nguyện, sự kiêng ăn và mối liên hệ trong tình yêu Agape.
3. a. 1) Đội ngũ chuyên nghiệp.
b. 2) Những người đáng kể khác.
c. 2) Những người đáng kể khác.
d. 1) Đội ngũ chuyên nghiệp.
e. 1) Đội ngũ chuyên nghiệp.
f. 2) Những người đáng kể khác.
g. 1) Đội ngũ chuyên nghiệp.
4. Câu trả lời của bạn. Còn tôi sẽ trả lời với những người đó như vầy. Kế hoạch của Đức Chúa Trời là sử dụng cả nguồn cung ứng từ thiên thượng lẫn từ con người. Con người bị giới hạn trong chính nguồn cung ứng của mình nhưng Đức Chúa Trời đã bằng lòng hành động qua con người. Suốt Kinh Thánh, chúng ta tìm được những bằng cớ về việc Đức Chúa Trời giao phó cho con người những công tác như truyền giảng và giúp đỡ cho những người bị đau đớn. Song, Đội Ngũ Từ Trời của chúng ta hiện sẵn có tất cả những nguồn cung cấp của thiên đàng để giúp chúng ta hoàn thành những kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại. Chúng ta, là những người tin Chúa, có được lợi thế so với những người chỉ dựa vào những nguồn cung ứng từ con người trong quan hệ chữa trị. Những người tin Chúa có được mối qun hệ với điều vượt hơn khả năng của con người. Chúng ta có Đấng Toàn Tri, Đấng Toàn Năng, Đấng Bất Biến, Ngài là Đấng đã dựng nên chúng ta, và Ngài cũng là Đấng dựng nên người được chúng ta góp ý.
5. a. Thiết lập và giữ vững những sự ưu tiên.
6. d. Chính mình với môi trường xung quanh, với người lân cận và với Đức Chúa Trời.
7. a. Áp dụng các nguyên tắc trưởng thành vào đời sống hàng ngày.
8. a, c, e, f, h, và i đều là những câu đúng.
9. d. Quyết định việc sắp đặt một buổi gặp gỡ, tiến trình hoặc những phương pháp kỹ thuật nào phải được dùng sự truyền đạt sẽ diễn ra thế nào và cách thâu nhặt những nguồn thông tin.
10. 1. Kinh nghiệm tình yêu Agape.
2. Sống theo nếp sống Agape.
3. Học tập và thực hành những kỹ năng để truyền đạt tình yêu Agape.
4. Triển khai một kế hoạch trị liệu. Hãy so sánh những lời giải thích của bạn với những lời giải thích trong sách. Phải bảo đảm là bạn đã gộp đủ tất cả những điểm trọng yếu.
11. a. H
b. V
c. H
d. H
e. V
12. a. Q
b. K
c. Q
d. K
e. Q
f. K
13. Gia đình, thân thể của Đấng Christ, và các bạn hữu.
14. a. 2) Thân thể Đấng Christ
b. 3) Các bạn hữu.
c. 2) Thân thể Đấng Christ.
d. 1) Gia đình.
15. d. Các bác sĩ, các bác sĩ tâm thần, những nhà cố vấn chuyên nghiệp và các luật sư.
16. a, c, e, f, h, và i đều là những câu đúng.
17. Thiết lập mối quan hệ bạn hữu, hiểu biết phương pháp của họ và phát triển một mối quan hệ trong công việc.
18. a. Đấng Chữa lành.
b. Đấng Tha Thứ Tội Lỗi.
c. Đức Chúa Trời Thật.
d. Chúa Cứu Thế Duy Nhất.
e. Đấng Làm Điều Phước và Đấng Chữa Lành Những Kẻ Bị ức hiếp.
f. Nền Tảng Duy Nhất.
g. Đấng Cứu Chuộc.
19. a. Sống bởi Lời Đức Chúa Trời.
b. Yêu kẻ thù nghịch. Cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình
c. yêu Chúa, yêu người lân cận và bản thân mình, bằng cả tấm lòng, linh hồn và tâm trí.
d. Mang những gánh nặng cho nhau.
20. a. Tự làm sạch chính mình
b. Nói "không" với sự không tin kính, và sống theo nếp sống tiết độ.
21. a. Ngài hiện diện ở mọi nơi hay Ngài là Đấng Toàn Tại.
b. Ngài là Quyền năng của Đấng Rất Cao.
c. Ngài dự phần trong sự tái sanh.
d. Ngài là Đấng Tư Vấn (Yên ủi) Thần Lẽ Thật, được Đức Chúa Trời sai đến.
e. Ngài là Đấng Yên ủi được Đức Chúa Con sai đến.
f. Ngài điều khiển Cơ Đốc Nhân.
g. Ngài khiến Chúa Jesus sống lại từ kẻ chết.
h. Ngài bày tỏ những sự sâu nhiệm.
i. Ngài sống trong chúng ta.
j. Ngài là Đấng Đời Đời.
22. a, c, e, và f đều là những câu đúng.
23. a. 4) Giải quyết mọi mức sống.
b. 2) Chứa đựng tất cả những nguyên tắc thiết yêú.
c. 7) Ban cho một tiêu chuẩn.
d. 1) Là uy quyền tối thượng.
e. 3) Đòi hỏi sự trung thực.
f. 5) Là sự ban cho của Đức Chúa Trời.
g. 6) Là Phép Chữa Trị.
24. a. 1) Giữ đúng theo mục đích của Kinh Thánh.
b. 4) Như là thức ăn cho đời sống.
c. 2) Trong tình yêu thương.
d. 1) Giữ đúng theo mục đích của Kinh Thánh.
e. 5) Sau khi cân nhắc trong sự cầu nguyện.
f. 3) Như một lời làm chứng chứ không phải một công cụ.
25. Đó là một cách để tuyên bố ở trước mặt Đức Chúa Trời, thưa với Ngài điều gì là sự thật. Đó là một sự xưng nhận về thực trạng của những vấn đề theo cái nhìn của Đức Chúa Trời.
26. a. 4) Sự Xác Quyết.
b. 2) Cách Bày Tỏ.
c. 1) Sự Biến Đổi.
d. 3) Sự Cung Ứng.
e. 3) Sự Cung Ứng.
f. 4) Sự Xác Quyết.
g. 2) Cách Bày Tỏ
h. 1) Sự Biến Đổi.
27. a. 2) Thừa nhận những mặt hạn chế.
b. 5) Phản ánh một khái niệm trưởng thành về Đức Chúa Trời.
c. 4) Cho Thánh Linh hành động tích cực.
d. 3) Phản ánh sự trung thực theo cách riêng tư.
e. 6) Đem lại sự đổi mới, sự chữa lành, sự toàn diện và sự trưởng thành.
f. 1) Sử dụng các hình thức khác nhau.
28 a. 1) Được Chúa truyền dạy.
b. 3) Hy vọng.
c. 4) Động cơ
d. 5) Kết cấu.
e. 6) Lòng tin cậy.
f. 2) Trị liệu pháp.
g. 7) Những chỉ dẫn.
29. b, c và e là những câu đúng.
30. a. MôiSe trong lúc viết mười điều răn.
b. Dân Ysơraên - để được giải phóng khỏi dân Philitin.
c. Exơra than khóc vì sự không trung tín của những người lưu đày trở về.
d. Đaniên - than khóc.
e. Banaba, Simêôn, Lusiút, Manahem và Sau Lơ - để thờ phượng Đức Chúa Trời.
f. Phao Lô và Banaba - bổ nhiệm các trưởng lão.
31. b và c là những câu đúng.
32. 1. Bẻ những xiềng hung ác.
2. Mở những trói của ách.
3. Thả cho kẻ ức hiếp được tự do.
4. Bẻ gãy mọi ách.
5. Chia bánh cho kẻ đói.
6. Đem cho những người nghèo khổ đã bị đuổi đi về nhà mình.
7. Mặc cho kẻ trần truồng.
8. Đừng trớ trinh những kẻ cốt nhục.
33. a. Khiêm nhường hạ linh hồn mình.
b. Đầu gối người ấy run rẩy (Sự khiêm nhường)
c. Họ bèn hầu việc Chúa.
34. a. Có khả năng để quyết định trong sự bổ nhiệm.
b. Có thể dâng các trưởnglão cho Chúa.

SỰ TRUYỀN ĐẠT HỮU HIỆU
Bạn có thấy khó để có thể có một sự truyền đạt hữu hiệu với người khác không? Bạn hành động và phản ứng như thế nào khi ai đó làm và nói những điều làm bạn khó chịu? Việc truyền đạt cảm xúc quan trọng như thế nào? Những câu hỏi này và nhiều câu hỏi tương tự khác sẽ được bàn đến trong bài học này.
Khi chúng ta suy nghĩ về tình yêu Agape hay còn gọi là tình yêu Thiên thượng, những tính chất và đặc điểm của tình yêu này, chúng ta được nhắc nhở về tầm quan trọng của sự truyền đạt hữu hiệu. Rõ ràng, sự truyền đạt là quan trọng nhất mà người cố vấn không chuyên Cơ đốc phải làm. Sự truyền đạt này bắt đầu bắt nguồn từ những điều thuộc về con người. Tính chất của nó được xác định bởi tình trạng của tấm lòng. Đối với người được cố vấn sự truyền đạt có nghĩa là đụng chạm đến những điều sâu kín nhất của họ vì vậy nó có một sức mạnh rất lớn, và một ý nghĩa hết sức quan trọng. để cố vấn thành công thì phải có một sự truyền đạt hữu hiệu. Cố gắng Agape đòi hỏi sự truyền đạt giao tiếp Agape. Và sự truyền đạt Agape là một sự truyền đạt hữu hiệu.
Phân đoạn Kinh Thánh Êphêsô 4:15;,25-27 sẽ giúp chúng ta liên hệ đến sự truyền đạt Agape "lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật, để cho mọi việc chúng ta được thêm lên trong Đấng làm đầu, tức là Đấng Christ... Như vậy, mỗi người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình, vì chúng ta làm chi thể cho nhau". Trong bài học này chúng tôi muốn thảo luận về sự truyền đạt hữu hiệu hoặc nói cách khác là "lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật".
Có nhiều nguyên tắc truyền đạt hữu hiệu được viết trong bài học này trích từ cuốn The parent's Manual. Là loại sách được dùng trong việc huấn luyện truyền thông ngoài gia đình của Brad Greene và nhiều tác giả khác.
Định nghĩa sự truyền đạt hữu hiệu
Những đặc điểm của sự truyền đạt hữu hiệu
Đơn giản
Thực tế
Phù hợp
Có trách nhiệm
Tin cậy
Hiểu biết (chịu học tập)
Dựa trên kinh nghiệm
Nói điều chân thật trong tình yêu thương.
Hoàn thiện sự truyền đạt
Lắng nghe tích cực
Truyền đạt trực tiếp
Giải quyết những nan đề
Khi học xong bài này bạn có thể:
Ể Định nghĩa được sự truyền đạt hữu hiệu là gì?
Ể Trình bày và giải nghĩa những đặc điểm của sự truyền đạt
Ể Giải quyết những cách truyền đạt lẽ thật trong tình yêu thương
Ể Thảo luận những cách mà theo bạn sử dụng sự truyền thông Agape có thể triển khai và đạt được kết quả.
Ể Truyền đạt một cách hiệu quả ngay cả trong những mâu thuẫn.
1. Học hết phần triển khai bài học, trả lời những câu hỏi và kiểm tra câu trả lời của bạn.
2. Nghiên cứu cẩn thận phần những mục tiêu của bài học trước khi bắt đầu phần triển khai bài học sẽ giúp bạn nắm được bài nhanh chóng hơn.
3. Nhớ viết câu trả lời của bạn cho phần câu hỏi nghiên cứu, trước khi đối chiếu với phần trả lời ở cuối bài học này, phương cách này sẽ giúp bạn học tài liệu này nhanh hơn.
4. Để chắc chắn bạn nên xem phần giải thích ý nghĩa thuật ngữ của những từ ngữ chìa khóa mà bạn không hiểu
5. Để hiểu rõ bài học nên đọc những phần Kinh Thánh, dùng để kham khảo được chỉ ra trong phần triển khai bài học trước khi trả lời phần câu hỏi nghiên cứu.
6. Làm bài kiểm tra cá nhân ở cuối bài học, theo sự chỉ dẫn cách cẩn thận
Tuyệt đối
Thích hợp
Thông điệp "tôi"
Mang nghĩa bao hàm
Biểu hiện
Cảm thông
Sự tác động trực tiếp
Chướng ngại vật
ĐỊNH NGHĨA SỰ TRUYỀN ĐẠT HỮU HIỆU
Chúng ta phải hiểu sự truyền đạt (truyền thông) hữu hiệu nhiều hơn là chúng ta nói và nghe về nó. Truyền đạt hữu hiệu là một kinh nghiệm. Xem phần định nghĩa sau.
SỰ TRUYỀN ĐẠT HỮU HIỆU
... Là một quá trình (bằng lời hay không bằng lời) của mối tương giao Agape, khiến cho hai hay nhiều người có thể hiểu biết lẫn nhau trong lẽ thật và tình yêu về các mức độ thuộc linh, tâm lý, và thuộc thể trong cuộc sống. Nó có thể được gọi là "sự truyền đạt Agape".
Bảng 8.1
Vậy chúng ta định nghĩa thế nào là một sự truyền đạt hữu hiệu? Xem bảng 8.1. Đó là một sự truyền đạt bằng lời. Truyền thông không bằng lời (Non-verbal) ở đây có nghĩa là những cử chỉ, hành động, điệu bộ, những biểu hiện của nét mặt để diễn tả một suy nghĩ, cảm xúc nào đó. Đây cũng là phần rất quan trọng trong sự truyền đạt.
1. Lưu ý sự khác nhau giữa sự truyền đạt bằng lời và không bằng lời. Chỉ ra những ví dụ sau, những ví dụ nào là sự truyền đạt bằng lời cái nào là không bằng lời.
... a. Cô ấy vặn tay mình trong nỗi tuyệt vọng
... b. Đừng yêu cầu tôi làm điều đó
... c. Anh ta chối mặc dầu đã làm điều đó
... d. Suốt buổi học cô ta nhìn trừng trừng lên trần nhà
... e. Cô ta gõ nhẹ tay lên bàn khi chúng tôi khuyên bảo cô ấy
** Truyền đạt hữu hiệu là một quá trình truyền đạt trong tình yêu thương. Đó là tính chất của mỗi mối quan hệ Agape. Như chúng ta đã nói sự truyền đạt hữu hiệu làm cho hai hoặc nhiều người hiểu biết lẫn nhau trong sự chân thật và tình yêu thương về các phương diện thuộc linh, tâm lý và thuộc thể trong cuộc sống. Vì vậy chúng ta có thể nói chắc chắn rằng đó là một sự tương giao thánh khiết liên hệ đến tổng thể con người.
Tôi nhớ cách đây không lâu, tôi được nghe một câu nói gây ấn tượng đối với tôi "truyền thông là tinh thần". Điều đó có đúng không? Trên thực tế chúng ta có thể làm việc hay ở chung với một người nào đó nhưng không có điều gì để nói với nhau, và cho đến khi chúng ta cảm thấy một vài điều để nói với nhau. Thanh niên thường gọi đó là "sự rung động" (vibes) nhưng dù sự truyền thông đó là cái gì đi nữa, nó chỉ ở trên bình diện tinh thần. Bạn có thể cảm thấy nó, nhưng bạn thật sự không thể định nghĩa nó được. Và đương nhiên, khi chúng ta truyền đạt, chúng ta kinh nghiệm trong phương diện tâm lý, đó là sự chia xẻ những ý nghĩ, tình cảm và những quyết định. Chúng ta cũng kinh nghiệm trong phương diện thuộc thể, đó là những điều xảy ra trong thân thể của chúng ta. Tóm lại sự truyền đạt hữu hiệu là sự truyền đạt nói ra lẽ thật trong tình yêu thương, hiểu biết người khác cũng trong sự chân thật với tình yêu thương.
2. Khoanh tròn những mẫu tự trước những câu đúng nói về sự truyền đạt hữu hiệu dưới đây.
a. Chỉ cần truyền đạt lẽ thật là đủ rồi, dù là bằng những cảm tình tiêu cực.
b. Liên quan đến tổng thể con người
c. Thông điệp không bằng lời không quan trọng như thông điệp bằng lời
d. ảnh hưởng đến những phương diện thuộc linh, thuộc thể và tâm lý trong cuộc sống
e. Tình yêu Agape hay tình yêu thiên thượng là phần cốt yếu
f. Ở phương diện tâm lý, đó là sự chia xẻ những ý nghĩ và tình cảm.
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA SỰ TRUYỀN ĐẠT HỮU HIỆU
Đặc điểm của sự truyền đạt hữu hiệu trước hết phải là lành mạnh và minh bạch, thực hiện theo những nguyên tắc của Thánh Kinh nhằm nâng cao sự hữu hiệu của nó. Sự tương giao Agape là phần cốt lõi của sự truyền đạt hữu hiệu. Nó là phương pháp để được đổi mới và chữa lành. Khi chúng ta biết điều gì thật sự ảnh hưởng đến sự truyền đạt khi chúng ta có thể biết cách để truyền đạt hữu hiệu
Xem kỹ bảng 8.2 dưới đây, bao gồm bảy đặc điểm của sự truyền đạt hữu hiệu và những đoạn Kinh Thánh làm nền tảng.
Eph Ep 4:15-16
1. Đơn giản ChCn 15:4, 26:22
2. Thực tế 21:23, 26:4
3. Phù hợp 26:18-19
4. Có trách nhiệm 18:13
5. Tin cậy 18:4, 20:5
6. Hiểu biết (chịu học hỏi) 16:23; 6:12, 14; 12:17-19
Đơn giản
Một vấn đề quan trọng có liên quan đến sự truyền đạt đó là những thông điệp thường phức tạp và không trực tiếp. Trong những trường hợp này những thông tin cần truyền đạt có thể bị che dấu hoặc bị hiểu sai. Điều này làm cho sự truyền đạt mất hữu hiệu. Vì vậy để sự truyền đạt được hiệu quả hơn, chúng ta cần phải truyền đạt đơn giản và trực tiếp, có nghĩa là những ý định và mục đích phải được bày tỏ một cách rõ ràng. Không có điều gì mờ ám và không sáng tỏ.
Xem ChCn 26:22-26.
Lời kẻ thèo lẻo giống như vật thực ngon
Vào thấu đến tận gan ruột
Môi miệng sốt sắng và lòng tội ác
Khác nào bình gốm bộc vàng bạc pha
Kẻ nào ghen ghét dùng môi miệng nói giả đó
Nhưng trong lòng nó nuôi sự gian lận
Khi nó nói ngọt nhạt thì chớ tin
Vì trong lòng nó có bảy sự ghớm ghiếc
Dầu sự ghen ghét ẩn dấu trong tuồng giả đó
Sự gian ác nó sẽ bị lột ra nơi hội chúng.
Đây là đoạn Kinh Thánh nói về sự giả dối của môi miệng. Diễn tả sự truyền đạt rắc rối hay khó hiểu. Có những thông điệp mờ ám không được truyền đạt cách minh bạch. Trong thực tế sự không rõ ràng là những yếu tố phá hoại sự truyền đạt
3. Đọc Thi Tv 15:14 chúng ta thấy "lưỡi đem đến sự chữa lành là... " trong khi "lưỡi gian tà làm... "
Chúng ta thấy sự đối lập lẫn nhau giữa một cái lưỡi nói điều chân thật trong tình yêu thương với một cái lưỡi nói điều giả dối, gian tà
4. Mat Mt 5:37 dạy gì về sự truyền đạt đơn giản...
5. Xem câu trả lời sau đây "tôi biết bạn muốn tôi dạy lớp đó, nhưng Jane làm việc đó tốt và tôi thì không có khả năng. Tuy nhiên, tôi thật sự thích dạy lớp đó. Bạn nghĩ là tôi có nên dạy không?"
a. Trong trường hợp này, điều cơ bản nào được trình bày?...
b. Có mâu thuẫn gì trong câu trả lời này? ...
Tác giả Châm ngôn khuyến khích chúng ta nói những điều chúng ta nghĩ và nói trực tiếp.
Thực tế
(ChCn 21:23, 26:4, 18, 19)
** Đôi khi chúng ta dùng những kỹ thuật giao tiếp giúp chúng ta tránh nói đến thực tế của vấn đề. Chẳng hạn như chúng ta dùng cách nói tổng quát hóa như "mọi người" "không ai" hoặc "luôn luôn", cách nói giả định như là "tôi biết anh ta nghĩ gì và sẽ nói gì"; hoặc là cách nói tuyệt đối như là "không bao giờ" "việc phải xảy ra như vậy". Khi chúng ta sử dụng cách nói như vậy sự truyền đạt của chúng ta sẽ kém hiệu quả. 26:4 nói rằng "chớ đáp với kẻ ngu si về điều ngu dại nó, e con giống nó chăng"
Câu 18 và 19 chép "người nào phỉnh gạt kẻ lân cận mình, rồi nói rằng (tôi chơi mà!)" khác nào kẻ điên cuồng ném than lửa, cây tên và sự chết". Chúng ta có gặp những trường hợp này không? Trong những trường hợp như vậy chúng ta biết rằng người ta đã không truyền đạt đúng hoàn cảnh hoặc mối tương giao thực tế. Họ đang che dấu sự thật.
Có bao giờ bạn để ý rằng người ta có khuynh hướng tránh bàn đến thực chất vấn đề? Trong một gia đình, người cha lâm bệnh nghiêm trọng, những đứa con khóc lóc vì đói, người khách đến thăm sẽ nói về tình trạng thật của họ hay tránh không nói. Nan đề trong việc đối diện với thực tại là người ta có khuynh hướng tổng quát hóa ("bây giờ chữa trị thì quá trễ"). Bởi sự truyền đạt có liên hệ đến quan điểm của người nghe. Nên những quan điểm này càng gần gũi với thực tế bao nhiêu thì sự truyền đạt sẽ càng hữu hiệu bấy nhiêu.
Nếu người đến thăm nói "tôi hiểu anh đang bệnh nặng" thì cả người khác và người bệnh sẽ thông cảm lẫn nhau. Và nếu cả hai đều nhận thức được rằng người bệnh có thể đang cần sự giúp đỡ, thì cuộc nói chuyện của họ sẽ hữu hiệu hơn.
Hình 8.3 miêu tả một nan đề của sự truyền đạt hiệu quả bằng hình vẽ. Mỗi người đang nhìn vào một cây xanh, nhưng bởi vì có những kinh nghiệm khác nhau trong quá khứ, nhận thức về sự tự chế của người nói, và những nhu cầu của người nghe, vì vậy hẳn nhiên mỗi người có những quan điểm khác nhau về thực tế.
Hình 8.3
Một trong những điều mà chúng ta cần nhớ là kinh nghiệm và nhận thức của mỗi người chúng ta luôn ảnh hưởng đến những thông điệp chúng ta nhận hay phát đi. Chúng ta truyền đạt qua một khung cửa, khung cửa này được xây dựng bởi cảm xúc, sự hiểu biết, những kinh nghiệm quá khứ, vì vậy vào lúc mà sự truyền đạt của chúng ta được đến với người khác, do nan đề của cửa sổ, nó bị sai lạc, chẳng hạn như, nếu trong thế giới vật chất chúng ta nhìn qua một khung cửa có kính màu đỏ hoặc khung cửa có kính màu xanh, thì mọi vật mà chúng ta đang nhìn. Cửa sổ đó đã làm biến màu nhận thức của chúng ta về thực tế. Điều này cũng xảy ra trong sự truyền đạt của con người. Cửa sổ của chúng ta chỉ ra rằng chúng ta đang thật sự nhìn thấy một sự vật, một hoàn cảnh, một con người trong thời điểm đó như thế nào, hoặc là chúng ta cảm thấy ra sao, nhưng có thể nó không thực như sự vật vốn có.
Bảng 8.4
Trong bảng 8.4 ta thấy một sơ đồ mô tả sự đảm nhận những ý nghĩa của thông điệp. Bạn sẽ thấy rằng do sự khác nhau về "màu sắc của cửa sổ", những ý nghĩa khác được nhiều người khác nhau chuyển đi. Bạn sẽ thấy khi một thông điệp được phát đi nó mang nội dung, cảm xúc và tinh thần, tất cả đều ảnh hưởng đến nội dung được nghe như thế nào.
** Nên nhớ có ba phương diện trong sự truyền thông là: Phương diện thuộc linh, phương diện tâm lý và phương diện thuộc thể. Đôi khi những sự kiện và suy nghĩ này không phù hợp với cái khác, điều này là sai lạc thực tế. Thách thức của người truyền thông điệp là tách riêng những chi tiết quan trọng và truyền đạt một cách hiệu quả. Thách thức của người nhận thông điệp là nghe cho chính xác và làm thế nào để người khác biết rằng thông điệp đã truyền được nghe đúng.
H.W. Norman Wright đã viết về sự truyền thông giữa người này với người khác trong những tác phẩm của ông. Ông giải thích hiệu quả của khung cửa. "Tôi biết bạn nghĩ hiểu khi bạn suy nghĩ về điều tôi nói, nhưng tôi không chắc bạn nhận ra rằng những điều bạn nghe không phải là điều tôi muốn nói"
6. Khoanh tròn mẫu tự trước câu đúng.
a. Những kinh nghiệm và nhận thức riêng của chúng ta.
b. Dễ dàng nhận biết và hiểu cách người khác xem thấy một hoàn cảnh.
c. "Cửa sổ" trong nhận thức của chúng ta chứng tỏ chúng ta cảm nhận hoàn cảnh một cách cá nhân như thế nào.
d. "Cửa sổ" trong nhận thức của chúng ta giúp chúng ta nhận thấy mọi điều rõ ràng hơn như thực chất của nó.
7. Kể tên ba cách mà con người thường dùng để tránh nói đến thực chất của hoàn cảnh thực tế...
8. trong những cuộc đối thoại nghiêm túc, khi một người bắt đầu đùa giỡn, chứng tỏ người đó...
9. Theo 12:19. Một thông điệp được nói ra một cách chân thật, nó sẽ...
10. Sắp xếp cho phù hợp những ví dụ (bên trái) với những cách mà con người thường dùng để tránh sự truyền thông về thực tế (bên phải)
... a. "Nếu Jonh đối xử tốt với vợ thì cô ấy sẽ không đau ốm hoài như vậy"
... b. "Nó không bao giờ làm được điều gì"
... c. "Cô ta không đau thật sự, cô ấy chỉ muốn không làm việc"
... d. "Hãy nhờ Laurie làm. Tất cả phụ nữ đều thích nấu nướng mà"
... e. "Mọi người đều gặp khủng hoảng tài chính trong hai năm đầu tiên sau khi lập gia đình"
Phù hợp
(26:18-19)
Vì chúng ta đã xem xét hai đặc điểm: Đơn giản và thực tế trong sự truyền thông hữu hiệu, bây giờ chúng ta hãy xem đặc điểm thứ ba là phù hợp. Sự phù hợp là một đặc điểm quan trọng trong sự truyền thông. Nó nói lên một thông điệp trong một con người tổng thể, bằng lời hoặc không bằng lời. Xin xem lại 16:18-19. Nói về một người nói với kẻ lân cận mình rằng: "Tôi chơi mà!", nhưng động cơ trong lòng của hắn thật sự gian ác. Đây là một sự không phù hợp. Tấm lòng suy nghĩ một đàng, nói ra một nẻo. Điều này không phù hợp và ăn khớp lẫn nhau.
Một ví dụ khác của sự truyền đạt không phù hợp là một người nói với bạn mình rằng "tôi thương bạn lắm" nhưng không bày tỏ điều gì khi nói điều đó.
Tôi nhớ một lần tại một chủng viện, tôi đã truyền đạt không phù hợp trong khi giảng. Tôi vốn là một người rất sôi nổi nhiệt tình. Tôi đã giảng về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho con người, và sau khi giảng tôi được đọc lời nhận xét của các sinh viên. Họ nói rằng khi tôi giảng về tình yêu của Đức Chúa Trời, tôi không nên nắm chặt tay lại và nhìn họ với một ánh mắt quá nhiệt tình, mạnh mẽ như vậy, bởi vì điều đó không chuyển tải được ý nghĩa của tình yêu mà tôi đang giảng. Điều đó không phù hợp.
Đúng là nội dung và suy nghĩ của điều ta nói, sự diễn tả bằng lời hay không bằng lời trong một thông điệp đều cần phải phù hợp. Một thông điệp không phù hợp sẽ cản trở sự tin cậy. Nếu điều này xảy ra trong công tác cố vấn của chúng ta, tốt nhất hãy nói "tôi nghĩ rằng tôi đang nghe hai vấn đề, hãy giúp tôi hiểu. Lúc tôi nghe thế này lúc tôi nghe thế khác. Hãy giúp tôi hiểu những điều này phù hợp nhau". Thậm chí, đôi lúc người ta không biết họ đang làm gì. Họ đang nói về những suy nghĩ lẫn lộn, và họ không hiểu nó. Làm cho họ nhận thức về điều đó sẽ giúp đỡ họ. Có thể sẽ từ chối một phương diện của thực tế và không suy nghĩ cách phù hợp.
Hãy xem xét một ví dụ, một cặp vợ chồng trong một bộ phim hoạt hình nọ. Người vợ ngồi trước mặt chồng quay lại hỏi "anh có còn giận em không?". Người chồng đứng bật dậy và nói "không, anh không giận" "chắc không" người vợ hỏi lại.
Rồi người chồng nhìn vào mặt vợ nói gắt lên "này, anh đã nói là anh không giận là anh không giận" rồi anh ta vung tay lên và nói "em không thể hiểu được hả? Anh không giận, vậy hãy quên đi!"
Ví dụ trên có mang tính phù hợp trong sự truyền đạt không? Hành động và lời nói chứng tỏ những ý nghĩa mâu thuẫn với nhau. Điều đáng lưu ý là khi chúng ta làm điều gì đó để cố gắng thuyết phục ai về một sự việc, trong khi giọng nói và những biểu hiện bằng động tác của chúng ta nói lên một điều khác hẳn.
Cũng đúng thôi khi Cơ đốc nhân nói rằng họ nổi sùng giận giữ hoặc bối rối. Cơ đốc nhân cũng giống như những người khác, cũng cảm nhận những điều này. Điều quan trọng là "làm thế nào để kiềm chế sự giận dữ, và cảm xúc". Điều đó là phải luôn luôn sử dụng cảm xúc theo điều thiện. Eph Ep 4:26 nói rằng "anh em đương cơn giận thì chớ phạm tội". Theo nguyên tắc của Kinh Thánh, thì Đức Thánh Linh sẽ nhắc nhở chúng ta điều này.**
Trong mục tiêu 5 này, khi chúng tôi bàn đến sự phù hợp, chúng tôi muốn nói là những điều đó phải phù hợp và không mâu thuẫn lẫn nhau. Khi chúng ta phiên dịch ý nghĩa chúng ta phải thấy sự khác nhau giữa nghĩa biểu hiện và nghĩa bao hàm (The denotative and the connotative). Nghĩa biểu hiện là "nghĩa thực của một từ", trong khi nghĩa bao hàm là "nghĩa được cộng thêm vào, hoặc một liên tưởng mà nó có nghĩa gần với từ hoặc cụm từ nào đó, có khi nó mang ý nghĩa của một kinh nghiệm cá nhân, cũng có khi nó là kết quả của một sự việc hầu như không liên hệ gì đến ý nghĩa thực của từ hay cụm từ đó".
Một câu nói chỉ có thể phù hợp khi nào người nói được quan tâm đến. Nhưng một từ hoặc nhiều từ trong lời nói đó có thể đem đến một ý nghĩa khác cho người nghe, mà ý nghĩa đó hoàn toàn trái ngược với ý nghĩa của người nói. Người phát đi thông điệp có thể nói một câu rất đơn giản và ngắn gọn, nhưng nếu động tác biểu hiện của anh ta lại thể hiện một ý nghĩa khác trái ngược với những gì anh ta nói, thì thông diệp đó thực sự không phù hợp. Sự không phù hợp xuất hiện khi người nhận thông điệp cảm thấy có hai thông tin bất khả tương hợp được gởi đi trong thông điệp đó. Hẳn là không phù hợp khi nói "tôi thương bạn lắm" nhưng tay thì giơ nắm đấm và cao giọng. Hai động tác này không thể hiện một thông điệp yêu thương.
11.ChCn 26:18-19 diễn tả sự truyền đạt không phù hợp như thế nào?...
...
12. Khoanh tròn mẫu tự trước những câu đúng.
a. Một thông điệp không phù hợp khuyến khích sự tin cậy
b. Nộti dung lời nói, suy nghĩ, những biểu hiện của một thông điệp, tất cả phải phù hợp vừa bằng lời vừa không bằng lời.
c. Khi những lời nói và những hành động mang những ý nghĩa mâu thuẫn nhau, ta gọi là sự không phù hợp
d. Một thông điệp phù hợp được truyền đi bằng hệ thống thuộc thể, thuộc linh và tâm lý một cách phù hợp
e. Sự truyền đạt không phù hợp mang những thông tin không thống nhất.
13. Khi người cố vấn cảm thấy có những điều lẫn lộn khác trong một thông điệp được phát đi, người cố vấn nên nói như thế nào?... ...
...
Có trách nhiệm
** Một đặc điểm khác của sự truyền đạt hữu hiệu là tinh thần trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm là yếu tố then chốt để có một sự truyền thông hiệu quả. Điều đó có nghĩa là chúng ta chấp nhận người khác và sự truyền đạt của họ, và chúng ta cũng nhận trách nhiệm về sự truyền đạt của chúng ta. Ngay khi chúng ta phủ nhận tình cảm của người khác, thì chúng ta sẽ truyền đạt thiếu sự chấp nhận.
Một trong những kỹ thuật truyền thông mà chúng ta sẽ bàn đến ở cuối bài này, đó là bạn lắng nghe người khác, làm thế nào để người đó hiểu bạn đang lắng nghe họ, họ tin chắc là bạn đang lắng nghe điều họ nói.
Khi bạn tin cậy một người, thì bạn sẽ nghe điều người đó nói, và vì vậy người đó sẽ cảm thấy mình được chấp nhận.
18:13 cho chúng ta thấy một bức tranh về sự truyền đạt vô trách nhiệm và thiếu sự chấp nhận "trả lời trước khi nghe ấy là sự điên dại và hổ thẹn cho ai làm vậy". Đây là một vấn đề xảy ra rất phổ biến trong sự truyền thông trong hôn nhân. Vợ hoặc chồng chỉ nói về mình và những ý kiến của mình trong khi người kia sẵn sàng đáp trả và phản ứng lại, có thể theo cách tiêu cực. Điều này phá hủy sự thông công tốt đẹp. 18:13 nói khi bạn làm vậy, ấy là sự điên dại và hổ thẹn.
Một thách thức trong sự tryền đạt hữu hiệu là "tôi có thể có đủ trách nhiệm để người khác bày tỏ thái độ và cảm tình bởi vì đó là điều mà họ cảm thấy?". Đó là sự quyết định nghe ý kiến của người khác, mặc dầu điều đó có thể tôi không thích nghe. Đó là một sự lựa chọn có trách nhiệm để người khác có thể truyền đạt một cách trọn vẹn. Trong những điều tôi muốn nói, tôi phải tự hỏi "tôi có trách nhiệm đủ để truyền đạt, thái độ và cảm tình bằng phương pháp hữu hiệu, phù hợp với thực tế không?"
Truyền thông hữu hiệu là lựa chọn thái độ chịu trách nhiệm trong việc bày tỏ cảm tình chân thật của bạn và nhận nơi người khác những cảm tình cũng chân thật như vậy **
Trong lĩnh vực chịu trách nhiệm về sự truyền đạt hữu hiệu, một trong những nan đề then chốt là chúng ta thiếu sự trách nhiệm chính mình và người khác. Thiếu sự trách nhiệm sẽ tạo nên những "chướng ngại vật". Nói cách khác, nếu tôi không chấp nhận người khác, tôi sẽ nói những điều về họ ám chỉ rằng tôi không thích và dĩ nhiên không yêu thương họ. Và đến lượt họ, họ cũng lo ngại về thái độ tiêu cực hoặc thiếu chấp nhận của tôi, họ sẽ không thể hiện tình yêu thương với tôi, hoặc sẽ không chân thật với tôi. Nếu sự truyền đạt là một quá trình bạn cho và nhận lãnh, thì nó đòi hỏi tinh thần trách nhiệm hai chiều. Tôi phải chấp nhận người khác và chính tôi, và tôi phải để người khác chấp nhận tôi và chính họ.
Xem hình 8.5 trình bày nhiều loại chướng ngại vật khác nhau được dựng lên trong sự truyền thông khi tôi không có trách nhiệm và không chấp nhận người khác và chính tôi. Những loại chướng ngại vật này rất đa dạng
1. Tránh mặt: Tôi tránh mặt người khác bởi vì tôi không thích họ. Chúng ta sẽ không truyền đạt hữu hiệu được.
2. Sự tự thủ thân: Điều này có nghĩa là tôi sợ người khác và vì vậy, tôi hay bị tấn công và bất hợp tác với người khác
3. Tình yêu giả dối: Là trường hợp tôi yêu tôi nhiều hơn người khác
4. Phản công: Tôi tiếp tục trả lời chống lại và làm cho người khác cảm thấy khó chịu
5. Chỉ trích tội lỗi: Thật dễ dàng để nói với người khác rằng họ sai trái và vì vậy đổ tất cả lỗi lầm cho họ.
6. Không công nhận cảm tình của người khác: Thật dễ dàng để nói với người khác là những cảm tình của họ không chân thật, nhưng chúng ta không có quyền làm điều này, vậy hãy bảo anh ta cách cảm nhận như thế nào.
Chúng ta phải nhận biết những điều này và nhiều chiến thuật tương tự khác thường được dùng để cản trở sự truyền đạt của chúng ta.
14. Sắp xếp cho phù hợp những chướng ngại vật cản trở sự truyền đạt hữu hiệu (bên trái) với những gợi ý để sửa sai của Kinh Thánh (bên phải). Bạn có thể chọn nhiều câu trả lời
... a. Tránh mặt
... b. Sự thủ thân
... c. Tình yêu giả dối
... d. Phản công
... e. Chỉ trích tội lỗi
... f. Không công nhận cảm tình của người khác
15. Khoanh tròn trước những câu ĐÚNG về sự truyền đạt hữu hiệu
a. Chúng ta phải chấp nhận người khác và chính chúng ta
b. Bạn có thể phải tin cậy một người nào đó để bạn nghe những gì họ nói
c. Tôi phải có trách nhiệm về cảm tình, thái độ và sự truyền đạt của tôi.
d. Chấp nhận người khác có liên quan đến việc trả lời trước khi nghe.
e. Tôi phải để người khác bộc lộ tình cảm và thái độ của họ
f. Nếu một người không đồng ý với tôi, thì tôi không chấp nhận ý kiến của người đó.
Tin cậy
ChCn 18:4; 20:5
Sự truyền đạt hữu hiệu cũng có tính chất tin cậy. Điều này liên quan đến mức độ của sự truyền đạt, vì vậy nó không biểu hiện hời hợt bên ngoài mà là nằm bên trong của sự tryền đạt. Sự tin cậy sâu sắc đó là sẵn lòng chia xẻ những nhu cầu, tình cảm, và những kinh nghiệm bên trong của người khác.
Chúng ta có thể nói chuyện với một người rất nhiều nhưng thật sự không biết một tí gì về họ. Người đó có thể nói với chúng ta về nhiều điều khác nhau nhưng không bao giờ nói một điều gì về cá nhân họ
Sự truyền đạt hữu hiệu đòi hỏi hai người phải tin cậy lẫn nhau. Tôi phải tin tưởng bạn trước khi tôi chia xẻ những tình cảm và thái độ của tôi với bạn. Tô sẽ không chia xẻ với một người mà tôi không tin, bởi vì tôi không thể chắc rằng người đó sẽ không nhạo báng và nói xấu tôi. Nếu tôi không tin cậy mà tôi thông công chia xẻ với người đó, có nghĩa là tôi liều lĩnh. Vì vậy, hầu hết mọi người có khuynh hướng để giao tiếp ở một mức độ có hạn, họ rất ít hoặc không bao giờ liều chia xẻ với người không tin cậy.
Xin xem bảng 8.6 để nghiên cứu và học biết sự khác nhau giữa những mức độ truyền thông dưới đây. Hãy rèn tập chuyển sang những mức độ truyền đạt khác
Mức độ 5. Những lời nói sáo rỗng, xã giao.
Ở mức độ này chúng ta thường nói những câu máy móc nó dường như không có ý nghĩa ví dụ như "khỏe không?" và câu trả lời cũng máy móc "bình thường"
Bạn đã bao giờ mắc phải loại đàm thoại này chưa? Bạn đã nói "bình thường" trước khi người khác hỏi "khỏe không?"
Tôi nhớ trong một dịp nọ, tôi gặp một anh bạn, anh ta nói "xin chào" tôi đáp lại "khỏe không?" Lúc đó chúng tôi đang đi bộ ngược chiều nhau. Tôi chỉ vừa qua mặt anh ta hai bước khi anh ta trả lời "không được khỏe lắm". Tôi đã bước thêm vài bước nữa trước khi nhận ra anh ta vừa nói cái gì.
Dĩ nhiên anh ta tiếp tục đi, nhưng lúc đó tôi quay trở lại, chạy theo anh ta, đặt tay trên vai anh ấy và nói "tôi đã nghe điều anh nói". Và kết quả là tôi và anh ấy cùng chia xẻ với nhau cả một tiếng rưỡi đồng hồ. Đây là một con người thật sự, thật sự đang đau khổ. Anh ta vui lòng liều mình xẻ chia một cách chân thật với tôi.
Điều thú vị sẽ xảy ra nếu bạn trả lời "không tốt lắm" với một người hỏi "có khỏe không?". Nhiều người không thể kiểm soát được mình đang nói gì. Họ đang ở "mức độ những lời nói sáo rỗng"
Mức độ 4. Tường thuật sự kiện.
Sẽ rất hiếm khi có sự bất ngờ đồng ý kiến ở mức độ này. Ở đây người ta thường nói về thời tiết, giá xăng dầu, tuổi tác của con cái.
** Hãy lắng nghe mẫu đàm thoại sau.
"Chị có nghe gì về Grace và Howard không? Họ sắp trở thành bố mẹ rồi đấy"
Và người kia trả lời "điều đó nhắc tôi, con chó Sheba của tôi sắp sinh lại". Đó là một sự truyền đạt những sự kiện trong cuộc sống.
Câu kế tiếp có thể là, "ồ vậy à, con chó Sheba là loại gì vậy?" "À tôi đã có một con chó giống đó"
Rồi. "Con mèo hàng xóm của chúng tôi... " và cứ như thế câu chuyện tiếp tục. Họ chỉ nói với nhau về những điều kiện thực tế. Và nó thật sự không đi vào một điều gì có nghĩa.
Mức độ 3. Ý kiến và sự phán quyết. Ở mức độ này sự truyền đạt bắt đầu trở nên cá nhân hơn và nó thường được mở đầu bằng câu "tôi nghĩ"
** Những lời đối thoại có thể bao gồm những lời bình luận.
"Anh nghĩ vị trí của phụ nữ là ở trong gia đình"
"Nhưng tại sao em lại không nên nhận một công việc ngoài giờ chứ? Chúng ta cần tiền."
"Ai sẽ làm công việc nhà?"
Vì vậy ở mức độ 3 là sự trao đổi về một nhận định, sự phán quyết và những ý kiến. Nó không có nghĩa sâu sắc lắm nhưng nó cũng sâu sắc hơn loại đàm thoại về chó và mèo ở mức độ 4. **
Mức độ 2. Cảm tình và cảm xúc
Ở mức độ này con người bày tỏ cảm tình và cảm xúc cá nhân. Đôi khi trong loại đàm thoại này chúng ta nghe thấy những câu như "tôi cảm thấy" hoặc "tôi muốn"
** Sau đây là một đoạn đối thoại ví dụ
"Tôi không thể thực hiện một chuyến du hành dài ngày với những thằng nhóc trong một chiếc xe như vậy. Chúng tôi phải có một chiếc xe lớn hơn, nếu không tôi sẽ điên mất!"
Ít nhất người nói những lời này cũng đang nói về những suy nghĩ và cảm xúc của mình phải không?
Mức độ 1. Sự truyền đạt cởi mở và chân thật
Mức độ riêng tư nhất này cũng bao gồm mọi mức độ kể trên và thường có sự tác động hổ tương, trong đó những cảm tình và cảm xúc của người khác có tầm quan trọng bình đẳng. Nó mạo hiểm và đòi hỏi phải tin cậy nhiều.
** Sau đây là một đoạn đàm thoại ví dụ
"Tôi không biết nếu tôi thật sự muốn nhận công việc mới đó không. Tôi không chắc mình đủ khả năng làm một người quản lý."
Đây là một lời nhận xét ủng hộ "anh biết đấy, anh là một người buôn bán giỏi". Có thể là điều khiến anh nên tiếp tục làm điều đó."
Người đưa ra nhận xét trên đã phản ánh một sự thật là anh ta hiểu nỗi bất an của người kia, và anh ta nhận thấy người kia cần được ủng hộ. Người thứ hai sẵn lòng đánh liều, lắng nghe những suy nghĩ và trả lời cho người bạn. Chúng ta cần cởi mở và chân thật trong sự truyền đạt. Điều đó có nghĩa là chúng ta tin cậy lẫn nhau.
Xin xem 20:5. Đây là một câu Châm ngôn rất sâu sắc. Có rất nhiều câu Châm ngôn viết về sự truyền đạt. Nhưng đây là câu nói về sự truyền đạt hữu hiệu "mưu kế trong lòng người ta như nước sâu, nhưng người thông sáng sẽ múc nước tại đó"
Cũng xin xem 18:4 "lời nói của miệng loài người là giống như nước sâu, nguồn sự khôn ngoan khác nào cái khe nước chảy". Khi tôi truyền đạt và một người nào đó chia xẻ những nan đề của họ cho tôi, theo câu Châm ngôn này thì điều đó thật sự xuất phát từ nơi sâu thẳm của con người. Nó quan trọng và cần thiết đến nỗi sự truyền đạt của chúng ta phải đầy lòng yêu thương và chân thật.**
Bạn có cố gắng để truyền đạt cho người khác ở mức độ một không? Nên nhớ đây là mức độ mà con người chia xẻ những nhu cầu và tình cảm. Nếu chúng ta muốn giúp đỡ người khác có hiệu quả, chúng ta phải biết những nhu cầu của họ. Chúng ta chỉ có thể truyền đạt ở những mức độ này khi nào chúng ta đã tin cậy lẫn nhau. Thật là một thách thức!
16. Sắp xếp cho phù hợp mỗi câu (bên trái) với mức độ truyền đạt (bên phải).
... a. "Tôi biết rằng đội Pháp thắng trận"
... b. "Hình như đối với tôi cần phải có cách lau sàn nhà dễ hơn"
... c. "Chúc một ngày tốt lành"
... d. "Tôi nghe những gì bạn nói, dường như bạn nói rằng nhiều lúc khó khăn bạn đã rất ngã lòng, ước gì tôi có thể giúp bạn".
... e. "Tôi giận dữ khi tôi hiểu điều gì đang xảy ra cho cuộc hôn nhân của họ"
... f. "Hôm qua thằng con tôi về nhà với cái răng bị gãy"
Hiểu biết (chịu học hỏi)
16:23
Không biết cách truyền đạt hữu hiệu gây ra nhiều nan đề, đặc biệt là trong công tác cố vấn. Truyền đạt hữu hiệu đòi hỏi một sự rèn luyện, học hỏi. Nếu người ta học hỏi về sự truyền đạt thì người ta cũng có thể học hỏi cách truyền đạt hữu hiệu. Tuy vậy, để học cách truyền đạt hữu hiệu, chúng ta sẽ phải siêng năng để ghi nhớ và rèn luyện nó.
** Sự truyền đạt hữu hiệu cần được học hỏi. Trên thực tế hầu hết chúng ta không học để truyền đạt hữu hiệu. Thế giới chung quanh chúng ta đầy dẫy những sự truyền đạt không hữu hiệu. Thậm chí khi chúng ta đã học một vài đặc điểm và kỹ thuật của sự truyền thông hữu hiệu, nhiều khi chúng ta cũng không muốn dành thời gian để trau dồi, luyện tập nó. Rèn luyện sẽ giúp nó trở thành một thói quen và vì vậy tất nhiên sẽ hữu hiệu.
16:23 ghi rằng "lòng người không ngoan dạy dỗ miệng mình, và thêm sự học thức nơi môi của mình "mạch văn ở đây vẫn liên tục, xem thêm câu 21 và 22 "lời dịu dàng gia thêm tri thức, người có được thông sáng, tức có được nguồn sự sống". Câu 24 ghi tiếp "lời lành giống như tàng ong, ngon ngọt cho tâm hồn và khỏe mạnh cho xương cốt". Những câu Châm ngôn trên nói nhiều về sự truyền đạt. Nhưng câu để chúng ta suy gẫm là: Lòng người khôn ngoan dạy dỗ miệng mình.
Truyền đạt hữu hiệu là phải được học hỏi. Trước hết chúng ta cần nhận biết những kỹ thuật để truyền đạt có hiệu quả. Rồi chúng ta cần tìm một sự thay thế hiệu quả cho chúng. Rồi chúng ta cần chăm chỉ rèn luyện những kỹ thuật này cho đến khi nó trở thành thói quen, nó sẽ thành một phần trong bản chất của chúng ta.
Khi bạn cứ tiếp tục rèn luyện những kỹ thuật mới này, có thể bạn cảm thấy kỳ lạ. Bạn có thể nói với chính mình rằng "sao cảm thấy điều này không tự nhiên, cảm thấy buồn cười, hoặc đôi khi cảm thấy ngại". Điều đó là vì bạn không quen truyền đạt theo cách này. Khi bạn làm điều gì mới mẽ, bạn thường cảm thấy khó chịu. Tôi khuyến khích bạn hãy rèn luyện cách truyền đạt hữu hiệu cho đến khi bạn cảm thấy không còn khó chịu gì hết. Và như vậy điều đó đương nhiên trở thành một phần trong bạn.
17. Khoanh tròn trước mỗi câu ĐÚNG sau đây:
a. Sự truyền đạt hữu hiệu cần phải được học hỏi.
b. Theo Châm ngôn 16, lời lành là ngốc nghếch và điên rồ.
c. Hầu hết mọi người truyền đạt hữu hiệu do bẩm sinh.
d. Lòng người khôn ngoan dạy dỗ miệng mình.
e. Sự truyền đạt hữu hiệu cần phải rèn luyện.
Dựa trên kinh nghiệm
6:12, 14; 12:17-19
Sau cùng, đặc điểm cuối của sự truyền đạt hữu hiệu mà chúng tôi muốn bàn đến là dựa trên kinh nghiệm. Sự truyền đạt hữu hiệu được kinh nghiệm bởi toàn thân vị con người. Nó ảnh hưởng đến tất cả phương diện trong tôi. Xin xem 6:12. Tôi thấy có một vài câu Kinh Thánh trong phân đoạn này chúng ta cần lưu ý.
Trong câu. "Người nào đi đứng có miệng giả dối, là một kẻ vô loại, một người gian ác". Môi miệng và cách sống có liên hệ với nhau. Câu 14 nói rằng "trong lòng hắn vẫn có sự gian tà và toan mưu ác luôn luôn". Ở đây chúng ta thấy tình trạng của tấm lòng có liên quan với bản chất của một con người. Sự truyền đạt hữu hiệu, theo những câu Kinh Thánh trên có liên quan đến toàn thân vị con người, môi miệng, cách sống và tấm lòng. Chúng ta có thể nói rằng sự thông công hữu hiệu xuất phát từ bên trong và tuôn tràn ra bên ngoài.**
Cố gắng để truyền đạt mà không dựa trên những kinh nghiệm cá nhân của mình sẽ gây ra những nan đề bên trong. Nếu sự truyền đạt mang tính cá nhân sâu sắc được đâm rễ trong lẽ thật và lòng yêu thương, thì tôi sẽ nhấn mạnh lẽ thật và tình yêu thương trong mối liên lạc của tôi với Đức Chúa Trời và với những người khác. Tôi không được gượng ép để truyền đạt điều không thực tế đối với tôi. Tôi phải kinh nghiệm lẽ thật và tình yêu thương trong toàn bộ bản thể của tôi để tôi có thể truyền đạt điều đó cho người khác. Mặc khác điều chúng ta nói phải lưu xuất từ con người thật của chúng ta.
18. Đọc 6:12-14.
a. Kể ra những đặc tính của những kẻ vô loại và gian ác.
b. Khác với một người cầu sự hòa bình, kẻ gian ác là kẻ
c. Kẻ gian tà ở đây không thể nói lời chân thật và yêu thương vì tấm lòng hắn được miêu tả là
19. Khoanh tròn mẫu từ trước những câu ĐÚNG sau đây:
a. Sự truyền đạt hữu hiệu xuất phát từ bên ngoài tràn vào bên trong.
b. Sự truyền đạt liên quan đến toàn thân vị con người và kinh nghiệm của họ.
c. Nếu chúng ta đã kinh nghiệm được lẽ thật và tình yêu Thiên thượng, thì chúng ta hẳn sẽ truyền đạt trong lẽ thật và tình yêu
20. Đọc 12:17-19. Điểm nhấn mạnh trong khúc Kinh Thánh này là cần phải ...
21. Trong vở của bạn kể ra bảy đặc tính của sự truyền đạt hữu hiệu và giải thích ngắn gọn về mỗi đặc tính này.
Khi bạn đã viết ra bảy đặc tính của sự truyền đạt hữu hiệu rồi, thì tôi tin chắc bạn đã nhận thấy sự truyền đạt hữu hiệu đó có quyền được gọi là sự truyền đạt Agape.
NÓI RA LẼ THẬT TRONG TÌNH YÊU THƯƠNG
Eph Ep 4:15
Người cố vấn không chuyên có thể đánh giá một cách chắc chắn phẩm chất truyền đạt "lẽ thật trong tình yêu thương" của mình bằng cách tự hỏi chính mình năm câu hỏi căn bản sau đây, những câu hỏi mà chúng tôi nêu được phỏng theo tác giả Cral Rogers:
1. Tôi Có liên hệ với người này bằng cách truyền đạt cho người đó: "Như, hoặc thậm chí còn hơn là những nhu cầu của tôi?".
Trong hoàn cảnh của người được cố vấn chúng ta hãy tự hỏi rằng "Những nhu cầu của người ấy có quan trọng như của tôi không?". Nhiều khi chúng ta không truyền đạt một cách chân thật và yêu thương được bởi vì chúng ta đang cố gắng giải quyết những nhu cầu riêng của mình.**
2. Sự tương giao của tôi với người này có tính chất chân thật (cởi mở và thành thật), tôi có chấp nhận người đó như họ vốn có (chấp nhận vô điều kiện) không?**
** Từ quan điểm của người cố vấn. Chúng ta hãy hỏi "tôi có chân thật không?" "Tôi có thật lòng không?" Và "có sự cởi mở, chân thành và chân tình trong những điều tôi nói không?"
3. Tôi có nói về việc đời (hoàn cảnh và những mối tương giao) mà người được cố vấn và tôi đang sống, bằng những ngôn từ không?
** Chúng ta nói chúng ta liên hệ với người được cố vấn trong lẽ thật chủ quan. Nhưng trong điều kiện của những cuộc đời riêng, đó là những hoàn cảnh, môi trường mà chúng ta đang sống, chúng ta tự hỏi "tôi đã thực sự nói đến thực trạng của những hoàn cảnh và những mối liên hệ không?" Hoặc "Tôi có đang nói về thực trạng của những vấn đề hằng ngày không?". Đó chính là lẽ thật khách quan.
4. Nội dung của sự truyền đạt của tôi có phù hợp với quan điểm và nguyên tắc của Kinh Thánh (lẽ thật) không?
** Tôi có thể đánh giá nội dung sự truyền đạt của tôi bằng cách hỏi: Tôi có nói theo quan điểm và lẽ thật của Kinh Thánh không?**
5. Tôi có cẩn thận chỉ dùng những nguyên tắc, kiểu mẫu kỹ thuật hoặc ngôn từ theo lý thuyết của việc cố vấn mà nó thuộc phạm vi của lẽ thật không?
Là một Cơ đốc nhân chúng ta không sử dụng bất cứ một học thuyết hoặc một kỹ thuật nào không thuộc về những nguyên tắc và quan điểm Kinh Thánh, mọi phương pháp của chúng ta phải luôn luôn phù hợp với tình yêu Agape
Đây là những câu hỏi ích lợi giúp chúng ta đánh giá được sự tryền thông của chúng ta, nếu chúng ta tự hỏi và trả lời một cách chân thật **.
22. Đọc những đoạn Kinh Thánh dưới đây. Sắp xếp cho phù hợp những đánh giá căn bản về sự nói ra "lẽ thật trong tình yêu thương" (bên trái) với phần Kinh Thánh thích hợp nhất (bên phải) là những đoạn Kinh Thánh ủng hộ cho những phương pháp đánh giá đó
... a. Tôi coi nhu cầu của họ quan trọng hơn nhu cầu của tôi.
... b. Người cố vấn phải cởi mở và chân thật
... c. Tôi nói về việc đời bằng ngôn từ thực tế
... d. Sự truyền đạt của tôi phải phù hợp với lẽ thật Kinh Thánh.
... e. Tôi chỉ dùng những phương pháp cố vấn trong phạm vi của lẽ thật
23. Mỗi từ ngữ chìa khóa dưới đây, có liên hệ đến một trong năm câu hỏi mà chúng ta vừa học. Đọc lại năm câu hỏi đó rồi xem những từ ngữ chìa khóa, viết câu hỏi thích hợp.
a. Con người ...
b. Mối tương giao ...
c. Thực tế ...
d. Nội dung ...
e. Kiểu mẫu ...
HOÀN THIỆN SỰ TRUYỀN ĐẠT
Lắng nghe một cách tích cực
Xem định nghĩa về sự lắng nghe một cách tích cực trong bảng 8.7
SỰ LẮNG NGHE TÍCH CỰC
... LÀ SỰ LẮNG NGHE NHIỆT TÌNH NỘT DUNG VÀ CẢM TÌNH CỦA NGƯỜI KHÁC. LÀM CHO HỌ BIẾT RẰNG HỌ ĐANG ĐƯỢC LẮNG NGHE
Bảng 8.7
Sự lắng nghe tích cực có ba đặc điểm. Chúng ta cần học biết những đặc điểm này rèn luyện và sử dụng chúng.
1. Đó là nhận lấy trách nhiệm để nhận biết và phản ánh một cách nhiệt tình những cảm xúc mà một người đã truyền đạt những nan đề của họ bằng lời hay không bằng lời. Điều này phải được thực hiện theo cách mà người đó biết rằng người kia đang nghe mình nói và do đó họ tự do tiếp tục diễn đạt cảm xúc của mình.
2. Đó là sự truyền đạt tin cậy và tin tưởng vào người khác, là sự khuyến khích người đó nhận trách nhiệm vì những cảm xúc của họ. Đó là nền tảng của việc chấp nhận những bản thân. Điều này khiến cho người khác biết rằng anh ta được chấp nhận không kể đến thái độ và cảm tình của anh ta như thế nào.
3. Đó là sự lắng nghe toàn bộ thông điệp. Điều này được thực hiện bằng cách xác nhận một cách chính xác những cảm nghĩ trong sự truyền đạt. Đó cũng chính là sự trả lời một cách thích đáng bằng cách không dựng nên những chướng ngại vật.
** Hành động lắng nghe một cách tích cực nhấn mạnh vào cảm tình (feeling) và ý nghĩa (meaning). Nó nhận biết và đáp ứng cho cảm tình. Chúng ta thường bỏ qua những cảm nghĩ của người khác. Chúng ta không lắng nghe một cách thực tâm. Lắng nghe tích cực là không chỉ lắng nghe người khác nói nhưng phải xác định ý nghĩa của những lời nói đó.
Tại sao chúng ta cần lắng nghe một cách tích cực? Tôi gợi ý cho bạn có phải nó truyền đạt trong sự tin cậy, chấp nhận và trách nhiệm bất kể người được cố vấn đang cảm nhận điều gì hay từng trải điều gì và đương nhiên, đó là nền tảng cho một mối tương giao Agape.
24. Khoanh tròn những câu ĐÚNG dưới đây về sự lắng nghe tích cực.
a. Tôi lắng nghe nhiệt tình để người khác biết rằng tôi đang
b. Thực sự nghe những điều họ nói.
c. Là nhận biết cảm xúc nhưng không được đáp ứng
d. Nó là truyền đạt tin cậy, chấp nhận và có trách nhiệm lắng nghe những sự kiện trong sự truyền đạt
e. Lắng nghe toàn bộ thông điệp bằng cách nhận biết những cảm nghĩ của người khác.
f. Nó liên quan đến sự lắng nghe tích cực, đáp ứng những cảm xúc và sự nói lại những tình cảm. Làm sao để chúng ta lắng nghe một cách tích cực?
Chúng ta lắng nghe toàn bộ thông điệp bằng việc nhận biết những cảm nghĩ của con người. Điều này có nghĩa là chúng ta tránh làm điều mà tôi gọi là "chướng ngại vật"
Chúng ta làm những điều khác nhau khi dựng nên những chướng ngại vật. Trong đó chúng ta thường nói với người khác "bạn không nên suy nghĩ theo cách đó", và điều gì sẽ xảy ra? Nó làm cản trở những ý nghĩ của họ. Hoặc chúng ta có thể nói "thực sự những cảm nghĩ đó không phải là cảm nghĩ của một Cơ đốc nhân". Rồi chúng ta chỉ trích tội lỗi.
Ví dụ như một người nào đó nói với chúng ta rằng anh ta sắp vào bệnh viện để giải phẩu chẩn bệnh. Anh ta bắt đầu nói về nỗi lo sợ và ưu tư của anh ấy. Thậm chí nếu chúng ta không suy nghĩ đến những gì anh ta nói hoặc không tìm ra lời khuyến khích an ủi thích hợp chúng ta thường nói "ồ, đừng lo lắng, tôi sẽ cầu nguyện cho anh" và rồi vỗ nhẹ vào lưng anh ta. Làm điều đó chúng ta đã dựng nên một chướng ngại vật với những điều mà người đó gắng gượng nói. Câu trả lời thích hợp có thể là "nghe điều đó tôi cũng sợ, tôi có thể hiểu bạn lo lắng như thế nào?". Rồi bệnh nhân đó cứ tiếp tục cởi mở nói "vâng, tôi cũng lo sợ. Một trong những bác sĩ nói tôi có thể sẽ không nằm lại bệnh viện lâu, tùy thuộc vào những gì họ phát hiện từ căn bệnh của tôi".
Người cố vấn nên tham dự vào cuộc đối thoại và chấp nhận những cảm nghĩ của người khác, thay vì ngắt lời họ. Nên tránh những chỉ trích tội lỗi của người khác, tránh phủ nhận ý kiến của họ hoặc thay đổi qua đề tài khác. Đó là những cách mà người cố vấn có thể đối phó với những bế tắc.
Ngay cả sự truyền đạt không bằng lời chúng ta cũng có thể gặp phải những chướng ngại vật bằng việc bày tỏ một điệu bộ, động tác nào đó. Người cố vấn cần phải ý thức được vai trò những biểu hiện thân thể của mình. Trong cơ hội kế tiếp bạn hãy xem xét những cử chỉ của người xung quanh và xem cử chỉ của chính bạn. Nếu bạn đang ngồi, hai tay khoanh lại một cách lạnh lùng, kiêu kỳ để trước ngực, điều đó nói lên rằng bạn đang suy nghĩ những gì. Chúng ta cần phải cẩn thận không nên đoán định quá nhiều thái độ không lời, nhưng mặc khác, nhiều khi cử chỉ không lời có thể là biểu hiện của những suy nghĩ và cảm xúc.
Chẳng hạn như tôi đang có một suy nghĩ và tôi biểu hiện ra bằng cử chỉ là tôi nắm chặt nắm đấm. Bạn có thể đoán được tôi đang suy nghĩ điều gì không? Bạn nhận được thông điệp gì khi tôi nắm chặt nắm đấm của tôi? Đối với người này điều đó có nghĩa là tôi đang giận dữ, đối với người khác có nghĩa là bày tỏ sức mạnh, sự quyết định, sự cương quyết hoặc sự bí mật. Hãy lưu ý đến những thông điệp khác nhau có liên quan. Nhưng thông điệp tôi đang nghĩ là tôi đang có một đồng tiền cắc tưởng tượng trong tay, tôi muốn giữ chặt nó vì tôi không muốn đánh mất nó. Bây giờ bạn có thấy tại sao chúng ta cần phải cẩn thận khi giải quyết một cử chỉ không lời không?
Bây giờ hãy để tôi cho bạn một ví dụ về hành động lắng nghe tích cực xảy ra một lần nọ, khi tôi đang giảng dạy, tôi đề nghị một sinh viên tình nguyện đứng lên trước lớp và kể về một từng trải vui vẻ và lý thú nào đó cho tôi nghe để tôi có thể chứng minh sự lắng nghe tích cực của tôi. Đây là điều đã xảy ra khi Elizabeth Brown tiến lên phí trước.
Elizabeth nói: "Điều mà tôi muốn kể là: Tôi là một cố vấn trong một nhóm phục vụ cộng đồng tại trường Bellevue Christian, một trong những nhiệm vụ mà chúng tôi làm là phân phát quà cho trẻ em nghèo ở Central District thuộc Sesttle. Vì vậy tôi đã cùng với các bạn của tôi cầu nguyện xin Chúa cho các giáo viên sẽ có tinh thần trách nhiệm để họ tiếp trẻ em một cách nhiệt tình và sốt sắng.
"Tôi đến dự buổi họp mặt đầu tiên, hôm đó có ít giáo viên có mặt, tôi hơi thất vọng nhưng tôi biết rằng Đức Chúa Trời sẽ nhậm lời cầu nguyện. Vì vậy tôi cứ giải thích những kế hoạch với những giáo viên có mặt, họ tỏ ra rất nhiệt tình. Họ nói học sẽ chuẩn bị những món quà tốt hơn, họ sẽ khuyến khích và tặng thêm cho trẻ em nghèo khó về tiền bạc. Rồi một trong những giáo viên nói anh ta là một giáo viên dạy môn sân khấu của trường Bellevue Christian, anh ta sắp đạo diễn một vở hài kịch trong nhà thờ để khuyến khích những thiếu nhi tặng quà cho những trẻ em thiếu quà. Tôi nghĩ như vậy thì thật là tuyệt".
Tôi trả lời "và tôi nghĩ bạn cảm thấy xúc động về điều đó ?"
Elizabeth đáp: "Ồ, đúng như vậy, tôi đã thật sự sung sướng vì được sự đáp ứng nhiệt tình, và điều đó quả như một phép lạ"
Tôi nói tiếp "ngay cả lúc này bạn đang kể về điều đó hình như bạn vẫn vui sướng như lúc đó"
"Tôi chỉ muốn kể lại với thầy lúc đó tôi cảm thấy vui vẻ như thế nào"- Elizabeth trả lời.
Rồi tôi nói tiếp "điều đó thật là tốt. Sự đáp ứng của các giáo viên thật có ý nghĩa đối với cô".
"Vâng, đúng vậy, và sự đáp ứng của thầy cũng vậy" cô ta cười vui vẻ nói.
Cuối cùng tôi nói "tốt lắm xin cảm ơn cô"
Bạn đã nhận ra điều gì ở đây? Bạn hẳn đã nhận thấy rằng tôi đã lắng nghe một cách cẩn thận, trả lời những cảm xúc và suy nghĩ của cô ấy một cách thích hợp. Vì vậy Elizabeth biết rằng tôi biết cô ta vui vẻ phấn khởi như thế nào. Và tôi đã lắng nghe một cách tích cực và truyền đạt một cách hữu hiệu.
25. Trong sự lắng nghe tích cực, điểm được nhấn mạnh hơn cả những lời nói và từ ngữ là...
26. Khoanh tròn trước những ví dụ ĐÚNG về những chướng ngại vật trong sự truyền đạt dưới đây.
a. "Bạn không nên suy nghĩ như vậy"
b. "Những suy nghĩ đó thật sự không phải là của một Cơ đốc nhân"
c. "Tôi nghe điều bạn nói và biết rằng bạn đang lo lắng về điều đó"
d. "Bạn thật không nên nói những điều như vậy. Bạn sẽ hối tiếc về điều bạn nói"
27. Giải thích mối liên hệ giữa những điệu bộ và lời nói trong việc lắng nghe tích cực...
Truyền đạt trực tiếp
THÔNG ĐIỆP " TÔI" ...
Diễn tả thái độ
Nhận biết và phát biểu những tình cảm
Phát biểu thái độ mong muốn
Bảng 8.8
Làm sao để tôi nói với một người nào đó rằng tôi không thích những điều anh ta nói và làm? Làm sao để tôi tỏ cho người khác biết tôi thích thái độ mà tôi thấy? Truyền đạt trực tiếp có khả năng để nhận biết và diễn tả những cảm nghĩ riêng của một người bằng cách biểu lộ sự chân thật (con người thật của tôi) và sự trưởng thành (chấp nhận thực tế như nó vốn có)
Trong phần này chúng ta sẽ xem xét cẩn thận nội dung của một thông điệp (mà tôi sẽ gọi là thông điệp "tôi"). Phần lớn nên dành thời gian để thực tập những thông điệp này. Trong một thông điệp "tôi" gồm có
1. Thái độ bạn nhận thấy và mô tả một cách ngắn gọn, chính xác
2. Nhận biết và phát biểu cảm nghĩ hoặc cảm xúc của bạn về thái độ đó.
3. Cuối cùng, bạn phát biểu thái độ mà bạn mong muốn.
Nên nhớ rằng nội dung và cảm nghĩ của một thông điệp "tôi" phải phù hợp, nó phải thành thật, riêng biệt, không chỉ trích. Tôi phải tin rằng người khác nghe những cảm nghĩ và đáp ứng một cách có trách nhiệm. Trên hết tôi phải nhìn nhận thực tế như nó vốn có. Như vậy tôi mới có thể nói chân thật trong tình yêu thương. Tôi phải bày tỏ chính tôi một cách chân thật, chia xẻ những cảm nghĩ một cách chân thật. Nếu không, tôi có thể vùi dập những cảm nghĩ của người khác và gây ra những nỗi đau tinh thần cho họ.
** Thông điệp "tôi" có liên quan đến việc có thể bày tỏ những cảm nghĩ của chúng ta một cách thành thật và thích hợp. Đó là nói điều chân thật, và nói về sự thật thực tế. Một thông điệp tôi được tạo thành bởi 3 phần: Thứ nhất, thái độ được diễn tả ngắn gọn nhưng chính xác; thứ hai, một lời tuyên bố về cảm xúc và cảm nghĩ; cuối cùng, lời phát biểu về thái độ mong muốn.
Đầu tiên tôi muốn nhấn mạnh là con người phải dùng công thức này rất chặt chẽ. Đó là phải thật sự nhận biết ba phần đã nêu và áp dụng chúng theo trật tự đã qui định. Sau đây là một ví dụ về một thông điệp "tôi"
"Khi tôi đứng trước các bạn, giảng dạy cho các bạn mỗi tối thứ hai tôi nhận thấy những điều tôi giảng được các bạn ghi chép, những lời bình luận có ý nghĩa, những câu hỏi được đưa ra trong và sau bữa học, tôi cảm thấy đó là một phần thưởng của tôi. Tôi cảm thấy thỏa mãn và đạt được mục đích. Tôi thích dạy cho những người chịu học hỏi."
28. Xác định ba phần của thông điệp "tôi" cho trên
a. Phần 1...
b. Phần 2...
c. Phần 3... ...
** Bạn có thể xác định ba phần của thông điệp "tôi " không? Cũng lưu ý rằng tôi diễn tả thái độ và không thực hiện bằng cách dùng loại "bạn". Chẳng hạn tôi không nói những câu như: "Bạn làm tôi" hoặc "bạn cho tôi". Nhưng tôi đặt thông điệp "tôi" của tôi theo cách cá nhân.
Đây chính là trọng điểm đáng phê bình khi bạn giải quyết một thái độ mà bạn không vừa lòng, với suy nghĩ hoặc bất bình hoặc giận dữ: Trong trường hợp này khi một người nói "bạn làm như vậy bạn làm tôi... ". Người nhận thông điệp sẽ có khuynh hướng trả lời với một phản ứng tiêu cực.
Mặt khác, khi những điều bất lợi xảy đến tôi truyền đạt một thông điệp "tôi", tôi có thể nói "tôi thấy những điều đáng lưu ý không được quan tâm" hoặc "tôi nhận thấy lớp nói chuyện khá nhiều". Tôi trách một lời phản ứng tiêu cực không cần thiết.
Trong phần thứ hai của thông điệp "tôi" cho trên, tôi nói với cả lớp tôi cảm thấy như thế nào. Tôi nói rằng tôi cảm thấy hoàn thành công việc và thỏa lòng.
Trong phần thứ ba của thông điệp này, tôi phát biểu thái độ mà tôi mong muốn khi tôi nói. "Tôi thích các bạn giữ thái độ học tập như vậy, hãy cứ tiếp tục bàn luận về điều tôi giảng và cứ tiếp tục đặt ra những câu hỏi". Giá trị của phần này là bạn nói với người khác bạn cảm thấy điều gì về tất cả những điều bạn đã trình bày ở hai phần trên, phần này có ý nghĩa và ích lợi trong việc xây dựng một mối tương giao.
29. Hãy tiếp tục thực hành một thông điệp "tôi",làm chung với một người khác. Phân công ai sẽ là người nhận thông điệp và ai sẽ là người truyền thông điệp. Rồi người tryền thông điệp bắt đầu truyền một thông điệp "tôi" (được xây dựng trong thưc tế hoặc được tưởng tượng hư cấu) đến người nhận thông điệp. Người nhận lắng nghe tích cực rồi nói: "Tôi nghĩ tôi đang nghe bạn nói... " và rồi người nhận gởi trả một thông điệp cho người vừa gởi. Sau khi thông điệp đã được gởi trả (được nghe) cho toại ý người gởi đầu tiên, rồi người nhận thông điệp trở thành người gởi, và bắt đầu gởi một thông điệp "tôi", người gởi thông điệp ban đầu trở thành người nhận và gởi trả (lắng nghe tích cực). Đây là một kỹ thuật truyền đạt có ý nghĩa truyền đạt áp dụng cho những cặp vợ chồng và trong sự rèn luyện nâng cao khả năng truyền đạt.
Giải quyết nan đề
Là một người cố vấn bạn nên làm gì khi có hai người đến với bạn mà giữa họ có những vấn đề dường như không thể giải hoà được? Phương pháp giải quyết vấn đề mà chúng ta ủng hộ liên quan đến việc tiếp cận nỗi ưu tư hoặc nan đề và những giải pháp khả thi của nó rồi sự đồng ý dàn hòa, kết hợp lại dựa trên cách giải quyết nan đề.
Phương pháp giải quyết nan đề khuyến khích sự tôn trọng lẫn nhau trong khi bảo vệ một mối tương giao tin cậy và chấp nhận nhau. Nó mở lối cho sự tuyền đạt tự do những cảm nghĩ, suy nghĩ và kinh nghiệm.
Phương pháp giải quyết vấn đề theo cách này là phương pháp kết hợp sử dụng vừa sự lắng nghe tích cực lẫn thông điệp tôi. Đó là phương pháp tiếp cận Agape trong việc giải quyết những mâu thuẫn. Nó làm trọn đại mạng lệnh và làm cho mỗi vấn đề có cơ hội để tăng trưởng, nó bao gồm những bước sau đây:
Bước 1: Làm một giao ước Agape đối với tất cả mọi thành phần có liên quan- Nguồn cung ứng Thiên thượng và con người, Liên hệ đến nỗi ưu tư trực tiếp hoặc gián tiếp. Để đảm bảo bạn hãy gộp tất cả bằng cách lập một bản danh sách gồm tất cả những thành phần có liên quan. Bạn hãy nhớ, Chúa Jesus đã nói "ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi... Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình" (Mat Mt 22:37-39)
** Hãy nói với hai người cùng đến là họ có mâu thuẫn mà họ không giải quyết được. Có một hàng rào chắn trong mối tương giao của họ. Làm sao họ có thể vượt qua hàng rào ngăn cản ấy bằng cách nào đó mà không ai trong họ bị thua thiệt, mà cả hai đều chiến thắng? Tôi đề nghị điều đầu tiên mà họ có thể làm là hãy lập một giao ước Agape (xem bảng 8.9 cột bên phải). Họ cam kết lẫn nhau bằng cách bước vào trong một vòng tròn tưởng tượng mà tôi thường gọi là "vòng tròn tình yêu Agape hoặc Thiên thượng". Khi họ bước vào trong vòng tròn đó, mỗi người trong họ nói với nhau rằng "tôi chọn cách liên hệ với bạn sao cho bạn được ích lợi nhất". Theo cách như vậy có thể xây dựng được một không khí tin cậy lẫn nhau để có thể nói chân thật trong tình yêu thương. Làm như vậy, tôi nghĩ họ không chỉ làm giảm đi mâu thuẫn nhưng cũng thay đổi nhận thức của họ về những mâu thuẫn đó.
Hành động này khiến họ đưa ra mâu thuẫn của họ, vì vậy họ có thể nhìn những mâu thuẫn theo một cách khác. Họ có thể hiểu và diễn tả những mâu thuẫn này bằng những từ ngữ khác. Họ sẽ vẫn có những cảm xúc, vẫn có những ràng buộc, nhưng giao ước Agape sẽ thay đổi cách họ tương giao và rồi họ có thể dám nói về mọi điều bởi vì họ tin rằng họ có tình yêu Thiên thượng bày tỏ lẫn nhau.
Trong thực tế, tôi vẽ một vòng tròn trên sàn nhà hoặc một vòng tròn tưởng tượng, và tôi hỏi những người được cố vấn "các bạn có sẵn lòng để bước vào vòng tròn Agape không?" khi họ đã sẵn sàng, họ có thể tiến hành **
Bước 2: Xác định nỗi ưu tư, bằng cách viết ra để thỏa lòng mỗi người. (Nó có thể là "chúng tôi không thể sống bằng thu nhập của một người".)** Nhiều khi để cho họ viết riêng ra tùy mỗi người, điều đó cũng giúp ích nếu bạn đang cố vấn cho cả hai người cách riêng tư.
MỘT KIỂU MẪU AGAPE ĐỂ GIẢI QUYẾT NAN ĐỀ
Bước 3: Tìm ra tất cả sự lựa chọn và giải khả thi cho nỗi ưu tư đó, và loại bỏ những sự lựa chọn không chấp nhận được.** Bây giờ bạn thực hiện điều đó bằng cách lắng nghe tất cả các giải pháp khả thi: Giải pháp 1, 2, 3, 4, 5 và vv. Bất kể nó có thể không được chấp nhận.
** (Nếu nan đề mang tính chất tài chính thì những phương pháp có thể như sau:
1. Bố sẽ phải tìm một công việc khác.
2. Mẹ sẽ phải tìm một công việc ngoài giờ
3. Những đứa con lớn sẽ phải đi làm sau giờ học
4. Người con đầu sẽ phải thôi học để tìm một việc làm.
5. Xe hơi của gia đình phải bị bán và mỗi người phải đi bộ, đi xe đạp, hoặc xe buýt
6. Trẻ con sẽ đến ở với ông bà)
Bước 4: Đánh giá từng điểm một trong sự lựa chọn được giữ lại, với những lời bình luận hoặc tích cực hoặc tiêu cực từ quan điểm của tất cả những người liên hệ có ý nghĩa. ** Khi tôi nói mọi quan điểm, tôi có ý nói quan điểm cả con người và Thiên thượng. Nó có ý nghĩa tại sao giải pháp được đưa ra sẽ tác động đến Đức Chúa Trời, đến chính bạn và những thành phần có liên hệ khác. Hãy lấy một tờ giấy và lập một cột mang dấu cộng hay là cột tích cực và một cột mang dấu trừ hay là cột tiêu cực dưới mỗi giải pháp, liệt kê những điều tiêu cực và tích cực cho từng người có liên hệ. Đó là câu hỏi "ông A thích cái gì trong giải pháp đặc biệt này?" và "điều gì ông A không thích?". " Ông B thích và không thích những điều gì trong giải pháp này?. Liệt kê chúng ra rồi hỏi "Đức Chúa Trời phải nói gì về giải pháp này? Nó có vi phạm nguyên tắc của Ngài không?" Điều này phải được nhắc lại cho mỗi giải pháp, và mỗi người.** (Trong trường hợp trên là cha, mẹ, mỗi đứa con, ông bà là những người có liên hệ).
Xem xét và nhận định giải pháp
1. Bố sẽ phải tìm một công việc khác, sự nhận định có thể là "không, bố đã làm việc quá sức và sức khỏe của bố thì kém." "Đúng bố có thể giữ lại chiếc xe như vậy đi làm sẽ tiện hơn", "không, chỉ có điều là không có nhiều việc thuận lợi cho nam giới" "Không, nếu bố làm việc khác, thì sẽ không bao giờ đi nhà thờ được" hay "đúng, vì tôi có thể nhận công việc nhà thay cho ông ấy"
Bước 5: Lập quyết định Agape. Sau khi bạn đã dành thời gian cầu nguyện, chờ đợi, kiêng ăn, hoặc bất cứ điều gì khác thích hợp.** Thường sự việc bắt đầu có ý nghĩa và trở nên rõ ràng trong những lần thực hiện bước này. Vì vậy bạn nên để thời gian nghỉ ngơi một chút. Bước này được hoàn thành khi bạn tiến đến "một quyết định Agape". Đó là trong tình yêu Thiên thượng nhìn tất cả những giải pháp này với bản liệt kê những điểm tích cực và tiêu cực và quyết định điều nào ích lợi nhất cho bạn, ích lợi nhất cho Đức Chúa Trời, và tốt nhất cho những người có liên quan đến nỗi ưu tư đặc biệt này** Bắt đầu thực hiện điều bạn tin là tốt nhất bằng cách tiến hành một cách thận trọng mỗi lần một bước, và rồi đánh giá điều đang xảy ra.
** Câu Kinh Thánh là nền tảng cho việc giải quyết nan đề đó là Châm ngôn 3.5 (xem bảng 8.9 cột trái). Tại sao tôi nói câu Kinh Thánh này có liên quan đến việc giải quyết mâu thuẫn? Phần đầu viết "Hãy hết lòng tin cậy Đứcgiêhôva". Trong cách nói của Tân ước là hãy hết lòng yêu mến Chúa. Nó phải liên quan đến mối tương giao. Nó lập giao ước Agape. Nó đang bước vào vòng tròn Agape (bước 1)
Phần kế tiếp viết "chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con. Bây giờ phương pháp đặc biệt này đưa bạn vượt khỏi sự hiểu biết của bạn. Bạn biết đấy, khi bạn kể ra tất cả những giải pháp và tất cả những quan điểm, bạn không chỉ viết xuống giấy sự hiểu biết của bạn, nhưng bạn hãy viết sự hiểu biết của người khác. Bạn đang viết cả sự hiểu biết của Đức Chúa Trời. có thể bạn đang tìm sự cố vấn khi bạn thực hiện bươc này trong quá trình giải quyết nan đề (bước 2, 3, 4)
Thường thường tôi giao nhiệm vụ giải quyết nan đề cho mọi người đem về nhà làm. Sau khi họ hoàn tất phần đánh giá những giải pháp của họ, họ trở lại và tôi góp thêm ý kiến vào bản liệt kê những điểm tích cực hoạt tiêu cực của họ. Vì vậy họ không chỉ dự vào sự hiểu biết của riêng họ. Họ sẽ tiến đến chỗ hiểu rằng: Những người khác có thể góp ý kiến. Tác giả Châm ngôn nói rằng nhiều người mưu sĩ sẽ được yên ổn. Vì vậy, chớ nương cậy nơi sự hiểu biết của riêng bạn.
Tiếp theo ChCn 3:6 nói "phàm trong các việc làm của con khá nhận biết Ngài". Khi bạn lập một quyết định, quyết định đó sẽ là tình yêu Agape có sự nhận biết Đức Chúa Trời. Loại quyết định này phù hợp với tiêu chuẩn của đại mạng lịnh lớn đó là "Hãy hết lòng yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời của bạn và hãy yêu kẻ lân cận như mình".
Trong một vài trường hợp bạn có thể thử một giải pháp nào đó trong một thời gian rất ngắn và trở lại thử nghiệm phát hiện đó là một sự kết hợp hai giải pháp thực hiện bạn không thể thấy trước đó. Phần cuối của 3:6 ghi "Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con" đây là bước thứ 5.
Nhiều người không biết cách để xử lý những mâu thuẫn. Chúng ta cần học để nói những điều chúng ta muốn nói và làm điều đó trong tìnhyêu thương. Hãy tự nhắc nhở mình rằng mâu thuẫn có thể được giải quyết bằng nhiều kỹ thuật khác nhau.
30. Sắp xếp cho phù hợp những bước giải quyết mâu thuẫn (bên phải) với những hành động cặp theo ở mỗi bước (bên trái). Bạn có thể chọn nhiều hơn một câu trả lời.
... a. "Sau khi xem xét tất cả những lựa chọn và sau khi cầu nguyện cho lựa chọn đó. Tôi nghĩ bạn nên thử nhận một công việc ngắn hạn nào khác"
... b. "Bây giờ tôi mong muốn mỗi người hãy dành thời gian kê khai vài phương pháp khả thi cho nan đề này"
... c. Bây giờ bạ có vừa đồng ý xem xét lại mọi điều trong ánh sáng của tình yêu Đức Chúa Trời và vừa đồng ý để xem xét lẫn nhau trong tình yêu Thiên thượng không?"
... d. "Khi chúng ta họp lại đây bạn có đặt Đức Chúa Trời ở hàng đầu không?"
... e. "Lúc này, tôi muốn chúng ta đồng ý về những nan đề thật sự đương có để chúng ta hiểu rõ lẫn nhau"
... ..f. "Thưa ông, ông có suy nghĩ gì về giải pháp được đề nghị này?"
... g. "Trong các việc làm của con khá nhận biết Ngài" (3:6)
... h. "Hãy hết lòng tin cậy Đứcgiêhôva" (3:6)
... i. "Chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con" (3:5)
31. Khoanh tròn trước những câu ĐÚNG sau.
a. Bởi vì người cố vấn được huấn luyện, nên người ấy sẽ đánh giá những giải pháp.
b. Khi bước vào vòng tròn Agape và lập giao ước Agape mỗi cá nhân phải sẵn sàng nói "tôi chọn cách liên hệ với bạn sao cho bạn được ích lợi nhất" cần thiết trong việc giải quyết những mâu thuẫn.
d. Lắng nghe tích cực là một phương tiện chủ yếu trong việc lập quyết định Agape
e. Khi nhận biết tất cả những giải pháp khả thi, chúng ta thật sự đang sử dụng 3:5 nói rằng "tin cậy nơi Đứcgiêhôva"
f. Câu "chớ nuơng cậy nơi sự thông sáng của con" (3:5). Thật sự được dùng cho mọi giải pháp khả thi của bạn
g. Gởi thông điệp "tôi" là thích hợp khi lập những quyết định Agape.
Sự truyền đạt hữu hiệu là sự truyền đạt yêu thương. Đó là điều thiết yếu cho bất kỳ mối tương giao nào trong công tác cố vấn. Đó là những mối tươi giao được chữa lành thật sự. Nó có ý nghĩa đem đến sự chữa lành và đổi mới. Nó có thể học tập được! Hãy sử dụng những điều này như là một mẫu mực để giúp đỡ người khác.
Bài kiểm tra cá nhân.
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Khoanh tròn những mẫu tự trước câu trả lời đúng nhất.
1. Lắng nghe tích cực là
a. Lắng nghe tôi là ai
b. Truyền đạt sự tin cậy và tin tưởng người khác
c. Phương pháp kết hợp
d. Việc khảo sát hỗ tương giữa nan đề và giải pháp.
2. Sự truyền đạt trực tiếp được mô tả đúng nhất là.
a. Nhận trách nhiệm để nhận biết và phản ánh một cách thông cảm những cảm nghĩ riêng của người khác
b. Cách tiếp cận một vấn đề công nhận sự chấp nhận lẫn nhau
c. Khuyến khích tôn trọng nhau, trong khi duy trì một mối tương giao tin cậy và tiếp nhận
d. Khả năng để nhận biết và bày tỏ những cảm nghĩ riêng về một nan đề.
3. Trong việc giải quyết nan đề, điều đáng lưu ý nhất là
a. Nghe toàn bộ thông điệp
b. Mở lối để tự do truyền đạt về cảm tình, suy nghĩ và những kinh nghiệm
c. Gởi một thông điệp trực tiếp về những cảm xúc riêng của một người.
d. Nói những việc thực tế
4. Mục đích của việc giải quyết nan đề là để
a. Mô tả chính xác thái độ
b. Bày tỏ cảm xúc và cảm nghĩ
c. Đồng ý một giải pháp hổ tương lẫn nhau
d. Nói những điều tác động thực tế.
5. Truyền đạt hữu hiệu có thể được mô tả đúng nhất là:
a. Nói chuyện
b. Lắng nghe
c. Một kinh nghiệm
d. Sự quan sát.
6. Những đặc tính của một sự truyền đạt hữu hiệu bao gồm:
a. Nói lớn, đơn giản, phù hợp, tin cậy và có trách nhiệm
b. Đơn giản, định hướng, tin cậy, thực tế và có trách nhiệm
c. Đơn giản, quan sát, tin cậy và dựa trên kinh nghiệm
d. Có trách nhiệm, thực tế, tin cậy phù hợp và đơn giản
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết Đ vào chỗ trống trước những câu đúng, và chữ S nếu câu sai
... 7. Truyền đạt hữu hiệu bị giới hạn trong phương thức bằng lời trong mối tương giao yêu thương
... 8. Truyền đạt không bằng lời là chia xẻ những suy nghĩ, cảm tình và những quyết định
... 9. Truyền đạt hữu hiệu là điều cần yếu trong một mối tương giao Agape
... 10. Tính đơn giản trong sự truyền đạt hữu hiệu có liên hệ đến việc truyền thông điệp đơn giản và trực tiếp
... 11. Sự phù hợp bị ảnh hưởng bởi những quan điểm của người cố vấn và được người đó cố vấn về hoàn cảnh
... 12. Sự phù hợp muốn nói đến sự liên hệ giữa ý nghĩa biểu hiện và ý nghĩa bao hàm
... 13. Tinh thần trách nhiệm trong sự truyền đạt có nghĩa là người truyền công nhận người khác để chấp nhận người đó.
... 14. Bởi vì thiếu sự tin cậy, con người có khuynh hướng trò chuyện ở mức độ 1
... 15. Truyền đạt hữu hiệu đòi hỏi sự rèn luyện
... 16. Tình trạng tấm lòng của một con người được chứng minh qua những gì anh ta nói và làm
... 17. Điểm nhấn mạnh của việc lắng nghe tích cực được đặt trên những điệu bộ
... 18. Lắng nghe tích cực có liên hệ với lắng nghe nhiệt tình nội dung và cảm tình của người khác để mà người đó biết rằng họ đang được lắng nghe.
CÂU HỎI LỰA CHỌN. Người cố vấn Cơ đốc có thể đánh giá tính chất "chân thật trong tình yêu" trong sự tương giao của mình bằng cách hỏi những câu hỏi cơ bản. Từ những câu hỏi dưới đây, chọn những câu hỏi được xem là nói lên tính chất "chân thật trong tình yêu". Viết chữ Đ (đánh giá) vào chỗ trống cho những câu hỏi được dùng để đánh giá tính chất này. Viết chữ K (không) nếu câu hỏi không mang tính chất đó.
... 19. Sự truyền đạt của tôi có phù hợp với lẽ thật Kinh Thánh không?
... 20. Tôi có che dấu cảm tình thật của tôi để không làm tổn thương bất cứ người nào không?
... 21. Tôi có xem những nhu cầu của người khác là quan trọng không.
... 22. Tôi có giới hạn việc sử dụng phương pháp cố vấn của tôi nằm trong phạm vi lẽ thật không?
... 23. Tôi có nói trôi chảy để mọi người tôn trọng tôi không
... 24. Tôi có cởi mở và chân thật khi bày tỏ tình cảm của tôi không?
... 25. Tôi có nói về những điều thực tế như nó vốn có không?
SẮP XẾP CHO PH] HỢP. Sắp xếp cho phù hợp những phần của thông điệp "tôi" (bên trái) theo thứ tự sắp xếp mà chúng nên xảy ra (bên phải)
... 26. Phát biểu thái độ mong muốn
... 27. diễn tả và quan sát thái độ
... 28. Xác định và phát biểu suy nghĩ của bạn
29-33 Xem xét những bước cần yếu cho giải pháp xử lý mâu thuẫn bằng cách giải quyết vấn đề. Sắp xếp mỗi phần cho phù hợp với quá trình này (bên trái) với thứ tự mà chúng sẽ xảy ra (bên phải)
... 29. Xác định nỗi ưu tư
... 30. Đánh giá từng sự lựa chọn hoặc từng giải pháp
... 31. Lập một quyết định Agape
... 32. Tìm ra tất cả sự lựa chọn và giải pháp khả thi
... 33. Kết giao ước Agape
Giải đáp câu hỏi nghiên cứu
1 a 2. Không lời
b 1. Bằng lời
c 1. Bằng lời
d 2. Không lời
e 2. Không lời
2. b, d, e và f là những câu đúng
3. Cây sự sống, hư nát tâm thần
4. "chỉ nói đơn giản là (phải) nói (phải), và (không) nói (không) còn điều nói thêm đó bởi Quỷ dữ mà ra.
5 a. Tôi thật sự thích dạy lớp đó
b. Tôi muốn bạn muốn tôi dạy lớp đó. Bạn có thật sự nghĩ là tôi nên không?
6 a và c là những câu đúng
7. Bằng cách nói tổng quát hóa, giả định hóa và tuyệt đối hóa là những điều không thật
8. Không truyền đạt thực tế, bởi vì người này che dấu sự việc
9. Bền vững đời đời
10 a 2. Giả định
b 3. Tuyệt đối
c 2. Giả định
d 1. Khái quát
e 1. Khái quát
11. Nó mô tả một người lừa phỉnh kẻ lân cận mình rồi nói "tôi chơi mà"
12 b, d và e là những câu đúng
13. Người cố vấn có thể xẻ những suy nghĩ lẫn lộn đó và nói với người được cố vấn rằng mình đã nghe một thông điệp không phù hợp
14 a 3. ChCn 18:13 4. 19:11
b 3. 18:13 2. 15:28
c 3. 18:13 5. 26:24
6. 26:28
15. a, b, c và e là những câu đúng
16 a 2.Mức độ 4
b 3. Mức dộ 3
c 1. Mức độ 5
d 5. Mức độ 1
e 4. Mức độ 2
f 2. Mức độ 4
17. a, d, e là những câu đúng
18. a 1. Có môi miệng giả dối, 2. Liếc mắt nhìn, 3. Dùng chân mình bàn ý, 4. Lấy ngón tay mình ra dấu, 5. Toan định mưu ác, 6. Lừa dối phỉnh gạt
b. luôn luôn gieo sự tranh cạnh
c. Gian tà, phỉnh gạt
19. b và c là những câu đúng
20. Chân thật
21. 1. Đơn giản, truyền thông điệp đơn giản, trực tiếp
2. Thực tế, quan điểm phải gần gũi với thực tế
3. Phù hợp, Bằng lời hay không bằng lời phải có liên hệ và thích hợp .
4. Có trách nhiệm, tôi phải chấp nhận chính tôi và công nhận người khác, để người khác chấp nhận chính họ.
5. Tin cậy, chúng phải tin cậy và yêu thương nhau để chúng ta có thể tin cậỵ lẫn nhau.
6. Chịu học hỏi, sự truyền đạt hữu hiệu cần phải được học hỏi
7. Dựa trên kinh nghiệm. Tôi phải kinh nghiệm lẽ thật và tình yêu thương thì tôi mới có thể truyền đạt hữu hiệu
22 a 2. LuLc 10:33
b 4. Phi Pl 4:8-9
c 3. Eph Ep 4:25
d 5. IITi 2Tm 3:15-17
e 1. Mac Mc 9:38-40
23 a. Tôi có tương giao với người này bằng cách truyền đạt cho người đó rằng "Tôi xem nhu cầu của bạn quan trọng như hoặc hơn những nhu cầu của tôi?"
b. Phẩm chất mối tương giao của tôi với người này có chân thật để công nhận chính người được cố vấn không?
c. Tôi có nói về những việc thực tế không?
d. Nội dung. Sự truyền đạt của tôi có phù hợp với lẽ thật của Kinh Thánh không?
e. Tôi có cẩn thận chỉ dùng những nguyên tắc, kiểu mẫu, kỹ thuật cố vấn trong phạm vi lẽ thật không?
24. a, c, e và f là những câu đúng
25. Cảm tình
26 a, b và d là những ví dụ đúng
27. Câu trả lời của bạn. Tôi sẽ đáp bằng việc nói rằng hãy xem gương mặt, điệu bộ và những lời nói của tôi truyền đạt cùng một thông điệp. Khi tôi nói "tôi rất buồn khi nghe bạn gặp nhiều nan đề", về điệu bộ tôi phải tiến lại gần người đó, có một âm điệu buồn trong giọng nói của tôi, và một sự thể hiện buồn bã trên nét mặt của tôi, ngược lại khi tôi nghe một lời tường thuật vui vẻ nào đó, tôi phải bày tỏ cảm xúc của tôi với một vẻ mặt sung sướng mỉm cười và tìm những lời nói thích hợp để bày tỏ cảm xúc vui vẻ đó.
28 a. (Thái độ) "tôi nhận thấy những điều tôi giảng được các bạn ghi chép, đưa ra những lời bình luận có ý nghĩa và những câu hỏi... "
b. (Cảm nghĩ) "Tôi cảm thấy đó là phần thưởng tôi cảm thấy thỏa mãn.
c (Thái độ mong muốn) tôi thích dạy cho những người chịu học hỏi
29. Đến phiên bạn thực hành
d 1. 10:19 2. 15:28
2. 18:13 6. 26:28
e 1. 10:19 2. 15:28
4. 19:11
f 1. 10:19 3. 18:13
30. a 5. Bước 5
b 3. Bước 3
c 1. Bước 1
d 1. Bước 1
e 2. Bước 2
f 4. Bước 4
g 5. Bước 5
h 1. Bước 1
i 2. Bước 2, 3. Bước 3, 4. Bước 4
31. b, c, d, f và g là những câu đúng


CUỘC PHỎNG VẤN ĐẦU TIÊN
Đến nay chúng ta đã nói nhiều về lý thuyết và bối cảnh của Liệu Pháp Agape tiếp cận đến công tác cố vấn. Chúng ta đã xem phương pháp, người được cố vấn và người làm tín đồ trong công tác cố vấn. Chúng ta đã nhìn biết một số những mục tiêu của Agape Liệu Pháp dựa trên sự trả lời của Đức Chúa Trời đối với nan đề cơ bản của con người và đặc tính chữa lành của tình yêu Agape. Trong đơn vị nầy, chúng ta đã thảo luận những nguồn cung ứng sẵn có đối với người cố vấn và phương tiện để truyền đạt tình yêu Agape.
Câu hỏi phải thâm nhập tâm trí bạn lúc nầy là " Thế bao giờ chúng ta mới bắt đầu thực hành?" hoặc "Đấy thật là những ý tưởng và những khái niệm tuyệt vời, nhưng tôi phải sử dụng nó như thế nào đây?" Bài học nầy được dành cho phần sau cùng.
Định nghĩa của Liệu Pháp Agape nói lên các mục tiêu dành cho cuộc phỏng vấn đầu tiên trong công tác cố vấn của bạn. Hãy xem xét định nghĩa đó.
Công tác cố vấn Cơ Đốc hay Liệu Pháp Agape là một mối liên hệ giữa hai người hoặc nhiều hơn, trong đó người cố vấn tìm cách xử dụng tất cả những nguồn cung ứng sẵn có từ con người và từ thiên thượng để đem lại sự đổi mới, sự chữa lành, sự toàn diện và sự trưởng thành cho người được cố vấn.
Rõ ràng là các mục tiêu phải gồm cả: 1) Việc xây dựng một mối quan hệ Agape, và 2) Một lối tiếp cận những nỗi ưu tư của người được cố vấn để đưa vào tất cả những nguồn cung ứng sẵn có liên quan đến vấn đề. Vì vậy, bài học nầy nói cấu trúc của một khung cảnh cố vấn. Trách nhiệm của người cố vấn là phải tìm ra câu trả lời cùng với người được cố vấn.
Thiết Lập Một Mối Tương Quan Agape.
Triển Khai Một Kế Hoạch Trị Liệu.
Giai Đoạn Một: Góp Nhặt Nguồn Thông Tin.
Giai Đoạn Hai: Đưa Ra Những Thông Tin.
Giai Đoạn Ba: Lập Giao Ước.
Khi học xong bài nầy bạn sẽ có thể:
Ể Phác họa những nguyên tắc cơ bản mà người cố vấn sử dụng trong công việc cố vấn.
Ể Giải thích được lý do và cách thiết lập một mối tương quan Agape.
Ể Mô tả được một kế hoạch chữa trị ba giai đoạn dành cho cuộc phỏng vấn đầu tiên.
Ể Điều động việc cố vấn theo các chỉ dẫn thiết yếu cơ bản.
1. Nghiên cứu kỹ các mục tiêu của bài học trước khi bắt đầu phần khai triển bài học sẽ giúp bạn quán triệt mau chóng hơn điều bạn sẽ học trong bài học nầy.
2. Nghiên cứu bài học theo thủ tục đã được phác họa trong Bài Học 1
3. Xem lại phần ngữ vựng để định nghĩa bất cứ những từ ngữ chìa khóa nào bạn chưa biết.
4. Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài học. Xem lại câu trả lời của bạn với những câu trả lời trong tập tài liệu dành cho học viên, và ôn lại những câu nào chưa đúng.
5. Ôn lại các Bài Học từ 7 đến 9 để chuẩn bị cho phần đánh giá tiến bộ đơn vị. Hãy đọc trang chỉ dẫn trong tập tài liệu dành cho học viên, sau đó lấy phần Đánh Giá Tiến Bộ Đơn Vị 3 và tờ trả lời trong tập tài liệu học viên. Tuân theo những chỉ dẩn để điền vào tờ trả lời, và sau đó nộp cho giảng viên ICI của bạn, là người sẽ kiểm tra các câu trả lời của bạn và cho bạn các kết quả.
Dữ kiện
Phạm vi thân mật
Khả năng nghề nghiệp
VIỆC THIẾT LẬP MỘT MỐI QUAN HỆ AGAPE
Chúa Jesus là mẫu mực của chúng ta trong việc thiết lập mối quan hệ Agape. Bất cứ nơi đâu Ngài đi đến. Ngài đều bày tỏ vẻ đẹp và quyền năng của loại tình yêu nầy. Ngài rờ đến kẻ phung ô uế, Ngài đón tiếp những đứa trẻ nhỏ. Ngài khóc nơi mộ của bạn Ngài, là Laxarơ. Ngài vào thăm nhà của con người bị ghét bỏ là Xachê. Đức Chúa Jesus đã bước vào đời sống của con người và khi Ngài đến với họ, những đời sống ấy đã được biến đổi. Kẻ phung được sạch, những đứa trẻ được ban phước. Laxarơ sống lại từ kẻ chết, Xachê ăn năn và gia nhập nước trời.
Mối quan hệ Agape mà Chúa Jesus đã để lại vẫn còn giúp ích cho con người vì cớ giá trị chữa lành của nó. Người cố vấn, là người truyền đạt một sứ điệp Agape giống như vầy "Tôi đến đây để giúp bạn" hoặc "Những nhu cầu của bạn cũng quan trọng như của tôi vậy" sẽ mang đến hy vọng và sự chữa lành cho người được cố vấn.
Chúng ta có thể diễn đạt mối quan hệ Agape đó bằng việc bày tỏ 1) sự chân thật, 2) chấp nhận không đòi hỏi điều kiện, 3) cảm thông đúng, 4) có sự hy vọng, 5) trung thực, 6) động cơ của người được cố vấn, 7) sự truyền đạt hữu hiệu, 8) việc sắp xếp, 9) truyền đạt về những mặt hạn chế, và 10) công dụng của tất cả các nguồn cung ứng từ con người và từ thiên thượng trong việc giữ theo nguyên tắc của tình yêu Agape
* * Mục tiêu thứ nhất của liệu Pháp Agape là nhằm thiết lập một mối tương quan Agape với người được cố vấn. Đấy chính là điều chính yếu. Nó đòi hỏi sự truyền đạt của chúng ta phải toàn diện tức là với toàn thể con người . Tôi truyền đạt tình yêu, không phải chỉ bằng lời nói, mà cả trong lối sống, trong thái độ và trong hành động. Thật vậy, IGi1Ga 3:18 nói rằng "Chúng ta chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, song bằng việc làm và lẽ thật". Vì vậy chúng ta thật sự đang nói đến việc liên hệ với con người như là một con người toàn diện.
Bạn còn nhớ lại bài học trong Mat Mt 9:35-38, khi Chúa Jesus nhìn thấy đoàn dân đông không? Tại đó, chúng ta khám phá được rằng Ngài thấy thực trạng của chúng ta. Ngài nhìn thấy nỗi đau buồn và những nhu cầu thuộc thể của chúng ta. Ngài nhìn thấy sự chán nản, tuyệt vọng và ngã lòng của chúng ta, là những nhu cầu tâm lý của con người. Ngài cũng nhìn thấy nhu cầu thuộc linh của chúng ta như chiên không có người chăn. Chúng ta cũng quan sát trong khúc Kinh Thánh đó, để thấy rằng Chúa Jesus đã mang lấy từng trải của chúng ta. Đó chính là cơ hội của chúng ta để thiết lập một mối quan hệ Agape. Chúng ta cũng phải giống như Ngài, động lòng thương xót. Ngài cảm nhận điều họ cảm nhận. Ngài cảm thông. Ngài chân thật. Ngài nói minh bạch. Ngài không bảo họ "Các ngươi hãy thay đổi đi rồi ta sẽ chấp nhận các ngươi", song Ngài đã nói "Ta yêu thương các con để các con có thể thay đổi". Những người giao tiếp với Chúa Jesus đều biết rằng Ngài yêu thương họ. Họ biết Ngài yêu họ! Nếu chúng ta vâng theo gương mẫu đó, những người khác cũng sẽ biết rằng chúng ta yêu thương họ.
Tôi chợt nảy ra ý nghĩ rằng ngay cả người quan trẻ tuổi giàu có, là người đã bỏ đi và bảo rằng "Tôi không thể bán hết gia tài mà phân phát cho kẻ nghèo để đi theo Chúa Jesus được", cũng biết Chúa Jesus yêu anh ta. Anh ta nhìn thấy Chúa Jesus đứng đó, đau buồn khi nhìn thấy anh ta bỏ đi theo đường mình. Đó là điều trọng yếu của mối quan hệ Agape mà chúng ta đang nói đến ở đây. Dẫu cho người ta từ chối sự khuyên bảo của chúng ta, thì chúng ta cũng hãy cầu nguyện với Chúa để họ biết rằng họ được yêu thương.
Nhiều khi người cố vấn tín đồ đến gặp tôi và bảo rằng "Tôi không có đủ kiến thức để giúp đỡ trong trường hợp nầy. Ông làm ơn chỉ bảo thêm cho tôi về loại nan đề nầy "Không ai trong chúng ta có thể hiểu biết hết mọi sự. Chúng ta phải luôn nhớ rằng không phải chúng ta biết điều gì, song cách chúng ta liên hệ đến vấn đề đó mới thật sự tạo ra sự thay đổi. Nếu chúng ta liên hệ bằng tình yêu, thì sẽ đem lại một ống dẫn của sự chữa lành. Có nhiều khi chúng ta chỉ ở với người ấy, thậm chí chỉ yên lặng, cũng đã là rất ý nghĩa và mang lại sự chữa lành cho họ. Điều đó đặc biệt đúng trong trường hợp có người thân qua đời, khi mà những lời lẽ thật sự hình như quá vô nghĩa. Việc bạn hiện diện ở đó, bạn đã bỏ thì giờ, đã quan tâm sẽ mang đến sự chữa lành. Bạn thấy đấy. Chính mối tương quan trong tình yêu Agape mới thật sự là quan trọng.
Làm thế nào để chúng ta thiết lập được mối quan hệ nầy? Có một số điều rất hữu ích. Chúng ta hãy ôn lại bộ ba trị liệu đã cho chúng ta những phương cách cụ thể. Bộ ba trị liệu đó là sự cảm thông đúng, sự chấp nhận vô điều kiện, và sự chơn thật. Cảm thông đúng tức là khả năng để cho người ta hiểu rằng bạn đang cảm nhận được điều họ cảm nhận. Đó là bước vào kinh nghiệm của người đó. Đó là một phần của việc bày tỏ lòng thương xót. Từ ngữ Hybálai dùng cho chữ thương xót là hesed. Có nghĩa là bước vào những cảm nhận của người khác. Sự chấp nhận vô điều kiện cũng là một phần thuộc bộ ba trị liệu. Đây là phẩm tính chấp nhận được người khác ngay thực trạng của người ấy. Điều nầy được bày tỏ trong ân điển. Bởi vì, ân điển diễn tả sự chấp nhận vô điều kiện và còn hơn thế nữa. Sự Chân Thật là đặc tính thứ ba của bộ ba trị liệu. Đây là khả năng để trở nên rõ ràng, thành thực, cởi mở với người khác. Khi một người quan hệ trong lẽ thật, như Kinh Thánh đã tuyên bố thì người ấy là người chơn thật.,
Ngoài bộ ba kể trên, giá trị của sự hy vọng cũng là một phương cách khác để chúng ta có thể thiết lập mối quan hệ Agape. Nếu có người cố vấn nào trên thế giới nầy có được nguồn hy vọng thì đó phải là người cố vấn Cơ Đốc. Bởi vì người ấy có thể nhờ cậy vào tất cả các nguồn cung ứng từ Đức Chúa Trời. Là một Cơ Đốc nhân, bạn còn có được sự hành động và năng quyền của thân vị Đức Thánh Linh trong đời sống mình nữa. Bạn cũng có được sự chỉ dẫn của Lời Chúa. Khi con người thất bại hoặc không có năng lực hoặc sự hiểu biết, thì Đức Chúa Trời còn có thể làm được điều không thể làm được. Hết thảy những điều đó và nhiều điều khác nữa đem lại sự hy vọng và bạn có thể chia xẻ sự hy vọng đó một cách nhưng không.
Trung thực là điều thứ tư để giúp chúng ta thiết lập mối quan hệ Agape. Trung thực là sự thành thật khi nó có liên hệ đến chính mình, nhưng sự trung thực mà tôi đề cập ở đây là sự trung thực trong mối quan hệ với thực tế. Đó là nói lên sự thực về sự việc và hoàn cảnh của cuộc sống.
Hiển nhiên là cũng có yếu tố của động cơ thúc đẩy. Những người được cố vấn được thúc đẩy ở mức độ cao sẽ tạo một cơ hội độc nhất để thiết lập mối quan hệ Agape, bởi vì họ cần điều đó. Động cơ thúc đẩy sẽ khích lệ sự thay đổi. Có những người thật sự không cần thay đổi, vì vậy thiết lập mối quan hệ với họ sẽ là những điều vượt quá khả năng của bạn.
Sự truyền đạt hữu hiệu là một cách khác để thiết lập quan hệ Agape. Truyền đạt hữu hiệu là nói ra lẽ thật trong sự thương yêu, là việc xây dựng một mối quan hệ Agape.
Việc sắp xếp cũng là điều quan trọng trong việc xây dựng một mối quan hệ Agape. Sắp xếp đòi hỏi chúng ta phải sử dụng thời gian và tất cả những gì không mang tính riêng tư trong khoảng cách cố vấn. Tôi muốn nói thêm một lời nữa về việc sắp xếp thì giờ cũng như phương tiện vật chất. Một thời gian biểu nhất định là điều rất có ích lợi. Tôi sẽ cố gắng dùng một khoảng thời gian từ 45 đến 50 phút. Tôi cố gắng bắt đầu và kết thúc đúng giờ. Tôi nghĩ người ta có khuynh hướng đo lường điều họ sẽ chia xẻ bởi yếu tố thời gian. Kéo dài thời gian cố vấn chưa hẳn là sẽ ích lợi thêm. Cũng có những trường hợp ngoại lệ, nhưng, thông thường tôi nghĩ đó là sự thật. Có nhiều người tìm kiếm sự giúp đỡ cũng như sự cố vấn, họ cần sự sắp xếp, họ cần thừa nhận một tinh thần trách nhiệm. Việc sắp xếp thời gian và nơi chốn giúp họ làm được điều đó.
Ngay khi bạn trở nên nổi tiếng là một người sẵn sàng yêu thương người khác bằng tình yêu Agape, thì những người bị khốn khổ khác sẽ "đổ xô" đến chỗ bạn. Máy điện thoại của bạn sẽ reo liên hồi. Nếu như bạn yêu chính mình bằng tình yêu Agape, thì bạn cần phải sắp xếp thì giờ của riêng bạn ngõ hầu duy trì được sức khỏe và sự cân bằng. Bạn sẽ phải nói "Không" và phải biết những mặt hạn chế của mình. Hằng ngày tôi đang bị thách thức với vấn đề đó trong đời sống mình. Điều đó thật khó, song rất cần thiết để điều khiển thì giờ của bạn. Phải học để nói "không". Bạn phải học cách để nói "vâng" và cách để điều chỉnh những mặt hạn chế của mình.
Việc sắp đặt phương tiện vật chất trong công tác cố vấn cũng là điều rất quan trọng. Ở hội thánh chúng ta, chúng ta yêu cầu những nhà cố vấn của mình phải làm công tác cố vấn của họ ở tại văn phòng làm việc. Việc sắp xếp như vậy có rất nhiều ích lợi. Các văn phòng đều có một người tiếp đón ấn định những giờ giấc rõ ràng. Điều đó cho chúng ta việc kiểm soát sự lưu thông trong công tác cố vấn. Giúp chúng ta giữ kín các hồ sơ. Chúng ta cất giữ trong những tủ khóa và chỉ được kiểm tra bởi người cố vấn làm việc với người đó. Việc sắp sếp có trật tự như vậy cũng giúp chúng ta bảo đảm được có những người theo dõi sẵn sàng khi công việc cố vấn đang tiếp tục. Ở đây chúng ta có nhiều nguồn cung ứng mình có thể sử dụng. Công dụng của văn phòng cũng tạo cho chức vụ cố vấn của chúng ta một phong cách chuyên nghiệp.
Mặt khác, khi công tác cố vấn không hợp thức bắt đầu, chúng ta sẽ khuyến khích các nhà cố vấn tín đồ của mình hãy làm cho nó trở thành một sự sắp xếp hợp thức càng nhanh càng tốt. Thông thường, chúng ta cố gắng sắp xếp thì giờ, nơi chốn và sự sắp đặt về cơ sở vật chất dành cho công tác cố vấn.
Đặc biệt, khung cảnh cố vấn phải sao cho dễ chịu và thuận tiện. Đặt các chiếc ghế đối diện nhau để cho bạn có thể nhìn trực tiếp người khác mà không bị các vật thể chắn ngang. Căn phòng phải ngăn nắp và phải riêng biệt. Đó là tất cả các phần thuộc khâu sắp xếp, là điều giúp xây dựng một mối quan hệ Agape.
Còn hai điều sau cùng tôi muốn dành cho người cố vấn bán chuyên nghiệp phải biết rõ và truyền đạt những mặt hạn chế của mình. Đừng cố gắng làm điều mà mình không có đủ tư cách để làm. Tôi thường phải bảo "Tôi không phải là một bác sĩ tâm thần" hoặc "tôi không phải bác sĩ chuyên khoa", hoặc "Tôi không thể cho bạn một ý kiến chuyên môn trong vấn đề đó, song tôi biết bạn có thể tìm được sự trợ giúp từ nơi nào". Thứ hai điều chúng ta phải nhớ và thực hành đó là việc sử dụng tất cả mọi nguồn cung ứng sẵn có, cả từ con người lẫn thiên thượng. Quan trọng đặc biệt là những người chuyên nghiệp, họ là những người đủ tư cách để đưa ra thông tin đúng đắn mà chúng ta không có được. Chân lý đó là người cố vấn sử dụng phương pháp Agape không cố gắng để làm điều mình không đủ tư cách để làm, mà người ấy phải nhanh chóng giúp đỡ người ta tìm thấy những nguồn cung ứng họ cần. * *
Nền tảng để thiết lập mối quan hệ Agape không phải nằm trong sự hiểu biết về các kỹ thuật cố vấn mà ở chỗ thành thật quan tâm và cảm thông với người đó. Chúa Jesus đã động lòng thương xót khi Ngài nhìn thấy tình trạng của đoàn dân đông.
1. Theo Mat Mt 9:25-38, lý do khiến Chúa Jesus động lòng thương xót là vì Ngài đã nhìn thấy những người:
a. Đầy vui sướng bước đi trong lẽ thật.
b. Sống với nhau bình an và tốt đẹp.
c. Cùng khốn và tan lạc vì thiếu sự dẫn dắt.
d. Thất vọng, nhưng khi thấy Chúa Jesus thì vui mừng.
Chúa Jesus quan tâm đến con người và những nhu cầu của họ bằng tình yêu mang phẩm chất Agape và Ngài đã truyền đạt tình yêu ấy cho con người. Việc truyền đạt tình yêu là một khía cạnh chính yếu trong mối quan hệ Agape. Sự truyền đạt đó phải toàn diện.
2. Trong Liệu Pháp Agape, khi chúng ta nói sự truyền thông phải toàn diện, là ý muốn nói chúng ta phải:
a. Nói những câu rõ ràng, đầy đủ với người được cố vấn.
b. Tập trung tất cả sự chú ý của mình vào việc truyền đạt.
c. Không còn để một điều quan trọng nào chưa được nói ra.
d. Truyền đạt tình yêu bằng lời nói, nếp sống và việc làm.
3. Những đoạn Kinh Thánh được trưng dẫn dưới đây là những thí dụ về cách Chúa Jesus đã đón nhận kinh nghiệm của những người khác và Ngài đã truyền đạt tình yêu như thế nào. Hãy đọc từng đoạn và mô tả vắn tắt cách Chúa Jesus truyền đạt tình yêu trong mỗi tình huống đó.
a. 14:15-20 ...
b. 19:13-15 ...
c. 20:30-34 ...
d. Mac Mc 1:40-42 ...
e. 9:20-27 ...
f. LuLc 7:11-15 ...
4. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG dưới đây
a. Hiểu biết tình cảnh của người được cố vấn còn quan trọng hơn cả việc thiết lập một mối quan hệ Agape với họ.
b. Chúng ta phải tránh việc để cho những sự đau thương của người khác làm mình đau buồn hoặc nóng giận.
c. Hiện diện trong sự yên lặng bên cạnh một người đang đau buồn là điều có thể rất có ý nghĩa.
d. Sự thông cảm đòi hỏi chúng ta phải có cùng cảm nhận với điều người khác cảm nhận.
5. Vì sao thiết lập một quan hệ Agape lại là quan trọng như vậy?
...
6. Ghép cặp mười phương cách sau đây dành cho việc thiết lập một mối quan hệ Agape (phải) với những lời mô tả hoặc giải thích phù hợp với nó (trái)
... a. Rõ ràng, minh bạch.
... b. Tin cậy rằng Chúa có thể làm điều bất khả thi.
... c. Những sự trợ giúp thiên thượng và con người.
... d. Cảm nhận điều người khác cảm nhận.
... e. Thừa nhận điều mình không biết và không làm được.
... f. Đức tính chấp nhận.
... g. Nói sự thực về đời sống.
... h. Nói ra lẽ thật trong sự yêu thương.
... i. Thiết lập thời gian và sự sắp xếp trật tự về cơ sở vật chất.
... j. Sẵn sàng chịu thay đổi.
TRIỂN KHAI KẾ HOẠCH TRỊ LIỆU.
Trong cuộc phỏng vấn đầu tiên, người cố vấn đang làm việc với người được cố vấn phải cố gắng đi đến chỗ cùng nhau hiểu được "người được cố vấn đang ở chỗ nào" và "từ chỗ nầy chúng ta sẽ đi đến đâu" . Điều đó được thực hiện bởi: 1) Việc thâu nhặt những thông tin, 2) Đưa ra những thông tin, và 3) lập một giao ước. Mặc dầu đấy là những giai đoạn riêng biệt, song vẫn thường có sự chồng chéo lên nhau trong những giai đoạn khác nhau, chứ không phải chúng luôn theo đúng trình tự thời gian.
Giai Đoạn Một: Thâu Nhặt Tin Tức
* * Trong giai đoạn nầy, chúng ta tìm cách khám phá mọi điều mình có thể biết được về người được cố vấn: Về môi trường sống, về mối quan hệ của người ấy với Chúa, với người khác, và với chính người ấy. Nguồn tin tức đó sẽ giúp chúng ta hiểu được lý do người ấy đau buồn, hiểu được điều người ấy đang suy nghĩ, và biết được điều gì đang diễn ra. Điều nầy có thể được thực hiện theo một số những cách như đưa các bản câu hỏi, trắc nghiệm, nhận thông tin từ nơi những người đáng kể khác, và việc phỏng vấn. Hãy nhớ rằng việc phỏng vấn là phương cách chủ yếu, chúng ta sẽ bàn thêm sau. * *
7. Kể ra bốn cách để thâu nhặt những thông tin.
...
Những Bảng Câu Hỏi
* * Bảng câu hỏi (xem phần phụ lục 8) được dùng để thu nhận tin tức. Đó là những trang giấy dài được sắp xếp có chỗ trống cho người ta điền vào. Nguồn thông tin nầy cung cấp những loại dữ kiện cơ bản như tên tuổi, nghề nghiệp, phái tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn... ) và một số dữ kiện thông thường (sức khỏe, lời chỉ bảo khác, việc dùng thuốc, sở thích về tín ngưỡng, và nền tảng tín ngưỡng ). Nó cũng cung cấp những thông tin về hôn nhân và gia đình.
Phần chót của bảng câu hỏi yêu cầu người được cố vấn trả lời những sự quan tâm của chính họ, như là : Nan đề của bạn là gì? Bạn làm gì trong vấn đề đó? Chúng tôi có thể làm gì? Vì sao bạn đến đây? Những câu trả lời cho các câu hỏi trên thường hữu ích khi người cố vấn chịu bày tỏ chính họ những nỗi lo sợ của họ, và những suy nghĩ của họ, bởi vì nhờ đó chúng ta mới biết chỗ để mà bắt đầu. * *
8. Xem qua phần phụ lục B. Cho biết sáu mục đích chính của bảng câu hỏi đó là gì? ...
...
9. Điền vào Bảng Kê Khai Dữ Kiện Cá Nhân (phần Phụ lục B) dành cho chính bạn, xem như bạn đang sắp nhận một công tác cố vấn. Những thông tin gì bạn thu thập được từ quan điểm của người được cố vấn? Những thông tin gì bạn có thể nhận được từ quan điểm của người cố vấn? Viết những điều đó vào vở ghi chép của bạn.
10. Khi nào thì người cố vấn phải điền vào Bảng Kê Khai Dữ Kiện Cá Nhân?
...
Trắc Nghiệm
Một công việc khác là một phần trong công tác thu nhận nguồn thông tin mà chúng ta sẽ làm, đó là làm những thủ tục trắc nghiệm nhân cách và khả năng nghề nghiệp. Những thử nghiệm nầy cung cấp một số lượng lớn nguồn thông tin trong một thời gian ngắn. Cũng có thể sử dụng những trắc nghiệm khác nữa. Có một số các bảng trắc nghiệm đòi hỏi người thực hiện phải được huấn luyện đặc biệt. Chúng ta xem đó như là những nguồn cung ứng bổ sung cho nguồn thông tin. Có một số người trong cộng đồng Cơ Đốc cho rằng những cuộc thử nghiệm như vậy là không tốt hoặc có vẻ thế gian quá. Tuy nhiên, nếu được sử dụng một cách khôn ngoan và theo đúng những nguyên tắc của Kinh Thánh, nó có thể giúp chúng ta làm những người quản lý thời gian tốt. Những cuộc thử nghiệm nầy thường rất khách quan và nó đem lại những hình ảnh súc tích, rõ ràng về nhân cách hoặc những ưu điểm về khả năng nghề nghiệp của người được cố vấn. Dầu vậy, bạn hãy nhớ rằng một cuộc trắc nghiệm về mặt tâm lý không có các giá trị theo như điều người ấy diễn dịch nó, và cũng không được hàm chứa những ý quá đáng.
Trong thời kỳ hậu nhân dữ kiện, các cuộc trắc nghiệm được thực hiện thường xuyên để cung cấp nguồn thông tin bổ sung, cụ thể về người được cố vấn. Chúng ta có thể chọn một cuộc trắc nghiệm về tiêu chuẩn nhân cách là điều cho ta dữ kiện khách quan về nhân cách của người được cố vấn. Chúng ta có thể thực hiện những trắc nghiệm về khả năng nghề nghiệp để giúp người ấy nhận biết những ưu điểm hoặc nhược điểm hoặc những năng khiếu của người ấy trong lĩnh vực lao động. Chúng ta phải thận trọng khi sử dụng và diễn dịch các cuộc trắc nghiệm nầy. Tuy nhiên, công việc nầy phải dành riêng cho một người thạo giỏi, đã được huấn luyện đầy đủ trong lĩnh vực đó. Phương pháp thâu nhận nguồn thông tin nầy kiêm được rất nhiều thời gian, và nó cung cấp nguồn thông tin mà có thể được tất cả các bên tham dự đều thấy và hiểu rõ một cách đặc biệt.
Những Người Đáng Kể Khác
11. Cả Bài Học 1 và Ọ đều có liên hệ đến đề tài nói về những người đáng kể khác trong khung cảnh cố vấn. Những ai được xem là những người đáng kể khác?
...
Chúng ta có thể tham khảo ý kiến với người đáng kể đó bất cứ lúc nào trong công tác cố vấn. Họ có thể cung cấp những hiểu biết sâu sắc và nguồn thông tin cần thiết có liên quan đến người được cố vấn. Những người đáng kể đó chỉ được mời hỏi ý kiến nếu được người cố vấn biết và cho phép.
Việc Phỏng Vấn
Việc phỏng vấn là một phần quan trọng trong mỗi một buổi cố vấn. Nó liên quan đến việc hỏi người được cố vấn những câu hỏi, ngõ hầu giúp người ấy bày tỏ những cảm giác và những suy nghĩ của người ấy và nhờ đó tìm được căn nguyên của vấn đề.
Việc phỏng vấn là một cơ hội tuyệt vời để bày tỏ sự cảm thông, sự nhiệt tình và sự chấp nhận hết sức quan trọng đối với Liệu Pháp Agape. Bằng cách nầy, người cố vấn có thể bắt đầu gây dựng mối quan hệ Agape nhằm giúp người được cố vấn được thư dãn và có thể hợp tác với người cố vấn để hướng đến một giải pháp cho những nan đề.
Người cố vấn phải nhắm đến việc tích cực lắng nghe mọi điều mà người được cố vấn nói, và người ấy phải đảm bảo rằng những gì người được cố vấn nói thì mình đều đã thật sự nghe cả, trước khi đi đến bất cứ những kết luận gì.
Xem phần Phụ Lục C và xem xét cẩn thận từng mục trong biểu đồ có tựa là "Một Số Công Việc Căn Bản Khi Phỏng Vấn". Công việc đó sẽ giúp bạn hiểu được phần nầy trong bài học.
* * Cách thâu góp nguồn thông tin đáng kể hơn hết là phỏng vấn. Những bước có liên hệ đến tiến trình phỏng vấn gồm cả việc nhận biết và thừa nhận nan đề hiện tại, phải suy luận, và tìm kiếm hoặc nhận ra những căn nguyên. Các bước đó nằm trong tờ bài làm ở phần Phụ Lục C. Việc hoàn thành một trong những tờ bài làm đó sẽ chỉ dẫn người cố vấn trong những buổi cố vấn.
Bước 1. Thừa Nhận Nan Đề Hiện Thời. Ở bước nầy, chúng ta sẽ cố gắng để phân biệt giữa nan đề hiện thời với nan đề thật sự. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng đôi khi chúng là một, nhưng nhiều lúc nan đề hiện tại chỉ là một manh mối của nan đề thật sự mà thôi.
* * Nan đề hiện thời là nan đề ban đầu hoặc nan đề đã được định rõ do người được cố vấn đưa ra cho người cố vấn. Đôi khi đó là nan đề căn bản, song đôi khi nó chỉ là vấn đề ở bề ngoài hoặc chỉ là những triệu chứng mà thôi. Điều đó thường được làm sáng tỏ khi người cố vấn tìm cách hiểu được người được cố vấn.* *
12. Có một người cần được cố vấn bước vào buổi gặp mặt và bảo "Thưa mục sư, tôi thật mừng cuối cùng chúng ta đã có thể gặp nhau. Tôi muốn được nói chuyện với ông khá lâu rồi. Gần đây tôi gặp phải rắc rối với các con tôi. Ở nhà, chúng nó không chịu vâng lời tôi. Tôi phải làm gì trong vấn đề đó?". Phần nào trong những lời người ấy nói là nan đề hiện thời?
...
Bước 2. Suy Luận. Chúng ta có thể dùng những câu hỏi tốt để suy luận ra vấn đề thực sự. Hãy xem khung 9.1. Những khoản được liệt kê trong khung đó là những điều cần phải lắng nghe bởi vì điều đó có thể cung cấp những manh mối cho nan đề hoặc mối quan tâm thật sự của người được cố vấn.
KHI SUY LUẬN
Hãy Lắng Nghe: Mối liên kết giữa những ý tưởng.
Những thay đổi trong đề tài.
Những nhận định lúc đầu và lúc cuối.
Những ý tưởng tái lập.
Những sự bất nhất.
Những chứng cứ không lời.
Nội dung
Những cảm giác.
Khung 9.1
* * Nghệ thuật đặt câu hỏi là điều rất là quan trọng. Hãy học cách đặt những câu hỏi sao cho người ta không chỉ trả lời "có" hoặc "không". Bạn hãy đặt những câu hỏi để yêu cầu một sự giải thích. Những câu hỏi hoặc câu nói như vầy: "Bạn cần tôi làm chi cho bạn?" hoặc "Bạn hãy giải thích điều đó nhé!" hay là "Bạn hãy giúp tôi hiểu được vấn đề đó", đều rất hữu ích. Khi lắng nghe họ, bạn sẽ bắt đầu có được một số những suy luận về vấn đề đó. Liệt kê những suy luận nầy ra là điều hữu ích.
Đây là một số những điều sẽ giúp bạn đưa ra những suy luận có ý nghĩa (Khung 9.1). Việc liên kết các ý tưởng và những sự thay đổi trong các đề tài giúp chúng ta khám phá những nan đề và những mối quan tâm thực sự. Bạn có thể bắt đầu hỏi những câu hỏi có liên hệ đến bảng kê khai dữ kiện như về vấn đề sức khỏe, về gia đình, về hôn nhân, về người bạn đời, hoặc con cái. Những sự thay đổi trong các đề tài có thể cho thấy những lãnh vực dễ bị thương tổn.
Những nhận định lúc ban đầu và lúc cuối cũng thường cho chúng ta thấy những chứng cớ có đầy ý nghĩa. những ý tưởng cứ tái lập trong buổi trò chuyện dường như cũng nhấn mạnh đến chủ đề hoặc đề tài. Những sự bất nhất có thể cho thấy những cảm nhận hai chiều, tức là những cảm nhận vừa tích cực vừa tiêu cực về cùng một tình huống hay sự việc. Có thể người ấy đang tìm cách tránh né sự thật, bạn có lẽ cần phải nói rằng bạn chưa hiểu. Thông thường, nói một câu như vầy "Tôi tưởng mình đã nghe bạn nói. Nhưng bây giờ tôi nghĩ tôi đang nghe bạn nói... " hoặc một câu hỏi đơn giản như vầy "Bạn có vui lòng giúp tôi hiểu rõ hơn không?", rất là hữu ích.
Những chứng cứ không lời cũng giúp cho việc suy luận, nhưng chúng ta cần phải cẩn thận để tránh đặt quá quan trọng hóa những chứng cứ không lời hoặc gán cho chúng những ý nghĩa không đúng.
Ví dụ, những giọt nước mắt là một chứng cứ cũng rất quan trọng. Song nó có thể có nhiều ý nghĩa như: Vui mừng, đau buồn, thương tiếc, hoặc là thất vọng.
Nội dung thực tế của một buổi phỏng vấn phải được cân nhắc cẩn thận tùy theo sứ điệp của nó. Đôi khi nội dung và cảm giác được bày tỏ rất khác nhau.
Tôi đã cố vấn cho một phụ nữ nọ, lúc còn nhỏ, cô thường bị cha ghẻ đánh đập. Bởi vì khi đi học cô thường bị các trẻ em chọc ghẹo vì màu da nâu và đầu tóc khác thường của mình, cô ta bỏ về nhà và khóc nức nở. Cha cô đánh đập cô cho đến khi nào cô hết khóc mới thôi. Điều đó khiến phát sinh trong tâm trí cô một ý tưởng mạnh mẽ cho rằng khóc là sai trái. Bây giờ lối suy nghĩ vô lý ấy vẫn tiếp tục chi phối tâm trí cô, rằng "khóc là xấu" và như bạn có thể hình dung, cô ta rút lui khỏi mọi người và không thể nào chịu nỗi những mối liên hệ thân cận. Trong buổi cố vấn, nội dung điều cô đã nói và những cảm nghĩ của cô được diễn tả qua những chứng cứ không lời thường trái ngược nhau.
Việc quan sát sự kiện đó và giải quyết điều đó chính là điểm mấu chốt để giúp đỡ cô ta.* *
13. Phần triển khai bài học cho thấy người cố vấn phải đặt những câu hỏi sao cho có được những lời giải thích ngõ hầu tìm ra được vấn đề căn bản. Bạn hãy viết chữ G trước mỗi câu hỏi tốt, tức là câu hỏi buộc phải có sự giải thích khi trả lời. Hãy viết chữ K trước câu nào cho thấy KHÔNG buộc người ta phải có lời giải thích khi trả lời.
a. Bạn có nóng giận lâu không?
b. Bạn có cảm tưởng thế nào về việc đó?
c. Bạn muốn tôi làm gì?
d. Bạn đã bắt đầu buồn phiền từ lúc nào?
e. Việc bày tỏ những cảm nhận của mình đối với bạn có khó khăn không?
d. Bạn có yêu vợ mình không?
14. Khi người được cố vấn thay đổi đề tài buổi nói chuyện, có thể người ấy
a. Đang che giấu một lãnh vực dễ bị thương tổn.
b. Mong muốn được kết thúc buổi gặp gỡ cố vấn.
c. Đang bày tỏ sự nhiệt thành.
d. Đang có những cảm nhận nước đôi.
15. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG dưới đây
a. Một thái độ bất nhất có thể cho thấy những cảm nhận nước đôi.
b. Chúng tôi nên bỏ qua những sự bất nhất của họ.
c. Chúng ta nên coi trọng những chứng cứ không lời hơn là những chứng cứ bằng lời.
d. Nếu người được cố vấn đang tìm cách né tránh sự thật, thì chúng ta có thể khám phá được điều đó trong thái độ lớn nhất của họ.
e. Chúng ta nên bỏ qua những ý tưởng mà họ lập đi lập lại.
f. Người cố vấn cần phải lắng nghe cả nội dung các ý tưởng lẫn sự cảm nhận đằng sau điều đó.
g. Những chứng cứ không lời phải là nền tảng cho tất cả những suy luận.
h. Những sự bất nhất về cơ bản đều là những lời giả dối.
16. Khi chúng ta đối diện với một sự bất nhất, tốt nhất nên nói một điều gì đó như vầy:
a. "Bạn đang nói dối. Nói dối là phạm tội. Tôi không thể nào giúp bạn được nếu bạn không ăn năn đi mà nói đúng sự thật".
b. "Còn điều gì đó mà bạn chưa nói với tôi chăng?"
c. "Cả hai điều bạn đang nói đó đều không thể nào là sự thật được. Đâu mới là điều bạn muốn nói?"
d. "Ô, tôi chưa hiểu. Lúc nẫy tôi nghĩ là đã nghe bạn nói như vầy... nhưng bây giờ, tôi nghe bạn bảo... xin bạn hãy giúp tôi hiểu được điều bạn thật sự muốn nói".
Điều quan trọng là phải để ý cẩn thận những nhận xét lúc đầu và lúc cuối, những ý tưởng được tái lập và không những nội dung lời lẽ của điều người ấy nói mà còn phải chú ý những cảm nhận đằng sau những lời đó nữa. Những cảm giác đó có thể được khám phá bởi việc chúng ta lắng nghe âm điệu của giọng nói và theo dõi những chứng cứ không lời.
17. a. Kể ra một số điều bạn cần để ý khi thu nhặt những chứng cứ không lời.
...
b. Vì sao lại nguy hiểm khi cho rằng qua những chứng cứ không lời, bạn đã biết được lý do đích thực?.
...
18. Trong những điều bạn phải lắng nghe ở khung 9.1. điều nào là điều bạn không biết trước được? Điều đó có ảnh hưởng gì đến công tác cố vấn sau nầy của bạn? Hãy viết câu trả lời vào vở ghi chép của bạn.
Bước 3. Tìm Ra Căn Nguyên. Căn nguyên của các vấn đề thường nằm trong lãnh vực mấu chốt sau đây: 1) Lãnh vực tâm linh, 2) Lãnh vực riêng tư, cá nhân, 3) Về nghề nghiệp, 4) Về những mối liên hệ, 5) Về thuộc thể, và 6) Về mặt tài chánh.
Xem khung 9.2, mô tả cảnh ngộ khốn khổ của tác giả Thi Thiên đã được ghi lại trong Thi Tv 32:3-4. Trong trường hợp nầy bạn nhìn thấy nan đề cơ bản nằm trong bản chất tâm linh.
* * Bước thứ 3 trong tiến trình phỏng vấn là tìm kiếm căn nguyên. Bạn giải quyết thế nào với một người cần được cố vấn như thế nầy? Anh ta bước vào và nói với bạn "Thân thể tôi rã rời, tôi trở nên yếu nhược, tôi cảm thấy khốn khổ, dường như cả thân tôi đều đang rên siết. Tôi bị khốn cùng. Tôi thật bị đau đớn. Tôi cảm thấy một gánh nặng ngàn cân đang đè nặng trên vai mình. Tôi không còn chút sức lực nào nữa. Sáng thức dậy, tôi mệt muốn chết luôn, mặc dầu tôi đã ngủ hàng giờ, thế nhưng cứ như là tôi đã làm việc suốt cả đêm. Giống như có một đám mây đen, u ám phủ trên cuộc đời tôi". Làm sao để giúp đỡ một người có tâm trạng như vậy? Thôi được, đó chỉ là những lời diễn ý 32:3-4 của tôi mà thôi. Tác giả Thi Thiên nói rằng: "Khi tôi nín lặng (về tội lỗi mình) các xương cốt tôi tiêu tàn. Và tôi rên siết trọn ngày. Vì ngày và đêm tay Chúa đè nặng trên tôi. Nước bổ thân tôi tiêu hao như bởi khô hạn mùa hè. Đoạn tôi thú tội cùng Chúa, không giấu gian ác tôi". Bạn thấy vấn đề cơ bản của tác giả Thi Thiên chính là do tội lỗi không chịu xưng ra của ông. Những vấn đề hiện tại hoặc các triệu chứng đều nằm trong những lời than thở về bệnh tật thuộc thể, sự tuyệt vọng về mặt tâm lý, sự chán nản, sự phạm tội. Bạn có hiểu được sự khác nhau giữa những vấn đề hiện tại với những căn nguyên cơ bản không? * *
* *Nếu như bạn chỉ có trách nhiệm phải trả lời cho những nan đề hiện thời của người ta mà thôi, thì bạn có thể nói "Được rồi, điều mà anh cần phải là đó là hãy đi nghỉ mát một thời gian ngắn. Nếu bạn ngủ được mà khi thức dậy vẫn còn mệt mỏi, thì có lẽ bạn cần nghỉ ngơi một lúc. Vì sao bạn không tạm nghỉ một thời gian?". Điều đó sẽ không thật sự giúp ích cho người đó. Còn nếu có giúp được người ấy đi nữa, thì cũng không thể giải quyết được tận nguyên nhân gốc rễ. Đó mới chính là vấn đề.
Có một cách tế nhị hơn, có thể hỏi như vầy "Có tội lỗi nào trong đời sống bạn chưa được xưng ra chăng?". Dầu vậy, trước khi làm điều đó, bạn cần phải có một mối quan hệ mà có thể cho phép bạn đối chất như vậy. Nhiều khi tôi phải cố gắng giúp cho người được cố vấn bằng cách bảo rằng người ấy không phải trả lời thành tiếng những câu hỏi của tôi nếu như người ấy không muốn. Điều quan trọng là người ấy trả lời với chính mình.
Điều quan trọng bạn cần phải nhớ là không phải mọi nguyên nhân căn bản đều là do tội lỗi chưa xưng ra. Những vấn để gốc rễ khác có thể là những rối loạn trong cơ thể, ví dụ quá trình trao đổi chất của cơ thể, hoặc những kiểu suy nghĩ tiêu cực. Đó là lý do vì sao chúng ta cần đến đội ngũ chuyên nghiệp. Một sự rối loạn, như là quá trình trao đổi chất của thân thể hoặc thậm chí lối suy nghĩ tiêu cực, cũng có thể đẩy người ta vào một tình trạng trầm uất.
19. Xem lại 32:2-4. Hãy viết chữ N trước mỗi câu nào có thể là nan đề của tác giả Thi Thiên. Viết chữ K nếu không chắc đó là nan đề của tác giả.
a. Sự mệt mỏi thuộc thể.
b. Bệnh tật.
c. Lao động quá nhọc nhằn.
d. Những khó khăn trong hôn nhân
e. Tội lỗi.
f. Sự cô độc.
Bước 4. Việc Xác Định Các Mục Tiêu. Các mục tiêu phải được ấn định để cho người được cố vấn phải hoàn thành trong một khung thời gian cơ bản. Các mục tiêu đó phải thực tế, thuộc về cách cư xử và dễ thấy. Khi chúng tôi nói đến mục tiêu thực tế, là chúng tôi muốn nói rằng những mục tiêu đó có thể được hoàn thành thật sự trong một khoảng thời gian thiết thực. Mục tiêu về cách cư xử là nói đến những công việc mà người được cố vấn sẽ thực hiện, bởi vì cách cư xử có nghĩa là bất cứ điều gì mà có thể làm, liên quan đến hành động và sự đáp ứng đối với sự hào hứng.
Mục tiêu dễ thấy, mặt khác, đó là những điều có thể thấy được cảm nhận được, hoặc quan sát được, như là một sự thay đổi hướng tới một kết quả mong muốn.
Rất có thể họ sẽ có sự thay đổi trong cách cư xử, trong thái độ hoặc trong lối sống. Điều quan trọng phải nhớ đó là sự thay đổi cần phải mất thời gian, và phải nhắc lại câu nói của Ed Cole "Sự thay đổi vẫn chưa là thay đổi cho đến khi nào có sự thay đổi". 167 tiếng đồng hồ giữa các nhiệm vụ được giao là rất quan trọng. Người được cố vấn cần được xem như phải chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ hàng tuần đó.* *
Những mục tiêu được thực hiện dựa trên cơ sở của vấn đề cơ bản của người được cố vấn. Người cố vấn phải tán thành các mục tiêu ấy. Nếu đó là những mục tiêu về cách cư xử và là những mục tiêu dễ thấy, thì người được cố vấn sẽ thêm vững lòng khi nhìn thấy các mục tiêu ấy được hoàn thành.
20.Dưới đây là các câu nói về các mục tiêu. Bạn hãy xác định xem chúng thuộc mục tiêu thực tế, mục tiêu dễ thấy, hoặc mục tiêu thuộc về cách cư xử. Hãy ghép cặp mỗi mục tiêu (bên trái) với sự xác định của bạn. Bạn có thể dùng cả ba trường hợp kể trên vào bất cứ câu nào.
... a. Trước khi tuần lễ tới, bạn có vui lòng cư xử thân thiện với ít nhất ba người không? Khi trở lại đây, bạn hãy kể tên của những người đó và điều mà bạn đã thực hiện cho mỗi người.
... b. Tôi muốn tuần tới đây, bạn sẽ viết tên của tất cả những người mà bạn đã gặp gỡ.
... c. Mục tiêu của chúng tôi dành cho bạn tuần nầy là để bạn hiểu biết chương trình của Đức Chúa Trời dành cho mỗi người trong gia đình bạn.
... d. Trong tuần tới, tôi muốn bạn hãy có một cảm giác vui mừng đối với mọi người bạn gặp gỡ.

Bước 5. Việc Phác Thảo Lối Chữa Trị. Phác thảo lối chữa trị là rất quan trọng. Không có những chương trình có ý nghĩa và những nguồn cung ứng cần thiết, các mục tiêu sẽ trở nên viễn vông. Mọt chương trình hẳn hoi sẽ cho chúng ta sự chỉ dẫn, sự an toàn, một nền tảng để đánh giá và niềm hy vọng. Nó cũng giúp chúng ta đi thấu suốt mà không bỏ qua những chi tiết quan trọng.
Việc phác họa nầy có thể được hoàn thành tốt đẹp do người cố vấn và người được cố vấn cùng hiểu biết về các mục tiêu sẽ được tiến hành theo hướng nào và đâu là đỉnh điểm của tiến trình trong việc: 1) Thừa nhận nan đề hiện thời 2) Tiến hành suy luận 3) Nhận ra những nguyên nhân cơ bản và 4) Xác định những mục tiêu cố vấn thực tế.
Hiển nhiên, việc phác thảo lối chữa trị là một phần rất quan trọng trong việc phỏng vấn. Mỗi một phần trong bốn phần nầy phải được cân nhắc cẩnthận khi lập kế hoạch trong tương lai * *. Sau đó người cố vấn và người được cố vấn phải đặt phương hướng và nhận biết những sự chỉ dẫn, là lập giao ước với nhau. Thông thường trong lúc lập giao ước tôi sẽ nói đại khái như vầy: "Tôi sẵn sàng dành cho bạn ba buổi họp mặt, mỗi buổi một giờ đồng hồ. Trong các buổi đó, chúng ta sẽ làm việc theo những mục tiêu mình đã đề ra. Vào cuối buổi thứ ba chúng ta sẽ thành thật với nhau, và nếu điều chúng ta đang tiến hành là ích lợi, thì chúng ta sẽ đồng ý còn gặp nhau nữa, song nếu điều đó không ích gì, chúng ta sẽ chuyển hướng hoặc thôi không gặp nhau nữa, hoặc xem xét và chuyển sang một nguồn cung ứng khác. Bạn có đồng ý không?
Những công việc chúng ta làm giữa việc thâu nhập những tin tức và việc đánh giá là điều chúng ta gọi là Lối Chữa Trị. Đó là phương hướng mà chúng ta đang đi theo. Nó liên quan đến tất cả những mục tiêu chúng ta đã đặt ra.
Tóm lại, Giai Đoạn 1 của việc phỏng vấn là thâu góp nguồn thông tin, thực hiện việc suy luận, nhận biết các nguyên nhân, xác định các mục tiêu, triển khai một phương pháp trị liệu cho người ấy, lập giao ước với người ấy trong việc tiếp tục giữ theo phương pháp đó. * *
21. Ghép cặp từng bước trong tiến trình phác thảo đường lối chữa trị (phải) với bằng cớ của bước ấy trong công tác cố vấn thực tế (trái)
... a. "Đối với tôi dường như vấn đề cơ bản của các bạn là vấn đề tài chánh, là chỗ không ai trong các bạn tin cậy nhau cả".
... b. "Bạn có thể tính được từng món tiền nhỏ nhặt mà bạn chi tiêu trong tuần nầy không? Hãy ghi lại xem bạn đã trả cho những khoảng nào và giá nó là bao nhiêu"
... c. "Thưa ông, tôi cần được giúp đỡ. Chồng tôi và tôi luôn luôn cãi vả nhau về chuyện tiền bạc".
... d. "Chồng cô tiêu xài quá nhiều hay là ông ấy không kiếm đủ tiền? Cô có tiêu quá nhiều tiền vào những khoản đặc biệt nào không? Có phải cô đang để dành nhiều quá và không có đủ để dâng cho hội thánh không?"
Giai Đoạn Hai: Đưa Ra Nguồn Thông Tin
MỤC TIÊU 4: Nhận biết những loại thông tin nào cần phải được thông báo cho người được cố vấn và cho biết khi nào thì nên thông báo điều đó.
Nguồn thông tin mà chúng ta cần phải cho người được cố vấn biết có liên quan đến các thủ tục của người cố vấn, triết lý hay là chủ trương của việc cố vấn, những nguồn cung ứng được sử dụng, và những mối quan tâm riêng tư. Những thông tin nầy có thể được đưa ra vào những thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào mức độ lo lắng và các nhu cầu của người được cố vấn. Nguồn thông tin nầy được đưa ra nhằm tăng thêm mức độ tin cậy của người được cố vấn và để cung cấp cho người ấy sự hy vọng và ý thức về một phương hướng.
* * Tôi thường sẽ bắt đầu cuộc phỏng vấn bằng cách bảo rằng "Tôi muốn đề nghị rằng chúng ta hãy cho tôi biết lý do bạn đến đây và điều bạn mong đợi ở nơi tôi. Tôi sẽ cố gắng lắng nghe thật tốt. Sau đó, tôi sẽ cho bạn biết những nguồn cung ứng cho bạn và vào cuối giờ, chúng ta sẽ tự vấn xem chúng ta có đồng ý không". Loại sắp đặt đó xác định điều sẽ diễn ra trong cuộc phỏng vấn.
Vì vậy, trước hết (Giai Đoạn 1). Tôi thâu nhặt nguồn tin tức, đó là: "Bạn hãy nói cho tôi biết"
Thứ nhì (Giai Đoạn 2). Tôi sẽ cho bạn biết bạn là ai, và vì sao tôi có mặt ở đây, sau đó, thứ ba (Giai Đoạn 3), chúng ta sẽ tự hỏi xem chúng ta có thể cùng nhau làm việc không. Chúng ta sẽ lập một giao ước.
Việc đưa ra nguồn thông tin bao gồm một số những nỗi ưu tư. Điều chúng ta đưa vào và khi nào chúng ta đưa vào tùy thuộc vào những nhu cầu và nhận thức của người ấy khi tôi bắt đầu ở điểm nhu yếu của người ấy. Sau đây là danh sách những điều có thể đưa vào: Việc thử nghiệm, lòng tin cậy, việc sử dụng những người bán chuyên nghiệp, giao ước, triết lý của chúng ta về việc cố vấn, những nguồn tham khảo tài chánh, những khả năng chuyên môn của tôi... v.v... Điều đó tùy thuộc vào những nhu cầu của người ấy. Thường tôi sẽ hỏi người ấy như vầy "Bạn có thắc mắc gì không?" Và những thắc mắc ấy sẽ chỉ dẫn những điều mà tôi phải nói.
Nhiều khi tôi để cho người ấy cứ nói hết trong một hồi rồi sau đó tôi mới chia xẻ. Đôi khi, chúng tôi cùng nhau bày tỏ, cho và nhận nguồn thông tin dựa vào tính chất của nhu cầu và cuộc đối thoại. Một số nguồn thông tin xác thực được thu nhận dễ dàng hơn hết dưới hình thức một quyển sách nhỏ trình bày việc cố vấn. Điều tôi muốn bạn ghi nhớ đó là thể thức phải được sắp xếp riêng biệt. Giống như việc thực hiện một bộ áo quần, người cố vấn là thợ may, và Đức Thánh Linh là Người Vẽ Kiểu. * *
22. Khoanh tròn mẫu tự nằm trước mỗi câu ĐÚNG
a. Nguồn thông tin nên được đưa ra ngay lúc bắt đầu cuộc phỏng vấn đầu tiên.
b. Vì người cố vấn là người lắng nghe và cũng là người hướng dẫn, nên người ấy thật sự không được đưa ra nguồn thông tin.
c. Những sách bỏ túi nói về việc cố vấn cung cấp nguồn thông tin hữu ích cho người được cố vấn.
d. Việc đưa ra nguồn thông tin phải gồm cả lời tuyên bố rõ về chủ trương và lời giải thích về lối tiếp cận vấn đề tài chánh.
e. Thật hữu ích khi nhận biết được những con người tháo vát, là những người sẵn sàng giúp đỡ bằng nhiều cách khác nhau.
f. Nguồn thông tin có thể được in ra hết và trao cho tất cả những người được cố vấn bởi vì các nhu cầu của họ đều rất giống nhau.
g. Phải bảo đảm là bạn đã đưa ra nguồn thông tin trước khi người được cố vấn bắt đầu chia xẻ.
h. Một mục tiêu của việc đưa ra nguồn thông tin là để cho người được cố vấn có những dữ liệu để người ấy tăng cường mức độ tin cậy, hy vọng và nhận rõ phương hướng.
i. Khi nguồn thông tin đã được đưa ra thì phải tùy thuộc vào mức độ lo lắng và các nhu cầu của người được cố vấn.
Đã có việc góp nhặt nguồn thông tin và có việc đưa ra nguồn thông tin rồi, bây giờ chúng ta sẽ sang phần kết giao ước là Giai Đoạn 3.
Giai Đoạn 3: Lập Một Giao Ước.
Việc lập giao ước, về cơ bản, đòi hỏi người cố vấn và người được cố vấn đều phải cùng thỏa thuận với nhau về điều mà những nhu cầu phải được thực hiện là gì và sau đó là cách phải thực hiện như thế nào. Bốn lãnh vực họ cần phải đồng ý với nhau gồm có: 1) Thời điểm, nơi chốn, và thời gian của buổi cố vấn; 2) Những thủ tục sẽ được sử dụng như các nhiệm vụ phải làm ở nhà; 3) Những nguồn cung ứng nào họ phải nhờ đến; và 4) Một giao ước riêng tư cho diễn trình cố vấn.
Thông thường, việc lập giao ước diễn ra ở cuói buổi cố vấn. Tuy nhiên, trong mộ số các trường hợp, rất hữu ích khi giới thiệu khái niệm ấy hầu giúp cho người được cố vấn có một ý thức về phương hướng và sự yên ổn. Xem xét kỹ khung 9.3 và nhận ra rằng việc lập giao ước rất là quan trọng trong khi cố vấn.

LẬP GIAO ƯỚC
Vì cớ nó...
1. Khám phá những sự mong mỏi
2. Hạn định thời gian cho việc đánh giá
3. Giữ gìn thì giờ và các nguồn cung ứng.
4. Khuyến khích sự hoạt động trong tiến trình cố vấn.
5. Truyền đạt tình yêu thương.
Khung 9.3
* * Có nhiều lý do khiến tôi lập giao ước với người được cố vấn. Năm lý do trong số đó đã được liệt kê trong khung 9.3. Lý do thứ nhất để lập giao ước đó là nó khám phá những sự mong đợi và nó giúp cho việc gây dựng niềm hy vọng và lòng tin cậy. Ví dụ, việc đề ra mục tiêu cho rằng "Chúng ta sắp sửa học tập ba kỹ thuật trong việc truyền đạt, và chúng ta sẽ tiếp tục học với nhau về việc đó trong suốt ba tuần kế tiếp " là một cách để cho mọi thành phần tham gia đều biết điều gì đang được trông đợi ở nơi họ. Và kế đó, vào cuối ba tuần lễ, nếu họ đã học tập những kỹ thuật đó rồi, họ sẽ cảm thấy mình tốt hơn, hy vọng và lòng tin cậy đều được tăng cường. Thậm chí nếu họ không phát huy chúng và học hỏi cách để sử dụng chúng một cách hoàn hảo thì việc học hỏi đó cũng sẽ khiến họ cảm thấy mình có được một sự tiến bộ nào đó. Đó là điều tốt.
Giao ước cũng giúp khám phá những sự mong đợi vào lúc kết thúc hoặc mục tiêu của công tác cố vấn. Chính mình tôi, cũng hơi cảnh giác đối với một mối liên hệ nào trong công tác cố vấn mà cứ tiếp tục và kéo dài mãi từ tuần nầy sang tuần khác mà không bao giờ tìm ra các mục tiêu, và cũng chẳng bao giờ làm việc để hướng đến một kết thúc rõ ràng cụ thể. Đó là lý do vì sao tôi thích phương pháp ký giao ước.
Thứ hai, việc lập giao ước giúp ấn định thời gian cho việc đánh giá. Chúng ta nhận thấy thường thường vào cuối tuần lễ thứ ba hay thứ tư, là khoảng thời gian để đánh giá điều chúng ta đang thực hiện. Chúng ta làm điều đó là vì chúng ta không có thì giờ để mà lãng phí và để xem chúng ta có đang tiến bộ chăng. Việc đó có nhiều điều quý giá. Nó giúp chúng ta ngăn chặn một người khỏi bị lệ thuộc. Phương hướng và sự tái xác định có thể xảy ra một cách tự nhiên. D(iều nầy hoạt động đặc biệt tốt trong một hoàn cảnh nơi mà người cố vấn tín đồ có một người theo dõi. Người theo dõi tự động sẽ đánh giá điều đó.
Giao ước đem lại một phương cách tốt để kiểm tra xem điều gì đang diễn ra trong phương pháp bán chuyên nghiệp. Nó tạo cho người cố vấn tín đồ, người được cố vấn và người theo dõi có được một ý thức về phương hướng. Nó bảo quản thời gian và các nguồn cung ứng.
Việc ký kết giao ước khích lệ sự hoạt động bởi vì người ấy đang hoạt động để hướng đến một mục tiêu. Tôi nghĩ đó là một cách để truyền đạt tình yêu. Điều đó khiến cho người được cố vấn biết rằng bạn thật nghiêm túc dành thì giờ nầy cho họ, và biết rằng bạn muốn làm hết khả năng trong cơ hội nầy. * *
23. Thông thường, khi nào thì lập giao ước.
a. Trong giai đoạn đầu của cuộc phỏng vấn sau cùng.
b. Vào lúc bắt đầu của cuộc phỏng vấn đầu tiên.
c. Trong phần sau của cuộc phỏng vấn đầu tiên.
d. Sau cuộc phỏng vấn sau cùng, khi sự tiến bộ đã được ghi nhận.
24. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG
a. Trong bài học nầy, việc ký giao ước có liên hệ đến một thỏa ước với Đức Chúa Trời.
b. Người cố vấn lập giao ước với người được cố vấn.
c. Yếu tố thời gian thường được ấn định trong việc ký kết giao ước.
d. Việc ký giao ước truyền đạt được tình yêu bởi vì người cố vấn phải nói với người được cố vấn rằng "tôi yêu bạn".
e. Khi chúng ta xây dựng những sự trông đợi, là chúng ta đang thật sự xây dựng niềm hy vọng và lòng tin cậy.
f. Khi bạn để người được cố vấn biết rằng bạn đang làm việc nghiêm túc với người ấy, đó là bạn đang truyền đạt tình yêu.
g. Việc ký giao ước khích lệ sự hoạt động bởi vì người ấy ý thức được việc mình làm hướng đến một điều gì đó, và điều đò giúp bảo quản thời gian.
Người cố vấn không chỉ học hỏi cách để trở nên hữu hiệu trong việc phỏng vấn qua việc đọc hiểu vấn đề mà thôi, song người ấy phải học hỏi qua việc làm và việc thực hành nữa. Không ai trong chúng ta là người trọn vẹn, song chúng ta đang làm việc để hướng tới mục tiêu ấy.
Công táccố vấn Cơ Đốc là một chức vụ chăm sóc cho những người nam lẫn người nữ ở trước mặt Đức Chúa Trời, và vì thế, nó đòi hỏi sự quản lý tốt nhất của người cố vấn. Đó cũng là một cơ hội lớn lao để chúng ta noi theo dấu chơn của Chúa chúng ta là Đấng đã "động lòng thương xót" trước những nhu cầu của người khác.
Bài Tập Tự Trắc Nghiệm
CÂU LỰA CHỌN. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước một câu trả lời đúng nhất
1. Một phương cách để làm người được bạn cố vấn tin cậy nơi bạn đó là
a. Cho người ấy xem những tờ chứng minh khả năng của bạn trong công tác cố vấn.
b. Sớm xác lập những mặt hạn chế của bạn.
c. Sử dụng đầu óc khôi hài của bạn.
d. Trò chuyện suốt cuộc phỏng vấn đầu tiên.
2. Hành động nào là tốt nhất để bày tỏ sự trung thực?.
a. Minh bạch trước người được cố vấn.
b. Chia xẻ những quan điểm của bạn.
c. Nói sự thực về đời sống.
d. Cảm nhận được điều người khác cảm động.
3. Trong việc lập giao ước giữa người cố vấn và người được cố vấn, một lãnh vực đáng quan tâm cần được thỏa thuận chung đó là.
a. Thỏa thuận với nhau về vấn đề hiện tại.
b. Xác định những mục tiêu thực tế.
c. Nhận ra những nguyên nhân cơ bản.
d. Xác lập một phương pháp về thủ tục.
4. Việc thiết lập mối quan hệ Agape là quan trọng, bởi vì nó
a. Khiến cho sự truyền ạt hữu hiệu hơn.
b. Giúp người cố vấn phân tích nan đề của người được cố vấn cách tốt hơn.
c. Khuyến khích những cảm nhận tốt đẹp.
d. Mang lại một ống dẫn chữa lành.
5. Điều nào KHÔNG phải là một lĩnh vực trong Bảng Kê Khai Dữ Kiện Cá Nhân?
a. Con cái.
b. Phương pháp.
c. Nan đề.
d. Sở thích Tôn Giáo.
6. Khi phác thảo lối chữa trị, người cố vấn phải
a. Đưa ra nguồn thông tin, suy luận, xác định những mục tiêu thực tế và nhận biết những sự mong đợi.
b. Thực hiện suy luận, thừa nhận vấn đề hiện tại, xác định mục tiêu thực tế và nhận biết các nguyên nhân cơ bản.
c. Nhận biết các nguồn phương tiện, xác định các mục tiêu thực tế, thực hiện việc suy luận và phác thảo đường lối trị liệu.
d. Xác định mục tiêu thực tế, nhận biết chủ trương triết lý của công tác cố vấn và nhận biết những nguyên nhân căn bản.
7. Nguồn thông tin mà người cố vấn đưa ra cho người được cố vấn gồm có:
a. Những thủ tục, triết lý của công tác cố vấn, các nguồn cung ứng và những mối quan tâm của cá nhân.
b. Những mối quan tâm cá nhân, tìm ra vấn đề, các thủ tục và các nguồn cung ứng.
c. Các thủ tục, những bảng câu hỏi, các nguồn cung ứng và triết lý của công tác cố vấn.
d. Kết quả trắc nghiệm, các bảng câu hỏi, những mối quan tâm cá nhân và các thủ tục.
CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Nếu là câu ĐÚNG, hãy viết chữ Đ vào chỗ trống. Nếu là câu SAI hãy viết chữ S vào chỗ trống và viết lại cho đúng.
... 8. Mục tiêu đầu tiên của Agape Liệu Pháp là thiết lập một mối quan hệ ở điểm mà người được cố vấn thích hợp với người cố vấn.
Mục tiêu đầu tiên của Agape Liệu Pháp là thiết lập
... 9. Trong Liệu Pháp Agape, sự truyền đạt của chúng ta là toàn diện, liên quan đến toàn thể con người đó và bao gồm tình yêu thương trong lối sống lẫn trong hành động.
Trong Liệu Pháp Agape, sự truyền đạt của chúng ta là toàn diện, liên quan đến toàn thể con người và gồm cả
... 10. Chân thật là nói ra lẽ thật trong tình yêu thương
Chân thật là ...
... 11. Sự truyền đạt hữu hiệu là nói ra lẽ thật trong tình yêu thương.
Sự truyền đạt hữu hiệu là ...
... 12. Việc thâu nhặt tin tức là nhằm mục đích vào được bên trong suy nghĩ của người được cố vấn.
Việc thâu nhặt tin tức là nhằm mục đích nhận được ...
... 13. Một lợi điểm của những điều trắc nghiệm đã được tiêu chuẩn hóa đó là chúng có tính chất chủ quan.
Một lợi điểm của những điều trắc nghiệm đã được tiêu chuẩn hóa đó là chúng có tính ...
... 14. "Bạn cần tôi giúp gì?" là một câu hỏi tốt ngõ hầu tìm được căn nguyên của vấn đề.
"Bạn cần tôi giúp gì?" là một câu hỏi tốt, ngõ hầu ...
... 15. Một sự trắc nghiệm về khả năng nghề nghiệp đã được tiêu chuẩn hóa là một sự hướng dẫn tốt để tìm được một liên hệ về các ý tưởng.
Một trắc nghiệm về khả năng nghề nghiệp đã được tiêu chuẩn hóa là một hướng dẫn tốt cho ...
... 16. Không có những kế hoạch có ý nghĩa và những nguồn cung ứng cần thiết, các mục tiêu trở thành viễn vông.
Không có những kế hoạch ý nghĩa và những nguồn cung ứng cần thiết, các mục tiêu có ...
... 17. Nguồn thông tin được đưa ra vào lúc bắt đầu cuộc phỏng vấn.
Nguồn thông tin được ...
... 18. Một lợi điểm của việc ấn định thời gian làm việc vào một giao ước đó là nó đánh giá được sự tiến bộ.
Một lợi ích của việc ấn định thời gian làm việc vào bản giao ước đó là nó
... 19. Việc thiết lập một giao ước truyền đạt tình yêu thương cho người được cố vấn.
Việc lập một giao ước truyền đạt ...
CÂU GHÉP CẶP. Ghép cặp các bước trong tiến trình phỏng vấn dưới đây (bên trái) với thứ tự phù hợp của nó (bên phải)
... 20. Suy luận
... 21. Phác thảo đường lối trị liệu.
... 22. Nhận ra những căn nguyên
... 23. Thừa nhận nan đề hiện thời
... 24. Xác định các mục tiêu thực tế


ĐÁNH GIÁ TIẾN BỘ ĐƠN VỊ 3
Trước khi tiếp tục với Bài Học 10. Hãy ôn lại các Bài Học từ 7 đến 9, sau đó lấy phần Đánh Giá Tiến Bộ Đơn Vị 3 trong tập tài liệu dành cho học viên. Bạn hãy gởi tờ trả lời cho giảng viên ICI của bạn, kèm với bất cứ những tài liệu nào khác đã được ghi rõ ngoài bìa tập tài liệu học viên của bạn.

Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
1. c. Cùng khốn và tan lạc vì thiếu người dẫn dắt.
2. d. Truyền đạt tình yêu bằng lời nói, lối sống cà bằng hành động.
3. a. Ngài ban thức ăn cho đoàn dân đang đói.
b. Ngài truyền rằng hãy để cho trẻ em đến cùng Ngài.
c. Ngài rờ đến và chữa lành mắt cho hai người mù.
d. Ngài rờ đến và chữa lành một người phung.
e. Ngài đã nói những lời an ủi và chữa lành đứa con trai bị quỷ ám.
f. Ngài yên ủi người ẹ và khiến con trai bà sống lại từ kẻ chết.
4. c và d là những câu đúng.
5. Mối tương quan Agape tạo ra một ống dẫn cho sự chữa lành. Chúa Jesus đã bày tỏ tầm quan trọng của nó.
6. a. 1) Sự chân thật.
b. 4) Niềm hy vọng.
c. 10) Việc sử dụng mọi nguồn cung ứng.
d. 3) Sự cảm thông chính xác.
e. 9) Xác lập những mặt hạn chế.
f. 2) Sự chấp nhận vô điều kiện.
g. 5) Sự trung thực.
h. 7) Sự truyền thông hữu hiệu.
i. 8) Việc sắp đặt.
j. 6) Động cơ thúc đẩy người được cố vấn.
7. 1. Những bản câu hỏi
2. Việc trắc nghiệm.
3. Việc phỏng vấn những người đáng kể khác.
4. Việc phỏng vấn người được cố vấn.
8. 1) Dữ kiện cá nhân; 2) Thông tin về sức khỏe; 3) Sở thích tôn giáo; 4) Thông tin về hôn nhân; 5) Thông tin về con cái; 6) Thông tin về nan đề.
9. Sự trả lời và sự quan sát của bạn.
10. Trước khi gặp bất cứ người cố vấn nào.
11. Bạn phải kể cả những người như gia đính, bà con, bạn bè, thầy cô và những mục sư.
12. Người ấy đang gặp khó khăn khi bảo con cái phải vâng lời mình.
13. a. K
b. G
c. G
d. G
e. K
f. K
14. a. Đang che giấu một lĩnh vực dễ bị thương tổn.
15. a, d, và f là những câu đúng.
16. d. "Tôi chưa hiểu. Tôi tưởng đã nghe bạn bảo rằng... Nhưng bây giờ tôi nghe bạn nói... Bạn hãy giúp tôi hiểu điều bạn thật sự muốn nói... "
17. a Tay, mắt, chân, điệu bộ, nét mặt, giọng nói, toàn thể con người.
b. Những chứng cứ nầy có thể không chính xc và có thể do nhiều yếu tố khác gây ra (Câu trả lời của bạn có thể khác)
18. Câu trả lời của bạn.
19. a. N
b. N
c. N
d. K
e. N
f. K
20. a. 1) Thực tế; 2) Thuộc về cách cư xử; 3) Dễ thấy.
b. 2) Thuộc về cách cư xử; 3) Dễ thấy.
c. 4) Không thuộc điều nào trong những điều đó.
d. 1)Thực tế; 2) Thuộc về cách cư xử.
21. a. 3) Nhận ra những nguyên nhân gốc rễ
b. 4) Xác định những mục tiêu cố vấn thực tế.
c. 1) Thừa nhận nan đề hiện thời.
d. 2) Lập những suy luận.
22. c, d, e, h, và i đều là những câu đúng.
23. c. Trong phần cuối của cuộc phỏng vấn đầu tiên.
24. b, c, e, f, và g là những câu đúng.

CỐ VẤN CHO CÁC CẶP VỢ CHỒNG
Bài học nầy là hai bài đầu tiên trong loạt bài thuộc đơn vị bốn bàn đến việc ứng dụng liệu pháp Agape. Bốn bài học bao gồm những công cụ để xây dựng, tức là giúp đỡ cho những cặp vợ chồng, gây dựng cho những người mà đời sống bị bệnh tật đe dọa, những người mang những chứng bệnh vô phương cứu chữa, và với những người bị đau buồn, thất vọng. Công tác cố vấn cho những lãnh vực này là những kiểu cố vấn thông thường hơn hết của công tác cố vấn được thực hiện trong hội thánh. Mục sư cũng như các tín hữu, cần phải có một sự hiểu biết thấu đáo về các lãnh vực này.
Định chế hôn nhân trên thế giới đang gặp nguy cơ khắp nơi trên thế giới, việc ly dị đang gây ra một sự đổ vỡ nghiêm trọng trong hôn nhân. Công đoàn Cơ đốc giáo không được miễn trừ khỏi khả năng ấy. Công tác cố vấn cho các vấn đề về hôn nhân trong hội thánh chiếm phần lớn việc cố vấn thường có. Bởi vì Chúa Jesus đã đề cặp đến vấn đề ly dị, các Mục sư và những tín đồ làm công tác cố vấn cần phải hiểu rõ và phát huy những kỹ năng để giữ cho nhiều cuộc hôn nhân được lâu dài hơn và thậm chí làm cho các cuộc hôn nhân được vững mạnh hơn.
Bài học này không gồm tóm hết mọi điều cần thiết nói về hôn nhân cũng như công tác cố vấn dành cho hôn nhân. Toàn bộ điều mà bài này có thể làm đó là chỉ ra một số những nguyên tắc căn bản để làm vững mạnh một cuộc hôn nhân. Sau đó bạn phải nhận lấy cho chính mình để học hỏi điều mà Kinh Thánh và các học giả nói về định chế quí báu ấy.
Những nghĩa định về hôn nhân
Những yếu tố trong hôn nhân
Tình yêu
Cơ cấu quyền hạn
Tiến trình hôn nhân
Giai đoạn hình thành
Giai đoạn gây bão tố
Giai đoạn bình thường hóa
Giai đoạn thực hiện
Khi hoàn tất bài học này bạn có thể:
Ể Định nghĩa được hôn nhân
Ể Nhận biết những yếu tố chính trong một cuộc hôn nhân
Ể Bày tỏ được hôn nhân là một quá trình có thể so sánh được với bất cứ một nhóm quá trình nào.
Ể Sử dụng được sự hiểu biết của bạn về hôn nhân khi cố vấn cho các cặp vợ chồng hoặc các cặp sắp kết hôn.
1. Nghiên cứu trọn phần triển khai bài học, trả lời các câu hỏi và kiểm tra lại các câu trả lời của bạn theo thủ tục thường lệ.
2. Lưu ý những phần được đánh dấu ** trong bài học, là phần được phỏng theo các lời ghi chú trong bài thuyết trình của Bác sĩ Raymond I. Vath, một chuyên gia về tâm thần học ở tại Seattle, Washington, Hoa kỳ.
3. Xem lại bản chú giải thuật ngữ để định nghĩa bất cứ từ ngữ then chốt nào mà bạn chưa biết.
4. Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối mỗi bài học. Kiểm tra lại các câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tập tài liệu dành cho học viên, và ôn lại những câu hỏi nào bạn trả lời chưa đúng.
Hợp kim
Vô chính phủ
Chế độ mẫu quyền
Ngành luyện kim
Chế độ phụ quyền
Trẻ con cầm quyền
Giải pháp
NHỮNG ĐỊNH NGHĨA VỀ HÔN NHÂN
Eph Ep 5:22-23; Mat Mt 19:1-12; Mac Mc 10:1-12
Thánh Kinh nói nhiều về hôn nhân, song vẫn còn có nhiều thắc mắc chưa được trả lời, ngay cả trong tâm trí của các học giả uyên bác. Chúng ta đều biết rõ rằng Chúa Jesus cũng đã tán đồng hôn nhân vì Ngài đã từng dự một đám cưới, Ngài đã dùng những ví dụ minh họa về đám cưới và hôn nhân trong những lời giải thích về nước Trời. Chúa Jesus cũng đã được hỏi những câu hỏi về việc ly dị, và để trả lời, Ngài đã ban cho một số nguyên tắc căn bản có liên quan đến hôn nhân và việc ly dị.
Các thư tín cũng thường xuyên nói đến định chế hôn nhân vai trò và thái độ của những người đã kết hôn.
Hôn nhân là gì? Nhiều người cho rằng đó là một nghi lễ. Khi Mục sư loan báo có một đám cưới, thì người ta tập trung tại nhà thờ. Cô dâu chờ đợi ở phòng sau, còn chú rể thì từ từ tiến vào từ bên hông nhà thờ. Vị Mục sư lấy ra một quyển sách đen nhỏ nhỏ trông giống như quyển Kinh Thánh và đọc "hỡi kẻ yêu dấu" và tất cả những gì thuộc cách thức nghi lễ đó. Trước khi khám phá ra rằng nghi lễ ấy không có trong Kinh Thánh, thì tôi đã được hai mươi tuổi. Bạn có biết rằng nghi lễ hôn nhân thật sự không có trong Kinh Thánh không? Nó không có trong Kinh Thánh, nhưng nhiều người tin một cách quả quyết rằng người ta không thể có một cuộc hôn nhân tốt đẹp nếu không có một nghi lễ tốt đẹp.
Mặt khác, có một số người tin rằng hôn nhân là một sự thỏa thuận hợp pháp. Có lẽ đó là lý do vì sao chúng ta chuốc lấy quá nhiều rắc rối. Chúng ta cần những con người được ủy quyền tốt hơn để thảo ra những bản thỏa thuận tốt hơn! Có lẽ chúng ta có những lời giao kết tốt hơn, thì mức độ ly dị sẽ thấp hơn.
Một định nghĩa về hôn nhân mà tôi thích dùng, đó là "hôn nhân là một quá trình kết hợp hài hòa hai điều khác biệt lại với nhau" nếu bạn nghiên cứu một số các môn khoa học có liên hệ đến vật lý như nghành luyện kim, bạn sẽ khám phá rằng có phần nói về "sự kết hợp những kim loại, ví dụ, bạn có thể lấy đồng và bạc mà tạo thành bạc đúng tuổi. Bạc đúng tuổi thì không giống y như là bạc ròng, bởi vì nó cứng hơn bạc ròng, là bạc hơi mềm để có giá trị nhiều, ngoại trừ để ngắm. Bạc ròng có ít giá trị thực tiễn bởi vì tính mềm dẻo của nó. Nhưng nếu bạn pha thêm đồng vào, thì nó sẽ cứng hơn và bền hơn. Bây giờ bạc không thay đổi bạc đúng tuổi vẫn là bạc. Các nguyên tử vẫn ở đấy, nhưng chúng có thể bị tách ra đồng vẫn là đồng. nhưng có một diễn trình để đem hai thứ kim loại khác nhau được kết hợp hài hòa với nhau để trở thành một hợp kim mới. Một điển hình lạ lùng hơn nữa là cho thêm kẽm và đồng để cho ra đồng thau. Một lần nữa, nó là sự kết hợp của những kim loại. Hai kim loại khác nhau có thể trở thành một hợp kim mới. Tôi thích nghĩ về hôn nhân theo cách ấy.
Kinh Thánh nói về hôn nhân như là một quá trình. Kinh Thánh phán rằng người nam phải lìa cha mẹ mình. Trong hội thánh chúng ta dường như luôn luôn đi ngược lại. Chúng ta nói "ai đứng gả người nữ nầy cho người nam nầy?" Nhưng Kinh Thánh nói rằng chính người nam phải lìa cha mẹ và gia đình cha mẹ. Người nam phải được kết hợp với vợ mình và "cả hai sẽ trở nên một". Vì vậy tôi xem hôn nhân là một tiến trình đó là sự kết hợp hài hòa giữa hai người khác biệt với nhau **
1. Theo Eph Ep 5:31, trong hôn nhân, người nam phải lìa... và kết hợp với,... và họ sẽ trở nên...
2. Theo Mat Mt 19:5-6, trong hôn nhân... phối hiệp một người nam và một người nữ với nhau để họ trở nên... và... ... được phân rẽ họ
3. Hôn nhân là một.
a. Nghi thức
b. Luật lệ
c. Tiến trình
d. Kinh nghiệm
4. Bạn hãy so sánh sự định nghĩa của Thánh Kinh về hôn nhân với hai quan điểm khác được trình bày trong phần này.
...

NHỮNG YẾU TỐ TRONG HÔN NHÂN
Nếu hôn nhân là một tiến trình kết hợp hài hòa hai điều khác biệt lại với nhau, mà hai điều đó chính là một người nam và người nữ thì chúng ta phải có những yếu tố khác để giữ họ lại với nhau và làm cho hôn nhân trở thành một tiến trình liên tục. Hai yếu tố được thêm vào mà chúng ta sẽ bàn đến là tình yêu và cơ cấu quyền hạn. Chỉ một mình tình yêu không thôi đủ để duy trì một cuộc hôn nhân, bởi vì cũng phải có một sự hiểu biết xem ai là người chịu trách nhiệm cho những gì thuộc mối quan hệ hôn nhân, điều đó đòi hỏi phải có một cơ cấu về quyền hạn
Tình yêu
Eph Ep 5:25; CoCl 3:19.
Yếu tố thứ nhất trong hôn nhân, được nói đến nhiều nhất, dầu ở trong hội thánh hoặc ngoài hội thánh, đó là tình yêu. Tình yêu sẽ rõ ràng là một cảm xúc. Đó là một cảm giác vui thích mà tôi đã có được khi trông thấy người yêu của mình. Tình yêu là như thế. Nếu bạn không thấy điều đó, thì bạn không thể có một cuộc hôn nhân tốt đẹp. Vì vậy bạn phải cảm thấy có điều đó.
Mặt khác, tôi biết những người đã có những cảm giác vui thích, nhưng dường như họ không có một cuộc hôn nhân tốt đẹp. Cách đây khá lâu, tôi tình cờ đọc thấy một quyển sách "những ảo ảnh của hôn nhân". Ám chỉ đến một bài viết của một chuyên gia về tinh thần học theo tân trường phái Freud, là Harry Stack-Sullivant. Ông đã đưa ra một định nghĩa tốt về tình yêu. Ông nói rằng tình yêu có thể được định nghĩa như là "một tình trạng thực hữu khi sự khang kiện và an toàn của một người khác được bạn coi trọng như là của chính mình". Đó là một tình trạng, không phải chỉ là một cảm xúc hay là một cảm giác. Hãy tưởng tượng bạn sẽ có những cảm giác thế nào nếu bạn ở trong một tình huống mà có ai đó đã quan tâm đến bạn nhiều như là chính bạ quan tâm về mình.
Tôi nghĩ rằng những chữ "tôi yêu em" có lẽ là những chữ hấp dẫn nhất được dùng trên thế gian này. Tôi thật sửng sốt vì con người ta lại có thể cả tin đến thế. Tôi nhớ có một phụ nữ, lần nọ đã đến gặp tôi, bà ta bị người chồng say rượu lôi xuống cầu thang. Sau khi đánh bầm mắt bà ta, giật tóc và mọi chuyện tệ hại như vậy, bà ta đến gặp tôi và nói "tôi thật bối rối, ông Vath à! Như vậy bây giờ anh ấy nói rằng anh ấy yêu tôi". Tôi có một loại tâm thần bệnh học đơn giản để cho tôi biết rằng tôi thích người ta yêu tôi bằng hành động hơn là bằng lời nói. Và tôi muốn người ấy trút cơn giận vào tôi bằng những lời nói hơn, chứ đừng bằng hành động.
Tình yêu có thể được định nghĩa như là "một tình trạng thực hữu khi sự khang kiện và an toàn của người khác được bạn coi trọng như của chính bạn". Đây là một thước đo tốt để kiểm tra các mối quan hệ. Vì vậy chúng ta phải xác định xem định nghĩa ấy có ý nghĩa như thế nào.
Một trong các tác phẩm của các Bác sĩ Bach và Wyde nói rằng, phần lớn các cuộc hôn nhân đã gặp rắc rối ngay từ thời kỳ chung sống ban đầu, là bởi vì họ bị thu hút bởi lối cư xử được gọi là "sự tưởng tượng" khi một con người đóng vai tốt nhất, phô bày mặt tốt đẹp nhất của mình là, người ấy đang dựng nên một hình tượng.
Một chàng thanh niên tiêu xài tiền bạc trong suốt thời gian tìm hiểu, tán tỉnh người bạn gái, mặc dầu anh ta biết mình không đủ khả năng chi tiêu số đó. Anh ta làm vậy vì muốn tạo một hình ảnh tốt đẹp về mình. Khi cặp vợ chồng đã thức dậy lại sau lễ cưới, người vợ mới của anh ta khám phá ra rằng anh ta chẳng hề có một ngân khoản vô tận như anh đã có suốt trong thời kỳ tìm hiểu. Anh đã mắc phải sai lầm khi dựng nên một hình tượng không đúng. Người ta thường phải lòng với các hình ảnh hơn là với những con người thật. Hôn nhân thường là một tiến trình để khám phá ra ai là người thật sự nói rằng "chính tôi".
Nếu tình yêu là một tình trạng, thì chúng ta phải nhìn xem để biết người ta bắt đầu bước vào tình trạng đó như thế nào. Điều này có liên quan đến những câu thơ nổi tiếng của Elizabeth Barrett-Browning "tôi đã yêu em như thế nào? Hãy để tôi kể nhé!" Tôi tin rằng trong bất kỳ tình huống nào, cũng có một giải pháp của tình yêu, một câu trả lời yêu thương, để hòa giải những khác biệt về quan điểm, để thi hành chức vụ giải quyết từng nhu cầu của người khác, và để đem lại tình trạng khang kiện và an toàn cho người khác.
Tạo nên một hình tượng đẹp đẽ bề ngoài nhằm mục đích bắt liên hệ với người khác là một phương pháp không yêu thương thật sự. Như vậy là không thành thật với người khác và dựng nên một hình tượng chứ không phải cho người ta biết con người thật của mình là ai. Dĩ nhiên là người ta thường sợ phải để cho người khác biết con người thật của mình. Ví dụ như, một nhân vật trong tác phẩm của John Powell, "vì sao tôi sợ phải nói cho em biết tôi là ai" nói rằng: "Tôi sợ phải nói cho em biết tôi là ai bởi vì có thể em sẽ không thích con người của tôi và tất cả những gì thuộc về tôi. Đó là lý do khiến người ta dựng nên các hiện tượng. Họ nghĩ rằng nếu để cho cô gái xinh đẹp mà họ đã cưới biết con người thật của họ thì cô ta hẳn sẽ không bao giờ trả lời "vâng, em bằng lòng".
Thành thật trong mối quan hệ là điều khó khăn hơn nhiều. Thật sự, tôi không nghĩ rằng ai nấy trong chúng ta cũng điều hoàn toàn thành thật với bất cứ người nào khác, bởi vì chúng ta luôn luôn giữ lại một chút gì đó về chính mình. Một lý do khiến chúng ta giữ lại điều gì đó, là bởi vì chúng ta chưa hiểu tất cả sự thật về chính mình, vì vậy chúng ta không thể chia xẻ hoàn toàn điều đó với bất cứ điều nào khác dầu bằng cách nào. Để trở nên thành thật hoàn toàn, chúng ta phải biết hết mọi sự, mà hầu hết chúng ta thì không biết như vậy.
Tôi đoán là chúng ta có thể thành thật hơn một chút nữa. Trong tác phẩm của David Augsburger, Caring Enough to Confront có một câu như vầy "hãy yêu tôi đến mức nói cho tôi biết sự thật" thật là một ý tưởng lạ lùng. Hẳn đã đi ngược lại với tập quán xã hội cho rằng bạn phải bảo vệ những cảm nhận của người khác. Tập quán chung của con người thì bảo rằng "nếu không thể nói điều gì tốt, thì đừng nói gì cả". Bạn sẽ phải quyết định nếu như đó là một quy tắc có ích để bạn noi theo mà sống hoặc là không.
Tôi cho rằng tôi cũng tin điều đó có thể thực hiện được. Ví dụ, bày tỏ tình yêu bằng cách hiểu được điều người khác suy nghĩ và cảm nhận. Cảm thông là cảm nhận điều người khác cảm nhận. Kinh Thánh gọi đó là lòng thương xót. Chúng ta thường rèn tập một cách khó khăn để cảm thông, bởi vì chúng ta thật khó mà cảm nhận được điều người khác cảm nhận. Vì vậy chúng ta chỉ có thể cố gắng hiểu được điều người khác cảm nhận mà thôi.
Đứa con trai nhỏ của tôi bị gãy xương bả vai vì chơi đá bóng với bạn hàng xóm, và nó bị đau đớn. Tôi thật khó mà hiểu được bị gãy xương bả vai thì như thế nào, nhưng trông mặt nó xanh méc. Tôi chắc rằng bạn không thật sự hiểu được bị gãy xương thì như thế nào trừ phi chính bạn đã từng bị gãy xương, dầu chúng ta đã từng bị đau đớn mình đã từng trải và tìm cách ước lượng một tí người khác có thể đang chịu đựng.
Bạn có thể thông cảm với người khác trong nhiều lãnh vực hơn là chỉ có về mặt đau đớn. Bạn cũng có thể chia xẻ niềm vui với người khác. Thật vậy Kinh Thánh phán rằng chúng ta hãy vui với kẻ vui. Đó không phải là khuynh hướng của con người sống trong nền văn minh của chúng ta. Khi chúng ta thấy người ta vui sướng, chúng ta muốn làm giảm bớt niềm vui của họ, bằng cách nào đó, bởi vì trong xã hội chúng ta luôn có khuynh hướng ghen tị với những người khác. Ghen tị được định nghĩa là "một cảm giác xấu mà tôi có khi nhìn thấy sự thành công hoặc sự trội hơn của người khác, kèm theo một ước muốn làm giảm giá trị của điều đó hoặc tước mất điều đó khỏi người ấy "điều đó có khuynh hướng trở thành một phản ứng quen thuộc như là một truyền thống. Nhưng nếu chúng ta yêu con người, chúng ta sẽ cùng vui với họ. Hơn nữa là Cơ đốc nhân, chúng ta đương nhiên muốn giúp đỡ, mang gánh nặng với người khác nữa, đúng không? Đang khi mà thế gian lại thích học thêm vào những con người đang chịu gánh nặng, buồn rầu hoặc đau đớn.
Trong hôn nhân, tôi khám phá ra rằng nhiều người vợ khó có khi nào có thì giờ để mà buồn rầu hoặc đau ốm hoặc nghĩ ngơi dưới bất cứ hình thức nào. Bạn có biết tại sao không? Bởi vì họ vẫn bị quấy rầy khi họ nghĩ ngơi. Nếu một bà mẹ bắt đầu muốn bệnh, thì cả gia đình đều quấy rầy bà. Họ bảo "mẹ ơi, cái... ở đâu hỡi mẹ? Mẹ ơi làm sao để... ?" Vân vân và vân vân. Thật khó mà nghỉ ngơi khi bị bệnh, đó là lý do vì sao hầu hết các bà mẹ không có nhiều thì giờ nghỉ bệnh, trừ phi họ phải hoàn toàn nằm bẹp.
Bạn thấy đấy, người ta thường nói "vâng tôi thành thật và thông cảm" cho đến khi họ thật sự xem xét thành thật và thông cảm có ý nghĩa gì. thế rồi họ khám phá ra họ gặp phải rắc rối ở đó. Tôi tin rằng nếu chúng ta thật sự yêu thương lẫn nhau, nếu chúng ta quan tâm đến người khác nhiều như chính mình, thì chúng ta sẽ phải học hỏi để thông cảm được phần nào và nhìn xem cùng với những vấn đề của nó từ vị trí thuận lợi cho người khác.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét đến lòng chung thủy. Điều ấy có ý nghĩa gì? Có phải chung thủy nghĩa là bị ràng buộc với tình trạng khang kiện và an toàn của người khác cũng như đã bị ràng buộc như thế với chính mình không? Tôi nghĩa đó là ý nghĩa của sự chung thủy.
Nhiều người đã kết hôn, gặp phải rắc rối trong chuyện ngoại tình. Nhiều người, và đặc biệt là những người ở trong hội thánh nghĩ rằng ngoại tình chỉ là một tội lỗi về mặt tình dục. Bạn có biết rằng không phải vậy không? Mà cơ bản đó là vấn đề của lòng chung thủy. Khi tôi nhìn thấy một cặp vợ chồng trong văn phòng của tôi, mà một trong hai người đã không trung tín, thì ít khi nào họ bảo "ôi thật ông ấy đã làm một chuyện dơ nhớp" mà họ luôn luôn nói "làm sao tôi có thể tin cậy ông ấy?" Hoặc là ông ta nói về bà "làm sao tôi tin cậy được bà ấy?" Nếu bạn đọc trong Kinh Thánh, bạn sẽ thấy đôi khi Đức Chúa Trời đã nói về con cái Ysơraên như là một dòng dõi ngoại tình, luôn luôn hướng lòng trung thành đến các thần tượng khác không phải là Đấng tạo hóa. Tức là chính mình Đức Chúa Trời. Lòng chung thủy hẳn là một điển hình khác của tình trạng này mà qua đó chúng ta quan tâm đến phúc lợi và an toàn của người khác như là của chính mình.
5. Tình yêu được mô tả như là một tình trạng và là một cảm xúc. Bạn hãy viết chữ T trước câu nào mô tả tình trạng và chữ C nếu nó mô tả cảm xúc của tình yêu
... a. Xem mình là trung tâm
... b. Trọng tâm đặt nơi người khác
... c. Đó là một cảm giác vui sướng khi một người nhìn thấy người mình yêu.
... d. Giúp đỡ cho từng nhu cầu của người khác là quan trọng.
... e. Được dựa trên một hình tượng mà người ấy xây dựng
6. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG
a. Nếu tình yêu là một tình trạng, thì yêu thương theo một cảm xúc sẽ là một kết quả tự nhiên.
b. Tạo nên hình tượng bên ngoài, nghĩa là phô bày mặt đẹp đẽ nhất của mình để kiếm được một phần thưởng, như là tình yêu chẳng hạn.
c. Gây ấn tượng bề ngoài là một việc tốt, bởi vì nó ngăn được những xung đột trong hôn nhân.
d. Trong một số trường hợp, hôn nhân là một tiến trình để tìm ra một người mà bạn thật sự có thể đáp "vâng".
e. Tìm cách gây một ấn tượng đẹp bề ngoài có thể được coi như một hình thức không thành thật.
7. Điều nào dưới đây KHÔNG phải là một trong ba cách bày tỏ tình yêu.
a. Thành thật
b. Cảm thông
c. Chung thủy
d. Trung thực
8. Ghép cặp mỗi hành động (bên trái) với thái độ được bày tỏ (bên phải).
... a. Ghen tị với người khác về những thành công của họ
... b. Xây dựng hình tượng
... c. Hiểu được điều người khác suy nghĩ và cảm thấy.
... d. Vui với kẻ vui.
... e. Yêu thương đủ để nói lên sự thật
... f. ràng buộc với tình trạng khang kiện của người khác như của mình
... g. Bị dính líu vào chuyện ngoại tình
... h. Mang những gánh nặng cho người khác
Là một tín hữu giữ trách nhiệm cố vấn, bạn có thể ứng dụng nguồn thông tin này vào một buổi cố vấn khi xử trí với một cuộc hôn nhân đang gặp rắc rối. Tôi nghĩ rằng đưa ra một định nghĩa về tình yêu Agape thường là điều ích lợi. Bạn đã có câu định nghĩa của từ ngữ Hylạp này trong bài học 1. Ý nghĩa căn bản của nó là "dầu cho ai có làm bất kỳ điều gì hại cho tôi, tôi cũng không bao giờ kiếm cách làm hại người ấy, tôi sẽ không bao giờ tính chuyện báo thù, tôi sẽ luôn luôn không tìm kiếm điều gì ngoài điều lợi ích nhất cho người ấy".
Trong khi cố vấn cho các cặp vợ chồng, tôi thường vẽ vòng tròn lớn trên sàn nhà và để cả hai người ấy đứng bên ngoài vòng tròn. Tôi giải thích với họ rằng hôn nhân là một sự kết ước đặt cơ sở trên tình yêu Agape hoặc tình yêu Thiên thượng. Tôi giải thích thêm cho họ rằng bước vào bên trong vòng tròn có nghĩa là họ sẽ nói với nhau rằng "những nhu cầu của... quan trọng hơn những nhu cầu của... ". Chúng tôi cũng nói qua việc ở bên trong vòng tròn là nơi an toàn để nói hoặc phát biểu sự thật. Sự thật không được nói theo cách phá hoại mà chỉ được nói theo cách gây dựng. Bên trong vòng tròn là được chữa trị và được chữa lành bởi vì những nhu cầu của mỗi người là điều ưu tiên hàng đầu. Kết luận của tôi (và tôi tuyên bố cho cặp vợ chồng) đó là loại kết ước này trong hôn nhân, không những là một mạng lệnh của Thánh Linh, như được tìm thấy trong Eph Ep 5:21-33 mà còn là một giá trị mà đôi vợ chồng nào thực hiện lời cam kết đó sẽ không bao giờ kinh nghiệm sự mất hạnh phúc. Không có cách gì làm cho cuộc hôn nhân có loại kết ước như thế không mang lại kết quả tăng trưởng trong đời sống cá nhân và đời sống chung được sau đó, buổi cố vấn, có thể tiếp tục với những lời như làm thế nào để chúng ta có thể giải quyết những vấn đề, những mối quan tâm và những khao khát của chúng ta theo cách mà nó sẽ đem lại ích lợi chung cho cả đôi bên? Dĩ nhiên, điều đó đưa vợ chồng đến sự quan tâm lẫn nhau với một cái nhìn mới. Tầm nhìn mới mẻ này đòi hỏi họ phải nhờ cậy vào nguồn trợ giúp của Đức Chúa Trời, mà cơ bản, chính là Đức Thánh Linh, Đấng đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta và đổ lời Đức Chúa Trời là điều đem cho chúng ta những nguyên tắc tình yêu.
Cơ cấu và quyền hành
5:23-24
Cơ cấu về quyền hành là yếu tố quan trọng đứng thứ nhì trong hôn nhân. Đây cũng là một trong những nguyên tắc dễ gây ra tranh luận và bị hiểu lầm nhiều nhất về một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Những nền văn hóa khác nhau và những con người khác nhau trong một nền văn hóa đã giải thích Kinh Thánh một cách khác nhau.
Chúng ta hãy nói về cơ cấu quyền hành trong hôn nhân kiểu mẫu mang lại kết quả tốt nhất là khái niệm về một mối liên hệ cộng tác thật sự, nơi mà hai con người mạnh mẽ kết hợp những tài khéo và những khuyết điểm của mình với nhau và cùng nói "chúng ta hãy chia xẻ những ưu điểm của mình và liên kết với nhau để giải quyết các nan đề cuộc sống".
Kiểu mẫu ấy sẽ không kết quả tốt lắm nếu như bạn lập gia đình với một người chồng mà ông ấy hiểu biết hết tất cả mọi sự. Nếu như bạn không gặp phải một ông chồng như thế thì bạn là người phụ nữ rất may mắn. Mặt khác, hầu hết những người đàn ông đều không thích phải chịu trách nhiệm quyết định tất cả. Nếu họ sắp sửa đi săn, thì họ sẽ quyết định điều mình sẽ làm mà không bàn bạc với ai cả. Họ có mọi đặc quyền để làm người cai trị mà không phải có quá nhiều trách nhiệm. Nếu con cái họ gặp khó khăn, thì họ sẽ đổ lỗi cho các bà vợ.
Sự khó khăn này là: Nếu chỉ có một người chịu trách nhiệm hoàn toàn để quyết định mọi chuyện trong gia đình rồi thì người ấy cũng sẽ phải gánh trách nhiệm khi sự việc bị sai lầm. Thường thì người ta giỏi đổ trách nhiệm trên người khác. Họ lại chơi kiểu "nếu như không phải vì cô thì tôi đã là người hoàn toàn, nhưng bởi vì tôi lấy cô, nên tôi đã không như vậy". Đó là một trong những cách để người ta tránh trách nhiệm cầm quyền trong gia đình. Nhưng 5:23 phán rằng người đàn ông phải là đầu gia đình và là đầu của người vợ.
Một số trong các bạn có lẽ đã quen thuộc với câu Kinh Thánh đặc biệt đó, nhưng tôi muốn mời bạn hãy suy nghĩ thêm một chút về ý nghĩa của chữ làm đầu. Nếu bạn tra xem tự điển thì sẽ thấy có bảy định nghĩa khác nhau dành cho chữ đầu. Định nghĩa thứ nhất là "ông chủ, vua, người thực hiện các quyết định, về cơ bản, là nhà chuyên chế, kẻ độc tài".
Có một lời định nghĩa thứ nhì về chữ đầu mà tôi sẽ chia xẻ với bạn. Đầu có nghĩa là "người hướng dẫn, là người đi trước và chỉ đường, giống như phần đầu của một cây cột trong sách Êphêsô, người đàn ông là đầu của vợ mình cũng như Đấng Christ là đầu hội thánh.
Nhưng bạn có thể bảo. "Đấng Christ sắp trở lại, cầm quyền và cai trị bằng một cây gậy sắt, lời phán ấy nằm trong Kinh Thánh". Nếu bạn xem lại trong sách Êsai, bạn cũng sẽ tìm thấy Ngài sắp cầm quyền bằng cây gậy của miệng Ngài" dẫu cho bạn đã đọc câu Kinh Thánh "Ngài sẽ cai trị bằng một cây gậy sắt" thì chữ gậy có thể được dịch chính xác hơn là "cây thước đo" một cây thước đo bằng sắt, có nghĩa là lời Ngài phán ra sẽ là lời không hề thay đổi.
Đấng Christ sẽ hỏi rằng "ngươi có yêu kẻ lân cận chăng? Hãy nhớ rằng Ta đã bảo người ta sẽ biết các ngươi là môn đồ Ta bởi vì các ngươi yêu thương nhau". Người ta sẽ biết các ngươi là Cơ đốc nhân vì cớ tình yêu của bạn dành cho những người khác.
Đấng Christ sẽ hỏi "ngươi có xây dựng những mối liên hệ theo cách coi trọng tình trạng khang kiện và an toàn của người khác như là của chính mình không? Và tôi ngờ rằng, Satan kẻ kiện cáo chúng ta, sắp sửa phải mở miệng ra. Hắn ta sẽ theo dõi chúng ta chăm chú khi chúng ta nói "ôi, tôi đã kém xa điều ấy, tôi đã thất bại biết bao nhiêu lần. Vì ngu dốt, nhiều lần tôi đã chăm lo đến những lợi ích của những người mà tôi từng bảo là tôi yêu thương họ". Chúa Jesus sẽ cầm quyền bởi cây gậy của môi miệng Ngài, một cây thước đo không thay đổi được từ nơi miệng Ngài.
Một số câu Kinh Thánh nói về sự phục tùng của người vợ đối với chồng. Bây giờ, nếu bạn tra cứu câu Kinh Thánh liên quan đến sự tuân phục của người vợ (Êphêsô 5:23;) bạn sẽ thấy rằng, thật lạ lùng, câu Kinh Thánh mở đầu cho khúc Kinh Thánh của Phaolô về vấn đề này là "Hỡi các Cơ đốc nhân, hãy kính sợ Đấng Christ mà vâng phục nhau". Há không phải là điều lạ lùng sao? Vâng phục lẫn nhau. Và nếu bạn xem bản Kinh Thánh tiếng Hylạp thì chữ vâng phục là hypo-taso, có nghĩa là "vào hàng ngũ, như thể chuẩn bị chiến đấu? Chúng ta nghĩ về sự vâng phục trong giới hạn của một cơ cấu quyền hành, nhưng đó không phải là điều hàm ý theo Tân ước Hylạp.
Tôi tin rằng khái niệm vâng phục có một ý nghĩa và một sự ứng dụng khác với sự dạy dỗ bình thường. Nếu sự khang kiện của gia đình tôi, được tôi coi trọng như của chính tôi, và nếu gia đình tôi quan tâm đến phúc lợi của tôi cũng như tôi quan tâm đến phúc lợi của họ, thì khi chúng tôi đương đầu với một vấn đề cần phải giải quyết, chúng tôi sẽ có một nguyên tắc như thế này trong gia đình "chúng tôi sẽ không chọn một giải pháp nào cho vấn đề cho đến khi nào chúng ta tìm ra được một giải pháp tốt nhất theo khả năng của chúng ta mà nó đáp ứng được nhu cầu của mọi người".
Ví dụ. Nếu tôi có một miếng bánh tôi có thể nói với vợ tôi rằng: "Em yêu, đây là miếng bánh cuối cùng của chúng ta, chúng ta chưa ăn. Anh là đầu gia đình, nên anh sẽ ăn miếng bánh ấy. Tội nghiệp em. Nhưng anh biết em yêu anh và sẵn sàng thuận phục anh trong điều đó".
Đó là một cách giải quyết. Hoặc là tôi có thể nói. "Em yêu, anh rất yêu em. Em hãy ăn miếng bánh. Ăn hết đi nếu phải chết đói anh cũng vui lòng. Anh chỉ mong em chôn cất anh tử tế. Em bằng lòng chăng? Em hãy ăn bánh đi". Đó cũng là một cách giải quyết khác, phải không bạn?
Cách giải quyết thứ ba có thể như vầy. "Đừng đánh nhau vì miếng bánh, chúng ta hãy cho chim ăn. Chúng là những con vật đáng yêu đến thế cơ mà! Chắc chắn là chúng ta không muốn có một lời nào trái ý nhau, phải không? Không". Vì vậy chúng ta bỏ cho chim ăn.
Cách giải quyết thứ tư thì cho rằng. "Đây là miếng bánh mì cuối cùng, và có lẽ chúng ta phải chia nhau theo một cách nào đó. Chúng ta vẫn luôn quan tâm đến nhau trong suốt những năm tháng qua. Chúng ta hãy xem liệu mình có thể tìm ra cách nào đó để chia miếng bánh ấy sao cho mỗi người trong chúng ta đều có được một phần công bằng". Vì vậy chúng tôi so trọng lượng của nhau, và thấy rằng tôi nặng hơn nàng 10 ký, vì vậy tôi sẽ lấy phần nhiều hơn của nàng một tí. Đó có thể cũng là một cách giải quyết khác. Nếu chúng tôi đồng ý như thế thì đó sẽ là một cách giải quyết thích đáng cho nan đề chia miếng bánh mì cuối cùng.
Vì vậy chúng ta thấy rằng có nhiều cách giải quyết cho vấn đề chia bánh ấy. Nếu cô ta bị ốm. Tôi có thể nói "mặc dầu hôn nay anh phải làm một số việc, nhưng anh muốn em bồi bổ sức khỏe trở lại, nên anh muốn đưa em phần nhiều hơn".
Cách giải quyết nào là có tình yêu thương? Tất cả những cách ấy đều là cách giải quyết yêu thương, đưa ra phương cách thích đáng cho các tình huống. Nhưng đòi hỏi vợ tôi và tôi phải bàn thảo cách giải quyết ấy cho đến khi nào chúng tôi đã đi đến một thỏa thuận chung mà chúng tôi thấy là hợp lý vào lúc ấy. Chúng tôi có thể sai lầm. Chúng tôi có thể không đúng. Có thể ngay sau đó chúng tôi thấy có một con nai ở ngoài cửa, và tôi không cần ăn bánh nữa. Nhưng dẫu cho nếu tôi đã ăn rồi, thì chúng tôi cũng vẫn an toàn. Một gia đình có thể sống theo nguyên tắc như vầy "chúng ta sẽ không chọn một giải pháp nào để giải quyết những bất đồng của mình hoặc những nan đề của mình cho đến khi chúng ta tìm được một cách giải quyết tốt nhất theo khả năng của mình, đáp ứng được nhu cầu của mỗi người. Chúng ta có thể cảm thấy điều đó là tốt. Bạn có thể đắc thắng dễ dàng trong những lúc khó khăn ấy và nói rằng. "Nầy, chúng tôi có thể thấy những nhu cầu của mình đã được lưu tâm đến như thế nào khi chúng tôi tìm kiếm một giải pháp với sự sáng suốt của mình và với sự chỉ dẫn và giúp đỡ của Đức Chúa Trời mà giải pháp đó chăm sóc hết thảy chúng tôi". Bạn có thể nói một cách dễ dàng "nầy tôi được yêu. Người mà tôi đã kết hôn đã yêu thương tôi đến mức cộng tác với tôi để tìm một giải pháp yêu thương cho mọi người trong chúng tôi" **
9 . Định nghĩa chữ làm đầu khi nó liên hệ đến hôn nhân.
...
Bởi vì tình yêu của Đấng Christ đối với hội thánh là một khuôn mẫu rõ ràng cho vai trò làm đầu của chồng đối với vợ, nên chúng ta cần phải suy nghĩ đến những phẩm chất của tình yêu Đấng Christ dành cho hội thánh mà người chồng phải thể hiện.
10. Bạn hãy đọc những câu Kinh Thánh sau đây, và tỏ rõ điều Chúa Cứu Thế đã làm trong mội trường hợp để bày tỏ tình yêu của Ngài dành cho chúng ta là hội thánh.
a. GiGa 15:13 ...
b. IICo 2Cr 5:14 ...
c. GaGl 2:20 ...
d. KhKh 1:5-6 ...
11. Kinh Thánh nói nhiều đến hệ thống quyền hành trong các mối tương quan. Bạn hãy cân nhắc những câu Kinh Thánh sau, và cho biết điều được nói đến về quyền hành ấy.
a. ICo1Cr 15:27 ...
b. Eph Ep 5:21 ...
c. 5:22 ...
d. Phi Pl 3:21 ...
e. CoCl 3:18 ...
f. Tit Tt 2:5 ...
g. IPhi 1Pr 3:1 ...
h. 3:7 ...
i. 5:5 ...
12. Gương mẫu dành cho sự vâng phục, như được áp dụng cho người vợ, là ở trong Eph Ep 5:24. Tại đó chúng ta thấy gương mẫu chính là sự vâng phục của hội thánh đối với Chúa Cứu Thế. Hội thánh vâng phục Chúa Cứu Thế. Hội thánh vâng phục Chúa Cứu Thế thể nào?
a. Thi Tv 40:8 ...
b. Eph Ep 6:6 ...
c. ITe1Tx 4:1 ...
Các yếu tố làm đầu và vâng phục có thể được người cố vấn ứng dụng vào công tác cố vấn cho hôn nhân theo các phương cách khác nhau. Khi tôi xem xét ý nghĩa của vai trò làm đầu và sự vâng phục cũng như khi tôi hiểu được những điều từ nơi lời Chúa, tôi nghĩ rằng cách duy nhất để sử dụng những khái niệm ấy một cách chính đáng trong công tác cố vấn, vấn đề hôn nhân, đó là: Bắt đầu với phần định nghĩa. Tôi muốn bày tỏ rằng sự vâng phục không chỉ liên quan đến địa vị. (Một người ở trên một người khác) hoặc hệ thống cấp bậc (một mối quan hệ chủ tớ) mà đúng hơn là vào vai trò và chức năng).
Thật là một điều thích thú khi Êphêsô 5, trước hết bảo rằng chúng ta hãy vâng phục lẫn nhau, rồi sau đó tiếp tục nói về mối quan hệ hôn nhân trong đó người vợ phải vâng phục chồng. Vâng phục là "nhận biết vai trò hoặc trách nhiệm, hoặc chức năng của người khác trong đời sống mình và rồi giúp đỡ người ấy hoàn thành chức năng ấy". Điều này công nhận người ấy làm thành ý định Đức Chúa Trời dành cho người ấy trong mối quan hệ với tôi.
Trong mối quan hệ giữa Mục sư với tín hữu, vị Mục sư thuận phục tín hữu bằng cách cho phép họ gắn bó, chia xẻ với chức năng phục vụ mà Chúa đã kêu gọi họ. Sau đó Mục sư phải trang bị cho họ và xây dựng họ để họ hoàn thành tốt chức năng ấy. Sau cùng, Mục sư phải cho phép họ thực hiện chức năng ấy trong thân thể của Đấng Christ. Mặt khác, các tín hữu vâng phục vị Mục sư bằng cách để cho ông thi hành trách nhiệm chăn bầy thân thể Đấng Christ. Những bổn phận của vị Mục sư là đơn vị trang bị, gây dựng và chăm sóc bầy chiên. Khi họ để cho ông thực hiện bổn phận theo cách ấy, thì họ đang vâng phục. Khi nguyên tắc này được áp dụng vào hôn nhân, nó có nghĩa là đôi vợ chồng phải nhận biết những vai trò độc nhất vô nhị trong hôn nhân như đã được kêu gọi, thứ nhất, bởi việc họ là người nam và người nữ, và thứ hai, bởi việc họ là vợ và chồng. Trong Êphêsô đoạn 5, người chồng là người chủ động trong tình yêu, là người cung cấp những nhu cầu và là người chăm lo, bảo vệ vợ mình. Người vợ, mặt khác, là người đáp ứng và là người bày tỏ lòng tôn kính trong tình yêu Agape hoặc là tình yêu Thiên thượng đáp ứng trước những sự bày tỏ của chồng mình, nhờ đó đáp ứng được những nhu cầu của người chồng.
13. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước những câu ĐÚNG có liên quan đến những yếu tố chính trong hôn nhân
a. Đàn ông làm đầu đàn bà cũng như Đấng Christ làm đầu mọi người theo ICo1Cr 11:3.
b. Eph Ep 5:23 so sánh mối liên hệ trong hôn nhân với mối liên hệ giữa Đấng Christ và Đức Chúa Trời.
c. Theo Thánh Kinh, chồng phải yêu vợ mình theo như Đấng Christ yêu hội thánh.
d. Tình yêu thương đặt cơ sở trên những ấn tượng bề ngoài thì cũng đặt cơ sở trên sự thành thật.
e. Một người có thể phạm tội ngoại tình mà là vẫn là người phối ngẫu chung thủy.
f. Nếu một người thật sự có lòng thông cảm, người ấy sẽ cố gắng để hiểu được những kinh nghiệm tốt và xấu của người phối ngẫu của mình.
TIẾN TRÌNH HÔN NHÂN
Mat Mt 19:6
** Yếu tố cơ bản thứ nhất của hôn nhân là con người, thứ nhì là tình yêu. Sau đó chúng ta có thể bắt đầu kết hợp các sự việc lại với nhau và xem điều xảy ra trong diễn trình.
Cách đây khá lâu, khi các bác sĩ tâm thần bị ngập lụt một cách khủng khiếp bởi con số đông đảo những người mắc bệnh, họ bèn phát minh một phương pháp gọi là "phép chữa trị theo từng nhóm và trong đó họ cho những người có các nan đề tâm lý giống nhau gặp nhau để trao đổi. Họ đưa người ta đến với nhau nhằm mục đích chữa trị. Song những người ấy thật sự không biết điều gì sẽ xảy ra sau khi quan sát các nhóm người trong một vài năm, các bác sĩ tâm thần bắt đầu ghi nhận. Không dựa quá nhiều vào nội dung của điều người ta nói đến, mà nhìn vào kiểu tương tác mà họ tham gia. Các bác sĩ tâm thần đã khám phá được rằng khi một nhóm người đến với nhau, bất cứ vì mục đích gì, thì đều có một tiến trình người ta phải trải qua mà có thể đoán trước một cách chắc chắn như lực sức hút của trái đất vậy. Tiến trình nầy sẽ được chia thành bốn giai đoạn **
Trong phần này chúng ta sẽ so sánh tiến trình hôn nhân với tiến trình diễn ra khi người ở bất cứ những nơi nào họp lại trong một nhóm. Các bác sĩ tâm thần đã nghiên cứu hiện tượng nầy, gọi là phép chữa trị theo nhóm và đã kết luận rằng có những giai đoạn tương tự diễn ra trong tất cả những nhóm nầy. Những giai đoạn này là
1. Giai đoạn hình thành
2. Giai đoạn gây bão tố
3. Giai đoạn bình thường hóa
4. Giai đoạn thực hiện
Giai đoạn hình thành.
** Giai đoạn đầu tiên của tiến trình theo nhóm là giai đoạn hình thành. Trong quá trình này, con người được lập thành nhóm để chọn lựa bởi những mục tiêu. Trong thế hệ của tôi, hôn nhân được bắt đầu bởi hai người, mà đang khi bước ra ngoài đường thì tình cờ đụng phải nhau và một trong hai người nói rằng "tôi đang tìm kiếm một ngôi nhà nho nhỏ màu trắng có hàng rào cọc nhọn và một vườn hoa hồng bên cạnh một suối thác nước". Người kia đáp "đó chính là điều tôi cũng đang tìm kiếm, vậy chúng ta hãy cùng nhau thực hiện điều đó". Vì vậy những người đã tạo thành tập hợp mà chúng ta gọi là hôn nhân phần lớn được lựa chọn bởi cùng các mục tiêu.
Thật bất hạnh cho tất cả những nhóm đã được hình thành, vì hầu hết chúng ta đặc biệt là trong hôn nhân, đều đang tìm kiếm sự bình an, sự an ủi, và sự an toàn, đấy là tất cả những loại kinh nghiệm bổ dưỡng. Nhưng trên đường từ bàn thờ, nơi làm lễ cưới và đến ngôi nhà có hàng rào cọc nhọn thì sớm hay muộn sẽ có những sự việc xảy ra, là điều chúng ta sẽ bàn đến trong giai đoạn thứ hai của một tiến trình theo nhóm, giai đoạn gây bão tố **
14. Trong giai đoạn hợp thành của tiến trình tương tác nhóm các thành viên đã được lựa chọn bởi các... của họ
15. Kể tên ba điều mà hầu hết con người đang tìm kiếm trong tiến trình hôn nhân. ...
Giai đoạn gây bão tố.
** Hầu hết các bạn đều quen thuộc với câu "đã hết tuần trăng mật rồi". Các bạn đều biết chúng ta biết được thời trăng mật đã qua khi có cuộc xung đột đầu tiên hoặc có sự khác biệt lớn lao về quan điểm. Khi điều nầy xảy đến, hầu hết mọi người cảm thấy bị lừa dối, bị thất bại và có phần hụt hẫng, bởi vì mục tiêu của họ trong hôn nhân không phải là để học cách xung đột với nhau. Đó là lý do vì sao một số người đã bỏ nhà ra đi, để trốn sự cãi cọ và những xung đột. Song thật ra họ chỉ đang lập lại những gì trong lịch sử.
Hiện nay, trận chiến trong hôn nhân rất gây cấn vì có ba lý do chính. Lý do thứ nhất đó là cuộc xung đột thường là điều không ai mong đợi. Khi cưới nhau không ai bước đi giữa các hàng ghế mà nói "được rồi, đây là đối thủ của ta trong bốn mươi năm tiếp theo, và tôi đã lựa chọn đúng bởi vì tôi cho rằng: "Kỳ phùng địch thủ"
Nhiều người sống với ảo tưởng rằng "một vị hoàng tử thật quyến rũ trên con bạch mã phóng ra từ khu rừng và cướp lấy nàng công chúa, chàng ta đưa nàng về lâu đài, nơi đó họ chung sống, hạnh phúc mãi mãi" đúng không? Các bạn đều biết câu chuyện ấy. Điểm rắc rối ấy là hầu hết chúng ta đều quên rằng đó chỉ là một câu chuyện thần thoại.
Những cuộc chiến trong hôn nhân thường bất ngờ, do đó chúng ta không được chuẩn bị trước. Thiếu chuẩn bị là lý do thứ hai khiến cho cuộc tranh chiến trong hôn nhân càng khó khăn. Một câu cách ngôn xưa nói rằng: "Được biết trước là được trang bị trước" nếu chúng ta biết tối nay ăn trộm sẽ đến thì chắc rằng chúng ta sẽ khóa cửa, thuê một con chó giữ nhà và nấp sau cửa sổ với một cây gậy trên tay. Chúng ta cũng thực hiện một số hành động để tự chuẩn bị. Nhưng phần đông trong chúng ta, vì thật sự không ai mong đợi cuộc chiến. Trong hôn nhân, nên đã không chuẩn bị bước thứ hai, là bước chuẩn bị. Vì vậy chúng ta đã làm một việc khủng khiếp nếu không chuẩn bị mình nhằm đem lại an bình đến những thời điểm rối rắm trong hôn nhân và trong những tình huống chung khác. Đó là lý do tại sao chúng ta có những cuộc ly dị, có những cuộc chiến tranh, có những kẻ giết người, những cuộc chiến vượt mức, những cuộc thưa kiện và điều khác tương tự như vậy? Theo sự quan sát của tôi thì chúng ta thường trông cậy vào gia đình trong việc dạy dỗ mình cách hòa giải. Cha mẹ bạn là những người thầy đầu tiên và quan trọng nhất. Họ dạy bạn trong cách nói năng. Họ cũng đã dạy dỗ bạn những vấn đề như phải đi đứng thế nào. Một số những điều cơ bản nhất trong đời, bạn đã học hỏi được từ bố mẹ mình. Theo điều tôi quan sát, thường thì các bậc cha mẹ dạy con cái nguyên tắc "lẽ phải nằm trong tay kẻ mạnh" người có ảnh hưởng lớn nhất thường là người quyết định điều gia đình sẽ phải thực hiện. Tôi ngờ rằng người ta gặp khó khăn là vì cớ những người thầy đầu tiên và quan trọng nhất đã không hiểu rõ khả năng giải hòa của chính mình cho thật đầy đủ.
vì vậy khi cha mẹ không dạy con cái làm hòa, chúng thường đến những bạn bè đồng trang lứa. Bạn biết không khi chúng đi chơi bóng đá với các bạn chúng, một đứa bảo "việt vị rồi" đứa trẻ nói "không, không việt vị, banh chưa xuống" đứa kia nói "rõ ràng việt vị rồi". "Không, không đúng, nếu cậu bảo việt vị. Nó nói thế thì không muốn chấm dứt cuộc chơi. Dĩ nhiên đã đến giờ ăn tối, thì có lẽ nó sẽ bảo "chắc chắn là việt vị. Hãy lấy banh của cậu và đi về đi".
Chúng ta đều trải qua những trò chơi ấy. Tôi chỉ nhắc bạn điều bạn đã trải qua, và hy vọng, tôi đang giúp bạn nhận biết về điều đó rõ hơn một chút. Trong hôn nhân thì chúng ta lại không được chuẩn bị cho sự xung đột. Chúng ta sợ khám phá ra rằng chính mình phải tranh chiến với người vợ hoặc chồng của mình, trong khi chúng ta không chờ đợi điều đó và cũng không biết xử lý với nó ra làm sao.
Thứ ba, trận chiến trong hôn nhân là vì thậm chí chúng ta cũng không biết trận chiến ấy là vì điều gì? Có nhiều cặp vợ chồng đến gặp người cố vấn và nói rằng "tối thứ sáu vừa rồi, chúng tôi đã kình nhau một trận khủng khiếp. Chúng tôi ước gì ông đã có mặt ở đấy". Thế rồi tôi hỏi "các bạn cự với nhau về vấn đề gì?" "Vâng, xin ông đợi một chút, anh John à, về việc gì vậy?" Họ có lẽ phải mất đến hai mươi phút để phát hiện ra đó là trận chiến gì nhiều khi thậm chí họ vẫn không thể nhớ được nguyên nhân, nhưng họ chắc chắn nhớ được những cảm xúc mãnh liệt của họ. Một người có thể nói những điều như "ôi thiếu điều tôi muốn đánh ổng luôn" và đôi khi cô ta đã làm điều đó, thế mà người ta thường không biết là vì sao mà cuộc chiến đã xảy ra nữa.
Người ta cự nự nhau về nhiều vấn đề. Một trong những điều chính mà các cặp vợ chồng cự nự đó là về luật lệ trong mối quan hệ của họ khi họ xác định các vai trò. Họ cố tìm cách để quyết định những công việc như là ai là người đổ rác, ai là người giữ việc chi tiền, và ai quyết định người có quyền ra lệnh. Những cuộc tranh chiến thường xảy ra khi người ta tìm cách đặt ra những luật lệ cho việc định rõ các vai trò.
Nếu bạn đang cự nự với người vợ hoặc chồng của bạn thì bạn hãy tự hỏi "chúng ta đang cự nự theo những luật lệ nào?" Ví dụ lần nọ tôi gặp nhà triệu phú, ông ta đã kiếm được rất nhiều tiền và vợ ông đã tiêu xài đến nỗi ông phải vỡ nợ. Cuối cùng ông cảm thấy phải chia tay với bà ta để còn có thể trả nợ được, vì vậy họ đã lâm vào trận chiến không có luật lệ. Bà ta nói "ông phải sống vượt mức lợi tức của mình" trong khi ông nói "không, bà phải sống mức lợi tức của mình"
Thứ luật có liên quan đến việc xác định vai trò quan trọng đến nỗi nó phải được tìm ra một cách đặc biệt. Luật ấy có liên quan đến cơ cấu quyền hành. Nó liên quan đến sự quyết định xem ai là người sẽ đặt ra các luật lệ hay nó có liên can đến tiến trình xác định các luật lệ sẽ được xác định vào gia đình ấy.
Hiện nay có nhiều cách khác nhau để người ta đặt ra những cơ cấu quyền hành. Có các chế độ phụ quyền trong đó người chồng làm đầu gia đình, ông ta sẽ không cho phép ai bất đồng ý kiến. Nếu không đồng ý, bạn sẽ phải chịu thiệt thòi nhiều. Một số các ông chồng đã giết chết vợ mình về mặt lý trí và tin thần. Những bà vợ như thế giống như những người bị cầm cố trong bếp hơn là những người có hoạt động hỗ tương. Những người phụ nữ như vậy khó mà hòa nhập được vào trong tiến trình của hôn nhân. Nhiều phụ nữ đã chấp nhận vai trò ấy mà không thắc mắc gì nhiều. Đó là loại phụ nữ mà một trong số các ông thích lấy làm vợ, bởi vì sẽ có ít cơ hội để gây sự với một người hầu trong bếp hơn là với một bà hoàng. Những người hầu trong bếp thì thường không cãi lại với các ông chủ, còn các bà hoàng thì giỏi cãi hơn. Vì vậy, nhiều người đàn ông quyết định kết hôn với cô hầu. Đó là lý do khiến họ không cảm thấy mình giống như các ông vua. Khó mà có cảm tưởng như một ông vua khi bạn kết hôn với một phụ nữ mà bạn cư xử như một người hầu bếp. Thật sự bạn cảm thấy mình giống một tên hầu nam hay một tên tôi tớ hơn. Nhưng chế độ phụ quyền là một kiểu mẫu hôn nhân phổ biến, và trong đó người đàn ông là ông chủ.
Chế độ mẫu quyền là một loại cơ cấu quyền hành khác. Ở đây, các ông chồng trở thành những người ở vị trí cao, song không có thực quyền. Người đàn ông trong những cuộc hôn nhân ấy, ngồi xem ti vi suốt ngày hoặc làm những công việc tương tự như vậy, trong khi các bà vợ và các bà mẹ quyết định nhiều hơn và điều khiển gia đình. Bạn có thể xác định cơ cấu quyền hành bằng cách lấy đi một trong hai người, vợ hoặc chồng, và nhìn xem gia đình ấy sẽ hoặc động ra sao. Thử lấy đi các bà mẹ khỏi gia đình xem điều gì sẽ xảy ra, nếu nó sụp đổ, thì bạn biết rằng bà ta là người lãnh đạo có hiệu năng trong gia đình. Nếu bạn cất người chồng ra khỏi gia đình, và nếu nó sụp đổ, thì bạn biết rằng đó là cơ cấu phụ quyền. Đó là một trong những thử nghiệm bạn có thể ứng dụng cho chính mình hoặc cho một cặp vợ chồng để xác định quyền hành nào trong các loại ấy đang được áp dụng trong gia đình đó.
Cũng có loại con trẻ cầm quyền, tức là, gia đình do con trẻ điều khiển. Ở cuối văn phòng của tôi, có hai chiếc ghế bành có lưng dựa cao, hai bên có hai trụ nhô lên được bọc vải vàng sậm, trông giống như những chiếc ngai. Rồi tôi cũng có một chiếc ghế bên cạnh bàn giấy và một chiếc trường kỷ nhỏ. Tôi để ý chỗ các thành viên trong gia đình ngồi khi họ đến gặp tôi. Nếu con trẻ đi đến ngồi vào các chiếc ngai, và ông bố bám chặt nơi bàn giấy của tôi, thì tôi đã đoán đúng rằng chính con trẻ là thành phần nắm quyền trong gia đình. Điều nầy rất thông thường. Bạn có thể nghĩ đó là chuyện đùa nhưng nó là sự thật.
Tôi thật lấy làm lạ về cách những đứa trẻ điều khiển các gia đình của chúng. Từ lúc còn rất trẻ chúng đã học biết cách thực hiện việc đó. Chúng về nhà và bảo "mẹ, cái thằng ở dưới trường kia nó làm như vậy, như vậy đó, thì sao con lại không làm được điều đó chứ? Và ở trong gia đình đó, bố mẹ nó sẽ bảo "thôi được, nếu nó làm thế được thì dĩ nhiên đó là điều tốt, mầy hãy đi và làm như vậy đi. Thế là đứa trẻ nhận ra "bố mẹ mình đáp ứng đối với áp lực của tập thể". Đó chỉ là sự bắt đầu, nhưng đó là cách mà luật lệ được tạo thành bởi một người khác.
Để cho người khác đặt luật lệ là một cách tốt để khỏi phải chịu trách nhiệm và tránh sự xung đột. Các bậc cha mẹ không phải tranh đấu với con cái họ. Đó là một số các dấu hiệu và triệu chứng của tình trạng con trẻ nắm quyền.
Rồi hiển nhiên, cũng có tình trạng vô chính phủ trong các gia đình. Có nghĩa là không có luật lệ gì cả. Mà mỗi người trong gia đình, mỗi ông, mỗi bà, mỗi đứa trẻ chỉ biết sống cho chính mình **
16. Nhận ra ba lý do chính khiến cho sự xung đột trong hôn nhân trở nên khó khăn. ...
...
17. Hãy nêu tên một điều cơ bản mà hầu hết các cặp vợ chồng đã kết hôn thường tranh chiến về điều đó...
18. Khi các cặp vợ chồng có xung đột về các vai trò, người cố vấn có thể yêu cầu họ thực hiện hai điều. ...
19. Kể tên bốn loại địa vị nắm quyền khác nhau trong gia đình.
...
...
20. Ghép cặp địa vị nắm quyền (bên phải) với lời mô tả điều đó (bên trái)
... a. Ở đây không còn luật lệ. Mỗi người làm điều theo mắt mình cho là phải.
... b. Chúng ta tin rằng con cái có thể và phải được có các quyết định của riêng chúng.
... c. "Mẹ xin lỗi. Mẹ không thể cho phép con làm điều đó. Chúng ta sẽ phải đợi quyết định của bố".
... d. John chơi đùa ở ngoài phố suốt ngày lẫn đêm. Mẹ và bố chẳng ai bảo cậu lúc nào phải đi ngủ. Cậu ta quyết định mọi chuyện ở trong gia đình.
... e. "Tôi xin lỗi tôi không thể làm điều gì với các đứa trẻ vợ tôi là người quyết định hoàn toàn ở nhà và tôi chỉ bắt chúng làm theo".
... f. Gia đình thôi hoạt động như là một gia đình thực thụ khi mẹ chúng rời khỏi nhà.
... g. Gia đình thôi hoạt động như là một gia đình thực thụ khi người cha rời khỏi nhà.
Giai đoạn bình thường hóa
** Giai đoạn thứ ba trong quá trình sống chung là giai đoạn bình thường của mối quan hệ mà trong đó người ta tìm được những giải pháp cho những sự khác biệt của họ. Những cách giải quyết ấy chiếu cố đến những khác nhau của mỗi người, và càng công bằng cho cả vợ lẫn chồng càng tốt nếu có thể được. Khi giai đoạn bình thường diễn ra, từng bước một và từng qui tắc một được thương lượng trong một diễn trình có thể kéo dài cả đời hoặc lâu dài để hoàn tất **
21. Giai đoạn bình thường hóa trong mối quan hệ là giai đoạn trong đó người ta.
...
22. Người cố vấn làm việc như thế nào với một cặp vợ chồng đang trong giai đoạn bình thường hóa?
...
Giai đoạn thực hiện
** Sau cùng, chúng ta đến giai đoạn thực hiện trong giai đoạn đó các mục tiêu được giải quyết. Trong giai đoạn đó sự bình an và niềm vui trong mối quan hệ có thể bắt đầu phát khởi. Đó là lúc người ta sẽ kinh nghiệm được sự an toàn vì biết mình được yêu thương và biết rằng phúc lợi của mình, cũng thật sự quan trọng đối với người khác như là phúc lợi của người ấy.
Bây giờ, để chỉ dẫn cho những người đang trải qua tiến trình nầy, chúng ta phải hiểu được diễn trình, các yếu tố và các định nghĩa về tình yêu.**
23. Trong giai đoạn trình bày, đôi vợ chồng phải kinh nghệm ba điều.
... và...
24. Nối kết sao cho thích hợp lời mô tả (bên trái) với những cụm từ diễn tả (ở bên phải)
... a. Tìm được các giải pháp
... b. Các thành viên được lựa chọn dựa trên các mục đích của họ
... c. Những nguyên tắc trong mối quan hệ được cân nhắc
... d. Phải đương đầu với nhiều loại cơ cấu quyền hành
... e. Đạt được những mục tiêu.
25. Liệt kê và tóm tắt ngắn gọn bốn giai đoạn của sự tương tác nhóm khi chúng được đem áp dụng vào hôn nhân.
...
Cố vấn trong hôn nhân, dầu là một công tác lớn lao, song là một kinh nghiệm được đền bù rất xứng đáng. Nhiêù người đang bị thương tổn về mặt tâm lý và đôi khi về cả phần thuộc thể bởi vì họ không thể tìm ra sự chữa lành hoặc cách giải quyết cho các nan đề của họ. Bạn có thể không thành công hoàn toàn, nhưng bất cứ điều gì bạn làm để giúp cho sự việc tốt hơn thì nó là dấu hiệu của bước tiến đến sự thành công. Bởi việc phát huy một nhận thức tốt hơn về những nan đề con người đối diện, chúng ta có thể giúp đỡ họ tốt hơn.
Bài Tập Tự Trắc Nghiệm
Câu LỰA CHỌN. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất.
1. Những yếu tố chính trong hôn nhân là:
a. Con cái, một người nam một người nữ và một mái nhà
b. Cơ cấu quyền hành, tình yêu, tiền bạc và con cái.
c. Một người nam, một người nữ, tình yêu và cơ cấu quyền hành
d. Một người nam, một người nữ, con cái và tình yêu
2. Hôn nhân được định nghĩa là.
a. "Một quá trình kết hợp hai người khác biệt lại với nhau"
b. "Một cảm xúc đặt cơ sở trên tình yêu"
c. "Một nghi lễ trong đó người nam và người nữ hứa nguyện yêu thương nhau"
d. "Một sự thỏa thuận hợp pháp buộc người nam và nữ phải chia xẻ"
3. Trong bài học nầy, tình yêu có thể được mô tả như là.
a. Một cảm xúc mà một khi đã bắt đầu sẽ không bao giờ chấm dứt.
b. Một sự hấp dẫn về thuộc thể đối với một người khác.
c. Một hành động của ý chí được thỏa mãn
d. một cảm xúc và một hành động của ý chí.
4. Tình yêu được định nghĩa là
a. "Một hành động tự xem mình là trung tâm, ở đó sự phúc lợi và sự an toàn của chính mình được coi trọng"
b. "Một tình trạng thực hữu khi những phúc lợi và sự an toàn của người khác được coi trọng như là của chính bạn"
c. "Một cảm xúc tập trung vào sự thỏa mãn dục vọng của xác thịt"
d. "Một cảm xúc khiến cho người ta khao khát hôn nhân"
5. Trong hôn nhân, tình yêu phải được bày tỏ bởi
a. Việc đấu tranh cho những quyền lợi của riêng mình
b. Sự thành thật, lòng chung thủy và quan tâm đến những cảm giác riêng của một người.
c. Việc giữ không cho người kia biết sự thật
d. Sự thành thật, thông cảm và chung thủy.
6. Trong hôn nhân, mối quan hệ cộng tác liên hệ đến
a. Hai người cùng chia xẻ những ưu điểm của mình và liên kết với nhau để giải quyết các nan đề của mình.
b. Xác định xem ai là người sẽ ra các quyết định chính.
c. Người vợ phải vâng phục chồng, bất kể điều gì xảy ra
d. Người chồng là chúa và chủ trên gia đình
ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ trước mỗi câu ĐÚNG và viết chữ S trước những câu SAI, rồi thay đổi những câu sai cho thành câu đúng.
... 7. Trong hôn nhân, người nam phải lìa gia đình của mình và trở nên một thịt với người nữ. Trong hôn nhân, người nam phải lìa gia đình mình và...
... 8. Đức Chúa Trời đã phối hợp một người nam và một người nữ nên một thịt và không ai được phân rẽ sự kết hợp đó.
Đức Chúa Trời đã phối hợp một người nam và một người nữ nên một thịt và không ai.
... 9. Hôn nhân là sự kết hợp giữa hai người giống nhau.
Hôn nhân là sự kết hợp giữa hai người...
... 10. Tình yêu là một cảm xúc tồn tại khi tình trạng phúc lợi của người khác được coi trọng như phúc lợi của chính bạn.
Tình yêu là...
... 11. Gây ấn tượng bề ngoài là đưa mắt tốt nhất của mình ra để vụ lợi, chẳng hạn như vụ lợi về tình yêu.
Gây ấn tượng bề ngoài là phô mặt tốt nhất của mình ra nhằm...
... 12. Ràng buộc vào sự phúc lợi của người khác như là phúc lợi của chính mình, là yêu một người bằng sự đồng cảm.
Ràng buộc vào sự phúc lợi của người khác như là phúc lợi của chính mình, là yêu thương một người bằng...
... 13. Khuôn mẫu chồng là đầu vợ là một chế độ độc tài
Khuôn mẫu chồng là đầu vợ là...
... 14. Khuôn mẫu dành cho người vợ trong vai trò vâng phục là khuôn mẫu của hội thánh trong sự vâng phục Đấng Christ.
Khuôn mẫu dành cho người vợ trong vai trò vâng phục là...
... 15. Quá trình có liên quan đến việc giải quyết được các mục tiêu gọi là giai đoạn hình thành
Quá trình có liên hệ đến việc giải quyết cá mục tiêu được gọi là...
... 16. Quá trình lựa chọn người phối ngẫu theo các mục tiêu mong ước được gọi là giai đoạn gây bão tố.
Quá trình lựa chọn người phối ngẫu theo các mục tiêu mong ước được gọi là...
... 17. Hầu hết các cặp vợ chồng đã kết hôn gặp phải những xung đột trong việc xác định vai trò của mỗi bên và ai là người chịu trách nhiệm đặt ra các luật lệ
Hầu hết các cặp vợ chồng gặp xung đột trong...
... 18. Quá trình xung đột giữa chồng và vợ được gọi là giai đoạn gây bão tố.
Quá trình có xung đột giữa vợ và chồng được gọi là...
... 19. Quá trình mà người hoặc người chồng đang tìm các giải pháp để giải quyết những sự khác nhau của họ được gọi là giai đoạn thực hiện.
Quá trình mà trong đó vợ hoặc chồng tìm ra những giải pháp cho sự khác biệt giữa họ được gọi là giai đoạn...
...

Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
1. Cha mẹ mình, vợ mình, một thịt
2. Đức Chúa Trời, một thịt, không ai.
3. c. Tiến trình
4. Giai đoạn thực hiện các mục tiêu đã đạt được bởi vì các thành viên đã giải quyết những điểm khác biệt và có thể thực thi các chức năng tương ứng của họ cách hiệu quả.
5. a C
b T
c C
d T
e C
6 a, b, d và e là những câu đúng.
7 d. Chính trực
8. a 2. Không cảm thông
b. 4. Không thành thật
c. 1. Cảm thông
d. 1. Cảm thông
e. 3. Thành thật
f. 5. Chung thủy
g. 6. Không chung thủy
h. 1. Cảm thông
9. "Đi trước, như là đầu cột trụ"
10. a. Ngài ban cho sự sống của Ngài
b. Ngài đã chết cho chúng ta
c. Ngài ban chính Ngài cho chúng ta
d. Ngài giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi mình và khiến chúng ta trở thành những vua và những thầy tế lễ.
11. a. Mọi sự ở dưới quyền cai trị của Đấng Christ
b. Vâng phục lẫn nhau
c. Các bà vợ, vâng phục đối với các ông chồng.
d. Mọi sự ở dưới quyền cai trị của Đấng Christ.
e. Các bà vợ, vâng phục đối với các ông chồng
f. Những người vợ, là đối tượng của những người chồng
g. Những người vợ, là đối tượng của những người chồng
h. Những người chồng, phải cân nhắc và bày tỏ lòng tôn kính
i. Những người trẻ tuổi, vâng phục những người lớn tuổi
12.a. Bởi lòng khao khát "lạy Chúa, làm theo ý muốn Ngài"
b. Bởi việc làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời từ trong tấm lòng
c. Bởi việc sống sao cho vừa lòng Chúa.
13. a, c và f là những câu trả lời đúng
14. Các mục tiêu
15. Bình an, yên ủi, an toàn
16. 1. Xung đột bất ngờ
2. Các cặp vợ chồng không được chuẩn bị cho các cuộc xung đột
3. Thậm chí các cặp vợ chồng không biết họ xung đột với nhau về vấn đề gì.
4. Một số các cuộc hôn nhân của người tin Chúa là một nghi lễ hoặc là một thỏa hiệp hợp pháp, nhưng Kinh Thánh phán rằng đó là một sự kết hợp hoặc là một quá trình trong đó cả hai trở nên một thịt.
17. Xác định các luật lệ trong mối quan hệ của họ khi họ định nghĩa các vai trò.
18. 1. Xác định các vai trò của họ và
2. Xác định xem ai là người đặt ra các luật lệ
19. 1. Chế độ phụ quyền
2. Chế độ mẫu quyền
3. Con trẻ cầm quyền
4. Vô chính phủ.
20. a 4. Vô chính phủ
b. 3. Con trẻ cầm quyền
c. 1. Chế độ phụ quyền
d. 3. Con trẻ cầm quyền
e. 2. Chế độ mẫu quyền
f. 2. Chế độ mẫu quyền
g. 1. Chế độ phụ quyền
2. Tìm ra những cách giải quyết cho những khác biệt của họ
22. Vị cố vấn phải kể đến tất cả những điểm khác nhau của các cặp vợ chồng. Sau đó đề nghị những cách giải quyết tốt nhất cho cả đôi bên
23. 1. Bình an 2. Vui mừng 3. An toàn
24 a 3. Giai đoạn bình thường hóa
b 1. Giai đoạn hình thành
c 2. Giai đoạn gây bão tố
d 2. Giai đoạn gây bão tố
e 4. Giai đoạn thực hiện
25. 1. Giai đoạn hình thành, đặt cơ sở trên các mục tiêu được chia xẻ mà một nhóm đã được hình thành.
2. Giai đoạn gây bão tố, những xung đột nỗi lên dựa trên thiếu hiểu biết về các quy tắc hoặc thiếu những sự xác định về các qui tắc (luật lệ)
3. Giai đoạn bình thường hóa, những nan đề đã được giải quyết do sự cân nhắc các nhu cầu của tất cả mọi người có liên can.

PHỤC VỤ NHỮNG NGƯỜI TRONG HOÀN CẢNH MẠNG SỐNG BỊ ĐE DỌA
Hôn nhân không phải là tình trạng duy nhất nhận được sự soi sáng và lợi ích qua lời chỉ bảo của người cố vấn. Là những Cơ đốc nhân, tôi và các bạn đều có một trữ lượng lớn để nâng đỡ cho những người đang ở trong một tình cảnh hiểm nguy trong cuộc sống.
Chúng ta phải chăm sóc cả những người đang bị thương tổn lẫn những gia đình đang đối diện với bất cứ tình huống nào trong hoàn cảnh bị cuộc sống đe dọa nhưng không đến nỗi trầm trọng. Chúng tôi sẽ đề cập đến một hình thức chữa trị không những sử dụng trong các vấn đề nan giải của cuộc sống mà còn liên quan đến những lãnh vực khác nữa. Những lãnh vực khác cần đến sự chăm sóc bao gồm những vấn đề như hôn nhân, tù binh chiến tranh, và những con người bị thương tổn sâu xa.
Mục đích chính của bài học này không giúp cho bạn trở nên một người cố vấn ngay nhưng khích lệ bạn hết lòng nghiên cứu và tự làm việc. Bạn và tôi đang tiếp cận với một trong những nỗ lực trị liệu mới nhất của nhân loại. Điều này hoàn toàn chính xác, không phải vì chúng ta là những Cơ đốc nhân, nhưng vì những nguyên tắc Thánh Kinh, một khi được áp dụng nó sẽ rất có hiệu quả. Nếu luật pháp của Đức Chúa Trời còn có hiệu quả cho người vô thần, thì bạn hãy nghĩ xem về luật ấy có tác dụng trong tay các Cơ đốc nhân còn đến mức độ nào! O. Hobart Mowrer nói rằng: "Các Cơ đốc nhân có được chất liệu trị bệnh vĩ đại nhất đã có từ trước đến nay trong khoa cư xử". Chúng ta cần học hỏi cách sử dụng nguồn cung ứng có giá trị này.
Cách sử dụng phương pháp trị liệu ân điển
Định nghĩa ân điển liệu pháp
Ứng dụng ân điển liệu pháp
Thần học về sự đau khổ
Vai trò của người cố vấn
Là một phương tiện để Chúa Jesus hành động
Yêu thương và cứu giúp đem lại tự do.
Hiện diện trong sự đau khổ
Khi hoàn tất bài học này bạn có thể:
Ể Định nghĩa được ân điển trị liệu và trình bày áp dụng thực tiễn của nó.
Ể Giải thích khoa thần học về sự đau khổ liên quan đến việc đem ân điển đến những người đang đối diện với những bệnh thập tử nhất sinh.
Ể Trình bày vai trò của người cố vấn trong tiến trình trị liệu đem lại sự chữa lành cho những ai đối đầu với những bệnh thập tử nhất sinh.
Ể Cộng tác với những người ở trong hoàn cảnh cuộc sống bị đe dọa và đem đến sự chữa lành cho những người ấy.
1. Nghiên cứu theo phần khai triển bài học, trả lời các câu hỏi, kiểm tra lại câu trả lời của bạn, như đã được hướng dẫn trong bài 1.
2. Hoàn tất bài trắc nghiệm cá nhân ở cuối bài học này. Kiểm tra câu trả lời của bạn trong tập bài dành cho học viên và xem lại bất cứ câu hỏi nào trả lời chưa đúng.
3. Nếu đã hoàn tất những phần trên đây, hãy sắp xếp với người hướng dẫn chương trình ICI để dự kỳ thi cuối khóa.
4. Lưu ý những phần bài học có đánh dấu ** được rút ra từ các bài giảng thuyết của Chaplain Mieton Whitaker, một tuyên úy phục vụ tại bệnh viện Cựu Chiến Binh ở Seattle, Washing ton, USA. Việc nỗ lực giữ kinh nghiệm của bài giảng thuyết càng nhiều càng tốt giải thích mức độ biến thể giữa các phần nầy và phần còn lại của sách giáo khoa nghiên cứu, độc lập này.
Liệu pháp hóa học
Động mạch vành (vãnh)
Giảm glucôza huyết
Ác tính
Bệnh u mêlanin
Thuốc gây mê
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU NHỜ ÂN ĐIỂN
Chữ ân điển được sử dụng rộng rãi suốt Kinh Thánh để bày tỏ lòng thương xót, sự quan tâm và tùy thuộc vào vì cớ ích lợi của chúng ta, nó cũng được sử dụng để thúc giục chúng ta làm cho ân điển của Đức Chúa Trời lan truyền đến mọi người qua những gì chúng ta đã nhận được. Một định nghĩa đúng cho rằng ân điển là "lòng thương xót dành cho tội nhân, là sự nâng đỡ trong chốn cùng cực và tuyệt vọng". Ân điển cũng được định nghĩa là: "Đặc ân của Đức Chúa Trời dành cho kẻ bất xứng"
Định nghĩa ân điển trị liệu.
Trên đây chúng ta đã định nghĩa ân điển, nhưng bây giờ chúng ta sẽ định nghĩa ân điển liệu pháp và chúng ta sẽ thử xem các truyền đạt cho người khác như thế nào.
** Chúng tôi có ý nói gì khi đề cập đến đến "cách sử dụng ân điền làm phương pháp trị liệu?" Trong Tit Tt 2:11-12, đang khi viết thư cho Tít, Phaolô nói như sau! "Ân điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người". Trong KhKh 22:1-2, bạn có được một bức tranh khó tin về dòng sông ân điển từ ngai của Đức Chúa Trời chảy ra, dòng nước ấy cung cấp độ ẩm cho cây sự sống, lá cây ấy dùng để chữa lành cho mọi dân tộc.
Chữ "chữa lành" trong 22:1-2 được dịch từ Hivăn là therapia. Bạn không cần phải làm một học giả mới hiểu được rằng từ ngữ tiếng Anh được rút ra từ chữ therapia này là gì. Đó là chữ therapy (phương pháp trị liệu). Ân điển là một phương pháp trị liệu!
Định nghĩa trị liệu pháp đơn giản "áp dụng điều gì đó vào thân thể hay tâm trí nhằm mục đích chữa lành". Trong Eph Ep 4:29 Phaolô muốn chúng ta phải truyền đạt ân điển cho vợ, và con cái của mình. Chúng ta phải truyền đạt ân điển cho chính mình. Điều này liên quan đến sự tự nhủ có trong tâm trí của chúng ta.
Ví dụ, bạn có giờ bao giờ phạm lỗi chưa? Bạn đã từng mắc tội chưa? Bạn đã nói gì với chính mình khi phạm điều ấy? Bạn có nói rằng: "Ồ mình là người dại dột, ông Whitaker ơi, ông làm sao vậy?" Bạn đã hứa với Chúa là: "Xin tha thứ cho con! Con sẽ không phạm nữa đâu". Rồi bạn làm gì? Bạn lại tiếp tục phạm tội.
Bạn có bao giờ nói về mình một cách tiêu cực chưa, bạn có thực sự và lên án mình không? Bạn có biết đây là tội lỗi làm Thánh Linh buồn rầu, theo như 4:29-30? Bạn cần phải tra sự tự nhủ trong trí não của bạn. Là các Cơ đốc nhân, chúng ta cần học nói với chính mình theo tiếng nói của Thánh Linh. Nếu bạn không nói với chính bạn, với vợ hay chồng bạn, con cái bạn, bệnh nhân hay khách hàng của bạn đến mức độ được gây dựng, để cho lời nói của bạn, truyền đạt được ân điển, bạn là người đang làm Thánh linh buồn rầu.
Thánh Linh không nói với bạn cách nào khác hơn là dùng những lời đầy ân điển, ngay cả những lúc Ngài thuyết phục bạn về một tội lỗi nào đó. Bạn cần học tập phân biệt đâu là tiếng của Đức Chúa Trời, đâu là lời phát biểu của Satan và có thể cả hai đều thể hiện qua sự tự nhủ của bạn. Kiểm tra lại nội dung của những điều bạn nói xem có khoan dung không? Giọng nói có đầy ân điển không? Nội dung và lời nói ấy có cứu chữa, giúp đỡ, gây dựng, khích lệ, nâng đỡ và đúng chỗ không? Nếu thiếu những điều này, có nghĩa là nó không đến từ Thánh Linh. Thánh Linh của Đức Chúa Trời không bao giờ hướng dẫn chúng ta cư xử với người khác ngược lại với cách Ngài đối xử với chúng ta. Kinh Thánh buộc chúng ta phải thốt ra những lời đầy ân huệ. **
1. Chữ therapia trong Hivăn được dịch như thế nào theo KhKh 22:1-2?
...
2. Nếu ân điển Đức Chúa Trời đem sự cứu rỗi đến, vậy sự cứu rỗi và sự chữa lành thật sự có nghĩa là... , kế đó ân điển đem...
3. Vì thế, ân điển liệu pháp là... được tạo nên bởi...
4. Bày tỏ sự thương xót, giúp đỡ bất luận tình huống nào và ban cho mọi điều gì cần ban mà không nghĩ đến phần thưởng là...
** Chúng ta không chỉ truyền đạt ân điển bằng lời nói nhưng cũng bằng hành động. Điều này có nghĩa là từ vẻ mặt đến giọng nói, ngôn ngữ và cách cư xử của bạn.
Ví dụ như với một bệnh nhân ung thư hoặc đau tim, một vài Cơ đốc nhân đến gặp và có thể cầu nguyện để người ấy được chữa lành. Sau đó họ bày tỏ cho người ấy về tình yêu của Đức Chúa Trời. Nhưng lại không bao giờ trở lại, cũng không bao giờ đưa tay ra đụng đến người ấy. Họ đứng cách xa giường bệnh hình như thân thể người ấy có vẻ hôi hám và họ không thể chịu nỗi khi đến gần, vì vậy họ đứng xa xa. Vẻ mặt họ luôn luôn thể hiện rõ ra sự khó chịu về mùi hôi ấy. Qua thái độ trên, họ được cho là đã từ chối người khác, họ đã rao giảng một sứ điệp thật nhẫn tâm và không phù hợp chút nào. Họ đã cho người bệnh ấy biết rằng Thánh Linh Chúa cũng rao giảng sứ điệp không phù hợp ấy. Họ đã xóa sạch tất cả niềm hy vọng của người ấy, bạn thấy đó, vì không ai thực sự trông mong vào những gì mình không thật sự cảm thấy có giá trị. Nếu không coi trọng người khác, bạn đã từ chối giá trị cố hữu mà Đức Chúa Trời đã ban cho con người ấy. Hơn thế nữa, nếu mặc cảm, anh ta sẽ không bao giờ sử dụng năng lực tâm lý và năng lực thuộc linh của lòng hy vọng để được khỏi bệnh.
Mặc cảm tự ti cũng có thể ngăn trở người khác khiến họ mất hy vọng, không gì có thể đền bù cho điều đó được. Đây là vấn đề thuộc về bản ngã, có thể anh ta được đền bù quá đáng hoặc không được bù đắp. Nhân đây chúng ta cũng thấy rằng trong ngôn ngữ y học không có bệnh trạng nào được gọi là mặc cảm tự tôn. Chỉ có mặc cảm tự ti biểu lộ ra nhiều hay ít mà thôi. Tất cả chúng ta đều có những mặc cảm này trong đời sống mình ở một thời điểm nào đó.
Nếu có ai mắc bệnh ung thư, mặc cảm tư ti thật sự quấy rối người ấy, ngay lập tức người ấy không còn thấy mình có giá trị nào nữa, cũng như không thấy ý nghĩa và chân giá trị trong xã hội này. Điều này xảy ra vì anh ta không còn thực hiện những gì anh ta quen làm. Anh ta không thể nào đi đến một nơi nào đó và mỗi ngày làm việc mười tiếng hoặc chạy bộ cả trăm thước. Có lẽ qua một lần giải phẩu quan trọng anh ta bị tật nguyền và không còn thấy mình là người có giá trị nữa. Rồi một người nào đó đến và khuyên "hãy hy vọng, hãy có đức tin". Tốt đấy, tôi đã nhận được tin tức mới này dành cho anh. Hầu hết những người ở trong tình huống này đều đương đầu với điểm khó là vận dụng đức tin để chữa lành dù họ có đức tin trong tâm trí đến ngần nào. Những con người này cần được chấp nhận, cần tình yêu, và nhận thức được sự hiện diện và quyền năng của Thánh Linh. Bạn phải khắc sâu vào trong tâm trí mình là mỗi một con người đều rất quan trọng và rất có giá trị.
Tại bệnh viện Cựu Chiến Binh của chúng tôi, trong phòng chăm sóc các bệnh nhân bị thương tổn mạch vành có bảy giường. Mỗi một lần đủ người thì có bốn người nằm điều trị đang ở trong diễn trình tự sát. Họ không biết nhưng họ là vậy. Phương pháp giải phẫu động mạch, loại thuốc hoặc bất cứ điều gì các bác sĩ có thể thực hiện để ứng dụng thành tựu của y học nhằm giải quyết nan đề của họ đều không có gì khác biệt cả.
Nếu không đem những gì anh ta tin về thần học hòa hợp với nếp sống, cá tính, thái độ của mình, người ấy sẽ gặp rắc rối. Điều mà bác sĩ đưa ra không có gì quan trọng cả, tức là anh ta sắp qua đời. Anh ta không chết ngay sau đó nhưng sắp chết. Anh ta tự hủy thân thể mình dần dần mà không có một chút nhận thức nào.
Chúng ta có thể thấy rằng ân điển của Đức Chúa Trời trở nên quan trọng phi thường. Agape hay tình yêu Thiên thượng là điều rất quan trọng. Mỗi một chúng ta phải truyền đạt ân điển của Đức Chúa Trời, tức là tình yêu Thiên thượng của Đức Chúa Trời cho những người xung quanh hầu họ có thể nhận thức và ghi khắc sâu đậm vào trong tâm trí, tấm lòng, rằng: Đức Chúa Trời thương yêu chính cá nhân của họ. Đức Chúa Trời thật sự đang ao ước dành riêng cho cá nhân của từng người điều tốt đẹp nhất. Chúng ta phải truyền đạt sứ điệp yêu thương này qua điệu bộ, lời nói và hành động. Bất cứ điều gì tiêu cực điều sẽ phá hủy sứ điệp cho rằng Đức Chúa Trời thật sự thương yêu và quan tâm!
Nếu muốn mình trở nên một trong những người mạnh khỏe thoát khỏi chứng bệnh nghẽn động mạch vành dù phải ở trong một gia đình có đặc điểm này đi nữa thì người ấy phải hòa hợp ân điển và tình yêu Agape vào trong cách sống, thái độ, niềm tin cũng như cách cư xử của mình. Sau đó bệnh tình người ấy sẽ thuyên giảm đặc biệt.
Tôi ở trong một gia đình có truyền thống đau thắt ở ngực và bị đau tim, và cho đến những năm gần đây, tôi là người duy nhất trong gia đình mình chưa bao giờ lên cơn đau tim. Có một lần nọ, gần bị bệnh tôi đã đến gặp vị bác sĩ của mình. Vì thời khóa biểu nặng nề tôi phải ở dưới sự căng thẳng quá lớn. Đang khi đi vòng quanh đất nước, tôi phải huấn luyện và làm việc khoảng mười hai giờ một ngày trong bệnh viện. Kế đó, chúng tôi phải giải quyết các vấn đề của nhân viên chuyên môn, cho nên tôi rất mệt mỏi và kiệt sức dần. Tôi phải vào bệnh viện để kiểm tra sức khỏe kỹ lưỡng. Các bạn biết không, tôi bị bệnh tiểu đường khi vào bệnh viện, sau khi gặp tôi lập tức bác sĩ bảo rằng: "Ồ, đã lâu chúng tôi chưa thử nghiệm mức cholesterol của ông. Trong khi xét nghiệm bệnh tiểu đường của ông chúng tôi cũng sẽ xét vấn đề này".
Sau bảy mươi hai giờ tôi gọi điện thoại trở lại. Câu trả lời của bác sĩ là "bạn ơi, bạn đang làm gì đó?"
Tôi trả lời: "Ông muốn nói gì?"
Nếu bạn là một bác sĩ hay y tá, bạn sẽ biết điều tôi đang đề cập đến. Huyết áp của tôi từ 190/97, (bình thường là 130/90) và các yếu tố khác trong máu của tôi đã lên mức báo động, như mức cholesterol hơn 600 (mức bình thường khoảng 200). Những triệu chứng này báo hiệu cho viễn ảnh mắc bệnh đau tim. Không còn nghi vấn gì khác cả vì tôi chắc sẽ lâm bệnh, câu hỏi duy nhất là: "Không biết còn bao nhiêu ngày giờ nữa tôi sẽ phải nằm trên giường bệnh". Điều này có nghĩa là động mạch vành (cung cấp máu cho tim) của tôi đã bị tắc nghẽn. Lập tức tôi bắt đầu áp dụng ân điển liệu pháp cho chính mình. Ban đầu tôi áp dụng phương pháp thư giãn tinh thần, thuộc thể, thuộc linh một ngày bốn lần. Tôi bắt đầu ngủ tám tiếng mỗi đêm, trở lại chế độ ăn kiêng và điều chỉnh lại mọi điều gì tạo cho mình căng thẳng, và tập thể dục. Nhưng điều quan trọng nhất tôi thực hiện là công nhận Chúa yêu tôi và suy nghĩ đến điều đó. Bạn biết có điều gì xảy ra không? Mười hai hôm sau tôi trở lại bệnh viện, huyết áp của tôi chỉ còn 127/93, và mức cholesterol trở lại bình thường. Đây là năng quyền xuất phát từ một đức tin thuộc linh trong một con người cộng tác với cách xử trí phù hợp với sức khỏe. Những điều này ảnh hưởng đến các cơ quan trong thân thể con người. Nói một cách nghiêm túc là nó có hiệu quả.**
5. Khi ân điển và tình yêu thiên thượng lan truyền đến một người thương tổn, ... xảy ra điều đó có thể thuộc về phạm vi tâm lý hay thể chất.
6. Theo Eph Ep 4:29-32. Nếu chúng ta không truyền đạt ân điển cho chính mình và cho người khác
Chúng ta...
7. Khoanh tròn các mẫu tự đứng trước câu ĐÚNG
a. Khi trải qua khổ đau, tổn thương và đau đớn, khuynh hướng tự nhiên là trút tất cả trên người mình thương yêu nhất.
b. Ân điển chỉ được truyền đạt trên môi miệng chứ không phải trên hành vi cử chỉ.
c. Thay vì kết án người khác khi trải qua đau khổ, hoặc tổn thương, chúng ta cần truyền đạt ân điển cho chính mình và cho người khác.
d. Hi vọng không có tầm quan trọng gì đối với người đang trải qua các nan đề lớn trong cuộc sống.
e. Để giúp cho một người đang chịu khổ kinh nghiệm được sự chữa lành, người ấy phải để cho cách sống, cá tính, thái độ của mình cũng như niềm tin của mình hòa hợp với niềm tin thần học của anh ta.
f. Ân điển là phương pháp trị liệu.
g. Phương pháp trị liệu được định nghĩa là: "Áp dụng điều gì đó vào thân thể hay tâm trí với mục đích được chữa lành".
Ứng dụng ân điển liệu pháp
** Khi liên kết ân điển và phương pháp chữa bệnh, tôi đang bàn đến một trong những sức mạnh chữa trị khó tin nhất có được trên toàn cầu. Chúng ta cần học tập cách áp dụng cho chính mình cũng như cho người khác.
Một trong những câu hỏi người ta thường đặt vấn đề với người bị tổn thương là: "Bạn dàn xếp chuyện đó như thế nào?" Mặc dầu tôi sắp bàn đến những sự việc khác nhau nhưng hãy nhớ rằng điều chúng ta thảo luận là lời giải thích và cách áp dụng ân điển liệu pháp.
Thông thường ai cũng có ấn tượng là nếu họ có đủ đức tin thì Đức Chúa Trời sẽ chữa bệnh thể chất cho họ. Điều này hoàn toàn không đúng, trong một giới hạn nào đó nhưng lại không đúng trong bối cảnh khác. Hãy nhớ rằng, sự chữa lành có thể ở trong phương diện thuộc thể, thuộc linh, hoặc thuộc tâm lý thì nó vẫn là sự chữa lành.
Tôi có nghe một người truyền đạo rất nổi tiếng trong chương trình phát thanh đã nêu lên câu nói này, tôi cũng nghe nhiều người lập lại, và tôi cũng tin rằng bạn đã từng nghe. Câu nói này như sau: "Bệnh hoạn của bạn không phải là ý muốn của Đức Chúa Trời". Vì thế những ai đau ốm thường được bảo là họ không ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời vì họ bệnh tật. Điều này phải được giải thích một câu rất cẩn thận vì nếu chấp nhận câu nói ấy, hầu hết mọi người đều có ấn tượng là: "Nếu đau yếu, tôi đang không ở trong ý muốn của Đức Chúa Trời, hoặc có đôi điều gì sai trật". Bạn có nhận biết điều gì không? Về phương diện thần học và theo Kinh Thánh, điều này không đúng.
Bạn có sẵn một hệ thống tự hủy từ lúc mà bạn còn ở trong bụng mẹ là bạn sắp chết. Không có một con người nào tiến dần đến chỗ chết, trừ phi người ấy được cất lên với hội thánh. Trong y học, chưa bao giờ có một trường học nào về một con người chết lúc lớn tuổi. Tất cả những cái chết được tường trình lại là vì bị tai nạn, bị thương tích, bị bắn hoặc những sự việc tương tự như vậy, đây là kết quả của sự suy nghĩ của một vài cơ quan trong thân thể con người hoặc vì bệnh tật. Nếu ý Chúa không cho phép bạn qua đời, thì những điều này sẽ không hiện diện trong đời sống, trong cá tính, trong cấu trúc thân thể bạn. Bạn sắp qua đời, sắp đi vào cõi chết từ lúc bạn ra đời. Vì thế bạn phải rất cẩn thận về cách bạn bày tỏ với người khác rằng họ mắc bệnh không phải là ý muốn của Chúa.
Khi người ta bị tổn thương, họ yêu cầu lời giải đáp. Họ có thể hỏi: "Chúa ơi, tại sao, tại sao điều này lại xảy đến với con? Chúa ơi Ngài ở đâu? sao Ngài không làm phép lạ?" Đối với họ phép lạ có nghĩa là: "sự chữa lành bệnh tật hoặc các thương tích trong cơ thể là kết quả do Đức Chúa Trời trực tiếp xen vào một cách siêu nhiên, ngược lại quy luật tự nhiên và khoa học". Tuy chúng ta không nhìn thấy nhiều phép lạ thuộc loại này, nhưng về số lượng mà nói, có nhiều phép lạ. Tôi tin vào sự chữa lành Thiên thượng. Nhưng trên căn bản về số lượng, chúng ta không thấy nhiều trường hợp siêu nhiên này như nhiều người tin tưởng. Thực tế, nếu bạn gặp phải bệnh u mêlanin ác tính thâm đen đang lan ra trên da rất nặng, bạn biết không, bệnh này có con số tử vong là chín mươi lăm phần trăm và chắc chắn sẽ qua đời sau ba năm. Đây là một con số thống kê. Tuy nhiên, phải nhớ rằng con số năm phần trăm sống sót, có một vài người còn sống nhờ một phép lạ Thiên thượng.
Với bệnh ung thư hoặc một vài loại bệnh khác trên căn bản số liệu, ít người còn sống hơn bảy năm. Điều này cũng là một sự kiện y khoa, khi chúng ta ghi lại mọi người mà chúng ta từng biết họ mắc phải các chứng bệnh đặc biệt. Vì thế, bạn đến thăm người ấy và nói rằng: "Nếu có đủ đức tin, Đức Chúa Trời sẽ chữa lành cho bạn". Làm vậy bạn không đem đến cho người ấy được một chút ích lợi nào. Bạn sẽ chất trên người ấy một gánh nặng tội lỗi khủng khiếp. Bạn sẽ hủy phá khả năng đối phó và hiểu được bệnh tật của người ấy.
Nếu bạn đến thăm một người bị ưng thư máu và mạch bạch huyết và đã ở trong thời kỳ cuối cùng và nói: "Nếu có đức tin, Thượng Đế sẽ chữa lành cho anh". Chính bạn đã gây ra một tác hại rất lớn đối với người ấy. Bạn cần hết sức khôn ngoan và lắng nghe sự nhắc nhở của Thánh Linh.
Điểm cốt yếu cơ bản ở đây là tình yêu thương và sự nhạy cảm.
Giả sử bạn đến thăm một người mắc chứng ung thư khác nhau và đang được điều trị bằng hóa liệu pháp. Ví dụ như, giả sử người ấy sử dụng một vài hình thức hóa liệu pháp chữa trị khá thành công cho một vài chứng ung thư. Tuy nhiên nếu chính người ấy hoặc gia đình, hoặc chính bạn cũng không biết rằng người ta dùng phương pháp chữa trị hóa học, cũng có thể làm cho người ấy thay đổi cá tính tạm thời. Thực ra người ấy không thể vận dụng đức tin mà có thể thấy được kết quả như là việc sử dụng thuốc và sự đau đớn. Sự đau đớn quá nhiều đến nỗi nó được mắc khả năng sử dụng đức tin của anh ta bạn có thể đến thăm và nói rằng: "Nếu anh có đủ đức tin thì anh sẽ được lành bệnh". Sau đó, anh ta vẫn cứ nằm đó, rồi bắt đầu la lên: "Đức Chúa Trời ơi con có vấn đề gì không? Đức tin con ở đâu? Con là một tội nhân kinh khủng vì Chúa không chữa lành cho con". Bạn phải cẩn trọng với những câu nói đó. Có rất nhiều lý do khác nhau đối với việc thiếu đức tin hoặc không có khả năng để tin. Sự điều chỉnh không phải là trách nhiệm của người ra đi chăm sóc.**
8. Khoanh tròn mẫu tự trước câu ĐÚNG
a. Mỗi một bản tường trình về sự chết của một người, ngoại trừ các trường hợp như tai nạn, thương tích, là kết quả một vài bệnh tật hoặc mất đi một vài bộ phận của thân thể.
b. Người bệnh thường hỏi: "Tại sao điều này lại xảy đến với tôi?"
c. Cảm giác phạm tội có thể diệt khả năng đối phó với bệnh ở giai đoạn chót của một người và có thể có liên quan đến bệnh tật của người ấy.
d. Sự chết là một diễn trình thật sự xảy ra trong thân thể từ lúc một người được sanh ra
e. Nếu mắc bệnh, tôi không ở trong ý Chúa.
9. Tại sao không nên nói với người bệnh là: "Bệnh tật không phải là ý Chúa dành cho bạn?" ...
...
Điều mấu chốt nhất của chúng ta là chúng ta hãy đến với người bị thương tổn với những lời khích lệ và cảm xúc yêu thương hay tình yêu Thiên thượng của Đức Chúa Trời. Nếu bạn thật yêu thương người ấy, bạn sẽ dành ân điển cho anh ta. Bạn sẽ vạch cho người ấy thấy được rằng anh ta trải qua điều này một cách bình thường. Bạn sẽ không sửa phạt nhưng sẽ lắng nghe và cảm thông với người ấy. Bạn sẽ hết sức bày tỏ lòng thương xót, giúp đỡ người ấy mọi mặt và tận hiến như Đấng Christ đã hiến mình cho chúng ta. Bạn sẽ nhận thức rằng con người đau khổ ấy không có đức tin. Đức tin của bạn phải đáp ứng nhu cầu của người ấy. Bạn sẽ nhận thức rằng cá tính của người ấy thay đổi vì bệnh tật, vì sự đau khổ đã trải qua hoặc thuốc men đã sử dụng. Bạn sẽ thấy con người ấy vốn là tạo vật đặc biệt của Đức Chúa Trời đầy giá trị, vô luận người ấy ra sao trong lời nói lẫn việc anh ta làm. Đây là ân điển liệu pháp và nó sẽ đem lại sự chữa lành.
10. Bạn sẽ trả lời như thế nào với câu hỏi của người khác là: "Tại sao điều này lại xảy đến với tôi?"
...
Thần học về sự đau khổ
Thi Tv 77:1-20 Kinh Thánh nói gì về sự đau khổ? Có phải các Cơ đốc nhân là những con người đặc biệt của Đức Chúa Trời và vì thế không lâm vào khổ nạn không? Kinh Thánh ghi chép lại rất nhiều nỗi khổ đau của con người, nhưng chúng ta không tìm thấy có chỗ nào giải thích rõ ràng chính xác là tại sao chúng ta phải chịu khổ.
** Một trong những điều chúng ta cần trong việc chăm sóc những người đang ở trong những nỗi khổ đau cùng cực của họ là thần học về sự chịu khổ. Một khoa thần học trong Kinh Thánh rất sâu xa, có giá trị về sự đau đớn, chịu khổ và về bệnh tật.
Cơ đốc giáo đưa ra những điều rất nghịch lý cho những ai đang tranh chiến với nan đề chịu khổ. Ví dụ, tôi nghĩ điều quan trọng là phải ghi nhớ rằng không có chỗ nào trong Kinh Thánh giải thích tại sao người ta phải chịu khổ. Kinh Thánh không thực sự giải quyết vấn đề này là để ý tưởng chịu khổ này trong tình trạng cơ cực cũng thế. Giới có đầy bệnh tật, nghèo khổ và vô hy vọng? Nan đề còn trong vòng tranh luận về sự chịu khổ đối với nhiều người là môn thần học trừu tượng hấp dẫn, nhưng trong phòng cách ly của bệnh viện với những ai đang tranh chiến với nó, thì đây là điều xúc phạm và gian ác. Điều này không chút hấp dẫn nào.
Điều này không trườu tượng đâu. Đây là vấn đề của nhân loại. Gia đình nọ có một bé gái năm tuổi bị chết vì bệnh tăng bạch cầu, họ rất đau khổ và kinh khủng nhưng không tìm lời giải đáp nào. Một trong những điều mà họ muốn thét lên, tôi hy vọng rằng họ sẽ thét lên và tôi mong bạn trả lời giúp họ. "Đức Chúa Trời ơi, Ngài ở đâu? Ngài có chăm sóc chúng con không?"
Một trong những điều mà chúng ta cần học tập là cầu nguyện thành thật như tác giả Thithiên đã đến với Chúa. Tôi rất thường sử dụng các Thithiên để đến với các bệnh nhân. Tôi nổ lực giúp họ cách cầu nguyện trong lúc họ bệnh hoạn. Bạn có biết là tác giả Thithiên giận dỗi đối với Đức Chúa Trời không? Họ sẵn sàng biểu lộ sự sợ hãi, sự tổn thương, sự đau khổ và tình trạng thất vọng của mình (77:1-12).
Bạn có biết phải cần lượng đức tin chừng nào để có thể đối diện với Đức Chúa Trời và thưa: "Đức Chúa Trời ơi, Ngài ở đâu?" Bạn thấy phải có được bao nhiêu lượng đức tin mới có thể đối diện với Đức Chúa Trời và nói rằng: "Tôi không tin Ngài đâu?" Phải có một lượng đức tin lớn. Tôi nghĩ rằng Ngày chẳng chút bối rối mà Ngài còn mỉm cười hân hoan, sung sướng khi chúng ta tin cậy Ngài đến mức độ ấy. Chúng ta tin cậy Ngài đến đỗi chúng ta nỗi giận với Ngài khi chúng ta bị tổn thương và đến với Ngài với sự sợ hãi của chúng ta, Ngài đã giang tay ra và nói rằng: "Hãy đến đây cho phép ta ôm con và thương yêu con". Bạn có biết khúc Kinh Thánh nào mô tả điều đó không? Đây là lời diễn ý của EsIs 66:12-13. Hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời rất yêu thương bạn.
Một phần của câu giải đáp nghịch lý cho toàn thể nan đề đau khổ là sự việc người ta buộc. Đức Chúa Trời đến với họ và chính Ngài phải xem xét nan đề của chúng ta ra sao, thế giới này ra sao. Nếu Đức Chúa Trời chỉ sai các tôi tớ Ngài đến thì chưa đủ. Chúng ta cần có một Thượng Đế mà chúng ta biết rằng Ngài thật sự hiểu biết và chăm sóc chúng ta. Nhưng bạn biết không? Khi bị tổn thương, chúng ta phải hiểu rằng Đức Chúa Trời đã đến và chính Đức Chúa Trời đã mang lấy nhân tính. Hãy tin tôi, Ngài đã thấy và cảm nhận cho chính Ngài thế giới này ra sao rồi. Chúa Jesus đã có cùng một thân thể như bạn và tôi. Trong cơn đau đớn tận cùng Ngài cũng đã thét to lên như tôi và bạn trên thập tự giá và trong sự đau khổ mà Ngài cảm xúc. Vượt trên mọi người trên lịch sử, Chúa Jesus đã gánh chịu đau khổ cao độ khi chịu bạc đãi. Toàn thân Ngài treo vặn vẹo trên thập tự. Tôi nghĩ rằng sự kiện lịch sử này phải có một tác động sâu xa trên chúng ta.
Khi bạn hồi tưởng lại điều này, giữa muôn con người chỉ có Chúa Jesus đã từng trải những khổ đau của con người trong thân thể, trong xúc cảm đến một mức độ và bạn và tôi chưa từng hiểu nỗi. Ngài đã ở trong sự cô đơn, mệt mỏi và đói khổ. Chính Ngài đã bị Satan tấn công, những người ngưỡng mộ tìm lợi vây phủ, và kẻ thù bách hại. Tuy thế, Ngài đã tự hạ mình xuống, hướng về quê hương Thiên thượng. Trọn cuộc đời trên đất, Ngài bị hiểu lầm, chế giễu và nhạo cười. Đôi lúc gia đình cho là Ngài bị điên rồ. "Có điều gì tốt ra từ Nazarét không?" Là câu nói đùa cợt tiêu biểu của dân tộc Do thái.
Jesus thường được gọi là "con người vô tích sự" đến từ Nazarét, tuy thế vào lúc mười hai tuổi Ngài đã đánh đổ sự không ngoan nhất của các nhà lãnh đạo tôn giáo. Vậy thì Ngài được ví sánh như thế nào? Đây là điều thú vị. Kinh Thánh không đưa ra một hình ảnh ví sánh Ngài giống ai, ngoại trừ một hình ảnh duy nhất. Trở lại với Êsai 53:2;, đây là điều duy nhất Kinh Thánh bày tỏ về Ngài như sau: "Người không có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ, khi chúng ta thấy người, không có sự tốt đẹp cho chúng ta ưa thích được". Đy là vì những đau đớn khổ cực mà Ngài mang.
Những người bạn láng giềng của Ngài từ lúc nhỏ đã đuổi Ngài ra khỏi làng. Họ tìm cách giết Ngài. Người ta nhạo cười Ngài. Và cuối cùng đứng trước Philát, họ đã hét to: Hãy giết hắn, hãy giết hắn!"
Mức độ đau đớn của Ngài trong xúc cảm lẫn tâm hồn quá lớn trong vườn Ghếtsêmanê đến nỗi những xung đột bên trong tạo ra áp lực căng thẳng ép máu trào qua các mạch máu và các tường chắn của mao mạch cho đến lúc nó rịn ra thành những giọt mồ hôi máu. Đó mới là sự bối rối, căng thẳng và bị đè nén. Đó là sự tranh chiến. Đừng bao giờ nói với người khác rằng họ sẽ không bao giờ trải qua sự xung đột hoạt những cảm xúc rắc rối. Đừng khuyên rằng họ không nên la hét lên để được giải cứu, đừng nói rằng họ không nên chán nãn, thất vọng hoặc bối rối lo lắng.
Tôi đã nghe nhiều người nói với người bệnh là: "Bạn biết không chán nãn và thất vọng là tội lỗi". Có những lúc bạn bị tổn thương hoặc bị bệnh ung thư hay đau tim, nếu không chán nãn thất vọng bạn có thể điên lên được, vì có nhiều lần thất vọng là câu giải đáp có ý nghĩa đối với các hoàn cảnh của bạn. LuLc 22:43-44 cho chúng ta biết rằng Chúa Jesus đã "ở trong sự đau khổ" và một Thiên sứ từ trời... thêm sức cho Ngài, cho nên rõ ràng Chúa cũng gánh chịu những hình thức thất vọng khác nhau.
Trong thư viện của tôi có một quyển sách. Lý do duy nhất mà tôi giữ nó là vì cớ một lời tuyên bố của một người rất nổi tiếng đã viết nhiều sách về tâm lý học "hiện đại". Ông cho rằng thất vọng, chán chường là tội lỗi. Về phương diện con người, thì đây là câu nói không thực tế chút nào. Có nhiều căn bệnh tạo ra sự chán nãn thất vọng về phương diện tâm lý, và không có một phương pháp tâm lý hay thuộc linh nào có thể ngăn chặn được. Hoặc là bó tay, hoặc là Đức Chúa Trời phải thi hành một phép lạ. Giảm glucôza huyết là căn bệnh điển hình. Có nhiều loại thuốc được dùng để chữa trị các căn bệnh khác nhau, có tác hại trên tâm trí của người mắc bệnh. Sự tác động trên tâm trí của người ấy tạo ra sự chán nãn, bối rối. Nếu bạn cho người ấy biết rằng chán nãn là tội lỗi tôi mong rằng bạn sẽ bị tống ra khỏi phòng vì bạn đáng bị như vậy.
Nếu bạn buộc người khác không nên lo lắng, bạn sai trật rồi đó. Khi Chúa Jesus đối diện với sự khiếp sợ về sự đóng đinh, Ngài cũng lo lắng trong vườn Ghếtsêmanê mà chúng ta còn kém xa Ngài về sự mạnh mẽ. Vì thế đừng khuyên người khác không nên thất vọng hoặc lo lắng. Thay vào đó hãy giúp họ đối phó một cách hiệu quả với nan đề họ gặp. Hãy giúp họ nhìn xem Chúa Jesus và thấy tình yêu của Ngài trong bạn.
Bạn có biết một Cơ đốc nhân đắc thắng là gì không? Tôi có thể giao cho bạn một tờ giấy và nói: "Hãy ghi lại định nghĩa một Cơ đốc nhân đầy dẫy Thánh Linh, lấy Đấng Christ là trung tâm và đắc thắng. Hãy ghi lại ý tưởng trước tiên đang có trong trí bạn và ý nghĩa theo xúc cảm đầu tiên của bạn. "Tôi đã làm điều này nhiều lần. Đôi lúc câu trả lời giữa sự tin tưởng trong trí khác với xúc cảm của bạn. Nhưng có rất nhiều người thật sự cảm thấy rằng nếp sống của một Cơ đốc nhân đắc thắng là người hoàn toàn không phạm tội. Đây là mức cảm xúc cơ bản. Họ tự nhủ: "Nếu tôi phạm tội, nếu thất bại, nếu phạm tội, nếu không thật sự tin cậy Chúa với cả tấm lòng, thì tôi không phải là người đắc thắng".
Nhưng đừng nãn chí vì cảm thấy bạn không trọn vẹn. Phaolô gởi thư cho người Êphêsô là các Cơ đốc nhân trung tín và cho các thánh đồ hoặc các Cơ đốc nhân vô tội. Ông không gởi cho những người trọn vẹn. Đôi lúc làm một Cơ đốc nhân đắc thắng đơn giản có nghĩa là có thể đứng vững. Sự toàn hảo có nghĩa là "đúng đắn theo cách nhìn của Đức Chúa Trời" và chính Chúa Jesus là cách khiến cho chúng ta được như vậy
Vì vậy, một Cơ đốc nhân đắc thắng theo ý nghĩa này là trọn vẹn.
Có nhiều bạn cảm thấy mình quá xấu đến nỗi từ bỏ địa vị Cơ đốc nhân của mình. Bạn có thể nói rằng: "Tôi còn có ích lợi gì? Bạn biết đó, lâu lắm rồi tôi chưa thấy, chưa nghe tiếng Chúa, tôi không còn nhận biết tiếng nói của Ngài nữa. Tôi cảm thấy không còn được tương giao với Ngài. Thật là kinh khủng". Bạn chỉ muốn từ bỏ mọi sự. Nếu vị Mục sư chủ tọa đến thăm bạn tại giường bệnh lúc ấy, bạn không kể cho ông ta điều bạn nhận xét, vì bạn hiểu rằng ông ta sẽ không hiểu.
Nằm trên giường bệnh theo kiểu ấy chắc có lẽ mình bị liệt, ví dụ. Như đang khi bạn cảm xúc điều đó, bất thình lình sứ đồ Phaolô đứng cạnh bạn và biết mọi sự về bạn ông sẽ nói: "Anh có biết không? Anh là một Cơ đốc nhân đắc thắng!!! Một Cơ đốc nhân đắc thắng là một người không bỏ đi. Nó không có nghĩa là một người không muốn bỏ đi. Nó có nghĩa là người ấy sẽ không bỏ đi. Bạn thấy không, bạn đã được ấn chứng cho đến ngày cứu chuộc.
Nếu bạn thật sự muốn khám phá chính mình. Khi bạn thật sự bị tổn thương. Hãy nghĩ đến việc rũ bỏ mọi sự. Tôi nói rằng "hãy nghĩ đến việc từ bỏ, hãy kêu la về điều đó". Tôi muốn nói rằng: Bạn hãy "tiến tới và lấy hết cảm xúc của mình mà kêu to lên. Nếu bạn thật sự suy nghĩ về Đấng Christ và những gì Ngài đã trải qua vì bạn, bạn có nhận ra được điều gì không? Tôi tin rằng bạn sẽ không làm điều đó. Theo quan điểm của Phaolô ở Êphêsô chương một, Cơ đốc nhân đắc thắng là người vô tội vì huyết và sự chuộc tội của Đấng Christ. Kinh Thánh không nói về sự trọn vẹn, nhưng nói về sự vô tội.
Tôi đang đứng trước mặt Đức Chúa Trời và được huyết của Đấng Christ che phủ. Tôi khám phá ra rằng Đấng Christ đã bù đắp cho những khác biệt giữa những gì tôi có và những gì tôi cần để được trọn vẹn trong hiện diện của Đức Chúa Trời. Trong dòng huyết đã được bao phủ bằng sự thương yêu của Ngài, tôi là người trọn vẹn theo quan điểm của Đức Chúa Trời. Tôi là người cũng giống như Ngài trong tiến trình được tạo nên. (Hãy lưu ý là trong tiến trình này). Được tạo nên điều gì? Được khiến nên thánh, có nghĩa là được hoàn toàn hay trọn vẹn.
Ngài nói rằng Ngài sẽ hoàn tất công việc này vào lúc nào? Phaolô nói trong Philíp 1:6; như sau: "Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em". Ngài sẽ làm gì? "Ngài sẽ thực hiện cho đến lúc trọn vẹn". Vào lúc nào? "Cho đến ngày của Chúa Jesus Christ". Vì vậy trừ khi được biến hóa, hoặc qua đời vào trong sự hiện diện của Ngài, bạn đừng kết án mình là không trọn vẹn nữa. Tôi không có ý nói chơi đâu. Mọi người cần biết điều này khi họ tổn thương.
Bạn đang đi trên con đường thuộc linh nhưng vì đời sống hôn nhân, con cái, đau khổ và bệnh tật, bạn đã bước hai bước đã té nhào, bạn đã thất bại. Đó là tất cả những gì bạn có thể xoay sở được. Nhưng bạn và tôi phải làm gì? Chúng ta chổi dậy, tự trách mình, đánh đập mình vì cớ chúng ta đã bước được hai bước rồi vấp ngã. Nhưng bạn biết Đức Chúa Trời đang làm gì không? Đức Chúa Trời đang đứng trên trời, các chứng nhân vây lấy như một đám mây, Ngài chăm nhìn bạn Ngài nói rằng: "Hãy nhìn xem con gái ta, ta rất hãnh diện về nó. Nó đã bước đi hai bước". Ngài đến với bạn, con trai con gái nhỏ bé của Ngài. Ngài bế bạn lên, lau bạn sạch, xiết lấy hôn bạn và bảo đảm với bạn là bạn vẫn bình thường. Rồi Ngài vỗ nhẹ và nói. "Bây giờ hãy tiếp tục. Thử lại và bước thử bước khác". Đây là ý nghĩ thực hành bước đi theo Thánh Linh.
Chúng ta phải làm gì? Chúng ta đã bước hai bước và vấp ngã, và chúng ta đến với thằng bé đáng thương đó bên trong chúng ta, lột tả nó ra, đánh vào mông nó vì thất bại. Rồi chúng ta tự hỏi tại sao mình lại không bước đi một cách vững vàng. Chúng tôi cũng tự hỏi tại sao đôi lúc chúng ta mất đi mối giao thông với Đức Chúa Trời. Theo cách suy nghĩ của tôi thì có lúc Chúa buồn rầu vì cách mà chúng ta đối xử với con trẻ của Ngài. Tôi bàn đến điều này với một sự tôn trọng vì chúng ta cũng là các con trẻ. Theo Eph Ep 4:29, chúng ta phải xử với chính mình trong một ý hướng gây dựng để có thể truyền đạt ân điển nhờ đó chúng ta có thể lại chổi dậy và lại bước đi.
Hãy nhớ trong trường hợp của Chúa Jesus người ta nói rằng: "Ngài là Vua!" rồi sau đó họ nhiếc móc và giễu cợt. Họ ném chiếc áo màu tía lên thân thể Ngài, máu chảy từ lưng Ngài chảy xuống chân và đóng cục trên chiếc áo dài. Những người này chùn lại giữa đám đông. Ước mơ của họ về một vị vua quyền năng đã tiêu tan. Họ nói rằng: "Con người này là Đức Chúa Trời ư? Không thể tin được!" Ngay cả các môn đệ của Ngài, là những người yêu Ngài và theo Ngài đến ba năm trường, viễn ảnh này cũng lu mờ. Họ đã thối chí, và sợ bị phát giác là đã ở với Ngài. Giấc mơ của họ về một người cai trị uy quyền đã trở nên một cơn ác mộng khi người ấy bị kết án một cách đau đớn và đáng thương. Hãy khắc họa lại cảnh ấy qua việc đóng những cây đinh dài vào thân thể và máu chảy ra cho đến lúc chết cùng thân thể vùi kéo, xoắn mạnh khi chôn cây thập tự, và những cánh tay nữa.
Bạn có bao giờ thấy một người phung trong khu vực tập trung của họ chưa? Tay của họ bị xoắn lại một cách kỳ cục, đôi lúc chúng bị xoắn lại trở nên những hình hài quái dị. Tôi nhớ lại một câu chuyện được một bác sĩ ở sở hội truyền giáo Cơ đốc kể lại về một người phung và ông ta đang giúp đỡ. Ông nói: "Bạn có biết tại sao khi Chúa Jesus từ trời trở lại mà vẫn còn in các dấu đinh trên tay của Ngài không? Tôi tin rằng vì suốt cả cõi đời đời, mọi điều Ngài phải làm là nhìn vào đôi tay của Ngài và lập tức Ngài có thể nhận ra sự đau khổ, sự hấp hối, sự chịu đựng và việc làm mất đi tính người đã vặn vẹo, uốn cong và hủy phá thân thể và tâm trí của con người. Đức Chúa Trời nắm giữ sự đau khổ ấy trước mặt Ngài đến đời đời. Ngài nhận biết và thấu hiểu.
Chúng ta đã nghe nói nhiều về sự chịu khổ và cũng đã thấy nhiều về những nỗi khổ đau, đôi lúc chúng ta trở nên mất cảm giác và không còn quan tâm đến. Cũng vậy, chúng ta suy nghĩ đến sự đóng đinh rồi nó đi từ tai nầy qua tai kia. Chúng ta thật sự quên đi cơn hấp hối, sự đau khổ hiện hữu tại đó. Chúa Jesus trong nhân tánh và đỉnh cao của sự hấp hối, là giáo sư cầu nguyện vĩ đại nhất, là người cầu nguyện ưu việt nhất trong lịch sử, Chúa Jesus đã khám phá ra rằng lời cầu nguyện của mình không được nhậm, làm thế nào chúng ta dám nói với người khác rằng người ấy có gì sai trật khi mà người ấy cảm thấy rằng. Đức Chúa Trời không trả lời cho mình, vì cớ mình đang chịu đau đớn và đau khổ?
Bạn có bao giờ bị tổn thương quá độ đến nỗi bạn cảm thấy lời cầu nguyện của mình vang lên đến trần nhà rồi dội lại không? Tôi tin chắc rằng ai trong chúng ta cũng cảm thấy như vậy. Một khi bạn bị tổn thương quá độ qua đau khổ, bệnh tật, trong tinh thần hay thể xác, thông thường một trong những điều mà đau khổ gây ra là bạn bắt cảm thấy lời cầu nguyện của mình thật không được nhậm. Bạn thật sự cảm thấy Đức Chúa Trời từ bỏ mình.
Hãy đọc lại toàn bộ Thithiên 77 trong quyển Living Bible nếu có thể được. Chúng tôi gọi Thithiên này là một Thithiên của một bệnh nhân ung thư. Hãy nhìn xem những câu hỏi đầu đắng cay và giận dữ của tác giả Thithiên này khi giận dỗi với Đức Chúa Trời. Rồi bạn sẽ biết, mình cũng có cùng một cảm xúc căn bản của một người đang mắc bệnh ung thư cảm thấy và cách người ấy suy nghĩ. Về Đức Chúa Trời. Dù trong đau khổ người có thể biết hoặc không biết đến những gì mình đã nói, họ chỉ cảm thấy như vậy. Họ có thể cảm thấy bị Đức Chúa Trời từ bỏ. Nhưng bạn có biết không Chúa Jesus là Đấng cầu nguyện và là giáo sư cầu nguyện vĩ đại nhất cũng thấy tâm trí mình là bị Đức Chúa Trời từ bỏ, vì Ngài đã kêu lên rằng: "Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?"
Bạn thử suy nghĩ về điều này: Tôi thường nghe một số người rao giảng rằng: "Vào lúc ấy Đức Chúa Trời quay lưng lại với con độc sanh của Ngài nên các từng trời trở nên tối tăm. Đức Chúa Trời đã lìa bỏ Ngài. Ngài không có ở đó. Ngài đang ở một nơi nào". Điều này không đúng sự thật. Đức Chúa Trời là Đấng ở khắp mọi nơi và biết mọi sự, vậy thì Ngài ở đâu? Ngài ở ngay địa điểm ấy. Thật ra Đấng Christ đã không bị Ngài lìa bỏ. Đức Chúa Trời đang ở bên cạnh Ngài như thịt với xương. Nhưng vì cớ sự đau đớn, chịu khổ sự hấp hối cùng những kinh khủng của con người đã lấn áp Ngài, cơn sốt và bệnh tật chạy khắp thân thể Ngài, trong nhân tánh, cảm xúc của Ngài thấy rằng mình bị Đức Chúa Trời từ bỏ. Đây cũng là điều mà bạn và tôi cũng kinh nghiệm như vậy khi chúng ta chịu đau đớn.
Nếu lúc Chúa Jesus cảm thấy bị Đức Chúa Trời từ bỏ, dù xét về mặt thần học, thực ra Ngài không bị từ bỏ. Đừng bao giờ cảm thấy mình sai trật điều gì khi bạn cảm thấy mình bị từ bỏ, mặc dầu bạn thật sự không bị từ bỏ. Hãy nhớ rằng, Chúa Jesus không bao giờ nhận được câu trả lời khi Ngài cầu nguyện: "Đức Chúa Trời tôi ơi, Ngài ở đâu?" Bạn có biết tại sao không? Ngài chính là câu trả lời! Câu trả lời là Đức Chúa Trời không đi đâu cả. Lời giải đáp là ngay cả trong sự sợ hãi, đau khổ mà con người cho là độc ác thì Đức Chúa Trời đem sự tha thứ, sự cứu rỗi, sự Cứu chuộc và vinh quang đến. Đức Chúa Trời đã đánh bại quyền năng của sự chết và sự sợ chết.
Hãy nhớ rằng dù bạn đang cảm xúc điều gì đi nữa, Đức Chúa Trời không từ bỏ bạn. Tôi không thể bỏ qua điều này được. Những ai bị tổn thương phải nhận biết điều này.
Nếu những ai đang tổn thương không thể cảm thấy tự do thoát khỏi sự sợ hãi, nếu họ không thể loại bỏ ý tưởng cô đơn và bị từ bỏ. Họ đang bị đè nén. Ví dụ như người ấy đang ở trong tình trạng đè nén hệ bạch cầu. Họ đang ngăn trở sự sản sinh các kháng sinh do hệ bạch cầu tạo ra để chống lại tế bào ung thư hoặc các chứng bệnh khác. Họ đang tiếp tục triệt hạ hệ thống sinh lý miễn dịch tự nhiên của họ. Đây là một trong những nguy hiểm khi đè nén sự sợ hãi.
Trong bệnh viện, chúng tôi đã học được rằng 24 phần trăm tất cả bệnh nhân ung thư, họ là những người vô thần người theo thuyết Bất khả tri, người Tin lành, Do thái giáo, Công giáo, phong trào ân tứ và báp tít, có 84 phần trăm người tin Chúa, tuy nhiên họ tưởng rằng Chúa hình phạt tội lỗi của họ bằng bệnh ung thư trí óc họ không suy nghĩ điều đó nhưng cảm xúc của họ tin như vậy. Hầu hết tin như vậy trong tâm trí lẫn cảm xúc của họ. Đây là một trong những thái độ tiêu cực bạn có thể rút ra từ bệnh nhân ung thư.
Bạn sẽ không thể sống trong sự chấn thương hoặc trong một hoàn cảnh mạng sống bị đe dọa mà lại thiếu đi bốn điều này: 1. Bạn phải có một vài ý nghĩa; 2. Có một mục tiêu; 3. Phải có hy vọng và 4. Bạn phải có sự chấp nhận. Bạn cần có bốn điều này. Đây không phải là hy vọng để được chữa lành, nhưng hy vọng! là hy vọng rõ rằng.
Tôi phải chấp nhận chính mình, điều này có nghĩa là thực tế chấp nhận con người và tình trạng của mình. Ví dụ như chính tôi mắc bệnh ung thư và đau tim và không thể đi nhanh một trăm mét. Nhưng bạn biết không, dù bệnh tật, tôi vẫn là một người có giá trị. Tôi vẫn có thể chấp nhận chính mình và đây là điều bạn phải có. Phải có hy vọng và chấp nhận. Rồi bạn cần có một vài mục đích cho cuộc đời bạn, bằng không bạn sẽ không có ý chí để tiếp tục sống. Nếu bạn không có bốn điều trên. Bạn sẽ trải qua điều gọi là "chứng teo tâm lý". Nói cách khác, nếu bạn bỏ qua, điều ấy sẽ giết bạn. Bạn vẫn còn sống và dường như đã chết. Hơn nữa, bạn sẽ chết hàng ngàn lần dù chỉ chết một lần trong thân thể vật chất. Vì thế, điều quan trọng nhất phải ghi nhớ là, cả bệnh nhân lẫn gia đình của bệnh nhân phải có bốn điều này: Ý nghĩa, mục đích, hy vọng bà sự chấp nhận.
Bây giờ, nếu bạn thật sự tin rằng Đức Chúa Trời hình phạt tội lỗi của bạn bằng cách đem bệnh ung thư đến, làm sao tôi có được ý chí để sống trên đất này? Làm thế nào tôi có thể đấu tranh với Đức Chúa Trời và tiếp tục tiếp sống? Tôi muốn đấu tranh với Đức Chúa Trời, và không thể làm điều đó.
Làm sao tôi có thể đấu tranh với Đức Chúa Trời và đắc thắng? Tôi không thể làm như vậy. Như bạn biết tôi làm gì không? Tôi bắt đầu hướng lên một phương hướng phải nhận, chối bỏ, với những phương hướng khác cho thân thể mình. Nếu tôi tập trung vào niềm tin vững chắc rằng Đức Chúa Trời hình phạt, nếu đây là ý nghĩa tôi rút ra được qua bệnh tật của tôi, kết quả là tôi đang dựng lên một vật cản hoặc một hệ thống tiêu cực trong thân thể đến nỗi trong một vài trường hợp nó hạn chế hoặc phá hỏng hiệu quả của hóa liệu pháp, phương pháp phóng xạ cùng sự chữa trị bằng chất cobult. Nhưng thậm chí tội không biết rằng mình đã làm điều ấy.
Nếu tin rằng ý nghĩa và mục đích của bệnh ung thư mà tôi đang mang là hình phạt của Đức Chúa Trời và tôi ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời mình, tôi đang dựng lên một chướng ngại vật trong thân thể mình và điều này sẽ ngăn cản các phương pháp chữa trị bằng y học. Hơn nữa, nó sẽ làm giảm đi lượng kháng thể mà cơ thể tôi sản xuất ra để tấn công các tế bào của bệnh ung thư trong thân thể tôi.
Trở lại với Chúa Jesus, khi Chúa Jesus cầu nguyện và không nhận được sự nhậm lời, dường như trái đất chấn động, mặt đất rung chuyển, đá bắn tung tóe, mồ mã mở ra, người chết sống lại. Mặt trời ẩn mặt trong ba giờ. Đấng tạo hóa minh chứng một cách đầy kinh ngạc phẩm chất của con người. Bạn có biết chúng tôi gọi đó là gì không? Đây là tính dũng cảm. Về phương diện thần học, nó cũng được gọi là "ân điển đầy khả năng của Đức Chúa Trời". Một trong những phép là chữa lành vĩ đại nhất trên thế giới này là ân điển đầy khả năng của Đức Chúa Trời.
Hãy nhớ điều Phaolô trình bày trong IICo 2Cr 4:16. "Dầu bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới ngày càng hơn". Ngôn ngữ hiện đại thì: "Dù thân xác con người bên ngoài, thân thể vật chất của tôi đang chết đi, con người bề trong thuộc linh, được đổi mới mỗi ngày". Một điều lạ lùng là trong thời điểm của Phaolô, nếu bạn đọc biết sách IICôrinhtô ông gần qua đời. Cũng trong thời gian ấy hoặc một thời gian ngắn sau đó, ông bị hạn chế trong chức vụ giáo sĩ của mình. Chính trong quá trình này Phaolô khám rằng ông cảm thấy mình yếu đi. Ông có phần suy sụp và mệt mỏi trong thân thể đến nỗi ông không thể đối phó hiệu quả với các nan đề của mình. Trong những ngày tận cùng ấy, Phaolô nhận biết lẽ thật khó tin: Đy là dù thân xác của ông đang chết đi, con người bề trong của ông đang đổi mới. Tôi muốn nói thêm là, tóm tắt điều Phaolô nói trong dấu ngoặc. Hơn nữa cuối cùng điều này có tác động trên thân xác của ông.
Có một trường hợp tại bệnh viện của chúng tôi là một phụ nữ hai mươi chín tuổi đã mắc bệnh Hodgkin. Cô ta có ba đứa con và phải trải qua nhiều lần giải phẩu. Tin hay không thì điều cô đã trải qua bảy năm trong giai đoạn cấp bốn, tức là giai đoạn cuối cùng. Cô ta đã không biết mình bị bệnh này trong mười hai năm. Không có ai nói cho cô ấy và chưa bao giờ giải quyết điều ấy.
Qua diễn trình mà Phaolô đã mô tả, cô ta khám phá lẽ thật này trong Kinh Thánh: Dù con người bề ngoài hay hư nát, người bề trong được đổi mới (4:16). Cổ của cô ta, đến xương ống, phổi gan đều nhiễm bệnh Hodgkin này. Tuy nhiên chúng tôi chỉ thu nhập bản tường thuật xét nghiệm lần cuối và sau hai năm áp dụng phương pháp trị liệu thuộc linh thường xuyên trên thân thể và tâm trí cô ấy, sau đó xét nghiệm lại phần xương ống cũng như các bộ phận khác, chúng tôi không còn thấy một dấu hiệu ung thư nào trên cổ, trong gan cũng như trong xương ống. Những gì còn lại là một vài cục bướu lớn trên bụng mà thôi và chúng đã bắt đầu teo lại. Các bác sĩ đều thống nhất thử hóa liệu pháp kết hợp với ân điển liệu pháp và cô ta trở về bằng máy bay đến Alaska. Bình thường cô ấy không thể nào sống được trong bảy năm với bệnh Hodgkin ở cấp bốn.
Tâm hồn của Chúa Jesus trải qua giờ phút tan nát nhưng lại không bị phá vỡ, Phaolô cũng vậy. Điều này được này được gọi là: "Ân điển đầy khả năng của Đức Chúa Trời". Họ chịu đựng nhờ ân điển và hy vọng của Đức Chúa Trời. Trong giai đoạn cuối cùng, họ được cứu giúp.
Có khả năng đóng góp được gì cho nan đề đau khổ đến từ tôn giáo dựa vào biến cố như sự đóng đinh? Chúng ta đang bàn đến vấn đề đau đớn và sự chịu khổ chứ không đề cập đến sự tha thứ tội lỗi. Tôi muốn nói với bạn điều này tôi cần phải ghi nhớ những khi bị tổn thương và không muốn nhận bất cứ câu trả lời nào khác là: "Trên thập tự giá, chính con của Đức Chúa Trời đã không chống nỗi với sự khổ đau và Ngài đã chết".
Tôi có thể học tập một phần quan trọng khác đối với vấn đề chịu đóng đinh là: Dù hoàn cảnh thế nào, đi nữa thập tự cho bạn và tôi biết rằng chúng ta không bao giờ bị bỏ rơi. Điều này được áp dụng cho đứa trẻ bị tăng bạch cầu, người sắp phát điên lên được vì hoàn cảnh sống. Dù cho hoàn cảnh ra sao đi nữa, thập tự cho chúng ta biết rằng chúng ta không bị bỏ rơi. Chúng ta không chịu khổ một mình vì Đức Chúa Trời thấu hiểu chúng ta. Ngài hiểu chúng ta vì Ngài ở trong hoàn cảnh đó.
Hình ảnh thập tự mà Chúa Jesus đã để lại cho thế giới, một hình ảnh rất bình thường trong tôn giáo Cơ đốc, là lời giải đáp quan trọng nhất đối với nan đề đau khổ và chịu khổ mà tôi biết được, vì thập tự cho tôi biết điều này. Qua thập tự Chúa Jesus nói rằng: "Ta quan tâm đến con, điều này bày tỏ ta quan tâm đến con nhiều biết chừng nào. Ta yêu con. Điều này chứng tỏ ta yêu con ra sao". Đừng bao giờ để cho hoàn cảnh nói với bạn về sự chăm sóc, sự thấu triệt, tình yêu của Ngài đối với bạn nhiều như thế nào. Chỉ có thập tự giá mới cho bạn biết là Ngài quan tâm đến bạn ở mức độ nào, chứ không phải hoàn cảnh hay xúc cảm của bạn.Lời minh chứng cao cả nhất cho thấy Đức Chúa Trời quan tâm đến những khổ đau, chịu đựng của bạn là sự kiện con Ngài đã chết. Ngài đã chết qua việc chịu khổ. Bạn có thể tưởng tượng ra nỗi đau đớn thể xác của con người trong thân thể của Chúa Jesus khi lòng Ngài tan vỡ không? Thật sự tôi chưa bao giờ hiểu được điều ấy cho đến lúc gặp một ca chữa trị về động mạch về vành cung cấp máu cho tim. Không ai có thể quên được sự la hét, cơn hấp hối và kinh sợ của bệnh nhân ấy. Không có ngôn từ của loài người có thể diễn tả nỗi thống khổ như vậy. Cơn đau của những bệnh nhân ung thư rất lớn là lớn đến nỗi bạn giậm gót chân hơi mạnh khi đi ngang qua phòng họ nằm, tiếng động ấy cũng đủ tạo ra những cơn co giật đau đớn. Bạn không dám phủ một tấm ra lên thân thể của họ vì cơn đau gia tăng đến nỗi cứ bốn giờ chích 20cc thuốc gây mê cũng không hiệu quả gì. Bạn biết không, chỉ cần 22cc thuốc gây mê là có thể đủ cho một ca giải phẩu ở bụng rồi, nhưng đối với bệnh nhân ung thư thì mức độ đó chẳng nghĩa lý gì. Khi thấy những cơn đau đớn đó, tôi biết rằng chính con của Đức Chúa Trời chịu những điều này kinh khủng là dường nào.
Bạn có biết rằng Cơ đốc giáo là tôn giáo duy nhất trên khắp thế giới có một Đức Chúa Trời hết lòng quan tâm đến nỗi trở nên một con người và vì cớ những khổ đau đó mà chết chăng?**
11. Chúa Jesus đã nêu lên một gương mẫu để chúng ta biết phải làm gì trước những tình huống khác nhau này. Hãy đọc những đoạn Kinh Thánh sau đây và tóm tắc các bài học chúng ta học được qua những khổ đau của Chúa Jesus trong từng câu này. Các bài học này có thể trở nên những nguyên tắc trong việc chăm sóc cho những người bị tổn thương.
a. EsIs 50:6 ...
b. 53:1-6 ...
c. Mac Mc 15:34 ...
d. LuLc 22:44 ...
e. GiGa 12:27 ...
f. HeDt 13:12 ...
g. IPhi 1Pr 3:18 ...
12. Định nghĩa một Cơ đốc nhân đắc thắng như được trình bày trong Eph Ep 1:3-14 ...
...
13. Đọc Thi Tv 77:1-20 (Thithiên của một người bệnh ung thư) và trả lời những câu hỏi sau"
a. Câu 1-2. Bạn tả tình trạng thuộc linh, thuộc thể tâm lý của tác giả Thithiên như thế nào? ...
...
b. Câu 3-4. Mô tả tình trạng thuộc linh, tâm lý, thuộc thể trong các câu này.
...
c. Câu 5-9. Mặc dù ông cầu nguyện, nhưng vẫn đau khổ. Hãy liệt kê ra các câu hỏi của ông? ...
...
14. Khoanh tròn mẫu tự trước câu ĐÚNG
a. Nếu một bệnh nhân không có cảm xúc bình thường là cảm thấy bị bỏ rơi và giận Chúa thì bệnh tật của người ấy phức tạp hơn.
b. Không bị chê trách và không hề phạm tội giống nhau.
c. Người cố vấn phải nhắc nhở các bệnh nhân của mình đừng công kích, hoặc không nên có các cảm xúc lẫn lộn, chán nãn hoặc lo lắng.
d. Tổn thương, thất bại, và chịu khổ phải được xem là cơ hội để tăng trưởng và bước tới trưởng thành.
e. Người chịu khổ, đau đớn và lo lắng sẽ thấy rằng các xúc cảm này thường đánh lừa hoặc đè nén lý trí.
f. Người mà mạng sống đang bị đe dọa chấp nhận chính mình, vị trí của mình và biết mình có giá trị là điều rất quan trọng.
9. Chứng teo tâm lý là kết quả của một người chịu đau khổ nhưng không có hy vọng, không có mục đích sống, cũng không biết ý nghĩa sống.
h. Nếu một bệnh nhân tin rằng mình đang chịu khổ vì cớ tội lỗi đã gây ra, người ấy cần thấy Đức Chúa Trời là Chúa của tình thương.
i. Dù hoàn cảnh của chúng ta tệ hại đến mức độ nào, thập tự cho ta biết rằng ta không cô đơn và Đức Chúa Trời không lìa bỏ chúng ta.
j. Minh chứng cao cả nhất về sự săn sóc của Đức Chúa Trời được nhìn thấy qua sự kiện Ngài đã chết trong khi chịu khổ vì chúng ta.
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CỐ VẤN
Đức Chúa Trời đang quan tâm đến những người đang ở trong những hoàn cảnh mà mạng sống đang bị đe dọa. Ngài quan tâm đến mọi nhu cầu của chúng ta. Chúa Jesus muốn chúng ta trở nên một phương tiện để truyền đạt ân điển của Ngài cho những ai đang đau khổ. Chúng ta phải dành tình yêu của Ngài, tình yêu đó trở nên tình yêu của chúng ta cho những người đang có nhu cầu hầu họ có thể kinh nghiệm được sự tự do. Một trong những công việc có giá trị nhất mà người cố vấn Cơ đốc có thể hoàn tất đơn giản là hiện diện ở đó, giống như Đấng yên ủi, là người đi theo để săn sóc và lắng nghe.
Hãy cẩn thận xem xét các câu Kinh Thánh trích dẫn này từ EsIs 42:6-7 và 43:1-4. Chúng biểu thị một cách minh bạch rằng Đức Chúa Trời đang quan tâm đến những ai đang chịu khổ và cách mà Ngài muốn chúng ta ra đi: "Ta, Đức Giêhôva, đã kêu gọi ngươi trong sự công bình".
Ta sẽ nắm tay ngươi và giữ lấy ngươi.
Ta sẽ phó ngươi làm giao ước của dân này,
Làm sự sáng cho các dân ngoại.
Để mở mắt kẻ mù,
Làm cho kẻ tù ra khỏi khám,
Kẻ ngồi trong tối tăm ra khỏi ngục!
Bây giờ, hỡi Gia cốp!
Đức Giêhôva là Đấng dựng nên ngươi, phán như vầy: Đừng sợ, vì ta đã chuộc ngươi;
Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi, ngươi thuộc về ta khi ngươi vượt qua các dòng nước,
Ta sẽ ở cùng;
Khi ngươi lội qua sông, sẽ chẳng che lấp
Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy,
Ngọn lửa chẳng đốt ngươi.
Vì ta là Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi
Đấng thánh của Ysơraên, Cứu chuộc ngươi;
Vì ta đã coi ngươi là quí báu, đáng chuộng,
Và ta sẽ yêu ngươi,
Nên ta sẽ ban những người thế ngươi,
Và các dân tộc thay mạng sống ngươi!
Hãy xem xét cẩn thận, điều mà bạn là người cố vấn có thể làm hoặc quan hệ với người đang bị nan đề cuộc sống đe dọa. Bạn có thể là:
1. Người xây dựng một mối liên hệ giúp đỡ, trị liệu.
2. Một người bạn gần gũi hơn anh em ruột.
3. Một người lắng nghe đáng tin cậy, quan tâm với thiện cảm và thấu hiểu.
4. Một người ngồi chung với người khác.
5. Người thêm sức.
6. Người truyền đạt ân điển và Đấng Christ.
Trở nên phương tiện để Chúa Jesus hành động.
Suốt Kinh Thánh, một khi Đức Chúa Trời có một công tác cần thực hiện, Ngài thường kêu gọi một người nam hay một người nữ thực thi điều đó. Dĩ nhiên, Ngài cung cấp phương tiện cho mỗi người hầu học thực hiện nhiệm vụ nhưng nói một cách cơ bản, Đức Chúa Trời hành động qua con người.
15. Kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta là chinh phục người hư mất và chữa lành người bệnh tật. Hãy xem xét các phần Kinh Thánh sau đây và cho biết chúng ta phải làm gì.
a. Mac Mc 16:17-18 ...
b. Cong Cv 1:8 ...
c. IICo 2Cr 2:14 ...
d. 3:2-3 ...
Về cơ bản ta có thể nói là chúng phải đáp ứng những nhu cầu của nhân loại bằng cách giới thiệu Đấng Christ cho mọi người đang có nhu cầu. Chúng ta là đại biểu của Đức Chúa Trời trên đất.
16. Khi nghĩ đến đám đông bị tổn thương, chúng ta có thể thấy bị áp đảo hoàn toàn, nhưng theo 4:16 làm sao có thể đáp ứng với cảm xức này?
...
Khi có dịp tiện giúp đỡ những người ở trong hoàn cảnh bị cuộc sống đe dọa, bạn cảm thấy thế nào? Bạn có thể đưa ra những lời hứa nào từ lời của Đức Chúa Trời thúc đẩy bạn bước vào chức vụ này? Điều quan trọng hơn hết là mỗi chúng ta nhận thức rằng chúng ta được kêu gọi, là những tín hữu được sanh lại, là bàn tay của Đức Chúa Trời rộng mở cho thế giới đau thương.
Yêu thương và cứu giúp đem lại tự do.
GiGa 13:33-35; LuLc 4:18-19; EsIs 58:6-10
Lời yêu cầu của những người đang đối diện những hoàn cảnh mà cuộc sống bị đe dọa là: "Một ai đó tự hiến mình cho tôi, không phải làm việc cho tôi nhưng để hiểu và giúp đỡ tôi hiểu, một ai đó có thể chấp nhận tôi, không từ bỏ tôi, một ai đó đồng hóa với người ấy với mọi nan đề của tôi; một ai đó lắng nghe, chia xẻ và giúp đỡ tôi tìm sự sống, một ai đó giúp tôi giữ mình trong sự sáng suốt chấp nhận tôi và ban cho tôi hy vọng".
17. Đọc GiGa 13:33-35 và hoàn tất bài tập này.
a. Làm môn đệ của Đấng Christ chúng ta phải ...
b. Loại tình yêu chúng ta phải minh chứng cho người khác là...
c. Loại tình yêu rất cần để ...
Nếu chúng ta thật sự yêu nhau như Đấng Christ đã yêu chúng ta, chúng ta sẽ tự nhiên ban cho và tiếp nhận tình yêu. Agape là loại tình yêu mà Chúa Jesus bày tỏ và ban cho cho chúng ta là vô kỷ, phục vụ và kiến dâng. Đây là tình yêu duy nhất khiến chúng ta có khả năng trở nên phương tiện của Đức Chúa Trời để chăm sóc những người hư mất, người sắp chết, người đau thương và có nhu cầu.
18. Trong LuLc 4:18-19 Chúa Jesus tóm tắt chức vụ của Ngài trên đất. Ngài đã nêu lên lý do vì sao Ngài được xức dầu bởi Linh của Chúa. Liệt kê năm lý do.
...
...
Khi bạn xem xét phần Kinh Thánh này, bạn có thể tự nhủ với chính mình là: "Đúng rồi, đây là Chúa Jesus phải làm, nhưng điều này có liên quan gì đến tôi?" Nhưng điều này không tóm tắt lại công việc của người cố vấn khi chăm sóc những người đang ở trong các hoàn cảnh bị cuộc sống đe dọa ư?
19. Đọc EsIs 58:6-7, 10. Ở đây Đức Chúa Trời cho Êsai biết điều mà Ngài mong đợi nơi những người tin ao ước sự chúc phước của Đức Chúa Trời. Sau mỗi phần Kinh Thánh kham khảo, nêu ra điều Đức Chúa Trời mong đợi các môn đệ của Ngài thực hiện.
a. Câu 6 ...
b. Câu 7 ...
c. Câu 10 ...
Ngay đến này hôm nay, con cái Đức Chúa Trời phải đi ra với những kẻ khốn cùng và chăm sóc họ là điều tuyệt đối cần thiết. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng trong mọi sự giúp đỡ, chúng ta cần ghi khắc lời của Chúa Jesus rằng người ta sẽ biết chúng ta là môn đồ của Chúa. Phaolô lập lại nguyên tắc này trong ICôrinhtô chương 13.
Hiện diện trong sự đau khổ.
Mat Mt 4:13-16; Cong Cv 1:8; RoRm 5:5
Là những người cố vấn, chúng ta phải nhận thức rằng những người trong các hoàn cảnh thương đau không thể cảm nhận được các tư tưởng trừu tượng. Để hình thành trong trí óc họ về một Đức Chúa Trời yêu thương và quan tâm là điều hầu như không có được khi họ đang tổn thương quá độ và không thể nào suy nghĩ đúng được. Trong những tình huống này, các bệnh nhân cùng gia đình của họ rất sợ bị từ bỏ: Thật ra họ cảm nhận quá nhiều về thực tế đến nỗi cảm thấy nó bất nhân. Họ thường nghĩ rằng họ đã đánh mất lý trí. Làm sao Đấng Christ có thể đến với họ? Đấng Christ có thể dâng chính mình Ngài cho họ qua chúng ta là đại biểu của Ngài trên đất.
20. Đọc RoRm 5:5. Tình yêu của Đức Chúa Trời đổ vào lòng chúng ta bằng cách nào? ...
21. Theo Cong Cv 1:8, chúng ta phải là... của Đấng Christ hoặc đại biểu của Ngài trên đất.
22. Trong Mat Mt 5:13-16, Chúa Jesus gọi chúng ta là "muối của đất" và "ánh sáng của thế gian" Ngài cho chúng ta biết rằng "hãy soi trước mặt người ta". Tại sao? ...
Khi đặt loạt các câu Kinh Thánh này lại với nhau chúng ta sẽ thấy rằng trước tiên, ta phải tiếp nhận sự yêu thương của Đức Chúa Trời vào lòng ta, sau đó chúng ta phải là chứng về tình yêu ấy bằng cách để cho các việc làm tỏ bày cho người khác mức độ Đấng Christ yêu chúng ta cũng như là yêu thương người khác. Chúng ta là các đại biểu của Ngài, họ chỉ thấy Đấng Christ qua chúng ta. Chúng ta sẽ không là những chứng nhân hữu hiệu tình yêu lớn lao của Ngài nếu chúng ta không đến với những người đang đau thương. Bạn cần ghi nhớ, chúng khởi đầu phần này bằng cách liệt kê những điều chúng ta cần thực hiện để những người khác biết chúng ta quan tâm và yêu mến họ. Đấng Christ muốn truyền đạt ân điển, sự thâu nhận, quý trọng, sự cởi mở và sự hiểu biết đến những người đang đau khổ. Điều này có thể hoàn thành qua chúng ta là các con cái của Ngài.
23. Tromg vở ghi chép của bạn, liệt kê và giải thích tóm tắt ba phương cách cố vấn cho những người mà mạng sống đang bị đe dọa.
Bài làm tự trắc nghiệm
CÂU CHỌN LỰA. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu đúng nhất.
1. Ân điển liệu pháp được định nghĩa là
a "Chữa lành nhờ ân điển"
b. "Công việc được một bác sĩ thực hiện khi chúng ta đau yếu".
c. "Chữa lành bởi thay đổi cách suy nghĩ"
d. "Công tác do một nhà trị liệu vật lý".
e. "Công tác Đấng Christ đã hoàn tất trên thập tự".
2. Ân điển liệu pháp được áp dụng qua việc
a. Nhắc người bị tổn thương rằng anh ta phạm tội
b. Giúp cho bệnh nhân đặt cách sống, cá tính thái độ phù hợp với niềm tin thuộc linh.
c. Cho người khác biết là ý Chúa muốn mọi người được chữa lành.
d. Giải thích cho bệnh nhân biết ân điển là gì.
e. Cho bệnh nhân biết bạn đã từng chịu khổ rất nhiều.
3. Kinh Thánh cho chúng ta nhiều bài học về sự chịu khổ. Câu nào trong những câu sau KHÔNG PHẢI là quan điểm chịu khổ theo Kinh Thánh?
a. Sự đau khổ của chúng ta đem sự chữa lành đến cho người khác.
b. Đức Chúa Trời thấu hiểu khi chúng ta suy nghĩ rằng Ngài đã từ bỏ chúng ta.
c. Sự đau khổ đem lại sự sống thuộc linh.
d. Ý của Chúa không muốn cho bất cứ ai chịu khổ.
e. Không có gì xấu hổ khi chịu khổ
4. Khi xem xét Thithiên của người bị ung thư, Ththiên 77, tác giả khám phá chìa khóa cho tình trạng khó xử của mình là phải.
a. Chấp nhận phiền muộn vì không thắng nổi Satan.
b. Chối bỏ sự kiện là anh cảm thấy Đức Chúa Trời từ bỏ anh ta.
c. Nhìn mọi sự theo cách nhân của Đức Chúa Trời.
d. Nhận biết rằng Đức Chúa Trời nổi giận với người đó.
5. IICo 2Cr 4:16 cho biết chúng ta "không chán nãn, vì dù người bề ngoài hay hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới ngày càng hơn, và điều đó có nghĩ là.
a. Chúng ta có thể chối từ vì mọi người đang ở trong diễn trình của sự chết.
b. Làn da bên ngoài của chúng ta từ từ phân hủy nhưng các chức năng bên trong càng trở nên tốt hơn, vì vậy chúng ta phải vui mừng.
c. Bề ngoài chúng ta có vẻ già hơn, nhưng bề trong chúng ta trẻ hơn, vì vậy chúng ta phải có hạnh phúc.
d. Chúng ta không nên thất vọng; dù chịu khổ, nhưng về phương diện thuộc linh chúng ta tăng trưởng.
6. Vai trò của người cố vấn trong việc chăm sóc người khốn cùng là
a. Làm đại biểu yêu thương của Chúa Jesus hiện diện trong đau khổ.
b. Có người đọc vô số câu chìa khóa trong Kinh Thánh về sự chịu khổ.
c. Phô bày cho người chịu khổ tình yêu ra sao người ấy biết nếu yêu thương thì không còn đau khổ.
d. Giúp người ấy nhận ra tội lỗi là lý do mà người ấy chịu khổ.
e. Bày tỏ rằng người ấy không thể nào trọn vẹn được.
SAI ĐÚNG. Viết chữ Đ vào chỗ trống trước mỗi câu ĐÚNG và chữ S nếu là câu SAI.
... 7. Ân điển có thể định nghĩa là "những pháp trị liệu".
... 8. Khi đối diện với đau khổ, điều tự nhiên là cầu xin Đức Chúa Trời chữa lành.
... 9. Chúng ta làm buồn lòng Thánh Linh khi thất bại truyền đạt cho chính mình và người khác.
... 10. Chúng ta phải truyền đạt ân điển cả trên ngôn từ lẫn hành động.
... 11. Đức tin thuộc linh là một thái độ tâm lý.
... 12. Nếu có đủ đức tin, Đức Chúa Trời sẽ chữa lành chúng ta
... 13. Cần phải có đức tin để nói: "Đức Chúa trời ôi, Ngài ở đâu?"
... 14. Ý muốn Chúa là Cơ đốc nhân không chịu khổ.
... 15. Một cố vấn phải nói với bệnh nhân là anh ta không nên lo lắng hoặc bối rối.
... 16. Khi người nào kinh nghiệm đau khổ hoặc lo lắng thì lý luận mạnh mẽ hơn cảm xúc.
... 17. Đôi lúc đau khổ là câu trả lời sáng suốt cho những hoàn cảnh của một người.
... 18. Có những lúc Đức Chúa Trời lìa bỏ chúng ta.
... 19. Nếu một bệnh nhân tin rằng người ấy chịu khổ về tội lỗi của mình, người ấy có thể đắc thắng và phát triển một ý chí để sống nhờ thực hành chứng teo tâm lý.
... 20. Bằng chứng lớn nhất về việc Đức Chúa Trời quan tâm đến chúng ta là Ngài ban cho chúng ta lời hằng sống của Ngài để dẫn dắt chúng ta.
... 21. Thánh Linh là phương tiện của Đức Chúa Trời để chữa lành sự tổn thương.
... 22. Chúng ta phải yêu nhau như Chúa Jesus đã yêu chúng ta để kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho con người phải được hoàn tất.
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
1. Sự cứu rỗi, sự chữa lành.
2. Phương pháp trị liệu
3. Sự chữa lành, ân điển.
4. Ân điển.
5. Sự chữa lành
6. Làm buồn lòng Thánh Linh.
7. a, c, e, f và g là những câu đúng.
8. a, b, c và d là những câu đúng.
9. Vì nó có thể tạo ra cảm giác phạm tội trong người bị bệnh.
10. Nếu bệnh nhân hỏi: "Tại sao điều này lại xảy đến với tôi?" Tôi sẽ giải thích là bệnh tật hiện diện trong thế giới này là kết quả của tội lỗi và sự hành động của Satan. Sự gian ác không đến từ Đức Chúa Trời, nhưng từ Satan thực tế, Đức Chúa Trời đã đắc thắng kẻ ác. Đây là lý do tại sao chúng ta được chữa lành trong cuộc đời này thì trong cõi vĩnh cửu chúng ta được chữa lành mãi mãi. Rồi sẽ không còn đau đớn, bệnh tật hay nước mắt.
11. Câu trả lời của bạn. Tôi sẽ trình bày nhưng sau:
a. Ngửa mặt lên, không có gì là hổ thẹn cả.
b. Sự đau khổ của chúng ta có thể chữa lành kẻ khác.
c. Cảm thấy rằng Đức Chúa Trời từ bỏ chúng ta là cảm giác đúng đắn.
d. Chịu khổ là dịp tiện để cầu nguyện.
e. Đừng để sự chịu khổ khiến ta xao lãng phục vụ Chúa.
f. Chịu khổ là dịp tiện giới thiệu cho người khác về Đấng Christ.
12. Một Cơ đốc nhân đắc thắng không chạy trốn dù bất cứ hoàn cảnh nào.
13. Câu trả lời của bạn có thể khác.
a. Anh ta ở trong sự kinh hoàng và chán nãn, anh chịu khổ không ngừng, anh đến với Chúa.
b. Về phương diện thuộc linh anh yếu đuối, về thuộc thể anh ta không thể nói cũng không thể ngủ được, về tâm lý anh bối rối.
c. Đức Chúa Trời có luôn luôn từ chối ta không? Chúng ta có bao giờ thấy đặc ân của Ngài chưa? Tình yêu vững bền của Ngài có biến mất không? Đức Chúa Trời có quên thương xót không? Ngài có giận dữ và khép lòng thương xót của Ngài không?
d. Nhìn xem mọi sự trong cái nhìn của Đức Chúa Trời và nhớ lại các việc lành mà Ngài đã thực hiện trong quá khứ.
14. a, d, e, f, g, i, và j là những câu đúng.
15. a. Chúng ta phải đem sự giải cứu và chữa lành
b. Chúng ta phải là những chứng nhân.
c. Chúng ta phải truyền bá tri thức về Đấng Christ.
d. Chúng ta là những bức thư của Đức Chúa Trời để con người đọc.
16. Chúng ta "không chán nãn, vì người bên ngoài càng hư nát, thì người bề trong ngày càng đổi mới".
17. a. Yêu thương nhau
b. Giống như tình yêu của Chúa Jesus,
c. Người ta biết chúng ta là môn đồ của Chúa Jesus.
18. 1. Rao giảng Tin lành cho kẻ nghèo, 2. Tuyên bố sự tự do cho kẻ bị tù, 3. Kẻ mù được sáng 4. Giải cứu kẻ bị đè nén, 5. Tuyên bố năm ơn ban của Chúa.
19. Các câu trả lời của bạn có thể khác.
a. Bẻ xiềng bất chính, mở những dây trói của ách, buông tha kẻ bị đè nén, bẻ gãy mọi ách.
b. Chia xẻ lương thực cho kẻ đói, cung cấp chỗ ở và áo quần cho người nghèo.
20. Qua Thánh Linh
21. Các chứng nhân
22. "Để họ thấy những việc lành của các ngươi và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời".
9. Chịu khổ đem lại sự sống thuộc linh.
23. 1. Là một ống dẫn bằng cách giới thiệu Đấng Christ cho người đang có nhu cầu trong khi thực hiện điều bạn có thể làm để đáp ứng nhu cầu đó. 2. Yêu thương và cứu giúp đem lại sự tự do, bằng cách yêu thương người chịu khổ với Agape và giải cứu người ấy khỏi cảm xúc của sự không tự giúp đỡ và sự vô dụng. 3. Hiện diện trong sự chịu khổ, bằng cách nhận biết vị trí của người chịu khổ và cùng hiện diện với người ấy mà không mong trả ơn.


CỐ VẤN CHO NGƯỜI BỆNH THẬP TỬ NHẤT SINH
Bài học này về thực chất là phần kết nối tiếp theo bài học trước. Bài trước chúng ta đang đề cập đến là bài chăm sóc người đang dối diện với các hoàn cảnh mà các nan đề cuộc sống đe dọa. Bài học này hướng về chủ đề chăm sóc người chết và gia đình của họ.
Trong thư IICo 2Cr 4:16; 5:10 Phaolô xem sự chết là đá kê bước hầu hoàn tất mục đích của Đức Chúa Trời. Điều này gợi ra chủ đề chúng ta sẽ theo dõi trong bài học này. Rất nhiều người sợ chết hoặc không biết làm sao đối phó với điều này. Trước khi có thể chăm sóc người sắp chết hoặc gia đình của người chết, chính người ấy phải biết về diễn trình của sự chết thắng hơn nỗi sợ chết. Một trong những câu hỏi thông thường gia đình của người quá cố đặt ra là: "Tại sao người thân của tôi phải bị cất đi?" Không ai trong chúng ta dù là Mục sư hoặc người cố vấn có thể thoát khỏi sự chết. Những con người gần gũi với chúng ta như bạn đồng nghiệp. con cái, cha mẹ, bạn bè đều phải qua đời. Chúng ta đang ở trong một vị trí được gọi đến để sử dụng mọi điều có được để chăm sóc họ.
Trong bài học này chúng ta sẽ xem xét diễn trình của sự chết và cách mà bạn có thể tiếp cận với sự chết trong một kinh nghiệm tăng trưởng. Bạn cũng sẽ khám phá cách mà bạn có thể tìm thấy mục đích và ý nghĩa trong sự chết. Vì cớ những người sắp qua đời và những người khác mà chúng ta có dịp chăm sóc đến, hãy học tập giúp đỡ người khác thấy rằng sự chết là một kinh nghiệm có giá trị.
Tiến trình của người sắp qua đời
Đối với chính người ấy
Đối với gia đình của người sắp qua đời
Chuẩn bị để chăm sóc những người sắp qua đời
Các cảm xúc về sự chết
Đặc điểm của người cố vấn
Các điểm mấu chốt trong việc chăm sóc người sắp qua đời.
Khi học xong bài học này bạn có thể:
Ể Mô tả tiến trình của sự chết liên hệ đến người sắp chết cũng như gia đình của người ấy.
Ể Trình bày thái độ của Kinh Thánh đối với sự qua đời.
Ể Định nghĩa các tính chất cần thiết dành cho người cố vấn khi chăm sóc người sắp qua đời.
Ể Nhận ra những từ ngữ then chốt liên hệ đến các phương cách chăm sóc người sắp chết.
Ể Chăm sóc người sắp chết và gia đình của họ.
1. Theo dõi phần triển khai của bài học, trả lời các câu hỏi và kiểm soát lại các câu trả lời theo điều bạn vẫn làm.
2. Kiểm tra lại trong phần chú giải thuật ngữ để tìm các định nghĩa bất cứ các từ mấu chốt mà bạn chưa biết.
3. Hãy đọc kỹ các phần Kinh Thánh trích dẫn đã nêu trong phần triển khai bài học trước khi trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
4. Làm bài tự trắc nghiệm ở cuối bài học này. Kiểm tra lại câu trả lời của bạn với những câu trong tập dành cho học viên và ôn lại bất cứ câu trả lời nào chưa đúng.
Mất người thân
Sự giảm thiểu
Cô đơn vì ly biệt.
DIỄN TRÌNH CỦA NGƯỜI SẮP QUA ĐỜI
Khi nhắc lại vấn đề tiến trình của sự chết, chúng ta phải đề cặp đến hai câu hỏi sau: Thứ nhất. Tiến trình của sự chết liên quan gì đến người sắp chết? Câu hỏi thứ hai là: Tiến trình của sự chết liên quan gì đến gia đình của người sắp qua đời của người sắp qua đời?
Cẩn thận xem xét khung 12.1 cho thấy rằng tiến trình của sự chết chia thành các giai đoạn khác nhau hoặc các biến cố. Những giai đoạn hoặc các biến cố này không nhất thiết phải xuất hiện trong mọi trường hợp cũng không theo một diễn tiến có thể đoán biết trước. Thực tế thì một vài giai đoạn hoặc biến cố này có thể xảy ra cùng lúc.
Đối với chính người ấy
Làm việc với cá nhân người sắp qua đời là điều khó nhất, trừ phi người cố vấn hiểu tiến trình sự chết và có thể thấy rằng có sự chu toàn trong sự chết. Hãy xem lại khung 12.1 và thấy rằng mỗi một sự phân loại hướng về một ý nghĩa hoặc mục đích.
** Điều này xảy ra với người sắp chết và gia đình người ấy là một nan đề đang được y khoa thăm dò. Trong những năm gần đây, y khoa đã đi đến kết luận cho rằng sự chết là một diễn trình.
Tôi có một người bạn hiện làm tuyên úy trong ban quản trị tại bệnh viện cựu chiến binh tại Seattle, Washington. Ông là một nhà tiên phong trong lãnh vực chăm sóc các bệnh nhân vô phương cứu chữa. Ông phục vụ như một giáo viên bán thời gian ở tại một trường đại học địa phương. Ông làm việc chung với các bác sĩ, các nhà tâm lý học và tâm thần học. Có nhiều điều rất thú vị xảy ra tại bệnh viện này. Nhiều người nhận được lời tuyên bố là vô phương cứu chữa đã tìm được ý nghĩa và mục đích cho cuộc đời họ và đã sử dụng tiến trình của sự chết này để giúp đỡ người khác.
Một lần nọ, tôi đã được xem một cuộn băng video do một nhóm người gần qua đời sản xuất. Một vài người đã bị cắt đi nhiều phần trong thân thể của họ vì ung thư trầm trọng. Có một người nọ, vì bị ung thư nên bị cắt mất bộ phận phát âm. Ông đạ học nói nhờ sự duy chuyển của không khí qua một cái loa phóng thanh nhỏ gắn trên người ông ta. Ông ta ngồi với những người bệnh vô phương cứu chữa và giúp đỡ họ bằng các nói về ý nghĩa, mục đích và sự sống động của sự sống. Điều này có được nhờ những người như Chaplain Whitaker muốn học cách sử dụng tiến trình của sự chết để cung cấp sự sống và mục đích cho những ngườ sắp qua đời. Vì vậy, chúng ta hãy xem tiến trình của sự chết.
Một bài khảo sát trở nên một tác phẩm được công nhận trong lãnh vực này được trình bày trong một quyển sách gọi là sự chết và người sắp qua đời của Elizabeth Kubler-Ross, một chuyên gia tâm thần học. Cô và một số sinh viên y khoa phỏng vấn một số người gần qua đời để khám phá ra các giai đoạn của tiến trình qua đời khi cô có dịp. Mục tiêu là sử dụng những dữ liệu này để giúp đỡ người sắp qua đời. Cô ta cũng viết một quyển sách khác gọi là các câu hỏi và lời giải đáp về sự chết và những người sắp qua đời. Tác phẩm này bao gồm các câu hỏi và lời giải của nó về sự chết và những người sắp qua đời được ghi lại từ trên 700 cuộc hội thảo dành cho các Mục sư và các nhà tâm lý học.
Trở lại với khung 12.1. Hình này có tựa là "Tiến trình của người sắp chết" phần cuối cùng cho biết những khám phá của Elizabeth Kubler-ross. Trước khi xem xét những khám phá của cô ấy, chúng ta hãy lưu ý sơ qua các khám phá của những người khác.
Có những người khác thực hiện thêm các nghiên cứu trong lãnh vực này. Gloria Francis đã nhận ra năm giai đoạn mà người chết phải trải qua gồm có: Sự phủ nhận, sự lo lắng, thoái bộ, sự chán nãn và thực tế điều chỉnh. Robert Neul cũng đã nghiên cứu những lãnh vực này. Có lẽ công trình nghiên cứu có giá trị hơn là công trình của Nighswonger. Ông là một tuyên úy trước đó đã làm việc chung với Kubler-Ross và người tiên phong hữu ích trong lãnh vực này.
Hãy lưu ý đến các giai đoạn mà Nighswonger đã nhận ra trong diễn trình của người sắp qua đời. Cũng hãy lưu ý đến bản liệt kê của ông đối với các phản ứng của tình trạng lành mạnh cũng như không lành mạnh hòa hợp với mỗi một giai đoạn. Ví dụ như ông thấy sự phủ nhận ở tình trạng lành mạnh, trong khi sự kinh hoàng ở tình trạng không lành mạnh. Cần giảm thiểu sự giận dữ hơn là chán nãn. Sự mặc cả là điều thiết yếu hơn là rút lui. Theo Nighswonger, điều tốt nhất là tìm thấy ý nghĩa và hy vọng hơn là rơi vào sự cay đắng và tuyệt vọng. Chấp nhận tốt hơn là cam chịu. Thỏa lòng hơn là cô đơn. Cũng hãy lưu ý rằng mới một phản ứng của tình trạng lành mạnh có một sự chuyển hướng về mục đích và ý nghĩa. Điều này cho chúng ta thấy rằng diễn trình của người sắp qua đời có thể trở nên một kinh nghiệm tăng trưởng.
1. Sự phủ nhận: Bây giờ chúng ta hãy đi vào phần nghiên cứu của Elizabeth Kubler-Ross, nhưng đã được trình bày trong phần cuối cùng của hình 12.1. Có năm giai đoạn tiến đến sự chết. Giai đoạn đầu tiên là sự phủ nhận. Cô ấy nói rằng khi người ta nhận thức rằng mình sắp qua đời, họ có khuynh hướng nói rằng: "Không phải tôi, không phải tôi. Điều này không thể xảy đến cho tôi". Bác sĩ nói: "Bệnh của bạn ở vào gai đoạn chót không hy vọng sống đâu, bạn còn sống được khoảng sáu tháng nữa". Bệnh nhân sẽ nói với chính mình hay người khác. "Lạ thật, không phải tôi. Điều này không xảy đến với tôi đâu". Lời giải có tính cách tâm lý cho rằng đời sống đi đến chỗ kết thúc là phủ nhận sự thật vì bị sốc. Sự kiện này quá lớn vượt quá khả năng chấp nhận của con người.
2. Giận dữ. Giai đoạn thứ hai là giận dữ, được diễn tả qua các câu hỏi sau: "Đức Chúa Trời ôi! Tại sao lại là con?" Tại sao Ngài lại để điều này xảy đến với con?" Sự giận dữ này có thể được đổ trên đầu người khác. Đôi lúc những người gần qua đời trở nên giận dữ với các y tá bác sĩ và ngay cả các Mục sư nữa. Họ giận dữ vì họ sắp chết và cảm thấy mình bị đối xử một cách bất công.
3. Mặc cả: Giai đoạn thứ ba trong sự nghiên cứu của Kubler-Ross là mặc cả. Có lẽ chúng ta điều nghe câu chuyện của người mẹ sắp chết nói rằng: "Con sẽ vẫn sống cho đến khi Johny trở về" Khi Johny trở về bà ấy đã để nhiều thì giờ nói chuyện với anh ấy, rồi sau đó bà ta tắt hơi. Người ta thường trao đổi, mặc cả với Đức Chúa Trời. Họ nói rằng: "Lạy Đức Chúa Trời, nếu Ngài làm điều này, tôi sẽ làm điều kia". Nếu Ngài còn để cho con sống lâu, thì con sẽ thực hiện sự cam kết này". Đây là cách duy nhất mà người ta xử lý với những cú sốc. Đây là cách họ ráng sức làm giảm sự đau đớn do tác động trực tiếp của thực tại là sự chết đã đến gần.
4. Chán nãn. Giai đoạn thứ tư hiển nhiên là sự chán nãn, về phương diện tâm lý, cảm xúc chán nãn đúng như từ ngữ này diễn tả. Chính là cảm xúc bị chìm đắm hoàn toàn và bị xô dạt. Cảm xúc này lấn áp anh ta cho đến lúc anh ta không còn hy vọng, không còn ý nghĩa sống và không biết đi đâu.
5. Chấp nhận. Giai đoạn thứ năm cũng là giai đoạn cuối cùng trong công trình nghiên cứu của bác sĩ Kubler-Ross là sự chấp nhận. Một trong điều có được sau khi quan sát các Cơ đốc nhân là họ không nhất thiết phải trải qua tất cả các giai đoạn này. thực tế những người không phải là Cơ đốc nhân cũng vậy. Ví dụ, một phụ nữ nọ trong hội thánh của chúng tôi mà tôi đã chăm sóc đã không trải qua mọi giai đoạn này. Tôi không nghe cô ta mặc cả với Đức Chúa Trời. Nhưng thay vào đó cô ấy cầu nguyện và xin Chúa dẫn dắt gia đình của cô. Cô ấy cũng không giận dữ. Trong suốt những ngày bệnh tật cô ta phó thác cho Chúa mọi điều mà Ngài đặt để.
Nhiều người cứ lẫn quẫn với các giai đoạn này, từ chỗ phản đối đến giận dữ rồi mặc cả, cuối cùng lại giận dữ đến chán nãn. Các giai đoạn trong diễn trình bước vào sự chết không phải như đi lên cầu thang đâu. Bạn không cần bỏ qua cái này rồi tiếp tục cái khác kế đó. Chúng đều có thể biểu lộ chồng chất lên nhiều lần khác nhau.
Howard Clinebell nêu lên một khung sườn để kham khảo dành cho việc cố vấn mà ông gọi là: "Công tác cố vấn về sự tăng trưởng". Chủ đề hoặc các nguyên tắc hành động đã nhấn mạnh trong phương pháp của ông là dịp tiện để tăng trưởng. Ông tin rằng điều này phù hợp với thực tế trước mọi khủng hoảng trong cuộc đời, dù là vấn đề xung đột trong hôn nhân, mất mát người yêu hoặc qua đời. Mỗi một cơn khủng hoảng có thể là lý do để tăng trưởng rút ra một quan điểm Kinh Thánh. tôi đồng ý với quan điểm này. Tôi nghĩ rằng đây là cái nhìn của Kinh Thánh.
Khi chúng ta gặp một người đang ở trong tình trạng nêu trên, mục tiêu của chúng tôi là hiểu được cảm xúc của người ấy và chăm sóc đúng theo tình trạng hiện hữu. Mục tiêu đầu nhất là giúp đỡ mỗi một người thấy được mục đích và ý nghĩa của đời sống mình. Đây là nổ lực giúp anh ta tăng trưởng.**
1. Nêu lên năm giai đoạn của người sắp qua đời, như đi được Elizabeth Kubler-Ross nêu lên. ...
2. Vì có nhiều giai đoạn khác nhau liên quan đến người sắp chết, sự chết được xem là.
a. Một biến cố
b. Một tiến trình
c. Một sự cần yếu
d. Điều gì cần quên lãng
3. Mục tiêu đầu nhất nào người cố vấn phải xử lý với người bị bệnh trong tình trạng vô phương cứu chữa?
...
4. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu ĐÚNG
a. Họ sẽ trải qua tất cả năm giai đoạn
b. Các Cơ đốc nhân có thể vượt qua một số giai đoạn của người sắp chết.
c. Người chán nãn bị cảm thấy đưa đẩy tới lui.
d. Có một cơ hội tăng trưởng trong mỗi một giai đoạn của người sắp qua đời.
e. Sự giận dữ được liệt kê vào trong những phản ứng của tình trạng không lành mạnh.
5. Xem xét những mục phân loại của Nighswonger về các phản ứng trong tình trạng lành mạnh hay không lành mạnh của người sắp qua đời. Nối kết mỗi phản ứng (bên trái) phù hợp với giá trị của nó (phải).
... a. Hy vọng hiện thực, tìm được ý nghĩa
... b. Chán nãn phạm tội sỉ hổ
... c. Thỏa lòng và buồn rầu
... d. Giảm thiểu giận dữ.
... e. Cay đắng, thất vọng, phiền muộn
... g. Phủ nhận
... h. Chấp nhận
6. Nối kết giai đoạn (phải) với định nghĩa (trái)
... a. Hầu hết mọi người phản ứng bằng cách nói "Chúa ơi, tại sao lại là con, tại sao Ngài để điều này xảy đến với con?"
... b. Có người nói: "Con sẽ vẫn sống cho đến khi Johny trở về nhà".
... c. Người sắp qua đời có một nhận thức đúng đắn về sự chết và có thể dùng điều đó để giúp đỡ người khác.
... d. Người sắp chết nói rằng: "Không, không phải con. Điều này không thể xảy đến với con đâu"
... e. Người sắp qua đời cảm thấy bị áp đảo vô hy vọng và vô mục đích.
Tôi tin rằng bạn sẽ có một tri thức tốt hơn về những gì mà một người sắp qua đời mong ước. Hãy suy nghĩ đến các giai đoạn của người sắp qua đời và sẵn sàng chăm sóc họ một cách tích cực khi bạn có cơ hội.
Đối với gia đình người ấy.
Điều này sẽ xảy ra trong gia đình khi một người thân yêu sắp qua đời? Đây là thời gian quan trọng đối với mỗi người. Mọi người rồi cũng sẽ trải qua các giai đoạn này. Vì không được hướng dẫn một cách thích đáng, họ ngăn trở tiến trình tăng trưởng đang xảy ra trong chính người sắp qua đời. Họ cần phải hiểu rõ những gì xảy ra trong người thân sắp qua đời và họ cũng cần hiểu điều gì sẽ xảy đến trong chính bản thân của họ.
** Chúng ta hãy xem xét những gì chúng ta có thể mong đợi trong gia đình có người sắp qua đời trong tiến trình mất mát người thân. Đôi lúc chúng ta có khuynh hướng bỏ qua giai đoạn sau khi người ấy đã mất. Chúng ta cần gặp gia đình trước đám tang và chăm sóc họ. Đám tang kết thúc chúng ta cũng thường ra đi và quên lãng mà không nhận thức rằng cú sốc của kinh nghiệm mất mát người thân vẫn còn. Nó vẫn tồn tại sau nhiều năm.
Tôi có đọc được một câu chuyện gần đây về một cô gái hai mươi hai tuổi vừa mất mẹ. Vào lúc bốn mươi tuổi cô ấy mới có cái triệu chứng bị sốc, vào lúc ấy cô ta mới cho phép một vài xúc cảm bộc lộ ra. Cảm xúc mất mát người thân đã chưa thật sự lộ ra cho đến lúc này.
Đôi lúc chúng ta loại bỏ mọi cảm xúc. Chúng ta không muốn lắng nghe và không cho phép người khác buồn rầu một cách bình thường về người thân yêu đã khuất.
Wayne Oates, một văn sĩ và một Mục sư cố vấn đã viết lại nhiều quyển sách mà tôi ưa thích, trong đó có trình bày sáu giai đoạn tâm lý trong tiến trình mất mát người thân.
Chúng ta đã thảo luận qua tiến trình của người sắp qua đời từ cái nhìn của chính người ấy. Bây giờ chúng ta hướng về gia đình của người đã khuất và kinh nghiệm của học.
1. Bị sốc. Oates nói rằng giai đoạn đầu tiên là họ bị sốc. Cú sốc do chính sự mất mát của người thân. Ông mô tả giai đoạn này là sự náo động đột ngột của cảm xúc áp đảo trên lý trí đến nỗi những người ở trong tình huống đó không thể xem xét đầy đủ vấn đề. Họ đã bị chế ngự hoàn toàn vì cớ sự mất mát của người thân. Nói về mặt chuyên môn học đang đi đến chỗ mất cảm giác. Họ không thể đáp ứng một cách thích đáng với cảm xúc bộc phát này.
2. Tình trạng mất cảm giác, chết lặng giai đoạn thứ hai là hậu quả chết lặng do bị sốc. Trong tình trạng chết lặng này, người ta mất cảm giác. Bề trong như băng giá, cảm xúc bị tê liệt. Tinh thần của họ không tìm được chỗ giải thoát. Họ không hiểu hoặc không biết bộc lộ bất cứ xúc cảm nào họ có được.
3. Tình trạng tranh chiến. Giai đoạn thứ ba là vật lộn giữa thực tế và ảo tưởng. Điều này liên quan đến tâm trí, cơ sở lý luận. Những người đau đớn vì mất mát người thân thích tưởng tượng và sống trong một thế giới trước đó, nhưng thực tế buộc họ trở về với hiện thực. Đây là sự tranh chiến bên trong. Cảm xúc thường có khuynh hướng là sống trong ảo tưởng vì nó làm cho thỏa mãn. Người ta cứ tưởng tượng và cho là cuộc sống sẽ cứ tiếp tục như vậy mãi, nhưng thực tế không cho phép điều này. Đây là sự đấu tranh. Đó là nỗi đau đớn trước sự kiện thực tế. Chúng ta phải nhận biết sự tranh chiến này, nếu muốn có một sự giúp đỡ có ý nghĩa trong thời gian này.
4. Sự đột phá. Giai đoạn thứ tư là giai đoạn đột phá. Đây là giai đoạn Wayne Oates cho rằng nó có đặc điểm như sau: Cơn lũ ưu tư tràn ngập con người bề trong khi bức tường ảo tưởng bị phá vỡ và người ấy cảm nhận được cơn lũ âu lo tuôn trào ra. Lúc này có sự chán nãn len lỏi vào, sự tự ái trào dâng và làm kiệt quệ sự sống và nghị lực. Cảm xúc này tuôn tràn giống như con đê bị vỡ.
Điều quan trọng cũng cần ghi nhớ là có những giai đoạn đã bị ức chế và có thể lập lại. Có giai đoạn lại kéo dài. Những gì diễn tiến thuộc vào khả năng ứng phó với cuộc sống của người ấy. Những xúc động có thể nén lại được. Sự kiềm chế này ràng buộc nhiều người do ở trong những nền văn hóa nào đó. Giai đoạn đột phá này rất quan trọng và chúng ta cần giúp đỡ điều đó để điều ấy có thể xảy ra trong tiến trình lo âu buồn rầu.
5. Ký ức. Giai đoạn thứ năm mà Wayne Oates đề cập đến là giai đoạn ký ức được tuyển lọc kỹ lưỡng khi đối diện với sự đau khổ. Ông mô tả đặc điểm này trong một thời điểm mà các ký ức và sự đau buồn kéo nhau đến.
Có lẽ bạn cũng đã từng kinh nghiệm hoặc nghe người khác kể lại là khi bước vào một căn phòng, thấy một vật nào đó nhắc nhở lại một người thân yêu và hồi tưởng lại quá khứ.
Mọi cảm xúc về người thân qua đời bộc phát trở lại và trong phút chốc họ đã sống lại với kinh nghiệm cũ.
Vào lúc đó, Vì cảm giác phạm tội nên người ấy nói rằng: "Phải chi mình không cư xử như thế, phải chi mình có mối quan hệ khác hơn. Tại sao mình lại không thực hiện điều đó?". Điều này đặc biệt đúng trong mối quan hệ lứa đôi. Người ta thường trách mắng Đức Chúa Trời: "Chúa ơi! Tại sao Ngài đối xử với con như vậy? Tại sao Ngài lại đem người yêu của con đi?" Những cảm giác này cần phải được chấp nhận là đúng đắn. Nhưng mỗi người cần hiểu sự thật về tình trạng này. Ví dụ như, Đức Chúa Trời không phải là nguyên nhân của chứng bệnh bất trị kia.
6. Chấp nhận. Giai đoạn thứ sáu là giai đoạn. Chấp nhận mất mát và tái xác định lại cuộc sống.
Trong giai đoạn này, về phương diện tâm lý anh ta đã chôn người đã khuất. Anh ta có thể kinh nghiệm được sự phục hồi và bước vào cách sống mới mẻ. Anh ta có thể tái lập lại cuộc sống và tìm thấy một lối sống mới và không hướng về người đã khuất bóng.
7. Wayne Oates trình bày sáu giai đoạn các thành viên trong gia đình người đã khuất trải qua Hãy nêu ra từng giai đoạn.
...
8 Nêu lên những lần mà các thành viên trong gia đình của bệnh nhân trong giai đoạn chót được người cố vấn giúp đỡ.
...
9. Nối kết các định nghĩa (trái) với các giai đoạn mà nó mô tả (phải).
... a. Tình trạng mất cảm giác.
... b. Khả năng chôn một người trong phương diện tâm lý
... c. Sự náo động đột ngột của cảm xúc áp đảo trên lý trí.
... d. Nổ lực tưởng tượng hoặc cho rằng cuộc sống vẫn tiếp diễn.
... e. Sự đau buồn và sự hồi tưởng quá khứ
... f. Cơn lũ ưu tư tràn ngập con người bề trong.
Một khi người cố vấn hiểu được sáu giai đoạn của tình trạng mất ngươi thân, người ấy có thể đồng nhất tình trạng của gia đình với diễn trình của người sắp qua đời. Trong những trường hợp như vậy, mục tiêu của người cố vấn là phải đem gia đình đến giai đoạn chấp nhận. Tuy nhiên, người cố vấn cần nhận thức rằng không phải mọi người đều trải qua sáu giai đoạn, có nhiều người trải qua một cách nhanh chóng và có người lại chậm chạp.
CHUẨN BỊ CHĂM SÓC NGƯỜI SẮP QUA ĐỜI.
Bây giờ chúng tôi sẽ đưa ra nhiều đề nghị thực tiễn hơn dành cho các Mục sư, người cố vấn, người chồng hay vợ cũng như bạn hữu nào đang chăm sóc đến người sắp qua đời. Như đã nêu, chúng ta cần giúp bệnh nhân tìm được chân giá trị, sự tăng trưởng và mục đích để tiếp tục sống và qua đời. Chúng ta cũng xem xét cách đem sự chữa lành đến cho những người đang mất mát người thân.
Các cảm xúc trước sự chết
Thái độ và cảm giác về sự chết của chúng ta dựa trên những kinh nghiệm quá khứ không cần phải có giá trị để ứng dụng vào các kinh nghiệm của người khác. Chúng ta không thể chăm sóc người khác đúng mức nếu không thể hiểu rõ về sự chết. Hầu hết mọi người đều rùn lại trước ý tưởng chết chóc vì nó tiêu biểu sự kết thúc của cuộc đời mình. Họ cho rằng đây là điều vượt quá kinh nghiệm của mình vì thế họ không đếm xỉa đến. Cũng vậy, khi bước vào kinh nghiệm mất mát của người khác cũng có thể hiến cho một phần nào đó trong con người họ chết đi. Cho nên khi xử lý với những cảm giác riêng của chúng về sự chết, chúng ta phải đem các cảm giác của mình đến chỗ hòa hợp với lời của Đức Chúa Trời.
** Chức vụ với những người sắp qua đời và gia đình của họ khởi đầu bằng cách tự sửa soạn cho chính mình. Chúng ta phải hiểu rõ các cảm giác của chính mình khi đối diện với sự chết.Gần đây, gia đình tôi hội hiệp lại với những người thân trong những ngày nghĩ lễ giáng sinh. Chú vợ của tôi, một nhà truyền giáo hưu trí từ Blivia cũng có mặt. Ông đã hầu việc Chúa trong lãnh vực truyền giáo hơn bốn mươi năm nay. Ông đã lớn tuổi nhưng lại vui vẻ và khỏe mạnh.
Đang khi ngồi nói chuyện gẫu thì ông ta đang đùa với các con gái của chúng tôi qua trò chơi bằng đồng tiền và chúng tôi có nhiều thì giờ vui thú. Hôm nay là tối thứ tư nhưng vào sáng thứ sáu tôi nhận được một cú điện thoại cho biết là ông ta đã qua đời.
Tôi không biết rõ về người đàn ông này, nhưng tôi đã biết yêu thương và quí trọng ông ấy vì cớ đức tin và sự thành thật của ông ta. Một vài ngày sau đó chúng tôi đã đến để dự lễ truy điệu. Trong suốt buổi lễ tôi cảm thấy mình có sự mất mát sâu xa mặc dù tôi chưa biết rõ ông ta nhiều lắm. Tôi nhớ đang khi bước vào nhà thờ bên trong cộng đồng của những người hưu trí nơi tổ chức lễ truy điệu. Chúng tôi đứng chung với gia quyến ở phía trước. Khi nhìn lên tôi không thấy chiếc quan tài đâu cả. Tôi đã từng dự nhiều buổi lễ truy điệu nhưng không có quan tài nhưng lần này vì lý do gì đó điều này có một tác động khác hơn trên tôi. Nước mắt tuôn trào, cảm xúc chế ngự toàn cả thân tôi vì cớ sự ra đi của ông ấy. Điều này đưa tôi đến chỗ đối diện với cảm giác của mình về sự chết, hoàn toàn khác với trước đó.
Điều này dẫn tôi đến chỗ khám phá ra rằng một vài phản ứng và cảm giác mà tôi đã có về sự chết ghi sâu trong tôi từ lúc bốn tuổi tại một ngôi làng nhỏ ở Montana. Ông nội tôi làm việc trên một đoạn đường ray dành cho tàu hỏa với chức vụ quản đốc. Vào một dịp nghỉ hè, tôi đến ở chung với ông, bà nội và bà cố trong một căn nhà nhỏ của đội làm việc cách xa thị trấn nhiều dặm.
Trong mùa hè ấy, bà cố tôi từ trần. Buổi sáng hôm ấy chỉ có một mình tôi và bà nội ở nhà. Bà cố của tôi khoảng tám mươi tuổi và cũng hay bệnh lặt vặt. Bà nội cảm thấy cần có người giúp đỡ nên nhắc nhở tôi phải ở nhà với cố và bà nội tôi đi gọi ông. Trong khi bà tôi ra đi bà cố của tôi đã tắt thở. Tôi ráng sức giúp bà cố nói. Vì còn quá bé nên tôi không biết điều gì đã xảy ra. Tôi cảm thấy sợ sệt. Khi đến dự lễ truy điệu người chú vợ, tôi cũng có cùng một cảm xúc này. Qua cảm giác mất mát đến căn phòng không có chiếc quan tài, và sự hồi tưởng lại kinh nghiệm của bà cố trong quá khứ, tôi nhận thức rằng mình có các cảm giác cần phải hiểu rõ.
Khi nhớ lại những đám tang tôi từng hướng dẫn, tôi thấy mình thường lưỡng lự muốn tham gia lễ an tán và sau đó lại muốn rút lui. Tôi không muốn giúp đỡ những con người này vì cảm giác về sự chết ở trong tôi.
tôi nghĩ rằng có vô số điều xảy ra đến với chúng ta khiến chúng ta lẫn tránh người chết. Thomas Howard viết một quyển sách có tựa là Christianity Today (21.11.1969) có ghi lại kinh nghiệm qua đời của con người. Ông nói rằng: "Chúng ta rùn lại trước điều ấy vì nó tiêu biểu cho một con đường cùng". Ông nói rằng đây không phải là chỗ để chơi chữ, nhưng bất cứ kinh nghiệm nào đều có lúc phải đi đến chỗ đường cùng, như đã biết chúng ta không thể làm được điều gì cả, điều này ví như con sông chắn ngang con đường một chiều.
Trong chủ đề trên ông gợi ý là đôi lúc chúng ta lẫn tránh sự chết vì nó vượt qua kinh nghiệm của chúng ta. Chưa ai trong chúng ta từng trải điều ấy trong xác thịt, cũng như trong tình trạng tâm thần bình thường. Ông nói tiếp: "Vì thế khi tất cả những kinh nghiệm này xảy ra, chúng ta trở nên suy sụp và tàn phá mọi sự chúng ta biết được về chính mình và về những người mà ta yêu mến, và thực tế, có sự rút lui, tự nhiên chúng ta phản kháng lại điều ấy". Và theo ông "sự chết là điều kinh khủng cuối cùng theo quan điểm của con người".
Đôi lúc chúng ta lẫn tránh sự chết và các dịp tiện hầu việc liên quan đến điều đó vì chúng ta cảm thấy một phần của chúng ta đang chết hoặc đã chết. Bạn thấy đó, những người này là sự mở rộng của đời sống mình. Khi họ đang đau khổ, chúng ta cũng cảm thấy xót xa với họ. Điều này thật khó chịu và chúng ta muốn rút lui hoặc chậm chí chúng ta đã rút lui hoặc ra khỏi căn phòng ấy. thỉnh thoảng ông Whitaker kể lại cho tôi nghe về các gia đình khi đối diện với điều này tại bệnh viện cựu chiến binh. Và có trường hợp người chồng qua đời, người vợ đã bỏ đi không bao giờ trở lại nữa vì bà ấy không thể đương đầu với sự chết. Chúng ta phải chuẩn bị chính mình bằng cách xem thử mình có các xúc cảm nào về sự chết và đem các cảm xúc và thái độ mà chúng ta có đến chỗ hòa hợp với lời Chúa.
Theo sự hiểu biết của tôi khi tiếp cận với sự chết, chúng ta phải học tập hai điều rất quan trọng. Thứ là các Cơ đốc nhân là loài người vì thế họ cũng dễ buồn rầu. Chúng ta có thể thấy điều này vì họ đã mất đi người thân yêu. Tuy vậy, điểm thứ hai là chúng ta không nên buồn rầu và than khóc như những người không có hy vọng. Chúng ta có được mục đích và ngay cả trong tiến trình của sự chết. Đây là một kinh nghiệm tăng trưởng. Có một chân giá trị được chúng ta tìm thấy và kinh nghiệm ngay cả trong sự chết.
Trong khi phục vụ những người sắp qua đời hoặc đang âu lo phiền muộn, điều quan trọng là chấp nhận cái cảm xúc của họ và không từ chối họ. Một gương mẫu về sự loại trừ các xúc cảm của người khác được xem thấy trong minh họa sau đây: Có người nào đó đến với bạn là: "Tuần sau tôi sẽ nhập viện và sẽ trải qua ca mổ chính". Tôi vội vàng đáp lại: "Không sao đâu, đừng lo lắng về điều ấy, chúng tôi sẽ cầu nguyện cho bạn". Nhưng tốt hơn bạn nên nói rằng. "Gì ghê vậy. Tôi có thể giúp bạn gì được không? Bạn có thích nói đến điều âý không? Tôi có thể cầu nguyện với bạn không?'
Điều chúng ta cần quyết định là: "Tại sao người ấy lại cho tôi biết điều này? Có thể bạn ấy muốn nói với tôi là: "Bạn biết không, tôi sợ phải bước vào tuần lễ sắp tới và tôi thật lo âu về việc đó. Tôi sợ lắm. Tôi muốn biết bạn có sự quan tâm đến tôi. Tôi muốn thấy rằng mình không cô đơn trong lúc này".
Điều quan trọng là hiện diện, lắng nghe và nói chuyện với người khác trong khi chúng ta đến với nhau. Bạn có thể hỏi: "Cảm xúc nào bạn đang có ngay lúc này?" Thật là hữu ích khi cho họ biết rằng bạn không hiểu biết gì nhưng ao ước lắng nghe và nói chuyện. Có thể họ sẽ nói cho bạn nghe điều họ cảm xúc. Chúng ta cần để họ nói: "Tôi sợ quá". Cũng có thể họ nổi giận.
Gần đây khi xây dựng một gia đình nọ có người mẹ trẻ có con đông, đã qua đời vì bệnh ung thư. Gia đình ấy luôn hỏi: Tại sao? Tại sao? Họ đã nổi giận. Thật là khó để họ loại bỏ cảm xúc này, nhưng các anh em của tôi đã chấp nhận họ và cuối cùng họ có thể nói chuyện. Khi họ nói chuyện được thì sự chữa lành bắt đầu.
Tôi tin rằng mọi cảm xúc chúng ta có điều tốt lành cả. Dù tốt hay xấu, các cảm xúc này được xác định do sự biểu hiện và tác động của các cảm xúc này.
Trong đau khổ, chúng ta chắc phải gặp sự giận dữ, buồn rầu, chán nãn cùng nhiều cảm xúc khác. Điều cần làm giúp mọi người sử dụng cảm xúc của họ để tăng trưởng. Ví dụ, sự giận dữ được biểu lộ trên nan đề một cách tích cực chứ không biểu lộ ra với con người.
Trong tiến trình của sự qua đời và sự mất mát người thân, các cảm xúc là phần của con người. Đức Chúa Trời đã đặt trong chúng ta cần dạy dỗ người khác làm thế nào để buông các năng lực cảm xúc này ra với mục tiêu là tăng trưởng **
10. Đọc các phần Kinh Thánh sau đây và cho biết thái độ và đáp ứng trước cái chết như đã được bày tỏ trong khúc Kinh Thánh đã nêu.
a. Dan Ds 23:10 ...
b. Thi Tv 23:4 ...
c. 116:15 ...
d. ChCn 14:32 ...
e LuLc 16:22 ...
f. RoRm 14:8 ...
9. Phi Pl 1:21 ...
h. KhKh 14:13 ...
11. Khoanh tròn mẫu tự trước câu ĐÚNG
a. Khi chăm sóc người sắp qua đời chúng ta phải tùy thuộc vào thái độ và cảm xúc đã có trong chúng ta về sự chết hầu quyết định phải làm gì
b. Chúng ta thường rùn lại trước sự chết vì nó vượt ra khỏi các kinh nghiệm của mình.
c. Chúng ta phải đem những cảm xúc về sự chết của mình đến chỗ hòa hợp với lời của Đức Chúa Trời.
d. Mọi người cố vấn có lương tâm, ngay cả các Cơ đốc nhân đều buồn rầu và than khóc khi hầu việc với người sắp chết và gia đình của họ.
e. Một trong các vấn nạn trong diễn trình bước vào sự chết là không có ý nghĩa và mục đích nào trong diễn trình này.
f. Khi một ai đó chia xẻ lại một kinh nghiệm đáng sợ mà họ đối diện, đặc biệt là sự chết. Điều tốt nhất nên bày tỏ là: "Đừng lo lắng về điều ấy, tôi sẽ cầu nguyện cho bạn".
9. Có sự tăng trưởng có giá trị và một chút vinh quang của Đức Chúa Trời trong diễn trình bước vào sự chết.
h. Nếu người sắp qua đời là một Cơ đốc nhân, không có chuyện gì đáng buồn rầu cả.
i. Mọi cảm xúc trong chính nó là điều tốt đẹp.
j. Khuyên người sắp qua đời đừng lo lắng là tước bỏ cảm tính thực của người ấy.
k. Cho người sắp chết dịp tiện để chia xẻ các cảm xúc thực của mình là một bước quan trọng trong tiến trình bước vào sự chết.
Chúng ta phải ghi nhận trong tâm trí mình là ngay cả một Cơ đốc nhân cũng buồn rầu, nhưng chúng ta không buồn rầu, than phiền như những người mất hy vọng. Chúng ta không còn hiện diện với người thân, tuy nhiên chúng ta biết rằng họ đang ở trên trời nơi Chúa đã chuẩn bị sẵn cho họ. Trong tiến trình sắp qua đời cũng có mục đích và ý nghĩa của nó, có sự tăng trưởng, giá trị và vinh quang của Đức Chúa Trời trong diễn trình ấy.
Các đặc điểm của người cố vấn.
Bạn có bao giờ đặt câu hỏi: "Người cố vấn có thể đem lại điều gì cho người sắp qua đời hoặc gia đình của người ấy?" Bạn có bao giờ đánh giá mức lượng sự sống của mình và xem thử bạn có các đặc điểm nào để có thể chăm sóc người sắp qua đời không? Bây giờ chúng ta sẽ xem xét các đặc điểm chính của người cố vấn.
(Phần bài học nghiên cứu sau đây được trích từ bài thuyết trình của Chaplain Milton O. Whitaker, là tuyên úy tại Veteran's Administration Hospital ở Seattle, Washington, USA).
** Một vài đặc điểm đáng có nào trong một người sắp bước vào chức vụ cố vấn cho những người bệnh không phương cứu chữa? Những đặc tính nào không nên có trong sự cố vấn này?
Chúng ta cần ghi nhớ rằng ân điển và tình yêu (Agape) là các phương pháp trị liệu, chúng ta phải sử dụng triệt để những điều này. Hãy nhớ chúng ta không chỉ truyền đạt bằng lời nói mà cả đến hành vi cử chỉ với các bệnh nhân. Chúng ta nói điều gì, giọng nói của chúng ta ra sao, vẻ mặt chúng ta và điệu bộ tất cả đều bày tỏ sứ điệp của chúng ta.
Nếu phải chăm sóc một người bị bệnh ở giai đoạn chót, hãy xét lại chính bạn. Bạn có thực sự thấy người này như Đấng Christ đã thấy không? Bạn có tình yêu, lòng thương xót của Đấng Christ trong tâm hồn bạn đối với người này không? Bạn có để thì giờ cầu nguyện cho chính mình và người ấy không? Hãy nhớ rằng bạn là đại biểu của Đấng Christ. Hãy ra đi với đức tin và tình yêu trong lòng bạn. Bạn có nhớ câu Kinh Thánh ở Gia Gc 5:15 không? Câu ấy như sau: "Sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu kẻ bịnh". Bạn thấy Kinh Thánh đang nói đến chính đức tin của bạn. Bạn là người phải cầu nguyện vì có rất nhiều người bệnh trầm trọng, họ không thể vận dụng đức tin.
Hãy theo các gương mẫu Kinh Thánh nói về cách Chúa Jesus tiếp xúc với người bệnh và suy gẫm những khúc Kinh Thánh này. Bạn sẽ thấy rằng Ngài yêu thương sâu xa và hết lòng quan tâm đến mỗi một người theo cách của Ngài.
Giả sử bạn đến thăm tôi ở bệnh viện. Bạn sẽ hỏi xem tôi có đủ đức tin để được chữa lành không. Tôi sẽ hiểu là bạn có ý phê phán đức tin của tôi. Điều này sẽ tạo ra những tư tưởng tiêu cực dẫn đến chỗ nãn lòng.
GaGl 5:19-26 Liệt kê những công việc xác thịt lẫn với những bông trái thuộc linh. Người được Thánh Linh dẫn dắt tự nhiên sẽ tìm cách minh chứng các bông trái này, đặc biệt là tình yêu thương. 5:14 chép như vầy: "Vì cả luật pháp chỉ tóm lại trong một lời này. Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình". Hãy yêu người khác bằng tình yêu mà bạn dành cho chính mình với Agape. Điều quan trọng nhất là chúng ta phải rất cẩn thận về sứ điệp mà chúng ta truyền lại cho người bệnh khi gây dựng họ.
Trong lúc mắc bệnh, tự nhiên người ta cảm thấy yếu đuối và không tự lo liệu được. Có lẽ vào lúc này nan đề của họ dường như lớn hơn là lúc họ cảm thấy khỏe khoắn và có thể giải quyết được. Chúng ta phải nhớ rằng người bệnh đáp ứng một cách nồng nhiệt với chức vụ của ai biểu lộ tình yêu thật và sự quan tâm của Christ.
Tôi nghĩ rằng điều duy nhất mà mọi hội chúng Cơ đốc cần là một hội thánh chân thật nếp sống thân thể. Chúng ta đều cần một ai đó yêu thương, hiểu rõ và quan tâm đến, một ai đó choàng tay ôm chúng ta, một ai đó không một lời nào nhưng chỉ ở đó và chăm sóc chúng ta. Ai cũng cần điều ấy. Một trong những điều quan trọng nhất mà người đến nâng đỡ cần có là sự chân thật. Chúng ta phải hòa hợp với mọi người bằng bất cứ giá nào. Chúng ta phải là những con người hòa thuận và điều này có nghĩa là chúng ta cần có một mối quan hệ kiên trì và chân thật.
Chúa Jesus luôn luôn hòa hợp, Thánh Linh cũng vậy, Ngài không bao giờ có sự bốc đồng trong công việc của Ngài, ngược lại, Chúa rất kiên định. Chúng ta có thể giả vờ quan tâm, nhưng không thể đeo các mặt nạ đó lâu dài được. Người sắp qua đời sẽ phát hiện ra sự phớt lờ của bạn. Chúng ta phải luôn luôn thành thật. Phải hài hòa trong ngôn từ, trong cử chỉ hành động và mọi sự.
Cùng với nỗi sợ chết, người sắp qua đời có vẻ sợ phải bị người khác ruồng bỏ. Đây là lý do minh chứng tại sao bất cứ sứ điệp nào không thích đáng mà chúng ta đem đến dù là lời nói, hoặc hành động đều ám chỉ đến sự chối từ, sự bỏ rơi, chê bai hay thiếu quí trọng. Tất cả những điều này, đều rất có hại cho bệnh nhân.
Bạn không có cách nào giữ mình khác hơn là truyền đạt thái độ của bạn đối với người sắp qua đời đâu. Thái độ của bạn sẽ ảnh hưởng đến cách mà bạn phản ứng với người mà bạn biết nhận thức rằng họ đang đối diện với những bệnh tật đe dọa đến sự sống còn. Đây là lý do bạn cần biết đến thái độ cùng những gì bạn đang muốn truyền đạt, bạn có thể truyền đạt một sứ điệp không thích hợp, không phù hợp với điều Thánh Linh đang nỗ lực truyền đạt qua bạn. Không có cách nào che dấu được thái độ của bạn đâu!
Qua sự đáp ứng của người lãnh đạo, gia đình và bạn hữu của chúng ta thấy họ thường tránh những bệnh nhân sắp qua đời nhưng lại không nhận biết điều đó. Người ta thường giữ một khoảng cách xã hội với người sắp qua đời. Bạn có biết rằng người sắp chết trong một vài lãnh vực nào đó thường xem như người hàng xóm tương lai đáng ghét không? Ngay cả các luật lệ bất thành văn về bất động sản cũng xem thường. Hầu như ai cũng không thích đến gần người sắp qua đời.
Những người chuyên việc giúp đỡ thường tránh những bệnhn nhân mà họ biết rằng không còn sống được bao lâu. Vì thiếu ý thức nên họ đã tạo ra hai hình thức giết chết kinh khủng khác trước khi người ấy chết về phương diện thể xác. Tôi muốn bàn đến hai hình thức giết chết mà bạn cần nhận biết chúng.
Điều đầu tiên chúng ta có thể tạo cơ hội cho sự chết về mặt xã hội. Sự chết về phương diện xã hội xảy đến khi cá nhân ấy nghĩ rằng mình bị người khác cho là đã chết và được đối xử trên căn bản ấy, dù chúng ta không biết đến điều đó. Chúng ta xem người khác như một người chết đơn giản vì họ bị bệnh ung thư, tim mạch hay các loại bệnh khác, tương tự như thế.
Bạn có thấy người ấy tương tự như một người đã chết rồi không hay người ấy là một người còn sống đang mắc bệnh ung thư? Chúng ta đánh giá người ấy như thế nào? Đôi lúc chúng ta không biết rõ thái độ của mình trừ khi đối diện tiếp xúc với điều ấy. Những điều này lần lượt góp phần vào điều được gọi là sự chết tâm lý. Đây là điều kinh khủng nhất mà bạn có thể tưởng tượng ra. Sự chết tâm lý hoặc "bệnh viêm vì bị bỏ rơi" là một từ để diễn tả tình trạng của một cá nhân không còn nhận thức được chính mình và ngoại cảnh xung quanh. Nói cách khác, người không còn là một con người nữa, người ấy chẳng là gì cả.
Nếu bất cẩn, chúng ta có thể tạo nên hai hình thức giết chết này. Thái độ, phẩm chất, và cách ứng xử của mỗi một chúng ta trong một mức độ nào đó đã góp phần vào sự chết về mặt xã hội cũng như tâm lý này hoặc là chúng có thể góp phần vào sự chữa lành bệnh tình của người ấy.
12. Nêu lên hai đặc trưng của liệu pháp mà một người cố vấn phải sở hữu.
...
13. Chaplain Whitaker có ý nói gì khi cho rằng mọi hội chúng Cơ đốc cần một hội thánh thật hoặc một chi thể sống.
...
14. Khoanh tròn mẫu tự đúng trước câu ĐÚNG
a "Chúng ta phải hòa hợp với mọi người bằng bất cứ giá nào" có nghĩa là chúng ta phải kiên trì thành thật trong mối quan hệ của chúng ta.
b. Đừng để người khác biết được những nhược điểm của bạn nếu không họ sẽ không tin cậy bạn.
c. Một trong những nỗi sợ hãi của người sắp qua đời là sợ bị những người mình nương tựa ruồng bỏ.
d. Vì người sắp qua đời có lắm vấn đề, thật dễ để cải trang cảm xúc thật của bạn khi đến gần người ấy.
e. Chúa Jesus và Thánh Linh luôn luôn đồng nhất với nhau trong công việc.
f. Sự lẫn tránh và giữ một khoảng cách xã hội với người sắp chết là điều bình thường.
g. Sự chết về mặc xã hội đến một khi người khác đối xử với người gần qua đời như là người đã chết.
h. Sự chết tâm lý là tình trạng xuất hiện khi một cá nhân không còn nhận thức chính mình và ngoại cảnh xung quanh.
Hãy xem lại phần nói về những đặc tính khác nhau mà một người cố vấn cần có nếu anh ta muốn đem lại sự chữa lành cho người sắp qua đời hoặc gia đình của họ. Cẩn thận xem xét những điều bạn cần phải phô bày một cách rõ nét hơn trong nếp sống của mình. Từng hồi từng lúc hãy tự đánh giá sự tăng trưởng của bạn trong lãnh vực này.
NHỮNG ĐIỂM MẤU CHỐT TRONG SỰ CHĂM SÓC NGƯỜI SẮP QUA ĐỜI.
Để kết luận bài học này, tôi muốn nêu ra một vài gợi ý phương cách mà bạn có thể áp dụng để chữa lành người sắp qua đời và gia quyến của họ.
** Chúng ta phải học cách giúp đỡ như thế nào? Tôi phải chuẩn bị những gì để có thể giúp đỡ người sắp qua đời? Trong một phần của chương sách "Christianity Today (01.03.1968) với tựa là "Ministers' Workshop". Tôi tìm thấy phần đại cương mà tôi sử dụng ở đây theo một hình thức đã được sửa đổi, tác phẩm này được viết cho A.D. Dennison. Chủ đề đã nêu là những phương cách sử dụng hữu hiệu khi chúng ta hướng dẫn và chăm sóc người sắp qua đời và gia quyến của họ.
1. Cách cư xử, cách cư xử hoặc thái độ cần có đối với người sắp qua đời là điều tuyệt đối quan trọng. Người sắp qua đời rất mệt mỏi. Người ấy có thể yếu và rất đau đớn. Có thể anh ta bị nôn mửa hoặc vì cớ thuốc men, khiến người ấy không còn nhận biết thực tế. Nhiều lúc người ấy không đáp ứng một cách bình thường cho thể xác cũng như tâm lý. Chúng ta cần giúp đỡ một cách thích ứng. Điều then chốt là có mặt bên họ.
Bạn còn nhớ định nghĩa về sự cố vấn trong bài một không? Trong bài này chúng tôi nói rằng công tác cố vấn là một mối quan hệ mà qua đó chúng ta là những cố vấn sử dụng mọi nguồn cung ứng mình có sẵn. Nguồn cung ứng này bao gồm chúng ta là ai, điều chúng ta học được, khả năng, kỹ xảo của chúng ta. Còn nguồn cung ứng Thiên thượng của chúng ta gồm có lời Kinh Thánh, sự cầu nguyện kiêng ăn, Thánh Linh cùng với thân vị, công tác và kiểu mẫu của Chúa Jesus. Mục tiêu của chúng ta là xử dụng những nguồn cung ứng này để hình thành một mối liên hệ có phẩm chất Agape. Đây là điểm mấu chốt cho các cư xử và hành vi của chúng ta. Đây là điều mà người sắp qua đời và dgia đình của họ cần đến và nó được truyền đạt qua sự hiện diện của chúng ta.
Sự hiện diện của bạn có thể được tăng cường bởi vì vị trí của chúng ta trong phòng. Hãy luôn ở bên cạnh giường người bệnh. Vị trí thân mật hay sự gần gũi thể chất với người sắp qua đời là điều quan trọng. Đừng sợ khi có người gần gũi này. Không nên gần gũi một cách thô thiển, nhưng là sự gần gũi dễ chịu. Hãy cho người ấy biết bạn đang quan tâm đến họ.
Giọng nói của bạn cũng rất quan trọng, cần cương quyết và dịu dàng, giọng nói nhỏ nhẹ của bạn đến từ tấm lòng yêu thương đem đến sự chữa lành. Sự đụng chạm cũng rất tốt nhưng tùy thuộc vào hoàn cảnh. Đôi lúc đặt tay cầu nguyện, tay của chúng ta đặt trên tay người của ấy có thể đem lại sự an ủi và vững tin.
Tôi nhớ có lần một trong những người hướng dẫn trong trường thần học nói rằng: "Khi viếng thăm, hãy hành động như là bạn sẽ ở đó một giờ và sau đó chỉ ngừng lại một vài phút". Hãy thăm viếng một cách mau chóng, hãy sống thật. Có mối liên hệ yêu thương và gắn liền chính mình với người ấy. Đừng lưu lại quá lâu. Hãy nhạy bén với sự đau đớn mệt mỏi, cùng các nhu cầu của người ấy. Đừng làm cho người ấy mệt nhoài. Hãy để cho những cảm xúc của bạn tuôn ra trong sự thành thật.
2. Truyền đạt: Chữ mấu chốt thứ hai là truyền đạt. Hãy dùng lời chúa. Hãy bám chặt với thực tế. Cách duy nhất là nói ra lẽ thật trong sự thương yêu. Tính trung thực và sự chân thật là những điều quan trọng. Đừng tránh các tình trạng thực tế. Hãy điều chỉnh các cảm xúc. Hãy thông công về các cảm xúc như sợ hãi, giận dữ, lo lắng. Đừng bỏ qua những vấn đề thuộc về cảm xúc.
Hãy ghi nhớ điều này: Cảm giác nghe và đụng chạm nhiều lúc là các cảm giác cuối cùng trước khi ra về. Đôi khi có những người ở trong tình trạng hôn mê và những điều bày tỏ với gia đình, bác sĩ hoặc y tá, chúng ta nghĩ là người ấy không thể nghe thấy. Tuy nhiên, điều này không phải là sự thật, người ta cho biết rằng sự lắng nghe và cảm xúc vẫn còn, dù cho người ấy không thể trả lời.
Giả sử như người ấy có thể nghe được dù người ấy ở trong tình trạng bất động hãy đến, nói chuyện với người ấy, hãy cầu nguyện và đọc Kinh Thánh cho người ấy nghe. Nếu người ấy không nghe được cũng không có gì mất mát cả. Nếu nghe được, điều đó có thể đem lại mục đích và có nhiều ý nghĩa.
3. Nội dung. Chữ chìa khóa thứ ba khi đề cập đến với người sắp qua đời là nội dung, có liên quan đến thực chất điều chúng ta nói. Cho phép tôi gợi ý những vấn đề cần truyền đạt. Chúng ta phải truyền đạt sự hy vọng, ý nghĩa, mục đích và sự yên ủi. Hãy tìm ra nhu cầu thiết yếu bằng cách lắng nghe một cách cẩn thận và sau đó truyền đạt cho họ hầu đáp ứng nhu cầu ấy một cách có ý nghĩa.
Cần ghi nhớ là người sắp qua đời cũng là một con người. Người ấy cũng có các nhu cầu về thể xác, tâm lý lẫn thuộc linh. Có lẽ cách để đi vào phần thuộc linh của người ấy là qua các nhu cầu tâm lý. Hãy trả lời cho người ấy! Hãy cho phép Thánh Linh thể hiện ân tứ của Ngài qua bạn.
4. Ân tứ của ân điển Đức Chúa Trời (Charismata). Đây là chữ then chốt thứ tư. Ân tứ của ân điển Đức Chúa Trời hoặc sự hiện diện của Thánh Linh. Ngài là Đấng yên ủi lớn và Ngài muốn sử dụng chúng ta. Hãy cầu nguyện để có được ân tứ và bông trái của Thánh Linh được thể hiện qua đời sống bạn ngay lúc ấy.
Đấng Christ. Chữ chìa khóa thứ năm là Đấng Christ. Ngài là lời giải đáp, là gương mẫu. Hãy xem cách Ngài đối diện với sự chết, cách Ngài đối diện với sự chết của chính Ngài và sự chết của người Ngài yêu mến. Hãy xét cách Ngài truyền đạt trong các kinh nghiệm ấy.
Ví dụ như câu chuyện của Laxarơ (GiGa 11:1-57), chúng ta thấy Chúa Jesus cho phép các cảm xúc của Ngài tuôn trào, Ngài khóc. Ngài cảm thấy bực bội trong hoàn cảnh này. Tâm linh Ngài thương cảm một cách sâu xa. Có hai hoặc ba lần Kinh Thánh ghi lại là Ngài bối rối trong câu 33 và 38. Ngài đã đối diện với thực tế. Mathê đã buồn giận và buộc tội Ngài. Cô ấy nói: "Chúa ơi, nếu Chúa có đây, anh con chắc đã không chết! (11.21). Chúa Jesus không cắt ngang sự giận dữ của cô ấy. Chúa đã truyền đạt hy vọng cho cô và hiểu được tâm trạng của cô ấy. Chúa đã để cho cảm xúc của Ngài tuôn trào chung với cảm xúc của Mathê. Mari cũng tỏ bày cùng một cách như Mathê (11.32). Hãy lắng nghe sứ điệp của Ngài, chúng ta cũng vậy. trong câu 25, Chúa Jesus bảo rằng: "Ta là sự sống lại và sự sống, người nào tin ta, dù có chết, cũng sẽ sống".
Vâng, Ngài là gương mẫu, Ngài là câu trả lời cho nan đề chết chóc mà con người đối diện. Ngài là yếu tố biến đổi sự chết thành một điều có giá trị, và đem ý nghĩa, hi vọng và mục đích vào trong sự chết, tiến trình bước vào sự chết và tiến trình mất mát người thân.
Một khi bước vào giai đoạn mất mát người thân, người ta cảm thấy mình mắc tội vì cách mà họ đã cư xử với người thân của mình. Họ muốn rút lui. Họ lạnh lùng và đau đớn. Họ nỗ lực đè nén sự thiếu thân thiện của mình. Nhu cầu của họ lúc này là: 1) Đối diện với thực tế là người thân của họ đã ra đi, 2) Chấp nhận cảm xúc riêng của mình, và 3) Để cho cảm xúc ấy tuôn trào, không nên ức chế chúng. Nhưng họ cần có người lắng nghe. Họ cần có ai đó cùng đứng than khóc tiếc thương với họ mà không phê phán và lên án họ. Muốn giống với Chúa Jesus thì chúng ta hãy làm theo như vậy.
Đám tang và thời gian sau đó cũng rất quan trọng. Vào lúc này, các Mục sư và bạn hữu cần ở với họ, yên ủi và giúp họ nhận ra các nhu cầu thể chất, tin thần lẫn tâm linh, và đem đến cho họ sự chữa lành, sức khỏe và hy vọng **
15. Liệt kê năm chữ mấu chốt đã nêu trong các phương cách tốt nhất để chăm sóc người sắp qua đời.
...
16. Thảo luận xem vị trí hiện diện của bạn quan trọng như thế nào trong phương cách cư xử ...
...
17. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mẫu câu ĐÚNG trong phương pháp được gọi là, truyền đạt.
a. Chúng ta phải sử dụng lời của Đức Chúa Trời
b. Để tránh hoàn cảnh thực tế, các câu chuyện thừa kế các bất động sản sẽ làm cho bệnh nhân vui vẻ.
c. Tập trung vào các cảm xúc và cố gắng truyền đạt về các cảm xúc ấy.
d. Nghe là một trong những tình trạng tâm thần bình thường đầu tiên để tiến tới, vì người gần qua đời không thể lắng nghe thêm nếu bạn nói quá nhiều.
e. Câu nguyện với người sắp qua đời theo thực tế cho chính cá nhân người ấy.
f. Đọc các câu Kinh Thánh nêu lên thực tế, hi vọng và sự vững tin.
18. Liệt kê bốn điểm tạo nên nội dung của sự truyền đạt.
...
19. Phương cách cố vấn có tựa là ân tứ của ân điển Đức Chúa Trời liên quan đến điều gì? ...
...
20. Nếu Đức Thánh Linh vận hành trong nếp sống của người cố vấn, có hai điều gì biểu lộ rõ rệt.
...
21. Một trong những kim chỉ nam trong công tác cố vấn là chính Đấng Christ. Tại sao? ...
...
Bây giờ chúng ta sẽ kết thúc bài học thứ mười hai. Tôi hy vọng bạn nhận thức rằng công tác chăm sóc cho người sắp qua đời và gia quyến của họ là một chức vụ cần yếu. Đây không phải là một chức vụ đi ngược lại các công tác chuyên nghiệp. Đây là một chức vụ mà mọi Cơ đốc nhân cần tham gia một khi có cần. Chúng tôi nhận biết rằng hầu hết mọi người đều muốn rút lui khỏi chức vụ này nhưng nó vẫn là một nhiệm vụ cần yếu nhất.
Bạn có thể bị liên hệ vào việc chăm sóc người bệnh ở giai đoạn cuối cùng. Có thể chúng ta cảm thấy mình đã thất bại một cách thảm thương, nhưng Thánh Linh cùng đi vào giúp đỡ chúng ta. Hãy ghi khắc trong trí mình các nguyên tắc căn bản này, và ứng dụng khi có cần. Chúng ta đều có sẵn mọi nguồn cung ứng Thiên thượng để phục vụ.

Bài Trắc nghiệm cá nhân
ĐÚNG- SAI. Viết chữ Đ trong khoảng trống trước câu ĐÚNG. Viết chữ S nếu là câu SAI.
... 1. Giận dữ là phản ứng của trạng thái lành mạnh đối với giai đoạn xúc cảm trong tiến trình của người sắp qua đời.
... 2. Sự cay đắng là phản ứng lành mạnh trong giai đoạn chán nản qua tiến trình sắp qua đời.
... 3. Buồn rầu là phản ứng không lành mạnh đối với giai đoạn hoàn tất trong diễn trình của người sắp qua đời.
... 4. Gia đình đã mất mát người thân có phản ứng chậm trước việc bị sốc, và tác động đầy đủ sự thật của nó có thể không được kinh nghiệm trọn vẹn suốt nhiều năm.
... 5. Hậu quả chết lặng là sự náo động đột ngột để cảm xúc áp đảo trên lý trí.
... 6. Giai đoạn ký ức được tuyển lọc của sự mất mát người thân là cơn lũ ưu tư tràn ngập con người bề trong.
... 7. Chúng ta không thể chăm sóc một cách hiệu quả nếu không thể hiểu rõ sự chết.
... 8. Mang lấy kinh nghiệm mất mát người thân của một ai đó cũng có thể khiến cho một phần của đời sống ta chết đi.
... 9. Có ý nghĩa và mục đích trong diễn trình bước vào sự chết.
... 10 Hai đặc điểm thuộc về phương pháp trị liệu mà một người cố vấn phải sở hữu là trung thực tình yêu Agape.
... 11. Hai hình thức giết chết đến từ sự thiếu hòa hợp của người cố vấn là sự chết thuộc linh và sự chết tâm lý.
... 12. Sự hòa hợp có nghĩa là có mối quan hệ kiên trì và chân thật.
... 13. Phương diện quan trọng nhất về cách cư xử của chúng ta trong việc chăm sóc người sắp qua đời là những cử chỉ của chúng ta.
... 14. Điều quan trọng là biết lập một mối quan hệ để truyền đạt tình yêu.
... 15. Nội dung mà chúng ta phải truyền đạt cho bệnh nhân ở giai đoạn cuối cùng bao gồm các cảm xúc và sự cảm thông của chúng ta.
NỐI KẾT. Nối kết mỗi một phương cách của người cố vấn (phải) với sự giải thích của nó (trái).
... 16. Dùng Kinh Thánh, hướng đến thực tế cùng các cảm xúc.
... 17. Gương mẫu và lời giải đáp
... 18. Sứ điệp về hy vọng, ý nghĩa mục đích và sự yên ủi
... 19. Hiện diện của Thánh Linh cùng với bông trái và các ân tứ của Ngài.
... 20. Tự đứng vào vị trí dễ thấy trong phòng.
21-25 Nối kết mỗi giai đoạn của Kubler- Ross của người sắp qua đời (phải) với lời giải thích của nó (trái)
... 21. Sự nhận thức về sự chết
... 22. Thưa với Chúa tại sao Ngài cho phép điều này xảy ra.
... 23. Cảm xúc xâm chiếm vô hy vọng.
... 24. Nói rằng: "Không, điều này không thể xảy đến với con"
... 25. Thỏa thuận với Chúa như, "nếu Ngài... , con sẽ... "
Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
1. 1. Phủ nhận, 2. Sự giận dữ, 3. Sự mặc cả, 4. Chán nản và 5. Sự chấp nhận.
2. b. Một tiến trình
3. Giúp người ấy nhìn ra mục tiêu, ý nghĩa và nhận biết rằng điều này là một kinh nghiệm tăng trưởng cho chính người ấy.
4. b, c và d là những câu đúng
5. a. 1. Lành mạnh
b. 2. Không lành mạnh
c. 1. Lành mạnh
d. 1. Lành mạnh
e. 2. Không lành mạnh
f. 2. Không lành mạnh
6. a. 2. Giận dữ
b. 3. Mặc cả
c. 5. Chấp nhận
d. 1. Phủ nhận
e. 4. Chán nản
7. 1. Bị sốc, 2. Hậu quả chết lặng, 3. Vật lộn giữa thực tế và ảo tưởng, 4. Sự đột phá, 5. Ký ức được tuyển lọc và 6. Sự chấp nhận.
8. Suốt thời gian bệnh, ngay sau khi người ấy tắt hơi, suốt thời gian tổ chức đám tang và thường xuyên sau đó cho đến khi họ trải qua hết tiến trình qua đời.
9. a. 2. Hậu quả chết lặng
b. 6. Chấp nhận mất mát
c. 1. Bị sốc
d. 3. Ảo tưởng đối kháng với thực tế
e. 5. Ký ức tuyển lọc
f 4. Sự đột phá.
10. a. Sau đó người đó giống với người công nghĩa.
b. Người ấy không sợ chết.
c. Sự chết của người trung tín là quí giá đối với Chúa.
d. Có một nơi ẩn núp cho người công nghĩa
e. Người công nghĩa được đem vào lòng của Ápraham.
f. Người công nghĩa thuộc về Chúa trong sự sống và sự chết.
11. b, c, d, g, i, j và k là những câu đúng
12. Ân điển, Agape.
13. Câu trả lời của bạn có thể khác. Cơ bản ông ta nói rằng mọi người cần một ai đó quan tâm và hiểu mình. Mọi người cần một ai đó thực sự giúp đỡ. Đây là tính chất của một thân thể thật trong Đấng Christ.
14. a, c, e, f, g và h là những câu đúng.
15. 1. Cách cư xử, 2. Sự truyền đạt, 3. Nội dung, 4. Ân tứ và 5. Đấng Christ.
16. Vị trí của bạn rất quan trọng vì vị trí thân mật có ý nghĩa đối với người sắp qua đời. Sự gần gũi thể chất và giọng nói của bạn có thể truyền đạt tình yêu Agape và sự vững tin cho người ấy.
17. a, c, e, và f là những câu đúng.
18. Theo bài thuyết trình chúng ta phải truyền đạt hy vọng, ý nghĩa mục đích và sự yên ủi.
19. Hiện diện của Thánh Linh
20. 1. Ân tứ Thánh Linh và 2. Bông trái Thánh Linh
21. Vì Ngài là gương mẫu và là lời giải đáp

CỐ VẤN CHO NGƯỜI CHÁN NẢN THẤT VỌNG
Bạn có bao giờ chán nản thất vọng chưa? Folhlore nói rằng: "Đời sống nào cũng có lúc mưa rơi". Sự chán nản thất vọng là một vấn đề to lớn trên thế giới. Trong một nền văn hóa và một bối cảnh xã hội kinh tế, sự chán nản thất vọng này đã lây lan đến mọi người. Trong lúc các cuộc nghiên cứu về điều này cho thấy, bất cứ năm nào cũng có khoảng tám phần trăm dân số thế giới bị chán nản tuyệt vọng. Có ba phần trăm cố gắng tìm kiến sự giúp đỡ có hiệu quả thích hợp, hầu như mọi người đều nỗ lực tự giải quyết bằng cách rút lui khỏi trách nhiệm, công việc nếp sống lứa đôi cũng như cuộc đời. Nhiều người khác nỗ lực làm dịu bớt sự đau khổ chán nản tuyệt vọng này bằng các dược phẩm sau: Cồn, thuốc giảm căng thẳng thần kinh. Và các loại thuốc khác. Đôi khi điều này đưa lên sự ngộ độc vì rượu hay ngộ độc thuốc. Có người tìm ra giải pháp bằng cách tự tử. Có nhiều người trở nên gắt gỏng, cau có, đánh nhau và cuối cùng là giết người.
Là một người cố vấn bán chuyên nghiệp, bạn cần biết đến sự chán nản tuyệt vọng này. Nếu khai triển những lời bào chữa chống trầm uất, bạn có thể có sức hơn và sự thất vọng khó có thể tấn công. Điều này cho phép bạn chia xẻ với người khác sức khỏe của mình. Nếu bạn không hiểu sự trầm uất là gì trong khi giúp đỡ những người đang ở trong tình huống này, bạn sẽ đi đến chỗ thất vọng.
Trong bài học này chúng ta sẽ xét đến các nguyên nhân căn bản của sự chán nản tuyệt vọng. Sau đó, chúng ta sẽ xem thử một vài gợi ý trong việc chữa trị căn bệnh này. Đối với bạn, những lời gợi ý này rất hữu ích trong việc quyết định thái độ và hành động của mình khi phải cố vấn một người bị trầm uất
Định nghĩa sự trầm uất
Các yếu tố tác động đến sức sống
Di truyền học
Sức khỏe
Luật vệ sinh
Quyết định các sự mong đợi
Chữa trị sự thất vọng
Khi hoàn tất bài học này bạn có thể:
Ể Liệt kê những triệu chứng tuyệt vọng chính
Ể Giải thích tính chất phức tạp của sự thất vọng với vô số lý do
Ể Hiểu được phương cách trị liệu đối với người đang thất vọng
Nhận ra giới hạn của bạn đối với việc chữa trị sự thất vọng.
1. Hãy theo tiến trình thường lệ để làm bài dựa trên phần khai triển bài học. Làm bài trắc nghiệm cá nhân cuối mỗi bài học.
2. Ôn lại bài 10 đến 13 để chuẩn bị cho việc đánh giá tiến bộ đơn vị. Đọc lại phần hướng dẫn tập dành cho các học viên, sau đó xé rời phần Đơn Vị Đánh Giá Tiến Bộ Bốn và tờ bài làm khỏi tập bài dành cho học viên. Theo sự hướng dẫn để điền vào tờ bài làm và giao cho người giảng viên ICI của bạn, người nầy sẽ kiểm tra các câu trả lời của bạn và cho kết quả.
3. Ôn lại toàn bộ bài học để chuẩn bị cho kỳ thi cuối khóa.
Viêm khớp
Hen suyển
Dây thần kinh
Hóa sinh học
Năng lượng
Thuốc giảm đau
Hệ điện hóa
Vị trường
Di truyền học
Tuyến

ĐỊNH NGHĨA SỰ CHÁN NẢN THẤT VỌNG
Để có được một sự hiểu biết tường tận về sự chán nản thất vọng là điều quan trọng. Nhiều người nghĩ rằng chỉ cần mất hạnh phúc là thất vọng, điều này không hoàn toàn đúng. Nói cách khác, không phải mọi người chán nản tuyệt vọng đều thật sự cảm thấy không hạnh phúc. Sự chán nản thất vọng có nghĩa là "điều gì đó chùng xuống". Thật ra, nó có nhiều ý nghĩa hơn điều này, chúng ta hãy cẩn thận xem xét định nghĩa về sự chán nản thất vọng như đã nêu trong khung 13.1 dưới đây.
SỰ CHÁN NẢN THĐT VỌNG ( TRẦM UĐT)
"Là một tình trạng hiện hữu khi mà nghị lực và sức sống không đủ để đáp ứng những dự tính dựa vào các nhu cầu hoặc các ước muốn.
Khung 13.1
(Lưu ý: Những phần trong bài học được đánh dấu bằng các ký hiệu ** được trích từ các bài giảng thuyết của bác sĩ Raymond Vath nhà tâm thần học ở Seattle, Washington, USA).
** Tôi nghĩ rằng vấn đề định nghĩa sự chán nản tuyệt vọng là một điều quan trọng trong lãnh vực tâm thần học. Tôi thường gặp nhiều người thất vọng không nhất thiết là mất hạnh phúc và tôi thấy có nhiều người mất hạnh phúc nhưng họ không phải là người đặc biệt thất vọng. Biết phân biệt là người rất quan trọng, vì nếu bạn nổ lực chữa trị một người mất hạnh phúc bằng cách tiếp cận với người ấy trong một tinh thần gây dựng loại bỏ sự chán nản thất vọng trong người ấy, đôi lúc điều này không hiệu quả. Nếu có một sự hiểu biết minh bạch sự chán nản thất vọng là gì, tôi nghĩ sự đáp ứng của bạn đối với điều ấy sẽ thích đáng hơn khi bạn nổ lực để tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị.
Theo nghĩa đen, chữ chán nản thất vọng có nghĩa là "điều gì đó chùng xuống". Sự thất bại trên đường đi là một chỗ dốc. Về phương diện kinh tế thì chữ này biểu hiện cho tổng sản lượng quốc gia sụt xuống.
Nhưng sự "chùng xuống" trong phương diện tâm thần học có ý nghĩa gì? Làm thế nào chúng ta có thể giải thích điều này theo tâm thần học và kinh nghiệm của con người? Tôi tin rằng chúng ta phải chú ý đến sức sống, nghị lực, và sinh lợi ảnh hưởng đến nhiệt tâm sống. Điều gì đó đã tạo nên sự chán nản, và trở nên mất quân bình.
Khi nói đến sức sống giảm sút thì phải có một điểm cân bằng. Không thể nào có "xuống" mà không có "lên" và ngược lại. Khi nỗ lực khám phá điểm cân bằng này liên quan đến sức sống của một người, tôi đã đi đến kết luận là điều này liên quan mật thiết đến sự mong ước của một người nào đó dựa trên các nhu cầu. Vì thế nếu sức sống của một người nào đó giảm sút chút đỉnh và người ấy cần có một khả năng lớn hơn để đối đầu với cuộc sống cũng như trách nhiệm cần mang vác, tình huống này cho ta biết định nghĩa sự thất vọng. Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết về sự mất quân bình này, và có thể biết cách đem những người đối diện với tình huống này trở lại quân bình **
1. Định nghĩa chữ chán nản thất vọng theo ý nghĩa tâm thần học
...
...
2. Đọc từng đoạn Kinh Thánh và nhận ra các gương mẫu ví dụ điển hình về sự chán nản tuyệt vọng này. Trong mỗi trường hợp hãy nêu lên sự mong đợi trong mỗi thí dụ là gì và viết lại điều mà người ấy thiếu sức sống.
a. XuXh 6:9 ...
b. Giop G 7:6-10 ...
c. CaAc 3:16-18 ...
d. Cong Cv 27:20 ...
Một người thất vọng đơn giản là người ấy thiếu đi một sức sống hoặc nghị lực để thực hiện điều mà người ấy cảm thấy phải làm để đáp ứng các nhu cầu của riêng mình. Nếu chưa từng thất vọng, bạn không thể hiểu được điều gì đang xảy ra.
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỨC SỐNG
Trong phần trên đây chúng ta đã định nghĩa qua sự chán nản thất vọng và đã lưu ý đến việc sức sống là điều mấu chốt ảnh hưởng đến cảm xúc và mức độ thất vọng trong người ấy. Nhưng tại sao có người lại có nhiều sinh lực, trong lúc ấy người ấy lại quá thiếu đến nỗi không bắt kịp những đòi hỏi trong đời sống của họ? Trong phần này chúng tôi đã nêu ra ba điểm được xem là có ảnh hưởng đặc biệt trong sức sống. Ba điểm ấy là sự di truyền, sức khỏe và vệ sinh.
Di truyền học
Khi nói đến vấn đề duy truyền có tác động đến sức sống, chúng tôi có ý muốn nói đến nhiều người có nhiều sinh lực hơn người khác và ngược lại vì cớ có các yếu tố nhận được từ bố mẹ, họ được sanh ra là một người như vậy. Những tác động này là do những điều được duy truyền hoặc không di truyền từ bố mẹ
** Chúng ta hãy nghiên cứu khía cạnh của tâm lý sức sống và điều ảnh hưởng trên nó. Chúng ta sẽ bắt đầu với chính tình trạng của mỗi người. Kinh nghiệm của tôi cho biết rằng không có hai người nào hoàn toàn giống hệt nhau trừ phi họ là các cặp sanh đôi. Chúng ta đều hoàn toàn khác biệt với nhau.
Cho phép tôi minh họa điều này trong lãnh vực thói quen ngủ nghỉ của trẻ con. Nếu bạn bước vào một căn phòng chứa đầy các em bé sơ sinh. Bạn sẽ thấy một vài em vừa ra đời đã có vẻ tuyên bố rằng: "Ô, chúng tôi đây, thật là một nơi thú vị!" Chúng nhìn quanh, tay thì hoạt động không ngừng và chúng ngọ nguậy không yên. Bạn đặt chúng nằm xuống một lúc, cho chúng ăn, chúng ngủ vùi một vài giờ sau đó chúng thức dậy và có ý muốn nói rằng: "Ôi, không biết mình có bỏ lỡ một điều gì không nhỉ?"
Nhưng trong chiếc cũi sát bên chúng, có một bé hoàn toàn ngược lại. Người nữ hộ sinh đến, lắc nhẹ, lay chân bé hoặc làm bất cứ điều gì để đánh thức bé dậy, nhét bình sữa vào miệng. Nó ăn xong lại ngủ ngay, cứ như thế tiếp tục trong 24 giờ. Những ai chăm sóc trẻ sơ sinh đều thấy điều này. Trong một mức độ nào đó, những dị biệt này chiếm hữu cả cuộc đời đứa bé ấy.
Đáng tiếc, mọi người đều bị nhồi nhét đến nỗi tin rằng bình thường phải ngủ mỗi đêm tám tiếng. Nếu ngủ nhiều hơn bạn sẽ mang tiếng là "lười". Còn nếu ít hơn bạn sẽ suy nghĩ rằng mình chắc bị đau, bị thiếu máu hoặc bị gì đó. Ai trong chúng ta cũng suy nghĩ rằng mọi người cần phải ngủ một đêm tám tiếng. Tuy thế, tôi có biết những người rất khỏe mạnh chỉ ngủ có mỗi đêm bốn tiếng. Những người này rất có năng lực có thể hoàn tất mỹ mãn một lúc hai công việc. Sức khỏe của họ rất tốt, họ rất nhanh nhẹn và mau mắn. Nhưng cũng có những người giống như tôi cần có một giấc ngủ bảy hay tám tiếng mỗi đêm để có thể làm việc sáng suốt. Tôi cũng có quen những người phải có giấc ngủ mỗi đêm từ tám, chín, hay mười tiếng mới có thể làm việc tốt được.
Nan đề sẽ dấy lên nếu chúng ta buộc mọi người phải ghép mình vào một khuôn khổ nhất định, có nghĩa là tám tiếng cần thiết cho một đêm ngủ nghỉ. Nếu ngủ ít hơn nhiều người có ý nghĩ là bạn phải dùng một ít thuốc ngủ để kéo dài giấc ngủ của mình. Nếu bạn ngủ nhiều, người khác sẽ khuyên bạn dùng một ít chất kích thích để thức trễ hơn.
Chúng ta bị bối rối với điều này vì cớ các mong ước của chúng ta. Ví dụ như đa số các bà mẹ không an tâm khi có đứa con đầu lòng, có lúc nhìn đứa trẻ và thầm nghĩ: "Không biết là nó ngủ đủ chưa. Tôi thắc mắc muốn làm một người mẹ tốt, và để đạt điều này tôi phải đoan chắc rằng con mình phải có giấc ngủ đầy đủ". Vì thế, nhiều bà mẹ tìm một quyển sách đặc biệt về việc chăm sóc trẻ. Ví dụ như quyển sách ấy cho biết đứa bé ở độ tuổi ấy phải ngủ mỗi đêm mười tám tiếng. Qua đó người mẹ kiểm tra lại giấc ngủ của con mình và nói: "Ồ, con bé chỉ ngủ mỗi đêm có mười hai tiếng" vì thế bà ấy gọi một bác sĩ nhi khoa và yêu cầu cho bé uống một loại thuốc đặc biệt để có một giấc ngủ dài hơn! Bà mẹ ấy nghĩ rằng con mình không bình thường.
Bây giờ chúng ta có thể thấy được những mong đợi đã được xây dựng trong chúng ta bởi các tiêu chuẩn nhân tạo và các tiêu chuẩn nhân tạo này buộc đứa bé tí xíu tội nghiệp không tự bảo vệ, không tự lo liệu được, phải chấp nhận mà không biết nói thế nào về việc nó phải ngủ bao lâu mới đủ. Bằng mọi cách đứa bé phải tập thức dậy đúng giờ theo ý chúng ta, chúng ta đặt bé vào trong mọi loại thời khóa biểu và các hoạt động thích ứng với tiêu chuẩn qui mô được một ai đó, được xem là có thẩm quyền trong việc săn sóc trẻ, xây dựng lên. Bạn thấy đó, diễn trình khái niệm những mong đợi trừu tượng này có rất sớm.
Có một phương cách xác minh khác dù con bạn khỏe mạnh hay có giấc ngủ thích hợp, điều này được thực hiện qua việc quan sát bé! Nếu bạn thức dậy vào buổi sáng và thể hiện sự khó chịu, gắt gỏng không yên, và dường như bé chưa có giấc ngủ đầy đủ thì có thể bé cần ngủ thêm. Sau đó bạn cần khám phá thêm tại sao bé lại không ngủ thêm. Xem thử cây kim băng có bị bung ra, hãy gài lại và xem thử bé có ngủ ngon hay không, cũng có thể bé ăn chưa đủ chiều hôm qua, bạn hãy cho bé ăn thêm một tí. Bạn có thể quan sát bé và có thể biết được bé đã ngủ đầy đủ chưa. Qua bé bạn có thể biết tình trạng sức khỏe tốt và cách sắp xếp hợp lý của mình. Hầu hết con trẻ không được sinh ra trong một trạng thái thiếu hăng hái, nhưng tình trạng này thường sau đó mới xảy ra.
Có một câu Kinh Thánh mà chúng ta thường nghe nhắc đến như sau: "Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó". (ChCn 22:6). Những ai có thẩm quyền trên con trẻ khi phát biểu điều sau đây đã rút ra từ câu Kinh Thánh trên. Lời phát biểu ấy như: "Tôi biết con đường trẻ phải đi vì thế tôi phải nuôi dưỡng bé theo cách ấy và khi nó trưởng thành nó sẽ không bỏ qua thói quen ngủ tám tiếng mỗi đêm, một khi chúng ta bắt chúng cai ngủ 24 tiếng".
Nếu bạn có một đứa trẻ quá hiếu động chỉ cần một giấc ngủ ít, điều bạn cần làm là vui mừng vì nó sẽ là một trong những người lay chuyển cả vũ trụ, nó sẽ rất lanh lợi và có thể làm việc khó nhọc trong một thời gian dài. Vì vậy theo quan điểm của tôi, điều quan trọng để giữ cho những mơ ước của chúng ta không quá mấu là phải bảo đảm xem mong ước đó có phù hợp với khả năng của chúng ta không.
Ví dụ như có người có khả năng về toán học. Chúng ta cần giúp đỡ con của chúng ta khám phá ra điều đó và cho phép chúng trở nên một nhà toán học, nếu đó là điều chúng muốn. Nhưng thông thường chúng ta hay nói "con đã đạt được điểm cao trong môn toán tại sao sinh ngữ con học tệ vậy?" Chúng ta nên nhớ rằng không phải ai cũng là một nhà ngôn ngữ và có thể nắm vững các ngôn ngữ. Đây cũng là nguyên nhân gây ra sự chán nản thất vọng. Người ta phải đấu tranh một cách vất vả để trở thành một nhà ngôn ngữ học trong lúc ấy đúng ra họ phải là một nhà toán học, hoặc họ phải vật lộn để trở nên nhà toán học trong lúc lẽ ra khả năng bẩm sinh của họ là ngôn ngữ học. Vì một lý do nào đó, chúng ta cho rằng con mình phải giỏi trong mọi việc và phải trọn vẹn. Một vài sinh viên có khả năng này đã trở nên những mẫu mực mà mọi người người phải theo đuổi. Đây lại là điều rất lý tưởng nhưng không hẳn là đúng. Đây là một thí dụ về một sự mất quân bình giữa khả năng bẩm sinh với các mong ước của chúng ta. **
3. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu ĐÚNG
a. Khai triển những mong ước trừu tượng liên quan đến sự chán nản tuyệt vọng.
b. Khả năng bẩm sinh và những mong đợi của chúng ta phải quân bình.
c. Người ta phải khám phá ra "lý tưởng cao cả" hoặc tiêu chuẩn về cách cư xử và sau đó sống thích ứng với chúng.
Chúng ta tóm tắt phần này là sự di truyền có thể tạo ra các đặc điểm thể chất nhất định ảnh hưởng đến sức sống, có nghĩa là chính chúng ta vốn đã có sở hữu các sự dị biệt ấy.
Sức khỏe
Ai cũng nhận biết rằng bệnh tật cũng thường tạo ra sự chán nản tuyệt vọng. Tôi tin rằng chúng ta đều kinh nghiệm một vài sự thất vọng nào đó trong lúc bị bệnh. Hãy ghi nhớ định nghĩa chữ bị thất vọng là "việc thiếu sức sống đủ để làm những điều chúng ta mong đợi thực hiện hoặc cần phải thực hiện". Cũng hãy ghi nhận là sức sống có nghĩa là "sức mạnh tinh thần hay thể chất". Những lúc bị bệnh, có bao nhiêu lần chúng ta ao ước chổi dậy và làm những công việc thiết yếu? Nếu tình trạng này kéo dài, nó sẽ tạo ra sự thất vọng!
** Bệnh tật là các lý do thông thường tạo ra sự chán nản thất vọng. Chúng ta có thể liệt kê các loại bệnh này. Trước hết nói về bệnh truyền nhiễm. Nếu bạn xem bất cứ quyển sách nào nói về nội khoa và tìm phần bệnh truyền nhiễm. Bạn sẽ thấy sự thất vọng không phải là điều bất thường khi đối diện với các bệnh tật này. Các bệnh như lao phổi, viêm gan, tăng bạch cầu đơn nhân. Ngay cả bệnh cúm cũng vậy! Bình thường một người bị cúm thích lăn trở trên giường, cởi bỏ khăn trùm đầu hoặc nón len ra, cằn nhằn với bất cứ ai đến gần. Người ấy không muốn chổi dậy, đi làm hoặc gánh vác các trách nhiệm. Cũng may là sự chán nản tuyệt vọng này thường mau qua và đặc biệt là ở những người trẻ tuổi.
Tuy nhiên tôi đã từng thấy, đặc biệt là những người lớn tuổi, thường bị thất vọng trong tâm thần sau những lần cảm nặng, vì đôi lúc các vi khuẩn gây bệnh tấn công các tế bào trong thân thể và xen vào quá trình tiêu hóa. Vì thân thể con người là một hệ điện hóa, phần lớn năng lượng của nó xuất phát từ đó. Những điều này có thể làm cho hệ thống này làm sai chức năng của nó dẫn đến các triệu chứng chán nản thất vọng.
Chúng ta thấy trong các thanh niên tại các trường phổ thông hay đại học mắc bệnh tăng bạch cầu bệnh nhân thường phải mất nhiều tháng sau mới phục hồi. Sức sống của họ cần được phục hồi. Một lần nữa mọi người bắt đầu lo lắng cho những người đáng thương này. Họ nói: "Tình trạng này không thể kéo dài hơn được. Đời con sẽ kết thúc nếu không tốt nghiệp". Vì thế sự mong ước đến và nói: "Bạn phải bình phục, bất kể bệnh đến mức nào". Rồi chúng ta đem sự lo lắng cho con người khốn khổ đang vất vả trong sự chán nản tuyệt vọng. Điều này thật quen thuộc. Đối với tôi, dường như vài người bạn của Gióp cũng đã thể hiện điều này.
Các chứng bệnh liên quan đến sự chuyển hóa trong cơ thể phần lớn là các chứng bệnh thuộc về các tuyến. Cường tuyến giáp rối loạn tuyến thượng thận vì quá hoạt động... Cũng liên hệ đến sự chán nản thất vọng. Đôi khi dấu hiệu đầu tiên của sự trục trặc các tuyến là làm giảm sút sức sống. Người mắc bệnh ấy mất đi khả năng chú ý. Họ có khuynh hướng rút lui khỏi đời sống.
Chúng ta hãy xét đến bệnh ung bướu. Đôi lúc dấu hiệu đầu tiên của bệnh này là mất năng lượng và đem lại sự thất vọng. Thật ra, dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư tụy tạng tạo ra một sự tuyệt vọng rất lớn không đám ứng với sự chữa trị bằng cách chống trầm uất.
Những thất vọng vì bị chấn thương xảy đến vì bị mất mát, nếu sự chấn thương này tương đối trầm trọng. Thí dụ như nếu ai bị tổn thương khối dây thần kinh tủy và đối diện với viễn ảnh ngồi trên xe lăn tay suốt đời, người ấy phải trải qua một quá trình buồn rầu và đây là một hình thức của sự chán nản tuyệt vọng, là điều mà Gióp đã trải qua khi mất mát của cải và người thân.
Về di truyền học, sự chán nản thất vọng có khuynh hướng lây lan đến toàn thể gia đình. Nếu cha mẹ đang chán nản thất vọng, những người con trong nhà càng bị buộc vào sự thất vọng càng hơn.
Một hình thức đặc biệt của sự chán nản tuyệt vọng được gọi là "sự thất vọng nhiều thái cực" hoặc "thay đổi tâm tính đột ngột". Đây là một căn bệnh do di truyền. Bệnh này đã được xác định và được phân tích rõ ràng. Đây là một hình thức thất vọng đặc biệt thường liên quan đến bệnh nghiện rượu, không phải lúc nào cũng thế nhưng do tác động của sự chữa trị.
Một điểm khác chúng ta cần lưu tâm đến là đôi lúc sự chữa trị một căn bệnh cũng có thể tạo nên một tình trạng chán chường. Ví dụ như nhiều loại thuốc Steroid được sử dụng để chữa các bệnh viêm nhiễm. Bệnh viêm khớp kinh niên, hen suyển, cũng có thể gây nên bệnh chán nản. Thuốc thường được sử dụng chữa trị bệnh tăng huyết áp, đặc biệt những loại liên quan đến Reserpine (một loại thuốc chữa trị bệnh tăng huyết áp) qua nghiên cứu nó có thể tạo ra sự thất vọng theo tỉ lệ một tám, tức là cứ tám người thì có một người. Tình trạng này có khi nghiêm trọng đến mức phải thay loại thuốc khác. Nhiều người đã đến với tôi với một sự chán nản tuyệt vọng cố hữu là điều không phải là bất thường và khi xem lại các bệnh án từ trước đến nay, tôi khám phá rằng họ đã sử dụng các loại thuốc này khá lâu trong quá khứ. Sau đó chúng tôi phải nói chuyện với các bác sĩ nội khoa đang chăm sóc họ tìm các phương pháp chữa trị chống lại bệnh cao huyết áp mà không làm cho bệnh chán nản trầm trọng thêm. Valium, là một trong những loại thuốc an thần phổ cập nhất thế giới. Trong nhiều người, một tác dụng phụ của loại thuốc này cũng gây nên bệnh chán nản thất vọng. Đáng tiếc là nó không làm giảm đi sự bối rối lo âu do sự chán nản tạo nên và người ta thường hy vọng rằng mình sẽ khỏe hơn trong thời gian ngắn sắp tới. Dù họ có cảm thấy đỡ hơn nhưng đa số đều có khuynh hướng rút lui khỏi các hoạt động bình thường hằng ngày, họ cảm thấy mất đi ham thích đối với các công việc mà họ cảm thấy thú vị trước đó **
4. Khoanh tròn mẫu tự trước những câu ĐÚNG
a. Những điều có thể gây cho cơ thể bạn trục trặc có thể dẫn đến các triệu chứng chán nản thất vọng.
b. Hầu như mọi bệnh về các tuyến đều có liên quan đến sự chán nản thất vọng.
c. Cần phân biệt giữa sự chán nản thất vọng và sự lo âu vì chúng không liên quan với nhau.
d. Sự chán nản thất vọng có khuynh hướng lây lan đến toàn thể gia đình.
e. Người cố vấn phải nhận biết các tác dụng của thuốc men có thể liên quan đến sự thất vọng.
f. Đa số tình trạng thất vọng này kéo dài trong một thời gian tương đối ngắn.
g. Sự chán nản thất vọng là một trong những dấu hiệu cuối cùng của sự trục trặc các tuyến.
Luật vệ sinh
Khi nói về luật vệ sinh liên quan đến sự chán nản tuyệt vọng, chúng tôi có ý nói đến các trạng thái hoặc sự thực hành có lợi cho sức khỏe. Qua điều này chúng tôi muốn nói rằng điều mà một người phải giữ mình sạch sẽ, ăn uống đầy đủ và có sức khỏe mạnh tinh thần lẫn thể chất.
** Nếu chúng ta nhìn vào phương diện kia của bệnh tật. Chúng ta có thể nói rằng bất cứ việc gì chúng ta làm nhằm tăng cường sức khỏe và sức sống của chúng ta đều giảm thiểu sự buồn nản. Một cuộc nghiên cứu gần đây khám phá ra là việc tập thể dục làm giảm sự chán nản tuyệt vọng. Các bác sĩ từ trước đến nay đã ủng hộ việc tập thể dục là một phần quan trọng đối sức khỏe, mặc dầu họ không giữ theo các quy luật này cách đầu đủ lắm, và thường không làm gương tốt.
Vấn đề thể dục hiển nhiên là một vấn đề cần yếu cho sức khỏe. Đức Chúa Trời thấu hiểu khi Ngài phán rằng phải đổ mồ hôi trán mới có bánh mà ăn. Nếu bạn chịu đổ một ít mồ hôi khi làm việc bạn có thể sống lâu hơn và ít bị chán nản tuyệt vọng. Thực vậy, một công trình nghiên cứu gần đây được thực hiện trên những người luyện tập thân thể bằng cách chạy bộ. Một nhà tâm thần học đã có ý dùng sự chạy bộ này như là một phương thuốc chóng trầm uất. Ông đã so sánh giữa những người đã được chữa trị để điều tiết lại sự tuyệt vọng của bằng cách chạy bộ với những người dùng thuốc tây bình thường. Ông ta thấy kết quả khá tương đồng.
Chúng ta cũng cần biết rằng khẩu phần ăn uống hằng ngày là điều cần thiết để có một sức khỏe tốt. Ví dụ như người thiếu ăn thường dẫn đến việc mất sức. Chúng ta thấy nan đề tại các quốc gia có nhiều người thiếu thốn vì cớ đông dân. Họ không có sức để cày bừa, chăm sóc và thu hoạch mùa màng. Nếu họ có mùa màng để thu hoạch được, họ sẽ không lâm vào cảnh chết đói nhưng có sức lực, có thể gieo giống, chăm sóc ruộng nương, và thu hoạch hoa màu. Bằng không họ sẽ rơi vào vòng lẫn quẩn, những người như vậy không thể nào không tuyệt vọng cho đến khi họ có đủ vật thực. Vì thế, những quốc gia tiên tiến đang nỗ lực cung cấp thực phẩm đây đó để giúp đỡ hầu họ có thể có năng lực để tự làm việc.
Điều này cũng xảy ra trong các quốc gia nơi người ta thiếu ăn vì họ không biết chế biến thực phẩm, đến nỗi nhiều thành phần bổ dưỡng đều bị tiêu hủy hết. Trước khi nhận ra được vấn đề chuyên môn này, người ta sống nhờ vào các thực phẩm, rau cải tươi sống có thể cung ứng năng lượng để cải thiện nhờ đồng ruộng.
Cuối cùng, để có một sức khỏe tốt, chúng ta phải nghỉ ngơi đầy đủ. Điều chắc chắn là bạn sẽ gặp một chút chán nản thất vọng khi có một em bé vừa ra đời ở trong gia đình vì không biết lúc nào bé sẽ đánh thức bố mẹ dậy, đặc biệt là người mẹ. Nếu phải chịu đựng hết tháng này đến tháng kia trong sự thiếu ngủ đôi lúc bạn cảm thấy chùng xuống và thoáng buồn. Vì thế, có một giấc ngủ sâu là điều quan trọng để được bảo vệ chống lại sự trầm uất mà chúng ta đều phải thực hành. Quan niệm nghỉ ngơi này rất quan trọng đối với Đức Chúa Trời đến nỗi Ngài đã biệt riêng một ngày trong tuần để nghỉ ngơi và lập nó thành ra một trong mười điều răn. Điều này không đáng kinh ngạc sao? Vì thế bạn phải ngủ bốn, tám hay mười hai tiếng làm sao phù hợp với chính bạn.
Cũng có một phương cách thông thường mà tôi khám phá ra trong việc điều chỉnh những sự chán nản tuyệt vọng nghiêm trọng. Tôi sẽ bàn đến phần hóa sinh học của hệ thần kinh trung ương.
Về thực thể, khối óc là một hệ điện hóa rất đáng lưu tâm đến. Tuy nhiên, trong vài phương diện nào đó, chưa ai hiểu hết được, một dấu hiệu khởi sự trong đầu bạn khi bạn đưa ra một quyết định. Bằng cách nào đó dấu hiệu truyền bảo cánh tay bạn phải chuyển động. Điện bắt đầu chạy xuống các màng tế bào nhỏ cho đến lúc kết thúc ở đây dây thần kinh, nơi đây nó lại tác động đến tế bào thần kinh tiếp theo, ở đây có một khoảng trống nhỏ của tế bào thần kinh. Nó có thể lỏng nếu bạn không cho các tia lửa điện phát ra trong đầu của bạn thì tia điện này sẽ không chạy đi. Và các dấu hiệu này có thể đi xuyên qua cái màng bằng chất lỏng này.
Đức Chúa Trời là Đấng tạo mẫu Thiên thượng đã phát minh ra hệ thống bé nhỏ kỳ diệu trong đó có những vật giống như cái bong bóng nhỏ ở cuối các dây và tế bào thần kinh ấy. Khi lượng điện vừa đủ chạy đến đó, những vật này nổ ra và phóng thích các hóa chất khác nhau. Các phân tử của hóa chất này chạy đến tế bào kế nó. Khi nó chạy qua, tế bào tiếp theo bị kích thích và bắt đầu phóng ra tia điện, cứ tiếp tục như thế.
Điều mà chúng ta khám phá được trong việc điều tiết và các sự chán nản nghiêm trọng là có sự bất lực của các tế bào trong việc phóng thích các hợp chất này hoặc trong sự chuyển hóa của tế bào đã bị gãy vỡ đến mức nó không tạo ra các hợp chất này với một mức lượng đầy đủ. Vì thế, hệ thống điện tử đã bị ngưng hoạt động. Điều này được ví như cố gắn vận hành chiếc máy tính điện tử nhưng lại không cung cấp đủ điện thế. Khi vận hành như thế, bất cứ người chuyên môn nào về máy vi tính sẽ cho bạn biết là bạn không thể nào khởi động máy được. Điều này giúp ta giải thích các triệu chứng thường xuyên xảy ra ở người chán nản tuyệt vọng.
Điều gì đã xảy đến cho người chán nản tuyệt vọng? Trước nhất, thế giới của họ có khuynh hướng co rút lại. Họ mất đi sức hấp dẫn trong những công việc mà họ đã từng rất thích thú. Họ thường sưu tập tem hay đi trượt tuyết nhưng bây giờ, họ nói là: "Ôi, điều đó có ích lợi gì? Hôm nay là ngày u ám tôi nghĩ mình ở đây tốt hơn".
Chúng ta thấy rằng những người này nhìn nhận rằng sức sống của họ thiếu hụt và họ cần phải rút lui vào một nếp sống đơn giản hơn và bảo tồn năng lực còn lại để có thể sống còn. Chúng ta thấy những điều cần được bảo tồn đã điều chỉnh sự thất vọng mà những người ấy quan tâm liên hệ đến sự sống còn là: Làm việc, ăn uống hay đôi lúc là giấc ngủ. Một khi sự chán nản thất vọng lên đến cao điểm, ngay cả giấc ngủ cũng bị rối loạn là điều bình thường, và điều đó tạo nên sự khó ngủ hoặc ngủ không yên giấc hoặc ngủ dậy sớm.
Bên cạnh điều này, chúng ta cũng cần lưu ý đến một điểm khác là trong trạng thái này người ta thường mất khả năng tập trung. Họ nỗ lực đọc một quyển sách. Họ đọc một câu rồi đọc lại. Cuối cùng họ ném quyển sách qua một bên và cho rằng nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Họ không còn tập trung được.
Người ta thường trở nên phân vân lưỡng lự khoảng một tháng trước hay hơn nữa, có dịp gặp họ, họ có các quyết định mau chóng, hợp lý, Sau đó họ mất đi sự tin tưởng trong việc đưa ra các quyết định. Thường sự phán đoán của họ có nhiều thiếu sót. Bộ máy tính trong họ đã bị trục trặc và sự quyết định của họ không chính xác.
Trong sự thất vọng nhiều thái cực khi người ta bị kích thích quá độ, đôi lúc sự phán đoán càng suy yếu, các quyết định thường rất bất lợi. Một gương mẫu về điều này ấy là quyết định xuất phát từ việc mong ước thoát khỏi sự thất vọng bằng cách tự tử. Chắc chắn đây là một hành động bất hợp lý vì sự chán nản thất vọng này thường là tạm thời và có thể chữa trị được. Tuy vậy, sự tự tử là sự mạo hiểm nẩy sinh trong những người chán nản thất vọng, có lẽ vì người ấy thấy thực tế hoàn cảnh trước mắt hoặc kém thiếu của mình.
Những ai đang thất vọng thường rất bi quan. Bạn có thể đổ nước đến nửa ly, họ sẽ cho là có một nửa ly trống. Bạn nói: "Không, có nửa ly nước chứ". Họ nhấn mạnh: "Không có nửa ly trống không nước". Người lạc quan cho rằng có nửa ly nước. Người thực tế cho rằng có một nửa nước, một nửa trống. Nhưng người chán nản thất vọng chỉ thấy một nửa ly trống.
Người thất vọng thường quan tâm đến những thếu thốn trong đời sống họ và ao ước mình có được nhiều hơn, họ nghĩ rằng nếu có họ sẽ cảm thấy đỡ hơn.
Tất cả chúng ta đều biết khi nhận được một món quà mình cảm thấy thế nào rồi. Bạn sẽ cảm kích vì mình được yêu. Vì thế, những ai đang thất vọng đôi lúc sử dụng tiền bạc một cách bốc đồng để cảm thấy dễ chịu. Nếu có một số tài khoản khá lớn trong ngân hàng, mới có thể giữ bạn cho đến khi sự chán nản thất vọng trôi qua. Nếu không, một khi thoát khỏi sự chán nản tuyệt vọng, bạn phải lấy hết gia tài của mình để trả mọi tổn phí mà mình đã tiêu qua trong khi bị thất vọng. Chu kỳ tuần hoàn này sẽ tiếp diễn hết năm này đến năm khác.
Như tôi đã nêu trên sự chán nản thất vọng đến mức bão hòa và ở vào giai đoạn khốc liệt, những sự thay đổi về sinh lý có thể đo lường được. Thực sự sản xuất nước bọt trong miệng bị giảm bớt khi tuyến nước bọt suy yếu đi. Sự suy yếu của tuyến nước bọt cũng tác động trên các tế bào bao bọc bao tử vì nó không chuyển hóa được một cách bình thường trong việc xây dựng một hàng rào bảo vệ chống lại các chất Acid đang có trong bao tử. Những người chán nản thất vọng thể nào rồi cũng mắc bệnh vị trường, bao gồm cả bệnh loét vì cớ sự suy yếu của tuyến nước. Trong các trường hợp này, thực phẩm thường không được tiêu hóa tốt. Bệnh khó tiêu, chứng táo bón, và tiêu chảy thường thấy trong những người chán nản thất vọng.
Cũng vậy, vì cớ nhiều vấn đề chúng ta biết được trong những người thất vọng, thân thể họ thường sản sinh ra nhiều chất ảnh hưởng đến sức đề kháng bệnh tật.
Một ai đó mắc phải bệnh truyền nhiễm trong khi chán nản thất vọng là kết quả và cũng là nguyên nhân của bệnh truyền nhiễm.
Tất cả điều này và nhiều điều khác có thể tác động đến sức sống của chúng ta. Hãy học tập dần để thấu triệt các nguyên tắc này hầu có thể giúp đỡ người khác**
5. Liệt kê ba yếu tố quan trọng để đảm bảo vệ sinh tốt.
...
6. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu ĐÚNG liên quan đến vấn đề vệ sinh và sự thất vọng.
a. Sự tìm tòi nghiên cứu cho thấy là có một sự tương quan giữa việc thiếu tập thể dục và thất vọng chán nản.
b. Những con người trong các quốc gia thiếu ăn hiếm khi trải qua sự chán nản thất vọng.
d. Đôi khi sự thất vọng kết nối với chế độ ăn uống thiếu hụt.
e. Người chán nản thất vọng thường vẫn thích thú với vấn đề xung quanh anh ta, dù ở trong tình trạng chán nản thất vọng.
f. Thông thường người chán nản thất vọng đơn giản hóa cách sinh hoạt của mình để bảo tồn năng lực của mình.
g. Tốt nhất là người chán nản thất vọng phải làm một công việc đòi hỏi một sự tập trung lớn để giữ tâm trí của họ thoát khỏi sự chán nản thất vọng.
h. Người chán nản thất vọng có thể thực hiện một việc hứng thú nhưng thiếu ý thức trách nhiệm để phá vỡ sự chán nản tuyệt vọng của mình, nhưng hành động này thường dẫn đến sự chán nản thất vọng càng hơn.
7. Ôn lại những dấu hiệu có thể xảy ra của sự chán nản thất vọng. Viết chữ D trong khoảng trống trước các câu có dấu hiệu có thể xảy ra. Viết chữ N nếu chữ hay cụm từ đó không phải là dấu hiệu của sự chán nản thất vọng.
... a. Mất đi sự thích thú
... b. Có nhiều năng lực
... c. không lưu tâm đến những vấn đề không cần thiết.
... d. Suy nghĩ sáng suốt
... e. Chọn một cách sống đơn giản hơn.
... f. Tỏ lòng cảm kích sâu xa hơn đối với bạn bè cùng gia đình.
... g. Không có khả năng tập trung.
... h. Không có khả năng kháng bệnh
... i. Tiêu xài tiền bạc một cách bốc đồng.
... j. Đưa ra các quyết định phi lý.
... k. Tuyến tiết nước bọt trong miệng suy yếu.
... l. Bi quan
... m. Luôn ước có được nhiều hơn.
... n. Náo nức làm vui lòng
... o. Bị khó tiêu
QUYẾT ĐỊNH CÁC SỰ MONG ĐỢI
Sự mong đợi của bạn là gì? Bạn ước mơ gì qua cuộc sống mình? Thông thường người lãnh đạo đến một khu vực nào đó hầu được bạn đấu phiếu cho họ sẽ minh chứng rằng bạn cần nhiều điều nơi họ, các cơ quan quảng cáo vẫn luôn luôn cho chúng ta biết các mục quảng cáo bằng phương tiện truyền thanh, truyền hình vào báo chí là chúng ta cần đến sản phẩm của họ. Ví dụ, nếu bạn thấy mục quảng cáo về một chiếc xe mới nhiều lần và nếu các kỹ thuật hấp dẫn khiến bạn lưu tâm đến, chẳng bao lâu bạn sẽ ao ước chiếc xe ấy và rồi sự mong ước của bạn được xây dựng đến mức bạn bắt đầu chán nản thất vọng nếu không có được chiếc xe ấy. Những bạn hữu, láng giềng cũng xây đắp các mong ước của chúng ta qua những vật họ có mà chúng ta thấy ưng ý và cần yếu, chẳng bao lâu thuyết phục chúng ta cũng phải có những điều này. Như thế, sự mong ước của bạn trở nên trừu tượng. Mỗi một chúng ta cần đánh giá các mong ước của mình dựa trên nhu cầu hơn là sự thèm muốn của chúng ta.
** Tôi muốn đưa ra một khuôn mẫu để xây dựng sự mong ước như thế nào vì trước nhất lỗi lầm chúng ta thường mắc phải là nhìn xem cách người khác bước đi. Thông thường chúng ta quyết định điều mà con cái chúng ta phải thực hiện theo ý thích của chính mình hoặc qua con cái của người khác, hơn là nhìn biết mức độ của con cái chúng ta và chính chúng ta. Nếu biết được những điều này chúng ta sẽ có các mong ước hợp lý hơn phù hợp theo khả năng của ta.
Tôi muốn xem xét lại ý niệm về các mong đợi này. Có nhiều sự mong đợi dựa trên nhu cầu của chúng ta. Chúng ta đều có nhu cầu về thực phẩm và nơi cư trú, bao gồm một nơi ở và một ít quần áo. Chúng ta cũng có nhu cầu khi bệnh tật. Chúng ta cần được chăm sóc để có được sức khỏe bình phục hầu nhận lãnh một vài trách nhiệm, cho nên chúng ta cần có các mối quan hệ. Một khi đau yếu đến mức không thể làm việc và chăm sóc chính mình, nếu không có ai đến và giúp đỡ chúng ta, chúng ta có thể chết.
Ví dụ, theo một số các sự nghiên cứu qua nếp sống hôn nhân với nếp sống độc thân, chúng ta khám phá ra rằng hôn nhân có nhiều giá trị sống còn hơn. Mức tử vong đối với những người độc thân lên đến tám mươi phần trăm. Mức tử vong đối với những người ly dị lên đến một trăm bốn mươi phần trăm. Còn đối với những người góa bụa thì mức này lên đến một trăm hai mươi phần trăm. Mức tự sát cũng gia tăng ở những người độc thân, góa bụa và ly dị, mức suy sụp tinh thần cũng vậy.
Tại sao vậy? Tôi suy tưởng đến nhiều lý do. Chúng ta hãy xét đến điều gì xảy đến cho người độc thân bị bệnh. Người ấy không có ai cung cấp cho mình các thực phẩm đặc biệt như cháo gà giúp người ấy phục hồi sức khỏe. Đôi lúc anh ta không có được sự nghỉ ngơi cần thiết để được bình phục. Anh ta phải chổi dậy làm việc vì không ai có thể giúp anh trải qua những giây phút khủng hoảng tài chánh. Với những ai vẫn còn độc thân, tôi đề nghị họ cần có các gia đình bảo trợ giúp họ vượt qua những thời gian khó khăn của cuộc đời. Nếu thất bại họ cần xây đắp gia đình sớm.
Vì thế chúng ta thấy rằng có nhiều ước nguyện dựa trên các nhu cầu. Như có bao nhiêu điều dựa trên các nhu cầu? Đa số điều dành trọn đời sống mình làm việc vì cớ các ý muốn của ta.
Trong những ngày đầu tiên trên đất Mỹ, người ta tự xây nhà để ở. Các ngôi nhà phải được trả giá ngay vì người ta làm việc chung với nhau để dựng nó lên. Họ dựng nhà lên nơi đã có cây đốn sẵn và xếp thành đống. Bình thường toàn thể cộng đồng đến dựng nhà với bất cứ kích thước nào. Nhưng người ta làm việc với nhau và có một nếp sống tương đối thường không chịu lãi suất. Nhưng các ngôi nhà hiện đại ngày nay rộng lớn và nhiều người không biết phải làm gì nếu không được trả góp. Những mong đợi hiện đại liên quan đến ngay cả các nhu cầu cơ bản đối với chỗ ở đã thay đổi một cách lớn lao trong quốc gia này.
Nói cách khác tôi tự hỏi có bao nhiêu người đã thất vọng vì năng lực và sức sống của họ không thể giúp họ làm việc siêng năng để đáp ứng mọi mục tiêu của họ? Phương cách làm giảm sự chán nản và thất vọng là phải nhận biết nhu cầu căn bản của mình là gì, trái ngược với các ước muốn đã có.
Nhiều người nắm lấy lập luận cho rằng chúng ta có thể có được mọi điều mình muốn trong cuộc sống nếu biết trả giá. Nan đề đó là nhiều người trong chúng ta nỗ lực trả giá cho những điều mà mình cần phải có sự suy nghĩ cẩn thận trước khi liệt nó vào các mục tiêu trước mắt. tuy nhiên, ở trong sự thất vọng, chúng ta tin rằng mình phải đạt được điều này, theo đuổi các mục tiêu ấy và phải trả giá bằng xúc cảm và thể chất của mình đã kết thúc bằng sự thất vọng, thường là mắc bệnh suy nhược.
Các Cơ đốc nhân sẽ thấy rằng đối đầu với một hình thức thất vọng khác dựa trên các mục tiêu thiếu thực tế không phải là điều bất thường. Là Cơ đốc nhân chúng ta đều muốn trở nên giống như Đấng Christ. Chúng ta gặp khó khăn khi quên rằng việc xây dựng các mục tiêu và ước mong đạt được cá mục tiêu ấy một cách dễ dàng là điều ngoài tầm tay của chúng ta.
Tôi nhận biết rằng được cứu qua kinh nghiệm cứu rỗi không bảo đảm rằng chúng ta sẽ hoàn thiện ngay. Cùng với tâm trạng của Phaolô trong thư Rôma 7, tôi thấy mình cũng nói rằng: "Tôi chẳng làm điều mình muốn, nhưng làm điều mình ghét... Ai sẽ cứu tôi?" Bây giờ hiển nhiên là bạn có thể vượt lên trên điều đó và bạn đã trải qua bài học "đi bộ trên mặt nước" và "làm cho kẻ chết sống lại", nhưng tôi thừa nhận rằng mình đã thất bại trong những điều này và không còn nỗ lực nữa.
Nhiều con cái Chúa tin rằng khi trở nên một Cơ đốc nhân, họ không bao giờ chán nản thất vọng nữa. Chúng ta đã từng đọc các sách nói đến các thể loại này và nhiều người cho rằng lý do của sự chán nản thất vọng là do tội lỗi trong nếp sống của họ. Vì một Cơ đốc nhân được xem là người được giải thoát khỏi tội lỗi, cho nên các Cơ đốc nhân khó có thể chấp nhận rằng họ phải rơi vào trong tình thế "thất vọng". Tôi nghĩ rằng điều này đến từ một ý niệm sai lầm về sự cứu rỗi.
Sự cứu rỗi không cho phép chúng ta bước vào một nếp sống được cứu khỏi sự thất vọng. Ngay cả Đấng Christ khi bước vào trần thế cũng phải trải qua sự lo buồn, là một hình thức của sự thất vọng, Ngài ngó Giêrusalem và nói: "Hỡi Giêrusalem, Giêrusalem... bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi không khứng "(Mathiơ. 23, 37), và Chúa đã khóc. Ở đây chúng ta thấy Chúa Jesus trải qua kinh nghiệm bị chối bỏ là một triệu chứng của sự thất vọng. Cũng như trong sự qua đời của Laxarơ, Đấng Christ đã thể hiện sự buồn rầu sâu xa xuất phát từ cảm xúc bên trong. Ngài nhận thức được sự thương tổn và nỗi buồn của những ai mất đi người thân yêu. Chính Ngài cũng buồn rầu vì sự chia ly Ngài đã đối diện vào lúc dự bữa tiệc cuối, cũng như tại vườn Ghếtsêmanê. Ngài là một con người đau khổ và tôi nghĩ rằng nếu giải thích biến cố ấy theo bất cứ cách nào khác đều mâu thuẫn với thực tế đã miêu tả. Ngài là con người đau khổ thường đối diện với sự phân ly và mất mát.
Sau cùng, sách Gióp là một tác phẩm quan trọng liên quan đến sự chán nản tuyệt vọng. Tại đây có một con người mà chính Đức Chúa Trời tuyên bố rằng: "Ngươi có nhìn thấy Gióp tôi tớ ta chăng? Nơi thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác" (Gióp 1:8;). Tôi cảm thấy tốt đẹp biết dường nào nếu Chúa phán điều này với chính mình. "Tìm đâu ra trong cả thế giới này". Tôi không thể nhận được điều này vì đoan chắc rằng trong thế giới mình đang sống có những người trưởng thành hơn mức độ mà tôi có được trên con đường thuộc linh. Tôi đoán rằng có nhiều người đã đạt được mức độ cao hơn mình ở điểm này.
Nhưng dẫu cho có lời Chúa phán với ông như thế, Gióp vẫn bị bệnh chán nản thất vọng này tấn công khi mất mát người thân yêu cũng như địa vị của mình trong cuộc sống. Song le Kinh Thánh chép rằng Gióp đã trải qua mọi điều ấy nhưng không phạm tội, ông đã trở nên một con người tốt hơn khi trải qua sự thất vọng. Ông đã tăng trưởng qua điều này.
Phải, là các Cơ đốc nhân chúng ta có lúc phải trải qua sự thất vọng vì khi kinh nghiệm điều ấy, chúng ta cảm thấy mình tội lỗi. Chúng ta nghĩ mình đã thất bại. Tôi có gặp nhiều Cơ đốc nhân thất vọng và đã phô bày triệu chứng khác nữa là tra vấn lương tâm mình. Trong khi đối diện với điều này họ tự hỏi: "Có phải tôi bị hình phạt vì điều mà tôi đã vi phạm trong hai mươi năm qua không? Hoặc mười năm về trước? Hoặc hôm qua?"
Thông thường những người thất vọng có kinh nghiệm là mình có nhiều lỗi lầm và hối hận ăn năn vì cảm thấy mình bị hình phạt. Phúc âm Cơ đốc đã đưa ra lời giải đáp cho các lỗi lầm, những thiếu sót và bất toàn, đó là "sự tha thứ". Đức Chúa Trời yêu thương chính chúng ta, ngay cả khi chúng ta thất vọng. Ngài không có ý định làm cho chúng ta đau buồn nhiều hơn, và tôi được thuyết phục thấy rằng sự chán nản tuyệt vọng không đến từ Đức Chúa Trời. Nó xuất phát từ những mong ước mà chính mình đã tạo ra khiến cho sức sống của chúng ta mất quân bình.
Chúa phán rằng: "Ách ta dễ chịu, gánh ta nhẹ nhàng" (Mat Mt 11:30). Ngài không thử nghiệm chính bạn vượt hơn mức chịu đựng bạn có được. Nếu người khác giao cho bạn nhiều công việc hơn, gánh nặng bạn mang càng lớn hơn, tôi muốn bạn biết rằng nó không xuất phát từ Đức Chúa Trời nhưng từ người khác.
Tôi biết có những người chán nản thất vọng khi đang nỗ lực làm việc thiện. Họ đã quá bận rộn với công việc Chúa đến nỗi quên thực hành qui luật để có một sức khỏe tốt mà Chúa đã chỉ định. Tôi biết các nhà truyền đạo đã làm việc bảy ngày một tuần, mặc cho sự kiện là chính. Quyển sách họ rao giảng có chép là: "Nào, hãy biệt riêng một trong bảy ngày để lấy lại sức lực và duy trì năng lực cũng như sức sống của bạn hầu không rơi vào lầm lỗi khác".
Vì thế, chúng ta cần xem xét lại sự quân bình trong cuộc sống của chúng ta để được phục hồi, hầu cho các mong đợi quân bình với sức sống có trong ta. Một trong những điều cần lưu ý là đôi lúc sức sống của mình dấy lên rồi lại xẹp xuống. Có những ngày chúng ta thức dậy và tự nhủ: "Chỉ cần huấn luyện một chút là tôi có thể đạt đến đỉnh cao nhất". Có ngày chúng ta tỉnh dậy và nghĩ rằng không biết mình có leo nỗi ba tầng lầu để đến chỗ làm hay không. Nếu nhận biết được những dị biệt này, tôi có thể giữ nếp sống mình trong sự quân bình hầu điều chỉnh các mong ước mình dựa trên những gì xảy ra trong nếp sống mình **
8. Nêu lên bốn yêu cầu quyết định các sự mong đợi
...
9. Điều gì sẽ xảy ra khi một người sống đơn chiếc bị bệnh?
...
10. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG
a. Những ước muốn của người khác có thể tạo nên những mong ước trong chúng ta.
b. Nỗ lực hoàn tất các mục đích về cách sống của một Cơ đốc nhân bằng sức lực của chính chúng ta cũng có thể gây nên sự chán nản tuyệt vọng.
c. Nỗ lực tránh né các lôi cuốn của thế giới này là một cách làm giảm thiểu các mong ước của ta.
d. Quan niệm Cơ đốc về sự tha thứ giúp ta tránh được sự chán nản tuyệt vọng.
e. Nếu chúng ta mong ước quá cao, đó là lỗi lầm của những người sống chung quanh chúng ta.
f. Quan điểm cho rằng bạn có thể có được mọi thứ mà bạn muốn trong đời sống nếu bạn ao ước trả giá, là một giả thuyết tốt cho những ai chịu đựng sự thất vọng.
g. Các mong ước phải quân bình với sức sống có được trong một ai đó.
h. Ý niệm cho rằng các Cơ đốc nhân mong đợi sự hoàn hảo có thể tạo ra sự tuyệt vọng.
Khi trả lời các câu hỏi trên đây, tôi hy vọng bạn nhận thức rằng sự chán nản thất vọng là do con người tạo ra. Nguyên nhân chủ yếu là các mong ước vượt hơn khả năng của chúng ta, cả về thể chất lẫn tinh thần. Chúng ta cần ý thức rằng mình có một nguồn cung ứng rất lớn lao được gọi là "sự tha thứ" có thể giúp giảm bớt tình trạng mắc lỗi của chúng ta. Tuy nhiên, bản chất con người chúng ta có thể đem chúng ta đến chỗ tuyệt vọng, đặc biệt là những lúc chúng ta cố gắng sống đúng với các mục tiêu Cơ đốc bằng chính giá trị vô sức lực của riêng ta.
CÁCH CHỮA TRỊ SỰ THẤT VỌNG
Sách Gióp.
Nếu muốn nâng đỡ những người kinh nghiệm sự chán nản tuyệt vọng, chúng ta cần trở nên các nhân chứng, trong ý nghĩa là người quan sát. Chúng ta phải tìm ra được nguyên nhân của sự thất vọng, sau đó trình bày các nhận định của chúng ta. Khi chia xẻ sự thất vọng của ai đó chúng ta có thể giúp người ấy cầu nguyện như sau: "Chúa ơi, con đang ở trong tình trạng này và không hiểu lý do, nhưng con nguyện Ngài cất con khỏi điều này". Khi làm công tác này bạn phải đứng vào vị trí không xét đoán. Nó cũng đòi hỏi tài năng và nguồn cung ứng vượt hơn khả năng chúng ta có.
Trước khi hoàn tất mỗi câu hỏi trong phần này, hãy đọc lại sách Gióp cùng những chương đặc biệt đã nêu.
** Chúng ta hãy xem lại sách Gióp một lần nữa, bạn có nhớ rằng sau khi Gióp bị mất mát mọi sự mà chúng ta đã đề cập đến không? Đã có vài người bạn đến thăm ông, họ là những người an ủi ông. Họ đã đến và đã phát biểu như sau: "Anh Gióp chúng tôi biết anh đã lâu, và không tưởng tượng đại họa xảy đến cho một người công nghĩa như anh. Chắc phải có một lý do nào đó mà chúng tôi không biết, chắc chắn phải có một tội lỗi nào đó trong đời sống anh nên anh mới mắc phải điều này. Anh đã không có đủ đức tin cần thiết hoặc điều gì đó. Anh đã phạm một tội kín dấu nào đó. Vậy bây giờ, anh hãy thừa nhận ngay đi,
hãy xưng lỗi lầm ấy ra. Chắc chắn là Đức Chúa Trời yêu thương anh, tha thứ cho và cứu anh ra khỏi tai họa này".
Dĩ nhiên là ông cũng nhận được những lời vợ khuyên. Tôi nghĩ rằng bà đã bị tổn thương và tuyệt vọng về của cải vì thế tôi không xét vợ của Gióp một cách quá nghiêm khắc. Bạn phải nhớ rằng bà là một bà mẹ đã vừa bị mất tất cả con cái mình. Bà Gióp là một phụ nữ quá ư đau khổ khi bộc phát ra lời này: "Nào, chúng ta hãy rủa sả Đức Chúa Trời và chết đi".
Thật may, Gióp đã không nghe theo những lời ấy, cũng không nhận lấy lời khuyên của các bạn hữu. Ông đã lắng nghe và phát biểu một vài lời: "Hãy xem, tôi đã tra xét đời sống mình". Đọc cả 38 chương về những lời đàm thoại của họ với ông, từng người một và mỗi lần trả lời ông đã nói: "Không, tôi đã chăm sóc người nghèo đến nhà tôi. Những người thiếu thốn luôn luôn có mặt tại bàn ăn của tôi"...
Vì thế những người bạn của Gióp đã trở về nhà suy gẫm đến điều này và họ đã phát biểu những lời sau: "Dù gì đi nữa thì chúng ta cũng có thể đi đến chỗ thuyết phục là ông ấy sai. Chúng ta hãy xác định điều này và suy nghĩ nhiều phương cách mới để tấn công ông già Gióp". Vì thế, ngày hôm sau họ đã đến với những lời buộc tội khác và ông đã đáp lời họ.
Sau cùng trong chương ba mươi hai, bạn thấy có một gã thanh niên khác tên là Êlihu. Êlihu đến và nói rất nhiều lời như sau: "Như anh biết tôi là người nhỏ nhất ở đây và muốn giữ im lặng để xem cách các anh em cao niên giúp Gióp thoát khỏi những phiền muộn này, nhưng thấy các anh đã không thuyết phục được". Những lời này thật là lạ, phải không các bạn? Tại sao nó lại quan trọng đến thế? Vì tôi nghe rằng những người cao niên này là người yên ủi Gióp đã nỗ lực xét xử Gióp, họ nói rằng: "Chúng tôi biết lý do và ảnh hưởng của sự tuyệt vọng của anh, có một tội lỗi còn ẩn giấu trong anh và chúng tôi có khả năng suy luận đến điều này. Hãy lắng nghe chúng tôi vì chúng tôi có thể giúp đỡ anh hiệu quả hơn.
Tôi tin rằng Gióp đã thực tâm nhìn biết mình là một người thành thật. Ông đã tra xét và đánh giá chính mình từng bước một như đã thấy đầu chương 31, bạn thấy ông ta xét lại nhiều phương diện khác nhau của đời sống mình và không bị cáo trách điều gì. Đây có Êlihu không phải là người xét đoán Gióp. ông chỉ đơn giản là một nhân chứng và là một quan sát viên. Căn bản ông nói rằng: "Tôi chú ý đến các bạn là những người đang nỗ lực thuyết phục bản chất tội lỗi của Gióp, còn đối với Gióp là một con người không bị bắt phục". Bạn thấy đây là một lời nhận xét rất kỳ khôi.
Sau đó Êlihu bắt đầu từ điểm này và nói về Đấng tạo lập vũ trụ, sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời, và điều mà Ngài đã thực hiện. Gióp chương 38 bắt đầu với những lời này: "Bấy giờ từ giữa cơn gió trốt, Đức Chúa Trời đáp cùng Gióp". Bây giờ dù đây là cơn gió trốt phiền muộn của Gióp, tôi không có ý kiến. Nhưng qua đó Gióp đã nhận được một sứ điệp từ Đức Chúa Trời, Gióp được nhắc nhở địa vị nhỏ hèn cùng địa vị trong đời ông Đức Chúa Trời luôn ở cùng và ông tin cậy Ngài.
Vì vậy, xuyên qua tất cả những điều này, Gióp đã không phạm tội. Trong chương cuối cùng, Giop G 42:7-9, Đức Chúa Trời cho Êlipha biết là: "Cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng ngươi và hai bạn hữu ngươi bởi vì các ngươi không nói về Ta cách xứng đáng y như Gióp kẻ tôi tớ Ta đã nói. Vậy bây giờ... vì các ngươi mà dâng lên của lễ thiêu, rồi Gióp tôi tớ Ta sẽ cầu nguyện cho các ngươi, vì Ta sẽ nhậm lời ngươi kẻo Ta đãi các ngươi tùy theo sự ngu muội của các ngươi... Rồi Đức Giêhôva nhậm lời của Gióp". Bạn có lưu ý là Êlihu không được kể trong số những người này. Nếu bạn đọc sách này một cách cẩn thận và nhạy bén, bạn sẽ thấy điều Êlihu đã thực hiện một cách chính xác. Vì nếu chúng ta muốn giúp đỡ những ai được chìm đắm trong sự thất vọng, điều sau chót chúng ta cần có là được Đức Chúa Trời phán rằng: "Con là người yên ủi Gióp. Con đã đến với người đau buồn, thất vọng trong cuộc sống và đã không thêm cho họ sự buồn rầu, ta rất vui với điều con nâng đỡ người ấy".
Điều này cho chúng ta biết rằng nếu ra đi nâng đỡ người khác đang trải qua sự thất vọng chán nản, chúng ta cần trở lại với vai trò mà Đấng Christ kêu gọi chúng ta. Ngài nhắn nhủ: "Ta gọi các ngươi là những chứng nhân". Chúng ta cần hiểu rõ chứng nhân là gì. Đơn giản là một người quan sát và tường thuật lại điều mình đã thấy. Nhiều người suy nghĩ rằng làm nhân chứng tức là phải đứng ở góc đường, phân phát truyền đạo đơn. Đây không phải là làm chứng nhưng là công tác phát truyền đạo đơn. Làm nhân chứng tức là quan sát. Tự điển sẽ cho bạn biết điều này. Vậy thì điều này có lợi ích gì? Như đã định nghĩa, thất vọng là sự mất quân bình giữa sức sống và các điều mong ước của ta và nếu có vô số lý do, thì chúng ta có thể quan sát và trở nên một nhân chứng cho các lý do này.
Vấn đề nằm ở chỗ là khó có ai ngồi trên chiếc lò đang nóng để quan sát mọi diễn biến chung quanh. Bạn có biết điều ấy không? Thật là khó cho một người mắc bệnh viêm phổi thấy được một cách chính xác điều gì đang xảy đến cho anh ta. Những người bị thương tổn thường sợ hãi và sự cảm nhận bị ảnh hưởng sâu đậm bởi trạng thái kích động của cảm xúc trong họ. Người chán nản thất vọng cũng vậy.
Sự đau đớn thất vọng thường làm cho các sự phán đoán của họ rối loạn. Đây là lý do mà họ bắt đầu tìm kiếm các tội lỗi giả định mà họ đã mắc trong quá khứ... Vào thời điểm này, nếu không cẩn trọng, chúng ta sẽ ủng hộ họ và nói: "Đúng rồi, điều này rất đúng, hồi ba mươi tuổi, bạn đã phát ra những lời thô tục đối với mẹ của bạn, đây là điều bạn phải gặt lấy". Có thể trong đời sống của nhiều người sự thất vọng đến từ cách cư xử không thích đáng của họ, trong trường hợp đó, cần có sự điều chỉnh. Nhưng trong tình thế đó, chúng ta không nên ngồi trên tòa phán xét. Chúng ta phải có sự nhận định về tính chất của sự thất vọng trong con người ấy.
Một khi có ai đó đến với tôi và nói: "Tôi đang thất vọng". Tôi bắt đầu tìm hiểu, ký thuật lại cuộc đời đã qua của người ấy. Điều gì đã xảy ra? Lần đầu tiên chú ý đến nó là lúc nào? Bạn đã làm gì trước đó? Sau đó thì sao? Ví dụ như tôi khám phá ra là anh ta bị bệnh tăng huyết áp. Từ đó, là một nhân chứng và là người quan sát, tôi có thể nói: "Tôi nghĩ là sự thất vọng của bạn đến từ lý do đó, nếu vậy bạn hãy nói với bác sĩ cấp thuốc chữa bệnh tăng huyết áp của bạn để thay loại thuốc khác hầu bạn không bị chán nản tuyệt vọng nữa." Tại đây, chức năng của tôi là một quan sát viên hầu giúp người khác tìm ra lý do của thất vọng mà anh ta đang gặp phải. Đây là điều mà ai cũng có thể làm.
Bây giờ nếu lý do của sự thất vọng là vô số thì điều này cho ta thấy rằng sự chữa trị ở những người ở trong tình trạng này đòi hỏi mọi tài khéo của mình. Đến lúc cần có sự hỗ trợ của các bác sĩ y khoa, các Mục sư, bạn hữu, gia đình và bất cứ điều gì cần đến. Một ai đó có được các thông tin bổ ích từ một nơi nào đó. Tôi được thuyết phục thấy rằng nếu chúng ta siêng năng và kiên nhẫn xem xét vấn đề, chúng ta sẽ tìm ra được lý do của sự chán nản thất vọng ấy.
Một trong những nan đề xảy đến với những người đang tuyệt vọng là họ dễ nổi cáu. Dù là Cơ đốc nhân hay không thì việc ngồi chung với người gắt gỏng, cau có là điều rất khó. Và chưa hết, tôi thường thấy những người chán nản thất vọng không có sức để có được một mối quan hệ tốt đẹp, đặc biệt là lúc có những người như các bạn của Gióp đến quấy rầy họ. Bạn biết đó khi đã tuyệt vọng thì điều họ thích làm là để thì giờ đi mua sắm và hoàn toàn nghỉ ngơi, có người thích ngồi trên ghế và nhìn chăm chăm vào tường. Người ấy không có năng lực để làm gì khác hơn. Người cáu gắt, một khi đã thất vọng để nổi giận và họ sẽ buông ra những lời như: "Hãy để mặc tôi". Tuy nhiên nếu để họ một mình, Nguy cơ tự tử sẽ gia tăng vì họ cũng sẽ hoảng sợ ở một mình.
Ai trong chúng ta cũng đều có kinh nghiệm bị chối từ đang khi chán nản tuyệt vọng. Mặc dù khốn khổ là lúc người ta thích kết bạn, nhưng "khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai?". Vì thế người thất vọng thường cần một ai đó ở bên cạnh và làm một nhân chứng. Người ấy cần một người quan sát im lặng nỗ lực thu thập tin tưởng và nói: " Bạn đi ra bách bộ mới một lúc thôi, mà thấy bạn vui vẻ hơn đấy". Hoặc nhân chứng ấy bày tỏ là: "Bạn đi bộ mới một lúc mà thấy bạn mệt hơn".
Tất cả những điều này giúp chúng ta thấy được tính chất nghiêm trọng của sự thất vọng.
Vì thế, là những người cố vấn bán chuyên nghiệp, điều phải làm là xác định ngay rằng chúng ta cần có đủ sức để giúp mình khỏi thất vọng. Sau đó chúng ta cần lưu lại với người thất vọng một khoảng thời gian. Bằng mọi cách, hãy giúp họ tránh được hiện tượng bị bỏ rơi làm tăng thêm hiện tượng tự tử trong họ. Trong những tình huống đó, hãy nhớ lại điều tác giả Thithiên đã nói: "Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào, vì Chúa ở cùng tôi". (Thi Tv 23:4). Về ý nghĩa thuộc linh, Đấng Christ ở với con người thất vọng, nhưng sự hiện diện của Đấng Christ trong những người tin cũng hiện diện với người ấy.
11. Đọc Giop G 32:1-37:24. Người cố vấn là một nhân chứng cũng là một quan sát viên. Đọc các câu Kinh Thánh sau và nêu lên điều biểu hiện Êlihu là một quan sát viên.
a. 32:11 ...
b. 32:12 ...
c. 33:3 ...
d. 33:2 ...
e. 34:5 ...
f. 35:3 ...
g. 35:16 ...
h. 37:17 ...
12. Đọc 32:1-37:24. Một người cố vấn tốt hoặc một quan sát viên hay một nhân chứng phải là người không xét đoán. Đọc mỗi câu Kinh Thánh dưới đây và ghi lại điều biểu hiện Êlihu không xét đoán
a. 32:21 ...
b. 33:3 ...
c. 33:32 ...
d. 34:4 ...
e. 34:33 ...
f. 35:2 ...
g. 36:4 ...
13. Định nghĩa một chứng nhân
...
14. Khoanh tròn các mẫu tự đứng trước mỗi câu ĐÚNG về việc khuyên lơn chỉ bảo người tuyệt vọng
a. Sự đau đớn vì thất vọng thường tạo nên những phán đoán bất hợp lý.
b. Cách cư xử không đúng không phải là lý do để thất vọng.
c. Người quan sát viên không giúp ích gì trong việc khám phá ra lý do của sự thất vọng.
d. Trong lúc tuyệt vọng người ta thường thấy mình bị chối từ.
e. Người bị thất vọng thường cần có một ai đó ở bên cạnh để làm chứng lại những gì đang xảy ra.
f. Người cố vấn phải tìm cho ra nguyên nhân của sự thất vọng.
g. Các nguyên nhân của sự thất vọng rất dễ tìm
h. Các bác sĩ y khoa, các Mục sư, bạn hữu, gia đình có liên hệ đến việc tìm ra lý do thất vọng.
i. Khuyên bảo hướng dẫn người thất vọng là một trong những hình thức cố vấn đơn giản nhất.
j. Người cố vấn phải tránh không để cho người thất vọng cảm thấy bị bỏ rơi vì điều này sẽ dẫn người ấy đến chỗ tự tử.
Khi cộng tác với nhau, chúng ta sẽ thấy rằng mọi chán nản tuyệt vọng đều có thể được chữa trị. Không ai muốn chịu đựng cuộc đời khổ đau này vì thất vọng. Chúng ta phải giúp đỡ người khác an nghỉ khi nhắc đến Đức Chúa Trời là Cha đã tha thứ cho chúng ta. Hãy xem IPhi 1Pr 1:3-9.
Ngợi khen Đức Chúa Trời, là Cha Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, Ngài lấy lòng thương xót cả thể khiến chúng ta sanh lại, đặng chúng ta nhờ sự sống lại của Đức Chúa Jesus Christ mà trông cậy sự sống đó, là cơ nghiệp không hư mất, không ô uế, không suy tàn để dành trong các từng trời cho anh em, là kẻ bởi đức tin, nhờ quyền phép của Đức Chúa Trời giữ cho, để được sự cứu rỗi gần hiện ra trong kỳ sau rốt! Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu, hầu cho sự thử thách đức tin anh em quý hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jesus Chrst hiện ra. Ngài là Đấng anh em không thấy mà yêu mến, dầu bây giờ anh em không thấy Ngài, nhưng tin Ngài, và vui mừng không xiết kể và vinh hiển, nhận về phần thưởng về đức tin anh em, là sự cứu rỗi linh hồn mình.
Cho đến nay, bạn đã từng bước học hết khóa học. Điều này rất có lợi cho bạn khi thấy được nguyên cả khóa học. tôi hy vọng là bạn sẽ nhận được các kiến thức mới mẽ khi ôn tập xong để dự kỳ thi cuối khóa.
Chúc mừng bạn trong việc hoàn tất khóa học! Hi vọng rằng nếp sống cùng chức vụ của bạn gặt hái được nhiều lợi ích lớn lao. Cho phép tôi khích lệ bạn, mong rằng Đức Chúa Trời chúc phước cho bạn và đại dụng bạn hơn bao giờ hết khi bạn tiếp tục lớn lên trong Chúa Jesus Christ chúng ta.
Bài Tập Tự Trắc Nghiệm
CÂU CHỌN LỰA.: Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời đúng nhất.
1. Các dấu hiệu của sự thất vọng bao gồm:
a. Ghét tiền bạc, mất đi sự lưu tâm, bi quan, không tiêu hóa.
b. Bi quan, thiếu khả năng kháng bệnh chọn lựa một cuộc sống đơn giản và không có khả năng tập trung.
c. Tiêu xài bốc đồng, khó tiêu hóa, hát xướng, đưa ra các quyết định phi lý.
d. Mất đi sự lưu tâm, rất thèm ăn, không có khả năng tập trung, và bi quan.
e. Đọc nhiều sách, ao ước nhiều thứ, tiêu xài bốc đồng và lạc quan.
2. Khi cố vấn cho người thất vọng, người cố vấn phải.
a. Cho người ấy biết phải bước những bước nào.
b. Nói cho người ấy biết các điểm thiếu sót trong cuộc sống của anh ta.
c. Giải thích cho người ấy biết điều gì sắp xảy ra.
d. Có sức sống vượt hơn điều người ấy ước muốn. Và khao khát
e. Làm một quan sát viên không xét đoán.
3. Chán nản thất vọng được định nghĩa là "một tình trạng hiện hữu khi
a. Sức sống cao, nhưng mong ước của anh ta thì ít".
b. Sức sống cùng các mong ước đều ở mức độ cao.
c. "Các mong ước cao so với sức sống".
d. "Sức sống vượt hơn những khát khao mơ ước của người ấy"
e. "Các nhu cầu và các ước vọng thấp hơn mức sự sống"
4. Ba yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sức sống là
a. Vệ sinh, sức khỏe, di truyền.
b. Di truyền học, đặc tính di truyền và sức khỏe
c. Vệ sinh, sự sạch và sức khỏe
d. Sức khỏe, bệnh tật, vệ sinh
e. Di truyền, vệ sinh, đặc tính di truyền.
SAI- ĐÚNG. Viết chữ Đ trong khoảng trống trước những câu ĐÚNG. Viết chữ S nếu câu ấy SAI.
... 5. Mức độ thất vọng chịu ảnh hưởng bởi sức sống và nghị lực.
... 6. Sự chán nản thất vọng theo nghĩa đen có nghĩa là "chùng xuống"
... 7. Ước muốn và nhu cầu càng nhỏ thì sức sống càng lớn.
... 8. Sự thất vọng không phải là điều có thể kế thừa.
... 9. Di truyền có thể tạo ra một vài đặc điểm thể chất nào đó tác động đến sức sống.
... 10. Cường tuyến giáp là một bệnh truyền nhiễm
... 11. Căn bệnh thuộc các tuyến là những bệnh của sự chuyển hóa.
... 12. Một vài cách điều trị có thể gây nên sự chán nản thất vọng.
... 13. Giữ vệ sinh tốt là một thứ thuốc ngăn ngừa sự thất vọng.
... 14. Tập thể dục, khẩu phần ăn uống đúng mức, và sự nghỉ ngơi tác động đến sức khỏe, vì thế nó liên quan đến sự thất vọng đang hiện hữu.
... 15. Sự thất vọng vì các mong ước có thể do chính mình và người khác gây ra.
... 16. Sự thất vọng nguy hiểm đối với các cặp vợ chồng hơn là người sống độc thân.
... 17. Các Cơ đốc nhân vui mừng vì họ không bao giờ kinh nghiệm sự thất vọng.
... 18. Hiểu rõ sự tha thứ là điều có giá trị để giải quyết sự thất vọng.
... 19. Khi phục vụ người đang thất vọng, điều quan trọng là cho họ thấy thế nào sự sai phạm của họ tạo nên sự chán nản thất vọng này.

ĐÁNH GIÁ TIẾN BỘ ĐƠN VỊ BỐN VÀ KỲ THI CUỐI KHÓA.
Bây giờ bạn đã hoàn tất mọi bài tập trong quyển sách giáo khoa tự học này. Hãy ôn lại từ bài 10-13 một cách cẩn thận, và sau đó trả lời các câu hỏi trong phần Đánh Giá Tiến Bộ Đơn Vị 4. Gởi tờ bài làm của bạn đến giảng viên ICI. Nếu chưa thực hiện điều này, hãy sắp xếp với giảng viên để bước vào kỳ thi cuối khóa cần ôn tập các mục tiêu của khóa học, các mục tiêu của bài học, các bài trắc nghiệm cá nhân và phần Đánh Giá Tiến Bộ Đơn Vị. Ôn lại nội dung các bài học cần thiết để có được sự ghi nhớ tốt hơn. Nếu ôn tập cẩn thận và có thể hoàn tất các mục tiêu, bạn sẽ vượt qua kỳ thi cuối khóa dễ dàng. Xem phần hướng dẫn đặc biệt trong tập bài dành cho học viên của bạn.


† Welcome to nguonsusong.com

GMT+8, 20-2-2018 02:10 AM

nguonsusong.com | nguonsusong.net | nguonsusong.us | nguonsusong.ca | loihangsong.net | tinlanhmedia.net | phimtinlanh.com |
Tweet
Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách